Dictionary Search
lục tâm
Chúng ta phần nhiều chỉ tu theo hình thức, mà ít chú trọng đến chỗ khai tâm, thành thử lửa tam độc vẫn cháy hừng, không hưởng được hương vị thanh lương giải thoát mà Đức Phật đã chỉ dạy. Muốn cho lòng Bồ Đề phát sanh một cách thiết thực. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, chúng ta nên suy tư quán sát để phát tâm theo sáu yếu điểm sau đây—Most of us merely engage in external forms of cultivation, while paying lip service to “opening the mind.” Thus, the fire of greed, anger and delusion continue to flare up, preventing us from tasting the pure and cool flavor of emancipation as taught by the Buddhas. According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, we should pose the question of “How can we awaken the Bodhi Mind” or we should ponder and meditate on the following six points to develop a true Bodhi Mind. 1) Giác Ngộ Tâm: Chúng sanh thường chấp sắc thân nầy là ta, tâm thức có hiểu biết, có buồn giận thương vui là ta. Nhưng thật ra, sắc thân nầy giả dối, ngày kia khi chết đi nó sẽ tan về với đất bụi, nên thân tứ đại không phải là ta. Tâm thức cũng thế, nó chỉ là thể tổng hợp về cái biết của sáu trần là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Ví dụ như một người trước kia dốt, nay theo học chữ Việt, tiếng Anh, khi học thành, có cái biết về chữ Việt tiếng Anh. Lại như một kẻ chưa biết Ba Lê, sau có dịp sang Pháp du ngoạn, thu thập hình ảnh của thành phố ấy vào tâm. Khi trở về bản xứ có ai nói đến Ba Lê, nơi tâm thức hiện rõ quang cảnh của đô thị ấy. Cái biết đó trước kia không, khi lịch cảnh thu nhận vào nên tạm có, sau bỏ lãng không nghĩ đến, lần lần nó sẽ phai lạt đến tan mất hẳn rồi trở về không. Cái biết của ta khi có khi không, hình ảnh nầy tiêu hình ảnh khác hiện, tùy theo trần cảnh thay đổi luôn luôn, hư giả không thật, nên chẳng phải là ta. Cổ đức đã bảo: “Thân như bọt tụ, tâm như gió. Huyễn hiện vô căn, không tánh thật.” Nếu giác ngộ thân tâm như huyễn, không chấp trước, lần lần sẽ đi vào cảnh giới “nhơn không” chẳng còn ngã tướng. Cái ta của ta đã không, thì cái ta của người khác cũng không, nên không có “nhơn tướng.” Cái ta của mình và người đã không, tất cái ta của vô lượng chúng sanh cũng không, nên không có “chúng sanh tướng.” Cái ta đã không, nên không có bản ngã bền lâu, không thật có ai chứng đắc, cho đến cảnh chứng thường trụ vĩnh cửu của Niết Bàn cũng không, nên không có “thọ giả tướng.” Đây cần nên nhận rõ, cũng không phải không có thật thể chân ngã của tánh chân như thường trụ, nhưng vì Thánh giả không chấp trước, nên thể ấy thành không. Nhơn đã không thì pháp cũng không, vì sự cảnh luôn luôn thay đổi sanh diệ, không có tự thể. Đây lại cần nên nhận rõ chẳng phải các pháp khi hoại diệt mới thành không, mà vì nó hư huyễn, nên đương thể chính là không, cả “nhơn” cũng thế. Cho nên cổ đức đã bảo: “Cần chi đợi hoa rụng, mới biết sắc là không.” (Hà tu đãi hoa lạc, nhiên hậu thỉ tri không). Hành giả khi đã giác ngộ “Nhơn” và “Pháp” đều không, thì giữ lòng thanh tịnh trong sáng không chấp trước mà niệm Phật. Dùng lòng giác ngộ như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ Đề Tâm—The Enlightened Mind—Sentient beings are used to grasping at this body as “me,” at this discriminating mind-consciousness which is subject to sadness and anger, love and happiness, as “me.” However, this flesh-and-blood body is illusory; tomorrow, when it dies, it will return to dust. Therefore, this body, a composite of the four elements (earth, water, fore, and air) is not “me.” The same is true with our mind-consciousness, which is merely the synthesis of our perception of the six “Dusts” (form, sound, fragance, taste, touch, and dharmas). For example, a person who formerly could not read or write, but is now studying Vietnamese or English. When his studies are completed, he will have knowledge of Vietnamese or English. Another example is a person who had not known Paris, but who later on had the opportunity to visit France and absorb the sights and sounds of that city. Upon his return, if someone were to mention Paris, the sights of that metropolis would appear clearly in his mind. That knowledge formerly did not exist; when the sights and sounds entered his subconscious, they “existed.” If these memories were not rekindled from time to time, they would gradually fade away and disappear, returning to the void. This knowledge of ours, sometimes existing, sometimes not existing, some images disappearing, other images arising, always changing following the outside world, is illusory, not real. Therefore, the mind-consciousness is not “me.” The ancients have said: “The body is like a bubble, the mind is like the wind; they are illusions, without origin or True Nature.” If we truly realize that body and mind are illusory, and do not cling to them, we will gradually enter the realm of “no-self,” escaping the mark of self. The self of our self being thus void, the self of others is also void, and therefore, there is no mark of others. Our self and the self of others being void, the selves of countless sentient beings are also void, and therefore, there is no mark of sentient beings. The self being void, there is no lasting ego; there is really no one who has “attained Enlightenment.” This is also true of Nirvana, ever-dwelling, everlasting. Therefore, there is no mark of lifespan. Here we should clearly understand: it is not that eternally dwelling “True Thusness” has no real nature or true self; it is because the sages have no attachment to that nature that it becomes void. Sentient beings being void, objects (dharmas) are also void, because objects always change, are born and die away, with no self-nature. We should clearly realize that this is not because objects, upon disintegration, become void and non-existent; but, rather, because, being illusory, their True Nature is empty and void. Sentient beings, too, are like that. Therefore, ancient have said: “Why wait until flowers fall to understand that form is empty.” The practitioner, having clearly understood that beings and dharmas are empty, can proceed to recite the Buddha's name with a pure, clear and bright mind, free from all attachments. Only when he cultivates in such an enlightened frame of mind he be said to have “develop the Bodhi Mind.” 2) Bình Đẳng Tâm: Trong khế kinh, Đức Phật khuyên dạy: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều là cha mẹ đời quá khứ và chư Phật đời vị lai.” Chư Phật thấy chúng sanh là Phật, nên dùng tâm bình đẳng đại bi mà tế độ. Chúng sanh thấy chư Phật là chúng sanh, nên khởi lòng phiền não phân biệt ghét khinh. Cũng đồng một cái nhìn, nhưng lại khác nhau bởi mê và ngộ. Là đệ tử Phật, ta nên tuân lời Đức Thế Tôn chỉ dạy, đối với chúng sanh phải có tâm bình đẳng và tôn trọng, bởi vì đó là chư Phật vị lai, đồng một Phật tánh. Khi dùng lòng bình đẳng tôn kính tu niệm, sẽ dứt được nghiệp chướng phân biệt khinh mạn, nảy sanh các đức lành. Dùng lòng bình đẳng như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ Đề tâm—The Mind of Equanimity—In the sutras, Sakyamuni Buddha stated: “All sentient beings possess the Buddha Nature; they are our fathers and mothers of the past and the Buddhas of the future.” The Buddhas view sentient beings as Buddhas and therefore attempt, with equanimity and great compassion, to rescue them. Sentient beings view Buddhas as sentient beings, engendering afflictions, discrimination, hatred and scorn. The faculty of vision is the same; the difference lies in whether we are enlightened or not. As disciples of the Buddhas, we should follow their teachings and develop a mind of equanimity and respect towards sentient beings; they are the Buddhas of the future and are all endowed with the same Buddha Nature. When we cultivate with a mind of equanimity and respect, we rid ourselves of the afflictions of discrimination and scorn, and engender virtues. To cultivate with such a mind is called “developing the Bodhi Mind.” 3) Tâm Từ Bi: Ta cùng chúng sanh sanh đều sẳn đủ đức hạnh, tướng hảo trí huệ của Như Lai, mà vì mê chân tánh, khởi hoặc nghiệp nên phải bị luân hồi, chịu vô biên sự thống khổ. Nay đã rõ như thế, ta phải dứt tâm ghét thương phân biệt, kởi lòng cảm hối từ bi tìm phương tiện độ mình cứu người, để cùng nhau được an vui thoát khổ. Nên nhận rõ từ bi khác với ái kiến. Ái kiến là lòng thương yêu mà chấp luyến trên hình thức, nên kết quả bị sợi dây tình ái ràng buộc. Từ bi là lòng xót thương cứu độ, mà lìa tướng, không phân biệt chấp trước; tâm nầy thể hiện dưới đủ mọi mặt, nên kết quả được an vui giải thoát, phước huệ càng tăng. Muốn cho tâm từ bi được thêm rộng, ta nên từ nỗi khổ của mình, cảm thông đến các nỗi khổ khó nhẫn thọ hơn của kẻ khác, tự nhiên sanh lòng xót thương muốn cứu độ, niệm từ bi của Bồ Đề tâm chưa phát bỗng tự phát sanh. Trong Kinh Hoa Nghiêm, ngài Phổ Hiền đã khai thị: “Đại Bồ Tát với lòng đại bi có mười cách quán sát chúng sanh không nơi nương tựa mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanhtánh chẳng điều thuận mà khởi đại bi, quán sát chúng sanh nghèo khổ không căn lành mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh ngủ say trong đêm dài vô minh mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh làm những điều ác mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh đã bị ràng buộc, lại thích lao mình vào chỗ ràng buộc mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh bị chìm đắm trong biển sanh tử mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh vương mang tật khổ lâu dài mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh không ưa thích pháp lành mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh xa mất Phật pháp mà khởi đại bi…” Đã phát tâm đại bi tất phải phát đại Bồ Đề tâm thề nguyền cứu độ. Thế thì lòng đại bi và lòng đại Bồ Đề dung thông nhau. Cho nên phát từ bi tâm tức là phát Bồ Đề tâm. Dùng lòng đại từ bi như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ Đề tâm—Mind of Compassion—We ourselves and all sentient beings already possess the virtues, embellishment and wisdom of the Buddhas. However, because we are deluded as to our True Nature, and commit evil deeds, we resolve in Birth and Death, to our immense suffering. Once we have understood this, we should rid ourselves of the mind of love-attachment, hate and discrimination, and develop the mind of repentance and compassion. We should seek expedient means to save ourselves and others, so that all are peaceful, happy and free of suffering. Let us be clear that compassion is different from love-attachment, that is, the mind of affection, attached to forms, which binds us with the ties of passion. Compassion is the mind of benevolence, rescuing and liberating, detached from forms, without discrimination or attachment. This mind manifests itself in every respect, with the result that we are peaceful, happy and liberated, and possess increased merit and wisdom. If we wish to expand the compassionate mind, we should, taking our own suffering as starting point, sympathize with the even more unbearable misery of others. A benevolent mind, eager to rescue and liberate, naturally develops; the compassionate thought of the Bodhi Mind arises from there. As the Bodhisattva Samantabhadra taught in the Avatamsaka Sutra: “Great Bodhisattvas develop great compassion by ten kinds of observations of sentient beings: they see sentient beings have nothing to rely on for support; they see sentient beings are unruly; they see sentient beings lack virtues; they see sentient beings are asleep in ignorance; they see sentient beings do bad things; they see sentient beings are bound by desires; they see sentient beings drowning in the sea of Birth and Death; they see sentient beings have no desire for goodness; they see sentient beings have lost the way to enlightenment.” Having developed the great compassionate mind, we should naturally develop the Great Bodhi Mind and vow to rescue and liberate. Thus the great compassionate mind and the great Bodhi Mindinterpenetrate freely. That is why to develop the compassionate mind is to develop the Bodhi Mind. Only when we cultivate with such great compassion can we be said to have “developed the Bodhi Mind.” 4) Hoan Hỷ Tâm: Đã có xót thương tất phải thể hiện lòng ấy qua tâm hoan hỷ. Lòng tùy hỷ trừ được chướng tật đố nhỏ nhen. Lòng hỷ xả giải được chướng thù báo phục. Bởi tâm Hoan Hỷ không ngoài sự giác ngộ mà thể hiện, nên đó chính là lòng Bồ Đề. Hoan hỷ có hai thứ—The Mind of Joy—Having a benevolent mind, we should express it through a mind of joy. The rejoicing mind can destroy the affliction of mean jealousy. The “forgive and forget” mind can put an end to hatred, resentment, and revenge. Because the mind of joy cannot manifest itself in the absence of Enlightenment, it is that very Bodhi Mind. This mind is of two kinds: a rejoicing mind and a mind of “forgive and forget.” a) Tùy Hỷ là khi thấy trên từ chư Phật, Thánh nhân, dưới cho đến các loại chúng sanh, có làm được công đức gì , dù là nhỏ mọn cũng vui mừng theo. Và khi thấy ai được sự phước lợi, hưng thạnh thành công, an ổn, cũng sanh niệm vui vẻ mừng dùm—A rejoicing mind means that we are glad to witness meritorious and virtuous acts, however, insignificant, performed by anyone, from the Buddhas and saints to all various sentient beings. Also, whenever we see anyone receiving gain or merit, or prosperous, successful and at peace, we are happy as well, and rejoice with them. b) Hỷ xả là dù có chúng sanh làm những điều tội ác, vong ân, khinh hủy, hiểm độc, tổn hại cho người hoặc cho mình, cũng an nhẫn vui vẻ mà bỏ qua. Sự vui nhẫn nầy nếu xét nghĩ sâu, thành ra không thật có nhẫn, vì tướng người, tướng ta và tướng não hại đều không. Nên Kinh Kim Cang dạy: “Như Lai nói nhẫn nhục Ba La Mật, tức chẳng phải nhẫn nhục Ba La Mật, đó gọi là nhẫn nhục Ba La Mật.”—A “forgive and forget” mind means that even if sentient beings commit nefarious deeds, show ingratitude, hold us in contempt and denigrate us, are wicked, causing harm to others or to ourselves, we calmly forbear, gladly forgiving and forgetting their transgressions. This mind of joy and forbearance, if one dwells deeply on it, does not really exist, because there is in truth no mark of self, no mark of others, no mark of annoyance or harm. As stated in The Diamond Sutra: “The Tathagata teaches likewise that the Perfection of Patience is not the Perfection of Patience; such is merely a name.” 5) Sám Nguyện Tâm: Trong kiếp luân hồi, mọi loài hằng đổi thay làm quyến thuộc lẫn nhau. Thế mà ta vì mê mờ lầm lạc, từ kiếp vô thỉ đến nay, do tâm chấp ngã muốn lợi mình nên làm tổn hại chúng sanh, tạo ra vô lượng vô biên ác nghiệp. Thậm chí đến chư Phật, Thánh nhơn, vì tâm đại bi đã ra đời thuyết pháp cứu độ loài hữu tình, trong ấy có ta, mà đối với ngôi Tam Bảo ta lại sanh lòng vong ân hủy phá. Ngày nay giác ngộ, ta phải hổ thẹn ăn năn, đem ba nghiệp chí thành sám hối. Đức Di Lặc Bồ Tát đã lên ngôi bất thối, vì muốn mau chứng quả Phật, mỗi ngày còn lễ sám sáu thời. Vậy ta phải đem thân nghiệp kính lễ Tam Bảo, khẩu nghiệp tỏ bày tội lỗi cầu được tiêu trừ, ý nghiệp thành khẩn ăn năn thề không tái phạm. Đã sám hối, phải dứt hẳn tâm hạnh ác, không còn cho tiếp tục nữa, đi đến chỗ tâm và cảnh đều không, mới là chân sám hối. Lại phải phát nguyện, nguyện hưng long ngôi Tam Bảo, nguyện độ khắp chúng sanh để chuộc lại lỗi xưa và đền đáp bốn ân nặng (ân Tam Bảo, ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân thiện hữu tri thức, và ân chúng sanh). Có tâm sám nguyện như vậy tội chướng mới tiêu trừ, công đức ngày thêm lớn, và mới đi đến chỗ phước huệ lưỡng toàn. Dùng lòng sám nguyện như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ Đề tâm—The Mind of Repentance and Vows—In the endless cycle of Birth and Death, all sentient beings are at one time or another rlated to one another. However, because of delusion and attachment to self, we have, for countless eons, harmed other sentient beings and created an immense amount of evil karma. The Buddhas and the sages appear in this world out of compassion, to teach and liberate sentient beings, of whom we are a part. Even so, we engender a mind of ingratitude and destructiveness toward the Triple Jewel (Buddha, Dharma, Sangha). Now that we know this, we should feel remorse and repent the three evil karmas. Even the Maitreya Bodhisattva, who has attained non-retrogression, still practices repentance six times a day, in order to achive Buddhahood swiftly. We should use our bodies to pay respect to the Triple Jewel, our mouth to confess our transgression and seek expiation, and our minds to repent sincerely and undertake not to repeat them. Once we have repented, we should put a complete stop to our evil mind and conduct, to the point where mind and objects are empty. Only then will there be true repentance. We should also vow to foster the Triple Jewel, rescue and liberate all sentient beings, atone for our past transgressions, and repay the "fo“r great debts," w”ich are the debt to the triple Jewel, the debt to our parents and teachers, the debt to our spiritual friends, and finally the debt we owe to all sentient beings. Through this repentant mind, our past transgressions will disappear, our virtues will increase with time, leading us to the stage of perfect merit and wisdom. Only when we practice with such a repentant mind can we be said to have “developed the Bodhi Mind.” 6) Bất Thối Tâm: Dù đã sám hối phát nguyện tu hành, nhưng nghiệp hoặc ma chướng không dễ gì dứt trừ, sự lập công bồi đức thể hiện sáu độ muôn hạnh không dễ gì thành tựu. Mà con đường Bồ Đề đi đến quả viên giác lại xa vời dẫy đầy gay go chướng nạn, phải trải qua hằng sa kiếp, đâu phải chỉ một hai đời? Ngài Xá Lợi Phất trong tiền kiếp chứng đến ngôi lục trụ, phát đại Bồ Đề tâm tu hạnh bố thí. Nhưng khi chịu khổ khoét một con mắt cho ngoại đạo, bị họ không dùng liệng xuống đất rồi nhổ nước dãi, lấy chân chà đạp lên trên, ngài còn thối thất Đại thừa tâm. Thế thì ta thấy sự giữ vững tâm nguyện là điều không phải dễ! Cho nên hành giả muốn được đạo tâm không thối chuyển, phải lập thệ nguyện kiên cố. Thề rằng: “Thân nầy dầu bị vô lượng sự nhọc nhằn khổ nhục, hoặc bị đánh giết cho đến thiêu đốt nát tan thành tro bụi, cũng không vì thế mà phạm điều ác, thối thất trên bước đường tu hành.” Dùng lòng bất thối chuyển như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ Đề tâm—The Mind of no Retreat—Although a practitioner may have repented his past transgressions and vowed to cultivate, his habitual delusions and obstructions are not easy to eliminate, nor is the accumulation of merits and virtues through cultivation of the six paramitas and ten thousand conducts necessarily easy to achieve. Moreover, the path of perfect Enlightenment and Buddhahood is long and arduous, full of hardship and obstructions over the course of untold eons. It is not the work of one or two life spans. For example, the Elder Sariputra, one of the main disciples of Sakyamuni Buddha, had reached the sixth abode of Bodhisattvahood in one of his previous incarnations and had developed the Bodhi Mind practicing the Paramita of Charity. However, when an externalist (non-Buddhist) asked him for one of his eyes and then, instead of using it, spat on it and crushed it with his foot, even Sariputra became angry and retreated from the Mahayana mind. We can see, therefore, that holding fast to our vows is not an easy thing! For this reason, if the practitioner wishes to keep his Bodhi Mind from retrogressing, he should be strong and frim in his vows. He should vow thus: “Although this body of mine may endure immense suffering and hardship, be beaten to death or even reduced to ashes, I shall not, in consequence, commit wicked deeds or retrogress in my cultivation.” Practicing with such a non-retrogressing mind is called “developing the Bodhi Mind.” ** For more information, please see Tâm (II) (E).
lục tình
Sáu tình khởi lên từ sáu căn—The six emotions arising from the six organs of sense: 1) Nhãn Tình: Tình khởi lên từ nhãn căn hay mắt—Emotions arising from the eyes. 2) Nhĩ Tình: Tình khởi lên từ nhĩ căn hay tai—Emotions arising from the ears. 3) Tỹ Tình: Tình khởi lên từ tỹ căn hay mũi—Emotions arising from the nose. 4) Thiệt Tình: Tình khởi lên tứ thiệt căn hay lưỡi—Emotions arising from the tongue. 5) Thân Tình: Tình khởi lên từ thân căn—Emotions arising from the body. 6) Ý Tình: Tình khởi lên từ ý căn—Emotions arising from the mind.
lục tín
Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, trong phần Tín Hạnh Nguyện, thầy đã nhấn mạnh về Tín là tin ở nơi sáu điều—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, he emphasized that to have Faith is to believe in the following six elements: 1) Tự Tin—Self-Faith: Sao gọi là tự tin hay tin nơi chính mình? Tin nơi chính mình tức là tin tất cả đều do nơi Tâm của mình tạo ra. Vì thế nếu mình niệm Phật, ắt sẽ được Phật tiếp dẫn không sai—What is self-faith or faith in one's self ? This is to have faith that everything is created within one's mind; therefore, if a practitioner recites Buddha, then, absolutely, Buddha will receive him or her. 2) Tha Tin—Faith in others: Sao gọi là tha tin hay tin ở nơi người? Tin nơi người là tin Đức Phật Thích Ca không bao giờ nói dối, Phật A Di Đà chẳng thệ nguyện suông. Cho nên nều như y theo pháp môn Tịnh Độ mà hành trì, tất cảm được Đức A Di Đà Thế Tôn tiếp dẫn sanh về Cực Lạc: What is faith in others? This is to have faith that Sakyamuni Buddha would never speak falsely and Amitabha Buddha did not make empty vows. Therefore, if cultivators practice according to Pureland teachings, then Amitabha Buddha will deliver them to the Ultimate World. 3) Tin Nhân—Faith in causation: Sao gọi là tin nhân? Tin nhân tức là tin rằng niệm Phật chính là nhân vãng sanh giải thoát—What is it to have faith in causation? This is to believe that reciting Buddha is the action or cause for gaining rebirth and enlightenment. 4) Tin Quả—Faith in effect: Sao gọi là tin quả? Tin quả tức là tin rằng sự vãng sanh và thành Phật là kết quả của công hạnh tu niệm Phật—What is it to believe in effect? To believe in effect means to believe that in the matter of gaining rebirth and attaining Buddhahood as the end result, or the consequence of reciting Buddha. 5) Tin Sự—Faith in practice: Sao gọi là tin sự? Tin sự tức là tin rằng cảnh giới Tây Phương Cực Lạc và tất cả sự tướng ở nơi cõi ấy đều có thật. Cõi nầy có thật như sự có thật của cõi Ta Bà nầy vậy—What is it to have faith in practice? To faith faith in practice means to believe in the existence of the Western Pureland and that the forms and characteristics in the Ultimate Bliss World that the Buddha spoke of it in the sutras are all true. It exists just as this Saha World really exists. 6) Tin Lý—Faith in theory: Sao gọi là tin lý? Tin lý tứ là tin điều “Lý tín duy tâm,” nghĩa là một chơn tâm của mình bao trùm hết cả mười phương quốc độ của chư Phật—What is it to have faith in theory? This is to believe that “all theories are within the mind;” thus, the mind encompasses all the infinite Buddha Lands in the ten directions.
lục tông
The six schools: Tam luận, Pháp tướng, Hoa nghiêm, Luật, Thành thật, Câu xá.
lục tông trung hoa
Sáu tông phái ở Trung Hoa—The six schools in China: 1) Tam Luận Tông: Giáo thuyết Tam Luận Tông dựa theo Tam Luận—The Three-Sastra Sect, based on the Madhyamika-Sastra. 2) Pháp Tướng Tông: Dharmalaksana Sect. 3) Hoa Nghiêm Tông: Giáo thuyết Hoa Nghiêm Tông dựa trên bộ Kinh Hoa Nghiêm—Avatamsaka Sect, based on the Buddha-Avatamsaka-Sutra. 4) Luật Tông: Giáo thuyết Luật Tông dựa trên bộ Luật Tạng—Vinaya or Discipline Sect, based on the Vinaya-Pitaka. 5) Thành Thật Tông: Giáo thuyết Thành Thật Tông dựa trên bộ Thành Thật Luận-Satyasiddhi Sect, based on the Satyasiddhi Sastra. 6) Câu Xá Tông: Giáo thuyết Câu Xá Tông dựa trên bộ Câu Xá Luận—Abhidharma-Kosa Sect, based on the Abhidharma-Kosa Sastra.
lục tông đại thừa nhật bản
The six Mahayana schools in Japan. 1) (from 1 to 4) Bốn tông phái đầu cũng giống bốn tông phái đầu của Trung Hoa—The first four sects are the same as the first four schools of the six schools in China—See Lục Tông Trung Hoa. 5) Thiên Thai Tông: The T'ien-T'ai Sect or Tendai Sect. 6) Chân Ngôn Tông: The Shingon Sect.
lục tùy niệm
Ṣaḍanusmṛtaya (S)Niệm: Phật, Pháp, Tăng, Giới, Thí, Thiên.
lục túc luận
Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Lục Túc Luận là bộ luận viết về Phát Trí Luận của Ca Đa Diễn Ni Tử—According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, the Six Legs is the commentary on the Source of Knowledge (Jnana-prasthana). 1) Phẩm Loại Túc Luận, được viết bởi ngài Thế Hữu: Prakarana-pada (skt)—Category-leg, written by Vasumitra. 2) Thức Thân Túc Luận, được viết bởi ngài Đề Bà Thiết Ma: Vijnana-kaya (skt)—Consciousness-body, written by Devasarman. 3) Pháp Uẩn Túc Luận, được viết bởi ngài Xá Lợi Phất: Dharma-skandha (skt)—Element-group, written by Sariputra. 4) Thi Thiết Túc Luận, được viết bởi ngài Mục Kiền Liên: Prajnapti-pada (skt)—World-system, written by Maudgalyayana. 5) Giới Thân Túc Luận, được viết bởi ngài Phú Lâu Na: Dhata-kayapada (skt)—Mental-element-body, written by Purna. 6) Tập Dị Môn Túc Luận, được viết bởi ngài Đại Câu Thi La: Sangiti-paryayapada (skt)—Rehearsal-reading, written by Mahakausthila.
lục túc tôn
Một trong ngũ Minh Vương, vị hộ pháp cho Phật A Di Đà, là tái sanh của ngài Văn Thù Sư Lợi, có sáu đầu, sáu mặt, sáu tay, sáu cẳng; cỡi bò—The six-legged Honoured One, one of the five firece guardians of Amitabha. The one who has six heads, six faces, six arms, and six legs; rides on an ox; and is an incarantion of Manjusri.
lục túc tôn kim cang
Six-legged Honoured One—An emanation of Manjusri, who is an Emanation of Amitabha.
lục tư thân
Sancetana-kaya (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu tư thân—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six groups of volition: 1) Săc Tư: Volition based on sights. 2) Thanh Tư: Volition based on sounds. 3) Hương Tư: Volition based on smells. 4) Vị Tư: Volition based on tastes. 5) Xúc Tư: Volition based on touches. 6) Pháp Tư: Volition based on mind-objects.
Lục tướng
六相; C: liùxiāng; J: rokusō;|Sáu tướng có thể thấy được nơi hữu tình chúng sinh theo giáo lí tông Hoa Nghiêm. Đó là: Tổng (總), Biệt (別), Đồng (同), Dị (異), Thành (成), Hoại (壞). Trong tư tưởng Hoa Nghiêm, 6 tướng nầy được xem hoàn toàn tương nhiếp lẫn nhau.
lục tướng
The six characteristics found in everything - tổng biệt whole and parts, đồng dị unity and diversity, thành hoại entirety and (its) fraction.
; Theo tông Hoa Nghiêm, vạn hữu có sáu tướng—Taccording to the Avatamsaka School, everything (dharma) has six characteristics: 1) Tổng Tướng: Whole or Universality—Do năm uẩn họp thành. Tổng tướng là toàn thể của những bộ phận đặc biệt—Consisting of five aggregates. Universality is the total of special parts. 2) Biệt Tướng: Parts or Speciality—Những bộ phận đặc biệt tạo thành một toàn bộ hay. Các căn bản của các loại người khác nhau đều có riêng “đặc dị tính” theo nghĩa đặc trưng hay năng lực độc nhất. Mọi người đều có đôi mắt, nhưng không có đôi mắt nào có cùng năng lực như nhau cả—Speciality is the special parts constituting the whole. The organs of different human beings have 'speciality' in the sense of unique character or power. All have eyes, but not all eyes have the same power. 3) Đồng Tướng: Unity or Similarity—Tất cả các biệt tướng đều có năng tính một sinh thể có thể tiết điệu đồng đều như nhau khi tạo thành một toàn bộ. Các căn đều như nhau, đều là căn, trong nghĩa cộng đồng liên hệ trong một căn thể—Similarity means that all specialities have the capacity of being equally harmonious in constituting the whole. All organs are similar as organs, or in the sense of co-relation in one organism. 4) Dị Tướng: Diversity—Những biệt tướng, dù thể tính của chúng có tiết điệu với nhau, vẫn giữ nguyên những sắc thái riêng biệt của mình. Mỗi căn đều có 'sai biệt tính' ví nó có một quan hệ đặc biệt đối với toàn thể—Diversity means that specialities, in spite of their being mutually harmonious, keep their special features. Each organ also possesses 'diversity' since it has a special relation to the whole. 5) Thành Tướng: Entirety or Integration—Những biệt tướng, dù chúng đặc biệt, vẫn tạo thành tổng tướng bằng cách kết hợp nhau thành một. Tất cả các căn cùng tác động chung để hoàn thành một đơn thể toàn diện—Integration means that specialities, though they are special, make up Universality by uniting themselves. All organs work together to complete the whole unitary being. 6) Hoại Tướng: Fractions or Differentiation—Những biệt tướng, dù chúng kết hợp thành tổng tướng, vẫn không đánh mất những sắc thái riêng biệt của mình. Mỗi quan năng trong vị trí riêng biệt của nó thi hành nhiệm vụ đặc thù của nó—Differentiation means that specialities, though they make up universality, do not lose their own special features. Each organ, being in its own special position, performs its own differentiating function.
; (六相) Sáu tướng của sự vật trong vạn hữu được nói trong kinh Hoa nghiêm và kinh Thập địa. Đó là: 1. Tổng tướng: Một pháp duyên khởi có đầy đủ nhiều đức, như thân người có đủ các căn mà thành 1 tướng chung. 2. Biệt tướng: Ở trong nhiều đức ấy các pháp nương tựa nhau mà hợp thành 1 pháp; như thân người tuy là 1 nhưng các căn mắt, tai v.v... mỗi mỗi khác nhau. 3. Đồng tướng: Nhiều đức hòa hợp nương nhau tạo thành 1 pháp mà không chống trái nhau, như các căn mỗi căn có đặc tính riêng, có tác dụng khác nhau, nhưng không trở ngại nhau. 4. Dị tướng: Nhiều đức khác nhau cấu thành 1 pháp, như các căn khác nhau cấu thành thân người. 5. Thành tướng: Nhiều đức nương nhau mà hợp thành 1 pháp, như các căn nương nhau mà thành thân người. 6. Hoại tướng: Mỗi căn đều trụ nơi bản vị không dời đổi, thì không thành Tổng tướng. Như các căn đều ở vị trí mình và đều có dụng riêng thì không thành 1 thể. Hai tướng Tổng và Biệt đứng trên lập trường quan hệ tương đối, biểu thị 2 môn Bình đẳng và Sai biệt. Hai tướng Đồng và Dị là biện biệt ý nghĩa của 2 môn Bình đẳng và Sai biệt. Hai tướng Thành và Hoại là kết quả của việc dùng 2 tướng Đồng và Dị để biện biệt 2 tướng Tổng và Biệt. Đây gọi là 2 môn Bình đẳng, Sai biệt. [X. kinh Hoa nghiêm Q.43 (bản dịch mới); Thập địa kinh luận Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.9; Đại thừa nghĩa chương Q.3]. (xt. Lục Tướng Viên Dung).
lục tướng viên dung
(六相圓融) Cũng gọi Lục tướng duyên khởi. Chỉ cho 6 tướng viên dung: Tổng tướng, Biệt tướng, Đồng tướng, Dị tướng, Thành tướng và Hoại tướng. Sáu tướng này dung hòa lẫn nhau mà không bị trở ngại, cùng với thuyết Thập huyền môn, gọi chung là Thập huyền Lục tướng, là giáo nghĩa quan trọng của tông Hoa nghiêm. Tông Hoa nghiêm dùng 6 tướng này làm nền tảng mà lập thuyết Lục tướng viên dung. Tức là các pháp đều đầy đủ 6 tướng này, dung hợp lẫn nhau mà không ngăn ngại nhau, toàn thể và bộ phận, bộ phận và toàn thể đều là 1 thể. Thập địa kinh luận quyển 1 của ngài Thế thân đối với hạnh Bồ tát nói có 6 tướng. Thập địa kinh luận nghĩa kí của ngài Tuệ viễn đời Tùy, tuy có giải thích về 6 tướng, nhưng mới chỉ nói đến thể và lí chứ chưa bàn về tướng và sự. Bắt đầu từ ngài Trí nghiễm thuộc tông Hoa nghiêm đời Đường, thuyết Lục tướng viên dung mới được hình thành, rồi sau do các ngài Pháp tạng, Trừng quán tập đại thành. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4 giải thích về danh nghĩa của Lục tướng viên dung như sau: Các pháp duyên khởi tất phải do các duyên tập hợp mà thành, vì thế Tổng tướng được thiết lập (1 gồm nhiều đức, chẳng hạn như ngôi nhà gồm cột, xà, đòn tay, rui mè v.v...) và Biệt tướng của các duyên giúp cho Tổng tướng thành lập (Biệt tướng nương vào vào Tổng tướng mà tồn tại, giúp cho Tổng tướng được viên mãn, giống như các bộ phận cột, xà, đòn tay, rui mè v.v... trong 1 ngôi nhà). Biệt tướng này là đối với Tổng tướng mà nói, trên Biệt tướng lại có Đồng tướng(có nhiều nghĩa nhiều pháp, nhưng không chống trái lẫn nhau, mà cũng giúp thành lập Tổng tướng, giống như các bộ phận cột, xà, đòn tay, rui mè v.v... hợp lực với nhau mà tạo thành ngôi nhà) và Dị tướng (nhiều nghĩa nhiều đức mỗi mỗi khác nhau, nhưng cùng giúp nhau, hệt như cột, xà, đòn tay, rui mè v.v... đều khác nhau vậy). Đồng thời, Tổng tướng cũng đối với Biệt tướng mà nói, trên Tổng tướng còn có Thành tướng (do các nghĩa mà thành lập Tổng tướng, chẳng hạn như do cột, xà v.v... mà hoàn thành ngôi nhà) và Hoại tướng (nếu các Biệt tướng đều giữ bản vị riêng của mình thì không thành lập được Tổng tướng, chẳng hạn như cột, xà, đòn tay, rui mè v.v... mỗi mỗi tách riêng ra một nơi, thì không thể thành lập ngôi nhà), hợp chung lại thành là Lục tướng. Sự quan hệ của Lục tướng có thể chia làm thể, tướng, dụng. Hai tướng Tổng và Biệt là thể của duyên khởi, 2 tướng Đồng và Dị là tướng của duyên khởi và 2 tướng Thành và Hoại là dụng của duyên khởi. Cứ theo Ngũ giáo chương thông lộ kí quyển 27, thì pháp duyên khởi có 2 nghĩa chính là viên dung và hàng bố (sai biệt), trong đó, 3 tướng Tổng, Đồng, Thành thuộc môn Viên dung (3 tướng viên dung); còn 3 tướng Biệt, Dị, Hoại thì thuộc môn Hàng bố (3 tướng hàng bố). Tuy nhiên, Viên dung biểu thị vô sai biệt hoàn toàn không lìa khỏi Hàng bố biểu thị sai biệt, vả lại, Hàng bố cũng không lìa Viên dung, vì thế nói Viên dung tức Hàng bố, Hàng bố tức Viên dung, chính do đó mà nghĩa Vô tận pháp giới duyên khởi được thành lập. Ngũ giáo chương thông lộ kí còn nêu ra mối quan hệ giữa Lục tướng và Thập huyền là: Môn đầu tiên trong Thập huyền là Tổng tướng, 9 môn còn lại là Biệt tướng; hoặc lấy môn đầu làm Tổng tướng, rồi đem 9 môn còn lại phối hợp với 5 tướng kia mà thuyết minh. Còn Hoa nghiêm ngũ giáo chương khuông chân sao quyển 6 của ngài Phượng đàm, thì đem môn Đồng thời cụ túc tương ứng trong Thập huyền phối hợp với Tổng tướng trong Lục tướng; đem 4 môn: Nhất đa tương dung bất đồng, Chư pháp tương tức tự tại, Nhân đà la võng vi tế và Vi tế tương dung an lập, phối hợp với Biệt tướng và Đồng tướng; đem 3 môn: Bí mật ẩn hiển câu thành, Thập thế cách pháp dị thành và Thác sự hiển pháp sinh giải phối hợp với Dị tướng; đem 3 môn: Bí mật ẩn hiển câu thành, Chư tạng thuần tạp cụ đức và Duy tâm hồi chuyển thiện thành phối hợp với Thành tướng; sau hết, đem 3 môn: Bí mật ẩn hiển câu thành, Chư tạng thuần tạp cụ đức và Thác sự hiển pháp sinh giải phối hợp với Hoại tướng. [X. kinh Hoa nghiêm Q.34 (bản dịch mới); Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.3, hạ; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.9; Tân hoa nghiêm kinh luận Q.24; Hoa nghiêm kinh sớ Q.31, 34; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.53; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.1, 3; Hoa nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp Q.hạ; Thập địa kinh luận nghĩa kí Q.1, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần đầu]. (xt. Lục Tướng).
Lục tướng 六相
[ja] ロクソウ rokusō ||| Six characteristics observable in existent things according to the Huayan 華嚴 school. These are: totality 總, distinction 別, sameness 同, difference 異, formation 成 and disintegration 壞. In Huayan philosophy these are considered to be completely interpenetrated with each other. => Sáu tướng có thể thấy được nơi hữu tình chúng sinh theo giáo lý Tông Hoa Nghiêm. Đó là: Tổng , Biệt , Đồng , Dị, Thành, Hoại. Trong tư tưởng Hoa Nghiêm, 6 tướng nầy được xem hoàn toàn tương nhiếp lẫn nhau.
lục tưởng
(六想) Chỉ cho 6 niệm tưởng tương ứng với thức mà sinh khởi khi 6 căn tiếp xúc với 6 trần. Cứ theo kinh Đại tập pháp môn quyển hạ, thì Lục tưởng là: 1. Nhãn tưởng: Niệm tưởng tương ứng với thức mà sinh khởi khi mắt trông thấy sắc. 2. Nhĩ tưởng: Niệm tưởng tương ứng với thức mà sinh khởi khi tai nghe tiếng. 3. Tị tưởng: Niệm tưởng tương ứng với thức mà sinh khởi khi mũi ngửi mùi. 4. Thiệt tưởng: Niệm tưởng tương ứng với thức mà sinh khởi khi lưỡi nếm vị. 5. Thân tưởng: Niệm tưởng tương ứng với thức mà sinh khởi khi thân có cảm giác đụng chạm. 6. Ý tưởng: Niệm tưởng tương ứng với thức mà sinh khởi khi ý căn phân biệt các pháp. [X. kinh Tạp a hàm Q.2].
lục tưởng thân
Sanna-kaya (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu tưởng thân—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six groups of perception: 1) Sắc Tưởng: Rupa-sanna (p)—Perception of sights. 2) Thanh Tưởng: Perception of sounds. 3) Hương tưởng: Perception of smell. 4) Vị Tưởng: Perception of taste. 5) Xúc Tưởng: Perception of touch. 6) Pháp tưởng: Dhamma-sanna (p)—Perception of mind-objects.
Lục tặc
六賊; C: liùzéi; J: rokusoku;|»Sáu kẻ trộm«. Chỉ 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thường đem lại phiền não.
lục tặc
Bandits of the six sense-organsXem lục nhập.
; The six cauras, or robbers, i.e. the six senses; also likened to the six pleasures of the six sense organs.
; sáu tên giặc cướp. Sáu căn được ví với sáu tên mối lái cho giặc cướp, cướp đoạt hết công năng pháp tài hay thiện pháp. Sáu tên giặc kia mà đến thì lục căn sung sướng vui mừng. Cách đề phòng duy nhứt là đừng a tòng với chúng—The six cauras or robbers, such as the six senses, the six sense organs are the match-makers, or medial agents of the sic robbers. The six robbers are also likened to the six pleasures of the six sense organs. The only way to prevent them is by not acting with them: 1) Mắt đừng nhìn sắc đẹp: The eye avoiding beauty. 2) Tai đừng nghe tiếng du dương: The ear avoiding melodious sound. 3) Mũi đừng ngữi mùi thơm: The nose avoiding fragrant scent. 4) Lưỡi đừng nếm vị ngon: The tongue avoiding tasty flavour. 5) Thân đừng xúc chạm êm ái: The body avoiding seductions. 6) Ý nên kềm giữ tư tưởng: The mind should always control thoughts. ** For more information, please see Lục Căn and Lục Đại.
Lục tặc 六賊
[ja] ロクゾク rokusoku ||| The "six thieves." The six faculties 六根 of eyes, ears, nose, tongue, skin and mind which engender affliction. => "Sáu kẻ cướp". Chỉ sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thường đem lại phiền não.
lục tế
Theo Trí Độ Luận, có sáu thứ chướng tế che đậy mất sáu Ba La Mật hay tịnh tâm—According to the Maha-Prajna-Sastra, there are six sins that smother the six paramitas or the pure mind. 1) Xan Tham: Tham lam bỏn xẻn—Grudging. 2) Phá Giới: Commandment-breaking. 3) Sân Nhuế: Nóng nảy giận dữ—Anger. 4) Liên Niệm: Thương nhớ luyến ái gia đình—Family attachment. 5) Tán Loạn: Confused thoughts or scattered mind. 6) Ngu Si: Ignorance or stupidity.
lục tổ
Rokuso (J), Sixth patriarch.
; The six patriarchs of Thiền tông who passed down robe and begging bowl in succession, i.e. Bodhidharma, Huệ Khả, Tăng Sán, Đạo Tín, Hoằng Nhẫn and Huệ Năng.
lục tổ huệ năng
The Sixth Patriarch Hui-Neng—See Hui-Neng and Huệ Năng.
lục tổ pháp bảo đàn kinh
Kinh Pháp Bảo Đàn của Lục Tổ Huệ Năng—The Platform Sutra of the Sixth Patriarch's Dharma-Treasure—See Kinh Pháp Bảo Đàn in Vietnamese-English Section.
lục tổ thiền trung hoa
Sáu tổ dòng Thiền Trung Hoa—Six Chinese Patriarchs: 1) Nhứt Tổ Bồ Đề Đạt Ma: Bodhidharma—The First Patriarch in China—The founder of the Chinese Zen—See Bồ Đề Đạt Ma. 2) Nhị Tổ Huệ Khả: The Second Patriarch Hue-Ke (468-543 AD)—See Huệ Khả. 3) Tam Tổ Tăng Xán: The Third Patriarch Seng Tsan ( ? – 606 AD). 4) Tứ Tổ Đạo Tín: The fourth Patriarch Tao Hsin (580-651)—See Đạo Tín. 5) Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn: The fifth Patriarch Hung-Jen ((601-675)—See Hoằng Nhẫn. 6) Lục Tổ Huệ Năng: Vị tổ thứ sáu, người đã nhận y bát từ ngũ tổ Hoằng Nhẫn, hoằng hóa về phương nam, nên còn gọi là dòng thiền phương nam—The Sixth Patriarch Hui-Neng, who received the transmission from Hung-Jen (fifth patriarch). Hui Neng propagated Zen in the Southern part of China; therefore, his lineage is called the southern school of Zen.
Lục tổ đàn kinh
六祖壇經; C: liùzǔ tánjīng; J: rokuso dankyō; E: the platform sutra of the sixth patriarch.|Tập trung vào lời giảng của Tổ sư Thiền tông Huệ Năng tại Thiều Châu (韶州), bản kinh nầy bao gồm toàn bộ pháp ngữ và hành trạng của Lục tổ. Điểm quan trọng nhất của các bài pháp nầy là giáo lí đốn ngộ, sự trực nhận ra tự tính chính mình và thể đồng nhất của giới (s: śīla), định (s: dhyāna), và huệ (s: prajñā). Cái gọi là Thiền Nam tông (đốn ngộ) của Phật giáo Trung Hoa căn cứ vào giáo lí của bản kinh rất có uy thế nầy. Philip Yampolsky đã dịch kinh nầy sang tiếng Anh.
Lục Tổ Đàn Kinh 六祖壇經
[ja] ロクソダンキョウ Rokuso dankyō ||| The Platform Sutra of the Sixth Patriarch,T 2008.48.346a-362b. Centered on the discourse given at Shao-chou 韶州 temple by the 6th Chan patriarch Huineng 慧能, this text contains all his recorded sayings and doings. The most important topics of the discourse are sudden enlightenment, the direct perception of one's true nature and the unity in essence of śīla, dhyāna and prajñā. The so-called Southern (sudden) school of Chinese Buddhism based their doctrine on this extremely influential scripture. Translated into English by Philip Yampolsky. => (e: The Platform Sutra of the Sixth Patriarch) Tập trung vào lời giảng của Tổ sư Thiền tông Huệ Năng tại chùa Thiều Châu, bản kinh nầy bao gồm toàn bộ pháp ngữ và hành trạng của Lục tổ. Điểm quan trọng nhất của các bài pháp nầy là giáo lý đốn ngộ, sự trực nhận ra tự tánh chính mình và thể đồng nhất của giới ( śīla), định( dhyāna), và huệ ( prajñā). Cái gọi là Thiền Nam tông (đốn ngộ) của Phật giáo Trung Hoa căn cứ vào giáo lý của bản kinh rất có uy thế nầy. Philip Yampolsky đã dịch kinh nầy sang tiếng Anh.
lục tổ đại sư
Liuzidashi (C), Liu-tsu Ta-shin (C), Liuzidashi(C), Rokuso Daishi (J), Rokuso Daishi (J), Sixth Patriarch Great MastersDanh hiệu của ngài Huệ năng.
lục tội nhân
The six kinds of offender, i.e. one who commits any of the tứ trọng four grave sins, or destroys the harmony in the order. or sheds a Buddha's blood.
; Sáu loại gây tội—The six kinds of offender—Giống như trong Ngũ Nghịch thêm vào tội giết hay làm hại Thầy Tổ—They are similar to the five grave sins, plus the sin of killing or hurting teacher or master—See Ngũ Nghịch (A).
lục tụ
Sáu loại tội lỗi của Tăng chúng—The six kinds of wrong-doing: 1) Ba La Di Tội: Parajika (skt)—See Ngũ Tụ (1). 2) Tăng Tàn: Sanghavasesa (skt)—See Ngũ Tụ (2). 3) Thâu Lan Già Tội: Sthulatyaya (skt)—Đại chướng thiện đạo, phạm vào hai tội Ba La Di và Tăng Tàn nhưng chưa thành nên được xếp dưới hai tội đó—Associated with the prarajika and sanghavasesa sins; however, only implying thought, but not yet developed in action. 4) Ba Dật Đề Tội: Prayascitta (skt)—See Ngũ Tụ (3). 5) Ba La Đề Xà Ni Tội: Pratidessaniya (skt)—See Ngũ Tụ (4). 6) Đột Cát La: Duskrta (skt)—See Ngũ Tụ (5).
lục tức
The six stages of Bodhisattva developments as defined in the Thiên Thai Viên giáo, i.e. Perfect or Final Teaching, in contrast with the previous, or ordinary Thập tín, thập trụ etc, as found in the Biệt giáo Differentiated or Seperate school. The Thiên Thai six are: (1) Lý tức realization that all beings are of Buddha-nature; (2)- Danh tự tức the apprehension of terms, that those who only hear and believe are in the Buddha-law and potentially Buddha; (3)-Quán hạnh tức advance beyond terminology to meditation, or study and accordant action; it is known as ngũ phẩm quán hạnh or ngũ phẩm đệ tử vị. (4)-Tương tợ tức semblance stage, or approximation to perfection in purity, the lục căn thanh tịnh vị, i.e.the thập tín vị, (5)-Phần chứng tức discrimination of truth and its progressive experiential proof, i.e. the thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa and đẳng giác vị of the biệt giáo, known also as the thánh nhân cause or root of holiness; (6)-Cứu cánh tức perfect enlightenment, i.e. diệu giác vị or thánh quả fruition of holiness.
; See Lục Tức Phật.
; (六即) Cũng gọi Lục thị, Lục tuyệt, Lục như. Sáu hành vị của Bồ tát Viên giáo do tông Thiên thai thiết lập, tức là 6 giai đoạn hợp thành 1 thể với chân lí, gọi là Lục tức. 1. Lí tức: Hết thảy chúng sinh đều trụ trong Phật tính Như lai tạng. 2. Danh tự tức: Chỉ cho giai vị Bồ tát nghe đạo Bồ đề nhất thực rồi từ trong danh ngôn khái niệm mà được thông suốt rõ ràng. 3. Quán hạnh tức: Giai vị Bồ tát đã hiểu rõ danh tự rồi khởi tu quán hạnh, tâm quán sáng tỏ, lí và tuệ tương ứng. Ở giai vị này, tùy theo thứ tự cạn sâu mà chia ra 5 phẩm gọi là Ngũ phẩm đệ tử vị: Tùy hỉ, đọc tụng, thuyết pháp, kiêm hành lục độ và chính hành lục độ. Đây tức là vị Ngoại phàm của Viên giáo, đồng với giai vị Thập tín của Biệt giáo. 4. Tương tự tức, cũng gọi Lục căn thanh tịnh vị: Chỉ cho giai vị Bồ tát đã được lục căn thanh tịnh, đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, chế phục được vô minh, chỉ và quán trong sáng tĩnh lặng giống như thực chứng. Đây là giai vị Thập tín Nội phàm của Viên giáo, đồng với giai vị Tam hiền của Biệt giáo. 5. Phần chứng tức, cũng gọi Phần chân tức: Giai vị Bồ tát đã đoạn 1 phần vô minh mà chứng Trung đạo, tức là từ các giai vị Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác v.v... dần dần đã phá trừ được 1 phẩm vô minh mà chứng 1 phần Trung đạo. Những giai vị trên đều là Thánh vị, trong Biệt giáo, Thập địa tương đương với vị Thập trụ ở đây, vị Đẳng giác tương đương với Sơ hạnh trong Thập hạnh, vị Diệu giác tương với Đệ nhị hạnh trong Thập hạnh, còn từ hạnh thứ 3 trở lên trong Thập hạnh của Viên giáo thì Biệt giáo chưa bàn đến. 6. Cứu cánh tức: Giai vị Bồ tát đoạn trừ được phẩm vô minh cuối cùng, chứng được thực tướng của các pháp, tức là Diệu giác, quả vị rốt ráo cao nhất của Viên giáo. Sáu giai vị tuy có khác nhau nhưng thể tính thì là một, vị này vị kia tức là nhau. Vị Lí tức là vị Danh tự, cho đến tức là vị Cứu cánh. Lục tức này hoặc là hiển bày chỗ sâu cạn của pháp môn, hoặc là nêu rõ thứ tự tu hành. Dùng Lục để biểu thị sự cao thấp có thứ tự của giai vị, khiến cho người tu hành không sinh tâm thượng mạn; dùng Tức để biểu thị chỗ đầu tiên và cuối cùng của lí thể tất thảy đều giống nhau, khiến cho người tu hành không sinh tâm thụt lùi. [X. Ma ha chỉ quán Q.1, hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1, phần 5; Lục tức nghĩa; Quán kinh sớ Q.thượng; Quán kinh sớ diệu tông sao Q.thượng]. Đồ Biểu Lục Tức Lục Tức 8 Quả Vị 52 Giai vị Lí Tức (Chưa nghe Phật pháp) Danh Tự Tức (Đã nghe Phật pháp) Quán Hạnh Tức (Ngoại phàm) Tương Tự Tức (Nội phàm) Phần Chứng Tức (Phần chứng) Cứu Cánh Tức (Cực chứng) Ngũ phẩm đệ tử vị Thập tín vị Thập trụ vị Thập hạnh vị Thập hồi hướng vị Thập địa vị Đẳng giác vị Diệu giác vị
lục tức phật
Buddha in six forms mentioned above.
; Sáu giai đoạn phát triển của Bồ Tát được nói rõ trong Thiên Thai Viên Giáo, đối lại với sáu giai đoạn phát triển hay Lục Vị của Biệt Giáo—The six stages of Bodhisattva developments as defined in the T'ien-T'ai Perfect or Final Teaching, in contrast with the ordinary six developments as found in the Differentiated or Separated School (see Lục Vị): (I) Ngoại Phàm—External or Common to all: 1) Lý Tức Phật: Mỗi chúng sanh đều sẳn có Phật tánh—Theoretical—Realization that all beings are of Buddha-nature. 2) Danh Tự Tức Phật: Từ trong danh tự mà lý giải thông suốt, tất cả những ai nghe và tín thọ phụng hành đều có thể thành Phật—First step in practical advance—The apprehension of terms, that those who only hear and believe are in the Buddha-law and potentially Buddha. (II) Nội Phàm—Internal for all: 3) Quán hạnh Tức Phật: Chẳng những lý giải mà còn thiền quán và y giáo phụng hành—Advance beyond terminology to meditation, or study and accordant action. 4) Tương Tự Tức Phật: Đem thực chứng đến gần chân lý tương tự như ở giai đoạn vô lậu thực sự (dựa vào quán lực tương tự mà phát chân trí và thấy tánh Phật—Semblance stage, or approximation of truth and its progressive experiential proof. 5) Phần Chơn Tức Phật: Cái chơn trí lần hồi mở ra, vén từng bức màn vô minh, tâm trí càng sáng tỏ thêm, lần lần đi đến chỗ sáng suốt hoàn toàn, được phần nào tốt phần đó—The real wisdom is gradually opened, the screen of ignorance is gradually rolled up, the mind is clearer and clearer to totally clear. 6) Cứu Cánh Tức Phật: Phá trừ tất cả vô minh và phiền não để đạt tới toàn giác—Destroy all ignorance and delusions to attain Perfect enlightenment (Fruition of holiness).
; (六即佛) Tông Thiên thai căn cứ vào Phật tính mà lập ra Lục tức vị, gọi là Lục tức Phật. Cứ theo Quán vô lượng thọ kinh sớ diệu tông sao quyển thượng, thì Lục tức Phật là: 1. Lí tức Phật, cũng gọi Lí Phật. Chỉ cho tất cả chúng sinh. Bởi vì tất cả chúng sinh vốn đầy đủ lí Phật tính, cùng với chư Phật không hai không khác, đều tức là Phật, nên gọi Lí tức Phật. 2. Danh tự tức Phật, cũng gọi Danh tự Phật. Chỉ cho người hoặc được nghe từ nơi thiện tri thức, hoặc xem trong kinh điển mà biết được danh từ Lí tính tức Phật. Những người ấy từ nơi danh tự mà rõ suốt tất cả pháp đều là Phật pháp, nên gọi là Danh tự tức Phật. 3. Quán hạnh tức Phật: Chỉ cho người đã biết rõ tất cả pháp đều là Phật pháp, từ đó nương theo giáo pháp mà tu hành, quán tâm được sáng tỏ, lí và tuệ tương ứng, quán hạnh tương tức, ngôn hành nhất như nên gọi là Quán hạnh tức Phật. Giai vị này được chia làm 5 phẩm vị: Tùy hỉ, đọc tụng, thuyết pháp, kiêm hành lục độ, chính hành lục độ. 4. Tương tự tức Phật: Chỉ cho người trong giai vị Quán hạnh tức nói trên, càng quán càng sáng, càng chỉ càng lặng, được 6 căn thanh tịnh, đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, chế phục được vô minh, giống như đã thực chứng, cho nên gọi là Tương tự tức Phật. 5. Phần chứng tức Phật, cũng gọi Phần chân tức Phật. Chỉ cho giai vị đoạn 1 phần vô minh mà chứng Trung đạo. Vô minh hoặc có 42 phẩm, từ các giai vị: Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác, lần lượt phá trừ 1 phẩm vô minh mà chứng được 1 phần Trung đạo. 6. Cứu cánh tức Phật: Chỉ cho người đoạn trừ phẩm vô minh thứ 42 cuối cùng, phát được trí giác cứu cánh viên mãn, chứng nhập quả vị Phật Diệu giác cùng tột. Lục tức Phật này, do sự sâu cạn của trí (ngộ) tình (mê) mà có 6 loại khác nhau, nhưng thể tính thì không hai, đây kia tức là nhau, cho nên gọi là Tức.
Lục Tức Thành Phật
(六卽成佛): trong giáo nghĩa của Thiên Thai Tông có luận một cách có hệ thống về các giai vị từ sơ phát tâm cho đến khi đạt quả vị Phật và phân chia ra thành Bốn Giáo là Tạng, Thông, Biệt, Viên. Về bản chất thì chúng sanh tức là Phật, nhưng về mặt tu hành thì lại có Sáu Tức, gồm: (1) Lý Tức (理卽, về mặt bản lai thì có thật tại thành Phật), (2) Danh Tự Tức (名字卽, lấy đây làm lý niệm mà lý giải), (3) Quán Hành Tức (觀行卽, quán tâm tu hành để thể nghiệm), (4) Tương Tợ Tức (相似卽, sáu căn thanh tịnh tương tợ với chơn giác ngộ), (5) Phần Chứng [Chơn] Tức (分証[眞]卽, thể hiện bộ phận của chơn như) và (6) Cứu Cánh Tức (究竟卽, hoàn toàn giác ngộ).
lục tự
The six words or syllables Nam mô A di đà Phật Namo Amitàbha.
Lục tự chú vương kinh
六字呪王經; C: liùzì zhòuwáng jīng; J: rokujijuō kyō;|Lục tự thần chú vương kinh (六字神呪王經).
Lục Tự Chú Vương Kinh 六字呪王經
[ja] ロクジジュオウキョウ Rokujijuō kyō ||| The Liuzi zhouwang jing< (T 1044.20.38-39); see Liuzi shenzhou wang jīng 六字神呪王經. Xem Lục Tự Thần Chú Vương Kinh六字神呪王經
lục tự danh hiệu
Sáu chữ danh hiệu của Đức Phật A Di Đà—Six characters of Amitabha Buddha.
lục tự di đà
Sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật—Six characters of Amitabha Buddha.
lục tự hà lâm pháp
Phép sáu chử Quán Âm khi ở giữa sông—Six words connected with the six forms of Kuan-Yin when in the middle of a river.
lục tự quán âm
Lục Tự Chương Cú hay Lục Tự Pháp trong trường phái Chân Ngôn gắn liền với sáu hình thức của Bồ tát Quán Âm—The esoteric (Shingon) six words connected with the six forms of Kuan-Yin.
Lục tự thần chú vương kinh
六字神呪王經; C: liùzì shénzhòu wáng jīng; J: rokuji shinju ō kyō; S: ṣaḍakṣara-vidyā; t: yi ge drug pa'i rig sngags;|Sự cầu nguyện năng lực tiêu trừ tai chướng của Bồ Tát Quán Thế Âm. Gồm có các bản sau:|1. Lục tự chú vương kinh (六字呪王經), 1 quyển, không rõ người dịch, hoàn chỉnh năm 317-420; 2. Lục tự thần chú vương kinh (六字神呪王經), 1 quyển, hoàn chỉnh năm 502-557, không rõ người dịch; 3. Thỉnh Quán Thế Âm Bồ Tát tiêu phục độc hại đà-la-ni chú kinh (請觀世音菩薩消伏毒害陀羅尼呪經), 1 quyển. Gọi tắt là Tiêu phục độc hại kinh (消伏毒害經), Thỉnh Quán Thế Âm kinh (請觀世音經), Quán Âm kinh (觀世音經); Nan-đề (難提; s: nandi) dịch. Luận giải kinh nầy bằng tiếng Hán gồm có: Thỉnh Quán Âm kinh sớ (請觀音經疏) của Trí Khải (智顗), Thỉnh Quán Âm kinh sớ xiển nghĩa sao (請觀音經疏闡義鈔) của Trí Viên (智圓); 4. Thánh lục tự đại minh vương đà-la-ni (聖六字大明王陀羅尼經), 1 quyển, Thí Hộ (施護; s: dānapāla) dịch.
Lục Tự Thần Chú Vương Kinh 六字神呪王經
[ja] ロクジジンジュオウキョウ Rokuji shinju ō kyō ||| Skt. Ṣaḍakṣara-vidyā; Tib. yi ge drug pa'i rig sngags [To.575/917]; (Six Syllable Incantation). An evocation of the hardship-dispelling powers of Avalokiteśvara 觀音. (1) 1 fasc. (T 1044.20.38-39), Six-Syllable Spell Sutra 六字呪王經, tr. unknown, completed 317-420 CE. (2) 1 fasc. (T 1045.20.39-43), Six-Syllable Incantation Sutra 六字神呪王經, tr. unknown, completed 502-557 CE. (3) 1 fasc. (T 1043.20.34-38), 請觀世音菩薩消伏毒害陀羅尼呪經, abbr. 消伏毒害經, 請觀世音經, 觀世音經; trans. Nandi 難提. Chinese commentary: Zhiyi's 智顗 Commentary on the Sound-Contemplator Petitioning Sutra 請觀音經疏 (T 1800); Chinese sub-commentary by Zhiyuan 智圓: Selected Clarifications of the Commentary on the Sound-Contemplator Petitioning Sutra 請觀音經疏闡義鈔 (T 1801). (4) 1 fasc. (T 1047.20.44-48), Dhāraṇī of the Great Six-Syllable King of Mantras 聖六字大明王陀羅尼經 tr. Dānapāla 施護. KI (mb) 5. => (s: Ṣaḍakṣara-vidyā; t: yi ge drug pa'i rig sngags; e: Six Syllable Incantation). Sự cầu nguyện năng lực tiêu trừ tai chướng của Bồ-tát Quán Thế Âm. Gồm có các bản sau: 1. Lục Tự Chú Vương Kinh, 1 quyển, không rõ người dịch, hoàn chỉnh năm 317-420. 2. Lục Tự Thần Chú Vương Kinh , 1 quyển, hoàn chỉnh năm 502-557. 3. Thỉnh Quán Thế Âm Bồ-tát Tiêu Phục Độc Hại Đà La Ni Chú Kinh. 1 quyển. gọi tắt là Tiêu Phục Độc Hại Kinh. Thỉnh Quán Thế Âm Kinh, Quán Thế Âm Kinh; Nan đề dịch. Luận giải Kinh nầy bằng tiếng Hán gồm có: Thỉnh Quán Thế Âm Kinh Sớ của Trí Khải, Thỉnh Quán Thế Âm Kinh Sớ Xiển Nghĩa Sao của Trí Viên. 4. Thánh Lục Tự Đại Minh Chú Đá La Ni, 1 quyển, Thi Hộ (s: Dānapāla) dịch.
lục tự tại vương
Sáu căn cũng chính là sáu kẻ cai trị chúng sanh—The six sovereign rulers or the six senses—See Lục Căn.
lục tự văn thù
Sáu chữ Đà La Ni của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Án, Phạ, Kẹ, Đạm, Nạp, Mạc)—The six-word dharani of Manjusri.
lục tự đà la ni
Aum Mani Padme Hum (Án Ma ni Bát di Hồng).
; See Lục Tự Văn Thù.
lục tự đại minh chú
Vidyā-ṣaḍaksari (S).
lục vô giảm
(六無减) Sáu thứ công đức vĩnh viễn không sụt giảm sau khi đắc đạo, tức là 6 pháp trong 18 pháp bất cộng của Phật nói trong kinh Bát nhã. 1. Dục vô giảm: Tâm muốn cứu độ chúng sinh không bao giờ sụt giảm. 2. Tinh tiến vô giảm: Tâm tinh tiến siêng năng hóa độ chúng sinh không khi nào sụt giảm. 3. Niệm vô giảm: Tâm ghi nhớ các pháp trong 3 đời không bao giờ sụt giảm. 4. Tuệ vô giảm: Trí tuệ phân biệt tất cả pháp tướng vĩnh viễn không sụt giảm. 5. Giải thoát vô giảm: Phật đã diệt trừ tất cả tập khí phiền não mà chứng được giải thoát, cho nên không bao giờ sụt giảm. 6. Giải thoát tri kiến vô giảm: Tri kiến chứng được giải thoát vô biên và thanh tịnh vĩnh viễn không sụt giảm. [X. luận Đại trí độ Q.26]. (xt. Thập Bát Bất Cộng Pháp).
lục vô thường lục thí
See Lục Dụ.
lục vô thượng
Anuttariyani (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong trường Bộ Kinh, có sáu vô thượng—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six unsurpassed things: 1) Kiến Vô Thượng: Unsurpassed sights. 2) Văn Vô Thượng: Unsurpased things heard. 3) Lợi Đắc Vô Thượng: Unsurpassed gains. 4) Học Giới Vô Thượng: Unsurpassed trainings. 5) Hành Vô Thượng: Pari-cariyanuttariyam (p)—Unsurpassed forms of service. 6) Ức Niệm Vô Thượng: Unsurpassed objects of recollection.
lục vô uý
(六無畏) Sáu thứ công đức của tâm Bồ đề nhất niệm mà hành giả Chân ngôn đạt được ở 3 kiếp trước Thập địa, cũng là 6 nơi an ổn để hành giả Mật giáo tái sinh, cho nên gọi là Lục vô úy (6 nơi không sợ). 1. Thiện vô úy: Tu 10 nghiệp thiện, dứt 10 nghiệp ác, xa lìa khổ não trong 3 đường ác, thường sinh ở cõi người, cõi trời, đó là nơi tái sinh an ổn thứ nhất, tức là giai vị mà hành giả Chân ngôn nương vào hạnh tam mật để cúng dường Bản tôn. 2. Thân vô úy: Tu tập quán xét thân mình, không sinh tâm tham ái, tự thân xa lìa mọi sự ràng buộc, là nơi tái sinh an ổn thứ 2, tức là giai vị mà hành giả Chân ngôn nương vào quán hạnh hữu tướng, để quán các tướng hiện tiền của Bản tôn. 3. Vô ngã vô úy: Biết rõ ngã là sự tích tụ của thủ uẩn, không có thực thể, xa lìa sự trói buộc của ngã, đó là nơi tái sinh thứ 3; tức là giai vị mà hành giả Chân ngôn ở trong tất cả phần đoạn của cảnh giới Du già, quán tâm không có thực thể, nên không sinh ái mạn. 4. Pháp vô úy: Quán xét các uẩn tức không, xa lìa sự trói buộc của các uẩn, đó là nơi tái sinh thứ 4, tức là giai vị mà hành giả Chân ngôn quán cảnh giới Du già vô tính vô sinh như bóng trong gương, trăng dưới nước. 5. Pháp vô ngã vô úy: Quán xét các pháp vô ngã, biết rõ lí vốn chẳng sinh, xa lìa sự trói buộc của pháp, là chỗ tái sinh an ổn thứ 5, tức là giai vị mà hành giả Chân ngôn được tâm tự tại trong đạo Du già. 6. Nhất thiết pháp tự tính bình đẳng vô úy: Quán xét tự tâm rốt ráo là tính không; ngã, uẩn, pháp và vô duyên đều cùng 1 tính, tức biết rõ tự tính là vô tính mà phát sinh trí không, xa lìa 2 thứ trói buộc của hữu vi giới và vô vi giới, là nơi tái sinh an ổn thứ 6; tức là giai vị mà hành giả Chân ngôn quán xét thực tướng của tâm, trụ nơi tâm Bồ đề thanh tịnh như hư không. Nếu phối hợp 6 vô úy này với 3 kiếp, thì 4 vô úy trước thuộc về giai vị của kiếp đầu tiên, vô úy thứ 5 thuộc giai vị của kiếp thứ 2 và vô úy thứ 6 là giai vị của kiếp thứ 3. Duy chỉ có điểm khác nhau là 3 kiếp được căn cứ vào 3 vọng chấp (thô, tế, cực tế) sở độ mà thành lập, còn 6 vô úy thì căn cứ vào tâm Bồ đề thanh tịnh năng độ mà được thành lập. [X. phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.3; Chân ngôn danh mục; Đại nhật kinh sớ sao Q.1; Bí tông giáo tướng sao Q.5].
lục vô vi
(六無爲) Phạm: Wađasaôskfta. Sáu pháp vô vi căn cứ vào thức biến và pháp tính mà được giả lập, 1 trong 5 vị, 100 pháp của tông Duy thức. Đó là: 1. Hư không vô vi: Chân như được hiển hiện do đã xa lìa phiền não chướng và sở tri chướng. Chân như này không có chướng ngại, giống như hư không, cho nên gọi là Hư không vô vi. 2. Trạch diệt vô vi: Chân lí hiển hiện do thoát li sự trói buộc của tất cả hữu lậu. Đây là căn cứ vào sự đoạn chướng mà đặt tên, vì trạch diệt nghĩa là xa lìa sự trói buộc, nên gọi là Trạch diệt vô vi. 3. Phi trạch diệt vô vi: Tự tính của Chân như xưa nay vốn là thanh tịnh, lìa các tạp nhiễm, vì nó không phải do sức lựa chọn của trí vô lậu nên gọi là Phi trạch diệt vô vi. Đây là theo sự giải thích của Đại thừa. Còn theo sự giải chung của Đại thừa lẫn Tiểu thừa, thì pháp hữu vi thiếu duyên nên không sinh, nếu cái không sinh này diệt thì chân lí hiển hiện, đây cũng chẳng phải do sức chọn lựa của trí vô lậu, nên gọi là Phi trạch diệt vô vi. 4. Bất động vô vi: Chỉ cho vô vi hiển hiện ở đệ Tứ thiền. Vì ở cõi này chỉ có xả thụ, chứ không có khổ thụ và lạc thụ, nên gọi là Bất động. Vì ở cảnh diệt khổ thụ và lạc thụ mà hiển hiện chân lí vắng lặng, nên gọi là Bất động vô vi. 5. Tưởng thụ diệt vô vi: Vô vi hiển hiện ở trong Diệt tận định. Vì ở trong Diệt tận định, diệt hết tâm tưởng 6 thức và 2 thụ khổ, lạc, cho nên gọi là Tưởng thụ diệt vô vi. 6. Chân như vô vi: Pháp vô vi vốn chân thực thường như, không hư vọng biến đổi, nên gọi là Chân như vô vi. Trong 6 vô vi, 5 vô vi trước là mượn tên để giải thích rõ tướng của pháp tính, còn vô vi thứ 6 là mượn tên để giải thích rõ thể của pháp tính. Sáu vô vi do thức biến, nghĩa là từng nghe nói đến tên hư không, lại theo sự phân biệt mà có tướng hư không, rồi do sức huân tập mà biến hiện ra tướng vô vi giống như hư không. Tướng sở hiện này trước sau giống nhau không thay đổi, nên giả nói là thường. Ngoài ra, các nhà Duy thức còn chia Chân như vô vi trong 6 vô vi nói trên thành 3 thứ là: Thiện pháp chân như, Bất thiện pháp chân như và Vô kí pháp chân như, thêm vào 5 vô vi trước mà lập thuyết Bát vô vi (tám vô vi). [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần cuối; Bách pháp vấn đáp sao Q.9]. (xt. Vô Vi).
lục vạn tạng
Sáu vạn câu kệ mà Đề Bà Đạt Đa đã học thuộc từ kinh Phật cũng không cứu nổi tự thân sa vào A Tỳ địa ngục—The sixty thousand verses of the Buddha-law which Devadatta could recite, an ability which did not save him from falling to the Avici Hell.
; (六萬藏) Tạng nghĩa là Pháp tạng, tức giáo pháp do đức Phật nói. Pháp tạng của đức Phật gồm 6 vạn bài kệ, gọi là Lục vạn tạng. Kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 4 (Đại 3, 147 thượng), nói: Đề bà đạt đa tuy theo Phật xuất gia, nhưng tâm ghen ghét rất sâu nặng, thường trông mong lợi dưỡng, nên dù có đọc tụng kinh Lục vạn hương tượng nhiều lần cũng không thoát khỏi tội địa ngục A tị. [X. luận Đại trí độ Q.14].
lục vật
The six things personal to amonk - sanghàti, the patch robe; uttarà sanghàti, the stole of seven pieces; antara-vàsaka, the skirt or inner garment of five pieces; the above are the tam y three garments; pàtra begging bowl; nisìdana a stool; and a water-strainer. The six are also called tam y lục vật.
; Sáu vật mà Tỳ Kheo phải có—The six things which a monk must have: (I) Tam Y—Three robes or garments: 1) Tăng Già Lê: Đại y hay áo cửu điều (chín mảnh)—Sanghati (skt)—The nine-patched robe. 2) Uất Đa La Tăng: Trung y hay áo thất điều (bảy mảnh)—Uttara-sanghati (skt)—The stole of seven pieces or seven-patched robe. 3) An Đà Hội: Hạ y hay áo ngũ điều (năm mảnh)—Antara-vasaka (skt)—The skirk of inner garment of five pieces. (II) Tam Vật—Three things: 4) Thiết Đa La: Bát sắt—Patra (skt)—begging bowl. 5) Ni Sư Đàn: Vải lót ngồi hay ghế đẩu nhỏ—Nisidana (skt)—A stool. 6) Túi lọc nước: A water strainer.
; (六物) Gọi đủ: Tỉ khưu lục vật. Sáu vật dụng cần thiết mà đức Phật cho phép các vị tỉ khưu được cất giữ. Đó là: Tăng già lê (đại y), Uất đa la tăng (thượng y), An đà hội (trung y), bình bát, ni sư đàn (đồ dùng trải để ngồi nằm) và túi để lọc nước uống. Nếu bỏ bớt ni sư đàn và túi lọc nước, thì 4 thứ còn lại được gọi chung là Tam y nhất bát (3 áo 1 bát). Còn nếu thêm 2 dụng cụ nữa là cái kim dùng để khâu vá và cái ống đựng kim vào Lục vật thì gọi là Bát vật. Ngoài 6 vật dụng cần thiết ra, vị tỉ khưu cũng được phép cất giữ các vật khác, gọi là Trướng vật, Dư trướng vật (Phạm:Atireka, vật sở hữu ngoài qui định) trong 10 ngày, nếu quá thời hạn này thì phạm giới. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.17; luật Thập tụng Q.28; Thiện kiến luật tì bà sa Q.7; luật Tứ phần Q.41; Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.13; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 1; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Thích thị yếu lãm Q.trung]. (xt. Thập Bát Vật, Tăng Vật).
Lục Vị
(六味): tức 6 loại vị khác nhau; gồm đắng, chua, ngọt, cay, mặn, lạt, được tìm thấy trong Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 1, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 1, v.v. Theo bản Đại Minh Tam Tạng Pháp Số (大明三藏法數) quyển 28, giải thích rằng: (1) Khổ (s: tikta, 苦, đắng), tánh của nó lạnh, có thể hóa giải cái nóng trong phủ tạng; (2) Thố (s: amla, 醋, chua như giấm), còn gọi là toan (酸), tạc (酢), tánh của nó mát, có thể giải vị của các chất độc; (3) Cam (s: madhura, 甘, ngọt), còn gọi là điềm (甜), tánh của nó hòa, có thể điều hòa lá lách, ruột; (4) Tân (s: kaṭuka, 辛, cay), tánh của nó nóng, vì vậy có thể hóa giải cái lạnh trong phủ tạng; (5) Hàm (s: lavaṇa, 鹹, mặn), tánh của nó thấm, nên có thể giúp thấm sâu vào da thịt; (6) Đạm (s: kaśāya, 淡, lạt), là thể để nhận các vị. Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh quyển 4 lấy 6 vị này thí dụ cho pháp nghĩa của kinh; Khổ là vị chua, Vô Thường là vị mặn, Vô Ngã là vị đắng, Lạc là vị ngọt, Ngã là vị cay và Thường là vị lạt. Trong Kinh Luật Giới Tướng Bố Tát Quỹ Nghi (經律戒相布薩軌儀, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1136), phần Thọ Thực Ngũ Quán Pháp (受食五觀法), có đoạn: “Tam Đức Lục Vị, cúng Phật cập tăng, pháp giới hữu tình, phổ đồng cúng dường (三德六味、供佛及僧、法界有情、普同供養, Ba Đức Sáu Vị, cúng Phật và tăng, pháp giới hữu tình, khắp cùng cúng dường).” Hay trong Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1452) quyển 1, phần Pháp Ngữ (法語), lại có đoạn: “Tam Đức bất giải, Lục Vị bất biện, kiêm tự kỷ thân khẩu ý Tam Nghiệp bất tịnh, tắc biện thực chi sở, bất danh Hương Tích Trù, vị chi Uế Tích Trù hĩ (三德不解、六味不辨、兼自己身口意三業不淨、則辦食之所、不名香積廚、謂之穢積廚矣, Ba Đức không hiểu, Sáu Vị chẳng rõ, cọng thêm Ba Nghiệp thân miệng ý của bản thân cũng không trong sạch, thì nơi chuẩn bị thức ăn, không gọi là Nhà Bếp Hương Tích, mà gọi là Nhà Bếp Ô Uế vậy).”
lục vị
xem sáu vị.
; Gồm: khổ (đắng), toan (chua), cam (ngọt), tân (cay, hàm (mặn), đạm (lạt).
; The six stages of Bodhisattva development, i.e. thập tín, thập trụ, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác, Phật địa.
; (A) Sáu vị—The six tastes or flavours: 1) Cay: Acrid—Hot. 2) Đắng: Bitter. 3) Ngọt: Sweet. 4) Lạt: Insipid. 5) Mặn: Salt. 6) Chua: Sour. (B) Sáu ngôi vị hay giai đoạn trong tiến trình phát triển Bồ Tát đạo trong Thiên Thai Biệt Giáo—The six ordinary developments found in the T'ien-T'ai Differentiated or Separated School: 1) Thập Tín Vị: Ten grades of Bodhisattva faith—See Thập Tín Tâm. 2) Thập trụ Vị: Ten grounds—See Thập Trụ. 3) Thập Hồi Hướng Vị: See Ten Kinds of Dedications. 4) Thập Địa Vị: Ten Stages of Bodhisattva—See Thập Địa Bồ Tát. 5) Đẳng Giác vị: The fifty-first stage in the fifty-two stages towards the Buddha-bhumi. 6) Phật Địa Vị: Buddha-bhumi or Buddha stage—See Phật Địa.
; (六位) Sáu giai vị trong quá trình tu hành của Bồ tát. Theo kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) thì 6 giai vị ấy là: Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa và Phật địa. Còn kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) thì thêm giai vị Đẳng giác vào sau Thập địa mà gọi là Thất vị. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Thập trụ tâm quảng danh mục Q.5].
; (六味) Sáu mùi: Đắng, chua, ngọt, cay, mặn và lạt. Theo Đại minh tam tạng pháp số quyển 28, thì 6 vị là: 1. Đắng (Phạm:Tikta): Tính của vị này lạnh, có công năng giải nhiệt tạng phủ. 2. Chua (Phạm:Amla): Tính của vị này mát, có công năng giải các vị độc. 3. Ngọt (Phạm:Madhura): Tính ôn hòa có công năng điều hòa lá lách và dạ dày. 4. Cay (Phạm:Kaỉuka): Tính nóng, có công năng trị tạng phủ chân hàn. 5. Mặn (Phạm: Lavaịa): Tính nhuận, có công năng làm cho da tươi nhuận. 6. Lạt (Phạm:Kazàya): Là thể để tiếp nhận các vị khác. Kinh Đại bát niết bàn quyển 4 (bản Bắc) dùng 6 vị để ví dụ pháp nghĩa của kinh này, tức khổ là vị chua, vô thường là vị mặn, vô ngã là vị đắng, vui là vị ngọt, ngã là vị cay và thường là vị lạt. [X. Niết bàn kinh sớ Q.9; luận Cam lộ vị Q.thượng; Phiên dịch danh nghĩa đại tập].
lục vị tâm sở
(六位心所) Sáu loại tâm sở. Về tính chất của 6 loại tâm sở, sự phân biệt của tông Câu xá (Tiểu thừa) và tông Duy thức (Đại thừa) có khác nhau. A. Tông Câu Xá chia tâm sở làm 6 loại, 46 món như sau: 1. Đại địa pháp: Những tâm phẩm khởi lên trong khắp tất cả tâm phẩm, gồm 10 món: Thụ, tưởng, tư, xúc, dục, tuệ, niệm, tác ý, thắng giải và tam ma địa. 2. Đại thiện địa pháp: Những tâm sở khởi lên trong khắp tất cả tâm thiện, gồm 10 món: Tín, bất phóng dật, khinh an, xả, tàm, quí, vô tham, vô sân, bất hại và cần (siêng năng). 3. Đại phiền não địa pháp: Những tâm sở khởi lên trong tất cả các pháp phiền não như: Bất thiện, Hữu phú vô kí v.v... gồm 6 món: Si, phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm và điệu cử. 4. Đại bất thiện địa pháp: Những tâm sở khởi lên trong tất cả tâm phẩm bất thiện, gồm 2 món: Vô tàm, vô quí. 5. Tiểu phiền não địa pháp: Những tâm sở tự thể bất thiện và hữu phú vô kí khởi lên không khắp tất cả tâm phẩm, gồm 10 món: Phẫn, phú, khan, tật, não, hại, hận, siểm, cuống, kiêu. 6. Bất định địa pháp: Những tâm sở không nhất định thuộc loại nào trong 5 loại trước, gồm 8 món: Tầm, tứ, thụy miên, ác tác, tham, sân, mạn và nghi. Đồ Biểu Như Sau: Đại địa pháp 10: Thụ, tưởng, tư, xúc, dục, tuệ, niệm, tác ý, thắng giải, tam ma địa Đại thiện địa pháp 10: Tín, bất phóng dật, khinh an, xả, tàm, quí, vô tham, vô sân, bất hại Đại phiền não địa pháp 6: Si, phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm, điệu cử Đại bất thiện địa pháp 2: Vô tàm, vô quí Tiểu phiền não địa pháp 10: Phẫn, phú, khan, tật, não, hại, hận, siểm, cuống, kiêu Bất định địa pháp 8: Tầm, tứ, thụy miên, ác tác, tham, sân, mạn, nghi B. Tông Duy Thức chia tâm sở làm 6 loại, 51 món như sau: 1. Biến hành tâm sở: Những tâm sở sinh khởi trong tất cả tính, tất cả địa, tất cả thời, tất cả đều khởi, gồm 5 món: Xúc, tác ý, thụ, tưởng, tư. 2. Biệt cảnh tâm sở: Những tâm sở sinh khởi trong tất cả tính, tất cả địa, nhưng đối với cảnh thì có khi khởi có khi không khởi, gồm 5 món: Dục, thắng giải, niệm, định, tuệ. 3. Thiện tâm sở: Những tâm sở có tính thiện, chỉ sinh khởi với tâm thiện, gồm 11 món: Tín, tinh tiến, tàm quí, vô tham, vô sân, vô si, khinh an, bất phóng dật, hành, xả, bất hại. 4. Phiền não tâm sở: Những phiền não căn bản, gồm 6 món: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. 5. Tùy phiền não tâm sở: Những tâm sở theo các phiền não căn bản mà sinh khởi, gồm 20 món: Phẫn, hận, não, phú, cuống, siểm, kiêu, hại, tật, khan, vô tàm, vô quí, bất tín, giải đãi, phóng dật, hôn trầm, trạo cử, thất niệm, bất chánh tri và tán loạn. 6. Bất định tâm sở: Những tâm sở không thuộc trong 5 loại trước gồm 4 món: Hối, miên, tầm, tứ... Đồ Biểu Như Sau: Lục Vị Biến hành 5: Xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư Biệt cảnh 5: Dục, thắng giải, niệm, định, tuệ Thiện 11: Tín, tinh tấn, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại Phiền não 6: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến Tùy phiền não 20: Phẫn, hận, não, phú, cuống, siểm, kiêu, hại, tật, khan, vô tàm, vô quí, bất tín, giải đãi, phóng dật, hôn trầm, trạo cử, thất niệm, bất chánh tri, tán loạn Bất định 4: Hối, miên, tầm, tứ
lục vọng
Lục Vong—Chỉ sáu căn là những kẻ dẫn dắt chúng sanh đến chỗ mê lầm—The six misleaders, the six senses—See Lục Căn.
lục xuất ly giới
Nissaraniya-dhatuyo (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu xuất ly giới—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six elements making for deliverance: 1) Tu Tập Từ Tâm Giải Thoát—Having developed the emancipation of the heart through LOVING-KINDNESS: Ở đây vị Tỳ Kheo nói như sau: “Ta đã tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm cho thành cỗ xe, làm thành căn cứ an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy sân tâm vẫn ngự trị tâm ta.” Vị ấy cần phải được bảo như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Đại Đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy.” Những lời nói của vị nầy là vô căn cứ và không thể nào như vậy được. Ai tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, sân tâm không thể nào ngự trị và an trú nơi kẻ ấy được—Here a monk might say “I have developed the emancipation of the heart by LOVING-KINDNESS (metta), expanded it, made it a vehicle and a base, established, worked well on it, set it well in train. And yet ill-will still grips my heart. He should be told :No! Do not say that!Do not misrepresent the Blessed Lord, it is not right to slander him thus, for he would not have said such a thing! Your words are unfounded and impossible. If you develop the emanicipation of the heart through loving-kindness, ill-will has no chance to envelop your heart. This emancipation through loving kindness is a cure for ill-will. 2) Tu Tập Bi Tâm Giải Thoát—Emancipation of heart through compassion: Ở đây vị Tỳ Kheo nói như sau: “Ta đã tu tập tâm bi giải thoát, tuy vậy hại tâm vẫn ngự trị tâm ta.”—Here a monk might say: “I have developed the emanicipation of the heart through compassion (karuna), and yet cruelty still grips my heart.” (the rest remains the same as in Lục Xuất Ly Giới 1). 3) Tu Tập Hỷ Tâm Giải Thoát—Emancipation of the heart through sympathetic joy (mudita): Ở đây vị Tỳ Kheo nói như sau: “Ta đã tu tập hỷ tâm giải thoát, tuy vậy bất lạc tâm vẫn ngự trị tâm ta.”—Here a monk might say: “I have developed the emancipation of the heart through sympathetic joy,… and yet aversion (prati) still grips my heart.” (threst remains the same sa in Lục Xuất Ly Giới 1). 4) Tu Tập Xả Tâm Giải Thoát—Emancipation of the heart through equanimity: Ở đây vị Tỳ Kheo nói: “Ta đã tu tập xẻ tâm giải thoát, tuy vậy tham tâm vẫn ngự trị tâm ta.”—Here a monk might say: “I have developed the emancipation of the heart through equanimity (upeka,…, and yet lust (rago) grips my heart.” 5) Tu Tập Vô Tướng Tâm Giải Thoát—The signless emancipation of the heart: Ở đây vị Tỳ Kheo nói: “Ta đã tu tập vô tướng tâm giải thoát, tuy vậy tâm ta vẫn chạy theo các tướng.”—Here a monk might say: “I have developed the signless emancipation of the heart, and yet my heart still hankers after signs (nimittanusari-hoti).” (the rest remains the same as in Lục Xuất Ly Tướng 1). 6) Tu Tập Khước Từ Sự Ngạo Mạn “tôi có mặt,” mà mũi tên do dự nghi ngờ được giải thoát—The emancipation of the heed to the idea: 'I am this,' means the emancipation of doubts, uncertainties, and problems: Ở đây vị Tỳ Kheo nói: “Quan điểm 'tôi có mặt,' 'tôi bị từ khước,' 'tôi là cái nầy,' không được tôi chấp nhận, tuy vậy mũi tên nghi ngờ do dự vẫn ám ảnh an trú trong tôi.”—Here a monk might say: “The idea 'I am is repellent to me, I pay no heed to the idea: I am this.” Yet doubts, uncertainties and problems still grip my heart.” (the rest remains the same as in Lục Xuất Ly Giới 1).
lục xích đan
(六尺單) Chỉ cho đơn (cái giường) của mỗi vị tăng đặt trong nhà Thiền. Vì đơn này có chiều dài 6 thước (Tàu) và rộng 3 thước nên gọi là Lục xích đơn (giường 6 thước). Tấm ván gỗ ở trước giường gọi là Đơn bản; tấm ván này rộng khoảng 8 tấc, tính theo thước đời nhà Chu thì là 1 thước. Nếu lấy chiều dài của đơn là 6 thước cộng thêm với 1 thước đơn bản, thì gọi là Thất xích đơn. Vì thế, trong Thiền lâm thường dùng các từ ngữ Lục xích đơn, Thất xích đơn, hoặc Thất xích đơn tiền để gọi thay cho giường của chúng tăng. [X. chương Kế viên thiền sư trong Tục truyền đăng lục].
lục xúc
xem sáu xúc.
; See Lục Tài.
; (六觸) Chỉ cho 6 tác dụng tinh thần do 6 căn, 6 cảnh và 6 thức hòa hợp mà sinh ra. Đó là: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tị xúc, thiệt xúc, thân xúc và ý xúc. 1. Nhãn xúc sinh ái: Mắt tiếp xúc với những màu sắc, hình dáng xinh đẹp ở thế gian mà sinh tâm ưa thích, không chịu lìa bỏ. 2. Nhĩ xúc sinh ái: Tai thường tiếp xúc với tất cả tiếng ca hát, đàn sáo, âm điệu du dương ở thế gian mà sinh tâm ưa thích, không lìa bỏ. 3. Tị xúc sinh ái: Mũi thường tiếp xúc với các mùi thơm ở thế gian như chiên đàn, trầm thủy v.v... mà tâm sinh ưa thích, không lìa bỏ. 4. Thiệt xúc sinh ái: Lưỡi thường tiếp xúc với tất cả hương vị thơm ngon của thế gian mà sinh tâm ưa thích, không lìa bỏ. 5. Thân xúc sinh ái: Thân tiếp xúc với làn da mịn màng trơn láng của người nam, người nữ mà sinh tâm ham thích, không lìa bỏ. 6. Ý xúc sinh ái: Ý thường duyên theo tất cả các pháp như sắc, thanh, hương, vị, xúc của thế gian mà sinh tâm ưa thích, không lìa bỏ. [X. kinh Tạp a hàm Q.13; luận Câu xá Q.10; luận Thuận chính lí Q.29; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1].
lục xúc thân
Phassa-kaya (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu xúc thân—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six groups of contacts: 1) Nhãn Xúc: Eye-contact. 2) Nhĩ Xúc: Ear-contact. 3) Tỷ Xúc: Nose-contact. 4) Thiệt Xúc: Tongue-contact. 5) Thân Xúc: Body-contact. 6) Ý Xúc: Mano-samphasso (p)—Mind-contact.
Lục xứ
六處; hoặc Lục nhập (六入); S: ṣaḍāyatana; P: saḷāyatana;|»Sáu xứ« tức là sáu đối tượng của sáu giác quan (Lục căn): 1. Sắc xứ, đối tượng của mắt, 2. Âm thanh, đối tượng của tai, 3. Hương, đối tượng của mũi, 4. Vị, đối tượng của lưỡi, 5. Xúc, cảm xúc, đối tượng của thân, 6. Tâm Pháp (tâm pháp có thể là một ý nghĩ, một khái niệm…), đối tượng của ý. Trong Mười hai nhân duyên, sáu xứ chính là yếu tố thứ 5 – lục nhập – chúng là đối tượng cảm nhận của người vừa sinh ra (Danh sắc), chúng làm cho con người có Xúc (s: sparśa) với thế giới bên ngoài.
lục xứ
Sadayatana (skt)—Sáu nơi sinh thức, một trong mười hai nhân duyên. Chúng chính là Lục căn hay Lục Nhập—The six places or abodes of perception or sensation, one of the nidanas. They are the six organs of sense, but this term is also used for the six entrances—See Lục Căn, Lục Cảnh, and Lục Nhập.
lục xứ-lục nhập
Sadàyatana (S). The six places, or abodes of perception or sensation, one of the nidànas. Six spheres of sense-organs.
lục y
Six kinds of robes.
; Sáu giác quan hay sáu chỗ để nhận biết—The six senses on which one relies or from which knowledge is received: 1) Mắt: Eyes. 2) Tai: Ears. 3) Mũi: Nose. 4) Lưỡi: Tongue. 5) Thân: Body. 6) Ý: Mind. ** For more information, please see Lục Tình.
lục ác
(六惡) Chỉ cho 6 cái: Ác thời, Ác thế giới, Ác chúng sinh, Ác kiến, Ác phiền não, Ác tà vô tín thịnh thời. 1. Ác thời: Thời đại xấu ác, chỉ cho kiếp trược. 2. Ác thế giới: Thế giới xấu ác, tức thế giới Sa bà. 3. Ác chúng sinh: Chúng sinh xấu ác, tức Chúng sinh trược trong 5 trược ác. Nghĩa là do cái thấy vẩn đục, phiền não vẩn đục mà sinh ra tư tưởng xấu ác, phiền não xấu ác. 4. Ác kiến: Tức là kiến trược, lấy 5 lợi sử như thân kiến, biên kiến v.v... làm thể. 5. Ác phiền não: Phiền não vẩn đục, nghĩa là duyên theo cảnh ngũ dục mà khởi các phiền não tham, sân v.v... 6. Ác tà vô tín thịnh thời: Thời đại trong đó những điều gian tà bất tín thịnh hành. Từ gọi chung khi cường độ của 5 trược tăng lên kịch liệt.
lục ái thân
Tanha-kaya (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu ái thân—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six groups of craving: 1) Sắc Ái: Craving for sights. 2) Thanh Ái: Craving for sounds. 3) Hương Ái: Craving for smella. 4) Vị Ái: Craving for tastes. 5) Xúc Ái: Craving for touches. 6) Pháp Ái: Craving for mind-objects.
lục điểm tái sanh
Theo Kinh A Hàm thì Phật dạy rằng phàm một người khi đã chết thì thân thể trở nên lạnh giá vì hỏa đại đã tắt mất. Tuy nhiên, sau khi tắt thở rồi, nhưng trong thân thể cũng vẫn còn một chỗ nóng tối hậu trước khi hoàn toàn trở nên lạnh giá. Nơi nào Thần Thức thoát ra sau cùng thì nơi đó là nơi còn ấm sau cùng trong thân thể, và có sáu nơi tiêu biểu cho sáu đường tái sanh, hoặc nóng nơi đỉnh đầu, nóng ở mắt, nóng nơi ngực, nóng nơi bụng, nóng nơi đầu gối, hoặc nóng nơi hai lòng bàn chân. Thỉnh thoảng điểm nóng nầy vẫn còn nóng đến bốn năm tiếng đồng hồ sau khi chết. Có sáu điểm nóng tối hậu tiêu biểu cho sự tái sanh nơi lục đạo—The Buddha taught in the Agama sutra that once death arrives, the body will turn cold because the 'great fire' has already burned out. Even so, after all breathing has ceased, in the body there is one last warm spot before the entire body turns cold. The last warm spot represents the place where the conciousness of the deceased escaped the mortal body, and these warm spots may be at the crown of the head, the eye, the chest, the stomach, the knee, or the soles of both feet. Sometimes this warm spot will remain for as long as four to five hours after the person has died. There are six places in the body that represent the six paths of rebirth: 1) Đảnh Thánh—The crown (warm spot) stands for Sainthood or Corwn Enlightenment: Khi một người đã chết được vài giờ, khắp thân thể chỗ nào cũng giá lạnh như băng, nhưng vẫn còn điểm nóng trên đỉnh đầu, nghĩa là thần thức của người nầy do nơi đỉnh đầu mà xuất ra khỏi thân xác, tức là người ấy tái sanh vào cõi Thánh. Nói cách khác, khi thần thức của người chết xuất ra từ nơi đỉnh đầu, chúng ta biết chắc là thần thức của người ấy được siêu thoát về nơi Thánh cảnh—When the body of the deceased (a person who has died for three or four hours) is completely cold except for the crown. That means the spirit of the dead has left the body by the way of the crown and the person has been reborn in the realm of saint. In other words, if the spirit left the body through the crown of the head, we are absolutely certain the spirit of the person who has just died has attained liberation to the enlightened realm. 2) Mắt sanh Thiên: Khi điểm nóng sau cùng trên thân thể là hai mắt và trán thì thần thức của người ấy đã sanh về cõi trời—When the person's eyes and forehead are the last to remain warm, the spirit of that person has been reborn in the celestial (heaven) realms. 3) Tim Người: Khi điểm nóng sau cùng nơi tim, là thần thức của người ấy đã sanh lại cõi người—When the person's heart is the last to remain warm, the spirit of that person has been reborn back among human beings. 4) Bụng Ngạ quỷ: Khi điểm nóng sau cùng trong thân thể là bụng, thì thần thức của người ấy đã sanh làm ngạ quỷ—When the person's belly is the last to remain warm, the spirit of that person has been reborn among hungry ghosts. 5) Đầu gối Bàng sanh: Khi điểm nóng sau cùng trong thân thể là đầu gối, thì thần thức của người ấy đã tái sanh vào loại bàng sanh (thú)—When the person's knees are the last to remain warm, the spirit of that person has been reborn among animals. 6) Lòng bàn chân Địa ngục: Khi điểm nóng sau cùng trong thân là lòng bàn chân, thì thần thức của người ấy đã bị đọa vào địa ngục—When the person's soles of the feet are the last to remain warm, the spirit of that person has been fallen in the hell.
Lục đáo bỉ ngạn
六到彼岸; C: liùdàobǐàn; J: rokutōhigan;|Sáu pháp Ba-la-mật. Lục Ba-la-mật (六波羅蜜).
lục đáo bỉ ngạn
Sáu Ba La Mật đưa chúng sanh qua bờ giác ngộ—The six things that ferry one to the other shore—See Lục Độ Ba La Mật in Vietnamese-English Section.
Lục đáo bỉ ngạn 六到彼岸
[ja] ロクトウヒガン rokutōhigan ||| The six perfections. See 六波羅蜜. => Sáu pháp Ba-la-mật. Xem Lục Ba-la-mật.
lục đại
Ṣaḍ-dhātu (S), Six elements.
; The six great, or fundamental things, or elements - địa earth, thủy water, hỏa fire, phong wind (or air), không space (or ether) and thức mind (or perception). These are universal and creative of all things, but the vô tình inanimate are made only of the first five while the hữu tình animate are of all six.
; Lục Giới—Sad-dhatavah (skt)—The six great or fundamental things or elements: 1) Địa Giới: Địa Đại—Đất—Earth element. 2) Thủy Giới: Thủy Đại—Nước—Water element. 3) Hỏa Giới: Hỏa Đại—Lửa—Fire element. 4) Phong Giới: Phong Đại—Gió—Wind or Air element. 5) Không Giới: Không Đại—Hư không—Space element. 6) Thức Giới: Thức Đại—Tâm Thức—Mind or Perception.
; (六大) Phạm:Wađ-dhàtu. Cũng gọi Lục giới. Chỉ chung cho 6 nguyên tố căn bản: Đất (Phạm:pfthivì), nước (Phạm: ap), lửa (Phạm:tejas), gió (Phạm:vàyu), không (Phạm:àkàza) và thức (Phạm:vijĩàna). Vì đây là 6 yếu tố cấu tạo thànhthế gian hữu tình, vô tình và có mặt ở cùng khắp pháp giới nên gọi là Đại. Cứ theo luận Câu xá quyển 1, đất, nước, lửa, gió là 4 đại chủng năng tạo, là chỗ nương của tất cả vật chất; Không đại (không giới) chỉ cho những khe hở trong ngoài, cũng là nhân sinh trưởng muôn vật; Thức đại chỉ cho các thức hữu lậu, là chỗ nương cho sự sống còn của các loài hữu tình. Năm đại trước thuộc về Sắc pháp (vật chất), đại thứ 6 thuộc Tâm pháp (tinh thần). Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 3 thêm Căn đại vào nữa thành là 7 đại. Mật giáo cho 6 đại này là bản thể của vạn hữu, rồi lập ra các thuyết Lục đại thể đại, Lục đại duyên khởi. Tức chủ trương cho rằng 6 đại hiện hữu khắp vũ trụ, trong 1 hạt bụi, 1 mảy lông cũng có đủ 6 đại, hết thảy vạn hữu đều do 6 đại tạo thành. Nói theo tính chất cùng khắp thì gọi là Lục đại, còn nói theo sở y (chỗ nương) của tất cả sự vật thì gọi là Thể đại. Sáu đại này hiện diện trong nhau, dung hòa khắp trong nhau không ngăn ngại, cho nên còn được gọi là Lục đại vô ngại. Mỗi một đại đều có đủ 5 đại kia dung nhập đều khắp, gọi là Dị loại vô ngại, còn 6 đại của A và 6 đại của B giống như đất với đất vô ngại, dung hòa vào nhau, tràn khắp trong nhau, thì gọi là Đồng loại vô ngại. Chẳng hạn như vật là tâm, tâm là vật, đó là nghĩa dị loại vô ngại (khác loài mà không trở ngại nhau); 6 đại của sự thành Phật cũng tức là 6 đại của sự đọa địa ngục, đó là nghĩa đồng loại vô ngại (cùng loài không ngăn trở nhau). Sáu đại dị loại, đồng loại dung hợp trong nhau, trùm khắp trong nhau là bản thể của vạn hữu, 6 đại vốn thường nhiên như thế (pháp nhĩ như thị). Sáu đại thường nhiên này nương theo nhân duyên mà hiện ra sum la vạn tượng, đó gọi là Lục đại tùy duyên. Căn cứ vào 6 đại mà bàn về sự duyên khởi của vạn hữu, thì gọi là Lục đại duyên khởi. Nhưng pháp nhĩ (thường nhiên, tự nhiên), tức tùy duyên, tùy duyên tức pháp nhĩ, cho nên đối với sự thực hiện tiền mà nói vạn tượng tức là thực tại. Mật giáo cũng căn cứ vào ý nghĩa về sắc, hình hoặc tác dụng để phân biệt 6 đại, như 5 đại trước là sắc pháp, là lí, thuộc Thai tạng giới, còn Thức đại thì là tâm pháp, là trí, thuộc Kim cương giới. Nhưng Kim cương giới và Thai tạng giới tuy là 2 mà chẳng phải là 2. Ngoài ra, 6 đại cũng có thể tạo ra 4 loại pháp thân, 3 loại thế gian, vì thế mà có thuyết Lục đại pháp thân, điều này cho thấy tất cả phàm thánh đều do 6 đại tạo thành, đều có đủ tính đức, nên có thể tức thân thành Phật [X. kinh Kim cương đính Q.1; phẩm Bí mật kinh Đại nhật Q.5; luận Pháp uẩn túc Q.10; luận Đại tì bà sa Q.75; Ngũ luân cửu tự minh bí mật thích].
lục đại duyên khởi
(六大緣起) Thuyết Duyên khởi của Mật giáo. Thuyết này cho rằng hết thảy mọi hiện tượng trong vũ trụ đều do 6 đại sinh khởi. (xt. Lục Đại, Duyên Khởi Luận).
lục đại hữu tình
Chúng hữu tình quan hệ trực tiếp với lục đại—The animate are connected directly with the six great or fundamental things—See Lục Đại.
lục đại năng sinh
(六大能生) Sáu đại: Đất, nước, lửa, gió, không và thức sinh ra 4 loại pháp thân (Tự tính pháp thân, Thụ dụng thân, Biến hóa pháp thân, Đẳng lưu pháp thân), 4 loại Mạn đồ la (Đại mạn đồ la, Tam muội da mạn đồ la, Pháp mạn đồ la, Yết ma mạn đồ la), 3 loại thế gian (Khí thế gian, Chúng sinh thế gian, Trí chính giác thế gian) và hiển bày lí thường trụ của các pháp. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật Q.5; Bí tạng kí Q.cuối].
lục đại phiền não
The six great klesa, passions or distressers: tham desire, sân resentment, si stupidity, mạn pride, nghi doubt and ác kiến false views.
; Sáu phiền não lớn—The six great klesa, passion or distressers: 1) Tham Phiền Não: Raga (skt)—Phiền não gây ra bởi tham ái hay muốn có (nhiễm trước thành tính rồi sinh ra khổ nghiệp)—Afflictions caused by desire or desire to have—See Tham Ái. 2) Sân Phiền Não: Pratigha (skt)—Phiền não gây ra bởi sân hận (do căm ghét mà thành tính, dựa vào bất an và ác hành mà tạo thành nghiệp)—Afflictions caused by resentment or anger. 3) Si Phiền Não: Mudhaya (skt)—Phiền não gây ra bởi si mê (mê muội mờ ám về sự lý mà thành tính, dựa vào những nghi hoặc mà tác thành nghiệp)—Afflictions caused by stupidity or ignorance. 4) Mạn Phiền Não: Mana (skt)—Phiền não gây ra bởi kiêu ngạo (do thói cậy mình tài hơn người mà thành tính và sanh ra khổ nghiệp) —Afflictions caused by pride or self-conceit. 5) Nghi Phiền Não: Vicitiksa (skt)—Phiền não gây ra bởi nghi hoặc (do ngờ vực về chân lý mà thành tính, từ đó ngăn cản tín tâm rồi hành động tà vạy mà thành nghiệp)—Afflictions caused by doubt. 6) Ác Kiến Phiền Não: Drishti (skt)—Phiền não gây ra bởi ác kiến hay tà kiến (do ác kiến suy nghĩ đảo điên mà thành tính, ngăn cản thiện kiến rồi hành động tà vạy gây ra ác nghiệp)—Afflictions caused by False views. ** For more information, please see Tứ Đại Phiền Não.
lục đại pháp tánh (tính)
Có hai mặt tướng và tánh. Những thứ mà mắt của phàm phu trông thấy được chỉ là sự tướng của nhau, còn những thứ mà Thánh trí nhìn thấy mới chính là pháp tính nhất vị bình đẳng của lục đại—The unity in variety of the six elements and their products. Ordinary eyes see only the differentiated forms or appearances, the sage or philosopher sees the unity.
lục đại pháp tính
(六大法性) Trong con mắt của bậc thánh trí thì pháp tính của 6 đại: đất, nước, lửa,gió, không, thức là nhất vị bình đẳng. nhưng đối với phàm phu thì họ chỉ thấy ngàn sự tướng sai biệt.
lục đại quán
Pháp quán tưởng về lục đại—Meditation on the six elements. 1) Hiển giáo quán lục đại là không thật, là bất tịnh—The exoteric cult believes that they are unreal and unclean. 2) Mật giáo cho rằng lục đại ở Phật thế nào thì ở chúng sanh cũng thế ấy, nên họ chủ trương quán lục đại một cách viên dung vô ngại—The esoteric cult believes that the Buddha and human elements are of the same substance and interchangeable.
; (六大觀) pháp quán 6 đại: đất, nước, gió, lửa, không và thức. hiển giáo quán 6 đại là không, bất tịnh; còn mật giáo thì quán 6 đại là viên dung vô ngại.
lục đại thành
(六大城) sáu đô thành lớn nổi tiếng ở trung ấn độ vào thời đức phật còn tại thế. kinh niết bàn quyển 27 (bản nam) có nêu tên 6 đô thành lớn ấy là: thành xá bà đề (phạm: sràvastì), thành sa chỉ đa (phạm: sàketa), thành chiêm bà (phạm: campà), thành tì xá li (phạm: vaizàli), thành ba la nại (phạm: bàràịasì) và thành vương xá (phạm:ràjagriha). kinh trường a hàm quyển 2 thì lấy thành ca tì la vệ thay cho thành sa chỉ đa; kinh điển pàli đem thành kiêu thưởng di thay cho thành tì xá li. còn luật ma ha tăng kì quyển 33 thì thêm 2 thành: ca tì la vệ và kiêu thưởng di mà thành 8 đại thành.
lục đại thần
Sáu vị thần kiểm soát lục đại; mỗi vị kiểm soát một đại—The spirits of the six elements; each element controlled by a specific spirit: 1) Thần Đất: Vị Thần kiểm soát địa đại—The Earth Spirit who controls the earth. 2) Thần Nước: Vị Thần kiểm soát thủy đại—The Water Spirit who controls the water. 3) Thần Lửa: Vị Tần kiểm soát hỏa đại—The Fire Spirit who controls the fire. 4) Thần Gió: Vị Thần kiểm soát phong đại—The Wind Spirit who controls the wind. 5) Thần Hư Không: Vị Thần kiểm soát hư không đại—The Space Spirit who controls the space. 6) Thần Tâm Thức: Vị Thần kiểm soát thức đại—The Mind Spirit who controls the mind.
lục đại thể đại
(六大體大) lục đại: đất, nước, lửa, gió, không và thức là thể tính của các pháp. lục đại trùm khắp pháp giới, cho dù trong 1 hạt bụi, 1 mảy lông cũng có đủ lục đại, không 1 vật gì mà không do lục đại tạo thành. ở đây căn cứ vào nghĩa phổ biến mà gọi lục đại, còn căn cứ vào nghĩa sở y (chỗ nương) mà gọi là thể đại. đây là 1 trong 3 thuyết về tam đại (thể đại, tướng đại, dụng đại) do mật giáo thành lập. (xt. tam đại, lục đại).
lục đại tặc
See Lục Đại.
lục đại vô ngại
Lục Đại Thể Đại—Tự tính của lục đại là thông dung vô ngại—Lục đại vô ngại tuy gồm chung cho cả Hiển và Mật giáo, nhưng luận về lục đại thì Mật giáo cho rằng tự tính của lục đại vô ngại bình đẳng, nên lục đại của Phật và lục đại của chúng sanh thông dung với nhau mà không gián cách, phàm phu luôn tìm cách gián cách nên khởi lên vọng kiến phân biệt bỉ, thử, ta, người, nầy, nọ—The six elements unimpeded, or interactive—The six elements in their greater substance, or whole. The doctrine of the esoteric cult of transubstantiation, or the free interchangeability of the six Buddha elements with the human, like with like, whereby yoga becomes possible, such as the Buddha elements entering the possessing the human elements, for both are of the same elemental nature.
; (六大無礙) sáu nguyên tố viên dung vô ngại. lục đại là 6 nguyên tố lớn (đất, nước, lửa, gió, không, thức) tạo ra vạn hữu, vì 6 nguyên tố này rộng lớn, trùm khắp pháp giới, nên gọi là lục đại; lục đại này là thể tính của pháp giới, hòa nhập vào nhau, dung thông lẫn nhau mà không trở ngại nhau, nên gọi là lục đại vô ngại. đây là thuyết của mật giáo. (xt. lục đại).
Lục Đạo
(s: ṣaḍ-gati, j: rokudō, 六道): hay còn gọi là Lục Thú (六趣), là 6 thế giới trong đó chúng sanh luân hồi lưu chuyển sanh tử do nghiệp nhân thiện ác mình đã từng tạo ra, gồm có: (1) Địa Ngục (s, p: naraka, 地獄), (2) Ngạ Quỷ (s: preta, p: peta, 餓鬼), (3) Súc Sanh (s; tiryagoni, p: tiracchāna, 畜生), (4) Tu La (s, p: asura, 修羅), (5) Con Người (s: manuṣya, p: manussa, 人間) và (6) Cõi Trời (s, p: deva, 天). Cũng có truyền thuyết theo thứ tự Địa Ngục, Súc Sanh, Ngạ Quỷ và quan điểm gộp chung Tu La vào Địa Ngục để trở thành Ngũ Đạo (五道). Gati vốn phát xuất từ động từ √gam, nguyên ý là “sự đi, con đường”, được dịch là “đạo (道)” hay “thú (趣)”; tuy nhiên, trường hợp Lục Đạo thì có nghĩa là “cảnh giới, trạng thái sinh tồn”. Kết hợp với Tứ Sanh (四生), có dụng ngữ Lục Đạo Tứ Sanh (六道四生). Lục Đạo là tông thể phân loại về 4 hình thức sanh ra gồm thai sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh, từ đó nó bao quát hết toàn bộ tồn tại luân hồi. Luân hồi trong Lục Đạo được gọi là Lục Đạo Luân Hồi (六道輪廻). Từ khi Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc dưới thời Hậu Hán, quan niệm về Luân Hồi và Lục Đạo được tuyên truyền rộng rãi trong xã hội nước này và trở thành tác động to lớn đối với người dân Trung Quốc vốn mang chủ nghĩa hiện thế trung tâm. Đặc biệt, sức mạnh báo động có hình ảnh Địa Ngục đã sản sinh ra những đồ hình biến tướng của Địa Ngục vốn miêu tả thảm cảnh ở cõi này, các Minh Báo Ký (冥報記) lưu truyền những câu chuyện bị đọa xuống Địa Ngục, hay văn học truyền khẩu, v.v; và tạo ảnh hưởng rộng rãi cho mỹ thuật cũng như văn học. Chính Đạo Giáo cũng lấy tư tưởng Lục Đạo của Phật Giáo để hình thành nên quan niệm Lục Đạo tương tợ như vậy. Hơn nữa, quan niệm cho rằng phạm tội ở đời này sẽ bị luân hồi trong Lục Đạo đã trở thành cơ duyên làm cho mọi người thức tỉnh về tội nghiệp của tự thân; cho nên, dưới thời đại Nam Bắc Triều, rất nhiều bản văn sám hối cầu nguyện cho tội lỗi tiêu trừ đã được sáng tác ra. Khi tư tưởng mạt pháp từ cuối thời Nam Bắc Triều cho đến thời Tùy Đường được quảng bá, niềm tin về đức A Di Đà Phật (阿彌陀佛), Địa Tạng (地藏), Quan Âm (觀音) cứu độ chúng sanh thoát khỏi cảnh khổ bị luân hồi trong Lục Đạo trở nên rất thịnh hành. Từ thời Ngũ Đại cho đến nhà Tống, trên các bức bích họa ở động Đôn Hoàng (敦煌) thỉnh thoảng xuất hiện hình Lục Đạo. Trong Thiên Thai Tông, tín ngưỡng về Lục Quan Âm (六觀音) được phối trí theo từng cảnh giới của Lục Đạo cũng khá phổ biến. Tại Nhật Bản, từ Lục Đạo, Địa Ngục, v.v., xuất hiện đầu tiên trong Nhật Bản Linh Dị Ký (日本靈異記, Nihonryōiki), nếu so sánh thì quan niệm về Lục Đạo rất lạc quan. Tuy nhiên, đến thế kỷ thứ 10, theo đà băng hoại của Chế Độ Luật Lịnh, trong những biến động và chiến loạn của xã hội, tư tưởng mạt pháp và quán sát vô thường càng mạnh hơn thêm; từ đó, quan niệm về Lục Đạo trở nên nghiêm trọng hơn. Đặc biệt, trong phần Lục Đạo Giảng Thức (六道講式徃生) của bộ Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集, Ōjōyōshū) cũng như Nhị Thập Ngũ Tam Muội Thức (二十五三昧式), Nguyên Tín (源信, Genshin) có miêu tả về sự khủng khiếp của Lục Đạo và đã tạo ảnh hưởng khá lớn cho văn học cũng như mỹ thuật. Do đó, Bảo Vật Tập (寳物集, Hōbutsushū) nói về nỗi khổ của Lục Đạo và khai thị 12 cửa vãng sanh, Bình Gia Vật Ngữ (平家物語, Heikemonogatari) lấy sự sa thải của Lục Đạo trong Quán Đảnh Quyển (灌頂巻) để làm nội dung cho toàn quyển, hay Phương Trượng Ký (方丈記, Hōjōki) làm cho liên tưởng đến những nghiệp khổ trong ác đạo thông qua các thiên tai như hỏa tai, gió lớn, nghèo đói, động đất, v.v., đều là những tác phẩm có ảnh hưởng sâu đến tư tưởng Lục Đạo. Mặt khác, từ giữa và cuối thời Bình An trở đi, các bức tranh bình phong cũng như tranh vẽ về Lục Đạo được phổ biến rộng rãi. Hiện còn lại một số tác phẩm tiêu biểu như Địa Ngục Thảo Chỉ (地獄草紙, Jigokusōshi), Ngạ Quỷ Thảo Chỉ (餓鬼草紙, Gakisōshi), Bệnh Thảo Chỉ (病草紙, Yamaisōshi), v.v., thuộc hậu bán thế kỷ 12. Hơn nữa, vào thời kỳ biến động và chiến loạn, tín ngưỡng về Lục Quan Âm cũng như Địa Tạng phát triển rộng khắp. Đặc biệt, Địa Tạng được gọi là “bậc có thể hóa độ chốn Lục Đạo”, đến thế kỷ thứ 11 thì tín ngưỡng Lục Địa Tạng cho rằng ngài có mặt khắp các cõi để cứu độ hết thảy chúng sanh, được hình thành. Đến cuối thời Liêm Thương trở đi, kết hợp với Thần Tạ Ơn, Thần Tổ Đạo, tại các ngã tư đường cũng như cửa vào mộ địa, người ta có đặt 6 bức tượng Địa Tạng. Những ngã tư như vậy được xem như là nơi người chết phân chia theo sáu đường, cho nên có tên gọi là “Ngã Tư Lục Đạo”. Như trong Phật Thuyết Dự Tu Thập Vương Sanh Thất Kinh (佛說預修十王生七經, CBETA No. 21) có câu: “Bi tăng phổ hóa thị uy linh, Lục Đạo luân hồi bất tạm đình, giáo hóa yếm khổ tư an lạc, cố hiện Diêm La Thiên Tử hình (悲增普化示威靈、六道輪迴不暫停、敎化厭苦思安樂、故現閻羅天子形, buồn thêm hóa độ hiện oai linh, sáu nẻo luân hồi chẳng tạm dừng, giáo hóa bỏ khổ vui an lạc, nên hiện Diêm La Thiên Tử hình).”
Lục đạo
六道; C: liùdào; J: rokudō; S: ṣaḍakula;|Sáu đường tái sinh; chỉ các dạng đời sống (gati) trong Luân hồi, trong Vòng sinh tử. Người ta phân biệt ba »thiện đạo« và ba »ác đạo« Ba thiện đạo gồm có cõi người (人; s: nāra), Thiên (天; s: deva) và A-tu-la (阿修羅; s: āsura). Ba ác đạo gồm Ngạ quỷ (餓鬼; s: preta), Ðịa ngục (地獄; s: nāraka) và súc sinh (畜生; s: paśu). Sáu cõi này nằm trong Ba thế giới.|Ba thế giới gồm có dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Dục giới gồm sáu cõi thiên thấp nhất, loài người… Sắc giới gồm 17 tầng thiên giới và vô sắc giới gồm 4 tầng trời thiền định. Các thế giới này không khác nhau về thể tính, chỉ khác về nghiệp. Trong cả ba thế giới này thì thọ mệnh đều có hạn, tuy nhiên chỉ có loài người trong ba thế giới đó mới được giải thoát, vì thế đạo Phật coi trọng thân người hơn thiên giới và gọi là »thân người quý báu« Trong luân hồi, được sinh làm người được xem là hiếm hoi và là cơ hội quý báu để giác ngộ.
lục đạo
cũng gọi là lục thú, sáu đường luân hồi, sáu nẻo luân hồi, bao trùm tất cả mọi loài chúng sanh. Đó là: cõi trời, cõi người, cõi a-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Hết thảy chúng sanh trong vòng luân hồi đều rơi vào một trong sáu nẻo này, tùy theo nghiệp lực.
; Ṣaḍ-mārga (S), Ṣaḍ-gati (S), Ṣaḍakula (S), Six paths, Six planes of existence, Rokudo (J).Gồm: - 3 đường lành: trời, a tu la, người. - 3 đường dữ: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh.
; The six ways, or conditions of sentient existence. Xem Lục thú.
; Lục Thú—Sáu đường luân hồi của chúng sanh (chúng sanh tạo các nghiệp khác nhau rồi bị nghiệp lực thúc đẩy, dẫn dắt đến sáu loại đầu thai, qua lại trong sáu nẻo, sanh rồi tử, tử rồi sanh, như bánh xe xoay vần, không bao giờ dừng nghỉ, hoặc vào địa ngục, hoặc làm quỷ đói, hoặc làm súc sanh, hoặc A Tu La, hoặc làm người, hoặc làm trời, Đức Phật gọi đó là luân chuyển trong lục đạo)—Six paths—The six ways or conditions of sentient existence—Six miserable states (sentient beings revolve in the cycle of Birth and Death, along the six paths, life after life. These are paths of hell-dwellers, hungry ghosts, animals, titanic demons or asuras, human beings and celestials): (A) Hạ Tam Đồ hay ba đường dữ: Tri-Akusala (skt)—The three lower gatis, or three evil paths: 1) Địa Ngục Đạo: Naraka-gati (skt)—Hells—Tiếng Phạn là Naraka, nghĩa là lãnh đủ mọi sự khổ não, không an vui. Đây là cảnh giới địa ngục—The state of being in Hell. • Đây là điều kiện sống thấp nhất và khốn khổ nhất—This is the lowest and most miserable condition of existence. • Chúng sanh (A-Lại-Da thức) bị đọa vào địa ngục vì những hành vi độc ác làm nhiều điều tội lỗi hại người hại vật (loại nầy ở chỗ tối tăm, bị tra tấn thường xuyên do tội hành nghiệp chiêu cảm). Trong cõi địa ngục thì sự khổ không có bút mực nào mà tả cho xiết—Sentient being (alaya-consciousness) is condemned to stay in Hell due to his worse karma. In the hellish path, the sufferings there are so great that no words can describe them. • See Địa Ngục. 2) Ngạ Quỷ Đạo: Preta-gati (skt)—Tiếng Phạn là Preta. Đây là cảnh giới ngạ quỷ, nơi tái sanh của những kẻ tham lam, ích kỷ và dối gạt (trong các loài quỷ thì quỷ đói chiếm đa số. Các loài quỷ chịu quả báo không đồng, kẻ nào có chút ít phước báo thì được sanh nơi rừng núi, gò miếu; loài không có phước báo thì thác sanh vào những chỗ bất tịnh, ăn uống thất thường, bị nhiều nỗi khổ sở. Chúng sanh độc ác bị tái sanh vào ngạ quỷ, thấy suối nước như thấy máu mủ, cổ nhỏ như cây kim, bụng ỏng như cái trống chầu, có khi đồ ăn vừa vào đến miệng, đã trở thành than hồng, không thể nào nuốt được, chịu đại khổ não suốt đời cùng kiếp). Ở cõi ngạ quỷ chúng sanh thân thể xấu xa hôi hám, bụng lớn như cái trống, cồ nhỏ như cây kim, miệng phục ra lửa mỗi khi nuốc thức ăn, và chịu cảnh đói khát trong muôn ngàn kiếp—The state of hungry ghosts—Starved ghosts realm where greedy, selfish and deceitful souls are reborn. In the path of hungry ghosts, beings have ugly, smelly bodies, with bellies as big as drums and throats as small as needles, while flames shoot out of their mouths. They are subject to hunger and thirst for incalculable eons. 3) Súc Sanh Đạo: Tiryagyoni-gati (skt)—Tiếng Phạn là Tiryagyoni, nghĩa là loài chúng sanh sanh ra để bị người đời hành hạ và ăn thịt. Đây là cảnh giới súc sanh, nơi tái sanh của những kẻ si mê, sa đọa, tửu sắc, bài bạc, đối trá và tà dâm (trên từ rồng, thú, cầm, súc; dưới đến thủy tộc và loài côn trùng, không bao giờ đi thẳng được như con người hay chư Thiên. Loài nầy thường giết hại và ăn thịt lẫn nhau, đồng loại thì ỷ mạnh hiếp yếu. Ngoài ra, chúng còn bị con người sai sử chuyên chở và đánh đập). Cõi bàng sanh như loài trâu, bò, lừa, ngựa bị sự khổ chở kéo nặng nề. Loài dê, heo, vịt, gà, thì bị sự khổ về banh da xẻ thịt làm thức ăn cho loài người. Các loài khác thì chịu sự khổ về ngu tối, nhơ nhớp, giết hại và ăn uống lẫn nhau—Animality—The state of animals—Animals' realm reserved for those souls who are dull-witted, depraved, or have committed fornication. The path of animals, such as buffaloes, cattle, donkeys and horses, is subject to heavy toil. Other domestic animals, such as goats, pigs, chicken and ducks, are subject to be killed to make food for human beings. Still other animals suffer from stupidity, living in filth, and killing one another for food. (B) Thượng Tam Đồ hay ba đường lành:Tri-Kusala (skt)—The three upper gatis, or three good paths—Trong ba đường lành nầy thì hai đường người trời rất khó được sanh vào, trong khi bị đọa vào a-tu-la và hạ tam đồ thì lại dễ dàng và thông thường—Among the three upper gatis, rebirth in the celestial or human paths is difficult, while descend into Asura path and other three lower gatis is easy and common: 4) A-Tu-La Đạo: Asura-gati (skt)—Tiếng Phạn gọi là Asura, nghĩa là tánh tình xấu xa, cũng có nghĩa là phước báo không bằng chúng sanh ở hai cõi người và trời. Đây là cảnh giới của những chúng sanh xấu ác, hay giận dữ, tánh tình nóng nảy, thích bạo động hay gây gỗ, và si mê theo tà giáo (chúng sanh trong cảnh giới nầy cũng có phước báo, nhưng lại bị tham vọng, dối trá, kiêu mạn, là quả của những tiền nghiệp lấn lướt, nên tâm thường hay chứa đầy tức giận và chấp trước)—The state of angry demons—Asuras' realm where those who are wicked, hot-tempered, violent or are initiated into paganism (the path of asuras is filled with quarrelling and acrimonious competition). 5) Nhân Đạo: Manusya-gati (skt)—Cảnh giới của con người, hay thế giới của chúng ta, nơi mà những chúng sanh nào thọ trì ngũ giới sẽ được tái sanh vào (cõi nầy chúng sanh khổ vui lẫn lộn, tuy nhiên, thường bị cảnh khổ sở thiếu thốn, đói khát, lạnh nóng, sợ sệt, vân vân. Bên cạnh đó lại phải bị những lo âu sợ sệt về sanh, lão, bệnh, tử, chia ly, thương ghét. Khổ thì có tam khổ như khổ khổ, hoại khổ, hành khổ; hoặc ngũ khổ như sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, khổ vì phạm các tội mà bị trói buộc; hoặc bát khổ như sanh, già, bệnh, chết, ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm thạnh suy. Tuy cũng có những niềm vui, nhưng đây chỉ là niềm vui tạm bợ, vui để chờ buồn chờ khổ. Chúng sanh sanh vào cõi người, mà lại gặp được Phật pháp thì theo lời Phật dạy là một đại hạnh, vì đây là cơ hội ngàn năm một thuở cho cuộc tu giải thoát)—The state of human-beings—Our earth, place where those who keep the basic five precepts are reborn. 6) Thiên Đạo: Deva-gati (skt)—Tiếng Phạn gọi là “Deva,” có nghĩa là sáng suốt, thanh tịnh, tự tại hay tối thắng. Thiên đạo hay cảnh giới chư thiên là nơi tái sanh của những chúng sanh nào giữ tròn năm giới, thực hành thập thiện nghiệp, và tránh thập ác (người sanh lên cõi trời thân được sáng suốt, vui nhiều hơn khổ, sự ăn mặc, cung điện, nhà cửa đều được sung sướng tốt đẹp, không thiếu thốn về vật chất). Cõi trời tuy vui vẻ hơn nhân gian, nhưng cũng còn tướng ngũ suy và những điều bất như ý—Celestials—The state of gods—Gods' realm is reserved to those who observe the five basic commandments and have practiced the Ten Meritorious Action and abstained to do the Ten Evil Deeds. Although the celestial path is blessed with more happiness than our world, it is still marked by the five signs of decay and the things that go against our wishes.
; (六道) cũng gọi lục thú. sáu đường mà chúng sinh đi tới để thụ sinh tùy theo nghiệp đã tạo. sáu đường ấy là: 1. địa ngục đạo (phạm: narakagati). 2. ngã quỉ đạo (phạm:preta-gati). 3. súc sinh đạo (phạm:tiryagyoni-gati). 4. tu la đạo (phạm:asura-gati). 5. nhân gian đạo (phạm:manuwya-gati). 6. thiên đạo (phạm: deva-gati). trong 6 đường này, 3 đường trước gọi là tam ác đạo, 3 đường sau gọi là tam thiện đạo. sự thêm bớt đối với lục đạo tùy theo bộ phái mà có khác. theo luận đại tì bà sa quyển 172 và luận đại trí độ quyển 10, thì thuyết nhất thiết hữu bộ bỏ bớt a tu la đạo, chỉ nói ngũ đạo, độc tử bộ và các bộ khác thì lập lục đạo. trung quốc và nhật bản cũng theo thuyết lục đạo. ngoài ra, theo ma ha chỉ quán quyển 5 phần trên, thêm thanh văn, duyên giác, bồ tát và phật vào lục đạo thì gọi là thập giới [x. kinh pháp hoa q.1; kinh đại bát niết bàn q.35 (bản bắc); luận đại trí độ q.30; câu xá luận quang kí q.8; vãng sinh yếu tập q.thượng]. (xt. ngũ thú a tu la).
lục đạo ca đà kinh
Hai bộ kinh nói về Lục đạo—The two Sutras dealing with the six ways of rebirth.
lục đạo luân hồi
(六道輪回) vòng quanh trong 6 đường sinh tử. sáu đường: địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, người, trời và a tu la. chúng sinh vì tạo các nghiệp, hoặc thiện hoặc ác, nên phải trôi lăn mãi trong vòng sinh tử mà chịu khổ trong 6 đường, nên gọi là lục đạo luân hồi. [x. kinh quá khứ hiện tại nhân quả q.2; luận đại tì bà sa q.172]. (xt. thập giới).
lục đạo nhân quả
The six states through which we pass according to the law of cause and effect—See Lục đạo in Vietnamese-English Section.
lục đạo năng hóa bồ tát
Bồ Tát có thể thay đổi vận mệnh của sáu đường sanh tử—Bodhisattvas who can change the lot of those in the six paths (gati)—See Lục Địa Tạng.
lục đạo phật bồ tát
The Buddhas and Bodhisattvas of the six gati, such as the six Ti-Tsang—See Lục Địa Tạng.
lục đạo tiền
(六道錢) tiền được chôn theo người chết, bắt đầu từ đời hán ngụy của trung quốc. theo sự vật kỉ nguyên quyển 9, vào đời hán, sau lễ an táng, lúc chiều tối, thân nhân đem tiền ra chôn ở nghĩa địa cho người chết tiêu dùng, gọi là hôn ngụ tiền (tiền gửi lúc chiều tối), đời sau, người ta đốt tiền giấy để thay thế. người nhật bản cũng bắt chước người trung quốc, khi liệm người chết, thường bỏ 6 đồng tiền bằng đồng vào trong quan tài, gọi là lục đạo tiền. thời gần đây cũng đã đổi dùng tiền giấy.
lục đạo tứ sanh
Bốn cách sanh trong 6 đường luân hồi: - noãn sanh - thai sanh - thấp sanh - hoá sanh.
; trong lục đạo có bốn loại chúng sanh hay bốn loại tái sanh—The four modes of the six rebirths or six gati: 1) Thai sanh: Sanh bằng tử cung—Womb. 2) Noãn Sanh: Sanh bằng trứng—Egg. 3) Thấp Sanh: Sanh nơi ẩm thấp—Moisture. 4) Hóa Sanh: Tự hóa ra—Transformation.
lục đạo tứ sinh
The four modes of the six rebirths - thai womb, noãn egg,thấp moisture, hóa transformation.
; (六道四生) chỉ cho 6 đường thụ sinh: địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, a tu la, nhân gian và cõi trời, cùng với 4 hình thái sinh ra là: thai sinh, noãn sinh, thấp sinh và hóa sinh, gọi chung là lục đạo tứ sinh. trong đó, người và súc sinh mỗi loài đều có đủ 4 hình thái sinh, ngạ quỉ thì có thai sinh và hóa sinh, còn địa ngục, cõi trời và trung hữu chỉ có hóa sinh. [x. luận câu xá q.8].
lục đạo tứ thánh
The four holy ways of the six rebirths - thanh văn sràvakas, pratyeka-buddhas duyên giác, bồ tát bodhisattvas, Phật Buddhas.
; Sáu đường sanh tử và bốn nẻo Thánh—The six ways of rebirth and the four holy ways of rebirth: (A) Lục Đạo: The six gati—See Lục Đạo. (B) Tứ Thánh—The four holy ways of rebirth: 1) Thanh Văn: Sravakas. 2) Duyên Giác: Pratyeka-buddhas. 3) Bồ tát: Bodhisattvas. 4) Phật: Buddhas.
lục đạo xoay vần không mối hở, vô thường ập đến vạn duyên buông
Born and reborn endlessly in the six realms, when impermanence surges we must let go everything.
Lục đạo 六道
[ja] ロクドウ rokudō ||| The six destinies. Six kinds of rebirth in saṃsāra that are undergone by sentient beings in accord with their good or evil actions carried out in their previous lifetime. These are: hell 地獄, hungry ghost 餓鬼, animal 畜生, asura 修羅, human 人間 and god 天. The first three are the result of predominantly good karma while the last three are the result of predominantly evil karma. Also written as 六趣. => Sáu vận mệnh. Sáu dạng đầu thai trong cõi sinh tử luân hồi mà chúng sinh trải qua tùy theo hành vi thiện hay ác họ đã tạo trong kiếp sống trước. Đó là: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A-tu-la, Nhân gian, và Thiên (trời). Ba cõi đầu là kết quả của phần lớn các việc ác, trong khi ba cõi sau là kết quả của phần lớn các việc thiện. Còn gọi là Lục thú六趣. .
lục đầu thủ
(六頭首) chỉ cho 6 chức vụ đứng đầu 6 ban chuyên trách việc tu hành và giáo dục chúng tăng trong thiền lâm. tông lâm tế gọi 6 chức vụ: thủ tọa, thư kí, tạng chủ, tri khách, khố đầu, và dục chủ là lục đầu thủ. còn tông tào động thì gọi thủ tọa, thư kí, tri tạng, tri khách, tri dục và tri điện là lục đầu thủ. chỗ ngồi của 6 vị này được xếp ở bên vách phía tây (tây tự) của pháp đường. người ở địa vị cao nhất trong lục đầu thủ gọi là đại đầu thủ. [x. thiền uyển thanh qui q.5,6; bách trượng thanh qui q.hạ].
lục đế
Lục cú nghĩa pháp do Thắng Luận Sư (một trường phái ngoại đạo) đặt ra—The six logical categories of the Vaisesika philosophy (one of the heretic sects): 1) Thực: Bản thể—Dravya (skt)—Substance. 2) Đức: Thuộc tính—Guna (skt)—Quality. 3) Nghiệp: Tác dụng—Karman (skt)—Motion of activity. 4) Hữu: Samanya (skt)—Generality. 5) Dị Đồng: Visesa (skt)—Particularity. 6) Hòa Hợp: Samavaya (skt)—Inherence.
lục địa tạng
Sáu vị Bồ tát hóa thân của Ngài Địa Tạng trong nhóm Địa Tạng của Thai Tạng Giới, mỗi vị kiểm soát một trong sáu đường sanh tử—Six Bodhisattvas in the Ti-Tsang group of the Garbhadhatu, each controlling one of the six ways of sentient existence: 1) Đầu Đà Địa Tạng: Bồ tát Địa Tạng trong địa ngục tay cầm tràng phan hình đầu người—Transformation body of Ti-Tsang Bodhisattva who deals with rebirth in the hells. 2) Bảo Châu Địa Tạng: Vị hóa thân của Bồ Tát Địa Tạng trong cõi ngạ quỷ, tay cầm ngọc bảo châu—Transformation body of Ti-Tsang Bodhisattva who deals with rebirth in the realm of hungry ghosts. 3) Bảo Ấn Địa Tạng: Vị hóa thân của Bồ tát Địa tạng trong cõi súc sanh, duỗi tay kết bảo ấn Như Ý—Transformation body of Ti-Tsang Bodhisattva who deals with rebirth in the realm of animals. 4) Trì Địa Tạng: Vị hóa thân của Bồ tát Địa Tạng trong cõi A Tu La, hai tay thường nâng quả đất (biểu tượng của sự nâng đỡ)—Transformation body of Ti-Tsang Bodhisattva who deals with rebirth in the realm of Asuras. 5) Trừ Cái Chướng Địa Tạng: Vị hóa thân của Bồ Tát Địa Tạng trong cõi người, trừ tám món khổ che lấp nhân loại—Transformation body of Ti-Tsang Bodhisattva who deals with rebirth in the realm of human beings. 6) Nhật Quang Địa Tạng: Vị hóa thân của Bồ Tát Địa Tạng trong cõi trời, dùng ánh sáng soi rọi khiến cõi nhân thiên trừ được phiền não—Transformation body of Ti-Tsang Bodhisattva who deals with the realm of devas.
; (六地藏) chỉ cho 6 vị bồ tát địa tạng giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh trong 6 đường. về danh hiệu của 6 vị địa tạng trong các kinh quĩ ghi chép không giống nhau, nhưng trên đại thể thì đều có nguồn gốc từ 6 vị thượng thủ trong 9 vị tôn của viện địa tạng thuộc thai tạng giới nói trong đại nhật kinh sớ quyển 5. đó là: địa tạng, bảo xứ, bảo chưởng, trì địa, bảo ấn thủ và kiên cố ý. a. theo giác thiền sao, thì danh hiệu, vật cầm tay và cõi giáo hóa của 6 vị địa tạng như sau: 1. đại kiên cố: tay trái cầm bảo châu, tay phải cầm kinh, giáo hóa cõi trời. 2. đại thanh tịnh: tay trái cầm bảo châu, tay phải kết ấn thí vô úy, giáo hóa cõi người. 3. thanh tịnh vô cấu: tay trái cầm bảo châu, tay phải cầm phạm khiếp (hộp kinh), giáo hóa cõi a tu la. 4. đại quang minh:tay trái cầm bảo châu, tay phải cầm ngọc như ý, giáo hóa cõi súc sinh. 5. đại đức thanh tịnh: tay trái cầm bảo châu, tay phải kết ấn dữ nguyện, giáo hóa cõi ngã quỉ. 6. đại định trí bi: tay trái cầm tích trượng, tay phải cầm bảo châu, giáo hóa cõi địa ngục. b. theo kinh thập vương, thì danh hiệu, vật cầm tay và cõi giáo hóa của 6 vị địa tạng như sau: 1. dự thiên hạ: tay trái cầm ngọc như ý, tay phải kết ấn thuyết pháp, giáo hóa cõi trời. 2. phóng quang vương: tay trái cầm tích trượng, tay phải kết ấn dữ nguyện, giáo hóa cõi người. 3. kim cương chàng: tay trái cầm cờ kim cương, tay phải kết ấn thí vô úy, giáo hóa cõi a tu la. 4. kim cương bi: tay trái cầm tích trượng, tay phải kết ấn tiếp dẫn, giáo hóa cõi súc sinh. 5. kim cương bảo: tay trái cầm bảo châu, tay phải kết ấn cam lộ, giáo hóa cõi ngã quỉ. 6. kim cương nguyện: tay trái cầm cờ diêm ma, tay phải kết ấn thành biện, giáo hóa cõi địa ngục. [x. loại tụ danh vật khảo q.25; lạc dương thệ nguyện tự duyên khởi].
Lục Độ
(s: ṣaḍ-pāramitā, ṣaṭ-pāramitā, 六度): tức Lục Ba La Mật (六波羅蜜), Lục Ba La Mật Đa (六波羅蜜多), Lục Độ Ba La Mật (六度波羅蜜), còn gọi là Lục Độ Vô Cực (六度無極), Lục Đáo Bỉ Ngạn (六到彼岸). Ba La Mật (s, p: pāramitā, 波羅蜜) dịch là Độ (度), nghĩa là đáo bỉ ngạn (到彼岸, đến bờ bên kia), tức là đạt thành, hoàn thành lý tưởng. Đây là 6 pháp tu hành thật tiễn để thành Phật đạo của vị Bồ Tát, được giải thích rất rõ trong Phật Thuyết Bồ Tát Nội Tập Lục Ba La Mật Kinh (佛說菩薩內習六波羅蜜經, Taishō No. 778), gồm: (1) Bố Thí Ba La Mật (s, p: dāna-pāramitā, 布施波羅蜜), còn gọi là Thí Ba La Mật (施波羅蜜), Đàn Ba La Mật (檀波羅蜜), Đàn Na Ba La Mật (檀那波羅蜜), Bố Thí Độ Vô Cực (布施度無極); có 3 loại bố thí là Tài Thí (財施, bố thí về tiền tài, vật chất), Pháp Thí (法施, bố thí lời dạy, giáo lý để tu tập và đạt được chân lý) và Vô Úy Thí (無畏施, bố thí sự không sợ hãi, giúp cho mọi người an tâm), để đối trị với sự tham lam, keo kiệt và tiêu trừ sự bần cùng. (2) Trì Giới Ba La Mật (s: śīla-pāramitā, p: sīla-pāramitā, 持戒波羅蜜), còn gọi là Giới Ba La Mật (戒波羅蜜), Thi La Ba La Mật (尸羅波羅蜜), Giới Độ Vô Cực (戒度無極); giữ gìn giới luật đã lãnh thọ, thường tự tỉnh thức, có thể đối trị ác nghiệp, khiến cho thân tâm thanh tịnh. (3) Nhẫn Nhục Ba La Mật (s: kṣānti-pāramitā, p: khantī-pāramitā, 忍辱波羅蜜), hay Nhẫn Ba La Mật (忍波羅蜜), Sàn Đề Ba La Mật (孱提波羅蜜), Nhẫn Nhục Độ Vô Cực (忍辱度無極); nghĩa là nhẫn nại, chịu đựng các sự bức hại, đối trị sân hận, nóng nảy, giúp cho tâm an trú. (4) Tinh Tấn Ba La Mật (s: vīrya-pāramitā, p: virya-pāramitā, 精進波羅蜜), hay Tấn Ba La Mật (進波羅蜜), Tỳ Lê Da Ba La Mật (毘梨耶波羅蜜), Tinh Tấn Độ Vô Cực (精進度無極), nỗ lực tinh tấn tiến lên, bất khuất, không thối chí; giúp đối trị sự lười biếng, sinh trưởng các pháp lành. (5) Thiền Định Ba La Mật (s: dhyāna-pāramitā, p: jhāna-pāramitā, 禪定波羅蜜), hay Thiền Ba La Mật (禪波羅蜜), Thiền Na Ba La Mật (禪那波羅蜜), Thiền Độ Vô Cực (禪度無極); nghĩa là tu tập Thiền định, có thể đối trị sự loạn tâm, giúp cho tâm được an định. (6) Trí Tuệ Ba La Mật (s: prajñā-pāramitā, p: paññā-pāramitā, 智慧波羅蜜), hay Tuệ Ba La Mật (慧波羅蜜), Bát Nhã Ba La Mật (般若波羅蜜), Minh Độ Vô Cực (明度無極). Sáu pháp này được thuyết đầu tiên trong kinh Bát Nhã và một số kinh điển Đại Thừa khác và được xem như là hạnh lý tưởng của Phật Giáo Đại Thừa. Đặc biệt, căn bản của các hạnh này có trong Bát Nhã Ba La Mật, và hạnh từ bi vốn căn cứ trên cở sở của Bát Nhã là nội dung của Lục Độ. Trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論) có đoạn: “Lục Ba La Mật giả, tức tịnh Lục Căn dã; Hồ danh Ba La Mật, Hán danh Đạt Bỉ Ngạn, dĩ Lục Căn thanh tịnh, bất nhiễm Lục Trần, tức thị độ phiền não hà, chí Bồ Đề ngạn, cố danh Lục Ba La Mật (六波羅蜜者、卽淨六根也、胡名波羅蜜、漢名達彼岸、以六根清淨、不染六塵、卽是度煩惱河、至菩提岸、故名六波羅蜜, Sáu Ba La Mật tức là làm trong sạch Sáu Căn; người Hồ [Ấn Độ] gọi là Ba La Mật, người Hán [Trung Quốc] gọi là đạt đến bờ bên kia; vì Sáu Căn trong sạch, không nhiễm Sáu Trần, tức là qua được sông phiền não, đến bờ Bồ Đề; cho nên có tên là Sáu Ba La Mật).” Hay như trong Duy Tâm Tập (唯心集, CBETA No. 1208) có đoạn: “Nhất cú A Di Đà, vạn thiện đồng đăng; nhất cú A Di Đà, Lục Độ tề hành; nhất cú A Di Đà, tịnh uế trừng thanh; nhất cú A Di Đà, Đông Tây hợp tinh; nhất cú A Di Đà, bao quát cổ kim; nhất cú A Di Đà, hàm cái càn khôn; nhất cú A Di Đà, chứng nhập vô sanh (一句阿彌陀、萬善同登、一句阿彌陀、六度齊行、一句阿彌陀、淨穢澄清、一句阿彌陀、東西合并、一句阿彌陀、包括古今、一句阿彌陀、函蓋乾坤、一句阿彌陀、證入無生, một câu A Di Đà, vạn thiện cùng lên; một câu A Di Đà, Lục Độ cùng hành; một câu A Di Đà, sạch nhớp lắng trong; một câu A Di Đà, Đông Tây hợp lại; một câu A Di Đà, bao quát cổ kim; một câu A Di Đà, trùm khắp càn khôn; một câu A Di Đà, chứng vào vô sanh).”
Lục độ
xem bờ bên kia.
; 六度; C: liùdù; J: rokudo; S: ṣāḍpāramitā; cũng được gọi là Lục ba-la-mật-đa (六波羅蜜多);|Sáu hạnh Ba-la-mật-đa (độ) là: 1. Bố thí ba-la-mật-đa (s: dānapāramitā), 2. Giới b. (śīla-pāramitā), 3. Nhẫn nhục b. (kṣāntipāramitā), 4. Tinh tiến b. (vīryapāramitā), 5. Thiền định B. (dhyānapāramitā) và 6. Trí huệ b. (prajñāpāramitā). Có khi người ta kể thêm bốn hạnh nữa, gọi chung là Thập độ, đó là: 7. Thiện xảo Phương tiện b. (upāya-kauśalya-p.), 8. Nguyện b. (praṇidhāna-p.), 9. Lực b. (bala-p.) và 10. Trí b. (jñāna-p.).|Bố thí (布施) bao gồm việc chia xẻ của cải vật chất và tinh thần cho người khác. Muốn được như thế, cần có lòng từ bi hỉ xả, sẵn sàng nhường cả phúc đức cho người khác. Giới (戒) là thái độ sống đúng đắn, từng bước loại trừ mọi tham ái, quyết tái sinh vào một nơi thuận lợi, vì ích lợi của mọi chúng sinh. Nhẫn nhục (忍辱) xuất phát từ tri kiến rằng, mọi phiền não trên đời đều có nguyên nhân của chúng, cần kiên nhẫn và thông cảm chúng. Tinh tiến (精進) là lòng quyết tâm không gì lay chuyển. Thiền định (禪定) chỉ phương pháp thiền quán, nhờ đó từ bỏ được ngã chấp và cảm thụ được vui buồn của chúng sinh. Trí huệ (智慧) là đạt được cấp giác ngộ vô thượng.
lục độ
Ṣaḍ-pāramitā (S), Six perfections Gồm: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ.
; The six things that ferry one beyond the sea of mortality to nirvàna, i.e. the six pàramitàs: (1) Bố thí dàna, charity or giving, including the bestowing of truth on others; (2) Trì giới sìla, keeping the commandments; (3) Nhẫn nhục ksànti, patience under insult; (4) Tinh tiến vìrya, zeal and progress; (5) Thiền định dhyàna, meditation or contemplation; (6) Trí tuệ prajnà, wisdom, the power to discern reality or truth. It is the last which carries across the samsàra (sea of incarnate life) to the shore of nirvàna. The opposites of these virtues are meanness, wickedness, anger, sloth, a distracted mind, and ignorance. The adds four other pàramitàs: (7) Phương tiện upàya, the use of appropriate means; (8) Nguyện pranidhàna, pious vows; (9) Lực bala, power of fulfilment; (10) Trí jnana knowledge.
; See Lục Độ Ba La Mật.
Lục Độ Ba La Mật
(六度波羅蜜): xem phần Lục Độ (六度) ở trên.
lục độ ba la mật
Six virtues of perfection—Ba La Mật, theo Phạn nhữ, có nghĩa là đáo bỉ ngạn. Sáu Ba La Mật đưa chúng sanh qua biển sanh tử để đi đến Niết bàn. Sáu giai đoạn hoàn thiện tinh thần của chư Bồ tát trong tiến trình thành Phật. Chẳng những Lục độ Ba La Mật là đặc trưng cho Phật Giáo Đại Thừa trong nhiều phương diện, mà chúng còn gồm những cơ bản đạo đức chung cho tất cả các tôn giáo. Lục độ bao gồm sự thực tập và sự phát triển khả dĩ cao nhất. Vì vậy, thực hành sáu Ba La Mật sẽ giúp hành giả vượt bờ mê qua đến bến giác—Six Paramitas—According to the Sanskrit language, Paramita means crossing-over. Six Paramitas mean the six things that ferry one beyond the sea of mortality to nirvana. Six stages of spiritual perfection followed by the Bodhisattva in his progress to Buddhahood. The six virtues of perfection are not only characteristic of Mahayana Buddhism in many ways, they also contain virtues commonly held up as cardinal by all religious systems. They consist of the practice and highest possible development. Thus, practicing the six paramitas will lead the practitioner to cross over from the shore of the unenlightened to the dock of enlightenment: 1) Đàn Na Ba La Mật hay Bố thí Ba la mật: Dana-paramita (skt)—Charity—Đây không chỉ có nghĩa là cho đi thứ gì mà người ta có thừa; nó còn bao gồm cả việc thí xả thân mệnh mình cho chính nghĩa. Đàn na bao gồm tài thí, pháp thí và vô úy thí. Bố thí Ba la Mật được dùng để diệt trừ xan tham, bỏn xẻn—Charity does not merely mean to give away what one has in abundance, but it involves even the giving-up of one's whole being for a cause. Charity, or giving, including the bestowing of the truth and courage giving on others—The path of giving. Giving Paramita is used to destroy greed, selfishness, and stinginess. 1a) Đối nghịch lại với Bố Thí là bỏn xẻn keo kiết: The opposite of Charity is Meanness. 1b) Quả báo của Bố Thí là Phước: The reward stimulated by Dana is Enrichment. 2) Thi La Ba La Mật hay Trì giới Ba la mật: Sila-paramita (skt)—Discipline—Trì giới hạnh thanh tịnh nghĩa là thực hành tất cả các giới răn của đạo Phật, hay tất cả những thiện hạnh dẫn tới chỗ toàn thiện đạo đức cho mình và cho tất cả mọi người. Trì giữ giới hạnh thanh tịnh. Trì giới Ba La Mật được dùng để diệt trừ phạm giới và hủy báng Phật Pháp—Pure observance of precepts (keeping the commandments, upholding the precepts, the path of keeping precepts, or moral conduct, etc) is the practicing of all the Buddhist precepts, or all the virtuous deeds that are conducive to the moral welfare of oneself and that of others. Maintaining Precept Paramita is used to destroy violating precepts and degrading the Buddha-Dharma. 2a) Đối nghịch lại với Trì Giới là Quỷ Quyệt Phá Giới: The opposite of Keeping the Commandments is Wickedness. 2b) Quả báo mang lại do trì giới là sự Toàn Hảo (Cụ Sắc): The reward from Keeping the Commandments is Perfection in all things. 3) Sằn Đề hay Nhẫn nhục Ba La Mật: Ksanti-paramita (skt)—Patience—Nhẫn nhục đôi khi cũng được gọi là nhẫn nại, nhưng nhẫn nhục thì đúng nghĩa hơn. Vì rằng nó không chỉ là sự kiên nhẫn chịu những bệnh hoạn của xác thịt, mà nó là cảm giác về sự vô nghĩa, vô giới hạn, và xấu ác. Nói cách khác, nhẫn nhục là nín chịu mọi sự mắng nhục của các loài hữu tình, cũng như những nóng lạnh của thời tiết. Nhẫn nhục Ba la mật được dùng để diệt trừ nóng giận và sân hận—Humility is sometomes rendered patience, but humility is more to the point. Rather than merely enduring all sorts of ills of the body, it is the feeling of unworthiness, limitlessness, and sinfulness. In other words, humility or patience, or forebearance under insult of other beings as well hot and cold weather—The path of endurance. Tolerance Paramita is used to destroy anger and hatred. 3a) Đối nghịch lại với Nhẫn Nhục là Nóng Giận và Sân Hận: The opposite of Patience is Anger and Hatred. 3b) Quả báo mang lại do Nhẫn Nhục Năng Lực: The reward from Patience is Power. 4) Tì Lê Gia hay Tinh tấn Ba La Mật: Virya-paramita (skt)—Devotion—Tinh tấn là kiên trì thể hiện động lực chí thiện. Đời sống của các vị tu theo Phật giáo Đại Thừa là một cuộc đời hăng say tột bực, không chỉ trong đời sống hiện tại mà cả trong đời sống tương lai và những cuộc đời kế tiếp không bao giờ cùng tận. Tinh tấn còn có nghĩa là luôn khích lệ thân tâm tiến tu năm Ba La Mật còn lại. Tinh tấn Ba la mật được dùng để diệt trừ các sự giải đãi—Devotion or Striving means a constant application of oneself to the promotion of good. The Mahayanists' life is one of utmost strenuousness not only in this life, but in the lives to come, and the lives to come may have no end. Virya also means energy or zeal (earnestness—Diligence—Vigour—The path of endeavor) and progress in practicing the other five paramitas. Vigor Paramita is used to destroy laziness and procrastination. 4a) Đối nghịch lại với Tinh Tấn là Giãi Đãi: The opposite of Zeal or Progress is Sloth. 4b) Quả báo mang lại do Tinh Tấn là Thọ Mệnh: The reward from Zeal is Long Life. 5) Thiền Na hay Thiền Định Ba La Mật: Tịnh lự—Dhyana-paramita (skt)—Meditation—Thiền định có nghĩa là tư duy, nhựng không theo nghĩa tư duy về một phương diện đạo đức hay một cách ngôn triết học; nó là việc tu tập tĩnh tâm. Nói khác đi, thiền định là luôn tu theo pháp tư duy để đình chỉ sự tán loạn trong tâm. Thiền định Ba la mật được dùng để diệt trừ sự tán loạn và hôn trầm—Dhyana means meditation, not in the sense of meditating on a moral maxim or a philosophical saying, but the disciplining of oneself in tranquillization. In other words, Dhyana (meditation—Contemplation—Quiet thoughts—Abstraction—Serenity) means the path of concentration of mind to stop the scattered mind. Meditation Paramita is used to destroy chaos and drowsiness. 5a) Đối nghịch với Thiền Định là Tán Tâm hay tâm tán loạn: The opposite of Meditation or Contemplation is Distracted Mind. 5b) Quả báo mang lại do Thiền Định là An Tịnh: The reward from Meditation is Peace or calmness. 6) Bát Nhã hay Trí huệ Ba La Mật: Prajna-paramita (skt)—Wisdom—Bát Nhã là trí tuệ siêu việt, yếu tố giác ngộ. Nó là trực giác thông đạt mọi pháp để chứng đạt chân lý, hay để nhìn vào chân lý cứu cánh của vạn hữu, nhờ đó mà người ta thoát ra ngoài triền phược của hiện hữu và trở thành tự chủ lấy mình. Bát Nhã hay Trí huệ Ba la mật được dùng để diệt trừ sự hôn ám ngu si—Prajna (Wisdom—Knowledge—Real Wisdom—The path of wisdon) means transcendental knowledge. This is what constitutes enlightenment; it is an intuition into the power to discern reality or truth, or into the ultimate truth of things, by gaining which one is released from the bondage of existence, and becomes master of one's self. Wisdom Paramita is used to destroy ignorance and stupidity. 6a) Đối nghịch lại với Trí Huệ là Vô Minh hay ngu si: The opposite of Wisdom is Ignorance. 6b) Quả báo mang lại do Trí Huệ là sự biện biệt chân lý: The reward from Wisdom is discrimination or powers of exposition of the truth. ** For more information, please see Thập Độ Ba La Mật.
lục độ mãn tướng
(六度滿相) sáu tướng tu hành lục độ hoàn mãn. 1. mãn tướng bố thí: vua thi tì vì cứu chim bồ câu, nên đã cắt thịt mình cho chim ưng ăn. 2. mãn tướng trì giới: vua phổ minh giữ giới không nói dối, đủ thời gian 7 ngày thì bỏ nước mà chết. 3. mãn tướng nhẫn nhục: tiên nhân sằn đề bị vua ca lợi cắt đứt cả tay, chân, tai, mũi mà lòng không lay động, sân hận. 4. mãn tướng tinh tiến: thái tử đại thí vì cứu quốc dân nên tháo nước biển, cho dù đứt nát gân cốt cũng không hề biếng nhác. 5. mãn tướng thiền định: thượng xà lê tu thiền định thứ 4, ngồi sừng sững như gốc cây khô, đến nỗi chim khách làm tổ trên đầu mà tâm không lay động. 6. mãn tướng trí tuệ: đại thần cù tân chia cõi diêm phù đề ra làm 7 phần để dẹp yên sự tranh chấp. [x. luận câu xá q.18; chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết q.3 phần 2; quan âm huyền nghĩa q.hạ; thiên thai tứ giáo nghi].
lục độ mẫu
Xem Đa la Bồ tát.
; (綠度母) độ mẫu, phạm: tàrà. gọi đủ: thánh cứu độ phật mẫu. hóa thân của bồ tát quan âm, 1 trong 21 vị độ mẫu. trung quốc thời xưa gọi độ mẫu là đa la bồ tát, đa la quan âm, gồm có 21 vị tôn. hình tượng của vị tôn này là thiếu nữ, toàn thân màu xanh (lục), hiện tướng từ bi. đầu đội mũ báu ngũ phật, thân mang nhiều loại trang sức quí báu, mặc áo trời nhiều màu, ngồi trên tòa sen của bồ tát, chân phải hơi doãng ra, chân trái co lại; tay phải hướng ra ngoài, để trên đầu gối phải, kết ấn dữ nguyện, cầm hoa ô ba lạp; tay trái đặt ở trước ngực, cũng cầm hoa ô ba lạp. tu trì mật pháp của vị tôn này có thể cắt đứt vòng sinh tử luân hồi, tiêu trừ tất cả ma chướng, nghiệp chướng, bệnh khổ v.v... đồng thời tiêu tai, thêm phúc, sống lâu, mở mang trí tuệ, những điều mong cầu đều được toại nguyện, khi mệnh chung được sinh về thế giới cực lạc. [x. độ mẫu bản nguyên kí]. (xt. đa la bồ tát).
lục độ quả báo
Sáu quả báo thâu thập được do sự tu tập Lục Ba La Mật—The rewards stimulated by the six paramitas—See Lục Ba La Mật (b).
; (六度果報) quả báo chiêu cảm được khi tu hành lục độ. lục độ chỉ cho 6 ba la mật: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, và trí tuệ. theo kinh thiên giới, thực hành việc bố thí thì được giàu có, trì giới thì được thân hình đẹp đẽ, đầy đủ các căn; nhẫn nhục thì được sức mạnh, tinh tiến được sống lâu, thiền định thì được sự an lạc, trí tuệ được tài hùng biện... gọi là lục độ quả báo.
lục độ thuyết ý
(六度說意) ý nghĩa nói 6 pháp ba la mật. sáu pháp ba la mật có 2 nghĩa là đối trị và thứ đệ sinh. 1. đối trị: sáu pháp ba la mật đối trị 6 thứ: bỏn sẻn, ác nghiệp, nóng giận, lười biếng, loạn tâm, ngu si. vì 6 thứ này không đưa đến vô thượng bồ đề, nên giảng nói 6 pháp ba la mật để đối trị. 2. thứ đệ sinh: bồ tát xả bỏ tất cả tài vật của thế gian, xuất gia học đạo, gọi là đàn ba la mật; thụ giới bồ tát, gọi là thi la ba la mật; vì hộ trì giới pháp mà chịu đựng sự đánh đập, nhục mạ mà không báo thù, gọi là sằn đề ba la mật; giới đã được thanh tịnh mà siêng năng tu thiện đạo, gọi là tì lê da ba la mật; nhờ siêng năng tinh tiến mà điều phục được 5 căn, gọi là thiền na ba la mật; do 5 căn đã điều phục mà ngộ được chân như pháp giới, gọi là bát nhã ba la mật.
lục độ thí dụ
(六度譬喻) sáu thí dụ về lục độ được nói trong kinh hoa nghiêm, đó là: 1. trí tuệ ví dụ là người mẹ. 2. bố thí ví dụ là sữa mẹ. 3. trì giới ví dụ là mẹ nuôi. 4. nhẫn nhục ví dụ là đồ trang sức. 5. tinh tiến ví dụ là người nuôi dạy. 6. thiền định ví dụ sự tắm giặt.
lục độ tập kinh
(六度集經) cũng gọi lục độ vô cực kinh, lục độ vô cực tập, lục độ tập, tạp vô cực kinh. kinh, 8 quyển, do ngài khang tăng hội dịch vào đời ngô, tam quốc, được thu vào đại chính tạng tập 3. nội dung kinh này ghi chép 91 tích truyện bản sinh của đức phật khi tu đạo bồ tát ở đời quá khứ, phối hợp với lục độ của phật giáo đại thừa mà thành, nên gọi là lục độ tập kinh. - quyển 1-3 nói về bố thí độ. - quyển 4 nói về trì giới. - quyển 5 nói về nhẫn nhục. - quyển 6 nói về tinh tiến. - quyển 7 nói về thiền định. - quyển 8 nói về trí tuệ. điểm đặc sắc của bộ kinh này là xiển dương hạnh bồ tát của phật giáo đại thừa. ngoài truyện bản sinh của đức phật, còn có truyện bản sinh của bồ tát di lặc. phần lớn các truyện bản sinh trong kinh này có thể thấy trong các bản pàli và các bản hán dịch khác, còn nguyên bản của kinh này thì đã bị thất lạc. dựa theo nội dung của bộ kinh mà suy đoán, thì có lẽ lục độ tập kinh đã được thành lập vào thế kỉ thứ ii. [x. lịch đại tam bảo kí q.5; chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục q.3; đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục q.3; bản sinh kinh loại nghiên cứu (can tích long tường)].
lục độ vô cực
Sáu phương tiện vô biên đưa chúng sanh ra khỏi biển luân hồi sanh tử—The six infinite means of crossing the sea of mortality—See Lục Độ Ba La Mật.
; (六度無極) cũng gọi độ vô cực. chỉ 6 pháp ba la mật. ba la mật (phạm: pàramità), hán dịch: độ (dịch cũ). vì pháp tu lục độ của bồ tát là vô cùng, vô cực nên cũng gọi độ vô cực. [x. kinh tăng nhất a hàm q.1].
lục độ vạn hạnh
Six Paramitas and ten thousand conducts: (A) Lục Độ: Six Paramitas—Lục độ Ba La Mật hay Lục Đáo Bỉ ngạn của chư Đại Bồ Tát—Six Ways or six Paramitas (crossing over) of Maha-Bodhisattvas—See Lục Độ Ba La Mật. (B) Vạn Hạnh: Ten Thousand Conducts—Tất cả vạn hạnh mà một vị Bồ Tát cần phải tu tập để diệt trừ si mê và đạt thành quả vị Phật—All the practices a Bodhisattva must cultivate in order to eliminate ignorance and attain Buddhahood.
Lục độ 六度
[ja] ロクト rokudo ||| The Six Perfections (pāramitās). Same as liu boluomi 六波羅蜜: charity, morality, patience, effort, meditation, wisdom. The six excellent practices which lead one to the "other shore" of liberation. => Sáu pháp Ba-la-mật (s: pāramitās). Đồng nghĩa với Lục Ba-la-mật: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tiến, Thiền định, Trí tuệ. Sáu pháp môn tu tập thù thắng đưa chúng sinh qua "bờ" giải thoát.
lục đục
Disagreement—Discord—Dissension.
lục đức
The six characteristics of a bhagavat, which is one of the Buddha's titles: sovereign, glorious, majestic, famous, propitious, honoured.
; Sáu đặc tánh của từ Bạt Già Phạm, cũng là một trong những danh hiệu của Phật—The six charateristics of a Bhagavat, which is one of a Buddha's titles: 1) Tự Tại: Sovereign. 2) Cực Thịnh (Huy hoàng): Glorious. 3) Đoan Nghiêm: Majestic. 4) Danh Tiếng: Famous. 5) Cát Tường (tốt lành): Propitious. 6) Tôn Quý (cao quý): Honoured.
; (六德) chỉ cho 6 nghĩa của chữ bhagavat. bhagavat (hán âm: bạc già phạm, hán dịch: thế tôn), có đủ 6 nghĩa là: tự tại, xí thịnh, đoan nghiêm, danh xưng, cát tường và tôn quí, gọi là lục đức. [x. phật địa kinh luận q.1]. (xt. bạc già phạm).
Lục 録
[ja] ロク roku ||| (1) To record. (2) A written record, usually the teaching record of a Ch'an/Sŏn master. => 1. Ghi chép. 2. Tập ghi chép lại lời giáo huấn, thường là ngữ lục của các Thiền sư.
lụm cụm
To walk in a shaky way due to old age.
lủi
To slip away.
lủi thủi
Lonely—Lonesome—Alone—Lone.
lủng củng
Disagreement.
lừa
To deceive—To cheat—To swindle.
lừa đảo
See Lừa.
lừa đảo và gạt gẫm hàng bạch y
Swindle and deceive the white-robed.
lừng khừng
Hesitating—Undecided—Wavering.
lừng lẫy
Famous—Celebrated—Well-known.
lửa
Teja (S), Fire HỏaTrong tứ đại: - đất (prithin) - nước (apas) - gió (vayu) - lửa (teja) Xem Thọ đề.
; Agni (S). Fire.
lửa dục
The fire of desire.
lửa giận
Access of anger .
lửa khư-đà-la
xem khư-đà-la.
lửa mừng
Bonfire.
lửa tam muội
Fire of samadhi—The fire that consumed the body of Buddha when he entered nirvana.
lửa tam độc vẫn hừng hực cháy trong ta
Fires of the three poisons are still faring up uncessantly in us.
lửa tham, sân, si đốt cháy hết rừng công đức
The fire of greed, anger and illusion burns up all the forest of merits and virtues.
lửa tình
The ardour of passion.
Lữ
侶; C: lǚ; J: ryo;|Môn đệ, đệ tử, bạn đồng hành (s: mitra, sa-hāya).
lữ bích thành
(呂碧城) (1886-1946) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện Tinh đức, tỉnh An huy. Thủa nhỏ, ông học thân phụ, rất thông minh, giỏi thi ca, hội họa. Lớn lên, ông thông thạo các thứ tiếng: Anh, Pháp, Đức, Nhật. Năm 20 tuổi, ông làm Chủ biên Đại công báo, sau ông dạy tại Đại học Nữ tử ở Bắc dương. Vào đầu năm Dân quốc (1911), ông kinh doanh ở Thượng hải, không bao lâu trở nên giàu có, ông liền chu du các nước Âu Mĩ để truyền bá văn hóa Đông phương, hết sức đề cao nhân nghĩa, giới sát. Sau, ông về ở tại Hương cảng, tình cờ được đọc Văn sao của Đại sư Ấn quang, ông liền phát chính tín, bỏ hết xa hoa, ăn chay giữ giới. Về sau, ông lại đi Âu Mĩ giảng diễn Phật học, đồng thời, sưu tập các tư liệu về sự phát triển của Phật giáo tại các nước Âu Mĩ mà biên tập thành sách. Ông mất năm 1946 tại Hương cảng. Tác phẩm: Âu Mĩ chi quang, Mộng vũ thiên hoa thất tùng thư. Dịch phẩm: Pháp hoa kinh phổ môn phẩm (Anh Hán đối chiếu).
lữ cơ nghị
Lau chia chien (C), Lou chia chien (C).
lữ hướng
(呂向) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Đường, có thuyết cho rằng ông là người ở huyện Kinh thủy, tự Tử hồi, là đệ tử tại gia của Tam tạng Kim cương trí. Ông giỏi về các thể chữ thảo, chữ lệ, thường đưa 1 nét bút viết vòng vèo thành trăm chữ, người đời gọi là Liên miên thư. Nhờ chăm học, nhớ dai, chuyên nghiên cứu về dược lí, đọc nhiều sách, nên ông thông suốt cổ kim. Năm Khai nguyên thứ 10 (722), ông vâng mệnh vua vào triều làm quan, theo hầu Thái tử. Ông thường đi lại thù đáp với các Vương hầu, làm văn, dâng thơ và nhiều lần dùng thiện đạo khuyên can vua. Ông làm quan đến chức Công bộ thị lang, sau khi qua đời, ông được truy tặng Hoa âm Thái thú. Ông có trứ tác: Kim cương trí tam tạng hành kí, 1 quyển. [X. Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q.hạ; Tân đường thư Q.202].
lữ khách
Traveler.
lữ lô đạt ma
Xem cồ lâu đạt ma.
Lữ trang
旅装; C: lǚ zhuāng; J: ryosō;|Vật dụng của các vị tăng (ni) hành cước.
Lữ trang 旅装
[ja] リョソウ ryosō ||| A (monk's or nuns) travelling outfit. => Vật dụng của các vị tăng (ni) hành cước.
lữ trừng
(呂澄) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào thời Dân quốc, tự Thu dật, Thu nhất, là học trò của cư sĩ Âu dương tiệm. Thủa nhỏ, ông rất chăm học, từng đọc hết bộ Đại Anh bách khoa toàn thư. Sau khi tốt nghiệp Sư phạm sơ cấp, ông tiếp tục tự học và thông thạo các thứ tiếng: Anh, Phạm, Tạng, Đức v.v... Ông chuyên tâm nghiên cứu Phật giáo nguyên thủy, Phật giáo Tiểu thừa và Phật giáo Nhật bản, Tây tạng. Ông từng đề xướng Nhân minh học thuyết và có nhiều phát kiến mới về Pháp tướng duy thức học. Ông là 1 trong số ít học giả mở ra phong trào nghiên cứu học thuật Phật giáo ở thời Dân quốc tại Trung hoa. Ông có các tác phẩm: Tạp a hàm kinh san định kí, Nhân minh cương yếu, Phật giáo nghiên cứu pháp, Ấn độ Phật giáo sử lược, Tây tạng Phật học nguyên luận, Quán sở duyên duyên luận thích. Và dịch phẩm: Tây tạng truyền bản Nhiếp đại thừa luận (dịch lại).
Lữ 侶
[ja] リョ ryo ||| A follower, disciple, companion (mitra, sahāya). => Môn đệ, đệ tử, bạn đồng hành.
lững lờ
Wavering—Undecided.
lững thững
To walk slowly.
lự
Gạn lọc—To strain—To filter.
lự la
Lộc Thủy Đái—Túi lọc nước—A filtering bag, or cloth.
Lự thủy nang 濾水嚢
[ja] ロスイノウ rosuinō ||| See 漉水嚢. => Xem Lộc thủy nang 漉水嚢.
lự thủy nang-đồ lọc nước
Water-filter.
Lự tri 慮知
[ja] リョチ ryochi ||| Discriminating knowledge; analytical knowledge, esp. as contrasted with non-discriminating prajñā. => Trí thức phân biệt; trí phân tích, đặc biệt là phản nghĩa với trí tuệ bát-nhã vô phân biệt.
lự trí tâm
See Duyên Lự Tâm.
Lự 慮
[ja] リョ ryo ||| (1) To think, to plan; to deliberate carefully (2) To be anxious about. Anxiety. => 1. Suy nghĩ, trù tính, suy tính thận trọng. 2. Băn khoăn về. Lòng khắc khoải.
lựa
To choose—To select.
lựa chọn
To make choices.
Lực
力; C: lì; J: riki, ryoku;|1. Lực, sức mạnh, năng lực, khả năng; 2. Sự chuyển động, công năng; 3. Cố gắng, tinh tiến, nỗ lực; 4. Một quân sĩ, một kị sĩ (s: bala, sthāman); 5. Một trong 80 tướng đặc thù của một vị Phật; 6. Năng lực siêu nhiên; 7. Một trong Thập như thị (十如是) được dạy trong kinh Pháp Hoa.
lực
Effort, Energy Tinh tấn.
; Bala (S). Power, strength. Thập lực: the ten powers of Buddhas and bodhisattvas.
; Bala—Power—Strength.
; (力) Phạm: Bala, Balàna. Hán âm: Ba la, Mạt lệ nang. Sức mạnh về thể chất hoặc sức mạnh tinh thần. (xt. Nhị Lực, Thập Ba La Mật, Tứ Lực).
lực ba la mật
Bālapāramitā (S)Một trong Thập Ba la mật. Dùng sức trí huệ giúp chúng sanh đắc nhập pháp đại thừa, bỏ thân mạng để làm lợi ích cho chúng sanh.
; The bala-pàramità (S). Resolution.
; The virya-paramita.
lực ba la mật bồ tát
(力波羅蜜菩薩) Vị Bồ tát trong viện Hư không tạng trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, mật hiệu là Dũng lực kim cương, 1 trong 10 bồ tát Ba la mật. Hình tượng vị Bồ tát này thân màu da người, mặc áo yết ma, ngồi trên hoa sen đỏ, 2 chân tréo vào nhau, chân phải bên trong, chân trái bên ngoài, khỉu tay phải đưa ra dựng thẳng, bàn tay nắm lá sen, trên lá sen có con sư tử. Tay trái nắm lại chống vào hông, mặt hướng về phía bên phải, nhìn vào vật đang cầm trong tay. Ấn khế là 2 tay tréo vào nhau, 2 ngón giữa, 2 ngón trỏ và 2 ngón cái đều sáp sát nhau và dựng thẳng. Chân ngôn là: Án na ma nính mẫu nễ đế hồng hạ hạ hạ hồng nhược. Nếu kết ấn này và tụng 3 biến chân ngôn thì có thể trừ diệt ý nghiệp kém cỏi, được tư trạch lực và tu tập lực, đồng thời, chế phục các phiền não, đoạn trừ hoặc nghiệp, khi tu đạo quyết định được thắng giải, tất cả thiên ma bạn ác chẳng thể lôi kéo, đạt được Thánh quả bất thoái chuyển. [X. Kim cương đính du già thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ Q.hạ; Bí tạng kí].
Lực ba-la-mật
力波羅蜜; C: lìbōluómì; J: rikiharamitsu; S: bala-pāramitā.|Sự toàn hảo của năng lực tu hành và nhận thức, ví như có thể đạt giác ngộ một cách không lầm lạc. Một trong mười Ba-la-mật (Thập ba-la-mật 十波羅蜜).
Lực Ba-la-mật 力波羅蜜
[ja] リキハラミツ rikiharamitsu ||| The perfection of one's powers of discernment and cultivation, such that one may pursue the path to enlightenment unerringly (bala-pāramitā). One of the ten pāramitās 十波羅蜜. => Năng lực viên mãn về kiến giải cũng như về hành trì tu tập của hành giả, theo đó, hành giả có thể đạt đến giác ngộ mà không nhầm lẫn (s: bala-pāramitā). Một trong Mười Ba-la-mật.
Lực ba-la-mật-đa
力波羅蜜多; C: lì bōluómìduō; J: riki haramit-ta;|Lực ba-la-mật (力波羅蜜).
Lực Ba-la-mật-đa 力波羅蜜多
[ja] リキハラミッタ riki haramitta ||| See 力波羅蜜. => Xem Lực Ba-la-mật.
lực giả
(力者) Cũng gọi Lực giả pháp sư. Chỉ cho những vị tăng khiêng kiệu trong các tự viện. Thủa xưa, khi đức Phật nhập diệt, các lực sĩ thành Câu thi na khiêng kim quan của Ngài, vì thế, phu khiêng kiệu trong các chùa viện được gọi là Lực giả. Tại Nhật bản, những người xuất gia dùng sức lao động làm việc hàng ngày, thích đấu tranh, hoặc những vị tăng trụy lạc làm công việc của kẻ nô bộc, gọi là Lực giả pháp sư, như bọn Tăng binh thời Mạc phủ. Ngoài ra, người cảnh vệ cầm vũ khí để trang trí tòa giảng cũng gọi là Lực giả. (xt. Lực Sĩ).
lực giả pháp sư
A monk who degrades himself by becoming a fighter, a boxer or a slave.
lực sinh
Power-born—One who is born from the truth—A monk.
Lực sĩ
力士; C: lìshì; J: rikishi;|1. Một người có sức mạnh lớn, một anh hùng, một vị thần (s: vīra, mahābalavān); 2. Một chủng tộc sống ở nơi Phật Thích-ca Mâu-ni nhập diệt.
lực sĩ
Lisavi (S).
; Vira (S). A strong or mighty man, hero, demigod.
; Vira (skt)—A strong or mighty man.
; (力士) I. Lực Sĩ. Người có sức mạnh. Đây chỉ cho giòng Mạt la ở thành Câu thi na yết la. Khi đức Phật nhập Niết bàn, giòng Mạt la này khiêng kim quan của Ngài, vì thế nên kinh Trường a hàm gọi Lực sĩ là Mạt la. (xt. Mạt La). II. Lực Sĩ. Gọi đủ: Kim cương lực sĩ. (xt. Na La Diên Thiên).
Lực sĩ Kim cang
cũng gọi là Chấp kim cang hay Chấp kim cang thần, là vị thần có thân hình to lớn, mạnh mẽ, phát nguyện hộ trì bảo vệ Phật pháp.
lực sĩ sinh địa
(力士生地) Nơi sinh sống của giòng Lực sĩ, tức chỉ cho thành Câu thi na yết la. Theo sự giải thích trong Đại bát niết bàn kinh sớ quyển 1, thì Lực sĩ là người có sức mạnh địch lại nghìn người. Nơi có 30 vạn người sống chung thành bầy đảng, không lệ thuộc ai, dùng pháp tự trị mà không nổi loạn, đó là vùng của Lực sĩ sinh sống, cho nên gọi là Sinh địa. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.1 (bản Bắc)]. (xt. Lực Sĩ).
Lực sĩ 力士
[ja] リキシ rikishi ||| (1) A person of great strength; a hero, a demigod (vīra, mahābalavān). (2) The tribe who lived in the area where Śākyamuni passed away. => Có hai nghĩa: 1. Người có sức mạnh; anh hùng, á thần (s: vīra, mahābalavān). 2. Bộ tộc sống ở một xứ mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từng đi qua.
lực tuyến
Nāḍī (S), Essential energy Rtsa (T)Na Đề; Đạo quản, năng tuyếnNa Đề, tên một nhà sư Ấn độ hồi thế kỷ 7.
lực tấn tam muội
Bāla-vyŪha-samādhi (S).
lực vô sở uý
(力無所畏) Chỉ cho 10 trí lực và 4 vô sở úy của Như lai. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 5 hạ), nói: Tri kiến của Như lai rộng lớn sâu xa, vô lượng vô ngại, lực vô sở úy, thiền định giải thoát tam muội. (xt. Thập Lực, Tứ Vô Sở Úy).
lực vô úy
Power of fearlessness.
Lực đáo bỉ ngạn
力到彼岸; C: lì dàobǐàn; J: riki tōhigan;|Sự toàn hảo của năng lực (thực hành và nhận thức). Lực ba-la-mật (力波羅蜜).
Lực đáo bỉ ngạn 力到彼岸
[ja] リキトウヒガン riki tōhigan ||| The perfection of powers (of discernment and practice). See 力波羅蜜. => Năng lực viên mãn (nhận thức và thực hành). Xem Lực Ba-la-mật力波羅蜜. .
Lực 力
[ja] リキ riki, ryoku ||| (1) Strength, force, power, energy, ability. (2) Movement, function. (3) To endeavor, make effort. Forcibly, to strain, exert oneself. (4) A warrior, a knight (Skt. bala, sthāman). (5) One of the 18 distinctive marks of the Buddha. (6) Spiritual power, occult power. (7) One of the ten such-likes taught in the Lotus Sutra. See 十如是. => Có các nghĩa sau: 1. Sức mạnh, sức lực, năng lực, nghị lực, khả năng. 2. Sự hoạt động, chức năng. 3. Sự cố gắng, sự nỗ lực. Sinh động, gắng sức, ráng sức 4. Một chiến sĩ, hiệp sĩ (s: bala, sthāman). 5. Một trong 18 pháp bất cọng của Đức Phật. 6. Năng lực thần thông. Năng lực siêu nhiên. 7. Một trong Thập như thị trong Kinh Pháp Hoa. Xem Thập như thị十如是. .
Lực-sĩ
xem Lê-xa.
Lựu hỏa
(榴火): hoa Thạch Lựu; vì màu hồng của loại hoa này rực rỡ như lửa nên có tên gọi như vậy. Trong bài từ Hoán Khê Sa Mạn (浣溪沙慢) của Chu Bang Ngạn (周邦彥, 1056-1121) nhà Tống có câu: “Nộn anh thúy ác, hồng hạnh giao Lựu hỏa (嫩英翠幄、紅杏交榴火, hoa non phủ màn biếc, mơ hồng cùng lựu đỏ).” Hay trong bài thơ Tạ Chu Hạc Cao Chiêu Ẩm (謝朱鶴皋招飲) của Tào Bá Khải (曹伯啟, ?-?) nhà Nguyên có câu: “Mãn viện trúc phong xuy tửu diện, lưỡng châu Lựu hỏa phát thi sầu (滿院竹風吹酒面、兩株榴火發詩愁, đầy nhà gió trúc thổi mặt rượu, hai hàng hoa Lựu phát thơ buồn).” Trong Chánh Nguyên Lược Tập (正源略集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1587) quyển 9, phần Cô Tô Di Hiền Liên Phong Nguyên Thiền Sư (姑蘇怡賢蓮峰源禪師) có đoạn: “Tạc tiêu phong vũ quá viên lâm, tẩy xuất Uy Âm na bạn xuân, vô vị chân nhân mao cốt lãnh, liễu yên lựu hỏa nhất thời tân (昨宵風雨過園林、洗出威音那畔春、無位眞人毛骨冷、柳煙榴火一時新, đêm qua mưa gió đến rừng hoang, rửa sạch Oai Âm mấy kiếp xuân, vô vị chân nhân lông cốt lạnh, lựu hoa khói liễu vẫn mới toanh).”
ma
Demons Ma lực cản trở sự tu tập.
; Màra (S). Destroyer, Evil One, Devil; murderer, hinderer. disturber destroyer. He is a deva, often represented with a hundred arms and riding on an elephnt. He sends his daughters, or assume monstruous forms or inspires wicked men, to seduce or frighten the saints. He resides with legions of subordinates in the heaven Paranirmita Vasavartin situated on the top of the Kàmadhatu. He is also called Tha hóa tự tại thiên. There are various categories of màras, e.g. ấm ma skandha-màra, dục ma passion-màra, etc.
; 1) Cọ xát hay xúc chạm: To feel—To handle—To rub. 2) Từ dùng để đặt câu hỏi trong ngôn ngữ Trung Hoa: A term used to make questions in Chinese language. 3) Mara (skt)—Ma La—Lũ ác quỷ làm hại nhân mạng, có khả năng cướp đoạt nhân mạng, gây chướng ngại—Phantom—Ghost—Devil—Killing—Destroying—The destroyer—Evil One—Spirit—Murderer—Hinderer—Disturber— 4) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển thì thiên ma có trăm tay, cưỡi voi, thường gởi ma nữ hay giả dạng để xúi dục kẻ xấu hay hù dọa người tốt (bậc Thánh)—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, a deva often represented with a hundred arms and riding on an elephant. He often sends his daughter, or assumes monstrous forms, or inspires wicked men, to seduce or frighten the saints. 5) Ma Vương hay chủ cung trời dục giới thứ sáu: Lord of the sixth desire-heaven. ** For more information, please see Tha Hóa Tự Tại Thiên.
; (麽) I. Ma. Cũng gọi Ba, bà. Tức là chữ (ba) 1 trong 42, 1 trong 50 chữ cái Tất đàm. Phẩm Thích Tự Mẫu trong kinh Du Già Kim Cương Đính (Đại 18, 339 thượng), nói: Chữ (ba) nghĩa là tất cả pháp trói buộc đều không thật có. Phẩm Thị Thư trong kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 4 (Đại 3, 560 thượng), nói: Khi xướng chữ Ba thì phát ra âm thanh cởi bỏ tất cả sự trói buộc. Bởi vì chữ Phạm Bandhana (ba đà) nghĩa là trói buộc, mà chữ này bắt đầu bằng chữ Ba ( ), cho nên xưa nay chữ này được gọi là chữ của sự trói buộc. Kinh Hoa Nghiêm (bản 60 quyển) quyển 57 (Đại 9, 765 hạ), nói: Khi xướng chữ Ba là vào cửa Bát Nhã Ba La Mật, gọi là Kim cương tràng. [X. phẩm Văn tự trong kinh Niết Bàn Q.8 (bản Nam); phẩm Quảng thừa trong kinh Đại Phẩm Bát Nhã Q.5; phẩm Đà La Ni trong kinh Phóng Quang Bát Nhã Q.4; phẩm Cụ Duyên trong kinh Đại Nhật Q.2; phẩm Tập Học Kĩ Nghệ trong kinh Phật Bản Hạnh Tập Q.11; phẩm Quán trong kinh Quang Tán Bát Nhã Q.7; phẩm Tự Mẫu trong kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn Q.thượng]. II. Ma. 1. Trợ từ nghi vấn đặt ở cuối câu (phần nhiều dùng trong các bộ ngữ lục của Thiền tông). Thiền quan sách tiến (Đại 48, 1101 thượng), nói: Ban ngày tỉnh táo làm chủ được chăng? (tác đắc chủ ma?). Đáp: Làm được! Lại hỏi: Trong giấc mộng làm chủ được chăng? Đáp: Làm được!. Chữ Ma cũng được dùng trong các câu nghi vấn, tức trong lời văn có hàm ý bất định, hoặc có ngữ khí phản vấn, phản ngữ. 2. Đặt ở cuối câu điều kiện, mang ngữ khí nhấn mạnh, giả định: Nếu như... thì... Chữ này cũng còn được dùng khi nêu lên chủ đề, như: Về... mà nói... thì... Thiền quan sách tiến (Đại 48, 1098 hạ), nói: Nhĩ chư nhân yếu tham thiền ma? Tu thị phóng hạ trứ: Các ông muốn tham thiền chăng? Nếu thế thì phải buông bỏ hết!.3. Tiếp Vĩ ngữ: Như thậm ma, thập ma, na ma, nhẫm ma, tác ma, dữ ma.[X. chương Lục tổ Tuệ Năng trong Tổ đường tập Q.2]. II. Ma Cũng gọi Mãng, Minh. Là chữ (ma), 1 trong 42, 1 trong 50 chữ cái Tất đàm. Phẩm Thích Tự Mẫu trong kinh Kim Cương đính cho rằng, chữ Ma tức biểu thị nghĩa vào các pháp ngã sở là bất khả đắc. Phẩm Thị Thư trong kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 4 thì cho rằng, khi xướng chữ Ma có thể phát ra âm thanh tiêu diệt tất cả sự kiêu mạn. Kinh Hoa Nghiêm quyển 33 (bản dịch cũ) nói, khi xướng chữ Ma thì nhập vào môn Bát Nhã Ba La Mật. Còn phẩm Tập Học Kĩ Nghệ trong kinh Phật Bản Hạnh tập quyển 11 thì nói (Đại 3, 704 trung): Khi xướng chữ Ma thì phát ra âm thanh nói về sinh tử là tất cả sự khủng bố rất đáng sợ v.v... Sở dĩ chữ Ma có các nghĩa trên là vì những tiếng Phạm mamatà (ngã), mamakàra (ngã sở= của ta), mada (kiêu mạn) v.v... đều bắt đầu bằng chữ ma. [X. phẩm Quảng Thừa trong kinh Đại Phẩm Bát Nhã Q.5; phẩm Đà La Ni trong kinh Phóng Quang Bát Nhã Q.4; phẩm Tự Mẫu trong kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn Q.thượng; kinh Đại Bát Niết Bàn Q.8 (bản Bắc); phẩm Cụ Duyên trong kinh Đại Nhật Q.2]. III. MA Phạm, Pàli: Màra. Gọi đủ: Ma la. Cũng gọi Ác ma. Hán dịch: Sát giả, Đoạt mệnh, Năng đoạt mệnh giả, Chướng ngại. Chỉ cho loại ác quỉ thần chuyên cướp lấy mệnh sống con người và làm trở ngại các việc thiện. Cứ theo phẩm Hàng ma trong kinh Phổ Diệu quyển 6, khi đức Phật thành đạo, ma vương Ba tuần sai 4 ma nữ tên là Dục phi, Duyệt bỉ, Khoái quan và Kiến tòng đến não loạn Đức Phật. Theo phẩm Đao Lợi Thiên trong kinh Trường A Hàm quyển 20 và kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả quyển 3, thì Ma vương là Tha hóa tự tại thiên, trụ ở tầng trời thứ 6 của cõi Dục, là vị thần chuyên phá hoại chính pháp, được gọi là Thiên tử ma, hoặc Thiên ma Ba tuần. Còn theo kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 27, thì ma vương Ba tuần có đầy đủ 5 lực là sắc lực, thanh lực, hương lực, vị lực và tế hoạt lực. Kinh Phật Bản Hạnh Tập quyển 12 thì nêu ra 12 thứ ma quân là: Tham muốn, hay tức giận, đói khát lạnh nóng, tình ái đắm đuối, ngủ nghỉ, kinh hãi khiếp sợ, ngờ vực, sân hận phẫn nộ, tranh giành danh lợi, ngu si không trí, tự cao khoe khoang và thường chê bai người khác. Nói theo nội quán thì tất cả những gì làm não loạn chúng sinh như phiền não, nghi hoặc, mê luyến v.v... đều gọi là ma; chướng ngại do thân tâm của mình sinh ra, gọi là nội ma, chướng ngại từ bên ngoài đến, gọi là ngoại ma, cả 2 gọi chung là Nhị ma. Theo luận Đại Trí Độ quyển 5 thì ngoài thực tướng các pháp, còn tất cả đều là ma. Luận Du Già Sư Địa quyển 29 nêu ra 4 loại ma: 1. Ngũ uẩn ma, cũng gọi Ấm ma, Uẩn ma, Ngũ chúng ma, Ấm giới nhập ma. Năm uẩn hay sinh ra các thứ khổ não, là nhân duyên cướp mất mệnh sống. 2. Phiền não ma: Phiền não thường mang lại khổ đau từ lúc sinh ra cho đến khi chết. 3. Tử ma: Chính cái chết được gọi là Tử ma. 4. Thiên tử ma, cũng gọi Thiên ma. Những cái làm chướng ngại sự giải thoát sinh tử. Tứ ma thêm tội ma thành Ngũ ma, hoặc Tứ ma thêm 4 tâm điên đảo như vô thường, vô ngã v.v... thành Bát ma. Hoa Nghiêm kinh Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao quyển 29 thì nêu 10 loại ma: Uẩn, phiền não, nghiệp, tâm, tử, thiên, thiện căn, tam muội, thiện tri thức, bồ đề pháp trí. Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương quyển 6, phần đầu, thì tổng hợp các loại ma chia thành 2 thứ: Phần đoạn ma và Biến dịch ma. Phần đoạn ma là Phiền não chướng, ngăn trở sự chứng đạo của hàng Nhị thừa, còn Biến dịch ma tức là Sở tri chướng, ngăn ngại sự chứng đạo của hàng Bồ tát. Phần đoạn và Biến dịch mỗi loại lại có 4 ma, cộng thành 8 ma. Ngoài ra, Ma Ha Chỉ Quán quyển 8, hạ, có nói rất rõ về các ma chướng sinh khởi trong khi tu thiền. Về phương pháp đối trị ma thì có thể niệm tam qui, ngũ giới hoặc tụng chú trừ ma, niệm Phật v.v... Trong pháp tu Mật giáo thường hạn chế 1 khu vực nhất định có kết giới pháp, để ngăn ngừa sự xâm nhập của ma chướng. [X. kinh Tạp A Hàm quyển 39; kinh Hàng Ma trong Trung A Hàm Q.30; kinh Phật Bản Hạnh Tập Q.26; phẩm Phá Ma trong Phật Sở Hành Tán Q.3; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.24; Tuệ Uyển Âm Nghĩa Q.hạ, Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.12, 25]. (xt. Ác Ma).
ma ba tuần
Mārapapiman (S)Tên Ma vương thời Phật tại thế.
; Duratama Mara or Mara-papiman (skt)—Ma của tầng trời thứ sáu—Demons of the sixth heaven. ** For more information, please see Ba Tuần.
ma ba tuần, thiên ma
Màra-pàpiyàn (S). Lord of the sixth desire-heaven.
ma ca
(摩迦) Phạm: Màlikà. Cũng gọi Ma lỗ ca, Ma lâu ca, Ma lợi ca. Một loại dây leo như sắn, bìm, mây, song... thường quấn quanh các thân cây, ví dụ các dục, tham, sân v.v... trói buộc chúng sinh. Luận Du Già Sư Địa quyển 18 (Đại 30, 377 thượng), nói: Chúng sinh bị các dục tham, khuể, tầm, tư trói buộc, giống như dây leo ma lỗ ca ở thế gian quấn quanh thân cây rừng. [X. Huyền ứng Âm Nghĩa Q.22; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.26].
ma ca tra
Xem Di hầu.
ma chay
Funeral ceremony.
ma chiết
To pound, pulverize, crush; to undergo difficulties or trials, to go through ordeals. Thiên ma bách chiết, to go through no end of ordeals.
ma chuyên
(磨甎 ) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Mài gạch, người tu đạo mà còn có chỗ mong cầu thì rốt cuộc không thành tựu được gì, giống như mài gạch mong thành gương. Chương Nam Nhạc Hoài Nhượng trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 5, ghi: Mã tổ Đạo Nhất trọn ngày ngồi thiền, muốn cầu thành Phật. Một hôm, Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng đến trước cửa am của Mã tổ ngồi mài gạch, Mã tổ hỏi: Sư mài gạch để làm gì? Nam nhạc đáp: Để làm gương. Mã tổ nói: Mài gạch mà thành gương sao được? Nam nhạc nói: Nếu mài gạch không thành gương, thì ngồi thiền cũng chẳng thành Phật! (xt. Nam Nhạc Ma Chuyên).
ma chí lý ca
Matrka (skt)—Tên khác của A Tỳ Đạt Ma—Another name for the Abhidharma pitaka. **For more information, please see A Tỳ Đạt Ma, and A Tỳ Đạt Ma Tạng in Vietnaemse-English Section.
ma chướng
Màra-hindrances.
; Mara-hindrances—Demonic obstacles.
; (魔障) Ma chướng làm trở ngại Phật đạo và việc tu tập các thiện pháp, vì muốn nhấn mạnh ý nghĩa chướng ngại nên dùng chung cả Phạm và Hán mà gọi là Ma chướng. Các phiền não thường ngăn ngại sự thành tựu Phật đạo nên cũng gọi là Ma chướng. Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết quyển 5, phần 1, dùng thí dụ về sáng và tối, bảo rằng ma chướng thường ngăn trở Chỉ quán. (xt. Ma, Ma Quân). MA CỐC BẢO TRIỆT (?-?) Thiền tăng Trung Quốc, sống vào đời Đường, pháp hiệu Bảo Triệt. Sau khi xuất gia, sư tham yết ngài Mã tổ Đạo Nhất và được nối pháp của ngài. Về sau, sư đến ở núi Ma Cốc (cũng gọi núi Ma dục) tại Bồ Châu (Sơn Tây) xiển dương Thiền Phong. Sư có những công án nổi tiếng như: Ma cốc chấn tích, Ma cốc thủ cân, Phong tính thường trụ v.v... được lưu truyền trong Thiền Lâm. [X. Tổ Đường Tập Q.15; Cảnh Đức Truyền Đăng Lục Q.7].
ma chướng luân phiên rình rập và hãm hại người tu
Demons (obstacles) always take turns watching and harming cultivators constantly.
ma chướng luôn chờ cơ hội lôi kéo người tu về phía chúng
Demons always wait for the opportune moment to attract and lure devoted cultivators to fall to the demonic nets.
ma chỉ
Một loại thuốc tẩy độc—A medicine that can eradicate poison.
ma cung
(魔宮) Chỗ ở của ác ma. Kinh Tâm Địa Quán quyển 5 (Đại 3, 314 trung), nói: Nếu phát tâm cầu xuất gia, nhàm chán thế gian tu Phật đạo, thì ma cung ở 10 phương đều rúng động, người ấy mau chứng thân Pháp vương.
ma cóc
Maku (S), Mayoku Hotetsu (J)(khoảng giửa TK 8 và 9). Đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất.
Ma cảnh
魔境; J: makyō;|Danh từ chỉ những cảm giác và hiện tượng quái dị mà hành giả có thể trải qua trong khi Toạ thiền. Những hiện tượng này gồm: âm thanh, hình tượng lạ, hương vị, những hoạt động thân thể ngoài ý muốn… và đôi khi nhìn được việc sẽ xảy ra. Hành giả không nên coi trọng những hiện tượng này – kinh dị hay cám dỗ – và bất động, tiếp tục tu tập.|Trong một ý nghĩa bao quát hơn thì tất cả những cảnh mà phàm phu, người chưa thức tỉnh, nhận thức được đều là ma cảnh. Chỉ có những người Giác ngộ mới thấy được chân cảnh.|Ma Cốc Bảo Triệt|麻谷寶徹; C: māgǔ bǎochè; J: mayoku hōtetsu; tk. 8/9; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Mã Tổ Ðạo Nhất. Sử sách không ghi rõ về Sư ngoài vài Pháp chiến.|Sư cùng Mã Tổ đi dạo, nhân dịp hỏi: »Thế nào là Ðại niết-bàn?« Mã Tổ đáp: »Gấp!« Sư hỏi: »Gấp cái gì?« Tổ đáp: »Xem nước.«|Có vị tăng hỏi: »Mười hai phần giáo con chẳng nghi, thế nào là ý Tổ sư từ phương Tây sang?« Sư đứng dậy lấy trượng xoay quanh thân một vòng, đứng một chân, bảo: »Hội chăng?« Tăng thưa: »Không hội.« Sư liền đánh. Một vị khác hỏi: »Thế nào là đại ý Phật pháp?« Sư im lặng.
ma cảnh
Makyō (J).
; See Ma Giới.
; (魔境) Cảnh địa của Ma chướng. Tây Phương Hợp Luận quyển 5 (Đại 47, 402 hạ), nói: Vì thế nên biết, ngoài tâm mà thấy Phật thì đó là cảnh ma. Tại sao? Vì ngoài tâm không có 1 pháp nào.
Ma Cốc Bảo Triệt
(麻谷寳徹, Mayoku Hōtetsu, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Đường, nguyên quán cũng như họ không rõ. Sau khi xuất gia, ông đến tham bái Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến trú tại Ma Cốc Sơn (麻谷山), Bồ Châu (蒲州, Tỉnh Sơn Tây) và cử xướng Thiền phong của mình. Ông có giao du với Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然), môn hạ của Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷).
ma cốc bảo triệt
Mayoku Hōtetsu (C).
ma cốc bảo triệt thiền sư
Zen master Ma-Yu-Bao-Che—See Bảo Triệt Ma Cốc Thiền Sư.
ma cốc chấn tích
(麻穀振錫) Cũng gọi Ma cốc trì tích, Ma cốc lưỡng xứ chấn tích, Ma cốc chấn tích nhiễu sàng. Tên công án trong Thiền Lâm. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Ma Cốc và 2 vị pháp huynh là Chương Kính Hoài Uẩn, Nam Tuyền Phổ Nguyện. Tắc 31, Bích Nham Lục (Đại 48, 236 hạ), nói: Ma Cốc cầm gậy đến ngài Chương Kính, đi quanh giường Thiền 3 vòng, dộng gậy xuống đất 1 cái, rồi đứng lặng yên. Chương Kính nói: Phải! Phải! Sau đó, Ma Cốc lại đến ngài Nam Tuyền, đi quanh giường Thiền 3 vòng, dộng gậy xuống đất 1 cái, rồi đứng lặng yên. Ngài Nam Tuyền nói: Không phải! Không phải! Ma Cốc hỏi: Vì sao Hòa Thượng nói không phải? Ngài Nam Tuyền đáp: Chương Kính thì phải, còn ông thì không phải. Đây là sức gió xoay chuyển, cuối cùng thành bại hoại.
ma cốc tự
(麻穀寺) Chùa ở Trung Thanh Nam, Hàn Quốc, hiệu là Thái Hoa Sơn, được sáng lập vào thời đại Hưng Đức Vương (826-835) nước Tân La. Có thuyết cho rằng chùa này do ngài Phổ Chiếu nước Tân La xây cất, nay là 1 trong 31 bản sơn của Phật giáo Hàn Quốc. Chùa hiện có các kiến trúc như: Đại hùng bảo điện, Đại quang bảo nghiêm, Linh sơn điện, Đại hương các, tháp đá 5 tầng và 8 ngôi am. Trong đó, tòa tháp đá 5 tầng thân thon cao, được xây trên cái nền 2 tầng, góc tháp treo những cái chuông gió, trên đỉnh đặt 1 bảo tháp nhỏ bằng đồng xanh theo kiểu tháp Lạt Ma, là di vật quí giá để nghiên cứu về tháp Lạt Ma. Hiện chùa này cai quản 99 tự viện phụ thuộc, trong đó, Giáp Tự ở núi Kê Long, do ngài Từ Tạng khai sáng vào thời Tân La cũng rất nổi tiếng.
ma da
Màya (S). Mother of the Buddha.
; Maya (skt)—See Ma Gia.
ma da ni kinh
Xem Pháp tướng Kinh.
Ma Da Phu Nhân
(s, p: Māyā, 摩耶): mẹ của đức Thế Tôn, con gái của Thiện Giác Vương (善覺王) ở Thành Câu Lợi (拘利城), vợ vua Tịnh Phạn (s: Śuddhodana, p: Suddhodana, 淨飯王) Thành Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛), sau khi hạ sanh đức Thế Tôn được 7 ngày, bà qua đời. Sau khi chết, bà được sanh lên cõi Trời Đao Lợi (s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利). Sau ngày thành đạo, đức Phật đã lên cõi trời này để thuyết pháp cho mẹ mình. Như trong Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh (地藏菩薩本願經), phẩm Quán Chúng Sanh Nghiệp Duyên (觀眾生業緣) thứ 3 có đề cập đến Phu Nhân Ma Da như: “Nhĩ thời Phật mẫu Ma Da Phu Nhân, cung kính hiệp chưởng vấn Địa Tạng Bồ Tát ngôn: 'Thánh giả, Diêm Phù chúng sanh, tạo nghiệp sai biệt, sở thọ báo ứng, kỳ sự vân hà ?' (爾時佛母摩耶夫人、恭敬合掌問地藏菩薩言:聖者、閻浮眾生、造業差別、所受報應、其事云何, lúc bấy giờ, mẹ của đức Phật là Ma Da Phu Nhân cung kính chấp tay hỏi Bồ Tát Địa Tạng rằng: 'Thưa bậc Thánh, chúng sanh trong cõi Diêm Phù tạo nghiệp khác nhau, chịu sự báo ứng, việc đó như thế nào ?').” Thiên Mục Văn Lễ (天目文禮, 1167-1250), vị tăng của Phái Tùng Nguyên thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, có bài tụng như sau: “Vị tằng chàng nhập Ma Da phục, lưỡng thủ tri tha thậm xứ an, tả hiếp xuất lai ma cảnh hiện, chỉ kham chù trướng bất kham khan (未曾撞入摩耶服、兩手知他甚處安、左脅出來魔境現、只堪惆悵不堪看, chưa từng đột nhập Ma Da bụng, có biết người ta chốn nào yên, vai trái ra rồi ma cảnh hiện, chỉ e rầu rĩ biết sao nhìn).”
ma da phu nhân
(摩耶夫人) Ma da, Phạm, Pàli: Mahàmàyà. Cũng gọi Ma ha ma da, Ma ha ma tà. Hán dịch: Đại huyễn hóa, Đại thuật, Diệu. Mẹ của Đức Thích Tôn, phu nhân của vua Tịnh Phạn (Phạm: Zuddhodana) ở thành Ca Tì La Vệ (Phạm:Kapilavastu) tại Ấn Độ thời xưa. Bà là con của vua Tu Bồ Đề (Phạm:Subhùti) ở thành Thiên Tí (Phạm:Devadaha), sau khi sinh Đức Thích Tôn được 7 ngày thì Bà qua đời. Theo truyền thuyết, Bà được sinh lên cõi trời Đao Lợi (Phạm: Tràyastriôza, tầng thứ 2 trong 6 tầng trời cõi Dục), có lần Đức Thích Tôn lên cung trời này nói pháp cho mẫu hậu nghe. [X. kinh Tạp A Hàm Q.19; Vị Tằng Hữu Pháp trong kinh Trung A Hàm Q.8; kinh Du Hành trong Trường A Hàm Q.4; kinh Tăng Nhất A Hàm Q.28; phẩm Giáng Thân trong kinh Tu Hành Bản Khởi Q.thượng; kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Q.1; phẩm Hiền Kiếp Vương Chủng trong kinh Phật Bản Hạnh Tập Q.5; phẩm Thụ Hạ Đản Sinh trong kinh Phật Bản Hạnh Tập Q.8; kinh Chúng Hứa Ma Ha Đế Q.3].
ma di
Xem Bản mẫu tạng.
; Xem bản mẫu.
ma diệt
(磨滅) Tiêu diệt, tiêu mất. Nghĩa là tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, mỗi ngày cứ hao mòn dần, cuối cùng thì tiêu diệt, không thường trụ. Kinh Đại Bảo Tích quyển 96 (Đại 11, 542 thượng), nói: Núi Tu Di cũng khô cháy, sông biển rồi cũng cạn kiệt, cuối cùng tất cả sẽ tiêu diệt mà trở về hư không. [X. Hồi Hướng Nghĩa Tam Môn Phân Biệt trong Đại Thừa Nghĩa Chương Q.9].
ma do la
Mayura (skt)—Khổng Tước Điểu (con công)—A Peacock.
ma du la già lam
masura-Sangharama (skt)—Một tịnh xá cổ vào khoảng 200 dậm về phía đông nam của thành Mongali—An ancient vihara about 200 miles southeast of Mongali.
ma duyên
Màra-circumstance, or environment, or conditioning cause. i.e. hindering the good.
; Những chướng duyên làm trở ngại tu hành thiện nghiệp—Mara circumstances, conditions, or environments, or conditioning cause, i.e. hindering the good.
; (魔緣) Chỉ cho quyến thuộc của ác ma, chuyên gây trở ngại cho người tu hành Phật đạo, hoặc chỉ cho sự phương hại do ma vương tạo ra.
ma dà
Magha (skt). 1) An asterism, containing five stars figured like a house. 2) Tháng Ma Dà ở Ấn Độ giữa tháng giêng và tháng hai: The month of Magha between the months of January and February—See Thập Nhị Nguyệt.
ma dà la
Makara (S)Ma KiệtTên vị thần cá rất lớn thống lãnh loài cá.
ma dân
Marakayikas (skt)—Ma Tử—Ma Nữ—Mara's people, or subjects—See Ma Nữ.
ma dân, con cái ma, ma nữ
Màrakàyikas (S). Màra's people or subjects.
ma dã
Maya (skt). 1) Phiền não: Illusion—Hallucination. 2) Thân thể: A body.
ma dị chi bồ tát
Māricī (S)Dương Diệm Bồ tát, Ma lợi chi thiên, Oai Quang thiênTên một vị Bồ tát.
ma gia
Maya (skt & p)—Mẹ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và vợ vua Tịnh Phạn. Bà sống ở nước Câu Ly thời xưa, nay thuộc vương quốc Nepal—The mother of Sakyamuni Buddha and wife of king Suddhodana. She lived in the ancient country of Koliya which is now in Nepal. ** For more information, please see Ma Ha Ma Gia in Vietnamese-English Section.
ma già đà
Xem Ma kiệt đà.
ma giáo
(魔教) Danh từ do giai cấp địa chủ đời Tống, Trung Quốc, dùng để chê bai Minh giáo. Minh giáo là 1 tổ chức tông giáo bí mật phát triển từ Ma ni giáo mà thành, không thờ thần quỉ, chỉ thờ Ma ni, thời bấy giờ thường được phong trào nông dân khởi nghĩa lợi dụng. Giai cấp địa chủ liền đổi chữ Ma (..) thành chữ Ma (..), rồi vu khống Ma ni (.....) là Ma vương ( ), Minh giáo ( ) là Ma giáo ( ). Vì giáo phái này ăn chay, kiêng rượu nên cũng gọi là ăn chay thờ ma.
ma giới
Màra-laws, Màra-rules, i.e. those of monks who seek fame and luxury.
; 1) Ma luật: Mara laws (rules). 2) Cõi ma: Ma đạo hay cảnh giới của ác ma—The realm of the maras. 3) Tỳ Kheo vì cầu cạnh danh tiếng, lợi dưỡng mà trì giới: Those of monks who keep commandments for gaining fame and luxury.
; (魔界) I. Ma Giới. Cũng gọi Ma đạo. Chỉ cho cảnh giới của ác ma. Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội quyển hạ (Đại 15, 639 hạ), nói: Ma giới như tức là Phật giới như; Ma giới như, Phật giới như, không hai không khác. II. Ma Giới. Chỉ cho các cõi trời: Tha hóa tự tại, Hóa lạc, Đâu suất và Dạ ma trong 6 tầng trời của cõi Dục.
; (魔戒) Giữ giới với mục đích cầu danh tiếng và lợi dưỡng. Nếu vì sợ hãi sức mạnh bên ngoài mà tu hạnh nhẫn nhục, thì gọi là Ma nhẫn; nếu vì cầu tiếng tăm lợi lộc mà tu hành tinh tiến, thì gọi là Ma tinh tiến; tà thiền trái với chính lí gọi là Ma thiền; tà tuệ sa vào lưới kiến giải phân biệt gọi là Ma tuệ. Ma Ha Chỉ Quán quyển 8, hạ (Đại 46, 116 hạ), nói: Từ nhiều kiếp lâu xa đến nay, bị ma sai khiến, nên khởi ma đàn để cầu quả báo, trì ma giới để mong lợi dưỡng; thực hành ma nhẫn vì sợ người khác, tập ma tinh tiến để cầu tiếng tăm, được ma thiền vì lầm quỉ pháp, ưa thích ma tuệ vì mắc lưới kiến giải phân biệt. Ngoài ra, những việc khiến cho người ta sinh ra phiền não, phá tâm hoan hỉ, hủy hoại pháp thân tuệ mệnh, dấy lên niệm tưởng tà bậy, cướp đoạt công đức của người v.v... gọi là Ma bệnh. [X. Ma Ha Chỉ Quán Q.8, thượng].
ma giới tỳ kheo
Mara-law monk, who seeks fame and gains or luxury—See Ma Giới (3).
ma ha
Maha (S). Great.
; Maha (skt)—Lớn—Vĩ đại—Large—Great.
; (摩呵) Phạm: Pàli: Mahà. Cũng gọi Mạc ha, Ma hạ, Ma hê. Hán dịch: Đại. Hàm ý là nhiều, lớn, thù thắng, mầu nhiệm. Luận Đại Trí Độ quyển 3 (Đại 25, 79 trung), nói: Ma ha, Trung Quốc dịch là đại (lớn), hoặc đa (nhiều), hoặc thắng (thù thắng).
ma ha ba xà ba đề
Mahā-prājapati (S, P), Mahāprajāpatī-Gautamī (S, P)Tên của dì của Thái tử Tất đạt đa. Sau khi hạ sanh Thái tử 7 ngày thì Hoàng hậu qua đời, bà Ma ha Ba xà bà đề là kế mẫu, đồng thời cũng là người nuôi dưỡng Thái tử từ nhỏ đến lớn. Về sau, bà xuất gia, bà là Tỳ kheo ni đầu tiên trong tăng đoàn Xem Kiều Đàm Di, Xem Ba xà ba đề.
; Maha Pajapati—Pajapati Gotami (skt)—Còn gọi là Câu Đàm Di, Kiêu Đáp Di, hay Kiều Đàm Ni—Hàng nữ của dòng họ Cù Đàm, tên là Ma Ha Ba Xà Ba Đề, bà là dì, là người chăm sóc, và cũng là kế mẫu của Phật, người đã nuôi nấng ông sau cái chết của mẹ ông (vài ngày sau khi ông đản sanh). Sau khi Vua Tịnh Phạn mất, bà đã nài nỉ Phật cho phép bà gia nhập giáo đoàn, Phật dường như đã không thuận; tuy nhiên, sau vì sự thỉnh cầu của A Nan, nên Ngài chấp thuận với lời tiên đoán rằng cơ cấu Ni chúng sẽ làm pháp Phật giảm thọ từ 500 đến 1000 năm. Bà đã trở thành vị Ni đầu tiên trong giáo đoàn. Theo Kinh Pháp Hoa thì bà sẽ thành Phật, hiệu là Ma Ha Bát Thích Xa Bát Để (theo Pháp Hoa Huyền Tán, tiếng Phạn Kiêu Đáp Na có nghĩa là giống “Nhật Trá,” giống cam giá hay mía, là tiếng gọi bên họ nội của Đức Phật, là bản vọng của dòng họ Thích Ca)—Gautami, faminine of the patronymic Gautama, the family name of Sakyamuni. Gautami is a name for Mahaprajapati, Siddhartha's aunt, nurse, and stepmother, by whom he was raised following the death of his mother (a few days after his birth). After the death of King Suddhadona, she requested the Buddha's consent to the establishment of an order of nuns. The Buddha was seemingly against the request; however, later one of his great disciples named Ananda repeatedly urged the Buddha to consent. He finally consented with a prediction that with the establishment of the order of nuns, period of survival of Buddha's teaching would shorten from 500 to 1000 years. She was the first nun (abbess) in the Sangha. Acording to the Lotus Sutra, she is to become a Buddha, under the title of Sarvasattva-priya-darsana.
; (摩呵波闍波提) Phạm: Mahàprajàpatì. Pàli: Mahàpajàpatì. Cũng gọi Ma ha bát lạt xà bát để, Ma ha ti da hòa đề. Gọi tắt: Ba xà ba đề, Ba đề phu nhân. Hán dịch: Đại ái đạo, Đại thắng sinh chủ, Đại sinh chủ, Đại thế chủ. Hoặc gọi: Ma ha pha la xà bát đề cù đàm di (Phạm:Mahàprajàpatì-gautamì, Pàli: Mahàpajàtì-gotamì). Hán dịch: Đại ái đạo cù đàm di, Cù đàm di đại ái. Gọi tắt: Cù đàm di. Là di mẫu của Thái tử Tất Đạt Đa, em gái của Hoàng hậu Ma Ha Ma Da, con của vua Thiện Giác thành Thiên Tí ở Ấn Độ cổ đại. Đức Thích Tôn sinh ra được 7 ngày thì mẹ Ngài là Ma Da phu nhân qua đời, Ngài được di mẫu thay thế nuôi nấng. Năm năm sau khi Đức Thích Tôn thành đạo thì vua Tịnh Phạn cũng mệnh chung, bà Đại Ái Đạo dẫn Da Du Đà La và 500 phụ nữ thuộc dòng họ Thích Ca đến xin Đức Thích Tôn được xuất gia và Đức Phật đã hứa khả. Đây là những vị Tỉ Khưu Ni đầu tiên trong giáo đoàn của Phật Giáo. Sau khi xuất gia, chính bà đã lãnh đạo các Tỉ Khưu Ni, trụ ở ni viện gần tinh xá, truyền giới Cụ túc cho nữ chúng, giúp đỡ Đức Phật rất nhiều trong việc hóa đạo. Về sau, vì không nỡ trông thấy Đức Phật nhập diệt, nên trước đó 3 tháng, bà ngồi kết già trong thành Tì Xá Li, vào Sơ thiền rồi dần dần vào đến Tứ thiền và xả bỏ thân mệnh, bấy giờ chư thiên trong cõi Dục đều tiếc thương than khóc. [X. kinh Tăng Nhất A Hàm Q.9; kinh Trung Bản Khởi Q.hạ; kinh Hiền Ngu Q.3, 12; luật Tứ Phần Q.12; luật Ngũ Phần Q.29; Câu Xá Luận Quang Kí Q.14].
ma ha ba xà bà đề cồ đàm di
Mahāprajāpatī-Gautamī (P). Xem Ma Ha Ba Xa Ba Đề.
ma ha ba đầu ma địa ngục
Mahāpadma (S)Đại hồng liên ngục.
ma ha bà la đa
(摩呵婆羅多) Phạm: Mahàbhàrata. Cũng gọi Bà la đa thư, Đại chiến thư. Là bộ Đại Tự Sự Thi được viết bằng tiếng Phạm của dân tộc Ấn Độ đời xưa. Tương truyền do tiên nhân Tì Da Sa (Phạm: Vyàsa) soạn, nhưng có thuyết cho rằng Tì Da Sa chỉ là người biên chép. Sử thi này được truyền miệng nhau hàng mấy thế kỉ trước Tây lịch, qua nhiều lần hiệu đính bổ sung, đến năm 200 Tây lịch mới có được phần khái yếu và đến thế kỉ thứ IV Tây lịch mới hoàn thành hình thức như hiện nay. Nội dung gồm 18 thiên, 10 vạn bài tụng, phần phụ lục có 1 thiên gồm 1 vạn 6 nghìn tụng, là bộ sử thi dài nhất thế giới. Bộ này cùng với bộ La Ma Da Na (Phạm: Ràmàyana) là 2 bộ sử thi lớn của Ấn Độ. Chủ đề của bộ sử thi này là nói về nhân vật Côi Đà Thập Đà (Phạm: Dhftaràwỉra), hậu duệ của dòng họ Bà La Đa, tranh giành ngôi vua với dòng họ Bàng Đô (Phạm: Pàịđu), gây ra cuộc chiến tranh kéo dài 18 ngày. Về niên đại của cuộc chiến tuy không được minh xác, nhưng trên mặt sự thực lịch sử thì nó đã xảy ra, điều này không còn hồ nghi gì nữa. Tác phẩm sử dụng tiếng Phạm, lời văn bình dị, tao nhã. Ngoài chủ đề chính ra, tác phẩm còn bao gồm thần thoại, truyền thuyết, sự tích luyến ái, những lời dạy về cách xử thế v.v..., rồi đối với những vấn đề như: Đạo đức, phong tục, chế độ xã hội, triết học, tông giáo của Ấn Độ đương thời cũng trình bày một cách hết sức rõ ràng. Đây là 1 tư liệu quí giá về tư tưởng sử của Ấn Độ. Trong tác phẩm còn có các truyện cổ tích nổi tiếng như: Bạc già phạm ca (Phạm:Bhagavad Gita), Sa côn đát la (Phạm:Zakuntalì) v.v...Đối với văn học sử tiếng Phạm, bộ sách này có 1 giá trị bất hủ, cung cấp rất nhiều đề tài cho nền văn học đời sau, đến nay vẫn còn được người Ấn Độ ưa thích đọc tụng. Không những chỉ trong nội địa Ấn Độ, mà bất cứ nơi nào, nhất là các nước vùng Đông Nam Á, chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, cũng đều có lưu truyền bộ sử thi này. [X. A. Holtzmann: Das Mahàbhàrata und seine Teile, 1892-1895; E.W. Hopkins: The Great Epic of India, 1901; V. Fausbôll: Indian mythology, 1902; H. Jacobi: Mahàbhàrata, 1903; E.W. Hopkins: Epic mythology, 1915; A. Holtzmann: Indische Sagen, 1921].
ma ha bà xa bà đề, kiều đàm di
Mahàprajàpatì-Gautami (S). The aunt of the Buddha.
ma ha bát nhã
Maha-prajna (skt)—Đại tuệ, một trong ba đức của Niết Bàn—Great wisdom, great insight into all truth. One of the three charateristics of the nirvana.
; (摩呵般若) Phạm: Mahàprajĩà. Hán dịch: Đại trí tuệ. Tức là trí tuệ rốt ráo, thù thắng soi rõ thực tướng các pháp. Thiền Uyển Thanh Qui quyển 10 (Vạn tục 111, 465 thượng), nói: Nếu người chưa ngộ được Ma Ha Bát Nhã, thì cứ y theo lời Đức Phật dạy mà tu hành. [X. Duy Thức Xu Yếu Q.thượng, phần đầu].
ma ha bát nhã ba la mật
Mahà Prajnà Paramita (S)
ma ha bát nhã ba la mật kinh
(摩呵般若波羅蜜經) I. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh. Phạm: Paĩcaviôzati-sàhasrikàprajĩàpàramità. Cũng gọi: Đại phẩm bát nhã kinh, Tân đại phẩm kinh, Đại phẩm kinh, Ma ha bát nhã kinh. Kinh, 27 quyển (hoặc 30, 40 quyển), do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào đời Hậu Tần, thu vào Đại Chính Tạng tập 8. Kinh này là phần thứ 2 (quyển 401-478) trong kinh Đại Bát Nhã. Nội dung thuyết minh về pháp Bát Nhã Ba La Mật. Đây là bộ kinh căn bản nói về Bát Nhã Không Quán ở thời kì đầu của Phật giáo Đại thừa. Kinh Quang Tán Bát Nhã, 10 quyển (do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn) và kinh Phóng Quang Bát Nhã, 20 quyển (do ngài Vô Xoa La dịch vào đời Tây Tấn) đều là các bản dịch khác của kinh này. Ngoài ra, Trung Phẩm Bát Nhã bằng tiếng Phạm, tức là bộ Nhị Vạn Ngũ Thiên Tụng Bát Nhã, chia làm 8 phẩm, tương đương với kinh này. Sách chú thích kinh này là bộ luận Đại Trí Độ của bồ tát Long Thụ và nhiều sách chú thích khác của Trung Quốc và Nhật Bản. [X. Xuất Tam Tạng Kí Tập 2, 8; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q.8; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.4].II. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh. Phạm:Awỉasàhasrikà-prajĩàpàramità. Cũng gọi Tiểu phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh, Tiểu phẩm Bát Nhã Kinh, Tân tiểu phẩm kinh. Kinh, 10 quyển, gồm 29 phẩm, do ngài Cưu La Ma Thập dịch vào đời Hậu Tần, được thu vào Đại Chính Tạng tập 8. Kinh này là phẩm thứ 4 (quyển 538-555) trong kinh Đại Bát Nhã. Nội dung thuyết minh về pháp Bát Nhã Ba La Mật. Về các bản dịch khác của kinh này thì có: Kinh Đạo Hành Bát Nhã 10 quyển (do ngài Chi Lâu Ca Sấm dịch vào đời Hậu Hán), kinh Đại Minh Độ Vô Cực 6 quyển (do ngài Chi Khiêm dịch vào đời Ngô thời Tam Quốc), kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Sao 5 quyển (do các ngài Đàm Ma Tì và Trúc Phật Niệm cùng dịch vào đời Tiền Tần). Ngoài ra, bộ Bát Thiên Tụng Bát Nhã bằng tiếng Phạm tương đương với kinh này và là 1 trong 9 Đại Kinh của nước Nepal. Sách chú thích kinh này là bộ Thích Luận bằng tiếng Phạm, do ngài Sư Tử Hiền (Phạm: Haribhadra) soạn. [X. Xuất Tam Tạng Kí Tập Q.2; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.4].
ma ha bát nhã ba la mật đa
Maha-prajna-paramita (skt)—Đại tuệ đáo bỉ ngạn hay trí tuệ lớn đưa chúng sanh sang bờ giác ngộ bên kia—The great wisdom method of crossing the stream (shore) to nirvana.
ma ha bát nhã ba la mật đa kinh
Paca-vimātis-haśrīkā-prajāpāramitā (S)Đại phẩm Bát nhã kinh, Phóng quang Bát nhã Ba la mật kinh, Phóng quang Bát nhã kinhBản Trung quốc có 27 quyển, gồm 90 phẩm là phần thứ 2, Đại Phẩm Bát Nhã Kinh, từ quyển 401 đến 478 trong bộ Đại Bát nhã, bộ kinh căn bản nói về Bát nhã Không quán trong thời kỳ đầu của Phật giáo Đại thừa.
ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh
Mahāprajāpāramitā-hṛdaya-sŪtra (S), Maha hannyaharamita shin-gyō (J)Tâm kinh, Bát nhã Tâm kinhTên một bộ kinh.
; The Heart of MahaPrajan Paramita Sutra.
ma ha bát niết bàn na
Mahaparinirvana (skt)—Đại diệt độ hay đại viên tịch nhập (Niết Bàn cuối cùng, giải thoát và tịch tịnh)—The great complete nirvana—Final release—Perfect rest.
ma ha bát đặc ma
Mahapadma (skt). 1) Đại Hồng Liên Hoa: Great red lotus. 2) Đệ Bát Hàn Ngục: Địa ngục lạnh thứ tám—The eighth cold hell. 3) Bửu Tòa Bạch Sen của Phật: The great white lotus as the Budha's throne, purity and fragrance.
ma ha bồ đề hội
(摩呵菩提會) Mahàbodhi Society. Cũng gọi Ma ha bồ đề xã, Ma ha bồ đề hiệp hội, Đại bồ đề hội. Tổ chức quốc tế vận động phục hưng Phật giáo Ấn Độ, nguyên tên là Bồ Đề Già Da Ma Ha Bồ Đề Hội (Hội Đại Bồ Đề Già Da), do cư sĩ Đạt Ma Ba La (Dharmapàla), người Tích Lan và học giả Henrey Stell Olcott (1832-1907), người Hoa Kì, thành lập vào tháng 5 năm 1891. Ban đầu, Hội trù tính đặt trụ sở ở Bồ Đề Già Da, nơi Đức Phật thành đạo, nhưng sau quyết định chính thức thiết lập cơ sở của Hội ở Colombo, thủ đô nước Tích Lan (Sri Lanka). Mục đích đầu tiên của Hội là thu hồi Đại tháp Thánh tích ở Bồ đề đạo tràng mà từ lâu đã nằm trong tay những tín đồ Ấn Độ giáo, rồi phục hưng Phật giáo ở Ấn Độ và các nơi khác trên thế giới. Hội nghị Phật Giáo Quốc tế lần đầu tiên được tổ chức tại Bồ Đề Già Da vào tháng 10 năm 1891, gồm đại biểu các nước: Tích Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Miến Điện và Ấn Độ tham dự. Năm 1892, Hội xuất bản tạp chí Ma Ha Bồ Đề và Liên Hiệp Phật Giáo thế giới, sau được đổi tên là Ma Ha Bồ Đề; trụ sở được dời từ Colombo sang Calcutta, Ấn Độ. Năm 1920, Hội kiến thiết chùa Pháp Giới Tử tại Calcutta để đặt Tổng Bộ, thành lập các bộ Quản lí, Chấp hành ủy viên hội, Tài chính ủy viên hội v.v... Ở vườn Lộc Dã, Bombay và các nơi khác, Hội xây cất chùa, mở thư viện, trường học, phòng phát thuốc miễm phí, sửa lại các tháp Phật, giữ gìn các nơi Phật tích, làm các việc từ thiện xã hội, văn hóa, giáo dục, kiến thiết kí túc xá ở những nơi Phật tích, để Phật tử thế giới về chiêm bái có chỗ ăn ở, chỉnh lí, phiên dịch và xuất bản kinh sách Phật v.v... Ngoài ra, Hội Thanh niên Phật Giáo Tích Lan cũng phát động phong trào ủng hộ công cuộc phục hưng Phật Giáo, lần lượt thành lập các chi hội tại Ấn Độ và các nước Đông Nam Á, giúp cho Hội Ma Ha Bồ Đề ngày càng phát triển. Hiện nay, ở các nước Anh, Mĩ, Đức, Nhật, Tích Lan, Thái Lan, Ấn Độ đều có chi hội Ma Ha Bồ Đề, là những tổ chức đoàn thể chủ yếu trong sự nghiệp phục hưng Phật Giáo quốc tế hiện đại.
ma ha bồ đề tăng già lam
Mahabodhi-sangharama (skt)—See Ma Ha Bồ Đề Tự.
; (摩呵菩提僧伽藍) Phạm,Pàli: Mahàbodhi-saíghàrama. Cũng gọi Đại giác tự, Đại bồ đề tự. Ngôi chùa ở phía ngoài cửa Bắc của khu vườn cây Bồ đề thuộc nước Ma Yết Đà, Trung Ấn Độ, do vua nước Tích Lan sáng lập vào thế kỉ thứ IV, dành cho Phật tử Tích Lan hành hương, chiêm bái các nơi Phật tích ở Ấn Độ có chỗ nghỉ ngơi. Khi ngài Huyền Trang đến đây vào thế kỉ thứ VII, trong chùa có khoảng 1.000 vị tăng tu học giáo pháp Thượng Tọa Bộ. Đại Đường Tây Vực Kí quyển 8 (Đại 51, 918 trung), nói: Nhà cửa 6 viện, lầu gác 3 tầng, tường xây chung quanh cao ba bốn trượng, kiến trúc rất kì công. (...) Các tốt đổ ba (tháp) cao rộng đẹp đẽ, trong có thờ xá lợi của đức Như Lai. Cầu Pháp Cao Tăng Truyện quyển thượng (Đại 51, 5 trung), nói: Nền chùa lúc ban đầu chỉ rộng hơn cái tháp vuông, con cháu đời sau của vua tiếp tục mở mang, chùa ngày càng to lớn, đến nay thì ở Châu Thiệm Bộ không có chùa nào hơn.
ma ha bồ đề tự
Mahabodhi-sangharama (skt)—Chùa Đại Giác, gần Bồ Đề Đạo Tràng thuộc xứ Ma Kiệt Đà—The monastery of the great enlightenment, a vihara near the Bodhidruma at Gaya, in Magadha.
Ma Ha Ca Chiên Diên
(s: Mahākātyāyana, p: Mahākaccāyana, Mahākaccāna, 摩訶迦旃延): một trong 10 vị đại đệ tử của đức Phật, còn gọi là Ma Ha Ca Đa Diễn Na (摩訶迦多衍那), Ma Ha Ca Để Da Dạ Na (摩訶迦底耶夜那), Đại Ca Chiên Diên (大迦旃延), Ca Chiên Diên (迦旃延); ý dịch là Đại Tiễn Dịch Chủng Nam (大剪剔種男). Ông xuất thân nước A Bàn Đề (s: Avanti, 阿槃提) ở miền Tây Ấn Độ. Về dòng họ cũng như nhân duyên xuất gia của ông, có nhiều thuyết khác nhau. Theo Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經) quyển 37, Phẩm Na La Đà Xuất Gia (那羅陀出家品), ông là người con thứ hai của Bà La Môn Đại Ca Chiên Diên trong bộ lạc ăn thịt khỉ, tên là Na La Đà (s: Nālaka, 那羅陀). Lần đầu tiên vào Tần Đà Sơn (頻陀山) trong Thành Ưu Thiền Da Ni (優禪耶尼城), ông theo học tập giáo nghĩa Phệ Đà (s: Veda, 吠陀) với tiên nhân A Tư Đà (s: Asita, 阿私陀). Về sau, A Tư Đà thấy tướng tốt trang nghiêm của Phật khi mới giáng sanh, tiên đoán rằng tương lai Ngài sẽ thành Phật và lúc mạng chung di ngôn rằng Ca Chiên Diên phải lễ bái đức Phật làm thầy. Sau khi xuất gia, ông siêng năng tu tập, không hề giải đãi, chứng đắc quả A La Hán. Sau khi đức Phật diệt độ, ông tiếp tục luận tranh với ngoại đạo, nên được gọi là Luận Nghị Đệ Nhất (Luận Nghị Số Một). Câu Xá Luận Quang Ký (具舍論光記) quyển 1, A Tỳ Đạt Ma Thí Thiết Luận (阿毘達磨施設論) trong Lục Túc Luận (六足論) được xem như là do ông tạo ra. Trong Mật Giáo, ông được an trí ở bên trái Phật Thích Ca Mâu Ni trong Hiện Đồ Thai Tạng Giới Mạn Trà La (現圖胎藏界曼茶羅).
ma ha ca chiên diên
Xem Ca chiên diên.
; Mahàkàtyàyana (S). One of the principal disciples of Sàkyamuni.
; Mahakatyayana (skt)—Một trong mười đại đệ tử của Đức Phật, được tôn kính là bậc đệ nhất nghị luận. Ông là người bản xứ của thành Avanti, thuộc miền tây xứ Ấn Độ. Ông sanh ra trong gia đình Bà La Môn, và giữ một địa vị cố vấn tôn giáo quan trọng cho vị vua của thành nầy. Ông được Đức Phật hóa độ và cho quy-y tại thành Xá Vệ, kinh đô của nước Cô Xa La, nơi mà nhà vua đã biệt phái ông tới để nghe ngóng về những báo cáo về Phật pháp. Sau khi trở thành đệ tử Phật, ông đã trở lại Avanti, và chính tại đây ông đã độ cho vị vua và nhiều người khác—One of Sakyamuni's ten great (principal) disciples, respected as the foremost in debate. He was a native of Avanti in western India. A Brahman by birth, he held a position as religious advisor to the local king. He was converted at Sravasti, capital of Kosala, where he had been sent by the ruler of Avanti, who had heard reports of Sakyamuni Buddha's teachings. After becoming Sakyamuni's disciple, he returned to Avanti, where he converted the king and many others.
; (摩呵迦旃延) Phạm: Mahàkàtyàyana. Pàli: Mahàccàyana, Mahàkaccàna. Cũng gọi Ma ha ca đa diễn na, Ma ha ca để da dạ na, Đại ca chiên diên, Ca chiên diên.Hán dịch: Đại tiễn dịch chủng nam. Tên vị A La Hán, 1 trong 10 đệ tử lớn của Đức Phật, người nước A Bàn Đề (Phạm: Avanti) Tây Ấn Độ. Về dòng họ và nhân duyên quy y xuất gia theo Phật của Ngài có nhiều thuyết. Cứ theo phẩm Na La Đà Xuất Gia trong kinh Phật Bản Hạnh tập 37, thì Ngài là con thứ 2 của Bà La Môn Đại Ca Chiên Diên ở thôn Di Hầu Thực, tên là Na La Đà (Phạm: Nàlaka, cũng gọi Na La Ca, Na La Ma Nạp). Ban đầu, Ngài vào núi Tần Đà, gần thủ đô Ưu Thiền Da Ni, theo người cậu là tiên nhân A Tư Đà học tập giáo pháp Phệ Đà. Sau, tiên A Tư Đà thấy tướng hảo trang nghiêm của Đức Thích Tôn lúc mới sinh, đoán trước rằng trong tương lai chắc chắn Ngài sẽ thành Phật, bởi thế, khi lâm chung, ông căn dặn Na La Đà thờ Đức Thích Tôn làm thầy. Sau khi Na La Đà xuất gia quy y Phật, theo dòng họ của Ngài mà gọi là Đại Ca Chiên Diên. Ngài siêng năng tu hành không hề trễ nải, nên đã chứng được quả A la hán. Sau khi đức Phật nhập Niết bàn, Ngài vẫn còn sống, giáo hóa đồ chúng, thường luận chiến với ngoại đạo. Trong hàng đệ tử đức Phật, Ngài được tôn là Luận Nghị Đệ Nhất. Theo Câu Xá Luận Quang Kí quyển 1, thì A tì đạt ma thi thiết luận trong Lục túc luận là do Ngài soạn. Trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, Ngài được đặt ở vị trí thứ 6, hàng phía trên, bên trái Phật Thích Ca Mâu Ni. Hình tượng của Ngài ngồi trên tòa lá sen, bàn tay phải dựng đứng, co ngón vô danh và ngón út; còn tay trái thì cầm 1 góc áo ca sa đặt ở trước ngực. [X. Trưởng lão kệ chú (tiếngPàli); kinh Tạp A Hàm Q.9, 19, 20; luật Ngũ Phần Q.21; luật Thập Tụng Q.25; Pháp Hoa Kinh Văn Cú Q.1, hạ; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.8; Thai Tạng Giới Thất Tập Q.thượng].
Ma Ha Ca Diếp
(s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉): còn gọi là Đại Ca Diếp (大迦葉), Ca Diếp Ba (迦葉波), Ca Nhiếp Ba (迦攝波); ý dịch là Ẩm Quang (飲光), là một trong 10 vị đại đệ tử của đức Phật, vị tổ được truyền trao pháp tạng đầu tiên từ đức Phật, thường được gọi là Tây Thiên Thủ Truyền Ma Ha Ca Diếp Tôn Giả (西天首傳摩訶迦葉尊者). Ông sanh ra trong một gia đình Bà La Môn, gần ngoại ô Thành Vương Xá (s: Rājagṛha; p: Rājagaha, 王舍城). Sau khi đức Phật thành đạo được 3 năm, ông theo làm đệ tử Ngài, rồi 8 ngày sau thì chứng nhập cảnh địa A La Hán, là người không chấp trước số một trong hàng đệ tử Ngài. Ông có nhân cách thanh liêm, được Phật rất tin tưởng, từng được Ngài chia nữa tòa cho mà ngồi. Sau khi Phật diệt độ, ông trở thành người lãnh đạo giáo đoàn, tiến hành triệu tập Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần đầu tiên tại Thành Vương Xá. Về sau, ông truyền pháp lại cho Tôn giả A Nan (s, p: Ānanda, 阿難). Tương truyền ông vào trong Kê Túc Sơn (s: Kukkuṭapādagiri, Kurkuṭapādagiri, p: Kukkuṭapadagiri, Kurkuṭapadagiri, 雞足山) nhập định để chờ đức Phật Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒) xuất hiện. Thiền Tông xem ông là người đầu tiên hành trì pháp môn không chấp trước, đặc biệt xem ông là Đầu Đà Đệ Nhất (Khổ Hạnh Số Một). Câu chuyện Niêm Hoa Vi Tiếu (拈華微笑) liên quan đến Tôn Giả Ca Diếp được truyền tụng mãi cho đến ngày nay. Ngoài ra, vị Phật thứ 6 trong 7 vị Phật thời quá khứ cũng có trùng tên là Ca Diếp. Trong số các đệ tử của đức Phật còn có Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (s: Uruvilvā-kāśyapa, p: Uruvela-kassapa, 優樓頻螺迦葉), Già Da Ca Diếp (s: Gayā-kāśyapa, 伽耶迦葉), v.v., đều có tên trùng Ca Diếp. Vị tổ của Ẩm Quang Bộ (s: Kāśyapīya, 飲光部) thuộc Thượng Tọa Bộ (s: Sthaviravāda, p: Theravāda, 上座部) cũng có tên giống vậy. Trong Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi Kinh (大梵天王問佛決疑經) có thuật lại truyền thuyết rằng xưa kia khi đức Phật Thích Ca đang ở trên Hội Linh Sơn, lúc ấy ngài cầm cành hoa Kim Ba La Hoa (金波羅華) do chư thiên đem dâng cúng, đưa ra trước hội chúng hơn 80.000 người. Đại chúng hết thảy đều ngẩn ngơ im lặng mà không thể nào hiểu được thâm ý của đức Như Lai thế nào. Khi ấy, chỉ có một mình Ma Ha Ca Diếp mĩm cười mà thôi. Thấy vậy đức Phật bèn dạy rằng: “Hữu ngã chánh pháp nhãn tạng Niết Bàn diệu tâm, tức phó chúc vu nhữ, nhữ năng hộ trì, tương tục bất đoạn (有我正法眼藏涅槃妙心、卽付囑于汝、汝能護持、相續不斷, ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, nay phó chúc cho ngươi; ngươi có thể giữ gìn, làm cho liên tục không dứt đoạn)”, và truyền trao chánh pháp cho vị này. Đây được xem như là khởi nguyên của Thiền Tông.
ma ha ca diếp
Mahā-kāśyapa (S), Mahākā-śyapa (S), Mahākassapa (P).
; Maha-Kasyapa (skt)—Một người thuộc dòng dõi Bà La Môn tại Ma Kiệt Đà, đã trở thành một trong những môn đồ lớn của Đức Phật, nổi tiếng về kỷ luật khổ hạnh và đạo đức nghiêm khắc. Nhờ những đức tánh ấy mà Ngài đã được tứ chúng tín nhiệm chủ trì kiết tập kinh điển lần đầu cũng như trọng trách lãnh đạo Tăng già sau khi Phật nhập diệt. Ông được coi như là vị tổ thứ nhất trong 28 vị tổ của dòng Thiền cổ Ấn Độ (Ba anh em ông Ca Diếp Ba đều là người trước kia tu theo ngoại đạo, thờ thần Lửa. Ngài Đại Ca Diếp có 500 đệ tử, hai người em mỗi vị có 250 đệ tử. Sau khi tín phục giáo nghĩa của Đức Phật, ba vị đã mang hết chúng đệ tử của mình về quy-y Phật). Ông được coi như sơ tổ dòng thiền Ấn Độ từ câu chuyện “Truyền Tâm Ấn” về Ma Ha Ca Diếp mỉm cười khi Đức Phật đưa lên nhành kim hoa. Người ta nói Ma Ha Ca Diếp đắc quả A La Hán chỉ sau tám ngày theo Phật. Sau khi Ma Ha Ca Diếp thị tịch, ông ủy thác cho ngài A Nan làm chủ tịch hội đồng Tăng Già thời bấy giờ—Mahakasyapa—A Brahmin of Magadha who became a close disciple of the Buddha. He was renowned for his ascetic self-discipline and moral strictness. Thanks to the qualities right after the death of the Buddha, he was asked to reside at the First Council and to take over leadership of the Sangha. He was considered (reckoned) as the first of 28 Great Ancient Patriarchs Indian Zen. He was regarded as the First Patriarch from the story of the “transmission” of the Mind-seal when the Buddha held up a golden flower and Maha-Kasyapa smiled. Maha-Kasyapa is said to have become an Arhat after being with the Buddha for eight days. After his death he is reputed to have entrusted Ananda with leadership of the Order.
ma ha ca diếp ba
Mahakasyapa (skt)—See Ma Ha Ca Diếp.
ma ha ca diếp, đại ca diếp
Mahàkàsyapa (S). A Brahman of Magadha, disciple of Sàkyamuni; accredited with presiding over the first synod; also with supervising the first compilation of the Buddha's sermons; is reckoned as the first Patriarch.
ma ha ca la
Mahakala (skt)—Đại Hắc Thiên—The greta black deva.
ma ha ca la thiên
Xem Đại hắc thiên.
ma ha chất đế tát đỏa
Mahacittasattva (skt)—Ma Ha Bồ Đề Chất Đế Tát Đỏa—Bồ Tát—A Bodhisattva—A great-mind being.
Ma Ha Chỉ Quán
(摩訶止觀, Makashikan): 10 quyển, một trong 3 bộ luận lớn của Thiên Thai Tông, do Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-597) giảng thuật trong mùa an cư năm 594 tại Ngọc Tuyền Tự (玉泉寺), Kinh Châu (荆州); sau đó, Chương An Quán Đảnh (章安灌頂) hiệu đính và chấp bút cho bộ này. Nội dung của nó gồm 10 chương: Đại Ý của Chỉ Quán, Thích Danh (釋名), Hiển Thể (顯体), Nhiếp Pháp (攝法), Thiên Viên (偏圓), Phương Tiện (方便), Chánh Tu (正修), Quả Báo (果報), Khởi Giáo (起敎) và Chỉ Quy (止歸). Trong chương Chánh Tu chia đối tượng của phép quán ra làm 10 loại, dùng Thập Thừa Quán Pháp và lấy việc tu tập Tam Quán Không Giả Trung làm hệ thống tư tưởng để luận bàn.
ma ha chỉ quán
Maka shikan (J).
; Chỉ Quán Huyền Văn—Chỉ Quán Luận—Bộ sách căn bản của tông Thiên Thai dạy về cách an dưỡng thân để tâm được trong sáng. Cũng được gọi là viên đốn chỉ quán, nghĩa là nhờ vào sự tập trung tinh thần mà ngưng bặt vọng niệm và đạt được chân trí tức thì (đây là phương pháp của tông Thiên Thai trong Kinh Pháp Hoa). Đây là một trong ba bộ sách lớn của Thiên Thai do đại sư Thiên Thai thuyết giảng và được đệ tử của ngài là Chương An ghi chép lại thành bộ—The foundation work on T'ien-T'ai's modified form of samadhi, rest of body for clearness of vision. It is also called the concentration or mental state, in which is perceived, at one and the same time, the unity in the diversity and the diversity in the unity (a method ascribed by T'ien-T'ai to the Lotus Sutra). It is one of the three foundation works of the T'ien-T'ai School; was delivered by Chih-I to his disciple Chang-An who committed it to writing.
; (摩呵止觀) Cũng gọi: Thiên Thai ma ha chỉ quán. Gọi tắt: Chỉ quán. Tác phẩm, 10 (hoặc 20 quyển), do Đại sư Thiên Thai Trí Khải (538-597) thuyết giảng vào năm Khai Hoàng 14 (594) đời Tùy, đệ tử là ngài Quán Đính (561-627) ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 46, cùng với Pháp Hoa huyền nghĩa và Pháp hoa văn cú gọi chung là Pháp Hoa tam đại bộ. Sách này do Đại sư Trí Khải giảng thuật vào cuối đời (3 năm trước khi ngài tịch) nên là tác phẩm trọn vẹn, đầy đủ nhất về mặt thể hệ trong các trứ tác của Ngài. Nội dung nói rõ về pháp Chỉ quán viên đốn, vốn là sự thể nghiệm và thực tiễn đặc biệt của ngài Trí Khải về đời sống tông giáo. Vì muốn trình bày quan điểm dùng tư duy Thiền quán để thể nghiệm Chỉ quán viên đốn, là cảnh giới tông giáo sâu xa kín nhiệm, vượt ra ngoài sự hiểu biết thông thường, nên ngài Trí khải đem chia pháp cụ thể thực tiễn của ngài làm 2 phần là: Tổng luận lược thuyết (5 lược) và Biệt luận quảng thuyết (10 quảng) để giải thích tỉ mỉ, rõ ràng. Năm lược chỉ cho 5 đoạn: Phát đại tâm, Tu đại hạnh, Cảm đại quả, Liệt đại võng và Qui đại xứ; còn Mười quảng thì chỉ cho 10 chương: Đại ý, Thích danh, Thể tướng, Nhiếp pháp, Thiên viên, Phương tiện, Chính quán, Quả báo, Khởi giáo và Chỉ qui. Hai phần này gọi chung là Ngũ lược thập quảng. Cứ theo Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết quyển 1, phần 1 thì sách này có 3 loại bản in: Bản 20 quyển, bản 10 quyển và bản hiện nay, cả 3 bản đều có tên là Viên đốn chỉ quán; theo truyền thuyết của người đương thời thì bản thứ 2 là Quảng bản, bản thứ 3 là Lược bản; thực ra bản thứ 3 là do sửa lại bản thứ 2 rồi đổi tên là Ma ha chỉ quán. Năm Thiên thánh thứ 2 (1024) đời Tống, theo sự tấu thỉnh của ngài Tuân Thức, vua ban sắc cho sách này được đưa vào tạng. Về các bản chú thích sách này thì có: Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết 40 quyển, Chỉ Quán Nghĩa Lệ 2 quyển, Chỉ Quán Đại Ý 1 quyển của ngài Trạm Nhiên, San Định Chỉ Quán 3 quyển của Lương Túc. [X. Đại Đường Nội Điển Lục Q.10; Phật Tổ Thống Kỉ Q.25; Đại Đường Hòa Thượng Đông Chinh Truyện; Tân Biên Chư Tông Giáo Tạng Tổng Lục Q.3].
ma ha chỉ quán nghĩa lệ toản yếu
(摩呵止觀義例纂要) Cũng gọi Toản yếu, Chỉ quán nghĩa lệ toản yếu. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Tòng Nghĩa soạn vào đời Tống, được đưa vào Vạn tục tạng tập 99. Đây là sách chú thích bộ Chỉ quán nghĩa lệ của ngài Kinh Khê Trạm Nhiên. Nội dung trước hết nói về đại ý của Chỉ quán nghĩa lệ và về lí do soạn thuật, kế đến là giải thích chính văn, trích dẫn những câu văn chủ yếu trong sách để thành lập thuyết của mình. Sách cũng dẫn dụng nhiều nội và ngoại điển và giải thích Chỉ quán nghĩa lệ rất rõ ràng, tường tận.
ma ha chỉ quán phụ hành sưu yếu kí
(摩呵止觀輔行搜要記) Cũng gọi Ma ha chỉ quán hoằng quyết sưu yếu kí, Ma ha chỉ quán sưu yếu kí, Chỉ quán phụ hành sưu yếu kí. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Trạm Nhiên (711-782) soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 99. Nội dung sách này tóm tắt những điểm cốt yếu trong bộ Ma ha chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết, đồng thời, giải thích thêm những chỗ mà văn nghĩa chưa được sáng tỏ và sửa lại những chữ sai lầm, để cho những người tu hành Chỉ quán tiện sử dụng. Theo lời tựa ở đầu sách, tác phẩm này được soạn thuật khoảng ba, bốn năm trước khi tác giả thị tịch. [X. Trí Chứng đại sư thỉnh lai mục lục].
ma ha chỉ quán phụ hành truyện hoằng quyết
(摩呵止觀輔行傳弘决) Cũng gọi Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết, Chỉ quán phụ hành hoằng quyết, Chỉ quán phụ hành, Phụ hành, Hoằng quyết. Tác phẩm, 40 quyển, do ngài Trạm Nhiên (711-782) ở Kinh Khê soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung sách này là chú thích bộ Ma ha chỉ quán của ngài Trí Khải, tên sách là Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết đã nêu rõ chỉ thú của toàn bộ tác phẩm; nghĩa là dùng các giáo pháp mà đức Phật đã nói trong 1 đời để phụ (giúp) cho việc tu hành chỉ quán mầu nhiệm, rồi lại nương vào sự tu hành chỉ quán mà truyền hoằng giáo chỉ của Phật; cho nên trong toàn bộ 40 quyển đều dùng các quyết như: Tư bẩm khẩu quyết, Thẩm lí yếu quyết v.v... để làm sáng tỏ ý nghĩa giáo, hành giúp đỡ lẫn nhau. Từ trước đến nay, những người giảng Ma ha chỉ quán đều dùng sách này làm bằng cứ. Trong sách có rất nhiều chỗ dẫn dụng ngoại điển, điều này chứng tỏ tác giả là người xem nhiều đọc rộng. Sách này được lưu hành riêng trong thời gian khá lâu, mãi đến năm Thiên Thánh thứ 2 (1024) đời Bắc Tống mới được đưa vào tạng. Về các sách chú thích thì có: Ma ha chỉ quán phụ hành sưu yếu kí, 10 quyển, của ngài Trạm Nhiên, Ma ha chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết trợ lãm, 4 quyển, của ngài Hữu Nghiêm, Ma ha chỉ quán luận hoằng quyết toản nghĩa, 8 quyển, của ngài Đạo Thúy. [X. Phật tổ thống kỉ Q.10, 11, 25; Phật tổ lịch đại thông tải Q.27].
Ma Ha Câu Hy La
(s: Mahākauṣṭhila, p: Mahākoṭṭhita, 摩訶俱絺羅): một trong 10 vị đại đệ tử của đức Phật, còn gọi là Ma Ha Sắt Xã La (摩訶瑟社羅), Câu Sắt Để La (俱瑟底羅), gọi tắt là Câu Hy La (s: Kauṣṭhila, p: Koṭṭhita, 俱絺羅); ý dịch là Đại Tất (大膝), Đại Đỗ Trì (大肚持), Đại Thắng (大勝). Sau khi theo Phật xuất gia, ông đắc quả A La Hán, chứng được lý Năm Uẩn là không, nên có tên là Ngộ Không (悟空). Căn cứ vào Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經) quyển 12, khi Câu Hy La đang trú tại Kỳ Xà Quật Sơn (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 耆闍崛山), Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) đến hỏi về nghĩa Thập Nhị Nhân Duyên (s: dvādaśāṅga-pratītya-samutpāda, p: dvādasaṅga-paṭicca-samuppāda, 十二因緣), Câu Hy La đều trả lời rõ ràng từng chi tiết; vì vậy Xá Lợi Phất tán thán ông có trí tuệ thông suốt như viên châu báu vô giá trên đỉnh đầu. Hơn nữa, trong Tăng Nhất A Hàm Kinh (增一阿含經) quyển 3 cho rằng Ma Ha Câu Hy La có đủ 4 biện tài. Ngoài ra, trong Soạn Tập Bách Duyên Kinh (撰集百緣經) quyển 10, Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 1, Hữu Bộ Tỳ Nại Da Xuất Gia Sự (有部毘奈耶出家事) quyển 1, 2, v.v., đều cho rằng Câu Hy La là Trường Trảo Phạm Chí (長爪梵志), cậu của Xá Lợi Phất.
ma ha câu hy la
Mahā Kausthila (S)Một vị đại Thanh văn, La hán, đe tử Phật, là cậu của ngài Xá lợi Phất. Trước khi qui y, ông theo Bá la môn giáo, trong hàng đệ tử hấu Phật ông là bậc Thương thủ, được Phật khen là Vấn đáp đệ nhất, Tứ Vô ngại đệ nhất.
; Mahàkausthila (S). One of the princilal disciples of the Buddha.
; Mahakaushtila (skt)—Một trong những đại đệ tử của Đức Phật—One of the great disciples of the Buddha.
ma ha da na đề bà
Mahàyànadeva (S). A title of Huyền Trang.
; Mahayanadeva (skt)—Danh hiệu của Ngài Huyền Trang tại Ấn Độ—A title given to Hsuan-Tsang in India.
ma ha diễn
Mahàyàna (S) Great vehicle.
; (摩呵衍) Phạm: Mahà-yàna. I. Ma Ha Diễn. Gọi đủ: Ma ha diễn na. Chỉ cho giáo pháp Đại thừa. (xt. Đại Thừa). II. Ma Ha Diễn. Đức hiệu của ngài Cầu Na Bạt Đà La, vị Cao tăng ở đời Lưu Tống thuộc Nam Triều. Vì ngài chuyên hoằng truyền giáo pháp Đại thừa nên người đời tôn xưng là Ma Ha Diễn. (xt. Cầu Na Bạt Đà La). III. Ma Ha Diễn. Cũng gọi Ma Ha Diễn Na, Đại thừa Hòa Thượng. Thiền sư Trung Quốc, sống vào đời Đường. Vào thời vua Đức tông (ở ngôi 780-805), sư vào đất Tây Tạng hoằng pháp, ra sức xiển dương yếu chỉ Trực chỉ nhân tâm kiến tính thành Phật của Thiền tông, nên đã có 1 thời chư tăng Tây tạng đều theo học và nhiều Phật tử Tây Tạng theo sư xin xuất gia, trong đó có hàng quí tộc. Về sau, vua Khất Lật Song Đề Tán (ở ngôi 742-797) thỉnh đệ tử của ngài Tịch Hộ là Liên Hoa Giới từ Nepal đến Tây Tạng để truyền bá giáo pháp Ấn Độ. Ngài Liên Hoa Giới tinh thông Trung Quán, lại giỏi về Nhân Minh, trái hẳn với Thiền chỉ mà ngài Ma Ha Diễn hoằng truyền trước nay tại Tây Tạng, vì thế 2 bên tranh luận đã lâu mà không bên nào quyết được, vua Tây Tạng bèn triệu tập chúng tăng mời 2 vị biện luận, ngài Liên Hoa Giới dùng lời lẽ để luận nạn, sư không ứng đối được nên bị trả về Trung Quốc, từ đó giáo pháp Trung Quán thay thế cho Thiền pháp ở Tây Tạng. Trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng, sự kiện này được gọi là Lạp tát luận tranh (cuộc tranh luận ở Lhasa), cũng gọi là Đốn tiệm chi tranh (cuộc tranh luận về đốn và tiệm) rất nổi tiếng. Hòa thượng Đại thừa rập khuôn theo truyền thống Thiền tông Trung Quốc, chủ trương đốn ngộ trực chỉ để hóa độ rộng rãi, xem thường việc diễn dịch giáo nghĩa trên bình diện tư duy phân biệt; pháp môn đốn ngộ trực chỉ này chỉ hợp với sự tham cứu, dùng mặc chiếu điểm phá khiến tâm lãnh hội, nhưng sư lại dùng biện luận để chứng minh, thì tránh sao khỏi thất bại? Phật giáo Ấn Độ từ ngài Thế Thân, Tăng Hộ trở đi, đặc biệt xem trọng kĩ xảo biện luận. Trong trường hợp này, ngài Liên Hoa Giới sử dụng thành thạo luận lí học Nhân Minh, mà Thiền thì chủ trương bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, cho nên sự thất bại của Hòa thượng Đại thừa chỉ là việc tất nhiên. Tuy vậy, không phải vì sự kiện này mà ảnh hưởng của Thiền tông đã mất hẳn ở Tây tạng. Hiện nay, trong các thư tịch Tây tạng vẫn có nhiều chỗ nói về Thiền tông. [X. Tây tạng Phật học nguyên luận; Đốn ngộ Đại thừa chính lí quyết (Vương tích)].
ma ha diễn bồ tát
Xem Kim Cang Lợi Bồ tát.
ma ha diễn tạng
(摩呵衍藏) Chỉ cho kinh điển Đại thừa, tức là những kinh nói về đạo Bồ tát như: Kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm, kinh Niết Bàn v.v...Luận Đại Trí Độ quyển 100 (Đại 25, 756 trung), nói: Tuy cùng cầu một môn giải thoát, nhưng có tự lợi, lợi tha khác nhau, cho nên có Đại thừa, Tiểu thừa sai biệt, (...) Tam Tạng là pháp Thanh Văn, Ma Ha Diễn là pháp Đại thừa.
ma ha duyệt ý bồ tát
Xem Kim Cang Hỷ Bồ tát.
ma ha dạ na
Mahayana (skt)—Đại Thừa, đối lại với Tiểu Thừa—The Great Vehicle, in contrast with the Lesser Vehicle.
ma ha hy hữu bồ tát
Xem Kim cang Tiếu Bồ tát.
ma ha khí trượng bồ tát
Xem Kim Cang Lợi Bồ tát.
Ma Ha Kiếp Tân Na
(s: Mahākalpina, p: Mahākapphiṇa, 摩訶劫賓那): còn gọi là Ma Ha Kiếp Tân Ninh (摩訶劫賓寧), Ma Ha Kiếp Tỷ Noa (摩訶劫比拏), Ma Ha Kế Tân Na (摩訶罽賓那), Ma Ha Ca Thất Na (摩訶迦匹那), Ma Ha Kim Tỳ La (摩訶金毘羅), hay Đại Kiếp Tân Na (大劫賓那), Kiếp Tân Na (劫賓那); ý dịch là Hoàng Sắc (黃色), Phòng Túc (房宿), Đại Phân Biệt Thời (大分別時), v.v. Ông là một trong các đại đệ tử của Phật, rất tinh thông thiên văn, lịch số, biết được sự vận hành của các vì sao, được gọi là Tri Tinh Tú Đệ Nhất (知星宿第一). Theo phẩm Đại Kiếp Tân Ninh (大劫賓寧), Hiền Ngu Kinh (賢愚經) 7, ông là con của đức vua Kiếp Tân Ninh nước Kim Địa Quốc (金地國), bẩm tánh thông minh, có sức mạnh cường tráng. Sau khi vua cha qua đời, ông kế thừa ngôi vị, binh lửa dẹp yên, đất nước an bình, uy phong chấn động khắp nơi; từ đó ông muốn chế ngự miền trung Ấn Độ, bèn sai sứ đến Thành Xá Vệ cầu viện vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿). Lúc bấy giờ đức Phật đang trú tại Tinh Xá Kỳ Hoàn (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍), tự biến hóa thành vị Chuyển Luân Thánh Vương, dùng thần thông biến hiện làm cho Kiếp Tân Na quy phục. Từ đó, ông phát tâm xuất gia, thường tinh tấn dõng mãnh tu tập, trú định Tam Muội. Về sau ông chứng đắc Pháp Nhãn thanh tịnh và A La Hán quả. Lại căn cứ vào Quang Trạch Pháp Hoa Nghĩa Sớ (光宅法華義疏) quyển 1, Pháp Hoa Huyền Tán (法華玄贊) quyển 1 cho biết rằng Kiếp Tân Na có tên là Phòng Túc. Lúc mới xuất gia, ông chỉ nghe danh Phật chứ chưa từng được diện kiến Ngài, vì vậy ông khát khao muốn được gặp Ngài, bèn lên đường đến trú xứ Phật. Ban đêm gặp trời mưa to, ông phải tá túc qua đêm tại một nhà làm đồ gốm. Chủ nhà dành cho ông một căn phòng tá túc qua đêm. Tuy nhiên, Kiếp Tân Na lại trãi cỏ mà nằm, đến nữa đêm bỗng nhiên có một vị Tỳ Kheo già đến xin tá túc. Ông nhường chỗ cho lão Tỳ Kheo kia và tự mình ngồi. Nhân đó, lão Tỳ Kheo thuyết pháp cho ông nghe, và đêm ấy ông ngộ đạo. cuối cùng ông mới biết được vị kia chính là đức Phật đã hóa hiện ra để hóa độ mình. Hay theo Pháp Hoa Văn Cú (法華文句) quyển 1, nhân vì cha mẹ ông kết hôn đã lâu năm mà chẳng sanh con, nên thành tâm cầu nguyện các vì sao để mong có con, từ đó cảm ứng được sao thứ tư Phòng Túc trong 28 ngôi sao giáng sanh.
ma ha kiếp tân na
Mahā Kapphina (S)Một vị đệ tử của Phật đắc quả Thanh Văn.
; Mahakaphina.
; (摩呵劫賓那) Phạm: Mahàkalpina. Pàli: Mahàkapphiịa. Cũng gọi Ma ha kiếp tân ninh, Ma ha kiếp tỉ noa, Ma ha kế tân na, Ma ha ca thất na, Ma ha kim tì la, Đại kiếp tân na. Gọi tắt: Kiếp tân na. Hán dịch: Hoàng sắc, Phòng tú, Đại phân biệt thời. Vị A La Hán đệ tử của Đức Phật, tinh thông thiên văn, lịch số, chiêm tinh bậc nhất trong chúng tăng. Cứ theo phẩm Đại kiếp tân ninh trong kinh Hiền Ngu quyển 7 chép, thì ngài là con của vua Kiếp Tân Ninh nước Kim Địa, bẩm tính thông minh, khỏe mạnh, sau khi phụ vương băng hà, ngài lên nối ngôi, quân lực hùng mạnh, uy thế lừng lẫy; vì muốn áp chế Trung Ấn Độ nên ngài sai sứ đến nước Xá Vệ xin triều cống vua Ba Tư Nặc. Bấy giờ Đức Phật đang trụ ở tinh xá Kì Hoàn, hóa làm Chuyển luân Thánh vương, dùng thần thông biến hiện làm cho Kiếp Tân Na tin phục. Từ đó, vua Kiếp Tân Na xa lìa trần tục, xuất gia tu trì, luôn dũng mãnh tinh tiến, thường an trụ trong định. Sau được pháp nhãn thanh tịnh và chứng đắc quả A La Hán. Ngoài ra, cứ theo Quang Trạch Pháp Hoa Nghĩa Sớ quyển 1 và Pháp Hoa Huyền Tán quyển 1 chép, thì vì đức Như Lai biết trước nhân duyên thành đạo của Kiếp Tân Na, nên hóa hiện làm 1 vị Tỉ Khưu già ngủ trong tăng phòng và nói pháp cho Kiếp Tân Na nghe, ngay đêm đó ngài Kiếp Tân Na đắc đạo nên gọi ngài là Phòng Túc. Còn theo Pháp Hoa văn cú quyển 1, thượng, thì vì cha mẹ ngài cầu nguyện sao Phòng mà sinh được ngài, cho nên đặt tên là Phòng Tú. [X. kinh Tăng Nhất A Hàm Q.22; kinh Bản Sự Q.6; kinh Hiền Ngu Q.6; Pháp Hoa Nghĩa Kí Q.8; Phiên Phạm Ngữ Q.2, 4; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.23].
ma ha kiều đàm di
Xem Kiều Đàm Di.
ma ha kiều đàm ni
Mahagautami (skt)—Dì và cũng là người nuôi dưỡng Phật Thích Ca—Aunt and nurse of Sakyamuni. ** For more information, please see Ma Ha Ba Xà Ba Đề.
ma ha kỳ vực
Mahàjìvaka (S). Name.
ma ha la
Mahallakas (skt)—Ngu đần—Stupid—Ignorance.
ma ha la xa
Maharaja (skt)—Một vị vua tài giỏi—A great or superior king.
ma ha lô sắt nã
Maharosana (skt)—Sân Hận Thiên—The angry deva.
ma ha lạt đà quốc
(摩呵剌佗國) Ma ha lạt đà, Phạm: Mahà-ràwỉra; Pàli: Mahà-raỉỉha. Cũng gọi Ma ha la sá quốc, Ma ha lặc trá quốc, Ma ha lại tra quốc. Hán dịch: Đại quốc. Tên 1 nước xưa ở phía nam nước Ma Lạp Bà thuộc Nam Ấn Độ. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11 chép, thì nước này chu vi hơn 6.000 dặm, đất đai phì nhiêu, phong tục thuần phác, tính người hiếu học và kiêu hùng, mang ân thì đền, có oán phải trả, quân đội rất mạnh. Thời xưa, vua Giới Nhật chinh phạt đông tây, chỉ có nước này không chịu thần phục. Trong nước có hơn 100 ngôi chùa với hơn 5.000 tăng đồ, tu học cả Đại thừa và Tiểu thừa, có mấy trăm đền thờ trời, rất nhiều ngoại đạo. Trong cũng như ngoài đô thành có rất nhiều tháp. Trong hang núi phía đông có 1 ngôi chùa lớn, do A La Hán A Chiết La xây cất để hồi hướng cho mẹ. Chùa cao hơn trăm thước, bên trong khắc pho tượng Phật bằng đá cao hơn 70 thước, thưở xưa, bồ tát Trần Na thường trụ ở đây. Ngôi chùa này hiện nay là động đá A Chiên Đa (Phạm: Ajantà) nổi tiếng. [X. kinh Trường A Hàm Q.5; kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập Q.55; Phiên Phạm Ngữ Q.8].
ma ha ma da
Mahāmāyā (S)Đại ảo, Đại HuyễnThân mẫu của Đức Phật.
; Mahàmàyà (S). Mother of Sàkyamùni.
ma ha ma da kinh
(摩呵摩耶經) Cũng gọi: Phật thăng Đao Lợi thiên vị mẫu thuyết pháp kinh, Phật lâm bát Niết Bàn mẫu tử tương kiến kinh. Gọi tắt: Ma da kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Đàm Cảnh dịch vào đời Bắc Tề, được thu vào Đại Chính Tạng tập 12. Nội dung kinh này được chia làm 2: Nửa bộ trước tường thuật việc Đức Phật lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho thân mẫu là Ma Da phu nhân nghe, khiến cho phu nhân chứng Sơ quả, nửa bộ sau thuật lại việc Đức Phật đi hóa đạo các nước, cuối cùng, đến rừng Sa La song thụ gần thành Câu Thi Na Yết La vào Niết Bàn, phu nhân Ma Da từ cung trời Đao Lợi xuống than khóc thảm sầu, lúc ấy Đức Phật liền mở kim quan từ biệt thân mẫu. Sau hết, kinh này còn thuật lại việc Đức Phật huyền kí (dự đoán) về tình hình pháp trụ, pháp diệt. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.4; Pháp kinh lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.1, 6; Duyệt tạng tri tân Q.25].
ma ha ma du lợi la xà
Xem Khổng Tướng Minh Vương.
ma ha ma gia
Maha Maya (skt). 1) Đại huyễn (làm cho cả vũ trụ vật chất dường như hiện thực và làm cho giác quan nhận ra như thế)—Great deceit or illusion, worldly illusion, the divine power of illusion (which makes the material universe appear as if really existing and renders it recognizable by the senses). 2) Hoàng Hậu Ma Ha Ma Da: Ma Ha Phu Nhân—Bà sống trong vương quốc cổ tên Câu Ly, nay thuộc vương quốc Nepal. Bà là trưởng nữ của vua Thiện Giác, và là vợ của vua Tịnh Phạn, mẹ ruột của Phật Thích Ca. Thái Tử Sĩ Đạt Đa sanh ra nơi hông phải của hoàng hậu, bảy ngày sau thì hoàng hậu qua đời, em gái hoàng hậu là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề trở thành mẹ nuôi của Thái Tử—Mahamaya lived in the ancient kingdom of Koliya, which is now in Nepal. She was the wife of Suddhodana, and mother of Sakyamuni (Siddhartha). Siddhartha was born from her right side, and she died seven days later, her sister Mahaprajapati becoming his foster mother. ** For more information, please see Ma Ha Ba Xà Ba Đề.
ma ha ma đề bồ tát
Xem Đại huệ Bồ tát.
ma ha man thù sa hoa
Mahāmandjuchakas (S)Một loại hoa quí ở cảnh tiên hay Phật, thứ mọc từng chòm nhỏ, màu đỏ. Ai thấy được hoa này thì tâm tánh không còn cường ngạnh, trở nên nhu hoà. Một trong 4 loại hoa các vị trời rải xuống để cúng dường Phật: man đà la hoa, maha man đà la hoa, man thù sa hoa, ma ha man thù sa hoa.
ma ha mạn thù sa hoa
Mahàmanjùsakas (S). A red flower yielding the madder (munjeeth of Bengal)
; Mahamanjusaka (skt)—Một loại hoa đỏ giống như hoa thiền thảo ở vùng Băng Gan—A red flower yielding the madder (munjeed of Bengal).
ma ha mạn đà la hoa
Mahāmandaravas (S)Loại hoa trắng thứ lớn, rất quí, mọc ở cõi tiên hay cõi tịnh độ. Một trong 4 loại hoa các vị trời rải xuống để cúng dường Phật: man đà la hoa, maha man đà la hoa, man thù sa hoa, ma ha man thù sa hoa.
; Mahàmandàrava (S). A large white lotus.
; Mahamandarava (skt)—Một loại sen trắng lớn—A large white lotus.
ma ha mục chi
Mahamucillinda (skt)—Tên của một vị vua rồng—Name of a Naga-king.
ma ha mục kiền liên
Mahāmaudgalyayāna (S), Mahāmoggallāna (P).
; Mahamaudgalyayana (skt)—Mục Kiền Liên—Mục Liên—La Dạ Na—Đại Mục Liên—Đại Mục Kiền Liên—Một trong mười môn đồ lớn của Phật, xuất thân từ một gia đình Bà La Môn. Ông gia nhập giáo đoàn cùng lúc với Xá Lợi Phất, một người bạn lúc thiếu thời. Ông đã giao kết với Xá Lợi Phất, nếu ai tìm được chân lý trước thì phải nói cho người kia cùng biết. Xá Lợi Phất tìm về với Đức Phật và bèn mang Mục Kiền Liên đến gặp Phật để cùng trở thành đệ tử Phật. Ông đã nhanh chóng nổi tiếng nhờ vào những năng lực thần thông. Về sau nầy ông bị ám hại bởi những kẻ thù ghét Phật giáo. Ông thường đứng bên trái Đức Phật, trong khi Xá Lợi Phất bên phải. Bên Trung Hoa người ta nói Mục Kiền Liên là hiện thân của Ngài Đại Thế Chí Bồ Tát. Mục Kiền Liên được Phật thọ ký sau nầy sẽ thành Phật hiệu là Tamala-patra-candana-gandha—One of the ten most important (chief) disciples of the Sakyamuni Buddha, who came from a Brahmin family. He entered the Buddhist order at the same time with Sariputra, a friend since youth. He agreed with Sariputra that whoever first found the truth would reveal it to the other. Sariputra found the Buddha and brought Maudgalyayana to him; the former is placed on the Buddha's right, and the latter on his left. He soon became famous (noted) for his supernatural (miraculous) powers or abilities. Later he was murdered shortly before the death of the Buddha by enemies of Buddhism. He is always standing at the left of Sakyamuni, while Sariputra being on the right. In China, Mahasthamaprapta is said to be a form of Mahamaudgalyayana. The Buddha predicted that when Maudgalyayana is reborn, he is the Buddha with his title of Tamal-patra-candana-gandha.
ma ha mục kiền liên, đại mục kiền liên
Mahàmaudgalyàyana (S) One of the ten great disciples of the Buddha.
ma ha na bát
Mahasthamaprapta (skt)—Đại Thế Chí Bồ Tát.
ma ha na dà
Mahanaga (skt). 1) Danh hiệu của Phật: A title of a Buddha. 2) Danh hiệu của một vị A La Hán: A title of an arhat. 3) Đại Long Tượng bảo hộ thế giới: The great nage, one of the elephants hat supports the world.
ma ha na lạp da na áo nghĩa thư
Mahānarayanopasinad (S)Kinh điển Ấn giáo.
ma ha na ma
Mahānāman (S)Đại Danh1- Cha của công chúa Da Du Đà La, tức cha vợ thái tử Tất đạt Đa. 2- Tên của một trong 5 vị đệ tử đầu tiên của đức Phật.
; Mahanama (skt)—Ma Ha Nam—Một trong năm vị tỳ kheo được Phật độ đầu tiên—One of the first five of sakyamuni's converts.
ma ha na man, đại danh
Mahànàma (S). One of the five first disciples of the Buddha.
ma ha nam
Mahanama (skt)—Se Ma Ha Na Ma.
; (摩呵男) Phạm, Pàli: Mahàmàna. I. Ma Ha Nam. Cũng gọi: Ma ha na ma. Hán dịch: Đại hiệu, Đại danh. Tên của vị đệ tử Phật, là 1 trong 5 Tỉ Khưu được Đức Phật hóa độ đầu tiên. Trong kinh Trung Bản Khởi ghi tên ngài là Ma Nam Câu Lợi (Phạm: Mahànàma- Koơiya), trong Phật sở hành tán, ngài được gọi là Thập Lực Ca Diếp. Ngài là 1 trong 5 người của hoàng tộc được vua Tịnh Phạn chọn đi theo hầu Thái tử Tất Đạt Đa khi Thái tử vượt thành xuất gia; sau khi Thái tử đắc đạo thành Phật, chuyển pháp luân lần đầu tiên ở vườn Lộc Dã, để độ cho ngài và 4 vị kia đều đắc đạo, chứng quả A La Hán. Về sau, ngài hộ trì đức Phật giáo hóa chúng sinh. Phẩm Đệ tử trong kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 3 (Đại 2, 557 thượng), nói: Mau chóng thành tựu thần thông, trong đó không có hối tiếc, chính là Tỉ Khưu Ma Ha Nam. [X. kinh Thị giả trong Trung A Hàm Q.8; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; luật Tứ phần Q.32; luận Đại tì bà sa Q.182; Pháp hoa văn cú Q.1, thượng, Đại đường tây vực kí Q.7]. II. Ma Ha Nam. Cũng gọi Thích chủng ma ha nam (Phạm: Sakkamahànàma), Ma ha nam thích, Thích ma nam. Vị cư sĩ Phật tử thuộc dòng họ Thích Ca ở thành Ca Tì La Vệ, Trung Ấn Độ. Luật Ngũ Phần quyển 15 và Hữu Bộ Tì Nại Da Phá Tăng Sự quyển 2, đều nói ngài là con của vua Hộc Phạn. Còn luận Đại Trí Độ quyển 3 và Đại Sự (Phạm:Mahàvastu) thì cho rằng ngài là con vua Cam Lộ Phạn. Sau khi người em là A Na Luật xuất gia thì ngài đảm trách các việc trong nhà, rất kính trọng giáo pháp của Phật, thường cúng dường thuốc thang, y phục và thức ăn uống cho chúng tăng. Bài kinh Khổ Ấm trong kinh Trung A Hàm là do ngài thỉnh Đức Phật tuyên thuyết. Cứ theo kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 26 chép, thì lúc vua Tì Lưu Li thành Xá Vệ đánh giết dòng họ Thích Ca ở thành Ca Tì La Vệ, ngài Ma Ha Nam đã tự nguyện chết trong nước để cứu dòng họ Thích. Có thuyết cho rằng Thích Chủng Ma Ha Nam này chính là Tỉ Khưu Ma Ha Nam nói ở trên. [X. kinh Tạp A Hàm Q.29, 30; kinh Tăng Nhất A Hàm Q.3, 35; kinh Phật Bản Hạnh Tập Q.11, 58; luật Ngũ Phần Q.3].
ma ha nhân đà la
Mahendra (skt)—Ma Ê Nhân Đà La—See Ma Thẩn Đà.
ma ha nhạ dà na
Mahanagna (skt)—See Ma Ha Nặc Dà Na.
ma ha ni la
Mahanila (skt)—Ma Ha Nê La—Ngọc bích màu trong xanh, được diễn tả như là viên ngọc lớn của Trời Đế Thích—Dark-blue, a sapphire, described as the large blue pearl of Indra, perhaps the Indranila.
ma ha nê la
Mahanila (skt)—See Ma Ha Ni La.
ma ha nặc dà na
Mahanagna (skt)—Đại Lộ Thân—Tên của một vị Thần khỏa thân—Quite-naked—Great naked powerful spirit.
ma ha phương tiện bồ tát
Xem Kim cang Nha Bồ tát.
ma ha quang diệm bồ tát
Xem Kim Cang Quang Bồ tát.
ma ha sa la
Mahasara (skt)—Ma Ha Bà La—Một thành phố cổ mà bây giờ là Masar, cách Patna chừng 30 dậm—An ancient city in central India, the present Masar, about 30 miles west of Patna.
ma ha thiền sư
Thiền sư Ma Ha—Zen Master Mahamaya—Thiền sư Ma Ha, thuộc đời thứ mười dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, gốc người Chiêm Thành. Sư đã tinh thông cả chữ Phạn lẫn chữ Hán. Sau sư gặp và trở thành một trong những đệ tử xuất sắc nhất của Thiền sư Pháp Thuận. Năm 1014, sư dời về núi Đại Vân ở Trường An chuyên tu “Tổng Trì Tam Muội.” Năm 1029 sư về trụ trì chùa Khai Thiên, nhưng đến năm 1035 sư bỏ đi du phương không biết về đâu—Zen master Mahamaya, a dharma heir of the tenth lineage of the Vinitaruci Sect. He was a Champa monk, but good in both Sanskrit and Chinese. Later he met Zen Master Pháp Thuận and became one of the most outstanding deisciples of Pháp Thuận. In 1014, he moved to Mount Đại Vân in Trường An to focus on practicing “Dharani” or “Absolute Control.” In 1029 he went to Khai Thiên Temple and stayed there for six years, but in 1035 he left Khai Thiên and became a wandering monk. Since then his whereabout was unknown.
ma ha thích đà
Maharastra (skt)—Vương quốc cổ về phía tây bắc của cao nguyên Đề Căng—The Mahratta country, an ancient kingdom in the north-west corner of the Deccan.
ma ha tiếu bồ tát
Xem Kim cang Tiếu Bồ tát.
ma ha trần na già
Xem Đại vực long Bồ tát.
ma ha tát
Mahāsattva (S)Ma ha tát đỏa, Đại sĩ, Bồ tát.
; Mahàsattva (S). Great being, one with great compassion and energy, who brings salvation to all living beings; a Bodhisattva.
; Mahasattva (skt)—See Ma Ha Tát Đỏa.
ma ha tát đoá
(摩呵薩埵) Phạm: Mahàsattva. Pàli: Mahàsatta. I. Ma Ha Tát Đóa. Gọi tắt: Ma ha tát. Hán dịch: Đại hữu tình, Đại chúng sinh. Từ gọi chung bậc Bồ tát hoặc Đại sĩ. Tức là bậc có Nguyện đại, Hạnh đại, Độ chúng sinh đại, là bậc tối thượng trong các chúng sinh ở thế gian và không bao giờ lui sụt đại tâm ấy, cho nên gọi là Ma ha tát đóa. [X. luận Đại Trí Độ Q.5; Pháp Hoa Nghĩa Sớ Q.2; Pháp Hoa Huyền Tán Q.2]. II. Ma Ha Tát Đóa. Cũng gọi Tát Đóa Vương Tử. Tên của Đức Phật ở đời quá khứ khi tu hạnh Bồ tát. Ở đời quá khứ xa xưa, có 1 vị vua tên là Ma Ha La Đà (Phạm:Mahà-ratha, Hán dịch: Đại xa), siêng tu các pháp lành. Vua có 3 người con, đều tướng hảo đoan nghiêm, người con thứ 1 tên là Ma Ha Ba Na La (Phạm: Mahà-praịàda), người thứ 2 tên là Ma Ha Đề Bà (Phạm:Mahàdeva) và người thứ 3 tên là Ma Ha Tát Đóa. Một hôm, 3 vương tử vào chơi trong rừng trúc, thấy con hổ mẹ sinh 7 hổ con, các hổ con đang vây quanh hổ mẹ, đói lả tiều tụy, thân thể gầy ốm, sinh mệnh sắp dứt, 3 vương tử trông thấy đều thương tâm mà bỏ đi. Nửa đường, Ma Ha Tát Đóa, động lòng thương quá, bảo 2 anh về trước, còn 1 mình trở lại khu rừng, đến chỗ hổ đói, phát nguyện vì cầu đạo Vô Thượng Bồ đề mà xả bỏ cái thân nhơ nhớp này; nguyện rồi, cởi y phục vắt lên cành tre, gieo mình vào trước những con hổ đói. Nhưng hổ sợ uy lực từ bi của Tát Đóa không dám ăn thịt; Tát Đóa thấy thế liền leo lên ngọn cây gieo mình xuống đất, bấy giờ thần đất đưa tay đỡ lấy Tát Đóa nên không bị thương tổn. Tát Đóa lại dùng khúc tre khô đâm vào cổ, ngay lúc ấy mặt đất rúng động, hoa từ trên hư không rơi xuống, hổ đói thấy máu của Tát Đóa chảy ra, đi đến liếm máu và ăn thịt, chỉ còn bộ xương. Bảy hổ con lúc bấy giờ, sau này là tôn giả Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất và 5 vị Tỉ Khưu khi Đức Phật còn tại thế. Đức Thế Tôn cũng nhân công đức này mà thành Phật trước 11 kiếp. X. kinh Hiền Ngu Q.1; kinh Kim Quang Minh Q.4; kinh Đại Bảo Tích Q.80; kinh Bồ Tát Bản Hạnh Q.hạ; luận Phân Biệt Công Đức Q.2].
ma ha tát đỏa
Xem Ma ha tát.
; Mahasattva (skt)—Đại chúng sinh hay đại hữu tình. Những chúng sinh có lòng đại bi và năng lực lớn, muốn thành Phật để cứu độ chúng sanh—A Bodhisatva—Great being one with great compassion and energy, who wants to become a Buddha and brings salvation to all living beings.
ma ha tát đỏa vương tử
Mahasatva-kumara-raja (skt). 1) Thái Tử: The noble and royal prince. 2) Phật Thích Ca: Sakyamuni Buddha.
ma ha tát đỏa, đại chúng sinh
Xem Ma ha tát.
ma ha tì la
(摩呵毗羅) Phạm: Mahàvìra. Hán dịch: Đại hùng. Tức là Ni Càn Đà Nhã Đề Tử, Tổ khai sáng Kì Na Giáo ở Ấn Độ, một trong Lục sư ngoại độ. Ông sống cùng thời đại với Đức Phật. Ông xuất gia năm 30 tuổi, tu khổ hạnh ròng rã 12 năm mới ngộ đạo. Để đối kháng với những mối tệ lâu đời của Bà La Môn Giáo nên ông sáng lập ra tông giáo mới, gọi là Kì Na Giáo. (xt. Ni Càn Đà Nhã Đề Tử).
ma ha tăng già
Mahàsamga (S)
ma ha tăng kì luật
(摩呵僧祇律) Phạm: Mahàsaíghavinaya. Gọi tắt: Tăng kì luật. Hán dịch: Đại chúng luật. Luật, 40 quyển, do các ngài Phật Đà Bạt Đà La và Pháp Hiển cùng dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại Chính Tạng tập 22. Đây là bộ Luật của Đại chúng bộ trong thời Phật giáo bộ phái. Toàn bộ sách được chia làm 2 phần: Tỉ Khưu giới pháp (35 quyển đầu) và Tỉ Khưu Ni giới pháp (05 quyển sau). Phần đầu nêu rõ 218 giới, Tạp tụng bạt cừ pháp, Uy nghi pháp, tường thuật các nguyên do chế giới, giải thích các giới điều và tình hình ứng dụng thích hợp. Trong đó, pháp Tạp tụng bạt cừ và pháp Uy nghi tương đương với phẩm Kiền độ của luật Tứ Phần, tức nói về các qui định liên quan đến nghi thức hành sự, yết ma và sự sinh hoạt hàng ngày của tăng chúng như: ăn, mặc và ở v.v... Phần 2 thì liệt kê 277 giới và Tạp bạt cừ pháp. Sách này cùng với luật Tứ Phần, luật Ngũ Phần và luật Thập Tụng, từ xưa đến nay, được gọi là Tứ Quảng Luật. Nếu so với 3 bộ luật kia thì sách này đặc sắc hơn nhiều, vì các điểm sau đây: 1. Về thời gian chế định 4 pháp Ba La Di được suy định vào khoảng từ nửa tháng thứ 5 mùa đông năm thứ 5 sau khi Đức Phật thành đạo, đến nửa tháng thứ 4 mùa đông năm thứ 6. 2. Những điều được ghi trong Thất Bách Kết Tập Luật tạng, không nêu ra 10 việc phi pháp, mà chỉ nói đến Ngũ Tịnh pháp. Hơn nữa, cũng không đề cập gì đến chủ trương phủ nhận của các Tỉ Khưu Bạt Kì. 3. Nội dung sách có chép hơn 40 loại Bản sinh đàm và viện dẫn hơn 20 loại kinh Bản sinh v.v...Cứ theo điều Ngũ bách Tỉ Khưu tập pháp tạng trong quyển 32 của bộ luật này, thì luật Ma Ha Tăng Kì là do ngài Ưu Ba Li vâng mệnh ngài Ma Ha Ca Diếp mà tụng ra, kế đến, điều đã dẫn, ghi rõ tên của 27 vị truyền thừa luật này, bắt đầu từ các Ngài: Đà Sa Bà La, Thụ Đề Đà Sa, Kì Đa v.v... Đây là tư liệu về sự truyền thừa của luật này. Lại theo Pháp Hiển truyện chép, thì mục đích của ngài Pháp Hiển đến Ấn độ là để tìm cầu giới luật, nhưng giới luật ở các nước Bắc Thiên Trúc thì đều thầy trò truyền miệng cho nhau, không có bản văn để có thể sao chép lại. Mãi đến khi ngài Pháp Hiển tới chùa Ma Ha Diễn tại Trung Thiên Trúc mới có được 1 bộ luật, tức là luật Ma Ha Tăng Kì chúng, được truyền ở tinh xá Kì Hoàn, là bộ luật được đại chúng hành trì sớm nhất, lúc đức Phật còn tại thế. Ngoài ra, Xuất tam tạng kí tập quyển 3 và Thập tì ni nghĩa sao quyển 1, cho rằng luật Tăng Kì là do Độc tử bộ truyền, thuyết này e có sự lầm lẫn. [X. Đại đường tây vực kí Q.9; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.3, 4, 5; Khai nguyên thích giáo lục Q.1, 3, 15].
ma ha tăng kỳ bộ
Mahàsàmghika (S). Name of a Buddhist sect. Also Đại chúng bộ.
; Mahasanghikah or Mahasanghanikaya (skt)—Đại Chúng Bộ, một trong bốn tông phái của Vaibhasika, được thành lập sau lần kết tập kinh điển thứ nhì. Sau lần kết tập kinh điển thứ ba, trường phái nầy chia làm năm tông—One of the four branches of the Vaibhasika, said to have been formed after the second synod in opposition to the sthaviras, marking the first division in the Buddhist temple. Followers of Mahakasyapa. After the third synod this school split into five sects (Purvasaila, Avarasaila, Haimavata, Lokottaravadinas, Prajnaptivadinas).
ma ha tăng kỳ luật
Mahāsaṃgha vinaya (S)Bộ luật 40 quyển.
; The great canon of monastic rules.
; Bộ luật Ma Ha Tăng Kỳ (luật thiền môn) do Phật Đà Bạt Đà La và Pháp Hiển dịch sang Hoa ngữ thành 40 quyển—The great canon of monastic rules, translated into Chinese by Buddhabhadra and Fa-Hsien in 40 books.
ma ha tất lợi đa pháp hội
Mahāpirita (S)Pháp hội cầu phước của Phật giáo Tích lan.
; (摩呵畢利多法會) Mahàpirita. Pháp Hội cầu phúc của Phật giáo Tích Lan.Tại Tích Lan, khi tín đồ Phật giáo gặp những việc vui mừng, đau buồn hoặc bệnh tật v.v... thì thường thỉnh các vị Tỉ Khưu đến nhà tụng kinh cầu bình an, phúc lợi. Nghi thức Pháp Hội này gần giống như Pháp Hội Tì La Tất Lợi Đa (Tích Lan: Veilpirita, Hán dịch: Tiểu bảo hộ, Tiểu kì phúc pháp hội), nhưng khác ở chỗ thời gian tụng kinh lâu hơn.
ma ha tất đạt
Xem Đại thành tựu giả.
ma ha tỳ ha la
Mahavihara (skt)—Một tự viện gần cố đô Anuradhapura của Tích Lan, nơi ngài Pháp Hiển đã tìm thấy 3.000 tăng ni vào khoảng năm 400 sau Tây Lịch—A monastery near Anuradhapura, ceylon, where Fa-Hsien found 3,000 inmates in about 400 AD.
ma ha tỳ ha la trụ bộ
Xem Đại Tự phái.
; Mahaviharavasinah (skt)—Một hệ phái thuộc Mahasthavira, chống lại hệ thống Đại Thừa—A subdivision of Mahasthavira school, which combated the Mahayana system.
ma ha tỳ la
Xem Đại Hùng.
ma ha tỳ lô giá na
Mahàvairocana (S) The Great Sun-Buddha.
; Mahavairocana (skt)—See Đại Nhựt Như Lai and Vairocana.
ma ha tỳ lư giá na
Xem Đại nhựt Như lai.
ma ha tỳ phật lược bột đà,đại phương quảng giác phật kinh
Mahàvaipulyabuddha-sùtra (S)
ma ha đản đặc
Mahatantra (dharani) (skt)—Đại lực Đà La Ni giúp vượt qua ma chướng—Great spell power for overcoming the evil and cleaving to the good.
ma ha đề bà
Mahadeva (skt). 1) Đại Thiên: The great deva. 2) Tên của một vị A La Hán: Name of an arhat. 3) Tiền thân Đức Phật: A former incarnation of Sakyamuni. 4) Ma Hê Thủ La Thiên: Mahesvara, Siva.
ma ha đề bà, đại thiên
Mahàdeva (S). Name.
ma hi hà
(ma hi hà) Ma hi, Phạm,Pàli: Mahì. Cũng gọi Ma xí hà, Mạc hi hà. Sông nằm về phía bắc sông Hằng, là 1 trong 5 chi nhánh của sông Hằng, tức nay là con sông chảy qua khu vực Bombay ở Tây Ấn Độ rồi đổ vào Ấn Độ dương. Trong kinh điển có rất nhiều chỗ nói về con sông này. Kinh Thất Nhật trong Trung A Hàm quyển 2 (Đại 1, 428 hạ), chép: Các nguồn suối lớn đều phát xuất từ 5 sông lớn của châu Diêm Phù, thứ 1 là sông Hằng (...), thứ 5 là sông Ma Xí; các nguồn suối lớn ấy đều sẽ cạn khô hết, không tồn tại mãi, cho nên biết tất cả các hành đều vô thường (...), nên cầu xả li, nên cầu giải thoát. Điều Ma Lạp Bà quốc trong Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11 (Đại 51, 935 hạ), nói: Nước Ma Lạp Bà chu vi hơn 6.000 dặm, thủ đô rộng hơn 30 dặm, nằm về phía đông nam sông Mạc Hi.
ma hi đà
Mahendra (S). Name.
ma hê na la diên
Maheśvara narayāna (S)Tên một vị thiên.
ma hê nhân đà la
Mahendra (skt)—See Ma Thẩn Đà.
ma hê thủ la thiên
Maheśvara (S)Xem Mahamahesvara.
; Mahesrava (S). A heaven in the realm of form.
; Mahesvara (skt)—Đại Tự Tại Thiên—The great sovereign ruler or deva.
ma hê thủ la thiên vương
Mahesvara-raja (skt)—Đại Tự Tại Thiên Vương—Vua của chư đại tự tại thiên, chúa tể đại thiên, vị có tám tay ba mắt, cỡi bò trắng. Theo ngài Huyền Trang thì người ta thờ vị nầy tại Panjab—King of devas, lord of one great chiliocosm, a deity with eight arms, three eyes, riding on a white bull. Hsuan-Tsang says specially worshipped in the Panjab.
ma hê xa sa ca
Mahisasakah (skt)—See Ma Ê Xa Sa Ca.
ma hô
See Ma Hầu La.
ma hô lạc ca
Mahoraga (skt)—Ma Hô Lạc Già—Hưu Lặc—Ma Hầu La Dà. 1) Một loại đại mãng thần (mình người đầu rắn): Described as large bellied; a class of demons shaped like the boa (human body and snake-liked head). 2) Một vị tôn ở Thai Tạng Giới, cũng là quyến thuộc của Đức Thích Ca Như Lai: An honoured one in the Garbhadhatu, also a spirit in the retinue of Sakyamuni.
ma hô lạc già
Mahoraga (S). Large bellied; a class of demons shaped like the boa.
ma hưu lặc
Ma Hầu La Dà—See Mahoraga in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ma hương
Màra-country, i.e. the world.
; (魔鄉) Đối lại: Tịnh độ. Làng ma. Chỉ cho thế giới Sa Bà, trong đó, chúng sinh luân hồi trong 6 đường, toàn là ô trược và mê hoặc. Quán kinh sớ định thiện nghĩa (Đại 37, 263 thượng), nói: Về đi thôi, Ma hương không thể dừng, trôi lăn từ nhiều kiếp đến nay, 6 đường đều từng trải, chẳng đâu có chút vui, toàn nghe tiếng than sầu.
ma hầu la
Ma Hầu Lặc—Ma Hô. 1) Muhurta (skt)—Một giây lát—A moment. 2) Mahoraga (skt)—See Mahoraga in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ma hầu la ca
(摩睺 羅迦) Phạm: Mahoraga. Cũng gọi Ma hầu la già, Ma hộ la nga, Mạc hô lặc già, Ma hưu lạc, Ma phục lặc. Hán dịch: Địa long, Đại mãng thần, Đại mãng xà, Đại hung hành, Đại phúc hành, Đại hung phúc hành. Quỉ thần đầu rắn, mình người, là 1 trong 8 bộ Thiên Long. Cứ theo Duy Ma kinh lược sớ quyển 2, thì Ma Hầu La Già là vị thần không có chân, đi bằng bụng như loài bò sát. Khi làm người, vì phá hủy giới cấm, dối trá, nhiều sân hận, ít bố thí, tham ưa rượu thịt, nên sau khi chết, bị rơi vào đường quỉ thần, trong thân thể có rất nhiều trùng độc rúc rỉa ăn thịt, đau đớn vô cùng. Tuệ Lâm Âm Nghĩa quyển 11 thì cho rằng, Ma Hầu La Già là loại thần âm nhạc, có hình đầu rắn. Trong Hiện Đồ Mạn Đồ La Thai Tạng Giới của Mật Giáo có an trí 3 vị tôn Ma Hầu La Già, vị tôn ở giữa co 2 tay, nắm tay thành quyền, ngón trỏ duỗi thẳng, để ở trước ngực, ngồi co chân phải, đầu gối trái dựng đứng; vị tôn bên trái đội mũ rắn, mặt hướng về bên phải; còn vị tôn bên phải thì mặt hướng về bên trái, trong tư thế đang thổi sáo. [X. phẩm Phổ Thông Chân Ngôn Tạng trong kinh Đại Nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.10; Phiên Phạm ngữ Q.7; Tuệ lâm âm nghĩa Q.1, 25, 27; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4].
ma hầu la dà
Mahorāga (S), Mahāraya (S)Đại mãng thần, Mạc hô lạc già ma, Mạc hô lạc già, Ma hộ la ngaLoại rắn lớn, mình và đầu là rắn hay mình rắn đầu người. Một trong thiên long bát bộ. Gồm: Thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu na, khẩn na la, ma hầu la già.
; Mahoraga (skt)—Ma Hưu Lặc—See Mahoraga in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ma hầu lặc
Mahoraga (skt)—See Ma Hầu La.
ma hệ
See Ma Phược.
ma hổ la thần
(摩虎羅神) Tạng: Sgra-dsin. Cũng gọi Ma hô la thần, Ma hưu la thần, Ma hầu la thần, Bạc hô la thần. Hán dịch: Chấp ngôn thần. Vua thần Dược Xoa thủ hộ Phật pháp, là vị thứ 9 trong 12 vị thần tướng của đức Phật Dược sư. Cứ theo Dược Sư Lưu Li Quang Vương thất Phật bản nguyện công đức kinh niệm tụng nghi quĩ cúng dường pháp nói, thì thần Ma Hổ La, thân màu trắng, tay cầm búa báu, thống lĩnh 7 ức Dược Xoa, thệ nguyện giữ gìn giáo pháp của Như Lai. Về hình tượng của vị tôn này, trong Tu Dược Sư nghi quĩ bố đàn pháp và Tịnh Lưu Li Tịnh độ tiêu, còn có các thuyết khác nhau. [X. kinh Quán đính Q.12, kinh Dược sư Như lai bản nguyện; Dược sư thập nhị thần tướng đồ].
ma hộ la nga
Xem Ma hầu la dà.
ma khư
(磨祛) Phạm: Màgha. Cũng gọi: Ma già, Mạc già. Hán dịch: Quí đông, Tinh nguyệt, Thất tinh, Thất tinh nguyệt. Chỉ cho tháng 11 trong lịch Ấn Độ, tương đương với khoảng thời gian từ ngày 16 tháng 11 đến ngày 15 tháng 12 âm lịch. Màgha vốn là tên của 1 ngôi sao trong Nhị thập bát tú, vào ngày 15 tháng 11 mặt trăng gặp sao này mới tròn, cho nên sao này được dùng làm tên của tháng 11. Đại Đường Tây Vực Kí quyển 2 (Đại 51, 876 thượng), nói: Ba tháng mùa đông gọi là Báo sa nguyệt, Ma khư nguyệt, Phả lặc lũ nã nguyệt, tương đương từ ngày 16 tháng 10 đến ngày 15 tháng giêng của Trung Quốc. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.42; kinh Tú diệu Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.136].
ma kiệt
Ma Khư La—Hải quái—A sea monster—See Ma Kiệt La.
ma kiệt la
Makara (skt)—Ma Già La—Một loài hải quái, hoặc trong lốt cá voi, hoặc trong lốt rùa—A sea monster, either in the form of a great fish, a whale, or a great turtle.
ma kiệt ngư
(摩竭魚) Ma kiệt, Phạm, Pàli: Makara. Cũng gọi Ma già la ngư, Ma ca la ngư. Hán dịch: Đại thể ngư, Kình ngư, Cự ngao. Một loại cá lớn được nói đến nhiều trong các kinh luận và được xem là cùng loài với cá sấu, cá giao (cá sạ) và lợn biển. Hoặc là loại cá trong giả tưởng. Trong thần thoại Ấn Độ, cá này là vật cỡi của Thủy Thần (Phạm: Varuịa), trên lá cờ cầm tay của Ái Thần (Phạm: Kàma-deva) cũng có vẽ hình cá ma kiệt. Ngoài ra, 1 trong 12 cung, gọi là cung Ma Kiệt, đầu và chân trước giống con linh dương (dê rừng), mình và đuôi là hình cá. Còn trong Quán Tự tại bồ tát a ma lai pháp thì cá Ma kiệt là vật cầm tay của bồ tát Quan Âm A Ma Lai. [X. kinh Hoa Nghiêm Q.59 (bản dịch cũ); kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.2; luận Đại Trí Độ Q.7; luận Thập Trụ Tì Bà Sa Q.7; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6].
Ma Kiệt Đà
(s, p: Magadha, 摩掲陀): tên gọi của 1 trong 16 nước thời Ấn Độ cổ đại, là quốc gia có mối quan hệ rất sâu xa với Phật Giáo, là vùng đất nơi đức Thế Tôn thành đạo và truyền đạo. Các vị vua Tần Bà Sa La (s, p: Bimbisāra, 頻婆娑羅), A Xà Thế (s: Ajātaśatru, p: Ajātasattu, 阿闍世) đã từng lấy Vương Xá Thành của nước này để làm kinh đô, A Dục Vương (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育王) lấy Thành Hoa Thị làm kinh đô và cai trị toàn Ấn Độ, lấy quốc gia này làm trung tâm.
ma kiệt đà
Magadha (S, P)Ma yết đà, Ma kiệt đề, Ma già đà, Ma nga đaVương quốc của vua Bimbisara thời đức Phật. Ở phía hữu sông Hằng, Phật Thích Ca thành đạo ở nước này và thường lưu trú ở nước này. Nay là vùng Bihar.
; Maghadha (S). Name of a country.
; Magadha (skt & p)—Ma Ha Đà—Ma Kiệt Đề—Ma Già Đà—Một trong mười sáu vương quốc cổ ở Ấn Độ trong thời Phật còn tại thế, nằm về phía Đông Bắc Ấn, trong đó có Bồ Đề Đạo Tràng, một trung tâm Phật giáo thời cổ, nơi có nhiều tịnh xá gọi là Bahar. Thời Đức Phật còn tại thế, Ma Kiệt Đà là một vương quốc hùng cường, dưới quyền cai trị của vua Tần Bà Sa La (khoảng từ năm 543-493 trước Tây Lịch), có kinh đô trong thành Vương Xá. Sau đó Ma Kiệt Đà dưới quyền của vua A Xà Thế. Vua A Dục cũng đã từng ngự trị xứ nầy vào khoảng thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch. Nước Ma Kiệt Đà xưa kia nay thuộc các quận Patna và Gaya, tiểu bang Bihar, miền đông bắc Ấn Độ. Thành Vương Xá, núi Linh Thứu, và Trúc Lâm Tịnh xá đều nằm trong xứ Ma Kiệt Đà—One of the sixteen major kingdoms of ancient India during the Buddha's time (northeast India). Nalanda and Buddha Gaya lay within this kingdom, the headquarters of ancient Buddhism, covered with viharas and therefore called Bahar. Magadha was the most powerful kingdom, ruled by the king Bimbisara (543-493 B.C.) with its capital in Rajagaha. Later, Magadha was ruled by Ajatasatru (son of Bimbisara). King Asoka of Maurya dynasty also ruled this kingdom in the third century B.C. The old country of Magadha is now the modern Patna and Gaya districts of Bihar state in the northeast India. Rajagriha, Vulture Peak and the Bamboo Grove Monastery were located here. ** For more information, please see Magadha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ma kiệt đề
Xem Ma kiệt đà.
ma la
Xem Ma ba tuần.
; Màra (S). The Evil One, the Death personified, Death. Also Ma vương, tà ma.
; 1) Mala (skt)—Tràng Hoa—A wreath—A garland—A chaplet—Head-dress. 2) Makara (skt)—See Ma Kiệt La.
; (麽羅) Phạm: Màlà. Hán dịch: Man, Hoa man. Hoa được xâu vào sợi dây làm thành cái vòng rồi quấn lên đầu làm vật trang sức. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.18; Phạm ngữ tạp danh].
; (懡㦬) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là sỉ nhục, hổ thẹn. Tắc 1, Bích Nham Lục (Đại 48, 140 thượng), nói: Đạt Ma liền qua sông đến đất Ngụy (dã hồ tinh ấy không khỏi 1 phen hổ thẹn (ma la), từ tây qua đông, từ đông qua tây). [X. tắc 28, 44, Bích Nham Lục].
ma la ca đà
See Mạt La Kiết Đa.
ma la da
Himālaya (S)Hy mã lạp sơn, núi Tuyết sơn, Ma la diên sơn, Hỷ mã lạp nhã, Tuyết lãnh, Đại tuyết sơn..
; Đồi Ma La Da nổi tiếng với những cây đàn hương—Malaya, the Malabar hills, noted for their sandalwood.
ma la diên sơn
Xem Ma la da.
ma la dà
Marakata (skt)—Ngọc bích—The emerald.
ma la dữu
(麽羅庾) Phạm: Malayù. Tên khoa học: Ficus oppositifolia. Một loại hương liệu từ cây bạch đàn. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 7 (Đại 39, 658 trung), nói: Hương bạch đàn, Ấn Độ gọi là Ma La Dữu, vốn là tên núi. Luận Đại Trí Độ cho rằng, ngoài núi Ma Lê (tức Ma La Dữu) ra, không nơi nào có bạch chiên đàn. Cứ theo Tuệ Uyển Âm Nghĩa quyển hạ, cây bạch chiên đàn mọc ở núi Ma La Da (Phạm: Malaya, tức núi Ma lê). Tuệ Lâm Âm Nghĩa quyển 26 thì nói, núi Ma La Da ở Nam Ấn Độ có loại bạch chiên đàn, ai vào đây cũng cảm thấy từ trong thân mình tỏa ra mùi thơm trong sạch, vì thế nên núi này còn được gọi là núi Trừ cấu. [X. luận Đại Trí Độ Q.2].
ma la nan đà
(摩羅難陀) Phạm: Màlànanda. Cũng gọi Ma la nan đề. Hán dịch: Đồng học. Cao tăng Ấn Độ, là 1 trong 3 vị tăng đầu tiên truyền Phật giáo vào nước Bách Tế. Vào năm 384, khi vua Chẩm Lưu đời thứ 15 nước Bách Tế lên ngôi, ngài Ma La Nan Đà cùng với ngài Thuận Đạo nước Cao Li và ngài A Đạo nước Tân La, từ Trung Quốc đến Triều Tiên và hoằng dương Phật pháp ở nước Bách Tế lần đầu tiên. [X. Tam quốc di sự Q.3; Hải đông cao tăng truyện Q.1; Tam quốc sử kí Q.18; Đông quốc thông giám Q.4; Tam quốc Phật giáo sử].
ma la quốc
(摩羅國) Ma la, Phạm, Pàli: Malla. Cũng gọi Mạt la quốc, Mãn la quốc, Bạt la quốc, Mạt lao quốc, Mạt lợi quốc. Hán dịch: Lực sĩ quốc, Tráng sĩ quốc, Hoa quốc. Tên 1 nước trong 16 nước lớn ở Ấn Độ vào thời đức Phật còn tại thế. Vị trí nước này ở về phía bắc sông Hằng, phía đông thành Ca Tì La Vệ, Trung Ấn Độ, thủ đô là Câu Thi Na Yết La (Phạm: Kuzinagara) và các thành ấp khác như: Ba Bà (Phạm: Pàvà), A Nô Di (Phạm: Anupriyà) v.v...Ma La vốn là tên của 1 chủng tộc. Trong luật Ma Ha Tăng Kì có những danh xưng như: Thích chủng nữ, Li xa nữ, Ma la nữ v.v... Cứ theo pháp điển Ma Nô thì chủng tộc này là hậu duệ của dòng Sát Đế Lợi, từ xưa đã nổi tiếng nhờ có sức lực mạnh mẽ. Tương truyền từng có việc lạ kì là hơn 500 lực sĩ cùng nhấc 1 tảng đá rất lớn, cho nên nước này được gọi là Mạt La Lực Sĩ Quốc. Khi đức Phật nhập Niết Bàn ở rừng Sa La thì 500 người thuộc chủng tộc Mạt La ở thành Câu Thi Na Yết La than khóc thảm thiết, rồi khiêng kim quan của Phật đến chùa Thiên Quan, cúng dường trong 7 ngày, sau đó mới trà tì. Chủng tộc này và chủng tộc Mạt La ở nước Ba Bà đều được chia cho 1 phần xá lợi của Phật để xây tháp cúng dường. Đây đều là những sự thực lịch sử nổi tiếng. [X. kinh Tạp A Hàm Q.32; kinh Trường A Hàm Q.4; kinh Tăng Nhất A Hàm Q.36; luật Tứ Phần Q.41; Hữu Bộ Tì Nại Da Tạp Sự Q.38; Phiên Phạm Ngữ Q.8].
ma la vũ
Malaya (skt)—Hương thơm của loài cây bạch đàn thuộc vùng núi Ma La Vũ ở Malabar—A kind of incense from the Malaya mountains in Malabar.
ma la đề
Malayadesa (skt)—Ma La Da Đề Số—Ma Ly—Nước Mã Lai Á—Malaya country.
ma lạp bà
Malava (skt)—Một vương quốc cổ ở Trung Ấn Độ, bây giờ là Gujarat—An ancient state in Central India, in the present Gujarat.
ma lạp bà quốc
(摩臘婆國) Ma lạp bà, Phạm: Màlava. Cũng gọi Ma la bà quốc, Ma la la quốc. Tên 1 nước xưa ở Nam Ấn Độ, nằm về phía tây nước Ô Xà Diễn Na, mạn đông nam sông Mạc Hi. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11, thì nước này đất đai màu mỡ, lúa mạ xanh tốt, có vài trăm ngôi chùa và hơn 2 vạn tăng đồ, học tập giáo pháp Chính Lượng Bộ. Thưở xưa, vua Giới Nhật thương yêu nhân dân, sùng kính Tam Bảo, hàng năm mở Đại hội Vô Già, cung thỉnh chư tăng từ khắp nơi về để tứ sự cúng dường. Ở nơi cách kinh đô về phía tây bắc hơn 20 dặm có 1 cái hố sâu, trong đó Bà La Môn Đại Mạn tâm bị chôn vùi. Truyền thuyết nói rằng, người Bà La Môn kiêu mạn này, sau khi bị Tỉ Khưu Hiền Ái hàng phục, vì căm phẫn nên hủy báng Đại thừa, khinh miệt các bậc hiền thánh, nên đất tự nứt ra, người Bà La Môn rơi xuống và bị chôn vùi. [X. kinh Khổng tước vương chú Q.thượng; kinh Đại phương quảng bồ tát tạng Văn Thù Sư Lợi căn bản nghi quĩ Q.18; On Yuan Chwang, vol. II (T. Watters); Early History of India (V.A. Smith); Cunnigham’s Ancient Geography of India (S.N. Majumdar)].
ma lạp tô da
MŪlasutta (P)1 trong 6 thể loại kinh điển của Kỳ Na giáo.
ma lị chi
Màricì (S). Name of a heaven. Also Dương diệm, Ma lị chi thiên.
ma lị chi thiên đà la ni kinh
Māricī-dhāranī (S)Một bộ kinh trong Mật bộ.
; Màricì-dhàrani (S). Sùtra.
ma lợi
Mallika (skt). 1) Một loại hoa có mùi thơm như hoa lài: A fragrant flower variously described as jasmine, aloes, musk. 2) Tên của vị hoàng hậu của vua Ba Tư Nặc (Mạt Lợi Phu Nhân): Name of the wife of king Prasenajit.
ma lợi chi
Marici (skt)—Mạt Lợi Chi. 1) Lấy hình tướng của Thiên nữ để đặt tên. Thiên nữ nầy thường bay đi trước mặt trời, là vị thiên thần có tự tại thông lực. Nếu niệm tên vị thần nầy thì sẽ lìa xa được mọi tai ách. Đó là vị thần thủ hộ mà Mật Giáo truyền tụng. Theo huyền thoại Bà La Môn, đây là vị thần do nhân cách hóa ánh sáng, là con cháu của Phạm Thiên, là cha mẹ của Mặt trời (nội thần của vua Trời Đế Thích). Trong số những Phật tử Trung Quốc, Ma Lợi Chi là biểu trưng của một người nữ tám tay, hai tay đưa cao với hai dấu hiệu mặt trời và mặt trăng, vị nầy được người ta tôn sùng như là vị Thần Ánh Sáng và Thần Bảo Quốc, che chở dân chúng khỏi những tai ách binh đao. Bà cũng còn được dân Trung Quốc gọi là Thiên Hậu—A goddess independent and sovereign, protectress against all violence and peril. In Brahmanic mythology, the personification of light, offspring of Brahma, parent of Surya. Among Chinese Buddhists Maritchi is represented as a female with eight arms, two of which are holding aloft emblems of sun and moon, and worshipped as goddess of light and as the guardian of all nations, whom she protects from the fury of war. She is addressed by the Chinese people as Queen of Heaven. 2) Tia sáng mặt trời (không thể trông thấy và cũng không thể thủ đắc được)—Rays of light, the sun's rays, said to go before the sun. 3) Bóng ma: A mirage. 4) Vòng hoa hay chuỗi hoa: A wreath.
ma lợi chi thiên
Xem Ma dị chi Bồ tát.
; (摩利支天) Ma lợi chi, Phạm: Marìci. Cũng gọi Ma lí chi thiên, Mạt lợi chi thiên, Mạt lợi chi đề bà, Mạt lợi chi thiên bồ tát. Hán dịch: Uy quang thiên, Dương diệm thiên. Vị trời có sức thần thông tự tại, khéo ẩn mình, thường tiêu trừ các chướng nạn, mang lại lợi ích cho mọi người. Hình tượng của vị trời này là hình thiên nữ nói trong kinh Mạt lợi chi đề bà hoa man và hình tượng 3 mặt 6 tay cỡi heo (lợn) nói trong kinh Đại ma lí chi bồ tát quyển 1. Vị trời này vốn là vị thần được dân gian Ấn Độ đời xưa sùng bái, sau được Phật giáo tiếp thu và xếp vào hàng Thiên bộ. Hiện nay ở chùa Na Lan Đà tại Ấn Độ vẫn còn pho tượng cổ của vị trời này. Pháp tu thờ vị trời này làm bản tôn gọi là Ma lợi chi thiên pháp, có các công năng như: Hộ thân, ẩn thân, phát tài, tranh luận thắng lợi v.v...Tại Nhật Bản, vị trời này chỉ được các vũ sĩ tin thờ. [X. kinh Ma lợi chi bồ tát đà la ni; Ma lợi chi bồ tát lược niệm tụng pháp; A sa phược sao Q.145; Chân tục Phật sự biên Q.1].
ma lục đa
(摩錄多) Phạm: Murut. Vị thần gió, đặc biệt chỉ cho thần bão, trong Bà La Môn Giáo Ấn Độ, được nói đến trong Lê câu phệ đà và Sử thi La ma da na. Theo Lê câu phệ đà thì cha của thần này là Lỗ đạt la (Phạm: Rudra), nhưng Sử thi La ma da na lại bảo thần này là con của Để đề (Phạm: Diti). Về hình tượng thì toàn thân vị thần này màu hồng, ngồi xe bằng vàng, tóc lóe sáng như lửa, mình mặc áo giáp bằng vàng, ngực trang sức vàng, vai vác giáo dài, thường đi theo vị thần Nhân đà la đánh dẹp ác ma, khi tiến quân thì như mãnh thú ra uy, cát bay đá chạy, trời đất tối tăm mù mịt, núi non rúng động, hung hãn đáng sợ; còn khi lui bình thì hệt như đứa trẻ chơi dỡn, rất dễ thương. Có thuyết cho rằng vị thần này có liên quan đến việc làm mưa.
ma lực
Occult force; occult, hidden cause.
ma ma
Mama (skt)—Cái của tôi—My—Mine, genitive case of the first personal pronoun.
; (麽麽) Phạm: Mama. Hán dịch: Ngã sở, Ngã đích. Nghĩa là cái tôi, vật của tôi v.v..., là sở hữu cách về tôi, thuộc nhân xưng ngôi thứ nhất trong thuộc cách theo văn pháp (grammar) của tiếng Phạm. Tuy nhiên, trong kinh cũng có khi ma ma được gọi là ngã(tôi). Phạm ngữ tạp danh (Đại 54, 1229 trung), nói: Ngã là ma ma.
ma ma du ký
Ramayāna (S)La Ma da na, La Ma diễn naĐại tự sự thi tiếng Phạn thời cổ đại, vào thế kỷ III hay IV trước công nguyên.
ma ma kê
Mamaki (skt)—Còn gọi là Ma Mạc Tích, Mang Mang Kê, Mang Mãng Kê, Mang Mãng Kế—Kim Cương mẫu hay mẹ của kim cương, là một vị tôn trong Kim Cương Thủ Viện. Trí tuệ của các vị Kim Cương đều nảy sinh từ đây—The Vajra mother, mother of the vajra or of wisdom in all the vajra group.
ma ma kê bồ tát
Xem Thủy Tạng Phật.
; (麽麽鶏菩薩) Ma ma kê, Phạm: Màmakì. Cũng gọi Mang mãng kê bồ tát, Mang mãng kế bồ tát, Mang mang kê bồ tát, Ma mạc chỉ bồ tát. Hán dịch: Kim cương mẫu. Vị Bồ tát bộ mẫu của Kim cương bộ Mật giáo, ngồi ở viện Kim cương thủ trong Mạn đồ la Kim cương giới, là mẹ của tất cả Bồ tát. (xt. Mang Mãng Kê Bồ Tát).
ma men
Ma chướng lúc say rượu—The demon of drunkenness.
ma mê
(麻迷) Tiếng dùng trong Thiền Lâm. Ma (..) đồng nghĩa với Ma ( ), tức không cảm giác; Mê (..) là Mị (..), nghĩa là do một vật gì đó như cát, dằm bay vào mắt, không mở mắt ra được, do đó không thấy được gì. Trong Thiền Lâm, từ ma mê thường được sử dụng để miêu tả cái trạng thái lờ mờ, thấy không được rõ ràng, hoặc chê những người không có kiến giải rốt ráo. Đông Lâm hòa thượng Vân Môn Am Chủ Tụng Cổ (Vạn tục 118, 399 thượng), nói: Người câm nằm mộng nói cùng ai? Tỉnh dậy đối diện nhau mắt lại mờ (ma mê). [X. Cổ tôn túc ngữ lục Q.47].
ma mạc chi bồ tát
Xem Thủy Tạng Phật.
ma na bà
Manatta (skt)—See Ma Na Đỏa.
ma na kỳ
Manasa or Manasvati (skt). 1) Hồ trên rặng Hy Mã Lạp Sơn, một trong bốn hồ được thành hình từ khi biển rơi xuống từ trời trên đỉnh Tu Di—A lake in the Himalaya, one of the four lakes formed when the ocean fell from heaven upon Mount Meru. 2) Tên của một loài rồng bảo hộ hồ Ma Na Kỳ: The dragon who is the tutelary deity of this lake.
ma na tô tất đế
Manasa or Manasvati (skt)—See Ma Na Kỳ.
ma na tư long vương
Xem Đại ý Long vương.
; Manàsvin-nàga-ràja (S). Name of a Dragon-King.
; (摩那斯龍王) Ma na tư, Phạm: Manasvati. Cũng gọi Ma na tô bà đế long. Hán dịch: Đại thân long vương, Từ tâm long vương, Đại lực long vương, Cao ý long vương, Đại ý long vương. Vị vua rồng coi về việc làm mưa, là 1 trong 8 vị Đại long vương. Rồng này mình dài có thể quấn chung quanh núi Tu Di 7 vòng, vì thế gọi là Đại thân. Lúc sắp làm mưa thì trước hết nổi mây đen trong 7 ngày, đợi cho nhân gian sắp xếp mọi việc xong xuôi, đâu vào đấy rồi mới trút mưa xuống. Vì khi nổi mây làm mưa đều phát xuất từ lòng thương, cho nên gọi là Từ tâm long vương. Pháp hoa văn cú quyển 2, hạ (Đại 34, 24 hạ), nói: Ma na tư (...) A tu la dâng nước biển làm ngập thành Hỉ kiến, rồng này quấn mình quanh thành để ngăn nước biển. Vì rồng này có uy đức nên trở thành vua của tất cả các loài tôm tép có hình giống rồng. [X. Pháp Hoa quang trạch sớ Q.1; Hoa Nghiêm kinh thám huyền kí Q.2].
ma na đoá
(摩那埵) Phạm, Pàli: Manatta. Cũng gọi Ma na đóa, Lục dạ ma na đỏa, Ma na đỏa yết ma. Hán dịch: Duyệt chúng ý, Ý hỉ, Hảo, Hạ ý, Biến tịnh, Chiết phục cống cao. Phương pháp diệt tội và sám hối của vị Tỉ Khưu khi phạm tội Tăng tàn. Khi phạm tội Tăng tàn, phải phát lộ sám hối ngay, trong vòng 6 ngày 6 đêm ở riêng 1 chỗ, làm các việc khó nhọc thay cho chúng tăng, như quét tước tháp, tăng phòng, dọn dẹp cầu tiêu, nhà tắm, tuy vào trong tăng nhưng không được nói bàn với người khác; trong thời gian này, chí thành sám hối, khiến chúng tăng được hoan hỉ. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển trung, phần 1 (Đại 40, 47 hạ), nói: Ma ha đỏa, Hán dịch là Duyệt chúng ý (làm đẹp lòng mọi người), tức là thuận theo lời dạy bảo của chúng tăng, làm cho chúng tăng đều hoan hỉ. Kinh Tì ni mẫu quyển 2 (Đại 24, 811 trung), nói: Ma na đỏa, trước chỉ có tự mình hoan hỉ và sinh tâm hổ thẹn nên cũng làm cho chúng tăng hoan hỉ; do muốn được hoan hỉ trước nên mới dành cho vị ấy ít ngày để sám hối, do ít ngày sám hối mới được gọi là Hỉ. Còn chúng tăng hoan hỉ là vì xét thấy người ấy không còn hành vi tái phạm nữa, nên khen ngợi nói rằng: Nhờ sự sám hối này mà người phạm tội dứt hết phiền não, thành người thanh tịnh, vì thế chúng tăng hoan hỉ. Tuệ lâm âm nghĩa gọi Ma na đỏa là biến tịnh (thanh tịnh khắp cả) chính là ý này. [X. luật Tứ Phần Q.45; Yết ma pháp trong luật Ngũ Phần Q.23; luật Thập Tụng Q.32; luật Ma Ha Tăng Kì Q.25, 26].
ma na đóa
Manatà (S). Xem duyệt ý.
ma na đỏa
Manatta (skt)—Ma Na Bà. 1) Duyệt ý hay làm vui. Tỳ kheo phạm tội Tăng Tàn, thực hành sám hối, nhờ đó mà tẩy được tội lỗi, nên tự mình vui và làm cho chúng Tăng được vui theo—Joy to the penitent and his felow monks caused by confession and absolution. 2) Một hình phạt trong Tăng chúng: Penance or punishment for offences involving reprimand.
ma nam câu lỵ
Mahānāma kulika (S)Tôn giả Đại hiệuÔng là một trong năm người Bà la môn cùng tu khổ hạnh với đức Phật như: Kiều trần Như (Kodanna), Bạc đề (Bhaddiya), Thập Lực Ca Diếp (Vappa), Ma ha Nam (Mahanama) và ác Bệ (Assaji). Ông cũng là một trong những đệ tử đầu tiên và đắc quả A la hán đầu tiên của đức PhậtXem Ma ha nam
ma nao xá
Xem Người.
ma nao xá nam
Xem Người.
ma nga đa
Xem Ma kiệt đà.
ma nghịch kinh
Majusru-vikurvana-parivarta (S)Văn Thù Sư Lợi Thần biến phẩm chi Đại thừa kinhTên một bộ kinh.
; (魔逆經) Phạm:Maĩjuzrì-vikurvàịa-parivarta. Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại Chính Tạng tập 15. Nội dung kinh này ghi lại cuộc vấn đáp về ma sự giữa Đại Quang Thiên Tử và ngài Văn Thù Sư Lợi. Lúc ấy ma đến quấy nhiễu, ngài Văn Thù dùng sức Tam muội trói buộc ma và biến ma thành thân Phật, bàn luận về Phật pháp với các Tỉ Khưu, cuối cùng Ma Ba Tuần lo buồn, khóc lóc bỏ đi. Nguyên bản tiếng Phạm của kinh này đã thất lạc, lại không có bản Hán dịch nào khác, chỉ còn bản dịch Tây tạng đề là: Thánh Văn Thù Sư Lợi Thần biến phẩm chi Đại thừa kinh, hoàn toàn khác với tên kinh của bản Hán dịch.
ma ngoại đạo
Externalist demons (evils).
ma ngưu
(磨牛) Vốn chỉ cho con trâu kéo cày, ví dụ tăng ni chưa tu hành một cách chân chính. Con trâu kéo cày, ngày ngày gắng sức cực nhọc mà không hề dụng tâm, chỉ khổ thân và luống công vô ích; ma ngưu được dùng để ví dụ cho tăng ni tu hành Phật đạo, thân tuy hành đạo mà tâm không hành đạo. Tứ thập nhị chương kinh chú (Vạn tục 59, 39 hạ), nói: Sa môn hành đạo không nên như con trâu kéo cày; thân tuy hành đạo nhưng tâm đạo chẳng hành. Tâm đạo nếu hành thì cần gì thân phải hành đạo? [X. Vạn thiện đồng qui tập Q.2].
ma nhai
(摩崖) Cũng gọi Ma nhai thạch khắc. Làm phẳng bề mặt vách đá của sườn núi hoặc mài nhẵn mặt những tảng đá lớn, rồi khắc chìm hoặc khắc nổi những văn tự, thi phú hoặc tượng Phật v.v... gọi là Ma nhai. Những Ma nhai xưa nhất là những Pháp sắc của vua A Dục được khắc vào thế kỉ thứ III trước Tây lịch, hiện còn để lại rải rác ở nhiều nơi trên đất nước Ấn Độ. Những Ma nhai mà ngày nay đã tìm thấy được gồm có: Đại ma nhai pháp sắc 7 chỗ và Tiểu ma nhai pháp sắc 8 chỗ. Nội dung chủ yếu của các Pháp sắc là chính sách, chính lệnh lấy giáo thuyết Phật giáo làm nền tảng. Ngoài ra cũng có sự tích của vua A Dục và những qui định về quản lí hành chính nói chung. Còn ở Ba Mễ Dương (Bàmiyan) tại nước A Phú Hãn còn 2 pho tượng Phật lớn nhất thế giới bằng đá trong khám được khắc vào thế kỉ thứ V.Tại Trung Quốc thì như động Vân cương tỉnh Sơn Tây, các hang động ở huyện Củng Tỉnh Hà Nam, sườn núi Hoàng Thạch ở Lịch Thành, tỉnh Sơn Đông v.v... cũng có 1 số ít tượng Phật Ma nhai. Còn các kinh được khắc trên đá theo hình thức Ma nhai thì có: Kinh Kim Cương Bát Nhã ở khe núi Kinh Thạch, huyện Thái Sơn, tỉnh Sơn Đông, kinh Đại Phẩm Bát Nhã ở động Ánh Phật, núi Tồ Lai, tỉnh Sơn Đông, kinh Hoa Nghiêm ở núi Ốc Lai, huyện Liêu Xuyên, tỉnh Sơn Tây v.v...Tại Nhật Bản cũng có nhiều tượng Phật Ma Nhai như: Phật Ma Nhai Đại Cốc ở thị trấn Vũ Đô Cung, huyện Lệ Mộc, Phật Ma Nhai ở quận Lật Thái, huyện Tư Hạ, Phật Ma Nhai ở thị trấn Cậu Chử, huyện Đại Phản và Phật Ma nhai ở thị trấn Phong Hậu Cao Điền ... đều được xem là những di tích lịch sử đặc biệt. (xt. A Dục Vương Khắc Văn).
ma nhiễu loạn kinh
(魔嬈亂經) Kinh, 1 quyển, không rõ dịch giả, được thu vào Đại Chính Tạng tập 1. Nội dung kinh này thuật lại việc ma vương Ba Tuần Hóa thân chui vào bụng tôn giả Mục Kiền Liên, Ngài Mục Kiền Liên vào định khám phá được, ma vương liền từ miệng của Ngài chui ra đứng phía trước Ngài. Ngài Mục Kiền Liên giải thích về mối oan thân giữa Ngài và ma vương Ba Tuần ở đời quá khứ, rồi nói về giáo pháp thiện ác quả báo để khuyên răn. Ma vương nghe xong, buồn rầu lo sợ, thu hình biến mất. Kinh này và kinh Tệ ma thí Mục Liên (do ngài Chi Khiêm dịch vào đời Ngô) đều là các bản biệt dịch của kinh Hàng ma trong Trung A Hàm. Ngoài ra, nội dung bài kinh thứ 50 (Màratajaniya. S.) trong Trung bộ tiếng Pàli cũng tương đương với kinh này. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.1].
ma nhĩ phạt đa phái
(摩爾伐多派) Malwatta-nikàya. Cũng gọi Mạn nhĩ ngõa đa phái. Phái Xiêm La, 1 phái chủ yếu thuộc Thượng tọa bộ trong Phật giáo Tích Lan được thành lập vào giữa thế kỉ XIX. Tổng bộ do hơn 20 ngôi chùa Ma Nhĩ Phạt Đa ở Kandy(miền Trung Tích Lan) hợp lại mà thành; Tỉ Khưu thuộc phái Phật giáo thôn cú (Gàmavàsina), dòng họ Cù Duy Già Mẫu, bộ tộc Tăng Già La, chủ yếu nghiên cứu Phật học và chú thích kinh điển. Đã có khá nhiều tác phẩm Phật giáo bằng tiếng Phạm, Pàli và tiếng Tích Lan do phái này biên soạn. Phái này giữ vai trò chủ chốt trong việc tổ chức giáo dục và cơ cấu nghiên cứu ở viện Phật học Tăng Vương, tham dự việc quản lí các viện Phật học Trí Tăng, Trí Nghiêm ở Tích Lan và cùng với phái A Tư Yết Lợi (Asgiri, cũng gọi A kì lê phái) trông coi chùa Răng Phật tại Kandy. Các vị tăng trưởng của phái này được gọi là Ma Ha Da Na Ca (Đại đạo sư) và A Nỗ Na Da Ca (Phó đạo sư), do hội đồng thường vụ Tăng già tuyển chọn, giữ chức trọn đời. Chức Trụ trì những ngôi chùa trọng yếu thì do La đạt la (quí tộc xưa), một dòng họ cao quí trong tộc Cù Duy Già Mẫu đảm nhiệm. Phái này cũng thiết lập các trung tâm Phật giáo tại Ấn Độ và các nước khác.
ma nhẫn
Màra-servitude, the condition of those who obey Màra.
; Nhẫn hạnh của ma đạo, như người bị ma sai khiến hay vì sợ người khác mà tu nhẫn nhục—Mara-servitude, the condition of those who obey mara.
Ma Ni
(s: maṇi, 摩尼): Hán dịch là Bảo Châu (寳珠), Ma Ni Châu (摩尼珠), hay Ma Ni Bảo Châu (摩尼寳珠), v.v. Ma Ni là tên gọi chung của loại ngọc cũng như đá quý. Trong kinh điển Phật Giáo cũng thỉnh thoảng có đề cập đến từ Ma Ni này để ám chỉ công lực bất khả tư nghì. Trên đỉnh đầu của Long Vương có tàng chứa loại bảo châu này, và Ma Ni cũng được liệt vào một trong 7 loại báu của Chuyển Luân Thánh Vương. Đặc biệt Như Ý Bảo Châu (s: cintā-maṇi, 如意寳珠) là một loại ngọc có rất nhiều công lực như làm lành ác bệnh, tiêu trừ nọc độc của rắn, làm cho nước đục thành trong, v.v. Bên cạnh đó, Nhật Tinh Ma Ni (日精摩尼, hay còn gọi là Nhật Ma Ni) là vật mà Bồ Tát Quan Âm Ngàn Tay thường cầm trên tay, và tương truyền rằng nếu người mù cầu nguyện thì sẽ được sáng mắt.
; (s, p: maṇi, 摩尼): còn gọi là Mạt Ni (末尼), ý dịch là châu (珠), bảo châu (寳珠), Ma Ni Châu (摩尼珠), v.v. Ma Ni là tên gọi chung của loại ngọc cũng như đá quý. Trong kinh điển Phật Giáo cũng thỉnh thoảng có đề cập đến từ Ma Ni này để ám chỉ công lực bất khả tư nghì. Trên đỉnh đầu của Long Vương có tàng chứa loại bảo châu này, và Ma Ni cũng được liệt vào một trong 7 loại báu của Chuyển Luân Thánh Vương. Đặc biệt Như Ý Bảo Châu (s: cintā- maṇi, 如意寳珠), âm dịch là Chân Đà Ma Ni (眞陀摩尼), Chấn Đa Ma Ni (振多摩尼、震多摩尼); ý dịch là Như Ý Bảo (如意寶), Như Ý Châu (如意珠), Như Ý Ma Ni (如意摩尼), Ma Ni Bảo Châu (摩尼寳珠), Mạt Ni Bảo (末尼寶), Vô Giá Bảo Châu (無價寶珠); là một loại ngọc có rất nhiều công lực như làm lành ác bệnh, tiêu trừ nọc độc của rắn, làm cho nước đục thành trong, v.v. Bên cạnh đó, Bồ Tát Quan Âm Ngàn Tay thường cầm trên tay phải là Nhật Tinh Ma Ni (日精摩尼, hay còn gọi là Nhật Ma Ni [日摩尼]). Tương truyền rằng nếu người mù cầu nguyện ngọc Ma Ni này thì sẽ được sáng mắt. Tay trái của Bồ Tát là Nguyệt Tinh Ma Ni (月精摩尼, hay Nguyệt Quang Ma Ni [月光摩尼], Minh Nguyệt Ma Ni [明月摩尼], Minh Nguyệt Chân Châu [明月眞珠], Nguyệt Ái Châu [月愛珠]); có thể tiêu trừ sự bức não của con người, làm cho mát mẻ. Trong A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 102 có nêu ra 5 loại Ma Ni như Quang Minh Mạt Ni (光明末尼), Thanh Thủy Mạt Ni (清水末尼), Phương Đẳng Mạt Ni (方等末尼), Vô Giá Mạt Ni (無價末尼), Như Ý Châu (如意珠). Lục Thập Hoa Nghiêm (六十華嚴, Taishō Vol. 9, No. 278) quyển 47 có liệt kê một số ngọc Ma Ni khác như Thanh Lưu Ly Ma Ni (青琉璃摩尼), Dạ Quang Ma Ni (夜光摩尼), Nhật Tạng Ma Ni (日藏摩尼), Nguyệt Tràng Ma Ni (月幢摩尼), Diệu Tạng Ma Ni (妙藏摩尼), Đại Đăng Ma Ni (大燈摩尼), v.v. Tại bảo tháp của Sư Bà Diên Trường, Chùa Trúc Lâm Huế, có câu đối: “Thạch tàng Xá Lợi nan danh tướng, châu hiện Ma Ni trạm sắc không (石藏舍利難名相、珠現摩尼湛色空, đá tàng Xá Lợi đâu danh tướng, ngọc hiện Ma Ni sạch sắc không).”
ma ni
Jewel, gem, pearl, precious stone. As wished, or at wish, whoever possesses the pearl receives whatever he desires.
; Cintamani (skt)—Ngọc Ma Ni—Ngọc Như Ý có khả năng làm ra bất cứ thứ gì mình muốn. Ngọc nầy tiêu biểu cho sự vĩ đại và công đức của Phật và Kinh Phật—Wish-fulfilling gem—A jewel (bright luminous pearl) said to possess the power of producing whatever one desires. It symbolizes the greatness and virtue of the Buddha and the Buddhist scriptures (his doctrines).
; (摩尼) Phạm, Pàli: Maịi. Cũng gọi Mạt ni. Hán dịch: Châu, Bảo châu.Từ gọi chung các loại ngọc quí.Truyền thuyết phổ thông cho rằng ma ni có thể tiêu trừ tai nạn, tật bệnh, lắng nước đục thành trong và đổi màu sắc của nước. Còn tiếng Phạm Cintà-maịi (Hán âm: Chân đà ma ni, Chấn đà ma ni) thì Hán dịch là: Như ý bảo, Như ý châu, Như ý ma ni, Ma ni bảo châu, Mạt ni bảo, Vô giá bảo châu. Vì loại châu này có khả năng làm thỏa mãn ý muốn và sự mong cầu của con người, cho nên gọi Bảo châu như ý. Có thuyết cho rằng ma ni được lấy ra từ óc cá Ma kiệt hoặc bảo nó là mảnh vỡ từ vật cầm tay của trời Đế thích; lại có thuyết nói từ xá lợi của Phật biến thành. Trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm thì tay phải cầm ma ni Nhật tinh, tay trái cầm ma ni Nguyệt tinh. Ma ni Nhật tinh cũng gọi là Nhật ma ni là loại ma ni tự nhiên phát ra ánh sáng nóng nực, chói lọi; còn ma ni Nguyệt tinh cũng gọi là Nguyệt quang ma ni, Minh nguyệt ma ni, Minh nguyệt chân châu, Nguyệt ái châu, là loại ma ni có năng lực tiêu trừ sự nóng bức đem lại sự mát mẻ cho mọi người.Trong các kinh luận có nói đến nhiều loại ma ni, theo luận Đại tì bà sa quyển 102 thì Mạt ni bảo có 5 loại: Quang minh mạt ni, Thanh thủy mạt ni, Phương đẳng mạt ni, Vô giá mạt ni và Như ý châu. Theo kinh Hoa nghiêm quyển 47 (bản dịch cũ) thì có 6 loại ma ni: Thanh lưu li ma ni, Dạ quang ma ni, Nhật tạng ma ni, Nguyệt chàng ma ni, Diệu tạng ma ni và Đại đăng ma ni. Còn kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 47 thì nêu: ma ni Tì lăng già của trời Đế thích, ma ni Đăng tộ của chư thiên cầm, ma ni Quang chàng và ma ni Diễm quang của Phạm thiên v.v...[X. kinh Di nhật ma ni; kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc); kinh Đại phẩm bát nhã Q.10; kinh Hoa nghiêm Q.59 (bản dịch cũ); phẩm Chuyển luân thánh vương trong kinh Khởi thế Q.2; luận Đại trí độ Q.59; Tuệ lâm âm nghĩa Q.27].
ma ni bạt đà la
Maṇibhadrā (S)Bảo HiềnMột trong Dạ xoa bát đại tướng: Bảo Hiền, Mãn Hiền, Mật Chủ, Oai Thần, Ứng Niệm, Đại Mãn, Vô tỷ lực, Mật Nghiêm.
; Manibhadra (skt). 1) Một trong tám vị tướng trong Thai Tạng Giới: One of the eight generals in Garbhadhatu. 2) Vua Dạ Xoa: Vị bảo hộ khách lữ hành và thương nhân—A king of Yakshas, the tutelary deity of travellers and merchants.
Ma ni bảo châu 摩尼寶珠
[ja] マニホウジュ manihōju ||| A maṇi-jewel. See 如意寶珠 and 摩尼珠. 〔華嚴經 293.10.830a5〕 => Ngọc ma-ni. Xem Như ý bảo châu và Ma-ni châu.
ma ni giáo
Manicheism (S)Một tôn giáo ở Ba Tư vào thế kỷ III, được truyền sang Trung quốc vào thế kỷ VI - VII đổi tên là Minh Giáo.
; (摩尼教) Anh: Manicheism. Đức: Manichismus. Pháp:Manichéisme. Cũng gọi Mạt ni giáo, Mâu ni giáo, Minh giáo, Minh tôn giáo. Tông giáo do ông Ma ni (Mani, Manes, Manichaeus) người Ba tư sống vào thế kỉ thứ III Tây lịch tổng hợp các thuyết của Bái hỏa giáo (Zoroastrianism, cũng gọi Thiên giáo, tông giáo của Ba tư cổ đại), Cơ đốc giáo và tư tưởng của Phật giáo mà thành lập ra. Giáo nghĩa của Ma ni giáo lấy thiện, ác nhị nguyên luận của Bái hỏa giáo làm nền tảng, tóm thu tất cả mọi hiện tượng vào thiện và ác, thiện là ánh sáng, ác là bóng tối, mà ánh sáng thì chắc chắn đánh tan bóng tối, nếu nhân loại nương theo chân lí của tông giáo và chí hướng của thần linh thì chắc chắn sẽ đi đến thế giới tươi sáng và hạnh phúc yên vui. Nhưng từ vô thủy đến nay, sáng và tối giao nhau; ác ma thường ở trong thế giới tối tăm gây nhiễu loạn, do đó thế giới hiện tại vẫn lẫn lộn thiện và ác, bởi thế loài người phải nỗ lực hướng thiện, để tạo nên một thế giới tươi sáng. Đó chính là lí do mà tông giáo này còn được gọi là Minh giáo. Thần của Ma ni giáo có 10 đức: Ái, tín, thành, kính, trí, thuận, thức, giác, bí và sát. Công phu tu dưỡng của tín đồ lấy sự cấm dục và im lặng làm chính. Công khóa hàng ngày là trai giới, cầu nguyện (4 lần mỗi ngày). Tính chất đơn giản, sáng sủa và trực tiếp của tông giáo này rất được người đương thời đón nhận, cho nên đã truyền bá ở vùng Trung á, Đế quốc La mã (khoảng thế kỉ IV), Ấn độ, Trung quốc v.v... một cách rộng rãi, cho đến thế kỉ XIII Ma ni giáo vẫn còn hưng thịnh. Ma ni giáo được truyền đến vùng Tân cương thuộc Trung quốc vào khoảng từ thế kỉ VI đến thế kỉ VII, rồi từ Tân cương truyền đến Hồi hột ở phía bắc sa mạc và thịnh hành ở vùng này. Vào năm Đại lịch thứ 3 (768) đời Đường, đáp lời thỉnh cầu của nước Hồi hột, vua Đại tông cho phép xây chùa Ma ni giáo ở vùng Giang hoài. Năm Hội xương thứ 5 (845), Đường vũ tông phá diệt Phật pháp, Ma ni giáo cũng bị đả kích nghiêm trọng, vì thế mà chuyển thành tông giáo bí mật, đồng thời, tiếp thu Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian, cũng từ đó đổi tên là Minh giáo. Minh giáo tin chắc rằng bóng tối sẽ qua đi và ánh sáng tất phải đến, cho nên dám tạo phản, thường tỏ dấu hiệu chống lại chính phủ. Bắt đầu từ cuối đời Bắc Tống, ở các tỉnh Chiết giang, Giang tây, An huy v.v... thường xảy ra việc Minh giáo làm loạn. Về sau, Minh giáo lại liên kết với Di lặc giáo và Bạch liên xã mà biến thành Bạch liên giáo vào cuối đời Minh. Danh từ Minh giáo tuy không còn được thấy trong các văn hiến, nhưng thuyết Minh vương xuất hiện vẫn còn lưu truyền trong dân gian. [X. Phật tổ thống kỉ Q.29; Liễu tử hậu tập Q.28].
ma ni kiện đại long vương
Maniskandhanaga (skt)—Vị long vương trong tay ai là ngọc hộ mệnh cho người ấy—The naga king in whose hand is the talismanic pearl.
ma ni kì
(嘛呢旗) Cũng gọi Kinh phan. Một thứ cờ pháp được dùng để cầu nguyện của Phật giáo Tây tạng. Tức là sử dụng vải trắng hoặc giấy màu cắt thành mảnh dài giống như lá cờ nhỏ, rồi viết lên đó bài chân ngôn 6 chữ: Án ma ni bát di hồng và các kinh văn khác, sau đó kết thành xâu dài, treo vào cây sào cắm trên các nóc nhà, hoặc dựng ở đầu núi và trên những Ma ni đôi để cầu nguyện.
ma ni luân
(嘛呢輪) Một loại pháp khí của tín đồ Phật giáo Tây tạng được sử dụng trong lúc cầu nguyện. Hình dáng pháp khí này giống như cái thùng nhỏ, chung quanh khắc thần chú 6 chữ Án ma ni bát di hồng, chính giữa đặt 1 cái trục, bên trong có dán giấy in văn kinh. Khi cầu nguyện thì tay cầm pháp khí quay tròn, đồng thời miệng niệm 6 chữ thần chú.
ma ni đôi
(嘛呢堆) Đống đá được xếp thành do những phiến đá hoặc tảng đá trên có khắc 6 chữ chân ngôn Án ma ni bát di hồng. Tín đồ Phật giáo Tây tạng khắc thần chú 6 chữ Án Ma Ni Bát Di Hồng trên đá rồi đặt ở trên đường vào núi, tín đồ qua đường tiếp tục xếp thêm những phiến đá khác lên, lâu ngày thành đống (đôi); vì lấy 2 chữ Ma Ni trong thần chú 6 chữ mà gọi là Ma ni đôi. Những người đi ngang qua đây, tùy theo thời gian, phương hướng mà nhiễu quanh 1 vòng để tích lũy công đức.
ma noa la
(ma noa la) Tổ thứ 22 của Thiền tông Ấn độ, con trai thứ của vua nước Na đề, thuộc dòng Sát đế lợi. Năm 30 tuổi, Ngài gặp tôn giả Bà tu bàn đầu, liền xin xuất gia và sau được nối pháp. Ban đầu, Ngài thường hành hóa ở miền Tây Ấn độ, sau đến nước Đại nguyệt chi, truyền pháp cho ngài Hạc lặc na rồi thị tịch.[X. Bảo lâm truyện Q.4; Tổ đường tập Q.2; Cảnh đức truyền đăng lục Q.2].
ma nâu
Manu (S)Thần cõi sống.
ma nô
Manusya (skt)—See Ma Nô Sa.
; (摩奴) Phạm: Manu. Thủy tổ của loài người trong truyền thuyết Ấn độ. Cứ theo truyền thuyết thì có 14 đời, mỗi đời là 432 vạn năm. Ma nô đời thứ nhất tên là Tư bà diêm bồ bà (Phạm:Svayaôbhava), có thuyết cho rằng vị này là cháu của Phạm thiên, sáng tạo ra 10 vị Sinh chủ gọi là Đại tiên (Phạm: Mahàfwi); lại có thuyết cho rằng ông là con của Phạm thiên và Xá đa rô ba (Phạm: Zatarùpà). Bộ Ma nô pháp điển trứ danh của Ấn độ thời xưa đã mượn tên ông làm tựa đề. Ma nô đời thứ 7 tên là Tì bà tư bà đa (Phạm:Vaivasvata) là con của Thái dương, vua Cam giá (Phạm:Ikwvàku) trong lịch sử truyền thuyết của Ấn độ là con của vị này. Truyền thuyết về trận hồng thủy nói trong Bách đạo phạm thư và Ma ha bà la đa là miêu tả sự tích của ông.
ma nô la
Manorhita or Manorhata (skt)—Một vị hoàng tử Ấn Độ trở thành đệ tử của ngài Thế Thân và kế vị ngài để trở thành Tổ thứ 22 của Thiền Tông Ấn Độ. Ông là tác giả của bộ Tỳ Bà Sa Luận. Ông làm việc và tịch ở miền đông Ấn vào khoảng năm 165 sau Tây Lịch—An Indian prince who became disciple and successor to Vasubandhu as 22nd patriarch. Author of the Vibhasa-Sastra. He laboured in Western India and Ferghana where he died in 165 AD.
ma nô la tổ sư
Madura (S)Tổ đời thứ 22 trong 28 vị tổ Phật giáo ở Ấn độ.
ma nô ma
Manomayakàya (S). Body formed by the magic power of the mind. Also Ý sinh thân, Ý thành thân.
ma nô mạt da
Manomaya (skt)—Ma Nô—Ma Nô Ma. 1) Ý: Consisting of spirit or mind—Spiritual—Mental. 2) Ý sinh thân: Mind produced body. 3) Chư Phật, chư Bồ Tát và chư Thiên có thân thể do ý mình hóa sinh ra nên gọi là Ma Nô Ma: Buddhas, Bodhisattvas and devas can use their minds to produce their bodies, or forms at will (any appearance produced at will).
ma nô pháp điển
Mānusmṛṭi (S)Kinh điển Bà la môn.
; (摩奴法典) Phạm: Manu-smfti. Bộ sách quan trọng của Bà la môn giáo Ấn độ được căn cứ vào Ma nô pháp kinh (Phạm: Mànava-dharma-sùtra) mà soạnthành vào khoảng từ thế kỉ thứ II trước Tây lịch đến thế kỉ thứ II sau Tây lịch. Đây là bộ Pháp điển xưa nhất trong các bộ Pháp điển của Ấn độ. Cứ theo trong sách nói thì sách này do Phạm thiên trứ tác, rồi truyền cho Ma nô (Phạm: Manu), thủy tổ của loài người, về sau lại do ngài Ba lợi hỗ (Phạm: Bhfgu) truyền đến nhân gian. Toàn bộ sách có 12 chương, gồm 2685 bài kệ. Nội dung nói về những phong tục, tập quán của Phệ đà và các điều văn về pháp luật. Trong đó, những qui tắc về pháp tố tụng, dân pháp rất hời hợt, thiếu sót, đủ để chứng tỏ mức độ cổ xưa của pháp điển này. Xưa nay Pháp điển Ma nô là mẫu mực về phép tắc sinh hoạt của người Ấn độ. Pháp điển của Phật giáo Miến điện (Dhammasaỉỉham), Pháp điển Thái lan, Pháp điển Indonesia xưa đều căn cứ theo Pháp điển Ma nô mà soạn khảo, đặc biệt đảo Bali thuộc Indonesia hiện nay vẫn còn ứng dụng luật Ma nô trong thực tế.
ma nô sa
Manusya or Manusa (skt)—Người—Man—Any rational being.
ma nô thị nhược
Manojna (skt)—Vừa ý—Attractive—At will—Agreeable to the mind.
ma nạp
Manavaka (skt). 1) Ma Nạp Bà—Ma Nạp Bà Ca—Ma Nạp Bà Phược Ca—Ma La Ma Na (naramana)—Một người trẻ Bà La Môn hay một thiếu niên—A Brahman youth—A youth—A man. 2) Tên của một loại áo cà sa cho Tăng Ni: Name of a robe for monks and nuns.
; (磨衲) Một loại ca sa may bằng lụa rất mịn, tương truyền do nước Cao Li sản xuất. Phẩm Tuyên chiếu trong Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 360 thượng), nói: Thâm cảm ân đức của Thầy, xin đê đầu đính lễ, đồng thời dâng tấm ca sa ma nạp và bát thủy tinh cúng dường. Còn theo bài tựa Ma Nạp Tán trong Đông Pha toàn tập, thì khi ngài Phật Ấn Liễu Nguyên đến kinh đô, vua nghe danh đức của ngài, ban cho chiếc áo ma nạp do nước Cao Li triều cống. Lại môn Chương phục trong Thiền lâm tượng khí tiên trích dẫn lời trong Kê lâm chí rằng, những vị tăng Cao Li mặc áo ma nạp là Thiền pháp sư, loại áo này rất mịn và đẹp.
ma nạp bà
(摩納婆) I. Ma Nạp Bà. Phạm: Mànava. Hán dịch: Thắng ngã. Là cái ngã (ta) thù thắng mầu nhiệm mà ngoại đạo Tì nữu thiên chấp rằng trong thân của mỗi hữu tình đều có. [X. kinh Hoa Nghiêm Q.19 (bản dịch mới); kinh Đại Bảo Tích Q.35; Đại Nhật Kinh Sớ Q.2]. II. Ma Nạp Bà. Phạm: Màịava hoặc Màịavaka. Cũng gọi Ma nạp phược ca, Ma nạp, Ma na bà. Hán dịch: Nho đồng, Thiếu niên, Nhân đồng tử, Niên thiếu, Niên thiếu tịnh hành, Tịnh trì.Tức là thanh thiếu niên, đặc biệt chỉ cho thanh thiếu niên Bà la môn. [X. Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.14; luật Ngũ phần Q.15].
ma nạp tiên
Manava (S), Manavaka (P)Nho đồng;Tên một vị tiên, tiền thân của Phật.
; Đức Phật Thích Ca Như Lai trong tiền kiếp khi còn đang ở địa vị cõi người—Sakyamuni in a previous incarnation.
; (摩納仙) Ma nạp, Phạm, Pàli: Màịava. Hán dịch: Nho đồng. Vị tiên trong thời quá khứ, là tiền thân của Phật Thích Ca. Khi còn ở địa vị tu nhân, đức Thích Ca Như Lai là tiên nhân Ma Nạp, lúc hết kiếp A tăng kì thứ 2 Ngài gặp đức Phật Nhiên Đăng ra đời, bấy giờ, tiên nhân Ma Nạp dâng 5 cành sen cúng dường đức Phật, đồng thời, trải tóc của mình lên chỗ bùn lầy để Phật bước qua; nhờ nhân duyên tinh tiến ấy mà tiên nhân Ma Nạp được thụ kí thành Phật trong đời vị lai, vượt qua 8 kiếp sinh tử trong bể khổ. [X. kinh Tâm địa quán Q.1].
ma nữ
The daughters of Màra, who tempt men to their ruin.
; Con gái thiên ma chuyên dụ dỗ và phá hại con người (nam giới)—The daughters of mara who tempt men to their ruin.
ma nữ ma đăng già
Matanga—Người đã dụ dỗ Ngài A Nan vào nhà—The one who lured Ananda into her home.
ma oán
Màra-enmity. Màra the enemy of Buddha.
; Ma quân, kẻ thù của Đức Phật—Mara enmity, the enemy of Buddha.
; (魔怨) Chỉ cho ác ma, vì ác ma thường gây ra những tai họa cho con người, nên bị loài người coi là oán địch. Kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa quyển 8 (Đại 8, 900 thượng), nói: An trụ bất động giống như kim cương, dùng gươm trí tuệ chém đầu giặc phiền não, phá tan lũ quân sinh tử, dẹp sạch bọn ma oán, gánh vác tất cả, khiến cho chúng sinh đều được giải thoát.[X. kinh Thuyết vô cấu xứng Q.2, 6].
ma phược
Hệ phược hay sự trói buộc của thiên ma—Mara-bonds (attachments).
; (魔縛) Không được tự do, vì bị vọng tưởng trong tâm và sự vật bên ngoài trói buộc. Kinh Đại niết bàn quyển 17 (bản Bắc) (Đại 12, 462 trung), nói: Bị trói buộc gọi là Ma phược, nếu không bị trói buộc thì thoát ra khỏi Ma phược. Ví như ở thế gian, kẻ có tội sẽ bị vua trói, còn người vô tội thì vua không thể trói.
ma phạm
Màra and Brahmà; i.e. Màra, lord of the sixth desire-heaven, and Brahmà, lord of the heaven of form.
; Mara and Brahma. 1) Ma vương, chủ cõi trời dục giới thứ sáu: Mara, lord of the sixth desire-heaven. 2) Ma phạm, chủ cõi trời sắc giới: Brahma, lord of the heavens of form.
; (魔梵) Từ chỉ chung cho Thiên ma ở tầng trời Tha hóa cõi Dục và Phạm thiên vương ở cõi Sắc. Câu xá luận kí quyển 3 (Đại 41, 61 thượng), nói: Ma chỉ cho Tha hóa tự tại thiên ma; Phạm chỉ cho Phạm vương.
ma phật
(魔佛) Chỉ cho Thiên ma và Phật, là nêu lên sự đối lập giữa cực ác và cực thiện. Ma ha chỉ quán quyển 8, hạ (Đại 46, 116 trung), nói: Cõi ma tức là cõi Phật, nhưng vì chúng sinh không biết nên mê mất cõi Phật mà lặn hụp trong cõi ma; ở trong bồ đề mà sinh ra phiền não.
ma phọc (phược)
Màra-cords; màra-bonds.
ma quang
Ánh sáng huyễn ảo của ma quân—Mara's delusive light.
ma quái
Ghost—Devil.
ma quân
Xem Ma ba tuần.
; The army of Màra.
; Quân ma, quân binh ma ác—The army of mara.
; (魔軍) Ma, Phạm:Màra. Gọi đủ: Ma la. Hán âm: Ma la. Cũng gọi Ác ma. Hán dịch: Sát giả, Chướng ngại. Quân lính của ác ma. Vì dùng quân để ví dụ thế lực của các ma nên gọi là Ma quân. Khi đức Phật sắp thành đạo, Ma vương và bọn thuộc hạ đến quấy nhiễu, gây chướng ngại, nhưng đều bị Ngài hàng phục và rút lui. Kinh Phật bản hạnh tập quyển 25 thì coi phiền não là Ma quân, bảo có 12 loại: Tham muốn, không vui vẻ, đói khát lạnh nóng, yêu thương đắm đuối, thích ngủ nghỉ, lo lắng sợ hãi, ngờ vực mê hoặc, giận dữ phẫn nộ, tranh giành danh lợi, ngu si không biết, tự kiêu tự đại và thường chê bai người khác. Trong các kinh luận Đại thừa ở thời kì sau cũng thấy có thuyết này, như luận Đại trí độ quyển 5 nói có 10 loại quân phiền não là: Ham muốn, lo buồn, đói khát, tình ái, ngủ nghỉ, sợ hãi, ngờ vực, tâm độc hại, thích tiếng tăm lợi lộc và khen mình chê người... Tóm lại, các kinh luận đều dùng các loại phiền não nói trên để ví dụ cho thế lực của bọn Ma quân và cho rằng Bồ tát nhờ đã hàng phục được bọn Ma quân này mà thành đạo.
ma quỉ
Devil, evil spirits.
ma quỷ
Ghosts and devils.
ma ra
See Ma.
ma sa
Mamsa (skt)—Thịt—Flesh.
ma sái
(磨灑) Phạm: Màwa. Pàli: Màsa. Cũng gọi Ma sa, Ma sa ca (Phạm: Màwaka,Pàli: Màsaka). Hán dịch: Tiền, Đồng tiền. Loại tiền tệ thông dụng ở Ấn độ vào thời cổ đại. Về giá trị thì 80 bối xỉ (Phạm: Kaparda) là 1 ma sái, 20 (hoặc 12, 16, 40) ma sái là 1 ca lợi sa bát na (Phạm: Kàwàpaịa). Theo sự qui định của Luật bộ, nếu tỉ khưu lấy trộm 5 (hoặc 3, 4, 10) ma sái (tức ¼ ca lợi sa bát na) trở lên thì phạm tội Ba la di, bị đuổi ra khỏi tăng đoàn. Tỉ lệ giữa ca lợi sa bát na và ma sái nói trên tùy theo thời đại và địa phương mà có khác nhau. Theo luật Tứ phần quyển 1, thì 1 ma sái tương đương với 1 tiền đời xưa của Trung quốc; như vậy, nếu lấy trộm 5 ma sái, số tiền rất nhỏ, mà phạm trọng cấm thì e rằng điều này có chỗ lầm lẫn. Bởi thế, trong Nhất thiết kinh âm nghĩa quyển 60, ngài Tuệ lâm đời Đường bác bỏ thuyết này và chỉ ra rằng, 1 ma sái tương đương với 80 tiền của Trung quốc, mà 5 ma sái thì tương đương với 400 tiền, chứ không phải 5 tiền. Ngoài ra, Màsa tức là loại đậu thúc mà tên khoa học là Phaseolus radiatus. Do đó suy ra thì 1 ma sái tương đương với giá trị của 1 hạt vàng to bằng hạt đậu thúc. [X. Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.2; Thiện kiến luật tì bà sa Q.8; luật Thập tụng Q.52; Câu xá luận bảo sớ Q.22; Huyền ứng âm nghĩa Q.21].
ma sư sơn
(摩師山) Phạm: Matsikasaịđa. Pàli: Macchikàsaịđa. Một đô thị ở Ấn độ đời xưa cách thành Xá vệ (Pàli: Sàvatthì) 30 do tuần. Đô thị này là nơi cư ngụ của Trưởng giả Chất đa (Pàli: Citta), 1 người nổi tiếng được nói đến trong kinh điển. Một hôm, Trưởng giả đến thành Xá vệ, nghe tỉ khưu Ma ha nam thuyết pháp mà chứng được quả Dự lưu. Sau, Trưởng giả cúng dường vườn cây ăn trái của mình để làm tinh xá cho ngài Ma ha nam. [X. kinh Tạp a hàm Q.21; phẩm Thanh văn trong kinh Tăng nhất a hàm Q.20; Pháp cú kinh chú thích 2].
ma sấn đà
(摩哂陀) Phạm: Mahendra. Pàli:Mahinda. Cũng gọi Ma hi nhân đà la. Vị Khai tổ của Phật giáo Tích Lan, người đời gọi là Tổ truyền luật thứ 6. Ngài là con của vua A Dục thuộc Vương Triều Khổng Tước ở Ấn Độ đời xưa. Ngài sinh ra tại Ô Xà Diễn Na (Phạm: Ujayana), thân mẫu là bà Đới Phỉ (Pàli: Devì), con gái của 1 thương gia giàu có ở làng Ti Địa Tả (Pàli:Vedisa) tại Tây bắc Ấn Độ. Năm 20 tuổi ngài xuất gia, thờ tôn giả Mục Kiền Liên tử đế tu (Pàli: Moggaliputta- Tissa) làm thầy, theo ngài Ma Ha Đề Bà thụ giới Sa Di và y vào ngài Mạt Xiển Đề thụ giới Cụ túc, thụ giới xong liền chứng được quả A La Hán. Vào thế kỉ thứ III trước Tây lịch, ngài vâng mệnh phụ vương, đến đảo Tích Lan truyền bá Phật giáo, được vua nước Tích Lan tôn sùng và bảo hộ. Ngài sáng lập đạo tràng Đại Tự (Pàli: Mahàvihàra) ở thủ đô A Nâu La Đà Bổ La (Phạm,Pàli:Anuràdhapura), hoằng truyền Bình đẳng tâm kinh (Pàli: Samacitta-suttanta), đồng thời, tạo lập động đá để kết hạ an cư, đặt nền tảng vững chắc cho Phật giáo Tích Lan sau này. Về sau, em gái của ngài là Tỉ Khưu Ni Tăng Già Mật Đa (Phạm: Saôghamitrà, Pàli: Saíghamittà) đem 1 cành cây Bồ đề từ nơi Đức Thích Tôn thành đạo đến trồng ở Tích Lan và truyền giới cho các Tỉ Khưu Ni Tích Lan. Ngài triệu tập đại hội Tỉ Khưu ở tháp Đổ Ba La Ni, chính thức thành lập Tăng đoàn Phật giáo, do Trưởng lão A Lợi Đa làm Thượng thủ, dùng tiếng Tích Lan để giảng diễn và chú thích Tam tạng Pàli. Hai anh em ngài chung sức hoằng dương Phật pháp trong hơn 30 năm. Ngài thị tịch tại Tháp Sơn (Pàli:Cetiyagiri) ở Tích Lan, thọ 60 tuổi. [X. luận Phân biệt công đức Q.2; Đại đường tây vực kí Q.11].
Ma Sẩn Đà
(s: Mahendra, p: Mahinda, 摩哂陀): còn gọi là Ma Hê Nhân Đà La (摩酼因陀羅), Mã Hân Đạt (馬欣達), vị khai tổ của Phật Giáo Tích Lan, thường được gọi là tổ truyền Luật thứ 6, con của A Dục Vương (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育王) thuộc vương triều Khổng Tước (s: Maurya, 孔雀), sanh tại Ujayana (鄔闍衍那, Ổ Xà Diễn Na, thuộc Ma Kiệt Đà [s, p: Magadha, 摩掲陀], tiểu bang Bihar ngày nay), miền tây bắc Ấn Độ; mẹ là Devī (戴蜚, Đới Phi), con gái của nhà phú thương Vedisa (卑地寫, Ty Địa Tả). Năm lên 20 tuổi, ông xuất gia, bái Mục Kiền Liên Tử Đế Tu (p: Moggaliputta Tissa, 目犍連子帝須) làm thầy, thọ Sa Di giới với Ma Ha Đề Bà (摩訶提婆), Cụ Túc giới với Mạt Xiển Đề (末闡提) và chứng đắc quả A La Hán. Vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, ông vâng mệnh cha đến Tích Lan truyền bá Phật Giáo. Tại đây, ông được vua Tích Lan đương thời là Devānaṃpiyatissa (天愛帝須, Thiên Ái Đế Tu) sùng kính và bảo hộ, xây dựng Đại Tự (p: Mahāvihāra, 大寺) ở thủ đô Anurādhapura để phổ biến Bình Đẳng Tâm Kinh (p: Samacitta-suttanta, 平等心經), và tạo hang đá để an cư kiết hạ, từ đó thành lập cơ sở cho Phật Giáo Tích Lan. Kế tiếp, tu viện Cetiyavihāra được thành lập ở Mihintale. Về sau, em gái Ma Sẩn Đà là Tỳ Kheo Ni Tăng Già Mật Đa (s: Saṃghamitrā, p: Saṅghamittā, 僧伽密多) mang nhánh cây Bồ Đề từ nơi đức Phật thành đạo sang trồng tại Tích Lan và truyền thọ giới pháp Tỳ Kheo Ni. Ông còn triệu tập Đại Hội Tỳ Kheo tại tháp Đỗ Ba La Mi (睹波羅糜), chính thức sáng lập tăng đoàn Phật Giáo đầu tiên của nước này do trưởng lão A Lợi Đa (p: Arittha, 阿利多) lãnh đạo, dùng ngôn ngữ địa phương để giảng giải Tam Tạng Thánh Điển Tiếng Pāli. Cả ông và em gái đều tận lực cống hiến cho Phật Giáo Tích Lan trong vòng hơn 30 năm, và cuối cùng qua đời ở độ tuổi 80, thọ hơn cả vua Devānaṃpiyatissa. Vua Uttiya, người kế thừa ngôi vị của anh mình, đã tổ chức tang lễ long trọng cho Ma Sẩn Đà và cho xây dựng một ngôi tháp tại Mihintale để an trí xá lợi của ông. Wapola Rahula, tu sĩ nổi tiếng của Tích Lan ở thế kỷ 20, có miêu tả Ma Sẩn Đà là “cha đẻ của nền văn học Tích Lan”, vì ông đã chuyển dịch và viết luận thư Tam Tạng bằng tiếng Tích Lan, chuyển ngôn ngữ kinh điển thành ngôn ngữ văn học. Ông còn được công nhận là người đưa văn hóa của đế quốc Khổng Tước vào quần đảo này.
ma sự
Màra-deeds, especially in hindrering Buddha-truth.
; 1) Việc ma: Demonic actions. 2) Việc làm của ác ma, gây chướng ngại cho đạo Phật: Mara-deeds, especially in hindering Buddha-truth.
; (魔事) Những hành vi tư tưởng làm chướng ngại việc tu hành và xa rời chính đạo. Kinh Ma nghịch (Đại15, 112 trung), nói: Có ý tưởng gây dựng sự nghiệp mà có tạo tác, đó là ma sự. Nếu để cho chí nguyện bị vướng mắc, bị cướp đoạt, đó là ma sự. Giả sử khởi tư tưởng tham dục, cầu mong, thì là ma sự. [X. Ma ha chỉ quán Q.4, hạ; Vạn thiện đồng qui tập Q.thượng].
ma sự cảnh
(魔事境) Cũng gọi Ma cảnh. Những cảnh tượng do Thiên ma phát khởi ra, để phá hoại người tu hành, là cảnh thứ 5 trong 10 cảnh, tương ứng với 10 quán pháp (Thập thừa quán pháp) do tông Thiên thai lập ra. Người tu hành sau khi quán xét 4 cảnh trước là ấm cảnh, phiền não cảnh, bệnh hoạn cảnh và nghiệp tướng cảnh, cũng vẫn chưa phá được hoặc chướng; còn Thiên ma thì sợ rằng nếu người tu hành phá hết hoặc chướng, cứu độ người khác thì dân ma của nó sẽ bị tổn thất. Hơn nữa, nếu người tu hành được đại thần thông, đại trí tuệ thì chắc chắn nó sẽ bị điều phục, khống chế, cho nên Thiên ma phát động nhiều thứ ma sự để phá hoại người tu hành. Trong trường hợp ấy, trước hết người tu hành nên quán xét và quở trách nó, không để cho nó xâm nhập; kế đến quán xét thân tâm mình từ đầu đến chân đều hư giả, khiến cho ma không có chỗ bám víu; quán xét 3 lần như thế mà ma vẫn không chịu bỏ đi, thì phải lấy cái chết làm kì hạn, nhất tâm quán tưởng, khiến đạo hạnh được thành tựu. [X. Ma ha chỉ quán Q.5 thượng].
ma tam cân
(麻三斤) Ba cân gai. Gọi đủ: Động sơn ma tam cân. Cũng gọi: Đáp ma tam cân, Ma tam cân thoại, Động sơn Phật ma tam cân. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này ghi lại cuộc vấn đáp giữa Thiền sư Động sơn Thủ sơ đầu đời Tống với 1 vị tăng. Tắc 12, Bích nham lục (Đại 48, 152 hạ), chép: Tăng hỏi Động sơn: Thế nào là Phật? Sơn đáp: Ba cân gai. [X. tắc 18 trong Thiền tông Vô môn quan; Liên đăng hội yếu Q.26; Ngũ đăng hội nguyên Q.15].
ma thiên
Màra-deva (S). The god of lust, sin and death.
; Mara-deva (skt)—Thiên ma trên đỉnh dục giới—The god of lust, sin, and death. ** For more information, please see Tha Hóa Tự Tại Thiên.
; (魔天) Chỉ cho cõi trời Tha hóa tự tại, là tầng trời thứ 6, cao nhất trong cõi Dục, cũng là chỗ ở của Thiên ma, cho nên gọi là Ma thiên. [X. luận Đại trí độ Q.56].
ma thiền
Màra-dhyàna (S). Evil thoughts, wrong and harmful meditation.
; Mara-dhyana (skt)—Những tư tưởng ác độc hay loạn động khởi lên trong lúc thiền hay tu thiền định để hành động tà vạy như sai khiến quỷ thần—Evil or distracted thoughts arise during meditation—Wrong and harmful meditation.
; (魔禪) Cũng gọi Tà thiền. Tu thiền định nhằm mục đích sai khiến quỉ thần, trái với chính lí, làm hại chính đạo, gọi là Ma thiền. Ma ha chỉ quán quyển 8, hạ (Đại 46, 116 hạ), nói: Tu theo ma tinh tiến, vì mong được nổi tiếng, thì chỉ chứng đắc Ma thiền, mê nơi quỉ pháp, vui với ma tuệ, sa vào lưới kiến chấp phân biệt.
ma thuật
Magic, wizardry; black magic, the black art; witchcraft, sorcery.
; Magic.
ma thâu
Madhu (skt). 1) Ngọt: Sweet. 2) Một loại nước có chất làm say: An intoxicating liquor.
ma thâu la
Xem Đa ma thâu.
; Mathura or Madhura (skt)—Ma Độ La—Ma Đột La—Ma Đầu La—Một vương quốc cổ (tên hiện đại là Muttra) nằm bên bờ sông Jumna, một trong bảy Thánh thành, gọi là Khổng Tước Thành, nổi tiếng với những tháp trong thành—An ancient kingdom and city, the modern Muttra on the bank of Jumna; the reputed birthplace of Krsna, one of the seven sacred cities, called Peacock City (Krsna-pura) famous for its stupas.
ma thẩn đà
Mahindra (S), Mahinda (P), Mahendra (S)Vua A Dục phái con trai là Ma thẩn đà làm trưởng đoàn tỳ kheo, con gái là Tăng già mật đa làm trưởng đoàn tỳ kheo ni qua Tích lan hoằng pháp. Sư cô Tăng già mật đa có công đem một cành bồ đề từ bồ đề đạo tràng nơi Phật thành đạo về Tích lan để trồng. Ma thẩn đà là khai tổ Phật giáo Tích lan.
; Mahindra (skt)—Mahinda (p)—Con trai của vua A Dục, có tội với nhà vua nhưng về sau tu chứng quả A La hán, người ta nói ông nổi tiếng như là vị sáng lập nền Phật Giáo ở Tích Lan, khoảng 200 năm sau ngày Đức Phật nhập Niết Bàn. Theo Tích Lan Đại Thống Sử, vua A Dục muốn phát triển Phật Giáo thành một tôn giáo của thế giới nên ngài đã phái con trai của Ngài là Ma Thẩn Đà làm trưởng đoàn Truyền Giáo Tích Lan vào khoảng năm 250 trước Tây Lịch. Ma Thẩn Đà đã độ cho vua Tissa, và được nhà vua cấp cho một khoảng đất để xây ngôi “Đại Tịnh Xá. Một nhánh cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng cũng được mang sang trồng ở Tích Lan, đến nay hãy còn xanh tươi. Trong một thời gian ngắn, các giáo đoàn được thành lập. Hiện nay Tích Lan là địa cứ của Phật Giáo Nguyên Thủy—Son of the Indian King Asoka, on repenting of his dissolute life, became an arhat, and is said to be reputed as founder of Buddhism in Ceylon, around 200 years after the Buddha's Nirvana. According to The Ceylon Mahavansa, King Asoka sought to expand Buddhism from the region around Magadha into a “world” religion. As such, he sent his son Mahinda to Sri Lanka in hopes of establishing the Dharma on the island. Mahinda converted the King, Devanampiya Tissa, and received a site on the island to build a monastery. This site eventually developed into a Mahavihara or “Great Monastery.” A branch of the Bodhi Tree was brought from Bodhgaya and planted in Sri Lanka as well, and it is still living well at this time. In a short time, a valid ordination lineage for monks was established, and the religion began to grow on the island, remaining today as a stronghold of Theravada Buddhism.
ma thẩn đà trưởng lão
Mahinda (P), Mahendra (S)Xem Mahindra.
ma triền
Xem ma phọc.
ma trá
(麽咤) Cũng gọi Biến thị, Biến quán, Chiêm thị, Biến thị ma tra, Biến thị chiêm đổ. Là ấn tướng và chân ngôn thành tựu do tịnh nhãn của định tuệ nhật nguyệt, mà hành giả Chân ngôn Mật giáo sử dụng khi vào đạo tràng. Chữ (ma) là chủng tử của nguyệt (mặt trăng), tượng trưng cho Tuệ; chữ (ỉha, Hán âm: Tra) là chủng tử của nhật (mặt trời), tượng trưng cho Định. Khi hành giả Chân ngôn vào đạo tràng thì mắt phải quán chữ Ma, mắt trái quán chữ Tra, rồi quán tưởng chữ Ma biến thành mặt trăng, chữ Tra biến thành mặt trời, nhờ tịnh nhãn (con mắt trong sạch) của định tuệ này mà thành tựu ấn tướng và chân ngôn. Tịnh nhãn này có 2 công dụng là thấy Phật và trừ chướng; vì thế, khi hành giả dùng 2 con mắt định tuệ này mà quan sát đạo tràng thì các ma đều tiêu tan và chư tôn thì đều hiển hiện. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Liên hoa bộ tâm quĩ; Lí thú hội quĩ; Kim cương giới phát tuệ sao Q.thượng].
ma trơi
Jack-o'-lantern.
ma trất lí chế tra
(ma trất lí chế tra) Phạm: Màtfceỉa. Danh tăng kiêm học giả Phật giáo, người Trung Ấn độ sống vào khoảng cuối thế kỉ II đến thế kỉ III. Cứ theo Đa la na tha Phật giáo sử và điều Tán vịnh chi lễ trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4, thì sư vốn tin thờ trời Đại tự tại (Phạm: Mahezvara) của Bà la môn giáo, tính kiêu căng và thích tranh luận. Sau, nhân nằm mộng được Thánh đa la mẫu (Tạng: Sgrol-ma) thụ kí, sư mới hối hận những việc làm sai trái trước kia, nên qui y Phật giáo và xuất gia. Sư sáng tác nhiều bài thơ bằng tiếng Phạm tán thán vô lượng trí đức của Phật, trình bày hạnh lục độ và công đức thù thắng của đức Thế tôn với lời văn trong sáng đẹp đẽ. Các bồ tát Vô trước, Thế thân khi đọc các bài tán này cũng khen ngợi hết lời. Những thi phẩm của sư về sau không những chỉ lưu truyền ở Ấn độ, mà còn được thịnh hành ở các nước Trung á, Trung quốc, Nhật bản v.v... và rất được tín đồ Phật giáo ưa thích. Ngoài ra, ở Tây tạng có thuyết cho rằng sư và bồ tát Mã minh là cùng một người. Các tác phẩm của sư gồm có: Tứ bách tán, Nhất bách ngũ thập tán, Tam bảo cát tường tán, Đẳng chính giác giả danh tán, Tam thập ngũ thiện thệ danh bảo nghiêm sức, Thánh đa la mẫu tán...[X. Nam hải kí qui nội pháp truyện giải lãm sao Q.4, phần 1].
ma túy
Narcotic.
ma tẩy
Masa (skt)—Một tháng—A month.
; (ma tẩy) Phạm: Màsa. Hán dịch: Nguyệt. Nghĩa là tháng. Theo lịch pháp Ấn độ, từ ngày 16 âm lịch đến ngày 15 tháng sau là 1 tháng; từ ngày đầu tháng (mồng 1) đến ngày cuối cùng của nửa tháng trước (ngày 15) là lúc mặt trăng tròn, cho đến dần dần khuyết đi và cuối cùng mất hẳn, gọi là Hắc phần (phần đen); từ khi mặt trăng bắt đầu xuất hiện đến lúc tròn gọi là Bạch phần (phần trắng).
ma viện
(磨院) Cũng gọi Ma ti, Ma hạ, Đôi phòng. Nhà dùng để giã gạo xay thóc trong thiền lâm.Vị tăng trông coi Ma viện gọi là Ma đầu. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
ma võng
The net of Màra.
; Lưới ma—The net of mara.
; (魔網) Lưới ma. Chỉ cho những thứ nghiệp tà ác do ma tạo tác, chúng giống như tấm lưới bao trùm khó thoát ra được. Tức là chúng sinh bị các ma phiền não, Thiên ma mê hoặc, trói buộc, cũng như chim, cá bị mắc trong lưới khó gỡ ra được. Luận Đại trí độ quyển 8 (Đại 25, 118 thượng), nói: Có niệm thì rơi vào lưới ma, không niệm thì thoát ra được.
Ma vương
魔王; S, P: māra; nguyên nghĩa là »kẻ phá huỷ«; |Hiện thân của thần chết, tượng trưng cho kẻ ngăn cản con người muốn Giác ngộ, muốn tạo Thiện (s: kuśala) nghiệp, muốn tiến bộ trên đường giác ngộ. Ma vương được xem là vua của tầng trời thứ sáu của dục giới (Tha hoá tự tại thiên, Ba thế giới, Thiên). Hình tượng của Ma vương được vẽ có trăm cánh tay, cưỡi voi.|Tương truyền lúc Phật Thích-ca sắp thành đạo, Ma vương tìm cách ngăn cản, không cho Ngài chuyển bánh xe pháp. Trước hết Ma vương hiện hàng trăm ngàn ma quỷ để trấn áp nhưng Ngài không sợ hãi, bất động. Sau đó Ma vương cho các ái nữ đẹp nhất tìm cách khuyến dụ nhưng dưới mắt Phật các nàng đó biến thành các con người xấu ác. Cuối cùng Ma vương đành khuất phục.
ma vương
The king of màras, the lord of the sixth heaven of the desire-realm.
; Mara-raja (skt)—Ma vương , chủ cõi trời dục giới thứ sáu, hay cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Tất cả những danh từ dùng cho Ma vương đều tiêu biểu cho dục vọng đã quấn lấy chúng sanh làm cản trở cho sự khởi phát thiện nghiệp và tiến bộ trên đường cứu độ và đại giác—The king of maras, the lord of the sixth heaven of the desire-realm, or the Lord of the Paranirmita-vasavartin. All the terms for “Mara-raja” represent Satan, or Mara, the personification of evil and temper of man. Mara-raja also means the Evil One, the Temper, the God of Lust, or Sins. All of the above symbolize the passions that overwhelmed human beings as well as everything that hinders the arising of the wholesome roots and progress on the path of salvation and enlightenment. ** For more information, please see Mara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (魔王) Vua trong các thiên ma, tức là chủ cõi trời Tha hóa tự tại của cõi Dục, tên là Ba tuần, thường cầm đầu các quyến thuộc gây trở ngại cho người tu hành đạo Phật. Cứ theo kinh Lăng nghiêm quyển 6 chép, nếu người không dứt được dâm dục, thì chắc sẽ rơi vào đường ma, thượng phẩm là Ma vương, trung phẩm là ma dân, hạ phẩm là ma nữ. Nhưng nói theo pháp môn Đại thừa thì Ma vương thực ra là bậc Bồ tát ở địa vị cao thâm, dùng sức đại phương tiện mà thị hiện ra, nhằm mục đích giáo hóa chúng sinh. Có thuyết cho rằng trên từng trời thứ 6 có cung điện riêng của ma, Ma vương ở đó, chứ không phải là chủ cõi trời Tha hóa tự tại. [X. phẩm Bất tư nghị trong kinh Duy ma cật sở thuyết Q.trung].
ma yết đà
Xem Ma kiệt đà.
ma yết đà quốc
(摩揭陀國) Ma yết đà, Phạm;Pàli: Magadha. Cũng gọi Ma già đà quốc, Ma kiệt đà quốc, Ma kiệt đề quốc, Mặc kiệt đà quốc, Mặc kiệt đề quốc, Ma ha đà quốc. Hán dịch: Vô hại quốc, Bất ác xứ quốc, Trí cam lộ xứ quốc, Thiện thắng quốc. Tên 1 nước xưa ở Trung Ấn độ, là 1 trong 16 nước lớn ở thời đức Phật còn tại thế, lấy thành Hoa thị (Patna ngày nay) và Phật đà già đa làm trung tâm, có quan hệ rất thâm thiết với Phật giáo. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 8 chép, thì nước Ma yết đà chu vi hơn 5 nghìn dặm, đất đai phì nhiêu, phong tục thuần phác, sùng kính Phật pháp, có hơn 50 ngôi chùa với hơn 1 vạn chư tăng, phần nhiều tu học giáo pháp Đại thừa; còn có vài mươi đền thờ trời, ngoại đạo cũng nhiều. Ở khu vực phụ cận thành Hoa thị còn có những di tích nổi tiếng của Phật giáo như: tháp A dục vương, phiến đá có lốt chân của Phật, nền cũ chùa Kê viên, nơi đức Phật tu khổ hạnh, nơi 3 anh em ngài Ca diếp qui Phật v.v... Vua Tần bà sa la xây dựng thành Vương xá mới (nay là Rajgir) ở phía bắc cố đô và qui y đức Phật. Từ đó về sau, thành Vương xá là nơi đức Phật thườngthuyết pháp. Đến vua A dục đời thứ 3 của Vương triều Khổng tước–thống nhất toàn cõi Ấn độ, thế nước hưng thịnh, vua phái các sư đi khắp nơi cả trong nước và hải ngoại, để truyền bá Phật giáo, xây cấtchùa tháp, tạo dựng trụ đá, làm cho Phật giáo cực thịnh 1 thời. Sang triều đại Cấpđa ở thế kỉ IV, Phật giáo cũng rất hưng thịnh. Vua Đế nhật sáng lập chùa Na lan đà vào đầu thế kỉ thứ V, là trung tâm của Phật giáo Ấn độ đương thời. Đến thế kỉ VII, Vương triều Cấp đa suy vong thì Phật giáo cũng bắt đầu suy vi. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.thượng, phần 1; Huyền ứng âm nghĩa Q.1,21; Tuệ uyển âm nghĩa Q.1].
ma ái dục
Demons of sexual lust.
ma ám
To be possessed by the evil.
ma ê nhân đà la
Mahendra (skt)—Se Ma Ha Thẩn Đà La.
ma ê xa sa ca
Mahisasakah (skt)—Lưu Phái hay Bộ Hóa Địa trong 18 bộ Tiểu Thừa—One of the eighteen subdivisions of the Sarvastivadah school.
ma đa
Matr (skt). 1) Mẹ: Mother. 2) Người thợ: A maker—A former. 3) Người đo lường: A measurer.
ma đa la ca
Xem Bản mẫu tạng.
ma đa la thần
(摩多羅神) Cũng gọi Ma đát la, Ma đô la. Vị thần thủ hộ Thường Hành Tam Muội Đường ở chùa Diên Lịch tại Nhật Bản, cũng là Bản Tôn của đàn Huyền chỉ qui mệnh. Về nguồn gốc của vị thần này không được rõ. Nhưng theo truyền thuyết thì là vị thần mà vị Đại sư Từ Giác Viên Nhân thuộc tông Thiên Thai, Nhật Bản cảm được khi ngài đáp thuyền trên đường từ Trung Quốc trở về Nhật Bản. Người tu niệm Phật lúc sắp mệnh chung được vị thần này giữ gìn che chở, giúp cho được chính niệm vãng sinh. Về hình tượng, vị thần này đầu chít khăn kiểu đời Đường, Trung Quốc, mình mặc áo thợ săn kiểu Nhật Bản, 2 tay đánh trống; 2 đồng tử hầu 2 bên, đầu đội mũ phong chiết màu đen, tay cầm búp lá sen với tư thế đang nhảy múa, trong áng mây trên đỉnh có vẽ 7 ngôi sao Bắc đẩu. [X. Ma Đát Lợi Thần Kí; Nhật Bản Thiên Thai Sử Biệt Sách; Ma Đa La Thần Khảo (Đông Dương Triết Học 26, phần 12].
ma đa lợi thủ
(摩多利首) Phạm:Màtarizvan. Tên vị thần được nói đến trong kinh Lê Câu Phệ Đà của Bà La Môn Giáo Ấn Độ. Theo truyền thuyết thần thoại của Bà La Môn Giáo thì vị thần này ở trong hư không, phát hiện được lửa ẩn giấu và dùng phương pháp ma sát mà lấy được lửa từ trên trời, rồi giao lại cho tiên nhân Ba Lợi Hỗ (Phạm: Bhfgu). Vì vị thần này là vị đầu tiên lấy lửa từ nơi thiên thần cung cấp cho loài người, nên cũng được gọi là thần lửa.
ma đa thể văn
(摩多體文) Từ ngữ gọi chung các mẫu tự Tất đàm. Ma đa là phiên âm của chữ Phạm: Màtfkà, nghĩa là nguyên âm, có tất cả 16 chữ, được chia làm 2 phần: 1. Mười hai âm (cũng gọi 12 vần): Từ chữ (a) đến (a#). 2. Nguyên âm riêng: Gồm 4 âm, từ chữ (f) trở xuống, tính chất khác với những chữ trước. Thể văn là Hán dịch từ tiếng Phạm Vyaĩjana, tức là phụ âm, có tất cả 35 chữ, cũng được chia làm 2 phần: 1. Năm loại thanh: Gồm 25 âm. Năm loại thanh này chỉ cho 5 âm: Cổ họng, hàm ếch, lưỡi, răng và môi, gồm các chữ từ (ka) trở xuống đến chữ (ma). 2. Thanh biến khẩu, cũng gọi Thanh mãn khẩu: Gồm 10 chữ từ chữ (ya) trở xuống. Ma đa (nguyên âm) và Thể văn (phụ âm) cùng với chữ Hán dịch của chúng có nói trong phẩm Thích Tự Mẫu của kinh Du Già Kim Cương Đính do ngài Bất Không dịch vào đời Đường.[X. kinh Đại Bát Niết Bàn Q.8 (bản Bắc); phẩm Thị Thư trong kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm Q.4; Đại Bát Niết Bàn kinh Nghĩa Kí Q.4; Tất Đàm Tự Kí; Tất Đàm Tạng Q.5; Đại Đường Tây Vực Kí Q.2]. (xt. Tất Đàm).
ma đà na quả
(摩陀那果) Ma đà na, Phạm, Pàli: Madana. Cũng gọi Mạt đạt na, Ma đạt na, Ma đà la. Hán dịch: Túy nhân quả. Tên khoa học: Datura metel. Một loại thực vật thuộc họ cà, quả nó ăn vào có thể làm cho người ta say. Loại cây này phần nhiều mọc ở vùng cao nguyên miền Tây Ấn Độ, vỏ và nhựa cây đều có chất độc, có thể dùng làm thuốc. Tuệ Lâm Âm Nghĩa quyển 18 (Đại 54, 419 hạ), nói: Quả Mạt đạt na là tên quả ở các nước Tây Vực, Trung Quốc không có loại quả này. Quả to bằng quả cau. Vì ăn vào khiến người ta say nên cũng gọi là Túy nhân quả (quả làm người say). Có thể được dùng làm thuốc. [X. kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhã Ba La Mật Q.7; Phiên Phạm Ngữ Q.10; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.23].
ma đàn
Màra-gifts, in contrast of those of Buddha.
; Mara-gifts, in contrast with those of Buddha.
; (魔檀) Đối lại: Phật đàn. Nghĩa là làm việc bố thí (đàn) mà phương hại cho chính đạo thì đó là hạnh bố thí của ma. Tâm có phiền não nhiễu loạn mà làm việc bố thí, hoặc vì mong cầu quả báo trong 3 cõi mà bố thí thì đều gọi là Ma đàn. Luận Đại trí độ quyển 12 (Đại 25, 145 trung), nói: Đàn có 2 loại: Ma đàn và Phật đàn. Nếu bị giặc phiền não xâm đoạt, lo buồn sợ hãi mà bố thí thì đó là Ma đàn (...). Nếu có tâm thanh tịnh mà bố thí, Ma Đa Thể Văn không có giặc phiền não, không có gì sợ hãi, được đến Phật đạo, thì đó là Phật đàn. [X. Ma Ha Chỉ Quán Q.8 hạ].
ma đát lí ca
Xem Bản mẫu tạng.
; (摩呾理迦) Phạm: Màtfkà. Pàli: Màtikà. Cũng gọi Ma trất lí ca, Ma đế lợi ca, Ma đắc lạc già, Ma di. Hán dịch: Mẫu, Bản mẫu, Trí mẫu, Hành mẫu, Luận mẫu, Hành cảnh giới. Danh từ gọi chung cho Ưu Ba Đề Xá trong 12 thể tài kinh và A Tì Đạt Ma Tạng trong Tam Tạng là bộ phận chuyên nghiên cứu và phân tích kĩ tính tướng của các pháp để làm cho giáo nghĩa chân chính của Phật giáo sáng tỏ. Cứ theo luận Du Già Sư Địa quyển 81, thì trong các kinh, bộ phận mà Đức Thế Tôn phân biệt tính tướng của các pháp, rồi giải thích rõ ràng thấu đáo ý nghĩa của chúng, thì gọi là Ma đát lí ca. Còn những tác phẩm trong đó các bậc Thánh đệ tử tường thuật việc các Ngài chứng đắc Đế lí và luận giải rõ ràng về tính tướng các pháp, thì gọi là A tì đạt ma tạng (Luận tạng), cũng gọi Ma đát lí ca. Huyền ứng Âm Nghĩa quyển 16, 23 cho rằng vì Ma đát lí ca có năng lực sinh ra trí và hành nên dịch là Mẫu (mẹ). Du Già Luận Kí quyển 5, thượng (Đại 42, 403 trung), nói: Ma đát lí ca, Hán dịch là Bản mẫu, tức là tập hợp ý nghĩa các kinh để bàn giải rõ ràng, làm phát sinh nghĩa đặc biệt trong các kinh, vì thế gọi là Bản mẫu. Ngoài ra, trong các luận thư của Phật giáo Nam Truyền, phần đặt ở đầu bộ luận, hoặc ở đầu chương để nêu rõ cương yếu, cũng gọi là Ma đát lí ca. [X. luật Ma Ha Tăng Kì Q.13; luận Du Già Sư Địa Q.85; luận A Tì Đạt Ma Thuận Chính Lí Q.44; Đại thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương Q.2]. (xt. A Tì Đạt Ma, Ưu Ba Đề Xá).
ma đát lý
Matr (skt)—Mẹ—Mother.
ma đát lạt đa
Xem Duy thức.
ma đăng già
Mātaṅga (S)Tên một dâm nữ thành Xá vệ nước Câu tát la, dùng chú ngoại đạo bắt ông A Nan lúc ông đi khất thực, nhờ Phật đọc Phật Đảnh thần chú và ngài Văn Thù phụng chú đi cứu giải đưa cả hai về. Sau đó Ma đăng già thọ giới xuất gia làm tỳ kheo ni, về sau đắc A la hán.
; Màtangi (S). The low caste woman who inveigled Ananda.
; Matanga (skt). 1) Giai cấp thấp nhứt—The lowest caste. 2) Tên của một phụ nữ trong giai cấp thấp đã dụ dỗ ngài A Nan. Sau nầy trở thành một trong những đệ tử trung thành của Phật: Name of the low-caste woman who inveigled Ananda. Later she became one of the most devoted disciples of the Buddha.
; (摩登伽) Phạm, Pàli: Màtaíga. Cũng gọi Ma đặng già. Gọi tắt: Ma trừng. Hán dịch: Hữu chí, Kiêu dật, Ác tác nghiệp. Từ gọi chung những người đàn ông thuộc giai cấp tiện dân ở Ấn Độ. Trái lại, những người đàn bà tiện dân thì gọi là Ma đăng kì (Phạm, Pàli: Màtaígi). Du Già Luận Kí Q.23 thượng (Đại 42, 829 hạ), nói: Ma đăng kì tức là những tiện dân đàn bà, còn những tiện dân đàn ông thì gọi là Ma đăng già, đây là 2 danh từ chung. Những người đàn bà này chỉ sống bằng nghề quét rác. Trong kinh Đại Phật Đính Thủ Lăng Nghiêm quyển 1, có chép truyện 1 Ma Đăng Già Nữ tên là Bát Cát Đế, từng dụ dỗ ngài A Nan; dâm nữ này xuất thân từ chủng tộc Chiên Đà La, là giai cấp tiện dân thấp nhất. [X. Nhị Thập Duy Thức Thuật Kí Q.hạ; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.22].
ma đăng già a lan nhã
Matanga-aranyakah (skt)—Một trong ba xứ A Lan Nhã, trụ xứ thứ nhì của Tỷ Kheo, trong những nghĩa địa, cách xa thôn xóm một khoảng 3.000 bộ—One of the three Aranyakah, the second class of hermits (probably called after the lowest caste), living in cemeteries, at a distance of 3,000 feet from a village.
ma đăng già chú
Chú Ma Đăng Già làm lễ với máu—The Matanga spell which is performed with blood.
ma đăng già kinh
Mātaṅga sŪtra (S)Ma đặng nữ KinhTên một bộ kinh.
; Kinh Ma Đăng Già nói về việc Đức Phật độ cho cô gái Ma Đăng Già và nói về tinh tú—A sutra on Matangi, and on the stars, two books.
ma đăng già tiên nhân
(摩蹬伽仙人) Cũng gọi Mạt đăng già tiên nhân. Vị tiên tu thiền định trong rừng núi ở thời quá khứ. Cứ theo Duy Thức Nhị Thập Luận Thập Kí quyển hạ, thì thưở xưa có tiên nhân Ma đăng già, hình dáng rất xấu xí, tu được 5 thứ thần thông, thường ngồi thiền định trong núi. Bấy giờ, có 1 dâm nữ được vua yêu quí, nhưng vì xúc phạm nhà vua nên bị đuổi. Dâm nữ đi vào trong núi, thấy tiên nhân xấu xí, cho vị tiên nhân là điềm chẳng lành, lại nghĩ mình bị vua đuổi cũng là chẳng lành, nếu trả lại điềm chẳng lành này thì chắc sẽ được tốt lành. Nghĩ rồi, dâm nữ liền sai thị tì lấy nước phân dội lên mình tiên nhân, vị tiên nhẫn chịu, không hề có ý sân hận, ngay lúc ấy có vị đệ tử Bà La Môn tắm giặt cho tiên nhân, còn dâm nữ kia hôm sau lại được vua yêu dấu. Không bao lâu, vị Quốc sư cũng có việc buồn rầu, dâm nữ kia liền nói với Quốc sư là nếu trả lại việc chẳng lành cho tiên nhân thì sẽ có được điều tốt lành. Quốc sư làm theo lời nàng, đem nước phân dội lên người tiên, vị tiên nhân lại nhẫn chịu, người đệ tử Bà La Môn cũng lại tắm giặt cho tiên nhân, sau đó Quốc sư được điều tốt lành. Về sau, nhà vua muốn xâm lăng nước khác, Quốc sư khuyên vua, nếu đem điều chẳng lành đến cho vị tiên nhân thì chắc chắn được việc tốt lành. Nhà vua liền đi vào núi, dội nước phân lên đầu tiên nhân, rồi về cất quân chinh phạt nước khác, quả nhiên thắng lợi. Từ đó, hễ gặp việc trái ý, vua lại sai người dội nước phân lên mình tiên nhân. Và cũng từ đó, tiên nhân không còn nhẫn chịu được nữa, tâm sinh sân hận, bèn hóa phép tuôn mưa đá xuống, người trong nước đều chết hết, chỉ có người đệ tử Bà La Môn thường chăm sóc, hầu hạ tiên nhân là may mắn được sống sót, trong giây lát, cả nước biến thành rừng núi, gọi là rừng Ma đăng già.
ma đăng kỳ
Matangi (skt)—See Ma Đăng Già.
ma đạo
The màra path or way, i.e. one of the six destinies.
; Black (mara) path or way. ** For more information, please see Ma Giới.
; (魔道) Cũng gọi Ma la đạo. Chỉ cho hành vi của ác ma, hoặc thế giới của ác ma. Kinh Lăng Nghiêm quyển 6 (Đại 19, 131 hạ), nói: Cho dù có đa trí và thiền định hiện tiền mà không đoạn dâm thì chắc chắn cũng sẽ rơi vào Ma đạo.
ma đạt quốc
(摩達國) Ma đạt, Phạm: Madra, Pàli: Madda. Tên 1 vương quốc ở Ấn Độ cổ đại, thủ đô là Sa Kiệt La (Pàli:Sàgala). Cứ theo Trưởng Lão Ni Kệ Kinh Chú (Pàli: Thìg. A.), thì có 1 vị Tỉ Khưu Ni, dòng dõi vua chúa, tên là Sấm Ma (Pàli: Khemà) sinh ở Sa Kiệt La tại nước Ma Yết Đà (Phạm, Pàli: Magadha). Nhưng theo kinh Thí Dụ (Pàli: Apadàna), được dẫn dụ trong bản chú này thì vì có câu Tại Sa Kiệt La của nước Ma Đạt nên có thuyết suy đoán rằng nước Ma Đạt là 1 nước dưới quyền bảo hộ của nước Ma Yết Đà.
ma đầu
(磨頭) Cũng gọi Ma chủ. Chức vụ vị tăng trông nom nhà giã gạo trong Thiền Lâm. Điều liệt chức tạp vụ trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Qui quyển 4 (Đại 48, 1133 thượng), nói: Ma chủ đứng đầu nhà giã gạo, là chức vụ quan trọng đối với việc cung cấp gạo và mì cho đại chúng, phải chọn người có đạo tâm, am hiểu công việc xay giã để giữ chức này. [X. Điều Ma Đầu Viên Đầu Trang Chủ giải Viện Chủ Trong Thiền Uyển Thanh Qui Q.4; Môn Chức Vị Trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên].
ma đầu cưu la sơn
(摩頭鳩羅山) Ma đầu cưu la, Phạm, Pàli:Madhukula. Hán dịch: Mật chủng sơn. Núi ở nước Ma Yết Đà (Phạm, Pàli: Magadha) thuộc Trung Ấn Độ. Thưở xưa, khi Đức Thế Tôn giáo hóa Ca Diếp, được 1 chiếc áo phẫn tảo trong rừng, bấy giờ trời Đế Thích biết Đức Thế Tôn muốn giặt chiếc áo ấy, liền đến núi Ma Đầu Cưu La, mang về 1 tảng đá lớn và đặt ở bên bờ ao, để tiện cho việc Đức Thế Tôn giặt áo. [X. luật Tứ Phần quyển 11, 33; Phiên Phạm Ngữ Q.9].
Ma đầu 摩頭
[ja] マトウ matō ||| The madhuka--a kind of plant. (s: madhuka) => Một loại thực vật.
ma đằng già
Màtanga (S). Human being, low caste, elephant.
ma đằng, ca diếp ma đằng
Màtanga, Kasyapa Màtanga (S). Name.
ma đặc ma địa ngục
Xem hoa sen.
ma đặng nữ kinh
Xem Ma đăng già Kinh.
ma đề
Mati (skt)—Hiểu—Understanding.
ma đỉnh
To lay the hand on the top of the head, a custom of Buddha in teaching his disciples.
; Để tay lên đầu, một thói quen mà Phật hay dùng để dạy đệ tử, có lẽ những chấm đốt trên đầu chúng Tăng cũng bắt nguồn từ đó—To lay the hand on the top of the head, a custom of Buddha in teaching his disciples, from which the burning of the spots on the head of a monk is said to have originated.
; (摩頂) Đức Phật dùng tay xoa đỉnh đầu các vị đệ tử để phó chúc Đại pháp hoặc thụ kí việc thành Phật trong vị lai. Phẩm Chúc Lụy trong kinh Pháp Hoa (Đại 9, 52 hạ), nói: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ tòa ngồi đứng dậy, hiện đại thần lực, đưa tay phải xoa đỉnh đầu của vô lượng Đại Bồ tát. Truyền Pháp Thất Nội Mật Thị Văn Kí cũng chép, Đức Phật nhỏ 3 giọt nước của 4 biển lớn trên đỉnh đầu ngài Ca Diếp, rồi xoa đầu mà phó chúc Đại pháp.
ma độ la
Mathurà (S). Modern Mutra.
; Mathura or Mutra (skt)—See Ma Thâu La.
ma đức lặc già
Xem Bản mẫu tạng.
Ma 摩
[ja] マ ma ||| (1) To polish. (2) To touch, feel. (3) Draw near, come close. (4) decrease, diminish, disappear. (5) Transliteration for the Sanskrit and Pali sound ma. => 1. Đánh bóng, làm cho láng. 2. Xúc chạm, cảm giác. 3. Kéo gần, đến sát. 4. Giảm bớt, thu nhỏ, biến mất. 5. Chuyển âm cho mẫu tự Ma trong tiếng Sanskrit và Pali.
Ma 磨
Ma[ja] マ ma ||| (1) To polish (a jewel, mirror, etc.) (2) To polish one's character or learning. => 1. Đánh bóng ( ngọc, gương). 2. Trau dồi khí chất và kiến thức.
Ma-da
hoàng hậu của vua Tịnh Phạn, phiên âm từ tiếng Phạn là Mahmy, gọi đủ là Phu nhân Ma-ha Ma-da. Bà là người sanh ra thái tử Tất-đạt-đa.
Ma-da phu nhân 摩耶夫人
[ja] マヤフジン Maya fujin ||| Queen Māyā; a transliteration of the Sanskrit and Pali Māyā, the name of the mother of Śākyamuni. She is sometimes counted as one of the eighteen arhats 十八阿羅漢. => Phiên âm chữ Māyā từ tiếng Sanskrit và Pali, là tên thân mẫu Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Có khi được kể là một trong 18 vị A-la-hán 十八阿羅漢.
Ma-da 摩耶
[ja] マヤ maya ||| (1) (māyā) Illusion (幻). (2) Queen Maya 摩耶夫人, the mother of Śākyamuni. => 1. Huyễn (幻 s: māyā) . 2.Ma-da phu nhân, mẹ của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni .
Ma-du-la
S: mathurā;|Ma-thâu-la.
Ma-già-đà
xem Ma-kiệt-đà.
Ma-ha
摩訶; ~ tk. 10-11|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 11. Có lẽ Sư nối pháp Thiền sư Pháp Thuận.|Sư gốc người Chiêm Thành, thông minh từ thuở nhỏ và am hiểu cả hai thứ tiếng Phạn và Hán. Sau, Sư đến chùa Cổ Sơn thụ giáo với Thiền sư Pháp Thuận. Năm 1015, Sư dời về núi Ðại Vân ở Trường An, ngày ngày tu tập, đạt được Tổng trì tam-muội cùng các pháp thuật khó lường. Sư chu du đây đó hoằng hoá, thường hay thi triển thần thông làm phương tiện giáo hoá, người đời rất mến phục.|Năm Thiên Thành thứ 2 (1029), Sư được mời về trụ trì chùa Khai Thiên, phủ Thái Bình. Ở đây được sáu năm, Sư ra đi biệt tích, không ai biết Sư đi đâu, tịch ở đâu.
Ma-ha Ba-xà-ba-đề Cồ-đàm-di
摩訶波闍波提瞿曇彌; P: mahāprajāpatī gautamī;|Dì và sau là mẹ nuôi của đức Phật Thích-ca. Sau khi chồng qua đời, bà đến xin đức Phật thành lập Tỉ-khâu-ni đoàn. Lúc đầu Phật không cho phép vì lo ngại việc giữ Giới luật, nhưng cuối cùng vì lời khẩn cầu của A-nan-đà mà Ngài đồng ý và tiên đoán rằng vì sự có mặt của tỉ-khâu-ni mà Giáo pháp thay vì tồn tại 1000 năm chỉ còn 500 năm.
Ma-ha Ba-xà-ba-đề Kiều-đàm-di
phiên âm từ Phạn ngữ là Mah Prajpati Gautamỵ: ma-ha nghĩa là “lớn”, “đại”, ba-xà-ba-đề dịch nghĩa là “ái đạo”, kiều-đàm-di dịch nghĩa là “nữ thanh”. Vì thế tên vị này cũng thường được gọi là Đại Ái Đạo. Vị tỳ-kheo ni này là dì ruột của Phật, là người hết lòng xin cho nữ giới được xuất gia, và cũng là một trong những vị tỳ-kheo ni đầu tiên.
Ma-ha Ba-xà-ba-đề 摩訶波闍波提
[ja] マカパジャパダイ Makapajapadai ||| Mahā-prajāpati; the aunt of Gautama who raised him after the death of his mother Māya. She was the mother of Nanda 難陀, and she became the first bhikṣuṇī 比丘尼. 〔法華經 T 262.9.1c29〕 (s: Mahā-prajāpati) => Dì của thái tử Gautama, nuôi nấng ngài sau khi bà Ma-da, mẹ ngài qua đời. Bà là mẹ của Nan-đà (s: Nanda 難陀), và trở thành tỷ-khưu ni đầu tiên.
Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật kinh 摩訶般若波羅蜜經
[ja] マカハンニャハラミツキョウ Maka hannya haramitsu kyō ||| Mohe boruo boluomi jing; 27 fasc., trans. Kumārajīva 鳩摩羅什. T 223.8.217a-424a.See 大品般若經 => (j: Maka hannya haramitsu kyō ; c: Mohe boruo boluomi jing) ; 27 quyển ; Cưu-ma-la-thập (s: Kumārajīva 鳩摩羅什) dịch. Xem Đại phẩm Bát-nhã kinh大品般若經.
Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa kinh
摩訶般若波羅密多經; S: mahāprajñāpā-ramitā-sūtra;|Xem Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh.
Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh
摩訶般若波羅密多心經; S: mahāprajñā-pāramitā-hṛdaya-sūtra;|Kinh ngắn nhất chỉ gồm hơn hai trăm năm mươi chữ (bản tiếng Việt) và »trái tim« của bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tâm kinh là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Ðại thừa, được lưu hành rộng khắp tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và được hầu hết các tăng ni tụng niệm nằm lòng. Tâm kinh đóng vai trò quan trọng trong Thiền tông vì nói rõ về tính Không (s: śūnya-tā) và sự trực nhận tính Không đó một cách rõ ràng, cô đọng chưa hề có.||H 42: Nguyên bản Phạn ngữ (sanskrit) của Tâm kinh, viết theo chữ Devanāgarī, được Mithila Institute tại Darbhaṅga, Ấn Ðộ, xuất bản năm 1961.|Câu kinh căn bản của Tâm kinh là »Sắc chính là Không, Không chính là Sắc« (tạm hiểu: hiện tượng chính là bản thể, bản thể chính là hiện tượng), một điều mà Thiền tông luôn luôn nhắc nhở.|Toàn văn Tâm kinh:|प्रज्ञापारमिताहृदयसुत्रम्|(संक्षिप्तमातृका)|आर्यावलोकितेश्वरबोधिसत्त्वोगम्मीरायांप्रज्ञापारमितायांचर्यांचरमाणोव्यवलोकयतिस्म।पञ्चस्कन्धाः, |तांश्चखभावशून्यान्पश्यतिस्म।।|इहशारिपुत्ररूपंशून्यता, शून्यतैवरूपम्।रूपान्नपृथक्शून्यता, |शून्यतायानपृथग्रुपम्।यद्रूपंसाशून्यता, याशून्यतातद्रूपम्।।|एवमेववेदयासंज्ञासंकारविज्ञानानि।।|इहशारिपुत्रसर्वधर्माःशून्यतालक्षणाअनुत्पन्नाअनिरुद्धोअमलानविमलनोनानपरिपूर्णाः।|तस्माच्छारिपुत्रशून्यतायांनरूपम्, नवदना, |नसंज्ञा, नसंकाराः, नविज्ञानानि।नचक्षुःश्रोत्रघ्राणजिह्वाकायमनासि, |नरूपशब्दगन्दरसस्प्रष्टव्यधर्माः।नचक्षुर्धातुर्यावन्नमनोधातुः।।|नविद्यानाविद्यानविद्याक्षयोनाविद्याक्षयोयावन्नजरामरणंनजरामरणक्षयोनदुः|खसमुदयनिरोधमार्गानज्ञानंनप्राप्तित्वम्।।|बोधिसत्त्वस्य (श्च ?) प्रज्ञापारमितामाश्रित्यविहरतिचित्तावरणः. |चित्तवरणनास्तित्वादत्रस्तोविपर्यासातिक्रान्तोनिष्ठनिर्वाणः|त्र्यघ्वव्यवस्थिताःसर्वबुद्धाःप्रज्ञापारमितामाश्रित्यअनुत्तरांसम्यक्संबोधिमभिसंभुद्धाः।।|तस्माज्ज्ञातव्यःप्रज्ञापारमितामहामन्त्रोमहाविद्यामन्त्रोऽनुत्तरमन्त्रोऽसमसममन्त्रःसर्वदुः|खप्रशमनःसत्यममिथ्यत्वात्प्रज्ञापारमितायामुक्तोमन्त्रः।|तद्यथागतेगतेपारगतेपारसंगतेबोधिस्वाहा।।|prajñāpāramitāhṛdayasūtram|(saṃkṣiptamātṛkā)|— āryāvalokiteśvarabodhisattvo gambhīrāyāṃ prajñāpāramitāyāṃ caryāṃ caramāṇo vyavalokayati sma. pañca skandhāḥ, tāṃśca svabhāvaśūnyān paśyati sma.|iha śāriputra rūpaṃ śūnyatā, śūnyataiva rūpam. rūpānna pṛthak śūnyatā, śūnyatāyā na pṛthag rūpam. yadrūpaṃ sā śūnyatā, yā śūnyatā tadrūpam.|evameva vedayāsaṃjñāsaṃskāravijñānāni|— iha śāriputra sarvadharmāḥ śūnyatālakṣaṇā anutpannā aniruddhā amalā na vimalā nonā na paripūrṇāḥ. tasmācchāriputra śūnyatāyāṃ na rūpam, na vedanā, na saṃjñā, na saṃskārāḥ, na vijñānāni. na cakṣuḥśrotraghrāṇajihvākāyamanāsi, na rūpaśabdagandharasaspraṣṭavyadharmāḥ. na cakṣurdhāturyāvanna manodhātuḥ|na vidyā nāvidyā na vidyākṣayo nāvidyākṣayo yāvanna jarāmaraṇaṃ na jarāmaraṇakṣayo na duḥkhasamudayanirodhamārgā na jñānaṃ na prāptitvam.|— bodhisattvasya (śca?) prajñāpāramitāmāśritya viharati cittāvaraṇaḥ. cittāvaraṇanāstitvādatrasto viparyāsātikrānto niṣṭhanirvāṇaḥ. tryaghvavyavasthitāḥ sarvabuddhāḥ prajñāpāra-mitāmāśritya anuttarāṃ samyaksaṃbodhimabhi-saṃbuddhāḥ.|— tasmājjñātavyaḥ prajñāpāramitāmahāmantro mahāvidyāmantro 'nuttaramantro 'samasama-mantraḥ sarvaduḥkhapraśamanaḥ satyamamithyatvāt prajñāpāramitāyāmukto mantraḥ. tadyathā gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā.|摩訶般若波羅密多心經|觀自在菩薩行深般若波羅蜜多時照見五蘊皆空度一切苦厄舍利子色不異空空不異|色色即是空空即是色受想行識亦復如是舍利子是諸法空相不生不滅不垢不淨不增不減|是故空中無色無受想行識無眼耳鼻舌身意無色聲香味觸法無眼界乃至無意識界無無明|亦無無明盡乃至無老死亦無老死盡無苦集滅道無智亦無得以無所得故菩提薩埵依般若波羅蜜多|故心無罣礙無罣礙故無有恐怖遠離顛倒夢想究竟涅槃三世諸佛依般若波羅蜜多|故得阿耨多羅三藐三菩提故知般若波羅蜜多是大神咒是大明咒是無上咒是無等等咒|能除一切苦真實不虛故說般若波羅蜜多咒即說咒曰揭諦揭諦波羅揭諦波羅僧揭諦菩提薩婆訶|Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh|Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá-lợi-tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thụ tưởng hành thức diệc phục như thị.|Xá-lợi-tử! Thị chư pháp không tướng: Bất sinh bất diệt bất cấu bất tịnh bất tăng bất giảm, thị cố không trung vô sắc vô thụ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỉ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố Bồ-đề Tát-đoá y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố vô hữu khủng bố viễn li điên đảo mộng tưởng cứu cánh niết-bàn. Tam thế chư Phật y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú tức thuyết chú viết: Yết-đế yết-đế, Ba-la yết-đế, Ba-la-tăng yết đế, Bồ-đề Tát-bà-ha.|»Bồ Tát Quán Tự Tại, khi tu chứng đại trí huệ siêu việt, thấy rõ năm uẩn đều không, vượt hết thảy khổ ách.|Này Xá-lị tử! Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc; Sắc chính là Không, Không chính là Sắc; thụ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.|Xá-lị tử! Tướng Không của các pháp là không sinh, không diệt, không nhiễm, không sạch, không thêm, không bớt. Vì thế trong Không không có sắc, thụ, tưởng, hành, thức; không nhãn, nhĩ, thiệt, thân, ý; không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không nhãn giới cho đến ý thức giới; không vô minh cũng không hết vô minh; cho đến không già chết, cũng không hết già chết; không khổ, tập, diệt, đạo; không trí huệ, cũng không chứng đạt vì không có gì để chứng.|Bồ Tát nương trí huệ siêu việt nên tâm không vướng ngại; vì không vướng ngại nên không sợ sệt, xa lìa hết thảy điên đảo mộng tưởng, rốt ráo đạt Niết-bàn. Các Phật ba đời nương trí huệ siêu việt nên được giác ngộ hoàn toàn, đúng đắn và cao nhất.|Vì thế nên biết rằng trí huệ siêu việt là sức lớn, sức sáng, sức cao nhất, sức không gì bằng, hay trừ hết thảy khổ đau, chân thật không sai. Cho nên từ trí huệ siêu việt rút ra nghĩa tinh yếu như sau:|Giải thoát, giải thoát, đã giải thoát, đã cùng giải thoát, giác ngộ hoàn toàn.«|(Dịch giả khuyết danh).
Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh 摩訶般若波羅蜜多心經
[ja] マカハンニャハラミッタシンギョウ Maka hannya haramitta shingyō ||| Mohe panruo boluomiduo xinjing; (Heart Sutra) 1 fasc., trans. Xuanzang 玄奘. T 251.8.848c. => (j: Maka hannya haramitta shingyō; c: Mohe panruo boluomiduo xinjing; e: Heart Sutra). 1 quyển, Huyền Trang dịch.
Ma-ha bát-nhã 摩訶般若
[ja] マカハンニャ makahannya ||| Great wisdom, a translation of the Sanskrit mahāprajñā, translated into Chinese as 大慧. => Đại trí huệ, dịch từ mahāprajñā trong tiếng Sanskrit, Hán dịch là Đại huệ.
ma-ha ca chiên diên
Mahā-kātyāyana (P)Tên một vị đệ tử của đức Phật.
Ma-ha Ca-chiên-diên 摩訶迦旃延
[ja] マカカセンエン Maka kasennen ||| Mahā-kātyāyana; see 迦旃延. => (s: Mahā-kātyāyana);Xem Ca-chiên-diên迦旃延
Ma-ha Ca-diếp 摩訶迦葉
[ja] マカカヨウ Makakashō ||| Mahākāśyapa; the foremost of the Buddha's disciples. After the Buddha's death, he became the head of the community of monks. Among Śākyamuni's disciples, he was known to be outstanding at his practice of ascetic discipline. Often referred to simply as Kāśyapa 迦葉. (s: Mahākāśyapa) => Đệ tử thượng thủ của Đức Phật. Sau khi Đức Phật nhập diệt, ngài trở thành người lãnh đạo giáo đoàn. Trong số các đệ tử của Đức Phật, ngài nổi tiếng là bậc tu tập khổ hạnh đệ nhất. Thường được gọi tên đơn giản là Ca-diếp.
Ma-ha chỉ quán 摩訶止觀
[ja] マカシカン Maka shikan ||| Mohe zhiguan; 20 fasc. T 1911.46.1a-140c. The record of a series of lectures given on meditation by Zhiyi 智顗, the compilation of which by his disciple Guanding 灌頂 was completed in 594. This is a major text for the Tiantai/Ch'ŏnt'ae/Tendai school 天台宗. => (c: Mohe zhiguan); 20 quyển. Ghi lại những bài giảng của Trí Khải về thiền quán, tài liệu do đệ tử của ngài là Quán Đảnh (c: Guanding 灌頂) sưu tập hoàn thành năm 594. Đây là kinh văn chính của tông Thiên Thai.
Ma-ha Câu-hy-la
tên Phạn ngữ là Mah-kauṣṭhila, cũng đọc là Ma-ha Câu-sắt-sỉ-la, là một trong các đệ tử chứng quả A-la-hán vào thời đức Phật còn tại thế. Trong quyển 12 kinh Tạp A-hàm có nhắc đến chuyện ngài Câu-hy-la khi ở núi Kỳ-xà-quật, Xá-lợi-phất đến thưa hỏi về ý nghĩa của Mười hai nhân duyên, được ngài trả lời tường tận mọi điều, nên Xá-lợi-phất hết lời ngợi khen, tán thán. Trong kinh Tăng nhất A-hàm, quyển 3, phẩm Đệ tử có nói về ngài Câu-hy-la đạt được đầy đủ Bốn pháp biện tài (Tứ biện tài). Tuy nhiên, không thấy kinh điển nào nói chi tiết về cuộc đời vị A-la-hán này, trừ ra trong Đại Trí độ luận (quyển 1), Soạn tập bách duyên kinh (quyển 10, Trường Trảo Phạm-chí duyên) đều nói rằng ngài Câu-hy-la chính là cậu ruột của ngài Xá-lợi-phất, trước khi xuất gia theo Phật đã từng tu theo ngoại đạo, có hiệu là Phạm chí Trường Trảo (móng tay dài), vì ông không bao giờ cắt móng tay.
Ma-ha Câu-hy-la 摩訶拘絺羅
[ja] マカクチラ Maka kuchira ||| Mahā-kauṣṭhila; see 拘絺羅. => (s: Mahā-kauṣṭhila); Xem Câu-hy-la拘絺羅.
Ma-ha Câu-sắt-sỉ-la
xem Ma-ha Câu-hy-la.
Ma-ha Mục-kiền-liên 摩訶目犍連
[ja] マカモッケンレン Makamokkenren ||| See 目犍連. => Xem Mục-kiền-liên目犍連 .
Ma-ha Tất-đạt
摩訶悉達; S: mahāsiddha; dịch nghĩa là Ðại thành tựu giả;|Danh hiệu chỉ những vị tu khổ hạnh, đã đạt cốt tuỷ của giáo pháp Tan-tra của Phật giáo (Vô thượng du-già) một cách siêu việt. Người ta nhắc đến nhiều nhất 84 vị Ma-ha Tất-đạt của thế kỉ thứ 8 đến thế kỉ thứ 12 tại Ấn Ðộ, là những vị tu học khác hẳn truyền thống tu tập ở các Tinh xá (s, p: vihāra) của Ðại thừa. Ðó là những vị nam nữ, thuộc tầng lớp xã hội khác nhau, là những người đã để lại cho Phật giáo Bắc Ấn Ðộ và Tây Tạng một ảnh hưởng quyết định.|Tất-đạt (s: siddha) là các vị đã đạt thần thông, thần thông này được gọi là Tất-địa (s: siddhi). Người Xuất gia hay Cư sĩ đều có thể đạt Tất-địa. Trong thời đức Phật còn tại thế, người ta đã thừa nhận trong quá trình tu tập, hành giả có thể đạt thần thông nhất định, nhưng các thần thông đó đều vô ích, không đáng quan tâm. Chính đức Phật cũng không cho phép đệ tử mình thi triển thần thông, trừ khi cần phải thi triển vì mục đích giáo hoá. Thế nhưng Mật tông, nhất là truyền thống Tan-tra có khuynh hướng khuyến khích việc thi triển thần thông, xem nó như một trong những Phương tiện thiện xảo để giáo hoá. Vì thế phần lớn các vị Tất-đạt hay xiển dương thần thông như bay trên không, đi dưới nước, xuyên qua tường hay kéo dài thọ mệnh. Các vị đạt một ít thần thông nhất định được gọi là Tất-đạt, các vị đạt được nhiều thần thông được gọi là Ma-ha Tất-đạt. Người ta kể ra khoảng 34 thần thông khác nhau. Các vị đạt Tất-địa không nhất thiết là đã giải thoát. Trong sách vở truyền lại, ít có vị nào được ghi là »nhập Niết-bàn«. Phần lớn được gọi là »đi vào cõi của Không hành nữ«, được hiểu là nơi không còn tái sinh, tiếp tục tu học để giải thoát hoàn toàn.|Chuyện về 84 vị Ma-ha Tất-đạt do Abhayadatta Śrī, một cao tăng Ấn Ðộ ghi lại trong thế kỉ 11,12 trong một tập dưới tựa Lịch sử của 84 Tất-đạt (s: caturraśīti-siddha-pravṛtti, bản dịch của Keith Dowman và H.-W. Schumann). Truyền thống Tây Tạng cũng có những tập nói về chư vị nhưng có khác đôi chút. Trong quyển sách này, sự tích các vị là dựa vào tập của Abhayadatta. Ða số 84 vị này đều sống trong khoảng từ thế kỉ thứ 8 đến 12 và truyền thừa cho nhau. Các vị thường có rất nhiều tên khác nhau, phần lớn dựa vào tính chất đắc đạo hay nghề nghiệp các vị đó. Các câu chuyện truyền lại với những thần thông khác nhau có thể được thêm bớt, nhưng người ta cho rằng tất cả các vị đó đều là những nhân vật lịch sử, đã sống thật trên trái đất này.|Ngày nay người ta còn tìm thấy tiểu sử của 84 vị Ma-ha Tất-đạt trong kinh sách Tây Tạng như Cha-tra-ba (s: catrapa), người hành khất; Kan-ta-li-pa (s: kantalipa), thợ may và Kum-ba-ri-pa (s: kumbharipa), thợ gốm. Người ta cũng phải kể các vị như nhà vua In-đra-bu-ti (s: indrabhūti) và người em gái La-kha Min-ka-ra (s: lakṣmīṅkarā) cũng như Luận sư San-ti-pa (s: śāntipa). Ðời sống các vị đó khác nhau rất nhiều nhưng tất cả đều có chung một điều là các vị đều phải trải qua một cơn khủng hoảng trong đời, gặp một lời khai thị của một vị Ðạo sư và biến khủng hoảng đó thành đạo giải thoát. Các vị thường có thái độ khó hiểu và ưa dùng nghịch lí để diễn tả cái không thể lĩnh hội được của sự thật vô thượng. Trong tiểu sử của vị Ma-ha Tất-đạt Tan-tê-pa (s: taṅtepa), người ta thấy sự hoà nhập giữa một cuộc đời tối tăm nhất và sự giác ngộ cao cả. Ông là người đánh bạc, phá tan gia sản và chỉ nhờ câu khai thị – thế giới thật ra cũng trống rỗng như túi tiền của mình – ông đạt giác ngộ và thực hiện Niết-bàn.|Các bài kệ ca tụng Chân như, trong đây được tạm dịch là chứng đạo kệ (s: dohā; Hán âm là Ðạo-bả, 道把) của các vị Ma-ha Tất-đạt thường rất thi vị và kích thích sức tưởng tượng. Tại Tây Tạng, truyền thống ca hát đó được Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) và Drug-pa Kun-leg tiếp nối. Bài ca sau đây của người thợ rèn Sa-ra-ha, một trong những vị Ma-ha Tất-đạt danh tiếng nhất, để lại ấn tượng khó quên: »Ai thấu hiểu rằng, đầu đuôi chẳng có tâm thức nào cả, người đó đã thực hiện tâm Phật ba đời.«
Ma-ha Tỳ-lô-giá-na 摩訶毘盧遮那
[ja] マカビロシャナ makabiroshana ||| A transcription of the Sanskrit for Mahāvairocana (Tathāgata), the central buddha of Vajrayāna Buddhism. See => Phiên âm chữ Mahāvairocana (Tathāgata) từ tiếng Sanskrit, là Đức Phật trung tâm trong Phật giáo Kim Cương thừa . Xem Đại Nhật Như Lai大日如來.
Ma-ha 摩訶
[ja] マカ maka ||| A transliteration of the Sanskrit mahā, which means "great," translated into Chinese as => Phiên âm chữ mahā từ tiếng Sanskrit, nghĩa là 'lớn', Hán dịch là 'đại'大.
Ma-ha-diễn 摩訶衍
[ja] マカエン makaen ||| A transliteration of the Sanskrit mahā-yāna, meaning "great vehicle." Translated in Chinese as 大乘. => Phiên âm chữ mahā-yāna trong tiếng Sanskrit, nghĩa là “cỗ xe lớn”. Hán dịch là Đại thừa.
ma-ha-lăng-già
phiên âm từ Phạn ngữ Mahraṅga, dịch nghĩa là đại giá y, chỉ các loại áo tốt đẹp, đắt tiền.
ma-ha-na-già
phiên âm từ Phạn ngữ mahng, Hán dịch là đại hương tượng, chỉ con voi sung sức, khỏe mạnh nhất trong đàn voi. Ma-hê-thủ-la: phiên âm từ Phạn ngữ là Maheśvara, cũng gọi là Ma-hê-thủ-la Thiên vương, Đại tự tại Thiên vương, là vị thiên thần mà đạo Bà-la-môn thờ kính, ở cảnh trời cao nhất trong cõi Sắc giới.
ma-ha-na-man
Xem Mahanama.
Ma-ha-tát 摩訶薩
[ja] マカサツ makasatsu ||| A transliteration of the Sanskrit mahāsattva. A term of respect for a bodhisattva. One possessing great determination for enlightenment. An outstanding personage. => Phiên âm từ chữ mahāsattva trong tiếng Sanskrit, thuật ngữ tỏ lòng kính trọng đối với một vị bồ-tát. Người có ý nguyện vĩ đại trở thành bậc giác ngộ. Người có nhân cách xuất chúng.
Ma-ha-tăng-kỳ luật 摩訶僧祇律
[ja] マカソウギリツ makasōgiritsu ||| The Mahāsāṃghika Vinaya. => (s: Mahāsāṃghika Vinaya) Luật Ma-ha tăng kỳ.
Ma-ha-tăng-kỳ 摩訶僧祇
[ja] マカソウギ Makasōgi ||| Mahāsāṃghika. See 大衆部. => (s: Mahāsāṃghika). Xem Đại chúng bộ大衆部
Ma-ha-đà
xem Ma-kiệt-đà.
Ma-hi-pa
S: mahipa; »Người vĩ đại nhất«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 10. Ma-hi-pa là người xứ Ma-kiệt-đà (s: magadha).|Ông là người có sức mạnh vô địch, luôn luôn tự hào về sức mạnh đó. Ngày nọ, ông gặp một Du-già sư, vị này đọc được ý nghĩ đầy kiêu mạn của ông làm ông khâm phục. Ông xin theo học. Vị Du-già sư bèn dạy:|Mọi hiện tượng là tâm,|quán tưởng thật kiên cố,|rằng tâm là tính Không,|bất sinh và bất tử.|Thế mới là sức mạnh.|Nghe qua ông không hiểu, vị Du-già sư đổi cách nói:|Nếu ngươi biết rõ rằng,|sức mạnh: sự trống rỗng,|thì ngươi thật sự là,|một con người vô địch.|Hãy dán các hiện tượng,|năng lực và nhận thức,|trên không gian mênh mông|của đất trời vô tận.|Nhà vô địch nghiêng đầu cảm tạ. Ông tìm cách lấy tâm làm đối tượng quán tưởng thì tâm chạy đi đâu mất, ông tìm sự nhận thức để quán sát thì cũng không nắm bắt được nó. Ngày trước nó là trở ngại của ông thì bây giờ nó chính là phương tiện cho ông. Nhờ thế mà ông đạt thánh quả, sống thêm 300 trăm năm nữa và giáo hoá cho người đời thấy rằng sức mạnh đích thật chính là tự tính cuối cùng của tâm. Thánh đạo ca của ông có những dòng sau:|Dưới ngọn núi kiêu mạn,|là viên ngọc Như ý|của thật chứng giác ngộ.|Hành động đầy giác ngộ|của con người tài tình,|thoả ước vọng của ta,|vì người đó đã đạt,|đã nếm vị duy nhất.
Ma-hi-đà
摩呬陀; S, P: mahinda;|Cao tăng Phật giáo thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên, con trai của A-dục vương (s: aśoka). Năm 250 trước Công nguyên, ông cầm đầu phái đoàn đi Tích Lan và thuyết phục nhà vua xứ này là Thiên Ái Ðế Tu (p: devānampiya tissa) theo Phật giáo. Sau đó, nhà vua cho xây dựng Ðại Tự (p: mahāvihā-ra) trong kinh đô A-nu-ra-đa-pu-ra (p: anurā-dhapura), trồng một nhánh cây Bồ-đề do Ma-hi-đà mang theo. Ông chết năm 60 tuổi tại Tích Lan.
ma-hi-đề
Mahiddhi (P).
Ma-hê-thủ-la 摩醯首羅
[ja] マケイシュラ Makeishura ||| A transliteration of Maheśvara 大自在天. A reference to Indra or Śiva. => Phiên âm từ Maheśvara, Hán dịch là Đại tự tại thiên大自在天. Chỉ cho Nhân-đà-la (s: Indra) hay là Śiva.
Ma-hầu-la-già 摩睺羅迦
[ja] マゴラガ magoraga ||| A transcription of the Sanskrit mahoraga, meaning "great snake" or "snake spirit." One of the eight types of spiritual beings 八部衆 who protect the Buddhadharma and its practitioners, usually mentioned in the closing portions of sutras. Also translated into Chinese as dafu 大腹, zhipu 質朴, feiren 非人 and daxiong fuxing 大胸腹行. => Phiên âm chữ Mahoraga từ tiếng Sanskrit, nghĩa là “rắn lớn” hoặc “rắn thần”. Là một trong tám bộ chúng hộ trì Phật pháp và người tu hành, thường được đề cập đến trong phần kết của kinh. Còn được dịch sang tiếng Hán là Đại phúc 大腹, Chất phác 質朴), Phi nhân 非人 , Đại hung phúc hành 大胸腹行.
Ma-kiệt-đà
(摩竭陀), phiên âm từ Phạn ngữ Magadha, cũng đọc là Kiệt-xà, hay Ma-già-đà, là tên nước do vua Tần-bà-sa-la cai trị, sau bị con trai là A-xà-thế giết chết để cướp ngôi. Ma-kiệt-đà là một trong 16 nước lớn ở Ấn Độ vào thời đức Phật, kinh đô là thành Vương-xá (Rjagṛha). Vị trí hiện nay của Ma-kiệt-đà là thuộc về Nam Bihar, miền Bắc Ấn Độ. Tên nước này còn được phiên âm là Ma-ha-đà (摩訶陀),Ma-kiệt-đề (摩竭提)...
; 摩竭陀; S, P: magadha;|Vương quốc ở Bắc Ấn Ðộ trong thời Phật Thích-ca tại thế. Các kinh đô lần lượt là Vương xá (s: rājagṛha) và Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra). Vua nước Ma-kiệt-đà là Tần-bà-sa-la (s, p: bimbisāra) và con trai là A-xà-thế (s: ajātaśatru), sau đó đến A-dục vương (s: aśoka). Ma-kiệt-đà được xem là nơi phát sinh Phật giáo, sau hội nghị Kết tập lần thứ 3, giáo pháp đã từ đây truyền qua các vùng khác của Ấn Ðộ.|Dưới thời A-dục vương, Ma-kiệt-đà có diện tích lớn nhất. Ngôn ngữ ở đây là Mā-ga-dhī, và mối liên hệ của nó với ngôn ngữ của Phật giáo nam truyền là một điều ngày nay người ta vẫn chưa hiểu hết.
Ma-kiệt-đà 摩掲陀, 摩竭陀
[ja] マガダ Magada ||| Magadha. An old name for the region of Biharu, located on the south part of the Ganges river. An area where Śākyamuni spent much of his teaching career. => (s: Magadha). Tên cũ của miền Biharu, nằm bên phía Nam của sông Hằng. Vùng mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lưu lại nhiều nhất trong cuộc đời giáo hoá của Ngài.
Ma-kiệt-đề
xem Ma-kiệt-đà.
Ma-la-da
phiên âm từ Phạn ngữ là Malaya, cũng đọc là Ma-la-diên, là tên một ngọn núi nằm ở miền nam Ấn Độ, thuộc nước Ma-la-da. Nơi đây có nhiều gỗ thơm chiên-đàn, đặc biệt là loại chiên đàn trắng.
Ma-la-nan-đà 摩羅難陀
[ja] マラナンタ Marananta ||| Mālānanda, a Serindian monk traveled to the Eastern Jin and then later to Paekche, transmitting the Buddhist teachings. =>(s: Mālānanda) => Tăng sĩ xứ Serindian, đến miền Đông xứ Jin rồi sau đến Paekche để truyền bá Phật giáo.
Ma-na-tư 摩那斯
[ja] マナシ Manashi ||| Manasvin. The name of an especially large and powerful dragon-king. 〔法華經 T 262.9.2a23〕 => (s: Manasvin). Tên của một loại vua rồng đặc biệt rất lớn và mạnh.
Ma-nam-câu-lợi 摩男倶利
[ja] マダングリ Madanguri ||| Mahānāman, one of the five bhikṣus 五比丘 who first practiced asceticism with Śākyamuni, and later heard his first sermon and became his disciples. => (s: Mahānāman), một trong 5 vị tỷ-khưu đầu tiên cùng tu khổ hạnh với Đức Phật Thích-ca Mâu-ni , sau đó được nghe Đức Phật giảng pháp trước tiên và trở thành đệ tử Phật.
ma-ni
phiên âm từ Phạn ngữ là mani, dịch nghĩa là ly cấu (lìa khỏi sự dơ nhớp), là như ý (theo đúng như ý muốn). Hạt châu ma-ni là loại châu báu quý nhất, được tin là có thể làm cho người chủ sở hữu nó muốn gì cũng được như ý, nên gọi là như ý châu.
Ma-ni Ba-đra
S: maṇibhadrā; »Bà nội trợ hạnh phúc«; |Một Du-già-ni Tất-đạt (s: yoginī siddhā) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 11.|Tại thành A-gạt-chê (agarce) có một thương nhân nọ có người con gái 13 tuổi tên là Ma-ni Ba-đra. Nàng được gả chồng nhưng theo tục lệ thời đó, nàng vẫn ở với cha mẹ cho đến tuổi làm vợ. Trong thời gian đó thì Ðạo sư Kuk-ku-ri-pa (s: kukkuripa) đi qua nhà khất thực. Thấy vị Du-già sư, nàng liền bố thí cúng dường và xin học đạo, Kuk-ku-ri-ba nhận lời và hẹn nàng đến bãi thiêu xác trong thành. Suốt ngày nàng chỉ nhớ lời vị Ðạo sư dặn và khi đêm đến, nàng lén đi đến chỗ hẹn. Thấy căn cơ nàng đã chín muồi, vị Ðạo sư cho nàng nhập môn Cha-kra sam-va-ra tan-tra, Quán đỉnh và hướng dẫn nàng phép thiền quán. Nàng ở liên tiếp bảy ngày tu tập, và khi về nàng bị cha mẹ la rầy đánh đập nhưng sau đó vẫn tiếp tục tu tập. Một năm sau chồng tới rước về, nàng đi theo không hề phản đối, làm trọn vẹn bản phận người vợ. Nàng sinh hạ một trai một gái. |Mười hai năm trôi qua sau khi gặp Ðạo sư, ngày nọ nàng đi xách nước, lỡ vấp chân và bình nước bị vỡ. Cả nhà đợi hoài không thấy đi tìm thì thấy nàng nhập định, người bất động, mắt đăm đăm nhìn bình nước bị vỡ. Ðến tối nàng mới xuất thiền, đọc bài kệ:|Từ vô thuỷ xa xưa,|loài hữu tình đánh vỡ,|bình chứa nước đời sống,|nhưng không hiểu tại sao|họ vẫn về lại nhà?|Hôm nay ta đánh vỡ,|bình chứa nước của ta,|nhưng ta không trở lại,|chốn Tử sinh này nữa.|Ði tiếp tới Ðại lạc,|huyền diệu thay, Ðạo sư!|Các ngươi muốn hạnh phúc,|hãy biết tôn kính Ngài!|Nói xong Ma-ni Ba-đra nhấc mình lên không và giáo hoá cho quần chúng 21 ngày liên tục. Sau đó bà biến mất vào cõi của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī).|Người ta còn nhắc thêm các dòng chứng đạo ca sau đây của bà:|Khi vô minh bao phủ,|thì mỗi một âm thanh,|kéo theo một phân biệt.|Khi Thật tại phơi bày,|thì Tự tính mọi chuyện,|lại chính là Thật tại.|Một câu chuyện gần giống như trên được Trúc Thiên thuật lại trong bản dịch Thiền luận (quyển thượng, trang 506-507) của Su-zu-ki: Thiền sư Lang Gia Huệ Giác (琅邪慧覺; thuộc tông Lâm Tế, môn đệ của Phần Dương Thiện Chiêu) có một vị nữ đệ tử. Sư trao cho cô ba chữ »tuỳ tha khứ« (隨他去; nghĩa là ›theo nó mà đi‹ hoặc ›mặc kệ nó‹) làm Thoại đầu tham quán. Cô chú tâm vào ba chữ này đến nỗi nhà cháy cô cũng không lo, cứ niệm »tuỳ tha khứ.«… Ngày nọ, chồng cô chiên bánh, liệng miếng bột vào chảo dầu sôi một tiếng xèo. Cô giật mình như tỉnh cơn mê, nhắc chảo dầu sôi đổ xuống đất, tay phủi miệng cười và hét to: »tuỳ tha khứ.« Chồng cô tưởng cô điên, không ngờ cô đã ngộ đạo.
Ma-ni châu 摩尼珠
[ja] マニシュ manishu ||| The first two ideographs in this word are a transliteration of the Sanskrit maṇi. (1) A general term for jewels or gems. Also the "Maṇi-jewel." It is said that jewels have the virtue of being able to drive away evil, clarify muddy water. (2) An abbreviation of the term cintā-maṇi 振多摩尼, a jewel that appears as any rare jewel that one thinks of. Priceless gem. => Hai chữ đầu trong thuật ngữ nầy là phiên âm chữ maṇi trong tiếng Sanskrit. 1. Thuật ngữ chung chỉ cho châu ngọc. Còn gọi là “Ngọc ma-ni”. Tương truyền ngọc nầy có ưu điểm tẩy trừ ma quỷ, lắng trong nước bùn dơ. 2. Viết tắt của thuật ngữ Chấn-đa ma-ni (振多摩尼 s: cintā-maṇi), là một loại ngọc, xuất hiện như bất kỳ loại ngọc nào mà người ta nghĩ đến. Châu báu vô giá.
Ma-ni-bạt-đà
(Maṇibhadra), một trong tám vị Đại tướng Dạ-xoa, được dịch nghĩa là Bảo Hiền (寶賢).
Ma-ni-la đàn kinh 摩尼羅亶經
[ja] マニラタンキョウ Manira dan gyō ||| The Moniluo dan jing (Sutra of the Maṇila Platform). 1 fasc. (T 1393.21.910-911), trans. Dharmarakṣa 竺曇無蘭. Gives spells for protection against demons and disease. (c: Moniluo dan jing; e: Sutra of the Maṇila Platform). 1 quyển; Trúc Đàm Vô Sấm (Dharmarakṣa 竺曇無蘭) dịch. Nội dung gồm những thần chú bảo hộ tránh khỏi ma quỷ và bệnh tật.
Ma-nô-la
摩拏羅; S: manorata;|Tổ thứ 22 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Ma-nô-sa 末奴沙
Ma-nô-xa 摩奴闍 [ja] マヌシャ manusha ||| A transcription of the Sanskrit manuṣya, which means the existence of human beings 人間, especially among the six destinies 六趣. 〔阿毘達磨順正理論 1562.29.397c13〕 => Phiên âm từ chữ manuṣya trong tiếng Sanskrit, có nghĩa là sự hiện hữu của con người, đặc biệt là trong sáu nẻo luân hồi (lục thú 六趣).
Ma-thâu-la
摩愉羅; S: mathurā;|Một thành phố Ấn Ðộ nằm bên phải của sông Ya-mu-na (s: yamunā), tiểu bang Uttar-Pradesh. Giữa 150 và 250, đây là một trung tâm văn hoá, nghệ thuật Phật giáo quan trọng. Song song với Càn-đà-la (gandhāra), những tượng Phật đầu tiên được kiến tạo tại đây. Phật được trình bày dưới dạng một Dạ-xoa (s: yakṣa) đang đứng.|Thân của đức Phật được trình bày gọn, lực lưỡng, Ngài mang một ca-sa láng trơn nằm sát người, không có nếp xếp và để lộ nhiều phần của thân thể. Tượng Phật tại đây được trình bày không như tại Càn-đà-la – nghĩa là chỉ hướng nội – mà là một vị Thánh sẵn lòng cứu giúp, thuyết pháp vì chúng sinh.|Dưới ảnh hưởng của Càn-đà-la, thân thể của đức Phật được trình bày mềm mại và gầy hơn, ca-sa trở thành một y phục nhẹ nhàn với những nếp xếp song song mà qua nó, thân của Ngài hiện ra rõ ràng. Tượng Phật tại đây phát ra một nét dung hoà và nhân cách cao quý.
Ma-đăng nữ giải hình trung lục sự kinh 摩登女解形中六事經
[ja] マトウジョゲギョウチュウロクジキョウ Madōjo gegyō chūrokuji kyō ||| The Modengnü jiexing zhongliushi jing 1 fasc. (T 552.14.895-896); see Modengqie jing 摩登伽經. => (c: Modengnü jiexing zhongliushi jing; e: Sutra of the Mātaṅgī Girl who Reveals the Six Matters). Xem Ma-đăng nữ kinh 摩鄧女經.
Ma-đăng nữ kinh 摩鄧女經
[ja] マトウジョキョウ Madōjo kyō ||| The Modengnü jing (T 551.14.895); variant translation of the Modengqie jing 摩登伽經. => Tên bản dịch khác của Ma-đăng già kinh摩登伽經.
Ma-đăng-già kinh 摩登伽經
[ja] マトウカキョウ Matōga kyō ||| The Modengqie jing; Skt. Mātaṅgī-sūtra; Tib. stag rna'i rtogs pa brjod pa [To.358]; (Sutra of the Mātaṅgī Girl). An early magical text, in which the Buddha's vidyā rescues Ānanda from the spell of an outcaste (caṇḍala). Possibly the first Buddhist work to introduce mantras, which include the Gāyatri mantra from the Ṛg Veda. Of the Chinese versions, (3) and (4) are earlier and much shorter. (1) 2 fasc. (T 1300.21.399-410), Mātaṅgī-sūtra 摩登伽經 trans. Zhulüyan 竺律炎 and Zhiqian 支謙 in 230 CE. (2) 1 fasc. (T 1301.21.410-420), Admonition of the Prince and Twenty-eight Lunar Lodgings 舍頭諌太子二十八宿經. This version gives successive measurements of a gnomon's shadow which, according to modern calculations, suggest that the text originates in the vicinity of Samarkand. (3) 1 fasc. (T 551.14.895) Sutra of the Mātaṅgī Girl 摩鄧女經, trans. An shigao 安世高 during 148-70 CE. (4) 1 fasc. (T 552.14.895-896) Sutra of the Mātaṅgī Girl who Reveals the Six Matters 摩登女解形中六事經, trans. unknown, during 317-420 CE. => (c: Modengqie jing; s: Mātaṅgī-sūtra; t: stag rna'i rtogs pa brjod pa; e: Sutra of the Mātaṅgī Girl). Là một bản kinh xưa nói về pháp thần thông, trong đó Đức Phật đã dùng minh chú (s: vidyā) giải cứu A-nan thoát khỏi ma thuật của ngoại đạo (s: caṇḍala). Có lẽ đây là kinh văn Phật giáo đầu tiên giới thiệu về thần chú, trong đó bao gồm thần chú Gāyatri trong Ṛg Veda. Trong các bản chữ Hán, bản (3) và (4) là xưa nhất và ngắn gọn nhất. 1. Ma-đăng-già kinh (摩登伽經s: Mātaṅgī-sūtra); 2 quyển; Trúc Luật Đàm (Zhulüyan 竺律炎) và Chi Khiêm ( Zhiqian 支謙) dịch năm 230. 2. Xá đầu gián Thái tử nhị thập bát túc kinh (舍頭諌太子二十八宿經e: Admonition of the Prince and Twenty-eight Lunar Lodgings); 1 quyển; Bản dịch nầy đề cập đến cách đo bóng mặt trời, theo sự suy đoán hiện thời, cho biết nguồn gốc bản kinh phát xuất từ vùng lân cận xứ Samarkand. 3. Ma-đăng-già kinh (s: Mātaṅgī Girl Sutra摩鄧女經); An Thế Cao dịch vào năm 148-170. 4. Ma-đăng nữ giải hình trung lục sự kinh (摩登女解形中六事經e: Sutra of the Mātaṅgī Girl who Reveals the Six Matters ). Dịch giả vô danh, khoảng năm 317-420.
magandiya sutta
(MN 75) Sutra To Magandiya.
maha devi
Mahādevī (S)Một tên khác của mẹ đức Phật, qua đời sau khi hạ sanh 7 ngày.
maha kiếp tân na
Mahākapphina (S).
maha mục kiền liên
Xem Mục kiền liên.
maha đàm vô đức
Mahā-dhamma-rakkhita (P).
mahanama
Mahānāma (P)Đại Danh, Ma-ha-Na-ManMột trong 5 đại đệ tử đầu tiên của đức Phật cũng la tên một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
mahavila
Xem Đại Hùng.
mai
Cây mận—The plum.
mai danh
Mai danh ẩn tích hay lui về sống dấu tên ẩn mặt—To conceal one's name—To live in retirement.
mai kia
In the future.
mai một
Để cho mất đi tài năng—To lose one's talent—To wrap up one's talent in a napkin.
mai nguyên chân long
(梅原真隆) Học giả Phật giáo Nhật bản, tốt nghiệp Đại học Long cốc. Ông từng là viên chức chủ chốt trong Khuyến học liêu đầu và Hiển chân học uyển. Ông có các trứ tác: Thán dị sao giảng nghĩa, Giác như thượng nhân, Chân tông đề yếu, Văn thư tuyển sao, Nhất thừa chi đạo, Giáo hành tín chứng tân dịch, Mai nguyên soạn tập 35 quyển.
Mai Nguyệt
(梅月): chỉ cho tháng 4 Âm Lịch, và cũng chỉ chung cho thời tiết Mai Vũ (梅雨). Như trong bài thơ Ký Vương Địch (寄王滌) của Quán Hưu (貫休, 832-912) nhà Đường có câu: “Mai Nguyệt đa khai hộ, y thường nhuận dục trích, tịch liêu tuy vô hình, bất thị tiểu thù địch (梅月多開戶、衣裳潤欲滴、寂寥雖無形、不是小讎敵, tháng Tư cửa bày mở, áo quần ướt đẩm giọt, vắng vẻ chẳng bóng hình, chẳng phải nào thù địch).” Hay như trong bài thơ Tàng Mặc Quyết (藏墨訣) của Lý Đình Khuê (李廷珪, ?-?) nhà Nam Đường lại có câu: “Tị thử huyền cát nang, lâm phong độ mai nguyệt (避暑懸葛囊、臨風度梅月, tránh nóng treo túi dây, gặp gió qua tháng Tư).” Trong Tây Nham Liễu Huệ Thiền Sư Ngữ Lục (西巖了慧禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1391) quyển Hạ có đoạn: “Dữ Mai Nguyệt tùng phong, kết tận đa thiểu khẩu nghiệp, thử nghiệp thâm hậu, bất tự giác tri (與梅月松風、結盡多少口業、此業深厚、不自覺知, cùng gió tùng tháng Tư, kết tận ít nhiều khẩu nghiệp, nghiệp này sâu dày, chẳng tự biết được).”
; (梅月): chỉ cho tháng 4 Âm Lịch, và cũng chỉ chung cho thời tiết Mai Vũ (梅雨). Như trong bài thơ Ký Vương Địch (寄王滌) của Quán Hưu (貫休, 832-912) có câu: “Mai Nguyệt đa khai hộ, y thường nhuận dục trích, tịch liêu tuy vô hình, bất thị tiểu thù địch (梅月多開戶、衣裳潤欲滴、寂寥雖無形、不是小讎敵, tháng Tư cửa bày mở, áo quần ướt đẩm giọt, vắng vẻ chẳng bóng hình, chẳng phải nào thù địch).” Hay như trong bài thơ Tàng Mặc Quyết (藏墨訣) của Lý Đình Khuê (李廷珪, ?-?) nhà Nam Đường lại có câu: “Tị thử huyền cát nang, lâm phong độ mai nguyệt (避暑懸葛囊、臨風度梅月, tránh nóng treo túi dây, gặp gió qua tháng Tư).” Trong Tây Nham Liễu Huệ Thiền Sư Ngữ Lục (西巖了慧禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1391) quyển Hạ có đoạn: “Dữ Mai Nguyệt tùng phong, kết tận đa thiểu khẩu nghiệp, thử nghiệp thâm hậu, bất tự giác tri (與梅月松風、結盡多少口業、此業深厚、不自覺知, cùng gió tùng tháng Tư, kết tận ít nhiều khẩu nghiệp, nghiệp này sâu dày, chẳng tự biết được).”
mai quang hi
(梅光羲) Học giả Phật giáo Trung quốc, thuộc tông Pháp tướng, sống vào khoảng đầu năm Dân quốc, tự là Hiệt vân. Cả cuộc đời, ông dốc sức vào việc nghiên cứu Phật học. Ông từng đến tinh xá Kì hoàn theo học ông Dương nhân sơn và có tình đồng môn với ông Âu dương tiệm, đối với môn Pháp tướng Duy thức học ông nghiên cứu rất sâu. Năm Dân quốc 20 (1931), ông công bố bài khảo luận: Tướng tông tân cựu lưỡng dịch bất đồng luận (bàn về 2 bản dịch mới và cũ khác nhau của Tướng tông), trong đó, ông chỉ ra rằng, các ngài Bồ đề lưu chi và Chân đế là các nhà dịch cũ, còn ngài Huyền trang là nhà dịch mới; điểm này rất được giới Phật học đương thời chú ý. Ông có các tác phẩm: Tướng tông cương yếu, Tướng tông cương yếu tục biên, Tướng tông sử truyện lược lục, Pháp uyển nghĩa lâm chương Duy thức chương chú, Đại thừa tướng tông thập thắng luận.
mai sau
Later.
mai tuyền tự
Baisen-ji (J)Tên một ngôi chùa.
mai tàng
To hide in the ground.
mai táng
To bury.
mai tử thục dã
(梅子熟也) Hạt (giống) mai chín rồi. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này là ngữ yếu của Thiền sư Mã tổ Đạo nhất đời Đường ấn khả cho đệ tử nối pháp là sư Đại mai Pháp thường. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 7 (Đại 51, 254 hạ), chép: Thiền sư Đại tịch nghe tin sư ở núi, bèn sai 1 vị tăng đến hỏi rằng: Hòa thượng yết kiến Mã đại sư được cái gì mà đến trụ ở núi này? Sư đáp: Mã sư nói với ta là tức tâm tức Phật, ta liền đến ở đây. Vị tăng nói: Gần đây Phật pháp của Mã đại sư lại khác rồi. Sư hỏi: Khác thế nào? Vị tăng đáp: Gần đây lại nói phi tâm phi Phật. Sư nói: Lão già ấy làm mê loạn người ta mãi không thôi, mặc cho ông ta nói phi tâm phi Phật, còn ta đây chỉ cốt tức tâm tức Phật. Vị tăng ấy về bạch lại với ngài Mã tổ, Tổ nói: Đại chúng! Hạt mai chín rồi! (mai tử thục dã). Nhưng Tống cao tăng truyện quyển 11 và Tổ đường tập quyển 15 thì cho rằng Mai tử thục dã là lời bàn của ngài Diêm quan Tề an, đồng môn với ngài Đại mai Pháp thường.
mai đát lê
Maitreya (skt)—See Mai Đát Lợi Da.
mai đát lợi
Maitreya (skt)—See Mai Đát Lợi Da.
mai đát lợi da
Maitreya (skt)—Còn gọi là Mai Đát Lê hay Mai Đát Lợi, dịch là Từ Thị, là vị Phật Hạ Sanh sau Đức Phật Thích Ca Mâu Ni—Benevolent—Friendly—The expected Buddhist Messiah—See Maitreya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Mai Ốc Niệm Thường
(梅屋念常, Baioku Nenjō, 1282-?): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân Hoa Đình (華亭, Tỉnh Giang Tô), họ Hoàng (黃), hiệu là Mai Ốc (梅屋). Năm 12 tuổi, ông xuống tóc xuất gia ở Viên Minh Viện (圓明院) vùng Bình Giang (平江, Tỉnh Giang Tô) và đến năm đầu niên hiệu Chí Đại (至大), ông theo tham học và đắc pháp với Hối Cơ Nguyên Hy (晦機元熙) ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺). Vào năm thứ 3 (1316) niên hiệu Diên Hựu (延祐), ông đến trú trì Đại Trung Tường Phù Tự (大中祥符寺) ở Phủ Gia Hưng (嘉興府, Tỉnh Triết Giang). Ông là tác giả bộ Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (佛祖歷代通載) 3 quyển.
Mai-tre-ya-na-tha
S: maitreyanātha;|Một trong những người sáng lập Duy thức tông, được xem là sống ở thế kỉ 4-5. Các dữ liệu gần đây cho rằng đây chính là thầy của Vô Trước (s: asaṅga). Mặt khác, người ta xem Vô Trước là người được học hỏi trực tiếp từ đức Di-lặc (s: maitreya). Như vậy, có thể Mai-tre-ya-na-tha (maitreyanātha) chính là Bồ Tát Di-lặc. Vì vậy có người cho rằng Di-lặc là Sơ tổ của Duy thức tông.|Các tác phẩm sau đây được xem là của Mai-tre-ya-na-tha hoặc của Vô Trước: A-tì-đạt-ma tập luận (s: abhidharma-samuccaya) được trình bày theo dạng của Duy thức tông, Ðại thừa kinh trang nghiêm luận (mahāyānasūtralaṅkāra-śāstra), Trung biên phân biệt luận (mādhyānta-vibhāga-śāstra), một bài luận ngắn có tính giáo khoa và bộ luận Du già sư địa (yogācārabhūmi-śāstra) nổi tiếng.
man
1) Vòng hoa đội đầu: A chaplet—A head-dress—A coiffure. 2) Chuỗi ngọc: Jade necklace. 3) Hoa Mạt Lợi (hoa lài): Jasmine.
man mác
1) Vague. 2) Immense—Very large—Vast.
Man mạch
(蠻貊, 蠻貉, 蠻貃): tên gọi của một bộ tộc lạc hậu ở phương Nam và phương Bắc; đôi khi nó còn được dùng chỉ cho những bộ tộc lạc hậu ở khắp nơi. Trong lòng sớ trên, từ này có nghĩa là mọi người. Trong bài Bồi Địch Viên Ngoại Tảo Đăng Phủ Tây Lâu Nhân Trình Viện Trung Chư Công (陪狄員外早秋登府西樓因呈院中諸公) của Sầm Tham (岑參, 715-770) nhà Đường có câu: “Uy thanh chấn man mạch, huệ hóa chung Hoa Dương (威聲振蠻貊、惠化鍾華陽, uy thanh chấn mọi rợ, ân huệ động Hoa Dương).” Hay như trong Trà Hương Thất Tùng Sao (茶香室叢鈔), phần Bao Thuận (包順) của Du (俞樾, 1821-1907) nhà Thanh cũng có đoạn: “Án Bao Công tại đương nhật dĩ danh động man mạch như thử (按包公在當日已名動蠻貊如此, theo như ông Bao Thuận vào ngày này đã gây tiếng tăm động đến đám mọi rợ như vậy).”
man thù thất lỵ
Xem Văn thù sư lợi Bồ tát.
man trà la
Manta (P), Ngag (T)Xem Mantra.
man trá
Fraudulent.
man tỳ na dạ ca bồ tát
Xem Kim cang Thực thiên.
man đá la
Xem man trà la.
Man-tra
S: mantra;|Là một số âm, chứa đựng sức mạnh đặc biệt của vũ trụ hoặc biểu hiện của một khía cạnh nào đó của Phật tính. Trong nhiều trường phái Phật giáo, Man-tra hay được lập lại trong các buổi tu tập hành trì, đặc biệt trong Kim cương thừa ở Tây Tạng. Ở đây Man-tra trở thành phương tiện trợ giúp tâm thức hành giả. Trong ba ải Thân, khẩu, ý thì Man-tra thuộc về khẩu và tác động thông qua âm thanh rung động do sự tụng niệm Man-tra phát sinh. Hành giả luôn luôn vừa đọc Man-tra vừa quán tưởng một đối tượng và tay giữ một Ấn (s: mudrā) nhất định như Nghi quỹ (s: sādhana) chỉ dẫn.|Trong các trường phái tại Tây Tạng thì chức năng của các Man-tra của mỗi cấp Tan-tra khác nhau. Có khi, trong lúc niệm Man-tra hành giả phải tập trung lên mặt chữ của Man-tra này hay tập trung lắng nghe âm thanh của nó. Nếu hành giả tập trung lên mặt chữ, thì các chữ đó hiện thành linh ảnh. Nếu tập trung lên âm thanh thì hành giả cần niệm thành tiếng hay tưởng tượng ra thanh âm của nó. Chương 5 của tác phẩm Subāhuparipṛcchā có ghi:|Lúc đọc Man-tra,|Ðừng quá gấp rút,|Ðừng quá chậm rãi,|Ðọc đừng quá to tiếng,|Ðừng quá thì thầm,|Không phải lúc nói năng|Không để bị loạn động.
Man-đa-la
S: maṇḍala; nguyên nghĩa là »vòng tròn, vòng cung«;|Một khái niệm quan trọng của Phật giáo Tây Tạng và Kim cương thừa. Ðó là biểu tượng của vũ trụ và lực lượng trong vũ trụ diễn tả bằng những tranh vẽ. Người ta sử dụng Man-đa-la để tập trung thiền định, nó là xuất phát điểm của nhiều phương pháp Quán đỉnh. Tại Tây Tạng, người ta hiểu Man-đa-la là »trung tâm và ngoại vi«, là cơ sở để hiện tượng hợp nhất với bản thể. Vì vậy trong một Man-đa-la, người ta thường thấy vô số cảnh vật, hình tướng khác nhau, nhưng chúng nằm trong một tranh vẽ duy nhất với thứ tự trên dưới rõ rệt.|Trong Kim cương thừa, Man-đa-la không chỉ là đối tượng thiền quán mà còn là bàn thờ để thiền giả bày biện các lễ vật hay pháp khí. Tuy thế muốn được làm như thế, hành giả phải được một vị đạo sư thừa nhận và cho phép thực hiện Nghi quỹ (s: sādhana) đó. Mỗi Man-đa-la đều nhắm đến một vị Phật nhất định và vì thế lễ vật hay pháp khí đều phải phù hợp. Kim cương thừa xem mọi thứ đều có thể là Man-đa-la, từ thế giới ngoại cảnh đến chính bản thân hay tâm thức mình. Tuy nhiên theo truyền thống người ta hay xem Man-đa-la là một lâu đài hình vuông có bốn cửa nhìn ra bốn phía. Có 4 cách để xây dựng một Man-đa-la: 1. Bằng một bức hoạ (Thăng-ka), 2. Bằng cát nhuộm màu, 3. Bằng từng đống gạo nhỏ và 4. Bằng vật thể ba chiều, thường là kim loại. Nếu trung tâm của Man-đa-la vẽ một vị thần mặt mày dữ tợn, thường Man-đa-la đó hay chỉ tính vô thường của vạn sự, được vẽ với tử thi vây tròn chung quanh. Có khi Man-đa-la được vẽ với biểu tượng của các Phật gia (buddhakula).
manatthaddha
Manatthaddha (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
mang
To wear—To carry.
mang luân đồng tử kinh
Xem Đại Mang luân đồng tử kinh.
mang mang
Very far.
mang mang kê bồ tát
Xem Thủy Tạng Phật.
mang mang lục đạo
Bustling about and absorbed in the six paths of transmigration.
; (忙忙六道) Sáu ngả mịt mờ. Người ở thế gian suốt đời bận rộn, rong ruổi ngược xuôi, mải mê danh lợi, gây bao nghiệp ác, một khi vô thường ập đến, phải gánh chịu nỗi khổ luân hồi sinh tử trong 6 đường. Bài kệ trong Vãng sinh lễ tán nói (Đại 47, 440, hạ): Người đời bận rộn ngược xuôi. Chẳng hay tuổi thọ vụt trôi từng giờ Như đèn trước gió lập lờ Sáu đường thăm thẳm mịt mờ về đâu? Thế gian là cuộc bể dâu Gắng công thức tỉnh ngỏ hầu thoát ra.
mang máng
Vaguely—Dimly.
mang mãng kê bồ tát
(忙莽鶏菩薩) Mang mãng kê, Phạm: Màmakì. Cũng gọi: Mang mạc kế bồ tát, Mãng ma kế bồ tát, Ma mạc chỉ bồ tát, Mang mãng kế bồ tát, Mang mang kê bồ tát, Mãng mạc chỉ bồ tát, Ma ma kê bồ tát, Ma mạc kê kim cương mẫu bồ tát, Mang mạc kế minh phi. Hán dịch: Kim cương mẫu, Đa mẫu. Mẹ Kim cương của tất cả chư Phật, Bồ tát, tiêu biểu cho trí tuệ Bát nhã. Vì là mẹ của Kim cương bộ trong Mật giáo, cho nên các Mạn đồ la thuộc Kim cương bộ đều có bài trí vị Bồ tát này. Về hình tượng của vị Bồ tát này, trong các kinh nói có khác nhau. Theo phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật, thì Ngài cầm chày Kiên tuệ, đeo chuỗi anh lạc. Theo kinh Bất không quyên sách quyển 9, thì Ngài ngồi bán già, tay trái ngửa lên đặt ở dưới rốn, tay phải cầm chày kim cương. Theo kinh Bồ đề tràng quyển 2, thì thân Ngài màu xanh nhạt, trang sức bằng các thứ ngọc anh lạc, ngồi trên hoa sen, thân an tĩnh, trụ nơi tự tính bát nhã ba la mật, tay phải cầm quyển kinh chữ Phạm, tay trái cầm hạt châu Chân đa trong tư thế kết ấn Thí nguyện. Chủng tử là (tri), ở trong định Như như vô cấu, nghĩa là các Kim cương từ định này sinh ra; hình Tam muội da là chày 3 chẽ, tượng trưng cho việc sinh trí tuệ kiên cố. Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới cho rằng, bồ tát Kim cương thủ trì kim cương trong viện Kim cương thủ chính là vị tôn này. [X. phẩm Họa tượng trong kinh Nhất tự Phật đính luân vương Q.thượng; kinh Đà la ni tập Q.7; Đại nhật kinh sớ Q.10; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7]. (xt. Kim Cương Thủ Trì Kim Cương Bồ Tát).
mang nợ
To be in debt (indebted).
mang theo
To carry on—Nothing anyone did ever lost, but was carried on from life to life, either happiness or pain.
mang tiếng
To suffer a bad reputation—To have a bad name.
mang xuống
To carry down.
mang xuống tuyền đài
To carry down to the hades.
mang đi
To carry away.
mang đến
To bring along.
mang ơn
To owe a debt of gratitude to someone—Owing thanks.
manh
1) Mù—Blind. 2) Miếng: Mảnh—Piece.
manh bả
Mù và què, ý nói một vị thầy hôn ám—Blind and lame, an ignorant teacher.
manh long
Con rồng mù, xuất hiện trước Phật và được Phật cho biết rằng cái mù của nó là do bởi kiếp trước nó làm một vị tăng tội lỗi—The blind dragon who appealed to the Buddha and was told that his blindness was due to his having been formerly a sinning monk.
manh minh
Sự đuôi mù và trong bóng tối, không thấy được đâu là chân lý—Blind and in darkness, ignorant of the truth.
; (盲冥) Đui mù, tối tăm. Người bị phiền não vô minh ngăn che, không thấy được chân lí, giống như người mù không thấy các vật. Luận Đại trí độ quyển 40 (Đại 25, 355 thượng), ghi: Ngài Xá lợi phất nói: Nếu Thầy ta không xuất hiện, thì chúng ta mãi mãi ở trong chỗ mù mịt tối tăm(manh minh). Kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 9 trung), nói: Vì tham ái tự che, nên mù mịt không thấy đạo. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.16].
manh mục
Blind.
manh nhân thuyết nhũ
(盲人說乳) Người mù nói sữa. Người mù chấp bậy vào ấn tượng của mình để biểu đạt sự nhận thức về màu sắc của sữa, ví dụ ngoại đạo chấp chặt thiên kiến của mình, vĩnh viễn không có cách gì hiểu được chân lí Phật pháp. Kinh Đại bátniết bàn quyển 14 (bản Bắc) cho rằng, các ngoại đạo ngây ngô như trẻ con, lại không có tuệ phương tiện, vì thế khó thấu suốt được những nghĩa lí của Phật dạy như: Thường và vô thường, ngã và vô ngã, thực và phi thực, hữu và phi hữu, khổ và lạc, tịnh và bất tịnh v.v... rốt cuộc cứ bám vào mặt chữ trong kinh mà chấp bậy là có thường, lạc, ngã, tịnh mà thực thì chẳng biết chân nghĩa của thường, lạc, ngã, tịnh (4 đức của Niết bàn) là gì, hệt như người mù bẩm sinh, chẳng biết màu sắc của sữa, bèn hỏi người khác, họ bảo sữa trắng như con sò, người mù liền cho màu sữa như tiếng con sò phát ra; họ lại nói sữa trắng như bột gạo, người mù liền cho màu sữa mềm dẻo như bột gạo; họ lại bảo sữa trắng như tuyết, người mù liền cho màu sữa lạnh như tuyết; họ lại nói màu sữa trắng như hạc, nhưng đến đây thì người mù mờ mịt không biết. Tuy người mù nghe 4 cách thí dụ nhưng vẫn không làm sao biết được màu sắc đích thực của sữa là thế nào. Kinh Niết bàn lấy đó ví dụ cho ngoại đạo chẳng bao giờ liễu ngộ được quả đức Đại niết bàn thường, lạc, ngã, tịnh một cách chân chính. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1, phần 3].
manh quy
Rùa mù gặp khúc gổ trôi giữa biển đã là khó, ví với sanh làm người và gặp được Phật Pháp lại càng khó hơn (ý nầy ví với một con rùa mù giữa biển khơi mà vớ được khúc gỗ nổi. Theo Kinh Tạp A Hàm, trong biển cả có một con rùa mù, sống lâu vô lượng kiếp, cả trăm năm mới trồi đầu một lần. Có một khúc cây, trên có một lỗ lỏng, đang trôi dật dờ trên mặt nước, rùa ta khi trồi lên đến mặt nước cũng vừa chạm vào bọng cây. Kẻ phàm phu lăn trôi trong biển đời sanh tử, muốn trở lại được thân người quả là khó hơn thế ấy)—It is as easy for a blind turtle to find a floating log as it is for a man to be reborn as a man, or to meet with a Buddha and his teaching (The rareness of meeting a Buddha is compared with the difficulty of a blind sea-turtle finding a log to float on, or a one-eyed tortoise finding a log with a spy-hole through it).
manh quy phù mộc
(盲龜浮木) Rùa mù gỗ nổi. Con rùa mù giữa biển cả, gặp được khúc gỗ nổi, ví dụ được làm thân người, gặp Phật nghe pháp là rất khó. Kinh Tạp a hàm quyển 15 (Đại 2, 108 hạ), nói: Lúc ấy, đức Thế tôn bảo các tỉ khưu: Ví như mặt đất biến thành biển cả, có một con rùa mù sống vô lượng kiếp, một trăm năm mới ló đầu ra một lần, giữa biển có khúc gỗ nổi với 1 lỗ hổng duy nhất, bình bồng theo chiều gió, lúc dạt sang đông, lúc trôi sang tây, con rùa mù liệu có gặp được cái lỗ hổng trong khúc gỗ kia mà chui vào không? Ngài A nan thưa: Bạch Thế tôn! Khó lắm, vì sao? Vì nếu rùa mù bơi về phía đông thì khúc gỗ lại theo gió trôi về phía tây, hoặc nam, bắc 4 phía xoay vòng cũng vậy, nên khó gặp được nhau. Đức Phật bảo ngài A nan: Rùa mù và khúc gỗ nổi tuy 2 ngã trái nhau, nhưng may ra còn có khi gặp được, chứ phàm phu ngu si trôi dạt trong 5 đường, cơ may được lại thân người còn khó hơn việc rùa mù gặp gỗ nổi rất nhiều. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 5 phần 4 (Đại 46, 303 thượng), nói: Được sinh làm người khó, Gặp Phật pháp khó hơn. Giống như giữa biển khơi Rùa mù gặp gỗ nổi. Thí dụ trên đây rất nổi tiếng, thường được nói đến trong kinh luận. Nhưng Manh qui là chỉ cho rùa mù 1 mắt, chứ không phải mù cả 2 mắt, cho nên phẩm Diệu trang nghiêm vương trong kinh Pháp hoa quyển 7 và kinh Tạp a hàm đều gọi là Nhất nhãn qui (rùa 1 mắt). Lại có thuyết nói 1 mắt này nằm ở bụng con rùa, nhưng không rõ xuất xứ. [X. kinh Chứng khế đại thừa Q.thượng; kinh Đại thừa đồng tính Q.thượng; kinh Đại bát niết bàn Q.23 (bản Bắc); kinh Đại bảo tích Q.54]. (xt. Nhất Nhãn Chi Qui).
manh tâm
To mean to—To intend to.
Manh 盲
[ja] モウ、ボウ mō, bō ||| (1) Blind, blindness; a blind person. (2) Dark, obscure. => 1. Mù, mù quáng; người mù. 2. Tối tăm, mờ mịt.
mao
1) Lông mao: Hair. 2) Lông vũ: Feather. 3) Rơm: Thatch.
mao bệnh
Bệnh hoạn—Ailment—Flaw.
mao cái đầu
1) Một bó cỏ rơm dùng làm nón che đầu: A handful of thatch to cover one's head. 2) Một mái tranh: A hut. 3) Một tự viện: A monastery.
mao huệ tú
(毛惠秀) Họa sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Nam Tề, người Dương vũ (Hà nam). Ông đã cùng với người anh là Huệ viễn theo họa sĩ Cố khải học vẽ, chuyên vẽ tượng Phật và các nhân vật có thật ở đời xưa. Ông từng theo ý trong các kinh, cất 1 ngôi điện đường thờ các pho tượng, trong đó ông bài trí hàng trăm tượng Phật, Bồ tát, người trời v.v... trông hiền hòa, sống động, tinh tế, trang nhã, những bức vẽ biến tướng đời sau đều phỏng theo những tác phẩm này. Khoảng năm Vĩnh minh (483-493) đời Vũ đế nhà Tề, ông mất ở nhà riêng.
mao khổng
Lổ chơn lông—Hair-hole—Pore.
Mao luân
毛輪; C: maó lún; J: mōrin; S: keśa-uṇduka.|Sự ví von được dùng như nghĩa của Không hoa (空華). Ẩn dụ cho ảo giác mê lầm khi nhìn lên trời lâu, khiến mắt bị suy yếu mỏi mệt nên thấy những hình tượng như vậy.
Mao luân 毛輪
[ja] モウリン mōrin ||| (keśa-uṇduka) "Hair circles." A similes used in the way of that of sky-flowers 空華. A metaphor for optical illusion that one sees in the sky as a result of impaired condition of the eyes. (s: keśa-uṇduka). => Sự ví von được dùng như nghĩa của Không hoa 空華. Ẩn dụ cho ảo giác mê lầm khi nhìn lên trời lâu, khiến mắt bị suy yếu mỏi mệt nên thấy những hình tượng như vậy.
mao lăng vân
(毛淩雲) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người Thông thành, tỉnh Hồ bắc, hiện là Dịch viên. Ông tốt nghiệp Luận khoa Đại học Bắc kinh. Ông từng giữ nhiều chức vụ trong hội Phật giáo Trung quốc, tích cực góp sức vào công cuộc hoằng pháp lợi sinh. Như mở trường giảng dạy Phật học, in ấn Đại tạng kinh v.v...Ông có các tác phẩm: Tịnh độ tùng thư, Tục tịnh độ thập yếu, Tịnh độ Thánh hiền lục tứ biên, Quan âm linh cảm lục tục biên, Niệm Phật pháp yếu, Niệm Phật tam yếu, Tại gia giới nghi lục yếu, Khổ hải mộng.
mao phường chủ
(毛坊主) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho người tại gia thay thế chư tăng làm các Phật sự ở những nơi xa xôi hẻo lánh, không có chùa cảnh và các sư hành đạo.
mao sơn phái
Mao-shan p'ai (C)Một phân nhánh Đạo gia do Đào Hoằng Cảnh sáng lập vào thế kỷ thứ 6.
Mao Thi
(毛詩): tên gọi khác của Thi Kinh (詩經), có nhiều hệ thống về việc truyền thọ Thi Kinh này. Bản mà do Mao Hanh (毛亨, ?-?, tức Đại Mao Công [大毛公]) người nước Lỗ (魯), truyền vào đầu thời nhà Hán thì gọi là Mao Thi. Mao Hanh viết nên Cổ Huấn Truyện (詁訓傳), rồi truyền cho môn nhân của ông là Mao Trường (毛萇, tức Tiểu Mao Công [小毛公]), và lưu hành trong thế gian. Thi Kinh hiện tại chính là Mao Thi này.
mao thằng
A hair rope (tied up by the passions, as with an unbreakable hair rope.
; (毛繩) Sợi dây trói buộc thân thể làm cho sây da, ê xương; ví dụ danh lợi thế gian trói buộc con người, làm cho đứt nát cội gốc công đức, khiến người ta không được giải thoát. [X. kinh Biệt dịch Tạp a hàm Q.7; luận Đại trí độ Q.5].
Mao Tế Khả
(毛際可, 1633-1708): tự là Hội Hầu (會侯), hiệu Hạc Phang (鶴舫); cuối đời lấy hiệu là Tùng Cao Lão Nhân (松皋老人); xuất thân vùng Toại An (遂安, nay thuộc Triết Giang [浙江]), đỗ Tiến Sĩ vào năm thứ 15 (1659) niên hiệu Thuận Trị (順治). Ông đã từng quan ở Phủ Chương Đức (彰德府, nay là Phố An Dương [安陽市]), Hà Nam (河南); có công trạng hiển hách, nên sau đổi làm Huyện Lịnh của Thiểm Tây (陝西). Đến năm thứ 18 (1679) đời Khang Hy, ông trúng cử Khoa Bác Học Hồng Từ (博學鴻詞科); đến năm thứ 23 (1682) thì tu chỉnh bộ Triết Giang Thông Chí (浙江通志). Ông cùng với Mao Kỳ Linh (毛奇齡), Mao Nhã Hoàng (毛稚黃) xưng là Tam Mao (三毛); và người đương thời gọi họ là Triết Trung Tam Mao (浙中三毛), Văn Trung Tam Hào (文中三豪). Vào năm thứ 47 (1707) đời Khang Hy, ông nhuốm bệnh và qua đời tại tư gia. Trước tác của ông có rất nhiều như Xuân Thu Tam Truyện Khảo Dị (春秋三傳考異) 12 quyển, Tùng Cao Văn Tập (松皋文集) 10 quyển, An Tự Đường Văn Sao (安序堂文鈔) 30 quyển, Thập Dư Thi Cảo (拾余詩稿) 4 quyển, Kiềm Du Nhật Ký (黔游日記) 1 quyển, Hội Hầu Văn Sao (會侯文鈔) 20 quyển, v.v.
Mao đoan
(毛端): trong lỗ chân lông. Trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō No. 945) quyển 2 có đoạn: “Ư nhất mao đoan, biến năng hàm thọ thập phương quốc độ (於一毛端、遍能含受十方國土, trong một lỗ chân lông, có thể chứa đựng khắp mười phương quốc độ).” Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Chánh Mạch Sớ (大佛頂首楞嚴經正脈疏) quyển 11 giải thích rằng: “Mao đoan, tức thâm mao khổng trung, chánh báo chi tối tiểu giả dã; thập phương quốc độ, y báo chi tối đại giả dã; mao đoan hàm thập phương, tức tiểu nhiếp đại, thập phương tại mao đoan, tức đại nhập tiểu, mao trung khán quốc (毛端、卽身毛孔中、正報之最小者也、十方國土、依報之最大者也、毛端含十方、卽小攝大、十方在毛端、卽大入小、毛中看國, Mao đoan, tức là trong lỗ chân long của thân, là cái chánh báo nhỏ nhất; cõi nước trong mười phương, là cái y báo lớn nhất; trong lỗ chân lông chứa đựng mười phương là cái nhỏ thâu nhiếp cái lớn; mười phương ở trong lỗ chân lông, tức là cái lớn thâu vào trong cái nhỏ, trong lông có thể thấy cõi nước).” Như trong Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện (普賢行願品) của Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經) có câu: “Ư nhất mao đoan cực vi trung, xuất hiện tam thế trang nghiêm sát, thập phương trần sát chư mao đoan, ngã giai thâm nhập nhi nghiêm tịnh (於一毛端極微中、出現三世莊嚴剎、十方塵剎諸毛端、我皆深入而嚴淨, trong một lỗ chân lông cực nhỏ, xuất hiện ba đời cõi trang nghiêm, mười phương các lỗ chân lông nhỏ như hạt bụi, ta đều vào sâu trong để làm cho trang nghiêm, trong sạch).” Trên cơ sở “tiểu nhiếp đại (小攝大, cái nhỏ dung nhiếp cái lớn)” hay “trong một pháp hiện hữu tất cả các pháp” của giáo lý Duyên Khởi, trong Nhân Thiên Nhãn Mục (人天眼目) quyển 1 có câu: “Mao thôn cự hải, giới nạp Tu Di (毛吞巨海。芥納須彌, sợi lông nuốt chửng biển lớn, hạt cải nạp Tu Di).” Thiền Sư Khánh Hỷ (慶喜, 1066-1142) của Việt Nam cũng có câu tương tợ như vậy: “Càn khôn tận thị mao đầu thượng, nhật nguyệt bao hàm giới tử trung (乾坤盡是毛頭上、日月包含芥子中, càn khôn thâu trọn trên đầu lông, trời trăng gộp thâu trong hạt cải).” Hay trong Thiền Lâm Cú Tập (禪林句集) cũng có câu: “Truy đại bàng ư ngẫu ty khiếu trung, nạp Tu Di ư tiêu minh nhãn lí (追大鵬於藕絲竅中、納須彌於蟭螟眼裏, đuổi đại bàng vào trong lỗ sợi lông ngó sen, nạp cả núi Tu Di vào trong tròng mắt con ruồi).” Câu “Mao đoan chi nội, bao hàm trần sát chi dư (毛端之內、包含塵刹之餘)” có nghĩa là trong lỗ chân lông có thể chứa đựng nhiều cõi nước như hạt bụi.
mao đạo
See Mao Đầu.
; (毛道) Phạm: Vàlapatha. I. Mao Đạo. Cũng gọi: Mao đoan, Mao đầu. Tức là đầu sợi lông, ví dụ một nơi cực nhỏ. II. Mao Đạo. Cũng gọi: Mao đầu. Chỉ cho phàm phu, nghĩa là tâm hành của phàm phu không định, giống như những sợi lông nhẹ vật vờ bay theo gió. Nhưng bản tiếng Phạm thì có 2 âm là Bà la (bàla) nghĩa là ngu; Phạ la (vàla) nghĩa là lông. Trong kinh Kim cương bát nhã do ngài Bồ đề lưu chi dịch, phàm phu được dịch là Mao đạo phàm phu đây là dịch ngữ của nửa trước từ Anh ngu phàm phu (Phạm:Bàlapfthag-jana) đã bị truyền lầm là Vàlapatha, nghĩa là dịch lầm Anh ngu phàm phu ra Mao đạo phàm phu. Căn cứ vào đây, các bản dịch khác của kinh Kim cương cũng giải nghĩa là Tiểu nhi phàm phu (bản dịch của ngài Cấp đa), hoặc Anh nhi phàm phu (bản dịch của ngài Chân đế). [X. Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng phần đầu; Huyền ứng âm nghĩa Q.4; Tuệ lâm âm nghĩa Q.10].
mao đầu
tên khác của phàm phu—A name for ordinary people (phàm phu, non-Buddhists, or the unenlightened).
; (毛頭) I. Mao Đầu. (xt. Mao Đạo). II. Mao Đầu. Cũng gọi Thế đầu hành giả. Chức vụ của vị tăng chuyên trách việc cạo sạch râu tóc cho đại chúngtrong Thiền lâm. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên loại thứ 7].
mao đầu phàm phu
An ignorant, gullible person.
marpa
Marpa (S), 1012-1097 C.E. (1012-1097) Một nhà du già nổi tiếng miền nam Tây tạng, còn được người đời gọi là Đại Dịch giả, ông là học trò của Naropa và Atisha, và là thầy của Milarepa. Ngài là người đã du nhập Đại Ấn pháp từ Ấn độ và Naro Chodrug vào Tây tạng.
matanga ariya
Matanga Ariya (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
mau
Quick—Rapid.
mau như chớp
As quick as (a streak of) lightning.
mau như tên bay
As quick as an arrow.
mau tay
Quick-handed.
mau trí
Quick-witted.
may
1) Lucky—Fortunate. 2) To sew—To stitch.
may mắn
See May (1).
may phước
Luckily—Fortunately.
may rủi
Risky—Chancy.
may sao
See May phước.
maï
Lăng nhục hay chửi bới—To curse—To scold.
maø
But.
Mã Tổ Đạo Nhất
(馬祖道一, Baso Dōitsu, 709-788): vị Thiền tăng thuộc môn hạ của Nam Nhạc, họ Mã (馬), người vùng Thập Phương (什邡), Hán Châu (漢州, Tỉnh Tứ Xuyên). Khi vừa mới sanh ra ông đã có những dị tánh khác người, lưỡi kéo dài lên đến mũi. Mới lên 9 tuổi mà ông đã thông làu kinh luận, nên được đưa vào La Hán Tự (羅漢寺) trong làng để tu, sau xuất gia với Xử Tịch (處寂) ở Tư Châu (資州, thuộc Tỉnh Tứ Xuyên ngày nay), và thọ cụ túc giới với Viên Luật Sư (圓律師) ở Du Châu (渝州, thuộc Tỉnh Tứ Xuyên ngày nay). Sau đó ông trãi qua cuộc sống sơn cư tu hành tại Trường Tùng Sơn (長松山) vùng Ích Châu (益州, Tỉnh Tứ Xuyên) cũng như Minh Nguyệt Sơn (明月山) vùng Kinh Nam (荆南, Tỉnh Hồ Bắc). Ông nghe có Hoài Nhượng (懷讓), môn hạ của Lục Tổ Huệ Năng (慧能), đang tu hành tại Nam Nhạc (南岳, Tỉnh Hồ Nam), nên ông đến bái kiến, nghe được câu chuyện “Nam Nhạc Ma Chuyên (南嶽磨磚, Nam Nhạc Mài Ngói)” thì hoát nhiên đại ngộ, đạt được tâm ấn. Vào khoảng niên hiệu Thiên Bảo (天寶) nguyên niên (742), ông bắt đầu khai mở đạo tràng giáo hóa tại Phật Tích Nham (佛跡巖) vùng Kiến Dương (建陽, thuộc Tỉnh Phúc Kiến ngày nay); rồi ông đến sống qua các nơi như Tân Khai Tự (新開寺) bên bờ bắc Hồ Bà Dương (鄱陽湖) vùng Nam Khang (南康, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay), Tây Lí Sơn (西裏山) vùng Phủ Châu (撫州, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay), Cung Công Sơn (龔公山) vùng Kiền Châu (虔州, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay). Vào năm thứ 4 (769) niên hiệu Đại Lịch (大曆), ông trú tại Khai Nguyên Tự (開元寺, có thuyết cho là Hựu Thanh Tự [佑清寺]) vùng Chung Lăng (鍾陵, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay), và nổ lực cử xướng Thiền phong của mình tại đây. Đến cuối đời, ông đến trú tại Bảo Phong Tự (寳峰寺) thuộc Thạch Môn Sơn (石門山) vùng Lặc Đàm (泐潭), và xem như đó là nơi cuối cùng của đời mình. Vào ngày mồng 1 tháng 2 năm thứ 4 niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi đời. Môn nhân của ông là Quyền Đức Dư (權德輿) soạn ra bài tựa văn bia Đường Cố Hồng Châu Khai Nguyên Tự Thạch Môn Đạo Nhất Thiền Sư Tháp Minh Tinh Tự (唐故洪州開元寺石山道一禪師塔銘幷序), và dựng tháp cho Mã Tổ tại Thạch Môn Sơn. Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (806-820), ông được vua Hiến Tông (憲宗) ban cho thụy hiệu là Đại Tịch Thiền Sư (大寂禪師). Trước tác Mã Tổ Thiền Sư Ngữ Lục (馬祖禪師語錄, 1 quyển) hiện còn lưu hành. Vì ông giáo hóa chủ yếu vùng Giang Tây (江西) làm trung tâm, nên ông cùng với Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷) ở Hồ Nam (湖南) được xem như là cặp song bích của Thiền giới đương thời. Thiền phong của ông lấy tư tưởng “bình thường tâm thị đạo”, “tức tâm thị Phật” làm tiêu chỉ, là Thiền của đại cơ đại dụng, không y cứ vào bất cứ kinh điển hay quán tâm nào cả. Hơn 130 nhân vật kiệt xuất ra đời từ môn phong của ông như Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), Tây Đường Trí Tàng (西堂智藏), Nam Đường Phổ Nguyện (南堂普願), Diêm Quan Tề An (塩官齊安), Đại Mai Pháp Thường (大梅法常), Quy Tông Trí Thường (歸宗智常), Phần Châu Vô Nghiệp (汾州無業), v.v., và chính họ đã làm cho môn phong Nam Nhạc độc bá thiên hạ.
men
1) Ferment (of wine). 2) Enamel (of teeth). 3) Varnish (earthenware). 4) To come near—To approach—To go along.
men theo
See Men (4).
men xứ
See Men (3).
methula
Methula (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
mi
Lông mày—Eyebrows.
mi gian bạch hào tướng
Ùrnà (S). The curl of white hair between the eyebrows of the Buddha, one of the thirty two signs of Buddhahood.
; Urna (skt)—Chùm lông trắng ở giữa hai chân mày của Đức Phật, một trong 32 tướng tốt của Đức Phật—The curl of white hairs, between the eyebrows of the Buddha, one of the thirty-two signs of Buddhahood.
; (眉間白毫相) Phạm: Bhrù-vivaràntarorịà-keza. Cũng gọi My gian hào tướng, My gian bạch mao trường hảo hữu toàn tướng, Khiết bạch hữu oanh tướng. Gọi tắt: Hào tướng, Bạch mao tướng, Bạch hào tướng. Sợi lông trắng mọc giữa khoảng 2 đầu chân mày của Phật và Bồ tát, là 1 trong 32 tướng của đức Như lai. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 nói rằng, từ sợi lông trắng ở giữa khoảng 2 đầu chân mày của Phật phóng ra luồng ánh sáng soi khắp 1 vạn 8 nghìn thế giới ở phương đông. Sợi lông này rất mềm mại, thanh tịnh, xoắn tròn theo chiều bên phải. Kinh Ưu bà tắc giới quyển 1 (Đại 24, 1040 thượng), nói: Khi còn tu hạnh Bồ tát, trong vô lượng kiếp, Ngài đã tuyên thuyết chính pháp, là pháp chân thực không hư dối, cho nên kiếp này cảm quả báo được tướng lông trắng phóng ra hào quang. Xưa nay, giữa 2 đầu chân mày của những tượng Phật đắp hoặc chạm trổ, phần nhiều người ta nạm bạch ngọc hoặc thủy tinh để biểu trưng cho tướng này. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.9; kinh Vô thượng y Q.hạ; Vãng sinh yếu Tập Q.trung].
mi gian quang
Theo Kinh Pháp Hoa, mi gian quang là ánh sáng trắng phát ra từ giữa cặp chân mày của Đức Phật, luồn sáng nầy chiếu sáng khắp các cõi—According to the Lotus Sutra, this is the ray light which issued therefrom lighting up all worlds.
mi lan đa
Xem Di lan đà.
mi lan đa vấn đáp
Xem Na Tiên tỳ kheo Kinh.
mi phân bát tự
(眉分八字) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hàng lông mày hai bên trông giống như hình chữ bát (...); đó là điều rõ ràng, bởi vậy, Thiền tông dùng nhóm từ My phân bát tự (lông mày chia làm chữ bát) để biểu thị cho lí đương nhiên. Tắc 30 trong Bích nham lục (Đại 48, 169 hạ) chép: Vị tăng hỏi ngài Triệu châu: Nghe nói Hòa thượng đã tận mắt thấy ngài Nam tuyền, có đúng thế không? (nghìn nghe không bằng 1 thấy, đương nhiên là như vậy (my phân bát tự!).
mi sa ca sơn
(眉沙迦山) Pàli: Missaka. Núi ở miền Bắc đảo Tích lan, cách cố đô A nâu la đà bổ la về phía đông khoảng 12 cây số, là ngọn núi linh thiêng bậc nhất trên đảo. Khoảng 200 năm sau đức Phật nhập diệt, vua A dục phái vương tử là tỉ khưu Ma hi đà và sa di Tu ma na đến Tích lan truyền pháp. Lúc bấy giờ, vua nước Tích lan là Thiên ái Đế tu đang săn bắn ở núi này, đã gặp ngài Ma hi đà, được ngài giáo hóa, vua liền qui y và rước ngài về đô thành. Sau đó, Hoàng hậu và các quan đều qui y Phật đạo. Về già, ngài Ma hi đà ở ẩn tại núi này. Sau khi ngài thị tịch, để ghi nhớ công đức của Thầy, các vị đệ tử đã đổi tên núi My sa ca thành Di hi đà la (Mihintale). Khi ngài Pháp hiển đời Đông Tấn, từ Trung quốc đến đây, ngài thấy ở phía đông chùa Vô úy sơn có 1 dãy núi, tên là Bạt đề, có lẽ là núi Di hi đà la, trên đó còn có 1 ngôi tinh xá. Chỗ cách mặt nước biển hơn 300 mét, có 1 ngọn núi đứng trơ trọi, từ chân núi lên đến đỉnh núi gồm 1.800 bực thềm đá. A bạt sa la (Ambatthala) trên đỉnh núi tương truyền là di tích lúc ngài Ma hi đà mới đặt chân lên đất nước Tích lan. Tại Y tì ha la (Etvihara) hiện còn 1 tòa tháp thờ tóc của đức Phật, là do vua Bạt đế da (Bhatia) xây dựng vào thế kỉ I Tây lịch. Ở chỗ vua Thiên ái Đế tu và ngài Ma hi đà gặp nhau, hiện còn được ghi dấu bằng 1 ngôi tháp bằng đá hình tròn, tên là tháp A bố tư (Ambustella), chung quanh có lan can bằng đá hình bát giác bao bọc. Từ 1 mặt của sườn núi, người ta có thể thấy thành cũ của nhà vua từ đằng xa, nơi ấy gọi là giường Ma hi đà. Ngoài ra, trên mặt đá khắp nơi trên núi này đều có khắc những bài minh nói về sự tích nhân từ của nhiều đời vua.
Mi-na-pa
S: mīnapa; »Người cá«; |Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, là một nhân vật thần kì không xác định được trong lịch sử. |Ông là một ngư phủ, ngày nọ ông bị cá nuốt vào bụng nhưng ông vẫn tiếp tục sống trong bụng cá. Ngày nọ, vua trời Ðại Thiên (s: mahādeva, maheśvara, śiva) giảng pháp thâm diệu cho hoàng hậu Ô-ma Ðề-vi (s: umādevī) tại đáy biển để không ai nghe lén. Mi-na-pa nghe được và sau khi vua trời biết thế, ông truyền pháp luôn cho ông. Sau 12 năm tu trong bụng cá, Mi-na-pa đạt chính kiến. Sách chép rằng ông giáo hoá đến 500 năm, làm nhiều phép thần thông, để dấu chân lên đá v.v…|Chứng đạo kệ của ông như sau:|Ngư phủ Mi-na-pa,|lạc trên biển số phận,|sống sót trong bụng cá.|Nhờ học phép Du-già,|tưởng chỉ dành Ô-ma Ðề-vi.|Sau đó, ngay đá tảng,|không mang nổi sức nặng,|đầy minh triết trong ta.
milarepa
Milarepa (C), Mi-la-ras-pa (T)(1052-1135) Là vị thánh nổi tiếng nhất của Tây tạng. Cuộc đời ông là một trong những nguồn cảm hứng vĩ đại nhất đối với những nhà tu ở Tây Tạng.
Minh
明; C: míng; J: myō; |1. Biết, sự hiểu biết; 2. Kinh Vệ-đà (veda); 3. Trí tuệ giác ngộ. Sự giác ngộ (s: vidyā); 4. Chiếu sáng (s: prabhā, āloka, avabhāsa); 5. Khéo léo, tài giỏi (s: kauśala); 6. Ngày mai.
; 冥; C: míng; J: myō;|Có các nghĩa sau: 1. Tối, đặc biệt trong ẩn dụ về Vô minh; 2. Liên kết toàn bộ; hợp nhất; 3. Huyền bí, thần bí.
minh
Aloka (S), Vijjā (P), Vidyā (S), Higher knowledge Trong sáng, một trong 12 loại hiển sắc mắt thường có thể thấy được. Sáng, giác ngộ, trái nghĩa là vô minh (Avidya), có 5 thứ minh: thinh minh - công xảo minh - y phương minh - nhân minh - nội minh.
; Vidyà (S). Bright, clear, enlightenment; wisdom, wise, to undrestand; knowledge. Vô minh commonly tr. "ignorance", means an unlightened condition, non perception, before the stirrings of intelligence, belief that the phenomenal is real etc. Higher knowledge, gnosis.
; 1) Che mờ, đối lại với hiển: Secret, invisible, in contrast with open, manifest. 2) Khắc chữ trên gỗ hay trên đá: To engrave on wood or stone. 3) Trí huệ: Vidya (skt)—Thông minh—Knowledge—Bright—Clear—Wise—Understanding—Enlightenment. 4) Trí Tuệ Phật: The Buddha-wisdom. 5) Chân Ngôn hay Minh do khẩu phát ra (nếu do thân phát ra như hào quang thì gọi là minh): Chân ngôn có khả năng phá trừ hôn ám—True word which can destroy the obscurity of illusion. 6) Nhà Minh bên Trung Quốc khoảng từ 1368 đến 1644: The Ming dynasty in China, around 1368 to 1644 A.D. 7) Sắp tới: Next (day and year). 8) U đồ: Địa ngục tối tăm—Hades. 9) U minh: Darkness—Obscurity. 10) Vô minh: Ignorance—Stupidity.
; (冥) Đối lại: Hiển. Tối tăm, sâu kín, không thể thấy nghe được. Trái lại, Hiển tức hiện rõ, có thể thấy nghe được. Mắt thịt của người phàm không thể thấy được chư Phật, Bồ tát, nhưng trong tối tăm, Phật và Bồ tát vẫn thường thấy chúng ta. Đây gọi là Minh kiến (thấy trong tối tăm). Chư thiên, thiện thần và mắt người trần tục không thể thấy được, gọi là Minh chúng. Chư Phật và Bồ tát dùng nhiều phương tiện quyền xảo âm thầm làm lợi ích chúng sinh, gọi là Minh quyền; thường kín đáo gia hộ cho những ai có lòng tin chân thật, gọi là Minh hộ; âm thầm thêm sức, giúp đỡ, chỉ dẫn chúng sinh, gọi là Minh trợ, Minh hựu, Minh ứng hoặc Minh gia. Chư Phật, Bồ tát trừng phạt ngầm những kẻ làm ác, gọi là Minh phạt; những lợi ích được chư Phật, Bồ tát ban cho một cách kín đáo, gọi là Minh lợi.
; (明) Phạm: Vidyà. Pàli: Vijjà. Hán âm: Phí đà, Bật đà. Sự thấy biết sáng tỏ, thấu suốt. Chỉ cho trí tuệ của bậc Thánh, có năng lực phá trừ tối tăm, ngu muội mà tỏ ngộ chân lí. Cứ theo Phật địa kinh luận thì Minh hay phá trừ sự tối tăm, vì thế lấy tuệ làm tự tính. Vì minh trái với vô minh nên lấy thiện căn vô si làm tự tính. Cứ theo kinh Tam chuyển pháp luân thuộc kinh điển Phật giáo nguyên thủy, thì tu 8 Thánh đạo, hiểu lí 4 đế, sẽ thành tựu nhãn (mắt), trí, minh, giác (đều là những chữ chỉ cho trí tuệ), đạt được Niết bàn. Luận Đại tì bà sa quyển 102 cho rằng tuệ hữu lậu thiện vốn có khả năng thông suốt, hiểu rõ, nhưng không thể nào quyết nghi, phân biệt và hiện quán được 4 Thánh đế, vì thế không được gọi là minh, mà chỉ có Thánh tuệ vô lậu mới gọi là minh. Sở dĩ như thế là vì giữa bậc Thánh Hữu học và Vô học có khác nhau. Đối với bậc Thánh Vô học có năng lực thù thắng thì Túc trụ thông, Sinh tử thông và Lậu tận thông trong 6 thần thông có thể phá trừ sự ngu tối trong 3 đời quá khứ, vị lai và hiện tại, đây gọi là Tam minh của Vô học. Trong đó, Lậu tận thông là chân minh thắng nghĩa; còn Túc trụ thông và Sinh tử thông cũng gọi là Minh, vì 2 thông này thuận theo Chân minh vô lậu (Lậu tận minh), do đó có chút ảnh hưởng của tướng minh, nên tạm gọi là Minh. Chữ PhạmVidyà là do ngữ căn Vid (tri, biết) mà ra, vì thế Minh cũng chỉ cho tri thức, học vấn. Ở Ấn Độ, tất cả học vấn đều thuộc trong Ngũ minh như Thanh minh, Nhân minh v.v... Ngoài ra, các Chân ngôn đà la ni có năng lực phá trừ si ám, tiêu diệt chướng nạn, nên cũng được gọi là Minh. Mật giáo gọi chung ấn khế và chân ngôn là Ấn minh. Theo luận Đại tì bà sa quyển 2 thì thế gian có các luận chú như: Chi minh, Sự minh, Thú minh, Khổng tước minh, Chú long xà minh, Hỏa minh, Thủy minh, Mê loạn minh v.v... Đức Phật là bậc đã trọn đủ 3 minh và hạnh nghiệp của thân khẩu, cho nên ngài được tôn xưng là Minh hạnh túc trong 10 tôn hiệu của Ngài. Hàng Bồ Tát Sơ địa trở lên, do quán xét thực tướng các pháp trong 3 đời mà tỏ ngộ tự tâm, cho nên trong 5 thứ Bồ đề thì Bồ đề minh tâm là Bồ đề mà hàng Bồ Tát Sơ địa trở lên tỏ ngộ. Theo phẩm Thập minh trong kinh Hoa Nghiêm quyển 28 (bản 60 quyển), thì hàng Bồ Tát Thập địa có đủ 10 loại trí minh như sau:1. Tha tâm trí minh. 2. Thiên nhãn trí minh. 3. Túc mệnh trí minh. 4. Vị lai tế trí minh. 5. Thiên nhĩ trí minh. 6. Thần lực trí minh. 7. Phân biệt ngôn âm trí minh. 8. Sắc thân trang nghiêm trí minh. 9. Chân thực trí minh. 10. Diệt định trí minh. Nhưng kinh Hoa Nghiêm (bản 80 quyển) dịch là Thần thông, vì thế mười trí minh cũng gọi là mười thông. [X. kinh La Ma trong Trung A Hàm Q.56; kinh Đại Bát Niết Bàn Q.18 (bản Bắc); luận Câu Xá Q.27; luận Tập dị môn túc Q.3; Đại thừa nghĩa chương Q.20 phần đầu].
Minh Am Vinh Tây
(明庵榮西, Myōan Eisai, 1141-1215): vị tăng của phái Hoàng Long, vị tổ sư khai sáng ra Lâm Tế Tông Nhật Bản, hiệu Minh Am (明庵), còn gọi là Diệp Thượng Phòng (葉上房) hay Thiên Quang Quốc Sư (千光國師), người vùng Bị Trung (僃中, Bicchū, thuộc Okayama-ken [岡山縣] ngày nay), xuất thân gia đình dòng họ Cát Bị Tân Cung Thần Chủ Hạ Dương (吉僃津宮神主賀陽). Xuất gia năm lên 14 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới ở Tỷ Duệ Sơn và có sở trường về Thai Mật (台密, tức Thiên Thai và Mật Giáo), nhưng lại ta thán về sự suy vong của Thiền học, nên ông đã 2 lần nhập Tống cầu pháp. Lần đầu vào tháng 4 năm 1168 (năm thứ 3 niên hiệu Nhân An [仁安]), ông đi tham bái khắp Thiên Thai Sơn (天台山) và Dục Vương Sơn (育王山), gặp vị tri khách của Quảng Huệ Tự (廣慧寺), thâm đắc lý giải về Thiền Tông. Tháng 8 cùng năm đó, ông trở về nước mang theo hơn 30 bộ Thiên Thai Chương Sớ, đem trình cho vị Tọa Chủ của Thiên Thai Tông lúc bấy giờ là Minh Vân (明雲). Lần thứ 2 ông nhập Tống cầu pháp vào năm 1187 (năm thứ 3 niên hiệu Văn Trị [文治]), chính lần này ông dự định vào Ấn Độ nhưng không được và cuối cùng lưu lại Trung Quốc. Ông thọ giáo Thiền Lâm Tế ở Hư Am Hoài Sưởng (虛庵懷敞) trên Thiên Thai Sơn, được chấp nhận vào hệ đồ đời thứ 53 của Lâm Tế Tông. Vào tháng 7 năm 1191 (năm thứ 2 niên hiệu Kiến Cửu [建久]), ông trở về nước, kiến lập Thánh Phước Tự (聖福寺, Shōfuku-ji) ở vùng Bác Đa (博多, Hakata), rồi Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji) ở kinh đô Kyoto, và bắt đầu xiển dương Thiền Tông. Ông có viết bộ Hưng Thiền Hộ Quốc Luận (興禪護國論). Ông cũng có đem loại trà đặc biệt từ Trung Quốc sang Nhật để trồng, từ đó ông trước tác cuốn Khiết Trà Dưỡng Sinh Ký (喫茶養生記). Bên cạnh đó ông còn có các tác phẩm khác như Nhật Bản Phật Giáo Trung Hưng Nguyện Văn (日本佛敎中興願文), Nhập Đường Duyên Khởi (入唐緣起). Vào ngày mồng 5 tháng 7 năm thứ 3 (1125) niên hiệu Kiến Bảo (建保), ông thị tịch, thọ 75 tuổi.
; 明菴榮西; J: myōan eisai; 1141-1215;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, dòng Hoàng Long. Sư được xem là vị Tổ khai sáng Thiền tông tại Nhật Bản. Sư đến Trung Quốc hai lần và lần thứ hai, Sư được Thiền sư Hư Am Hoài Sưởng (虛庵懷敞) ở chùa Vạn Niên trên núi Thiên Thai ấn chứng. Sư cũng là thầy đầu tiên của Ðạo Nguyên Hi Huyền, người khai sáng dòng Thiền Tào Ðộng tại Nhật.|Việc khai sáng Thiền tông tại Nhật được xem là thành tựu của Vinh Tây nhưng sự kiện này phải được đính chính lại một ít bởi vì sự thành lập Thiền tông tại Nhật – nếu nhìn một cách tổng quát – là một quá trình lâu dài, qua nhiều cấp bậc. Sư là người – có thể nói – thực hiện những bước quan trọng đầu tiên để Thiền tông được hưng thịnh tại đây.|Sư sinh ra trong một gia đình mộ đạo tại Bitchū (bây giờ là Okayama), học hỏi Phật pháp từ nhỏ. Năm 14 tuổi, Sư xuất gia trên núi Tỉ Duệ (j: hiei) tại Kinh Ðô (kyōto), trung tâm của Thiên Thai tông tại Nhật Bản. Sư chú tâm học hỏi tất cả những lí thuyết căn bản của Thiên Thai tông và cả Mật giáo của tông này (台密; Thai mật; j: taimitsu) trong thời gian ở tại đây.|Sau đó, Sư quyết định sang Trung Quốc để học hỏi thêm. Lần sang Trung Quốc đầu tiên (1168) đã mang đến cho Sư một ấn tượng về Thiền tông tại đây. Chuyến du học này kéo dài không lâu (7 tháng) và kết quả chỉ là những bài luận của Thiên Thai tông tại Trung Quốc mà Sư mang trở về quê nhà. Chuyến du học thứ hai xảy ra gần hai mươi năm sau đó (1187) và chuyến đi này là mốc ngoặt quan trong trong cuộc đời của Sư. Ban đầu, Sư có ý định đến tận Ấn Ðộ để thăm những thánh tích của đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni và sau khi đặt chân lên đất Trung Quốc, Sư liền xin phép đi từ đây sang Ấn Ðộ nhưng sự từ chối của chính quyền lúc bấy giờ buộc Sư phải ở lại. Ðây chính là cơ hội để Sư tham vấn các vị Thiền sư Trung Quốc. Dưới sự hướng dẫn của Hư Am Hoài Sưởng – một vị Thiền sư thuộc đời thứ tám dòng Hoàng Long Huệ Nam tông Lâm Tế – Sư đạt yếu chỉ Thiền và được Ấn khả. Sau bốn năm du học, Sư trở về Nhật, tuyên truyền giáo lí của Thiền tông tại đây. Trong thời gian sau (1198), Sư soạn bộ Hưng thiền hộ quốc luận (興禪護國論; j: kōzen gokokuron) để xiển dương Thiền tông và để chống đối lại sự phản bác mạnh mẽ của các vị tăng thuộc Thiên Thai tông. Sư viết như sau trong Hưng thiền hộ quốc luận: »Tổ Tối Trừng (j: saichō) của Thiên Thai tông đã từng dạy Thiền; nếu Thiền tông chẳng có ý nghĩa gì thì Ðại sư Tối Trừng cũng chẳng có ý nghĩa gì và – nếu Ðại sư Tối Trừng chẳng có ý nghĩa gì thì Thiên Thai tông cũng chẳng có ý nghĩa gì.«|Sư không những là một Thiền sư lỗi lạc mà còn rành về cả y thuật, đặc biệt là cách dưỡng sinh bằng trà. Sư có viết Khiết trà dưỡng sinh kí (喫荼養生記; j: kissa yōjōki), nói về tác dụng của trà và chính từ đây Trà đạo bắt đầu có tại Nhật. Tác phẩm khác của sư là Bồ-đề tâm luận khẩu quyết (菩提心論口訣, j: bodaishinron kōketsu), Hưng thiền hộ quốc luận (興禪護國論, j: kōzengokoku ron), Xuất gia đại cương (出家大綱, j: shukke daikō), còn thêm những luận giải về tông Thiên Thai và Mật giáo. |Trong những năm cuối đời, Sư hoằng hoá tại hai trung tâm Kinh Ðô (京都; j: kyōtō) và Liêm Thương (鎌倉; j: kamakura). Sư tịch năm 1215, thọ 75 tuổi.
minh ba
(溟波) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Thanh, người Vũ thanh, tỉnh Hà bắc, họ Quách. Năm 7 tuổi, sư được cha mẹ đưa đến chùa Thiên tiên xin xuất gia. Lớn lên, sư đến Thiên tân tham học ngài Đại Bác Hành Càn, y chỉ 3 năm mới được ấn khả. Sau, sư dựng am tranh ẩn tu ở Tây sơn 10 năm mới ra khai đường thuyết pháp, xiển dương tông phong. Sư có ngữ lục lưu hành ở đời. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư Vân)].
Minh Biến
(明遍, Myōhen, 1142-1224): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương, húy là Minh Biến (明遍), thông xưng là Liên Hoa Cốc Tăng Đô (蓮華谷僧都), tự là Nhập Phật (入佛), hiệu Không A (空阿); xuất thân vùng Kyoto, con của Đằng Nguyên Thông Hiến (藤原通憲). Ông theo học Tam Luận cũng như Mật Giáo với Mẫn Giác (敏覺) và Minh Hải (明海) ở Đông Nam Viện (東南院) của Đông Đại Tự (東大寺). Sau ông được bổ nhiệm làm Giảng Sư của Duy Ma Hội (維摩會), rồi Luật Sư; nhưng ông từ chức và lui về ẩn cư ở Quang Minh Sơn (光明山), vùng Đại Hòa (大和, Yamato). Vào năm 1162, ông sáng lập Liên Hoa Tam Muội Viện (蓮華三昧院) ở Liên Hoa Cốc (蓮華谷) trên Cao Dã Sơn, rồi theo học Dòng Trung Viện (中院流) với Giác Hải (覺海), Dòng Tiểu Dã (小野流) với Ý Giáo (意敎); và trong khoảng thời gian niên hiệu Thừa An (承安, 1171-1175) thì học Tịnh Độ Giáo với Nguyên Không (源空). Về sau ông đến trú tại Diệu Trí Phường (妙智坊) của Nhất Tâm Viện (一心院) và chuyên tu pháp môn Niệm Phật. Vì vậy ông được xem như là người tiên phong Niệm Phật Thánh của Cao Dã Sơn. Trước tác của ông có Vãng Sanh Luận Ngũ Niệm Môn Lược Tác Pháp (徃生論五念門略作法) 1 quyển, Niệm Phật Vãng Sanh Đắc Tiên Nghĩa (念佛徃生得先義) 1 quyển.
minh biện
To distinguish clearly.
minh biện bồ tát
Xem Thanh Biện Bồ tát.
minh báo
Occult expiation (of one's sins).
minh báo kí
(冥報記) Tác phẩm, 3 quyển (có thuyết nói 2 quyển), do ông Đường lâm soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 150. Nội dung sách này nói về những chuyện nhân quả báo ứng. Đầu quyển là lời tựa của tác giả, trình bày về lý do soạn thuật, đặc biệt nhấn mạnh hễ có sự sống là có thức, có thức thì có hành động, đã có hành động thì tùy theo thiện ác mà nhận lấy quả báo, đó là lí tự nhiên của sự vật, không còn nghi ngờ. Trong lời tựa, tác giả cũng nhắc đến các ông: Tạ phu đời Tấn, Phó cao, Trương diễn đời Tống, Lục quả đời Tề v.v... đều có soạn Quan thế âm ứng nhiệm kí và Tiêu tử lương đời Tề soạn Tuyên nghiệm kí, Vương diệm viết Minh tường kí v.v... đều là những tác phẩm nói rõ những chuyện nhân quả báo ứng có thật. [X. Kim tích vật ngữ tập nghiên cứu (Phiến kì Chính nghĩa)].
minh bạch
Apparent—Clear—Explicit.
minh bản
(明本) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Nguyên, người huyện Tiền đường, tỉnh Chiết giang, họ Tôn, hiệu Trung phong, Huyễn trụ đạo nhân. Sư thông minh, mẫn tiệp, năm 15 tuổi đã có chí xuất gia. Năm Chí nguyên 22 (1286), sư tham yết ngài Cao phong Nguyên Diệu ở viện Sư tử, núi Thiên mục. Một hôm tụng kinh Kim cương, sư bỗng nhiên mở tỏ. Năm Chí nguyên 24 (1287), lúc ấy đã 24 tuổi, sư xin ngài Nguyên Diệu cho xuống tóc, năm sau, sư thụ giới Cụ túc. Sau khi ngài Nguyên Diệu thị tịch, sư ẩn tu ở am Huyễn trụ tại Biện sơn thuộc Hồ châu. Sư cũng từng ở tại các vùng Ngô giang, Lô châu, núi Lục an v.v... Năm Diên hựu thứ 5 (1318), theo lời thỉnh cầu của đồ chúng, sư trở về núi Thiên mục, xiển dương Thiền phong, tăng tục các nơi đều qui ngưỡng và tôn xưng sư là Giang Nam Cổ Phật (Phật xưa ở vùng Giang nam). Vua Nhân tông dùng lễ triệu thỉnh, nhưng sư từ chối, vua ban hiệu cho sư là Phật Từ Viên Chiếu Quảng Tuệ Thiền Sư và đổi viện Sư tử thành chùa Sư tử chính tông. Năm Chí trị thứ 3 (1323) sư tịch, thọ 61 tuổi. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329), vua ban thụy hiệu là Trí Giác Thiền Sư, hiệu tháp là Pháp vân. Năm Nguyên thống thứ 2 (1334), lại được truy tặng thụy hiệu là Phổ Ứng Quốc Sư. Đệ tử nối pháp gồm có: Thiên như Duy tắc, Thiên nham Nguyên trường, Vô chiếu Huyền giám, Cửu phong thọ (Trung quốc), Cổ tin Ấn nguyên, Phục am Tông kỉ, Vô ẩn Nguyên hối (Nhật bản). Sư có các tác phẩm: Quảng lục 30 quyển (được vua ban sắc cho nhập Tạng), Tạp lục 3 quyển. [X. Phật từ Viên Chiếu Quảng Tuệ thiền sư Trung phong hòa thượng hành lục; Phật tổ lịch đại thông tải Q.36; Thích thị kê cổ lược tục tập Q.1; Ngũ đăng nghiêm thống Q.21].
minh chiêu
Ming-chao (C), Mingzhao (C), Meisho (J)(Vào thế kỷ thứ 10) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của La hán Đạo Tiên.
Minh Chiêu Ðức Khiêm
明招德謙; C: míngzhāo déqiān; J: meishō hoặc myōshō tokken; tk. 10; |Thiền sư Trung Quốc dòng Ðức Sơn Tuyên Giám. Sư nối pháp Thiền sư La Sơn Ðạo Nhàn. Vì Sư chột mắt bên trái nên cũng được thời nhân gọi là Ðộc Nhãn Long (獨眼龍). Sư giáo hoá lại núi Minh Chiêu hơn 40 năm và những lời dạy của Sư được truyền bá rộng rãi thời đó. Tương truyền Sư ấn khả cho năm môn đệ.
Minh Chiêu Đức Khiêm
(明招德謙, Myōshō Tokken, ?-?): nhân vật sống vào cuối đời nhà Đường. Ông được ấn ký của La Sơn Đạo Nhàn (羅山道閑), sau đó bắt đầu cử xướng tông phong của mình rất mạnh mẽ, nên được chư vị lão túc cũng như hậu học kính nể. Ban đầu ông đến trú tại Trí Giả Tự (智者寺) ở Vụ Châu (婺州, Tỉnh Triết Giang), sau chuyển đến Minh Chiêu Sơn (明招山) và suốt 40 năm tiếp hóa đồ chúng tại đây. Vì con mắt trái của ông bị tật nên ông còn được gọi là Độc Nhãn Long (獨眼龍, Rồng Một Mắt).
minh chung
(鳴鍾) Thỉnh chuông, Dóng chuông. Chung(chuông) có Đại chung và Tiểu chung. Đại chung lại chia ra Thần chung (chuông buổi sớm), Trai chung (chuông thụ trai) và Hôn chung (chuông chiều tối). Thần chung và Hôn chung dóng 108 tiếng, Trai chung dóng 18 tiếng. Còn Tiểu chung thì có: Phật điện chung, Pháp đường chung, Tăng đường chung, dùng để đánh khi lên chính điện, vào nhà pháp, nhà tăng. Điều Cảnh chúng trong Thiền uyển thanh qui quyển 6 (Vạn tục 111, 455 thượng) nói: Đến tối, dóng 3 tiếng chuông trước Thiền đường báo hiệu hết giờ tham thiền buổi tối. Bài kệ niệm thầm khi dóng chuông, gọi là Minh chung kệ, Văn chung kệ. Ngoài ra, Thiền tông có Minh chung Phật sự, thường được gọi là Chung cúng dường, tức là lễ Khai chuông. [X. Hư đường lục Q.10; điều Nhật phần hành trì trong Hành trì quĩ phạm Q.1]. (xt. Chung).
Minh châu
(明珠): viên ngọc sáng, còn gọi là Minh Nguyệt Châu (明月珠), Minh Nguyệt Ma Ni (明月摩尼); là viên ngọc báu sáng như mặt trăng, nên có tên gọi như vậy. Viên ngọc này có đức tánh của nước đục lắng trong. Như trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 9, Phẩm Như Lai Tánh (如來性品) thứ 4, có đoạn: “Thí như minh châu trí trọc thủy trung, dĩ châu uy đức, thủy tức vi thanh (譬如明珠置濁水中、以珠威德、水卽爲清, ví như viên ngọc sáng đặt trong nước đục, nhờ oai đức của viên ngọc, nước liền trở thành trong).” Hay trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 16, bài Thị Hồ Băng Lăng Huyện Duẫn (示胡冰稜縣尹), lại có câu: “Ngạch thượng minh châu quang xán lạn, dạ vô ác mộng nhật vô kinh (額上明珠光燦爛、夜無惡夢日無驚, trên trán minh châu chiếu sáng rực, đêm không ác mộng ngày an tâm).” Hoặc trong Quốc Thanh Bách Lục (國清百錄, Taishō Vol. 46, No. 1934) quyển 4, phần Sắc Tạo Quốc Thanh Tự Bi Văn (敕造國清寺碑文) thứ 93, Thiên Thai Quốc Thanh Tự Trí Giả Thiền Sư Bi Văn (天台國清寺智者禪師碑文), cũng có câu: “Hộ giới như minh châu, an tâm như chỉ thủy (護戒如明珠、安心若止水, giữ giới như châu sáng, an tâm giống nước dừng).”
minh châu
Ming-chou (C).
; Xem Ma ni.
; The bright-moon mani or pearl, emblem of Buddha.
minh châu a dục vương sơn chí
(明州阿育王山志) Tác phẩm, 10 quyển, do ông Quách tử chương soạn vào đời Minh, được thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vậng san tập 1. Nội dung sách này nói về nhân vật, thắng cảnh, Phật sự, văn hóa, nghệ thuật của chùa và núi A dục vương ở huyện Ngân, tỉnh Chiết giang. Về hình thức, tác giả dựa theo cách sắp đặt trong Phổ đà sơn chí mà lập 10 môn, mỗi môn 1 quyển, được trình bày theo các câu kệ 4 chữ như: Địa dư dung kết, Xá lợi duyên khởi, Tháp miếu qui chế, Vương thần sùng sự, Thần minh hiệu linh, Thụy ứng nan tư, Phúc điền thường trụ, Cao tăng truyền pháp, Đề xương tông thừa, Ngọc kỉ xã vịnh. Chùa A dục vương được sáng lập vào niên hiệu Nghĩa hi năm đầu (405) đời Tấn. Chùa hiện còn 1 tòa tháp Xá lợi, bên trong thờ 1 viên xá lợi thật của đức Phật Thích ca được truyền từ Ấn độ đến Trung quốc. Viên xá lợi này thường phóng ra ánh sáng.
minh châu nhạc lâm tự chí
(明州岳林寺志) Tác phẩm, 6 quyển, do ông Đới minh tông soạn vào đời Thanh, được thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vậng san tập 1. Nội dung sách này nói về nhân vật, danh thắng, văn hóa của chùa Nhạc lâm ở huyện Phụng hóa, tỉnh Chiết giang. Toàn tác phẩm chia làm 10 môn: Tự đồ, Phạm vũ, Danh thắng, Cổ tích, Pháp sản, Pháp hệ, Nghệ văn, Thi phú, Danh thích và Tháp minh. Chùa Nhạc lâm ở huyện Phụng hóa, tỉnh Chiết giang, được sáng lập vào khoảng năm Đại trung (847-859) đời vua Tuyên tông nhà Đường. Có 1 vị tăng du phương đến đây tá túc, thường mang cái đãy bằng vải đi xin ăn, người đời gọi sư là Hòa thượng Hoan hỉ, sư tự gọi là Trường đinh tử. Sau, sư ngồi ngay thẳng trên phiến đá lớn ở cuối hành lang phía đông mà tịch, chúng tăng trong chùa đều lấy làm lạ. Từ đó, chùa này nổi tiếng là đạo tràng Di lặc, là 1 trong 3 Thánh địa lớn của Phật giáo Trung quốc ở Minh châu. (xt. Bố Đại Hòa Thượng).
minh châu thiên tử
The moon-deva.
Minh Châu Đại Mai Sơn Thường Thiền Sư Ngữ Lục
(明州大梅山常禪師語錄, Meishūdaibaizanjōzenjigoroku): 1 quyển, còn gọi là Đại Mai Sơn Thường Thiền Sư Ngữ Lục (大梅山常禪師語錄, Daibaizanjōzenjigoroku), do Đại Mai Pháp Thường (大梅法常) soạn, Huệ Bảo (慧寳) biên, tả bản. Là bản thâu tập những truyền ký, lời vấn đáp cũng như lời dạy thượng đường của Đại Mai Pháp Thường―pháp từ của Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一), phần cuối của tác phẩm này có thêm các bài Thiên Cư Tụng (遷居頌) và tán của Trí Giác Thiền Sư Vĩnh Minh Diên Thọ (智覺禪師永明延壽). Tả bản vào khoảng thế kỷ thứ 13 được thâu tạng vào Kim Trạch Văn Khố (金澤文庫, Kanazawa-bunko). Về mặt nội dung, tác phẩm này cũng thâu lục các vấn đáp với hình thức khá phát triển và được xem như biên tập vào khoảng trước hay sau (1004) thời kỳ thành lập của Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄); đặc biệt trong 5 đoạn của phần Thượng Đường Ngữ bao hàm luôn những phần hoàn toàn không tìm thấy trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Tông Kính Lục (宗鏡錄), v.v. Đây quả là thư tịch rất quan trọng để nghiên cứu về Ngữ Lục Thiền Tông thời kỳ đầu do Mã Tổ khởi xướng. Tuy nhiên, Thiên Cư Tụng là những bài thơ của Hứa Tuyên Bình (許宣平), ẩn sĩ dưới thời nhà Đường, trả lời cho Lý Bạch (李白) khi vị này dến thăm.
minh chính
Clear and uprught.
minh chú
(明咒) Cũng gọi Thần chú, Cấm chú, Chân ngôn, Đà la ni. Chỉ cho những lời bí mật linh diệu, được trì niệm khi tu hành Mật pháp. (xt. Chân Ngôn).
minh chúng
The invisible powers - Brahmà, Sakra, Yama; the spirits in general.
; Những sức mạnh vô hình, như Phạm Thiên, Thiên Vương, Dạ Ma Thiên, nói chung là những lực vô hình—The invisible powers, Brahma, Sakra, Yama, the spirits in general.
; (冥衆) Chỉ cho các chúng Phạm thiên, Đế thích, quỉ thần, vua Diêm ma v.v... vì những loại tồn tại này ẩn khuất, mắt người thường không thể thấy được, cho nên gọi là Minh chúng. Các chúng này thường ngầm hộ trì những người làm việc thiện. Người tu hành niệm Phật A Di Đà, hiện đời này được 10 điều lợi ích, 1 trong đó là Minh chúng hộ trì ích. [X. Hán quang loại tụ Q.2].
Minh chủ
明主; C: míngzhŭ; J: myōshu;|Người lĩnh đạo thông thái và trung thực.
Minh chủ 明主
[ja] ミョウシュ myōshu ||| A wise and honest ruler. => Người lãnh đạo thông thái và trung thực.
minh cú luận
Prasannapadā (S), Madhyamaka-vṛtti-prasannapadā Trung quán minh cú luận thích.
minh cơ
(冥機) Nhờ thiện căn tu tập ở đời trước, có thể cảm được sự linh nghiệm của Phật và Bồ tát ở đời này một cách kín đáo, cho nên gọi là Minh cơ (cơ ngầm).
Minh Cực Sở Tuấn
(明極楚俊, Minki Soshun, 1262-1336): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, vị tổ đời thứ 24 của Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji), vị tổ đời thứ 23 của Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji), vị tổ đời thứ 13 của Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji), Tổ của Phái Minh Cực (明極派), húy Sở Tuấn (楚俊), đạo hiệu Minh Cực (明極), thụy hiệu Phật Nhật Diệm Huệ Thiền Sư (佛日燄慧禪師); xuất thân Phủ Khánh Nguyên (慶元府), Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang), họ Hoàng (黃). Năm lên 12, ông theo xuất gia với Trúc Song (竹窻) ở Phủ Khánh Nguyên. Sau đó, ông đến tham Thiền với Hoành Xuyên Như Củng (横川如珙) ở Dục Vương Sơn (育王山) và trình bày chỗ sở ngộ của mình cho vị này. Tiếp theo, ông lại theo làm môn hạ của Hổ Nham Tịnh Phục (虎巖淨伏) ở Linh Ẩn Tự (靈隱寺), quên ăn uống mà chỉ chuyên tham yếu chỉ Thiền, nên cuối cùng thì được nối dòng pháp của vị này. Sau ông rời khỏi nơi đây mà đến Thiên Đồng (天童), theo hầu Chỉ Hoằng Đạo Giám (止弘道鑑). Về sau, ông cũng đã từng đến sống ở hai chùa Thoại Nham (瑞巖) và Phổ Tuệ (普慧), và chủ yếu là hoạt động giáo hóa ở Song Lâm Tự (雙林寺) thuộc vùng Vụ Châu (婺州, Tỉnh Triết Giang). Vào năm 1329, thể theo lời cung thỉnh của Đại Hữu Minh Tông (大友明宗), ông cùng với nhóm Trúc Tiên Phạn Tiên (竺仙梵僊) sang Nhật. Ông được Tướng Quân Bắc Điều Cao Thời (北條高時, Hōjō Takatoki) thỉnh đến trú tại Kiến Trường Tự vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Sau khi chính quyền Mạc Phủ bị diệt vong, ông được Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō) quy y theo, và ông chuyển đến sống qua các chùa như Nam Thiền Tự, Kiến Nhân Tự vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro). Sau ông khai sáng ra Quảng Nghiêm Tự (廣嚴寺, Kōgan-ji) ở vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]). Về sau, ông trở về sống an dưỡng tuổi già ở Thiếu Lâm Viện (少林院) thuộc Nam Thiền Tự. Đến ngày 27 tháng 9 năm thứ 3 niên hiệu Kiến Võ (建武), ông thị tịch ở tại phương trượng của Kiến Nhân Tự, hưởng thọ 75 tuổi đời và 63 pháp lạp. Trước tác của ông có Minh Cực Sở Tuấn Hòa Thượng Ngữ Lục (明極楚俊和尚語錄), Thương Hải Dư Ba (滄海余波), Mộng Song Minh Cực Xướng Hòa Thiên (夢窻明極唱和篇), v.v. Đàm Ngạc (曇噩) soạn bài Minh Cực Tuấn Đại Hòa Thượng Tháp Minh (明極俊大和尚塔銘).
minh cự
Cây đuốc đang cháy, so sánh với Minh Đắc Định của Bồ Tát—A shining torch, compared to a samadhi in the Bodhisattva's four good roots. ** For more information, please see Minh Đắc Định.
minh dương hội
Minh ám chỉ loài quỷ nơi cõi âm, dương ám chi chư thiên nơi cõi trời hay chúng Bà La Môn. Minh Dương Hội là hội cúng dường cho hai loại chúng sanh vừa kể trên—The assembly for offerings of the spirits below and above, pretas, etc.
; (冥陽會) Pháp hội bố thí cúng dường cho chúng sinh ở Minh giới (ngã quĩ ở cõi âm) và ở Dương giới (các vị tiên Bà la môn), vì thế gọi là Minh dương hội.
minh dục
(明昱) Danh tăng Trung quốc, thuộc tông Pháp tướng, sống vào đời Minh, người đất Ngô, tự là Cao nguyên. Khoảng năm Vạn lịch, theo lời thỉnh cầu của danh Nho Vương khẳng đường, sư giảng bộ luận Thành duy thức, khi giảng giải, sư viện dẫn rộng rãi, dùng lời dễ hiểu mà diễn đạt được ý nghĩa sâu xa. Giảng xong, sư biên tập lại thành bộ Thành duy thức luận tục thuyên 10 quyển, được lưu hành rất phổ biến. Về sau, sư tịch ở Mân trung. Sư còn có tác phẩm: Tướng tông bát yếu giải 8 quyển.
minh gia
The invisible aid of the spiritual powers.
; Lợi ích do sức mạnh tâm linh hay do sự cảm ứng của chư Phật và chư Bồ Tát đem lại không thấy biết—The invisible aid of the spiritual powers.
; (冥加) I. Minh Gia. Cũng gọi Minh ứng, Minh trợ. Chư Phật, Bồ tát thường âm thầm gia hộ cho những người chí thành tu đạo và làm các việc tốt lành. Sự cảm ứng của Phật và Bồ tát phần nhiều là minh gia, chứ ít khi có hiển gia (gia hộ một cách rõ ràng). Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7 nói: Nếu thường tự ngộ thì ắt được minh gia. [X. Pháp hoa đại sớ sao huyền đàm Q.3; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.10]. II. Minh Gia. Hiến cúng tiền bạc vào việc làm chùa, tô tượng, đúc chuông, in kinh sách ấn tống để cầu phúc. Tiền bạc hiến cúng ấy gọi là Minh gia kim, Minh gia tiền, Minh gia ngân. [X. Khảo tín lục Q.3 (Huyền trí)]. (xt. Minh).
minh giác
Ming chiao (C).
minh giác thiền sư ngữ lục
(明覺禪師語錄) Cũng gọi Tuyết Đậu Minh Giác thiền sư ngữ lục. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Tuyết Đậu Trùng Hiển soạn vào đời Tống, các vị Duy cái trúc v.v... biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung bộ lục này bao gồm: Quyển 1: Thướng đường ngữ, Tiểu tham khi ở Thúy phong Thiền tự tại Động đình, Tô châu và ở Tư thánh Thiền tự tại Tuyết đậu, Minh châu. Quyển 2: Cử cổ, Khám biện, Ca tụng. Quyển 3: Niêm cổ bách tắc. Quyển 4: Bộc tuyền tập, gồm Thướng đường thị chúng, Châu tán. Quyển 5, 6: Tổ anh tập, gồm thơ văn của ngài Trùng hiển.
Minh Giác Tự
(明覺寺, Myōkaku-ji): ngôi tự viện của Tịnh Độ Chơn Tông; hiện tọa lạc tại số 77 Gofuku-chō (呉服町), Fukuchiyama-shi (福知山市), Kyōto-fu (京都府). Vào năm 1584 (Thiên Chánh [天正] 12), sau khi Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) xây dựng Thành Đại Phản (大阪城, Ōsaka-jō), vị Trưởng Quan Kami vùng Việt Hậu (越後, Echigo), họ Cao Kiều (高橋, Takahashi) phát tâm xuất gia, trở thành tu sĩ của Chơn Tông, pháp danh là Thích Tây Nguyện (釋西願), hay Cao Việt Viện Thích Tây Nguyện (高越院釋西願). Ông kiến lập một ngôi tự viện tại vùng Trường Điền (長田, Nagata), Lục Nhân Bộ Thôn (六人部村, Nakamutohe-mura), Quận Thiên Điền (天田郡, Amata-gun). Về sau, vị trú trì đời thứ 2 của chùa là Thích Minh Thuần (釋明淳) mới dời chùa về vị trí hiện tại.
minh giám
Tấm gương sáng—A clear and bright mirror.
minh giáo
(明教) I. Minh Giáo.Tổ chức tông giáo bí mật được triển khai từ Ma ni giáo, do ông Trương giác làm giáo chủ. Tông giáo này thờ kính Ma ni làm thần ánh sáng và sùng bái mặt trời, mặt trăng. Giáo đồ chuộng y phục màu trắng, đề cao ăn chay, không uống rượu, khi chết chôn cất không mặc quần áo, coi trọng sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, chủ trương thiên hạ 1 nhà. Đồng thời tin rằng trên đời, lực lượng ánh sáng cuối cùng nhất định sẽ chiến thắng các thế lực đen tối. Vào đời Nam Tống và Bắc Tống, tông giáo này lưu hành ở các vùng Hoài nam, Lưỡng chiết, Phúc kiến v.v... II. Minh Giáo(1852-1932). Cao tăng Trung quốc thời cận đại, người huyện Vĩnh phong, tỉnh Hồ nam, họ Tiêu, pháp hiệu Đạo Hương. Sư thông minh dĩnh ngộ từ thủa nhỏ, tướng mạo kì vĩ, phong cách hơn người, năm 17 tuổi xuất gia, 20 tuổi thụ giới Cụ túc ở chùa Chúc thánh tại Nam nhạc và lưu lại đây trong 8 năm chuyên tâm niệm Phật; sư cũng tập viết chữ lệ, chữ triện để thuận theo thế duyên. Năm 28 tuổi, sư du phương tham vấn, tình cờ gặp vị tăng người Nhật tên là Đạt ma Sơn thôn thỉnh sư sang Nhật bản, từ đó dấu chân sư in khắp nước Nhật, sáng lập hơn 100 Liên xã (đoàn thể niệm Phật), rất được triều đình và dân gian kính trọng. Sau khi trở về Trung quốc, sư lần lượt trụ trì các chùa Lộc sơn, Thượng lâm và Khai phúc, đồng thời giảng kinh thuyết pháp ở các nơi. Năm Dân quốc 21 (1932) sư tịch, thọ 78 tuổi.Sư có các tác phẩm: Cảnh thế gia ngôn lục, Thướng đường kí lục, Giảng kinh kí lục, Giới đàn giáo thụ pháp ngữ, Tham phương du kí, Nhật bản du lịch kí, Liên xã khai thị lục, Trà tì pháp ngữ, Thất kì niệm Phật khai thị lục, Linh dị kí, Tùy duyên thuyết pháp ngữ lục...
minh giáo đại sư
(明教大師) I. Minh Giáo Đại Sư. Cao tăng người Tây vực, sống vào đời Đường, tên Lợi thiệp, vốn thuộc dòng dõi Bà la môn, sau theo ngài Huyền trang xuất gia. Khoảng năm Khai nguyên (713-741), trong cuộc tranh luận về sự hơn kém giữa Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, sư đã hàng phục được các đối thủ Nho gia và Đạo gia, nên được vua phong cho hiệu Minh Giáo Đại Sư và xây chùa Minh giáo sắc sư trụ trì. [X. Tống cao tăng truyện Q.17]. II. Minh Giáo Đại Sư. Cao tăng người Ca thấp di la, Ấn độ, tên Thiên tức tai, sống vào đời Tống. Năm Thái bình Hưng quốc thứ 5 (980), sư đến Biện kinh, năm thứ 7 (982), sư cùng với các ngài Thí hộ, Pháp thiên vào ở trong viện Dịch kinh, chuyên phiên dịch kinh điển. Sau, vua lần lượt phong hiệu cho sư là Minh Giáo Đại Sư, ngài Pháp thiên là Truyền Giáo Đại Sư và ngài Thí hộ là Hiển Giáo Đại Sư. [X. Đại trung tường phù pháp bảo lục Q.3-8; Phật tổ thống kỉ Q.43]. III. Minh Giáo Đại Sư. Cao tăng Trung quốc, tên là Khế tung, sống vào đời Tống, người Đàm tân, Đằng châu (huyện Đằng, tỉnh Quảng tây). Năm Gia hựu thứ 7 (1062), các tác phẩm Truyền pháp chính tông kí và Phụ giáo thiên của sư được vua Nhân tông nhà Tống sắc cho nhập Tạng, đồng thời phong cho sư hiệu là Minh Giáo Đại Sư. [X. Đàm tân Minh giáo đại sư hành nghiệp kí]. (xt. Khế Tung).
minh giải
To explain clearly.
minh giải thoát
Vijjavimutti (P).
Minh giới
冥界; C: míngjiè; J: myōkai;|Cõi tối tăm, thường nói đến ba cõi địa ngục, ngạ quỷ, và súc sinh. Đặc biệt là nói đến địa ngục.
minh giới
Hades, or the three lower forms of incarnation, i.e. hell, preta, animal.
; 1) Cõi U minh: Hades. 2) Hạ Tam Đồ hay ba đường dữ địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh: The three lower forms of incarnation, i.e. hell, preta, and animal.
; (冥界) Cũng gọi Minh đạo, Minh độ. Danh từ gọi chung cho 3 đường ác là địa ngục, ngã quĩ và súc sinh, hoặc chỉ riêng cho địa ngục. Dân gian cho rằng Minh giới là nơi do vua Diêm ma và quyến thuộc cai quản. [X. Diệm la vương cúng hành pháp thứ đệ; Quang minh kinh văn cú Q.3].
Minh giới 冥界
[ja] ミョウカイ myōkai ||| Dark realm(s), generally referring to the three existences of hell-being, hungry ghost and animal. More specifically--hell. => Cõi giới tối tăm, thường nói đến ba cõi địa ngục, ngạ quỷ, và súc sinh. Đặc biệt là nói đến địa ngục.
minh hiền
Vidyābhadrā (S)Tên một vị sư.
minh hiển
1) Rõ ràng: Clear—Explicit—Evident. 2) U minh và sáng tỏ: Darkness and brightness.
; (冥顯) Minh là tối tăm, sâu kín, không thể thấy nghe được. Hiển là hiển hiện rõ ràng, có thể thấy nghe được. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.6 thượng].
minh hiển lưỡng giới
The two regions of the dead and the living.
; Chỉ hai cõi Minh Giới và Hiển Giới. Minh giới là thế giới của người chết, hay âm cảnh; hiển giới là thế giới của người sống, hay dương gian—The two regions of the dead and of the living.
; (冥顯兩界) Tức là Minh giới và Hiển giới. Minh giới: Chỉ cho thế giới sau khi chết sẽ sinh đến. Hiển giới: Chỉ cho thế giới Sa bà.
minh hoằng tử dung
See Tử Dung Minh Hoằng.
minh huân
The inner light, enlightenment censing and overcoming ignorance, like incense perfuming and interpenetrating.
; Còn gọi là Nội Huân, ở trong cái chân như của bản giác, lặng lẽ nung đốt huân tập vọng tâm để sinh ra Bồ Đề Tâm—Fumigation within, inner influence—See Nội Huân.
; (冥薰) Cũng gọi Nội huân. Thiện tâm âm thầm huân tập (xông ướp) trong thân thể chân như của bản giác khiến cho tâm bồ đề nảy sinh. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 4 phần 3 (Đại 46, 268 thượng) nói: Nếu chẳng phải do sức nội huân thì làm thế nào chứng ngộ được? Cho nên biết chứng ngộ là nhờ ở sức chân như; bởi thế lấy Minh huân làm ngoại hộ vậy. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ phần đầu].
minh huệ
Tam minh hay tam huệ—The three Enlightenments—The thre wisdoms. ** For more information, please see Tam Minh and Tam Huệ.
; (明惠) Cũng gọi Minh tuệ. Cao tăng Nhật bản, là Tổ sư trung hưng tông Hoa nghiêm, tên Cao biện, người Kỉ y (huyện Hòa ca sơn). Sư thờ ngài Văn giác ở núi Cao hùng làm thầy, học Hoa nghiêm, Mật giáo nơi các bậc danh tăng và khổ tu trên ngọn Bạch thượng ở Kỉ y. Về sau, sư tuyên giảng Hoa nghiêm ở núi Cao hùng. Sư lại theo ngài Vinh tây thuộc tông Lâm tế của Nhật bản học Thiền. Sau Thượng hoàng Điểu vũ sắc ban núi Mẫu vĩ, xây chùa Cao sơn làm đạo tràng nhằm thực hiện việc phục hưng tông Hoa nghiêm. Vì được triều đình và Bắc điều Thái thời qui y nên sư được mọi người rất tôn kính, tin theo. Khi Tịnh độ giáo của ngài Pháp nhiên khai tông, sư từng soạn Tồi tà luân (bánh xe phá tà) để phê phán và bác bỏ. Niên hiệu Trinh vĩnh năm đầu (1232) sư tịch, thọ 60 tuổi. Sư có các tác phẩm: Hoa nghiêm duy tâm nghĩa thích 2 quyển; Tồi tà luân trang nghiêm kí 1 quyển, Niết bàn giảng thức, Xá lợi giảng thức, Tọa thiền thứ đệ... [X. Nguyên hanh thích thư Q.5; Bản triều cao tăng truyện Q.14].
minh hành
Zen Master Minh Hành (1596-1659)—Thiền Sư Trung Quốc, quê ở Kiến Xương, Tỉnh Giang Tây. Ngài theo sư phụ là Hòa Thượng Chuyết Chuyết qua Việt Nam và đến Thăng Long vào năm 1633. Họ trụ tại chùa Ninh Phúc (Bút Tháp) hơn 11 năm. Sau khi Hòa Thượng Chuyết Chuyết thị tịch năm 1644, Thiền sư Minh Hành trở thành Pháp tử đời thứ 35 dòng Thiền Lâm Tế. Cùng năm ấy, Thiền Sư Minh Hành và bà Hoàng Thái Hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc dựng lại chùa Bút Tháp thành ngôi chùa có quy mô to lớn hơn. Thiền sư Minh Hành tiếp tục trụ tại chùa Ninh Phúc để hoằng dương Phật pháp đến khi ngài thị tịch năm 1659—Zen Master Minh Hành, a Chinese monk from Kiến Xương, Giang Tây. He followed his master, Most Venerable Chuyết Chuyết to go to Vietnam. They arrived at Thăng Long in 1633. They stayed at Ninh Phúc (Bút Tháp) Temple for more than 11 years. After Zen Master Chuyết Chuyết passed away in 1644, Zen Master Minh Hành became the Dharma heir of the thirty-fifth lineage of the Linn-Chih Zen Sect. On the same year, the temple was rebuilt on a larger scale by Zen Master Minh Hành and the Queen Mother Trịnh Thị Ngọc Trúc. He continued to stay at Ninh Phúc Temple to expand the Buddha Dharma until he passed away in 1659.
minh hành túc
(明行足) Phạm: Vidyà-caraịa-saôpanna. Pàli: Vijjà-caraịa-sampanna. Hán âm: Tì xỉ già la na tam bát na. Cũng gọi Minh thiện hạnh, Minh hạnh thành, Minh hạnh viên mãn, Minh hạnh. Minh và Hạnh trọn đủ, là 1 trong 10 danh hiệu của Phật. Theo kinh Đại bát niết bàn quyển 18 (bản Bắc) thì Minh là Vô thượng chính đẳng chính giác; Hạnh túc là giới, định và tuệ; đức Phật nhờ có đầy đủ giới, định, tuệ mà được Vô thượng chính đẳng chính giác, cho nên gọi là Minh hạnh túc . Còn theo luận Đại trí độ quyển 2 thì Minh là Túc mệnh minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh; còn Hạnh tức là thân nghiệp và khẩu nghiệp; vì đức Phật thành tựu đầy đủ 3 minh, 2 nghiệp, cho nên gọi là Minh hạnh túc. [X. kinh Trường a hàm Q.3]. (xt. Thập Hiệu).
Minh hạnh túc
明行足; C: míngxíngzú; J: myōgyōsoku;|Trí tuệ và công hạnh viên mãn. (s: vidyā-carana-saṃpanna; t: rig pa daṅ shabs su ldan pa). Người đã hoàn mãn trí tuệ và công hạnh tu tập. Là 1 trong 10 danh hiệu của Đức Phật. Vốn là một thuật ngữ của Kì-na giáo mà Phật giáo đã quen sử dụng.
minh hạnh túc
Vidyācaraṇa (S), Vijjācaraṇa-sampaa (P), Vidyācaraṇa-sampaa (S), Vijjācaraṇa-sampanna (P), Know-ledge-conduct-perfect Tức Tam minh (Thiên nhãn, Túc mạng, Lậu tận) và hành nghiệp của Thân khẩu đếu viên mãn. Một trong 10 Phật hiệu.
; Vidyà-carana-sampanna (S). Knowledge-conduct-perfect; Perfect in understanding and conduct, one of the ten epithets of Buddha.
; Vidya-carana-sampanna (skt). (A) Theo Kinh Niết Bàn—According to the Nirvana Sutra: 1) Phổ giác tối thượng của Phật dựa trên giới luật, thiền định và trí huệ (giới, định, tuệ). Một trong mười danh hiệu Phật—Knowledge-conduct-perfect—The unexcelled universal enlightenment of the Buddha based upon the discipline, meditation and wisdom. 2) Một trong mười danh hiệu của Phật: One of the ten titles of the Buddha. (B) Theo Trí Độ Luận giải thích thì Minh Hạnh Túc là đầy đủ tam minh, tam hạnh, tam nghiệp—According to the Commentaries on the Prajna Paramita Sutra: 1) Tam Minh: Three insights—See Tam Minh. 2) Tam Hành: Three lines of action that affect karma—See Tam Hành. 3) Tam Nghiệp: Three kinds of karma—See Tam Nghiệp.
Minh Hạnh Túc / Minh Hành Túc
(s: vidyā-caraṇa-saṃpanna, p: vijjā-caraṇa-sampanna, 明行足): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là Tì Xỉ Già La Na Tam Bát Na (鞞侈遮羅那三般那); còn gọi là Minh Thiện Hành (明善行), Minh Hành Thành (明行成), Minh Hành Viên Mãn (明行圓滿), Minh Hành (明行). Theo Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh (北本大般涅槃經) quyển 18 cho biết rằng Minh tức là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (阿耨多羅三藐三菩提, Chánh Đẳng Chánh Giác, Phật trí); Hành Túc (行足, chân bước đi) là Giới, Định và Tuệ. Đức Phật nương vào bước chân đi của Tam Vô Lậu Học này để chứng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề; nên gọi là Minh Hành Túc. Bên cạnh đó, Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 2 còn giải thích rằng: “Tì Xỉ Già La Na Tam Bát Na, Tần ngôn Minh Hành Cụ Túc [Minh và Hành đầy đủ]; vân hà danh Minh Hành Cụ Túc; Túc Mạng, Thiên Nhãn, Lậu Tận, danh vi Tam Minh (鞞侈遮羅那三般那、秦言明行具足、云何名明行具足、宿命、天眼、漏盡、名爲三明, Tì Xỉ Già La Na Tam Bát Na, Tàu gọi là Minh Hành Cụ Túc; thế nào là Minh Hành Cụ Túc; Túc Mạng, Thiên Nhãn, Lậu Tận, gọi là Ba Minh)”; và “Hành danh thân khẩu nghiệp; duy Phật thân, khẩu nghiệp cụ túc, dư giai hữu thất; thị danh Minh Hành Cụ Túc (行名身口業、唯佛身、口業具足、餘皆有失、是名明行具足, Hành gọi là nghiệp của thân và miệng; chỉ có nghiệp thân và miệng của Phật mới đầy đủ [không sai lầm], còn lại đều sai lầm, cho nên gọi là Minh Hành Cụ Túc).”
Minh hạnh túc 明行足
[ja] ミョウギョウソク myōgyōsoku ||| Perfected in wisdom and action (Skt. vidyā-carana-saṃpanna; Tib. rig pa daṅ shabs su ldan pa). One who has consummated knowledge and practice. One of the ten epithets of the Buddha. Originally a Jain term that was borrowed by the Buddhists. => Trí tuệ và công hạnh viên mãn. (s: vidyā-carana-saṃpanna; t: rig pa daṅ shabs su ldan pa). Người đã hoàn mãn trí tuệ và công hạnh tu tập. Là một trong 10 danh hiệu của Đức Phật. Vốn là một thuật ngữ của Kỳ-na giáo (Jain) mà Phật giáo đã quen sử dụng.
minh hắc
Ánh sáng giác ngộ khắc phục vô minh, cũng như hương tỏa mùi xuyên khắp—The inner light, enlightenment censing and overcoming ignorance, like incense perfuming and interpenetrating.
minh hộ
(明護) Phạm: Paritràịa. Pàli: Paritta,Parittà. Hán dịch: Chú, Ủng hộ. Vốn chỉ cho thần chú ủng hộ người tu hành đạo Phật, về sau chỉ chung cho các kinh nói về loại thần chú này. Kinh Tì sa môn thiên vương do ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống (Đại 21, 217 thượng) nói: Lành thay Thế tôn! Có kinh A tra nẵng chi có thể làm Minh hộ (thần chú hộ trì). Cứ theo đây, nếu 4 chúng thụ trì kinh A tra nẵng chi hộ (Pàli:Àỉànàỉiya-rakkha) thì không bị quỉ thần não hại. Kinh Minh hộ có nhiều chủng loại; Vấn nạn 2, đoạn 4, trong kinh Di lan vương vấn (Pàli:Milinda-paĩha) liệt kê 6 loại: 1. Bảo kinh (Pàli: Ratana-sutta), 2. Uẩn minh hộ (Pàli: Khandhaparitta). 3. Khổng tước minh hộ (Pàli: Moraparitta). 4. Chàng đính minh hộ (Pàli:Dhajaggaparitta). 5. A tra nẵng chi minh hộ (Pàli: Àỉànàỉiya-paritta). 6. Ương quật ma la minh hộ (Pàli: Aígulimàla-paritta). Phẩm 13 trong luận Thanh tịnh đạo (Pàli: Visudhi-magga) chỉ nêu 5 loại trên mà lược bỏ Ương quật ma la minh hộ thứ 6. Còn Tiểu tụng (Pàli: Khuddaka-pàỉha) trong Tiểu bộ kinh (Pàli: Khuddakanikàya) thì nêu 3 kinh Minh hộ là kinh Cát tường (Pàli: (Maígala-sutta), kinh Bảo và kinh Từ bi (Pàli: Metta-sutta). Các kinh Minh hộ ghi trên vốn nằm trong Tăng chi bộ kinh (Pàli: Aíguttaranikàya), Trung bộ kinh (Pàli:Majjhimanikàya) hoặc là những bài kinh ngắn trong Kinh tập (Pàli: Sutta-nipàta) thuộc Tiểu bộ kinh. Kinh A tra nẵng chi, kinh Từ bi, kinh Đại cát tường trong Cam châu nhĩ thuộc Đại tạng Tây tạng đều là những kinh Minh hộ. Ngoài ra, về sự lưu truyền các kinh Minh hộ thì tại các nước Tích lan, Miến điện v.v... xưa nay rất phổ biến; những kinh này lấy việc tiêu trừ tật bệnh, tai họa của cá nhân hoặc của quốc gia làm mục đích, cho nên rất được tôn trọng và đọc tụng. [X. Hồ nguyệt toàn tập Q.thượng; Tây tạng ngữ văn pháp (Tự bản Uyển nhã); Tây tạng Đại tạng kinh Cam châu nhĩ mục lục; A History ofPàli Literature, vol. II, (B. C. Law); The Pàli Literature of Burma (Mabel Bode); The History of Buddhist Thought (E.J. Thomas)].
minh hộ kinh
Paritrana sŪtra (S), Paritta sutta (P).
Minh Hữu
明友; C: míngyŏu; J: myōyū;|Hán dịch tên của Prabhākaramitra, thường phiên âm là Ba-la-ca Phả-mật-đa-la (波羅迦頗蜜多羅).
Minh Hữu 明友
[ja] ミョウユウ Myōyū ||| A Chinese translation of the name Prabhākaramitra, usually transcribed as 波羅迦頗蜜多羅. => Hán dịch tên của Prabhākaramitra, thường phiên âm là Ba-la-ca Phả-mật-đa-la 波羅迦頗蜜多羅.
minh khiêm hoằng ân
Thiền Sư Minh Khiêm Hoằng Ân (1850-1914)—Zen Master Minh Khiêm Hoằng Ân—Thiền sư Minh Khiêm Hoằng Ân, một trong những đệ tử nổi tiếng của Thiền sư Tiên Giác Hải Tịnh. Năm 1869 ngài trụ trì chùa Viên Giác. Ngài là Pháp tử đời thứ 38 dòng Thiền Lâm Tế. Năm 1875, ngài được cử làm giáo thọ khi mới 26 tuổi. Sau khi thầy ngài thị tịch, hầu hết cuộc đời ngài, ngài đã trùng tu và hoằng hóa Phật giáo tại miền Nam nước Việt. Ngài thị tịch năm 1914—A Vietnamese monk, one of the outstanding disciples of Zen Master Tiên Giác Hải Tịnh. In 1869 he stayed at Viên Giác Temple. He was the Dharma heir of the thirty-eighth generation of the Linn-Chih Zen Sect. In 1875, he became the Acarya (see Acarya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section) when he was only 26 years old. When his master passed away, he spent most of his life to revive and expand Buddhism in the South. He passed away in 1914.
minh khoáng
(明曠) I. Minh Khoáng(? -623). Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Tùy, người Lạc dương, họ Mạnh. Sư thông minh, tài trí, chân thật, tiết tháo, chuyên nghiên cứu luận Đại trí độ và luật Ma ha tăng kì. Sư ở chùa Tịnh độ trong nhiều năm, số học chúng thường tới vài trăm người. Năm Vũ đức thứ 6 (623) sư tịch. II. Minh Khoáng (? - ?). Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Hoàng nham, Thai châu (Hoàng nham, Chiết giang). Ban đầu, sư đến Đông nam hỏi đạo, năm 20 tuổi trụ ở ấp Diệm, sau khi thụ giới Cụ túc, sư vào chùa Quốc thanh, núi Thiên thai, theo ngài Kinh khê Trạm nhiên tu học gíáo pháp Thiên thai, miệt mài hơn 10 năm. Lúc bấy giờ, Mật giáo do các ngài Bất không và Nhất hạnh hoằng dương rộng rãi, nên sư cũng chuyển sang học Mật giáo. Sư có các trứ tác: Bát nhã tâm kinh sớ quyển 1, Phạm võng sớ 3 quyển, Kim ti luận khoa văn, Thiên thai bát giáo đại ý, Pháp hoa kinh Quan âm phẩm khoa văn, Pháp hoa kinh đại ý ... [X. Phật tổ thống kỉ Q.10, 25; Đông vực truyền đăng lục Q.thượng].
minh khái
(明槩) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Đường. Vào năm Vũ đức thứ 4 (621) đời vua Cao tổ nhà Đường, Đạo sĩ Phó dịch dâng biểu trình bày kế sách ích quốc lợi dân, chủ trương giảm bớt chùa tháp, tăng ni. Bấy giờ ngài Minh khái trụ trì chùa Chấn hưởng ở Miên châu (nay là huyện Miên dương, tỉnh Tứ xuyên) liền dâng biểu Quyết đối Phó dịch phế Phật pháp tăng sự (Quyết chống đối việc Phó dịch phế bỏ Phật pháp tăng). Ngài phân biệt sự khác nhau giữa Nho gia và Đạo gia và cho rằng Nho gia hơn hẳn Đạo gia, rồi xếp Nho gia, Đạo gia vào hàng Cửu lưu thập gia. Ngoài ra, khi phê phán Đạo giáo, ngài Minh khái đặc biệt chú trọng vào Thiên sư đạo của Phó dịch, cho nên tờ biểu văn của ngài là tư liệu quan trọng để nghiên cứu về Thiên sư đạo ở đầu đời Đường.
minh khí
Votive offerings to the dead.
Minh Không
明空; 1076-1141|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 13. Không biết Sư nối pháp ai, chỉ biết rằng Sư kết bạn cùng với hai vị Ðạo Hạnh và Giác Hải.|Sư tên tục là Nguyễn Chí Thành, quê ở làng Loại Trì, huyện Chân Ðịnh, tỉnh Nam Ðịnh. Năm lên 29 tuổi, Sư cùng với hai vị Giác Hải và Ðạo Hạnh sang Thiên Trúc (Ấn Ðộ) học đạo, đạt được thần thông. Trở về quê, Sư kiến lập chùa Diên Phúc và chuyên trì chú Ðại bi tại đây.|Sư rất có công trong việc thu thập vật liệu để tạo »Ðại Nam tứ khí«, đó là tượng Phật, hồng chung, cái đỉnh, cái vạc. Tượng Phật A-di-đà được đúc và thờ tại chùa Quỳnh Lâm, huyện Ðông Triều tỉnh Hải Dương; cái đỉnh được đúc tại kinh đô, nơi tháp Báo Thiên; Ðại hồng chung được đúc tại Phổ Loại, vạc tại Minh Ðảnh.|Sư thường thi triển thần thông để giáo hoá chúng và tương truyền rằng, Sư cũng là người chữa bệnh hoá cọp của vua Lí Thần Tông.|Niên hiệu Ðại Ðịnh thứ 2 (1141), Sư viên tịch. Tượng của Sư và bia kí vẫn được tôn thờ tại chùa Lí Quốc Sư, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
minh không
Thiền sư Minh Không (1076-1141)—Zen master Minh Không—Thiền sư Việt Nam, quê ở Nam Định, Bắc Việt. Ngài là Pháp tử đời thứ 13 dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Năm 29 tuổi, ngài theo Giác Hải và Đạo Hạnh du hành sang Thiên Trúc. Khi trở về quê hương ngài xây chùa Diên Phước và tinh chuyên tụng chú Đại Bi. Ngài được vua Lý Nhân Tông tôn làm Quốc Sư. Ngài thị tịch năm 1141—A Vietnamese Zen master from Nam Định, North Vietnam. He was the Dharma heir of the thirteenth generation of the Vinitaruci Zen Sect. At the age of 29, he accompanied Giác Hải and Đạo Hạnh to travel to India. When he returned he built Diên Phước Temple and focused in reciting Great Compassion Mantra. He was honored by King lý Nhân Tông as the National Teacher. He passed away in 1141.
minh khổng cát tiệt
(明孔割截) Hai phương pháp cắt may áo ca sa. Theo điều Minh khổng trong Thích thị yếu lãm quyển thượng, Minh khổng nghĩa là khi may ca sa sắp hoàn thành, thì để lại một cái lỗ nhỏ, chứ không may kín, giống như cái lỗ hổng ở bờ ruộng để cho nước chảy vào, gọi là Minh khổng. Cát tiệt nghĩa là cắt tấm vải thành từng mảnh nhỏ, sau đó ráp lại, giống như thửa ruộng vuông vức, cuối cùng may thành ca sa, gọi là Cát tiệt y. Luật Tứ phần quyển 40 (Đại 22, 855 trung), nói: Đệ tử không nhiễm trước của các đức Như lai đã mặc áo như thế, giống ta ngày nay, dùng dao cắt vải thành những mảnh nhỏ để may áo sa môn, sẽ không bị bọn giặc cướp bóc.
minh kỳ
(冥祇) Thần ở cõi âm, như 10 vua cõi âm là: Tần quảng, Sơ giang, Diêm la, Thái sơn v.v... được nói trong kinh Thập vương. Và 5 sứ giả của vua Diêm la là: Sinh, Lão, Bệnh, Tử và Hình phạt, được nói trong kinh Diêm la vương ngũ thiên sứ, đều là những thần ở cõi âm. [X. Đại đường tây vực kí Q.2].
Minh liễu
明了; C: míngliăo; J: myōryō; S: uttāna-kriyā. |Sáng sủa dễ hiểu. Hiểu rõ.
minh liễu
To understand thoroughly; complete enlightenment.
; Am hiểu tường tận—To understand thoroughly.
Minh liễu 明了
[ja] ミョウリョウ myōryō ||| (uttāna-kriyā). To clarify. To understand clearly. 〔法華經 T 262.9.59c9〕 => (s: uttāna-kriyā). Sáng sủa dễ hiểu. Hiểu rõ.
minh luận
(明論) Cũng gọi Vi đà luận, Phệ đà luận. Kinh điển của Bà la môn giáo ở Ấn độ đời xưa. Vi đà, Phạm: Veda, Hán dịch là Minh. Minh nghĩa là Trí. Bà la môn giáo lập 4 Minh luận, còn Phật giáo thì lập 5 Minh luận. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần cuối; Thắng man bảo quật Q.trung phần đầu]. (xt. Phệ Đà).
minh lâm
(明林) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, người Thành đô, tỉnh Tứ xuyên, họ Chu, hiệu là Tú dã. Năm 8 tuổi, sư lễ ngài Tinh thiên ở chùa Cửu long làm thầy. Năm Sùng trinh thứ 6 (1633), lúc ấy 20 tuổi, sư đi tham học các nơi, năm sau sư đến Kim lăng học tập 4 năm. Năm Sùng trinh 11 (1638), sư lần lượt đến tham lễ ngài Hán nguyệt Pháp tạng ở Cô tô, ngài Tuyết kiệu Viên tín ở Kính sơn và ngài Mật vân Viên ngộ ở núi Thiên đồng. Năm Sùng trinh thứ 12 (1639), sư thụ giới Cụ túc, năm sau đến Kinh châu lánh nạn, rồi vào tỉnh Hồ bắc, ở tại chùa Vĩnh an, huyện Kiến thủy, chích máu viết các kinh Pháp hoa, Phạm võng. Năm Thuận trị thứ 6 (1649), sư xuống Giang nam, tham yết ngài Kì nhiên Siêu trí ở núi Vân đài tại Nam chương. Năm Khang hi 19 (1680), sư tiếp nối trụ trì chùa Hoàng long ở Nhương châu. Sư có tác phẩm: Ngữ lục 3 quyển. [X. Tú dã lâm thiền sư ngữ lục phụ hành diêu].
minh lâu
(明樓) Lầu cao xây trước nhà Tăng để lấy ánh sáng và thông gió. Kiến trúc nhà Tăng thường rộng và sâu, phía trước lại có nhà ngoài che chắn, nên nhà Tăng rất tối tăm, vì thế phải xây thêm lầu cao mở cửa sổ để thông gíó và lấy ánh sáng ở giữa khoảng nhà Tăng và nhà ngoài, gọi là Minh lâu, còn chỗ trống ở 2 bên phía trước Minh lâu thì gọi là Minh đường. [X. môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Minh Lương
明良; tk. 16-17|Thiền sư Việt Nam, thuộc tông Lâm Tế truyền sang miền Bắc, đời thứ 35. Sư nối pháp Thiền sư Chuyết Công. Môn đệ đắc pháp nổi tiếng của Sư là Thiền sư Chân Nguyên Huệ Ðăng.|Không rõ họ và quê quán Sư ở đâu. Chỉ biết khi nghe tin Hoà thượng Chuyết Công từ Trung Quốc sang, Sư tìm đến tham vấn.|Sư hỏi: »Khi sinh tử đến làm sao trốn tránh?« Chuyết Công đáp: »Chọn lấy nơi không sinh tử trốn tránh.« Sư hỏi: »Thế nào là nơi không sinh tử?« Chuyết Công đáp: »Ở trong sinh tử nhận lấy mới được.« Nghe vậy, Sư vẫn chưa ngộ. Chuyết Công bảo: »Hãy lui đi, đợi chiều hãy đến.«|Chiều, Sư lại đến. Chuyết Công bảo: »Ðợi sáng mai chúng sẽ vì ngươi minh chứng.« Sư nghe đây bỗng nhiên tỉnh ngộ, quì sụp xuống lạy. Sư được Chuyết Công Ấn khả và truyền tâm ấn.|Sau đó, Sư rời thầy trở về trụ trì chùa Vĩnh Phúc núi Côn Lương ở Phù Lãng. Nơi đây, Sư dốc lòng giáo hoá đồ chúng.|Sắp tịch, Sư truyền pháp cho Chân Nguyên và nói kệ:|美玉藏頑石。蓮花出淤泥|須知生死處。悟是即菩提|Mĩ ngọc tàng ngoan thạch|Liên hoa xuất ứ nê|Tu tri sinh tử xứ|Ngộ thị tức Bồ-đề.|*Ngọc quý ẩn trong đá|Hoa sen mọc từ bùn|Nên biết chỗ sinh tử|Ngộ vốn thiệt Bồ-đề.|Nói kệ xong, Sư bảo: »Nay ta trở về«. Vừa dứt lời, Sư viên tịch.
minh lương
Zen Master Minh Lương—Thiền sư Minh Lương, một vị cao Tăng người Việt Nam, quê ở Phù Lãng. Ngài gặp Hòa Thượng Chuyết Công và trở thành đệ tử khi Hòa Thượng từ bên Tàu sang Việt Nam. Sau đó ngài trở thành Pháp tử đời thứ 35 dòng Thiền Lâm Tế. Sau khi Thầy thị tịch vào năm 1644, ngài dời về chùa Vĩnh Phúc trên núi Côn Cương, Phù Lãng để hoằng dương Phật pháp. Trước khi thị tịch ngài truyền pháp lại cho Thiền Sư Chân Nguyên—A Vietnamese famous monk from Mount Phù Lãng. He met and became a disciple of Most Venerable Chuyết Công when the latter arrived in Vietnam. Later he became the Dharma heir of the 35th generation of the Linn Chih Zen Sect. After his master passed away in 1644, he moved and stayed at Vĩnh Phúc Temple on Mount Côn Cương in Phù Lãng to expand the Buddha Dharma. Before he passed away, he transmitted the Dharma to Zen Master Chân Nguyên.
Minh lộ
(冥路): đồng nghĩa với minh đồ (冥途), nghĩa là con đường tối tăm (thường ví cho Địa Ngục), hay còn có nghĩa ám chỉ lúc chết. Như trong Đôn Hoàng Biến Văn Tập (敦煌變文集), phần Đại Mục Càn Liên Minh Gian Cứu Mẫu Biến Văn (大目乾連冥間救母變文) có đoạn: “Hồn phách phiêu lưu minh lộ gian, nhược vấn Tam Đồ hà xứ khổ, hàm ngôn Ngũ Đạo quỷ môn quan (魂魄飄流冥路間、若問三塗何處苦、咸言五道鬼門關, hồn phách phiêu lưu u tối gian, nếu hỏi Ba Đường nơi nào khổ, đều cho Năm Nẻo quỷ môn quan).” Hay như trong bài từ Thu Nhụy Hương Dẫn (秋蕊香引) của Liễu Vĩnh (柳永, ?-1053) nhà Tống lại có câu: “Hướng tiên đảo, quy minh lộ, lưỡng vô tiêu tức (向仙島、歸冥路、兩無消息, người thì hướng đảo tiên, người thì trở về minh lộ, cả hai đều mất tin tức).” Trong Toàn Đường Thi (全唐詩) quyển 865, bài Tặng Đậu Thừa (贈竇丞) của Lưu Khái (劉溉, ?-?) nhà Đường có đoạn: “Minh lộ tra tra nhân bất tri, bất dụng khổ thuyết sử nhân bi, hỷ đắc phùng quân truyền gia tín, hậu hội mang mang hà xứ kỳ (冥路杳杳人不知、不用苦說使人悲、喜得逢君傳家信、後會茫茫何處期, lối mờ mù mịt người có hay, chẳng cần giải thuyết khiến buồn lo, may gặp được anh tin nhà nhắn, mai này mênh mang chốn nào đây ?).” Về nghĩa chỉ lúc gần chết, trong Liêu Trai Chí Dị (聊齋誌異), thiên Liên Hương (蓮香) của Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh có đoạn: “Liên nhập viết: 'Quân đãi hỉ, thị chơn quỷ vật, kỳ nật mỹ nhi bất tốc tuyệt, minh lộ cận hỉ' (蓮入曰:君殆矣、是眞鬼物、暱其美而不速絕、冥路近矣, Liên Hương đi vào nói: 'Ngươi nguy rồi ! Quả đúng là quỷ vật thứ thiệt, gần cái đẹp mà không dứt sớm, cái chết gần kề rồi đó !').”
Minh lợi
明利; C: mínglì; J: myōri;|1. Nhạy bén, sắc sảo, thường thấy ở những người có trí tuệ, hay thường thấy ở tri giác của người có kiến văn hoàn hảo v.v…; 2. Xuất sắc, ưu tú.
minh lợi
Clear and keen (to penetrate all mystery)
; 1) Những công đức hay lợi lạc tâm linh không nhìn thấy được: Invisible benefit, or merit, i.e. witihn spiritual. 2) Thông minh và lanh lợi (có khả năng xuyên thủng những sự việc huyền bí)—Clear and keen (be able to penetrate all mysteries).
; (冥利) Cũng gọi Minh ích, Minh ứng. Sự lợi ích mà chư Phật, Bồ tát âm thầm gia bị cho. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7 hạ (Đại 33, 771 thượng) nói: Sự truyền bá kinh luận ở cõi này, về công đức ấy, xem văn thì chỉ thấy nói đến minh lợi (lợi ích ngầm) chứ không thấy nói đến hiển ích(lợi ích rõ ràng).
Minh lợi 明利
[ja] ミョウリ myōri ||| (1) Sharpness, acuity, as seen in someone who possesses wisdom, or as seen in the senses of a person who has good eyesight, hearing, etc. (2) Excellent, superior. 〔二障義 HPC 1.807c〕 => 1. Nhạy bén, sắc sảo, thường thấy ở những người có trí tuệ, hay thường thấy ở tri giác của người có kiến văn hoàn hảo v.v... 2. Xuất sắc, ưu tú.
minh lự
The unfathomable thought or care of the Buddhas and bodhisattvas, beyond the realization of men.
; Sự chăm sóc không lường của chư Phật và chư Bồ Tát là không thể nghỉ bàn, nó vượt ra ngoài sự hiểu biết của chúng sanh—The unfathomable thought or care of the Buddhas and Bodhisattvas, beyond the realization of men.
minh minh
The (powers of) light and darkness, the devas and Yama, gods and demons, also the visible and invisible.
; 1) Ánh sáng và bóng tối: Light and darkness. 2) Sức mạnh của ánh sáng và bóng tối: The power of light and darkness. 3) Chư Thiên và ma quỷ: Gods and demons—Devas and Yama. 4) Hữu hình và vô hình: Visible and invisible.
minh mẫn
Sighrabodhi (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Minh Mẫn (Sighrabodhi) là một nhà sư nổi tiếng của tu viện Na Lan Đà—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, Sighrabodhi was a famous priest of the Nalanda monastery.
minh mục
Bright eyes.
minh nguyệt
Trăng sáng—The bright moon.
minh nguyệt châu
The bright-moon mani or pearl, emblem of Buddha, Buddhism, the Buddhist scriptures, purity, etc.
; See Minh Nguyệt Ma Ni.
Minh Nguyệt Ký
(明月記, Meigetsuki): còn gọi là Chiếu Quang Ký (照光記); bộ nhật ký của nhà Công Khanh Đằng Nguyên Định Gia (藤原定家, Fujiwara-no-Sadaie, 1162-1241) dưới thời Liêm Thương. Tên gọi Minh Nguyệt Ký không phải do bản thân Định Gia đặt, mà người đương thời gọi nó là Ngu Ký (愚記). Sau khi ông qua đời, hàng mạt duệ dùng danh xưng như Trung Nạp Ngôn Nhập Đạo Điện Nhật Ký (中納言入道殿日記); trong khi đó, những người ngoại tộc thì gọi là Định Gia Khanh Ký (定家卿記); nhưng tên gọi Minh Nguyệt Ký được bắt đầu thịnh hành từ thời Nam Bắc Triều (1336-1392) trở đi. Truyền bản lên đến vài chục bản, số quyển và nội dung của nó cũng khác nhau nhiều. Nguyên bản tự bút 45 quyển được Lãnh Tuyền Gia Thời Vũ Đình Văn Khố (冷泉家時雨亭文庫) lưu giữ. Định Gia rất ưu tú với tư cách là ca nhân, có mối quan hệ rất sâu xa với những nhân vật trọng yếu trong triều đình cũng như chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương; cho nên nội dung của tác phẩm này ghi lại những sự kiện trên phạm vi rộng lớn từ các động hướng về chính cuộc của triều đình và chính quyền Mạc Phủ cho đến cuộc triều nghị, ca luận, v.v. Đây quả là sử liệu quan trọng giúp cho việc nghiên cứu lịch sử thời Liêm Thương.
minh nguyệt ma ni
Minh Châu—Ngọc châu ma ni trong sáng như ánh trăng—The bright-moon mani or pearl. 1) Tượng trưng cho Đức Phật: The emblem of the Buddha. 2) Tượng trưng cho Phật Giáo: The emblem of Buddhism. 3) Tượng trưng cho Giáo điển Phật giáo: The emblem of Buddhist scriptures. 4) Tượng trưng cho sự thanh tịnh: The emblem of purity.
minh nguyệt thiên tử
SŪrya (S), Suriya (P)Tô lợi Đa, Tô lộc gia1- Vị đại vương ngự trong cung điện tại mặt trăng, thống lãnh thế giới mặt trăng, nội thần của đức Đế Thích. 2- Tô lợi Đa: nữ thần tiêu biểu cho mặt trời. 3- Mặt trời.
; Nguyệt Thiên Tử trong cõi trời Đế Thích—The moon-deva, in Indra's retinue. ** For more information, please see Nguyệt Thiên Tử.
Minh Nguyệt viện
明月院; C: míngyuèyuàn; J: myōgetsuin;|Viện Minh Nguyệt năm ra đời năm 1160 với tên Minh Nguyệt am (j: meigetsu-an) do Yamanouchi Tsunetoshi (山ノ内經俊) thành lập để cầu siêu cho thân phụ mình là Toshimichi, bị chết trong chiến trận Heiji vào năm trước. Năm 1256, Hojo Tokiyori chọn nơi nầy để kiến trúc chùa Phật giáo tên là Saimyōji (phía Tây bắc Viện Minh Nguyệt ngày nay). Năm 30 tuổi, Tokiyori xuất gia làm Tăng sĩ với pháp danh Giác Liễu Phòng Đạo Sùng (覺了房道崇 j: kakuryōbō dosū). Khi thị tịch vào 7 năm sau, sư viết bài thi kệ nầy khi dang trong tư thế toạ thiền:|Suốt 37 năm,|Ta giương cao tấm gương nghiệp.|Nay với một cú đập mạnh, ta phá ra từng mảnh.|Và đại đạo biến mất.|Về sau Saimyōji trở thành người kế vị ngôi chùa mới tên là »fukugenzan zenkōkōshōzenji« (zenkōji) do Tokimune con trai của Hojo Tokiyori thành lập. Vị trú trì đầu tiên là Mật Thất Thủ Nghiêm (密室守嚴, j: misshitsu shugon), đệ tử truyền pháp thứ 5 của Thiền sư Đại Giác (j: daikaku), người sáng lập chùa Kenchōji. Năm 1380, Tướng quân Ashikaga Ujimitsu thăng cấp cho Zenkōji do việc kiến trúc những cung điện mới, mở rộng lãnh thổ và xây dựng thêm chùa chiền. Trong cương vị thứ ba trong hàng tướng quân, Ashikaga Yoshimitsu xếp hạng chùa Zenkōji đứng hàng thứ nhất trong 10 ngôi đại tự ở vùng Kanto. Trong khi đó, Minh Nguyệt am được đổi tên thành Minh nGuyệt viện và được công nhận là chi nhánh của chùa Zenkōji. Tượng thờ chính ở điện Phật là Bồ Tát Quán Thế Âm, vị Bồ Tát của tình thương. Một bộ tranh minh hoạ cổ mang tên »Meigetsuin Ezu« cho cái nhìn tổng quát về tu viện nầy trong thời hoàng kim. Chùa Zenkōji bị rơi vào hoang phế chẳng bao lâu sau thời Minh Trị Phục hưng (1867), và chỉ còn Meigetsu-in đến ngày nay. Viện nầy thuộc chi nhánh Kenchōji trong dòng thiền Lâm Tế.
Minh Nguyệt Viện 明月院
[ja] ミョウゲツイン Myōgetsuin ||| The Meigetsu-in was founded in the year 1160 as "Meigetsu-an" (Bright Moon Hermitage) by Yamanouchi Tsunetoshi 山ノ内經俊 for the repose of the soul of his father Toshimichi, who died in the Battle of Heiji the previous year. In 1256, Hojo Tokiyori chose this site for the construction of a Buddhist temple called Saimyōji (northwest of present-day Meigetsu-in). At the age of 30, Tokiyori entered the Buddhist priesthood under the name Kakuryōbō Dosū 覺了房道崇. When he died seven years later he composed the following poem in while in the sitting meditation posture. For 37 years. I held the mirror of karma high. Now with a smash I break it to pieces. And the Great Path falls away. Saimyōji later became the predecessor of a new temple called "Fukugenzan Zenkōkōshōzenji" (Zenkōji) founded by Hojo Tokiyori's son Tokimune. The first abbot was Misshitsu Shugon 密室守嚴, fifth-generation dharma successor to Zen Master Daikaku, founder of Kenchōji Temple. In 1380, Shogun Ashikaga Ujimitsu ordered his assistant Uesugi Norikata to promote Zenkōji by constructing new buildings, expanding the grounds and establishing subsidiary temples. During his stint as third shogun, Ashikaga Yoshimitsu ranked Zenkōji first among the ten great Buddhist temples of the Kanto region. Meigetsu-an, meanwhile, was changed in name to Meigetsu-in and designated a subsidiary of Zenkōji. The main image of worship is Kannon Bodhisattva, the diety of compassion. An old collection of illustrations called "Meigetsuin Ezu" gives a glimpse of the temple in its heyday. Zenkōji Temple was abolished soon after the Meiji Restoration (1867), and only Meigetsu-in remains to the present day. It belongs to the Kenchōji Branch of the Rinzai Zen Sect. => Viện Minh Nguyệt năm ra đời năm 1160 với tên (j: Meigetsu-an; e: Bright Moon Hermitage) do Sơn Phiệt Nội Kinh Tuấn (Yamanouchi Tsunetoshi 山ノ内經俊 ) thành lập để cầu siêu cho thân phụ mình là Toshimichi, bị chết trong chiến trận Heiji vào năm trước. Năm 1256, Hojo Tokiyori chọn nơi nầy để kiến trúc chùa Phật giáo tên là Saimyōji (phía Tây-Bắc Viện Minh Nguyệt ngày nay). Năm 30 tuổi, Tokiyori xuất gia làm Tăng sĩ với pháp danh Giác Liễu Phòng Đạo Sùng (Kakuryōbō Dosū 覺了房道崇). Khi thị tịch vào 7 năm sau, sư viết bài thi kệ nầy khi dang trong tư thế toạ thiền: Suốt 37 năm, Ta giương cao tấm gương nghiệp. Nay với một cú đập mạnh, ta phá ra từng mảnh. Và đại đạo biến mất. Về sau Saimyōji trở thành người kế vị ngôi chùa mới tên là "Fukugenzan Zenkōkōshōzenji" (Zenkōji) do Tokimune con trai của Hojo Tokiyori thành lập. Vị trú trì đầu tiên là Mật Thất Thủ Nghiêm (j: Misshitsu Shugon 密室守嚴), đệ tử truyền pháp thứ 5 của Thiền sư Daikaku, người sáng lập chùa Kenchōji . Năm 1380, Tướng quân Ashikaga Ujimitsu thăng cấp cho Zenkōji do việc kiến trúc những cung điện mới, mở rộng lãnh thổ và xây dựng thêm chùa chiền. Trong cương vị thứ ba trong hàng tướng quân, Ashikaga Yoshimitsu xếp hạng chùa Zenkōji đứng hàng thứ nhất trong 10 ngôi đại tự ở vùng Kanto . Trong khi đó, Meigetsu-an, được tên đổi thành Meigetsu-in và đj công nhận là chi nhánh của chùa Zenkōji. Tượng thớ chinmhs ở điện Phật là Bồ-tát Quán Thế Âm, vị Bồ-tát của tình thương. Một bộ tranh minh hoạ cổ mang tên 'Meigetsuin Ezu' cho cái nhìn tổng quát về tu viện nầy trong thời hoàng kim. Chùa Zenkōji bị rơi vào hoang phế chẳng bao lâu sau thời Minh Trị phục hưng (1867), và chỉ còn Meigetsu-in đến ngày nay. Viện nầy thuộc chi nhánh Kenchōji trong dòng thiền Lâm Tế.
Minh Nhiệm
(明任, Myōnin, 1148-1229): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương, Kiểm Hiệu đời thứ 39 của Cao Dã Sơn, húy là Minh Nhiệm (明任), tự là Chứng Quang (証光), Thắng Quang (勝光); xuất thân vùng Thần Cung (神宮), Kỷ Y (紀伊, Kii, thuộc Wakayama-ken [和歌山縣]). Ông thọ phép Quán Đảnh với Định Kiêm (定兼) ở Chánh Trí Viện (正智院) trên Cao Dã Sơn, rồi sau đó lên kinh đô, tham học với chư tôn đức khác, rồi học giáo nghĩa của hai dòng Tiểu Dã (小野) cũng như Quảng Trạch (廣澤). Sau khi Định Kiêm qua đời, ông đến trú tại Chánh Trí Viện, và năm 1226 thì làm Kiểm Hiệu của Cao Dã Sơn. Đệ tử của ông có Pháp Tánh (法性), Đạo Phạm (道範), v.v.
Minh Nhất
(明一, Myōichi, 728-798): vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống giữa hai thời đại Nại Lương và Bình An, húy Minh Nhất (明一), xuất thân vùng Đại Hòa (大和, Yamato, thuộc Nara-ken [奈良縣]), họ Đại Trạch (大宅). Ông có học thức cao rộng, trú tại Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) và tuyên dương Pháp Tướng Tông; nhưng đến cuối đời thì hoàn tục. Ông nỗ lực khảo cứu truyền ký của Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi) và các kinh điển hộ quốc như Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經), v.v. Trước tác của ông có Thánh Đức Thái Tử Truyện (聖德太子傳), Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Chú Thích (金光明最勝王經註釋) 10 quyển, Pháp Hoa Lược Ký (法華略記) 3 quyển, v.v.
Minh nhất
冥一; C: míngyī; J: myōichi;|Hợp nhất một cách hài hoà thế nên khó phân biệt được.
minh nhất
Hoàn toàn tối ám—Entire obscurity, pristine darkness.
; (冥一) Trong trạng thái hỗn mang, không thể phân biệt đây kia, gọi là Minh nhất (1 trạng thái mờ tối). Cũng tức là chủ thể và đối tượng hợp nhất, không còn phân biệt. Ma ha chỉ quán quyển 1 hạ, (Đại 46, 9 hạ) nói: Trí vô duyên duyên theo cảnh vô tướng, cảnh vô tướng cùng với trí vô duyên thầm hợp làm một, gọi là Cảnh trí minh nhất.
Minh nhất 冥一
[ja] ミョウイチ myōichi ||| Harmoniously unified so as to be indistinguishable. => Hợp nhất một cách hài hòa thế nên khó phân biệt được.
minh nhựt
Minh thiên—Ngày mai—Tomorrow.
minh niên
Năm tới—Next year.
minh nội
See Minh Huân.
minh nữ
Xem Cồ Di.
minh oan
To explain that someone is innocent.
minh phi
Vidyārāja (S)Tên một vị thiên.
; Another name for dhàranì as the queen of mystic knowledge and able to overcome all evil. Also the consort shown in the mandalas.
; Vidya-raja (skt) 1) Một tên khác của Đà La Ni. Vị hoàng hậu có kiến thức kỳ diệu, có thể vượt qua mọi ác nghiệp—Another name for dharani as the queen of mystic knowledge and able to overcome all evil. 2) Bậc tôn nữ làm bộ chủ phối ngẫu trong các hộ Mạn Đồ La: The female consorts shown in the mandalas.
Minh Phong Tố Triết
(明峯素哲, Meihō Sotetsu, 1277-1350): vị Tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, người vùng Gia Hạ (加賀, Kaga, có thuyết cho rằng ông người vùng Năng Đăng [能登, Noto], thuộc Ishikawa-ken [石川縣]), họ là Phú Kiên (富樫), hiệu là Minh Phong (明峯). Ban đầu ông xuất gia trên Tỷ Duệ Sơn, rồi thọ cụ túc giới và học giáo học Thiên Thai, sau ông đổi y đến Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji) tham vấn Thiền yếu. Tiếp theo ông đến làm thị giả cho Oánh Sơn Thiệu Cẩn (瑩山紹瑾) ở Đại Thừa Tự (大乘寺, Daijō-ji). Theo thầy học đạo được 8 năm trường, sau đó ông được khai ngộ. Từ ấy về sau, ông đi du phương hành hóa khắp nơi. Rồi lần thứ hai ông lại quay trở về với Oánh Sơn tại Vĩnh Quang Tự (永光寺), và đến tháng 6 năm 1323 thì nhập thất tu hành. Trong khoảng thời gian đầu niên hiệu Nguyên Hoằng (元弘, 1321-1323), khi thiên hạ xảy ra đại loạn, triều đình sắc phong cho Vĩnh Quang Tự thành ngôi chùa sắc nguyện. Vào đầu niên hiệu Lịch Ứng (曆應, 1338-1341), ông chuyển đến sống ở Đại Thừa Tự, rồi đến cuối đời thì sáng lập ra Quang Thiền Tự (光禪寺) ở vùng Việt Trung (越中, Ecchū, thuộc Toyama-ken [富山縣]), và đến sống ở đó. Vào ngày 28 tháng 3 năm đầu (1350) niên hiệu Quán Ứng (觀應), ông thị tịch, hưởng thọ 74 tuổi đời và 58 hạ lạp.
; 明峰素哲; J: meihō sotetsu; 1277-1350;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Tào Ðộng, nối pháp Thiền sư Oánh Sơn Thiệu Cẩn (j: keizan jōkin) và là bạn đồng học của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki).
minh pháp
The law or method of mantras, or magic formulae.
; The law or method of mantras, or magic formulae.
minh pháp sư
(明法師) Cũng gọi Đại minh pháp sư, Quang pháp sư. Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Tam luận, sống vào đời Tùy Đường. Sư từng tu học ở Dương đô (Nam kinh) dưới tòa ngài Pháp lãng (507-561) chùa Hưng hoàng, sau khi sư vào Mao sơn (huyện Cú dung, tỉnh Giang tô) hoằng dương Trung luận, trọn đời không ra khỏi núi. Có thuyết cho rằng Thiền sư Pháp dung, Tổ khai sáng tông Ngưu đầu, cũng từng theo Pháp sư Minh học Tam luận. Lại có thuyết cho rằng Pháp sư Quang mà Thiền sư theo học không phải là Pháp sư Đại minh, học giả Tam luận. [X. chương Ngưu đầu Pháp dung trong Tục cao tăng truyện Q.20].
minh phúc
The happiness of the dead.
; Sự phúc độ của người chết (như bố thí, cúng dường, hay tụng kinh hộ niệm cho người quá vãng)—The happiness of the dead.
; (明澓) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Tào động, sống vào đời Minh, người huyện Cối kê, tỉnh Chiết giang, họ Vương, tự Nhĩ mật, hiệu Tán y. Sư bẩm tính sáng suốt, ngay thẳng, năm 22 tuổi, y vào Đại sư Trinh bạch chùa Khai nguyên xuất gia, học thông tính tông, tướng tông. Năm 27 tuổi, lúc đang ở trong thuyền, tình cờ nghe tiếng thanh la (1 loại nhạc khí), sư hoát nhiên tỉnh ngộ. Sau sư thờ ngài Trạm nhiên Viên trừng, chùa Hiển thánh, núi Vân môn ở Việt châu làm thầy, năm Thiên khải thứ 3 (1623) được phó pháp. Sư từng tham yết ngài Vô dị Nguyên lai ở chùa Thiên giới tại Kim lăng, biện luận về ý chỉ vật bất thiên. Về sau, sư trùng hưng chùa Quốc khánh ở Đông sơn thuộc tỉnh Chiết giang. Năm Sùng trinh thứ 9 (1636), sư dời đến chùa Di đà ở Mai dã. Năm Sùng trinh 15 (1642) sư tịch, thọ 53 tuổi. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.2; Kế đăng lục Q.1; Ngũ đăng nghiêm thống Q.25; Tục đăng chính thống Q.39; Ngũ đăng toàn thứ Q.63].
minh phương
(明方) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Tào động, sống vào đời Minh, người phủ Gia hưng, tỉnh Chiết giang, họ Trần, tự Thạch vũ, người đời gọi là Thạch vũ Minh phương Thiền sư. Năm 22 tuổi, sư y chỉ vào ngài Tây trúc tông ở chùa Song tháp, núi Nam cao tại Hàng châu xuất gia. NămVạn lịch 43 (1615), sư tham yết ngài Trạm nhiên Viên trừng ở chùa Thạch Phật tại Gia hưng, khổ tu 7 năm mới được ấn chứng. Về sau, sư lần lượt trụ ở các chùa: Tượng sơn, Thiên hoa ở Thiệu hưng, Hiển thánh ở núi Vân môn, Quang hiếu ở núi Bảo thọ tại Hàng châu, Tây thiền, Tuyết phong ở Di sơn tại Phúc châu, Linh sơn tại Đinh châu, Phổ minh ở phủ Kiến ninh, tỉnh Phúc kiến, Linh phong ở Khảo đình, Ngộ không ở núi Long môn thuộc Hàng châu, Quảng phúc ở Đông tháp tại phủ Gia hưng, Phật nhật ở núi Cao đình tại Hàng châu và sau cùng là chùa Lan ngạc sơn ở phủ Thiệu hưng. Năm Thuận trị thứ 4 (1647) đời Thanh, một hôm sư bỗng nói với đồ chúng (Vạn tục 144, 473 thượng): Thế giới chẳng yên, chi bằng ta đi về. Năm Thuận trị thứ 5 (1648) sư tịch, thọ 56 tuổi, pháp lạp 35. Sư có tác phẩm: Thạch vũ thiền sư pháp đàm 20 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.2; Tục đăng chính thống Q.39; Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.3 (Hư vân)].
minh phật luận
(明佛論) Cũng gọi Thần bất diệt luận. Tác phẩm, 1 quyển, do cư sĩ Tông bỉnh soạn vào đời Lưu Tống thuộc Nam triều, được thu vào Hoằng minh tập quyển 2 trong Đại chính tạng tập 52. Nội dung sách này nói rõ về thần thức luân hồi bất diệt, thần thức ấy tức là pháp thân thường trụ; nếu diệt trừ dục tình, còn lại thần thức thanh tịnh vốn có, thì liền trở về pháp thân mà thành Phật. Điều này cho thấy tư tưởng của tác giả Tông bỉnh là dung hợp pháp thân, Phật tính của Phật giáo với quan niệm thần, tính của Đạo gia. (xt. Tông Bỉnh, Thần Diệt Bất Diệt Luận Tranh).
Minh Phủ
(冥府): còn gọi là Âm Phủ (陰府), là cơ sở hành chánh của thế giới bên kia sau khi chết, văn phòng của vua Diêm Ma. Người thống trị Minh Phủ là Minh Vương Áo Tây Lí Tư (冥王奧里斯); vị này là đại thần của toàn quốc, sau A Mông (阿蒙). Vị trí của Áo Tây Lí Tư thậm chí còn cao hơn cả ông cố là Thái Dương Thần (太陽神). Theo nghiên cứu cho biết rằng ban đầu ông là Hồng Thủy Thần (洪水神, Thần Nước Lũ) của Sông Ni La (尼羅河, Nile), và về sau được cách hóa thành Minh Vương. Đồng thời, ông cũng có thần cách như Thái Dương Thần; tuy nhiên vẫn giữ thân Minh Vương. Mặt khác, ông không phải là đại diện cho sự tối tăm, mà là thần của ánh sáng. Về sau, A Nỗ Tỷ Tư (阿努比斯), người giữ gìn các vong linh, được xem như là con của Áo Tây Lí Tư, được phong chức trợ lý cho cha. Sở dĩ Áo Tây Lí Tư được xem như là vị đại thần của toàn quốc, vì nó có liên quan đến quan điểm tử vong của người Ai Cập. Họ cho rằng chết đi không phải là kết thúc sinh mạng, mà đạt đến con đường sống mãi; cho nên người chết được sống lại nơi thế giới do Áo Tây Lí Tư thống trị và vĩnh viễn sinh tồn. Đó là lý do vì sao người Ai Cập cổ xưa đã xây dựng các Kim Tự Tháp cũng như mộ đế vương cho những vị quốc vương họ. Căn cứ vào thuyết của Kim Chi (金枝), Áo Tây Lí Tư cùng với vợ là Y Hy Tư (伊希斯) trở lại làm thần cây. Sự phục hoạt của Áo Tây Lí Tư có ý nghĩa tương đồng với sự phục hoạt thần cây của Tây Á và Hy Lạp. Theo quan điểm tín ngưỡng của Trung Quốc, dưới Minh Phủ có 10 vị Minh Vương cai quản 10 ngôi điện, được gọi là Thập Điện Minh Vương (十殿冥王) hay Thập Điện Từ Vương (十殿慈王). Theo Địa Phủ Thập Vương Bạt Độ Nghi (地府十王拔度儀) thuộc kinh điển của Đạo Giáo, dưới Minh Phủ có 10 cung, mỗi cung có 1 vị Chơn Quân cai quản, gồm: (1) Cung thứ nhất của Tần Tố Diệu Quảng Chơn Quân (秦素妙廣眞君), còn gọi là Tần Quảng Đại Vương (秦廣大王); (2) Cung thứ hai của Âm Đức Định Hưu Chơn Quân (陰德定休眞君), còn gọi là Sơ Giang Đại Vương (初江大王); (3) Cung thứ ba của Động Minh Phổ Tĩnh Chơn Quân (洞明普靜眞君), còn gọi là Tống Đế Đại Vương (宋帝大王); (4) Cung thứ tư của Huyền Đức Ngũ Linh Chơn Quân (玄德五靈眞君), còn gọi là Ngỗ Quan Đại Vương (仵官大王); (5) Cung thứ năm của Tối Thánh Diệu Linh Chơn Quân (最聖妙靈眞君), còn gọi là Diêm La Đại Vương (閻羅大王); (6) Cung thứ sáu của Bảo Túc Chiêu Thành Chơn Quân (寳肅昭成眞君), còn gọi là Biến Thành Đại Vương (變成大王); (7) Cung thứ bảy của Thái Sơn Huyền Diệu Chơn Quân (泰山玄妙眞君), còn gọi là Thái Sơn Đại Vương (泰山大王); (8) Cung thứ tám của Vô Thượng Chánh Độ Chơn Quân (無上正度眞君), còn gọi là Bình Đẳng Đại Vương (平等大王); (9) Cung thứ chín của Phi Ma Diễn Hóa Chơn Quân (飛魔演化眞君), còn gọi là Đô Thị Đại Vương (都市大王); (10) Cung thứ mười của Ngũ Linh Uy Đức Chơn Quân (五靈威德眞君), còn gọi là Chuyển Luân Đại Vương (轉輪大王). Qua đó, ta thấy rằng 10 cung này tương đương với 10 điện và tên gọi của các vị chủ quản các cung cũng gần tương tự với 10 vị Minh Vương (xin xem thêm chi tiết ở phần Minh Vương và Diêm Ma Thập Điện). Trong Hiện Quả Tùy Lục (現果隨錄) quyển 2 có câu: “Ngô tinh phi tà, tiền tại Minh Phủ kiến nhất kỳ sự, cấp dục vãng bỉ khám nghiệm nhĩ (吾並非邪、前在冥府見一奇事、急欲徃彼一勘驗耳, tôi chẳng nói bậy đâu, trước kia ở dưới Minh Phủ có thấy một việc kỳ lạ, muốn mau đến ông ấy khám nghiệm thử đúng không).” Hay Trong Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (禪林僧寶傳) quyển 8, truyện Nam An Nham Nghiêm Tôn Giả (南安巖嚴尊者) lại có đoạn: “Hữu tăng tự Huệ Châu lai, viết: 'Hà Nguyên hữu cự chu trước sa, vạn ngưu hoán bất khả động, nguyện đắc dĩ tải chuyên, kiến tháp vu nam hải, vi chúng sanh phước điền.' Công viết: 'Thử Âm Phủ chi vật' (有僧自惠州來、曰河源有巨舟著沙、萬牛挽不可動、願得以載磚、建塔于南海、爲眾生福田、公曰此陰府之物, có vị tăng từ Huệ Châu đến bảo rằng: 'Tại Hà Nguyên có một chiếc thuyền lớn bị mắc cát, vạn con trâu kéo cũng không nhúc nhích, xin ngài đến chở ngói gạch, xây tháp nơi Nam Hải để làm ruộng phước cho chúng sanh.' Ông [Nham Nghiêm Tôn Giả] nói rằng: 'Đó là đồ của Âm Phủ').”
minh phủ
The palace of darkness, Hades.
; Cung điện nơi âm phủ hay địa ngục—The palace of darkness, Hades.
minh phủ điện
(冥府殿) Cũng gọi Thập vương điện. Cung điện của 10 vị vua ở cõi âm. Các chùa ở Trung quốc, Đại hàn và Nhật bản thường thiết lập thêm Minh phủ điện, nhưng ở Nhật bản thì điện này được gọi là Diêm ma đường.
minh quan
Những chức quan nơi cõi địa ngục—The rulers of Hades.
; (冥官) Những quan thuộc hạ ở cõi u minh, phụ tá cho vua Diêm ma, phán xét tội lỗi của các tội nhân ở địa ngục và quyết định hình phạt thích đáng. Đó là các vị như là Thái sơn phủ quân.
minh quang
Brilliant.
minh quang tâm
The illuminated mind.
minh quyền
(冥權) I. Minh Quyền. Chỉ cho những phương tiện quyền xảo được chư Phật, Bồ tát ứng dụng để giáo hóa chúng sinh [X. Bài tựa kinh Duy ma]. II. Minh Quyền. Chỉ cho Pháp thân và Ứng thân của Phật. Lí và trí thầm hợp với nhau gọi là Minh, tức là Pháp thân Phật; phương tiện độ sinh là Quyền, tức là Ứng thân Phật.
minh quân
Clear-sighted king.
minh sa dư vận
(鳴沙餘韵) Tác phẩm, 1 pho, do ông Thỉ xuy Khánh huy (1879-1939) người Nhật biên soạn. Toàn sách có chính thiên và thiên ngoại. Chính thiên: Biên chép hơn một trăm mấy mươi bản kinh xưa của Phật giáo đã bị thất lạc trong số mấy nghìn văn kiện cổ bản đào được ở Đôn hoàng, do ông A. Stein sưu tập và tàng trữ tại viện Bảo tàng nước Anh. Thiên ngoại:Thu gom những bức Mặc bảo (bút tích của cổ nhân) quí hiếm và hơn 40 quyển sách viết tay khác. Ngoài ra, để giải thích rõ sách này, ông Khánh huy còn soạn thêm 1 thiên Minh sa dư vận giải thuyết.
minh sát
To examine clearly.
minh sát tuệ
lha tong (T), Vipassanā (P), Insight meditation, Shi nay (T), Vipaśyanā (S), lha tong (T)Nội quán, Nội quán thiền, Thiền Minh sátXem Quán.
; Vipassana (p)—Insight—Intuitive vision—Hệ thống thiền định của Phật giáo Nguyên Thủy—A Buddhist system of meditation practiced in the Theravada.
minh sơ
The primitive dakness (at the beginning of existence).
; Sự tối ám nguyên sơ của vạn hữu—The primitive darkness at the beginning of existence.
minh sứ
Lictors, or messengers of Hades.
; Sứ quan hay sứ giả của Diêm Vương—Lictors, or messengers of Hades.
Minh Sử
(明史, Minshi): một loại sử thư, gồm 336 quyển, một trong Chánh Sử diễn thuyết về lịch sử nhà Minh. Thể theo sắc mệnh của vua Khang Hy (康熙), Vương Hồng Tự (王鴻緒) bắt đầu biên tập bộ sử thư này. Đến thời vua Ung Chính (雍正), Trương Diên Ngọc (張延玉) làm Tổng Biên Tập, trước sau trải qua hơn 60 năm, mãi cho đến năm 1739 (Càn Long [乾隆] tứ niên) mới hoàn thành.
minh sử
(冥使) Sứ giả của Minh quan, tức chỉ cho ngục tốt (lính của Diêm vương). Cứ theo luận Đại trí độ quyển 16, trong địa ngục, thân hình của ngục tốt mang những loại đầu chim thú đáng sợ như đầu trâu, ngựa, dê, hươu, nai, cáo, chồn, chó, hổ, chó sói, sư tử, chim ưng, chim ó v.v... thường quát mắng, nạt nộ và trừng phạt các người chết tùy theo tội nghiệp của họ. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.17]. (xt. Ngục Tốt).
minh thiện
Clear sky.
minh thoát
Enlightenment (from ignorance) and release (from desire).
; Enlightenment from ignorance and release from desire.
minh thái tổ
(明太祖) Vị vua sáng lập triều Minh, Trung quốc, người Hào châu (nay là huyện Phượng dương, tỉnh An huy), họ Chu, tên Nguyên chương, tự Quốc thụy, miếu hiệu Thái tổ, thụy hiệu Cao hoàng đế. Năm 17 tuổi, cha mẹ qua đời, ông vào chùa Hoàng giác xuất gia làm tăng được 7 năm. Đến cuối đời Nguyên, loạn lạc nổi lên, ông bỏ chùa, đi theo ông Quách tử hưng làm thân binh, dần dần thăng đến Đại tướng. Sau khi Quách tử hưng mất, ông kế nghiệp thống lãnh quân sĩ tiêu diệt quần hùng, xưng Đế tại Kim lăng, đổi quốc hiệu là Minh, niên hiệu là Hồng vũ. Sau đó, ông đánh đuổi nhà Nguyên, thống nhất Trung quốc. Trong thời gian đầu, triều chính rất tốt đẹp, nhưng về già ông trở nên hà khắc đa nghi, giết cả công thần hào tộc đến hơn vài mươi vạn người. Ông ở ngôi được 31 năm thì qua đời, hưởng thọ 71 tuổi. Vì mới đầu, vua từng làm tăng tu tập Phật pháp, nên sau khi lên ngôi, ông nhận thấy kỉ cương của chúng tăng vào cuối đời Nguyên đã quá lỏng lẻo, không hiểu Thánh ý, nên ông mời các bậc Cao tăng, cùng nhau lập ra chế độ, biên soạn, sửa đổi thanh qui, sám nghi, chú sớ để làm mực thước cho thiên hạ noi theo. Đồng thời đặt ra chế độ giáo dục chúng tăng, chia chùa viện Phật làm 3 loại: Thiền, Giảng và Giáo. Năm Hồng vũ thứ 4 (1371), vua thỉnh cử 8 vị tăng gồm các ngài Tổ xiển, Khắc cần v.v... làm sứ thần đưa tiễn sứ Nhật bản về nước. Vua có ảnh hưởng rất lớn đối với Phật giáo Trung quốc. [X. Minh sử Q.1, 2, 3; Minh thái tổ thực lục Q.68].
minh thông
Mysterious, supernatural, omnipresent power.
; Siêu lực vượt ngoài sự diễn tả của ngôn ngữ hay hình tượng—Mysterious, supernatural, omnipresent power.
; (冥通) Danh từ tán thán chân lí. Minh là vắng lặng, lìa các tướng; Thông là dung thông tất cả không trở ngại. [X. Giới bản sớ Q.1 thượng; Tứ phần luật sớ hành tông kí Q.1 thượng].
minh thần
The bright spirits, i.e. devas, gods, demons.
; The bright spirits devas, gods, demons).
minh thệ
To swear.
minh thị
Explicitly—Clearly.
minh tinh
Sao Thái Bạch và Thiên Tử trị vì tại đó—Venus and the deva-prince who dwells in that planet.
Minh Toàn
(明全, Myōzen): tức Phật Thọ Phòng Minh Toàn (佛樹房明全, Butsujubō Myōzen, 1184-1225), là vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào khoảng đầu thời đại Liêm Thương, húy là Minh Toàn (明全), hiệu là Phật Thọ Phòng (佛樹房), người vùng Y Thế (伊勢, Ise, thuộc Mie-ken [三重懸]). Năm 16 tuổi, ông theo xuất gia với Trí Điển (智典) ở Lai Nghênh Tự (來迎寺) thuộc vùng Phong Cang (豐岡, Toyooka), Đản Mã (但馬, Tajima), rồi thọ Bồ Tát Giới với Giới Trần (戒陳) ở Huệ Chiếu Viện (惠照院). Năm 1766, ông làm trú trì đời thứ 22 của Lai Nghênh Tự, thường mỗi ngày xướng tụng 30.000 biến niệm Phật. Sau ông dời đến Trí Huệ Quang Viện (智惠光院) ở kinh đô Kyoto, chuyên giảng cứu về giáo học Tông phái và Nho thư, rồi đến năm 1788, ông tận lực phục hưng lại ngôi viện này sau lần bị cháy rụi. Ông đã từng làm trú trì Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in), rồi trú trì đời thứ 16 của Chuyên Niệm Tự (專念寺), thường bố thí thức ăn cho những người nghèo khó và khuyên họ niệm Phật hằng ngày. Trước tác của ông để lại có Nhật Khóa Niệm Phật Khuyến Đạo Ký (日課念佛勸道記) 1 quyển, Nhật Khóa Niệm Phật Đầu Túc Biên (日課念佛投宿編) 1 quyển, Tục Liên Môn Trú Trì Huấn (續蓮門住持訓) 1 quyển, Cảnh Chung Lục (警鐘錄), Giác Thụy Thảo (覺睡草), Nhật Khóa Tinh Tu Ký (日課精修記), v.v.
Minh Toán
(明算, Meizan, 1021-1106): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, vị Kiểm Hiệu đời thứ 12 của Cao Dã Sơn, vị Tổ của Dòng Trung Viện (中院流), húy là Minh Toán (明算), thông xưng là Cao Dã Trung Viện A Xà Lê (高野中院阿闍梨), Trung Viện Ngự Phòng (中院御房); xuất thân vùng Thần Khi (神崎), Kỷ Y (紀伊, Kii, thuộc Wakayama-ken [和歌山縣]), họ Tá Đằng (佐藤). Năm 1031, ông được Định Dự (定譽) dẫn lên Cao Dã Sơn xuất gia, tu học ở Đông Thất, đến năm 1040 thì chuyển sang Trung Viện, và đến năm 1049 thì thọ phép Quán Đảnh với Lại Tầm (賴尋) ở Thích Vương Tự (釋王寺). Sau ông theo học pháp với Thành Tôn (成尊) ở Mạn Trà La Tự (曼荼羅寺, Mandara-ji), vùng Tiểu Dã (小野, Ono), rồi đến năm 1072 thì được truyền trao phép Quán Đảnh, và góp sức làm rạng rỡ Dòng Tiểu Dã (小野流). Năm sau, ông trở về núi và sáng lập Dòng Trung Viện. Năm 1075, ông khai sáng Long Tạng Viện (龍藏院) ở vùng Kỷ Y; đến năm 1090 thì được bổ nhiệm làm Kiểm Hiệu của Cao Dã Sơn; từ đó ông tận lực phục hưng Sơn Môn, xây dựng các ngôi đường tháp và độ chúng. Đệ tử phú pháp của ông có Lương Thiền (良禪), Giáo Chơn (敎眞), Minh Phạm (明範), Chơn Dự (眞譽), Minh Tịch (明寂), v.v.
Minh Toản
(明瓚, Myōsan, ?-?): xem Lãn Toản (懶瓚, Ransan, ?-?) bên trên.
minh trì
Vidyādhara (S)Trì minh, Đái trí.
Minh Trí
明智; ?-1196|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ 10. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Ðạo Huệ.|Sư họ Tô, tên Thiền Trí, quê ở làng Phù Cầm. Sư bẩm chất thông minh, nhân lúc gặp Thiền sư Ðạo Huệ liền xin xuất gia. Nơi Ðạo Huệ, Sư đạt yếu chỉ thiền, thông hiểu các bộ kinh luận lớn như Viên giác, Pháp hoa và Truyền đăng lục. Vua thấy vậy kính phục, phong hiệu là Minh Trí.|Niên hiệu Thiên Tư Gia Thuỵ thứ 11, sắp thị tịch, Sư nói kệ:|隨風水月明。無影亦無形|色相這箇是。空空尋響聲|Tuỳ phong thuỷ nguyệt minh|Vô ảnh diệc vô hình|Sắc tướng giá cá thị|Không không tầm hưởng thanh.|*Theo gió trăng nước sáng|Không bóng cũng không hình|Sắc tướng chỉ thế ấy|Trong không tìm tiếng vang.|Nói xong, Sư lặng lẽ viên tịch.
minh trí
Vedagù (P). One who has attained the highest knowledge, e.g. Buddha.
minh trí thiền sư
Zen Master Minh Trí (?-1196)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Phù Cầm, Bắc Việt. Lúc hãy còn trẻ, ngài gặp và trở thành đệ tử của Thiền sư Đạo Huệ. Ngài là pháp tử đời thứ 10 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Về sau, ngài trụ tại chùa Phúc Thánh để hoằng hóa cho đến khi ngài thị tịch vào năm 1196—A Vietnamese Zen master from Phù Cầm, North Vietnam. When he was young, he met and became a disciple of Zen master Đạo Huệ. He was the dharma heir of the tenth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. Later, he stayed at Phúc Thánh Temple to expand Buddhism until he passed away in 1196.
minh tuyết
(明雪) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Tào động, sống vào cuối đời Minh, người huyện Đồng thành, tỉnh An huy, họ Dương, hiệu Thụy bạch. Sư xuất gia ở am Tụ long, núi Cửu hoa, thụ giới Cụ túc ở chùa Vân thê. Sau, sư tham yết các bậc thầy như: Trạm nhiên Viên trừng, Bác sơn, Hoàng bá, Mật vân Viên ngộ v.v... Năm Thiên Khải thứ 6 (1626) sư được ngài Viên trừng ấn khả. Về sau, sư lần lượt trụ ở Biện sơn, chùa Hộ quốc, núi Không đồng ở Giang tây. Sau, sư dời đến núi Bách trượng ở Nam xương tỉnh Giang tây, sửa đổi toàn bộ thanh qui, người đời gọi sư là Đại trí (Bách trượng Hoài hải) tái thế. Năm Sùng trinh thứ 14 (1641) sư tịch, thọ 58 tuổi. Ông Dư đại thành soạn bài minh trên tháp thờ sư. Sư để lại tác phẩm: Thụy bạch thiền sư ngữ lục 18 quyển.
minh tuệ
The three enlightenments tam minh, and the three wisdoms tam tuệ.
; See Minh Huệ.
Minh Ty
(冥司): có hai nghĩa chính. (1) Chỉ cõi âm. Như trong Đôn Hoàng Biến Văn Tập (敦煌變文集), phần Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Biến Văn (妙法蓮花經變文), có đoạn: “Sanh tiền bất tằng tu di, tử đọa A Tỳ Địa Ngục, vĩnh thuộc minh ty, trường thọ khổ độc (生前不曾修移、死墮阿毗地獄、永屬冥司、長受苦毒, khi sống chưa từng tu sửa, chết đọa A Tỳ Địa Ngục, mãi thuộc cõi âm, chịu hoài khổ sở).” (2) Chỉ vị Trưởng Quan của cõi âm. Như trong tác phẩm Tân Tề Hài (新齊諧), phần Đường Phối Thương (唐配滄), của Viên Mai (袁枚, 1716-1797) nhà Thanh, có đoạn: “Trưởng tức Quách thị tại hàng bệnh kịch, hốt tác Tư Mã Công ngữ vân: 'Minh Ty niệm ngã cư quan thanh chánh, sắc vi Võ Xương Phủ Thành Hoàng' (長媳郭氏在杭 病劇、忽作司馬公語云、冥司念我居官清正、敕爲武昌府城隍, người dâu trưởng Quách thị khi đi trên thuyền bị bệnh nguy kịch, chợt nói tiếng của Tư Mã Công, bảo rằng: 'Quan Minh Ty niệm tình ta làm quan liêm chính, nên sắc ta làm Thành Hoàng của Phủ Võ Xương').”
Minh Tâm
明心; ?-1034|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ 7, nối pháp Thiền sư Ðịnh Hương (xem thêm dưới Bảo Tính).
minh tâm
The enlightened heart.
; Tâm giác ngộ—The enlightened heart—To engrave something in one's memory.
; (冥心) Tâm thầm khế hợp với Như lai tạng thanh tịnh sẵn có. Thiền giới thiên ghi: Mười giới, 3 tụ không phân biệt thể tài, đều trở về nơi Tam bảo như đã thệ nguyện. Khi chân thật trở về rồi, thì thầm hợp với nguồn tâm (minh tâm), giới tâm không đâu khác, chỉ là con người ấy thầm hợp nguồn tâm (minh tâm) thôi, tất cả đều bình đẳng.
minh tín phật trí
To believe clearly in Buddha's wisdom (as leading rebirth in the Pure Land).
; Tin tưởng rõ ràng nơi trí huệ của Phật là con đường dẫn đến vãng sanh Tịnh Độ—To believe clearly in Buddha's wisdom as leading to rebirth in the Pure Land.
minh tăng thiệu
(明僧紹) Cũng gọi Minh trưng quân. Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Ngụy Tấn thuộc Nam Bắc triều, người Bình nguyên (thuộc tỉnh Sơn đông), tự Thừa liệt. Ông là người học rộng nghe nhiều, tính tình cao khiết, nổi tiếng thanh liêm. Ông từng ở Lao sơn, tụ tập đồ chúng dạy học, sau ở ẩn tại Nhiếp sơn (núi Thê hà), Kim lăng ròng rã hơn 20 năm, trong thời gian này ông ở chùa Định lâm và thờ ngài Tăng viễn làm thầy. Có lần vua Cao đế nhà Nam Tề nhờ ngài Tăng viễn giới thiệu để vua được gặp, nhưng ông nhất định không chịu. Đến vua Vũ đế cũng đã 7 lần mời ông vào cung, ông đều từ chối, không bao lâu thì ông qua đời. Lúc Tăng thiệu còn sống, có lần ngài Pháp độ đến Nhiếp sơn giảng kinh Vô lượng thọ, ông đã hiến cúng ngôi nhà của ông cho ngài Pháp độ. Sau khi ông mất, vào khoảng năm Vĩnh minh (483-493), ngài Pháp độ sửa ngôi nhà ấy thành chùa, đặt tên là Thê hà tinh xá, tức là chùa Thê hà sau này. Ông có tác phẩm: Chính nhị giáo luận.
minh tư
1) See Minh Lự. 2) Sở hữu của người chết, là hạnh phúc được tái sanh vào cõi cao hơn: Possessions of or for the dead; their happiness of being reborn in higher realms.
; (冥資) Tu tạo phúc đức cho người đã chết, gọi là Minh tư. Như vào ngày người thân qua đời, nên thỉnh các sư tụng kinh, thuyết pháp, làm các việc thiện như bố thí, phóng sinh v.v... để hồi hướng, cầu nguyện cho vong linh được siêu thoát...
; (冥思) Sư suy nghĩ thâm trầm, người khác không thể lường được. Tức chỉ cho sự tư duy mầu nhiệm bất khả tư nghị của Phật và Bồ tát, là chỗ mà hạng phàm phu không thể nào biết được.
minh tướng
Brightness.
; (明相) Bình minh ló rạng, bầu trời dần dần hiện rõ. Luật điển qui định, bắt đầu từ lúc sáng sớm (minh tướng) đến giữa ngày, là thời gian tỉ khưu nhập chúng khất thực, thụ trai. Còn trước lúc minh tướng xuất hiện và sau giữa ngày (sau giờ ngọ) gọi là Phi thời, không được đi khất thực và thụ thực, nếu trong khoảng thời gian này mà thụ thực thì gọi là Phi thời thực. Ngoài ra, trong khi nhập định, sám hối, tự thệ đắc giới... mà cảm được ánh sáng trắng chiếu rọi, giống như minh tướng, gọi là Hảo tướng, đó là điềm lành hiện ra do sức cảm ứng của bậc Thánh.
minh tướng bồ tát
Xem Quang tướng Bồ tát.
minh tường kí
(冥祥記) Truyện kí, do ông Vương diễm soạn vào đời Nam Tề. Sách này sưu tập những sự tích Phật giáo, ghi chép về sự linh nghiệm của bồ tát Quan thế âm và nói về những vấn đề luân hồi chuyển sinh, địa ngục v.v... Qua sách này, người ta có thể biết một cách đại khái về tình hình tín ngưỡng Phật giáo ở thời đại Lục triều. Bộ truyện kí này không được lưu truyền đầy đủ, chỉ có một phần nội dung thấy tản mạn trong các bộ Pháp uyển châu lâm, Thái bình quảng kí v.v... Đến đời Dân quốc, ông Lỗ tấn mới thu tập những đoạn rời rạc còn lại và ghi vào sách Cổ tiểu thuyết câu trầm.
minh tạng
The Buddhist canon of the Minh dynasty.
; (明藏) Gọi đủ: Minh bản Đại tạng kinh. Cũng gọi: Minh bản. Đại tạng kinh được khắc bản vào đời Minh. Gồm 5 bản như sau: 1. Hồng vũ Nam tạng (cũng gọi Sơ khắc Nam tạng): Tạng kinh do vâng mệnh vua Thái tổ nhà Minh được khắc vào khoảng năm Hồng vũ thứ 5 đến niên hiệu Vĩnh lạc năm đầu (1372-1403), có thuyết nói đến năm Hồng vũ 31 (1398), gồm 1.612 bộ hoặc 1.625 bộ Kinh Luật Luận. Bản in mẫu còn được cất giữ ở chùa Báo ân tại Nam kinh. Đại tạng kinh được tàng trữ ở chùa Khoái hữu tại thôn Quốc chi, quận Phong phố, huyện Sơn khẩu, Nhật bản, phần nhiều thuộc Tạng kinh này. 2. Vĩnh lạc Nam tạng (thường gọi Nam tạng): Tạng kinh được khắc in từ năm Vĩnh lạc thứ 10 đến năm 15 (1412-1417) tại Nam kinh, là bản khắc lại của Hồng vũ Nam tạng, nhưng có hơi thay đổi; gồm 6.331 quyển, 1.625 bộ Kinh Luật Luận. Bản in kiểu bản xếp, mỗi tờ 30 dòng, mỗi dòng 17 chữ. 3. Bắc tạng (cũng gọi Vĩnh lạc Bắc tạng): Tạng kinh do vua Thành tổ ban lệnh khắc vào năm Vĩnh lạc 18 đến năm Chính thống thứ 5 (1420-1440) vào đời vua Anh tông, gồm 1.615 bộ Kinh Luật Luận, kiểu bản xếp, 1 tờ 25 dòng, mỗi dòng 15 đến 17 chữ. Về sau, vâng mệnh mẫu hậu của vua Thần tông khắc thêm 36 bộ nữa như Hoa nghiêm huyền đàm hội huyền kí v.v... đưa vào Đại tạng, cho nên Bắc tạng tổng cộng có 678 hòm, 6.771 quyển. Hai tạng Nam Bắc trên đây ít được lưu truyền. 4. Vũ lâm tạng: Tạng kinh khắc vào khoảng năm Gia tĩnh (1522-1566) đời vua Thế tông, ở huyện Vũ lâm, tỉnh Chiết giang, là tạng kinh đầu tiên đổi từ chiết bản (bản xếp) thành bản phương sách (bản đóng gáy). 5. Lăng nghiêm tự bản (cũng gọi Vạn lịch bản, Mật tạng bản, Gia hưng bản, Minh bản, Kính sơn bản): Tạng kinh do các ngài Mật tạng Đạo khai, Chân khả, Đức thanh, Huyễn dư v.v... phát nguyện khắc bản ở núi Ngũ đài vào năm Vạn lịch 14 (1586), sau được dời đến Kính sơn (huyện Dư hàng, tỉnh Chiết giang), cuối cùng tập trung các bản khắc về in ở chùa Lăng nghiêm, huyện Gia hưng, tỉnh Chiết giang và hoàn thành vào khoảng cuối năm Vạn lịch (1620). Tổng cộng có 210 hòm, kiểu bản phương sách in 1 tờ 20 dòng (1 mặt 10 dòng) mỗi dòng 20 chữ, xem rất tiện, loại bản này, ngày nay còn lại cũng rất nhiều. Đầu đời Thanh khắc bổ sung Tục tạng 237 bộ, sau lại khắc Hựu tục tạng 189 bộ nữa. Bản Đại tạng chùa Lăng nghiêm này lưu truyền rộng rãi nhất trong các bản Đại tạng đời Minh. [X. Đại minh tam thánh giáo mục lục; Đại thanh tam tạng thánh giáo mục lục; Thích thị kê cổ lược tục tập Q.3; Anh văn Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục; Minh sử nghệ văn chí thứ 74]. (xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh).
minh tắc
Ming-tse (C).
Minh Tịch
(明寂, Myōjaku, ?-?): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, húy là Minh Tịch (明寂), thông xưng là Ẩn Kì Thượng Nhân (隱岐上人), tự là Giác Tuấn (覺俊) hay Giác Thuấn (覺舜); con của vị trưởng quan Kami vùng Ẩn Kì (隱岐, Oki) là Đại Giang An Thành (大江安成). Ông theo Minh Toán (明算) ở Trung Viện trên Cao Dã Sơn học về Mật Giáo, rồi theo hầu Lương Thiền (良禪) ở Cao Thất Viện (高室院). Sau đó, ông thọ pháp với Lương Nhã (良雅) và Thắng Nhân (勝因) của Dòng Tiểu Dã (小野流), rồi khai sáng Nhất Tâm Viện (一心院) cũng như Tối Thiền Viện (最禪院) trên Cao Dã Sơn. Trong khoảng thời gian niên hiệu Khoan Trị (寬治, 1087-1094), khi Bạch Hà Pháp Hoàng (白河法皇) lên tham bái Cao Dã Sơn, tương truyền ông được tặng cho bản truyền thừa của dòng họ Thiên Hoàng là Du Kỳ Bí Văn (瑜祇秘文). Vào năm 1114, ông truyền trao Cầu Văn Trì Pháp (求聞持法) cho Giác Noan (覺鑁).
minh tịch
(冥寂) Danh từ hình dung lí chân không. Minh là vắng lặng, không thấy 1 vật; Tịch là dứt bặt các tướng.
minh vi mật hạnh
Thiền Sư Minh Vi Mật Hạnh (1828-1898)—Zen master Minh Vi Mật Hạnh—Thiền sư Minh Vi Mật Hạnh, đệ tử của Thiền sư Tiên Giác Hải Tịnh. Năm 1850, ngài trụ tại chùa Giác Lâm và là Pháp tử đời thứ 38 của dòng Thiền Lâm Tế. Sau khi sư phụ ngài thị tịch, phần lớn cuộc đời còn lại của ngài, ngài đã trùng tu và hoằng hóa Phật giáo tại miền Nam nước Việt. Ngài thị tịch năm 1898, thọ 72 tuổi—A Vietnamese monk, a disciple of Zen master Tiên Giác Hải Tịnh. In 1850, he stayed at Giác Lâm temple in Gia Định. He was the dharma heir of the thirty-eighth generation of the Linn-Chih Zen Sect. After his master passed away, he spent most of the rest of his life to revive and expand Buddhism in the South until he passed away in 1898, at the age of 71.
minh vãng
1) Đi về cõi u đồ: Going into the shades. 2) Chết: Death.
; (冥往) Đi trong tối tăm, nghĩa là lặng lẽ đi đến nơi khác hoặc thế giới khác, tức là chết. Theo thuyết luân hồi chuyển sinh của Phật giáo, sự tan hoại của thể xác chỉ là sự kết thúc sinh mệnh trong đời này, rồi đợi 1 nhân duyên khác hòa hợp để lại bắt đầu mệnh sống của 1 thời kì khác, cho nên tử vong là bao hàm ý nghĩa thú vãng (đi tới) chứ không như kiến giải thông thường của người đời cho rằng chết là hết. [X. Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng, phần đầu]. (xt. Tử).
minh võng bồ tát
Jaliniprabhā (S)Võng Minh Bồ tát, Quang Võng Bồ tát, Năng Điều Bồ tát, Võng Minh PhậtTên một vị Bồ tát.
Minh Vương
(冥王): tục xưng của Diêm La (閻羅), đấng chủ tể của cõi âm. Như trong Tân Tề Hài (新齊諧), phần Tạ Đàn Hà (謝檀霞), của Viên Mai (袁枚, 1716-1797) nhà Thanh có đoạn: “Hốt mộng lại sổ nhân đột chí kỳ gia, trách dĩ thoát miễn chi tội, vị Minh Vương hách nỗ, tương trùng án kỳ sự (忽夢吏數人突至其家、責以脫免之罪、謂冥王赫怒、將重按其事, chợt mộng thấy quan lại mấy người đột nhiên đến nhà ông ấy, tra hỏi về tội được thoát miễn, bảo rằng Minh Vương đùng đùng nổi giận, đem xét xử lại việc này).” Hay như trong Pháp Hoa Kinh Trì Nghiệm Ký (法華經持驗記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1541) quyển Hạ, phần Ngô Việt Vĩnh Minh Tự Trí Giác Thiền Sư (吳越永明寺智覺禪師), lại có đoạn: “Niên cửu thập bát, phần hương già phu nhi tịch, tháp ư Đại Từ Sơn, Minh Vương hội tượng đảnh lễ (年九十八、焚香跏趺而寂、塔於大慈山、冥王繪像頂禮, năm 98 tuổi, Thiền Sư xông hương ngồi xếp bằng mà tịch diệt, tháp dựng tại Đại Từ Sơn, Minh Vương vẽ tượng đảnh lễ).”
minh vương
Vidhya-rāja (S)Tên một vị thiên.
; Vidyà-ràja (S) A deity, fierce spirits who are the messengers and manifestation of Vairocana's wrath against evil spirits.
; The rajas—King of hell—Các Minh Vương thân giáo lệnh, nhận giáo lệnh của Đức Tỳ Lô Giá Na, hiện Phẫn Nộ thân để hàng phục chúng ma—Fierce spirits who are the messengers and manifestation of Vairocana's wrath against evil spirits. ** For more information, please see Đại Minh Vương.
; (明王) Phạm: Vidyà-ràja. Cũng gọi Trì minh vương, Phẫn nộ tôn, Uy nộ vương. Minh nghĩa là ánh sáng trí tuệ phá trừ bóng tối ngu si, tức chỉ Chân ngôn đà la ni. Tiếng PhạmVidyà-raja, về mặt văn pháp, là danh từ nam tính, còn danh từ nữ tính làVidyà-ràjĩì, thì gọi là Minh phi, như Hư không tạng minh phi, Vô năng thắng minh phi v.v... Minh vương còn có 2 nghĩa: 1. Vua của Chân ngôn đà la ni, như Phật đính nhất tự chân ngôn là Minh vương của Phật bộ. 2. Chỉ cho các Minh vương phổ thông trong các vị tôn của Mật giáo, như Hàng tam thế minh vương. Minh vương Hàng tam thế là luân thân giáo lệnh của Như lai, hiện tướng phẫn nộ để giáo hóa, hàng phục những chúng sinh cứng cỏi, ương ngạnh khó dạy, về mặt văn pháp, là chân ngôn thuộc nam tính, có đầy đủ uy lực phá dẹp các chướng nạn, vì thế gọi là Minh vương. Còn như Phật nhãn minh phi v.v... thì hiện tướng người nữ để nhiếp thủ những chúng sinh ngoan ngoãn, tức biểu thị chân ngôn nữ tính, có đầy đủ công đức nhu hòa, cho nên gọi là Minh phi. Ngoài ra, về mặt văn pháp, chân ngôn có 2 tính nam, nữ, cho nên Minh chủ cũng có 2 vị thần nam và nữ, nhờ thế mới có đủ công năng thể hiện 2 môn Chiết phục và Nhiếp thủ. Trong Mật giáo, các vị tôn vâng lãnh giáo lệnh của đức Như lai, thị hiện hình tướng phẫn nộ để giáo hóa, hàng phục những chúng sinh ương ngạnh khó dạy, hầu thu nhiếp họ, thì ngoài Minh vương Hàng tam thế ra, còn có các vị Minh vương khác như: Mã đầu, Bất động, Ái nhiễm, Quân đồ lợi, Đại uy đức, Đại luân, Bộ trịch, Kim cương dạ xoa, Vô năng thắng và Đại nguyên soái. Trong đó, 5 vị Minh vương: Bất động, Hàng tam thế, Quân đồ lợi, Đại uy đức và Kim cương dạ xoa, gọi là Ngũ đại minh vương; nếu thêm Mã đầu, Đại luân và Bộ trịch vào thì gọi là Bát đại minh vương. Lại nữa, trong số các Minh vương, như Minh vương Mã đầu cũng là tên của Bồ tát; còn như Kim cương dạ xoa, Nguyên soái và Bất động thì phần nhiều là chỉ cho Dạ xoa. Ngoài ra, kinh Tô bà hô đồng tử thỉnh vấn quyển hạ, có nêu 8 vị Minh phi của Liên hoa bộ, đó là: Minh phi Mục tình, Minh phi Diệu bạch, Minh phi Cư bạch, Minh phi Quan thế, Minh phi Độc kế, Minh phi Kim nhan, Minh phi Danh lợi xưng và Minh phi Bật lị câu chi. [X. kinh Đại nhật quyển 1; kinh Tô tất địa yết la Q.trung; kinh Nhuy hi da Q.thượng; kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương Q.1, 5; kinh Đại tì lô giá na Phật thuyết yếu lược niệm tụng; Lí thú thích Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.5].
minh vương bất động bồ tát
Yamāntaka (S)Diêm Mạn Uy nộ vương, Đại Oai Đức Minh Vương, Hàng Diêm Ma Tôn, Diêm ma đức ca tôn, Đại uy đức vương, Diệm Mạn Đức Ca Minh Vương, Trì Minh Kim CangHoá thân của Ngài Văn thù sư Lợi Bồ tát. Vị Minh vương hàng phục Diệm ma, giải trừ trói buộc của chúng sanh.
minh vương chí cao bồ tát
Vidyottama (S)Kim Cang Minh Vương Bồ tátTên một vị Bồ tát.
minh vật nhất tri
Thiền Sư Minh Vật Nhất Tri (?-1786)—Zen Master Minh Vật Nhất Tri—Thiền sư Việt Nam, quê tại Đồng Nai, Nam Việt. Ngài là đệ tử của Tổ Nguyên Thiều Siêu Bạch. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài đã chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại miền Nam. Ngài thị tịch năm 1786. Một vài đệ tử xuất sắc của ngài như Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt ở chùa Thiên Mụ, Huế; Thiền sư Thiệt Thoại Tánh Tường, khai sơn chùa Hoa Nghiêm ở Thủ Đức, Gia Định; Thiền sư Phật Chí Đức Hạnh, khai sơn chùa Long Nhiễu ở Thủ Đức, Gia Định—A Vietnamese Zen master from Đồng Nai, South Vietnam. He was a disciple of Patriarch Nguyên Thiều Siêu Bạch. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in the South. He passed away in 1786. Some of his most outstanding disciples are: Zen master Thiệt Thành Liễu Đạt at Thiên Mụ Temple in Huế, Zen master Thiệt Thoại Tánh Tường, founder of Hoa Nghiêm temple in Thủ Đức, Gia Định, Zen master Phật Chí Đức Hạnh, founder of Long Nhiễu Temple in Thủ Đức, Gia Định.
minh xác
To confirm clearly.
minh xứ
The regions or realms of study which produce wisdom, five in number.
; The regions or realms of study which produce wisdom.
Minh ám
明暗 (闇); C: míngàn; J: myōan;|Sáng và tối. Sự chiếu sáng và bóng tối (s: āloka-tamas).
Minh ám 明暗
[ja] ミョウアン myōan ||| Light and darkness. Illumination and shadow. (āloka-tamas)〔中論T 1564.30.1a-39c〕 => Sáng và tối. Sự chiếu sáng và bóng tối (s: āloka-tamas).
Minh ám 明闇
[ja] ミョウアン myōan ||| Light and darkness. (āloka-tamasī) 〔瑜伽論T 1579.30.501b〕 => (s: āloka-tamasī) Ánh sáng và bóng tối.
minh ân
Xem minh lự.
minh ích
Invisible benefit, or merit, i.e. within, spiritual.
; See Minh Lợi.
; (冥益) Cũng gọi Minh lợi. Lợi ích do Phật và Bồ tát ngầm gia bị mà phàm phu không thể biết được. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6 thượng (Đại 33, 748 trung) nói: Tuy không hiển hiện linh ứng, nhưng được pháp thân ban cho sự lợi ích một cách âm thần kín đáo, dù không thấy không nghe nhưng vẫn cảm biết được, vì thế gọi là Minh ích.
Minh Ðế
明帝; C: míngdì;|Hoàng đế cai trị nhà Hán từ năm 58-75, còn gọi là Hán Minh Ðế. Theo truyền thuyết, Minh Ðế nằm mộng mà sau đó cho truyền đạo Phật tại Trung Quốc. Ông nằm mơ thấy một vị thần áo vàng lơ lửng trước điện. Hỏi các đại thần, có người cho hay có thánh nhân xuất hiện ở Ấn Ðộ, là người giác ngộ đạt Phật quả. Người đó có »màu da vàng tuyền và biết bay«. Sau đó Minh Ðế gởi một phái đoàn đi Ấn Ðộ. Phái đoàn về mang theo bộ kinh Tứ thập nhị chương. Minh Ðế cho xây hẳn một lâu đài để thờ kinh đó. Ðó là bộ kinh đầu tiên được dịch ra chữ Hán và đạo Phật được truyền vào Trung Quốc bắt đầu từ đây.
minh đoán
To judge clearly.
minh đăng quang
Một Đại Tăng quan trọng của Phật giáo Việt Nam vào tiền bán thế kỷ 20. Ngài sanh vào năm 1923 và vắng bóng vào năm 1954. Ngài là nhà cải cách Phật giáo trong lúc luân lý và đạo đức Phật giáo đang cơn nghiêng ngửa, và là người sáng lập ra Giáo Hội Phật giáo Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam. Ngài đã khéo léo phối hợp giữa hai truyền thống giáo lý Bắc và Nam tông để làm thành giáo lý căn bản cho giáo hội. Không bao lâu sau khi thành lập, hàng triệu tín đồ đã theo Ngài tu tập. Vào giữa thập niên 70s, một đệ tử lớn của Ngài là Hòa Thượng Thích Giác Nhiên đã thành lập Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới với số tín đồ khắp nơi trên thế giới—An important Vietnamese Monk in the first half of the twentieth century. He was born in 1923 and considered missing on the way to preach in 1954. When moral and traditions of Vietnamese Buddhism were in rapid decline, he was a key Monk in the revival and reformation of Vietnamese Buddhism during that time; he was also the founder of the Vietnamese Sangha Bhikshu Buddhist school. Most Honorable One Minh Đăng Quang cleverly combined both doctrines from Mahayana and Theravada (Hinayana) to make the doctrine for the Vietnamese Sangha Bhikshu Buddhist Sect. Not long after the day he founded the school, millions of followers followed him to practice. In mid 70s, one of his great disciples, Most Venerable Thích Giác Nhiên, founded the International Sangha Bhikshu Buddhist Association in the United States of which followers are all over the world nowadays.
minh đường
(明堂) Chỉ cho khoảng trống ở 2 bên minh lâu. Trên mái trước của tăng đường làm 1 cái lầu nhỏ để lấy ánh sáng và thoáng khí, gọi là Minh lâu. [X. môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Minh Lâu).
minh đạo
The bright or clear way; the way of the mantras and dhàranìs.
; Còn gọi là Minh Đồ hay Minh Độ. 1) Con đường sáng: The bright or clear way;. 2) Con đường của thần chú Đà La Ni: The way of the mantras and dharanis. 3) Con đường u tối: The dark way. 4) Cõi u minh tối ám: Land of darkness, the shades—Hades. 5) Nơi ở của Diêm Ma Vương: The abode of the Yama King.
minh đạo cung
(冥道供) Cũng gọi Diêm la vương cúng. Pháp tu cúng dường vua Diêm la và quyến thuộc, để cầu dứt trừ tai ương, bệnh hoạn. Về nghi thức thực hành pháp tu này đã được ghi trong sách: Diêm la vương cúng hành pháp thứ đệ 1 quyển.
minh đạo tập thuyết
(鳴道集說) Tác phẩm, 5 quyển, (có thuyết nói 1 quyển), do ông Lí thuần phủ (hiệu là Bình sơn cư sĩ) soạn vào đời Kim, Trung quốc. Nội dung tác phẩm này nhằm phê bình và bác bỏ luận điểm bài Phật trong sách Chư Nho minh đạo tập được viết ra vào đời Tống. Chư Nho minh đạo tập (gọi tắt: Minh đạo tập)gồm 12 quyển, 217 thiên, là bộ sách tập đại thành các luận thuyết bài xích Phật giáo của Nho gia đời Tống. Trong đó có các danh Nho như: Chu đôn di, Tư mã quang, Trương tải, Trình di, Trình hạo, Trương cửu thành, Dương thời, Trương thức, Tạ hiển đạo, Lưu an thế v.v... Trong sách này, tuy tác giả Lí thuần phủ thường nêu lên những điểm đồng và dị giữa Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, nhưng phần nhiều tác giả đã căn cứ vào Phật học làm nền tảng để lập luận, cho nên, đối với lịch sử tư tưởng của Phật giáo đời Tống, bộ sách này có ý nghĩa rất quan trọng. Ngoài ra, Phật tổ lịch đại thông tải quyển 20 có chép lại bài luận văn 19 thiên trong sách này nói về các ông Da luật Sở tài, Tư mã quang, Trương tải và lời Bạt của tác giả Lí thuần phủ. Lại nữa, luận Tam giáo bình tâm của Lưu mật đời Nguyên và Phật pháp kim thang lục của Đồ long đời Minh, khi viện dẫn những luận điểm bài bác Phật giáo của các Nho gia đời Tống, chủ yếu đều chuyển dụng kiến giải của sách này. [X. Cư sĩ truyện Q.35; Hàn uyển anh hoa trung châu tập Q.4; Qui tiềm chí Q.1, 9, 10 (Lưu kì); Nguyên sử nghệ văn chí].
minh đạt
Enlightenment Minh in the case of the saint inludes knowledge of future incarnations of self and others, of the past incarnations of self and others, and that the present incarnation will end illusion. In the case of Buddha such knowledege is called Đạt thorough or perfect enlightenment.
; Giác ngộ, biết được sự tái sanh quá khứ vị lai của mình và người và trong kiếp hiện tại chấm dứt phiền não để đạt được đại giác—Enlightenment—With the knowledge of future incarnation of self and others, of past incarnations of self and others, and that the present incarnation will end illusion (Minh), and thorough or perfect enlightenment (Đạt). 1) Tam Minh: Three insights—See Tam Minh. 2) Tam Đạt: Three aspects of the omniscience of the Buddha—See Tam Đạt.
Minh đắc
明得; C: míng dé; J: myōtoku;|Tên gọi khác của món đầu tiên trong Tứ thiện căn, đó là Noãn (煖). Như cách ánh sáng hiện ra trước khi mặt trời mọc, người tu cũng có sự báo trước của trí tuệ giác ngộ. Giai vị nầy gọi là »Minh đắc«.
minh đắc (định)
A samàdhi in the Bodhisattva's tứ gia hạnh in which there are the bright beginnings of release from illusion. Minh đắc Bồ tát the Bodhisattva who has reached that stage.
minh đắc định
Minh Đắc—Thiền định mà tứ gia hạnh của bậc Bồ Tát được ở Noãn Vị (thiền định đạt được ở mức Minh Đắc là lúc thiền giả đạt được trí huệ vô lậu)—A samadhi in the Bodhisattva's four good roots (catus-kusala-mula) in which there are the bright beginnings to release from illusion.
; (明得定) Thiền định do hàng Bồ tát Noãn vị trong 4 gia hạnh (4 thiện căn) chứng được. Thiền định này là bước đầu của giai đoạn tu định tuệ, có khả năng quán xét 4 đối cảnh: Danh, nghĩa, tự tính và sai biệt, đều do tự tâm biến hiện, đều là có giả. Luận Thành duy thức quyển 9 (Đại 31, 49 trung) nói: Nương vào Minh đắc định mà phát khởi tầm tư, quán vô sở thủ, lập làm Noãn vị. Nghĩa là trong giai vị này, bắt đầu quán xét 4 pháp sở thủ là danh, nghĩa, tự tính và sai biệt, do nơi tự tâm biến hiện, chỉ là giả lập chứ chẳng phải có thật. Đầu tiên được hành tướng trước Tuệ nhật (mặt trời tuệ), cho nên đặt tên là Minh đắc (được sáng), cũng từ đó đạt được tướng trước Đạo hỏa, vì thế gọi là Noãn (ấm, làm cho ấm).
Minh đắc 明得
[ja] ミョウトク myōtoku ||| Another name for the first of the 'four good roots,' that is, 'warmth' (煖). In the way of the brightness just before sunrise, one has the predilection of the wisdom of awakening. This stage is called 'bright attainment.' => Tên gọi khác của món đầu tiên trong 'Tứ thiện căn', đó là 'Noãn'. Như cách ánh sáng hiện ra trước khi mặt trời mọc, người tu cũng có sự báo trước của trí tuệ giác ngộ. Giai vị nầy gọi là 'Minh đắc'
minh đế
Ming ti (C)Vua Minh Đế nhà Hậu Hán công nhận đạo Phật là đạo chánh thức trong nước. Năm 65, vua Minh Đế cử phái bộ sang nước Thiên trúc thỉnh hai sư Ca Diếp Ma Đằng và Pháp Lan về trụ tại chùa Bạch mã tự để dịch kinh sang chữ Hán. Bộ đầu tiên dịch được là bộ Tứ thập nhị chương Kinh.
; Còn gọi là Minh Tính hay Tự Tính. Phái Số Luận ngoại đạo lập ra đế thứ nhất trong 25 đế, lẽ đúng về cái mờ mịt không rõ ràng, không biết được, là nguồn gốc khởi lên vạn hữu—The Sankhya doctrine of primordial profundity, beyond estimation, the original nature out of which all things arose.
; (冥諦) Cũng gọi Minh tính, Minh sơ, Tự tính đế, Tự tính. Chỉ cho trạng thái tối tăm khi vũ trụ chưa hình thành, là nguồn gốc của muôn vật, đế thứ 1 trong 25 đế do học phái Số luận trong 6 phái Triết học của Ấn độ cổ đại lập ra. Vì đế này là nguyên nhân căn bản làm cho các pháp sinh diệt biến dị, cho nên cũng gọi là Minh tính (tính tối tăm), Tự tính. [X. luận Kim thất thập Q.thượng; Bách luận sớ Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.1phần cuối]. (xt. Nhị Thập Ngũ Đế).
minh địa
The stage of illumination, or phát quang địa the third of the ten stages thập địa.
; Phát Quang Địa, địa thứ ba trong thập địa—The stage of illumination, the third of the ten stages.
Minh Đồ
(冥途、冥塗): chỉ cho thế giới mê ám, tối tăm của người chết; còn gọi là Minh Thổ (冥土), Minh Phủ (冥府), Minh Giới (冥界), U Đồ (幽塗), Huỳnh Tuyền (黃泉), Minh Lộ (冥路). Theo Tịnh Độ Tam Muội Kinh (淨土三昧經), Thập Vương Kinh (十王經), v.v., nơi cõi Minh Đồ có vua Diêm Ma (閻魔), rất nhiều minh quan, Thập Vương như Tần Quảng Vương (秦廣王), v.v., chuyên trừng phạt tội lỗi của phạm nhân. Tại Trung Quốc, tín ngưỡng Minh Phủ của Thái Sơn Phủ Quân (太山府君) thời cổ đại cũng có cùng tư tưởng như vậy. Đối với Nhật Bản, từ thời Trung Đại trở về sau, rất thịnh hành tín ngưỡng cho rằng giữa đường đi qua Minh Phủ có Tam Đồ Xuyên (三途川, sanzugawa) và Tái Hà Nguyên (賽の河原, sai-no-kawara, nơi người con bất hiếu chịu những cực hình, hằng ngày chất đá làm tháp cúng dường song thân đã quá vãng). Về phía Phật Giáo, Minh Đồ chỉ cho chốn Địa Ngục, Ngạ Quỷ. Như trong Tú Nhu Ký (繡襦記), phần Dịch Mục Khuyến Học (剔目勸學) của Từ Lâm (徐霖, 1462-1538) nhà Minh có câu: “Ngã tại Minh Đồ hồi chuyển, thượng ngột tự tâm đầu hỏa nhiên (我在冥途回轉、尚兀自心頭火燃, tôi ở cõi Minh Đồ xoay quanh, lại ngớ ngẩn tự trong tâm bốc lửa).” Hay trong Quy Sơn Cảnh Sách Chú (溈山警策註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1294) lại có câu: “Tiền lộ vị Minh Đồ, Ngũ Thú mang mang, sở trú vô định (前路謂冥途、五趣茫茫、所往無定, đường phía trước là Minh Đồ, năm cõi mờ mịt, chỗ ở vô định).”
minh đồ
Xem minh đạo.
; See Minh (3).
; (冥途) Cũng gọi Minh độ, Minh phủ, Minh giới, U đồ, Hoàng tuyền. Chỉ cho thế giới tối tăm mờ mịt mà con người sau khi chết sẽ đi đến. Cứ theo kinh Tịnh độ tam muội và kinh Thập vương, thì trong cõi Minh đồ, có vua Diêm ma và rất nhiều quan lại hoặc có 10 vị vua như vua Tần quảng v.v... trừng phạt các tội nhân. Tín ngưỡng Minh phủ của Thái sơn Phủ quân ở Trung quốc đời xưa cũng tương tự như thuyết Minh đồ này. [X. Vu lan bồn kinh sớ Q.thượng (Tông mật); Pháp uyển châu lâm Q.6, 7].
minh đồ điểu
(冥途鳥) Cũng gọi Đỗ quyên. Loài chim có tiếng kêu thê lương, buồn thảm, khiến người lữ khách chạnh lòng thương nhớ quê hương.
minh độ
See Minh (4).
minh độ vô cực
Cách dịch cũ là Bát Nhã Ba La Mật (Bát là minh, độ là Ba La Mật), cái tuệ đưa chúng sanh đến chỗ giác ngộ—An old interpretation of Prajna-paramita means the wisdom that ferries to the other shore without limit.
minh độ, thổ
Xem minh đạo.
minh đức
High virtue.
minh ước
Treaty—Pact.
minh ứng
Sự cảm ứng của chư Phật và chư Bồ Tát không thể thấy biết được—Response from the invisible, i.e. that of Buddhas and Bodhisattvas.
Minh 冥
[ja] ミョウ myō ||| (1) Darkness, especially as a metaphor for ignorance. (2) To join perfectly; to be unified. (3) Occult, mysterious. => Có các nghĩa sau: 1.Tối, đặc biệt trong ẩn dụ về Vô minh. 2. Liên kết toàn bộ; hợp nhất. 3. Huyền bí, thần bí.
Minh 明
[ja] ミョウ myō ||| (1) Knowing, consciousness. (2) The Vedas. (3) The wisdom of enlightenment; enlightenment (vidyā). (4) Illumination (prabhā, āloka, avabhāsa). (5) Skilled, ingenious (kauśala). (6) Tomorrow. => 1. Biết, sự hiểu biết. 2. Kinh Vệ-đà (Vedas). 3. Trí tuệ giác ngộ. Sự giác ngộ (s: vidyā). 4. Chiếu sáng (s: prabhā, āloka, avabhāsa). 5. Khéo léo, tài giỏi (s: kauśala). 6. Ngày mai.
miên
Xem Thụy miên.
; 1) Nhắm mắt lai: To close the eyes. 2) Ngủ: Làm cho thân không còn tự tại, tâm bị hôn muội, gây trở ngại cho phép quán)—Sleep. 3) Nước Miên: Cambodia.
; (眠) Phạm: Middha. Cũng gọi là Thụy miên. Ngủ mê, thân tâm hôn ám trầm trọng, thuộc tâm sở pháp, 1 trong 75 pháp của Câu Xá, 1 trong 100 pháp của Duy Thức. [X. luận Thành Duy Thức Q.7; Đại Thừa Nghĩa Chương Q.2].
miên hoa
xem đâu-la.
miên man
Unceasing—Contnual—Never-ending—Ceaseless.
miên ngoạ kệ
(眠臥偈) Bốn câu kệ phải niệm tụng trước khi ngủ. Tì ni nhật dụng thiết yếu (Vạn tục 106, 68 thượng) chép: Trước khi ngủ, xoay mặt về hướng Tây, chắp tay quán tưởng, niệm danh hiệu Phật 10 tiếng, hoặc niệm trăm, nghìn, vạn tiếng rồi tụng bài kệ: Khi sắp ngủ nghỉ. Nguyện cho chúng sinh. Thân được an ổn.Tâm không động loạn.
miên ngoạ thời tác pháp
(眠臥時作法) Phương pháp nằm ngủ của hành giả Chân ngôn thực hành mỗi đêm trong thời gian tu pháp để tránh sự biếng nhác. Cứ theo phẩm Trì Chân Ngôn Pháp trong kinh Tô Tất Địa quyển thượng, thì lúc ngủ, không được nằm trên giường lớn quá hay nhỏ quá, cũng không được nằm chung giường với người khác, phải thanh tịnh, trầm tư mặc tưởng, không nằm ngửa, không nằm sấp, mà nằm nghiêng bên hông phải dáng như sư tử vương, không được mở mắt. Ngoài ra, có thuyết nói nửa đêm trải cỏ tranh, dùng để kết giới 4 phía. Nếu tu pháp Tăng ích thì nằm 2 chân xếp chồng lên nhau, nằm nghiêng bên hông phải, đầu hướng về Nam, mặt xoay hướng Đông, dùng tay làm gối. Tu pháp Tức tai, đầu hướng Đông, mặt xoay hướng Bắc. Tu pháp Hàng phục, đầu hướng Tây, mặt xoay về hướng Nam, quán tưởng thân vô thường, vô ngã, khổ, không, bất tịnh, miệng tụng chú: Án (oô, qui mệnh) phạ nhật la (vajra,kim cương) xa để (zanti,tịch tĩnh) hồng (hùô), tụng xong, bắt đầu ngủ. Nếu hành giả Chân ngôn làm theo tác pháp này, thì tất cả ác mộng đều tiêu trừ, mau thành tựu pháp tu.
miên sàng
Bed.
miên thuỵ đối trị pháp
(眠睡對治法) Cũng gọi Thụy miên đối trị pháp. Phương pháp trừ diệt ngủ gục và ngủ li bì. Đang khi tụng niệm hoặc quán tưởng, nếu hành giả cảm thấy buồn ngủ, hoặc đã ngủ gục, sợ mất chính niệm, thì có thể đứng dậy đi dạo để thư giãn tinh thần, hoặc rửa mặt bằng nước lạnh, hoặc lại tụng niệm chân ngôn Phật nhãn, hoặc tụng chú Bi sinh nhãn. Khi tinh thần đã tỉnh táo như thường, thì lại tiếp tục tọa thiền, trì tụng hoặc quán tưởng. [X. kinh Trưởng Lão Thượng Tôn Thụy Miên trong Trung A Hàm].
miên trường tịch tịnh
Eternal rest.
miên tạng
A monastery sleeping room.
; (眠藏) Phòng ngủ trong Phương trượng của Thiền viện Nhật Bản. Theo thông lệ, trong Phương trượng chia ra: Gian giữa, gian sau (gian giữa thứ 2) là trung tâm; hai bên trái phải mỗi bên cũng có 2 gian, hợp làm 6 gian tạo thành Phương trượng (căn nhà mỗi bề 1 trượng vuông vức). Vách sau của gian giữa thứ 2 kê 1 cái tủ, trên mặt tủ lập bàn thờ Phật, sau bàn thờ Phật có 1 căn nhỏ làm chỗ ngủ nghỉ, đó là Miên tạng.
miên viễn
Durable—Lasting—far-off.
miên đan
(眠單) Vật để trải hoặc đắp khi nằm nghỉ, 1 trong các loại ngọa cụ do đức Phật chế định. Tổ Đình Sự Uyển quyển 8 (Vạn tục 113, 121 hạ) nói: Khi đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, có 1 vị tỉ khưu để mình trần nằm ngủ, không dùng mền, ngọa cụ giữ gìn thân thể, mọi người đều chê cười. Phật dạy: Phải nên đắp ngọa cụ. Tức là miên đơn dùng trong nhà Thiền vậy.
Miên 眠
[ja] ミン min ||| (1) To sleep. (2) Be sleepy, get drowsy; drowsiness as a hindrance to effective meditation. => Ngủ. Buồn ngủ, uể oải; hôn trầm là một chướng ngại cho hiệu quả của thiền định.
miêu ngưu châu
Camāra (S)Già mật laMột trong 2 Trung châu của Nam Thiệm bộ châu.
miêu tả
To describe.
miến
1) Burma (a country east of India). 2) Vermicelli.
miến kì viên
(緬祇園) Phạm: Vaidhanya. Pàli: Vedhaĩĩa. Khu vườn cây Am bà ở nước Ca Tì La Vệ. Theo kinh Thanh Tịnh (Pàli: Pàsàdikasuttanta) trong Trường bộ kinh 29, thì khi đức Thích Tôn dừng lại ở khu vườn này, là lúc ông Ni Càn Đà Nhã Đề Tử (Pàli: Nigaịỉha Nataputta), Tổ sư của Kì na giáo nhập diệt ở Ba ngõa (Pàli: Pàvà), nhân đó mà giáo đoàn Kì na chia làm 2 phái, đưa đến sự kiện đối kháng nhau. [X. kinh Trường A Hàm Q.12].
miến điền phật giáo
(緬甸佛教) Miến Điện (Burma) là 1 nước ở vùng Đông nam châu Á, phía Đông Bắc, giáp các tỉnh Tây Khang, Vân Nam của Trung Quốc, phía Tây giáp Ấn Độ Banghladesh, phía Đông giáp Thái Lan, Lào, phía Nam giáp vịnh Bengal. Tiếng Pàli của danh từ Miến Điện là Maramma (Hán âm: Ma la ma), là chuyển lầm từ chữ Phạm Brahma (Hán dịch: Phạm ma, Phạm thiên). Theo âm Miến Điện Maramma-desa, có nghĩa là đất nước của Phạm thiên. Chủng tộc nhập cư sớm nhất là chủng tộc Talaing (Đắc lăng), kế đến là các chủng tộc Burman (Miến) và chủng tộc Shan (Đàn). Cứ theo Đảo sử của Tích Lan thì vào thế kỉ III trước Tây lịch, vua A Dục của Ấn Độ phái các ngài Tu Na (Pàli: Soịa) và Uất đa la (Pàli:Uttara) đến nước Kim địa (Pàli: Suvaịịa-bhùmi) truyền giáo, có thuyết cho rằng Kim địa tức là dải đất Đả Đoan ở hạ Miến Điện hiện nay. Nhà chú thích Phật Âm (Pàli: Buddhaghowa) sống vào giữa thế kỷ thứ V được Miến Điện nhiều lần xác định ngài xuất thân từ vùng Đả Đoan. Tương truyền, 2 thương gia cúng dường thức ăn đầu tiên cho đức Phật lúc Ngài mới thành đạo, chính là người Miến Điện và cũng theo truyền thuyết thì có lần bản thân đức Phật đã đến Bồ Cam (Pagan) truyền pháp v.v... tất cả những việc này còn phải chờ sự khảo chứng. Căn cứ vào những di vật đào được, có thể suy đoán rằng thượng Miến Điện thuộc hệ thống văn hóa Bắc Ấn Độ, còn hạ Miến Điện thì hấp thu văn hóa từ nam Ấn Độ. về tông giáo được truyền vào Miến Điện thì đầu tiên là Bà la môn giáo Ấn Độ, kế đến là Phật giáo. Theo các văn hiến quan trọng đào được cho thấy, thì mới đầu Phật giáo Thượng tọa bộ được du nhập, từ thế kỉ X về sau, Phật giáo Đại thừa và Mật giáo mới dần dần được truyền vào. Vào thế kỉ XI trước đó, tại Miến Điện đã có phái Đại thừa A lợi tăng (Ari) hiện diện, tăng chúng phái này mặc áo pháp màu lam, để tóc, sinh hoạt phóng túng, cho rằng nếu làm điều ác thì chỉ cần niệm tụng chú cứu hộ là có thể thoát khỏi sự báo ứng nhân quả. Phái này lại chia làm 2 chi là: Trụ lâm (ở trong rừng) và Trụ thôn (ở trong làng xóm). So với phái Tính lực của Ấn Độ thì phái này cực đoan hơn, có thuyết cho rằng phái này là sự hỗn hợp giữa Lạt ma Mật giáo đọa lạc và Phật giáo Đại thừa. Trước thời vua A Nô Luật Đà (Pàli: Anuruddha), phái này có thế lực mạnh nhất trong các giáo phái ở vùng Bồ Cam; trung tâm điểm của phái này là Sa ma để (Samati). Sau khi Vương triều Bồ Cam (1044-1287) nổi lên, các phái Phật giáo Miến Điện thời kì đầu và phái A Lợi Tăng lần lượt suy vong. Năm 1044, vua A Nô Luật Đà thống nhất toàn quốc, đặt thủ đô ở Bồ Cam. Năm 1057, chinh phục Đả Đoan, thỉnh về các Tỉ khưu, 3 tạng kinh điển, xá lợi Phật, các bảo vật, lại ban sắc chỉ cho Cao tăng A la hán (Arhan) lãnh đạo cuộc cải cách tăng đoàn, kính tin Phật giáo Thượng tọa bộ, còn các phái đã có trước kia như Thượng tọa bộ, Phật giáo Đại thừa, Mật giáo và Bà la môn giáo dần dần tiêu diệt. Ít lâu sau, vua cho xây ngôi tháp Phật Thụy đức cung (Shwe Dagon) ở Bồ Cam, trải qua 2 đời vua mới hoàn thành. Vua nước Tích Lan là Tì Xá Da Bà Ha Đệ Nhất (Vijayabàhu I) từng sai sứ đến Miến Điện, xin ban Tam tạng, thỉnh chư tăng, bỗng chốc, Miến Điện trở thành trung tâm của Phật giáo Nam truyền. Vào thời kì toàn thịnh của Phật giáo Bồ Cam, ở miền thượng Miến điện có 1 vạn 3 nghìn tòa tháp và Tăng viện. Về sau, Phật giáo Tích Lan hưng thịnh, phái Đại tự có thế lực mạnh, cho nên có nhiều vị tăng đến Tích Lan tham học. Trong đó, có sư Xa Ba Đa thụ giới ở Đại tự, ở lại tu học 10 năm (1170-1180) mới cùng với 4 vị Tỉ khưu trở về nước. Vào thế kỉ XII, Tăng đoàn Miến Điện chia thành Tích Lan tông phái (Sìhalasaôgha) và Miến Điện tông phái (Maramma-saôgha, phái này vốn đã có từ trước). Ít lâu sau, phái Tích Lan lại chia ra 3 tăng đoàn là: Thi Bà Lợi, Đa Ma Lăng Đà và A Nan Đà. Có điều đáng quí là tuy chia rẽ, nhưng các phái đều nỗ lực hoằng dương Phật pháp, cho nên Phật giáo nói chung vẫn rất hưng thịnh. Năm 1277, quân Mông Cổ xâm chiếm phía nam, vương triều Bồ Cam sụp đổ, 10 năm sau chính quyền rơi vào tay dân tộc Đàn và từ đó Miến Điện không còn là 1 vương quốc thống nhất cho mãi đến giữa thế kỉ XVI. Trong khoảng hơn 200 năm, bất luận là vương triều A Ngõa (Ava) ở phương Bắc hay vương triều Tì Cổ (Pegu) ở phía nam, đều coi trọng sự phát triển Phật giáo, Danh nghĩa minh đăng (Abhidhà= nappadipikà), Thanh Vận Tinh Nghĩa (Saddasàratthajàlinì) và Ca Chiên Diên Văn Pháp Chú là những tác phẩm thuộc thời kì này. Giữa thế kỉ XV, phía nam có 6 tông phái và hơn 1 vạn 5 nghìn tỉ khưu. Về sau, qua cuộc cải cách của vua Đạt Ma Tất Đề (Dhammazedi, 1472-1492), tăng đoàn Miến Điện lại được thống nhất. Người lãnh đạo dân tộc Đàn nổi lên vẫn là người Miến Điện, kiến lập vương triều Đông cố (Toungoo, 1531-1752). Hai bộ luật điển Đạt Ma Tha Kiêu (Dhammathakyaw), Câu Tăng Thù (Kosaungchok), luận Ma Ni Châu, luận Pháp Vương Thất Sư, A Tì Đạt Ma Tụng, luật Trang Nghiêm Sớ, luận Dự Tăng v.v... đều được biên soạn vào thời kì này. Đồng thời còn hoàn thành việc xây dựng các ngôi tháp Phật như: Tháp Ma ha ma ni (Mahàmani), tháp Du xá ma ni tu la (Yasamanisula), tháp Gia đa kì (Ngatakyi) v.v... Còn Cao tăng ở thời kì này thì có các ngài: Tì Đà La Tì Na Bà Tư (Badaravanavàsì), Nhã Lợi An Lăng Già La (Ariyàlaíkara), Tối Thắng Pháp, (Aggadhammàlaíkara), Trí Nguyện (Ĩaịavara) v.v... Vào thế kỉ thứ XVIII, nội bộ Phật giáo phát sinh cuộc tranh luận về cách mặc áo ca sa mà hình thành 2 phái đối lập: Phái Thiên đản (Pàli:Ekaôsika,chủ trương mặc ca sa để trật 1 bên vai) và phái Thông kiên (Pàli: Pàrupana,chủ trương mặc trùm kín cả 2 vai), mãi 100 năm sau phái Thông kiên mới thắng thế. Bấy giờ, vương triều Đông cố đã diệt vong và vương triều Cống bảng (Konbaung, 1752-1885) nổi lên thay thế. Trong khoảng hơn 100 năm, Phật giáo vẫn được nhà vua bảo hộ và các kinh điển tiếng Pàli lần lượt được dịch ra chữ Miến Điện. Lúc này, các thế lực phương Tây cũng nhân việc Miến Điện mở cửa giao thương mà không ngừng xâm nhập. Năm 1886, Miến Điện bị người Anh đô hộ, mãi đến năm 1947 mới tuyên bố độc lập. Trong khoảng hơn 60 năm thống trị, người Anh không can thiệp vào tôn giáo, nhờ thế, Hội Thanh niên Phật giáo Miến Điện được thành lập (1906), hô hào đòi độc lập cho Miến Điện, từ đó về sau có rất nhiều vị tăng tham dự cuộc vận động này. Hiện nay tăng đoàn Phật giáo Miến Điện có 3 phái chủ yếu là: Phái Đa đạt ma (Thudhamma), phái Thụy cảnh (Shwegyin) và phái Đạt bà la (Dvara). Về phương diện giáo học thì 3 tạng Thánh điển mà 3 phái này tôn thờ đều giống nhau, nhưng về giới luật, đặc biệt về những vật dụng được giữ, cách đắp ca sa và phép tắc sinh hoạt hàng ngày thì có vài điểm khác nhau. Hai phái trước là các tông phái truyền thống, tổ chức rất rộng, số chúng tăng tương đối đông, còn phái Đạt bà la thì mới được thành lập vào cuối thế kỉ XIX do cải cách phái cựu Đa đạt ma mà thành; về mặt giới luật, phái này chủ trương nghiêm khắc, thực tiễn, tăng chúng rất ít. Phật giáo Miến Điện chỉ có Tỉ khưu, Sa di, tín sĩ nam, tín sĩ nữ và số ít Tỉ khưu ni, không có Sa di ni và chính học ni. Tập tục phổ thông của Miến Điện là thiếu niên 14, 15 tuổi phải vào chùa xuất gia trong 1 thời gian ngắn. Trong các nước Phật giáo, chế độ thi cử ở Miến Điện là nghiêm ngặt nhất. Người dự thi thông qua được Luật tạng, gọi là Trì luật giả (Vinayadhara), người thông qua toàn bộ 3 tạng thì được gọi là Tam tạng sư (Tipiỉakadhara), là vinh dự cao nhất. Hiện nay, Phật giáo Miến Điện chiếm 1 địa vị rất quan trọng trong Phật giáo Nam truyền. [X. Burmese Buddhism ( J. George Scott); ThePàli Literature of Burme, London, 1909 (Mabel Bode); History of Burma, London, 1925 ( G. E. Harvey); Hinduism and Buddhism, London, 1921, Vol. III, P. 47ff ( Sir Ch. Eliot)].
miến điện tông
Maramma-saṃgha (S)Tên một tông phái.
miếng
Piece—Fragment.
miếng khi đói bằng gói khi no
One mouthful when hungry is better than a full bowl when not hungry.
miết
At a stretch.
miết mưu hầu can
(鱉謀猴肝) Ba ba lập mưu lấy gan của vua khỉ, là 1 trong những truyện tiền thân của đức Phật. Lúc đức Phật còn tại thế, có vị Tỉ khưu ni tên là Bạo chí theo Phật học đạo, nhưng cuối cùng lại vi phạm giới luật, hủy báng Phật pháp, khinh miệt chúng tăng. Các vị Tỉ khưu thắc mắc và cùng nhau bàn tán về việc này, đức Phật biết được, Ngài bèn thuật lại sự tích Ba ba lập mưu lấy gan vua khỉ, để cho các Tỉ khưu thấy rõ nguyên nhân Bạo chí phạm giới. Vào thời quá khứ vô lượng kiếp xa xưa, có 1 con ba ba rất thân quen với con vua khỉ ở trong rừng. Vua khỉ có đầy đủ trí tuệ và thông hiểu nghĩa lí, nên ba ba thường đến cùng vua khỉ bàn luận nghĩa kinh. Nhưng vợ ba ba đa nghi, hay ghen, không muốn chồng mình thường ra khỏi nhà, nên lập kế hại vua khỉ. Một hôm, vợ ba ba giả vờ bệnh nặng, phải dùng gan khỉ làm thuốc mới cứu sống được. Do vợ bày mưu nên ba ba mời vua khỉ đến chỗ ở của mình, nói dối để đãi tiệc. Vì vua khỉ không lội nước được nên ba ba phải cõng qua sông, khi ra giữa dòng, ba ba nói rõ sự thật, vua khỉ nói rằng gan của mình treo trên ngọn cây và bảo ba ba quay trở lại đất liền để lấy gan. Khi đến đất liền, khỉ bèn nhảy thẳng lên cây, từ đó về sau 2 bên không qua lại với nhau nữa. Trong mẩu truyện trên, vợ ba ba thủa xưa, nay chính là Tỉ khưu ni Bạo chí phạm giới; ba ba là Đề bà đạt đa phạm trọng tội ngũ nghịch và thường chống đối đức Phật, còn vua khỉ là tiền thân của Phật. [X. Sinh kinh Q.1].
miết địa
(瞥地) Đồng nghĩa: Nhất miết, Miết nhiên. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là mau chóng. Miết là thoắt, liếc qua, xem qua; địa là trợ từ. Đại Tuệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục quyển 25 (Đại 47, 920 trung), nói: Công án của người xưa vốn đã mịt mờ, bây giờ lại nhìn qua (miết địa), tự mình chẳng khỏi mờ mịt.
miếu
Caitya (skt)—Small temple.
; (廟) Cũng gọi Linh miếu, Tháp miếu, Tổ miếu. Nơi thờ tự Phật tổ, Thánh hiền, Thần linh v.v... Bộ Hưng tạo 3 trong Pháp uyển châu lâm quyển 37 (Đại 53, 580 thượng) nói: Âm Phạm chính xác là Tốt đổ ba, Hán dịch: Miếu, tức linh miếu, là nơi thờ phụng lễ kính. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 8 hạ) nói: Sau khi Phật diệt độ (...) có người xây tháp bằng đá hoặc làm bằng chiên đàn, trầm thủy (...) hoặc ở giữa đồng trống, đắp đất làm miếu Phật, cho đến trẻ con chơi đùa, vun cát làm thành đống làm tháp Phật v.v...,những người làm như thế, đều đã thành Phật đạo. Các nhà Nho Trung Quốc, vì cảm nhớ tình thân và công lao của các bậc cổ thánh tiên hiền nên cũng lập miếu thờ phụng, như Thái miếu là nơi thờ cúng tổ tiên nhà vua, Văn miếu (Tiên sư miếu) là nơi thờ cúng đức Khổng tử, Vũ miếu là nơi thờ tự các vị võ tướng như Quan vũ v.v...[X. kinh Quán đính Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.55; Huyền ứng âm nghĩa Q.5; Thi thanh miếu tự tiên (Bội văn Vận phủ sở dẫn)]. (xt. Tháp).
miếu sản hưng học
(廟産興學) Phong trào chủ trương chiếm dụng chùa và tài sản của các chùa viện trên toàn cõi Trung Hoa để làm trường học, được phát động vào cuối đời Thanh đến đầu thời Dân quốc trở đi. Do sự thiếu hiểu biết của 1 số phần tử trí thức và quan chức nhà nước đối với Phật giáo, cùng với những kẻ cường hào, ác bá dã tâm, thấy của chùa thì thèm muốn, bèn mượn tiếng chấn hưng việc học để chiếm đoạt tài sản và nhà cửa của các chùa viện, Tăng ni bị cưỡng ép hoàn tục, Phật giáo bị bách hại nặng nề. Miếu sản chỉ cho tất cả tài sản của các tự miếu, như ruộng chùa, nhà chùa và các pháp vật phụ thuộc khác. Năm Quang tự 24 (1898), vì không có kinh phí giáo dục nên quan Tổng đốc tỉnh Hồ quảng là Trương chi động dâng tờ biểu Khuyến học thiên tâu vua, cực lực chủ trương biến chùa miếu làm trường học và sử dụng tài sản của các tự viện trên toàn quốc để làm kinh phí chấn hưng việc học. Tờ biểu này được vua Đức tông phê chuẩn, cho nên trong hạn 100 ngày là thời gian Duy tân đã thi hành chính sách Miếu sản hưng học mở đầu cho phong trào. Sau khi Duy tân thất bại, tuy Từ hi Thái hậu xuống lệnh cấm thi hành Miếu sản hưng học, nhưng các tự viện vẫn còn bị uy hiếp, bọn thổ hào, thân sĩ bất lương ở các tỉnh đua nhau mượn tiếng hưng học chiếm đoạt ruộng chùa, còn quân đội, cảnh sát và các cơ quan đoàn thể ở địa phương thì chiếm cứ tự miếu và vơ vét tài sản của chùa. Do cấp lãnh đạo Phật giáo lúc bấy giờ kém cỏi nên địa vị của Phật giáo bị hạ thấp quá mức, đến nỗi không còn bảo vệ được quyền lợi của Phật giáo. Nhưng giữa Phật giáo và lịch sử văn hóa vốn có mối quan hệ gắn bó lâu đời và được nể trọng, điều này khiến cho các bậc danh sĩ và học giả nổi tiếng trong nước không thể không lên tiếng. Bởi vậy, năm Quang tự 31 (1905), ông Chương Thái Viêm đã đăng bài Cáo Phật tử thư (Thư ngỏ gửi các vị Phật tử), trong đó, một mặt ông kêu gọi chư tăng hãy nhận thức rõ thời đại, phải tự mở các trường học để góp phần vào việc phát huy nền văn hóa và giáo dục của nước nhà, mặt khác ông khuyến cáo các nhân sĩ trí thức không nên hành động theo cảm tính mà phạm sai lầm quá đáng đối với Phật giáo, trái lại, phải giúp cho Phật giáo phát triển. Đồng thời, Tịnh độ Chân tông của Nhật Bản liên tiếp xây dựng các chùa Bản nguyện tại Thượng hải, Nam kinh, Hàng châu, Tô châu v.v... Vị tăng người Nhật Bản là Thủy dã Mai hiểu nhân cơ hội ấy, khuyến dụ hơn 30 tự miếu ở Hàng châu gia nhập Chân tông, hễ gặp trường hợp chiếm cứ miếu sản thì liền xin Lãnh sự Nhật Bản đứng ra che chở, điều này khiến cho quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Nhật Bản trở nên căng thẳng. Kết quả là Chân tông Nhật Bản hủy bỏ sự che chở đối với các tự viện Trung Quốc, vì chính phủ nhà Thanh đã ra lệnh bảo hộ Phật giáo. Từ đó, các huyện thị thành lập hội Giáo dục tăng, tự phát triển giáo dục, xây dựng trường học để bảo vệ tài sản của chùa viện. Dân quốc năm đầu (1912), Viên thế khải ban bố điều lệ Quản lí tự miếu gồm 31 điều, ý muốn thu hết tài sản của các chùa viện Phật giáo trên toàn quốc xung vào công quĩ để làm các việc lợi ích chung. Cùng năm ấy, các ngài Kí thiền (Kính an) và Đạo hưng trụ ở chùa Lưu Vân tại Thượng Hải; đứng ra vận động triệu tập Đại hội thành lập Tổng hội Phật giáo Trung Hoa và hoạch định kế sách bảo vệ miếu sản. Năm Dân quốc thứ 10 (1921), chính phủ sửa đổi bản điều lệ, rút lại còn 24 điều, nhưng mục đích thì đại khái vẫn giống nhau. Năm Dân quốc 16 (1927), Phùng ngọc tường mượn cớ đả đảo mê tín, đến chiếm các chùa Bạch Mã, Thiếu lâm, Tướng quốc v.v.. ở tỉnh Hà nam, đồng thời xua đuổi 30 vạn tăng ni, buộc phải hoàn tục. Ở các tỉnh Chiết giang, Giang tô, Hồ bắc, Hồ nam cũng thế. Năm Dân quốc 17 (1928), Bộ trưởng Nội chính là Tiết đốc bật đề nghị đổi chùa tăng làm trường học. Năm Dân quốc 18 (1929), Điều lệnh quản lí tự miếu gồm 21 điều được ban bố, liền bị các ngài Thái hư, Viên anh, Đế nhàn và cư sĩ Vương nhất đình triệu tập Đại hội phản đối, nên Điều lệnh quản lí tự miếu bị hủy bỏ, nhưng chính phủ lại công bố Điều lệnh giám đốc tự miếu gồm 13 điều để thay thế. Nhưng không ngăn chặn được phong trào cướp đoạt tài sản của chùa, các tỉnh vẫn dựa vào Điều lệnh cũ, tích cực tiến hành chính sách chiếm dụng chùa viện. Năm Dân quốc 18 (1929), Tổng hội Phật giáo Trung Hoa đổi tên gọi, cải tổ cơ cấu, thành lập Hội Phật giáo Trung hoa, tôn Đại sư Thái Hư làm Trị sự trưởng. Cuối năm Dân quốc 19 (1930) giáo sư Đại học Trung ương là Cáp sảng thu, 1 lần nữa, lại đưa ra phương án Miếu sản hưng học mà ông ta đã đề xuất năm Dân quốc 17 (1928), chủ trương Đả đảo tăng phiệt, giải tán tăng chúng, phân chia miếu sản, chấn hưng giáo dục. Tín đồ Phật giáo toàn quốc liền triệu tập hội nghị ở Thượng hải để tìm biện pháp đối phó, ngài Thái hư bèn soạn Thướng Quốc dân hội nghị đại biểu chư công ý kiến thư (Thư góp ý kiến gửi đến quí vị đại biểu hội nghị Quốc dân) gửi cho chính phủ, nhờ thế mới dẹp được phương án của Cáp sảng thu, đồng thời, chính phủ Quốc dân công bố huấn lệnh bảo hộ tự sản, từ đó phong trào miếu sản hưng học mới cáo chung. Biến pháp (nhà nước đổi lại các thứ chế độ) đã đẻ ra chế độ miếu sản hưng học, đem lại cho Phật giáo vô hạn khốn khổ, nhưng cũng mang đến cho tăng đoàn Phật giáo cơ hội tự giác, tự cứu. Các tỉnh huyện thành lập những hội giáo dục tăng, dùng tài sản của các chùa để phát triển giáo dục, các nhà lãnh đạo Phật giáo ở các địa phương cũng ý thức rõ rằng nếu không xây dựng trường học để mở mang giáo dục thì không thể bảo vệ được tài sản của chùa. Ngài Thủy dã Mai hiểu mở trường học tăng ở Trường sa, ngài Văn hi mở trường Phổ thông ở chùa Thiên Ninh tại Dương châu. Các ngài Kí Thiền, Tùng Phong, Hoa Sơn ở Chiết giang và ngài Giác Tiên ở Bắc Bình đều thiết lập học đường, trở thành những nhân vật lãnh đạo công cuộc mở mang học vấn cho chư tăng trong 1 thời. [X. Trung quốc Phật giáo cận đại sử (Đông sơ)].
Miếu 廟
[ja] ビョウ byō ||| (1) A mausoleum; an ancestral shrine, ancestral hall. (2) Shrine, temple. => 1. Lăng tẩm, điện thờ tổ tiên. 2. Đền thờ, điện miếu.
miền
Region.
miễn
To exempt—To excuse.
miễn chấp
To excuse—To forgive.
miễn cưỡng
Unwillingly—Reluctantly
miễn là
Provided that.
miễn nhân sự
(免人事) Lược bớt những lễ nghi chúc mừng hoặc thăm hỏi của đại chúng trong Thiền lâm, gọi là Miễn nhân sự. Tấm bảng dùng để dán tờ yết thị Miễn nhân sự hầu thông báo cho đại chúng biết, gọi là Miễn nhân sự bảng. Nếu vị Trụ trì làm thành bài tụng để báo cho đại chúng biết việc miễn nhân sự, thì gọi là Miễn nhân sự tụng. Điều Đông Niên Nhân Sự Trong Thiền Uyển Thanh Qui quyển 2 (Vạn 111, 444 hạ) chép: Trước tết 1 ngày, nếu Đường đầu có Miễn nhân sự thì nên dán thông cáo trước Tăng đường, đến tối, Khố ti tổ chức uống trà trong Tăng đường. [X. điều Khố ti tứ tiết đặc vị Thủ tọa đại chúng thang trong Sắc tu Bách Trượng Thanh Qui Q.7].
miễn phí
Free of charge—No cost—No fee.
miễn thứ
To excuse—To forgive.
miễn trừ
See Miễn.
miễn tăng
Vị Tăng được miễn trong các buổi họp chúng hàng ngày vì bận các Phật sự khác—A monk whose attendance at the daily assembly is excused for other duties.
; (免僧) Những vị tăng vì bận rộn công vụ hoặc vì bệnh hoạn, được miễn tọa đường gọi là Miễn tăng. Trong Thiền lâm, trước khi thướng đường hành lễ, chúng tăng phải tọa thiền 1 thời gian ngắn trong Tăng đường để thu nhiếp tâm ý, gọi là Tọa đường. Nhưng vì công việc nên các chức vụ như: Phạn đầu (trông nom việc ăn uống), Trà đầu (phụ trách việc trà nước), Tịnh đầu (quét dọn nhà vệ sinh) v.v...hoặc những vị tăng bị bệnh, thì đặc biệt được miễn tọa đường. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên loại 7].
miễn tố
To discharge—To acquit.
miễn tội
To pardon a fault.
miễn viễn nghênh phê
(免遠迎批) Miễn viễn nghinh, nghĩa là miễn cho đại chúng khỏi phải ra xa để đón rước; Phê chỉ cho mẩu giấy nhỏ trong đó có ghi việc cần thiết vắn tắt. Miễn viễn nghinh phê nghĩa là bức thư vắn tắt báo cho vị Trụ trì chùa nào đó biết trước khỏi phải cử đại chúng ra xa để đón rước, khi có vị tăng chuyên sứ đến. Theo điều Nhập viện trong Sắc tu Bách Trượng Thanh Qui quyển 3, khi vị chuyên sứ định đến 1 chùa nào đó, phải gửi thư báo trước vị Trụ trì biết và yêu cầu miễn cho đại chúng khỏi phải ra xa đón rước.
Miễn xuất
勉出; C: miǎnchū; J: mensui;|Cứu thoát ra khỏi, sự thoát khỏi, trả lại.
Miễn xuất 勉出
[ja] メンスイ mensui ||| Rescuing and releasing; to release, deliver up. => Cứu thoát ra khỏi, sự thoát khỏi, trả lại.
miễn đinh tiền
(免丁錢) Cũng gọi Thanh nhàn tiền. Tiền thuế do giới tăng sĩ và đạo sĩ nộp cho nhà nước để được miễn dịch vào thời Nam Tống, Trung Quốc. Miễn đinh nghĩa là miễn trừ đinh dịch. Phàm con trai đến 20 tuổi (tuổi đinh) phải thi hành nghĩa vụ quân dịch, nhưng tăng sĩ, đạo sĩ được phép nộp tiền hàng năm để thay thế. Từ đời Đường trở đi, chư tăng, đạo sĩ vốn được hưởng đặc quyền miễn nộp cả tô lẫn thuế. Nhưng vào năm Thiệu Hưng 15 (1145) đời vua Cao tông nhà Tống, quan dân phản đối việc này, nên từ đó tăng sĩ, đạo sĩ đều phải nộp thuế để lấy tiền khai khẩn tài nguyên mới. Thuế qui định Luật tăng mỗi năm nộp 5 quan, Thiền tăng, Đạo sĩ mỗi năm nộp 2 quan, Trụ trì, Trưởng lão, Pháp sư, Tử y, Tri sự v.v... lần lượt gia tăng, đến 15 quan là cao nhất. Tờ chứng minh thư mà nhà nước cấp cho những tăng sĩ đã nộp tiền miễn đinh, gọi là Miễn đinh sao, hoặc Miễn đinh do. Những vị tăng du phương tạm trú các nơi, phải mang theo Miễn đinh sao, nếu không xuất trình giấy này sẽ không được phép ở lại. [X. điều Thiệu Hưng Thập Ngũ Niên Trong Phật Tổ Thống Kỉ Q.17; Phật tổ lịch đại thông tải Q.20; Tống hội yếu cảo Q.66; Kiến viêm dĩ lai hệ niên yếu lục Q.153].
miễu
Small shrine.
miệng
Mouth.
miệt
1) Vùng: Region. 2) Không: Without—Not. 3) Nhỏ: Small—Minute.
miệt lệ sa
Mleecha (S)Một thứ ngôn ngữ tồn tại thời đức Phật. Phật có dùng tiếng này đễ giảng pháp.
miệt lệ xa
Mleccha (skt). 1) Không phải chủng tộc Arya: Non-Aryan. 2) Những người man rợ: Barbarians.. 3) Những bộ tộc ở vùng biên địa: Frontier tribes.
miệt lệ xa, ác kiến xứ
Mleccha (S). Barbarians, non-Aryan, heathen, frontier tribes.
miệt mài
To devote onseself to.
miệt thị
To disdain—To despite—To scorn.
mong
To expect and desire—To hope.
mong chờ
To wait for.
mong manh
Mỏng Mảnh—Không chắc chắn: 1) Small—Slender—With little hope. 2) Slim—Faint—Uncertain.
mong mỏi
To desire eagerly—To expect—To aspire.
mong đợi
See mong chờ.
mong ước
To wish—To hope.
mua
To buy—To purchase.
mua bán
To buy and sell.
mua danh
To buy a false reputation. (honour).
mua sầu chuốc não
To give oneself a lot of pains.
mua thù chuốc oán
To incur hatred.
Muraji
(連, Liên): một trong những dòng họ xưa nhất của Nhật, vào thời đại triều đình Đại Hòa (大和, Yamato), phần lớn các họ Shinbetsu (神別, Thần Biệt, dòng họ xem mình là con cháu của Thần) đều xưng như vậy. Các vị hào tộc có thế lực rất nhiều, có thể sánh ngang hàng với quan triều, nên hai họ Đại Bạn Muraji (大伴連) và Vật Bộ Muraji (物部連) thì được giao cho làm Ōmuraji (大連) và đảm đương việc triều chính.
muôn dân
All the people.
muôn phần
Extremely.
muôn thuở
Forever—Eternally.
muôn vàn
Countless—Inumerable—numberless.
muối
1) Salt. 2) To pickle—To salt.
muốn
To want—To desire—To wish.
muốn ăn ngon
To want to enjoy good food.
muồi
Ripe—To grow ripe.
muỗi
Mosquito.
muỗng
Spoon.
Muội
昧; C: mèi; J: mai; |1. Tối, mờ, không rõ, mờ mịt; 2. Bình minh, rạng đông; 3. Nén, che giấu, dành riêng (dùng làm việc gì); 4. Cắt.
muội
Ngu muội—Stupid—Fishy—Dark.
Muội 昧
[ja] マイ mai ||| (1) Dark, dim, unclear, obscure. (2) Dawn, daybreak. (3) To suppress, to appropriate. (4) To cut. (5) Totally obscure. Poor eyesight; unclear vision. => 1. Tối, mờ, không rõ, mờ mịt. 2. Bình minh, rạng đông. 3. Nén, che giấu, dành riêng (dùng làm việc gì). 4. Cắt. 5. Hoàn toàn mờ tối. Tầm nhìn yếu; thị lực không rõ.
muộn
1) Muộn màng: Late—Tardy. 2) Phiền muộn: Melancholy (sầu muộn)—Depressed—Oppressed—Sad.
muộn màng
Late.
muộn sầu
See Sầu Muộn.
muời bốn phép vô úy
Fourteen Fearlessnesses—See Thập Tứ Vô Úy.
muời chỗ an trụ của chư đại bồ tát
(The Flower Adornment Sutra—Chapter 38): Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười chỗ an trụ của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được an trụ nhứt thiết trí vô thượng—According to The Flower Adornement Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of abiding of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can reach the Buddhas' supreme abiding in omniscience. 1) An trụ tâm Bồ Đề, chưa từng quên mất: Abiding in the will for enlightenment, never forgetting it. 2) An trụ Ba La Mật, vì chẳng nhàm trợ đạo: Abiding in the transcendent ways, not tiring for fostering enlightenment. 3) An trụ thuyết pháp, vì tăng trưởng trí huệ: Abiding in the teaching of truth, increasing wisdom. 4) An trụ nơi bình thản vô tư, vì chứng đại thiền định: Abiding in dispassion, realizing great meditational concentration. 5) An trụ tùy thuận—Abiding in conformity to: • Nhứt thiết trí: Universal knowledge. • Đầu đà: Austerity. • Tri túc: Contentment. • Điều tiết trong ăn, mặc, và ở: Moderation in food, clothing, and dwelling. • Diệt bỏ những điều ác: Getting rid of evil. • Few desires mean few concerns: Thiểu dục thiểu sự. 6) An trụ thâm tín, vì gánh vác chánh pháp: Abiding in deep faith, bearing the true Teaching. 7) An trụ thân cận các Đức Như Lai, vì học Phật oai nghi: Abiding in the company of the enlightened, to learn the conduct of Buddhas. 8) An trụ xuất sanh thần thông, vì viên mãn đại trí: Abiding in generation of spiritual powers, to fulfill great knowledge. 9) An trụ đắc nhẫn, vì viên mãn thọ ký: Abiding in attainment of acceptance, fulfilling the forcast of enlightenment. 10) An trụ đạo tràng, vì đầy đủ thập lực, vô úy và tất cả Phật pháp: Abiding in the site of enlightenment, fulfilling powers, fearlessness, and all aspects of Buddhahood.
muời hai con giáp
The twelve animals which represent the twelve months of a year, which also represent the 24 hours of a day—See Thập Nhị Thú.
muời lưỡi của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười lưỡi của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát thành tựu những pháp nầy thời được lưỡi vô thượng trùm khắp tất cả Phật độ của Đức Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of tongue of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who accomplish these will acquire the supreme tongue of Buddhas, which covers all Buddha lands. 1) Lưỡi khai thị diễn thuyết vô tận hạnh chúng sanh: A tongue that reveals and explains the acts of infinite sentient beings. 2) Lưỡi khai thị diễn thuyết vô tận pháp môn: A tongue that reveals and explains infinite doors to truth. 3) Lưỡi tán thán công đức vô tận của chư Phật: A tongue that sings the praises of the infinite virtues of Buddhas. 4) Lưỡi diễn xướng từ biện vô tận: A tongue of infinite eloquence. 5) Lưỡi khai xiển Đại thừa trợ đạo: A tongue that expounds aids to the Path of the Great vehicle. 6) Lưỡi trùm khắp hư không: A tongue that covers all space. 7) Lưỡi chiếu khắp tất cả cõi Phật: A tongue that illuminates all Buddha-fields. 8) Lưỡi làm cho tất cả chúng sanh được tỏ ngộ: A tongue that awakens the understanding of all sentient beings. 9) Lưỡi làm cho chư Phật hoan hỷ: A tongue that causes all to praise the Buddhas. 10) Lưỡi hàng phục chúng ma ngoại đạo, diệt trừ tử sanh phiền não, và làm cho đến Niết bàn: A tongue that defeats all demons and false teachers, destroys all afflictions of birth and death, and fosters arrival at nirvana.
mà cả
Mặc cả—To bargain.
mài
To sharpen.
mài miệt
To be absorbed in—To give oneself up to something—To devote oneself to.
màn
Curtain.
màn che
Protective screen.
màn khói
Black screen (curtain).
màn sương
Curtain (veil) of mist.
màn đen
Black curtain.
màng
To take into account.
mành mành
Blind—Curtain.
màu
Color.
màu mè
To give oneself airs.
mày
Eyebrows.
mày mạy
Vaguely.
mày râu
1) Eyebrows and beard. 2) Man.
má
1) Chửi mắng: To scold—To blame. 2) Gò má: Cheek. 3) Mẹ: Mother.
má hồng
1) Rosy cheeks. 2) Woman.
má lúm đồng tiền
Dimpled cheeks.
mái
1) Mái nhà: Roof. 2) Con mái (gà): Female (hen).
mánh lới
Trick.
mát
Cool—Fresh.
mát mẻ
See Mát.
máu
Blood.
máu mặt
Fairly rich.
máu mủ
Kinship.
máy
Machine.
mâm
Tray.
mân nam phật học viện
(閩南佛學院) Viện Phật học ở chùa Nam Phổ đà, thành phố Hạ môn, tỉnh Phúc kiến, Trung quốc, được sáng lập vào năm 1925 là một trong những Phật học viện hiện đại tại Trung quốc. Viện tổ chức chế độ học tập mỗi khóa 3 năm. Viện trưởng đầu tiên là ngài Hội tuyền, trụ trì chùa Nam Phổ đà. Năm Dân quốc 16 (1927), sau khi giữ chức vụ Viện trưởng kế tiếp, Đại sư Thái hư thành lập thêm Tích lan lưu học đoàn ở chùa Nam sơn, Chương châu và đổi trường Nam sơn thành Phật học viện Mân nam thứ 2. Năm Dân quốc 19 (1930) lại lập thêm Bộ Nghiên cứu. Sau khi Đại sư Thái hư từ chức thì ngài Thường tỉnh (1896-1939) kế nhiệm Viện trưởng.
mâu hô lạc
Mahoraga (skt)—Ma Hưu Lặc—Ma Hầu La Già—See Mahoraga in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
mâu hô lật đa
Muhurta (skt). 1) Khoảng thời gian một ngày một đêm: A period of a day and a night. 2) Khoảng thời gian 48 phút: A period of forty-eight minutes. 3) Một khoảng thời gian ngắn: A brief space of time.
mâu la tam bộ lư
Mulasthanapura (skt)—Vùng mà bây giờ gọi là Multan—The modern Multan.
Mâu Ni
(s, p: muni, 牟尼): âm dịch là Tịch Mặc (寂默), Thánh Giả (聖者), Hiền Nhân (賢仁), hay người thực hành hạnh im lặng. Trong Phật Giáo, Thích Ca Mâu Ni (s: Śākyamuni, p: Sakyamuni,釋迦牟尼) là bậc thánh của dòng họ Thích Ca; cho nên khi dùng chữ Mâu Ni thì có nghĩa là đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
mâu ni
Muni (S, P).
; Muni (S). Sage.
; Muni or Mahamuni (skt)—Sakyamuni—See Thích Ca Mâu Ni Phật.
; (牟尼) I. Mâu Ni. Phạm: Pàli: Muni. Cũng gọi Văn ni, Mậu nê. Hán dịch: Tịch mặc, Tịch, Hiền nhân, Nhân, Tiên. Chỉ cho bậc Thánh hoặc tiên nhân tôn quí, thù thắng. Từ Mâu Ni đã thấy xuất hiện vào cuối thời đại Lê câu phệ đà ở Ấn Độ xưa, nghĩa là nhận lãnh linh cảm, hoặc chỉ cho bậc Thánh, người ẩn dật, người tiên, người tu hạnh vắng lặng v.v... Đến thời đại Áo nghĩa thư thì từ Mâu Ni được dùng để chỉ cho người tu hành ở thời kì lâm thê (ẩn tu trong rừng) thứ 3 và đặc biệt chỉ cho bậc Thánh đã khai ngộ ở thời kì du hành khất thực thứ 4 trong 4 Trụ kì (Phạm: Àzrama) của Bà la môn giáo. Trong Mật giáo, từ Mâu Ni cũng có các nghĩa: Bậc Thánh, tiên nhân, người tu hạnh vắng lặng... Theo sự giải thích trong Huyền ứng âm nghĩa quyển 18, thì Mâu Ni là người tu tâm học đạo, đã thông suốt nội ngoại, ẩn cư lâu ngày trong rừng núi. Trong Pháp sắc của vua A Dục có khuyên người xuất gia, tại gia đọc tụng 7 kinh, trong đó, Mâu Ni kệ (Phạm: Muni-gàthà) có lẽ là Mâu Ni kinh (Munisutta) trong Kinh Tập bảnPàli, cho rằng Mâu Ni là Tỉ khưu chân thực. Còn kinh Pháp cú thứ 268, 269 bản Pàli thì gọi người làm thiện lánh ác là Mâu Ni. Tiểu bộ kinh nghĩa thích bản Pàli cho rằng người có trí tuệ, tri giải là Mâu Ni và phân biệt 6 bậc Mâu Ni: Tại gia Mâu Ni, Phi tại gia Mâu Ni, Hữu học Mâu Ni, Vô học Mâu Ni, Bích chi Mâu Ni và Mâu Ni Mâu Ni. II. Mâu Ni. Phạm: Mauna. Pàli:Mona. Cũng gọi Mâu na. Là hình dung từ Mâu Ni. Cũng chỉ cho trí, tức là tính chất của Mâu Ni. Theo Tiểu bộ kinh nghĩa thích, trí Mâu Ni bao gồm: Tuệ, tri giải, giản trạch, tư sách, hiền minh, thiện xảo, biện biệt, tuệ đăng, chính kiến v.v... [X. kinh Ưu Ba Li trong Trung bộ bản Pàli]. III. Mâu Ni. Phạm: Mauneya.Pàli: Moneyya. Cũng gọi Mâu Ni Vị, Mâu Ni Tính, Mâu Ni Hạnh, Tịch Mặc. Tức là lí Mâu Ni. Trung Quốc và Nhật Bản xưa nay thường cho rằng Muni thuộc về sự Mâu Ni, còn Mauneya thuộc về lí Mâu Ni. Về lí Mâu Ni thì từ thời Phật giáo nguyên thủy đến nay có thuyết Tam Mâu Ni (Pàli: Tìni moneyyàni), Hán dịch là Tam tịch mặc, đó là: Thân Mâu Ni, ngữ Mâu Ni và ý Mâu Ni. Cứ theo sự giải thích trong luận Tập dị môn túc quyển 6, thì thân luật nghi của bậc Vô học là thân tịch mặc, ngữ luật nghi của bậc Vô học là ngữ tịch mặc và tâm của bậc Vô học là ý tịch mặc. [X. luận Câu Xá Q.16; luận Thành Duy Thức Q.10; Đại Nhật Kinh Sớ Q.1,12; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q.10 phần cuối; Tông Luân Luận Thuật Kí].
mâu ni kệ
Muni gāthā (S).
mâu ni mật đa la
Munimitra (S)Tên một vị La hán.
mâu ni thất lợi
Munisri (skt)—Tên của một vị cao Tăng thuộc vùng Bắc Ấn vào thế kỷ thứ năm—Name of a noted monk from northern India in the fifth century.
; (牟尼室利) Phạm: Munizrì. Cũng gọi Tịch mặc. Cao tăng, người miền Bắc Ấn Độ, đến Trung Quốc vào đời Đường. Sư là người có độ lượng, chân thật, tinh thần cao thượng. Năm Trinh nguyên thứ 9 (793) đời vua Đức tông, sư từ chùa Na Lan đà đến Trung Quốc. Năm Trinh nguyên 16 (800) sư trụ ở chùa Hưng thiện tại Trường An. Năm Trinh nguyên 19 (803) sư dời đến chùa Sùng Phúc, chùa Lễ Tuyền, sau, sư lại trụ ở chùa Đại Từ Ân. Trong các bản kinh tiếng Phạm do ngài Huyền Trang thỉnh về, sư dịch được bộ kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni 10 quyển. Sư còn dâng lên vua bức Lục trần thú đồ, nhà vua vui mừng và cúng dường rất trọng hậu. Niên hiệu Nguyên Hòa năm đầu (806) sư tịch ở chùa Đại Từ Ân. [X. Tống Cao Tăng Truyện Q.13].
mâu ni vương
Vua của chư Tăng, một danh hiệu của Phật—The monk-king, a title of the Buddha.
mâu sa lạc
Musaragalva (skt)—Ma Sa La. 1) Một loại san hô trắng: A kind of white coral. 2) Mã Não: Corneilian—Agate (mother of pearl). It is one of the seven kinds of precious stone (sapta-ratna).
mâu thuẫn
Vipratishedha (skt)—Conflict—Contradictory—Contrariety—Mâu thuẫn cá nhân: Personal conflict
mâu tông tam
(牟宗三) Học giả người Trung Quốc, quê ở huyện Thê Hà, tỉnh Sơn Đông, tự là Li Trung. Ông từng dạy triết học tại các trường Đại học: Hoa Tây, Trung Ương, Kim Lăng, Chiết Giang, Đài Loan sư phạm, Đông Hải và Đại học Trung văn Hương cảng. Ông không những giỏi về triết học Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo mà còn có kiến giải độc đáo về triết học Tây phương như Hegel, Kant v.v... Ông có các tác phẩm: Nhận thức tâm chi phê phán, Tài tính dữ huyền lí, Tâm thể dữ tính thể, Phật tính dữ Bát Nhã.
Mâu Tử
牟子|sinh khoảng năm 165-170, được xem là Luận sư đầu tiên của Phật giáo Việt Nam. Tác phẩm quan trọng của Sư còn được nhắc lại là Lí hoặc luận (luận giải cho những nghi ngờ về đạo Phật).
mâu tử
Moutzu (J).
; (牟子) I. Mâu Tử. Danh nhân Trung Quốc, người quận Thương ngô, sống vào cuối đời Đông Hán, họ Mâu, tên Dung. Ban đầu ông học Nho, nghiên cứu các kinh truyện, ông cho rằng các sách nói về thần tiên đều là những truyện hư cấu hoang đường. Sau khi vua Linh đế nhà Đông Hán băng hà (189), thiên hạ loạn lạc, ông cùng thân mẫu lánh nạn sang đất Giao chỉ (nay là Bắc bộ của Việt nam), năm 26 tuổi ông mới trở về Thương ngô. Sau khi thân mẫu qua đời, ông phát tâm qui y Phật giáo, đồng thời nghiên cứu Lão tử, Ngũ kinh. Bấy giờ, các nhà Nho thấy ông học Phật, nhiều người bàn tán về ông, ông liền soạn sách Lí Hoặc Luận để biện bác. Cứ theo Hoằng Minh tập quyển 1, thì tác giả của Lí Hoặc Luận là Mâu Tử Bác, Thái thú quận Thương Ngô. Thành ra, vấn đề Mâu Tử Bác và Mâu Dung có phải cùng là 1 người hay không thì vẫn chưa có định luận. [X. Phật Tổ Thống Kỉ Q.35]. II. Mâu Tử. Tên sách. Gọi đủ: Mâu Tử Lí Hoặc Luận. (xt. Lí Hoặc Luận).
mâu đà la
Mudrà (S). Seal, mystic signs.
; Mardala or Mrdanga (skt)—Một loại trống được diễn tả là có ba mặt—A kind of drum described as having three faces.
Mâu-lê kinh 牟梨經
[ja] モウリキョウ Mōri kyō ||| The Mouli jing; see Dabao guangbo louge shanzhu mimi tuoluoni jing 大寶廣博樓閣善住祕密陀羅尼經 => (c: Mouli jing); Xem Đại bảo quảng bác lâu các thiện trú bí mật đà la ni kinh (c: Dabao guangbo louge shanzhu mimi tuoluoni jing 大寶廣博樓閣善住祕密陀羅尼經).
Mâu-ni
牟尼; S, P: muni; nghĩa là Thánh nhân, Trí giả, người có trí huệ; |Danh từ chỉ người đã đạt được thánh quả, đã đắc đạo. Thời đức Phật Thích-ca, danh từ Mâu-ni cũng được sử dụng chỉ người tu hạnh không nói (tịnh khẩu).
Mâu-ni 牟尼
[ja] ムニ muni ||| (1) A transliteration of the Sanskrit muni, which means 'saint' or 'sage.' (2) An abbreviation of the transliteration 釋迦牟尼--Śākyamuni--the Buddha. (3) Muni by itself refers to the adept's practice of silence. =>1. Phiên âm chữ muni từ tiếng Sanskrit, có nghĩa là 'thánh' hoặc 'thánh hiền'. 2. Viết tắt phiên âm chữ Śākyamuni từ tiếng Sanskrit, có nghĩa là Thích-ca Mâu-ni Đức Phật. 3. Mâu-ni, nghĩa là người siêng năng tu tập hạnh tịch tĩnh.
Mâu-đà-la 牟陀羅
Mẫu-đà-la 母陀羅 [ja] ムダラ mudara ||| Transcription of the Sanskrit mūdra, which is translated into Chinese as yinxiang 印相. => Phiên âm chữ Mūdra từ tiếng Sanskrit, dịch sang tiếng Hán là Ấn tướng 印相.
mây
Cloud.
mây ngũ sắc
Clouds of five colors—Mây năm màu. Người ta nói mây nầy chỉ hiện ra nơi nào có bậc Thánh Nhân trú ngụ mà thôi—It is said that this type of cloud appears only in area where there is a saintly being.
mã
Asva (S). A horse; a stallion; one of the seven treasures of a sovereign.
; 1) Con ngựa: Asva (skt)—A horse. 2) Mã não (một trong thất bảo): Agate, one of the seven treasures. 3) Vẻ bề ngoài: Appearance.
mã bán đầu sơn
Xem Mã nhĩ sơn.
mã bảo
(馬寶) Ngựa quí, 1 trong 7 thứ báu của Chuyển luân Thánh vương. Cứ theo sự ghi chép thì Mã vương bà la hê ở trong biển lớn, có 8 nghìn quyến thuộc, nếu Chuyển luân Thánh vương ra đời thì sẽ nhận được của báu nhỏ nhất là Mã bảo. Hoàng hậu Vũ tắc thiên đời Đường từng bắt chước việc này mà đặt 7 vật báu trong triều đình. [X. kinh Tứ châu trong Trung a hàm Q.11; Kinh luật dị tướng Q.47]. (xt. Thất Bảo).
mã chủ quốc
(馬主國) Một vùng đất ở phía bắc núi Tuyết. Cứ theo Thích ca phương chí quyển thượng chép, thì vùng đất ở mạn bắc Hi mã lạp sơn, khí hậu rất lạnh, thích hợp cho loài ngựa sinh trưởng, có nhiều ngựa hay, nên gọi là Mã chủ quốc. Người dân xứ này tính tình hung bạo, tàn nhẫn, phần nhiều mặc áo may bằng da và lông của động vật. [X. Đại đường tây vực kí Q.1].
mã lai tây á phật giáo
(馬來西亞佛教) Mã lai tây á, Phạm: Malaya. Hán âm: Ma lại da. Cũng gọi Mã lai á. Hán dịch: Sơn (núi). Vào thế kỉ thứ V, IV trước Tây lịch, người Ấn độ đã đến vùng Đông Namá để buôn bán, du nhập và truyền bá văn hóa. Vào thời vua A dục, Phật giáo Ấn độ cực thịnh, vua A dục phái các đoàn Pháp quan đi truyền giáo các nơi, theo truyền thuyết, 2 ngàiTu na và Uất đa la được phái đến nước Kim địa, tức nay là vùng đất từ hạ Miến điện đến Mã lai á. Truyện Phù nam trong Lương thư quyển 54, truyện Bàn bàn trong Cựu đường thư quyển 197 và Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 chép rằng, nước Bàn bàn rất kính tin Tiều thừa. Nước Bàn bàn nói ở đây có lẽ là bán đảo Mã lai hiện nay. Ngoài ra, các nội, ngoại điển đều ghi những khu vực Phật giáo thịnh hành như: Đan đan,Yết đồ, Phật la an, Cát lan đan, Bồng phong v.v... tất cả đều ở trên bán đảo Mã lai ngày nay. Vào đầu thế kỉ XV, do vương triều Ma lục giáp nổi lên, sùng tín Hồi giáo nên Phật giáo thời kì đầu ở Mã lai suy vong. Năm 1887, pháp sư Diệu liên sáng lập chùa Cực lạc ở Tân thành, là người tiên phong chính thức mở ra phong trào hoằng truyền Phật pháp. Rồi đến Pháp sư Bản trung thành lập Niệm Phật Liên Xã, là Liên xã đầu tiên ở quần đảo Nam dương. Pháp sư Phương liên sáng lập học viện Bồ đề, đồng thời mở các trường Tiểu học, Trung học Bồ đề, cổ xúy nền giáo dục Phật hóa. Pháp sư Từ hàng từng giảng dạy ở học viện Bồ đề, đứng ra thành lập hội Phật học, mở rộng việc nghiên cứu Phật học. Hòa thượng Hư vân cũng từng đến Mã lai hoằng pháp, có hơn vạn người qui y ngài. Pháp sư Tô mạn ca la người Hoa kì là người đầu tiên tổ chức đoàn Thanh niên Phật giáo và trường học dạy Phật học định kì hàng tuần ở xứ này. Năm 1955, pháp sư Trúc ma tổ chức hội Phật giáo Mã lai á, đến năm 1969 đổi tên là Tổng hội Phật giáo Mã lai á. Hiện nay pháp sư Kim minh là Hội trưởng Tổng hội Phật giáo Mã lai. Năm 1970, Tổng hội Thanh niên Phật giáo Mã lai được thành lập, là tổ chức Phật giáo có tính cách toàn quốc rất quan trọng ở Đại mã, hiện là tổ chức năng động nhất và có hơn 100 chi hội hoạt động trên khắp nước. Viện Phật học Mã lai xuất bản tạp chí Vô tận đăng, mở các phòng phát thuốc miễn phí, thư viện và hội hoằng pháp có định kì vào các ngày chủ nhật. Ở Bắc Mã lai thì có Phật học viện Tân thành, Phật học viện Cát đả, ở bờ biển phía đông thì có hội Phật giáo Cát lan đan, hội Phật giáo Đinh gia nô, phía Đông Mã lai có hội Phật giáo Sa lao việt, hội Từ vân Phật giáo chính truyền. Các nước Phật giáo Nam truyền như: Tích lan, Thái lan, Miến điện đều có các sư đến Mã lai hoằng pháp. Năm 1962, lễ Phật đản được chính phủ phê chuẩn là ngày nghỉ chung cả nước, tín đồ Phật giáo trên toàn quốc đều long trọng tổ chức mừng ngày lễ lớn này. [X. Mã lai tây á tảo kì Phật giáo khảo lược (Tịnh hải); Độc lập hậu đích Mã lai tây á Phật giáo khái huống (Kế trình, Phổ môn tạp chí số 42)].
mã lang phụ quan âm
(馬郎婦觀音) Hóa thân của bồ tát Quan âm làm vợ chàng họ Mã, là 1 trong 33 tướng ứng hóa của Ngài. Dân chúng vùng Thiểm tây Trung quốc chỉ quen cỡi ngựa bắn cung chứ chưa từng nghe nói đến Tam bảo. Năm Nguyên hòa 12 (817, có thuyết nói năm thứ 4-809) đời vua Hiến tông nhà Đường, một hôm có người con gái xinh đẹp xách giỏ cá đi bán, nhiều người tranh nhau xin lấy làm vợ. Cô gái nói rằng (Đại 49, 833 trung): Nếu ai trong 1 buổi chiều tụng được phẩm Phổ môn thì tôi xin theo hầu người ấy. Sáng hôm sau có 20 người tụng được. Cô gái lại trao cho họ kinh Kim cương và cũng hứa như trên, vẫn còn 10 người tụng được, nàng lại đưa cho họ bộ kinh Pháp hoa và hẹn trong 3 ngày phải tụng được. Đến kì hạn, chỉ có chàng họ Mã là tụng được, đúng theo nghi lễ, chàng họ Mã đến rước cô gái về nhà, nhưng nàng viện cớ có bệnh, xin được nằm ở phòng riêng. Chốc lát sau, nàng chết, thân thể rữa nát, Mã lang đành mang đi chôn. Mấy hôm sau, có vị lão tăng mặc áo đỏ đến nơi chôn cất người con gái và bảo mọi người đào lên xem thì chỉ thấy bộ xương sườn màu vàng ròng còn lại trong quan tài. Lão tăng nói với mọi người rằng: Đây là Quan âm Đại sĩ, vì thương xót các người nghiệp chướng sâu nặng nên Ngài dùng phương tiện để giáo hóa đó thôi. Nói xong lão tăng bay mất. Từ ngày ấy, vùng Thiểm tây có nhiều người tin theo Phật và từ đời Tống trở đi tín ngưỡng Mã lang phụ Quan âm rất thịnh hành. Nhưng đời sau thường lầm lẫn Mã lang phụ Quan âm với Ngư lam Quan âm. [X. Pháp hoa kinh hiển ứng lục Q.hạ; Phật tổ thống kỉ Q.41].
mã luận
(馬論) Chỉ cho luận Đại thừa khởi tín, vì bộ luận này do ngài Mã minh soạn. (xt. Đại Thừa Khởi Tín Luận).
mã lạp lạp tây khắc lạp
(馬拉拉西克拉) Gunapala Piyasena Malalasekera (1899-1973) Học giả Phật giáo Tích lan, đậu Tiến sĩ Văn học, Triết học tại Đại học Luân đôn, nước Anh. Ông là vị Đại sứ Tích lan đầu tiên tại Liên xô và là chuyên viên cao cấp của Tích lan tại Luân đôn nước Anh.Về sự nghiệp Phật giáo, ông từng làm giáo sư ở Đại học Tích lan và Viện trưởng viện Đông phương học. Năm 1950, ông triệu tập đại biểu Phật giáo của 29 quốc gia trên thế giới đến tham dự Đại hội Phật giáo đồ thế giới lần thứ nhất diễn ra tại thủ đô Colombo của Tích lan, để thành lập hội Liên nghị Phật giáo đồ thế giới (World Fellowship of Buddhists) và ông được bầu làm Hội trưởng của tổ chức này. Về sau ông được bầu lại làm Hội trưởng 4 nhiệm kì liên tiếp, làm cho hội này phát triển đến các quốc gia trên thế giới. Sau khi về hưu, ông du hành đến các nước như: Anh, Ấn độ, Thái lan, Nhật bản, Hạ uy di, Âu châu, Mĩ châu để giảng diễn về Phật học. Ông là nhân vật quan trọng trong phong trào vận động chấn hưng Phật giáo ở Tích lan thời hiện đại. Ông có các trứ tác: Tích lan Pàli ngữ văn hiến, Pàli ngữ danh từ tự điển, Phật giáo dữ chủng tộc vấn đề. Ngoài ra, ông còn chủ biên bộ Phật giáo bách khoa toàn thư (Encyclopedia of Buddhism) bằng tiếng Anh, nhưng rất tiếc là chưa hoàn thành thì ông đã qua đời vào năm 1973.
Mã Minh
馬鳴; S: aśvaghoṣa;|Nhà thơ và luận sư Ðại thừa người Ấn Ðộ, sống giữa thế kỉ 1 và 2, được xem là một trong những luận sư quan trọng nhất của Phật giáo. Tác phẩm quan trọng nhất của Mã Minh là bộ Hi khúc Xá-lị tử, Phật sở hạnh tán, một tác phẩm diễn tả cuộc đời đức Phật, bộ Tôn-già-lợi Nan-đà. Sư cũng đươc xem là tác giả của bộ Ðại thừa khởi tín luận.|Ðầu tiên, Mã Minh theo đạo Bà-la-môn và được một vị tăng tên là Bà-lật-thấp-bà (s: pārśva) đưa vào đạo Phật. Các tác phẩm của Sư đọc rất dễ hiểu và có nhiều ẩn dụ. Thí dụ như chuyện Tôn-già-lợi Nan-đà »chàng trai tuấn tú Nan-đà« người tuy đã vào chùa đi tu nhưng vẫn còn thương yêu người vợ. Chỉ sau nhiều lần giảng dạy của Phật, chàng mới hết nghiệp yêu thương và sống viễn li. Mã Minh được xem là một trong bốn vị minh triết Phật giáo, được xếp vào »bốn mặt trời chiếu rọi thế giới«. Ba vị kia là Thánh Thiên, Long Thụ và Cưu-ma-la-đa (s: kumāralāta), một Ðại sư của Kinh lượng bộ.|Các tác phẩm được liệt kê dưới tên Mã Minh: 1. Ðại thừa khởi tín luận (mahāyānaśraddhotpāda-śāstra); 2. Phật sở hạnh tán (buddhacarita-kāvya); 3. Ðại tông địa huyền văn bản luận (mahāyānabhūmiguh-yavācāmūla-śāstra); 4. Ðại trang nghiêm kinh luận (mahālaṅkāra-sūtra-śāstra); 5. Ni-kiền tử vấn vô ngã nghĩa kinh; 6. Thập bất thiện nghiệp đạo kinh (daśaduṣṭakarmamārga-sūtra); 7. Sự sư pháp ngũ thập tụng; 8. Lục đạo luân hồi kinh; 9. Hi khúc Xá-lị tử (śāriputraprakaraṇa); 10. Tôn-già-lợi Nan-đà (saudarananda-kāvya).
mã minh
Ānabodhi (S). Xem Mã Minh Bồ tát.
; Asvaghosa (S). The famous writer of Đại thừa khởi tín luận, Mahàyàna-sraddhotpàda-sàstra.
; (馬鳴) Phạm: Azvaghowa. Đại thi hào Phật giáo, người ở thành Sa chỉ đa, nước Xá vệ, Trung Ấn độ, sống vào khoảng thế kỉ thứ I đến thế kỉ thứ II Tây lịch, Tổ phó pháp thứ 12 của Thiền tông Ấn độ, có quan hệ rất sâu đậm với vua Ca nị sắc ca của Vương triều Quí sương. Ngài xuất thân từ dòng dõi Bà la môn, trong 1 gia đình bác học truyền thống. Mới đầu, ngài tu tập theo pháp ngoại đạo, sau, trong 1 cuộc tranh luận với Hiếp tôn giả, do có chỗ cảm ngộ mà qui y Phật giáo. Ngài học hết Tam tạng, thông suốt nội ngoại điển, là người tiên phong trong nền văn học tiếng Phạm cổ điển, mở đầu nền văn học Văn thể (Phạm: Kàvya) đẹp đẽ, để lại danh tiếng bất hủ trong lịch sử văn học tiếng Phạm. Ngoài văn tài, ngài còn có đức hạnh cao siêu, nên được tôn xưng là Bồ tát. Hành trạng của ngài được ghi chép rõ ràng trong Mã minh bồ tát truyện do ngài Cưu ma la thập dịch và được thu vào Đại chính tạng tập 50. Ngài để lại các tác phẩm: Phật sở hành tán, Tôn đà la nan đà thi, Xá lợi phất chi sở thuyết, Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Kim cương châm luận, Kiền trĩ Phạm tán. Ngoài ra, theo Phật giáo Tây tạng thì ngài Ma trất lí chế đa (Phạm: Màtfceỉa) nói trong Đa la na tha Phật giáo sử cũng là bồ tát Mã minh. [X. kinh Tạp bảo tạng Q.7; Mã minh bồ tát truyện; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.5].
mã minh bồ tát
Aśvaghoṣa (S), Ānabodhi (P)Sanh vào thế kỷ thứ nhất, lúc đầu theo ngoại đạo, sau vì biện luận thua ngài Hiếp tôn giả nên qui y Phật pháp. Từ đó ngài hết sức truyền bá chánh pháp, làm ra những bộ đại thừa khỉ tín luận, đại thừa trang nghiêm kinh luận... Phật giáo Nam Ấn độ nhờ vậy mà lần lần thịnh vượng Tổ thứ 12 trong 28 vị tổ sư đạo Phật.
; See Asvaghosa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (馬鳴菩薩) Mã minh, Phạm: Azvaghowa. I. Mã Minh Bồ Tát. Cũng gọi: Tàm thần (thần tằm). Vị Bồ tát được Mật giáo tôn thờ, trông coi che chở cho sự sinh nở của tằm để tạo ra tơ lụa may y phục cho những chúng sinh không có y phục. Về hình tượng thì vị thần này hiện tướng Bồ tát, mình màu da người, chắp 2 tay, ngồi trên hoa sen trắng, cỡi ngựa trắng, mặc áo trắng, đeo chuỗi anh lạc, đầu đội mũ hoa, chân phải thõng xuống. Còn theo A sa phược sao, Tôn dung sao và Biệt tôn tạp kí thì hình tượng vị tôn này ngồi trên hoa sen xanh, cỡi ngựa trắng, có 6 tay, tay thứ nhất bên trái đặt trên đầu gối, cầm cái guồng quay tơ; tay thứ 2, ngửa lòng bàn tay, bấm ngón cái vào ngón giữa và ngón vô danh, tay thứ 3 đặt cạnh vai, cầm sợi tơ; tay thứ nhất bên phải ngửa lòng bàn tay, cầm ống sáo, tay thứ 2 kết ấn Dữ nguyện, tay thứ 3 cầm cái cân. Phép cúng tế vị thần này gọi là Mã minh pháp. [X. Tất đàm tạng Q.1; điều Tàm mã đồng bản trong Thử phác Q.hạ]. II. Mã Minh Bồ Tát (khoảng 100-160). Tổ phó pháp thứ 12 của Thiền tông Ấn độ. Ngài là vị đại luận sư và là thi nhân nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo. (xt. Mã Minh).
mã minh tự
(馬鳴寺) Chùa ở huyện Bác hưng, tỉnh Sơn đông, Trung quốc, do pháp sư Căn (?-523) sáng lập. Cứ theo Ngụy cố Căn pháp sư bi thì pháp sư Căn nổi tiếng ngang với các vị Cao tăng như: Cưu ma la thập, Tăng lãng v.v... Học trò ngài nhóm họp nghiên cứu nghĩa học và tu tập thiền định ở đây. Điều đáng chú ý là tên chùa Mã minh, vì ngài Chân đế dịch bộ luận Đại thừa khởi tín của ngài Mã minh vào năm Thừa thánh thứ 2 (553) đời vua Nguyên đế nhà Lương, thì chùa này đã được sáng lập trước đó 30 năm rồi. Cứ đó suy ra thì biết tên ngài Mã minh đã được các vị Cao tăng dịch kinh như các ngài: Phật đà phiến đa, Bồ đề lưu chi v.v... truyền vào Trung quốc trước khi chùa Mã minh được xây cất, cho nên người Trung quốc mới biết tên của vị Đại luận sư Mã minh của Ấn độ, chứ không phải sau khi ngài Chân đế dịch bộ luận Đại thừa khởi tín mới biết đến 2 chữ Mã minh.
mã minh tỳ kheo
Se Asvaghosa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
mã minh đại sĩ
See Asvaghosa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
mã mạch
Horse grain, Buddha's food when he spent three months with the Brahmin ruler Agnidatta with 500 monks, one of his ten sufferings.
; Lúa mạch làm thức ăn cho ngựa. Vào một mùa hè, Đức Phật nhận lời của một vị vua Bà La Môn là A Kỳ Đạt cùng 500 vị Tỳ Kheo đến để an cư trong nước của vị vua nầy. Trong ba tháng đó nhà vua chỉ cho Phật và Tăng đoàn ăn lúa mạch của ngựa. Đây là một trong 10 khổ nạn của Đức Phật—Horse-grain, Buddha's food when he spent three months with the Brahmin ruler Agnidatta with 500 monks, one of his ten sufferings.
; (馬麥) Lúa dùng cho ngựa ăn. Đức Phật từng nhận lời thỉnh cầu của vua A kì đạt đến nước ấy kết hạ an cư, nhưng nước ấy gặp nạn mất mùa đói kém, lúa gạo rất hiếm, cho nên Phật và 500 đệ tử phải ăn lúa nuôi ngựa trong 3 tháng an cư do người buôn bán ngựa cúng dường. Đây là 1 trong 10 nạn của đức Phật. [X. kinh Lăng nghiêm Q.6; Thiện kiến luật tì bà sa Q.5].
mã nhĩ ba
(馬爾巴) Tạng: Mar-pa. Cao tăng Tây tạng, người La lạp cách (Tạng:Lho-brag), Nam Tạng, là tổ khai sáng của phái Ca nhĩ cư (Tạng:Bka-brgudpa), trong Phật giáo Tây tạng. Lúc còn nhỏ, sư lễ ngài Bát xá tinh làm thầy, nhưng đến năm 15 tuổi thì ông thân sinh đưa sư đến xin làm đệ tử ngài La khắc di (Tạng: Fbrog-mì). Vì muốn trở thành vị tăng dịch kinh nên sư chuyên tâm học tiếng Phạm và du học Ấn độ. Sau khi trở về Tây tạng, sư lại đến Nepal ở 3 năm. Trong thời gian này, sư cố gắng học tập các loại Đát đặc la (Phạm: Tantra). Lại nhờ sự chỉ dẫn của ngài Phan đạt phạ đề ca (Phạm: Paiịđapàtika) ở Nepal, sư tôn ngài Na lạc ba (Tạng: Nà-ro-pa) làm thầy, được ngài trực tiếp trao truyền các nghĩa bí mật như: Hô kim cương (Phạm: Hevajra), Thành tựu pháp, Cứu cánh thứ đệ (Phạm: Utpanna- Krama) v.v... Ngoài ra, sư và ngài Kiệt nhã na cát lỗ ba (Phạm: Jĩànagarbha) là giáo thụ sư Đại thừa, cùng học Đát đặc la của Tập hội bí mật (Phạm: Guhyasamàja), rồi sư lại được ngài Na lạc ba giảng dạy cho các nghĩa bí áo như: Đăng tác minh (Phạm: Pradìpodyotana-nàma-ỉìkà), cho đến Đại huyễn luân (Phạm:Mahàmàyà-cakra). Sau khi thành tựu việc học, sư trở về Tây tạng sáng lập phái Ca nhĩ cư. Sau, sư nghe danh tiếng ngài Di đặc lợi (Phạm: Maitrì), sư lại đến Ấn độ học giáo pháp Đại thủ ấn (Phạm: Mahàmudrà ) và chứng được trí trực quán. Sau khi về nước, sư lại đến Nepal tìm cầu các bậc danh sư học được các giáo nghĩa. Trên đường trở về quê hương, sư mộng thấy ngài Sa la ha (Phạm: Saraha) truyền cho nghĩa bí mật, sư liền phát sinh chân trí và tỏ ngộ toàn thế giới là nhất vị. Năm 1097 sư thị tịch, thọ 86 tuổi. Đệ tử nối pháp là Mật lặc nhật ba (Tạng:Mi-laras-pa). [X. J.Bacot: La Vie de Marpa; G.N. Roerich: The Blue Annals, 2 vols.; S.C.Das: Pag Sam Jon Zang; Ch.Bell: The Religion of Tibet (Kiểu bản Quang bảo dịch: Lạt ma giáo Tây tạng)].
mã nhĩ sơn
Aśvākarṇa (S), Assakanna (P)Mã bán đầu sơn, át thấp phược yết noa sơn, A sa ca na sơnMột trong 8 núi lớn bao quanh núi Tu di. Núi này cao 3.000 do tuần.
; Asvakarna (skt)—Tiếng Phạn âm là Ngạch Thấp Phược Yết Nô, tức núi Cửu Sơn, dáng núi hình như tai ngựa, một trong bảy vòng núi bao quanh núi Tu-Di—One of the seven concentric rings around Mount Meru.
; (馬耳山) Phạm: Azvakarịa. Là 1 trong 9 núi, 1 trong 7 núi vàng theo thế giới quan của Ấn độ thời xưa. Vì hình dáng của núi giống như tai ngựa nên gọi là Mã nhĩ sơn. (xt. Cửu Sơn Bát Hải).
mã nhĩ sơn vương
Aśvākarṇa(-girirāja) (S).
mã nhĩ thù
Muruts (S)Tên của vị thần cuồng phong.
Mã Não
(瑪瑙, agate): tên gọi của một trong 7 loại trân báu (vàng [金], bạc [銀], Lưu Ly [琉璃], Xa Cừ [硨磲], Mã Não [瑪瑙], San Hô [珊瑚] Hổ Phách [琥珀]). Có thuyết cho rằng ngoại hình nguyên thạch của mã não giống y hệt não bộ con ngựa, nên có tên gọi như vậy. Trong kinh điển Phật Giáo hay Cựu Ước Thánh Kinh đều có ghi rõ sự tích của mã não. Nó là một loại khoáng vật, thuộc loại Ngọc Tủy (玉髓). Từ xưa đến nay, Mã Não được con người rất ưa chuộng, yêu thích, được xếp vào một trong 7 loại báu. Do nó có vân và sắc màu mỹ lệ, từ ngàn xưa người ta đã dùng nó làm đồ trang sức; như trong một số di vật được khai quật lên, thường thấy có những xâu chuỗi hột Mã Não tròn. Tại Trung Quốc, hầu hết các tỉnh đều có loại khoáng vật quý hiếm này, nhiều nhất là ở các địa phương Hắc Long Giang (黑龍江), Liêu Ninh (遼寧), Hồ Bắc (湖北), v.v. Trên thế giới, có nhiều ở Âu Châu, Bắc Mỹ, Đông Nam Á. Nơi nổi tiếng nhất về Mã Não là Ấn Độ, Ba Tây (Brazil), v.v. Sắc màu của nó rất phong phú, nhiều loại khác nhau, nhưng màu hồng là quý hiếm nhất; cho nên trong Cách Cổ Yếu Luận (格古要論) có câu rằng: “Mã Não vô hồng nhất thế cùng (瑪瑙無紅一世窮, Mã Não không hồng một đời hết).” Tuy là màu hồng nhưng nó vẫn có các màu khác nhau như thuần hồng, hồng tía, hồng đậm, hồng nhạt, hồng vàng, hồng trắng, v.v. Từ đó, người xưa thường gọi Mã Não là Xích Ngọc (赤玉, ngọc đỏ) hay Quỳnh (瓊). Hiện tại, một số màu sắc của Mã Não được phân loại thành: Hồng Mã Não (紅瑪瑙, Mã Não Hồng), Lam Mão Não (藍瑪瑙, Mã Não Lam), Tử Mão Não (紫瑪瑙, Mã Não Tía), Lục Mão Não (綠瑪瑙, Mã Não Xanh), Hắc Mã Não (黑瑪瑙, Mã Não Đen), Bạch Mã Não (白瑪瑙, Mã Não Trắng), v.v. Trong Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm (觀世音菩薩普門品) của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 妙法蓮華經) có đề cập đến loại trân báu này: “Nhược hữu bách thiên vạn ức chúng sanh, vị cầu kim, ngân, Lưu Ly, Xa Cừ, Mã Não, San Hô, Hổ Phách, chân châu đẳng bảo (若有百千萬億眾生、爲求金銀琉璃硨磲瑪瑙珊瑚琥珀眞珠等寶, nếu có trăm ngàn ức chúng sanh, vì đi tìm các loại của báu, châu ngọc thật như vàng, bạc, Lưu Ly, Xa Cừ, Mã Não, San Hô, Hổ Phách, v.v.).” Hay như trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh (佛說阿彌陀經) cũng có đoạn rằng: “Thượng hữu lâu các, diệc dĩ kim, ngân, Lưu Ly, Pha Lê, Xa Cừ, Xích Châu, Mã Não nhi nghiêm sức chi (上有樓閣,亦以金、銀、琉璃、玻璃、硨磲、赤珠、瑪瑙而嚴飾之, trên có lầu gác, cũng lấy vàng, bạc, lưu ly, pha lê, ngọc đỏ, mã não để trang trí thật trang nghiêm).”
mã não
Carnelian (S).
; Agate.
; Carnelian.
; (瑪瑙) Phạm: Azmagarbha. Pàli: Asama. Hán âm: A thấp ma yết lạp bà, A xá ma yết bà; A thấp phạ yết ba, Át thấp ma yết bà, A thâu ma kiệt bà. Cũng gọi Thạch tạng, Thai tạng, Xử tạng. Loại đá ngọc màu đỏ, 1 trong 7 thứ báu vật. Điều Mã não trong Tuệ lâm âm nghĩa quyển 27 (Đại 54, 483 hạ), nói: Át thấp ma yết bà, Hán dịch là Xử tạng, hoặc gọi là Thai do nghĩa bền chắc của nó; gọi là Mã não là vì nó có màu sắc như óc ngựa. Tuệ uyển âm nghĩa quyển thượng và Huyền ứng âm nghĩa quyển 22 đều gọi là Mã não, nhưng riêng Huyền ứng âm nghĩa quyển 21 thì lại cho là Mã não cùng loại với Hổ phách. Còn các bộ tự điển gần đây thì phần nhiều dịch chữ Azmagarbha là đá Kim cương. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.24]. (xt. Thất Bảo).
Mã não 碼碯
[ja] メノウ menō ||| The jewel cornelian (aśma-garbha), which is one of the seven jewels 七寶. 〔佛説護國尊者所問大乘經 321.12.9b11〕 => Một loại ngọc từ khoáng chất cornelian (s: aśma-garbha), là một trong 7 loại ngọc quý.
Mã Sư
tức Mã Túc (馬宿), cùng với Mãn Túc (滿宿) là hai vị tỳ-kheo đứng đầu trong Lục quần tỳ-kheo. Nhóm sáu tỳ-kheo này thường làm nhiều việc sai trái, quấy nhiễu Phật pháp, phạm vào cấm giới.
mã sư
Xem ác Bệ.
; (馬師) I. Mã Sư. Tức là Thiền sư Đạo nhất ở tỉnh Giang tây, đời Đường, Trung quốc, vì ngài họ Mã nên gọi Mã tổ, cũng gọi Mã sư, Mã đại sư. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.6]. (xt. Mã Tổ Đạo Nhất). II. Mã Sư. Phạm:Azvajit. Hán dịch: Mã thắng. Là 1 trong 5 vị tỉ khưu được đức Phật hóa độ đầu tiên tại Lộc dã. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3]. (xt. Mã Thắng). III. Mã Sư. Phạm: Azvaka. Hán âm: A thuyết ca. Cũng gọi Mã túc. Một trong đám 6 tỉ khưu (Lục quần tỉ khưu) thời đức Phật còn tại thế, thường kết bè đảng làm các việc xấu ác. (xt. Lục Quần Tỉ Khưu).
mã thắng
Xem ác BệXem A Thuyết Thị.
; Asvajit (skt)—Còn gọi là Mã Sư, âm tiếng Phạn là Ngạch Tỳ, một trong năm vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật (ngài Mã Thắng có phong thái đoan chính uy nghi, như người thầy hướng dẫn cho mọi người. Ngài Xá Lợi Phất lúc bị mất thầy dạy đang đi thất thểu ngoài đường thì gặp được ông Mã Thắng với vẻ uy nghi, bèn đến gần hỏi đạo. Một lần khi Tăng đoàn đang đi vào thành khất thực, một vị trưởng lão nhìn thấy ngài Mã Thắng, liền sanh lòng hoan hỷ, bèn phát tâm dựng 60 phòng ở cho Tăng đoàn)—Horse-breaker or Horse-master. The name of several persons, including one of the first five disciples.
; (馬勝) Phạm:Azvajit. Pàli:Assaji. Cũng gọi Mã sư, A thuyết thị. Đệ tử của đức Phật, là 1 trong 5 vị tỉ khưu được Phật hóa độ đầu tiên ở vườn Lộc dã. Ngài có thân tướng uy nghi đoan chính, ai cũng thích nhìn. Ngài Xá lợi phất mới đầu tu theo pháp ngoại đạo, một hôm gặp ngài Mã thắng ở thành Vương xá, thấy thân tướng trang nghiêm của ngài, ngài Xá lợi phất sinh tâm kính ngưỡng, liền hỏi ngài Mã thắng thờ ai làm thầy và giáo pháp thế nào. Ngài Mã thắng nói là đệ tử của đức Phật và đọc bài kệ duyên sinh do đức Phật dạy cho ngài Xá lợi phất nghe, nghe xong, ngài Xá lợi phất liền tỏ ngộ và theo ngài Mã thắng về tinh xá Trúc lâm qui y đức Phật, sau thành vị đệ tử trí tuệ bậc nhất của Phật. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Phật bản hạnh tập Q.25, 34, 48; luận Đại tì bà sa Q.129].
mã thắng, mã sư
Asvajit (S). Horse-breaker, horse-master. One of the first five disciples of the Buddha.
mã toà
(馬座) Phạm: Azva-àsanama. Tòa ngồi bằng hoa sen đặt trên lưng ngựa. Ngựa là con vật được quí trọng và tượng trưng cho điềm tốt lành ở thế gian, cho nên trong các loại tòa ngồi thì Mã tòa thuộc về Bảo bộ, là tòa ngồi của đức Bảo sinh Như lai phương Nam. Ngoài ra, bồ tát Mã minh trong Mã minh bồ tát nghi quĩ do ngài Kim cương trí dịch và Nhật thiên trong Thập nhị thiên của Mật giáo cũng đều ngồi trên loại tòa này. (xt. Ngũ Bộ Tòa).
mã tế
Aśvamedha (S)Lễ tế bằng cách giết ngựa dâng cúng cho thần linh.
; (馬祭) Phạm: Azvamedha. Cũng gọi Mã từ, Mã tự, Mã từ tế. Một pháp tế Tô ma của Bà la môn giáo Ấn độ, giết ngựa làm vật dâng cúng nên gọi là Mã tế. Hai vị thần chính được hưởng Mã tế là Sinh chủ (Phạm: Prajàpati) và Nhân đà la (Phạm: Indra). Pháp tế này bắt đầu từ thời đại Phệ đà, do các giáo sĩ Bà la môn làm chủ tế, nhưng về sau thì chỉ có Quốc vương mới đủ tư cách cử hành lễ tế này.
mã tổ
Ma-tsu (C)Tên một vị sư.
; Ma-tsu (C). Baso (J).Founder of the Southern Peak school of the Thiền, or Intuitional sect in Giang Tây, known as Giang Tây Đạo Nhất.
; Mã Tổ Đạo Nhất—See Ma-Tsu in English-Vietnamese Section.
Mã Tổ Ðạo Nhất
馬祖道一; C: măzǔ dàoyī; J: baso dōitsu; 709-788; |Thiền sư Trung Quốc vĩ đại đời Ðường, môn đệ và người đắc pháp duy nhất của Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng. Sư có rất nhiều môn đệ đắc đạo không kém uy dũng như Bách Trượng Hoài Hải, Nam Tuyền Phổ Nguyện, Ðại Mai Pháp Thường, Ðại Châu Huệ Hải…|Sau Lục tổ Huệ Năng, Sư là người đã đem lại cho Thiền Trung Quốc một sắc thái đặc biệt. Sư chuyên sử dụng những phương pháp quái dị để dạy học trò như hét, im lặng, dựng phất tử, hay thình lình đánh gậy. Có khi Sư xô học trò xuống đất, vặn mũi bức tóc, tung ra những câu hỏi bất ngờ và cho những câu trả lời mâu thuẫn. Mục đích của mọi hành động đó là nhằm kéo thiền sinh ra khỏi mọi thói quen lí luận, dùng những cú sốc mạnh mẽ để giúp học trò khỏi vòng vây bọc của khái niệm để có một kinh nghiệm trực tiếp của Giác ngộ.|Sức giáo hoá của Sư mãnh liệt tới mức để lại được 139 đệ tử được truyền ấn. Mã Tổ được nhắc đến trong công án thứ 30 và 33 của Vô môn quan và công án thứ 3, 53 và 57 của Bích nham lục. Người đời sau vì quý trọng Sư quá nên gọi là Mã Tổ, tức là vị Tổ họ Mã. Sư cũng được phong danh là Giang Tây Pháp chủ. Tương truyền rằng Sư có những dấu hiệu đặc biệt của Thánh nhân (Ba mươi hai tướng tốt): mắt sáng như hổ và dáng đi như trâu, thè lưỡi đến mũi và dưới gan bàn chân có hình bánh xe.|Sư họ Mã, quê ở huyện Thập Phương. Lúc nhỏ, Sư vào chùa La Hán xin xuất gia với Hoà thượng Ðường ở Từ Châu, sau thụ giới cụ túc ở Du Châu. Sau, Sư đến Hoành Nhạc sống viễn li và ngày ngày tu tập thiền định. Cũng tại núi này, Sư gặp Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng và đắc pháp.|Cảnh Ðức truyền đăng lục kể câu chuyện sau về cách hoằng hoá của Sư và Thạch Ðầu Hi Thiên. Ðặng Ẩn Phong đến từ biệt Sư. Sư hỏi đi đâu, Ẩn Phong nói đi gặp Thạch Ðầu. Sư nói: »Ðường Thạch Ðầu trơn.« Ẩn Phong nói có cây gậy tuỳ thân, không sao. Ẩn Phong đến gặp Thạch Ðầu, dộng cây gậy xuống đất hỏi: »Ấy là tông chỉ gì?« Thạch Ðầu nói: »Trời xanh! Trời xanh!« Ẩn Phong không biết trả lời sao, về thuật lại Sư. Sư khuyên Ẩn Phong trở lại Thạch Ðầu, nếu Thạch Ðầu lại nói »Trời xanh« thì chỉ nên khòt mũi »Hư! Hư!«. Ẩn Phong nghe lời, đến Thạch Ðầu, dộng gậy, lại hỏi như trước. Lần này Thạch Ðầu chỉ khòt mũi »Hư! Hư!« Ẩn Phong không đáp được, lại trở về thuật lại, Sư nói: »Ta đã bảo ngươi đường Thạch Ðầu trơn.«|Có vị tăng đến hỏi Sư: »Thế nào được ngộ Ðạo?« Sư đáp: »Ta sớm chẳng ngộ Ðạo.« Tăng lại hỏi: »Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?« Sư liền nắm cây gậy đập và nói: »Nếu ta không đánh ngươi, các nơi sẽ chê ta.«|Lịch sử Thiền tông còn nhắc nhở những câu trả lời đặc biệt của Mã Tổ về »Phật là gì?« Những cuộc pháp chiến lừng danh của Sư với cư sĩ Bàng Uẩn được ghi lại trong Bàng cư sĩ ngữ lục. Các mẩu chuyện về Mã Tổ phần lớn được ghi trong Giang Tây Ðạo Nhất Thiền sư ngữ lục.|Ðời Ðường, niên hiệu Trịnh Nguyên, mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong ngồi kết già thị tịch, thọ 80 tuổi, 60 tuổi hạ. Vua sắc thuỵ là Ðại Tịch.
mã tổ đạo nhất
Mazi Daoyi (J).
; Chiang-hsi Tao-i (C).
; Baso Doitsu (J).
; Ma-tsu Tao-i (C), Mazi Daoyi (J), Baso Doitsu (J), Kiangsi Tao-i (C), Chiang-hsi Tao-i (C)(709 - 788). Người kế vị duy nhất của Nam Tuyền Hoài Nhượng.
; (馬祖道一) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người Hán châu (huyện Quảng hán, tỉnh Tứ xuyên ngày nay), họ Mã, người đời gọi là Mã đại sư, Mã tổ, tên Đạo nhất, là đệ tử nối pháp của ngài Nam nhạc Hoài nhượng. Sư có dung mạo rất kì dị, đi như trâu, nhìn như hổ, lưỡi thè ra đưa lên đến mũi, dưới bàn chân có 2 đường vân tròn như 2 bánh xe. Sư theo Hòa thượng Đường (tức ngài Xử tịch) ở Tư châu xuất gia và y vào Luật sư Viên ở Du châu thụ giới Cụ túc. Khoảng năm Khai nguyên, sư đến học tập Thiền pháp Tào khê nơi ngài Hoài nhượng, khế ngộ tông chỉ và được truyền tâm pháp. Lúc đầu, sư trụ ở núi Phật tích tại Kiến dương, không bao lâu, sư lại dời đến ở núi Nam khang và núi Cung công tại Lâm xuyên. Năm Đại lịch thứ 4 (769), sư trụ ở chùa Khai nguyên tại Chung lăng (huyện Tiến hiền, tỉnh Giang tây), lúc này người học qui tụ đông đảo, hóa duyên rất thịnh. Sư dùng yếu chỉ Bình thường tâm thị đạo, Tức tâm thị Phật để phát huy thiền phong. Đệ tử đạt đạo có tới 139 người như các vị: Bách trượng Hoài hải, Nam tuyền Phổ nguyện, Đại mai Pháp thường v.v... Lúc Thiền tông ở giai đoạn sơ khai thì các vị Thiền tăng đều phải ở tạm trong các viện Luật, chưa có cơ sở riêng, nên không thuận tiện cho việc tham thiền, bởi thế ngài Mã tổ mới sáng lập các tùng lâm để các Thiền tăng có nơi yên tâm tu tập, nhờ vậy mà tông môn ngày càng được mở rộng.Thiền phái của sư phát triển rất mạnh, gọi là tông Hồng châu. Vì sư xiển dương Thiền phong hệ Nam nhạc ở Giang tây, cũng gọi Giang tây Thiền, cho nên sư nổi tiếng và người đời gọi là Giang Tây Mã Tổ. Tháng giêng năm Trinh nguyên thứ 4 (788), sư lên núi Thạch môn ở Kiến xương, lúc kinh hành trong rừng, sư phó thác mọi việc rồi thị tịch, thọ 80 tuổi, vua Hiến tông nhà Đường ban thụy hiệu Đại Tịch Thiền Sư. Sư có tác phẩm: Mã tổ Đạo nhất thiền sư quảng lục. [X. Tống cao tăng truyện Q.10; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6; Truyền pháp chính tông kí; Ngũ đăng hội nguyên Q.3].
mã tổ đạo nhất thiền sư quảng lục
(馬祖道一禪師廣錄) Tác phẩm, 1 quyển, do Thiền sư Mã tổ Đạo nhất soạn vào đời Đường, được thu vào Tứ gia ngữ lục quyển 1 trong Vạn tục tạng tập 119. Nội dung sách này thu chép về lược truyện của ngài Mã tổ, công án Ma chuyên (mài gạch) của ngài Hoài nhượng và các cơ duyên vấn đáp giữa ngài Mã tổ và các đệ tử: Tây đường Trí tạng, Bách trượng Hoài hải, Nam truyền Phổ nguyện, Đại châu Tuệ hải v.v... Những yếu ngữ dạy chúng, nêu lên ý chỉ Bình thường tâm thị đạo; bình thường tâm là tâm không tạo tác, không thị phi, không thủ xả, không đoạn thường, không phàm thánh. Ngoài ra, còn có Mã tổ Đạo nhất thiền sư ngữ lục 1 quyển, cũng gọi là Đại tịch thiền sư ngữ lục, Mã tổ ngữ lục, được thu vào Cổ tôn túc ngữ lục quyển 1 trong Vạn tục tạng tập 118, là sao chép lại phần hành nghiệp và các cơ duyên ngữ cú của ngài Mã tổ trong bộ Quảng lục mà thành.
mã tự
Asvamedha (S). Name of a Buddhist sect.
; Asvamedha (skt)—Phép tu ngoại đạo lấy ngựa làm vật hiến tế vì muốn cầu xin lên cõi trời hay những mục đích đặc biệt khác (vì muốn cầu xin ở cõi trời, nên dùng phép mã tự . Chọn lấy một con ngựa bạch, thả ra 100 ngày, hoặc ba năm, rồi tìm theo vết chân của nó mà rắc vàng vào, để bố thí cho mọi người. Sau đó bắt lấy con ngựa và giết đi. Phái nầy tin rằng con ngựa sau khi bị giết cũng được sanh lên cõi trời)—The horse sacrifice, either as an annual oblation to Heaven, or for specific purposes.
mã uyển
The horse-park, i.e. Bạch mã tự, the White Horse Monastery at Lạc Dương in the Hậu Hán dynasty, where the first missionaries dwelt.
; Vườn ngựa—The horse park—See Bạch Mã Tự.
; (馬苑) Chỉ cho chùa Bạch mã ở đời Hán, tương truyền là ngôi chùa xưa nhất tại Trung quốc. Khoảng năm Vĩnh bình (58-75) đời vua Minh đế nhà Đông Hán, 2 ngài Nhiếp ma đằng và Trúc pháp lan, người Ấn độ, dùng ngựa trắng (bạch mã) mang kinh Phật từ Tây vực đến Trung quốc, vua Minh đế ban lệnh xây cất tinh xá ở phía ngoài cửa Tây ung thành Lạc dương, đặt tên là chùa Bạch mã để các ngài Nhiếp ma đằng và Trúc pháp lan ở đó dịch kinh. Lịch sử Phật giáo Trung quốc bắt đầu từ đây. (xt. Bạch Mã Tự).
mã vương kế
(馬王髻) Chỉ cho túi tóc (kế) trên đỉnh đầu của các vị Minh vương Hàng tam thế, Đại uy đức, Phẫn nộ tôn v.v... trong Mật giáo. Khi con ngựa hí thì lông bờm của nó dựng ngược lên, lọn tóc trên đỉnh đầu của các Minh vương cũng giống như thế nên gọi là Mã vương kế, là biểu thị nghĩa phẫn nộ.[X. phẩm Đại kim cương diệm khẩu hàng phục nhất thiết ma oán trong kinh Du kì].
mã âm tàng
A retractable penis; e.g. that of the horse, one of the thirty two signs of Buddha.
; Nam căn dấu kín trong bụng chỉ khi nào tiểu tiện mới xuất hiện, một trong 32 tướng tốt của Đức Phật—A retractable penis, e.g. that of a horse, one of the thirty-two signs of a Buddha.
mã âm tàng tam ma địa
(馬陰藏三摩地) Cũng gọi Trừ cái chướng viện tam muội. Nghĩa là tự phát tâm bồ đề mà chứng ngộ thực tướng của tự tâm. Vì dương căn của loài ngựa thường ẩn kín trong bụng, khi phát dục thì dương căn mới trồi ra, dục dứt thì dương căn lại ẩn vào. Ví như người tự phát tâm bồ đề, tự cầu chứng ngộ, nên gọi là Mã âm tàng tam ma địa. Đức Đại nhật Như lai thường ở trong Tam ma địa này để nói về pháp ái nhiễm. [X. phẩm Ái nhiễm vương trong kinh Du kì; Du kì kinh xả cổ sao Q.thượng].
mã âm tàng tướng
(馬陰藏相) Phạm: Kozopagata-vasti-guhya. Cũng gọi Âm mã tàng tướng, Âm tàng tướng, Mã vương ẩn tàng tướng, Thế phong tàng mật tướng. Nam căn ẩn kín không lộ ra ngoài, là 1 trong 32 tướng đặc biệt của đức Phật. Vì tướng này giống như dương căn của loài ngựa (mã) nên gọi là Mã âm tàng. Cứ theo kinh Bảo nữ sở vấn quyển 4 chép, thì Mã âm tàng của Như lai là tướng bậc đại nhân, nhờ các kiếp quá khứ, Ngài giữ mình nghiêm túc, xa lìa sắc dục mà nay có được tướng này. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 84, 54 hạ), nói: Âm tàng của Như lai bằng phẳng như trăng tròn, có ánh sáng màu vàng giống như vầng mặt trời. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.8; luận Đại tì bà sa Q.117].
mã đại sư dã áp tử
(馬大師野鴨子) Cũng gọi Bách trượng dã áp tử. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này ghi lại cuộc vấn đáp giữa Thiền sư Mã tổ Đạo nhất và đệ tử là ngài Bách trượng. Một hôm, Đại sư Mã tổ và đệ tử là ngài Bách trượng Hoài hải đang đi trên đường, bỗng thấy 1 đàn vịt trời bay qua, Đại sư hỏi (Đại 48, 187 hạ): Cái gì thế? Ngài Bách trượng đáp: Đàn vịt trời. Đại sư hỏi: Chúng bay đi đâu rồi? Ngài Bách trượng đáp: Chúng bay đi mất rồi! Đại sư liền véo vào mũi ngài Bách trượng, đau quá, ngài Bách trượng kêu: Ới! Ới! Đại sư nói: Từng bay mất đâu! [X. tắc 53, Bích nham lục; Cổ tôn túc ngữ lục Q.1; Tổ đình sự uyển Q.1, 3; Liên đăng hội yếu Q.4].
mã đầu
Đầu ngựa—Horse-head.
mã đầu kim cương
(馬頭金剛) Vị thần hộ pháp trong Thượng mật viện và Hạ mật viện của Phật giáo Tây tạng, là hóa thân của bồ tát Từ bi Quan âm, hoặc có thuyết cho là hóa thân của Phật và các Bồ tát khác. Hình tượng của vị thần này là đầu ngựa mình người, có tượng 8 đầu, 6 đầu hoặc có cánh khác nhau. Trong đó, Mã đầu kim cương 8 đầu, 6 đầu được phái Cách lỗ sùng bái; còn phái Ninh mã thì tôn thờ Mã đầu kim cương có cánh.Vị thần này được thờ trong điện Mã đầu kim cương ở chùa Sắc lạp rất tôn nghiêm.
mã đầu la sát
The horse-head ràksasa in Hades.
; Loại quỷ La Sát mình người đầu ngựa, cai ngục nơi Diêm La—The horse-head raksasa in Hades.
; (馬頭羅刹) Chỉ cho ngục tốt đầu ngựa mình người ở địa ngục Vô gián. Kinh Lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 144 hạ), nói: Thần thức người chết trông thấy thành sắt rất lớn, trong đó, chó lửa, rắn lửa, hổ, chó sói, sư tử, ngục tốt đầu trâu, la sát đầu ngựa, tay cầm giáo mác, đuổi người chết đến cửa thành, rồi lùa vào địa ngục Vô gián.
mã đầu minh vương
Hayagriva (skt)—The horse-head Dharmapala—See Mã Đầu Quan Âm.
mã đầu quan âm
Hayagriva (skt)—Còn gọi là Mã Đầu Đại Sĩ hay Mã Đầu La Sát, tiếng Phạn âm là Hà Da Yết Lợi Bà, là một vị tôn nơi Quan Âm Viện trong Thai Tạng giới, tức vị Sư Tử Vô Úy Quan Âm, có đầu và cổ ngựa, có hình dáng rất uy nghi khiến cho ma quân phải chịu thần phục—The horse-neck or horse-head Kuan-Yin in awe-inspiring attitude towards evil spirits.
; (馬頭觀音) Phạm:Hayagrìva. Hán âm: A da yết lị bà, Hà da yết lị bà. Cũng gọi Mã đầu đại sĩ, Mã đầu minh vương, Mã đầu kim cương minh vương. Phổ thông gọi là Mã đầu tôn. Chỉ cho Minh vương Phẫn nộ trì của Liên hoa bộ trong 3 bộ Minh vương thuộc Thai tạng giới Mật giáo, ngồi ở vị trí thứ 7 hàng thứ 1 trong viện Quan âm trên Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới, mật hiệu là Đạm thực kim cương, Tấn tốc kim cương, là 1 trong 8 vị Đại minh vương. Vị tôn này là 1 trong những hóa thân của bồ tát Quán tự tại, hiện tướng phẫn nộ, trên đỉnh có đầu ngựa, hoặc 1 mặt 4 tay, 3 mặt 8 tay, 3 mặt 2 tay, 4 mặt 8 tay v.v... Vị tôn này lấy từ bi làm trọng tâm, tiêu diệt các ma chướng, chiếu phá sự tối tăm của chúng sinh bằng vầng mặt trời đại uy đức và diệt hết vô minh phiền não cho chúng sinh.Vị Minh vương này là giáo chủ trong đường súc sinh, được phối với Sư tử vô úy Quan âm nói trong Ma ha chỉ quán. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7].
mã đầu quan âm bồ tát
Hayagrīva (S)A da yết lị bà, A da cát lị bà, Sư tử vô úy quan âm, Mã đầu tôn Bồ tátTên một vị Bồ tát. Giáo chủ súc sinh đạo.
mã đầu quán tự tại bồ tát chân ngôn ấn
(馬頭觀自在菩薩真言印) Cũng gọi Tối thắng căn bản ấn. Chân ngôn và ấn khế tiêu trừ các ma chướng, 1 trong 18 ấn khế. Ấn tướng là: Chắp 2 tay, co 2 ngón trỏ và 2 ngón vô danh vào trong lòng bàn tay, lưng móng tay áp vào nhau, 2 ngón cái dang ra và dựng đứng. Nếu dùng ấn này xoay về bên trái 3 vòng, trong tâm quán tưởng tiêu trừ các chướng, thì tất cả các ma thấy ấn này liền tháo chạy; nếu xoay ấn về bên phải 3 vòng thì liền thành hỏa giới kiên cố. Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật thì chân ngôn của vị tôn này là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm (nama samantabuddhànàm, qui mệnh khắp các đức Phật) khư na dã (khàdàya, ăn nuốt) bạn nhạ (bhaôja, đánh phá) sa phá tra dã (sphaỉya, phá sạch) sa ha (svàhà, thành tựu). Nghĩa là sự thực hành về không của Mã đầu phẫn nộ tôn tức là cái không của thực tướng các pháp, ăn nuốt tất cả pháp làm chướng ngại bồ đề, phá hết sinh tử của 3 đời. Nếu nhớ nghĩ vị tôn này, kết ấn tướng và tụng chân ngôn của Ngài thì đoạn trừ được tất cả những cái gây ra chướng nạn. Và trong vòng 40 dặm, nơi người tu hành ở, không có ma sự và các quỉ thần. Ngoài ra, tu pháp này còn có thể khiến cho các súc vật nuôi trong nhà (nhất là ngựa) được bình an.
mã đầu quán âm
Hayagriva (S). The horse-head Quán âm, in awe-inspiring attitude towards evil spirit.
mã đầu tôn bồ tát
Xem Mã đầu quan âm Bồ tát.
mã đầu vương
Padmantaka (S)Liên Hoa Hàng Phục vương, Bát nột đắc ca vươngTên một vị thiên. Một trong Thập Phẫn nộ vương.
mã đầu đại sĩ
Hayagriva (skt)—See Mã Đầu Quan Âm.
Mã-nhĩ-ba
馬爾波; T: marpa; 1012-1097;|Ðạo sư nổi tiếng của Nam Tây Tạng. Mã-nhĩ-ba đi Ấn Ðộ và mang về Tây Tạng giáo pháp Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā), Na-lạc lục pháp (t: nāro chodrug). Ông là thầy của Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa), đóng vai trò quan trọng trong phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyu-pa). Mặc dù tu hành tích cực nhưng Mã-nhĩ-ba vẫn tham gia công việc thế tục một cách hài hoà.|Thời trẻ tuổi, ông đã học Phạn ngữ (sanskrit) và sau đó ông đổi toàn bộ sản nghiệp lấy vàng bắt đầu chuyến du hành Ấn Ðộ. Tại đây, ông gặp Na-rô-pa (t: nāropa), một vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) và được vị này hướng dẫn 16 năm. Trở lại Tây Tạng, ông dùng hết thời giờ để phiên dịch kinh sách, sống cuộc đời của một nông dân, lập gia đình với Dag-me-ma và có nhiều con. Sau đó, trên đường tìm những chú giải của những Mật kinh, ông lại đi Ấn Ðộ một lần nữa và sau khi về lại Tây Tạng, ông nhận Mật-lặc Nhật-ba làm đệ tử. Sau nhiều lần thử thách khắc nghiệt, ông mới chịu truyền bí pháp cho Mật-lặc Nhật-ba.|Lúc tuổi đã cao, Mã-nhĩ-ba lại đi Ấn Ðộ lần thứ ba vì một bí pháp khác. Tại đây, ông gặp A-đề-sa và thầy Na-rô-pa lần cuối. Mã-nhĩ-ba ưa thích dùng giấc mộng để quyết đoán trước tương lai và từng tiên tri sẽ có tông Ca-nhĩ-cư ra đời.
mãi
1) Mãi mãi: Continually. 2) Mua: To purchase—To buy
mãi danh
Mua danh—To purchase honour.
mãi học
To devote oneself to study.
mãi lâm
Vikritavana (skt)—Tự viện cách kinh thành của Kashmere chừng 200 dậm về phía tây bắc—A monastery about 200 miles northwest of the capital of Kashmere.
mãi mãi
Forever—Ever-lasting.
mãi nghĩ
To be lost in thought.
mãi nhìn
To let one's glance rest on something.
mãi tu
To devote oneself to cultivate.
mãn
Pùrna (S). Full, whole, complete.
; Purna (skt)—Hoàn tất hay chấm dứt—To expire—To come to an end.
mãn châu phật giáo
(滿洲佛教) Phật giáo Mãn châu. Mãn châu tức là 9 tỉnh ở đông bắc Trung quốc hiện nay, ngày xưa gọi là Liêu đông. Vào đầu thế kỉ thứ IV Phật giáo đã được truyền đến khu vực này. Cuối năm Thái nguyên (376-396) đời vua Hiếu vũ nhà Đông Tấn, ngài Thích đàm thủy đã đưa mấy mươi bộ kinh luật từ Quan trung vào Liêu đông, rồi ngài đến Cao cú li truyền bá Phật giáo, cho mãi đến đầu năm Nghĩa hi (405-417) đời vua An đế mới trở về Quan trung. Trước đó vào niên hiệu Vĩnh hòa năm đầu (345) đời Đông Tấn, vua Mộ dung hoàng của nước Tiền yên thiết lập cung Hòa long trên núi Long sơn gần thủ đô Long thành (Triều dương, Nhiệt hà); rồi lại xây cất chùa Long tường ở trên núi. Đây là ghi chép sớm nhất về tự viện Phật giáo ở Mãn châu. Về sau, triều Bắc Ngụy chiếm lấy đất Tiền yên, tiếp tục tạo mở các động đá Vân cương và Long môn; vào năm Thái hòa 23 (499) đời vua Hiến văn, lại bắt đầu mở hang đá Vạn Phật Đường ở tả ngạn sông Đại lăng phía tây bắc ngoại thành huyện Nghĩa, tỉnh Liêu ninh hiện nay. Đến đời Đường thì Phật giáo Mãn châu lại càng hưng thịnh, như trong Sách phủ nguyên qui quyển 971 có chép việc nước Bột hải tiến cống tượng Phật vào thời Huyền tông và Hiến tông nhà Đường; ngoài ra, trong kinh thành cũng phát hiện được những di tích Phật giáo. Các triều đại vua chúa Liêu, Kim cũng rất kính tin Phật pháp, xây dựng nhiều chùa viện và tháp Phật khiến cho Phật giáo phổ cập trong dân gian. Rồi đến đời Nguyên, người Mông cổ xâm chiếm Mãn châu, lập nên Đế quốc lớn, đồng thời truyền Lạt ma giáo vào Mãn châu, làm cho Phật giáo ở đây cũng chịu ảnh hưởng phần nào, nhưng phải đợi đến đời Thanh thì nền tảng của Lạt ma giáo tại Mãn châu mới được củng cố và lúc đó chùa, tháp Lạt ma giáo được xây dựng ở nhiều nơi, như chùa Bác nhân, chùa Phổ lạc, miếu An viễn, chùa Phổ ninh, chùa Phổ hựu, miếu Tu di phúc thọ, miếu Phổ đà tông thừa, chùa Thù tượng, La hán đường v.v... ở Thừa đức đều rất nổi tiếng. Đây là những chùa miếu lớn có cảnh quan đặc biệt, khác hẳn với lối kiến trúc phổ thông của Trung quốc. Ngoài ra, cứ theo ý kiến của các học giả cận đại, thì nhà Thanh có mối quan hệ gắn bó với Lạt ma giáo, đặc biệt vua Thái tổ triều Thanh được xem là có quan hệ trực tiếp với bồ tát Văn thù, vả lại, họ cũng cho rằng Mãn châu là đất phát tích của nhà Thanh, danh xưng Mãn châu có nguồn gốc từ tiếng Phạm: Maĩjuzrì (Hán âm: Mạn thù sư lợi, tức bồ tát Văn thù). Lại nữa, cứ theo Mãn châu nguyên lưu khảo bộ chương, thì vào những năm đầu triều Thanh, nước Tây tạng dâng quốc thư đến nhà Thanh đều tôn xưng là Mạn thù sư lợi đại Hoàng đế. Đến nay, tuy giới học giả chưa có kết luận hoàn toàn nhất trí về quan điểm này, nhưng trên đại thể thì đều thừa nhận đất Mãn châu đã có 1 nguồn gốc Phật giáo rất sâu xa. Và nguồn gốc này cũng là điểm then chốt khiến cho nhà Thanh tin thờ Lạt ma giáo. [X. Khâm định thịnh kinh thông chí; Liêu đông chí Q.1; The Blue Annals, 2 vols. (N.Roerich); Pag Sam Jon Zang (S.C. Das); The Religion of Tibet (Ch. Bell)].
mãn cuộc
the end of an affair.
Mãn Giác
滿覺; 1052-1096|Thiền sư Việt Nam, thuộc đời thứ 8 của dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Sư nối pháp Thiền sư Quảng Trí và truyền tâm ấn lại cho đệ tử là Bản Tịnh.|Sư họ Nguyễn, thân phụ là Hoài Tố làm chức Trung thơ Viên ngoại lang. Lúc Lí Nhân Tông còn làm Thái tử, Sư được tuyển vào cung tham gia học thuật cùng với vua. Về sau, khi lên ngôi, Lí Nhân Tông ban cho Sư hiệu Hoài Tín.|Sau, Sư dâng biểu xin xuất gia, học với Thiền sư Quảng Trí và vân du khắp nơi. Sư là bậc lĩnh tụ pháp môn trong một thời, được vua Lí Nhân Tông cùng hoàng hậu hết sức kính nể và dựng chùa Giáo Nguyên thỉnh làm trụ trì.|Năm 1096 cuối tháng 11, Sư gọi chúng đọc bài kệ:|春去百花落。春到百花開|事逐眼前過。老從頭上來|莫謂春殘花落盡。庭前昨夜一枝梅|Xuân khứ bách hoa lạc|Xuân đáo bách hoa khai|Sự trục nhãn tiền quá|Lão tòng đầu thượng lai|Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận|Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai.|*Xuân đi trăm hoa rụng|Xuân đến trăm hoa cười|Trước mắt việc đi mãi|Trên đầu, già đến rồi|Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết|Ðêm qua – sân trước – một cành mai.|Nói xong Sư ngồi kết già thị tịch, thọ 45 tuổi. Sau lễ hoả táng, Xá-lị được thu lại thờ tại chùa Sùng Nghiêm, vua thuỵ hiệu là Mãn Giác.
mãn giác
Thiền Sư Mãn Giác (1052-1096)—Zen Master Mãn Giác—Thiền sư nổi tiếng Việt Nam, quê ở Thăng Long, Hà Nội, Bắc Việt. Ngài là đệ tử của Thiền sư Quảng Trí và là Pháp tử đời thứ tám dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Hầu hết cuộc đời ngài hoằng hóa tại Thăng Long. Ngài thị tịch năm 1096, vào tuổi 45—A Famous Vietnamese Zen master from Thăng Long, Hanoi, North Vietnam. He was a disciple of Quảng Trí. He became the Dharma heir of the eighth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. He spent most of his life to expand Buddhism in Thăng Long. He passed away in 1096, at the age of 45.
mãn hiền
PŪrṇabhadrā (S)Một trong Dạ xoa bát đại tướng: Bảo Hiền, Mãn Hiền, Mật Chủ, Oai Thần, Ứng Niệm, Đại Mãn, Vô tỷ lực, Mật Nghiêm.
mãn hạn
At the end of time allowed—To come to an end.
mãn kiến tử
Xem Phú lâu na.
mãn kiếp
During one's lifetime.
mãn kỳ
Thời hạn đã hoàn tất—The time fulfilled.
Mãn nghiệp
滿業; C: mănyè; J: mangō;|Nghiệp đặc thù, chi tiết; còn gọi là Biệt báo (別報). Những hành vi tạo thành nghiệp – liên quan tức thời đến những nghiệp làm phát sinh các chi tiết khác biệt nhau giữa loài người, như sinh trong gia đình giàu hoặc nghèo, xấu hay đẹp, v.v… Điều này khác với kết quả tổng thể của nghiệp, như được sinh ra trong chủng loại nào,v.v… được gọi là Dẫn nghiệp (引業).
mãn nghiệp
Xem mãn quả.
; See Mãn Quả.
; (滿業) Cũng gọi Viên mãn nghiệp, Biệt báo nghiệp. Đối lại: Dẫn nghiệp. Chỉ cho các nghiệp thiện ác làm cho chúng đồng phận của hữu tình đầy đủ và hình lượng các căn của mỗi người đều khác nhau. Trong tất cả các nghiệp thiện, ác, tà, chính mà mỗi con người tạo tác trong 1 đời, chỉ có 1 nghiệp quan trọng nhất có năng lực mang lại quả báo đời sau sinh trong các đường: Quỉ đói, súc sinh, người, trờiv.v... đó là Dẫn nghiệp. Còn tất cả các nghiệp khác thì có năng lực quyết định sự sai biệt của quả báo như 6 căn có đầy đủ không, thân thể khỏe mạnh hay yếu đuối, thọ mệnh lâu hay mau và những sự giàu, nghèo, sang, hèn khác v.v... thì gọi là Mãn nghiệp. Ví dụ như 1 họa sĩ vẽ hình người, thì trước hết phác họa dáng người để làm tổng thể, việc này tương đương với Dẫn nghiệp; sau đó mới vẽ tỉ mỉ từng bộ phận như mắt, lông mày, tai, mũi, miệng, đẹp, xấu khác nhau v.v..., các việc này tương đương với Mãn nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.19; luận Thuận chính lí Q.43; luận Câu xá Q.17; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7]. (xt. Dẫn Nghiệp).
Mãn nghiệp 滿業
[ja] マンゴウ mangō ||| Particularizing karma; also written in Chinese as 別報. Actualized karmic activity--referring to relatively quickly actualized karma which generates more detailed difference between beings, such as the distinction in being born as rich or poor, beautiful or ugly, etc. This is as contrasted with more generalized karmic results, such as the species in which one is born, etc., called 引業. 〔瑜伽論T 1579.30.556c〕 => Nghiệp đặc thù, chi tiết; còn gọi là Biệt báo 別報. Những hành vi tạo thành nghiệp – liên quan tức thời đến những nghiệp làm phát sinh các chi tiết khác biệt nhau giữa loài người, như sinh trong gia đình giàu hoặc nghèo, xấu hay đẹp,v.v... Điều này khác với kết quả tổng thể của nghiệp, như được sinh ra trong chủng loại nào,v.v... Điều này gọi là Dẫn nghiệp 引業.
Mãn nguyện
滿願; C: mănyuàn; J: mangan;|1. Mãn nguyện, nguyện vọng thành tựu; 2. Hán dịch tên của Phú-lưu-na (富留那, pūrṇa) từ tiếng Phạn. Phú-lâu-na.
mãn nguyện
Assāda (P), Satisfaction.
; Contented—Satisfied.
; (滿願) I. Mãn Nguyện. Nguyện vọng đã đầy đủ. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 835 trung), nói: Danh hiệu của đức Như lai Vô ngại quang có năng lực phá trừ vô minh cho hết thảy chúng sinh, làm cho tất cả ước nguyện của họ được viên mãn. Ngoài ra, trong thời gian dự định bao nhiêu ngày đến nơi Thần Phật để cầu nguyện, số ngày đã hết, gọi là Mãn nguyện nhật. II. Mãn Nguyện. Gọi đủ: Mãn nguyện tử. Chỉ cho tôn giả Phú lâu na (Phạm: Pùrna, Pàli: Puịịa), 1 trong 10 vị đệ tử lớn của đức Phật. (xt. Phú Lâu Na).
mãn nguyện tử
Xem Phú lâu na.
Mãn nguyện 滿願
[ja] マンガン mangan ||| (1) (2) Chinese translation of the Indian name Pūrṇa 富留那. => 1. 2. Hán dịch tên của ngài Phú-lưu-na (Pūrṇa 富留那) từ tiếng Sanskrit.
Mãn nguyệt
滿月; C: mănyuè; J: mangetsu; S: candra-aṃśu|1. Trăng tròn (s: candra-aṃśu); 2. Mãn Nguyệt, tên một vị Bồ Tát.
mãn nguyệt
(滿月) Vị tăng dịch kinh, người Tây vực, đến Trung quốc vào đời Đường. Ngài tinh thông pháp môn Du già và chú thuật. Khoảng năm Khai thành (836-840), ngài đến Trung quốc tiến dâng hòm kinh tiếng Phạm, muốn phiên dịch và truyền bá những kinh điển ấy nhưng không thành tựu. Về sau, nhận lời thỉnh của Quốc sư Ngộ đạt Tri huyền, ngài cùng với bồ tát Phạ nhật la Kim cương tất địa dịch lại bộ Đà la ni tập 4 quyển và kinh Phật vị Tì tuất đà thiên tử thuyết tôn thắng 1 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.3].
mãn nguyệt bồ tát
PŪrṇachandra (S)Tên một vị Bồ tát.
mãn nguyệt quang minh phật
Perfect Moon Light Buddha. 1) Mãn nguyệt quang minh có nghĩa là ánh sáng của đêm trăng rằm. Ánh sáng đó vừa thanh tịnh vừa an lạc, có công năng chữa lành sự loạn động của thân tâm. Ban ngày thân tâm chúng ta bị ánh mặt trời thiêu đốt, nhưng dưới ánh trăng huyền diệu ban đêm, chúng ta cảm thấy thoải mái và dễ chịu. Đức Phật Mãn Nguyệt Quang Minh cũng như chư Phật đều có cùng một thứ ảnh hưởng như vậy đối với chúng sanh mọi loài: Perfect Moon Light means the light of full moon. Such a light is pure, peaceful, and able to heal mind and body. During the day under the sun's fury, our mind and body burn, but under the softness of the moonlight, we feel at ease and relax. Thus, similarly this Buddha and all Buddhas have the same affect on all sentient beings. 2) Về phía Đông của thế giới Ta Bà có cõi Phật tên là Bất Động, trong nước đó có Phật tên là Mãn Nguyệt Quang Minh làm giáo chủ—To the East of the Saha World, there is a Budhaland called Unditurbed, in that world there is a Buddha named 'Perfect Moon Light' ruling over it.
mãn nguyệt tôn
The full moon honoured one, Buddha.
; Danh hiệu khác để gọi Đức Phật—The full-moon honourd one, Buddha.
; (滿月尊) Đức hiệu của Phật, vì đức của Ngài tròn đầy không thiếu khuyết, giống như mặt trăng tròn, nên ví dụ là Mãn nguyệt. Vãng sinh thập nhân (Đại 48, 98 thượng), nói: Nhân duyên các pháp chẳng thể nghĩ bàn, nếu nước định lắng trong, thì tự thấy Mãn nguyệt tôn.
Mãn nguyệt 滿月
[ja] マンゲツ mangetsu ||| (1) A full moon (candra-aṃśu). (2) Full Moon--the name of bodhisattva. 〔法華經 T 262.9.2a11〕 => 1. Trăng tròn (s: candra-aṃśu). 2. Mãn Nguyệt, tên một vị Bồ-tát.
mãn nê
(滿泥) Phạm: Vande. Cũng gọi: Mạn đề. Hán dịch: Lễ bái. Quán tự tại như ý luân bồ tát du già pháp yếu (Đại 20, 211 hạ), nói: Hành giả mặt hướng về tây, lễ bái (mãn nê) Tự tại vương, kế đến, lễ chư Phật ở các phương khác. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 36 giải thích từ ngữ Mãn nê Tự tại vương như sau (Đại 54, 549 thượng): Tiếng Phạm Mãn nê, Trung quốc dịch là lễ bái, còn Tự tại vương là đức Phật Vô lượng thọ.
mãn phần
To pass away—To die.
mãn phần giới
The whole commandments, i.e. of the monk.
; Tên khác của cụ túc giới, để so sánh với người tại gia hay Sa Di chỉ thọ ngũ hay bát giới—The whole of the commandments, i.e. a full-ordained monk as compared with lay people or a sramanera, who only receive either five or eight commandments.
; (滿分戒) I. Mãn Phần Giới. Chỉ cho giới Cụ túc của tỉ khưu và tỉ khưu ni, đối lại với 5 giới, 8 giới và 10 giới của tại gia và sa di. Chương Tuệ năng trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 235 hạ), nói: Ngày mồng 8 tháng 2 đến Luật sư Trí quang ở chùa Pháp tính lãnh thụ Mãn phần giới. II. Mãn Phần Giới. Tín đồ nam, nữ tại gia, sau khi thụ Tam qui, lại thụ 1 giới trong 5 giới thì gọi là Nhất phần giới; thụ 2 giới gọi là Thiểu phần giới; thụ 3 giới, 4 giới gọi là Đa phần giới, còn nếu thụ cả 5 giới thì là Mãn phần giới. [X. kinh Ưu bà tắc giới Q.3].
mãn phần thanh tịnh giả
(滿分清淨者) Nguyên nghĩa là chỉ cho bậc hoàn toàn thanh tịnh, nhưng theo sự giải thích xưa nay thì Phật là bậc Mãn thanh tịnh; Bồ tát là bậc Phần thanh tịnh, cả Phật và Bồ tát được gọi chung là Mãn phần thanh tịnh giả. Luận Thành duy thức quyển 1 (Đại 31, 1 thượng), nói: Cúi lạy Duy thức tính, Mãn phần thanh tịnh giả, nay con giải nghĩa ấy, vì lợi lạc chúng sinh.
mãn quả
The fruit, or karma which fills out the details of any incarnation, as distinguished from dẫn nghiệp which determines the type, e.g. man, animal, etc., of that incarnation.
; Còn gọi là Biệt Báo Nghiệp, Mãn Nghiệp, hay Viên Mãn Nghiệp. Nghiệp dựa vào nhau để đưa đến những chi tiết của cái quả trong kiếp tái sanh, như lục căn thiếu đủ, thân thể mạnh yếu, sang hèn, thọ mệnh dài ngắn, vân vân, để phân biệt với “dẫn nghiệp” hay tổng báo là nghiệp chủ yếu tạo thành quả báo, khiến chúng sanh phải tái sanh vào cõi nào, như trời, người, hay thú, vân vân (dẫn nghiệp được ví như người thợ vẽ, trước vẽ tổng thể trời, người hay súc sanh; mãn nghiệp được ví như là sự hoàn tất bức họa, phải tô điểm các nét đẹp xấu)—The fruit or karma, which fills out the details of any incarnation, as distinguished from the integral or direction of karma which determines the type of that incarnation, i.e. deva, man, or animal, etc.
; (滿果) I. Mãn Quả. Chỉ cho quả báo do mãn nghiệp mang lại. Tông kính lục quyển 50 (Đại 48, 711 hạ), nói: Sáu thức trước gọi là Mãn quả, vì có 1 phần riêng của nghiệp báo thiện ác mang lại làm cho đầy đủ. [X. Câu xá luận quang kí Q.6]. (xt. Mãn Nghiệp). II. Mãn Quả. Chỉ cho quả vị Như lai. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển thượng (Đại 44, 245 trung), nói: Quả cũng có 2 loại: 1. Phần quả: Vào địa vị Bồ tát. 2. Mãn quả: Thành quả vị Như lai.
mãn tang
The end of mourning.
mãn thành
Fully complete, perfect.
; Fully complete, or perfect.
mãn thù thi lợi
Manjusri (skt)—See Văn Thù Sư Lợi in Vietnamse-English Section, and Manjusri in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
mãn toà
(滿座) Có 2 nghĩa. 1. Chỉ cho ngày cuối cùng của pháp hội. Chữ mãn ở đây nghĩa là viên mãn, hoàn mãn. 2. Cũng gọi Mãn tọa: Chỉ cho toàn số người hiện diện. Chữ mãn ở đây nghĩa là đông đủ, đầy đủ.
mãn tài trưởng giả
(滿財長者) Tên của 1 vị Trưởng giả ở Ấn độ vào thời đức Phật còn tại thế. Cứ theo kinh Tu ma đề nữ, thì Tu ma đề là con gái của Trưởng giả A na bân trì (Cấp cô độc) ở thành Xá vệ, lấy chồng là Mãn phú thành, con trai của Trưởng giả Mãn tài. Người con gái này đêm đêm thường niệm Phật, giữ gìn trai giới, khiến cả nhà chồng lìa bỏ ngoại đạo, tin thờ Phật giáo.
mãn tán
(滿散) Đối lại: Khải kiến. Thời gian pháp hội đã hoàn mãn, mọi người giải tán. Huyễn trụ thanh qui Thánh tiết mãn tán sớ (Vạn tục 111, 489 hạ), nói: Mở (khải kiến) đạo tràng Kim cương vô lượng thọ 1 tháng, hàng ngày chư tăng luân phiên nhau lên điện Phật đọc tụng kinh văn, hôm nay là Mãn tán. Tấm bảng thông báo ngày giờ mãn tán, gọi là Mãn tán bài; những bộ kinh được đọc tụng, gọi là Tán kinh. [X. điều Lăng nghiêm hội, chương Tiết lạp trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; điều Mãn tán tuyên sớ trong Tăng đường thanh qui Q.3; môn Phúng xướng trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Mãn Túc
xem Mã Sư.
Mãn túc
滿足; C: mănzú; J: manzoku;|1. Sự hoàn thành (ham muốn hay mục đích). Đáp ứng, thoả mãn, đáp lại, làm vừa lòng. Hoàn thành, hoàn chỉnh; 2. Giáo lí toàn hảo.
mãn túc
Full—Satisfied—Contented--Completed.
mãn túc nguyện
(滿足願) Bản nguyện mong cầu thành tựu tất cả đại nguyện một cách trọn vẹn đầy đủ, là tâm nguyện viên mãn của đức Phật A di đà, 1 trong 5 nguyện lực của Ngài. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 271 thượng), nói: Đây đều là do sức uy thần, sức bản nguyện, nguyện đầy đủ (mãn túc nguyện), nguyện hiển bày, nguyện bền chắc, nguyện rốt ráo của đức Phật A di đà. [X. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q. hạ (ngài Tuệ viễn đời Tùy)]. (xt. Ngũ Chủng Lực).
mãn túc đại bi nhân
(滿足大悲人) Từ tôn xưng đức Phật, tâm đại bi của Ngài xót thương cả mọi loài. Theo luận Đại trí độ quyển 27, so với đức Phật thì tâm đại bi của Bồ tát nhỏ hơn. Còn theo Quán kinh sớ phần Tán thiện nghĩa thì đại từ bi của đức Phật đã viên mãn cụ túc, nên gọi là Mãn túc Đại bi nhân.
Mãn túc 滿足
[ja] マンゾク manzoku ||| (1) Fulfillment (of a desire or aim). To supply, to satisfy, to answer, to meet. To complete, to perfect. (2) The perfect, complete teaching. => 1. Sự hoàn thành (ham muốn hay mục đích). Đáp ứng, thoả mãn, đáp lại, làm vừa lòng. 2. Hoàn thành, hoàn chỉnh.
mãn tọa
A complete or full assembly; also the last day of the general assembly.
; 1) Một chúng hội đủ đầy (khi thọ giới đàn phải có tam sư thất chứng)—A complete, or full assembly. 2) Ngày cuối cùng của chúng hội (an cư kiết hạ): The last day of a general assembly.
mãn từ tử
Xem Phú lâu na.
Mãn tự
滿字; C: măn zì; J: manji;|1. Giáo lí viên mãn của Đức Phật; 2. Trong tiếng Phạn, chỉ cho sự kết hợp của một nguyên âm và phụ âm để tạo thành một chữ hoàn chỉnh.
mãn tự
The complete word, i.e. Mahàyàna, as compared with bán tự, half word or incomplete word of Hìnayàna.
; (滿字) Chỉ cho những chữ Phạm đã trọn vẹn (mãn) có đầy đủ nghĩa lí do các nguyên âm (Ma đa) và phụ âm (Thể văn) kết hợp lại mà thành. Cứ theo điều Hồ Hán dịch kinh âm nghĩa đồng dị kí trong Xuất tam tạng kí tập quyển 1, thì cách cấu tạo văn tự trong sách tiếng Phạm chia làm Bán tự và Mãn tự. Vì Bán tự nghĩa chưa đầy đủ, cho nên thể chữ chỉ có 1 nửa (bán), giống như chữ nguyệt trong Hán văn, thiếu 1 bên; còn Mãn tự thì lí đã rốt ráo, cho nên thể chữ đầy đủ, giống như chữ nhật trong tiếng Hán, hình chữ đầy đặn. Bởi thế, Bán tự có nghĩa ác, lấy phiền não làm thí dụ; Mãn tự có nghĩa thiện, lấy thường trụ làm thí dụ. [X. kinh Niết bàn Q.3 (bản Bắc); Pháp hoa văn cú Q.3, hạ; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1; Niết bàn kinh nghĩa kí Q.4, thượng (ngài Tuệ viễn đời Tùy)]. (xt. Bán Tự Mãn Tự).
mãn tự giáo
The Mahàyàna or greater vehicle.
; (滿字教) Giáo nghĩa viên dung đầy đủ của Đại thừa, giống như 1 chữ Phạm đã hoàn thành, gọi là Mãn tự giáo. Mãn tự giáo và Bán tự giáo gọi chung là Bán Mãn nhị giáo. Cách chia Bán Mãn nhị giáo đại khái cũng giống như sự phân loại Tiểu thừa và Đại thừa. Bởi vì trong tiếng Phạm, nguyên âm (Ma đa) và phụ âm (Thể văn) còn rời nhau thì chưa hoàn toàn thành 1 chữ, gọi là Bán tự, khi cả 2 hợp lại để hoàn thành 1 chữ thì gọi là Mãn tự. Từ đó dẫn đến quan điểm cho nghĩa lí Tiểu thừa giáo chưa rộng khắp, giống như chữ chưa đầy đủ, nên gọi là Bán tự giáo; còn nghĩa lí Đại thừa giáo tròn đầy, giống như chữ đã hoàn thành, cho nên gọi là Mãn tự giáo. Cách chia Phật giáo làm 2 giáo Bán, Mãn này đã bắt đầu từ kinh Đại bát niết bàn do ngài Đàm vô sám dịch vào thời Bắc Lương, về sau, đến đời Tùy, ngài Tuệ viễn ở chùa Tịnh ảnh cũng đồng quan điểm với thuyết này. Về vấn đề này, ngài Bồ đề lưu chi nói rõ hơn. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10, thượng, thì ngài Bồ đề lưu chi đời Bắc Ngụy cho rằng, sau khi đức Phật thành đạo, Ngài nói giáo nghĩa Tiểu thừa hữu tướng trong 12 năm là thuộc Bán tự giáo; từ 12 năm ấy trở về sau, Ngài vì những người Đại thừa mà nói lí không, Bát nhã vô tướng, thì thuộc Mãn tự giáo. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.10, hạ; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1]. (xt. Bán Mãn Nhị Giáo).
Mãn tự 滿字
[ja] マンジ manji ||| (1) The "full word" or complete teaching of the Buddha. (2) In Sanskrit, a reference to the combination of a vowel and a consonant to make a complete word. => 1. Giáo lý viên mãn của Đức Phật. 2. Trong tiếng Sanskrit, chỉ cho sự kết hợp của một nguyên âm và phụ âm để tạo thành một chữ hoàn chỉnh.
mãn ý
See Mãn túc.
; (滿意) Cao tăng Trung quốc, thuộc Luật tông, sống vào đời Đường. Sư là người có phong cách cao thượng, học thức sâu rộng. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư chuyên tâm nghiên cứu Luật học, thông suốt cả kinh Luận. Vào cuối những năm Vũ đức (618-626) đời vua Cao tổ nhà Đường, sư nghe tin ngài Pháp lệ ở chùa Nhật quang tại Nghiệp đô soạn bộ Tứ phần luật sớ và hoằng truyền Tướng bộ tông, sư liền đến xin y chỉ. Sau, sư lại theo học ngài Đạo thành ở chùa Hằng tế ở tại Trường an, sớm hôm siêng năng học hỏi nên đã đắc pháp. Sau đó, sư trụ ở chùa Sùng phúc tại Trường an, hoằng dương Luật học suốt 30 năm. Sư nổi tiếng ngang hàng với bạn đồng môn là Luật sư Đông tháp Hoài tố, người đời gọi sư là Tây tháp luật sư. Đệ tử nối pháp của sư có 16 vị như: Đại lượng, Định tân, Pháp tạng v.v...[X. Tống cao tăng truyện Q.14; luật Tông cương yếu Q.hạ].
mãn đà
(滿馱) Phạm: Bandha. Cũng gọi Phược đà. Nghĩa là trói buộc. Tô tất địa yết la cúng dường pháp quyển thượng (Đại 18, 694 thượng), nói: Câu mãn đà mãn đà, tức là 3 ngón của 2 tay nắm lại, ngón út để nguyên như cũ không cử động, thì những tai nạn ấy liền bị trói buộc. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao].
mãn đát la
See Mạn Đà La in Vietnamese-English Section.
mãn đô khư da tụng
(滿都佉耶頌) Phạm: Màịđùkya-kàrikà. Cũng gọi Thánh truyện luận (Phạm: Àgama-zàstra), Cao đạt phạ đạt tụng (Phạm:Gauđapàdìya-kàrikà). Kinh điển của học phái Phệ đàn đa (Phạm:Vedànta) trong 6 phái Triết học của Ấn độ, do ngài Cao đạt phạ đạt (Phạm: Gauđapàda) biên soạn vào khoảng năm 640 đến 690Tây lịch. Sách chia làm 4 chương 215 bài tụng, đó là: Chương Thánh truyện, chương Hư vọng, chương Bất nhị và chương Toàn hỏa tịch tĩnh. Mỗi chương đều có những tư tưởng và sự bố cục đặc thù, cho thấy rõ là do tập thể sáng tác. Nhưng phần nội dung thì đã dung nhập những giáo lí Phật giáo như: Không quán, chủng tử Duy thức, thuyết Nhị đế v.v... với 1 số thuật ngữ riêng của Phật giáo và những thí dụ mà Phật giáo quen dùng, đồng thời cũng tôn xưng người thể ngộ chân lí là Phật. Ngoài ra, dựa vào những quan điểm vô luận tránh, hựu hòa mà sách này chủ trương, cũng có thể xác định nó đã chịu ảnh hưởng kinh Pháp hoa. Đứng trên lập trường học thuật mà nói thì sách này là tư liệu tốt nhất cho việc nghiên cứu về học phái Phệ đàn đa và về ảnh hưởng của Phật giáo đối với phái này. Về phương diện địa vị trong hệ thống kinh điển Phệ đàn đa, thì sách này chỉ đứng sau Phạm kinh (Phạm: Brahmasùtra) mà thôi. [X. Bhattacharyya: The Àgama Zàstra of Gauđapàda, 1943].
mãn đồ
Manda (skt)—Kim Cang Tòa—The diamond throne.
; (滿荼) Phạm: Maịđa. Hán dịch: Kiên cố, Bất động, Vô đẳng tỉ, Chu biến pháp giới. Tức là tòa Kim cương, tòa Bồ đề. Đại nhật kinh sớ quyển 12 (Đại 39, 709 hạ), nói: Bấy giờ các bồ tát Kim cương liền hiện ra các tòa Bồ đề. Nói theo ý thế gian thì đây chỉ là chỗ ngồi, nhưng bên Ấn độ thì gọi tòa này là Mãn đồ.
mãn đời
To the end of one's life—During one's lifetime.
mãng
1) Con trăn: A boa—Python. 2) Lỗ mãng—Rude—Coarse. 3) Quỷ Ma Hầu La Già trông giống loài trăn: (Mahoraga (skt)—A class of demon ressembling a python.
mãnh
Strong—Fierce—Violent—Determined.
mãnh dũng
Dũng mãnh (mạnh mẻ và can trường)—Strong and courageous.
mãnh hỏa
Lửa mạnh—Fierce fire.
Mãnh Hỷ
xem Uất-đầu-lam-phất.
mãnh lợi
Fierce—Sudden.
Mãnh lợi 猛利
[ja] ミョウリ myōri ||| Fierce, ferocious, strong, powerful. => Dữ dội, mãnh liệt, mạnh mẽ, hùng mạnh.
mão hiệp chưởng
Mão vị Hoà thượng đội khi dẫn lễ (mão có hình như 2 tay chắp vào).
mé
Border—Edge.
méc
To tell stories (tales).
méo
Out of shape—Distorted—Deformed.
mét chằng
Pale as death.
mê
Bhrauti (S).
; Màyà (S). Delude, deceive, confuse, mislead; selusion, illusion, etc.
; Maya (skt)—Mê muội—Deluded—Misleading ideas—Confuse—Delusion—Illusion.
; (迷) Phạm: Bhrànti. Đối lại: Ngộ. Chấp chặt vào sự lí sai lầm, không nhận biết rõ được chân tính của sự vật, gọi là Mê. Trái lại, từ trong mê tỉnh thức, thấu suốt lí chân thực, gọi là Ngộ. Nhiếp Đại Thừa Luận Thích quyển 2 (bản dịch đời Lương) cho rằng, trong mê có 3 hoặc: Vô tri, Nghi tri, Điên đảo tri, nếu khởi 3 hoặc này thì sẽ sinh ra 2 thứ tà kiến: Hoặc chấp vào nhân bất bình đẳng, hoặc chấp vào vô nhân. Đó đều là do mê sự lí mà khởi lên vọng chấp điên đảo. [X. luận Hiển Dương Thánh Giáo Q.14; phẩm Minh Tín trong Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận Q.4].
mê chấp
(迷執) Mê hoặc chấp trước, nghĩa là đối với chân lí của các Pháp, hiểu biết sai lầm, lại chấp sự sai lầm ấy cho là đúng, trở thành điên đảo. Luận Đại Tì Bà Sa quyển 139 (Đại 27, 718 trung) nói: Đây là lời của ngoại đạo, vì trong đó có sự mê chấp.
mê già thất lợi
Xem Công đức Vân tỳ kheo.
; (迷伽室利) Phạm: Meghazri. Hán dịch: Đức vân, Công đức vân, Cát tường vân. Vị tỉ khưu trụ ở nước Thắng lạc (Phạm: Ràmàvarànta) tại phương Nam, là 1 trong 53 vị thiện tri thức mà Đồng tử Thiện tài tìm đến tham học. Khi đến nước này, Đồng Tử Thiện Tài được tỉ khưu Đức vân giảng cho nghe về pháp môn: Nhớ nghĩ tới tất cả cảnh giới bình đẳng của chư Phật với trí tuệ thấy cùng khắp không bị trở ngại. [X. phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa Nghiêm; Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí Q.18].
mê giới
Any world of illusion.
; World of delusion—Any world of illusion.
; (迷界) Cũng gọi Mê cảnh. Cõi mê muội, tức là 3 cõi, 6 đường luân hồi của chúng sinh. (xt. Mê Đồ).
mê hoặc
Bhrànti (S). Error, ill conduct; deluded and confused, deceived in regard to reality. To seduce; to lead astray; to beguile; to fascinate
; Hư Vọng—Mê hoặc hay hư vọng là bị lừa dối hoàn toàn. Mê hoặc còn ám chỉ một niềm tin vào một điều gì đó trái với thực tại. Mặt khác, mê hoặc gợi ý rằng điều được thấy có thực tại khách quan nhưng bị giải thích lầm hay thấy sai. Theo Phật Giáo, mê hoặc là vô minh, là không biết chân tánh của vạn hữu hay ý nghĩa thật sự của sự hiện hữu. Chúng ta bị các giác quan của mình (kể cả lý trí và tư tưởng phân biệt) làm cho lầm lạc đến khi nào chúng còn khiến chúng ta chấp nhận thế giới hiện tượng như là toàn thể thực tại, trong khi thật ra nó chỉ là một khía cạnh giới hạn và phù du của thực tại, và tác động tựa hồ như là ở bên ngoài đối với chúng ta, trong khi nó chính là phản ảnh của chính chúng ta. Điều nầy không có nghĩa là thế giới tương đối không có thực thể gì cả. Khi các vị thầy nói rằng tất cả mọi hiện tượng đều là hư vọng, các thầy muốn nói rằng so với tâm, thì thế giới do giác quan nhận biết chỉ là một khía cạnh giới hạn và phiến diện của chân lý, cũng giống như là mộng ảo mà thôi—Deluded and confused—To charm—To entice—To enchant—To be deluded is to be totally deceived—Deceived in regard to reality—Delusion also implies a belief in something that is contrary to reality. Illusion, on the other hand, suggests that what is seen has objective reality but is misinterpreted or seen falsely. In Buddhism, delusion is ignorance, an unawareness of the true nature of things or of the real meaning of existence. We are deluded or led astray by our senses (which include the intellect and its discriminating thoughts) insofar as they cause us to accept the phenomenal world as the whole of reality when in fact it is but a limited and ephemeral aspect of reality, and to act as though the world is external to us when in truth it is but a reflection of ourselves. This does not say all phenomena are illusory, they mean that compared with Mind itself the world apprehended by the senses is such a partial and limited aspect of truth that it is dreamlike. ** For more information, please see Vô Minh.
; (迷惑) Lầm lẫn sự lí là mê, không hiểu rõ sự lí là hoặc. Cảnh giới của Phật, Bồ Tát không có mê hoặc, còn kẻ phàm phu thì thường mê lầm sự lí, khởi nghiệp phiền não. [X. kinh Hoa Nghiêm Q.5 (bản dịch đời Đường); phẩm Phương Tiện trong kinh Pháp Hoa].
mê hồn
Bewitched.
mê li da
(迷麗耶) Phạm: Maireya. Cũng gọi Muội na dã. Hán dịch: Mộc tửu. Loại rượu tạp được nấu bằng rễ, cuống, hoa, quả của các loại thực vật. Đối lại với Tốt la là loại rượu được nấu bằng gạo. Rượu mê lệ da có đủ cả màu sắc và hương vị, khiến người uống say túy lúy. Theo luật Tứ Phần quyển 16 thì rượu mê lệ da có các loại như: Rượu lê, rượu diêm phù, rượu mía, rượu xá lâu già, rượu nhuy trấp, rượu nho v.v...[X. Luật Thập Tụng Q.17; Luận Pháp Uẩn Túc Q.11].
mê lê ma la
(迷黎麻羅) Cũng gọi Mê lí ma la, Mị lê ma la, Di lê ma la, Mê lưu một loạn. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Sự mê loạn của con mắt. Tắc 51, trong Bích Nham Lục (Đại 48, 186 thượng) chép: Nếu thình lình con mắt bị mê loạn (mê lê ma la), thì bất cứ đến nơi nào hễ gặp hỏi liền hỏi, gặp đáp liền đáp, đâu biết rằng lỗ mũi ở trong tay người khác.
mê lí
Deluded in regard to the fundamental principle, i.e. ignorant of reality.
; (迷理) Đối lại: Mê sự. Cũng gọi Mê lí hoặc. Mê mờ đối với chân lí Tứ đế, tức chỉ cho Kiến hoặc. (xt. Kiến Hoặc, Tu Hoặc).
mê lô
(迷盧) Phạm: Sumeru. Gọi đủ: Tô mê lư. Tức là núi Tu di. Núi Tu di cao 8 vạn do tuần, cho nên cũng gọi là Mê lư bát vạn. (xt. Tu Di Sơn).
mê lý
Bị mê muội trong nguyên lý hay mê muội về lý “không”—Deluded theory—Deluded in regard to fundamental principle, i.e. ignorant of reality.
mê lư
Meru, sumeru (S). Meru mount. Also núi Tu di.
mê lầm
Xem Điên đảo.
mê ma giác phật
Delusion is demon, enlightenment is Buddha.
mê man
1) To be in a coma. 2) Indefinite—Vague.
mê muội
Stupid.
mê mải
To be absorbed in.
mê một
Deluded and sunk (in the passions).
; Mê muội và chìm đắm trong dục vọng—Delusion and sunk in the passions.
; (迷沒) Mê mờ chìm đắm, tức là vì mê vọng chấp trước mà chìm đắm trong chỗ sai lầm. Kinh Vô Lượng Thọ quyển hạ (Đại 12, 275 thượng) nói: Không thấu suốt đạo đức, nên đắm chìm (mê một) trong sân hận. (xt. Mê Tình).
mê ngạn
Bờ mê tối—The shore of delusion.
mê ngạn, bờ mê
The shore of delusion.
mê ngộ
Illusion and enlightenment.
; Illusion and enlightenment.
; (迷悟) Mê và ngộ. Phiền não hoặc nghiệp trói buộc, gọi là Mê; thoát khỏi hoặc nghiệp, rõ suốt chân lí, gọi là Ngộ. Mục đích của Phật giáo là chỉ dẫn chúng sinh chuyển mê thành ngộ, từ phàm phu đến quả Phật. Mê thì luân hồi tái sinh, ngộ thì giải thoát niết bàn. Thực ra, mê và ngộ chỉ là 2 mặt của 1 đồng tiền, chẳng phải 1 cũng không phải khác. Như khi vội vàng, thấy sợi dây tưởng lầm là con rắn, đó là mê; sau nhận ra chẳng phải con rắn mà là sợi dây, đó là ngộ. Sợi dây trước sau không khác, chỉ vì sự mê ngộ của người thấy mà thành ra dây và rắn khác nhau, đó chính là cái lí mê ngộ bất nhị mà Thiền tông thường nói đến. [X. Cổ Tôn Túc Ngữ Lục Q.30; Vĩnh Bình Quảng Lục].
mê ngộ bất nhị
Illusion and enlightenment fundamentally are the same.
; Mê và ngộ trên căn bản không sai khác. Chúng chỉ là một tánh—Delusions and enlightenment (delusion and awareness) are fundamentally the same. They are of the one Buddha-nature—See Bất Nhị.
mê ngộ nhân quả
In the "Four Noble Truths" that of "accumulation" is caused by illusion, with suffering as effect; that of "the way" is caused by enlightenment, with extinction of suffering as effect.
; Nhân và quả của mê và ngộ. Nói theo Tứ Diệu Đế thì nhân của mê vọng là tập đế, quả của nó là khổ đế. Nhân của chứng ngộ là đạo đế, quả của nó là diệt đế—The the four axioms, that of “accumulation” is caused by illusion, with suffering as effect; that of “the way” is caused by enlightenment, with extinction of suffering.
; (迷悟因果) Nhân quả của mê và ngộ. Mê ngộ đều có nhân quả; nếu nói theo pháp Tứ đế, thì nhân của mê vọng là Tập đế, quả của mê vọng là Khổ đế; nhân của chứng ngộ là Đạo đế, quả của chứng ngộ là Diệt đế.
mê ngộ nhất như
Illusion and enlightenment are the two aspects of the one reality, as water and ice are the same substance.
; Mê ngộ chỉ là những khía cạnh của chân lý, chứ không phải khác nhau, như nước với băng đều cùng một thể (ở thể lỏng là nước, ở thể đặc là băng)—Delusion and enlightenment are aspects of the one reality, as water and ice are the same substance.
; (迷悟一如) Cũng gọi Mê ngộ nhất đồ, Mê ngộ bất nhị. Mê không có tự tính, không có tự tính nên là không; bởi vậy, mê là không, mà ngộ cũng là không. Thể của không là đồng nhất, nên gọi là Nhất như, đó là theo nghĩa của Không tông. Lại nữa, mê như băng giá, ngộ như nước, mê ngộ đồng thể, gọi là Nhất như, đó là theo nghĩa của Tính tông.
mê nhân chú
Incantations to delude or confuse others.
; Bùa chú làm mê hoặc người khác—Incantations to delude or confuse others.
; (迷人咒) Một loại chú thuật của ngoại đạo, làm cho người ta mê loạn. [X. Luật Ngũ Phần Q.26].
mê nhũ
(迷乳) Không nhận ra (mê) màu sắc của sữa (nhũ), ví dụ ngoại đạo vì mê chấp nên không hiểu được lí của 4 đức thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh Niết Bàn quyển 14 (bản Bắc) nêu ví dụ người mù không biết màu trắng của sữa, tuy có nêu ra 4 vật có màu trắng là vỏ sò, bột gạo, tuyết, con hạc để ví dụ, nhưng rốt cuộc người mù vẫn chẳng thể biết được màu sắc đích thực của sữa. Ngoại đạo cũng vậy, cuối cùng vẫn không thể nào hiểu được lí thường, lạc, ngã, tịnh là thế nào. [X. Ma Ha Chỉ Quán Q.5].
mê sinh
All deluded beings.
; Tất cả những chúng sanh mê muội—All deluded beings.
; (迷生) Chỉ cho chúng sinh mê chấp, vì mê chấp không tỉnh giác, nên cứ phải lưu chuyển mãi trong 3 cõi, không lúc nào dừng.
mê sảng
Delirium.
mê sự
Delusive phenomena, or affairs, deluded in regard to phenomena.
; Delusive phenomena or affairs—Deluded in regard to phenomena.
; (迷事) Đối lại: Mê lí. Cũng gọi Mê sự hoặc. Mê chấp sự tướng của 5 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc), tức chỉ cho Tu hoặc. [X. Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao Q.1 thượng]. (xt. Kiến Hoặc, Tu Hoặc).
mê tâm
A deluded mind.
; A deluded mind.
; (迷心) Tâm mê lầm sự lí, là 1 trong 60 vọng tâm nói trong phẩm Trụ tâm của kinh Đại Nhật. Kinh Đại Nhật quyển 1 (Đại 18, 3 thượng) nói: Thế nào là mê tâm? Nghĩa là chỗ chấp trước sai khác, chỗ suy nghĩ sai khác. Đại thừa nhập đạo thứ đệ (Đại 45, 460 thượng) nói: Mê tâm chẳng ngộ thì dù một hạnh cũng chẳng có chỗ nương. Pháp đối trị là tâm chuyên nhất thẩm xét kĩ lưỡng. [X. kinh Đại Phật Đính Thủ Lăng Nghiêm Q.10].
mê tân
Cảnh giới mê muội (ba cõi sáu đường)—Deluded realms—The ford of delusion, i.e. mortality—See Lục Đạo, and Tam Giới in Vietnamese-English Section.
; (迷津) Bờ bến mê vọng. Chỉ cho cảnh giới 3 cõi, 6 đường của chúng sinh. Bài tựa Đại Đường Tây Vực Kí (Đại 51, 867 hạ) nói: Phá hoài nghi trên biển tính, mở diệu giác ở bến mê. Bài tựa của vua Thần Tông nhà Minh trong Tục nhập tạng kinh cũng nói: Tạm mượn bè nơi bến mê để vượt sang bờ giác.
mê tân, bến mê
The ford of delusion, i.e. mortality.
mê tình
Vì chấp thật mà mê hoặc chánh lý, gọi là mê tình.
; (迷情) I. Mê Tình. Đồng nghĩa: Mê tâm. Chỉ cho tâm mê hoặc của phàm phu, vì phàm phu không biết rõ thực tướng của vạn hữu, bám dính vào các sự vật khách quan, vọng niệm nối tiếp không dứt, cho nên tâm của phàm phu gọi là Mê tình. II. Mê Tình. Chỉ cho chúng sinh (hữu tình) mê hoặc. Chương Bồ Đề Đạt Ma Trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 3 (Đại 51, 219 hạ), chép: Ta vốn đến đất này, Truyền pháp cứu mê tình; Một hoa nở năm cánh, Kết quả tự nhiên thành.
mê tín
Superstition, superstitious.
; (迷信) Niềm tin lầm lạc của người đời. Phật giáo là tông giáo chính tín, lấy việc chuyển mê khai ngộ làm mục đích, hiểu biết tất cả pháp một cách như thực, xa lìa sự hư dối, đạt đến chính đẳng giác là lí tưởng. Do đó, Phật giáo chủ trương bài trừ những điều không hsssợp lí và hoàn toàn không chấp nhận những điều mê tín, dị đoạn. Ngay như sự kì đảo của Mật giáo cũng là dùng tam mật của hành giả và tam mật của bản tôn gia trì lẫn nhau mà thành tựu căn nguyên Tất địa, khác hẳn với các hình thức mê tín. Mặc dầu như thế, nhưng với sự thay đổi của thời gian, các tập tục tín ngưỡng dân gian như chiêm tinh, tướng số, bói toán, bùa chú v.v... đã dần dần trà trộn vào, từ đó đã sinh ra mê tín có hại cho xã hội. Như căn cứ vào kinh Tú diệu mà xem ngày giờ lành dữ, căn cứ vào kinh Chiêm sát mà hành pháp Tháp sám (rất thịnh hành ở đời Tùy), căn cứ vào kinh Du kì quyển hạ mà thực hành pháp A vĩ xa, dùng bùa phép chữa bệnh chứ không dùng thuốc v.v... Tất cả những việc làm trên đều thuộc loại mê tín.
mê tín dị đoan
Đây là lối mê tín như thờ đầu cọp, đầu trâu, hay thờ thần rắn rít, bình vôi ông táo, xin xâm, bói quẻ, vân vân. Đạo Phật là đạo của trí tuệ, thế nên, đạo Phật không bao giờ chấp nhận mê tín dị đoan; tuy nhiên, những tín ngưỡng và nghi lễ mê tín đã được đưa vào nhằm tô son điểm phấn cho tôn giáo để lôi kéo quần chúng, nhưng một lúc sau thì những dây leo được trồng để trang hoàng lăng tẫm đã leo phủ cả lăng tẫm, và kết quả là giáo lý tôn giáo bị gạt ra nhường chỗ cho những nghi thức mê tín—Superstition—This is a belief or rite unreasoningly upheld by faith such as venerating the head of tiger, and buffalo, the snake and centipede deities, the Lares, consulting fortunteller, reading the horoscope, etc. Buddhism means wisdom, therefore, Buddhism never accept superstitions; however, superstitious beliefs and rituals are adopted to decorate a religion in order to attract the multitude. But after some time, the creeper which is planted to decorate the shrine outgrows and outshines the shrine, with the result that religious tenets are relegated to be the background and superstitious beliefs and rituals become predominent .
mê tín tà đạo
To have improper belief.
mê tử
The deluded son who held a gold coin in his hand while starving in poverty; such is the man with Buddha-nature who fails to use it.
; Mê tử là kẻ có tiền trong tay mà vẫn chết đói, giống như chúng sanh có Phật tánh mà không biết dùng đến (theo Kim Cang Tam Muội Kinh)—The deluded son who held a gold coin in his hand while starving in poverty, such is the man with Buddha-nature, but fails to use it.
; (迷子) Người không biết rõ sự lí. Trong kinh Kim Cương Tam Muội có 1 thí dụ về Mê tử như sau: Gã mê cầm tiền vàng trong tay mà không biết tiêu dùng, cứ sống vất vưởng, khốn khổ quanh năm. Ví dụ người phàm phu vốn có tính Phật mà không tự biết, nên cứ mãi trôi lăn trong 3 cõi, khổ não vô cùng.
mê vọng
Deluded and misled; deluding and false.
; Tối tăm trong việc phân biệt sự và lý thì gọi là mê, hư dối chẳng thực thì gọi là vọng—Deluded and misled; deluding and false.
; (迷妄) Không rõ sự lí là mê, hư dối không thực là vọng. Vì chúng sinh mê vọng nên phải chịu vô lượng thống khổ. [X. kinh Hoa Nghiêm Q.4 (bản dịch đời Đường); Nhân Vương Kinh Hợp Sớ Q.trung].
mê xí la đại tướng
(迷企羅大將) Mê xí la, Phạm: Mihira. Cũng gọi Di khư la đại tướng, Mê khư la đại tướng. Vị thần tướng phát nguyện bảo vệ Phật pháp, là 1 trong 12 thần tướng của đức Phật Dược Sư. Về hình tượng của vị thần này, có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Tịnh lưu li tịnh độ tiêu, thì Hộ pháp Đại tướng Mê Xí La A Yết Noa Phương, thứ 3, toàn thân rực lửa, trên có khói xanh, cỡi rồng bay đi, trong tay cầm cây mâu, trên mâu có cờ ánh lửa. Còn theo kinh Dược Sư Lưu Li Quang Vương Thất Phật Bản Nguyện Công Đức Niệm Tụng Nghi Quĩ quyển hạ, thì Đại tướng Dược Xoa Mê Xí La mình màu vàng, tay cầm gậy báu, thống lãnh 7 ức chúng Dược Xoa, thệ nguyện giữ gìn giáo pháp của đức Như Lai. [X. kinh Quán Đính Q.12].
mê đảo
Deluded, confused, to delude and upset.
; Làm mê mờ và điên đảo—Deluded—Confused—To delude and upset.
; (迷倒) Bị mê hoặc mà hiểu sự lí một cách đảo lộn.Kinh Hoa Nghiêm (bản 80 quyển) quyển 49 (Đại 10, 261 trung) nói: Bồ tát xa lìa mê đảo, tâm thanh tịnh thường tương tục. [X. Hữu Bộ Tì Nại Da Q.47].
mê đầu nhận ảnh
(迷頭認影) Không hiểu được lí chân thật mà tìm cầu ảo tưởng. Đây là ví dụ trong kinh Lăng Nghiêm quyển 4. Trong thành Thất la phiệt có 1 kẻ ngu si tên là Diễn Nhã Đạt Đa, một buổi sáng nọ, nhìn vào gương thấy đầu mình có đầy đủ mặt mũi tai mắt, nhưng khi lìa khỏi gương thì không thấy đầu mình đâu nữa, anh ta liền hoảng sợ, điên cuồng chạy đi tìm đầu! Trong đoạn văn trên, đầu ví chân tính, hình ảnh trong gương ví dụ tướng hư ảo không thật.
mê đồ
The way of sins; the misleading path. Lạc vào mê đồ, to be in maze.
; (迷途) Cảnh giới mê tối, tức chỉ cho 3 cõi, 6 đường mà chúng sinh đang sống chết vòng quanh trong đó. Ba cõi chỉ cho cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô Sắc; 6 đường tức là địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, A tu la, người và trời... [X. Luận Bồ Đề Tâm]. (xt. Tam Giới, Lục Đạo).
Mê-kha-la
S: mekhalā;|Một Du-già-ni Tất-đạt (s: yoginī siddhā) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 9.|Một gia đình nọ tại Ðê-vi Kốt-ta (devīkoṭṭa) có hai cô con gái, Mê-kha-la và Ka-na Kha-la (kanakhalā). Hai cô này sớm được gả cho hai công tử, nhưng hai ông chồng sớm chê trách hai nàng, mặc dù hai nàng không có lỗi lầm gì. Lần đó thì Ðạo sư Kan-ha-pa (s: kāṇhapa) du hoá, có bảy trăm Không hành nam (s: ḍāka), nữ thần theo hộ tống, thiên nhạc trỗi lên vang lừng, ai cũng thấy cũng nghe được. Hai nàng liền quyết đi theo để xin học hỏi. Vị Ðạo sư chấp nhận và hướng dẫn vào Kim cương Va-ra-hi (vajra-vārāhī) và dạy cho nàng cách quán tưởng.|Mười hai năm liên tục, hai nàng tu tập thiền định và sau đó tìm gặp lại thầy. Vị Ðạo sư hỏi các nàng là ai và đòi phẩm vật cúng dường. Khi nghe thầy đòi cúng dường »bản thân« thì hai nàng biến lưỡi thành kiếm, tự cắt đầu dâng thầy và đọc bài kệ:|Nhờ Ðạo sư khai thị,|đã thực hiện thiền quán,|đã phá huỷ phân biệt,|giữa Niết-bàn, Sinh tử.|Tri Hành đã hợp nhất,|đã phá huỷ phân biệt,|giữa việc Cho, việc Nhận.|Không vô biên đã cùng,|Tâm tỉnh giác thanh tịnh,|đã phá huỷ phân biệt,|giữa cái Ta và Người.|Xin cúng dường vật này,|dấu hiệu của Vô tâm.|Vị Ðạo sư không ngờ đệ tử mình đã ngộ đạo, nhưng khuyên:|Hãy nhìn Du-già-ni|đạt niềm vui giải thoát!|Hãy tạm quên hạnh phúc,|sống phục vụ tha nhân.|Căng-ha-ba đặt đầu lại trên vai họ, thân hai nàng đều nguyên vẹn như cũ. Những người chứng kiến đều rất khâm phục, gọi hai nàng là »Du-già-ni mất đầu«. Khi cả hai cúi đầu chạm chân vị Du-già sư thì họ đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Bài ca thành đạo của Mê-kha-la (người chị) như sau:|Mọi hiện tượng trong ngoài,|đó chính là Tâm hiện.|Thiền định không vướng mắc,|tất cả đều một vị.|Trong thiền định tối thượng,|không chút tâm sở cầu,|ta đã chứng Bất nhị,|và Phật quả hoàn toàn.
Mê-kô-pa
S: mekopa; »Ðạo sư với cặp mắt nhìn trừng«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 11.|Ông là một người bán thức ăn rong tại Bengalen, có thói quen tốt là luôn luôn cúng dường thức ăn cho một Du-già sư nọ. Một hôm, vị Du-già sư hỏi tại sao ông cứ cúng dường thức ăn, ông cho hay là muốn thu thập Phúc đức cho đời sau. Nghe vậy, vị này dạy ông về tính nhất thể của Luân hồi và Niết-bàn. Tuỳ nơi tư duy con người mà Niết-bàn hay Sinh tử hiện ra là một hay khác và giải thoát cũng nằm nơi con người. Sau lời khai thị đó, Mê-kô-pa chỉ cần 6 tháng để đạt tri kiến về tự tính muôn vật, đạt Tất-địa. Sau đó ông đi lang thang trên bãi thiêu xác, hay vào thành mở mắt thật lớn nhìn người qua kẻ lại, như một người điên. Người đời gọi là ông là »Du-già sư trợn mắt.« Bài kệ thành đạo của ông như sau:|Ðạo sư há dạy rằng:|»Hãy liễu ngộ tự tính,|Từ bỏ óc phân biệt,|làm quen pháp Bất nhị,|sống trên bãi thiêu xác.|Ðã ngộ tính Bình đẳng,|thõng tay vào thế gian,|như một tên điên khùng«.
Mê-đi-ni
S: medhini; »Nông gia kiệt sức«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời nào.|Ông là một nông dân ở Hoa Thị thành (s: pāṭalipu-tra). Ngày nọ, một vị Du-già sư dạy ông phép thiền quán, nhưng cố gắng tới mấy đầu óc ông vẫn vương vấn chuyện cày cấy. Ông thú nhận điều đó với vị này, vị này dạy ông quán tưởng như sau:|Lưỡi cày ví tâm thức,|Trâu bị ví cảm thụ,|vui sướng và khổ đau,|hãy cày bừa đồng ruộng,|của cuộc đời thế gian.|Hãy gieo hạt nhận thức,|rồi gặt hái quả chín,|của niềm vui thanh tịnh,|phúc hạnh ngập đầy tràn,|suối nguồn của thật tại.|Sau mười hai năm quán tưởng, những khái niệm ràng buộc ông bấy lâu nay tự tan biến, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Chứng đạo ca của ông như sau:|Nhờ nhận thức toàn diện,|về tri kiến tiên thiên,|nhờ phương tiện khéo léo,|của trí óc phân biệt;|mà Tự tính nổi lên,|từ chiều sâu thăm thẳm.|Lành thay, đã chứng đạt.
mênh mông
Vast—Immense.
mình
1) Body. 2) Oneself.
mình làm tổn người là hại, người làm tổn mình là phước
Harming others brings misfortunes; being harmed is to receive merits.
mích lòng
See Mếch Lòng.
mím
To tighten.
mít đặc
Completely ignorant.
mò
To grop—To feel about with the hand as one does in the dark.
mò mẫm
See Mò.
mò ra
To grop out.
mòn
To wear.
mòn chí
Discouraged—Broken-spirited—Despondent.
mòn hơi
Out of breath.
mòn mắt
To be tired of waiting.
mòn sức
To wear oneself out.
món
Article—Thing—Item.
móng
1) Talon—Claw (móng vuốt). 2) Foundation—Base (nền móng). 3) Nail (móng tay chân).
móng tâm
Uppada-khana (P)Khởi tâm.
mót
To glean—To gather what has been left over.
mô
1) Lần mò (như người mù mò đường): To feel, or to grope, e.g. as a blind man. 2) Mô đất: Mound. 3) Mưu mô: Plans—Schems—Counterfeit—Forge.
mô bái
(膜拜) Chắp tay quì lạy biểu thị sự tôn kính. Tức là giơ 2 tay lên rồi quì lạy sát đất. Đây là nghi thức chủ yếu trong sự lễ kính của tông giáo. Một số ít dân tộc ở vùng Tây bắc Trung quốc đời xưa phần nhiều thực hành nghi thức lễ lạy này đối với bậc tôn trưởng của họ. Ngày nay, Mô bái chỉ chung cho sự sùng kính, lễ bái các thần linh.
mô hạ
See Moha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
mô phạm
Model—Pattern—Example.
mô phỏng
To copy—To imitate.
mô tượng
Kinh Niết Bàn nói đến người mù diễn tả voi bằng cách rờ voi (hễ rờ ngà thì nói voi cứng như đá và nhọn như mũi tên)—The Nirvana Sutra mentioned about the blind man who tried to describe an elephant by feeling it.
; (摸象) Cũng gọi Môn tượng, Chúng manh, Quần manh, Bình tượng. Xẩm sờ voi. Tức là mỗi một người mù chỉ sờ biết 1 bộ phận của con voi, rồi ai cũng cho mình biết rõ con voi; ví dụ hàng ngoại đạo, dị học, chẳng biết nghĩa chân thực của các pháp, mà cứ cùng nhau tranh chấp thị phi; cũng dụ cho những người học Phật chỉ một mặt chấp nê vào câu văn trong kinh luận mà không biết nghĩa đích thực của Phật pháp. Phẩm Long điểu trong kinh Trường a hàm quyển 19 kể rằng, xưa kia vua Kính diện sai người hầu cận dắt 1 con voi đến, bảo những người mù sờ vào. Người sờ vòi voi, cho rằng voi giống càng xe; người sờ ngà voi, bảo voi giống cái chày; người sờ tai voi, nói voi giống cái vỉ; người sờ đầu voi, cho rằng voi như cái đỉnh; người sờ lưng voi, bảo rằng voi giống như gò đống; người sờ vào bụng voi, nói voi giống như bức vách; người sờ vào chân, cho rằng voi giống như cây cột v.v... rồi cùng tranh cãi với nhau, ai cũng cho mình là nhận biết đúng! Nhà vua thấy vậy, cười lớn và đọc kệ rằng (Đại 1, 129 thượng): Bọn người mù tụ tập, Cùng tranh cãi nơi đây; Thân voi vốn một thể, Chấp tướng sinh phải quấy. Kinh Đại bát niết bàn quyển 32 (Đại 12, 556 thượng) nói: Thiện nam tử! Những người mù kia không nói đúng hình thể của voi, cũng chẳng phải không nói đúng. Vì nếu chấp những tướng ấy thì chẳng tướng nào là voi, nhưng ngoài toàn thể tướng ấy ra thì cũng không có voi nào khác! Thiện nam tử! Vua dụ cho Như lai chính biến tri, Thần dụ cho kinh Phương đẳng đại niết bàn, voi dụ Phật tính, những người mù dụ tất cả chúng sinh vô minh. Thí dụ này từ xưa đã rất nổi tiếng, thường được sử dụng làm tên tác phẩm, như Lăng nghiêm kinh mô tượng kí của ngài Châu hoành đời Minh, Đương ma mạn đồ la môn tượng của ngài Trí viên người Nhật. Nhưng đó đều là lời khiêm nhường của tác giả, đồng nghĩa với Quản kiến (thấy trong ống). [X. kinh Đại lâu thán Q.3; kinh Nghĩa túc Q.thượng; kinh Lục độ tập Q.8; kinh Bồ tát xử thai Q.3; Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.62].
mô tả
Describe.
môi giới
To go between—Intermediary.
Môi giới 媒介
[ja] バイカイ baikai ||| Intermediary, agency, medium. => Người làm trung gian, sự môi giới, sự trung gian.
môn
Dvāra (S), Door of action.
; A door; gate; a sect, school, teaching.
; 1) Cửa: Cửa ra vào của mọi nhà—Gate—Door—Entrance. 2) Tông Phái: Sect—School. 3) Giáo Thuyết: Đặc biệt là giáo thuyết dẫn đến cứu độ hay Niết Bàn—Teaching, especially one leading to salvation or nirvana. 4) Subject (study). 5) Event (sport).
; (門) I. Môn. Phạm: Dvàra. Cổng chùa (thường gọi cửa Tam quan). Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 8, thì Bồ tát tại gia khi đến ngoài cổng chùa, phải lễ sát đất và tâm niệm: Đây là nơi ở của các bậc thiện nhân rồi mới được tiến vào trong chùa. Các già lam, tinh xá cổ xưa đều có kết giới, 4 phía xây tường bao quanh, phải qua cổng chính mới vào giới nội, như Đại tháp Sơn kì ở Ấn độ, 4 mặt đều có cổng. Còn kiến trúc chùa viện kiểu Trung quốc thì thường mở cổng ở hướng chính Nam. [X. kinh Tu hành bản khởi Q. hạ; phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa]. II. Môn. Thuật ngữ dùng để phân biệt pháp tướng và nghĩa lí, như: Bình đẳng môn và Sai biệt môn, Hữu môn, Không môn, Diệc hữu diệc không môn và Phi hữu phi không môn (4 môn), Thánh đạo môn và Tịnh độ môn (2 môn) v.v... Vì sự giáo hóa của Phật giáo là thích ứng với đối tượng, tuy có nhiều sai biệt nhưng đều là cửa đưa người vào đạo Bồ đề, cho nên gọi là Pháp môn. III. Môn. Nương vào 1 pháp môn mà lập tông chỉ của 1 tông phái, gọi là Tông môn; đồ đệ của tông môn gọi là Môn đồ, Môn đệ, hoặc dùng cànhlá làmví dụ thì gọi là Môn diệp, Môn mạt.
môn bài
License.
môn chủ
Vị kiểm soát cửa hay coi tổng quát một tông phái—The controller of a gate, or sect.
môn hoả
(門火) Ở Trung quốc từ xưa đến nay, vào những dịp đội mũ (con trai đến tuổi trưởng thành), cưới hỏi, ma chay, cúng tế v.v... đều đốt lửa ở sân hoặc trước cửa gọi là Đình liệu hay Môn liệu. Phật giáo Nhật bản cũng phỏng theo phong tục này, nên trong hội Vu lan bồn hay lễ tống táng thường đốt đống trấu hoặc cây gai ở trước cửa gọi là Môn hỏa. Dân gian thì đốt lửa vào buổi chiều hôm trước ngày lễ Vu lan ở trước cửa để đón rước linh hồn tổ tiên về, gọi là Nghinh hỏa. Rồi lúc kết thúc hội Vu lan, cũng đốt lửa để tiễn đưa vong linh, gọi là Tống hỏa. Như đêm 16 tháng 8 tại Kinh đô (Kyoto) Nhật bản, có đốt ngọn lửa hình chữ.. (đại), là lửa tiễn đưa đại qui mô. [X. Chu lễ; Thi tiểu nhã đình liệu; Nhan thị gia huấn; Hòa Hán tam tài đồ hội].
môn học
Sikkha (S).
môn kinh
Bài Kinh về tang lễ và đọc ngay tại cửa trước nhà—The funeral service and read at the house-door.
; (門經) Tụng kinh trước cửa nhà. Có 2 nghĩa: 1. Đứng trước cửa nhà tụng kinh khi quan tài được khiêng ra cửa để đưa đi chôn. 2. Vị tăng vân thủy (hành cước)đứng trước cửa nhà của thí chủ tụng kinh khi tiếp nhận vật cúng dường.
môn luật
(門律) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Trương dung (444-497) soạn vào khoảng năm Vĩnh minh (483-493) đời NamTề, được thu vào Hoằng minh tập quyển 6 trong Đại tạng tập 52. Nội dung tác phẩm này mang tính chất 1 bài gia huấn. Tác giả là người thuộc 1 dòng họ danh tiếng ở quận Ngô, vì thương cảm sự đối lập giữa Phật giáo và Đạo giáo nên ông soạn sách này nêu lên chủ trương của ông là Phật Đạo gồm tu, Phật Đạo hợp nhất để khuyên bảo người trong thân tộc.
môn lưu
See Môn Phái, and Môn Tích.
môn lữ
Disciple, fellow student.
; Bạn cùng học hay cùng tu—Disciple—Fellow-student.
Môn mi
(門楣): cái xà ngang gác trên cửa, cho nên cửa to hay nhỏ nói lên sự vinh hiển, giàu sang, cao quý, bề thế của nhà đó; từ đó, môn mi là từ dùng để đề cao địa vị xã hội của gia đình. Trong Phong Tục Nghị (風俗議) của Tống Ứng Tinh (應星, 1587-1666) nhà Minh có câu: “Vi sĩ giả, nhật tư cư quan thanh yếu, nhi quyến mẫu thứ nhân, nhật đốc kỳ trĩ ngoan tử đệ Nho quan Nho phục, mộng tưởng khoa đệ, cải hoán môn mi (爲士者、日思居官清要、而畎畝庶人、日督其稚頑子弟儒冠儒服、夢想科第、改換門楣, là kẻ sĩ, ngày thường nghĩ đến việc làm quan trong sạch, lo cấp ruộng đất cho muôn dân, hằng ngày đốc thúc lớp con em khờ dại để biết mũ quan áo quan, mơ tưởng thi đỗ để cải đổi môn phong).” Câu “tụy đường nhất tự dận môn mi (萃堂一嗣胤門楣)” có nghĩa là sum họp cả nhà con cháu đời sau kế thừa gia phong bề thế của tiên tổ.
môn môn kiến phật
(門門見佛) Tu tập bất cứ 1 pháp môn nào đều có thể thấy Phật. Trong Bát chu tán (Đại 47, 448 thượng) có nói: Sở dĩ đặt ra nhiều phương tiện, nhiều giáo môn, là vì chúng ta là hạng phàm phu đảo điên tà kiến; nếu y theo chính pháp tu hành, thì tu bất cứ 1 pháp môn nào cũng đều có thể thấy Phật, được vãng sinh Tịnh độ.
môn phái
Dvāranikāya (P), Vāda (S)Luận nghĩa, Bộ pháiMột trong Thập lục đế của phái Chánh lý ở Ấn.
; Sect—School
; (門派) I. Môn phái. Hệ thống dòng phái của 1 tông hay 1 phái nào đó, phần nhiều chỉ cho các chi phái của Thiền tông. II. Môn Phái. Pàli: Dvàranikàya. Hán âm: Đạt bà la ni kha da. Cũng gọi Đạt bà la phái. Một chi phái trong Phật giáo Thượng tọa bộ ở Miến điện, do Pháp sư Áo ba (vốn tên là Ngô áo can tát, 1817-1905) sáng lập vào năm 1855 ở vùng Hưng thực tháp. Phái này chủ trương dùng giáo nghĩa 3 môn (thân môn, ngữ môn, ý môn) để thay cho giáo nghĩa 3 hành (thân hành, ngữ hành, ý hành) và nương vào đó mà qui y Tam bảo Phật, Pháp, Tăng. Phái này cũng chủ trương chỉ thừa nhận uy quyền của giới luật chứ không thừa nhận quyền uy của thế tục. Vị thủ lãnh tối cao gọi là Ma ha na da ca(Đại đạo sư), kế đó chia ra A nỗ na da ca(Phó đạo sư), Trụ trì chùa Trung tâm, Già na (Hội nghị tỉ khưu) v.v... Giới luật rất nghiêm, như cấm ngặt không được tiếp xúc hoặc ăn cơm chung với tỉ khưu thuộc phái khác, không được che ô (dù), cấm chỉ cầm giữ tiền bạc và xem nghe múa hát, v.v... Sau khi sư Áo ba qua đời, phái này chia thành 2 phái là phái Hưng thực tháp và phái Anh gia bố. Đến năm 1944 mới lại thống nhất. Phái này có hệ thống truyền thừa giữa thầy và trò rất chặt chẽ. Những vị tiêu biểu chủ yếu gồm có: Áo can tát, Mã lạp, Khoa lạp tháp ôn tháp v.v...
môn phái, môn lưu, môn diệp
Vàda (S). The followers, or development of any sect.
môn sinh
See Môn đệ.
môn sư
Preceptor, the monk who is recognized as teacher by any family.
; Vị sư được công nhận như vị Thầy của gia đình—Preceptor—The monk who is recognized as teacher by any family.
; (門師) Chỉ cho vị thầy chứng minh lúc thiện nam, tín nữ tại gia qui y Tam bảo (Môn tức là pháp môn Tam bảo chân chính, thanh tịnh cứu giúp thế gian). Pháp uyển châu lâm quyển 84 (Đại 53, 905 hạ) nói: Lúc đó có vị sa môn ở Lương châu là Thích Tuệ sùng làm môn sư cho quan Thượng thư đời Ngụy là ông Hàn vạn đức.
môn thần
The gate gods or guardians.
; Vị Thần giữ cửa—The gate-gods or guardians.
môn thủ
See Môn Chủ.
; (門首) I. Môn Thủ. Cũng gọi Môn chủ. Chỉ cho vị thượng thủ của 1 môn phái, cũng tức là vị trụ trì 1 ngôi chùa. II. Môn Thủ. Phía trước cổng chùa. Tắc 4, Bích nham lục (Đại 48, 144 thượng) ghi: Đức sơn bèn ra cổng chùa, ý muốn nhổ sạch gốc, nên tự nói: Không được qua loa.
môn trạng
Tham Bảng—Tham Trạng—Danh Thiếp—A name paper, card, or visiting card.
Môn Tích
(門跡, monzeki): nguyên lai đây là từ dùng để chỉ những di tích được đặc biệt quy định như Môn Tích của Hoằng Pháp Đại Sư (弘法大師, Kōbō Daishi, tức Không Hải [空海, Kūkai]), Môn Tích của Từ Giác Đại Sư (慈覺大師, Jikaku Daishi, tức Viên Nhân [圓仁, Ennin]), hay Môn Tích của Trí Chứng Đại Sư (智証大師, Chishō Daishi, tức Viên Trân [圓珍, Enchin]), v.v. Nhưng sau này tầng lớp Hoàng tộc xuất gia, chùa họ ở cũng được gọi là Môn Tích, đặc biệt còn dùng từ kính xưng như Ngự Môn Tích (御門跡). Vào năm 899, đầu tiên Vũ Đa Thiên Hoàng (宇多天皇, Uda Tennō) xuất gia và sống ở Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), và từ xưng hô Môn Tích có thể tìm thấy qua bộ Nguyên Bình Thạnh Suy Ký (源平盛衰記) hay Bình Gia Vật Ngữ (平家物語), được phát xuất từ đầu thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333). Còn Tự Viện Môn Tích là nơi Hoàng tộc cũng như con quan Nhiếp Chính đến xuất gia và cư trú, nơi có tư cách chùa tối cao và được mọi người tôn sùng tối đa. Đến thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi, 1292-1573), Môn Tích trở thành ngôn từ thể hiện cách thức của tự viện; đến thời Mạc Phủ thì có đặt ra chức quan Môn Tích Phụng Hành (門跡奉行, Monzekibugyō) để quản lý việc chính trị liên quan đến các Tự Viện Môn Tích. Những Tự Viện Môn Tích dưới thời đại Thất Đinh gồm Nhân Hòa Tự (仁和寺), Đại Giác Tự (大覺寺), Tùy Tâm Tự (隨心寺), Khuyến Tu Tự (勸修寺), Tam Bảo Viện (三寶院), Liên Hoa Quang Viện (蓮華光院), An Tường Tự (安祥寺), Thiền Lâm Tự (禪林寺), Thắng Bảo Viện (勝寶院), Kim Cang Vương Viện (金剛王院), Bồ Đề Viện (菩提院), v.v., của Chơn Ngôn Tông; Viên Dung Viện (圓融院), Thanh Liên Viện (青蓮院), Diệu Pháp Viện (妙法院) của Thiên Thai Tông; về phía Phái Tự Môn thì có Thánh Hộ Viện (聖護院), Thật Tướng Viện (實相院), Viên Mãn Viện (圓滿院); Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) có Nhất Thừa Viện (一乘院) và Đại Thừa Viện (大乘院); Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) có Đông Nam Viện (東南院), v.v. Ngoài ra, còn có Chiếu Cao Viện (照高院), Bình Đẳng Viện (平等院), Pháp Trú Tự (法住寺), Bản Giác Tự (本覺寺), v.v., cũng được xếp vào hạng Môn Tích. Trường hợp Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji) cũng đã bao lần xin được xếp vào hạng chùa Chuẩn Môn Tích, và mãi đến năm 1559 mới được công nhận; sau đó, Chuyên Tu Tự (專修寺) ở vùng Cao Điền (高田) cũng được liệt vào hạng Chuẩn Môn Tích. Đến thời đại Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867), vào năm 1607, Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in) được xếp vào hàng Tự Viện Môn Tích. Đến năm 1655, Luân Vương Tự (輪王院), Tư Hạ Viện (滋賀院) được liệt vào hạng Chùa Môn Tích. Dưới thời đại Giang Hộ, các Tự Viện Môn Tích được chế độ hóa rõ ràng, phân chia thành nhiều loại khác nhau như Cung Môn Tích (宮門跡), Thanh Hoa Môn Tích (清華門跡), Nhiếp Gia Môn Tích (攝家門跡), Chuẩn Môn Tích (准門跡, tức Hiếp Môn Tích [脇門跡, wakimonzeki]), v.v. Cung Môn Tích là những ngôi tự viện do các vị Thân Vương sống ở đó, gồm có Thánh Hộ Viện (聖護院), Luân Vương Tự (輪王院), Nhân Hòa Tự (仁和寺), Diệu Pháp Viện (妙法院), Chiếu Cao Viện (照高院), Thanh Liên Viện (青蓮院), Tri Ân Viện (知恩院), Khuyến Tu Tự (勸修寺), Nhất Thừa Viện (一乘院), Viên Dung Viện (圓融院), Mạn Thù Viện (曼殊院), Tỳ Sa Môn Đường (毘沙門堂), Viên Mãn Viện (圓滿院), v.v. Còn Nhiếp Gia Môn Tích là nơi do con của những vị công khanh đến xuất gia và trú ngụ, gồm Tùy Tâm Viện (隨心院), Tam Bảo Viện (三寶院), Đại Thừa Viện (大乘院), Đại Giác Tự (大覺寺), Liên Hoa Quang Viện (蓮華光院), v.v. Còn như trường hợp Viên Mãn Viện, Thật Tướng Viện, Nhất Thừa Viện, v.v., được gọi là Công Phương Môn Tích (公方門跡). Các ngôi chùa Thanh Hoa Môn Tích có Khuyến Tu Tự, Tỳ Sa Môn Đường, v.v. Những ngôi chùa được xếp hạng Chuẩn Môn Tích có Đông Tây Bổn Nguyện Tự (東西本願寺), Chuyên Tu Tự (專修寺), Phật Quang Tự (佛光寺), Cẩm Chức Tự (錦織寺), v.v. Đến năm 1871, dưới thời Minh Trị (明治, Meiji), hiệu Môn Tích bị phế bỏ, nhưng sau đó thì được sử dụng lại cho đến ngày nay. Trong số các ngôi chùa Môn Tích này có chư tăng xuất gia, cũng có nhiều hạng người để phục dịch như Tăng quan; họ cũng xuống tóc xuất gia, mặc y phục tu sĩ nhưng mang đao kiếm, ăn thịt, có vợ con; lại có đại đồng tử, tiểu đồng tử, v.v. Chính vì tên gọi Môn Tích thể hiện toàn bộ tính cách ngôi chùa như thế nào, nên sau này mỗi khi dùng đến từ này (hay Môn Chủ), người ta còn ám chỉ đến vị Trú Trì chùa ấy nữa. Thêm vào đó, ngôi chùa nào có các vị Nội Thân Vương xuất gia và cư trú, cũng được xếp vào hạng Chuẩn Môn Tích. Về nguồn gốc phát sinh từ Môn Tích, có tác phẩm Môn Tích Truyện (門跡傳), 1 quyển, thuật lại rất chi tiết, đầy đủ. Thư tịch này ghi rõ lịch đại chư vị trú trì cũng như ngày tháng năm qua đời của họ ở các chùa Môn Tích. Không rõ ai là người biên tập nên tác phẩm này.
môn tích
Môn đồ hay sự phát triển của môn phái—The followers, or development of any sect.
; (門迹) Cũng gọi Ngự môn tích. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Vốn chỉ cho pháp tích (Tổ tích) của 1 môn phái, nghĩa là vị chủ tăng của 1 tự viện thống lãnh môn đồ tu tập 1 pháp môn, về sau chuyển dụng để chỉ cho những chùa viện dành riêng cho những vị tăng xuất thân từ hoàng gia hay quí tộc cư trú. Thiên hoàng Vũ đa xuất gia ở chùa Nhân hòa vào năm Xương thái thứ 2 (899), chùa Nhân hòa bèn được gọi là Ngự môn tích. Từ đó về sau, Môn tích được dùng để gọi các chùa. Những vị trụ trì cũng được gọi là Môn tích hoặc Môn chủ. Thông thường, Môn tích được chia loại như sau: 1. Cung môn tích: Chùa viện dành cho các vị thân vương xuất gia cư trú. 2. Nhiếp gia môn tích: Chùa viện dành cho các vị tăng xuất gia là con em của các quan Đại thần nhiếp chính cư trú. 3. Thanh hoa môn tích: Chùa viện dành cho các vị tăng xuất gia thuộc gia đình quí tộc, hào phú cư trú. 4. Chuẩn môn tích (cũng gọi Hiếp môn tích): Những chùa viện được lập theo tiêu chuẩn Môn tích. Vào đầu năm Minh trị (1868), tất cả các tên gọi trên đều bị xóa bỏ, về sau chỉ dùng tên chùa riêng.
môn đình
(門庭) Trong Thiền lâm có 3 nghĩa: 1. Chỉ cho tùng lâm, đạo tràng tu tập của Thiền tông hoặc là am, cốc, trụ xứ của Thiền sư. 2. Chỉ cho pháp phương tiện, tức giai đoạn đầu tiên đưa người học vào chỗ sâu xa. Môn đình là cơ pháp phương tiện do các bậc thầy lập bày để dắt dẫn người học, cho nên lời môn đình là lời phương tiện tạm thời, tức là Đệ nhị nghĩa môn. Trái lại, Đệ nhất nghĩa môn là thể nhập chân lí, dứt bặt nói năng. 3. Chỉ cho tông phong hay tông chỉ của Thiền tông. Chương Vân môn Văn yểu trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 19 (Đại 51, 356 hạ) nói: Xưa kia, cổ nhân lập ra môn đình để giáo hóa, vậy hãy thử nhìn đông trông tây xem đó là đạo lí gì? Ông muốn hiểu không? [X. tắc 88, Bích nham lục].
môn đăng hộ đối
Marriage of the same (equal) class or property.
môn đầu
(門頭) Gọi đủ: Môn đầu hành giả. Chức vụ của vị tăng chuyên trách việc đóng mở, trông coi và quét tước cổng chùa trong Thiền lâm. Thông thường, tầng trên của cổng chùa thờ tượng 16 vị La hán, tầng giữa thờ tượng bồ tát Quan âm, có trưởng giả Nguyệt cái hoặc đồng tử Thiện tài đứng hầu bên cạnh. [X. La hồ dã lục Q.hạ].
môn đệ
Follower—Disciple.
môn đồ
Disciple.
; See Môn đệ.
; (門徒) Cũng gọi Môn bối, Môn diệp. Hàng hậu học của 1 tông phái hoặc đệ tử của 1 bậc thầy đã dạy dỗ. Theo kinh Đại thừa kim cương kế châu bồ tát tu hành phần, thì bậc thầy có đầy đủ đức nghiệp, mọi người đều theo về, môn đồ vân tập đến, tất cả đều được chỉ dạy. Ngoài ra, ở Nhật bản, Tịnh độ Chân tông được gọi là Môn đồ tông. [X. kinh Phạm ma du; Hữu bộ tì nại da Q.23; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3].
môn đồ tỳ nữu thiên
Vaishnava (C), Follower of Vishnavism.
mông
1) Bao trùm: To cover. 2) Mông muội: Stupid—Ignorant.
mông cốt vương
(蒙骨王) Mongkut. Quốc vương Thái lan, Tổ khai sáng phái Pháp tương ứng bộ (Dhammayuttikanikàya,cũng dịch là Pháp tông phái), con của vua Lạp mã đời thứ 2 thuộc vương triều Mạn cốc. Năm 14 tuổi, ông vâng sắc xuất gia làm sa di, trụ ở chùa Đại xá lợi; năm 21 tuổi, thụ giới Cụ túc ở chùa Ma ha tha đặc, học tập Thiền định và kinh luật luận. Ông học thông 3 tạng và các thứ tiếng Pàli, Phạm, Anh văn, v.v..., đề xướng giới luật nghiêm khắc. Năm 1829, ông sáng lập Pháp tương ứng bộ. Năm 1836, ông trụ trì chùa Bồ vọng ni vi. Năm 1851, ông hoàn tục lên ngôi, trở thành Quốc vương của vương triều Mạn cốc, đó là Lạp mã đời thứ 4 (Rama IV). Trong thời gian ở ngôi, ông đặt ra nhiều qui tắc để duy trì tăng đoàn Phật giáo, khuyến cáo chúng tăng nghiêm trì giới luật, tăng cường giáo dục tăng chúng, hết lòng hộ trì phái Pháp tương ứng bộ, lần lượt xây dựng các chùa Mẫu vượng ni vực (Wat Bovoranives), chùa Hoàng miện (Wat Mongkut), chùa Lực phạ đề (Wat Rajaphradis), chùa Ba thông ôn (Wat Patumwan) v.v... Năm 1853, ông lại ra lệnh xây cất Đại tháp Phật thống (Paỉhama Cetiya), cao hơn 120 mét, có đường kính 240 mét, mãi đến đời vua Lạp mã thứ VI mới hoàn thành, là tòa tháp Phật lớn nhất ở Thái lan. Năm 1840 và năm 1843, ông lần lượt phái chư tăng đến Tích lan, Ấn độ thỉnh về Tam tạng tiếng Pàli bản 40 quyển và bản 30 quyển, triệu tập các vị cao tăng tiến hành nghiên cứu và phiên dịch sang tiếng Thái lan. Ông lại truyền Pháp tương ứng bộ đến Kampochia. Ông có ảnh hưởng rất lớn đối với việc cải cách Phật giáo Thái lan. Ông có tác phẩm: Giới đàn quyết nghi luận (Sìmàvicàraịa). [X. Nam truyền Phật giáo sử chương 5 (Tịnh hải)].
mông cổ
Nước Mông Cổ—Mongolia—Mongol.
mông cổ nguyên lưu
(蒙古源流) Erdeni yin Tobci. Tác phẩm, 8 quyển, do ông Tản cương Tái quận (Sagan Secen) soạn vào năm 1662. Đây là 1 bộ sử thoại của dân tộc Mông cổ, trong đó, tư tưởng Phật giáo xuyên suốt toàn sách. Nội dung quyển 1 trình bày lịch sử từ khi khai thiên lập địa đến khi hoằng dương Phật giáo ở Ấn độ, là tư liệu trọng yếu về phương diện lịch sử tư tưởng của Phật giáo. Quyển 2 nói về quá trình Phật giáo truyền vào Tây tạng và sự hưng phế của nó. Quyển 3 nói về sử thoại dựng nước, từ khi Thành cát tư hãn lên ngôi đến ngày sáng lập đế quốc Mông cổ. Quyển 4 nói về sự hưng vong của triều Nguyên. Quyển 5 nói về sự tích của Khả hãn Đạt diên phục hưng Phật giáo. Quyển 6, 7 nói về người cháu của Khả hãn Đạt diên là A cốt đả và về tình hình phục hưng Phật giáo ở Nội Mông và Ngoại Mông của ông. Quyển 8 nói về quá trình xây dựng chùa viện và phiên dịch kinh điển Phật giáo ở nội và ngoại Mông cổ. Cuối cùng kết luận với lời tán thán Phật giáo. Nguyên bản sách này vốn đã thất lạc từ lâu, xưa nay chỉ có các bản dịch chữ Hán và chữ Mãn châu, nhưng gần đây đã tìm thấy mấy bản tiếng Mông cổ.
mông cổ phật giáo
(蒙古佛教) Phật giáo được truyền đến Mông cổ vào thời vua Hiến tông (ở ngôi 1251-1259) triều nhà Nguyên và trở thành tín ngưỡng phổ biến bắt đầu vào thời Hốt tất liệt. Vào năm Chí nguyên 22 (1285), vua Thế tổ nhà Nguyên là Hốt tất liệt ban lệnh cho ngài Bát tư ba xem xét đối chiếu 2 tạng kinh Hán và Tạng soạn thành bộ Chí nguyên Pháp bảo Khám đồng tổng lục. Vua Thành tông nhà Nguyên rất tin Phật nên có ngài Tất lan nạp thức lí xuất gia thay vua và vâng mệnh phiên dịch kinh Phạm ra tiếng Mông cổ. Năm Chí đại thứ 3 (1310) đời vua Vũ tông, vị Cao tăng người Tây tạng là ngài Pháp quang đến Mông cổ bổ sung và hiệu đính những chữ Mông cổ mới, lại có các học giả Trung quốc, Hồi cốt dịch tạng kinh Tây tạng ra tiếng Mông cổ. Do đó, các triều vua nối tiếp như Nhân tông, Anh tông, Tấn tông, Minh tông, Văn tông và Thuận đế đều sùng tín Phật giáo Tây tạng. Sau, vua Thái tổ nhà Minh nổi lên (1368), Thuận đế nhà Nguyên thua trận lui về phương Bắc, thì Phật giáo Mông cổ cũng 1 thời suy vi, trải hơn 1 trăm mấy mươi năm sau, nhờ có Hoàng giáo Tây tạng truyền vào, Phật giáo Mông cổ mới được hồi phục. Năm Vạn lịch thứ 5 (1577) đời Minh, Khả hãn Yêm đáp của Nội Mông cổ sai sứ đến Tây tạng thỉnh Đạt lai lạt ma đời thứ 3 đến Mông cổ, từ đó Hoàng giáo bắt đầu thịnh hành ở Nội Mông cổ. Còn ở Ngoại Mông cổ, thì Khả hãn A ba đại từng thỉnh vị đại đệ tử của Đạt lai Lạt ma đời thứ 3 là ngài Đại từ mại đạt lí hô đồ khắc đồ tuyên dương Phật pháp ở 1 ngôi chùa bên bờ sông Khách nhĩ Khách đồ lạp, rất được người Mông cổ sùng kính. Đến khi ngài Triết bố tôn đan ba, Hô đồ khắc đồ (Tạng: Rjebtsun dam-pa, 1635-1723) đời thứ 1 xuất hiện, thì Phật giáo ở Ngoại Mông cổ lại càng thêm rực rỡ. Năm Càn long 22 (1757) đời Thanh, ngài Triết bố tôn đan ba (1724- 1757) đời thứ 2, sáng lập học viện Cao đẳng tông giáo Trát ni đặc tại Khố luân, từ đó Khố luân trở thành trung tâm chính trị tông giáo của Ngoại Mông, cũng là Thánh địa giáo dục của Lạt ma Mông cổ. Nói chung, các đời Hoàng đế nhà Thanh đều rất tôn kính các bậc Triết bố tôn đan ba, nhưng vào năm Quang tự thứ 4 (1878), tình hình bỗng thay đổi: Quan Đại thần Mãn châu ở Khố luân là ông Chí cương bắt buộc ngài Triết bố tôn đan ba (1870-1924) đời thứ 8 phải đứng dậy đón rước quan Đại thần Biện sự, đã gây ra sự bất bình. Sau biến cố này, quan hệ giữa nhà Thanh và Mông cổ trở nên xấu đi, triều đình nhà Thanh trắng trợn phá hoại thế lực của Phật giáo Mông cổ. Khi nhà Thanh sụp đổ, Ngoại Mông liền tuyên bố độc lập (1912). Còn Triết bố tôn đan ba hô đồ khắc đồ ở Khố luân thì tự xưng Hoàng đế, thành lập nước Đại Mông cổ. Lãnh tụ tông giáo Nội Mông đồng thời với Triết bố tôn đan ba là Chương gia hô đồ khắc đồ (Tạng: Lcaí-skya), đệ tử của ngài Đạt lai Lạt ma đời thứ 5, được rước từ Tây tạng đến. Các đời Chương gia thường phụ giúp nhà Thanh và chính phủ Dân quốc. Những vị này thường trú ở Đa luân, Bắc kinh và núi Ngũ đài. Vị Chương gia đời thứ 19 thị tịch ở Đài bắc vào năm Dân quốc 46 (1958), ngài đã từng giữ các chức Ủy viên trong Mông Tạng Ủy viên hội, Mông kì tuyên hóa sứ, Ủy viên chính phủ Quốc dân, Tư chính phủ Tổng thống v.v... Thời kì thịnh nhất của Phật giáo Mông cổ là khoảng đầu thế kỉ XX, lúc bấy giờ Lạt ma chiếm1/3 dân số; Thánh địa là chùa Ách đan ni châu (Erdenì Dzu), được xây dựng vào năm 1584, cách Ulan Bator 250 dặm. Vì Phật giáo Mông cổ được du nhập từ Tây tạng, cho nên những nghi lễ tông giáo, hình thức tổ chức chùa viện, hệ thống Hoạt Phật v.v... phần nhiều đều giống với Tây tạng. [X. Thế giới Phật giáo thông sử tập thượng (Thánh nghiêm)].
mông cổ phật giáo sử
(蒙古佛教史) Tạng: Hor chos-byuí. Gọi đủ:Chen-po hor-gyi yul-du dampai chos ji-ltar byuí-bai tshul bzadpa rgyal-bai bstan-pa rin-po-che gsalbar byed-pai sgron-me. Sử, do ngài Fjigs-med nam-mkha soạn. Nội dung sách này chia làm 2 thiên là Vương thống sử và Phật giáo sử, Vương thống sử lại chia làm 4 chương và Phật giáo sử chia làm 3 chương. Trong đó, Phật giáo sử là phần chủ yếu, được căn cứ vào sách sử, kinh điển, truyện kí v.v... của Tây tạng mà soạn thành. Chương thứ 1 nói về lược sử Phật giáo Mông cổ, trước hết trình bày về giáo nghĩa, kế đến nói về việc hoằng dương Phật giáo ở Ấn độ, sau truyền đến Trung quốc, rồi du nhập Mông cổ. Chương thứ 2 nói về lịch sử Hoàng giáo của ngài Tông khách ba. Chương thứ 3 trình bày về lược sử của các đạo tràng và tự viện nổi tiếng của Phật giáo. Ngoài ra, ở cuối sách có giảng thêm về giáo nghĩa luân hồi giải thoát và nguyên do viết tác phẩm này. [X. Ấn độ Phật học nghiên cứu 4, phần 1; Author of the Hor chos byuí, JRAS, 1941, by G. N. Roerich].
mông cổ phật điển
(蒙古佛典) Từ gọi chung các Thánh điển Phật giáo đã được dịch ra tiếng Mông cổ. Từ khi qui y Phật giáo từ thế kỉ XIII đến nay, ngoài việc phiên dịch kinh điển Phật giáo từ tạng kinh của Tây tạng ra tiếng Mông cổ, các nhà Phật học Mông cổ còn dịch được 1 số kinh Phật ngoài tạng kinh Tây tạng; hơn nữa cũng đã soạn các bản chú thích hoặc trứ thuật bằng tiếng Mông cổ, vì thế mà kinh điển Phật giáo tiếng Mông cổ khá đầy đủ. Kinh điển Phật giáo Mông cổ lấy Đại tạng kinh Tây tạng làm gốc; tạng kinh Tây tạng được chia làm Cam châu nhĩ (Chính tạng) và Đan châu nhĩ (Tục tạng). Còn Đại tạng kinh Mông cổ, có thể căn cứ vào thời gian thành lập mà chia làm 3 thời kì: Thời thứ 1 (1271-1368) phiên dịch Cam châu nhĩ, thời kì này lấy những kinh điển mà Cổ phái (Tạng:Rĩin-ma-pa) y cứ làm chính. Thời kì thứ 2 (1368-1627), hiệu đính những bản dịch của tạng Cam châu nhĩ và phiên dịch được 1 phần tạng Đan châu nhĩ. Hai thời kì này lấy dịch cũ làm chính. Thời kì thứ 3 (1616-1911) thay đổi cách phiên dịch và sử dụng bản gỗ để ấn hành, thời kì này hoàn thành các bộ sách chỉ dẫn cách dùng văn cũng như phương pháp phiên dịch và các loại từ điển như: Đồng văn vận thống, Đại tạng toàn chú, Mông văn đối chiếu phiên dịch danh nghĩa tập v.v... phương pháp và dịch ngữ phiên dịch thống nhất, có sự khảo chứng toàn diện. Những kinh điển được phiên dịch ở thời kì này gọi là dịch mới. Nội dung kinh điển Phật giáo Mông cổ đại khái cũng giống với Đại tạng kinh Tây tạng, tuy nhiên, cũng có những điểm khác nhau, hoặc thêm bớt. Đại tạng kinh Mông cổ, đặc biệt là bản dịch cũ đời Nguyên, đã phản ánh rõ những nét văn hóa phức tạp của dân tộc này. Ngoài ra, những ngữ vựng của các nước vùng Trung á, Cận đông, Âu châu như Syria, Hi lạp v.v..., được sử dụng trong bản dịch, đã trở thành 1 trong những đặc tính của Đại tạng kinh tiếng Mông cổ. [X. Les Mongols et papauté, Rev. de l’Orient chrétien 1923, par P.Peltiot; Histoire des Mongols, 4 tomes, 1834-1835, par d’ Ohsson; Lạt ma giáo sử (Kiều bản Quang bảo dịch và xuất bản)]. (xt. Tây Tạng Đại Tạng Kinh).
mông hoặc
Stupid and deluded.
Mông muội 曚昧
[ja] モウマイ mōmai ||| Ignorance of the mind. Ignorance regarding reality. => Tâm trí mê mờ. Không thông đạt thực tế.
mông mênh
Immense—Vast.
mông nhuận
(蒙潤) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nguyên, người Gia hòa (huyện Gia hưng, tỉnh Chiết giang), họ Cố, hiệu Ngọc cương. Năm 14 tuổi, sư lễ ngài Cổ nguyên Vĩnh thanh ở chùa Bạch liên hoa xin xuất gia và được học Chỉ quán, luận Kim cương ti, luận Thập bất nhị môn v.v... hiểu rõ nghĩa lí. Sau khi ngài Vĩnh thanh thị tịch, sư theo hầu ngài Trúc đường Truyền công, siêng năng khắc khổ. Sau, sư đến chùa Diễn phúc ở Nam Thiên trúc xiển dương tông phong được 6 năm, rồi lại đến am Bạch liên trên ngọn Phong hoàng tại Long tỉnh chuyên tu niệm Phật tam muội. Người nghe tiếng đến tham học ngày một đông, sư vẫn giảng nói diệu nghĩa Chỉ quán. Sau, vâng lệnh viện Tuyên chính, sư kế vị trụ trì chùa Linh sơn ở hạ Thiên trúc, được 3 năm lại trở về am Bạch liên. Năm Chí chính thứ 2 (1342), sư thị tịch, thọ 68 tuổi. Đệ tử có các vị: Đại dụng Tất tài, Ấn hải Tử thực, Tuyết lâm Diên thụy. Sư có các tác phẩm: Tứ giáo nghi tập chú 3 quyển, Tứ giáo nghi tập chú khoa văn 1 quyển. [X. Tục Phật tổ thống kỉ Q.thượng; Vãng sinh tập Q.1; Đại minh cao tăng truyện Q.1; Thích giám kê cổ lược tập tục Q.1; Cao tăng trích yếu Q.4].
mông quạnh
Desert.
Mông Sơn
(蒙山): tên gọi của một ngọn núi hiện nằm tại Huyện Danh Sơn (名山縣), Tỉnh Tứ Xuyên (四川省), Trung Quốc. Dưới thời nhà Tống có vị tăng người Thiên Trúc (Ấn Độ) tên Bất Động Thượng Sư (不動上師), người đời thường gọi là Cam Lồ Đại Sư (甘露大師) hay Kim Cang Thượng Sư (金剛上師), tinh thông các học vấn của Hiển Giáo cũng như như Mật Giáo, đầu tiên đến nước Tây Hạ (西夏), dừng chân trú tại Hộ Quốc Tự (護國寺), chuyên dịch các kinh điển Mật Giáo. Sau ông chuyển đến Mông Sơn này, dịch lại bản Du Già Thí Thực Nghi Quỹ (瑜伽施食儀軌) của Kim Cang Trí (金剛智), lấy tên là Du Già Diệm Khẩu (瑜伽焰口), hay còn gọi là Tiểu Thí Thực Pháp (小施食法), Cam Lồ Pháp (甘露法), hay Mông Sơn Thí Thực Pháp (蒙山施食法). Đây là nghi thức tụng niệm và hành trì không thể thiếu được trong nhà Phật. Đến thời cận đại này có Hưng Từ Đại Sư (興慈大師) chủ xướng pháp môn Mông Sơn Thí Thực, thêm vào 6 loại khai thị, nên có tên gọi là Đại Mông Sơn Thí Thực. Ảnh hưởng tinh thần đó, sau này Mông Sơn Đức Dị (蒙山德異, 1231-?), vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc sống dưới thời nhà Minh, có viết cuốn Mông Sơn Hòa Thượng Lục Đạo Phổ Thuyết (蒙山和尚六道普說).
mông đường
(蒙堂) Nhà liêu an dưỡng trong Thiền lâm dành cho các chức vụ từ Đô tự trở xuống đã mãn nhiệm, như Tri sự v.v...; hoặc dùng để chỉ cho chúng tăng ở Mông đường. Mông có hàm ý tĩnh dưỡng. Người trông coi Mông đường gọi là Mông đường liêu chủ. Thiền sư Đại giác Hoài liễn đời Nguyên ở núi A dục vương tại Minh châu là người đầu tiên mở ra Mông đường, các đời sau đều làm theo. [X. điều Thánh tiết, chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; điều Đông tự Tri sự, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên; Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.4].
mông đồng tam bách đảm
(懞懂三百擔) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Mông đồng, nghĩa là mù mờ, không phân biệt được sự lí, phải quấy. Tam bách đảm, nghĩa là vác trên lưng vật rất nặng. Ví dụ nghiệp thức mênh mang, cực kì ngu si tăm tối. Bích nham lục tắc 25 (Đại 48, 166 trung) nói: Cát bụi phủ mắt, đất lấp lỗ tai, ù ù cạc cạc (mông đồng tam bách đảm), biết đến bao giờ? Vẫn có kẻ như thế.
Mông 蒙
[ja] モウ mō ||| (1) To conceal. (2) Dull, stupid.(3) To receive, to get, to suffer, to undergo, to enjoy. (4) To be acted upon; passivity. Sometimes mixed in usage with 朦 and 曚. => 1. Giấu diếm, che đậy. 2. Tối dạ, ngu đần. 3. Nhận lãnh, có được, trải qua, chịu đựng, hưởng được. 4. Hành xử do vì, tính thụ động. Có khi dùng lẫn với 朦 và 曚.
mõ
moktak (K).
; See Mộc Ngư.
mù
Blind—Sightless—Eyeless.
mù chữ
Illiterate.
mù lòa
See Mù.
mù quáng
To be blinded.
mù tịt
To ignore completely---As blind as a bat.
mùa an cư
Vassa (P), Vassāvasa (P), Rain retreat, Uango (J)Khảng thời gian ba tháng các sư và ni không được đi ra ngoài, chỉ được ở yên một chỗ nỗ lực tọa thiền và học tập.
mùa gặt
Harvest—Reaping season.
mùa hạ
Summer.
mùa thu
Autumn—Fall.
mùa xuân
Spring.
mùa đông
Winter.
mùi
Smell—Odour.
mùi hôi
Bad smell.
mùi khai
Smell of amonia.
mùi khét
Smell of burning.
mùi thúi
Nasty smell—Bad odour.
mùi thơm
Pleasant smell.
mùi vị
Taste.
mùi đời
pleasures of life.
mùng
1) Chinese denotion of the first ten days of the month. 2) Mosquito-net.
múa
To dance.
múa rìu qua mắt thợ
To brag excessively.
múc
To dip (lade or draw) water.
mút
1) Extremity. 2) To suck.
măng
1) Bamboo shoot. 2) Very young.
mĩ quốc phật giáo
(美國佛教) Phật giáo ở nước Mỹ là 1 tông giáo mới, do sư Diệu nhật Thương long, người Nhật bản, đầu tiên truyền đến Hạ uy di vào năm 1889, rồi từ đó dần dần du nhập Mỹ quốc. Tổ chức Phật giáo sớm nhất ở nước Mỹ là Hội Phật giáo Mỹ quốc, vốn là 1 đoàn thể Phật giáo Nhật Mỹ mà người Nhật gọi là Phái Chân Tông Tây Bản Nguyện Tự, có hơn 60 ngôi chùa và trên 100 viên chức cai quản. Năm 1893, nước Mỹ mời các nhà lãnh đạo tông giáo của các quốc gia đến dự hội nghị Tông giáo thế giới tại Chicago. Sau khi tham dự hội nghị trở về, ngài Tông diễn, người Nhật, liền phái ông Linh mộc Đại chuyết (Suzuki) đến Mỹ in ấn và xuất bản sách vở Phật giáo bằng tiếng Anh. Năm 1899, tông Tịnh độ của Nhật bản thành lập Mỹ Thức Phật Giáo Đường, nhưng đến nay vẫn chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động của Nhật kiều. Năm 1930, ông Tá tá mộc chỉ nguyệt, đệ tử tại gia của ngài Tông diễn, sáng lập Mỹ Quốc Đệ Nhất Thiền đường (First Zen Institute of America). Sau năm 1945, người Mỹ đến Nhật bản nghiên cứu Phật giáo và người chính thức tu hành ngày càng nhiều. Khoảng 1950 đến 1958, ông Linh mộc Đại chuyết khai giảng Thiền học tại trường Đại học Colombia, tạo ảnh hưởng rất sâu đậm, cũng có nhiều người Mỹ học Thiền ở Nhật bản, rồi trở về Mỹ truyền lại. Do ảnh hưởng này, nên vào cuối thập niên 50 xuất hiện Phi đầu tộc (Beat Generation), nhiều nhà sáng tác, hội họa, âm nhạc v.v... bất mãn với truyền thống Tây phương, nên sinh ra hứng thú đối với thiền, hình thành trào lưu cuồng nhiệt của Phi đầu thiền (Beat Zen). Năm 1965 lại có Hippi Thiền (Hippis Zen), sùng bái phong cách tự nhiên của Hàn sơn. Hai phái này đều khác với Thiền chính thống, nhưng nhiều người trong phái Hippis về sau lại trở thành người tu hành Thiền chính thống. Vào thập niên 60, Thiền sư An cốc Bạch vân thuộc dòng Lâm tế và Tào động, nhiều lần đến Mỹ dạy thiền. Năm 1966, đệ tử của ngài Bạch vân là Philip Kapleau sáng lập trung tâm Thiền ở thành phố Rochester thuộc tiểu bang Nữu ước. Một vị tăng Nhật bản khác nữa là ngài Tiền tế Thái thiện sáng lập trung tâm thiền Los Angeles vào năm 1956, đệ tử người Do thái của ngài cũng thành lập Thiền Đoàn Khế ở thành phố Nữu ước. Hiện nay, số người Nhật bản tu thiền nhiều nhất là ở 2 trung tâm Zen Mountain Center và Tassajara Hot Springs ở California do ông Linh mộc Sinh long sáng lập. Năm 1964, ngài Đảo dã Vinh đạo thuộc tông Lâm tế Nhật bản, đến Nữu ước chủ trì Thiền đường New York (do ông Linh mộc Đại chuyết sáng lập). Năm 1968, ngài Vinh đạo lại sáng lập chùa Kim cương Đại bản sơn ở tiểu bang New york. Năm 1853, Phật giáo Trung quốc truyền đến Mỹ, người Mỹ bắt đầu có hứng thú đối với tông Thiên thai và Thiền của Trung quốc. Năm 1929, Đại sư Thái hư đến Mỹ hoằng pháp, sau đó có các vị cư sĩ Trần hữu đạo và Đặng tiếp vinh. Hiện nay, tăng ni Trung quốc đến nước Mỹ ngày càng đông, phần nhiều ở các tiểu bang California và New york, trong đó, các vị có khả năng đi sâu vào xã hội nước Mỹ thì có: 1. Pháp sư Tuyên hóa, năm 1959 thành lập hội Phật giáo Trung Mỹ; năm 1975 sáng lập Đại học Pháp giới ở chùa Vạn Phật thành. 2. Pháp sư Tinh vân, năm 1977 sáng lập chùa Tây lai ở Los Angeles, theo định kì hàng tuần tổ chức nhóm họp tu tập và giảng kinh, hoằng pháp. 3. Pháp sư Thánh nghiêm, năm 1977 sáng lập trung tâm Thiền ở New york, hướng dẫn các thanh niên trí thức Trung quốc và Mỹ, xuất bản tạp chí Thiền bằng tiếng Anh. Ngoài ra, còn có các vị cư sĩ tại gia hoằng pháp tại Mỹ như: Trần gia Trinh, Ứng kim Ngọc đường v.v... Năm 1966, pháp sư Thiên ân truyền Phật giáo Việt nam đến Mỹ, năm 1970 thành lập trung tâm Thiền, 1973 sáng lập Đại học Đông phương. Năm 1970, Thiền sư Sùng sơn Hạnh nguyện của Nam hàn đến nước Mỹ, nhằm vào người Mỹ làm đối tượng chính để truyền đạo, hiện có 5 trung tâm ở rải rác tại các nơi trên đất Mỹ. Năm 1966, tỉ khưu người Tích lan, thuộc Phật giáo Thượng tọa bộ Nam truyền, sáng lập Vihara Society of Washington D.C. tại thủ đô Hoa thịnh đốn. Hiện cũng có vài ngôi chùa nhỏ của người Thái lan ở California và ở New york. Còn Miến điện thì có 2 vị U Genka và U Bakhin truyền dạy pháp môn chỉ quán cho người Mỹ. Năm 1959, có 3 vị Lạt ma truyền Phật giáo Tây tạng vào nước Mỹ, đó là các ngài: 1. Chogyan Trungpa (Xuyên ba): Đến Mỹ năm 1970, thành lập Tail of the Tiger ở Barnet thuộc Vermont, sáng lập Karmadyong Meditation Center ở Boulder thuộc Colorado. Hiện nay, đã có mấy mươi chi nhánh, là Trung tâm phát triển nhanh nhất; ngoài chức năng truyền dạy Phật pháp, Trung tâm còn thiết lập các cơ cấu giáo dục và phúc lợi xã hội. 2. Tarthang Tulka: Đến nước Mỹ năm 1968, năm sau, sáng lập đạo tràng Phật giáo Tây tạng ở California, là nơi đầu tiên hướng dẫn người Mỹ tu hành. Năm 1973, sư thành lập Học viện không có tính cách tông giáo, mà nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu về văn hóa, nghệ thuật và y học của Tây tạng. Năm 1975, sư lại mở thêm trung tâm Odiyan Tibetan Nyingma Culture Center, trên khoảng đất rộng 900 mẫu Anh làm nơi cư trú cho dân Tây tạng tị nạn và giúp cho người Mỹ tu hành, đồng thời cũng là một nông trường sản xuất. 3. Kamapa: Lãnh tụ của Bạch giáo, năm 1970 dẫn các đệ tử đến nước Mỹ, sau đó, một số vị Lạt ma của giáo phái này thiết lập đạo tràng ở thành phố Nữu ước, đồng thời, mở 1 học viện ở Gia nã đại. Các đối tượng tu học Phật giáo Tây tạng phần nhiều là người Mỹ. Hiện nay, Mật tông Tây tạng phát triển rất bồng bột, còn Thiền Trung quốc và Nhật bản thì có tiềm lực nhiều hơn. Các Đại học như Berkeley, Harvard, Wiscounsin, Colombia v.v... đều có phân khoa Phật học. Những sách về Phật học hiện giờ được người Mỹ đọc và nghiên cứu rộng rãi nhất là: Phật pháp dịch tùng của ông Warren, Ánh sáng Á châu của ông Edwin Arnold, Giáo thuyết của đức Phật của ông Paul Carus, kinh Pháp cú của ông Irving Babbit, Phật giáo của ông Christmas Humphrey, Giáo nghĩa của đức Phật Đại bi của ông Burtt và các sách Thiền học của Suzuki. [X. Mỹ châu Phật giáo (Thánh nghiêm); Âu Mỹ Phật giáo chi phát triển (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 84)].
mĩ thực bất trung bão nhân ngật
(美食不中飽人吃) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là thức ăn dù có ngon bao nhiêu đi nữa thì cũng không thể làm cho người đã no bụng thèm muốn. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để chỉ cho cảnh giới của người tu hành đã viên mãn. Tắc 61 trong Bích nham lục (Đại 48, 193 hạ) nói: Già quê này từ nay chẳng nhướng mày (ngoài ba nghìn dặm có một người, thức ăn ngon chẳng hợp người no bụng (Mỹ thực bất trúng bão nhân khiết)
mũ tỳ lư
mão có 6 cánh.
mũi
1) Point—Cape. 2) Nose.
Mũi tên nhọn ba độc
(tam độc lợi tiễn): xem ba mũi tên độc.
mơ hồ
Ambiguous—Vague.
mơ màng
To sleep slightly.
mơ mộng
Daydreaming
mơ ngủ
To drop off to sleep.
mơn mởn
Tender—Young.
mơn trớn
To caress.
mơû
To open.
mưa
To rain.
Mưu du
(謀猷): mưu kế, mưu lược. Như trong Đoạn Kiều Diệu Luân Thiền Sư Ngữ Lục (斷橋妙倫禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1394) có câu: “Thái Sư từ đường, hoằng thi thao lược, mật triển mưu du, hung trung hạo khí (太師祠堂、宏施韜略、密展謀猷、胸中浩氣, từ đường Thái Sư, rộng bày thao lược, ngầm tính mưu mô, trong lòng cương trực).”
mười
Xem Thập.
mười ba la mật của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười Ba La Mật của chư đại Bồ Tát. Mười Ba La Mật Của Chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ tát an trụ trong mười Ba La Mật nầy thì được đầy đủ đại trí Ba La Mật vô thượng của chư Phật—According o the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten transcendent ways possesed by Great Enlightening Beings. Enlightening Beings abide by these principles will attain the supreme transcendent knowledge of the Buddhas. 1) Thí Ba La Mật, vì xả bỏ tất cả sở hữu: Transcendent giving, relinquishing all they have. 2) Giới Ba La Mật, vì thanh tịnh Phật giới: Transcendent discipline, keeping the precepts of Buddhas pure. 3) Giới Ba La Mật, vì thanh tịnh Phật giới: Transcendent tolerance, abiding in the tolerance and forbearance characteristic of the enlightened. 4) Tinh tấn Ba La Mật, vì tất cả chỗ làm chẳng thối chuyển: Transcendent vigor, not regressing whatever they do. 5) Thiền Ba La Mật, vì chỉ tập trung vào một cảnh: Transcendent meditation, focusing their minds on one point. 6) Bát Nhã Ba La Mật, vì như thật quán sát tất cả chư pháp: Transcendent wisdom, observing all things as they truly are. 7) Trí Ba La Mật, vì nhập Phật lực: Transcendent knowledge, entering into the powers of Buddhas. 8) Nguyện Ba La Mật, vì đầy đủ những đại nguyện Phổ Hiền: Transcendent vowing, fulfilling the great vows of Universal Good. 9) Thần thông Ba La Mật, vì thị hiện tất cả công dụng tự tại: Transcendent spiritual powers, demonstrating all autonomous actions. 10) Pháp Ba La Mật, vì vào khắp tất cả Phật pháp: Transcendent teaching, penetrating all Buddhas' teachings.
mười ba tổ tịnh độ trung hoa
Thirteen Chinese Pure Land patriarchs: 1) Lỗ Sơn Huệ Viễn: Hui-Yuan (334-416 AD). 2) Quang Minh Thiện Đạo: Shan Tao (613-681 AD). 3) Bát Châu Thừa Viễn: Tzu-Min (680-748 AD). 4) Ngũ Hộ Pháp Chiếu: Fa Chao. 5) Đại Nham Thiếu Khang: Tsiao-Kang. 6) Vĩnh Minh Diên Thọ: Yung-Ming Yenshou. 7) Chiêu Khánh Tĩnh Thường: Tseng-Shang. 8) Vân Thê Châu Hoằng Liên Trì: Chu Hung Liench'ih (1535-1616 AD). 9) Trí Húc Ngẫu Ích: Ou-I (1599-1655 AD). 10) Phổ Nhãn Hành Sách Triệu Lưu: Tsao Liu. 11) Tiên Lâm Thúc Hiền Tĩnh Am: Tseng-an. 12) Từ Phúc Tế Tĩnh Triệt Ngộ: Tz'ie-Wu. 13) Linh Nhan Ấn Quang: Yin Kuang (1861-1940 AD).
mười ba yếu tố của sự giác ngộ
Theo Kinh Hoa Nghiêm, có mười ba yếu tố dẫn đến sự giác ngộ tối thượng—According to the Avatamsaka Sutra, there are thirteen elements of supreme enlightenment. 1) Tâm đại bi là yếu tố dẫn đầu: A great compassionate heart which is the chief factor of the desire. 2) Trí siêu việt là yếu tố chỉ đạo: Knowledge born of transcendental wisdom which is the ruling element. 3) Phương tiện là yếu tố hộ trì: Skilful means which works as a protecting agent. 4) Thâm tâm là chỗ nương tựa: The deepest heart which gives it a support. 5) Bồ Đề tâm là kho tàng đồng đẳng với oai lực của Như Lai: The Bodhicitta of the same measure with the Tathagata-power. 6) Bồ Đề Tâm có khả năng phân biệt lực và trí của hết thảy chúng sanh: The Bodhicitta endowed with the power to discern the power and intelligence of all beings. 7) Bồ Đề tâm hướng tới trí vô ngại: The Bodhicitta directed towards the knowledge of non-obstruction. 8) Bồ Đề tâm tùy thuận với trí tự nhiên: The Bodhicitta in conformity with spontaneous knowledge. 9) Bồ Đề tâm có thể giáo hóa Phật đạo cho hết thảy chúng sanh tùy thuận với trí siêu việt: The Bodhicitta which is capable of instructing all beings in the truths of Buddhism according to knowledge born of transcendental wisdom. 10) Bồ Đề tâm trải rộng khắp biên tế của pháp giới rộng lớn như hư không: The Bodhicitta which is extending to the limits of the Dharmadhatu which is as wide as space itself. 11) Trí huệ nơi quả vị Phật, trí đó thấy hết mọi sự trong không gian và thời gian; cái trí vượt ngoài cảnh giới tương đối và sai biệt vì nó thâm nhập khắp mọi biên tế của vũ trụ và trực nhận cái chân thường trong chớp mắt: The knowledge which belongs to Buddhahood, and which see into everything that is in space and time, the knowledge which goes beyond the realm of relativity and individuation because it penetrates into every corner of the universe and surveys eternity at one glance. 12) Năng lực ý chí đốn ngã mọi chướng ngại nằm cản trở đường đi khi nó muốn đạt tới mục đích tối hậu, nó giải thoát tất cả thế gian ra khỏi sự trói buộc của sống và chết: The will-power that knocks down every possible obstruction lying athwart its way when it wishes to reach its ultimate end, which is the deliverance of the whole world from the bondage of birth-and-death. 13) Đại từ và đại bi song song với trí và lực không ngớt thi thiết phương tiện đem lại an lành cho hết thảy chúng sanh: An all-embracing love or compassion which, in combination with knowledge and will-power, never ceases from devising all means to promote the spiritual welfare of every sentient being.
mười biến nhập của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười pháp biến nhập của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được pháp biến nhập đại trí vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of universal entry of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme door of liberation of Buddhas. 1) Vào khắp chúng sanh: Universal entry among sentient beings. 2) Vào khắp quốc độ: Universal entry into lands. 3) Vào khắp các loại hình tướng của thế gian: Universal entry into various features of worlds. 4) Vào khắp hỏa tai: Universal entry into fires. 5) Vào khắp thủy tai: Universal entry into floods. 6) Vào khắp Phật: Universal entry into Buddhahood. 7) Vào khắp trang nghiêm: Universal entry into arrays of adornments. 8) Vào khắp thân vô biên công đức của Như Lai: Universal entry into the embodiments of boundless virtues of Buddhas. 9) Vào khắp tất cả sự thuyết pháp: Universal entry into all kinds of explanations of truth. 10) Vào khắp những sự cúng dường tất cả Như Lai: Universal entry into all kinds of offerings to Buddhas.
mười biến xứ
Kasinayata-nani (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có mười Biến Xứ. According to the Sangiti-Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are ten objects for the attainment of absorption. 1) Địa Biến Xứ: Earth-Kasina. 2) Thủy Biến Xứ: Water-Kasina. 3) Hỏa Biến Xứ: Fire-Kasina. 4) Phong Biến Xứ: Wind-Kasina. 5) Thanh Sắc Biến Xứ: Blue Kasina. 6) Hoàng sắc Biến Xứ: Yellow Kasina. 7) Xích Sắc Biến Xứ: Red Kasina. 8) Bạch Sắc Biến Xứ: White Kasina. 9) Hư Không Biến Xứ: Space Kasina. 10) Thức Biến Xứ (trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng): Consciousness Kasina (above, below, on all sides, individed, unbounded).
mười biện tài của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười thứ biện tài của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trong trong pháp nầy có thể đạt được biện tài xảo diệu vô thượng của chư Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of intellectual power of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain supremely skillful intellectual powers of Buddhas. 1) Biện tài vô phân biệt nơi tất cả các pháp: The intellectual power of not arbitrarily discriminating among things. 2) Biện tài vô sở tác nơi tất cả các pháp: The intellectual power of not fabricating anything. 3) Biện tài vô sở trước nơi tất cả các pháp: The intellecual power of not being attached to anything. 4) Biện tài thấu rõ tánh không nơi tất cả các pháp: The intellectual power of realizing emptiness. 5) Biện tài không u tối nghi hoặc nơi tất cả các pháp: The intellectual power of freedom from the darkness of doubt. 6) Biện tài Phật gia bị nơi tất cả các pháp: The intellectual power of receiving support from Buddha in all things. 7) Biện tài tự giác ngộ nơi tất cả các pháp: The intellectual power of spontaneous awareness of all truth. 8) Biện tài văn cú sai biệt thiện xảo nơi tất cả các pháp: The intellectual power of skill in differentiation of expressions of all truths. 9) Biện tài chơn thật nơi tất cả các pháp: The intellectual power of truthfully explaining all things. 10) Biện tài tùy theo của tất cả chúng sanh làm cho họ hoan hỷ: The intellectual power of gladdening all sentient beings according to their mentalities.
mười bình đẳng của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười thứ bình đẳng của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ pháp nầy thời được pháp vô thượng bình đẳng của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of impartiality possessed by Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these principles will attain the supreme impartiality of Buddhas. 1) Nơi tất cả chúng sanh bình đẳng: Impartiality toward all sentient beings. 2) Nơi tất cả pháp bình đẳng: Impartiality toward all things. 3) Tất cả cõi bình đẳng: Impartiality toward all lands. 4) Tất cả thâm tâm bình đẳng: Impartiality toward all determinations. 5) Tất cả thiện căn bình đẳng: Impartiality toward all roots of goodness. 6) Tất cả Bồ Tát bình đẳng: Impartiality toward all enlightening beings. 7) Tất cả nguyện bình đẳng: Impartiality toward all vows. 8) . Tất cả Ba La Mật bình đẳng: Impartiality toward all transcendence 9) Tất cả hạnh bình đẳng: Impartiality toward all practices. 10) Tất cả Phật bình đẳng: Impartiality toward all Buddhas.
mười bất hoại tín của chư bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười bất hoại tín của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được bất hoại tín đại trí huệ vô thượng của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of indestructible faith of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme indestructible faith of great knowledge of Buddhas. 1) Bất hoại tín đối với chư Phật: Have indestructible faith in all Buddhas. 2) Bất hoại tín đối với tất cả Phật pháp: In all Buddhas' teachings. 3) Bất hoại tín đối với tất cả Thánh Tăng: In all wise and holy mendicants. 4) Bất hoại tín đối với tất cả Bồ Tát: In all enlightening beings. 5) Bất hoại tín đối với tất cả thiện tri thức: In all genuine teachers. 6) Bất hoại tín đối với tất cả chúng sanh: In all sentient beings. 7) Bất hoại tín đối với đại nguyện của tất cả Bồ Tát: In all great vows of enlightening beings. 8) Bất hoại tín đối với tất cả Bồ Tát hạnh: In all practices of enlightening beings. 9) Bất hoại tín đối với sự cung kính cúng dường tất cả chư Phật: In honoring and serving all Buddhas. 10) Bất hoại tín đối với phương tiện thiện xảo giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh của Bồ Tát: In the skillful mystic techniques of enlightening beings.
mười bất không mà chư đại bồ tát đạt được khi chứng quang minh tạng trí
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 27—Thập Định, có mười thứ bất không mà chư đại Bồ Tát đạt được khi chứng Quang Minh Tạng Trí—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 27, there are ten kinds of fruitfulness Great Enlightening Beings attain when they realize the treasury of light of knowledge: 1) Kiến bất không, vì làm cho chúng sanh phát triển thiện căn: Fruitful seeing, because of causing sentient beings to develop roots of goodness. 2) Văn bất không, vì làm cho chúng sanh được thành thục: Fruitful hearing, causing sentient beings to gain maturity. 3) Đồng trụ bất không, vì làm cho tâm chúng sanh được điều phục: Fruitful association, causing sentient beings' minds to be pacified. 4) Phát khởi bất không, vì làm cho chúng sanh thực hành đúng như lời nói, thông đạt tất cả pháp nghĩa: Fruitful aspiration, causing sentient beings to do as they say and master the meanings of all the teachings. 5) Hạnh bất không, vì làm cho vô biên thế giới đều thanh tịnh: Fruitful action, causing boundless worlds to be purified. 6) Thân cận bất không, vì ở chỗ vô lượng chư Phật dứt nghi cho vô lượng chúng sanh: Fruitful companionship, cutting off countless beings' doubts in the presence of the Buddhas of countless worlds. 7) Nguyện bất không, vì theo sở niệm của chúng sanh khiến làm việc cúng dường thù thắng thành tựu các nguyện: Fruitful vows, causing whatever sentient beings are thougth of to make excellent offerings and accomplish undertakings. 8) Thiện xảo pháp bất không, vì làm cho tất cả có thể trụ nơi trí thanh tịnh giải thoát vô ngại: Fruitful skillful methods, causing all to be able to abide in pure knowledge of unobstructed liberation. 9) Mưa pháp vũ bất không, vì nơi vô lượng căn tánh của chúng sanh, phương tiện khai thị hạnh nhứt thiết trí khiến trụ Phật đạo: Fruitful showering of the rain of Teaching, expediently revealing the practice of universal knowledge to countless beings of various faculties and causing them to abide in the path of Buddhahood. 10) Xuất hiện bất không, vì hiện vô biên tướng, làm cho tất cả chúng sanh đều được soi sáng: Fruitful appearance, manifesting boundless forms, causing all sentient beings to be bathed in illumination.
mười bất khả tư nghì của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa nghiêm, Phẩm 38, có mười Bất Khả tư nghì của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong mười pháp Bất Tư Nghì nầy thời được pháp bất tư nghì vô thượng của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of inconceivability of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these will attain the supreme inconceivable qualities of all Buddhas. 1) Tất cả thiện căn bất tư nghì: All their roots of goodness are inconceivable. 2) Tất cả thệ nguyện bất tư nghì: All their vows are inconceivable. 3) Biết tất cả pháp như huyễn bất tư nghì: Their knowledge that all things are like illusions is inconceivable. 4) Tâm Bồ Đề, tu hạnh Bồ Tát, thiện chẳng mất, không chỗ phân biệt bất tư nghì: Their arousal of aspiration for enlightenment and cultivation of enlightening practice without losing roots of goodness and without arbitrary notions id inconceivable. 5) Dầu thâm nhập tất cả pháp cũng chẳng lấy diệt độ, vì tất cả nguyện chưa thành mãn, bất tư nghì: Their not grasping extinctionand liberation in spite of having profoundly penetrated all things, because all their vows are not fulfilled, is inconceivable. 6) Tu Bồ Tát Đạo, thị hiện giáng thân, nhập thai, đản sanh, xuất gia, khổ hạnh, đến đạo tràng, hàng phục chúng ma, thành tối chánh giác, chuyển chánh pháp luân, nhập đại Niết Bàn, thần biến tự tại, không thôi nghỉ, chẳng bỏ bi nguyện cứu hộ chúng sanh, bất tư nghì: They cultivate the Path of Enlightening Beings and manifest the appearances of incarnation, birth, leaving home, austere practices, going to the site of enlightenment, conquering demons, achieving supreme enlightenment, teaching and passing away, their spiritual transformation free, unceasing, not abandoning their vow of compassion, saving and protecting sentient beings, all of this is inconceivable. 7) Dầu hay thị hiện thập lực thần biến tự tại của Như Lai mà chẳng bỏ tâm khắp pháp giới giáo hóa chúng sanh, bất tư nghì: Though they are able to manifest the ten powers of Buddhas and their freedom of mystical projection, yet they do not give the mind equal to the cosmos, and teach sentient beings, this is inconceivable. 8) Biết tất cả các pháp vô tướng là tướng, tướng là vô tướng, vô phân biệt là phân biệt, phân biệt là vô phân biệt, phi hữu là hữu, hữu là phi hữu, vô tác là tác, tác là vô tác, phi thuyết là thuyết, thuyết là phi thuyết, bất tư nghì: They know that in all things signlessness is their sign, their signs are signless, nondiscrimination is discrimination, discrimination is nondiscrimination, nonexistence is existence, existence is nonexistence, inaction is action, action is inaction, nonexplanation is explanation, explanation is nonexplanation, , this is inconceivable. 9) Biết tâm cùng Bồ Đề không khác, biết Bồ Đề cùng tâm không khác, Biết tâm và Bồ Đề cùng chúng sanh không sai khác. Cũng chẳng sanh tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo bất tư nghì: They know their mind is equal to enlightenment, they know enlightenment is equal to mind, they know mind and enlightenment are equal to sentient beings, yet they do not give rise to confusion of mind, confusion of thoughts, or confusions of views, this is inconceivable. 10) Ở trong mỗi niệm nhập diệt tận định, sạch hết tất cả hữu lậu, mà chẳng chứng thực tế, cũng chẳng hết thiện căn hữu lậu. Dầu biết tất cả pháp vô lậu, mà biết lậu tận cũng biết lậu diệt. Dầu biết Phật pháp tức thế gian pháp, thế gian pháp tức Phật pháp, mà chẳng ở trong Phật pháp phân biệt thế gian pháp, chẳng ở trong thế gian pháp phân biệt Phật pháp. Tất cả pháp đều nhập pháp giới vì vô sở nhập. Biết tất cả pháp đều không hai vì không biến đổi: From the moment to moment they enter absorption in extinction and exhaust all contamination, yet they do not experience ultimate reality and do not end roots of goodness with contamination; though they know all things are free from contamination, yet they know the end and extinction of contaminations; though they know the principles of Buddhas are identical to the things of the world, and the things of the world are identical to the principles of Buddhas, yet they do not form notions of worldly things within the principles of Buddhas, and do not form notions of principles of Buddhas in the things of the world. All things enter the realm of reality because there is nothing entered; they know all things are nondual because there is no change.
mười bất phóng dật
Mười điều bất phóng dật (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 18)—Ten kinds of nonindulgence (The Flower Adornment Sutra—Chapter 18). When enlightening beings persist in nonindulgence, they attain ten kinds of purity (See Ten kinds of purity A). 1) Giữ gìn giới cấm:To keep the behavioral precepts. 2) Xa lìa ngu si, tâm Bồ Đề thanh tịnh: To abandon folly and purify the will for enlightenment. 3) Lòng thích ngay thẳng, chối bỏ dua nịnh: Straightforwardness and reject flattery and deception. 4) Siêng tu căn lành không thối chuyển: To earnestly cultivate virtues without regressing. 5) Luôn khéo tư duy tâm mình đã phát nguyện: To continually reflect on one's aspiration. 6) Chẳng thích gần gủi phàm phu, dù tại gia hay xuất gia: Not to enjoy association with ordinary people, whether they be householders or monks. 7) Tu những nghiệp lành mà chẳng mong cầu quả báo thế gian: To do good deeds without hoping for worldly rewards. 8) Lìa hẳn nhị thừa mà tu theo Bồ Tát hạnh: To forever leave lesser vehicles and practice the Path of Enlightening Beings. 9) Thích tu tập điều lành, chẳng để đoạn tuyệt: To gladly practice what is good, not letting goodness be cut off. 10) Luôn khéo quán sát sức tương tục của mình: To always examine one's own perseverance.
mười bất thiện nghiệp đạo
Akusala-kammapathi (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có mười Bất Thiện Nghiệp Đạo—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are ten unwholesome courses of action. 1) Sát Sanh: Taking life. 2) Trộm Cắp: Taking what is not given. 3) Tà Dâm: Sexual misconduct. 4) Vọng Ngôn: Lying speech. 5) Lưỡng Thiệt: Slandering. 6) Ác Khẩu: Rude speech. 7) Ỷ Ngữ: Idle chatter. 8) Tham: Greed. 9) Sân: Hatred or Malevolence. 10) Si Mê hay Tà Kiến: Ignorance or Wrong views.
mười bốn loại cúng dường
Theo Trung Bộ, Kinh Phân Biệt Cúng Dường, có mười bốn loại cúng dường phân loại theo hạng người—According to The Middle Length Discourses of the Buddha, Dakkhinavibhanga Sutra, there are fourteen kinds of personal offering. 1) Cúng dường cho các Đức Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Chánh Giác: One gives offering to the Tathagata, accomplished and fully enlightened. 2) Cúng dường cho các vị Độc Giác Phật: One gives offering to a pratyeka-buddha. 3) Cúng dường cho các bậc đệ tử A La Hán của Phật: One gives offering to an arahant disciple of the Tathagata. 4) Cúng dường cho các vị đang trên đường chứng quả A La Hán: One gives offering to one who has entered upon the way to the realisation of the fruit of Arahanship. 5) Cúng dường cho các vị chứng quả Bất Lai: One gives offering to to a Non-Returner. 6) Cúng dường cho các vị đang trên đường chứng quả Bất Lai: One gives offering to one who has entered upon the way to the realisation of the fruit of Non-Returner. 7) Cúng dường cho các vị chứng quả Nhất Lai: One gives offering to a Once-Returner. 8) Cúng dường cho các vị đang trên đường chứng quả Nhất Lai: One gives offering to one who has entered upon the way to realization of the fruit of Once-Returner. 9) Cúng dường cho các vị chứng quả Dự Lưu: One gives offering to a Stream-Enterer. 10) Cúng dường cho các vị đang trên đường chứng quả Dự Lưu: One gives offering to one who has entered upon the way to the realisation of the fruit of stream-entry. 11) Cúng dường cho các vị ngoại học đã ly tham trong các dục vọng: One gives offering to one outside who is free from lust for sensual pleasures. 12) Cúng dường cho những phàm phu gìn giữ giới luật: One gives offering to a virtuous ordinary person. 13) Cúng dường cho nhũng vị phàm phu theo ác giới: One gives offering to an immoral ordinary person. 14) Cúng dường cho các loại bàng sanh: One gives offering to an animal.
mười bốn loại sắc
Thập Tứ Sắc—Fourteen kinds of rupa—See Sắc (D).
mười bốn tâm sở bất thiện
Theo Vi Diệu Pháp, có mười bốn tâm sở bất thiện—According to The Abhidharma, there are fourteen unwholesome factors. 1) Si: Moho (p)—Delusion—Ignorance—Si hay moha đồng nghĩa với vô minh. Bản chất của nó là làm cho tinh thần chúng ta mù quáng hay chẳng biết gì. Nhiện vụ của nó là làm cho chúng ta không thấu suốt được bản chất thật của sự vật. Nó hiện đến khi chúng ta không có chánh kiến. Nó chính là gốc rễ của tất cả những nghiệp bất thiện—Delusion or moha is a synonym for avijja, ignorance. Its characteristic is mental blindness or unknowing. Its function is non-penetration, or concealment of the real nature of the object. It is manifested as the absence of right understanding or as mental darkness. Its proximate cause is unwise attention. It should be seen as the root of all that is unwholesome. 2) Vô Tàm: Ahirikam (p)—Shamelessness—Tự mình không biết xấu hổ khi thân làm việc xằng bậy, khi khẩu nói chuyện xằng bậy—Shamelessness is the absence of disgust at bodily and verbal misconduct. 3) Vô Quý: Anottappam (p)—Vô quý là không biết hổ thẹn với người khi thân khẩu làm và nói chuyện xằng bậy. Vô quý xãy ra khi chúng ta thiếu tự trọng chính mình và thiếu kính trọng người—Fearlessness of wrong doing, or moral recklessness is the absence of dread on account of bodily and verbal misconduct. This happens due to lack of respect for self and others. 4) Phóng Dật: Uddhaccam (p)—Restlessness—Unrestrained—Loose—Distracted—Agitation. Đặc tánh của phóng dật là không tỉnh lặng hay không thúc liễm thân tâm, như mặt nước bị gió lay động. Nhiệm vụ của phóng dật là làm cho tâm buông lung, như gió thổi phướn động. Nguyên nhân gần đưa tới bất phóng dật là vì tâm thiếu sự chăm chú khôn ngoan—It has the characteristic of disquietude, like water whipped up by the wind. Its function is to make the mind unsteady, as wind makes the banner ripple. It is manifested as turmoil. Its proximate cause is unwise attention to mental disquiet. 5) Tham: Lobho (p)—Tham là căn bất thiện đầu tiên che đậy lòng tham tự kỷ, sự ao ước, luyến ái và chấp trước. Tánh của nó là bàm víu vào một sự vật nào đó hay tham lam đắm nhiễm những gì nó ưa thích. Nghiệp dụng của nó là sự bám chặt, như thịt bám chặt vào chảo. Nó hiện lên áp chế khi chúng ta không chịu buông bỏ. Nguyên nhân gần đưa đến tham là vì chúng ta chỉ thấy sự hưởng thụ trong sự việc—Greed, the first unwholesome root, covers all degrees of selfish desire, longing, attachment, and clinging. Its characteristic is grasping an object. Its function is sticking, as meat sticks to a hot pan. It is manifested as not giving up. Its proximate cause is seeing enjoyment in things that lead to bondage. 6) Tà Kiến: Ditthi (p)—Wrong view—Tà kiến là thấy sự vật một cách sai lầm. Tánh và nghiệp dụng của nó là giải thích sai lầm mà cho là trúng. Nguyên nhân gần của nó là không chịu tin theo tứ diệu đế—False view means seeing wrongly. Its characteristic is unwise or unjustified interpretation or belief. Its function is to preassume. It is manifested as a wrong interpretation or belief. Its proximate cause is unwillingness to see the noble ones. 7) Ngã Mạn: Mano (p)—Conceit—Pride. Tánh của tâm sở nầy là cao ngạo, ỷ tài ỷ thế của mình mà khinh dễ hay ngạo mạn người. Nó được coi như là tánh điên rồ—Conceit has the characteristic of haughtiness. Its function is self-exaltation. It is manifested as vainglory. Its proximate cause is greed disassociated from views. It should be regarded as madness. 8) Sân: Doso (p)—Hatred—Ill-will—Tánh của tâm sở nầy là ghét hay không ưa những cảnh trái nghịch. Nghiệp dụng của nó là tự bành trướng và đốt cháy thân tâm của chính nó—Doso, the second unwholesome root, comprises all kinds and degrees of aversion, ill-will, anger, irritation, annoyance, and animosity. Its characteristic is ferosity. Its function is to spread, or burn up its own support, i.e. the mind and body in which it arises. It is manifested as persecuting, and its proximate cause is a ground for annoyance. 9) Tật Đố hay Ganh Tỵ: Issa (p)—Envy—Tánh của tật đố hay ganh tỵ là ganh ghét đố kỵ những gì mà người ta hơn mình hay sự thành công của người khác. Nguyên nhân đưa đến tật đố là không muốn thấy sự thành công của người khác—Envy has the characteristic of being jalous of other's success. Its function is to be dissatisfied with other's success. It is manifested as aversion towards that. Its proximate cause is other's success. 10) Xan Tham: Macchariyam (p)—Avarice—Tánh của xan tham hay bỏn xẻn là muốn che dấu sự thành công hay thịnh vượng của mình vì không muốn chia xẻ với người khác—The characteristic of avarice or stinginess is concealing one's own success when it has been or can be obtained. Its function is not to bear sharing these with others. It is manifested as shrinking away from sharing and as meanness or sour feeling . Its proximate cause is one's own sucess. 11) Lo Âu: Kukkuccam (p)—Lo âu khi làm điều sai phạm —Worry or remorse after having done wrong. Its characteristic is subsequent regret. Its function is to sorrow over what has or what has not been done. It is manifested as remorse. 12) Hôn Trầm: Thinam (p)—Tánh của hôn trầm là làm cho tâm trí mờ mịt không sáng suốt—Sloth is sluggishness or dullness of mind. Its characteristic is lack of driving power. Its function is to dispel energy. It is manifested as the sinking of the mind. Its proximate cause is unwise attention to boredom, drowsiness, etc. Sloth is identified as sickness of consciousness or cittagelanna. 13) Thụy Miên: Middham (p)—Tánh của thụy miên là buồn ngủ hay gục gật làm cho tâm trí mờ mịt không thể quán tưởng được—Torpor is the morbid state of the mental factors. Its characteristic is unwieldiness. Its function is to smother. It is manifested as drooping, or as nodding and sleepiness. Sloth and torpor always occur in conjunction, and are opposed to energy. Torpor is identified as sickness of the mental factors or kayagelanna. 14) Hoài Nghi: Vicikiccha (p)—Doubt—Hoài nghi có nghĩa là hoài nghi về mặt tinh thần. Theo quan điểm Phật giáo thì hoài nghi là thiếu khả năng tin tưởng nơi Phật, Pháp, Tăng—Doubt signifies spiritual doubt, from a Buddhist perspective the inability to place confidence in the Buddha, the Dharma, the Sangha, and the training.
mười bốn điều không thể thuyết minh được
Fourteen inexpressible things—See Im Lặng Cao Quí.
mười bồ tát địa
Ten stages of a Mahayana Bodhisattva—See Thập Địa Bồ Tát Đại Thừa.
mười bổn phận của một phật tử
Ten duties of a Buddhist—Theo Kinh Thi Ca La Việt, một Phật tử phải chu toàn mười bổn phận quan yếu đối với gia đình và xã hội—According to the Sigalaka Sutra, a Buddhist must perform the following ten duties toward his family and society. 1) Cha mẹ đối với con cái—Duties of parents toward children: a) Cha mẹ phải khuyên con cái giữ đạo hạnh Phật, tạo bầu không khí thân mật giữa các con các cháu, gần gũi bạn bè tốt, nhắc nhở cần mẫn học hành, hướng dẫn tìm vợ chồng cho vừa đôi đúng lứa và bàn thảo chung công việc gia đình—Parents should advise children to maintain Buddhist behavior, create an intimate atmosphere among children and grandchildren, and frequent loyal friends, encourage them in their study and guide them in the choice of a suitable husband or wife. b) Trong Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy: “Này gia chủ tử, cha mẹ có lòng thương tưởng đến con theo năm cách—In the Sigalaka Sutra, the Buddha taught: “Oh son of Sigalaka, there are five ways in which the parents should treat their children.” • Ngăn chận con làm điều ác: They will restrain him from evil. • Khuyến khích con làm điều thiện: They will support him in doing good. • Dạy con nghề nghiệp: They will teach him some skill. • Cưới vợ xứng đáng cho con: They will find him a suitable wife. • Đúng thời trao của thừa tự cho con: In due time, they will hand over his inheritance to him. 2) Con đối với cha mẹ—Duties of children toward parents: a) Con cái phải hết lòng hiếu kính với cha mẹ, phải giữ danh dự gia đình, gánh vác công việc nhọc nhằn, săn sóc cha mẹ khi ốm đau hơn là khóc thương, cúng giỗ linh đình, đặt vòng hoa trên mộ người đã khuất; không nên theo vợ con mà bỏ rơi cha mẹ, con mà bất hiếu với cha mẹ thì không còn một việc xấu xa nào mà không làm được—Children should be respectful toward their parents, preserve the honors of the family, assume full charge of heavy, strenuous works, and nurse their parents when they become sick rather than letting them to die and afterward crying frantically, laying a big wreath at their tomb or celebrating sumptuous death anniversaries. They should not listen to their wives' opinion to abandon their own parents, because it is too bad to be undutiful toward them. b) Theo Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy: “Này gia chủ tử, có năm trường hợp, người con phải phụng dưỡng cha mẹ như phương Đông”—According to the Sigalaka Sutra, the Buddha taught: “There are five ways in which a son should minister to his mother and father as the Eastern direction.” • Được nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ: He should think having been supported by them, I will support them. • Tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ: I will perform their duties for them. • Tôi sẽ gìn giữ gia đình và truyền thống: I will keep up the family tradition. • Tôi bảo vệ tài sản thừa tự: I will be worthy of my heritage. • Tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời: After my parents' deaths, I will distribute gifts on the their behalf. 3) Chồng đối với vợ—Duties of the husband toward his wife: a) Chồng đối với vợ phải tương kính, phải là người cột trụ có tinh thần trách nhiệm cao độ, gánh vác những việc nặng nề khó khăn, không to tiếng nặng lời, cư xử nghiêm túc, ăn uống đơn giản, không keo bẩn, không ngoại tình, và tin vợ những công việc nhà—Being the pillar of the family, the husband must be closely related to his wife and both must develop mutual affection. He should have a great sense of responsibility, take charge of difficult work, and know how to deal correctly with others. He should lead a sober life and should not be stingy, nor commit fornication. b) Trong Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy: “Này gia chủ tử, có năm cách, người chồng phải đối xử với vợ như phương Tây.”—In the Sigalaka Sutra, the Buddha taught: Oh son of Sigalaka, there are five ways in which a husband should minister to his wife as the Western direction.”: • Kính trọng vợ: By honouring her. • Không bất kính đối với vợ: By not disparaging her. • Trung thành với vợ: By not being unfaithful to her. • Giao quyền hành cho vợ: By giving authority to her. • Sắm đồ nữ trang cho vợ: By providing her with adornments. 4) Vợ đối với chồng—Duties of the wife toward her husband: a) Vợ đối với chồng phải kính nể, dịu dàng, chân thật, không đôi co, nhà cửa gọn gàng, chi tiêu cần kiệm, giữ gìn tiết hạnh, bảo vệ gia phong, giáo dục con cái, là hiền mẫu của con cái, vui vẻ với bà con quyến thuộc, và bạn bè—The wife must respect her husband, be sweet, sincere, economical, and faithful. She must protect her family customs and habits, and be good mannered toward her children and amiable toward relatives and friends. b) Trong Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy: “Này gia chủ tử, được chồng đối xử như phương Tây theo năm cách như vậy, người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách.”—In the Sigalaka Sutra, the Buddha taught: “Oh son of Sigalaka, there are five ways in which a wife, thus ministered to by her husband as the Western direction.” • Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình: By properly organising her work. • Khéo tiếp đón bà con: By being kind to the relatives. • Trung thành với chồng: By not being unfaithful. • Khéo gìn giữ tài sản của chồng: By protecting husband's property. • Khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc: By being skilful and diligent in all she has to do. c) Này gia chủ tử, người vợ được người chồng đối xử như phương Tây theo năm cách và người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách. Như vậy phương Tây được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi: In this way the Western direction is covered, making it at peace and free from fear. 5) Đối với anh chị em, bà con, thân thích, và láng giềng—Duties of the head of the family toward relatives, kinfolk and neighbors: Thương yêu và hòa thuận với anh chị em, biết làm điều lợi ích chung cho gia đình, xã hội, tránh sự ganh tỵ, óc đố kỵ, gây chia rẽ làm không khí gia đình thiếu đầm ấm an vui. Giúp đỡ thân thích nghèo, kẻ đau yếu, người nạn tai tật nguyền, không cố chấp giận hờn dù có ý kiến bất đồng, tránh dữ làm lành, cần giao thiệp hòa nhã với láng giềng, nhờ cậy nhau lúc tắt lửa tối đèn—He must get along with brothers and sisters and relatives, be useful to his family, and society, and shun jealousy. He must not sow division among family and members and must help his poor, sick, disabled kinfolk. He should not be unforgiving or angry against others. He must be courteous toward neighbors who would help him in case of an emergency. 6) Thầy đối với trò—Duties of the teacher toward his students: a) Thầy phải hết lòng dạy dỗ, chăm sóc trò sao cho tăng tiến cả phần trí dục cũng như đức dục; phải để ý giảng dạy những điều mà trò chưa lãnh hội đầy đủ; phải luôn luôn cởi mở, rộng rãi, lắng nghe những khó khăn mà trò gặp phải—The teacher is devoted to his students by explaining carefully what they do not understand yet, being overt and paying sharp attention wo what they say. b) Theo Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy: “Này gia chủ tử, các bậc sư trưởng có lòng thương tưởng đến các đệ tử theo năm cách—In The Sigalaka Sutra, the Buddha taught: “Oh son of Sigalaka, there are five ways in which their teachers care for their students.” • Huấn luyện đệ tử những gì mình đã được khéo huấn luyện: They will give thorough instruction. • Dạy cho bảo trì những gì mình được khéo bảo trì: Make sure they have grasped what they should have duly grasped. • Dạy cho thuần thục các nghề nghiệp: Given them a thorough grounding in all skills. • Khen đệ tử với các bạn bè quen thuộc: Recommend them to their friends and colleagues. • Bảo đảm nghề nghiệp cho đệ tử về mọi mặt: Provide them with security in all directions. c) Này gia chủ tử, như vậy là bậc sư trưởng được đệ tử phụng dưỡng như phương Nam theo năm cách và sư trưởng có lòng thương tưởng đến đệ tử theo năm cách. Như vậy phương Nam được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi: In this way the Southern direction is covered, making it at peace and free from fear. 7) Trò đối với thầy—Duties of the students to their teacher: a) Trò phải kính mến thầy như cha mẹ, vâng lời thầy dạy, siêng năng học tập, giúp đỡ thăm nom thầy khi ốm đau hoặc hoạn nạn—Student should respect their teacher as they do toward their parents. They must obey, help him in case of illness and be diligent in their study. b) Này gia chủ tử, có năm cách, đệ tử phụng dưỡng các bậc sư trưởng như phương Nam—There are five ways in which pupils should minister to their teachers as the Southern direction: • Đứng dậy để chào: By rising to greet them. • Hầu hạ thầy: By serving them. • Hăng hái học tập: By being attentive. • Tự phục vụ thầy: By waiting on them. • Chú tâm học hỏi nghề nghiệp: By mastering the skills they teach. 8) Chủ đối với công nhân—Duties of employer toward employee: a) Chủ phải chăm sóc sức khỏe người làm, công bình mà phân công việc, trả lương thích đáng. Nếu người làm phạm lỗi, phải xét do cố ý hay vô tình mà thưởng phạt; khi họ tích cực làm việc đưa đến lợi lộc thêm phải thưởng đúng mức, không keo kiệt—The employer must take care of his employees' health. He must be impartial when distributing services to them and pay them their due salary. If the employee makes a mistake, he must carefully examine if it is done voluntarily or involuntarily before inflicting any punishment. In case of a reward, it should be relevant to the gains he has gotten. b) Trong Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy: “Này gia chủ tử, có năm cách một vị Thánh chủ nhân đối xử với hạng nô bộc như phương Dưới.”—In the Sigalaka Sutra, the Buddha taught: “Oh son of Sigalaka, there are five ways in which a master should minister to his servants and work people as the Nadir direction.” • Giao công việc đúng theo sức của họ: By arranging their work according to their strength. • Lo cho họ ăn uống và tiền lương: By supplying them with food and wages. • Điều trị cho họ khi bệnh hoạn: By looking after them when they are ill. • Chia xẻ các mỹ vị đặc biệt cho họ: By sharing special delicacies with them. • Thỉnh thoảng cho họ nghỉ phép: By letting them off work at the right time. 9) Công nhân đối với chủ—Duties of employees toward their employer: a) Người làm phải cố gắng phục vụ sao cho công việc được tốt hơn; phải chuyên cần, lương thiện, không làm hư hao, phí tổn và không nên chỉ trích hay nói lén, nói xấu chủ nhân với người ngoài—Employees should do their best to improve their output. They must be diligent and honest. They should not waste raw material, criticize or bite back their employer with others. b) Trong Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy: “Này gia chủ tử, các hàng nô bộc được Thánh chủ nhân đối xử như phương Dưới với năm cách kia, có lòng thương đối với vị chủ nhân theo năm cách như sau.”—In the Sigalaka Sutra, the Buddha taught: “Oh son of Sigalaka, there are five ways in which servants and workpeople, thus ministered to by their master as the Nadir.” • Dậy trước khi chủ thức dậy: They will get up before him. • Đi ngủ sau khi chủ đi ngủ: They will go to bed after him. • Tự bằng lòng với các vật đã cho: Take only what they are given. • Khéo làm các công việc: Do their work properly. • Đem lại danh tiếng tốt đẹp cho chủ: Be bearer of his praise and good repute. c) Này gia chủ tử, các hàng nô bộc được các vị Thánh chủ nhân đối xử như phương Dưới với năm cách, họ cũng có lòng thương đối với Thánh chủ nhân theo năm cách. Như vậy phương Dưới được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi: In this way the Nadir is covered, making it at peace and free from fear. 10) Đối với Tăng Ni và các thành viên của tôn giáo khác—Duties of Buddhist adepts toward monks, nuns, and members of other religions: (A) Đối với chư Tăng Ni—Duties of Buddhist adepts toward monks and nuns: a) Đối với Tăng Ni phải cung kính vâng lời, thành thật và chăm chỉ nghe lời giảng dạy của các thầy; cần học hành để mỗi ngày thêm tinh tiến—They should be deferential, obedient and sincere toward their master and listen carefully to the explanations of the latter. They should read and try to understand the Buddha's teachings in order to make spiritual progress. b) Trong Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy: “Phương Trên cần được hiểu là Sa Môn, Bà La Môn. Này gia chủ tử, có năm cách vị thiện nam tử đối xử với các vị Sa Môn, Bà La Môn như phương Trên.”—In the Sigalaka Sutra, the Buddha taught: “The Zenith denotes ascetics and Brahmins. Oh son of Sigalaka, there are five ways in which a man should minister to ascetics and Brahmins as the Zenith.” • Có lòng từ trong hành động về thân: By kindness in bodily deed. • Có lòng từ trong hành động về khẩu: By kindness in speech. • Có lòng từ trong hành động về ý: By kindness in thought. • Mở rộng cửa để đón các vị ấy: By keeping open house for them. • Cúng dường các vị ấy các vật dụng cần thiết: By supplying their bodily needs. (B) Chư Tăng Ni đối với Phật tử tại gia—Duties of monks and nuns toward lay people: a) Này gia chủ tử, các vị Sa Môn, Bà La Môn được vị thiện nam tử đối xử như phương Trên theo năm cách như vậy, cũng có lòng thương vị thiện nam tử theo năm cách sau đây—The ascetics and Brahmins, thus ministered to by him as the Zenith, will reciprocate in six ways: • Ngăn không cho họ làm điều ác: They will restrain him from evil. • Khuyến khích họ làm điều thiện: They will encourage him to do good. • Thương xót họ với tâm từ bi: They will be benevolently compassionate towards him. • Dạy họ những điều chưa nghe: They will teach him what he has not heard. • Làm cho thanh tịnh điều đã được nghe: They will help him purify what he has heard. • Chỉ bày con đường đưa đến cõi Trời: They will point out to him the way to Heaven. b) Này gia chủ tử, các vị Sa Môn, Bà La Môn được thiện nam tử đối xử như phương Trên với năm cách, cũng có lòng thương thiện nam tử theo năm cách. Như vậy phương Trên được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi: In this way the Zenith is covered, making it at peace and free from fear. (C) Đối với các tôn giáo khác—Duties toward other religions: Đối với tôn giáo thì không bài xích tôn giáo của người khác, làm như vậy thêm mâu thuẫn và cũng là đào huyệt chôn chính tôn giáo mà mình đang theo—They should not disparage other religions since it could create more conflicts.
mười bụng của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười bụng của chư Đại Bồ Tát. Chư Đại Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được bụng rộng lớn vô thượng của Như Lai, đều có thể dung thọ tất cả chúng sanh—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of guts of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can acquire the supreme vast guts of Buddhas, able to contain all sentient beings. 1) Bụng lìa tà vạy, vì tâm thanh tịnh: Guts free from deception, their hearts being pure. 2) Bụng lìa huyễn ngụy, vì tánh chất chơn thật: Guts free from falsehood, being honest by nature. 3) Bụng chẳng hư giả, vì không hiểm dối: Nonprevericating guts, having no crookedness. 4) Bụng không thi đoạt, vì không tham đối với tất cả vật: Nonswindling guts, having no greed for anything. 5) Bụng dứt phiền não, vì đầy đủ trí huệ: Guts cutting off afflictions, being full of wisdom. 6) Bụng thanh tịnh tâm, vì rời các điều ác: Pure-minded guts, being free from all evils. 7) Bụng quán sát ăn uống, vì nhớ đến pháp chơn thật: Guts examining food and drink, remembering reality. 8) Bụng quán sát vô tác, vì giác ngộ duyên khởi: Guts observing noncreation, being aware of interdependent origination. 9) Bụng ngộ tất cả đạo xuất ly, vì khéo thành thục thâm tâm: Guts aware of all ways of emancipation, fully developing the will. 10) Bụng xa rời tất cả cấu nhơ biên kiến, vì làm cho tất cả chúng sanh nhập vào bụng Phật: Guts rid of the defilement of all extreme views, enabling all sentient beings to enter into the guts of Buddha.
mười chân của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa nghiêm, Phẩm 38, chư đại Bồ Tát có mười chưn. Chư Bồ Tát an trụ trong những pháp nầy thời được những chưn vô thượng tối thắng của Đức Như Lai, khi cất chưn một bước là có thể đến khắp tất cả thế giới—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of feet of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme feet of Buddhas, which can reach all worlds in one step. 1) Chưn trì giới, vì đại nguyện thù thắng đều thành tựu viên mãn: The feet of discipline, fulfilling all higher aspirations. 2) Chưn tinh tấn, vì tích tập tất cả pháp Bồ Đề phần không thối chuyển: The feet of energy, assembling all of enlightenment without regreesing. 3) Chưn thần thông, vì tùy theo dục lạc của chúng sanh làm cho hoan hỷ: The feet of spiritual knowledge, gladdening all sentient beings according to their desires. 4) Chưn thần lực, vì chẳng rời một cõi Phật mà qua đến tất cả cõi Phật: The feet of psychic powers, going to all Buddha-lands without leaving one Buddha-land. 5) Chưn thâm tâm, vì nguyện cầu tất cả pháp thù thắng: The feet of determination, seeking all higher laws. 6) Chưn kiên thệ, vì tất cả việc làm đều rốt ráo: The feet of resolute commitment, fulfilling all their tasks. 7) Chưn tùy thuận, vì chẳng trái lời dạy của các bậc tôn túc: The feet of accord, not opposing the teachings of all the honorable. 8) Chưn lạc pháp, vì nghe và thọ trì tất cả pháp của chư Phật nói không mỏi lười: The feet of delight in truth, Tirelessly hearing and holding all teachings spoken by Buddhas. 9) Chưn pháp vũ, vì đại chúng thuyết pháp không khiếp nhược: The feet of rain of teaching, lecturing to the masses without timidity. 10) Chưn tu hành, vì tất cả các điều ác đều xa lìa: The feet of cultivation, getting rid of all evils.
mười chỗ ngồi của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38, có mười chỗ ngồi của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ nơi mười chỗ ngồi nầy thời được chỗ ngồi chánh giác vô thượng của Đức Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of sitting of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the Budhas' supreme sitting of true awareness. 1) Chỗ ngồi chuyên luân vương, vì phát khởi mười thiện đạo: The sitting of universal mornarchs, promoting all vrituous behavior. 2) Chỗ ngồi Tứ Thiên vương, vì ở tất cả thế gian tự tại an lập Phật pháp: The sitting of guardian deities, independently establishing the Buddha teaching in all worlds. 3) Chỗ ngồi Đế Thích, vì làm thắng chủ cho tất cả chúng sanh: The sitting of Indra, king of gods, being superior lords of all sentient beings. 4) Chỗ ngồi Phạm vương, vì ở người và mình tâm đều được tự tại: The sitting of Brahma, being in control of their own and others' minds. 5) Chỗ ngồi sư tử, vì hay thuyết pháp: The sitting of lions, being able to expound the truth. 6) Chỗ ngồi chánh pháp, vì dùng sức tổng trì biện tài mà khai thị: The sitting of right teaching, holding forth by means of mental command and intellectual powers. 7) Chỗ ngồi kiên cố, vì thệ nguyện rốt ráo: Steadfast sitting, Vowing to reach the ultimate end. 8) Chỗ ngồi đại từ, vì làm cho các chúng sanh hung dữ đều hạnh phúc: The sitting of great benevolence, bringing happness to all evil sentient beings. 9) Chỗ ngồi đại bi, vì nhẫn chịu tất cả đau khổ chẳng mỏi nhàm: The sitting of great compassion, tirelessly enduring all pains. 10) Chỗ ngồi kim cang, vì hàng phục ma quân và ngoại đạo: Adamantine sitting, Conquering demons and false teachers.
mười chỗ nằm của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38, có mười chỗ nằm của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong mười chỗ nằm nầy thời được chỗ nằm đại pháp vô thượng của Như Lai, đều có thể khai ngộ tất cả chúng sanh—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of reclining of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can atain the supreme reclining of the great teaching of Buddhas and be able to awaken all sentient beings. 1) Chỗ nằm tịch tịnh, vì thân tâm yên lặng: The reclining of silent tranquility, because of practicing in accord with principle. 2) Chỗ nằm thiền định, vì tu hành đúng lý: The reclining of meditation, because of practicing in accord with the truth. 3) Chỗ nằm tam muội, vì thân tâm nhu nhuyễn: The reclining of concentration, because of body and mind being supple. 4) Chỗ nằm thiện nghiệp, vì về sau chẳng ăn năn: The reclining of good works, because of not having regrets afterward. 5) Chỗ nằm Phạm thiên, vì chẳng não hại mình và người: The reclining of Brahma, because of not disturbing self or others. 6) Chỗ nằm chánh tín, vì chẳng bị khuynh động: The reclining of true faith, because of being unshakable. 7) Chỗ nằm chánh đạo, vì thiện hữu khai giác: The reclining of the right path, because of awakening by good companions. 8) Chỗ nằm diệu nguyện, vì thiện xảo hồi hướng: The reclining of sublime aspirations, because of skillful dedication. 9) Chỗ nằm tất cả việc đều xong, vì việc làm đều hoàn mãn: The reclining of completion of all tasks, because of having accomplished all that is to be done. 10) Chỗ nằm bỏ qua những công dụng vì tất cả đều quen thuộc: The reclining of relinquishment of all effort, because of thorough training.
mười chỗ sở hành của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười chỗ sở hành của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được chỗ sở hành đại trí huệ vô thượng của Đức Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of sphere of action of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can reach the supreme sphere of action of great wisdom of Buddhas. 1) Dùng chánh niệm làm chỗ sở hành, vì đầy đủ niệm xứ: They take right mindfulness as their sphere of action, as they fulfill the points of mindfulness. 2) Dùng những xu hướng làm chỗ sở hành, vì xu hướng pháp chánh giác: They take all realms of beings as their sphere of action, as they become truly aware of this implications of the Teaching. 3) Dùng trí huệ làm chỗ sở hành, vì được Phật hoan hỷ: They take wisdom as their sphere of action, gaining the joy of Buddhas. 4) Dùng Ba La Mật làm chỗ sở hành, vì đầy đủ nhứt thiết chủng trí: They take the transcendent ways as their sphere of action, as they fulfill omniscience. 5) Dùng tứ nhiếp pháp làm chỗ sở hành, vì nhờ đó mà giáo hóa chúng sanh: They take the four integrative practices as their sphere of action, as they educate sentient beings. 6) Dùng sanh tử làm chỗ sở hành, vì chứa nhóm thiện căn: They take birth and death as their sphere of action, as they accumulate roots of goodness. 7) Dùng sự nói chuyện đùa tạp với chúng sanh làm chỗ sở hành, vì tùy nghi giáo hóa và khiến cho chúng sanh được giải thoát: They take bantering with all sentient beings as their sphere of action, as they teach them according to their needs and cause them to become free. 8) Dùng thần thông làm chỗ sở hành, vì biết cảnh giới các căn của tất cả chúng sanh: They take spiritual powers as their sphere of action, as they know the realms of the senses of all sentient beings. 9) Dùng phương tiện thiện xảo làm chỗ sở hành, vì tương ưng với Bát Nhã Ba La Mật: They take skill in means as their sphere of action, uniting them with transcendent wisdom. 10) Dùng đạo tràng làm chỗ sở hành, vì thành nhứt thiết trí mà chẳng dứt hạnh Bồ Tát: They take the site of enlightenment as their sphere of action, as they attain universal knowledge, without stopping the practices of Enlightening Beings.
mười chỗ sở trụ của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười chỗ sở trụ của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được chỗ sở trụ vô ngại vô thượng của Như Lai—According to The Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of abode of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can reach the supreme abode of Buddhas where there is no obstruction. 1) Dùng đại từ làm chỗ sở trụ, vì tâm bình đẳng với tất cả chúng sanh: The abode of great goodwill, being impartial toward all sentient beings. 2) Dùng đại bi làm chỗ sở trụ, vì chẳng khinh người chưa học: The abode of great compassion, not slighting the uncultivated. 3) Dùng chỗ đại hỷ làm chỗ sở trụ, vì rời tất cả ưu não: The abode of great joy, aloof from all vexations. 4) Dùng đại xả làm chỗ sở trụ, vì nơi hữu vi vô vi đều bình đẳng: The abode of great equanimity, regarding the created and uncreated equally. 5) Dùng tất cả Ba La Mật làm chỗ sở trụ, vì lấy Bồ Đề tâm làm đầu: The abode of transcendent ways, being led by the aspiration for enlightenment. 6) Dùng nhứt thiết không làm chỗ sở trụ, vì thiện xảo quán sát: The abode of universal emptiness, by virtue of skillful analysis. 7) Dùng vô tướng làm chỗ sở trụ, vì chẳng ra hỏi chánh vị: The abode of signlessness, not leaving the absolute state. 8) Dùng vô nguyện làm chỗ sở trụ, vì quán sát thọ sanh: The abode of wishlessness, examining the experience of taking on life. 9) Dùng niệm huệ làm chỗ sở trụ, vì nhẫn pháp thành tựu viên mãn: The abode of recollection and awareness, by virtue of full development of recognition of truth. 10) Dùng tất cả pháp bình đẳng làm chỗ sở trụ, vì được thọ ký: The abode of equality of all things, by virtue of having gained the prediction of Budhahood.
mười cung điện của chư đại bồ tát (kinh hoa nghiêm—phẩm 38)
Ten kinds of palace of great enlightening beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38)—Chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được pháp quán đảnh nơi tất cả thế gian thần lực tự tại—Enlightening Beings who abide by these can attain coronation by truth and freedom of spiritual powers in all worlds. 1) Bồ Đề tâm là cung điện của Bồ Tát vì hằng không quên mất: The determination is a palace of Enlightening Beings because they never forget it. 2) Thập thiện nghiệp đạo phước đức trí huệ là cung điện của Bồ Tát vì giáo hóa chúng sanh cõi dục: The blessing and wisdom of virtuous conduct are a palace for Enlightening Beings because they civilize sentient beings in the realm of desire. 3) Tứ phạm trụ thiền định là cung điện của Bồ Tát vì giáo hóa chúng sanh cõi sắc: The meditative concentrations of pure benevolence, compassion, joy, and equanimity are a palace of Enlightening Beings because they teach the sentient beings in the realm of form. 4) Sanh Tịnh Cư Thiên là cung điện của Bồ Tát, vì tất cả phiền não chẳng nhiễm: Birth in the heaven of pure abodes is a palace of Enlightening Beings because no afflictions can affect them. 5) Sanh vô sắc giới là cung điện của Bồ Tát vì khiến tất cả chúng sanh lìa chỗ nạn: Birth in the formless realm is a palace of Enlightening Beings because they enable sentient beings to escape difficult situations. 6) Sanh vào thế giới tạp nhiễm là cung điện của Bồ Tát, vì khiến tất cả chúng sanh dứt phiền não: Birth in the world of defilement is a palace of Enlightening Beings because they enable all sentient beings to cut off afflictions. 7) Thị hiện ở nội cung thê tử quyến thuộc là cung điện của Bồ Tát, vì thành tựu chúng sanh đồng hạnh thuở xưa: Appearing to abide in a mansion with spouse, children, and retinue, is a palace of Enlightening Beings, because they develop their past associates. 8) Thị hiện ở ngôi luân vương, tứ thiên vương, đế thích, phạm vương là cung điện của Bồ Tát, vì điều phục chúng sanh tâm tự tại: Appearing to dwell in the rank of ruler, celestial world guardian, Indra, or Brahma is a palace of Enlightening Beings, in order to tame beings with the mentality of controllers. 9) Tất cả Bồ Tát hạnh du hí thần thông đều được tự tại là cung điện của Bồ Tát, vì giỏi du hí các thiền, giải thoát, tam muội trí huệ: Persisting in all practices of Enlightening Beings, freely exercising spiritual powers and attaining mastery of them all, is a palace of enlightening beings because they autonomously and skillfully exercise the knowledge of meditations, liberations, and concentrations. 10) Tất cả chư Phật thọ ký nhứt thiết trí, quán đảnh tự tại vô thượng là cung điện của Bồ Tát, vì trụ thập lực trang nghiêm, làm việc tự tại của Pháp Vương: The guarantee that all Buddhas receive of coronation as a mornach of all knowledge, supremely independent, is a palace of Enlightening Beings because they abide among the adornments of the ten powers and perform the autonomous deeds of all mornachs of truth.
mười cách chuyển pháp luân của các đức như lai
Theo Kinh Hoa Nghiêm, các Đức Như Lai có mười cách chuyển Pháp Luân—Ten aspects of the turning of the turning of the great wheel of teaching by truly awakened Buddhas (The Flower Adornment Sutra) 1) Thanh tịnh đầy đủ bốn trí vô úy: They are imbued with the knowledge of the four pure fearlessness. 2) Xuất sanh bốn biện tài tùy thuận âm thanh: They produce utterances consonant with the four intellectual powers. 3) Khéo có thể khai triển tướng của bốn chân đế: They are able to expound the characteristics of the four truths. 4) Tùy thuận chư Phật vô ngại giải thoát They accord with the unobstructed liberation of all Buddhas. 5) Có thể làm cho chúng sanh phát tâm tin thanh tịnh: They are able to provoke pure faith in the minds of all sentient beings. 6) Những lời nói ra đều không luống công, đều có thể nhổ trừ tên độc đau khổ cho tất cả chúng sanh: Whatever they say is not in vain, being able to extract the poison arrows of suffering from sentient beings. 7) Đại bi nguyện lực gia trì: They are supported by the power of great compassionate commitment. 8) Khi phát âm sẽ vang vọng khắp cùng tất cả thế giới mười phương: Their utterances pervade all worlds. 9) Trong vô số kiếp chẳng ngớt thuyết pháp: Teach endlessly for incalculable eons. 10) Lời thuyết nào cũng đều có thể giúp phát khởi những pháp căn, lực, giác, đạo, thiền định, giải thoát và tam muội: The teachings they utter are all able to produce spiritual faculties and powers, ways of awakening, meditations, liberations, concentrations and such phenomena.
mười cách nhập kiếp của chư bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm. Có mười cách mà chư Bồ tát nhập kiếp được Phật nói đến. Điều nầy có nghĩa là chư Bồ Tát nhập vào khắp tất cả các kiếp—According to The Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of entry into ages by Enlightening Beings mentioned by the Buddha. This means they enter all ages. 1) Nhập kiếp quá khứ: They enter into past ages. 2) Nhập kiếp vị lai: They enter into future ages. 3) Nhập kiếp hiện tại: They enter into present ages. 4) Nhập kiếp đếm được: They enter into countable ages. 5) Nhập kiếp không đếm được: They enter into uncountable ages. 6) Nhập kiếp đếm được cùng là kiếp không đếm được:They enter into countable ages as uncountable ages. 7) Nhập kiếp không đếm được cùng là kiếp đếm được: They enter into uncountable ages as countable ages. 8) Nhập tất cả kiếp cùng là phi kiếp: They enter all ages as not ages. 9) Nhập phi kiếp cùng là nhập tất cả kiếp: They enter nonages as all ages. 10) Nhập tất cả kiếp cùng một niệm: They enter all ages as one instant.
mười cách nhập thế giới của chư bồ tát
Theo lời Phật dạy trong Kinh Hoa Nghiêm, chư Đại Bồ Tát có mười cách nhập thế giới hay nhập mười phương thế giới—According to the Buddha in the Flower Adornment Sutra, Great Enlightening Beings have ten kinds of entry into worlds or ten directions. 1) Nhập thế giới nhiễm: They enter defiled worlds. 2) Nhập thế giới tịnh: They enter pure worlds. 3) Nhập thế giới nhỏ: They enters small worlds. 4) Nhập thế giới lớn: They enter large worlds. 5) Nhập thế giới vi trần: They enter worlds within atoms. 6) Nhập thế giới vi tế: They enter subtle worlds. 7) Nhập thế giới đảo lộn (úp): They enter inverted worlds. 8) Nhập thế giới ngữa: They enter upright worlds. 9) Nhập thế giới có Phật: They enter the worlds where there are Buddhas. 10) Nhập thế giới không Phật: They enter the worlds where there are no Buddhas.
mười cách sanh của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười cách sanh của chư Đại Bồ Tát. Mười cách tái sanh của đại Bồ Tát, vì điều phục chúng sanh mà thị hiện như vậy—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of birth of Great Enlightening Beings which they manifest in order to pacify sentient beings. 1) Xa lìa ngu si, mà sanh với chánh niệm chánh tri: Birth with right awareness and right knowledge, free from folly and delusion. 2) Phóng lưới đại quang minh chiếu khắp đại thiên thế giới mà sanh: Birth radiating great networks of light beams illuminating the whole universe. 3) Trụ tối hậu hữu, chẳng còn thọ thân sau mà sanh: Birth in the final existence, never to be reincarnated. 4) Bất sanh bất khởi mà sanh: Unborn, unoriginated birth. 5) Biết tam giới như huyễn mà sanh: Birth knowing the triple world to be like an illusion. 6) Khắp hiện thân nơi thập phương thế giới mà sanh: Birth appearing corporeally everywhere in all worlds in the ten directions. 7) Chứng thân nhứt thiết chủng trí mà sanh: Birth in a body realizing omniscience. 8) Phóng tất cả Phật quang minh khắp giác ngộ tất cả thân chúng sanh mà sanh: Birth in a body emanating the lights of all Buddhas and awakening all sentient beings. 9) Nhập đại trí quán sát tam muội thân mà sanh: Birth in a body entering contemplative concentration with great knowledge. 10) Điều sanh thứ mười của chư Đại Bồ Tát: The tenth birth of Great Enlightening Beings: a. Bồ Tát lúc sanh, chấn động tất cả các cõi Phật: When Great Enlightening Beings are born, they shake all Buddha-lands. b. Giải thoát tất cả chúng sanh: Liberate all sentient beings. c. Diệt trừ tất cả ác đạo: Annihilate all states of misery. d. Che chói tất cả chúng ma: Eclipse all demons. e. Chư Bồ Tát đến nhóm họp: Innumerable enlightening beings come and gather around them.
mười công đức của tu tập thân hành niệm
Ten merits od the cultivation of the mindfulness of the body—Theo Kinh Tu Tập Thân Hành Niệm trong Trung Bộ, tu tập thân hành niệm là khi đi biết rằng mình đang đi; khi đứng biết rằng mình đang đứng; khi nằm biết rằng mình đang nằm; khi ngồi biết rằng mình đang ngồi. Thân thể được xử dụng thế nào thì mình biết thân thể như thế ấy. Sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và các tư duy về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy mà nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất và định tĩnh. Như vậy là tu tập thân hành niệm. Có mười công đức của tu tập Thân Hành Niệm—According to the Kayagatasati-Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha, cultivation of mindfulness of the body means when walking, a person understands that he is walking; when standing, he understands that he is standing; when sitting, he understands that he is sitting; when lying, he understands that he is lying. He understands accordingly however his body is disposed. As he abides thus diligent, ardent, and resolute, his memories and intentions based on the household life are abandoned. That is how a person develops mindfulness of the body. There are ten merits of the cultivation of the mindfulness of the body: 1) Lạc bất lạc được nhiếp phục, và bất lạc không nhiếp phục vị ấy, và vị ấy sống luôn luôn nhiếp phục bất lạc được khởi lên; khiếp đảm sợ hãi được nhiếp phục, và khiếp đảm sợ hãi không nhiếp phục được vị ấy, và vị ấy luôn luôn nhiếp phục khiếp đảm sợ hãi được khởi lên: One becomes a conqueror of discontent and delight, and discontent does not conquer oneself; one abides overcoming discontent whenever it arises. 2) Vị ấy kham nhẫn được lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, mặt trời, các loài rắn rết, các cách nói khó chịu, khó chấp nhận: One becomes a conqueror of fear and dread, and fear and dread do not conquer oneself; one abides overcoming fear and dread whenever they arise. 3) Vị ấy có khả năng chịu đựng được những cảm thọ về thân khởi lên, khổ đau, nhói đau, thô bạo, chói đau, bất khả ý, bất khả ái, đưa đến chết điếng: One bears cold and heat, hunger and thirst, and contact with gadflies, mosquitoes, wind, the sun, and creeping things; one endures ill-spoken, unwelcome words and arisen bodily feelings that are painful, racking, sharp, piercing, disagreeable, distressing, and menacing to life. 4) Tùy theo ý muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức, vị ấy chứng được Tứ Thiền, thuần túy tâm tư, hiện tại lạc trú: One obtains at will, without trouble or difficulty, the four jhanas that constitute the higher mind and provide a pleasant abiding here and now. 5) Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể thân có thần thông bay cho đến Phạm Thiên; với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và loài người, ở xa hay ở gần: One wields the various kinds of supernormal power: having been one, he becomes many; having been many, he becomes one; he appears and vanishes; he goes unhindered through a wall, through an enclosure, through a mountain as though through space; he dives in and out of the earth as though it were water; he walks on water without sinking as though it were earth; seated cross-legged, he travels in space like a bird; with his hand he touches and strokes the moon and sun so powerful and mighty; he wields bodily mastery even as far as the Brahma-world. 6) Với tâm của vị ấy, vị ấy biết tâm của các chúng sanh, các loại người; tâm có tham, biết tâm có tham; tâm không tham, biết tâm không tham; tâm có sân, biết tâm có sân; tâm không sân, biết tâm không sân; tâm có si, biết tâm có si; tâm không si, biết tâm không si; tâm chuyên chú, biết tâm chuyên chú; tâm tán loạn, biết tâm tán loạn; tâm đại hành, biết tâm đại hành; tâm không đại hành, biết tâm không đại hành; tâm chưa vô thượng, biết tâm chưa vô thượng; tâm vô thượng, biết tâm vô thượng; tâm thiền định, biết tâm thiền định; tâm không thiền định, biết tâm không thiền định; tâm giải thoát, biết tâm giải thoát; tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát: One understands the minds of other beings, of other persons, having encompassed them with one's own mind. He understands the mind of other beings, of other persons, having encompassed them with his own mind. He understands a mind affected by lust as affected by lust and a mind unaffected by lust; he understands a mind affected by hate as affected by hate and a mind unaffected by hate as unaffected by hate; he understands a mind affected by delusion as affected by delusion and a mind unaffected by delusion as unaffected by delusion; he understands a contracted mind as contracted and a distracted mind as distracted mind; he understands an exalted mind as exalted and an unexalted mind as unexalted; he understands a surpased mind as surpassed and an unsurpassed as unsurpassed; he understands a concentrated mind as concentrated and an unconcentrated mind as unconcentrated; he understands a liberated mind as liberated and an unliberated mind as unliberated. 7) Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời, vân vân, vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết: One recollects one's manifold past lives, that is, one birth, two births…, a hundred births, a thousand births, a hundred thousand births, many aeons of world-contraction, many aeons of world-expansion, many aeons of world-contraction and expansion: “There I was so named, of such a clan, with such an appearance, such was my nutriment, such my experience of pleasure and pain, such my life-term; and passing away from there, I reapppeared elsewhere; and there too I was so named, of such an appearance, such was my nutriment, such my experience of pleasure and pain, such my life-term; and passing away from there, I reappeared here. Thus with their aspects and particulars one recollects one's manifold past lives. 8) Với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy sự sống và sự chết của chúng sanh: With the divine eye, which is purified and surpasses the human. 9) Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, nguời đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ: One sees beings passing away and reappearing, inferior and superior, fair and ugly, fortunate and unfortunate, and one understands how beings pass on according to their actions. 10) Với sự diệt trừ các lậu hoặc, sau khi tự mình chứng tri với thượng trí, vị ấy chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát không có lậu hoặc: By realizing for oneself with direct knowledge, one here and now enters upon and abides in the deliverance of mind and deliverance by wisdom that are taintless with the destruction of the taints.
mười công đức lớn thanh tịnh hoàn toàn rời lỗi của chư phật
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 33, có mười công đức lớn hoàn toàn rời lỗi thanh tịnh của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 33, there are ten kinds of great virtue that are impeccably pure of all Buddhas. 1) Chư Phật đủ oai đức lớn rời lỗi thanh tịnh: All Budhas are endowed with great spiritual powers, impeccably pure. 2) Chư Phật đều sanh nơi nhà tam thế Như Lai, chủng tộc điều thiện rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas are born in the families of the enlightened ones of past, present and future, of people harmonious and good, impeccably pure. 3) Chư Phật vĩnh viễn tế tâm vô sở trụ, rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas' minds are free from obsession forever, impeccably pure. 4) Chư Phật nơi pháp tam thế đều vô sở trước, rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas are free from attachment to anything in the past, present and future, impeccably pure. 5) Chư Phật biết những loại tánh, đều là một tánh, không từ đâu đến, rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas know all kinds of natures are one nature, coming from nowhere, impeccably pure. 6) Chư Phật từ quá khứ đến hiện tại vị lai phước đức vô tận đồng với pháp giới, rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas' virutes, past, present and future, are inexhaustible, equal to the cosmos, impeccably pure. 7) Chư Phật vô biên thân tướng khắp mười phương cõi, tùy thời điều phục tất cả chúng sanh, rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas' boundless physical forms pervade all lands of the ten directions, teaching all sentient beings at the appropriate time, with impeccable purity. 8) Chư Phật được bốn đức vô úy lìa những khủng bố, ở trong chúng hội đại sư tử hống, phân biệt rành rẽ tất cả các pháp, rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas acquire the fourfold fearlessness, are free from all fears, and roar the grat lion's roar among the masses, clearly discerning all things, impeccably pure. 9) Chư Phật trong vô lượng kiếp nhập niết bàn, chúng sanh nghe danh hiệu được phước vô lượng như Phật hiện tại công đức không khác, rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas enter final nirvana in untold ages, and when sentient beings hear their names they gain immeasurable benefit, same as if the Buddhas were presently existing, impeccably pure. 10) Chư Phật ở xa trong vô lượng thế giới, nếu có chúng sanh nhứt tâm chánh niệm thời đều được thấy, rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas though in untold distant worlds, can be seen by sentient beings who correctly meditate on them single-mindedly, impeccably pure.
mười căn của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, chư đại Bồ Tát có mười căn. Chư Bồ Tát an trụ trong những pháp nầy thời được căn đại trí viên mãn vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of faculties of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme faculties of fulfillment of great knowledge of Buddhas. 1) Hoan hỷ căn, vì thấy tất cả chư Phật với lòng tin chẳng hư hoại: Joyful faculties, seeing all Buddhas, with faith indestructible. 2) Hi vọng căn, vì những Phật pháp đã nghe đều tỏ ngộ tất cả: Hopeful faculties, understanding whatever Buddha teachings they hear. 3) Bất thối căn, vì tất cả tác sự đều rốt ráo:Nonregressing faculties, consummating all their tasks. 4) An trụ căn, vì chẳng dứt tất cả Bồ Tát hạnh: Steadfast faculties, not stopping the practices of Enlightening Beings. 5) Vi tế căn, vì nhập lý vi diệu Bát Nhã Ba La Mật: Subtle faculties, entering the subtle principle of transcendent wisdom. 6) Bất hưu tức căn, vì rốt ráo sự việc tất cả chúng sanh: Unceasing faculties, consummating the tasks of all sentient beings. 7) Như Kim Cang căn, vì chứng biết tất cả những pháp tánh: Adamantine faculties, realizing the nature of all things. 8) Kim Cang quang diệm căn, vì chiếu khắp tất cả cảnh giới Phật: Indestructible glowing faculties, illuminating all spheres of Buddhahood. 9) Vô sai biệt căn, vì tất cả Như Lai đồng một thân: Undifferentiated faculties, being the same one body as all Buddhas. 10) Vô ngại tế căn, vì thâm nhập mười trí lực của Như Lai: Unobstructed faculties, deeply penetrating the ten powers of the enlightened.
mười cảnh
- âm cảnh - phiển não cảnh - bệnh hoạn cảnh - nghiệp tướng cảnh - ma sự cảnh - thiền định cảnh - chư kiến cảnh - mạn cảnh - nhị thừa cảnh - bồ tát cảnh.
mười cảnh giới chưa giác ngộ
Ten realms of unenlightened: 1) Bồ Tát: Chỉ đạt được phần giác chứ chưa toàn giác—Bodhisattva who only attains partial enlightenment, not ultimate enlightenment of Buddhahood. 2) A La Hán chỉ được phần giác, chứ không phải là toàn giác của Phật: Arhat who only attains partial enlightenment, not ultimate enlightenment of Buddhahood. 3) Thanh Văn: Chỉ đạt được phần giác chứ không toàn giác như chư Phật—Hearer who only attained partial enlightenment, not the ultimate enlightenment of Buddhahood. 4) Duyên giác chỉ được phần giác, chứ không phải toàn giác của Phật: Pratyeka-buddha who only attains partial enlightenment, not the ultimate enlightenment of the Buddha. 5) Thiên: Heaven. 6) Nhân: Human. 7) A-tu-la: Asura. 8) Súc sanh: Animal. 9) Ngạ quỷ: Hungry ghost. 10) Địa ngục: Hell.
mười cảnh giới của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười cảnh giới của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được cảnh giới đại trí huệ vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten spheres of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these will attain the supreme sphere of great knowledge of Buddhas. 1) Thị hiện môn vô biên pháp giới, làm cho chúng sanh được nhập: Showing infinite ways of access to the realm of reality so that sentient beings can enter. 2) Thị hiện tất cả thế giới vô lượng diệu trang nghiêm làm cho chúng sanh được nhập: Showing the infinite wonderful arrays of all worlds, so that sentient beings can enter. 3) Hóa hiện qua đến tất cả chúng sanh giới, đều phương tiện khai ngộ: Traveling by projection to the realms of all sentient beings to enlighten them all by appropriate means. 4) Nơi thân Như Lai xuất hiện thân Bồ Tát, nơi thân Bồ Tát xuất hiện thân Như Lai: Producing embodiments of Enlightening Beings from the body of Buddhas, producing embodiment of Buddha from the body of an enlightening being. 5) Nơi hư không hiện thế giới, nơi thế giới hiện hư không: Manifesting the world in the realm of space, manifesting the realm of space in the world. 6) Nơi sanh tử hiện Niết bàn giới, nơi Niết bàn giới hiện sanh tử giới: Manifesting the realm of nirvana in the realm of birth and death, manifesting the realm of birth and death in the realm of nirvana. 7) Ở trong ngôn ngữ của một chúng sanh xuất sanh ngôn ngữ của tất cả Phật pháp: Producing verbalizations of all Buddha teachings in the language of one sentient being. 8) Đem vô biên thân hiện làm một thân, một thân hiện làm tất cả thân sai biệt: Showing all bodies as one body, one body as all different bodies. 9) Đem một thân đầy khắp tất cả pháp giới: Filling all universe with one body. 10) Ở trong một niệm làm cho tất cả chúng sanh phát tâm Bồ Đề, đều hiện vô lượng thân thành chánh đẳng chánh giác: In one instant causing all sentient beings to rouse the will for enlightenment, each manifesting infinite bodies attaining enlightenment.
mười cảnh giới vô ngại dụng của chư đại bồ tát (kinh hoa nghiêm—phẩm 38)
Ten kinds of unimpeded function relating to realms (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). 1) Tại cảnh giới pháp giới mà chẳng bỏ cảnh giới chúng sanh: Abide in the realm of reality without abandoning the realm of sentient beings. 2) Tại cảnh giới Phật mà chẳng bỏ cảnh giới ma quỷ: Abide in the realm of Buddhas without abandoning the realm of demons. 3) Tại cảnh giới Niết bàn mà chẳng bỏ cảnh giới sanh tử: Abide in the realm of nirvana without abandoning the realm of birth and death. 4) Nhập cảnh giới nhứt thiết trí mà chẳng dứt Cảnh giới Bồ Tát chủng tánh: Enter the realm of omniscience without putting an end to the realm of the nature of Enlightening Beings. 5) Trụ nơi cảnh giới tịch tịnh mà chẳng bỏ cảnh giới tán loạn: Abide in the realm of tranquility and calm without abandoning the realm of distraction. 6) Trụ nơi cảnh giới hư không, nơi—Abide in the spacelike realm where: (A) a. Không đi không đến: There is no coming or going. b. Không hý luận: No conceptualization. c. Không tướng trạng: No form. d. Không thể tánh: No essence. e. Không ngôn thuyết: No verbalzation. (B) Dầu vậy chư Bồ Tát vẫn không lìa bỏ cảnh giới hý luận của tất cả chúng sanh: Yet Enlightening Beings still do not abandon the realm of all sentient beings, conceptual representations. 7) Trụ nơi cảnh giới những trí lực, giải thoát mà chẳng bỏ cảnh giới của tất cả những phương sở: Dwell in the realm of occult powers and liberation, yet without abandoning the realm of specific locations. 8) Nhập cảnh giới vô chúng sanh tế, mà chẳng bỏ giáo hóa tất cả chúng sanh: Enter the realm of ultimate nonexistence of sentient beings, yet they do not give teaching all sentient beings. 9) Trụ nơi cảnh giới tịch tịnh thiền định, giải thoát, thần thông, minh trí, mà ở tất cả thế giới thọ sanh: Dwell in the realm of meditation, liberation, spiritual powers, and higher knowledges, quiet and peaceful, yet they manifest birth in all worlds. 10) Trụ nơi cảnh giới Như Lai tất cả hạnh trang nghiêm thành chánh giác, mà hiện oai nghi tịch tịnh của tất cả Thanh văn, Bích Chi Phật: Dwell in the realm of realization of true enlightenment adorned by all the deeds of Buddhas, yet they manifest the composed, tranquil comportment of the personally liberated and individually illuminated.
mười cảnh giới vô tỷ của chư bồ tát
Mười thứ cảnh giới vô tỉ bất tư nghì của chư Phật (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 33)—Ten kinds of peerless inconceivable realms of all Buddhas (The Flower Adornment Sutra—Chapter 33). 1) Tất cả chư Phật một lần ngồi kiết già cùng khắp mười phương vô lượng thế giới: All Buddhas, once sitting, pervade infinite worlds in the ten directions. 2) Tất cả chư Phật nói một cú nghĩa đều hay khai thị tất cả Phật pháp: All Buddhas, uttering one logical statement, can express all Buddha teachings. 3) Tất cả chư Phật phóng một quang minh đều chiếu khắp tất cả thế giới: All Buddhas, emanating one light, can illuminate all worlds. 4) Tất cả chư Phật ở nơi một thân đều hay thị hiện tất cả thân: All Buddhas, in one body, can manifest all bodies. 5) Tất cả chư Phật ở trong một xứ đều hay thị hiện tất cả thế giới: All Buddhas can show all worlds in one place. 6) Tất cả chư Phật ở trong một trí đều hay quyết rõ tất cả các pháp không bị ngăn ngại: All Buddhas can ascertain all things within one knowledge without any impediment. 7) Tất cả chư Phật ở trong một niệm đều hay qua khắp mười phương thế giới: All Buddhas can travel to all worlds in the ten directions in a single moment of thought. 8) Tất cả chư Phật ở trong một niệm đều hiện Như Lai vô lượng oai lực: All Buddhas can manifest the infinite spiritual powers of the enlightened in a single instant. 9) Tất cả chư Phật ở trong một niệm duyên khắp tam thế Phật và chúng sanh, tâm không tạp loạn: All Buddhas can focus on all Buddhas and sentient beings of past, present and future in a single instant without confusion of mind. 10) Tất cả chư Phật ở trong một niệm cùng với tam thế tất cả Phật đồng một thể không hai: All Buddhas are in one instant essentially the same as all Buddhas of past, future and present.
mười cảnh thiền định
See Ten stages or objects in meditation.
mười cảnh vực
Theo tông Thiên Thai, toàn thể vũ trụ được coi như là sự tập thành của “tam thiên,” nhưng lý thuyết nầy khác hẳn những hệ thống đa nguyên khác. Nó không phải là một lối liệt kê tất cả các pháp, cũng không phải là thế giới hệ của ba đại thiên thế giới vũ trụ. Ba nghìn không phải chỉ cho một tính chất bao la của danh số hay bản thể, mà để nói lên sự tương dung của tất cả các pháp và nhất thể cứu cánh của toàn thể vũ trụ. Với căn bản “ba nghìn” nầy, tông Thiên Thai đề ra một thế giới hệ gồm mười cảnh vực, tức là thế giới của hữu tình được chia thành mười cõi hay Lục Phàm Tứ Thánh—According to the T'ien-T'ai Sect, the whole universe is said to have the constituency of “three thousand,” but the theory is quite different from other pluralistic systems. It is not an inumeration of all dharmas; nor is it the world system of the three chiliocosms. The expression of “three thousand” does not indicate a numerical or substantial immensity, but is intended to show the inter-permeation of all dharmas and the ultimate unity of the whole universe. As the basis of “three thousand” the school sets forth a world-system of ten realms. That is to say, the world of living beings is divided into ten realms or the six stages of rebirth for ordinary people and the four saints—See Lục Phàm Tứ Thánh.
mười cửa giải thoát của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười cửa giải thoát của chư Đại Bồ tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được môn giải thoát vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of doors of liberation of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme door of liberation of Buddhas. 1) Môn giải thoát một thân cùng khắp tất cả thế giới: Pervading all worlds with one body. 2) Môn giải thoát thị hiện vô lượng những loại sắc tướng nơi tất cả thế giới: Showing infinite various forms in all worlds. 3) Môn giải thoát đem tất cả thế giới vào một cõi Phật: Putting all worlds in one Buddha-field. 4) Môn giải thoát khắp gia trì tất cả chúng sanh giới: Universally supporting all realms of sentient beings. 5) Môn giải thoát dùng thân trang nghiêm của tất cả Phật đầy khắp tất cả thế giới: Filling all worlds with the adornment bodies of all Buddhas. 6) Môn giải thoát trong thân mình thấy tất cả thế giới: Seeing all worlds in one's own body. 7) Môn giải thoát trong một niệm qua tất cả thế giới: Seeing all worlds through one thought. 8) Môn giải thoát thị hiện tất cả Như Lai xuất thế: Showing the emergence of all Buddhas in one world. 9) Môn giải thoát một thân đầy khắp cả pháp giới: Filling all worlds with one body. 10) Môn giải thoát trong một niệm thị hiện tất cả Phật du hí thần thông: Showing the free play of spiritual powers of all Buddhas in a single instant.
Mười danh hiệu
Hán Việt: Thập hiệu (十號);|Mười danh hiệu của một vị Phật, thường được nhắc đến trong những bài kinh, luận:|1. Như Lai (如來; s, p: tathāgata), là »Người đã đến như thế«; 2. A-la-hán (阿羅漢; s: arhat), dịch nghĩa là Ứng Cung (應供), là »Người đáng được cúng dường«; 3. Chính Biến Tri (正遍知; s: samyaksaṃbuddha), dịch theo âm là Tam-miệu-tam-phật-đà (三藐三佛陀), là »Người hiểu biết đúng tất cả các pháp«; 4. Minh Hạnh Túc (明行足; s: vidyācaraṇasaṃpanna), nghĩa là »Người có đủ trí huệ và đức hạnh«; 5. Thiện Thệ (善逝; s: sugata), là »Người đã đi trên con đường thiện«; 6. Thế Gian Giải (世間解; s: lokavid), là »Người đã thấu hiểu thế giới«; 7. Vô Thượng Sĩ (無上士; s: anuttarapuruṣa), là »Ðấng tối cao, không ai vượt qua«; 8. Ðiều Ngự Ðại Trượng Phu (調御大丈夫; s: puruṣadamyasārathi), nghĩa là »Người đã điều chế được mình và nhân loại«; 9. Thiên Nhân Sư (天人師; s: devamanuṣyānāmśās-tṛ), là »Bậc thầy của cõi người và cõi trời«; 10. Phật Thế Tôn (佛世尊; s: buddhaloka-nātha, buddhalokajyeṣṭha, bhagavān), là »Bậc giác ngộ được thế gian tôn kính«.
mười danh hiệu phật
See Ten epithets of a Buddha, and Thập Hiệu.
mười danh hiệu đại trượng phu của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, sau khi thành tựu tu tập mười đạo xuất sanh Phật pháp, chư Bồ Tát sẽ đạt được mười danh hiệu đại trượng phu—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, after accomplishing cultivating ten ways of generating the qualities of Buddhahood, Enlightening Beings will attain these ten appellations of greatness (See ten ways of generating the qualities of Buddhahood). 1) Hiệu là Bồ Đề Tát Đỏa, vì do Bồ Đề trí sanh ra: They are called Beings of Enlightenment because they are born of knowledge of enlightenment. 2) Hiệu là Ma Ha Tát Dỏa vì an trụ trong Đại Thừa: They are called Great Beings because they dwell in the Great Vehicle. 3) Hiệu là Đệ Nhứt Tát Đỏa, vì chứng pháp đệ nhứt: They are called Foremost Beings because they realize the foremost truth. 4) Hiệu là Thắng Tát Đỏa vì giác ngộ pháp thù thắng: They are called Superior Beings because they are aware of high laws. 5) Hiệu là Tối Thắng Tát Đỏa, vì trí huệ tối thắng: They are caled Supreme Beings because their knowledge is supreme. 6) Hiệu là vô thượng Tát Đỏa, vì khai thị pháp vô thượng: They are called Exalted Beings because they reveal the unexcelled teaching. 7) Hiệu là Lực Tát Đỏa, vì biết rộng thập lực: They are called Beings of Power because they have extensive knowledge of the ten powers. 8) Hiệu là Vô Đẳng Tát Đỏa, vì thế gian không sánh được: They are called Incomparable Beings because they have no peer in the world. 9) Hiệu là Bất Tư Nghì Tát Đỏa, vì nơi một niệm mà Thành Phật: They are called Inconceivable Beings because they become Buddhas in an instant. 10) Chư Bồ Tát được danh hiệu nầy thời được thành tựu Bồ Tát Đạo: Enlightening beings win these appellations accomplish the Paths of Enlightening Beings.
mười giai đoạn phát triển tâm của tông chân ngôn
Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Mật giáo hay Kim Cang Thừa Phật Giáo là một từ ngữ dùng để chỉ cho tông chỉ bí mật cao siêu, vượt hẳn cả Tiểu Thừa và Đại Thừa. Theo Đại Sư Hoằng Pháp, có mười giai đoạn phát triển tâm. Những giai đoạn nào từ thấp lên cao, cho thấy sự tiến triển của tâm thức con người theo thời gian, còn những giai đoạn cùng phát triển đồng thời như trong 6 và 7, 8 và 9, cho thấy tình trạng của thế giới hướng thượng—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the Mystic Doctrine School or the Buddhist Diamond Vehicle Vajrayana is a name given to a higher mystic doctrine, transcending all Hinayana and Mahayana doctrines. Such Diamond Vehicle is only represented by Great Master Kobo with his proposal of the ten stages of spiritual development. These stages coming one above the other, show the timely progress of the human mind, while those which stand co-ordinated at one time as in 6 and 7, 8 and 9, show the state of the progressive world. 1) Dị Sanh Kỳ Dương Tâm: Những nẻo đường của cuộc sống mù quáng do bản năng điều khiển. Đây là giai đoạn của phàm ngu—Various paths of blind life driven by the instinctive impulse. This is the stage of common people. 2) Ngu Đồng Trì Trai Tâm (nhân thừa): Cố gắng vượt lên sống đời đạo đức, như trường hợp của Khổng Giáo—The Vehicle of human beings striving to have a moral life, the satge of Confucianism. 3) Anh Đồng Vô Úy Tâm (Thiên thừa): Giai đoạn chúng sanh ở cõi trời, nỗ lực cho một sức mạng siêu nhiên, như Lão giáo và Bà La Môn giáo—The Vehicle of heavenly beings striving to have a supernatural power, the stage of Taoism and Brahmanism. 4) Duy Uẩn Vô Ngã Tâm (Thanh Văn thừa): Đây là thừa của các đệ tử trực tiếp của Phật, vươn lên đời sống tâm linh cao đẳng như trong các bộ phái Tiểu thừa, Câu Xá và Thành Thật tông—The Vehicle of the dirct pupils of the Buddha, or sravaka, striving for higher spiritual life as in Hinayana schools, Kusala, and the Satyasiddhi schools. 5) Bạt Nghiệp Nhân Chủng Tâm (Độc Giác thừa): Thừa nầy thọ hưởng giác ngộ riêng tư, nhưng còn vị kỷ—The Vehicle of the self-enlightened ones (pratyeka-buddha) enjoying self-enlightenment yet falling into egoism. 6) Tha Duyên Đại Thừa Tâm: Cho rằng ba thừa là chân thật, giai đoạn của Tam Luận và Pháp Tướng tông—The doctrine of the three Vehicles, holding the three Vehicles as real, the stage of San-Lun and Dharmalaksana schools. 7) Giác Tâm Bất Sanh Tâm: Như (6)—Same as in (6). 8) Nhất Đạo Vô Vi Tâm: Nhất Thừa, cho rằng chỉ có một thừa là chân thật, giai đoạn của Hoa Nghiêm và Thiên Thai—The doctrine of One Vehicle, holding the one Vehicle as real, the stage of Hua-Yen and T'ien-T'ai schools. 9) Cực Vô Tự Tánh Tâm: Như (8)—Same as in (8). 10) Bí Mật Trang Nghiêm Tâm: Tông chỉ của Chân Ngôn tông hay Kim Cang Thừa. Theo quan điểm của Chân Ngôn tông, Kim Cang thừa đứng trên các thừa khác, đó là tối thượng thừa về Mật Giáo—The Diamond Vehicle as held by the Shingon School. According to the Shingon idea, the Diamond Vehicle stands above all others; it is the supreme Vehicle of mysticism.
mười giới
Ten realms—See Thập Giới.
mười giới bất hối
Mười giới không đưa đến sự hối hận—Ten rules which produce no regrets. 1) Không sát sanh: Not killing. 2) Không trộm cắp: Not stealing. 3) Không tà dâm: Not committing sexual misconduct. 4) Không nói dối: Not lying. 5) Không nói lỗi của người: Not telling a fellow-Buddhist's sins. 6) Không uống rượu: Not drinking wine. 7) Không tự cho mình hay và chê người dở: Not praising oneself and discrediting others. 8) Không hèn hạ: Not being mean to other beings. 9) Không sân hận: Not being angry. 10) Không hủy báng Tam Bảo: Not defaming the Triratna.
Mười giới của sa-di
1. Không giết hại; 2. Không trộm cắp; 3. Không dâm dục; 4. Không nói dối; 5. Không uống rượu; 6. Không cài hoa, xức dầu thơm, thoa phấn đẹp; 7. Không đàn ca múa hát; 8. Không nằm ngồi trên giường rộng, ghế cao; 9. Không ăn sai giờ, nghĩa là chỉ ăn mỗi ngày một lần trước giờ ngọ; 10. Không sở hữu, sử dụng tiền, vàng, đồ trang sức quý báu.
mười giới sa di
Bước đầu tiên trên đường tu tập—Ten commandments of Sramanera Precepts, the first step in cultivation the Way—Mười Giới Sa Di: Ten virtues—Ten basic prohibitions binding on novice monks and nuns: 1) Không sát sanh hại vật: Not Killing living beings. 2) Không lấy của nếu không được cho: Not taking what has not been giving. 3) Không tà hạnh: Not committing Misconduct in sexual matters. 4) Không nói dối: Not telling lies. 5) Không uống rượu: Not drinking liquor. 6) Không đeo trang sức và sức các loại nước hoa: Not wearing adornments and perfume. 7) Không ca hát nhảy múa: Not enjoying singing and dancing. 8) Không nằm giường cao rộng: Not sleeping in large raised beds. 9) Không ăn sái giờ: Not eating out of regulated hours. 10) Không cất giữ hay sở hữu quí kim bảo thạch: Not possessing gold, silver, and other precious metals and stones. *** For more information, please see Thập Giới.
mười giới trọng
The ten major precepts—See Mười Giới Trọng Của Chư Bồ Tát Trong Kinh Phạm Võng.
mười giới trọng của chư bồ tát trong kinh phạm võng
Phật đã dạy chúng đệ tử rằng: “có Mười giới trọng cho Bồ Tát. Nếu ai thọ giới mà không giữ, người đó không phải là Bồ tát, người đó cũng không có chủng tử Phật. Ngay cả Phật mà còn Phải trì tụng những giới nầy. Tất cả chúng Bồ tát đã học giới trong quá khứ, sẽ học trong tương lai, hay đang học trong lúc nầy. Ta đã giải thích những điểm chánh của Bồ Tát giới. Mấy ông phải học và hành Bồ tát giới trong chính tâm mình.”—The Ten Major Precepts or the ten weighty prohibitions—In the Brahma-Net Sutra, the Buddha said to his disciples, “There are ten major Bodhisattva precepts. If one receives the precepts but fails to keep (observe/practice) them, he is not a bodhisattva, nor he is a seed of Buddhahood. I, too, recite these precepts. All Bodhisattvas have studied them in the past, will study in the future, and are studying them now. I have explained the main characteristics of the Bodhisattva precepts. You should study and observe them with all your heart.” 1) Giới Sát Sanh: First Major Precept on Killing—Là Phật tử, không tự mình giết, không xúi người giết, không phương tiện hay khen tặng ai giết, không thấy giết mà tùy hỷ, không dùng bùa chú giết, không nhơn, duyên, hay cách thức mà giết, không nghiệp giết. Phàm tất cả loài hữu tình có mạng sống đều không được cố ý giết. Là Phật tử, phải luôn phát đại bi tâm và lòng hiếu thuận, lập thế cứu giúp tất cả chúng sanh-, mà trái lại tự phóng tâm nỡ lòng sát sanh, Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha shall not himself kill, encourage others to kill, kill by expedient means, praise killing, rejoice at witnessing killing, or kill through incantation or deviant mantras. He must not create the causes, conditions, methods, or karma of killing, and shall not intentionally kill any living creature. As a Buddha's disciple, he ought to nuture a mind of compassion and filial piety, always divising expedient means to rescue and protect all beings. If instead, he fails to restrain himself and kills sentient beings without mercy, he commits a Parajika offense. 2) Giới Trộm Cướp: Second Major Precept on Stealing—Là Phật tử, không tự mình trộm cướp, không bảo người trộm cướp, không phương tiện trộm cướp, nhẫn đến không dùng bùa chú mà trộm cướp; không nhơn trộm cướp, duyên trộm cướp, cách thức trộm cướp hay nghiệp trộm cướp. Tất cả tài vật, dù là của quỷ thần, từ cây kim ngọn cỏ đều có chủ, không đặng trộm cướp. Là Phật tử, phải luôn có lòng từ bi hiếu thuận thường giúp cho mọi người được phước đức an vui. Trái lại, lại sanh tâm trộm cướp tài vật của người, Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha must not himself steal or encourage others to steal, steal by expedient means, steal by means of incantation or deviant mantras. He should not create the causes, conditions, methods, or karma of stealing. No valuables or possessions, even those belonging to ghosts and spirits or thieves and robbers, be they as small as a needle or a blade of grass, may be stolen. As a Buddha's disciples, he ought to have a mind of mercy, compassion, and filial piety, always helping other people to earn merits and achieve happiness. If instead, he steals the posessions of others, he commits a Parajika offense. 3) Giới Dâm: Third Major Precept on Sexual Misconduct (not to lust)—Là Phật tử, không tự mình dâm dục, không bảo người dâm dục, với tất cả phụ nữ, các loài cái, loài mái, cho đến thiên nữ, quỷ nữ, thần nữ cùng phi đạo mà hành dâm; không nhơn dâm dục, duyên dâm dục, cách thức dâm dục, hay nghiệp dâm dục. Là Phật tử, đối với tất cả không được dâm dục, mà phải có lòng hiếu thuận cứu độ tất cả, phải đem pháp thanh tịnh mà khuyên dạy người. Dâm giới cũng là một trong ngũ giới cho Phật tử tại gia (một trong năm điều giới của hàng Phật tử tại gia là phải diệt trừ tà dâm. Một trong mười giới trọng của hàng xuất gia là phải hoàn toàn cắt đứt dâm dục). Trái lại nếu không có tâm từ, làm cho mọi người sanh việc dâm dục, không lựa súc sanh, cho đến hành dâm với mẹ, con, chị, em trong lục thân, Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha must not engage in licentious acts or encourage others to do so. He (a monk) should not have sexual relations with any female; be she a human, animal, deity or spirit, nor create the causes, conditions, methods, or karma of such misconduct. Indeed, he must not engage in improper sexual misconduct with anyone. A Buddha's disciple ought to have a mind of filial piety, rescuing all sentient beings and instructing them in the Dharma of purity and chastity. Sexual misconduct is also one of the five basic precepts for householders. If instead, he lacks compassion and encourages others to engage in sexual relations promiscuously, including with animals and even their mothers, daughters, sisters, or other close relatives, he commits a Parajika offense. 4) Giới Vọng: Fourth Major Precept on Lying and False Speech—Là Phật tử, không vọng ngữ, không bảo người vọng ngữ, không phương tiện vọng ngữ, không nhơn vọng ngữ, duyên vọng ngữ, cách thức vọng ngữ, nghiệp vọng ngữ. Nhẫn đến không thấy nói thấy, thấy nói không thấy, hoặc thân vọng ngữ, tâm vọng ngữ. Là Phật tử, phải luôn luôn chánh ngữ chánh kiến, và cũng làm cho tất cả chúng sanh có chánh ngữ chánh kiến, mà trái lại làm cho mọi người tà ngữ, tà kiến, tà nghiệp, Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha must not himself use false words and speech, or encourage others to lie or lie by expedient means. He should not involve himself in the causes, conditions, methods, or karma of lying, saying that he has seen what he has not seen or vice-versa, or lying implicitly through physical or mental means. As a Buddha's disciple, he ought to maintain Right Speech and Right Views always, and lead all others to maintain them as well. If instead, he causes wrong speech, wrong views or evil karma in others, he commits a Parajika offense. 5) Giới Uống Rượu và Bán Rượu: Fifth Major Precept on Drinking or Selling Alcohol Beverages—Là Phật tử, không tự mình uống hay bán rượu, không bảo người uống hay bán, không duyên uống hay bán, không cách thức uống hay bán, không nghiệp uống hay bán rượu. Tất cả rượu đều không được uống hay bán vì rượu là nhơn duyên sanh tội lỗi. Là Phật tử phải làm cho tất cả chúng sanh có trí huệ sáng suốt, mà trái lại đem sự mê say điên đảo cho tất cả chúng sanh, Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha must not drink or trade in alcohol beverages or encourage others to do so. He should not create the causes, conditions, methods or karma of drinking or selling any intoxicant wnatsoever, for intoxicants are the causes and conditions of all kinds of offenses. As a Buddha's disciple, he ought to help all sentient beings achieve clear wisdom. If instead, he cayses them to have upside-down, topsy-turvy thinking, he commits a Parajika offense. 6) Giới Rao Lỗi của Tứ Chúng: Sixth Major Precept on Broadcasting the Faults of the Assembly (not to discuss the faults of other Buddhists)—Là Phật tử, không tự mình rao lỗi của Bồ Tát xuất gia, Bồ Tát tại gia, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, không bảo người rao lỗi; không nhơn rao lỗi, duyên rao lỗi, cách thức rao lỗi, nghiệp rao lỗi. Là Phật tử, khi nghe kẻ ác, kẻ ngoại đạo, cùng kẻ nhị thừa nói những điều phi pháp trái luật, phải luôn có lòng từ bi giáo hóa những kẻ ấy, khiến cho họ sanh lòng lành với Đại thừa, mà trái lại Phật tử tự mình rao nói những lỗi trong Phật pháp, Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha must not himself broadcast the misdeeds or infractions of Bodhisattva-clerics or Bodhisattva-laypersons, or of ordinary monks and nuns, nor encourage others to do so. He must not create the causes, conditions, methods, or karma of discussing the offenses of the Assembly. As a Buddha's disciple, whenever he hears evil persons, externalists or followers of the Two Vehicles speak of practices contrary to the Dharma or contrary to the precepts within the Buddhist community, he should instruct them with a compassionate mind and lead them to develop wholesome faith in the Mahayana. If instead, he discusses the faults and misdeeds that occur within the assembly, he commits a Parajika offense. 7) Giới Tự Khen Mình và Chê Người: Seventh Major Precept on Prasing Oneself and Disparaging Others (not to praise onself and disparage others)—Là Phật tử, không tự khen mình chê người, không bảo ai khen mình chê người; không nhơn chê người, không duyên chê người, không cách thức chê người, không nghiệp chê người. Là Phật tử, nên sẳn sàng nhận lấy những khinh chê cho tất cả chúng sanh và nhường tất cả việc tốt cho người, chứ không bao giờ tự phô trương tài đức của mình mà dìm điều hay tốt của người, nếu không Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha shall not praise himself and speak ill of others, or encourage others to do so. He must not create the causes, conditions, methods, or karma of prasing himself and disparaging others. As a disciple of the Buddha, he should be willing to stand in for all sentient beings and endure humiliation and slander, accepting blame and letting sentient beings have all the glory. He should never display his own virutes and conceal the good points of others, thus causing them suffer slander, he commits a Parajika offense. 8) Giới Bỏn Xẻn và Lợi Dụng Người Khác: Eighth Major Precept on Stinginess and Abuse of others—Là Phật tử, không tự mình bỏn xẻn hay lợi dụng người khác, không xúi người bỏn xẻn, không nhơn bỏn xẻn, duyên bỏn xẻn, cách thức bỏn xẻn, nghiệp bỏn xẻn. Là một Phật tử đã thọ Bồ Tát giới, khi thấy người bần cùng đến cầu xin, phải bằng mọi cách giúp đở theo nhu cầu của họ, chứ không đem lòng giận ghét không cho một mảy may; hoặc có người đến cầu học giáo pháp, đã chẳng nói một kệ một câu mà còn mắng đuổi, là phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha must not be stingy or encourage others to be stingy. He should not create the causes, conditions, methods, or karma of stinginess. As a Bodhisattva, whenever a destitute person comes for help, he should try his best to help, not to refuse. Besides, he must try to help others understand and practice Dharma. If instead, out of angerand resentment, he denies all asistance, refusing to help even a penny, a needle, a blade of grass, even a single sentence or verse or a phrase of Dharma, but instead scolds and abuses that person, he commits a Parajika offense. 9) Giới Giận Hờn không nguôi: Ninth Major Precept on Anger and Resentment (not to get angry)—Là Phật tử, không tự mình hờn giận, không bảo người hờn giận; không nhơn giận, duyên giận, cách thức giận, nghiệp giận. Ngược lại, phải luôn có lòng từ bi hiếu thuận, khiến giúp cho chúng sanh, cho đến loài phi chúng sanh luôn được lợi lạc. Nếu đối với tất cả các loài chúng sanh, cho đến trong loài phi chúng sanh mà đem lời ác mạ nhục, còn thêm dùng tay chân, dao gậy để đánh đập mà vẫn chưa hả dạ, cho đến nạn nhân kia lấy lời nhỏ nhẹ xin lỗi, cầu sám hối tạ tội, nhưng vẫn không hết giận, Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha shall not harbor anger or encourage others to be angery. He should not create the causes, conditions, methods, or karma of anger. In the contrary, As a disciple of the Buddha, he ought to be compassionate and filial, helping all sentient beings, or even transformation beings (deities and spirits) be happy at all times. If instead, he insults and abuses sentient beings, or even transformation beings such as dieties and spirits, with harsh words, hitting them with his fists or feet, or attacking them with a knife or club, or harbors grudges even when the victim confesses his mistakes and humbly seeks forgiveness in a soft, conciliatory voice, the disciple commits a Parajika offense. 10) Giới Hủy Báng Tam Bảo: Tenth Major Precept on Slandering the Triple Jewel (not to insult the Three Treasures)—Là Phật tử, không bao giờ tự mình hủy báng Tam Bảo, không xúi ai hủy báng; không nhơn hủy báng, duyên hủy báng, cách thức hủy báng, nghiệp hủy báng. Là Phật tử thuần thành, một khi nghe ngoại đạo hay kẻ ác hủy báng Tam Bảo dù chỉ một lời, thì đau đớn chẳng khác chi trăm ngàn đao kiếm đâm vào tâm, huống là tự mình hủy báng? Là Phật tử chẳng những luôn đem lòng tôn kính Tam Bảo, mà còn khiến cho người người đều đem lòng tôn kính. Ngược lại, không có đức tin và lòng hiếu thuận đối với Tam Bảo, lại còn giúp sức cho những kẻ ác, kẻ tà kiến hủy báng nữa, Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A Buddha's disciple shall not himself speak ill of the Triple Jewel or encourage others to do so. He must not create the causes, conditions, methods, or karma of slandering. As a devoted Buddhist, when hearing a single word of slander against the Triple Jewel from externalists or evil beings, he experiences a pain similar to that of hundreds of thousands of spears piercing his heart. How then could he possibly slander the Triple Jewel himself ? As a disciple of the Buddha, we are not only always revere the Triple Jewel ourselves, but we also help others understand and revere the Triple Jewel. On the contrary, if a disciple lacks faith and filial piety towards the Triple Jewel, and even assists evil persons or those of aberrant views to slander the Triple Jewel, he commits a Parajika offense.
Mười hai bộ kinh
(Thập nhị bộ kinh): Bao gồm: 1. Tu-đa-la (Phạn ngữ: Stra), dịch nghĩa: khế kinh, pháp bổn, là những lời Phật dạy thích hợp với từng căn cơ chúng sanh; 2. Kỳ-dạ (Phạn ngữ: Geya), dịch nghĩa: ứng tụng, trùng tụng, là những lời dạy trong kinh được lặp lại để người nghe ghi nhớ và thực hành; 3. Hòa-ca-la-na (Phạn ngữ: Vyakarana), dịch nghĩa: thọ ký, là lời dạy của Phật về kết quả tu tập trong tương lai của các vị đệ tử, nói trước về sự chứng đắc quả vị của mỗi người căn cứ vào nỗ lực tu tập, hành trì của họ; 4. Già-đà (Phạn ngữ: Gth), dịch nghĩa: phúng tụng, cô khởi tụng hay kệ tụng, là những lời dạy của Phật được diễn đạt theo thể kệ tụng để dễ ghi nhớ, thường là lặp lại phần ý nghĩa đã diễn thuyết trong khế kinh; 5. Ưu-đà-na (Phạn ngữ: Udana), dịch nghĩa: tự thuyết, hay vô vấn tự thuyết, là những kinh điển do đức Phật quán xét căn cơ chúng sanh rồi tự nói ra, không cần có nhân duyên dẫn khởi, không cần đợi người thưa hỏi; 6. Ni-đà-na (Phạn ngữ: Nidna), dịch nghĩa: nhân duyên, là những nhân duyên dẫn khởi sự thuyết dạy của Phật, như do có việc thế này nên thuyết dạy pháp như thế này...; 7. A-ba-đà-na (Phạn ngữ: Avadna), dịch nghĩa: thí dụ, là những lời dạy bằng phương thức thí dụ, dẫn dụ, so sánh nghĩa là so sánh các sự việc; 8. Y-đế-mục-đa-già (Phạn ngữ: Itivrtaka), dịch nghĩa: bổn sự, là những lời dạy về tiền thân tu tập của các vị đệ tử Phật, được dẫn ra như những bài học cho thính chúng; 9. Xà-đà-già (Phạn ngữ: Jtaka), dịch nghĩa: bổn sanh, là lời dạy về các tiền thân của chính đức Phật, cũng được dẫn ra vì mục đích giáo hóa; 10. Tỳ -phật-lược (Phạn ngữ: Vaipulya), dịch nghĩa: Phương quảng, là chỉ chung các kinh điển truyền dạy giáo pháp Đại thừa; 11. A-phù-đà-đạt-ma (Phạn ngữ: Adbhutadharma), dịch nghĩa: Vị tằng hữu, là những kinh điển thuyết giảng những điều bất khả tư nghị, xưa nay chưa từng có, như nói về thần lực, phước đức của chư Phật, Bồ Tát...; 12. Ưu-ba-đề-xá (Phạn ngữ: Upadçsa), dịch nghĩa: Luận nghị, là những lời dạy mang tính luận thuyết, bàn giải, để giúp người nghe nắm hiểu được giáo pháp cũng như các pháp môn tu tập. Trong 12 bộ kinh này thì 9 bộ trước là thuộc về giáo nghĩa quyền thừa, nhằm dẫn dắt mọi chúng sanh sơ cơ, (Xem Chín bộ kinh), 3 bộ cuối cùng giảng thuyết những ý nghĩa cứu cánh rốt ráo, đưa đến quả vị Phật.
mười hai bộ kinh
Twelve Sutras which are classifications of the Buddha's teachings—See Thập Nhị Bộ Kinh.
mười hai loại chúng sanh
Twelve categories of living beings—See Thập Nhị Loại Chúng Sanh.
mười hai lời nguyện của đức dược sư lưu ly quang phật
The twelve vows of Bhaishajya-Guru-Buddha—Theo Kinh Dược Sư, Đức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát rằng ở phương Đông cách cõi Ta Bà hơn mười căn dà sa cõi Phật, có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly. Đức giáo chủ cõi ấy hiệu là Dược Sư Luu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Khi còn tu hạnh Bồ Tát, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai có phát mười hai nguyện lớn, khiến cho chúng hữu tình cầu chi được nấy. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã khẳng định với Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi rằng: “Dầu ta có nói đến mãn một kiếp hay hơn một kiếp cũng không thể nào nói cho hết được. Tuy nhiên, ta có thể nói ngay rằng cõi Phật kia không có đàn bà, không có đường dữ và cả đến tiếng khổ cũng không.”—According to The Medicine Buddha Sutra, the Buddha said to Manjusri Bodhisattva: “East of this world, past countless Buddha-lands, more numerous than the grains of sand in ten Ganges Rivers, there exists a world called Pure Lapis Lazuli. The Buddha of that world is called the Medicine Buddha Lapis Lazuli Radiance Tathagata, Arhat, the Perfectly Enlightened, Perfect in Mind and Deed, Well Gone, Knower of the World, Unsurpassed Being, Tamer of Passions, Teacher of Gods and Men, Buddha, World Honoured One. When the World Honoured Medicine Buddha was treading the Bodhisattva path, he solemnly made Twelve Great Vows to grant sentient beings whatever they desired. Sakyamuni Buddha confirmed Manjusri Bodhisattva: “I cannot possibly describe them all, not even if I were to speak for an eon or more. However, this Buddha-land is utterly pure. You will find no temptations, no Evil Paths nor even cries of suffering there.” 1) Đại Nguyện thứ nhất—The First great Vow: Nguyện đời sau, khi chứng được đạo Chánh Đẳng Chánh Giác, thân có hào quang sáng suốt, rực rỡ chiếu khắp vô lượng, vô số, vô biên thế giới, để soi sáng giác ngộ cho mọi chúng sanh, khiến cho tất cả chúng hữu tình đều có đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu, cùng tám chục món tùy hình trang nghiêm như thân của ta vậy—I vow that in a future life, when I have attained Supreme, Perfect Enlightenment, my brilliant rays will radiate to all beings or to shine upon all beings with the light from my body, illuminating infinite, countless boundless realms. This body will be adorned with the Thirty-Two Marks of Greatness and Eighty Auspicious Characteristics. Furthermore, I will enable all sentient beings to become just like me. 2) Đại Nguyện thứ hai—The Second Great Vow: Nguyện đời sau, khi được đạo Bồ Đề, thân ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh quang minh chói lọi khắp nơi, công đức cao vòi vọi và an trú giữa từng lưới dệt bằng tia sáng, tỏ hơn vầng nhật nguyệt. Chúng sanh trong cõi u minh đều nhờ ánh sáng ấy mà tâm trí được mở mang và tùy ý muốn đi đến chỗ nào để làm các sự nghiệp gì cũng đều được cả—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, my body, inside and out, will radiate far and wide the clarity and flawless purity of lapis lazuli. This body will be adorned with superlative virtues and dwell peacefully in the midst of a web of light more magnificent than the sun or moon. The light will awaken the minds of all beings dwelling in darkness, enabling them to engage in their pursuits according to their wishes. 3) Đại Nguyện thứ ba—The Third Great Vow: Nguyện đời sau, khi được đạo Bồ Đề, dùng trí huệ phương tiện vô lượng vô biên độ cho chúng hữu tình, khiến ai nấy đều có đủ các vật dụng, chớ không ai phải chịu sự thiếu thốn—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, I will, with infinite wisdom and skillful means, provide all sentient beings with an inexhaustible quantity of goods to meet their material needs. They will never want for anything. 4) Đại Nguyện thứ tư—The Fourth Vow: Nguyện đời sau khi được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình tu theo tà đạo, thì ta khiến họ quay về an trụ trong đạo Bồ Đề, hoặc có những người tu theo hạnh Thanh Văn, Độc Giác thì ta cũng lấy phép Đại Thừa mà dạy bảo họ: I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, I will set all who follow heretical ways upon the path to Enlightenment. Likewise, I will set those who follow the Sravaka and Pratyeka-Buddha ways onto the Mahayana path. 5) Đại Nguyện thứ năm—The Fifth Vow: Nguyện đời sau khi được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nhiều vô lượng, vô biên ở trong giáo pháp của ta mà tu hành theo hạnh thanh tịnh, thì ta khiến cho tất cả đều giữ được pháp giới hoàn toàn đầy đủ cả tam tụ tịnh giới. Giả sử có người nào bị tội hủy phạm giới pháp mà khi đã nghe được danh hiệu ta thì trở lại được thanh tịnh, khỏi sa vào đường ác—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, I will help all the countless sentient beings who cultivate the path of morality in accordance with my Dharma to observe the rules of conduct (Precepts) to perfection, in conformity with the Three Root Precepts. Even those guilty of disparaging or violating the Precepts will regain their purity upon hearing my name, and avoid descending upon the Evil Paths. 6) Đại Nguyện thứ sáu-The Sixth Vow: Nguyện đời sau khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào thân hình hèn hạ, các căn không đủ, xấu xa, khờ khạo, tai điếc, mắt đui, nói năng ngọng nghịu, tay chân tật nguyền, lác hủi, điên cuồng, chịu tất cả những bệnh khổ ấy mà khi đã nghe danh hiệu ta liền được thân hình đoan chánh, tâm tánh khôn ngoan, các căn đầy đủ, không còn những bệnh khổ ấy nữa—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, sentient beings with imperfect bodies, whose senses are deficient, who are ugly, stupid, blind, deaf, mute, crippled, hunchbacked, leprous, insane or suffering from various other illnesses, will, upon hearing my name, acquire well-formed bodies, endowed with intelligence, with all senses intact. They will be free of illness and suffering. 7) Đại Nguyện thứ bảy—The Seventh Great Vow: Nguyện đời sau, khi được chứng đạo Bồ Đề, nếu có chúng sanh nào bị những chứng bệnh hiểm nghèo không ai cứu chữa, không ai để nương nhờ, không gặp thầy, không gặp thuốc, không bà con, không nhà cửa, chịu nhiều nỗi nghèo hèn khốn khổ, mà hễ danh hiệu ta đã nghe lọt vào tai một lần thì tất cả bệnh hoạn khổ não đều tiêu trừ, thân tâm an lạc, gia quyến sum vầy, của cải sung túc, cho đến chứng được đạo quả Vô Thượng Bồ Đề—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, sentient beings afflicted with various illnesses, with no one to help them, nowhere to turn, no physicians, no medicine, no family, no home, who are destitute and miserable, will, as soon as my name passes through their ears, be relieved of all their illnesses. With mind and body peaceful and contented, they will enjoy home, family and property in abundance and eventually realize Unsurpassed Supreme Enlightenment. 8) Đại Nguyện thứ tám—The Eighth Great Vow: Nguyện đời sau khi ta chứng được đạo quả Bồ Đề, nếu có những phụ nữ nào bị trăm điều hèn hạ khổ sở của thân gái làm cho buồn rầu, bực tức, sanh tâm nhàm chán, muốn bỏ thân ấy mà hễ nghe danh hiệu ta rối thì tất cả đều được chuyển thân gái thành thân trai, có đủ hình tướng trượng phu, cho đến chứng được đạo quả Vô Thượng Bồ Đề—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, those women who are extremely disgusted with 'hundred afflictions that befall women' and wish abandon their female form, will, upon hearing my name, all be reborn as men. They will be endowed with noble features and eventually realize Unsurpassed Supreme Enlightenment. 9) Đại Nguyện thứ chín—The Ninth Great Vow: Nguyện đời sau khi ta chứng được đạo quả Bồ Đề thì khiến cho chúng sanh hữu tình ra khỏi vòng lưới ma nghiệp, được giải thoát tất cả sự ràng buộc của ngoại đạo. Nếu có những kẻ sa vào rừng ác kiến, ta nhiếp dẫn họ trở về với chánh kiến và dần dần khiến họ tu tập theo các hạnh Bồ Tát được mau chứng đạo Chánh Đẳng Bồ Đề—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, I will help all sentient beings escape from the demons' net and free themselves from the bonds of heretical paths. Should they be caught in the thicket of wrong views, I will lead them to correct views, gradually inducing them to cultivate the practices of Bodhisattvas and swiftly realize Supreme, Perfect Enlightenment. 10) Đại Nguyện thứ mười—The Tenth Great Vow: Nguyện đời sau khi ta chứng được đạo quả Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào mà pháp luật nhà vua gia tội phải bị xiềng xích, đánh đập, hoặc bị giam giữ trong chốn lao tù, hoặc bị chém giết, hoặc bị nhiều tai nạn nhục nhã, thân tâm chịu những nỗi khổ, buồn rầu, bức rứt, hễ nghe đến danh hiệu ta thì nhờ sức oai thần phước đức của ta đều được giải thoát tất cả những nỗi ưu khổ ấy—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenement, those sentient beings who are shackled, beaten, imprisoned, condemned to death or otherwise subjected to countless miseries and humiliations by royal decree, and who are suffering in body and mind from this oppression, need only hear my name to be freed from all these afflictions, thanks to the awesome power of my merits and virtues. 11) Đại Nguyện thứ mười một—The Eleventh Great Vow: Nguyện đời sau khi ta được chứng đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào bị sự đói khát hoành hành, đến nỗi vì tìm miếng ăn phải tạo các nghiệp dữ, mà hễ nghe danh hiệu ta rồi chuyên niệm thọ trì thì trước hết ta dùng các món ăn uống ngon lạ ban bố cho thân họ được no đủ và sau ta mới đem pháp vị nhiệm mầu kiến lập cho họ cái cảnh giới an lạc hoàn toàn—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, if sentient beings who are tormented by hunger and thirst, to the point of creating evil karma in their attempts to survive, should succeed in hearing my name, recite it singlemindedly and hold fast to it, I will first satisfy them with most exquisite food and drink. Ultimately, it is through the flavor of the Dharma that I will establish them in the realm of peace and happiness. 12) Đại nguyện thứ mười hai—The Twelfth Great Vow: Nguyện đời sau khi ta chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào nghèo đến nỗi không có áo che thân bị muỗi mòng cắn đốt, nóng lạnh dãi dầu, ngày đêm khổ bức, hễ nghe đến danh hiệu ta mà chuyên niệm thọ trì thì ta khiến cho được như ý muốn: Nào các thứ y phục tốt đẹp, nào tất cả các bảo vật trang nghiêm, nào tràng hoa, phấn sáp bát ngát mùi thơm và trống nhạc cùng những điệu ca múa, tùy tâm muốn thưởng thức món nào cũng được thỏa mãn cả—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, if sentient beings who are utterly destitute, lacking clothes to protect them from mosquitos and flies, heat and cold, and are suffering day and night, should hear my name, recite it singlemindedly and hold fast to it, their wishes will be fulfilled. They will immediately receive all manner of exquisite clothing, precious adornments, flower garlands and incense powder, and will enjoy music and entertainment to their heart's content.
mười hai lời nguyện của đức quán thế âm bồ tát
The Twelve Great Vows of Avalokitesvara Bodhisattva. 1) Nam Mô hiệu Viên Thông, danh Tự Tại, Quán Âm Như Lai quảng phát hoằng thệ nguyện: Ngài được xưng tặng là “hiểu biết đầy đủ,” “thong dong hoàn toàn.” Ngài đem phép tu hành mà khuyến độ khắp cùng chúng sanh—Namo, the Greatly Enlightened, well known for great spiritual freedom, the Avalokitesvara Tathagata's vow of immense propagation. 2) Nam Mô nhứt niệm tâm vô quái ngại, Quán Âm Như Lai thường cư Nam Hải nguyện: Ở trong một niệm tâm được tự tại vô ngại, Ngài thường ở bể phương Nam để cứu độ chúng sanh—Namo, single-minded in liberation, Avalokitesvara Tathagata's vow to often dwell in Southern Ocean. 3) Nam Mô Ta Bà U Minh giới Quán Âm Như Lai tầm thanh cứu khổ nguyện: Ngài luôn ở cõi Ta Bà và cõi U Minh để cứu độ kẻ nào kêu cứu tới Ngài—Namo, the dweller of Saha World, the Underworld, Avalokitesvara Tathagata's vow to follow the prayer sounds of sentient beings to alleviate pains and sufferings. 4) Nam Mô hàng tà ma, trừ yêu quái Quan Âm Như Lai năng trừ nguy hiểm nguyện: Ngài có khà năng trừ khử loài tà ma yêu quái, và đủ sức cứu người gặp nguy hiểm—Namo, the destroyer of evil spirits and demons, Avalaokitesvara Tathagata's vow to eliminate dangers. 5) Nam Mô thanh tịnh bình thùy dương liễu, Quán Âm Như Lai cam lộ sái tâm nguyện: Ngài lấy nhành dương liễu dịu dàng nhúng vào nước ngọt mát trong cái bình thanh tịnh để rưới tất cả lửa lòng cùa chúng sanh—Namo, the holy water bottle and willow branch, Avalokitesvara Tathagata's vow to provide comfort and purification of sentient beings' minds with sweet holy water. 6) Nam Mô Đại Từ Bi năng Hỷ Xả, Quán Âm Như Lai thường hành bình đẳng nguyện: Thương xót người đói và sẳn lòng tha thứ, Ngài không phân biệt kẻ oán người thân, tất cả Ngài đều coi như nhau—Namo, the greatly compassionate and forgiving Avalkitesvara Tathagata's vow often to carry out conducts with complete fairness and equality. 7) Nam Mô trú dạ tuần vô tổn hại, Quán Âm Như Lai thệ diệt tam đồ nguyện: Đêm ngày đi khắp đó đây để cứu giúp chúng sanh ra khỏi các sự tổn hại, Ngài nguyện cứu vớt chúng sanh ra khỏi ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh—Namo, in all times without abandonment, Avalokitesvara Tathagata's vow to try to eliminate the three realm. 8) Nam Mô vọng Nam nham cầu lễ bái, Quán Âm Như Lai, già tỏa giải thoát nguyện: Nếu ai quay về núi hướng Nam mà hết lòng cầu nguyện thì dầu có bị gông cùm xiềng xích cũng được thoát khỏi—Namo, Potala Mountain, essential to worship, Avalokitesvara Tathagata's vow to break from the bondage of shackles and chains to find liberation. 9) Nam Mô tạo pháp thuyền du khổ hãi, Quán Âm Như Lai độ tận chúng sanh nguyện: Dùng phép tu hành để làm chiếc thuyền, Ngài đi củng khắp trong biển khổ để độ hết chúng sanh—Namo, the creator of the dharma-vessel traveling the ocean of sufferings, Avalokitesvara Tathagata's vow to rescue and aid all sentient beings. 10) Nam Mô tiền tràng phan, hậu bảo cái, Quán Âm Như Lai tiếp dẫn Tây Phương nguyện: Nếu ai cầu nguyện và tu hành theo Ngài chỉ dẫn, khi rời bỏ xác thân nầy thì sẽ có phướn dài đi trước, tràng lọng quý giá theo sau, để rước về Tây Phương—Namo, the holder of flags and parasols, Avalokitesvara Tathagata's vow to protect and deliver sentient beings to the Western Pure Land. 11) Nam Mô Vô Lượng Thọ Phật cảnh giới, Quán Âm Như Lai Di Đà thọ ký nguyện: Ở cảnh giới của Đức Vô Lượng Thọ, tức Đức A Di Đà, Ngài đã được cho biết trước là về sau Ngài sẽ thay thế Đức Phật A Di Đà ở ngôi vị đó—Namo, the world of the Infinite Life Buddha, Avalokitesvara Tathagata's vow to have Amitabha Buddha give the prophecy of Buddhahood. 12) Nam Mô đoan nghiêm thân vô tỷ trại, Quán Âm Như Lai quá tu thập nhị nguyện: Được thân hình nghiêm trang không ai so sánh được với Ngài, ấy là kết quả của sự tu theo mười hai nguyện lớn nầy—Namo, the incomparable adorning body in the three worlds, Avalokitesvara Tathagata's vow to complete the twelve vows to rescue sentient beings.
Mười hai nhân duyên
(Thập nhị nhân duyên), cũng gọi là thuyết Duyên khởi hay Nhân duyên sanh, nhưng vì bao gồm mười hai nhân duyên nên thường được gọi là Mười hai nhân duyên. Đó là: 1. Vô minh (avidy), chỉ sự ngu si không thấu hiểu chân lý, cụ thể là Tứ diệu đế; 2. Hành (saṃskra), chỉ mọi hành động tạo nghiệp, có thể là tốt, xấu hay trung tính. Hành có thể ở trong ba dạng: thân, khẩu và ý; 3. Thức (vijđna), là yếu tố nền tảng cho đời sống sắp tới. Thức sẽ quy định nơi thọ sanh và tính chất tốt xấu của đời sống mới, tùy theo hành tốt, xấu; 4. Danh sắc, (nma-rpa), là toàn bộ mọi biểu hiện tâm lý và vật lý của chúng sanh, do năm uẩn (hay năm ấm) tạo thành; 5. Căn, hay sáu căn, cũng gọi là lục xứ (ṣaḍ-yatana) chỉ năm giác quan (nhãn căn, nhĩ căn, tỉ căn, thiệt căn và thân căn) và khả năng suy nghĩ (ý căn); 6. Xúc (sparśa), hay lục xúc, là sự xúc chạm giữa sáu căn với sáu trần, tức là toàn bộ mọi biểu hiện của thế giới bên ngoài; 7. Thọ (vedan), hay cảm thọ, là cảm xúc, cảm giác của chúng sanh khi xúc chạm với thế giới bên ngoài, gồm có những cảm xúc vui thích (lạc thọ), khó chịu (khổ thọ) và không vui không khổ; 8. Ái (tṛṣṇ), chỉ sự luyến ái xuất phát từ ham muốn, vô minh; 9. Thủ (updna), sự chấp giữ, chiếm hữu mọi đối tượng làm của mình; 10. Hữu (bhava), là toàn bộ những biểu hiện của sự tồn tại, như sự sống, thế giới. 11. Sanh (jti), sự ra đời của một chúng sanh, hay nói đúng hơn là sự bắt đầu một đời sống mới sau khi đã kết thúc đời sống trước đó; 12. Lão tử (jar-maraṇa), hay già chết, là tiến trình không thể tránh khỏi của mọi chúng sanh sau khi đã bắt đầu một đời sống mới, nghĩa là phải già chết theo thời gian, tùy theo thọ mạng của mình.
; S: pratītya-samutpāda; P: paṭicca-samuppāda; Hán Việt: Thập nhị nhân duyên (十二因緣); nguyên nghĩa là Duyên khởi (緣起), Nhân duyên sinh (因緣生), nhưng vì luật nhân duyên này bao gồm mười hai nhân duyên (điều kiện, s: nidāna) nên gọi là Mười hai nhân duyên (s: dvādaśanidāna hoặc dvādaśāṅga-pratītyasa-mutpāda).|Một trong những giáo lí quan trọng nhất của đạo Phật. Nguyên lí này chỉ rõ, mọi hiện tượng tâm lí và vật lí tạo nên đời sống đều nằm trong một mối liên hệ với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác, làm thành một vòng với mười hai yếu tố. Các yếu tố này làm loài hữu tình cứ mãi vướng mắc trong Luân hồi (s: saṃsāra).|Nguyên lí mười hai nhân duyên và giáo pháp Vô ngã (s: anātman; p: anattā) là hai giáo pháp làm rường cột cho tất cả các tông phái Phật giáo. Các nhân duyên (nguyên nhân chính và điều kiện phụ) này gồm có 12 yếu tố như sau:|1. Vô minh (無明; s: avidyā; p: vijjā), sự không thấu hiểu Tứ diệu đế, không hiểu Khổ là tính chất căn bản của đời sống;|2. Vô minh sinh Hành (行; s: saṃskāra; p: saṅkhāra), hành động tạo nghiệp. Hành động này có thể tốt, xấu hay trung tính. Hành có thể ở trong ba dạng, Thân, khẩu, ý;|3. Hành sinh Thức (識; s: vijñāna; p: viññā-ṇa), làm nền tảng cho một đời sống tới. Thức này đi vào bụng mẹ. Thức lựa chọn cha mẹ đúng như Hành tốt xấu quy định; |4. Thức sinh Danh sắc (名色; s, p: nā-marūpa), là toàn bộ tâm lí và vật lí của bào thai mới, do Ngũ uẩn (s: pañcaskandha; p: pañca-khandha) tạo thành;|5. Danh sắc sinh Lục căn (六根; s: ṣaḍāya-tana; p: saḷāyatana), là các giác quan, sáu căn (năm giác quan và khả năng suy nghĩ là sáu); |6. Lục căn bắt đầu tiếp xúc với bên ngoài gọi là Xúc (觸; s: sparśa; p: phassa);|7. Xúc sinh Thụ (受; s, p: vedanā), là cảm nhận của con người mới với thế giới bên ngoài;|8. Thụ sinh Ái (愛; s: tṛṣṇā; p: taṇhā), luyến ái xuất phát từ ham muốn, vô minh;|9. Ái sinh Thủ (取; s, p: upādāna) là điều cá nhân mới muốn chiếm hữu cho mình;|10. Thủ sinh ra Hữu (有; s, p: bhāva), là toàn bộ điều mà ta gọi là tồn tại, sự sống, thế giới.|11. Hữu sinh ra Sinh (生; s, p: jāti), một thế giới và cá nhân mới xuất hiện hẳn hoi;|12. Sinh sinh ra Lão tử (老死; s, p: jarāma-raṇa), vì có Sinh nên có hoại diệt.|Người ta có thể nhìn mười hai nhân duyên dưới nhiều cách phân tích khác nhau. Cách phân tích thông thường có tính thời gian là: yếu tố 1-2 thuộc về đời sống cũ, yếu tố 3-7 là điều kiện và nguyên nhân sinh thành của đời sống mới, yếu tố 8-10 là kết quả trong đời sống hiện tại, yếu tố 11-12 chỉ đời sống tương lai.|Mười hai nhân duyên chỉ rõ tính chất liên hệ lẫn nhau của dòng chảy »Tâm«, »Vật« của thế giới hiện tượng, trong đó những khái niệm quan trọng nhất là »Ta«, »Người«, »Sinh vật«. Nếu thuyết vô ngã chỉ rõ thế giới và con người do các yếu tố giả hợp kết thành với nhau, thật chất là trống rỗng; thì thuyết nhân duyên có tính chất tổng hợp các yếu tố đó, chỉ ra rằng mọi hiện tượng thân tâm đều bắt nguồn từ những hiện tượng khác. Sự phụ thuộc lẫn nhau đó có thể nhìn dưới khía cạnh đồng thời hoặc có thứ tự thời gian.|Thuyết Mười hai nhân duyên được các trường phái Phật giáo giải thích khác nhau. Tiểu thừa cho rằng thuyết này đã giải thích nguyên nhân của khổ và tất cả mọi pháp hữu vi (s: saṃskṛta) đều có nguyên nhân và điều kiện mới sinh ra nên chúng vô ngã – không có một tự tính nào. Như thế thuyết Mười hai nhân duyên nhằm dẫn đến quan điểm vô ngã.|Trong Ðại thừa, Mười hai nhân duyên được sử dụng để chứng minh sự không thật của sự vật và đặc biệt trong Trung quán tông (s: mādhyamika), Mười hai nhân duyên được định nghĩa là tính Không. Kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa nhấn mạnh rằng, Mười hai nhân duyên không nên hiểu theo thứ tự thời gian. Thuyết này nói lên sự liên hệ của vạn vật một cách tổng quát.
mười hai nhập
do sáu căn thiệp nhập với sáu trần mà thành. Xem ấm, nhập, giới.
mười hai tháng trong năm của ấn độ
The twelve months in India—See Thập Nhị Nguyệt.
mười hai tâm vô sắc giới
Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), có mười hai tâm thiện trong cõi vô sắc—According to the Abhidharma, there are twelve kinds of Immaterial-Sphere Consciousness: (A) Bốn Tâm Thiện Vô Sắc Giới—Four kinds of Immaterial-Sphere Consciousness: 1) Tâm Thiện trong Không Vô Biên Xứ: Wholesome consciousness pertaining to the base of infinite space. 2) Tâm Thiện trong Thức Vô Biên Xứ: Wholesome consciousness pertaining to the base of infinite consciousness. 3) Tâm Thiện trong Vô Sở Hữu Xứ: Wholesome consciousness pertaining to the base of nothingness. 4) Tâm Thiện trong Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng Xứ: Wholesome consciousness pertaining to the base of neither perception nor non-perception. (B) Bốn Tâm Thiền Quả thuộc Vô Sắc Giới—Four kinds of Immaterial-Sphere-Resultant Consciousness: 5) Tâm Thiền Quả trong Không Vô Biên Xứ: Resultant consciousness pertaining to the base of infinite space. 6) Tâm Thiền Quả trong Thức Vô Biên Xứ: Resultant consciousness pertaining to the base of infinite consciousness. 7) Tâm Thiền Quả trong Vô Sở Hữu Xứ: Resultant consciousness pertaining to the base of nothingness. 8) Tâm Thiền Quả trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ: Resultant consciousness pertaining to the base of neither perception nor non-perception. (C) Bốn Tâm Hành Vô Sắc Giới—Four kinds of Immaterial-Sphere Consciousness: 9) Tâm Thiền Hành trong Không Vô Biên Xứ: Functional consciousness pertaining to the base of infinite space. 10) Tâm Hành Thiền trong Thức Vô Biên Xứ: Functional consciousness pertaining to the base of infinite consciousness. 11) Tâm Thiền Hành trong Vô Sở Hữu Xứ: Functional consciousness pertaining to the base of nothingness. 12) Tâm Thiền Hành trong Phi Tưởng Phi Phi Tường Xứ: Functional consciousness pertaining to the base of neither perception nor non-perception. ** For more information, please see Tứ Không Xứ.
mười hai tên
Twelve names (Amida's).
Mười hai xứ
Xứ: s, p: āyatana; Hán Việt: Thập nhị xứ (十二處); |Gồm Lục căn (nội xứ; p: ajjhattāyatana) tức là sáu giác quan và Lục xứ, hay lục nhập, lục cảnh (ngoại xứ; p: bāhirāyatana), sáu đối tượng của chúng: 1. Nhãn xứ (mắt) và 2. Sắc xứ (thấy được); 3. Nhĩ xứ (tai) và 4. Âm thanh (nghe được); 5. Tỉ (mũi) và 6. Hương; 7. Thiệt (lưỡi) và 8. Vị; 9. Thân và 10. Xúc; 11. Ý xứ hay tầm và 12. Tâm pháp.
mười hoài bảo của chư bồ tát
Ten cherishing desires of Bodhisattvas—Trong Kinh Hoa Nghiêm, Hải Vân Tỳ Kheo tán dương mười hoài bảo của Thiện Tài Đồng Tử—In the Avatamsaka Sutra, Sagaramegha Bhiksu praises Sudhana's ten cherishing desires—See Mười Phẩm Hạnh Của Chư Bồ Tát.
mười hoàn cảnh khởi tâm đại bi
Ten circumstances in which Bodhisattvas develop their compassionate minds—Theo Kinh Hoa Nghiêm, ngài Phổ Hiền Bồ Tát đã khai thị các vị Bồ Tát về tâm đại bi phải quán sát thấy như sau—According to the Avatamsaka Sutra, Samantabhadra Bodhisattva shed light on why Bodhisattvas developed the compassionate mind as follows: 1) Bồ Tát quán sát thấy các chúng sanh không nơi nương tựa mà khởi tâm đại bi: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they do not have any place to lean on to develop great compassion. 2) Bồ Tát quán thấy chúng sanh tâm tánh chẳng điều thuận mà khởi đại bi tâm: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they are not kind and good-natured to develop great compassion. 3) Bồ Tát quán thấy chúng sanh nghèo cùng khốn khổ, không có căn lành mà khởi đại bi tâm: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they suffer in poverty without wholesome karma to develop great compassion. 4) Bồ Tát quán thấy chúng sanh ngủ say trong đêm dài vô minh mà khởi tâm đại bi: Bodhisatvas observe sentient beings and seeing that they sleep soundly in the long night of binding ignorance to develop great compassion. 5) Bồ Tát quán thấy chúng sanh làm những điều ác mà khởi tâm đại bi: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they carry out wicked actions to develop great compassion. 6) Bồ Tát quán thấy chúng sanh làm những điều ác mà còn thích lao mình thêm vào trong các sự ràng buộc khác nữa, mà khởi tâm đại bi: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they are already bound and tied down but are still fond of other bondage to develop great compassion. 7) Bồ Tát quán thấy chúng sanh bị chìm đắm trong biển sanh tử mà khởi đại bi tâm: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they are drowning in the ocean of life and death to develop great compassion. 8) Bồ Tát quán thấy chúng sanh bị vương mang tội khổ lâu dài mà khởi tâm đại bi: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they are trapped enduring sufferings for an extensive period of time to develop great compassion. 9) Bồ Tát quán thấy chúng sanh không ưa thích pháp lành mà khởi tâm đại bi: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they are not fond of wholesome dharma to develop great compassion. 10) Bồ Tát quán thấy chúng sanh xa mất Phật pháp mà khởi tâm đại bi: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they are far away and have lost the Buddha Dharma to develop great compassion.
mười hạng người khi lâm chung không niệm phật được
See Ten types of people who cannot recite the Buddha's name at the time of death in English-Vietnamese Section.
mười hạnh bồ tát
Ten kinds of practice of great enlightening beings. (A) Mười hạnh Bồ Tát mà chư Phật đã tuyên thuyết trong tam thế (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 21—Thập Hạnh)—Ten kinds of practices, which are expounded by the Buddhas of past, present and future (The Flower Adornment Sutra—Chapter 21—Ten Practices): 1) Hoan hỷ hạnh: The practice of giving joy. 2) Nhiêu ích hạnh: Beneficial practice. 3) Vô vi nghịch hạnh: Practice of nonopposition. 4) Vô khuất nhiễu hạnh: Practice of indomitability. 5) Vô si loạn hạnh: Practice of nonconfusion. 6) Thiện hiện hạnh: Practice of good manifestation. 7) Vô trước hạnh Practice of nonattachment. 8) Nan đắc hạnh: Practice of that which is difficult to attain. 9) Thiện pháp hạnh: Practice of good teachings. 10) Chơn thiệt hạnh: Practice of truth. (B) Mười hạnh của chư Bồ Tát—Theo lời Phật dạy trong Kinh Hoa Nghiêm thì chư Bồ Tát có mười thứ hạnh giúp họ được đại trí huệ vô thượng của chư Như Lai—According to the Buddha in The Flower Adornment Sutra, Great Enlightening Beings have ten kinds of practice which help them attain the practice of the unexcelled knowledge and wisdom of Buddhas. 1) Hạnh vì tất cả chúng sanh, vì nhờ đó mà làm cho khắp cả được thành thục: Practice dealing with all sentient beings, to develop them all to maturity. 2) Hạnh cầu tất cả các pháp, vì nhờ đó mà tu học tất cả: Practice seeking all truths, to learn them all. 3) Hạnh làm tất cả các thiện căn và khiến cho chúng tăng trưởng: Practice of all roots of goodness, to cause them all to grow. 4) Hạnh Tam muội vì nhờ đó mà được nhứt tâm bất loạn: Practice of all concentration, to be single-minded, without distraction. 5) Hạnh thực hành trí huệ vì nhờ đó mà không có chi là chẳng rõ chẳng biết: Practice of all knowledge, to know everything. 6) Hạnh tu tập tất cả, do đó mà không chi là không tu được: Practice of all cultivations, to be able to cultivate them all. 7) Hạnh nương nơi tất cả Phật sát (Phật độ—Phật quốc), vì thảy đều trang nghiêm: Practice dealing with all Buddha-lands, to adorn them all. 8) Hạnh tôn trọng và hỗ trợ tất cả thiện hữu tri thức: Practice dealing with all good companions, respecting and supporting them. 9) Hạnh tôn kính và cúng dường chư Như Lai: Practice dealing with all Buddhas, honoring and serving them. 10) Hạnh tu tập thần thông biến hóa, vì nhờ đó mà có thể biến hóa tự tại để hóa độ chúng sanh: Practice all supernatural powers, to be able to transform anywhere, anytime to help sentient beings.
mười hạnh của chư đại bồ tát
(A) Thập Hạnh Bồ Tát—Ten Bodhisattva practices: 1) Hoan hỷ hạnh: The practice of giving joy—Làm cho chúng sanh hoan hỷ. 2) Nhiêu ích hạnh: Beneficial practice—Thường làm lợi lạc cho chúng sanh. 3) Vô sân hận hạnh: The practice of non-opposition—Hạnh không sân hận với chúng sanh mọi loài. 4) Vô tận hạnh: The practice of indomitability—Nết hạnh lợi tha không bao giờ dứt. 5) Ly si loạn hạnh: The practice of non confusion—Hạnh tu hành xa lìa si loạn. 6) Thiện hiện hạnh: The practice of good manifestation—Hạnh thị hiện là người tốt giáo hóa chúng sanh. 7) Vô trước hạnh: The practice of nonattachment—Hạnh không bao giờ chấp trước. 8) Nan đắc hạnh: The practice of that which is difficult to attain—Thực hành những hạnh khó đạt được. 9) Thiện pháp hạnh: The practice of good teaching—Hạnh tu hành thiện pháp. 10) Chân thật hạnh: The practice of truth—Hạnh tu hành theo chân lý của Đức Phật. (B) Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười hạnh của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được hạnh vô lai vô khứ của Đức Như Lai—According to The Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of action of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can achieve the action of Buddhas that has no coming or going. 1) Hạnh nghe chánh pháp, vì ưa thích chánh pháp: Hearing the Teaching, out of fondness for truth. 2) Hạnh thuyết pháp vì lợi ích chúng sanh: Expounding the Teaching to benefit sentient beings. 3) Hạnh rời tham, sân, si và sợ hãi, vì biết điều phục tự tâm: Getting rid of covetousness, anger, delusion, and fear, by taming their own minds. 4) Hạnh dục giới vì muốn giáo hóa chúng sanh cõi dục: Action in the realm of desire, to teach beings in that realm. 5) Hạnh chánh định sắc giới và vô sắc giới, vì làm cho họ mau xoay trở lại: Concentration in the realm of form and formlessness, to foster quick return to noncontamination. 6) Hạnh xu hướng pháp nghĩa vì mau được trí huệ: Aiming for the meaning of the Teaching, to quickly attain wisdom. 7) Hạnh thọ sanh tất cả xứ, vì tự tại giáo hóa chúng sanh: Action in the realm of life, to freely edify sentient beings. 8) Hạnh tất cả cõi Phật, vì lễ bái cúng dường chư Phật: Action in all Buddha-lands, honoring all Buddhas. 9) Hạnh Niết bàn, vì chẳng dứt sanh tử nối tiếp: Nirvanic action, not cutting off the continuity of birth and death. 10) Hạnh thành tựu viên mãn tất cả Phật pháp, vì chẳng bỏ pháp hạnh của Bồ Tát: Fulfilling all qualities of Buddhahood without giving up application of the principles of Enlightening Beings.
mười hộ trì nhân pháp
Natha-karana-dhanna (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có mười hộ trì nhân pháp—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourse of the Buddha, there are ten things that give protection: 1) Giới Bổn Tỳ Kheo: Patimokkha (p)—Moral—Ở đây, vị Tỳ kheo có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ oai nghi, chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp—Here a monk is moral, he lives restrained according to the restraint of the discipline, persisting in right behavior, seeing dnager in the slightest fault, he keeps to the rules of training. 2) Đa Văn Tỳ Kheo: Ở đây vị Tỳ kheo nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe. Những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý văn cú cụ túc, đề cao đời sống phạm hạnh, hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh, những pháp ấy, vị đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ tụng đọc nhiều lần, chuyên lý quan sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến—Here a monk who has learned much, and bears in mind, and retained what he has learnt. In these teachings, beautiful in the beginning, the middle and the ending, which in spirit and in letter proclaim the absolutely perfected and purify holy life, he is deeply learned, he remembers them, recites them, reflects on them and penetrates them with vision. 3) Thiện Hữu Tỳ Kheo: Vị Tỳ Kheo là thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện bạn đảng—A monk is a friend, associate and intimate of good people. 4) Thiện Ngôn Tỳ Kheo: Vị Tỳ Kheo là thiện ngôn, đầy đủ sự nhu hòa và khiêm nhường, nhẫn nại và nhận sự chỉ trích một cách cung kính—A monk is affable, endowed with gentleness and patience, quick to grasp instruction. 5) Phục Vụ Tỳ Kheo: Khi nào có những trách nhiệm cần phải làm đối với các vị đồng phạm hạnh mà niên lạp cao hơn, vị ấy khéo léo, không biếng nhác, suy tư một cách đầy đủ để làm, vừa đủ để tổ chức—Whatever various jobs there are to be done for his fellow monks, he is skilful, not lax, using foresight in carrying them out, and is good at doing and planning. 6) Ái Thuyết Pháp Tỳ Kheo: Vị Tỳ kheo ưa Pháp, ái luyến nói Pháp, tự mình vô cùng hoan hỷ đối với Thắng Pháp, Thắng Luật—Here a monk who loves the Dhamma and delights in hearing it, he is especially fond of the advanced doctrine (abhidhamme) and dicipline (abhivinaye). 7) Tri Túc Tỳ Kheo: Vị Tỳ kheo tự mình bằng lòng với các vật dụng nhận được như y phục, ẩm thực, sàng tọa, bệnh dược—Here a monk who is content with any kind of requisites: robes, alms-food, lodging, medicine in case of illness. 8) Tinh Tấn Tỳ Kheo: Vị Tỳ Kheo sống tinh tấn siêng năng đoạn trừ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì tinh tấn, nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp—Her a monk who ever strives to arouse energy, to get rid of unwholesome states, to establish wholesome states, untiringly and energetically striving to keep such good states and never shaking off the burden. 9) Chánh Niệm Tỳ Kheo: Vị Tỳ Kheo chánh niệm, đầy đủ tối thượng niệm và tỉnh giác, nhớ đến và ghi nhớ những điều nói và làm từ lâu—Here a monk who is mindful, with a great capacity for clear recalling things done and said long ago. 10) Huệ Trí Tỳ Kheo: Vị Tỳ kheo có huệ trí, đầy đủ sanh diệt trí, hướng đến sự quyết trạch các bậc Thánh, chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ—Here a monk who is wise, with wise perception of arising and passing away, that Ariyan perception that leads to the complete destruction of suffering.
mười khí giới của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười thứ khí giới của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ nơi pháp nầy thời có thể diệt trừ những phiền não, kiết sử đã chứa nhóm từ lâu của tất cả chúng sanh—Enlightening Beings who abide by these can annihilate the afflictions, bondage, and compulsion accumulated by all sentient beings in the long night of ignorance. 1) Bố thí là khí giới của Bồ Tát, vì có thể diệt trừ tất cả xan lẫn: Giving is a weapon of enlightening beings, destroying all stinginess. 2) Trì giới là khí giới của Bồ Tát, vì vứt bỏ tất cả sự hủy phạm: Self-control is a weapon of enlightening beings, getting rid of all crime. 3) Bình đẳng là khí giới của Bồ Tát, vì dứt trừ tất cả phân biệt: Impartiality is a weapon of enlightening beings, removing all discrimination. 4) Trí huệ là khí giới của Bồ Tát, vì tiêu diệt tất cả vô minh phiền não: Wisdom is a weapon of enlightening beings, dissolving all ignorance and afflictions. 5) Chánh mạng là khí giới của Bồ Tát, vì xa rời tất cả tà mạng: Right livelihood is a weapon of enlightening beings, leading away from all wrong livelihood. 6) Thiện xảo phương tiện là khí giới của Bồ Tát, vì thị hiện tất cả xứ: Skill in means is a weapon of enlightening beings, manifesting in all places. 7) Tham, sân, si và tất cả phiền não là khí giới của Bồ Tát, vì dùng môn phiền não để độ chúng sanh: All afflictions, wrath, and folly are weapons of enlightening beings because they liberate sentient beings through afflictions. 8) Sanh tử là khí giới của Bồ Tát, vì chẳng dứt hạnh Bồ Tát và luôn giáo hóa chúng sanh: Birth-and-death is a weapon of enlightening beings because they continue enlightening practices and teach sentient beings. 9) Nói pháp như thật là khí giới của Bồ Tát vì hay phá tất cả chấp trước: Teaching the truth is a weapon of enlightening beings, able to break up all clinging. 10) Nhứt thiết trí là khí giới của Bồ Tát, vì chẳng bỏ hạnh môn của Bồ Tát: All knowledge is a weapon of enlightening beings because they do not give up the avenues of practice of enlightening beings.
mười không dính mắc
Theo Kinh Hoa Nghiêm, chư đại Bồ Tát có mưới thứ không dính mắc—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of nonattachment of Great Enlightening Beings. (A) Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 27, chư Đại Bồ Tát trụ trong nhứt thiết trí chúng sanh sai biệt thân đại tam muội có thể đạt được mười thứ vô sở trước—According to the Flower Adornement Sutra, Chapter 27, Great enlightening beings abide in the concentration of the differentiated bodies of all sentient beings can attain ten kinds of non-attachment: 1) Nơi tất cả cõi vô sở trước: Non-attachment in all lands. 2) Nơi tất cả phương vô sở trước: Non-attachment in all places. 3) Nơi tất cả kiếp vô sở trước: Non-attachment in all times. 4) Nơi tất cả chúng sanh vô sở trước: Non-attachment in respect to all beings. 5) Nơi tất cả pháp vô sở trước: Non-attachment in respect to all phenomena. 6) Nơi tất cả Bồ Tát vô sở trước: Non-attachment in respect in respect to all Enlightening Beings. 7) Nơi tất cả Bồ Tát nguyện vô sở trước: Non-attachment in respect to all Enlightening Beings' vows. 8) Nơi tất cả tam muội vô sở trước: Non-attachment in respect to all concentrations. 9) Nơi tất cả Phật vô sở trước: Non-attachment in respect to all Buddhas. 10) Nơi tất cả địa vô sở trước: Non-attachment in respect to all the stages of enlightenment. (B) Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời có thể mau chuyển tất cả tưởng và được trí huệ thanh tịnh vô thượng—Ten kinds of nonattachment of great enlightening beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38): Muời pháp vô trước của chư Đại Bồ Tát (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38)—Enlightening Beings who abide by these can quickly overturn all concepts and attain supreme pure wisdom. 1) Vô trước nơi tất cả thế giới: Non-attachment to all worlds. 2) Vô trước nơi tất cả chúng sanh: Non-attachment to all sentient beings. 3) Non-attachment to all phenomena. 4) Vô trước nơi tất cả các pháp: Non-attachment to all actions. Vô trước nơi tất cả sở tác: 5) Non-attachment to all roots of goodness. 6) Non-attachment to all place of birth. Vô trước nơi tất cả chỗ thọ sanh: 7) Vô trước nơi tất cả nguyện: Non-attachment to all vows. 8) Vô trước nơi tất cả hạnh: Non-attachment to all practices. 9) Non-attachment to all Enlightening Beings. 10) Vô trước nơi tất cả chư Phật: Non-attachment to all Buddhas.
mười kết sử
Dasa samyojana (S). Ten fetters.
mười loại người không niệm phật được lúc lâm chung
Ten types of people who cannot recite the Buddha's name at near-death time—Sở dĩ hàng phàm phu nghịch ác khi lâm chung biết niệm Phật là do từ trước họ đã có căn lành, phước đức, nhân duyên, nên đời nầy mới gặp thiện hữu tri thức và khởi lòng tin tưởng phụng hành, chứ những kẻ một đời tạo ác, khi lâm chung mong gì có được được một câu niệm Phật để được vãng sanh? Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, câu hỏi số 20, có mười hạng người không thể niệm Phật lúc cận tử. Những sự kiện nầy có thể xãy đến với bất cứ ai, bất kể là xuất gia hay tại gia. Chúng xãy ra do bởi nghiệp đời trước hay đời nầy (túc nghiệp hay hiện nghiệp) và xãy ra bất thần không tránh được. Chúng ta không phải là bậc Thánh nhân chứng túc mạng thông, lại cũng chẳng phải là bậc đủ tha tâm, thiên nhãn, biết mình khi mạng chung chết tốt hay xấu, mà bình thời không niệm Phật, đến khi lâm chung nếu rủi mắc phải một trong mười ác duyên, chừng đó dù có Phật sống hay bao nhiêu thiện hữu tri thức cũng không thể nào cứu được. Lúc đó thần thức sẽ tùy theo nghiệp mà đi vào chốn tam đồ bát nạn, nhiều kiếp chịu khổ:The reason perverse and evil beings manage to recite the Buddha's name at the time of death is that they have 'good roots, causes, conditions, merits, and virtues' from the past. That is why they are able to encounter good spiritual advisors, believe in them and act accordingly. How can those who commit evil deeds throughout their lives be reborn in the Pure Land with just a single recitation of the Buddha's name? According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in the Treatise on The Ten Doubts, question number 20, there are ten types of people who cannot recite the Buddha's name at the time of death. These are common occurrences which can befall anyone, clergy or laypeople. They are due to previous or current karma and occur suddenly and unavoidably. We are not sages who have attained the 'knowledge of previous lives,' and who can thus know in advance whether or not we will encouter karmic retribution at the moment of death. Neither do we have the faculty of reading other people's Minds nor supernatural vision, to know whether we will die peacefully or not. Thus, if we do not recite the Buddha's name in daily life, how will we react if, at the time of death, we inadvertently meet with one of these calamities? At such time, even if a living Buddha or a multitude of good spiritual advisors surround us, they will have no way to save us. Our consciousness will then follow our karma and descend upon the Three Evil Paths, subject to eight adversities and enduring many eons of suffering. 1) Những kẻ không gặp bạn lành hay thiện hữu tri thức nên chẳng ai khuyên họ niệm Phật: Those who fail to meet spiritual friends or good advisors and thus have no one to urge them to recite. 2) Những kẻ bị bức thiết bởi khổ nghiệp, nên không yên ổn rổi rảnh để niệm Phật: Those who are oppressed by karmic suffering and lack both peace of Mind and free time to practice Buddha Recitation. 3) Những kẻ bị trúng phong thình lình trở nên á khẩu hay khuyết tật ăn nói nên không thể niệm Phật được: Those stricken by sudden illness and become dumb or speech impaired, which prevents them from actually reciting the Buddha's name aloud. 4) Những kẻ mất trí nên không thể chú tâm niệm Phật được: Those who are insane and cannot focus the Mind on invoking the Buddha's name. 5) Những kẻ bất đắc kỳ tử bởi lửa nước nên không có đủ bình tỉnh chí thành niệm Phật: Those who meet with sudden death by fire or drowning and lose their calmness and utter sincerity. 6) Những kẻ thình lình bị hại bởi dã thú: Those who are suddenly injured by ferocious beasts. 7) Những kẻ lúc cận tử gặp thầy tà bạn ác phá hoại lòng tin: Those who encounter wicked teacher and evil friends at the time of near death, as such friends destroy their faith. 8) Những kẻ gặp bạo bịnh, hôn mê bất tỉnh rồi qua đời: Those stricken by fatal illness and become unconscious when passing away. 9) Những kẻ thình lình trúng thương chết trận: Those who are wounded and die suddenly on the battlefield. 10) Những kẻ té từ trên cao mà vong mạng: Those who lose their lives falling from high places.
mười loại thiện hữu tri thức
Mười loại thiện hữu tri thức— Theo lời Phật dạy trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm 38 (Ly Thế Gian), chư Đại Bồ Tát có mười loại thiện hữu tri thức giúp họ trên đường đi đến đại giác—According to the Buddha in The Flower Adornment Sutra (Chapter 38 Detachment From The World), Great Enlightening Beings have ten kinds of spiritual friends who help them along the path to enlightenment. 1) Thiện tri thức giúp chư Bồ Tát an trụ Bồ đề tâm: Spiritual friends who cause them to persist in the determination for enlightenment. 2) Thiện tri thức giúp chư Bồ Tát sanh trưởng thiện căn: Spiritual friends who cause them to generate roots of goodness. 3) Thiện tri thức giúp chư Bồ Tát thực hành hạnh của các môn Ba La Mật: Spiritual friends who cause them to practice the way of transcendence. 4) Thiện tri thức khiến giải thoát tất cả pháp: Spiritual friends who enable them to to analyze and explain all truths. 5) Thiện tri thức khiến thành thục được tất cả chúng sanh: Spiritual friends who enable them to develop all sentient beings. 6) Thiện tri thức khiến được quyết định biện tài: Spiritual friends who enable them to attain definitve analytic and expository powers. 7) Thiện tri thức khiến chẳng nhiễm trước tất cả thế gian: Spiritual friends who cause them not to be attracted to any world. 8) Thiện tri thức khiến trong tất cả kiếp tu hành không nhàm mỏi: Spiritual friends who cause them to practice tirelessly in all ages. 9) Thiện tri thức khiến an trụ trong Hạnh Phổ Hiền: Spiritual friends who establish them in the practice of Universal Good. 10) Thiện tri thức khiến nhập nơi trí của chư Phật đã nhập: Spiritual friends who introduce them to the reaches of knowledge of all Buddhas.
mười loại viên lâm của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa nghiêm, Phẩm 38, có mười loại viên lâm của chư đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đại hạnh an lạc lìa ưu não vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of grove of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can achieve the Buddhas' unexcelled peaceful, happy action, free from sorrow and afflication. 1) Sanh tử là viên lâm của Bồ Tát vì không nhàm bỏ: Birth and death is a grove for Enlightening Beings because they do not reject it. 2) Giáo hóa chúng sanh là viên lâm của Bồ Tát vì không mỏi mệt: Teaching sentient beings is a grove for Enlightening Beings because they do not tire of it. 3) Trụ tất cả kiếp là viên lâm của Bồ Tát, vì nhiếp những hạnh lớn: Living in all ages is a grove of Enlightening Beings because they embrace all great deeds. 4) Thanh tịnh thế giới là viên lâm của Bồ Tát vì là chỗ dừng ở của Bồ Tát: Purifying the world is a grove for Enlightening Beings because it is where they themselves sojourn. 5) Tất cả cung điện của ma là viên lâm của Bồ Tát, vì hàng phục được chúng ma: All abodes of demons are agrove for Enlightening Beings because they conquer them all. 6) Tư duy pháp đã được nghe là viên lâm của Bồ Tát, vì đúng như lý quán sát: Thinking about the teaching they hear is a grove for Enlightening Beings because they examine them truthfully. 7) Sáu pháp Ba-La-Mật, tứ nhiếp pháp, và ba mươi bảy phẩm trợ đạo là viên lâm của Bồ Tát vì là cảnh giới tiếp nối của Đức Phật: The six ways of transcendence, four means of integration, and thirty-seven aids to enlightenment are a grove for Enlightening Beings because they succeed to the domain of the Buddha. 8) Thập lực, tứ vô úy, mười tám pháp bất cộng, nhẫn đến tất cả Phật pháp đều là viên lâm của Bồ Tát vì chẳng niệm nhớ những pháp khác: The ten powers, four fearlessnesses, eighteen unquie qualities, and all other aspects of Buddhahood are a grove for Enlightening Beings because they do not think of anything else. 9) Thị hiện tất cả Bồ Tát oai lực tự tại thần thông là viên lâm của Bồ Tát, vì dùng đại thần lực chuyển pháp luân điều phục chúng sanh không thôi nghỉ: Manifesting the autonomous spiritual capacities of all Enlightening Beings is a grove for enlighening beings because they use great spiritual powers to turn the wheel of teaching unceasingly and civilize sentient beings. 10) Một niệm ở tất cả xứ vì tất cả chúng sanh thị hiện thành chánh giác là viên lâm của Bồ Tát, vì pháp thân cùng khắp hư không tất cả thế giới: Instantly showing all sentient beings the attainment of true enlightenment in all places is a grove of Enlightening Beings because the body of reality pervades all worlds in space.
mười luật nghi của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38, có mười luật nghi của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được luật nghi đại trí vô thượng—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of rules of behavior of great enlightening beings. Enlightening beings who abide by these can attain the supreme discipline of great knowledge. 1) Chẳng hủy báng Phật pháp: Should not slander any enlightening teachings. 2) Tín tâm nơi chư Phật chẳng hoại diệt: Faith in the Buddhas should be indestructible. 3) Tôn trọng cung kính tất cả Bồ Tát: Should honor and respect all enlightening beings. 4) Chẳng bỏ tâm mến thích tất cả thiện tri thức: Should never give up their friendship with wise people. 5) Chẳng móng lòng ghi nhớ những Thanh Văn Độc Giác: Should not think of those who seek individual salvation. 6) Xa lìa tất cả những thối chuyển Bồ Tát đạo: Should avoid all regression on the path of enlightening beings. 7) Chẳng khởi tất cả tâm tổn hại chúng sanh: Should not give rise to any malice toward sentient beings. 8) Tu tất cả thiện căn đều khiến rốt ráo: Should cultivate all roots of goodness to perfection. 9) Có thể hàng phục chúng ma: Should be able to conquer all demons. 10) Làm cho đầy đủ tất cả Ba-La-Mật: Should fulfill all the ways of transcendence.
mười lý do khiến chư đại bồ tát thị hiện khổ hạnh
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười lý do khiến chư Đại Bồ Tát thị hiện khổ hạnh. Chư Bồ Tát dùng phương tiện khổ hạnh nầy để điều phục và làm cho chúng sanh an lạc—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten reasons Great Enlightening Beings practice austerities. Enlightening Beings use these expendient means of austerities to pacify all sentient beings. 1) Vì muốn thành tựu những chúng sanh có trình độ hiểu biết kém mà thị hiện khổ hạnh: To develop sentient beings with low understanding. 2) Vì muốn trừ tà kiến cho chúng sanh mà thị hiện khổ hạnh: To remove false views from sentient beings. 3) Vì muốn làm cho những chúng sanh chẳng tin nghiệp báo thấy được nghiệp báo, mà thị hiện khổ hạnh: To show the consequences of action to sentient beings who do not believe in consequences of action. 4) Vì muốn tùy thuận pháp phải có của thế giới tạp nhiễm mà thị hiện khổ hạnh: To do so in accord with the adulterated and polluted world. 5) Vì muốn cho thấy khả năng chịu đựng nhẫn nhục mà thị hiện khổ hạnh: To show the ability to endure toil and diligently work on the way. 6) Vì muốn làm cho chúng sanh thích cầu pháp mà thị hiện khổ hạnh: To cause sentient beings to want to seek the truth. 7) Vì những chúng sanh say đắm dục lạc và ngã lạc mà thị hiện khổ hạnh: For the sake of sentient beings who are attached to sensual pleasures and selfish pleasure. 8) Vì muốn hiển bày Bồ Tát khởi hạnh là tối thượng, nên nhẫn đến đời sau cùng mà chẳng bỏ siêng năng tinh tấn, nên thị hiện khổ hạnh: In order to show that enlightening beings' effort is supreme, continuing to the very last life. 9) Vì muốn làm cho chúng sanh thích pháp tịch tịnh, tăng trưởng thiện căn, mà thị hiện khổ hạnh: To induce sentient beings to enjoy the state of calm and tranquility and increase roots of goodness. 10) Vì muốn chờ đến khi thế nhơn căn tánh được thành thục, mà thị hiện khổ hạnh: To wait until the time is ripe to develop people's immature faculties.
mười lý do khiến chư đại bồ tát thị hiện vi tiếu, tâm tự thệ điều phục chúng sanh
(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38) cho họ được an lạc-- Ten reasons why Great Enlightening Beings smile and make a promise in their hearts to tame and pacify sentient beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). 1) Chư đại Bồ Tát nghĩ rằng tất cả thế gian chìm tại vũng bùn ái dục, trừ chư Bồ Tát ra, không ai có thể cứu họ được: Great Enlightening Beings think that all worldlings are sunk in the mire of craving, and no one but Enlightening Beings can rescue them. 2) Tất cả thế gian bị dục vọng phiền não làm mù, chỉ có chư Bồ Tát là có trí huệ: All worldlings are blinded by passion and afflictions, and only Enlightening Beings have wisdom. 3) Chư Bồ Tát do thân giả danh sẽ được pháp thân vô thượng sung mãn tam thế của các Đức Như Lai: Based on this so-called body, Enlightening Beings will attain the supreme reality-body of Buddhas, which fills all times. 4) Bấy giờ Bồ Tát dùng mắt vô chướng ngại quán sát tất cả Phạm Thiên nhẫn đến Đại Tự Tại Thiên trong mười phương mà nghĩ rằng: Những chúng sanh nầy đều tự cho rằng mình có đại trí lực: Then the Enlightening Beings, with unobstructed eyes, look over all the Brahma heavens and all the controlling heavens, and think: These sentient beings all think they have the power of knowledge. 5) Bấy giờ Bồ Tát quán sát các chúng sanh từ lâu gieo trồng thiện căn, nay cũng đều thối mất: The Enlightening Beings observe sentient beings who have long planted roots of goodness and who now are regressing and sinking. 6) Bồ Tát quán sát thấy thế gian chủng tử gieo trồng dù ít mà được quả rất nhiều: The Enlightening Beings observe that though the seeds sown in the world be few, the fruits reaped are many. 7) Bồ Tát quán sát thấy tất cả chúng sanh được Phật giáo hóa đều chắc được lợi ích: The Enlightening Beings see that all sentient beings who receive the teaching of Buddha will surely gain benefit. 8) Bồ Tát quán sát thấy trong đời quá khứ chư Bồ Tát đồng hành nhiễm trước việc khác, nên chẳng được công đức quảng đại của Phật pháp: The Enlightening Beings see that Enlightening Beings who were their colleagues in past ages have become obsessed with other things and cannot attain the great virtues of the Buddha teaching. 9) Bồ Tát quán sát thấy rong đời quá khứ, hàng nhơn thiên cùng mình tập hội, mà nay vẫn còn ở bực phàm phu, không xả ly được, mà cũng nhàm mỏi: The Enlightening Beings see that the celestials and humans who were in the same communities with them in the past still are in mundane states, unable to detach from them, and not tiring of them either. 10) Bấy giờ Bồ Tát được quang minh của tất cả Như Lai chiếu đến càng thêm hân hoan vui vẻ: Then Enlightening Beings are bathed in the lights of all Buddhas and are even more joyful.
mười lý do khiến chư đại bồ tát thị hiện đi bảy bước
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười lý do khiến chư đại Bồ Tát thị hiện đi bảy bước. Chư Đại Bồ Tát vì muốn điều phục cho chúng sanh được an lạc nên thị hiện đi bảy bước như vậy—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten reasons Great Enlightening Beings show the act of walking seven steps. For these ten reasons they show the act of walking seven steps after birth; they manifest this to pacify sentient beings. 1) Vì hiện Bồ Tát lực mà thị hiện đi bảy bước: To manifest the power of enlightening beings. 2) Vì hiện xả thí bảy thánh tài mà thị hiện đi bảy bước: To manifest the giving of the seven kinds of wealth. 3) Vì cho Địa Thần thỏa nguyện mà thị hiện đi bảy bước: To satisfy the wishes of the spirits of the earth. 4) Vì hiện tướng siêu tam giới mà thị hiện đi bảy bước: To manifest the appearance of transcending the three worlds. 5) Vì hiện bước tối thắng của Bồ Tát hơn hẳn bước đi của tượng vương, ngưu vương, sư tử vương mà thị hiện đi bảy bước: To manifest the supreme walk of the enlightening being, beyond the walk of the elephant, the bull, or the lion. 6) Vì hiện tướng kim cang địa mà thị hiện đi bảy bước: To manifest the characteristics of adamantine ground. 7) Vì hiện muốn ban cho chúng sanh sức dũng mãnh mà thị hiện đi bảy bước: To manifest the desire to give sentient beings courageous strength. 8) Vì hiện tu hành thất giác bửu mà thị hiện đi bảy bước: To manifest the practice of the seven jewels of awakening. 9) Vì hiện pháp đã được chẳng do người khác dạy nên thị hiện đi bảy bước: To show that the truth they have realized does not come from the instruction of another. 10) Vì hiện là tối thắng vô tỉ ở thế gian nên thị hiện đi bảy bước: To manifest supreme peerless in the world.
mười lý do khiến chư đại bồ tát thị hiện ở thân đồng tử
(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38) Ten reasons Enlightening Beings appear as children (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). 1) Vì hiện để thông đạt tất cả nghệ thuật khoa học thế gian mà thị hiện ở thân đồng tử: To manifest the learning of all worldly arts and sciences. 2) Vì hiện thông đạt những nghề nghiệp vũ thuật binh trận thế gian mà thị hiện ở thân đồng tử: To manifest the learning of riding military arts and various worldly occupations. 3) Vì hiện thông đạt tất cả những văn bút, đàm luận, cờ nhạc thế gian mà thị hiện ở thân đồng tử: To manifest the learning of all kinds of worldly things such as literature, conversation, games, and amusements. 4) Vì hiện xa lìa những lỗi lầm của ba nghiệp thân, khẩu ý mà thị hiện ở thân đồng tử: To manifest the shedding of errors and faults of word, thought, and deed. 5) Vì hiện môn nhập định trụ niết bàn khắp cùng mười phương vô lượng thế giới mà thị hiện ở thân đồng tử: To manifest entering concentration, staying in the door of nirvana, and pervading infinite worlds in the ten directions. 6) Vì hiện sức mạnh siêu quá thiên long bát bộ, trời, người, phi nhơn, mà thị hiện ở thân đồng tử: To show that their power goes beyond all creatures, celestials, human, and nonhuman. 7) Vì hiện sắc tướng oai quang của Bồ Tát siêu quá long thần hộ pháp mà thị hiện ở thân đồng tử: To show that the appearance and majesty of enlightening beings goes beyond all deities. 8) Vì muốn làm cho những chúng sanh tham đắm dục lạc mến thích pháp lạc mà thị hiện ở thân đồng tử: To cause sentient beings addicted to sensual pleasures to joyfully take pleasure in truth. 9) Vì tôn trọng chánh pháp, siêng tu cúng dường chư Phật mà thị hiện ở thân đồng tử: To show the reception of truth and respectfully make offerings to all Buddhas. 10) Vì hiện được Đức Phật gia bị, được pháp quang minh mà thị hiện ở thân đồng tử: To show empowerment of Buddhas and being bathed in the light of truth.
mười lý do khiến chư đại bồ tát thị hiện ở vương cung
(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38)—Ten reasons Enlightening Beings appear to live in a royal palce (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). 1) Vì muốn làm cho những chúng sanh đồng tu hành với Bồ Tát đời trước được thành thục thiện căn mà thị hiện ở vương cung: To cause roots of goodness of their colleagues of the past to develop to maturity. 2) Vì muốn hiển thị sức thiện căn của chư Bồ Tát mà thị hiện ở vương cung: To show the power of roots of goodness of Enlightening Beings. 3) Vì nhơn thiên tham đắm nơi đồ vui thích mà hiển hiện đồ vui thích đại oai đức của Bồ Tát nên thị hiện ở vương cung: To show the comforts of great spiritual power of enlightening beings to humans and celestials who are obsessed with comforts. 4) Vì muốn tùy thuận tâm chúng sanh đời ngũ trược mà thị hiện ở vương cung: To adapt to the minds of sentient beings in the polluted world. 5) Vì muốn hiện sức oai đức của Bồ Tát có thể ở thâm cung nhập tam muội mà thị hiện ở vương cung: To manifest the spiritual power of Enlightening Beings, able to enter concentration in the heart of the palace. 6) Vì muốn làm cho chúng sanh đồng nguyện ở đời trước được thỏa mãn ý nguyện mà thị hiện ở vương cung: To enable those who had the same aspiration in the past to fulfill their aims. 7) Vì muốn khiến cha mẹ, gia đình và bà con được thỏa nguyện mà thị hiện ở vương cung: To enable their parents, family and relatives to fulfill their wishes. 8) Vì muốn dùng kỹ nhạc phát ra tiếng diệu pháp cúng dường tất cả chư Như Lai mà thị hiện ở vương cung: To use music to produce the sounds to the sublime teaching to offer to all Buddhas. 9) Vì muốn ở tại trong cung trụ tam muội vi diệu, từ thành Phật nhẫn đến Niết bàn đều hiển bày mà thị hiện ở vương cung: To dwell in the subtle concentration while in the palace and show everything from the attainment of Buddhahood to final extinction. 10) Vì tùy thuận thủ hộ Phật pháp mà thị hiện ở vương cung: To accord with and preserve the teaching of the Buddhas.
mười lý do khiến chư đại bồ tát xuất gia
(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38)—Ten reasons enlightening beings appear to live in a royal palce (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). 1) Nhàm chán tại gia: To reject living at home. 2) Khiến chúng sanh nhàm chán sự tham đắm tại gia: To cause sentient beings attached to their homes give up their attachment. 3) Tùy thuận tin mến đạo Thánh: To follow and appreciate the path of Saints. 4) Tuyên dương và tán thán công đức xuất gia: To publicize and praise the virtues of leaving home. 5) Hiển bày lìa hẳn kiến chấp nhị biên: To demonstrate enternal detachment from extreme views. 6) Khiến chúng sanh lìa xa dục lạc và ngã lạc: To cause sentient beings to detach from sensual and selfish pleasures. 7) Hiện tướng xuất tam giới: To show the apearance of transcending the world. 8) Hiện tự tại chẳng lệ thuộc người khác: To show indepedence, not being subject to another. 9) Vì hiển bày sẽ được thập lực và vô úy của các Đức Như Lai: To show that they are going to attain the ten powers and fearlessnesses of Buddhas. 10) Vì hậu thân Bồ Tát phải thị hiện xuất gia: It is natural that Enlightening Beings in their final life should do so.
mười lý do liên hệ đến đời sống khiến hành giả mong cầu giác ngộ
Theo Kinh Hoa Nghiêm, vấn đề ước vọng giác ngộ tối thượng cần thiết cho hành giả, có mười lý do liên hệ đến đời sống khiến hành giả mong cầu giác ngộ—According to the Avatamsaka Sutra, the desire for supreme enlightenment is so necessary for practitioners, and there are ten reasons related to our daily life which lead practitioners desire for enlightenment. 1) Để chứng được Phật trí: Buddha-Jnana (skt)—For the realization of Buddha-knowledge. 2) Để đạt được mười oai lực: Dasabala (skt)—For the attainment of the ten powers. 3) Để đạt được đại vô úy: Mahavaisaradya (skt)—For the attainment of great fearlessness. 4) Để đạt được pháp bình đẳng của Phật: Samatabuddhadharma (skt)—For the attainment of the truth of sameness which constitutes Buddhahood. 5) Để hộ trì cứu bạt cả thế gian: Sarvajagatparitrana (skt)—For protecting and securing the whole world. 6) Để làm thanh tịnh tâm từ bi: Kritpakaruna (skt)—For the purification of a pitying and compassionate heart. 7) Để đạt được vô phân biệt trí: Asesajnana (skt)—Khắp mười phương thế giới không gì là không biết đến—For the attainment of a knowledge which leaves nothing unknown in the ten directions of the world. 8) Để làm thanh tịnh Phật độ khiến cho tất cả không còn vướng mắc: Asamga (skt)—For the purification of all the Buddha-lands so that a state of non-attachment will prevail. 9) Để trong khoảng một niệm mà tri nhận cùng khắp quá khứ, hiện tại và vị lai: Ksanabodha (skt)—For the perception of the past, present, and future in one moment. 10) Để chuyển đại pháp luân trong tinh thần không khiếp sợ: Dharmacakrapavarta (skt)—For the revolving of the great wheel of the Dharma in the spirit of fearlessness.
mười lý do phát tâm bồ đề
Ten reasons to cause sentient beings to develop Bodhi Mind—Theo Thiệt Hiền Đại Sư, Tổ thứ mười một trong Liên Tông Thập Tam Tổ, có mười lý do khiến chúng sanh phát tâm Bồ Đề—According to Great Master Sua-Sen, the eleventh Patriarch of the Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, there are ten reasons that cause sentient beings to develop Bodhi Mind. 1) Vì nghĩ đến ơn Phật—Because of remembering of the grace of the Buddha: Đức Thích Tôn, khi mới phát tâm, vì độ chúng ta, tu Bồ Tát đạo trải qua vô lượng kiếp, chịu đủ các sự khổ—Take our Sakyamuni Buddha as an example, from the time He first developed the mind to cultivate for the Ultimate Bodhi Mind or Buddhahood, to aid and escue sentient beings, he had endured endless sufferings. a) Lúc ta tạo nghiệp, Đức Phật xót thương dùng đủ mọi phương tiện giáo hóa, mà ta ngu si không chịu tin theo: When we create karma, owing to the Buddha's compassion and mercy, He creates infinite skillful methods to teach and transform us, but because of our ignorance and stupidity we refuse to listen. b) Ta đọa ác đạo, Phật lại càng thương, muốn thay ta chịu khổ, nhưng ta nghiệp nặng không thể nào cứu vớt được: When we get condemned to the Evil Paths, the Buddha expands his compassion, wanting to take our place of suffering. But because of our heavy karma, it is not possible to rescue us. c) Đến khi ta làm người, Phật dùng phương tiện khiến ta gieo căn lành, nhiều kiếp theo dõi, lòng không tạm bỏ: When we become humans, the Buddha uses various skillful means influencing us to plant good cultivated karma, following us through infinite reincarnations without ever abandoning us. d) Chúng ta phước mỏng nghiệp dầy, sanh nhằm thời mạt pháp, khó lòng gia nhập giáo đoàn, khó lòng mà thấy được kim thân Đức Phật. May mà còn gặp được Thánh tượng. May mà đời trước có trồng căn lành, nên đời nầy nghe được Phật Pháp. Nếu như không nghe được chánh pháp, đâu biết mình đã thọ Phật Ân. Ân đức nầy biển thẳm không cùng, non cao khó sánh. Nếu ta không phát tâm Bồ Đề, giữ vững chánh pháp, cứu độ chúng sanh, thì dù cho thịt nát xương tan cũng không đền đáp được: Sentient beings with few virtues and heavy karma, born in the Dharma Ending Age. It is extremely difficult to become a member of the Sangha. It is impossible to witness the Buddha's Golden Body. Fortunately, owing to our planting good roots in former lives, we still are able to see the Buddha's statues, still be able to hear and learn proper dharma. If we have not heard the proper dharma teaching, how would we know that we often receive the Buddha's Blessings? For this grace, no ocean can compare and no mountain peak can measure. Thus, if we do not vow to develop Bodhi Mind, or to cultivate the Bodhisattva's Way to attain Buddhahood, firmly maintain the proper dharma, vow to help and rescue all sentient beings, then even if flesh is shredded and bones are shattered to pieces, it still would not be enough to repay that great grace. 2) Vì nhớ ân cha mẹ—Because of remembering of the grace of the parents: Cha mẹ sanh ta khó nhọc! Chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm. Đến khi ta được nên người, chỉ mong sao cho ta nối dõi tông đường, thừa tự tổ tiên. Nào ngờ một số trong chúng ta lại xuất gia, lạm xưng Thích tử, không dâng cơm nước, chẳng đở tay chân. Cha mẹ còn ta không thể nuôi dưỡng thân già, đến khi cha mẹ qua đời, ta chưa thể dìu dắt thần thức của các người. Chừng hồi tưởng lại thì: “Nước trời đà cách biệt từ dung. Mộ biếc chỉ hắt hiu thu thảo.” Như thế đối với đời là một lỗi lớn, đối với đạo lại chẳng ích chi. Hai đường đã lỗi, khó tránh tội khiên! Nghĩ như thế rồi, làm sao chuộc lỗi? Chỉ còn cách “Trăm kiếp, ngàn đời, tu Bồ Tát hạnh. Mười phương ba cõi độ khắp chúng sanh.” Được như vậy chẳng những cha mẹ một đời, mà cha mẹ nhiều đời cũng đều nhờ độ thoát. Được như thế chẳng những cha mẹ một người, mà cha mẹ nhiều người, cũng đều được siêu thăng—Childbirth is a difficult and arduous process with nine months of the heavy weight of pregnancy, then much effort is required to raise us with a minimum of three years of breast feeding, staying up all night to cater our infantile needs, hand feeding as we get a little older. As we get older and become more mature, our parents invest all their hopes we will succeed as adults, both in life and religion. Unexpectedly, some of us leave home to take the religious path, proclaiming ourselves as Buddha's messenger and, thus are unable to make offerings of food, drink nor can we help our parents with day to day subsistence. Even if they are living, we are unable to take care of them in their old age, and when they die we may not have the ability to guide their spirits. Upon a moment of reflection, we realize : “Our worlds are now ocean apart, as grave lies melancholy in tall grass.” If this is the case, such is a great mistake in life, such a mistake is not small in religion either. Thus, with both paths of life and religion, great mistakes have been made; there is no one to bear the consequences of our transgressions but ourselves. Thinking these thoughts, what can we do to compensate for such mistakes? Cultivate the Bodhisattva Way in hundreds and thousands of lifetimes. Vow to aid and rescue all sentient beings in the Three Worlds of the Ten Directions. If this is accomplished, not only our parents of this life, but our parents of many other lives will benefit to escape from the unwholesome paths. And not just the parents of one sentient being, but the parents of many sentient beings will benefit to escape from evil paths. 3) Vì tưởng nhớ đến ơn sư trưởng—Because of remembering of the grace of the teachers: a) Đành rằng cha mẹ sanh dục sắc thân, nhưng nếu không có thầy thế gian, ắt ta chẳng hiểu biết nghĩa nhân. Không biết lễ nghĩa, liêm sĩ, thì nào khác chi loài cầm thú?: Even though our parents give birth to our physical beings, if not the worldly teachers, we would not understand right from wrong, virtue, ethics, etc. If we do not know right from wrong, know how to be grateful, and have shame, then how are we any different from animals? b) Không có thầy xuất thế, ắt ta chẳng am tường Phật pháp. Chẳng am tường Phật pháp, nào khác chi hạng ngu mông? Nay ta biết chút ít Phật pháp là nhờ ai? Huống nữa, thân giới phẩm đã nhuận phần đức hạnh, áo cà sa thêm rạng vẻ phước điền. Thực ra, tất cả đều nhờ ơn sư trưởng mà được: If there were no spiritual teachers for guidance, obviously, we would not be able to understand the Buddha-Dharma. When we do not understand the Buddha-Dharma, the Doctrine of Cause and Effect, then how are we different from those who are ignorant and stupid? Now that we know a little bit of virtue, how to be grateful, having shame, and somewhat understand the Buddha-Dharma, where did such knowledge come from? Moreover, some of us are fortunate enough to become Bhiksus and Bhiksunis, showering ourselves with precepts, cultivating and understanding the virtuous practices, wearing the Buddhist robe, and gaining the respect of others. Thus none of this would happen if not for elder masters. c) Đã hiểu như thế, nếu như ta cầu quả nhỏ, thì chỉ có thể lợi riêng mình. Nay phát đại tâm, mới mong độ các loài hàm thức. Được như vậy thì thầy thế gian mới dự hưởng phần lợi ích, mà thầy xuất thế cũng thỏa ý vui mừng: Knowing this, if we pray for the “Lesser Fruits,” then we can benefit only ourselves. Therefore, we must develop the Great Bodhi Mind of a Maha-Bodhisattva to wish to rescue and aid all sentient beings. Only then would our worldly teachers truly benefit, and our Dharma Masters truly be happy. 4) Vì nghĩ ân thí chủ—Because of remembering to be grateful to the benefactors: Kẻ xuất gia hôm nay, từ đồ mặc, thức ăn đến thuốc men giường chiếu đều nhờ đàn na tín thí. Đàn na tín thí làm việc vất vả mà vẫn không đủ sống, Tỳ Kheo sao đành ngồi không hưởng thụ? Người may dệt cực nhọc ngày đêm, mà Tỳ Kheo y phục dư thừa, sao lại không mang ơn đàn na tín thí cho đặng? Thí chủ có lắm người quanh năm nhà tranh, không giây phút nào được an nhàn, trong khi Tỳ Kheo ở nơi nền rộng chùa cao, thong thả quanh năm. Đàn na tín thí đã đem công cực nhọc cung cấp sự an nhàn, thì chư Tỳ Kheo lòng nào vui được? Đàn na tính thí phải nhín nhút tài lợi để cung cấp cho chư Tỳ Kheo được no đủ, có hợp lý không? Thế nên Tỳ Kheo phải luôn tự nghĩ: “Phải vận lòng bi trí, tu phước huệ trang nghiêm, để cho đàn na tín thí được phước duyên, và chúng sanh nhờ lợi ích.” Nếu chẳng vậy thời nợ nần hạt cơm tất vải đền đáp có phân, phải mang thân nô dịch súc sanh để đền trả nợ nần—Nowadays, Bhiksus cultivating the Way are all dependent on the people who make charitable donations, from clothing, food, to medicine and blankets. These charitable people work hard, and yet they don't have enough to live on. Bhiksus do nothing except enjoy the pleasure these gifts, how can Bhiksus find comfort in their doing so? People work assiduously to sew robes, not counting all the late nights. Bhiksus have abundance of robes, how dare we not appreciate them? Laypeople live in huts, never finding a moment of peace. Bhiksus live in high, big temples, relaxing all year round. How can Bhiksus be happy in receiving such gifts knowing laypeople have suffered so? Laypeople set aside their earnings and profits to provide services to Bhiksus. Does this make sense? Therefore, Bhiksus must think: “I must be determined to cultivate for enlightenment, practice to find the Budhist wisdom so charitable beings and sentient beings may benefit from it. If this is not the case, then every seed of rice and every inch of fabric shall have their appropriate debts. Reincarnated into the realm of animals, debts must be repaid. 5) Vì biết ơn chúng sanh—Because of remembering to be grateful to the sentient beings: a) Ta cùng chúng sanh từ vô thỉ đến nay, kiếp kiếp, đời đời , đổi thay nhau làm quyến thuộc nên kia đây đều có nghĩa với nhau: From infinite eons to this day, from generation to generation, from one reincarnation to another, sentient beings and I have exchanged places with each other to take turns being relatives. b) Vì thế trong một đời chúng ta là quyến thuộc, mà đời khác lại làm kẻ lạ người dưng, nhưng cuối cùng chúng ta vẫn liên hệ nhau trong vòng sanh tử luân hồi. Nay dù cách đời đổi thân, hôn mê không nhớ biết, song cứ lý mà suy ra, chẳng thể không đền đáp được?—Thus, in one life, we are family and in another we are strangers, but in the end we are all connected in the cycle of rebirths. Thus, though it is now a different life, our appearances have changed, having different names, families, and ignorance has caused us to forget; but knowing this concept, we realize we are all family, so how can we not demonstrate gratitude to all sentient beings? • Vật loại mang lông, đội sừng ngày nay, biết đâu ta là con cái của chúng trong kiếp trước?—Those animals with fur, bearing horns and antlers in this life, it is possible we may have been their children in a former life. • Loài bướm, ong, trùng, dế hiện tại, biết đâu chúng là cha mẹ đời trước của mình?—Insects such as butterflies, bees, worms, crickets of this life, may for all we know, be our parents of a former life. • Đến như những tiếng rên siết trong thành ngạ quỷ, hay giọng kêu la nơi cõi âm ty; tuy ta không thấy, không nghe, song họ vẫn van cầu cứu vớt: What about those who scream in agony in the realm of Hungry Ghosts; and those who cry in sufferings from the abyss of Hell. Even though our eyes cannot see and our ears cannot hear, they still pray and ask for our assistance. c) Cho nên Bồ Tát xem ong, kiến là cha mẹ quá khứ. Nhìn cầm thú là chư Phật vị lai. Thương nẻo khổ lâu dài mà hằng lo cứu vớt. Nhớ nghĩa xưa sâu nặng, mà thường tưởng báo ân: Therefore, the Bodhisattvas look upon bees and ants as their parents of the past; look upon animals as future Buddhas; have great compassion for those in the suffering realms, often finding ways to aid and rescue them; Remember the kindness of the past, and often think about finding ways to repay such kindness. 6) Vì tưởng khổ sanh tử—Because of thinking of the pain and suffering of life and death: a) Ta cùng chúng sanh nhiều kiếp đến nay, hằng ở trong vòng sanh tử, chưa từng được thoát ly, khi ở cõi nầy, lúc thế giới khác, khi sanh thiên cảnh, lúc sống nhơn gian. Siêu đọa trong phút giây, xuống lên ngàn muôn nẻo. Cửa quỷ sớm đi, rồi chiều trở lại. Âm ty nay thoát, bỗng mai vào. Lên non đao rừng kiếm, thân thể đứt lìa. Nuốt sắt nóng dầu sôi, ruột gan rã cháy. Khóc than trong lửa, rên siết trong băng. Muôn lần sống chết nội trong một ngày đêm mà giây phút khổ đau bằng cả thế kỷ. Lúc đã bị đọa, dù biết tội khổ, nhưng ăn năn đâu còn kịp nữa. Đến khi ra khỏi, vội liền quên mất, vẫn gây tội tạo nghiệp như thường—For innumerable lives, I and all sentient beings have existed in the cycle of rebirths, unable to find enlightenment, sometimes living in this world, sometime in another, sometimes in Heaven, sometimes as a human, etc. Condemned to lower realms in seconds, traveling up and down on a thousand paths. Left the gate of evil in the morning, only to return in the evening. Today escaping the gate of hell, only to come back tomorrow. Going up to the mountain, getting slashed to pieces, i.e., hell. Swallow burning metal balls, get fried in oil, body deteriorates and burns to ashes. Agonize in fire and scream in pain from being frozen. Every day and night hundreds and thousands of rebirths occur; every second of suffering seems like a million years. At that time, even if realizing the evil deeds committed, it'' too late to repent and find salvation. When finally free, everything is quickly forgotten, continuing to commit evil deeds as before. • Tâm như lữ khách ruỗi dong: Mind being similar to a hurried distant traveler, is never at peace. • Thân dời hết nhà nầy đến nhà khác, chứ chẳng bao giờ chịu ngừng lại: Body never at rest, moving from one house to another. • Cát bụi cõi đại Thiên, không tính nổi số thân luân chuyển: Every speck of dust of the universe cannot even begin to compare to the constant movements of the body. • Nước đầy trong bốn biển, chẳng nhiều bằng giọt lệ biệt ly: The water in the four great oceans is not enough to account for the tears cried. b) Nếu không có lời Phật dạy, thì việc nầy ai thấy ai nghe?—If Buddha did not preach such matters, who would know or hear of this? • Nếu cứ luyến mê như trước, thì e rằng vẫn luân hồi nẻo cũ: If we continue as before, we can't avoid being as we always were, drowning in the cycle of life and death. • Trăm ngàn kiếp tái sanh có tiếc cũng muộn màng: Hundreds and thousands of reincarnations and rebirths have occurred, it is too late to have regrets. • Mỗi kiếp cứ qua đi, không có giờ đâu mà nuối tiếc vì luôn muộn màng. Giờ tốt vội qua mà chẳng lại: Once each life passed by, there is no time for regrets because it will be too late. The good hours pass quickly and never again returns. • Thân người dễ mất khó tìm: Losing the opportunity to be a human being is easy, yet having the chance to be human is extremely difficult. • Âm cảnh mịt mù, xót nỗi biệt ly dày đặc. Tam đồ ác đạo, thương thay nỗi thống khổ có ai thay thế được: How dark and gloomy hell is, the agonies from eternal separations of loved ones. The world's hatred and revenge. No one is here to take your place. c) Vì vậy cho nên phải dứt nguồn sanh tử; phải tát cạn bể dục si; phải tự độ, độ tha, đồng lên giác ngạn. Muôn đời siêu hay đọa là do phút giây nầy quyết định, không thể nào bê trễ được: Therefore, put an end to the origin of life and death; empty out all ignorance and stupidity. Help yourself and others to find liberation. Finally, to realize the Ultimate Enlightenment. A thousand lives in Heaven or Hell depends on this very moment. At this moment, the wise must realize this truth without hesitation. 7) Vì tôn trọng tánh linh—Because of the respect for the True-Nature: a) Tâm tánh của chúng ta cùng Đức Thích Ca Như Lai không hai, không khác—Our Mind-Nature and that of Sakyamuni Buddha's are not two and not different. • Tại sao Đức Thích Ca đã thành Chánh Giác, sáng suốt tự tại, mà chúng ta vẫn còn là phàm phu điên đảo hôn mê: Why has Sakyamuni Buddha already attained enlightenment, greatly shining and free. Yet we are still unenlightened common mortals filled with delusions and ignorance. • Đức Thích Tôn có đủ vô lượng thần thông, trí huệ, công đức trang nghiêm, còn chúng ta thì đầy vô lượng phiền não, nghiệp duyên, lụy trần ràng buộc: Sakyamuni Buddha is complete with infinite spiritual powers, wisdom, and adorned with endless merits and virtues, but we are complete with infinite afflictions, karmic destinies, and desires binding us tightly? b) Chúng ta và Phật, tâm tánh tuy vẫn đồng một, nhưng vì mê ngộ nên cách nhau một trời một vực—The Mind-Nature may be the same, but the separation between enlightenment and ignorance is oceans apart: • Chúng ta thì ví như hạt bảo châu vô giá bị vùi dưới bùn nhơ, bị người ta xem như cát đá: This is similar to a priceless jewel covered in mud; seeing it people will think it rock and sand. • Phật đã dùng vô lượng pháp lành đối trị phiền não để tánh đức hiển bày. Ví như hạt bảo châu được rữa sạch, lau khô, treo để trên tràng cao, liền phóng quang rực rỡ: The Buddha already used infinite wholesome dharmas to tame and oppose afflictions so the true nature will shine through. This is similar to washing, cleaning, and drying a priceless jewel and then set high above, it will shine through. c) Chỉ có cách nầy mới không uổng công Phật giáo hóa, chẳng phụ tánh linh của chính mình, và xứng đáng là bật đại trượng phu: Only this way, it will not be a waste of Buddha's teaching, not disappoint our own true nature, and we will fit as a person with Buddhist wisdom. 8) Vì sám hối nghiệp chướng—Because of repentance for karmic obstructions: Đức Phật dạy: “Dù phạm một giới nhỏ cũng phải đọa địa ngục bằng tuổi thọ của Tứ Thiên Vương.”—The Buddha taught: “To be guilty of a small transgression, must be condemned to hell equal to the life of a heavenly being in Tushita Heaven.” a) Lỗi nhỏ còn phải như vậy, huống là lỗi nặng. Chúng ta mỗi ngày, một cử động thường sai giới luật. Lúc ăn uống thường phạm điều răn. Tính ra trong một ngày cũng đã nhiều tội, huống chi là trọn đời cho đến vô lượng kiếp về trước. Nay cứ lấy ngũ giới ra mà xét, thì mười người đã hết chín người phạm. Phạm ít thì còn phát lồ sám hối, chứ phạm nhiều thì che dấu: If a lesser transgression is already in that way, what about greater offenses? In each day, with each movement we violate precepts. When eating and drinking more Buddha's silas are broken. Thus if counted each day, we have already committed many transgressions, let alone a lifetime or infinite lives in the past. If we use the five precepts to examine, then nine out of ten people have already violated them; only lesser transgressions are confessed, but the greater ones will be hidden. b) Tại gia năm giới còn như thế, huống chi là các giới Sa Di, Tỳ Kheo và Bồ Tát: The five precepts for laypeople are already practiced in that way, what about the Sramana, Bhiksu, and Bodhisattva Precepts? c) Nay ta phải phát lòng thương mình, thương người. Lệ rơi theo tiếng, thân khẩu thiết tha, cùng với chúng sanh mà cầu sám hối. Nếu còn chẳng phát lồ sám hối thì muôn kiếp ngàn đời, ác báo khó trừ, làm sao thoát khổ cho được: Now we must have pity for ourselves and for others. With sincere mind and body, tears fall with sounds, together with all sentient beings pray for repentance. If this is not practiced, then in a thousand lifetimes and ten thousand reincarnations, evil retributions will be difficult to eliminate. How will liberation from suffering be found? 9) Vì cầu sanh Tịnh Độ—Because of praying to gain rebirth in the Pureland: a) Ở cõi Ta Bà việc tu tập tiến đạo rất khó khăn. Vì khó khăn như vậy nên dù tu tập nhiều kiếp vẫn chưa thành: Remaining in this saha World to cultivate and make progress is a difficult task. It is so difficult that so many lifetimes passed, yet enlightenment is not attained. b) Về Tây Phương Cực Lạc hành trì thì sự thành Phật dễ dàng hơn. Vì dễ nên một đời liền đắc quả. Chính vì vậy mà sự tu hành trong thời mạt pháp nầy thật không gì hơn pháp môn Tịnh Độ: Going to the Ultimate Bliss or Western Pureland to cultivate and practice, then with this right condition the matter of attaining Buddhahood is easy. It is so easy that even in a lifetime of cultivation, one can attain enlightenment. This is why in this Dharma Ending Age, no other dharma door surpasses the Pureland Dharma Door. c) Đức Phật dạy trong Kinh A Di Đà: “Ít căn lành, khó được vãng sanh. Nhiều phước đức mới được về cõi Tịnh. Nhưng nhiều phước đức không gì bằng chấp trì danh hiệu; nhiều căn lành chẳng chi hơn phát tâm Bồ Đề. Cho nên, tạm trì danh hiệu Phật, thắng hơn bố thí trăm năm; một phát đại tâm, vượt qua tu hành nhiều kiếp. Bởi vì niệm Phật vẫn mong thành Phật, mà đại tâm không phát, thì niệm Phật làm chi? Còn phát tâm để tu hành, mà Tịnh Độ chẳng cầu về, thì dù cho có phát tâm rồi cũng dễ bề thối chuyển”: The Buddha taught in The Amitabha Sutra: “With little wholesome karma, it is difficult to gain rebirth. One must have many merits and virtues before being born in the Pure Worlds. However, having abundance of merits and virtues can never equal the Buddha's name; having abundance of whoelsome karma can never equal developing the Bodhi Mind. Therefore, it is necessary to understand that temporarily reciting the Buddha's name is greater than making donations for one hundred years. . With one development of the great mind or Ultimate Bodhi, leaps over cultivation of many lifetimes. Because reciting Buddha is to continue to vow to be Buddha. But if the greater Bodhi mind is not developed, what is the point of reciting Buddha? As for developing the mind to cultivate, but do not pray for the Pureland, then even if that mind is developed, it is easy to regress. • Vì thế gieo giống Bồ Đề mà cày lưỡi niệm Phật thì đạo quả tự nhiên tăng tiến: Therefore, planting the Bodhi seed, cultivate the tongue to practice Buddha Recitation, then the enlightenment fruit will increase naturally. • Nương thuyền Đại Nguyện vào biển mầu Tịnh Độ, ắt Tây Phương quyết định được sanh về: Rely on the vessel of great vows or Amitabha's forty-eight great vows to enter the magnificent ocean of the Pureland, then gaining rebirth to the Western World is an absolute guarantee. 10) Vì hộ trì Chánh Pháp—Because of upholding the Proper Dharma: a) Như Đức Thế Tôn từ vô lượng kiếp đến nay, vì chúng sanh mà tu đạo Bồ Đề—Just as Sakyamuni Buddha, from infinite eons until now, for our benefit, cultivated the Bodhi ways: • Ngài đã làm việc khó làm, nhịn điều khó nhịn: He has accomplished tasks that are difficult to accomplish, tolerated things that are difficult to tolerate. • Vì thế mà Ngài đã công viên quả mãn, thành đấng Như Lai: For this reason, he attained the fullness of all practices, became a Tathagata. b) Sau khi thành Phật, nhơn duyên giáo hóa đã xong, liền vào Niết Bàn. Nay Chánh Pháp đã qua, Tượng Pháp lại hết, chỉ còn lại thời Mạt Pháp. Tuy có kinh giáo, mà không kẻ đắc thành vì những lý do sau đây—After becoming a Buddha, when His time to teach and transform came to an end, He entered Nirvana immediately. Now, the Proper Dharma Age has passed and the Dharma Semblage Age has ended, there is only left the Dharma Ending Age. Even though many sutra teachings are still available, no one attains enlightenment for many reasons. • Thời này thì tà chánh chẳng phân, thị phi lẫn lộn, tranh đua nhân ngã, đeo đuổi lợi danh: In this period, right and wrong are no longer divided, gossips are rampant, everyone is fiercely competing with one another, lusting after fame and fortune. • Cho nên Tam Bảo chẳng còn thiệt nghĩa, suy tàn tồi tệ không thể thốt lời. Chúng ta là Phật tử, mà không báo được ân Phật, trong không ích cho mình, ngoài không ích cho người, sống không ích cho dương thế, chết không ích cho đời sau. Suy nghĩ như vậy nên cảm thấy đau lòng xót dạ mà phát tâm Bồ Đề, nguyện nguyện độ sanh, tâm tâm cầu Phật, thề hết báo thân, sanh về Cực Lạc. Những mong sau khi chứng quả, trở lại Ta Bà khiến cho Phật nhựt rạng soi, Pháp môn mở rộng, Tăng đoàn làm thanh cõi trược, người người đều tu đức phương Đông, kiếp vận nhờ đó mà tiêu trừ, và Chánh pháp do đây được bền vững: Therefore, the Triple Jewels no longer have their true meanings. Having deteriorated so greatly that it is unbearable to speak of it. We are Buddhists, yet we are unable to show gratitude to Buddha's blessings. Intrinsically, we can't benefit ourselves; extrinsically, we can't benefit others. When alive we do not benefit the world; when dead we do not benefit the future. Thinking this way, it hurts from the core of our beings. Thus we must develop quickly the Bodhi Mind. Vows after vows, vowing to rescue sentient beings and thoughts afetr thoughts praying to Buddha so that once this karmic body ends, we will gain birth to the Ultimate Bliss World, hoping and wishing once we become enlightened, we will return to this saha World in order to influence and lead the Buddha's'sun to shine brightly, the Dharma Door to open widely, the Sangha to flourish in this turbid world, everyone cultivates virtues in the East, relying on this the present age will end, and the Proper Dharma will be firmly maintained as the result.
mười lý do vạn hữu hòa điệu trong pháp giới duyên khởi
Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, có mười lý do khiến vạn hữu hòa điệu trong pháp giới duyên khởi—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, there are ten reasons that all things in the real world ought to have harmony among themselves. 1) Vì vạn vật đồng thời hiện khởi: Because of the simultaneous rise of all things. 2) Vì vạn vật hỗ tương ảnh hưởng lẫn nhau: Because of the mutual permeation of the influence of all things. 3) Vì vạn vật thiết yếu hỗ tương đồng nhất (tương hủy và tương thành) để thể hiện sự hòa điệu: Because of the necessity of reciprocal identification between all beings (mutual self-negation to agree with each other) for the realization of harmony. 4) Vì chủ và bạn thiết yếu là nhất thể, hay hòa điệu, để thành tựu mục đích: Because of the necessity of unity, or harmony, between the leaders and the followers for the attainment of a purpose. 5) Vì vạn vật khởi nguyên từ ý thể, do đó một ý niệm tương đồng phải được phản ảnh trong tất cả: Because all things have their origin in ideation, therefore a similar ideal ought to be expected of all. 6) Vì vạn vật là kết quả của nhân duyên, do đó chúng hỗ tương phụ thuộc nhau: Because all things are the result of causation and therefore are mutually dependent. 7) Vì vạn vật không định tính nhưng cùng hỗ tương phụ trợ, do đó chúng tự do hiện hữu trong sự hòa điệu với tất cả: Because all things are indeterminate or indefinite in character but mutually complementary, therefore they are free to exist in harmony with all things. 8) Vì vạn vật đều có Phật tánh tiềm ẩn bên trong: Because of the fact that all beings have the nature of Buddha dormant in them. 9) Vì vạn hữu, từ tối cao đến tối thấp, đều cùng chung trong một vòng tròn trọn vẹn (mandala): Because of the fact that all beings, from the highest to the lowest, are parts of one and the same Mandala (circle). 10) Vì có sự hỗ tương phản chiếu tất cả mọi tác dụng, như trong một căn phòng dựng các mặt kính chung quanh, sự vận động của một ảnh tượng tạo ra sự vận động của hằng nghìn phản chiếu: Because of mutual reflection of all activities, as in a room surrounded by mirrors, the movement of one image causes the movement of the thousand reflections.
mười lăm tâm thiện thuộc sắc giới
Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), có mười lăm tâm thiện thuộc sắc giới—According to the Abhidharma, there are fifteen kinds of fine-material-sphere wholesome consciousness: (A) Năm Tâm Thiện Thuộc Sắc Giới. Mỗi tầng trong năm hạng Thiền Sắc Giới nầy đều là nhân tạo quả tương xứng cho hành giả trong cảnh Sắc Giới sau khi từ bỏ xác thân nầy—Five kinds of fine-material-sphere consciousness, or rupa jhanas. These jhanas have their corresponding effects in the realms of form: 1) Tâm thiện sơ thiền cùng với Tầm, sát, Phỉ, Lạc, và Nhất Điểm hay Trụ: First jhana moral or wholesome consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 2) Tâm Thiện nhị thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Second jhana moral or wholesome consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 3) Tâm Thiện tam thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc, và Nhất Điểm: Third jhana moral or wholesome consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 4) Tâm Thiện tứ thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Fourth jhana moral or wholesome consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 5) Tâm Thiện ngũ thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Fifth jhana moral or wholesome consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness (B) Năm Loại Tâm Quả Thuộc Sắc Giới—Five kinds of fine-material-sphere resultant consciousness: 6) Tâm Quả sơ thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Naht Điểm: First jhana resultant consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 7) Tâm Quả nhị thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Second jhana resultant consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 8) Tâm Quả tam thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Third jhana resultant consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 9) Tâm Quả tứ thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Fourth jhana resultant consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 10) Tâm Quả ngũ thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Fifth jhana resultant consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. (C) Năm Loại Tâm Hành Thuộc Sắc Giới—Five kinds of fine-material-sphere functional consciousness: 11) Tâm Hành sơ thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: First jhana functional consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 12) Tâm Hành nhị thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Second jhana functional consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 13) Tâm Hành tam thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Third jhana functional consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 14) Tâm Hành tứ thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Fourth jhana functional consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 15) Tâm Hành ngũ thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Fifth jhana functional consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. ** For more information, please see Tầm, Sát, Phỉ, Lạc, và Nhất Điểm.
mười lầm lạc thiền giả có thể bị rơi vào
Ten wrong ways into which the Yogin may fall—Theo Bác Sơn Tham Thiền Cảnh Lục, được Vô Dị Nguyên Lai viết vào đầu thế kỷ thứ 17, phái Thiền Bác Sơn đã đưa mười phương pháp thuần thục nghi tình và 10 lầm lạc mà Thiền giả có thể bị rơi vào—In Po-Shan's Admonition Regarding the Study of Zen, written by Wu-I-Yuan-Lai in the beginning of the seventeenth century, in which Po-Shan Zen Sect recommended ten methods of maturing doubts and ten wrong ways into which the Yogin may fall. 1) Duy Trí, ở đây nó ép buộc công án khoác những nội dung luận lý: Intellectualism, wherein the koan is forced to yield up its logical contents. 2) Mô dạng bi quan của tâm trí; nó khiến hành giả né tránh những hoàn cảnh không thích ý, trốn vào sự mặc nhiên tọa thị: A pessimistic frame of mind whereby the Yogin shuns such environments as are unfavorable to quiet contemplation. 3) Chủ trương tịnh mặc, nó khiến hành giả trấn áp các ý tưởng và cảm giác hầu chứng trạng thái tịch tĩnh hay ngoan không: Quietism, by which he tries to suppess ideas and feelings in order to realize a state of tranquilization or perfect blankness. 4) Cố phân loại hay phê phán, tùy theo giải thích duy trí riêng biệt của mình, tất cả những công án do cổ nhân để lại: The attempt to classify or criticize according to his own intellectualistic interpretation all the koans left by the ancient masters. 5) Cái hiểu biết cho rằng chẳng có gì hết trong sắc thân giả hợp nầy, mà trí thức của nó rọi xuyên qua các quan năng: The understanding that there is something inside this body of the various combinations, whose intelligence shines out through the several sense-organs. 6) Và trí thức nầy nương vào sắc thân mà tạo tác những hành vi thiện hay ác: And which by means of the body functions to perform deeds good or bad. 7) Chủ trương khổ hạnh, nó luống công bắt sắc thân chịu mọi hình thức ép xác: Asceticism, in which the body is uselessly subjected to all forms of mortification. 8) Cái ý tưởng tích chứa phúc báo, nhờ đó hành giả mong đạt tới Phật quả hay giải thoát rốt ráo: The ida of merit by the accumulation of which the Yogin desires to attain Buddhahood or final deliverance. 9) Chủ trương phóng dật, không chịu ghép mình vào đạo hạnh, luân lý: Libertinism, in which there is no regulation of conduct, moral or otherwise. 10) Khoa trương và kiêu mạn: Grandiosity and self-conceit.
mười lời khuyên về công án thiền của thối ẩn
Ten advices regarding the Zen koan from T'ui-Yin—Thực tập công án lẩn lộn với Thiền định, nhưng theo tất cả những cảnh giác nầy do một vị tôn túc đề ra về việc thực tập công án, thì rõ ràng Thiền không phải là thực tập Thiền định hay tư duy hay kham nhẫn thụ động. Nếu những người học Thiền đều hiểu đúng đắn, thì phải hiểu trọn vẹn nét đặc sắc nầy. Thiền có một chủ đích rõ: “bừng tâm tỏ ngộ;” và để đi đến tâm trạng nầy, phải nhìn thẳng công án bằng đôi mắt của tâm, không tư duy, không chấp trước, chỉ coi nó như một cây sào, nhờ đó mà nhảy khỏi dòng sông tương đối để qua bờ tuyệt đối bên kia. Cái đặc sắc của đạo Phật Thiền tông là mọi thành quả không qua trung gian của khái niệm tôn giáo như tội lỗi, đức tin, ân sủng, cứu chuộc, vân vân. Vì thế, mà Thiền sư Thối Ẩn có mười lời khuyên về công án cho hành giả tu thiền như sau—The koan exercise is confused with so-called meditation, but from all these warnings given by an old master regarding the exercise it is evident that Zen is not an exercise in meditation or in passivity. If Zen is to be properly understood by its students, this characteristic aspect of it must be fully comprehended. Zen has its definite object, which is 'to open our minds to enlightenment' as we say, and in order to bring about this state of consciousness a koan is held out before the mental ey, not to meditate on, nor to keep the mind in a state of receptivity, but to use the koan as a kind of pole with which to leap over the stream of relativity to the other side of the Absolute. And the unique feature of Zen Buddhism is that all this is accomplished without restoring to such religious conceptions as sin, faith, grace, salvation, etc. Therefore, Zen master T'ui-Yin had ten advices for those who practice koan as follow. 1) Không tính toán theo trí tưởng tượng: Do not calculate according to your imagination. 2) Không phóng tâm xao lãng khi minh sư nhướng mày hay nhắm mắt: Let not your attention be drawn where the master raises his eyebrows or twinkles his eyes. 3) Không quy định công án để rút ra một ý nghĩa: Do not try to extract meaning from the waythe koan is worded. 4) Không bộc bạch bằng lời: Do not try to demonstrate on the words. 5) Không đặt ý nghĩa công án làm đối tượng cho tư tưởng: Do not think that the sense of the koan is to be grasped where it is held out as an object of thought. 6) Đừng coi Thiền như một trạng thái chỉ thụ động: Do not take Zen for a state of mere passivity. 7) Không phán đoán công án theo tiêu chuẩn “Hữu và Vô”: Do not judge the koan with dualistic standard of existence and non-existence. 8) Không coi công án như là chỉ điểm cho ngoan không (tuyệt đối trống rỗng): Do not take the koan as pointing to absolute emptiness. 9) Không lẫm nhẫm công án: Do not ratiocinate on the koan. 10) Đừng đem lòng chờ đợi chứng ngộ: Do not keep your mind in the attitude of waiting for enlightenment to turn up.
mười lợi ích cho những ai tô vẽ hay tạc tượng thờ ngài địa tạng bồ tát
Ten kinds of benefits for those who sculpt or paint an image of Earth Store Bodhisattva, either in gold, silver, copper, or iron—Theo Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, Phẩm thứ Mười Một, ngài Kiên Lao Địa Thần bạch cùng Đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh ở hiện tại nay và về vị lai sau nầy, nơi chỗ sạch sẽ ở phương nam trong cuộc đất của mình ở, dùng đất đá tre gỗ mà dựng cất cái khám cái thất. Trong đó có thể họa vẽ, cho đến dùng vàng , bạc, đồng, sắt đúc nắn hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, đốt hương cúng dường, chiêm lễ ngợi khen, thời chỗ người đó ở được mười điều lợi ích. Những gì là mười điều?”—According to the Sutra of the Past Vows of Earth Store Bodhisattva, Chapter eleven, the Dharma Protection of an Earth Spirit, the Earth Spirit Firm and Stable spoke to the Buddha and said: “World Honored One! As I regard the living beings of the present and future, I see those who make shrines of clay, stone, bamboo, or wood and set them on pure ground in the southern part of their dwellings. They place within the shrines an image of Earth Store Bodhisattva, either sculpted, painted, or made of gold, silver, copper, or iron. They then burn incense, make offerings, behold, worship, and praise him. Such people will receive ten kinds of benefits. What are these ten?” 1) Một là đất cát tốt mầu—First, their lands will be fertile. 2) Hai là nhà cửa an ổn mãi mãi—Second, their families and homes will always be peaceful. 3) Ba là người đã chết được sanh lên cõi trời—Third, their deceased ancestors will be born in the heavens. 4) Bốn là những người hiện còn hưởng sự lợi ích—Fourth, those still alive will have benefit and will have their lifespan increased. 5) Năm là cầu chi cũng toại ý cả—Fifth, they will obtain what they want. 6) Sáu là không có tai họa về nước và lửa—Sixth, they will not encounter the disasters of water and fire. 7) Bảy là trừ sạch việc hư hao—Seventh, they will avoid unforeseen calamities. 8) Tám là dứt hẳn ác mộng—Eighth, their nightmares will cease. 9) Chín là khi ra lúc vào có thần theo hộ vệ—Ninth, they will be protected by spirits during their comings and goings. 10) Mười là thường gặp bậc Thánh Nhơn—Tenth, they will encounter many causes of Sagehood.
Mười lực
S: daśabala; P: dasabala; Hán Việt: Thập lực (十力);|Mười năng lực hiểu biết, mười trí của một vị Phật:|1. Thi thị xứ phi xứ trí lực (知是處非處智力; s: sthānāsthānajñāna; p: ṭhānāṭhāna-ñāṇa); Biết rõ tính khả thi và tính bất khả thi trong mọi trường hợp; 2. Tri tam thế nghiệp báo trí lực (知三世業報智力; s: karmavipākajñāna; p: kammavipāka-ñāṇa): Biết rõ luật nhân quả, quả báo, tức là Nghiệp nào tạo quả nào; 3. Tri nhất thiết sở đạo trí lực (知一切所道智力; s: sarvatra-gāminīpratipajjñāna; p: sabbattha-gāminī-paṭipadāñāṇa): Biết rõ nguyên nhân nào dẫn đến con đường tái sinh nào; 4. Tri chủng chủng giới trí lực (智種種界智力; s: anekadhātu-nānādhātujñāna; p: ane-kadhātu-nānādhātu-ñāṇa): Biết rõ các thế giới với những yếu tố thành lập của nó; 5. Tri chủng chủng giải trí lực (知種種解智力; s: nānādhimukti-jñāna; p: nānādhimutti-katāñāṇa): Biết rõ cá tính của chúng sinh; 6. Tri nhất thiết chúng sinh tâm tính trí lực (知一切眾生心性智力; s: indriyapārapara-jñāna; p: indriyaparopariyatta-ñāṇa): Biết rõ căn cơ học đạo cao thấp của mọi chúng sinh; 7. Tri chư thiền giải thoát tam-muội trí lực (知諸禪解脫三昧智力; sarva-dhyāna-vimokṣa-…-jñāna; p: jhāna-vimok-kha-…-ñāṇa): Biết tất cả các cách thiền định; 8. Tri túc mệnh vô lậu trí lực (知宿命無漏智力; pūrvanivāsānusmṛti-jñāna, pub-bennivāsānussati-ñāṇa): Biết rõ các tiền kiếp của chính mình; 9. Tri thiên nhãn vô ngại trí lực (知天眼無礙智力; cyutyupa-pādajñāna, cutūpapāta-ñāṇa): Biết rõ sự tiêu huỷ và tái xuất của chúng sinh; 10. Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực (知永斷習氣智力; āśravakṣayajñāna, āsavakkhaya-ñāṇa): Biết các Ô nhiễm (s: āśrava) sẽ chấm dứt như thế nào.|Ba lực 8, 9, 10 được Phật nhắc đến khi Ngài thuật về sự đạt Bồ-đề của mình (Tất-đạt-đa Cồ-đàm). Chúng được gọi chung là Tam minh.
mười lực của chư phật
Mười thứ lực của chư Phật (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 33)—Ten kinds of might with enormous power of all Buddhas (The Flower Adornment Sutra—Chapter 33). 1) Tối thượng lực: Supreme power. 2) Vô lượng lực: Measureless power. 3) Quảng đại lực: Grandiose power. 4) Đại oai đức lực: Awesome power. 5) Nan hoạch lực: Power difficult to acquire. 6) Bất thối lực: Undiminishing power. 7) Kiên cố lực: Stable power. 8) Bất hoại lực: Indestructible power. 9) Tất cả thế gian bất tư nghì lực: Power inconceivable to any worldlings. 10) Tất cả chúng sanh vô năng động lực: Power that all living beings cannot shake.
mười lực của chư đại bồ tát
Ten kinds of power possessed by Great Enlightening Beings. I. Mười thứ lực trong Phẩm 27 Kinh Hoa Nghiêm—Ten kinds of power in Chapter 27, Flower Adornemtn Sutra: (A) Để đạt được mười thứ lực nầy, chư Bồ Tát phải—To attain these ten kinds of power, Enlightening Beings must: a. An trụ trong Pháp giới tự tại Đại Tam muội: Abide in the concentration of freedom in the elemental cosmos. b. Có mười thứ hải: See Ten kinds of Ocean. c. Có mười thứ thù thắng: See Ten kinds of excellence. (B) Mười thứ lực nào?—What are these ten kinds of power? 1) Sức dũng kiện, vì điều phục thế gian: The power of courageous strength, because they tame worldlings. 2) Sức tinh tấn, vì hằng chẳng thối chuyển: The power of energy because they never backslide. 3) Sức vô trước, vì lìa các cấu nhiễm: The power of nonattachment, because they get rid of defiling obsessions. 4) Sức tịch tịnh, vì không tranh luận nơi tất cả pháp: The power of silent calm, because they have no disputes about anything. 5) Sức nghịch thuận, vì nơi tất cả pháp tâm tự tại: The power to oppose or conform, because they are free in the midst of all things. 6) Sức pháp tánh, vì trong các nghĩa được tự tại: The power of the nature of things, because they attain mastery of all truths. 7) Sức vô ngại, vì trí huệ quảng đại: The power of nonobstruction, because their knowledge and wisdom is immensely vast. 8) Sức vô úy, vì khéo thuyết pháp: The power of fearlessness, because they can explain all truths. 9) Sức biện tài, vì khéo thọ trì các pháp: The power of intellect, because they can hold all truths. 10) Sức khai thị, vì trí huệ vô biên: The power of revelation, because their knowledge and wisdom is boundless. II. Thập Lực Bồ Tát (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38—Ly Thế Gian)—Ten kinds of powers (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38): (A) Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời có đủ năng lực vô thượng của Như Lai—Enlightening Beings who abide by these can acquire the supreme power of Buddhas. 1) Năng lực nhập tự tánh của chư pháp: The power to comprehend the inherent essence of all things. 2) Năng lực nhập tất cả các pháp như hóa: The power to comprehend that all things are like phantoms. 3) Năng lực nhập tất cả các pháp như huyễn: The power to comprehend that all things are like illusions. 4) Năng lực nhập tất cả các pháp đều là Phật pháp: The power to comprehend that all things are Buddha's teachings. 5) Năng lực nơi tất cả các pháp không nhiễm trước: The power to have no attachments to anything at all. 6) Năng lực hiểu rõ chư pháp: The power to clearly understand all things. 7) Năng lực nơi tất cả thiện tri thức hằng chẳng bỏ rời tâm tôn trọng: The power of the respectful mind never abandoning spiritual teachers. 8) Năng lực làm cho tất cả thiện căn thuận đến trí vô thượng Bồ Đề: The power to cause all roots of goodness to reach supreme knowledge. 9) Năng lực nơi tất cả Phật pháp thâm tín chẳng hủy báng: The power of deep faith in all Buddhas' teachings without rejection. 10) Năng lực làm cho nhứt thiết trí tâm bất thối thiện xảo: The power of skill in preventing the will for omniscience from backsliding. (B) Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được thập lực nhứt thiết trí vô thượng của chư Phật—Enlightening beings who abide by these can attain the Buddhas' ten powers of omniscience. 1) Thâm tâm lực vì chẳng tạp tất cả thế tình: Power of the profound mind, not getting mixed up in worldly feelings. 2) Tăng thượng thâm tâm lực, vì chẳng bỏ tất cả Phật pháp: Power of overmastering profound mind, not giving up the ways of enlightenment. 3) Phương tiện lực, vì tất cả công hạnh đều rốt ráo: Power of means, consummating whatever they do. 4) Trí lực vì biết tất cả tâm hành: Power of knowledge, comprehending the activities of all minds. 5) Nguyện lực, vì tất cả mong cầu đều làm cho viên mãn: Power of vows, fulfilling all aspirations. 6) Hạnh lực vì cùng tột thuở vị lai chẳng dứt: Power of practice, continuing forever. 7) Thừa lực vì hay xuất sanh tất cả thừa mà chẳng bỏ đại thừa: Power of vehicle of liberation, able to produce all vehicles of liberation without abandoning the great universal vehicle. 8) Thần biến lực, vì ở trong mỗi lỗ lông đều thị hiện tất cả thế giới thanh tịnh, tất cả Như Lai: Power of miraculous transformations, showing all pure worlds and all Buddhas appearing in the worlds in each pore. 9) Bồ Đề lực, vì làm cho tất cả chúng sanh phát tâm thành Phật không đoạn tuyệt: Power of enlightenment, inspiring all sentient beings to seek enlightenment and become Buddhas, without end. 10) Chuyển Pháp Luân lực, vì nói một câu pháp đều xứng những căn tánh dục lạc của tất cả chúng sanh: Power of turning the wheel of the teaching, explaining one expression of truth in accord with the faculties, temperaments, and inclinations of all sentient beings. *** For more information, please see Thập Lực Bồ Tát.
mười lực trì của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38, có mười pháp lực trì của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát trụ trong pháp nầy thời nơi tất cả các pháp được lực trì tự tại vô thượng—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of support of power of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can gain the support of the power of supreme mastery of all truth. 1) Phật lực trì: Support by the power of Buddhas. 2) Pháp lực trì: Support by the power of truth. 3) Chúng sanh lực trì: Support by the power of sentient beings. 4) Nghiệp lực trì: Support by the power acts. 5) Hạnh lực trì: Support by the power of practices. 6) Nguyện lực trì: Support by the power of vows. 7) Cảnh giới lực trì: Support by the power of the environment. 8) Thời lực trì: Support by the power of time. 9) Thiện lực trì: Support by the power of good. 10) Trí lực trì: Support by the power of knowledge.
mười lực vô ngại dụng
(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38) Ten kinds of unimpeded function relating to power (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). 1) Chúng sanh lực vô ngại dụng, vì giáo hóa điều phục chẳng bỏ rời: Unimpeded function of power relating to sentient beings, teaching and taming them without abandoning them. 2) Sát lực vô ngại dụng, vì thị hiện bất khả thuyết trang nghiêm để trang nghiêm: Power relating to lands, manifesting untold adornment and arraying them. 3) Pháp lực vô ngại dụng, vì làm cho tất cả thân vào một thân: Power relating to phenomena, causing all bodies to enter the bodiless. 4) Kiếp lực vô ngại dụng, vì giác ngộ thùy miên: Power relating to oens, cultivating practices unceasingly. 5) Phật lực vô ngại dụng, vì giác ngộ thùy miên: Power of enlightenment, awakening those who are asleep. 6) Hành lực vô ngại dụng, vì nhiếp thủ tất cả Bồ Tát hạnh: Power of action including all practices of enlightening beings. 7) Như Lai lực vô ngại dụng, vì độ thoát tất cả chúng sanh: Power of Buddhas, liberating all sentient beings. 8) Vô sư lực vô ngại dụng, vì tự giác tất cả các pháp: Teacherless power, spontaneously awakening to all truth. 9) Nhứt thiết trí lực vô ngại dụng, vì dùng nhứt thiết trí thành chánh giác: Power of omniscience, attaining true enlightenment by omniscience. 10) Đại bi lực vô ngại, vì chẳng bỏ tất cả chúng sanh: Power of great compassion, not abandoning sentient beings.
mười ma nghiệp
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười thứ ma nghiệp của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát nên mau xa lìa mười ma nghiệp nầy mà siêng cầu Phật nghiệp—According to The Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of demons' actions of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings should quickly get away from to seek enlightened action. 1) Quên mất Bồ Đề tâm, tu các thiện pháp, đây là ma nghiệp: Cultivating roots of goodness while forgetting the aspiration for enlightenment. 2) Ma nghiệp thứ nhì—The second demons' actions: a) Ác tâm bố thí: Giving with ill-will. b) Sân tâm trì giới: Keeping precepts with hatred. c) Chối bỏ người có tánh ác: Rejecting people of bad character. d) Xa kẻ lười biếng: Rejecting the slothful. e) Khinh mạn kẻ loạn ý: Slighting the confused. f) Khinh kẻ si mê: Despising the ignorant. 3) Ma nghiệp thứ ba—The third demons' actions: a) Nơi pháp thậm thâm sanh tâm xan lẫn (ganh ghét bủn xỉn): Being jealous and stingy with the profound teaching. b) Không thuyết pháp cứu độ những người có thể cứu độ được: Not explaining the truth to those who are capable of being enlightened. c) Khi được tài lợi và cung kính thì gượng thuyết pháp, dầu người không cầu nghe cũng như không có khả năng nghe: Insisting on on explaining it to people without the capacity for it as long as wealth and honor are thereby available. 4) Ma nghiệp thứ tư—The fourth demons' actions: a) Chẳng thích lắng nghe ác môn Ba La Mật: Not liking to hear about the ways of transcendence. b) Dầu có nghe nói đến, cũng chẳng màng đến việc tu hành: Not practicing them even when hearing about them. c) Dầu cũng tu hành nhưng lại giải đãi: Tending to negligence even when practicing them. d) Vì lười biếng nên chí ý hèn kém chẳng cầu pháp đại Bồ Đề vô thượng: Becoming narrow and mean in spirit because of laziness, and not seeking supreme enlightenment. 5) Những ma nghiệp thứ năm—The fifth demons' actions: a) Xa thiện tri thức: Avoiding good companions. b) Gần ác tri thức: Associating with bad companions. c) Cầu tự giải thoát: Craving personal release. d) Chẳng thích thọ sanh: Not wanting to accept life. e) Chỉ chuộng Niết bàn ly dục tịch tịnh: f) Wishing for the desirelessness and tranquility of nirvana. 6) Ma nghiệp thứ sáu—The sixth demons' actions: a) Khởi tâm sân hận với chư Bồ Tát: Arousing hatred and anger toward enlightening beings. b) Nhìn chư Bồ Tát với ác nhãn: Looking at Enlightening Beings with malevolent eyes. c) Nhìn ngó tìm cầu lỗi lầm của chư Bồ Tát: Looking for faults in enlightening beings. d) Nói lỗi lầm của chư Bồ Tát: Talking of the faults of Enlightening Beings. e) Ngăn dứt tài lợi cúng dường đến chư Bồ Tát: Cutting off their support. 7) Ma nghiệp thứ bảy—The seventh demons' actions: a) Phỉ báng và chẳng thích lắng nghe chánh pháp: Repudiating true teaching and being averse to hearing it. b) Giả sử có được nghe cũng liền sanh lòng hủy báng: Immediately criticizing true teaching when hearing it. c) Thấy người thuyết pháp chẳng sanh lòng tôn trọng: Having no respect for those who expound true teaching. d) Cho mình đúng còn tất cả người khác thì sai: Claiming oneself to be right and others all wrong. 8) Ma nghiệp thứ tám—The eighth demons' actions: a) Thích học thế luận xảo thuật văn từ: Indulging in the study of secular literature. b) Xiển dương nhị thừa che mờ Phật pháp thậm thâm: Expounding the vehicles of individual salvation while obscuring the profound Teaching. c) Dùng diệu nghĩa truyền dạy cho người chẳng đáng dạy: Giving subtle doctrines to unsuitable people. d) Xa rời Bồ Đề, trụ nơi tà đạo: Straying from enlightenment and persisting in false paths. 9) Ma nghiệp thứ chín—The ninth demons' actions: a) Thường thích gần gũi cúng dường với những người đã được giải thoát an ổn: Always liking to associate with those who are already liberated and at peace, and giving them offerings. b) Chẳng chịu gần gủi giáo hóa người chưa giải thoát chưa an ổn: Not being willing to approach or edify those who have not yet attained liberation or peace. 10) Ma nghiệp thứ mười—The tenth demons' actions: a) Thêm lớn ngã mạn: Developing conceit. b) Không tôn kính: Having no respect. c) Làm nhiều sự não hại với các chúng sanh: Often troubling or hurting sentient beings. d) Chẳng cầu chánh pháp trí huệ chơn thiệt: Not seeking genuine knowledge of truth. e) Tâm ý tệ ác khó khai ngộ được: Being mean and difficult to awaken.
mười minh túc của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười minh túc của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đại quang minh vô thượng nơi tất cả Phật pháp của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of sufficiency of insight of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme illumination of all teachings of the Buddhas. 1) Khéo phân biệt các pháp: Skillfully analyzing all things. 2) Chẳng chấp trước các pháp: Not grasping or clinging to anything. 3) Lìa điên đảo kiến: Divorcing all deluded views. 4) Trí huệ quang chiếu các căn: Illuminating all senses with the light of knowledge. 5) Khéo phát khởi chánh tinh tấn: Skillfully generating rightly directed energy. 6) Hay thâm nhập chơn đế trí: Being able to penetrate knowledge of absolute truth. 7) Minh túc thứ bảy—The seventh sufficiency of insight: a. Diệt nghiệp phiền não: Extinguishing the actions of afflictions. b. Thành tựu tận trí và vô sanh trí: Developing the knowledge of extinction and knowledge of birthlessness. 8) Thiên nhãn trí khéo quan sát: Observing everywhere with the knowledge of the celestial eye. 9) Túc trụ niệm biết thuở trước thanh tịnh: Knowing the purity of the past by recollection of past states. 10) Lậu tận thần thông trí dứt những lậu của chúng sanh: Annihilating the contaminations of sentient beings by the spiritual knowledge of ending contamination.
mười món cúng dường
Ten Offerings—Cúng dường đến chư Phật và chư Bồ Tát để tỏ lòng biết ơn. Điều nầy cũng giống như con cái tỏ lòng cung kính cha mẹ, hay như học trò tôn kính thầy vậy—Offerings to the Buddha and Bodhisattvas mean to express respect and gratitude to them. It is similar to children paying respect to their parents, as well as students showing gratitude toward their teachers: 1) Hương—Incense: Cúng dường hương nhang với nghĩa đạt được an bình nội tại và làm cho phong phú sự nhận biết về chư pháp—To offer incense means to achieve our inner peace and enrich our Dharma perception. 2) Hoa—Flowers: Cúng dường hoa có nghĩa là mong loại trừ những thứ không vui nơi thân và cũng mong hương hoa làm cho những người quanh ta được an vui—To offer flowers means to clean and rid our body of what is unpleasant and to give pleasure to the people around us. 3) Anh lạc--Chuỗi tràng hạt: Cúng dường chuỗi anh lạc có nghĩa là làm vừa lòng và làm tăng oai nghi tướng hảo—To offer beads means to satisfy and dignify our appearance. 4) Đèn—Lamps: Cúng dường đèn có nghĩa là muốn làm tăng tuệ giác và đưa chúng ta đến trí tuệ tuyệt đối—To offer lamps means to brighten our vision and lead us to absolute wisdom. 5) Quả—Fruits: Cúng dường quả trái có nghĩa là mong muốn toại nguyện và tiến nhanh đến quả vị Phật—To offer fruits means to fulfill our wishes and hasten our path toward Buddhahood. 6) Trà—Tea: Cúng dường trà có nghĩa là làm tươi mát hơi thở và xa lìa những lo âu—To offer tea means to freshen our breath and distance us from worries. 7) Thực phẩm—Food: Cúng dường thực phẩm có nghĩa là mong trường thọ và làm dễ dàng những kinh nghiệm tu hành—To offer food means to extent the longevity of our lives and facilitate our articulation skills. 8) Âm nhạc Phật—Buddhist music: Cúng dường âm nhạc Phật mong làm vui thế đầy phiền não—Buddhist music to rejoyce the whole afflicted world. 9) Chấp tay--Folding palms: Cúng dường cái chấp tay có nghĩa là bày tỏ lòng khiêm nhường tôn kính chư Phật và chư Bồ Tát—To offer folding palms means to humble our selves in front of the Buddhas and Bodhisattvas. 10) Quần áo—Clothes: Cúng dường quần áo là mong được trang nghiêm ngoại tướng cũng như làm cho chúng ta cảm thấy an ổn hơn—To offer clothes means to make us look magnificent and remorse and to provide us with security.
mười môn diễn thuyết vô lượng của chư phật
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 33, có mười môn diễn thuyết vô lượng của chư Phật. Chư Phật diễn thuyết vô lượng nhứt thiết chư Phật trí môn—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 33, there are ten kinds of exposition of the inumerable facets of the Teaching of the Buddhas. All Buddhas expound the ways of knowledge of all Buddhas. 1) Chư Phật diễn thuyết vô lượng giải thoát môn: All Buddhas expound innumerable facets of the realms of sentient beings. 2) Chư Phật diễn thuyết vô lượng chúng sanh hạnh môn: All Buddhas expound innumerable facets of the activities of sentient beings. 3) Chư Phật diễn thuyết vô lượng chúng sanh nghiệp quả môn: All Buddhas expound innumerable facets of effects of acts of sentient beings. 4) Chư Phật diễn thuyết vô lượng giáo hóa chúng sanh môn: All Buddhas expound innumerable facets of teaching sentient beings. 5) Chư Phật diễn thuyết vô lượng tịnh chúng sanh môn: All Buddhas expound innumerable facets of purifying sentient beings. 6) Chư Phật diễn thuyết vô lượng Bồ Tát nguyện môn: All Buddhas expound innumerable facets of vows of enlightening beings. 7) Chư Phật diễn thuyết vô lượng Bồ Tát hạnh môn: All Buddhas expound innumerable facets of practices of enlightening beings. 8) Chư Phật diễn thuyết tất cả thành kiếp-hoại kiếp môn: All Buddhas expound innumerable facets of the ages of becoming and decay of all worlds. 9) Chư Phật diễn thuyết vô lượng Bồ Tát thâm tâm tịnh Phật sát môn: All Budhas expound innumerable facets of enlightening beings devotedly purifying Buddha-lands. 10) Chư Phật diễn thuyết vô lượng tất cả thế giới tam thế chư Phật nơi những kiếp đó thứ đệ xuất hiện môn: All Buddhas expound innumerable facets of successive emergence in each age of the past, present and future Buddhas in innumerable worlds.
mười môn du hý của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười môn du hí của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đại trí du hý vô thưỡng của Như Lai—Enlightening Beings who abide by these can attain the versality of great knowledge of Buddhas. 1) Đem thân chúng sanh làm thân quốc độ, mà cũng chẳng hoại thân chúng sanh: Make the body of sentient beings the body of lands, without destroying the body of sentient beings. 2) Đem thân quốc độ làm thân chúng sanh mà cũng chẳng hoại thân quốc độ: Make the body of lands the body sentient beings, without destroying the body of lands. 3) Nơi Phật thân thị hiện thân Thanh văn, thân Độc giác, mà chẳng giảm thân Phật: In the body of Buddha they show the body of disciples and self-illumined ones, without diminishing the body of Buddha. 4) Nơi thân Thanh văn, thân Độc giác thị hiện Phật thân, mà chẳng tăng trưởng thân Thanh văn, thân Độc giác: In the body of disciples and self-illumined ones they show the body of Buddha, without augmenting the body of disciples and self-illumined ones. 5) Nơi thân Bồ Tát hạnh thị hiện thân thành chánh giác mà chẳng đoạn thân Bồ Tát hạnh: In the body of practices of enlightening beings they show the body of attainment of enlightenment, without cutting off the body of practices of Enlightening Beings. 6) Nơi thân thành chánh giác thị hiện thân tu hành Bồ Tát hạnh, mà chẳng giảm thân thành chánh giác: In the body of attainment of enlightenment they manifest cultivation of the body of practices of Enlightening Beings, without diminishing the body of attainment of enlightenment. 7) Nơi cõi Niết bàn thị hiện thân sanh tử, mà chẳng nhiễm trước sanh tử: Show the body of birth and death in the realm of nirvana, without clinging to birth and death. 8) Nơi cõi sanh tử thị hiện Niết bàn, mà chẳng rốt ráo nhập nơi Niết bàn: Show nirvana in the realm of birth and death, yet without finally entering nirvana. 9) Nhập tam muội mà thị hiện tất cả nghiệp, nhưng chẳng bỏ rời tam muội chánh thọ: Enter into concentration, yet manifest all ordinary action, without relinquishing the correct reception of concentration. 10) Ở chỗ một Đức Phật nghe pháp thọ trì, thân chẳng động mà dùng sức tam muội ở trong bất khả thuyết Phật hội đều hiện thân mà chẳng phân thân cũng chẳng khởi định, mà nghe pháp thọ trì tương tục chẳng dứt, niệm niệm như vậy nơi mỗi thân tam muội đều xuất sanh bất khả thuyết thân tam muội. Tất cả kiếp còn có cùng tận mà thân tam muội của Bồ tát chẳng thể cùng tận: In the prsence of one Buddha they hear and absorb the teaching, not moving physically yet by the power of concentration appearing physically in the audiences of untold Buddhas, neither dividing their bodies not rising from concentration, continuously hearing and absorbing the teachings, in this way moment to moment producing untold concentration-bodies in each concentration-body, going on this way, so that the ages of time may be exhausted but the concentration-bodies of enlightening beings are inexhaustible.
mười môn kiến phật của chư đại bồ tát
(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38). Chư Bồ Tát an trụ trong mười môn kiến Phật nầy thời thường được thấy Đức Như Lai vô thượng—Ten ways of seeing Buddhas of Great Enlightening Beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). Enlightening Beings who abide by these always see the supreme Buddha. 1) Vô trước kiến, đối với Phật thành chánh giác an trụ thế gian: See by nonattachment the Buddha of abiding in the world attaining true enlightenment. 2) Xuất sanh kiến đối với nguyện Phật: See the Buddha of vows by production. 3) Thâm tín kiến đối với nghiệp báo Phật: See the Buddha of rewards of action by deep faith. 4) Tùy thuận kiến đối với trụ trì Phật: See the Buddha of preservation by following the Teaching. 5) Thâm nhập kiến đối với Niết bàn Phật: See the Buddha of Nirvana by deeply entering it. 6) Phổ chí kiến đối với pháp giới Phật: See the cosmic Buddha everywhere. 7) An trụ kiến đối với tâm Phật: See the Buddha of mind by peaceful stability. 8) Vô lượng vô y kiến đối với tam muội Phật: See the Buddha of concentration by infinite independence. 9) Minh liễu kiến đối với bổn tánh Phật: See the Buddha of fundamental essence by clear comprehension. 10) Phổ thọ kiến đối với tùy lạc Phật: See the Buddha of adaptation by universal awareness. *** For more information, please see Ten Ways of Getting Rid of Demons.
mười môn nhập tam muội sai biệt trí
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 10—Thập Định, có mười môn nhập tam muội sai biệt trí—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 27, there are ten kinds of knowledge of differentiation of entry into concentration of Great Enlightening Beings. 1) Đông phương nhập định Tây phương khởi: Entering concentration in the east and emerging in the west. 2) Tây phương nhập định đông phương khởi: Entering concentration in the west and emerging in the east. 3) Nam phương nhập định Bắc phương khởi: Entering concentration in the south and emerging in the north. 4) Bắc phương nhập định nam phương khởi: Entering concentration in the north and emerging in the south. 5) Đông bắc phương nhập định, tây nam phương khởi: Entering concentration in the northeast and emerging in the southwest. 6) Tây nam phương nhập định đông bắc phương khởi: Entering the concentration in the southwest emerging in the northeast. 7) Tây bắc phương nhập định, đông nam phương khởi: Entering the concentration in the northwest and emerging in the southeast. 8) Đông nam phương nhập định tây bắc phương khởi: Entering the concentration in the southeast and emerging in the northwest. 9) Hạ phương nhập định thượng phương khởi: Entering the concentration in the nadir and emerging in the zenith. 10) Thượng phương nhập định hạ phương khởi: Entering the concentration in the zenith and emerging in the nadir.
mười mũi của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười mũi của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát thành tựu những pháp nầy thời được vô lượng vô biên thanh tịnh tỹ của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of nose of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who accomplish these will acquire the infinite, boundless nose of Buddhas. 1) Nghe những vật hôi, không cho đó là hôi: When they smell foul things, they do not consider them foul. 2) Khi nghe những hơi thơm, không cho đó là thơm: When they smell fragrances, they do not consider them fragrant. 3) Thơm hôi đều nghe, nhưng tâm Bồ Tát vẫn bình đẳng: They smell both fragrance and foulness, their minds are equanimous. 4) Chẳng thơm chẳng hôi, an trụ nơi xả: Neither fragrance nor foulness, abiding in relinquishment. 5) Nếu nghe y phục, giường ngủ và thân thể của chúng sanh thơm hôi, thời biết được họ khởi lòng tham, sân hay si: If they smell the gragrance and foulness of people's clothes, bedding, or bodies, they can discern their conditions of greed, anger, and delusion. 6) Nếu nghe hơi của cây cỏ, vân vân, thời biết rõ ràng như đối trước mắt: If they smell the scents of hidden repositories, plants and trees and so on, they can discern them as if they were right before their eyes. 7) Nếu nghe mùi của chúng sanh trên trời đến địa ngục thời biết hạnh nghiệp quá khứ của họ đã gây tạo: If they smell scents from the hells below to the heaven above, they know the past deeds of the beings there. 8) Nếu nghe hơi bố thí, trì giới, đa văn, trí huệ của hàng Thanh Văn thời an trụ tâm nhứt thiết trí chẳng cho tán động: If they smell the fragrance of generosity, morality, learning, and wisdom of Buddhas' disciples, they remain steady in the will for omniscience and do not let it be distracted. 9) Nếu nghe hơi của tất cả Bồ Tát hạnh, thời dùng trí huệ bình đẳng nhập Phật địa: If they smell the fragrance of all enlightening practices, they enter the state of Buddhahood by impartial wisdom. 10) Nghe hơi cảnh giới trí huệ của tất cả Phật, cũng chẳng phế bỏ những hạnh Bồ Tát: If they smell the fragrance of the sphere of knowledge of all Buddhas, they still do not give up the practices of Enlightening Beings.
mười mạn nghiệp của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, chư đại Bồ Tát có mười mạn nghiệp. Chư Bồ Tát lìa được mười mạn nghiệp nầy thời được mười trí nghiệp—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of conceited action of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who can get rid of these ten kinds of conceited action will attain ten kinds of actions of knowledge. 1) Đối với Sư, Tăng, cha mẹ, sa môn, bà la môn trụ nơi chánh đạo, hoặc hướng về chánh đạo, là những phước điền đáng tôn trọng mà chẳng cung kính, là mạn nghiệp: Not respecting teachers, parents, mendicants, people on the right Path, people aiming for the right Path, or honorable fields of blessings, is conceited action. 2) Hoặc có Pháp Sư được pháp tối thắng, ngồi Đại thừa, biết đạo xuất yếu, đắc Đà La Ni, diễn thuyết pháp quảng đại trong khế kinh không thôi nghỉ. Lại phát khởi tâm cao mạn cũng như chẳng cung kính các bậc ấy, là mạn nghiệp: If there are teachers who have attained to supreme truth, who ride the Great Vehicle of universal enlightenment, who know the way to emancipation, who have attained mental command and expound the great principles of the scriptures, to be haughty toward them or their teachings and to be disrespectful is conceited action. 3) Trong chúng hội nghe thuyết diệu pháp mà chẳng chịu khen cho người khác tin thọ, là mạn nghiệp: When in an audience hearing the sublime Teaching expounded, to be unwilling to laud its excellence and cause others to believe and accept it, is conceited action. 4) Mạn nghiệp thứ tư—The fourth conceited action: a. Ưa sanh lòng quá mạn: Habitually conceiving the illusion of superiority. b. Tự cao và khinh người: Elevating onself and looking down on others. c. Not seeing one's own faults. d. Chẳng thấy lỗi mình: Not knowing one's own shortcoming: Chẳng biết mình dở. 5) Mạn nghiệp thứ năm—The fifth conceited action. a. Ưa sanh lòng quá mạn, tưởng mình giỏi hơn người: Habitually imagining that one is beter than those who are better than onself. b. Chẳng tán thán người đạo đức đáng được tán thán: Not praising virtuous people who are praiseworthy. c. Chẳng vui khi có người tán thán người đạo đức: Not being happy when others praise virtuous people. 6) Ưa sanh lòng quá mạn. Thấy có Pháp sư và người thuyết pháp, biết là pháp, là luật, là chơn thiệt, là lời Phật dạy, mà vì ghét người nên cũng ghét pháp, tự mình hủy báng, bảo người hủy báng, đây là mạn nghiệp: When seeing someone preach, in spite of knowing it is the norm, the rule, the truth, the word of Buddha, to despise the teaching because of disliking the person, to slander it and incite others to slander it, is conceited action. 7) Mạn nghiệp thứ bảy—The seventh conceited action: a. Tự cầu tòa cao: Seeking a high seat for oneself. b. Tự xưng Pháp Sư: Declaring onself to a teacher. c. Tư xưng ưng thọ nhận cúng dường: Declaring onself to be worthy of receiving offerings. d. Chẳng ưng làm việc: Not supposed to work. e. Chẳng ưng làm việc: Failing to rise to greet old people who have cultivated spiritual practice for a long time. Thấy bực tu hành lâu năm kỳ cựu, chẳng chịu đứng dậy tiếp rước: f. Chẳng chịu hộ trì cúng dường chư Bồ Tát: Being unwilling to serve and make offerings to enlightening beings. 8) Thấy người có đức thời nhíu mày chẳng vui, nói lời thô lỗ, tìm tòi lỗi lầm của bực ấy, là mạn nghiệp: Frowning unhappily on seeing people with virtue, speaking to them harshly and looking for faults in them, is conceited action. 9) Mạn nghiệp thứ chín—The ninth conceited action—When seeing intelligent people who know the truth: a. Chẳng chịu gần gũi: not being willing to approach and attend them. b. Chẳng chịu cung kính cúng dường: Not respecting and honoring them. c. Chẳng chịu hỏi han gì là thiện, gì là bất thiện, những gì nên làm, những gì chẳng nên làm, hoặc làm những công hạnh gì mà được lợi ích an lạc: Being unwilling to ask them what is good and what is not good, what should be done and what should not be done, what acts result in various benefits and comforts in the long night. d. Là kẻ ngu si ngoan cố, chìm trong ngã mạn, chẳng bao giờ thấy được đạo giải thoát: Being foolish and deluded, stubborn and contentious, swallow by self-importance, never able to see the way of emancipation. 10) Mạn nghiệp thứ mười—The tenth conceited action: a. Tâm khinh mạn che đậy: Minds shrouded by conceit. b. Khi chư Phật xuất thế chẳng có thể thân cận, cung kính, cúng dường: When Buddhas appear in he world are unable to approach, respect, and honor them. c. Thiện căn mới chẳng sanh, thiện căn cũ tiêu mất: No new good airses, and goodness from the past evaporates and vanishes. d. Nói những điều chẳng nên nói: They say what they should not. e. Cãi lại những điều chẳng nên cãi: They contend where they should not. f. Trong kiếp vị lai tất đọa hầm sâu hiểm nạn: In the future they will surely fall into a deep pit of danger and. g. Chẳng còn gặp Phật: Will not even encounter Buddha. h. Trong trăm ngàn kiếp chẳng còn được nghe pháp: i. Chỉ do từ trước đã từng phát tâm Bồ Đề nên trọn tự tỉnh ngộ: Much less hearing the Teaching for hundreds of thousands of eonsThough because of having once conceived the aspiration for enlightenment they will in the end wake up on their own. **See Ten kinds of actions of knowledge.
mười mật ngữ thiện xảo của chư đại bồ tát
Mười xảo mật ngữ của chư Đại Bồ Tát (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38). Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được vi mật ngữ thiện xảo vô thượng của Như Lai—Enlightening Beings who abide by these can master the unexcelled skillful esoteric speech of the Buddhas. 1) Xảo mật ngữ ở trong tất cả Phật kinh: The skillful esoteric sayings in all the discourses of Buddhas. 2) Xảo mật ngữ nơi tất cả chỗ thọ sanh: Skillful esoteric sayings about all places of birth. 3) Xảo mật ngữ nơi tất cả Bồ Tát thần thông biến hiện thành đẳng chánh giác: Skillful esoteric sayings about all enlightening beings' spiritual manifestations and attainment of enlightenment. 4) Skillful esoteric sayings about the consequences of actions of all sentient beings. 5) Skillful esoteric sayings about the Xảo mật ngữ nơi tất cả chúng sanh phát khởi nhiễm tịnh: defilement and purity produced by all sentient beings:. 6) Xảo mật ngữ rốt ráo vô chướng ngại nơi tất cả các pháp: Skillful esoteric sayings about how to be ultimately unobstructed in the midst of all things. 7) Xảo mật ngữ nơi tất cả hư không giới, mỗi nơi mỗi chỗ đều có thế giới hoặc thành hoặc hoại, trong đó không có chỗ trống: Skillful esoteric sayings about how in every place in space are worlds, some becoming, some decaying, without any gaps in between. 8) Xảo mật ngữ nơi tất cả pháp giới tất cả mười phương nhẫn đến chỗ vi tế, đều có Như Lai thị hiện sơ sanh nhẫn đến thành Phật nhập đại niết bàn đầy khắp pháp giới, đều phân biệt thấy: Skillful esoteric sayings about how everywhere in all places in all universes, in all phenomena, even in microscopic points, there are Buddhas manifesting birth, attainment of Buddhahood, and entry into final nirvana, filling the cosmos, each distinctly seen. 9) Xảo mật ngữ ở chỗ thấy tất cả chúng sanh bình đẳng niết bàn vì không biến đổi mà chẳng bỏ đại nguyện, vì tất cả trí nguyện chưa được viên mãn làm cho viên mãn: Skillful esoteric sayings about seeing all sentient beings as equally nirvanic, being unchanged, yet not giving up great aspirations, causing them to be fulfilled by the vow for omniscience. 10) Xảo mật ngữ ở chỗ dầu biết tất cả pháp tỏ ngộ chẳng do người khác mà chẳng rời bỏ các bậc thiện tri thức, đối với Như Lai càng thêm tôn kính, cùng thiện tri thức hòa hiệp không hai. Nơi những thiện căn thời tu tập gieo trồng hồi hướng an trụ. Đồng một sở tác, đồng một thể tánh, đồng một xuất ly, đồng một thành tựu: Skillful esoteric sayings about not abandoning teachers in spite of knowing that truths are not realized through the agency of another, honoring the enlightened even more, becoming one with spiritual friends in cultivating, dedicating, and living by virtues, with the same actions, the same essence, the same emancipation, the same fulfillment.
mười mắt của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, chư đại Bồ Tát có mười mắt. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đại trí huệ nhãn vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of eye of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these attain the eye of supreme knowledge of Buddhas. 1) Nhục nhãn, vì thấy tất cả hình sắc: The flesh eye, seeing all forms. 2) Thiên nhãn, vì thấy tất cả tâm niệm của tất cả chúng sanh: The celestial eye, seeing the minds of all sentient beings. 3) Huệ nhãn, vì thấy tất cả những căn cảnh giới của tất cả chúng sanh: The wisdom-eye, seeing the ranges of the faculties of all sentient beings. 4) Pháp nhãn, vì thấy tướng như thật của tất cả pháp: The reality-eye, seeing the true characters of all things. 5) Phật nhãn, vì thấy thập lực của Như Lai: The Buddha-eye, seeing the ten powers of the enlightened. 6) Trí nhãn, vì thấy biết các pháp: The eye of knowledge, knowing and seeing all things. 7) Quang minh nhãn, vì thấy quang minh của Đức Phật: The eye of light, seeing the light of Buddha. 8) Xuất sanh tử nhãn, vì thấy Niết Bàn: The eye of leaving birth-and-death, seeing nirvana. 9) Vô ngại nhãn, vì chỗ thấy không chướng ngại: The unobstructed eye, its vision without hindrance. 10) Nhứt thiết trí nhãn, vì thấy phổ môn pháp giới: The eye of omniscience, seeing the realm of reality in its universal aspect.
Mười một pháp không
(Thập nhất không), bao gồm: 1. Nội không, 2. Ngoại không, 3. Nội ngoại không, 4. Hữu vi không, 5. Vô vi không, 6. Vô thủy không, 7. Tánh không, 8. Vô sở hữu không, 9. Đệ nhất nghĩa không, 10. Không không, 11. Đại không. Các pháp không này được đức Phật giảng rõ trong quyển 16 của kinh này. Xem lại từ trang 409, Tập III.
mười một phẩm hạnh đem lại tình trạng an lành cho người nữ trong thế gian nầy và trong cảnh giới kế tiếp
Theo Kinh Tạp A Hàm, Đức Phật đã đề cập về mười một phẩm hạnh đem lại tình trạng an lành cho người nữ trong thế giới nầy và trong cảnh giới kế tiếp như sau—In the Samyutta Nikaya Sutta, the Buddha mentioned about eleven virtues that would conduce towards the well-being of women both in this world and in the next as follows: 1) Đạo tâm nhiệt thành: Saddho (p)—Religious devotion. 2) Biết hổ thẹn và kinh vì tội lỗi: Hirima-ottapi (p)—A sense of shame and fear of evil deds. 3) Không buông lung phóng túng theo chiều hướng độc hiểm, thù oán và sân hận: Akkodhanao-anupanahi (p)—Not disposed towards malice, animosity, and anger. 4) Không ganh tỵ: Anissuki (p)—Not jealous. 5) Không keo kiết bỏn xẻn mà quảng đại rộng rãi: Amacchari (p)—Not niggardly or stingy, but largehearted or generosity. 6) Đức hạnh trong sạch: Anaticari (p)—Pure in conduct. 7) Sống đạo đức và thích hợp với thuần phong mỹ tục: Silava (p)—Virtuous and moral. 8) Trau dồi học vấn và kiến thức thâm sâu: Bahussuto (p)—Learned and steeped in knowledge. 9) Hăng say và nhiệt thành: Araddhaviriyo (p)—Arden and zealous. 10) Cảnh giác và lanh lẹ: Upatthita-sati (p)—Mentally alert and nimble. 11) Sáng suốt và khôn ngoan: Pannava (p)—Wise and sagacious.
mười một sắc pháp
Thập Nhất Sắc—The Eleven Form Dharmas: A. Năm căn—Five Faculties: 1) Mắt: Cakshus (skt)—Eyes. 2) Tai: Shrotra (skt)—Ears. 3) Mũi: Ghrana (skt)—Nose. 4) Lưỡi: Jihva (skt)—Tongue. 5) Thân: Kaya (skt)—Body. B. Sáu trần—Six external sense objects or dusts: 1) Sắc trần: Rupa (skt)—Forms. 2) Thanh trần: Shabda (skt)—Sounds. 3) Hương trần: Gandha (skt)—Smells. 4) Vị trần: Rasa (skt)—Tastes or flavors. 5) Xúc trần: Sprashtavya (skt)—Objects of touch. 6) Pháp trần: Dharmayatanikani rupani (skt)—Dharmas pertaining to form.
mười một tâm dẫn đến giác ngộ
Theo Kinh Hoa Nghiêm, có 11 tâm dẫn đến giác ngộ—According to The Avatamsaka Sutra, there are elven minds that lead to enlightenment (desire for enlightenment is really arouse from these minds). 1) Tâm Đại Bi: Maha-karuna-citta (skt)—Mong bảo bọc hết thảy chúng sanh—A great loving heart which is desirous of protecting all beings. 2) Tâm Đại Từ: Maha-maitri-citta (skt)—Luôn luôn muốn làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh—A great compassionate heart which ever wishes for the welfare of all beings. 3) Tâm An Lạc: Sukha-citta (skt)—Mong làm cho kẻ khác hạnh phúc, vì thấy họ chịu đựng đủ mọi hình thức khổ não—The desire to make others happy, which comes from seeing them suffer all forms of pain. 4) Tâm Lợi Ích: Hita-citta (skt)—Mong làm lợi ích cho kẻ khác, cứu rỗi họ thoát khỏi những hành vi sai quấy và tội lỗi—The desire to benefit others, and to deliver them from evils and wrong deeds. 5) Tâm Ai Mẫn: Daya-citta (skt)—Mong bảo bọc hết thảy chúng sanh thoát khỏi những tâm tưởng khốn quẫn—A sympathetic heart which desires to protect all beings from tormenting thoughts. 6) Tâm Vô Ngại: Asamga-citta (skt)—Muốn dẹp bỏ tất cả chướng ngại cho kẻ khác—An unimpeded heart which wishes to see all the impediments removed for others. 7) Tâm Quảng Đại: Vaipula-citta (skt)—Tâm đầy khắp cả vũ trụ—A large heart which fills the whole universe. 8) Tâm Vô Biên: Ananta-citta (skt)—Tâm vô biên như hư không—An endless heart which is like space. 9) Tâm Vô Cấu Nhiễm: Vimala-citta (skt)—Tâm thấy hết thảy chư Phật—A spotless heart which sees all the Buddhas. 10) Tâm Thanh Tịnh: Visuddha-citta (skt)—Tâm ứng hợp với trí tuệ của quá khứ, hiện tại, và vị lai—A pure heart which is in conformity with the wisdom of the past, present, and future. 11) Tâm Trí Tuệ: Jnana-citta (skt)—Tâm nhờ đó có thể bước vào biển lớn nhất thiết trí—A wisdom-heart by which one can enter the great ocean of all-knowledge.
mười một điều đức phật dạy về bổn phận của người vợ trong cuộc sống hôn nhân
Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm, Đức Phật có mười một lời khuyên rất có giá trị cho những người con gái trước khi đi lấy chồng—In the Anguttara Nikaya, the Buddha has eleven valuable advices for girls on their role in their married life: 1) Không nên nuôi tư tưởng tội lỗi đối với chồng: Should not harbour evil thoughts against her husband. 2) Không nên độc ác, thô bạo hay lấn át chồng: Should not be cruel, harsh or domineering. 3) Không nên phung phí mà nên tằn tiện sống trong phạm vi lợi tức kiếm được: Should not be a spendthrift but should be economical and live within her means. 4) Nên canh chừng và gìn giữ tài sản và của cải do người chồng vất vả kiếm được: Should zealously guard and save her husband's property and hard-earned wealth. 5) Luôn luôn đức hạnh và trong sạch trong tâm và hành động: Should always be virtuous and chaste in mind and action. 6) Phải trung thành và không nuôi tư tưởng hay hành động ngoại tình nào: Should be faithful and harbour no thoughts of any adulterous acts. 7) Phải nên cẩn trọng về lời nói và lễ phép trong hành động: Should be refined in speech and polite in action. 8) Phải nên tử tế, cần cù và siêng năng: Should be kind, industrious and hard-working. 9) Phải nên quan tâm và từ bi với chồng và thái độ đối xử với chồng phải như người mẹ thương yêu và bảo vệ đứa con trai của mình: Should be thoughtful and compassionate towards her husband and her attitude should equate that of a mother loving and protecting her son. 10) Phải nên nhũn nhặn và lễ độ: Should be modest and respectful. 11) Phải nên trầm tĩnh, bình tĩnh và hiểu biết phục vụ không những như một người vợ mà cũng như người bạn và người cố vấn cho chồng khi cần thiết: Should be cool, calm and understanding serving not only as a wife but also as a friend and adviser to her husband when the need arises.
mười mục đích thị hiện hàng ma của chư đại bồ tát
theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười mục đích thị hiện hàng ma của chư Đại Bồ Tát—Coording to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten purposes of conquering of demons. 1) Vì chúng sanh đời ngũ trược thích chiến đấu, nên chư Bồ Tát muốn hiển bày sức oai đức mà thị hiện hàng ma: Because sentient beings in times of confusion are bellicose, enlightening beings want to show their spiritual power. 2) Chư Thiên và thế nhơn có những kẻ hoài nghi, vì muốn dứt trừ lòng nghi ngờ cho họ mà thị hiện hàng ma: To cut off the doubts of people in celestial and mundane states who have doubts. 3) Giáo hóa và điều phục chúng ma: To civilize and tame the armies of demons. 4) Vì muốn cho những kẻ thích quân trận trong hàng Thiên nhơn đến xem để tâm họ được điều phục: To cause people who like the military to come and observe demon quelling, so their minds will be subdued. 5) Vì hiển bày oai lực Bồ Tát, trong đời không ai địch nổi: To show that no one in the world can oppose the powers of enlightening beings. 6) Vì muốn phát khởi sức dũng mãnh của tất cả chúng sanh: To arouse the courage and strength of all sentient beings. 7) Vì thương xót chúng sanh trong đời mạt thế: Out of pity for sentient beings of degenerate times. 8) Vì muốn hiển bày ngay đến chốn đạo tràng mà còn có ma quân quấy nhiễu, từ đó về sau mới siêu được cảnh giới ma: To show that even up to the site of enlightenment there are still hordes of demons who come to create disturbance, and only this does one finally manage to get beyond the reach of demons. 9) Vì muốn hiển bày nghiệp dụng của phiền não yếu kém so với đại bi và đức hạnh: To show that the force of afflictions is weak and inferior compared with the mighty power of great compassion and virtue. 10) Tùy thuận pháp hành của thế gian ác trược, mà thị hiện hàng ma: To do what must be done in a polluted, evil world.
mười nghiệp của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười nghiệp của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được nghiệp quảng đại vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of activity of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can achieve the supremely great activity of Buddhas. 1) Tất cả thế giới nghiệp, vì đều có thể trang nghiêm thanh tịnh: Activity related to all worlds, able to purify them all. 2) Tất cả chư Phật nghiệp, vì đều có thể cúng dường: Activity related to all Buddhas, able to provide offerings to them all. 3) Tất cả Bồ Tát nghiệp vì đồng gieo thiện căn: Activity related to all enlightening beings, planting the same roots of goodness. 4) Tất cả chúng sanh nghiệp, vì đều có thể giáo hóa: Activity related to all sentient beings, Able to teach and transform them all. 5) Tất cả vị lai nghiệp, vì nhiếp thủ tột thuở vị lai: Activity relating to the future, able to take in the whole future. 6) Tất cả thần lực nghiệp, vì chẳng rời một thế giới đến khắp tất cả thế giới: Activity of all spiritual powers, able to reach all worlds without leaving one world. 7) Tất cả quang minh nghiệp, vì phóng quang minh vô biên màu, trong mỗi quang minh có tòa liên hoa đều có Bồ Tát ngồi kiết già trên đó. Dùng đây để thị hiện: Activity of all light, emanating lights of infinite colors, with an Enlightening Being sitting on a lotus seat appearing in each light beam. 8) Tất cả giống Tam Bảo chẳng đoạn nghiệp, vì sau khi Đức Phật diệt độ thời thủ hộ trụ trì những Phật pháp: Activity perpetuating the lineage of the three treasures, preserving and sustaining the Budhas' teachings after the demise of the Buddhas. 9) Tất cả biến hóa nghiệp, vì ở tất cả thế giới thuyết pháp giáo hóa các chúng sanh: Activity of all miraculous transformations, expounding the truth and teaching the sentient beings in all worlds. 10) Tất cả gia trì nghiệp, ở trong một niệm tùy tâm sở thích của cá chúng sanh đều vì họ mà thị hiện, làm cho tất cả nguyện vọng đều thành mãn: Activity of all empowerments, instantly appearing to sentient beings according to their mental inclinations, causing all aspirations to be fulfilled.
Mười nghiệp lành
xem Mười điều lành.
mười nghiệp lành tạo quả trổ sanh trong dục giới
Ten kinds of good kamma or meritorious actions which may ripen in the sense-sphere—See Thập Thiện Nghiệp (B).
Mười nghiệp ác
xem Mười điều ác.
mười nghĩa của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười nghĩa của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ tát an trụ trong pháp nầy thời được nhứt thiết trí vô thượng nghĩa—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of principle of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme principle of omniscience. 1) Đa văn nghĩa vì kiên cố tu hành: Principle of great learning, steadfastly putting it into practice. 2) Pháp nghĩa, vì khéo suy gẫm lựa chọn: Principle of truth, skillfully thinking about it and discerning it. 3) Không nghĩa, vì đệ nhứt nghĩa không: Principle of emptiness, the ultimate truth being emptiness. 4) Tịch tịnh nghĩa, vì xa rời những ồn náo của chúng sanh: Principle of silence and calm, being detached from the clamor and confusion of sentient beings. 5) Bất khả thuyết nghĩa, vì chẳng chấp tất cả ngữ ngôn: Principle of inexpressibility, not clinging to words. 6) Như thiệt nghĩa, vì thấu rõ tam thế bình đẳng: Principle of according with truth, realizing that past, present and future are equal. 7) Pháp giới nghĩa, vì tất cả các pháp đồng một vị: Principle of the realm of reality, all things being one in essence. 8) Chơn như nghĩa, vì tất cả Như Lai thuận nhập: Principle of true Thusness, as all who realize Thusness enter it. 9) Thiệt tế nghĩa, vì biết rõ rốt ráo chơn thiệt nghĩa của pháp tối thượng: Principle of the limit of reality, realizing ultimate truth. 10) Đại Bát Niết Bàn nghĩa, vì diệt tất cả khổ để tu những hạnh Bồ Tát: Principle of great ultimate nirvana, extinguishing all suffering yet carrying out the practices of Enlightening Beings.
mười nghĩa mà chư như lai quán sát khi đã thực hành xong phật sự
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười nghĩa mà chư Như Lai quán sát khi đã thực hành xong Phật sự. Các Đức Như Lai vì quán sát mười nghĩa nầy nên thị hiện nhập Niết bàn— According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten considerations when Buddhas have done their Buddha-work, they manifest final extinction. These are ten points of consideration because of which the Buddhas manifest ultimate extinction in nirvana. 1) Vì chỉ bày tất cả hành pháp thật là vô thường: To show that all activities are really impermanent. 2) Vì chỉ bày tất cả pháp hữu vi chẳng phải là pháp an ổn: To show that all created things are unstable. 3) Vì chỉ bày đại niết bàn là chỗ an ổn, vô bố úy: To show that ultimate nirvana is the abode of peace, without fear. 4) Vì hàng nhơn thiên tham đắm sắc thân, nên vì họ mà thị hiện sắc thân là pháp vô thường, khiến họ phát nguyện trụ pháp thân thanh tịnh: To show those (human and celestial beings) attached to the physical body that the physical body is impermanent, so that they will aspire to dwell in the pure body of reality. 5) Vì chỉ bày sức vô thường không thể chuyển được: To show that the power of impermanence cannot be overturned. 6) Vì chỉ bày tất cả pháp hữu vi chẳng tự tại, chẳng trụ theo tâm: To show that all created things do not remain as one wishes and are not under one's control. 7) Vì chỉ bày tất cả những hiện hữu đều như huyễn hóa, chẳng bền chắc: To show that all existents are like magical productions and are not hard and fast. 8) Vì chỉ bày tánh niết bàn rốt ráo bền chắc, chẳng thể hư hoại: To show that the nature of nirvana is ultimately stable and indestructible. 9) Vì chỉ bày tất cả pháp vô sanh vô khởi, mà có tướng tụ họp và tán hoại: To show that all things have no birth or origin, yet have the appearance of assemblage and dissolution. 10) Một khi chư Phật—Once the Buddhas: a. Thực hành xong Phật sự: Have finished their Buddha-work. b. Bổn nguyện đã mãn: Have fulfilled their vows. c. Đã chuyển xong pháp luân: Have turned the wheel of teaching. d. Người đáng được hóa độ, đều đã hóa độ xong: Have enlightened and liberated those who could be enlightened and liberated. e. Sự thọ ký đã thành, theo pháp phải như vậy nhập nơi bất biến đại niết bàn: Have made predictions of Buddhahood of the enlightening beings who become honored ones, as a matter of course they enter unchanging, great, ultimate nirvana.
mười nguyện thanh tịnh của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 18, có mười nguyện thanh tịnh của chư Bồ Tát—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 18, there are ten pure vows of Enlightening Beings. 1) Nguyện thành thục chúng sanh không mỏi nhàm: Vow to develop living beings to maturity, without wearying. 2) Nguyện làm đủ điều lành để nghiêm tịnh thế giới: Vow to fully practice all virtues and purify all worlds. 3) Nguyện thừa sự và tôn kính Như Lai: Vow to serve the enlightened, always engendering honor and respect. 4) Nguyện hộ trì chánh pháp, chẳng tiếc thân mạng: Vow to keep and protect the true teaching, not begrudging their lives. 5) Nguyện dùng trí quán sát vào các Phật độ: Vow to observe with wisdom and enter the lands of the Buddhas. 6) Nguyện cùng các Bồ Tát đồng một thể tánh: Vow to be of the same essence as all Enlightening Beings. 7) Nguyện vào cửa Như Lai và biết rõ các pháp: Vow to enter the door of realization of Thusness and comprehend all things. 8) Nguyện người thấy sanh tín tâm và được lợi lạc: Vow that those who see them will develop faith and all be benefited. 9) Nguyện thần lực trụ thế tận kiếp vị lai: Vow to stay in the world forever by spiritual power. 10) Nguyện đủ Phổ Hiền hạnh tu tập môn nhứt thiết chủng trí: Vow to fulfill the practice of Universal Good and master the knowledge of all particulars and all ways of liberation.
mười nguyện vô ngại dụng của chư đại bồ tát (kinh hoa nghiêm—phẩm 38)
Ten kinds of unimpeded function relating to vows (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). 1) Đem nguyện của tất cả Bồ Tát làm nguyện của mình: Make the vows of all Enlightening Beings their own vows. 2) Đem nguyện lực thành Bồ Đề của tất cả chư Phật, thị hiện tự mình thành chánh giác: Manifest themselves attaining enlightenment by the power of the vow of attaining of enlightenment of all Buddhas. 3) Tùy chúng sanh được hóa độ, tự mình thành vô thượng chánh đẳng chánh giác: Attain supreme perfect enlightenment themselves in accordance with the sentient beings they are teaching. 4) Đại nguyện chẳng dứt nơi tất cả vô biên tế kiếp: Never end their great vows, throughout all eons, without bounds. 5) Xa lìa thức thân, chẳng chấp trí thân, dùng nguyện tự tại hiện tất cả thân: Detaching from the body of discriminating consciousness and not clinging to the body of knowledge, they manifest all bodies by free will. 6) Xả bỏ thân mình để thành mãn nguyện của người: Give up their own bodies to fulfill the aspirations of others. 7) Giáo hóa khắp chúng sanh mà chẳng bỏ đại nguyện: Edify all sentient beings without giving up their great vows. 8) Ở tất cả các kiếp thực hành Bồ Tát hạnh mà đại nguyện chẳng dứt: Cultivate the deeds of Enlightening Beings in all ages, yet their great vows never end. 9) Nơi một lỗ lông hiện thành chánh giác, do nguyện lực nên đầy khắp tất cả Phật độ. Ở vô lượng thế giới vì mỗi chúng sanh mà thị hiện như vậy: Manifest the attainment of true enlightenment in a minute point (a pore), pervade all Buddha-landsby the power of vowing, and show this to each and every sentient beings in untold worlds. 10) Nói một câu pháp khắp tất cả pháp giới, nổi mây lớn chánh pháp, chói điển quang giải thoát, nổ tiếng sấm thiệt pháp, rưới mưa vị cam lồ, dùng nguyện lực lớn thấm nhuần khắp tất cả chúng sanh giới: Explain a phrase of teaching, throughout all universes, raising great clouds of true teaching, flashing the lightning of liberation, booming the thunder of truth, showering the rain of elixir of immortality, fulfilling all sentient beings by the power of great vows.
mười ngữ ngôn của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười ngữ ngôn của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được vi diệu ngữ vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of speech of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme subtle speech of Buddhas. 1) Nhu nhuyễn ngữ, vì làm cho tất cả chúng sanh đều an ổn: Gentle speech, causing all sentient beings to be calm. 2) Cam lồ ngữ, vì làm cho tất cả chúng sanh đều thanh lương: Sweet elixir speech, causing all sentient beings to be clear and cool. 3) Bất cuống ngữ, vì bao nhiêu lời nói đều chân thật: Nondeceptive speech, everything they say being true. 4) Chơn thiệt ngữ, vì nhẫn đến trong chiêm bao cũng không vọng ngữ: Truthful speech, not lying even in dreams. 5) Quảng đại ngữ, vì khắp tất cả chư thiên đều tôn kính: Great speech, being honored by all the gods. 6) Thậm thâm ngữ, vì hiển thị pháp tánh: Profound speech, revealing the essence of things. 7) Kiên cố ngữ, vì thuyết pháp vô tận: Steadfast speech, expounding truth inexhaustibly. 8) Chánh trực ngữ, vì phát ngôn dễ hiểu: Straightforward speech, their statements being easy to understand. 9) Chủng chủng ngữ, vì tùy thời thị hiện: Various speech, being spoken according to the occasion. 10) Khai ngộ tất cả chúng sanh ngữ, vì tùy theo chỗ dục lạc của họ mà làm cho họ hiểu rõ: Speech enlightening all sentient beings, enabling them to understand according to their inclinations.
mười nhân duyên khiến bồ tát phát tâm bồ đề
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười nhơn duyên phát tâm Bồ Đề của Đại Bồ Tát—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of causes of Great Enlightening Beings's development of the will for enlightenment. 1) Vì giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to educate and civilize all sentient beings. 2) Vì diệt trừ tất cả khổ cho chúng sanh mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to remove the mass of suffering of all sentient beings. 3) Vì ban cho tất cả chúng sanh sự an lạc mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to bring complete peace and happiness to all sentient beings. 4) Vì dứt sự ngu si của tất cả chúng sanh mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to eliminate the delusion of all sentient beings. 5) Vì ban Phật trí cho tất cả chúng sanh mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to bestow enlightened knowledge on all sentient beings. 6) Vì cung kính cúng dường tất cả chư Phật mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to honor and respect all Buddhas. 7) Vì thuận theo Phật giáo cho chư Phật hoan hỷ mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to follow the guidance of the Buddhas and please them. 8) Vì thấy sắc tướng hảo của tất cả chư Phật mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to see the marks and embellishments of the physical embodiments of all Buddhas. 9) Vì nhập trí huệ quảng đại của tất cả Phật mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to comprehend the vast knowledge and wisdom of all Buddhas. 10) Vì hiển hiện lực vô úy của tất cả chư Phật mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to manifest the powers and fearlessnesses of the Buddhas.
mười nhân duyên khiến chúng sanh phát tâm bồ đề
Nếu chúng ta không phát Bồ Đề tâm một cách cao rộng, và không phát nguyện một cách kiên cố, chúng ta sẽ mãi mãi lăn trôi trong vòng luân hồi sanh tử trong vô lượng kiếp. Cho dù chúng ta có chịu tu hành đi nữa, cũng chỉ là phí công vô ích. Vì vậy chúng ta nên luôn nhận rõ rằng tu theo Phật, là phải rộng phát tâm Bồ Đề ngay chứ không chần chừ. Theo Kinh A Di Đà, “Người thiểu thiện căn phước đức nhân duyên, không thể sanh về cõi nước Cực Lạc được.” Muốn được nhiều căn lành không chi hơn là phát tâm Bồ Đề; muốn được nhiều phước đức không chi hơn là trì danh hiệu Phật. Nhiếp tâm niệm Phật giây phút hơn bố thí nhiều năm, chân thật phát lòng Bồ Đề hơn tu hành nhiều kiếp. Giữ chắc hai nhân duyên nầy, quyết định được vãng sanh Cực Lạc. Trong “Phát Bồ Đề Tâm Văn,” Đại Sư Tỉnh Am đã khuyên tứ chúng nên nghĩ đến mười nhân duyên khiến chúng sanh phát tâm Bồ Đề như sau—If we do not develop the broad and lofty Bodhi Mind and do not make firm and strong vows, we will remain as we are now, in the wasteland of Birth and Death for countless eons to come. Even if we were to cultivate during that period of time, we would find it difficult to persevere and would only waste our efforts. Therefore, we should realize that in following Buddhism, we should definitely develop the Bodhi Mind without delay. According to The Amitabha Sutra, “You cannot hope to be reborn in the Pure Land with little merit and virtue and few causes and conditions or good roots. Therefore, you should have numerous merits and virtues as well as good roots to qualify for rebirth in the Pure Land. However, there is no better way to plant numerous good roots than to develop the Bodhi Mind, while the best way to achieve numerous merits and virtues is to recite the name of Amitabha Buddha. A moment of singleminded recitation surpasses years of praticing charity; truly developing the Bodhi Mind surpasses eons of cultivation. Holding firmly to these two causes and conditions assures rebirth in the Pure Land.” In the commentary of “Developing the Bodhi Mind,” Great Master Hsing-An encouraged the fourfold assembly to remember ten causes and conditions when developing the Bodhi Mind as follows: 1) Vì nghĩ đến ân Phật: Owing to our debt to the Buddha. 2) Vì công ân cha mẹ: Owing to our debt to the parents. 3) Vì nhớ ân sư trưởng: Owing to our debt to the teachers. 4) Vì tưởng ân tín thí đàn na: Owing to our debt to the benefactors. 5) Vì biết ân chúng sanh: Owing to our debt to other sentient beings. 6) Vì lo khổ sanh tử: Owing to our concerns about sufferings of Birth and Death. 7) Vì tôn trọng tánh linh: Owing to the respect for our Self-Nature. 8) Vì sám trừ nghiệp chướng: Owing to the repentance and elimination of evil karma. 9) Vì hộ trì Chánh Pháp: Owing to upholding the correct Dharma. 10) Vì cầu sanh Tịnh Độ: Owing to seeking rebirth in the Pure Land. ** For more information, please Tám Cách Phát Bồ Đề Tâm, and Mười Lý Do Phát Tâm Bồ Đề.
mười như thiệt trụ nơi vô thượng bồ đề
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười thứ như thiệt trụ nơi vô thượng Bồ Đề. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đại trí huệ bửu vô thượng của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of jewel-like state in unexcelled complete perfect enlightenment. Enlightening Beings who abide by these can attain the jewel of supreme great knowledge and wisdom of Buddhas. 1) Như thiệt trụ thứ nhất—The first jewel-like state: a. Chư Đại Bồ Tát đều có thể qua đến chỗ chư Phật nơi vô số thế giới: They go to the Buddhas in countless worlds. b. Chiêm ngưỡng chư Phật: Behold all Buddhas. c. Hầu hạ chư Phật: Pay obeisance to all Buddhas. d. Tôn vinh và cúng dường chư Phật: Serve and honor all Buddhas with offerings. 2) Như thiệt trụ thứ nhì—The second jewel-like state: a. Ở chỗ bất tư nghì của chư Phật lắng nghe chánh pháp: Listen to true teaching from inconceivably many Buddhas. b. Thọ trì ghi nhớ không để quên mất chánh pháp: Absorb and remember the true teaching. c. Phân biệt và tư duy chánh pháp: Analyze and ponder the true teaching. d. Tăng trưởng sự tỉnh giác và trí huệ: Increase in awareness and wisdom. e. Thực hành chánh pháp khắp mọi nơi: Carry out the true teaching everywhere. 3) Như thiệt trụ thứ ba—The third jewel-like state: Mất nơi cõi nầy mà hiện sanh nơi cõi khác, mà với Phật pháp không mê lầm—Disappear from this land and appear to be born elsewhere, yet have no confusion about the Buddha teaching. 4) Như thiệt trụ thứ tư—The fourth jewel-like state: a. Biết từ một pháp xuất sanh tất cả pháp bởi những nghĩa của tất cả pháp rốt ráo đều là một nghĩa: Know how to elicit all principles from one principle, for the various meanings of all principles are ultimately all one meaning. b. Có khả năng riêng biệt diễn thuyết từng pháp một: Be able to analyze and explain each of the principles. 5) Như thiệt trụ thứ năm—The fifth jewel-like state: a. Biết nhàm lìa phiền não: Know how to reject afflictions. b. Biết ngăn dứt phiền não: Know how to stop afflictions. c. Biết phòng hộ phiền não: Know how to prevent afflictions. d. Biết đoạn trừ phiền não: Know how to exterpate afflictions. e. Tu hạnh Bồ Tát: Cultivate the practices of Enlightening Beings. f. Chẳng chứng pháp tuyệt đối, nhưng rốt ráo đáo bỉ ngạn: Do not experience absolute truth but ultimately arrive at the further shore of ultimate truth. g. Với phương tiện thiện xảo chư Bồ Tát học giỏi những cái cần học: With expedient skill they learn well what is to be learned. h. Làm cho hạnh nguyện xưa đều được thành mãn: Cause their past vows to reach fulfillment. i. Thân chẳng mỏi nhọc: Without physical fatigue. 6) Như thiệt trụ thứ sáu—The sixth jewel-like state: a. Dầu biết rằng những tâm phân biệt của chư Bồ Tát đều không có xứ sở, mà vẫn nói có những phương xứ để làm thêm phương tiện cứu độ chúng sanh: Know that all objects of mental discriminations of Enlightening Beings have no locations, yet they still say there are various locations to make more means to save sentient beings. b. Dầu không phân biệt, không tạo tác, nhưng vì muốn điều phục tất cả chúng sanh, nên có tu hành có sở tác: Though they have no discrimination and do not create anything, yet because they want to tame all sentient beings, they do cultivate practices and do act. 7) Như thiệt trụ thứ bảy—The seventh jewel-like state: a. Biết tất cả tánh đều đồng một tánh, nghĩa là—Know all things are of one and the same essence, which is: • Vô tánh: No essence. • Không các thứ tánh: No variety. • Không vô lượng tánh: No infinity. • Không khả toán sổ tánh: No calculability. • Không khả xứng lượng tánh: No measurability. • Không sắc: No form. • Không tướng: No characteristics. • Hoặc một hoặc nhiều đều bất khả đắc: Whether one or many, all are ungraspable. b. Quyết định những điều trên đây là—Know for certain all of the above are the norms of: • Đây là Phật pháp: Buddhas' teachings. • Đây là Bồ Tát pháp: Enlightening beings'. • Đây là Độc giác pháp: Individual illuminates'. • Đây là Thanh văn pháp: Hearers'. • Đây là phàm phu pháp: Ordinary people's. • Đây là thiện pháp: What things are good. • Đây là bất thiện pháp: What things are not good. • Đây là thế gian pháp: What is mundane. • Đây là xuất thế gian pháp: What is supramundane. • Đây là pháp lỗi lầm: What is error. • Đây là pháp không lỗi lầm: What is without error. • Đây là pháp hữu lậu: What is contaminated. • Đây là pháp vô lậu: What is uncontaminated. • Đây là pháp hữu vi: What is compounded. • Đây là pháp vô vi: What is uncompounded. 8) Như thiệt trụ thứ tám—The eighth jewel-like state: (A) Chư Đại Bồ Tát thấy rằng—Great enlightening beings find that: a. Cầu Phật bất khả đắc: The Buddhas cannot be grasped. b. Cầu Bồ Tát bất khả đắc: Enlightening Beings cannot be grasped. c. Cầu pháp bất khả đắc: Phenomena cannot be grasped. d. Cầu chúng sanh bất khả đắc: Sentient beings cannot be grasped. (B) Dầu vậy chư Đại Bồ Tát vẫn không—Great Enlightening Beings do not: a. Chẳng bỏ nguyện điều phục chúng sanh: Give up the vow to tame sentient beings. b. Khiến cho chúng sanh nơi các pháp mà đạt thành chánh giác: Enable sentient beings to attain true enlightenment. (C) Tại sao?—Why? a. Vì chư Đại Bồ Tát khéo quán sát: Great enlightening beings are skillful observers. b. Biết tất cả chúng sanh tâm tánh phân biệt: Know the mentalities of all sentient beings. c. Biết tất cả cảnh giới của chúng sanh: Know the perspective of all sentient beings. d. Tùy phương tiện hóa đạo khiến chúng sanh đạt được Niết bàn: Guide sentient beings accordingly, so that they can attain nirvana. (D) Hoàn mãn nguyện giáo hóa chúng sanh bằng cách mạnh mẽ tu hành Bồ Tát hạnh: They practice the deeds of Enlightening Beings zealously in order to fulfill their vow to enlighten sentient beings. 9) Như thiệt trụ thứ chín—The ninth jewel-like state: (A) Chư Đại Bồ Tát biết thiện xảo thuyết pháp, thị hiện niết bàn. Vì độ chúng sanh nên bao nhiêu phương tiện đã có, tất cả đều là tâm tưởng kiến lập, chẳng phải điên đảo, cũng chẳng hư dối: Great Enlightening Beings know that tactful instructions, manifestation of nirvana, and all means of liberating sentient beings are construed by mind and thought, and are not aberrant or false. (B) Bồ Tát biết rõ các pháp tam thế bình đẳng, như như bất động vô trụ: Enlightening Beings realize that all things are equal in all times, they do not move from Thusness, yet do not abide in ultimate truth. (C) Chư Bồ Tát chẳng thấy có một chúng sanh đã được hóa độ, sẽ được hóa độ hay nay được hóa độ: Enlightening Beings do not see there are any sentient being who ever have received, will receive or do receive teaching. (D) Chư Bồ Tát biết rõ—Enlightening Beings know: a. Không chỗ tu hành nơi chính họ: Themselves have nothing to practice. b. Không có chút pháp gì hoặc sanh hoặc diệt mà có thể được: There being nothing at all born or persihing that can be grasped. c. Như vẫn nương nơi tất cả pháp khiến sở nguyện chẳng luống không: They still cause their vows not to be in vain by means of all things. 10) Như thiệt trụ thứ mười—The tenth jewel-like state: (A) Chư Đại Bồ Tát nơi bất khả tư nghì vô lượng chư Phật, ở chỗ mỗi Đức Phật nghe vô lượng thọ ký danh hiệu đều khác, kiếp số chẳng đồng: Great Enlightening Beings hear from countless Buddhas predictions of future Buddhas, each with different names, living in different ages. (B) Từ một kiếp nhẫn đến vô lượng kiếp, chư Bồ Tát thường nghe như vậy, nghe rồi tu hành chẳng kinh chẳng sợ, chẳng mê chẳng hoặc vì—They listen to this for untold eons and, having heard, cultivate practice, not startled or frightened, not lost or confused because: a. Biết Phật trí bất khả tư nghì: Enlightening Beings know the knowledge of Buddhas is inconceivable. b. Như Lai thọ ký không hai lời: The predictions of the Buddhas have no ambiguity in their words. c. Tự thân hạnh nguyện sức thù thắng: The extraordinary power of their own active commitment. d. Tùy nghi thọ hóa khiến vô thượng Bồ Đề thành mãn tất cả nguyện đồng pháp giới: Foster perfect enlightenment in all who are capable of being taught, fulfilling all their vows, equal in extent to the cosmos.
Mười nhất thiết nhập
(Thập nhất thiết nhập), cũng gọi là Mười pháp nhất thiết xứ, Thập nhất thiết xứ hay Thập biến xứ, chỉ cảnh giới của hành giả khi tư tưởng có thể biến hiện khắp mọi cảnh giới. Nếu kể chi tiết thì bao gồm Địa nhất thiết nhập xứ, Thủy nhất thiết nhập xứ, Hỏa nhất thiết nhập xứ, Phong nhất thiết nhập xứ, Thanh nhất thiết nhập xứ, Hoàng nhất thiết nhập xứ, Xích nhất thiết nhập xứ, Bạch nhất thiết nhập xứ, Không nhất thiết nhập xứ và Thức nhất thiết nhập xứ. Tuy nhiên, nói khái quát thì có thể hiểu là do một tư tưởng có thể biến hiện khắp nơi, không phân biệt phương hướng nên gọi là nhất thiết nhập xứ.
mười nhất thiết trí mà chư phật hằng truï
Mười điều trụ nơi nhứt thiết trí của chư Phật (Kinh Hoa nghiêm—Phẩm 38)—Ten stations of omniscience of all Buddhas (The Flower Adornment Sutra—Chpater 38). 1) Chư Phật ở trong một niệm đều biết tâm tất cả chúng sanh và tâm sở hành trong tam thế: All Buddhas instantly know the minds and mental patterns of all sentient beings of past, present and future. 2) Chư Phật ở trong một niệm đều biết tam thế tất cả chúng sanh chứa nhóm các nghiệp và nghiệp báo: All Buddha instantly know the acts and the resulting consequences of those acts amassed by all sentient beings in the past, present and future. 3) Chư Phật trong một niệm đều biết tất cả chúng sanh tùy sở nghi mà dùng tam luân giáo hóa điều phục: All Buddhas instantly know the needs of all sentient beings and teach and civilize them by means of correct diagnosis, prescription, and occult influence. 4) Điều trụ nơi nhứt thiết trí thứ tư—The fourth station of omniscience: a. Chư Phật ở trong một niệm biết hết pháp giới tất cả chúng sanh chỗ có tâm tướng: All Buddhas instantly know the mental characteristics of all sentient beings in the cosmos. b. Ở tất cả xứ khắp hiện Phật xuất thế: Manifest the emergence of Buddhas in all places. c. Khiến những chúng sanh nầy đều được phương tiện nhiếp thọ: Take those beings into their care by expedient means. 5) Chư Phật ở trong một niệm tùy khắp tâm nhạo dục giải của tất cả chúng sanh trong pháp giới mà thị hiện thuyết pháp cho họ được điều phục: All Buddhas instantly manifest expositions of teaching according to the mental inclinations, desires, and understanding of all sentient beings in the cosmos, causing them to become civilized. 6) Chư Phật ở trong một niệm đều biết tâm sở thích của tất cả chúng sanh trong pháp giới mà vì đó hiện thần lực: All Buddhas instantly know the inclinations of the minds of all sentient beings in the cosmos and manifest spiritual powers for them. 7) Chư Phật ở trong một niệm khắp tất cả chỗ tùy theo tất cả chúng sanh đáng được hóa độ mà thị hiện xuất thế, vì họ mà nói thân Phật chẳng nên thủ trước: All Buddhas instantly manifest appearance in all places according to all the sentient beings who may be taught, and explain to them that the embodiment of Buddha is not graspable. 8) Chư Phật ở trong một niệm đến khắp pháp giới tất cả chỗ, tất cả chúng sanh, tất cả lục đạo: All Buddhas instantly reach all places in the cosmos, all sentient beings, and their particular paths. 9) Chư Phật ở trong một niệm tùy các chúng sanh có ai nhớ tưởng, không chỗ nào mà chư Phật không đến: All Buddhas instantly go in response to any beings who think of them, wherever they may be. 10) Chư Phật ở trong một niệm đều biết chỗ hiểu và ý muốn của tất cả chúng sanh, và vì họ mà thị hiện vô lượng sắc thân: All Buddhas know the understanding and desires of all sentient beings and manifest immeasurable physical forms for their benefit.
mười niệm niệm xuất sanh trí của chư phật
Mười thứ niệm niệm xuất sanh trí của chư Phật (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 33)—Ten kinds of instantly creative knowledge of the Buddhas (The Flower Adornment Sutra—Chpater 33). 1) Trong một niệm, tất cả chư Phật hay thị hiện vô lượng thế giới, từ cõi trời giáng xuống: All Buddhas ca, in a single instant, appear to descend from heaven in infinite worlds. 2) Trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, Bồ Tát thọ sanh: All Buddhas can, in a single instant, manifest birth as Enlightening Beings in infinite worlds. 3) Tất cả chư Phật hay thị hiện vô lượng thế giới, xuất gia học đạo: Manifest renunciation of the mundane and study of the way to liberation in infinite worlds. 4) Tất cả chư Phật hay thị hiện vô lượng thế giới, dưới cội Bồ Đề thành Chánh Đẳng Chánh Giác: Manifest attainment of true enlightenment under enlightenment trees in infinite worlds. 5) Tất cả chư Phật hay thị hiện vô lượng thế giới chuyển diệu pháp luân: Manifest turning the wheel of the Teaching in infinite worlds. 6) Tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, giáo hóa chúng sanh, cúng dường chư Phật: Manifest education of sentient beings and service of the enlightened in infinite worlds. 7) Tất cả chư Phật trong một niệm, đều hay thị hiện vô lượng thế giới, bất khả thuyết nhiều loại thân Phật: All Buddhas, in a single instant, manifest untold variety of Buddha-bodies in infinite worlds. 8) Tất cả chư Phật, trong một niệm, thị hiện vô lượng thế giới, nhiều thứ trang nghiêm, vô số trang nghiêm, tất cả trí tạng tự tại của Như Lai: All Buddhas can, in a single instant, manifest all kinds of adornments in infinite worlds, innumerable adornments, the freedom of the enlightened, and the treasury of omniscience. 9) Tất cả chư Phật, trong một niệm, đều thị hiện vô lượng thế giới, vô lượng vô số chúng sanh thanh tịnh: All Buddhas can, in a single instant, manifest countless of pure beings in infinite worlds. 10) Trong một niệm, tất cả chư Phật—All Buddhas can, in a single instant: a. Đều hay thị hiện vô lượng tam thế chư Phật: Manifest the Buddhas of past, present and future in infinite worlds. b. Nhiều loại căn tánh: With various faculties and characters. c. Nhiều cách tinh tấn: Various energies. d. Nhiều thứ hạnh giải: Various practical understandings. e. Ở trong tam thế thành Chánh Đẳng Chánh Giác: Attaining true enlightenment in the past, present and future.
mười niệm vãng sanh
Khi lâm chung mà còn tự tại niệm được mười niệm thành tựu, tức là được vãng sanh—At the time of death, one will achieve rebirth in the Pure Land with only ten perfect utterances.
mười pháp biến hóa của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười pháp biến hóa của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đầy đủ tất cả các pháp biến hóa vô thượng—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of magical displays of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can acquire all means of supreme magical displays. 1) Tất cả chúng sanh biến hóa: Magical display of all sentient beings. 2) Tất cả thân biến hóa: Magical display of all bodies. 3) Khắp các cõi biến hóa: Magical display of all lands. 4) Tất cả cúng dường biến hóa: Magical display of gifts. 5) Tất cả âm thanh biến hóa: Magical display of all voices. 6) Tất cả hạnh nguyện biến hóa: Magical display of all practical undertakings. 7) Tất cả giáo hóa và điều phục chúng sanh biến hóa: Magical display of education and civilization of sentient beings. 8) Tất cả thành chánh giác biến hóa: Magical display of all attainment of true enlightenment. 9) Tất cả thuyết chân pháp biến hóa: Magical display of explanation of all truth. 10) Tất cả gia trì biến hóa: Magical display of all empowerments.
mười pháp biết tam thế của chư bồ tát
Mười pháp biết tam thế của chư Bồ Tát được Phật giảng trong Kinh Hoa Nghiêm (Phẩm 38—Ly Thế Gian)—Enlightening beings know all things in all times—Chư Bồ Tát biết tất cả những pháp trong tam thế—Ten ways of knowing the worlds of past, present and future of all Enlightening Beings mentioned by the Buddha in The Flower Adornment Sutra (Chapter 38—Detachment from The World): 1) Biết những an lập: They know their definitions. 2) Biết những ngôn ngữ: They know their speech. 3) Biết những luận nghị: They know their deliberations. 4) Biết những quy tắc: They know their rules. 5) Biết những xưng tán: They know their appellations. 6) Biết những chế lịnh: They know their orders. 7) Biết những giả danh: They know their provisional names. 8) Biết kia vô tận: They know their endlessness. 9) Biết kia tịch diệt: They know their quiescence. 10) : Biết tất cả là “không.”—They know their total emptiness.
Mười pháp bất thiện
xem Mười điều ác.
mười pháp chư đại bồ tát đạt được khi trụ vào vô ngại luân tam muội
Mười pháp mà chư Bồ Tát đạt được khi trụ vào Vô Ngại luân Tam muội. Đại Bồ Tát trụ trong tam muội nầy thời được mười pháp đồng tam thế chư Phật—Ten things that Enlightening Beings attain when they abide in the Unimpeded wheel concentration (The Flower Adornment Sutra—Chapter 27). Great enlightening beings in this concentration attain ten things that are the same as in all Buddhas, past, present and future. 1) Được tướng hảo trang nghiêm đồng với chư Phật: They acquire the same variegated arrays of marks and refinements as all Buddhas. 2) Phóng đại quang minh thanh tịnh đồng với chư Phật: They are able to emanate networks of pure light, the same as all Buddhas. 3) Thần thông biến hóa điều phục chúng sanh đồng với chư Phật: They perform miracles and displays of spiritual power to attune and pacify sentient beings, the samw as all Buddhas. 4) Sắc thân vô biên, thanh âm thanh tịnh đồng với chư Phật: Their boundless physical bodies and universal voices are the same as those of all Buddhas. 5) Tùy chúng sanh nghiệp mà hiện tịnh cõi Phật đồng với chư Phật: They manifest pure Buddha-lands according to the action of sentient beings, the same as all Buddhas. 6) Bao nhiêu ngôn ngữ của tất cả chúng sanh đều có thể nhiếp trì chẳng quên chẳng mất đồng với chư Phật: They are able to remember the speech of all sentient beings. 7) Biện tài vô tận tùy tâm chúng sanh mà chuyển pháp luân cho họ sanh trí huệ đồng với chư Phật: With inexhaustible intellectual powers they teach in accord with the mentalities of sentient beings, developing wisdom in them, the same as all Buddhas. 8) Đại sư tử hống không khiếp sợ, dùng vô lượng pháp khai ngộ chúng sanh đồng với chư Phật: Their lion's roar is fearless as they enlighten living beings by innumerable teachings, the same as all Buddhas. 9) Trong khoảng một niệm dùng đại thần thông vào khắp tam thế đồng với chư Phật: By great spiritual power they enter past, present and future in a single instant, the same as all Buddhas. 10) Khắp khai thị cho tất cả chúng sanh chư Phật trang nghiêm, chư Phật oai lực, chư Phật cảnh giới, đồng với chư Phật: They are able to show all sentient beings the adornment of all Buddhas, the powers of all Buddhas, and the states of all Buddhas, the same as all Buddhas.
mười pháp chẳng bỏ tâm thâm đại của chư bồ tát (kinh hoa nghiêm—phẩm 38—ly thế gian)
Ten kinds of profound great determinations that enlightening beings do not abandon (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38—Detachment from the World)—Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời chẳng bỏ tất cả Phật pháp—Enlightening Beings who abide by these will be able not to abandon all principles of Buddhahood. 1) Chẳng bỏ tâm thâm-đại thành tựu viên mãn tất cả Phật Bồ Đề: They do not abandon the profound great determination to fullfil the enlightenment that all Buddhas realize. 2) Chẳng bỏ tâm thâm-đại giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh: To edify and civilize all sentient beings. 3) Chẳng bỏ tâm thâm-đại chẳng dứt chủng tánh của Phật: To perpetuate the lineage of Buddhas. 4) Chẳng bỏ tâm thâm-đại gần gủi tất cả thiện tri thức: To associate with all good spiritual friends. 5) Chẳng bỏ tâm thâm-đại cúng dường tất cả chư Phật: To honor and service all Buddhas. 6) Chẳng bỏ tâm thâm-đại chuyên cầu tất cả pháp công đức đại thừa: To wholeheartedly seek all the virtuous qualities of the Great Vehicle of universal salvation. 7) Chẳng bỏ tâm thâm-đại ở chỗ chư Phật tu phạm hạnh, hộ trì tịnh giới: To cultivate religious practice in the company of all Buddhas and maintain pure conduct. 8) Chẳng bỏ tâm thâm-đại thân cận tất cả Bồ Tát: To associate with all enlightening beings. 9) Chẳng bỏ tâm thâm đại cầu tất cả Phật pháp phương tiện hộ trì: To seek the means of applying and preserving all Buddha teachings. 10) Chẳng bỏ tâm thâm-đại thành nguyện tất cả Bồ Tát hạnh nguyện, chứa nhóm tất cả Phật pháp: To fulfill all practices and vows of Enlightening Beings and develop all qualities of Buddhahood.
mười pháp của chư đại bồ tát
Ten kinds of laws of Great Enlightening Beings. (A) Mười pháp (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 36). Chư Đại Bồ Tát muốn mau đầy đủ hạnh Bồ Tát phải siêng tu mười pháp nầy—Ten principles (The Flower Adornment Sutra—Chpater 36). Great Enlightening Beings who want to quickly fulfill the pactices of enlightening beings shold diligently practice these ten principles. 1) Tâm chẳng xa bỏ tất cả chúng sanh: In their mind they should not abandon sentient beings. 2) Đối với chư Bồ Tát phải xem như Phật: They should think of Enlightening Beings as Buddhas. 3) Trọn chẳng hủy báng Phật pháp: They should never slander any teachings of the Buddhas. 4) Biết các quốc độ không cùng tận: They should know that there is no end to different lands. 5) Rất có lòng tin mến nơi Bồ Tát hạnh: They should be profoundly devoted to enlightening practices. 6) Chẳng bỏ tâm bình đẳng hư không pháp giới Bồ Đề: They should not give up the cosmic, spacelike, impartial mind of enlightenment. 7) Quán sát Bồ Đề nhập Như Lai: They should contemplate enlightenment and enter the power of Buddhas. 8) Siêng năng tu tập vô ngại biện tài: They should cultivate unobstructed intellectual and expository powers. 9) Giáo hóa chúng sanh không nhàm mỏi: They should teach unenlightened beings tirelessly. 10) Trụ nơi tất cả thế giới mà tâm không nhiễm trước: They should live in all worlds without attachment in their minds. (B) Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười pháp của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong mười pháp nầy thời được pháp quảng đại vô thượng của Đức Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of law of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these ten laws can attain the supremely great law of Buddhas. 1) Chơn thiệt pháp, vì như thuyết tu hành: The law of truth, practicing what they teach. 2) Pháp thứ hai, ly thủ pháp—The second law of detachment from clinging: a. Lìa năng thủ: Detaching from the clinger. b. Lìa sở thủ: Detaching from that which is clung to. 3) Vô tránh pháp, vì không mê lầm gây gỗ: The law of noncontention, being free from all confusing conflicts. 4) Tịch diệt pháp, vì trừ diệt tất cả nhiệt não: The law of silent extinction, extinguishing all irritations. 5) Ly dục pháp, vì tất cả tham dục đều dứt trừ: The law of dispassion, all covetousness being ended. 6) Vô phân biệt pháp, vì dứt hẳn phan duyên phân biệt: The law of freedom from false notions, all arbitrary conceptualization clinging to objects permanently ceasing. 7) Vô sanh pháp, vì dường như hư không bất động: The law of birthlessness, being immovable as space. 8) Vô vi pháp, vì lìa những tướng sanh trụ diệt: The law of uncreated, being detached from appearances of origin, subsistence, and anihilation. 9) Bổn tánh pháp, vì tự tánh vô nhiễm thanh tịnh: The law of basic essence, being inherently pure. 10) Xả bỏ tất cả Niết bàn hữu dư, vì hay sanh tất cả Bồ Tát hạnh tu tập chẳng dứt: The law of abandoning all nirvana in which there is still suffering, to be able to generate all practices of Enlightening Beings and carry them uninterruptedly. (C) Đại Bồ Tát nói mười pháp (Kinh Hoa nghiêm—Phẩm 38). Chư Đại Bồ Tát an trụ trong những pháp nầy thời được pháp xảo thuyết vô thượng của Như Lai—Ten kinds of teaching expounded by Great Enlightening Beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). Enlightening Beings who abide by these can accomplish the supremely skillful preaching of the Buddhas. 1) Nói pháp thậm thâm: The teaching of profundity. 2) Nói pháp quảng đại: The teaching of enormity. 3) Nói các loại pháp: The teaching of variegation. 4) Nói pháp nhứt thiết trí: The teaching of omniscience. 5) Nói pháp tùy thuận Ba La Mật: The teaching of following the ways of transcendence. 6) Nói pháp xuất sanh Như Lai lực: The teaching of generating the powers of the enlightened. 7) Nói pháp tam thế tương ưng: The teaching of the interrelation of past, present and future. 8) Nói pháp làm cho Bồ Tát chẳng thối chuyển: The teaching of causing enlightening beings not to be regress. 9) Nói pháp tán thán công đức Phật: The teaching of praising the virtues of Buddhas. 10) Nói pháp tất cả Bồ Tát học tất cả những khoa học của chư Bồ Tát: The teaching of the sciences of all Enlightening Beings.
Mười pháp lành
xem Mười điều lành.
Mười pháp nhất thiết xứ
xem Mười nhất thiết nhập.
mười pháp đại hoan hỷ và an ủi của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười pháp đại hoan hỷ và an ủi của chư đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được trí huệ đại hoan hỷ và an ủi vô thượng chánh đẳng chánh giác—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of great joy and solace of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain unexcelled great joy and solace of the knowledge and wisdom of true enlightenment. 1) Tột đời vị lai có bao nhiêu chư Phật xuất thế đều được theo gần hầu hạ làm cho chư Phật hoan hỷ; suy nghĩ như vậy tâm rất hân ủy: Determined to follow, serve, and please all Buddhas that emerge in the world throughout the futue; thinking of this, they become very happy. 2) Đem đồ cúng dường vô thượng mà cung kính dâng lên chư Phật: Determined to honor those Buddhas with the best offerings. 3) Ở chỗ chư Phật, lúc cúng dường chư Như Lai đó tất dạy chánh pháp cho tôi, tôi đều dùng thâm tâm cung kính nghe nhận, tu hành đúng theo lời Phật dạy, nơi bực Bồ Tát tất được đã sanh, nay sanh, sẽ sanh. Suy nghĩ như vậy tâm rất hân ủy: Determined to make offerings to those Buddhas, they will surely teach me, and I will faithfully listen with respect and practice according to the teaching, and will surely always be born in the state of Enlightening Beings, and thinking this, they become very happy. 4) Nơi bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp thực hành Bồ Tát hạnh, thường cùng tất cả chư Phật Bồ Tát ở chung: Determined to carry out the practices of Enlightening Beings for untold eons and always be with the enlightening beings and Buddhas. 5) Thuở chưa phát tâm Bồ Đề, có những nỗi lo sợ, sợ chẳng sống, sợ tiếng xấu, sợ chết, sợ đọa vào ác đạo, sợ oai đức của đại chúng, vân vân. Từ khi một phen phát tâm thời đều xa lìa chẳng còn kinh sợ. Tất cả chúng ma và các ngoại đạo không phá hoại được: The fears I had in the past before I set my heart on supreme enlightenment, fear of not being able to live, fear of bad reputation, fear of death, fear of falling into miserable conditions, fear of the authority of the crowd, and so on, have all gone since I set my mind on enlightenment, so that I no longer fear, am not afraid, cannot be intimidated, and cannot be hurt by any demons or cultists. 6) Làm cho Tất cả chúng sanh thành vô thượng Bồ Đề. Thành Bồ Đề rồi, tôi sẽ từ nơi đức Phật đó tu hạnh Bồ Tát, trọn đời dùng lòng tin lớn sắm sửa những đồ đáng cúng dường chư Phật để dâng cúng. Sau khi chư Phật nhập diệt, tôi đều dựng vô lượng tháp để cúng dường xá lợi và thọ trì thủ hộ pháp của Phật để lại: Determined to enable all sentient beings to attain supreme enlightenment; after they attain enlightenment, I shall cultivate the practices of Enlightening Beings in the company with those Buddhas for as long as they live, faithfully provide them with offerings appropriate to Buddhas, and after they pass away, set up innumerable monuments to each of them, honor their relics, and preserve the teachings they leave. 7) Dùng đồ vô thượng trang nghiêm để trang nghiêm mười phương thế giới, làm cho đầy đủ các thứ kỳ diệu bình đẳng thanh tịnh. Lại dùng những sức đại thần thông trụ trì chấn động quang minh chói sáng cùng khắp tất cả: I shall array all words with the finest adornments, filling them with all kinds of marvels, equally pure. I also cause all kinds of spiritual powers, sustaining forces, tremors, and shining lights to pervade them all. 8) Tôi phải dứt nghi hoặc cho tất cả chúng sanh, làm sạch tất cả dục lạc của chúng sanh, mở tâm ý, và diệt phiền não cho tất cả chúng sanh, đóng cửa ác đạo và mở cửa thiện đạo cho tất cả chúng sanh, phá hắc ám và ban quang minh cho tất cả chúng sanh, khiến cho tất cả chúng sanh rời ma nghiệp mà đi đến chỗ an ổn: I shall put an end to all doubts and confusions of all sentient beings, purify all sentient beings' desires, open up all sentient beings' minds, annihilate all sentient beings' afflictions, close the doors of the states of misery for all sentient beings, open the doors of the states of felicity for all sentient beings, break throught the drakness of all sentient beings, give lights to all sentient beings, cause all sentient beings to get free from the action of demons, and cause all sentient beings to reach the abode of peace. 9) Chư Phật như hoa ưu đàm hiếm và khó gặp, trong vô lượng kiếp chẳng được thấy một lần, tôi phải ở đời vị lai muốn thấy Như Lai thời bèn được thấy. Chư Như Lai thường chẳng bỏ tôi, mà hằng ở chỗ cho tôi được thấy, thuyết pháp cho tôi không dứt mất, đã nghe pháp rồi tâm ý tôi thanh tịnh, xa rời xiểm khúc, chất trực không hư ngụy, trong mỗi niệm thường thấy chư Phật: The Buddhas are as rare and difficult to meet as the udumbara flower, which one can hardly get to see once in countless ages. In the future, when I want to see a Buddha, I will immediately be able to do so; the Buddha will never abandon me, but will always be with me, allow me to see them, and constantly expound the teaching to me. After I have heard the teaching, my mind will be purified, free from deviousness, straightforward, and free from falsehood, and I will always see the Buddhas in each moment of thought. 10) Tôi thuở vị lai sẽ được thành Phật, do thần lực của Phật nơi tất cả thế giới vì tất cả chúng sanh đều riêng thị hiện thành chánh đẳng chánh giác, thanh tịnh vô úy, đại sư tử hống, do bổn đại nguyện cùng khắp pháp giới, đánh đại pháp cổ, mưa đại pháp vũ, làm đại pháp thí. Trong vô lượng kiếp thường diễn chánh pháp, đại bi nhiếp trì, thân ngữ ý ba nghiệp không nhàm mỏi: I shall attain Buddhahood and by the spiritual power of the enlightened will show the attainment of enlightenment individually to all sentient beings in all worlds, pure and fearless, roaring the great lion's roar, pervading the cosmos with my original universal undertaking, beating the drum of truth, showering the rain of truth, performing the giving of true teaching, perpetually expounding the truth with physical, verbal and mental action, sustained by great compassion, untiring.
mười pháp ấn (kinh hoa nghiêm—phẩm 27)
Ten kinds of truth seal (The Flower Adornment Sutra—Chapter 27). 1) Đồng thiện căn bình đẳng với tam thế chư Phật: Having the same roots of goodness equal in all Buddhas of past, present and future. 2) Đồng được trí huệ pháp thân vô biên tế với chư Phật: Attaining the reality body with boundless knowledge, same as all Buddhas. 3) Đồng chư Như Lai trụ pháp bất nhị: Abiding in nonduality, same as the Buddhas do. 4) Đồng chư Như Lai quán sát tam thế vô lượng cảnh giới thảy đều bình đẳng: Seeing the infinite objects of all times as all equal, same as the Buddhas do. 5) Đồng chư Như Lai liễu đạt pháp giới vô ngại cảnh giới: Gaining comprehension of the unobstructed realm of the cosmos of reality, same as that of the Buddhas. 6) Đồng chư Như Lai thành tựu thập lực thực hành vô ngại: Achieving the ten powers, same as the Buddhas, being unhindered in function. 7) Đồng chư Như Lai tuyệt hẳn hai hạnh, trụ pháp vô tránh: Having forever cut off opinions and passions, dwelling in the state of freedom from conflict, same as the Buddhas. 8) Đồng chư Như Lai giáo hóa chúng sanh hằng chẳng thôi nghỉ: Ceaselessly teaching sentient beings, same as the Buddhas do. 9) Đồng chư Như Lai ở trong trí thiện xảo, nghĩa thiện xảo hay khéo quán sát: Having ability to observe adaptive skill in knowledge and meaning, same as the Buddhas. 10) Đồng chư Như Lai cùng với tất cả Phật bình đẳng không hai: Being equal to all Buddhas, same as all Enlightened Ones.
mười phương
(thập phương): bao gồm các phương đông, tây, nam, bắc, đông bắc, tây bắc, đông nam, tây nam, cùng với phương trên (thượng phương) và phương dưới (hạ phương).
mười phương chư phật
Buddhas of the ten directions.
Mười sáu hạnh
(Thập lục hạnh): còn có các tên gọi khác như Thập lục hạnh quán (十六行觀), Thập lục hạnh tướng quán (十六行相觀), Thập lục thánh hạnh (十六聖行), Thập lục đế (十六諦), Tứ đế thập lục hạnh tướng (四諦十六行相). Hành giả khi tu tập quán xét Tứ đế thấy được mỗi chân đế đều có bốn hình tướng khác nhau, tổng cộng là 16 tướng. Nhờ quán xét rốt ráo 16 tướng này mà dứt trừ được mọi mối mê lầm, đạt được giải thoát. Cụ thể, theo Câu-xá luận quyển 26 thì Khổ đế có 4 tướng: một là vô thường (anitya), hai là khổ (duḥkha), ba là không (nya), bốn là vô ngã (antman); Tập đế có 4 tướng: một là nhân (hetu), hai là tập (samudaya), ba là sanh (prabhava), bốn là duyên (pratyaya); Diệt đế có 4 tướng: một là diệt (nirodha), hai là tĩnh (nta), ba là diệu (pranỵta), bốn là ly (niḥsaraṇa); Đạo đế có 4 tướng: một là đạo (mrga), hai là như (nyya), ba là hạnh (pratipad), bốn là xuất (nairyṇika).
Mười sáu tâm
(Thập lục tâm): Người mới vào địa vị Kiến đạo, nhờ quán Tứ Thánh đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) mà sanh ra mười sáu tâm, hợp thành bởi tám pháp nhẫn vô lậu và tám pháp trí vô lậu: 1. Khổ pháp nhẫn, 2. Khổ pháp trí, 3. Khổ loại nhẫn, 4. Khổ loại trí, 5. Tập pháp nhẫn, 6. Tập pháp trí, 7. Tập loại nhẫn, 8. Tập loại trí, 9. Diệt pháp nhẫn, 10. Diệt pháp trí, 11. Diệt loại nhẫn, 12. Diệt loại trí, 13. Đạo pháp nhẫn, 14. Đạo pháp trí, 15. Đạo loại nhẫn, 16. Đạo loại trí.
Mười sắc nhập
(Thập sắc nhập): bao gồm nhãn nhập, nhĩ nhập, tỉ nhập, thiệt nhập, thân nhập, sắc nhập, thanh nhập, hương nhập, vị nhập và xúc nhập. Nói một cách khái quát là các phạm vi thiệp nhập giữa năm căn và năm trần, không bao gồm ý căn và pháp trần vì các pháp này thuộc về danh, không thuộc về sắc. Xem thêm ấm, nhập, giới.
Mười sức (của Phật)
(Thập lực), cũng gọi là Mười trí lực (Thập trí lực) bao gồm: 1. Tri thị xứ phi xứ trí lực: Biết rõ tính khả thi và tính bất khả thi trong mọi trường hợp; 2. Tri tam thế nghiệp báo trí lực hay Nghiệp dị thục trí lực (業異熟智力): Biết rõ luật nhân quả, quả báo, tức là nghiệp nào tạo quả nào; 3. Tri nhất thiết sở đạo trí lực: Biết rõ nguyên nhân nào dẫn đến con đường tái sanh nào; 4. Tri chủng chủng giới trí lực: Biết rõ các thế giới với những yếu tố thành lập của nó; 5. Tri chủng chủng giải trí lực: Biết rõ căn tánh riêng biệt của mỗi chúng sanh; 6. Tri nhất thiết chúng sanh tâm tánh trí lực: Biết rõ căn cơ học đạo cao thấp của mọi chúng sanh; 7. Tri chư thiền giải thoát Tam-muội trí lực: Biết tất cả các cách thiền định; 8. Tri túc mệnh vô lậu trí lực: Biết rõ các tiền kiếp của chính mình; 9. Tri thiên nhãn vô ngại trí lực: Biết rõ sự hoại diệt và tái sanh của chúng sanh; 10. Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực: Biết các pháp ô nhiễm sẽ chấm dứt như thế nào.
mười thằng thúc
Xem mười ràng buộc.
Mười trí lực
xem Mười sức.
Mười trụ
(Thập trụ): chỉ 10 trụ vị của hàng Bồ Tát, bao gồm: 1. Phát tâm trụ; 2. Trì địa trụ; 3. Tu hành trụ; 4. Sanh quý trụ; 5. Phương tiện cụ túc trụ; 6. Chánh tâm trụ; 7. Bất thối trụ; 8. Đồng chân trụ; 9. Pháp vương tử trụ; 10. Quán đảnh trụ.
mười tám căn phần
Eighteen fields of sense 6 giác quan + 6 đối tượng giác quan + 6 giác căn.
Mười tám giới
(Thập bát giới): gồm sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) trong cơ thể, gọi là nội giới; sáu trần (hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc chạm, các pháp) bên ngoài, gọi là ngoại giới; sáu thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức) ở giữa giúp sáu căn nhận biết sáu trần, gọi là trung giới. Xem thêm ấm, nhập, giới.
mười tám lẽ không
Đại Trí độ luận ghi, Đại Bồ tát phải đắc 18 lẽ không: - nội không - ngoại không - nội ngoại không - không không - đại không - đệ nhứt nghĩa không - hữu vi không - vô vi không - tất cánh (rốt ráo) không - vô thuỷ không - tán (tan) không - tánh không - tự tướng không - chư pháp không - bất khả đắc không - vô pháp không - hữu pháp không - vô pháp hữu pháp không.
Mười tám nghĩa không
(Thập bát không): Theo Đại thừa nghĩa chương (quyển 4) và Trí độ luận (quyển 20, quyển 31 và quyển 46) thì 18 nghĩa không gồm có: 1. Nội không, 2. Ngoại không, 3. Nội ngoại không, 4. Không không, 5. Đại không, 6. Đệ nhất nghĩa không, 7. Hữu vi không, 8. Vô vi không, 9. Tất cánh không, 10. Vô thủy không, 11. Tán không, 12. Tánh không, 13. Tự tánh không, 14. Chư pháp không. 15. Bất khả đắc không, 16. Vô pháp không, 17. Hữu pháp không, 18. Vô pháp hữu pháp không.
Mười Tám Pháp Bất Cọng
(s: aṣtādaśa āveṇikā buddha-dharmāḥ, 十八不共法): còn gọi là Mười Tám Pháp Phật Bất Cọng. Từ Bất Cọng ở đây có nghĩa là không cọng thông. Tùy theo mỗi kinh điển mà sự giải thích về 18 pháp này có khác nhau; nhưng thông thường thì chúng gồm có 10 Lực, 4 Vô Úy, 3 Niệm Trú (ba điều mà tâm không lay chuyển trước đối tượng thuyết pháp, tức là đối tượng ấy có chuyên tâm lắng nghe, hay không chuyên tâm lắng nghe, hoặc cả hai thì tâm vẫn không lay chuyển) và kết hợp thêm Tâm Đại Bi để trở thành 18 pháp.
Mười tám pháp không chung cùng với hai thừa
(Thập bát bất cộng pháp),: là mười tám pháp chỉ đấng Như Lai mới có, A-la-hán và Duyên giác không có, cũng gọi là Thập bát bất cụ pháp, gồm: 1. Thân vô thất (Thân không có lỗi); 2. Khẩu vô thất (Lời nói không có lỗi); 3. Niệm vô thất (Ý tưởng không có lỗi); 4. Vô dị tưởng (Không có tư tưởng khác biệt, tâm luôn bình đẳng không phân biệt); 5. Vô bất định tâm (Tâm thường an định); 6. Vô bất tri dĩ xả (Rõ biết tất cả mọi chuyện nhưng đều buông bỏ); 7. Dục vô diệt (Lòng mong muốn cứu độ chúng sanh không dứt mất); 8. Tinh tấn vô diệt (Sự tinh tấn cứu độ chúng sanh không dứt mất); 9. Niệm vô diệt (Đối với Chánh pháp của ba đời chư Phật, tất cả trí tuệ đều đầy đủ, không có sự thối chuyển); 10. Huệ vô diệt (Trí huệ đầy đủ không cùng tận); 11. Giải thoát vô diệt (Có đủ hai loại giải thoát là giải thoát hữu vi và giải thoát vô vi, dứt trừ hoàn toàn mọi phiền não); 12. Giải thoát tri kiến vô diệt (Đối với giải thoát tri kiến trí tuệ sáng suốt, phân biệt vô ngại); 13. Nhất thiết thân nghiệp tùy trí huệ hành (Hết thảy nghiệp của thân được thực hành theo trí huệ); 14. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí huệ hành (Hết thảy nghiệp của lời nói được thực hành theo trí huệ); 15. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí huệ hành (Hết thảy nghiệp của ý được thực hành theo trí huệ); 16. Trí huệ tri quá khứ thế vô ngại (Trí huệ rõ biết đời quá khứ không ngăn ngại); 17. Trí huệ tri vị lai thế vô ngại (Trí huệ rõ biết đời vị lai không ngăn ngại); 18. Trí huệ tri hiện tại thế vô ngại (Trí huệ rõ biết đời hiện tại không ngăn ngại).
mười tám thượng căn của đức phật
Aveṇikadharma (S)Thập bát bất cộng phápNếu so với Bồ tát, đức Phật có 18 đức hạnh cao vượt hơn: - hành: thân tướng đẹp - ngữ: lời - ý: tâm - bình đẳng với mọi chúng sanh - tịch tịnh - hy sinh - không ngừng cứu độ - trí huệ tuyệt vời ở hành, ngữ, ý - thấu suốt quá khứ, hiện tại, vị lai...
mười tướng
(thập tướng): bao gồm tất cả các tướng của pháp hữu vi, đó là: 1. tướng hình sắc, 2. tướng âm thanh, 3. tướng mùi hương, 4. tướng vị nếm, 5. tướng xúc chạm, 6. tướng sanh ra, 7. tướng trụ lại, 8. tướng hoại diệt, 9. tướng nam, 10. tướng nữ.
mười ác nghiệp
See Thập Ác nghiệp.
mười ân phật
Ten kinds of Buddha's grace—See Thập Phật Ân.
mười điều biết hết tất cả các pháp không thừa sót của chư phật
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 33, có mười điều biết hết tất cả các pháp không thừa sót của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 33, there are ten exhaustive knowledges of all Buddhas. 1) Biết hết tất cả pháp quá khứ không thừa sót: They know all things of the past exhaustively. 2) Biết hết tất cả pháp vị lai không thừa sót: They know all things of the future exhaustively. 3) Biết hết tất cả pháp hiện tại không thừa sót: They know all things of the present exhaustively. 4) Biết hết tất cả pháp ngôn ngữ không thừa sót: They know all principles of language exhaustively. 5) Biết hết tất cả tâm chúng sanh không thừa sót: They know all sentient beings' minds exhaustively. 6) Biết hết tất cả những phần vị thượng trung hạ thiện căn của chư Bồ Tát không thừa sót: The know all the various ranks, high, middling, and low of the roots of goodness of Enlightening Beings. 7) Biết hết tất cả trí viên mãn và công đức của chư Phật không thừa sót: They know all Buddhas' complete knowledge and virtues do not increase or decrease. 8) Biết hết tất cả pháp đều từ duyên khởi không thừa sót: They know all phenomena come from interdependent origination. 9) Biết hết tất cả đạo thế gian không thừa sót: They know all world systems exhaustively. 10) Biết hết tất cả thế giới chủng, trong tất cả pháp giới những sự sai biệt như lưới Thiên Đế không thừa sót: They know all the different phenomena in all worlds, interrelated in Indra's net.
mười điều bị ma nhiếp trì của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười điều bị ma nhiếp trì của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát rời bỏ được mười điều ma nhiếp trì nầy thời được mười điều chư Phật nhiếp trì—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of possession by demons of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who can leave these ten can attain the supreme supportive power of Buddhas. 1) Tâm lười biếng: Laziness. 2) Chí nguyện hèn kém: Narrowness and meanness of aspiration. 3) Nơi công hạnh chút ít lại cho là đủ: Satisfaction with a little practice. 4) Lãnh thọ một hạnh, từ chối những hạnh khác: Exclusivity. 5) Chẳng phát đại nguyện: Not making great vows. 6) Thích nơi tịch diệt, dứt trừ phiền não, nên quên mất Bồ Đề tâm: Liking to be in tranquil extinction and annihilating afflictions, forgetting the Bodhi mind. 7) Dứt hẳn sanh tử: Permanently annihilating birth and death. 8) Bỏ hạnh Bồ Tát: Giving up the practices of enlightening beings. 9) Chẳng giáo hóa chúng sanh: Not edifying sentient beings. 10) Nghi báng chánh pháp: Doubting and repudiating the truth. ** For more information, please see ten kinds of support by Buddhas.
mười điều cha dạy con gái
Mười điều răn dạy mà một người cha khôn ngoan dạy con gái—Ten admonitions a wise father should instruct his daughter—See Nghiêm Đường Huấn Nữ Thập Giáo.
mười điều chẳng lỗi thời của chư phật
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 33, có mười điều chẳng lỗi thời của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 33, there are ten kinds of proper timing of all Buddhas. 1) Tất cả chư Phật thành chánh đẳng chánh giác chẳng lỗi thời: All Buddhas attain Anuttara Samyak Sambodhi at the proper time. 2) Tất cả chư Phật thành thục kẻ có duyên chẳng lỗi thời: All Buddhas develop and mature those with afinity at the appropriate time. 3) Tất cả chư Phật thọ ký cho chư Bồ Tát chẳng lỗi thời: All Buddhas give enlightening beings instructions for the future at proper time. 4) Tất cả chư Phật theo tâm chúng sanh mà thị hiện thần lực chẳng lỗi thời: All Buddhas show spiritual powers in accord with sentient beings' minds at the proper time. 5) Tất cả chư Phật theo chỗ hiểu của chúng sanh mà thị hiện thân Phật chẳng lỗi thời: All Buddhas show Buddha-bodies in accord with sentient beings' understandings at the proper time. 6) Tất cả chư Phật trụ nơi đại xả chẳng lỗi thời: All Buddhas persist in great relinquishment at the proper time. 7) Tất cả chư Phật vào các tụ lạc chẳng lỗi thời: All Buddhas go into inhabited places at appropriate time. 8) Tất cả chư Phật nhiếp thọ các chúng sanh tịnh tín chẳng lỗi thời: All Buddhas receive the pure and faithful at the proper time. 9) Tất cả chư Phật điều phục những chúng sanh ác chẳng lỗi thời: All Buddhas tame evil sentient beings at the appropriate time. 10) Tất cả chư Phật hiện bất tư nghì Phật thần thông chẳng lỗi thời: All Buddhas reveal the inconceivable occult powers of the enlightened at the proper time.
mười điều chứng tri của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười điều chứng tri của những đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được tất cả phương tiện thiện xảo—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of realizational knowledge possessed by Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain skillful use of all the teachings. 1) Biết tất cả pháp một tướng: They know the unity of all things. 2) Biết tất cả pháp vô lượng tướng: They know the infinity of all things. 3) Biết tất cả pháp tại một niệm: They know the presence of all things in a single instant. 4) Biết chúng sanh tâm hành vô ngại: They know the interpenetration of mental activities of all sentient beings. 5) Biết tất cả chúng sanh các căn bình đẳng: They know the equality of faculties of all sentient beings. 6) Biết tất cả chúng sanh phiền não tập khí hiện hành: They know the impassioned habitual activities of all sentient beings. 7) Biết tất cả chúng sanh tâm sử hiện hành: They know the mental compulsions of all sentient beings. 8) Biết tất cả chúng sanh thiện và bất thiện hiện hành: They know the good and bad acts of all sentient beings. 9) Biết tất cả Bồ Tát nguyện hạnh, tự tại, trụ trì, biến hóa: They know all enlightening beings' vows and practices, mastery, preservation of the teaching, and mystical transfigurations. 10) Biết tất cả Như Lai đầy đủ thập lực thành Chánh Đẳng Chánh Giác: They know all Buddhas' fulfillment of the ten powers and attainment of true enlightenment.
mười điều cầu pháp của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười điều cầu pháp của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đại trí huệ tất cả Phật pháp chẳng do người khác dạy—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of quest for truth of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain great knowledge of all elements of Buddhahood without being instructed by another. 1) Trực tâm cầu pháp, vì không dua nịnh phỉnh phờ: Quest for truth with a straightforward mind, being free from dishonesty. 2) Tinh tấn cầu pháp, vì xa lìa lười biếng khinh mạn: Diligent quest for truth, being free from laziness. 3) Nhứt hướng cầu pháp, vì chẳng tiếc thân mạng: Wholly devoted quest for truth, not begrudging their lives. 4) Vì muốn trừ phiền não cho tất cả chúng sanh mà cầu pháp, vì chẳng vì danh, lợi hay sự cung kính: Quest for truth to destroy all sentient beings' afflictions, not doing it for fame, profit, or respect. 5) Vì lợi mình, lợi người, cũng như lợi tất cả chúng sanh mà cầu pháp, chứ chẳng vì tư lợi: Quest for truth to benefit self and others, all sentient beings, not just helping themselves. 6) Vì nhập trí huệ mà cầu pháp, chẳng vì văn tự: Quest for truth to enter knowledge of wisdom, not taking pleasure in literature. 7) Vì thoát sanh tử mà cầu pháp, vì chẳng tham thế lạc: Quest for truth to leave birth and death, not craving worldly pleasures. 8) Vì độ chúng sanh mà cầu pháp, vì phát Bồ Đề tâm: Quest for truth to liberate sentient beings, engendering the determination for enlightenment. 9) Vì dứt nghi cho tất cả chúng sanh mà cầu pháp, vì làm cho họ không do dự: Quest for truth to resolve the doubts of all sentient beings, to free them from vacillation. 10) Vì đầy đủ Phật phát mà cầu pháp, vì chẳng thích những thừa khác: Quest for truth to fulfill Buddhahood, not being inclined to lesser aims.
mười điều của chư phật mà chư đại bồ tát hằng ghi nhớ
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười điều của chư Phật mà chư Bồ Tát phải hằng ghi nhớ—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of pure things of Buddhas that should always be remembered by Enlightening Beings. 1) Tất cả Bồ tát phải thường ghi nhớ về nhơn duyên quá khứ của chư Phật: All Buddhas' past events should always be remembered by Enlightening Beings. 2) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ hạnh thanh tịnh thù thắng của chư Phật: All Buddhas' pure superior actions should always be remembered. 3) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ chư Phật đầy đủ Ba La Mật: All Buddhas' fulfillment of the ways of transcendence should be always remembered. 4) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ đại nguyện thành tựu của chư Phật: All Buddhas' accomplishment of great undertakings should always be remembered. 5) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ sự chứa nhóm công đức của chư Phật: All Buddhas' accumulation of virtues should always be remembered. 6) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ chư Phật đã đủ đầy phạm hạnh: All Buddhas' embodiment of spiritual practice should always be remembered. 7) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ chư Phật hiện thành chánh giác: All Buddhas' actualization of true enlightenment should always be remembered. 8) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ vô lượng sắc thân của chư Phật: The infinity of all Buddhas physical forms should always be remembered. 9) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ thần thông vô lượng của chư Phật: The infinity of all Buddhas' spiritual powers should be always remembered. 10) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ thập lực của chư Phật: All Buddhas' ten powers of confidence should be always remembered.
mười điều không sợ hãi
Xem thập lực.
mười điều kiện khởi đầu đưa đến hoài bảo giác ngộ tối thượng
Theo Kinh Hoa Nghiêm, có mười điều kiện khởi đầu đưa đến ước vọng giác ngộ tối thượng—According to the Avatamsaka Sutra, there are ten preliminary conditions that lead to the cherishing of the desire for supreme enlightenment. 1) Đầy đủ thiện căn: Kusalamula (skt)—The stock of merit is well-filled. 2) Tu tập các thiện hạnh: Carana (skt)—Deeds of goodness are well practiced. 3) Chứa nhóm đầy đủ các tư lương: Sambhara (skt)—The necessary moral provisions are well stored up. 4) Cung kính cúng dường chư Phật: Paryupasita (skt)—The Buddhas have respectfully served. 5) Thành tựu đầy đủ các tịnh pháp: Sikla-dharma (skt)—Works of purity are well accomplished. 6) Thân cận các thiện tri thức: Kalyanamitra (skt)—There are good friends kindly disposed. 7) Tâm hoàn toàn thanh tịnh: Visuddhasaya (skt)—The heart is thoroughly cleansed. 8) Tâm quảng đại được kiên cố: Vipuladhyasaya (skt)—Broad-mindedness is firmly secured. 9) Tín căn được bền vững: Adhimukti (skt)—A deep sincere faith is established. 10) Sẳn sàng tâm đại bi: Karuna (skt)—There is the presence of a compassionate heart.
Mười điều lành
(Thập thiện), cũng gọi là Mười pháp lành, Thập thiện đạo, Thập thiện Chánh pháp, bao gồm các pháp là: 1. Không sát sanh, thường làm việc tha thứ và phóng sanh. 2. Không trộm cắp, thường tu hạnh bố thí, giúp đỡ, san sẻ với mọi người. 3. Không tà dâm, luôn giữ lòng chung thủy một vợ một chồng. 4. Không nói dối, luôn nói lời chân thật. 5. Không nói lời trau chuốt, thô tục, thường nói những lời có ý nghĩa, có ích lợi. 6. Không nói đâm thọc, gây chia rẽ, thường nói những lời tạo ra sự đoàn kết, thương yêu nhau. 7. Không nói lời độc ác, gây tổn hại, thường nói những lời ôn hòa, nhu thuận. 8. Không tham lam, luôn quán xét rằng mọi thứ của cải vật chất đều chỉ là giả tạm, không thường tồn. 9. Không sân khuể, thường tu tập hạnh từ bi, nhẫn nhục. 10. Không ngu mê, tà kiến, thường sáng suốt tu tập theo chánh kiến.
mười điều lành mà chư bồ tát làm lợi ích cho chúng sanh ở cõi ta bà
Ten Bodhisattvas' excellent deeds in the Saha world—Theo Kinh Duy Ma Cật, Phẩm thứ Mười, Duy Ma Cật nói: “Bồ Tát ở cõi Ta Bà này đối với chúng sanh, lòng đại bi bền chắc thật đúng như lời các ngài đã ngợi khen. Mà Bồ Tát ở cõi nầy lợi ích cho chúng sanh trong một đời còn hơn trăm ngàn kiếp tu hành ở cõi nước khác. Vì sao? Vì cõi Ta Bà nầy có mười điều lành mà các Tịnh Độ khác không có.”—According to the Vimalakirti, Chapter Tenth, Vimalakirti said: “As you have said, the Bodhisattvas of this world have strong compassion and their lifelong works of salvation for all living beings surpass those done in other pure lands during hundreds and thousands of aeons. Why? Because they achieved ten excellent deeds which are not required in other pure lands. 1) Một là dùng bố thí để nhiếp độ kẻ nghèo nàn: Charity (dana) to succour the poor. 2) Hai là dùng tịnh giới để nhiếp độ người phá giới: Precept-keeping (sila) to help those who have broken the commandments. 3) Ba là dùng nhẫn nhục để nhiếp độ kẻ giận dữ: Patient endurance (ksanti) to subdue their anger. 4) Bốn là dùng tinh tấn để nhiếp độ kẻ giải đãi: Zeal and devotion (virya) to cure their remissness. 5) Năm là dùng thiền định để nhiếp độ kẻ loạn ý: Serenity (dhyana) to stop their confused thoughts. 6) Sáu là dùng trí tuệ để nhiếp độ kẻ ngu si: Wisdom (prajna) to wipe out ignorance. 7) Bảy là nói pháp trừ nạn để độ kẻ bị tám nạn: Putting an end to the eight distressful conditions for those suffering from them. 8) Tám là dùng pháp đại thừa để độ kẻ ưa pháp tiểu thừa: Teaching Mahayana to those who cling to Hinayana. 9) Chín là dùng các pháp lành để cứu tế người không đức: Cultivation of good roots for those in want of merits. 10) Mười là thường dùng tứ nhiếp để thành tựu chúng sanh.”: The four Bodhisattva winning devices for the purpose of leading all living beings to their goals (in Bodhisattva development).
mười điều nguyện vô tận của bồ tát
Dasanisthàprani-dhàna (S). Ten vows of Bodhisattva.
mười điều phấn tấn của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười điều phấn tấn của chư Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được nơi tất cả pháp phấn tấn tự tại vô thượng của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of springing of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can achieve the supreme springing of Buddhas in the midst of all things. 1) Ngưu vương phất tấn, vì che mát tất cả thiên long bát bộ: The springing of a majestic bull, overshadowing all dragons, yakshas, kinnaras, gandharvas, and other creatures. 2) Tượng vương phấn tấn—The springing of a majestic elephant: a. Tâm khéo điều phục và nhu nhuyễn chúng sanh: Their minds well tamed and gentle all sentient beings. b. Gánh vác tất cả những chúng sanh: Carrying all sentient beings. 3) Long vương phấn tấn—The springing of a great water spirit: a. Nổi mây dầy đại pháp: Producing dense clouds of the great teaching. b. Chiếu điển quang giải thoát: Flashing the lightning of liberation. c. Chấn sấm nghĩa như thật: Reverberating with the thunder of truth. d. Rưới mưa cam lồ căn, lực, giác phần, thiền định, giải thoát, tam muội: Showering the sweet rain of the spiritual faculties and powers, the elements of enlightenment, meditations, liberations, and concentrations. 4) Đại Kim Sí Điểu vương phấn tấn—The springing of the great golden- winged bird: a. Làm cạn nước tham ái: Evaporating the water of covetousness. b. Phá vỏ ngu si: Breaking the shell of delusion. c. Chụp bắt những ác độc long phiền não: Catching the evil poisonous dragon of affliction. d. Khiến chúng sanh ra khỏi biển khổ sanh tử: Lifting beings out of the ocean of suffering of birth and death. 5) Đại sư tử vương phấn tấn—The springing of great majestic lion: a. An trụ trong đại trí vô úy: Resting secure in fearless. b. Lấy bình đẳng làm khí giới: Using impartial great knowledge as a weapon. c. Xô dẹp chúng ma và ngoại đạo: Crushing demons and false teachers. 6) Dũng kiện phấn tấn, vì có thể ở trong chiến trận lớn sanh tử, xô diệt tất cả phiền não oán thù: Springing of spirit and strength, able to destroy the enemy and afflictions on the great battlefront of birth and death. 7) Đại trí phấn tấn—The springing of great knowledge: a. Biết thân tâm và cảm giác: Knowing the elements of body, mind, and sense experience. b. Biết các duyên khởi: Knowing other interdependent productions. c. Tự tại khai thị tất cả pháp: Freely explaining all things. 8) Đà La Ni phấn tấn—The springing of mental command: a. Dùng sức niệm huệ thọ trì chánh pháp chẳng quên: Retaining teachings by the power of recollection and awareness. b. Tùy theo căn tánh của chúng sanh mà vì họ tuyên thuyết: Expounding the teachings according to the faculties of sentient beings. 9) Biện tài phấn tấn—The springing of intellectual powers: a. Vô ngại và chóng phân biệt tất cả các pháp: Uninhibited and swift analyzing everything. b. Làm cho tất cả chúng sanh được lợi ích: Causing everyone to receive benefit and be happy. 10) Như Lai phấn tấn—The springing of realization of Thusness: a. Nhứt thiết chủng trí những pháp trợ đạo đều thành tựu viên mãn: Fulfilling all aids to the way to omniscience. b. Dùng một niệm tương ưng huệ, những chỗ đáng được đều được tất cả: With instantaneous wisdom attaining all that can be attained. c. Những chỗ đáng ngộ tất cả đều ngộ: Understanding all that can be understood. d. Ngồi tòa sư tử: Sitting on a lion throne. e. Hàng phục chúng ma: Conquering hostile demons. f. Thành vô thượng chánh đẳng chánh giác: Realizing unexcelled, complete achieve perfect enlightenment.
mười điều ràng buộc
Ten bonds. 1) Vô tàm (có lỗi mà không biết tự hổ thẹn): Shamelessness. 2) Vô quý (có lỗi mà không biết mắc cở với người)—Unblushingness. 3) Tật đố (ghen ghét): Envy. 4) Xan (bỏn xẻn hèn hạ): Meanness. 5) Bất Hối ( không biết ăn năn những tội lỗi đã làm): Regretlessness. 6) Thùy miên (hôn mê hay thân tâm không thức tỉnh): Torpidity. 7) Trạo cử (tâm niệm xao động): Unstableness—Excitability. 8) Hôn trầm (thần thức hôn mê, không biết chi cả): Gloominess. 9) Sân hận: Anger. 10) Phú (che dấu tội ác): Covering sins.
mười điều rời bỏ ma nghiệp của chư đại bồ tát
(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38). Chư Bồ Tát an trụ trong mười pháp nầy thời có thể ra khỏi tất cả ma đạo—Ten ways of getting rid of demons' actions of Great Enlightening Beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). Enlightening Beings who abide by these can escape all demonic ways. 1) Gần thiện tri thức, cung kính cúng dường: Associating with the wise and honoring and serving them. 2) Chẳng tự cao tự đại, chẳng tự khen ngợi: Not elevating themselves or praising themselves. 3) Tin hiểu thâm pháp của Phật mà chẳng hủy báng: Believing in the profound teaching of Buddha without repudiating it. 4) Chẳng bao giờ quên mất tâm nhứt thiết trí: Never ever forgetting the determination for omniscience. 5) Siêng tu diệu hạnh, hằng chẳng phóng dật: Diligently cultivating refined practices, never being lax. 6) Thường cầu tất cả pháp dành cho Bồ Tát: Always seeking all the teachings for enlightening beings. 7) Hằng diễn thuyết chánh pháp, tâm không nhàm mỏi: Always expounding the truth tirelessly. 8) Điều rời bỏ ma nghiệp thứ tám—The eighth way of getting rid of demons' actions: a. Quy y tất cả chư Phật mười phương: Taking refuge with all the Buddhas in the ten directions. b. Nghĩ đến chư Phật như những vị cứu hộ: Thinking of them as saviors and protectors. 9) Tin thọ ức niệm tất cả chư Phật thần lực gia trì: Faithfully accepting and remembering the support of the spiritual power of the Buddhas. 10) Cùng tất cả Bồ Tát đồng gieo căn lành bình đẳng không hai: Equally planting the same roots of goodness with all enlightening beings.
Mười điều thiện
xem Mười điều lành.
mười điều thành như lai lực của chư đại bồ tát
Ten kinds of attainment of powers of the enlightened of enlightening beings— Chư Bồ Tát có đủ mười Như Lai lực nầy thời gọi là Như Lai Chánh Đẳng Chánh Giác (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38)—Enlightening Beings who acquire these ten powers are called Buddhas, truly awake. 1) Vì siêu quá tất cả những ma phiền não nghiệp nên thành Như Lai lực: Attain the powers of the enlightened because they transcend the afflictive activities of all demons. 2) Vì đầy đủ tất cả Bồ Tát hạnh và tự tại du hý tất cả Bồ Tát tam muội: Fulfill all enlightening practices and master all concentrations of enlighening beings. 3) Đầy đủ tất cả Bồ Tát quảng đại thiền định: Accomplish all the far-reaching meditations of enlightening beings. 4) Viên mãn tất cả pháp trợ đạo bạch tịnh: Fulfill al the pure means of fostering enlightenment. 5) Được tất cả pháp trí huệ quang minh khéo tư duy phân biệt: Attain illumination of knowledge of all things and can think and analyze well. 6) Thân cùng khắp tất cả thế giới: Their bodies pervade all worlds. 7) Có thể dùng thần lực gia trì tất cả: Can support all by spiritual powers. 8) Ngôn âm phát ra đều đồng với tâm của tất cả chúng sanh: Their utterances are equal to the minds of all sentient beings. 9) Vì ba nghiệp thân ngữ ý đồng với tất cả tam thế chư Phật, trong một niệm biết rõ những pháp trong tam thế: They are physically, verbally, mentally equal to the Buddhas of all times, and can comprehend the things of all times in a single thought. 10) Được thiện giác trí tam muội, đủ Như Lai thập lực, những là thị xứ phi xứ trí lực đến lậu tận trí lực: Attain concentration of precisely aware knowledge and are imbued with the ten powers of the enlightened, from knowledge of what is so and what is not so up to knowledge of extinction of contaminations.
mười điều thối thất phật pháp mà chư đại bồ tát nên tránh
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười điều thối thất Phật pháp mà chư Bồ Tát nên tránh. Chư Bồ Tát tránh được mười điều nầy thời nhập được đạo ly sanh của Bồ Tát—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten things that cause enlightening beings to regress from the Buddha teachings, which they should avoid. Enlightening Beings who avoid these ten things will enter the Enlightening Beings' paths of emancipation. 1) Khinh mạn thiện tri thức: Slighting the wise. 2) Sợ khổ sanh tử: Fearing the pains of birth and death. 3) Nhàm tu hạnh Bồ Tát: Getting tired of practicing the acts of enlightening beings. 4) Chẳng thích trụ thế gian: Not caring to remain in the world. 5) Say đắm tam muội: Addiction to concentration. 6) Chấp lấy thiện căn: Clinging to roots of goodness. 7) Repudiating the truth: Hủy báng chánh pháp. 8) Đoạn Bồ Tát hạnh: Putting an end to the practices of enlightening beings. 9) Thích đạo nhị thừa: Liking the ways of individual liberation. 10) Hiềm hận chư Bồ Tát: Having aversion to Enlightening Beings.
mười điều thủ lấy của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, chư đại Bồ Tát có mười điều thủ lấy, do đây mà không dứt hạnh Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ nơi mười điều thủ lấy nầy thời có thể chẳng dứt Bồ Tát hạnh, và được pháp vô sở thủ vô thượng của tất cả Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of grasping by which they perpetuate the practices of Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can perpetuate the practices of Enlightening Beings and attain the Buddhas' supreme state of not grasping anything. 1) Thủ lấy tất cả chúng sanh giới, vì rốt ráo giáo hóa chúng sanh: They grasp all realms of sentient beings, to ultimately enlighten them. 2) Thủ lấy tất cả thế giới vì rốt ráo nghiêm tịnh: They grasp all worlds , to ultimately purify them. 3) Thủ lấy Như Lai vì tu hạnh Bồ Tát để cúng dường: They grasp Buddha, cultivating the practices of Enlightening Beings as offerings. 4) Thủ lấy thiện căn vì chứa nhóm tướng hảo công đức của chư Phật: They grasp roots of goodness, accumulating the virtues that mark and embellish the Buddhas. 5) Thủ lấy đại bi, vì diệt khổ cho tất cả chúng sanh: They grasp great compassion, to extinguish the pains of all sentient beings. 6) Thủ lấy đại từ, vì cho tất cả chúng sanh những trí lạc: They grasp great benevolence, to bestow on all beings the happiness of omniscience. 7) Thủ lấy Ba La Mật, vì tích tập những trang nghiêm của Bồ Tát: They grasp the transcendent ways, to accumulate the adornments of Enlightening Beings. 8) Thủ lấy thiện xảo phương tiện, vì đều thị hiện ở tất cả mọi nơi: They grasp skill in means, to demonstrate them everywhere. 9) Thủ lấy Bồ Đề, vì được trí vô ngại: They grasp enlightenment, to obtain unobstructed knowledge. 10) Thủ lấy tất cả các pháp, vì ở mọi nơi đều dùng minh trí để hiện rõ: They grasp all things, to comprehend them everywhere with clear knowledge.
mười điều tu của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười điều tu của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời tu được đạo quả vô thượng và đạt được tất cả các pháp—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of cultivation of Great Enlightening Beings. Enlightening beings who abide by these can achieve the supreme cultivation and practice all truths. 1) Tu các môn Ba La Mật: Cultivate the ways of transcendence. 2) Tu học: Learning. 3) Tu huệ: Wisdom. 4) Tu nghĩa: Purpose. 5) Tu pháp: Righteousness. 6) Tu thoát ly:Emancipation. 7) Tu thị hiện:Manifestation. 8) Tu siêng thực hành chẳng lười: Diligence. 9) Tu thành chánh đẳng chánh giác: Accomplishment of true awakening. 10) Tu chuyển chánh pháp luân: Operation of right teaching.
mười điều tu tinh chuyên của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, chư đại Bồ Tát có mười điều tu tinh chuyên. Chư Bồ Tát an trụ trong những pháp nầy thời được siêng tu đại trí huệ vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of diligent practices of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme practice of great knowledge and wisdom of Buddhas. 1) Siêng tu bố thí, vì đều xả thí tất cả mà không cầu báo đáp: Diligent practice of giving, relinquishing all without seeking reward. 2) Siêng tu trì giới, vì đầu đà khổ hạnh, thiểu dục tri túc: Diligent practice of self-control, practicing austerities, having few desires, and being content. 3) Siêng tu nhẫn nhục, vì rời quan niệm ta và người (tự tha), nhẫn chịu tất cả điều khổ não, trọn không sanh lòng sân hại: Diligent practice of forbearance, detaching from notions of self and other, tolerating all evils without anger or malice. 4) Siêng tu tinh tấn, vì thân ngữ ý ba nghiệp chưa từng tán loạn, tất cả việc làm đều chẳng thối chuyển mãi đến khi rốt ráo: Diligent practice of vigor, their thoughts, words and deeds never confused, not regressing in what they do, reaching the ultimate end. 5) Siêng tu thiền định, vì giải thoát , tam muội xuất hiện thần thông, rời lìa tất cả quyến thuộc, dục lạc, phiền não, và mãn nguyện: Diligent practice of meditation, liberations, and concentrations, discovering spiritual powers, leaving behind all desires, afflictions, and contention. 6) Siêng tu trí huệ, vì tu tập chứa nhóm tất cả công đức không nhàm mỏi: Diligent practice of wisdom, tirelessly cultivating and accumulating virtues. 7) Siêng tu đại từ, vì biết tất cả chúng sanh không có tự tánh: Diligent practice of great benevolence, knowing that all sentient beings have no nature of their own. 8) Siêng tu đại bi, vì biết các pháp đều không, thọ khổ cho tất cả chúng sanh không nhàm mỏi: Diligent practice of great compassion, knowing that all things are empty, accepting suffering in place of all sentient beings without wearying. 9) Siêng tu giác ngộ thập lực Như Lai, vì rõ thấu vô ngại chỉ bày cho chúng sanh: Diligent practice to awaken the ten powers of enlightenment, realizing them without obstruction, manifesting them for sentient beings. 10) Siêng tu pháp luân bất thối, vì chuyển đến tâm của tất cả chúng sanh: Diligent practice of the non receding wheel of teaching, proceeding to reach all sentient beings.
mười điều tâm niệm
Ten Non-Seeking Practices: 1) Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bịnh khổ, vì không bịnh khổ thì dục vọng dễ sinh: We should not wish (yearn) that our bodies be always free of diseases, because a disease-free body is prone to desire and lust (because with a disease-free body, one tends to be tempted with desire and lust). This will lead to precept-breaking and retrogression:. 2) Ở đời thì đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu xa nổi dậy. Nếu như chúng ta cứ sống mãi trong cảnh thanh nhàn, như ý, không bị đời dằn vặt, lại chẳng bị vướng ít nhiều sự khổ não, ưu phiền, tất tâm sẽ sanh ra các niệm khinh mạn, kiêu sa; từ đó mà kết thành vô số tội lỗi. Phật tử chơn thuần phải nhân nơi hoạn nạn mà thức tỉnh cơn trường mộng và chiêm nghiệm được lời Phật dạy là đúng. Do đó mà phát tâm tinh chuyên tu hành cầu giải thoát: We should not wish that our lives be free of all misfortune, adversity, or accident because without them, we will be easily prone to pride and arrogance. This will lead us to be disdainful and overbearing towards everyone else. If people's lives are perfect, everything is just as they always dreamed, without encountering heartaches, worries, afflictions, or any pains and sufferings, then this can easily give way to conceit, arogance, etc.; thus, becoming the breeding ground for countless transgressions and offenses. Sincere Buddhists should always use misfortunes as the opportunity to awaken from being mesmerized by success, fame, fortune, wealth, etc. and realize the Buddha's teachings are true and accurate, and then use this realization to develop a cultivated mind seeking enlightenment. 3) Cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo: We should not wish that our mind cultivation be free of all obstacles because without obstacles, we would not have opportunities to excell our mind. This will lead to the transgression of thinking that we have awakened, when in fact we have not. 4) Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường: We should not wish that our cultivation be free of demonic obstacles, because our vows would not be then firm and enduring. This leads to the transgression of thinking that we have attained, when in fact we have not. 5) Việc làm thì đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng hay khinh thường kiêu ngạo: We should not wish that our plans and activities meet with easy success, for we will then be inclined to thoughts of contempt and disrespect. This leads to the transgression of pride and conceit, thinking ourselves to be filled with virtues and talent. 6) Giao tiếp thì đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đi đạo nghĩa: We should not wish for gain in our social relations. This will lead us to violate moral principles and see only mistakes of others. 7) Với người thì đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng: We should not wish that everyone, at all times, be on good terms and in harmony with us. This leads to pride and conceit and seeing only our own side of every issue. 8) Thi ân thì đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân có mưu đồ: We should not wish to be repaid for our good deeds, lest we develop a calculating mind. This leads to greed for fame and fortune. 9) Thấy lợi thì đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động: We should not wish to share in opportunities for profit, lest the mind of illusion arise. This leads us to lose our good name and reputation for the sake of unwholesome gain. 10) Oan ức không cần biện bạch, vì còn biện bạch là nhân ngã chưa xả: When subject to injustice and wrong, we should not necessarily seek the ability to refute and rebut, as doing so indicates that the mind of self-and-others has not been severed. This will certainly lead to more resentment and hatred. Luận Bảo Vương Tam Muội của Đức Phật—Thus, the Buddha advised all of us to consider: 1) Lấy bịnh khổ làm thuốc thần—Turn suffering and disease into good medicine (consider diseases and sufferings as miraculous medicine). 2) Lấy hoạn nạn làm giải thoát—Turn misfortune and calamity into liberation (take misfortune and adversity as means of liberation). 3) Lấy khúc mắc làm thú vị—Turn obstacles or high stakes into freedom and ease (take obstacles as enjoyable ways to cultivate ourselves). 4) Lấy ma quân làm bạn đạo—Turn demons or haunting spirits into Dharma friends (take demonic obstacles as our good spiritual advisors). 5) Lấy khó khăn làm thích thú—Turn trying events into peace and joy (consider difficulties as our joy of gaining experiences or life enjoyments). 6) Lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đở—Turn bad friends into helpful associates (treat ungrateful people as our helpful aids). 7) Lấy người chống đối làm nơi giao du—Turn apponents into “fields of flowers” (consider opponents as our good relationships). 8) Coi thi ân như đôi dép bỏ—Treat ingratitude as worn-out shoes to be discarded (consider merits or services to others as ragged slippers). 9) Lấy sự xả lợi làm vinh hoa—Turn frugality into power and wealth (take frugality as our honour). 10) Lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh—Turn injustice and wrong into conditions for progress along the Way (consider injustice or false accusations as our virtuous gate to enlightenment).
mười điều tịnh tu ngữ nghiệp của chư đại bồ tát
(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38)—Ten ways of purifying speech of Great Enlightening Beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). (A) Mười pháp tịnh tu ngữ nghiệp—Ten ways of purifying speech: 1) Tịnh tu ngữ nghiệp, thích lắng nghe âm thanh của Đức Như Lai: Joyfully listening to the voice of Buddhas. 2) Tịnh tu ngữ nghiệp, nghe nói công đức của Bồ Tát: Joyfully listening to the explanations of the virtues of Enlightening Beings. 3) Tịnh tu ngữ nghiệp, chẳng nói những lời mà chúng sanh chẳng thích nghe: Not saying anything unpleasant to sentient beings. 4) Tịnh tu ngữ nghiệp, xa lìa những lỗi lầm của lời nói: Truly avoiding all faults of speech. 5) Tịnh tu ngữ nghiệp, hoan hỷ tán thán Như Lai: Joyfully praising the enlightened. 6) Tịnh tu ngữ nghiệp, ở chỗ tháp Như Lai to tiếng khen ngợi công đức như thiệt của chư Phật: Signing the praises of Buddhas aloud at the monuments of deceased Buddhas. 7) Tịnh tu ngữ nghiệp, dùng tâm thanh tịnh ban bố chánh pháp cho chúng sanh: Giving teachings to sentient beings with profound, pure mind. 8) Tịnh tu ngữ nghiệp, dùng âm nhạc ca tụng để tán thán Đức Như Lai: Praising Buddha with music and song. 9) Tịnh tu ngữ nghiệp, ở chỗ chư Phật lắng nghe chánh pháp chẳng tiếc thân mạng: Listening to the true teaching without worrying about one's body or life. 10) Tịnh tu ngữ nghiệp, xả thân thừa sự tất cả Bồ Tát và các pháp sư để lãnh thọ diệu pháp: Giving oneself up to serve all enlightening beings and teachers of truth, and receiving the sublime teaching from them. (B) Chư Bồ Tát an trụ trong mười pháp tịnh tu ngữ nghiệp nầy sẽ được mười điều thủ hộ—Enlightening Beings who abide by these ten ways of purifying speech can gain ten kinds of protection: 1) Được thiên vương cùng thiên chúng thủ hộ: They are protected by all celestial beings. 2) Được long vương và long chúng thủ hộ: By all nagas. 3) Được Dạ xoa vương cùng dạ xoa chúng thủ hộ: By all yakshas. 4) Được Càn thát bà vương cùng Càn thát bà chúng thủ hộ: By all Gandharvas. 5) Được A tu la vương và A tu la chúng thủ hộ: By all titans. 6) Được Ca lâu la vương và Ca lâu la chúng thủ hộ: By all Garudas. 7) Được Khẩn na la vương và Khẩn na la chúng thủ hộ: By all kinnaras. 8) Được Ma hầu la già vương cùng Ma hầu la già chúng thủ hộ: By all Maharagas. 9) Được Phạm vương và Phạm chúng thủ hộ: By all Brahmas. 10) Được Như Như Lai Pháp vương và tất cả pháp sư thủ hộ: By all teachers of truth, beginning with the Buddhas. (C) Được sự thủ hộ nầy rồi, chư Đại Bồ Tát có thể thành tựu mười đại sự—Having received this protection, great enlightening beings are able to accomplish ten great works. 1) Làm cho tất cả chúng sanh hoan hỷ: Gladdening all sentient beings. 2) Có thể qua lại tất cả thế giới: Going to all worlds. 3) Tất cả căn tánh đều có thể rõ biết: Knowing all faculties. 4) Tất cả thằng giải đều làm cho thanh tịnh: Purifying all devotions. 5) Tất cả phiền não đều làm cho đoạn trừ: Exterminating all afflictions. 6) Tất cả tập khí đều làm cho xả ly: Getting rid of all habit energy. 7) Tất cả dục lạc đều làm cho sáng sạch: Purifying all inclinations. 8) Tất cả thâm tâm đều làm cho tăng trưởng: Increasing all profound determinations. 9) Tất cả pháp giới đều làm cho cùng khắp: Causing all to pervade al universes. 10) Tất cả Niết bàn khắp làm cho thấy rõ: Causing all nirvanas to be clearly seen.
mười điều vui thích của chư đại bồ tát (kinh hoa nghiêm—phẩm 38—ly thế gian)
Ten kinds of enjoyment (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38—Detachment from the World)—Bồ tát trụ trong pháp nầy thời được pháp lạc vô thượng của chư Như Lai—Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme enjoyment of truth of all Buddhas. 1) Thích chánh niệm vì tâm chẳng tán loạn: They enjoy right mindfulness because their minds are not distracted. 2) Thích trí huệ vì phân biệt các pháp: They enjoy knowledge, distinguishing all things. 3) Thích qua đến tất cả chỗ Phật, vì nghe pháp không nhàm: They enjoy visiting all Buddhas, listening to the teaching tirelessly. 4) Thích chư Phật, vì đầy khắp mười phương không biên tế: They like the Buddhas because they fill the ten directions without bound. 5) Thích Bồ Tát tự tại, vì tất cả chúng sanh dùng vô lượng môn mà hiện thân: They like enlightening beings because they freely appear in infinite ways for the benefit of sentient beings. 6) Thích các môn tam muội vì nơi một môn tam muội nhập tất cả môn tam muội: They enjoy the doors of concentration because in one door of concentration they enter all doors of concentration. 7) Thích Đà La Ni vì thọ trì pháp chẳng quên để dạy lại cho chúng sanh: They enjoy mental command of mnemonic formula because they hold all the doctrines without forgetting and hand them on to others. 8) Thích vô ngại biện tài, vì nơi một đoạn một câu, phân biệt diễn thuyết trải qua bất khả thuyết kiếp không cùng tận: They enjoy unhindered powers of analysis and elucidation, expounding a single saying inexhaustibly. 9) Thích thành chánh giác, vì tất cả chúng sanh mà dùng vô lượng môn thị hiện thân để thành chánh giác: They enjoy attaining true enlightenment, manifesting bodies in infinite ways, attaining true enlightenment for the sake of sentient beings. 10) Thích chuyển pháp luân, vì dẹp trừ tất cả pháp dị đạo: They enjoy turning the wheel of true teaching, destroying all misleading doctrines.
mười điều vô nhị thực hành pháp tự tại của chư phật
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 33), có mười điều vô nhị thực hành pháp tự tại của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of mastery of nondual action of all Buddhas. 1) Tất cả chư Phật đều hay khéo nói lời thọ ký, quyết định không hai: All Buddhas can speak words of prediction of enlightenment, definitively, without duality. 2) Tất cả chư Phật đều hay tùy thuận tâm niệm của chúng sanh, làm cho ý họ được thỏa mãn, quyết định không hai: All Buddhas can satisfy sentient beings according to their wishes, definitely, without duality. 3) Chư Phật đều hay hiện giác tất cả pháp, diễn thuyết ý nghĩa, quyết định không hai:All Buddhas can manifest be awake to all truths and expound their meanings, definitively, without duality. 4) Chư Phật đều biết tam thế tất cả sát na là một sát na, quyết định không hai: All Buddhas have all the wisdom and knowledge of the Buddhas of past, future and present, definitively, without duality. Chư Phật luôn có đầy đủ tam thế Phật trí huệ, quyết định không hai: 5) Chư Phật đều biết tam thế tất cả sát na là một sát na, quyết định không hai: All Buddhas know that all instants, past, future and present, are one instant, definitely, without duality. 6) Chư Phật đều biết tam thế tất cả cõi Phật, vào một cõi Phật, quyết định không hai: All Buddhas know that all past, future and present Buddha-lands inhere in one Buddha-land, definitively, without duality. 7) Chư Phật đều biết tam thế tất cả lời Phật, là một lời Phật, quyết định không hai: All Buddhas know the words of all Buddhas of all times are the words of one Buddha, definitely, without duality. 8) Chư Phật đều biết tam thế tất cả chư Phật, cùng tất cả chúng sanh được giáo hóa thể tánh bình đẳng, quyết định không hai: All Buddhas know that all Buddhas of all times and all the beings they teach are essentially equal, definitely, without duality. 9) Chư Phật đều biết thế pháp và Phật pháp, tánh không sai khác, quyết định không hai: All Buddhas know that worldly phenomena and Buddhist principles are essentially not different, definitely, without duality. 10) Chư Phật đều biết tất cả tam thế chư Phật có bao nhiêu thiện căn đều đồng một thiện căn, quyết định không hai: All Buddhas know that the roots of goodness of all Buddhas of all times are the same one root of goodness, definitely, without duality.
Mười điều ác
(Thập bất thiện): cũng gọi là Thập ác, Mười nghiệp ác, Mười pháp bất thiện, bao gồm: 1. Sát sanh, 2. Trộm cắp, 3. Tà dâm, 4. Vọng ngữ, 5. Ỷ ngữ, 6. Lưỡng thiệt, 7. Ác khẩu, 8. Tham dục, 9. Sân khuể, 10. Tà kiến. Không làm những điều này là Mười pháp lành hay Mười điều lành.
mười điều được chư phật nhiếp trì
Theo Kinh Hoa Nghiêm, có mười điều được chư Phật nhiếp trì. Nếu chư Bồ Tát rời bỏ được mười điều bị ma nhiếp trì thời được mười điều được chư Phật nhiếp trì—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of support by Buddhas. If Enlightening Beings can get rid of the ten possessions by demons, they can gain ten kinds of support by Buddhas (see ten kinds of possession by demons). 1) Ban sơ có thể phát tâm Bồ Đề được Phật nhiếp trì: They are supported by Buddhas in first being able to aspire to enlightenment. 2) Trong nhiều đời gìn giữ tâm Bồ Đề không để quên mất, được chư Phật nhiếp trì: In preserving the will for enlightenment life after life without letting it be forgotten. 3) Rõ biết được ma sự và có thể xa lìa, được chư Phật nhiếp trì: In being aware of manias and being able to avoid them. 4) Nghe các môn Ba La Mật rồi tu hành đúng pháp, được chư Phật nhiếp trì: In learning the way of transcendence and practice them as taught. 5) Biết khổ sanh tử mà chẳng nhàm ghét, được chư Phật nhiếp trì: In knowing the pain of birth and death, yet not rejecting them. 6) Quán pháp thậm thâm được vô lượng quả, được chư Phật nhiếp trì: In contemplating the most profound truth and gaining immeasurable reward. 7) Vì chúng sanh nói pháp nhị thừa, mà chẳng chứng lấy quả giải thoát nhị thừa, được chư Phật nhiếp trì: In expounding the principles of the two lesser vehicles of salvation for the benefit of sentient beings without actually grasping the liberation of those vehicles. 8) Thích quán pháp vô vi mà chẳng trụ trong đó, đối với hữu vi và vô vi không tưởng là hai, được chư Phật nhiếp trì: In happily contemplating the uncreated without dwelling therein and not thinking of the crated and the uncreated as dual. 9) Đến chỗ vô sanh mà vẫn hiện thọ sanh, được chư Phật nhiếp trì: In reaching the realm of birthlessness, yet manifesting birth. 10) Dầu chứng được nhứt thiết trí mà khởi hạnh Bồ Tát chẳng dứt giống Bồ Đề, được chư Phật nhiếp trì: In realizing universal knowledge, yet carrying out the practices of enlightening beings and perpetuating the seed of Enlightening Beings.
mười điều được pháp nhiếp trì của chư bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có muời điều được pháp nhiếp trì của chư Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được pháp nhiếp trì vô thượng của tất cả chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of support by truth of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme support of truth of all Buddhas. 1) Biết tất cả hành pháp là vô thường: Knowing all conditioned states are impermanent. 2) Biết tất cả hành pháp là khổ: Knowing all conditioned states are painful. 3) Biết tất cả hành pháp là vô ngã: Knowing all conditioned states are identyless egoless). 4) Biết tất cả pháp là tịch diệt niết bàn: Knowing all phenomena are quiescent nirvana. 5) Biết tất cả pháp theo duyên mà phát khởi, không có duyên thời không khởi: Knowing all phenomena arise from conditions and do not come to be without conditions. 6) Biết vì do tà tư duy nên sanh khởi vô minh. Vì do có vô minh khởi nên có lão tử phát khởi. Một khi tà tư duy bị diệt, thì vô minh diệt, vô minh diệt thì lão tử cũng diệt: Knowing that ignorance comes from wrong thought, and finally old age and death come from ignorance, so if wrong thought is extinguished, ignorance is extinguished, and finally old age and death are extinguished. 7) Biết ba môn giải thoát xuất sanh Thanh văn thừa, chứng pháp vô tránh xuất sanh Độc giác: Knowing the three doors of liberation and generating the vehicle of hearers, realizing the state of noncontention and generating the vehicle of individual illuminates. 8) Biết lục pháp lục Ba La Mật và tứ nhiếp pháp xuất sanh Đại thừa: Knowing the six transcendent ways and the four means of integration, generating the Great Vehicle. 9) Biết tất cả cõi, tất cả pháp, tất cả chúng sanh, tất cả cả thế là cảnh giới của Phật trí: Knowing that al lands, all phenomena, all sentient beings and all times are spheres of knowledge of Buddhas. 10) Biết dứt tất cả niệm, bỏ tất cả thủ, rời trước rời sau, tùy thuận niết bàn: Knowing how to cut off all thoughts, abandon all grasping, detach from before and after, and accord with nirvana.
mười điều đức phật khuyên người cha dạy con gái
Theo Kinh Thi Ca La Việt, có mười điều Đức Phật khuyên bất cứ người cha nào cũng nên dạy dỗ con gái mình trước ngày xuất giá—According to the Sigalaka, there are ten things which the Buddha advises any father to educate his daughter before she gets married. 1) Không nên nói xấu chồng và cha mẹ chồng với người ngoài, cũng không đem chuyện xấu bên chồng mà thuật lại cho người ngoài: A wife should not speak ill of her husband and parents-in-law to others, nor does she report shortcomings or household quarrels elsewhere. 2) Không nên ngồi lê đôi mách, nghe ngóng những chuyện xấu của người ngoài rồi đem về nhà bàn tán: A wife should not gossip, nor listen to or discuss stories of other families. 3) Đồ trong nhà chỉ nên đưa cho những người nào mượn rồi trả lại: Things should only be lent to those who do return them. 4) Không nên đưa cho những người mượn đồ mà không trả lại: No household utensils should be lent to those who do not return tem. 5) Phải giúp đở thân bằng quyến thuộc nghèo khó, dầu họ có trả lại được hay không: A wife should help poor relatives and friends even if they do not have the ability to repay. 6) Phải luôn ngồi đúng chỗ thích nghi. Khi thấy cha mẹ chồng đến phải đứng dậy chào hỏi: A wife should always sit in an appropriate place. On seeing her parents-in-law or husband, she should stand up to greet them. 7) Trước khi ăn cơm phải xem coi có dọn đầy đủ cho cha mẹ chồng và chồng hay chưa. Người vợ cũng phải xem chừng chăm sóc người ăn kẻ ở trong nhà: Before taking her meals, a wife should first see that her parents-in-law and husband are served. She should also see that her servants are well cared for. 8) Trước khi đi ngủ phải quan sát nhà cửa, cửa đóng then gài cẩn thận. Xem coi những người giúp việc trong nhà đã làm tròn bổn phận chưa, và cha mẹ chồng đã đi ngũ chưa. Người vợ cũng phải luôn thức khuya dậy sớm; trừ khi đau ốm, không nên ngủ ngày: Before going to sleep, a wife should see that all doors are closed, furniture is safe, servants have performed their duties, and make sure that parents-in-law have retired. A wife should also rise early in the morning and, unless unwell, she should not sleep during the day. 9) Phải xem chồng và cha mẹ chồng như lửa. Mỗi khi có việc với cha mẹ chồng và chồng phải hết sức cẩn thận như khi làm việc với lửa: Parents-in-law and husband should be regarded as fire. A wife should deal carefully with them as one would deal with fire. 10) Cha mẹ chồng và chồng phải được tôn kính như những vị trời trong nhà: Parents-in-law and husband should be regarded as divinities (The Buddha himself refers to parents-in-law as divinities).
mười đà la ni
See Thập Chủng Đà La Ni.
Mười đại luận sư
Hán Việt: Thập đại luận sư (十大論師); |Mười luận sư danh tiếng của Duy thức tông tại Ấn Ðộ sau thế hệ của Trần-na (陳那; s: dignāga) và Pháp Xứng (法稱; s: dhar-makīrti), viết luận giải về Duy thức tam thập tụng (s: triṃśikāvijñāptimātratāsiddhi-kārikā) của Thế Thân (世親; s: vasuban-dhu), đó là: 1. Thân Thắng (親勝; s: bandhuśrī), 2. Hoả Biện (火辨; s: citra-bhāṇa), 3. Ðức Huệ (德慧; s: guṇamati), 4. An Huệ (安慧; s: sthiramati), 5. Nan-đà (難陀; s: nanda), 6. Tịnh Nguyệt (淨月; s: śuddhacandra), 7. Hộ Pháp (護法; s: dhar-mapāla), 8. (Tối) Thắng Tử ([最]勝子; s: jinaputra), 9. Thắng Hữu (勝友; s: viśeṣami-tra), 10. Trí Nguyệt (智月; s: jñānacan-dra).
mười đại sự rốt ráo của chư đại bồ tát
(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38). Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được sự rốt ráo đại trí huệ vô thượng Bồ Đề—Ten ultimate great tasks of Great Enlightening Beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). Enlightening Beings who abide by these can accomplish the ultimate great task of the knowledge of unexcelled complete perfect enlightenment. 1) Rốt ráo cung kính cúng dường tất cả Như Lai: Honor and provide for all Buddhas. 2) Rốt ráo tùy nghĩ nhớ đến chúng sanh nào có thể cứu hộ: Be able to save all sentient beings they think of. 3) Rốt ráo chuyên cầu tất cả Phật pháp: To single-mindedly seek all facets of Buddhahood. 4) Rốt ráo chứa nhóm tất cả thiện căn: Accumulate all roots of goodness. 5) Contemplate all Buddha teachings: Rốt ráo tư duy tất cả Phật pháp. 6) Rốt ráo đầy đủ tất cả thệ nguyện: Fulfill all vows. 7) Rốt ráo thành tựu tất cả hạnh Bồ Tát: Accomplish all enlightening practices. 8) Rốt ráo phụng sự tất cả thiện tri thức: Serve all genuine teachers. 9) Rốt ráo qua đến thế giới của chư Phật: Visit the Buddhas in all worlds. 10) Rốt ráo nghe và thọ trì chánh pháp của chư Phật: Hear and remember the true teachings of all Buddhas.
Mười đại đệ tử
Hán Việt: Thập đại đệ tử (十大弟子);|Mười đệ tử quan trọng của Phật, hay được nhắc nhở trong kinh sách Ðại thừa (s: mahā-yāna):|1. Ma-ha Ca-diếp (摩訶迦葉; s: mahākāś-yapa): Ðầu-đà đệ nhất, được xem là Sơ tổ Thiền tông Ấn Ðộ; 2. A-nan-đà (阿難陀; ānanda): Ða văn đệ nhất, người »nghe nhiều« được xem là Nhị tổ Thiền tông Ấn Ðộ. A-nan-đà hay được trình bày trong tranh tượng đứng bên cạnh Phật cùng với Ca-diếp; 3. Xá-lị-phất (舍利弗; s: śāriputra): Trí huệ đệ nhất, đệ tử quan trọng nhất của Phật trong các kinh Tiểu thừa (; p: hīnayāna); 4. Tu-bồ-đề (須菩提; subhūti): Giải Không (s: śūnya-tā) đệ nhất; 5. Phú-lâu-na (富樓那; s: pūrṇa): Thuyết Pháp (dharma) đệ nhất; 6. Mục-kiền-liên (目犍連; s: mahāmaud-galyāyana): Thần thông đệ nhất, hay đi đôi với Xá-lị-phất; 7. Ca-chiên-chiên (迦旃延; s: katyāyana): Biện luận đệ nhất; 8. A-na-luật (阿那律; s: aniruddha): Thiên nhãn đệ nhất; 9. Ưu-ba-li (優波離; upāli): Giới luật đệ nhất; 10. La-hầu-la (羅羅; rāhula): Mật hạnh đệ nhất.
Mười đại địa
(Thập đại địa): cũng gọi là Đại địa pháp hay Thập đại địa pháp, tức là mười trạng thái tâm thức khác nhau, làm nền tảng cho tất cả mọi tâm niệm. Vì tất cả tâm niệm đều từ đây sanh ra nên gọi là “đại địa”, cũng giống như các thứ cây cỏ đều từ đất sanh ra. Trong Nhị giải giới thân túc luận (二解界身足論), quyển thượng, tờ 1 có kể rõ 10 trạng thái tâm thức căn bản này: Một là thọ (受), hai là tưởng (想), ba là tư (思), bốn là xúc (觸), năm là tác ý (作意), sáu là dục (欲), bảy là thắng giải (勝解), tám là niệm (念), chín là tam-ma-địa (三摩地) và mười là tuệ (慧).
mười đạo binh của ma vương
- Tham dục (kama) - Bất mãn (arati) - Đói và khát (Khuppipasa) - ái dục (tanha) - Hôn trầm và dã dượi (thina-middha) - Sợ hãi (bhaya) - Hoài nghi (vicikiccha) - Phỉ báng và cố chấp (makkha-thambha) - Lợi lộc (labha) - Khen tặng (siloka) và Thinh danh bất chánh (yasa) - Tự đề cao quá mức và Khinh rẻ kẻ khác (attukkamsanaparavambhana).
mười đạo của chư bồ tát
Mười đạo của chư Đại Bồ Tát (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38). Chư Bồ Tát an trụ trong mười đạo nầy thời được đạo phương tiện thiện xảo vô thượng của tất cả Như Lai—Ten kinds of path of Great Enlightening Beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). Enlightening Beings who abide by these ten paths can attain the path of unexcelled skill in means of all Buddhas. 1) Nhứt đạo là Bồ Tát đạo, vì chẳng bỏ Bồ Đề tâm độc nhứt: One path is a Path of Enlightening Beings because they do not give up the sole determination for enlightenment. 1) Nhị đạo là Bồ Tát đạo, vì xuất sanh trí huệ và phương tiện: Two paths are a Path of Enlightening Beings because they develop wisdom and skill in means. 2) Tam đạo là Bồ Tát đạo vì chư Bồ Tát thực hành những pháp sau đây—Three paths are a Path of Enlightening Beings because they practice the following dharmas: a. Không: Emptiness. b. Vô tướng: Signlessness. c. Vô nguyện: Wishlessness. d. Chẳng nhiễm trước tam giới: Are not attached to the three worlds. 4) Tứ hạnh là Bồ Tát đạo—Four practices are a Path of Enlightening Beings: a. Sám trừ tội chướng không thôi nghỉ: Ceaselessly removing the barriers of wrongdoing by repentance. b. Tùy hỷ phước đức không thôi nghỉ Ceaselessly rejoicing in virtue. c. Cung kính tôn trọng khuyến thỉnh Như Lai không thôi nghỉ: Ceaselessly honoring the enlightened and request them to teach. d. Thiện xảo hồi hướng không thôi nghỉ: Skillfully practicing dedication ceaselessly. 5) Ngũ căn là Bồ Tát đạo—The five faculties are a Path of Enlightening Beings: a. An trụ tịnh tín: They rest on pure faith, steadfast and imperturbable. b. Khởi đại tinh tấn, việc làm rốt ráo: They generate great energy, finishing their tasks. c. Một bề chánh niệm, không phan duyên khác lạ: They are single-minded in right collection, without wandering attention. d. Khéo biết tam muội, nhập xuất phương tiện: They know the techniques for entering and emerging from concentration. e. Hay khéo phân biệt cảnh giới trí huệ: They are able to distinguish spheres of knowledge. 6) Lục thông là Bồ Tát Đạo—The six psychic powers are a Path of Enlightening Beings: a. Thiên nhãn thấy rõ những hình sắc của tất cả thế giới, biết các chúng sanh chết đây sanh kia: With celestial eye they see all forms in all worlds and know where sentient beings die and are born. b. Thiên nhĩ nghe rõ chư Phật thuyết pháp, thọ trì ghi nhớ, rộng vi chúng sanh tùy căn cơ để khai diễn: With the celestial ear they hear all Buddhas teaching, absorb and remember their teachings, and expound them widely to sentient beings according to their faculties. c. Tha tâm thông hay biết tâm người tự tại vô ngại: With telepathic knowledge they are able to know the minds of others freely, without interference. d. Túc mạng thông, nhớ biết rõ tất cả kiếp số quá khứ, thêm lớn căn lành: With recollection of past life they are able to remember all ages of the past and increase roots of goodness. e. Thần túc thông, tùy theo những chúng sanh đáng được hóa độ, vì họ mà biến hiện nhiều thứ cho họ thích mến chánh pháp: With the power of psychic travel they are able to appear variously to beings capable of being enlightened, to induce them to delight in truth. f. Lậu tận trí hiện chứng thực tế khởi Bồ Tát hạnh chẳng đoạn diệt: With knowledge of extinction of contamination they actually realize the ultimate truth, while carrying out the deeds of enlightening beings without ceases. 7) Thất niệm là Bồ Tát đạo—Seven remembrances are a Path of Enlightening Beings: a. Niệm Phật ở một lỗ lông thấy vô lượng Phật khai ngộ tất cả tâm chúng sanh: They remember Buddhas because they see infinite Buddhas in a single pore opening the minds of all sentient beings. b. Niệm Pháp, chẳng rời chúng hội của các Đức Như Lai: They remember the Teaching because they do not leave the assemblies of all Buddhas. c. Ở trong chúng hội của tất cả Như Lai, thân thừa diệu pháp, tùy căn tánh dục lạc của các chúng sanh mà diễn thuyết cho họ được ngộ nhập: They personally receive the sublime Teachings in the asemblies of all Buddhas and expounded to sentient beings according to their faculties, temperaments and inclinations, to enlighten them. d. Niệm Tăng, luôn nối tiêp thấy không thôi dứt, nơi tất cả thế gian thấy Bồ Tát: They remember the harmonious Community because they continually see enlightening beings in all worlds. e. Niệm xả, biết rất rõ tất cả Bồ tát hạnh xả tăng trưởng, tâm bố thí rộng lớn: They remember relinquishment because they know all enlightening beings' practices of relinquishment increase magnanimous generosity. f. Niệm giới, chẳng bỏ tâm Bồ Đề, đem tất cả thiện căn hồi hướng chúng sanh: They remember precepts because they do not give up the aspiration for enlightenment, and dedicate all roots of goodness to sentient beings. g. Niệm thiên, thường ghi nhớ Bồ Tát Nhứt Tâm Bổ Xứ tại Đâu Suất Thiên cung: They remember heaven because they always keep in mind the enlightening beings in the heaven of happiness who are to become Buddhas in the next lifetime. h. Niệm chúng sanh, trí huệ phương tiện giáo hóa điều phục đến khắp tất cả không gián đoạn: They remember sentient beings because they teach and tame them with wisdom and skill in means, reaching them all, without interruption. 8) Tùy thuận Bồ Đề Bát Thánh Đạo là Bồ Tát đạo—Following the Holy Eightfold Path to Enlightenment is a Path of Enlightening Beings: a. Thực hành đạo Chánh kiến, xa lìa tất cả tà kiến: They travel the path of right insight, getting rid of all false views. b. Khởi chánh tư duy, bỏ vọng phân biệt, tâm thường tùy thuận nhứt thiết trí: They exercise right thought, abandoning arbitrary conceptions, their minds always follow universal knowledge. c. Thường thực hành chánh ngữ, rời lỗi ngữ nghiệp, tùy thuận Thánh ngôn: They always practice right speech, getting rid of faults of speech and following the words of sages. d. Hằng tu chánh nghiệp, giáo hóa chúng sanh, khiến cho họ được điều phục: They always cultivate right action, teaching sentient beings to make them peaceful and harmonious. e. An trụ chánh mạng, đầu đà tri túc, oai nghi thẩm chánh, tùy thuận Bồ Đề, thực hành Thánh chủng, tất cả lỗi lầm đều rời hẳn: They abide by right livelihood, being frugal and content, careful and correct in behavior, eating, dressing, sleeping, eliminating evil, and practicing good, all in accord with enlightenment, forever getting rid of all faults. f. Khởi chánh tinh tấn, siêng tu tất cả khổ hạnh của Bồ Tát, nhập thập lực của Phật không chướng ngại: They arouse right energy, diligently cultivating all difficult practices of enlightening beings, entering the ten powers of Buddhas without hindrances. g. Tâm thường chánh niệm, đều có thể ghi nhớ tất cả những ngôn âm, trừ diệt tâm tán động của thế gian: Their minds always recollect correctly, able to remember all messages, eliminating all mundane distraction. h. Tâm thường chánh định, khéo nhập môn Bồ tát bất tư nghì giải thoát, ở trong một tam muội xuất sanh tất cả môn tam muội: Their minds are always correctly concentrated, they enter the door of inconceivable liberation of enlightening beings, and in one concentration they produce all concentrations. 9) Nhập cửu thứ đệ định là Bồ Tát đạo—Entering the nine successive concentrations is a Path of Enlightening Beings: a. Rời dục nhiễm sân hại mà dùng tất cả ngữ nghiệp thuyết pháp vô ngại: They detach from craving and ill-will, and expound the truth without inhibition in all they say. b. Diệt trừ tư duy (giác), mà dùng tất cả trí tư duy (giác) giáo hóa chúng sanh: They extinguish thought and reflection, yet teach sentient beings with the thought and reflection of omniscience. c. Dầu trừ quán sát, mà dùng tất cả trí quán sát giáo hóa chúng sanh: They extinguish reflection, yet teach sentient beings with the reflection of omniscience. d. Xả ly hỷ ái mà thấy tất cả chư Phật lòng rất hoan hỷ: They give up joy and emotion, yet they are most joyful when they see all Buddhas. e. Rời thế gian lạc mà tùy thuận Bồ Tát đạo xuất thế lạc: They give up worldly enjoyments and follow the transcendent enjoyment of the Path of enlightening beings. f. Nhập sắc định mà chẳng bỏ thọ sanh nơi dục giới: They enter concentration in the realm of form, yet without abandoning life in the realm of desire. g. Nhập vô sắc định mà chẳng bỏ thọ sanh nơi dục giới và sắc giới: They are unshakable and enter formless concentration, yet without abandoning life in the realms of desire and form. h. Dầu trụ trong diệt tưởng định, mà cũng chẳng dứt Bồ Tát hạnh: Though they abide in concentration in which all perceptions are extinguished, they do not stop the activity of enlightening beings. i. Dầu trụ trong diệt thọ định, mà cũng chẳng dứt ồ Tát hạnh: Though they abide in concentration in which all sensations are extinguished, they do not stop the activity of enlightening beings. 10) Học thập Phật lực là Bồ Tát đạo—Learning the ten powers is a Path of Enlightening Beings: a. Trí khéo biết thị xứ phi xứ: Knowledge of what is so and what is not so. b. Trí khéo biết nghiệp báo nhân quả, quá khứ, vị lai và hiện tại của tất cả chúng sanh: Knowledge of the causes and effects, deeds and consequences, past, future, and present, of all sentient beings. c. Trí khéo biết căn cơ của tất cả chúng sanh chẳng đồng mà tùy nghi thuyết pháp: Knowledge of the differences in faculties of all sentient beings and explaining the truth to them as is appropriate. d. Trí khéo biết tất cả chúng sanh có vô lượng tánh: Knowledge of infinite different natures of sentient beings. e. Trí khéo biết tất cả chúng sanh kiến giải sai biệt, mà làm cho họ nhập vào pháp phương tiện: Knowledge of differences in weak, middling, and superior understanding of all sentient beings, and means of introducing them to truth. f. Trí biết khắp tất cả thế gian, tất cả cõi, tất cả tam thế, tất cả kiếp, hiện khắp hình tướng oai nghi của Như Lai, mà cũng chẳng bỏ việc làm của Bồ Tát: Knowledge of manifesting the appearance and conduct of Buddha throughout all worlds, all lands, all times, all ages, without abandoning the pactics of enlightening beings. g. Trí khéo biết tất cả thiền, giải thoát, và các tam muội, hoặc cấu hoặc tịnh, thời cùng phi thời, chỉ là những phương tiện xuất sanh cho Bồ Tát giải thoát môn: Knowledge of all meditations, liberations, and concentrations, whether defiled or pure, timely or not, expediently producing door of liberation for enlightening beings. h. Trí biết tất cả chúng sanh ở trong các loài chết đây sanh kia sai khác nhau: Knowledge of distinctions in all sentient beings's death in one place and birth in another in the various states of existence. i. Trí ở trong một niệm đều biết tam thế tất cả kiếp số: Instantaneous knowledge of all ages in past, present and future. j. Trí khéo biết tất cả chúng sanh lạc dục, phiền não, nghi hoặc, tập khí đều diệt hết, mà chẳng rời bỏ hạnh Bồ Tát: Knowledge of extinction of all sentient beings' deisres, compulsions, delusions, and habits, without abandoning the practices of Enlightening Beings.
mười đạo ly sanh của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười đạo ly sanh của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được pháp quyết định của Bồ Tát (see Ten qualities of Great Enlightening Beings)—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten Paths Of Emancipation Of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these will attain qualities of certainty of Enlightening Beings. 1) Xuất sanh Bát Nhã Ba La Mật, mà luôn quán sát tất cả chúng sanh: Evoking transcendent wisdom, yet always observing all sentient beings. 2) Xa rời những kiến chấp mà độ thoát tất cả chúng sanh bị kiến chấp ràng buộc: Detaching from all views, yet liberating all sentient beings bound by views. 3) Chẳng tưởng niệm tất cả tướng, mà chẳng bỏ tất cả chúng sanh chấp tướng: Not minding any appearances, yet not abandoning sentient beings attached to appearances. 4) Siêu quá tam giới, mà thường ở tại tất cả thế giới: Transcending the triple world, yet always being in all worlds. 5) Rời hẳn phiền não, mà ở chung với tất cả chúng sanh: Forever leaving afflictions, yet living together with all sentient beings. 6) Đắc pháp ly dục mà thường dùng đại bi thương xót tất cả chúng sanh nhiễm trước dục lạc: Attaining desirelessness, yet always most compassionately pitying all sentient beings attached to desires. 7) Thường thích tịch tịnh, mà luôn thị hiện tất cả quyến thuộc: Always enjoying tranquility and serenity, yet always appearing to be in company. 8) Rời sanh thế gian, mà chết đây sanh kia khởi hạnh Bồ Tát: Being free from birth in the world, yet dying in one place and being reborn in another, carrying on the activities of enlightening beings. 9) Chẳng nhiễm tất cả pháp thế gian, mà chẳng dứt tất cả việc làm của thế gian: Not being affected by any worldly things, yet not stopping work in the world. 10) Chư Phật Bồ Đề đã thị hiện ra trước mà chẳng bỏ tất cả hạnh nguyện của Bồ Tát: Actually realizing full enlightenment, yet not abandoning the vows and practices of Enlightening Beings.
mười đạo trang nghiêm của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười đạo trang nghiêm của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đạo đại trang nghiêm vô thượng của Như Lai, cũng chẳng bỏ Bồ Tát Đạo—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of way of adornment of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme way of great adornment of Buddhas, without leaving the Ways of Enlightening Beings. 1) Đại Bồ Tát chẳng rời dục giới mà nhập sắc giới, vô sắc giới thiền định, giải thoát và các tam muội, cũng chẳng nhơn đây mà thọ sanh: Without leaving the realm of desire, they enter the meditations, liberations, , and trances of the realms of form and formlessness, yet they are not thereby born in those realms. 2) Trí huệ hiện tiền nhập Thanh Văn đạo, nhưng chẳng do đạo nầy mà chứng lấy quả xuất ly: Their knowledge appears to enter the path of personally liberated saints, yet they do not take emancipation by this route. 3) Trí huệ hiện tiền nhập Bích Chi Phật đạo, mà phát khởi đại bi chẳng thôi dứt: Their knowledge appears to enter the path of individual illumination, yet they do not cease to generate great compassion. 4) Dầu có quyến thuộc nhơn thiên vây quanh, trăm ngàn thể nữ ca múa hầu hạ, mà chưa từng tạm bỏ thiền định, giải thoát, và các tam muội: Though they have human and celestial retinues surrounding them, hundreds and thousands of concubines and troupes of singers and dancers, they never for a moment leave meditation, liberation, and concentration. 5) Cùng tất cả chúng sanh thọ những dục lạc, cùng nhau vui đùa, mà vẫn chưa từng tạm trong một niệm rời bỏ Bồ Tát bình đẳng tam muội: They take part in amusements and expeirence pleasure and happiness with all sentient beings, but they never for a moment leave the concentration of equanimity of Enlightening Beings. 6) Đã đến bỉ ngạn, không còn chấp trước thế gian pháp, mà cũng chẳng bỏ hạnh cứu độ chúng sanh: They have already transcended all worlds and have no attachments to anything, yet they do not abandon efforts to liberate sentient beings. 7) An trụ trong chánh đạo, chánh trí và chánh kiến, mà hay thị hiện vào tất cả tà đạo, chẳng lấy làm thiệt, chẳng chấp làm tịnh, làm cho chúng sanh đó xa rời tà pháp: They live by the right path, right knowledge, and right insight, yet they can appear to enter false paths, without taking them to be true or pure, to cause the sentient beings involved in them to abandon false principles. 8) Thường khéo hộ trì tịnh giới của Như Lai, ba nghiệp thân, khẩu, ý không lầm lỗi, vì muốn giáo hóa chúng sanh phạm giới nên thị hiện làm tất cả hạnh phàm phu. Dầu đã đầy đủ phước đức thanh tịnh trụ bực Bồ Tát, mà thị hiện sanh nơi tất cả địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, cùng những chỗ hiểm nạn bần cùng, làm cho những chúng sanh đó đều được giải thoát. Kỳ thật, Bồ Tát chẳng sanh vào những loài đó: They always maintain the Buddha's pure precepts, and their thoughts, words, and deeds are faultless, but because they want to edify immoral sentient beings, they appear to perform the acts of ordinary ignorant people; though they are already filled with pure virtues and abide in the course of Enlightening Beings, yet they appear to live in such realms as hells, animality, ghosthood, and in difficulty and poverty, in order to enable the beings therein to gain liberation; really the Enlightening Beings are not born in those states. 9) Chẳng do người dạy mà được vô ngại biện, trí huệ quang minh, có thể chiếu rõ khắp cả Phật pháp, được thần lực của tất cả Như Lai hộ trì đồng một pháp thân với tất cả chư Phật, thành tựu tất cả pháp kiên cố, bí mật, minh tịnh của bực đại nhân, an trụ những thừa giải thoát bình đẳng, cảnh giới chư Phật đều hiện ra, đầy đủ tất cả thế trí quang minh, soi thấy tất cả chúng sanh giới, có thể vì chúng sanh mà làm tri pháp sư, thị hiện cầu chánh pháp không thôi dứt, dầu thật làm vô thượng sư cho chúng sanh mà thị hiện tôn kính a-xà-lê. Vì đại Bồ Tát thiện xảo phương tiện trụ Bồ Tát đạo, tùy theo sở nghi đều vì chúng sanh mà thị hiện: Without being taught by another, they attain unhindered intellect and the light of knowledge, are able to illumine and understand all Buddha teachings, are sustained by the spiritual power of all Buddhas, are one of the same body of reality with all Buddhas, accomplish all incorruptible mystic states of clarity and purity of great people, abide in all equal vehicles of liberation, are aware of all spheres of Buddhahood, are endowed with the light of all worldly knowledge, and clearly see all realms of sentient beings; they are able to be truth-knowing teachers for sentient beings, yet they make the appearance of ceaseless search for truth; though they are actually unexcelled teachers of sentient beings, they show respect to preceptors and religious mentors, because great enlightening beings, by skillful expedients, abide in the path of enlightening beings, yet manifest whatever is necessary. 10) Đạo trang nghiêm thứ mười—The tenth way of adornment: (A) a. Thiện căn đầy đủ: Their roots of goodness are sufficient. b. Công hạnh rốt ráo: Their practices are completed. c. Tất cả Như Lai cùng chung quán đảnh: They are coronated by all Buddhas together. d. Đến bỉ ngạn tất cả pháp tự tại: Reach the furthest extent of mastery of all the teachings. e. Lụa pháp vô ngại dùng đội trên đầu: Their heads crowned with the turban of the state of nonobstruction. f. Thân hình đến khắp tất cả thế giới, hiện khắp thân vô ngại của Như Lai: Their bodies reach all worlds and everywhere they show the body of Buddha that has no resistance. g. Nơi pháp tự tại rốt ráo tối thượng: Masters of the teachings, they attain supreme fulfillment. h. Chuyển pháp luân vô ngại thanh tịnh: Turn the unimpeded pure wheel of teaching. i. Tất cả pháp tự tại của Bồ Tát đều đã thành tựu: They have already accomplished all manner of freedom of enlightening beings. (A) Nhưng vì chúng sanh nên thị hiện thọ sanh nơi tất cả các quốc độ: But for the sake of sentient beings they appear to be born in all lands. (B) Đồng một cảnh với tất cả chư Phật trong ba đời: They are in the same realm as all Buddhas. a. Nhưng vẫn chẳng phế hạnh Bồ Tát: Yet they do not abandon the practices of Enlightening Beings. b. Chẳng bỏ pháp Bồ Tát: Yet they do not give up the principles of Enlightening Beings. c. Chẳng xao lãng nghiệp Bồ Tát: Yet they do not neglect the works of enlightening beings. d. Chẳng rời đạo Bồ Tát: Yet they do not leave the path of Enlightening Beings. e. Chẳng lơi oai nghi Bồ Tát: Yet they do not slacken the conduct of Enlightening Beings. f. Chẳng dứt những chấp thủ của Bồ Tát: Yet they do not cut off the grasping of Enlightening Beings. g. Chẳng thôi phương tiện thiện xảo Bồ Tát: Yet they do not cease the skillful methods of Enlightening Beings. h. Chẳng tuyệt việc làm của Bồ Tát: Yet they do not stop doing the tasks of enlightening beings. i. Chẳng nhàm hoạt động phát triển của Bồ Tát: Yet they do not tire of the developmental activities of Enlightening Beings. j. Chẳng dừng sức trụ trì của Bồ tát: Yet they do not put an end to sustaining power of Enlightening Beings. (C) Tại sao?—Why? Vì Bồ Tát muốn mau chóng chứng vô thượng Bồ Đề nên—Because Enlightening Beings want to quickly realize unexcelled, complete perfect enlightenment, so: a. Quán môn nhứt thiết trí: They examine the ways of access to omniscience. b. Tu hạnh Bồ tát không thôi nghỉ: Cultivate the practices of Enlightening Beings unceasingly.
mười đạo xuất sanh phật pháp của chư đại bồ tát
(Kinhy Hoa Nghiêm—Phẩm 38). —Ten ways of generating the qualities of Buddhahood of Great Enlightening Beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được mười danh hiệu đại trượng phu (see Ten appellations of greatness)—Enlightening Beings who abide by these will gain ten appellations of greatness. 1) Tùy thuận thiện hữu là đạo xuất sanh Phật pháp, vì họ đồng gieo căn lành: Following good friends is a way of generating qualities of Buddhahood, because they plant roots of goodness together. 2) Thâm tâm tin hiểu là đạo xuất sanh Phật pháp, vì biết Phật tự tại: Profound devotion is a way of generating qualities of Buddhahood, because they know the masteries of Buddhas. 3) Phát thệ nguyện lớn là đạo xuất sanh Phật pháp, vì tâm họ rộng rãi: Making great vows is a way of generating qualities of Buddhahood, because their minds become broad. 4) Nhẫn thọ thiện căn của mình là đạo xuất sanh Phật pháp, vì biết nghiệp chẳng mất: Recognizing their own roots of goodness ia a way of generating qualities of Buddhahood, because they know their action is not wrong. 5) Tất cả kiếp tu hành không nhàm đủ là đạo xuất sanh Phật pháp, vì biết đến tột thuở vị lai: Tirelessly cultivating practice in all ages is a way of generating qualities of Buddhahood, because it comprehends the future. 6) Vô số thế giới đều thị hiện là đạo xuất sanh Phật pháp, vì thành thục chúng sanh: Appearing in countless worlds is a way of generating qualities of Buddhahood, by maturing sentient beings. 7) Chẳng dứt Bồ Tát hạnh là đạo xuất sanh Phật pháp, vì tăng trưởng Đại bi: Not stopping the practices of enlightening beings is a way of generating qualities of Buddhahood, by increasing great compassion. 8) Vô lượng tâm là đạo xuất sanh Phật pháp, vì một niệm khắp tất cả hư không giới: Infinite awareness is a way of generating qualities of Buddhahood, by pervading all of space in a single moment of thought. 9) Hạnh thù thắng là đạo xuất sanh Phật pháp, vì công hạnh đã tu không hư mất: Excellent action is a way of generating qualities of Buddhahood, because what has been put into practice is not lost. 10) Như Lai chủng là đạo xuất sanh Phật pháp, vì làm cho tất cả chúng sanh thích phát tâm Bồ Đề dùng tất cả pháp lành giúp đỡ giữ gìn: The potential of enlightenment is a way of generating qualities of Buddhahood, causing all sentient beings to gladly set their minds on enlightenment and sustain this will by all virtues.
mười đầu của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm,Phẩm 38, có mười đầu của Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đầu đại trí huệ vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of head of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme head of knowledge and wisdom of Buddhas. 1) Đầu Niết bàn vì không ai thấy được đảnh: The head of nirvana, as no one can see the top. 2) Đầu tôn kính, vì tất cả nhơn thiên đều kính lễ: The head of honor, respected by all humans and celestials. 3) Đầu thắng giải quảng đại, vì tối thắng trong đại thiên thế giới: The head of universal higher understanding, being supreme in the universe. 4) Đầu đệ nhứt thiện căn, vì tam giới chúng sanh đều tôn kính cúng dường: The head of formost roots of goodness, honored by the sentient beings of the three worlds. 5) Đầu gánh đội chúng sanh, vì thành tựu tướng nhục kế trên đảnh: The head bearing sentient beings, developing an indestructible crown. 6) Đầu chẳng khinh tiện người, vì ở tất cả chỗ đều là bực tôn thắng: The head of not despising others, in all places always respectful. 7) Đầu Bát Nhã Ba La Mật, vì trưởng dưỡng tất cả pháp công đức: The head of transcendent wisdom, nurturing all virtuous qualities. 8) Đầu tương ưng phương tiện trí, vì hiện khắp tất cả thân đồng loại: The head of union of knowledge and skill in means, everywhere appearing in compatible forms. 9) Đầu giáo hóa tất cả chúng sanh, vì thâu nạp tất cả chúng sanh làm đệ tử: The head of teaching all sentient beings, taking all sentient beings as disciples. 10) Đầu thủ hộ pháp nhãn của chư Phật, vì làm cho Tam bảo chủng chẳng đoạn tuyệt: The head of preservation of the eye of reality of Buddhas, able to perpetuate the seeds of the three treasures.
mười đặc tính của bồ tát trong chúng hội hoa nghiêm
Ten characteristics of Bodhisattvas in the Gandavyuha Assembly—See Bồ Tát (C).
mười đặc tính của thanh văn chúng trong chúng hội hoa nghiêm
Ten Characteristics of Sravakas in the Gandavyuha Assembly: 1) Họ đã tự ngộ về tự tính của sự thật và lý tánh: They are enlightened in the self-nature of truth and reason. 2) Họ đã soi tỏ giới hạn của thực tại: They have an insight into the limit of reality. 3) Họ đã thâm nhập yếu tánh của chư pháp: They have entered into the essence of things. 4) Họ đã vượt ngoài biển sanh tử: They are out of the ocean of becoming. 5) Họ đã an trụ trong kho tàng phước đức của Phật: They abide where the Buddha-merit is stored. 6) Họ đã giải thoát khỏi sự trói buộc của những kiết sử và phiền não: They are released from the bondage of the knots and passions. 7) Họ đã cư ngụ trong ngôi nhà vô ngại: They dwell in the house of non-attachment. 8) Tâm họ tịch tĩnh như hư không: They stay in serenity of space. 9) Họ đã hoàn toàn dứt sạch những nghi hoặc đối với Phật: They have their desires, errors, and doubts wiped off by the Buddha. 10) Họ đã hiến mình một cách chân chính và trung thành cho biển Phật trí: They are rightly and faithfully devoted to the Buddha-ocean.
mười đặc điểm của bồ đề tâm
Ten characters of Bodhicitta—Bồ Tát Di Lặc trút hết biện tài của ngài để tán dương sự quan trọng của Bồ Đề tâm trong sự nghiệp của một vị Bồ Tát. Bởi vì nếu Thiện Tài Đồng Tử không in đậm sự kiện đó trong lòng, đã không dễ gì bước vào cung điện Tỳ Lô Giá Na. Cung điện đó tàng ẩn tất cả những bí mật trong đời sống tâm linh của người Phật tử cao tuyệt. Nếu đồng tử đó chưa được chọn kỹ để bắt đầu, những bí mật ấy không có nghĩa gì hết. Chúng có thể bị hiểu lầm nghiêm trọng và hậu quả cố nhiên là khốc hại. Vì lý do đó, Ngài Di Lặc chỉ cho Thiện Tài thấy đủ mọi góc cạnh đâu là ý nghĩa đích thực của Bồ Đề tâm. Bồ Đề tâm có mười đặc điểm sau đây—Evidently Maitreya exhausted his power of speech in order to extol the importance of the Bodhicitta in the career of a Bodhisattva, for without this being dully impressed on the mind of the young Buddhist pilgrim Sudhana, he could not have been led into the interior of the Tower of Vairocana. The Tower harbors all the secrets that belong to the spiritual life of the highest Buddhist. If the novice were not quite fully prepared for the initiation, the secrets would have no signification whatever. They may even be grossly misunderstood, and the result will be calamitous indeed. For this reason, Maitreya left not a stone unturned to show Sudhana what the Bodhicitta really meant. There are ten characteristics of the Bodhicitta (Essays in Zen Zen Buddhism, vol. III): 1) Bồ Đề tâm khởi lên từ tâm đại bi—The Bodhicitta rises from a great compassionate heart: • Nếu có đại bi tâm, chẳng thể là Phật pháp. Coi nặng đại bi tâm (Mahakaruna) là nét chính của Đại Thừa. Chúng ta có thể nói, toàn bộ tính chất của giáo thuyết đó quay quanh cái trụ chốt nầy. Nền triết lý viên dung được miêu tả rất gợi hình trong Hoa Nghiêm thực sự chính là cái bùng vỡ của công năng sinh động đó: Without the compassionate heart there will be no Buddhism. This emphasis on Mahakaruna is characteristic of the Mahayana. We can say that the whole panorama of its teachings revolves on this pivot. The philosophy of Interpenetration so pictorially depicted in the Avatamsaka Sutra is in fact no more than the outburst of this life-energy • Nếu chúng ta vẫn còn dây dưa trên bình diện trí năng, những giáo thuyết của Phật như Tánh Không (Sunyata),Vô Ngã (Anatmya), vân vân, dễ trở thành quá trừu tượng và mất hết sinh lực tâm linh vì không kích thích nổi ai cái cảm tình cuồng nhiệt. Điểm chính cần phải nhớ là, tất cả giáo thuyết của Phật đều là kết quả của một trái tím ấm áp hằng hướng tới tất cả các loại hữu tình; chứ không là một khối óc lạnh lùng muốn phủ kín những bí mật của đời sống bằng lý luận. Tức là, Phật pháp là kinh nghiệm cá nhân, không phải là triết học phi nhân: As long as we tarry on the plane of intellection, such Buddhist doctrines as Emptiness (sunyata), Egolessness (anatmya), etc., may sound so abstract and devoid of spiritual force as not to excite anyone to fanatic enthusiasm. Thus main point is to remember that all the Buddhist teachings are the outcome of a warm heart cherished towards all sentient beings and not of a cold intellect which tries to unveil the secrets of existence by logic. That is to say, Buddhism is personal experience and not impersonal philosophy. 2) Phát Bồ Đề tâm không phải là biến cố trong một ngày—The raising of the Bodhicitta is not an event of one day: Phát Bồ Đề tâm đòi hỏi một cuộc chuẩn bị trường kỳ không phải trong một đời mà phải qua nhiều đời. Đối với những người chưa hề tích tập thiện căn, tâm vẫn đang ngủ vùi. Thiện căn phải được dồn lại để sau nầy gieo giống trở thành cây Bồ Đề tâm hợp bóng. Thuyết nghiệp báo có thể không phải là một lối trình bày có khoa học về các sự kiện, nhưng các Phật tử Đại Thừa hay Tiểu Thừa đều tin tưởng tác động của nó nơi lãnh vực đạo đức trong đời sống của chúng ta. Nói rộng hơn, chừng nào tất cả chúng ta còn là những loài mang sử tính, chúng ta không trốn thoát cái nghiệp đi trước, dù đó có nghĩa là gì. Bất cứ ở đâu có khái niệm về thời gian, thì có sự tiếp nối của nghiệp. Nếu chấp nhận điều đó, Bồ Đề tâm không thể sinh trưởng từ mảnh đất chưa gieo trồng chắc chắn thiện căn—The raising of the Bodhicitta requires a long preparation, not of one life but of many lives. The Citta will remain dormant in those souls where there is no stock of merit ever accumulated. Moral merit must be stored up in order to germinate later into the great overshadowing tree of the Bodhicitta. The doctrine of karma may not be a very scientific statement of facts, but all Buddhists, Mahayana and Hinayana, believe in its working in the moral realm of our lives. Broadly stated, as long as we are all historical beings we cannot escape the karma that proceded us, whatever this may mean. Whenever there is the notion of time, there is a continuity of karma. When this is admitted, the Bodhicitta could not grow from the soil where no nourishing stock of good ness had ever been secured. 3) Bồ Đề tâm phát sinh từ thiện căn—Bodhicitta comes out of a stock of good merit: Nếu Bồ Đề tâm phát sinh từ thiện căn, chắc chắn nó phải là phì nhiêu đủ tất cả các điều tốt đẹp của chư Phật và chư Bồ Tát, và các loài cao đại. Đồng thời nó phải là tay cự phách diệt trừ các ác trược, bởi vì không thứ gì có thể đương đầu nổi sấm chớp kinh hoàng giáng xuống từ lưỡi tầm sét Đế Thích của Bồ Đề tâm—If the Bodhicitta comes out of a stock of merit, it cannot fail to be productive of all the good things that belong to the Buddhas and Bodhisattvas and other great beings. At the same time it must also be the great crusher of evils, for nothing can withstand the terrible blow inflicted by the thunderbolt of the Citta-Indra. 4) Phát Bồ Đề tâm diễn ra từ chỗ uyên ảo của tự tánh, đó là một biến cố tôn giáo vĩ đại—The awakening of the Bodhicitta which takes place in the depths of one's being, is a great religious event: Tính chất cao quý cố hữu của Bồ Đề tâm không hề bị hủy báng ngay dù nó ở giữa mọi thứ ô nhiễm, ô nhiễm của tri hay hành, hoặc phiền não. Biển lớn sinh tử nhận chìm tất cả mọi cái rơi vào đó. Nhất là các nhà triết học, họ thỏa mãn với những lối giải thích mà không kể đến bản thân của sự thực, những người đó hoàn toàn không thể dứt mình ra khỏi sự trói buộc của sống và chết, bởi vì họ chưa từng cắt đứt sợi dây vô hình của nghiệp và tri kiến đang kềm hãm họ và cõi đất nhị nguyên do óc duy trí của mình—The intrinsic nobility of the Bodhicitta can never be defamed even when it is found among defilements of every description, whether they belong to knowledge or deeds or passions. The great ocean of transmigration drowns every body that goes into it. Especially the philosophers, who are satisfied with interpretations and not with facts themselves, are utterly unable to extricate themselves from the bondage of birth and death, because they never cut asunder the invisible tie of karma and knowledge that securely keeps them down to the earth of dualities because of their intellectualism. 5) Bồ Đề tâm vượt ngoài vòng chinh phục của Ma vương—Bodhicitta is beyond the assault of Mara the Evil One: Trong Phật pháp, Ma vương tượng trưng cho nguyên lý thiên chấp. Chính nó là kẻ luôn mong cầu cơ hội tấn công lâu đài kiên cố của Trí (Prajna) và Bi (Karuna). Trước khi phát tâm Bồ Đề, linh hồn bị lôi kéo tới thiên chấp hữu và vô, và như thế là nằm ngoài ranh giới năng lực hộ trì của tất cả chư Phật và Bồ Tát, và các thiện hữu tri thức. Tuy nhiên, sự phát khởi đó đánh dấu một cuộc chuyển hướng quyết định, đoạn tuyệt dòng tư tưởng cố hữu. Bồ Tát bây giờ đã có con đường lớn thênh thang trước mắt, được canh chừng cẩn thận bởi ảnh hưởng đạo đức của tất cả các đấng hộ trì tuyệt diệu. Bồ Tát bước đi trên con đường thẳng tắp, những bước chân của ngài quả quyết, Ma vương không có cơ hội nào cản trở nổi bước đi vững chãi của ngài hướng tới giác ngộ viên mãn—In Buddhism, Mara represents the principle of dualism. It is he who is always looking for his chance to throw himself against the solid stronghold of Prajna and Karuna. Before the awakening of the Bodhicitta the soul is inclined towards the dualism of being and non-being, and is thus necessarily outside the pale of the sustaining power of all Buddhas, Bodhisattvas, and good friends. The awakening, however, makrs a decisive turning-away from the old line of thought. The Bodhisattva has now an open highway before him, which is well guarded by the moral influence of all his good protectors. He walks on straightway, his footsteps are firm, and the Evil One has no chance to tempt him away from his steady progress towards perfect enlightenment. 6) Khi Bồ Đề tâm được phát khởi, Bồ Tát được quyết định an trụ nơi nhất thiết trí—When the Bodhicitta is aroused, the Bodhisattva's hold on all-knowledge is definite and firm: Bồ Đề tâm có nghĩa là làm trổi dậy khát vọng mong cầu giác ngộ tối thượng mà Phật đã thành tựu, để rồi sau đó Ngài làm bậc đạo sư của một phong trào tôn giáo, được gọi là đạo Phật. Giác ngộ tối thượng là nhất thiết trí (Sarvajnata), thường được nhắc nhở trong các kinh điển Đại Thừa. Nhất Thiết trí vốn là yếu tính của đạo Phật. Nó không có nghĩa rằng Phật biết hết mọi thứ, nhưng Ngài đã nắm vững nguyên lý căn bản của hiện hữu và Ngài đã vào sâu trong trọng tâm của tự tánh—The Bodhicitta means the awakening of the desire for supreme enlightenment which was attained by the Buddha, enabling him to become the leader of the religious movement known as Buddhism. Supreme enlightenment is no other than all-knowledge, sarvajnata, to which reference is constantly made in all the Mahayana texts. All-knowledge is what constitutes the essence of Buddhahood. It does not mean that the Buddha knows every individual thing, but that he has grasped the fundamental principle of existence and that he has penetrated deep down into the center of his own being. 7) Phát Bồ Đề tâm đánh dấu đoạn mở đầu cho sự nghiệp của Bồ Tát—The rise of Bodhicitta marks the beginning of the career of a Bodhisattva: Trước khi phát Bồ Đề tâm, ý niệm về Bồ Tát chỉ là một lối trừu tượng. Có thể tất cả chúng ta đều là Bồ Tát, nhưng khái niệm đó không được ghi đậm trong tâm thức chúng ta, hình ảnh đó chưa đủ sống động để làm cho chúng ta cảm và sống sự thực. Tâm được phát khởi, và sự thực trở thành một biến cố riêng tư. Bồ Tát bấy giờ sống tràn lên như run lên. Bồ Tát và Bồ Đề tâm không thể tách riêng. Bồ Đề tâm ở đâu là Bồ Tát ở đó. Tâm quả thực là chìa khóa mở tất cả cửa bí mật của Phật pháp—Before the rise of the Bodhicitta, the idea of a Bodhisattva was no more than an abstration. We are perhaps all Bodhisattvas, but the notion has not been brought home to our consciousness, the image has not been vivid enough to make us feel and live the fact. The Citta is aroused and the fact becomes a personal event. The Bodhicitta is now quivering with life. The Bodhisattva and the Bodhicitta are inseparable; where the one is there the other is. The Citta indeed is the key that opens all the secret doors of Buddhism. 8) Bồ Đề tâm là giai đoạn thứ nhất trong hạnh nguyện của Bồ Tát—The Bodhicitta is the first stage of the Bodhisattva's life of devotion and vow: Trong Kinh Hoa Nghiêm, chủ đích đi cầu đạo của Thiện Tài là cốt nhìn ra đâu là hạnh và nguyện của Bồ Tát. Rồi nhờ Đức Di Lặc mà Thiện Tài trực nhận từ trong mình tất cả những gì mình săn đuổi giữa các minh sư, các đạo sĩ, các Thiên thần, vân vân. Cuối cùng được ngài Phổ Hiền ấn chứng, nhưng nếu không có giáo huấn của Đức Di Lặc về Bồ Đề tâm và được ngài dẫn vào lầu các Tỳ Lô, Thiện Tài hẳn là không mong gì thực sự bước lên sự nghiệp Bồ Tát đạo của mình. Hạnh và nguyện, xác chứng một Phật tử có tư cách là Đại Thừa chứ không phải là Tiểu Thừa, không thể không phát khởi Bồ Đề tâm trước tiên—In the Avatamsaka Sutra, the chief object of Sudhana's quest consists in finding out what is the Bodhisattva's life of devotion and vow. It was through Maitreya that the young Buddhist pilgrim caem to realize within himself all that he had been searching for among the various teachers, philosophers, gods, etc. The final confirmation comes from Samantabhada, but without Maitreya's instruction in the Bodicitta and is admision into the Tower of Vairocana, Sudhana could not expect to start really on his career of Bodhisattvahood. The life of devotion and vows which stamps a Buddhist as Mahayanist and not as Hinayanist is impossible without first arousing the Bodhicitta. 9) Đặc chất của Bồ Tát sinh ra từ Bồ Đề tâm là không bao giờ biết đến mệt mỏi—The characteristic of Bodhisattvahood born of the Bodhicitta is that He never know what exhaustion means: Kinh Hoa Nghiêm mô tả Bồ Tát như là một người không hề mệt mỏi sống cuộc đời dâng hiến, để làm lợi ích hết thảy chúng sanh, về tinh thần cũng như vật chất. Đời sống của ngài trải rộng đến tận cùng thế giới, trong thời gian vô tận và không gian vô biên. Nếu ngài không làm xong công nghiệp của mình trong một đời hay nhiều đời, ngài sẳn sàng tái sinh trong thời gian vô số, cho đến bao giờ thời gian cùng tận. Mỗi trường hành động của ngài không chỉ giới hạn trong thế gian của chúng ta ở đây. Có vô số thế giới tràn ngập cả hư không biên tế, ngài cũng sẽ hiện thân khắp ở đó, cho đến khi nào đạt đến mức mà mọi chúng sanh với mọi căn cơ thảy đều thoát khỏi vô minh và ngã chấp—The Avatamsaka Sutra describes the Bodhisattva as one who never becomes tired of living a life of devotion in order to benefit all beings spiritually as well as materially. His life lasts till the end of the world spatially and temporarily. If he cannot finish his work in one life or in many lives, he is ready to be reborn a countless number of times when time itself comes to an end. Nor is his field of action confined to this world of ours. As there are innumerable worlds filling up an infinite expanse of space, he will manifest himself there, until he can reach every being that has any value at all to be delivered from ignorance and egotism. 10) Khái niệm Bồ Đề tâm là một trong những tiêu chỉ quan trọng phân biệt Đại Thừa và Tiểu Thừa—The notion of Bodhicitta is one of the most important makrs which label the Mahayana as distinct from the Hinayana: Tính cách khép kín của tổ chức Tăng lữ làm tiêu hao sinh lực Phật pháp. Khi thế hệ đó ngự trị, Phật pháp hạn chế ích lợi của nó trong một nhóm khổ tu đặc biệt. Nói đến Tiểu Thừa, không phải chỉ chừng đó. Công kích nặng nhất mà nói, Tiểu thừa chận đứng sự sinh trưởng của hạt giống tâm linh được vun trồng trong tâm của mọi loài hữu tình; đáng lẽ phải sinh trưởng trong sự phát khởi Bồ Đề tâm. Tâm đó khát vọng không bao giờ bị khô héo vì sương giá lạnh lùng của cái giác ngộ trí năng. Khát vọng nầy kết chặt gốc rễ, và sự giác ngộ phải thỏa mãn những yêu sách của nó. Các hoạt động không hề mệt mỏi của Bồ Tát là kết quả của lòng ngưỡng vọng đó, và chính cái đó duy trì tinh thần của Đại Thừa vô cùng sống động—The exclusiveness of the monastic organization is a death to Buddhism. As long as this system rules, Buddhism limits its usefulness to a specific group of ascetics. Nor is this the last word one can say about the Hinayana; the weightiest objection is that it stops the growth of the spiritual germ nursed in the depths of every sentient being, which consists in the arousing of the Bodhicitta. The Citta has its desire never to be nipped by the cold frost of intellectual enlightenment. This desire is too deep-seated, and the enlightenment itself must yield to its dictates. The Bodhisattva's untiring activities are the outcome of this desire, and this is what keeps the spirit of the Mahayana very much alive.
mười đề mục bất tịnh
Theo Vi Diệu Pháp, có mười loại tử thi, bất tịnh, hay mười giai đoạn tan hoại của tử thi. Đây là những đề mục hành thiền được đề nghị cho những người ham mê sắc dục—According to The Abhidharma, there are ten kinds of foulness, impurities, or corpses in different stages of decay. This set of meditation subjects is especially recommended for removing sensual lust. 1) Tử thi sình: Uddhumataka (p)—A bloated corpse. 2) Tử thi đã đổi màu: Vinilaka (p)—A livid or discoloured corpse. 3) Tử thi đã tan rã chảy nước: Vipubhaka (p)—A festering corpse. 4) Tử thi bị đứt lìa: Vicchiddaka (p)—A dismembered or dissected corpse. 5) Tử thi bị đục khoét: Vikkhayitaka (p)—An eaten corpse. 6) Tử thi bị văng vụn ra thành từng mảnh: Vikkhittaka (p)—A scattered-in-pieces corpse. 7) Tử thi rã rời vung vảy tản mác: Hata-vikkhittaka (p)—A mutilated and scattered-in-pieces corpse. 8) Tử thi đẩm đầy máu: Lohitaka (p)—A bloody corpse. 9) Tử thi bị dòi tửa đục tan: Pulavaka (p)—A worm-infested corpse. 10) Bộ xương: Atthika (p)—A skeleton.
mười đề mục suy niệm
Anussati (p)—The ten recollections. 1) Niệm Phật: Buddhanussati (p)—Suy niệm về Đức Phật—The recollection of the Buddha. 2) Niệm Pháp: Dhammanussati (p)—Suy niệm về giáo pháp—The recollection of the Dharma. 3) Niệm Tăng: Sanghanussati (p)—Suy niệm về Tăng—The recollection of the Sangha. 4) Niệm Giới: Silanussati (p)—Suy niệm về Giới Luật. Tỉnh thức về việc tu hành trì giữ giới luật—The recollection of Morality. The practice of mindfully recollecting the special qualities of virtuous conduct. 5) Niệm Thí: Caganussati (p)—Suy niệm về Tâm Bố Thí. Tỉnh thức về việc tu hành hạnh bố thí—The recollection of generosity which involves mindful reflection on the special qualities of generosity. 6) Niệm Thiên: Devatanussati (p)—Suy niệm về chư Thiên—Thực tập bằng cách suy niệm như vầy: “Chư Thiên được sanh ra trong những trạng thái siêu việt vì họ có những phẩm hạnh tín, giới, bố thí, và trí huệ. Ta cũng có những phẩm hạnh ấy.” Đề mục hành thiền nầy là đề mục tu thiền tỉnh thức về những phẩm hạnh đặc biệt với sự chứng kiến của chư Thiên—The recollection of the devas, practised by mindfully considering: “The deities are born in such exalted states on account of their faith, morality, learning, generosity, and wisdom. I too possess these same qualities.” This meditation subject is a term for mindfulness with the special qualities of one's own faith, etc., as its objects and with the devas standing as witnesses. 7) Niệm Lạc: Upasamanussati (p)—Suy niệm về trạng thái thanh bình an lạc. Quán chiếu về sự an lạc của Niết Bàn: The recollection of peace. The contemplation on the peaceful attributes of Nibbana. 8) Niệm Tử: Marananussati (p)—Suy niệm về sự chết. Quán tưởng về cái chết là chắc chắn, cái chết đến bất ngờ, và khi chết người ta phải bỏ hết mọi thứ—The recollection of death. The contemplation on the fact that one's own death is absolutely certain, that the arrival of death is utterly uncertain, and that when death comes one must relinquish everything. 9) Niệm Thân: Kayagatasati (p)—Suy niệm hay tỉnh thức về thân. Quán tưởng về 32 phần của thân thể như tóc, lông, móng, răng, da, xương, tủy, vân vân—Mindfulness occupied with the body. The contemplation of the thirty-two repulsive parts of the body, hair of the head, hairs of the body, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, marrow, etc. 10) Niệm Tức: Anapanasati (p)—Suy niệm về hơi thở. Tỉnh thức về cảm giác xúc chạm của những vùng phụ cận hai lổ mũi hay môi trên khi không khí ập đến lúc ta thở vào thở ra—Mindfulness of breathing. The attentiveness to the touch sensation of in-breath and out-breath in the vicinity of the nostrils or upper lip, whether the air is felt striking as one breathes in and out.
mười đệ tử lớn của đức phật
See Ten chief disciples of Sakyamuni.
Mười địa vị
(Thập địa): vị Bồ Tát tu tập lần lượt chứng đủ 10 địa vị từ thấp đến cao gọi là Thập địa (十地, Phạn ngữ: daśabhmi), được kể như sau: 1. Hoan hỷ địa (歡喜地, Phạn ngữ: pramudit-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát hoan hỷ trên đường tu học, phát tâm cứu độ cho tất cả chúng sanh thoát khỏi luân hồi (saṃsra), không còn nghĩ đến bản thân mình nữa. Bồ Tát vì thế thực hiện hạnh bố thí (dna) không cầu phước đức, chứng được thực tính vô ngã (antman) của tất cả các pháp (dharma). 2. Ly cấu địa (離垢地, Phạn ngữ: vimal-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát nghiêm trì giới luật (ỵla) và thực hành thiền định (dhyna, samdhi). 3. Phát quang địa (發光地, Phạn ngữ: prabhkrỵ-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát chứng được luật vô thường (anitya), tu trì tâm mình, thực hành nhẫn nhục (kṣnti) khi gặp chướng ngại trên đường hóa độ chúng sanh. Ở địa vị này, Bồ Tát trừ được ba độc là tham, sân, si và được bốn cấp định an chỉ (dhyna) của bốn xứ, chứng đạt năm phần trong lục thông (abhijđ). 4. Diệm huệ địa (燄慧地, Phạn ngữ: arciṣmatỵ-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát trừ dứt mọi quan niệm sai lầm, tu tập trí huệ (prajđ) và 37 pháp Bồ-đề phần (bodhipkṣika-dharma), cũng gọi là 37 phẩm trợ đạo. 5. Cực nan thắng địa (極難勝地, Phạn ngữ: sudurjay-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát nhập định, đạt được trí huệ, từ đó liễu ngộ được pháp Tứ diệu đế và chân như, diệt hết các mối nghi ngờ và phân biệt, lại tiếp tục hành trì 37 giác chi. 6. Hiện tiền địa (現前地, Phạn ngữ: abhimukhỵ-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát liễu ngộ tất cả pháp là vô ngã, chứng được lý mười hai nhân duyên và chuyển hóa trí phân biệt thành trí bát-nhã, nhận thức được tánh không. Bồ Tát ở địa vị này đã đạt trí huệ Bồ-đề (Phạn ngữ: bodhi). Bồ Tát nhờ đó có thể nhập Niết-bàn thường trụ (Phạn ngữ: pratiṣṭhita-nirvṇa) vì lòng từ bi thương xót chúng sanh mà trụ lại thế gian, nhưng không bị sanh tử ràng buộc. Cảnh giới này gọi là Niết-bàn vô trụ (Phạn ngữ: apratiṣṭhita). 7. Viễn hành địa (遠行地,Phạn ngữ: ddraṅgam-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát có đầy đủ mọi khả năng, phương tiện (Phạn ngữ: upya) để giáo hóa chúng sanh. Ở địa vị này, Bồ Tát có thể tùy nguyện lực hóa thân ở bất kỳ hình tướng nào. 8. Bất động địa (不動地,Phạn ngữ: acal-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát không còn bị dao động bởi bất kỳ một cảnh ngộ nào, và biết chắc khi nào mình sẽ đạt quả vị Phật. 9. Thiện huệ địa (善慧地, Phạn ngữ: sdhumatỵ-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát đạt trí huệ viên mãn, có đủ Thập lực (Phạn ngữ: daśabala), lục thông (Phạn ngữ: ṣaḍabhijđ), bốn tự tín và tám giải thoát, thông đạt mọi giáo pháp và giảng dạy cho chúng sanh. 10. Pháp vân địa (法雲地, Phạn ngữ: dharmamegh-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát chứng đạt nhất thiết trí (Phạn ngữ: sarvajđat), đại hạnh. Ở địa vị này, Bồ Tát có Pháp thân viên mãn, ngự trên tòa sen với vô số Bồ Tát chung quanh trên cung trời Đâu-suất. Quả vị Phật lúc này đã được chư Phật ấn chứng. Kinh điển có nói đến các vị Bồ Tát đã đạt đến địa vị này là Bồ Tát Di-lặc (Phạn ngữ: Maitreya), Bồ Tát Quán Thế Âm (Phạn ngữ: Avalokiteśvara) và Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi (Phạn ngữ: Mađjuśrỵ).
mười ấn của chư đại bồ tát
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, chư đại Bồ Tát có mười ấn. Bồ Tát dùng mười ấn nầy mau thành vô thượng chánh đẳng chánh giác, đầy đủ trí ấn nhứt thiết pháp vô thượng của Như Lai—According to The Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of definitive mark of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can quickly achieve supreme perfect enlightenment and become endowed with the mark of Buddhas' unexcelled knowledge of all truths. 1) Ấn thứ nhứt—The forst definitive mark: a. Biết khổ khổ: Knowing the suffering of pain. b. Biết hoại khổ: Knowing the suffering of disintegration. c. Biết hành khổ: Knowing the suffering of transitoriness. d. Nhứt tâm chuyên cầu Phật pháp chẳng sanh tâm giải đãi: Single-mindedly seek the way of enlightenment, without becoming lazy. e. Thực hành Bồ Tát hạnh không mỏi lười, chẳng kinh sợ: Carry out practices of enlightening beings, unwearied, without fear of apprehension of anxiety. f. Chẳng bỏ đại nguyện cầu nhứt thiết trí: Not giving up this great undertaking. g. Kiên cố, bất thối, rốt ráo vô thượng Bồ Đề: Seeking omniscience steadfastly, not retreating, ultimately attaining unexcelled, complete perfected enlightenment. 2) Ấn thứ hai—The second definitive mark: Bồ Tát thấy có chúng sanh ngu si cuồng loạn, hoặc dùng lời ác thô tệ để hủy nhục, hoặc dùng dao gậy ngói đá để làm tổn hại, trọn không vì việc nầy mà bỏ tâm Bồ Tát, chỉ nhẫn nhục nhu hòa chuyên tu Phật pháp, trụ đạo tối thắng, nhập ngôi ly sanh—Seeing that there are sentient beings who are foolish and deluded to the point of madness, reviling, attacking, and injuring one another by words and weapons, do not abandon the attitude of an enlightening being because of these scenes; they just forbear with tolerance and gentility, concentrate on cultivating the way of enlightenment, abide in the supreme Path, and enter the state of detachment. The third definitive mark. 3) Ấn thứ ba—The third definitive mark: . Chư Đại Bồ Tát nghe Phật pháp thậm thâm tương ưng với nhứt thiết trí, có thể dùng tự trí thâm tín, nhẫn khả hiểu rõ, xu nhập—When Great Enlightening Beings hear explanation of the most profound teaching of Buddhas relating omniscience, they are able by their own knowledge to deeply believe and accept it, to understand and enter into it. 4) Ấn thứ tư—The fourth definitve mark: Chư Đại Bồ Tát cũng nghĩ rằng—Great Enlightening Beings also think: a. Phát thâm tâm cầu nhứt thiết trí: Having made the profound determination to seek omniscience. b. Sẽ thành Phật được vô thượng Bồ Đề: Shall become a Buddha and attain supreme complete perfect enlightenment. c. Tất cả chúng sanh lưu chuyển trong thế giới hữu vi, chịu vô lượng khổ; chính vì thế mà chư Bồ Tát cố gắng làm cho họ phát tâm Bồ Đề thâm tín hoan hỷ, siêng tu tinh tấn, kiên cố, bất thối: All sentient beings are flowing in the world of mundane conditions, suffering immeasurable pains; therefore, they try to set their minds on enlightenment, to believe and delight in it, and to cultivate it diligently and steadfastly without regressing. 5) Ấn thứ năm—The fifth definitive mark: a. Biết Như Lai trí vô biên nên chẳng dùng chừng ngằn đo lường: Knowing the knowledge of Buddhas is boundless and do not try to access it in limited terms. b. Nghe được vô biên trí Phật từ vô lượng Phật, không thể đánh giá được: Having heard of the boundlessness of Buddhas' knowledge from innumerable Buddhas, are able to make limited assessments. c. Tất cả văn tự thế gian nói ra đều có chừng ngằn, đều chẳng biết được Như Lai trí huệ: Everything written or said in all words has limitations and cannot comprehend the knowledge of Buddhas. 6) Chư Đại Bồ tát nơi vô thượng Bồ Đề được—In regard to unexcelled, complete perfect enlightenment, Great Enlightening Beings have. a. Sự mong muốn tối thắng:Supreme desire. b. Sự mong muốn thậm thâm: Profound desire. c. Sự mong muốn rộng lớn: Vast desire. d. Sự mong muốn vĩ đại: Great desire. e. Nhiều sự mong muốn: Complex desire. f. Sự mong muốn không gì hơn: Insuperable desire. g. Sự mong muốn vô thượng: Unsurpassed desire. Steadfast desire. h. Sự mong muốn kiên cố:Desire that cannot be destroyed by any demons or false teachers or their cohorts. i. Sự mong muốn mà chúng ma ngoại đạo và quyến thuộc không phá hoại được: j. Sự mong muốn cầu nhứt thiết trí không thối chuyển: Unyielding desire to seek omniscience. k. Bồ Tát an trụ trong những sự mong muốn nầy nơi vô thượng Bồ Đề rốt ráo bất thối: Dwelling in such desire, ultimately never turn back from supreme enlightenment. 7) Ấn thứ bảy—The seventh mark: Bồ Tát thực hành Bồ Tát hạnh chẳng kể thân mạng không gì trở ngại được—Great Enlightening Beings carry out enlightening actions without concern for their own bodies or lives. No one can discourage or frustrate them. a. Vì phát tâm xu hướng nhứt thiết trí: Because they proceed with determination toward all-knowledge. b. Vì nhứt thiết trí tánh thường hiện tiền: Because the essence of omniscience is always apparent to them. c. Vì được tất cả Phật trí quang minh: Because they have the light of knowledge of all Buddhas. d. Trọn chẳng bỏ rời Phật Bồ Đề, trọn chẳng rời bỏ thiện tri thức: Never give up on the enlightenment of Buddhas and never abandon the wise. 8) Ấn thứ tám—The eighth mark: Chư Đại Bồ Tát nếu thấy thiện nam tử thiện nữ nhân xu hướng Đại thừa thời—When Great Enlightening Beings see good men and women aiming for great Vehicle of universal enlightenment. a. Tăng trưởng tâm cầu Phật pháp: Foster the growth of their determination to seek Buddhahood. b. Khiến họ an trụ tất cả thiện căn: To stabilize all foundations of goodness. c. Khiến họ nhiếp thủ tâm nhứt thiết trí: Internalize the determination for omniscience. d. Khiến họ bất thối vô thượng Bồ Đề: Never to turn back the quest for supreme enlightenement. 9) Ấn thứ chín—The ninth definitive mark: a. Great enlightening beings cause all sentient beings to achieve an impartial mind and induce them to cultivate the path of universal knowledge: Bồ Tát làm cho tất cả chúng sanh được tâm bình đẳng, khuyên họ siêng tu đạo nhứt thiết trí. b. Dùng tâm đại bi mà vì họ thuyết pháp, khiến họ trọn chẳng thối chuyển nơi vô thượng chánh đẳng chánh giác: They explain the truth to sentient beings compassionately and cause them never turn back on the Path of Enlightenment. 10) Ấn thứ mười—The tenth definitive mark: a. Đại Bồ tát dùng tam thế chư Phật đồng một thiện căn: Great Enlightening Beings have the same foundations of goodness as all Buddhas. b. Chẳng dứt chủng tánh của chư Phật, rốt ráo được đến nhứt thiết chủng trí: They perpetuate the seed of Buddhahood and ultimately reach omniscient knowledge.
Mạ ý kinh 罵意經
[ja] メキョウ Ba'ikyō ||| Mayi jing. Full title is 佛説罵意經; trans. by An Shigao 安世高; T 732.17.530a-534c. => Ba'ikyō (j); Mayi jing (c); Tên gọi đầy đủ là Phật thuyết mạ ý kinh 佛説罵意經; An Thế Cao (c: An Shigao 安世高) dịch.
mạc
1) Đừng: Not to—Do not—No. 2) Màng: A membrane.
; (幕) Cũng gọi Mạn mạc, Trướng duy. Màn trướng, tức là 1 tấm vải dài dùng để trang trí hoặc để ngăn chia không gian. Màn may dọc là mạn, màn may ngang gọi là mạc. Kinh Đà la ni tập quyển 3 nêu ra 21 loại vật cúng dường, trong đó, loại thứ 7 là Bảo trướng (trướng báu). Trong các kinh điển, danh từ màn trướng thường được nói đến, như kinh Quán vô lượng thọ nói (Đại 12, 343 thượng): Màn báu trên Bảo chàng, giống như cung trời Dạ ma. Ngoài ra, cứ theo điều Thiên hóa trong Bách trượng thanh qui quyển 3 thì gian trên, gian giữa và gian dưới của Pháp đường đều có giăng màn và bày hương hoa đèn nến v.v... Ngày nay, trong các lễ hội, màn thường được dùng để ngăn che phía trước và 2 bên cạnh của Phật đường.
mạc bang
Đưa hai tay lên khỏi đầu tỏ ý quy phục (đầu hàng)—To raise the hands to the head in making obeisance.
mạc chính hi
(莫正熹) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc , người Trung sơn, tỉnh Quảng đông. Năm Dân quốc 25 (1936), ông qui y pháp sư Từ hàng, được đặt pháp danh là Tịnh hi. Ông tinh thông quốc học và kính tin Phật pháp. Ông qua đời vào tháng 12 năm Dân quốc 75 (1986), thọ 88 tuổi. Ông có các tác phẩm: Kinh kì tập, Kiến tính thành Phật, Kinh kì tạp tập; Lăng nghiêm thiển thích.
mạc da kiếm
(鏌耶劍) Cũng gọi Mạc tà kiếm. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn là 1 loại kiếm nổi tiếng đời xưa do 2 vợ chồng anh thợ đúc kiếm người nước Ngô (có thuyết cho là người nước Sở hoặc nước Hàn) tên là Mạc da và Can tương làm ra. Hai vợ chồng người thợ danh tiếng này hợp lực giúp vua Ngô Hạp lư đúc 2 thanh kiếm âm và dương, kiếm dương gọi là Can tương, kiếm âm gọi là Mạc da. Trong Thiền lâm, kiếm Mạc da được dùng để chỉ cho trí tuệ xưa nay sẵn có của chính mình, hoặc trí kiến bát nhã của bậc thầy chỉ dẫn người học 1 cách tự do tự tại. Tắc 9, Bích nham lục (Đại 48, 149 thượng), nói: Gương sáng trên đài, đẹp xấu tự rõ, kiếm Mạc da trong tay, sống chết tùy thời.
mạc già
Magha (skt). 1) Của cải: Wealth. 2) Cúng dường: Donation. 3) Thất tinh: Chòm thất tinh hay chòm sao bảy cái—Seven stars.
mạc ha
1) Lớn: Maha (skt)—Great. 2) Dòng sông Mahanada trong xứ Ma Kiệt Đà, chảy vào vịnh Cambay: Mahanada, a small river in Magadha, flowing into the gulf of Cambay.
mạc ha diễn tích
(莫呵衍磧) Cũng gọi Mạc hạ diên thích. Chỉ cho Đại mạc (sa mạc lớn) là từ ghép chung Phạm và Hán. Tức là sa mạc Gobi, xưa gọi là Sa hà (sông cát). Cứ theo Cao tăng Pháp hiển truyện và Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 1, thì sa mạc này dài hơn 800 dặm, trên không có chim bay, dưới không có thú chạy, cây cỏ không mọc được vì không có nước, là vùng đất mà các nhà truyền giáo thủa xưa phải trải qua khi truyền Phật pháp sang phương Đông. (xt. Qua Bích).
mạc ha tăng kỳ ni già da
Mahasanghika-nikaya (skt)—See Mahasanghika in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
mạc hô lạc già
Xem Ma hầu la dà.
mạc hô lạc già ma
Xem Ma hầu la dà.
mạc quy hương kệ
(莫歸鄉偈) Bài kệ do Thiền sư Mã tổ Đạo nhất (709- 788) đời Đường cảm tác khi ngài về thăm lại quê hương. Sau khi được Thiền sư Nam nhạc Hoài nhượng truyền tâm pháp cho, ngài Mã tổ Đạo nhất đến vùng Giang tây hoằng dương tông chỉ của Thiền, chủ trương tâm bình thường là đạo, tâm tức là Phật, cùng với ngài Thạch đầu Hi thiên hoằng pháp ở vùng Hồ nam, được xem là 2 viên ngọc quí của Thiền lâm thời bấy giờ. Một hôm, ngài Mã tổ trở về thăm làng quê ở tỉnh Tứ xuyên, người làng rất vui mừng đón tiếp, nhưng có 1 bà già biết ngài từ lúc còn nhỏ lại nói (Vạn tục 135, 454 hạ): Tưởng ai xa lạ, thì ra là thằng nhỏ con nhà họ Mã làm nghề đan nia! Ngài Mã tổ nghe được than rằng: Ở quê nhà khó truyền Phật pháp, rồi làm bài kệ để khuyên mọi người: Khuyên ông chớ về làng Về làng khó hành đạo Bà già ven dòng suối Gọi tên ta thủa nào! (Khuyến quân mạc hoàn hương Hoàn hương đạo bất thành Khê biên lão bà tử Hoán ngã cựu thời danh). Sau đó, ngài liền trở về Giang tây. Nhưng có thuyết cho rằng bài kệ này là của ngài Nam nhạc làm và tặng ngài Mã tổ, khi Mã tổ trên đường về quê ghé thăm lễ bái vấn an, nhưng lời kệ có thêm bớt chút ít. [X. chương Mã tổ Đạo nhất trong Ngũ gia chính tông tán Q.1; Chính pháp nhãn tạng hành trì thiên Q.hạ].
mạc tác
Đừng làm—Not committing.
mạc vọng tưởng
(莫妄想) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tiếng hét làm cho người khác đừng khởi lên vọng tưởng. Là lời nói nghiêm khắc để ngăn chặn ý thức chấp trước phân biệt. Nếu không khởi vọng tưởng thì có thể ngay đó được quả bồ đề. Dụng ngữ này thịnh hành trong chốn Thiền lâm Trung quốc ở đời Đường. Chương Trường sa Cảnh sầm trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 10 (Đại 41, 275 hạ), chép: Có vị tăng hỏi: Con giun đứt làm 2 khúc, 2 đầu đều ngọ ngoạy, không biết tính Phật ở đầu nào? Sư đáp: Tưởng bậy làm gì!(Vọng tưởng tác ma!) Liên đăng hội yếu quyển 6 cũng chép hệt như thế, nhưng câu sau cùng thì ghi: Chớ tưởng bậy! (Mạc vọng tưởng!). [X. Phần dương Vô đắc thiền sư ngữ lục Q.trung; Ngũ tổ Pháp diễn thiền sư ngữ lục Q.trung; Cảnh đức truyền đăng lục Q.18].
Mạc 莫
[ja] マク、モ maku, mo ||| (1) No, not, there is not (2) Must not, do not. (3) Extensive, great. (4) To decide, to fix, to plan. => 1. Không, không có (vô 無). 2. Không nên, không được. 3. Rộng rãi, to lớn. 4. Quyết định, ấn định, trù định.
Mạch lạc 脈絡
[ja] ミャクラク myakuraku ||| Literally the "flow of the veins." In textual studies it is used as a metaphor to refer to a line of reasoning; a reason, an argument or doctrine. Linear. => Có nghĩa là huyết mạch. Trong việc nghiên cứu kinh điển, từ nầy được dùng như một ẩn dụ nói đến phương pháp lý luận; lập luận, hay học thuyết. Đường lối.
Mạch Nguyệt
(麥月): vào tháng 4 Âm Lịch là lúc lúa mạch chín, vì vậy tháng này được gọi là Mạch Nguyệt. Trong Lễ Ký (禮記), chương Nguyệt Lịnh (月令) cho biết rằng: “Mạnh Hạ chi nguyệt mạch thu chí (孟夏之月麥秋至, tháng đầu Hạ lúa mạch chín đến).” Trong bài Nguyệt Lịnh Chương Cú (月令章句) của Thái Ung (蔡邕, 133-192) nhà Đông Hán giải thích rằng: “Bách cốc các dĩ kỳ sơ sanh vi Xuân, thục vi Thu, cố mạch dĩ Mạnh Hạ vi thu (百穀各以其初生爲春、熟爲秋、故麥以孟夏爲秋, trăm loại lúa đều lấy lúc mới sinh trưởng là mùa Xuân, chín là mùa Thu, cho nên lúa mạch lấy đầu Hạ là mùa lúa chín).”
; (麥月): vào tháng 4 Âm Lịch là lúc lúa mạch chín, vì vậy tháng này được gọi là Mạch Nguyệt. Trong Lễ Ký (禮記), chương Nguyệt Lịnh (月令) cho biết rằng: “Mạnh Hạ chi nguyệt mạch thu chí (孟夏之月麥秋至, tháng đầu Hạ lúa mạch chín đến).” Trong bài Nguyệt Lịnh Chương Cú (月令章句) của Thái Ung (蔡邕, 133-192) nhà Đông Hán giải thích rằng: “Bách cốc các dĩ kỳ sơ sanh vi Xuân, thục vi Thu, cố mạch dĩ Mạnh Hạ vi thu (百穀各以其初生爲春、熟爲秋、故麥以孟夏爲秋, trăm loại lúa đều lấy lúc mới sinh trưởng là mùa Xuân, chín là mùa Thu, cho nên lúa mạch lấy đầu Hạ là mùa lúa chín).”
mạch tích sơn
(麥積山) Núi ở cách huyện Thiên thủy, tỉnh Cam túc, Trung quốc, 46 cây số về phía đông nam. Núi này từ lâu đã bị lãng quên, mãi đến năm Dân quốc 41 (1952) mới được người ta biết tới. Hình dáng núi rất đặc thù, cao hơn 140 mét, đỉnh núi tròn, dốc thẳng xuống, trông giống như đống lúa ở thôn quê, cho nên gọi là Mạch tích sơn (núi đống lúa). Trong núi có suối rừng đẹp đẽ, là Thánh cảnh thâm u, tịch mịch ở khu Tây bắc Trung quốc. Qua các thời đại, nhiều vị Thiền tăng đã vào đây tĩnh tu, như cácngài Huyền cao, Đàm hoằng v.v... Các bậc Đế vương thời Bắc triều thích đến sườn núi này để tạo tượng, khắc kinh, nhưng niên đại tạo khắc không thể khảo xét được, chỉ ước tính bắt đầu vào khoảng cuối thời kì 16 quốc gia, đến các thời Bắc Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Chu đều có các kiến tạo rất qui mô. Rồi đến các đời Tùy, Đường, Tống cũng không ngừng mở rộng, qua các đời Minh, Thanh thì các việc tu bổ cũng rất được quan tâm. Về thời gian kiến tạo thì chỉ kém các hang động ở Đôn hoàng mà thôi, nhưng do những trận động đất và gió mưa xói mòn, nên bộ phận ở giữa bị cắt lìa, những hang đá thì chia thành 2 sườn Đông và Tây. Đề tài ghi được khắc trên đá sớm nhất hiện còn là bài văn phát nguyện tạo tượng của ông Trương bá nguyên, được khắc vào năm Cảnh minh thứ 2 (501) đời vua Tuyên vũ nhà Bắc Ngụy. Ngoài ra, vẫn còn 194 chỗ khắc hang khám và ma nhai rải rác ở 2 sườn Đông và Tây. Đỉnh núi có ngôi tháp hình 8 góc 5 tầng, chân núi phía đông có chùa Thụy ứng, vì núi đá này không thích hợp cho việc điêu khắc, nên phần lớn các tượng đều được đắp bằng đất. Các hang đá và ma nhai phần nhiều đã đổ nát, nhưng trong các hang vẫn còn 1 nghìn pho tượng đắp bằng đất, được tạo từ thời Bắc Ngụy đến Bắc Tống. Còn ở sườn núi phía đông, thì Niết bàn nhai, Thiên Phật lang, Tán hoa lâu, Thất Phật các, Ngưu nhi đường v.v... trông rất đẹp; trong đó, Thiên Phật lang còn 258 pho trong số 1 nghìn pho tượng ngồi đắp bằng đất, cũng có tượng đắp đất cao tới 6,15 mét. Ở giữa sườn núi phía tây, có Vạn Phật đường, trên mặt vách có tượng Hiền kiếp thiên Phật được tạo lập vào các thời đại từ Bắc Ngụy trở về sau, trên xà ngang và các cửa có khắc tượng người cúng dường và sơn thủy khắc nổi, rất tiếc là phần lớn đã bị bóc trộm mất. Mặt tây của Vạn Phật đường có tượng Tam tôn đứng khắc vào sườn núi rất lớn, hang nhỏ ở phía trên có các bức bích họa thời Bắc Ngụy, đẹp ngang với bích họa ở động đá Đôn hoàng, trong đó có bức vẽ Xả thân cho hổ đói. Quần thể động đá ở núi này và động đá chùa Bỉnh linh ở huyện Vĩnh tĩnh cũng thuộc tỉnh Cam túc, đều được tìm ra từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2.
Mạch 脈
[ja] ミャク myaku ||| (1) Vein, artery. (2) The flow of blood. (3) Reason, logic, circumstances. The linear continuation of something. => 1. Huyết quản, tĩnh mạch, . 2. Huyết mạch. 3. Lý do, lý lẽ, tình huống. Dòng tương tục của sự kiện.
mại tánh
Xem Bạc câu La.
mại tăng
(賣僧) Cũng gọi Đọa lạc tăng. Tăng buôn bán, chỉ cho các ông tăng ở trong chốn Thiền lâm mà còn theo việc kinh doanh, thương mãi. Về sau, từ ngữ này được dùng để chỉ cho hạng tăng chỉ biết dua nịnh người khác để cầu tiếng tăm, lợi dưỡng chứ không có đạo tâm.
Mạn
慢; S, P: māna;|Sự kiêu mạn tự cho ta bằng người (s: māna) hoặc hơn người (s: atimāna). Mạn là một trong mười Kết sử trói vào Luân hồi, chỉ hoàn toàn tan rã khi chứng quả A-la-hán. Mạn là một trong những Tuỳ miên (s: anuśaya; p: anusaya) và Phiền não (s: kleśa; p: kilesa).
mạn
Māna (S), Arrogance (S, P)Lòng kiêu mạn. 1- Một trong ngũ thượng kết: sắc ái kết, vô sắc ái kết, mạn kết, trạo kết, vô minh kết. 2- Mối trói buộc mà người đắc quả A la hán dứt được là không còn lòng kiêu ngạo. 3- Tâm cống cao và lăng nhục người khác. Một trong Thập sử.
; Màna (S). Pride, arrogance, self-conceit, looking down on others, supercilious.
; (A) Nghĩa của Mạn—The meanings of Arrogance or Haughtiness: 1) Kiêu mạn: Mana (skt)—Cậy tài mình cao hơn mà khinh miệt người khác—Proud—Pride—Arrogance—Self-conceit—Looking down on others—Superlicious—Mạn là tự nâng cao mình lên, dương dương tự đắc. Họ có khuynh hướng lấn át người trên, chà đạp người dưới, không học hỏi, không lắng nghe lời khuyên hay lời giải thích, hậu quả là họ phạm phải nhiều lỗi lầm đáng tiếc—Haughty people are self-aggrandized and boasting. They tend to bully their superiors and trample the inferior. They refuse to learn any more or listen to advice or explanations; and as a result commit regretable errors. 2) Tràn lan: Overflowing—Boundless—Prolonged—Extended—Widespread. (B) Phân loại Mạn-Categories of Arrogances: 1) Thất Mạn: Seven arrogances—See Thất Mạn. 2) Cửu Mạn: Nine arrogances—See Cửu Mạn.
; (慢) Phạm,Pàli: Màna. Tức là tâm tự phụ, so sánh sự cao thấp, hơn kém, tốt xấu v.v... giữa mình với người khác rồi cậy mình hơn mà khinh miệt người, là 1 trong 46 tâm sở theo tông Câu xá và 1 trong 51 tâm sở theo tông Duy thức. Mạn có rất nhiều loại: Luận Đại tì bà sa quyển 43 và luận Câu xá quyển 19 nêu 7 loại mạn: 1. Mạn: Đối với người kém mình thì cho mình là tài giỏi hơn; còn đối với người ngang bằng mình, thì lại cho mình là không thua kém mà sinh tâm kiêu căng ngạo mạn. 2. Quá mạn (Phạm: Ati-màna): Người ngang bằng mình thì lại ương ngạch cho rằng mình vượt hơn; còn người ta hơn mình thì ngang ngược bảo họ bằng mình. 3. Mạn quá mạn (Phạm: Mànàtimàna): Người ta hơn mình thì ngược lại cho mình hơn người ta. 4. Ngã mạn (Phạm: Àtma-màna): Là gốc nguồn của 7 mạn. Trong thân do 5 uẩn giả hòa hợp, chấp trước có ta (ngã), của ta (ngã sở), rồi cậy ta mà sinh ra ngạo mạn. Bên trong chấp có ta, thì tất cả mọi người không ai bằng ta; bên ngoài chấp có cái của ta, thì phàm là cái của ta đều có giá trị cao hơn cái của những người khác. 5. Tăng thượng mạn (Phạm: Adhimàna): Chưa chứng được quả vị mà tự nhận mình đã chứng đắc. 6. Tị mạn (Phạm: Ùna-màna): Đối với người tài đức vượt trội, thì tự cho mình chỉ kém hơn người ấy chút ít; hoặc tuy thừa nhận người ấy hoàn toàn cao hơn, mình thực sự thấp kém, nhưng dứt khoát không chịu hạ mình học tập người ta. 7. Tà mạn (Phạm: Mithyà-màna): Chẳng có đức hạnh gì mà lại tự khoe mình là có. Còn 8 loại mạn thì gồm: Mạn, Đại mạn, Mạn mạn, Ngã mạn, Tăng thượng mạn, Bất như mạn, Tà mạn và Ngạo mạn. Luận Câu xá quyển 19 thì căn cứ vào luận Phát trí quyển 20 mà nêu ra 9 loại mạn: 1. Ngã thắng mạn loại: Đối với người bằng mình thì sinh tâm quá mạn mà cho mình hơn người. 2. Ngã đẳng mạn loại: Đối với người bằng mình mà sinh khởi tâm mạn cho rằng Tôi bằng người ấy (nghĩa là không thua kém). 3. Ngã liệt mạn loại: Đối với người vượt hơn mình, sinh tâm ti mạn Tôi kém cỏi. 4. Hữu thắng ngã mạn loại: Đối với người vượt hơn mình, sinh khởi tâm ti mạn người ấy hơn tôi. 5. Hữu đẳng ngã mạn loại: Đối với người bằng mình, sinh khởi tâm mạn người ấy và tôi bằng nhau. 6. Hữu liệt ngã mạn loại: Đối với người bằng mình, sinh khởi tâm quá mạn người ấy kém tôi. 7. Vô thắng ngã mạn loại: Đối với người bằng mình, sinh khởi tâm mạn cho rằng người ấy chưa chắc đã vượt hơn mình. 8. Vô đẳng ngã mạn loại: Đối với người bằng mình mà sinh tâm quá mạn cho rằng người ấy kém hơn mình. 9. Vô liệt ngã mạn loại: Đối với người hơn mình nhiều phần mà sinh tâm ti mạn cho rằng mình chỉ kém người ấy ít phần v.v...Chín loại mạn này gồm trong 3 loại là Mạn, Quá mạn và Ti mạn trong 7 mạn ở trên. Tức là Ngã đẳng mạn loại, Hữu đẳng ngã mạn loại và Vô thắng ngã mạn loại thuộc về Mạn; Ngã thắng mạn loại, Hữu liệt ngã mạn loại và Vô đẳng ngã mạn loại thuộc về Quá mạn; còn Ngã liệt mạn loại; Hữu thắng ngã mạn loại và Vô liệt ngã mạn loại thì thuộc về Ti mạn. Luận Phẩm loại túc quyển 1 có giải thích rõ về 9 mạn, trong đó, nêu ra trường hợp của Ngã thắng mạn, cho rằng Ngã thắng mạn là từ Mạn, Quá mạn và Mạn quá mạn mà ra, đây là do căn cứ vào quán cảnh kém, bằng và hơn mà phân biệt: Nếu quán cảnh kém mà cho mình là hơn, đó là Mạn; nếu quán cảnh bằng mà bảo mình hơn, đó là Quá mạn; còn nếu quán cảnh hơn mà bảo là mình hơn thì đó là Mạn quá mạn. Còn 8 mạn kia cũng có thể suy đây mà biết. Trong Phạm võng Bồ tát giới bản sở quyển 5, ngài Pháp tạng nêu ra 10 loại mạn là: Thông minh, thế trí, cao quí, kì niên (cao tuổi), đại tính (dòng họ lớn), cao môn (nhà cửa cao sang), giải (hiểu biết), phúc, phú (giàu có) và bảo (của báu). Pháp hoa kinh luận quyển hạ lại đem 7 ví dụ trong kinh Pháp hoa phối với 7 loại Tăng thượng mạn. Ngoài ra, vọng hoặc của tâm kiêu mạn, gọi là Mạn hoặc, là 1 trong 10 hoặc lớn; tự mạn mà phát ra nơi tâm, gọi là Mạn cử. [X. luận Đại tì bà sa Q.49, 50; luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.4; Câu xá luận quang kí Q.4, 19; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.6, phần cuối].
mạn cúng
Cúng dường bông Mạn Đà La hay Viên Hoa lên chư Phật—Offerings of mandarava flowers.
mạn cử
Tỏ ra kiêu mạn—To hold oneself arrogantly.
mạn hoặc
Delusion of pride.
mạn khanh
The pit, or pitfall of pride.
; (慢坑) Hố kiêu mạn, ví dụ tâm kiêu mạn như cái hố sâu. Ma ha chỉ quán quyển 10, hạ (Đại 46, 136 trung), nói: Kẻ được rơi xuống hố kiêu mạn, người thua thì đọa vào ngục ưu sầu.
mạn kim cương
(慢金剛) Phạm: Màna-vajra. Cũng gọi: Kim cương mạn, Kim cương ngạo, Ý khí kim cương, Kim cương dục tự tại.Vị tôn ngồi trong nguyệt luân ở phía trái Kim cương tát đỏa, trong hội Lí thú, là 1 trong 17 vị tôn của hội Lí thú trong Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Cứ theo Lí thú kinh thập thất Thánh đại mạn đồ la nghĩa thuật, thì vị Bồ tát này dùng trí Vô quá thượng (không trí nào vượt qua được trí này) khiến cho tất cả chúng sinh đều chứng được Thể của Tì lô giá na Như lai, đối với thế gian và xuất thế gian đều được tự tại, cho nên trụ ở uy nghi ngạo mạn, hiển hiện trí thân bình đẳng, ngã và vô ngã đều là huyễn. Như vậy thì biết vị Bồ tát này biểu thị cái đức hóa tha tự tại, cho nên gọi là Mạn kim cương. Hình tượng của vị tôn này là thân màu vàng, 2 tay khuỳnh ra và nắm lại để ở 2 bên bẹn, đầu hơi nghiêng về phía trái. Chủng tử là (kha), hình Tam muội da là 2 ấn Kim cương quyền. Cứ theo Ngũ bí mật tu hành niệm tụng nghi quĩ, thì vị tôn này dùng 2 Kim cương quyền đặt ở nơi bẹn là biểu thị ý nghĩa thân chất ngại của 5 thức đã thanh tịnh, khởi đại dũng mãnh tinh tiến, làm cho thân 5 thức của hết thảy hữu tình đều thanh tịnh, đạt được trí Thành sở tác, mau chóng thành Phật. [X. Lí thú thích Q.thượng; Đại lạc kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ; Phổ hiền kim cương tát đỏa lược du già niệm tụng nghi quĩ].
mạn kiến
Pride, regarding oneself as superior, one of the ten wrong views.
; Một trong mười loại tà kiến, lòng kiêu mạn, đối với việc gì cũng cho là mình hơn người kém—Pride, regarding oneself as superior, one of the ten wrong views. ** For more information, please see Thập Tà Kiến in Vietnamese-English Section.
; (慢見) Đồng nghĩa: Mạn. Tâm kiêu mạn, tự cho mình là hơn người khác, xem những người khác thấp kém hơn mình, là 1 trong 10 kiến. Tông Câu xá Tiểu thừa và tông Duy thức Đại thừa đều cho Mạn kiến là phiền não thông cả Kiến đạo sở đoạn và Tu đạo sở đoạn. [X. luận Du già sư địa Q.8]. (xt. Thập Tùy Miên).
mạn kết
The bondage of pride.
; Mạn kết, một trong cửu kết trói cột con người trong sanh tử—The bondage of pride, one of the nine bonds that bind men to mortality. ** For more information, please see Cửu Kết.
mạn nghiệp
Pride as a karma.
mạn nhụ
Tên khác của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát—Another name for Manjusri—See Manjusri in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
mạn quá
Khởi tâm kiêu mạn cho rằng mình hơn hẳn người hơn mình—Regarding oneself as superior to superior. ** For more information, please see Thất Mạn and Cửu Mạn in Vietnamese-English Section.
mạn quá mạn
Mānati-māna (S)Tự cho mình hơn người.
Mạn quá mạn 慢過慢
[ja] マンカマン mankaman ||| Pride in feeling superior to manifest superiors (māna-atimāna); one of the seven kinds of pride 七慢. 〔倶舎論 1559.29.254b28〕 => Đối với người hơn mình mà mình lại cho rằng mình hơn họ (s: māna-atimāna); là một trong bảy thứ mạn ( Thất mạn七慢).
mạn sơn
Pride as high as a mountain.
; Ví lòng kiêu ngạo như núi cao—To compare the pride with a lofty mountain.
; (慢山) Núi Kiêu mạn, vì dụ tâm ngạo mạn cao như núi, coi khinh tất cả mọi người. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 856 thượng), nói: Núi Mạn cao ngất, nhìn xuống người và vật, nhà Ngã che mờ 4 phía, phủ kín trong Kiến ái.
mạn sử
The messenger, or lictor of pride.
; Mạn Sứ—Thập mạn sứ có thể sai khiến hay ảnh hưởng thân tâm con người, bao gồm cả ngũ độn sử và ngũ lợi sử—The messenger, or lictor of pride. Ten messengers that affect the mind, including five envoys of stupidity and five wholesome deeds. ** For more information, please see Ngũ Độn Sử, and Ngũ Lợi Sử in Vietnamese-English Section.
; (慢使) Sự sai khiến của tâm kiêu mạn, 1 trong 10 sử. Mạn hoặc thường sai khiến thân tâm người ta nên gọi là Mạn sử. Trong 10 sử thì 5 sử là: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến hễ động niệm thì chúng sinh liền, tính chất của chúng rất bén nhạy, nên gọi là Ngũ lợi sử. Trái lại, 5 sử: Mạn, Tham, Sân, Si, Nghi thì đều do Thân kiến, Biên kiến v.v... sinh ra, vì tính chất của 5 sử này chậm chạp, cùn lụt, cho nên gọi là Ngũ độn sử.
mạn thù
Tên khác của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát—Another name for Majusri—See Manjusri in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (曼殊) I. Mạn Thù. Phạm: Maĩju. Cũng gọi: Mãn nhu, Mạn nhũ. Hán dịch: Diệu. Gọi đủ: Mạn thù thất lợi (Phạm: Maĩjuzrì, Hán dịch: Diệu cát tường, Diệu đức). Chỉ cho bồ tát Văn thù sư lợi nói trong kinh Duy ma. Sau khi đức Phật nhập diệt, bồ tát Mạn thù thất lợi ra đời tại Ấn độ, tuyên dương giáo nghĩa Đại thừa. Trong Thai tạng giới của Mật giáo, Ngài thị hiện hình đồng tử, gọi là Mạn thù đồng tử, Mạn thù thất lợi đồng tử (Phạm: Maĩjuzrì Kumàrabhùta). [X. Đại tì lô giá na kinh đại nghi quĩ Q.trung]. (xt. Văn Thù Bồ Tát). II. Mạn Thù (1884-1918). Danh tăng Trung quốc, người Hương sơn Quảng đông, nhưng sinh ở Hoành tân, Nhật bản, vốn tên là Tô tiển, tự Tử cốc, sau đổi là Huyền anh, hiệu Mạn thù. Mẹ tên Nhã tử, người Nhật bản, cha tên là Tô kiệt sinh, 1 thương gia người Trung quốc. Năm 6 tuổi sư về Lịch khê tại Quảng đông học tiếng Anh, năm 15 tuổi sư học trường Đại đồng ở Hoành tân, Nhật bản, sau khi tốt nghiệp, sư vào khoa dự bị Cao đẳng của trường Đại học Tảo đạo điền (Wasada) ở Đông kinh, sau lại chuyển đến trường Thành thành, từng tham gia cuộc vận động cách mạng. Sau, sư về Thượng hải, xuất gia ở Huệ châu. Từ đó, sư vân du khắp vùng Đông Nam á như: Java, Ấn độ, Thái lan, Kuala Lumpur. Sư sở trường về thi văn hội họa, tự ví mình như 1 thi nhân. Sư theo Trưởng lão Kiều tất ma học tiếng Phạm, sư từng là dịch sư của hội Phạm học và làm chủ giảng ở tinh xá Kì hoàn. Năm Dân quốc thứ 7 (1918) sư tịch ở Thượng hải, hưởng dương 35 tuổi. Sư có các dịch phẩm: Phạm văn điển 8 quyển, Phạm thư ma đa thể văn, Sa côn đa la, Pháp hiển Phật quốc kí, Huệ sinh sứ tây vực kí địa danh kim thích cập lữ trình đồ, Ai cập cổ giáo khảo, Anh dịch yếu tử tiên, Vô đề thi tam bách thủ, Yến tử khám tùy bút; Bái luân thi tuyển, Bi thảm thế giới, Văn học nhân duyên, Đoạn hồng linh nhạn kí, Phần kiếm kí, Tô mạn thù toàn tập. [X. Mạn thù đại sư toàn tập; Tô mạn thù niên phổ cập kì tha].
mạn thù già đà bồ tát
Xem Mạn thù thất lị Bồ tát.
mạn thù ngũ tự tâm đà la ni phẩm
(曼殊五字心陀羅尼品) Gọi đủ: Kim cương đính kinh Mạn thù thất lợi bồ tát ngũ tự tâm đà la ni phẩm. Kinh, 1 quyển, do ngài Kim cương trí dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung nói về pháp Văn thù ngũ tự trong nghi quĩ của Kim cương giới. Trước hết, nêu lên công đức của pháp này, kế đến, nói rõ về 5 chữ thần chú: A, la, bả, giả, na và ý nghĩa của mỗi chữ; sau hết, trình bày về công đức tụng trì đà la ni này và chỉ bày rõ pháp yếu tu hành.
mạn thù sa
Manjusaka (skt)—Tên của loài hoa Xích Đoàn trong vùng bắc Ấn—Name of a type of flower in north India.
mạn thù sa hoa
MajŪṣaka (S), Celestial flower Lam hoaHoa màu đỏ, thơm, mọc từng chùm nhỏ. Một trong 4 loại hoa các vị trời rải xuống để cúng dường Phật: man đà la hoa, maha man đà la hoa, man thù sa hoa, ma ha man thù sa hoa.
; (曼殊沙華) Mạn thù sa, Phạm: Maĩjùwaka. Pàli: Maĩjùsaka. Cũng gọi: Nhu nhuyến hoa, Bạch viên hoa, Như ý hoa, Hạm hoa, Mạn thù nhan hoa. Loại hoa trời có màu trắng tươi, mềm mại mà chư thiên thường rắc xuống để trang nghiêm đạo tràng thuyết pháp. Loại hoa to gọi là Ma ha mạn thù sa hoa, là 1 trong 4 loại hoa trời. Trong Pháp hoa nghĩa kí quyển 1, do ngài Pháp vân soạn vào đời Lương thuộc Nam triều có ghi rằng: Mạn thù sa hoa, Hán dịch là Xích đoàn hoa (hoa tròn, màu đỏ), tên khoa học là Lycoris radiata, Herb, là loại thực vật thân thảo sống nhiều năm. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; Pháp hoa nghĩa sớ Q.2 (Cát tạng); Pháp hoa kinh huyền tán Q.2].
mạn thù sư lợi bồ tát
Xem diệu diệu.
mạn thù sư lợi bồ tát chú tạng trung nhất tự chú vương kinh
(曼殊師利菩薩咒藏中一字咒王經) Cũng gọi Mạn thù nhất tự chú vương kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này nói về tác pháp thần chú đàn tràng của đồng tử Mạn thù thất lợi do đức Thích tôn tuyên thuyết trên cung trời Tịnh cư cho chư Thiên nghe. Trước hết, nêu bài chú Nhất tự Án sất lạc hê diệm và thuật về công đức của bài chú; kế đến, nói rõ về chân ngôn này và pháp cầu tài thành tựu, pháp trừ quỉ và các chứng bệnh v.v...
mạn thù thất lị bồ tát
Majugāthā (S)Cát tường già đa, Mạn thù già đà Bồ tátTên một vị Bồ tát.
mạn thù thất lợi
Manjusri (skt)—See Văn Thù Sư Lợi in Vietnamese-English Section, and Manjusri in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
mạn thù thất lợi chú tạng trung hiệu lượng sổ châu công đức kinh
(曼殊室利咒藏中校量數珠功德經) Cũng gọi Sổ châu công đức kinh, Giáo lượng sổ châu công đức kinh, Mạn thù sổ châu công đức kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này nói về công đức trì niệm lần chuỗi tràng hạt. Trước hết, ngài Mạn thù sư lợi căn cứ vào các loại tràng hạt mà nói về sự sai khác của phúc phần lợi ích, kế đến Ngài khen ngợi công đức tối thắng của hạt Bồ đề. Bản dịch khác của kinh này là kinh Giảo lượng sổ châu công đức, do ngài Bảo tư duy dịch vào đời Đường. (xt. Niệm Châu).
mạn thù thất lợi diệm mạn đức ca vạn ái bí thuật như ý pháp
(曼殊室利焰曼德迦萬愛秘術如意法) Cũng gọi Đại uy đức vạn ái pháp, Diệm mạn đức ca vạn ái như ý pháp. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Nhất hạnh soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung sách này, trước hết, nói tỉ mỉ về hình tượng 6 mặt, 6 tay, 6 chân, cỡi trâu, kế đến nói về pháp Đồ thị sở thành tựu, Nhất ấn chân ngôn, về địa phù, thiên phù của Mạn đồ la và pháp thành tựu.
mạn thù đồng tử
Tên khác của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát—Another name for Manjusri—See Manjusir in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
mạn thắng tôn
Danh hiệu của vị Phật—A title of a Buddha.
Mạn Trà La hay Mạn Đà La
(s: Maṇḍala, 曼茶羅 hay 曼陀羅): theo nguyên ngữ Sanskrit là maṇḍala, ngữ căn maṇḍa có nghĩa là "chơn tủy, bản chất", và vì tiếp vĩ ngữ la có nghĩa là "có được", cho nên từ này có nghĩa là "có được bản chất", tức là đạt được giác ngộ tối cao gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác của Phật. Chính vì đó là cảnh địa sung thật, đầy đủ như vòng tròn, nên từ này còn được dịch là "Luân Viên Cụ Túc" (輪圓具足, vòng tròn đầy đủ). Về mặt ngữ nguyên học, từ maṇḍala vẫn chưa được giải thích một cách trọn vẹn cho lắm, nhưng trong văn bản bình thường nó có nghĩa là "hình thức giống như vòng tròn". Trong Chơn Ngôn Mật Giáo, nó có nghĩa là "nơi đắc ngộ" hay "đạo tràng". Vì trong đạo tràng có thiết lập đàn tràng để cho chư Phật và Bồ Tát vân tập, nên từ này còn có nghĩa là "đàn" hay "sự tập hợp", từ đó nó được dùng để gọi những hình đồ vẽ các hình tượng tập trung. Quan niệm mang tính trừu tượng một cách thuần túy thì được gọi là Tự Tánh Mạn Trà La (自性曼茶羅). Theo đà phát triển về quán tưởng Phật, hình thức Quán Tưởng Mạn Trà La phản ánh thế giới của Phật trong tâm mang tính cụ thể bắt đầu xuất hiện. Tuy nhiên, theo thường tình thì việc quán Phật rất khó khăn, nên hiện tại các hình tượng được vẽ rất cụ thể. Trong Kinh Ngưu Lê Mạn Đà La Chú (牛梨曼陀羅呪經) được dịch vào thời nhà Lương (502-557), có đề cập đến cách vẽ tượng Bổn Tôn ở giữa trung tâm của đàn, và các tượng quyến thuộc nằm chung quanh tượng Bổn Tôn này. Gần đây nguyên bản chép bằng tiếng Sanskrit (thế kỷ thứ 5-6) của kinh này được phát hiện ở Kashmir, và điều này chứng tỏ rằng vào thời ấy ở Ấn Độ cũng đã xuất hiện hình thức Mạn Đà La rồi. Từ thời Nam Bắc Triều (420-589) cho đến thời nhà Tùy (581-619), hình thức vẽ các họa tượng như Phép Cầu Mưa (請雨法), Thập Nhất Diện Quan Âm (十一面觀音), v.v., đã trở nên rõ ràng. Vào đầu thời nhà Đường thì trong Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經) do A Địa Cù Đa (阿地瞿多) dịch có đề cập đến Tập Hội Đàn (集會壇). Đến thế kỷ thứ 8, trong Bất Không Quyên Sách Kinh (不空羂索經) hay Nhất Tự Phật Đảnh Luân Vương Kinh (一字佛頂輪王經) do Bồ Đề Lưu Chí (菩提流志) dịch đã thấy xuất hiện hình thức Thai Tạng Mạn Trà La (胎藏曼茶羅). Ở Ấn Độ, vào khoảng giữa thế kỷ thứ 7, và từ thế kỷ thứ 7 đến đầu thế kỷ thứ 8 thì Đại Nhật Kinh (大日經), Kim Cang Đảnh Kinh (金剛頂經) đã được thành lập, cho nên trong Thai Tạng Mạn Trà La và Kim Cang Giới Mạn Trà La (金剛界曼茶羅) đã xuất hiện Đại Nhật Như Lai (大日如來) làm đấng Trung Tôn. Chính vì lẽ đó, trong Mật Giáo gọi hình thức trước là Tạp Mật (雜密) và hình thức sau là Thuần Mật (純密). Cả hai đều được truyền vào Trung Hoa và được chỉnh bị thống nhất lại với nhau, hoàn thành nên Lưỡng Giới Mạn Trà La (兩界曼茶羅). Rồi cả hai bộ này cũng được Không Hải sang Trung Hoa thỉnh về Nhật và lưu bố với tư cách là Hiện Đồ Mạn Trà La (現圖曼茶羅).
Mạn Trà La Tự
(曼荼羅寺, Mandara-ji): còn gọi là Tùy Tâm Viện (隨心院), Ngưu Bì Sơn Mạn Trà La Tự (牛皮山曼荼羅寺), Tùy Tâm Viện Môn Tích (隨心院門跡), Tiểu Dã Môn Tích (小野門跡); ngôi chùa trung tâm của Phái Thiện Thông Tự (通善寺派) thuộc Chơn Ngôn Tông; hiện tọa lạc tại Onogorei-chō (小野御靈町), Yamashina-ku (山科區), Kyoto-shi (京都市), nơi hành hương thứ 72 trong số 88 ngôi danh lam ở vùng Tứ Quốc (四國, Shikoku). Chùa do Không Hải Đại Sư sáng lập, xuất phát từ nhân duyên Đại Sư nằm mộng thấy mẹ mình sành làm thân con trâu, bèn đến thăm và đem con trâu ấy về nuôi. Khi trâu chết, Đại Sư lấy da trâu vẽ đồ hình Mạn Trà La dâng cúng. Đây là nơi xuất phát của Dòng Tiểu Dã (小野流). Sau này Tăng Tuấn (僧俊) lại phân phái thành Dòng Tùy Tâm Viện (隨心院流). Trong vụ loạn Ứng Nhân (應仁), chùa bị hoang phế, rồi Tăng Hiếu (僧孝) tiến hành phục hưng chùa, và nhóm Thiên Chơn Viện (天眞院) tạo dựng các ngôi đường tháp. Bảo vật của chùa có đồ hình Mạn Trà La thêu bằng chỉ ngũ sắc, tượng gỗ A Di Đà Như Lai ngồi, v.v.
mạn tràng
Pride as a banner rearing itself aloaf.
; Lòng ngã mạn bốc cao như cờ phướng treo cao trong gió—Pride as a banner rearing itself aloft.
; (慢幢) Cây cột phướn dựng ở trước chùa, dùng để ví dụ cho tâm kiêu mạn. Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 355 trung), nói: Lễ bái vốn để bẻ gãy mạn chàng, tại sao đầu không đặt sát đất.
mạn trực lâm
Maddakucchi-migadaya (S)Vườn Lộc dãỞ thành Vương xá.
; (曼直林) Pàli: Maddakucchi-migadaya. Tức là khu vườn Lộc dã của Mạn đạt khố trực (Pàli: Maddakucchi) ở thành Vương xá. Cứ theo Tương ứng I, 4.8 và Tương ứng IV, 2.3 thuộc Tương ứng bộ Nam truyền, thì tại khu vườn này đức Phật đã giẫm lên 1 mảnh đá vỡ làm chân Ngài chảy máu. Phần chú thích trong Tương ứng I, 4.8 ghi rằng, khu vườn này là do phu nhân Vi đề hi (Pàli: Vedehì) kiến tạo. [X. kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.2].
mạn tưởng
Proud, arrogant thoughts
; Tư tưởng kiêu mạn—Proud, or arrogant thoughts.
; (慢想) Ý tưởng kiêu mạn. Tây phương yếu quyết thích nghi thông qui (Đại 47, 110 thượng), nói: Khởi tâm cung kính, chớ sinh mạn tưởng. Kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) quyển 22 (Đại 12, 753 hạ), nói: Tâm ấy lúc đầu không có ý tưởng kiêu mạn (mạn tưởng).
mạn y
(縵衣) Phạm: Paỉỉa. Hán âm: Bát tra. Cũng gọi: Mạn điều y, Mạn điều, Lễ sám y. Loại áo mặc của hàng Sa di và tín chúng tại gia thụ trì Ngũ giới, Bồ tát giới, không có điều tướng (hình vuông vức giống như mảnh ruộng). Luật Tứ phần quyển 40 chép: Đức Phật cho phép chúng tăng mặc áo An đà hội (loại mạn y, tức là tấm vải để nguyên, chứ không cắt thành những mảnh nhỏ). [X. luật Thập tụng Q.46; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 1; Thích thị yếu lãm Q.thượng; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Tam Y).
mạn đa la chú thuật kinh
(曼哆邏咒術經) Tên 1 bản kinh của ngoại đạo, do 1 người tiên nói, được ghi trong kinh Tự tại vương bồ tát quyển hạ.
mạn đa nan đề
Mātṛnanda (S)Một trong Thập ngũ quỷ thần thường não loạn trẻ em.
Mạn Đà
(曼陀): tên một loài hoa, gọi đủ là Mạn Đà La (s: māndāra, māndārava, māndāraka, 曼陀羅), ý dịch là thiên diệu (天妙), duyệt ý (悅意), thích ý (適意), bạch (白). Nó còn được gọi là Mạn Đà Lặc Hoa (曼陀勒華), Mạn Na La Hoa (曼那羅華), Mạn Đà La Phạn Hoa (曼陀羅梵華), Mạn Đà La Phàm Hoa (曼陀羅帆華). Đây là một trong 4 loại hoa trời và là tên loài hoa trên thiên giới. Hoa có màu đỏ, rất đẹp làm cho người nhìn thấy sanh tâm vui mừng. Cây của nó giống như cây Ba Lợi Chất Đa (s: pārijāta, pārijātaka, pāriyātraka, p: pāricchattaka, 波利質多, tên loại cây trên cung trời Đao Lợi [s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa,忉利]). Tên khoa học của loài hoa này là Erythrina indica (Coral tree), sanh sản ở Ấn Độ, nở hoa vào mùa hè, đến khoảng tháng 6, 7 thì kết trái, lá rất sum sê. Bên cạnh đó, nó còn có tên khoa học khác là Calotropis gigantean, là loài thực vật thuộc Mã Lợi Cân (馬利筋), cũng được gọi là Mạn Đà La, thường dùng để dâng cúng cho thần Thấp Bà (s: Śiva, p: Siva, 濕婆). Tại Bồ Tát Đảnh Văn Thù Điện (菩薩頂文殊殿) ở Ngũ Đài Sơn (五臺山), Tỉnh Sơn Tây (山西省), Trung Quốc có câu đối: “Bách đạo tuyền phi giản lưu công đức thủy, ngũ phong vân dũng thiên vũ Mạn Đà hoa (百道泉飛澗流功德水、五峰雲湧天雨曼陀花, trăm lối khe bay suối chảy nước công đức, năm núi mây tuôn trời mưa hoa Mạn Đà).” Trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (s: Mahāparinirvāṇasūtra, 大般涅槃經, Taishō No. 374) có đoạn: “Thiện Kiến Thái Tử kiến dĩ, tức sanh ái tâm, hỷ tâm, kính tín chi tâm, vi thị sự cố nghiêm thiết chủng chủng cúng dường chi cụ nhi cúng dường chi; hựu phục bạch ngôn: 'Đại Sư thánh nhân, ngã kim dục kiến Mạn Đà La hoa.' Thời Điều Bà Đạt Đa tức tiện vãng chí Tam Thập Tam Thiên, tùng bỉ thiên nhân cầu tác chi (善見太子見已、卽生愛心、喜心、敬信之心、爲是事故嚴設種種供養之具而供養之、又復白言、大師聖人、我今欲見曼陀羅花、時調婆達多卽便徃至三十三天、從彼天人而求索之, Thái Tử Thiện Kiến thấy xong, tức sanh tâm yêu thích, tâm vui mừng, tâm kính tín, vì việc này nên trang nghiêm thiết bày các vật phẩm cúng dường để cúng dường; rồi lại thưa rằng: 'Thưa Đại Sư thánh nhân, con nay muốn thấy hoa Mạn Đà La.' Khi ấy Điều Bà Đạt Đa bèn qua đến cõi Trời Ba Mươi Ba, theo thiên nhân ở đó mà cầu xin hoa).” Hay trong Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Đâu Suất Thiên Kinh (佛說觀彌勒菩薩上生兜率天經, Taishō No. 452) cũng có đoạn: “Bách thiên thiên tử tác thiên kỷ nhạc, trì thiên Mạn Đà La hoa, Ma Ha Mạn Đà La hoa, dĩ Tán Kì thượng, tán ngôn: 'Thiện tai ! Thiện tai ! Thiện nam tử, nhữ ư Diêm Phù Đề quảng tu phước nghiệp lai sanh thử xứ, thử xứ danh Đâu Suất Đà Thiên; kim thử chủ danh viết Di Lặc, nhữ đương quy y' (百千天子作天伎樂、持天曼陀羅花、摩訶曼陀羅華、以散其上、讚言、善哉善哉善男子、汝於閻浮提廣修福業來生此處、此處名兜率陀天、今此天主名曰彌勒、汝當歸依, trăm ngàn thiên tử tấu các kỷ nhạc trời, mang hoa trời Mạn Đà La, hoa Ma Ha Mạn Đà La để rãi lên vị ấy, rồi tán thán rằng: 'Lành thay ! Lành thay ! Thiện nam tử, ngươi đã rộng tu phước nghiệp nơi Diêm Phù Đề mà sanh về cõi này; cõi này tên là Đâu Suất Đà Thiên; chủ nhân hiện tại tên là Di Lặc, ngươi nên quy y người').”
mạn đà cát ni trì
(曼陀吉尼池) Mạn đà cát ni, Phạm: Mandàkinì. Cũng gọi Ma đà diên trì, Mạn đà kì ni trì, Mạn na cát nễ trì, Mạn đà chỉ ni trì, Ma na ma trì. Hồ Mạn đà cát ni, 1 trong 7 cái hồ nước ở núi Hi mã lạp sơn. Cứ theo phần chú thích từ câu 673 đến câu 688 trong kinh Trưởng lão kệ (Pàli: Thera-gàthà) Nam truyền, thì ngài A nhã kiều trần như từng trụ ở khu rừng Lục nha (Pàli: Chaddanta) gần hồ này trong 12 năm, được các con voi cúng dường. Trước khi nhập diệt, Ngài đến tinh xá Trúc lâm bái yết đức Phật, rồi trở về nơi này nhập tịch. Nhất thiết kinh âm nghĩa quyển 41 cho rằng, Mạn đà cát ni là hồ tắm của vua rồng và voi chúa. Còn kinh Khởi thế và luận Lập thế a tì đàm đều nói hồ này nằm về phía bắc núi Đại tuyết, là hồ tắm của voi chúa Thiện trụ. Nhưng theo ý kinh mà suy thì Mạn đà cát ni phải là hồ tắm của chư thiên.
mạn đà la
Mandara (S), Khyil-khor (T).
; Mandala (S). A symbolic geometrical diagram wherein deities are invoked. The threefold mandala is dedicated to the spiritual forces presiding over, or manifesting through the body, the speech, and the mind of man. Magical circle.
; Mandala (skt)—Vòng tròn diễn tả môi trường hoạt động của chư Phật trong Mật Giáo—A ritual or magic circle—A diargram used in invocations, meditation and temple sevices—See Mandala in English-Vietnamese Section.
mạn đà la bồ tát
Maṇḍala Bodhisattva (S)Vị Bồ tát ngôi thứ năm, bên tả ngài Hư không tạng Bồ tát, hình dáng giận dữ, màu đen, ba mắt, sáu tay, ngồi trên toà sen đỏ.
mạn đà la hoa
Mandārapushpa (S).
; Madarava flowers.
; (曼陀羅華) Mạn đà la, Phạm:Màndàra, Màndàrava, Mandàraka. Cũng gọi Mạn đà lặc hoa, Mạn na la hoa, Mạn đà la phạm hoa, Mạn đà la phàm hoa. Hán dịch: Thiên diệu, Duyệt ý, Thích ý, Tạp sắc, Viên, Nhu nhuyến thanh, Khuých, Bạch.Tên khoa học: Erythrina indica (Coral tree) hoặc Calotropis gigantea. Loại cây hoa mọc ở Ấn độ, là rất rậm rạp và xanh tốt, hoa nở vào tháng 5 và khoảng tháng 6, 7 thì kết trái. Đây là loại thực vật thuộc giống Mã lợi cân, hoa dùng để dâng cúng thần Thấp bà. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; kinh A di đà; Pháp hoa nghĩa sớ Q.2 (Cát tạng); Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].
mạn đà la thiêng
Maṇḍalaka (S), Sacred circle.
mạn đà la tiên
Ma to lo hsien (C).
mạn đà la tịnh độ
Pure Land maṇdalas.
mạn đà la vương
Chữ “A” trong trường phái Mật tông được xem như là Mạn Đà La Vương—The word “A” is styled the great Mandala-king.
mạn đát la
Còn gọi là Mãn Đát La hay Mạn Đặc La, dịch là chân ngôn, thần chú hay lời nói bí mật của chư Phật—Also used for mantra, an incantation, spells, magical formula, muttered sound, or secret words of Buddhas.
mạn đồ la
(曼荼羅) Phạm: Maịđala. Tạng: Dkyil-khor. Cũng gọi Mạn đà la, Mạn tra la, Mạn noa la, Mãn đồ la, Mãn noa la. Hán dịch: Đàn, Đàn tràng, Luân viên cụ túc, Tụ tập. Một khu vực được vạch ra theo hình tròn hoặc hình vuông để đề phòng ác ma xâm nhập khi tu pháp bí mật của Mật giáo. Hoặc cái nền (đàn) đắp bằng đất trên đó vẽ các tượng Phật, Bồ tát, tu pháp xong thì xóa bỏ các hình tượng. Bởi thế, trong khu vực Mạn đồ la thường được xem là có rất nhiều Phật và Bồ tát, nên cũng gọi là Tụ tập, Luân viên cụ túc. Trong luật cũng có những trường hợp làm Mạn đồ la để ngăn ngừa những việc bất tịnh. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì Mạn đồ la có nhiều nghĩa: Theo nghĩa Luân viên cụ túc thì các vị tôn vây quanh đức Đại nhật Như lai của Phổ môn để giúp sức Ngài làm cho chúng sinh tiến thẳng vào Phổ môn; theo nghĩa phát sinh thì Mạn đồ la có công năng nuôi dưỡng hạt giống Phật để sinh ra quả Phật (Phật thụ vương). Lại vì chữ Phạm Maịđa nghĩa là tinh chế sữa bò thành phó mát (đề hồ), cho nên Mạn đồ la còn bao hàm ý nghĩa diệu vị vô thượng, không mùi vị nào sánh kịp, tượng trưng cho sự vi diệu thuần tịnh của quả Phật. Nhưng Mật giáo đời sau thì cho rằng ý nghĩa chính của Mạn đồ la là tụ tập, cũng tức là nơi cư trụ của chư Phật, Bồ tát, Thánh nhân. Tại Ấn độ, Mạn đồ la thường được đắp bằng đất, hoặc làm bằng gỗ, trên đó vẽ hình tượng các vị tôn, tu pháp xong thì xóa bỏ. Nhưng Trung quốc và Nhật bản thì thường dùng giấy hoặc vải lụa để vẽ hình các vị tôn. Mạn đồ la của Đông Mật Nhật bản là chỉ cho Mạn đồ la của 2 bộ (tức Mạn đồ la của 2 giới): Mạn đồ la Kim cương giới và Mạn đồ la Thai tạng giới; còn Thai Mật thì dùng Tạp mạn đồ la của pháp Tô tất địa. Về cách vẽ hình Mạn đồ la của 2 bộ thì vì kinh và nghi quĩ có khác nhau nên hình vẽ cũng bất đồng, hình vẽ Mạn đồ la hiện nay đang lưu hành, gọi là Hiện đồ mạn đồ la. Mạn đồ la có 4 loại, gọi là Tứ chủng Mạn đồ la, Gọi tắt là Tứ mạn. Theo kinh Kim cương đính thì 4 loại Mạn đồ la là: 1. Đại mạn đồ la (Tôn hình Mạn đồ la): Bức vẽ các vị tôn với đầy đủ dung mạo tướng hảo, tương đương với hội Thành thân của Mạn đồ la Kim cương giới. 2. Tam muội da mạn đồ la: Bức vẽ hình Tam muội da của các vị tôn, tức là hình những vật cầm tay của chư tôn như: Gậy, dao, gươm v.v... hoặc hình những ấn tướng tượng trưng cho bản thệ của các vị tôn, tương đương với hội Tam muội da. 3. Pháp mạn đồ la (chủng tử mạn đồ la): Bức vẽ của các chủng tử và chân ngôn của các vị tôn, hoặc viết chữ Phạm của các chủng tử ở vị trí của chư tôn, hoặc dùng tam ma địa của Pháp thân và văn nghĩa của tất cả kinh luận, tương đương với hội Vi tế. 4. Yết ma mạn đồ la: Bức vẽ về những uy nghi sự nghiệp và các hình tượng được tạo thành đúng theo uy nghi sự nghiệp của các vị tôn, tương đương với hội Cúng dường. Bốn loại Mạn đồ la trên đây, mỗi loại lại gồm có 3 thứ Mạn đồ la, đó là: 1. Đô hội (Đô môn, Phổ môn) mạn đồ la: Các vị tôn nhóm họp ở 1 chỗ, như 2 bộ Mạn đồ la lấy Đại nhật Như lai làm Trung tâm.2. Bộ hội mạn đồ la: Các vị tôn chia ra từng bộ, như Phật đính mạn đồ la của Phật bộ, Thập nhất diện Quan âm mạn đồ la của Liên hoa bộ. 3. Biệt (Nhất môn) mạn đồ la: Lấy 1 vị tôn làm trung tâm, như Thích ca mạn đồ la, Như ý luân mạn đồ la. Theo kinh Đại nhật thì tất cả các Mạn đồ la có thể được qui vào 3 thứ thân bí mật là: 1. Tự: Pháp mạn đồ la. 2. Ấn: Tam muội da mạn đồ la. 3. Hình: Đại mạn đồ la. Ba thân này mỗi thân đều có đầy đủ uy nghi sự nghiệp, gọi là Yết ma mạn đồ la. Bốn loại Mạn đồ la tuy tròn đầy muôn đức nhưng đều qui về một và vượt ra ngoài tương đối, gọi là Thể đại mạn đồ la, đầy đủ các tướng sai khác, gọi là Tướng đại mạn đồ la, đầy đủ nghiệp dụng của Tam mật, gọi là Dụng đại mạn đồ la. Bốn loại Mạn đồ la thu nhiếp hết tất cả tướng trạng tồn tại, cho nên đối lại với Lục đại thể đại và Tam mật dụng đại mà gọi đó là Tứ mạn tướng đại. Ngoài ra, còn có thuyết 3 loại Tứ mạn đồ la. 1. Tự tính hội tứ mạn: Nói về đời quá khứ thì Thánh chúng tập trung trong hội thuyết pháp của Pháp thân Đại nhật Như lai. 2. Thế gian trụ trì tứ mạn: Nói về đời vị lai thì là ảnh tượng và các bức vẽ. 3. Hành giả tu thành tứ mạn: Nói về đời hiện tại thì là hành giả Du già. Còn Tứ mạn và Tứ trí ấn (Tứ ấn: Đại trí ấn, Tam muội da trí ấn, Pháp trí ấn, Yết ma trí ấn) thì thể là 1 mà tên khác nhau; hoặc Tứ mạn là chung cho cả hữu tình và vô tình, còn Tứ ấn thì chỉ có ở hữu tình mà thôi. Lại có thuyết cho rằng Tứ mạn từ Thể mà đặt tên, còn Tứ ấn là đối với Dụng mà đặt tên. Mạn đồ la Kim cương giới (Kim cương giới, Phạm:Vajra-dhàtu) cũng gọi Quả mạn đồ la, Trí mạn đồ la, Tây mạn đồ la, Nguyệt luân mạn đồ la, là những bức tranh được vẽ theo kinh Kim cương đính, biểu trưng Trí pháp thân của đức Đại nhật Như lai. Đông Mật Nhật bản sử dụng Cửu hội mạn đồ la hình thành từ 9 hội; còn Thai Mật thì sử dụng Mạn đồ la của Nhất hội là hội Thành thân. Cửu hội mạn đồ la là thuyết Tùy nghi của Ấn độ. Biểu đồ như sau: Bị chú:Những chữ trong ngoặc đơn là tên gọi khác. Hiện đồ mạn đồ la có tất cả 1461 vị tôn. Sáu hội từ hội Yết ma trở xuống tương đương với 6 Mạn đồ la: Kim cương giới Đại mạn đồ la, Đà la ni mạn đồ la, Vi tế kim cương mạn đồ la, Nhất thiết Như lai quảng đại cúng dường yết ma mạn đồ la, Tứ ấn mạn đồ la và Nhất ấn mạn đồ la được nói trong phẩm Kim cương giới của kinh Kim cương đính. Còn kinh điển y cứ của 3 hội còn lại (tức 7, 8, 9) thí không có thuyết nhất định. Mạn đồ la Kim cương giới vốn là 1 hội Thành thân, còn 9 hội thì là sự tập hợp của 9 thứ Mạn đồ la. Về nghĩa của đồ tướng thì Kim cương là biểu thị thể của trí tuệ Bồ đề bền chắc không hư nát, lại có công năng phá dẹp tất cả. Còn thứ tự sắp xếp đồ tướng thì đứng đầu là hội Yết ma và sau cùng là hội Hàng tam thế tam muội da; đây là biểu thị ý nghĩa Như lai khởi tác dụng hóa tha chỉ dạy chúng sinh, là môn hạ chuyển tứ quả hướng tới nhân. Bốn hội từ hội Yết ma trở xuống đến hội Cúng dường là biểu thị cho Tứ mạn, hội Tứ ấn biểu thị nghĩa Tứ mạn không lìa nhau, hội Nhất ấn thì biểu thị nghĩa Tứ mạn là 1 thực tướng tuyệt đối dung nạp cả 6 đại. Sáu hội trên là Mạn đồ la của Tự tính luân thân trong Tam luân thân. Hội Lí thú là Mạn đồ la của Chính pháp luân thân Kim cương tát đỏa, biểu thị tướng dục, xúc, ái, mạn. Còn hội Hàng tam thế yết ma và hội Hàng tam thế tam muội da thì biểu thị nghĩa đối với những chúng sinh ương ngạnh, cứng đầu khó dạy, thị hiện ra Minh vương Hàng tam thế của Giáo lệnh luân thân với tướng mạo phẫn nộ dữ tợn, khiến chúng phải khuất phục. Ngoài ra, từ hội Hàng tam thế tam muội da hướng ngược lên đến hội Yết ma là biểu thị thứ tự tu hành của Bồ tát theo giai vị thuận, tức là theo môn thượng chuyển từ nhân đến quả. Hội Hàng tam thế tam muội da là tượng trưng nghĩa dùng cung tên đại bi bắn vào kẻ oán địch là vô minh, phát khởi thệ nguyện thượng cầu bồ đề hạ hóa chúng sinh, cho đến hội Yết ma là biểu thị ý nghĩa Đại nhật Như lai (tức thân Yết ma) đã hoàn thành đầy đủ mọi uy nghi sự nghiệp. Đồ tướng biểu thị hội Yết ma (hội Thành thân) trong 9 hội là ở chính giữa vẽ 1 vòng tròn lớn, trong vòng tròn này vẽ 5 nguyệt luân, nguyệt luân ở giữa an trí Đại nhật Như lai và 4 bồ tát Ba la mật, còn các nguyệt luân ở 4 phương thì an trí 4 vị Phật và 16 vị Đại bồ tát thân cận. Ngoài ra, còn vẽ 8 vị bồ tát Cúng dường (4 vị bên trong, 4 vị bên ngoài), 4 Nhiếp bồ tát, 1.000 đức Phật kiếp Hiền, 20 vị trời của Kim cương bộ ngoài, 4 vị Đại thần v.v...Mạn đồ la Kim cương giới chia làm 5 bộ: Phật bộ (lí trí đầy đủ, giáo đạo viên mãn), Kim cương bộ (trí), Bảo bộ (phúc đức), Liên hoa bộ (lí) và Yết ma bộ (tác dụng hóa tha). Năm đức Phật: Đại nhật, A súc, Bảo sinh, A di đà và Bất không thành tựu là bộ chủ của 5 bộ trên. Vì 4 đức Phật (trừ Đại nhật Như lai) là do 4 vị bồ tát Ba la mật (4 bồ tát thân cận của Đại nhật) xuất sinh ra, cho nên 4 vị Bồ tát này được gọi là Bộ mẫu. Mạn đồ la Thai tạng giới (Thai tạng giới, Phạm:Garbha-dhàtu) cũng gọi Nhân mạn đồ la, Lí mạn đồ la, Đông mạn đồ la, Đại bi mạn đồ la, biểu thị Lí pháp thân của Đại nhật Như lai, là căn cứ vào kinh Đại nhật mà được vẽ ra. Hình vẽ của Mạn đồ la này có nhiều loại như: Kinh sớ mạn đồ la, A xà lê sở truyền mạn đồ la, Thai tạng cựu đồ dạng, Thai tạng đồ tượng, Hiện đồ mạn đồ la v.v... Còn các bộ viện và sự bài trí các vị tôn cũng đều khác nhau. Truyền thuyết cho rằng Hiện đồ mạn đồ la là do vị tăng người Nhật bản tên là Huệ quả vẽ và lập 13 viện lớn, nhưng trong Bí tạng kí của sư Không hải–cũng là vị tăng Nhật bản– bỏ bớt 4 viện, chỉ còn 12 viện. Sau lại bỏ bớt viện Tô tất địa mà còn 11 viện lớn. Hiện đồ mạn đồ la đang lưu hành ở Nhật bản gồm có 12 viện lớn. Hình vẽ Mạn đồ la biểu thị nghĩa hiển bày cái đức nhân sẵn có của chúng sinh, cũng tức là hạt giống tâm bồ đề nhờ thai mẹ (tức Thai tạng) muôn hạnh đại bi nuôi nấng cho đến khi thành quả Phật. Từ Phật bồ đề tự chứng thị hiện thân thai Đại nhật trong Bát diệp, từ đức của Đại nhật thị hiện ra chư tôn từ lớp thứ 1 đến lớp thứ 4, đây đều là tượng trưng cho từng phần đức của Đại nhật. Trong đó, hình vẽ của viện Bát diệp là: Đại nhật Như lai ngồi trên đài hoa sen 8 cánh ở chính giữa (Trung đài bát diệp), trên mỗi cánh hoa an trí 1 vị tôn: Phật Bảo sinh ở phương đông, Phật Khai phu hoa vương ở phương nam, Phật Vô lượng thọ ở phương tây, Phật Thiên cổ lôi âm ở phương bắc, bồ tát Phổ hiền ở đông nam, bồ tát Văn thù ở tây nam, bồ tát Quan âm ở tây bắc và bồ tát Di lặc ở đông bắc. Trên đây, Đại nhật Như lai biểu thị Pháp giới thể tính trí, 4 vị Phật biểu thị 4 trí (Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí), 4 vị Bồ tát biểu thị 4 hạnh (Bồ đề, Phúc đức, Trí tuệ, Yết ma). Mạn đồ la Thai tạng giới được chia làm 3 bộ: Phật bộ, Kim cương bộ và Liên hoa bộ. Ở trong tâm chúng sinh thì biểu thị cho 3 đức Đại định, Đại trí và Đại bi là thực tướng của 3 vọng chấp: Thô vọng chấp, Tế vọng chấp và Cực tế vọng chấp. Viện Trung đài và 6 viện Đông Tây tương đương với Phật bộ; viện Quan âm và viện Địa tạng ở phương bắc tương đương với Liên hoa bộ; viện Kim cương thủ và viện Trừ cái chương ở phương nam tương đương với Kim cương bộ; còn Ngoại kim cương bộ thì thuộc cả 3 bộ và gọi chung là Kim cương bộ. Trong Thai Mật, ngoại trừ Đại nhật Như lai ở 2 bộ, các Mạn đồ la (tức các Mạn đồ la ngoài Mạn đồ la của Kim cương giới và Thai tạng giới) lấy các vị tôn khác làm Trung tôn gọi là Tạp mạn đồ la, cũng gọi Chư tôn mạn đồ la, Biệt tôn mạn đồ la với nhiều loại khác nhau như: Như lai, Phật đính, Chư kinh, Quan âm, Bồ tát, Phẫn nộ, Thiên... Các vị tôn của Mạn đồ la Thai tạng giới nhóm họp đông đủ ở bản vị mình, gọi là Đô hội đàn mạn đồ la, Phổ môn mạn đồ la. Trái lại, những Mạn đồ la lấy các vị tôn như: Phật Dược sư, Phật Di đà, bồ tát Quan âm v.v... làm trung tâm mà kiến lập, thì gọi là Đô ngoại biệt đàn, Biệt tôn mạn đồ la, Nhất môn mạn đồ la. Mạn đồ la vẽ để tu pháp Tôn thắng, gọi là Tôn thắng mạn đồ la. Mạn đồ la lấy Minh vương Bất động làm bản tôn, gọi là Bất động mạn đồ la. Mạn đồ la có đặt chữ Hột câu lợi, chủng tử chung của Phật Di đà và bồ tát Quan âm vào Trung đài bát diệp trong hoa sen nở, gọi là Cửu tự mạn đồ la. Ngoài ra, Mạn đồ la vẽ Thánh chúng trong hội nói kinh Pháp hoa, gọi là Kinh pháp mạn đồ la. Mạn đồ la vẽ Tam tôn Thích ca và các vị Tổ truyền luận Câu xá, gọi là Câu xá mạn đồ la. Khi tu pháp, chỉ dùng hình tượng để quán tưởng chư tôn, gọi là Đạo tràng quán mạn đồ la. Còn như quán tưởng tự thân là Mạn đồ la và bày xếp các vị tôn của Mạn đồ la ở nơi tứ chi, thì gọi là Chi phần sinh mạn đồ la. Trong Chi phần sinh mạn đồ la, đem viện Trung đài bát diệp của Thai tạng giới phối hợp với đầu, các nội quyến thuộc của lớp thứ 1 phối hợp với cổ họng và tim, các Đại bồ tát ở lớp thứ 2 phối hợp với các chỗ từ rốn trở xuống, gọi là Tam trùng lưu hiện mạn đồ la. Ngũ luân địa, thủy, hỏa, phong, không phối hợp với đầu gối, bụng, ngực, mặt và chỏm đầu, gọi là Ngũ luân thành thân mạn đồ la. Ngoài ra, 9 hội của Kim cương giới thì phối hợp với các chi phần trong thân thể. Khi quán đính, Mạn đồ la được dùng trải trên đàn để hành giả tung hoa được Phật, gọi là Phu mạn đồ la. Còn thông thường Mạn đồ la được dùng làm đối tượng để lễ bái cúng dường thì gọi là Mạn đồ la cúng, gọi tắt là Mạn cúng; khi xây cất điện đường xong, làm lễ khánh thành, phần nhiều tu pháp Mạn đồ la này. Mạn đồ la vẽ tướng trạng cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà và cung trời Đâu suất của bồ tát Di lặc, gọi là Tịnh độ mạn đồ la, hoặc Đâu suất mạn đồ la, nhưng trường hợp này nên gọi là Biến tướng. Hình vẽ nội dung thuyết kinh Pháp hoa, gọi là Pháp hoa biến tướng và Pháp hoa mạn đồ la. Nhưng trong Mật giáo, khi tu kinh Pháp hoa thì có riêng Pháp hoa mạn đồ la. Vị A xà lê truyền pháp, kiến lập mạn đồ la để trao quán đính cho đệ tử, gọi là Mạn đồ la a xà lê. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.13; Ngũ bí mật nghi quĩ]. (xt. Biến).
mạn đồ la bồ tát
Xem Đại Luân Bồ tát.
; (曼荼羅菩薩) Mạn đồ la, Phạm: Mahà-cakra. Hán âm: Ma ha chước yết la. Hán dịch: Đại luân. Vị Bồ tát ngồi ở ngôi thứ nhất phía nam hàng dưới trong viện Hư không tạng trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, mật hiệu là Bí mật kim cương, Đại luân kim cương, Luân viên kim cương, Tập khởi kim cương. Vị tôn này lấy việc thành tựu Mạn đồ la làm bản thệ, nên gọi là bồ tát Mạn đồ la. Hình tượng của vị tôn này màu đen, ngồi trên tòa sen, mặt hiện tướng giận dữ, tóc dựng ngược, có 3 mắt 6 tay; tay phải thứ nhất nắm lại đặt ở trước ngực, cầm chày 3 chĩa, tay thứ 2 cầm kiếm hướng về bên phải, tay thứ 3 nắm lại thành quyền, kết ấn Tiểu kim cương luân, đặt trên đỉnh đầu. Tay trái thứ nhất thõng xuống hướng về bên trái, tay thứ 2 cầm bánh xe hướng về bên trái, co ngón trỏ, cầm lấy đầu cây chày 1 chĩa, tay thứ 3 nắm lại thành quyền, kết ấn Tiểu kim cương luân, đặt trên đỉnh đầu. Chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là bánh xe. [X. Thanh long tự nghi quĩ Q.trung; Thai tạng giới thất tập Q.trung; Bí tạng kí].
mạn đồ la chủng tính thập trụ tâm
(曼荼羅種姓十住心) Đối lại: Phổ môn vạn đức thập trụ tâm. Mười trụ tâm hiển bày tâm bình đẳng sẵn có của chúng sinh đồng nhất với pháp thân. Thuộc về Hoành thập trụ tâm trong Nhị song tứ trùng thập trụ tâm do sư Hựu khoái người Nhật lập ra.
mạn đồ la cung
(曼荼羅供) Cũng gọi: Mạn đà la cúng. Gọi tắt: Mạn cúng. Pháp hội cúng dường 2 bộ Đại mạn đồ la. Thông thường khi khánh thành pháp đường, khai quang tượng Phật mới tạo, hoặc kỉ niệm ngày khai sáng các chùa viện v.v... phần nhiều cử hành pháp hội này. Khi hành lễ, treo 2 bộ Mạn đồ la Kim cương giới và Thai tạng giới, rồi thỉnh vị Đại sư Cúng dường tu chung pháp bí mật của 2 bộ.
mạn đồ la giáo
Tên khác của tông Chân Ngôn—Mandala doctrine, mantra teaching, magic, yoga, the true word or Shingon sect
mạn đồ la quán
(曼荼羅觀) Pháp quán tưởng Mạn đồ la, Bản tôn và quyến thuộc trong Đạo tràng quán khi tu pháp Mật giáo. Đạo tràng quán có 3 thứ: Quảng, Trung và Lược, đều thực hành Mạn đồ la quán. Mạn đồ la quán nói trong các kinh và nghi quĩ tuy có hơi khác nhau, nhưng đại khái thì như sau: Theo pháp Kim cương giới: Trước hết, kết ấn Như lai quyền, kế đến, quán tưởng đàn tràng Đại mạn đồ la trong lầu gác báu, trên đàn có vừng trăng tròn, trên vừng trăng có hoa sen lớn. Theo pháp Thai tạng giới: Trước hết, quán tưởng hoa sen và mặt trăng, trên hoa sen quán tưởng sự biến chuyển thành chủng tử, hình Tam muội da và hình tượng của Bản tôn, cho đến quán tưởng Thánh chúng quyến thuộc vây quanh. (xt. Đạo Tràng Quán).
mạn đồ la thân
(曼荼羅身) Từ nơi thân thị hiện ra Mạn đồ la chư tôn. Theo pháp Thai tạng giới của Mật giáo, sau khi đệ tử thụ quán đính, vị A xà lê gia trì (chú nguyện) chữ (aô, ám) trên đỉnh đầu của đệ tử, từ đó hiện ra Mạn đồ la chư tôn của Thai tạng giới. Tức là quán chữ trên đỉnh đầu là Trung thai tạng, từ chữ sinh ra 3 lớp lửa đỏ, 1 lớp bao quanh cổ họng, trong ánh lửa hiện ra Mạn đồ la chư tôn lớp thứ nhất; 1 lớp lửa kế tiếp bao quanh trái tim, hiện ra Mạn đồ la chư tôn lớp thứ 2; lớp ánh lửa sau cùng bao quanh trên rốn, hiện ra Mạn đồ la chư tôn lớp thứ 3. [X. Đại nhật kinh sớ Q.8].
mạn đồ la thông tam đại
(曼荼羅通三大) Mạn đồ la dung thông cả thể đại, tướng đại và dụng đại. Mạn đồ la trong Mật giáo được dùng để miêu tả quả Phật là cảnh giới Bồ đề tròn đầy muôn đức. Tuy nhiên, ý nghĩa và cách dùng Mạn đồ la không phải chỉ giới hạn ở đó, mà còn nhiều dịch ngữ khác rất thường thấy như: Luân viên cụ túc (tròn trịa đầy đủ), Cực vô tỉ vị (không mùi vị nào sánh kịp), Vô quá thượng vi (mùi vị vô thượng không gì vượt qua), Tụ tập, Phát sinh, Đàn, Đạo tràng v.v... Thông thường, Mật giáo đem Lục đại, Tứ mạn và Tam mật, theo thứ tự, phối với Thể đại, Tướng đại và Dụng đại. Nghĩa là đất, nước, lửa, gió, không, thức (Lục đại) là nguồn gốc sinh ra các pháp, trùm khắp tất cả pháp giới; đây gọi là Lục đại thể đại. Đại mạn đồ la, Tam muội da mạn đồ la, Pháp mạn đồ la, Yết ma mạn đồ la (Tứ mạn), từ ngoại giới có thể nhận biết tướng trạng khác nhau và trong 1 pháp cũng đủ các tướng, cũng trùm khắp muôn pháp; đây gọi là Tứ mạn tướng đại. Nghiệp dụng của thân, ngữ, ý (Tam mật) tròn đầy, trùm khắp tất cả các pháp; đây gọi là Tam mật dụng đại. Nhưng, theo Bí tạng kí quyển cuối thì Tứ mạn không những chỉ phối với Tướng đại, mà còn dung thông với cả Thể đại và Dụng đại, nghĩa là Mạn đồ la cũng hàm có nghĩa Tam mật viên mãn, cho nên Mạn đồ la cũng là Dụng đại của Tam mật. Lại nữa, Mạn đồ la là nguồn gốc sinh ra các pháp, tức là nghĩa chữ (a) vốn chẳng sinh lục đại thể đại, vì thế nên lấy Mạn đồ la làm Thể đại. Thêm vào đó, Mật giáo thường nói Tứ mạn tướng đại thì mỗi Mạn đồ la trong Tứ mạn đều dung thông cả Thể đại, Tướng đại và Dụng đại. (xt. Tứ Mạn Tướng Đại).
mạn đồ la tiên
(曼荼羅仙) Phạm: Mandra. Cũng gọi: Mạn đà la tiên. Hán dịch: Nhược thanh, Hoằng thanh. Danh tăng người nước Phù nam (Cao miên xưa) sang Trung quốc dịch kinh vào thời Nam triều. Năm Thiên giám thứ 2 (503) đời Vũ đế nhà Lương, sư đến Trung quốc tiến cống kinh tiếng Phạm và tượng Phật bằng san hô. Sau ít lâu, sư vâng sắc cùng với ngài Tăng già bà la dịch kinh Bảo vân 7 quyển, kinh Pháp giới thể tính vô phân biệt 2 quyển và kinh Văn thù sư lợi sở thuyết Ma ha bát nhã ba la mật 2 quyển. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.11; truyện Tăng già bà la trong Tục cao tăng truyện Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.37].
mạn đồ la tứ luân
(曼荼羅四輪) Bốn luân: Kim, thủy, hỏa, phong làm nơi ý cứ để tạo thành 4 loại Mạn đồ la. Cứ theo kinh Tì lô giá na thành đạo thì sự tu hành có thắng nghĩa đế và thế tục đế; tu hành theo thế tục đế thì nương vào 4 luân: Kim, thủy, hỏa, phong để kiến lập Mạn đồ la, ấy là: 1. Kim luân: Bản tôn màu vàng, ở trong Mạn đồ la địa luân hình vuông. 2. Thủy luân: Bản tôn màu trắng, ở trong Mạn đồ la thủy luân hình tròn. 3. Hỏa luân: Bản tôn màu đỏ, trụ ở Mạn đồ la hỏa luân hình tam giác. 4. Phong luân: Bản tôn màu đen, trụ trong Mạn đồ la phong luân hình bán nguyệt. [X. Chư bộ yếu mục]. (xt. Tứ Luân).
Mạn 慢
[ja] マン man ||| (māna). 'pride,' 'arrogance,' 'self-conceit.' The habit of depending upon the ego, considering oneself higher or better than others. This affliction affects even very advanced practitioners. In the Abhidharmakośa-bhāsya it is one of the indeterminate elements, while in the doctrine of the Yogācāra school, it is one of the six primary defilements 六煩惱. The category of pride is also subdivided into seven or nine types, in which case māna is also the first of the seven. 〔阿毘達磨倶舎釋論 1559.29.254b28〕 => (s: māna). 'kiêu hãnh', 'tính kiêu ngạo', 'tính tự phụ'. Tập khí dựa vào bản ngã, xem mình là cao hơn hay tốt hơn kẻ khác. Tập khí nầy ảnh hưởng ngay cả với những hành giả có công phu tiến bộ. Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, nó là một trong Sáu phiền não chính. Phạm trù māna còn chia thành 7 hay 9 loại, trong đó Mạn là mục đầu tiên trong bảy thứ mạn ( Thất mạn七慢).
Mạn-thù ngũ tự tâm đà-la-ni kinh
曼殊五字心陀羅尼經; C: mànshū wŭzì xīntuóluóní jīng; J: manju goji shindarani kyō; |Tên gọi khác của bản dịch Kim cương đỉnh kinh du già Văn-thù Sư-lợi Bồ Tát pháp nhất phẩm (金剛頂經瑜伽文殊師利菩薩法一品).
Mạn-thù ngũ tự tâm đà-la-ni kinh 曼殊五字心陀羅尼經
[ja] マンジュゴジシンダラニキョウ Manju goji shindarani kyō ||| The Manshu wuzi xintuoluoni jing (T 1173.20.710); an alternative translation of the Jingangdingjing yujqie Wenshushīipusa fa yipin 金剛頂經瑜伽文殊師利菩薩法一品 => (k: Manju goji shindarani kyō; c: Manshu wuzi xintuoluoni jing); tên gọi khác của bản dịch Kim cương đỉnh kinh du-già Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát pháp nhất phẩm (c: Jingangdingjing yujqie Wenshushīipusa fa yipin 金剛頂經瑜伽文殊師利菩薩法一品).
Mạn-thù Sư-lợi Bồ Tát chú tạng trung nhất tự chú vương kinh
曼殊師利菩薩呪藏中一字呪王經;; C: mànshūshīlì púsàzhòuzàng zhōng yīzì zhòuwáng jīng; J: manjushiri bosatsujuzō chū ichiji juō kyō; |1 quyển, Nghĩa Tịnh (義淨) dịch năm 703. Tương đương phẩm thứ 9 của Văn-thù Sư-lợi căn bản nghi quỹ (s: mañjuśrīmūlakalpa).
Mạn-thù-sư-lợi Bồ-tát chú tạng trung nhất tự chú vương kinh 曼殊師利菩薩呪藏中一字呪王經
[ja] マンジュシリボサツジュゾウチュウイチジジュオウキョウ Manjushiri Bosatsujuzō chū ichiji juō kyō ||| The Manshushīi Pusazhouzang zhong yizi zhouwang jing (One-Syllable King of Spells from the Bodhisattvapiṭaka of Mañjuśrī). 1 fasc. (T 1182.20.781-782), trans. Yijing 義淨 in 703 CE. Corresponds to chapter 9 of the Mañjuśrīmūlakalpa. => (c: Manjushiri Bosatsujuzō chū ichiji juō kyō; c: Manshushīi Pusazhouzang zhong yizi zhouwang jing; e: One-Syllable King of Spells from the Bodhisattvapiṭaka of Mañjuśrī). Một quyển; Nghĩa Tịnh (Yijing 義淨) dịch năm 703. Tương đương phẩm thứ chín của Mañjuśrīmūlakalpa.
mạn-đà-la
Chin kor (T), Maṇḍala (P, S), Circle, MandalaĐàn pháp, giới đàn, đànXem Mandara.
Mạn-đát-la
曼怛羅; C: màndáluó; J: mantara; |Phiên âm chữ mantra trong tiếng Phạn, là lời nói mang một năng lực huyền nhiệm. Chân ngôn (眞言).
Mạn-đát-la 曼怛羅
[ja] マンタラ mantara ||| A transcription of the Sanskrit mantra, a mystically empowered utterance. See zhenyen 眞言. => Phiên âm chữ Mantra trong tiếng Sanskrit, là lời nói mang một năng lực huyền nhiệm. Xem Chân ngôn 眞言.
Mạn-đồ-la
曼荼羅; C: màntúluó; J: mandara; |Biểu tượng tượng trưng cho năng lực vũ trụ qua sắc thái hai hoặc 3 chiều, đặc biệt thường được dùng trong Mật tông Phật giáo, hỗ trợ cho pháp tu thiền định.
Mạn-đồ-la 曼荼羅
[ja] マンダラ mandara ||| A symbolic representation of cosmic forces in two- or three dimensional form, which is used especially in Vajrayāna 金剛乘 Buddhism, especially as an aid to meditation. => Biểu tượng tượng trưng cho năng lực vũ trụ qua sắc thái hai hoặc 3 chiều, đặc biệt thường được dùng trong Mật tông Phật giáo, hỗ trợ cho pháp tu thiền định.
Mạn-đồ-la tập
曼荼羅集; C: màntúluó jí; J: mandara shū; |3 quyển, do Hưng Nhiên (興然, j: kōzen) sưu tập vào năm 1173. Là tuyển tập các hình tượng dành riêng cho mạn-đà-la, Trong một vài trường hợp, có một số đồ hình bổ khuyết cho kinh văn cùng nguồn gốc và là đối tượng cho việc thờ phượng. Nhiều hính tượng miêu tả trong tác phẩm nầy không được tìm thấy trong bản tuyển tập các hình tượng khác.
Mạn-đồ-la tập 曼荼羅集
[ja] マンダラシュウ Mandara shū ||| The Mandara shū; (Compendium of Maṇḍalas). 3 fasc. [TZ.3018.5.163-277], compiled by Kōzen 興然 in 1173. An iconographic compendium devoted solely to maṇḍalas. In some cases, several different diagrams are supplied for the same source text or object of worship. Many figures depicted in this work are not found in other iconographic compendia. => (j: Mandara shū; e: Compendium of Maṇḍalas). 3 quyển, do Hưng Nhiên (j: Kōzen 興然) sưu tập vào năm 1173. Là tuyển tập các hình tượng dành riêng cho mạn-đà-la, Trong một vài trường hợp, có một số đồ hình bổ khuyết cho kinh văn cùng nguồn gốc và là đối tượng cho việc thờ phượng. Nhiều hính tượng miêu tả trong tác phẩm nầy không được tìm thấy trong bản tuyển tập các hình tượng khác.
mạng
Jīva (S).
; 1) Veil. 2) Life.
mạng bạc
Bad destiny.
mạng chung
To pass away—To die.
Mạng chung tâm 命終心
[ja] ミョウシュウシン myōshūshin ||| The state of one's mind as a person approaches death. One arises four kinds of attachment to one's present existence, to one's possessions, family and acquaintances and to one's future existence. (2) See 三愛. => Cảnh giới tâm của người sắp qua đời. Sinh khởi bốn tâm trạng bám víu vào sự tồn tại của kiếp người, với tài sản sở hữu, gia đình thân thuộc và với sự hiện hữu trong tương lai.
Mạng chung 命終
[ja] ミョウジュウ myōjū ||| To reach the end of one's life; to die; to pass out of existence. (Pali maraṇa; Skt. maraṇa, kṛta-āyus, mṛtyu, cyuti) 〔長阿含經、 T 1.12b, 倶舎論、 T 1558.29.6c〕 => (p: maraṇa; s: maraṇa, kṛta-āyus, mṛtyu, cyuti) Giờ phút cuối cùng của đời người; chết; qua đời.Theo Kinh Trường A-hàm.
mạng căn
Jvitindriya (S), Jīvitendriya (S), Life-faculty.
; Root of life.
Mạng căn 命根
[ja] ミョウコン myōkon ||| (jīvita-indriya). 'life force','life potential.' One of the fourteen elements not concomitant with mind in the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論; one of the twenty-four elements not concomitant with mind in Consciousness-only. The potential energy for a lifetime of certain length, where the ālaya-vijñāna, as a result of the general effects of karma, has the power to exist for 50, 70 years, etc. This latent energy is contained in the 'verbal expression' seeds of the ālaya-vijñāna. => (s: jīvita-indriya) Một trong 14 pháp Tâm bất tương ưng hành trong Câu xá luận Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論; một trong 24 pháp Tâm bất tương ưng hành theo Duy thức tông. Tiềm lực mạng sống của đời người trong một khoảng thời gian nhất định, nơi mà A-lại-da thức, như là kết quả ảnh hưởng phổ quát của nghiệp lực, nên có năng lực tồn tại trong 50 đến 70 năm. Lực tiềm tàng nầy được duy trì trong danh ngôn chủng tử của A-lại-da thức.
mạng lệnh
Command—Order.
mạng mạng
tên một loài chim, dịch từ Phạn ngữ jỵvajỵvaka, dịch âm là kì-bà-kì-bà-ca (耆婆耆婆迦), cũng dịch là chim sanh sanh. Trong kinh A-di-đà gọi loài chim này là chim cộng mạng.
mạng mạng điểu
Xem cộng mạng điểu.
mạng một
To die.
mạng sống con người trong hơi thở
Human life is only in one breath—Đức Phật đã nhiều lần dạy: “Mạng sống con người trong hơi thở, thở ra mà không thở vào là đã mạng một và bước sang kiếp khác”—The Buddha taught on many occasions: “Human life is only as long as one breath, for breathing out (exhaling) without breathing (inhaling) means we have already died and stepped over into a new lifetime.
mạng sống mong manh, nếu không tu bây giờ sẽ không còn kịp nữa
Life is fragile, if we don't cultivate now, we never have any other opportunities.
mạng trược
Life turbidity.
mạng vận
Externalists believe that there is a so-called “Destiny” or “Fate.”
mạng ý
To pay attention to—To mind.
mạnh
Strong.
mạnh bà thần
(孟婆神) Thần bà họ Mạnh trong truyện tích thần thoại và truyền thuyết dân gian Trung quốc. Tương truyền, vào đời Hán, có 1 bà già họ Mạnh người đời gọi là Mạnh bà A nãi tuổi thọ rất cao, suốt đời không lấy chồng. Thủa nhỏ bà đọc sách Nho, lớn lên thì siêng năng tụng kinh Phật, khuyên người đời ăn chay, không sát sinh. Bấy giờ có người biết được nhân duyên kiếp trước, nhận bà là họ hàng đời trước, tiết lộ âm cơ. Thượng đế bèn ban lệnh cho bà làm thần cõi U minh, lập quán Cháo lú, hái các vị thuốc ở thế gian trộn lẫn thành 1 thứ nước giống như rượu, gọi là Mạnh bà thang, chia làm 5 vị: Ngọt, đắng, chua, cay và mặn. Mạnh bà thần đem loại nước này cho các quỉ thần uống để quên những việc đời trước.
mạnh bát lang
(孟八郎) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho kẻ không làm việc theo đạo lí. Mạnh nghĩa là thô lỗ; Bát lang nghĩa là thứ lớp, hàng lối. Trong Thiền lâm, Mạnh bát lang được sử dụng để chỉ cho kẻ thô tháo, ngang ngược. Chương Nam tuyền Phổ nguyện trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 (Đại 51, 257 hạ), nói: Mạnh bát lang (kẻ thô tháo ngang ngạnh) lại cứ như thế!. [X. tắc 28 trong Bích nham lục].
mạnh bạo
Strong and brave.
mạnh chân khỏe tay
To enjoy good health—To be well.
mạnh cảnh dặc
(孟景翼) Đạo sĩ Trung quốc, sống vào đời Nam Tề, người quận Ngô hưng (nay là huyện Ngô hưng, tỉnh Chiết giang). Văn tuyên vương Tiêu tử lương từng triệu ông đến lễ Phật, nhưng ông từ chối. Ông có tác phẩm: Chính nhất luận (nội dung cho rằng Phật giáo và Đạo giáo là một).
mạnh gia lạp
Bengale (S)Xứ Bengale ngày nay.
mạnh giỏi
See Mạnh chân khỏe tay.
mạnh kha
Xem Mạnh tử.
mạnh khỏe
Healthy—Strong.
mạnh tường
Mangsiang (C).
mạnh tử
Meng-tseu (C), Mengzi (C), Meng K'o (C), Meng-tzu (C), Mencius (C)Tên Mạnh Kha, người nước Châu, đời Chiến quốc (Đông châu), sanh năm 372 mất năm 289BC.
; Meng-Tzu (Mencius 372-289 B.C.)—Người sanh ra trong gia đình khoa bảng tại nước Lỗ, sanh vào khoảng năm 372 trước Tây Lịch vào thời vua Châu Liệt Vương, và mất khoảng năm 289 trước Tây Lịch vào thời vua Châu Noản Vương. Ngài mồ côi cha từ nhỏ, được mẹ hiền dạy dỗ. Lớn lên theo học với Thầy Tử Tư, được chơn truyền về Đạo Học của Thầy Khổng Tử. Ngài có tài hùng biện, thường đi du thuyết ở các nước Lương, Tề, Tống, vân vân để đem đạo nhân nghĩa ra cứu đời. Nhưng các vua thời ấy chỉ lo thôn tính lẫn nhau, chớ không ai chịu coi trọng điều nhân nghĩa, hoặc thực hành theo đạo lý của Thánh Hiền. Khi về già, cũng như Khổng Tử, nhận thấy không ai chịu thực hành những lời dạy của mình, ông về quê cùng các hàng môn đệ ghi chép lại những lời đối đáp với các vua cùng những lời bình thành bộ sách Mạnh Tử gồm bảy quyển—Meng-Tzu belonged to one of the aristocratic families in the state of Lu. He was born in 372 B.C. during the time of King Chou-Lieh-Wang, and died in 289 during the time of King Chou-Nan-Wang. He lost his father during his childhood and was cared for and educated by a kind and devoted mother. When he grew older, a teacher named Tzi-Tsu taught him the proper philosophical teachings of Confucius. He had the great ability to teach and often traveled abroad to other states such as Liang, Tsih, Tsung, etc. to use the teachings of virtues and ethics to help others. However, al the kings of those days cared only about competing and battling with one another, none of them was concerned or had any respect for virtues and ethics (right and wrong) nor did they follow the teachings of past saintly teachers. At old age, just as Confucius, he saw his teachings were not being applied, he returned home, together with his students to write the various experiences he had had while debating with the kings of the countries he visited as well as lessons he had taught his students. This was collected into seven volumes and it also included his criticism of other philosophical teachings. The series was self-titled Meng-Tzu.
Mạnh Xuân
(孟春): tên gọi của tháng đầu tiên của mùa Xuân, tên gọi khác của tháng Giêng. Như trong bài Đại Đường Thượng Ca Hành (代堂上歌行) của Bào Chiếu (鮑照, 414-466) nhà Tống có câu: “Dương xuân Mạnh Xuân nguyệt, triêu quang tán lưu hà (陽春孟春月、朝光散流霞, đầu xuân tháng Giêng tiết, sáng sớm rực ráng hồng).” Hay trong Tông Giám Pháp Lâm (宗鑑法林, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1297) quyển 61 có đoạn: “Mạnh Xuân do hàn đệ nhất nguyệt, Trọng Xuân tiệm noãn đệ nhị nguyệt, nhược vô nhàn sự quải tâm đầu, tiện thị nhân gian hảo thời tiết (孟春猶寒第一月、仲春漸暖第二月、若無閒事挂心頭、便是人間好時節, đầu Xuân còn lạnh tháng thứ nhất, giữa Xuân dần ấm tháng thứ hai, nếu chẳng có việc nhàn rỗi nào mang trong tâm, ấy chính là thời tiết tốt của con người).”
Mạnh Đông
(孟冬): chỉ cho tháng đầu tiên của mùa Đông, tức tháng 10 Âm Lịch. Một số thi từ liên quan đến từ Mạnh Đông này như trong bài Bộ Xuất Hạ Môn Hành (步出夏門行), phần Đông Thập Nguyệt (冬十月) của Tào Tháo (曹操, 155-220) có câu: “Mạnh Đông thập nguyệt, Bắc phong bồi hồi (孟冬十月、北風徘徊, đầu Đông tháng Mười, gió Bắc bồi hồi).” Trong bài thơ Thư Dị (書異) của Nguyên Chẩn (元稹, 779-831) nhà Đường có câu: “Mạnh Đông sơ hàn nguyệt, chử trạch bồ thượng thanh (孟冬初寒月、渚澤蒲尚青, Mạnh Đông tháng mới lạnh, cỏ bên đầm còn xanh).” Hay trong bài Minh Binh Bộ Thượng Thư Tiết Hoàn Viên Công Mộ Chí Minh (明兵部尚書節寰袁公墓誌銘) của Khổng Trinh Vận (孔貞運, 1574-1644) nhà Minh lại có đoạn: “Chí Mạnh Đông nguyệt, hốt Tây Nam hữu cự tinh trụy địa, nhi công khạp nhiên thệ hỉ (至孟冬月、忽西南有巨星墜地、而公溘然逝矣, đến tháng 10, chợt phía Tây Nam có ngôi sao lớn rơi xuống đất, rồi ông [Viên Khả Lập] đột nhiên qua đời vậy).” Trong Phật Tổ Tông Phái Thế Phổ (佛祖宗派世譜, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1602) cũng có đoạn: “Uyên Hồ Diệu Dụng, Hải Diêm Trịnh thị tử, sanh vu Vạn Lịch Đinh Hợi niên, Sùng Trinh Nhâm Ngọ Mạnh Đông thập nhất nhật thư kệ nhi thệ, tháp Hưng Thiện Phổ Minh (鴛湖妙用、海鹽鄭氏子、生于萬曆丁亥年、崇禎壬午孟冬十一日書偈而逝、塔興善普明, Uyên Hồ Diệu Dụng, con nhà họ Trịnh ở Hải Diêm, sanh vào năm Đinh Hợi [1587] niên hiệu Vạn Lịch; vào ngày 11 tháng 10 năm Nhâm Ngọ [1642] niên hiệu Sùng Trinh, ông viết kệ rồi qua đời; tháp tên Phổ Minh ở Chùa Hưng Thiện).” Hay trong Hoằng Giới Pháp Nghi (弘戒法儀, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1126) quyển 1 lại có câu: “Thiên Khải Quý Hợi Mạnh Đông sóc đán Tam Phong Bồ Tát Giới đệ tử Pháp Tạng thư vu Bắc Thiền Tự Cấm Oa Đường trung (天啟癸亥孟冬朔旦三峰菩薩戒弟子法藏書于北禪寺禁蛙堂中, vào sáng mồng một tháng 10 năm Quý Hợi [1623] niên hiệu Thiên Khải, đệ tử thọ Bồ Tát Giới ở Tam Phong tên Pháp Tạng viết trong Cấm Oa Đường của Bắc Thiền Tự).”
mạo
1) See Mạo Hiểm. 2) Giả Mạo: Counterfeit.
mạo hiểm
To venture—To adventure—To risk.
mạo nhận
To assume falsely.
mạo tử
(帽子) Cũng gọi Đầu cân, Đầu tụ, Thiền cân, Bồ tát cân. Gọi tắt: Mạo. Loại mũ may bằng vải hoặc lông thú của chư tăng chít đầu vào mùa đông. Cứ theo luật Tứ phần quyển 40 thì vào mùa đông giá rét, đức Phật cho phép các vị tỉ khưu dùng lông thú hoặc các loại bông để chít trên đầu; đời sau dùng theo. Vào thời đại Tiêu Tề thuộc Nam triều, Trung quốc, ngài Bảo chí là người đầu tiên đội mũ vải, đời sau gọi là Chí công mạo (mũ ngài Bảo chí) được sử dụng rộng rãi trong Thiền lâm. Về kích thước may mũ (tức Chí công mạo), cứ theo truyện Sơ sơn Quang nhân đời Đường trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 17, thì chiều dài là 1 thước 5 tấc (Tàu); còn theo điều Tống chung Thiên đầu cân trong Thích thị yếu lãm quyển hạ, thì toàn bộ mũ dài 5 thước 3 tấc, mặt trước dài 2 thước 8 tấc, sau lưng dài 2 thước 5 tấc. Các tông phái ở Nhật bản phần nhiều sử dụng mũ Chí công, cũng gọi mũ Thát đà, nhưng cách may có hơi khác, như tông Tịnh độ dùng mũ hình ống tròn, mũ của tông Nhật liên thì có hình chóp núi, còn phái Tu nghiệm đạo thì dùng khăn gấp nếp, nhưng tất cả đều được cải biến từ mũ Chí công mà ra. Ngoài ra, còn có loại mũ gọi là Thủy quan (cũng gọi Thiền mạo tử, Ô mạo tử, tức là loại mũ mà trên nếp gấp ở trước trán có chữ Thủy) của Thiền tông và mũ lụa của các tông Thiên thai, Chân ngôn, Tịnh độ v.v... Mật tông thì dùng mũ có hình đuôi chim én. [X. Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.thượng; luật Tứ phần Q.41; điều Thánh tiết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; truyện Đào hoằng cảnh trong Nam sử liệt truyện 66; môn Phục chương trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Phiếu Mạo).
mạo địa
Bồ Đề—Bodhi.
mạo địa chất đa
Bodhicitta (skt)—Bố Đề Tâm—The enlightened mind
mạo địa tát đát la
Bodhisattva (skt)—Bồ Tát.
mạt
Branch, twig; end; dust; not.
; 1) Chà xát: To rub out or on. 2) Chấm Dứt: End. 3) Cho ngựa ăn: To feed a horse. 4) Mạt Cưa hay Mạt Sắt: Sawdust. 5) Ngọn: Branch.
mạt ca trá hạ la đà
(末迦咤賀邏馱) Phạm: Markaỉa-hrada. Hán dịch: Di hầu trì. Ao ở ngoài thành Tì xá li thuộc Trung Ấn độ đời xưa. Huyền ứng âm nghĩa quyển 14 nói: Mạt ca tra, Hán dịch là Hầu (khỉ); Hạ la đà, Hán dịch là Trì (ao). Thủa xưa, có 1 đàn khỉ đào cái ao này ở cạnh vườn Am la tại thành Tì xá li để cúng dường đức Phật nên gọi là ao Di hầu. Điều Phệ xá li quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 7 chép, cách phía tây của ao không xa có 1 tòa tháp là chỗ ngày xưa Di hầu lên cây lấy mật; cách phía nam ao không xa cũng có ngôi tháp là chỗ Di hầu dâng mật cúng Phật. Góc tây bắc ao vẫn còn tượng Di hầu. [X. luận Đại trí độ Q.2].
mạt già
Marga (skt). 1) Đạo—Track—Path—Way—The way. 2) Đạo Đế hay đế thứ tư trong Tứ Diệu Đế: The fourth of the four dogmas. 3) Bát Thánh Đạo hay cửa ra đau khổ để bước vào niết bàn: The eight holy or correct ways, or gates out of suffering into nirvana. 4) Đạo là nhân giải thoát, giác ngộ Bồ Đề là quả: Marga is described as the cause of liberation, bodhi as its result. ** For more information, please see Đạo.
mạt già lê
Xem Mạt già lê câu tử.
; Maskari-Gosaliputra (skt)—Mạt Già Lê Câu Xá Lê, một trong lục sư ngoại đạo. Ông ta cho rằng kiếp hiện tại không phải là hậu quả của những việc làm trong những đời quá khứ, và kinh Lăng Già nói rằng ông ta dạy về sự hoàn toàn hoại diệt vào cuối đời nầy—One of the six tirthikas. He denied that present lot was due to deeds done in previous lives, and the Lankavatara sutra says he taught total annihilation at the end of this life.
mạt già lê câu tử
Maskarin-Gośāliputra (S), Makkhali-Gosāla (P)Mạt già lê, Mạt già lê câu xá la tửVị luận sư ngoại đạo thời đức Phật.
mạt già lê câu xa lê tử
(末伽梨拘賒梨子) Phạm: Maskarì-gozàliputra. Pàli: Makkhali-gosàlaputta. Cũng gọi Mạt yết lị cù xà li tử, Mạt tắc yết lợi cù xa lợi tử, Mạt già lê câu xá lê tử, Mạt khư lê cù xa li tử. Gọi tắt: Mạt già lê, hoặc Mạt khư lê. Vị Luận sư ngoại đạo rất có thế lực ở Trung Ấn độ vào thời đức Phật còn tại thế, là 1 trong Lục sư ngoại đạo. Mạt già lê câu xa lê tử là người chủ trương tự nhiên luận, cho rằng sự khổ vui của con người chẳng có nguyên nhân nào cả, mà chỉ tự nhiên sinh ra. Mạt già lê, cũng gọi Mạt tát yết lê, nghĩa là thường đi; ngoại đạo này thường đi, không đứng, nên gọi Mạt già lê. Còn Câu xa lê là tên của người mẹ, vì thế gọi là Câu xa lê tử. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.38; Chú Duy ma cật kinh Q.3; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26]. (xt. Lục Sư Ngoại Đạo).
mạt già lê câu xá la tử
Xem Mạt già lê câu tử.
; Maskarin Gosàliputra (S). A heretical teacher.
mạt già thuỷ la
(末伽始羅) Phạm: MfgazirashoặcMàrgazìrwa. Hán âm: Ma lăng nga thi lí sa, Ma la nga thủy la. Hán dịch: Mạnh đông, Lộc thủ, Tuy nguyệt. Tên gọi tháng thứ 9 theo lịch Ấn độ, tương đương với khoảng thời gian từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 10 âm lịch. Trong tháng này, khi mặt trăng gặp sao Tuy thì tròn, vì thế gọi là Tuy nguyệt. Đại đường tây vực kí quyển 2 (Đại 51, 876 thượng), nói: Ba tháng mùa thu gọi là tháng Áp thấp phược dữu xà, tháng Ca lạt để ca và tháng Mạt già thủy la, tương đương với khoảng từ ngày 16 tháng 7 đến ngày 15 tháng 10 âm lịch. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.42; kinh Tú diệu Q.thượng; kinh Ma đăng già Q.hạ; kinh Xá đầu gián thái tử nhị thập bát tú; luận Đại tì bà sa Q.136].
mạt già thất la
Malyasri (skt)—Công chúa của vị vua cuối cùng của xứ Kosala—Daughter of the last king of Kosala.
mạt già thủy la
Margasiras (skt)—Tháng giữa tháng mười một và mười hai (từ 16th tháng chín đến 15th tháng mười âm lịch)—The month between November and December (from 16th of the 9th month to the 15th of the 10th month lunar calendar). ** For more information, please see Thập Nhị Nguyệt.
mạt già, đạo
Marga (S). Track, path, way, the way.
mạt giáo
(末教) Gọi đủ: Trục cơ mạt giáo. Đối lại: Xứng tính bản giáo. Chỉ cho Tam thừa giáo và Tiểu thừa giáo là giáo pháp chi mạt (cành ngọn), 1 trong Nhị giáo. Tông Hoa nghiêm chủ trương pháp môn Biệt giáo nhất thừa của Hoa nghiêm là giáo thuyết căn bản khế hợp với pháp tính, cho nên gọi là Xứng tính bản giáo, còn đức Phật vì thích ứng với căn cơ Tiểu thừa, Tam thừa mà nói giáo pháp chi mạt, thì gọi là Trục cơ mạt giáo. Bởi vì Tam thừa, Tiểu thừa đều từ Biệt giáo nhất thừa mà ra. Nếu lấy cứu cánh và phương tiện để phân biệt, thì Biệt giáo nhất thừa là giáo cứu cánh chung cực; còn Tam thừa, Tiểu thừa là giáo phương tiện dẫn dụ. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. (xt. Nhị Giáo, Bản Giáo).
mạt hoá
(末化) Gọi đủ: Chi mạt hóa chủ. Chỉ cho Phật Thích ca do đức Phật Lô xá na trong thế giới Liên hoa tạng biến hóa ra. Kinh Phạm võng (bản 2 quyển) do ngài Cưu ma la thập dịch có miêu tả tỉ mỉ rõ ràng thế giới Liên hoa đài tạng rộng lớn trang nghiêm, do hoa sen lớn nghìn cánh cấu tạo nên, trong mỗi cánh hoa có 1 thế giới, trong mỗi thế giới có trăm ức núi Tu di, trăm ức tứ thiên hạ, trăm ức cõi Nam diêm phù đề. Đức Phật Lô xá na là cội nguồn của thế giới Liên hoa đài tạng, Ngài ngồi kết già trên đài hoa sen, từ thân Ngài lại biến hóa ra 1 nghìn Phật Thích ca, mỗi Phật Thích ca ngồi trên 1 cánh hoa sen trong thế giới nghìn cánh sen. Rồi nghìn Phật Thích ca mỗi vị lại hóa ra trăm ức bồ tát Thích ca, mỗi mỗi đều ngồi dưới gốc cây Bồ đề ở châu Nam thiệm bộ tuyên nói pháp môn Tâm địa của Bồ tát. Tông Thiên thai căn cứ vào sự ghi chép trên đây để xiển minh ý chỉ Phật tính thường trụ Nhất thừa và qui nạp vào Đốn giáo trong Ngũ thời bát giáo mà nêu ra các thuyết 3 lớp bản mạt thành Phật, 2 lớp Bản và Tích, bất luận nói 3 lớp hay 2 lớp, đều là từ đối đãi bản mạt, bản tích mà lập danh. Tức Phật Lô xá na ngồi trên đài hoa sen là bản (gốc), còn thân Phật Thích ca Như lai ngồi trên cánh hoa sen là mạt (ngọn), là tích (dấu vết). Phật Lô xá na là nguồn gốc, là bản thể của nghìn Phật Thích ca; nghìn Phật Thích ca là tích dụng thùy hóa của Phật Lô xá na. Truyền thuật nhất tâm giới văn quyển hạ (Đại 74, 652 thượng), nói: Nghìn hoa trăm nghìn ức, Lô xá na là Bản thân, 10 trọng 48 khinh, Thích ca văn là Mạt hóa. (xt. Phạm Võng Tam Trùng Bản Mạt, Liên Hoa Tạng Thế Giới).
mạt hóa
1) Phật hóa thân làm nhành hay lá kè: Buddha transformed into (palm) branches or leaves. 2) Sự hóa thân của Phật trong hình thái kinh điển: The transformation of the Buddha in the shape of the sutra.
mạt hương
Curna (S), Perfumed powder Bột hương dùng rãi trên các tượng Phật.
; Giã trầm hương thành bột để rắc trên hình tượng (Phật)—Powdered incense to scatter over images (Buddhas).
; (抹香) Phạm: Cùrịa. Loại hương bột dùng để rắc lên tượng Phật và nơi chùa, tháp. Theo phẩm A tu la vương thụ kí trong kinh Đại bảo tích quyển 62, thì có các loại hương bột như: Chiên đàn, Ưu bát la, Trầm thủy, Đa ma la bạt, A tu la v.v...[X. phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa Q.5; phẩm Phân biệt công đức trong kinh Tô tất địa yết la Q.thượng; luận Đại trí độ Q.93; Pháp hoa kinh huyền tán Q.7].
mạt hạng
The lowest class.
Mạt hậu
末後; C: mòhòu; J: matsugo; |Sau cùng; lúc cuối cùng; điểm kết thúc.
mạt hậu cú
Tức là lời nói của chư Tổ, cũng như nói: “Một câu cuối cùng (mạt hậu) mới đến lao quan (ngộ triệt để)”, để kẻ đã ngộ nghe rồi tự biết, kẻ chưa ngộ nghe rồi không hiểu thì từ đó khởi lên nghi tình để đi đến chỗ ngộ.
mạt hậu nhất cú
(末後一句) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một câu nói cuối cùng, tức là lời nói rất mực được thốt ra khi đã đạt đến chỗ tột cùng của cảnh giới đại ngộ, không có câu hoặc lời nói nào khác có thể vượt lên được. Chương Lạc phổ Nguyên an trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 16 (Đại 51, 331 trung), chép: Sư dạy đại chúng rằng: Một câu sau cùng, mới đến cửa ải, bứt khóa tới bờ, chẳng chung phàm thánh. [X. tắc 9, Bích nham lục; luận Vô tận đăng Q.thượng].
Mạt hậu 末後
[ja] マツゴ matsugo ||| Finally; at the end; the finishing point. => Sau cùng; lúc cuối cùng; điểm kết thúc.
mạt kiếp
Last existence.
mạt kiếp mạt kiến
(末劫末見) Đối lại: Bản kiếp bản kiến. Kiến chấp phân biệt về đời vị lai. Trái lại, kiến chấp phân biệt về đời quá khứ thì gọi là Bản kiếp bản kiến. Những kiến chấp sai lầm của ngoại đạo Ấn độ đời xưa đại khái có thể chia làm 2 loại: Bản kiếp bản kiến và Mạt kiếp mạt kiến. Trong đó, Mạt kiếp mạt kiến, theo kinh Phạm động trong Trường a hàm quyển 14, thì có 5 loại, gồm 44 kiến chấp. Đó là: Hữu tưởng luận 16 thứ, Vô tưởng luận 8 thứ, Phi hữu tưởng phi vô tưởng luận 8 thứ, Đoạn diệt luận 7 thứ, Hiện tại nê hoàn luận 5 thứ. Hợp chung lại với 5 loại, 18 kiến chấp thuộc Bản kiếp bản kiến thì tổng cộng có 10 loại, 62 kiến chấp. [X. luận Đại tì bà sa Q.199]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến).
mạt kiền nã
(末犍拏) Cũng gọi Mạt kiến noa. Quyến thuộc của Hỏa thiên. Cứ theo phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật quyển 5, thì Mạt kiện noa và Cù đàm tiên đều là quyến thuộc của Hỏa thiên. Đại nhật kinh sớ quyển 16 (Đại 39, 744 thượng), nói: Mạt kiện noa chính là người tọa thiền, khi xuất định, thấy kiến bu khắp mình, vì sợ làm tổn hại kiến nên lại nhập định tiếp.
mạt la
Malla (S)Tên một dòng họ trong thành Câu thi na, nơi Phật nhập diệt.
; Malla (skt)—Ma La—Một từ chỉ cư dân vùng Câu Thi Na và Pava—A term for inhabitants of Kusinagara and Pava.
; (末羅) Phạm,Pàli:Malla. Hán dịch: Lực sĩ. Cũng gọi Ma la, Bà lí ti. Một chủng tộc sống ở thành Ca thi na kiệt, thành Ba bà v.v... về phía bắc sông Hằng thuộc Trung Ấn độ, là 1 trong 16 chủng tộc lớn thuộc dòng Sát đế lợi ở Ấn độ đời xưa. Kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 2 (Đại 1, 24 trung), nói: Lúc bấy giờ, đức Thế tôn ở thành Câu thi na kiệt, giữa khoảng 2 cây trong rừng Sa la, sắp diệt độ, bảo A nan rằng: Ngươi vào thành Câu thi na kiệt báo cho các Mạt la. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.hạ (bản 3 quyển); Giới đàn viên kinh; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.12]. (xt. Ma La Quốc).
mạt la củ tra
Malakuta (skt)—Vương quốc cổ nằm về phía nam Ấn Độ, nơi trổi dậy của ly hệ ngoại đạo Ni Kiền Đà vào khoảng những năm 600 sau Tây Lịch—An ancient kingdom of Southern India, the coast of Malabar, about 600 A.D. a noted haunt of the Nirgrantha sect.
mạt la củ trá quốc
(秣羅矩咤國) Mạt la củ tra, Phạm: Malakùỉa. Cũng gọi Chỉ mạt la quốc. Tên một nước xưa ở cực nam bán đảo Ấn độ, là căn cứ địa của Vương triều Phan để á (Phạm:Pàịđya), tương đương với vùng đất Mã đỗ lạp (Madura) và Đình ni phất lợi (Tinnvelly) ngày nay. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10, thì nước này chu vi hơn 5.000 dặm, kinh đô rộng hơn 40 dặm, đất đai cằn cỗi, nông nghiệp khó phát triển, nhưng bù lại, có rất nhiều hải sản quí giá. Nhân dân xứ này tính tình cứng cỏi, tin thờ cả tà lẫn chính, không chuộng nghệ thuật, chỉ thích trục lợi. Nền chùa cũ thì nhiều, nhưng chùa còn lại rất ít, tăng đồ cũng không có bao nhiêu. Đền thờ trời có tới vài trăm ngôi, rất nhiều ngoại đạo, phần lớn là ngoại đạo khỏa hình. Ở phía đông kinh đô có ngôi chùa cũ do ngài Ma hi đà (Phạm:Mahendra) sáng lập và tháp vua A dục. Ở bờ biển phía nam nước này có núi Mạt lại da, trong đó có nhiều loại cây chiên đàn sinh trưởng. Núi này thường được nói đến trong các kinh. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.68; luận Đại trí độ Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26].
mạt la du
Malaya (skt)—Vương quốc nằm về phía đông rặng núi Malaya, bán đảo Mã Lai—The western Ghats in Deccan (the mountains abound in scandal trees); the country that lies to the east of Malaya range, Malabar—The Malay peninsula.
mạt la kiết đa
Marakata (skt)—Ma La Ca Đà—Ngọc Bích—The emerald.
mạt la mẫu ma tăng già phái
(末羅姆摩僧伽派) Pàli: Marammasaíghanikàya. Cũng gọi Tiền tông, Miến điện tông phái (Pàli: Marammanikàya). Một chi phái thuộc Phật giáo Thượng tọa bộ thời kì đầu ở Miến điện, được hình thành vào cuối thế kỉ XII, chủ yếu thịnh hành ở miền Thượng Miến điện. Các tỉ khưu của phái này cố thủ khuôn phép của Phật giáo Thượng tọa bộ, bài xích giới pháp của phái Đại tự Tích lan do sư Xa ba da (Chapaỉa) truyền thụ. Vào năm 1180, Quốc sư Miến điện là ngài Uất đa la kì bà (Phạm:Uttarajìva), nhân hâm mộ nền Phật giáo Tích lan, nên ngài hướng dẫn 1 đoàn tăng chúng Miến điện, trong đó có sư Xa ba đa, khi ấy còn là sa di, đến Tich lan cầu pháp. Ít lâu sau, ngài Uất đa la kì bà cùng đoàn tùy tùng trở về nước, chỉ còn lại sư Xa ba đa ở chùa Đại tự (Pàli: Mahàvihàra), sau khi thụ giới tỉ khưu, sư tiếp tục học tập trong 10 năm. Đến năm 1190 sư trở về Miến điện. Sư không những có kiến thức uyên bác mà còn có tài biện luận, được Quốc vương Miến điện tín phục. Sư xây dựng 1 ngôi chùa tháp kiểu Tích lan ở Nhượng ô (Chaugu) bắc bộ Bồ cam, đặt tên là tháp Xa ba đa và theo giới pháp của Đại tự mà truyền thụ giới Tỉ khưu, chứ không tuân thủ qui định của tăng đoàn truyền thống ở Miến điện. Do đó đã đưa đến cuộc tranh luận trong nội bộ Phật giáo Miến điện. Tăng đoàn Thượng tọa bộ thuộc dòng Mãnh tộc trước nay ở Miến điện, thấy sư Xa ba đa được Quớc vương ủng hộ, phát triển mau chóng, vì lo cho địa vị và tiền đồ của bản thân, nên đã cực lực chứng minh Phật giáo Thượng tọa bộ bắt nguồn từ luật pháp được truyền thừa từ tăng đoàn do vua A dục phái sang, để chống lại sư Xa ba đa theo giới luật đổi mới của Tích lan. Cuộc tranh luận kéo dài đến năm 1192 thì phái Phật giáo Thượng tọa bộ truyền thống của Miến điện gọi là Tông phái Miến điện để phân biệt với Tông phái Tích lan (Pàli: Siôhaơanikàya) của sư Xa ba đa. Từ đó Phật giáo Miến điện rơi vào tình trạng phân hóa. [X. Miến điện Phật giáo sử (Tịnh hải, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 83)].
mạt la sa
Malasa (skt)—Một thung lũng nằm trên vùng thượng du Pundjab—A mountain valley in the upper Pundjab.
mạt la vương kinh
Kinh nói về vua hành Mạt La. Thuở ấy có một tảng đá lớn chắn giữa đường đi của quốc vương, mà không ai có thể dời đi được. Dân trong thành không thể di chuyển được. Đức Phật bèn hiện thần thông dời hòn đá đi (nhân đó Phật thuyết về bốn lực để độ cho nhân dân vùng nầy)—The sutra of the king of Malla, whose road was blocked by a rock, which his people were unable to remove, but which the Buddha removed easily by his miraculous powers. ** For more information, please see Tứ Lực.
; (末羅王經) Kinh, 1 quyển, do cư sĩ Thư cừ kinh Thanh dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật khi ở nước Mạt la, đã hiển hiện sức thần thông dời 1 tảng đá lớn nằm chắn ngang đường, đồng thời, vì nhà vua và 9 ức dân chúng nước ấy tuyên thuyết về sức tinh tiến, sức nhẫn nhục, sức bố thí, sức cha mẹ v.v... để hóa độ họ. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.10; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.5].
mạt lê
Bali (skt)—Một vị vua A Tu La—An asura king.
mạt lưu
People of the low class.
mạt lạt da sơn
(秣剌耶山) Mạt lạt da, phạm: Malayagiri. Cũng gọi Ma la da sơn, Ma la diên sơn, Ma lợi sơn. Tên dãy núi ở bờ biển phía nam nước Mạt la củ tra (Phạm: Malakùỉa) tại cực nam bán đảo Ấn độ. Điều Mạt la củ tra quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 10 (Đại 51, 932 thượng), nói: Ở bờ biển phía nam nước này có núi Mạt lại da. Núi này cao chót vót, có nhiều hang động sâu thẳm, khe suối quanh co; trong núi có cây bạch đàn hương, cây chiên đàn nễ bà (Phạm: Candaneva). Núi này cũng tức là núi Ma la da nói trong kinh Niết bàn quyển 15 (bản Bắc) và kinh Đại thừa nhập Lăng già quyển 1. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.68; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26].
mạt lật giả
(末栗者) Phạm:Marìca. Cũng gọi Ma lí giả. Hồ tiêu. Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ Bách nhất yết ma quyển 8 (Đại 24, 491 thượng), chép: Đức Phật nói có 5 loại quả (...) loại thứ 4 là Mạt lật giả (hồ tiêu). (...) Năm loại quả này hoặc đúng giờ (ăn) hoặc không đúnggiờ, hoặc có bệnh hoặc không bệnh, đều tùy ý được dùng.
mạt lật sa ca
Varsika (skt)—See Mạt Sư Ca.
mạt lộ
1) To be at the end of one's resources. 2) Cul-de-sac.
mạt lợi
Mallika (skt)—Ma Lợi—Mạt La. 1) Mạt Lợi Hoa: Bông lài Trung Quốc—Jasminum—The Chinese jasmine. 2) Man Hoa: Loài hoa có thể kết thành xâu chuỗi—Chaplet flower, as its flowers may be formed into a chaplet. 3) Trái cây được pha chế cúng dường trong các các buổi lễ: A concoction of various fruits mixed with water offered in worship.
mạt lợi phu nhân
Phu nhân của vua Ba Tư Nặc nước Xá Vệ, được gọi như vậy là vì bà hay dệt, hay mang hoa lài, hoặc bà đến từ vườn lài—The wife of Prasenajit, king of Kosala, so called because she wove or wore jasmine chaplets, or came from a jasmine garden.
; (末利夫人) Mạt lợi, Phạm,Pàli: Mallikà. Cũng gọi Ma lợi phu nhân, Ma lợi ca phu nhân. Hán dịch: Thắng man phu nhân. Phu nhân của vua Ba tư nặc, người thành Ca tì la vệ, Trung Ấn độ, tên Minh nguyệt, cha là Ma nạp bà, mẹ là dòng dõi Bà la môn. Cứ theo Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 7, sau khi cha mẹ mất, bà rơi vào hoàn cảnh khó khăn, trôi nổi, rồi làm đầy tớ cho ông Ma ha nam (Pàli: Mahànàma), có lần Ma ha nam sai bà vào vườn hái hoa kết tràng, bà làm rất đẹp, Ma ha nam hài lòng và bảo bà hàng ngày chuyên làm công việc này, vì thế bà lại có tên Thắng man (tràng hoa đẹp). Về sau, nhờ công đức cúng dường bữa cơm cho đức Phật mà thoát khỏi thân phận tôi đòi, trở thành phu nhân của vua Thắng quang (tức vua Ba tư nặc (Phạm: Prasenajit) nước Kiêu tát la, sinh ra Thái tử Ác sinh (tức Thái tử Tì lưu li (Phạm: Viđùđabha). Nhưng kinh Tăng nhất a hàm quyển 26 thì cho rằng vua Ba tư nặc cầu hôn với con gái dòng họ Thích, dòng họ Thích bèn đem con của người tớ gái của ông Ma ha nam gả cho vua. Còn luật Tứ phần quyển 18 thì cho rằng Mạt lợi phu nhân vốn là đầy tớ gái của Bà la môn Da nhã đạt ở thành Xá vệ, tên là Hoàng đầu, thường giữ vườn Mạt lợi (vườn Mạt la). Một hôm, đức Như lai vào thành khất thực, bà Hoàng đầu trông thấy tướng hảo của Phật liền sinh lòng kính tin, dâng cơm cúng dường Ngài, cầu mong thoát khỏi thân phận tôi tớ mà được làm phu nhân của vua. Về sau, gặp vua Thắng quang cùng đoàn tùy tùng đi săn, vì trời nóng bức, nhà vua vào vườn tránh nắng, Hoàng đầu đưa vua đến chỗ mát, trải áo mình ra cho vua ngồi, rồi tận tình hầu hạ vua, vua rất đẹp lòng, biết là người thông minh nên đưa về cung làm phu nhân. Vì Hoàng đầu được đưa từ vườn Mạt lợi về, cho nên gọi là Mạt lợi phu nhân. Ngoài ra, cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 8 phần cuối, thì con gái của Mạt lợi phu nhân tên là Mạt lợi thất la, tức Thắng man. Như vậy thì biết Mạt lợi phu nhân là Hoàng hậu của vua Ba tư nặc, sinh ra Thái tử Ác sinh và Thắng man phu nhân, sau trở thành Vương phi nước A du xà. X. phẩm Thanh tín nữ trong kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Pháp cú thí dụ Q.2; kinh Hiền ngu Q.2; luật Tứ phần Q.16; luật Thập tụng Q.16; luật Ma ha tăng kì Q.19; Huyền ứng âm nghĩa Q.5]. (xt. Thắng Man Phu Nhân).
mạt lỵ
Mallikà (S). Queen Mallikà.
mạt lỵ chi
Marichi (S)Tên một nữ thần nguyện hộ trì những người đi đường.
mạt ma
Marman (skt)—Phần trọng yếu (sinh tử)—Mortal spot—A vital part.
; (末摩) Phạm: Marman. Hán dịch: Tử tiết, Chi tiết, Tử huyệt. Tức là chỗ hiểm yếu trên thân thể con người mà nếu bị thương tổn 1 chút thôi cũng có thể đưa đến tử vong. Cứ theo Du già luận kí quyển 1 thượng, thì thân thể con người có 64 hoặc 120 tử tiết. Theo luận Đại tì bà sa quyển 190 và luận Câu xá quyển 10, trong 3 đại thủy, hỏa, phong, lúc người ta sắp chết, nếu có 1 đại tự tăng lên mạnh mẽ, mà ngay lúc đó chạm vào mạt ma thì toàn thân rất đau đớn, cuối cùng dứt mệnh căn mà chết. Đây gọi là Đoạn mạt ma. Luận Thuận chính lí quyển 31 (Đại 29, 514 trung), nói: Nếu thủy, hỏa, phong duyên hợp không bình thường, chống trái lẫn nhau, hoặc cả 3 đại, hoặc riêng từng đại, thế lực tăng mạnh, làm thương tổn đến điểm Mạt ma thì đau đớn vô cùng, như lấy dao mà cắt xẻ thân thể chân tay, chỉ trong chốc lát là bỏ thân mệnh, vì thế nên gọi Đoạn mạt ma. [X. luận Câu xá Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].
mạt na
Mano (P), citta (P, S), Mānas (S), Mind, Sub-mindTư duy, Mạn, Mạt na thứcThức thứ 7 trong 8 thức do Tông Duy Thức phân lập. Là một loại thức ô nhiễm, hằng chấp thức thứ 8, A lại da thức, làm phàm ngã.
; Manah or manas (skt). 1) Ý: The active mind or consciousness as the will-to-be. 2) Ýù Căn: Làm cho con người trở thành một sinh vật có trí khôn và đạo đức—The sixth of the Chadayatana, the mental faculty which constitutes man as an intelligent and moral being.
mạt na thức
Manovijāna (S), Manoviāṇa (P).
; Mananavijnànam (S). The seventh consciousness.
; 1) Ý Thức—Manas Consciousness. 2) Mạt Na hoạt động như một trạm thâu thập tất cả những hoạt động của sáu thức kia. Mạt Na chính là thức thứ bảy trong tám thức, có nghĩa là “Tư Lường.” Nó là Ý thức hay những hoạt động của Ý Căn, nhưng tự nó cũng có nghĩa là “tâm.”—This acts like the collection station for the first six consciousnesses. The seventh of the eight consciousnesses, which means thinking and measuring, or calculating. It is the active mind, or activity of mind, but is also used for the mind itself.
; (末那識) Mạt na, Phạm: Manas. Hán dịch: Ý, Tư lương. Thức nhiễm ô, luôn chấp thức thứ 8 A lại da làm ngã, là thức thứ 7 trong 8 thức tâm của loài hữu tình do tông Duy thức lập ra. Vì để phân biệt với thức thứ 6 cũng là Ý thức (Phạm: Mano-vijĩàna: Thức của ý) nên dùng âm Phạm là Mạt na làm tên gọi. Thức này tương ứng với các phiền não ngã si, ngã kiến, ngã ái và ngã mạn, lúc nào cũng thẩm xét, chấp trước kiến phần của thức A lại da làm ngã và ngã sở (ta và của ta), vì thế đặc chất của nó là hằng thẩm tư lương (luôn suy lường tính toán). Lại vì thức này là gốc của ngã chấp, nếu chấp trước mê vọng thì tạo các ác nghiệp, trái lại, thì đoạn trừ phiền não ác nghiệp, triệt ngộ chân lí nhân không, pháp không, cho nên gọi là Nhiễm tịnh thức, cũng gọi là Tư lương thức, Tư lương năng biến thức. Hơn nữa, từ vô thủy đến nay, thức này ngấm ngầm tương tục, không dùng sức bên ngoài, chỉ tự nhiên sinh khởi, cho nên tính chất của nó là Hữu phú vô kí. Thức này không dẫn sinh ra quả dị thục nhưng lại thường chướng ngại Thánh đạo, che lấp chân tính. Tông Pháp tướng căn cứ theo sự cạn sâu của các giai đoạn tu hành mà lập ra 3 vị về thức Mạt na, gọi là Mạt na tam vị. Đó là: 1. Bổ đặc già la ngã kiến tương ứng vị (Bổ đặc già la, Phạm: Pudgala, tức là người): Giai vị thức Mạt na duyên với thức A lại da mà sinh khởi kiến chấp về nhân ngã. Như tâm hữu lậu của phàm phu, Hữu học nhị thừa và Bồ tát từ Thất địa trở xuống. 2. Pháp ngã kiến tương ứng vị: Thức Mạt na duyên với thức dị thục thứ 8 mà sinh khởi kiến chấp về pháp ngã. Đây là chỉ cho hàng phàm phu, Nhị thừa và Bồ tát chưa chứng trí pháp không. 3. Bình đẳng tính trí tương ứng vị: Giai vị khởi Bình đẳng tính trí vô lậu, tức là Bồ tát quán pháp không mà vào Kiến đạo, lại ở giai vị Tu đạo sinh khởi quả trí pháp không và quả Phật. Trong 3 vị trên đây, 2 vị trước thuộc hữu lậu, vị thứ 3 thuộc vô lậu. Theo luận Thành duy thức quyển 5, thì sự tồn tại của thức Mạt na có thể dùng 2 giáo thuyết của kinh Nhập lăng già, kinh Giải thoát và 6 đạo lí để chứng minh. Đây gọi là Hai giáo sáu lí. Hai giáo: 1. Kinh Nhập lăng già quyển 9 cho rằng tính tư lương gọi là Ý. 2. Theo kinh Giải thoát thì Ý nhiễm ô cùng với các hoặc thường hằng sinh diệt. Sáu lí: 1. Bất cộng vô minh chứng: Tác dụng của thức thứ 6 tuy không gián đoạn, nhưng Bất cộng vô minh (cũng gọi Độc đầu vô minh, loại vô minh chỉ khởi một mình, chứ không tương ứng với các phiền não khác) của phàm phu thì không có gián đoạn mà thường tương tục, cho nên phải có thức Mạt na. 2. Lục nhị duyên chứng: Năm thức trước lấy 5 căn trước làm chỗ nương, lấy 5 cảnh trước làm chỗ duyên, cho nên thức thứ 6 cũng phải có thức Mạt na làm Ý căn là chỗ nương của nó. 3. Ý danh chứng: Mạt na gọi là Ý, vì là hằng thẩm tư lương nên nó phải thường tồn tại. 4. Nhị định sai biệt chứng: Bậc Thánh vào định Diệt tận có khác với các ngoại đạo vào định Vô tưởng, vì định Diệt tận không còn thức Mạt na, mà định Vô tưởng thì vẫn còn. 5. Vô tưởng hữu nhiễm chứng: Tu định Vô tưởng được sinh lên cõi trời Vô tưởng, ở đây tuy không còn thức thứ 6 nhưng vẫn có ngã chấp, bởi thế cần phải có thức Mạt na. 6. Hữu tình ngã bất thành chứng: Người phàm phu làm các việc thiện như bố thí v.v... nhưng không thể trở thành vô lậu, không thoát li được ngã chấp, là bởi vì còn có thức Mạt na. [X. kinh Nhập lăng già Q.8; luận Du già sư địa Q.63; luận Hiển dương Thánh giáo Q.1; luận Thành duy thức Q.4, 5; Thành duy thức luận xu yếu Q.hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.3 phần cuối].
mạt na thức giới
Mano-dhātu (S), Mano-viāna-dhātu (P).
mạt na, ý
Manas, mana, mano (S). Intellectual functioning of consciousness.
mạt nghệ
Lowest trade.
mạt ni
Mani (skt)—Ma Ni. 1) Viên Ngọc hay Bảo Châu: Jewel—A crystal—A pearl. 2) Biểu tượng của sự thanh tịnh: A symbol of purity. 3) Biểu tượng của Đức Phật hay giáo pháp của Ngài: A symbol of the Buddha and/or his doctrine. 4) Được dùng trong câu thần chú Úm Ma Ni Bát Di Hồng: Used in Om-mani-padmi-hum.
mạt ni giáo
Mạt Ni Hỏa Ảo Giáo—Tôn giáo thờ thần lửa, đầu tiên được ngài Huyền Trang nói đến trong nhựt ký của ngài khoảng từ 630 đến 640 sau Tây Lịch. Giáo đoàn Mạt Ni lần đầu tiên đến trung Quốc từ Đại Tần vào năm 694. Vào năm 732, một chiếu chỉ của triều đình tuyên bố là tà giáo, mạo nhận qua tên của Phật giáo. Tuy nhiên, Mạt Na giáo vẫn tiếp tục phát triển ở nhiều nơi bên Trung Hoa mãi cho đến cuối đời nhà Minh, đặc biệt ở vùng Phúc Kiến. Nhiều văn sĩ Trung Hoa lầm lẫn với Hỏa Tiên Giáo—The Manichean religion, first mentioned in Chinese literature by Hsuan-Tsang in his Memoirs, between 630 and 640 A.D. The first Manichean missionary from Ta-Ch'in reached China in 694. In 732, an imperial edict declared the religion of Mani a perverse doctrine, falsely taking the name of Buddhism. It continued, however, to flourish in parts of China, especially Fukien, even to the end of the Ming dynasty. Chinese writers have often confused it with Mazdeism.
mạt ni, ma ni
Mani (S). A jewel, a crystal, a pearl, symbol of purity.
mạt nô hạt lạt tha
Manorhita or Manoratha (skt)—Một thái tử Ấn Độ, con vua Nadai, xuất gia vào tuổi 30. Ông trở thành đệ tử và người nối nghiệp ngài Thiên Thân, làm tổ thứ 22 dòng Thiền Ấn Độ. Ông nổi tiếng vì là tác giả của bộ luận Tỳ Ba Sa—An Indian prince, son of the king of Nadai, became a monk at the age of 30. He became the disciple and successor of Vasubandhu, reputed author of the Vibhasa sastra and the twenty-second patriarch. ** For more information, please see Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (22).
; (末笯曷剌他) Phạm: Manoratta. Cũng gọi Ma nâu la tha, Mạt nô hạt lợi tha. Hán dịch: Như ý, Tâm nguyện. Cao tăng Ấn độ, người nước Kiện đà la, ra đời sau đức Phật nhập diệt khoảng 1.000 năm. Theo điều Kiện đà la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 2, thì thủa nhỏ ngài hiếu học, có tài biện luận, đạo tục đều kính ngưỡng. Ngài từng soạn luận Bà sa. Theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 6, đệ tử nối pháp của Pháp sư Bà tẩu bàn đậu là ngài Ma nô la, làu thông 3 tạng, từng hoằng dương Phật pháp ở Nam thiên trúc. Mạt nô hạt lạt tha và ngài Ma nô la này phải chăng là 1 người? Chưa có tư liệu xác minh. Ngài có tác phẩm: Luận Bà sa. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.8; Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.2; Câu xá luận pháp nghĩa Q.1].
mạt nô nhã cụ sa
Manojnaghosa (skt)—Một vị Tỳ Kheo Ấn Độ thời xưa—An ancient Indian monk.
mạt nô sa
Manusyà (S). Men, humen.
; Manusa or Manusya (skt)—Loài người (chúng sanh có nhân tính và trí tuệ) —Man—Human (man and mind or intelligence).
mạt nô thị nhã táp phược la
Manojnasvara (skt). 1) Như Ý Âm—Nhạc Âm—Lovely sounds—Music. 2) Vua của loài Càn Thát Bà: A king of the Gandharvas. 3) Những nhạc công của vua trời Đế Thích: Indra's musicians.
mạt nô xa
Xem Người.
mạt nại nam
Vandana (skt)—Sự thờ phụng hay tôn kính—Worship—Reverence.
Mạt pháp
末法; C: mòfă; J: mappō;|Thời sau cùng của chính pháp, vốn có tên gọi khác là mạt thế (末世), là thời gian sau khi Đức Phật nhập niết-bàn; do người Trung Hoa hệ thống vào cuối thế kỉ thứ 6 như là thời kì thứ 3 và là thời cuối cùng trong 3 thời kì của Phật pháp. Chính tượng mạt (正像末).
mạt pháp
Paścima-dharma (S), Saddharma-vipralopa (S), mappo (J), End of the dharma, Decadent Dharma Thời mạt pháp. Thời kỳ cuối cùng của ba thời kỳ giáo pháp và kéo dài 10.000 năm. Trong thời mạt pháp, Phật pháp vẫn còn tồn tại nhưng không ai có thể tự tu chứng và đạt giác ngộ được.
; Pascimadharma (S). Period of degeneration and extinction of the Buddha Law.
; The Degenerate Age of Dharma—The Dharma Ending Age—The Decadence of the Law—The period of the end of Dharma. 1) Thời mạt pháp (thời kỳ mà giáo pháp suy vi vì cách xa thời Phật quá lâu), thời kỳ cuối cùng của Phật pháp khoảng 3000 năm sau thời Chánh Pháp. Vào cuối thời kỳ nầy, sẽ không còn giảng dạy Phật pháp nữa, có nghĩa là Phật pháp chấm dứt một ngày nào đó. Tuy nhiên, Phật Di Lặc hay Phật Cười (Hạnh Phúc) sẽ xuất hiện và tái tạo tất cả—The final period of teaching of Buddhism which lasted 3000 years after the formal period. Toward the end of this period, there won't be any more teaching of Buddhism which means the Buddhadharma will end (vanish from the world) one day. However, Buddha Maitreya or Laughing (Happy) Buddha is to appear to restore all things. 2) Thời kỳ cuối cùng của ba thời kỳ Phật pháp (Chánh, Tượng, và Mạt Pháp), thời kỳ suy vi và bị tiêu diệt của giáo pháp. Trong thời gian nầy, đạo đức suy đồi, pháp nghi tu hành hư hoại. Tà ma ngoại đạo lẫn lộn vào phá hư Phật pháp. Tuy có giáo lý, có người tu hành, nhưng không một ai hành trì đúng pháp, huống là tu chứng? Trong Kinh Đại Tập Nguyệt Tạng, Đức Phật đã có lời huyền ký rằng: “Trong thời Mạt Pháp, ức ức người tu hành, song không có một ai chứng đắc.”: The last of the three periods (The Proper Dharma Age, The Dharma Semblance Age, and The Dharma Ending Age), the age of degeneration and extinction of the Buddha-law. In this age, the Dharma and precepts are weakened significantly. Many othe religions, non-Buddhists, and evil spirits will enter and blend in with Buddhism, destroying the Buddha Dharma. Thus, the Dharma still exists and there are cultivators, but very few practitioners are able to grasp fully the proper Dharma or awakened to the Way, much less attain enlightenment. In the Great Heap Sutra, the Buddha made this prophecy: “In the Dharma Ending Age, in hundreds of thousands and hundreds of thousands of cultivators, as the result, no one will attain enlightenment.” 3) Trong Kinh Pháp Diệt Tận, Đức Phật cũng có huyền ký rằng: “Về sau, khi Pháp của ta sắp diệt, nơi cõi ngũ trược nầy, tà đạo nổi lên rất thạnh. Lúc ấy có những quyến thuộc của ma trá hình vào làm Sa Môn để phá rối đạo pháp của ta. Họ mặc y phục y như thế gian, ưa thích áo Cà Sa năm màu, thay vì mặc áo ba màu luốc của hàng Tăng sĩ. Họ ăn thịt, uống rượu, sát sanh, tham trước mùi vị, không có từ tâm tương trợ, lại còn ganh ghét lẫn nhau; sư nầy ghét sư kia, chùa nầy ghét chùa kia. Bấy giờ các vị Bồ Tát, Bích Chi, La Hán vì bổn nguyện hộ trì Phật Pháp nên mới hiện thân ra làm Sa Môn hay cư sĩ, tu hành tinh tấn, đạo trang nghiêm, được mọi người kính trọng. Các bậc ấy có đức thuần hậu, từ ái, nhẫn nhục, ôn hòa, giúp đỡ kẻ già yếu cô cùng, hằng đem kinh tượng khuyên người thọ trì, đọc tụng, giáo hóa chúng sanh một cách bình đẳng, tu nhiều công đức, không nệ chi đến việc tổn mình lợi người. Khi có những vị tu hành đạo đức như thế, thì các Tỳ Kheo Ma kia ganh ghét, phỉ báng, vu cho các điều xấu, dùng đủ mọi cách lấn áp, xua đuổi, hạ nhục, vân vân, khiến cho các vị chân tu nầy không được ở yên. Từ đó, các ác Tỳ Kheo kia càng ngày càng thêm lộng hành, không tu đạo hạnh, bỏ chùa chiền điêu tàn, hư phế. Họ chỉ biết tích tụ tài sản, làm các nghề không hợp pháp để sanh sống, đốt phá rừng núi, làm tổn hại chúng sanh không chút từ tâm. Lúc ấy, có nhiều kẻ nô tỳ hạ tiện xuất gia làm Tăng Ni, họ thiếu đạo đức, dâm dật, tham nhiễm, nam nữ sống chung lẫn lộn. Phật Pháp suy vi chính là do bọn nầy! Lại có những kẻ trốn phép vua quan, lẫn vào cửa đạo, rồi sanh tâm biếng nhác, không học, không tu. Đến kỳ bố tác tụng giới, họ chỉ lơ là, gắng gượng, không chịu chuyên chú lắng nghe. Nếu có giảng thuyết giới luật, họ lược trước bỏ sau, không chịu nói ra cho hết. Nếu có đọc tụng kinh văn, họ không rành câu chữ, không chịu tìm hỏi nơi bậc cao minh, tự mãn cầu danh, cho mình là phải. Tuy thế, bề ngoài họ cũng làm ra vẻ đạo đức, thường hay nói phô trương, để hy vọng được mọi người cúng dường. Các Tỳ Kheo Ma nầy sau khi chết sẽ bị đọa vào trong tam đồ ác đạo của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trải qua nhiều kiếp. Khi đền xong tội, họ sẽ thác sanh làm người ở nơi biên địa, chỗ không có ngôi Tam Bảo.”—In the Dharma Extinction Sutra, the Buddha prophesized: “In the future, when my Dharma is about to end, in this world of the five turbidities, false religions will arise to become very powerful. During those times, the evil's relatives will take form, appearing as Bhikshus, to destroy the Buddha Dharma. They will eat, sleep, and wear ordinary clothing of lay persons, fond of five exotic assorted colorings worn on their robes, instead of the three solid indigo blue, brown and gold colored robes which Bhikshus are supposed to wear. They eat meat, drink alcohol, kill, lust for fragrances and aromas, with non-helping conscience. Instead, they will become jealous of and hateful toward one another; this monk will hate or be jealous with the other monk, this monastery will hate or be jealous with the other monastery. At that time, Bodhisattvas, Pratyeka-buddhas, and Arhats who had vowed previously to protect and defend the Buddha-Dharma, will appear in life, taking on human form as Bhikshus or lay people. These saints will be devoted cultivators; their religious conduct and behavior will be very honorable, earning everyone's admiration and respect. They will have virtuous qualities such as kindness and peace, have no impure thoughts, great tolerance, good will, help the old, the weak, the lonely, and often bring statues and sutras to encourage everyone to worship, read, and chant. They will teach sentient beings in a fair and objective manner and will cultivate many merits and virtuous practices. They will be altruistic always practicing the concept of 'self-loss for others' gain.' With the appearance of such religious and virtuous people, other demonic Bhikshus will develop much hatred and jealousy. They will slander, make wicked and false accusations, do everything possible so these kind and virtuous people cannot live in peace. From that point forth, those demonic Bhikshus will become even more reckless and wild, never practicing Dharma, leaving temples to rot, ruined and desolate. Their only interest will be to build their private fortune, having careers that are unacceptable in Buddhism, such as burning mountains and forests, without a good conscience, killing and hurting many sentient beings. In such times, there will be many servants taking the opportunity to become Bhikshus and Bhikshunis; they will be neither religious nor virtuous. Instead, they will be lustful and greedy, where Bhikshus and Bhikshunis live with one another. The Buddha-Dharma will be destroyed in the hands of these people. Also, there will be many criminals entering the religious gate, increasing the consciousness of laziness and laxity, refusing to learn or to cultivate the Way. When the reading of precepts comes around the middle of every month, they will act passively, reluctantly, and refuse to listen carefully. If teaching and expounding the precepts and doctrines, they will go over them briefly, skipping different sections, refusing to state all of them. If reading and chanting sutra-poetry, and not familiar with the lines, words, or their deep meanings, they will refuse to search or ask for answers from those who have great wisdom, but instead they will be narcissistic and conceited, seek fame and praise, and think they are all-knowing. Even so, on the outside, they will act religious and virtuous, often prasing themselves, hoping everyone will make offerings or charitable donations to them. After these demonic Bhikshus die, they will be condemned into the realm of hell, hungry ghost, and animal, and must endure these conditions for many reincarnations. After repaying for these transgressions, they will be born as human beings, but far away from civilization, places that do not have the Triple Jewels. 4) Theo Kinh Đại Bi, Đức Phật bảo Ngài A Nan: “Nầy A Nan! Khi ta nhập Niết Bàn rồi, trong thời gian 2.500 năm sau, nhóm người giữ giới, y theo chánh pháp, lần lần tiêu giảm. Các bè đảng phá giới, làm điều phi pháp, ngày càng tăng thêm nhiều. Bấy giờ có nhiều Tỳ Kheo đắm mê danh lợi, không chịu tu thân, tâm, trí huệ; họ tham trước những y bát, thức ăn, thuốc men, sàng tọa, phòng xá, chùa chiền, rồi ganh ghét tranh giành phỉ báng lẫn nhau. Thậm chí, kiện thưa nhau ra trước công quyền: In the Great Compassion Sutra, the Buddha taught Ananda: “Look here Ananda! Two thousand five hundred years after I entered the Nirvana, those who maintain, practice according to the proper dharma teachings will gradually diminish; those who violate precepts, engage in activities contrary to the Dharma teachings will increase with each passing day. In such times, many Bhikshus will be mesmerized by fame and fortune, not cultivating their minds, bodies, and for wisdom. They will be greedy for Buddhist robes, bowls, food, medicine, housing, temple, and then become jealous, competing and insulting one another, taking one another to the authorities.
; (末法) Phạm: Saddharma-vipralopa. Đồng nghĩa: Mạt thế, Mạt đại. Chỉ cho thời đại Phật pháp suy đồi, là 1 trong 3 thời kì Chính, Tượng và Mạt, tức là giáo pháp ở đời có 3 thời kì biến thiên Chính pháp, Tượng pháp và Mạt pháp. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 6, phần đầu, căn cứ vào giáo (giáo pháp), hành (tu hành), chứng (chứng quả) có đầy đủ hay không đầy đủ để bàn về 3 thời Chính, Tượng, Mạt. Nghĩa là sau khi đức Phật diệt độ, giáo pháp ở đời, nếu nương theo giáo pháp mà tu hành thì liền được chứng quả, gọi là Chính pháp; tuy có giáo pháp và người tu hành nhưng không thể chứng quả, gọi là Tượng pháp (tượng nghĩa là tương tự). Tuy có nhiều người lãnh thụ giáo pháp, nhưng không tu hành chứng quả, gọi là Mạt pháp. Đời mạt pháp cũng gọi là Mạt thế. Thời đại mà chính pháp của Phật suy đồi thì chúng tăng trược loạn. Trong Ngũ trược bộ của Pháp uyển châu lâm quyển 98 (Đại 53, 1005 hạ), nói: Sau khi đức Phật Niết bàn sẽ có 5 thứ loạn: 1. Tỉ khưu tương lai sẽ theo bạch y (người tại gia) để học pháp. 2. Bạch y ngồi trên, tỉ khưu ngồi dưới. 3. Tỉ khưu nói pháp không ai thực hành vâng theo, bạch y nói pháp thì cho là không gì hơn. 4. Tỉ khưu sinh vào nhà ma, cho pháp thế gian là đạo đế chân chính, đối với chính pháp của Phật thì chẳng hiểu gì, lấy dối trá làm tin. 5. Các tỉ khưu trong tương lai nuôi dưỡng vợ con, tôi tớ, tranh giành kiện cáo lẫn nhau, không còn tuân theo lời Phật dạy. Về thời hạn của 3 thời kì có nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng sau khi đức Phật nhập diệt, chính pháp trụ thế 500 năm, tượng pháp 1.000 năm. Lại có thuyết nói chính pháp và tượng pháp đều trụ 1.000 năm, sau đó mới đến thời kì mạt pháp; thời kì này trải qua 10.000 năm, sau đó thì Phật pháp diệt hết. Lại có thuyết cho rằng chính pháp 1.000 năm, tượng pháp và mạt pháp mỗi thời 10.000 năm. Nhưng nhìn chung thì các kinh luận phần nhiều đều cho thời kì mạt pháp là 10.000 năm. [X. kinh Tạp a hàm Q.25, 32; kinh Phật lâm niết bàn kí pháp trụ; phẩm Sơ phần nan văn công đức trong kinh Đại bát nhã Q.302; kinh Đại thừa đồng tính Q.hạ; phẩm An lạc hạnh kinh Pháp hoa; kinh Hoa nghiêm Q.45 (bản 80 quyển); kinh Pháp diệt tận; kinh Vô lượng thọ Q.hạ]. (xt. Chính, Tượng, Mạt).
mạt pháp thời
Kali Yuga (S), Extinct Dharma (age of).
mạt pháp tư tưởng
(末法思想) Chỉ cho tư tưởng về thời kì mạt pháp. Sau khi đức Phật nhập diệt, giáo pháp của Ngài trải qua các thời kì chính pháp, tượng pháp, người tu hành chứng ngộ dần dần giảm thiểu, cuối cùng, đến thời kì mạt pháp thì chỉ còn giáo pháp mà thôi, tuy có nhiều người lãnh thụ giáo pháp nhưng không thể tu hành chứng quả. Thời kì này kéo dài 10 nghìn năm, gọi là thời mạt pháp. Loại tư tưởng mạt pháp này được thấy rải rác trong các kinh điển. Tư tưởng mạt pháp này đã thôi thúc và tạo nên 1 thời kì giáo đồ phản tỉnh, khiến họ bắt đầu suy tư, tìm ra phương pháp để giải quyết và cứu vãn. Trong các văn hiến của Trung quốc, tư tưởng này được thấy sớm nhất trong bài Nam nhạc Tư thiền sư lập thệ nguyện văn của ngài Tuệ tư (515 - 577) đời Bắc Tề. Kế đến là ngài Tín hành (540 - 594) đời Tùy, đề xướng Tam giai giáo (giáo pháp của 3 bậc); ngài Tín hành cho rằng thời kì chính pháp trụ thế là bậc thứ 1, tượng pháp là bậc thứ 2, mạt pháp là bậc thứ 3, trong đó, mỗi bậc đều có giáo pháp tương ứng. Nhất thừa là pháp của bậc thứ 1, Tam thừa là pháp của bậc thứ 2, Phổ pháp là pháp của bậc thứ 3. Ngài Tín hành cho rằng thời bấy giờ (đời nhàTùy) đã tiến vào thời kì mạt pháp, nếu nương theo giáo pháp của 2 bậc trước mà tu hành thì thực rất khó khăn, nên cần phải tu hành theo Phổ pháp (pháp Phổ cập toàn thể Phật giáo) là qui y Tam bảo, dứt trừ tất cả điều ác, tu trì tất cả điều thiện thì mới dễ thành tựu. Đến đời Đường, các ngài Đạo xước (562- 645), Thiện đạo (613-681) v.v... cho rằng Tịnh độ giáo tương ứng với thời mạt pháp, nên các ngài nhấn mạnh sự tu hành thực tiễn là sám hối, niệm Phật v.v...Tại Nhật bản, vào giữa thời kì Bình an, các ngài Nguyên tín (942-1017), Nguyên không (1133-1212) cũng kế thừa tư tưởng này, đề cao tông Tịnh độ. Ngài Nhật liên (1222-1282) sáng lập tông Nhật liên cũng là thuận theo tư tưởng mạt pháp. Cuốn Mạt pháp đăng minh kí ở cuối thời đại Bình an của Nhật bản là tác phẩm có hiệu lực nhất trong việc cổ động tư tưởng mạt pháp. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Thiện kiến luật tì bà sa Q.18; Vãng sinh lễ tán; Pháp uyển châu lâm Q.98]. (xt. Tam Giai Giáo, Chính Tượng Mạt).
mạt pháp đăng minh kí
(末法燈明記) Tác phẩm, 1 quyển, tương truyền do ngài Tối trừng người Nhật bản soạn vào năm Diên lịch 20 (801). Nội dung sách này dựa theo 3 thời kì chính, tượng, mạt để nói về qui chế giáo hóa khác nhau. Vào cuối thời kì tượng pháp, vì sắp đến thời mạt pháp, nên Phật pháp ở thời kì này không được hành trì theo qui định, kỉ cương tăng ni cũng trái với qui chế, giới luật không được tuân theo, nhưng vẫn chủ trương tôn kính Tăng bảo. Sách này được các Tổ sư của phái Tân Phật giáo ở thời Liêm thương như các vị: Vinh tây, Nguyên không, Thân loan, Nhật liên v.v... dẫn dụng, cho nên được xem là tác phẩm có hiệu lực nhất trong việc cổ động tư tưởng mạt pháp ở Nhật bản, có ảnh hưởng rất lớn về sau.
Mạt pháp 末法
[ja] マッポウ mappō ||| The latter dharma, originally a variant of mo-shih 末世 the time after the final nirvana of the Buddha; systematized in China during the late sixth century as the third and final of three times or periods 三時 of the dharma's duration. See also 正像末. => Thời sau cùng của chính pháp, vốn có tên gọi khác là mạt thế (c: mo-shih 末世), là thời gian sau khi Đức Phật nhập niết-bàn; do người Trung Hoa hệ thống vào cuối thế kỷ thứ 6 như là thời kỳ thứ 3 và là thời cuối cùng trong 3 thời kỳ của Phật pháp. Xem Chính tượng mạt 正像末.
mạt sát
To criticize too severely.
mạt sư ca
Varsika (skt)—Còn gọi là Mạt Lật Sa Ca, tên một loài “Vũ Thời” hoa, hay hoa nở về mùa mưa, có sắc trắng và mùi rất thơm—A flower that blooms during the rainy season, described as of a white colour, and very fragrant; the aloe.
mạt ta la
Matsara (skt)—Bỏn xẻn tham lam—Grudging—Stingy—Greedy.
mạt tha
(末蹉) Phạm: Matsya. Pàli: Maccha. Cũng gọi Ma sa, Ma tha. Từ gọi chung các loài cá. Thần thoại Ấn độ cho rằng cá là 1 trong 10 hóa thân của thần Tì nữu noa (Phạm: Viwịu) [X. kinh Đại uy đức đà la ni Q.7; kinh Lục độ tập Q.6; phẩm Vô thường trong kinh Pháp cú Q.thượng; Phạm ngữ tạp danh].
mạt thâu la
Mathura (skt)—See Ma Thâu La.
mạt thê đề xá
(末睇提舍) Phạm: Madhyadeza. Hán dịch: Trung quốc. Nước ở trung ương, tức là dải đất ở trung du sông Hằng, trung tâm của nền văn minh Bà la môn Ấn độ cổ đại. Phần chú thích trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 (Đại 54, 222 thượng) ghi: Mạt thê là trung, đề xả là quốc, Mạt thê đề xả là trung tâm của trăm nước. (xt. Trung Quốc).
mạt thượng
Lần cuối cùng—The last time—At Lat—Finally.
; (末上) Cuối cùng, sau cùng. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 10 (Đại 51, 278 thượng ), chép: Có người hỏi: –Hòa thượng còn vào địa ngục không? Sư đáp: Lão tăng vào sau cùng. Hỏi: Bậc đại thiện tri thức vì sao còn vào địa ngục? Sư đáp: Nếu không vào, ai giáo hóa ông?
Mạt thế
末世; C: mòshì; J: masse; S: paścima-kāla. |Thời tương lai. Đời sau. Giai đoạn chính pháp bị suy yếu. Thời đại cuối cùng.
mạt thế
The third and last period of a Buddha-kalpa.
; Thời cuối cùng hay thời Mạt Pháp—Last age—The third and the last period of a Buddha-kalpa—See Mạt Pháp.
mạt thế ngũ pháp lệnh chính pháp bất diệt
(末世五法令正法不滅) Năm phương pháp làm cho chính pháp không diệt mất ở thời mạt do Đại minh tam tạng pháp số căn cứ vào luật Thập tụng quyển 49 mà nêu ra. Đó là: 1. Tôn trọng chính giáo:Các tỉ khưu nên y theo chính giáo mà tiến tu, lánh xa Tiểu thừa và các ngoại đạo tà giáo. 2. Chỉ tức sân ác: Các tỉ khưu thường tu hạnh nhẫn nhục, không sinh tâm tức giận thì đức độ vang xa, khiến mọi người qui ngưỡng. 3. Kính sự thượng tọa: Các tỉ khưu phải cung kính, vâng lời, siêng năng cầu học với các bậc Đại đức, Thượng tọa. 4. Ái nhạo chính pháp: Đối với diệu pháp được bậc Đại đức, Thượng tọa nói cho nghe, các tỉ khưu phải sinh lòng tin sâu, ưa thích và vui mừng làm theo. 5. Thiện hối sơ tập (dẫn dắt người mới học): Các tỉ khưu nên nói pháp Đại thừa phương tiện cho những người mới học, khiến cho họ có chỗ nương tựa để tiến tu đạo nghiệp. [X. Đại minh tam tạng pháp số].
Mạt thế 末世
[ja] マッセ masse ||| (paścima-kāla). Future generation(s). A latter age (time period). The age of the decline of the dharma 末法. Final age. (s: paścima-kāla). => Thời tương lai. Đời sau. Giai đoạn chính pháp bị suy yếu. Thời đại cuối cùng.
mạt thể đề xá
Madhyadesa (skt)—Vương quốc trung tâm (trung tâm Ấn Độ)—The central kingdom (in Central India).
mạt thố la phật giáo nghệ thuật
(秣菟羅佛教藝術) Nghệ thuật chạm trổ và đắp tượng Phật ở nước Mạt thố la (Phạm: Mathurà) tại lưu vực sông Diêm mâu na (nay là sông Chu mộc na) thuộc Trung Ấn độ thủa xưa. Vào năm 340 Tây lịch, vua Sa mẫu đà la cấp đa (Phạm: Samudragupta, ở ngôi 335- 375) thuộc vương triều Cấp đa (Phạm: Gupta), khuyến khích phát triển văn học nghệ thuật và tông giáo vốn có, lại hấp thu nền nghệ thuật Phật giáo Kiện đà la mà hình thành phong cách nghệ thuật mới, được gọi là Nghệ thuật Phật giáo Mạt thố la. Các pho tượng Phật được điêu khắc có lớp áo mỏng lộ rõ thân hình bên trong, nếp áo mịn màng và đều đặn.
mạt thố la quốc
(秣菟羅國) Mạt thố la, Phạm: Mathurà, Madhurà. Cũng gọi Ma thâu la quốc, Ma độ la quốc, Ma đột la quốc. Tên một nước xưa ở Trung Ấn độ, là 1 trong 16 nước lớn ở thời đức Phật còn tại thế, tương đương với vùng đất phía tây nam sông Chu mộc na (Jumna) ngày nay, kinh đô là thành Mạt thố la, nằm về phía nam thành phố Ma đặc lạp (Muttra). Theo Đại đường tây vực kí quyển 4 thì khí hậu nước này nóng bức, phong tục thuần thiện, thích làm phúc, chuộng đạo đức, học vấn. Toàn quốc có hơn 20 ngôi chùa, 5 đền thờ trời, nhiều phái ngoại đạo; cũng có rất nhiều di tích của 4 đức Phật đời quá khứ, cũng là nơi xưa kia đức Phật thường đến thuyết pháp và các vị Bồ tát, A la hán đến ở ẩn tu tập thiền định. Sau khi đức Phật nhập diệt, có ngài Ưu ba cúc đa (Phạm: Upagupta) ra đời, nỗ lực chấn hưng Phật giáo. Nước này vốn là 1 trung tâm lớn của nghệ thuật Phật giáo Ấn độ. Hiện nay vẫn còn các di tích như: Ba ngôi tháp do vua A dục xây dựng, ngôi chùa thờ ngài Ưu ba cúc đa, xá lợi và tháp Di hầu. Gần đây lại đào được rất nhiều di vật ở phía nam thành phố Ma đặc lạp như: Tượng Phật, văn khắc vào thời vương triều Khổng tước, trụ đá, điêu khắc vào thời vương triều Cấp đa, tượng vua Ca nị sắc ca v.v...[X. kinh Đại bát niết bàn Q.23 (bản Bắc); kinh Tăng già la sát sở tập Q.hạ; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ].
mạt tự
Những dãy nhà phụ trong tự viện—Subsidiary buildings of a monastery.
; (末寺) Đối lại: Bản tự. Chỉ cho những ngôi chùa trực thuộc bản tự (chùa chính). Tại Nhật bản từ thời Giang hộ trở đi, chế độ Bản Mạt được xác lập thì tính chất của Mạt tự mới cố định. Trước đó, sự quan hệ giữa Bản và Mạt tự hoàn toàn lấy chính trị và kinh tế làm cơ sở, chứ chưa hẳn liên kết theo mối quan hệ tông phái. Cho đến khi các tông phái qui định pháp tắc là cần phải giữ nghiêm sự quan hệ Bản Mạt thì mới hình thành mối quan hệ thống thuộc, trên dưới rõ ràng giữa các Bản sơn, Bản tự, Trung bản tự, Trực bản tự, Tôn bản tự v.v... Mãi đến sau thế chiến thứ 2, do thi hành lệnh Pháp nhân của tông giáo, thể chế thống thuộc mới bắt đầu suy vi. Và cũng từ đó Mạt tự mới được độc lập. [X. Bách luyện sao Q.7].
mạt đa lợi
Bắc Sơn Bộ, một trong những bộ của hệ phái Tiểu Thừa—One of the divisions of the Sarvastivadah school.
mạt đa tư na
Mitrasena (S)Tên một vị sư.
mạt điền
Madhyantika (skt)—Còn gọi là Mạt Đàn Đia, Mạt Điền Đạc Ca, Mạt Điền Đề, Mạt Điền Địa, Mạt Điền Địa Na, Mạt Xiển Đề, tên của một trong hai đệ tử lớn của ngài A Nan Đa, người được ngài A Nan truyền lại giáo pháp của Phật, và nổi tiếng vì đã đến hoằng hóa tại vùng Kế Tân (Kashmir); người khác là ông Thương Na Hòa Tu, đã đến vùng Trung Quốc (những xứ Trung Ấn) dù được hiểu là Trung Hoa—One of the two chief disciples of Ananda, to whom he handed down the Buddha's doctrine. He is reputed to have been sent to convert Kashmir, the other, Sanakavasa, to convert Middle Lands, which is probably Central India, though it is understood as China.
mạt điền đề
Madhyàntika (S). Name. Also Mạt điền để ca, Trung nhật Trung.
mạt điền để ca
Madhyāntika (S)Trung Nhật Trung.
; Madhyantika (skt)—See Mạt Điền.
; (末田底迦) Phạm: Madhyantika. Pàli: Majjhantika. Cũng gọi Mạt điền, Mạt điền đề, Mạt xiển đề, Mạt điền địa, Mạt điền địa na, Mạt điền đạc ca, Mạt đàn địa, Ma thiền đề. Hán dịch: Trung, Nhật trung, Thủy trung, Kim địa, Hà trung. Vị A la hán người Đà phả la thuộc Ấn độ, tương truyền là vị đệ tử sau cùng của tôn giả A nan, tổ phó pháp thứ 3 của Thiền tông Ấn độ, là 1 trong Ngũ sự vị thế. Cứ theo Ma ha Ca diếp niết bàn nhân duyên trong truyện A dục vương quyển 4, khi tôn giả A nan nhập diệt thì ngài Mạt điền thụ giới ở sông Hằng, chứng quả A la hán. Cứ theo Phó pháp tạng quyển 2, thì trong số các vị đệ tử của tôn giả A nan có 2 vị là Mạt điền đề và Thương na hòa tu được tôn giả phó pháp tạng. Nhưng, cứ theo kinh A dục vương quyển 7, thì đệ tử của tôn giả A nan là ngài Mạt điền địa, còn Thương na hòa tu thì là đệ tử của ngài Mạt điền địa. Theo đây, thì từ Tổ Ma ha Ca diếp đến ngài Ưu bà cúc đa, thầy trò truyền nhau tất cả có năm người, cho nên gọi là Dị thế ngũ sư. Về niên đại xuất thế của ngài Mạt điền để ca có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Ưu bà cúc đa nhân duyên trong truyện A dục vương quyển 3 và Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 40, thì Ngài ra đời 100 năm sau đức Phật nhập diệt. Còn theo điều Ca thấp di la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 3, thì Ngài xuất sinh vào năm thứ 50 sau đức Phật nhập diệt. Về nguyên nhân Ngài du hóa nước Ca thấp di la, theo truyện A dục vương quyển 4, là do di chúc của tôn giả A nan. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2 và Đại sử (Pàli: Mahàvaôsa, XII) ghi rằng: Sau Đại hội kết tập lần thứ 3, vua A dục phái các vị Đại đức đến các nước lân cận truyền bá Phật pháp, ngài Mạt điền địa được phái đến nước Ca thấp di la. Tại đây, Ngài hàng phục Long vương, rồi tuyên giảng kinh Độc thí dụ cho dân chúng nghe, có 8 vạn người hiểu đạo và 1 nghìn người xuất gia. [X. kinh Đạt ma đa la thiền Q.thượng; phẩm Trì chính pháp trong kinh Đại bi Q.2; điều Tát bà đa bộ sư tông tương thừa trong Xuất tam tạng kí tập Q.12; điều Ô trượng na quốc trong Đại đường tây vực kí Q.3; Phiên Phạm ngữ Q.2].
mạt đà
Madhya (skt). 1) Chất cay độc: Intoxicating liquor—Intoxicating. 2) 100.000: One hundred thousand.
; (末陀) I. Mạt Đà. Phạm: Madhya. Đơn vị chỉ số lượng của Ấn độ đời xưa, là bội số thập phân của câu chi. (xt. Câu Chi). II. Mạt Đà. Phạm: Mada hoặc Madya. Cũng gọi Mạt đồ, Ma thâu. Hán dịch: Tửu. Từ ngữ gọi chung các loại rượu có nồng độ rất mạnh, như rượu Tốt la, rượu Mê li da v.v... tương đương với rượu nho. [X. luận Thuận chính lí Q.38; luận Câu xá Q.14; Huyền ứng âm nghĩa Q.23; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.9].
mạt đà ma
(末陀摩) Phạm: Madhyama. Cũng gọi Ma đà ma. Không chấp trước nghĩa Trung đạo. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 4 (Đại 54, 1126) hạ), nói: Mạt đà ma, bản kinh chú giải: Mạt nghĩa là không, chẳng, đừng; Đà ma nghĩa là trung. Không chấp Trung đạo gọi là Mạt đà ma. Ngoài ra, kinh Văn thù vấn quyển thượng thì cho rằng, các pháp không hai là Mạt đa ma. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2].
mạt đăng sao
(末燈抄) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tòng giác, vị tăng Nhật bản biên soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 83. Nội dung sách này thu chép lại những thư tín của ngài Thân loan, tổ khai sáng Chân tông Nhật bản, gửi các môn đồ. Toàn sách gồm có 22 chương được chia thành các mục: Hữu niệm vô niệm sự, Tự nhiên pháp nhĩ sự, Thệ nguyện danh hiệu đồng nhất sự v.v...
mạt đại thục mệnh niết bàn
(末代贖命涅槃) Cũng gọi Thục mệnh Niết bàn, Đối trị vô thường Niết bàn. Chỉ cho kinh Niết bàn. Tông Thiên thai chủ trương: Đức Phật thương xót những chúng sinh độn căn ở đời mạt pháp dễ phá hủy giới pháp, sinh khởi ác kiến (cho rằng Như lai là vô thường), đánh mất pháp thân tuệ mệnh, cho nên trong kinh Niết bàn đức Phật giảng nói về giới luật để giúp đỡ cho giới môn và nói lí Phật tính thường trụ để phù trợ cho thừa môn (giáo thừa). Phật đồng thời nói về Giới môn và Thừa môn như thế, tông Thiên thai gọi là Phù luật đàm thường, còn kinh Niết bàn thì chính là giáo phù luật đàm thường vậy. Lại vì kinh này là của báu vô giá để cứu chuộc lại pháp thân tuệ mệnh của chúng sinh đời mạt pháp nên gọi là Mạt đại thục mệnh Niết bàn. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.10, thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10, thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.2, hạ; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Phù Luật Đàm Thường).
mạt đạt na
Madana (skt)—Túy quả—A fruit called the intoxicating fruit.
mạt để
Mati (skt)—Ma Đề—devotion—Discernment—Understanding by wisdom.
; (末底) Phạm:Mati. Cũng gọi Ma đề. Tức là tuệ, tên khác của Bát nhã. Thành duy thức luận thuật kí quyển 6 phần cuối (Đại 43, 445 thượng), nói: Mạt để là tên khác của tuệ, đồng thể với Bát nhã. Ngoài ra, Mạt để cũng có nghĩa là ý kiến, kiến giải. (xt. Bát Nhã).
mạt để bổ la
Matipura (skt)—Tên của một vương quốc và thành phố cổ, mà vị vua vào khoảng năm 600 sau Tây Lịch, xuất thân từ dòng hạ tiện Thủ Đà La. Nơi đây là quê hương của nhiều nhà truyền giáo nổi tiếng. Bây giờ là Rohilcund, nằm giữa dòng Hằng Hà và Ramaganga—An ancient kingdom and city, the king of which in 600 A.D. belonged to the Sudra caste, the home of many famous priests. The present Rohilcund (Rohilkhand) between the Ganges and the Ramaganga.
mạt để tăng ha
Matisimha (skt). 1) Sư tử của sự thông minh: The lion of intelligence. 2) Một tôn hiệu rất danh dự: An honorific title.
mạt độ ca
Madhuka (skt)—Một loại trái rất ngon—Bassia latifolia, a fine or pleasant fruit.
mạt độ ca quả
(末度迦果) Mạt độ ca, Phạm,Pàli:Madhùka. Cũng gọi Ma đầu (Phạm,Pàli:Madhu). Hán dịch: Mật quả. Tên khoa học: Bassia latiforia, thuộc họ Xích thiết. Loại quả có vị ngọt. Cứ theo luận Câu xá quyển 18 và Câu xá luận quang kí quyển 18, quả Mạt độ ca có mùi vị rất ngon, hình dáng giống như quả táo, thân cây gần giống như cây bồ kếp, có thể cao tới 15 mét, tán rộng hơn 3 mét. Hoa có vị ngọt, ăn được, cũng có thể làm rượu, hạt có thể ép lấy dầu, gỗ thì được dùng vào việc kiến trúc. [X. Phiên Phạm ngữ Q.9, 10; Huyền ứng âm nghĩa Q.24].
mạt đời
The nd of one's life.
Mạt-già-lê Câu-xá-la
xem Mạt-già-lê Câu-xá-ly tử.
Mạt-già-lê Câu-xá-ly tử
Phiên âm từ Phạn ngữ là Maskarỵ-goliputra, cũng đọc là Mạt-già-lê Câu-xá-la, Mạt-già-lê Câu-xá-lợi... Mạt-già-lê là họ, Hán dịch là “thường hành”; Câu-xá-ly là tên người mẹ, nên gọi là Câu-xá-ly tử, Hán dịch là “ngưu xá”. Vị này là một trong 6 thầy ngoại đạo (lục sư) vào thời đức Phật.
Mạt-già-lê Câu-xá-lợi
xem Mạt-già-lê Câu-xá-ly tử.
Mạt-na
末那; C: mònà; J: mana; S: manas; P: mano;|Phiên âm chữ manas từ tiếng Phạn, thường dịch sang chữ Hán là Ý. Theo giáo lí Duy thức, mạt-na là thức thứ 7 trong 8 thức. Nó được xem là cứ điểm sinh khởi những quan niệm sai lầm về ngã (ngã si, ngã kiến, ngã mạn) và những phiền não do kết quả từ những quan niệm sai lầm trên. Mạt-na thức (末那識).
Mạt-na thức
末那識; C: mònàshì; J: manashiki; S: manas. |Thức mạt-na, thức thứ 7 trong 8 thức. Một trong các chức năng chính của nó là nhận lập trường chủ quan của thức thứ 8 (A-lại-da thức), lầm cho lập trường này là bản ngã của chính mình, vì vậy mà tạo ra ngã chấp. Bản chất của nó là suy tính, nhưng có sự khác nhau giữa nó và thức thứ 6. Nó được xem là tâm trạng của một lĩnh vực mà người ta không thể điều khiển một cách có chủ ý, thường sinh khởi những mâu thuẫn của những quyết định tâm thức, và không ngừng chấp dính vào bản ngã. Vì nó còn được xem là sự hoạt dụng của tâm thức con người – một tâm thức thấy được hạn cuộc của sự biến đổi trong vòng giới hạn – cho nên, điều tất yếu cho sự tồn tại của nó chính là việc con người có một vài điều chủ yếu tương tục biến chuyển không ngừng, mang công năng như một cơ sở của thức thứ 6. Du-già sư địa luận nói: »Mạt-na nhậm trì ý thức linh phân biệt chuyển, thị cố thuyết vi ý thức sở y 末那任持意識令分別轉是故説爲意識所依« nghĩa là: Mạt-na nhận lấy ý thức, khiến sinh khởi phân biệt; nên gọi nó là chỗ y cứ của ý thức. Thức nầy còn được gọi là nơi cùng tích chứa thiện ác, và nói theo lí thuyết thì nó là lĩnh vực kết nối giữa ý thức và A-lại-da thức. Gọi là »căn bản phiền não«, còn được gọi là »nhiễm ô thức«, có liên quan đến bốn loại ngã chướng nhiễm ô: ngã si, ngã kiến, ngã mạn và ngã ái.
Mạt-na thức 末那識
[ja] マナシキ manashiki ||| (manas). The manas consciousness, which is the seventh of the eight consciousnesses 八識. One of its primary functions is to perceive the subjective position of the eighth consciousness 阿頼耶識 and erroneously regard it as one's own ego, thereby creating ego attachment. Its basic nature is that of thought, but there is a difference between it and the sixth consciousness. Not consciously controllable, it is said to be a mind of a realm that gives rise to contradiction of conscious decisions, and to incessant self-love. Since it can also be called the movement of the human mind which sees the limits of human variation from within, it is necessary that for their basis of existence, humans have some fundamental thing that unceasingly continues and changes, serving as the ground for the sixth consciousness. For example the Yogācārabhūmi-śāstra says: 末那任持意識令分別轉 是故説爲意識所依〔瑜伽論 T 1579.30.651c4〕. This consciousness is also called the place where good and evil are eternally accumulated, and is theorized as the connecting realm between the mano-consciousness 意識 and the ālayavijñāna. The so-called 'origin of delusion', it is also called the 'stained mind', and is associated with the four defilements of self-delusion (我癡), self-view (我見), egotism (我慢), and self-love (我愛). => Thức mạt-na, thức thứ bảy trong tám thức. Một trong các chức năng chính của nó là nhận kiến phần của thức thứ tám (A-lại-da thức) lầm cho là bản ngã của chính mình, do vậy nên nó tạo ra ngã chấp. Bản chất của nó là suy tính, nhưng có sự khác nhau giữa nó và thức thứ sáu. Nó được xem là lĩnh vực của tâm, không thể điều khiển một cách có chủ ý, thường sinh khởi những quyết định mâu thuẫn với tâm thức, và không ngừng chấp dính vào bản ngã. Từ đó, nó còn được xem là sự hoạt dụng của tâm thức con người khi thấy được hạn cuộc của sự biến đổi trong vòng giới hạn, điều ấy là tất yếu cho nền tảng tồn tại của nó, con người có nhiều điều chủ yếu biến dịch và tương tục không ngừng, nó như là căn cứ của thức thứ sáu. Du-già sư địa luận nói: “Mạt-na nhậm trì ý thức linh phân biệt chuyển, thị cố thuyết vi ý thức sở y; mạt-na nhận lấy ý thức, khiến sinh khởi phân biệt; nên gọi nó là chỗ y cứ của ý thức”. Thức nầy còn được gọi là nơi cùng tích chứa thiện ác, và nói theo lý thuyết thì nó là lãnh vực kết nối giữa ý thức và A-lại-da thức. Gọi là 'căn bản phiền não'còn được gọi là 'nhiễm ô thức', có liên quan đến bốn loại ngã chướng nhiễm ô: ngã si, ngã kiến, ngã mạn và ngã ái.
Mạt-na 末那
[ja] マナ mana ||| A transliteration of the Sanskrit manas, usually translated into Chinese as 意. In Consciousness-only theory, the manas is the seventh of the eighth consciousnesses 八識. It is regarded as the fundamental locus for the creation of mistaken views of self (我癡, 我見, 我慢) and the afflictions which result from such mistaken views. See 末那識. => Phiên âm chữ Manas từ tiếng Sanskrit, thường dịch sang chữ Hán là Ý意. Theo giáo lý Duy thức, mạt-na là thức thứ bảy trong tám thức. Nó được xem là cứ điểm sinh khởi những quan niệm sai lầm về ngã (ngã si, ngã kiến, ngã mạn) và những phiền não do kết quả từ những quan niệm sai lầm trên. Xem Mạt-na thức 末那識.
; [ja] マナ mana ||| A transliteration of the Sanskrit manas, usually translated into Chinese as 意. In Consciousness-only theory, the manas is the seventh of the eighth consciousnesses 八識. It is regarded as the fundamental locus for the creation of mistaken views of self (我癡, 我見, 我慢) and the afflictions which result from such mistaken views. See 末那識. => Phiên âm chữ manas từ tiếng Sanskrit, thường dịch sang chữ Hán là Ý. Theo giáo lý Duy thức, mạt-na là thức thứ bảy trong tám thức. Nó được xem là cứ điểm sinh khởi những quan niệm sai lầm về ngã (ngã si, ngã kiến, ngã mạn) và những phiền não do kết quả từ những quan niệm sai lầm trên. Xem Mạt-na thức 末那識.
Mạt-nô-sa
末奴沙; C: mònúshā; J: manusha;|Phiên âm từ chữ manuṣya trong tiếng Phạn, có nghĩa là con người, sự hiện hữu của con người, đặc biệt là trong 6 nẻo luân hồi (lục thú 六趣).
mả
Mộ—Grave—Tomb.
mải miết
To become absorbed—See Mài miệt.
mảng
Piece.
mảnh
See Mảng.
mảnh dẻ
Slender—Thin—Slim.
mảnh khảnh
See Mảnh dẻ.
mảnh mai
See Mảnh khảnh.
mảy may
Little bit—Tiny bit.
mấp máy
To move gently.
mấp mé
To reach almost up to.
mất
Loss.
mất công
To waste one's efforts.
mất dạy
Ill-bred—Badly brought-up.
mất giá trị
To become debased.
mất hồn
To be like a lost soul.
mất hứng
To lose interest.
mất lòng
To displeased.
mất lần
To disappear gradually.
mất lợi
To lose in interest.
mất mùa
To lose (have a bad) crop.
mất mạng
To lose one's life.
mất mặt
To lose face.
mất ngủ
Lack of sleep.
mất sức
To lose strength.
mất thì giờ
To waste (lose) time.
mất thăng bằng
To lose one's balance.
mất trí
Lunatic.
mất việc
To lose one's job (position).
mấu
Notch—Tie.
mấy
How much (many) ?
mầm
Seed.
mần thinh
To keep quiet.
mầu nhiệm
Supernatural—Miraculous.
mẩu
1) Một miếng: Piece. 2) Một mẫu (đất): Acre.
mẫn
1) Bỏ: To depart. 2) Minh mẫn: Clever—Ingenious—Witty. 3) Phế tích: Ruin. 4) Thương xót: Grieve for—Mourn—Sympathize.
mẫn cán
Industrious—Diligent.
mẫn câu lý
Hingula (skt)—Nước Cao Ly (người Ấn Độ gọi nước Cao Ly là Hingula, phiên theo âm Hán là Mẫn Câu Lý)—Korea.
mẫn kỵ
Ngày tưởng nhớ kỷ niệm sinh nhật của bậc trưởng lão đạo đức—A day of remembrance for a virtuous elder on the anniversary of his birthday.
; (愍忌) Chỉ cho ngày sinh của bậc tôn túc (bậc tuổi cao đức trọng) đặc biệt dùng để gọi ngày sinh sau khi vị ấy thị tịch. Trai soạn được cúng dường vào ngày này, gọi là Mẫn kị trai. Môn Báo đảo, loại thứ 16 trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Bậc thiện tri thức vì thương xót (ai mẫn) chúng sinh mà ứng thế ra đời, cho nên ngày sinh của Ngài gọi là Mẫn kị.
mẫn na da phu
(閔那耶夫) Minayeff, Ivan Pavlovitch (1840-1890) Học giả Ấn độ học người Nga. Ông thông hiểu các thứ tiếng Phạm,Pàli, Trung quốc, Mãn châu. Vì chịu ảnh hưởng của ông Hoa tây lí da phu (Vasiliev, V.P.1818-1900) nên ông chuyên nghiên cứu Ấn độ học cổ đại và tôn ông Vi bá (Weber) làm thầy. Ông từng biên soạn mục lục tiếng Pàli (bản viết tay) hiện được tàng trữ ở Thư viện Quốc gia tại Paris. Năm 1868, ông ấn hành nguyên văn bộ Ba la đề mộc xoa (Pàtimokkha) và Thi luận (Vuttodaya) tiếng Pàli. Năm 1873, ông làm giáo sư trường Đại học S.Peterburg, từng đến Ấn độ, Tích lan (1874), Miến điện (1885) v.v... Năm 1887, ông bắt đầu đăng các bài nghiên cứu về Phật giáo và các công trình có liên quan đến việc nghiên cứu các nguyên điển tiếng Phạm vàPàli, đã đạt được thành quả to lớn. Ông và ông Chu lợi an (Julien, Stanislas, 1799-1873) cùng đảm nhiệm công việc hiệu đính phần tiếng Phạm trong bộ Phiên dịch danh nghĩa đại tạp (Phạm: Mahàvyutpatti). Ông có các tác phẩm: Nàmasaôgìti (Diệu cát tường chân thực danh kinh); Bodhicaryàvatàra (Bồ đề hành kinh), 1890; Kathàvatthu; Pàli Grammar (Pàli văn ngữ pháp), 1872; Grammaire Palie, 1874.
Mẫn niệm 愍念
[ja] ミンネン minnen ||| Thoughts of pity, concern. 〔法華經 T 262.9.13b27〕 => Lòng thương xót, sự quan tâm.
mẫn quyền quy thật
(泯權歸實) Đưa (tiêu hết) giả về thực. Đối lại với Lãm thực thành quyền (nắm cả thực đặt thành giả). Thuật ngữ phán giáo của tông Hoa nghiêm. Tông này chia Thánh giáo của đức Phật làm ba thừa và một thừa, rồi trong một thừa lại chia làm Đồng giáo và Biệt giáo, lại lấy ý chỉ Họp ba về một trong kinh Pháp hoa mà nhận định là Một thừa đồng giáo. Sau đó, chia lập hai môn gốc và ngọn; gốc là một thừa, ngọn là ba thừa, rồi dung hợp ba thừa vào một thừa. Sau nữa, lại chia hai môn Dẫn quyền qui thực và Lãm thực thành quyền. Quyền là phương tiện tạm thời; Thực là rốt ráo chân thực. Dẫn quyền qui thực là bỏ giáo phương tiện mà về giáo chân thực. Như ví dụ Nhà lửa ba xe trong phẩm Thí dụ của kinh Pháp hoa. Trong ví dụ này, ông Trưởng giả tuần tự dùng xe dê, xe hươu, và xe trâu để dụ dỗ các con khiến chúng thoát ra ngoài ngôi nhà đang cháy. Đây là ví dụ dùng ba thừa làm giáo pháp phương tiện.Sau khi các con ra khỏi nhà cháy và ngồi ngoài cổng trên chỗ đất trống, lúc đó Trưởng giả mới trao cho các con một cỗ xe to lớn do trâu trắng kéo. Đây là ví dụ một Phật thừa là giáo pháp chân thực rốt ráo. Các tông phái Phật giáo như: Tam luận, Duy thức,Thiên thai, Hoa nghiêm v.v... khi phán giáo thường hay viện dẫn thí dụ trên đây, chỉ khác ở điểm mỗi tông nhấn mạnh một khía cạnh. Trong đó, đặc biệt tông Hoa nghiêm lập riêng thuyết Đồng giáo, Biệt giáo, và dùng các thuật ngữ Dẫn quyền qui thực, Lãm thực thành quyền để nói rõ căn cơ chúng sinh tuy có bén nhạy, chậm lụt khác nhau, nhưng sự giáo hóa dẫn đạo của Như lai hoặc quyền hoặc thực đều khế hợp, cũng chính là nhân duyên có khác,danh mục không đồng, nhưng cả hai dung hợp làm một thể. [X. Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.4; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.3, Q.4]. (xt. Tam Xa Tứ Xa, Dung Bản Mạt).
mẫn quyền quy thực
Từ bỏ quyền giáo Tiểu Thừa để tìm về ngôi nhà chân thực Đại Thừa—To depart from the temporary and find a home in the real, i.e. forget Hinayana, partial salvation, and turn to Mahayana for full and complete salvation.
mẫn tiệp
Smart.
mẫn tuyệt vô ký tông
(泯絕無寄宗) Dứt bặt tất cả, không để bị dính mắc vào bất cứ vật gì. Một trong ba tông Thiền do ngài Khuê phong Tôn mật phân chia. Tông này chủ trương các pháp phàm thánh đều như mộng huyễn, vì thế nên phải trút bỏ tất cả, mọi sự chấp trước, oán thân khổ vui tất cả đều không dính mắc, thấu suốt bản lai vô sự, xa lìa điên đảo, chứng đắc giải thoát. Các Thiền sư thuộc tông này là các ngài: Thạch đầu Hi thiên, Ngưu đầu Pháp dung, Kính sơn v.v... Còn đệ tử của các ngài Hà trạch Thần hội, Mã tổ Đạo nhất, Thiên thai Trí khải v.v... tuy cũng nói đạo lý ấy nhưng không thuộc về tông này. [X. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự Q. thượng].
mẫn viên
(閔園) Khu vườn ở huyện Thanh dương, tỉnh An huy, phía bắc ngọn Thiên thai núi Cửu hoa, Trung quốc. Khu vườn này vốn là trang trại của ông Mẫn nhượng hòa sống vào đời Đường, ông thích làm việc bố thí, thường cúng dường trai tăng hàng trăm vị, nhưng lúc nào cũng dành 1 tòa trống, đó là tòa của ngài Kim kiều giác tu khổ hạnh ở trên núi, ông Mẫn thường từ xa lễ thỉnh ngài về tham dự. Cứ theo truyền thuyết thì ngài Kim kiều giác–vương tử nước Tân la– là hóa thân của bồ tát Địa tạng, ngài ngồi mà hóa lúc 99 tuổi; đêm trước khi hóa, ngài Kim kiều giác hướng về ông Mẫn nhượng hòa xin 1 mảnh đất rộng bằng tấm áo ca sa, khi trải ra thì ca sa trùm hết núi Cửu hoa, ông Mẫn vui lòng cúng dường. Về sau, con ông Mẫn cũng xuất gia, tức là Pháp sư Đạo minh, rồi ông lại lễ ngài Đạo minh làm thầy. Hiện nay 2 bên tòa của bồ tát Địa tạng ở núi Cửu hoa có 2 người đứng hầu, đó là ông Mẫn nhượng hòa và Pháp sư Đạo minh.
mẫn đông
Mindoon (S)(1853 - 1878). Vua Miến Điện, có công giúp triệu tập kiết tập kinh điển lần thứ 5 ở Miến Điện.
Mẫn Đạt Thiên Hoàng
(敏達天皇, Bidatsu Tennō, tại vị 572-585): vị Thiên Hoàng sống vào cuối thế kỷ thứ 6, con thứ 2 của Khâm Minh Thiên Hoàng (欽明天皇, Kimmei Tennō), tên là Dịch Ngữ Điền Đình Trung Thương Thái Châu Phu (譯語田渟中倉太珠敷).
Mẫn 愍
[ja] ミン min ||| Sympathy, pity; concern for the sufferings of others (anukampā-citta). => Mối thương cảm, lòng thương xót, quan tâm đến sự đau khổ của người khác (s: anukampā-citta).
mẫu
1) Kiểu Mẫu: Sample—Pattern—Model. 2) Mẹ: Matr (skt)—Mother—Mommy.
mẫu chủ
1) Bà mẹ có khả năng sinh sản—The mother lord. 2) Trong Thai Tạng Giới, Phật Tỳ Lô Giá Na là gốc hay là bộ chủ trong Mạn Đà La. Bốn vị Phật khác đều có “Bộ Mẫu” và đều phải nảy sinh ra Ba La Mật cho mẫu chủ: In the mandala of Vajradhatu and Garbhadhatu; Vairocana, being the source of all things, has no “mother” as progenitor, and is the lord of the mandala. The other four dhyani-buddhas have “mothers” who are supposed to arise from the paramitas: a) A Súc bệ Phật có Kim Cang Ba La Mật cho mẫu chủ: Aksobhya Buddha has vajra-paramitas for mother. b) Nam Phật có Bảo Ba La Mật cho mẫu chủ: Ratnasambhava Buddha has jewel-paramitas for mother. c) A Di Đà Phật có Pháp Ba La Mật cho mẫu chủ: Amitabha-Buddha has dharma-paramitas for mother. d) Bất Không Phật có Yết-Ma Ba La Mật cho mẫu chủ: Amogha-siddhi Buddha has precept-paramitas for mother.
; (母主) Cũng gọi Bộ mẫu. Đối lại: Bộ chủ. Vị Bản tôn sinh ra các Bộ chủ hoặc các vị tôn khác. Năm bộ Kim cương giới và 3 bộ Thai tạng giới trong Mật giáo, mỗi bộ đều lập Bộ chủ và Bộ mẫu. Bộ chủ như Quốc vương, là bản tôn trung tâm của các bộ; Bộ mẫu như Quốc mẫu sinh thành các vị tôn. [X. Bí Tạng Kí Q.cuối]. (xt. Bộ Chủ Bộ Mẫu).
mẫu giáo
Kindergarten.
mẫu hương
Gandhamātṛi (S), Mother of odours.
mẫu lục thân
(母六親) Cũng gọi Mẫu thân. Chỉ cho 6 bậc thân thuộc bên mẹ. Tam tạng pháp số quyển 27 nói rằng, đức Phật muốn cho các tỉ khưu tránh được sự chê cười của thế gian, nên Ngài qui định tỉ khưu không được nhờ người nữ và tỉ khưu ni không phải là thân thuộc giặt y áo cũ, mà có thể nhờ người thân thuộc của cha mẹ giặt giúp, do đó mới chế định Phụ lục thân, Mẫu lục thân. Mẫu lục thân là: 1. Cậu của mẹ: Tức anh em của bà ngoại, là ông cậu của chính mình. 2. Dì của mẹ:Tức chị em của bà ngoại, là bà dì của chính mình. 3. Anh chị của mẹ:Là cậu hoặc dì của chính mình. 4. Em của mẹ:Là cậu hoặc dì của chính mình. 5. Con gái con trai của mẹ:Là chị em, anh em của chính mình. 6. Cháu của mẹ:Tức con của anh em ruột, là cháu gái, cháu trai của chính mình. [X. Thiện Kiến Luật Tì Bà Sa Q.14]. (xt. Phụ Lục Thân).
mẫu nghi
1) Mother's virtue. 2) Queen.
mẫu thân
See Mẫu (2).
mẫu tính
Maternal.
mẫu tử
Mother and child.
mẫu đan thảo
(牡丹草) Những hoa văn hình cỏ mẫu đơn được vẽ trên đường viền bên ngoài của Mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Vì cỏ mẫu đơn vốn được trải ra để bày các thức ăn, cho nên vẽ loại cỏ này trên đường viền bên ngoài của Mạn đồ la để tượng trưng chỗ đặt các thực vật cúng dường. Ngoài ra, những hoa văn hình cỏ vẽ trên đường viền bên ngoài Mạn đồ la Kim cương giới, gọi là Bảo tính thảo. Đây là dùng loại cỏ bò lan trên mặt đất, không rễ mà vẫn sinh trưởng để biểu thị ý nghĩa Mạn đồ la viên dung vô ngại, lớp lớp không cùng tận. Hoặc có thuyết cho rằng Mạn đồ la tượng trưng thành quách, Bảo tính thảo tượng trưng cho vườn hoa ở ngoài thành. Đại Thánh diệu cát tường bát tự nghi quĩ có nói rõ về Mẫu đơn thảo và Bảo tính thảo.
mẫu đà la
(母陀羅) Phạm: Mudrà. Cũng gọi Mục đà la, Mẫu nại la. Hán dịch: Ấn tướng, Khế ấn, Mật ấn. Gọi tắt: Ấn. Là phương tiện hiển bày đức nội chứng của chư Tôn trong hải hội Mạn đồ la Mật giáo. (xt. Thủ Ấn, Ấn Tướng).
mẫu đà ma nô sa
(母陀摩奴沙) Phạm: Mfta-manuwya. Cũng gọi Mẫu na ma nô sa. Hán dịch: Tử nhân, Tử thi. Người chết, thây chết. Kinh Để lí tam lang muội (Đại 21, 11 trung), nói: Vào đêm mồng 8, đến bãi tha ma, tìm 1 Mẫu đà ma nô sa (thây chết), ngồi trên thây chết ấy niệm tụng đủ 1 vạn biến (thần chú), thây chết liền cử động, không được sợ hãi; rồi từ miệng của thây chết ấy mọc ra 1 hoa sen lớn nở rộ, hành giả liền nắm lấy, tự nhiên thân mình giống như 16 vị đồng tử, tóc như móc xích, bay lên hư không, đến cõi trời Phạm Thiên, làm chủ các Đại Minh Vương.
mẫu đạo
Mother's duty.
Mẫu 母
[ja] モ mo ||| Mother, mama. In the Esoteric sect, an object of offerings (jananī) => Mẹ, vú. Theo Mật tông, là một đối tượng của sự dâng cúng (s: jananī).
mập mờ
Foggy—Dim.
mật
Closed in; close together; intimate; quiet. still; secret, occult, esoteric; fine, small; contrasted with hiển open, exoteric.
; 1) Đóng kín: Closed in—Close together. 2) Mật: Gall—Bile. 3) Mật ong: Honey. 4) Mật Tông, đối lại với Hiển tông: Occult—Esoteric—Secret, contrasted with open or exoteric.
; (榓) Phạm:Deva-dàru. Cũng gọi Mộc mật, Mật hương, Một hương. Tên khoa học: Pinus devadàru, hoặc Avaria longifolia, hoặc Erythrosylon sideroxyloides. Loại cây thuộc họ trầm hương. Cây này cao hơn 3 mét, vỏ màu xanh lợt, lá giống như lá hòe nhưng dài hơn, hơi có mùi hồ tiêu. Tháng 6 hoa nở trắng giống hoa cây quít, quả như quả thầu dầu, khi chín vỏ nứt ra, ở trong có 5, 6 hạt, to bằng hạt đậu, màu đen, vị chua ngọt, ăn được, nhưng ăn nhiều thì say. Gốc cây to dày, sau khi chặt 4, 5 năm, người ta lấy những chỗ không mục nát của cây chế thành hương, vị của nó cay nồng, có thể trừ mùi hôi và mùi của xác chết. Cành cây có thể cúng Phật, vỏ và lá cây sau khi phơi khô có thể dùng làm hương đốt, gọi là Mạt hương. Ngoài ra, cây mật sinh sản tại Nhật bản thuộc họ Mộc lan, lá xanh quanh năm. Tên khoa học là Ilicium anisatum, e là khác họ với cây Mật nói trên. Cũng gọi là cây Nhãn vu, lá nó giống với lá cây mật nhưng hơi dày, cao từ 0,5 đến 1 mét, cây mọc trong núi sâu nhưng ở chỗ có ánh mặt trời, khoảng tháng 4, 5 nở hoa kết trái. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; Pháp hoa nghĩa sớ Q.4 hạ; Huyền ứng âm nghĩa Q.7; Hòa Hán tam tài đồ hội Q.82; Nhũ vị sao Q.1].
mật am hoà thượng ngữ lục
(密庵和尚語錄) Cũng gọi Mật am Hàm kiệt thiền sư ngữ lục, Mật am lục. Tác phẩm, 1 quyển (hoặc 2 quyển), do ngài Mật am Hàm kiệt (1118-1186) soạn vào đời Tống, các ngài Tùng nguyên Sùng nhạc và Tiếu am Liễu ngộ biên tập, được ấn hành vào năm Thuần hi 15 (1188), thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung thu chép các ngữ lục của Thiền sư Mật am Hàm kiệt trong 7 hội: Càn minh thiền viện, Thái bình Hưng quốc thiền tự, Hoa tạng thiền tự, Thiên đồng Cảnh đức thiền tự... và tiểu tham, phổ thuyết, tụng tán, kệ tụng, pháp ngữ, tháp minh... Đầu quyển có lời tựa của Trương tư.
Mật Am Hàm Kiệt
(密庵咸傑, Mittan Kanketsu, 1118-1186): vị tăng của Phái Hổ Kheo và Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Mật Am (密庵), người vùng Phước Thanh (福清), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Trịnh (鄭). Ông đã từng đến tham học với Tri Thức (知識), rồi được ấn khả của Ứng Am Đàm Hoa (應庵曇華) ở Minh Quả Am (明果庵), Cù Châu (衢州, Tỉnh Triết Giang). Sau đó, ông đến trú tại Ô Cự Sơn (烏巨山) ở Đồng Châu (同山), rồi chuyển đến các nơi như Thiền Phù (禪符), Tương Sơn (蔣山), Hoa Tạng (華藏). Bên cạnh đó, ông còn sống qua mấy ngôi chùa lớn như Kính Sơn (徑山), Linh Ẩn (靈隱), Thiên Đồng (天童), và vào ngày 12 tháng 6 năm thứ 13 niên hiệu Thuần Hy (淳熙), ông thị tịch, hưởng thọ 69 tuổi đời và 52 hạ lạp. Ông có để lại Mật Am Hòa Thượng Ngữ Lục (密庵和尚語錄) 1 quyển.
mật am sa bồn
(密庵沙盆) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên Thiền sư Mật am Hàm kiệt được thầy là ngài Ứng am Đàm hoa ở chùa Thiên đồng ấn chứng. Ngũ đăng hội nguyên quyển 20 (Vạn tục 138, 414 hạ) chép: Một hôm, ngài Ứng am hỏi: Thế nào là chính pháp nhãn? Sư đáp ngay: Chậu đất vỡ (phá sa bồn)! Ngài Ứng am liền gật đầu.
mật báo
To report (warn) secretly.
mật bộ kinh
GyŪ-tantra (S)Gồm 287 bộ kinh, trong Đại tạng kinh Tây tạng.
mật chú
Xem man trà la.
; Dhàrani (S). A dhàrani, or esoteric incantation. Magical formula. Also tổng trì.
; Mật chú Đà La Ni, hay mật chú tổng trì—A dharani or esoteric incantation.
mật chú viên nhân vãng sinh tập
(密咒圓因往生集) Tác phẩm, 1 quyển, do các ngài Trí quảng, Tuệ chân biên tập vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Sách này thu tập 33 bài (hoặc 29 bài) mật chú linh nghiệm trong các bộ kinh do ngài Kim cương chàng dịch, bao gồm: Quán tự tại bồ tát lục tự đại minh tâm chú, A di đà Phật căn bản chú, Đại Phật đính bạch tản cái tâm chú v.v... trong đó phần nhiều được coi là có công năng khiến người trì tụng được vãng sinh thành Phật. Sách nhấn mạnh cần tụng niệm đúng như pháp bất cứ 1 đà la ni nào trong số đó, thì đều được vãng sinh Tịnh độ. Cùng với Hiển mật viên thông thành Phật tâm yếu tập là 2 bộ sách mà người muốn hiểu rõ về Mật giáo Hoa nghiêm ở núi Ngũ đài cần phải đọc.
mật chúng
Tín đồ Phật giáo Mật tông—The followers of the esoteric school.
mật chấp
Abhinivesasamdhi (S). Solid attachment. Also chấp chặt.
mật chủ
Pancika (S)Bán chi ca, Bán già la đại tướng, Đức xoa ca, Ban xà ca, Tán chi ca, Bán chỉ ca đại tướngMột trong Dạ xoa bát đại tướng: Bảo Hiền, Mãn Hiền, Mật Chủ, Oai Thần, Ứng Niệm, Đại Mãn, Vô tỷ lực, Mật Nghiêm.
mật cung
(密供) Từ gọi chung pháp tắc cúng dường theo nghi quĩ của Mật giáo. Tức là những nghi thức tông giáo được Mật giáo dần dần phát triển ra để thực hiện lí tưởng về giáo nghĩa. Loại nghi thức tông giáo này đều được chép vào kinh điển giáo nghĩa. Về sau, pháp thực hành dần dần trở nên phức tạp, nên đã sản sinh những kinh chuyên môn nói rõ về các phép tắc, loại kinh điển này đặc biệt được gọi là Nghi quĩ (Phạm: Kalpa). Pháp cúng dường là 1 phần sự tướng (đối lại với giáo tướng) rất quan trọng của Mật giáo, theo với đà phát triển của kĩ thuật tạo tượng mà pháp cúng dường cũng dần dần trở nên phiền toái. Đối tượng để lễ bái của Phật giáo nguyên thủy chỉ là tốt đổ ba (tháp Phật), cây Bồ đề, pháp luân, những di vật của Phật, lốt chân Phật v.v... Mãi sau khi mĩ thuật tượng thần kiểu Hi lạp bột phát ở Kiện đà la, cùng với ảnh hưởng tượng thần của Ấn độ giáo, thì Phật giáo mới bắt đầu tạo tượng Phật. Các bản Nghi quĩ của Mật giáo phần lớn vốn miêu tả phương pháp tạo tượng Phật, song song với việc tạo tượng, những phép tắc tụng chú và cúng dường trước tượng Phật cũng dần dần phát triển, để rồi hình thành một bộ phận riêng của nghi quĩ Mật cúng. Nhưng trên thực tế, Mật cúng chỉ là pháp cúng dường, khác với pháp tạo tượng. Kinh Hoa tích đà la ni thần chú, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô (Đại 21, 875 thượng) nói: Nếu thiện nam tử đọc tụng thần chú Hoa tích này, thì nên tụng vào các tháng 3, 4, 9 từ ngày mồng 8 đến 15, nhất tâm nhớ tưởng Như lai tướng hảo; nửa đêm tụng 3 lần, giữa trưa cũng 3 lần, dâng hương hoa, đèn nến trước tượng Phật tu pháp Cúng dường. Đây là ghi chép sớm nhất về phép tu Cúng dường trước tượng Phật.Về sau, Mật cúng dần dần phát triển, như kinh Mâu lê mạn đà la chú được dịch vào đời Lương thuộc Nam triều đã ghi chép. Khi tu Mật cúng, trước hết 3 nghiệp phải thật thanh tịnh, tạo 1 tháp xá lợi, chọn ngày, tháng, giờ tốt, từ ngày mồng 1 đến 15 tháng trắng (bạch nguyệt) là ngày giờ tốt. Nếu chỉ tu 1 ngày cũng được, trong trường hợp này thì nên chọn ngày 15 hàng tháng là tốt nhất. Hành giả phải dùng nước thơm tắm gội, mặc áo mới sạch sẽ, thắp 4 ngọn đèn, dâng hoa tươi tùy theo mùa, cúng dường chư Phật, Bồ tát và các vị Kim cương; nên ăn 3 loại bạch thực (thức ăn có màu trắng), nhiễu 1 vòng quanh tháp và Mạn đà la, tụng 1 biến chú, cứ thế tụng đủ 108 biến thì thành tựu pháp cúng dường này. Do đó có thể thấy nghi thức Mật cúng dần dần đã phát triển đầy đủ các phép tắc. Đến Vô lượng thọ Như lai tu quán hạnh cúng dường nghi quĩ do ngài Bất không dịch vào đời Đường thì lại thấy Mật cúng đã chịu ảnh hưởng của phong tục Ấn độ, rồi vì sáng kiến cũng như sự giải thích của các vị A xà lê khác nhau mà đã phát sinh những dòng phái bất đồng.
mật cơ
The motive power, or fundamental element in the esoteric.
; Cơ hội học mật chú của tông Chân Ngôn—The motive power, or fundamental element, in the esoteric; the opportunity of learning a mantra.
; (密機) Căn cơ có khả năng tu tập chân ngôn bí mật.Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 5 (Đại 19, 125 hạ), nói: Ẩn chứa mật cơ, mong Phật thầm truyền.
mật diệm tháp
(mật diệm tháp) Một loại bảo tháp hoặc tháp Phật đời xưa. Loại tháp này phần nhiều được xây bằng gạch, thông thường có hình 8 góc hoặc 12 góc, nền tháp là tòa Tu di, tầng dưới cùng của thân tháp tương đối cao, phía trên là 9 tầng, 11 tầng, 13 tầng, mái nhô ra, thân tháp ở khoảng giữa 2 mái rất ngắn, không để cửa sổ, chỉ có 1 lỗ nhỏ, ruột tháp phần nhiều là đặc.
mật gia tam tạng
(密家三藏) Cũng gọi Mật giáo tam tạng. Chỉ cho 3 tạng Kinh, Luật, Luận của Mật giáo, tức những bộ kinh lớn của Kim cương giới và Thai tạng giới là Kinh tạng, kinh Tô bà hô đồng tử và các luật điển của Đại thừa, Tiểu thừa là Luật tạng, còn luận Bồ đề tâmvà luận Thích ma ha diễn là Luận tạng.
mật già xà
(蜜伽闍) Phạm: Mfgajà. Hán dịch: Lộc tử, Lộc vương, Lộc dưỡng. Một trong 3 vị phu nhân của Thái tử Tất đạt đa khi chưa xuất gia. [X. Hữu bộ tì nại da Q.18].
mật giáo
Tantra gyŪ (T), gyŪ (T), Tantrism Đát Đặc La giáo.
; Tantra (S). Esoteric teaching. Tantrism.
; Mật giáo hay Phật giáo Mật tông, phát triển đặc biệt nơi Chân Ngôn tông, thờ Đức Đại Nhật Như Lai, Thai Tạng và Kim Cương Giới; đối lại với Hiển giáo. Mật giáo gồm các kinh nói về mật tánh gắng sức dạy về mối tương quan nội tại của thế giới bên ngoài và thế giới tâm linh, sự đồng nhất của tâm và vũ trụ, các phương thức được Mật giáo xử dụng trong các phép quán tưởng như sau—The esoteric method. The esoteric Mantra, or Yogacara sect, developed especially in Shingon, with Vairocana as the chief object of worship, and the Mandalas of Garbhadhatu and Vajradhatu—The esoteric teaching or Tantric Buddhism, in contrast with the open schools (Hiển giáo). The Buddhist tantra consists of sutras of a so-called mystical nature which endeavor to teach the inner relationship of the external world and the world of spirit, of the identity of Mind and universe. Among the devices employed in tantric meditational practices are the following: 1) Mạn Đà La có nghĩa là “vòng tròn,” “hội,” hay “hình.” Có nhiều loại Mạn Đà La, nhưng có hai thứ thông thường nhất trong Mật giáo—Mandala (skt)—Mandala means “circle,” “assemblage,” “picture.” There are various kinds of mandala, but the most common in Esoteric Buddhism are of two types: a) Một hình kết hợp vẽ chân dung nhiều loại khác nhau, quỷ, thần, Phật và Bồ Tát, biểu thị năng lực, sức mạnh và các hoạt động chung trong các hình vuông tròn—A composite picture graphically portraying different classes of demons, deities, Buddhas and Bodhisattvas, representing various powers, forces, and activities, within symbolic squaes and circles. b) Ngay tại trung tâm là Phật Tỳ Lô Giá Na, vị Phật Quang Minh Biến Chiếu; và một lược đồ tiêu biểu vài mẫu âm thiêng liêng của tiếng Phạn gọi là “bija” hay “chủng tử,” tiêu biểu cho các hình tượng—In the center of which is a figure of the Buddha Vairocana, the Great Illuminator; and a diagrammatic representation wherein certain sacred Sanskrit letters, called “bija” or “seeds” are substituted for figures. ** For more information, please see Mandala in English-Vietnamese Section. 2) Chơn Âm: Mantra (skt)—Các âm thiêng liêng như âm OM chẳng hạn, được truyền từ thầy sang đệ tử trong lúc khải thị. Khi tâm người đệ tử đã được điều hợp đúng đắn, người ta nói là các chấn động của biểu tượng ngôn ngữ này cùng với sự phối hợp của nó trong tâm thức của người khải thị để mở tâm thức của người đệ tử đến các chiều kích cao hơn—These sacred sounds, such as OM, for example, are transmitted from the master to his disciple at the time of initiation. When the disciple's mind is properly attuned, the inner vibrations of this word symbol together with its associations in the consciousness of the initiate are said to open his mind to higher dimension—See Mantra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 3) Thủ Ấn: Mudra (skt)—Đây là điệu bộ của thân thể, đặc biệt là các cử động tượng trưng của bàn tay, được thực hiện để trợ giúp kêu gọi những tâm thái song hành nhất định của chư Phật và chư Bồ Tát—These are physical gestures, especially symbolical hand movements, which are performed to help evoke certain states of mind parallel to those of Budhas and Bodhisattvas—See Mudra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
mật giáo cương yếu
(密教綱要) Tác phẩm, 4 quyển, do Quyền điền Lôi phủ người Nhật bản soạn, Vương hoằng nguyện dịch vào đời Dân quốc. Nội dung sách này chia làm 3 thiên: Thiên đầu nói về Mật giáo Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản. Thiên thứ 2 nói về giáo lí Mật giáo. Thiên thứ 3 giải thích về nghi thức tác pháp của Mật giáo. Đây là tác phẩm nêu rõ những cương yếu và là bộ sách nhập môn để hiểu giáo pháp của Mật giáo. (xt. Vương Hoằng Nguyện).
mật giáo mĩ thuật
(密教美術) Mĩ thuật đặc biệt của Mật giáo. Xưa nay, Mật giáo lấy pháp tu của các vị Bản tôn làm trọng điểm, về mặt tạo tượng và vẽ tranh y cứ vào nghi quĩ mà có những qui định đặc thù, cho nên, để thích ứng với nhu cầu tu pháp mà về phương diện Tôn tượng, pháp khí, mạn đồ la v.v... đã dùng mĩ thuật để biểu hiện một cách rất đặc sắc. Vì chịu ảnh hưởng sự sùng bái đa thần của Ấn độ giáo nên trong Mật giáo có rất nhiều loại tượng Phật, tượng các Tôn vị và phần lớn thuộc về cách tạo hình siêu nhân loại, như có nhiều mắt, nhiều mặt (3 mặt, 11 mặt), nhiều tay (4 tay, 6 tay, 42 tay, 1.000 tay), hiện tướng giận dữ, cầm các loại vũ khí v.v... Ý nghĩa của các hình tượng này không ngoài việc tượng trưng cho nhân loại vì muốn đạt đến cảnh giới tức thân thành Phật, nên người tu hành ở hiện thế phải hàng phục các ma, khắc phục các chướng ngại ở nội tâm và ngoại cảnh mà biểu hiện cảm giác cường lực và thần bí sâu kín. Về pháp khí, thông thường có chày kim cương, chuông kim cương, mâm kim cương, bánh xe báu, yết ma, lò hương, bình hoa, 6 thứ khí cụ, 4 cây cọc, đồ đựng thức ăn, thùng chứa nước sạch, lò đốt củi hộ ma v.v...Lấy Mật giáo Tây tạng (Lạt ma giáo) làm điển hình, có thể chia làm 6 loại: 1. Dùng để kính lễ: Như ca sa, tràng hạt, dây lụa... 2. Dùng để tán tụng: Như chuông, chuông lắc, mõ, não bạt, kèn, trống, ống sáo (làm bằng xương người), đàn 6 dây v.v... 3. Dùng để cúng dường: Như lư hương, đế đèn, bát đựng nước, bình, mâm, chậu, bát, cờ, phan, phướn, chuỗi anh lạc, tràng hoa, lẵng hoa v.v... 4. Dùng để trì niệm: Như mạn đồ la, tràng hạt, bạt chiết ra (tức các loại chày kim cương 1 chĩa, 3 chĩa, 5 chĩa, bằng vàng, bàng gỗ thơm v.v...), linh chử (1 chĩa, 3 chĩa, 5 chĩa), giả cát la (tức bánh xe), trống, khánh, mõ gỗ hình con cá, hồ quán đính v.v... 5. Dùng cho pháp tu Hộ ma: Như mạn đồ la, lò đốt, Phật hộ thân, phù ấn bí mật v.v... 6. Dùng để khuyên dạy: Bánh xe ma ni, ống kì đảo, cờ kì đảo, vách kì đảo, đá kì đảo v.v... Trong các loại pháp khí nêu trên, 2 bộ Mạn đồ la Thai tạng giới và Kim cương giới là hình thức biểu hiện mĩ thuật đặc hữu của Mật giáo đầy đủ nhất. Mạn đồ la (Phạm: Maịđala, Hán dịch: Đàn, Luân đàn) là bức tranh tượng Phật để thờ khi tu pháp Mật giáo. Mạn đồ la Thai tạng giới và Mạn đồ la Kim cương giới tượng trưng 2 thế giới Lí và Trí, còn tượng các vị tôn nhóm họp thì biểu hiện thế giới quan luân viên cụ túc của Mật giáo, về hình thức thì hoặc vuông hoặc tròn. Ở chính giữa Mạn đồ la Thai tạng giới vẽ tượng 1 đức Phật hoặc 1 vị Bồ tát để làm Bản tôn; ở phía trên phía dưới, 2 bên tả hữu, 4 phương cho đến 4 góc chung quanh vị Bản tôn đều vẽ tượng 1 đức Phật hoặc 1 vị Bồ tát, hình thành 1 đóa hoa sen nhìn xuống, trên đài (gương) sen ở chính giữa là vị Bản tôn, trên 8 cánh sen chung quanh đài sen mỗi cánh đều có tượng của 1 vị tôn, tạo thành viện ở chính giữa (viện Trung đài bát diệp). Ở phía ngoài lại vẽ 1 lớp hoặc 2 lớp tượng các vị Bồ tát hoặc chư thiên hộ pháp tạo thành viện ngoài. Mạn đồ la Kim cương giới thì do 9 hội Mạn đồ la tổ chức thành. Hình bức tranh lấy đầu trên làm phương Tây, dọc ngang chia làm 3 ô, ô ở chính giữa là hội Thành thân, từ đó tính xuống theo thứ tự chiều bên trái là: hội Tam muội da, hội Vi tế, hội Cúng dường, hội Tứ ấn, hội Nhất ấn, hội Lí thú, hội Hàng tam thế và hội Hàng tam thế tam muội da. Trong đó, hình vẽ của hội Lí thú thì hoàn toàn như bức vẽ Mạn đồ la Kim cương giới được thu nhỏ lại, hội Nhất ấn thì chỉ do Đại nhật Như lai ở trong vòng tròn lớn mà thành, 1 hội chỉ đơn thuần có 1 vị tôn nên gọi là hội Nhất ấn. Bảy hội còn lại thì hình thức đại khái giống nhau, đều do vị Chủ tôn ở chính giữa và 4 đức Phật ở 4 phương (hoặc các vị Bồ tát, Kim cương), 4 Bồ tát Cúng dường ở 4 góc tạo thành. Khi vẽ Mạn đồ la phải tuân theo những phép tắc được qui định trong các kinh và nghi quĩ. Như vẽ Mạn đồ la Thai tạng giới thì phải y cứ vào kinh Đại nhật, còn vẽ Mạn đồ la Kim cương giới thì phải căn cứ vào kinh Kim cương đính. Trong một bức tranh có nhiều Phật và Bồ tát hàng hàng lớp lớp phân bố ra, gọi là Phổ môn mạn đồ la, hoặc Đô hội mạn đồ la, Phổ môn hội mạn đồ la. Cũng có những bức Mạn đồ la lấy Phật Dược sư, Phật A di đà, hoặc bồ tát Quan thế âm làm trung tâm, hình thức tương đối đơn giản, thì gọi là Nhất môn mạn đồ la, hoặc Biệt môn mạn đồ la. Ngoài ra, hành giả tu Mật giáo, trì tụng các kinh của Hiển giáo như kinh Pháp hoa, kinh Nhân vương bát nhã v.v... mà vẽ thành Pháp hoa mạn đồ la, Nhân vương mạn đồ la thì gọi chung là Kinh pháp mạn đồ la. Tóm lại, Mật giáo cho rằng giáo lí của mình là pháp môn bí mật phát xuất từ cảnh giới nội chứng của Pháp thân Đại nhật Như lai, cho nên dùng lưỡng giới Mạn đồ la cụ thể để biểu hiện. Tức Mạn đồ la Kim cương giới tượng trưng cho thế giới ngoại hiện, còn Mạn đồ la Thai tạng giới thì tượng trưng cho thế giới nội tại. Kết hợp 2 loại Mạn đồ la này mới thành chân lí. Đem nhân cách hóa 2 loại Mạn đồ la này thì Đại nhật Như lai từ lưỡng giới lại diễn hóa ra các vị tôn của lưỡng giới Mạn đồ la, vì thế mà thông thường các chùa viện của Mật giáo đều thờ Đại nhật Như lai ở địa vị Chủ tôn. Nhưng sức diệu dụng mà Mật giáo thường giải thích hiển bày là ở 5 vị Đại tôn Minh vương Giáo lệnh luân thân: Bất động, Hàng tam thế, Quân đồ lợi, Đại uy đức, Kim cương dạ xoa và Ái nhiễm minh vương, trong đó Bất động minh vương là thân biến hóa của đức Đại nhật Như lai (hiện tướng phẫn nộ), các loại tu pháp đều lấy vị tôn này làm trung tâm. Về tượng Phật, đặc trưng của sự tạo hình là ở chỗ màu sắc và hình dáng, cả 2 đều có ý nghĩa trọng yếu. Mĩ thuật Mật giáo muốn biểu hiện con người nhờ tu hành mà đạt đến cảnh giới tức thân thành Phật, cho nên người ta phải khắc phục các chướng ngại ở bên trong cũng như bên ngoài và vì phải hàng phục các chướng ngại ấy nên phải dùng nhiều phương pháp biểu hiện. Chẳng hạn tạo hình thể hiện hiệu quả 1 cách mạnh mẽ như: làm nổi bật chức năng của các cảm quan trong thân thể, hoặc biểu lộ ra ngoài bằng hình tướng giận dữ, bậm môi, trừng mắt ... thường thấy ở các tôn tượng. Các vị tôn trong Mật giáo, ngoài việc thần cách hóa tôn tượng, còn thần cách hóa chim thú. Phương pháp biểu hiện thần cách hóa, có những tạo hình đặc thù như: 3 mắt, 11mặt, 8 tay, 6 chân v.v... như Thập nhất diện Quan âm, Như ý luân Quan âm, Mã đầu Quan âm, Khổng tước minh vương và Ngũ đại tôn minh vương. Lại tiến thêm bước nữa bằng cách xác lập, qui định những tư thái, hình tướng, vật cầm v.v... của các vị tôn đã được thần cách hóa mà đặt ra các nghi quĩ. Trong Mật giáo, các bức họa, điêu khắc và những pháp cụ được biểu hiện đều mang vẻ thần bí, sâu kín hoặc kì dị làm cho người ta kinh hãi, đó là đem cái cảm giác vừa sợ hãi, vừa tôn kính đối với sức thần bí mà khái niệm hóa, tổ chức hóa để hiển bày cái hình thái nghệ thuật có phong cách đặc biệt khác lạ. Do đó, các tác phẩm nghệ thuật của Mật giáo thường mang tính đả phá những khuôn phép tạo hình đối xứng cân bằng của nghệ thuật truyền thống mà biểu hiện cái khí thế mạnh mẽ khiến người sợ hãi và tràn đầy lực cảm. (xt. Mạn Đồ La, Mật Giáo Pháp Khí).
mật giáo ngũ đại
(密教五大) Năm đại: Đất, nước, lửa, gió và hư không trong giáo nghĩa Mật giáo. Khác với Hiển giáo cho 5 đại là các pháp hữu vi, vô thường. Mật giáo thì lại chủ trương 5 đại được lập ra từ bản thể của các pháp , là thân Tam muội da của Như Lai. Tam muội da có nghĩa là bản thệ (thệ nguyện xưa), tiêu biểu, tức 5 đại tiêu biểu cho nội dung cảnh giới nhiệm mầu tam mật vô tướng và bản thệ của Pháp thân Như Lai. Thai tạng giới của Mật giáo lấy 5 đại sắc pháp làm lí pháp thân của Đại nhật Như Lai, chủng tử là (a), (vi), (ra), (hùô), (khaô), hoặc (a), (va), (ra), (ha), (kha), tức là chủng tử của 5 đức Phật ở 5 phương, cũng tức là 5 đại được phối hợp với 5 Phật ở 5 phương. Tôn thắng nghi quĩ do ngài Thiện vô úy dịch vào đời Đường, theo thứ tự phối hợp 5 đại đất, nước, lửa, gió, hư không với 5 phương Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung ương, tức là nghĩa Đông nhân Kim cương giới tu sinh của thủy giác thượng chuyển. Còn kinh Tú diệu do ngài Bất không dịch vào đời Đường thì phối hợp không, gió, lửa, nước, đất với Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung ương, tức là theo nghĩa Trung nhân Thai tạng giới bản hữu của bản giác hạ chuyển. 1. Tôn thắng nghi quĩ: Năm đại theo nghĩa của Tôn thắng nghi quĩ là nương vào Đông nhân phát tâm (phát tâm tu nhân từ phương Đông): a) Đất (địa đại), phối hợp với Phật A súc ở phương Đông, là giai vị phát tâm, tức lấy tâm bồ đề tu sinh làm Nhân (..), sinh khởi muôn hạnh đại bi, cũng giống như đất là cội gốc sinh ra muôn vật; lại vì tâm bồ đề vững chắc không lay động, giống như đất, cho nên kí hiệu của Phật A Súc là bất động. Trí đại viên kính gìn giữ tất cả pháp tương ứng với đất gìn giữ muôn vật; Đất ở phương Đông biểu thị của sự bắt đầu của tu sinh; màu vàng là màu không thay đổi, tương ứng với tính bất biến của tâm bồ đề. b) Nước (thủy đại): Phối hợp với Phật Di Đà ở phương Tây, là giai vị thành tựu bồ đề; tự tính thanh tịnh của tâm bồ đề và sự tròn sáng rốt ráo của Vô lượng quang (Phật Di Đà) giống như tính trong sáng của nước; đức thuyết pháp đoạn nghi của trí Diệu quán sát giống như công năng rửa sạch bụi nhơ của nước; Nước ở phương Tây, tương ứng với chỗ cuối cùng của sự hành chứng (tu hành chứng quả); màu trắng tương ứng với Vô lượng quang (ánh sáng vô lượng). c) Lửa (hỏa đại): Phối hợp với Phật Bảo Sinh ở phương Nam, là giai vị tu hành; tu hành thành tựu muôn hạnh, giống như tính nóng của lửa có công năng nấu chín muôn vật; trí Bình đẳng tính diệt trừ tất cả sự phân biệt hư vọng, khiến cho bình đẳng nhất như, giống như công năng của lửa đốt cháy hết muôn vật. d) Gió (phong đại): Phối hợp với Phật Bất Không Thành Tựu ở phương Bắc, là giai vị nhập Niết Bàn, tức biểu thị trong Niết Bàn, muôn vật hoàn toàn vắng lặng, giống như gió bão có công năng phá hoại muôn vật; Gió ở phương Bắc, tương ứng với địa vị cao tột của Niết Bàn; màu đen tương ứng với sự mầu nhiệm sâu kín của Niết Bàn. e) Hư không (không đại): Phối với Phật Đại Nhật ở Trung ương, là giai vị phương tiện cứu cánh; biểu thị đã viên thành 4 đức, hàm chứa tất cả công đức tự lợi lợi tha, giống như hư không dung nạp hết thảy muôn vật; trí pháp giới thể tính của đức Đại Nhật, cũng giống như hư không, rộng lớn vô biên, trùm khắp pháp giới; Hư không ở Trung ương, tương ứng với sự trùm khắp pháp giới; màu xanh tương ứng với sự dung nạp hết. 2. Kinh Tú diệu: Năm đại theo nghĩa của kinh Tú Diệu là nương vào Trung nhân phát tâm (phát tâm tu Nhân từ Trung ương): a) Đất (địa đại): Phối với Đại Nhật Như Lai ở Trung ương, là giai vị phát tâm. Đây là biểu thị tâm bồ đề vốn có, vững chắc không lay động, là thể tính bản nguyên của các pháp, tính ấy giống như mặt đất; cũng như trí pháp giới thể tính là nguồn gốc của các pháp; Đất màu vàng, tương ứng với tính bất biến của tâm bồ đề. b) Hư không (không đại): Phối hợp với Phật A Súc ở phương Đông, là giai vị tu hành; tu muôn hạnh đều đầy đủ không thiếu, giống như hư không hàm chứa muôn vật, cũng như trí đại viên kính chiếu soi hết thảy. Hư không ở phương Đông là chỗ bắt đầu của muôn vật, vì thế nên tương ứng với chỗ bắt đầu của muôn hạnh; màu xanh hàm chứa cả 5 màu, cho nên tương ứng với sự hàm chứa muôn hạnh. c) Gió (phong đại): Phối với Phật Di Đà ở phương Tây, là quả vị Niết Bàn. A Di Đà, Hán dịch là Vô lượng quang, biểu thị cho đức của Niết Bàn. Trí diệu quan sát và công dụng thuyết pháp đoạn nghi sinh tín của trí này tương ứng với 2 công năng phá hoại và sinh thành của gió. Đối lại với phương Đông là chỗ bắt đầu của muôn vật thì phương Tây là chỗ chung cuộc của muôn vật, tức là quả Niết Bàn. Màu trắng tương ứng với Vô lượng quang. d) Lửa (hỏa đại): Phối hợp với Phật Bảo Sinh ở phương Nam, là giai vị thành tựu bồ đề, vì giai vị này thành tựu muôn hạnh, làm nở hoa bồ đề, giống như tính nóng của lửa làm cho muôn vật thành thục, cho nên phối với phương Nam là màu đỏ. e) Nước (thủy đại): Phối hợp với Phật Bất không Thành Tựu ở phương Bắc, là giai vị phương tiện cứu cánh; ở giai vị này, dùng phương tiện lợi tha để thành tựu diệu nghiệp hóa tha, có năng lực tùy thuận căn cơ để đoạn trừ mê vọng cho chúng sinh, giống như nước có công năng rửa sạch bụi nhơ, có hình vuông hay tròn đều tùy theo vật chứa. Theo tục Ấn Độ, phương Bắc là hướng tốt, cho nên tương ứng với giai vị cứu cánh; màu đen là màu chí cực, tương ứng với chỗ chí cực của giai vị cứu cánh. [X. phẩm Tất địa xuất hiện trong kinh Đại Nhật Q.3; phẩm A xà lê chân thực trí trong kinh Đại Nhật Q.5]. (xt. Trung Nhân Phát Tâm, Đông Nhân Phát Tâm, A Tự Ngũ Chuyển).
mật giáo pháp khí
(密教法器) Những pháp khí của Mật giáo sử dụng trong các khóa tu trì hoặc trong pháp hội. Một trong những nét đặc sắc của Phật giáo Tây Tạng là chú trọng về nghi quĩ phiền tạp và pháp khí đặc định. Về nguồn gốc pháp khí, chủ yếu là Phật giáo Ấn Độ vào thời kì sau cùng đã hấp thụ các pháp khí của Ấn Độ giáo rồi truyền vào Tây Tạng, đồng thời khi đến Tây Tạng lại du nhập thêm một số pháp khí của Bổng giáo truyền thống, cho nên danh mục rất nhiều. Nay căn cứ vào những trường hợp sử dụng khác nhau, có thể chia ra 6 loại: I. Pháp khí được sử dụng khi lễ kinh:1. Ca sa: Giống như miếng lụa vuông 1 lớp, quấn quanh mình, để trần vai bên phải, hình thức tuy khác nhưng về ý nghĩa thì cũng giống như loại áo của Trung quốc. 2. Quải châu: Xâu chuỗi gồm 108 hạt, có nhiều loại như hạt bồ đề, hạt kim cương, hạt sen, hạt thủy tinh, hạt chân châu, hạt san hô, hạt hổ phách, hạt mã não, hạt pha lê, hạt vàng xanh, hạt vàng trắng, hạt cây mộc hoạn, hạt làm bằng xương sọ người v.v... tùy theo mỗi pháp tu mà được sử dụng. 3. Cáp đạt: Tấm sa (lụa mỏng) hình chữ nhật có nhiều màu như: Đỏ lợt, vàng, lam, loại lớn khoảng hơn 3 mét, loại nhỏ khoảng 1,4 mét, hay nhỏ hơn nữa, dùng làm quà tặng, biếu cho khách, Yết kiến Lạt ma, hoặc trao đổi với bạn bè để tỏ lòng quí kính. Màu sắc, kích thước phải tùy theo địa vị, giai cấp khác nhau mà có qui chế nhất định, không được dùng lẫn lộn. II. Những pháp khí được sử dụng khi xưng tán. 1. Chuông: Có đủ các kiểu lớn nhỏ. 2. Đạc: Cái linh lớn có con lắc bằng kim loại hoặc bằng gỗ. 3. Trống: Có các loại như: Trống lớn, trống cơm, trống yết (loại nhạc khí của giống Yết, 1 chi của rợ Hung nô đến ở đất Yết thất, nên gọi là Yết), trống đồng v.v... 4. Linh: Chuông nhỏ cầm tay. 5. Não bạt: Chập chọe, loại lớn gọi là Não, loại nhỏ gọi là Bạt. 6. Tất lật: Kèn loa hình dáng giống cái ống sáo, phát ra âm thanh trầm buồn, vì thế cũng gọi là Bi lật. 7. Cốt địch: Ống sáo làm bằng xương người. 8. Lục huyền cầm: Đàn 6 dây. III. Pháp khí sử dụng khi cúng dường: 1. Lư hương. 2. Đế đèn. 3. Chén đựng nước. 4. Đồ dâng cúng: Bình, mâm, bát, li, chén v.v... 5. Lá cờ: Hình dáng giống như cờ tiết, làm bằng lông vũ, đá quí, vàng, lụa v.v... 6. Lá phan: Như loại cờ gió mà những người đi thuyền thường sử dụng. Có nhiều cỡ: lớn, nhỏ, dài, ngắn. 7. Lá phướn: Lớn và dài hơn lá phan nhiều, trên đầu có tàn (cái), thường được treo trong chính điện. 8. Anh lạc: Vòng trang sức được xâu bằng những hạt ngọc quí. Đội ở trên đầu gọi là Anh, đeo ở trên mình gọi là Lạc. 9. Hoa man: Tràng hoa, dùng hoa kết thành vòng tròn hoặc dây dài. 10. Hoa lung: Lẵng đựng hoa, được làm bằng các chất liệu như: Vàng, bạc, tre, gỗ v.v... IV. Pháp khí sử dụng khi trì nghiệm. 1. Mạn đồ la, cũng gọi Đạo tràng, Đàn thành, Luân đàn, Luân viên cụ túc: Đàn được sử dụng khi tu trì mật pháp, có nhiều hình thức như vuông, tròn, 3 góc v.v... 2. Niệm châu, cũng gọi Sổ châu, Phật châu: Chuỗi tràng hạt nhỏ hơn Quải châu, số hạt không cố định, có thể từ 14 đến 1.080 hạt. 3. Kim cương chử: Chày kim cương, có 3 loại: 1 chĩa, 3 chĩa, 5 chĩa, làm bằng kim loại quí hoặc gỗ thơm. 4. Linh chử: Cũng chia làm 3 loại: 1 chĩa, 3 chĩa, 5 chĩa. 5. Luân, cũng gọi Giả cát la: Bánh xe. 6. Cổ: Trống, có 2 thứ trống lớn và trống nhỏ.7. Dẫn khánh: Cái kiểng, kiểu giống kiểng của Trung Quốc. 8. Mộc ngư: Mõ bằng gỗ có hình con cá, cũng giống kiểu mõ của Trung Quốc. 9. Quán đính hồ: Bình đựng nước được dùng khi tu pháp truyền Quán đính cho đệ tử. V. Pháp khí được sử dụng khi tu pháp Hộ ma. 1. Mạn đồ la. 2. Lư: Lò đốt, chia làm 3 loại: Vuông, tròn, tam giác, được dùng tùy theo pháp tu. 3. Hộ thân Phật: Tượng Phật bằng đồng đặt trong 1 cái hộp bằng bạc, hoặc đội trên đầu hoặc đeo ở ngực. 4. Bí mật phù ấn: Lá bùa và ấn, chia làm 3 hình thức: Vuông, tròn, tam giác, gồm có các loại: Hộ thân, hộ nhà, bảo hộ đất nước, đuổi ma quỉ, trừ tai họa, tăng phúc thọ v.v... VI. Pháp khí được dùng khi khuyên dạy.1. Ma ni luân: Bánh xe có hình dáng như cái thùng gỗ, ở giữa có cái trục, có thể xoay vòng, trên khắc câu thần chú Lục tự Quan Âm. 2. Kì đảo đồng: Ống kì đảo, hình thức giống như Ma ni luân nhưng lớn hơn, được quay bằng sức gió, sức nước hoặc máy móc. 3. Kì đảo bích: Tấm ván mỏng trên có khắc câu chú 6 chữ, được treo trên vách. 4. Kì đảo chàng: Lá cờ trên có viết câu chú 6 chữ, buộc vào cây sào cắm trên nóc nhà.5. Kì đảo thạch: Tấm đá trên có khắc câu chú 6 chữ, đặt ở chân núi hoặc bên cạnh đường.
mật giáo sám pháp
(密教懺法) Pháp lễ Phật sám hối được thực hành trong Mật giáo. Thai tạng giới tu Cửu phương tiện sám hối và Kim cương giới tu Ngũ hối sám hối. I. Cửu Phương Tiện. Chín pháp nương vào sức phương tiện như kết ấn, tụng chú để diệt trừ tội lỗi, thành tựu chân thực. Có thuyết cho rằng 9 pháp này là những phương tiện được thực hành trước khi tu pháp. Cửu phương tiện là: 1. Tác lễ phương tiện: Cung kính lễ bái qui mệnh Tam Bảo trong 10 phương và 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai. 2.Xuất tội phương tiện: Sám hối các tội lỗi đã phạm từ vô thủy đến nay. 3. Qui y phương tiện: Qui y Tam Bảo. 4. Thí thân phương tiện: Hành giả dâng thân mình cúng dường các vị tôn. 5. Phát bồ đề tâm phương tiện: Phát tâm bồ đề và sinh khởi tâm đại bi làm lợi ích chúng sinh. 6. Tùy hỉ phương tiện: Thấy chư Phật, Bồ Tát, Nhị thừa và chúng sinh tu phúc trí thiện căn, hành giả đều tùy hỉ. 7. Khuyến thỉnh phương tiện: Tức thỉnh chư Phật, Bồ Tát trụ lâu nơi đời và thường chuyển pháp luân. 8. Phụng thỉnh pháp thân phương tiện: Khiến chúng sinh an trụ nơi Pháp thân. 9. Hồi hướng phương tiện: Hành giả đem phúc đức thiện căn mà mình đã tu được, hồi hướng cho tất cả chúng sinh. Cửu phương tiện biểu thị ý nghĩa hành giả chuyển 9 thức mà hiển bày pháp nội chứng của 9 vị tôn ở Trung đài Bát Diệp, hoặc biểu thị ý nghĩa Tam tam bình đẳng. Có thuyết cho rằng Thai tạng giới là Nhân mạn đồ la, cho nên căn cứ vào 9 thức của Nhân vị ( ) mà lập 9 phương tiện; hoặc cho rằng Thai tạng giới được kiến lập từ Tam bộ, cho nên dựa theo ý nghĩa Tam tam bình đẳng mà lập Cửu phương tiện. II. Ngũ Hối. Nêu lên những hạnh nguyện chung của tất cả Phật, Bồ Tát để biểu thị ý thú lễ bái sám hối. Mà hạnh nguyện của chư Phật. Bồ tát thì không ngoài 10 Đại nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, Ngũ hối và 10 đại nguyện tuy khác nhau nhưng pháp thể thì chỉ là một, vì thế Ngũ hối cũng được gọi là Phổ Hiền hạnh nguyện. Ngũ hối là: 1. Chí tâm qui mệnh: Với 3 nghiệp thanh tịnh, thành tâm lễ kính qui mệnh Tam Bảo. 2. Chí tâm sám hối: Dốc lòng sám hối những tội nghiệp đã tạo ra ở đời quá khứ. 3. Chí tâm tùy hỉ: Thấy chư Phật, Bồ Tát, Nhị thừa và tất cả hữu tình tu tập phúc đức thiện căn và trí tuệ, hành giả đều dốc lòng tùy hỉ. 4. Chí tâm khuyến thỉnh: Một lòng khuyến thỉnh chư Phật hiện tại trong 10 phương, thường trụ ở thế gian, không bỏ nguyện đại bi, mãi mãi chuyển pháp luân làm lợi ích cho chúng sinh. 5. Chí tâm hồi hướng: Đem tất cả những công đức đã thành tựu được như: Công đức không mất 4 pháp nêu trên, không thoái chuyển tâm bồ đề, thường tu học theo chư Phật, thường sinh vào các chủng tộc cao quí, được 4 biện tài, 6 thần thông, 10 tự tại và các cảnh giới thiền định v.v... dốc lòng hồi hướng đến Vô lượng bồ đề. Có thuyết cho rằng Kim cương giới là Quả mạn đồ la, cho nên biểu thị 5 trí của Quả vị ( ); hoặc cho rằng vì Kim cương giới được cấu thành từ 5 bộ cho nên lập Ngũ hối. [X. kinh Đại Nhật Q.7; kinh Yếu Lược Niệm Tụng; kinh Nhất Thiết Như Lai Chân Thực Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo Vương Q.thượng, hạ; Liên hoa bộ tâm nghi quĩ, Như ý luân nghi quĩ].
mật giáo tam tam muội môn
(密教三三昧門) Ba môn giải thoát của Mật giáo, cũng tức là pháp quán tưởng mà hành giả thực hiện vào các giai đoạn đầu, giữa và cuối pháp tu. Tam tam muội là Tam ma địa của chữ Hồng, chữ Hồng này có 3 đức giải thoát. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 9, thì chân ngôn lấy chữ Hồng (hùô) cuối cùng làm thể, đầy đủ 3 môn giải thoát bí mật. Nghĩa là trên chữ có cái chấm Không (.), tức là nghĩa Đại không, là Không giải thoát môn; bản thể là chữ (ha), vì lìa nhân duyên nên là Vô tướng giải thoát môn; dưới có chữ (ù) với chấm tam muội, vì vốn chẳng sinh nên là Vô tác giải thoát. Ba môn này, tất cả các chướng ngại đều không thể xâm nhập được. Cứ theo Bí Tạng Kí Sao quyển 4, ở giai đoạn đầu của pháp tu, thực hành pháp quán Tam muội này; cuối cùng, khi tu pháp đã xong cũng lại thực hành pháp quán này. Cái chấm Không biểu thị cho tâm thái xa lìa Hữu và Không, quán các pháp bình đẳng, không nguyện dứt sống chết, mong chứng được Niết Bàn, cho nên đạt đến Không giải thoát môn. Bản thể chữ Ha biểu thị vô tướng, tức là nghĩa Không cũng Không, đoạn trừ chấp trước về Không. Chữ Ù nghĩa là vốn không sinh, cho nên chẳng cầu mong điều gì, tức là Vô tác giải thoát môn. Đối với việc kiến lập Tam tam muội, Hiển giáo thường nói theo việc quán xét ngăn dứt tình chấp, còn Mật giáo thì nói theo nghĩa sâu kín về mặt biểu đức; hoặc cho rằng Không, Vô tướng là ngăn dứt tình chấp, Vô nguyện là biểu đức. Nếu nói theo nghĩa biểu đức, thì Không nghĩa là tất cả các pháp dung thông vô ngại; Vô tướng nghĩa là muôn đức tròn đầy vô tận; Vô nguyện nghĩa là hành giả xưa nay vốn có đầy đủ công đức của Mạn đồ la Kim cương bộ và Thai tạng bộ, cho nên không còn cầu mong điều gì. [X. Bí tạng kí Q.đầu]. (xt. Tam Tam Muội).
mật giáo thuần bộ
Phái mà ta mệnh danh là Mật Giáo Thuần Bộ hay Thuần Mật khởi đầu với ba vị pháp sư Ấn Độ đến Trung Quốc vào thời nhà Đường (713-765)—What we can designate as 'Pure Mystic' begins with some able Indian teachers who arrived in China during the T'ang period (713-765). 1) Vị đầu tiên là Thiện Vô Úy (Subhakarasimha 637-735): See Thiện Vô Úy. 2) Vị thứ hai là Kim Cương Trí (Vajrabodhi 663-723): See Kim Cang Trí. 3) Vị thứ ba là Bất Không (Amoghavajra 705-774): See Bất Không. 4) Vị thứ tư là Nhất Hành (I-Hsing 683-727): See Nhất Hành.
mật giáo tạp bộ
Phái Mật Giáo Tạp Bộ có kinh điển được dịch rất sớm vào thế kỷ thứ 4 sau Tây Lịch. Cát Hữu (Srimitra) người xứ Qui-Tư, một bộ lạc da trắng, đã dịch một vài bản kinh sang Hán văn. Đó là những bùa chú thường gồm có một vài mật chú và những bài tán thần hay thánh ở thượng giới, nhưng thật ra chúng không thể đuợc xem như là biểu dương cho những ước vọng cao—What we designate as “Miscellaneous Mystic” of which mantras were translated early in the fourth century A.D. Srimitra of Kucha, a Central Asian state inhabited by a white race, translated some texts into Chinese. These were charms, cures, and other sorts of sorcery, often containing some matra prayers and praises of gods or saints of higher grades, but generally speaking they could not be regarded as expressing a high aspiration.
mật giáo tứ ba la di
(密教四波羅夷) Bốn giới nặng mà hành giả Mật giáo phải giữ gìn. Thông thường, trong giới Tỉ khưu có 4 tội Ba la di: Giết hại, trộm cắp, dâm dục và nói dối, nhưng Mật giáo thì căn cứ vào Phật tính tam muội da giới mà lập riêng 4 trọng cấm là: 1. Bất xả chính pháp giới: Tất cả Thánh giáo của Như Lai đều phải tu tập, không được xả bỏ. 2. Bất xả li bồ đề tâm giới: Tâm bồ đề là tiêu biểu cho muôn hạnh Bồ Tát, nếu xả bỏ thì muôn hạnh không có chỗ nương, cho nên không được xa lìa tâm bồ đề. 3. Bất ưng khan lận pháp giới: Không được bỏn sẻn pháp, vì chính pháp là di sản của bậc Đại thánh truyền lại, nếu Bồ Tát bỏn sẻn không bố thí pháp thì cũng đồng với tội ăn trộm tài vật của Tam Bảo. 4. Nhiêu ích hành giới: Phải làm tất cả những việc lợi ích, nhiếp hóa chúng sinh làm nhân duyên vào đạo. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 17 (Đại 39, 757 trung), nói: Không bỏ Tam Bảo, cũng không xa lìa tâm bồ đề, đó là 4 trọng cấm chân thực của Bồ Tát. Vì không bỏ Tam Bảo là 3, cộng với không xa lìa tâm bồ đề là 4 Ba la di. Nếu phạm 4 giới này thì mất mệnh căn của Chân ngôn thừa, hệt như mất đầu. Vì đã dứt mất cội gốc của nghiệp thiện thì tất cả công đức không nảy sinh được, nên mọi sự tu hành đều không có kết quả. Khi cử hành lễ quán đính, ở đàn giới tam muội da, vị A xà lê truyền trao 4 giới trọng này. Bài kệ nói về 4 giới trọng này trong phẩm Cụ duyên kinh Đại Nhật gọi là Tam muội da kệ; cũng kinh Đại Nhật, phẩm Học xứ thì gọi là Tứ chủng căn bản tội. Còn Đại Nhật kinh sớ quyển 9 thì gọi là Tứ ba la di. (xt. Tứ Chủng Trọng Cấm).
mật giáo tứ môn
The four doors in esoteric sect—See Tứ Môn Mật Giáo.
mật giáo tứ vô lượng quán
(密教四無量觀) Cũng gọi Mật giáo tứ vô lượng tâm quán. Chỉ cho pháp quán tưởng 4 tâm từ, bi, hỉ, xả của đức Phật mà hành giả Mật giáo tu tập.Theo kinh Thiên thủ thiên nhãn nghi quĩ quyển thượng chép: 1. Từ vô lượng quán: Tam ma địa của Bồ Tát Phổ Hiền ở phương đông. Hành giả ở trong định Từ vô lượng, với tâm thanh tịnh, ân cần quán xét tất cả hữu tình khắp trong tứ sinh lục đạo đều đầy đủ 6 đại, 4 mạn của Như Lai và 3 kim cương thân, khẩu, ý. Rồi khởi niệm đại từ tu công đức của Tam mật, khiến hết thảy hữu tình cũng được giống hệt như bồ tát Phổ Hiền. Quán như thế xong liền tụng chân ngôn Đại từ tam ma địa: Án (oô,qui mệnh) ma ha muội đát la dạ (mahàmàitraya,đại từ) sa phả la (sphara, phổ biến), nghĩa là làm cho tâm đại từ trùm khắp tất cả. 2. Bi vô lượng quán: Tam ma địa của bồ Tát Hư Không Tạng ở phương nam. Hành giả ở trong định Bi vô lượng, với tâm thương xót, quán xét tất cả hữu tình khắp trong tứ sinh lục đạo, đang chìm đắm trong biển khổ sinh tử, chẳng ngộ tự tâm, vọng khởi phân biệt, sinh ra các thứ phiền não, do đó không đạt được chân như bình đẳng, có hằng sa công đức vượt qua hư không, vì thế nguyện làm cho hết thảy hữu tình cũng được giống hệt như Bồ Tát Hư Không Tạng. Quán như thế rồi tụng chân ngôn Đại bi tam ma địa: Án (oô, qui mệnh) ma ha ca lỗ noa dạ (mahà-kàroịaya, đại bi) sa phả la (sphara, phổ biến), nghĩa là làm cho tâm đại bi trùm khắp tất cả. 3. Hỉ vô lượng quán: Tam ma địa của bồ Tát Quán Tự Tại ở phương tây. Hành giả ở trong định Đại hỉ vô lượng, với tâm thanh tịnh, quán xét tất cả chúng sinh khắp trong tứ sinh lục đạo, xưa nay vốn thanh tịnh, giống như hoa sen không nhuốm bùn nhơ, tự tính trong sạch, nên nguyện dùng sức công đức tu Tam mật của mình làm cho hết thảy hữu tình được giống hệt bồ tát Quán Tự Tại. Quán như thế rồi tụng chân ngôn Đại hỉ tam ma địa: Án (oô,qui mệnh) truật đà bát la mô na (zuddha pramàda, hỉ vô lượng) sa phả la (sphara, phổ biến), nghĩa là làm cho tâm Đại hỉ trùm khắp tất cả. 4. Xả vô lượng quán: Tam ma địa của Bồ Tát Hư Không khố ở phương bắc. Hành giả ở trong định Xả vô lượng, với tâm bình đẳng, quán xét hết thảy hữu tình khắp trong tứ sinh lục đạo, đều lìa ngã, ngã sở, đối với pháp bình đẳng tâm vốn chẳng sinh, nên nguyện dùng công đức tu Tam mật của mình khiến cho hết thảy chúng sinh đều được giống như Bồ Tát Hư Không khố. Quán như thế rồi tụng chân ngôn Xả vô lượng tam ma địa: Án (oô, qui mệnh) ma hộ bế khất sái (mahopekwa, xả li) sa phả la (sphara, phổ biến), nghĩa là làm cho tâm Xả vô lượng bao trùm khắp tất cả. [X. Bí tạng kí Q.đầu].
Mật giáo 密教
[ja] ミツキョウ Mikkyō ||| Mikkyō; the commonly used Japanese term for Esoteric Buddhism. See => j: Mikkyō Thường dùng ở Nhật Bản dể chỉ cho Mật tông Phật giáo. Xem Mật tông 密宗.
mật hiệu
The esoteric name of Vairocana; also any "true words" or esoteric spells.
; Mật danh của Đức Tỳ Lô Giá Na—The esoteric name of Vairocana; also any true word or esoteric spell.
; (密號) I. Mật Hiệu. Danh từ ẩn chứa chân nghĩa sâu xa không thể qua hình dạng văn tự mà có thể hiểu thấu được. Như ví dụ núi có nghĩa là tâm bồ đề thanh tịnh không động chuyển, hoặc ví dụ đất có nghĩa chọc thủng vô minh trụ địa và trừ bỏ sự nhơ nhớp của tâm vọng tưởng. Ý nghĩa sâu xa trong 2 thí dụ này, những người tầm thường không thể theo mặt chữ để suy lường mà biết được, cho nên gọi là Mật hiệu. Lại như câu nói: Hãy giết hết hữu tình trong 3 cõi. Theo ý nghĩa sâu xa ẩn chứa trong câu nói ấy là phải diệt trừ hết hoặc nghiệp làm nhân cho sinh tử trong 3 cõi. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 4 (Đại 39, 620 hạ) nói: Pháp môn mạn đồ la này cũng lại như thế, Như Lai dùng các nhân duyên sự tướng của thế gian ví dụ cho pháp giới chẳng thể nghĩ bàn để dẫn dắt các căn cơ. Nếu nhận ra điều này thì có thể tin hiểu được Phổ môn, dũng mãnh tiến tu, được Tam mật gia hộ. Khi nguồn tâm đã sáng, mới biết tất cả danh ngôn đều là Mật hiệu của Như Lai, những người thường tình không thể biết được. Như nói trì tụng 3 tháng, cho đến phương tiện 3 chuyển trong tính thanh tịnh viên minh, há có thể hiểu là 9 tuần thôi sao? Lại như Phật Bảo chàng ở phương đông, là nghĩa mới phát tâm bồ đề, há chỉ hiểu là 4 phương được sao? II. Mật Hiệu. Cũng gọi Kim cương danh, Quán đính hội. Danh hiệu Kim cương mà Phật và Bồ Tát thuộc Mật bộ đều có. Như Đại Nhật Như Lai mật hiệu là Biến chiếu kim cưong, Minh vương Ô xu sa ma mật hiệu là Hỏa đầu kim cương, đức Phật A Di Đà mật hiệu Thanh Tịnh Kim Cương. Ngoài ra, khi hành giả Mật giáo nhận lãnh pháp Quán đính cũng được gọi bằng mật hiệu này. III. Mật Hiệu. Tên khác của chân ngôn Mật giáo. [X. Đại Nhật Kinh Sớ Q.1]. (xt. Chân Ngôn).
Mật hiệu 密號
[ja] ミツゴウ mitsugō ||| (1) An esoteric name or sign. A mantra or dhāraṇī; see 密言. (2) A special name for a buddha or bodhisattva as designated in the Esoteric sect. => 1. Tên gọi hay dấu hiệu ẩn mật. Một mantra hay đà-la-ni (s: dhāraṇī); xem Mật ngôn. 2. Danh hiệu của một Đức Phật hay Bồ-tát được mệnh danh trong Mật tông.
mật hoằng tổ ấn
See Tổ Ấn Mật Hoằng.
mật hành
Esoteric practice or discipline, the origin of which is attributed to Rahula.
; (密行) Hộ trì giới hạnh một cách tinh vi, tức là có thể giữ gìn đầy đủ 3 nghìn uy nghi và 8 vạn tế hạnh không thiếu sót. Ngài La hầu la đã nhờ giữ gìn giới luật một cách kiên cố mà trở thành người giữ mật hạnh bậc nhất trong hàng đệ tử của đức Phật. Nhưng theo tông Thiên Thai thì mật hạnh của Đại thừa và Tiểu thừa có khác nhau. Giữ gìn giới luật một cách tinh vi là mật hạnh Tiểu thừa, theo kinh Pháp Hoa, ngài La Hầu La vốn là 1 vị Bồ Tát pháp thân, an trụ trong diệu giới viên đốn, nhưng nay thị hiện thân Thanh văn, giữ gìn giới thô của Tiểu thừa mà ẩn kín giới viên đốn vi diệu của bản địa, cho nên gọi là Mật hạnh. [X. phẩm Thụ Học Vô Học Nhân Kí Trong Kinh Pháp Hoa Q.4; Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Tiêm Q.8].
mật hành nhẫn thiền sư ngữ lục
(密行忍禪師語錄) Gọi đủ: Hành châu khai phong Mật hạnh nhẫn thiền sư ngữ lục. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Mật hạnh Tịch nhẫn soạn vào đời Minh, ngài Minh Quảng biên tập, ấn hành vào khoảng năm Khang Hi (1662-1722) đời Thanh. Nội dung: Quyển 1 là Thướng đường ngữ. Quyển 2 gồm các mục Pháp ngữ, cơ duyên có liên quan đến Thướng đường ngữ, Chức sự bảng, An thiền bảng. Quyển 3 thu chép các bài tụng cổ, thi kệ, tán...
mật hạnh
Esoteric practice, or discipline.
; Phương cách thực hành bí mật—Inconspicuous practice.
Mật hạnh đệ nhất 密行第一
[ja]ミツギョウダイイチ mitsugyōdaiichi ||| Most eminent in terms of subtle observance of the precepts. A name given to Śākyamuni's son and leading disciple, Rāhula 羅睺羅. => Người nổi tiếng nhất trong việc trì giữ giới hạnh vi tế. Danh hiệu dành cho La-hầu-la, một trong các vị đệ tử thượng thủ và là con trai của Đức Phật.
mật hội
Secret society.
mật hữu
Intimate.
Mật hữu 密有
[ja] ミツウ mitsu-u ||| "Mysterious existence;" true existence, Buddha-existence. => Chân tính, Phật tính.
mật khẩu
Password.
mật kinh
Mikkyō (J), Tantra (S).
; The foundation texts of the esoteric school, i.e. the Đại nhật kinh and Kim cương đỉnh kinh and various sùtras.
; Kinh điển Mật tông—The foundation texts of the esoteric school Đại Nhật kinh.
mật lâm sơn bộ
Saṇṇagarikah (S), Sandagirika (S), Chandāgārika (P), Channāgarika (P)Tên một tông phái Xem Sa na lị ca Một bộ trong Thượng toạ bộ.
; Sannagarika (S). A Buddhist sect. Also Sa na lị ca.
; See Lục Thành Bộ.
; (密林山部) Phạm: Waịđagàrikà. Hán âm: Sa na lợi ca, Sơn đà già lê kha. Cũng gọi Mật lâm trụ bộ, Mật sơn trụ bộ, Nhận sơn bộ, Lục thành bộ. Một chi phái chia ra từ Độc tử bộ thuộc Thượng tọa bộ, được hình thành vào khoảng 300 năm sau đức Phật nhập diệt, là 1 trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Dị bộ tông luân luận thuật kí (Vạn tục 83, 220 thượng), nói: Mật lâm sơn là vùng rừng núi, cây cối um tùm rậm rạp, vì chủ bộ của phái này ở tại đây nên lấy tên là Mật lâm sơn bộ. Kinh Văn Thù vấn thì gọi bộ này là Nhận sơn bộ. Giáo nghĩa của bộ phái này đại khái cũng giống với giáo nghĩa của Độc tử bộ, nhưng nguyên nhân dẫn đến việc phân phái là vi bất đồng quan điểm về bài tụng: Dĩ giải thoát cánh đọa. Đọa do tham phục hoàn. Hoạch an hỉ sở lạc. Tùy lạc hành chí lạc. Phái này chủ trương có 6 loại Vô học: Thoái pháp, Tư pháp, Hộ pháp, An trụ, Kham đạt và Bất động. Và cho rằng Dĩ giải thoát (đã giải thoát) là Tư pháp, cánh đọa (lại bị đọa) là Thoái pháp; Đọa do tham (đọa là tại vì tham) ở câu thứ 2 là Hộ pháp, phục hoàn (trở lại) là An trụ; câu thứ 3 là Kham đạt và câu thứ 4 là Bất động. [X. kinh Xá Lợi Phất Vấn; Bộ Chấp Dị Luận; Thập Bát Bộ Luận]. (xt. Bộ Phái Phật Giáo, Độc Tử Bộ).
mật lập
(密立) Đối lại: Hiển lập. Nghi thức pháp hội được tổ chức y theo pháp thức thuần túy của Mật giáo. Hiển lập nghĩa là đem nghi thức của Hiển giáo mà dùng cho Mật giáo. Còn pháp hội đặc hữu của Mật giáo thì gọi là Mật lập.
mật lật già tất tha bát na
Mrga-sthapana, or Mrgadava (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Mật Lật Già Tất Tha Bát Na, là khu vườn Lộc Dã nổi tiếng, nằm về phía đông bắc thành Ba La Nại, nơi Đức Phật thích về an cư kiết hạ. Bây giờ là Sarnath gần Benares—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Mrga-sthapana, a famous park north-east of Varanasi, a favourite resort of Sakyamuni. The modern Sarnath, near Benares.
mật lặc nhật ba
(密勒日巴) Tạng: Mi-la-ras-pa. Cao tăng Tây Tạng, người ở Kya-ía-tsa gần Népal, là đệ tử chính truyền của ngài Mã Nhĩ Ba (Tạng:Mar pa), tổ khai sáng phái Ca Nhĩ Cư. Sư mồ côi cha từ năm 7 tuổi, vì hận chú và cô chiếm đoạt gia sản nên sư học phép chú thuật giết người và làm mưa đá, do đó đã gây nên nhiều nghiệp ác. Về sau, sinh tâm hối hận, sư theo chính pháp tu tập thiện nghiệp. Để giúp sư tiêu trừ tội chướng, ngài Mã Nhĩ Ba dạy sư tu tập nhiều pháp tu khổ hạnh của Đại Tiểu thừa; sau khi diệt trừ ác nghiệp, sư được thụ quán đính và khẩu quyết tu trì. Sư nổi tiếng về khổ hạnh và giỏi ca vịnh. Vì sư thường đi nhiều nơi giáo hóa làm lợi ích chúng sinh nên được tôn xưng là Mật Lặc Tôn Giả. Giáo lí do sư truyền lại rất gần chủ nghĩa thần bí. Sư có rất nhiều đệ tử, trong đó có 25 người được đại thành tựu và người tập đại thành học thuyết của sư là Đạt bảo cáp giải (Tạng: Dwag-po lha-rje, 1077-1152). Sư có các tác phẩm: Bồ đề đạo thứ đệ tùy phá tông trang nghiêm kinh, Thập vạn ca tập.
mật lặc đại sư toàn tập
(密勒大師全集) Gọi đủ: Mật Lặc Nhật Ba Đại Sư Toàn Tập. Tác phẩm, do ngài Mật Lặc Nhật Ba, người Tây Tạng soạn, cư sĩ Trương Trừng cơ dịch vào thời Dân Quốc, Trung Quốc, nhà xuất bản Tuệ Cự ấn hành. Nội dung sách này có 2 phần: Mật Lặc Nhật Ba Tôn Giả Truyện và Mật Lặc Đại Sư Thập Vạn Ca Tập. Về phần trước, họ Trương chỉ dựa vào nguyên bản Tây Tạng mà biên dịch, có rất nhiều chỗ lược bớt, còn phần sau thì tuyệt đại bộ phận được dịch từng câu theo nguyên văn. Ngài Mật Lặc Nhật Ba là người đại biểu cho nền Phật pháp thực tiễn, đồng thời cũng là 1 nhà thơ lớn của Phật giáo Tây Tạng. Sách này tuy chưa thu tập được toàn bộ tư liệu hoằng pháp của ngài Mật Lặc, nhưng trên đại thể, có thể được xem là tác phẩm chủ yếu đại biểu cho tư tưởng và sự hành trì Phật pháp của ngài.
mật lợi già la
Mrga (skt)—Con nai—A deer.
mật lợi xa
Mleccha (skt)—Những xứ không Phật giáo và hãy còn man rợ—Non-Buddhist nations, the barbarians.
mật nghiêm
Xem Ngũ thần thông.
mật nghiêm hoa tạng
(密嚴華藏) Từ chỉ chung cho cõi nước Mật Nghiêm được nói trong kinh Mật Nghiêm và thế giới Hoa tạng được nói trong kinh Hoa Nghiêm; tức chỉ cho các cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh. Kinh Du Kì quyển thượng (Đại 18, 254 thượng) nói: Chỉ có cõi Phật này là Mật nghiêm hoa tạng được cấu tạo thành bởi tự tính kim cương thanh tịnh. (xt. Mật Nghiêm Tịnh Độ).
mật nghiêm hải hội
(密嚴海會) Tịnh độ của chư Phật được trang nghiêm bằng tam mật thân, khẩu, ý. Hải hội, ví dụ thính chúng trong pháp hội nhiều như nước biển. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 3 (Đại 39, 608 trung) nói: Nhờ phương tiện tam mật mà tự tâm lắng trong, cho nên Mật nghiêm hải hội của chư Phật thảy đều hiển hiện trong đó.
mật nghiêm kinh
(密嚴經) Gọi đủ: Đại thừa Mật Nghiêm kinh (Phạm:Ghana-vyùha-sùtra). Kinh, 3 quyển, do ngài Nhật Chiếu (Địa bà ha la) dịch vào đời Đường, được thu vào Đại Chính Tạng tập 16. Nội dung kinh nhằm nói rõ tất cả pháp đều do tâm thức biến hiện. Toàn kinh chia làm 8 phẩm: Mật Nghiêm hội, Diệu thân sinh, Thai sinh, Hiển thị tự tác, Phân biệt quán hạnh, A lại da kiến lập, Tự thức cảnh giới, A lại da vi mật. Trước hết, nói về việc đức Phật ra khỏi 3 cõi, trụ ở nước Mật Nghiêm (Tịnh độ của Đại Nhật Như Lai), theo lời thỉnh cầu của 2 vị Bồ Tát là Như thực kiến và Kim cương tạng, đức Phật tuyên nói pháp yếu, chỉ bày lí Như Lai tạng bất sinh bất diệt; kế đến, Bồ Tát Kim Cương Tạng nói cho các Bồ Tát trong pháp hội nghe về công năng của thức A lại da biến hiện ra các pháp nhiễm tịnh, làm chỗ nương cho các pháp, lại vì thức này duyên theo mê ngộ mà có phàm thánh khác nhau. Kinh này cũng thuyết minh về các nghĩa của 5 pháp, 8 thức, 3 tính, nhị vô ngã, 2 phần nhiễm và tịnh của thức A lại da, lại dùng biển để ví dụ cho thức A lại da, dùng gió ví dụ cảnh giới... cho đến thuyết 8 thức, 9 thức v.v...đại khái đều tương đồng với kinh Lăng Già đã nói. Kinh này giống với kinh Hậu Nghiêm, nhưng kinh này nói về thức thứ 9, còn kinh Hậu Nghiêm thì nói về Ngũ tính các biệt. Ngoài ra, kinh này còn có bản dịch của ngài Bất Không, dịch vào đời Đường và cũng thu vào Đại Chính Tạng tập 16, nhưng ít được lưu hành. Còn bản dịch Tây Tạng gồm 4 quyển 9 phẩm, nội dung có hơi khác với bản Hán. Về chú sớ của kinh này thì có bộ Mật Nghiêm kinh sớ của ngài Pháp Tạng. [X. Đại Chu San Định Chúng Kinh mục lục Q.1; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.9; Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục Q.3,4].
mật nghiêm kinh sớ
(密嚴經疏) Cũng gọi Đại thừa Mật Nghiêm Kinh Sớ. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Pháp Tạng (643-712) soạn, được thu vào Đại Chính Tạng tập 34. Hiện quyển 1 đã bị thất lạc. Đây là sách chú thích bộ kinh Đại thừa mật Nghiêm do ngài Địa Bà Ha La dịch. Đối với các phẩm trong kinh Mật Nghiêm, tác giả đã phân chia tỉ mỉ từng khoa và giải thích rõ ràng. Nhưng vì quyển đầu đã bị thất lạc, cho nên khó hiểu rõ được chỉ thú của bộ sớ này và cũng khó đoán định được giá trị chính xác của tác phẩm.
mật nghiêm quốc
The Pure Land of Vairocana.
; 1) Cõi Tịnh Độ của Đức Tỳ Lô Giá Na: Pure Land of Vairocana. 2) Hoa tạng hay giáo thuyết trong kinh Hoa Nghiêm: The doctrine in the Flower Adornment Sutra.
Mật nghiêm quốc 密嚴國
[ja] ミツゴンコク mitsugonkoku ||| The 'land of mystic glorification;' The 'mysteriously adorned land.' Also written 密嚴淨土. The Pure Land of Vairocana Buddha which is described in the 大乘密嚴經. => Cõi Tịnh độ của Đức Phật Tỳ-lô-giá-na, được diễn tả trong kinh Đại thừa Mật nghiêm quốc大乘密嚴經. .
mật nghiêm tịnh độ
(密嚴淨土) Cũng gọi Mật Nghiêm quốc, Mật Nghiêm Phật độ, Mật Nghiêm Phật quốc, Mật Nghiêm thế giới, Mật Nghiêm đạo tràng. Chỉ cho cõi Tịnh Độ Chân như pháp tính tự thụ dụng được trang nghiêm bằng tam mật thân, khẩu, ý, là nơi y chỉ của Như Lai. Tịnh độ này là quả viên mãn do tu mà đạt được, xa lìa các tội lỗi, có đầy đủ trí tuệ, thần thông và cũng là nơi nương tựa của người tu quán hạnh. Tịnh độ này lấy thức vô cấu nhiễm Như Lai tạng làm thể, Mật giáo đặc biệt chỉ cho Tịnh độ của Pháp thân Đại Nhật Như lai; bởi vì, nếu phối hợp 9 thức với Ngũ Phật, thì thức vô cấu Am ma la thứ 9 tương đương với Đại Nhật Như Lai, cho nên lấy thức vô cấu là Tịnh độ của thể tính làm trụ xứ của đức Đại Nhật Như Lai. Tịnh độ này còn là chỗ y chỉ của pháp thân 2 bộ Kim Cương Giới và Thai Tạng Giới nói trong kinh Mật Nghiêm, cũng tương đương với thế giới Hoa tạng nói trong kinh Hoa Nghiêm và thế giới Cực Lạc nói trong pháp môn Tịnh độ. [X. phẩm Hiển Thị Tự Tính trong kinh Đại thừa mật Nghiêm Q.trung; luận Phát bồ đề tâm; Mật Nghiêm Tịnh Độ Lược Quán; Mật Nghiêm Kinh Sớ (Pháp tạng) Q.3; Đại Nhật Kinh Sớ Q.3].
mật nghĩa
Esoteric meaning, or doctrine.
; Nghĩa bí mật của giáo pháp—The esoteric meaning or doctrine.
; (密義) Nghĩa lí sâu xa kín nhiệm. Kinh Thủ Lăng Nghiêm quyển 1 (Đại 19, 106 trung) nói: Kính vâng lời đức Từ nghiêm, mong cầu mật nghĩa. Lúc ấy, đức Như Lai liền trải tọa cụ ngồi yên, rồi giảng nói cho thính chúng trong hội nghe về nghĩa lí sâu xa kín nhiệm.
mật nghị
To talk secretly.
mật ngôn
sang ngak (T), Secret mantra,
Mật ngôn 密言
[ja] ミツゴン mitsugon ||| Same as 密語. (1) Esoteric teachings; those of Buddha's teachings which are not easily accessible to everyday logic and scholarship--which require a special insight. (2) A mantra or dhāraṇī 眞言 as taught in the Esoteric sects. => Đồng nghĩa với Mật ngữ 密語. 1. Giáo lý ẩn mật; giáo lý của Đức Phật không thể tiếp cận được bằng luận lý thông thường hằng ngày và qua học hỏi—mà đòi hỏi phải có sự chứng nghiệm nội tâm. 2. Là mantra hay chân ngôn, đà-la-ni (眞言 s: dhāraṇī ) được truyền dạy trong Mật tông.
mật ngưu cung
Brisa (S)Tỳ sê sa, Ngưu cung.
; (密牛宮) Phạm: Bfiwa. Hán âm: Tì lê sa. Cũng gọi Ngưu mật cung, Kim ngưu cung, Ngưu cung. Cung ở phía đông viện Ngoài trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo,1 trong 12 cung, tương đương với vị trí của mặt trời vào tháng 4 trong đường Hoàng đạo. Kinh Tú Diệu quyển thượng (Đại 21, 387 hạ) nói: Sao Mão thứ 10, 3 chân, sao Tất 4 chân, sao Tuy 2 chân, là vị trí của Thái bạch; hình vị thần này giống như con bò, vì thế được gọi là Ngưu cung. Trong các Mạn đồ la, hình tượng của cung này đều được vẽ hình con bò đực đang nằm.
mật ngữ
lời nói vi mật, hàm súc nhiều ý nghĩa, được dùng để chỉ lời dạy sâu xa nhất của chư Phật, vì chỉ có bậc Bồ Tát trí huệ lớn mới hiểu thấu được.
; Occult or esoteric expressions.
; Samdha (skt)—Ngôn ngữ bí mật của tông Chân Ngôn—Occult or esoteric expression—Secret language—Secret meaning.
; (密語) I. Mật Ngữ. Chỉ cho ngôn ngữ và giáo chỉ của đức Phật có ẩn chứa chân nghĩa bí mật. Ví dụ như câu Như Lai đã vào Niết Bàn là lời nói ẩn chứa ý nghĩa Như Lai thường trụ. II. Mật Ngữ. Chỉ cho chân ngôn đà la ni của Mật giáo. [X. Bí Tạng Kí Q.đầu]. (xt. Đà La Ni, Chân Ngôn).
Mật ngữ 密語
[ja] ミツゴ mitsugo ||| (1) The teaching by the Buddha which contains the truth in a profound way and is not readily understandable. For example, in the Nirvāna-sūtra, the Buddha's teaching of the eternal existence of the tathāgata. (2) A mantra or dhāraṇi; 'Esoteric speech.' (3) An expression of the absolute, of non-duality. => 1. Lời dạy của Đức Phật chứa đựng chân lý theo lối rất sâu mầu không thể dễ dàng nhận ra được. Chẳng hạn giáo lý của Đức Phật về Như Lai xuất triền trong kinh Niết-bàn. 2. Là một mantra hay đà-la-ni (s: dhāraṇi). 3. Biểu hiện của tuyệt đối, của bất nhị. Mật tích lực sĩ đại quyền thần vương kinh kệ tụng 密...[ja] ミツシャクリキシダイゴンジンノウキョウゲジュ Misshaku rikishi daigonjinnōkyō geju ||| The Miji lishi da quan shen wangjing ji song (Stanzas on the Sutras of the Esoteric Ones, Mighty Kings of Great Supernatural Power). 1 fasc. (T 1688.32.777-784), comp. Guanzhu Ba around 1300 CE. An compendium of verses describing rituals of Buddhist esotericism (including anuttarayoga 無上瑜伽). KIK (ronshūbu) 5. IB327. => (c: Miji lishi da quan shen wangjing ji song; e: Stanzas on the Sutras of the Esoteric Ones, Mighty Kings of Great Supernatural Power). 1 quyển. Quản Chủ Bát 管主八biên soạn vào khoảng năm 1300. Là một tóm lược bằng kệ tụng về nghi quỹ của Phật giáo Mật tông [gồm Vô thượng du-già (無上瑜伽s: anuttarayoga)]
mật nhân
The esoteric, occult, recondite cause.
; Nhân bí mật—The esoteric, occult, recondite cause.
; (密因) I. Mật Nhân. Nhân hạnh để đạt đến Bí mật tạng (tức là quả đức liễu nghĩa mà Như Lai đã chứng ngộ được). Lăng Nghiêm Kinh Sớ quyển 8 phần 2 (Đại 39, 933 thượng) nói: Người đã đạt đến quả vị trong 3 đời vào Bí mật tạng, lấy đó làm Nhân, là Mật nhân vậy. Hơn nữa, đại định này đủ tất cả hạnh, chẳng phải chỗ mà hàng phàm phu và Tiểu thừa có thể biết được, cho nên gọi là Mật. Mật tức là Nhân vậy. [X. bài Tựa kinh Thủ Lăng Nghiêm; kinh Đại Nhật Q.5]. II. Mật nhân. Chỉ cho bản địa của Phật và Bồ Tát. Lăng Nghiêm Kinh Sớ quyển 6 phần 2 (Đại 39, 914 hạ) nói: Việc mà bậc Thánh chí chân làm lợi ích cho chúng sinh, rốt cuộc không thể suy lường được; đó là cái nhân chính của bậc Thánh, chỉ có Ngài chứng biết, cho nên gọi là Mật nhân. [X. kinh Thủ Lăng Nghiêm Q.6].
mật pháp
Esoteric methods.
; Những phương pháp bí mật—Esoteric methods.
mật phó
Mật truyền hay chỉ truyền bằng miệng chứ không bằng văn tự—To pass down esoterically, or by word of mouth.
; (密付) Cũng gọi Mật thụ, Mật phụ, Mật truyền. Bậc thầy đích thân truyền trao Phật pháp cho đệ tử một cách kín đáo. Cũng tức là phương thức dùng tâm truyền tâm của Thiền tông. Khi người tu học tỏ ngộ được mày mặt thật xưa nay của chính mình và được thầy chứng minh, ấn khả thì gọi là Mật truyền mật phó. Thụy châu Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục bảo kính tam muội (Đại 47, 525 hạ) nói: Pháp ấy như thế, Phật Tổ mật phó (kín đáo trao cho), nay ông đã được, phải khéo giữ gìn. [X. Viên ngộ tâm yếu].
mật phùng ấn
See Hỏa Ấn, Hỏa Giới, Hỏa Viện, and Kim Cang Đàm.
mật quán
Lễ quán đảnh theo truyền thống Mật tông—The baptism of the esoteric sect.
mật quán đảnh
Guhyabhisheka (S), Secret initiation.
mật quả thiên
Xem Quảng Quả Thiên.
mật sư bạch thố
(密師白兔) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cuộc đối thoại giữa Thiền sư Mật Sư (Thần Sơn Tăng Mật) và Tổ của tông Tào Động là Thiền sư Động Sơn Lương Giới. Tắc 56 trong Thung Dung Lục quyển 4 (Đại 48, 262 hạ) chép: Một hôm, Mật sư bá đang đi với ngài Động Sơn, chợt thấy 1 con thỏ trắng (bạch thố) chạy qua trước mặt, Mật sư nói: Tài thật! Ngài Động sơn hỏi: Sư hiểu thế nào? Mật sư bá đáp: Như kẻ nghèo hèn được làm quan to. Ngài Động sơn bảo: Đã già đời rồi mà còn nói năng như vậy à! Mật sư bá lại hỏi: Vậy còn ông thì hiểu thế nào? Ngài Động sơn đáp: Bao đời quyền quí, bây giờ nổi trôi!.
mật thiết
Intimately.
mật thành biệt ích
(密成別益) Cũng gọi Minh thành biệt ích. Tiếng dùng nói về Lợi ích của sự đào thải trong thời Bát Nhã thuộc 5 thời do Tổ thứ 9 của tông Thiên Thai là ngài Trạm Nhiên đặt ra. Nghĩa là ở thời Bát Nhã có sự dung thông giữa pháp môn Đại thừa và Tiểu thừa, tuy tự thân hành giả không biết, mà người khác cũng không hay, nhưng trong sự âm thầm kín nhiệm ấy đã có những căn cơ thành thục để nhập vào giáo pháp chân thực, thậm chí thành tựu ngang bằng với Biệt giáo. Về nghĩa Mật thành biệt ích, trong Tứ Giáo Nghi Tập Chú Bán Tự Đàm quyển 1, ngài Si Không, người Nhật Bản, giải thích rằng Mật nghĩa là âm thầm kín đáo, mình và người khác đều không hay biết; thành biệt ích tức là Nhất thừa, đại biểu cho pháp Đại thừa, là pháp môn rõ suốt giới nội, giới ngoại. Bởi vậy, nếu căn cứ vào sự thành thục của các căn cơ chân thực bên trong thì tương đương với giáo nghĩa của Biệt giáo giải thích về pháp môn giới nội, giới ngoại, cho nên gọi là Thành biệt ích, chứ không phải chỉ cho pháp môn tu hành của Biệt giáo. [X. Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú Q.thượng (Mông nhuận)]. (xt. Chuyển Giáo Dung Thông).
mật thành thông ích
(密成通益) Cũng gọi Mật thành thông nhân. Tiếng dùng nói về Lợi ích của sự quở trách trong thời Phương Đẳng do Tổ thứ 9 tông Thiên Thai là ngài Trạm Nhiên đặt ra. Nhị thừa Tạng giáo tuy bị Phật quở trách trong thời Phương đẳng, nhưng trong sự chẳng hay chẳng biết đã có những căn cơ thành thục để nhập vào giáo pháp chân thực, cho nên được sự lợi ích của Thông giáo, là cửa đầu tiên của Đại thừa. Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết quyển 10 phần 2 (Đại 46, 446 trung), nói: Phương đẳng dùng Tam tạng làm phụ, dùng Tam giáo làm chính để bài bác Nhị thừa, làm cho hàng Nhị thừa Mật thành Thông giáo. [X. Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú Q.thượng (Mông nhuận); Tứ Giáo Nghi Tập Chú Bán Tự Đàm Q.1 (Si Không)].
mật thôn
(密村) Một đơn vị tăng chúng trực thuộc Khang Thôn trong các chùa viện của phái Cách lỗ, Phật giáo Tây tạng. Thông thường, chư tăng cùng 1 địa phương hoặc cùng 1 bộ lạc tập hợp lại thành đơn vị, số người từ 5 vị đến 50, 60 vị không nhất định. Trong đó cử ra 2 chức Chấp sự là Mật thôn cách cán và Mật thôn cát mễ. Mật thôn cách cán là vị Trưởng lão của Mật thôn, giám sát và chỉ đạo về giới luật và học vấn của chúng tăng trong Mật thôn, còn chức Mật thôn cát mễ thì phụ trách việc quản lí kinh tế trong Mật thôn.
mật thất
(密室) I. Mật Thất. Nhà đóng cửa kín mít. Ma Ha Chỉ Quán quyển 7 thượng (Đại 46, 89 trung), nói: Trí quán trong định như đèn trong nhà kín (mật thất) soi tỏ các vật. II. Mật Thất. Ví dụ cảnh giới tuyệt đối. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 16 (Đại 51, 330 trung), chép: Hỏi: Thế nào là mật thất? Sư đáp: Gấp gáp quá thì không tới được. Hỏi: Thế nào là người trong mật thất? Sư trả lời: Chẳng ngồi trên lưng trâu!. III. Mật Thất. Chỉ cho nhà tu học Mật giáo. Ngoài ra, trong Thiền lâm cũng có câu:Mật thất bất thông phong (Nhà kín không thoáng gió), là chỉ cho cảnh giới không có sự ứng dụng linh hoạt của Thiền, hoặc ví dụ sự thân mật giữa thầy và trò. Nhân Thiên Nhãn Mục quyển 6 (Đại 48, 329 thượng), chép: Ngài Vân Môn nói: Nhà kín chẳng thoáng gió, về nhà ngồi một mình.
mật tích
Secret or invisible track.
; Dấu tích bí mật—Secret or invisible tracks.
mật tích kim cang lực sĩ
Vajrapani (skt)—Vị lực sĩ hộ trì Đức Phật—A guardian of Buddhas, driving away all yaksa disturbers—See Kim Cang Mật Tích.
mật tích kim cương lực sĩ ai luyến kinh
(密迹金剛力士哀戀經) Gọi đủ: Phật nhập Niết Bàn Mật Tích Kim Cương Lực Sĩ Ai Luyến Kinh. Cũng gọi Phật Nhập Niết Bàn Ai Luyến Kinh, Lực Sĩ Ai Luyến Kinh. Kinh, 1 quyển, được dịch vào đời Tiền Tần, không rõ dịch giả, được thu vào Đại Chính Tạng tập 12. Nội dung kinh này tường thuật việc khi đức Phật sắp vào Niết Bàn, Lực sĩ Kim Cương Mật Tích buồn rầu thương xót, than rằng: Đức Như Lai giống như vị thuyền trưởng vĩ đại trong biển cả sinh tử, lại sắp lìa bỏ chúng sinh để nhập diệt; lòng Lực sĩ xúc động, luyến thương, sầu khổ quá đến nỗi tâm thần hôn mê. Lúc bấy giờ đại địa chấn động, núi lở sao rơi, 4 phương lửa dậy; sau nhờ trời Đế Thích ngăn chặn lại, đức Phật liền dạy (Đại 12, 1117 hạ): Các hành đổi dời, không lúc nào dừng nghỉ, không nên tin vào thân này, vì nó là pháp vô thường, sớm còn tối mất.
mật tích kim cương lực sĩ hội
(密迹金剛力士會) Cũng gọi Mật tích Kim cương lực sĩ kinh, Mật tích kinh. Kinh, 7 quyển, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại Chính Tạng tập 11, tức là phần kinh từ quyển 8, đến quyển 14 trong kinh Đại Bảo Tích. Nội dung kinh này trước hết nói rõ về thân mật, ngữ mật, ý mật của Bồ Tát và Như Lai; sau đó là lời thỉnh cầu của Bí mật chủ xin hộ trì kinh này trong 500 năm sau Phật nhập diệt. Ngoài ra, bản dịch khác của kinh này là kinh Như Lai bất tư nghị bí mật đại thừa. (xt. Như Lai Bất Tư Nghị Bí Mật Đại Thừa Kinh).
mật tích lực sĩ
Xem Kim Cang ThủXem Kim Cang Thủ Bồ tát.
; Vajrapàni (S). Guardian of Buddha, driving away all yaksa disturbers, a form of Indra.
; Vajrapani (skt)—See Kim Cang Mật Tích.
; (密迹力士) Phạm: Guhyapada vajra, Saịđa. Hán âm: Tán đa. Cũng gọi Chấp kim cương thần, Mật tích kim cương, Kim cương mật tích, Kim cương lực sĩ, Mật tích sĩ, Mật tích. Vị thần Dạ xoa tay cầm chày Kim cương bảo vệ Phật pháp. Cứ theo Đại Nhật Kinh Sớ quyển 1 thì Mật Tích Lực Sĩ là vua Dạ xoa, thân, khẩu, ý, rất linh hoạt bí ẩn, khó biết được nên gọi là Mật tích. Lại vì được gần gũi đức Phật mong được nghe những sự tích bí mật của Phật nên gọi là Mật tích. Ngoài ra, vì vị thần này tay cầm chày kim cương để thủ hộ Phật pháp nên cũng gọi là Kim cương thần, Kim cương thủ, Chấp kim cương. Thông thường Mật Tích Lực Sĩ là 1 trong 2 vị tôn được thờ ở 2 bên cửa chùa. [X. hội Mật Tích Kim Cương Lực Sĩ trong kinh Đại Bảo Tích Q.9; Đại Đường Tây Vực Kí Q.6; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.1].
Mật tông
密宗; C: mì-zōng;|Trường phái Mật giáo tại Trung Quốc, do ba Cao tăng Ấn Ðộ đưa vào trong thế kỉ thứ 8. Ðó là Thiện Vô Uý (善無畏; s: śubhākāra-siṃha, 637-735), Kim Cương Trí (金剛智; s: vajrabodhi, 663-723) và Bất Không Kim Cương (不空金剛; s: amoghavajra, 705-774). Thiện Vô Uý được phong là Quốc sư, là người dịch kinh căn bản của tông này là Ðại Nhật kinh (s: mahāvairocana-sūtra) ra chữ Hán, Bất Không dịch các Man-tra và Ðà-la-ni của bộ kinh đó.|Các yếu tố quan trọng của Mật tông là phép niệm Man-tra, phép bắt Ấn (s: mudrā) và sử dụng Man-đa-la cũng như các lần Quán đỉnh (灌頂; s: abhiṣeka). Mật tông là giáo pháp mà sư phụ truyền cho học trò bằng lời (khẩu quyết) và đó là lí do mà Mật tông không được truyền bá rộng rãi. Bất Không là thầy của ba nhà vua Trung Quốc và sau khi Sư mất thì Mật tông suy tàn vì không có vị đạo sư nào từ Ấn Ðộ đến nữa.|Trường phái này được Ðại sư Không Hải (空海; j: kūkai) đưa qua Nhật dưới tên Chân ngôn tông (j: shingon-shū), là một trong những tông phái quan trọng của nền Phật giáo Nhật Bản. Không Hải là môn đệ của Ðại sư Huệ Quả, một môn đệ của Bất Không.
mật tông
Xem Chơn ngôn thừa.
; The esoteric, mantra, Chân ngôn sect Tantrism.
; Mantrayana (skt)—Tên gọi chung Phật giáo Mật tông được dùng để chỉ các hình thức Phật giáo về sau nầy tại Ấn Độ, như tông Chân Ngôn (Mantrayana), Kim Cang thừa (Vajrayana), hay Câu Sinh Khởi thừa (Sahajayana). Người sáng lập ra Mật Tông tại Trung Quốc là ngài Thiện Vô Úy (see Thiện Vô Úy) vào khoảng năm 720 sau Tây Lịch. Du Già có nghĩa là 'định trí,' và cũng mang ý nghĩa 'chứa đựng những mật thuyết.' Tông phái nầy dạy cho Phật tử những sự hành trì bí hiểm trong việc tu tập đạo Phật. Tông phái nầy có một thời kỳ phồn thịnh đến nỗi đồng hóa cả Bát Nhã tông và Tứ Luận tông. Tuy nhiên, trong tất cả các xu hướng của Phật giáo thì giáo lý Mật tông cho đến ngày nay vẫn còn bị xem thường và ngộ nhận. Các phép tu luyện Mật tông (tantras) bị nhiều người kết tội, bắt nguồn chủ yếu từ những truyền thống Ấn Độ giáo suy đồi và những việc làm bất chính mà các truyền thống nầy gây ra trong đám người ngu dốt. Thành kiến chống lại mọi cái gì thuộc về Mật tông như thế mạnh mẽ đến nỗi ngay cả các học giả cũng từ bỏ không muốn dính dáng gì đến nó, kết quả là mọi sự nghiên cứu vô tư về giáo phái nầy đã bị gác bỏ suốt một thời gian dài—The general name of Tantric Buddhism is given to the later aspects of Buddhism in India, i.e., esoteric, mantra, or esoteric school, or the Tantra School. It is also called the True Word sect (Chân Ngôn tông—Mantrayana), or the secret teachings, the Vajrayana, or the Sahajayana. The founder of the Esoteric school in China was Subhakara (Shan-Wu-Wei) around 720 A.D. Yoga means 'to concentrate the mind,' and also means 'containing the secret doctrines.' This sect, which taught the magic observances in Buddhist practices. At one time, this school was so prosperous that the prajna school and the Four Madhyamika Treatises school were absorbed in it. However, among all the aspects of Buddhism, its Tantric teachings have until now been the most neglected and misunderstood. The Tantras against which accusations have been hurled originated mostly from the decadent forms of late Hindu tradition and the malpractices which they gave rise to among the ignorant. The prejudice, which in this way grew against everything Tantric, was so strong that even scholars refused to have anything to do with it, and consequently any impartial investigation or research was neglected for a long time—For more information, please see Chân Ngôn Tông, and Câu Sinh Khởi Tông.
; (密宗) Cũng gọi Chân ngôn tông, Du Già tông, Kim Cương Đính tông, Tì Lô Giá Na tông, Khai Nguyên tông, Bí mật thừa. Tông phái Đại thừa nương vào pháp môn Chân ngôn đà la ni, tu diệu hạnh Ngũ tướng, Tam mật, để mong cầu thành Phật ngay nơi thân này, là 1 trong 13 tông của Phật giáo Trung Quốc và 1 trong 8 tông của Phật giáo Nhật Bản. Tông này chủ yếu lấy kinh Kim Cương Đính làm Kinh tạng, kinh Tô Bà Hô làm Luật tạng và luận Thích Ma Ha Diễn làm Luận tạng. Các kinh điển của Mật giáo được gọi chung là Mật kinh. Tông này được gọi là Mật giáo (đối lại với Hiển giáo) là vì hiển bày giáo lí của mình là rất sâu xa bí mật, mà coi các giáo phái Đại thừa khác là nông cạn hời hợt. Hơn nữa, tông này còn cho rằng giáo pháp của 2 bộ Kim Cương Giới và Thai Tạng Giới do Pháp thân Phật Đại Nhật Như Lai tuyên thuyết mới chính là cảnh giới tự nội chứng của Phật, rất huyền nhiệm bí mật, cho nên tự xưng là Mật. Vả lại, vì không được truyền dạy pháp này cho những người chưa thụ quán đính, cho nên gọi là Mật. Về giáo nghĩa hiển bày chân lí thì không có sự sai biệt giữa Hiển giáo và Mật giáo, nhưng về mặt hành trì thì Mật giáo có những nghi quĩ đặc thù, khác với các tông phái khác, nên thích hợp với danh xưng Mật tông. Lại nữa, sự học vấn và tu hành của Mật giáo, gọi là Mật học. Bậc tông sư hoặc tăng đồ tu học Mật giáo, gọi là Mật gia. Đồ chúng tu hành Mật giáo, gọi là Mật chúng; đạo tràng tu học Mật giáo, gọi là Mật tràng. Mật tông Ấn Độ bắt nguồn từ kinh điển Phệ đà cổ xưa, về sau lưu hành trong các tầng lớp dân gian. Trong quá trình phát triển lâu dài, Phật giáo dần dần đã thấm vào tín ngưỡng dân gian và chịu ảnh hưởng cũng như tiếp thu, ứng dụng những chú thuật Mật pháp này để bảo vệ giáo đồ, tiêu trừ tai chướng, xưa nay thông thường gọi những mật pháp này là Tạp mật. Mật tông cũng du nhập các vị thần của Phệ đà vào Phật giáo, nên đã xuất hiện rất nhiều các vị Minh Vương, Bồ Tát, chư thiên, chân ngôn chú ngữ v.v... Bởi vậy, trong các kinh điển Đại thừa ở thời kì sau lại thấy xuất hiện 1 loại kinh điển lấy Đà la ni (Phạm: Dhàraịi) làm chủ. Trong Kinh tạng và Luật tạng Pàli có kinh điển nói những bài kệ Hộ thân mà Phật giáo đồ ở các vùng Tích Lan biên tập thành kinh gọi là kinh Minh hộ (Pàli: Paritta), cho đến nay vẫn còn truyền tụng; lại có kinh Đại hội (được thu vào Trường A Hàm) là kinh điển liệt kê tên các hội chúng nghe pháp. Các kinh điển này được cho là khởi nguồn của Mật giáo đà la ni và Mạn đồ la sau này. Đến khoảng thế kỉ IV, mới xuất hiện kinh điển độc lập chuyên nói về chú pháp như kinh Khổng Tước Minh Vương, cho rằng miệng niệm chân ngôn, trong tâm thống nhất, kiến lập đàn bằng đất hình vuông, hình tròn, cúng dường các vị tôn, nghiêm tu nghi lễ v.v... sẽ được công đức bất khả tư nghị. Đến hậu bán thế kỉ VII, Phật giáo Ấn Độ tiến vào thời kì toàn thịnh. Lúc này đã có kinh, giáo, quĩ, nghi. Mật giáo chân chính mới khai triển, dùng chân ngôn, Đà la ni làm trung tâm để phát triển triết học Phật giáo Đại thừa, đặt định nền tảng vững chắc. Đây là Mật tông thuần chính (thuần mật), lấy kinh Đại nhật và kinh Kim cương đính làm chủ. Kinh Đại nhật được thành lập tại Ấn độ ở nửa sau thế kỉ VII, lấy Đại nhật Như lai làm trung tâm, cùng với các vị tôn đã được nói trong các kinh điển Tạp mật mà tập đại thành Thai tạng giới mạn đồ la. Kinh Đại Nhật kế thừa giáo thuyết kinh Hoa Nghiêm, chủ trương dựa trên sự tướng hiện thực mà trực tiếp quán xét chân tướng của vũ trụ. Kinh Kim Cương Đính được thành lập muộn hơn, lưu hành ở Nam Ấn Độ, kế thừa học thuyết của phái Phật giáo Du Già, đề xướng pháp quán Ngũ tướng thành thân(trong thân tâm có đủ 5 tướng đồng nhất với Bản tôn). Thuần mật lấy 2 bộ kinh trên làm nền tảng, không bao lâu đã bị suy đồi tại Ấn Độ. Vào thế kỉ thứ VIII, Thuần mật được ngài Thiện vô úy truyền đến Trung Quốc, rồi sau được truyền đến Nhật Bản trở thành tông Chân ngôn. Mật giáo hưng khởi vào thế kỉ VII, đến thế kỉ XI, Phật giáo Ấn Độ suy vong thì Mật giáo cũng rơi vào tình trạng đình đốn. Tuy nhiên, tại Trung Ấn Độ, Mật giáo vẫn hưng thịnh và sau khi dung nhập với giáo thuyết của phái Tính lực (Phạm: Zàktà) thì trở thành Mật giáo tả đạo, đặc biệt chú trọng thuyết Đại lạc (Phạm:Mahàsukha- vàda) trong kinh Kim Cương Đính của Thuần mật. Từ đầu thế kỉ VIII trở đi, Mật giáo được truyền vào Tây Tạng, trở thành nền tảng của Lạt ma giáo. Đến thế kỉ X và XI, 1 phần kinh điển của Mật giáo được lưu truyền và phiên dịch ở Trung Quốc, nhưng chưa có ảnh hưởng về mặt tư tưởng. Tóm lại, theo lịch sử phát triển của Mật giáo mà nhận xét, thì Tạp mật hưng khởi trước, kế đến là Thuần mật và sau cùng là Mật giáo tả đạo. Cứ theo truyền thuyết, Đại Nhật Như Lai, cùng 1 lúc vượt qua 3 thời, ở nơi cung điện Pháp giới tâm tại cõi trời Sắc cứu kính, đối với các nội quyến thuộc như ngài Kim Cương Tát Đỏa v.v... từ trong tâm lưu xuất pháp nội chứng, tự thụ pháp lạc mà tuyên thuyết kinh Đại Nhật, rồi lại ở cung Chân ngôn mà tuyên thuyết kinh Kim Cương Đính, sau do Kim Cương Tát Đỏa kết tập (Thai Mật của Nhật Bản cho rằng ngài A Nan cũng tham dự). Sau Phật nhập diệt khoảng 800 năm, Bồ Tát Long Mãnh (Long thụ) trì chú vào 7 hạt cải trắng để mở tháp sắt cao 16 trượng (biểu thị 16 vị Bồ Tát trong Kim Cương Giới) ở Nam Thiên trúc, đích thân nhận 2 bộ Đại kinh này từ ngài Kim Cương Tát Đỏa (Thai Mật thì cho rằng bộ kinh Đại Nhật ở ngoài tháp sắt và do Bồ Tát Văn Thù trao cho). Về sau, ngài Long Mãnh truyền cho ngài Long Trí. Trải qua khoảng 700 năm (tương truyền, ngài Long Trí Thọ 7, 8 trăm tuổi) sau, Đại kinh lại được truyền cho ngài Thiện Vô Úy. Vì vậy, Mật giáo tôn ngài Long Mãnh là Tổ sư khai sơn, kinh Đại Nhật và kinh Kim Cương Đính là Thánh điển căn bản và vị Giáo chủ là đức Đại Nhật Như Lai (Phật Tì Lô Giá Na). Vì việc thuyết pháp khác với đức Thích Tôn nên gọi là Kim Cương Thừa. Kim Cương Thừa, ở Nhật Bản là chỉ cho Thuần mật, ở Ấn Độ và người Âu châu thì quen chỉ cho Mật giáo tả đạo (Kim cương thừa, tiếng Anh là Tantric Buddhism). Kim cương thừa, theo nghĩa rộng, được chia làm 2 phái: 1. Phái hữu: Lấy kinh Đại Nhật làm chủ, tức chỉ cho Thuần mật, mang đậm sắc thái chủ nghĩa thần bí, muốn nhờ vào chú thuật để thực hiện sự hợp nhất giữa vũ trụ và tinh thần, hầu chi phối thế lực tự nhiên và vận mệnh con người; phái này còn được gọi là Chân ngôn thừa (Phạm: Mantrayàna) và được truyền từ Trung quốc đến Nhật bản, trở thành Chân ngôn tông, gọi là Đường Mật hoặc Đông Mật. Còn Mật giáo do tông Thiên Thai truyền ở Nhật Bản thì gọi là Thai Mật. 2. Phái tả: Lấy kinh Kim Cương Đính làm chủ, tức là Mật giáo tả đạo, khẳng định bản năng của con người, muốn ngay nơi bản năng ấy mà tìm ra lẽ chân thực, nên gọi là Kim cương thừa, Dị hành thừa, (Phạm: Shahajì-yàna) hoặc gọi là Tính lực phái, nói theo lập trường của Phật giáo nguyên thủy thì phái này là bàng môn tả đạo. Phái này coi trọng pháp Song thân và từ thế kỉ IX trở đi, kết hợp với Ấn Độ giáo nên ngày càng thêm hưng thịnh. Về sau, phái này được truyền vào Tây Tạng, trở thành nòng cốt của Tạng Mật. Tạng Mật tức là Mật tông của Phật giáo Tây Tạng do các ngài Liên Hoa Sinh và Tịch Hộ truyền vào từ thế kỉ VIII. Ở giai đoạn đầu sau khi du nhập, Mật pháp Tây Tạng phần nhiều thực hành theo 2 bộ Hành và Sự mà trong sử gọi là Cựu mật pháp. Đến đầu thế kỉ XI, các ngài Nhân Khâm Tang Ba v.v... phiên dịch các loại kinh điển của Mật giáo Du Già, trong sử gọi là Tân mật pháp. Từ đó, Mật pháp của 2 bộ Du Già và Vô Thượng Du Già được thịnh hành và truyền thừa trong các phái Phật giáo Tây Tạng. Mật tông truyền sang Trung Quốc cũng trải qua 2 giai đoạn này. Mật tông truyền đến Trung Quốc bắt đầu vào thời Tam Quốc, khi ấy ngài Chi Khiêm ở nước Ngô đã dịch nhiều bộ kinh Mật giáo rất nổi tiếng như: Bát Cát Tường Thần Chú Kinh, Vô Lượng Môn Vi Mật Trì Kinh, Hoa Tích Đà La Ni Thần Chú Kinh, Trì Cú Thần Chú Kinh, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Chú Kinh, Thất Phật Thần Chú Kinh v.v... Sang đời Đông Tấn thì có ngài Bạch Thi Lê Mật Đa La dịch kinh Đại Quán Đính Thần Chú, kinh Khổng Tước Vương; ngài Trúc Đàm Vô Lan dịch 25 bộ như: Kinh Đà Lân Bát Chú, kinh Ma Ni La Chiên Thần Chú v.v... Đến đời Đường, ngài Nghĩa Tịnh cũng dịch hơn 10 bộ kinh Mật giáo như: Kinh Quán Tự Tại Bồ Tát Như Ý Tâm Đà La Ni, kinh Mạn Thù Thất Lợi Bồ Tát Chú Tạng Trung Nhất Tự Chú Vương, Xưng tán Như Lai công đức thần chú v.v... Ngoài ra, trong các kinh điển của Hiển giáo cũng có rất nhiều chú đà la ni, không thể kể hết. Nhưng từ trước đến đây chỉ là những kinh Tạp mật được truyền dịch mà thôi. Đến khoảng năm Khai Nguyên (713- 741) đời vua Đường Huyền Tông, ngài Thiện Vô Úy và ngài Kim Cương Trí là 2 vị Đại sư thuộc Thuần mật, ở Trường An, lần lượt phiên dịch và truyền bá các kinh điển căn bản, thiết lập đạo tràng Quán đính, Mật tông Trung Quốc đến đây mới thực sự có hệ thống. Ngoài ra, còn có các ngài Bất Không, Nhất Hạnh, Huệ Quả, Biện Hoằng, Tuệ Nhật, Duy Thượng, Nghĩa Viên, Nghĩa Minh, Không Hải, Nghĩa Tháo, Tuệ Tắc v.v... đều truyền trì Thuần mật. Trong đó, ngài Không Hải (Đại sư Hoằng pháp) người Nhật Bản, đến Trung Quốc vào năm Trinh nguyên 20 (804) đời Đường, theo ngài Huệ quả thụ pháp, sau trở về nước, hoằng dương Mật giáo và trở thành vị Tổ của tông Chân ngôn Nhật Bản. Sau Pháp nạn Hội xương, tiếp đến cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, chiến tranh loạn lạc kéo dài, kinh sớ của Mật tông hầu hết đều bị thiêu hủy. Từ đó về sau, nói đến Du Già chỉ còn là hình thức pháp sự mà thôi. Đến đời Tống tuy có các ngài Pháp hiền, Thí hộ, Pháp thiên v.v... truyền dịch kinh điển, nghi quĩ Mật giáo nhưng chưa thể phục hưng được. Vả lại, Mật tông ở thời này đã khác với Mật tông đời Đường. Mật tông đời Đường có thể nói Mật tông thống nhất, có hệ thống truyền thừa. Còn Mật tông đời Tống thì phân hóa, thông tục, lấy việc sùng bái vị Bản tôn đặc định và tụng trì chân ngôn đà la ni của Ngài làm chủ. Là vì đời Tống du nhập Thời luân đát đặc la của Mật tông Ấn Độ nên đã lập ra nhiều vị Bản tôn Minh vương Phẫn nộ rất uy mãnh. Đời Nguyên ấn định Lạt ma giáo làm Quốc giáo, mà Lạt ma giáo thực ra chỉ là Phật giáo Tây Tạng lấy Mật tông làm nền tảng. Về sau, vì các vua chúa nhà Nguyên quá ưu đãi Lạt ma giáo, nên đã đưa đến tình trạng thối nát của phái Hồng giáo, khiến ngài Tông Khách Ba phải ra tay làm cuộc cải cách và thành lập phái Hoàng giáo để phục hưng nền Phật giáo thuần túy của Tây Tạng. Điểm bất đồng lớn nhất giữa Hiển tông và Mật tông là ở sự truyền thừa và nghi quĩ tu trì. Đối với Hiển tông, về giáo lí thì cố nhiên phải có thầy truyền trao, nhưng về pháp môn tu trì thì không nhất định có thầy truyền trao và nghi quĩ nghiêm khắc, như Ngũ Trùng Duy Thức Quán của Du Già, Đại tiểu chỉ quán của tông Thiên Thai, dù không có thầy truyền thụ cũng có thể tự mình tu tập. Trái lại, nghi lễ của Mật tông thì rất phiền phức, các tông giáo trên thế giới không có tông giáo nào sánh kịp. Từ lúc mới qui y thụ Quán đính đến bậc Kim cương Thượng sư có 1 trình tự nhất định, không thể vượt qua được, khác rất xa với phương tiện giản dị của Hiển giáo. Nói về giáo nghĩa thì Hiển tông cho rằng Ứng thân Phật thuyết pháp, Mật tông thì lại cho rằng Pháp thân Phật thuyết pháp. Hiển tông cho rằng người tu hành phải trải qua 3 đại a tăng kì kiếp, tu lục độ vạn hạnh mới chứng được quả Phật, còn Mật tông thì chủ trương chỉ cầu tu diệu hạnh Tam mật cũng có thể thành Phật ngay ở kiếp này. Ngoài ra, còn có thuyết Lục đại duyên khởi, lục đại tức là 6 yếu tố đất, nước, lửa, gió, không và thức, 6 yếu tố này là bản thể của tất cả các pháp, có năng lực tạo ra tất cả, từ chư Phật cho đến căn thân, thế giới của hết thảy chúng sinh, tức là 4 thứ pháp, 3 loại thế gian đều do 6 yếu tố này sinh ra. Căn cứ vào Lục đại duyên khởi này mà lập nghĩa chúng sinh và Phật bình đẳng, 4 thứ Mạn đồ la Đại, Tam, Pháp, Yết cũng do Lục đại duyên khởi mà hiển hiện đức tướng của pháp thân. Nếu chúng sinh tu trì theo diệu hạnh tam mật, khi khế chứng tích đức thì liền thành Phật ngay ở đời hiện tại này. Tam mật gia trì diệu hạnh tức là tay kết khế ấn, miệng tụng chân ngôn của chư Phật và tâm trụ nơi Tam ma địa. Nếu tu hành đúng như lời dạy, thân khẩu ý (tam mật) của hành giả có thể tương ứng với thân khẩu ý của chư Phật, thì mau chóng được thành Phật. Thân khẩu ý của chư Phật tức là 4 thứ Mạn đồ la Đại, Tam, Pháp, Yết: Đại mạn đồ la là thân của chư Phật, Tam ma da mạn đồ la là ý mật, Pháp mạn đồ la là khẩu mật, còn Yết ma mạn đồ la là nghiệp dụng của 3 Mạn đồ la kia. Tóm lại, 4 thứ Mạn đồ la đầy đủ tam mật của chư Phật và bao nhiếp tất cả Mạn đồ la. Mạn đồ la được y cứ vào kinh Đại Nhật mà kiến lập, gọi là Mạn đồ la Thai tạng giới; Mạn đồ la được y cứ vào kinh Kim Cương Đính mà kiến lập, gọi là Mạn đồ la Kim Cương Giới. Mạn đồ la Thai tạng giới biểu thị cho lí bản giác, cho nên cũng gọi là Nhân mạn đồ la; Mạn đồ la Kim Cương Giới biểu thị cho trí thủy giác, cho nên cũng gọi là Quả mạn đồ la. Đối với các Mạn đồ la được y cứ vào các kinh khác mà kiến lập như Biệt tôn mạn đồ la v.v... thì 2 bộ Mạn đồ la Kim Cương Giới và Thai tạng giới này được gọi là Tổng đức mạn đồ la. Ngoài ra, tất cả Phật, Bồ Tát đều là những Tôn vị cá biệt được phát xuất từ Pháp thân Đại Nhật Như Lai, mỗi vị đại biểu cho đức riêng của mình, là bản tôn của 1 môn. Trái lại, Đại Nhật Như Lai biểu thị cho đức chung, là bản tôn của phổ môn. Trong các Tôn vị của 1 môn, thì 4 đức Phật như A Súc, Bảo Sinh v.v... tượng trưng cho 4 trí như Đại viên kính v.v... Bốn vị Phật mỗi vị đều có 4 Bồ Tát thân cận, hợp lại thành 16 vị Đại Bồ Tát, lại cộng chung với 4 Bồ Tát Ba La Mật, 4 Nhiếp Bồ Tát và 8 Bồ Tát cúng dường thì có tất cả 37 tôn vị, đều phát sinh từ trí Pháp giới thể tính của đức Đại Nhật Như Lai. Nếu hành giả thường dùng tín tâm thanh tịnh, an trụ nơi tam muội Kim cương tát đỏa, tu trì diệu hạnh Ngũ tướng thành thân, thì liền được khế chứng Phật trí, viên mãn Phật thân, thành tựu sự nghiệp lợi tha. Mật tông còn y cứ vào kinh Đại Nhật và luận Bồ đề tâm mà lập thuyết Thập trụ tâm. Chín tâm từ Dị sinh đê dương đến Cực vô tự tính là trụ tâm của thế gian, xuất thế gian, Tiểu thừa, Đại thừa, Nhị thừa, Nhất thừa ... còn tâm Bí mật trang nghiêm thứ 10 là trụ tâm của Chân ngôn Mật tông. Cũng tức là Mật tông chủ trương phàm thánh không 2, 1 mảy bụi, 1 pháp đều trụ nơi nguồn trí lúc ban đầu, tất cả đều là đất tâm của Tam ma địa, cho nên đối với bậc thượng căn thượng trí, thì những động tác như đi đứng ngồi nằm, mở miệng nói năng, cho đến lòng nhớ niệm tưởng, tất cả đều thành Tam mật vô tướng. Còn đối với những người căn cơ yếu kém thì nương vào pháp môn Tam mật hữu tướng mà tu trì, cũng có thể tương ứng với đức của các tôn vị thuộc Tam bộ, dùng ngay thân hiện tại mà chứng Phật bồ đề. Tóm lại, đặc chất tư tưởng của Mật tông là: Về phương diện Giáo chủ, Mật tông cho rằng Hiển giáo do Ứng thân Thích Ca nói ra, còn Mật giáo là do Pháp thân Đại nhật Như Lai nói. Về phương diện Pháp thân thì Pháp thân của Hiển giáo là lí thể không hình không tướng, còn Pháp thân của Mật giáo thì có hình có tướng và có thể nói pháp. Về phương diện pháp được nói ra, thì cảnh giới Bát bất trung đạo vắng lặng của tông Tam luận, cảnh giới Thắng nghĩa đế lìa lời nói của tông Pháp tướng, cảnh giới Một niệm ba nghìn chẳng thể nghĩ bàn của tông Thiên Thai, cảnh giới Thập Phật tính hải quả phần bất khả thuyết của tông Hoa Nghiêm v.v... rốt ráo đều có thể nói được. Về phương diện biểu hiện chân lí, thì tất cả các pháp đều là tượng trưng cho chân lí, mà biểu hiện một cách cụ thể loại tượng trưng này, chính là nghi quĩ của Mật tông. Về phương diện thành Phật mau hay chậm, ngoại trừ Thiền tông, còn các tông khác thì đều phải trải qua 3 a tăng kì kiếp, nhưng Mật tông thì chủ trương thành Phật ngay nơi thân này. Về phương diện tông giáo, thì 2 bộ Mạn đồ la của Mật tông biểu hiện thế giới quan, lấy tư tưởng chủ nghĩa nhân cách làm nền tảng, do vô lượng vô số chư Phật, Bồ Tát tạo nên thế giới viên dung đầy đủ: Một tức tất cả, tất cả tức một. Về phương diện hệ thống giáo nghĩa, thì Mật tông là 1 loại vũ trụ nhân sinh quan hợp nhất: Lí và Trí không hai, đức Đại Nhật Như LAI có đầy đủ nhân cách vĩ đại ấy; thế giới của Trí pháp thân gọi là Kim cương giới và thế giới của Lí pháp thân gọi là Thai tạng giới. Nhờ sức tu trì có thể khuếch đại thế giới Trí hợp nhất với thế giới Lí, đó chính là Lí, Trí không hai. (xt. Lục Đại, Tứ Mạn Tướng Đại, Tức Thân Thành Phật, Chân Ngôn Tông).
mật tông đạo thứ đệ luận
(密宗道次第論) Tạng: Gnags-rim chen-po. Cũng gọi Chân ngôn đạo thứ đệ, Mật tông đạo thứ đệ. Thăng biến chủ đại kim cương trì đạo thứ đệ khai hiển nhất thiết mật yếu luận. Tác phẩm, do ngài Tông khách ba soạn vào năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406) đời Minh, Trung Quốc. Nội dung sách này chia thứ tự tu tập Mật thừa làm 5 phẩm: 1. Thanh tịnh bồ đề tâm: Phẩm này giống với Hiển giáo. 2. Bốn loại quán đính: Phẩm này chung cho cả 4 bộ Mật điển. 3. Thủ hộ luật nghi và tam muội da: Luật nghi là giới chung của hàng Bồ Tát như 18 giới nặng và 46 giới nhẹ nói trong luận Bồ Tát Địa và Tập Bồ Tát Học Xứ. Còn Tam muội da là giới riêng của Mật thừa, tùy theo các loại kinh sách nói về mật chú mà có các thuyết khác nhau về giới này. 4. Thứ tự sinh khởi để thành thục căn khí. 5. Thứ tự trọn đủ, thành tựu Tất địa đạt giải thoát: Chủ yếu lấy các pháp Thời luân và Mật tập của Vô Thượng Du Già làm chỉ thú. Bộ luận này và bộ Bồ đề đạo thứ đệ là 2 bộ luận lớn của ngài Tông khách ba, đại biểu cho cách nhìn hoàn chỉnh và hệ thống tư tưởng của ngài về Phật giáo. Sách giải thích về bộ luận này là Tục bộ Đổng Kiến Lập Quảng Thích của Đại sư Khắc Chủ, đệ tử của ngài Tông Khách Ba soạn.
Mật tông 密宗
[ja] ミツシュウ Misshū ||| Mizong; Esoteric Buddhism (vajrayāna, tantrayāna, mantrayāna); in China, this broad range of Buddhist teachings is usually named with this term, whereas in Japan, it is usually called mikkyō 密教. Also known as the True Word Sect 眞言宗, the Yoga Sect 瑜伽宗, Adamantine Peak Sect 金剛頂宗, the Sect of Vairocana 毘盧遮那宗, the Sect of Revealing the Origin 開元宗, and the Secret Vehicle 祕密乘. A later forming school of Buddhism, originating in India, and having extensive influence in Tibet, as well as considerable influence in China and Japan, but less in Korea. The hallmark of the school was a reliance on mystical formulas called mantra and dhāraṇī 陀羅尼. As the school developed, scriptures were written which focused on esoteric practices such as these. The term tantrayāna is applied due to the fact that the school was based on texts called tantras. Mantrayāna refers to the usage of chants and dhāraṇīs, while vajrayāna refers to the dominant symbol of the school, the vajra, translated variously as "thunderbolt," "diamond" and "cudgel." The school developed its system of philosophy borrowing from Mādhyamika 中觀派and Yogācāra 瑜伽行派. Though admitting the emptiness of all phenomena, practitioners believe that the phenomenal world is not to be disregarded but to be looked upon as a vehicle for progress toward liberation. Developing in India during the seventh and eight centuries under the influence of ritualistic Hinduism, it was transmitted into China during the Tang dynasty by Śubhākarasiṃha, Vajrabodhi 菩提金剛 and Amoghavajra 不空金剛. In Japan, the esoteric teachings were systemized into Shingon 眞言宗 and Tendai 天台宗. For a study of this school in China, see Chou (1945). => Mật tông Phật giáo (c: Mizong; s: vajrayāna, tantrayāna, mantrayāna); giáo lý nầy được truyền bá rộng rãi ở Trung Hoa với tên gọi trên, trong khi ở Nhật Bản thường gọi là Mật giáo (密教j: mikkyō). Cũng thường được gọi là Chân ngôn tông, Du-già tông, Kim Cương đỉnh tông, Tỳ-lô-giá-na tông, Khai nguyên tông và Bí mật thừa. Là một tông phái Phật giáo định hình sau nầy, vốn xuất phát từ Ấn Độ, có ảnh hưởng sâu rộng ở Tây Tạng cũng như ở Trung Hoa và Nhật Bản, nhưng hơi yếu ở Triều Tiên. Điểm thiết yếu của tông nầy là tin vào thể thức thần bí gọi là mantra và đà-la-ni (s: dhāraṇī 陀羅尼). Khi tông phái nầy được phát triển, kinh luận được đưa ra tập trung vào hành trì các pháp bí mật như hai loại trên. Thuật ngữ tan-tra thừa (s: tantrayāna) được dùng do vì sự kiện là tông nầy căn cứ vào những kinh văn gọi là tantras. Tan-tra thừa (s: tantrayāna) liên quan đến việc tụng kinh và chú (s: dhāraṇīs), Trong khi Kim Cương thừa dùng biểu tượng ưu thế của tông phái, “vajra”, Được dịch nhiều nghĩa khác nhau là “tiếng sét”, “kim cương”, và “gậy chày”. Tông nầy phát triển hệ thống giáo lý lầy từ Trung quán phái (s: Mādhyamika 中觀派) và Du-già hành phái (s: Yogācāra 瑜伽行派). Mặc dù thừa nhận tính không của các hiện tượng, hành giả tông nầy tin rằng không cần phải xem nhẹ thế giới hiện tượng nhưng xem nó như là một phương tiện để đạt đến giải thoát. Tông nầy được phát triển ở Trung Hoa vào giữa thế kỷ thứ bảy và tám dưới ảnh hưởng của lễ nghi Ấn Độ giáo, được truyền sang Trung Hoa vào đời Đường bởi Thiện Vô Uý (s: Śubhākarasiṃha), Bồ-đề Kim Cương (s: Vajrabodhi 菩提金剛 ) và Bất Không Kim Cương (s: Amoghavajra 不空金剛). Ở Nhật Bản, Mật giáo được hệ thống thành Chân ngôn tông (j: Shingon 眞言宗 ) và Thiên Thai tông (j: Tendai 天台宗). Để nghiên cứu thêm về Mật tông Trung Hoa, xin xem Chou (1945).
mật tại nhữ biên
(密在汝邊) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Pháp do Phật và Tổ truyền đều chẳng phải là bí mật mà bí mật chính ở nơi thân mình. Tắc 23 trong Vô Môn Quan (Đại 48, 296 thượng) nói: Nếu ông chiếu rọi trở lại mặt mũi của chính mình, thì bí mật ở liền ngay bên ông.
Mật tạng
kho tàng bí mật. Kinh điển Đại thừa do Phật thuyết giảng ý nghĩa rất sâu rộng. Vì hàng tiểu căn, trung căn không thể hiểu nổi, không thể làm theo cho nên gọi là Mật tạng, nhưng đối với hàng trí giả thì không phải là bí mật.
mật tạng
The esoteric canon.
; Tạng kinh điển của Mật tông—The esoteric canon.
; (密藏) I. Mật Tạng. Chỉ cho giáo pháp bí mật, tức là giáo pháp trực tiếp hiển bày các pháp vốn tự nhiên như thế (Pháp nhĩ tự nhiên); giáo pháp này vượt ngoài giáo pháp do Phật nhục thân (sinh thân Phật) tuyên thuyết. Giáo pháp này chỉ có Phật pháp thân với Phật pháp thân mới hiểu được, nên gọi là Mật tạng. II. Mật Tạng. Chỉ cho 3 tạng Kinh, Luật, Luận của Mật giáo.
mật tạng khai thiền sư di cảo
(密藏開禪師遺稿) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Mật Tạng Đạo Khai soạn vào đời Minh. Nội dung: -Quyển thượng gồm 50 thiên: Thướng Từ Thánh Hoàng Thái Hậu, Mộ Khắc Đại Tạng Văn, Khắc Đại Tạng Nguyện Văn v.v... -Quyển hạ gồm 64 thiên: Thướng Bản Sư Hòa Thượng, Dữ Từ Hải Quán Cư Sĩ v.v...
mật tập hội
Cuhya-Samajatantra (S)Tên một quyển sách viết hồi thế kỷ thứ 3.
mật tịnh độ
The Pure Land of Vairocana.
mật tự
The esoteric letter of Vairocana, or of a Buddha, a bodhisattva.
; Chữ bí mật của Đức Tỳ Lô Giá Na, hay của chư Phật và chư Bồ Tát—The esoteric letter of Vairocana, or of Buddha or bodhisattva.
; (密字) Chỉ cho những chữ chủng tử của các vị tôn, vì nghĩa lí của những chữ này rất sâu xa kín nhiệm, nên gọi là Mật tự. Phẩm Nhất thiết Như Lai nội hộ ma Kim cương nghi quĩ trong kinh Du Kì (Đại 18, 265 hạ), nói: Tụng trì ngôn ngữ Kim cương, Mật tự hóa thành mưa đá, đánh phá các thần Tu la, cho đến tất cả trăng sao. Chữ Mật trong câu kinh trên chỉ cho chữ (raô), là chủng tử của Bồ Tát Kim cương ngữ. Mật tức là Ngữ mật, dùng lửa chữ thiêu đốt tất cả ngôn ngữ có tướng mà trở về với vô ngôn.
mật viện
(密院) Cũng gọi Cử ba. Học viện chuyên tu Mật tông trong hệ thống 3 ngôi chùa lớn ở Lạp Tát (Tạng: Lhasa), Tây Tạng. Mật viện được chia làm Thượng viện và Hạ viện, mỗi viện gồm 500 người. Thượng Mật viện cũng gọi là Cư đôi, Hạ mật viện cũng gọi là Cư mạch, coi trọng khổ hạnh, chủ yếu tu tập 3 Kim cương (Tập mật, Thắng lạc, Đại uy đức) và các mật pháp khác như Kim cương hộ pháp v.v... Chúng tăng trong Mật viện đại khái có thể chia làm 2 bậc: 1. Những người chưa thi đậu học vị Cách tây ở 3 chùa lớn mà vào thẳng Cử ba, thì gọi là Cát nhiên ba, lấy việc học tập nghi quĩ sự tướng của Mật bộ làm chính, ít nghiên cứu giáo lí hơn. 2. Những người tu học ở học viện Hiển giáo trong 3 ngôi chùa lớn, đã hoàn tất 13 khóa trình và thi đậu học vị Cách tây, lại phải qua cuộc khảo thí của tự viện mà đậu, thì trao cho học vị Đa nhiên ba; kế đến, qua cuộc khảo thí Đại pháp hội tại Lạp Tát mà đậu, thì lại trao học vị Lạp nhiên ba. Chỉ có những người đã được học vị Lạp nhiên ba cách tây, mới được xét theo niên hạn và tư cách trong Mật viện để thăng cấp. Sau khi đảm nhiệm các chức vụ duy trì trật tự trong Cử ba như Cách quí, Ông tắc, thì mới có thể mong lên chức Kham bố, rồi thăng Pháp vương v.v...
mật vân thiền sư ngữ lục
(密雲禪師語錄) Tác phẩm, 13 quyển, do ngài Mật Vân Viên Ngộ (1566-1642) soạn vào đời Minh, ngài Sơn Ông Đạo Mân biên tập, được ấn hành vào đời Minh. Nội dung sách này như sau: - Từ quyển 1 đến quyển 4 là Thướng đường ngữ, quyển 5 là Thướng đường khai thị, Tiểu tham; quyển 6 là Vấn đáp cơ duyên; quyển 7 là Khám biện cơ duyên, Pháp ngữ, Thư vấn (thượng), quyển 8 là Thư vấn (hạ) quyển 9 là Cử cổ, Niêm cổ, quyển 10 là Đại cổ, Tụng cổ (thượng), quyển 11 là Tụng cổ (hạ), Phật Tổ tán, Tự tán, quyển 12 là kệ, Phật sự, quyển 13 thu chép các bài minh tháp, hành trạng, niên phổ v.v...
Mật Vân Viên Ngộ
(密雲圓悟, Mitsuun Engo, 1566-1642): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Mật Vân (密雲), người Huyện Nghi Hưng (宜興縣), Phủ Thường Châu (常州府, Tỉnh Giang Tô), họ Tương (蔣), sinh tháng 11 năm thứ 45 niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖) nhà Minh, tánh tình ngay thẳng, chuyên làm nghề nông. Khi nhìn thấy cuốn Lục Tổ Đàn Kinh (六祖壇經), ông bắt đầu hiểu được tông môn, có hôm nọ khi nhìn thấy người ta chất củi, chợt tỉnh ngộ. Năm 29 tuổi, ông xuống tóc xuất gia với Huyễn Hữu Chánh Truyền (幻有正傳). Đến năm thứ 30 (1602) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông đi theo thầy đến Yến Đô (燕都, Tỉnh Hà Bắc) và làm Giám Viện của Long Trì Viện (龍池院) ở Thường Châu (常州). Một ngày kia, khi đi ngang qua Đồng Quan Sơn (銅棺山), ông hoát nhiên đại ngộ. Đến tháng 2 năm thứ 39, lúc 46 tuổi, ông được truyền thừa y bát của Chánh Truyền. Đến tháng 2 năm thứ 42, gặp lúc thầy qua đời, ông chuyên hầu hạ bên tháp thầy suốt 3 năm và đến tháng 4 năm thứ 45 thì kế thừa trú trì Long Trì Viện. Vào năm thứ 3 (1623) niên hiệu Thiên Khải (天啓), ông chuyển đến Thông Huyền Tự (通玄寺) ở Thiên Thai Sơn (天台山), rồi đến tháng 3 năm sau thì dời sang Quảng Huệ Tự (廣慧寺) ở Hải Diêm (海塩), Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Phúc Kiến). Đến tháng 3 năm thứ 3 (1630) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông xây dựng Vạn Phước Tự (萬福寺) ở Hoàng Bá Sơn (黃檗山), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), rồi đến làm trú trì Quảng Lợi Tự (廣利寺) ở Dục Vương Sơn (育王山), Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang) và chuyển sang Cảnh Đức Tự (景德寺) trên Thiên Đồng Sơn (天童山). Vào năm thứ 14 (1641) niên hiệu Sùng Trinh, ông đến trú trì Đại Báo Ân Tự (大報恩寺) ở Kim Lăng (金陵). Năm sau ông trở về Thông Huyền Tự và vào ngày 7 tháng 7 thì thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi. Ông có để lại bộ Mật Vân Thiền Sư Ngữ Lục (密雲禪師語錄) 12 quyển.
mật vương
(密王) Chỉ cho đức Đại Nhật Như Lai, Giáo chủ của Mật giáo. Vì Đại Nhật tượng trưng cho tâm vương, cho nên gọi là Mật Vương.
mật ý
(密意) Ý kín đáo, tức chỉ cho ý chỉ đặc thù của Phật ẩn kín sau những lời nói mà chúng sinh không thể hiểu được, cho nên gọi là Mật. Chẳng hạn như ý thực Như Lai thường trụ ẩn kín sau từ Niết Bàn. [X. kinh Tối Thắng Vương Q.1].
Mật ý 密意
[ja] ミッチ mitchi ||| (1) Not clearly explained. An explanation possessing a special meaning. A concealed, but essential meaning (abhiprāya, saṃdhāya). (2) Deep or profound meaning. A point that is hard to grasp. (3) As opposed to the "express teaching" 顯教, a situation where the original teaching has been concealed in favor of presenting a easier, or more expedient teaching. (4) The Buddha's meaning 佛意. => 1. Không giảng bày công khai. Lời giảng giải có một ý nghĩa đặc biệt. Một ý nghĩa ẩn mật, nhưng trọng yếu (s: abhiprāya, saṃdhāya). 2. Ý nghĩa sâu mầu. Yểu điểm khó nắm bắt được. 3. Ngược lại với Hiển giáo, là trường hợp giáo lý căn gốc mật truyền vì cứu độ chúng sinh bằng phương thức dễ hơn hay là giáo lý phương tiện. 4. Phật ý.
mật đa la
(密多羅) Phạm: Mitra. Hán dịch: Bằng hữu. Vị thần trông coi về ban ngày được nói đến trong sách Phệ đà của Bà la môn giáo và Ấn độ giáo. Uy lực và trí tuệ của vị thần này cũng ngang với Bà lâu na (Phạm:Varuịa), 2 thần này được xem như vợ chồng, thường gọi là Mật đa la bà lâu na. Bà lâu na trông coi ban đêm, 2 vợ chồng cùng thống trị trời và đất, bảo vệ thế giới, trừng phạt tội ác, cho nên được tôn xưng là Vũ trụ đại vương, Chân lí chúa tể.
mật điển
Esoteric (tantric—occult) scripturs.
mật đà hội
(密陀繪) Cũng gọi Mật đà tăng. Tranh sơn dầu. Trong nghệ thuật hội họa của Phật giáo cũng có loại tranh này. Mật đà tăng là phiên âm của chữ Murdasen, 1 thứ tiếng địa phương ở nước Ba tư.
mật đàm
Secret talk.
mật đàn
(密壇) Gọi đủ: Bí mật đàn. Đối lại: Đại đàn. Chỉ cho đàn dùng để tu hành Mật pháp. Nói theo nghĩa rộng thì Đại đàn cũng gọi là Mật đàn, nhưng thông thường, Mật đàn là đàn hình chữ nhật được đặt ở trước tượng Phật, trên có bày các vật trang trí như mâm Kim cương, lò hương, 6 thứ đồ đựng, đồ đựng thức ăn uống, đế đèn, bình hoa v.v... mỗi thứ 1 cặp, không thể chưng bày Tứ diện khí như Đại đàn được.
mật đặc la
Xem Ân huệ.
mật đặc la giáo
(密特羅教) Mithraism Tông giáo của nước Ba tư (Iran) thời xưa, là 1 trong những tông giáo được lưu truyền bí mật trong thời Đế quốc La mã, thuộc hệ thống Thiên giáo. Theo Thánh điển A phàm sĩ tháp (Zend Avesta) thì vị chủ thần của tông giáo này là thần cách trọng yếu trực thuộc Mã triết đạt (Ahura Mazda). Chủ thần ấy chính là Mật đặc la (Mithra), vì thế nên gọi là Mật đặc la giáo. Ma ni giáo bắt nguồn từ tông giáo này. Mật đặc la vốn là 1 trong những vị thần linh của Ba tư và Ấn độ thời thượng cổ, bắt đầu vào khoảng 2.000 năm trước Tây lịch, có thể thấy trong Lê câu phệ đà. Sau khi Thiên giáo nổi lên thì Mật đặc la không thấy nói đến nữa. Nhưng sau lại thấy được lưu hành ở vùng Mesopotamia rồi từ đó truyền sang phương Tây. Vào khoảng thế kỉ thứ III trước Tây lịch, ở Ba tư và Ấn độ, Mật đặc la được tin thờ như là vị thần chúa tể của thiên không, rồi dần dần được coi là thần Thái dương, thần Ánh sáng, thần làm cho muôn vật tốt tươi và rất được sùng bái. Đối chiếu với Mật đa la (Phạm:Mitra) trong thần thoại Phệ đà, ta thấy Ấn độ và Ba tư có chung 1 thần Thái dương. Đây là đề tài rất thú vị cho những môn Tỉ giảo ngôn ngữ học, Tỉ giảo thần thoại học Ấn Âu v.v...Căn cứ vào nội dung giáo nghĩa và tín ngưỡng mà nhận xét, có thể nói tông giáo này trực thuộc hệ thống Thiên giáo. Do đề xướng thuyết bình đẳng, ăn bánh thánh, nên mọi tín đồ đều được phúc âm như nhau mà đạt đến cảnh giới sống lại. Thế giới hiện thực đấu tranh nhị nguyên thiện và ác, cũng do sự giáng lâm của thần Mật đặc la mà có thuyết Người thiện chết được sống lại, kẻ ác chết bị tiêu diệt. Năm 67 trước Tây lịch, tín ngưỡng Mật đặc la được truyền vào La mã, đến thời Đế quốc La mã hưng thịnh, vì Mật đặc la là chủ thần nên tín ngưỡng Mật đặc la trở thành tông giáo Mật đặc la. Đến thế kỉ II Tây lịch, tông giáo này dựa vào thế lực mạnh mẽ của Đế quốc La mã mà truyền bá ở châu Âu và có xu thế phát triển thành tông giáo thế giới. Nhưng về sau, do sự nổi lên của Cơ đốc giáo nên vào khoảng thế kỉ IV, Mật đặc la giáo suy vi và tín đồ của tông giáo này hoặc cải tín theo Cơ đốc giáo, hoặc theo Ma ni giáo.
mật ước
Secret agreement.
mật ấn
The esoteric digital sign of a Buddha or bodhisattva indicative of his vow.
; Mật ấn của Phật và Bồ Tát ám chỉ hạnh nguyện của các ngài—The esoteric digital sign of a Buddha or bodhisattva indicative of his vow.
; (密印) I. Mật Ấn. Dấu ấn bí mật, sâu kín. Cứ theo giáo nghĩa căn bản của Mật giáo, chư Phật và Bồ tát đều có bản thệ, để nêu tỏ bản thệ ấy, các ngài thường dùng 10 ngón tay, hoặc 1 động tác đặc biệt nào đó của thân thể để hiển bày thành các thứ tướng, đó là ấn tướng ấn khế của bản thệ, cho nên gọi là ấn; lại vì cái nghĩa lí chỉ thú được nêu ra đó rất là sâu kín mầu nhiệm, cho nên gọi là mật. Phẩm Mật ấn kinh Đại nhật (Đại 18, 30 thượng), nói : Nên biết thân thể cử động hay bất động đều là Mật ấn; những lời uyển chuyển nói ra đều là Chân ngôn. II. Mật Ấn. Trong Thiền tông, 1 lúc nào đó, người học chợt thấy suốt bản tính mà tỏ ngộ cội nguồn sinh tử mê vọng, bậc thầy bèn nhân cơ duyên ấy mà ấn khả cho. Cảnh giới được ấn khả chứng minh ấy chính là tâm ấn trực tiếp, thân thiết giữa thầy và trò, người khác không thể nào thấy biết được, nên gọi là Mật ấn. III. Mật Ấn. Pháp hiệu của Thiền sư Chân truyền thuộc tông Lâm tế sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh. (xt. Mật Ấn Chân Truyền).
mật ấn chân truyện
(密印真傳) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người Tự châu (tỉnh Tứ xuyên), họ Lí, hiệu Mật ấn, là đệ tử nối pháp của ngài Linh ẩn Ấn văn. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, một hôm nghe 1 vị lão tăng nói về tông chỉ giáo ngoại biệt truyền nên qui hướng Thiền tông và thờ ngài Linh ẩn làm thầy. Sau sư trụ ở chùa Thắng giác, núi Quảng phúc, huyện Kiềm dương, tỉnh Hồ nam, Xiển dương tông phong. Năm Khang hi 17 (1678) sư tịch, thọ 54 tuổi. Sư có tác phẩm: Mật ấn thiền sư ngữ lục.
mật ấn như lai
The secret seal from Tathagata.
mật ấn quán đỉnh
(密印灌頂) Pháp Quán đính này không thực hành các tác pháp của Cụ chi quán đính mà chỉ truyền trao ấn khế chân ngôn, là pháp Quán đính đặc biệt chỉ thực hành đối với các đệ tử có căn tính ưu việt. Pháp quán đính này tương đương với Ấn pháp quán đính hoặc Dĩ tâm quán đính (là quán đính chỉ ở trong tâm tưởng). Còn Cụ chi quán đính là pháp Quán đính được truyền trao cho các đệ tử có tư cách thâm sâu, có năng lực mạnh mẽ, được quả báo phúc thí vô tận và đầy đủ các điều kiện cần thiết mới thụ được. (xt. Cụ Chi Quán Đính).
mật ấn thiền sư ngữ lục
(密印禪師語錄) Tác phẩm, 12 quyển, do ngài Mật ấn Chân truyền (1625-1678) soạn vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, các ngài Như vĩ v.v... biên tập, được thu vào Đại tạng đời Minh. Nội dung 12 quyển được chia ra như sau: Quyển 1 đến quyển 3 là phần Thướng đường, quyển 4 là phần Tiểu tham, quyển 5, quyển 6, là phần Khai thị, quyển 7 là phần Pháp ngữ, Mục ngưu tụng, Thập vô ngữ tụng, quyển 8 là phần Cơ duyên, Khám biện, Niêm vấn đại tụng, quyển 9 là phần Tụng cổ, quyển 10 là phần Sơn cư, Tập thi, Thủy cư, quyển 11 là phần Tạp kệ, Chư tán, Chân tán, quyển 12 là phần Tạp kệ, Sớ dẫn, Tháp lục...
mật ấn tự
(密印寺) Chùa ở núi Đại qui, phía tây huyện Ninh hương, tỉnh Hồ nam, do ngài Qui sơn Linh hựu (771-853) sáng lập vào khoảng năm Nguyên hòa (806-820) đời Đường, theo lời thỉnh cầu của cư sĩ Bùi hưu. Khi ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch, đệ tử nối pháp của Thiền sư Qui sơn Linh hựu, kế thừa pháp vị tiếp hóa người học, thì chùa này trở thành nơi phát tích của tông Qui ngưỡng. Trước kia, trong chùa có các di tích nổi tiếng như: Lầu chứa kinh, am Bùi công, mộ Bùi công, cư thất của ngài Ngưỡng sơn, động Hương nghiêm, cầu Hồi tâm, Bàn đà thạch v.v..., nhưng rất tiếc chùa đã hoàn toàn bị hủy diệt trong chiến tranh thời cận đại! [X. Đại thanh nhất thống chí Q.277].
Mật ấn 密印
[ja] ミツイン mitsuin ||| An encoded sign or gesture made with the hands that indicates some aspect of the Buddhist teaching (mūdra, choma). Most commonly seen in the iconography of the Esoteric sect 密教. => Các dấu hiệu và động tác ẩn mật được làm bằng tay biểu thị một vài phương diện giáo lý đạo Phật (s: mūdra, choma). Thường được thấy nhất trong các đồ hình của Mật giáo.
Mật-lặc Nhật-ba
蜜勒日波; T: milarepa [mi-la-ras-pa]; 1052-1135, có nghĩa là »Mật-lặc, người mặc áo vải khổ hạnh«;|Một trong những thánh nhân nổi tiếng nhất của Tây Tạng. Ông là đệ tử của Mã-nhĩ-ba (t: marpa) và bị thầy thử thách khắc nghiệt. Cuối cùng ông được truyền giáo pháp Ðại thủ ấn và Na-rô lục pháp (nāro chodrug), sáng lập tông phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa). Ngày nay, Phật giáo Tây Tạng vẫn còn nhắc nhở lại cuộc đời phiêu bồng và những bài ca của ông.||H 43: Mật-lặc Nhật-ba đang lắng tai nghe âm thanh của chư thiên và pháp. Cũng có thuyết nói rằng, tay phải của ông đang ở trong một tư thế tu tập của Ðại cứu kính (t: dzogchen). Dây nịt quàng vai và đầu gối (s: yogapaṭṭa) của ông được nhiều Du-già sư (s: yogin) sử dụng trong những chu kì thiền định nhọc nhằn, giúp thiền giả ngồi vững, không ngả ra phía trước hoặc phía sau.|Mật-lặc Nhật-ba sinh tại Tây Tạng, gần biên giới Nepal. Lúc lên bảy, cha mất, gia sản bị chiếm đoạt, gia đình ông bị đối xử tàn tệ. Nhằm trả thù nhà, Mật-lặc Nhật-ba đi học huyền thuật, dùng phép hô phong hoán vũ giết hại nhiều người. Ăn năn về hành động đó, ông tìm gặp một vị Ðạo sư của tông Ninh-mã (t: nyingmapa) là Rong-ton xin học nhưng vị này khuyên nên gặp Mã-nhĩ-ba. Ông trở thành môn đệ của Mã-nhĩ-ba lúc 38 tuổi, nhưng suốt sáu năm chỉ được xem là kẻ hầu, và Mã-nhĩ-ba thử thách khắc nghiệt làm ông hầu như kiệt sức và gần muốn tự vận.|Với thời gian đó, ác nghiệp của ông đã được trả xong, Mã-nhĩ-ba bắt đầu dạy pháp cho ông bằng cách sống viễn li cô tịch, truyền cho giáo pháp của Na-rô-pa (t: nāropa) và đặc biệt chú trọng phép phát triển Nội nhiệt (Na-rô lục pháp). Chỉ với một chiếc áo vải mỏng manh, ông sống năm này qua năm khác trong cái lạnh của Hi-mã-lạp sơn, chỉ chuyên tâm thiền định trong các hang động. Sau chín năm độc ẩn, ông bắt đầu thu nhận môn đệ, trong đó có vị y sĩ Ðạt-bảo Cáp-giải (t: dvags-po lharje) là người quan trọng nhất. Mật-lặc Nhật-ba để lại nhiều bài ca bất hủ cho đời sau và những bài ca này được ghi lại trong một tập dưới tên Thập vạn ca (100.000 bài hát của Mật-lặc Nhật-ba).
Mậu
(戊): tên gọi 1 trong 10 can, ở vị trí thứ 5; trong ngũ hành nó là Thổ; về phương hướng nó ở vị trí trung ương; về thời khắc thì trước giờ ngọ 4 tiếng, hay trước sau giờ ngọ hai tiếng.
mậu
1) Tươi tốt thịnh vượng: Flourishing. 2) Cung thứ năm trong mười cung: The fifth of the ten stems.
mậu già thụ
(茂遮樹) Mậu già, Phạm: Moca. Cũng gọi Sơn quì, Hản thái (Horse ruddish tree). Tên khoa học: Moringa Pterygosperma, Gat. Loại thực vật thuộc họ Moringeae, mọc hoang ở vùng rừng núi Hi Mã Lạp Sơn ở Ấn độ và được trồng tại các khu vực nhiệt đới trên thế giới. Thân cây thấp, gỗ mềm, vỏ cây mịn láng, rễ rất cay, có thể ăn được, lá hình bầu dục, dài từ 32 đến 64 phân tây, là loại lá kép trên có 4 đến 6 lá nhỏ, dàn xếp giống như cánh chim; hoa có đường kính 1 tấc, màu trắng, bầu nhụy có quả giống như quả đậu, dài khoảng hơn 30 phân, rũ xuống. Nước trái cây này là 1 trong 8 thứ nước uống. Bách nhất yết ma quyển 5 chú thích (Đại 24, 478 thượng): Nước trái cây ấy giống như nước chuối chín.
Mậu Kỷ
(戊己): tên gọi 2 can trong 10 can (Giáp [甲], Ất [乙], Bính [丙], Đinh [丁], Mậu [戊], Kỷ [己], Canh [庚], Tân [辛], Nhâm [壬], Quý [癸]). Mậu (戊) ở vị trí thứ 5, Kỷ (己) ở vị trí thứ 6; trong Ngũ Hành hai can này thuộc về Thổ; về phương hướng chúng ở vị trí trung ương; về thời khắc thì trước giờ ngọ 4 tiếng, hay trước sau giờ ngọ hai tiếng. Cho nên, Mậu Kỷ là tên gọi khác của Thổ. Như trong bài Tư Vô Tà Trai Tán (思無邪齋贊) của Tô Thức (蘇軾, 1036-1101) nhà Tống có câu: “Bồi dĩ Mậu Kỷ, canh dĩ Xích Xà (培以戊己、耕以赤蛇, bồi thêm đất tốt, canh nơi rắn đỏ).” Theo tín ngưỡng của Đạo Mẫu, Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Hoàng Hổ Thần Quan (中央戊己土德黃虎神官) còn là tên gọi của một trong 5 vị quan Ngũ Hổ. Trong Tế Công Thiền Sư Độ Thế Diệu Pháp Kinh (濟公禪師度世妙法經) của Đạo Giáo có câu: “Đông phương Giáp Ất Mộc, nhân chi dức dã; Nam phương Bính Đinh Hỏa, lễ chi đức dã; trung ương Mậu Kỷ Thổ, tín chi đức dã; Tây phương Canh Tân Kim, nghĩa chi đức dã; Bắc phương Nhâm Quý Thủy, trí chi đức dã (東方甲乙木、仁之德也、南方丙丁火、禮之德也、中央戊己土、信之德也、西方庚辛金、義之德也、北方壬癸水、智之德也, phương Đông là Giáp Ất thuộc về Mộc, là đức của lòng nhân; phương Nam là Bính Đinh thuộc về Hỏa, là đức của lễ; ở trung ương là Mậu Kỷ thuộc về Thổ, là đức của niềm tin; phương Tây là Canh Tân thuộc về Kim, là đức của nghĩa; phương Bắc là Nhâm Quý thuộc về Thủy, là đức của trí).”
mậu la tam bộ lô
(茂羅三部盧) Phạm:Mùlasthànapura. Một vùng đất nằm bên Đông Ngạn sông Sindh (Ấn hà) thuộc Tây bắc Ấn Độ. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11 và Từ Ân truyện quyển 4, thì vùng đất này thời bấy giờ (thế kỉ VII) lệ thuộc nước Trách ca, dân cư phần nhiều thờ thiên thần, ít tin Phật pháp. Ở đây có hơn 10 ngôi chùa nhưng phần lớn đã đổ nát; rất ít tăng đồ, mà học tập cũng không chuyên. Có 8 ngôi đền thờ trời, ngoại đạo xen lẫn, đặc biệt cúng tế pho tượng bằng vàng của thần Mặt trời; các bậc Vương hầu, quí tộc ở Ấn Độ thời ấy đều đưa các thứ trân quí đến đây cúng thần để cầu phúc. Thành phố Multan ở Pakistan hiện nay chính là nền cũ của kinh đô xứ Mậu la tam bộ lư ngày xưa. Thành phố Multan là thủ phủ của người Mallies vào thế kỉ thứ IV trước Tây lịch. Khi Alexander Đại đế chinh phục Ấn Độ, tương truyền ông ta đã bị trọng thương ở gần thành phố này.
mậu đạt la
Thủ Đà La—Sudra (skt)—Giai cấp nông nô—The caste of farmers and slaves.
mậu địa
Parthia—Tây An Quốc—An Tây Quốc.
mắc
1) Busy—Occupied. 2) To be caught in.
mắc cỡ
1) To be ashamed. 2) Mimosa (flower).
mắc kẹt
To be busy.
mắc lừa
To be cheated.
mắc nạn
To meet with an accident—To fall into misfortunes.
mắc nợ
To be in debt (indebted).
mắng
To reproach—To blame—To scold—To curse.
mắng chửi
To scold and curse.
mắng nhiếc
To scold severely.
mắt
Cakkhu (P), Cakṣu (S), Eye,
; Caksu (S). Eye.
; Eye.
mắt dữ
Wicked eyes.
mắt ganh tỵ
Jealous eyes.
mắt láo liên
Shifty eyes—Dishonest eyes.
mắt nhìn xuống
Eyes cast down
mắt thường
Naked eyes.
mắt thịt
(nhục nhãn): là con mắt hữu hình mà chúng sanh hiện có, cũng gọi là mắt phàm. Xem thêm năm thứ mắt.
mắt thụt sâu
Eyes were sunk
mắt tinh
Sharp eyes.
mắt trần
Màmsacaksu (S). Human eye, physical eye. Also nhục nhãn, mắt thịt.
mắt tâm
Drishti (skt)—The mind's eye—Wisdom—Insight.
mặc
1) Mặc quần áo: To dress—To wear. 2) Trầm mặc: Silent—Profound—Secret—Dark.
mặc bất nhị
(默不二) Cũng gọi Mặc nhiên vô ngôn, Duy ma nhất mặc. Cư sĩ Duy ma cật im lặng để biểu thị ý chỉ Bồ tát vào pháp môn bất nhị. Cứ theo phẩm Nhập bất nhị pháp môn trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển trung, thì 32 vị Bồ tát như ngài Văn thù sư lợi v.v... đàm luận về vấn đề vào pháp môn Bất nhị với cư sĩ Duy ma cật. Trong đó, đối với nguyên lí tương đối sinh và diệt, thiện và ác v.v... mỗi vị Bồ tát đều đưa ra đáp án vượt ngoài vấn đề tuơng đối này và cho đó là pháp môn bất nhị. Bồ tát Văn thù thì cho rằng tất cả pháp vô ngôn vô thuyết, vô thị vô thức, lìa các vấn đáp, đó mới là vào pháp mônbất nhị. Trái với sự giải thích của các vị Bồ tát như ngài Văn thù v.v...cư sĩ Duy ma lặng thinh không nói (mặc bất nhị) để hiển bày chân lí cao siêu nhất của việc vào pháp môn bất nhị, ngài Văn thù liền khen như thế mới chân chính vào pháp môn bất nhị. Phẩm Nhập bất nhị pháp môn trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển trung (Đại 14, 551 hạ), nói: Bồ tát Văn thù sư lợi hỏi cư sĩ Duy ma: Chúng tôi đều đã nói quan điểm của mình rồi, bây giờ xin Nhân giả cho biết thế nào là Bồ tát vào pháp môn bất nhị? Cư sĩ Duy ma lặng thinh không nói. Ngài Văn thù sư lợi khen rằng: Hay thật! Hay thật! Cho đến chỗ không còn văn tự ngôn ngữ, thế mới là chân thực vào pháp môn bất nhị. (xt. Nhập Bất Nhị Pháp Môn).
Mặc chiếu thiền
默照禪; C: mòzhǎo-chán; J: mokushō-zen; nghĩa là »Thiền của sự giác ngộ thầm lặng«;|Danh từ này xuất hiện và được sử dụng trong thời Thiền sư Hoằng Trí Chính Giác (1091-1157) trong tông Tào Ðộng để phân biệt với phương pháp Khán thoại thiền trong dòng Lâm Tế. Theo phương pháp Mặc chiếu thiền, thiền sinh không cần phải dùng Công án mà chỉ việc ngồi trầm tĩnh tu tập Thiền định.|Như Khán thoại thiền trong dòng Lâm Tế, danh từ Mặc chiếu thiền được sử dụng ám chỉ dòng Tào Ðộng. Nói đến Mặc chiếu thiền là người ta nghĩ ngay đến Tào Ðộng.
mặc chiếu thiền
Mokushō-zen (J).
; Dùng cái tâm năng quán im lặng (mặc) nhìn hẳn một điểm (sở quán) gọi là Mặc chiếu, nghĩa là im lặng chiếu soi một chỗ. Cũng như im lặng khán chữ “vô” là lọt vào mặc chiếu tà thiền, vì trụ nơi im lặng chẳng thể đạt đến nơi kiến tánh, nên cũng thuộc vào thiền bệnh.
; Mặc Chiếu Thiền (của tông Tào Động), nhấn mạnh đến sự chuyển hóa và giác ngộ từ bên trong. Theo Thiền Sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập II, những chứng cớ có thẩm quyền mà các nhà mặc chiếu thiền lấy làm chỗ tựa cho tin tưởng của mình như sau—Silent illumination Zen, emphasizes on inner transformation and inner realization. According to Zen Master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book II, the authoritative facts upon which the Zen quietists based their belief are mentioned as follows: Khi Đức Thích Ca Mâu Ni ở Ma Kiệt Đà, Ngài đóng cửa không lên tiếng trong ba tuần. Đây há không phải là một điển hình về lối mặc chiếu của Phật hay sao? Khi ba mươi hai vị Bồ Tát tại thành Tỳ Xá Li bàn bạc với ngài Duy Ma cật về pháp môn bất nhị, cuối cùng Duy Ma Cật im lặng không nói một lời và Đức Văn Thù khen hay (See Appendix K—Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Bồ Tát). Đây há không phải là im lặng mặc chiếu của một vị đại Bồ Tát hay sao? Khi Tu Bồ Đề ngồi trong hang đá không nói một lời, không thuyết một câu về Bát Nhã Ba La Mật. Đây há không phải là sự im lặng của một vị đại Thanh Văn hay sao? Khi thấy Tu Bồ Đề ngồi lặng lẽ như thế trong hang đá, Thiên Đế Thích bèn rãi hoa trời cúng dường, cũng không nói một lời. Đây há không phải là sự im lặng của phàm phu? Khi Bồ Đề Đạt Ma dạo đến Trung Quốc, ngài ngồi suốt chín năm trên Thiến Lâm, lãnh đạm với tất cả những ngôn giáo. Đây há không phải là sự im lặng của tổ sư hay sao? Và Lục Tổ mỗi khi thấy một vị Tăng đến, ngài liền quay mặt vào tường ngồi lặng lẽ. Đây há không phải là sự im lặng của thiền sư hay sao?—“When Sakyamuni was in Magadha he shut himself up in a room and remained silent for three weeks. Is this not an example given by the Buddha in the practice of silence? When thirty-two Bodhisattvas at Vaisali discoursed with Vimalakirti on the teaching of non-duality, the latter finally kept silence and did not utter a word, which elicited an unqualified admiration from Manjusri. Is this not an example given by a great Bodhisattva of the practice of silence? When Subhuti sat in the rock-cave he said not a word, nor was any talk given out by him on Prajnaparamita. Is this not an example of silence shown by a great Sravaka? Seeing Subhuti thus quietly sitting in the cave, Sakrendra showered heavenly flowers over him and uttered not a word. Is this not an example of silence given by an ordinary mortal? When Bodhidharma came over to China he sat for nine years at Shao-Lin forgetful of all wordy preachings. Is this not an example of silence shown by a patriarch? Whenever the Sixth Patriarch saw a monk coming, he turned towards the wall and sat quietly. Is this not an example of silence shown by a Zen Master? Nhưng Thiền sư Đại Huệ bảo rằng chỉ mặc tọa không thôi thì chẳng được việc gì cả, vì nó chẳng đưa đến đâu, vì sự chuyển y không khởi lên trong tâm của mình, để nhờ đó mà người ta bước vào thế giới đa thù bằng một nhãn quan khác hăn bây giờ. Những thiền gia mặc tọa nào mà chân trời tâm trí không vương lên tới cái trình độ gọi là im lặng tuyệt đối khôn dò, họ quờ quạng trong hang tối vĩnh viễn. Họ không thể mở ra con mắt trí tuệ. Vì vậy họ cần được dắt dẫn bởi bàn tay của một thiền sư—But Ta-Hui declares that mere quiet sitting avails nothing, for it leads nowhere, as no turning-up takes place in one's mind, whereby one comes out into a world of particulars with an outlook different from the one hitherto entertained. Those quietists whose mental horizon does not rise above the level of the so-called absolute silence of unfathomability, grope in the cave of eternal darkness. They fail to open the eye of wisdom. This is where they need the guiding hand of a genuine Zen master. Rồi sau đó Đại Huệ tiếp tục nêu lên những trường hợp chứng ngộ do một minh sư hướng dẫn; đồng thời lưu ý sự cần thiết tham cần một bậc đã tỏ ngộ và lật đổ hẳn toàn bộ thủ thuật im lặng vốn cản trở sự tăng trưởng tâm linh Thiền. Sự lật đổ toàn bộ cơ cấu này ở đây được. Đại Huệ nói theo một thuật ngữ của kinh là 'nhập lưu vọng sở,' nghĩa là bước vào dòng và bỏ mất cái chổ trú,' ở đó mãi mãi không còn ghi dấu sự đối đãi của động và tĩnh nưa. Ông nêu lên bốn trường hợp—Ta-Hui then proceeds to give cases of enlightenment realized under a wise instructor, pointing out how necessary it is to interview an enlightened one and to turn over once for all the whole silence-mechanism, which is inimical to the growth of the Zen mind. This up-turning of the whole system is here called by Ta-Hui after the terminology of a sutra: 'Entering into the stream and losing one's abode, where the dualism of motion and rest forever ceases to obtain. He gives four examples: • Hòa Thượng Thủy Lạo nhân khi đang tỉa cây đằng, hỏi Mã Tổ, 'Ý của Tổ từ Tây đến là gì?' Mã Tổ đáp, 'Lại gần đây ta bảo cho.' Rồi khi Thủy Lạo vừa đến gần, Mã Tổ tống cho một đạp té nhào. Nhưng cái té nhào nầy khiến cho tâm của Thủy Lạo hoát nhiên đại ngộ, bất giác đứng dậy cười ha hả, tuồng như xãy ra một việc không ngờ, nhưng rất mong mỏi. Mã Tổ hỏi, 'Nhà ngươi thấy cái đạo lý gì đây?' Thủy Lạo đáp, 'Quả thật, trăm ngàn pháp môn, vô lượng diệu nghĩa, chỉ trên đầu một sợi lông mà biết ngay được cả căn nguyên. Rồi Đại Huệ bàn: :Khi đã chứng ngộ như vậy Thủy Lạo không còn chấp trước vào sự im lặng của Chánh định nữa, và vì ngài không còn dính mắc vào đó nên vượt hẳn lên hữu vi và vô vi; ở trên hai tướng động và tĩnh. Ngài không còn nương tựa những cái ở ngoài chính mình nữa mà mở ra kho tàng tự kỷ, nên nói: 'Ta đã thấy suốt căn nguyên rồi!' Mã Tổ biết thế và không nói thêm gì nữa. Về sau, khi được hỏi về kiến giải Thiền của mình, ngài chỉ nói: 'Từ thuở nếm cái đạp nặng nề của Tổ cho đến giờ, ta vẫn cười hoài không thôi.”—When Shui-Lao was trimming the wistaria, he asked his master, Ma-Tsu, 'What is the idea of the Patriarch's coming over here from the West?' Ma-Tsu replied, 'Come up nearer and I will tell you.' As soon as Shui-Lao approached, the master gave him a kick, knocking him right down. This fall, however, all at once opened his mind to a state of enlightenment, for he rose up with a hearty laugh, as if an event, most unexpected and most desired for, had taken place. Asked the master, 'What is the meaning of all this?' Lao exclaimed, 'Innumerable, indeed, are the truths taught by the Buddhas, all of which , even down to their very sources, I now perceive at the tip of one single hair.' Ta-Hui then comments: “Lao, who had thus come to self-realization, is no more attached to the silence of Samadhi, and as he is no more attached to it he is at once above assertion and negation, and above the dualism of rest and motion. He no more relies on things outside himself but carrying out the treasure from inside his own mind exclaims, 'I have seen into the source of all truth.' The master recognizes it and does not make further remarks. When Shi-Lao was later asked about his Zen understanding , he simply announced, 'Since the kick so heartily given by the master, I have not been able to stop laughing.' • Vân Môn hỏi Động Sơn: “Ở đâu đến đây?” “Tra Đô.” “Mùa hạ ở đâu?” “Ở Báo Từ, Hồ Nam.” “Rời khỏi núi ấy lúc nào?” “Thánh tám, ngày hai mươi lăm.” Vân Môn kết luận, “Tha ngươi ba chục hèo, dù ngươi đáng tội.” Về cuộc thăm hỏi của Động Sơn với Vân Môn, Đại Huệ bảo rằng: “Động Sơn thật là thuần phát biết bao! Ngài cứ thật mà trả lời, nên đương nhiên là phải nghĩ rằng: 'Mình đã thật tình mà trả lời, thế thì có lỗi gì mà phải bị ba chục hèo?' Ngày hôm sau lại đến kiếm thầy mà hỏi: 'Hôm qua nhờ Hòa Thượng tha cho ba chục hèo, nhưng chưa hiểu là có lỗi gì?' Vân Môn bảo: 'Ôi phường giá áo túi cơm, vì vậy mà nhà ngươi đi từ Giang Tây đền Hồ Nam đấy!' Lời cảnh giác ấy bỗng làm sáng mắt của Động Sơn, rồi thì chẳng có tin tức nào đáng thông qua, chẳng có đạo lý nào đáng nêu lên nữa. Ngài chỉ lạy mà thôi và nói: 'Từ đây về sau, tôi sẽ dựng thảo am ở nơi không có dấu vết người; không cất lấy một hột cơm, không trồng một cọng rau, và tiếp đãi khách mười phương lai vãng; tôi sẽ vì họ mà nhổ hết những đinh những móc; tôi sẽ cởi bỏ cho họ những chiếc nón thoa dầu, những chiếc áo hôi nách, khiến cho họ được hoàn toàn sạch sẽ và thành những vị Tăng xứng đáng.' Vân Môn cười và nói; 'Cái thân như một trái dừa bao lớn mà có cái miệng rộng vậy thay!'—Yun-Men asked Tung-Shan: 'Whence do you come?' 'From Chia-Tu.' 'Where did you pass the summer session?' 'At Pao-Tzu, in Hu-Nan.' 'When did you come here?' 'August the twenty-fifth.' Yun-Men concluded, 'I release you from thirty blows, though you rightly deserve them.' On Tung-Shan's interview with Yun-Men, Ta-Hui comments: “How simple-hearted Tung-Shan was! He answered the master straightforwardly, and so it was natural for him to reflect, 'What fault did I commit for which I was to be given thirty blows when I replied as truthfully as I could?' The day followinghe appeared again before the master and asked, 'Yesterday you were pleased to release me from thirty blows, but I fail to realize my own fault.' Said Yun-Men, 'O you rice-bag, this is the way you wander from the west of the River to the south of the Lake!' This remark all of a sudden opened Tung-Shan's eye, and yet he had nothing to counicate, nothing to reason about. He simplybowed, and said, 'After this I shall build my litle hut where there is no human habitation; not a grain of rice will be kept in my pantry, not a stalk of vegetable will be growing on my farm; and yet I will abundantly treat all the visitors to my hermitage from all parts of the world; and I will even draw off all the nails and screws that are holding them to a stake; I will make them part with their greasy hats and ill-smelling clothes, so that they are toroughly smiled and said, 'What a large mouth you have for a body no larger than a coconut!'” • Yến quốc sư khi còn là một học Tăng, qua nhiều năm học hỏi với Tuyết Phong. Một hôm, Tuyết Phong biết cơ duyên của ngài đã chín mùi, liền nắm chặt ngài và hỏi cộc lốc: “Cái gì đây?” Yến như vừa chợt tỉnh cơn mê và được liễu ngộ. Ngài chỉ nhắc cánh tay lên đưa qua đưa lại. Phong nói: “Nhà ngươi làm gì thế?” Vị đệ tử này trả lời nhanh nhẩu: “Nào có gì đâu?”—Yen, the national teacher of Ku-Shan, when he was still a student monk, studied for many years under Hsueh-Feng. One day, seeing that his student was ready for a mental revolution, the master took hold of him and demanded roughly, 'What is this?' Yen was roused as if from a deep slumber and at once comprehended what it all meant. He simply lifted his arms and swung them to and fro. Feng said, 'What does that mean?' No meaning whatever, sir, came quickly from the disciple. • Một hôm Hòa Thượng Quán Khê thăm Lâm Tế. Lâm tế bước xuống ghế rơm, không nói không rằng, nắm chặt nhà sư lại; Quán Khê liền nói: “Tôi hiểu, tôi hiểu.”—One day Kuan-Ch'i saw Lin-Chi. The latter came down from his straw chair, and without saying a word seized the monk, whereupon Kuan-Ch'i said, ' I know, I know.'
; (默照禪) Thiền phong do Thiền sư Hoành trí Chính giác thuộc tông Tào động đời Tống đề xướng. Mặc là lặng yên, chuyên tâm ngồi thiền; Chiếu là dùng trí quán chiếu tâm tính linh tri xưa nay vốn thanh tịnh. Ngài Chính giác cho rằng thực tướng tức là tướng mà vô tướng, chân tâm tức là tâm mà vô tâm, chân đắc tức là đắc mà vô đắc, chân dụng tức là dụng mà vô dụng, cho nên ngài chủ trướng tọa không trần lự (ngồi mà không suy tư) để yên lặng quán chiếu, không cần phải cầu đại ngộ, chỉ tọa thiền với thái độ vô sở đắc, vô sở ngộ. Thiền phong này bị ngài Đại tuệ Tông cảo, 1 bậc danh đức thuộc tông Lâm tế đương thời đả kích mạnh mẽ và chê bai bằng những từ ngữ như: Mặc chiếu tà thiền, Vô sự thiền, Khô mộc tử khôi thiền(Thiền cây khô tro lạnh) v.v... Bởi vì Thiền phong của ngài Tông cảo khác xa với Thiền phong của ngài Chính giác,ngàiTông cảo chủ trương tham cứu cổ tắc công án để có cơ khế nhập tâm tính mà triệt ngộ, cho nên cực lực phê bình phái Chính giác chủ trương im lặng ngồi thiền xoay mặt vào vách mà bỏ việc tham ngộ tu chứng. Về phần mình, ngài Chính giác soạn 1 bài minh Mặc chiếu (toàn bài gồm 72 câu, mỗi câu 4 chữ, tất cả có 288 chữ) để phản bác, cho rằng tọa thiền im lặng có công năng làm cho tác dụng của trí tuệ được hoạt bát, tự nhiên chiếu suốt tự đáy nguồn tâm tính, là Thiền chân thực, chính truyền của Phật Tổ; trong văn cũng chê pháp Thiền Khán thoại đầu của ngài Tông cảo là chỉ chấp chặt vào công án mà thôi. [X. Hoành trí thiền sư quảng lục Q.5, 6, 8; Đại tuệ tông môn vũ khố].
mặc chiếu, mặc khải
To reveal, disclose.
mặc cảm
Inferiority complex.
mặc dầu
Although—Though.
mặc gia
Mo-chia (C), Mohism Do đệ tử của Mặc Tử sưu tập có lẽ vào năm 400 trước Công nguyên.
mặc hứa
To agree, consent tacitly.
mặc kệ
To be careless—To care nothing for someone's advice.
mặc lãng đạo gia
(默朗道嘉) Một nghi thức xua đuổi ma quỉ với qui mô lớn được tổ chức vào ngày 24 tháng giêng hàng năm theo lịch Tây tạng, khi pháp hội Truyền đại triệu cử hành tại Lạp tát (Lhasa) kết thúc. Đạo gia là tiếng Tây tạng, nghĩa là trừ quỉ. Khi cử hành nghi thức này, chúng tăng ở Cam đan trì ba, Trát Phương Lãng Kiệt thuộc cung Bố đạt lạp, viện Mật tông của Trát thương Ngạc ba chùa Triết bạng, đều về nhóm họp tại Lạp tát, rồi 500 người hóa trang làm các kị sĩ Mông cổ thời xưa, xếp thành hàng ngũ diễu hành, đốt các đống cỏ và bắn súng để xua đuổi tất cả tai họa trong năm.
mặc lí
(默理) Diệu lí lặng yên không lời (mặc nhiên vô ngôn). Nghĩa là cư sĩ Duy ma cật dùng mặc nhiên vô ngôn để biểu thị chân lí sâu xa mầu nhiệm không thể dùng lời nói mà diễn tả được. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. (xt. Mặc Bất Nhị).
mặc lý
Giáo pháp im lặng của ngài Duy Ma Cật, vì ngài cho rằng chân lý bất khả luận (trong pháp hội, các vị Thánh đều nói về Pháp Tướng Bất Nhị, Ngài Văn Thù nói về vô ngôn vô thuyết, trong khi ngài Duy Ma chỉ mặc nhiên không nói)—The principle of silence, that the absolute is indefinable, the doctrine of Vimalakirti.
mặc mai y
(墨梅衣) Chỉ cho loại áo ca sa đã biến dạng hoặc trái với hình thức ca sa. Nguyên do có mặc mai (mai đen) là vì đem cành mai tháp vào cây xoan, khi hoa mai nở thì có màu đen, cho nên về sau từ ngữ này được dùng để chỉ cho những vật đã thay hình đổi dạng.
Mặc nhiên
默然|Là sự lặng thinh, không trả lời. Biểu thị này thường được thấy trong hai trường hợp:|1. Chỉ sự im lặng của Phật Thích-ca Mâu-ni trước những câu hỏi về những chủ đề siêu nhiên, vượt khỏi tầm nhìn, vô bổ.|Các đệ tử của Ngài thường đặt những câu hỏi như »Có một Ngã hay không«, »Một Giác giả có tồn tại sau khi nhập Niết-bàn hay không«, »Thế giới vĩnh hằng hay không«. Ðức Phật giải thích sự im lặng của mình là những câu trả lời dành cho các câu hỏi này chẳng giúp ích gì trên con đường tu tập – bởi vì chúng không trợ giúp khắc phục tham ái, thành đạt trí huệ. Ngài lo ngại các vị đệ tử chỉ chú tâm vào những nghi vấn này mà xao lãng công trình tu tập.|Ðức Phật trình bày quan điểm của mình qua một ẩn dụ nổi tiếng: một người bị trúng tên. Người này được đưa đến y sĩ, và vị y sĩ muốn rút mũi tên ra lập tức. Nhưng kẻ bị trúng tên lại bảo: »Mũi tên này không được rút ra cho đến khi nào ta biết được kẻ nào đã bắn trúng ta, hắn thuộc về gia đình nào, thân thể lớn, bé hay vừa, da trắng, nâu hay đen.«|Và như người bị trúng tên chết trước khi nhận được những câu giải đáp – cũng như thế, các vị đệ tử sẽ bị những nỗi khổ thế gian đàn áp, sẽ chết trước khi nhận được những lời giải đáp về những vấn đề siêu nhiên, vô bổ nêu trên.|2. Chỉ sự im lặng như sấm sét (默如雷; mặc như lôi) của Cư sĩ Duy-ma-cật dành cho Bồ Tát Văn-thù, được ghi lại trong kinh Duy-ma-cật sở thuyết.
mặc nhiên
Tacitly.
; Yên lặng không nói—Tacitly—Silent—Without words.
mặc như
(默如) Danh tăng Trung quốc, người huyện Đông đài, tỉnh Giang tô. Năm Dân quốc thứ 3 (1914), sư xuất gia ở am Như lai cùng huyện, sau thụ giới ở núi Bảo hoa tại Nam kinh, học Thiền ở chùa Cao mân và chùa Thiên đồng, học Phật pháp tại trường Sư phạm Phật giáo và Phật học viện Mân nam. Về sau, sư dạy học tại Phật học viện Mân nam, Phật học viện chùa Kim lăng và Phật học viện Thiên minh ở Thường châu. Năm Dân quốc 38 (1949) sư đến Đài loan, dạy học và hoằng pháp tại các chùa viện. Hiện nay sư trụ ở chùa Pháp vân tại Đài bắc. Sư nghiên cứu sâu rộng về Pháp tướng Duy thức học. Sư có các trứ tác: Đại thừa tam hệ luận tùng, Duy thức học khái luận, Bút thuyết bát thức qui củ tụng.
mặc nhận
To recognize tacitly.
mặc phả
(墨譜) Cũng gọi Bác sĩ. Âm phổ ghi chép về Phạm bái. Vì loại âm phổ này cho thấy rõ sự khác nhau giữa năm âm nên gọi là Ngũ âm mặc phổ. Lại vì người ta dùng bút đỏ mà ghi chép thành nên cũng gọi là Chu mặc phổ, hoặc Chu bác sĩ. Tại Nhật bản, từ Thanh minh tập của Hiển giáo, Mật giáo cho đến Lãng vịnh và Thôi mã nhạc... phần nhiều đều được ghi vào Mặc phổ.
mặc sấn
Brahmadanda (S). A punishment by stopping all communications with others. Also phạm đàn.
; Brahmananda (skt)—Phạm Đàn—Đối với các Tỳ Kheo hung bạo sẽ được đưa đến “Mặc Sấn,” nơi đó không ai được giao du với hạng người nầy—To send to coventry an obnoxious monk, all intercourse with him being forbidden.
mặc truyền
Giáo pháp tâm truyền tâm, chứ không bằng lời nói hay văn tự—Silent teaching or propagation, i.e. from mind to mind, without words or writing.
mặc truyện
(默傳) Đồng nghĩa: Mặc truyền tâm ấn. Trong Thiền tông, khi thầy truyền pháp cho đệ tử, không dùng ngôn ngữ, hoặc văn tự trực tiếp chỉ bày, mà dùng tâm truyền tâm, khiến đệ tử tự ngộ được thực nghĩa sâu kín của Phật pháp, kiến tính thành Phật. Mặc nghĩa là chỉ hiểu biết trong im lặng, chứ chẳng phải hoàn toàn không có 1 lời. Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 351 trung), nói: Nhưng phải truyền trao, như từ xưa đến nay vẫn mặc truyền phân phó, không được giấu giếm chính pháp. [X.Thiền nguyên chư thuyên tập đô tựQ.2].
mặc trí kí
(默置記) Phạm:Sthàpanìya-vyàkaraịa. Pàli: Ỉhapanìya-vyàkarịa. Cũng gọi Xả trí kí, Mặc nhiên kí, Chỉ kí luận. Đối với các câu hỏi thuộc loại không nên đáp thì im lặng gác qua một bên, là 1 trong 4 cách trả lời. Nghĩa là đối với những câu hỏi không nên đáp hoặc không thể đáp vì phi lí, thì đức Phật mặc nhiên không trả lời, khiến cho người hỏi không tăng thêm hí luận vô nghĩa. Chẳng hạn như có người hỏi: Con của thạch nữ (người đàn bà đá) là màu đen hay màu trắng? thì gác vấn đề này qua 1 bên, im lặng không đáp. [X. Phật địa kinh luận Q.6; luận Câu xá Q.19]. (xt. Tứ Kí Đáp).
Mặc tích
墨跡; J: bokuseki; nghĩa là dấu mực;|Danh từ dùng để chỉ các tác phẩm, những lời văn, những chữ được các Thiền sư hoặc các vị tăng viết. Nội dung của các ›Dấu mực‹ thường là một pháp ngữ (j: hōgo) của các vị Thiền sư, Tổ sư. Một mặc tích được thực hiện không phải với tâm trạng ›muốn tạo‹ một tác phẩm nghệ thuật mà chính nó là một biểu hiện của một sự thật sinh động, xuất phát từ kinh nghiệm thiền.|Các mặc tích được các vị Thiền sư – đặc biệt là các vị thực hành Thư đạo (j: shodō) – trứ tác để cổ vũ, khuyến khích môn đệ, thường là được các môn đệ thỉnh cầu thực hiện. Khi thầy tặng môn đệ một mặc tích có nghĩa là vị thầy này ›cho đệ tử biết tâm trạng của mình‹. Có khi mặc tích chỉ là một chữ duy nhất, một chữ đặc biệt, có giá trị trung tâm cho Thiền, hoặc là một bài kệ ngộ đạo hoặc một câu pháp ngữ. Các mặc tích của các Ðại thiền sư Nhật Bản như Mộng Song Sơ Thạch (musō soseki, 1275-1351), Nhất Hưu Tông Thuần (ikkyū sōjun, 1394-1481), Bạch Ẩn Huệ Hạc (hakuin ekaku, 1685-1768) và Tiên Nhai Nghĩa Phạm (sengai gibon) chính là những kiệt tác của nghệ thuật Thiền và nền nghệ thuật Nhật nói chung (xem sự tích về việc viết một mặc tích dưới Hành-trụ-toạ-ngọa).
mặc tích
Bokuseki (J)Tên một vị sư.
; (墨跡) Cũng gọi Thư tích, Thủ tích. Chỉ cho những bút tích của người xưa viết bằng mực trên giấy hoặc lụa. Trong trà đạo của Nhật bản, Mặc tích đặc biệt chỉ cho thủ bút (mặc bảo) của các vị Thiền sư. Ban đầu, ông Thôn điền Châu quang đến chùa Đại đức tham yết ngài Nhất châu Tông thuần (1394-1481), 1 Thiền sư lỗi lạc của tông Lâm tế. Do thấy trong trà thất có treo mặc tích của Thiền sư Viên ngộ Khắc cần thuộc tông Lâm tế đời Tống, Trung quốc mà ông ngộ được lí Trà thiền nhất vị. Về sau, mặc tích của các Thiền sư đời Tống, Nguyên Trung quốc như: Đại tuệ Tông cảo, Mật am Hàm kiệt, Si tuyệt Đạo xung, Hư đường Trí ngu, Thanh chuyết Chính trừng, Cổ lâm Thanh mậu và mặc tích của các ngài Vinh tây, Đạo nguyên, Mộng song Sơ thạch, Tông phong Diệu siêu, Nhất hưu Tông thuần v.v... tại Nhật bản đều được quí trọng.
mặc tưởng
To meditate, to muse upon sth. Trầm tư mặc tưởng. To be in a brown study; to be lost in thought.
; To fall into deep thought.
mặc tấn
(默擯) Phạm, Pàli: Brahma daịđa. Hán âm: Phạm đàn, Phạm đát. Chúng tăng giữ thái độ im lặng, không chuyện trò giao du là phương thức trừng phạt vị tỉ khưu vi phạm giới luật mà không chịu sự điều phục. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 303 thượng), nói: Mặc sấn nghĩa là chúng tăng không qua lại nói chuyện với người ấy. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 2, đoạn 2]. (xt. Phạm Đàn).
mặc tử
Mo-tzu (C), Mo-ti (C), Mei-tzeu (C)Mặc Địch, đời Chiến quốc (468-376 B.C.E.).
mặc địch
Xem MặcTử.
mặn
Lavana (S), Salty.
; Salty.
mặn lạt
Salty and flavourless.
mặn mà
Hearty—Warm—Cordial.
mặt
Face.
mặt dày
Shameless (unblushing) face.
mặt dày mày dạn
See Mặt dày.
mặt dữ
Wicked face.
mặt phải
Right side.
mặt tiền
Facade—The front.
mặt trái
Reverse (side).
mặt trăng
The moon.
mặt trời
Āditya (P), Gaganadhvaja (S), sun Nhật, Nhật Thiên, Thái Dương tinhĐấng tạo hóa của Ấn độ. Vị thần mặt trời.
; The sun.
mặt ủ mày châu
Sad face.
mặt-già-lê-cù-xá-lợi
Makkhali Gosāla (P).
mẹ
Mātṛ (S).
; See Mẫu (2).
mẹ con
See Mẫu Tử.
mếch lòng
To displease someone—To hurt someone's feelings.
mến
To be fond of—To love—To cherrish.
mến phục
To love and admire.
mếu
To twist the face.
mềm
Soft.
mềm dẻo
Flexible.
mềm lòng
To be moved.
mềm mỏng
Flexible.
mễ
See Mễ Cốc.
mễ cốc
Cereals.
mễ lệ da
Maireya (skt)—Một loại thức uống ngọt, nhưng có thể làm cho người ta say, vì được rút ra từ bông Lythrum fructicosum—A kind of intoxicating drink, extracted from the blossoms of Lythrum fructicosum with sugar.
mễ mạch nhai phường
(米麥街坊) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chức vụ phụ trách việc ra phố phường hoặc đến xóm làng khuyến hóa tín đồ cúng dường thóc gạo cho chúng tăng. Điều Nhai phường Thủy đầu Thán đầu Hoa Nghiêm đầu trong Thiền Uyển Thanh Qui quyển 4 (Vạn tục 111, 44 hạ) nói: Chúc nhai phường, Mễ mạch nhai phường, Thái nhai phường, Tương nhai phường, đều là các chức vụ, bên ngoài thì đi khuyến hóa đàn việt (tín đồ) tăng trưởng ruộng phúc, bên trong thì hỗ trợ Thiền lâm, giữ gìn đạo quả. (xt. Hóa Chủ).
mễ đầu
Người giữ tiệm—Keeper of the stores.
mệnh
Ājīva (S), Livehood Sinh mệnh.
; 1) Sanh mạng: Jivita (skt)—Life—Length of life. 2) Số mạng: Fate. 3) Mệnh lệnh: Decree.
; (命) I. Mệnh. Chỉ cho mệnh căn thường được nói đến trong các kinh điển của Phật giáo. (xt. Mệnh Căn). II. Mệnh. Phạm: Jìva. Chỉ cho linh hồn theo học thuyết căn bản của Kì na giáo ở Ấn Độ. Kì na giáo chia Mệnh làm 2 loại là bị vật chất trói buộc và không bị vật chất trói buộc. Mệnh bị vật chất trói buộc có động, tĩnh khác nhau. Loại động tồn tại trong những vật thể có sinh mệnh như động vật và người, còn loại tĩnh thì tồn tại trong các vật thể không có sinh mệnh như đất, lửa, gió v.v... Mệnh không bị vật chất trói buộc chỉ cho mệnh giải thoát. Kì na giáo coi mệnh là nguyên lí của sự sống còn trong vũ trụ, chủ trương trong mệnh có tính hoạt động, khả năng nhận biết và 5 thứ trí: Tư trí (Phạm: Mati), Văn trí (Phạm: Zruta), Tự giác trí (Phạm: Avadhi,cũng gọi Tha giới trí), Tuệ trí (Phạm: Manaparyàya,cũng gọi Tha tâm trí) và Nghĩa trí (Phạm: Kevala,cũng gọi Tuyệt đối trí). Mệnh này cùng với Vô mệnh (Phạm: Ajìva) là 2 yếu tố lớn cấu tạo nên vũ trụ. [X. phẩm Minh Tạo Luận Trong Luận Phương Tiện Tâm]. (xt. Vô Mệnh).
Mệnh (mạng)
命; C: mìng; J: myō;|Có các nghĩa sau: 1. Đời sống, tính mệnh; 2. Số phận hoặc định mệnh của con người, đặc biệt được ân định bởi mệnh trời (thiên mệnh 天命); 3. Luật lệ, nguyên tắc, trật tự. Vận, đạo, sử (運, 道, 使).
mệnh (mạng)
Jìvita (S). Life, vital, length of life, fate, decree.
mệnh bảo
Sự quý báu của cuộc sống (sống để tu tập giải thoát)—The precious posession of life.
Mệnh chung
命終; C: mìngzhōng; J: myōjū; P: maraṇa; S: maraṇa, kṛta-āyus, mṛtyu, cyuti. |Giờ phút cuối cùng của đời người; chết; qua đời.
mệnh chung
Life's end; nearing the end.
; Lúc chết hay lúc gần chết—Life's end or nearing the end of life.
Mệnh chung tâm
命終心; C: mìngzhōngxīn; J: myōshūshin; |Trạng thái tâm của người sắp qua đời. Sinh khởi 4 tâm trạng bám víu vào sự tồn tại của kiếp người, với tài sản sở hữu, gia đình thân thuộc và với sự hiện hữu trong tương lai. Tam ái (三愛)
Mệnh căn
命根; C: mìnggēn; J: myōkon; S: jīvita-indriya.|Một trong 14 pháp Tâm bất tương ưng hành trong Câu xá luận (倶舎論); một trong 24 pháp Tâm bất tương ưng hành theo Duy thức tông. Tiềm lực mệnh sống của đời người trong một khoảng thời gian nhất định, nơi mà A-lại-da thức, – như là kết quả ảnh hưởng phổ quát của nghiệp lực – có năng lực tồn tại trong 50 đến 70 năm. Lực tiềm tàng nầy được duy trì trong danh ngôn chủng tử của A-lại-da thức.
mệnh căn
Jìvitindriya (S). A root, or basis for life, or reincarnation, the nexus of Hìnayàna between two life-periods, accepted by Mahàyàna as nominal but not real.
; Theo Tiểu Thừa giáo thì căn bản của cuộc sống hay sự tái sanh là phi sắc phi tâm, mà là do nghiệp của quá khứ sinh ra, Đại Thừa chấp nhận cái nầy mượn tên là mệnh căn, chứ không phải là thực thể riêng có bổn mệnh—A root or basis for life or reincarnation, the nexus of Hinayana between two life-periods, accepted by Mahayana as nominal but not real.
; (命根) Phạm: Jìvitendriya. Thọ mệnh của các loài hữu tình, cũng thuộc về pháp Tâm bất tương ứng hành, 1 trong 75 pháp của Câu Xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Do sức nghiệp ở quá khứ dẫn sinh, thân tâm hữu tình tiếp nối trong 1 khoảng thời gian (từ lúc đầu thai đến khi chết), cái thể duy trì hơi ấm (trong thân) và thức (tâm) là thọ. Nói cách khác, cái nương vào hơi ấm và thức mà duy trì thân này trong 1 khoảng thời gian, tức gọi là Mệnh căn. Về vấn đề Mệnh căn là có giả hay có thật, thì quan điểm của các phái Phật giáo không giống nhau. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ trong Phật giáo bộ phái cho rằng mệnh căn là có thật, nhưng Kinh bộ và Phật giáo Đại thừa thì lại cho mệnh căn là giả chứ không phải có thật. Như luận Thành Duy Thức quyển 1 nói: Nương vào Chủng tử danh ngôn của thức thứ 8, cùng với sức nghiệp quá khứ dắt dẫn, mà nắm giữ thân mệnh ở đời này, công năng ấy quyết định thời gian tồn tại của sắc, tâm có dài ngắn khác nhau, vì thế giả lập làm mệnh căn. [X. luận Phẩm Loại Túc Q.1; luận Phát Trí Q.14; luận Đại Tì Bà Sa Q.126; luận Câu Xá Q.5]. (xt. Thọ).
mệnh giả
Một trong 16 tà kiến cho rằng thọ mệnh của cái ta là có thực—The living being; the one possessing life; life, one of the sixteen wrong views believing that life is real.
mệnh mệnh điểu
Jivajiva (skt)—See Cộng Mệnh Điểu.
; (命命鳥) Phạm:Jivaô-jivaka. Hán âm: Kì bà kì bà, Kì bà kì bà ca, Thời bà thời bà ca. Cũng gọi Cộng mệnh điểu, Sinh sinh điểu. Loại chim trĩ sống ở Bắc Ấn Độ, được đặt tên theo tiếng hót. Loài chim này có hình dáng kì quái: Một thân 2 đầu, mặt người hình chim, bay liệng nhanh chóng và nhẹ nhàng, tiếng hót rất hay, vì 2 đầu chung 1 thân, cùng sống chết nên gọi là Cộng mệnh. Trong kinh Phật, loại chim này và chim Ca lăng tần già đều được xem là chim có tiếng hót hay. [X. kinh Tạp Bảo Tạng Q.3].
mệnh mệnh, cộng mệnh điểu
Jivajivaka, jivamjiva (S). A bird with two heads, a sweet songster.
mệnh nan
Những khó khăn trở ngại trong cuộc sống—Life's hardships; the distress of living.
mệnh như phong trung đăng
(命如風中燈) Sự sống của con người như ngọn đèn trước gió. Thích Môn Qui Kính Nghi quyển thượng nói: Mệnh sống con người như ngọn đèn trước gió, không biết bị thổi tắt lúc nào; ngày qua ngày, khó mà biết được cái chết sẽ đến; rồi cứ theo nghiệp chuyển sinh, trong chỗ mịt mờ, chẳng biết đi đâu.
mệnh phạm
Mệnh nạn và phạm nạn hay tai nạn liên quan đến sự mất còn của tính mệnh (mệnh nạn) và tai nạn liên quan đến việc kiên trì hay không kiên trì tu hành phạm hạnh (phạm nạn)—Mệnh Phạm là tai nạn hay trở ngại cho tính mệnh và sự tu trì phạm hạnh của bản thân mình—Life and honour, i.e. perils to life and perils to noble character.
; (命梵) Mệnh nạn và Phạm nạn. Mệnh nạn là những tai nạn có liên quan đến sự còn mất của thân mệnh con người. Còn Phạm nạn là những tai ách có liên quan đến sự xúc phạm hạnh thanh tịnh của con người.
mệnh quang
The light of a life, i.e. soon gone.
; (命光) Chỉ cho thọ mệnh của con người, vì thọ mệnh tùy theo ngày tháng (quang âm) mà trôi chảy, tàn tạ nên gọi là Mệnh quang. Kinh Thủ Lăng Nghiêm quyển 4 (Đại19, 124 thượng) nói: Hình hài tiêu tan, mệnh quang tàn lụi (...) Căn trần thức tâm, lúc đó cũng tiêu, tưởng tướng bụi bặm, tình thức nhớp nhúa, cả 2 đều xa lìa.
mệnh quang điểu
Jivajivaka or Jivamjiva (skt)—Sinh Sinh Điểu—Cộng Mệnh Điểu—Loài lưỡng thủ điểu hót rất hay—A bird with two heads, asweet songster—See Cộng Mệnh Điểu.
mệnh sống
Jìva (S). Life. Also sinh mệnh.
mệnh thằng
Sợi dây sinh mệnh luôn bị gậm nhấm bởi chuột vô thường ngày và đêm—The rope of life, always gnawed by the two rats, i.e. night and day.
mệnh trọc
(命濁) Phạm: Àyu-kawàya. Cũng gọi Thọ trược. Tuổi thọ của con người bị các phiền não uế trược rút ngắn, là 1 trong 5 trược. Vào đời mạt pháp, do các ác nghiệp phiền não, tà kiến tăng trưởng mạnh mẽ, nên tuổi thọ con người dần dần rút ngắn. Trược nghĩa là nhớp nhúa vẩn đục, mà phiền não và tà kiến lại là bản thể của trược, tuổi thọ con người bị rút ngắn là do kết quả của 2 thứ này gây ra, cho nên gọi là Mệnh trược. [X. kinh Diệu Pháp Liên Hoa Q.1; kinh Bồ Tát Địa Trì Q.7]. (xt. Ngũ Trược).
mệnh trọc (trược)
Turbidity or decay of the vital principle, reducing the length of life.
mệnh vận
(命運) Số mệnh của con người. Phật giáo vốn không nói đến Mệnh vận (Vận mệnh, số mệnh) mà chỉ nói về nghiệp quá khứ (Túc nghiệp). Tức là do nhân đã tạo tác ở quá khứ mà đưa đến quả được hưởng hay phải chịu ở hiện tại, cái mắt xích nối liền(nhân duyên) giữa nhân và quả này được gọi là nghiệp. Từ quá khứ đến hiện tại cho mãi đến vị lai đều chịu 1 sức nghiệp chi phối, mỗi người tùy theo sức nghiệp của mình mà lưu chuyển, không thể cưỡng lại được. Hơn nữa, nghiệp của các nhân đôi khi tuy nhỏ, nhưng cũng có thể bị sức ép mà rơi vào dòng nghiệp tương đối lớn hơn. Thuyết này gần giống với mệnh vận nhưng cũng có chỗ khác nhau, tức nếu cá nhân có ý chí mạnh mẽ thì có thể nhờ vào ý chí ấy mà xoay chuyển dòng nghiệp của chính mình, mà nếu chuyển được thì thoát khỏi quả báo của nghiệp. Đây chính là tinh thần cơ bản của Phật giáo xác nhận con người có ý chí tự do. (xt. Nghiệp).
mệnh đạo sa môn
A sramana who makes the commandments, meditation, and knowledge his very life, as Ananda did.
; Vị Sa Môn lấy giới luật, thiền định và trí huệ làm cuộc sống cuộc tu, như Ngài A Nan đã làm—A sramana who makes the commandments, meditation and knowledge his very life, as Ananda did.
mệnh độc
Mệnh trược, một trong ngũ trược—Turbidity or decay of the vital principle, reducing the length of life, one of the five turbidities. ** For more information, please see Ngũ Trược.
Mệnh, mạng 命
[ja] ミョウ myō ||| (1) Life, life span. (2) One's fate or destiny, especially as ordained by heaven 天命. (3) Rule, principle, order. Law, decree, command. [運, 道, 使] => Có các nghĩa sau: 1. Đời sống, tính mệnh. 2. Số phận hoặc định mệnh của con người, đặc biệt được ân định bởi mệnh trời (thiên mệnh 天命). 3. Luật lệ, nguyên tắc, trật tự. Vận, đạo, sử [運, 道, 使].
mệt lả
See Mệt Đừ.
mệt mỏi
Tired.
mệt nhoài
See Mệt Đừ.
mệt đừ
To be exhausted—Tired to death—Tired out—Dead tired.
mỉa mai
Ironical.
mỉm cười
To smile.
mị
Yêu quái—An orge—Evil spirit.
mị nữ
Một thiếu nữ được dùng như phương tiện làm tổn hại người khác—A young woman used as a means (medium) for such a spirit to injure others.
mọi
1) Slave. 2) Every.
mọi người
Everybody.
mọi nơi
Everywhere.
mọi việc
See Mọi vât.
mọi vật
Everything.
mọn
1) Little—Small. 2) Mean—Humble (hèn mọn).
mọt
Wood-eater.
mỏi
Tired—Weary.
mỏi chân
To be tired of walking.
mỏi miệng
To talk oneself tired.
mỏng
Slender—Thin—Slim.
mỏng mảnh
Fragile.
mỏng tanh
Very thin.
mối
1) Con mối: Termite. 2) Đầu mối: Cause.
mối họa
Cause of misfortune.
mối lợi
Advantage.
mối nguy hại
A nuisance.
mối thù
A feud.
mống
Rainbow.
mốt
1) The day after tomorrow. 2) Fashion.
mồ
Tomb—Grave.
mồ côi
To be orphaned.
mồ côi cha
Fatherless.
mồ côi mẹ
Motherless.
mồ hôi nước mắt
Sweat and tears.
mồi
Bait—Lure.
mổ
1) To peck (birds). 2) To operate (dissect). 3) To kill an animal for food.
Mỗ
某; C: mŏu; J: bō;|Người hay vật nào đó.
Mỗ giáp
某甲; C: mŏu jiă; J: bōkō; |Một người nào đó, một ai khác;
Mỗ giáp 某甲
[ja] ボウコウ bōkō ||| Someone or another; a certain person; somebody. => Một người nào đó, một ai khác;
Mỗ 某
[ja] ボウ bō ||| A certain..(person or thing). Somebody, something. => Người hay vật nào đó.
mỗi
Each—Every.
mỗi nhật chúc tán
(每日祝贊) Mỗi ngày, vào thời cơm, cháo, tụng 3 biến chú Vô lượng thọ ở điện Phật, để cầu cho vua được an khang và nước nhà thịnh vượng. [X. điều Mỗi nhật chúc tán trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1].
mỗi nhật tam thời phúng kinh
(每日三時諷經) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Cử hành nghi thức tụng kinh vào 3 thời: Sáng (trước hoặc sau khi ăn cháo), trưa (trước hoặc sau khi thụ trai) và chiều (trước khi dùng bữa tối hoặc sau khi kết thúc giờ tham thiền) mỗi ngày trong Thiền lâm. Trong Cổ thanh qui của Trung quốc, hoàn toàn không thấy có qui định rõ ràng về Tam thời phúng kinh; các Thiền viện ở đời Đường tuy có tác pháp tụng 1 biến chú Đại bi sau bữa cháo buổi sáng và trong các bộ Thanh qui đời Nguyên về sau, tuy có nghi thức tụng kinh sau khi dùng cháo và thụ trai... nhưng tất cả đều không thấy qui định rõ ràng về Tam thời phúng kinh. Còn ở Nhật bản, từ sau khi bộ Oánh sơn thanh qui được ấn hành (khoảng 1661-1681) đến nay, thì các tự viện thuộc tông Lâm tế và tông Hoàng bá nói chung, đều có thực hành nghi thức này.
mỗi đát lý
Maitreya (skt)—Di Lặc.
mỗi đát lý mạt na
Maitrimanas (skt)—Kindly mind—Merciful.
mộ
1) Ái mộ: To love—To long for. 2) Luyến ái: To love—To hanker after. 3) See Mồ.
; (墓) Mồ mả. Nơi chôn cất di hài người chết hoặc an trí di cốt sau khi hỏa táng. Người xưa rất tôn trọng mồ mả, đối với họ, mồ mả có ý nghĩa thật sâu xa thận chung truy viễn, tự vong nhi tồn, nghĩa là cẩn thận đối với người đã khuất, ghi nhớ ơn sâu của tổ tiên, thờ phụng lúc chết cũng như khi còn sống. Thông thường trong khuôn viên các chùa viện hoặc ngoài nghĩa địa, người ta xây cất mồ mả, mỗi khi đến ngày giỗ, họ hàng thân tộc mang hương hoa phẩm vật đến dâng cúng. Về tên gọi thì tùy quốc độ và xứ sở mà có khác. Chẳng hạn Ấn độ gọi là Thi đà lâm (Sitavana) hoặc Thi ma xa na (Phạm:Zimàsyyàna), Trung quốc và Nhật bản thì gọi là Phần mộ, Oanh thành, Trủng, Mộ... Về phong tục, ở phía bắc thành Vương xá cũ và phía nam thành Vương xá mới của nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, có Thi đà lâm (Hàn lâm: rừng lạnh) là nơi vứt bỏ thi thể của những tội nhân, còn di hài của các Đế vương hoặc quí tộc thì được xây tháp để an trí ở các nơi khác, các bậc Cao tăng cũng được dựng tháp thờ. Tại Trung quốc, trong các sách xưa như: Sử kí, Hậu Hán thư đều có nói về mộ. Thông thường, đặt di hài vào quan tài đưa xuống huyệt rồi lấp đất lên trên, làm thành hình cái nón, tùy theo hình dáng hoặc lớn hay nhỏ mà có lăng mộ, phần mộ, khâu mộ, trủng mộ khác nhau; gần mộ có trồng cây, làm bia, hoặc chôn chung với quan tài, hoặc dựng bên cạnh mộ, nếu bia mộ của quan thì gọi là mộ biểu, của dân thường thì gọi là mộ kiệt. Sau khi Phật giáo truyền đến Trung quốc thì có phong tục xây tháp trên mộ, gọi là Phần tháp, Trủng tháp, Nhạn tháp. Như Lạc dương già lam kí quyển 4 ghi: Sau khi vua Minh đế nhà Hậu Hán băng hà, trên lăng có xây kì hoàn (chùa). Tuy nhiên, việc xây chùa trên lăng vua Minh đế có thật hay không thì không được rõ. Ngoài ra, tháng 8 năm Nghĩa hi thứ 10 (416) đời vua An đế nhà Đông Tấn, ngài Tuệ viễn thị tịch, quan Thái thú Tầm dương là Nguyễnkhản xây mộ ở ngọn phía tây Lô sơn và thi nhân Tạ linh vận soạn văn bia ghi lại công đức của sư. Rồi đến ngài Huyền trang đời Đường, sau khi viên tịch, cũng được xây tháp cúng dường. Và từ giữa đời Đường về sau, đối với các bậc sa môn cao tăng thị tịch thì được vua phong thụy hiệu hoặc ban tên tháp, như Qui châu chi tháp của Thiền sư Thanh nguyên Hành tư, Tối thắng luân chi tháp của Thiền sư Nam nhạc Hoài nhượng, Linh chiếu chi tháp của Thiền sư Tào khê Tuệ năng v.v... Ngoài ra, cũng có khi vị tăng chưa tịch mà đã xây tháp trước, gọi là Thọ tháp, Thọ lăng, cũng có trường hợp xây tháp để thờ linh cốt của nhiều người, gọi là Phổ đồng tháp, Hải hội tháp. [X. kinh Ô điểu dụ trong Trung a hàm Q.13; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.28; luận Đại trí độ Q.22; truyện Trí nghiêm trong Cao tăng truyện Q.3]. (xt. Tháp).
mộ chí
(墓志) Bài văn nói về sự tích lúc sinh tiền của người quá cố được khắc trên bia mộ, gọi là Mộ chí. Về mặt Kim thạch học và Khảo cổ học thì Mộ chí là văn khắc tiểu sử người qua đời lên đá hoặc vàng rồi chôn chung với quan tài.
mộ duyên
To collect subscription (of Buddhist monk).
mộ duyên sớ
(募緣疏) Văn sớ khuyến hóa tín đồ cúng dường tài vật để thực hiện các Phật sự như tạo tượng, đúc chuông, xây dựng chùa tháp, in ấn kinh điển, hoặc làm các việc phúc thiện như đắp đường, xây cầu, lập bệnh viện, giúp đỡ những người bệnh hoạn, nghèo khổ, v.v...[X. điều Mộ duyên sớ trong Văn thể minh biện].
mộ hoá
(募化) Cũng gọi Cầu hóa, Phụng gia, Khuyến tài. Khuyến hóa tín đồ cúng dường tiền của để làm chùa, tạo tượng, xây tháp, sửa sang đồ thờ tự v.v...Vì sự mộ hóa cũng để khuyên người đời kết duyên lành với Phật pháp, nên cũng gọi là Mộ duyên, Khuyến duyên, Hóa duyên.
mộ hà
Moha (skt)—Ngu si—Unenlightened—Stupid—See Moha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
mộ la
Mula (skt)—Căn—Fundamental—Root—See Mula in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
mộ la tát bà tất để bà đà ni ca
Mula-sarvastivadah-nikaya (skt)—Căn bản thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ—The fundamental works, original texts of the Hinayana school of Sarvastivadah.
mộ nại la
Mudra (skt)—Dấu ấn—A seal—A sign—Token—hand or finger signs—See Mudra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
mộ phách thái tử
(慕魄太子) Cũng gọi Mộc phách thái tử. Tên của đức Phật Thích ca mâu ni khi còn tu hạnh Bồ tát ở đời quá khứ. Thưở xưa, ở nước Ba la nại có vị Thái tử tên là Mộ phách, dung mạo đoan chính, thông minh rất mực, không ai sánh bằng. Năm 13 tuổi, bỗng nhiên Thái tử không nói, giống như người câm, cha mẹ lo âu, mời các Phạm chí đoán xem thế nào, họ cho đó là việc chẳng lành, phải chôn sống Thái tử. Quốc vương và Hoàng hậu rất đau lòng nhưng vẫn nghe theo lời các Phạm chí, sai người đưa Thái tử vào rừng để chôn. Khi Thái tử đứng bên miệng hố bỗng nhiên nói thành lời, quan Đại thần sai người về bẩm báo với Quốc vương, Quốc vương và nhân dân đều vui mừng, nhưng lấy làm kì lạ, bèn đến gặp Thái tử. Thái tử cúi đầu lễ bái Quốc vương và nói cho mọi người biết rằng, xưa kia mình từng làm vua nước Ba la nại, tên là Tu niệm, ròng rã 25 năm, tự thân vâng làm 10 điều thiện, dùng tâm từ bi giáo hóa nhân dân, được nhân dân ngưỡng vọng. Nhưng vì mỗi khi xuất du, sai rất nhiều người theo hầu, nên sau khi chết rơi vào địa ngục, chịu báo rất khổ. Đời này tuy muốn nói nhưng sợ lại phạm lỗi, cho nên giữ im lặng. Nói xong, Thái tử phát tâm làm sa môn đi khất thực để giữ hạnh vô dục, cuối cùng được Quốc vương chấp thuận và Thái tử xuất gia. Sau đó, Quốc vương về thành, dùng chính đạo trị nước, thiên hạ thái bình, nhân dân no ấm, hòa vui, vận nước hưng thịnh. [X. kinhThái tử Mộ phách trong Lục độ tập kinh Q.4].
Mộ Xuân
(暮春): cuối Xuân, chấm dứt mùa Xuân. Như trong Tu Dược Sư Nghi Quỹ Bố Đàn Pháp (修藥師儀軌布壇法, Taishō Vol. 19, No. 928) có đoạn: “Nhất Phật xử thai nhật, hệ Kỷ Mùi Trọng Hạ thập ngũ nhật; nhị Phật giáng sanh nhật, hệ Canh Dần tứ nguyệt thất nhật; tam Phật xuất gia nhật, hệ Mậu Tý Mộ Xuân bát nhật; tứ Phật thành đạo nhật, hệ Giáp Ngọ tứ nguyệt thập ngũ nhật; ngũ Phật ư Lộc Uyển chuyển Tứ Đế Pháp Luân nhật, hệ thành đạo bổn niên Quý Hạ lục nguyệt tứ nhật; lục Phật tùng Đao Lợi Thiên hạ hoàn nhật, hệ Canh Tý Trọng Thu nhị thập nhị nhật; thất Phật bát Niết Bàn nhật, hệ Canh Thìn tứ nguyệt thập ngũ nhật (一佛處胎日、係己未仲夏十五日、二佛降生日、係庚申四月七日、三佛出家日、係戊子暮春八日、四佛成道日、係甲午四月十五日、五佛於鹿苑轉四諦法輪日、係成道本年季夏六月四日、六佛從忉利天下還日、係庚子仲秋二十二日、七佛般涅槃日、係庚辰四月十五日, thứ nhất ngày đức Phật nhập vào thai đích xác là ngày rằm tháng 5 năm Kỷ Mùi; thứ hai ngày đức Phật giáng sanh đích xác là ngày mồng 7 tháng 4 năm Canh Dần; thứ ba ngày đức Phật xuất gia đích xác là ngày mồng 8 tháng 3 năm Mậu Tý; thứ tư ngày đức Phật thành đạo đích xác là ngày rằm tháng tư năm Giáp Ngọ; thứ năm ngày đức Phật chuyển Pháp Luân Tứ Đế đích xác là ngày mồng 4 tháng 6 cùng năm Ngài thành đạo; thứ sáu ngày đức Phật từ cung Trời Đao Lợi trở về đích xác là ngày 22 tháng 8 năm Canh Tý; thứ bảy ngày đức Phật nhập Niết Bàn đích xác là ngày rằm tháng 4 năm Canh Thìn).” Hay trong bài Bát Nhã Vô Tri (般若無知) của Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 30 có câu: “Bát Nhã hiệu Vô Tri, tương phùng thoại sở chi, khứ niên Sơ Hạ nguyệt, kim nhật Mộ Xuân thì, lâm thủy tinh thần kiện, đăng sơn khí lực suy, ân cần thoại tiêu tức, mi thượng cánh sanh mi (船若號無知、相逢話所之、去年初夏月、今日暮春時、臨水精神健、登山氣力衰、慇懃話消息、眉上更生眉, Bát Nhã hiệu Vô Tri, gặp nhau nói chuyện gì, năm ngoái tháng đầu Hạ, năm nay cuối xuân khi, đến nước tinh thần mạnh, lên non khí lực suy, ân cần thăm hỏi đủ, trên mi mọc lông mày).”
mộ đạo
To devote oneself to religion affairs—To be devout.
mộc
Kàstha (S). Wood, a tree, timber.
; 1) Cây: Wood—A tree. 2) Kastha (skt)—A piece of wood—Timber. 3) Tắm: To bathe
Mộc Am Tính Thao
木菴性瑫; C: mùān xìngtāo; J: mokuan shōtō; 1611-1684;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Hoàng Bá (j: ōbaku-shū). Sư nối pháp Thiền sư Ẩn Nguyên Long Kì, và cùng với thầy sang Nhật giáo hoá.|Tại Nhật, Ẩn Nguyên khai sáng tông Hoàng Bá và cử Sư làm vị Tổ thứ hai (1664). Sư thành lập Thuỵ Thánh tự (zuishō-ji) tại Ðông Kinh (tōkyō), góp công rất nhiều trong việc truyền bá tông này tại Nhật.
mộc anh tính thao
Mokuan shōtō (J).
mộc diệu
Brishaspati (S).
; Mộc tinh, một trong cửu diệu, nằm về phía nam Kim Cang Viện, bên ngoài Thai tạng Mạn Đà La—Jupiter, one of the nine luminaries, on the south of the Diamond hall, outside the Garbhadhatu mandala.
; (木曜) Phạm: Bfhaspati. Cũng gọi Tuế tinh, Nhiếp đề. Vị tôn ngồi ở phía nam trong viện Ngoại kim cương bộ trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Là 1 trongThất diệu, 1 trong Cửu diệu. Trong Thai tạng hiện đồ mạn đồ la thì hình tượng của vị tôn này ngồi tréo chân, bàn tay phải ngửa lên, co ngón giữa, ngón vô danh mà bấm vào ngón cái, còn tay trái nắm lại thành quyền để ở ngang ngực. Trong Thai tạng cựu đồ dạng (Mạn đồ la kiểu cũ) thì vị tôn này ngồi xếp bằng trên tòa hình tròn, bàn tay phải ngửa lên, tay trái cầm gậy, trên đầu gậy có bán nguyệt. Ngoài ra, theo Phạm thiên hỏa la cửu diệu, thì Mộc diệu là hình người già đang đứng, đội mũ đầu lợn, tay trái cầm cành cây. Hình Tam muội da là ngôi sao miệng bình, chủng tử là chữ (bf). [X. kinh Tú diệu; Đại nhật kinh sớ Q.4].
mộc dục
(沐浴) Cũng gọi Mộc tháo, Tháo dục, Tẩy dục. Tắm rửa cho thân thể sạch sẽ. Từ xưa đến nay, người Ấn độ tin rằng tắm gội ở sông Hằng sẽ gột rửa được sự nhớp nhúa, tiêu trừ các tội chướng. Trái lại, đức Phật đã phê phán quan niệm này trong kinh Tự thuyết (Pàli: Udàna, I, 9) như sau: Mọi người dù có tắm gội ở đây (sông Già da) thì cũng không thể nhờ nước mà được thanh tịnh; nếu người nào chân thực, có pháp, thì được thanh tịnh, người ấy chính là Bà la môn. Về việc tắm gội thì giáo đoàn đã có qui chế chặt chẽ, khiến mọi người không buông thả. Nhà tắm đầu tiên được thiết lập là để giữ gìn sức khỏe cho các vị tăng bị bệnh. Tùy thời có thể tắm bằng nước lạnh, nước nóng, nước thơm v.v... Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 11 (bản 40 quyển), thì tắm bằng nước thơm có 10 công đức: 1. Trừ được gió độc. 2. Trừ được li mị. 3. Tinh khí sung mãn. 4. Tăng thêm tuổi thọ. 5. Hết mệt nhọc, được khoan khoái. 6. Thân thể dịu dàng. 7. Trừ sạch nhơ nhớp. 8. Khí lực mạnh mẽ. 9. Làm cho người hăng hái. 10. Trừ hết nóng bức. Về thời gian tắm rửa, thì ngoại trừ lúc nóng, lúc bệnh, lúc làm việc, lúc mưa gió, lúc đi đường v.v..., đức Phật có qui định chung cho tỉ khưu là nửa tháng tắm 1 lần. Còn chế độ thiền lâm ở Trung quốc, cứ theo điều Tri dục, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển hạ, thì vào mùa lạnh 5 ngày tắm 1 lần, mùa nóng thì mỗi ngày mỗi tắm. Trước khi vào nhà tắm, chúng tăng phải lễ bái tượng bồ tát Bạt đà bà la (Phạm: Bhadrapàla) trong Tăng đường, đó là căn cứ theo nhân duyên vào nhà tắm mà ngộ đạo của ngài Bạt đà bà la được ghi trong kinh Đại Phật đính Thủ lăng nghiêm quyển 5. Các Thiền viện ở Trung quốc và Nhật bản đều có qui định phải giữ im lặng ở 3 nơi là Tăng đường, Tây tịnh (hoặc Đông ti, tức nhà xí) và Dục thất (nhà tắm). Trước khi tắm rửa, phải đọc bài kệ (Đại 10, 71 hạ): Tắm gội thân thể, nguyện cho chúng sinh, thân tâm không nhơ, trong ngoài đều sạch. [X. kinh Hoa nghiêm Q.14 (bản 80 quyển); kinh Ôn thất tẩy dục chúng tăng; luật Ma ha tăng kì Q.18; luật Thập tụng Q.16, 41; Đại đường tây vực kí Q.4, Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3; Thiền uyển thanh qui Q.10; Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.7].
mộc dục tác pháp
(沐浴作法) Pháp tu của Mật giáo được thực hành trong khi tắm rửa để thanh tịnh thân tâm, tiêu trừ bệnh tật, ngăn dứt chướng nạn. Theo pháp tu này, thì khi tắm gội, phải quán tưởng trên đỉnh đầu có chữ (raô), 2 bên hông có chữ (hùô), có ngọn lửa bao quanh, tay trái nắm lại thành Kim cương quyền, tay phải kết ấn Kim cương quyền, ngón cái dựng thẳng, đồng thời tụng chân ngôn Án củ rô đà nẵng hồng nhược gia trì ở 5 chỗ. Kế đến, gia trì Quân đồ lợi tiểu tâm ấn chú vào nước trong thùng tắm, quán tưởng chủng tử của thủy đại và ao Hoan hỉ trên cõi trời, rồi múc nước tắm trong thùng, dùng ấn và chân ngôn Át già chú nguyện vào đó, 7 biến rồi hướng về 4 phía của đạo tràng rảy khắp để cúng dường Bản tôn, quán tưởng tắm gội thân vô cấu của bậc Thánh. Gia trì vào nước nóng để làm cho thanh tịnh, cũng thực hành như thế. Khi tắm gội thì đọc bài kệ (Đại 10, 71 hạ): Tắm gội thân thể, nguyện cho chúng sinh, thân tâm không nhơ, trong ngoài đều sạch.
mộc hoa lâm
Papaya forest—See Khổ Hạnh Lâm.
mộc hoạn tử
Vô Hoạn Tử—Một loại cây có khả năng tránh được tà quỷ. Hạt của nó có thể dùng làm tràng hạt. Cây còn mang ý nghĩa bất hại hay an toàn. Nó còn là tên của một loại trái dâu dùng làm xà bông—A tree whose wood can exorcise evil spirits, or whose seeds are used as rosary beads. It is said to be the arista, which means unharmed, secure; it is the name of the soap-berry and other shrubs.
; (木患子) Cũng gọi Vô hoạn tử. Tên khoa học: Koelreuteria paniculata. Cây hoạn tử, thân cao hơn 1 trượng, đầu mùa hạ nở hoa nhỏ màu vàng và kết trái; khi trái chín thì nứt làm ba, bên trong có hạt giống như hạt châu, màu đen và cứng chắc. Xưa nay Ấn độ thường dùng loại hạt này xâu làm chuỗi tràng để xứng niệm danh hiệu Phật, nên kinh Mộc hoạn tử dạy: Nếu muốn diệt trừ phiền não chướng và nghiệp báo chướng thì phải xâu 108 hạt mộc hoạn, thường mang theo bên mình. Tại Trung quốc, vào đầu đời Đường, hạt mộc hoạn cũng đã được dùng để xâu chuỗi niệm Phật. Điều Vô hoạn tử trong Bản thảo cương mục có nêu ra 7 tên gọi khác nhau của hạt mộc hoạn, đó là: Hoàn, mộc hoạn tử, cấm lâu, phì châu tử, du châu tử, bồ đề tử và quỉ kiến sầu. Còn theo lời chú thích trong kinh Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni thì A lị sắt ca sài tức là mộc hoạn tử; mà A lị sắt ca sài, có lẽ là dịch âm của chữ Phạm Ariwỉakàkwa, nhưng tên khoa học của Ariwỉaka là: Sapindus detergens, khác với cây Koelreuteria panicula ta nói ở trên. [X. Công đức thiên tượng pháp trong kinh Đà la ni tập Q.10; truyện Đạo xước trong Tục cao tăng truyện Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.37; điều Vô hoạn tử trong Tăng quảng bản thảo cương mục Q.35].
mộc hương
Kunduruka or Putchuk (skt)—Căn Hương—Huân Lục Hương—Đa Già La—Một loại trầm hương—An incense-yielding tree—The resin of the plant.
mộc khư bao chiết na
(木佉褒折娜) Phạm: Mukha-proĩchana. Hán dịch: Thức diện cân. Tức là khăn lau mặt, 1 trong 13 vật dụng của tỉ khưu. [X. Hữu bộ ni đà na mục đắc ca Q.3].
mộc lan sắc
(木蘭色) Màu đỏ sẫm, 1 trong 3 màu hợp pháp dùng để nhuộm áo ca sa của các vị tỉ khưu. Người Ấn độ gọi mộc lan sắc là càn đà sắc (đỏ nhiều đen ít). Cứ theo luật Ma ha tăng kì quyển 18, thì màu mộc lan, màu xanh và màu đen gọi chung là 3 thứ hoại sắc. Nghiền nát các trái cây a lê lặc, tì hê lặc, a ma lặc v.v..., rồi trộn lẫn với nhau và hòa vào nước thì thành màu mộc lan. Còn theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ phần 1, thì vỏ cây mộc lan giống như vỏ quế, hơi có mùi thơm, màu đỏ sậm nhưng tươi sáng; nếu dùng màu này nhuộm Pháp y(ca sa) thì gọi là Mộc lan y. Đến đời sau, các vị trì luật phần nhiều mặc ca sa màu mộc lan, nên gọi là Luật y. [X. luật Tứ phần Q.16; luật Thập tụng Q.15; Hữu bộ tì nại da Q.39; luật Ma ha tăng kì Q.28; luật Ngũ phần Q.9; Bản thảo cương mục Q.37].
mộc loan tử
Seeds used for rosary beads.
; (木欒子) Hạt cây mộc loan, là 1 trong các loại mộc hoạn tử, dùng để xâu tràng hạt niệm Phật. [X. Tục cao tăng truyện Q.20]. (xt. Mộc Hoạn Tử).
mộc luật tăng
A rigid formalist—A wooden pettifogging monk.
; (木律僧) Vị luật tăng giống như tượng gỗ, chỉ cho những người chỉ biết 1 mặt trì luật giữ giới mà không biết cơ dụng linh hoạt.
mộc mã
Con ngựa gỗ, một biểu tượng của sự giải thoát—A wooden horse—A symbol of emancipation.
; (木馬) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ngựa gỗ. Ngựa gỗ không có tác dụng suy tư, tính toán. Thiền tông dùng từ ngữ này ví dụ trạng thái tương đương giải thoát vô tâm vô niệm. Kinh Niết bàn quyển 18 (bản Nam) (Đại 12, 729 thượng) nói: Bò gỗ, ngựa gỗ, đàn ông gỗ, đàn bà gỗ, đứa trẻ trông thấy cũng tưởng là đàn ông, đàn bà, liền nín khóc. Thiền tông còn có câu Mộc mã du xuân tuấn bất ki (Ngựa gỗ dạo chơi xuân không có dây buộc); dạo chơi xuân biểu thị sự hoạt động, tức chỉ cho sức diệu dụng của sự vô tâm.[X. tắc 3 Thung dung lục].
mộc ngư
The wooden fish.
; Mõ cá bằng cây hay khúc gỗ tròn, móc bọng ruột, làm theo hình cá, với một khe đục nằm ngang để tạo âm hưởng, được dùng để gõ nhịp tụng kinh trong các tự viện. Khi được gõ bằng cái dùi có đầu bọc vải, sẽ phát ra những âm thanh rõ ràng và đặc biệt. Mõ được dùng đầu tiên bên Trung Quốc, nhưng lý nguyên thủy của việc dùng mõ gỗ vẫn chưa được biết rõ. Mõ lớn có thể cao một thước hay mõ nhỏ có thể để được trong lòng. Mõ thường được đánh bóng bằng sơn mài màu đỏ sáng. Người ta nói rằng vì cá luôn mở mắt cả ngày lẫn đêm (không bao giờ ngủ), nên đây là một thí dụ điển hình cho sự tỉnh thức và chăm chú trong nhà Thiền. Có hai loại mõ—The wooden fish is a hollowed-out roundish wooden block, fashioned after some sort of sea creature, with a long horizontal slit for resonance, employed as an accompaniment to sutra chanting in Buddhist temples. When struck by a padded stick it emits a clear and distinctive sound. Wooden fish was first used in China, but the origin of the use of a wooden fish is unknown. This wooden drum may be as large as three feet in height or small enough to hold in the lap. Usually it is lacquered bright red. It is said that a fish always has its eyes open day and night (never sleep), so it is a good example for alertness and watchfulness in Zen. There are two kinds: 1) Hình tròn như vãy cá dùng để gõ khi tụng đọc: A round one for use to keep time in chanting. 2) Một loại giống như hình cá dựng đứng thường treo ở nhà trù, đánh lên khi tới giờ cơm: A long one hanged in front of the mess hall for calling to meals.
; (木魚) Xưa gọi là Ngư cổ, Ngư bản. Pháp khí hình con cá làm bằng gỗ, bên trong rỗng, gõ phát ra tiếng, tức là loại mõ gỗ được dùng trong các chùa hiện nay. Mộc ngư dùng khi tụng kinh thì tròn, khắc thành hình rồng 2 đầu 1 thân, 2 đầu hướng vào nhau, cùng ngậm 1 hạt châu; còn mộc ngư được sử dụng để báo hiệu khi triệu tập đại chúng thì gọi là Ngư bang ( ), có hình con cá dài, thông thường được treo ở hành lang nhà trai, nhà kho, khi thụ trai thì đánh. Sở dĩ tạo hình cá là do sự tích Trương hoa đời Tấn dùng cái dùi bằng gỗ cây vông có khắc hình cá để đánh trống đá; hoặc có thuyết cho rằng vì loài cá ngày đêm đều mở mắt, cho nên làm mộc ngư để gõ, hầu cảnh giác người tu hành không được biếng nhác. Đời sau thì đổi hình cá khắc hình rồng, là do thuyết cá hóa rồng, tượng trưng ý nghĩa từ phàm phu trở thành bậc Thánh. [X. môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên; điều Pháp khí môn Mộc ngư trong Tăng tu giáo uyển thanh qui Q.hạ].
mộc phách thái tử
Một trong những tiền thân của Đức Phật Thích Ca—One of the former incarnations of Sakyamuni.
mộc phật
Tượng Phật bằng gỗ—A Buddha of wood—An image of wood.
; (木佛) Tượng Phật được khắc bằng gỗ. Ở Ấn độ, thời đức Phật còn tại thế, vua Ưu điền đã mời thợ giỏi khắc tượng đức Phật bằng gỗ chiên đàn, đó là pho tượng Phật bằng gỗ đầu tiên trong lịch sử. Thời cận đại, nhiều tượng Phật bằng gỗ được khắc vào thời xưa cũng đã được phát hiện ở các nước vùng Trung á như : Cưu tư (Kizil), Cao xương (Chotscho) v.v...(xt. Mộc Điêu, Phật Tượng).
mộc thôn thái hiền
(木村泰賢) Học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện Nham thủ. Ông tốt nghiệp khoa Triết học Ấn độ trường Đại học Đông kinh. Đầu tiên ông làm Giảng sư, sau ông thăng chức Giáo sư tại trường Đại học Đông kinh. Ông hợp tác với học giả Cao nam thuận thứ lang cùng soạn bộ Ấn độ Triết học Tông giáo sử; sau nhờ bộ Ấn độ lục phái triết học mà ông được viện Học sĩ khen thưởng. Ông có các tác phẩm: A tì đạt ma luận chi nghiên cứu, Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận và các sách về Phật học nhập môn, toàn bộ 6 tập.
mộc thượng toà
(木上座) Chỉ cho cây gậy. Cứ theo Sơn đường tứ khảo thì có lần ngài Giáp sơn hỏi ngài Phật ấn: Hòa thượng xà lê cùng đến với ai? Đáp: Mộc thượng tọa! (cây gậy).
mộc thượng tòa
1) Cây già: The elder with the tree. 2) Người thâm niên (trưởng lão): The elder's staff.
mộc thực
Living on wild fruits and nuts.
; (木食) Chỉ cho thức ăn bằng rau quả. Những người tu hành Phật đạo, ẩn dật trong chốn núi rừng, xa lìa ngũ dục thế gian, không ăn những thức ăn nấu nướng, chuyên hành khổ hạnh để mong cầu thành tựu bồ đề. Truyện Trí phong trong Tống cao tăng truyện quyển 8 (Đại 50, 759 hạ) nói: Cấm túc 10 năm, ăn rau quả (mộc thực) uống nước suối.
Mộc Tinh
(木精): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tuế Tinh (歲星), như trong Hậu Hán Thư (後漢書), Truyện Tương Hài (襄楷傳) có câu: “Kim niên Tuế Tinh cửu thủ Thái Vi, nghịch hành Tây chí Dịch Môn, hoàn thiết Chấp Pháp; Tuế vi Mộc Tinh, háo sanh ác sát, nhi yêm lưu bất khứ giả, cữu tại nhân đức bất tu, tru phạt thái khốc (今年歲星久守太微、逆行西至掖門、還切執法、歲爲木精、好生惡殺、而淹留不去者、咎在仁德不修、誅罰太酷, năm nay Tuế Tinh giữ lâu nơi Thái Vi, đi ngược về phía Tây đến Dịch Môn, rồi trở lại đi ngang qua sao Chấp Pháp; Tuế là Mộc Tinh, thích giết vật sống, mà lại ở lâu không đi, cũng tại không tu nhân đức, giết phạt rất khốc liệt).” (2) Linh hồn của cây cối, đồng nghĩa với Mộc Linh (木靈), như trong Thuật Dị Ký (述异記) của Nhiệm Phưởng (任昉, 460-508) nhà Lương thời Nam Triều, có câu: “Thiên niên mộc tinh vi thanh ngưu (千年木精爲青牛, linh hồn cây cối ngàn năm biến thành con trâu xanh).” (3) Con Lân, như trong Cổ Vi Thư (古微書), phần Xuân Thu Diễn Khổng Đồ (春秋演孔圖) có câu: “Lân, mộc chi tinh dã (麟、木之精也, con Lân là linh hồn của cây cối).” Tống Quân (宋均, ?-?) nhà Ngụy (魏, 220-266) thời Tam Quốc chú giải rằng: “Lân, mộc tinh, mộc sanh vu thủy cố viết âm, mộc khí hảo thổ, thổ hoàng mộc thanh, cố Lân sắc thanh hoàng (麟、木精、木生于水故曰陰、木氣好土、土黃木青、故麟色青黃, Lân là linh hồn cây cối; cây cối sanh nơi nước nên gọi là âm; khí cây cối thích đất; đất màu vàng, cây màu xanh, cho nên màu con Lân là xanh vàng).”
mộc tinh
Xem Bột lợi cáp tư phạ đế.
; Brhaspati (skt). 1) Lord of increase. 2) The planet Jupiter.
Mộc Trần Đạo Mân
(木陳道忞, Mokuchin Dōbin, 1596-1674): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Mộc Trần (木陳), thường gọi là Sơn Ông (山翁), xuất thân Trà Dương (茶陽), Hồ Châu (湖州, Tỉnh Quảng Đông), họ Lâm (林). Lúc nhỏ ông đã khác với các đứa trẻ bình thường, lớn lên đọc Đại Huệ Lục (大慧錄) và có chí muốn xuất gia. Ông đến tham học và xuất gia với Nhã Vị Minh (若味明) ở Khai Tiên Tự (開先寺), Khuông Lô (匡廬, Lô Sơn), sau đó đi tham yết các bậc danh túc như Hám Sơn Đức Thanh (憨山德清), v.v. Rồi ông đến tham vấn Mật Vân Viên Ngộ (密雲圓悟) và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 15 (1642) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), khi Viên Ngộ viên tịch, ông được cung thỉnh làm trú trì Thiên Đồng Sơn (天童山). Về sau, ông sống qua một số nơi khác như Linh Phong Thiền Tự (霛峰禪寺) ở Ngũ Lỗi Sơn (五磊山), Vân Môn Tự (雲門寺) ở Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang), Quảng Nhuận Thiền Tự (廣潤禪寺) ở Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang), Đại Năng Nhân Thiền Tự (大能仁禪寺) ở Việt Châu, Đạo Tràng Sơn Vạn Thọ Thiền Tự (道塲山萬壽禪寺) ở Hồ Châu (湖州, Tỉnh Triết Giang), Pháp Khánh Thiền Tự (法慶禪寺) ở Thanh Châu (青州, Tỉnh Sơn Đông), rồi lại trở về Thiên Đồng Sơn. Trong khoảng thời gian này, vào năm thứ 16 (1659) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông vào cung nội thuyết pháp và được ban tặng hiệu là Hoằng Giác Thiền Sư (弘覺禪師). Đến ngày 27 tháng 6 năm thứ 13 (1674) niên hiệu Khang Hy (康熙), ông thị tịch, hưởng thọ 79 tuổi đời và 55 hạ lạp. Một số tác phẩm của ông để lại gồm Hoằng Giác Mân Thiền Sư Ngữ Lục (弘覺忞禪師語錄) 20 quyển, Hoằng Giác Mân Thiền Sư Tấu Đối Lục (弘覺忞禪師奏對錄) 3 quyển, Hoằng Giác Mân Thiền Sư Bắc Du Tập (弘覺忞禪師北遊集) 6 quyển, Bố Thủy Đài Văn Tập (布水臺文集) 3 quyển, Ngũ Tông Tịch (五宗闢) 1 quyển, v.v.
mộc xoa
Xem giải thoát.
; Moksa (skt)—Giải thoát—Deliverance—Emancipation. ** For more information, please see Pratimoksa.
mộc xoa cúc đa
Moksagupta (skt)—A monk of Karashahr, protagonist of the Madhyamayana school whose ignorance Hsuan-Tsang publicly exposed.
mộc xoa đề bà
Mokṣa-deva (S), Mokkhadeva (P)1- Giải thoát thiên, vị trời được giải thoát. 2- Danh hiệu các sư Thiên trúc tặng ngài Huyền Trang.
; Moksadeva (S). A title of Huyền Trang. Also Giải thoát thiên.
; Moksadeva (skt)—Môn đồ Tiểu Thừa ở Tây Trúc tôn kính ngài Huyền Trang nên gọi ngài là Mộc Xoa Đề Bà hay là Giải Thoát Thiên—A title given by Hinayanists in India to Mahayanadeva, such as Hsuan-Tsang.
; (木叉提婆) Phạm: Mokwadeva. Hán dịch: Giải thoát thiên. I.Mộc Xoa Đề Bà. Từ ngữ do chư tăng Tiểu thừa dùng để tôn xưng Tam tạng Huyền trang khi ngài đang ở Ấn độ. Mộc xoa đề bà, nghĩa là người đã đạt được sự giải thoát tối thắng. [X. Đại đường tây vực kí Q.12]. II.Mộc Xoa Đề Bà. Danh tăng Việt nam, người Giao châu (Bắc Việt nam ngày nay). Sư từng sang Ấn độ cầu pháp, trải qua các nước, đến chùa Đại giác, rồi chiêm bái khắp các Thánh tích và thị tịch tại đây. Lúc đó sư mới hơn 20 tuổi. [X. Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng].
mộc xà
(木蛇) I. Mộc Xà. Chỉ cho Ba la đề mộc xoa (Biệt giải thoát). Triều dã quần chép 12 vị luật sư tuyên sắc: Phải siêng năng tu tập, giữ gìn giới pháp (mộc xà). II. Mộc Xà. Chỉ cho thanh Trúc bề (thầy cầm khi hướng dẫn người học để cảnh giác) có khắc hình con rắn. Cảnh đức truyền đăng lục 17 chép, Thiền sư Sơ sơn Quang nhân đang cầm mộc xà, có vị tăng hỏi (Đại 51, 339 hạ): Trong tay sư là cái gì? Sư đưa lên và nói: Tào gia nữ. Tào gia nữ là gọi tắt của Tào khê gia, tức chỉ cho Thiền tông. Có thuyết cho rằng Tào gia nữ là thần Thổ địa hình rắn.
mộc điêu
(木雕) Tượng Phật được chạm trổ bằng gỗ. Gỗ dùng để tạc tượng Phật có nhiều loại, trong đó gỗ chiên đàn là loại quí nhất, kế đến là gỗ chương, gỗ giẻ; cây cối cũng là thứ gỗ khó kiếm, ít bị mối mọt đục được; kế đến nữa là cây nam, cây sam v.v... Ở Ấn độ tư xưa đã thịnh hành việc tạc tượng Phật bằng gỗ. Còn ở Trung quốc thì tượng gỗ được khắc sớm nhất là tượng thờ ở chùa Linh bảo phía bắc núi Cối kê do ông Đới quì tạc vào đời Đông Tấn. Ở Nhật bản thì tượng Tam tôn thờ ở chùa Tỉ tằng tại Cát dã là tượng đầu tiên được khắc bằng gỗ. Có 2 cách tạc tượng gỗ: Khắc cả 1 khối gỗ nguyên vẹn thành pho tượng; hoặc khắc từng bộ phận một, sau đó ráp nối lại với nhau mà thành tượng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.28; Tập thần châu Tam bảo cảm thông lục Q.trung; Lạc dương Thệ nguyện tự duyên khởi].
mộc đầu
Block-head, a stupid person, one who breaks the commandments.
; 1) Người đần độn: Block-head—A stupid person. 2) Kẻ phá giới: One who breaks the commandments.
; (木頭) Đầu bằng gỗ, ví dụ người phạm giới hoặc người không biết mảy may dung thông sự lí. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1009 thượng) nói: Người phạm giới không khác súc sinh, giống như cái đầu bằng gỗ.
mộc đắc la
Mudra (skt)—A seal—Mystic signs with the hands.
mộc đề
Mukti (skt)—Mộc Để—Mục Đế La—Deliverance (giải thoát)—Liberation—Emancipation—The getting rid of evils one by one.
mộc để
Xem giải thoát.
mộc để, mộc xoa
Moksha (S). Deliverance.
mộng
Supina (P), Svapna (S), Supina (P), Dream.
; A dream, a simili of the things of the world.
; 1) Giấc mộng: Những cái hiện ra trong mộng là không có thực—A dream. 2) Sự huyễn giả của chư pháp: Chư pháp thế gian không có thực tính—A simile of the things of the world.
; (夢) Phạm: Svapna. Pàli: Supina. Tức là những sự tướng mà tâm và tâm sở đã đối cảnh duyên theo lúc ban ngày, bây giờ hiện lại rõ ràng trong giấc ngủ, giống như thấy cảnh hiện thực, gọi là Mộng. Theo kinh Di lan vương vấn tiếng Pàli thì có 6 nguyên nhân khiến người ta thấy mộng trong giấc ngủ, đó là: Bệnh phong, bệnh có nước trong túi mật, bệnh đờm, quỉ thần cám dỗ, thói quen và điềm báo trước. Theo luận Đại tì bà sa quyển 37, thì Mộng mà sau khi tỉnh dậy còn có thể ghi nhớ, kể lại cho người khác nghe, gọi là Mộng hoàn toàn. Còn nếu bàn về tự tính (bản chất) của Mộng thì có các cách nói như: Ý, niệm, ngũ thủ uẩn, tâm, tâm sở v.v... Về lí do thấy mộng, thì luận Đại tì bà sa cũng nêu ra các thuyết trong sách Phệ đà như 5 duyên (lo nghĩ, thói quen, phân biệt, thay đổi ý niệm, loài ma quỉ cám dỗ; hoặc do tha lực, thay đổi ý niệm, đương có, phân biệt, các chứng bệnh) và 7 duyên (thấy, nghe, nhận, mong cầu, phân biệt, đương có, các chứng bệnh). Trong 3 cõi thì mộng chỉ phát sinh ở cõi Dục, không có trong cõi Sắc và cõi Vô sắc. Nhưng trong cõi Dục thì chỉ có Phật là không mộng, còn từ hàng Dị sinh (phàm phu) cho đến các bậc Thánh quả Dự lưu đều có mộng. Theo thuyết của tông Duy thức, trong giấc ngủ say thì hoàn toàn không có ý thức, còn lúc mơ mơ màng màng thì vẫn có ý thức và do có tác dụng ý thức mà có mộng. Tông Duy thức cũng dùng Mộng để ví dụ cái không, vô, hư dối của tính Biến kế sở chấp trong 3 tính Duy thức. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng tất cả việc thấy trong mộng đều là thật, cho nên có tác dụng sinh quả báo. Nhưng các sư thuộc phái Thí dụ thì phủ nhận thuyết này. Luận Đại trí độ quyển 6 cũng gọi mộng là việc chẳng thật, tất cả đều thuộc về vọng kiến. Nhưng mộng cũng có thể dự đoán việc sẽ xảy ra trong vị lai, cho nên ở Ấn độ từ xưa đã có thuật xem mộng rất thịnh hành. Còn trong kinh điển Phật cũng có nhiều bộ ghi chép về mộng, như kinh Tu hành bản khởi quyển thượng, kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1 chép, khi đức Thích tôn gá thai, phu nhân Ma da mộng thấy Bồ tát cỡi voi trắng đi vào trong thai; kinh Ma ha ma da quyển hạ và kinh Đại bát niết bàn hậu phần quyển hạ thì ghi những điềm mộng liên quan đến việc đức Phật nhập diệt. Kinh Xá vệ quốc vương mộng kiến thập sự chép rằng, vua Ba tư nặc đã dựa vào 10 việc thấy trong mộng mà dự đoán về trạng thái xã hội trong vị lai. Kinh Cấp cô độc trưởng giả nữ đắc độ nhân duyên và luận Câu xá quyển 9 ghi chép 10 việc mà vua Ngật lật chỉ thấy trong mộng cũng ám chỉ việc sau khi đức Thích tôn nhập diệt, Phật giáo sẽ phát triển mạnh mẽ. Kinh Bát chu tam muội quyển thượng cũng ghi việc thấy Phật trong mộng. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 12 thì chia mộng thành 4 loại: 1. Mộng do 4 đại không điều hòa, mất quân bình, thì thấy núi lở, thấy mình bay bổng trong hư không, hoặc bị giặc cướp, ác thú rượt đuổi. 2. Mộng thấy trước những việc đã trải qua. 3. Mộng thấy trời người, tùy theo việc đã làm hoặc thiện hoặc ác mà mộng thấy trời người nêu rõ hành vi thiện ác của chính mình. 4. Mộng do tưởng, tưởng đến những hành vi thiện ác đã qua mà mộng thấy các việc thiện ác. Sách đã dẫn còn cho rằng, trong 4 điềm mộng nói trên, chỉ có mộng thấy trời người và mộng do tưởng là thật, còn mộng do 4 đại không điều hòa và mộng thấy trước là hư giả không thật, đồng thời cho rằng không hẳn tất cả mộng đều chịu quả báo. Kinh Đại phương đẳng đà la ni quyển 1 chép rằng, 12 vị Mộng vương Đản đồ la là người bảo vệ kinh Đà la ni, thường hiện ra ở trong giấc mộng của những người thụ trì kinh này mà gia hộ. Theo kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 2, thì bồ tát Diệu chàng ở trong mộng, thấy quả trống vàng to lớn, rực rỡ, chói lọi, tuyên thuyết phẩm Sám hối, đây chính là sự tích Trống vàng nói pháp. Kinh Xuất sinh bồ đề tâm thì nêu ra 4 loại mộng tốt lành, đó là: Mộng thấy hoa sen, lọng che, mặt trăng tròn và tượng Phật. Trong kinh Phật, những điềm mộng nổi tiếng phần nhiều thuộc về mộng dự đoán vị lai, như kinh A nan thất mộng, ngài A nan từng mộng thấy 7 việc chẳng lành như: 1. Lửa trong ao bốc lên ngút trời. 2. Mặt trời, mặt trăng và các tinh tú đều lặn hết. 3. Các tỉ khưu xuất gia lặn hụp trong hố sâu bẩn thỉu, những người tại gia bạch y bước lên đầu mà ra khỏi hố. 4. Những đàn lợn rừng húc đổ những cây chiên đàn trong rừng. 5. Đầu đội núi Tu di mà không thấy nặng. 6. Voi lớn bỏ voi nhỏ. 7. Trên đầu sư tử có 7 sợi lông dài, nằm chết trên mặt đất, chim thú trông thấy đều sợ hãi, sau thấy trùng từ trong mình sư tử bò ra ăn thịt. Tất cả các việc mộng trên đây đều là điềm báo trước Phật pháp suy diệt trong vị lai. Ngoài ra, kinh Bát mộng trong kinh Tạp bảo tạng quyển 9, kinh Đại mộng bản sinh (kinh Thập lục mộng) trong kinh Bản sinh v.v... đều có ghi những điềm mộng mà về mặt thực tế rất khó lí giải, nhưng đều có ý nghĩa tượng trưng. Nói chung, kinh điển Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa đều có quan điểm và cách giải thích khác nhau về mộng. Kinh điển Tiểu thừa phần nhiều xuyên qua điềm mộng mà ám thị những sự kiện và sự chuyển biến trọng đại, như trường hợp đức Phật trước khi gá thai, phu nhân Ma ha ma da mộng thấy Bồ tát cỡi voi trắng vào thai; trước khi đức Phật nhập diệt, phu nhân Ma ha ma da mộng thấy 5 điềm mộng rất dữ, như núi Tu di lở, nước 4 biển cạn khô v.v... Hoặc như 10 điềm mộng của vua Ba tư nặc, 10 điềm mộng của vua Ngật lật chỉ, 7 điềm mộng của ngài A nan nói trên, đều là quan điểm nguyên thủy và tự nhiên. Còn kinh điển Đại thừa thì phần nhiều giải thích về bản chất của mộng, đồng thời bàn đến vấn đề căn bản là thực thể của mộng có hay không, thiện hay ác...; hoặc căn cứ vào tính chất hư vọng không thực của mộng để ví dụ các pháp hữu vi như huyễn như bóng. Đây là thuộc về quan điểm có tính phê phán, tính siêu hình. [X. kinh Tạp a hàm Q.7; kinh Đại bảo tích Q.73, 74; luận Đại trí độ Q.6, 64]. (xt. Thập Mộng, Mộng Kinh).
mộng cảm hảo tướng
(夢感好相) Mộng thấy tướng tốt. Cứ theo phẩm An lạc hạnh trong kinh Pháp hoa, nếu người thành tựu 4 hạnh An lạc, thì trong mộng có thể thấy được 5 tướng tốt. Đó là: 1. Mộng thấy đức Phật thuyết pháp. 2. Mộng thấy chính mình thuyết pháp. 3. Mộng thấy tự mình nghe pháp, hiểu suốt nghĩa lí, chứng được trí bất thoái và được Phật thụ kí cho thành Phật ở đời vị lai. 4. Mộng thấy mình sau khi được thụ kí, liền ở nơi rừng núi vắng vẻ tu đạo Bồ tát. 5. Mộng thấy 8 tướng thành đạo của chính mình và chuyển Đại pháp luân. Ngoài ra, theo kinh Xuất sinh bồ đề tâm, nếu trong mộng mà thấy hoa sen, lọng che, mặt trăng tròn và tượng Phật... thì cũng đều là những tướng mộng tốt lành. (xt. Mộng).
mộng du
Sleep-walking.
mộng dụ
Svapna-upama (S)Thí dụ chỉ các pháp như mộng.
mộng huyễn
Tính chất của mọi hiện tượng là không thực như mộng như huyễn—Dream and illusion, the characteristics of all phenomena.
; (夢幻) Tức là những vọng tưởng hiện ra trong giấc ngủ (mộng) và những vật giả tạo do nhà ảo thuật biến ra (huyễn). Kinh điển Phật giáo thường dùng mộng và huyễn để ví dụ tất cả các pháp chẳng phải thật có, như kinh Kim cương (Đại 8, 752 thượng) nói: Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh. Kinh Nhập lăng già quyển 4 (16, 536 thượng) nói: Tâm kẻ phàm phu si mê chấp trước, rơi vào tà kiến, vì không biết được đó chỉ là vọng kiến hư dối của tự tâm (...) cho nên ta nói tất cả pháp như huyễn như mộng, không có thực thể. [X. kinh Tu hành đạo địa Q.1; kinh Phật bản hạnh tập Q.7; kinh Nhập lăng già Q.3; kinh Kim quang minh Q.1; luận Đại trí độ Q.6, 95; Bách tự luận]. (xt. Mộng, Mộng Kinh).
mộng huyễn bào ảnh
(夢幻泡影) Mộng: Những vọng tưởng hiện ra trong giấc ngủ; Huyễn: Sự biến hóa của nhà ảo thuật; Bào: Bọt nước; Ảnh: Bóng dáng, Mộng, huyễn, bào, ảnh, lộ (hạt móc), điện (tia chớp) đều là những tiếng dùng để ví dụ muôn pháp trong thế gian đều hư giả không thật, sinh diệt vô thường. Kinh Kim cương (Đại 8, 752 trung) nói: Tất cả các pháp hữu vi giống như chiêm bao, ảo thuật, bọt nước, cái bóng, hạt móc và tia chớp, nên quán xét như thế.
mộng hư
(夢虛) Những cảnh tượng hiện ra trong giấc mộng đều hư giả, ví dụ cho các pháp không thực có. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 12 (Đại 24, 760 thượng) nói: Khi ngủ, mộng thấy núi lở hoặc bay bổng lên hư không; hoặc thấy hổ (cọp), chó sói, sư tử, giặc đuổi, đây là do 4 đại không hòa hợp mà sinh ra, hư giả chẳng thật.
mộng kinh
(夢經) Chỉ cho những đoạn văn kinh hoặc những bản kinh Phật có liên quan đến mộng. Cách nhìn và sự giải thích về mộng trong các kinh điển của Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa đều khác nhau. Kinh điển Tiểu thừa không phải lấy bản thân mộng làm đối tượng, mà chỉ có ý mượn giấc mộng để ám chỉ 1 sự kiện hoặc 1 biến chuyển trọng đại. Còn kinh điển của Đại thừa thì nói rõ về bản chất của mộng, đồng thời bàn đến vấn đề mấu chốt là mộng có thực thể hay không và nếu có thì thiện, ác khác nhau ra sao? Cho nên, quan điểm của kinh điển Tiểu thừa có tính nguyên thủy, tự nhiên, còn quan điểm của kinh điển Đại thừa thì có tính phê phán, siêu hình. Trong kinh điển Phật giáo, bộ luận đầu tiên bàn về bản chất và tự tính của mộng là luận Đại tì bà sa quyển 37, trong đó có nói (Đại 27, 193 trung): Nếu mộng chẳng phải thực thì trái với Khế kinh. Như vậy, luận này chủ trương mộng là có thật và phải chịu trách nhiệm (nghiệp báo) về đạo đức. Cũng quyển 37 của luận đã dẫn, nêu ra 5 thuyết có liên quan đến tự tính (bản chất, bản thể) của mộng: 1. Các ngài Pháp cứu, Giác thiên căn cứ vào thuyết của các ngài Diệu âm và Thế hữu lấy toàn bộ tác dụng tinh thần của tâm, tâm sở làm bản thể của mộng. 2. Lấy ý làm tự tính của mộng, tức là tác dụng của ý thức trước khi ngủ chợt hiện ở trong mộng. 3. Lấy niệm làm tự tính của mộng, niệm chỉ cho kí ức. Nghĩa là từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến vị lai, tác dụng của kí ức liên tục không gián đoạn, đó là tự tính của mộng, bởi thế mới có trường hợp kí ức ở quá khứ hiện ra trong cảnh mộng ở hiện tại và sau khi người ngủ tỉnh dậy có thể kể lại giấc mộng cho người khác nghe. 4. Lấy Ngũ thủ uẩn làm tự tính của mộng. Ngũ thủ uẩn tức là sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Trong khi ngủ, các uẩn đắp đổi giúp đỡ lẫn nhau để cấu thành các việc trong mộng, vì thế lấy đó làm tự tính của mộng. 5. Lấy tất cả pháp (tức là hết thảy muôn tượng tâm và vật) làm tự tính của mộng. Trong kinh điển Phật giáo, có rất nhiều kinh văn liên quan đến mộng, thường thấy hơn cả là điềm mộng lành khi đức Phật gá thai và mộng dữ khi đức Phật nhập diệt. Điềm mộng đức Phật gá thai thấy được chép trong các kinh luận: - Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng. - Kinh Chúng hứa ma ha đế quyển 3. - Kinh Phổ diệu quyển 2. - Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1. - Kinh Pháp hoa trong phẩm Phổ hiền khuyến phát. - Kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp. - Kinh Ma ha ma da. - Thiện kiến luật tì bà sa quyển 12. - Luận Câu xá quyển 9. - Luận Dị bộ tông luân. - Ma ha chỉ quán quyển 2 thượng. Điềm mộng đức Phật nhập Niết bàn được ghi trong các kinh luận: - Kinh Đại bát niết bàn quyển hạ. - Kinh Đại bát niết bàn quyển 40, bản tiếng Phạm. - Kinh Niết bàn hậu phần quyển hạ. - Kinh Ma ha ma da quyển hạ. - Kinh Ca diếp phó Phật bát niết bàn. - Luận Đại trí độ quyển 3. - Điều Câu thi na yết la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 6. - Pháp uyển châu lâm quyển 10, 12. Ngoài ra, cũng có mộng liên quan đến việc đức Phật xuất gia được ghi trong các kinh điển về Phật truyện như kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 2 v.v... Còn Bát nhã bộ nói về mộng, thì như phẩm Mộng hành trong kinh Đại bát nhã quyển 451, có nêu lên quan điểm của đức Thích tôn và các ngài Xá lợi phất, Tu bồ đề, Di lặc... bàn về nghiệp trong mộng, đây là đại biểu điển hình cho lập trường có tính phê phán, tính suy xét đối với mộng được biểu hiện trong kinh điển Đại thừa và kết luận của kinh điển Đại thừa là mộng đã tiến vào Đệ nhất nghĩa đế. Nghĩa là nếu cho rằng hiện thực và cảnh mộng có sai khác nhau thì tức là vọng kiến, mà triệt để chấp nhận quan điểm hiện thực tức mộng mới phù hợp với tư tưởng Không của Bát nhã. Lại nữa, kinh Đại bát nhã quyển 596 và luận Đại trí độ quyển 6, dùng 10 thí dụ để thuyết minh thực tướng Bát nhã, thì trong đó có 1 dụ như mộng. Trong 10 thí dụ của kinh Đại phẩm bát nhã quyển 1, nói rõ các pháp đều không, cũng có 1 thí dụ về mộng. Rồi 10 thí dụ trong kinh Duy ma, nói về thân người vô thường, cùng có 1 thí dụ mộng. Ngoài ra, luận Đại trí độ quyển 7 cũng có ghi mộng của 3 dâm nữ, nhờ đó để thuyết minh ý chỉ nhiệm mầu của các pháp thực như thế, đều từ niệm sinh. Nhưng điềm mộng trong các kinh như kinh Đại phương đẳng đà la ni quyển 1, thuộc Phương đẳng bộ và kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 2, thuộc Bí mật bộ, thì ý thú rất khác với điềm mộng trong kinh Bát nhã nói trên. Trong đó, sự tích Thập nhị mộng vương (Thập nhị thần vương, Thập nhị đại vương) ghi trong kinh Đại phương đẳng đà la ni, sự tích Kim cổ thuyết pháp (Trống vàng nói pháp) trong kinh Kim quang minh tối thắng vương, đều thuộc trường hợp Thiên nhân nhập mộng (Trời người thấy mộng) chứ không phải dùng mộng làm thí dụ để hiển bày ý chỉ mầu nhiệm của lí Không. Trong các kinh Phật hiện còn, những kinh lấy mộng làm chủ đề toàn kinh thì có: 1. Kinh A nan thất mộng, 1 quyển, cũng gọi Thất mộng kinh, do ngài Đàm vô lan dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung nói về việc ngài A nan nằm mộng thấy 7 việc xấu, như thấy những ngọn lửa từ ao hồ bốc lên ngùn ngụtv.v... mà đức Phật tiên đoán đó là điềm báo trước việc Phật pháp sẽ suy tàn trong đời vị lai. 2. Ca chiên diên vị Ác sinh vương giải bát mộng duyên, cũng gọi kinh Bát mộng, do các ngài Cát ca dạ và Đàm diệu cùng dịch vào đời Nguyên Ngụy, được thu vào kinh Tạp bảo tạng quyển 9 trong Đại chính tạng tập 4. Nội dung nói về việc ngài Ca chiên diên giải thích 8 điềm mộng của Ác sinh vương, khiến cho bạo chúa này qui y Tam bảo. 3. Xá vệ quốc vương mộng kiến thập sự kinh,1 quyển, cũng gọi Thập mộng kinh, Vô hi vọng kinh, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Bản dịch khác là Xá vệ quốc vương thập mộng kinh, 1 quyển, cũng được thu vào Đại chính tạng tập 2. Nội dung nói về 10 điềm mộng của vua Ba tư nặc. 4. Cấp cô độc trưởng giả nữ đắc độ nhân duyên kinh, 3 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Có bản dịch khác là Tu ma đề nữ kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, cũng được thu vào Đại chính tạng tập 2. Nội dung nói về việc đức Phật vì muốn giải thích về nhân duyên quá khứ của nàng Thiện vô độc (Phạm: Sumàgadhà, Tu ma đề), con gái của Trưởng giả Cấp cô độc, nên Ngài thuật lại 10 điềm mộng chẳng lành của vua Ngật lật chỉ (Phạm: Kfkin) ở đời quá khứ cho Thiện vô độc nghe, nhờ đó mà nàng được độ. 5. Đại mộng bản sinh kinh (Phạm: Mahàsupina Jàtaka), cũng gọi Thập lục mộng kinh. Nội dung nói về 10 điềm mộng dữ của vua Ba tư nặc, cùng lời đoán mộng của Bà la môn và sự giải thích của đức Phật. [X. kinh Tạp a hàm Q.7; kinh Tăng nhất a hàm Q.51, kinh Đại bảo tích Q.73, 74; luật Ngũ phần Q.26; kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; luận Đại trí độ Q.64; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2 phần 2; Khai nguyên thích giáo lục Q.15]. (xt. Mộng).
mộng kiến
To see in a dream, to imagine one sees, or has seen.
; Tưởng tượng cái mình thấy hay đã thấy trong mộng, hay những cái thấy không có thực—To see in a dream—To imagine one sees, or has seen.
mộng pháp
mi lam (T), Dream practice, Một pháp Kim cang thừa cao cấp sử dụng trạng thái mộng để hành. Mộ trong 6 pháp Du già của tổ Naropa.
mộng song quốc sư ngữ lục
(夢窓國師語錄) Gọi đủ: Mộng song chính giác tâm tông Phổ tế quốc sư ngữ lục. Cũng gọi Mộng song ngữ lục. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Mộng song Sơ thạch (1275-1351) người Nhật soạn, các sư Bản nguyên và Diệu ba biên tập, ấn hành vào năm 1354, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung chia ra như sau: Quyển thượng: Thu chép Ngữ lục 6 hội ở các chùa: Nam thiền, Tịnh trí, Viên giác, Thiên long v.v... Quyển hạ 1: Thu chép các phần Thăng tòa, Niêm hương, Tiểu Phật sự, Phật tổ tán, Tự tán, Kệ tụng v.v... Quyển hạ 2: Thu chép Phổ tế quốc sư niên phổ, Tây sơn dạ thoại, Tháp minh, Bi minh do Tống liêm soạn, cho đến Thập di (Lâm xuyên gia huấn, Tam hội viện di giới, Tây phương di huấn, Mạt hậu thùy giới, Kệ tụng, Tế văn, Sớ, Lương bài, Pháp ngữ, Phát nguyện văn v.v...) Phần Tây sơn dạ thoại là do ngài Xuân ốc Diệu ba biên tập, được in riêng vào năm 1700, nội dung thu chép những cơ duyên vấn đáp và lời giáo huấn người học của ngài Sơ thạch ở các chùa Thiên long và Tây phương.
Mộng Song Sơ Thạch
(夢窻疎石, Musō Soseki, 1275-1351): vị tăng của Phái Phật Quang thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, hiệu là Mộng Song (夢窻), xuất thân vùng Y Thế (伊勢, Ise, thuộc Mie-ken [三重縣]). Ông xuất gia từ hồi còn nhỏ tuổi, trước học về Thiên Thai, sau chuyển sang Thiền, đến tham bái Cao Phong Hiển Nhật (高峰顯日) và được kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó ông đã từng lui về sống ẩn cư ở một số nơi như Long Sơn Am (龍山庵) vùng Giáp Phỉ (甲斐, Kai, thuộc Yamanashi-ken [山梨縣]), Hổ Khê Am (虎溪庵) vùng Mỹ Nùng (美濃, Mino, thuộc Gifu-ken [岐阜縣]), Hấp Giang Am (汲江庵)vùng Thổ Tá (土佐, Tosa, thuộc Kōchi-ken [高知縣]), Bạc Thuyền Am (泊船庵) vùng Tam Phố (三浦, Miura, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣]), Thối Canh Am (退耕庵)vùng Thượng Tổng (上總, Kazusa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), v.v. Mãi đến năm 1325 (năm thứ 2 niên hiệu Chánh Trung [正中]), nhận sắc chỉ của Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō, 1318-1339), ông đến trú trì Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji). Nhưng rồi năm sau ông lại quay trở về Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), dựng Nam Quang Am (南光庵) và trùng hưng một số chùa như Tịnh Trí Tự (淨智寺), Thoại Tuyền Tự (瑞泉寺), Viên Giác Tự (圓覺寺), v.v. Song vì mệnh lệnh của Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng nên lần thứ hai ông phải quay trở lại trú trì Nam Thiền Tự. Sau khi Thiên Hoàng băng hà, nhận lời thỉnh cầu của Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji), ông đến khai sơn Thiên Long Tự (天龍寺, Tenryū-ji). Ngoài ra ông còn khai sáng một số chùa khác như Lâm Xuyên Tự (臨川寺, Rinsen-ji), Đẳng Trì Viện (等持院, Tōji-in), Chơn Như Tự (眞如寺, Shinyo-ji), Tây Phương Tự (西方寺, Saihō-ji). Vào năm 1351 (năm thứ 6 niên hiệu Chánh Bình [正平]), ông thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi. Môn hạ của ông có Vô Cực Chí Huyền (無極志玄), Tuyệt Hải Trung Tân (絕海中津), v.v. Pháp hệ của ông được gọi là Mộng Song Phái (夢窻派) hay Tha Nga Môn Phái (嵯峨門派), chiếm hầu hết dòng chủ lưu của Thiền lâm thời Trung Đại. Lúc còn sanh tiền, ông đã được bantặng các danh hiệu Quốc Sư như Mộng Song (夢窻), Chánh Giác (正覺), Tâm Tông (心宗); sau khi qua đời ông còn được ban tặng các danh hiệu khác như Phổ Tế (普濟), Huyền Du (玄猷), Phật Thống (佛統), Đại Viên (大圓) và được tôn xưng là Thất Triều Đế Sư. Các trước tác để lại của ông có Mộng Song Lục (夢窻錄), Mộng Song Pháp Thoại (夢窻法話), Cốc Hưởng Tập (谷響集), Mộng Trung Vấn Đáp (夢中問答), Tây Sơn Dạ Thoại (西山夜話), v.v.
; 夢窗疏石; J: musō soseki; 1275-1351;|Thiền sư Nhật Bản danh tiếng thuộc tông Lâm Tế. Sư là người rất có công trong việc truyền bá tông phong Lâm Tế tại Nhật, được Nhật hoàng phong danh hiệu Quốc sư.|Sư sinh ra trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc, mất mẹ năm bốn tuổi. Vừa lên tám, Sư đã xuất gia và ban đầu chuyên tu tập theo Mật giáo (j: mikkyō). Trong khoảng thời gian 10 năm, Sư thu thập tất cả những ấn tượng huyền bí của Mật giáo tại đây. Một năm sau khi thụ giới cụ túc (1292), Sư chuyển sang tu tập theo phương pháp của Thiền tông. Nguyên nhân của sự thay đổi này chính là cái chết bi thảm của một vị thầy. Sư tự thấy rằng, vấn đề chính của cuộc sống là sinh tử luân hồi không thể giải quyết được bằng tri thức uyên bác, kiến thức của một học giả. Trong thời gian 100 ngày sau khi vị thầy lâm chung, Sư tụng kinh cầu an cho vị thầy và nhân đây, Sư có một giấc mộng rất quan trọng. Trong giấc mộng này, Sư được gặp hai vị Thiền sư Trung Quốc quan trọng đời Ðường là Thạch Ðầu Hi Thiên (石頭希遷; c: shítóu xīqiān; j: sekitō kisen) và Sơ Sơn Quang Nhân (疏山光仁; c: chūshān guāngrèn; j: sozan kōnin), một môn đệ của Ðộng Sơn Lương Giới. Thạch Ðầu xuất hiện dưới dạng một vị tăng của Chân ngôn tông, Sơ Sơn dưới dạng Bồ-đề Ðạt-ma. Sau giấc mộng này, Sư tự đặt tên cho mình là Sơ Thạch (so-seki) – ghép từ hai chữ đầu của Sơ Sơn và Thạch Ðầu. ›Cửa sổ của giấc mộng‹ (夢窗; Mộng Song; j: mu-sō) đã mở rộng, hướng dẫn Sư trên con đường Thiền.|Sau đó, Sư yết kiến nhiều vị Thiền sư danh tiếng đương thời – một trong những vị này là Nhất Sơn Nhất Ninh (c: yīshān yīníng; j: issan ichinei), một vị Thiền sư Trung Quốc danh tiếng – nhưng không hài lòng với những phương pháp tu tập của những vị này. Nghe danh của Thiền sư Cao Phong Hiển Nhật (高峰顯日; j: kōhō kennichi), Sư liền đến tham học. Sư học không lâu nơi Cao Phong nhưng vẫn được xem là môn đệ vì sau này Cao Phong chính là người Ấn khả cho Sư.|Vào một ngày tháng năm (1305), đang trên đường trở về am và trong lúc mệt mỏi, Sư vừa muốn dựa lưng vào tường thì có cảm giác bức tường bỗng nhiên biến mất, Sư té xuống và nhân đây ngộ được yếu chỉ thiền.|Sau sự việc quan trọng này, Sư vẫn chu du đây đó, chú tâm đến việc Toạ thiền (j: zazen). Cuối cùng, Sư nhận lời mời trụ trì Thiên Long tự (j: tenryū-ji) tại Kinh Ðô – một ngôi chùa được xếp vào hệ thống Ngũ Sơn (j: gosan) – và trở thành một nhân vật quan trọng của nền văn hoá Phật giáo tại đây.|Sư cũng là một trong những tác giả đứng hàng đầu của phong trào Ngũ Sơn văn học (j: gosan bungaku), một phong trào rất quan trọng trong việc truyền bá văn hoá, khoa học và nghệ thuật của Trung Quốc sang Nhật. Tên của Sư gắn liền với nhiều việc khai sơn, sáng lập thiền viện và đích thân Sư cũng trụ trì nhiều thiền viện danh tiếng, trong đó có Nam Thiền tự (nanzen-ji), một ngôi chùa với những kiến trúc, vườn cảnh nổi danh trên thế giới. Dưới sự chỉ đạo của Sư, một vị Tướng quân (shōgun) với tên Túc Lợi Tôn Thị (j: ashikaga takauji) truyền lệnh lập 66 ngôi chùa ở 66 nơi khác nhau với tên An Quốc tự (j: ankoku-ji) và từ đây, Thiền tông được truyền bá khắp nước Nhật. Một trong những tác phẩm quan trọng của Sư là Mộng trung vấn đáp (muchū-mondō), trong đó, Sư trình bày các yếu chỉ của Thiền tông qua các câu hỏi và trả lời. Ngoài ra, Sư cũng nổi danh trong nghệ thuật Thư đạo (shodō). Sư được bảy vị Nhật hoàng tôn làm thầy và được phong bảy danh hiệu khác nhau. Dưới danh hiệu Mộng Song Quốc sư, Sư đi vào lịch sử của Phật giáo Nhật Bản.
mộng song sớ thạch
(夢窗疏石) Thiền sư Nhật bản, thuộc tông Lâm tế, người huyện Y thế, họ Nguyên, tự Mộng song, là hậu duệ của Thiên hoàng Vũ đa. Năm lên 9 tuổi, sư theo ngài Không a ở chùa Bình diêm sơn học nội ngoại điển. Năm 26 tuổi, sư xuất gia, theo ngài Ngưng nhiên ở viện Giới đàn thụ giới, sau đó, đi khắp nơi học Hiển giáo và Mật giáo. Ít lâu sau, sư nhận ra rằng Phật pháp vốn không phải là Nghĩa học, nên chuyển sang tham thiền, thờ các ngài Nhất sơn Nhất ninh, Cao phong Hiển nhật làm thầy và được ngài Hiển nhật ấn khả. Năm 1325, sư nhận lời thỉnh của Thiên hoàng Hậu đề hồ, trụ ở chùa Nam thiền tại kinh đô (Kyoto), chùa Viên giác ở Liêm thương, xiển dương Thiền phong. Sau khi họ Bắc điều bị diệt vong, sư từ Liêm thương dời về Kinh đô để tránh loạn lạc, ở đây, sư được dòng họ Túc lợi tôn kính, giúp sức xây dựng tháp Lợi sinh ở chùa An quốc. Để truy niệm Thiên hoàng Hậu đề hồ, sư sáng lập chùa Thiên long và làm vị khai sơn đời thứ nhất. Ngoài ra, sư còn chỉ đạo công trình tạo lập các hoa viên nổi tiếng ở các chùa Tây phương, chùa Thiên long, chùa Vĩnh bảo (Mĩ nùng), chùa Hấp giang (Cao tri), chùa Thụy tuyền (Liêm thương), chùa Huệ lâm (Giáp phỉ) v.v... Năm 1346, đệ tử của sư là Vô cực Chí huyền kế thừa pháp tịch chùa Thiên long, xiển dương tông phong của thầy và sau phát triển thành phái Mộng song (phái Tha nga môn), còn sư thì lui về ẩn ở am Vân cư. Năm 1351, sư thị tịch, thọ 77 tuổi. Lúc sinh tiền, sư được vua ban các hiệu: Mộng Song Quốc Sư, Chính Giác Quốc Sư, Tâm Tông Quốc Sư; sư cũng được đời sau truy tặng các hiệu: Phổ Tế Quốc Sư, Huyền Du Quốc Sư, Phật Thống Quốc Sư và Đại Viên Quốc Sư. Đệ tử nối pháp gồm hơn 50 người, trong đó nổi tiếng hơn cả là các vị: Vô cực Chí huyền, Xuân ốc Diệu ba, Long tưu Chu trạch, Nghĩa đường Chu tín, Cổ kiếm Diệu khoái, Quán trung Trung đế v.v... Sư có các trứ tác: Mộng trung vấn đáp tập 3 quyển, Lâm xuyên tự gia huấn, Ngữ lục 3 quyển. [X. Thiên long khai sơn Mộng song chính giác tâm tông Phổ tế quốc sư niên phổ; Mộng song chính giác tâm tông quốc sư tháp minh tinh tự; Diên bảo truyền đăng lục Q.19].
mộng sơn sơ thạch
Muso Kokushi (J), Muso Soseki (J)Tên một vị sư.
mộng sơn đức dị
(?-1104)—Ông thuộc đời thứ tám của dòng Thiền Ngũ Tổ Pháp Diễn. Mộng Sơn đã kể lại những kinh nghiệm Thiền của mình như sau—Mung-Shan-Te-I, who was the eighth descendant of Fa-Yen of Wu-Tsu. Mung-Shan told the following stories of his experience in Zen: • Năm 20 tuổi tôi mới quen biết với Thiền, cho đến năm 32 tuổi, tôi đã thăm viếng 17 hay 18 Thiền sư, hỏi họ về cách thực hành pháp môn Thiền, nhưng không ai chỉ ra manh mối. Sau nầy khi đến tìm trưởng lão Hoàn Sơn, ngài dạy tôi hãy nhìn vào ý nghĩa của 'Vô,' và nói thêm 'hãy chăm chú vào chữ Vô suốt cả ngày đêm không ngừng nghỉ, như con chuột đang rình mèo, như gà mái ấp trứng. Khi chưa thấy rõ, hãy như con chuột gặm nhắm cái rương gỗ và đừng bao giờ xao lãng công phu. Thực hành công phu như vậy, chắc chắn thời cơ bừng sáng của tâm ngươi sẽ đến—When I was twenty years old, I became acquainted with Zen, and before I was thirty-two I had visited seventeen or eighteen Zen masters asking them as to their method of discipline, but none were able to enlighten me on the most important point. When later I came to the master Huan-Shan, he told me see into the meaning of 'Wu,' and added, 'Be vigilant over your WU through all the periods of the day, as constantly vigilant as a cat is when she tries to catch a rat, or as a hen is while sitting on the eggs. As long as you have as yet no insight, be like a rat gnawing at the coffin-wood and never vacillate in your exertion. As you go on with your task like that, the time will surely come when your mind will become enlightened.” • Y theo lời dạy nầy, tôi chăm chỉ thực hành, ngày đêm không nghỉ. Rồi trải qua 18 ngày. Bỗng nhiên khi đang uống trà tôi chợt hiểu cái cười nụ của Ca Diếp khi Đức Phật đưa lên một cành hoa trước đại chúng. Tôi mừng rỡ khôn xiết; đi cầu một vài vị trưởng lão của Thiền, nhưng các ngài không trả lời rõ rệt, có vị bảo tôi hãy dùng bảo ấn tam muội mà ấn chứng mười phương thế giới, chứ đừng bận lòng đến thứ gì khác. Tôi tin lời nầy, trải qua hai năm, năm hiệu Cảnh Định thứ năm (1265), tôi đang lở tại tỉnh Tứ Xuyên, phủ Trùng Khánh, đang nguy kịch vì bị bệnh kiết nặng. Không còn chút lực nào, cả đến hải ấn tam muội cũng không giúp gì trong lúc nầy. Kể cả cái hiểu về Thiền đã từng có cũng chẳng giúp tôi được. Lưỡi không chịu nói, thân thể không chịu cử động; chỉ còn chờ chết là hết. Quá khứ diễn ra trước mắt: những điều đã làm, những cảnh ngộ đã từng trải; thế là tôi ở trong một trạng thái tuyệt vọng ghê gớm và hết còn biết cách nào thoát khỏi cái dày vò của nó. Sau cùng cố gắng tự chủ, tôi phân phó ý muốn của mình, rồi lặng lẽ đứng dậy, thắp một ít nhang, dọn lại cái bồ đoàn cũ kỹ; làm lễ Tam Bảo, Thiên Long và thầm sám hối những tội chướng tiền khiên. Tôi khấn nguyện rằng nếu tôi hết kiếp nầy thì mong nhờ năng lực của Bát Nhã mà tái sinh trong một gia đình tốt đẹp và được xuất gia từ khi hãy còn bé bỏng. Nhưng nếu tôi được lành bệnh, tôi muốn được xuất gia ngay và hiến cả cuộc đời còn lại để học Thiền. Nếu được giác ngộ, tôi sẽ cứu giúp mọi người cũng được giác ngộ như mình. Sau lời khấn nguyện này, tôi đề khởi chữ Vô trong lòng vá quay ánh sáng soi vào trong mình. Không lâu, tôi nghe trong tạng phủ máy động đôi ba lần, nhưng không để tâm đến; một lúc sau lông mày tôi nghe cứng không chịu chớp, và lát nữa tôi hết biết đến thân thể của mình; chỉ có chữ Vô còn lại trong lòng thôi. Đến chiều tôi rời chỗ ngồi và thấy bệnh mình bớt được một nửa; tôi ngồi xuống trở lại cho đến khi gần sáng. Bấy giờ bệnh hoàn toàn biến mất. Giờ đã bình phục, thân tâm như thơ thới—Following this instruction, I steadily applied myself to the work, day and night. Eighteen days thus elapsed. Suddenly, when I was taking tea, I cam upon the meaning of Kasyapa's smile, which was elicited when the Buddha produced a flower before a congregation of his disciples. I was overjoyced; I wished to find out whether my understanding was correct and called upon a few masters of Zen. They, however, gave me no definite answer; some told me to stamp the whole universe with the stamp of Sagara-mudra-samadhi, and not to pay attention to anything else. Believing this, I passed two years. In the sixth month of the fifth year of Ching-Ting (1265), I was in Ch'ing-Ch'ing, Szu-Ch'uan, and suffering a great deal from dysentary, was in a most critical condition. No energy was left in me, nor was the Sagaramudra of any avail at this hour. Whatever understanding of Zen I had all failed to support me. The tongue refused to speak, the body to move; all that remained was to greet death. The past unrolled itself before me, the things I had done, as well as the situations I had been in; I was thus in a ghastly state of despondency and completely at a loss as to how to escape from its torture. At last, determining to be master of myself, I managed to make my will. I then got up quietly, lit some incense, arranged the invalid cushions; I made bows to the Triple Treasure and also to the Naga gods, and silently confessed my previous sins before them. I prayed that if I were to pass away at this time I might be reborn through the power of Prajna in a good family and become a monk in my early years. But if I should be cured of this disease I wanted to become a monk at once and devote the rest of my life entirely to the study of Zen. If an illumination should come I would help others even as myself to get enlightened. After making this prayer, I set up “WU” before my mind and turned the light within myself. Before long I felt my viscera twist for a few times, but I paid no attention; it was after some time that my eyelids became rigid and refused to blink, and later on I became unconscious of my own body; the “WU” alone occupied my consciousness. In the evening I arose from my seat and found that I was half cured of the disease; I sat down again until the small hours of the morning when the physical disorder completely disappeared. I was myself again, well and in good spirits. • Tháng tám năm ấy, tôi đến Giang Lăng thí phát làm sư. Gần hết một năm tôi đi hành cước, và lúc đang thổi cơm thì thấy ra rằng việc tu tập công án phải giữ không gián đoạn và với công phu liên tục. Rồi tôi đến trú ngụ tại Hoàng Long. Lần thứ nhất buồn ngủ, tôi vận dụng ý chí chống lại và vẫn ngồi như cũ, cơn buồn ngủ bị chinh phục dễ dàng. Lần thứ hai buồn ngủ, tôi tống khứ nó y như lần trước. Lần thứ ba cơn buồn ngủ xâm chiếm nặng nề, tôi bước xuống khỏi chỗ ngồi và đi lễ Phật, nhờ vậy mà thấy tỉnh táo lại. Trở lại chỗ ngồi và tiếp tục tiến tới. Nhưng sau hết lúc phải đi ngủ tôi dùng gối kê đầu và ngủ được một chút; sau đó, lấy cánh tay làm gối, và cuối cùng hoàn toàn khỏi phải nằm dài xuống. Qua hai đêm như thế, đến đêm thứ ba, tôi mệt nhọc đến độ như thấy chân không chấm đất. Bỗng đâu đám mây mù như che mắt nay được quét sạch, tôi thấy như vừa tắm xong, hoàn toàn mát mẻ—In the eighth month of the same year I went to Chiang-Ling and had my head shaved to become a monk. Before the year was over, I went on a pilgrimate, and while cooking rice I found out that the koan exercise must be carried on uninterruptedly and with continuous effort. I then settled myself at Huang-Lung. When I felt sleepy for the first time I exercised my will to resist it and kept on sitting, when the sleepiness was early vanquished. When I became sleepy a second time, I drove it away in a similar manner. A third attack was too strong; I got down from my seat and made bows to the Buddha, which revived me. I resumed my seat and the process had to be repeated. But when at last I had to sleep I used a pillow and slept a little; later my elbow was substituted for the pillow, and finally I altogether avoided lying down. Two nights were thus passed; on the third night I was so fatigued that I felt as if my feet did not touch the ground. Suddenly the dark cloud that seemed to obstruct my vision cleared away, and I felt as if I had just come from a bath and was thoroughly rejuvenated. • Còn về công án thì nghi tình là nặng nhất và công án sừng sững ra đấy mà không cần dụng công. Tất cả những cảm giác ngoại thân, những ngũ dục và bát phong không còn quấy phá nữa; tự mình trong suốt như một chén pha lê đầy tuyết, như trời thu quang đãng không mây. Công phu cứ diễn tiến rất tốt đẹp như thế, nhưng chưa có chút dứt khoát nào. Sau đó tôi giã từ chùa du hành sang Chiết Giang. Dọc đường vì quá nhiều mệt nhọc nên công phu Thiền cũng suy giảm. Tôi đến chùa Thừa Thiên, nơi đây Cô Thiềm Hòa Thượng đang trụ trì, và tạm thời dừng chân ở đó. Tôi tự thệ sẽ không rời khỏi nơi nầy cho đến khi nào lãnh hội được đạo Thiền. Hơn một tháng sau, tôi lấy lại công phu đã mất. Bấy giờ khắp mình ghẻ lỡ; nhưng vẫn quyết tâm giữ vững công phu dù có đánh đổi cả cuộc đời. Nhờ đó mà tâm lực được mạnh mẽ thêm nhiều, và biết giữ vững công phu của mình ngay cả lúc bệnh hoạn—As to the koan, a state of mental fixation prevailed, and the koan occupied the centre of attention without any conscious striving on my part for it. All external sensations, the five passions, and the eight disturbances, no longer annoyed me; I was as pure and transparent as a snow-filled silver bowl or as the autumnal sky cleared of all darkening clouds. The exercise thus went on quite successfully but as yet with no turning point. Later I left this monastery and travelled to Chê-Chiang. On the way I experienced many hardships and my Zen exercise suffered accordingly. I came to the Ch'eng-T'ien monastery which I was presided over by the Master Ku-Ch'an, and there took up my temporal habitation. I vowed to myself that I would not leave this place until I realized the truth of Zen. In a little over a month I regained what I had lost in the exercise. It was then that my whole body was covered with boils; but I was determined to keep the discipline even at the cost of my life. This helped a great deal to strengthen my spiritual powers, and I knew how to keep up my seeking and striving even in illness. • Một hôm được mời đi thọ trai, suốt trên đường đến nhà trai chủ, vừa đi vừa đeo đuổi công án, mãi miết trong công phu tu tập cho tới ngang qua nhà mà vẫn không hay mình đang ở đâu. Nhờ vậy mà tôi hiểu ra thế nào gọi là thực hành công phu ngay trong mọi động dụng. Đến đây thì tâm cơ của tôi như mặt trăng phản chiếu từ lòng sâu của dòng nước đang chảy; mặt nước tuy chảy xiết, nhưng mặt trăng vẫn y nhiên bất động—One day, being invited out to dinner I walked on with my koan all the way to the devotee's house, but I was so absorbed in my exercise that I passed by the house without even recognizing where I was. This made me realized what was menat by carrying on the exercise even while engaged in active work. My mental condition then was like the reflection of the moon penetrating the depths of a running stream the surface of which was in rapid motion, while the moon itself retained its perfect shape and serenity in spite of the commotion of the water. • Ngày mồng sáu tháng ba, tôi đang ngồi trên bồ đoàn, tâm niệm chữ Vô như thường lệ thì vị Tăng thủ tòa bước vào Thiền đường. Tình cờ thầy làm rơi hộp nhang trên nền nhà, khua lên một tiếng. Tiếng động chợt khơi tỏ tâm mình thấy một viễn tượng tâm linh mới mẻ, và cùng với tiếng kêu tôi thấu triệt tự thể của mình, chộp được ông già Triệu Châu (tác giả chữ Vô). Tôi buộc miệng đọc ngay một bài tụng: “Một hứng lộ đầu cùng Đạp phiên ba thị thủy Triệu Châu lão siêu quần Diện mục chỉ như thị (Đường đi chợt hết bước Dẫm ngược, sóng là nước Già Triệu Châu quá chừng Mặt mày chẳng chi khác). On the sixth of the third month I was holding “WU” in my mind as usual while sitting on the cushion, when the head-monk came into the meditation hall. Accidentally he dropped the incense-box on the floor, making a noise. This at once opened my mind to a new spiritual vista, and with a cry I obtained a glimpse into my inner being, capturing the old man Chao-Chou (the author of WU). I gave voice to the following stanza: “Unexpectedly the path comes to an end When stamped through, the waves are the water itself. They say, old Chao-Chou stands supremely above the rest, But nothing extraordinary I find in his features.” • Suốt mùa thu, tôi tham vấn các đại danh Tăng như Tuyết Nham, Thối Canh, Thạch Khanh và Hư Chu. Hư Chu khuyên tôi đến kiếm Hoàn Sơn. Khi tôi đến gặp Hoàn Sơn, ngài hỏi: “Quang minh tịch chiếu khắp cả hà sa thế giới, đây há không phải là lời của tú Tài Trương Chuyết?” Tôi sắp mở miệng thì Hoàn Sơn hét một tiếng và đuổi tôi đi chẳng chút lễ độ. Nhờ đấy mà tôi đổi ngược hẳn, và từ đây, tâm tôi chuyên chú vào thái độ này của ngài. Khi đi hay ngồi, ăn hay uống, tâm tôi phó thác vào đó—During the autumn I interviewed masters of high reputation such as Hsueh-Yen, T'ui-Kêng, Shih-Fan, and Hsu-Chou. The last-mentioned advised me to to go to Huan-Shan. When I saw Huan-Shan, he asked: “The light, serenely illuminating, fills all the universe to its furthest limits, are these not the words of the literari Chang-Chuo?” I was about to open my mouth when Huan-Shan gave a “Kwatz!” and dismissed me unceremoniously. This upset me, and since then my thoughts were concentrated on this attitude of the master. Walking or sitting, eating or drinking, my mind was occupied with it. • Sáu tháng trôi qua, vào một ngày mùa xuân năm sau, khi đi dạo từ ngoài thành trở về, vừa bước lên bực thang đá, thì giá lạng đóng băng trong óc não từ lâu chợt tan chảy, tôi quên mình đang đi trên đường. Tôi đi thẳng đến Hòa Thượng, và ngay khi lập lại câu hỏi của tôi trước kia, tôi bèn lật ngược Thiền sàng của ngài. Bây giờ tôi đã hiểu rõ trọn vẹn công án mà những nút thắt thật là khó nối kết—Six months passed when, one day in the spring of the following year, I was returning from an out-of-town trip and was about to climb a flight of stone steps, when the solid ice that had been clogging my brain for so long unexpectedly melted away, and I forgot that I was walking on the roadway. I immediately went to the master, and when he repeated the question I overturned his seat. I now thoroughly understood the koan, whose knots had been so hard to unite. • Này các nhân giả: Hãy đi cho trọn lối tham Thiền. Giả sử tôi không bị bệnh ở Trùng Khánh, cuộc đời của tôi lẽ ra đã trôi xuôi. Cần thiết phải gặp một vị thầy thật sáng suốt. Hãy xem cổ nhân đã dốc lòng hăng hái và bền bĩ cả ngày đêm tham thiền hầu dễ thấu đáo đạo lý cứu cánh của Thiền—Oh Brother! Be thorough going in your Zen exercise. If I had been taken ill when at Chung-Ch'ing my life might have been almost wasted . The main thing is to be introduced to a master with really spiritual insight. Consider how earnestly and steadily the ancient master devoted themselves both day and night to the study of Zen in order to grasp the ultimate truth of it.
mộng trung thuyết mộng
(夢中說夢) Tức ở trong mộng nói việc chiêm bao, ví dụ cho hư vô. Kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 59 (Đại 7, 1084 trung) nói: Này Thiện Dũng mãnh! Như người trong mộng nói mộng, thấy các tự tính. Nói tự tính trong chiêm bao như thế là không thể có được. Tại sao? Thiện Dũng mãnh! Vì mộng còn chẳng có, huống chi là nói có tự tính của cảnh mộng?.
mộng trung vấn đáp tập
(夢中問答集) Gọi tắt: Mộng trung vấn đáp, Mộng trung tập. Tác phẩm, 3 quyển, do Thiền sư Mộng song Sơ thạch người Nhật soạn, ông Túc lợi Trực nghĩa ghi chép, được ấn hành vào năm 1344. Đến năm 1912, được đưa vào Thiền học đại hệ tổ lục bộ. Nội dung trình bày về yếu chỉ tham thiền và cách dụng tâm tu hành. Toàn sách được viết theo thể vấn đáp, gồm 91 điều: -Quyển thượng có 22 điều, ghi chép về phúc nghiệp, xuất li sinh tử, chính đạo, Phật pháp, ma đạo, ma nghiệp. -Quyển trung có 37 điều, ghi chép về chính trí vọng tưởng, giáo thiền vô biệt, phát Bồ đề tâm, công phu tọa thiền. -Quyển hạ gồm 32 điều, liên quan đến sắc tâm bất nhị, chân tâm vọng tâm, chư pháp thực tướng, Đại tiểu quyền thực, giáo ngoại biệt truyền...
mộng tướng
(夢相) Chỉ cho các tướng thiện, ác hiện ra trong mộng; ở đây chỉ cho các tướng hiện ra trong mộng của Thập nhị mộng vương nói trong kinh Đại phương đẳng đà la ni quyển 1(do ngài Pháp chúng dịch vào đời Bắc Lương). Thập nhị mộng vương, cũng gọi Thập nhị thần vương, Thập nhị đại vương. Đó là: Đản đồ la, Cân trì la, Mậu trì la, Càn cơ la, Đa lâm la, Ba lâm la, Đàn lâm la, Thiền đa lâm la, Cùng già lâm la, Ca lâm la, Cùng già lâm la và Bà lâm la, trong đó, Mộng vương thứ 9 và thứ 11 trùng tên nhau. Cứ theo kinh Đại phương đẳng đà la ni, đức Phật từng tuyên thuyết Ma ha đản đặc la (Phạm: Mahàtantra-dhàraịì) cho 8 vạn 4 nghìn chúng Bồ tát, đứng đầu là bồ tát Tốt tụ, khiến họ được đại công đức, đồng thời, đức Phật dạy: Đản đặc la này không được truyền riêng, mà phải có 12 vị Mộng vương nói ở trên làm chứng, nếu thấy 1 trong 12 vị Mộng vương là có thể tuyên nói Đản đặc la này. Mười hai vị Mộng vương này cùng phát nguyện, nếu có hành giả nào thụ trì đọc tụng kinh Đà la ni, thì 12 vị ấy sẽ hiện đến trong mộng của hành giả này để hộ trì, khiến họ chứng được Đà la ni.[X. kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự tính luân vương Q.2].
mộng tưởng
To "dream" a thing, to think ođ in a dream, to imagine.
; Nghĩ đến những điều trong mộng, tưởng tượng hay nghĩ đến những chuyện không có thật—To dream a thing—To think of a dream—To imagine.
Mộng tưởng 夢想
[ja] ムソウ musō ||| That which is seen in a dream. Illusion, fantasy. => Cảnh diễn ra trong giấc mơ. Ảo tưởng, ảnh tượng.
mộng yểm
Ác mộng—Nightmare.
mộng điệp
(夢叠) Điềm mộng của vua Tần bà sa la, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ. Khi đức Phật còn tại thế, vua Tần bà sa la mộng thấy một tấm vải dạ bị xé rách làm 18 mảnh, đức Phật tiên đoán sau khi Ngài thị tịch, giáo đoàn sẽ chia ra 18 bộ phái. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1]. (xt. Tần Bà Sa La Mộng).
Mộng Đường Đàm Ngạc
(夢堂曇噩, Mudō Dongaku, 1285-1373): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Mộng Đường (夢堂), hiệu Tây Am (西庵), họ Vương (王), xuất thân Từ Khê (慈溪, Tỉnh Triết Giang). Năm lên 6 tuổi, ông đã mất cha, vâng lời mẹ học Nho Giáo. Tuy nhiên, ông có chí cầu xuất thế, nên tôn Lương Công (良公) ở Quảng Pháp Viện (廣法院) vùng Phụng Hóa (奉化, Tỉnh Triết Giang) làm thầy. Năm 23 tuổi, ông đi du hành khắp đó đây, tham yết Tuyết Đình Truyền Công (雪庭傳公) ở Trường Lô (長蘆), Chơn Châu (眞州, Tỉnh Giang Tô) và chính thức xuống tóc xuất gia với vị này và thọ Cụ Túc giới. Khi nghe Nguyên Tẩu Hành Đoan (元叟行端) chuyển từ Trung Thiên Trúc (中天竺) sang Linh Ẩn Tự (靈隱寺), ông đến xin tham học, được đại ngộ và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 5 (1339) niên hiệu Chí Nguyên (至元), ông bắt đầu khai đường thuyết pháp ở Hàm Thánh Tự (咸聖寺) vùng Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang), rồi sau chuyển sang Khai Thọ Tự (開壽寺) ở Từ Khê (慈溪). Nhà vua ban tặng cho ông hiệu là Phật Chơn Văn Ý (佛眞文懿). Đến năm thứ 17 (1357) niên hiệu Chí Chánh (至正), ông làm tổ khai sơn Thoại Quang Viện (瑞光院). Vào năm thứ 26 (1366) cùng niên hiệu trên lúc 82 tuổi, ông biên tập bộ Lục Học Tăng Truyện (六學僧傳) 30 quyển. Đến năm thứ 3 (1370) niên hiệu Hồng Võ (洪武), khi nhà vua mời chúng tăng vào cung nội, ông dẫn đầu mọi người, lưu trú tại Thiên Giới Tự (天界寺). Vào tháng 2 năm thứ 6 (1373) niên hiệu Hồng Võ, ông thị tịch, hưởng thọ 89 tuổi.
mộng ảo
Dream and illusion, chimera, the characteristics of all phenomena.
; Illusion—Visionary.
mộng ảo bào ảnh
Chimeric and ephemeral; dream, water bubble.
Một
沒 (没); C: mò; J: mochi;|Chìm, bị ngập dưới nước, biến mất, bị mất, bị tiêu huỷ, bị suy yếu, tàn tạ, diệt (滅, s: nirodha); 2. Phủ định; không, chẳng phải.
một
1) Số một: One. 2) Chìm mất: Sunk. 3) Qua đời: Gone.
một ba tị
(沒巴鼻) Cũng gọi Vô ba tị, Một khả bả. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là không có chỗ để có thể nắm bắt. Ba cùng nghĩa với bả ( ), chỉ cho cái cán cầm, tức chỗ căn cứ. Ba tị, chỉ cho chỗ xỏ cái ròng rọc ở mũi con trâu, bởi thế Thiền tông dùngmột ba tị để chỉ cho ý nghĩa không cách nào nắm bắt được. Đại tuệ Phổ giác thiền sư thư quyển 29 (Đại 47, 934 trung) nói: Xem tới xem lui, biết rõ chẳng có chỗ nắm bắt(một ba tị), chẳng có chất vị gì. Khi trong lòng buồn bực, thì chính là lúc nên gắng sức.
một ba tỵ
Không có chóp mũi, không thể nắm được, không có yếu lĩnh—No nose to lay hold of, no lead, no bases.
một chuyển ngữ
Chuyển là nghĩa vô trụ, Thiền tông khám xét người học, nếu đáp được một chuyển ngữ thì được ấn chứng là ngộ.
một cách có văn hóa
In a cultural manner
một cách cụ thể
A concrete way.
một duệ đạt lợi sắt chí
Mayadrsti (skt)—Ngã kiến, mê chấp có cái ta—Illusion-views, interpreted by egoism, the false doctrine that there is a real ego.
một giao thiệp
Không liên quan, không ăn nhập với nhau—No inter-relation.
; (沒交涉) Cũng gọi Vô giao thiệp. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hai việc trái ngược, không ăn khớp nhau, hệt như hỏi đông mà đáp tây, hoặc như đầu Ngô mình Sở, chẳng liên quan gì với nhau. Lâm tế ngữ lục nói: Nếu mắt của người học vừa chớp thì đã không liên quan rồi (một giao thiệp).
một hai khi
Sometimes.
một huyền cầm
(沒弦琴) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cây đàn không dây, không âm thanh. Trong Thiền tông, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho tiếng vang linh diệu không âm thanh, hoặc ý chỉ nhiệm mầu ngoài lời nói. Nó cũng thường được dùng để biểu thị cái tông phong đặc biệt của Thiền gia là Chẳng lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo. Bàng cư sĩ ngữ lục quyển thượng (Vạn tục 120, 28 thượng) chép: Cư sĩ nói: Đàn không dây(một huyền cầm), chỉ có Thiền sư gảy mới tuyệt.
một lượng
(沒量) Cũng gọi Vật lượng. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Không thể tính lường. Trong Thiền lâm, người có khí độ và kiến thức siêu việt, kẻ phàm phu tầm thường khó lường biết được, gọi là Một lượng hán. Người đại ngộ triệt để, vượt ra ngoài tình lượng phân biệt mà kẻ phàm phu chấp trước như phàm thánh, mê ngộ, có không, được mất v.v... gọi là Một lượng đại nhân. Còn việc lớn Phật pháp vượt ngoài sự đối đãi phàm thánh, mê ngộ, thì gọi là Một lượng đại sự. Tắc 18 trong Thung dung lục (Đại 48, 238 trung) chép: Không thể dùng vô tâm mà được, chẳng thể dùng hữu tâm mà biết, Một lượng đại nhân xoay chuyển trong lời nói. [X. chương Hoàng bá Hi vận trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.9; Đại tuệ Phổ giác thiền sư thư Q. thượng].
một lần
One time.
một lứa
Of the same rank (class).
một mình
Alone.
một mạch
At one stretch.
một nắm
A handful.
một phần nhỏ
Kalā (S), Small part Một phần sáu, phần thứ sáu.
Một sinh
沒生; C: mòshēng; J: mochishō; |Hoại diệt và tái sinh. Biến mất rồi xuất hiện.
Một sinh 沒生
[ja] モツショウ mochishō ||| To perish and be reborn. To disappear and reappear.〔瑜伽論T 1579.30.684b18〕 => Hoại diệt và tái sinh. Biến mất rồi xuất hiện.
một thế
See Một đời.
một thể
At the same time.
một trú xứ
Senasanam (P).
một tung tích
(沒蹤跡) Cũng gọi Một trẫm tích, Đoạn tiêu tức. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Không để lại 1 dấu vết gì của ngôn ngữ và hành vi. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho người đại ngộ triệt để. Tắc 74 trong Thung dung lục (Đại 48, 274 thượng) nói: Không dấu vết (một tung tích), bặt tăm hơi (đoạn tiêu tức); mây trắng không nơi chốn, gió mát màu sắc gì?
một tư vị
Vô vị, vô giá, vô dụng, tỷ như những người mù mà bàn luận về màu của sữa—Tasteless, valueless, useless, e.g. discussion of the colour of milk by blind people.
một ý trí
(沒意智) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho trí tuệ không còn tác dụng nghĩ lường phân biệt, là trí tuệ đặc hữu của bậc Thượng thượng. Phẩm Hành do trong Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 349 thượng) nói: Kẻ hạ hạ có trí thượng thượng, bậc thượng thượng có một ý trí. 2. Nghĩa là ngu độn.
một đặc già la tử
Maudgalaputra or Maudgalyayana (skt)—See Ma Ha Mục Kiền Liên.
một đề mục phân tách
Phân tách về tứ đại—One analysis or the analysis of the four elements—See Tứ Đại.
một đề mục quán tưởng
See Nhất Quán (2).
một để hang
(沒底舡) Cũng gọi Một để thuyền, Vô để thuyền. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chiếc thuyền không có đáy. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để chỉ cho cảnh giới thiền định, xa lìa tất cả chấp trước hướng tới giải thoát. Tắc 63 trong Thung dung lục (Đại 48, 266 trung): Trên cán cân không hoa, hai đầu thăng bằng, Trong con thuyền không đáy, một miền vượt qua.
một độ
Phật—Buddha.
một đời
A lifetime.
Một 沒
[ja] モツ mochi ||| (1) Sink, be submerged, to disappear, be lost, destroyed, weaken, decline (nirodha). [滅] (2) A negative; not, is not. => 1. Chìm, bị ngập dưới nước, biến mất, bị mất, bị tiêu huỷ, bị suy yếu, tàn tạ (s: nirodha; diệt滅). 2. Phủ định; không, chẳng phải.
mớ
1) A bundle (wood). 2) To talk in one's sleep.
mới
New—Recent—Fresh.
mới đây
Recently—Lately.
mớm
To feed from mouth to mouth.
mờ
Dim—Blurred.
mờ mịt
Viparyasa (skt)—Confusion—Obscure.
mời
To invite.
mời lơi
To invite for form's sake.
mở hé
To half-open.
mở lòng
To open one's heart.
mở mang tâm trí
To develop one's mind.
mở mắt
To open the eyes.
mở mắt tâm
To open the mind's eye—Đây là một cách khác để diễn tả về kinh nghiệm giác ngộ hay sự tự nhận ra tự tánh, từ đó thấy biết tất cả tự tánh của vạn hữu—This is another way of speaking of the experience of enlightenment or self-realization. Awakening to one's true nature and hence of the nature of all existence.
mở ra một con đường
To offer a way—To open a way—Buddha Dharma offers a safe way to the Deathless, to Nirvana.
mở rộng
To widen—To expand—To broaden—To enlarge.
mở trói
To untie.
mụ
1) Midwife. 2) Old woman.
mục
Caksuh. The eye, the organ of vision; the head or chief.
; 1) Đề mục: Column—Item—Unmber. 2) Mụt nát: Rotten—Decayed. 3) Caksuh (skt)—The eye—The organ of vision. 4) Chánh: Chief or head. 5) Chăn: Chăn trâu hay bò—To herd. 6) Mục Sư: Pastor. 7) Thân yêu: Amicable—Friendly.
Mục Am Thiện Khanh
(睦庵善卿, Bokuan Zenkyō, thế kỷ thứ 12-13): hiệu là Mục Am (睦庵), họ Trần (陳), xuất thân vùng Đông Việt (東越, Tỉnh Phúc Kiến). Sau một thời gian du phương hóa đạo, ông trở về cố hương nuôi dưỡng mẹ. Năm thứ 2 (1108) niên hiệu Đại Quán (大觀), ông soạn bộ Tổ Đình Sự Uyển (祖庭事苑, Soteijien).
mục chi lân đà
Mucalinda (S)Tên một loài rồng.
; Mucalinda, mucilinda (S). A king of dragon.
; Mucilinda or Mahamucilinda (skt)—Mục Lân—Mâu Chân Lân Đà—Mẫu Chân Lân Na—Văn Chân Lân Đà—Ma Ha Mục Chi Lân Đà—Tên của long vương hay vua của loài rồng (nhờ nghe pháp mà giải thoát khỏi kiếp rồng) trụ trong hang của ao Mục Chi Lân Đà, bên cạnh tòa kim cương ở Bồ Đề Đạo Tràng nơi Phật ngồi tĩnh tọa bảy ngày đêm ngay sau khi Ngài thành đạo, chính vị long vương này đã bảo vệ Đức Phật trong khoảng thời gian đó—A naga or dragon king who dwelt in a lake near a hill and cave of this name, near Gaya, where Sakyamuni sat absorbed for seven days after his enlightenment, protected by this nage king.
mục chi lân đà long trì
A lake where a nage or dragon king dwelt—See Mục Chi Lân Đà.
mục chi lân đà long vương
Xem Chơn liên đà.
; (目支鄰陀龍王) Mục chi lân đà, Phạm: Mucilinda. Pàli: Mucalinda. Hán dịch: Thoát vương, Giải thoát xứ. Cũng gọi Mục chân lân đà long vương, Mục lân long vương. Vị Long vương sống trong ao rồng Mục chi lân đà, phía đông nam tòa Kim cương, nơi đức Phật thành đạo ở nước Ma yết đà, Trung Ấn độ. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa, thì vị Long vương này ở trong hang Mục chân lân đà, nghe pháp mà thoát khỏi cái khổ làm loài rồng. Đại đường tây vực kí quyển 8 (Đại 51, 917 trung) nói: Trong khu rừng phía đông, có ao rồng chúa Mục chi lân đà. Nước ao trong vắt, mùi vị ngon ngọt. Bờ phía tây có 1 tinh xá nhỏ, trong có thờ tượng Phật. Thủa xưa, khi Như lai mới thành chính giác, đã ở đây nhập định 7 ngày. Bấy giờ, vị Long vương nàydùng thân mình quấn quanh đức Phật 7 vòng, hóa ra nhiều đầu, như tàn lọng che chở, bảo vệ Phật. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.31; Tì nại da phá tăng sự Q.5].
mục châu
Bokutju (C).
Mục Châu Hòa Thượng Ngữ Lục
(睦州和尚語錄, Bokushūoshōgoroku): 1 quyển, do Mục Châu Đạo Túng (睦州道蹤) soạn, không rõ người biên tập, năm san hành xưa nhất cũng không rõ, nhưng được thâu tập vào trong Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (古尊宿語要) 1 và Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄) bản 48 quyển. Được hình thành từ 3 chương: Thượng Đường Đối Cơ Đệ Nhất (上堂對機第一), Khám Khán Kinh Tăng Đệ Nhị (勘看經僧第二) và Khám Giảng Kinh Luận Tòa Chủ Đại Sư Đệ Tam (勘講經論座主大師第三), tác phẩm này nêu lên khá nhiều vấn đáp và cơ phong nhạy bén của vị thầy tùy theo từng nơi mà thâu nhận lấy.
mục châu lược hư hán
(睦州掠虛漢) Cũng gọi Mục châu lược hư, Mục châu lược hư đầu hán. Mục châu vấn tăng thậm xứ, Mục châu vấn tăng. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên Thiền sư Đạo minh (Trần tôn túc) ở Mục châu, đời Đường hỏi vặn 1 vị tăng về tiếng hét.Tắc 10 trong Bích nham lục (Đại 48, 150 thượng) chép: Ngài Mục châu hỏi vị tăng: Mới rời chỗ nào? Vị tăng liền hét. Ngài Mục châu nói: Lão tăng đã bị ông hét một tiếng. Vị tăng lại hét. Ngài Mục châu hỏi: Sau 3 tiếng hét, 4 tiếng hét, ông hiểu thế nào? Vị tăng nín thinh, đứng trơ như phỗng đá. Ngài Mục châu liền đánh và nói: Ông chỉ là kẻ cướp đầu óc trống rỗng!. Lược hư hán nghĩa là kẻ chỉ biết bắt chước (cướp lấy) những lời nói và việc làm của người khác, chứ không có thực chất gì. [X. Liên đăng hội yếu Q.8; Tông môn thống yếu tục tập Q.9].
Mục Châu Trần Tôn Túc
睦州陳尊宿; C: mùzhōu chénzūnsù; J: boku-shū chinsonshuku; ~ 780-877, còn được gọi là Mục Châu Ðạo Minh (睦州道明);|Thiền sư Trung Quốc, Pháp tự của Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận. Sư là một trong những môn đệ xuất sắc nhất của Hoàng Bá, người sớm nhận ra tài năng của Lâm Tế Nghĩa Huyền. Sư cũng nổi danh là vị thầy nghiêm khắc của Thiền sư Vân Môn Văn Yển.|Sư họ Trần, quê ở Giang Nam, xuất gia từ nhỏ. Nghe danh Hoàng Bá, Sư đến học, giữ giới chăm chỉ, được mọi người kính trọng gọi là Tôn Túc nên thành danh là Trần Tôn Túc. Nơi Hoàng Bá, Sư đạt yếu chỉ và sau đó trở về chùa Khai Nguyên, nhưng ban đầu không để lộ danh. Nơi đây, Sư dùng cỏ bồ đan giày bán nuôi mẹ và để ngoài đường cho khách vãng lai dùng. Sau nhiều năm người ta mới biết Sư làm giày tặng chúng nên gọi Sư là Trần Bồ Hài. Mọi người kính trọng Sư, lần lượt đến tham vấn. Lời nói của Sư rất bí hiểm, ít người hội nổi.|Sư nổi danh là một vị thầy khó tính, lúc nào cũng đóng cửa phòng và tương truyền rằng, tiếng bước âm thầm đến cửa đủ làm cho Sư biết nội tâm của người đến. Nếu người này có đủ khả năng, Sư kêu vào, nắm cổ hỏi: »Nói! Nói!« Nếu người này bắt đầu suy nghĩ trả lời thì bị tống ra ngoài và Sư đóng sầm cửa lại. Cũng vì thế mà Vân Môn bị què một chân, nhưng nhờ đó đại ngộ. Cách dạy khắc khe của Sư cũng được ghi lại trong Công án 10 của Bích nham lục: Sư hỏi một tăng mới đến: »Vừa rời chỗ nào?« Tăng liền hét. Sư bảo: »Lão tăng bị một tiếng hét của ông.« Tăng lại hét. Sư bảo: »Ba hét bốn hét sau rồi làm gì?« Tăng lặng thinh. Sư liền đánh và nói: »Kẻ cướp rỗng này.«|Sư sắp tịch, gọi chúng lại nói: »Ta hết duyên nơi đây, sắp đi vậy.« Sư ngồi Kết già thị tịch, thọ 98 tuổi, được 76 tuổi hạ.
mục châu trần tôn túc
Bokuju chinsonshuku (J) Mu-chou Ch'en-Tsun-Su (S), Muzhou Chenzunsi (J), Bokushu Chinsonshuku (J), Mu-chou Tao-Tsung (C), Daoming (C), Bokushu Domei (J), Muzhou Chenzunsi (J), Bokushu Domyo (J), Mouchou Tao-ming (C), Muzhou Daoming Đạo Minh, Mục Châu Đạo Minh (C)Ngài là đệ tử và là người kế nhiệm của ngài Hoàng Bá Hy Vận.
mục châu đạo minh
Mou-chou Tao-ming (C), Mu-chou Ch'en-tsun-su (C).
; Mu-chou Tao-ming (C), Muzhou Daoming (C), Bokushu Domei (J).
; Boshuku do-mei (J)Tên một vị sư.
; (睦州道明) Cũng gọi Đạo tung. Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người Giang nam, họ Trần, là đệ tử nối pháp của ngài Hoàng bá Hi vận. Sư trụ ở chùa Long hưng, Mục châu (Chiết giang), dấu kín cơ dụng của bậc Thánh, mà đan giày cỏ, bày bán ở bên đường để lấy tiền nuôi mẹ. Lâu năm mọi người đều biết và gọi sư là Trần bồ hài (người họ Trần đan giày cỏ). Người học đến hỏi đạo thì hỏi xong, đáp liền, lời lẽ sắc bén không ai sánh kịp. Từ đó 4 phương đều ngưỡng mộ, tôn xưng sư là Trần tôn túc. Câu nói Cái khoan thời Tần mà sư từng sử dụng để tiếp hóa Thiền sư Vân môn Văn yển, đã trở thành giai thoại được truyền tụng trong Thiền lâm. Năm Càn phù thứ 4 (877) sư tịch, thọ 98 tuổi. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.12; Ngũ đăng hội nguyên Q.4].
mục châu đạo minh thiền sư ngữ lục
(睦州道明禪師語錄) Cũng gọi Trần tôn túc ngữ lục. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đạo minh soạn vào đời Đường, được thu vào Cổ tôn túc ngữ lục quyển 6 trong Vạn tục tạng tập 118. Nội dung sách này gồm các phần: Thướng đường đối cơ, thử nghiệm các vị tăng giảng kinh, thử nghiệm các bậc Đại sư, Tọa chủ giảng kinh luận; cuối sách có phụ thêm 1 bài bạt ngắn. Qua các lời hỏi và đáp, người ta có thể thấy cơ phong cao vút của ngài Đạo minh.
Mục Châu Đạo Túng
(睦州道蹤, Bokushū Dōshō, giữa thế kỷ thứ 9): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, pháp từ của Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運), còn gọi là Đạo Minh (道明), Trần Tôn Túc (陳尊宿), Trần Bồ Hài (陳蒲鞋), xuất thân Giang Nam (江南), họ Trần (陳). Ban đầu ông trú tại Long Hưng Tự (龍興寺), Mục Châu (睦州, Tỉnh Triết Giang), tập trung học chúng được cả ngàn người để xiển dương tông phong của mình. Ông còn lấy tên là Trần Tôn Túc. Về sau ông mai danh ẩn tích, sống bằng nghề đan dép cỏ nuôi mẹ, nhưng rồi người đời cũng biết đến, gọi ông là Trần Bồ Hài (陳蒲鞋, ông họ Trần đan dép cỏ). Chính ông đã từng tiếp độ Vân Môn Văn Yển (雲門文偃). Ông thị tịch trong khoảng niên hiệu Càn Phù (乾符, 874-879). Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元) 4 cho là ông thọ 98 tuổi đời và 76 hạ lạp.
mục châu đạo tụng
Mu chu Tao tsung (S)Tên một vị sư.
mục chơn lân đà
Xem Chơn liên đà.
mục cơ thù lưỡng
(目機銖兩) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là vừa thoáng thấy liền biết rõ. Cũng chỉ cho người có cơ trí, thông minh, lanh lợi, vừa nhìn qua đã có thể phân biệt được những chi tiết nhỏ nhặt nhất(thù, lạng là đơn vị trọng lượng cực nhỏ). Tắc 1 trong Bích nham lục (Đại 48, 140 thượng) nói: Nêu một rõ ba, mục cơ thù lạng (chạm mắt biết liền), đó là việc ăn cơm, uống trà bình thường của nạp tăng này. Ngoài ra, Thiền sư Vân môn Văn yển, Tổ khai sáng tông Vân môn, khi tiếp hóa người học, thường dùng 1 trong 3 câu: Hàm cái càn khôn (bao trùm trời đất), Mục cơ thù lạng (chạm mắt biết liền), Bất thiệp vạn duyên (không dính muôn duyên). Trong đó, Mục cơ thù lạng tức chỉ cho người học phải đoạn trừ phiền não vọng tưởng, vượt ngoài văn tự ngôn ngữ mà cầu đốn ngộ tự tâm. (xt. Vân Môn Tam Cú).
mục cơ thù lạng (lượng)
Khả năng phân biệt nhanh nhẹn, chỉ người nhạy bén—The power of the eye to discern triffling differences—Quick discernment.
mục hãn mặc đức
(穆罕默德) Muhammad, khoảng năm 570-632. Xưa dịch: Ma ha mạt, Mã cáp ma, Mô hãn mạch đức. Ông tổ sáng lập Hồi giáo (Islamism), người thủ đô Makkah, nước Arabia. Cha mẹ mất sớm, thủa nhỏ chăn bò, lớn lên theo nghề buôn bán. Ông chịu ảnh hưởng của Do thái giáo và Cơ đốc giáo. Vì người Á rập tin nhiều thần và sùng bái ngẫu tượng, nên ông cho rằng chỉ có tin một vị thần mới có thể thống nhất được dân tộc Á rập. Cho nên, năm 40 tuổi, ông tuyên bố rằng mình đã được Đấng chúa tối cao Allah chỉ dạy và bắt đầu đi truyền giáo, lập ra đạo Hồi. Về sau, vì bị bức hại nên ông phải lánh đến Mạch địa na và trở thành lãnh tụ chính trị tông giáo của vùng này. Ông xác lập các chế độ và luật lệ, như dẹp bỏ tập tục sùng bái ngẫu tượng và giết những trẻ gái, hạn chế số mục lấy vợ, cấm chỉ li hôn, sửa đổi quyền thừa kế, thủ tiêu chế độ nô lệ, giúp đỡ người nghèo khổ. Nếu không vì mục đích bảo vệ và truyền giáo thì ông cũng phản đối chiến tranh. Về sau, ông mở cuộc chiến tranh với người Do thái và những người Á rập tín ngưỡng đa thần. Vào năm 630, ông đánh chiếm thành Makkah và chỉ vài năm sau, toàn bộ bán đảo Á rập đã tin theo Y tư lan giáo (Islamism), tức là Hồi giáo. (xt. Y Tư Lan Giáo).
mục hạ
Before the eyes.
mục hạ vô nhân
To see no man under one's eyes—Very proud.
Mục Khê
(牧谿, Mokkei, ?-1280): vị tăng họa sĩ sống vào cuối thời nhà Tống và đầu nhà Nguyên, xuất thân Tứ Xuyên (四川). Ông theo xuất gia với Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Kính Sơn (徑山), được đặt cho pháp danh là Pháp Thường (法常). Vào thời vua Lý Tông và Độ Tông (1225-1270) cuối nhà Tống, ông là vị tăng chuyên làm những công việc tạp dịch ở Trường Khánh Tự (長慶寺), Tây Hồ (西湖), Hàng Châu (杭州). Ông có tánh tình hào phóng, thích uống rượu, uống say thì lăn ra ngủ, tỉnh rồi lại ngâm nga. Ông có sở trường về vẽ tượng Phật, con người, hoa quả, chim thú, sông núi, rồng cọp, vượn hạc, v.v. Lúc sanh bình, bút tích và tranh vẽ của ông rất ít được lưu truyền ở trong nước, nhưng tại Nhật Bản thì đã sớm lưu truyền tác phẩm của ông, cho nên phong cách vẽ của ông đã tạo ảnh hưởng lớn đối với tầng lớp họa nhân Nhật Bản. Nhiều tranh vẽ của ông được xếp vào hạng nổi tiếng như Tranh Quan Âm Vượn Hạc, Tranh Rồng Hổ, Tranh Phù Dung, v.v., trong đó Tranh Quan Âm Vượn Hạc được liệt vào hạng quốc bảo của Nhật.
mục khê
Mu Chi (C), Bokitsu (J).
mục khư
Mukha (S), Mouth.
; Mukha (S). Mouth, face, entrance.
; Mukha (skt). 1) Miệng: Mouth. 2) Cửa Ngõ: Opening—Door.
; (目佉) Phạm: Mukha. Hán dịch: Khẩu, Diệu, Môn. Cũng gọi Mẫu khiên. Miệng, mặt. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 3 (Đại 35, 151 trung) nói: Theo tiếng Phạm thì miệng và mặt đều gọi là môn, tức Phạm ngữ là mục kha.Phạm ngữ tạp danh (Đại 54, 1223 trung) nói: Mặt, tiếng Phạm gọi là Mẫu khiên.
mục khư mạn đồ
Mukhamanditika (S)Một trong Thập ngũ quỷ thần thường não loạn trẻ em.
mục kiến
To see with one's own eyes.
Mục Kiền Liên
(s: Maudgalyāyana; p: Moggallāna, 目犍連): một trong 10 vị đại đệ tử của đức Phật, còn gọi là Ma Ha Mục Kiền Liên (s: Mahāmaudgalyāyana, p: Mahāmoggallāna, 摩訶目犍連), Đại Mục Kiền Liên (大目犍連), Đại Mục Càn Liên (大目乾連), Đại Mục Liên (大目連), Mục Liên (目連, 目蓮), Mục Già Lược (目伽略), Vật Già La (勿伽羅), Mục Kiền Liên Diên (目犍連延), Mục Kiền La Dạ Na (目犍羅夜那), Một Đặc Già La (沒特伽羅); biệt danh là Câu Luật Đà (s: Kolita, 拘律陀), Câu Luật (拘律), Câu Ly Ca (拘離迦), Câu Lý Ca (拘理迦); ý dịch là Thiên Bão (天抱); được xem như là Thần Thông Đệ Nhất (Thần Thông Số Một). Ông sinh ra trong một gia đình Bà La Môn ở thôn Câu Luật Đà, ngoại Thành Vương Xá (s: Rājagṛha; p: Rājagaha, 王舍城) thuộc nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀). Vừa mới sanh ra, ông đã có tướng mạo đoan chánh, từ nhỏ rất thâm giao với Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗), người con của dòng họ Bà La Môn ở làng bên cạnh. Ban đầu, cả hai đều theo làm đệ tử của một trong 6 vị thầy ngoại đạo là San Xà Dạ (s: Sañjaya, 刪闍夜) và mỗi người đều có 250 đệ tử; thường cùng hẹn ước với Xá Lợi Phất rằng nếu ai giác ngộ giải thoát trước thì phải chỉ lại cho người kia; cho nên cả hai rất tinh tấn tu tập. Nhưng sau đó nhân nghe được lời thuyết pháp của đức Phật ở Thành Vương Xá, họ đã quy y theo Phật và Mục Kiền Liên trở thành vị đệ tử Thần Thông Đệ Nhất. Chỉ trong vòng một tháng, ông đã chứng quả A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢). Sau khi quy y với đức Phật, Mục Kiền Liên và Xá Lợi Phất trở thành các bậc thượng thủ trong đại chúng, thường xuyên hỗ trợ đức Phật trong việc giáo hóa chúng sanh. Theo Vu Lan Bồn Kinh (s: Ulambanasūtra, 盂蘭盆經), tương truyền chính ông đã cúng dường cho chúng tăng vào ngày Tự Tứ để cứu độ mẹ mình đang bị đọa lạc vào đường Ngạ Quỷ, nhân ngày rằm tháng 7 cúng dường mười phương Đại Đức chúng tăng vào ngày Tự Tứ (s: pravāraṇā, p: pavāraṇā, 自恣), và hình thành nên lễ hội Vu Lan Bồn sau này. Như trong Kinh Sở Tuế Thời Ký (荆楚歳時記) có đoạn: “Mục Liên kiến kỳ vong mẫu sanh Ngạ Quỷ trung, tức dĩ bát thạnh phạn, vãng hướng kỳ mẫu, thực vị nhập khẩu, hóa thành hỏa thán, toại bất đắc thực; Mục Liên đại khiếu, trì hoàn bạch Phật, Phật ngôn nhữ mẫu tội trọng, phi nhữ nhất nhân sở nại hà, đương tu thập phương chúng tăng uy thần chi lực, chí thất nguyệt thạp ngũ nhật, đương vi thất đại phụ mẫu ách nạn trung giả, cụ bách vị ngũ quả, dĩ trước bồn trung, cúng dường thập phương đại đức, Phật sắc chúng tăng, giai vi thí chủ, chúc nguyện thất đại phụ mẫu, hành Thiền định ý, nhiên hậu thọ thực; thị thời Mục Liên mẫu, đắc thoát nhát thiết ngạ quỷ chi khổ (目連見其亡母生餓鬼中、卽以缽盛飯、徃餉其母、食未入口、化成火炭、遂不得食、目連大叫、馳還白佛、佛言汝母罪重、非汝一人所奈何、當須十方眾僧威神之力、至七月十五日、當爲七代父母厄難中者、具百味五果、以著盆中、供養十方大德、佛敕眾僧、皆爲施主、祝願七代父母、行禪定意、然後受食、是時目蓮母、得脫一切餓鬼之苦, Mục Liên thấy mẹ mình sanh trong Ngạ Quỷ, liền lấy bát đựng đầy cơm, đến cho mẹ ăn, thức ăn chưa vào miệng, đã hóa thành than lửa, cuối cùng chẳng ăn được. Mục Liên khóc lớn, trở về thưa lại với Phật. Phật bảo rằng mẹ ông tội nặng, không phải một mình ông có thể gánh vác được, cần phải nhờ vào oai lực của mười phương chúng tăng; đến ngày rằm tháng 7, nên vì bảy đời cha mẹ đang bị ách nạn, chuẩn bị đầy đủ trăm vị và năm món quả, đem đựng trong cái bồn để cúng dường những vị có đức lớn trong mười phương; Phật dạy chúng tăng, tất cả đều vì thí chủ mà cầu nguyện cho cha mẹ bảy đời, hành Thiền định, sau đó mới thọ nhận món ăn. Lúc bấy giờ mẹ của Mục Liên, được thoát khỏi cảnh khổ của ngạ quỷ).” Vào cuối đời, trong khi ông đang đi khất thực trong Thành Vương Xá thì gặp nhóm Phạm Chí (梵志) cầm đao trượng, môn đồ Bà La Môn vốn đã từng oán hận, ganh ghét giáo đoàn đức Phật, ném ngói, đá làm ông tử vong. Việc này xảy ra trước khi đức Phật nhập Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃). Ngài dựng tháp thờ ông một bên cửa Tinh Xá Trúc Lâm (s: Veṇuvana-vihāra, 竹林精舍). Ngoài ra, trong Mật Giáo, Mục Kiền Liên được an trí ở phía bên phải của Phật Thích Ca Mâu Ni trong Hiện Đồ Thai Tạng Giới Mạn Trà La Thích Ca Viện (現圖胎藏界曼茶羅釋迦院). Hình tượng của ông là vị Sa Môn (沙門), ngồi trên tòa hoa sen đỏ.
mục kiền liên
Mahā-Maudgalyayāna (S), Maudgalyayāna (S), Moggallāna (P)Đại Mục Kiền Liên, Maha Mục kiền Liên, Mục LiênMột trong Thập đại đệ tử của PhậtMột trong thập đại đại đệ tử.
; Xem Ma ha Mục kiền liên.
; See Ma-ha Mục Kiền Liên in Vietnamese-English Section.
; (目犍連) Phạm: Maudgalyàyana. Pàli: Moggallàna. Cũng gọi Ma ha mục kiền kiên (Phạm: Mahàmaudgalyàyana), Đại mục kiền liên, Đại mục liên, Mục liên, Mục kiền liên, Mục già lược, Vật già la, Mục kiền liên diên, Mục kiều la dạ na, Một đặc già la, Mao già lợi da dạ na, Câu luật đà (Phạm:Kolita), Câu luật, Câu lí đa, Câu li ca, Câu lí ca, Câu li đa. Hán dịch: Thiên bão. Vị Đại A la hán, một đệ tử thần thông bậc nhất của đức Phật, người thôn Câu luật đà, ngoài thành Vương xá, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, thuộc dòng Bà la môn. Ngài có dung mạo đoan chính, từ nhỏ đã giao du rất thân mật với ngài Xá lợi phất và cùng là đệ tử của ngoại đạo San xà da (Phạm: Saĩjaya), mỗi vị lãnh đạo 250 đồ chúng. Hai người giao ước rằng, nếu ai đắc ngộ giải thoát trước thì phải chỉ bảo cho người kia, do đó, cả 2 đều gắng sức tu hành. Về sau, ngài Xá lợi phất gặp được đệ tử của đức Phật là ngài A thuyết thị chỉ dạy mà ngộ được lí các pháp vô ngã, rồi về kể lại cho ngài Mục liên, ngài Mục liên bèn dẫn hết đệ tử đến bái yết đức Phật cầu xin được giáo hóa. Sau 1 tháng, ngài chứng quả A la hán và trở thành bậc Thượng thủ trong hàng đệ tử Phật, phụ giúp đức Phật trong công cuộc giáo hóa, cũng có khi thay đức Phật thuyết pháp cho đại chúng nghe. Kinh Tạp a hàm quyển 23, kinh Ngưu giác sa la lâm trong Trung a hàm quyển 48, kinh Tăng nhất a hàm quyển 36, luận Đại trí độ quyển 41 v.v... đều gọi ngài Mục liên là Thần túc đệ nhất. Cứ theo kinh Vu lan bồn, thì vì muốn cứu mẹ thoát khỏi đường ngã quỉ, nên vào rằm tháng 7, ngày chư tăng tự tứ, ngài Mục liên đã thiết trai cúng dường 10 phương Đại đức chúng tăng, đó chính là nguồn gốc của pháp hội Vu lan bồn ngày nay. Về già, một hôm, đang đi khất thực trong thành Vương xá, ngài gặp bọn Phạm chí Chấp trượng, môn đồ Bà la môn giáo ghen ghét, dùng gạch đá đánh chết. Đức Phật cho xây tháp thờ ngài bên cửa tinh xá Trúc lâm. Ngoài ra, trong Mật giáo, ngài Mục liên được tôn trí ở tòa thứ 4, hàng trên, bên phải đức Thế tôn trong viện Thích ca trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới. Hình tượng của ngài là tướng sa môn, ngồi trên tòa sen đỏ, tay phải nắm lại thành quyền, duỗi thẳng ngón trỏ, tay trái cầm chéo áo ca sa, mặt hơi nghiêng về bên trái. [X. kinh Tạp a hàm Q.19, 34, 43; kinh Chiêm ba trong Trung a hàm Q.9; kinh Trưởng lão thượng tôn thụy miên trong Trung a hàm Q.20; kinh Tăng nhất a hàm Q.4, 12, 18, 28; kinh Quán vô lượng thọ; luật Ngũ phần Q.16; luật Ma ha tăng kì Q.16; luật Thập tụng Q.37].
mục kiền liên tư đế tu
Maggaliputta Tissa. • Theo Mahavamsa, Mục Kiền Liên Tư Đế Tu sinh ra trong một gia đình Bà La Môn, chưa đến 16 tuổi ngài đã tinh thông hết ba kinh Vệ Đà. Tuy nhiên, sau đó ngài được trưởng lão Siggava hóa độ. Ngài đã đi theo Phật giáo và nhanh chóng đạt đến quả vị A La Hán với đầy đủ mọi phép thần thông. Chính do ảnh hưởng của ngài mà vua A Dục đã cho con trai của mình là Ma Thẩn Đà và con gái là Tăng Già Mật Đa xuất gia tu theo đạo Phật. Sau đó, hai vị nầy đã vượt biển đến Tích Lan để hóa độ cho cả hòn đảo nầy tin theo Phật—Moggaliputta-Tissa was born in a Brahmin family and learned the three Vedas before he was sixteen. He was, however, won over to the new faith by Thera Siggava and very soon attained to Arhatship with all its attendant supernatural powers. It was under his influence that the Emperor made over to the Buddhist Order his son Mahinda and daughter Sanghamitta. Later, these two crossed to Ceylon and converted the whole island to the Buddhist faith. • Với việc vua A Dục đi theo đạo Phật, nhiều tu viện nhanh chóng phát triển về mặt vật chất và các tu sĩ có một đời sống đầy đủ dễ chịu hơn. Nhiều nhóm dị giáo đã bị mất nguồn thu nhập nên ngã theo Phật giáo. Tuy nhiên, dù theo đạo Phật, nhưng họ vẫn giữ tín ngưỡng, cách hành trì, cũng như thuyết giảng giáo lý của họ thay vì giáo lý đạo Phật. Điều nầy khiến cho trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu đau buồn vô cùng, nên ông lui về ở ẩn một nơi hẻo lánh trong núi A Phù suốt bảy năm. Số người dị giáo và tu sĩ giả hiệu ngày một đông hơn những tín đồ chân chánh. Kết quả là trong suốt bảy năm chẳng có một tự viện nào tổ chức lễ Bố Tát hay tự tứ. Cộng đồng tu sĩ sùng đạo từ chối không chịu làm lễ nầy với những người dị giáo. Vua A Dục rất lo lắng về sự xao lãng nầy của Tăng chúng nên phải ra lệnh thực hiện lễ Bố Tát. Tuy nhiên, vị đại thần được nhà vua giao phó nhiệm vụ nầy đã gây ra một vụ thảm sát đau lòng. Ông ta hiểu sai mệnh lệnh nhà vua nên đã chặt đầu những tu sĩ không chiu thực hiện lệnh vua. Hay tin nầy, vua rất đau lòng. Ngài đã cho thỉnh trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu về Hoa Thị để thỉnh ý. Sau nhiều lần từ chối không được, trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu phải nhận lời đi đến gặp vua để cố vấn cho nhà vua về vấn đề nầy. Vua hỏi xem mình có mang tội sát hại các tu sĩ do hành động của viên quan đại thần của mình. Trưởng lão trả lời rằng nếu không chủ ý xấu thì không có tội. Như thế mọi thắc mắc trong lòng nhà vua được giải tỏa. Đoạn trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu còn giảng giải cho nhà vua về chánh pháp của Đức Phật trong một tuần lễ. Chính nhờ vậy mà nhà vua thấy được những sai lầm của ngoại đạo cũng như những vị Tăng giả hiệu, nên ngài cho triệu tập Hội Nghị Kết Tập Kinh Điển lần thứ ba: With the conversion of King Asoka, the material prosperity of the monasteries grew by leaps and bounds and the monks lived in ease and comfort. The heretics who had lost their income were attracted by these prospects to enter the Buddhist Order. They continued, however, to adhere to their old faiths and practices and preached their doctrines instead of the doctrines of the Buddha. This caused extreme distress to Thera Moggaliputta-Tissa who retired to a secluded retreat on Mount Ahoganga and stayed there for seven years. The number of heretics and false monks became far larger than that of the true believers. The result was that for seven years no Uposatha or retreat (Pavarana) ceremony was held in any of the monasteries. The community of the faithful monks refused to observed these festivals with the heretics. King Asoka was filled with distress at this failure of the Sangha and sent commands for the observance of the Uposatha. However, a grievous blunder was committed by the Minister who was entrusted with this task. His misunderstood the command and beheaded several monks for their refusal to carry out the King's order. When this sad news reported to Asoka, he was seized with grief and apologized for this misdeed. He then invited Maggaliputta Tissa to go to Pataliputta to advise the king on this issue. After several unsuccessful attempts, the elder Tissa was prevailed upon to consent to go to Pataliputta. The king asked Tissa whether he was guilty of the murder of the monks through his Minister. The Thera answered that there was no guilt without evil intent. This satisfied the scruples of the King. Then the Elder expounded the holy teachings of the Buddha for a week that helped the king see the misguided beliefs brought to Buddhism by heretics and false monks. Therefore, the king convened the Third Council—See Kết Tập Kinh Điển (III).
mục kiền liên tử đế tu
Maggaliputra-Tissa (P), Moggaliputta-Tissa (P).
; Moggaliputta-tissa (P)Chủ tọa Đại hội Kết tập lần thứ 3, năm 325 BC cùng 999 tỳ kheo La hán do vua A Dục bảo trợ. Sau khi nhập diệt, ngài truyền cho đệ tử la A túc tra (Aritta), A túc tra truyền cho Đế tu đạt đa (Tissadatta), Đế tu đạt đa truyền cho Già la tu mạt na (Kalasumana), Già la tu mạt na truyền cho Địa già na (Dighnamaka), Địa già na truyền cho Tu mạt na (Dighasumana), Tu mạt na truyền cho Đàm vô Đức (Dhammarakkhita), Đàm vô Đức truyền cho Đế Tu (Tissa), Đế Tu truyền cho Đề bà (Deva), Đề bà truyền cho Tu mạt na (Sumana), Tu mạt na truyền cho Chuyên na già (Culanaga), Chuyên na già truyền cho Đàm vô ba li (Dhammapalinama), Đàm vô ba li truyền cho Xí ma (Khemanama), Xí ma truyền cho Ưu bà đế tu (Upatissa), Ưu bà Đế tu truyền cho Pháp cự, Pháp cự truyền cho A bà gia (Abhaya), A bà gia truyền cho Tiểu đề bà (Culadeva), Tiểu đề bà truyền cho Tư bà (Siva).
; Maggaliputra-Tissa (S). Name.
; (目犍連子帝須) Phạm: Maudgaliputra Tizya. Pàli: Moggaliputta-tissa. Gọi tắt: Đế tu. Vị A la hán sống vào thời đại vua A dục ở Ấn độ, vì ngài là Đại Phạm thiên đế tu từ cõi trời Phạm thiên giáng sinh vào gia đình Bà la môn Mục kiền liên, cho nên được gọi là Mục kiền liên tử đế tu. Năm 16 tuổi, sư theo ngài Tư già bà (Phạm: Siggava) xuất gia làm sa di, sau sư y vào ngài Chiên đà bạt xà (Phạm: Caịđavajji) thụ giới Cụ túc. Sư tinh thông 3 tạng và được ngài Tư già bà phó pháp, chứng quả A la hán, làm thầy vua A dục, giáo hóa nhân dân. Vua A dục lên ngôi được 6 năm (tức vào năm 262 tr.Tây lịch) thì khuyến hóa Vương tử Ma hi đà theo ngài Đế tu xuất gia, nghiên cứu Tam tạng. Ba năm sau, ngài Đế tu lui về ẩn tu ở núi Ahogaígàpabbata, giao lại Tăng đoàn cho sư Ma hi đà thống lãnh. Lúc bấy giờ, Phật giáo được vua A dục ngoại hộ, rất hưng thịnh, cho nên có nhiều ngoại đạo vì cầu cơm áo mà trà trộn vào tăng đoàn, phá hoại chính pháp. Vua A dục bèn lễ thỉnh ngài Đế tu ra làm Thượng tọa, trục xuất ngoại đạo, thanh lọc tăng đoàn, đồng thời triệu tập 6 vạn tỉ khưu Bố tát thuyết giới, trong đó tuyển chọn 1.000 vị tỉ khưu tinh thông giáo lí và đã chứng được Tam đạt trí để kết tập Tam tạng, đây tức là lần kết tập thứ 3. Sau khi kết tập xong, vua phái các bậc trưởng lão như Mạt xiển đề v.v... đến các nước Kế tân v.v... để hoằng truyền Phật pháp. Vua A dục lên ngôi được 17 năm (tức vào năm 251 tr.TL) thì ngài Mục kiền liên tử đế tu thị tịch, pháp lạp 80. Ngài có tác phẩm: Luận sự (Pàli: Kathàvatthu). [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1, 2; Phật giáo tiểu sử Q.2].
mục kiệt lam
(目竭嵐) Phạm: Mudgara. Cũng gọi Mẫu nạp ra, Một nghiệt lam. Một loại pháp khí của Mật giáo. (xt. Một Nghiệt Lam).
; (目竭嵐) Phạm: Mudgara. Cũng gọi Mục kiệt lam. Gậy, chày có móc câu, là 1 trong những pháp khí của Mật giáo. Cứ theo phẩm Tất địa xuất hiện trong kinh Đại nhật quyển 3, thì Một nghiệt lam là vật thành tựu lấy chữ (kha) làm pháp thành tựu. Còn theo phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật quyển 5, thì Một yết la là ấn tướng thường được Diệm ma hậu sử dụng. Lại nữa, kinh Bất không quyên sách quyển 23 cũng có chép chân ngôn Án một nga la bát đầu mễ. Những danh từ Một nga la, Một yết la trên đây, đều chỉ cho Một nghiệt lam. [X. Đại nhật kinh sớ Q.12; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.9; Chỉ quật dịch thổ tập Q.25].
mục kích
To witness.
mục liên
Xem Mục kiền liên.
; See Ma Ha Mục Kiền Liên in Vietnamese-English Section.
mục liên cứu mẫu
(目連救母) Ngài Mục liên theo lời đức Phật chỉ dạy, thiết trai hội Vu lan bồn, cầu sự chú nguyện của Đại đức tăng 10 phương, để giải cứu ách nạn cho mẹ đang bị đọa trong đường Ngã quỉ. Theo kinh Vu lan bồn, mẹ ngài Mục liên là bà Thanh đề, lúc còn sống, tham lam bỏn sẻn, tạo nhiều nghiệp ác, cho nên sau khi chết, phải đọa vào đường quỉ đói, không được ăn uống. Đức Phật bèn dạy ngài Mục liên lập hội Vu lan bồn vào ngày rằm tháng 7, thiết trai cúng dường 10 phương Đại đức tăng, nhờ đó mẹ ngài Mục liên đã thoát được nạn khổ. (xt. Vu Lan Bồn).
mục liên sở vấn kinh
(目連所問經) Kinh, 1 quyển do ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật ở tinh xá Trúc lâm tại thành Vương xá, trả lời ngài Mục liên hỏi về vấn đề những chúng sinh mê say không biết hổ thẹn, vi phạm giới luật, thì phải đọa vào địa ngục bao lâu? Tội chia làm 6 hạng: 1. Làm hạnh phi pháp. 2. Không y theo pháp. 3. Phạm tội Ba dật đề. 4. Phạm Thổ la bát để. 5. Phạm pháp Tăng già bà thi sa. 6. Phạm pháp Ba la di. Bản dịch khác của kinh này là kinh Phạm tội giới báo khinh trọng, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán. Nhưng trong kinh Phạm tội giới báo khinh trọng không có văn kệ, cũng không có lời hỏi về 6 hạng tội báo. Ngoài ra, theo Xuất tam tạng kí tập quyển 4 và Pháp kinh lục quyển 5, thì kinh này còn có 1 bản dịch khác nữa, cũng gọi là kinh Mục liên sở vấn, nhưng không có tên người dịch và kinh này nay đã thất truyền.
mục liên vấn giới luật sinh ngũ bách khinh trọng sự
(目連問戒律生五百輕重事) Cũng gọi Ngũ bách vấn sự kinh, Ngũ bách vấn. Kinh, 1 quyển, mất tên người dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Nội dung kinh này gồm 18 phẩm, thuật lại việc đức Phật trả lời ngài Mục kiền liên về vấn đề các tỉ khưu ở đời mạt pháp, vi phạm giới luật thì tội báo nặng nhẹ như thế nào. Khai nguyên thích giáo lục quyển 13, xếp kinh này vào Luật bộ Tiểu thừa. Bản dịch khác của kinh này là kinh Mục liên giới luật trung ngũ bách khinh trọng sự, 2 quyển, được dịch vào khoảng đời Đông Tấn, cũng mất tên người dịch. Về sách chú thích thì có: Mục liên ngũ bách vấn giới luật trung khinh trọng sự kinh thích, 2 quyển, của Vĩnh hải đời Minh và Mục liên vấn giới luật trung ngũ bách khinh trọng sự kinh lược giải 2 quyển, do Tính kì soạn.[X. Khai nguyên thích giáo lục Q.20; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.23, 30].
mục luật tăng
A wooden pettifogging monk (a rigid formalist).
mục lặc
(穆勒) Müller, Friedrich Max (1823-1900) Nhà ngôn ngữ học người Anh gốc Đức, sinh ở Dessau, con của nhà thơ Wilhelm Müller. Ông tôn các vị Giáo sư Schelling, W.J.V., Bopp, F. ở trường Đại học Berlin và Giáo sư ngôn ngữ học, Đông phương học E. Burnouf ở trường Đại học Paris làm thầy. Ông theo chủ nghĩa Tự nhiên (Naturalism) của nước Anh và là 1 trong những người sáng lập Tông giáo học thời Cận đại. Sau khi vượt biển sang nước Anh (1847) ông cho in Lê câu phệ đà toàn tập 6 quyển (1849-1875), sau lại ấn hành 4 quyển (1890- 1892). Ông từng làm Phó giáo sư, rồi Giáo sư trường Đại học Oxford từ năm 1850 đến khi ông qua đời. Từ năm 1875 về sau, ông hoàn thành bộ Đông Phương Thánh Thư (The Sacred Books of the East), là tập văn dịch ra tiếng Anh những kinh sách của các tông giáo phương Đông như kinh điển Phệ đà, kinh Phật, sách vở Kì na giáo, cho đến kinh sách Khả lan, Lão tử, Khổng tử v.v... Nhờ ứng dụng phương pháp nghiên cứu khoa học mới mẻ như Tỉ giảo ngôn ngữ học, Tỉ giáo thần thoại học và Tỉ giáo tông giáo học, nên ông đã có cống hiến rất lớn cho việc giải thích Ấn độ học nói riêng và Đông phương học nói chung. Ông có các tác phẩm: Buddhism and Buddhist Pilgrims, 1857; History of Ancient Sanskrit Literature, 1859; Lectures on the Science of Language, 1861; Sanskrit Grammar for Beginners 1866; Einleitung in die Vergleichende Religionswissenschaft, 1874; Origin and Growth of Religion, 1878; Dhammapada, 1881; Biographies of Words, 1888; Natural, Physical, Antropological and Psychical Religion, 1889-1893; Contribution of the Science of Mythology, 1897. Ngoài ra, nhờ sự trợ giúp của các ông Nam điều Văn hùng và Lạp nguyên Nghiên thọ người Nhật, ông cũng đã hoàn thành bộ sách Anecdote Oxoniensia, trong đó gồm các kinh như: Kinh Đại vô lượng thọ, kinh A di đà, kinh Kim cương bát nhã, Bát nhã tâm kinh, Pháp số danh tập kinh (Phạm: Dharmasaôgraha) v.v...
mục lục
Table of content.
; (目錄) Loại sách chuyên liệt kê tên, số quyển, tác giả, soạn giả, dịch giả và niên đại sáng tác, soạn thuật, phiên dịch của các kinh sách. Về những bản mục lục liên quan đến những kinh điển Phật giáo thì có: 1. Dịch Kinh Mục Lục: Tức mục lục của những kinh Phật được dịch ra Hán văn, có ghi thời đại, tên, đồng thời thêm lược truyện của dịch giả. Như Cổ kim dịch kinh đồ kỉ của ngài Tĩnh mại đời Đường; Soạn xuất kinh luật luận lục trong Xuất tam tạng kí tập của ngài Tăng hựu đời Lương thuộc Nam triều; Tổng quát quần kinh lục trong Khai nguyên thích giáo lục của ngài Trí thăng đời Đường v.v... 2. Nhập TạngLục: Mục lục của những kinh sách chính thức được đưa vào Đại tạng kinh. Như Nhập tạng lục trong Lịch đại Tam bảo kỉ của cư sĩ Phí trường phòng đời Tùy, Nhập tạng lục của Khai nguyên thích giáo lục. 3. Phân Loại Mục Lục: Mục lục liệt kê những kinh điển được phân loại theo 1 tiêu chuẩn nhất định. Như Chúng kinh mục lục của ngài Pháp kinh đời Tùy, Đông vực truyền đăng mục lục của ngài Vĩnh siêu, Chư A xà lê chân ngôn Mật giáo bộ loại tổng lục (Bát gia bí lục) của ngài An nhiên v.v... 4. Sở Tàng Mục Lục:Mục lục của những kinh điển được tàng trữ ở 1 nơi nào đó. Như Đại đường Đông kinh Đại kính ái tự nhất thiết kinh luận mục (Chúng kinh mục lục) của ngài Tĩnh thái đời Đường, Tỉ duệ sơn Sơn môn tạng bản mục lục (tạng Thiên hải) và Kiến nhân tự Lưỡng túc viện tàng thư mục lục ở Nhật bản v.v... 5. San Kinh Mục Lục: Mục lục của tất cả các kinh được ấn hành từ đời Bắc Tống trở về sau. Như Tư khê Viên giác thiền viện tân điêu Đại tạng kinh mục lục ở Hồ châu; Bạch vân tông Nam sơn Đại phổ ninh tự Đại tạng kinh mục lục; Đại tạng mục lục (tạng Cao li), Đại minh tam tạng Thánh giáo Bắc tạng mục lục, Vũ châu Giang hộ Đông duệ sơn Khoan vĩnh tự Nhất thiết kinh tân san ấn hành mục lục ở Nhật bản. Đại tạng kinh Tây tạng cũng có San kinh mục lục. 6. Khám Đồng Mục Lục: Mục lục so sánh những điểm dị đồng giữa các mục lục hoặc kinh sách khác nhau đã được thu tập. Như Chí nguyên Pháp bảo khám đồng tổng lục do các ngài Khánh cát tường biên soạn vào đời Nguyên, là mục lục tạng kinh so sánh đối chiếu những chỗ dị đồng giữa tạng kinh Hán dịch và tạng kinh Tạng dịch; Duyên sơn Tam Đại tạng kinh mục lục, do ngài Tùy thiên, người Nhật, thuộc tông Tịnh độ, biên soạn, là mục lục tạng kinh so sánh những điểm dị đồng giữa 3 bản Đại tạng: Tống, Nguyên, Cao li. 7. Giải Đề Mục Lục: Mục lục nói rõ về tiêu đề, tác giả, soạn giả, dịch giả và nội dung các kinh sách. Như Đại tạng kinh cương mục chỉ yếu lục của ngài Duy bạch đời Tống, Đại tạng Thánh giáo pháp bảo tiêu mục của các ông Vương cổ v.v... đời Tống, Duyệt tạng tri tân của ngài Trí húc đời Minh v.v... 8. Thỉnh Lai Mục Lục: Mục lục thu chép những kinh điển chủ yếu của Phật giáo được thỉnh từ Trung quốc về Nhật bản. Như Tương lai Thai châu lục của ngài Truyền giáo đại sư (Tối trừng); Ngự thỉnh lai mục lục của ngài Không hải; Nhập đường tân cầu Thánh giáo mục lục của ngài Viên nhân; Thư tả thỉnh lai pháp môn mục lục của ngài Tông duệ v.v... 9. Tùng Thư Mục Lục: Mục lục của những sách vở được sưu tập nhắm 1 mục tiêu nào đó. Như Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục của ngài Nghĩa thiên người Cao li, là mục lục ghi chép những kinh sách Phật được thu tập ngoài Đại tạng kinh Cao li; Hoa nghiêm tông chương sớ tinh Nhân minh lục của ngài Viên siêu, ghi chép các sách vở của tông Hoa nghiêm theo sắc lệnh nhà vua. 10.Trứ Tác Mục Lục: Mục lục ghi chép các trứ tác của cá nhân. Như Truyền giáo Đại sư soạn tập lục của ngài Khả thấu; Giới đàn viện Quốc sư Ngưng nhiên soạn tập.11. Truyền Thụ Mục Lục: Mục lục truyền pháp của Mật giáo. Như Trung viện lưu truyền thụ mục lục. 12. Thánh Giáo Mục Lục: Mục lục ghi chép tất cả sách vở của 1 dòng phái nào đó (hoặc chính thống) mà Mật giáo lấy làm mẫu mực. Như Tam muội lưu Thánh giáo mục lục; Truyền pháp viện phương tinh Quảng trạch thông dụng Thánh giáo mục lục v.v... (xt. Đại Tạng Kinh Mục Lục).
mục ngưu
Mục đồng hay kẻ chăn trâu—Cowherd.
Mục ngưu tử tu tâm quyết 牧牛子修心訣
[ja] ボクギュウシシュシンケツ Bokugyū shishushinketsu ||| Moguja susimgyŏl; Secrets on Cultivating the Mind, by Chinul 知訥. HPC 708-715. Translated into English by Robert Buswell in The Korean Approach to Zen. => (k: Moguja susimgyŏl). Bí quyết tu tâm của Trí Nột (知訥k: Chinul). Do Robert Buswell dịch sang tiếng Anh trong tác phẩm The Korean Approach to Zen. Vật 物[ja] モツ、ブツ motsu, butsu ||| (1) A thing; things and affairs of the world; things in general; things outside of oneself; others. (2) Living creatures. (3) Goods. (4) All beings, sentient beings, people of the world (jagat). Body, substance, essence. However, wu generally refers to objectively perceived experiential things and situations (vastu), rather than to a subject or essence. (5) Self-nature, original nature. (6) That which truly exists in the objective world. (7) The original principle in Sāṃkhya philosophy (tattva). => 1. Vật, đồ vật; các hiện tượng trong thế giới; các pháp nói chung; sự vật bên ngoài chính mình, người khác. 2. Sinh vật, sinh thể, 3. Của cải, tài sản, hàng hoá. 4. Mọi chúng sinh, loài hữu tình, loài người trên thế gian (s: jagat). Thân thể, thể chất, thể tính. Tuy nhiên, thường được đề cập đến trạng thài và vật thể nhận thức từ ngoại giới khách quan hơn là chủ thể hay là bản chất. 5. Tự tính, bản tính. 6. Những gì thực sự tồn tại trong thế giới khách quan. 7. Nguyên lý căn bản (s: tattva) trong triết học của phái Số luận (s: Sāṃkhya).
mục nát
Decayed—Rotten.
mục súc
Domestic animals.
mục sư
Clergyman—Pastor.
mục tiêu
Objective—Goal.
mục trung vô nhân
Contemptuous.
mục túc
Eye and foot; knowledge and practice; eyes in the feet.
; Ví trí với mắt và hành với chân—Eye and foot—Knowledge and practice—Eyes in the feet.
; (目足) Cũng gọi Trí mục hành túc, Trí hành. Mục (mắt) ví dụ trí tuệ; Túc (chân) ví dụ hành nghiệp. Đây là 2 điều kiện tất yếu mà người tu hành Phật đạo phải hội đủ. Mục túc (mắt nhìn và chân đi tới) có đầy đủ mới đến được chỗ thanh lương( quả Phật). Trong 6 Ba la mật thì: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến và thiền định là Hành, còn trí tuệ là Trí. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 2 thượng (Đại 33, 698 trung) nói: Trí là gốc của hành, nhờ có mắt trí chỉ dẫn, chân mới đi đúng hướng. [X. luận Đại trí độ Q.23; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng].
mục túc tiên
Aksapada (skt)—Vị sáng lập ra phái Nhân Minh Luận—Founder of the Nyaya, or logical school of philosophers.
Mục tưởng 目想
[ja] モクソウ mokusō ||| Mental images derived from what one has seen with the eyes. HPC 7.167a => Ảnh tượng xuất phát từ những gì người nhìn bằng mắt.
mục đa
Mukta (skt). 1) Giải Thoát: Release—Free. 2) Châu Bảo: A pearl.
mục điền đế lương
(牧田諦亮) Học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện Tư hạ. Ông là Tiến sĩ Văn học của trường Đại học Đế quốc tại Kinh đô (Kyoto). Ông lần lượt giữ các chức vụ: Nghiên cứu viên của sở Nghiên cứu Khoa học Nhân văn trường Đại học Kinh đô, Giáo sư trường Đại học Kinh đô, Giáo sư trường Đại học Phật giáo. Hiện ông là Giáo sư trường Đại học Thánh đức Học viên kì phụ giáo dục, trụ trì chùa Niệm Phật tông Tịnh độ. Ông có các tác phẩm: Trung quốc cận thế Phật giáo sử nghiên cứu, Lục triều cổ dật Quan thế âm ứng nghiệm kí nghiên cứu, Hoằng minh tập nghiên cứu, Đường cao tăng truyện sách dẫn, Ngũ đại tông giáo sử nghiên cứu, Sách ngạn nhập minh kí đích nghiên cứu.
mục đích
Artha (S), Aim.
; Goal—Objective.
mục đích cao cả
Lofty objective.
mục đích giải thoát
A goal of liberation.
mục đế la
Mukti (skt)—Mục Đắc La—Giải Thoát—Release—Emancipation—The knowledge of experience of liberation—See Giải Thoát.
mục đề
See Mộc đề.
mục đồng
Herd-man.
Mục 目
[ja] モク moku ||| (1) The eye, eyeballs. The organ of vision. (2) To regard; to look on. (3) Chief, the most important. (4) A list, an item. Headings or chief points of concern. (5) Degree, extent; order. => 1. Con mắt, nhãn cầu. Nhãn căn. 2. Nhìn, xem. 3. Chủ yếu, quan trọng nhất. 4. Danh sách, đề mục. Tiêu đề hoặc điểm liên quan. 5. Mức độ, quy mô. Bậc, hạng.
Mục-kiền-liên
目犍連; S: mahāmaudgalyāyana; P: mahāmo-ggallāna;|Một trong những đệ tử quan trọng của Phật Thích-ca. Mục-kiền-liên xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn, cùng gia nhập Tăng-già Phật giáo với bạn thân là Xá-lị-phất (s: śāriputra) và sớm nổi danh là người đạt nhiều thần thông (Lục thông). Trong một số chùa, người ta thấy tượng của Tôn giả và Xá-lị-phất đứng bên tả và hữu đức Phật. Trước khi Phật nhập diệt, cả hai vị đều bị ngoại đạo giết chết. Mục-kiền-liên được xem là một trong Mười đại đệ tử của Phật.
Mục-liên 目連
[ja] モクレン Mokuren ||| Maudgalyāyana, one of the ten principal disciples of Śākyamuni, renowned for his occult powers. He was born in Kolita, a northern area of Rājagraha in Magadha. Prior to his conversion to Buddhism, he was, along with Śāriputra, a disciple of the skeptic philosopher Sañjaya. He was especially famous for his development of supernatural powers, and is said to have accomplished many miracles during his association with the sangha. => (s: Maudgalyāyana). Một trong 10 đệ tử lớn của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, nổi tiếng do năng lực huyền bí. Ngài sinh ở Kolita, miền Bắc của thành Vương Xá ở Ma-kiệt-đà. Trước khi xuất gia theo Phật, ngài cùng với Xá-lợi-phất là đệ tử của triết gia ngoại đạo Sañjaya. Ngài đặc biệt nổi tiếng do năng lực thần thông, được cho là đạt nhiều điều mầu nhiệm khi cộng trú trong tăng đoàn.
mụn
1) Acne—Pimple. 2) Piece—Bit. 3) Carbuncle (mụn nhọt).
mụt
See Mụn (3).
mừng
To rejoice—To congratulate.
mừng khấp khởi
To be full of joy.
mừng muốn khóc
To weep tears of joy.
mừng quính
To be excited with joy—To rejoice greatly.
mừng run
To flutter with joy.
mừng thầm
To rejoice inwardly.
mừng tuổi
To wish a Happy New Year.
mực thước
Rule.
mỹ
Madhura (S). Fine, handsome, beautiful, admirable; sweet, pleasant.
mỹ càn thác bà
Xem Ngọt.
Mỹ hóa
(美化): làm đẹp, làm cho đẹp bằng cách trang sức, điểm xuyết để tăng thêm vẻ mỹ quan. Như trong Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (佛祖歷代通載, Taishō Vol. 49, No. 2036) quyển 22 có câu: “Văn Vương tự Công Lưu dĩ lai, thế tích nhân hiếu, mỹ hóa hành hồ giang hán, nhân từ cập ư hành vi, hà đãi Xích Tinh chi giáo tai (文王自公劉以來、世積仁孝、美化行乎江漢、仁慈及於行葦、何待赤精之敎哉, vua Văn Vương [1152-1056 ttl.] nhà Chu, từ thời Công Lưu đến nay, tích chứa nhân hiếu giữa đời, làm đẹp cùng khắp song nước, nhân từ đến tận cỏ cây, đâu phải đợi lời dạy của tiên nhân Xích Tinh Tử chăng ?).”
mỹ lộ trường sanh tửu
Xem Cam lộ.
mỹ viên tinh xá
Ghoṣi-tarama (S), Ghoshi-tarama Tên một ngôi chùa.
mỹ âm
Beautiful sound, a king of the Gandharvas (Càn thát bà), Indria's musicians.
mỹ âm càn thát bà vương
Madhurasvara (S)Một trong bốn vị vua Càn thát bà đến nghe Phật giảng kinh Pháp Hoa. Bốn vị ấy là: Nhạc Càn thác bà vương, Nhạc âm Càn thác bà vương, Mỹ Càn thác bà vương, Mỹ âm Càn thác bà vương.
mỹ âm thiên
Xem Biện Tài thiên.
mỹ âm thiên nữ, diệu âm thiên
Sarasvati (S). The Muse of India, goddess of speech and learning, hence called đại biện tài thiên nữ goddess of rhetoric; she is the female energy or wife of Brahmà, and also goddess of the river Sarasvati.
mỹ âm trưởng giả
Xem Cù sư la trưởng giả.
mỹ âm điểu
Xem Ca lăng tần già điểu.
Mỹ Âm 美音
[ja] ビオン bion ||| Beautiful Sound. The name of a gandharva king. 〔法華經 T 262.9.2a28〕 => Âm thanh vi diệu. Tên của thần Càn-thát-bà vương.
na
Where? How? What? That.
; (娜) Cũng gọi Đà, Đồ, Nại, Noa. Chữ (da) Tất đàm, 1 trong 50 chữ cái, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Phẩm Tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 hạ) nói: Chữ Na là tất cả pháp thí đều vắng lặng. Phẩm Quảng thừa trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5 (Đại 8, 256 thượng) nói: Vì thiện tâm sinh các pháp, nên cũng là tướng thí (cho). Đây là giải nghĩa theo chữ dàna (bố thí) trong tiếng Phạm. [X. phẩm Thị thư trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4; phẩm Phổ hiền bồ tát trong kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển); kinh Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc)].
na a lại da mạn đà la
Nalaya-mandala (skt)—Không phải là A Lại Da Mạn Đà La, hay là Bồ Đề Đạo Tràng, không phải là nơi cố định—The non-alaya mandala, or the bodhi site or seat, which is without fixed place, independent of place, and entirely pure.
na bà ma li
Nvamàlikà (S). Varie-gated or mixed flowers.
na bà ma lợi
(那婆摩利) Phạm: Navamàlikà. Cũng gọi Na phược mang lí ca, Tân ma lợi ca. Hán dịch: Như thứ đệ hoa. Tên khoa học: Jasminum sambac. Loại cây có mùi thơm, thuộc loại cây bò lan, quấn quanh các cây khác, ít lá, hoa nhỏ mà màu trắng, có thể dùng để chế dầu thơm, nước thơm. Cây này cùng loại với cây Ma lợi ca, Đại ma lợi ca. Ma lợi ca, Phạm: Mallikà hoặc Màlikà, còn gọi là Ma lỗ ca, Ma lợi, Mạt lợi, Nại hoa. Hán dịch là Thứ đệ hoa, Du tử, Đằng (cây mây) hoặc dịch là Man (tràng hoa). Thắng man bảo quật quyển thượng phần đầu (Đại 37, 10 thượng) nói: Phu nhân Mạt lợi cũng gọi là Ma lợi. Mạt lợi là tên một loài hoa. Vì Trung quốc không có danh từ tương đương để phiên dịch nên vẫn giữ nguyên âm Mạt lợi. [X. phẩm Dược vương bồ tát bản sự trong kinh Pháp hoa Q.6; kinh Đại bát niết bàn Q.21 (bản Bắc); luận Du già sư địa Q.18; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26,48; Phiên Phạm ngữ Q.10].
na da
Naya (S). Right method, good way. Also chính lí.
; Naya (skt). 1) Chính yếu: Leading. 2) Phương thức: Method. 3) Chánh Lý: Đạo lý chân chính—Right principle. 4) Thừa: Yana (skt)—Con đường tu đạo mà hành giả noi theo, từ một niệm thiện cho tới khi thành Phật—Conveyance—Mode of progress. 5) Đạo: Way—Method.
; (娜耶) Phạm: Naya. Hán dịch: Thừa. Nghĩa là đạo, lí thú. Tức chỉ chung cho pháp được tu tập (sở thừa), đạo được hành trì (sở hành) ở mỗi giai vị trong quá trình tu hành từ 1 niệm thiện căn cho đến khi thành Phật. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3].
na do tha
Nayuta (S)= 100.000 hay 1 triệu hay 10 triệu.
; Navuta (S). A numeral, 100,000, or one million, or ten millions.
; Navuta (skt)—Na Du Đa—Na Do Đa—Na Thuật—Tên số đếm, tương đương với 100.000, 1.000.000 hay 10 triệu—A numeral, 100,000, or one million, or ten million.
na do đa
(那由多) Phạm: Nayuta, Niyuta. Cũng gọi Na dữu đa, Na do tha, Ni do đa, Na thuật. Hán dịch: Triệu, Câu. Danh từ chỉ số lượng của Ấn độ. Theo luận Câu xá quyển 12, thì 10 A dữu đa(cũng gọi A do đa) là 1 đại a dữu đa, 10 đại a dữu đa là 1 na do đa, cho nên 1 na do đa là 100 a dữu đa; 1 a dữu đa là 10 ức, cho nên 1 na do đa là 1.000 ức. Thông thường kinh Phật dùng danh từ Na do đa để chỉ số lượng lớn. Ngoài ra, nếu theo cách tính phổ thông của người Ấn độ, thì a dữu đa là 1 vạn, còn na do đa là 100 vạn. [X. kinh Hoa nghiêm Q.45 (bản dịch mới); luận Đại tì bà sa Q.177; Huyền ứng âm nghĩa Q.3; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.8]. (xt. Cai, Đơn Vị).
na già
Xem long.
; Naga (S). Snake, dragon, elephant.
; Naga (skt). 1) Một loại rắn: A kind of snake. 2) Một chủng tộc thờ rắn: A race of serpent-worshippers. 3) Rồng: Như loài rồng tiêu biểu cho loài bò sát mạnh nhất; nó có thể biến hiện, tăng giảm, dài ngắn tùy ý. Nó có thể bay trên trời, lội dưới nước hay đi vào trong đất. Vào mùa xuân nó bay lượn trên trời, mùa đông lại chui vào đất—As dragon it represents the chief of the scaly reptiles; it can disappear or manifest, increase or decrease, lengthen or shrink at will. It can mount in the sky and in water, and enter the earth. In spring it mounts in the sky and in winter enters the earth. • Rồng được xem như hữu ích, vì mang lại mưa: Dragons are regarded as beneficent, bringing the rains. • Thiên Long Hộ Pháp: Guarding the heavens. • Chúng ẩn dưới vực sâu để kiểm soát sông hồ: They control rivers and lakes, and hibernate in the deep. • Long và Đại Long là danh hiệu của Phật: Naga and Mahagana are titles of a Buddha. • Long và Đại Long cũng là danh hiệu của những bậc đã thoát vòng sanh tử, vì lực thoát vòng tham dục và trói buộc trần thế của các ngài bay vút như rồng bay lên trời: Naga and Mahanaga are titles of those freed from reincarnation, because of his powers, or because like the dragon he soared above earthly desires and ties. 4) Tượng: Elephant.
; (娜伽) Phạm: Nàga. I. Na Già. Hán dịch: Long, Tượng, Vô tội, Bất lai. Tức là rồng, voi, ví dụ các bậc Thánh có lực dụng lớn lao; hoặc chỉ cho các bậc đã trừ sạch tội cấu, không còn phiền não sinh tử. Kinh Khổng tước gọi đức Phật là Na già, vì Ngài không còn sinh tử nữa. Luận Đại trí độ quyển 3 (Đại 25, 81 trung) nói: Ma ha là đại, Na là vô, Già là tội. Bậc A la hán đã dứt hết phiền não, cho nên gọi là Đại vô tội. Ngoài ra, thiền định của Phật gọi là Na già định, hoặc Đại định na già. Luận Câu xá quyển 13 (Đại 29, 72 thượng) nói: Hữu dư bộ cho rằng chư Phật Thế tôn thường ở trong định (...), cho nên khế kinh nói: Na già đi trong định, Na già đứng trong định, Na già ngồi trong định, Na già nằm trong định. (xt. Long Tượng). II. Na Già. Cũng gọi Long hoa thụ, Long hoa bồ đề thụ. Tức là cây Bồ đề mà đức Phật Di lặc sẽ ngồi khi thành đạo. (xt. Long Hoa Thụ). III. Na Già. Tên của 1 chủng tộc đã có từ ngàn xưa ở Ấn độ. Hiện nay chủng tộc này sống rải rác ở vùng Assam thuộc Đông bắc Ấn độ và các vùng ở Tây bắc Miến điện. Chủng tộc này thờ cúng rồng rắn, cho nên tên Long thành (Phạm: Nàgapura) hiện vẫn còn được sử dụng ở nhiều nơi.
; (那伽) Phạm: Naga. Hán dịch: Sơn, Thụ mộc, Thực vật. Nghĩa là không chuyển động. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3].
na già cúc đa
Jayagupta (S)Tên một vị sư.
na già phương
(那伽方) Cũng gọi Phạ rô noa (Phạm: Varuịa, Hán dịch: Thủy thiên) phương, Long phương. Chỉ cho phương Tây. Na già, Hán dịch là Long (rồng). Theo Mật giáo thì có 8 vị trời ở 8 phương che chở thế gian, trong đó, vị Thiên thần che chở phương Tây là Thủy thiên Long vương, vì thế phương Tây cũng gọi là Na già phương (phương Rồng). (xt. Thủy Thiên).
na già tê na
Xem Na Tiên Tỳ kheo.
; (那伽犀那) Phạm: Nàgasena. I. Na Già Tê Na. Cũng gọi La ca nạp, Nạp a cát tắc nạp. Tức là vị A la hán thống lãnh 1.200 A la hán quyến thuộc cùng ở tại núi Bán độ ba, hộ trì chính pháp, làm lợi ích hữu tình, là vị La hán thứ 12 trong 16 vị La hán. Đại sư Thiền nguyệt Quán lưu đời Đường vẽ tượng vị La hán này ngồi trên mỏm núi lơm chơm, cheo leo, mặc áo pháp trùm kín 2 vai, tay chống cằm, há miệng, thè lưỡi, dáng mạo rất kì dị. Thi hào Tô đông pha có bài tán rằng: Dùng ác độ người như lửa đốt mình, dùng tín vào đạo như nước mát rợi, cúi đầu chắp tay để cung kính ai? Đại sư vô đức, nước lửa như không. Truyền thuyết Tây tạng thì cho Ngài là vị La hán thứ 14 trong 18 vị La hán. [X. kinh A la hán cụ đức; Đại A la hán Nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập; Phật tượng đồ vậng Q.3]. II. Na Già Tê Na. Cũng gọi Na tiên. Hán dịch: Long quân. Tên của 1 vị Luận sư ở Ấn độ. (xt. Na Tiên).
na già yên lạt thọ na
Xem Long Thọ Bồ tát.
na già át lạt thụ na
(那伽閼剌樹那) Phạm: Nàgàrjuna. Cũng gọi Na già a thuận na, Na già át lạt thụ na bồ đề tát đỏa. Hán dịch: Long thụ, Long thắng, Long mãnh. Chỉ cho bồ tát Long thụ, người sáng lập học phái Trung quán của Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ. Cứ theo Long thụ bồ tát truyện do ngài Cưu ma la thập dịch, vì Ngài sinh dưới gốc cây nên đặt tên là A chu đà na; A chu đà na là tên cây, nhờ rồng mà Ngài thành đạo, nên ghép chữ Long với Thụ mà thành Long thụ. [X. Thập nhị môn luận tông trí nghĩa kí Q.thượng; Đại đường tây vực kí Q.8]. (xt. Long Thụ).
na già át thích thụ na
Nagarjuna (skt)—See Long Thọ
na già định
Dịch là đại định, bất cứ lúc nào nơi nào, đi đứng, ngồi nằm, động tịnh, bận rộn, rảnh rang, đều ở trong định, chẳng có xuất nhập gọi là Na già định.
; Thiền định Na Già, khiến người thành “thọ long” hay rồng trường thọ ở nơi chỗ sâu, để sau nầy được gặp Đức Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật—The naga meditation, which enables one to become a dragon, hibernate in the deep, prolonged one's life and meet Maitreya.
na la
Nata (skt)—Người nhảy múa hay diễn viên—A dancer or actor.
na la diên
Nàràyana (S). Hero of divine power. A title of Vishnu.
; Narayana (skt)—Na La Dã Nã—Tiêu biểu với ba mặt, màu vàng, tay phải cầm bánh xe, cưỡi chim Ca Lâu La—Narayana is represented with three faces, of greenish-yellow colour, right hand with a wheel, riding a garuda bird. 1) Tên vị lực sĩ ở Thượng Thiên là tổ phụ của chúng sanh: Son of Nara or the original man, patronymic of the personified Purusha or first living being, author of the Purusha Hymn. a) Nara (skt): Người—Man. b) Yana (skt): Sinh bản hay gốc của sự sống—The original life. 2) Tên khác của Phạm Thiên Vương, Tỳ Nữu Thiên: He is also identified with Brahma, Visnu, or Krsna, interpreted by the originator of human life. a) Kiên Cố: Firm and stable. b) Lực Sĩ hay Thiên Giới Lực Sĩ: Hero of divine power. c) Kim Cang: Vajra (skt)—Mạnh mẽ—Manly and strong.
na la diên lực chấp kim cương
(那羅延力執金剛) Vị Kim cương phát tâm đại bi dũng mãnh cứu giúp chúng sinh, là vị thứ 8 trong 19 vị Chấp kim cương, nội quyến thuộc của Mạn đồ la thuyết hội nói trong kinh Đại nhật. Na la diên, có thuyết cho là lực sĩ của trời Đế thích, hoặc là tên khác của Tì nữu thiên (Phạm: Viwịu). Vì tâm đại bi của vị Kim cương này rất mạnh mẽ, nên dùng đại lực của trời Na la diên để ví dụ mà gọi là Na la diên lực. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 581 trung) nói: Vị Na la diên lực Kim cương thứ 8 đã phát tâm thương xót, nếu có thế lực lớn thì cứu độ được (...) sức Na la diên hơn hết, mỗi lỗ chân lông của sinh thân Phật đều có sức mạnh ngang với Na la diên, cho nên gọi là Pháp giới thân na la diên lực.
na la diên thiên
Nārayānadeva (S)Tên một vị thiênXem Na la diên Bồ tát.
; Narayana-deva (skt)—Trời Na La Diên.
; (那羅延天) Na la diên, Phạm và Pàli: Nàràyaịa. Cũng gọi Na la diên na thiên, Na la dã noa thiên. Hán dịch: Kiên cố lực sĩ, Kim cương lực sĩ, Câu tỏa lực sĩ, Nhân trung lực sĩ, Nhân sinh bản thiên. Vị thần có sức rất mạnh trong thần thoại Ấn độ cổ đại. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 6, thì Na la diên là tên vị trời ở cõi Dục, cũng gọi là trời Tì nữu (Phạm:Viwịu), nếu ai muốn được sức mạnh mà tinh thành cầu nguyện, cúng dường vị trời này thì sẽ được như ý. Cũng theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 41, thì vị trời này có sức rất mạnh, thân màu vàng lục, có 8 tay, cỡi chim cánh vàng, tay cầm bánh xe chiến đấu và các loại vũ khí khác, thường đánh nhau với A tu la vương. Đại nhật kinh sớ cũng cho rằng trời Na la diên là tên khác của trời Tì nữu, cỡi chim Ca lâu la bay trong hư không. Nhưng các vị Luận sư Phệ đà của Ấn độ đời xưa thì cho rằng, vị trời này là mẹ của Phạm thiên, tất cả mọi người đều từ Phạm thiên sinh ra. Ngoài ra, ngoại đạo còn nói trời Na la diên tức là Đại phạm vương, tất cả mọi người đều do Phạm vương sinh ra, cho nên gọi Phạm vương là Nhân sinh bản (gốc sinh ra loài người). Các Luận sư Ma hê thủ la thì cho Na la diên là 1 trong 3 phần(tức Phạm thiên, Na la diên, Ma hê thủ la) của 1 thể Đại tự tại thiên, đồng thời đem phối hợp với Tam bảo và Tam thân, cho Na la diên là Báo thân trong Tam thân, cũng biểu thị cho Pháp bảo trong Tam bảo. Vì trời Na la diên có sức mạnh lớn, nên đời sau đem xếp ngang hàng với Mật tích kim cương mà gọi chung là Nhị vương tôn và thờ ở cửa Tam quan của chùa. Nghĩa gốc của chữ Phạm Nàràyaịa là đứa con do người sinh ra. Trong thần thoại Ấn độ, Nguyên nhân (Phạm: Puruwa) nguồn gốc vũ trụ, còn có tên khác là Nara, do đó, Na la diên vốn được xem là đứa con do nguyên nhân (người đầu tiên, tức nguồn gốc của vũ trụ) sinh ra. Nhưng trong Áo nghĩa thư Ma ha na lạp da na (Phạm: Mahànà ràyaịopaniwad) thì dùng Na la diên thay cho nguyên nhân, là thần tối cao. Trong phần trình bày trên, thuyết cho Na la diên là Đại phạm vương có lẽ đã căn cứ vào pháp điển Ma nô, sách này cho rằng nguyên nhân là do Nara sinh ra và chỗ ở đầu tiên của loài người là Ayana (Layana?), vì thế có thuyết này và gọi Na la diên làNàràyaịa. Còn trong Áo nghĩa thư Na lạp da na (Phạm: Nàràyaịopaniwad) thì cho Na la diên là thân quyền hóa của trời Tì nữu, đồng thời cho rằng nếu xướng tụng thần chú Oô namo nàràyaịàya thì được sinh lên cõi trời. Trong Mật giáo, vị trời này được đặt ở phía tây trong viện Ngoại kim cương bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới. Về hình tượng, vị tôn này có thân màu xanh đen, cỡi chim Ca lâu la, chân phải thõng xuống, bàn tay trái đặt trên bẹn, tay phải đưa lên co lại, ngón trỏ nâng đỡ cái bánh xe; có 3 mặt, mặt chính là mặt Bồ tát với 3 mắt, mặt bên phải là mặt voi trắng, mặt bên trái là mặt lợn,(heo) đen, đầu dội mũ báu anh lạc. [X. kinh Tạp bảo tạng Q.1; kinh Thắng tư duy Phạm thiên sở vấn Q.5; kinh Đà la ni tập Q.11; Lí thú thích Q.hạ; luận Ngoại đạo Tiểu thừa niết bàn; luận Đại tì bà sa Q.30; luận Du già sư địa Q.37; luận Thuận chính lí Q.75; Huyền ứng âm nghĩa Q.24; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.15]. (xt. Tì Nữu Thiên).
na la diên thiên hậu
Narayana-deva-sakti (skt)—Phu nhơn của Na La Diên Thiên hay năng lực của nữ giới được chỉ bày trong nhóm Thai Tạng Pháp Giới—Sakti or female energy is shown in the Garbhadhatu group.
na la diên thân bồ tát
Nārayāna (S)Na La Diên thiênTên một vị Bồ tát.
na la diên thân nguyện
(那羅延身願) Nguyện cho những người vãng sinh Cực lạc đều được thân Kim cương na la diên kiên cố. Đây là nguyện thứ 26 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 trung) nói: Nếu tôi thành Phật, mà các Bồ tát trong đất nước tôi, không được thân Kim cương na la diên, thì tôi không lên ngôi Chính giác. (xt. Na La Diên Thiên).
na la già
(那羅遮) Phạm: Nàràza. Cũng gọi Na lạt già, Lan cát phản. Chỉ cho các vũ khí như dùi kim cương hoặc dùi có cán sắt, là 1 trong các pháp khí của Mật giáo. Phẩm Tất địa xuất hiện trong kinh Đại nhật quyển 3, khi nói về pháp thành tựu chữ khư, có nêu ra na la già và kiệt nga, mục kiệt lam (các loại vũ khí: chày có móc gươm,giáo, vòng dây) v.v... đều là những pháp khí thuộc Vật thành tựu. Về hình dáng thì các kinh quĩ nói không giống nhau, hình vẽ ở đây là theo Đại nhật kinh sớ quyển 12. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.36]. (xt. Một Nghiệt Lam].
na la ma na (nạp)
Naramanava (skt)—Thiếu niên Bà La Môn—A young Brahman, a descendant of Manu.
na la na lý
Nara-nari (skt)—Sự hợp nhất của hai phái nam nữ—Union of the male and female natures.
na la tu ma
Name of Jnatr.
na la đà
Naradhara (skt)—Nhân Trì Hoa—Một loại hoa thơm—A flower carried about for its scent.
na lan đà
Nàlandà (S). A famous monastery 7 miles north of Ràjagrha.
; Các cơ sở tu viện lừng danh tại Na Lan Đà trong thành Vương Xá có tầm quan trọng rất lớn trong lịch sử Phật giáo thời gian sau nầy. Lịch sử của các kiến trúc tại đây có thể bắt đầu từ đời vua A Dục (Asoka). Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Na Lan Đà là ngôi chùa nổi tiếng, nơi mà ngài Huyền Trang từng tòng học, trường khoảng 7 dặm về phía bắc thành Vương Xá của xứ Ma Kiệt Đà,miền bắc Ấn Độ, được vua Thước Ca La A Dật Đa (Sakraditya) xây dựng sau khi Phật nhập diệt. Bây giờ là Baragong. Na Lan Đà được xem như là một trung tâm nghiên cứu Phật giáo, đặc biệt là về triết lý Trung Quán. Na Lan Đà cực thịnh vào khoảng từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 12. Sau đó Na Lan Đà được các vua cuối triều Gupta mở mang rộng lớn. Kỳ thật Na Lan Đà là một trường Đại Học Phật Giáo, nơi những cao Tăng tòng học tu để mở mang kiến thức về Phật giáo. Các di tích của tu viện Na Lan Đà trải ra trên một vùng rộng lớn. Các công trình xây dựng được thấy hôm nay chỉ là một phần của cơ ngơi đồ sộ và là dấu tích của các tu viện, đền, tháp. Các công trình kiến trúc chạy theo hướng bắc nam, các tu viện nằm bên sườn đông, còn các đền tháp nằm bên sườn tây. Qua phế tích, chúng ta thấy những tu viện được xây nhiều tầng và ngay trong những đổ nát ngày nay, chúng vẫn còn gợi lên cho chúng ta sự hoài niệm về một quá khứ đường bệ và vinh quang. Trong viện bảo tàng hiện còn trưng bày nhiều tác phẩm điêu khắc cùng các cổ vật khác tìm được trong các cuộc khai quật. Ngoài ra, còn nhiều di sản khác như các lá đồng, các bia ký bằng đá, chữ khắc trên gạch và các con dấu bằng đất nung. Trong số các con dấu, chúng ta có con dấu thuộc cộng đồng tu sĩ khả kính của Đại Tu Viện. Những chứng liệu cho thấy Phật giáo hành trì tại Na Lan Đà cùng các tu viện đương thời tại Bengal và Bihar không phải là Phật giáo Tiểu Thừa đơn thuần, cũng không phải Đại Thừa thời khởi thủy, mà nó thâm nhiễm các tư tưởng Bà La Môn và Mật tông. Huyền Trang, một cao Tăng Trung Quốc, đã du hành sang Ấn Độ vào thế kỷ thứ bảy, đã kể lại về sự đồ sộ và phồn thịnh của Na Lan Đà. Theo ông thì tu viện nầy đã có lần có đến 10.000 vị sư Đại Thừa đến tu tập tại đây. Ông đã nói rất rõ về các giới điều và sự hành trì của chư Tăng tại đây. Ông còn nhắc đến vua Harsa và các vị tiền nhiệm như những nhà bảo trợ đắc lực cho tu viện nầy. Nghĩa Tịnh, một nhà hành hương khác của Trung Hoa, cũng đã để lại cho chúng ta một bản mô tả cuộc sống của các tu sĩ tại Nalanda, tu viện nầy được duy trì bằng số tiền thu được từ 200 ngôi làng được các đời vua ban cấp cho tu viện. Vào thời ấy, Na Lan Đà nổi tiếng trong thế giới Phật giáo vì có những giáo sư tài giỏi, uyên bác và những tên tuổi như Giới Hiền (Silabhadra), Tịch Hộ (Santaraksita), A Để Sa (Atisa), hay Dipankara, những ngôi sao sáng đã gợi lên hình ảnh cao trọng của tu viện trong suốt thời kỳ phồn thịnh của nó—The famous monastic establishments at Nalanda, near Rajgir, were of extreme importance in the history of latter day Buddhism. The history of the monastic establishments can be traced back to the days of Asoka. According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Nalanda is a famous monastery which was located 7 miles north of Rajarha in Maghada, northern India, built by the King Sakraditya after the Buddha's nirvana. Now Baragong. As a center of Buddhist study, particularly of Madhyamika philosophy. It prospered from the fifth through the twelfth centuries. Thereafter, the monastery was enlarged by the kings of the late Gupta period. The Nalanda Monastery was in reality a Buddhist university, where many learned monks came to further their study of Buddhism. The ruins of Nalanda extend over a large area. The structures exposed to view represent only a part of the extensive establishment and consist of monastic sites, stupa sites, and temple sites. Lengthwise they extend from north to south, the monasteries on the eastern flank, and stupas and temples on the west. Through the ruins, we can see the evidence that these monasteries were storeyed structures; and even in their ruins, they still convey a memory of their imposing and glorious past. In the museum are deposited numerous sculptures and other antiquities recovered during the excavations. Besides, there are a lot of epigraphic materials, including copper-plate and stone inscriptions, and inscriptions on bricks, and terracotta seals. Among the seals, we have the official seal belonging to the community of venerable monks of the great monastery. Through these materials, we can see that the Buddhism that was practised at Nalanda and other contemporary institutions in Bengal and Bihar was neither the simple Hinayana, nor Mahayana of the early days. It was strongly influenced by the Brahmanism and Tantrism. Hsuan-Tsang, a famous Chinese monk, who traveled to India in the seventh century, wrote of the imposing structure and prosperity of this monastery. According to Hsuan-Tsang, at one time, there were more than 10,000 Mahayana Buddhist monks stayed there to study. He stated very clearly about their rules and practices. He also mentioned Harsa and several of his predecessors as beneficent patrons of this institution. I-Ching, another Chinese traveller, had also left us a picture of the life led by Nalanda monks. According to I-Ching, Nalanda was maintained by 200 villages which donated by different kings. Nalanda was known throughout the Buddhist world of that time for its learned and versatile teachers, and the names of Acarya Silabhadra, Santaraksita, and Atisa or Dipankara, were shining stars among a galaxy of many others, conjure up a vision of the supreme eminence of the Nalanda Mahavihara throughout its prosperous history.
na lan đà tự
See Na Lan Đà.
na liên da xá
Xem Na liên đề lê da xá.
na liên đề lê da xá
Narendrayaśas (S)Da Xá, Na liên da xáSư Ấn độ vào năm 490 - 589.
; Narendrayasas (skt). 1) Tôn xưng: Venerable. 2) Tên vị Tỳ Kheo Na Liên Da Xá, người nước Ô Trành, miền Tây Bắc Ấn, vào thế kỷ thứ sáu, từng dịch khoảng 80 quyển Kinh Luận—A monk of Udyana, northwest India, sixth century, translated the Candra-garbha, Surya-garbha, and other sutras.
; (那連提黎耶舍) Phạm: Narendrayazas. Cũng gọi Na liên da xá, Na liên đề da xá. Gọi tắt: Da xá. Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tùy, người nước Ô trường tại Bắc Ấn độ, họ Thích ca, thuộc dòng Sát đế lợi. Năm 17 tuổi sư xuất gia, thông hiểu Đại Tiểu thừa, giỏi cả Tam học. Vì muốn lễ bái các thánh tích của Phật giáo nên sư chu du các nước. Sau, được 1 vị tôn giả chỉ bảo, sư mới trở về, giữa đường, nhờ tụng thần chú Quan âm mà tránh được nạn giặc cướp làm hại. Khi đến nước Nhuế nhuế, gặp loạn Đột quyết, sư bèn bỏ ý định trở về Ô trường mà vượt ngọn Thông lãnh để đến Bắc Tề. Bấy giờ sư 40 tuổi, rất được Văn tuyên đế nhà Tề lễ kính, sư ở tại chùa Thiên bình, dịch được 5 bộ 49 quyển kinh, như kinh Nguyệt đăng tam muội v.v... Sau đó, sư trao cho Chiêu huyền thống (vị Tăng lãnh đạo tăng ni), sư lại dùng những tài vật mà tín đồ cúng dường để xây cất 3 ngôi chùa ở Tây sơn để cho dân chúng an dưỡng và chữa bệnh. Khi Chu vũ đế diệt nhà Tề, phá hủy Phật pháp, sư ở ẩn, trà trộn với thế tục nhưng không bỏ pháp sự. Khi nhà Tùy hưng khởi sư mới mặc áo pháp trở lại, vua Văn đế ban sắc cho sư trụ ở chùa Đại hưng thiện, thỉnh các vị tăng ngoại quốc, cùng với các ngài Đàm diên v.v... gồm hơn 30 vị lại bắt đầu công việc dịch kinh. Năm Khai hoàng thứ 9 (589) sư thị tịch, thọ 100 tuổi. Trước sau sư dịch được hơn 13 bộ 70 quyển kinh. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.9, 12; Tục cao tăng truyện Q.2; Pháp kinh lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.6].
na luật
See Aniruddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
na lạc ba
(那洛巴) Tạng: Nà-ro-pa. Phạm: Nàđapàda (cũng gọi Narottama -pàda). Danh tăng Ấn độ sống vào cuối thế kỉ X, là Đại thành tựu sư của Mật giáo, là thầy của ngài Mã nhĩ ba (Tạng: Mar-pa, thế kỉ XI), người sáng lập phái Bí sắc (Tạng:Bka- rgyud-pa) của Phật giáo Tây tạng. Theo truyện kí do ngài Tì ma tạp nhĩ bột (Tạng: Pad-madkar-po) soạn, thì Na lạc ba sinh trong 1 gia đình Bà la môn ở Ca thấp di la vào cuối thế kỉ X. Sau khi xuất gia, sư đến tu học tại chùa Na lan đà, tinh thông Phật pháp, rất nổi tiếng, đứng đầu về Phật học ở chùa Na lan đà. Khi đọc sách về Kim cương thừa, được sự chỉ bày của Dược xoa nữ, sư bèn đi về phía đông để cầu Thành tựu sư (Phạm: Siddha). Sư đến nhiều nơi, qua nhiều cuộc thử luyện khổ hạnh, cuối cùng mới gặp được ngài Đế la ba, được ngài cảm hóa, chỉ dạy, sư chuyên tâm tu học và sau được nối pháp. Các vị A đề sa (Phạm: Atìza) và Mại đột lợi ba (Tạng: Maitrì-pa) đều tôn sư làm thầy. Các tác phẩm của sư được thu vào bộ Đan châu nhĩ trong Đại tạng kinh Tây tạng gồm có: -Thời luân (Phạm: Kàlacakra, Tạng: Dus-khor). -Quán đính lược thuyết chú thích. -Kim cương du kì mẫu thành tựu pháp (Tạng: Rdo-rje rnal-byor-mai sgrubthabs). -Ngũ thứ đệ tập minh giải (Tạng:Rimpa lía bsdus-pa gsal-ba) v.v... [X. Đa la na tha Ấn độ Phật giáo sử; Die Legenden des Nàro-pa, Leipzig, 1933 (A. Grünwedel); Yoga und Geheimlehren Tibets, München Planegg, 1937 (W.Y.Evans- Wentz); Die Religionen Tibets, München, 1956 (H.Hoffmam).
na lạc ca
Naraka (S). Hell, the place of torment, the lower regions.
; Naraka (skt)—Địa ngục—Hell. 1) Người làm ác bị hành hạ: The sufferer. 2) Những cõi thấp: The lower regions.
na lạn đà tự
(那爛陀寺) Na lan đà, Phạm: Nàlandà. Cũng gọi A lan đà tự. Gọi đủ: Na lan đà tăng già lam (Phạm: Nàlandà-saôghàràma). Hán dịch: Thí vô yếm tự. Ngôi chùa danh tiếng ở phía bắc thành Vương xá, thủ đô nước Ma yết đà, Trung Ấn độ đời xưa, tức ở vùng Ba đạt gia âu (Baragaon), cách Lạp tra cơ nhĩ (Rajgir) về phía bắc khoảng 11 cây số hiện nay. Vào đầu thế kỉ thứ V, vua Đế nhật (Phạm: Zakràditya) thuộc vương triều Cấp đa (Phạm: Gupta) xây cất chùa này cho tỉ khưu Hạt la xã bàn xã (Phạm: Ràjavaôza) trụ trì, trải qua các đời, nhiều lần được mở rộng thêm, trở thành ngôi tự viện và trường học của Phật giáo có qui mô to lớn ở Ấn độ thời xưa. Theo Đại đường tây vực kí quyển 9, thì khu vực này vốn là vườn Am ma la, đức Phật đã từng ở đây thuyết pháp trong 3 tháng. Sau, vua Đế nhật đã xây dựng già lam ở đây. Về lí do tại sao chùa được đặt tên là Na lan đà thì có 2 thuyết: Thuyết thứ nhất cho rằng trong rừng Am ma la ở phía nam già lam có 1 cái ao, trong ao có con rồng tên là Na lan đà, vì thế lấy tên rồng làm tên chùa. Thuyết thứ 2 cho rằng thủa xưa khi đức Như lai còn tu hạnh Bồ tát, làm 1 vị đại quốc vương, đặt thủ đô ở nơi này, vua thích bố thí, đức hiệu là Thí vô yếm (bố thí không biết chán) nên lấy đức hiệu của vua để đặt tên chùa. Cứ theo Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 3, thì Na lan đà là ngôi chùa lớn bậc nhất ở Ấn độ vào thế kỉ VII, toàn chùa có 8 viện, thường có tới 10.000 tăng chúng học tập đủ các ngành, như Đại thừa, 18 bộ Tiểu thừa, Phệ đà, Nhân minh, Thanh minh, Y phương, Thuật số v.v... Ban đầu, chùa này là trung tâm của học phái Duy thức, về sau dần dần trở thành 1 trung tâm lớn của Mật giáo. Các bậc Luận sư nổi tiếng của Đại thừa Hữu tông như các ngài Hộ pháp, Đức tuệ, Hộ nguyệt, Kiên tuệ, Quang hữu, Thắng hữu, Trí nguyệt, Giới hiền, Trí quang v.v... đều đã lần lượt giảng dạy hoặc đảm nhận chức vụ Trụ trì chùa này. Ngoài ra, cũng có nhiều du học tăng từ Trung quốc và các nước vùng Đông nam á đến đây tu học, như các vị Huyền trang, Nghĩa tịnh, Kinh châu, Đạo lâm, Thái châu Huyền chiếu, Tinh châu Đạo sinh, Lạc dương Trí hoằng của Trung quốc và các vị Tuệ nghiệp, A li da bạt ma của Tân la. Còn các vị cao tăng từ Ấn độ đến Trung quốc vào thời ấy, như Ba la phả ca la mật đa la, Địa bà ha la, Thiện vô úy, Kim cương trí, Bát lạt nhã v.v... cũng từng tu học ở Na lan đà. Đầu thế kỉ VIII, vương triều Cấp đa sụp đổ, Ấn độ giáo hưng thịnh, Na lan đà cũng rơi vào tình trạng suy vi, đến cuối thế kỉ XII thì bị quân đội Y tư lan (Hồi giáo) phá hủy. Nhưng cứ theo truyền thuyết thì vào những năm đầu niên hiệu Thái định (1324-1327) đời Nguyên, còn có tỉ khưu Đề nạp bạc đà (tức Chỉ không) y vào ngài Luật hiền (Phạm: Vinaya-bhadra) ở chùa Na lan đà xuất gia, rồi đến Trung quốc, căn cứ vào đó, ta có thể biết vào thế kỉ XIV chùa Na lan đà vẫn còn. Năm 1915, bộ môn khảo cổ của Ấn độ bắt đầu công việc khai quật chùa này rất có hệ thống, từ trong các di tích, người ta đã đào được rất nhiều tác phẩm điêu khắc bằng đá và kim loại (đồng thau), hiện được cất giữ ở Viện bảo tàng Na lan đà tại Ấn độ. [X. truyện ngài Tịch mặc đời Đường trong Tống cao tăng truyện Q.1,2,3; truyện ngài Tuệ luân trong Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.4,5; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.43; Khai nguyên thích giáo lục Q.8, 9; Ancient Geography of India by A. Cunningham; The Geographical Dictionary of Ancient and Mediaeval of India by N.L.Dey].
na lạt già
Naraca (skt). 1) Mũi tên: An arrow. 2) Vật nhọn: A pointed implement.
na lợi ca tụ lạc
(那利迦聚落) Na lợi ca, Phạm: Nàđakantha. Pàli: ĨàdikahoặcĨàtika. Cũng gọi Na đề kiện tụ lạc, Na đề ca tu lạc, Na đề ma tụ lạc, Na địa ca tụ lạc, Na lê ca tụ lạc, Na lê tụ lạc, Na la tụ lạc, Na đà tụ lạc. Hán dịch: Hỉ dự, Qui vi. Thôn xóm của chủng tộc Tì đề ca (Phạm: Videha) ở tỉnh Ngõa cát liên thuộc miền Bắc Trung Ấn độ. Nhờ nghề làm ngói mà thôn này nổi tiếng. Tương truyền, đức Thích tôn đã từng ở tại đây trong 1 thời gian. Vùng phụ cận thôn này có khu rừng Ngưu giác sa la (Phạm:Gosiígasàla vanadàya) là nơi mà 3 vị tỉ khưu A na luật, Nan đề và Kim tì la cũng đã từng cư trú. [X. kinh Ngưu giác sa la lâm trong Trung a hàm; kinh Xà ni sa trong Trường a hàm Q.5].
na lợi kế la
1) Narikela or Narikera (skt)—Trái dừa hay cây dừa—The coco-nut. 2) Đảo Na Lợi Kế La: Narikeladvipa (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, đây là một hòn đảo nằm cách phía nam Tích Lan vài ngàn dặm, trú xứ của những người lùn với chiều cao khoảng ba bộ Anh, có mình người mỏ chim, chỉ ăn dừa mà thôi—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is described as “an island several thousand miles south of Ceylon, inhabited by dwarfs 3 feet high, who have human bodies with beaks like birds, and live upon coco-nuts.
na ma
Naman (skt)—Tên—A name.
na mô
Namah (skt)—Quy-y.
na mô hát la đát na đa la dạ da
Namo Ratnatrayàya (S). Homage to the Triple Jewels.
na nhân
(那人) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Người ấy, chỉ cho người đã triệt để đại ngộ. Tắc 49 trong Thung dung lục (Đại 48, 258 thượng) nói: Phổ hóa thì nhào lộn, Long nha chỉ lộ nửa mình, rốt cuộc người ấy (na nhân) là người thế nào?
na nhất bảo
(那一寶) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một cái quí báu, ví dụ Phật tính. Những từ ngữ cùng loại còn có: Na nhất cú (1 câu), chỉ cho lời nói của Phật tổ, Na nhất khúc (1 khúc nhạc hay), ví dụ tông phong của Phật tổ. Phổ tế thiền sư ngữ lục quyển thượng (Đại 82, 502 thượng) nói: Một khúc nhạc mới (na nhất khúc), điệu cao thấu đại thiên.
na nhất quyết
(那一橛) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là khi tiếp hóa người học, bậc thầy dùng cơ pháp linh hoạt, thích hợp đánh trúng vào điểm hiểm yếu của người học, khiến những nghi ngờ chấp trước chất chứa từ lâu, phút chốc tiêu tan. Quyết, vốn là cái then bằng gỗ để chốt cửa, trong Thiền lâm, từ ngữ Na nhất quyết được chuyển dụng để chỉ cho ý nghĩa điểm then chốt, chỗ hiểm yếu. Phần Giáp chú tắc 40 trong Bích nham lục (Đại 48, 154 hạ) nói: Đức sơn, Lâm tế cũng phải thoái lui, vậy chỗ then chốt(na nhất quyết) thì hiểu thế nào?
na nhất thủ
(那一手) Cũng gọi Na nhất trước. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Mưu lược hoặc thủ đoạn, phương pháp đặc biệt. Nhất thủ là 1 nước cờ.
na ná
Similar—Analogous.
na rô lục pháp
Nāro chodrug (T).
na tha
Nada (S). A river.
na tiên
Nagasena (S) The instructor of the king in Milindapanha.
; (那先) Phạm, Pàli: Nagasena. Cũng gọi Na già tư na, Na già tê na. Hán dịch: Long quân. Cao tăng Ấn độ sống vào hậu bán thế kỉ II trước Tây lịch. Sư là con của 1 người Bà la môn ở thôn Cát thằng yết la (Phạm: Kajaígala) dưới chân núi Tuyết, Trung Ấn độ. Na, nói đủ là Na già (Phạm: Nàga), nghĩa là voi. Khi sư sinh ra thì voi mẹ trong nhà cùng đẻ voi con, cho nên đặt tên sư là Voi. Ban đầu, sư học kinh Phệ đà, vì cảm thấy không thỏa mãn với giáo học của Bà la môn giáo, sư bèn đến tôn giả Lâu hán (Pàli: Rohaịa) xin xuất gia, tu học tạng Luận và 7 bộ A tì đàm, chứng được quả A la hán. Sau, sư đến nước Xá kiệt (Phạm: Sàgala) Bắc Ấn độ, ở tại chùa Tiết để ca, nghị luận với vua Di lan đà (Pàli: Milinda), dùng sự quan hệ giữa các bộ phận của cái xe như trục xe, vành xe, nan hoa xe, thùng xe v.v... làm ví dụ để thuyết minh giáo nghĩa của Phật giáo về lí vô ngã, vô thường của kiếp người và về sự báo ứng của thiện và ác. Vua Di lan đà rất tin và kính phục, sau đó vua qui y Phật giáo. Sự kiện này được ghi trong kinh Di lan đà vương vấn, Hán dịch là kinh Na tiên tỉ khưu. Tư tưởng của ngài Na tiên không ra ngoài phạm trù của Phật giáo Tiểu thừa, là đầu mối của tư tưởng Thuyết nhất thiết hữu bộ, cho nên là tư liệu quan trọng về mặt lịch sử phát triển giáo lí của Phật giáo nguyên thủy. Theo kinh Na tiên tỉ khưu tiếng Pàli, thì ngài Na tiên ra đời khoảng 500 năm sau đức Phật nhập diệt, nhưng vua Di lan đà tức là vua Menandros của Hi lạp; như vậy thì niên đại ra đời của ngài Na tiên phải là giữa thế kỉ II trước Tây lịch. Lại nữa, trong 16 vị La hán có 1 vị tên là Na già tê na, chưa biết vị này có phải là ngài hay không. Ngoài ra, trong số các vị Luận sư của Đại thừa cũng có 1 vị tên là Long quân, gọi là Tam thân luận chủ. [X. kinh Tạp bảo tạng Q.9; luận Câu xá Q.30; Giải thâm mật kinh sớ Q.1; Đại thừa a tì đạt ma tạp tập luận thuật kí Q.1 (Khuy cơ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1]. (xt. Na Tiên Tỉ Khưu Kinh).
na tiên tỉ khâu kinh
(那先比丘經) Pàli: Milindapaĩhà. Hán dịch: Di lan đà vương vấn kinh. Gọi tắt: Na tiên kinh. Kinh, 2 quyển (hoặc 3 quyển), được dịch vào khoảng đời Đông Tấn, nhưng không rõ tên dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Kinh này ghi lại quá trình luận nạn giữa ngài Na tiên, vị tỉ khưu Phật giáo người Ấn độ, và vua nước Đại hạ (Bactra) là Di lan đa la tư (Menandros, Phạm, Pàli: Milinda, tức Di lan đà), người Hi lạp, cai trị miền Bắc Ấn độ thời bấy giờ (hậu bán thế kỉ II trước Tây lịch). Nội dung kinh này chú trọng thuyết minh về giáo nghĩa cơ bản của Phật giáo như: Duyên khởi, Vô ngã, Nghiệp báo, Luân hồi v.v...; chia làm 3 phần: Phần tựa, chính văn và kết luận. Phần tựa, đầu tiên nói về đời trước của tỉ khưu Na tiên, kế đến nói về cuộc đời của vua Di lan đà, nhân duyên từ khi ngài Na tiên ra đời đến khi đắc đạo, việc vua Di lan đà thưa hỏi ngài Na tiên cho đến việc nghinh thỉnh ngài Na tiên vào cung để luận nạn... Phần chính văn là trọng tâm của kinh này, trình bày về cuộc vấn đáp giữa vua Di lan đà và ngài Na tiên về giáo lí Phật giáo và các việc có liên quan. Phần kết luận cho biết cuộc vấn đáp kéo dài đến nửa đêm, vua cúng dường và tiễn đưa ngài Na tiên, đồng thời bày tỏ ý nguyện muốn xuất gia và ngài Na tiên rất cảm kích. Kinh này mới chỉ đề cập giáo lí Tiểu thừa, chứ chưa nói đến Đại thừa, lời văn lưu loát, ngắn gọn và trong sáng, trình bày tất cả 50 điều về giáo nghĩa Phật giáo như đạo Nê hoàn, sự tái sinh, việc thiện v.v... Trong lịch sử văn học của Phật giáo, kinh này chiếm 1 địa vị quan trọng. Kinh này có 2 loại bản: Bản 2 quyển và bản 3 quyển. Trong các tạng Kinh, tạng Cao li thu bản 2 quyển, còn các tạng Tống, Nguyên, Minh thì thu bản 3 quyển. Giữa các bản này có rất nhiều chỗ khác nhau về câu, chữ. Đại tạng kinh thu nhỏ và Đại chính tạng thì thu chép cả 2 loại bản này. Kinh Di lan đà vương vấn bản Pàli, chưa được đưa vào Tam tạng Nam truyền, đây là bản kinh Pàli quan trọng nằm ngoài Tam tạng và có nhiều bản chép tay. Cứ theo bản dịch tiếng Anh (The Questions of King Milinda, S.B.E. 35,36; 1890-1894) của ông Rhys Davids, học giả người Anh, thì bản Pàli chia làm 7 thiên: Thế tục cố sự (Bàhira-Kathà), Pháp tướng chất nghi (Lakkhaịa-paĩha), Đoạn hoặc chất nghi (Vimaticchedana-paĩha), Mâu thuẫn chất nghi (Meịđaka-paĩha), Suy luận chất nghi (Anumàna-paĩha), Đầu đà hạnh (Dhutaíga) và Thí dụ thuyết chất nghi (Opammakathà-paĩha), gồm 22 chương, 236 điều vấn đáp, trong đó, 3 thiên trước tương đương với bản dịch tiếng Hán, có thể được xem là phần chính thức của kinh này, còn từ thiên thứ 4 trở xuống có lẽ đã do người đời sau thêm vào. Về phương diện kết cấu thì bản Pàli và bản Hán dịch giống nhau, nhưng riêng phần Tựa thì có nhiều chỗ bất đồng. Về việc biên tập, theo bà Rhys Davids, thì kinh này (tức 3 thiên trước) được hình thành là do Bà la môn Ma na ngõa (Pàli: Màịava) ghi chép lại bằng tiếng Phạm vào thời vua Đới áo ni tây âu tư (Dionysios) ở ngôi, người thừa kế vua Di lan đà, về sau, được dịch ra tiếngPàli. Từ bảnPàli, sau này lần lượt được dịch sang các thứ tiếng Tích lan, Anh, Nhật, Pháp, Đức, Ý, v.v... [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4, Pháp kinh lục Q.3; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.7; Khai nguyên thích giáo lục Q.3; Geochichte der indischen Listeratur, Bd, II (M.Winternitz); Early History of India (V.A. Smith)].
na tiên tỉ khưu kinh
Milindapanha (S). The questions of King Milinda.
na tiên tỳ kheo
Nāgasena (S, P)Na già tê na; La ca nạp; Nạp A Cát Tắc Nạp, Long Quân1- Một trong 16 vị A la hán vâng lời Phật dạy trụ ở thế gian giữ gìn chánh pháp. 2- Na Tiên Tỳ kheo còn là tên một nhân vật trong kinh Na Tiên Tỳ kheo Kinh do Ngài Long Thọ Bồ tát soạn.
; Bhiksu Nagasena—Tỳ Kheo Na Tiên—Một vị Tăng nổi tiếng người Ấn vào thế kỷ thứ hai trước Tây Lịch. Theo Na Tiên Tỳ Kheo Kinh (hay Di Lan Đà Vấn Kinh), Na Tiên sanh ra trong một gia đình Bà La Môn, tại Kajangala, một thành phố nhiều người biết đến bên cạnh dãy Hy Mã Lạp Sơn. Cha ông là một người Bà La Môn tên Sonutttara. Khi Na Tiên đã học hành thông thạo ba kinh Vệ Đà, lich sử cũng như các môn khác thì ông nghiên cứu Phật giáo và xuất gia theo đạo Phật. Thoạt tiên ông học với trưởng lão Rohana, kế tiếp với trưởng lão Assagutta ở Vattaniya. Sau đó ông được gửi đến thành Hoa Thị, nay là Patna để nghiên cứu về giáo lý của đạo Phật. Sau đó ông gặp vua Milinda tại tu viện Sankheyya ở Sagala. Ông là một luận sư rất nổi tiếng. Chính ông đã biện luận với vua Hy Lạp là Di Lan Đà và độ cho vị vua nầy trở thành Phật tử. Đây là cuộc tranh luận nổi tiếng và được biết như là một điển hình về những cuộc gặp gỡ sớm nhất giữa nền văn minh Hy Lạp và Phật giáo. Theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo thì các tài liệu Pali còn lưu lại cho thấy cuốn Di Lan Đà Vấn Đạo có lẽ được đại trưởng lão Na Tiên biên soạn, được xem là cuốn sách đáng tin cậy—Nagasena, a famous Indian monk of the second century B.C. According to the Milidapanha Sutra (The Questions of King Milinda), he was born to a Brahman family, in a city called Kajangala, a well-known town near the Himalayas, on the eastern border of the Middle country, and his father was a Brahmin called Sonuttara. When Nagasena was well-versed in the study of the three Vedas, history and other subjects, he studied the Buddha's doctrine and entered the Buddhist Order. First, he studied the Buddha's doctrine with the Elder Rohana. Later he studied under the Elder Assagutta of Vattaniya. Afterwards he was sent to Pataliputra, now Patna where he made a special study of the Buddha's doctrine. Then he stayed at Sankheyya monastery, where he met king Milinda. He debated on various subjects with the Greek King Menander, who ruled in northern India and is said to have been converted by Nagasena. This debate is famous as an example of the earliest encounters between Greek civilization and Buddhism. According to Prof. Bapat in The Twenty-Five Hundred Years Of Buddhism, after the Pali scriptures, the Questions of King Milinda (Milinda-panha) supposed to have been compiled by Mahathera Nagasena, is considered almost as authoritative a text—See Di Lan Đà Vấn Đạo.
na tiên tỳ kheo kinh
Milindapaha (S)Mi Lan Đa vấn đápTên một bộ kinh.
na tra
Nata (skt)—Thái tử con trai của Tỳ Sa Môn Thiên Vương, một Quỷ Vương hùng tráng, ba mặt, tám tay—A powerful demon king, said to be the eldest son of Vaisravana, and represented with three faces, eight arms.
na tra thái tử
Nalakuvara (S), Nalakubāla (P).
na trá thái tử
(那吒太子) Phạm: Nalakùvara hoặc Nalakùbala. Cũng gọi Na tra thiên vương, Na noa thiên, Na la cưu bà, Na tra củ miệt la, Na la cưu bát la, Na tra cưu bạt la, Na tra câu phạt la. Vị thiện thần thủ hộ Phật pháp, bảo vệ đất nước và che chở quốc vương, là 1 trong 5 vị Thái tử của vua Tì sa môn thiên. Thái tử Na tra tay cầm cây kích, quan sát 4 phương, ngày đêm bảo vệ quốc vương, đại thần, quan lại, cho đến tỉ khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di, nếu có người nào khởi tâm ác giết hại họ thì sẽ bị Na tra dùng gậy kim cương đánh lên đầu hoặc đâm vào tim. Na tra từng lóc thịt trả lại cho mẹ, chẻ xương trả lại cho cha, sau đó hiện thân như cũ, vận đại thần thông thuyết pháp độ cha mẹ, có lần Na tra trao răng Phật cho Luật sư Đạo tuyên và theo hầu ngài. [X. phần Tối thượng thành tựu nghi quĩ trong kinh Tối thượng bí mật na noa thiên Q.thượng; Bắc phương tì sa môn thiên vương tùy quân hộ pháp nghi quĩ; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.16; Tổ đình sự uyển Q.6; truyện ngài Đạo tuyên trong Tống cao tăng truyện Q.14; điều Tây thiên Đông độ ứng hóa thánh hiền trong Ngũ đăng hội nguyên Q.2].
na trá tích cốt hoàn phụ
(那咤析骨還父) Tên công án trong Thiền tông. Na tra chẻ xương trả lại cha. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Đầu tử Đại đồng và một vị tăng. Chương Đầu tử Đại đồng trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 5 (Vạn tục 138, 95 hạ) chép: Hỏi: Na tra chẻ xương trả lại cha, lóc thịt trả lại mẹ, vậy thế nào là thân bản lai của Na tra? Sư liền buông cây phất trần xuống đất.
na tà tỳ đát đa luận
Nāya-vistara (S)Vệ đà.
na tây khắc
(那西克) Một đô thị ở miền Tây Ấn độ, nằm bên bờ sông Ca đạt duy lợi (Phạm: Godàvarì) thuộc cao nguyên Đức can (Decan). Nơi này là Thánh địa của Ấn độ giáo, đối lại với Ba la nại (Phạm: Vàràịasì) ở bên bờ sông Hằng, Na tây khắc (Nàsik) được gọi là Tây ba la nại. Vào khoảng thế kỉ I Tây lịch, vùng này đã xảy ra cuộc tranh giành giữa vương quốc Án đà la và chủng tộc Khố hạ cáp lạp đạt (Phạm: Kwaharàta). Về mạn tây nam Na tây khắc, cách quốc lộ Bombay khoảng 1 cây số, có 24 chỗ hang đá của Phật giáo (được khai tạo từ thế kỉ I tr.TL. đến thế kỉ II sau TL.), trong đó có nhiều bia đá. Căn cứ vào văn bia cho biết thì 1 số hang động ở đây được cúng dường cho tăng đoàn của Phật giáo Bộ phái. Đối với lịch sử mĩ thuật, những tác phẩm điêu khắc ở đây có giá trị rất cao. [X. Histoire du Bouddhisme Indien, 1958, par E.Lamotte].
na yết la hát la
Nagarahara or Nagara (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, đây là tên của một vương quốc cổ, nằm trên bờ nam sông Cabool, khoảng 30 dặm về phía Tây của Jellalabad—According to The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is the name of an ancient kingdom on the southern bank of the Cabool River, about 30 miles west of Jellalabad.
na yết la hạt quốc
(那揭羅曷國) Na yết la hạt, Phạm: Nagarahàra. Cũng gọi Na càn ha la quốc, Na già la hạt quốc, Na ca la ha quốc, Na kiệt quốc. Tên 1 nước thời xưa ở Ấn độ. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2, thì nước này chiều dài hơn 600 dặm, chiều rộng hơn 250 dặm, 4 phía đều là núi. Nước có đô thành lớn, nhưng không có vua, lệ thuộc nước Ca tất thí; sản vật dồi dào, nhân dân đông đúc, sùng kính Phật pháp, già lam tuy nhiều nhưng tăng đồ thì ít, có 5 ngôi đền thờ trời với hơn 100 người thuộc các đạo khác nhau. Chỗ cách đô thành về phía đông khoảng 2 dặm, có tòa tháp do vua A dục xây dựng, tháp cao hơn 300 thước, tương truyền là nơi đức Thích tôn được Phật Nhiên đăng thụ kí khi Ngài còn ở địa vị tu nhân. Phía đông nam đô thành có thành Hê la, trong đó có 7 tòa bảo tháp, thờ xương sọ của đức Phật. Vị trí nước này xưa kia ở vào khoảng lưu vực sông Kabul tại vùng Đông bắc nước Afghanistan hiện nay, nơi đây vẫn còn tàn tích của những ngôi tháp cổ. [X. Cao tăng pháp hiển truyện; Lạc dương già lam kí Q.5; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.2; Thích ca phương chí Q.thượng; The Ancient Geograghy of India by A. Cunningham].
na đề
Nadi (S) River, torrent.
; 1) Nadi (skt)—Sông—Thác—River—Torrent. 2) Punyopaya (skt)—Bố Như Na Đề, một vị Tăng nổi tiếng miền Trung Ấn—A noted monk of central India.
; (那提) Phạm: Nadì. Gọi đủ: Bố như ô phạt tà (Phạm: Puịyopaja) Hán dịch: Phúc sinh. Cao tăng người Trung Ấn độ (có thuyết nói là người Bắc Thiên trúc), sống vào thế kỉ VII, tương truyền là đệ tử của bồ tát Long thụ. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, nhờ được các bậc thầy danh tiếng chỉ dạy mà khai ngộ. Sư có chí viễn du, từng đến đảo Tích lan và các nước vùng Nam hải để hoằng đạo; nghe Phật pháp ở Trung quốc hưng thịnh, sư liền sưu tập hơn 1.500 bộ kinh luật luận Đại, Tiểu thừa mang đến Trường an vào năm Vĩnh huy thứ 6 (655) đời vua Cao tông nhà Đường, được vua ban sắc trụ tại chùa Đại từ ân. Ở đây, sư dịch được 3 bộ kinh là: Kinh Sư tử trang nghiêm vương bồ tát thỉnh vấn, kinh Li cấu tuệ bồ tát sở vấn lễ Phật pháp và kinh A tra na trí thú. Năm Long sóc thứ 3 (663), theo lời thỉnh của vua nước Chân lạp (Cao miên), sư bèn đến đó hoằng pháp và không trở lại Trung quốc nữa. Sư có tác phẩm: Luận Đại thừa tập nghĩa hơn 40 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.4; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.9].
na đề ca diếp
Nadī-Kāśyapa (S)Tên một vị đệ tử của đức Phật. Một trong 3 anh em nhà Ca Diếp: Uruvilva Kasyapa, Gaya Kacyapa, Nadi Kacyapa.
; Nadi-Kasyapa (S). Name.
; Nadikasyapa (skt)—Nại Địa (Đề) Ca Diếp Ba—Em trai của Đại Ca Diếp, sau thành Phật Phổ Minh Như Lai—Brother of Mahakasyapa, to become Samantaprabhasa Buddha.
; (那提迦葉) Phạm: Nadì-Kàzyapa. Pàli: Nadì-Kassapa. Cũng gọi Nan đề ca diếp, Nẵng đề ca diếp, Nại địa ca diếp ba. Gọi tắt: Na đề, Hán dịch: Giang, Hà, Trị hằng. Đệ tử của đức Phật, là em của ngài Ưu lâu tần loa ca diếp và là anh của ngài Già da ca diếp. Ban đầu, ngài là ngoại đạo thờ lửa, thống lãnh 300 đệ tử tu ở vùng hạ lưu sông Ni liên thiền (Phạm:Nairaĩjanà). Bấy giờ, đức Phật đã thành đạo, du hóa đến rừng Khổ hạnh, độ ngài Ưu lâu tần loa ca diếp, ngài Na đề ca diếp hay tin, liền cùng với ngài Già da ca diếp dẫn hết đệ tử đến qui y đức Phật. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.15; kinh Phật bản hạnh tập Q.40; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.4; Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.7; Đại đường tây vực kí Q.8; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26]. (xt. Tam Ca Diếp).
na đề quốc
(那提國) Tên một nước thời xưa ở Ấn độ. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 2, thì vua nước Na đề là Sô ni, được đức Phật tiên đoán đời sau sẽ là em của ngài Bà tu bàn đầu (Tổ thứ 21 của Thiền tông Ấn độ). Còn 1 thuyết khác thì cho rằng, sau khi đắc pháp, ngài Bà tu bàn đầu du hành đến nước Na đề, truyền pháp hóa độ Ma noa la, người con thứ 2 của Thường tự tại, vua nước Na đề. Như vậy, ngài Ma noa la là Tổ phó pháp thứ 22.
na-do-tha
con số đo lường rất lớn, có nơi nói là một vạn ức, lại có nơi nói là một ngàn ức, hoặc một ngàn vạn ức, nên hiểu đây là sự tượng trưng cho một con số rất lớn.
na-già
xem long tượng.
na-la-diên
phiên âm từ Phạn ngữ là nryaṇa, tên gọi vị lực sĩ ở cõi trời.
Na-lan-đà
那爛陀; S: nālandā;|Viện Phật học danh tiếng của Ấn Ðộ, được vua Thước-ca-la Dật-đa (s: śakrāditya) thành lập trong thế kỉ thứ hai, một nhà vua nước Ma-kiệt-đà. Dần dần Na-lan-đà trở thành nơi của các luận sư nổi tiếng của Trung quán tông và Duy thức tông giảng dạy. Các vị này đều lần lượt làm viện trưởng. Na-lan-đà lúc đông nhất có đến mười ngàn học viên. Các khách phương xa như Huyền Trang, Pháp Hiển, Nghĩa Tịnh đều ghé nơi đây tu học. Na-lan-đà là nơi giáo hoá của đạo Phật, hưng thịnh được 1000 năm. Tại Tây Tạng, một học viện cũng được đặt tên là Na-lan-đà và được xây dựng năm 1351. |Theo Huyền Trang và Nghĩa Tịnh thì trong thời cực thịnh có đến 10 000 tăng sĩ học tại Na-lan-đà. Các vị đó học giáo pháp Tiểu thừa, Ðại thừa, Nhân minh học, toán học, y khoa. Những vị giảng sư danh tiếng đã từng dạy đây là Long Thụ (s: nāgārjuna), Hộ Pháp (s: dharmapāla), Trần-na (s: dignāga), Giới Hiền (s: śīlabhadra), Huyền Trang, An Huệ (sthiramati) giảng dạy. Tương truyền Na-lan-đà bị tín đồ của Hồi giáo phá huỷ trong thế kỉ 12, 13.
na-lan-đà
Nālandā (S)La trường Đại học Phật giáo ở bắc Ấn độ, được Shakraditya, vua xứ Ma-kiệt-đà, xây dựng từ thế kỷ thứ 2 làm tu viện để giảng dạy Tiểu thừa, Đại thừa, Trung luận, toán học, y học,etc... Tu viện bị người Hồi giáo tàn phá vào thế kỷ 12 và 13.
Na-li-na-pa
S: nalinapa; »Hoàng tử tự lực cánh sinh«; |Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời đại nào.|Ông là một hoàng tử nhưng sống trong sự nghèo nàn ở Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra). Lần nọ ông gặp một vị Du-già sư, xin vị đó chỉ cho con đường thoát khỏi Sinh tử. Vị đó cho ông vào Man-đa-la của Bí mật tập hội (s: guhyasamāja), dạy »quán chính thân mình« như sau:|Quán trên đỉnh đầu mình,|là âm HAṂ sắc trắng,|của Ðại lạc tuyệt đối.|Quán nơi lỗ rốn mình,|là âm BAṂ sắc đỏ,|nó như ngọn lửa cháy,|và hồ tan với HAṂ.|Rồi dần dần cả bốn|mức Lạc sẽ dâng trào:|một là thứ Lạc thụ,|sau đó đến Ðại lạc,|ba là Lạc xả bỏ,|cuối: Lạc uyên nguyên.|Thế mà rời Sinh tử,|đạt Ðại lạc thuần tuý,|của đạo vị giải thoát.|Na-li-na-pa thiền quán như thế và bốn mức Ðại lạc xuất phát từ bốn trung tâm trong người dâng lên, giải thoát ảo giác của Sinh tử, như hoa sen nở trên bùn mà không lấm mùi bùn. Sau chín năm thiền định, ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Chứng đạo ca của ông như sau:|Trên đỉnh đầu của đoá|hoa sen mọc trong bùn,|đã có mầm Lạc thụ.|Nơi cổ họng: Ðại lạc,|Nơi tim: Lạc xả bỏ,|Lỗ rốn: Lạc uyên nguyên.|Ðó là chứng vô thượng.
Na-rô lục pháp
T: nāro chodrug [nāro chos-drug]; cũng được gọi là Na-lạc du-già tốc đạo; »Sáu giáo pháp của Na-rô-pa (t: nāropa);|một loạt giáo pháp Tây Tạng thuộc Kim cương thừa, xuất phát từ các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) do Ðại sư Na-rô-pa truyền dạy. Na-rô-pa lại được Tai-lô-pa (tilopa) chân truyền. Na-rô-pa truyền lại cho Mã-nhĩ-ba (t: marpa), người đưa giáo pháp này qua Tây tạng trong thế kỉ 11. Song song với Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā), Na-rô lục pháp là phương pháp thiền định quan trọng nhất của trường phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa). |Sáu giáo pháp này gồm có:|1. Tạo Nội nhiệt (t: tumo; s: caṇḍa, caṇḍalī); |2. Quán huyễn thân (t: gyulu [sGyu lus]; s: mayākāyā, mahādeha), thấy thân này là giả tạo. Trong Kim cương thừa, huyễn thân này là một thân thanh nhẹ, cao hơn thân do Ngũ uẩn tạo thành, nhưng luôn luôn hiện diện trong đó. Quán huyễn thân cũng được hiểu là một phép tu Tan-tra nhằm thanh lọc thân thể thông thường để đạt Phật quả;|3. Quán giấc mộng (t: milam [rMi lam]; s: svapna-darśana). Theo cách tu này, giấc mộng cũng là một phương tiện để phát triển tâm thức. Một mặt, hành giả chủ động tạo tác giấc mộng của mình, mặt khác hành giả xem cuộc sống bình thường cũng chỉ là một giấc mộng;|4. Quán Cực quang (t: osel ['od-gsal]; s: ā-bhāsvara). Cực quang ở đây có nhiều nghĩa: 1. Ánh sáng của tâm thức sáng rực mà hành giả cần quán thấy bên cạnh tính Không (s: śūnyatā). Phép quán này là mục đích quan trọng nhất của giáo pháp Tan-tra (Ðại thủ ấn; s: mahāmudrā; Ðại cứu kính), 2. Phép quán, trong đó ánh sáng vô lượng của tâm thức tự chói rực, »như ngọn đèn vừa tự chiếu sáng mình vừa chiếu sáng các vật chung quanh« (theo Giuseppe Tucci);|5. Quán thân Trung hữu (t: bardo; s: an-tarābhava);|6. Chuyển thức (t: phowa; s: saṃkrānti); là phép tu trong lúc Cận tử, chuyển hoá tâm thức mình vào một Tịnh độ, thí dụ cõi của Phật A-di-đà. Hành giả Tây Tạng theo phép tu này đã tập luyện và chuẩn bị trong lúc còn sống, phần lớn họ đọc tụng một số thần chú và thiền theo các Nghi quỹ (s: sādhana). Tại phương Tây phép tu này được giáo phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) phổ biến.|Các phép tu này có nhiều điểm giống với các phép được mô tả trong Tử thư (t: bardo thodol). Người ta còn nhắc rằng Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) là người rất giỏi phép sử dụng nội nhiệt.|Na-rô lục pháp này xuất phát từ nhiều Tan-tra khác nhau và được các vị Ðạo sư khác nhau truyền lại. Theo một tác phẩm của Tai-lô-pa thì phép quán huyễn thân và cực quang là do Long Thụ (Long Thụ theo truyền thống Ma-ha Tất-đạt) khởi truyền. Phép nội nhiệt được xem là từ Cha-ya-pa (car-yapa), phép quán giấc mộng từ La-va-pa (lavapa), phép quán thân trung hữu và chuyển thức từ Pu-ka Tất-địa (pukasiddhi) khởi phát.|Hành giả chuyên trách tu tập sáu phép này dựa trên cách tận dụng thân xác vi tế của mình, sẽ đạt nhiều Thần thông (xem Tất-địa). Ðó là cách đưa thân vào trong các tầng phát triển của tâm và theo truyền thuyết Tây Tạng, năng lượng trong thân được vận dụng dưới ba dạng như sau: luồng năng lượng (t: lung) tác động lên các bộ phận trong thân thể, đạo quản năng lượng (tsa) là các kênh dẫn năng lượng luân lưu và cuối cùng là tiềm năng lượng (thig-le) là gốc chứa hệ thống năng lượng đó. Với các phép tu của Na-rô lục pháp mà những năng lượng này được kích động, được dùng như phương tiện đạt giác ngộ. Mục đích của tất cả những phép tu đó là thống nhất tính Không (s: śūnyatā) và các thụ tưởng của hành giả. Mật-lặc Nhật-ba có bài kệ »sáu hỉ lạc« sau đây về kinh nghiệm giác ngộ này:|Lửa của nội nhiệt tràn đầy khắp người – Hỉ lạc! Chân khí tràn ngập trong ba luồng năng lượng – Hỉ lạc! Luồng từ tâm giác ngộ chảy xuống – Hỉ lạc! Dưới gốc cũng tràn đầy năng lượng – Hỉ lạc! Ở giữa, âm dương hoà hợp – Hỉ lạc! Tràn đầy niềm vui thanh tịnh của thân – Hỉ lạc!
Na-rô-pa
T: nāropa; S: nāḍapāda, nāroṭapa, yaśbhadra; 1016-1100 hay 956-1040, mệnh danh là »Kẻ vô uý«;|Một vị Ðại sư Ấn Ðộ theo truyền thống Tan-tra của 84 vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha). Người truyền Mật giáo cho Sư là Tai-lô-pa (s: tilopa), một những Ma-ha Tất-đạt danh tiếng nhất.|Na-rô-pa được xem là người truyền những giáo pháp Ðại thủ ấn và vì vậy phép tu này được gọi là Na-rô lục pháp, »sáu giáo pháp của Na-rô-pa« (nāro chodrug), được Mã-nhĩ-ba (t: marpa) truyền qua Tây tạng và ngày nay vẫn là một giáo pháp quan trọng của tông phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa). Na-rô-pa đã từng giữ trách nhiệm quan trọng tại viện Phật học Na-lan-đà và sau mới trở thành đệ tử của Tai-lô-pa. Sư sống cùng thời với A-đề-sa.|Sư sinh ra trong một gia đình bán rượu, nhưng lại đi làm nghề đốn củi. Lúc nghe về một vị Du-già sư (yogin) tên Tai-lô-pa (tilopa), Sư liền xin theo học và phục vụ thầy suốt 12 năm không hề than vãn, mặc dù bị thầy đối xử tàn tệ. Lần nọ, Sư chịu phạm tội ăn trộm chỉ để làm vừa lòng thầy. Sau thời gian thử thách này, Tai-lô-pa mới chịu giáo hoá, gọi Sư là »Ðứa con uy tín và trì chí.« Chỉ sáu tháng sau, Sư đắc quả Ðại thủ ấn tất-địa (mahāmudrāsiddhi). Lời dạy cuối cùng của Tai-lô-pa cho Sư là »Không tưởng tượng, không suy ngẫm, không thiền, không tác động, giữ yên tịnh, không bám vào bất cứ đối tượng nào.«||H 44: Na-rô-pa (nāropa)|Na-rô-pa có nhiều môn đệ trở thành những vị Tất-đạt, trong đó có Mã-nhĩ-ba (t: marpa) là người nổi tiếng nhất. Sư cũng có lần giữ một chức giảng dạy trong viện Phật học Siêu Giới (s: vikramaśīla).|Thánh đạo ca của Na-rô-pa có những dòng sau:|Như đội quân đại đế,|chiếm trọn toàn lãnh thổ,|đất liền và biển cả.|Tu sĩ nào biết vị,|của niềm vui tự tại|của tự tính bẩm sinh,|kẻ đó thắng Luân hồi|và thanh tịnh lên ngôi
Na-tiên
那先; S, P: nāgasena; tk. 1, dịch nghĩa là Long Quân;|Cao tăng Phật giáo người Ấn Ðộ. Cuộc nói chuyện của Sư với vua Di-lan-đà về các câu hỏi hóc búa của giáo pháp đạo Phật đã được ghi lại trong tác phẩm Di-lan-đà vấn đạo (p: milindapañha).|Tương truyền rằng, Sư sinh trong một gia đình Bà la môn và năm 15 tuổi đã gia nhập Tăng-già Phật giáo. Sư học giáo pháp ở nhiều nơi, kể cả tại thủ đô Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra) và đạt quả A-la-hán. Sử sách ghi rằng, Sư có trí nhớ phi thường, chỉ cần đọc qua một lần đã thuộc Luận tạng (s: abhi-dharma-piṭaka).
Na-tiên tỉ-khâu kinh
那先比丘經|Di-lan-đà vấn đạo kinh.
nai lưng
To toil—To work hard.
nam
Daksina (S), South, southern, austral
; 1) Daksina (skt)—Phía nam—South. 2) Người nam: Male.
nam ai
Name of a sad piece of music.
nam băng dương
Antarctic Ocean. Thái Bình dương: Pacific Ocean.
nam bản niết bàn kinh
(南本涅槃經) Cũng gọi Đại bát niết bàn kinh. Kinh, 36 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Bộ kinh Niết bàn (40 quyển) do ngài Đàm vô sấm dịch vào thời Bắc Lương, vì lời văn còn sơ sài, phẩm mục lại quá vắn tắt, cho nên đến đời Lưu Tống Nam triều, các ngài Tuệ nghiêm, Tuệ quán và cư sĩ Tạ linh vận mới đối chiếu với bộ kinh Nê hoàn 6 quyển do ngài Pháp hiển dịch, rồi hiệu đính và nhuận sắc lại văn chương, chia thành 25 phẩm, 36 quyển, gọi là Nam bản Niết bàn kinh, còn bản dịch của ngài Đàm vô sấm thì gọi là Bắc bản Niết bàn kinh. [X. truyện ngài Tuệ nghiêm trong Lương cao tăng truyện Q.7]. (xt. Đại Bát Niết Bàn Kinh).
Nam Bắc Triều
(南北朝, Nambokuchō): tại Trung Quốc, dưới thời nhà Đông Tấn (東晉), ở phương Nam có các vương triều hưng vong gồm Tống (宋), Tề (齊), Lương (梁) và Trần (陳); đây gọi là Nam Triều (南朝, 420-589). Về phương Bắc, có các vương triều dị dân tộc cũng liên tiếp hưng vong là Bắc Ngụy (北魏, gồm cả Đông Ngụy và Tây Ngụy), Bắc Tề (北齊), Bắc Chu (北周); và được gọi là Bắc Triều (北朝, 396-581).
nam bộ
Jambudvipa (skt)—See Nam Thiệm Bộ Châu.
Nam Châu
(南洲): tức Diêm Phù Đề (s: Jampudīpa, 閻浮提, hay Nam Thiệm Bộ Châu [南贍部洲]), chỉ nơi chúng ta đang cư trú; là châu lớn nằm ở trong biển mặn thuộc phía Nam Tu Di Sơn (s, p: Sumeru, 須彌山). Như trong Pháp Hoa Kinh Huyền Tán Yếu Tập (法華經玄贊要集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 34, No. 638) quyển 26 có đoạn: “Thử Nam Châu hữu tình hữu tam bất định, nhất vô lượng tuế, nhị vạn tuế, tam thập tuế (此南洲有情有三不定、一無量歲、二萬歲、三十歲, chúng hữu tình của Nam Thiệm Bộ Châu này có ba điều bất định; một là tuổi vô lượng, hai là 10.000 tuổi, ba là 10 tuổi).” Hay trong Tỳ Ni Quan Yếu (毗尼關要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 40, No. 720) quyển 11 lại có đoạn: “Nhược Đông Châu nhật xuất, Bắc Châu nhật trung, Nam Châu bán dạ, Tây Châu nhật một (若東洲日出、北洲日中、南洲半夜、西洲日沒, nếu Đông Châu mặt trời ló dạng, thì Bắc Châu giữa ngày, Nam Châu nữa đêm, Tây Châu mặt trời lặn).”
nam châu
Jambudvipa (skt)—See Nam Thiệm Bộ Châu.
nam châu tứ chủng tối thắng
(南洲四種最勝) Bốn nhân duyên tối thắng mà người sinh ở cõi Nam diêm phù đề có được, đó là: Thấy Phật, nghe pháp, xuất gia và đắc đạo.
nam căn
cơ quan sanh dục nam
; Bộ phận sinh dục nam—The male organ.
; (男根) Phạm: Puruwendriya. Pàli: Purisindriya. Bộ phận sinh dục người đàn ông. Là 1 trong 2 căn, 1 trong 22 căn. [X. luận Câu xá Q.3]. (xt. Nhị Căn).
nam cư sĩ
Xem Ưu bà tắc.
; Laymen
Nam Cực Trường Sanh Đại Đế
(南極長生大帝): còn gọi là Trường Sanh Đại Đế (長生大帝), Nam Cực Trường Sanh Ty Mạng Quân (南極長生司命君), Nam Cực Trường Sanh Đế Quân (南極長生帝君); là một trong Tứ Ngự (四御, tức Bắc Cực Tử Vi Đại Đế [北極紫微大帝], Nam Cực Trường Sanh Đại Đế [南極長生大帝], Thái Cực Thiên Hoàng Đại Đế [太極天皇大帝] và Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế [東極青華大帝]) của Đạo Giáo. Truyền thuyết dân gian cho rằng Đại Đế họ Vương (王), húy Danh Cải Sanh (名改生), tự là Dị Độ (易度). Lúc trời đất đang còn mờ mịt, Trường Sanh Ty Mạng Quân đản sanh ở thành Đông Lâm Quang Xương (東林廣昌), Làng Trường Lạc (長樂鄉). Năm lên 14 tuổi, ông lìa xa cuộc sống thế tục, tâm mến mộ thần tiên; tình cờ gặp được Tiên Sinh Tử Phủ Hoa (紫府華), truyền trao cho phép âm dương bổ dưỡng, giảm tử hoàn sinh, các phép biến hóa thần thông. Nhờ vậy ông hưởng thọ 400 tuổi, thường ẩn cư trong hang núi. Ông còn bái Tiên Sinh Tuân Đồ (詢屠) làm thầy, thọ nhận kim đan luyện kinh, luyện khí bay bổng như mây, pháp thuật hiện trong sương, lặn trong tuyết, v.v. Sau đó, ông lại hành trì kinh 7 năm trong Không Động Sơn (崆峒山) ở Thần Châu (神州), may gặp Thái Ất Chân Nhân (太乙眞人) truyền cho phương thuật luyện đan của Đế Quân. Ngày đản sanh của Trường Sanh Đại Đế là mồng 1 tháng 5 Âm Lịch. Trong Thái Thượng Vô Cực Đại Đạo Tam Thập Lục Bộ Tôn Kinh (太上無極大道三十六部尊經) có câu kính lễ rằng: “Chí tâm quy mạng lễ, Cao Thượng Thần Tiêu Phủ, Ngưng Thần Hoán Chiếu Cung, hội nguyên thỉ bảo khí dĩ phân chơn, ứng diệu đạo hư vô nhi khai hóa, vị hồ Cửu Tiêu chi thượng, thống lý chư thiên, tổng hồ Thập Cực chi trung, tể chế vạn hóa, tuyên Kim Phù nhi thùy quang tế khổ, thí huệ trạch nhi phú dục triệu dân, ân phổ càn nguyên, nhân phu hạo kiếp, Đại Bi Đại Nguyện, Đại Thánh Đại Từ, Ngọc Thanh Chơn Vương, Nam Cực Trường Sanh Đại Đế, Thống Thiên Nguyên Thánh Thiên Tôn (志心皈命禮、高上神霄府、凝神煥照宮、會元始褓氣以分眞、應妙道虛無而開化、位乎九霄之上、統理諸天、總乎十極之中、宰制萬化、宣金符而垂光濟苦、施惠澤而覆育兆民、恩溥乾元、仁敷浩劫、大悲大願、大聖大慈、玉清眞王、南極長生大帝、統天元聖天尊, Một lòng quy mạng lễ, Cao Thượng Thần Tiêu Phủ, Ngưng Thần Hoán Chiếu Cung, gặp ban sơ nuôi khí để phân chơn, ứng đạo mầu hư vô mà khai hóa, địa vị trên chốn Cửu Tiêu, thống lý các Trời, tổng coi hết trong Mười Cực, chúa tể muôn loài, tuyên Kim Phù mà phóng quang cứu khổ, ban ơn huệ để nuôi nấng triệu dân, ơn khắp càn khôn, nhân đức muôn kiếp, Đại Bi Đại Nguyện, Đại Thánh Đại Từ, Ngọc Thanh Chơn Vương, Nam Cực Trường Sanh Đại Đế, Thống Thiên Nguyên Thánh Thiên Tôn).”
nam diêm phù đề
Xem Nam Thiệm Bộ Châu.
; Jambùdvipa (S). One of the 4 continents, that situated south of Mt Meru.
; Jambudvipa (skt)—See Nam Thiệm Bộ Châu.
nam diện
(南面) Tức là xoay mặt về phương Nam. Theo quan niệm của người Trung quốc đời xưa, thì phương Nam biểu thị cho sự tôn quí, cho nên có phong tục, khi người lên ngôi thường xoay mặt về phương Nam mà xưng đế. Có lẽ Phật giáo cũng phỏng theo tập tục này, cho nên khi xây chùa viện thì điện Phật cũng như Pháp đường phần nhiều đều xoay về hướng Nam. Rồi tòa ngồi của tượng Phật và các vị Tổ cũng được thiết trí mặt xoay về hướng Nam.
Nam Dương Huệ Trung
南陽慧忠; C: nányáng huìzhōng; J: nanyo e-chū; 675 (?)-775 (772), còn được gọi là Huệ Trung Quốc sư, Trung Quốc sư;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ xuất sắc nhất, đạt yếu chỉ của Lục tổ Huệ Năng. Sư là vị Thiền sư đầu tiên được ban danh hiệu Quốc sư.|Sư họ Nhiễm, quê ở Chư Kị, Việt Châu. Từ nhỏ, Sư đã có phong cách xuất trần, dáng vẻ đoan trang, da trắng như tuyết. Tương truyền Sư từ nhỏ đến năm 16 tuổi không hề bước qua chiếc cầu ở trước nhà. Một hôm, thấy một vị Thiền sư đi ngang qua, Sư bỗng chạy ra xin xuất gia học đạo. Vị này nhận ra tài năng của Sư liền chỉ đến Lục tổ. Dưới sự hướng dẫn của Lục tổ, Sư đạt tâm ấn và Lục tổ có lời tiên đoán rằng, Sư sẽ là một vị »Phật đứng hiên ngang một mình giữa trời.«|Sau, Sư về cốc Ðảng Tử trên núi Bạch Nhai, Nam Dương. Nơi đây, Sư ẩn cư tu tập 40 năm không hề xuống núi, vì vậy đạo hạnh của Sư vang lừng khắp nơi. Năm 761, vua Ðường Túc Tông thỉnh Sư về kinh đô và tôn làm thầy (lúc này Sư khoảng 85 tuổi). Trong thời gian khoảng 16 năm, Sư tuỳ cơ thuyết pháp, ứng biến cao siêu. Những lời Vấn đáp sau đây nêu rõ phong cách hoằng hoá uy nghiêm của Sư và những quan niệm trung tâm của Thiền tông nói chung.|Một vị tăng đến hỏi Sư: »Thế nào là giải thoát?« Sư đáp: »Các pháp không đến nhau, ngay đó là giải thoát.« Tăng hỏi tiếp: »Thế nào đoạn được?« Sư bảo: »Ðã nói với ngươi các pháp không đến nhau, có cái gì để đoạn!«|Một vị khác hỏi: »Làm thế nào thành Phật?« Sư đáp: »Phật và chúng sinh đồng thời dẹp đi, ngay đó thành Phật!« Hỏi: »Làm thế nào được tương ưng?« Sư: »Không nghĩ thiện ác tự thấy Phật tính.« Hỏi: »Làm sao chứng được Pháp thân?« Sư: »Vượt qua cảnh giới Tì-lô.« (tức cảnh giới Ðại Nhật Phật, tượng trưng cho Pháp thân, Ba thân). Hỏi: »Pháp thân thanh tịnh làm thế nào đạt được?« Sư: »Không chấp Phật để cầu.« Hỏi: »Thế nào là Phật?« Sư: »Tâm tức là Phật.« Hỏi: »Tâm có phiền não chăng?«|Sư: »Tính phiền não tự lìa.« Hỏi: »Không cần phải đoạn trừ sao?« Sư: »Ðoạn phiền não tức gọi Nhị thừa. Phiền não không sinh gọi Ðại Niết-bàn.« Hỏi: »Ngồi thiền quán tịnh là làm gì?« Sư: »Chẳng Cấu chẳng tịnh đâu cần khởi tâm quán tướng tịnh.« Hỏi: »Thiền sư thấy mười phương hư không là Pháp thân chăng?« Sư: »Thấy tâm tưởng nhận, đó là cách thấy điên đảo.« Hỏi: »Tâm tức là Phật, có phải tu vạn hạnh chăng?« Sư: »Chư thánh đều đủ trang nghiêm, đâu có bác không nhân quả.«|Sư ngừng lại đây, bảo: »Nay tôi trả lời các câu hỏi của ông cùng kiếp cũng không hết, nói nhiều cách đạo càng xa. Cho nên nói: ›Thuyết pháp có sở đắc, đó là dã can kêu, thuyết pháp không sở đắc, đó là sư tử hống.‹«|Sư biết duyên sắp đoạn, từ giã vua trở về núi. Ngày mùng chín tháng chạp năm Ðại Lịch thứ 10, Sư nằm nghiêng bên phải nhập Niết-bàn, đệ tử xây tháp cạnh cốc thờ. Vua ban hiệu là Ðại Chứng Thiền sư. Môn đệ của Sư có Thiền sư Ðam Nguyên Ứng Chân và các vị vua Ðường.
nam dương huệ trung
Nan'yō EchŪ (J), Nan-yang Hui-chung (C), Nanyang Huizhong (C), Nan'yo Echu (J)Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Huệ Năng.
; Nan-Yang Hui-Ch'ung 675-775—Nam Dương Huệ Trung là tên của một nhà sư có ảnh hưởng rất lớn với các sư nhà Đường vào khoảng những năm 761 đến 775 sau Tây Lịch. Nam Dương là môn đồ của Lục Tổ Huệ Năng. Người ta kể rằng, đến năm 16 tuổi, Nam Dương không hề nói một lời nào, cũng như không bao giờ băng qua chiếc cầu trước nhà. Một hôm, có một thiền sư vừa qua cầu trước ngõ, ông vội vàng bước qua cầu để gặp thầy và xin được làm đệ tử. Thấy được tài năng của chàng thiếu niên, thầy bèn phái chàng đến gặp Lục Tổ Huệ Năng. Lục Tổ tiên đoán Huệ Trung sẽ là một vị Phật độc nhất trên thế giới, nên nhận làm đệ tử và kế thừa Pháp của Ngài—Nan-Yang, a noted monk who had influence with the T'ang emperors from 761 to 775 A.D. Nan-Yang Hui-Ch'ung, an early Chinese Ch'an master, a disciple and Dharma successor of Hui-Neng. It is said that he did not speak a single word till the age of sixteen and would never cross the bridge in front of his parents' house. One day a Ch'an master was approaching the house, he ran over the bridge to the master and requested him to accept him as a disciple. The master, who recognized the boy's great potential, sent him to the monastery of Hui-Neng. Hui-Neng told him that he would be a “Buddha standing alone in the world,” accepted him as a student and later confirmed him as his Dharma successor. ** For more information, please see Huệ Trung Thiền Sư.
Nam Dương Hòa Thượng Vấn Đáp Tạp Chưng Nghĩa
(南陽和尚問答雜徴義, Nanyōoshōmondōzacchōgi): 1 quyển, do Hà Trạch Thần Hội (荷澤神會) soạn, thư tịch lưu truyền dưới hình thức cổ điển, được gọi là Thần Hội Ngữ Lục (神會語錄). Bản có tiêu đề là bản Đôn Hoàng S6557, đầu sách có lời tựa của biên giả Lưu Trừng (劉澄). Nó được thâu lục vào trong bản Nhập Đường Tân Cầu Thánh Giáo Mục Lục (入唐新求聖敎目錄) của Viên Nhân (圓仁). Tả bản của Thần Hội Ngữ Lục có bản Đôn Hoàng S6557 và Cựu Thạch Tỉnh Quang Hùng Sở Tàng Bản (舊石井光雄所藏本), thêm bản này vào nữa ta có 3 bản. Về mặt nội dung, cả 3 bản đều có khác nhau, nhưng trong số đó bản này được xem như thuộc thời kỳ đầu tiên nhất.
Nam Dương Hòa Thượng Đốn Giáo Giải Thoát Thiền Môn Trực Liễu Tánh Đàn Ngữ
(南陽和上頓敎解脫禪門直了性壇語, Nanyōwajōtonkyōgedatsuzemmonjikiryōshōdango): 1 quyển, do Hà Trạch Thần Hội (荷澤神會) soạn, gọi tắt là Đàn Ngữ (壇語). Đây là ký lục thuyết pháp của Thần Hội tại giới đàn cho chúng đạo tục ở Long Hưng Tự (龍興寺) vùng Nam Dương (南陽) từ năm thứ 6 (718) niên hiệu Khai Nguyên (開元) trở đi. Nó thể hiện tư tưởng thời kỳ đầu của Thần Hội và có mối quan hệ mật thiết với Lục Tổ Đàn Kinh (六祖壇經). Bản Đôn Hoàng có ký số S2492, S7977, P2045, Bắc Kinh Bản Hàn Tự (北京本寒字) 81, Tàng Bản của Nhiệm Tử Nghi (任子宜).
nam dương tịnh bình
(南陽淨瓶) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Nam dương Tuệ trung và 1 vị tăng. Một hôm, có vị tăng hỏi ngài Nam dương Tuệ trung rằng (Đại 48, 254 trung): –Thế nào là bản thân Lô xá na? Ngài Nam dương đáp: Đem tịnh bình đến đây cho ta! Vị tăng đem tịnh bình đến, ngài Nam dương bảo: –Hãy đem để lại chỗ cũ! Vị tăng lại hỏi: Thế nào là bản thân Lô xá na? Ngài Nam dương đáp: Phật xưa qua đã lâu rồi!.
nam hoa chân nhân
Nan-hua Chen-jen (C).
nam hoa chơn kinh
Nan-hua chen-ching (C)Tác phẩm do Trang Tử biên soạn.
nam hoa cổ tự
(南華古寺) Chùa ở núi Nam hoa (cũng gọi núi Lục tổ, núi Bảo lâm, núi Nghi phụng), cách huyện Khúc giang, tỉnh Quảng đông về phía nam khoảng 35 cây số, do Tam tạng Trí dược, 1 vị tăng Thiên trúc, sáng lập vào niên hiệu Thiên giám năm đầu (502) đời vua Vũ đế nhà Lương, đặt tên là Bảo lâm tự. Vào đầu năm Khai nguyên (713-741) đời Đường, chùa được xây dựng rộng thêm, vua ban tên là Trung hưng tự, Pháp tuyền tự. Đến đời Tống, vua Thái tổ mới ban sắc đặt tên là Nam hoa tự. Vì Lục tổ Tuệ năng của Thiền tông trụ trì chùa này phát triển Thiền Nam tông, nên chùa được tín đồ gọi là Tổ đình. Hiện nay trong chùa vẫn còn giữ gìn được nhục thân của đức Lục tổ và các di vật như ca sa Thiên Phật đời Đường, bình bát, guốc, đá đeo ở lưng (khi giã gạo), tích trượng sắt... tất cả đã trở thành những báu vật của Thiền tông. Trong chùa cũng có vô số tấm đá khắc. Trong lầu chuông có quả chuông được đúc vào đời Tống, bằng đồng đỏ nặng 6.000 cân, sớm chiều chuông được dóng lên, tiếng vang xa đến mười mấy dặm, nên tiếng chuông chiều chùa Nam hoa đã trở nên nổi tiếng. Ở phía bắc chùa có tảng đá để lễ lạy gọi là Bái thạch, trên đá này còn in rõ vết đầu gối. Tương truyền đây là tấm đá mà Lục tổ thường quì lễ Phật. Đại hùng bảo điện rất rực rỡ chói lọi, kim thân Tam bảo Phật trong điện cao tới 6,4 mét. Ngoài 500 pho tượng La hán bằng đất đắp trong 8 năm mới hoàn thành, bảo vật của chùa này còn có bộ kinh Hoa nghiêm viết bằng kim nhũ do vua Anh tông nhà Minh ban tặng.
nam hoài cẩn
(南懷瑾) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện Lạc thanh, Chiết giang. Thủa nhỏ, ông theo học ở Thư viện giáo dục, sau tốt nghiệp tại trường Đại học Kim lăng, khoa Chính trị học. Ban đầu ông học Tiên đạo đan kinh của Đạo gia, sau chuyển sang nghiên cứu Phật học, làm đệ tử của Thiền sư Viên hoán tiên. Ông vào chùa Đại bình ở Trung phong, núi Nga mi, đóng cửa nhập thất 3 năm, sau khi ra thất, ông dạy học tại các trường Đại học Tứ xuyên, Đại học Vân nam. Năm 1949, ông đến Đài loan, chuyên tâm hoằng pháp và sáng tác. Ông lại nhận lời mời của sở Nghiên cứu Triết học trường Đại học Phụ nhân và trường Đại học Văn hóa Trung quốc ra làm Giáo sư. Để giao lưu giữa 2 nền văn hóa Trung quốc và Tây phương, ông sáng lập hiệp hội Đông Tây Tinh Hoa, đặt Tổng hội ở nước Mĩ. Ông còn tinh thông mưu lược, từng làm Chủ biên Mưu lược học vựng biên. Hiện nay, ông chủ trì nhà xuất bản Lão cổ ở Đài bắc, Thư viện Thập phương tùng lâm, đồng thời phát hành các tập san Phật giáo như tạp chí Tri kiến, tạp chí Thập phương v.v... Ông có các tác phẩm: Thiền hải lê trắc, Thiền tông tùng lâm chế độ dữ Trung quốc xã hội, Tĩnh tọa tu đạo dữ trường sinh bất lão, Tập thiền lục ảnh, Luận ngữ biệt tài.
nam hành
Daksinayana (skt). 1) Mặt trời trịch về phương nam, cứ sáu tháng là nó di chuyển từ bắc xuống nam một lần: The course or declination of the sun to the south; the half- year in which it moves from north to south. 2) Khoảng thời gian sáu tháng: A period of six months.
nam hải kí quy nội pháp truyện
(南海寄歸內法傳) Gọi đủ: Đại đường nam hải kí qui nội pháp truyện. Gọi tắt: Nam hải kí qui truyện. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Nghĩa tịnh soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 54. Nội dung sách này gồm 40 chương: Phá hạ phi tiểu, Đối tôn chi nghi, Thực tọa tiểu sàng, Xan phân tịnh xúc, v.v... cho đến chương cuối cùng là Cổ đức bất vi. Bài tựa nói về tình hình phân bố các giáo đoàn Đại thừa và Phật giáo bộ phái đương thời. Trong đó, Đại thừa có các tông Trung quán, Du già, Tiểu thừa có các bộ phái như Hữu bộ, Chính lượng bộ, Đại chúng bộ, Thượng tọa bộ v.v... Trong sách cũng thu chép nhiều bài ca tán thán đức Phật lưu hành ở thời bấy giờ. Sách này được hoàn thành ở nước Thi lợi phất thệ (Phạm:Zrìboja, nằm về phía đông đảo Sumatra hiện nay) thuộc vùng Nam hải, là 1 tư liệu quí giá cho việc nghiên cứu về Ấn độ, các nước vùng Nam hải cũng như về giới luật và cách thức tổ chức giáo đoàn Phật giáo. Chú sớ của sách này là bộ Giải lãm sao, 8 quyển, của ngài Ẩm quang (tôn giả Từ vân) soạn vào thời đại Giang hộ của Nhật bản. Ngoài ra, sách này cũng có 1 bản dịch tiếng Anh là: A Record of the Buddhist Religions as Practised in India and the Malay Archipelago (A.D.671-695) by I.tsing, xuất bản năm 1896. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Tục cổ kim dịch kinh đồ kỉ].
nam hải ma la da sơn
Malayagiri (skt)—Núi Ma La Da phía nam Ấn Độ—The Malaya mountains in Malabar answering to the western Ghats; a district in the south of India (a mountain in Ceylon).
Nam Kha
(南柯): cành cây chầu về hướng nam. Bên cạnh đó, nó có nghĩa là giấc mộng Nam Kha, vốn xuất xứ từ Nam Kha Thái Thú Truyện (南柯太守傳) của Lý Công Tả (李公佐, ?-?) nhà Đường. Chuyện kể rằng có một chàng hiệp sĩ tên Thuần Vu Phần (淳于棼), nhà ở phía đông Quận Quảng Lăng (廣陵郡, nay là Dương Châu [揚州], Giang Tô [江蘇]). Tại phía nam nhà anh có một cây hòe cổ thụ lớn, anh thường cùng bạn bè ngâm nga uống rượu dưới gốc cây này. Có một hôm nọ, do uống quá say, hai người bạn phải dẫn anh về nhà, giữa đường anh hôn mê ngủ thiếp đi lúc nào không hay; chợt thấy có hai sứ giả mặc Tử Y, tự xưng là phụng mạng vua Hòe An Quốc (槐安國) đến mời anh đi. Họ dẫn anh lên xe, nhắm hướng cây hòe mà đi, vào trong động sâu, thấy núi sông, đường sá, hoàn toàn một thế giới riêng. Khi đến Hòe An Quốc, chàng hiệp sĩ vào bái kiến quốc vương, được phong chức Phò Mã và nhậm chức Thái Thú Quận Nam Kha (南柯郡). Nhà vua lại gả con gái Kim Chi Công Chúa (金枝公主) cho Thuần Vu Phần, cho nên tại Hòe An Quốc, chàng tận hưởng vinh hoa phú quý. Tại chức trong vòng 20 năm, anh đã lập được nhiều công trạng, được nhà vua rất tín nhiệm. Sau có quân nước Đàn La (檀蘿) đến xâm chiếm, Thuần Vu Phần điều binh khiển tướng nghênh địch, nhưng đại bại và được nhà vua tha tội chết. Tuy nhiên, không bao lâu sau, vợ anh bị bệnh nặng qua đời; Vu Phần vô cùng đau xót, cáo bệnh từ quan và trở về kinh thành. Vì ông giao du rộng rãi, kẻ ra người vào tấp nập, tiếng tăm vang dậy, làm cho nhà vua nghi kỵ, ra lệnh tước đoạt hết các thị vệ và nghiêm cấm không cho giao du. Vu Phần uất ức không được vui trong lòng; cuối cùng nhà vua cho sứ giả đưa ông trở về nhà cũ. Khi về đến nơi, anh tỉnh giấc mộng, thấy hai người bạn vẫn còn đó, bóng tà dương vẫn chưa khuất về Tây. Nhớ đến câu chuyện trong mộng, anh cùng hai bạn tìm huyệt động nơi gốc cây hòe, thì thấy bầy kiến lúc nhúc bên trong, tích chứa đất làm thành hình dáng giống như thành quách, cung điện, rất khớp với cảnh trong mộng. Hòe An Quốc là quốc gia kiến, Quận Nam Kha cũng như các nơi anh đã từng đi qua đều hiện rõ. Anh giật mình kinh hoàng, mới hay tất cả chỉ là một giấc mộng, cuộc đời và mạng người vô thường, ngắn ngủi; nhân đó, anh quy y với đạo môn, dứt tuyệt không uống rượu nữa và ba năm sau thì qua đời. Tác phẩm Nam Kha Thái Thú Truyện này cũng tương tự với Chẩm Trung Ký (枕中記) với câu chuyện Hoàng Lương Mộng (黃梁夢, Mộng Kê Vàng) của Lô Sanh (盧生). Dựa trên tác phẩm Nam Kha Thái Thú Truyện, sau này Thang Hiển Tổ (湯顯祖) nhà Minh có sáng tác Nam Kha Ký (南柯記). Bạch Ẩn Huệ Hạc (白隱慧鶴, 1685-1768), vị Thiền tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản cũng có trước tác bộ Hòe An Quốc Ngữ (槐安國語, Kaiankokugo, 2 quyển). Trong bài thơ Đề Thành Sơn Vãn Đối Hiên Bích (題城山晚對軒壁) của Phạm Thành Đại (范成大, 1126-1193) nhà Tống có câu: “Nhất chẩm thanh phong mộng lục la, nhân gian tùy xứ thị Nam Kha (一枕清風夢綠蘿、人間隨處是南柯, tựa gối gió thanh mơ lục la, trên đời có chỗ ấy Nam Kha).” Hay như trong Ngọc Trâm Ký (玉簪記), phần Trùng Hiệu (重效) của Cao Liêm (高濂, ?-?) nhà Minh cũng có câu: “Tùng giáo phân thủ xứ, hữu mộng thác Nam Kha (從敎分手處、有夢托南柯, theo lời đi khắp chốn, vói mộng gởi Nam Kha).” Viên Nhân Pháp Sư (圓因法師, 1910-2002) có sáng tác bài Nam Kha Nhất Mộng (南柯一夢) trong Mao Bồng Trát Ký (茅篷札記): “Tảo lộ phong đăng thiểm điện quang, tổng thị Nam Kha nhất mộng trường, nhân quy hà xứ thanh sơn tại, thanh sơn vô ngữ thán nhân vong (草露風燈閃電光、總是南柯夢一塲、人歸何處青山在,青山無語嘆人亡, sương sớm gió trong ánh chớp loang, thảy đều Nam Kha giấc mộng trường, người về nào chốn núi xanh đó, núi xanh lặng lẽ khóc người thương).” Về phía Việt Nam, trong tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798) lại có câu: “Giấc Nam Kha khéo bất bình, bừng con mắt dậy thấy mình tay không.” Hoặc trong bài Lạc Đường của Tú Xương (1871-1907) có câu: “Giấc mộng Nam Kha khéo chập chờn.” Trong Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kiều) của Nguyễn Du (1765-1820) cũng có câu: “Tiếng sen sẽ động giấc hòe, bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.” Ngoài ra, trong các bài tán cúng cầu siêu cho hương linh quá cố có bài: “Nam Kha nhất mộng đoạn, Tây Vức cửu liên khai, phiên thân quy Tịnh Độ, hiệp chưởng lễ Như Lai (南柯一夢斷、西域九蓮開、飜身歸淨土、合掌禮如來, Nam Kha giấc mộng dứt, Tây phương chín sen khai, chuyển thân về Tịnh Độ, chấp tay lễ Như Lai).”
nam kha
Empty dream.
nam kinh
Nan-king (J)Địa danh.
; (南京) Xưa gọi: Kim lăng, Kim lăng phủ, Giang ninh phủ, Tập khánh lộ, Ứng thiên phủ. Một đô thị lớn ở hạ du sông Trường giang, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Kể từ nước Ngô thời Tam quốc, tiếp đến là Đông Tấn, rồi Tống, Tề, Lương, Trần thuộc Nam triều đều lấy nơi này làm thủ đô và gọi là Kiến khang. Đây là nơi hưng thịnh của Phật giáo thời Nam Bắc triều, cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa đô thị ở miền Nam Trung quốc lúc bấy giờ. Triều Minh, vua Thái tổ cũng đặt đô ở đây, nhưng đến vua Thành tổ thì dời về Bắc kinh. Đến năm Chính thống thứ 6 (1441) đời vua Anh tông, Kiến khang được gọi là Nam kinh để đối lại với Bắc kinh. Năm 1927, chính phủ Dân quốc lấy Nam kinh làm trụ sở của Chính phủ Trung ương, gọi là Thủ đô th ị(Thành phố thủ đô). Các hoàng gia Nam triều vốn ủng hộ Phật giáo, cho nên việc giảng kinh, dạy học và các hoạt động khác của Phật giáo ở đây cũng rất phát triển. Những ngôi chùa nổi tiếng ở Kiến khang thời bấy giờ gồm có: Chùa Kì viên, chùa Trang nghiêm, chùa Quang trạch, chùa Ngõa quang, chùa Kiến sơ (chùa Đại báo ân), chùa Thê hà, chùa Đồng thái, chùa Đại ái kính v.v... Kiến khang cũng là nơi trung tâm của học phái Thành thực và Đại sư Trí khải, trước khi vào núi Thiên thai, cũng đã từng trụ ở đây. Ngoài ra, ở nơi đây cũng có nhiều thắng tích Phật giáo, như chùa Linh cốc núi Chung sơn, núi Ngưu đầu (chùa Phổ giác), chùa U thê (chùa Tổ đường), chùa Định lâm, chùa Chỉ viên, núi Kê long, núi Thạch đầu, đài Vũ hoa, núi Tụ bảo, chùa Thiên giới núi Phụng sơn v.v... [X. Kim lăng phạm sát chí; Độc sử phương dư kỉ yếu Q.20]
nam la
Malava (skt)—Nam La là một vương quốc ở miền Trung Ấn Độ, tổng hành dinh của tà phái ngoại đạo, bây giờ là Malwa, đối lại với Bắc La ở Gujarat—Southern Lara, an ancient kingdom in central India; headquarters of heretical sects, in the present Malwa, in contrast with northern Valabhi in Gujarat.
Nam Lãnh
(南嶺): tên gọi của địa phương do Huệ Năng đã từng mở rộng giáo tuyến của mình. Cho nên hệ thống của Huệ Năng được gọi là Nam Tông, còn hệ thống của Thần Tú thì được gọi là Bắc Tông.
Nam Lữ
(南呂): có hai nghĩa chính:(1) Tên gọi âm thứ 5 trong 6 âm thanh thuộc về Âm của 12 luật âm, tương đương với âm Bàn Thiệp (盤涉, banshiki) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Chu Lễ (周禮), chương Xuân Quan (春官), Đại Ty Nhạc (大司樂) có câu: “Tấu Hoàng Chung, ca Đại Lữ, tấu Cô Tẩy, ca Nam Lữ, tấu Di Tắc, ca Tiểu Lữ (奏黃鐘、歌大呂、奏姑洗、歌南呂、奏夷則、歌小呂, tấu điệu Hoàng Chung, ca điệu Đại Lữ, tấu điệu Cô Tẩy, ca điệu Nam Lữ, tấu điệu Di Tắc, ca điệu Tiểu Lữ).” (2) Tên gọi khác của tháng 8 Âm Lịch. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Bát nguyệt kiến Dậu viết Tác Ngạc, hựu viết Nam Lữ, hoặc danh Thanh Thu, hựu xưng Tráng Nguyệt, Quế Nguyệt đẳng (八月建酉曰作噩、又曰南呂、或名清秋、又稱壯月、桂月等, tháng Tám kiến Dậu, gọi là Tác Ngạc, hay gọi là Nam Lữ, hoặc có tên là Thanh Thu, còn gọi là Tráng Nguyệt, Quế Nguyệt, v.v.).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 cho biết thêm rằng: “Dậu vi Nam Lữ, bát nguyệt chi thần danh Dậu; Dậu giả thu súc chi nghĩa; thử nguyệt thời vật giai súc tiểu nhi thành dã, cố vị chi Dậu (酉爲南呂、八月之辰名酉、酉者緧縮之義、此月時物皆縮小而成也、故謂之酉, Dậu là Nam Lữ, chi của tháng Tám là Dậu; Dậu có nghĩa là thu nhỏ lại; vào tháng này muôn vật đều thu nhỏ lại mà thành, nên gọi nó là Dậu).” Trong Chiết Nghi Luận (折疑論, Taishō Vol. 52, No. 2118) quyển 4 có câu: “Khấu Thương huyền dĩ chiêu Nam Lữ bát nguyệt chi lịnh, lương phong hốt chí, thảo mộc thành thật (扣商絃以召南呂八月之令、涼風忽至、草木成實, gõ dây Thương để mời lịnh tháng Tám Nam Lữ, gió mát chợt đến, cỏ cây kết trái).” Hay trong Kim Cang Sớ Khoa Thích (金剛疏科釋, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 466) cũng có câu: “Thời Ứng Vĩnh thập cửu niên long tập Nhâm Thìn Nam Lữ hạ cán cát nhật ngụ Long Hoa Phạn Phương cẩn thư (時應永十九年龍集壬辰南呂下澣吉日寓龍華梵芳謹書, lúc bấy giờ là ngày tốt hạ tuần tháng 8 năm Nhâm Thìn [1412], niên hiệu Ứng Vĩnh thứ 19, Phạn Phương ở Long Hoa kính ghi).”
Nam Man
(南蠻, Namban): nghĩa là giống người dã man ở phương Nam, là tiếng gọi khinh miệt ngày xưa của dân tộc Hán (Trung Quốc) đối với các dân tộc dị văn hóa vùng Nam Hải thuộc Đông Dương; đối với từ này là Bắc Địch (北狄). Từ thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi, 1292-1573) trở cho đến Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867), Nam Man là từ gọi chung cho Thái Lan, Lữ Tống (呂宋, Luzon, tức vùng đảo nằm phía cực bắc của Philippine), Jawa và các quần đảo Nam Dương khác. Đặc biệt, để đối với từ Hồng Mao (紅毛, lông đỏ) dùng gọi người Hà Lan (荷蘭, Netherlands), thì người Nhật dùng từ Nam Man để gọi người Bồ Đào Nha (葡萄牙, Portugal), Tây Ban Nha (西班牙, Spain), và tín đồ Thiên Chúa Giáo. Hiện tại trong tiếng Nhật, còn tồn tại một số từ liên quan đến thuật ngữ này như Nam Man Quả Tử (南蠻菓子, Nambankashi, bánh kẹo Nam Man), Áp Nam Man (鴨南蠻, Kamonamban, Mì Vịt Nam Man), Gà Rán Nam Man (チキン南蠻, Chikinnamban), Nam Man Vị Tăng (南蠻味噌, Nambanmiso, loại Miso Nam Man), Nam Man Tự (南蠻寺, Namban-ji, tức chỉ cho các giáo đường của Thiên Chúa Giáo), v.v.
Nam Mô
(s: namas, p: namo, 南無): âm dịch là Nam Mô (南謨), Nam Mâu (南牟), Na Mô (那謨、那摸、娜謨), Nạp Mạc (納莫), Nạp Mộ (納慕), Nẵng Mô (曩謨); ý dịch là kính lễ (敬禮), đảnh lễ (頂禮), quy lễ (歸禮), quy mạng (歸命), quy y (歸依), quy kính (歸敬). Nó thể hiện sự quy mạng, đãnh lễ tuyệt đối vào ba ngôi báu Phật, Pháp và Tăng. Đây là hành vi phát sanh rất tự nhiên, bộc lộ tín tâm vào đối tượng mình quy ngưỡng và tôn sùng.
nam mô
Namas (S), Namu (J), Namaḥ (S), Namo (P, S), Na-mo (S), Praise be to Chí tâm đảnh lễ, Qui mạng, kính lễQui y, quy mạng, chí tâm đảnh lễ.
; Namah (S), Namo (P). To submit oneself to, from to bend, bow to, make obeissance; pay homage to; an expression of submission to commsnd, complete commitment, reverence, devotion, trust for salvation.
; Namo or Namah (skt)—Nam Mầu—Na Mô—Nạp Mô—Na Mầu—Nam Mang—Nạp Mặc—Nẵng Mồ (chúng sanh hướng về Phật, quy-y tín thuận). 1) Quy Mạng—Homage—To submit oneself to—To make obeisance. 2) Kỉnh Lễ: To pay homage to—To bow to—An expression of submission to command—Complete commitment—Reverence—Devotion. 3) Cứu Độ: Trust for salvation.
; (南謨) Phạm: Namas. Pàli: Namo. Cũng gọi Nam mâu, Na mô, Na ma, Nẵng mạc, Nạp mạc. Hán dịch: Kính lễ, qui kính, qui y, tín tòng. Nguyên ý là lễ bái, thường được sử dụng với đối tượng lễ kính. Như xưng Na mô Tam bảo (Phạm: Namo ratna-trayàya, Hán âm: Na mô hát ra đát na đá ra dạ da, Na mô ra đát na đát ra dạ da), tức là biểu thị ý nghĩa qui y Phật, Pháp, Tăng. Na mô A di đà Phật, Na mô Diệu pháp liên hoa kinh... là biểu thị sự qui kính Phật, Kinh. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.47; phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.6]. (xt. Danh Hiệu, Đề Mục).
nam mô a di đà phật
Namo-Amitabhāya-buddhāya (S), Namu Amida Butsu (J), Na-mo-o-mi-t'o-fo (C), I take refuge in Amitabha 'I take refuge in Amitabha' or 'Adoration to Amitabha.'.
; Namo Amitabhàya buddhàya (S). Homage to the Amitabha Buddha
; Namah Amitabha or Namo Amitayuse-Buddha (skt)—Nam Mô A Di Đà Phật, là quy mệnh đối với Đức Phật A Di Đà hay chúng sanh một lòng quy ngưỡng nơi lời nguyện cứu độ của Đức Phật A Di Đà mà niệm hồng danh của Ngài, tức là mở cửa đi vào cõi Tịnh Độ—Namah Amitabha, the formula of faith of the Pure Land sect, representing the believing heart of all beings and Amitabha's power and will to save; repeated in the hour of death it opens the entrance to the Pure Land.
nam mô bổn sư thích ca mâu ni phật
Namo Sakya Muni Buddha—Namo Fundamental (Original) Teacher Sakyamuni Buddha—Homage to our Teacher Sakyamuni Buddha—Con xin quy mạng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
nam mô chư tổ bồ tát
Namo Descending line of Patriarchs Bodhisattvas.
nam mô cực lạc quốc a di đà phật
Namo The Land of Ultimate Bliss Amitabha Buddha.
nam mô cực lạc thế giới a di đà phật
Namo Amitabha Buddha of the Land of Ultimate Bliss.
nam mô diệu pháp liên hoa
Nama! Wonderful-Law Lotus-Flower!—Câu trí niệm của Tông Pháp Hoa bên Nhật—The recitation of the Nichiren Sect. ** For more information, please see Bổn Tích Nhị Môn.
nam mô dược sư hội thượng phật bồ tát
Namo Medicine Master Assembly of Buddhas and Bodhisattvas.
nam mô dược sư lưu ly quang phật
Namo Quelling Disasters Lengthening Life Medicine Master.
nam mô già lam thánh chúng bồ tát
Namo Holy Assembly of Temple-Guarding Bodhisattvas.
nam mô hát ra đá la dạ da
Xem Qui mệnh Tam bảo.
nam mô hương vân cái bồ tát ma ha tát
Homage to the Enlightened Being, Cloud Canopy of Fragrance Bodhisattva, Mahasattva.
nam mô hộ pháp chư thiên bồ tát
Namo All Heavenly Dharma-Protecting Bodhisattvas.
nam mô hộ pháp thiên long bồ tát
Namo All Dharma Guardian Deva Bodhisattvas.
nam mô hộ pháp vi đà tôn thiên bồ tát
Namo Vajrapani Bodhisattvas, Dharma Protector and Honoured Deva (God).
nam mô kim cang tạng bồ tát
Namo Vaira Treasury Bodhisattvas.
nam mô liên trì hải hội phật bồ tát
Namo Sea Vast Lotus Pool Assembly of Buddhas and Bodhisatvas—Homage to the Lotus Pool Assembly of Buddhas and Bodhisattvas as vast as the sea.
nam mô lăng nghiêm hội thượng phật bồ tát
Namo Shurangama Assembly of Buddhas and Bodhisattvas.
nam mô lịch đại tổ sư bồ tát
Namo Generations of Patriarchs, Bodhisattvas.
nam mô pháp hoa kinh
Daimoku (J)Pháp niệm "Namu Myoho Renge Kyo" (Nam mô Pháp hoa kinh) của Liên hoa tông ở Nhật. Myoho Renge Kyo là Pháp hoa kinh.
nam mô phạm võng giáo chủ tỳ lô xá na phật
Namo (Homage) Lord of Brahma Net, Vairocana Buddha.
nam mô phật
Namo buddhāya (S).
; Namo Buddhàya (S). Homage to the Buddha.
; Quy mệnh đối với Phật, với Tam Bảo, với Phật A Di Đà—Namo Buddha; I devoted myself entirely to the Buddha, or Triratna, or Amitabha.
nam mô phật đảnh thủ lăng nghiêm
Namo Supreme Shurangama of the Buddha's Summit.
nam mô quan thế âm bồ tát
Namo Kuan Shi Yin Bodhisattva.
nam mô sư
Master of Namah, i.e. Buddhist or Taoist priests and sorcerers.
nam mô tam bảo
Namu sambō (J), Take refuge in the three treasures.
; See Nam Mô Phật.
nam mô thanh lương địa bồ tát ma ha tát
Homage to the Bodhisattva, Mahasattva of the Clear Cool Ground.
nam mô thanh tịnh đại hải chúng bồ tát
Namo Pure Assembly of Bodhisattvas as Vast as the Oceans—Namo Great Pure Sea-Vast Assembly of Bodhisattvas.
nam mô thích ca mâu ni phật
Namo Sakyamuni Buddha.
nam mô thường trụ thập phương pháp
Namo Permanently dwelling Ten Directions Dharmas—Namo Eternally Abiding (Everlasting) Dharma of the ten directions.
nam mô thường trụ thập phương phật
Namo Eternally Dwelling Ten Directions Buddhas—Namo Eternally Abiding (Everlasting) Buddhas of the ten directions.
nam mô thường trụ thập phương tăng
Namo Eternally Dwelling (abiding) of the Ten Directions of Sanghas—Namo Eternally Abiding (Everlasting) Sangha of the ten directions.
nam mô thập phương tam thế nhứt thiết chư phật
Namo all Buddhas of the Ten Directions (Quarters) and three times (Namo all Buddhas everywhere throughout all realms of time).
nam mô tiêu tai diên thọ dược sư phật
Namo Medicine Master Buddha who dispels calamities and lengthens life.
nam mô trời
Namo Heaven—Từ nầy thường được dân miền quê Việt Nam dùng để cầu nguyện—This term is usually used to pray by the Vietnamese countryside people.
nam mô tây phương cực lạc thế giới đại từ đại bi a di đà phật
Namo Great Merciful and Compassionate Buddha Amitabha of the Western Land of Ultimate Bliss.
nam mô tịnh nhãn bồ tát ma ha tát
Namo Universal Eye Bodhisattva, Mahasattva.
nam mô vu lan hội thượng phật bồ tát
Namo Homage To The Ullambana Assembly of Buddhas and Bodhisattvas
nam mô đương lai hạ sanh di lặc tôn phật
Namo Maitreya Honored Future Buddha (Namo the Honoured Buddha Maitreya, Soon to be born in the world).
nam mô đại bi quan thế âm bồ tát
Namo Kuan Shi Yin Great Compassion Bodhisattva—Namo Great Compassionate Bodhisattva Avalokitesvara—Namo Kuan Shi-Yin Bodhisattva of great Compassion.
nam mô đại hạnh phổ hiền bồ tát
Namo Universal Worthy Great Conduct Bodhisattva (Namo Samantabhadra Bodhisattva of great conduct).
nam mô đại nguyện địa tạng vương bồ tát
Namo Earth Treasury King Vow Bodhisattva—Namo Great Vows Earth Store Bodhisattva (Namo Earth Store King Bodhisattva of great vows).
nam mô đại thánh khẩn na la vương bồ tát
Namo Great Holy Kinnara King Bodhisattva.
nam mô đại thế chí bồ tát
Namo Great Strength Bodhisattva—Namo Bodhisattva Mahasthama—Namo Bodhisattva who has attained great strength.
nam mô đại trí văn thù sư lợi bồ tát
Namo Manjusri Great Wisdom Bodhisattva (Bodhisattva of great wisdom).
Nam Nguyên Tánh Phái
(南源性派, Nangen Shōha, 1631-1692): vị tăng của Hoàng Bá Tông Trung Quốc, hiệu là Nam Nguyên (南源), biệt hiệu là Phi Tuyền (非泉), Tùng Tuyền (松泉), xuất thân Huyện Phúc Thanh (福清縣), Phủ Phúc Châu (福州府, Tỉnh Phúc Kiến), sanh ngày 23 tháng 8 năm thứ 4 (1631) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), họ là Lâm (林). Năm 15 tuổi, ông xuất gia với Vô Tịnh Chương (無淨璋) ở Hoàng Bá Sơn (黃檗山), sau theo hầu Ẩn Nguyên (隱元) và cùng đi theo vị này sang Nhật. Vào năm thứ 8 (1668) niên hiệu Khoan Văn (寛文), ông khai sáng Hoa Nghiêm Viện (華嚴院) và Từ Quang Đường (慈光堂). Đến năm đầu (1673) niên hiệu Diên Bảo (延寶), ông biên tập bộ Quảng Lục (廣錄) của Ẩn Nguyên, đi tham cứu khắp các nơi, dừng chân tại Quốc Phận Tự (國分寺, Kokubun-ji). Vào năm thứ 5 (1692), ông chuyển đến trú trì Chánh Hưng Tự (正興寺) và trở thành vị tổ thời Trung Hưng của chùa này. Không bao lâu sau, ông chuyển sang Cao Thọ Hiên (高壽軒) và vào ngày 25 tháng 6 năm thứ 5 niên hiệu Nguyên Lộc (元祿) thì thị tịch, hưởng thọ 62 tuổi đời và 48 hạ lạp. Trước tác của ông có Giám Cổ Lục (鑑古錄) 30 quyển, Chi Lâm Tập (芝林集) 24 quyển, Tàng Lâm Tập (藏林集) 1 quyển, v.v.
nam ngũ đài
(南五台) Ngọn núi chính trong dãy núi Chung nam, ở gần huyện Tây an, tỉnh Thiểm tây. Vì núi này có 5 tiểu đài (tức 5 ngọn núi nhỏ) là: Đại đài, Văn thù đài, Thanh lương đài, Linh cảm đài và Xả thân đài nên được gọi là Ngũ đài. Quan trung thông chí nói: Khu Nam sơn Thần tú ngày nay, chỉ có Nam ngũ đài là đẹp hơn cả. Nam ngũ đài có đường thẳng lên đến đỉnh núi, phía nam trông đến những ngọn núi của dãy Chung nam, giống như bức bình phong xanh biếc bao quanh, chót vót đến tận mây xanh; phía bắc nhìn tới Tần xuyên, núi sông tráng lệ, cây cối um tùm, dàn trải trước mắt, giống như 1 tấm thảm xanh rờn thăm thẳm. Trên núi có hơn 40 tòa đình, chùa lớn nhỏ được xây cất từ đời Minh, Thanh đến nay, bố cục riêng rẽ, tỉ mỉ, kiến trúc tinh xảo, đưa dẫn người vào thắng cảnh. Trong chua Thánh thọ có ngôi tháp gạch 5 tầng được xây dựng vào đời Tùy. Trên đỉnh của Đại đài có chùa Viên quang được sáng lập vào đời Tùy, nhưng rất tiếc nay đã không còn.
Nam Nhạc Hoài Nhượng
(南岳懷讓, Nangaku Ejō, 677-744): xuất thân vùng Kim Châu (金州, thuộc Tỉnh Sơn Đông), người họ Đỗ (杜). Năm lên 15 tuổi, ông đến xuất gia và tham học với Hoằng Cảnh Luật Sư (弘景律師) về Luật tạng ở Ngọc Tuyền Tự (玉泉寺) vùng Kinh Châu (荆州, thuộc Tỉnh Hồ Bắc). Sau ông lên Tung Sơn (嵩山), gặp Huệ An (慧安) và nhờ sự giới thiệu của vị nầy ông đến tham yết Huệ Năng (慧能) ở Tào Khê (曹溪). Sau 15 năm trường chuyên tâm hầu thầy, cuối cùng ông kế thừa dòng pháp của thầy mình. Vào năm thứ 2 (713, tức năm đầu niên hiệu Khai Nguyên) niên hiệu Tiên Thiên (先天) nhà Đường, ông đến ở tại Bát Nhã Tự (般若寺) vùng Nam Ngạc (南嶽). Ông cùng với Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思) được xem như là hai đại đệ tử xuất sắc nhất của Huệ Năng, và Thiền phong của họ sau nầy đã trở thành chủ lưu cho Thiền Tông Trung Quốc. Ông thị tịch vào ngày 11 tháng 8 năm thứ 3 (744) niên hiệu Thiên Bảo (天寳) đời vua Huyền Tông (玄宗), hưởng thọ 68 tuổi, và được ban cho thụy hiệu là Đại Tuệ Thiền Sư (大慧禪師). Bản Nam Ngạc Đại Tuệ Thiền Sư Ngữ Lục (南嶽大慧禪師語錄) của ông được thâu tập vào trong tập Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄), bản đời nhà Minh.
nam nhân
A man.
nam nhạc
(南岳) Cũng gọi Hành nhạc, Hành sơn. Núi ở cách huyện Hành sơn, tỉnh Hồ nam 15 cây số về phía tây bắc, là 1 trong Ngũ nhạc tại Trung quốc. Núi cao 1200 mét, chu vi 400 cây số, có 72 ngọn, 10 động, 15 hang, 38 suối, 25 khe, 9 ao, 9 chằm, 9 giếng. Dòng sông Tương uốn quanh 3 mặt Nam, Đông và Bắc của núi này. Cứ theo Lộc sơn tự bi kí do ông Lí ung soạn vào năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường, thì năm Thái thủy thứ 4 (268) đời Tây Tấn, ngài Pháp sùng đã đến đây khai sơn, sáng lập chùa Lộc sơn. Năm Thái kiến thứ 2 (570) đời Trần, ngài Tuệ tư vào Nam nhạc giảng kinh Bát nhã, Trung luận..., lập đạo tràng Bát nhã, vì thế ngài Tuệ tư còn được gọi là Nam nhạc đại sư. Năm Tiên thiên thứ 2 (713) đời Đường, ngài Hoài nhượng đến Nam nhạc, trụ ở đài Quan âm chùa Bát nhã 30 năm, nêu cao Thiền phong Nam nhạc. Niên hiệu Thiên bảo năm đầu (742) đời Đường, ngài Hi thiên đến núi Hành sơn, kết am trên đá, người đời gọi ngài là Thạch đầu Hòa thượng. Những bậc Cao tăng danh sĩ nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo đến núi này thăm viếng đông không thể kể hết. Trên núi có nhiều chùa miếu, như chùa Sơn lộc (sau đổi tên là chùa Vạn thọ) của ngài Pháp sùng, chùa Thắng nghiệp (chùa Chúc thánh) của ngài Thừa viễn, Đạo tràng Bát nhã (chùa Phúc nghiêm) của ngài Tuệ tư, viện Truyền pháp (tức đài Ma kính) nơi ngài Mã tổ Đạo nhất được Thiền sư Hoài nhượng truyền pháp, chùa Nam đài (chỗ đất cũ) của ngài Thạch đầu Hi thiên v.v... [X. Tục cao tăng truyện Q.17; Liễu hà đông tập Q.6].
Nam Nhạc Hoài Nhượng
南嶽懷讓; C: nányuè huáiràng; J: nangaku ejō; 677-744;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ được truyền tâm ấn của Lục tổ Huệ Năng và là một trong hai ngọn lửa thiền chiếu sáng rực rỡ đời Ðường (ngọn đuốc thứ hai là Thiền sư Thanh Nguyên Hành Tư). Môn đệ lừng danh nối dòng của Sư là Mã Tổ Ðạo Nhất.|Sư họ Ðỗ, quê ở Kim Châu, xuất gia năm 15 tuổi. Sư ban đầu chăm chỉ học Luật giữ Giới, nhưng không hài lòng với kết quả, tự nhủ: »Phàm người xuất gia phải vì pháp Vô vi, trên trời và nhân gian không gì hơn được.« Sau, vì lời khuyên của nhiều đạo hữu, Sư đến yết kiến Lục tổ.|Ðến Tào Khê, Tổ Huệ Năng hỏi: »Ở đâu đến?« Sư thưa: »Ở Tung Sơn đến.« Tổ hỏi: »Vật gì đến?« Sư trả lời không được bèn ở lại. Sau tám năm, Sư chợt tỉnh, đến trình Tổ câu trả lời sau: »Nói là một vật là không đúng.« Tổ hỏi: »Lại có thể đạt được chăng?« Sư đáp: »Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô tức chẳng được.« Tổ bèn nói: »Chính cái không nhiễm ô này là chỗ hộ niệm của chư Phật, ngươi đã như thế, ta cũng như thế. Tổ Bát-nhã Ða-la ở Tây Thiên có lời sấm rằng: ›Dưới chân ngươi sẽ xuất hiện con ngựa tơ đạp chết người trong thiên hạ‹. Ứng tại tâm ngươi chẳng cần nói sớm.« Sư nhân đây hội ý, ở lại hầu Tổ 15 năm.|Sau khi từ giã Tổ, Sư đến núi Hoành Nhạc trụ trì chùa Bát-nhã. Nơi đây, Sư gặp một Sa-môn ngày ngày ngồi thiền. Sư nhìn biết là thượng căn, đến hỏi: »Ðại đức ngồi thiền làm gì?« Vị này trả lời: »Ðể làm Phật.« Sau đó, Sư lấy một viên gạch, đến trước am của vị này mài liên tục. Sa-môn thấy lạ hỏi Sư: »Thầy mài gạch để làm gì?« Sư đáp: »Mài để làm gương.« Vị này nói: »Mài gạch đâu có thể thành gương được?« Sư bảo: »Ngồi thiền cũng không thể thành Phật được« Sa-môn hỏi: »Vậy làm thế nào mới phải?« Sư hỏi vặn lại: »Như trâu kéo xe, nếu xe không đi, phải đánh trâu hay đánh xe?« Vị Sa-môn lặng thinh, Sư nói tiếp: »Ngươi học ngồi thiền hay học ngồi Phật? Nếu học ngồi thiền, thiền không phải ngồi nằm. Nếu học ngồi Phật, Phật không tướng nhất định, đối pháp không trụ, chẳng nên thủ xả. Ngươi nếu ngồi Phật tức là giết Phật, nếu chấp tướng ngồi chẳng đạt ý kia.«|Vị Sa-môn này chẳng ai khác hơn là Giang Tây Pháp chủ Mã Tổ Ðạo Nhất sau này. Nghe được chân ngôn như vậy, Ðạo Nhất liền quì xuống lễ bái, hỏi: »Dụng tâm thế nào mới hợp với vô tướng tam-muội.« Sư đáp: »Ngươi học pháp môn tâm địa như gieo giống, ta nói pháp yếu như mưa móc, nếu duyên ngươi hợp sẽ thấy đạo này.« Ðạo Nhất hỏi: »Ðạo không có sắc tướng làm sao thấy?« Sư bảo: »Con mắt pháp tâm địa hay thấy được đạo.« Ðạo Nhất hỏi tiếp: »Có thành hoại chăng?« Sư đáp: »Nếu thấy cái thành hoại, tụ tán mà nghĩ là thấy Ðạo thì không thể thấy Ðạo.« Sư làm bài kệ:|心地函諸種。遇澤即皆萌|三昧花無相。何壞復何成|Tâm địa chứa các giống|Gặp ướt liền nảy mầm|Hoa tam-muội không tướng|Thì sao có hoại thành?|Thiền sư Ðạo Nhất nghe đây như được mở mắt, ở lại hầu hạ Sư 10 năm. Trong tất cả môn đệ, chỉ có Ðạo Nhất được truyền pháp ấn.|Ngày mười một tháng tám đời Ðường, niên hiệu Thiên Bảo năm thứ ba, Sư thị tịch tại Hoành Nhạc, thọ 67 tuổi. Vua sắc phong là Ðại Huệ Thiền sư.|Những lời dạy của Sư nói trên có thể gây sự hiểu lầm. Vì sao »ngồi thiền không thể thành Phật được« trong khi đức Phật Thích-ca đạt Vô thượng bồ-đề sau khi ngồi thiền định và tất cả các vị Thiền sư chú trọng đến thiền hơn tất cả các tông phái khác? Cái mà Sư chỉ trích nơi Thiền sư Ðạo Nhất không phải là tác phong ngồi thiền, mà là cái tâm trạng đứng sau hành động đó. Cái ranh giới giữa »ta«, một người ngồi thiền để thành Phật và »thiền« – ở đây đồng nghĩa với Phật – phải được huỷ bỏ, tâm phải trống rỗng không còn câu chấp, ham muốn, đó là yếu chỉ mà Sư muốn truyền cho Ðạo Nhất Thiền sư tại đây. Ngay đức Phật Thích-ca cũng đã nói rõ trong Tương ưng bộ kinh (I, I): »Không buông xuôi (appathittam), không muốn đạt (anāyūham), ta đã vượt qua sóng bão…. Lúc buông xuôi, ta chìm đắm, lúc muốn đạt giác ngộ, ta bị bão táp gió lay. Không buông xuôi và vô nguyện, ta vượt qua sóng bão.«
nam nhạc hoài nhượng
(南岳懷讓) Cũng gọi Đại tuệ Thiền sư. Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người An khang, Kim châu (huyện Hán âm, tỉnh Thiểm tây), họ Đỗ. Sư xuất gia năm 15 tuổi, mới đầu học luật, sau đến Tào khê tập thiền, trở thành 1 đệ tử lớn của Lục tổ Tuệ năng. Sư ở lại thị giả Tổ 15 năm. Sau khi Tổ thị tịch, năm Thiên tiên thứ 2 (713) đời vua Đường Huyền tông, sư đến trụ ở đài Quan âm chùa Bát nhã tại núi Nam nhạc, tỉnh Hồ nam, để tuyên dương Thiền pháp của Tổ, khai sáng hệ phái Nam nhạc, người đời gọi sư là Nam nhạc Hoài nhượng. Pháp hệ của sư gọi là Nam nhạc hạ, đối lại với pháp hệ Thanh nguyên hạ của Thiền sư Thanh nguyên Hành tư, là 2 dòng pháp lớn của Thiền Nam tông. Năm Thiên bảo thứ 3 (744) sư thị tịch, thọ 68 tuổi, thụy hiệu Đại Tuệ. Sư có tác phẩm: Nam nhạc Đại Tuệ thiền sư ngữ lục. [X. Tống cao tăng truyện Q.9; chương Nam nhạc Hoài nhượng trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.5; Tông môn thống yếu tục tập Q.4].
nam nhạc hoài nhượng thiền sư
Nan-Yueh-Huai-Jang, sanh năm 677 sau Tây Lịch tại Kim Châu, ông là một thiền sư xuất sắc đời nhà Đường, đại đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng, và cũng là thầy của Mã Tổ. Nam Nhạc xuất gia năm 15 tuổi với luật Sư Hoàng Cảnh. Sau khi thọ giới cụ túc, sư học hết Tạng Luật, nhưng sư không thỏa mãn nên du phương tìm đến một vị thầy tên là Huệ An ở núi Tung Sơn. Dù sư có tiến bộ, nhưng Hòa Thượng Huệ An bảo sư nên đến Tào Khê tham vấn Lục Tổ Huệ Năng—Nan-Yueh was born in 677 A.D. in Jing-Chou, one of the famous Zen masters during the T'ang dynasty. He was the great disciple of the Sixth Patriarch. He left home at the age of fifteen to study under a Vinaya master named Hung-Jing. After his ordination, he studied the Vinayapitaka, but he became dissatisfied, and then traveled to see a teacher named Hui-An on Mount Tsung. Although Nan-Yueh made some spiritual progress with Hui-An, he soon continued on to Tsao-Xi to studied with the Sixth Patriarch Hui-Neng. • Sư đến Tào Khê tham vấn Lục Tổ Huệ Năng. Tổ hỏi: “Ở đâu đến?” Sư thưa: “Ở Tung Sơn đến.” Tổ hỏi: “Vật gì đến?” Sư thưa: “Nói in tuồng một vật tức không trúng.” Tổ hỏi: “Lại có thể tu chứng chăng?” Sư thưa: “Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô tức chẳng được.” Tổ nói: “Chính cái không nhiễm ô nầy là chỗ hộ niệm của chư Phật, người đã như thế, ta cũng như thế. Tổ Bát Nhã Đa La ở Tây Thiên có lời sấm rằng: 'Dưới chân ngươi sẽ xuất hiện NHẤT MÃ CÂU (con ngựa tơ) đạp chết người trong thiên hạ. Ứng tại tâm ngươi chẳng cần nói sớm.'” Sư hoát nhiên khế hội. Từ đây sư ở hầu hạ Tổ ngót mười lăm năm—Nan-Yueh came to Tsao-Xi to study with Hui-Neng. Hui-Neng said to Nan-Yueh: “Where did you come from?” Nan-Yueh said: “From Mount Song.” Hui-Neng said: “What is it that thus come?” Nan-Yueh couldn't answer. After eight years, Nan-Yueh suddenly attained enlightenment. He informed the Sixth Patriarch of this, saying: “I have an understanding.” The Sixth Patriarch said: “What is it?” Nan-Yueh said: “To say it's a thing misses the mark.” The Sixth Patriarch said: “Then can it be made evident or not?” Nan-Yueh said: “I don't say it can't be made evident, but it can't be defiled.” The Sixth Patriarch said: “Just this that is undefiled is what is upheld and sustained all Buddhas. You are thus. I am also thus. “Prajnadhara has foretold that from beneath your feet will come a horse which will trample to death everyone in the world. Bear this in mind but don't soon repeat it.” Nan-Yueh suddenly experienced Great Enlightenment. He then served the Sixth Patriarch for fifteen years. • Có vị Sa Môn ở huyện Truyền Pháp hiệu Đạo Nhất, hằng ngày ngồi thiền. Sư biết đó là pháp khí (người hữu ích trong Phật pháp) bèn đi đến hỏi: “Đại đức ngồi thiền để làm gì?” Đạo Nhất thưa: “Để làm Phật.” Sau đó sư lấy một cục gạch đến trên hòn đá ở trước am Đạo Nhất ngồi mài. Đạo Nhất thấy lạ hỏi: “Thầy mài gạch để làm gì?” Sư đáp: “Mài để làm gương.” Đạo Nhất nói: “Mài gạch đâu có thể thành gương được?” Sư hỏi lại: “Ngồi thiền đâu có thể thành Phật được?” Đạo Nhất hỏi: “Vậy làm thế nào mới phải?” Sư nói: “Như trâu kéo xe, nếu xe không đi, thì đánh xe là phải hay đánh trâu là phải?” Đạo Nhất lặng thinh, sư nói tiếp: “Ngươi học ngồi thiền hay học ngồi Phật? Nếu học ngồi thiền, thiền không phải ngồi nằm. Nếu học ngồi Phật, Phật không có tướng nhất định, đối pháp không trụ, chẳng nên thủ xả. Ngươi nếu ngồi Phật, tức là giết Phật, nếu chấp tướng ngồi, chẳng đạt ý kia.” Đạo Nhất nghe sư chỉ dạy như uống đề hồ, lễ bái hỏi: “Dụng tâm thế nào mới hợp với vô tướng tam muội?” Sư bảo: “Ngươi học pháp môn tâm địa như gieo giống, ta nói pháp yếu như mưa móc, nếu duyên ngươi hợp sẽ thấy đạo nầy.” Đạo Nhất lại hỏi: “Đạo không phải sắc tướng làm sao thấy được?” Sư nói: “Con mắt pháp tâm địa hay thấy được đạo. Vô tướng tam muội cũng lại như vậy.” Đạo Nhất hỏi: “Có thành hoại chăng?” Sư nói: “Nếu lấy cái thành hoại tụ tán, thiện ác mà thấy đạo, là không thể thấy đạo. Nghe ta nói kệ: Tâm địa hàm chư chủng, (Đất tâm chứa các giống) Ngộ trạch tức giai manh (Gặp ướt liền nẩy mầm) Tam muội hoa vô tướng (Hoa tam muội không tướng) Hà hoại phục hà thành? (Nào hoại lại nào thành?) . Nhờ những lời nầy mà Đạo Nhất khai ngộ tâm ý siêu nhiên—During the Kai-Yuan era of the T'ang dynasty (713-741) there was a novice monk called Ma-Tsu T'ao-Yi who constantly practice Zen meditation upon Mount Heng. Nan-Yueh knew that T'ao-Yi was a great vessel for the Dharma, and once walked up to him and said: “ What does your Worthiness intend to do by sitting in meditation?” Ma-Tsu said: “I intend to become a Buddha.” Nan-Yueh then picked up a piece of tile from the ground and began grinding on a rock. T'ao-Yi then asked: “What are you trying to make by grinding that?” Nan-Yueh said: “I'm grinding it to make a mirror.” T'ao-Yi said: “How can you make a irror by grinding a tile on a rock?” Nan-Yueh said: “If you can't make a mirror by grinding a tile on a rock, how can you become a Buddha by sitting in meditation?” T'ao-Yi said: “What is the correct way?” Nan-Yueh said: “It can be compared to an ox pulling a cart. If the cart doesn't move, do you strike the cart or strike the ox?” T'ao-Yi didn't answer. Nan-Yueh then said: “Are you sitting in order to practice Zen, or are you sitting to be a Buddha? If you're sitting to practice Zen, then know that Zen is not found in sitting or lying down. If you're sitting to become a Buddha, then know that Buddha has no fixed form. With respect to the constantly changing world, you should neither grasp it nor reject it. If you sit to become a Buddha, you kill Buddha. If you grasp sitting form then you have not yet reached the meaning.” When T'ao-Yi heard this instruction it was as though he had drunk sweet nectar. He bowed and asked: “How can one cultivate mind to be in accord with formless samadhi?” Nan-Yueh said: “You're studying the Dharma gate of mind-ground, and this activity is like planting seeds there. The essential Dharma of which I speak may be likened to the rain that falls upon the seeded ground. In this same manner your auspicious karmic conditions will allow you to perceive the Way.” T'ao-Yi then asked: “The Way is without color or form. How can one perceive it?” Nan-Yueh said: “The Dharma eye of mind-ground can perceive the true way. The formless samadhi is likewise perceived.” T'ao-Yi then asked: “Does it have good and bad, or not?” Nan-Yueh said: “If the Way is seen in the aggregation and disintegration of good and bad, then it is not the way. Listen to this verse: “The mind-ground fully sown, When moisture comes, all seeds sprout The formless flower of samadhi, How can it be bad or good?” At these words T'ao-Yi experienced great enlightenment and unsurpassed realization. • Đệ tử nhập thất gồm có sáu người, sư ấn khả rằng: “Sáu người các ngươi đồng chứng thân ta, mỗi người khế hội một phần—Six disciples entered Nan-Yueh-Huai-Rang's room to received transmission. He commended each of them, saying: “Six of you represent my body, each in accord with one part of it.” 1. Người được chân mày ta, giỏi về uy nghi là Thường Hạo—Chang-Hao inherits my eyebrows and their dignified appearance. 2. Người được mắt ta giỏi về ngó liếc là Trí Đạt—Zhi-T'a inherits my eyes and their stern glare. 3. Người được tai ta giỏi về nghe lý là Thản Nhiên—T'an-Ran inherits my ears and their ability to hear true principle. 4. Người được mũi ta giỏi về biết mùi là Thần Chiếu—Shen-Zhao inherits my nose and its ability to perceive smelling. 5. Người được lưỡi ta giỏi về đàm luận là Nghiêm Tuấn—Yuan-Xuan inherits my tongue and its ability to articulate speaking. 6. Người được tâm ta giỏi về xưa nay là Đạo Nhất—T'ao-Yi inherits my mind and its knowledge of past and present. • Sư lại bảo: “Tất cả các pháp đều từ tâm sanh, tâm không chỗ sanh, pháp không thể trụ. Nếu đạt tâm địa, việc làm không ngại, không phải thượng căn thì dè dặt chớ nói (nhất thiết chư pháp giai tùng tâm sanh, tâm vô sở sanh, pháp vô sở trụ. Nhược đạt tâm địa sở tác vô ngại, phi ngộ thượng căn nghi thận từ tai)—Nan-Yueh also said: “All dharmas are born of mind. Mind is unborn. Dharmas are nonabiding. When one reaches the mind-ground, one's actions are unobstructed. Be careful using this teaching with those not of superior understanding. • Có vị Đại đức đến hỏi sư: “Như gương đúc tượng, sau khi tượng thành không biết cái sáng của gương đi về chỗ nào?” Sư bảo: “Như Đại đức tướng mạo lúc trẻ thơ hiện thời ở đâu?” Đại đức lại hỏi: “Tại sao sau khi thành tượng không chiếu soi?” Sư bảo: “Tuy không chiếu soi, nhưng đối y một điểm cũng chẳng được.”—A great worthy one asked Nan-Yueh: “If an image is reflected in a mirror, where does the light of the image go when it's no longer observed?” Nan-Yueh said: “It's similar to remembering when Your Worthiness was a child. Where has your childlike appearance gone now? The worthy one asked: “But afterward, why does the image not remain?” Nan-Yueh said: “Although it is no longer reflected, it can be reproved even slightly.” • Sau Đạo Nhất đi giáo hóa ở Giang Tây, sư hỏi chúng: “Đạo Nhất vì chúng thuyết pháp chăng?” Chúng thưa: “Đã vì chúng thuyết pháp.” Sư hỏi: “Sao không thấy người đem tin tức về?”Chúng lặng thinh. Sư bèn sai một vị Tăng đi thăm. Trước khi hỏi: 'Làm cái gì?' Y trả lời, nhớ ghi những lời ấy đem về đây.” Vị Tăng đi thăm, làm đúng như lời sư đã dặn. Khi trở về vị Tăng thưa: “Đạo Nhất nói: 'Từ loạn Hồ sau ba mươi năm, chưa từng thiếu tương muối.” Sư nghe xong gật đầu—Once after T'ao-Yi left Nan-Yueh and was teaching in Jiang-Hsi, Nan-Yueh addressed the monks, saying: “Is T'ao-Yi teaching for the benefit of beings or not?” Some monks in the congregation replied: “He's been teaching for the benefit of beings.” Nan-Yueh said: “I've never heard any specific news about this.” The congregation couldn't offer any news on this. Nan-Yueh dispatched a monk to Ma-Tsu's place, instructing him: “Wait until he enters the hall to speak, and then ask him: 'What's going on?' Take note of his answer and then bring it back to tell it to me.” The monk then carried out Nan-Yueh's instructions. He returned and said: “Master Ma-Tsu said: 'In the thirty years since the barbarian uprising I've never lacked salt or sauce.'” Nan-Yueh approved this answer. • Sư thị tịch vào năm 744 sau Tây Lịch—He died in 744 A.D.
Nam Nhạc Huệ Tư
南嶽慧思|Huệ Tư
nam nhạc hạ
(南岳下) Pháp hệ của Thiền sư Nam nhạc Hoài nhượng đối lại với Thanh nguyên hạ là pháp hệ của ngài Thanh nguyên Hành tư. Sau khi được Lục tổ Tuệ năng ấn khả, Thiền sư Hoài nhượng đến ở chùa Bát nhã tại Hành sơn, tỉnh Hồ nam, tiếp hóa người học hơn 30 năm, xiển dương Thiền phong Nam nhạc. Ngài có 9 vị đệ tử nối pháp, trong đó, ngài Mã tổ Đạo nhất là bậc Thượng thủ. Sau khi đắc pháp, ngài Mã tổ hoằng hóa ở núi Cung công tỉnh Giang tây, nhờ có cơ phong sắc bén, mạnh mẽ và phong cách đánh hét, dựng phất tử mà ngài nổi tiếng trong thiên hạ với danh hiệu Giang Tây Mã Tổ. Trong hơn 100 đệ tử của ngài thì các vị: Bách trượng Hoài hải, Nam tuyền Phổ nguyện, Tây đường Trí tạng, Đại mai Pháp thường, Chương kính Hoài huy, Đại châu Tuệ hải, Bàng uẩn cư sĩ và Phật quang Như mãn được suy tôn là các bậc tôn túc trong Thiền lâm. Trong đó, 3 vị: Bách trượng Hoài hải, Nam tuyền Phổ nguyện và Tây đường Trí tạng được gọi chung là Tam Đại sĩ dưới tòa ngài Mã tổ. Ngài Bách trượng Hoài hải ở tại núi Bách trượng thuộc Hồng châu (tỉnh Giang tây), dẫn dắt chúng tăng, xây dựng Thiền viện, lập ra thanh qui tùng lâm. Trước đó, Thiền tăng phần nhiều trụ ở các Luật viện, chứ chưa có tự viện riêng biệt của Thiền gia. Từ ngài Bách trượng mới bắt đầu sáng lập Thiền viện, đồng thời thành lập thanh qui riêng, nhờ đó tăng chúng có được những phép tắc rõ ràng đúng đắn để nương tựa. Đến đây, sự phát triển của Thiền tông Trung quốc mới có cả danh lẫn thực. Đệ tử của ngài Bách trượng có các vị: Hoàng bá Hi vận, Qui sơn Linh hựu v.v... Sau khi được ấn khả, ngài Hi vận trụ ở núi Hoàng bá xiển dương Thiền pháp, đệ tử của ngài có Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền là bậc long tượng trong Thiền môn. Năm Đại trung thứ 8 (854) đời Đường, ngài Nghĩa huyền sáng lập viện Lâm tế bên bờ sông Hô đà tại Trấn châu (tỉnh Hà bắc) để tiếp dẫn người học, nhờ có cơ phong bén nhạy, cao vút mà ngài nổi tiếng và môn đình rất thịnh. Hệ thống ngài Nam nhạc vốn chỉ lưu hành ở vùng Hoa trung(Hồ nam, Giang tây), nhưng đến đời ngài Nghĩa huyền thì phát triển lên miền Bắc và hình thành tông Lâm tế phồn vinh nhất trong các hệ phái của Thiền tông Trung quốc. Ngài Qui sơn Linh hựu trụ ở núi Qui sơn tại Đàm châu (Hồ nam), sau 7 năm sáng lập chùa Đồng khánh, Thiền sinh từ khắp nơi đến tham học, có tời hơn 1.500 người. Sau, đệ tử của ngài là Thiền sư Tuệ tịch mở rộng Thiền pháp ở núi Ngưỡng sơn tại Viên châu (Giang tây) được những người học Thiền đương thời kính trọng và tin cậy. Pháp hệ của 2 ngài Qui sơn Linh hựu và Ngưỡng sơn Tuệ tịch gọi chung là Qui Ngưỡng tông. Đến cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại thì Thiền tông Trung quốc đã hình thành 5 hệ phái chính thống, đó là: Lâm tế, Qui ngưỡng, Tào động, Vân môn và Pháp nhãn, trong đó, 2 tông Lâm tế và Qui ngưỡng thuộc Nam nhạc hạ, còn 3 tông Tào động, Vân môn và Pháp nhãn thì thuộc Thanh nguyên hạ. Đến đời Tống, 2 tông Lâm tế và Vân môn tương đối hưng thịnh hơn, nhất là tông Lâm tế. Rồi từ tông Lâm tế lại chia ra 2 phái là Hoàng long và Dương kì. Như vậy, qua đến đời Tống, Thiền tông do Tổ Bồ đề đạt ma truyền đến Trung quốc đã phát triển thành Ngũ gia thất tông (năm nhà bảy tông), mà trong đó, pháp hệ được lưu truyền cho đến ngày nay thì phần nhiều là tông Lâm tế thuộc Nam nhạc hạ. Bởi thế, trong Thiền tông đã có câu Lâm tế nhi tôn mãn thiên hạ (con cháu dòng Lâm tế đầy khắp trong thiên hạ). (xt. Thanh Nguyên Hạ).
nam nhạc ma chuyên
(南岳磨磚) Tên công án trong Thiền Tông. Nam nhạc mài gạch. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Nam nhạc Hoài nhượng và đệ tử nối pháp là Mã tổ Đạo nhất. Khoảng năm Khai nguyên (713-741), ngài Đạo nhất ở tại viện Truyền pháp, hàng ngày ngồi thiền, Đại sư Nam nhạc biết ngài là pháp khí, liền bước đến hỏi (Đại 51, 240 hạ): Đại đức ngồi thiền để làm gì? Đạo nhất đáp: Để làm Phật. Ngài Nam nhạc bèn lấy 1 cục gạch ngồi mài trên tấm đá trước am của ngài Đạo nhất. Ngài Đạo nhất hỏi: Thầy mài gạch làm gì? Ngài Nam nhạc đáp: Mài gạch làm gương. Ngài Đạo nhất nói: Mài gạch làm sao thành gương được? Ngài Nam nhạc hỏi lại: Ngồi thiền làm sao thành Phật được? [X. chương Nam nhạc Hoài nhượng trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.5].
nam nhạc nguyện văn
(南岳願文) Cũng gọi Nam nhạc Tư đại thiền sư lập thệ nguyện văn, Phát nguyện văn, Lập thệ nguyện văn, Hoằng thệ nguyện văn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuệ tư soạn vào đời Trần thuộc Nam triều, hoàn thành vào năm Vĩnh định thứ 2 (558), được thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung bản văn nói về việc phát tâm bồ đề trong quá trình cầu đạo của ngài Tuệ tư, phỏng theo văn thệ nguyện của Phật A di đà khi còn ở giai vị tu nhân. Vì cầu nguyện sau 1 vạn năm của thời mạt pháp, khi Phật pháp đã diệt hết, được gặp Phật Di lặc ra đời, tế độ tất cả chúng sinh, cho nên ngài soạn văn nguyện này. Lời văn hùng dũng, tâm niệm hộ pháp sâu dày, đủ khiến cho người bi quan, bạc nhược phấn chấn tinh thần. Tư tưởng mạt pháp, thuật luyện đơn trong tín ngưỡng Đạo giáo, những hành vi của ác tỉ khưu v.v... nói trong bản văn đều là những sử liệu quan trọng để tìm hiểu xu thế chung của giới tư tưởng và trạng huống của Phật giáo vào cuối thời kì Nam Bắc triều. [X. truyện Tuệ sư trong Tục cao tăng truyện Q.17].
nam nhạc như kính chú tượng
(南岳如鏡鑄像) Tên công án trong Thiền tông. Nam nhạc như gương đúc tượng. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Nam nhạc Hoài nhượng và 1 vị tăng. Một hôm, có vị tăng hỏi ngài Nam nhạc Hoài nhượng (Đại 51, 241 thượng): Giả sử dùng gương đúc tượng, sau khi thành tượng thì tính sáng của gương ở đâu? Ngài Nam nhạc nói: Vậy tướng mạo của Đại đức lúc còn là đứa bé đâu rồi? Vị tăng lại hỏi: Sau khi thành tượng, tại sao không chiếu soi? Ngài Nam nhạc đáp: Tuy là không chiếu soi, nhưng che giấu nó một chút cũng không được!.
nam nhạc thuyết tự nhất vật
(南岳說似一物) Tên công án trong Thiền tông. Nam nhạc nói giống một vật. Công án này là câu trả lời hợp cơ của ngài Nam nhạc Hoài nhượng về câu hỏi của đức Lục tổ Tuệ năng, sau 8 năm tham cứu. Khi ngài Nam nhạc mới đến tham yết Lục tổ, Tổ hỏi (Đại 51, 240 hạ): Từ đâu đến? Ngài Nam nhạc đáp: Từ Tung sơn đến. Tổ lại hỏi: Đem vật gì đến đó? Ngài Nam nhạc mờ mịt không trả lời được. Sau khi thị giả Tổ 8 năm, ngài Nam nhạc mới tỉnh ngộ câu hỏi ấy, liền thưa với Lục tổ: –Con đã hiểu được câu hỏi mà cách đây 8 năm, lúc con mới đến Hòa thượng đã hỏi con. Tổ hỏi: Ông hiểu như thế nào? Ngài Nam nhạc thưa: Nói giống một vật thì không đúng. Tổ hỏi: Có thể tu chứng chăng? Ngài Nam nhạc trả lời: Tu chứng thì chẳng phải không, nhưng nhiễm ô thì không thể được. Tổ nói: Chỉ có cái không nhiễm ô ấy là cái mà chư Phật hộ niệm, ông đã như thế, ta cũng như thế. Tổ Bát nhã đa la bên Tây thiên đã dự đoán, dưới chân ông sẽ sinh ra một con ngựa mạnh, đạp chết người trong thiên hạ. Tất cả đều ở nơi tâm ông, chớ nên vội nói. [X. chương Nam nhạc Hoài nhượng trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.5; Tam bách tắc Q.trung, phần 1].
Nam Nhạc Thừa Viễn
(南嶽承遠, Nangaku Jōon, 712-802): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, vị tổ thứ 3 của Tịnh Độ Tông Trung Quốc, xuất thân Hán Châu (漢州, Quảng Hán, Tứ Xuyên), họ Tạ (謝). Ban đầu ông sống dưới tảng đá phía Tây Nam Hành Sơn (衡山), người ta cho thức ăn thì ăn, không cho thì ăn bùn đất mà sống, nên thân hình gầy gò, mặt lọ lem, làm tiều phu đốn củi và túp lều tranh nơi ông trú ngụ gọi là Di Đà Đài, chuyên tâm Niệm Phật Tam Muội. Lâu sau, tiếng tăm của ông vang khắp, nên người ta đến xin thọ giáo rất đông, lên đến vạn người. Chính Quốc Sư Pháp Chiếu (法照國師) dưới thời vua Đại Tông cũng xuất phát từ môn phong của ông. Ngay như vua Đại Tông cũng đã từng đến tham lễ ông và ban cho sắc hiệu Bát Nhã Đạo Tràng (般若道塲) và tên chùa Di Đà Tự (彌陀寺). Vào năm thứ 18 (802) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông thị tịch, hưởng thọ 91 tuổi. Liễu Tông Nguyên (柳宗元) soạn bia văn cho ông, dựng bia đá bên phải chùa. Môn nhân đệ tử của ông có đến hơn ngàn người, trong số đó có Pháp Chiếu (法照), Nhật Ngộ (日悟), Huệ Thuyên (慧詮), Tri Minh (知明), Siêu Minh (超明), v.v., là những nhân vật kiệt xuất nhất.
nam nhạc đan truyện kí
(南岳單傳記) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hoằng trừ soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tập 146. Nội dung sách này ghi chép về pháp thống của tông Lâm tế trong Thiền tông Trung quốc, là lược truyện đơn truyền trải qua các đời từ đức Thích tôn trở xuống đến Tổ thứ 69 là Thoái ông Hoằng trừ, mỗi truyện đều có phụ thêm phần biểu và lời bình.
nam năng bắc tú
Nam tông được xem như tông đốn ngộ của Lục Tổ Huệ Năng, bắc tông được xem như tông tiệm ngộ của đại sư Thần Tú—Huệ Năng của Nam Tông, Thần Tú của Bắc Tông)—The southern of the Sixth Patriarch Hui-Neng came to be considered the orthodox Intuitional school or the immediate method, the northern of the great monk Shen-Hsiu came to be considered as the gradual medthod. ** For more information, please see Nam Tông and Nam Đốn Bắc Tiệm.
nam nữ
Male and female.
nam phong
South wind.
nam phù
Jambudvipa (skt)—See Nam Thiệm Bộ Châu.
nam phương
Phương nam—Southern quarter.
Nam Phương Lục
(南方錄, Nampōroku): bộ sách viết về Trà Đạo, gồm 7 quyển, do Nam Phường Tông Khải (南坊宗啟) trước tác. Đây là bộ thư tịch do cao đệ của Thiên Lợi Hưu (千利休, Sen-no-Rikyū, 1522-1591) là Tông Khải ghi lại những điều tâm đắc về Cha-no-yu (茶の湯) do ông đã từng học được hay nghe thấy từ thầy mình, và Lập Hoa Thật Sơn (立花實山) là người biên tập bộ nầy. Nó được xem như là Thánh Thư của Trà Đạo.
nam phương phái
Tengalai (S)Do phái Sư tử Phạt Y Tư Na Phạt phái (Srivaisnava) chia ra.
nam phương phật giáo
Nam Phương Phật Giáo đối lại với Bắc Phương Phật Giáo (từ đời vua A Dục trở về sau, Phật giáo truyền từ vùng nam Ấn Độ như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan)—Southern Buddhism, in contrast with Northern Buddhism (Mahayana—Bắc phương Phật giáo).
nam phương vô cấu thế giới
(南方無垢世界) Thế giới Vô cấu (Tịnh độ) ở phương Nam, nơi Long nữ thành Phật. Cứ theo phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa quyển 4, thì Long nữ từng ở giữa chúng hội, trong khoảng sát na, biến thành nam tử, đầy đủ hạnh Bồ tát, liền qua thế giới Vô cấu ở phương Nam, ngồi trên tòa sen báu, thành bậc Đẳng chính giác, có đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, diễn thuyết diệu pháp cho tất cả chúng sinh khắp trong 10 phương nghe.
nam phương vô cấu thế gới
Theo Kinh Pháp Hoa thì Nam Phương Vô Cấu Thế Giới là thế giới mà nàng Long Nữ đã thành Phật—According to the Lotus Sutra, the Southern Pure Land is a land to which the dragon-maid went on attaining Buddhahood.
nam phật
Xem Phật Bảo sanh.
Nam Phố Thiệu Minh
(南浦紹明, Nampo Shōmyō, 1235-1308): vị tăng của Phái Dương Kì và Tùng Nguyên thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, tự là Nam Phố (南浦), họ là Đằng Nguyên (藤原), xuất thân vùng Tuấn Hà (駿河, Suruga, thuộc Shizuoka-ken). Ban đầu ông theo học với Tịnh Biện (淨辨) ở Kiến Tuệ Tự (建穗寺), sau đó theo hầu Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) ở Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Vào năm 1259 (năm đầu niên hiệu Chánh Nguyên [正元]), ông nhập Tống cầu pháp, đi tham bái khắp chốn tùng lâm, cuối cùng nhờ gặp được Hư Đường Trí Ngu (虛堂智愚) mà triệt để đại ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm 1267 (năm thứ 4 niên hiệu Văn Vĩnh [文永]), ông trở về nước, làm Tạng Chủ (藏主) dưới trướng của Đạo Long. Ông đã từng sống và di chuyển trong vòng 33 năm giữa hai chùa Hưng Đức Tự (興德寺, Kōtoku-ji) và Sùng Phước Tự (崇福寺, Sūfuku-ji) ở Thái Tể Phủ (太宰府) thuộc vùng Trúc Tiền (筑前, Chikuzen, thuộc Fukuoka-ken [福岡縣]). Đến năm 1305 (năm thứ 3 niên hiệu Gia Nguyên [嘉元]), nhận chiếu chỉ của nhà vua, ông lên kinh đô Kyoto, trú tại Vạn Thọ Tự (萬壽寺, Manju-ji). Bên cạnh đó, ông còn trùng hưng Gia Nguyên Tự (嘉元寺, Kagen-ji) ở vùng Đông Sơn (東山) và trở thành tổ khai sơn chùa này. Vào năm 1307 (năm thứ 2 niên hiệu Đức Trị [德治]), ông xuống vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), dừng chân nghỉ tại Chánh Quán Tự (正觀寺, Shōkan-ji). Sau đó, nhận lời thỉnh cầu của Tướng Quân Bắc Điều Trinh Thời (北條貞時, Hōjō Sadatoki), ông đến trú trì Kiến Trường Tự. Vào năm 1308 (năm đầu niên hiệu Diên Khánh [延慶]), ông thị tịch, hưởng thọ 74 tuổi đời và 60 hạ lạp. Đến năm sau ông được Hậu Vũ Đa Pháp Hoàng (後宇多法皇, Gouta Jōō, 1247-1287) ban cho thụy hiệu là Viên Thông Đại Ứng Quốc Sư (圓通大應國師). Môn hạ của ông có những nhân vật nổi tiếng như Tông Phong Diệu Siêu (宗峰妙超), Thông Ông Kính Viên (通翁鏡圓), Nguyệt Đường Tông Quy (月堂宗規), Diệu Tông Tông Hưng (妙宗宗興), v.v. Lớp dưới của phái này thì được gọi là Đại Ứng Môn Phái (大應門派). Hiện tại các phái của Lâm Tế Tông Nhật Bản đều thuộc hệ thống này.
; 南浦紹明; J: nampo jōmyō; 1235-1309;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế dòng Dương Kì. Sư lúc đầu học pháp nơi Lan Khê Ðạo Long nhưng sau đích thân sang Trung Quốc tham học với Thiền sư Hư Ðường Trí Ngu (c: xūtáng zhìyú) và được Ấn khả. Trong dòng Thiền của Sư có nhiều vị nổi danh như Nhất Hưu Tông Thuần (j: ikkyū sōjun) và Bạch Ẩn Huệ Hạc (j: hakuin ekaku). Sư được Nhật hoàng ban hiệu Ðại Ứng Quốc sư (j: daiō kokushi).|Khác với các vị tiền nhân đưa Thiền tông sang Nhật như Minh Am Vinh Tây (j: myōan eisai), Viên Nhĩ Biện Viên (j: enni ben'en), Sư không hoà nhập Thiền tông với những giáo lí của các tông khác như Thiên Thai, Chân ngôn. Môn đệ danh tiếng nhất của Sư là Diệu Siêu Tông Phong (j: myōchō shūhō, cũng được gọi là Ðại Ðăng Quốc sư; daitō ko-kushi).|Mặc dù đã nổi danh lúc còn hoằng hoá nhưng vai trò thật sự quan trọng của Sư cho Thiền Lâm Tế tại Nhật chính là hệ thống truyền thừa vô song với các môn đệ lừng danh. Qua đó, người ta có thể xem Sư là vị Tổ chính của Thiền Lâm Tế tại Nhật (xem biểu đồ cuối sách) vì hầu hết tất cả những vị Thiền sư danh tiếng của tông Lâm Tế của Nhật sau này đều xuất phát từ hệ phái của Sư với tên gọi là Ứng-Ðăng-Quan phái (j: ō-tō-kan-ha) – viết tắt từ ba danh hiệu Ðại Ứng (ō) Quốc sư, Ðại Ðăng (tō) Quốc sư và Quan (kan) Sơn Huệ Huyền. Với sự hoằng hoá của Sư, giai đoạn du nhập của Thiền tông từ Trung Quốc sang Nhật đã kết thúc.
nam phố thiệu minh
(南浦紹明) Thiền sư Nhật bản thuộc tông Lâm tế, người Tuấn hà (huyện Tĩnh cương), họ Đằng nguyên. Ban đầu, sư thờ ngài Lan khê Đạo long chùa Kiến trường ở Liêm thương, Nhật bản, làm thầy, sau vượt biển đến Trung quốc (đời Tống), theo hầu ngài Hư đường Trí ngu ở Hàng châu và được nối pháp. Sau khi trở về Nhật, sư lần lượt trụ các chùa Sùng phúc ở phủ Thái tế, chùa Vạn thọ ở Kinh đô, chùa Kiến trường ở Liêm thương v.v... mở rộng Thiền pháp, đặt nền tảng cho sự hưng long tông Lâm tế. Niên hiệu Diên khánh năm đầu (1308) sư thị tịch, thọ 74 tuổi, pháp lạp 60. Vua ban thụy hiệu Viên Thông Đại Ứng Quốc Sư, Đại Ứng Quốc Sư.Đệ tử nối pháp: Tông phong Diệu siêu. Tác phẩm: Đại ứng quốc sư ngữ lục 3 quyển. [X. Đại ứng quốc sư tháp minh; Liêm thương ngũ sơn kí].
nam phổ đà
Tên một ngôi chùa nổi tiếng trong quận sáu, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây dựng vào năm 1953 và đã trải qua bốn đời trụ trì. Chùa kiến lập ba ngôi điện thờ của Phật Thích Ca, Bồ Tát Quán Thế Âm, và Bồ tát Địa Tạng. Nam Phổ Đà là ngôi chùa nổi tiếng của người Trung Hoa bên tỉnh Phúc Kiến, thuộc dòng Thiền Phổ Đà Tây Sơn. Chánh điện tôn trí thờ Tam Bảo với tượng Phật bằng đá, tượng gỗ Tây Thiên Tam Thánh, hai bên có tượng Già Lam, Hộ Pháp. Mặt sau thờ Tổ Bồ Đề Đạt Ma—Name of a famous pagoda, located in the sixth district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built in 1953 and headed by four successive elders. It was constructed with three Holy Shrines worshipping Sakyamuni Buddha, Avalokitesvara Bodhisattva, and Yama of Hell. Nam Phổ Đà is a famous Chinese pagoda from Fu-Chian province belonging to the Buddhist sect of Tsi-Shan Ch'an Tzih. In the the Main Hall stand stone statues of the Three Jewels and the wooden statues of the Three Noble Ones of the West Heaven are worshipped. On both sides of the statues stand those of Buddhist Bonze, Dharma Guardian. Patriarch Bodhidharma is worshipped in the Back Hall.
; (南普陀) Chùa nằm dưới ngọn núi Ngũ lão ở Hạ môn, tỉnh Phúc kiến, được sáng lập vào đời Đường, với tên là chùa Tứ châu, sau bị phá hủy trong chiến tranh. Khoảng năm Khang hi đời Thanh, chùa được xây lại và đổi tên là Nam Phổ đà, vì chùa nằm về phía Nam núi Phổ đà ở tỉnh Chiết giang, cho nên gọi là chùa Nam Phổ đà, là 1 trong những thắng cảnh của vùng Đông nam Trung quốc. Tam quan, Đại hùng bảo điện, Đại bi điện, lầu để kinh... đều dựa vào núi và trông ra biển, phong cảnh u nhã, là ngôi chùa cổ nổi tiếng trong và ngoài nước. Đại hùng bảo điện là tòa kiến trúc chủ yếu của chùa, trên nóc điện có đắp hình rồng phượng và đaoguật, cực kì tráng lệ. Điện Đại bi là tòa nhà hình bát giác, kiến trúc toàn bằng gỗ, chạm trổ tinh vi, có 3 lớp mái; trên đỉnh là những lớp đấu củng xếp chồng lên nhau, những cây xà ngang được gác trên đầu trụ đá, kết cấu rất lạ, ít thấy trong lối kiến trúc chùa chiền. Trong điện có tượng của bồ tát Quan thế âm nghìn tay bằng gỗ, chạm trổ khá tỉ mỉ. Năm 1925, pháp sư Hội tuyền trụ trì chùa này, sáng lập viện Phật học Mân nam ở đây và làm Viện trưởng.
Nam Sơn
(南山): tiếng gọi tắt của Chung Nam Sơn (終南山), dãy núi kéo dài từ Tỉnh Cam Túc (甘肅省), đi qua Tỉnh Thiểm Tây (陜西省) cho đến Tỉnh Hà Nam (河南省). Vì dãy Chung Nam Sơn này không hề băng hoại và tồn tại mãi với thời gian, cho nên tên của nó thường được dùng để chúc tụng sự nghiệp bền vững, tuổi thọ lâu dài. Vì vậy, thế gian thường có những câu như “thọ tỷ Nam Sơn (壽比南山, sống thọ như Nam Sơn)”, “Nam Sơn chi thọ (南山之壽, tuổi thọ bằng Nam Sơn)”, “như Nam Sơn chi thọ, bất khiên bất băng (如南山之壽不騫不崩, như tuổi thọ bằng Nam Sơn, không lay chuyển và không băng hoại)”, v.v. Trong Thiên Nam Ngữ Lục có câu rằng: “Tuổi vua Phật nguyện thăng bằng, Nam Sơn há sánh, núi trăng xem tày”.
nam sơn
Ngài Đạo Tuyên đời nhà Đường là vị tổ của tông Tứ Phần Luật, trụ trì tại chùa trong núi Chung Nam, nên chùa được gọi là Nam Sơn—Southern hill, name of a monastery which gave its name to T'ao-Hsuan of the T'ang dynasty, founder of the Vynaya school. ** For more information, please see Đạo Tuyên.
nam sơn khởi vân bắc sơn hạ vũ
(南山起雲北山下雨) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Kéo mây núi Nam, đổ mưa núi Bắc. Tắc 31 trong Thung dung lục (Đại 48, 248 thượng) chép: Vân môn dạy rằng: Cổ Phật với trụ cột tương giao là cơ thứ mấy? Trong chúng không ai đáp được. Sư trả lời thay: Kéo mây núi Nam, đổ mưa núi Bắc.
nam sơn niệm phật môn thiền tông
(南山念佛門禪宗) Một phái Thiền chủ trương pháp môn Dẫn thanh niệm Phật do ngài Tuyên thập, đệ tử của Ngũ tổ Thiền tông Hoằng nhẫn đề xướng. Viên giác kinh đại sớ sao quyển hạ của ngài Tông mật (Vạn tục 14, 279 thượng) nói: Nhờ truyền hương mà tồn Phật, chính là nhà thứ 6, tức là Nam sơn niệm Phật môn Thiền tông. Người chủ trưong pháp môn này là ngài Tuyên thập, đệ tử của Ngũ tổ. Hòa thượng Vị ở Quả châu, ngài Uẩn ngọc ở Lang châu, Ni sư Nhất thừa ở huyện Tương như, đều hoằng truyền pháp môn này. Nhưng tôi không biết rõ thầy trò truyền thừa như thế nào. Truyền hương là đầu tiên họp chúng làm các nghi thức lễ sám, như môn phong Hòa thượng Kim, khi muốn truyền pháp thì dùng sự truyền hương làm tin giữa thầy trò, Hòa thượng trao hương cho đệ tử, đệ tử trao lại cho Hòa thượng, rồi Hòa thượng lại trao cho đệ tử, cứ thế 3 lần, mọi người đều như vậy. Tồn Phật là lúc trao pháp, trước hết nói về đạo lí của pháp môn, ý thú của sự tu hành, rồi sau khiến niệm 1 câu Phật, ban đầu từ niệm thành tiếng, sau nhỏ dần cho đến không có tiếng, đưa tiếng (dẫn thanh) Phật vào sâu trong ý thức, ý niệm còn thô, lại đưa đến tâm niệm, niệm thì vẫn còn tưởng, tức là Phật hằng ở trong tâm, cho đến không còn tưởng nữa, thì làm sao mà chẳng đắc đạo? [X. Trung quốc Tịnh độ giáo lí sử; Thiền tông sử nghiên cứu].
nam sơn tam quán
(南山三觀) Cũng gọi Nam sơn tam giáo. Pháp quán do Luật sư Đạo tuyên ở Nam sơn lập ra. Ngài Đạo tuyên căn cứ vào Thánh giáo của đức Như lai mà lập ra Hóa giáo và Chế giáo khác nhau. Trong Hóa giáo lại chia làm tam quán: Tính không, Tướng không và Duy thức. 1. Tính không quán: Pháp quán của Tiểu thừa được nói trong các kinh, luật, luận như: Kinh A hàm, luật Tăng kì, luật Tứ phần, luận Câu xá, luận Thành thực v.v... Quán xét các pháp đều do nhân duyên sinh, tính không vô ngã, cho rằng tướng nhân duyên sinh thì có thật, mà quán tính của nó thì rỗng không. 2. Tướng không quán: Pháp quán của Đại thừa được nói trong kinh Bát nhã và trong các bộ luận thuộc hệ thống Bát nhã, tức quán xét tướng của các pháp là không. 3. Duy thức quán: Pháp quán cùng tột của Đại thừa được nói trong các kinh luận như: Hoa nghiêm, Pháp hoa, Lăng già, Niết bàn, Nhiếp luận v.v..., quán xét hết thảy muôn pháp đều do thức của mình biến ra, cho nên muôn pháp chỉ là hình ảnh của tâm thức mà thôi. Hai pháp quán trước cho rằng tính, tướng của muôn pháp đều là không, nhưng pháp quán thứ 3 này thì cho rằng, tính, tướng của các pháp ngoài tâm đều là không, còn tính, tướng của muôn pháp trong tâm thì đều chẳng phải không. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển trung, phần 4 (Đại 40, 96 trung) nói: Nhưng về lí thì chủ yếu không ngoài 3 loại: 1. Các pháp tính không, vô ngã, lí này chiếu soi tâm, thuộc Tiểu thừa. 2. Tướng của pháp vốn là không, chỉ do tình chấp vọng kiến, lí này là chiếu dụng thuộc Tiểu Bồ tát. 3. Các pháp bên ngoài vốn là không, duy thức là có thật; lí này sâu xa mầu nhiệm, chỉ có ý thức duyên biết được, đây là hạnh chứng Phật quả của hàng Đại bồ tát. (xt. Tam Quán).
nam sơn tông
(南山宗) Cũng gọi Nam sơn luật, Tứ phần tông, Nam sơn giáo, Hành sự phòng phi chỉ ác tông. Tên tông phái do Luật sư Đạo tuyên ở núi Chung nam sáng lập vào đời Đường. Ngài Đạo tuyên từng theo Luật sư Trí thủ–đệ tử truyền pháp đời thứ 3 của Đại sư Tuệ quang thời Bắc Ngụy–học luật Tứ phần. Sau, từ khoảng năm Vũ đức thứ 9 (626) đời vua Cao tổ nhà Đường đến năm Trinh quán 19 (645) đời vua Thái tông, ngài lần lượt soạn 5 bộ sách nổi tiếng là: Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao, Tứ phần luật thập tì ni nghĩa sao, Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ, Tứ phần luật chú giới bản sớ và Tỉ khưu ni sao. Đây là 5 bộ sớ sao lớn của tông Nam sơn. Ngài còn thiết lập giới đàn ở núi Chung nam và chế định các nghi thức truyền thụ giới pháp trong Phật giáo. Về giáo pháp, thì ngài chia giáo pháp của đức Phật thành Hóa giáo và Chế giáo: Định học, Tuệ học là Hóa giáo, Giới học là Chế giáo. Hóa giáo lại chia làm: Tính không giáo, Tướng không giáo và Duy thức viên giáo. Còn Chế giáo thì do kiến giải về giới thể mà chia ra 3 tông: Thực pháp tông(chỉ cho Hữu bộ, vì bộ này cho giới thể là sắc pháp); Giả danh tong (chỉ cho luận Thành thực, vì luận này cho giới thể là phi sắc phi tâm) và Viên giáo tong (chỉ cho Duy thức tông, vì tông này cho giới thể là tâm pháp). Ngài Đạo tuyên gọi tông Duy thức là tông Viên giáo, lấy tâm pháp (các chủng tử được tích chứa trong thức A lại da) làm giới thể, chia giới ra làm 2 môn: Chỉ trì và Tác trì. Chỉ trì tức là không làm các điều ác, qui định tỉ khưu 250 giới, tỉ khưu ni 384 giới, lại căn cứ vào nội dung phạm giới mà chia làm mấy loại (tụ). Còn Tác trì tức là làm tất cả mọi việc thiện, bao gồm các qui định như thụ giới, thuyết pháp, an cư, uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm v.v... Ngài cho rằng luật Tứ phần, về hình thức, tuy thuộc về Tiểu thừa, nhưng về nội dung thì thuộc Đại thừa. Năm Càn phong thứ 2 (667) đời vua Cao tông, ngài thị tịch. Đệ tử nổi tiếng của ngài có các vị như: Trí nhân, Đại từ, Chu, Tú, Văn cương, Dung tế, trong đó, Luật sư Chu (có thuyết nói Luật sư Tú) được tôn là Tổ thứ 2 của tông Nam sơn. Các vị kế thừa sau đó là: Đạo hằng, Tỉnh cung, Huệ chính, Pháp bảo, Nguyên biểu, Thủ ngôn, Nguyên giải, Pháp vinh, Xử hằng, Trạch ngộ, Doãn kham, Trạch kì, Nguyên chiếu, Trí giao, Chuẩn nhất, Pháp chính, Pháp cửu, Như liên, Hành cư v.v... Chư Tổ trải qua các đời đều dốc sức vào việc soạn thuật chương sớ, trong đó, ngài Doãn kham –Tổ thứ 13– từng chú sớ 10 bộ sách về luật của Đại sư Đạo tuyên, được người đời gọi là Thập bản kí chú. Còn ngài Nguyên chiếu –Tổ thứ 15– thì chú giải 3 bộ luật lớn của ngài Đạo tuyên, tức là Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí, Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ hành tông kí và Tứ phần luật yết ma sớ tế duyên kí. Đây là 3 bộ kí về Luật học rất nổi tiếng. (xt. Luật Tông, Đạo Tuyên).
nam sơn tự
Dakknagri-vihāra (S)Tên một ngôi chùa.
; (南山寺) Chùa ở huyện Long khê, tỉnh Phúc kiến Trung quốc, được sáng lập vào khoảng năm Khai nguyên (713-741) đời Đường, qua các đời đều có trùng tu. Chùa hiện nay là kiến trúc của đời Thanh. Điện đường rộng lớn, khí thế hùng vĩ, có Đại hùng bảo điện, Thiên vương điện, Tàng kinh điện. Tàng kinh điện có cất chứa 3 tạng kinh luật luận và các di vật văn hóa quí giá như kinh Hoa nghiêm viết bằng máu. Bên cạnh điện Tàng kinh là Tịnh nghiệp đường có thờ pho tượng Phật Di lặc được khắc từ 1 tảng đá lớn, cao hơn 5 mét, là tác phẩm đời Đường.
nam sơn y
(南山衣) Chỉ cho áo ca sa của các vị tăng thuộc Nam sơn luật tông, tức là kiểu ca sa có 2 chiếc khoen để cài đặt ở trước ngực. (X. Họa tượng tu trì].
nam sơn đại sư
Xem Đạo Tuyên.
nam sơn đả cổ bắc sơn vũ
(南山打鼓北山舞) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Đánh trống ở núi Nam mà múa hát ở núi Bắc, chỉ cho sự cảm ứng giữa thầy và trò. Vân môn lục quyển hạ (Đại 47, 569 trung) chép: Sư hỏi vị tăng rằng: Không dẫn dắt đến bùn nước, thì nói thế nào? Sư trả lời thay rằng: Đánh trống ở núi Nam mà múa hát ở núi Bắc.
nam tam bắc thất
(南三北七) Nam ba Bắc bảy. Từ ngữ chỉ cho cách phân loại và hệ thống của sự phán thích giáo tướng trong Phật giáo thịnh hành ở thời đại Nam Bắc triều bên Trung quốc. Nam tam Bắc thất là 10 loại phán giáo của 3 vị sư ở miền Nam và 7 vị sư ở miền Bắc, do ngài Trí khải –Tổ khai sáng tông Thiên thai– sắp xếp thành hệ thống. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10 thượng nói, các sư ở Giang nam cho rằng, hình thức thuyết pháp của đức Phật có 3 giáo: Đốn, Tiệm và Bất định. Trong đó, Tiệm giáo có 3 thuyết khác nhau như sau: 1. Sư Ngập ở núi Hổ khâu chủ trương Tam thời giáo là Hữu tướng, Vô tướng và Thường trụ. 2. Các sư Tông ái, Tăng mân lại thêm Đồng qui giáo vào trước Thường trụ giáo nói trên, gọi là Tứ thời giáo. 3. Các sư Tăng nhu, Tuệ thứ ở chùa Định lâm và sư Tuệ quán ở chùa Đạo tràng, lại thêm Bao biếm ức dương giáo vào sau Vô tướng giáo và trước Đồng qui giáo, gọi là Ngũ thời giáo. Bảy sư ở miền Bắc: 1. Cư sĩ Lưu cầu ở núi Vũ đô lập Ngũ thời giáo là: Nhân thiên, Hữu tướng, Vô tướng, Đồng qui và Thường trụ. 2. Ngài Bồ đề lưu chi lập 2 giáo là Bán tự và Mãn tự. 3. Ngài Quang thống (Tuệ quang)lập 4 tông là Nhân duyên, Giả danh, Cuống tướng và Thường. 4. Ngài Tự quĩ ở chùa Hộ thân thêm vào Pháp giới tông, gọi là Ngũ tông giáo. 5. Ngài An lẫm ở chùa Kì xà lập 6 tông là Nhân duyên, Giả danh, Cuống tướng, Thường, Chân và Viên, gọi là Lục tông. 6. Một vị Thiền sư (không rõ tên) lập 2 loại Đại thừa giáo là Hữu tướng và Vô tướng. 7. Ngài Bồ đề lưu chi (có thuyết nói ngài Cưu ma la thập) lập Nhất âm giáo, cho rằng đức Phật dùng 1 tiếng nói pháp, chúng sinh tùy cơ duyên sai khác mà lí giải không giống nhau. [X. Duy ma kinh huyền sớ Q.6; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa phục chân sao Q.6].
nam thanh nữ tú
Handsome man and woman.
Nam thiên
(南天): có mấy nghĩa. (1) Chỉ bầu trời ở phương Nam. Như trong bài thơ Bồi Tộc Thúc Diệp Du Động Đình (陪族叔曄游洞庭) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Động Đình Tây vọng Sở giang phân, thủy tận Nam thiên bất kiến vân (洞庭西望楚江分、水盡南天不見雲, Động Đình Tây ngắm sông Sở chia, nước tận trời Nam chẳng thấy mây).” (2) Chỉ cho đất nước ở phương Nam, hay Việt Nam (nghĩa trong bài). Như Thiền sư Pháp Thuận (法順, 915-990) có làm bài thơ rằng: “Quốc tộ như đằng lạc, Nam thiên lí thái bình, vô vi cư điện các, xứ xứ tức đao binh (國祚如藤絡、南天裏太平、無爲居殿閣、處處息刀兵, vận nước như dây quấn, trời Nam hưởng thái bình, an nhiên nơi điện các, chốn chốn hết đao binh).” (3) Chỉ phương Nam. Như trong bài thơ Tống Lô Thiếu Phủ Phó Diên Lăng (送盧少府赴延陵) của Lý Kì (李頎, 690-751) nhà Đường có câu: “Bắc cố ba đào hiểm, Nam thiên phong tục thù (北固波濤險、南天風俗殊, núi Bắc sóng cồn hiểm, phương Nam phong tục lạ).”
nam thiên nhất trụ
Tên của một ngôi chùa nổi tiếng nằm trong quận Thủ Đức, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Trí Dũng kiến lập vào năm 1959, được làm theo kiểu chùa Một Cột ở Hà Nội. Chánh điện được xây cất rất công phu. Các pho tượng Phật, các bàn hương án, bao lam, và phù điêu là những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc. Chùa có bản kinh Phật bằng lá bối do Thủ Tướng Ấn Độ tặng năm 1964—Name of a famous pagoda located in Thủ Đức district, Saigon City, South Vietnam. It was built in 1959 by Most venerable Trí Dũng. Its general structure follows the design of One-Pillar Pagoda in Hà Nội. The Main Hall was constructed skillfully. The Buddha statues, altars, carved drafts, bas-reliefs, etc. are magnificient masterpieces. The pagoda has conserved a sutra copied on palm leaves, a gift from Indian Prime Minister in 1964.
nam thiên thiết tháp
(南天鐵塔) Cũng gọi Thiết tháp. Chỉ cho tòa tháp bằng sắt ở Nam Thiên trúc. Tương truyền pháp môn do đức Đại nhật Như lai nói và kinh Kim cương đính được lưu giữ trong thiết tháp này. Sau khi đức Phật nhập diệt mấy trăm năm, bồ tát Long thụ dùng 7 hạt cải trắng mở cửa tháp và được Kim cương tát đỏa trao các kinh điển ấy cho. Thiết tháp xưa nay được giải thích bằng 2 thuyết: Pháp nhĩ và Tùy duyên. -Pháp nhĩ: Thiết tháp là chỉ cho nội tâm của ngài Long thụ cũng tức là chỉ cho tâm tính sẵn có của chúng sinh. -Tùy duyên: Thiết tháp có thật, tồn tại trong lịch sử. [X. Kim cương đính kinh đại du già bí mật tâm địa pháp môn nghĩa quyết Q.thượng; Quảng phó pháp truyện Q.1 (Không hải)].
nam thiên trúc
Nam Ấn Độ—Southern India.
nam thiên trúc nhất thừa tông
(南天竺一乘宗) Tên gọi khác của Thiền tông do Tổ Bồ đề đạt ma truyền cho ngài Tuệ khả. Vì ngài Tuệ khả thường dùng bộ kinh Lăng già (4 quyển) làm pháp yếu, cho nên phái này cũng gọi là tông Lăng già. (xt. Thiền Tông).
Nam Thiền Tự
(南禪寺, Nanzen-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Nam Thiền Tự (南禪寺派) thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, tọa lạc tại Nanzenjifukuchi-chō, Sakyō-ku, Kyoto, tên núi là Thoại Long Sơn (瑞龍山), tên chính thức của chùa là Thái Bình Hưng Quốc Nam Thiền Thiền Tự (太平興國南禪禪寺). Đây là ngôi chùa do Quy Sơn Thiên Hoàng (龜山天皇, Kameyama Tennō, tại vị 1259-1274) cải đổi từ ngôi điện phía Đông Sơn mà thành. Sau đó nhà vua đã mời Vô Quan Phổ Môn (無關普門, Mukan Fumon, 1212-1291, tức Đại Minh Quốc Sư [大明國師]) đến làm tổ khai sơn chùa này và trải qua hơn 10 lần chỉnh bị ngôi già lam. Đây cũng được xem như là ngôi già lam đầu tiên tại Nhật mà cả Hoàng thất đều trở thành đàn việt của chùa. Ban đầu tên chùa là Nam Thiền Thiền Tự (南禪禪寺), nhưng sau được đổi thành Nam Thiền Tự và dùng cho đến ngày nay. Chùa này được xem như là ngôi già lam có phong cách cao nhất trong số các tự viện Thiền Tông thuộc Ngũ Tông. Chùa cũng đã trải qua mấy lần bị thiêu cháy và hoang phế, còn quần thể kiến trúc hiện tại là sự phục hưng vào thế kỷ thứ 17.
nam thiền tự
Nanzen-ji (J)Tên một ngôi chùa.
; (南禪寺) I. Nam Thiền Tự. Chùa ở núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, được xây cất vào năm Kiến trung thứ 3 (782) đời vua Đức tông nhà Đường, là kiến trúc bằng gỗ xưa nhất hiện còn ở Trung quốc. Có lẽ chùa này là tự viện nhỏ nhất ở Ngũ đài, vuông vức mỗi bề 5,8 mét, vì thế mới thoát khỏi pháp nạn Hội xương. Trong chùa thờ 17 pho tượng bằng đất nhiều màu sắc như: Thích ca Như lai, Văn thù, Phổ hiền, Quan âm, Kim cương lực sĩ, v.v... Tuy chùa đã được trùng tu vào niên hiệu Nguyên hựu năm đầu (1086) đời vua Triết tông nhà Tống, nhưng nói chung toàn bộ ngôi chùa vẫn còn giữ được phong cách kiến trúc và nghệ thuật đời Đường. II. Nam Thiền Tự. Chùa ở thành phố Kinh đô (Kyoto), khu Thượng kinh, Nhật bản, là Đại bản sơn của phái Nam thiền tự thuộc tông Lâm tế. Chùa này vốn là Thiền lâm tự li cung của Thiên hoàng Qui sơn, vào năm Chính ứng thứ 4 (1291) mới được đổi làm tự viện. Trong cuộc biến loạn Ứng nhân, chùa đã hoàn toàn bị thiêu hủy. Nhưng nhờ sự hộ trì của 2 họ Phong thần và Đức xuyên, chùa được kiến thiết lại. Sau lại bị trận đại hỏa hoạn tàn phá. Vào năm Khoan vĩnh thứ 5 (1628), ông Đằng đường Cao hổ cúng dường kinh phí xây dựng lại theo kiến trúc Thiền tông. Chùa có thờ tượng Phật Thích ca và 16 vị La hán màu sắc tươi sáng. Trong chùa gồm các kiến trúc như: Kim địa viện, Nam Thiền viện, Qui vân viện, Thích tùng viện, Chân thừa viện, Nam dương viện, Từ thị viện, Thiên thụ am v.v...
nam thiệm bộ châu
Jumbudvipa (S)Nam Diêm Phù đề, Diêm phù, Thiệm bộTên một châu trong biển nước mặn nam núi Tu di. Nam Thiệm Bộ Châu hay cõi Nam Diêm Phù đề là cõi con người đang sống, châu này có 2 Trung châu là: Miêu ngư châu (Camara) và Thắng Miêu ngưu châu (Varacamara).
; Coi Nam diêm phù đề.
; Jambudvipa (skt)—Nam Châu—Nam Bộ—Nam Diêm Phù Đề—Nam Phù—Nam Thiệm Bộ Châu, một trong tứ đại châu, tọa lạc phía nam núi Tu Di, bao gồm thế giới được biết đến bởi người Ấn Độ thời cổ sơ. Theo Eitel trong Trung Anh Phật Hoc Từ Điển, Nam Thiệm Bộ Châu bao gồm những vùng quanh hồ Anavatapta và núi Tuyết (tức là cõi chúng ta đang ở, trung tâm châu nầy có cây diêm phù. Chính ở cõi nầy, Đức Phật đã thị hiện, và ở cõi nầy có nhiều nhà tu hành hơn hết)—The Southern Continent, one of the four continents, that situated south of Mount Meru, comprising the world known to the early Indian. According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Jambudvipa includes the following countries around the Anavatapta lake and the Himalayas: 1) Bắc—North: Hung Mông Thổ—Huns-Mongolians-Turks. 2) Đông—East: Trung Quốc-Đại Hàn-Nhật—China-Korea-Japan. 3) Nam—South: a) Bắc Ấn—Northern India: Hai mươi bảy vương quốc—Twenty-seven kingdoms. b) Đông Ấn—Eastern India: Mười vương quốc—Ten kingdoms. c) Nam Ấn—Southern India: Mười lăm vương quốc—Fifteen kingdoms. d) Trung Ấn—Central India: Ba mươi vương quốc—Thirty kingdoms. e) Tây Ấn—Western Indian: Ba mươi bốn vương quốc—Thirty-four kingdoms.
Nam Tháp Quang Dũng
(南塔光涌[湧], Nantō Kōyū, 850-938): vị tăng của Quy Ngưỡng Tông Trung Quốc, người Phong Thành (豐城), Dự Chương (豫章), Tỉnh Giang Tây (江西), họ là Trương (張). Ngay từ nhỏ ông đã học Nho điển và kinh luận, sau xuất gia ở Thạch Đình (石亭) và được Chơn Công (眞公) ở Khai Nguyên Tự (開元寺) truyền trao huyền chỉ của Tịnh Danh Kinh (淨名經). Năm 19 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới với Đới Công (戴公) ở Thọ Sơn Tự (壽山寺), Nhượng Châu (襄州), Tỉnh Hồ Bắc (湖北). Sau đó ông đến tham yết Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂), được tâm ấn, kế thừa pháp tịch của thầy và đến sống ở Nam Tháp, Ngưỡng Sơn. Ông thị tịch vào mùa hạ năm thứ 2 niên hiệu Thăng Nguyên (昇元), thọ 89 tuổi đời và 70 hạ lạp.
; 南塔光涌; C: nántǎ guǎngyǒng; J: nantō kōyū; tk. 9;|Thiền sư Trung Quốc, nối pháp Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, Tổ thứ hai dòng Quy Ngưỡng. Ðạt yếu chỉ của Sư có Thiền sư Ba Tiêu Huệ Thanh.|Sư họ Chương, quê ở Phong Thành, Dự Chương. Lúc Sư ra đời, hào quang soi sáng khắp nhà, ngựa trong chuồng sợ hãi, vì vậy Sư được đặt tên là Quang Dũng. Sư xuất gia theo Ngưỡng Sơn từ nhỏ. Một thời gian Sư đến miền Bắc yết kiến Lâm Tế, rồi lại trở về hầu thầy. Ngưỡng Sơn hỏi: »Ngươi đến làm gì?« Sư thưa: »Làm lễ ra mắt Hoà thượng.« Ngưỡng Sơn hỏi: »Thấy Hoà thượng chăng?« Sư thưa: »Dạ thấy.« Ngưỡng Sơn bảo: »Hoà thượng sao giống như lừa?« Sư đáp: »Con thấy Hoà thượng cũng chẳng giống Phật.« Ngưỡng Sơn hỏi tiếp: »Nếu chẳng giống Phật thì giống cái gì?« Sư thưa: »Nếu có chỗ giống thì cùng lừa đâu khác.« Ngưỡng Sơn kinh ngạc nói: »Phàm thánh cả hai đều quên, tình hết, thể hiện bày, ta lấy đây nghiệm xét ngươi, hai mươi năm không ngờ vực. Ngươi nên gìn giữ đó.« Ngưỡng Sơn hay chỉ Sư nói với người: »Ðây là nhục thân Phật.«|Sư sau trụ ở Ngưỡng Sơn, tháp phía Nam. Một vị Tăng hỏi Sư: »Thế nào là diệu dụng một câu?« Sư đáp: »Nước đến thành hồ.« Tăng lại hỏi: »Chân Phật chỗ nào?« Sư đáp: »Nói ra không tướng, cũng không tại nơi khác.«|Không rõ Sư tịch nơi nào, năm nào.
nam tháp quang dũng
Nan-t'a Kuang-jun (C), Nanta Guangrun (J), Nantō KōyŪ (J), Nanto Koan (J)(850-938) (Thế kỷ thứ 10) Sư phụ của Ba Tiêu Huệ Thanh. Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Ngưỡng Sơn Huệ Tịch.
nam tháp quang dũng thiền sư
Zen Master Nan-Ta-Kuang-Yong—See Quang Dũng Thiền Sư.
nam triều phật tự chí
(南朝佛寺志) Tác phẩm, 2 quyển, do ông Tôn văn xuyên soạn vào đời Thanh, ông Trần tác lâm biên tập, được thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vựng san tập 1. Các triều đại Tống, Tề, Lương, Trần thuộc Nam triều đều lập đô ở Kiến khang (Nam kinh), Phật pháp ở 2 đời Tây Tấn và Đông Tấn hưng thịnh, trong các Đế vương thuộc Nam triều, có vị sùng kính Phật giáo, xây dựng nhiều chùa tháp ở khắp vùng Giang đông, hình thành những di tích lịch sử Phật giáo huy hoàng ở cố đô Nam triều thời bấy giờ. Trong bài thơ Mùa Xuân Giang nam của nhà thơ Đỗ mục có câu Nam triều tứ bách bát thập tự, tức là vào thời Nam triều, vùng Giang nam có 480 ngôi chùa. Nhưng bị tàn phá trong nhiều cuộc chiến tranh, nên hiện nay chùa còn rất ít. Ông Tôn văn xuyên sưu tập các sách, khảo sát những chùa Phật thời Nam triều, nhưng chưa kịp đưa khắc in thì đã vội trở về Đạo sơn, di cảo của họ Tôn được ông Trần tác lâm ở Giang ninh biên soạn chỉnh lí, phê bình và thêm phần chú thích ở dưới, thành Nam Triều Phật tự chí 2 quyển thượng, hạ. Trong này, tác giả khảo sát tất cả được 226 ngôi chùa, mỗi chùa đều có nói rõ về thời gian sáng lập và sự diễn biến, kế đó phụ thêm phần khảo chứng, những chỗ trích dẫn các sách đều chép nguyên văn. Phàm các sách sử của Nam triều, sách phân loại Kim lăng và Nghệ văn của các danh gia v.v... hễ thấy có liên quan đến chùa Phật thì đều được ghi vào, 1 chữ 1 câu đều có xuất xứ. Đây là bộ sách cần thiết cho những ai nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Nam triều.
nam triều tứ bách bát thập tự
(南朝四百八十寺) Nam triều bốn trăm tám mươi chùa. Đây là 1 câu thơ trong bài Giang nam Xuân của thi hào Đỗ mục đời Đường, ý nói vào thời đại Nam triều của Trung quốc, rất nhiều chùa Phật đã được xây dựng. Lối kiến trúc chùa Phật thời Nam triều thường là tháp xây ở phía trước, điện Phật xây ở phía sau, đặc trưng nổi bật nhất là 2 tháp (tháp đông và tháp tây) đối nhau. Trong đó, các ngôi tháp ở chùa Đông thái, chùa Ngõa quan và chùa Thê hà là nổi tiếng hơn cả. Ngoài ra, về nghệ thuật khắc đá, như những pho tượng Phật, Bồ tát trong các hang động, cũng có phong cách khác hẳn với nghệ thuật khắc đá của Bắc triều. (xt. Nam Triều Phật Tự Chí).
nam trung tam giáo
Tam giáo của Đức Thích Ca Mâu Ni đã được Dương Tử thuyết giảng—The three modes of Sakyamuni's teaching as expounded by the teachers south of Yang-Tze: 1) Tiệm Giáo: Tiệm giáo đưa hành giả từng bước vào niết bàn—The gradual method, leading the disciples step by step to nirvana. 2) Đốn Giáo: Đốn Giáo được Phật Thích Ca dùng để giảng dạy cho hàng Bồ Tát—The immediate method, by which he instructed the bodhisatvas, revealing the whole truth. 3) Bất Định Giáo: Bất định giáo ứng dụng cho từng cá nhân riêng lẻ—The undetermined method, by which the teaching is adapted to each individual or group.
; (南中三教) Ba giáo do các sư ở Giang nam lập từ sau đời Tiêu Tề thuộc Nam Bắc triều, để phân biệt, giải thích pháp do đức Như lai giảng nói trong 1 đời. Đó là: 1. Đốn giáo: Tức chỉ cho kinh Hoa nghiêm. 2. Tiệm giáo: Tức chỉ cho giáo pháp từ kinh A hàm đến kinh Niết bàn. 3. Bất định giáo: Tức chỉ cho giáo lí hiển bày Phật tính thường trụ, không nằm trong 2 giáo Đốn và Tiệm, như các kinh Thắng man, Kim quang minh v.v... [X. Hoa nghiêm kinh huyền đàm Q.4]. (xt. Nam Tam Bắc Thất).
nam truyền phật giáo sử thư đại sử
Mahāsamva (S)Đại sử.
nam truyền phật giáo sử thư đảo sử
Dipavaṃsa (P)Đảo sửMột trong những bộ chú giải kinh điển quan trọng bằng tiếng Pali.
nam truyền phổ nguyện
Nansen Fugan (J)Nam Tuyền Phổ Nguyện.
nam truyện phật giáo
(南傳佛教) Cũng gọi Nam phương Phật giáo, Nam truyền Thượng tọa bộ. Phật giáo Nam truyền. Phật giáo phát sinh ở Ấn độ, về sau được truyền bá ra nước ngoài và chia thành 2 dòng phái chính, dòng phái truyền đến vùng Đông Nam á, bao gồm các nước: Tích lan, Miến điện, Thái lan, Cao miên, Lào... tức là Nam truyền Phật giáo. Nam truyền Phật giáo chủ yếu chỉ cho nền Phật giáo thịnh hành tại 5 nước nói trên và lấy giáo đoàn Thượng tọa bộ thuộc phái Đại tự của Tích lan làm truyền thừa; dòng phái còn lại thì trải qua vùng Trung á rồi truyền đến Trung quốc, Việt nam, Hàn quốc, Nhật bản là thuộc về Bắc truyền Đại thừa Phật giáo. Điểm bất đồng lớn nhất giữa 2 dòng phái là: Ba tạng kinh điển của Nam truyền Phật giáo lấy tạng Luật làm chính, viết bằng tiếngPàli, vì tín đồ Nam truyền Phật giáo trọng thực tiễn nên chủ trương giới luật trên hết, tạng kinh gọi chung là Thanh văn tạng. Còn Tam tạng kinh của Bắc truyền Phật giáo thì lấy tạng Kinh làmđầu, ghi chép bằng tiếng Phạm và gọi chung tạng kinh là Bồ tát tạng. Vào giữa thế kỉ III trước Tây lịch, Trưởng lão Ma hi đà, con vua A dục của Ấn độ, đến truyền pháp ở đảo Tích lan, Phật giáo phát triển nhanh chóng, trong 200 năm, Đại tự được dùng làm trung tâm thống nhất giáo đoàn. Đến thế kỉ I trước Tây lịch thì giáo đoàn bị chia ra 2 phái Đại tự và Vô úy sơn; phái Đại tự kiên trì bảo thủ Phật giáo Thượng tọa bộ truyền thống, phái Vô úy sơn thì dung nạp Phật giáo Đại thừa, 2 phái đối lập cả nghìn năm. Đồng thời (thế kỉ I trước Tây lịch), các vị Trưởng lão phái Đại tự tổ chức kết tập lần thứ 4 của Phật giáo Thượng tọa bộ, lần đầu tiên ghi chép Tam tạng Phật giáo Thượng tọa bộ thành sách bằng tiếngPàli. Đến thế kỉ V Tây lịch, Luận sư Phật âm (Pàli: Buddhaghowa) chú thích Tam tạng tại Đại tự, đặt nền tảng cho phái Đại tự và hình thành Nam truyền Phật giáo. Căn cứ vào những cổ vật đào được cho thấy, thì xưa kia ở vùng ĐôngNam á, Phật giáo Tiểu thừa, Đại thừa song song tồn tại và thay nhau hưng phế; nhưng thế lực của Thượng tọa bộ Nam truyền mạnh nhất, có ảnh hưởng rất lớn, cho nên đến khoảng thế kỉ XIV thì Phật giáo các nước Miến điện, Thái lan, Cao miên, Lào... đã hoàn toàn lấy Phật giáo Thượng tọa bộ Tích lan làm truyền thừa. Đến thế kỉ XIX, Phật giáo Thượng tọa bộ ở Tích lan chia ra thành các biệt phái như: Phái Xiêm la, phái A ma la phổ la và phái La mạn na; ở Miến điện chia thành các phái: Thiện pháp, Thụy cầm và Môn phái. Tại Thái lan, Cao miên, Lào thì chia thành các phái: Pháp tương ứng bộ và Đại bộ. Đặc sắc của Nam truyền Phật giáo đại khái ở 4 phương diện sau đây: Bộ phái, kinh sách, học thuyết và thực tiễn. I. Về bộ phái: Giữ nguyên hình thái giống như Pháp tạng bộ trong hệ thống Thượng tọa bộ, nhưng về học thuyết thì không phải thuần túy chính tông của Thượng tọa bộ, nên các sử gia Phật giáo Ấn độ coi Nam truyền Phật giáo chỉ là biệt truyền của Thượng tọa bộ và thường dùng danh xưng Phân biệt thuyết để khu biệt. Dựa theo bộ Luận sự trong 7 bộ Tì đàm của phương Nam, ta có thể thấy chủ trương của Nam truyền Phật giáo như sau: 1. Các pháp ở quá khứ và vị lai không có thực thể. 2. Chẳng phải tất cả đều thực có. 3. Tu pháp Tứ đế có thể đạt được Hiện quán nhanh chóng. 4. Nhất định không có Trung hữu. 5. A la hán không có chuyển lui. 6. Không có Bổ đặc già la chân thực. II. Về kinh sách: Có 7 bộ luận, thứ tự là: Pháp tập, Phân biệt, Giới, Nhân thi thiết, Song, Phát thú và Luận sự. Ngoại trừ Luận sự, 6 bộ còn lại tương truyền đều do đức Phật nói. Những bộ luận này là do các phần trong Xá lợi phất tì đàm phát triển, biến hóa mà thành. III. Về học thuyết thì có: 1. Thuyết tâm tính vốn thanh tịnh: Chủ trương do lìa tâm ô nhiễm mà được giải thoát. 2. Thuyết Phật đạo bất cộng: Thanh văn bắt đầu từ sự chán lìa, còn Phật thì bắt đầu với lòng từ bi, cho nên sự phát triển không giống nhau. 3. Quan niệm về đức Phật: Lấy đức Phật lịch sử làm chính, chứ không lí tưởng hóa đức Phật như sự trình bày của Đại chúng bộ. Tuy nhiên, đức Phật là sự tồn tại siêu việt, cho nên không chỉ ở đời này, mà trong quá khứ đã nhiều kiếp tích tập hạnh Bồ tát, đầy đủ 32 tướng, 18 pháp bất cộng, giáo hóa hết thảy chúng sinh. IV. Về thực tiễn: Nam truyền Phật giáo có 1 hệ thống tổ chức trình bày giáo pháp rất hoàn bị, về Luận thì trước hết có luận Giải thoát đạo do ngài Ưu ba đề sa chú thích, kế đến là luận Thanh tịnh đạo của tôn giả Giác âm. Thanh tịnh đạo y theo thứ tự Tam học giới, định, tuệ, lấy định học làm trung tâm, bắt đầu thực hành từ Thập biến xứ (đặc biệt là từ Địa biến xứ), có công năng đạt đến 4 loại Thiền định. Ngoài 10 biến xứ ra,còn có 10 bất tịnh quán, 10 tùy niệm, 4 phạm trụ, 4 vô sắc, thực yếm quán và giới sai biệt quán, tất cả có 40 nghiệp xứ, tùy theo tính cách bất đồng của người học mà có nghiệp xứ thích hợp khác nhau. Những học pháp này thực có chỉ thú khác xa với Bắc phương vốn lấy biến xứ... làm công đức thiền định. [X. Lược luận Nam phương Thượng tọa bộ Phật học (Lữ trừng); Nam truyền Phật giáo sử tự (Tịnh hải)].
nam truyện đại tạng kinh
(南傳大藏經) Cũng gọi Pàli Tam tạng. Chỉ cho Đại tạng kinh tiếng Pàli do Thượng tọa bộ Tích lan truyền. Nguyên bản chỉ gọi là Tam tạng (Pàli: Ti-piỉaka). Sau khi đức Thích tôn nhập diệt, các vị đệ tử, do ngài Ma ha Ca diếp làm Thượng thủ, kết tập Tam tạng lần thứ nhất. Đến thời vua A dục, ngài Mục kiền liên tử đế tu (Pàli: Moggaliputta-tissa) kết tập lần thứ 2, biên tập Luận sự. Vương tử Ma hi đà (Pàli: Mahinda) lại truyền đến đảo Tích lan. Niên đại thành lập các điển tịch trong Nam truyền Đại tạng kinh hiện còn không giống nhau, niên đại thành lập muộn nhất được suy đoán là vào thế kỉ II đến thế kỉ I trước Tây lịch. Nội dung như sau: I.Tì ni tạng (Pàli: Vinaya-piỉaka), tức Luật tạng: 1. Kinh phân biệt (Pàli: Suttavibhaíga).* 2. Kiền độ (Pàli: Khandhaka).* 3. Hậu thiên (Pàli: Parivàra). II. Tu đa la tạng (Pàli: Sutta-piỉaka), tức Kinh tạng: 1. Trường bộ (Pàli: Dìgha-nikàya).* 2. Trung bộ (Pàli: Majjhima-nikàya).* 3. Tương ứng bộ (Pàli: Saôyuttanikàya).* 4. Tăng chi bộ (Pàli: Aíguttaranikàya).* 5. Tiểu bộ (Pàli: Khuddaka-nikàya). Trong Tiểu bộ gồm có 15 loại kinh điển: 1. Pháp cú (Pàli: Dhamma-pada).* 2. Thí dụ (Pàli: Apadàna). 3. Tự thuyết (Pàli: Udàna). 4. Như thị ngữ (Pàli: Itivuttaka).* 5. Kinh tập (Pàli: Sutta-nipàta). 6. Thiên cung sự (Pàli: Vimànavatthu). 7. Ngã quỉ sự (Pàli: Peta-vatthu). 8. Trưởng lão kệ (Pàli: Thera-gàthà). 9. Trưởng lão ni kệ (Pàli: Therì-gàthà). 10. Bản sinh (Pàli: Jàtaka). 11. Nghĩa thích (Pàli: Niddesa). 12. Vô ngại giải đạo (Pàli: Paíisambhidà-magga). 13. Phật chủng tính (Pàli: Buddhavaôsa). 14. Sở hành tàng (Pàli: Cariyà-piỉaka). 15. Tiểu tụng (Pàli: Khuddaka-pàỉha). III. A tì đàm tạng (Pàli: Abhidhamma -piỉaka), tức Luận tạng: 1. Pháp tập luận (Pàli: Dhammasaígaịi). 2. Phân biệt luận (Pàli: Vibhaíga). 3. Giới luận (Pàli: Dhàtu-kathà). 4. Nhân thi thiết luận (Pàli: Puggalapaĩĩatti). 5. Song luận (Pàli: Yamaka). 6. Phát thú luận (Pàli: Paỉỉhàna). 7. Luận sự (Pàli: Kathà-vatthu). (Dấu hoa thị* là chỉ cho những kinh tương đương với các kinh trong Đại tạng Hán dịch hiện còn). Khoảng thế kỉ I trước Tây lịch mới có chú thích Nam truyền Đại tạng kinh. Khi Phật giáo Thượng tọa bộ thuộc Nam truyền được du nhập các nước vùng Đông nam á, thì lại sản sinh ra các Tạng kinh bằng chữ bản xứ như Miến điện, Thái lan, v.v... Năm 1881, nước Anh thành lập Hiệp hội Thánh điển Pàli (PàliText Society), đem Đại tạng kinh Nam truyền và phần lớn chú thích hiệu đính lại rồi xuất bản bằng chữ La tinh, đồng thời ấn hành cả bản dịch tiếng Anh. Về phía Nhật bản thì năm 1935 đến năm 1941, hội Kỉ niệm công tích của Tiến sĩ Cao nam đã phiên dịch Tam tạng Pàli do Hiệp hội Thánh điển Pàli xuất bản sang tiếng Nhật và ấn hành, tựa đề là Nam Truyền Đại Tạng Kinh, toàn bộ gồm 70 tập, trong đó có 1 số kinh điển ngoài tạng. Các bản chú thích ngoài tạng thì có: Tam tạng trực tiếp chú (Pàli: Aỉỉhakathà), Phục chú (Pàli: Ỉìkà), Phục chú chi chú (Pàli: Anuỉìkà). Các sách ngoài tạng thì có: Cương yếu thư, Sử truyện thư... (xt. Đại Tạng Kinh).
nam tuyền
Nam Tuyền, đệ tử của ngài Mã Tổ—Nan-Ch'uan, a monk of the T'ang dynasty around 800, a disciple of Ma-Tzu. ** For more information, please see Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư.
nam tuyền bạch cổ
(南泉白牯) Cũng gọi Nam tuyền li nô bạch cổ. Tên công án trong Thiền tông. Mèo nhà trâu trắng. Nội dung công án này là lời ngài Nam tuyền Phổ nguyện dạy đại chúng. Tắc 69 trong Thung dung lục (Đại 48, 270 trung) chép: Ngài Nam tuyền dạy chúng rằng: Chư Phật 3 đời chẳng biết mà li nô bạch cổ lại biết.
nam tuyền hoài nhượng
Nangaku Ejō (J), Nanyueh Huai jang (C), Nangaku Ejo (J), Nanquan Puyuan (C), Nan-ch'uan P'u-yuan (C), Nansen Fugan (J)(748-835) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Mã Tổ Đạo Nhất.
nam tuyền liêm tử
(南泉鐮子) Tên công án trong Thiền tông. Cái liềm của ngài Nam tuyền. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Nam tuyền Phổ nguyện và 1 vị tăng. Có lần, ngài Nam tuyền Phổ nguyện đang làm việc trên núi, có vị tăng hành cước muốn đi thăm Nam tuyền (tên 1 dòng suối),đến gần hỏi (Vạn tục 138, 47 hạ): Đường đến Nam tuyền đi hướng nào? Ngài Nam tuyền giơ cái liềm lên nói: Cái liềm cắt cỏ của ta mua 30 tiền. Vị tăng nói: Không hỏi cái liềm cắt cỏ, chỉ hỏi đường đến Nam tuyền đi về hướng nào? Ngài Nam tuyền nói: Ta sử dụng nó rất sắc! [X. chương Nam tuyền Phổ nguyện trong Ngũ đăng hội nguyên Q.3].
nam tuyền ngoạn nguyệt
(南泉玩月) Tên công án trong Thiền tông. Nam tuyền ngắm trăng. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Nam tuyền Phổ nguyện và Thiền sư Triệu châu Tùng thẩm. Thiền uyển mông cầu quyển thượng (Vạn tục 148, 107 thượng) chép: Có lần ngài Nam tuyền đang ngắm trăng, Thiền sư Triệu châu hỏi: Bao giờ có được thời tiết giống như lúc này? Ngài Nam tuyền nói: Hai mươi năm trước, Vương lão sư cũng từng như thế này.
Nam Tuyền Phổ Nguyện
(南泉普願, Nansen Fugan, 748-834): vị Thiền tăng xuất thân vùng Tân Trịnh (新鄭), Trịnh Châu (鄭州, thuộc Tỉnh Hà Nam), họ là Vương (王). Vào năm thứ 2 (757) niên hiệu Chí Đức (至德), ông xin cha mẹ đến xuất gia tu học với Đại Huệ (大慧) ở Đại Ôi Sơn (大隈山), Mật Huyện (密縣, thuộc Tỉnh Hà Nam). Vào năm thứ 12 (777) niên hiệu Đại Lịch (大曆), lúc 30 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới với Cảo Luật Sư (暠律師) ở Hội Thiện Tự (會善寺) vùng Tung Nhạc (嵩岳, Tỉnh Hà Nam). Ban đầu ông học về tánh tướng rồi đến Tam Luận, v.v., nhưng sau ông ngộ được yếu chỉ rằng huyền cơ vốn nằm ngoài kinh luận, nên ông đến tham vấn Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) và kế thừa dòng pháp của vị này. Đến năm thứ 11 (795) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông dừng tích trú tại Nam Tuyền Sơn (南泉山), vùng Trì Dương (池陽, thuộc Tỉnh An Huy), xây dựng Thiền viện, thường mang nón lá chăn trâu, vào trong núi đốn cây, cày ruộng, cổ xướng Thiền phong của mình, tự xưng là Vương Lão Sư và suốt trong vòng 30 năm không hề hạ sơn một lần. Vào đầu niên hiệu Thái Hòa (太和, 827-835), vị Thái Thú xưa kia của Trì Dương là Lục Hoàn (陸亘) đến tham bái Nam Tuyền, rồi tôn vị này làm thầy mình. Chính ông đã giáo hóa khá nhiều đồ chúng nổi danh như Triệu Châu Tùng Thẩm (趙州從諗), Trường Sa Cảnh Sầm (長沙景岑), Tử Hồ Lợi Túng (子湖利蹤), v.v. Vào ngày 21 tháng 10 năm thứ 8 niên hiệu Thái Hòa (太和), ông cáo bệnh và vào ngày 25 tháng 12 cùng năm trên, ông thị tịch, hưởng thọ 87 tuổi đời và 57 hạ lạp.
; 南泉普願; C: nánquán pǔyuàn; J: nansen fu-gan; 738-835;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ lừng danh của Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư và là thầy của một học trò không kém uy dũng là Triệu Châu Tòng Thẩm. Ngoài Triệu Châu ra, Sư còn 17 đệ tử nối pháp nhưng không ai vượt qua pháp lực của hai vị Triệu Châu và Trường Sa Cảnh Sầm. Sư được nhắc đến nhiều trong các tập công án như Bích nham lục (công án 28, 31, 40, 63,64) và Vô môn quan (14, 19, 27, 34).|Sư họ Vương, quê ở Tân Trịnh, Trịnh Châu, xuất gia từ nhỏ. Trước khi đến tham vấn Mã Tổ, mong đạt được yếu chỉ »giáo ngoại biệt truyền«, Sư đã học kĩ giáo lí của Pháp tướng, Tam luận và Hoa nghiêm tông. Ðến Mã Tổ, Sư bỗng dưng đại ngộ, »được cá quên nơm«.|Một hôm, Sư bưng cháo cho chúng, Mã Tổ hỏi: »Trong thùng này, thông là cái gì?« Sư đáp: »Ông già nên ngậm miệng, nói năng làm gì?« Mã Tổ nghe vậy bèn thôi.|Rời Mã Tổ, Sư đến núi Nam Tuyền cất am ở ẩn, hơn 30 năm không xuống núi. Sau đó, một vị quan lên thỉnh Sư xuống dạy pháp và từ đây, học giả bốn phương đua nhau đến. Những lời dạy hùng dũng, có lúc lại »ngược«, mâu thuẫn với lời của những vị Thiền sư khác của Sư được nhiều người trong giới thiền hâm mộ và lấy đó làm Thoại đầu.|Sư thượng đường: »Các ngươi, Lão tăng lúc mười tuổi đã biết kế sống, có ai biết kế sống ra trình, sẽ cùng người ấy thương lượng, người ấy mới đáng ở núi.« Sư lặng thinh giây lâu nói: »Vô sự! Trân trọng! Mỗi người đều tu hành.« Ðại chúng vẫn ngồi yên, Sư bảo: »Huynh đệ người thời nay gánh Phật để trên vai mà đi, nghe Lão tăng nói ›Tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo‹ bèn hội họp suy nghĩ. Lão tăng không có chỗ để các ngươi suy nghĩ. Nếu các ngươi trói hư không lấy gậy đập được, Lão tăng sẽ cho suy nghĩ.«|Có vị tăng hỏi Sư: »Trong hư không có một hạt châu là sao lấy được?« Sư bảo: »Chặt tre làm thang bắc trong hư không lấy.« Tăng hỏi: »Trong hư không làm sao bắc thang?« Sư hỏi lại: »Ngươi nghĩ thế nào lấy?«|Sư sắp tịch, một vị tăng hỏi: »Sau khi Hoà thượng trăm tuổi đi về chỗ nào?« Sư bảo: »Làm con trâu dưới núi.« Tăng hỏi: »Con theo Hoà thượng được chăng?« Sư đáp: »Nếu ngươi muốn theo ta phải ngậm theo một bó cỏ.« Niên hiệu Thái Hoà thứ tám, ngày rằm tháng hai, Sư có chút bệnh bảo chúng: »Sao che đèn huyễn lâu vậy, chớ bảo ta có đi lại!« Nói xong, Sư viên tịch, thọ 87 tuổi. Những lời dạy của Sư được ghi lại trong Trịnh Châu Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền sư quảng lục.
nam tuyền phổ nguyện thiền sư
Nan-Ch'uan-Pu-Yuan 749-835—Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện sanh năm 749, là đệ tử của Mã Tổ và là thầy của Triệu Châu. Nam Tuyền là một trong những thiền sư lớn của Trung Quốc vào thời nhà Đường. Nam Tuyền đã nghiên cứu sâu xa triết học Phật giáo, đặc biệt là triết thuyết của các phái Pháp Tướng, Hoa Nghiêm và Tam Luận của Trung Quốc. Khi ông đến học với Mã Tổ Đạo Nhất, ông đạt được đại giác thâm sâu—Zen master Nan-Ch'uan-Pu-Yuan was born in 749 A.D., was a disciple of Ma Tsu (Mã Tổ) and a teacher of Zhao-Chou. Nan-Ch'uan, one of the great Chinese Zen masters of the T'ang dynasty. Nan-Ch'uan already had a period of intensive study of Buddhist philosophy behind him, including the teachings of the Fa-Hsiang, Hua-Yen, and San-Lun doctrines of Chinese Buddhism. When he came to Ma-Tsu, under whose guidance he realized profound enlightenment. • Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên với Mã Tổ, người ta nói sư đã đạt được Du hý tam muội (chánh định ngao du tự tại)—At his first meeting with Ma-Tsu, he is said to have “instantly forgot the net of delusions and delighted in samadhi.” • Một hôm, sư bưng cháo cho chúng Tăng, Mã Tổ hỏi: “Trong thùng thông là cái gì?” Sư thưa: “Ông già nên ngậm miệng, nói năng làm gì?”—One day, Nan-Ch'uan was serving rice gruel to the monks from a bucket, Ma-Tsu asked: “What's in the bucket?” Nan-Ch'uan said: “The old monk should close his mouth and say this!” • Năm 795, sau khi được Mã Tổ truyền pháp, sư đến núi Nam Tuyền cất am, lấy tên ngọn núi nầy làm tên mình, và ở mãi hơn ba mươi năm chưa từng xuống núi. Niên hiệu Thái Hòa năm 827. Liêm sứ thành Tuyền Châu là Lục Công Tuyên nghe đạo phong của sư bèn cùng Giám quân, và nhiều thiền sư khác trong vùng đồng đến thỉnh sư xuống núi, với tư cách đệ tử thỉnh thầy. Từ đây, sư mở rộng đạo huyền, số người tham học không khi nào dưới vài trăm—In 795, after gaining transmission from Ma-Tsu, Nan-Ch'uan built a solitary hut on Mount Nan-Ch'uan in Chi-Chou, from which his naem is derived, and remained there for more than thirty years practicing Zen. In 827, a high-ranking official named Lu-Kung and some Zen monks persuaded and invited Nan-Ch'uan to descend from the mountain and honoured him by becoming his student. Due to this event, Nan-Ch'uan's reputation spread widely and students numbering in hundreds came to study under him. • Sư dạy chúng: “Mã Tổ ở Giang Tây nói 'Tức tâm tức Phật,' Vương lão sư chẳng nói thế ấy, mà nói 'Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật,' nói thế có lỗi chăng?” Triệu Châu lễ bái lui ra—Once, Zen master Nan-Ch'uan said: “Ma-Tsu of Jiang-Xi said: 'Mind is Buddha.' But old teacher Wang doesn't talk that way. It's not mind, it's not Buddha, it's not a thing. Is there any error in speaking thus?” Zhao-Chou bowed and went out. • Nhà Đông nhà Tây tranh nhau hai con mèo, sư trông thấy liền bảo chúng: “Nói được là cứu con mèo, nói không được thì chém nó.” Chúng Tăng đều ngơ ngác không nói được. Sư liền chém con mèo. Triệu Châu ở ngoài đi vào. Sư dùng câu nói trước hỏi. Triệu Châu liền cỡi giày để trên đầu đi ra. Sư bảo: “Giá khi nảy có ngươi ở đây, đã cứu được con mèo.”—The monks of the eastern and western halls were arguing about a cat. Nan-Ch'uan picked it up and said to the monks: “Say the appropriate word and you'll save the cat. If you don't say the appropriate word then it gets cut in two!” The monks were silent. Nan-Ch'uan cut the cat in two. Later, Zhao-Chou returned from outside the temple and Nan-Ch'uan told him what had happened. Zhao-Chou then removed his sandals, placed them on his head and went out. Nan-Ch'uan said: “If you had been there, the cat would have been saved.” • Sư thượng đường dạy chúng: “Phật Nhiên Đăng nói: 'Nếu tâm tướng khởi nghĩ sanh ra các pháp là hư giả chẳng thật.' Vì cớ sao? Vì tâm còn không có, lấy gì sanh ra các pháp, ví như bóng phân biệt hư không, như người lấy tiếng để trong rương, cũng như thổi lưới mà muốn được đầy hơi. Cho nên lão túc bảo: 'Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật.' Nói thế là dạy các huynh đệ chỗ đi vững chắc. Nói: 'Bồ Tát Thập Địa trụ chánh định Thủ Lăng Nghiêm được pháp tạng bí mật của chư Phật, tự nhiên được tất cả thiền định giải thoát thần thông diệu dụng, đến tất cả thế giới khắp hiện sắc thân, hoặc thị hiện thành Phật chuyển bánh xe Đại Pháp, vào Niết Bàn, khiến vô lượng vào một lỗ chơn lông, nói một câu trải vô lượng kiếp cũng không hết nghĩa, giáo hóa vô lượng ngàn ức chúng sanh được vô sanh pháp nhẫn, còn gọi là sở tri ngu vi tế. Sở tri ngu cùng đạo trái nhau. Rất khó! Rất khó! Trân trọng.”—Zen Master Nan-Ch'uan-Pu-Yuan entered the hall and addressed the monks, saying: “Dipamkara Buddha said: 'The arising in mind of a single thought gives birth to the myriad things.' 'Why is it that phenomenal existence is empty? If there is nothing within mind, then how does one explain how the myriad things arise? Isn't it as if shadowy forms differentiate emptiness? This question is like someone grasping sound and placing it in a box, or blowing into a net to fill the air. Therefore some old worthy said: 'It's not mind. It's not Buddha. It's not a thing.' Thus we just teach you brethren to go on a journey. It's said that Bodhisattvas who have passed through the ten stages of development and attained the Surangama Samadhi and the profound Dharma store-house of all Buddhas naturally realize the pervasive wondrous liberation of Zen samadhi. Throughout all worlds the form-body is revealed, and the highest awakening is manifested. The great Wheel of Dharma is turned, nirvana is entered, and limitless space can be placed in the hole on the point of a feather. 'Although a single phrase of scripture is recited for endless eons, its meaning is never exhausted. It's teaching transports countless billions of beings to the attainment of the unborn and enduring Dharma. And that which is called knowledge or ignorance, even in the very smallest amount, is completely contrary to the Way. So difficult! So difficult!. Take care!" • Một trong những công án gây ấn tượng mạnh nhất về Nam Tuyền được ghi trong thí dụ 40 Bích Nham Lục. Đại sư Lục Hoàn nói với Nam Tuyền trong cuộc trò chuyện. Lục Hoàn hỏi, “Triệu Pháp sư nói 'Trời đất cùng ta đồng gốc, vạn vật cùng ta một thể,' thật là kỳ quái! Nam Tuyền chỉ một bông hoa trong vườn rồi nói với Đại Sư, “Thời nhân thấy gốc hoa nầy giống như cơn mộng.”—One of the most impressive koans with Nan-Ch'uan is example 40 of the Pi-Yen-Lu. Lu-Huan Tai-Fu said to Nan-Ch'uan in the course of their conversation, “Chao the Dharma teacher said, 'Heaven and Earth and I have the same root; the ten thousand things and I are one body.' Absolutely wonderful! Nan-Ch'uan, pointing to a blossom in the garden said, “The man of our times sees this blossoming bush like someone who is dreaming.” • Nam Tuyền còn nổi tiếng về những châm ngôn sinh động và những thuật ngữ trái nghịch được ông dùng để đào tạo đệ tử. Có lúc ông tuyên bố có vẻ đi ngược lại với thầy Mã Tổ của mình như: “Ý thức không phải là Phật; nhận thức không phải là đường đi (Vô Môn Quan 34)—Nan-Ch'uan was famous for his vivid expressions and paradoxical pronouncements in the course of Zen training, come a number of much-cited Zen sayings. Thus, in apparent contradiction of his master Ma-Tsu, such as “Consciousness is not Buddha, knowledge is not the way.” (Wu-Men-Kuan 34). • Một thí dụ nổi tiếng khác trong Vô Môn Quan 27 cũng được biết tới, “Con đường không phải là tinh thần, không phải là Phật, cũng không phải là sự vật.”—Another equally well known is example 27 of the Wu-Men-Kuan: “The way is not mind, it is not Buddha, it is not things.” • Nam Tuyền có 17 người kế vị Pháp, trong đó Triệu Châu Tùng Thẩm và Trường Sa Cảnh Sầm là hai đệ tử lớn—Nan-Ch'uan had seventeen dharma successors, among them Chao-Chou-Tsung-Shen and Ch'ang-Sha-Ching-Tsen were two most prominent disciples. • Nam Tuyền được nhắc tới trong các thí dụ 14, 19, 27 và 34 của Vô Môn Quan, cũng như trong các thí dụ 28, 31, 40, 63, 64 và 69 của Bích Nham Lục—Nan-Ch'uan appears in examples 14, 19, 27, and 34 of the Wu-Men-Kuan, and in examples 28, 31, 40, 63, 64 and 69 of the Pi-Yen-Lu. • Những châm ngôn thuyết giảng của Nam Tuyền được thu thập vào Trịnh Châu Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư Quang Lục—Nan-Ch'uan's comments and instructions are recorded in the Ch'ing-Chou-Nan-Ch'uan-Pu-Yuan-Ch'an-Shih Kuang-Lu or Great Collection of the Words of the Ch''n Master Nan-Chuan-Pu-Yuan from Ch'ing-Chou. • Sư thị tịch năm 834—He died in 834.
nam tuyền sơn
(南泉山) Núi ở huyện Quí trì, tỉnh An huy, Trung quốc. Ngài Nam tuyền Phổ nguyện, đệ tử nối pháp của Thiền sư Mã tổ Đạo nhất, sau khi được ấn khả, đã đến trụ ở núi này, hơn 30 năm không xuống núi. Sau nhận lời thỉnh cầu của quan Thái thú quận Trì dương là Lục công cự và Hộ quân Bành thành là Lưu công, ngài bèn hạ sơn để xiển dương tông phong, tăng tục về tụ tập rất đông, chúng thường có tới vài trăm người.
nam tuyền thạch phật
(南泉石佛) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này là nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Nam tuyền Phổ nguyện và đệ tử nối pháp là Lục cắng đại phu. Một hôm, Lục cắng hỏi ngài Nam tuyền: Trong nhà đệ tử có một phiến đá, từng ngồi nằm trên đó, nay đệ tử muốn dùng nó để tạc tượng Phật, có được không? Ngài Nam tuyền đáp: Được! Được! Lục cắng lại hỏi: Vậy không có vật nào không được à? Ngài Nam tuyền trả lời: Không được! Không được!.
nam tuyền trảm miêu
(南泉斬猫) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này thuật lại sự tích ngài Nam tuyền Phổ nguyện chém mèo (trảm miêu) khai thị cho đại chúng. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 (Đại 51, 258 thượng) chép: Chúng ở Đông đường và Tây đường tranh nhau con mèo, sư gặp, liền bảo với chúng rằng: Nói được thì cứu mèo, nói không được thì chém đầu mèo. Trong chúng không ai đáp được, sư liền chặt đầu con mèo! Lúc đó, ngài Triệu châu từ bên ngoài trở về, sư bèn hỏi Triệu châu câu hỏi vừa rồi, ngài Triệu châu liền tháo giày để lên đầu mà đi ra. Sư nói: Lúc nãy, nếu ông ở đây thì đã cứu được con mèo.
Nam Tào
(南曹): tức Nam Đẩu Tinh Quân (南斗星君), là vị thiên thần rất quan trọng trong Đạo Giáo, chưởng quản chùm sao Nam Đẩu, ở phương Nam. Có thuyết cho rằng chùm sao này trông coi về thọ mạng ngắn dài của nhân loại, cho nên có câu: “Nam Đẩu chú sanh, Bắc Đẩu chủ tử (南斗注生、北斗主死, Nam Đẩu trông coi về sự sống, Bắc Đẩu chủ quản về việc chết).” Trong Sưu Thần Ký (搜神記) quyển 3 của Can Bảo (干寶, ?-336) nhà Đông Tấn có ghi lại câu chuyện Nam Đẩu Tinh Quân và Bắc Đẩu Tinh Quân ban tặng thêm tuổi thọ cho người phàm. Quản Lộ tự Công Minh (公明), vốn người ở đất Bình Nguyên đời Tam Quốc (220-264) diện mạo xấu xí, thích uống rượu. Từ bé, Lộ ham xem thiên văn, thường đêm nằm nhìn trăng sao, thao thức không chớp mắt, cha mẹ ngăn cấm không được. Vừa lớn lên, Quản Lộ đã làu thông Kinh Dịch, hiểu hết nghĩa uyên thâm, biết đoán chiều gió, tinh thông khoa lý số và giỏi cả xem tướng. Nhân khi Quản Lộ (管輅) đến Bình Nguyên, thấy khuôn mặt của Nhan Siêu (顏超) hiện rõ nét sẽ chết yểu; nhân đó cha họ Nhan bèn van xin Lộ làm cho kéo dài thêm mạng sống. Lộ bảo rằng: “Khi con ông về, hãy tìm loại rượu trắng, một cân thịt nai luộc chín, trứng, đem đến dưới cây dâu lớn phía Nam, nơi ấy có hai người đang ở đó, cứ rót rượu rồi đặt thịt luộc xuống; họ uống hết thì rót thêm. Nếu họ hỏi ông thì ông cứ vái lạy, đừng nói lời nào cả, ắt hai người đó sẽ cứu người.” Họ Nhan làm đúng theo lời dặn, quả nhiên thấy có hai người đang ngồi đánh cờ, bèn lẳng lặng đặt rượu thịt xuống trước mặt họ. Hai người say mê chơi, chỉ biết uống rượu ăn thịt, chẳng thèm nhìn xem thử ai ngồi một bên mình, rồi dần dần vừa đánh vừa ăn uống hết cả rượu thịt một cách ngon lành. Lúc bấy giờ, Nhan mới khóc òa lên và lạy lục xin cầu thọ. Hai ông giựt nẩy mình nhìn lại. Đột nhiên, người ngồi phía Bắc ngước lên nhìn thấy họ Nhan, bèn hỏi: “Làm gì đến đây ?” Họ Nhan chỉ cúi đầu vái lạy. Người ngồi ở phía Nam chợt nói: “Đã uống rượu, ăn thịt người ta rồi, sao lại không có chuyện được chứ ?” Người phía Bắc bảo: “Hồ sơ đã định rồi.” Người phía Nam nói: “Cứ mượn hồ sơ xem sao.” Xem qua mới biết Nhan Siêu chỉ sống đến 19 tuổi, họ bèn lấy bút phê rằng: “Cứu nhữ chí cửu thập niên hoạt (救汝至九十年活, cứu ngươi sống đến chín mươi tuổi).” Họ Nhan vái lạy tạ ơn trở về. Quản Lộ bảo họ Nhan rằng: “Bắc biên tọa nhân thị Bắc Đẩu, Nam biên tọa nhân thị Nam Đẩu; Nam Đẩu chú sanh, Bắc Đẩu chủ tử; phàm nhân thọ thai, giai tùng Nam Đẩu quá Bắc Đẩu (北邊坐人是北斗、南邊坐人是南斗、南斗注生、北斗主死、凡人受胎、皆從南斗過北斗, người ngồi ở phía Bắc là Bắc Đẩu, người ngồi ở phía Nam là Nam Đẩu; Nam Đẩu trông coi về sự sống, Bắc Đẩu chủ quản về việc chết; người phàm thọ thai, đều từ Nam Đẩu qua Bắc Đẩu).” Trong Nam Đẩu Lục Ty Diên Mạng Độ Nhân Diệu Kinh (南斗六司延壽度人妙經) của Đạo Giáo có nêu tên 6 vị tinh quân của chùm sao Nam Đẩu này là: Nam Đẩu Đệ Nhất Thiên Phủ Ty Mạng Thượng Tướng Trấn Quốc Chơn Quân (南斗第一天府司命上相鎭國眞君), Nam Đẩu Đệ Nhị Thiên Tướng Ty Lục Thượng Tướng Trấn Nhạc Chơn Quân (南斗第二天相司錄上相鎭嶽眞君), Nam Đẩu Đệ Tam Thiên Lương Diên Mạng Bảo Mạng Chơn Quân (南斗第三天梁延壽保命眞君), Nam Đẩu Đệ Tứ Thiên Đồng Ích Toán Bảo Sanh Chơn Quân (南斗第四天同益算保生眞君), Nam Đẩu Đệ Ngũ Thiên Xu Độ Ách Văn Xương Luyện Hồn Chơn Quân (南斗第五天樞度厄文昌鍊魂眞君), Nam Đẩu Đệ Lục Thiên Cơ Thượng Sanh Giám Bộ Đại Lý Chơn Quân (南斗第六天機上生監簿大理眞君). Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển của Cao Đài Giáo Việt Nam có câu: “Vạn trượng then gài ngăn Bắc Đẩu, muôn trùng nhíp khảm hiệp Nam Tào.” Hay trong Kinh Tụng Huynh Đệ Mãn Phần của đạo này cũng có câu: “Rủi thiên số Nam Tào đã định, giải căn sinh xa lánh trần ai.”
Nam Tông
(南宗): tên gọi một phái Thiền Phật Giáo của Trung Quốc. Dưới thời nhà Đường, Thần Hội (神會) gọi Thần Tú (神秀, 606-706, thầy xưa kia của ông) và chúng đệ tử của vị này là Bắc Tông và phê phán dòng phái này. Đối lập với phái này, ông tự xưng là Nam Tông và chủ trương lập trường đốn ngộ. Đến cuối đời, Thần Tú được Tắc Thiên Võ Hậu (則天武后, tại vị 684-705) thỉnh vào cung nội; từ đó ông được hoàng triều tôn sùng, hàng môn đệ của ông cũng nhờ vậy mà được đế thất bảo hộ và hàng quan lại hộ trì. Thần Hội công khai phê phán Bắc Tông; đến trú trì Hà Trạch Tự (荷澤寺) ở Lạc Dương (洛陽) và tiếp tục công kích Bắc Tông. Chính ông cho rằng Phật pháp chân truyền là Lục Tổ Huệ Năng (慧能hay惠能, Enō, 638-713), rồi phê phán Thần Tú, người được tôn sùng là Lục Tổ; và nhân vì Huệ Năng truyền bá giáo pháp ở phương Nam nên ông mới tự xưng lập trường của mình là Nam Tông. Do hoạt động của Thần Hội, thể theo mệnh lệnh của chính phủ, ông bị đuổi ra khỏi Lạc Dương một thời gian; đến năm 755 (Thiên Bảo [天寶] 14), nhân phát sinh vụ Loạn An Lộc Sơn (安祿山) và kèm theo Chế Độ Hương Thủy Tiền (香水錢制度), ông mới được phép trở về Lạc Dương. Về sau, Thần Hội dốc hết toàn lực bố giáo và được rất nhiều người thuộc các tầng lớp ủng hộ. Nam Tông của Thần Hội lấy Hà Trạch Tự làm cứ điểm hoạt động rất hưng thịnh, nên tông này còn có tên gọi khác là Hà Trạch Tông. Sau khi vị tông tổ qua đời, tông phái nhanh chóng suy tàn, và đến năm 845 (Hội Xương [會昌] 5), nhân nạn Phế Phật Hội Xương, cùng với hệ thống Bắc Tông, Nam Tông cũng bị tiêu diệt khỏi lịch sử. Trong Thiền Tông Trung Quốc, chư vị Thiền tăng kế thừa dòng pháp của Lục Tổ Huệ Năng đã tích cực hoạt động giáo hóa, từ thời nhà Đường đến nhà Tống, hình thành nên các dòng phái chủ yếu gọi là Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗); nhờ vậy Phật Giáo Trung Quốc đã tiến đến hồi cực thịnh. Bàn về Huệ Năng cũng như Nam Bắc Tông Luận, có một số tác phẩm như Lục Tổ Đàn Kinh (六祖檀經), v.v., được lưu truyền rộng rãi, và các Thiền tăng đời sau này tiếp tục nhận thức cho rằng hệ thống của mình là Nam Tông, kéo dài mãi cho đến hiện tại. Với ý nghĩa đó, có thể nói rằng chính vì Hà Trạch Tông bị tiêu diệt, nên Nam Tông mới tồn tại cho đến ngày nay. Nam Tông còn là tên gọi tắt của Nam Tông Thiền.
nam tông
Xem đạo Phật nguyên thuỷ.
; The southern sect of Zen. Nam đốn Bắc tiệm: southern immediate, northern gradual.
; Nam Tông, hay trường phái Đạt Ma chia làm hai phái bắc nam, bắc Thần Tú, nam Huệ Năng, vào khoảng năm 700 sau Tây Lịch—The Southern sect, or Bodhidharma school, divided into northern and southern, the northern under Shen-Hsiu, the southern under Hui-Neng, around 700 A.D.
nam tông phật giáo
Hìnayàna (S). Small Vehicle, lesser vehicle. Also Tiểu thừa.
Nam tông thiền
南宗禪; C: nánzōng-chán; J: nanshū-zen;|Thiền tông do Lục tổ Huệ Năng sáng lập sau Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Bắc tông thiền được Thần Tú Thiền sư khai sáng nhưng sau vài đời tàn rụi. Vì chia ra hai phái như vậy nên người ta thường gọi »Nam Năng, Bắc Tú« (南能北秀).
nam tông thiền
NanshŪ-zen (J).
; (南宗禪) Đối lại: Bắc tông thiền. Cũng gọi: Nam thiền, Nam tông. Phái Thiền ở phương Nam. Pháp mạch của Tổ Bồ đề đạt ma truyền đến sau Ngũ tổ Hoằng nhẫn thì chia làm 2 nhánh: Tuệ năng và Thần tú. Ngài Tuệ năng hoằng dương tông phong ở phương Nam, còn ngài Thần tú thì dựng pháp chàng(cờ pháp) ở phương Bắc, do đó nên có từ ngữ Nam Năng Bắc Tú. Thiền phong của Nam tông hoàn toàn thoát khỏi giáo thuyết, không rơi vào danh tướng, không bị kẹt trong ngôn từ, đề xướng tu chứng bất nhị, mê ngộ nhất như; chủ trương diệu tâm của bản giác vốn tự thành, tự sáng, phiền não vọng niệm chẳng phải có thật; vì thế nêu cao pháp đốn ngộ: Một bước nhảy thẳng vào đất Như lai. Đời sau gọi là Nam đốn, cũng gọi là Tổ sư thiền. Tông này về sau cực thịnh, lại chia thành 5 nhà 7 tông, vì thế người đời sau cho Nam tông là chính tông của Thiền và tôn ngài Tuệ năng là tổ thứ 6. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.4, 5, 30; Ngũ đăng hội nguyên Q.2; Thiền tịch chí Q.thượng].
nam tạng
1) Tạng Kinh Pali của miền Nam Ấn (ở các xứ Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan)—The Southern collection or Edition of Buddhist Canon from Ceylon, Burma, and Thailand. 2) Nam Tạng Kinh của Trung Quốc, ấn bản tại Nam Kinh đời nhà Minh (1368-1398)—The Southern Collection, or edition, of the Chinese Buddhist Canon, published at Nanking under the ming dynasty (1368-1398).
nam tống hiếu tông
(南宋孝宗) Vị vua đời thứ 2 của triều đại Nam Tống, tên là Thận, lên ngôi năm 1162. Thời gian ở ngôi, vua sửa đổi việc quan lại, giảm bớt quân phí, mở mang Giang nam, chính trị thanh liêm sáng suốt, xã hội phồn vinh. Vua dốc lòng tin kính Phật pháp, từng tham vấn các Thiền sư: Kính sơn Tông cảo, Linh sơn Tử lâm, Trụ sơn Nhã nạp, Linh ẩn Tuệ viễn, v.v... Ở trong cung, vua cho xây cất 1 tòa nhà gọi là Quán đường để học tập pháp thiền. Năm Thuần hi thứ 7 (1180), vua thỉnh Thiền sư Bảo ấn chùa Vân bảo vào cung để thảo luận về các vấn đề liên quan đến Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Sau khi thoái vị, vua ở trong cung Nam hoa, biên soạn Nguyên đạo luận để bác bỏ chủ trương trong bài Nguyên đạo của ông Hàn dũ và đề xướng thuyết Tam giáo nhất trí, cho rằng 3 giáo đều có chỗ đặc sắc, nếu dung hợp được với nhau thì có thể đạt đến đạo rốt ráo. Năm Thiệu hi thứ 5 (1194) vua băng, hưởng thọ 68 tuổi. Vua có các tác phẩm: Nguyên đạo luận, Viên giác kinh ngự chú, Tam giáo luận.
nam tống nguyên minh thiền lâm tăng bảo truyện
(南宋元明禪林僧寶傳) Tác phẩm, 15 quyển, do ngài Tự dung biên soạn vào đời Thanh, ngài Tính lỗi bổ sung, được thu vào Vạn tục tạng tập 137. Nội dung sách này ghi chép hành trạng của các Thiền sư từ niên hiệu Kiến viêm năm đầu (1127) đời Nam Tống, đến niên hiệu Vĩnh lịch năm đầu (1647) cuối đời Minh. Theo lời bạt trong sách này thì ngài Tự dung biên soạn truyện kí của 53 vị, ngài Tính lỗi bổ sung 41 vị, nên tổng số là 94 vị. Nhưng phần mục lục thì ghi 97 vị. Cách bố cục không sắp xếp theo pháp hệ tông phái mà theo thứ tự niên đại, bắt đầu từ Thiền sư Phật đăng tuân đến vị cuối cùng là Thiền sư Trung châu Xuy vạn chân. Bản lưu hành hiện nay, ở đầu quyển có lời tựa của ông Lâm hữu vương và ông Thôi bỉnh kính, tiếp đó là bài tựa của ngài Tự dung. Cuối cùng có lời bạt của ngài Tính lỗi được viết vào năm Khang hi thứ 3 (1664) và bài kí khắc lại (tái bản) viết vào năm Khang hi 24 (1685). [X. Toại sơ đường văn tập Q.15; Tứ khố toàn thư tổng mục Q.145; Trung quốc Phật giáo sử tịch khái yếu (Trần viên)].
Nam Viện Huệ Ngung
(南院慧顒, Nanin Egyō, 860-khoảng 930): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Hà Bắc, ông kế thừa dòng pháp của Hưng Hóa Tồn Tương (興化存奬) rồi đến trú tại Nam Viện của Bảo Ứng Thiền Viện (寳應禪院) thuộc vùng Nhữ Châu (汝州, thuộc Tỉnh Hà Nam ngày nay). Trong bản Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄) có phần Nhữ Châu Nam Viện Thiền Sư Ngữ Yếu (汝州南院禪師語要) nhưng không rõ tương truyền như thế nào. Chính ông đã truyền thừa dòng pháp cho Phong Huyệt Diên Chiểu (風穴延沼). Theo Tông Thống Biên Niên (宗統編年) 19 thì cho rằng ông thị tịch vào năm đầu (930) niên hiệu Trường Hưng (長興); cho nên ta có thể suy ra rằng vào năm 888 khi Hưng Hóa Tồn Tương qua đời thì ông được 30 tuổi.
; 南院慧顒; C: nányuàn huìyóng; J: nanin egyō; ?-930, cũng được gọi là Bảo Ứng Huệ Ngung;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế đời thứ ba, nối pháp Thiền sư Hưng Hoá Tồn Tưởng. Môn đệ của Sư có Phong Huyệt Diên Chiểu nổi bật nhất và chính sự huấn luyện môn đệ »khó dạy« này mà Sư nổi danh đến đời sau.|Sư hỏi một vị tăng mới đến: »Vừa nơi nào đến?« Tăng thưa: »Vừa rời Nhượng Châu« Sư hỏi: »Ðến làm gì?« Tăng thưa: »Ðến lễ bái Hoà thượng.« Sư bảo: »Dường như lão Ngung Bảo Ứng chẳng ở đây.« Tăng liền hét, Sư bảo: »Ðã nói với ông chẳng có ở đây, lại hét cái gì?« Tăng lại hét, Sư liền đánh. Vị tăng quì xuống lễ bái, Sư bảo: »Gậy này bản phận ngươi đánh ta, mà ta lại đánh ngươi, ba gậy năm gậy cốt lời này.«
nam viện huệ ngung
Nanin Egyō (J), Nan yuan Hui Yung (C), Nanyuan Huiyong (C)(?- 930) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Hưng Hóa Tồn TươngTên một vị sư. (Mất khoảng 930).
nam viện quốc sư ngữ lục
(南院國師語錄) Gọi đủ: Nam viện Quốc sư trụ sơn thành châu Long nữ sơn Thiền lâm thiền tự ngữ lục. Cũng gọi Qui am lục. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Qui am Tổ viên (1261-1313), người Nhật bản soạn, thị giả Tuệ chân và Diệu chuẩn biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung sách này gồm có các phần: Thiền lâm thiền tự ngữ lục, Nam thiền tự ngữ lục, Thái bình hưng quốc Nam thiền tự ngữ lục, Kệ tụng, Sắc thụy Nam viện quốc sư Qui am hòa thượng hành trạng, Phụ lục...
nam vô a di đà phật
(南無阿彌陀佛) Cũng gọi Lục tự danh hiệu. Qui y đức Phật A di đà. Quán Vô lượng thọ kinh sớ quyển 1 (Đại 37, 246 trung) nói: Vô lượng thọ là Hán dịch, còn Nam mô A di đà Phật là Hán âm. Nam là qui, mô là mệnh, A là Vô, Di là Lượng, Đà là Thọ, Phật là Giác; tức là Qui mệnh Vô lượng thọ giác. Ngoài ra, theo kinh A di đà bản tiếng Phạm, thì A di đà có 2 nghĩa là: Vô lượng thọ (Phạm: Amitàyus, Hán âm: A di đà dữu già), Vô lượng quang (Phạm: Amitàbha, Hán âm: A di đa bà). Trong kinh Xưng tán Tịnh độ, do ngài Huyền trang dịch, thì có khu biệt 2 nghĩa này, nhưng kinh A di đà, do ngài Cưu ma la thập dịch, thì không phân biệt. Còn A di đà kinh giảng nghĩa của ngài Thâm lệ thì cho rằng, Nam mô A di đà dữu sái Phật đà da (Phạm: Namo Amitàyuze= buddhàya) là biểu thị ý qui kính Phật Vô lượng thọ; còn A di đà bà da (Phạm: Amitàbhàya) thì có nghĩa là qui y Phật Vô lượng quang. Sáu chữ Nam mô A di đà Phật thu nhiếp hết muôn đức nhân vị và vạn đức quả vị của Phật A di đà, cho nên có vô lượng công đức. Kinh Quán Vô lượng thọ nói rằng, chỉ được nghe 6 chữ danh hiệu cũng có thể diệt trừ tội chướng của vô lượng kiếp sinh tử; còn kinh A di đà thì cho rằng, hành giả niệm danh hiệu Phật A di đà, thường được chư Phật ở 6 phương hộ niệm. [X. Vô lượng thọ Như lai tu hành cúng dường nghi quĩ; Quán kinh sớ huyền nghĩa phần; Tán A di đà Phật kệ (Đàm loan)].
nam vô bất khả tư nghị quang như lai
(南無不可思議光如來) Cũng gọi Cửu tự danh hiệu. Qui mệnh kính lễ đức Bất khả tư nghị quang Như lai. Đây là danh hiệu tán thán đức Phật A di đà, biểu thị ánh sáng của ngài không thể nghĩ bàn. Hai quang Nan tư và Vô xứng trong 12 quang của kinh Vô lượng thọ (do ngài Khang tăng khải dịch vào đời Tào Ngụy) được rút ra để thành lập danh hiệu Bất khả tư nghị quang này. Bài kệ tán Phật A di đà của ngài Đàm loan (Đại 47, 424 thượng) nói: Nam mô Bất khả tư nghị quang, nhất tâm qui mệnh khể thủ lễ (Qui y đức Bất khả tư nghị quang, một lòng cung kính cúi đầu lễ).
nam vô diệu pháp liên hoa kinh
(南無妙法蓮華經) Kính lễ kinh Diệu pháp liên hoa. Đây là lời xướng niệm đề hiệu của kinh Diệu pháp liên hoa do tông Nhật liên của Nhật bản đề xướng. Ngài Nhật liên, vị tăng Nhật bản, người sáng lập tông Nhật liên, cho rằng Diệu pháp liên hoa kinh, không phải chỉ là 1 danh đề mà còn có nghĩa là chân lí tột cùng của vũ trụ được nói trong kinh Pháp hoa. Nhờ xướng đề Nam mô Diệu pháp liên hoa kinh mà dễ trở về với chân lí và chứng được quả Phật. Từ ngữ đối lại với Nam mô Diệu pháp liên hoa kinh là xưng danh niệm Phật Nam mô A di đà Phật. Xưng danh niệm Phật, tức là xưng niệm danh hiệu Phật; còn xướng đề, tức là xướng tụng pháp do đức Phật nói.
nam vô hạt la đát na đa la dạ da
(南無喝囉怛那哆囉夜耶) Phạm: Namo ratna-trayàya. Nghĩa là qui y Tam bảo. Nam mô nghĩa là qui mệnh, hát ra đát na đá ra dạ da nghĩa là Tam bảo.
nam điều mục lục
(南條目錄) Cũng gọi Nhật bản Chân tông Nam điều Văn hùng dịch bổ Đại minh tam tạng Thánh giáo mục lục. Anh dịch: A Catalogue of the Chinese Translation of the Buddhist Tripiỉaka by Punyu Nanjio, Oxford, 1883. Mục lục, do sư Nam điều Văn hùng người Nhật soạn dịch. Khi du học ở nước Anh, Nam điều Văn hùng đem Đại minh tam tạng Thánh giáo mục lục trong Hoàng bá Đại tạng kinh của Nhật bản dịch sang tiếng Anh và đối chiếu phần dịch âm Hán, Phạm, Anh trong các mục lục kinh sách, đồng thời, sư còn đối chiếu với âm Phạm ghi trong Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục, ghi chú rõ ràng về tác giả, dịch giả và những điểm dị đồng giữa các bản in. Ở đầu quyển có bài tựa và thư mục tham khảo; cuối quyển có phụ thêm các tác giả Ấn độ, dịch giả Trung quốc và lời giải thích về mục lục và sách dẫn của soạn giả. Bộ mục lục này được xuất bản vào năm 1883 và từ đó đến nay, nó đã trở thành sách chỉ nam cho những học giả Âu, Mĩ nghiên cứu Đại tạng kinh Hán dịch. Sách được tái bản vào năm 1928 nhân dịp kỉ niệm giỗ đầu của Tiến sĩ Nam điều Văn hùng.
Nam Điều Thời Quang
(南條時光, Nanjō Tokimitsu, 1259-1332): vị Võ Tướng sống vào cuối thời Liêm Thương, tín đồ đắc lực của Nhật Liên, là thủ lãnh vùng Thượng Dã (上野, Ueno) thuộc tiểu quốc Tuấn Hà (駿河, Suruga); ông được gọi là Thượng Dã Điện (上野殿, Ngài Thượng Dã). Vào năm 1278, khi xảy ra vụ Pháp Nạn Nhiệt Nguyên (熱原の法難, Atsuhara-no-Hōnan), dưới sự chỉ đạo của Nhật Hưng (日興, Nikkō), ông đề kháng chính sách đàn áp tôn giáo của chính quyền Mạc Phủ, rồi tận lực bôn tẩu để bảo vệ cho tín đồ. Đối với tâm tín thành của Thời Quang như vậy, Nhật Liên tán thán và ban cho hiệu là Thượng Dã Hiền Nhân Điện (上野賢人殿). Sau khi thầy qua đời, Nhật Hưng không hợp ý với Ba Mộc Tỉnh Thật Trường (波木井實長), nên rời khỏi Thân Diên Sơn (身延山). Lúc ấy, Thời Quang cung đón Nhật Hưng về lãnh địa của ông, rồi đến năm thứ 3 (1290) niên hiệu Chánh Ứng (正應) thì dâng cúng một phần đất đai của mình và trở thành người tín đồ khai sáng Bổn Môn Tự (本門寺). Vào năm đầu (1323) niên hiệu Chánh Trung (正中), để cúng dường hồi hướng cầu nguyện cho người vợ quá cố là Diệu Liên (妙蓮), ông biến tư thất của Hạ Điều Quật Chi Nội (下條堀之內) thành Diệu Liên Tự (妙蓮寺). Ông qua đời ở tuổi 74 và có giới danh là Đại Hành Tôn Linh (大行尊靈).
nam điều văn hùng
(南條文雄) Danh tăng kiêm học giả Nhật bản thuộc phái Đại cốc, Tịnh độ Chân tông, người Kì phụ, hiệu là Thạc quả. Lúc tuổi trẻ, sư học ở trường Cao thương, sau qua Đại học Oxford nước Anh, chuyên học tiếng Phạm dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Max Müller. Sau khi về nước, sư làm Giảng sư tiếng Phạm ở trường Đông đại, sau làm Giám học trường Đại học Chân tông, Hiệu trưởng trường Đại học Đại cốc. Trong khi lưu học ở nước Anh, sư đã biên soạn Nam điều mục lục rồi dịch ra tiếng Anh, nhờ đó sư trở nên nổi tiếng. Đồng thời, với sự giúp đỡ của thầy là Tiến sĩ Max Müller, sư đã ấn hành các bản tiếng Anh kinh Đại Vô lượng thọ, kinh A di đà, kinh Kim cương được dịch trực tiếp từ tiếng Phạm. Năm Chiêu hòa thứ 2 (1927) sư tịch, thọ 78 tuổi. Sư có các trứ tác: Nam điều mục lục, Thập nhị tông cương yếu, Phạm học giảng nghĩa, Hoài cựu học.
nam đình
(南亭) Danh tăng Trung quốc, người huyện Thái, tỉnh Giang tô, họ Cát. Sư xuất gia năm 10 tuổi, thờ các ngài Văn tâm, Trí quang làm thầy. Năm 21 tuổi, sư thụ giới Cụ túc, năm 25 tuổi, đến An khánh y chỉ vào pháp sư Thường tỉnh. Năm 1949, sư đến Đài loan, sáng lập Hoa nghiêm liên xã ở Đài bắc, thành lập Hoa nghiêm chuyên tông học viện, trường Cao cấp công thương, Đào viên kiều ái Phật đường, Hoa nghiêm kiều ái nhi đồng thôn v.v... Sư suốt đời giảng kinh, hoằng pháp và tham gia các công tác từ thiện xã hội, văn hóa v.v... không biết mệt mỏi. Ngày mồng 3 tháng 9 năm 1982, sư an nhiên thị tịch thọ 83 tuổi. Sư có các trứ tác: Tâm kinh giảng nghĩa, A di đà kinh giảng thoại, Diệu tuệ đồng nữ kinh giảng thoại, Thập thiện nghiệp đạo kinh giảng thoại, Phật thuyết bột kinh sao giảng thoại, Vĩnh gia Đại sư Chứng đạo ca giảng thoại, Nhân vương hộ quốc kinh giải...
nam đại cần
Nan tai Ch'in (C).
nam đốn bắc tiệm
Thiền của hai tông nam và bắc ở trung Quốc—Southern immediate, Northern gradual. ** For more information, please see Nam Tông and Nam Năng Bắc Tú.
; (南頓北漸) Cũng gọi Nam Năng Bắc Tú. Chỉ cho phái Thiền chủ trương Đốn ngộ do Lục tổ Tuệ năng hoằng truyền ở phương Nam và phái Thiền chủ trương Tiệm ngộ do Đại sư Thần tú xiển dương ở phương Bắc.Thiền tông Trung quốc, từ Ngũ tổ Hoằng nhẫn trở về sau, do quan điểm bất đồng về con đường tu chứng giữa 2 vị đệ tử thượng thủ của Ngũ tổ là Thần tú và Tuệ năng mà đã phát triển thành 2 hệ thống khác nhau. Ngài Thần tú chủ trương hướng dẫn đệ tử theo 1 tiến trình có thứ lớp dần dần để đạt đến khai ngộ, gọi là Tiệm; ngài lấy Trường an ở phương bắc làm trung tâm giáo hóa, gọi là Bắc tông thiền, hoặc Bắc tiệm. Còn ngài Tuệ năng, trái lại, thì chủ trương đốt giai đoạn mà tiến ngay đến giác ngộ, gọi là Đốn; ngài lấy Tào khê ở phương nam làm trung tâm phát triển, gọi là Nam tông thiền, hoặc Nam đốn. Quan điểm bất đồng của 2 ngài về đường hướng tu chứng ấy được thể hiện rõ ràng trong 2 bài kệ sau đây: 1. Bài kệ của ngài Thần tú (Đại 48, 348 trung): Thân là cây Bồ đề Tâm như đài gương sáng Hàng ngày siêng lau chùi Chớ để dính bụi nhơ. 2. Bài kệ của Lục tổ Tuệ năng (Đại 48, 349): Bồ đề vốn không cây Gương sáng chẳng có đài Xưa nay không một vật Chỗ nào dính trần ai (bụi nhơ)? Hai bài kệ trên chính là nguồn gốc của Thiền phong Đốn và Tiệm. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.4].
nan
Difficult, hard; distress, adversity. Nan phục: hard to subdue, or submit; unconquerable. Nan nhập: hard to enter, or attain. Nan thắng: hard to overcome. Nan thắng địa. The fith of the ten bodhisattva stages. Nam hóa: difficult of conversion; difficult to educate, to reform.Nan độ: hard to cross over, to save or be saved. Nan độ hải: the ocean hard to cross, the sea of life and death. Nan tư: hard to think of, hard to realize, incredible.
; Khó khăn—Difficult—Hard.
; (難) Những điều khó khăn gây chướng ngại cho việc tu hành. Theo phẩm Cao quí đức vương trong kinh Niết bàn quyển 23 (bản Bắc) thì có 6 điều khó: 1. Phật ra đời khó được gặp 2. Chính pháp khó được nghe. 3. Thiện tâm khó phát. 4. Nơi Trung quốc (chỗ văn hóa cao) khó được sinh vào. 5. Thân người khó được. 6. Các căn khó có đầy đủ.
nan giải nan nhập
(難解難入) Phạm: Durdfzaô duranubodhaô. Khó hiểu, khó ngộ. Trí tuệ của chư Phật rất sâu xa, chúng sinh khó có thể hiểu tỏ được. Kinh Đại tát già ni kiền tử sớ thuyết quyển 1 (Đại 8, 319 trung) nói: Chư Phật, Như lai, bậc Ứng cúng, Chính biến tri, chứng được pháp sâu kín khó tin, khó biết, khó hiểu, khó lường, tất cả trời, người không biết được Như lai nói với ý gì. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa].
nan hoá
(難化) Khó giáo hóa. Chỉ cho những chúng sinh căn tính kém cỏi, ương ngạnh khó giáo hóa để đưa họ vào Phật đạo. Theo phẩm Hương tích Phật trong kinh Duy ma cật quyển hạ, người ở cõi này bướng bỉnh, ương ngạnh, khó giáo hóa, cho nên đức Thế tôn mới dùng những lời cứng rắn để điều phục họ. Luận Đại trí độ quyển 91 cũng cho rằng, chư thiên ở cõi Dục bị 5 món dục tuyệt hảo làm cho mê muội, cho nên khó giáo hóa được, gọi là Dục thiên nan hóa. Còn chư thiên ở cõi Sắc thì bị cái vui thiền định thế gian mê hoặc nên cũng khó giáo hóa họ, gọi là Sắc thiên nan hóa. Hai loại này gọi chung là Nhị nan hóa. Phẩm Hiện bệnh trong kinh Niết bàn quyển 11 (bản Bắc) nêu ra 3 loại chúng sinh khó giáo hóa là: 1. Báng Đại thừa: Người chê bai giáo pháp Đại thừa. 2. Ngũ nghịch: Người phạm 5 tội trái đạo lí. 3. Nhất xiển đề: Kẻ không tin chính pháp, bác luật nhân quả. Ba loại người khó giáo hóa trên đây được gọi chung là Nan hóa tam cơ; cũng ví dụ như chứng bệnh khó trị, cho nên còn gọi là Nan trị tam bệnh, Nan trị cơ. Đối với 3 loại chúng sinh này, các giáo pháp của hàng Tam thừa không cứu được, chỉ có giáo pháp Nhất thừa mới có thể cứu được. Tịnh độ chân tông của Phật giáo Nhật bản thì cho rằng, chỉ có bản nguyện của đức Phật A di đà là cứu chữa được 3 loại căn cơ khó giáo hóa này. [X. kinh Niết bàn Q.10 (bản Nam)].
nan hành
(難行) Phạm: Duwkara-caryà. Cũng gọi Khổ hành. Đối lại: Dị hành. Khó làm. Đứng về phương diện tông giáo mà nói, những pháp khó tu gọi chung là Nan hành, còn những pháp dễ tu thì gọi là Dị hành. Phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp Hoa quyển 4 nói: Đức Thích ca Như lai từ vô lượng kiếp đến nay, vì cầu đạo Bồ đề mà chứa góp công đức nan hành khổ hạnh, chưa từng ngơi nghỉ. Phẩm Viễn li trong kinh Đại bát nhã quyển 424 thì nói: Bồ tát vì cứu độ chúng hữu tình mà tu nhiều khổ hạnh, chịu sự nặng nhọc, nhưng chưa bao giờ nghĩ đó là những hạnh khổ khó làm. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.2]. (xt. Dị Hành).
nan hành đạo dị hành đạo
(難行道易行道) Gọi tắt: Nan dị nhị đạo. Đạo khó tu, đạo dễ tu, phán giáo của tông Tịnh độ. Tông này căn cứ vào thuyết Nan dị nhị đạo của bồ tát Long thụ mà chia giáo pháp của đức Phật thành Nan hành đạo và Dị hành đạo. Dùng sự khó khăn của người đi bộ trên đường để ví dụ chúng sinh trong cõi đời 5 trược ác mà muốn cậy vào sức của chính mình tu hành để mong đạt được quả Thánh, gọi là Nan hành đạo; trái lại, dùng sự dễ dàng của việc đi thuyền dưới sông để ví dụ chúng sinh nương vào lòng từ bi và trí tuệ rộng lớn của Phật làm phương tiện vãng sinh Tịnh độ, khai ngộ chứng quả, thì gọi là Dị hành đạo. Luận Thập trụ trì bà sa quyển 5 (Đại 26, 41 trung) nói: Phật pháp có vô lượng môn, như đường đi ở thế gian có khó có dễ, đi bộ thì khó nhọc, đi thuyền thì khỏe khoắn; đạo Bồ tát cũng thế, hoặc có người siêng năng hành trì, hoặc có người lấy lòng tin làm phương tiện, dễ làm mà mau đạt đến A duy việt trí (không trở lui). Theo Vãng sinh luận chú quyển thượng của ngài Đàm loan, thì vào thời đại không có Phật mà tự lực hành trì để mong đạt đến quả vị Bất thoái chuyển là 1 việc rất khó, gọi là Nan hành đạo. Ngài Đàm loan còn chia Nan hành đạo làm 5 thứ: 1. Ngoại đạo cùng tu thiện làm mê loạn pháp của Bồ tát. 2. Hạnh tự lợi của Thanh văn làm chướng ngại lòng từ bi. 3. Kẻ ác vô cớ phá hoại hạnh thù thắng của người khác. 4. Quả thiện điên đảo hay phá hoại hạnh thanh tịnh. 5. Chỉ nhờ tự lực chứ không nương vào tha lực. Năm điều trên đây luôn ở trước mắt, khiến cho người tự lực tu hành khó thành tựu đạo quả, giống như cái khó khăn vất vả của người đi bộ trên đường. Nhưng, nếu người tu hành Dị hành đạo, chỉ nương vào nhân duyên tin Phật và chí thành phát nguyện vãng sinh Tịnh độ, thì nhờ nguyện lực của chư Phật, chắc chắn được vãng sinh, cũng dễ dàng và nhẹ nhàng như người ngồi thuyền đi trên mặt sông vậy. Trong An lạc tập quyển thượng, ngài Đạo xước, vị Cao tăng tông Tịnh độ Trung quốc sống vào đời Đường, cũng dựa vào thuyết Nan dị nhị đạo mà chia các pháp môn làm 2 loại: Tự lực và Tha lực, Tự nhiếp và Tha nhiếp mà lập ra Thánh đạo môn và Tịnh độ môn; Thánh đạo môn tức Nan hành đạo, là pháp tu hành tự lực, tự nhiếp; còn Tịnh độ môn tức Dị hành đạo, là pháp tu hành tha lực, tha nhiếp. Về sau, tại Nhật bản, có các ngài Nguyên tín, Nguyên không, Thân loan v.v... kế thừa và truyền bá thuyết này của ngài Đạo xước, như thuyết Nhị song tứ trùng của ngài Thân loan, tức trong Thánh đạo môn, Nan hành đạo lại chia ra 2 thứ là Thụ xuất và Thụ siêu. Thụ xuất là chỉ cho chủ trương tu hành trải qua nhiều kiếp mới mong chứng quả của các tông phái thuộc Tiệm giáo, như các tông Pháp tướng, Tam luận v.v...; còn Thụ siêu là chỉ cho chủ trương tu hành ngay thân này chứng quả thành Phật của các tông phái thuộc Đốn giáo, như các tông Phật tâm(Thiền), Chân ngôn, Pháp hoa, Hoa nghiêm v.v... Ngoài ra, Dị hành đạo nói trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 5 của ngài Long thụ là chỉ cho pháp môn tu hành xưng niệm danh hiệu của chư Phật, Bồ tát; nhưng đến đời sau, các vị Cao tăng ở Trung quốc và Nhật bản, như ngài Đàm loan, ngài Nguyên không v.v... thì chỉ y vào Phật A di đà mà bàn đạo Dị hành, nhấn mạnh rằng công đức thù thắng của bản nguyện tha lực là đạo dễ làm. [X. An lạc tập Q.hạ; Vãng sinh luận chú kí Q.1; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập Q.thượng; Ngu thốc sao Q.thượng].
nan hóa
Khó chuyển hóa—Difficult of conversion, or transformation.
nan hóa tam cơ
Ba loại căn cơ khó giáo hóa tế độ—Three kinds of capacities which are difficult to transform. 1) Loại hủy báng Đại Thừa: Those who defame the Mahayana. 2) Loại phạm tội ngũ nghịch: Those who commit the five ultimate betrayals or five grave sins. 3) Loại Xiển Đề: Those who abandon Buddha-truth—See Xiển Đề and Nhất Xiển Đề in Vietnamese-English Section, and Icchantika in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
nan hữu
Hy Hữu—Hard to have—Rare.
nan long vương kinh
Xem Long vương Huynh đệ Kinh.
nan nhập
Khó vào—Difficult to enter or attain.
nan phá
(難破) Vấn nạn, Luận phá. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 4 (Đại 50, 245 thượng) nói: Có ngoại đạo Thuận thế đến thách thức tranh luận, viết 40 điều nghĩa treo ở cổng chùa và nói: Nếu có người nào nạn phá được 1 điều thì ta sẽ chặt đầu để cảm tạ. [X. Trung luận sớ Q.4 phần đầu].
nan phục
Khó khắc phục—Difficult to subdue—Unconquerable.
nan phục địa
Phật Địa (không có sức mạnh nào có thể hàng phục được Đức Phật)—Buddha Land.
; (難伏地) Cảnh địa khó hàng phục được, tức chỉ cho cõi Phật hoặc cảnh giới giác ngộ. Vì không ai có đủ khả năng để hàng phục được đức Phật, cho nên gọi cảnh giới của Ngài là Nan phục địa. Thắng man bảo quật quyển hạ phần cuối (Đại 37, 16 thượng) nói: Sự sinh không thể làm cho Như lai sinh, cái già không thể khiến cho Như lai già, bệnh không thể làm cho Như lai bệnh, cái chết không thể làm cho Như lai chết, vì thế gọi là Nan phục địa. [X. chương Như lai chân thực nghĩa công đức trong kinh Thắng man].
nan thiền
(難禪) Pháp Thiền khó tu, là Thiền thứ 3 trong 9 loại Đại thiền bất cộng của Bồ tát do tông Thiên thai nói ra. Nan Thiền có 3 loại: 1. Đệ nhất nan thiền: Bồ tát tu lâu trong Thiền định, tâm đã được tự tại, nhưng vì muốn cứu độ chúng sinh nên xả bỏ niềm vui thứ nhất của Thiền mà sinh vào cõi Dục. 2. Đệ nhị nan thiền:Bồ tát tu vô lượng pháp Thiền định sâu xa, vượt qua trên tất cả hàng Thanh văn và Bích chi phật. 3. Đệ tam nan thiền:Bồ tát nương theo Thiền định mà được Vô thượng bồ đề. [X. Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ phần trên].
nan thích nghi luận
(難釋疑論) Tác phẩm, 1 quyển, do cư sĩ Chu đạo tổ soạn vào đời Đông Tấn, được thu vào Quảng hoằng minh tập quyển 18 trong Đại chính tạng tập 52. Khoảng năm Thái nguyên thứ 9 (394) đời Hiếu Vũ đế nhà Đông Tấn, ông Đới quì có soạn cuốn Thích nghi luận, trong đó, ông bày tỏ sự hoài nghi và có những nhận xét không đúng về thuyết nhân quả của Phật giáo. Bởi thế, Chu đạo tổ mới làm luận này để phê phán những quan điểm sai lầm của Đới quì và chỉ rõ ra những chỗ sai khác giữa Nho học và Phật giáo. Ông Chu đạo tổ cho rằng nếu không có nhân quả đời trước thì không thể lí giải được những hiện tượng người lành chịu khổ, kẻ ác được phúc báo vinh hoa. Sau đó, Đới quì lại làm luận phản bác thuyết của của Đạo tổ, lần này, thầy của Đạo tổ là ngài Lô sơn Tuệ viễn bèn soạn Tam báo luận để phúc đáp.
nan thắng
Khó hàng phục, địa thứ năm trong mười Bồ Tát Địa, trong giai đoạn nầy mọi dục vọng phiền não đều được điều phục và thông suốt chân lý của vạn hữu—Hard to overcome, or be overcome, unconquerable, the fifth of the ten bodhisattva stages when all passion and illusion is overcome and understanding of all things attained. ** For more information, please see Thập Địa Phật Thừa.
nan thắng tôn giả
Xem Bất khả việt thủ hộ.
nan thắng địa
Sudurjaya-bhŪmi (S), Hard-to-Conquer stage Cực nan thắng địaĐịa thứ 5 trong Thập địa.
; See Nan Thắng, and Thập Địa Phật Thừa in Vietnamese-English Section.
; (難勝地) Phạm: Sudurjayà-bhùmi. Hán âm: Đầu xà da phổ. Địa thứ 5 trong Thập địa Bồ tát. Ở địa vị này phương tiện tu hành để đạt được thắng trí tự tại là rất khó, các phiền não kiến hoặc, tư hoặc cũng không dễ dàng điều phục vì vậy gọi là Nan thắng địa. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển hạ (Đại 8, 842 hạ) nói: Biết các đế như thực Và các pháp thế gian Làm lợi khắp quần sinh Gọi là Nan thắng địa. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; phẩm Đà la ni tối tịnh địa trong kinh Hợp bộ kim quang minh Q.3; luận Thành duy thức Q.9].
nan thế
(難勢) Chỉ cho khí thế vấn nạn. Pháp hoa văn cú kí quyển 10 hạ (Đại 34, 350 trung) nói: Gần đây thấy trong Pháp hoa viên kính của Tú công, có lập ra thế vấn nạn, nhưng không hơn gì qui tắc trước; nay gom góp những điều được nghe trước kia và những điều được thấy hiện tại, tổng hợp, phân biệt để rộng đường phê phán. [X. truyện Tăng xán trong Tục cao tăng truyện Q.9].
nan trung chi nan
(難中之難) Việc rất khó trong các việc khó, ví dụ cho việc tin nhận diệu pháp vô thượng là rất khó. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 279 thượng) nói: Nếu người nghe kinh này rồi mà vui mừng tin nhận, thì đó là việc rất khó trong các việc khó, không cái khó nào hơn cái khó này.
nan trở phật
Dushpradarsha-Buddha (S), Hard-to-Injure Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai. Một đức Phật Như Lai ỡ phương bắc cõi ta bà.
nan tác năng tác
(難作能作) Việc khó làm mà làm được. Nghĩa là việc tu hành tuy khó khăn nhưng cuối cùng cũng có thể thành tựu được. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 26 (Đại 12, 520 trung) nói: Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, vì Đại niết bàn mà thành tựu được đầy đủ 5 việc như thế thì tức người ấy đã làm được những việc khó làm, nhẫn được những điều khó nhẫn, bỏ được những vật khó bỏ. Từ ngữ này vốn được dùng để hiển bày tinh thần nỗ lực tu hành của Phật, Bồ tát; nhưng đời sau thì phần nhiều dùng để tán thán sự rộng lớn của Phật lực và lòng từ bi độ sinh của Ngài. [X. Pháp sự tán Q.hạ].
nan tín chi pháp
(難信之法) Chỉ cho pháp khó tin. Giáo pháp của đức Phật rất sâu xa mầu nhiệm, không thể dùng kiến thức thông thường của thế gian mà hiểu biết được. A di đà kinh sớ của ngài Khuy cơ (Đại 37, 328 trung) nói: Pháp khó tin, nghĩa là niệm Phật từ 1 ngày đến 7 ngày, liền tiêu trừ được tất cả phiền não cấu nhiễm mà vãng sinh Tịnh độ, nhân nhỏ mà được quả lớn, người đời khó tin. Tịnh độ chân tông tại Nhật bản lập pháp Nan tín làm 1 trong những luận đề của tông thừa. Chủ trương pháp môn của đức Phật A di đà là tối thắng, nếu chẳng phải người có thiện căn sâu dày từ kiếp trước thì khó mà tin nhận. Thuyết này được y cứ vào kinh Vô lượng thọ và kinh A di đà mà thành lập. [X. A di đà kinh nghĩa sớ (Nguyên hiểu)].
nan tín kim cương tín lạc
(難信金剛信樂) Lòng tin bền chắc như kim cương. Từ ngữ này được thấy trong bài tựa Giáo hành tín chứng của ngài Thân loan thuộc Tịnh độ chân tông Nhật bản. Lòng tin này là tin nơi bản nguyện của đức Phật A di đà muốn cứu độ chúng sinh về cõi Thực báo trang nghiêm, cũng là tâm tin vào pháp tha lực. Nhưng pháp này cao siêu tôn quí, người còn ở giai vị tu nhân khó tin nhận, phải dùng tha lực khiến họ tin phục, cho nên gọi là Nan tín. Một khi lòng tin này đã nảy sinh, thì những sự động loạn khác không thể phá hoại được, nó có công năng diệt trừ tất cả phiền não tội chướng, giống như thể kim cương cứng chắc, có thể phá hoại tất cả các vật khác, vì thế gọi là Kim cương tín.
nan tư
Khó có thể suy đoán được, từ dùng để tán thán Phật Pháp—A term used to praise Buddha-truth, meaning hard to think of, or hard to realize—Incredible.
nan tư nghị
Xem Bất khả tư nghị.
; (難思議) I. Nan Tư Nghị. Gọi tắt: Nan tư. Cũng gọi: Bất tư nghị. Khó nghĩ bàn. Chỉ cho cảnh giới mà bàn nói và suy nghĩ không thể diễn đạt được. Nghĩa là Phật pháp rộng lớn sâu xa khó có thể nghĩ bàn. Luận Thành duy thức quyển 1 (Đại 31, 77 trung) nói: Tôi đã tùy theo khả năng của mình, tóm lược nghĩa Thành duy thức tất cả công hạnh của Phật nói trong đó, thật khó nghĩ bàn. Ngoài ra, từ ngữ Nan tư nghị còn được dùng để tôn xưng đức Phật, tức tán thán đức sâu xa mầu nhiệm của Phật. Kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa quyển 2 (Đại 8, 870 hạ) nói: Ba cõi trời người đều khen ngợi, con nay lễ đức Nan tư nghì. [X. chương Như lai chân thực nghĩa công đức trong kinh Thắng man; kinh Hoa nghiêm Q.1 (bản 60 quyển)]. II. Nan Tư Nghị. Một trong 37 tôn hiệu của đức Phật A di đà. Đức mầu nhiệm của Phật A di đà có thể khiến cho phàm phu chứng được đạo quả, đức ấy chẳng thể nghĩ bàn. Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 421 thượng) nói: Tất cả chướng ngại đều trừ sạch, nên con đính lễ Nan tư nghì.
nan tư nghị vãng sinh
(難思議往生) Chỉ cho sự vãng sinh khó nghĩ bàn, tức nhờ lòng tin vào hoằng nguyện tha lực của đức Phật A di đà mà được vãng sinh, là 1 trong 3 thuyết vãng sinh của Tịnh độ chân tông Nhật bản. Do lòng tin vào tha lực hồi hướng được sinh về cõi Thực báo trang nghiêm của đức Phật A di đà, đó chẳng phải là việc mà phàm phu nói bàn, suy nghĩ có thể biết được, cho nên gọi là Nan tư nghị vãng sinh. Tông này còn lập ra 2 thuyết vãng sinh khác: 1. Nan tư vãng sinh: Nhờ nhân tự lực niệm Phật mà được sinh vào Thai cung Nghi thành ở chỗ biên giới cõi Tịnh độ, tức là Hóa độ của đức Phật A di đà, được hưởng vô lượng sự an lạc chẳng thể nghĩ bàn, theo như lời nguyện thứ 20 của Ngài. Vì loại tự lực vãng sinh này không thù thắng bằng tha lực vãng sinh đã nói ở trên, cho nên gọi là Nan tư. 2. Song thụ lâm hạ vãng sinh: Lấy việc hóa thân của đức Thích ca nhập diệt ở rừng Sa la song thụ để ví dụ sự vãng sinh về cõi Phương tiện hóa độ của đức Phật A di đà, theo lời nguyện thứ 19 của Ngài. [X. Chuyển kinh hành đạo nguyện vãng sinh Tịnh độ pháp sự tán Q.thượng; Giáo hành tín chứng Q.6].
Nan Đà
(s, p: Nanda, 難陀): ý dịch là Hoan Hỷ (歡喜), Hỷ Lạc (喜樂), còn gọi là Nan Nỗ (難努), Nan Đồ (難屠), Nan Đề (難提), là em cùng cha khác mẹ với Đức Phật, vợ ông là Tôn Đà Lợi (s: Sundarī, 孫陀利), khác với Nan Đà Chăn Trâu (tức Mục Ngưu Nan Đà [牧牛難陀], ý dịch là Thiện Hoan Hỷ [善歡喜], tên của một vị Tỳ Kheo, nhân hỏi Phật về 11 việc thả trâu như thế nào; biết được Ngài là bậc Nhất Thiết Trí, sau theo Phật xuất gia, chứng quả A La Hán). Cha là vua Tịnh Phạn (s: Śudhodana, 淨飯), mẹ là Ma Ha Ba Xà Ba Đề (s: Mahāprajāpatī, 摩訶波闍波提). Tướng hảo của ông gần như Đức Phật, thân dài 1 trượng 5 tấc, tướng mạo đoan chính, có 30 tướng đẹp (chỉ thua đức Phật 2 tướng mà thôi). Chính vì có tướng hảo đoan nghiêm như vậy nên ông được gọi là Tôn Đà La Nan Đà (s: Sundarananda, 孫陀羅難陀) có nghĩa là Nan Đà đẹp như con gái. Tương truyền ông có tướng hảo đẹp như vậy là vì đời quá khứ thường lấy vàng ròng làm trang nghiêm các tượng Phật, rồi thắp đèn cúng Phật, nên có được quả báo như vậy. Sau khi đức Thế Tôn thành đạo, ông trở về thăm cố hương Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛). Khi ấy, Nan Đà là Hoàng thái tử và đang chuẩn bị kết hôn với người đẹp số một trong nước là nàng Tôn Đà Lợi, nhưng Đức Phật lại dùng phương tiện để khuyến dụ ông xuất gia. Ngài đã hóa độ ông xuất gia tại vườn Ni Câu Luật (s: nyagrodha, p: nigrodha, 尼拘律). Sau khi xuất gia xong, do vì quá nhớ đến vợ, ông vẫn thường trở về nhà thăm vợ. Về sau, ông được đức Phật dùng phương tiện hóa độ, giúp ông đoạn trừ ái dục, chứng quả A La Hán. Trong số các đệ tử Phật, ngài được tôn xưng là điều phục các căn đệ nhất. Về câu chuyện đức Phật hóa độ Nan Đà. Tương truyền một hôm nọ, đức Phật cùng với Tôn Giả A Nan đến khất thực tại ngay trước cửa nhà của Nan Đà. Ông nghênh đón, chuẩn bị dâng cơm vào bát cúng đường đức Phật. Bỗng nhiên Ngài chuyển thân chạy đi và nói với A Nan là bảo Nan Đà đem thức ăn đến. Nan Đà nghe vậy đem cơm đến chỗ Phật. Lập tức đức Phật cho người cạo đầu Nan Đà; như vậy trong tình huống đó, ông bị buộc phải xuất gia. Ngày hôm sau, Ngài cùng với đại chúng ra ngoài khất thực; chỉ mình Nan Đà ở nhà mà thôi, với ý định trốn thoát. Biết vậy, đức Thế Tôn bảo ông quét dọn sạch các cửa khắp bốn phía. Ông quét sạch cửa này thì cửa kia nhớp, cứ như vậy không thể nào làm cho sạch hết tất cả được. Nhân đó ông nghĩ rằng, nếu lúc này không chạy trốn thì không biết khi nào mới thoát được. Vì vậy, ông trốn thoát ra khỏi Tinh Xá, chạy đến giữa đường thì thấy đức Phật từ xa đi đến, bèn nép mình trốn sau gốc cây, không ngờ cây đó bay bổng lên không trung, khiến cho hành tung Nan Đà bị bại lộ. Thấy vậy đức Phật hỏi ông vì sao chạy trốn. Ông trả lời rằng vì quá nhớ thương vợ con ở nhà. Đức Phật dạy rằng: “Trước khi về nhà, ta sẽ dẫn con đi chơi hai nơi.” Ngài bèn dẫn ông lên trên Trời, ông thấy các nàng Thiên nữ trên đó, liền thốt lên rằng: “Quả đẹp như tiên nữ.” Nghe vậy, đức Phật hỏi ông rằng: “Thế thì nếu so sánh tiên nữ kia với vợ con ông, ai là người đẹp hơn ?” Nan Đà trả lời ngay rằng: “Tiên nữ kia đẹp hơn vợ con cả ngàn lần.” Sau đó, đức Thế Tôn lại dẫn ông đến một cung điện khác, bên trong có vàng ngọc rực rỡ, một đàn tiên nữ đang ngồi quây quần bên bức tượng, chứ không thấy Thiên tử. Ông bèn hỏi nguyên do, một tiên nữ trả lời rằng: “Cung điện này sẽ được cấp cho bào đệ của Phật là Nan Đà. Người đó đang thọ hưởng phước lạc dưới dương thế, sau khi mạng chung sẽ tiếp tục lên đây hưởng phước.” Nghe vậy, Nan Đà vui mừng tột đỉnh, tự biết mình là người có phước báo lớn. Tiếp theo, đức Thế Tôn lại đưa ông xuống cõi Địa Ngục. Ông vô cùng xót xa khi thấy các tội nhân nơi đây phải chịu khổ hình thê thảm. chân tay ông rã rời, run sợ không muốn ở lại lâu nơi đó. Đức Phật lại đưa ông đến một nơi khác, thấy có hai người ngục tốt đang ngồi ngủ gà ngủ gậc; nước dầu trong chảo cũng lạnh ngắt; lửa dưới chảo dầu chưa đỏ cháy. Lấy làm lạ, ông bạo gan hỏi ngục tốt nguyên do vì sao. Người lính cai ngục bảo rằng: “Chảo dầu sôi này vốn để dành cho Nan Đà, em của đức Phật. Ông ấy hiện tại đang hưởng phước trên dương gian, sau khi qua đời sẽ được sanh lên cõi Trời, hưởng phước lần nữa. Khi phước trên cõi Trời đã hết, ông ấy phải đọa xuống đây để chị quả báo tội nghiệp của nhiều đời trước.” Nghe lời này xong, Nan Đà kinh hãi đến nỗi lông tóc dựng đứng, run sợ không kể xiết, cùng Phật trở về Tinh Xá, cầu xin Ngài cứu thoát ra khỏi cảnh khổ của Địa Ngục. Từ đó, Ngài giải thích cho Nan Đà biết rõ tầm quan trọng và ý nghĩa xuất gia. Cho nên ông mới thật sự phát tâm xuất gia.
nan đà
Nandā (S)Hoan Hỷ, Hoan Hỷ Long vương1- hỷ 2- Tên ngôi làng có sông Ni liên thiền, xứ Ưu lâu tần loa, nơi cô thôn nữ Thiện Sanh, người cúng dường sữa cho đức Phật vào ngày Ngài đắc đạo. 3- Một trong Bát đại Long vương, gồm: Hoan Hỷ Long vương, Hiền Hỷ Long vương, Long vương hải, Bảo Hữu Long vương, Đa Thiệt Long vương, Vô nhiệt não Long vương, Đại ý Long vương, Thanh Liên Long vương.
; Nanda (S). Name. Rejoicing. Also hoan hỉ.
; Nanda (skt). 1) Hoan Hỷ: Happiness—Pleasure—Joy—Felicity. 2) Mục Ngưu Nan Đà là tên của một vị Tỳ Kheo, nhân hỏi Phật về 11 công việc thả trâu mà biết hết thảy mọi trí tuệ của Phật: Name of a disciple, Cowherd Nanda, who enlightened after asking the Buddha about the 11 methods of taking care of a cowherd. 3) Thiện Hoan Hỷ Nan Đà là một vị A La Hán đệ tử của Phật, khác với ngài A Nan Đà. Ông là một trong những đại đệ tử của Đức Phật, con vua Tịnh Phạn và bà dì cũng là di mẫu của Phật là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề. Khi sanh ra ông có một dáng dấp vui vẻ nên được đặt tên là Thiện Hoan Hỷ. Lúc Đức Phật xuất gia thì ông thế ngôi Thái Tử của Ngài để sau nầy nối ngôi vua Tịnh Phạn. Ngay lúc ông sắp cưới nàng Sundari xinh đẹp và lên ngôi vua, thì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trở về thành Ca Tỳ La Vệ lần đầu tiên kể từ ngày Ngài đắc đạo. Nan Đà gặp Phật và xuất gia gia nhập giáo đoàn. Lúc đầu ông bị vướng víu bởi những nghi nan vọng tưởng, nhưng dưới sự hướng dẫn của Phật chẳng bao lâu sau ông đắc quả A La Hán. Ngài Nan Đà cũng có dáng dấp giống y như Phật, chỉ thấp hơn Phật chừng ba tấc; ngài cũng có ba mươi hai tướng hảo của Phật, dù không toàn hảo. Vì thế khi ngài mặc áo vàng, rất nhiều khi người ta tưởng lầm ngài là Phật; cho nên Đức Phật bảo ngài nên mặc áo đen cho mọi người phân biệt được với Phật: Sundarananda, an arhat, different from Ananda. He was one of the Buddha's great disciplies and younger half brother, the son of Shuddhodana and Sakyamuni's maternal aunt Mahaprajapati. He had a graceful figure and was known as Sundarananda or Beautiful Nanda. After Sakyamuni remounced the secular world, Nanda took his place as heir to King Shuddhodana. Just as he was about to marry the beautiful Sundari, Sakyamuni Buddha returned to Kapilavastu for the first time following his Awakening, and Nanda was persuaded to join the Buddhist Order. It is said that he was for some time tormented by doubts and second thoughts, under Sakyamuni Buddha's guidance, he was eventually able to fully dedicate himself to Buddhist practice and attained the state of arhat. Nanda was only three inches shorter than Buddha and had all thirty-two outstanding traits of the Buddha, though not as perfect. Thus, when he wore his golden ropes, many times Buddhists mistakenly assumed he was Buddha; therefore, the Buddha had him wear a black rope so everyone could distinguish Buddha and Nanda. 4) Một vị khác nữa cũng tên Nan Đà, người bán sữa, đã cúng dường sữa lên Đức Phật: Another Nanda, a milkman, who gave Sakyamuni milk. 5) Một người đàn bà nghèo cũng tên Nan Đà, dùng hết gia tài một đồng tiền mua dầu đốt đèn cúng Phật: A poor woman who used the only penny she had (could only offer a cash) to buy oil for a lamp to Buddha. 6) Tên của một vị Long Vương: Name of a Naga King.
; (難陀) Phạm và Pàli: Nan da. Hán dịch: Hoan hỉ, Gia lạc. I. Nan Đà. Cũng gọi Nan nỗ, Nan đồ, Nan đề. Tôn giả Nan đà, em cùng cha khác mẹ của đức Phật, vì để phân biệt với ngài Mục ngưu nan đà nên gọi ngài là Tôn đà la nan đà (Phạm: Sundara-nanda). Ngài có thân hình cao lớn, dung mạo đoan chính, có 30 tướng (chỉ thiếu tướng bạch hào và dái tai hơi ngắn hơn dái tai của Phật), Phật độ cho ngài xuất gia, ở vườn Ni câu luật. Nhưng sau khi xuất gia, vì khó quên được người vợ là Tôn đà lợi (Phạm: Sundarì), nên ngài thường trở về nhà. Sau, nhờ đức Phật dùng phương tiện răn dạy, ngài mới dứt trừ được ái dục, chứng quả A la hán. Ngài là 1 trong 10 vị đệ tử lớn của đức Phật và được tôn xưng là bậc điều hòa các căn bậc nhất. Ngài Mã minh đã lấy câu chuyện giữa ngài và Tôn đà lợi(vợ ngài) làm đề tài mà sáng tác tập thơ Tôn đà la nan đà (Phạm: Saundaranda-kàvya) rất nổi tiếng. [X. Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Phật bản hạnh tập Q.56; kinh Đại bảo tích Q.14; Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự Q.11; kinh Bản sinh (bản Pàli); bài kệ 157 đến 158 trong Trưởng lão kệ (bảnPàli)]. II. Nan Đà. Cũng gọi Mục ngưu Nan đà. Tên 1 người chăm bò ở thời đại đức Phật còn tại thế. Có lần, vua Tần bà sa la thỉnh Phật và chúng tăng an cư 3 tháng, bấy giờ Nan đà ở gần đó, ngày ngày đem sữa đến cúng dường, suốt trong 3 tháng mà không hề xao lãng; vua rất khen ngợi và bảo Nan đà nên đến bái kiến đức Phật. Nan đà tự nghĩ, đức Phật tuy là bậc Nhất thiết trí nhưng vốn sinh trưởng trong chốn vương cung, làm sao biết được công việc chăn bò như thế nào; bởi vậy, khi đến bái kiến đức Phật, Nan đà bèn thưa hỏi Ngài về việc chăn bò. Đức Phật liền dạy ông 11 điều về nghệ thuật chăn bò, Nan đà khởi tâm cung kính và cầu xuất gia làm đệ tử Phật. [X. kinh Ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi; Vô lượng thọ kinh hội sớ Q.1]. III. Nan Đà. Một trong những đệ tử của Phật, là con của đại thương gia Nan đà, ở thành Ất thệ ni, Tây Ấn độ. Vì tướng mạo rất đẹp nên ông được đặt tên là Tôn đà la nan đà. Lớn lên, ông được cha cho phép đi với 500 người mua bán đến thành Xá vệ, nhưng vì bị dâm nữ Hiền thủ mê hoặc nên mất hết hàng hóa vốn liếng. Những người đi theo liền trở về báo tin cho cha ông biết; đồng thời, sau khi tiêu dùng hết tiền của, dâm nữ cũng bỏ ông và đuổi ra khỏi nhà. Nan đà đang lúc bàng hoàng và bơ vơ nơi đầu đường, thì gặp được 1 vị tỉ khưu, ông liền theo vị tỉ khưu về tinh xá xin xuất gia. Một hôm khất thực đến nhà dâm nữ, Nan đà lại bị nàng dụ dỗ mà phạm giới. Đức Phật thương xót răn dạy, ông rất tủi hận và chí thành sám hối. [X. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da Q.1]. IV. Nan Đà. Một trong 10 vị Đại luận sư của tông Duy thức, người đời gọi ngài là Thắng quân tổ sư Nan đà tôn giả. Ngài người Ấn độ, đồng thời với các ngài An tuệ, Tịnh nguyệt. Ngài An tuệ căn cứ vào sự nhận thức về tâm pháp và tâm sở pháp mà chỉ lập có Tự thể phần, còn ngài Nan đà và ngài Tịnh nguyệt thì chủ trương thuyết Kiến phần và Tướng phần, cho nên được gọi là Nhị phần gia. Về sau, ngài nổi tiếng nhờ thuyết Tân huân chủng tử, tức phủ nhận thuyết Chủng tử bản hữu (chủng tử vốn đã có sẵn) mà chủ trương rằng chủng tử đều do sự huân tập của hiện hành mà sinh ra chủng tử mới; vì thế ngài còn được gọi là Tân huân gia. Ngài có rất nhiều tác phẩm, từng chú thích Duy thức tam thập tụng của bồ tát Thế thân và luận Du già sư địa của bồ tát Di lặc. [X. luận Duy thức Q.1, 2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần cuối]. V. Nan Đà. Là 1 trong nhóm Lục quần tỉ khưu, anh em với Bạt nan đà. Thời đức Phật còn tại thế, Nan đà thường cùng với 5 tỉ khưu xấu ác kết bè đảng, làm những việc sai trái, trở thành nguyên nhân khiến đức Phật chế định 2 pháp Đơn đọa thứ 22 và 23. (xt. Lục Quần Tỉ Khưu, Nan Đà Bạt Nan Đà).
nan đà bạt nan đà
Nanda-Upananda (S). Name of a Nàgaràja. Also Nan đà Long vương.
; Tên của hai Long Vương Nan Đà và Bạt Nan Đà, đã bảo vệ xứ Ma Kiệt Đà—Name of Nanda and Upananda, two naga brothers, who protected Magadha.
; (難陀跋難陀) I. Nan Đà Bạt Nan Đà. Nan đà, Phạm: Nanda, cũng gọi Nan đồ. Bạt nan đà, Phạm: Upananda, cũng gọi Ô ba nan đà. Hai người đứng đầu trong nhóm Lục quần tỉ khưu. Hai người là anh em, họ Thích, dòng dõi vua chúa, cả 2 đều giỏi về âm dương lịch toán, thuyết pháp và nghị luận, nhưng nhiều ham muốn và làm những việc bất nghĩa; vì ông Nan đà mà đức Phật chế định 2 pháp Đơn đọa thứ 22 và 23; vì ông Bạt nan đà mà Phật chế định 15 pháp Xả đọa từ pháp thứ 6 đến pháp 20; 6 pháp Đơn đọa từ pháp 37 đến pháp 42 và pháp Chúng học thứ 95. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.28; Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.4]. (xt. Lục QuầnTỉ Khưu). II. Nan Đà Bạt Nan Đà. Hai anh em Long vương trong 8 vị đại Long vương. (xt. Ưu Ba Nan Đà Long Vương, Nan Đà Long Vương).
nan đà long vương
Nandā-nāgarāja (S).
; (難陀龍王) Nan đà, Phạm: Nanda. Cũng gọi Nan đồ long vương, Nan đầu long vương. Hán dịch: Hỉ long vương, Hoan hỉ long vương. Một trong 8 vị Đại long vương, là anh em với Ưu ba nan đà (Bạt nan đà), cho nên thường gọi chung là Nan đà bạt nan đà long vương, Nan đồ Bạt nan đà long vương. Nan đà khéo tùy thuận lòng người, điều hòa mưa gió nên người đời rất vui mừng, vì thế có tên là Hỉ long vương. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 28 và kinh Đại bảo tích quyển 14, thì vị Long vương này có 7 đầu, tính rất hung ác, sau do ngài Mục liên hàng phục. Còn theo kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1 và phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1, thì Long vương Nan đà đứng đầu trong các vị Long thần hộ trì chính pháp. Trong Mật giáo, vị Long vương này được đặt ở bên phải phía trong 3 cửa Nam, Tây, Bắc trong viện Kim cương ngoại bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới, đối diện với Bạt nan đà Long vương ở phía bên trái của các cửa này. Cứ theo Đại nhật kinh sớ thì cả 2 vị Long vương này đều có 7 đầu, tay phải cầm kiếm, tay trái cầm vòng dây, đứng trên áng mây. [X. kinh Hoa nghiêm Q.64 (bản 80 quyển); phẩm Thọ mệnh trong kinh Niết bàn Q.1 (bản Bắc); phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật; phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.10, 16; điều Trúc pháp hộ dịch kinh trong Xuất tam tạng kí tập Q.2]. ( xt. Ưu Ba Nan Đà Long Vương).
nan đề
Nandi (skt). 1) Người hạnh phúc—The happy one. 2) Tên của Thần Visnu: Name of Visnu. 3) Tên của Thần Siva: Name of Siva. 4) Tên của một vị Tăng người gốc vùng bắc Ấn: Name of a monk from northern India. 5) Từ dùng để chỉ tháp mộ: A term for “stupa.”
; (難提) Phạm: Nandi. Hán dịch: Hỉ. I. Nan Đề. Một trong những vị đệ tử của đức Phật. Cứ theo Kinh luật dị tướng quyển 19, thì tỉ khưu Nan đề tâm thường ở trong định, cho nên cũng gọi là Thiền nan đề. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 3 (Đại 2, 557 trung) nói: Nhẫn nhục khất thực, không quản nắng mưa, đó là tỉ khưu Nan đề. [X. kinh Thị giả trong Trung a hàm Q.8]. II. Nan Đề. Cũng gọi Trúc nan đề. Danh tăng người Tây vực đến Trung quốc vào cuối đời Đông Tấn, trụ ở Lạc dương. Nhờ thông hiểu chữ Hán, sư đã dịch được các kinh như: Đại thừa phương tiện, Thỉnh Quan thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú v.v... [X. Đại đường nội điển lục Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].
nan đề ca
Nandika (skt)—Tên của một trong số các người em của Đề Bà Đạt Đa—Name of one of Devadatta's brothers.
nan đề ca vật đa
Nandikavarta or Nadyavarta (skt)—Xoay vòng kiết tường hay xoay quắn về bên phải, như kiểu tóc xoắn của Đức Phật—Joyous or auspicious turning or turning to the right, i.e. curling as a Buddha's hair.
; (難提迦物多) Phạm: Nandy-àvarta. Hán dịch: Hỉ toàn. Tóc xoay về phía bên phải, là 1 trong những đức tướng của Phật . Theo Tục Hoa nghiêm kinh lược sớ san định kí quyển 8 của ngài Tuệ uyển, thì tướng tóc của Phật, bản tiếng Phạm(kinh Hoa nghiêm) gọi là Nan đề ca vật đa, tóc xoay tròn về bên phải, sáng sạch mềm mại. [X. Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.50; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng]. (xt....(Vạn) Tự).
nan đề mật đa la
Nadimitra (S)Một vị La hán.
nan đề tổ sư
Buddha nandi (S)Phật đà nan đề= Phật đà nan đề Tổ thứ 8 trong 28 vị tổ sư Phật giáo Ấn độ.
nan độ
Virani (S)Tên một con sông, có nghĩa khó qua.
; Chúng sanh cương cường rất khó tế độ—Hard to cross over, to save or to be saved. ** For more information, please see Nan Hóa, and Nan Hóa Tam Cơ in Vietnamese- English Section.
; (難度) Khó vượt qua. Chỉ cho việc từ bờ mê bên này muốn vượt qua sang bờ giác bên kia là 1 việc vô cùng khó khăn. Chúng sinh chìm đắm trong sinh tử, khó thoát khỏi cảnh mê, giống như rơi xuống biển sâu, rất khó thoát ra, cho nên ví dụ là Nan độ hải. Từ ý nghĩa đó, giáo pháp của đức Phật được ví dụ như con thuyền vượt qua biển sinh tử. Phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 5 (Đại 26, 34 hạ) nói: Ngồi trên thuyền Bát chính đạo, có thể vượt được biển khó qua. [X. kinh Hoa nghiêm Q.5 (bản 60 quyển)].
nan độ hải
Biển sanh tử luân hồi khó lòng mà vượt qua được—The ocean hard to cross, the sea of life and death, or mortality.
nan-đà bạt nan đà
Nandā-Upanandā (S).
nanak
Nanak (S)1469-1538 Khai tổ đạo Sikh, tôn giáo của người Sikhs, nhằm tổng hợp đạo Hồi và Ấn độ giáo vào đời sống hàng ngày.
nanh vuốt
Clutches.
nanh vuốt tử thần
The clutches of death.
nao bạt
(鐃鈸) Một trong những thứ pháp khí bằng vàng hoặc đồng, được dùng trong các chùa viện. Nao và Bạt vốn là 2 loại nhạc khí khác nhau, người đời sau gọi chung là Nao bạt, ta quen đọc là Nạo bạt. Nao, có 2 loại vàng hoặc đồng. Theo sách Chu lễ, Lễ kí thì nao vàng dùng để đánh khi lui quân hoặc xuống sân khấu lúc nhảy múa xong. Hình dáng nao vàng giống như cái bàn là, có cán, xoa vào nhau thì phát ra tiếng xoang xoảng, cho nên gọi là Nao. Còn nao đồng tức là cái gõ nhịp bằng đồng, kiểu dáng hoàn toàn khác với nao vàng mà giống như đồng bạt, nhưng nhỏ hơn, do 2 cái hợp thành, âm thanh cũng trong trẻo nên tục gọi là Nao. Bạt, cũng gọi Đồng bạt, Đồng bạt tử, Đồng bát tử, Đồng bàn; được làm bằng đồng, hình tròn, ở giữa có cái núm tròn lồi lên, chính giữa núm tròn này khoan 1 lỗ nhỏ, xỏ sợi dây để cầm; bên trong cái lỗ có cái nút giữ cho sợi dây khỏi lọt. Khi sử dụng, dùng 2 tay, mỗi tay cầm 1 mặt đồng bạt, chập vào nhau thì phát ra tiếng. Cứ theo Luật thư nhạc đồ thì Đồng bạt tử bắt nguồn từ Tây vực, không có cán, dùng da làm dây, chập vào nhau theo đúng nhịp gõ, những dân tộc phương Đông thường sử dụng loại nhạc khí này. Còn theo các sách thông thường thì Đồng bạt có xuất xứ từ các giống người Tây nhung, Nam man..., cái núm tròn lồi lên ở chính giữa có vài tấc, cũng có khi đến vài thước. Trong các bức bích họa đào được ở Bzklik thuộc vùng Trung á, những bức Tịnh độ biến tướng phát hiện ở Đôn hoàng, trong hội Hư không của Đương ma mạn đồ la ở Nhật bản và trong bức tranh A di đà nhị thập ngũ Bồ tát lai nghinh v.v... đều có hình vẽ của loại nhạc khí này. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.14; luật Ma ha tăng kì Q.33; điều Nao bạt, chương Pháp khí trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; điều Kết xã pháp tập trong Đại tống tăng sử lược Q.hạ; môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên].
naropa
Naropa (C)(956-1040) Một trong những đại thành tựu giả của Ấn độ, và là người khai sáng pháp môn đặc tên theo tên của ngài là Lục độ Naropa. Ngài là đệ tử của Tilopa, và cùng thời với tổ Atisha.
nemi
Nemi (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
neo
To anchor.
nga
Cao: High. Đói: Hungry. Đòi hỏi: Demanding. Con ngài của tằm: A moth. Con ngỗng: Hamsa (skt)—A goose.
; (哦) Cũng gọi Già, Ngã, Ngưỡng, Hất, Càn, Kiệt, Kiện, Bá. Chỉ cho chữ Tất đàm (ga), 1 trong 50 hoặc 42 chữ cái. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 hạ) nói: Chữ Nga, nghĩa là tất cả các pháp hành bất khả đắc. Tiếng Phạm Gamana, nghĩa làhành, vì chữ Nga bắt đầu bằng ga, cho nên có thuyết Tất cả pháp hành bất khả đắc. Kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 (Đại 3, 560 thượng) nói: Khi xướng chữ Già thì phát ra tiếng pháp sâu xa nhiệm mầu nhập vào duyên khởi. Đây là do nghĩa của chữ Gata (đến) và Gambhìra (sâu xa) mà ra. Đại nhật kinh sớ quyển 7 giải thích chữ Nga nghĩa là hành bất khả đắc. Hành có nghĩa đi, đến, tiến, lui không dừng. Nghĩa này là do giải thích chữ A triển chuyển mà ra . [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.11; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.10; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2].
nga châu
(鵝珠) Con ngỗng nuốt hạt châu. Cứ theo Đại trang nghiêm kinh luận quyển 11, xưa kia, có 1 vị tỉ khưu khất thực đến trước nhà người thợ xâu ngọc, lúc đó người thợ đang xâu ngọc ma ni cho nhà vua, thấy vị tỉ khưu đến, người thợ liền để viên ngọc xuống và vào nhà lấy thức ăn cúng dường. Khi ấy, có 1 con ngỗng đến nuốt mất viên ngọc, lúc người thợ trở ra không thấy viên ngọc liền ngờ và tra hỏi vị tỉ khưu; vị tỉ khưu tự nghĩ: Nếu mình nói thật thì con ngỗng sẽ bị giết, như vậy mình đã phạm giới sát sinh, còn nếu nói không đúng thì phạm giới vọng ngữ, thôi, im lặng là hơn. Thấy vị tỉ khưu không nói người thợ càng thêm nghi ngờ, liền trói vị tỉ khưu lại và dùng gậy đánh đập đến nỗi tai, mắt, miệng, mũi đều ra máu. Con ngỗng lúc nãy thấy máu liền đến ăn, bị người thợ ngọc tức giận đánh chết. Vị tỉ khưu trông thấy thương xót buồn rầu và nói kệ rằng: Xưa có vị Bồ tát Bỏ mình cứu bồ câu Nay tôi cũng làm theo Xả thân để cứu ngỗng Vì có lòng thương xót Muốn bảo toàn mệnh ngỗng Giờ ông đã giết ngỗng Tâm nguyện tôi chẳng thành. (Đại 4, 320 hạ). Bấy giờ, người thợ ngọc mổ bụng ngỗng, thấy viên ngọc trong đó, liền òa lên khóc và nói: Ngài muốn cứu mệnh sống của ngỗng mà không tiếc thân mình, khiến tôi làm việc bất nhân này!. [X. Kinh luật dị tướng Q.14].
nga la ha
Xem Yết la ha thần.
Nga lâm
(俄臨): đến trong khoảnh khắc, trong chớp mắt. Như trong bài Phụ Ngũ Thất của (父五七) Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục có đoạn rằng: “Chu hạ nga lâm đương hiếu tử thù ân chi nhật, dục tiến linh hồn độ thoát, tu bằng ngã Phật từ bi (朱夏俄臨當孝子酬恩之日、欲薦靈魂度脫、須憑我佛慈悲, Hạ đỏ chợt đến nhằm ngày hiếu tử báo ơn, muốn cúng cho linh hồn độ thoát, nên nương đức Phật từ bi).”
nga mi sơn
Núi Nga Mi là một trong bốn ngọn núi nổi tiếng ở phía tây huyện Nga Mi, thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Hai núi đối nhau như mày ngài (Tam Nga gồm Đại Nga, Trung Nga, Tiểu Nga, chu vi khoảng 1000 dậm, gồm trên 40 thạch động lớn nhỏ)—O-Mei-Shan, or Mount Omi, one of the four famous peaks in China, in Omi district, Szech-Wan province. Two of its peaks are said to be like a moth's eyebrows.
; (峨眉山) Núi ở cách huyện Nga mi, tỉnh Tứ xuyên, Trung quốc, khoảng 7 cây số về mạn tây nam, là đạo tràng thuyết pháp của bồ tát Phổ hiền. Phật giáo gọi là núi Quang minh, Đạo giáo gọi là Hư linh động thiên. Mạch núi bắt nguồn từ Mân sơn, chập chùng uốn khúc, giống như cầu vồng, dài hơn 180 cây số, chu vi từ 5 đến 600 cây số. Toàn dãy núi có 3 ngọn chính cao hơn hết là Đại nga, Trung nga và Tiểu nga, 1 mạch liền nhau, trong đó, ngọn Vạn Phật (Đại nga) cao 3.099 mét. Núi này cùng với núi Ngũ đài, núi Phổ đà và núi Cửu hoa được gọi chung là Tứ đại linh sơn của Trung quốc. Từ chân lên đến đỉnh núi, đường mòn quanh co hơn 50 cây số, có khoảng 70 ngôi chùa, viện, hơn 40 hang động, hơn 100 khám thờ bằng đá. Trong đó, chùa Thánh thọ vạn niên là nơi bồ tát Phổ hiền thị hiện nói pháp. Chùa này do ông Bồ ông sáng lập vào đời Đông Tấn, vốn tên là chùa Bạch thủy Phổ hiền; sau trải qua nhiều triều đại đều được trùng tu, đến đời Minh chùa được đổi tên là chùa Vạn niên. Trong chùa hiện có pho tượng Phật bằng đồng, hình tướng rất đẹp, nét đúc tinh xảo, là di vật văn hóa quí báu của Phật giáo. Ngoài ra, còn có chùa Phục hổ, chùa Báo quốc, gác Thanh âm, chùa Tiên phong, Kim đính, chùa Quang tướng và Sạn đạo (con đường trong núi gác bằng những cây gỗ) Hắc long giang... đều là những di tích rất nổi tiếng.
nga mi sơn chí
(峨眉山志) Tác phẩm, 8 quyển, do ông Tưởng siêu căn cứ vào tác phẩm Dịch nga lại của ông Tỉnh nghiêm Hồ các mà biên soạn vào năm Khang hi 11 (1672) đời Thanh, Đại sư Ấn quang sửa chữa lại vào năm Dân quốc 19 (1930), được thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vậng san tập 1. Nội dung nói về nhân vật, tự viện và những di tích thắng cảnh ở núi Nga mi. Toàn sách được chia làm 11 môn: Tinh dã đồ thuyết, Bồ tát thánh tích, Kim sơn hình thắng, Tự am thắng khái, Cảm ứng linh dị, Lịch đại cao tăng, Vương thần ngoại hộ, Tiên ẩn lưu ngụ, Cổ kim nghệ văn, Động thực vật sản và Tưởng biên chí dư. Đây là tập sử liệu đầy đủ về núi Nga mi.
nga mi tự
See Quang Tướng Tự.
Nga Sơn Thiều Thạc
峨山韶碩; J: gasan jōseki; 1275-1365;|Thiền sư Nhật Bản lỗi lạc thứ ba của tông Tào Ðộng (j: sōtō-shū) sau hai vị Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen) và Oánh Sơn Thiệu Cẩn (j: keizan jōkin). Sư nối Pháp Thiền sư Oánh Sơn Thiệu Cẩn.|Sư sinh trong một gia đình tại Noto, sớm xuất gia (1290) tu học giáo lí của Thiên Thai tông trên núi Tỉ Duệ. Một cuộc gặp gỡ với Thiền sư Oánh Sơn đã thay đổi quan niệm tu học của Sư và từ đây, Sư tôn Oánh Sơn làm thầy và chú tâm vào việc Toạ thiền và quán Công án. Dưới sự hướng dẫn của Oánh Sơn, Sư ngộ đạo và được Ấn khả.|Sư trụ trì Tổng Trì tự (sōji-ji) – với một cuộc gián đoạn ngắn và trong thời gian này Sư trụ trì Vĩnh Quang tự (yōkō-ji) – gần 40 năm liền và đã đưa danh tiếng của ngôi chùa này lên đến tuyệt đỉnh. Sư rất chú trọng đến việc thuyết pháp, hoằng hoá quần chúng, nhất là những người thuộc những tầng cấp thấp của xã hội và cố gắng gieo vào tâm của các vị đệ tử tư tưởng của một vị Bồ Tát, quên mình, vì người, một tư tưởng mà Thiền sư Oánh Sơn Thiệu Cẩn đã phát huy trong tông Tào Ðộng.|Sư cũng là người đầu tiên đưa thuyết Ngũ vị quân thần của Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới (Ðộng Sơn ngũ vị) vào chương trình giảng dạy của tông Tào Ðộng tại Nhật. Sư có rất nhiều đệ tử nhưng nổi danh nhất là năm vị, đó là: 1. Thái Nguyên Tông Chân (太源宗眞; taigen sōshin, ?-1370), 2. Thông Huyễn Tịch Linh (通幻寂靈; j: tsūgen ja-kurei, 1322-1391), 3. Vô Ðoan Tổ Hoàn (無端祖環; j; mutan sokan, ?-1387), 4. Ðại Triệt Tông Linh (大徹宗令; j: daisetsu sōrei, 1333-1408), 5. Thật Phong Lương Tú (實峯良秀; j: jippō ryōshū, 1318-1405). Với sự nghiệp hoằng hoá của năm vị này, tông Tào Ðộng được truyền bá khắp nước Nhật.
nga sơn thiều thạc
Gasan jōseki (J)Tên một vị sư.
Nga Sơn Thiệu [Thiều] Thạc
(峨山紹[韶]碩, Gasan Jōseki, 1276-1366): vị Tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, hiệu là Nga Sơn (峨山), người Quận Vũ Trách (羽咋郡), Năng Đăng (能登, Noto, thuộc Ishikawa-ken [石川縣]), họ là Nguyên (源). Năm lên 11 tuổi, ông đến tu tại ngôi chùa trong làng, rồi năm lên 16 tuổi thì lên Tỷ Duệ Sơn xuất gia và học tông yếu của Thiên Thai. Đến năm 1297, khi Oánh Sơn (瑩山) đi hành hóa ở kinh đô Kyoto, ông đến tham vấn Thiền chỉ nơi vị này. Vào mùa xuân năm 1299, ông chính thức tham vấn Oánh Sơn cũng như Triệt Thông (徹通) ở Đại Thừa Tự (大乘寺, Daijō-ji). Đến năm 1306, lúc 32 tuổi, ông đại ngộ. Sau đó, ông đi tham bái khắp chốn tòng lâm, rồi đến năm 1321 thì trở về lại cố hương Năng Đăng của mình. Vào năm 1324, ông đến trú ở Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji), rồi đến năm 1340 thì chuyển đến sống ở Vĩnh Quang Tự (永光寺). Đến cuối đời, ông nhường chức trú trì lại cho Thái Nguyên Tông Chơn (太源宗眞), khai sáng ra Dưỡng Thọ Viện (養壽院) và lui về ẩn cư. Vào ngày 20 tháng 10 năm thứ 5 (1366) niên hiệu Trinh Trị (貞治), ông thị tịch, hưởng thọ 91 tuổi. Ông được ban cho thụy hiệu là Đại Hiện Tông Dụ Quốc Sư (大現宗猷國師). Đệ tử của ông có Thái Nguyên Tông Chơn, Thông Huyễn Tịch Linh (通幻寂靈), Vô Đoan Tổ Hoàn (無端祖環), Đại Triệt Tông Lịnh (大徹宗令), Thật Phong Lương Tú (實峰良秀), được gọi là Nga Sơn Ngũ Triết (峨山五哲).
nga thú đăng hỏa
Con người chạy theo dục vọng như những con thiêu thân phóng mình vào ánh đèn vậy—Like a moth flying into the lamp, is man after his pleasures.
nga vương
Raja-hamsa (skt).
; (鵝王) Phạm: Haôsa-raja. Ngỗng chúa, ví dụ đức Phật. Trong 32 tướng của đức Phật nói trong các kinh luận, tướng thứ 5 là ở giữa các ngón tay và ngón chân của Ngài có những màng mỏng (Phạm: Jalàvanaddhahasta-pàda), giống như màng mỏng ở giữa những ngón chân của ngỗng chúa (có thuyết nói là Nhạn chúa). Cho nên kinh điển thường dùng Nga vương hoặc Nhạn vương để ví dụ Ngài. Những màng mỏng này có màu vàng ròng, có vân như lụa là, tướng này là do khi đức Phật còn ở địa vị tu nhân, Ngài thường tu Tứ nhiếp pháp thu phục chúng sinh mà cảm được. Cũng có thuyết cho rằng đức Phật bước đi khoan thai, giống như loài ngỗng, cho nên gọi là Nga vương. Kinh Ương quật ma la quyển 1 (Đại 51, 513 hạ) nói: Bấy giờ, đức Thế tôn bước đi 7 bước, giống như Nga vương. [X. kinh Bồ tát thiện giới Q.9; kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.381; luận Đại trí độ Q.29].
nga vương biệt nhũ
Trong một hợp chất nước và sữa, thì vua của loài ngỗng có thể chỉ uống chất sữa, còn bỏ nước lại, dùng hình ảnh nầy đề ví với vị Bồ Tát chỉ thấm nhuần chơn lý Phật và bỏ đi những thứ tạp nhạp khác—A king-goose is reputed to be able to absorb the milk from a mixture of milk and water, leaving the water behind, so with a bodhisattva and truth.
; (鵝王別乳) Ngỗng chúa phân biệt sữa. Đem sữa hòa vào nước cho ngỗng uống, ngỗng chỉ lựa sữa mà uống, bỏ nước lại, ví dụ bậc giác ngộ tuy ở giữa thế gian nhớp nhúa nhưng không bị ô nhiễm, hoặc chỉ cho người có khả năng phân biệt chân ngụy, chính tà, thiện ác rõ ràng. Trong truyện tích này, nước biểu thị chúng sinh (phàm), sữa biểu thị Phật(Thánh). Pháp hoa huyền nghĩa quyển 5 thượng, ví Nga vương với Bồ tát, bảo rằng vô minh và hoặc đồng thể, như sữa ở trong nước, chỉ có Bồ tát từ giai vị Thập trụ trở lên, là bậc Nga vương, mới có thể uống sữa vô minh để làm cho nước pháp tính trong sạch. [X. Tổ đình sự uyển Q.5].
nga vương nhãn
Dùng hình ảnh vua của loài ngỗng biết phân biệt sữa và nước, để ví với học giả có Pháp Nhãn biết chọn lựa sáng suốt—The eye of the king-goose, distinguishing milk from water, used for the eye of the truth-discerner.
; (鵝王眼) Cũng gọi Nga nhãn, Nhũ thủy nhãn. Mắt của ngỗng chúa, ví dụ người tu đạo có mắt trí tuệ sáng suốt, lựa chọn pháp tối thắng, vào ngay chính tông. (xt. Nga Vương Biệt Nhũ).
nga vương được so sánh với đức phật, trong 32 tướng tốt của phật là tay chân mạn võng tướng hay có tướng lưới đan (giữa các ngón chân và tay của đức p
The king-goose, leader of the flight, i.e. Buddha, one of whose thirty-two marks is webbed hands and feet. Tướng đi uy nghi của Đức Phật giống như loài ngỗng: The walk of a Buddha is dignified like that of the goose.
nga đa dã
(哦哆也) Phạm: Gataya. Hán dịch: Hành. Đi lại chẳng dừng. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Vạn tục 36, 105 thượng) nói: Tiếng Phạm Nga đá dã, Hán dịch là hành, hành nghĩa là đi, đến, tiến, lui không dừng.
ngang bướng
Stubborn.
ngang hàng
Equal—To be on the same rank (class).
ngang ngạnh
Stupid—Obstinate.
ngang nhiên
Proudly—Haughty.
ngang trái
Obstacles.
ngang tàng
Unsubmissive.
ngao du
To travel.
ngao lý minh phi
Gauri (S)Một trong 8 minh phi ở 8 hướng quanh ngài Hô Kim Cang, minh phi này ngự ở đông cung.
ngao ngán
Disgusted—Discouraged—Disappointed.
ngay
Straight—Direct.
ngay lập tức
Immediately—At once.
ngay sau khi
Soon after.
ngay thật
Sincere—Honest—Candid.
ngaû
To incline—To lean.
nghe
To hear.
nghe bóng nghe gió
To hear vague rumours.
nghe lén
To listen secretly.
nghe lóm
To overhear.
nghe lời
To obey.
nghe mang máng
To hear vaguely.
nghe ngóng
To keep one's ears open.
nghe phong phanh
To hear vaguely.
nghe pháp
Listen to the Dharma—If we listen to the Dharma teaching but don't practice it, we are like a spoon in a pot of soup. Every day, the spoon is in the pot but it never knows the taste of the soup—Nếu chúng ta chỉ nghe Pháp mà không thực hành Pháp, chúng ta cũng như cái muỗng trong nồi canh. Hằng ngày, cái muỗng ở trong nồi canh, nhưng nó không bao giờ biết được vị của canh. Vì thế cho nên chúng ta phải quán sát và hành thiền mỗi ngày.
nghe tin
To hear the news.
nghe văng vẳng
To hear vaguely in the distance.
nghe được
Hearable.
nghe đồn
To hear a rumour.
Nghi
疑; S: vicikitsā; P: vicikicā;|Một thuật ngữ quan trọng, chỉ sự tâm lí nghi ngại, nghi ngờ, là một trong Năm chướng ngại (s: pañca-nīvaraṇa) và một trong ba Trói buộc (s: saṃyojana) của hành giả trên Thánh đạo (s: āryamārga). Theo đạo Phật, nghi được xem là thái độ »không muốn hiểu«, được biểu hiện bằng sự dao động, bằng sự lãnh đạm, bằng sự thiếu nhiệt thành. Còn lòng nghi ngờ lành mạnh hiểu như một thái độ thận trọng, không vội tin những gì người khác hay kinh sách, hay chính Phật nói mà phải tìm hiểu thử nghiệm thì lại là một đức hạnh mà chính Phật cũng khuyên nên có. Cần phân biệt cái nghi ở đây với Ðại nghi đoàn, khối nghi lớn cần phải có trong việc tu tập theo Thiền tông.
; 儀; C: yí; J: gi;|Có các nghĩa sau: 1. Luật lệ, mẫu mực, kiểu mẫu; 2. Nghi thức, công chuyện, tình thế, vấn đề; 3. Phong cách, tư thái; 4.Tặng phẩm, tư thế; 5. Vật dụng, công cụ; 6. Phong thái hoàn mĩ.
nghi
Yisi (S), Visikcha (S), Vicikicchā (P), Visi (P), Saṃsaya (S), Doubt Nghi ngờ, Hoài nghi, sự nghi, Nghi hoặc chánh pháp Một trong Thập lục đế của phái Chánh lý ở Ấn.
; Vicikitsà (S). Doubt, suspect; hesitate, be uncertain, fear, surmise.
; to wonder, to doubt
; (疑) Phạm:Vicikitsà. Pàli: Vicikicchà. Tên của tâm sở, đối với lí mê ngộ, nhân quả còn nghi ngờ, do dự không quyết định, là 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Tức là tâm đối với chân lí chính pháp còn do dự không quyết đoán. Tiểu thừa từ quả Dự lưu trở trên, Đại thừa từ Bồ tát Sơ địa trở lên mới đoạn trừ được tâm này. Theo tông Câu xá thì Nghi thuộc Bất định địa pháp, là 1 trong 6 Tùy miên, 1 trong 10 Tùy miên; còn theo tông Duy thức thì Nghi là 1 trong 6 phiền não căn bản. Theo Dị bộ tông luân luận thuật kí thì Nghi có 2 loại: 1. Lí nghi: Đối với chân lí Tứ đế còn ngờ ngọ, đến quả A la hán mới đoạn trừ được. 2.Sự nghi: Đối với sự còn do dự, không quyết đoán; như ban đêm thấy cái cây ngờ là người hoặc chẳng phải người; A la hán chưa đoạn được, nhưng Độc giác thì đã dứt trừ. Ngoài ra, nghi mình, nghi thầy, nghi pháp gọi chung là Tam nghi. [X. phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa Q.5; luận Đại tì bà sa Q.50; luận Câu xá Q.4; luận Du già sư địa Q.58; luận Thành duy thức Q.6; Đại thừa nghĩa chương Q.6].
nghi chấp
The holding to doubt.
; The holding to doubt.
; (疑執) Chỉ cho ý niệm chấp trước sự ngờ vục. Khởi tín luận sớ bút tước kí quyển 1 (Đại 44, 297 trung) nói: Công dụng của luận Khởi tín là phá trừ nghi chấp, phát khởi chính tín. [X. Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng phần đầu].
nghi cái
Vicikitsā-āvaraṇa (S)Lòng nghi ngờ che lấp tâm hành giả, không thể khai phát được.
; The overhanging cover of doubt.
; Tánh hay nghi hoặc che lấp mất tâm thức, khiến không thấy được chân lý, không thực hành được thiện nghiệp, đây là một trong năm triền cái—The overhanging cover of doubt, which prevents sentient beings from seeing and practicing good deeds, one of the five covers or mental and moral hindrances. ** For more information, please see Ngũ Triền Cái.
; (疑蓋) Phạm:Vicikitsà-àvaraịa Pàli: Vicikicchà-nìvaraịa. Đồng nghĩa: Nghi phiền não. Tên khác của phiền não, 1 trong 5 cái. Tính hoài nghi che lấp (cái) tâm thức của người tu hành, khiến cho mờ tối không thấy được chân lí. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 48, thì Cái hàm có các nghĩa: Ngăn, che, phá, hoại, đọa, nằm v.v... Pháp giới thứ đệ sơ môn quyển thượng phần đầu (Đại 46, 668 thượng) nói: Cái nghĩa là ngăn che, thường che lấp thiện tâm thanh tịnh của người tu hành, khiến không khai phát được. (xt. Ngũ Cái).
nghi căn
The root of doubt.
; (疑根) Tính ngờ vực thâm nhập vào tâm giống như rễ cây bâm sâu xuống đất. Cho nên gọi là Nghi căn (gốc ngờ). Kinh Lăng nghiêm quyển 2 (Đại 19, 111 thượng) : Nguyện cầu Phật thương xót Tuyên thuyết pháp vi diệu Nhổ gốc ngờ của con Quay về đạo Vô thượng. [X. Vạn thiện đồng qui tập Q.hạ].
nghi hoặc
Doubt and delusion, doubt, uncertainty.
; Doubtful—Suspicious—Uncertain—Doubt and delusion.
; (疑惑) Ngờ vực, chỉ cho trạng thái tâm không yên định, khiến năng lực phán đoán đối tượng bị chao đảo, không quyết định được phải trái. Đặc tính của nghi hoặc là hướng ngoại, nhưng dần dần lại chuyển thành hướng nội, do đó dễ trở thành tác dụng trực quan; cho nên Thiền tông thường nhấn mạnh đại nghi là điều kiện tuyệt đối cần thiết cho việc tham thiền ngộ đạo, vì ngờ vực thường sinh ra khuynh hướng dùng triết lí phân tích để giải quyết các công án, nhờ thế mà đưa đến đại ngộ. Bởi vậy, trong Thiền tông có từ ngữ Đại nghi đại ngộ, đây gọi là Chân nghi.
nghi hoặc chánh pháp
Xem hoài nghi.
nghi hoặc thô thiển
Gross doubt.
nghi hoặc vi tế
Subtle doubt.
nghi hối
To repent of doubt.
; (疑悔) Nghi ngờ và sau ăn năn. Có 2 nghĩa: 1. Ngờ vực và sau đó hối hận. Di sa tắc ngũ phần giới bản (Đại 22, 197 hạ) nói: Nếu tỉ khưu làm cho tỉ khưu khác sinh nghi hối, khiến tâm người ấy bị não loạn, dù chỉ trong thời gian ngắn, thì phạm tội Ba dật đề. 2. Thất vọng: Phẩm Dũng xuất trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 41 thượng) nói: Không nên sinh tâm nghi hối, trí của Phật rất khó nghĩ bàn.
nghi kiến
Doubtfully to view, doubtful view, doubt.
; Sự nghi ngờ chân lý Phật pháp gọi là nghi kiến, một trong thập tà kiến—Doubtful views—Doubtfully to view, one of the ten wrong views. ** For more information, please see Thập Tà Kiến in Vietnamese-English Section.
; (疑見) Đối với chân lí Tứ đế, tâm còn hoài nghi, do dự không quyết định. Là 1 trong 10 tà kiến. [X. luận Du già sư địa Q.8; Đại minh tam tạng pháp số Q.43]. (xt. Thập Chủng Kiến).
Nghi kết
xem Ba kết.
nghi kết
Vicikitsā (S), Vicikitsā-samyojana (S), Doubt, Vicikicchā (P), Vichikitsā (S)Nghi hoặc, Hồ nghiTâm do dự, không quyết định. Một trong Thập sử. Một trong ba mối trói buộc mà người đạt quả Tu đà hườn có được là dứt hết lòng hồ nghi vào chánh pháp, chánh lý.
; The bondage of doubt.
; Do nghi ngờ lý chân đế, gây vô số vọng nghiệp, nên bị trói buộc vào tam giới không thoát ra được—The bondage of doubt.
; (疑結) Phạm:Vicikitsà-saôyojana. Pàli: Vicikicchà-samyojana. Nghi ngờ chính pháp, tâm không quyết đoán, 1 trong 3 kết, 1 trong 9 kết. Chúng sinh đối với Chính pháp vọng sinh nghi hoặc, không tu chính hạnh, tạo các nghiệp ác như sát sinh, trộm cướp, gian dâm, nói dối v.v... do đó chiêu cảm quả khổ sinh tử trong vị lai, trôi lăn trong 3 cõi, khó thoát ra được. [X. luận Đại tì bà sa Q.46; Đại thừa nghĩa chương Q.5 phần cuối; Đại minh tam tạng pháp số Q.35]. (xt. Cửu Kết, Tam Kết).
nghi kỵ
To suspect—To distrust.
nghi lễ
PŪjā (S), Rituals PŪjā (P), PŪjanā (P)Sự bày tỏ lòng tôn kính bằng nghi thức trang nghiêm như cúng dường, vái lạy.
; Ceremony.
nghi mặc huyền khế
Gimoku genkai (J)Tên một vị sư.
nghi nan
To doubt—To suspect.
nghi nghĩa
Ambiguity.
nghi ngút
To emit thick smoke.
nghi ngại
To worry—To suspect—To doubt.
nghi ngờ
Vicikitsa (skt)—Doubtful. Uy nghi: Manner—Mode—Style.
nghi nhân
Xem khẩn na la.
nghi pháp
Doubt. ** See Ngũ Ác and Ngũ Triền Cái.
Nghi quỹ
儀軌; C: yíguǐ; J: giki; S: sādhana hoặc tantra;|Luật tắc, luật lệ, mẫu mực, quy phạm, tín ngưỡng truyền thống. Thường được dùng trong Kim cương thừa để chỉ những bài chú về những phép tu thiền định đặc biệt. Những bài này thường thường trình bày các vị Hộ Thần (s: iṣṭadevatā, sādhita; t: yidam), như một thật thể mà hành giả có thể tiếp cận được, và cách thực hiện linh ảnh các vị đó. Trong Phật giáo Tây Tạng, đây là phương pháp tu học phổ biến, nhưng luôn luôn cần sự hướng dẫn của một vị Ðạo sư (guru). Mỗi hành giả sẽ được truyền tâm bằng một câu Man-tra liên quan đến một vị thần hỗ trợ.|Phần thực hiện Nghi quỹ bao gồm 3 phần: Chuẩn bị, phần chính và phần chấm dứt. Phần chuẩn bị thường là Quy y tam bảo và phát triển Bồ-đề tâm. Phần chính thường gồm có giai đoạn bắt đầu, giai đoạn tạo linh ảnh của một vị Hộ Thần và giai đoạn xóa tan linh ảnh. Ðó là lúc mà hành giả trực nhận Chân như, tính Không. Giai đoạn chấm dứt thường gồm có các lời chúc hay hồi hướng. Ðối với Phật giáo Tây Tạng thì việc thiết tưởng linh ảnh, Hộ Thần không hề có tính huyền hoặc hay cầu xin một đấng nào bên ngoài. Ðó là những phương pháp để tự đồng hoá với một nguyên lí năng lượng ở nơi chính mình. Các vị Phật trong hệ thống Ngũ Phật là những hình ảnh cơ bản nhất của các linh ảnh đó.
nghi quỹ
Vidhi (S), Sādhana (S), drup tap (T)Năng lập, Thiền tậpQui định tế lễ
; (儀軌) Phạm: Kalpa-sùtra. Gọi đủ: Bí mật du già quán hành nghi quĩ, Niệm tụng nghi quĩ, Bí mật nghi quĩ, Tam ma địa nghi quĩ. Cũng gọi: Tu hành pháp, Niệm tụng pháp, Cúng dường pháp, Tam ma địa pháp, Mật quĩ, Kinh quĩ. Từ gọi chung các kinh điển nói về những nghi thức, quĩ tắc trong Mật giáo. Vì các Tôn vị thuộc Mật bộ rất đông và pháp tu của các vị đều khác nhau, cho nên kinh quĩ cũng rất nhiều, không dưới con số 100 quyển. Từ đời Tống, Nguyên về sau, trong các bản Đại tạng kinh tuy đều có thu chép, nhưng đến nay đa số đã không còn lưu hành ở Trung quốc, mà chỉ còn được truyền bá ở Nhật bản. Các ngài Tối trừng, Không hải, Thường hiểu, Viên hạnh, Viên nhân, Huệ vận, Viên trân, và Tông duệ, lần lượt đến Trung quốc, tu học và viết chép rất nhiều kinh quĩ, rồi mang về Nhật bản hoằng truyền, người đời gọi là Bát gia tương thừa (Tám nhà truyền trao cho nhau). Vào thời đại Giang hộ, các nghi quĩ được thu chép trong Lục nội, có 187 bộ 324 quyển; ngoài ra, còn có những nghi quĩ được thu chép trong Lục ngoại là 133 bộ 180 quyển. Từ sau thời Minh trị, Súc loát Đại tạng kinh, Đại chính tân tu Đại tạng kinh đều có thu chép Lục nội, Lục ngoại và các loại nghi quĩ khác; Lục nội thu chép 570 bộ 931 quyển, Lục ngoại thu 612 bộ 961 quyển. Rồi Đại tạng kinh Tây tạng cũng có thu chép nhiều loại nghi quĩ. Đây là lí do cắt nghĩa tại sao đồ tượng của Mật giáo hết sức phức tạp, là vì có quá nhiều nghi quĩ. Những nghi quĩ ở Trung quốc được truyền đến từ Ấn độ, nghi quĩ Ấn độ là do bồ tát Long thụ truyền trao; những dịch giả chủ yếu là các Đại sư Thiện vô úy, Kim cương trí, Bất không v.v... [X. Chư nghi quĩ truyền thụ văn thư Q.9; Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.7; Phật giáo thánh điển khái luận; Nhập Đường tân cầu thánh giáo mục lục].
nghi sát
Nghi là nghi tình, sát là giết chết mạng căn của sanh tử (ngộ), tức là từ nghi đến ngộ. Phương tiện của chư Tổ dùng để dẫn dắt hậu học, gọi là nghi sát người thiên hạ.
Nghi Sơn Thiện Lai
(儀山善來, Gizan Zenrai, 1802-1878): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào giữa hai thời Giang Hộ và Minh Trị, vị tổ đời thứ 52 của Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), húy Thiện Lai (善來), đạo hiệu Nghi Sơn (儀山), thụy hiệu là Phật Quốc Hưng Thạnh Thiền Sư (佛國興盛禪師), xuất thân vùng Nhược Hiệp (若狹, thuộc Fukui-ken [福井縣]). Ông xuất gia năm 11 tuổi, đến năm 22 tuổi thì đi hành cước khắp các tiểu quốc, và kế thừa dòng pháp của Tư Nguyên (孜元) ở Tào Nguyên Tự (曹源寺, Sōgen-ji) vùng Bị Tiền (僃前, Bizen). Ông đã từng sống ở Diệu Tâm Tự cũng như Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro), sau đó lại trở về Tào Nguyên Tự.
nghi sơn thiện lai
Gisan Zenrai (J)Tên một vị sư.
nghi sứ, nghi sử
The messenger, tempter, or lictor, of doubt.
nghi sử
Bị nghi hoặc sai khiến mà lưu chuyển trong tam giới—The messenger, tempter, or lictor, of doubt.
; (疑使) Tâm thần người tu hành bị nghi hoặc sai khiến đến nỗi phải trôi lăn trong 3 cõi, khó thoát ra được. Là 1 trong 5 độn sử, 1 trong 10 sử. Theo Đại thừa nghĩa chương quyển 6, thì Sử nghĩa là sai khiến, ví dụ cho phiền não sai khiến, đeo đuổi và trói buộc người tu hành trong 3 cõi, không gỡ ra được. [X. Pháp giới thứ đệ Q.thượng phần trên]. (xt. Ngũ Độn Sử, Phiền Não).
nghi thành
(疑城) Thành ở chỗ biên giới cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà, là nơi ở của những hành giả niệm Phật cầu vãng sinh mà tâm còn ngờ vực. Theo kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác quyển 3, thì những người làm việc bố thí, sau lại sinh tâm hối tiếc, trong lòng ngờ vực chẳng hay bố thí có được phúc không? Có được sinh về cõi nước Vô lượng thanh tịnh của Phật không? Hoặc chợt tin chợt ngờ, ý chí do dự; tuy nhiên như thế nhưng vẫn liên tục niệm Phật không gián đoạn. Nhờ nhân duyên ấy, sau khi mệnh chung, hành giả này được sinh trong hoa sen tại tòa thành thất bảo ở biên giới cõi nước Vô lượng thanh tịnh của Phật. Sau 500 năm, khi hoa sen nở, sẽ được thấy Phật nghe pháp. Kinh Hộ quốc giới chủ (Đại 47, 161 thượng) cũng nói: Người ấy tâm ngờ vực chưa dứt, sinh vào Nghi thành, hưởng sự an vui trong 500 năm, lại tu tín nguyện mới được sinh vào Tịnh độ. Theo kinh Vô lượng thọ thì Nghi thành, Biên địa và Thai cung đều giống nhau. (xt. Thai Cung).
nghi thành thai cung
The palace for doubters outside Amitabha's heaven, where all doubters of him are confined for 500 years until fit to enjoy his paradise.
; Vùng biên địa quốc độ của Đức Phật A Di Đà có một tòa cung điện gọi là “Nghi Thành Thai Cung,” nơi trú ngụ của những người đã vãng sanh mà trong lòng còn nghi ngờ Đức A Di Đà. Họ sẽ ở đây 500 năm mà không nghe thấy Tam Bảo—The palace womb for doubters outside Amitabha's heaven, or those who call on him but are in doubt of him (where all doubters of Amitabha) are confined for 500 years until fit to enjoy his paradise (born into the Pure Land).
nghi thích
The thorn of doubt.
; Cái gai hay chướng ngại của nghi hoặc—The thorn of doubt.
; (疑刺) Mũi nhọn ngờ vực. Nghĩa là tâm ngờ vực có thể làm hại thiện căn, giống như mũi nhọn có khả năng đâm chết người. Vạn thiện đồng qui tập quyển hạ (Đại 48, 987 trung) nói: Thành tựu sự nghiệp của chư Phật, viên mãn đại Bồ đề, bít hết nẻo tà, mở toang đường chính, gốc tin bền chắc thì nhổ được mũi nhọn nghi ngờ, đầy đủ trí tuệ ba la mật.
nghi thị giải tân
(疑是解津) Ngờ giúp cho sự hiểu biết. Nghĩa là ngờ là cửa ngõ của sự hiểu biết. Theo Tam đức chỉ qui quyển 18, Tân, hàm ý là sự giúp đỡ. Do ngờ mà hiểu thì ngờ là sự giúp đỡ của hiểu biết. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 4 phần 4 (Đại 46, 271 hạ) nói: Ngờ thầy, ngờ pháp phải hiểu đúng lúc. Nếu chưa nhập vào được tam muội, đối với thầy và pháp, nhất lại gặp thầy tà, pháp tà thì cần phải ngờ, lựa chọn cho khéo. Ngờ là sự giúp đỡ của hiểu biết (nghi thị giải tân) chính là nghĩa ấy. [X. Đại bát niết bàn kinh sớ Q.13].
nghi thức
Mode—Style—Manner.
nghi tâm
A dougting heart.
; Cái tâm luôn nghi hoặc—Suspicious or dublious mind—A doubting heart.
nghi tình
Ở trong tâm đề câu thoại đầu hoặc công án, tự hỏi mà tự sanh khởi cái cảm giác không hiểu, muốn hiểu mà không hiểu nổi, cũng chẳng lọt vào tư duy, Thiền Tông gọi là nghi tình.
; Ở trong tâm đề câu thoại đầu hoặc công án, tự hỏi mà tự sanh khởi cái cảm giác không hiểu, muốn hiểu mà hiểu không nổi, cũng chẳng lọt vào tư duy, Thiền tông gọi là nghi tình.
nghi tình và đại ngộ
Inquiring spirit and great enlightenment. Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập II, Cao Phong là người chủ trương tu tập công án như vầy: “Công án tôi thường đặt cho các môn nhân là 'vạn pháp qui Nhất, Nhất qui hà xứ?' Tôi khuyên họ hãy tham cứu câu nầy. Tham cứu câu ấy tức là đánh thức một mối nghi tình lớn đối với ý nghĩa cứu cánh của công án. Vạn pháp thiên sai vạn biệt được qui về Một, nhưng rồi Một trở về đâu? Tôi bảo họ, hãy đem hết sức mạnh bình sinh mà đeo mỗi mối nghi tình nầy, đừng lúc nào xao lãng. Dù đi, đứng, nằm, ngồi, hay làm các công việc, đừng để thời giờ luống trôi qua. Rồi ra cái Một trở về đâu? Hãy cố mà đi tìm một câu trả lời chính xác cho câu hỏi nầy. Đừng buông trôi mình trong cái vô sự; đừng luyện tập tưởng tượng phiêu du, mà hãy cố thực hiện cho được cái trạng thái toàn nhất viên mãn bằng cách đẩy nghi tình lướt tới, bền bỉ và không hở. Rồi các ngươi sẽ thấy mình như một kẻ bịnh ngặt, chẳng còn muốn ăn uống gì nữa. Lại như một thằng khờ, không hiểu cái gì ra cái gì hết. Khi công phu đến đây, giờ là lúc tâm hoa của các ngươi bừng nở.”—According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Buddhism, Book II, Zen master Kao-Feng-Yuan-Miao talked about the koans as follows: “The koan I ordinarily give to my pupils is 'All things return to One; where does the One return?' I make them search after this. To search after it means to awaken a great inquiring spirit for the ultimate meaning of the koan. The multitudiness of things is reducible to the One, but where does the One finally return? I say to them: 'Make this inquiry with all the strength that lies in your personality, giving yourself no time to relax in this effort. In whatever physical position you are, and in whatever business you are employed, never pass your time idly. Where does the One finally return? Try to get a definite answer to this query. Do not give yourself up to a state of doing nothing; do not exercise your fantastic imagination, but try to bring about a state of identification by pressing your spirit of inquiry forward, steadily and uninterruptedly. You will be then like a person who is critically ill, having no appetite for what you eat or drink. Again you will be like an idiot, with no knowledge of what is what. When your searching spirit comes to this stage, the time has come for your mental flower to burst out.” Thiền Sư Cổ Âm Tịnh Cầm, vào khoảng cuối thế kỷ thứ 15, đã nói rõ về nghi tình và đại ngộ như sau: “Công phu có thể được thực hành tốt đẹp nhất là ở nơi không có tiếng động và tạp loạn: hãy dứt bỏ tất cả những điều kiện quấy nhiễu, hãy dừng lại suy tư và nghĩ tưởng, để hết tâm chí vào việc tiến hành công án, đừng bao giờ buông thả nó ra khỏi trung tâm của 'thức,' dù khi đi, đứng, nằm hay ngồi. Đừng bao giờ quan tâm đến việc mình đang ở trong cảnh ngộ nào, dù khi vừa lòng hay trái ý, mà luôn luôn hãy cố giữ lấy công án trong lòng, phản quang tự chiếu, và tự hỏi ai là kẻ đang theo đuổi công án chẳng biết mệt thế, và tự hỏi như vậy không ngớt. Cứ tiến hành như thế, hết sức là hăng hái, nghi chính kẻ đang nghi, chắc chắn sẽ đến lúc không còn nghi vào đâu được nữa, tuồng như các người đã đi đến chính tận nguồn của dòng suối và thấy mình đang bị những ngọn núi vây hãm chung quanh. Đây là lúc gốc cây cùng sắn bìm chằng chịt gẫy đổ, tức là khi sự phân biệt chủ khách hoàn toàn bị xáo trộn, khi kẻ bị nghi và cái bị nghi hòa hợp thành một khối duy nhất. Một khi thức tỉnh từ sự hợp nhất nầy, thì cái ngộ lớn sẽ hiện đến—Zen master Ku-Yin-Ching-Ch'in, late in the fifteenth century, has this saying regarding the inquiring spirit and great enlightenment: “Searching and contriving (kung-fu) may best be practised where noise and confusion do not reach; cut yourself off from all disturbing conditions; put a stop to speculation and imagination; and apply yourself wholeheartedly to the task of holding on to your koan, never letting it go off the center of consciousness, whether you are sitting or lying, walking or standing still. Never mind in what condition you are placed, whether pleasing or disagreeable, but try all the time to keep the koan in mind, and reflect within yourself who it is that is pursuing the koan so untiringly and asking you this question so unremittingly. As you thus go on, intensely in earnest, inquiring after the inquirer himself, the time will most assuredly come to you when it is absolutely impossible for you to go on with your inquiry, as if you had come to the very fountain of a stream and were blocked by the mountains all around. This is the time when the tree together with the entwining wistaria breaks down, that is, when the distinction of subject and object is utterly obliterated, when the inquiring and the inquired are fused into one perfect identity. Awakening from this identification, there takes place a great enlightenment that brings peace to all your inquiries and searchings. Hòa Thượng Thiên Kỳ Thụy đã có lời khuyên về 'nghi tình và đại ngộ' như sau: “Hãy gột sạch tâm khỏi tất cả những khôn ngoan lừa lọc của thế gian, hãy dứt ra khỏi mình những tham sân do ngã chấp, và đừng để những mối suy nghĩ nhị biên (phân hai) quấy phá, để cho tâm thức được lau chùi sạch sẽ. Khi đã thanh lọc được như vậy rồi, hãy đề khởi công án trước tâm 'Vạn pháp qui Nhất, Nhất qui hà xứ?' Hãy nghiền ngẫm vấn đề nầy từ thủy chí chung, hoặc bằng nhiều nghi vấn, hoặc đơn độc một suy nghĩ, hoặc chỉ nghiền ngẫm cái Một ở nơi đâu. Bất cứ bằng cách nào, cứ để cho hết thảy đầu mối của các câu hỏi ghi đậm trên ý thức của các người, khiến cho nó trở thành cái độc nhất là cái đích chú tâm. Nếu các người để phân biệt lý luận xen vào chuỗi dây liên tục bền bỉ của những nghi tình, kết quả sẽ làm sụp đổ hết cả công trình tu tập. Một khi các người chẳng được công án trước tâm, chẳng có cơ duyên nào để chứng ngộ hết. Lúc đó sự tu tập thiền quán của các người chẳng khác khác nào nấu cát mà muốn thành cơm. Cái cốt yếu bậc nhất là khơi dậy cái đại nghi và gắng thấy cho được cái Một qui về đâu. Lúc nghi tình được giữ linh hoạt liên tục, khiến cho những giải đãi, hôn trầm, tán loạn không còn cơ hội móng khởi; không cầu tìm kiếm ráo riết, rốt rồi thời cơ cũng sẽ đến, đây là lúc tâm hoàn toàn nhập định. Thế là dù đi hay đứng, dù nằm hay ngồi mà không phải để ý hẳn vào những việc đang làm ấy, cũng không hay biết mình đang ở đâu, đông hay tây, nam hay bắc; quên luôn cả lục tình; ngày đêm như nhau cả. Nhưng đây chỉ là mới nửa đường của ngộ, chứ chưa phải là ngộ hoàn toàn. Các người cần phải nỗ lực kỳ cùng và quyết liệt để xuyên qua đây, một trạng thái siêu thoát nơi đó hư không sẽ bị đập vỡ thành từng mảnh và vạn hữu đều được qui về cái bình đẳng toàn diện. Đấy lại như mặt trời ló dạng khỏi mây mù, thì các pháp thế gian hay xuất thế gian đều hiện ra rõ rệt.”—Most Venerable T'ien-Ch'i-Shui's advice to students of Zen as follows: “Have your mind thoroughly washed off of all cunning and crookedness, sever yourselves from greed and anger which rise from egotism, and let no dualistic thoughts disturb you any longer that your consciousness is wiped perfectly clean. When this purgation is effected, hold up your koan before the mind 'All things are resolvable into the One, and when is this One resolved? Where is it really ultimately resolved? Inquire into this problem from beginning to end, several as so many queries, or undividedly as one piece of thought, or simply inquire into the whereabouts of the One. In any event, let the whole string of questions be distinctly impressed upon your consciousness so as to make in the exclusive object of attention. If you allow any idle thought to enter into the one solid uninterruptible chain of inquiries, the outcome will ruin the whole exercise. When you have no koan to be held before your minds, there will be no occasion for you to realize a state of enlightenment. To seek enlightenment without a koan is like boiling sands which will never yield nourishing rice. The first essential thing is to awaken a great spirit of inquiry and strive to see where the One finally resolves itself. When this spirit is kept constantly alive so that no chance is given to languor or heaviness or otioseness to assert itself, the time will come to you without your specially seeking it when the mind attains a state of perfect concentration. That is to say, when you are sitting, you are not conscious of the fact; so with your walking or lying or standing, you are not all conscious of what you are doing; nor are you aware of your whereabouts, east or west, south or north; you forget that you are in possession of the six senses; the day is like the night, the vise-versa. But this is still midway to enlightenment, and not enlightenment itself. You will have yet to make another final and decided effort to break through this, a state of ecsatcy, when the vacuity of space will be smashed to pieces and all things reduced to perfectevenness. It is again like the sun revealing itself from behind the clouds, when things worldly and super-worldly present themselves in perfect objectivity.” Thật vậy, chúng ta không đề khởi công án hiện tiền, mà phải đặt nó vào trong tâm bằng tất cả sức mạnh của nghi tình. Một khi công án được chi trì bởi một tinh thần như thế, thì theo Thiền Sư Đại Huệ, nó giống như một ngọn lửa cháy lớn đốt cháy tất cả những con sâu hý luận đang xăm tới. Và cũng chính vì vậy mà tất cả các Thiền sư đều đồng ý rằng 'Trong sự tham Thiền, điều trọng yếu nhất là giữ vững nghi tình; nghi tình càng mạnh, ngộ càng lớn. Quả thực chẳng bao giờ có ngộ nếu không có nghi— In fact, we can't just hold up a koan before the mind, we must make it occupy the very center of attention by the sheer strength of an inquiring spirit. When a koan is cultivated with such a spirit, according to Zen master Ta-Hui, it is like a great consuming fire which burns up every insect of idle speculation that approaches it. Therefore, it is almost a common sense saying among Zen masters to declare that , 'In the mastery of Zen the most important thing is to keep up a spirit of inquiry; the stronger the spirit the greater will be the enlightenment that follows; there is, indeed, no enlightenment when there is no spirit of inquiry.
nghi tắc
Karmavacana (S).
nghi tục thiện
(疑續善) Sự ngờ vực tiếp nối sinh lại thiện căn. Người tà kiến không tin và phủ định lí nhân quả, do đó đã dứt hết thiện căn. Nhưng khi gặp được thiện tri thức, người ấy bỗng nảy ra ý niệm hoài nghi có lẽ có đạo lí nhân quả. Thì ngay lúc đó, thiện căn đã dứt trước kia, nay tiếp nối sinh lại, vì thế nên gọi Nghi tục thiện. [X. luận Câu xá Q.17].
nghi võng
The doubful net.
; (疑網) Lưới ngờ. Nghĩa là những mối nghi ngờ đan dệt vào nhau, giống như tấm lưới nên gọi là Nghi võng. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 10 hạ) nói: Trong lòng rất vui mừng, lưới ngờ đều đã dứt. Phẩm Hiền thủ trong kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 14 (Đại 10, 72 trung) nói: Dứt sạch lưới ngờ vượt biển ái, mở bày đạo vô thượng Niết bàn. Cứ theo Bản điển lược tán của ngài Đạo ẩn thì Lưới có 3 nghĩa: 1. Khó thoát: Như chim cá mắc lưới, khó thoát ra được. 2. Chướng ngại: Như giăng lưới sẻ trước cửa nhà thì chướng ngại người ra vào. 3. Che lấp: Như lưới ngăn che con mắt, khiến không thấy được. Bởi lẽ biển lớn Phật pháp, chỉ người có lòng tin vào được, tin là nguồn gốc của đạo, là mẹ của các công đức; nhưng vì lòng ngờ ngăn che mắt tin, cản trở việc tu hành chính pháp, do đó không ra khỏi sinh tử, cho nên ví như tấm lưới. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa; kinh Đại Vô lượng thọ Q.hạ; luận Đại trí độ Q.27].
nghi vấn
Vimati (S). Doubt, perplexity. Also thắc mắc.
; A doubtful question.
nghinh
To meet—To receive—To welcome—To greet.
nghinh giang tự
(迎江寺) Cũng gọi Vĩnh xương thiền tự, Cổ vạn Phật tự. Chùa nằm ven bờ sông Trường giang ở huyện An khánh, tỉnh An huy, Trung quốc, là 1 trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng, được sáng lập vào năm Khai bảo thứ 7 (974) đời Bắc Tống; trải qua các đời đều được tu bổ và mở rộng thêm. Đời Minh, vua Quang tông ban hiệu là Hộ quốc Vĩnh xương thiền tự; đến đời Thanh, chùa được sửa lại và đổi tên là chùa Nghinh giang. Hiện nay, chùa có các kiến trúc như: Điện Đại hùng, lầu chứa kinh, gác Đại sĩ, điện báu Tì lô, tháp Chấn phong... Trong đó, tháp Chấn phong được xây dựng vào năm Long khánh thứ 4 (1570) đời Minh, bằng gạch, hình bát giác, cao 7 tầng, có 168 bậc thang lượn vòng từ dưới lên trên, các góc mái mỗi tầng đều có treo những cái linh (chuông con) bằng đồng, khi gió thổi phát ra tiếng leng keng, vì thế nên gọi là tháp Chấn phong. Tháp này mang sắc thái kiến trúc đặc biệt của đời Minh, là ngôi tháp xưa rất nổi tiếng.
nghinh giá
To meet the king.
nghinh hôn
To meet the bride and bring her home.
nghinh ngang
Arrogant—Haughty.
nghinh niên
To welcome the New Year.
nghinh tiếp
To receive someone.
nghinh tân
To receive guests.
nghiêm
Severe, stern; rigorous; rigid, strict; grave, solemn, dignified, majestic, awe-inspiring; glorious.
; Xem nghiêm khắc
nghiêm chính
Severe—Strict.
nghiêm chỉnh
Decent, decorous; correct.
nghiêm cấm
To prohibit—To forbid.
nghiêm cẩn
Grave; solemn.
; Solemn and careful.
nghiêm hình
Severe punishment.
nghiêm hộ
(嚴護) Trang nghiêm và thủ hộ (giữ gìn làm cho đẹp đẽ). Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 thượng) nói: Nghiêm hộ thành pháp, mở rộng pháp môn, tẩy sạch cáu uế, hiển rõ thanh tịnh.
nghiêm khiết
Liêm khiết—Pure—Clean.
nghiêm khắc
Strict.
nghiêm kế đại tướng
Xem Kim cang Thực thiên.
nghiêm minh
Severe and just.
nghiêm mệnh
strict order.
nghiêm nghị
Grave—Severe.
nghiêm pháp
Severe or strict laws.
nghiêm phạt
To punish severely.
nghiêm phật điều
(嚴佛調) Cũng gọi Phù điều, Phật điều. Cao tăng Trung quốc sống vào đời Hán, người Lâm hoài (nay là huyện Hu di, tỉnh An huy). Ông thông minh dĩnh ngộ từ nhỏ, học rộng và có tài làm văn. Lúc ngài An thế cao đến Trung quốc hoằng dương Phật pháp và truyền dịch kinh điển tiếng Phạm, Nghiêm phật điều (lúc này vẫn chưa xuất gia - ND) cùng với cư sĩ An huyền đều tham dự việc phiên dịch của ngài An thế cao. Sau, dần dần thông thạo tiếng Phạm, ông tự dịch được kinh và rất am hiểu Thiền pháp, ông soạn Thập tuệ chương cú để xiển minh ý chỉ của Thiền, đây là sách chú sớ đầu tiên ở Trung quốc. Về sau, ông xuất gia, người đời gọi ông là A kì lê. Những kinh ông dịch gồm có: Kinh Pháp kính 2 quyển, kinh A hàm khẩu giải thập nhị nhân duyên 1 quyển, kinh Nhu thủ bồ tát vô thượng thanh tịnh phần vệ. [X. Lương cao tăng truyện Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.1].
nghiêm phụ
See Nghiêm Đường.
nghiêm sí vương
(嚴熾王) Vị quốc vương thành Uất xà diên ở thời đức Phật còn tại thế. Cứ theo kinhTát già ni càn tử sở thuyết, khi vua Nghiêm xí nghe lời Đại tát già ni càn tử khen ngợi đức Thích tôn nói pháp rất sâu xa mà vua sinh tâm tín giải.
nghiêm sư
Severe or strict master (teacher).
nghiêm sức
Glorious adorned. Also trang nghiêm (làm đẹp).
; Alamkaraka (skt)—Trang nghiêm—Gloriously adorned.
nghiêm thân chân ngôn
(嚴身真言) Chân ngôn trang nghiêm thân, tức chỉ cho 4 chân ngôn: Như lai đính tướng (tướng đỉnh đầu của Như lai), Như lai giáp (áo giáp Như lai), Như lai viên quang (hào quang Như lai) và Như lai thiệt tướng (tướng lưỡi dài của Như lai). Khi tác pháp Sự nghiệp A xà lê thì đồng như thân Phật, cho nên thụ trì 4 loại chân ngôn này để gia hộ tự thân, thì cũng giống như trang nghiêm thân Phật. Trong 32 chân ngôn của Hội Như lai thì công đức nghiêm thân của 4 chân ngôn trên đây là thù thắng nhất, cho nên đặc biệt nêu riêng ra. [X. Đại nhật kinh sớ Q.9].
nghiêm trang
Solemn—Serious—Severe—Grave.
Nghiêm Trí
(嚴智, Gonchi, ?-?): vị tăng của Hoa Nghiêm Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nại Lương, húy là Nghiêm Trí (嚴智). Ông học cả Pháp Tướng, Duy Thức cũng như Tam Luận và theo học Hoa Nghiêm với Thẩm Tường (審祥, Shinjō). Sau đó, ông đến trú tại Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji), tân lực tuyên dương giáo học Hoa Nghiêm. Trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Bình (天平, 729-749), thể theo sắc mệnh, ông thuyết giảng bộ Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經) 60 quyển tại Kim Chung Tự (金鐘寺, Konshō-ji, tức Pháp Hoa Đường của Đông Đại Tự [東大寺, Tōdai-ji]).
nghiêm trị
See Nghiêm Phạt.
nghiêm trọng
Severe—Grave.
nghiêm tịnh
Glorious and pure, gloriously pure
; Trang nghiêm thanh tịnh—Glorious and pure, gloriously pure.
; (嚴淨) Chỉ cho sự trang nghiêm thanh tịnh của cõi nước chư Phật. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 3 hạ) ghi: Vì muốn nói điều ấy, vì sẽ thụ kí, cho nên chỉ bày rõ các thứ báu nghiêm tịnh cõi nước của chư Phật. [X. Thiền uyển thanh qui Q.1].
nghiêm từ
Parents.
nghiêm vương
See Diệu Trang Nghiêm Vương in Vietnamese-English Section.
nghiêm vương phẩm
(嚴王品) Gọi đủ: Diệu trang nghiêm vương bản sự phẩm. Tên phẩm thứ 27 trong kinh Pháp hoa quyển 7, thu vào Đại chính tạng tập 9. Nội dung phẩm này thuật lại thời đức Vân lôi âm tú vương Hoa trí Như lai ở quá khứ, có 1 vị vua tên là Diệu trang nghiêm (Phạm: Zubhavyùha), nhân việc 2 người con khuyến thỉnh vua tu để thành Phật, nên ông tinh tiến thụ trì kinh Pháp hoa. Vua Diệu trang nghiêm nói trên tức là bồ tát Hoa đức, còn 2 người con thì chính là bồ tát Dược vương và bồ tát Dược thượng.
nghiêm đường
Father.
nghiêm đường huấn nữ thập giáo
Trong Đức Phật và Phật Pháp, Đức Phật đã từng dạy rằng ngoài của hồi môn rất quan trọng, và những món trang sức quý giá, người cha khôn ngoan còn dạy con gái mười điều sau đây—In The Buddha and His Teaching, the Buddha taught: “The marriage festival was conducted on an elaborate scale. On the wedding day, in addition to a large dowry and an exquisitely rich ornament, a wise father should also gave his daughter the following ten admonitions: Không đem lửa trong nhà ra ngoài ngõ: Người vợ không bao giờ nên nói xấu chồng và cha mẹ chồng với người ngoài. Cũng không nên đem chuyện xấu bên nhà chồng mà thuật lại cho người ngoài, vì không có lửa nào tệ hại hơn lửa nầy—Do not carry outside the indoor fire. A wife should never speak ill of her husband and parents-in-law to others. Neither should their shortcomings nor household quarrels be reported elsewhere, for there is no fire that may be compared to this fire. Không đem lửa ngoài ngõ vào nhà: Người vợ không nên nghe lời nói xấu của người khác. Người vợ không nên đem những lời phỉ báng nghe được từ hàng xóm, đem về kể lại và nói rằng: “Người nọ người kia đã nói xấu điều nầy hay điều khác.” Không có lửa nào tệ hại hơn lửa nầy—Do not take inside the outdoor fire. A wife should not listen to the reports and stories of other households. In other words, a wife must not bring home the slander that she has heard by saying: “So and so said this or that unkind thing about you.” There is no fire that may be compared to this fire. Chỉ cho những người biết cho lại: Đồ trong nhà chỉ nên cho những người nào mượn rồi biết trả lại—Give only to those that wish to return the give. Things should be lent to those who do return borrowed articles. Không cho những người không biết cho lại: Không nên cho những người mượn đồ rồi giữ luôn chứ không chịu trả lại—Do not give to those that do not deserve the give. No article should be lent to those who do not return them (borrowed articles). Đối với bà con bạn bè, thì phải cho cả hai, dù họ có biết trả lại hay không: Give both to kinsmen and frinds that give and do not give. It is to say, poor kinsfolk and friends should be helped even if they do not repay.
nghiên cứu
To examine—To study.
nghiêng
Inclined—Sloping.
nghiêng mình
To bend—To lean—To stoop.
nghiêng ngửa
Full of ups and downs—Unstable.
nghiêu quí
(nghiêu quí ) Cũng gọi Nghiêu thế, Nghiêu mạt. Gọi đủ: Nghiêu quí mạt pháp. Nghiêu nghĩa là bạc bẽo, Quí nghĩa là cuối, tức chỉ cho thời đại mà tình người, thói đời rất bạc bẽo và luân thường đạo lí sa sút, xuống cấp 1 cách thảm hại. Trong Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển thượng (Đại 44, 246 hạ) có câu: Mạt đại nghiêu thời, truyền hóa bất dị, nghĩa là ở đời mạt, phong tục bạc bẽo, đạo đức sa sút, việc truyền bá Phật pháp, giáo hóa chúng sinh rất khó khăn.
nghiêu triều
Yao Dynasty (C)(2333 đến 2355 hoặc 2234 đến 2255 B.C.E.) Một trong Ngũ đế của Trung quốc.
nghiền
To crush.
nghiền ngẫm
To ponder (reflect) over something.
nghiễm nhiên
All of a sudden—By accident.
nghiệm
Chứng nghiệm: Experience—Try—Test—Examine—To verify—To hold an inquest—To come true—To verify. Hiệu nghiệm: Efficient.
; (驗) I. Nghiệm. Cũng gọi Linh nghiêm. Chỉ cho sự linh nghiệm không thể nghĩ bàn, tưởng tượng. Nghĩa là do lòng tin tưởng, sự cầu đảo mà kết quả cụ thể hiển hiện ra trước mắt, ngoài sự tưởng tượng của mọi người. Tướng trạng của sự linh nghiệm này được gọi là Nghiệm tướng. (xt. Linh Nghiệm). II. Nghiệm. Chỉ cho hành giả Tu nghiệm đạo của Nhật bản, hoặc chỉ cho những việc làm bất khả tư nghị của họ.
nghiệm chủ vấn
(驗主問) Cũng gọi Thám bạt vấn, Tâm hành vấn. Người học thử đặt câu hỏi để thăm dò xem cơ pháp của thầy sâu hay cạn. Là 1 trong Phần dương thập bát vấn. Thiền sư Phần dương Thiện chiêu thuộc Tông Lâm tế đời Tống, gom hết các câu hỏi mà người học đặt ra để thử nghiệm thầy và chia làm 18 loại mà trong Thiền lâm gọi là Phần dương thập bát vấn. Bích nham lục tắc 41 (Đại 48, 178 hạ) nói: Ống sáo không lỗ gõ nhịp vào cái phách bằng nỉ, đây là Nghiệm chủ vấn, cũng gọi là Tâm hành vấn (người học hỏi thử sư gia). [X. Bích nham lục tắc 9].
nghiệm sinh nhân trung
Xem xét coi một người sau khi chết sẽ tái sanh vào cảnh giới nhân, Thiên, hay địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh—An inquiry into a the mode of a person's death, to judge whether he will be eborn as a man, deva, and so on with the other possible destinies such as hells, hungry ghosts, animals.
Nghiệp
業; S: karma; P: kamma; C: yè; J: gō;|1. Hành vi, hành động, hoạt động (s: karman, karma); 2. Hành vi của con người; cách cư xử, tư cách, bao gồm 3 hành vi thuộc ý, miệng, và thân; 3. Dấu tích, kết quả lưu lại từ 3 hành vi của nghiệp; năng lực vận hành tiềm tàng – nhân duyên tạo thành từ những hành vi mà cuối cùng sẽ tạo ra các kết quả khác; 4. Hành vi xấu ác, tai hại. mê muội; 5. Hạnh thanh tịnh (s: anubhāva); 6. Nỗ lực, tinh tấn, phấn đấu (s: vyāyama). |Khái niệm nghiệp rất quan trọngỉtong đạo Phật, dùng chỉ quy luật chung nhất về nguyên nhân và kết quả. Theo đạo Phật, mỗi tác động (nghiệp) – dưới một điều kiện nhất định – sẽ tạo thành một quả (s, p: phala). Một khi quả đó chín, nó sẽ rơi trở lại người tạo ra nó. Muốn thành quả, một nghiệp phải là tốt (Thiện; s: kuśala) hay xấu (Bất thiện; s: akuśala) và là một hành động cố ý. Vì sự cố ý đó, một nghiệp để lại một dấu vết nơi tâm thức của người tạo nghiệp và tâm thức đó sẽ hướng theo những sự tạo tác của chính mình. Thời gian để một quả chín muồi có thể kéo dài rất lâu và chính nó tác động lên sự tái sinh và làm loài hữu tình, trong đó có con người, cứ lưu mãi trong Luân hồi (s, p: saṃsāra).|Một nghiệp được gây ra hoặc bằng một hành động thuộc thân, thuộc tâm hay ngôn ngữ. Như thế khi người ta có ý làm cái gì thì đã tạo nghiệp, không nhất thiết việc làm đó có xảy ra hay không. Chính tư tưởng đã tạo tác nghiệp. Một hành động sẽ không gây nghiệp nếu nó được thực hiện mà không xuất phát từ tham, sân, si. Một nghiệp tốt có thể mang lại kết quả tốt trong một sự tái sinh. Tạo nghiệp tốt không có nghĩa là chấm dứt tái sinh. Muốn thoát khỏi luân hồi, con người phải từ bỏ nghiệp tốt lẫn nghiệp xấu. Cần phải hiểu nghiệp và nghiệp lực không đồng nghĩa với thuyết cho rằng mọi sự đều được quyết định sẵn (thuyết định mệnh). Nghiệp làm con người tái sinh trong một cuộc đời, một hoàn cảnh nhất định, nhưng hành động con người trong cuộc đời đó vẫn có sự tự do. Nghiệp sinh ra hoàn cảnh, sự phản ứng đối với hoàn cảnh này lại nằm trong tay con người.
nghiệp
Gō (J), Karma (S), Action, Kamma (P), lay (T)Yết ma, Tác nghiệp1- Định nghiệp, nghiệp quả, quả báu. 2- Một trong Lục cú nghĩa. Nghiệp cú nghĩa, tác đế, dụng đế, chỉ sự vận động của thực thể. Có 5 thứ: Thủ, xả, khuấ, thân, hành.
; Karman, Karma (S). Action, work, deed; moral duty; product, result, effect.
; Tâm khởi niệm, thân làm theo, tất cả hành vi đã làm hoặc khởi niệm mà chưa làm đều gọi là nghiệp.
; Karma (skt)—Kamma (p) Ý nghĩa của Nghiệp—The meanings of Karma: Nghiệp là một trong các giáo lý căn bản của Phật giáo. Mọi việc khổ vui, ngọt bùi trong hiện tại của chúng ta đều do nghiệp của quá khứ và hiện tại chi phối. Hễ nghiệp lành thì được vui, nghiệp ác thì chịu khổ. Vậy nghiệp là gì? Nghiệp theo chữ Phạn là 'karma' có nghĩa là hành động và phản ứng, quá trình liên tục của nhân và quả. Luân lý hay hành động tốt xấu (tuy nhiên, từ 'nghiệp' luôn được hiểu theo nghĩa tật xấu của tâm hay là kết quả của hành động sai lầm trong quá khứ) xảy ra trong lúc sống, gây nên những quả báo tương ứng trong tương lai. Cuộc sống hiện tại của chúng ta là kết quả tạo nên bởi hành động và tư tưởng của chúng ta trong tiền kiếp. Đời sống và hoàn cảnh hiện tại của chúng ta là sản phẩm của ý nghĩ và hành động của chúng ta trong quá khứ, và cũng thế các hành vi của chúng ta đời nay, sẽ hình thành cách hiện hữu của chúng ta trong tương lai. Nghiệp có thể được gây tạo bởi thân, khẩu, hay ý; nghiệp có thể thiện, bất thiện, hay trung tính (không thiện không ác). Tất cả mọi loại nghiệp đều được chất chứa bởi A Lại Da và Mạt Na thức. Chúng sanh đã lên xuống tử sanh trong vô lượng kiếp nên nghiệp cũng vô biên vô lượng. Dù là loại nghiệp gì, không sớm thì muộn, đều sẽ có quả báo đi theo. Không một ai trên đời nầy có thể trốn chạy được quả báo—Karma is one of the fundamental doctrines of Buddhism. Everything that we encounter in this life, good or bad, sweet or bitter, is a result of what we did in the past or from what we have done recently in this life. Good karma produces happiness; bad karma produces pain and suffering. So, what is karma? Karma is a Sanskrit word, literally means a deed or an action and a reaction, the continuing process of cause and effect. Moral or any good or bad action (however, the word 'karma' is usually used in the sense of evil bent or mind resulting from past wrongful actions) taken while living which causes corresponding future retribution, either good or evil transmigration (action and reaction, the continuing process of cause and effect)—Our present life is formed and created through our actions and thoughts in our previous lives. Our present life and circumstances are the product of our past thoughts and actions, and in the same way our deeds in this life will fashion our future mode of existence. A karma can by created by body, speech, or mind. There are good karma, evil karma, and indifferent karma. All kinds of karma are accumulated by the Alayavijnana and Manas. Karma can be cultivated through religious practice (good), and uncultivated. For Sentient being has lived through inumerable reincarnations, each has boundless karma. Whatever kind of karma is, a result would be followed accordingly, sooner or later. No one can escape the result of his own karma.
; (業) Phạm: Karman. Pàli: Kamma. Hán âm: Yết ma. Nghĩa là sự tạo tác, tức chỉ cho những hoạt động của thân tâm như hành vi, hành động, tác dụng, ý chí, hoặc chỉ cho những hoạt động của thân tâm do ý chí sinh ra. Nếu kết hợp với quan hệ nhân quả thì nghiệp là năng lực được hình thành bởi những hành vi từ quá khứ kéo dài đến hiện tại và cho mãi tới vị lai. Ngoài ra, Nghiệp cũng bao hàm tư tưởng nhân quả báo ứng về hành vi thiện ác như khổ vui và tư tưởng luân hồi trong 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Nghiệp vốn là tư tưởng cố hữu của Ấn độ, Phật giáo dùng nó làm căn cứ để khuyên con người nỗ lực hướng tới vị lai. Trong Phật học, hàm ý và giới thuyết của nghiệp được chia làm 3 loại: Thân nghiệp, Ngữ nghiệp, và Ý nghiệp. Thuyết nhất thiết hữu bộ thuộc Tiểu thừa tiến thêm bước nữa mà giải thích rằng, ý chí trong nội tâm muốn làm 1 việc gì đó gọi là ý nghiệp; còn dùng hành động và lời nói của thân thể để bày tỏ ý chí thì gọi là Thân nghiệp, Ngữ nghiệp (Khẩu nghiệp). Nghiệp cũng còn được chia làm 2 loại là Tư nghiệp và Tư dĩ nghiệp. Tư nghiệp chỉ cho những hoạt động của ý chí; Tư dĩ nghiệp chỉ cho trong Tư nghiệp đã có các hành động. Ở đây, Tư nghiệp đồng với Ý nghiệp, Tư dĩ nghiệp đồng với Thân nghiệp và Ngữ nghiệp. Về bản thể (nghiệp thể, nghiệp tính) của 3 nghiệp thì Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng Ý nghiệp thuộc về tâm pháp (ý chí), còn Thân nghiệp, Ngữ nghiệp thì thuộc về sắc pháp (vật chất). Nhưng Phật giáo Đại thừa và Kinh bộ thì chủ trương tất cả các nghiệp đều thuộc về hoạt động của tâm, đây mới chính là lập trường cơ bản của Phật giáo.Thuyết nhất thiết hữu bộ còn chia Thân nghiệp và Ngữ nghiệp làm 2 loại là Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp. Biểu nghiệp là nghiệp biểu hiện ra bên ngoài khiến người khác thấy được, còn Vô biểu nghiệp là không hiện bày ra bên ngoài, người khác không thấy được. Vô biểu nghiệp cũng gọi là Vô biểu sắc, bản thể của nó là 1 loại sắc pháp, khởi lên nghiệp thiện, ác rất mãnh liệt, nhưng về tính chất thì bao hàm cả Thân biểu nghiệp, Ngữ biểu nghiệp và Định. Vô biểu nghiệp được chia làm 3 loại: 1. Luật nghi: Thiện nghiệp do giới, định phát khởi. 2. Bất luật nghi: Ác nghiệp do tập quán phát khởi và có tính quyết đoán rất mạnh. 3. Phi luật nghi phi bất luật nghi: Nghiệp thiện, nghiệp ác tùy lúc mà phát khởi theo tác dụng vô biểu. Thiện vô biểu có tác dụng ngăn ngừa điều ác, ác vô biểu có tác dụng chướng ngại việc thiện, chính do đây mà tính cách hậu thiên của con người được hình thành. Thân nghiệp và Ngữ nghiệp, mỗi nghiệp đều có biểu nghiệp và vô biểu nghiệp, cộng với Ý nghiệp thành là 5 nghiệp. Nếu tạo ác nghiệp, thiện nghiệp thì về sau chắc chắn sẽ chiêu cảm quả báo (dị thục) khổ, vui tướng ứng. Vì có nghiệp nhân cho nên chiêu cảm nghiệp quả. Còn nghiệp vô kí chẳng thiện chẳng ác thì không có sức chiêu cảm quả báo. Về mối quan hệ giữa nghiệp nhân và nghiệp quả thì quan điểm của Thuyết nhất thiết hữu bộ như sau: Nghiệp có liên quan đến 3 đời là nghiệp hiện tại có khả năng trở thành nhân quyết định (thủ quả) dẫn đến quả báo vị lai. Mặt khác, nghiệp từ quá khứ do sức tác dụng mãnh liệt mà mang lại quả báo (dữ quả)trong hiện tại. Ở đây, Kinh lượng bộ cho rằng nghiệp tiêu diệt trong khoảnh khắc, nhưng nó đã gieo chủng tử (hạt giống) chiêu cảm quả báo vào trong tâm thức, lại do chủng tử này dẫn sinh ra quả báo. Loại tư tưởng chủng tử này rất giống với thuyết Vô biểu nghiệp của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Có nhiều cách phân loại nghiệp, nhưng nói một cách tổng quát thì quả báo trong 1 đời người hoàn toàn do nghiệp dẫn dắt, tức Dẫn nghiệp (khiên dẫn nghiệp, tổng báo nghiệp, dẫn nhân) có sức tác dụng mạnh mẽ và có thể khiến cho người sinh vào 1 cõi nào đó như người, súc sinh hoặc các loài khác... Nếu sinh vào cõi người thì sự khác nhau về các căn, hình lượng, sắc lực trang nghiêm... của mỗi cá thể là do Mãn nghiệp (viên mãn nghiệp, biệt nghiệp) hình thành. Quả báo của Dẫn nghiệp gọi là Tổng báo, quả báo của Mãn nghiệp gọi là Biệt báo, 2 nghiệp này hợp lại gọi chung là Tổng biệt nhị báo. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng 1 Dẫn nghiệp dẫn sinh ra 1 lần, nhưng lại có rất nhiều Mãn nghiệp để hoàn thành đời sống con người, bởi thế, nhiều nghiệp dẫn sinh 1 đời hoặc 1 nghiệp dẫn sinh nhiều đời là việc tuyệt đối không thể có. Nghiệp lại có 2 loại là Cộng nghiệp và Bất cộng nghiệp. Cộng nghiệp chỉ cho quả báo chung, như núi sông đất đai (thế giới vật lí), vô số sinh vật v.v... Còn Bất cộng nghiệp là quả báo riêng của mỗi sinh vật (như thân thể đẹp, xấu, giàu nghèo, sang hèn v.v...). Lại nữa, nghiệp có 3 tính chất: Thiện (nghiệp yên ổn) do tâm thiện sinh khởi, Bất thiện (nghiệp không yên ổn) do tâm ác sinh khởi; Vô kí (không thiện không ác) do tâm vô kí sinh khởi. Nghiệp ác chắc chắn sẽ bị trừng phạt, cho nên gọi là Phạt nghiệp(hoặc là phạt), 3 nghiệp thân, khẩu, ý gọi là Tam phạt. Trong 3 nghiệp thì Ý nghiệp quan trọng nhất. Nghiệp được tạo tác qua 1 quá trình suy tư chín chắn rồi mới quyết đoán thực hiện, gọi là Cố tư nghiệp, Cố tác nghiệp (cố ý làm). Ngược lại, nghiệp do lầm lỡ, không cố ý gây ra, gọi là Bất cố tư nghiệp, Bất cố tác nghiệp. Vô kí nghiệp và Bất cố tư nghiệp đều không dẫn sinh quả báo. Cố tư nghiệp được thực hiện với tinh thần tích cực, mạnh mẽ, gọi là Tăng trưởng nghiệp; còn Cố tư nghiệp được tạo tác với tâm yếu ớt, không nhiệt thành thì cùng với Bất cố tư nghiệp gọi chung là Bất tăng trưởng nghiệp. Nghiệp tăng thêm sức mạnh dần dần gọi là Tăng thượng nghiệp, Tăng trưởng nghiệp, trái lại thì gọi là Tạo tác nghiệp. Nghiệp ác do chúng sinh tạo tác ở cõi Dục thường chiêu cảm quả báo khổ khiến cho 5 thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân phải chịu, cho nên gọi là Thân thụ nghiệp. Còn nghiệp thiện do chúng sinh tạo tác ở cõi Sắc (ngoại trừ Sơ thiền thiên) và cõi Vô sắc thường chiêu cảm quả báo vui khiến ý thức hưởng thụ, cho nên gọi là Tâm thụ nghiệp. Thân thụ nghiệp và Tâm thụ nghiệp gọi chung là Nhị thụ nghiệp. Lại nữa, nghiệp thiện mang lại hạnh phúc, nên gọi là Phúc nghiệp, còn nghiệp ác dẫn đến bất hạnh, khổ đau, nên gọi là Phi phúc nghiệp. Thiện nghiệp cũng gọi Bạch nghiệp, ác nghiệp cũng gọi là Hắc nghiệp, còn Vô kí nghiệp thì gọi là Phi hắc phi bạch nghiệp. Lại tùy theo sự chịu báo mau hay chậm mà nghiệp được chia ra 4 loại: Đời này tạo nghiệp, đời này chịu báo gọi là Thuận hiện nghiệp, Thuận hiện pháp thụ nghiệp. Đời này tạo nghiệp, đời sau chịu báo gọi là Thuận sinh nghiệp, Thuận thứ sinh thụ nghiệp. Đời này tạo nghiệp đến đời thứ 3 về sau mới chịu báo gọi là Thuận hậu nghiệp, Thuận hậu thứ thụ nghiệp. Sự chịu báo của 3 thời nghiệp nói trên có thời kì nhất định, cho nên cũng gọi là Định nghiệp. Còn nghiệp mà quả báo không xác định thời gian thì gọi là Bất định nghiệp, Thuận bất định nghiệp. Y cứ vào nội dung quả báo (định hoặc bất định) của Bất định nghiệp, lại có 2 loại khác nhau: Xác định quả báo nhưng không xác định lúc nào thì chịu báo, gọi là Dị thục định thời bất định. Quả báo và thời gian chịu báo đều không xác định, gọi là Dị thục thời câu bất định. Ba thời nghiệp và 2 nghiệp Bất định gọi chung là Ngũ nghiệp. Ba thời nghiệp, mỗi nghiệp chia ra 2 loại là Thời định dị thục định (thời gian xác định, quả báo cũng xác định) và Thời định dị thục bất định (thời gian nhất định, quả báo không nhất định), cộng chung có 6 loại, 6 loại này cộng chung với 2 nghiệp Bất định nói trên thành là 8 nghiệp. Chỗ y cứ của tác dụng nghiệp là con đường chung dẫn đến quả báo khổ, vui của loài hữu tình, gọi là Nghiệp đạo(Căn bản nghiệp đạo), có 2 loại là Thập thiện nghiệp đạo và Thập ác nghiệp đạo. Vấn đề này, Thuyết nhất thiết hữu bộ, Kinh lượng bộ và Duy thức Đại thừa trình bày có hơi khác nhau. Nghiệp là nhân sinh ra quả báo (dị thục), vì thế cũng gọi là Nghiệp nhân, hoặc Nhân nghiệp. Quả do nghiệp mang lại, gọi là Nghiệp quả, Nghiệp báo. Cái sức dắt dẫn nghiệp quả, gọi là Nghiệp lực. Do nghiệp mà đưa đến quả báo khổ, gọi là nghiệp khổ. Ác nghiệp và phiền não gọi chung là Nghiệp kết, Nghiệp não. Chướng ngại do nghiệp ác sinh ra, gọi là Nghiệp chướng, Nghiệp lụy. Vì nghiệp có khả năng chiêu cảm báo ứng, cho nên cũng gọi là Nghiệp cảm. Nghiệp được tạo tác ở đời quá khứ, gọi là Túc nghiệp, hoặc Tiền nghiệp. Thọ mệnh do túc nghiệp đền trả, gọi là Nghiệp thọ, Nghiệp thụ. Trọng bệnh do nhân của Túc nghiệp gây ra, gọi là Nghiệp bệnh. Những tai ách do ảnh hưởng của túc nghiệp, gọi là Nghiệp ách. Lại vì nghiệp đeo theo con người giống như bóng với hình, cho nên cũng gọi là Nghiệp ảnh. Nghiệp có năng lực trói buộc chúng sinh ở cõi mê, cho nên gọi là Nghiệp hệ, Nghiệp quyên, Nghiệp phược, Nghiệp thằng. Nghiệp giống như tấm lưới vít kín chúng sinh trong cõi mê, vì thế gọi là Nghiệp võng. Ác nghiệp giống như bụi nhơ, hay làm bẩn thân người nên gọi là Nghiệp cấu, Nghiệp trần. Cũng có chỗ ví dụ tác dụng của Nghiệp ác giống như lửa, ma, giặc, cho nên gọi là Nghiệp hỏa, Nghiệp ma (1 trong 10 loại ma), Nghiệp tặc v.v... Tấm gương, cái cân, cuốn sổ... trong địa ngục dùng để soi rọi, cân lường và ghi chép nghiệp thiện, ác của chúng sinh được gọi là Nghiệp kính, Nghiệp xứng, Nghiệp bạ... Sức của Nghiệp ác mạnh như gió, cho nên gọi là Nghiệp phong. Sức thần thông có được nhờ túc nghiệp, gọi là Nghiệp thong (Báo thông). Nghiệp có năng lực chiêu cảm (quả báo) địa ngục Vô gián, gọi là Vô gián nghiệp. Nghiệp trói buộc hữu tình chúng sinh trong 3 cõi, gọi là Tam giới hệ nghiệp. Nghiệp chiêu cảm quả báo khiến hữu tình chúng sinh sinh vào các cõi trong vị lai, gọi là Nhuận nghiệp, Nhuận sinh nghiệp. Ngoài ra, nghiệp do mình tự tạo, mình chịu quả báo, gọi là Tự nghiệp tự đắc. Chi Hữu trong 12 nhân duyên được gọi là Nghiệp hữu. Sau hết, pháp tu niệm Phật A di đà nguyện cầu vãng sinh Tịnh độ được gọi là Tịnh nghiệp. [X. kinh Tạp a hàm Q.13, 37, 49; kinh Trung a hàm Q.3, 58; kinh Trường a hàm Q.11; kinh Bản sự Q.1; kinh Chính pháp niệm xứ Q.34; Duy thức luận đồng học sao Q.1; Phật pháp khái luận chương 7 (Ấn thuận); Thành Phật chi đạo Ngũ thừa cộng pháp chương (Ấn thuận); Phật học Kim thuyên (Trương trừng cơ); Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận thiên 2 chương 4 (Mộc thôn Thái hiền); Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận thiên 5 chương 5 (Mộc thôn Thái hiền)]. (xt. Nghiệp Đạo).
nghiệp ba la mật bồ tát
Karma-vajri (S)Yết Ma Ba la mật Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; (業波羅蜜菩薩) Nghiệp ba la mật, Phạm: Karma-vajrì. Hán âm: Yết ma phạ nhật li, Yết ma bạt chiết lí. Cũng gọi Yết ma ba la mật bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở phía bắc Đại nhật Như lai trong Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo, mật hiệu là Diệu dụng Kim cương, Tác nghiệp Kim cương, 1 trong 4 bồ tát Ba la mật, 1 trong 37 vị tôn thuộc Kim cương giới. Hình tượng và chủng tử của vị Bồ tát này trong mỗi hội đều khác nhau. Trong hội Thành thân thì hình tượng của Ngài màu xanh, tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có cái hộp, tay phải cầm chày yết ma, chủng tử là (a#), hình tam muội da là chày yết ma trên cái hộp. Vị Bồ tát này là do Bất không thành tựu Như lai ở phương Bắc dùng đức của sự nghiệp Yết ma mà sinh ra để cúng dường Đại nhật Như lai. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Kim cương đính Du già lược xuất niệm tụng Q.2].
nghiệp báo
Kammavipāka (P), Karma-vipāka (S).
; Karmavipàka (S). Karma reward; the retribution of karma, good or evil.
; Tạo thiện nghiệp được phước báo, tạo ác nghiệp bị khổ báo, gọi là nghiệp báo.
; Quả báo sướng khổ tương ứng với thiện ác nghiệp—Karma-reward; the retribution of karma (good or evil).
; (業報) Cũng gọi Nghiệp quả. Từ gọi chung nghiệp và báo, nghĩa là sự báo ứng hoặc quả báo của nghiệp. Tức là quả báo khổ, vui do nghiệp nhân thiện, ác của thân, khẩu, ý, chiêu cảm. Cứ theo luận Thành thực quyển 7 thì nghiệp báo có 3 loại: Thiện, Bất thiện, Vô kí. Nghiệp thiện thì được quả báo tốt đẹp, nghiệp bất thiện cảm quả báo xấu ác, nghiệp vô kí (không thiện không ác) thì không mang lại quả báo. Phẩm Tam thụ báo nghiệp trong luận Thành thực quyển 8 (Đại 32, 298 thượng) nói: Nghiệp thiện được báo vui, nghiệp bất thiện được báo khổ, còn nghiệp bất động thì được báo không khổ không vui. Trong nghiệp báo, nghiệp quyết định vận mệnh của 1 người như nghèo, giàu, sang, hèn, sống lâu, chết yểu... gọi là Mãn nghiệp. Còn nghiệp quyết định tính cách và điều kiện sinh hoạt chung của mọi người, thì gọi là Dẫn nghiệp. Cái tướng chung của quả báo như thụ sinh làm người, làm súc vật... gọi là Tổng báo. Còn như, tuy cùng sinh làm người nhưng có sang hèn, trí ngu, đẹp xấu v.v... khác nhau, thì gọi là Biệt giáo. Chủ thể của quả báo, tức thân tâm của loài hữu tình, gọi là Chính báo; còn đất nước và các vật thụ dụng là chỗ các hữu tình nương tựa để mà sống, thì gọi là Y báo. Lại vì đất nước, núi sông v.v... là quả báo nhiều người cùng chung thụ dụng, do cộng nghiệp chiêu cảm, cho nên được gọi là Cộng báo. [X. kinh Trung a hàm Q.3, 14, 34; kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo Q.thượng; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Đại tì bà sa Q.124, 125]. (xt. Nghiệp).
nghiệp báo thân
Theo tông Hoa Nghiêm, chư Bồ Tát vì thương sót chúng sanh mà hiện ra thân cảm thụ hay nghiệp báo thân, giống như thân của chúng sanh để cứu độ họ—According to the Hua-Yen sect, the body of karmaic retribution, especially that assumed by a bodhisattva to accord with the conditions of those he seeks to save. **For more information, please see Thập Thân Phật.
nghiệp bất thiện
Unwholesome kamma—See Bất Thiện Nghiệp.
nghiệp bệnh
(業病) Cũng gọi Nghiệp chướng bệnh. Chỉ cho bệnh tật do nghiệp đời trước sinh ra. Do nghiệp ác gây nên ở đời trước mà bị bệnh nan y, nằm liệt giường thuốc thang chẳng khỏi, khổ sở trăm bề, cầu sống không được, muốn chết không xong. Nguyên nhân là do túc nghiệp, thì cần phải sám hối nghiệp chướng, đọc tụng và viết chép kinh điển, cúng dường tán thán chư Phật Bồ tát, bố thí pháp giới chúng sinh, nhờ công đức ấy tiêu trừ nghiệp bệnh.
nghiệp bịnh
Bệnh nghiệp hay bệnh gây ra do nghiệp của nhiều đời trước—Illness as the result of previous karma.
nghiệp bộ
Bộ sổ ghi nghiệp của chúng sanh được giữ bởi những vị “Cai Quản Nhân Quả” hay Minh Quan trong địa ngục—The record or account book, believed to be kept by the rulers of “Cause and Effect” or the rulers of Hades who record the deeds of all sentient beings.
nghiệp cho quả liền kiếp sau
Upapajja-vedaniya-kamma (P). Kamma ripening in the next birth.
nghiệp cho quả ngay kiếp hiện tại
Dittha-dhamma-vedaniya-kamma (P). Kamma ripening in the life time.
nghiệp cho quả trong một kiếp sau
Aparàpariya-vedaniya-kamma (S). Kamma ripening in a later birth.
nghiệp chung
Chúng sinh phải chịu chung các kiếp vận như: mệnh trược (aryuskasayah: đời sống đau khổ); kiến trược (drstikasayah: nhận thức sai lầm); phiền não trược (klesakasayah: tâm trạng xấu ác); chúng sinh trược (sattvakasayah: con người độc ác); kiếp trược (kalpakasayah: cuộc đời ngắn ngủi).
Nghiệp chướng
(s: karmāvaraṇa, 業障): còn gọi là nghiệp lụy (業累), là một trong 3 chướng, một trong 4 chướng; nghĩa là ác nghiệp do ba nghiệp thân, miệng và ý của chúng sanh tạo ra có thể gây chướng ngại chánh đạo, nên có tên gọi như vậy. Theo Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 11, A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 115, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 17, v.v., trong các ác nghiệp, lấy 5 nghiệp Vô Gián làm nghiệp chướng, làm trở ngại lớn nhất đối với sự tu hành Thánh đạo. Đó là: (1) hại mẹ, (2) hại cha, (3) hại bậc A La Hán, (4) phá sự hòa hợp của tăng, (5) làm thân Phật chảy máu với ác tâm. Trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 2, Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm (世主妙嚴品) thứ 1, có câu: “Nhược hữu chúng sanh nhất kiến Phật, tất sử tịnh trừ chư nghiệp chướng (若有眾生一見佛、必使淨除諸業障, nếu có chúng sanh một lần thấy được Phật, tất khiến cho trừ sạch các nghiệp chướng).” Hay trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 60, phần Đại Phương Đẳng Kinh Thất Phật Thuyết Diệt Tội Chú (大方等經七佛說滅罪咒), lại có đoạn: “Như thị thần chú, cụ đại uy lực, năng thọ trì giả, nghiệp chướng tiêu trừ (如是神咒、具大威力、能受持者、業障消除, thần chú như vậy, đủ oai lực lớn, người thường thọ trì, nghiệp chướng tiêu trừ).” Hoặc trong Giáo Ngoại Biệt Truyền (敎外別傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1580) quyển 4, phần Ngưu Đầu Sơn Pháp Dung Thiền Sư (牛頭山法融禪師), cũng có đoạn rằng: “Nhất thiết phiền não nghiệp chướng, bổn lai không tịch, nhất thiết nhân quả giai như mộng huyễn, vô Tam Giới khả xuất, vô Bồ Đề khả cầu (一切煩惱業障、本來空寂、一切因果皆如夢幻、無三界可出、無菩提可求, hết thảy phiền não nghiệp chướng, xưa nay rỗng lặng, hết thảy nhân quả đều như mộng huyễn, chẳng Ba Cõi phải ra, chẳng Bồ Đề phải tìm).”
; 業障; C: yèzhàng; J: gōshō; S: karma-āvarana. |1. »Chướng ngại của nghiệp«. Sự chướng ngại của nghiệp xấu ác; 2. Chướng ngại gây ra do kết quả của hành vi xấu ác.
nghiệp chướng
Karmāvaraṇa (S), Karmic hindrances, Karmic defilement.
; Karmàvarana (S). The screen, or hindrance, of past karma, hindering the attainment of bodhi; bale due to karma.
; Bất cứ thiện nghiệp hoặc ác nghiệp đều là chướng ngại sự kiến tánh giải thoát, nên gọi là nghiệp chướng.
; Karmavarana (skt)—Những chướng ngại và ngăn trở do ác nghiệp gây ra làm ngăn cản bồ đề (ác nghiệp ngăn cản chánh đạo)—The screen or hindrance of past karma which hinders the attainment of bodhi (hindrance to the attainment of Bodhi, which rises from the past karma).
; (業障) Phạm: Karmàvaraịa. Cũng gọi Nghiệp lụy. Các nghiệp ác do thân, khẩu, ý của chúng sinh gây nên thường ngăn che chính đạo, nên gọi là Nghiệp chướng. Là 1 trong 3 chướng, 1 trong 4 chướng. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 11 (bản Bắc), luận Đại tì bà sa quyển 115 và luận Câu xá quyển 17, trong tất cả các nghiệp ác, chỉ có nghiệp Ngũ vô gián là Nghiệp chướng, còn lại không phải là nghiệp chướng vì không có năng lực cản trở việc tu hành Thánh đạo. Nghiệp Ngũ vô gián là: Giết mẹ, giết cha, giết A la hán, phá hòa hợp tăng và làm cho thân Phật bị chảy máu. Phẩm Thế chủ diệu nghiêm trong kinh Hoa nghiêm quyển 2 (bản 80 quyển) nói (Đại 10, 9 thượng): Nếu chúng sinh nào được thấy Phật thì nhất định sẽ tẩy trừ sạch các nghiệp chướng.
nghiệp chướng trừ
Dấu hiệu đoạn trừ nghiệp chướng bằng lưỡi kiếm trí tuệ—A symbol indicating the cutting away of all karmaic hindrances by the sword of wisdom.
nghiệp chủ
Property owner.
nghiệp chủng
Karma-vāsanā (S)Chủng tử nghiệp.
; Karmabìja (S). Karma-seed which springs up, in happy or in suffering rebirth.
; Karmabija (skt)—Nghiệp sanh ra quả khổ lạc trong luân hồi sanh tử, giống như hạt giống thế gian—Karma-seed which springs up in happy or in suffering rebirth.
nghiệp chủng tử
Karma-bija (skt)—Karma-seed—See Nghiệp Chủng.
; (業種子) Cũng gọi Nghiệp tập khí (Phạm: Karmavàsanà), Dị thục tập khí, Hữu chi tập khí, Hữu phần huân chủng tử, Hữu thụ tận tướng chủng tử. Gọi tắt: Nghiệp chủng. Đối lại: Danh ngôn chủng tử. Chủng tử (hạt giống) của nghiệp quả. Nghiệp có nghĩa là tạo tác, những sự tạo tác thiện ác huân tập (xông ướp) thành chủng tử, gọi là Nghiệp chủng tử. Trong 8 thức, chỉ có ý thức (thức thứ 6) tương ứng với Tư tâm sở mà tạo tác các nghiệp thiện ác, tự huân tập thành Tư chủng tử. Tư chủng tử có 2 công năng: Một là tự sinh khởi hiện hành của Tư tâm sở; hai là trợ giúp cho những chủng tử vô kí yếu kém khác sinh khởi hiện hành. Trong đó, công năng tự sinh hiện hành gọi là Danh ngôn chủng tử, còn công năng giúp cho các chủng tử khác sinh hiện hành thì gọi là Nghiệp chủng tử. Nghiệp chủng tử và Danh ngôn chủng tử tuy chỉ là 1 thể thôi, nhưng cứ nơi công năng khác nhau của Tư chủng tử về phương diện tự, tha mà có sự phân biệt Danh ngôn và Nghiệp. [X. luận Thành duy thức Q.8; luận Du già sư địa Q.5, 8; Nhiếp đại thừa luận thích Q.2 (Vô tính)].
nghiệp cú nghĩa
Karma-padarthah (S)Động tác của thực thể.
nghiệp căn
Root-action.
Nghiệp cảm
(業感): nghĩa là lấy nhân nghiệp của thiện ác mà cảm nhận quả của khổ vui. Như trong Bí Tạng Bảo Thược (秘藏寶鑰) quyển Trung do Đại Sư Không Hải (空海, Kūkai, 774-835), Tổ sáng lập ra Chơn Ngôn Tông Nhật Bản sáng tác, có đoạn rằng: “Phù tai họa chi hưng, lược hữu tam chủng, nhất thời vận, nhị thiên phạt, tam nghiệp cảm (夫災禍之興、略有三種、一時運、二天罰、三業感, phàm tai họa sinh khởi, tóm tắt có ba loại, một là thời vận, hai là trời phạt, ba là nghiệp cảm).” Trong Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Lược Sớ (梵網經菩薩戒略疏, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 38, No. 695) quyển 2 giải thích rằng: “Tùy nghiệp cảm báo, thân chi hình đoạn, hữu trường hữu đoản, mạng chi phân hạn, hữu thọ hữu yểu dã (隨業感報、身之形段、有長有短、命之分限、有壽有夭也, tùy theo quả báo của nghiệp cảm, hình dáng của thân, có dài có ngắn; thời hạn của mạng, có thọ có yểu vậy).” Hay trong Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ (瑜伽集要施食儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1080) lại có đoạn: “Chơn nguyên trạm tịch, nãi tội tánh chi bản không; khổ hải hồng thâm, trục vọng ba nhi bất tức; do chúng sanh chi nghiệp cảm, trí trường kiếp dĩ trầm luân; thọ báo Địa Ngục chi trung, vĩnh la khổ sở; chuyển sanh Ngạ Quỷ chi nội, trường nhẫn cơ hư; ký vô giải thoát chi kỳ, ninh hữu siêu thăng chi lộ (眞源湛寂、乃罪性之本空、苦海洪深、逐妄波而不息、由眾生之業感、致長劫以沉淪、受報地獄之中、永罹苦楚、轉生餓鬼之內、長忍饑虛、旣無解脫之期、寧有超昇之路, nguồn chơn vắng lặng, ấy tội tánh vốn là không; biển khổ rộng sâu, theo sóng mê lầm không dứt; do chúng sanh bao nghiệp cảm, chịu bao kiếp mãi đắm chìm; chịu báo Địa Ngục bên trong, mắc hoài khổ sở; chuyển sanh Ngạ Quỷ kiếp sống, chịu đựng đói khát; đã không giải thoát thời kỳ, sao có siêu thăng nẻo trước).”
; 業感; C: yègăn; J: gōkan; |Trải qua, tự mình nhận chịu cảm giác khổ vui, là kết quả của những hành vi thiện hoặc ác mà mình đã tạo từ trước.
nghiệp cảm
The influence of karma; caused by karma.
; Sự cảm ứng hay ảnh hưởng của nghiệp (tùy thuộc vào nghiệp nhân thiện hay ác mà cảm thọ lạc hay khổ)—The influence of karma; caused by karma.
; (業感) Năng lực của các nghiệp nhân thiện ác chiêu cảm quả báo khổ vui, nên gọi là nghiệp. [X. luận Câu xá Q.11, 13; luận Thuận chính lí Q.5, 37].
nghiệp cảm duyên khởi
See Duyên Khởi (I) (1).
; (業感緣起) Các pháp duyên khởi là do nghiệp nhân chiêu cảm. Quả báo của loài hữu tình chúng sinh có Chính báo và Y báo khác nhau, trong Chính báo có sai biệt như đẹp, xấu, trí ngu v.v..., trong Y báo cũng có những khác biệt như núi sông, cây cỏ v.v... Những quả báo khổ vui này có thiên hình vạn trạng, tất cả đều do nghiệp lực chiêu cảm. Ba nghiệp thân, ngữ, ý của chúng sinh ngày đêm tạo tác, các việc thiện ác được thực hiện tuy biến diệt trong sát na, nhưng cái nghiệp đã được tạo ra ấy, chắc chắn sẽ mang lại kết quả tương ứng trong đời này hoặc đời sau. Tức do mối quan hệ phức tạp của sức nghiệp mà hình thành những hiện tượng muôn ngàn sai biệt trong thế giới này. Giáo lí 12 duyên khởi đã giải thích tất cả hiện tượng sai biệt này trong thế gian và các bộ phái Tiểu thừa đã lập 12 duyên khởi này thành thuyết Nghiệp cảm duyên khởi. Về sau, các tông chủ trương Duy thức lại tiến thêm bước nữa mà lập thuyết A lại da duyên khởi, cho rằng thức A lại da là căn bản của Nghiệp cảm duyên khởi. [X. luận Đại tì bà sa Q.23; luận Câu xá Q.13; luận Thuận chính lí Q.27]. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên, Nghiệp).
nghiệp cảnh
Kammabhāva (P).
; Karma-mirror.
nghiệp cấu
Karma defilement.
; Sự uế nhiễm của nghiệp—Karma defilement.
; (業垢) Cũng gọi Tội cấu, Nghiệp trần. Chỉ cho tội nghiệp và phiền não. Cấu là tên khác của phiền não, tính chất của phiền não nhơ nhớp, cho nên gọi là Cấu. Còn tính chất của nghiệp cũng chẳng sạch, ví như bụi bặm, cho nên gọi là Nghiệp cấu. Kim quang minh kinh văn cú quyển 3 hạ (Đại 39, 120 thượng) nói: Nghiệp cấu, nghiệp là động tác làm cho tâm phiền não động loạn, trở thành cấu nhiễm nên gọi là Nghiệp cấu. Cũng có thể cho rằng phiền não từ kiếp trước sinh, cho nên gọi Nghiệp cấu.
nghiệp cận tử
Asanna (p)—Death-proximate karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), cận tử nghiệp là điều gì mà ta làm hay nghĩ đến liền trước lúc lâm chung. Nếu một người xấu mà nhớ lại hoặc được làm một việc thiện trước lúc lâm chung, có thể nhờ đó mà người ấy được tái sanh vào cảnh giới tốt (may mắn) hơn; ngược lại, nếu một người tốt mà trước khi lâm chung lại nhớ đến một hành động bất thiện của mình, người ấy có thể tái sanh vào một trạng thái bất hạnh. Chính vì lý do quyết định tái sanh đó mà các xứ Phật Giáo có phong tục nhắc nhở người sắp chết những hành động lành người ấy đã làm trong đời, và tạo cơ hội cho người ấy tạo thiện nghiệp trước phút lâm chung. Khi không có trọng nghiệp, và nghiệp cận tử được thành lập, thì nghiệp cận tử sẽ giữ vai trò chính trong việc tái sanh. Điều nầy không có nghĩa là người ấy sẽ trốn thoát được những nghiệp thiện ác đã tạo ra trong đời. Khi gặp điều kiện thì những nghiệp thiện ác sẽ trổ quả tương xứng—According to the Abhidharma, death-proximate karma is an action, or a potent karma remembered or done shortly before death (dying moment), that is, immediately prior to the last javana process. If a person of bad character remembers a good deed he has done, or performs a good deed just before dying, he may receive a fortunate rebirth; and conversely, if a good person dwells on an evil deed done earlier, or performs an evil deed just before dying, he may undergo an unhappy rebirth. For this reason, or its significant in determining the future birth, in Buddhist countries it is customary to remind a dying person of his good deeds or to urge him to arouse good thoughts during the last moment of his life. When there is no weighty karma, and a potent death-proximate karma is performed, this karma will generally takes on the role of generating rebirth. This does not mean that a person will espcape the fruits of the other good and bad deeds he has committed during the course of life. When they meet with conditions, these karmas too will produce their due results.
nghiệp cố ý
Karma-vipaka (skt)—Nghiệp gây tạo bởi sự cố ý, đối lại với nghiệp vô tình—Intentional karma, in contrast with unintentional karma (karma-phala).
nghiệp du già
(業瑜伽) Phạm: Karma-Yoga. Tác phẩm, 1 quyển, do Triết gia kiêm Đạo sĩ Vivekànanda(1863-1902), nhà cải cách tông giáo Ấn độ cận đại soạn. Nội dung sách này chia làm 8 hạng mục: 1. Ảnh hưởng của nghiệp đối với bản tính con người. 2. Đứng trên lập trường cá thể mà nói, thì sự tồn tại của mỗi sinh mệnh có tầm quan trọng tuyệt đối. 3. Sự bí mật của hành vi. 4. Ý nghĩa của nghĩa vụ. 5. Con người phải tự giúp mình, không nên trông chờ sự giúp đỡ của thế giới. 6. Phải xa lìa chấp trước mới hoàn toàn được giải thoát. 7. Tự do. 8. Lí tưởng của nghiệp Du già. Vivekànanda đặc biệt chú trọng việc trình bày vấn đề luân lí thực tiễn. Luân lí thực tiễn này cũng chính là tông chỉ của Bạc già phạm ca (Phạm: Bhagavad-Gita). Ông cho rằng nếu chúng ta không chấp trước nhân quả báo ứng, mà chuyên tâm thực hiện nhiệm vụ của chính mình, thì có thể dung hợp với thần linh. Đây là bộ sách chủ yếu của hệ thống triết học thực tiễn trong Ấn độ giáo cận đại. [X. Avaita Ashrama, Calcutta: Karma- Yoga].
nghiệp duyên
Kamma condition.
; Karma-cause, karma-circumstance, condition resulting from karma
; Nhân duyên đem lại hậu quả từ nơi nghiệp (thiện nghiệp là nhân duyên mang lại lạc quả, ác nghiệp là nhân duyên mang lại khổ quả)—Karma-cause, karma circumstance, condition resulting from karma.
; (業緣) Nghiệp là nguyên nhân sinh ra quả báo, 1 trong 24 duyên. Nghiệp thiện là nhân duyên đem lại quả vui, nghiệp ác là nhân duyên dẫn đến quả khổ. Hết thảy chúng sinh hữu tình đều do nghiệp duyên mà sinh ra. Phẩm Phương tiện kinh Duy ma (Đại 14, 539 trung) nói: Thân này như cái bóng, từ nghiệp duyên mà hiện. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 2 hạ) nói: Chỗ sinh tử hướng tới, tùy nghiệp duyên thiện ác.
nghiệp dư
A remnant of karma after the six paths of existence.
; Một trong tam dư, chúng sanh tu hành (hạng nhị thừa) sau khi đã lìa khỏi sinh tử hay hữu lậu nghiệp, vẫn còn lại vô lậu nghiệp có thể làm biến dịch sinh tử bên ngoài ba cõi—A remnant of karma after the six paths of existence, one of the three after death remainders. ** For more information, please see Tam Dư.
Nghiệp dụng
業用; C: yèyòng; J: gōyō; |Chức năng, hoạt dụng, hoạt động của nghiệp (s: kriyā).
nghiệp hoả
(業火) Lửa nghiệp, vì nghiệp hãm hại thân chúng sinh ví như lửa đốt cháy mọi vật, nên gọi là Nghiệp hỏa. Hoặc chỉ cho lửa dữ mà tội nhân bị quả báo của nghiệp ác trong địa ngục phải chịu. Quán kinh đẳng minh Ban chu tam muội hành đạo vãng sinh tán (Đại 47, 452 hạ) nói: Các tội nhân đi vào địa ngục qua 4 cửa và bằng 4 lối, cửa vừa mở thì lửa nghiệp phóng ra nghinh đón, nước đồng sôi lênh láng ngập đầu gối và đi đến đâu cũng thấy lửa bốc lên ngùn ngụt. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.8].
nghiệp hoặc
Nghiệp gây ra bởi lòng nghi hoặc—The karma caused by doubt.
nghiệp hành
Deeds, actions; karma-deeds, moral action which influences future rebirth.
; Những hành động ảnh hưởng đến sự tái sanh trong tương lai—Deeds, actions; karma deeds, moral action which influences future rebirth.
nghiệp hóa
Karma-nirmāna (S)Một trong Tam hóa.
nghiệp hải
The vast, deep ocean of karma.
; Ác nghiệp thì nhiều vô số như đại dương sâu rộng—The vast, deep ocean of evil karma.
nghiệp hệ
Karma-bonds; karma-fetters.
; Hệ phược hay sự trói buộc của nghiệp—Karma-bonds; karma-fetters
; (業繫) Cũng gọi Nghiệp phược, Nghiệp quyên, Nghiệp thằng. Chúng sinh hữu tình tạo các nghiệp thiện ác, bị nghiệp lực trói buộc trong lao ngục 3 cõi, nên gọi là Nghiệp hệ. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 578 trung) nói: Phàm phu bị nghiệp trói buộc khốn khổ. Các nghiệp ác do Kiến hoặc, Tư hoặc tạo ra trong 3 cõi, đưa đến quả báo phần đoạn sinh tử, còn các Bồ tát ở ngoài 3 cõi vì duyên theo nghiệp vô lậu mà chiêu cảm quả biến dịch sinh tử. Đây đều do nghiệp lực ràng buộc mà gây ra.
nghiệp hệ khổ tướng
Trạng thái khổ gây nên bởi sự trói buộc của nghiệp—The suffering state of karma bondage.
nghiệp hỏa
The fire of evil karma.
; Lửa dữ của ác nghiệp hay lửa của địa ngục—The fires of evil karma; the fire of the hells.
nghiệp hữu
Reality of karma.
; Reality of karma—See Thất Chủng Hữu.
nghiệp khổ
Karmaic suffering.
; Thọ quả khổ do tác ác nghiệp (tạo tác ác nghiệp, nương vào ác nghiệp mà đắc quả khổ)—Karmaic suffering.
; (業苦) Quả khổ do nghiệp ác mang lại. Tịnh tâm giới quán pháp quyển thượng (Đại 45, 820 thượng) nói: Chỉ hiểu nghĩa không thôi thì không cứu được nghiệp khổ, ông nên y theo lời dạy răn mà thực tiễn tu hành thì mới cứu được. Ngoài ra, nghiệp khổ cũng là từ gọi chung nghiệp và quả khổ. (xt. Nghiệp).
nghiệp kim cang
Karmavajra.
nghiệp kính
Karma-mirror.
; Tấm gương nghiệp, cõi u minh dùng để soi thiện ác nghiệp của chúng sanh—Karma-mirror, that kept in Hades reveals all karma.
; (業鏡) Cũng gọi Tịnh phả lê kính, Tịnh pha li kính, Nghiệp kính luân. Chỉ cho tấm gương ở cõi u minh soi rọi các việc thiện ác của chúng sinh. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển hạ phần 3 tiết 4 (Đại 40, 406 hạ) nói: Gương nghiệp cõi u minh xoay vòng chiếu rọi đến châu Nam thiệm bộ, mọi việc thiện ác đều hiện rõ ở trong gương. [X. Đại Phật đính thủ lăng nghiêm kinh tập chú Q.8; Thích thị lục thiếp Q.1].
nghiệp kết
nghiệp và các phiền não trói buộc.
; The bond of karma; karma and the bond (of passions)
; Sự kết trói của nghiệp: The bond of karma.
nghiệp luân
The wheel of karma.
; Bánh xe nghiệp có luân chuyển chúng sanh luân hồi trong sáu nẻo—The wheel of karma which turns men into the six paths of transmigration.
nghiệp lành
Xem Phước nghiệp.
; Punyakarma (S). Meritorious action. Also thiện nghiệp.
nghiệp lực
Karmic power, Karmic energy, Karmic force.
; The reach, range, compass, import ođ karma; the power of karma.
; Nghiệp lực là sức mạnh của nghiệp tạo ra quả lạc khổ (sức mạnh của thiện nghiệp sinh ra lạc quả, sức mạnh của ác nghiệp gây ra khổ quả). Nghiệp lực ví như người chủ nợ. Có nhiều thứ chủ nợ mạnh yếu khác nhau lôi kéo, nên khi lâm chung thì thần thức của chúng ta bị chủ nợ nào mạnh nhứt lôi kéo trước tiên—The power of karma is the strength of karma which produces good or evil fruit. Karmic power is the strength of karma. It is similar to a debt collector. There are many different strong and weak debt collectors. When we die, our consciousness will be taken by the strongest and greatest debt collector.
; (業力) Nghiệp thiện ác có năng lực sinh ra quả khổ vui. Hữu bộ tì nại da quyển 46 (Đại 23, 879 thượng) nói: Nghiệp lực chẳng nghĩ bàn, dù cách xa vẫn lôi kéo được. Khi quả đã chín mùi thì muốn trốn cũng khó thoát. (xt. Nghiệp).
nghiệp lực không kiêng nể một ai, dù tài trí hay đần độn
The power of karma respect nobody, the talented or the dull.
nghiệp ma
Karma-màras. The demon who or the karma which hinders or harms goodness.
; Karma-maras (skt)—Ma hay ác nghiệp luôn theo chúng sanh quấy rối và ngăn cản việc tu hành và làm hại thiện đạo—The demons who or the karma which hinders and harms goodness. ** For more information, please see Thập Phiền Não.
nghiệp ngăn trở
Upapilaka (p)—Obstructive karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), nghiệp ngăn trở không có quả thiện ác của chính nó, nhưng có thể ngăn cản hay làm chậm trễ sự trổ quả của các nghiệp khác—According to the Abhidharma, an obstructive karma is a karma which cannot produce its own result (wholesome or unwholesome), but nevertheless obstructs, frustrates, or delays some other karma from producing results, countering its efficacy or shortening the duration of its pleasant or painful results. Cho dù nghiệp tái tạo có cường thịnh vào lúc thành lập, mà bị nghiệp ngăn trở trực tiếp đối lại, sẽ làm cho nghiệp tái tạo trở nên vô hiệu quả—Even though a productive karma may be strong at a time it is accumulated, an obstructive karma directly opposed to it may conteract it so that it becomes impaired when producing its results. Tỷ như một nghiệp tái tạo thiện có khuynh hướng đưa chúng sanh tái sanh vào cõi cao hơn, có thể bị nghiệp ngăn trở đưa vào tái sanh nơi cõi thấp hơn—For example a wholesome karma tending to produce rebirth in a superior plane of existence may be impeded by an obstructive karma so that it generates rebirth in a lower plane. Nghiệp tái tạo tốt có khuynh hướng đưa chúng sanh tái sanh vào những gia đình cao sang, có thể bị nghiệp ngăn trở làm cho tái sanh vào những gia đình hạ tiện—A wholesome productive karma tends to produce rebirth among high families may be impeded by an obstructive karma, therefore, it may produce rebirth among low families Nghiệp tái tạo tốt có khuynh hướng mang lại trường thọ cho chúng sanh, lại bị nghiệp ngăn trở làm cho đoản thọ—A wholesome productive karma tends to produce longevity may be impeded by an obstructive karma, therefore life may become shortened. Nghiệp tái tạo tốt có khuynh hướng mang lại sắc diện đẹp đẽ, có thể bị nghiệp ngăn trở làm cho dung mạo trở nên tầm thường—A wholesome productive karma tends to produce beauty may be impeded by an obstructive karma, therefore it may produce a plain appearance. Nghiệp tái tạo bất thiện có khuynh hướng đưa chúng sanh tái sanh vào những đại địa ngục, có thể bị nghiệp ngăn trở đối kháng lại và chúng sanh ấy có thể tái sanh vào những địa ngục nhẹ hơn hay vào cõi ngạ quỷ—An unwholesome productive karma tends to produce rebirth in the great hells may be couteracted by an obstructive wholesome karma and produce rebirth in the minor hells or among the hunghry ghosts.
Nghiệp nhiễm ô
業染汚; C: yèrănwū; J: gōzenma; |Sụ nhiễm ô của nghiệp (s: karma-saṃkleśa).
Nghiệp nhân
業因; C: yèyīn; J: gōin; |Hành vi thiện hay ác là nguyên nhân cho kết quả tốt hay xấu.
nghiệp nhân
Karma-hetu (S).
; The deed as cause; the cause of good or bad karma.
; Các hành động thiện ác đã làm xong đều trở thành nghiệp nhân dẫn đến luân hồi (thiện nghiệp là nhân của lạc quả, ác nghiệp là nhân của khổ quả)—Karma-cause—The deed as cause; the cause of good or bad karma leads to the next form of existence.
; (業因) Phạm: Karma-hetu. Nhân của nghiệp, có 2 nghĩa: 1. Nghiệp tức nhân (cũng gọi Nhân nghiệp): Nghiệp làm nhân sinh ra quả báo ở đời vị lai. Thành duy thức luận thuật kí quyển 8 phần đầu (Đại 43, 521 trung) nói: Nghiệp là gốc khổ, chính là nhân vậy. 2. Nhân của nghiệp: Nhân làm cho nghiệp sinh trưởng. Kinh Đại niết bàn (bản Bắc) quyển 37 (Đại 12, 585 trung) nói: Nghiệp nhân tức là Vô minh, Xúc. Vì Vô minh, Xúc nên chúng sinh mong cầu Hữu. Nhân duyên mong cầu Hữu tức là Ái vậy. Do nhân duyên ái mà tạo tác các nghiệp thân, khẩu, ý. Đây là giải thích nghĩa của Nghiệp nhân theo 12 nhân duyên. Còn theo luận Du già sư địa quyển 8 thì nhân của nghiệp ác có 12 loại sau đây: 1. Tham. 2. Sân. 3. Si. 4. Do sức mình tự tạo. 5. Do sức người khác tạo. 6. Bị cường quyền xua đuổi, bức bách mà tạo. 7. Do quá yêu thích vật sở hữu mà sinh tham muốn. 8. Do sợ hãi mà tạo nghiệp sát. 9. Vì sợ bị làm hại mà tạo nghiệp sát. 10. Vì vui đùa mà sát sinh. 11. Cho sát sinh là chính đáng nên tạo nghiệp sát. 12. Không tin luật nhân quả nên làm việc giết hại... [X. Du già luận lược toản Q.3; Du già luận lược toản kí Q.2 hạ; Câu xá luận quang kí Q.19]. (xt. Nghiệp).
nghiệp nhân, nghiệp quả
Hành vi do thân tâm sở khởi, sở tác, huân nhiễm nơi thức thứ tám thành chủng tử, tức là nghiệp nhân. Gặp duyên mà hiện hành, tức là nghiệp quả.
nghiệp não
Karma distress; karma and distress.
; Sự phiền não gây ra bởi nghiệp: Karmaic distress.
nghiệp nặng
Garuka-kamma (P). Important karma. Also trọng nghiệp.
nghiệp nặng cho quả liền
Ānantarya-karma (S).
nghiệp nặng tu vụng
Heavy karma, perfunctory practice.
nghiệp phong
Karma-vayu (S)Gió nghiệp, Gió.
; Karma-wind.
; Karma wind. Gió mạnh cảm thụ do ác nghiệp: The fierce wind of evil karma. Gió thổi từ địa ngục trong thời mạt kiếp (những kẻ ở dưới địa ngục tùy theo tội nặng nhẹ mà phải chống đỡ nhiều hay ít với cơn gió mạnh nầy): The wind from the hells, at the end of the age. Nghiệp giống như cơn gió thổi, đưa chúng sanh những chỗ tái sanh thiện ác: Gió thiện thổi vào chỗ chúng sanh tốt nên được sung sướng, gió ác thổi vào chỗ chúng sanh xấu nên chịu khổ sở—Karma as wind blowing a person into good or evil rebirth.
; (業風) Phạm: Karma-vàyu. Gió nghiệp. Chúng sinh bị sức nghiệp thiện ác làm cho trôi dạt trong biển sống chết, giống như gió thổi lá khô hoặc gió thổi thuyền bè. Kinh Nhập lăng già Q.9 (Đại 16, 569 thượng) nói: Gió nghiệp nuôi lớn 4 đại như trái cây chín mùi. Luận Thành duy thức quyển 4 (Đại 31, 20 trung) nói: Thức A lại da bị gió nghiệp thổi, theo khắp các căn, biến chuyển không ngừng. Đại thừa nghĩa chương quyển 7 (Đại 44, 452 trung) nói: Sức nghiệp như gió. Gió nghiệp thiện thổi các chúng sinh đến nơi tốt đẹp, hưởng thụ vui sướng; gió nghiệp ác thổi các chúng sinh đến chỗ xấu xa, chịu mọi đau khổ.
nghiệp phược
Phiền trược hay sự trói buộc của nghiệp—Karma-bonds; the binding power of karma.
nghiệp phạm
The constraints of karma.
nghiệp phọc, phược
Karma bonds; the binding powers of karma.
nghiệp quyến
The noose of karma which entangles in transmigration
nghiệp quả
Karmaphala (S), Kammaphala (P).
; Karmaphala (S). Fruit or result of the karma.
; Nghiệp quả là hậu quả tất nhiên của hành động theo luật nhân quả của nhà Phật. Hậu quả của nghiệp tái sanh tùy thuộc vào nghiệp gây tạo của những đời trước—The natural reward or retribution for a deed, brought about by the law of karma mentioned by the Buddha. The fruit of karma, conditions of rebirth depending on previous karmaic conduct.
; (業果) Cũng gọi Nghiệp báo. Chỉ cho các nghiệp thiện ác chiêu cảm quả báo sinh vào cõi người, cõi trời, ngã quỉ, súc sinh v.v... Do nghiệp mà có quả báo, đây là pháp lí tự nhiên, gọi là Nghiệp quả pháp nhiên. Ngoài ra nghiệp và quả tương tục không ngừng. Nghiệp là nhân, quả là báo, nhân quả tiếp nối không dứt. Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 4 (Đại 19, 120 trung) nói: Sát, đạo, dâm là căn bản, vì nhân duyên này mà nghiệp quả nối nhau không dứt. (xt. Nghiệp Báo).
nghiệp quả báo bất khả tư nghì
All the consequences of karma—Karmic consequence is inconceivable. Định lực của Thiền giả là bất khả tư nghì: The powers of a state of dhyana—The concentration power of a zen practitioner is inconceivable. Lực của các rồng là bất khả tư nghì: The powers of nagas—The power of dragons is inconceivable. Phật pháp là bất khả tư nghì: The powers of the Budhas—The Buddha Law is inconceivable.
nghiệp sự thành biện
(業事成辦) Cũng gọi Nghiệp đạo thành biện. Gọi tắt: Nghiệp thành. Sự nghiệp đã thành tựu, tức là đã có nhân quyết định vãng sinh. Đây là thuyết của tông Tịnh độ. Cứ theo Vãng sinh luận chú của ngài Đàm loan thì mười niệm được nói trong Hạ phẩm hạ sinh của kinh Quán vô lượng thọ, thực ra không phải bảo người tu hành cần phải niệm Phật 10 tiếng, mà là nói về Nghiệp sự thành biện. Đối với vấn đề này, ngài Đạo xước chủ trương thuyết Mười niệm vãng sinh. Còn ngài Thiện đạo thì cho rằng bất luận là 10 tiếng hay 1 tiếng đều có thể vãng sinh Tịnh độ. Căn cứ vào sự giải thích này của Đại sư Thiện đạo, ngài Nguyên không, Tổ thứ 7 của Tịnh độ chân tông Nhật bản, chủ trương 1 niệm 1 vô thượng, 10 niệm 10 vô thượng, không luận là 1 niệm hay nhiều niệm đều có thể nghiệp thành. Nhưng trong số môn đồ của ngài cũng có những người chủ trương các thuyết: Một niệm nghiệp thành (một niệm tín tâm hoặc tiếng xưng danh, đều có thể thành tựu sự nghiệp vãng sinh), nhiều niệm nghiệp thành (do nhiều tiếng niệm Phật mới có thể vãng sinh), 10 niệm nghiệp thành, bình sinh nghiệp thành (ngày thường cũng có thể vãng sinh), lâm chung nghiệp thành v.v... [X. An lạc tập Q.thượng; Vãng sinh lễ tán tư kí Q.thượng; Vãng sinh luận chú kí Q.3; Tuyển trạch niệm Phật bản nguyện tập].
nghiệp thiên
The karma of heaven, i.e. the natural inevitable law of cause and effect.
; Nghiệp Thiên hay luật tự nhiên không thể tránh khỏi của “nhân quả”—The karma of heaven, i.e. the natural inevitable law of cause and effect.
nghiệp thông
Supernatural powers obtained from former karma.
; Báo Thông—Sức thần thông của nghiệp báo, một trong ngũ thông. Có được nghiệp thông là nhờ công đức tu hành trong nhiều đời trước (chư Thiên Long Hộ Pháp, chư Bồ Tát, chư Thiên đều dựa vào túc nghiệp tu hành của những đời trước mà có được sức thần thông)—Supernatural powers that have been acquired as karma by demons, spirits, nagas, etc.—Supernatural powers obtained from former karma, one of the five supernatural powers. ** For more information, please see Ngũ Thông.
; (業通) Cũng gọi Báo thông. Sức thần thông được thành tựu do nghiệp kiếp trước, là 1 trong 5 thần thông. Luận Câu xá quyển 9 (Đại 29, 46 thượng) nói: Trong tất cả thông, Nghiệp thông nhanh nhất. Lướt trên hư không 1 cách tự tại, đó là nghĩa thông. Thông do nghiệp mà có được nên gọi Nghiệp thông. Thế lực của thông này rất nhanh chóng nên gọi là Tật. Thân trung hữu được nghiệp thông nhanh nhất, dù đức Thế tôn cũng không ngăn chặn được. [X. luận Đại tì bà sa Q.70; luận Câu xá Q.27; Câu xá luận quang kí Q.9, 27].
nghiệp thường
Acinna (p)—Habitual karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), nghiệp thường hay thường nghiệp là những thói quen mà chúng sanh thường làm, dầu tốt hay xấu (có khuynh hướng tạo nên tâm tánh của chúng sanh). Những thói quen hằng ngày, dù lành hay dù dữ, dần dần trở thành bản chất ít nhiều uốn nắn tâm tánh con người. Trong khi nhàn rỗi, tâm ta thường duyên theo những tư tưởng, những hành vi quen thuộc một cách tự nhiên lắm khi vô ý thức. Nếu không có trọng nghiệp hay cận tử nghiệp thì thường nghiệp quyết định tái sanh—According to the Abhidharma, habitual karma is a deed that one habitually or constantly performs either good or bad. Habits, whether good or bad, become second nature. They more or less tend to mould the character of a person. In the absence of weighty karma and a potent-death-proximate karma, this type of karma generally assumes the rebirth generative function.
nghiệp thằng
Karma-cords, the bonds of karma.
; Sợi dây trói buộc của nghiệp hay nghiệp như sợi dây trói buộc—Karma cords; the bonds of karma.
nghiệp thể
See Nghiệp Tính.
; (業體) Cũng gọi Nghiệp tính. Chỉ cho tự thể của nghiệp, tức là cái nhân dị thục dẫn đến quả báo khổ vui. Có các thuyết sau đây: -Nhất thiết hữu bộ lấy sắc pháp của 2 nghiệp thân, khẩu và Tư của ý nghiệp làm Nghiệp thể. -Luận Thành thực cho rằng Nghiệp thể là pháp phi sắc phi tâm. -Đại thừa lấy sự hiện hành của tâm sở Tư và chủng tử làm Nghiệp thể.
nghiệp thọ
Life, long or short, as determined by previous karma.
; Kết quả của nghiệp đời trước, như cuộc sống dài ngắn ở hiện tại được quyết định bởi nghiệp đời trước—That which is received as the result of former karmaic conduct, i.e. long or short life determined by previous karma.
nghiệp thụ
That which is received as the result of former karmic conduct.
; (業受) Cũng gọi Nghiệp thọ. Thọ mệnh do nghiệp đời trước chiêu cảm, tức là tuổi thọ được quyết định bởi nghiệp nhân của đời trước.
Nghiệp thức
業識; C: yèshì; J: gōshiki;|»Sự hoạt dụng của thức«; với nghĩa là thông qua tác dụng của vô minh mà tâm kẻ phàm phu bắt đầu bị phiền trược hay được thức tỉnh. Vì vô minh nên không biết được rằng chân như của các pháp vốn bình đẳng và thuần một vị, nên mới sinh khởi ý thức si mê sai lầm nầy. Đại khái tương đương với nghĩa của Chuyển thức (轉識)
nghiệp thức
Karma-majatilakṣaṇa (S)Sức tác động của vô minh làm cho tâm động.
; Karma-vijnana (skt)—Theo Khởi Tín Luận, nghiệp thức là cái thức căn bản lưu chuyển trong các loài hữu tình, là ý niệm dựa vào căn bản vô minh khiến chân tâm nhất như bắt đầu chuyển động hay vô minh lực làm cho tâm bất giác chuyển động, là kết quả cụ thể hiện tại của những hành động trong quá khứ—According to The Awakening of Faith, karmic consciousness; activity-consciousness in the sense that through the agency of ignorance an enlightened mind begins to be disturbed; consciousness as the result of past behavior, that is concrete consciousness in the present.
; (業識) I.Nghiệp Thức. Cũng gọi Nghiệp tướng (Phạm: Karmajàtilakwaịa), Nghiệp tướng thức. Chỉ cho thức căn bản lưu chuyển của loài hữu tình, tức là thức nghiệp nương vào sự mê lầm của vô minh căn bản mà dấy động bản tâm, là 1 trong Ngũ ý, 1 trong Tam tế. Cứ theo Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển trung phần cuối thì Nghiệp thức tương đương với phần tự thể trong thức A lại da. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 577 trung) nói: Nghiệp thức, nghĩa là do sức của vô minh mà bất giác tâm khởi động. [X. kinh Nhập lăng già Q.2; luận Thích ma ha diễn Q.4]. II. Nghiệp Thức. Cũng gọi Tùy nghiệp thức. Thức do duyên theo nghiệp mà sinh ra, tức là chi Thức trong 12 chi Nhân duyên. [X. luận Du già sư địa Q.9; Quán kinh sớ Q.2].
nghiệp thức, căn bản thức
Activity-consciousness.
nghiệp thực
Karma as nutritive basis for succeeding existence.
; Nghiệp là loại dinh dưỡng căn bản của sự hiện hữu của chúng sanh—Karma as nutritive basis for succeeding existence. ** For more information, please see Tứ Thực.
nghiệp tiêu diệt
Upaghataka (p)—Destructive karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), nghiệp tiêu diệt là thứ nghiệp, thiện hay ác, có khả năng triệt tiêu nghiệp tái tạo, không cho nó trổ quả—According to the Abhidharma, a destructive karma is a wholesome or unwholesome karma which supplants other weaker karma, prevents it from rippening, and produces instead its own result. Một người nguyên lai do nghiệp tái tạo có thể sanh trường thọ, nhưng nghiệp tiêu diệt khởi lên gây nên hoạnh tử—A man may, through his productive karma, have been originally destined for a long life-span, ut a destructive karma may arise and bring about a premature death. Vào lúc cận tử, thoạt tiên một cảnh giới tái sanh xấu hiện ra vì nghiệp lực xấu, nhưng một nghiệp tiêu diệt tốt khởi lên, triệt tiêu ác nghiệp, do đó được tái sanh vào cảnh giới tốt hơn—At the time of near-death, at first a sign of bad destination may appear by the power an evil karma, heralding bad rebirth, but then a good karma may emerge, expel the bad karma, and having caused the sign of good destination to appear. Một nghiệp xấu có thể thình lình khởi lên, tiêu diệt khả năng của nghiệp tái tạo tốt, để đưa đến việc tái sanh vào cảnh giới ác—A bad karma may suddenly arise, cut off the productive potential of a good karma, an generate rebirth in a woeful realm.
nghiệp tiền kiếp
Pubbakamma (P), PŪrva-karma (S), Pubba-kamma (P), Karma of the previous life
; Pùrvakarma (S). A deed done in a former existence.
Nghiệp trí
業智; C: yè zhì; J: gōchi; |1. Nghiệp và trí huệ; hành vi và tri thức; 2. Trí được tạo bằng nghiệp (nhiễm ô).
nghiệp trần
Karma-dirt, the defilement or remains of evil karma.
; Sự uế nhiễm của ác nghiệp—Karma-dirt, the defilement or remains of evil karma.
nghiệp trổ quả không chậm trễ
Ānatarya-karma (S), Immediate-retribution karma.
nghiệp trợ duyên
Upatthambaka (p)—Supportive karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), nghiệp trợ duyên không đạt được cơ hội sanh quả của chính nó (nghĩa là nó không có tánh cách thiện hay bất thiện), nhưng nó đến gần và nâng đỡ nghiệp tái tạo và các nghiệp khác bằng cách làm cho những nghiệp nầy có thể tạo nên những quả sung sướng hay khổ đau—According to the Abhidharma, supportive karma does not gain an opportunity to produce its own result (it is to say it does have the wholesome or unwholesome nature), but which, when some other karma or productive karma is exercising a productive function, supports it either by enabling it to produce its pleasant or painful results over an extended time without obstruction or by reinforcing the continum of aggregates produced by another karma. Khi nghiệp thiện được trợ duyên có thể: When through the productive function of wholesome karma, it may: Làm cho một chúng sanh được sanh vào cõi người: Cause one to be reborn as a human being. Góp phần làm cho đời sống kéo dài hơn: Contribute to the extension of one's life span. Bảo đảm sức khỏe tốt và giàu có: Ensure that one is healthy and wealthy. Cung cấp đầy đủ những thứ cần thiết cho cuộc sống: Well provide with the necessities of life. Khi nghiệp bất thiện được trợ duyên, có thể—When an unwholesome karma has exercised its productive function, it may: Làm cho một chúng sanh sanh vào cõi thú: Cause one to be reborn as an animal. Gây ra bệnh nặng: Cause a painful disease. Làm cho thuốc không còn khả năng hữu hiệu khi trị bệnh do đó mà bệnh bị kéo dài: Prevent medicines from working effectively, thereby prolonging the disease.
nghiệp tái tạo
Janaka (p)—Productive Karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), nghiệp thiện hay bất thiện, trợ duyên cho sự tái sanh vào lúc lâm chung. Vào lúc được mẹ thọ thai, do nghiệp tái tạo mà thức tái sanh được phát sanh, cùng lúc ấy những thành phần vật chất của môt con chúng sanh mới cũng được thành lập như các căn, sự xác định tính nam nữ. Chỉ có nghiệp tái tạo dẫn tới tái sanh, nhưng tất cả các nghiệp thiện ác đều phải trổ quả trong những đời kế tiếp, không có ngoại lệ. Theo Phật giáo, chập tư tưởng cuối cùng thật là quan trọng vì chính cái nghiệp có năng lực mạnh nhứt trong giờ lâm chung, lành hay dữ, tạo điều kiện cho sự tái sanh kế liền đó. Nghiệp nầy gọi là nghiệp tái tạo. Cái chết của một chúng sanh chỉ là sự gián đoạn tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Mặc dầu thể xác hiện tại tiêu diệt, nhưng một hình thể khác sẽ phát sanh tùy theo tư tưởng mạnh nhất trong giờ lâm chung; hình thể sau nầy không hoàn toàn giống hình thể trước, mà cũng không phải tuyệt đối là khác. Thể xác tan rã, nhưng luồng nghiệp lực vẫn tồn tại. Tiến trình tư tưởng cuối cùng ấy, gọi là nghiệp tái tạo, quyết định cảnh giới của kiếp sống tới. Thói thường thì tiến trình tư tưởng cuối cùng của một người tùy thuộc nơi phẩm hạnh của người ấy trong cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên cũng có trường hợp đặc biệt mà ngoại cảnh tạo nên cơ hội thuận lợi hay bất lợi làm cho một người tốt có thể có những tư tưởng xấu, hay một người xấu có thể có những tư tưởng tốt trong giờ phút lâm chung. Trong trường hợp nầy phẩm hạnh của người kia trong cuộc sống không đem lại ảnh hưởng nào cho sự tái sanh, nhưng không có nghĩa là quả phải có cho những hành động trong quá khứ đã tiêu mất. Quả ấy sẽ trổ lúc tương xứng với nhân đã gieo—According to the Abhidharma, productive karma is wholesome or unwholesome volition which produces resultant mental states and karma-born materiality, both at the moment of rebirth-linking and during the course of existence. At the moment of conception, productive karma generates the rebirth-linking consciousness and the karma-born types of materiality constituting the physical body of the new being. During the course of existence it produces other resultant cittas and the continuities of karma-born materiality, such as the sense faculties, sexual determination, and the heart-base. Only a karma that has attained the status of a full course of action can perform the function of producing rebirth-linking, but all wholesome and unwholesome karmas without exception can produce results during the course of existence. Every subsequent birth, according to Buddhism, is conditioned by the good or bad karma which predominant at the moment of death. This kind of karma is technically known as reproductive karma. The death of a person is merely the temporary end of a temporary phenomenon. Though the present form perishes, another form which is neither absolutely the same nor totally different takes place according to the thought that was powerful at the death moment since the karmic force which hitherto actuated it is not annihilated with the dissolution of the body. It is this last thought process, which is termed “reproductive karma,” that determines the state of a person in his subsequent birth. As a rule, the last thought-process depends on the general conduct of a person in daily life. In some exceptional cases, perhaps due to favourable or unfavourable circumstances, at the moment of death a good person may experience a bad thought, and a bad person a good one. The future birth will be determined by this last thought-process, irrespective of the general conduct. This does not mean that the effects of the past actions are obliterated. They will produce their inevitable results as the appropriate moment.
nghiệp tích tụ
Katatta (p)—Reserve karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), nghiệp tích tụ là bất cứ nghiệp nào đủ mạnh để quyết định tái sanh, mà không phải là nghiệp tái tạo, nghiệp cận tử, hay nghiệp tiêu diệt. Loại nghiệp nầy sẽ quyết định tái sanh nếu không có các nghiệp kia chen vào. Nghiệp nầy giống như cái vốn dự trử của một cá nhân, gồm bốn loại—Reserve karma is any other deed, not included productive, death-proximate, destructive karmas, which is potent enough to take on the role of generating rebirth. This type of karma becomes operative when there is no karma of other three types to exercise this function. This is as it were the reserve fund of a particular being, divided into four classifications: Hành động bất thiện, tạo quả dữ trổ sanh trong dục giới: Akusala (p)—Có mười hành động bất thiện—Evil actions which may ripen in the sense-sphere. There are ten evil actions: Ba hành động bất thiện biểu hiện nơi thân—Three evil actions committed by deed: Sát sanh: Panatipata (p)—Killing. Trộm cắp: Adinnadana (p)—Stealing. Tà dâm: Kamesu-micchacara (p)—Sexual misconduct. Bốn hành động bất thiện biểu hiện nơi khẩu—Four evil actions committed by word:
nghiệp tính
The nature of karma.
; Nghiệp thể hay tự thể của nghiệp—The nature of karma, its essential being.
Nghiệp tướng
業相; C: yèxiāng; J: gōsō; S: karma-añjana|Sự biểu hiện của nghiệp. 1. Theo luận Đại thừa khởi tín, là một trong Tam tướng (Vô minh nghiệp tướng, Năng kiến tướng, và Cảnh giới tướng). Chỉ sự tỉnh thức của tâm thanh tịnh tuỳ vào căn bản vô minh; 3. Đặc tính của nghiệp.
nghiệp tướng
Action, activity, the karmaic, the condition of karmaic action
; Một trong tam tướng vi tế trong Khởi Tín Luận, dựa vào vô minh căn bản mà chân tâm bắt đầu hoạt động—Action, or activity, the karmaic, condition of karmaic action. The first of the three subtle marks of the Awakening of Faith, when mental activity is stirred to action by unenlightenment. ** For more information, please see Tam Tướng Vi Tế.
nghiệp tặc
Robber-karma.
; Nghiệp có khả năng làm hại chúng sanh như một tên cướp nên gọi là nghiệp tặc—Robber-karma; evil karma harms as does a robber.
nghiệp tỷ lượng
Từ nghiệp tác mà suy lý nghiệp tác—Inference from action (animal from its footmark). Pháp Tỷ Lượng: Từ một bộ phận sự vật mà suy lý ra các bộ phận khác—Inference from recognized law (old age from birth).
nghiệp uẩn
Karmaskandha (S), Kammakkhan-dha (P).
; Karmaskandha (S). Karmical group.
nghiệp và quả báo—karmas and recompenses
Như trên đã nói, nghiệp là sản phẩm của thân, khẩu, ý, như hạt giống được gieo trồng, còn quả báo là kết quả của nghiệp, như cây trái. Khi thân làm việc tốt, khẩu nói lời hay, ý nghĩ chuyện đẹp, thì nghiệp là hạt giống thiện. Ngược lại thì nghiệp là hạt giống ác. Chính vì vậy mà Đức Phật dạy: “Muốn sống một đời cao đẹp, các con phải từng ngày từng giờ cố gắng kiểm soát những hoạt động nơi thân khẩu ý chớ đừng để cho những hoạt động nầy làm hại cả ta lẫn người.” Nghiệp và quả báo tương ứng không sai chạy. Giống lành sanh cây tốt quả ngon, trong khi giống xấu thì cây xấu quả tệ là chuyện tất nhiên. Như vậy, trừ khi nào chúng ta hiểu rõ ràng và hành trì tinh chuyên theo luật nhân quả hay nghiệp báo, chúng ta không thể nào kiểm soát hay kinh qua một cuộc sống như chúng ta ao ước đâu. Theo Phật Pháp thì không có thiên thần quỷ vật nào có thể áp đặt sức mạnh lên chúng ta, mà chúng ta có hoàn toàn tự do xây dựng cuộc sống theo cách mình muốn. Nếu chúng ta tích tụ thiện nghiệp, thì quả báo phải là hạnh phúc sướng vui, chứ không có ma quỷ nào có thể làm hại được chúng ta. Ngược lại, nếu chúng ta gây tạo ác nghiệp, dù có lạy lục van xin thì hậu quả vẫn phải là đắng cay đau khổ, không có trời nào có thể cứu lấy chúng ta—As mentioned above, karma is a product of body, speech and mind; while recompense is a product or result of karma. Karma is like a seed sown, and recompense is like a tree grown with fruits. When the body does good things, the mouth speaks good words, the mind thinks of good ideas, then the karma is a good seed. In the contrary, the karma is an evil seed. Thus the Buddha taught: “To lead a good life, you Buddhists should make every effort to control the activities of your body, speech, and mind. Do not let these activities hurt you and others.” Recompense corresponds Karma without any exception. Naturally, good seed will produce a healthy tree and delicious fruits, while bad seed gives worse tree and fruits. Therefore, unless we clearly understand and diligently cultivate the laws of cause and effect, or karma and result, we cannot control our lives and experience a life the way we wish to. According to the Buddha-Dharma, no gods, nor heavenly deities, nor demons can assert their powers on us, we are totally free to build our lives the way we wish. If we accumulate good karma, the result will surely be happy and joyous. No demons can harm us. In the contrary, if we create evil karma, no matter how much and earnestly we pray for help, the result will surely be bitter and painful, no gods can save us.
nghiệp và sự kết trói của dục vọng
Karma and the bond (of the passion).
nghiệp và sự phiền não (cái nầy là nhân của cái kia, cái kia là quả của cái nầy)
Karma and distress (one is the cause of another, and vice versa).
nghiệp vô hiệu lực
Ahosi (p)—Defunct karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), từ “Ahosi” không chỉ một loại nghiệp riêng biệt, mà nó dùng để chỉ những nghiệp khi phải trổ quả trong kiếp hiện tại hoặc kế tiếp, mà không gặp điều kiện để trổ. Trong trường hợp của các vị A La Hán, tất cả nghiệp đã tích lũy trong quá khứ, đến hồi trổ quả trong những kiếp vị lai thì bị vô hiệu hóa khi các vị ấy đắc quả vô sanh—According to the Abhidharma, the term “ahosi” does not designate a special class of karma, but applies to karma that was due to ripen in either the present existence or the next existence but did not meet conditions conductive to its maturation. In the case of Arahants, all their accumulated karma from the past which was due to ripen in future lives becomes defunct with their final passing away with their achievement of “non-birth” fruit.
nghiệp vô hạn định
Aparapariyavedaniya (p)—Indefinitely effective karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), nghiệp vô hạn định là loại nghiệp mà quả của nó có thể trổ bất cứ lúc nào nó có dịp trổ quả trong những kiếp tái sanh. Nghiệp vô hạn định không bao giờ bị vô hiệu lực. Không có bất cứ ai, kể cả Đức Phật hay một vị A La Hán, có thể tránh khỏi hậu quả của nghiệp nầy. Ngài Mục Kiền Liên đã là một vị A La Hán trong thời quá khứ xa xôi, đã nghe lời người vợ ác tâm, âm mưu ám hại cha mẹ. Do hành động sai lầm ấy, ngài đã trải qua một thời gian lâu dài trong cảnh khổ và, trong kiếp cuối cùng, ngài bị một bọn cướp giết chết. Đức Phật cũng bị nghi là đã giết chết một nữ tu sĩ tu theo đạo lõa thể. Theo Kinh Tiền Thân Đức Phật thì Ngài phải chịu tiếng oan như vậy là vì trong một tiền kiếp Ngài đã thiếu lễ độ với một vị độc giác Phật. Đề Bà Đạt Đa toan giết Đức Phật, ông đã lăn đá từ trên núi cao làm trầy chơn ngài, theo truyện Tiền Thân Đức Phật thì trong một tiền kiếp Đức Phật đã lỡ tay giết chết một người em khác mẹ để đoạt của trong một vụ tranh chấp tài sản—According to the Abhidharma, indefinitely effective karma is a karma which can ripen at any time from the second future existence onwards, whenever it gains an opportunity to produce results. It never becomes defunct so long as the round of rebirth continues. No one, not even a Buddha or an Arahant, is exempt from experiencing the results of indefinitely effective karma. No one is exempt from this class of karma. Even the Buddhas and Arahants may reap the effects of their past karma. Arahant Moggallana in the remote past, instigated by his wicked wife, attempted to kill his mother and father. As a result of this he suffered long in a woeful state, and in his last birth was clubbed to death by bandits. To the Buddha was imputed the murder of a female devotee of the naked ascetics. This was the result of his having insulted a Pacceka Buddha in one of his previous kalpa. The Buddha's foot was slightly injured when Devattava made a futile to kill him. This was due to his killing a step-brother of his previous birth with the object of appropriating his property.
nghiệp vô tình
Karma phala (skt)—Unitentional karma—See Nghiệp Cố Ý.
nghiệp võng
The net of karma.
; Lưới nghiệp làm chúng sanh vướng mắc trong khổ đau của luân hồi sanh tử—The net of karma which entangles beings in the sufferings of rebirth.
; (業網) Lưới nghiệp. Nghiệp nhân thiện ác vây bọc loài hữu tình, khiến phải chìm đắm trong luân hồi sinh tử, giống như tấm lưới vít kín chim muông, không thoát ra được, nên gọi Nghiệp võng. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 859 thượng) nói: Lưới nghiệp vây bọc chung quanh, tăng thêm quỉ sứ để ghi chép quả báo.
nghiệp xứ
Karma-sṭhāna (S), Kamma-tthana (P)Nơi dừng trụ của nghiệp.
; Karmasthàna (S) A place for working, of business etc.
; Karmasthana (skt)—Nơi nhập định làm cho tâm dừng lại, như cõi Tịnh Độ—A place for working, of business, or a condition in which the mind is maintained in meditation, by influence, the Pure Land.
; (業處) Phạm: Karma-sthàna. Pàli: Kamma-ỉỉhàna. Cũng gọi Hành xứ. Nơi dừng trụ của nghiệp. Tức là nền tảng để thành tựu Thiền định, hoặc là đối tượng để tu tập Thiền định. Đây là 1 trong những giáo nghĩa trọng yếu của Phật giáo Nam truyền. Khi tu tập Thiền định, hành giả ắt phải lựa chọn phương pháp cũng như đối tượng quán tưởng sao cho phù hợp với căn tính của mình hầu phát huy được hiệu quả thiền định. Phương pháp và đối tượng ấy chính là Nghiệp xứ. Cứ theo luận Thanh tịnh đạo thì có 40 loại Nghiệp xứ: 1. Mười biến xứ: Đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, ánh sáng, hạn định hư không. 2. Mười bất tịnh: Tướng chương sình, tướng xanh bầm, tướng thối rữa, tướng rã nát, tướng chim mổ ăn, tướng xương vương vãi ngổn ngang, tướng chém chặt đứt đoạn, tướng máu chảy, tướng dòi bọ rúc rỉa, tướng xương khô. 3. Mười tùy niệm: Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm xả, niệm thiên (trời), niệm tử (chết), niệm thân chí, niệm an ban, niệm tịch chỉ (ngưng lặng). 4. Bốn phạm trụ: Từ, bi, hỷ, xả. 5. Bốn vô sắc: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ. 6. Tưởng thực yếm. 7. Bốn giới sai biệt. Bảy hạng mục trên đây cộng chung lại thành 40 nghiệp xứ. Ngoài ra, Thanh tịnh nghiệp xứ nói trong kinh Quán vô lượng thọ thường được giải thích là: Nơi(Tịnh độ) do nghiệp thanh tịnh cảm được và được xem là tên khác của Tịnh độ. Nhưng nguyên ngữ tiếng Phạm Karma-sthàna hoàn toàn không có ý nghĩa là nơi do nghiệp cảm được mà chỉ nên hiểu là sự quán tưởng về Phật và cõi Tịnh độ của Ngài. Pháp quán tưởng Nghiệp xứ này hiện nay thịnh hành ở các nước Phật giáo Nam truyền và do sự chú trọng đặc biệt đến việc truyền thừa giữa thầy trò, nên đã có khuynh hướng bí truyền mà sản sinh ra Nghiệp xứ A xà lê (Phạm:Karma-sthànàcàrya). [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.thượng; Quán kinh sớ Q.2].
nghiệp xứng
The scales of karma.
; Cái cân để cân nghiệp nặng nhẹ của Minh Quan nơi địa ngục—The scales of karma, in which good and evil are weighed by the rules of causes and effects or the rulers of Hades.
nghiệp ác
Akuśala kamma (P), Bad deed.
nghiệp ác vô gián
những nghiệp ác rất nặng nề, phải đọa vào địa ngục Vô gián, nghĩa là phải chịu đựng những hình phạt khổ não không lúc nào gián đoạn.
nghiệp ách
The constraints of karma.
; Những tai ách đời nầy là hậu quả của nghiệp gây tạo trong đời trước—The constraints of karma; i.e. restricted conditions now as resulting from previous life.
nghiệp đi vào tiềm thức như thế nào—how does karma enter the alaya-vijnana?
Khi chúng ta hành động, dù thiện hay ác, thì chính chúng ta chứng kiến rõ ràng những hành động ấy. Hình ảnh của những hành động nầy sẽ tự động in vào tiềm thức của chúng ta. Hạt giống của hành động hay nghiệp đã được gieo trồng ở đấy. Những hạt giống nầy đợi đến khi có đủ duyên hay điều kiện là nẩy mầm sanh cây trổ quả. Cũng như vậy, khi người nhận lãnh lấy hành động của ta làm, thì hạt giống của yêu thương hay thù hận cũng sẽ được gieo trồng trong tiềm thức của họ, khi có đủ duyên hay điều kiện là hạt giống ấy nẩy mầm sanh cây và trổ quả tương ứng—When we act, either good or bad, we see our own actions, like an outsider who witnesses. The pictures of these actions will automatically imprint in our Alaya-vijnana (subconscious mind); the seed of these actions are sown there, and await for enough conditions to spring up its tree and fruits. Similarly, the effect in the alaya-vijnana (subconscious mind) of the one who has received our actions. The seed of either love or hate has been sown there, waiting for enough conditions to spring up its tree and fruits. Làm thế nào để chúng ta triệt tiêu nghiệp?—How do we eliminate karma?: Đức Phật dạy nếu ai đó đem cho ta vật gì mà ta không lấy thì dĩ nhiên người đó phải mang về, có nghĩa là túi chúng ta không chứa đựng vật gì hết. Tương tự như vậy, nếu chúng ta hiểu rằng nghiệp là những gì chúng ta làm, phải cất chứa trong tiềm thức cho chúng ta mang qua kiếp khác, thì chúng ta từ chối không cất chứa nghiệp nữa. Khi túi tiềm thức trống rỗng không có gì, thì không có gì cho chúng ta mang vác. Như vậy làm gì có quả báo, làm gì có khổ đau phiền não. Như vậy thì cuộc sống cuộc tu của chúng ta là gì nếu không là đoạn tận luân hồi sanh tử và mục tiêu giải thoát rốt ráo được thành tựu—The Buddha taught: “If someone give us something, but we refuse to accept. Naturally, that person will have to keep what they plan to give. This means our pocket is still empty.” Similarly, if we clearly understand that karmas or our own actions will be stored in the alaya-vijnana (subconscious mind) for us to carry over to the next lives, we will surely refuse to store any more karma in the 'subconscious mind' pocket. When the 'subconscious mind' pocket is empty, there is nothing for us to carry over. That means we don't have any result of either happiness or suffering. As a result, the cycle of birth and eath comes to an end, the goal of liberation is reached. Phân Loại Nghiệp—Categories of karma:
nghiệp điền
The field of karma.
; Khu ruộng nghiệp, hay cuộc sống mà trong đó những chủng tử được gieo tạo cho những kiếp lai sanh—The field of karma; the life in which the seeds of future harvests are sown.
; (業田) Ruộng nghiệp, vì có năng lực sinh ra các quả khổ, vui, cũng như ruộng hay sinh ra các giống lúa hoặc cỏ dại, cho nên gọi là Nghiệp điền. Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 38 (Đại 10, 204 trung) nói: Sáu đường thụ sinh đều sai khác, ruộng nghiệp được tưới dội bằng nước ái và che chắn bởi vô minh.
nghiệp đạo
Kamma patha (P), Karma-magga (S).
; The way of karma.
; Một trong tam đạo mà tất cả chúng sanh phải dẫm lên, việc xảy ra dù thiện hay dù ác đều dẫn chúng sanh đi trong ba nẻo sáu đường—The way of karma; the path of works, action or doing, either good or bad, productive of karma, one of the three paths all have to tread on. **For more information, please see Tam Đạo (A).
; (業道) Phạm: Karma-màrga. Nơi mà tác dụng nghiệp được thể hiện, hoặc chỉ cho con đường chung về quả báo khổ vui của hữu tình chúng sinh. Thông thường, Nghiệp đạo được chia làm 2 loại: Thập thiện nghiệp đạo và Thập ác nghiệp đạo. Thuyết nhất thiết hữu bộ của Tiểu thừa dùng nghĩa sở hành (được thực hành) để giải thích nghiệp đạo, cho rằng trong 10 thiện, 10 ác, thì thân và khẩu ở mỗi nghiệp đạo đều có 7 thứ(thân 3, khẩu 4) và bản thân 7 thứ này tức là nghiệp, vì chúng là chỗ tác dụng của Tư nghiệp (ý chí, ý nghiệp), cho nên gọi là Nghiệp đạo. Vả lại, ý cũng có thiện và ác, ở mỗi nghiệp đạo đều có 3 thứ (vô tham, vô sân, chính kiến; tham, sân, tà kiến hoặc nghi). Bản thân 3 thứ này tuy không thuộc về nghiệp, nhưng khi chúng sinh ra thì Tư nghiệp liền lấy đó làm chỗ khởi tác dụng, vì thế chúng cũng là Nghiệp đạo. Kinh lượng bộ và tông Duy thức Đại thừa chủ trương Thập nghiệp đạo đều là nghiệp và gọi chung là Nghiệp đạo. Bởi vì Nghiệp đạo lấy Tư(gồm Động phát thắng tư, Thẩm lự tư, Quyết định tư) làm thể. Trong đó, Động phát thắng tư là loại tư chuyên phát động sự hiện hành của các hành vi nơi thân và khẩu (7 nghiệp đạo trước), nên gọi là Nghiệp. Nghiệp ấy lại trở thành nơi tác dụng cho Thẩm lự tư và Quyết định tư, cho nên cũng là Nghiệp đạo. Lại lấy Tư hiện hành làm nhân mà huân tập chủng tử Tư, cũng là Nghiệp. Ngoài ra, bản thân tham, sân, si, tức là nghiệp, từ tham sinh ra sân, do sân sinh ra si, trước có thể mở đường cho sau, hoặc xoay vần đắp đổi lẫn nhau mà tạo thành con đường chung cho luân hồi lục đạo, thế nên cũng gọi là Nghiệp đạo. Luận điểm này chính đã sử dụng 2 ý nghĩa sở hành và năng thông để giải thích Nghiệp đạo. Nhưng quá trình đưa đến việc hoàn thành Nghiệp đạo này có thể được chia làm 3 giai đoạn: 1. Gia hạnh (hành vi dự bị). 2. Căn bản (hành vi hoàn thành). 3. Hậu khởi (hành vi tùy thuộc sau khi hoàn thành). Trong đó, Căn bản tức gọi là Căn bản nghiệp đạo. [X. luận Câu xá Q.17; luận A tì đạt ma phát trí Q.11; luận Thành duy thức Q.1; luận Du già sư địa Q.8, 59, 60]. (xt. Thập Thiện Thập Ác, Nghiệp).
nghiệp đạo minh chỉ
(業道冥只) Chỉ cho các quỉ thần ở cõi u minh (minh kì) được sinh ra từ nghiệp nhân mà họ đã tạo. Kinh Nhất kế tôn đà la ni (Đại 20, 486 trung) ghi: Kính bạch chư Phật, bồ tát Bát nhã, Kim cương, chư thiên... và hết thảy Nghiệp đạo minh kì.
nghiệp đạo thần
Vị Thần quan sát những nghiệp gây tạo của chúng sanh—The gods who watch over men's deeds.
nghiệp ảnh
Karma-shadow, karma dogging one's steps like a shadow.
; Nghiệp như bóng theo sát hình—Karma-shadow, karma dogging one's steps like a shadow.
nghiệt
Ác nghiệt: Cruel—Wicked. Chồi non: A shrub—A tree-stump. Con vợ lẽ: An illicit son (son of a concubine). Quả báo: Retribution.
nghiệt la ha
Xem Yết la ha thần.
; Grha or Graha (skt)—Nghiệt Lý Ha—Tên của một loài quỷ chuyên đi bắt người—Name of a demon, the seizer.
; (nghiệt la ha ) Cũng gọi Nghiệt lật hà, Nga la ha, Yết la ha. Loài quỉ mị đeo theo thân người không rời. Phẩm Ái nhiễm vương trong kinh Kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kì quyển thượng (Đại 18, 256 hạ) nói: Đối với loài quỉ mị như Tát phạ nạp sắt tra và các Nga ra ha, dùng tướng phẫn nộ hàng phục, một đêm sẽ xong. [X. kinh Nhuy hi da Q.trung; Đại nhật kinh sớ Q.7, 8].
nghiệt lý ha
Grha (skt)—See Nghiệt La Ha.
nghiệt lạt bà
Garbha (skt)—Thai Tạng (bên trong thai)—The womb, interior part.
nghiệt tội
See Tội Nghiệt.
nghiệt đà củ tra
(nghiệt đà củ tra ) Phạm: Gandakuỉì. Hán dịch: Hương đài điện. Tịnh thất của đức Thế tôn, ở chính giữa tinh xá Kì viên.
nghiệt đà cự tra
Gandhakuti (skt)—Hương Đài Điện hay căn buồng mà Đức Thế Tôn đã làm lễ dâng hương trong tịnh xá Kỳ Viên hay bất cứ nơi nào mà Ngài đã đi qua—A temple for offering incense in the Jetavana monastery and elsewhere.
nghèo
Poor.
nghèo khó
See Nghèo Đói.
nghèo khổ
Wretched—Needy.
nghèo nàn
Needy.
nghèo tiền
Poor in money.
nghèo tín ngưỡng (phật pháp)
Poverty of the religion.
nghèo đói
Poor—Poverty.
nghê hạ
(猊下) Gọi đủ: Nghê tọa hạ. Từ tôn xưng các bậc cao tăng đại đức. Nghê là 1 loại sư tử; Nghê tọa, cũng gọi Nghê sàng, tức là tòa sư tử, là tòa ngồi của Phật, Bồ tát, đời sau được dùng làm tòa ngồi của các bậc cao đức thạc học. Vì quì lạy dưới tòa ngồi của các Ngài nên gọi là Nghê tọa hạ. Tương đương với các danh từ Các hạ, Túc hạ.
Nghê Toản
(倪瓚, 1301-1374): họa sĩ dưới thời nhà Nguyên, một trong 4 nhân vật vĩ đại cuối thời nhà Nguyên, tự là Nguyên Trấn (元鎭), hiệu Vân Lâm (雲林). Ông còn sở trường về thơ và có tập thơ văn là Thanh Bí Các Tập (清閟閣集), 12 tập.
nghênh
Nghênh tiếp—To go to meet.
nghênh tiếp
Được Đức Phật A Di Đà nghênh tiếp về Tây Phương Cực Lạc—To receive—To be received by Amitabha into his Paradise.
; (迎接) Tiếp đón. Nghĩa là người tu hành niệm Phật cầu vãng sinh, lúc lâm chung, được đức Phật A di đà, bồ tát Quan thế âm, Đại thế chí hoặc các Thánh chúng khác đến tiếp dẫn. Trong các truyện kí thường thấy ghi chép sự tích Thánh chúng đến tiếp rước hành giả Tịnh độ. Như truyện ngài Hoài cảm trong Phật tổ thống kỉ quyển 27, ngài Hoài cảm khi lâm chung thấy Phật đến đón, liền chắp tay thị tịch. Loại tranh miêu tả cảnh nghinh tiếp này gọi là Nghinh tiếp mạn đồ la, Thánh chúng lai nghinh đồ. Mô phỏng nghi thức này để biểu hiện tướng tiếp dẫn, gọi là Nghinh tiếp hội, Nghinh giảng. Làm thơ phú vịnh tướng nghinh tiếp gọi là Nghinh tiếp tán. [X. kinh Quán vô lượng thọ; Phật tổ thống kỉ Q.28; Thập di vãng sinh truyện Q.hạ].
nghênh tiếp mạn đồ la
(迎接曼陀羅) Cũng gọi Thánh chúng lai nghinh đồ, Nghinh tiếp biến tướng. Tức là bức tranh vẽ tượng Phật A di đà và các Thánh chúng đến tiếp dẫn hành giả niệm Phật lúc lâm chung. Kinh Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm quyển 40 (Đại 10, 848 thượng) nói: Con nguyện lúc lâm chung Trừ hết thảy chướng ngại Mắt thấy Phật Di đà Được sinh về Tịnh độ. Cứ theo truyện ngài Bình duy mậu trong Hậu thập di vãng sinh truyện quyển trung, thì ngài Nguyên tín của Nhật bản là người đầu tiên vẽ tranh nghinh tiếp. Về sau, có các tác phẩm như: A di đà Tam tôn lai nghinh đồ, Tấn vân lai nghinh đồ v.v... Nhưng, theo sách Nghinh tiếp mạn đà la do lai, thì ngài Nguyên không là người đầu tiên vẽ Nghinh tiếp mạn đà la.
nghêu ngao
To sing to oneself.
nghìn phước
Thousand blessing.
nghĩ
Suy nghĩ: To think. Toan liệu: To estimate—To compare—To Guess—To adjudge—To decide—To Intend.
nghĩ hàn sơn thi
(擬寒山詩) Thi phẩm, 1 quyển, do ngài Trung phong Minh bản (1263-1323) thuộc tông Lâm tế trứ tác vào đời Nguyên, được thu vào Trung phong quảng lục quyển 17. Ngài Minh bản làm 100 bài thơ luật theo thể thơ của Hàn sơn để nói về tâm tính khi tham thiền, nhằm mở tỏ sơ tâm của người học. Ngài Ẩn nguyên Long kì (1592-1673) cuối đời Minh, khi trụ ở chùa Vạn phúc, núi Hoàng bá, Nhật bản, cũng bắt chước thơ Hàn sơn làm 100 bài, để xiển dương tông thừa. Ngoài ra, Trương thủ ước, Từ thụ Hoài thâm v.v... cũng có các tác phẩm Nghĩ Hàn sơn thi.
Nghĩ khổn
(蟻悃): từ khiêm tốn bày tỏ tâm thành khẩn thiết của mình lên đấng trên. Như trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, CBETA No. 1252) quyển 1 có câu: “Thần công phả trắc, khai chúng sanh phương tiện chi môn, kiệt nghĩ khổn dĩ quy y, kí hồng hưu chi gia bị (神功叵測、開眾生方便之門、竭蟻悃以皈依、冀鴻休之加被, thần công khó lường, mở cửa phương tiện cho chúng sanh, tận lòng thành xin quy y, mong ơn trên thầm gia hộ).” Tác phẩm này có chú thích về từ “nghĩ khổn” như sau: “Đông Dương Nguyên Ngưng Tề Hài Ký viết: 'Đổng Chiêu chi quá giang kiến nghĩ quyến, nhất đoản lô chiêu chi cứu chi; hậu hệ ngục, nghĩ lãnh quần nghi huyệt ngục, Chiêu chi toại đắc miễn' (東陽元凝齊諧記曰、董昭之過江見蟻罥、一短蘆昭之救之、後繫獄、蟻領群蟻穴獄、昭之遂得免, tác phẩm Tề Hài Ký của Đông Dương Nguyên Ngưng ghi rằng: 'Khi Đổng Chiêu (156-236) qua sông thì gặp tổ kiến, ông dùng nhành lau vớt lên cứu tổ kiến; về sau ông bị giam vào ngục thất, kiến thống lãnh cả đàn đào huyệt vào ngục, nhờ đó Đổng Chiêu được thoát nạn').” Như vậy, nghĩ khổn ở đây có nghĩa là tấm lòng chân thành, khẩn thiết của đàn kiến, cho dù là con vật nhỏ như kiến đi nữa cũng tận lực báo ơn cứu mạng.
nghĩ lại
To think over.
nghĩ nghi giáo
(擬宜教) Chỉ cho thời thứ nhất (Hoa nghiêm) trong Ngũ thời giáo phán của tông Thiên thai. Nghĩ nghi nghĩa là tùy theo căn cơ phối hợp để giáo hóa. Kinh Hoa nghiêm là pháp tự chứng mà đức Phật nói cho hàng Bồ tát đại cơ nghe, nhưng đối với căn cơ Tiểu thừa cũng phối hợp để hóa đạo. Đầu tiên, đức Phật tuyên thuyết kinh Hoa nghiêm, hàng Thanh văn không hiện diện trong pháp hội, vì Hoa nghiêm chẳng phải là pháp mà hàng Nhị thừa có thể lãnh hội được. Tuy nhiên, theo mục đích hoằng hóa cả 1 đời của đức Phật, trong những căn cơ có duyên với Phật, người độn căn nhất phải trải qua 5 thời, như vậy, trong thời Hoa nghiêm không thể không có Thanh văn. Cho nên căn cơ Tiểu thừa tuy không có mặt trên hội Hoa nghiêm, nhưng Phật là bậc Điều ngự của các tiểu cơ sẽ thành, cũng có thể phối hợp mà nói pháp tự chứng. Bởi vậy, nói theo mục đích hoằng hóa của đức Phật, thì thời Hoa nghiêm tức là Nghĩ nghi giáo.
nghĩ ngợi
To think—To meditate—To ponder.
nghĩ thanh
(擬聲) Tiếng dìu dặt. Chỉ cho 3 tiếng chuông đầu tiên. Khi đánh 108 tiếng hồng chung (chuông lớn), 3 tiếng đầu tiên được gọi là Nghĩ thanh.
Nghĩ thầm
(蟻忱): từ khiêm cung, thể hiện sự chân thành đến tận cùng như con kiến nhỏ nhoi vậy; đồng nghĩa với nghĩ khổn (蟻悃). Như trong tác phẩm Trùng Luận Văn Trai Bút Lục (重論文齋筆錄) của Vương Đoan Lí (王端履, ?-?) nhà Thanh có câu: “Túng kiệt nghị thầm, nan thù hồng tạo (縱竭蟻忱、難酬鴻造, dốc hết tâm thành, khó đáp hồng ân).”
nghĩ thầm
To think inwardly.
nghĩ tưởng
Ideations.
nghĩ tội
To judge a case.
nghĩ đến phúc lợi của tha nhân
To think of the welfare of others.
nghĩa
The right; proper, righteous; loyal; public spirited, public; meaning, significance.
; Con kiến: Ant. Đỡ đầu: Foster (father, mother, brother, sister, son, daughter, etc). Đúng: Right—Proper—Righteous—Loyal.
; (義) Phạm: Artha. Pàli: Attha. Hán âm: A tha, A đà. I. Nghĩa. Có 3 nghĩa: Ý tứ, Đạo lí, Ý nghĩa. Trong đó ý nghĩa và nghĩa lí dùng chung. Còn đạo lí thì chỉ cho chính nghĩa (đạo lí truyền thống đích thực), trái lại là bất chính nghĩa, tà nghĩa, dị nghĩa v.v... Hiển bày đạo lí 1 cách hoàn toàn sáng tỏ, gọi là liễu nghĩa, ngược lại là bất liễu nghĩa (vị liễu nghĩa, chưa rõ nghĩa). Liễu nghĩa và bất liễu nghĩa gọi chung là Nhị nghĩa. Trong các kinh luận thường thấy các nhóm từ như: Đệ nhất nghĩa đế, hoặc Đệ nhất nghĩa không, tức lấy Chân đế làm Đệ nhất nghĩa, Tục đế là Đệ nhị nghĩa. Nhưng tông Hoa nghiêm thường dùng giáo và nghĩa đối nhau và ý nghĩa cũng khác với nghĩa phổ thông. Cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển thượng, thì giáo pháp của Tiểu thừa, giáo và nghĩa đều không viên dung, còn giáo pháp của Tam thừa thì giáo viên dung mà nghĩa không viên dung, chỉ có Biệt giáo Nhất thừa của Hoa nghiêm là giáo và nghĩa đều viên dung. Lại cứ theo Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1, đứng về phương diện Căn bản pháp luân mà nói, thì Nhất thừa Hoa nghiêm có giáo có nghĩa; còn nói theo Chi mạt pháp luân, thì Mạt giáo Tam thừa chỉ có giáo mà không có nghĩa; lại nói theo Nhiếp mạt qui bản pháp luân thì Tam xa(xe dê, xe nai, xe trâu, ví dụ Tam thừa) là Phương tiện giáo, còn Đại bạch ngưu xa (xe trâu trắng lớn, ví dụ Nhất Phật thừa) là Chân thực giáo. Ngoài ra, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 2 phần cuối nêu ra 2 loại nghĩa là Cảnh giới nghĩa và Đạo lí nghĩa, đồng thời cho rằng trong 4 loại Thắng nghĩa đế: Thế gian thắng nghĩa, Đạo lí thắng nghĩa, Chứng đắc thắng nghĩa và Thắng nghĩa thắng nghĩa, thì 3 loại trước là Y huyên đàm chỉ (nương vào sự giải thích mà bàn về yếu chỉ), cho nên thuộc về Cảnh giới nghĩa; còn loại thứ 4 Thắng nghĩa thắng nghĩa đế là Phế thuyên đàm chỉ (bỏ giải thích, nói yếu chỉ), cho nên thuộc về Đạo lí nghĩa. [X. kinh Tạp a hàm Q.12; kinh Thế gian phúc trong kinh Trung a hàm Q.2; kinh Đại bảo tích Q.52; luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Nhị Đế). II. Nghĩa. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, Tiền trần (danh từ trước) của Tông (mệnh đề) được gọi là Thể, còn Hậu trần (danh từ sau) được gọi là nghĩa. Như trong mệnh đề âm thanh là vô thường, thì vô thường là nghĩa, mà âm thanh là thể. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng]. (xt. Thể).
nghĩa biện
One of the seven powers of reasoning, or discourse, of a Bodhisattva, that on the things that are profitable to the attainment of nirvàna.
nghĩa bóng
Figurative sense (meaning).
Nghĩa Chơn
(義眞, Gishin, 781-833): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Bình An, xuất thân vùng Tương Mô (相模, Sagami, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣]), tên tục là Hoàn Tử Liên (丸子連). Ban đầu ông đến tu ở Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) và học về Pháp Tướng Tông, nhưng sau đó thì trở thành đệ tử của Tối Trừng và cùng đi theo thông dịch cho Tối Trừng khi sang Trung Quốc cầu pháp. Sau khi trở về nước, ông theo giúp Tối Trừng, và sau khi vị này qua đời, ông vâng lời thầy thống suất hết thảy đồ chúng. Năm 822, ông trở thành Truyền Giới Sư, tiến hành nghi lễ long trọng về Viên Đốn Thọ Giới ở Căn Bản Trung Đường (根本中堂). Năm sau, ông làm Truyền Giới Sư của Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) và sáng lập nên Đại Giảng Đường cùng với Giới Đàn Viện tại đây. Đến năm 832, ông làm giảng sư của Duy Ma Hội (維摩會). ông có soạn thuật cuốn Thiên Thai Pháp Hoa Tông Nghĩa Tập (天台法華宗義集), 1 quyển. Sau khi qua đời, ông được ban cho thụy hiệu là Tu Thiền Đại Sư (修禪大師).
nghĩa chương
(義璋) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người Hạ châu (Hoành sơn, Thiểm tây), họ Vương, húy là Tiềm chân. Năm Khai nguyên 26 (738), sư xuất gia ở chùa Linh giác tại quê nhà, năm sau thụ giới Cụ túc, học tập kinh luận. Sư từng tham dự phiên dịch các kinh như: Kinh Nhân vương bát nhã, kinh Đại tập đại Hư không tạng bồ tát sở vấn, kinh Văn thù sư lợi bồ tát Phật sát trang nghiêm v.v... Năm Trinh nguyên thứ 4 (788) sư tịch ở chùa Hưng thiện tại kinh đô Trường an, hưởng thọ 71 tuổi. Sư có các tác phẩm: Văn thù sư lợi bồ tát Phật sát trang nghiêm sớ 3 quyển, Bồ đề tâm nghĩa 1 quyển, Phát Bồ đề tâm giới 1 quyển, Tam tụ tịnh giới 1 quyển, Thập thiện pháp giới 1 quyển.
nghĩa cử
Good deed.
nghĩa dũng
Loyal abd courageous.
nghĩa giải
(義解) I. Nghĩa Giải. Chú thích, phân tích nghĩa các chữ, giải thích nghĩa lí. Cũng gọi chung các bộ sách giải thích nghĩa lí. II. Nghĩa Giải. Hiểu rõ ý nghĩa và tông nghĩa. Ngoài ra, Thiền tông dùng nhóm từ Nghĩa giải thiền hòa tử để bài xích những Thiền giả chỉ vụ lí giải văn tự, chương cú, chứ không biết việc tu hành thực tiễn thiết yếu.
nghĩa giới
Gikai (J)Tên một vị sư.
nghĩa hiệp
Chivalrous—Knightly.
nghĩa hoà
(義和) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Tống. Sư ở chùa Năng nhân tại Bình giang, đề xướng pháp môn Hoa nghiêm viên dung niệm Phật, từng được vua ban hiệu Viên Chứng Pháp Sư. Sư có tác phẩm: Hoa nghiêm niệm Phật tam muội vô tận đăng 1 quyển. [X. Lạc bang văn loại Q.2, 4; Phật tổ thống kỉ Q.29; Tịnh độ chỉ qui tập Q.hạ].
nghĩa hoài
(義懷) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Tống, người Lạc thanh, Vĩnh gia (huyện Vĩnh gia, tỉnh Chiết giang), họ Trần. Sư làm hành đồng (thiếu niên chưa cạo tóc) ở chùa Cảnh đức tại kinh đô. Trong năm Thiên thánh, sư dự khóa thi kinh, đậu và được xuất gia. Ban đầu sư học Thiền nơi ngài Kim loan thiện, rồi lại tham yết ngài Diệp huyền Qui tỉnh, nhưng đều không khế hợp. Sau, sư đến núi Thúy phong ở Cô tô lễ yết Thiền sư Tuyết đậu Trùng hiển, gánh nước, bổ củi, khổ công tu luyện. Một ngày kia chợt có chỗ tỉnh ngộ, sư làm bài kệ rằng (Vạn tục 138, 302 thượng): Một hai ba bốn năm sáu bảy Chóp núi muôn trùng đứng một chân Một lời khám phá Duy ma cật Ngọc báu li long sáng vạn phần. Ngài Trùng hiển ấn khả và gọi là Thiện ấn khả. Sau, sư ra ở tại chùa Thiết Phật, xiển dương Thiền pháp. Ít lâu sau, sư về ở chùa Thiện y tại Việt châu, mở mang tông phong Vân môn, hưng thịnh một thời, người đời gọi sư là Thiên y Nghĩa hoài. Đệ tử nối pháp gồm hơn 80 vị. Năm Gia hựu thứ 5 (1060) sư thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi, thụy hiệu Chấn Tông Thiền Sư. [X. Thiền lâm tăng bảo truyện Q.11; Phật tổ lịch đại thông tải Q.27; Ngũ đăng hội nguyên Q.16; Thích thị kê cổ lược Q.4; Tục truyền đăng lục Q.6].
nghĩa hoài thiên y
See Nghĩa Hoài Thiền Sư.
nghĩa hoài thiền sư
Zen master Yi-Huai-T'ien-Yi—Thiền sư Nghĩa Hoài Thiên Y sanh năm 993, quê ở Lạc Thanh, tỉnh Triết Giang, con nhà chài lưới. Sau khi xuất gia, sư là đệ tử của Thiền Sư Tuyết Đậu—Zen master Yi-Huai-T'ien-Yi was born in 993 in Luo-Qing, Zhe-Jiang Province. He was the son of a fisherman. After leaving home he became a disciple of Zen Master Xue-T'ou. Trong lần gặp gỡ đầu tiên, Tuyết Đậu hỏi: “Ngươi tên gì?” Sư thưa: “Tên Nghĩa Hoài.” Tuyêt Đậu hỏi: “Sao chẳng đặt Hoài Nghĩa?” Sư thưa: “Đương thời đến được.” Tuyết Đậu lại hỏi: “Ai vì ngươi đặt tên?” Sư thưa: “Thọ giới đến giờ đã mười năm.” Tuyết Đậu hỏi: “Ngươi đi hành khất đã rách bao nhiêu đôi giày?” Sư thưa: “Hòa Thượng chớ lừa người tốt.” Tuyết Đậu nói: “Ta không xét tội lỗi, ngươi cũng không xét tội lỗi, ấy là sao?” Sư không đáp được. Tuyết Đậu đánh, bảo: “Kẻ rỗng nói suông, đi đi!” Sư vào thất, Tuyết Đậu bảo: “Thế ấy chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được.” Sư suy nghĩ. Tuyết Đậu lại đánh đuổi ra. Như thế đến bốn lần—At their first encounter, Xue-Tou said: “What is your name?” Yi-Huai-T'ian-Yi said: “Yi-Huai.” Chong-Xian said: “Why isn't it Huai-Yi?” (Reversing the order of the two characters of this name creates the Chinese word 'doubt'). Yi-Huai said: “The name was given to me.” Chong-Xian asked: “Who gave you this naem?” Yi-Huai said: “I received it at my ordination nearly ten years ago.” Chong-Xian asked: “How many pairs of sandals have you worn out since you set out traveling?” Yi-Huai said: “The master shouldn' deceive people!” Chong-Xian said: “I haven' said anything improper. What do you mean?” Yi-Huai remained silent. Chong-Xian then hit him and said: “Strip off the silence and there's a fraud! Get out!” Later when Yi-Huai was in Chong-Xian's room for an interview, Chong-Xian said: “Practicing like this you won't attain it. Not practicing like this you won't attain it. This way or not this way, neither way will attain it.” Yi-Huai began to speak out Chong-Xian drove him out of the room with blows. Hôm sau khi sư nhơn gánh nước, đòn gánh gẫy làm rơi cặp thùng. Sư đại ngộ, làm bài kệ: “Nhất nhị tam tứ ngũ lục thất Vạn nhẫn phong đầu độc túc lập Ly long hàm hạ đoạt minh châu Nhất ngôn khám phá Duy Ma Cật.” (Một hai ba bốn năm sáu bảy Chót núi muôn nhẫn một chơn đứng Dưới hàm Ly Long đoạt minh châu Một lời đủ phá Duy Ma Cật). The next day, while Yi-Huai fetched water from the well and carried it with a shoulder pole back to the temple, the people suddenly broke. As the bucket crashed to the ground Yi-Huai was suddenly enlightened. He then composed the following verse that Xue-Tou greatly praise: “One, two, three, four, five, six, seven, Alone atop the 80,000-foot peak, Anatching the pearl from the jaws of the black dragon, A single exposes Vimalakirti. Sư thượng đường dạy chúng: “Phàm là Tông Sư (Thầy trong Thiền tông) phải đọa trâu của kẻ đi cày, cướp thức ăn của người đói, gặp nghèo thì sang, gặp sang thì nghèo, đuổi trâu của người đi cày khiến cho lúa mạ tốt tươi. Cướp thức ăn của người đói khiến họ hằng dứt đói khát. Gặp nghèo thì sang nắm đất thành vàng, gặp sang thì nghèo biến vàng thành đất. Lão Tăng cũng chẳng đuổi trâu của người cày, cũng chẳng cướp thức ăn của người đói. Sao gọi là trâu của người cày, ta nào cần dùng. Thức ăn của người đói, ta nào muốn ăn. Ta cũng chẳng biến vàng thành đất. Sao vậy? Vì vàng là vàng, đất là đất, ngọc là ngọc, đá là đá. Tăng là Tăng, tục là tục. Trời đất xưa nay, nhật nguyệt xưa nay, núi sông xưa nay, con người xưa nay. Tuy nhiên như thế, đập nát cái cổng mê sẽ gặp Đức Đạt Ma—Yi-Huai entered the hall and addressed the monks, saying: “A distinguished teacher of our sect said: “You must drive away the ox from the plowman, grab away the starving man's food, regard the mean as noble, and regard the noble as mean. If you drive the ox away, then the plowman' crop will be abundant. If you snatch away the food, then you will forever end the starving man's hunger and thirst. Taking the mean as noble, a handful of dirt becomes gold. Taking the noble as mean, you change gold into dirt.' But as for me, I don't drive away the plowman's food. Why is that? Moreover, I don't turn a handful of dirt into gold, or gold into dirt. And why is this? Because gold is gold; dirt is dirt; jade is jade; stone is stone; a monk is a monk; and a layperson is layperson. Since antiquity there have existed heaven and earth, sun and moon, mountains and rivers, people and their relationships. This being so, how many of the deluded can break through the San Mountain Pass and meet Bodhidharma?”
Nghĩa Huyền
義玄|Lâm Tế Nghĩa Huyền.
nghĩa huyền
I-hsuan (C)Tên một vị sư.
nghĩa hẹp
Narrow meaning (sense).
Nghĩa học
(義學): học về nghĩa lý kinh điển, hay chỉ cho học thuyết về giáo nghĩa Phật Giáo. Như trong Trần Thư (陳書), Từ Lăng Truyện (徐陵傳), có đoạn: “Hậu Chúa tại Đông Cung, linh Lăng giảng Đại Phẩm Kinh, nghĩa học danh tăng, tự viễn vân tập (後主在東宮、令陵講大品經、義學名僧、自遠雲集, Hậu Chúa ở Đông Cung, sai Từ Lăng giảng Kinh Đại Phẩm, các danh tăng học giáo nghĩa kinh điển, từ xa tập trung về).” Hay trong Truyền Pháp Chánh Tông Ký (傳法正宗記, Taishō Vol. 51, No. 2078) quyển 6, phần Chấn Đán Đệ Nhị Thập Cửu Tổ Huệ Khả Tôn Giả Truyện (震旦第二十九祖慧可尊者傳), lại có đoạn: “Nãi tùng Thiền sư Bảo Tĩnh giả xuất gia, tầm đắc giới ư Vĩnh Mục Tự, khứ vụ nghĩa học, vị cơ nhi kinh luận giai thông (乃從禪師寶靜者出家、尋得戒於永穆寺、去務義學、未幾而經論皆通, Tôn giả bèn theo Thiền sư Bảo Tĩnh xuất gia, tìm thọ giới ở Vĩnh Mục Tự, rồi rời chùa siêng năng học giáo nghĩa kinh điển, không bao lâu sau thì kinh luận đều thông suốt).” Hoặc trong Hoa Nghiêm Kinh Truyền Ký (華嚴經傳記, Taishō Vol. 51, No. 2073) quyển 3, phần Thích Pháp Mẫn (釋法敏), cũng có đoạn: “Vu thời tứ phương nghĩa học Sa Môn bát bách dư nhân, đương cảnh tăng thiên nhị bách nhân, ni chúng tam bách (于時四方義學沙門八百餘人、當境僧千二百人、尼眾三百, lúc bấy giờ, Sa Môn học giáo nghĩa kinh điển ở bốn phương có hơn 800 người, tăng ở trong vùng 1.200 người, ni chúng 300).”
nghĩa học
(義學) Cũng gọi Giải học. Tức là cái học về danh tướng, giải nghĩa, lí luận, như Câu xá, Duy thức phân tích những danh mục và số lượng của các pháp tướng, đồng thời giải thích rõ ràng, tỉ mỉ về những giai vị tu hành và văn tự chương cú... Cũng tức là cái học vấn có liên quan đến vấn đề lí luận giáo nghĩa. [X. Thích thị kê cổ lược Q.4].
nghĩa hữu dư, nghĩa vô dư
ý nghĩa hữu dư là ý nghĩa còn có thể bổ khuyết cho đầy đủ. Ý nghĩa vô dư là nghĩa trọn vẹn, tuyệt đối, không thể thêm bớt, thay đổi.
nghĩa keo sơn
Close friendship.
nghĩa khí
Sense of justice.
Nghĩa Không
(義空, Gikū, khoảng giữa thế kỷ thứ 9): pháp từ của Diêm Quan Tề An (塩官齊安). Trong khoảng thời gian trị vì của vua Văn Tông (文宗, 826-840), ông được Quất Hoàng Hậu (橘皇后, vợ của Tha Nga Thiên Hoàng [嵯峨天皇, Saga Tennō]) cung thỉnh và đến Nhật vào đầu niên hiệu Thừa Hòa (承和, 834-848). Nhờ sự chỉ giáo của Không Hải (空海, Kūkai), Quất Hoàng Hậu mới biết được bên nhà Đường có Thiền Tông, bèn sai Huệ Ngạc (慧萼) cùng với sứ thần sang nhà Đường, đến tham yết Tề An, vì vậy Nghĩa Không và pháp đệ Đạo Phưởng (道昉) vâng mệnh thầy sang Nhật truyền pháp. Ban đầu, ông lưu trú tại Tây Viện của Đông Tự (東寺, Tō-ji), rồi thỉnh thoảng được thỉnh thuyết giảng Thiền yếu trong cung nội, và sau này trở thành vị tổ khai sáng ra Đàn Lâm Tự (檀林寺) ở vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro, thuộc Kyoto-fu [京都府]). Mấy năm sau ông lại quay trở về Trung Quốc. Huệ Ngạc nhờ Khế Nguyên (契元) ở Khai Nguyên Tự (開元寺) vùng Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô) soạn ra bản Nhật Bản Quốc Thủ Truyền Thiền Tông Ký (日本國首傳禪宗記) ghi lại sự tích của Nghĩa Không, cho khắc lên bia và dựng một bên cổng tam quan chùa.
; 義空; C: yìkōng; J: gikū; tk. 9;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc dòng Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư. Sư là Thiền sư đầu tiên đến Nhật Bản nhưng không có môn đệ nào xuất sắc ở đây. Vì vậy, sau vài năm Sư trở về Trung Quốc, không Ấn chứng cho ai. Cho đến thế kỉ 12/13, không có Thiền sư nào đến Nhật giáo hoá.
nghĩa không
Giku (J)Tên một vị sư.
nghĩa kinh
The meaning of the sutras.
nghĩa loại
Artha-gati (P)ý nghĩa chủng loại của sự vật.
; (義類) I. Nghĩa Loại. Phạm: Artha-gati. Chỉ cho ý nghĩa và chủng loại của các sự vật. [X. luận Câu xá Q.1]. II. Nghĩa Loại. Đối lại: Thể loại. Tiếng dùng trong Nhân minh. Loại nghĩa là chủng loại, loại biệt. Trong luận thức Nhân minh, danh từ trước (tiền trần) của Tông (mệnh đề) là thể, danh từ sau (hậu trần) là nghĩa. Như trong luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì do sự động tác mà có ra. Dụ: Ví như cái bình v.v... thì âm thanh và cái bình là thể loại, còn vô thường (hoặc thường) là nghĩa loại. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].
nghĩa loại thứ đệ
(義類次第) Tiếng dùng của tông Pháp tướng để giải thích Tam thời giáo phán. Nghĩa là giáo pháp đức Phật nói không liên quan đến thứ tự thời gian, mà chỉ căn cứ vào sự cạn, sâu của giáo nghĩa để phân định 3 thời: Hữu (có), Không, Trung (trung đạo).
nghĩa lý
Artha (skt)—Meaning—Significance.
nghĩa lệ
Ý nghĩa và luật lệ: Meaning and rules, or method. Tên tắt của chỉ quán: An abbreviation for “Samatha and Vipasyana”—See Chỉ Quán.
nghĩa môn
The gate of righteousness.
; Cổng vào Chánh Nghĩa, hay những trường phái giảng giải chân thực nghĩa của Như Lai—The gate of righteousness; the schools, or sects of the meaning or truth of Buddhism.
Nghĩa Phước
(義福, Gifuku, 658-736): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Đồng Đê (銅鞮, Trường Trị, Sơn Tây), họ Khương (姜). Hồi nhỏ ông thường đến tham học với Đỗ Chuyết (杜胐) ở Phước Tiên Tự (福先寺), đến năm 32 tuổi mới bắt đầu xuống tóc xuất gia và thọ Cụ Túc giới. Về sau, ông theo hầu Thần Tú (神秀), sống ở Hóa Cảm Tự (化感寺) vùng Lam Điền (藍田) trong suốt hơn 20 năm không hề ra khỏi cổng chùa. Sau ông chuyển đến Từ Ân Tự (慈恩寺) ở kinh thành, rồi nhận lời thỉnh cầu của vua Huyền Tông đến trú tại Phước Tiên Tự (福先寺) và Nam Long Hưng Tự (南龍興寺) ở Tây Kinh (西京). Vào năm thứ 24 niên hiệu Khai Nguyên (開元), ông thị tịch, hưởng thọ 79 tuổi và được ban cho hiệu là Đại Trí Thiền Sư (大智禪師).
nghĩa sâu rộng
A deep and wide meaning—Liberal sense.
nghĩa sĩ
Righteous man.
nghĩa sắc không
Chúng vi (vi trần) tụ lại gọi là Sắc, Chúng vi chẳng tự tánh gọi là Không, đây nói Sắc Không trong nhân địa. Còn trong Không của chúng vi chẳng một vi, trong Không của một vi chẳng chúng vi, đây là Sắc Không trên quả địa, cũng là cái nghĩa Sắc Không bất nhị.
nghĩa sớ
Meaning and comments on or explanations.
; (義疏) Tức là giải thích nghĩa lí trong các kinh luận. Ma ha chỉ quán quyển 7 phần dưới (Đại 46, 99 trung) nói: Xem nghĩa sớ khác để biết suốt tông chỉ. (xt. Sớ).
nghĩa sở
(義楚) Cao tăng Trung quốc sống vào thời Ngũ đại, người An dương, Tương châu (huyện An dương, tỉnh Hà nam), họ Bùi. Sư xuất gia năm 7 tuổi, rất chăm học. Năm 21 tuổi, sư thụ giới Cụ túc, học vấn của sư càng ngày càng sâu sắc, nhất là Câu xá học. Sư xem Tam tạng đến 3 lần. Sau, vì cảm khái sự sai lầm của Nho gia khi bài xích Phật giáo, nên sư mô phỏng Lục thiếp của thi nhân Bạch cư dị mà soạn bộ Thích thị lục nhiếp, ròng rã 10 năm mới hoàn thành, gồm 24 quyển 50 bộ 440 môn, người đời gọi là Nghĩa sở Lục thiếp. Sách được dâng lên triều đình, vua Thế tông nhà Hậu Chu lệnh cho Sử quán ấn hành và ban hiệu cho tác giả là Minh Giáo Đại Sư. Khoảng năm Khai bảo đời Tống, sư thị tịch ở chùa Long hưng. [X. Tống cao tăng truyện Q.7; Phật tổ thống kỉ Q.42; Lục học tăng truyện Q.23]. (xt. Thích Thị Lục Thiếp).
nghĩa thanh
(義青) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Tống, người Thanh xã (Sơn đông), họ Lí. Năm lên 7 tuổi, sư xuất gia ở chùa Diệu tướng, học luận Bách pháp, sau chuyển sang học Hoa nghiêm, gặp câu Tức tâm tự tính, bỗng nhiên có chỗ tỉnh ngộ. Sư lại chuyển sang tham thiền, đến lễ yết ngài Phù sơn Pháp viễn (Viên giám) ở chùa Thánh nghiêm, theo hầu 6 năm, thấu suốt tông chỉ. Ngài Pháp viễn liền đem đính tướng và y bát của Thiền sư Đại dương Cảnh huyền giao phó cho sư. Lúc đầu, sư trụ ở núi Bạch vân tại Kiến châu, ít lâu sau, sư dời đến núi Đầu tử tại Thư châu, xiển dương tông phong, vì thế nên có hiệu là Đầu tử. Năm Nguyên phong thứ 6 (1083) đời vua Thần tông nhà Tống sư thị tịch, hưởng thọ 52 tuổi, vua ban thụy là Từ Tế. Sư có tác phẩm: Đầu tử Thanh thiền sư lục. [X. Tục truyền đăng lục Q.26; Ngũ đăng hội nguyên Q.14; Phật tổ lịch đại thông tải Q.19; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.4].
nghĩa thanh thiền sư
Đầu Tử—Zen Master Yi-Qing-T'ou-Tzi—Thiền sư Nghĩa Thanh Đầu Tử sanh năm 1032, là Pháp tử của trường phái Tào Động, nhưng không phải là đệ tử trực tiếp của Thiền Sư Đại Dương—Zen master Yi-Qing-T'ou-Tzi was born in 1032, was the Xao-T'ong Zen school Dharma heir, but not the direct student of T'a-Yang. Sư xuất gia năm lên bảy tuổi tại chùa Diệu Tướng. Thoạt tiên sư học Luận Bách Pháp của Tông Duy Thức. Về sau sư nghe kinh Hoa Nghiêm, đến câu “Tức tâm tự tánh,” sư liền phát tỉnh, nói: “Pháp lìa văn tự đâu có thể giảng ư?” Sư bèn cất bước du phương qua các thiền hội—He left home at the age of seven to live at Miao-Xiang Temple. Initially, he studied the “Hundred Dharmas Doctrine” of the Consciousness-Only school of Buddhism. Later, he undertook the practices of the Hua-Yen school, but upon reading the words “Mind is self-nature,” he had an insight, saying: “Dharma is not found in the written word, and how can one speak of it?” He then went traveling to find and study under a Zen teacher. Thiền Sư Viên Giám ở hội Thánh Nham, một đêm nằm mộng thấy có nuôi con chim ưng sắc xanh, tỉnh giấc ông cho là một điềm lành. Đến sáng ngày ấy, sư liền đi đến . Sư lễ ra mắt, Giám nhận cho ở và dạy khán câu “Ngoại đạo hỏi Phật: 'Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời.'” Sư khán câu nầy trải qua ba năm, một hôm Giám hỏi: “Ngươi ghi được thoại đầu chăng, thử nêu ra xem?” Sư nghĩ đáp lại, bị Giám bụm miệng. Bỗng nhiên sư khai ngộ, bèn đảnh lễ. Giám bảo: “Ngươi diệu ngộ huyền cơ chăng?” Sư thưa: “Nếu có cũng phải mửa bỏ.” Lúc đó, thị giả ở bên cạnh nói: “Hoa Nghiêm Thanh ngày nay như bệnh được ra mồ hôi.” Sư ngó lại, bảo: “Ngậm lấy miệng chó, nếu nói lăng xăng, Ta buồn nôn.” Sau đó ba năm, Giám đem tông chỉ của tông Tào Động chỉ dạy, sư đều diệu khế. Giám trao giày, y của Đại Dương Huyền và dặn dò: “Ngươi thay ta nối dòng tông Tào Động, không nên ở đây lâu phải khéo hộ trì.” Sau đó Giám nói kệ: “Tu Di lập Thái Hư Nhật nguyệt phụ nhi chuyển Quần phong tiệm ỷ tha Bạch vân phương y cải biến Thiếu Lâm phong khởi tùng Tào Khê động liêm quyện Kim Phụng túc long sào Thần đài khởi xa tiển.” (Tu Di dựng trong không, Nhật nguyệt cạnh mà chuyển Nhiều đảnh đều nương y Mây trắng mới biến đổi Thiếu Lâm gió tòng tay Động Tào Khê cuốn sáo Phụng vàng đậu ổ rồng Nhà rêu đậu xe nghiền). At that time, Zen master Yuan-Jian was staying at Sacred Peak. One night he saw a blue eagle in a dream and took it as an omen. The next morning, T'ou-Tzi arrived and Yuan-Jian received him ceremoniously. Now because a non-Buddhist once asked the Buddha: “I don't ask about that which may be spoken of, and I don't ask about what may not be spoken of… After three years Yuan-Jian asked T'ou-Tzi: “Let's see if you remember your 'hua-t'ou.' T'ou-Tzi began to answer when Yuan-Jian suddenly covered T'ou-Tzi's mouth with his hand. T'ou-Tzi the experienced enlightenment. He bowed. Yuan-Jian said: “Have you awakened to the mysterious function?” T'ou-Tzi said: “Were it like that I'd have to spit it out.” At that time an attendant standing to one side said: “Today Qing Hua-Yan (T'ou-Tzi) is sweating as if he were ill!” T'ou-Tzi turned to him and said: “Don't speak insolently! If you do so again I'll vomit!” After three more years, Yuan-Jian revealed to T'ou-Tzi the essential doctrine passed down from T'ong-Shan and T'ou-Tzi grasped it entirely. Yuan-Jian presented T'ou-Tzi with T'a-Yang's portrait, sandals, and robe. He then instructed him to carry on the method of this school in my behalf, so that it will not end here. Well and befittingly sustain and preserve it.” Yuan-Jian then wrote a verse and presented to T'ou-Tzi: “Mt. Sumeru stands in the greta void. It supports the spinning sun and moon. Upon its countless peaks do rest, The white clouds there transformed. The Shao-Lin wind sows a forest. The Cao-T'ong screen rolled up. A golden phoenix lives in a dragon's nest. Imperial moss is crushed by a wagon. Sư đến Viên Thông không thưa hỏi gì, chỉ ăn cơm xong rồi ngủ. Tri sự thấy thế, bạch với Viên Thông: “Trong Tăng đường có vị Tăng cả ngày lo ngủ, xin thực hành theo qui chế.” Viên Thông bảo: “Khoan! Đợi ta xét qua.” Viên Thông cầm gậy đi vào Tăng đường, thấy sư đang nằm ngủ, Viên Thông gõ vào giường, quở: “Trong đây tôi không có cơm dư cho Thượng Tọa ăn xong rồi ngủ.” Sư thưa: “Hòa Thượng dạy tôi làm gì?” Viên Thông bảo: “Sao chẳng tham thiền?” Sư thưa: “Món ăn ngon không cần đối với người bụng no.” Viên Thông bảo: “Tại sao có nhiều người không chấp nhận Thượng Tọa?” Sư thưa: “Đợi họ chấp nhận để làm gì? Viên Thông hỏi: “Thượng Tọa đã gặp ai rồi đến đây?” Sư thưa: “Phù Sơn.” Viên Thông bảo: “Lạ! Được cái gì mà lười biếng.” Viên Thông bèn nắm tay, hai người cười rồi trở về phương trượng.”—When T'ou-tzi-Yi-Qing arrived at Yuan-Tong's place, rather than going for an interview with that teacher at the appointed time, he remained sleeping in the monk's hall. The head monk reported this to Yuan-Tong, saying: “There is a monk who's sleeping in the hall during the day. I'll go deal with it according to the rules.” Yuan-Tong asked: “Whi is it?” The head monk said: “The monk Qing.” Yuan-Tong said: “Leave it be. I'll go find about it.” Yuan-Tong then took his staff and went into the monk's hall. There he found T'ou-Tzi-Yi-Qing in a deep sleep. Hitting the sleeping platform with his staff, he scolded him: “I don't offer any 'leisure rice' here for monks so that they can go to sleep.” T'ou-Tzi-Yi-Qing woke up and asked: “How would the master prefer that I practice?” Yuan-Tong said: “Why don't you try practicing Zen?” Yi-Qing said: “Fancy food doesn't interest someone who's sated.” Yuan-Tong said: “But I don't think you've gotten there yet.” Yi-Qing said: “What point would there be in waiting until you believe it?” Yuan-Tong said: “Who have you been studying with?” Yi-Qing said: “Fu-Shan.” Yuan-Tong said: “No wonder you're so obstinate!” They then held each other's hands, laughed, and went to talk in Yuan-Tong's room. From this incident Yi-Qing's reputation spread widely. Ban đầu Sư trụ trì tại Bạch Vân. Sau sư dời đến Đầu Tử. Sư thượng đường dạy chúng: “Nếu luận việc nầy như loan phụng bay giữa hư không chẳng để dấu vết, như con linh dương mọc sừng ai tìm được dấu chơn, rồng vàng chẳng giữ đầm lạnh, thỏ ngọc đâu gá bóng cóc. Nếu lập chủ khách thì phải ngoài cõi Oai Âm lay đầu, hỏi đáp nói bày vẫn còn ở giữa đường. Nếu đứng tròng chẳng nhọc thấy nhau—T'ou-Tzi-Yi-Qing first taught on White Cloud Temple in Jian-Chou. He later moved to the Sheng-Yin Monastery in Shu-Chou (located on Mt. Qian) Zen master Yi-Qing entered the hall and addressed the monks, saying: “To speak of this affair is like a phoenix soaring into the heavens, not leaving a trace behind. It's like a ram whose horns are entangled in a tree, and thus does not touch the ground. Where will you find any tracks? A golden dragon in not concealed in a cold swamp. A jade rabbit nests in the moonlight. In order to establish the guest and host, you must stick your head out beyond the noisy world. If you answer my questions properly, you're singing at the edge of the mysterious road. But in that case, you're still only halfway there. If you're still staring in miscomprehension, don't belabor what you see!” Năm 1083, lúc gần thị tịch, sư có làm bài kệ: “Lưỡng xứ trụ trì Vô khả trợ đạo Trân trọng chư nhơn Bất tu tầm thảo.” (Trụ trì hai nơi, không thể giúp đạo Trân trọng các ngươi, Chẳng cần tìm thảo)—When Yi-Qing was near death, he composed a poem: “As the abbot of two temples, I couldn't assist the Buddha way. My parting message to you all, Don't go seeking after something.”
Nghĩa Thiên
(義天): có mấy nghĩa chính. (1) Gọi đủ là Đệ Nhất Nghĩa Thiên (第一義天), Đệ Nhất Nghĩa Tịnh Thiên (第一義淨天), tức chỉ cho chư Phật, Bồ Tát chứng quả Đại Niết Bàn; hoặc chư vị Bồ Tát đang ở quả vị Thập Trú (十住, gồm Phát Tâm Trú [發心住], Trị Địa Trú [治地住], Tu Hành Trú [修行住], Sanh Quý Trú [生貴住], Cụ Túc Trú [具足住], Chánh Tâm Trú [正心住], Bất Thối Trú [不退住], Đồng Chơn Trú [童眞住], Chánh Pháp Vương Trú [法王子住] và Quán Đảnh Trú [灌頂住]); là một trong 4 cõi trời. Như trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 22, phẩm Cao Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ Tát Phẩm (光明遍照高貴德王菩薩品) có giải thích rõ rằng: “Hữu tứ thiên, nhất giả Thế Gian Thiên, nhị giả Sanh Thiên, tam giả Tịnh Thiên, tứ giả Nghĩa Thiên. Thế Gian Thiên giả như chư quốc vương; Sanh Thiên giả tùng Tứ Thiên Vương nãi chí Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng Thiên; Tịnh Thiên giả tùng Tu Đà Hoàn chí Bích Chi Phật; Nghĩa Thiên giả Thập Trú Bồ Tát Ma Ha Tát đẳng. Dĩ hà nghĩa cố Thập Trú Bồ Tát danh vi Nghĩa Thiên ? Dĩ năng thiện giải chư pháp nghĩa cố. Vân hà vi nghĩa ? Kiến nhất thiết pháp thị không nghĩa cố (有四種天、一者世間天、二者生天、三者淨天、四者義天、世間天者如諸國王、生天者從四天王乃至非有想非無想天、淨天者從須陀洹至辟支佛、義天者十住菩薩摩訶薩等、以何義故十住菩薩名爲義天、以能善解諸法義故、云何爲義、見一切法是空義故, có bốn loại cõi trời, một là Thế Gian Thiên, hai là Sanh Thiên, ba là Tịnh Thiên, bốn là Nghĩa Thiên. Thế Gian Thiên là các quốc vương; Sanh Thiên là từ Tứ Thiên Vương cho đến cõi trời Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng; Tịnh Thiên là từ Tu Đà Hoàn cho đến Bích Chi Phật; Nghĩa Thiên là các Bồ Tát Ma Ha Tát của quả vị Thập Trú. Vì lấy nghĩa gì mà Bồ Tát của quả vị Thập Trú được gọi là Nghĩa Thiên ? Vì có thể khéo hiểu nghĩa của các pháp. Nghĩa đó là gì ? Thấy hết thảy các pháp là nghĩa không).” (2) Chỉ cho Từ Ân Đại Sư (慈恩大師), tức Khuy Cơ (窺基, 632-682), sơ Tổ của Pháp Tướng Tông Trung Quốc, có thể hiểu được nghĩa nhiệm mầu, nên được gọi là Nghĩa Thiên. (3) Chỉ cho Nghĩa Thiên (1055-1101), hiệu là Đại Giác Thiền Sư (大覺禪師), là con trai thứ 4 của vua Văn Tông (文宗, tại vị 1046-1083) nước Cao Lệ (高麗, Triều Tiên), được phong làm Hựu Thế Tăng Thống (祐世僧統), quản lý tăng giới Triều Tiên.
nghĩa thiên
Các bậc Bồ Tát từ Thập Trụ trở lên có khả năng ngộ giải thâm nghĩa Đại Thừa—All Bodhisattvas above the ten stages. Đệ Nhất Nghĩa Thiên: Chư Phật và Bồ Tát chẳng biến dịch, vì thường trụ nên chẳng sinh, chẳng già, chẳng bịnh, chẳng chết—A supreme heaven with Bodhisattvas and Buddhas in eternal immutability.
; (義天) I. Nghĩa Thiên. Gọi đủ: Đệ nhất nghĩa thiên, Đệ nhất nghĩa tịnh thiên. Chỉ cho chư Phật, Bồ tát trụ nơi đại Niết bàn, hoặc chỉ cho các Bồ tát giai vị Thập trụ. Bởi vì các Ngài khéo hiểu nghĩa của các pháp, cho nên dùng diệu lí Đệ nhất nghĩa không ví dụ là Thiên (trời), tức nghĩa Thiên trong Tứ thiên. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.18, 22 (bản Bắc); Pháp hoa huyền nghĩa Q.4 phần trên]. II. Nghĩa Thiên. Chỉ cho Đại sư Từ ân (tức ngài Khuy cơ), vì ngài có năng lực hiểu thấu diệu nghĩa, nên gọi ngài là Nghĩa thiên. [X. Tống cao tăng truyện Q.7]. III. Nghĩa Thiên (1055-1101). Cũng gọi Đại giác Thiền sư. Sư là con thứ 4 của vua Văn tông nước Cao li, họ Vương, tên Hú. Sư xuất gia ở chùa Linh thông, học Hoa nghiêm, kiêm Nho học. Năm Tuyên tông thứ 2 (1085), sư cùng với đệ tử đáp thuyền buôn đến Trung quốc, dâng biểu lên triều đình xin truyền giáo nghĩa Hoa nghiêm, được vua Thần tông nhà Tống tiếp đãi trọng hậu. Sư lần lượt tham vấn hơn 50 vị Cao tăng thạc học của Trung quốc thời đó như các ngài: Phật ấn Liễu nguyên, Tuệ lâm Tông bản, Tịnh nguyên, Từ biện, Đại giác Hoài liễn, Phật nhật Khế tung v.v... sư học rộng các tông như: Hoa nghiêm, Thiên thai, Luật, Thiền... Ba năm sau (1088), sư trở về Triều tiên, mang theo hơn 1000 quyển kinh sách Phật, sáng lập chùa Quốc thanh, tuyên dương giáo chỉ Hoa nghiêm, Thiên thai. Sư tâu xin vua đặt cơ sở Giáo tạng đô giám ở chùa Hưng vương để cất giữ kinh điển Phật thỉnh về từ Trung quốc, Liêu và Nhật bản. Đồng thời sư biên soạn Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục 3 quyển (cũng gọi Nghĩa thiên mục lục) và bắt đầu xúc tiến công việc ấn hành Tục tạng kinh Cao li gồm hơn 4.000 quyển ở chùa Hưng vương. Năm Túc tông thứ 6 (1101) sư thị tịch ở chùa Tổng trì, hưởng dương 47 tuổi, pháp lạp 36. Sư có các tác phẩm: Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục, Viên tông văn loại, Thích uyển từ lâm, Đại giác quốc sư văn tập. [X. Thích môn chính thống Q.3; Phật tổ thống kỉ Q.14, 46; Thích thị kê cổ lược Q.4].
nghĩa thiên mục lục
(義天目錄) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Nghĩa thiên người Cao li biên soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 55. Bộ sách này vốn có tên Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục, bên trong đề: Đông hải hữu bản kiến hành lục. Nội dung gom thu các bản sớ, sao của các kinh luận được lưu truyền ở Triều tiên. Đây là bộ sách mở đầu cho việc biên soạn loại chương sớ mục lục ở Triều tiên sau này. -Quyển 1: Thu chép 619 bộ chú sớ của 47 bộ kinh Đại, Tiểu thừa từ kinh Hoa nghiêm trở xuống. -Quyển 2: Thu chép 145 bộ chú sớ của 6 bộ luật Đại, Tiểu thừa từ kinh Phạm võng trở xuống. -Quyển 3: Thu chép 217 bộ chú sớ của 31 bộ luận Đại, Tiểu thừa từ luận Đại thừa khởi tín trở xuống và 105 bộ sách về Tông nghĩa, Loại soạn, Kí truyện của các tông từ Triệu luận trở xuống, tổng cộng là 1.086 bộ. Sách được hoàn thành vào năm 1091. (xt. Tân Biên Chư Tông Giáo Tạng Tổng Lục).
nghĩa thuật
See Nghĩa Vệ.
nghĩa thành bộ
Siddhatthika (S)Một bộ phái Tiểu thừa.
nghĩa tháo
(義操) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường. Sư đắc pháp nơi ngài Huệ quả, trụ ở viện Đông tháp chùa Thanh long tại Trường an. Sư thâm nhập Tam mật, thông suốt Ngũ minh, giáo hóa 3 triều vua là Thuận tông, Hiến tông và Mục tông, người đời gọi sư là Quốc sư. Đệ tử nối pháp có các vị: Hải vân, Pháp nhuận, Nghĩa chân, Thâm đạt, Đại ngộ, Văn phạm v.v... Sư có tác phẩm: Lưỡng bộ kim cương danh hiệu 2 quyển.
nghĩa thích
(義釋) Pàli: Niddesa. Hán âm: Ni thế sa. Là sách chú giải Kinh tập (Pàli: Suttanipàta) thuộc Tiểu bộ kinh (Khuddakanikàya) tiếngPàli. Nội dung sách này chia làm 2 phần là Đại nghĩa thích (Pàli:Màha-niddesa) và Tiểu nghĩa thích (Pàli: Cùla-niddesa). Trong đó, phần Đại nghĩa thích chú giải phẩm Nghĩa (Pàli: Aỉỉhaka-vagga), trong kinh tập bao gồm toàn bộ 16 kinh, còn phần Tiểu nghĩa thích thì chú giải phẩm Bỉ ngạn đạo (Pàli: Pàràyema-vagga), bao gồm toàn bộ 16 kinh, kết ngữ (Pàli: Niyama) và kinh Tê giác (Pàli: Khagga-visàịasutta) trong phẩm Xà (Pàli: Uraga-vagga) của Kinh tập. Toàn bộ sách chủ yếu sử dụng phương thức theo chữ để giải thích ngữ nghĩa, trong đó có trích dẫn rất nhiều tự ngữ trong các kinh luật như: Tương ứng bộ kinh, Trung bộ kinh, Tăng chi bộ kinh, Trưởng lão kệ, Bản sinh kinh, Như thị ngữ, Pháp cú kinh, Trường bộ kinh, Luật tạng, Tự thuyết kinh, Trưởng lão ni kệ, Ngã quỉ sự v.v... [X. Dictionary of Pàli Proper Names by G. P. Malalasekera].
nghĩa thích kinh
Niddesa sŪtra (S), Exposition Diễn thuyếtGồm 2 tập: Đại Nghĩa thích và Tiểu Nghĩa thích gồm những bài luận về kinh tập. Một trong 15 quyển của Tiểu a hàm.
nghĩa thông
(義通) Cao tăng người Cao li, họ Doãn, tự là Duy viễn, tổ thứ 16 (có thuyết nói thứ 15) của tông Thiên thai. Sư xuất gia từ nhỏ, thờ ngài Tông vi ở viện Qui sơn làm thầy, học tập Hoa nghiêm, khởi tín. Khoảng năm Càn hựu đời Tống, sư đến Trung quốc, học giáo quán Thiên thai nơi ngài Loa khê Nghĩa tịch. Khi sư chuẩn bị trở về nước, ngài Giả đạo Tứ minh và quan quận thú Tiền duy trị cố giữ sư ở lại, rồi Tào sứ Cố thừa hiến nhà mình làm viện Truyền giáo để sư ở. Tháng 4 năm Thái bình hưng quốc thứ 7 (982), vua Tống thái tông ban biển ngạch cho viện Truyền pháp là Bảo Vân, từ đó sư có hiệu là Bảo Vân Tôn Giả. Về sau, sư hoằng dương giáo quán Thiên thai suốt 20 năm, đệ tử có các vị: Tri lễ, Tuân thức v.v... Tháng 10 năm Đoan củng (988) sư thị tịch, hưởng thọ 62 tuổi, được an táng ở góc Tây bắc chùa A dục vương. Sư có các trứ tác: Quán kinh sớ kí, Quang minh huyền tán thích, Quang minh cú bị cấp sớ. [X. Cao li quốc Hưng quốc tự tháp kí; Phật tổ thống kỉ Q.8, Thích thị kê cổ lược Q.4; Phật tổ cương mục Q.35].
nghĩa thú
The path of truth, the right direction, or objective.
; Con đường chánh đạo—The path of truth, the right direction, or objective.
nghĩa trung
(義忠) I.Nghĩa Trung(? - ?) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người Tương viên (Sơn tây), họ Doãn. Lúc nhỏ, sư theo Chiểu công ở Chuy châu xuất gia, ban đầu sư học kinh Niết bàn. Năm 20 tuổi sư thụ giới Cụ túc, học luật Tứ phần. Sau, Chiểu công cho sư đến theo học Đại sư Khuy cơ, nghiên cứu Pháp hoa, Duy thức v.v... Sư ở chùa Đại từ ân giảng thuyết mấy mươi năm không ngưng nghỉ. Sau khi ngài Khuy cơ thị tịch, học chúng tôn sư làm thầy, người các nơi về hỏi đạo rất đông, nước ngoài cũng truyền học thuyết của sư. Sau, sư tịch ở quê nhà. Sư có các tác phẩm: Pháp hoa kinh sớ, Tịnh danh kinh sớ, Thành duy thức luận toản yếu, Duy thức luận sao 30 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.4]. II. Nghĩa Trung (781-872). Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người Phúc châu, họ Dương. Ban đầu sư tham yết ngài Thạch củng Tuệ tạng, sau nối pháp Thiền sư Đại điên Bảo thông và trụ ở núi Tam bình tại Chương châu (Phúc kiến) tiếp hóa hàng hậu học.Năm Hàm thông 13 (872) sư thị tịch, hưởng thọ 92 tuổi. [X. Tổ đường tập Q.5; Cảnh đức truyền đăng lục Q.14; Ngũ đăng hội Q.5].
nghĩa trí
Kevala (S).
nghĩa tâm
(義心) Nghĩa là tâm do dự không quyết đoán. Có 2 loại: -Mê sự tâm: Tâm nghi ngờ về sự, khi đến Kiến đạo thì dứt trừ. -Mê lí tâm: Tâm nghi ngờ về lí thì khi đến quả Phật mới dứt trừ.
nghĩa tích
Nidesa (S)Một trong 15 tập trong Tiểu a hàm giải thích một số điểm trong Kinh tạng.
nghĩa tín
Gishin (J)Tên một vị sư.
nghĩa tín đại sư
Yi-tsing (C)Cao tăng Trung quốc năm 671 sang Thiên trúc bằng đường biển: qua đảo Sumatra của Nam dương, vào vịnh Bengale, sang Ấn độ, thăm xứ Ma kiệt đà, đại tự Na lan đà,... Chuyến về, Ngài đi qua đảo Sumatra năm 685, ở đó 4 năm dịch kinh chữ Phạn sang chữ Tàu rồi về Quảng đông năm 689. Ngài thĩnh người giỏi chữ Phạn qua Sumatra dịch kinh với Ngài, ở lại Sumatra 5 năm. Năm 696 Ngài về Trung quốc. Ngài mất năm 713, thọ 80 tuổi.
nghĩa tương
(義湘) Cao tăng Triều tiên, người Kê lâm, Tân la, họ Kim, là Sơ tổ tông Hoa nghiêm. Năm 29 tuổi sư xuất gia. Niên hiệu Vĩnh huy năm đầu (650) sư đến Trung quốc, dừng nghỉ ở Dương châu. Sau, sư đến núi Chung nam theo học ngài Trí nghiễm, thông suốt diệu lí kinh Hoa nghiêm. Sau khi về nước, sư vâng sắc sáng lập chùa Phù thạch tại núi Đại bá thuộc tỉnh Khánh thượng bắc, khai sáng tông Hoa nghiêm, hoằng truyền pháp Đại thừa, đệ tử rất đông, nổi tiếng nhất có các vị: Ngộ chân, Trí thông, Năng nhân, Nghĩa tịch v.v... Năm 702 sư thị tịch, hưởng thọ 78 tuổi. Vua Túc tông Cao li ban thụy hiệu Viên Giáo Quốc Sư. Sư có các tác phẩm: Hoa nghiêm nhất thừa pháp giới đồ, Pháp giới lược sớ, Quát tận nhất thừa xu yếu, Thiên tuế qui kính. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Tam quốc di sự Q.4; Cao li sử Q.11]. (xt. Hoa Nghiêm Duyên Khởi).
nghĩa tướng
Truth, meaning; meaning and form, truth and its aspect.
; Nghĩa lý và tướng trạng—Meaning and form, truth and its aspect.
nghĩa tịch
(義寂) I. Nghĩa Tịch (919-987). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tống, thuộc tông Thiên thai, người huyện Vĩnh gia, tỉnh Chiết giang, họ Hồ, tự Thường chiếu, người đời gọi sư là Tịnh quang đại sư, Loa khê Nghĩa tịch, Loa khê Tôn giả. Năm 12 tuổi sư xuất gia ở chùa Khai nguyên tại Ôn châu, 19 tuổi thụ giới Cụ túc. Sau, sư đến núi Thiên thai theo ngài Thanh tủng tu học chỉ quán. Sau khi ngài Thanh tủng thị tịch, sư xây dựng đạo tràng Loa khê làm cơ sở giảng thuyết, 4 chúng về tu học rất đông. Từ cuối đời Đường trở đi, vì loạn lạc liên miên nên sách vở của tông Thiên thai thất lạc gần hết, rất khó khăn cho những người hậu học, không biết nương vào đâu. Bởi thế, sư khuyên Ngô việt vương Tiền thúc sai sứ đến Cao li, Nhật bản tìm lại các bản sao chép kinh sách của tông Thiên thai, nhờ đó mà tông Thiên thai có cơ trung hưng. Tháng 10 năm Ung hi thứ 4 (987) sư thị tịch, hưởng thọ 69 tuổi. Sư có các tác phẩm: Chỉ quán nghĩa lệ, Pháp hoa thập sao. Đệ tử nối pháp có các vị nổi tiếng như: Nghĩa thông, Đế quán, Trừng dục, Tông dục v.v... [X. Thích môn chính thống Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.8; Loa khê chấn tổ tập]. II. Nghĩa Tịch(? - ?). Cao tăng nước Tân la sống vào thời đại Thần văn vương. Sư thờ ngài Nghĩa tương làm thầy, thông suốt các kinh như Pháp hoa, Niết bàn, Bát nhã, Phạm võng v.v... Cùng với các vị Ngộ chân, Trí thông, Biểu huấn, Chân định v.v... là 10 đệ tử lớn của ngài Nghĩa tương. Sư có các tác phẩm: Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ, Pháp học luận thuật kí. [X. Tân biên chư tông giáo tạng Q.1-3; Tam quốc di sự Q.4].
Nghĩa Tịnh
(義淨, Gijō, 635-713): vị tăng dịch kinh nổi tiếng dưới thời nhà Đường, người Huyện Trác (涿縣), Hà Bắc (河北), có thuyết cho là xuất thân vùng Tề Châu (齊州, Sơn Đông), họ là Trương (張), tự Văn Minh (文明). Ông xuất gia từ lúc còn nhỏ, thiên tánh thông tuệ, đã từng đi tham vấn khắp các bậc danh đức, đọc qua các điển tịch. Năm lên 15 tuổi, ông rất ngưỡng mộ cuộc Tây du thỉnh kinh của Pháp Hiển (法顯, 340?-?) và Huyền Trang (玄奘, 602-664). Đến năm 20 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới. Vào năm thứ 2 (671) niên hiệu Hàm Hanh (咸亨), ông đi qua Quảng Châu (廣州), dọc theo đường biển, đến vùng Thất Lợi Phất Thệ (室利弗逝, tức Tô Môn Đáp Lạp Ba Lân Bàng [Palembang, 蘇門答臘巴鄰旁]) và cuối cùng đến được Ấn Độ. Tại đây ông đã chí thành tuần bái và đảnh lễ các thánh địa Phật Giáo như Thứu Phong (鷲峰, tức Kỳ Xà Quật Sơn [s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 耆闍崛山]), Kê Túc Sơn (雞足山), Vườn Lộc Uyển (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿苑), Kỳ Viên Tinh Xá (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇園精舍), v.v. Sau đó, ông đến tu học tại Na Lan Đà Tự (s: Nālandā, 那爤陀寺) trong suốt 10 năm, rồi đi du lịch hơn 30 tiểu quốc. Khi trở về nước, ông mang về Lạc Dương khoảng 400 bộ kinh luận bằng tiếng Phạn và 300 viên xá lợi; chính Võ Hậu đích thân ra tận Đông môn nghinh tiếp và hạ chiếu chỉ cho ông trú trì Phật Thọ Ký Tự (佛授記寺). Từ đó trở đi, ông tham gia vào công tác trùng dịch Kinh Hoa Nghiêm (華嚴經), cùng các thư tịch về giới luật, Duy Thức, Mật Giáo, v.v. Kể từ năm thứ 2 (699) niên hiệu Thánh Lịch (聖曆) cho đến năm thứ 2 (711) niên hiệu Cảnh Vân (景雲), ông đã dịch được 56 bộ, 230 quyển, trong số đó thư tịch liên quan đến giới luật là nhiều nhất và những điển tịch hiện lưu truyền của Tỳ Nại Da thuộc Hữu Bộ phần lớn đều do ông phiên dịch cả. Ông cùng với Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413), Huyền Trang (玄奘, 602-664), và Chơn Đế (s: Paramārtha, 眞諦, 499-569) được xem như là 4 nhà phiên dịch lớn. Ngoài việc phiên dịch, ông còn lấy giới luật dạy dỗ đồ chúng. Trước tác của ông có Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện (南海寄歸內法傳) 4 quyển, Đại Đường Tây Vức Cầu Pháp Cao Tăng Truyện (大唐西域求法高僧傳) 2 quyển, v.v. Trong tác phẩm của ông có ghi lại những sinh hoạt của chư tăng, phong tục, tập quán, v.v., ở các nước mà ông đã từng đi qua, là tư liệu vô cùng quan trọng để chúng ta có thể biết được Ấn Độ đương thời như thế nào. Ông thị tịch vào tháng giêng năm thứ 2 niên hiệu Tiên Thiên (先天), hưởng thọ 79 tuổi. Tháp của ông được dựng tại Long Môn (龍門), Lạc Dương (洛陽).
; 義淨; C: yìjìng; 635-713;|Cao tăng Trung Quốc, một trong những dịch giả quan trọng nhất, dịch kinh sách từ Phạn ngữ (sanskrit) ra Hán văn và cũng là người đi tham bái các thánh tích Phật giáo. Năm 671, Sư đi bằng đường biển qua Ấn Ðộ và lưu lại đó hơn 20 năm. Tại Viện Phật học Na-lan-đà, Sư tham cứu giáo lí của Phật giáo Tiểu thừa cũng như Ðại thừa và bắt đầu công trình dịch thuật từ Phạn ngữ sang Hán văn. Năm 695, Sư trở về Trung Quốc, mang theo khoảng 400 kinh, luận. Cùng hợp tác với Thật-xoa Nan-đà (s: śikṣānanda), Sư dịch kinh Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm (s: buddhāvataṃsaka-sūtra) và Luật tạng. Tổng cộng, Sư đã dịch 56 tác phẩm với 230 tập. Ngoài một tập du kí Ấn Ðộ, Sư còn ghi lại tiểu sử của 56 vị tăng đã đi tham bái đất Phật bằng đường biển. Trong các vị này có 4 vị là người Việt Nam (Giao Chỉ).
nghĩa tịnh
Gijo (J)Tên một vị sư.
; Ngài Nghĩa Tịnh Tam Tạng Pháp Sư (635-713), một vị sư nổi tiếng thời Đường. Khi ngài được mười tuổi thì Huyền Trang trở về Trung Hoa, nhưng ngài đã tự chuẩn bị cho mình một cuộc sống tu sĩ Phật Giáo. Ngài gia nhập giáo đoàn năm 14 tuổi. Tuy đã nuôi ý định đi Ấn Độ từ năm 652, nhưng mãi đến khi 37 tuổi ngài mới thực hành được ý định. Năm 671 ngài mới có thể bắt đầu dong buồm đi Ấn Độ, trải qua hơn 25 năm, đi qua hơn 30 quốc gia; tuy nhiên, ngài dùng rất nhiều thì giờ tại tu viện Na Lan Đà. Năm 695, ngài trở về Lạc Dương, Trung Quốc, được tiếp đón nồng hậu và đầy vinh dự (người ta nói Thiên Hậu đã ra tận cửa Thượng Đông để đón ngài). Ngài mang về hơn 400 bộ kinh. Đầu tiên ngài hợp tác với Thực Xoa Nan Đà (người nước Vu Điền) dịch Kinh Hoa Nghiêm. Sau đó ngài còn dịch rất nhiều bộ kinh khác gồm 56 bộ kinh với 230 quyển. Các cuộc hành trình của ngài không có sự đa dạng và chủ đích khoa học như của ngài Huyền Trang, nhưng lại quan tâm nhiều đến con người. Trong chuyến đi năm 671, ngài đã ở lại tám tháng tại Sumatra, sáu tháng tại Srivijaya, một quốc gia vùng biển đang phát triển, nay là Palembang, và hai tháng tại Mã Lai. Ngài lên bộ tại Tamralipti vào năm 673 và từ đó đi đến Ma Kiệt Đà (Magadha), thánh địa hàng đầu, rồi đến chiêm bái Bodh-Gaya cùng các thánh địa khác. Ngài lưu lại viện đại học Na Lan Đà mười năm, nghe bài giảng của các bậc thầy về giáo pháp và thu thập kinh sách. Ngài rời Ấn Độ cũng bằng ngã Tamralipta, sống bốn năm tại Srivijaya, trau dồi Phạn ngữ để sau nầy dịch kinh sách. Vào năm 689, ngài trở lại Trung Quốc. Ngài đã để lại những ký sự quý báu về “Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng” (Hồi Ký về Các Tu Sĩ Xuất Chúng Đi Tìm Chánh Pháp ở Phương Tây), được Chavannes dịch sang Pháp ngữ. “Ghi Nhận Về Đạo Phật Tại Ấn Độ và Quần Đảo Mã Lai,” được J. Takakusu dịch sang Anh. Sách cho chúng ta một ý niệm khá rõ về sự sốt sắng tận tụy của những người hành hương mà số lượng đông hơn ta tưởng, về tinh thần chấp nhận hiểm nguy của họ. Thật vậy, đây là một chuỗi dài buồn thảm về các câu chuyện đầy những biến cố lâm ly, cả trên bộ lẫn dưới biển. Nghĩa Tịnh đã ngậm ngùi nói: “Tuy có thành công nhưng con đường đầy những gian nan. Vùng Thánh địa thật quá xa vời và bao la. Trong số đông những người toan tính, có mấy người đạt được kết quả thật sự, có mấy người hoàn thành được nhiệm vụ của mình. Những sa mạc mênh mông đầy sỏi đá của vùng đất Voi (Ấn Độ), những dòng sông lớn chói chang ánh mặt trời dội sức nóng thiêu đốt, hoặc những vực sâu, những đợt sóng cao ngất. Khi đi trên bộ một mình bên kia Thiết Môn giữa Samarquand và Bactria, người ta lạc vào giữa hàng ngàn ngọn núi, dễ rơi xuống đáy vực từ những vách đá dựng đứng; khi đi thuyền đơn độc bên kia trụ đồng (phía nam Tonkin) thì phải băng qua vô số vùng châu thổ và có thể bị thiệt mạng. Vì thế cho nên trong số năm chục người ra đi thì số sống sót trở về chỉ đếm trên đầu ngón tay.” Theo Nghĩa Tịnh, nhiều tu sĩ Cao Ly, băng qua vùng Trung Á, hay đi đường biển, rất nhiều trong số họ đã chết tại Ấn Độ, chứ không bao giờ được nhìn thấy lại xứ sở của mình. Ngài thị tịch năm 79 tuổi—I-Ching, 635-713 A.D., the famous monk during the T'ang dynasty, who was only about ten years old when Hsuan-Tsang returned to China, but he had already prepared himself for the life of a Buddhist monk. He was admitted to the Order when he was fourteen. Though he formed the idea of travelling to India in 652, but he did not carry it out till he was thirty-seven years old. In 671, he set out by the sea route for India, where he remained for over twenty years, travelling over 30 countries; however, he spent half this period in the Nalanda monastery. He returned to China (Lo-Yang) in 695, was received with much honour, brought back some four hundred works, translated with Siksananda the Avatamsaka Sutra, later translated many other works (56 sutras comprised of 230 books) and left valuable account of his travels and life in India. His itineraries lack the variety and scientific interest of those of Hsuan-Tsang, but they are full of human interest. On his outward voyage in 671, he spent eight months in Sumatra, six at Srivijaya, a rising maritime State, now Palembang, and two months in Malaysia in the neighborhood. He landed at Tamralipti in 673 and thence went to Magadha, the holy land and worshipped at Bodh-Gaya and other sacred spots. He spent ten years at Nalanda, hearing the teaching from different masters, and collecting holy books. In 685, he left India, again by way of Tamralipti. He spent four years in Srivijaya to learn more Sanskrit in order to translate sacred works later on. In 689, he returned to China to fetch collaborators for his work and after went back to stay at Srivijaya for another five years. He finally returned to China in 695. One of I-Ch'ing's works, A Record of the Buddhist Religion as practised in India and the Malay Archipelago, has been translated into English by a Japanese scholar, J. Takakusu. More interesting in some ways are his Memoirs on the Eminent Monks who went in Search of the Law in the Western Countries, which translated into French by Chavannes. This gives us a fair idea of the earnestness and devotion of the pilgrims whose numbers were large than we are apt to imagine and of the spirit with which they braved the dangers of their enterprises. It is, in fact, a melancholy succession of tales, full of pathetic incidents both on land and sea. I-Ch'ing remarks wistfully: “However, triumphal, the path was strewn with difficulties; the Holy Places were far away and vast. Of dozen who brought forth leaves and flowers, and of several who made an attempt, there was scarcely one who bore any fruit or produced any real results, and few who competed their task. The reason for this was the immensity of the stony deserts of the Land of the Elephant (India), the great rivers and the briliance of the sun which pours forth its burning heat, or else the towering waves heaved up by the giant fish, the abysses, and the waters that rise and swell as high as the heavens. When marching solitary, beyond the Iron Gates between Samarquand and Bactria, one wandered amongst the ten thousand mountains, and fell into the bottom of precipices; when sailing alone beyond the Columns of Coper (south of Tontkin), one crossed the thousand deltas over fifty in number, while those who survive were only a handful of men." According to I-Ch'ing, several Korean monks had gone to India, the majority across Central Asia, some by the sea route; of them, I-Ch'ing says: “They died in India, and never saw their country again. He died at age 79.
; (義淨) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người huyện Trác, tỉnh Hà bắc, có thuyết nói là người Tề châu (Lịch thành, Sơn đông), họ Trương, tự Văn minh. Sư bẩm tính thông minh, xuất gia từ nhỏ, tham học các bậc danh đức khắp nơi, nghe nhiều, đọc rộng. Sư rất ngưỡng mộ cuộc hành trình cầu pháp của các ngài Pháp hiển và Huyền trang. Năm 20 tuổi, sư thụ giới Cụ túc. Năm Hàm hanh thứ 2 (671), từ Quảng châu, sư vượt biển đến Thất lợi phật thệ (đảo Sumatra ở phía bắc Indonesia hiện nay), rồi từ đó sư qua Ấn độ. Sau khi chiêm bái các nơi Thánh tích của Phật giáo như: Núi Linh thứu, núi Kê túc, vườn Lộc dã, tinh xá Kì viên v.v... sư đến chùa Na lan đà lưu lại cầu học trong 10 năm. Sau đó, sư lại trở về Thất lợi Phật thệ học thêm 7 năm nữa. Khi trở về Trung quốc, sư mang theo khoảng 400 bộ kinh luận bằng tiếng Phạm và 300 viên ngọc Xá lợi. Lúc sư đến thành Lạc dương, Vũ hậu Tắc thiên đích thân ra ngoài cửa Đông nghinh đón và thỉnh sư về trụ ở chùa Phật thụ kí, chuyên việc dịch kinh.Trong khoảng thời gian 12 năm (699-711), sư dịch được 56 bộ 230 quyển kinh, luật, luận, trong đó, Luật bộ chiếm số nhiều, như Hữu bộ tì nại da v.v... Lưu hành hiện nay là do sư dịch. Sư cùng với các ngài Cưu ma la thập, Chân đế và Huyền trang được tôn xưng là Tứ đại dịch kinh gia của Phật giáo Trung quốc. Ngoài việc dịch thuật, sư cũng dành thời gian để giảng dạy giới luật cho hàng hậu học. Trong thời gian du học, sư đã đi qua hơn 30 nước và đều có ghi lại trong các trứ tác của sư về sự sinh hoạt và phong tục, tập quán của mỗi nước. Đây là tư liệu quí báu giúp cho việc nghiên cứu, tìm hiểu Ấn độ cũng như các nước ở vùng Nam hải đương thời. Năm Tiên thiên thứ 2 (713) sư thị tịch, hưởng thọ 79 tuổi. Sư có các tác phẩm: Nam hải kí qui nội pháp truyện 4 quyển; Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện 2 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Phật tổ thống kỉ Q.39].
Nghĩa Tồn
義存|Tuyết Phong Nghĩa Tồn.
nghĩa tồn
(義存) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người Nam an, Tuyền châu (Phúc kiến), họ Tăng, hiệu là Tuyết phong. Năm sư 12 tuổi theo cha đến chùa Ngọc nhuận ở Bồ điền lễ Luật sư Khánh huyền cầu xuất gia, được chấp nhận cho làm hành đồng (chú điệu). Năm 17 tuổi, sư được xuống tóc và đến tham yết Đại sư Hằng chiếu ở núi Phù dung. Sau đó, sư đến chùa Bảo sát tại U châu thụ giới Cụ túc, rồi đến Đức sơn Vũ lăng (Thường đức, Hồ nam) tham yết Thiền sư Tuyên giám và được nối pháp của ngài. Năm Hàm thông thứ 6 (865) sư về núi Phù dung. Năm Hàm thông 11 (870), sư lên núi Tượng cốt tại Phúc châu lập am hoằng pháp. Núi Tượng cốt là 1 thắng cảnh ở Mân việt, mùa đông chưa đến mà tuyết đã rơi, đang giữa mùa hạ mà vẫn còn rét,vì thế nên núi có tên là Tuyết phong và sư cũng dùng Tuyết phong làm hiệu. Khi chùa được hoàn thành, chúng về cầu học rất đông, thường tới 1.500 người. Vua Hi tông ban cho sư tử y và hiệu Chân Giác Đại Sư. Đệ tử nối pháp nổi tiếng nhất là Thiền sư Vân môn Văn yển, sau là Tổ khai sáng tông Vân môn. Năm Khai bình thứ 2 (908) sư thị tịch, hưởng thọ 87 tuổi. [X. Tống cao tăng truyện Q.12; Cảnh đức truyền đăng lục Q.16, Ngũ đăng hội nguyên Q.7].
nghĩa tồn tuyết phong thiền sư
Zen Master Xue-Feng-Yi-Cun—Thiền sư Nghĩa Tồn Tuyết Phong sanh năm 822 tại Tuyền Châu (bây giờ thuộc tỉnh Phúc Kiến). Năm mười hai tuổi sư đến ở chùa và xuất gia năm 17 tuổi—Zen Master Xue-Feng-Yin-Cun was born in 822 in Quan-Chou (now Fu-Jian Province). He left home to stay at Yu-Jian temple and became a monk at the age of seventeen. Tại Động Sơn, sư làm trưởng ban trai phạn (Phạn Đầu) đang đãi gạo. Khâm Sơn hỏi: “Đãi cát bỏ gạo hay đãi gạo bỏ cát?” Sư đáp: “Gạo cát đồng thời bỏ.” Khâm Sơn hỏi: “Như vậy đại chúng lấy gì ăn?” Sư bèn lật úp thau đãi gạo. Khâm Sơn nói: “Cứ theo nhơn duyên nầy, huynh hợp ở Đức Sơn.”—Xue-Feng served as a rice cook at T'ong-Shan. One day as he was straining the rice, T'ong-Shan asked him: “Do you strain the rice out from the sand, or do you strain the sand out from the rice?” Xue-Feng said: “Sand and rice are both strained out at once.” T'ong-Shan said: “In that case, what will the monks eat?” Xue-Feng then tipped over the rice pot. T'ong-Shan said: “Go! Your affinity accords with Te-Shan!” Sư đến tạm biệt Động Sơn, Động Sơn hỏi: “Ngươi đi đâu?” Sư thưa: “Đi về trong đảnh núi.” Động Sơn hỏi: “Đương thời từ đường nào ra?” Sư thưa: “Từ đường vượn bay đảnh núi ra.” Động Sơn hỏi: “Nay quay lại đường nào đi?” Sư thưa: “Từ đường vượn bay đảnh núi đi.” Động Sơn bảo: “Có người chẳng từ đường vượn bay đảnh núi đi, ngươi biết chăng?” Sư thưa: “Chẳng biết.” Động Sơn hỏi: “Tại sao chẳng biết?” Sư thưa: “Y không mặt mày.” Động Sơn bảo: “Ngươi đã chẳng biết, sao biết không mặt mày?” Sư không đáp được—When Xue-Feng left Tong-Shan, Tong-Shan asked him: “Where are you going?” Xue-Feng said: “I'm returning to Ling-Zhong. Tong-Shan said: “When you left Ling-Zhong to come here, what road did you take?” Xue-Feng said: “I took the road through the Flying Ape Mountain.” Tong-Shan asked: “And what road are you taking to go back there?” Xue-Feng said: “I'm returning through the Flying Ape Mountains as well.” Tong-Shan said: “There's someone who doesn't take the road through Flying Ape Mountains. Do you know him?” Xue-Feng said: “I don't know him.” Tong-Shan said: “Why don't you know him?” Xue-Feng said: “Because he doesn't have a face.” Tong-Shan said: “If you don't know him, how do you know he doesn't have a face?” Xue-Feng was silent. Sư cùng Nham Đầu đi đến Ngao Sơn ở Lễ Châu gặp tuyết xuống quá nhiều nên dừng lại. Nham Đầu mỗi ngày cứ ngủ, sư một bề ngồi thiền. Một hôm, sư gọi Nham Đầu: “Sư huynh! Sư huynh! Hãy dậy.” Nham Đầu hỏi: “Làm cái gì?” Sư nói: “Đời nay chẳng giải quyết xong, lão Văn Thúy đi hành khất đến nơi chốn, bị y chê cười, từ ngày đến đây sao chỉ lo ngủ?” Nham Đầu nạt: “Ngủ đi! Mỗi ngày ngồi trên giường giống như thổ địa, ngày sau bọn ma quỷ nam nữ vẫn còn.” Sư chỉ trong ngực nói: “Tôi trong ấy còn chưa ổn, không dám tự dối.” Nham Đầu nói: “Tôi bảo ông sau nầy lên chót núi cất thảo am xiển dương đại giáo, sẽ nói câu ấy.” Sư thưa: “Tôi thật còn chưa ổn.” Nham Đầu bảo: “Nếu ông thật như thế, cứ chỗ thấy của ông mỗi mỗi thông qua, chỗ phải tôi sẽ chứng minh cho ông, chỗ chẳng phải tôi sẽ vì ông đuổi dẹp.” Sư thưa: “Khi tôi mới đến Diêm Quan, thấy thượng đường nói nghĩa sắc không, liền được chỗ vào.” Nham Đầu nói: “Từ đây đến ba mươi năm rất kỵ không nên nói đến.” Sư thưa: “Tôi thấy bài kệ của Động Sơn qua sông 'Thiết kỵ tùng tha mít, điều điều giữ ngã sơ, cừ kim chánh thị ngã, ngã kim bất thị cừ.'” Nham Đầu nói: “Nếu cùng ấy tự cứu cũng chưa tột.” Sau sư hỏi Đức Sơn 'Việc trong tông thừa từ trước con có phần chăng?' Đức Sơn đánh một gậy hỏi: 'Nói cái gì?' Tôi khi đó giống như thùng lủng đáy.” Nham Đầu nạt: “Ông chẳng nghe nói “Từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà.” Sư thưa: “Về sau làm thế nào mới phải?” Nham Đầu bảo: “Về sau, nếu muốn xiển dương Đại Giáo, mỗi mỗi từ trong hông ngực mình lưu xuất, sau nầy cùng ta che trời che đất đi!” Sư nhơn câu ấy đại ngộ liền đảnh lễ, đứng dậy kêu luôn: Sư huynh! Ngày nay mới là thành đạo ở Ngao Sơn.” At that moment it was like the botom falling out of a bucket of water.”—When Xue-Feng was traveling with Yan-T'ou on Tortoise Mountain in Li-Chou Province, they were temporarily stuck in an inn during a snowstorm. Each day Yan-T'ou spent the entire day sleeping. Xue-Feng spent each day sitting in Zen meditation. One day, Xue-Feng called out: “Elder Brother! Elder Brother! Get up!” Yan-T'ou said: “What is it?” Xue-Feng said: “Don't be idle. Monks on pilgrimage have profound knowledge as their companion. This companion must accompany us at all times. But here today, all you are doing is sleeping.” Yan-T'ou yelled back: “Just eat your fill and sleep! Sitting there in meditation all the time is like being some day figure in a villager's hut. In the future you'll just spook the men and women of the village.” Xue-Feng pointed to his own chest and said: “I feel unease here. I don't dare cheat myself by not practicing diligently.” Yan-T'ou said: “I always say that some day you'll build a cottage on a lonely mountain peak and expound a great teaching. Yet you still talk like this!” Xue-Feng said: “I'm truly anxious.” Yan-T'ou said: “If that's really so, then reveal your understanding, and where it is correct I'll confirm it for you. Where it's incorrect I'll root it out.” Xue-Feng said: “When I first went to Yan-Kuan's place, I heard him expound on emptiness and form. At that time I found an entrance.” Yan-T'ou said: “And then I saw Tong-Shan's poem that said: 'Avoid seeking elsewhere, for that's far from the Self, now I travel alone, everywhere I meet it, now it's exactly me, now I'm not it.” Yan-T'ou said: “If that's so, you'll never save yourself.” Xue-Feng said: “Later I asked De-Shan: 'Can a student understand the essence of the ancient teachings?' He struck me and said: 'What did you say?' At that moment it was like the bottom falling out of a bucket of water.” Yan-T'ou said: “Haven't you heard it said that 'what comes in through the front gate isn't the family's jewels?” Xue-Feng said: “Then, in the future, what should I do?” Yan-T'ou said: “In the future, if you want to expound a great teaching, then it must flow forth from your own breast. In the future your teaching and mine will cover heaven and earth.” When Xue-Feng heard this he experienced unsurpassed enlightenment. He then bowed and said: “Elder Brother, at last today on Tortoise Mountain I've attained the Way!” Một vị Tăng hỏi: “Hòa Thượng thấy Đức Sơn được cái gì liền thôi?” Sư đáp: “Ta đi tay không, về tay không.”—After Xue-Feng asumed the abbacy at Snow Peak, a monk asked him: “When the Master was at Te-Shan's place, what was it you attained and allowed you to stop looking further?” Xue-Feng said: “I went with empty hands and returned with empty hands.” Sư hỏi vị Tăng mới đến: “Vừa rời chỗ nào đến?” Vị Tăng thưa: “”Phú Thuyền đến.” Sư hỏi: “Biển sanh tử chưa qua, vì sao lại phú thuyền (úp thuyền)?” Vị Tăng không đáp được, bèn trở về thuật lại cho Phú Thuyền. Phú Thuyền bảo: “Sao không nói y không sanh tử.” Vị Tăng trở lại nói lời nầy. Sư bảo: “Đây không phải lời của ông. Vị Tăng thưa: “Phú Thuyền nói thế ấy.” Sư bảo: “Ta có 20 gậy gởi cho Phú Thuyền, còn ta tự ăn 20 gậy, chẳng can hệ gì đến Xà Lê.”—Xue-Feng asked a monk: “Where have you come from?” The monk said: “From Zen master Fu-Chuan's place.” Xue-Feng said: “You haven't crossed the sea of life and death yet. So why have you overturned the boat?" ”he monk was speechless. He later returned and told Zen master Fu-Chuan about this. Fu-Chuan said: "W“y didn't you say 'It is not subject to life and death'?” The monk returned to Xue-Feng and repeated this phrase. Xue-Feng said: “This isn't something you said yourself.” The monk said: “Zen master Fu-Chuan said this.” Xue-Feng said: : Isend twenty blows to Fu-Chuan and give twenty blows to myself as well for interfering your own affairs.” Một hôm, sư ở trong nhà Tăng dóng cửa trước cửa sau xong nổi lửa đốt, lại kêu: “Cứu lửa! Cứu lửa! Huyền Sa đem một thanh củi từ cửa sổ ném vào trong. Sư bèn mở cửa—One day, Xue-Feng went into the monk's hall and started a fire. The he closed and locked the front and back doors and yelled “Fire! Fire!” Xuan-Sha took a piece of firewood and threw it in through the window. Xue-Feng then opened the door. Sư thượng đường dạy chúng: “Núi Nam có một con rắn mũi to, hết thảy các ông đều phải khéo xem.” Trường Khánh bước ra thưa: “Hôm nay trong nhà này có người tán thân mất mạng.” Vân Môn lấy cây gậy ném trước sư rồi ra bộ sợ. Có người đem việc nầy thuật lại Huyền Sa. Huyền Sa nói: “Phải là Huynh Lăng mới được. Tuy nhiên như thế, nếu ta thì chẳng vậy.” Vị Tăng hỏi: “Hòa Thượng làm thế nào?” Huyền Sa nói: “Dùng núi Nam làm gì?”—Zen master Xue-Feng entered the hall and addressed the monks, saying: “South Mountain has a turtle-nosed snake. All of you here must take a good look at it.” Chang-Qing came forward and said: “Today in the hall there and many who are losing their bodies and lives.” Yun-Men then threw a staff onto the ground in front of Xue-Feng and affected a pose of being frightened. A monk told Xuan-Sha about this and Xuan-Sha said: “Granted that Chang-Qing understands, still I don't agree.” The monk said: “What do you say, Master?” Xuan-Sha said: “Why do you need South Mountain?” Sư thị tịch năm 908, được vua ban hiệu “Đại Sư Chơn Giác”—He died in 908. After his death he received the posthumous title “Great Teacher True Awakening.”
Nghĩa Uyên
(義淵, Giin, ?-728): vị cao tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nại Lương, húy là Nghĩa Uyên (義淵), xuất thân vùng Cao Thị (高市), Đại Hòa (大和, Yamato), họ là Thị Vãng (市徃). Tương truyền rằng song thân ông lo buồn vì không có con nối dõi, lâu năm chuyên tâm cầu nguyện đức Bồ Tát Quan Âm và cuối cùng hạ sanh ông. Lớn lên, ông theo học Pháp Tướng và Duy Thức với Trí Phụng (智鳳, Chihō) ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji), đến năm 699 thì hoàn thành sự nghiệp và được tặng cho 1 vạn bao gạo. Vào năm 703, ông được bổ nhiệm làm Tăng Chánh. Tương truyền ông đã từng sáng lập Long Cái Tự (龍蓋寺), Long Môn Tự (龍門寺) và Long Uyên Tự (龍淵寺). Môn hạ của ông có rất nhiều như Huyền Phưởng (玄昉, Gembō), Hành Cơ (行基, Gyōki), Tuyên Giáo (宣敎, Senkyō), Lương Mẫn (良敏, Ryōbin), Hành Đạt (行達, Gyōtatsu), Lương Biện (良辨, Rōben), v.v., đều là những nhân vật xuất chúng đã hoạt động tích cực trong giới Phật Giáo thời Nại Lương.
nghĩa vân hoà thượng ngữ lục
(義雲和尚語錄) Cũng gọi Nghĩa vân ngữ lục. Ngữ lục, 2 quyển, do ngài Vĩnh bình Nghĩa vân người Nhật soạn, Viên tông biên tập. Nội dung: Quyển thượng thu chép Thướng đường ngữ, Tiểu tham, Pháp ngữ, Kệ tụng ở chùa Bảo khánh và chùa Vĩnh bình. Quyển hạ bao gồm: Vĩnh bình tự ngữ, Chính pháp nhãn tạng phẩm mục tụng, Nghĩa vân hòa thượng truyện v.v...
nghĩa vô ngại
Unobstructed knowledge of the meaning, or the truth.
; Hiểu biết thông đạt và giảng giải nghĩa lý chư pháp một cách trôi chảy không trở ngại, một trong tứ vô ngại của chư Bồ Tát—Unonstructed knowledge of the meaning, or the truth; complete knowledge, one of the four unobstructed eloquences of Bodhisattvas. ** For more information, please see Tứ Vô Ngại.
; (義無礙) Hiểu biết lí của các pháp một cách rõ ràng, thông suốt, 1 trong 4 vô ngại. Đại thừa nghĩa chương quyển 11 (Đại 44, 691 hạ) nói: Biết các nghĩa một cách thông suốt, gọi là nghĩa vô ngại.
Nghĩa vô ngại trí
xem Bốn trí không ngăn ngại.
nghĩa vệ
Thuật để cứu đàn kiến (tại một nơi ngập nước, đàn kiến bị nước cuốn trôi, có người lấy cành cây bắc ngang qua cho chúng bò lên)—The duty and mode of saving lives of ants.
nghĩa vị
(義味) Dùng mùi vị của thức ăn để ví dụ pháp nghĩa. Tức là do văn sinh ra nghĩa, giống như từ thức ăn toát ra mùi vị. Hoặc có chỗ cho rằng nghĩa là lời nói. Vị là ý thú, tức chỉ cho lời và ý.
nghĩa ý
Meaning and aim.
nghĩa đen
Literal sense of a word.
nghĩa đà la ni
Truth dhàrani, the power of the Bodhisattva to retain all truth he hears.
; Năng lực tổng trì không để mất chân thực nghĩa của Như Lai, đây là hạnh tu của Bồ Tát là giữ được tất cả những gì mà các ngài nghe—Truth dharani, the power of bodhisattvas to retain all truth they hears.
nghĩa đường chu tín
(義堂周信) Thiền sư Nhật bản thuộc tông Lâm tế, người Thổ tá (huyện Cao tri) hiệu là Không hoa đạo nhân. Sư tham yết ngài Mộng song Sơ thạch và được ấn khả. Sau, sư trụ trì ở chùa Viên giác tại Quan đông và các chùa khác, trong thời gian hơn 20 năm, sư đi hoằng hóa khắp nơi. Sau đó, Túc lợi Nghĩa mãn thỉnh sư về ở tại chùa Kiến nhân và chùa Nam thiền tại Kyoto. Sư thông suốt nội ngoại điển, giỏi thơ văn, là nhân vật tiêu biểu của phái Ngũ sơn văn học. Sư thị tịch năm 1388, hưởng thọ 64 tuổi. Sư có các tác phẩm: Thi văn tập không hoa tập 20 quyển, Ngữ lục dữ không hoa nhật công tập.
nghĩa đường hoà thượng ngữ lục
(義堂和尚語錄) Cũng gọi Nghĩa đường lục, Không hoa lục. Ngữ lục, 4 quyển, do ngài Nghĩa đường Chu tín, tông Lâm tế Nhật bản soạn, Trung viên và Trung quí biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung gồm các phần: Hải vân sơn Thiện phúc thiền tự ngữ lục, Thụy long sơn Thái bình hưng quốc Nam thiền tự ngữ lục, Thăng tòa, Niêm hương, Tiểu Phật sự, Đạo hiệu, Phật tổ tán và lời tựa của ngài Vô trước Đạo trung.
Nghĩa Đế
(義諦, Gitai, 1771-1822): học Tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; húy là Trí Đạt (智達); thụy hiệu Tốc Thành Viện (速成院); hiệu là Tốc Thành Tự (速成寺), Bắc Phong (北峰), Phật Tiên (佛仙); xuất thân vùng Việt Trung (越中, Ecchū, thuộc Toyama-ken [富山縣]). Ông vốn có đam mê rất lớn với học vấn của Chơn Tông; sau khi vụ loạn động Tam Nghiệp Hoặc Loạn (三業惑亂) được trấn định, ông làm Tăng sĩ của Tây Bổn Nguyện Tự (西本願寺, Nishihongan-ji) và đến trú tại Từ Minh Tự (慈明寺) vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu, thuộc Ōsaka [大阪]). Vào năm 1815, ông giảng nghĩa Bát Nhã Tán (般若讚), rồi năm 1821 thì giảng Tịnh Độ Văn Loại Sao (淨土文類鈔) nhân mấy dịp An Cư; và cùng năm đó thì luận tranh với Vân Tràng (雲幢) về vấn đề an tâm. Sau ông thiết lập trường Tư Thục Nhiếp Tân Không Hoa Xã (私塾攝津空華社) ở Từ Minh Tự và tận lực giáo dưỡng học đồ. Trước tác của ông có Bổn Nguyện Thành Tựu Văn Giảng Nghĩa (本願成就文講義) 1 quyển, Dị Hành Phẩm Di Đà Chương Đề Nhĩ Lục (易行品彌陀章提耳錄) 1 quyển, Vãng Sanh Luận Chú Bát Phiên Vấn Đáp Ký Lục (徃生論註八番問答記錄) 2 quyển, v.v.
nghĩa ấp
(義邑) Cũng gọi Pháp nghĩa, Ấp nghĩa, Ấp hội, Xã ấp, Nghĩa xã. Tổ chức tín ngưỡng lấy tín đồ Phật giáo tại gia làm trung tâm, hoạt động ở vùng Giang bắc, Trung quốc vào khoảng đầu thời Bắc Ngụy đến Tùy, Đường. Danh xưng này thường được thấy trong các bài minh khắc trên bia ghi công đức tạo tượng Phật. Công cuộc tạo tượng đầu tiên ở các hang đá nổi tiếng như: Vân cương, Long môn, Thiên long v.v... đều do tổ chức đoàn thể tín ngưỡng Nghĩa ấp xuất tiền của để chi dụng. Họ lấy sự nghiệp tạo tượng làm trung tâm tín ngưỡng, các hoạt động chủ yếu khác gồm có trai hội, tụng kinh, chép kinh v.v... Đây là 1 loại đoàn thể tín ngưỡng tại gia có tính tổ chức sớm nhất. Tạo tượng kí ở Long môn trong thời Bắc Ngụy ghi: Ngày 30 tháng 5 năm Cảnh hưng thứ 3 (502), chủ ấp là Cao thụ đứng đầu 100 người tạo 1 khu tượng đá. Các bia còn ghi: Năm Cảnh hưng thứ 4 (503), chủ ấp là Mã chấn bái cùng với 34 người tạo tượng. Năm Chính quang thứ 6 (525) chủ ấp là Tô hồ nhân cùng với 19 người tạo tượng Thích ca. Năm Vĩnh hi thứ 2 (533), hơn 20 người trong Nghĩa ấp tạo tượng Phật ngồi v.v... Như vậy, ta có thể biết thường có mấy mươi hoặc mấy trăm người góp sức cùng nhau tạo tượng. Còn trong mục Ngưng thích tự tam cấp phù đồ bi (bia tháp 3 cấp ở chùa Ngưng thích) trong Kim thạch tục biên quyển 2 ghi rằng: Bài minh (trong bia tháp) khắc vào năm Nguyên tượng thứ 2 (535) đời Đông Ngụy cho biết, con số thành viên của Nghĩa ấp lên tới hơn 2 nghìn người. Ngoài ra, trong nhiều bài minh ghi công đức tạo tượng có những danh xưng như: Ấp nghĩa chủ, Pháp nghĩa chủ, Ấp chủ, Ấp trưởng v.v... Còn trước các chức vụ như Hội trưởng, Ấp duy na v.v... đều có đặt hình dung từ như Đại đô, Đại, Đô, Phó, Tả sương, Hữu sương v.v... rất giống với tên chức sự trong các chùa viện. Vị tăng chỉ đạo giáo hóa đoàn thể Nghĩa ấp này gọi là Ấp sư. Như trong bài minh tạo tượng được khắc vào năm Thái hòa thứ 7 (483) tại hang đá Vân cương có ghi: Ấp nghĩa tín sĩ và tín nữ gồm 54 người trong đó có khắc tên các Ấp sư như: Ấp sư Phổ minh, Ấp sư Đàm tú, Ấp sư Pháp tông v.v... [X. Xuất Tam tạng kí tập Q.12; Kim thạch tụy biên Q.27, 38, 39; Toàn Đường văn Q.988; Trung quốc Phật giáo di vật (Tùng bản văn Tam lang); Thiên Bắc Ngụy trong Trung quốc Phật giáo sử nghiên cứu (Trủng bản Thiện long)].
nghẹn
Chocked.
nghẹt
Blocked—Choked.
nghẽn
Obstructed—Blocked.
nghề hèn mọn
Ignoble trades—Những nghề mà một Phật tử nên tránh, bao gồm nghề xẻ thịt, săn bắn, câu cá, đánh trận, làm vũ khí, bán chất độc, thuốc và rượu làm hại người—Trades which a Buddhist should avoid, includes butchery, hunting, fishing, warfare, weapon makers, dealers of poisons, drugs and drinks which cause stupefaction and intoxication.
nghề lương thiện
Honest profession.
nghệp thành tựu luận
Xem Đại thừa Thành nghiệp luận.
nghỉ
To rest.
nghị lực
Virya (S). Vigour, energy, effort. Also tinh tiến.
; Energy.
nghị quyết
Resolution.
nghịch
Vàma (S). To go against, contrary, adverse, reverse, rebellious, oppose, resist.
; Vama (skt)—Chống lại hay đối nghịch lại—To go against—Opposite—Contrary—Resist—In the opposite direction.
nghịch báng
Chống báng lại—To resist and abuse.
; (逆謗) Phạm tội ngũ nghịch và phỉ báng chính pháp, gọi là Nghịch báng. Những người phạm tội Nghịch báng tức đã mất pháp thân tuệ mệnh, không thể thành Phật, cho nên ví dụ như cái xác chết mà gọi là Nghịch báng thi hài. Nguyện thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ nói rằng, kẻ phạm tội Nghịch báng không thể vãng sinh. Nhưng kinh Quán Vô lượng thọ thì lại chủ trương, người phạm tội ngũ nghịch thập ác, nếu chuyên tâm niệm Phật thì vẫn có thể được vãng sinh. Hai bộ kinh trên nói trái ngược nhau, cho nên tông Tịnh độ thường nêu vấn đề này ra để thảo luận. (xt. Ức Chỉ Môn, Nghịch Báng Trừ Thủ).
nghịch báng trừ thủ
(逆謗除取) Cũng gọi Nhị kinh trừ thủ. Phạm tội ngũ nghịch và phỉ báng chính pháp có được vãng sinh hay không? Không được là trừ, còn được là thủ (lấy). Nguyện thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ quyển thượng nói: Nếu tôi thành Phật, 10 phương chúng sinh đầy đủ 10 niệm đều được sinh về cõi nước của tôi, chỉ trừ những kẻ phạm tội ngũ nghịch, phỉ báng chính pháp. Phẩm Hạ hạ trong kinh Quán vô lượng thọ lại nói: Nếu có chúng sinh tạo nghiệp ngũ nghịch, thập ác, đến lúc lâm chung, đầy đủ 10 niệm, thì được vãng sinh. Hai kinh trên nói trái ngược nhau: Một cho rằng kẻ phạm tội ngũ nghịch, phỉ báng chính pháp không được vãng sinh (trừ), một lại cho rằng phạm tội ngũ nghịch, thập ác cũng được vãng sinh (thủ). Vấn đề mâu thuẫn này, từ xưa đến nay đã được các nhà Tịnh độ giáo bàn luận rất nhiều. Vãng sinh luận chú quyển thượng của ngài Đàm loan giải thích rằng, kinh Vô lượng thọ loại trừ những kẻ vi phạm cả 2 trọng tội là ngũ nghịch và phỉ báng chính pháp; còn kinh Quán vô lượng thọ thì chỉ nhiếp thủ những người tạo nghiệp ngũ nghịch mà không phỉ báng chính pháp. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ của ngài Tuệ viễn, luận Tịnh độ quyển thượng của ngài Ca tài và Quán kinh sớ tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo đều đồng quan điểm với ngài Đàm loan. Còn luận Thích Tịnh độ quần nghi quyển 3 của ngài Hoài cảm thì nêu ra tất cả 15 ý kiến của 15 nhà như sau: 1. Những người mà Quán kinh lấy (nhiếp thủ) là những người biết sám hối, còn những người mà Thọ kinh bỏ (loại trừ) là những người không chịu sám hối.(Đây là ý kiến của ngài Nguyên hiểu). 2. Những người mà Quán kinh lấy là những người tạo tội ngũ nghịch với tâm niệm nhỏ nhẹ; còn những kẻ mà Thọ kinh bỏ là những kẻ tạo tội ngũ nghịch với tâm niệm sâu nặng.(?). 3. Những người mà Quán kinh lấy chỉ tạo tội ngũ nghịch; còn người mà Thọ kinh bỏ thì vừa phạm ngũ nghịch vừa phỉ báng chính pháp.(Đây là ý kiến của ngài Đàm loan). 4. Những người Quán kinh lấy là giống như người tạo ngũ nghịch, còn những người Thọ kinh bỏ thì chính là người tạo ngũ nghịch.(?). 5. Người Quán kinh lấy là người biết phát tâm Bồ đề, còn người mà Thọ kinh bỏ là người không phát tâm Bồ đề.(Đây là ý kiến của ngài Đạo ngân). 6. Người mà Quán kinh lấy là người chí thành niệm Phật A di đà, còn người mà Thọ kinh bỏ là người không chí thành niệm Phật A di đà.(?). 7. Người mà Quán kinh lấy là người thuộc hàng Bồ tát Thập tín, còn người mà Thọ kinh bỏ thì không phải hàng Bồ tát Thập tín. (Đây là ý kiến của ngài Tuệ viễn). 8. Người mà Quán kinh lấy là không phải hạng Nhất xiển đề, còn người mà Thọ kinh bỏ là hạng Nhất xiển đề.(?). 9. Người mà Quán kinh lấy là người đã tạo tội ngũ nghịch, còn người mà Thọ kinh bỏ là người chưa tạo tội ngũ nghịch. (Đây là ý kiến của ngài Thiện đạo). 10. Người Quán kinh lấy là Khai môn, người mà Thọ kinh bỏ là Giá môn. (Đây là ý kiến của ngài Ca tài). 11. Nghiệp ngũ nghịch mà Quán kinh lấy là chỉ cho Bất định nghiệp có thể chuyển được; còn nghiệp ngũ nghịch mà Thọ kinh bỏ là chỉ cho Định nghiệp không thể chuyển được. (Ý kiến của ngài Nghĩa tịch). 12. Những người mà Quán kinh lấy là người thuộc các giai vị Noãn, Đính; còn người mà Thọ kinh bỏ không thuộc các giai vị này.(?). 13. Người mà Quán kinh lấy là người đã gieo 1 phần thiện căn giải thoát; còn người mà Thọ kinh bỏ thì không.(?). 14. Người mà Quán kinh lấy là chúng sinh thời tượng pháp (đệ nhị giai), còn người Thọ kinh bỏ là chúng sinh thời mạt pháp (đệ tam giai). (Ý kiến ngài Tín hành). 15. Người mà Quán kinh lấy chỉ là riêng những người đầy đủ 10 niệm; còn những người mà Thọ kinh bỏ thì bao gồm cả những người đầy đủ và không đầy đủ 10 niệm. (Ý kiến của ngài Hoài cảm). [X. Vãng sinh yếu tập Q.hạ phần cuối; Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.hạ; Cực lạc Tịnh độ cửu phẩm vãng sinh nghĩa; Thích tịnh độ quần nghi luận thám yếu kí Q.6].
nghịch cảnh
Adverse circumstances—Adversity.
nghịch duyên
Resisting accessory-cause
; Bất thuận duyên, đối lại với thuận duyên; thiện với Phật quả là thuận duyên, ác là nghịch duyên (thuận với đường lối đạo Phật là thuận duyên, ngược với đường lối đạo Phật là nghịch duyên)—Resisting accessory cause, in contrast with the accordant cause (thuận duyên); as goodness is the accordant cause so evil is the resisting cause of the Buddha way.
; (逆緣) Đối lại: Thuận duyên. Cũng gọi Nghịch tăng thượng duyên. I. Nghịch Duyên. Chỉ cho những chướng nạn do thầy, bạn ác gây ra như dụ dỗ và phỉ báng chính pháp v.v... có khi lại là nhân duyên dẫn đến Phật đạo. II. Nghịch Duyên. Chỉ cho những nhân duyên gây trở ngại cho việc tu hành của mình.
nghịch dụ
Argument by illustration from effect to cause.
; Phép dẫn dụ đi ngược lại từ quả trở về nhân, từ ngọn về gốc, thí dụ như biển có nguồn là sông to, sông to có nguồn là sông nhỏ, sông nhỏ có nguồn là suối, vân vân—Argument by illustration from effect to cause, e.g. the source of the ocean is the river, of the river the streams, of the small rivers the streams, etc.
; (逆喻) Phương pháp ví dụ ngược, 1 trong 8 cách ví dụ. Nghĩa là từ quả suy ra nhân, từ ngọn tìm đến gốc. Như nói: Nước của biển cả là từ các sông lớn đổ về, nước của sông lớn là từ các sông nhỏ chảy vào, nước các sông nhỏ là từ các ngòi rạch chảy xuống, nước các ngòi rạch là do mưa mà có... [X. kinh Đại bát niết bàn Q.29 (bản Bắc)]. (xt. Thí Dụ).
nghịch hoá
(逆化) Đối lại: Thuận hóa. Phật và Bồ tát dùng phương pháp trái ngược để giáo hóa chúng sinh. Như khi đức Phật giáo hóa Quỉ tử mẫu, trước hết, ngài đem giấu quỉ con đi, kế đó, gợi tình thương con của quỉ mẹ. Sau hết, Phật mới dùng lí nói cho mẹ con quỉ tỉnh ngộ, bỏ ác hướng thiện, thủ hộ Phật pháp. Ngoài ra, đối với những chúng sinh ương ngạnh, khó dạy, Mật giáo dùng các vị Minh vương, hiện tướng phẫn nộ, dữ tợn, uy hiếp, chiết phục để khiến chúng quay về đường thiện. Đây cũng là 1 loại Nghịch hóa. [X. kinh Pháp hoa Q.7; Pháp hoa văn cú Q.10 phần trên].
nghịch hóa
To convert the heterodox or opponents.
; Khả năng của chư Phật và chư Bồ Tát, giáo hóa những kẻ theo tà giáo hay những người đối địch với mình—The ability of the Buddhas and bodhisattvas to convert the heterodox or opponents.
nghịch liên
(逆蓮) Hoa sen nở hướng xuống. Đây là kiểu hoa sen trang trí được khắc tạo trong các kiến trúc mĩ thuật của Phật giáo, như Phật đàn, tòa sen, phan, phướn... Người Ấn độ từ xưa đến nay rất tôn qui hoa sen, Phật và Bồ tát phần nhiều cũng ngồi hoặc đứng trên đài sen. Khoảng thế kỉ II Tây lịch, mĩ thuật Phật giáo Kiện đà la ở thời kì Điên phong sử dụng rất nhiều hình thức Nghịch liên. Từ sau Vương triều Cấp đa (Phạm: Gupta), thế kỉ VI, VII, do ảnh hưởng Ấn độ giáo kết hợp với tín ngưỡng Mật giáo, mĩ thuật Phật giáo phần lớn cũng chuộng sự tạo hình Nghịch liên.
nghịch luân
Contrary to morality—Immoral.
nghịch lý
Opposed (contrary) to common sense.
nghịch lưu
To go against the current.
; Tìm đường giải thoát khỏi những phiền trược bằng cách đi ngược lại dòng đời—To resist it and seek a way of escape by getting rid of life's delusions. Đi ngược lại dòng sanh tử luân hồi và nhập vào đạo quả Niết Bàn, giai đoạn Thanh Văn hay thứ nhất của A La Hán: To go against the current (the stream of transmigration and enter the path of nirvana), the first stage of the arhat, that of a sravaka.
; (逆流) I. Nghịch Lưu. Đối lại: Thuận lưu. Ngược dòng, nghĩa là đi ngược dòng sinh tử mà vào cảnh giới giác ngộ. Từ vô thủy đến nay, hữu tình chúng sinh khởi hoặc tạo nghiệp, thuận theo dòng sinh tử nên khó thoát khỏi vòng luân hồi, bởi thế phải dùng tâm Nghịch lưu để đối trị. Trong quyển Thụ Bồ tát giới nghi, ngài Trạm nhiên có nêu ra 10 tâm Nghịch lưu như sau: 1. Tâm tin nhân quả một cách chân chính. 2. Tâm tự hổ thẹn và nghiêm khắc với chính mình. 3. Tâm sợ hãi đường ác. 4. Tâm giãi bày những tì vết xấu xa. 5. Tâm dứt sự tiếp nối. 6. Tâm phát khởi bồ đề. 7. Tâm tích chứa công đức, sửa đổi lỗi lầm. 8. Tâm giữ gìn chính pháp. 9. Tâm nhớ tưởng chư Phật 10 phương. 10. Tâm quán xét tội tính vốn không. (xt. Thuận Lưu). II. Nghịch Lưu. Chỉ cho quả Tu đà hoàn, 1 trong 4 quả Thanh văn. Bậc Thánh Tu đà hoàn khởi phát trí vô lậu, đi ngược dòng sinh tử, dần dần tới đạo Niết bàn, cho nên gọi là Nghịch lưu.
nghịch lưu thập tâm
(逆流十心) Mười tâm ngược dòng sinh tử. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 4 phần trên, người tu hành vì tâm Thuận lưu (thuận dòng) mà điên đảo tạo nghiệp, tích lũy tội ác, trôi giạt trong dòng sinh tử, cho nên phải dùng 10 tâm Nghịch lưu để đối trị. 1. Tâm chính tín nhân quả: Người tu hành trước hết cần phải tin lí nhân quả 1 cách đúng đắn, đối với quả báo thiện ác, lòng tin chắc chắn không ngờ vực, dùng tâm này để phá trừ tâm bác bỏ lí nhân quả trong 10 Thuận tâm. 2. Tâm tự thẹn và nghiêm khắc với mình: Người tu hành cần phải nghiêm khắc với chính mình, trong quá khứ vì đã không có lòng tự hổ thẹn nên làm các việc xấu ác, nay dùng tâm tự thẹn để phá trừ tâm không biết hổ thẹn. 3. Tâm sợ hãi đường ác: Hành giả nên tự nghĩ thân người vô thường, biển khổ sâu thẳm, cho nên tha thiết sám hối, không tiếc thân mệnh, đem tâm này phá trừ tâm không sợ hãi đường ác. 4. Tâm giãi bày tì vết: Người tu hành không được che giấu tội lỗi mà phải phát lộ sám hối, dùng tâm này để phá trừ tâm che giấu tội lỗi. 5. Tâm dứt sự tiếp nối: Người tu hành cần phải dứt hẳn các hành vi tội lỗi, những ý nghĩ xấu ác, không được tái tục, đem tâm này phá trừ tâm tiếp tục niệm ác. 6. Tâm phát khởi bồ đề: Người tu hành cần phải phát tâm cứu giúp rộng khắp, làm lợi ích cho người khác, đem tâm này phá trừ tâm ác tràn lan. 7. Tâm tích lũy công đức, sửa đổi lỗi lầm: Người tu hành cần phải gắng sức không ngừng để dứt các việc ác, làm những điều thiện, dùng tâm này để phá trừ tâm tam nghiệp tạo tội. 8. Tâm giữ gìn chính pháp: Người tu hành cần phải thủ hộ chính pháp, tăng trưởng tâm tùy hỉ, phương tiện, dùng tâm này để phá trừ tâm thấy việc thiện không vui theo. 9. Tâm nhớ tưởng chư Phật 10 phương: Người tu hành nên nghĩ đến phúc đức và trí tuệ của chư Phật 10 phương, thường cứu giúp, dắt dẫn mình, đem tâm này phá trừ tâm thuận theo bạn ác. 10. Tâm quán xét tội tính vốn không: Người tu hành nên thấu suốt tâm mình vốn không, tội tính chẳng có chỗ nương, dùng tâm này để phá trừ tâm vô minh tăm tối. (xt. Thuận Lưu).
nghịch lộ già da dà
Vama-lokāyata (S)Nghịch thuận thế ngoại đạo phái.
nghịch lộ già da đà
Vama-lokayata (skt)—Lộ Già Da Đà là tên của một phái ngoại đạo thuận theo tình đời. Nghịch Lộ Già Da Đà hay Tả Thuận Thế Ngoại Đạo, là phái chống lại thuận thế ngoại đạo. Lộ Già Da Đà hay Thuận Thế là hạng vứt bỏ Thánh thư của Lão Trang—The Lokayata were materialistic and “worldly” followers of Carvaka school; the Vama-lokayata were opposed to the conventions of the world. An earlier interpretation of Lokayata is, Ill response to questions, the sophistical method of Chuang-Tsu being mentioned as Evil questioning, which is above method reversed.
nghịch mắt
To offend the eyes.
nghịch ngợm
Restless.
nghịch nhĩ
To shock the ears.
nghịch quán
The inverse method in meditation.
; Làm ngược lại với thứ tự hay phương thức quán là nghich quán (thí dụ như quán thập nhị nhân duyên thì không nương theo thứ tự vô minh, hành, thức, vân vân; mà lại đi ngược từ tử, lão, bệnh, sanh, hữu, vân vân; hay là theo quả mà dò nhân)—The inverse method in meditation.
; (逆觀) Đối lại: Thuận quán. Quán xét theo thứ tự ngược từ quả tìm đến nhân. Như khi quán 12 nhân duyên, không theo thứ tự thuận từ Vô minh, Hành, Thức... mà theo thứ tự ngược từ Lão tử, Sinh, Hữu v.v... Mật giáo quán từ các pháp không có nhân và qui kết về vốn chẳng sinh, gọi là Nghịch quán toàn chuyển. [X. Đại nhật kinh sớ Q.7]. (xt. Thuận Quán).
nghịch thuận
The adversatives, resisting and complying, opposing and according with, reverse or direct, backward or forward.
; Còn gọi là “Vi Thuận.” Trái ngược với chân lý gọi là nghịch, thuận với chân lý là thuận—The adversaties, resisting and complying, opposing and according with, reverse or direct, backward or forward.
nghịch thuận tam muội
(逆順三昧) Tức là Thiền định được tự do tự tại trong tất cả các pháp thuận nghịch. Tam muội này có năng lực phá trừ tất cả chúng sinh tà nghịch mà hóa độ chúng một cách thuận lợi. Lại vì tam muội này xa lìa chấp trước, nên có thể phá tất cả pháp mà tăng trưởng thiện căn. [X. luận Đại trí độ Q.47].
nghịch thuận thế ngoại đạo phái
Xem Nghịch lộ già da dà.
nghịch tu
Dự Tu—Những Phật sự sau khi một người đã quá vãng—To observe in contrary order; to observe before death the Buddhist rites in preparation for it.
; (逆修) Cũng gọi Dự tu. Tức là lúc còn sống tu các Phật sự trước để cầu phúc cho mình sau khi chết, hoặc lúc sống tu các công đức thiện căn trước để làm tư lương bồ đề cho việc vãng sinh sau khi chết, gọi là Nghịch tu. Kinh Quán đính quyển 11 nói: Nếu người khéo hiểu giới pháp, biết rõ thân này vô thường, siêng năng tu tập, hành đạo Bồ đề; khi chưa lâm chung dự tu 21 ngày, đèn hương liên tục, treo cờ phan phướn, cầu thỉnh chư tăng chuyển đọc tôn kinh, thì được phúc vô lượng, như lòng mong muốn. Còn kinh Địa tạng bồ tát bản nguyện quyển hạ thì nói: Những người lúc còn sống không chịu tu thiện, tạo nhiều tội ác, sau khi chết, tuy thân thích bạn bè làm phúc cho mình, nhưng trong 7 phần công đức, minh chỉ được 1. Chi bằng lúc còn sinh tiền, tự mình dự tu, thì hoàn toàn được cả 7 phần công đức. Tại Trung quốc vào đời Tống, phong tục Nghịch tu rất thịnh hành, còn ở Nhật bản, thì hiện nay vẫn được phổ biến. (xt. Thuận Tu Nghịch Tu).
nghịch tội
Xem ngũ nghịch tội.
; (逆罪) Tội cực ác, trái ngược với đạo lí, gọi là Nghịch tội; tội này chiêu cảm quả báo đọa địa ngục Vô gián, nên gọi là Vô gián nghiệp. Nghịch tội thông thường chỉ cho 5 tội trái ngược với luân thường đạo lí. Năm tội này thêm tội giết A xà lê, giết Hòa thượng thì thành 7 tội nghịch; người vi phạm 7 tội nghịch không được thụ giới, cho nên cũng gọi là Thất gia tội. Đó là: Làm cho thân Phật chảy máu, giết cha, giết mẹ, giết Hòa thượng, giết A xà lê, giết A la hán và phá hòa hợp tăng. (xt. Ngũ Nghịch).
nghịch yù
Against one's will.
nghịch ý
Avirodha (S).
nghịch đức
Contrary to virtue.
ngoa
To talk nonsense.
ngoa ngôn
False stories.
ngoa truyền
Handed down falsely from the past.
ngoan cố
Thambha (P). Obstinate, stubborn, recalcitrant. Also cố chấp, bướng.
; Stubborn—Obstinate.
ngoan không
Cái “Không” sai lầm mà những kẻ cuồng thiền thường hay chấp vào—False emptiness, improper and crooked understanding of emptiness which “Mad Zen” practitioners always attach to—See Bác Tướng.
ngoan ngoãn
Well-behaved—Good.
ngoan phụ
Stubborn woman.
Ngoan thạch điểm đầu
(頑石點頭): nghĩa là loại đá ngu ngơ, vô tri vô giác mà cũng gật đầu. Thuật ngữ này phát xuất từ câu chuyện của Pháp Sư Trúc Đạo Sanh (竺道生, ?-434) có đề cập trong một số sử liệu như Lịch Triều Thích Thị Tư Lãm (歷朝釋氏資鑑, CBETA No. 1517) quyển 2, Pháp Hoa Kinh Trì Nghiệm Ký (法華經持驗記, CBETA No. 1541), Đông Lâm Thập Bát Cao Hiền Truyện (東林十八高賢傳, CBETA No. 1543), Tông Thống Biên Niên (宗統編年, CBETA No. 1600) quyển 7, v.v. Pháp Sư Trúc Đạo Sanh, họ Ngụy (魏), xuất thân Cự Lộc (鉅鹿), tư chất đỉnh ngộ khác thường. Lúc nhỏ, ông theo xuất gia với Trúc Pháp Thái (竺法汰), đối với kinh điển, chỉ một lần nhìn qua đã tụng thông suốt hết thảy. Khi trưởng thành, ông đăng pháp tòa, thuyết giảng thông suốt sự lý. Tuy vậy, ông vẫn không hề dám tự hào, thường lấy đạo tâm ban đầu làm căn bản. Ông vào Lô Sơn (廬山) ẩn cư suốt bảy năm trường, hằng ngày chuyên tụng Pháp Hoa Kinh (法華經). Sau ông cùng với Tăng Duệ (僧叡), Huệ Nghiêm (慧嚴), Huệ Quán (慧觀), v.v., lên Trường An (長安) tham học, theo thọ giáo với La Thập (羅什). Tăng chúng ai cũng ngưỡng mộ sự thần ngộ của ông. Hoàng Hậu Cung Tư (恭思) nhà Tấn kiến lập Thanh Viên Tự (青園寺) và cung thỉnh ông về làm trú trì nơi đây. Vào tháng mùa hè, sấm sét chấn động điện Phật Thanh Viên Tự, rồng bay lên trời, hào quang rực rỡ. Nhân đó chùa được đổi tên là Long Quang Tự (龍光寺). Người đương thời bảo rằng: “Long ký dĩ khứ, Sanh tất hành hỉ (龍既已去、生必行矣, rồng đã đi rồi, Sanh ắt đi luôn).” Chính tại chùa này, ông đã từng thỉnh luật sư vùng Kế Tân (罽賓) dịch bộ Sa Di Tắc Luật (沙彌塞律) và lưu truyền cho hậu thế. Về sau ông lên ngao du Hổ Kheo Sơn (虎丘山) thuộc đất Ngô, sắp đá làm thành thính chúng, giảng Niết Bàn Kinh (涅槃經), đến Phẩm Xiển Đề (闡提品), đoạn có Phật tánh, bèn bảo rằng: “Như ngã sở thuyết, nghĩa khế Phật tâm phủ (如我所說、義契佛心否, như lời ta thuyết giảng, nghĩa có khế hợp với tâm chư Phật không ?).” Các tảng đá vô tri nghe vậy gật đầu. Chỉ nội trong tuần đó, học đồ tập trung đến cả trăm người. Vua Văn Đế (文帝, tại vị 424~453) nhà Tống nghe vậy lại càng kính mộ thêm. Vào tháng 11 năm thứ 11 (434) niên hiệu Nguyên Gia (元嘉) nhà Tống, sau khi thuyết giảng xong tại Lô Sơn, cát bui rơi rụng, ông ngồi ngay ngắn, thâu thần thị tịch như nhập vào Thiền định. Trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, CBETA No. 1571) quyển 110 có câu: “Vô tình thuyết pháp chư Phật giải thính, chư Phật thuyết pháp hữu tình đắc văn, hữu tình thuyết pháp ngoan thạch điểm đầu (無情說法諸佛解聽、諸佛說法有情得聞、有情說法頑石點頭, vô tình thuyết pháp chư Phật lắng hiểu, chư Phật thuyết pháp hữu tình được nghe, hữu tình thuyết pháp đá cũng gật đầu).”
ngoan thạch điểm đầu
(頑石點頭) Đá ngu gật đầu. Sự tích về ngài Trúc đạo sinh đời Đông Tấn. Tương truyền ngài Đạo sinh ở núi Hổ khâu từng gom những phiến đá làm thính chúng, rồi giảng kinh Niết bàn, nói về thuyết Xiển đề thành Phật, những phiến đá nghe ngài nói đều gật đầu. Bởi thế, đời sau có câu Sinh công thuyết pháp, đá ngu gật đầu. Ngày nay, sự tích này thường được dùng để ví dụ sự mầu nhiệm của sức cảm hóa. [X. Phật tổ thống kỉ Q.26].
ngoan đạo
Pious—Devoted—Devout.
ngoan đồng
Stupid child.
ngoay ngoảy
To turn away.
ngon
Delicious—Tasty.
ngon lành
Flavoursome.
ngoài
Outside—Without—Exterior—External.
ngoài mưa
In the rain.
ngoài nắng
In the sun.
ngoài ra
Besides.
ngoài trời
Abhyavākāśa (S), Abhokāsa (P), In the open air.
ngoã bát
(瓦鉢) Pàli: Mattikà-patta. Bát làm bằng đất sét nung, 1 trong những loại bát mà các vị tỉ khưu dùng khi đi khất thực. Thích thị yếu lãm quyển trung (Đại 54, 279 thượng) nói: Có lần đức Phật đang trụ ở thôn đất trắng Tôn bà, bấy giờ thiên thần Tôn bà bạch Phật rằng: Các đức Phật đời quá khứ đều thụ dụng loại bát đất (ngõa bát) xứ này. Sau đó, đức Phật cho phép các tỉ khưu dùng bát đất. (xt. Bát).
ngoã khí kim khí
(瓦器金器) Ngõa khí là đồ vật làm bằng đất sét nung, ví dụ giới của Thanh văn; kim khí là những vật dụng đúc bằng vàng bạc, ví dụ giới của Bồ tát. Kinh Thanh tịnh tì ni phương quảng (Đại 24, 1077 hạ) nói: Như ngõa khí bị vỡ, không thể sửa chữa được, là Tì ni của Thanh văn; như kim khí bị nứt thì vá lại được, là tì ni của Bồ tát.
ngoã kinh
(瓦經) Cũng gọi Kinh ngõa. Kinh văn được khắc trên 2 mặt của viên ngói. Loại ngói này được làm bằng cùng 1 chất liệu như ngói dùng để lợp nhà dài từ 18 đến 27 phân tây, rộng từ 7,5 đến 29 phân, dày 0,9 đến 1,8 phân. Loại kinh này dùng để chôn xuống lòng đất. Nguồn gốc từ đâu không rõ. Nhưng vào thời Trung cổ. Nhật bản đã có tập tục chôn ngõa kinh để cầu phúc cho tổ tiên và chúng sinh có duyên hoặc cầu giải thoát cho chính mình. Căn cứ vào sự khảo sát các di vật Ngõa kinh đào được ở vùng đất từ huyện Ái tri đến Bắc cửu châu (ngoại trừ Tứ quốc), trong văn nguyện có ghi niên đại, thì được biết đây là những sản vật thuộc giữa và cuối thời kì Bình an của Nhật bản, nội dung phần lớn là kinh Pháp hoa và các kinh Mật giáo, chữ được khắc nghiêm cẩn hơn so với bản kinh bằng giấy chôn xuống đất, văn nguyện tương đối cũng dài hơn. [X. Mặc thủy sao; Nhật bản đồ kinh; Nhật bản Kim thạch chí; Bệnh gian kỉ đàm; Cổ kinh đề bạt Q.thượng].
ngoã lí sắt
(瓦理瑟) Walleser, Max (1847-1953) Nhà Ấn độ học và Phật giáo học người Đức, là học trò ưu tú của Sử gia kiêm Triết gia Kuno Fischer. Sau khi tốt nghiệp Đại học, ông chuyên nghiên cứu về tư tưởng Ấn độ, đặc biệt là tư tưởng Phật giáo. Năm 1918, ông nhận lời mời làm Giáo sư Ấn độ học tại Đại học Heidelberg, trong thời gian này, ông đã soạn thuật và phiên dịch rất nhiều. Ông bắt đầu nghiên cứu tư tưởng Phật giáo nguyên thủy, sau đó tiến sâu vào lĩnh vực triết học Trung quán và đã đạt được những thành quả lớn lao trong việc nghiên cứu cũng như truyền bá Phật giáo Trung quán. Ông thông hiểu tiếng Tây tạng, thừa nhận giá trị của những kinh điển Phật Hán dịch, bởi thế ông đã là 1 trong những người Tây âu đầu tiên sử dụng các kinh điển này. Ông có các tác phẩm: Satkàya, ZDMG. LXIV, 1910; Buddhapàlita, Mùlama dhyamakavftti, tibetische Übers., Herausg. (BB. XVI), 1913-1914); Parjĩà pàramita, die Vollkommenheit der Erkenntnis, nachindischen, tibetischen und chinesischenQuellen, 1914; Prajĩàpradìpa, a commentary on the Màdhyamaka Sùtra by Bhàvaviveka, Herausg. in Tib. (BI), 1914.
ngoã lặc mễ kì
(瓦勒米奇) Phạm: Vàlmìki. Cũng gọi Bạt di. Hán dịch: Nghị điệt. Tương truyền là tác giả của Sử thi La ma da na (Phạm: Ràmàyaịa) nổi tiếng ở Ấn độ. Có rất nhiều truyền thuyết thần thoại về ông này. Truyện kể rằng: Ông thuộc dòng dõi Bà la môn, bị cha mẹ bỏ rơi từ nhỏ, được 1 dã nhân trong rừng nuôi nấng; lớn lên, chuyên nghề trộm cướp giết người. Một hôm, gặp 1 vị tiên, dạy cho cách tụng niệm La ma, chuyên tâm quá đến nỗi kiến làm tổ quanh mình mà không biết, vị tiên kia bèn cho thành tiên và đặt tên là Nghị điệt (tổ kiến). Một ngày kia, đang lúc cúng tế thì thấy 1 con chim bị thợ săn bắn chết, Nghị điệt liền nghĩ làm 1 bài thơ, lúc đó, Phạm thiên từ trên trời hiện xuống, bảo Nghị điệt làm thành thi phẩm La ma da na, nhờ thế mà trở thành Thi tổ.
ngoã nhĩ đặc tu mật đặc
(瓦爾特須密特) Waldschmidt, Ernst (1897- ? ) Nhà học giả Ấn độ học và Phật học người Đức. Từ năm 1936, ông làm Giáo sư Đại học Berlin, chuyên nghiên cứu về triết học Ấn độ, Phật học Ấn độ, Khảo cổ học, và lịch sử Mĩ thuật. Ông từng hiệu đính và xuất bản nguyên văn tiếng Phạm của kinh Đại bát niết bàn, đối với giới học thuật, ông đã có những cống hiến rất to lớn. Tác phẩm của ông gồm có: Buddhistische kunst in Indien, 1932; Die buddhistische Sptantike in Mittelasien, 1933; Gandhara, Kustcha, Turfan, 1925; Überlieferung von Lebensende des Buddha, 1944-1948.
ngoã quan tự
(瓦官寺) Chùa ở Phượng hoàng đài, Nam kinh, tỉnh Giang tô, Trung quốc do ngài Tuệ lực vâng sắc chỉ của vua xây dựng vào năm Hưng minh thứ 2 (364) đời Đông Tấn. Vì khi đào đất làm chân móng để xây cất thì bắt gặp 1 cái quan tài xưa bằng sành (Ngõa quan) cho nên đặt tên là chùa Ngõa quan. Ít lâu sau, ngài Tuệ lực lại xây 1 tòa tháp, rồi tiếp đến ngài Trúc pháp thải trụ trì, thì chùa được mở rộng thêm, điện đường, lầu gác nguy nga, tráng lệ, là nơi giảng kinh thuyết pháp khang trang, chúng tăng về tham học rất đông, chùa trở nên nổi tiếng. Năm Thái nguyên 21 (396), chùa bị hỏa hoạn thiêu rụi, vua ban lệnh phục hưng. Trong chùa thờ 5 pho tượng do Đới an đạo (Đới quì ?-396) tạo, một pho tượng Phật bằng ngọc do vua nước Sư tử (Tích lan) dâng cúng và tượng Cư sĩ Duy ma do ông Cố trường lạc (344-405) vẽ. Sau đời Lưu Tống, các ngài Tuệ quả, Tuệ cừ, Tuệ trọng, Tăng đạo, Cầu na bạt ma, Bảo ý v.v... kế tiếp nhau trụ ở chùa này, tuyên giảng kinh luận và phiên dịch kinh Phạm. Đời Lương xây dựng thêm Ngõa quan các. Niên hiệu Quang đại năm đầu (567) đời Trần, ngài Trí khải ở đây giảng kinh luận Đại trí độ và Thứ đệ Thiền môn, đồng thời, ngài còn tu bổ chùa ngày càng thêm hoàn mĩ. Đời Ngũ đại, chùa được đổi tên là Thăng nguyên. Đời Tống, năm Thái bình hưng quốc (976- 983), vua ban sắc đổi tên là chùa Sùng thắng. Đầu đời Minh, chùa bị hoang phế, 1 nửa trở thành khu vườn của dòng họ Từ ngụy công, còn 1 nửa bị sáp nhập vào đồn kị binh. Khoảng năm Gia tĩnh, ngôi am Tích khánh được xây bên cạnh khu vườn của họ Từ, gọi là Cổ Ngõa am tự, nhưng không phải trên nền cũ của chùa Ngõa quan.Năm Vạn lịch 19 (1591), các ngài Tăng viên v.v... quyên tiền xây am Tùng quế ở phía bên phải đài Phượng hoàng, đồng thời, mua 1 thửa đất cao trong khu đài Phượng hoàng để cất chùa lớn, gọi là chùa Thượng ngõa quan và đổi tên am Tích khánh là chùa Hạ ngõa quan. Hiện nay, chùa Thượng ngõa quan gọi là chùa Phượng du, chỉ còn lại 1 phần điện đường. [X. Cao tăng truyện Q.5, 6, 12, 13; Thiên thai trí giả đại sư biệt truyện; Tục cao tăng truyện Q.6, 17; Phật tổ thống kỉ Q.36, 53; Kim lăng phạm sát chí 21; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển thứ 661].
ngoã sư
(瓦師) I. Ngõa Sư. Người thợ làm đồ gốm. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 3, ở thời quá khứ, đức Thích tôn là 1 thợ gốm, tên là Đại quang minh. Bấy giờ, có đức Phật hiệu là Thích ca văn, cùng với các đệ tử của ngài là Xá lợi phất, Mục kiền liên, A nan, có lần đến nhà người thợ gốm này nghỉ tạm 1 đêm. Lúc ấy, người thợ gốm dâng nệm cỏ, đèn, nước đường cúng dường Phật và các vị tỉ khưu tăng. Người thợ gốm liền phát nguyện rằng (Đại 25, 83 trung): Con nguyện khi con thành Phật trong cõi đời đầy dẫy 5 trọc ác ởtương lai, thì con sẽ có hiệu là Thích ca văn như đức Phật hiện nay và tên các đệ tử của con cũng giống như các đệ tử của Phật hiện nay. II. Ngõa Sư. Phạm: Bhàrgava. Hán dịch: Ngõa sư. Chỉ cho ông Bạt già bà, là người tiên đầu tiên thờ đức Thích tôn làm thầy khi Ngài mới xuất gia cầu đạo. (xt. Bạt Già Bà Tiên).
ngoã tây lợi da phu
(瓦西利耶夫) Wassilijew, Wassilij Pawlowitsch (1818-1900) Nhà truyền giáo của hội Chính giáo Nga xô kiêm học giả Đông phương học và Phật giáo học. Sau khi tốt nghiệp khoa Đông phương ngữ của trường Đại học Khánh sơn (Kazan), năm Đạo quang 20 (1840) đời Thanh, ông đã đến Bắc kinh truyền giáo, ông lần lượt nghiên cứu các thứ ngôn ngữ như: Tiếng Hoa, Phạm, Tây tạng, Mông cổ, Mãn châu v.v... Niên hiệu Hàm phong năm đầu (1851), ông trở về nước, làm việc ở trường Đại học Thánh bỉ đắc bảo (St. Petersburg). Ông có các tác phẩm: Buddhismus, seine Dogmen, Geschichte und Literatur, St. Petersburg (Lịch sử giáo nghĩa và văn hiến của Phật giáo), Die Religion des Ostens, Konfucianismus, Buddhismus und Taoismus, 1873(Tông giáo Đông phương -Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo), Trung quốc ngữ Từ điển. [X. Âu Mĩ đích Phật giáo (Độ biên Hải húc)].
ngoï
Vào giữa trưa: At noon time. The seventh Earth's stem (xem Mười Hai Con Giáp).
ngoù
To see—To look at. Root (lotus).
ngoạ cụ
(臥具) Phạm: Zayanàsana. Pàli: Sayanàsana. Hán âm: Thế da na tát nẫm. Cũng gọi Phu cụ. Chỉ cho các đồ vật dùng trong lúc ngủ nghỉ như giường chõng, chăn nệm, mùng màn, chiếu gối v.v... Theo sự qui định trong luật Tứ phần quyển 7, thì tăng ni không được dùng ngọa cụ làm bằng tơ tằm, lông dê, nhưng ở các vùng biên giới xa xôi thì được dùng da dê. Về thời gian, phải dùng qua 6 năm mới được thay ngọa cụ mới, nếu trái thì phạm tội Xả đọa. Điều Y thực sở tu trong Nam hải kí qui truyện quyển 2 (Đại 54, 213 thượng) nói: Có 2 cách làm nệm: Hoặc may thành cái túi rồi nhồi lông vào trong, hoặc có thể dùng tơ dệt thành, tức là loại nệm cù du. Bề rộng 2 khuỷu tay, bề dài 4 khuỷu tay, dày mỏng tùy theo mùa, tự mình xin thì bị cấm, nhưng người khác cho thì không tội. [X. luận Đại trí độ Q.30; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ].
ngoạ pháp
(臥法) Ngọa, Phạm: Zaya, Pàli: Sayana. Hán âm: Thế da. Gọi tắt: Ngọa. Cách nằm của tỉ khưu trong lúc ngủ nghỉ, là 1 trong 4 uy nghi. Tức là nằm nghiêng bên phải, 2 chân chồng lên nhau, áo pháp che thân, giữ gìn chính niệm. Ma đắc lặc già tì ni quyển 6 (Đại 23, 600 hạ) nói: Đầu hôm đã qua, xếp áo Uất đa la tăng làm 4, cuộn áo Tăng già lê làm gối, nằm nghiêng bên phải, 2 chân chồng lên nhau, không được dang tay chân, không khiến tâm tán loạn, không được tung áo bừa bãi, chính niệm tướng sáng, khởi tưởng tư duy, sau đó ngủ đến cuối đêm, mau mau thức dậy đi kinh hành, đuổi trừ ma ngủ. Cứ theo Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển thượng, lúc nằm ngủ phải chú ý 5 điều: 1. Đầu hướng về phía Phật. 2. Không được nằm mà nhìn Phật. 3. Không được duỗi thẳng 2 chân. 4. Không được quay mặt vào vách, cũng không được nằm sấp. 5. Không được dựng đứng 2 đầu gối và vắt tréo 2 chân, phải lấy tay làm gối và chồng 2 chân lên nhau. Trong Mật giáo, khi nằm ngủ cũng có phép tắc. Theo Kim cương đính nghĩa quyết thì lúc đi ngủ phải quán tưởng nhập Kim cương tam muội, khiến tâm vắng lặng như vào Niết bàn, lại phải quán tưởng thân mình là ấn tướng Ngũ trí có ánh sáng bao bọc chung quanh, sau đó mới đi vào giấc ngủ. [X. kinh Tì ni mẫu Q.5; kinh Đà la ni tập Q.7; luật Ma ha tăng kì Q.35, Thiện kiến luật tì bà sa Q.15; Giáo giới tân học tỉ khưu hành hộ luật nghi; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ; Thích thị yếu lãm Q.hạ].
ngoạ phật tự
(臥佛寺) Chùa nằm ở chân núi phía nam núi Thọ an, ở ngoài cửa An định tại Bắc bình, được xây dựng khoảng năm Trinh quán (627-649), ban đầu có tên là chùa Đâu suất. Niên hiệu Chí trị năm đầu (1321) đời Nguyên, chùa được xây cất rộng thêm và đổi tên là chùa Chiêu hiếu. Vì trong chùa có đúc một pho tượng Phật nằm bằng đồng nặng khoảng 300 tấn, cho nên người đời thường gọi là chùa Phật nằm (Ngọa Phật). Tượng Phật nằm bằng đồng hiện còn dài hơn 5 mét được đúc vào đời Minh. Vào năm Ung chính 12 (1734) đời Thanh, vua Thế tông ban hiệu là Thập Phương Phổ Giác Tự và lập văn bia. Trong Đại điện, có 12 pho tượng Phật Viên giác vây quanh Phật nằm; phía trước điện có 2 cây Sa la to lớn, ao hồ, đình gác, cây, đá xen lẫn, đều có hàng lối. Trong chùa có trồng nhiều loại mẫu đơn dùng để cúng dường Phật. Ở 2 bên phía trong cổng chùa có những cây cổ thụ cao ngất trời, bóng mát che rợp sân chùa. (xt. Thập Phương Phổ Giác Tự).
ngoạ tượng
(臥像) Thường gọi: Ngọa Phật. Chỉ cho tượng đức Thích ca Niết bàn. Kiểu tượng này hoặc đắp vẽ hoặc chạm trổ, đều nằm nghiêng bên phải, dùng cánh tay phải co lại làm gối, đầu hướng phương bắc, mặt xoay phía tây, biểu hiện tư thái an lành của đức Phật Thích ca nhập Niết bàn giữa 2 cây Sa la. (xt. Niết Bàn Tượng).
ngoại
Bāhya (S),, External, Bāhira (P)Bên ngoài.
; Bàhya (S). Outside, external.
; Bahya (skt). Outside—See Ngoài. Phía bên ngoại: Maternal side.
ngoại biên
Peripheral
ngoại bát miếu
(外八廟) Tám ngôi chùa của Phật giáo Tây tạng nằm ở phía Đông và phía bắc Hành cung (Li cung của nhà Thanh) ở thành phố Thừa đức tại Nhiệt hà, được xây dựng từ khoảng năm Khang hi 52 (1713) đến năm Càn long 45 (1780). Vì 8 chùa này nằm ở bên ngoài Hành cung cho nên gọi là Ngoại bát miếu, để phân biệt với 8 ngôi chùa nằm ở bên trong khu vực Hành cung, gọi là Nội bát miếu. Ngoại bát miếu gồm: 1. Chùa Phổ nhân: Ở phía đông cách Hành cung 1,7 cây số, do các vị vương hầu Mông cổ xây dựng vào năm 1713 để chúc mừng Hoàng đế Khang hi 60 tuổi. 2. Chùa Phổ thiện: Ở phía sau chùa Phổ nhân 100 bước, được kiến thiết cùng 1 lúc với chùa Phổ nhân, qui mô cũng ngang nhau. 3. Chùa Phổ ninh: Ở phía đông bắc cách Hành cung 2,8 cây số, được xây cất vào đầu năm Càn long 20, phỏng theo kiểu chùa Tang da ở Tây tạng, qui mô rất hùng vĩ. Bên trong tàng trữ nhiều ngự bút và văn bia. 4. Chùa An viễn, cũng gọi chùa Y lê: nằm ở chân núi phía đông bắc Hành cung, phỏng theo kiểu chùa Y lê ở Tân cương, được xây cất vào năm Càn long 29. Bên trong tàng trữ các tấm bia khắc những bài thơ do vua sáng tác bằng 4 thứ chữ; Hán, Mãn, Mông, Tạng; trên vách chung quanh điện Phật có những bức bích họa miêu tả nguồn gốc nước Phật và danh hiệu Phật cũng viết bằng 4 thứ chữ. 5. Chùa Phổ hựu: Ở phía đông bắc cách Hành cung 3,5 cây số, được xây cất vào năm Càn long 25, các tượng Phật trong chùa toàn tạc theo kiểu mẫu Tây tạng. 6. Chùa Phổ lạc: Ở phía đông bắc cách Hành cung 1,2 cây số, được kiến trúc vào năm Càn long 31. Tượng Bản tôn trong chùa cao khoảng 23 mét. 7. Chùa Phổ đà tông thừa: Ở phía đông bắc cách Hành cung 0,6 cây số, được kiến thiết vào năm Càn long 35, phỏng theo lối kiến trúc của cung Bố đạt lạp (Potala) ở Lhasa, Tây tạng. 8. Chùa Tu di phúc thọ: Nằm về phía tây chùa Phổ đà tông thừa, được xây dựng vào năm Càn long 45 để chúc thọ Hoàng đế Càn long 70 tuổi, phỏng theo kiểu chùa Trát thập luân bố ở Nhật khách tắc, qui mô rất hùng vĩ. Hình thức kiến trúc, tạo tượng, bích họa v.v... của các ngôi chùa trên đây đều dung hòa phong cách nghệ nghệ thuật của các chủng tộc Mông, Tạng và Hán. Ngoài ra, còn có thuyết lấy chùa Thù tượng thay cho chùa Phổ thiện trong 8 chùa nói trên. Chùa Thù tượng nằm ở phía tây chùa Phổ đà tông thừa, được xây dựng năm Càn long 39, phỏng theo kiểu chùa Hương sơn trên núi Ngũ đài, để làm trung tâm tín ngưỡng cho dân tộc Mãn châu. Tám ngôi chùa này hàng năm có lễ hội rất lớn. Các Hoàng đế cũng thường dùng những chùa này làm nơi khoản đãi các sứ thần, các vị vương hầu ngoại biên và các lãnh tụ tông giáo Mông cổ, Tây tạng v.v... tạo nên cảnh tượng phồn vinh mà ở thành phố Thừa đức trước kia chưa từng có và dần dần đã phát triển thành khu trung tâm hành chính. Tám ngôi chùa này cũng đã ghi lại 1 trang sử huy hoàng trong nền văn hóa ở biên giới phía bắc Trung quốc. Đáng tiếc rằng từ giữa đời Thanh về sau, nạn nội loạn, ngoại xâm liên tiếp ập đến, khiến các chùa trở nên hoang phế. [X. Đại Thanh thực lục; Nhiệt hà chí; Đông hoa toàn lục; Narrative of the Mission of George Bogle to Tibet, London 1879, by Markham; the Dalai Lamas of Lhasa and their relations with the Manchu Emperors of China 1644-1908, Leyden 1910, by W.W. Rockhill].
ngoại chúng
Ngoại Tục—Chúng tại gia để phân biệt với chúng xuất gia hay nội chúng Tăng Ni—The laity, in contrast with the inner company or the monks and nuns.
ngoại chấp
External doctrines, rules or tenets non Buddhist, or heretical.
; Non-Buddhist or heretical rules or tenets.
; (外執) Chỉ cho những tà kiến do ngoại đạo chấp trước. Nói theo lập trường của Phật giáo thì tất cả giáo thuyết ngoài Phật pháp mà có chủ trương thiên chấp, đều thuộc về ngoại chấp tà kiến và đều bị phê bình, bác bỏ. Thông thường ngoại đạo vọng chấp 5 kiến giải sau đây: 1. Thuyết các pháp là 1, là khác. 2. Thuyết thế gian là thường, là vô thường. 3. Thuyết ngã tức là uẩn, ngã lìa uẩn. 4. Thuyết có nhân quả, không có nhân quả. 5. Thuyết khổ do mình tạo, do người khác tạo. Luận Câu xá quyển 30 (Đại 29, 159 trung) nói: Nên xả bỏ các ngoại chấp ác kiến mù quáng để cầu mắt tuệ. (xt. Ngoại Đạo Tứ Chấp).
ngoại chủng
(外種) Đối lại: Nội chủng. Chỉ cho hạt giống của các loại thực vật như lúa bắp... mà thông thường thế gian gọi là Chủng tử, còn các nhà Duy thức học thì đặc biệt gọi là Ngoại chủng. Từ Chủng tử là 1 trong những thuật ngữ trọng yếu của Duy thức học Đại thừa. Yếu chỉ của tông Pháp tướng (tức tong Duy thức) là chia tâm thức của hữu tình chúng sinh làm 8 thức, trong đó, thức thứ 8 được gọi là A lại da, có tính chất thu góp và cất chứa các pháp, là gốc của 7 thức kia. Những chủng tử được cất giữ trong thức A lại da này có công năng như hạt giống của thực vật, có khả năng sinh ra tất cả hiện tượng, vì thế gọi là Chủng tử. Điểm khác nhau là ở chỗ hạt giống (chủng tử) của thực vật là 1 thật thể, còn chủng tử trong thức A lại da thì là 1 loại tác dụng tinh thần thuần túy.Duy thức học lấy Ba pháp hai lớp làm nhân quả, xác lập mối quan hệ giữa sự hình thành vũ trụ và chủng tử. Tức Duy thức học cho rằng: Ngay khi sắc pháp (vật chất) và tâm pháp (tinh thần) hòa hợp thì chủng tử sẽ khiến cho ngoại giới trước mắt sinh ra 1 tác dụng hoặc 1 hiện tượng nào đó, gọi là Hiện hành, 1 khi pháp Hiện hành hình thành thì có năng lực huân tập chủng tử, hoặc nhiễm hoặc tịnh. Như thế là cấu thành Ba pháp, tức là 3 yếu tố: Chủng tử năng sinh (chủng tử có sẵn từ trước) Hiện hành sở sinh và Tân chủng sở huân (chủng tử mới do Hiện hành huân tập). Ba pháp này có quan hệ nhân quả hai lớp, tức là ngay khi chủng tử sinh hiện hành, Hiện hành huân chủng tử thì chúng đồng thời xoay vần làm nhân quả cho nhau và từ đó biến hiện ra muôn vật trong thế gian. Vì vậy biết rằng hết thảy muôn pháp hữu vi vô vi như vạn tượng la liệt trong vũ trụ, khổ vui, suy thịnh v.v... tất cả đều do chủng tử trong thức A la da của con người sinh thành biến hiện đó là luận chỉ cơ bản Vạn pháp duy tâm tạo của tông Duy thức. Theo đó thì các nhà Duy thức gọi chủng tử trong thức A lại da là Nội chủng và cho rằng chủng tử (hạt giống) của lúa, ngô, đậu... chẳng phải là vật chân thực, mà đều do chủng tử đã có sẵn bên trong thức A lại da phát triển thành Hiện hành mà biến ra. Vì muốn phân biệt với Nội chủng trong tâm thức, nên tạm mượn tên của thế gian mà gọi là Ngoại chủng. Chủng tử ngoại chủng cũng như nội chủng được chia làm 2 loại là Bản hữu (vốn có sẵn) và Tân huân (mới huân tập), nhưng sự huân tập của ngoại chủng và nội chủng có khác nhau. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, nếu ngoại chủng có bản chất thì có huân tập và làm duyên tăng thượng cho sự sinh trưởng; còn nếu không có bản chất thì không có huân tập và phải lấy nội chủng làm duyên cho sinh nhân. Nhưng luận Nhiếp đại thừa thì lại nói khác. [X. luận Câu xá Q.4, 5; luận Thành duy thức Q.3; luận Nhiếp đại thừa Q.thượng; luận Hiển dương thánh giáo Q.17]. (xt. Chủng Tử).
ngoại công
Wai-kung (C), Outer exercise.
ngoại cảnh
Bāhirabhava (P), Bāhyubhāva (S), External world.
; External things—External world.
ngoại diện
Appearance—External—Outward show.
ngoại duyên
Xem tăng thượng duyên và nhân duyên
; Ngoại duyên là hiện trạng năm thức duyên vào ngoại cảnh—The condition in which the five internal senses attach to the five external objects.
; (外緣) Đối lại: Nội nhân. Duyên từ bên ngoài có năng lực giúp cho sự vật sinh thành và biến hóa. Tức là sự ảnh hưởng gián tiếp của 1 pháp này đối với 1 pháp khác. Là tăng thượng duyên trong 4 duyên. Ảnh hưởng duyên này được chia làm 2 loại: 1. Dữ lực tăng thượng duyên: Có công năng thúc đẩy pháp khác sinh ra. 2. Bất chướng tăng thượng duyên: Không cản trở pháp khác sinh khởi. Vì muôn vật đều có sức ảnh hưởng lẫn nhau, cho nên không 1 pháp nào mà không có công năng của Tăng thượng duyên. Nhưng các pháp phải đợi khi nào nội nhân và ngoại duyên hòa hợp lẫn nhau mới hình thành được. Chẳng hạn như việc thụ sinh trong cõi người, phải lấy nghiệp thức của chính mình làm nội nhân và tinh cha huyết mẹ làm ngoại duyên, do sự hòa hợp của các nhân duyên ấy mới thụ sinh được. Cũng như công đức lợi tha của Phật chính là ngoại duyên giúp chúng sinh thành Phật, nhưng chúng sinh phải lấy Như lai tạng của bản thân làm nội nhân để chứng đắc bồ đề, nhờ những nhân duyên ấy hòa hợp thì mới khế cơ thành Phật được. Ngoài ra, theo luận Đại thừa khởi tín thì Tăng thượng duyên còn được chia ra làm 2 loại là Sai biệt duyên và Bình đẳng duyên. [X. luận Đại tì bà sa Q.21, 127; luận Thành duy thức Q.8; Thành duy thức luận thuật kí Q.8 phần đầu; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ phần đầu].
ngoại duyên tử
(外緣死) Đối lại: Mệnh tận tử. Chết oan nghĩa là chết trong khi số mệnh chưa hết. Là 1 trong 2 loại tử (chết). Ngoại duyên tử có các nguyên nhân như: 1. Tự sát. 2. Bị người khác giết chết. 3. Vì tức giận mà giết hại lẫn nhau... [X. kinh Niết bàn Q.12 (bản Bắc)].
ngoại dụng
External manifestation (function or use).
; (外用) Đối lại: Nội chứng. Chỉ cho tác dụng bên ngoài do bản thể hiển hiện. Chư Phật, Bồ tát vì cứu độ chúng sinh nên ứng cơ thị hiện tất cả thần thông, công đức như: Tướng tốt, ánh sáng, thuyết pháp, lợi sinh v.v... tức gọi là Công đức ngoại dụng. Còn công đức nội chứng thì có 4 trí, 3 thân, 10 lực, 4 vô úy v.v... Đại thừa nghĩa chương quyển 20 phần cuối (Đại 44, 869 thượng) nói: Dùng duyên định trụ để dứt ngoại dụng. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1 thượng (Đại 33, 684 trung) nói: Nội dụng gọi là tự tại, ngoại dụng gọi là thần lực. [X. Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập Q.thượng; Chính pháp nhãn tạng Tứ thiền tỉ khưu (Đạo nguyên)].
ngoại giáo
External, non-Buddhist doctrines.
; Non-Buddhist cults, in contrast with Buddhism.
; (外教) Chỉ cho giáo thuyết khác với giáo thuyết mà mình tôn thờ. Đứng trên lập trường Phật giáo mà nói, thì ngoại giáo chỉ cho các học thuyết, giáo phái ngoài Phật giáo, như: Lục sư ngoại đạo, 6 phái triết học, 95 thứ ngoại đạo, 135 thứ ngoại đạo ở Ấn độ, hoặc Nho giáo, Đạo giáo, Cửu lưu, Bách gia ở Trung quốc. Ngoài ra, đứng về phương diện công phu tu thân, tu tâm mà nói, thì giáo tu tâm gọi là Nội giáo, giáo tu thân gọi là Ngoại giáo. Cứ theo Nhị giáo luận, khi thân, tâm tụ hợp tuy là 1 thể, nhưng hình (thân) và thần (tâm) thực ra có khác nhau; vì nhục thân không tránh khỏi sự chết đi và tiêu diệt, nhưng tâm thần thì còn mãi không mất, cho nên phương pháp (giáo) chữa thân bệnh gọi là Ngoại, kinh điển trị tâm bệnh gọi là Nội. [X. luận Nguyên nhân phần Xích mê chấp 1].
ngoại giới
Thân thể: The realm of the body, as contrast with that of the mind (Nội giới).
ngoại hình
Exteriority.
ngoại hải
Biển bao quanh tứ châu—The sea that surrounds the four world-continents.
; (外海) Biển ngoài. Theo thế giới quan của Phật giáo, núi Tu di là Trung tâm của thế giới, bốn phía núi Tu di có 7 núi 7 biển lần lượt cách li và vây quanh núi Tu di, vòng ngoài cùng lại có núi Đại thiết vi bao bọc. Ở khoảng giữa Thất kim sơn (lớp núi thứ 7) và núi Đại thiết vi, có biển nước mặn, biển này chính là Ngoại hải, 4 châu đất liền nằm rải rác trong biển này. Luận Câu xá quyển 11 (Đại 29, 57 hạ) nói: Biển thứ 8 gọi là Ngoại hải, chứa đầy nước mặn (...) trong Ngoại hải có 4 đại châu.
ngoại học
Study of outside, or non-Buddhist doctrines.
; Học những giáo thuyết không phải của đạo Phật—Study of outside, or non-Buddhist doctrines.
; (外學) Chỉ cho giáo pháp hoặc kinh sách ngoài Phật giáo, hoặc chỉ cho việc học tập các giáo pháp và kinh sách ấy. Vì hàng phục ngoại đạo và hiểu rõ căn cơ, ý muốn của chúng sinh để tiện việc giáo hóa, nên các vị tỉ khưu được phép học tập sách vở ngoại giáo và các pháp thế gian. Đức Phật đã từng nói rằng người có trí tuệ sáng suốt, học rộng, nhớ dai, có khả năng thuyết phục ngoại đạo, mới được nghiên cứu ngoại học. Đại Tống tăng sử lược quyển thượng cho biết, trong tinh xá Kì hoàn có lập viện Tứ vi đà, Thư viện v.v... trong đó thu giữ rất nhiều sách vở ngoại học. [X. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự Q.6; kinh Bồ tát địa trì Q.5; Thích thị yếu lãm Q.trung]. (xt. Ngoại Điển).
ngoại hộ
External protection, or aid.
; Những che chở bên ngoài như quần áo và thực phẩm cho Tăng Ni, đối lại với Nội Hộ hay giới pháp do Phật chế định nhằm giúp cho thân khẩu ý tránh điều sai trái—External protection or aid, such as food, clothing for monks and nuns, contrasted with the internal aid of the Buddha's teaching.
; (外護) Sự ủng hộ từ bên ngoài. Nghĩa là những người tín đồ tại gia đem tài vật cung cấp giúp đỡ tăng ni trong việc tu học của họ, hoặc tận lực ủng hộ sự nghiệp truyền bá Phật pháp. Ma ha chỉ quán quyển 4, hạ (Đại 46, 43 thượng) nói: Thiện tri thức có 3 loại: Một là ngoại hộ (...) Phàm là người ngoại hộ thì không kể ngày đêm, chỉ biết làm những việc cần làm, (...) như mẹ nuôi con, điều hòa mọi việc được tốt đẹp, những người hành đạo lâu năm thường làm như vậy, gọi là Ngoại hộ. Kinh Niết bàn quyển 32 (bản Bắc) có nêu ra thuyết Nội hộ và Ngoại hộ, cho rằng hành vi tăng ni tu tập giới pháp do đức Phật chế để phòng hộ những lỗi lầm của 3 nghiệp thân, khẩu, ý gọi là Nội hộ, còn Ngoại hộ thì như đã nói ở trên. Thời đức Phật còn tại thế đã có những nhà ngoại hộ Phật pháp nổi tiếng như: Vua Tần bà sa la, vua Ba tư nặc, Trưởng giả Cấp cô độc (Tu đạt) v.v... Sau thời đức Phật nhập diệt thì có các vua: A dục, Ca nị sắc ca, Giới nhật v.v... Tại Trung quốc thì có các bậc Đế vương như: Hiếu văn đế đời Bắc Ngụy; Vũ đế đời Lương; Dượng đế đời Tùy, Tắc thiên Vũ hậu đời Đường, Hiếu tông đời Nam Tống v.v... đều là những nhà hộ pháp lừng danh. Còn ở Nhật bản thì có các vị Thiên hoàng: Thánh vũ, Vũ đa, Đề hồ v.v... cũng là những người tôn sùng và ngoại hộ Phật giáo nổi tiếng... [X. kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật Q.hạ; kinh Niết bàn Q.3 (bản Bắc); Qui kính văn trong Thiền uyển thanh qui Q.8; Đại minh tam tạng pháp số Q.17].
ngoại hộ ma
(外護摩) Phạm: Homa. Hán dịch: Hỏa tế, Phần thiêu. Cũng gọi Sự hộ ma. Pháp hộ ma thực hành ngoài tâm, là 1 trong 2 pháp hộ ma của Mật giáo. Hộ ma là pháp cúng tế thần lửa bằng cách đốt các vật cúng, được chia làm 2 loại là Nội hộ ma và Ngoại hộ ma. Ngoại hộ ma phải có đủ 3 yếu tố: Bản tôn, lò hương và hành giả, biểu trưng cho Tam mật (thân, khẩu, ý) của người tu pháp, trong đó, Bản tôn biểu thị ý mật, lò hương biểu thị khẩu mật, hành giả biểu thị thân mật. Cách thực hành Ngoại hộ ma là: Trước hết chọn nơi đất thích hợp để lập đàn, tụng chân ngôn, đốt các vật cúng như: Nhũ mộc (củi có tẩm sữa), ngũ cốc v.v... khiến cho tam mật của hành giả được thanh tịnh, thành tựu các pháp tu: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục, Câu triệu, Diên mệnh... Lại vì vị Bản tôn được thờ trong pháp Ngoại hộ ma không nhất định là vị Như lai hoặc vị Minh vương nào, cho nên cách thiết trí lò hương, vật cúng, khí cụ v.v... tùy theo vị Bản tôn được thờ mà thiết trí khác nhau. Thông thường có Tam chủng hộ ma, Tứ chủng hộ ma, Ngũ chủng hộ ma, Lục chủng hộ ma... (xt. Nội Hộ Ma, Hộ Ma).
ngoại không
Bahirdha-śŪnyatā (S)6 ngoại xứ (cảnh ngoài thân) không có ngã, ngã sở và các pháp.
; External space.
ngoại khất
Vị Tăng khất sĩ tìm cầu tự kiểm bằng những phương thức bên ngoài như ăn chay, đối lại với Nội Khất là vị Tăng khất sĩ tìm cầu tự kiểm bằng những phương thức từ trong nội tâm—The Mendicant monk who seeks self-control by external means, such as abstinence from food, as contrasted with the mendicant monk who seeks self-control by internal means or spiritual methods.
ngoại kim cương bộ
(外金剛部) Cũng gọi Thế thiên. Chỉ cho chư Thiên thủ hộ được an trí ở vòng ngoài các Mạn đồ la Kim cương giới và Thai tạng giới của Mật giáo. Đàn tràng Mạn đồ la là nơi tu tập chân ngôn mật hạnh, để phòng ngừa các loại ma xâm nhập gây nhiễu loạn, nên phải có các vị thần Kim cương giữ gìn hộ vệ ở vòng ngoài của đàn tràng, cho nên gọi là Ngoại kim cương bộ. Các vị thần này vốn được ngoại đạo tôn thờ, sau nhờ sự dẫn dắt của Phật nên trở thành thần thủ hộ Phật pháp. Về con số các tôn vị thần trời được an trí, nếu là Mạn đồ la chỉ có 1 vị tôn duy nhất, thì an trí 8 vị ở 8 phương hoặc 12 vị. Còn nếu là Mạn đồ la Kim cương giới và Mạn đồ la Thai tạng giới thì tình hình phức tạp hơn, thông thường Kim cương giới an trí 20 vị và Thai tạng giới an trí 205 vị. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5]. (xt. Thiên Bộ).
ngoại kim cương bộ viện
(外金剛部院) Khu vực bao quanh phía ngoài cùng của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Các vị tôn được bày xếp trong bộ viện này, trước hết là các vị trời, sau đó còn có vô số các loài khác trong 3 cõi 6 đường, như: Rồng, Dạ xoa v.v... Bí tạng kí (bản khác) gọi bộ viện này là Kim cương bộ viện, còn Thai tạng (bản vẽ kiểu cũ) thì gọi là Tối ngoại viện (Viện ngoài cùng). Các vị tôn ở viện này tuy được gọi là Kim cương, nhưng vì Thiên bộ (các vị trời) chiếm đa số, cho nên viện này cũng gọi là Chư thiên viện. Tất cả có 205 vị tôn, trong đó, có 40 vị ở phương Đông, gồm: Trời Nhật thiên, trời Đế thích, trời Đại phạm v.v...; 65 vị ở phương Nam, gồm: Trời Hỏa thiên, trời Diệm ma, A tu la v.v...; 48 vị ở phương Tây, gồm: Trời La sát, trời Thủy thiên, trời Đại tự tại v.v...; 52 vị ở phương Bắc, gồm: Trời Phong thiên, trời Quang âm, trời Tì sa môn v.v... Tất cả các vị tôn này đều thuộc về thân Đẳng lưu của đức Đại nhật Như lai. Vì Thai tạng giới rất coi trọng tác pháp kết giới, cho nên số các vị tôn của Ngoại kim cương bộ nhiều gấp bội số các vị tôn của Kim cương giới (chỉ có 20 vị).
ngoại kim cương nhị thập thiên
(外金剛二十天) Cũng gọi Ngoại kim cương bộ nhị thập thiên, Nhị thập thiên. Hai mươi vị trời Kim cương ở Ngoại bộ được bày xếp trong 6 hội: Hội Căn bản thành than (thứ 1), hội Tam muội da (thứ 2), hội Vi tế (thứ 3), hội Đại cúng dường (thứ 4), hội Hàng tam thế (thứ 8), và hội Hàng tam thế tam muội da (thứ 9), trong 9 hội của Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Tên của 20 vị trời này trong các kinh và nghi quĩ đều chép khác nhau. Còn theo Hiện đồ mạn đồ la thì tên của 20 vị trời ấy là: Na la diên, Câu ma la, Kim cương tồi, Phạm thiên, Đế thích, Nhật thiên, Nguyệt thiên, Kim cương thực, Tuệ tinh, Huỳnh hoặc tinh, La sát, Phong thiên, Kim cương y phục, Hỏa thiên, Tì sa môn, Kim cương diện, Diệm ma la, Điều phục, Tì na dạ ca và Thủy thiên. Chủng tử, Hình tam muội da và thân Yết ma của các vị tôn này được đồ biểu như sau. (thiếu đồ biểu)
ngoại kiến
Heretical views.
ngoại lai
Exotic.
ngoại ma
Disturbances coming from outside.
; (外魔) Ma từ bên ngoài đến gây chướng ngại cho người tu đạo, tức chỉ cho Thiên ma. Thiên ma, gọi đủ là Tha hóa tự tại thiên tử ma. Ma vương và quyến thuộc của ma này ở tại tầng trời thứ 6 của cõi Dục, thường cản trở những việc thiện của loài người, ganh ghét chính pháp của bậc Hiền Thánh, gây chướng ngại cho việc thành tựu thiện căn xuất thế của người tu hành. [X. luận Đại trí độ Q.5, 56, 68; Ma ha chỉ quán Q.8, hạ]. (xt. Tứ Ma, Ma).
ngoại nghi
Xem tứ oai nghi.
; (外儀) Cũng gọi Ngoại tướng. Hình tướng, cử chỉ, dáng dấp biểu hiện ra bên ngoài, tức là 4 uy nghi: Đi, đứng, ngồi, nằm. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 84, 56 trung) nói: Đi đứng ngồi nằm, nói im, động tác, thường giữ niệm này trong tâm (...) Hoặc cúi đầu giơ tay, hoặc cất tiếng xưng danh, ngoại nghi dù khác, nhưng trong tâm luôn giữ chính niệm, thức ngủ chẳng quên. Ngoài ra, pháp hội Ngoại tướng nghi thức do Mật giáo đặc biệt cử hành, để làm tăng trưởng tín tâm của những người đến tham lễ cũng được gọi là Ngoại nghi, như nghi thức xếp hàng trước sau được thực hành bên ngoài đạo tràng Quán đính. (xt. Tứ Uy Nghi).
ngoại ngoại đạo
Ngoại đạo ngoài Phật pháp—Outside outsiders, those of other cults.
; (外外道) Đối lại: Nội ngoại đạo. Đồng nghĩa: Ngoại đạo (theo nghĩa rộng). Chỉ chung cho các giáo thuyết, học phái ngoài Phật pháp, như 6 phái Triết học Ấn độ: Số luận, Thắng luận v.v... hoặc 6 nhà ngoại đạo: Phú lan na ca diếp, Ni kiền đà nhã đề tử... cũng như 95 hoặc 96 loại ngoại đạo khác... [X. Đại nhật kinh sớ Q.2]. (xt. Ngoại Đạo).
ngoại ngã
Bahiratman—External Ego—An external soul, or personal or divine ruler—A Creator or ruler of the world, such as Siva.
; (外我) Đối lại: Nội ngã. Chỉ cho cái ngã(ta) ở ngoài thân, hoặc cái ngã ở ngoài 5 uẩn. Khái niệm Ngã (Phạm: Àtman) vốn là 1 trong những chủ đề quan trọng trong tư tưởng giới Ấn độ từ xưa đến nay; các giáo phái cũng như các học phái đã lần lượt đề xướng nhiều lí thuyết về ngã. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 1, thì thông thường có 3 loại kiến giải chấp ngã là: Ngã ở trong 5 uẩn, Ngã lìa 5 uẩn, Ngã chẳng ở trong 5 uẩn chẳng lìa 5 uẩn. Ba chủ trương trên đây đều cho ngã là có thật, trong đó, chủ trương thứ 2 chấp ngã lìa uẩn, tức là kiến giải chủ trương ngoại ngã. Ngoài ra, bắt đầu từ bộ sử thi Mahàbhàrata của Ấn độ, thông thường người Ấn độ gọi là trời Đại tự tại (Phạm: Mahezvara) là thần Ziva và coi vị thần này là đấng tối cao sáng tạo ra vũ trụ vạn vật. Thể tính của vị thần này là thường trụ và trùm khắp, vì thế Đại tự tại được coi là đại ngã duy nhất, đối lại với cái ngã cá nhân nội tại, tức gọi là Ngoại ngã. Nhưng những chủ trương đại loại như thế đều bị Phật giáo phủ nhận. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 648 hạ) nói: Nếu hành giả chẳng hiểu chính xác nghĩa nhân duyên mà tu chứng các pháp Thiền, thì ắt sẽ chấp trước tự tâm là nội ngã (...) Giả sử chẳng chấp nội ngã thì chắc hẳn cũng chấp ngoại ngã, tức là trời Tự tại, Phạm thiên ... [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.2; kinh Đại bát niết bàn Q.2 (bản Bắc); Dị bộ tông luân luận thuật kí]. (xt. Ngã).
ngoại phàm
See Phàm Phu (2) (b).
; (外凡) Đối lại: Nội phàm. Từ ngữ chỉ chung cho các giai vị phàm phu trong quá trình tu tập Phật đạo, tức là 1 trong những giai vị trước Kiến đạo. Thanh văn thừa lấy 3 giai vị Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm trụ và Tổng tướng niệm trụ (tức Tam hiền vị) làm Ngoại phàm; còn Bồ tát thừa thì lấy giai vị Thập tín phục nhẫn làm Ngoại phàm. Đại thừa nghĩa chương quyển 17, phần cuối (Đại 44, 810 trung) nói: Ngoại phàm nghĩa là những người ở trong đường lành (thiện thú) tìm chân lý ở bên ngoài; chưa thể dứt hình tướng bên ngoài để duyên theo chân tính ở bên trong, cho nên gọi là Ngoại; chưa bỏ được thân phàm phu phần đoạn trong 6 đường, cho nên gọi là Phàm. Trong 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên của tông Thiên thai thì tạng giáo lấy Hiền vị (Ngũ đình tâm v.v... ) làm Ngoại phàm; Thông giáo lấy Can tuệ địa của Thập địa nói trong kinh Đại phẩm bát nhã làm Ngoại phàm; Biệt giáo lấy giai vị Thập tín trong 52 giai vị làm Ngoại phàm và Viên giáo thì lấy giai vị Quán hành ngũ phẩm trong Lục tức làm Ngoại phàm. [X. luận Thành thực Q.1, 15; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.1 thượng, hạ]. (xt. Tam Hiền).
ngoại pháp
Heretical doctrines.
; (外法) Cũng gọi Ngoại thuật. Chỉ cho giáo pháp, tu pháp ngoài Phật giáo, hoặc chỉ cho các chú thuật của ngoại đạo, như pháp A vĩ xa (Phạm:Àveza), dùng pháp thuật triệu thỉnh quỉ thần nhập vào thân của đồng nam hoặc đồng nữ, làm cho chúng đoán trước được những việc lành dữ, nên hư. Lại như pháp Đồ cát ni (Phạm: Đàkìnì) dùng pháp thuật bất chính lấy trái tim của người ta mà ăn, để cầu thành tựu điều mong cầu. Tại Nhật bản, Ngoại pháp chỉ cho 1 thứ yêu thuật nhận được từ quỉ linh. Vị tăng thực hành pháp này gọi là Ngoại pháp tăng. Phong tục này thịnh hành từ giữa thời kì Bình an đến thời đại Liêm thương.
ngoại phọc định ấn
(外縛定印) Cũng gọi Kim cương định ấn, Phược định ấn. Ấn trụ trong định của Thiên cổ lôi âm Như lai, cũng tức là pháp giới định ấn của Kim cương bộ Mật giáo. Cách kết ấn này là: Lòng 2 bàn tay hướng lên, các ngón tay giao nhau. Định ấn là ấn khế biểu thị sự an trụ trong tướng Tam muội tịch lặng, bất động. (xt. Định Ấn).
ngoại phọc ấn
(外縛印) Cũng gọi Ngoại phược quyền, Chỉ tại ngoại quyền, Hướng ngoại tương xoa quyền. Ấn tướng biểu thị nguyệt luân trên hoa sen, đặc biệt được sử dụng trong Mạn đồ la Thai tạng giới. Là 1 trong 4 loại Quyền ấn hoặc 6 loại Quyền ấn của Mật giáo. Cách kết ấn này là 2 bàn tay chấp lại, 10 ngón tay đan vào nhau rồi nắm lại thành quyền, đặt 10 ngón ở ngoài nắm tay; 5 ngón tay trái đặt lên 4 ngón tay phải, còn ngón cái của tay phải thì phải đè lên ngón cái của tay trái. Vì các ngón tay đều ở bên ngoài lòng bàn tay nên gọi là Ngoại phược. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13]. (xt. Tứ Chủng Quyền).
ngoại tham dục
Ý nghĩ ham muốn tình dục với người khác, không phải là vợ hay chồng của mình—Sexual thoughts towards others than one's own wife, or husband.
; (外貪欲) Cũng gọi Ngoại tham dục tướng. Chỉ cho sự ham muốn các cảnh vật bên ngoài. Là 1 trong 3 thứ phát tướng thuộc tham dục. Tham dục là cầu mong được những vật của người khác mà mình ưa thích, do đó khởi tâm ham đắm ô nhiễm. Cứ theo Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 4, Ngoại tham dục, tức là lúc hành giả đang tu tập thiền định, bỗng khởi tâm ham muốn dung mạo người nam hoặc người nữ; nếu tâm niệm này khởi lên liên tục thì sẽ chướng ngại việc tu hành. Ma ha chỉ quán quyển 8, thượng (Đại 46, 10 hạ) nói: Nếu ngoại tham dục nổi lên thì phải dùng pháp quán Bất tịnh để đối trị, còn nếu nội tham dục sinh khởi thì dùng Bát bối xả đối trị.
ngoại thân
Maternal family—Mother's family.
ngoại triền
Outer tangle.
ngoại trần
The external objects of the six internal senses.
; Sáu cảnh trần bên ngoài—The external objects of the six senses.
; (外塵) Chỉ cho 6 trần cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là các đối tượng nhận thức của 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Những người phàm phu cho rằng 6 trần đều ở ngoài tâm, cho nên gọi là Ngoại trần. Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 357 thượng) nói: Phân biệt tất cả pháp là tướng ngoại trần.
ngoại trận
(外陣) Cũng gọi Hạ trận. Đối lại với Nội trận. Chỉ cho khu tiền đường ngoài Nội trận (nội cung, nơi thờ tượng Phật, tụng kinh, tu pháp) là chỗ dành cho tín đồ lễ bái, nghe kinh. Khi cử hành nghi thức pháp hội hành đạo thì Ngoại trận được sử dụng làm đường đi để nhiễu quanh Nội trận. Ngoài ra, bốn chung quanh riềm của bức tranh Biến tướng cũng gọi là Ngoại trận.
ngoại tình
Adultery.
ngoại tướng
External appearance or conduct; what is manifested without; externally.
; Hình tướng hay hành vi bên ngoài—External appearance or conduct.
ngoại tướng thập nhị
(外相十二) Cũng gọi Ngoại tướng thập nhị vật. Chỉ cho 12 thứ nhơ nhớp trong 36 vật bẩn thỉu của thân người. Đó là: Tóc, lông, móng, răng, ghèn (dử) mắt, nước mắt, nước dãi, nước bọt, nước tiểu, phân, ghét và mồ hôi. Do sự tạo tác, đổi dời của 36 vật và 12 nhân duyên xoay vần hòa hợp lẫn nhau mà thân người được sống còn. (xt. Tam Thập Lục Vật).
ngoại tục
Chúng tại gia để phân biệt với chúng xuất gia hay nội chúng Tăng Ni—The laity, in contrast with the monks or inner company (nội chúng).
ngoại tứ cung dưỡng
(外四供養) Cũng gọi Ngoại tứ cúng, Ngoại cúng dường. Gọi tắt: Ngoại cúng. Đối lại với Nội tứ cúng dường. Chỉ cho 4 vị Bồ tát do 4 đức Phật ở 4 phương, dùng đức Tam ma địa mà mình đã chứng được, lưu xuất ra để cúng dường đức Đại nhật Như lai. Đó là: 1. Bồ tát Hắc sắc hương (Hương màu đen), cũng gọi Bồ tát Kim cương phần hương, do đức A súc Như lai ở phương Đông lưu xuất ra. Vị Bồ tát này ngồi ở góc Đông nam của Ngoại viện, tay cầm lư hương biểu thị giới hương vi diệu, để cúng dường đức Đại nhật Như lai. 2. Bồ tát Thiển hoàng sắc hoa (Hoa màu vàng phớt), cũng gọiBồ tát Kim cương hoa, do đức Bảo sinh Như lai ở phương Nam lưu xuất ra. Vị Bồ tát này ngồi ở góc Tây nam, tay cầm hoa thơm, biểu thị hoa phúc đức, cúng dường đức Đại nhật Như lai. 3. Bồ tát Bạch sắc đăng (Đèn màu trắng), cũng gọi Bồ tát Kim cương đăng, do đức Phật A di đà ở phương Tây lưu xuất ra. Vị Bồ tát này ngồi ở góc Tây bắc, tay cầm đèn, biểu thị đèn trí tuệ, cúng dường đức Đại nhật Như lai. 4. Bồ tát Thanh sắc đồ hương (Hương xoa màu xanh), cũng gọi Bồ tát Kim cương đồ hương, do đức Bất không thành tựu Như lai (tức đức Thích ca Như lai) ở phương Bắc lưu xuất ra. Vị Bồ tát này ngồi ở góc Đông bắc, tay cầm hương xoa, biểu thị năm phần pháp thân, hương xoa có khả năng tẩy sạch sự nhơ bẩn, để cúng dường đức Đại nhật Như lai. Bốn vị Bồ tát trên đây tượng trưng ý nghĩa dùng hương đốt làm thanh tịnh tất cả thế giới, dùng hoa thơm tùy thuận thế gian, dùng ánh sáng chiếu rọi thế giới chúng sinh và dùng hương xoa diệt trừ hết thảy khổ ách cho chúng sinh. Ngoài ra, trong hội Lí thú của Mạn đồ la Kim cương giới, thì Ngoại cúng dường là các Bồ tát mùa xuân, Bồ tát mùa hạ, Bồ tát mùa thu và Bồ tát mùa đông, 4 vị này theo thứ tự, lần lượt cầm hoa, hương đốt, đèn và hương xoa. [X. phẩm Kim cương giới Ngoại cúng dường trong kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thật Q.hạ; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.3; kinh Tối thượng căn bản đại lạc kim cương bất không tam muội đại giáo vương Q.3; Nhất tự đính luân vương niệm tụng nghi quĩ]. (xt. Bát Cúng Dường).
ngoại vô vi
Unmoved by externals, none of the senses stirred.
; Đối với ngoại cảnh chẳng động tâm hay giác quan chẳng bị khuấy động (mắt chẳng thấy sắc, tai chẳng nghe thanh, mũi chẳng ngửi hương, lưỡi chẳng nếm vị, thân chẳng tiếp xúc các thứ mịn màng, ý chẳng vọng niệm)—Unmoved by externals, none of the senses stirred.
; (外無爲) Đối lại: Nội vô vi. Đối trước ngoại cảnh mà tâm không tán loạn. Cứ theo kinh Đại an ban thủ ý quyển hạ, thì vô vi có 2 loại: 1. Ngoại vô vi: Thân đứng trước cảnh sắc lộng lẫy, đẹp đẽ mà không khởi tâm tham muốn, mắt không thấy sắc, tai không nghe tiếng, mũi không ngửi mùi, miệng không nếm vị, thân không va chạm mịn láng, ý chẳng nghĩ bậy, nghĩa là 6 căn hoàn toàn ở trong trạng thái vắng lặng trong sáng. 2. Nội vô vi: Phối hợp sự tu định của 6 căn, dùng 6 môn vi diệu là sổ tức, tương tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh để đạt đến sự tĩnh lặng trong sáng của nội tâm.
ngoại vật
Bahyubhàva (S). Outside objects; external world.
ngoại xá
(外舍) Buông bỏ những vật bên ngoài mình như tiền của, vàng bạc v.v... Tức là với tâm từ bi không tham tiếc, đem những thứ quí báu như ngôi vua, phúc lạc, tiền của bố thí cho người có đức hoặc kẻ bần cùng khốn khổ. Đây là việc làm thuộc pháp ngoại thí trong 10 hạnh thí xả mà Bồ tát tu tập. Nhưng khi bố thí thì người thí, kẻ thụ thí và vật thí đều phải thanh tịnh mới được quả báo thù thắng. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa (Đại 37, 273 hạ) nói: Chư Phật ở quá khứ, Bồ tát ở hiện tại, đã làm được những việc khó làm, xả được những cái khó xả; nội xả, nội ngoại xả, đều xả. [X. phẩm Thập vô tận tạng trong kinh Hoa nghiêm Q.12 (bản dịch cũ); kinh Đại bát niết bàn Q.24 (bản Bắc)]. (xt. Thập Thí).
ngoại đan phái
Wai-tan (C), School of Outer Elexir.
ngoại điển
External rules or tenets.
; Kinh điển và sách vở của thế gian và ngoại đạo—Non-Buddhist doctrines.
; Giáo điển thế gian—Ordinary scriptures—Non-Buddhist scriptures. .
; (外典) I. Ngoại Điển. Cũng gọi Ngoại thư, Thế thư. Chỉ chung cho tất cả kinh sách nằm ngoài hệ thống giáo lí của Phật giáo, tức là những sách vở của thế gian hoặc của các tông giáo khác. Theo lập trường của Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 6 và kinh Bồ tát địa trì quyển 5, đối với những tỉ khưu trí tuệ yếu kém, kiến thức cạn hẹp thì không nên học thêm ngoại điển, nhưng với các tỉ khưu có trí sáng suốt, mạnh mẽ, học rộng, biết nhiều thì cũng nên dành ra 1/3 thời gian và sức lực để nghiên cứu tìm hiểu ngoại điển hầu chuẩn bị cho việc hàng phục ngoại đạo sau này, hoặc dùng để đối trị những việc không đúng pháp của thế gian. [X. Bách luận sớ Q.thượng, phần hạ; Thích thị yếu lãm Q.trung; Đại tống tăng sử lược Q.thượng; Sơn gia chính thống học tắc Q.hạ; Loại tụ danh vật khảo Q.24]. II. Ngoại Điển. Cũng gọi Bàng kinh, Thánh kinh ngoại truyền. Danh từ gọi chung các sách vở do những tín đồ Do thái giáo hoặc Cơ đốc giáo viết vào khoảng thế kỉ II trước Tây lịch đến thế kỉ II, III sau Tây lịch theo hình thức Thánh kinh, nhưng không được chính thức thừa nhận, đó là các sách: Cựu ước ngoại truyền, Tân ước ngoại truyền.
ngoại điển (ngoại giáo)
External doctrine—Non-Buddhist scriptures.
ngoại đạo
Tīrthika (S), Tithakara (S), Titthiya (P), Tirthya (S), Gedō (J), mu teg pa (S), Heretical sect, Externalists, Heretic.
; Tìrthya, tìthakara (S). Outside outsiders, those of other cults. Heretic, adherent of another religion.
; Tôn giáo ngoài bổn đạo của mình gọi là ngoại đạo. Nhưng Trí Giả Đại Sư lại chia ra làm ba thứ: 1. Chánh cống ngoại đạo, tu thành được trường thọ hoặc sanh cõi trời. 2. Gắn tên của Phật giáo mà hành pháp của ngoại đạo, tu thành cũng phải đọa địa ngục. 3. Học Phật pháp thành ngoại đạo, tức là chẳng hiểu ý Phật, đem ý mình cho là chánh pháp để dạy người, di hại người sơ học, Phật dụ là con trùng sư tử, tiêu diệt Phật pháp là do bọn này.
; Chỉ các đạo không phải là Phật giáo—Externalists—Outsiders—Outside doctrines—Non-Buddhist—Heresy—Heretics.
; (外道) Phạm: Tìrthaka hoặcTìrthika. Pàli: Titthya. Hán âm: Để thể ca. Cũng gọi Ngoại giáo, Ngoại pháp, Ngoại học. Chỉ cho tất cả các tông giáo không phải Phật giáo, tương đương với từ ngữ Dị đoan của Nho giáo. Nguyên nghĩa của chữ Tìrthaka là chỉ cho thần thánh hoặc những người ở ẩn đáng được tôn kính. Lúc đầu là từ ngữ do Phật giáo sử dụng để gọi các giáo phái khác, có hàm ý là người nói chân chính, người khổ hạnh; đối lại, Phật giáo tự xưng là Nội đạo, gọi kinh điển Phật giáo là Nội điển và gọi các kinh điển ngoài Phật giáo là Ngoại điển. Đến đời sau, các nghĩa như dị kiến, tà thuyết được thêm vào, từ ngữ ngoại đạo bèn trở thành danh xưng có tính cách khinh miệt, chê bai với ý nghĩa là tà pháp ngoài chân lí. Tam luận huyền nghĩa quyển thượng (Đại 45, 1 trung) nói: Chí diệu rỗng suốt, gọi là đạo. Tâm ở ngoài đạo, gọi là Ngoại đạo.Trong các kinh luận có nêu ra rất nhiều loại ngoại đạo, nhưng thông thường thì chỉ cho nhóm Lục sư ngoại đạo là: Phú lan na ca diếp, Mạt ca lợi cù xá lê tử, San xà da tì la chi tử, A kì đa chỉ xá khâm bà la, Ca la câu đà ca chiên diên, Ni càn đà nhã đề tử và 6 phái triết học. Số luận, Du già, Thắng luận Chính lí, Thanh luận và Phệ đàn đa... Ngoài ra còn có sự phân loại như: 1. Ngoại đạo tứ chấp, cũng gọi là Ngoại đạo tứ kiến, Ngoại đạo tứ kế, Ngoại đạo tứ tông, Tứ chủng ngoại đạo. Ngoại đạo này chấp trước các pháp là 1 là khác; vọng chấp tất cả các pháp đều là đồng nhất chẳng phải đồng nhất; chấp thế gian là thường vô thường; chấp có nhân quả không nhân quả... 2. Sáu phái ngoại đạo khổ hạnh: Ngoại đạo nhịn đói, Ngoại đạo gieo mình xuống vực sâu, Ngoại đạo nhảy vào lửa, Ngoại đạo chỉ ngồi không nằm, Ngoại đạo im lặng không nói, Ngoại đạo bò, chó (nghĩa là Ngoại đạo bắt chước bò, chó ăn cỏ, ăn phân để cầu sinh lên cõi trời)... 3. Ngoại đạo 16 tông, cũng gọi 16 tông dị luận, 16 ngoại đạo, 16 kế chấp. Tức vọng chấp: Trong nhân có quả; theo duyên hiển hiện; quá khứ vị lai có thật; có thật ngã; các pháp thường trụ đều do nhân kiếp trước; có nhân tự tại; sát sinh là chính pháp; có biên tế không biên tế; không chết và giả dối; các pháp không nhân; các pháp không quả; chết là hết; mình là hơn hết; mình trong sạch; mình tốt lành... 4. Hai mươi ngoại đạo: Tiểu thừa ngoại đạo luận sư, Phương luận sư, Phong luận sư, (phong tiên luận sư), Vi đà luận sư, Y sa na luận sư, Khỏa hình ngoại đạo luận sư, Tì thế sư luận sư, Khổ hạnh luận sư, Nữ nhân quyến thuộc luận sư, Hành khổ hạnh luận sư, Tịnh nhãn luận sư, Ma đà la luận sư, Ni kiền tử luận sư, Tăng khư luận sư, Ma hê thủ la luận sư, Vô nhân luận sư, Thời luận sư, Phục thủy luận sư, Khẩu lực luận sư, và Bản sinh an đồ luận sư. 5. Ba mươi loại ngoại đạo: Thời ngoại đạo, Địa đẳng kiến hóa ngoại đạo, Du già ngã ngoại đạo, Kiến lập tịnh ngoại đạo, Bất kiến lập vô tịnh ngoại đạo, Tự tại thiên ngoại đạo, Lưu xuất ngoại đạo, Thời ngoại đạo (khác với Thời ngoại đạo nói ở trên) Tôn quí ngoại đạo, Tự nhiên ngoại đạo, Nội ngã ngoại đạo, Nhân lượng ngoại đạo, Biến nghiêm ngoại đạo, Thọ giả ngoại đạo, Bổ đặc già la ngoại đạo, Thức ngoại đạo, A lại da ngoại đạo, Tri giả ngoại đạo, Kiến giả ngoại đạo, Năng chấp ngoại đạo, Sở chấp ngoại đạo, Nội tri ngoại đạo, Ngoại tri ngoại đạo, Xã đát phạm ngoại đạo, Ý sinh ngoại đạo, Nho đồng ngoại đạo, Thường định sinh ngoại đạo, Thanh hiển ngoại đạo, Thanh sinh ngoại đạo (Thanh hiển, Thanh sinh gọi chung là Thanh ngoại đạo), Phi thanh ngoại đạo... 6. Chín mươi sáu loại ngoại đạo: Trong phái Lục sư ngoại đạo mỗi người đều có 15 đệ tử, nêu ra 15 dị kiến cộng chung là 90 dị kiến; giữa pháp của thầy và pháp của đệ tử có khác nhau, vì thế 90 đệ tử cộng thêm 6 vị thầy thì thành 96 phái khác nhau, con số này được dùng để ví dụ rất nhiều thứ ngoại đạo. Kinh Niết bàn quyển 10 thì nói có 95 thứ ngoại đạo. Ngoài ra còn có các ngoại đạo khác như: Ngoại đạo thuận thế, ngoại đạo xuất gia (đối lại với ngoại đạo tại gia), ngoại đạo đồ khôi (ngoại đạo Thú chủ), ngoại đạo Phụ Phật pháp (ngoại đạo nương vào Phật giáo mà khởi tà kiến), ngoại đạo Ca bà li (Phạm: Kabarì, kết tóc), Nhị thiên tam tiên, Tam ngoại đạo, Thập tam ngoại đạo, Ngoại đạo thập nhất tông, Tam chủng ngoại đạo v.v... Trong các kinh luận, Ngoại đạo được chia làm 2 loại chính là Ngoại ngoại đạo và Nội ngoại đạo. Ngoại ngoại đạo là chỉ chung cho các loại giáo pháp và học phái ngoài Phật giáo, đồng nghĩa với ngoại đạo theo nghĩa rộng. Còn Nội ngoại đạo thì chỉ cho những người nương vào Phật pháp mà chủ trương tà kiến, nhằm mục đích xuyên tạc để phá hoại Phật pháp, hoặc người vọng chấp 1 kiến giải trong Phật giáo, hoặc người tu hành không đúng pháp. Trong Mật giáo, Ngoại ngoại đạo đồng nghĩa với ngoại đạo theo nghĩa rộng, còn Nội ngoại đạo thì có 2 loại: Một là chỉ cho hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác trong Phật giáo, hai là chỉ cho các tông phái thuộc Hiển giáo. [X. kinh Lăng già Q.1; luận Du già Q.6, 7; Hoa nghiêm kinh sớ Q.28; Đại nhật kinh sớ Q.19; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.10]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến, Lục Phái Triết Học, Lục Sư Ngoại Đạo).
Ngoại đạo lục sư
外道六師; S: ṣaṭśāstārā;|Là sáu vị giáo chủ với sáu giáo thuyết khác nhau, thịnh hành lúc Phật còn tại thế. Sáu vị này là:|1. Phú-lan-na Ca-diếp (s: pūraṇa kāśyapa; p: pūraṇa kassapa), chủ trương luận thuyết Vô đạo đức, dạy đệ tử rằng, không có một sự thật nào tuyệt đối mà con người có thể tìm được, phủ nhận luật nhân quả;|2. Mạt-già-lê Câu-xá-lê tử (s: maskarī go-śālīputra; p: makkhali gosāla) chủ trương thuyết Tự nhiên thuộc Túc mệnh luận, cho rằng mệnh của con người không tuỳ thuộc vào nghiệp quả, không liên can gì đến những hành động đang làm;|3. San-xà-dạ Tì-la-chi tử (s: sañjayī vairatī-putra; p: sañjaya belaṭṭhiputta) theo thuyết Hoài nghi, không thừa nhận tính chính xác của cái hiểu biết phổ biến. Ông chủ trương thuyết »Không thể biết đến được« (Bất khả tri), cho rằng giáo pháp và tu hành không cần thiết trong việc chứng đạt chân lí.|4. A-kì-đa Sí-xá-khâm-bà-la (s: ajita keśa-kambala, p: ajita kesakambala) theo thuyết Duy vật, Khoái lạc, cho rằng sự kham nhận khổ ải nhất định đưa đến khoái lạc;|5. Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên (s: karakuda katyāyana, p: pakudha kaccāyana) theo Cảm giác luận thuộc Vô nhân luận, cho rằng địa, thuỷ, hoả, phong, khổ, lạc, linh hồn là những yếu tố độc lập. Ông chỉ chấp nhận chân lí tuyệt đối ở một mức độ nào đó; |6. Ni-kiền-đà Nhã-đề tử (s: nirgrantha jñāti-putra; p: nigaṇṭha nātaputta) sáng lập Kì-na giáo. Ông cho rằng, khổ lạc được tạo ra từ đời trước, không thể tu mà diệt được mà phải chịu đền trả đời này.
ngoại đạo lục sư
Ṣaṭśāstārā (S).
; See Lục Sư Ngoại Đạo and Lục Khổ Hạnh.
ngoại đạo lục sư ca vương
Name of the king who, thirteen years after the destruction of the jetavana vihara, which had been rebuilt “five centuries” after the nirvana, again restored it.
ngoại đạo phạm thiên
(外道梵天) Ba loại Phạm thiên mà ngoại đạo Ấn độ đời xưa nói đến: 1. Phạm thiên do trời Na la diên sinh ra: Vị Phạm thiên này sinh ra loài người (gồm 4 chủng tính) và tất cả muôn vật. Đây là thuyết của Luận sư Vi đà (Phệ đà). Cứ theo luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn, thì từ trong rốn của trời Na la diên mọc ra 1 hoa sen lớn, Phạm thiên từ trong hoa sen ấy sinh ra. Phạm thiên này có khả năng sinh ra muôn vật: Từ miệng Phạm thiên sinh ra Bà la môn, từ 2 cánh tay sinh ra Sát đế lợi, từ 2 bắp đùi sinh ra Tì xá và từ 2 gót chân sinh ra Thủ đà la. Khắp mặt đất là giới trường tu phúc đức; trong nghi thức tế tự, nếu giết sinh vật để cúng dường Phạm thiên thì sẽ được Niết bàn. 2. Phạm thiên do trời Viwịu sinh ra: Vị Phạm thiên này sinh ra 8 người con và 8 người con này là nguồn gốc của hết thảy muôn vật. Đây là thuyết của Luận sư Vi nữu. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 8, thời kiếp hoại, trời Viwịu xuất hiện trên mặt biển cả, có 1.000 đầu, 2.000 tay chân; từ trong rốn mọc ra hoa sen báu màu vàng ròng nghìn cánh, Phạm thiên vương ngồi kết già trong hoa sen ấy, phát ra vô lượng ánh sáng; từ trong tâm Phạm thiên vương sinh ra 8 người con, 8 người con này lại sinh ra trời đất và muôn vật. 3.Trời Ma hê thủ la là Pháp thân, trời Na la diên là Báo thân, Phạm thiên là Ứng thân. Đây là thuyết của Luận sư Ma hê thủ la. Cứ theo luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn, thì Phạm thiên, Na la diên và Ma hê thủ la là cùng một thể mà chia làm 3, vì thế, muôn vật trong 3 cõi đều do trời Ma hê thủ la sinh ra, như đầu của vị trời này là hư không, thân là đất, tiểu tiện là nước. Ngoài ra, trong Phật giáo, Phạm thiên được phối với trời Sơ thiền ở cõi Sắc. Còn theo kinh A hàm và các kinh điển của Đại thừa thì Phạm thiên là vị trời thâm tín và hộ trì Phật pháp. [X. Đại nhật kinh sớ Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.25]. (xt. Đại Phạm Thiên).
ngoại đạo tam bảo
(外道三寶) Ba ngôi báu của ngoại đạo. Cứ theo Bách luận sớ quyển thượng phần trung, thì ngoại đạo cho rằng không phải chỉ có đức Phật được tôn xưng là Thế tôn (được đời tôn kính) mà các Luận sư của họ cũng có đủ nội đức, ngoại đức cũng đều được gọi là Thế tôn. Bách luận sớ có nêu 10 vị Luận sư làm thí dụ. Trong đó, 3 vị Luận sư là Ca tì la của Số luận, Ưu lâu ca của Thắng luận và Lặc sa bà của Ni kiền tử đều có thuyết pháp giảng kinh, dùng Tam bảo để hóa độ chúng sinh. Như tôn xưng Ca tì la là Phật bảo, đệ tử của ngài là Tăng bảo, và kinh Tăng khư là Pháp bảo. Ngoài ra, cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 10, 3 Luận sư trên đây còn được gọi là Tam ngoại đạo và đối với thuyết Nhân quả, 3 người này đều có vọng chấp: Ngoại đạo Ca tì la vọng chấp trong nhân có quả, ngoại đạo Ưu lâu ca chấp trong nhân không quả và ngoại đạo Lặc sa bà chủ trương trong nhân cũng có quả cũng không quả.
ngoại đạo thiền
Gedo-zen (J).
; Thiền ngoại đạo hay thiền theo con đường bên ngoài Phật giáo, thí dụ như phép Yoga của Ấn Độ, phép tĩnh tọa của Khổng giáo, hay phép tĩnh tâm thực hành của Ki Tô giáo, vân vân. Một khía cạnh của thiền ngoại đạo là nó thường được thực hành để luyện các năng lực hoặc kỹ năng siêu nhiên khác nào đó ngoài tầm với của người thường, chẳng hạn như đi chân trần trên những lưỡi kiếm bén, hoặc nhìn những con chim sẽ khiến chúng trở nên tê liệt. Một khía cạnh khác của thiền ngoại đạo là thực hành để được tái sanh vào các cõi trời. Tất cả những khía cạnh nầy đều không phải là mục tiêu của thiền Phật giáo; mục tiêu tối thượng của người tu thiền Phật giáo là thành Phật—An outside way of meditation or Outsider Zen, i.e. Indian (Hindu) Yoga, the quiet sitting of Confucianism, contemplation practices in Christianity, etc. One aspect of the outsider Zen is that it is often practiced in order to cultivate various supranormal powers or skills, or to master certain arts beyond the reach of ordinary man, i.e walking barefooted on sharp sword blades or staring at sparrows so that they become paralized. Another aspect of the outsider Zen is that it is practiced to obtain rebirth in various heavens. These aspects of the outsider Zen are not the objects of Zen Buddhism; the ultimate goal of Buddhist meditators is to become a Buddha. Tiểu Thừa Thiền: Thiền Tiểu Thừa nhằm chỉ dạy chúng ta cách đưa từ trạng thái tâm nầy đến trạng thái tâm khác, thí dụ như từ mê mờ đến giác ngộ. Tuy nhiên, Thiền Tiểu Thừa chỉ chú trọng đến sự an tâm của một mình mình mà thôi. Mục đích của Thiền Tiểu Thừa là đạt được một trong tứ Thánh quả của Tiểu Thừa—Hinayana Zen or Zen of Small Vehicle. This is the vehicle or teaching that is to take you from one state of mind to another state of mind, i.e. from delusion to enlightenment. However, Zen of the Smal Vehicle looks only into one's own peace of mind. The purpose of Zen of Small Vehicle is to attain one of the four degrees of saintliness of Hinayana. ** For more information, please see Tứ Thánh Quả. Đại Thừa Thiền: Thiền Đại Thừa hay là thiền được chuyên chở bằng cổ xe lớn. Đây chính là một loại thiền Phật giáo vì mục đích của nó là kiến tánh ngộ đạo trong cuộc sống hằng ngày của mình. Trong thực hành thiền Đại thừa, khởi đầu là ý thức về chân tánh, nhưng khi đã ngộ thì chúng ta mới nhận ra rằng tọa thiền còn hơn là một phương tiện để ngộ, vì tọa thiền là sự thực hiện thật sự của chân tánh. Trong Thiền Đại Thừa thì đối tượng là giác ngộ, nên người ta dễ nhận lầm tọa thiền chỉ là một phương tiện mà thôi. Kỳ thật tất cả những vị Thầy đã ngộ đạo đều cho rằng tọa thiền chính là sự thực hiện của Phật tánh vốn có chứ không phải chỉ là một kỹ thuật để đạt được sự ngộ đạo. Nếu tọa thiền không khác hơn một kỹ thuật như thế, người ta sẽ thấy rằng sau khi ngộ đạo thì tọa thiền sẽ không còn cần thiết nữa. Nhưng chính Đạo Nguyên đã chỉ rõ rằng ngược lại mới đúng, CÀNG CHỨNG NGỘ SÂU CÀNG THẤY CẦN THỰC HÀNH—Mahayana Zen or Great Vehicle Zen, this is a truly Buddhist Zen, for it has its central purpose, seeing into your essential nature and realizing the way in your daily life. In the practice of Mahayana Zen your aim in the beginning is to awaken to your true-nature, but upon enlightenment you realize that meditation is more than a means to enlightenment. It is the actualization of your true-nature. The object of the Mahayana Zen is Awakening, it is easy to mistakenly regard meditation as but a means. However, any enlightened masters point out from the beginning that meditation is in fact the actualization of the innate Buddha-nature and not merely a technique for achieving enlightenment. If meditation were no more than such a technique, it would follow that after awakening meditation would be unnecessary. But T'ao-Yuan himself pointed out, precisely the reverse is true; THE MORE DEEPLY YOU EXPERIENCE AWAKENING, THE MORE YOU PERCEIVE THE NEED FOR PRACTICE. Tối Thượng Thừa Thiền: Tối thượng thừa thiền là đỉnh cao cùng tột của thiền trong Phật giáo. Thiền nầy được thực hành bởi chư Phật trong quá khứ như Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà. Đây là sự biểu lộ của sự sống tuyệt đối, sự sống trong hình thức tinh khiết nhất. Đây là cách tọa thiền mà thiền sư Đạo Nguyên bênh vực, nó không dính dáng gì đến việc phấn đấu để ngộ hay đạt được bất cứ một đối tượng nào khác. Trong phương pháp thực hành cao nhất nầy, phương tiện và cứu cánh là một. Thiền Đại Thừa và Thiền Tối Thượng Thừa kỳ thật bổ sung cho nhau. Khi được thực hành đúng bạn ngồi trong niềm tin kiên định rằng tọa thiền chính là thể hiện Chân tánh không ô nhiễm của mình, và đồng thời bạn ngồi trong niềm tin trọn vẹn rằng cái ngày ấy sẽ đến, khi bạn kêu lên: “Ô, nó đây rồi!” Bạn sẽ nhận ra chân tánh nầy không lầm lẫn. Vì thế, về mặt tự thức, bạn không cần cố gắng để ngộ—Zen of the highest vehicle. This is the culmination and crown of Buddhist Zen. This Zen was practiced by all Buddhas of the past, namely Sakyamuni and Amitabha. It is the expression of the Absolute Life, life in its purest form. It is the meditation that T'ao-Yuan chiefly advocated and it involves no struggle for awakening or any other objects. In this highest practice, means and end are just one, Mahayana Zen and Zen of the highest vehicle are in fact complementary for one another. When rightly practiced, you sit in the firm conviction that meditation is the actualization of your undefiled True-nature, and at the same time you sit in complete faith that the day will come when, exclaiming “Oh, this is it!” You will unmistakably realize this True-nature. Therefore you need not self-consciously strive for enlightenment.
; (外道禪) Chỉ cho pháp thiền định còn mang tâm niệm dị chấp, tức là pháp thiền định do các ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa tu tập. Là 1 trong 5 vị thiền. Khi hành giả tu tập thiền định, tâm trụ trong dị niệm và thường khởi tâm ưa thích cảnh giới trên, nhàm chán cảnh giới dưới, gọi là Ngoại đạo thiền. [X. Thiền nguyên chư thuyên tập độ tự Q.thượng, phần 1]. (xt. Ngũ Vị Thiền).
ngoại đạo thập lục tông
(外道十六宗) Cũng gọi Thập lục dị luận, Thập lục ngoại luận, Thập lục ngoại đạo, Thập lục kế. Chỉ cho 16 tông phái của ngoại đạo Ấn độ thời xưa. Là 1 trong những cách phân loại ngoại đạo Ấn độ, do ngài Khuy cơ thuộc tông Pháp tướng căn cứ vào Thập lục dị luận được nêu trong luận Du già sư địa quyển 6, 7 và luận Hiển dương thánh giáo quyển 9, 10, có sửa đổi chút ít về tên gọi mà lập thành. Theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1, phần đầu, 16 tông ấy là: 1. Nhân trung hữu quả tông, cũng gọi Nhân trung hữuquả luận. Tông này vọng chấp nhân của các pháp là thường hằng và đã có tính chất của quả. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 9 thượng và Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 10, phần 1, thì đây là vọng chấp của ngoại đạo Số luận. Nhưng theo thành Duy thức luận thuật kí quyển 1, phần cuối, thì vọng chấp này là của ngoại đạo Vũ chúng. Có thuyết cho rằng ngoại đạo Số luận tức là ngoại đạo Vũ chúng. Như lúa nếp hương lấy hạt thóc nếp hương làm nhân, muốn có lúa nếp hương thì phải gieo hạt thóc nếp hương mới có, chứ không thể gieo hạt lúa mì mà mong có được lúa nếp hương, cho nên trong nhân lúa nếp hương đã có tính nếp hương. 2. Tòng duyên hiển liễu tông, cũng gọi Tòng duyên hiển liễu luận. Tông này vọng chấp thể của âm thanh hoặc pháp là thường hằng, nhưng phải nhờ các duyên mới hiểu rõ được. Đây là thuyết của ngoại đạo Thanh luận và ngoại đạo Số luận. 3. Khứ lai thực hữu tông, cũng gọi Khứ lai thực hữu luận. Tông này vọng chấp quá khứ và vị lai đều có thật chứ chẳng phải có giả, chính là Biến thường luận nói trong Phạm võng lục thập nhị kiến. Đây là thuyết do ngoại đạo Thắng luận và ngoại đạo Thời luận chủ trương. 4. Kế ngã thực hữu tông, cũng gọi Kế ngã thực hữu luận. Tông này vọng chấp ngã tức uẩn, li uẩn và ngã phi tức uẩn, phi li uẩn, chấp trước ngã là có thật, là thường nhất. Cũng tức là chấp có ngã, có Tát đỏa (chúng sinh), có mệnh giả (mệnh sống), có sinh giả (người), đây là do sinh khởi Ngũ giác mà biết có ngã, là Biến thường luận trong Phạm võng lục thập nhị kiến. Tất cả ngoại đạo như Số luận,Thắng luận, Li hệ, Thú chủ, Xích y, Biến xuất và Độc tử bộ của Tiểu thừa đều chủ trương thuyết này. 5. Chư pháp giai thườngtông, cũng gọi Kế thường luận. Tông này vọng chấp toàn bộ hoặc một phần các pháp là thường trụ. Cũng tức là chấp trước ngã và thế gian đều là thường trụ. Đây là Biến thường luận và Nhất phần thường luận trong Phạm võng lục thập nhị kiến. Ngoại đạo Số luận chủ trương thuyết này. 6. Chư nhân túc tác tông, cũng gọi Túc tác nhân luận. Tông này vọng chấp cái khổ mà con người phải chịu ở hiện tại, đều là do nhân xấu ác đã tạo ở quá khứ. Nếu ở đời hiện tại tinh tiến tu hành, các nghiệp cũ dần dần tiêu trừ, đồng thời không tạo nghiệp mới, thì cuối cùng sẽ được giải thoát. Đây là thuyết do ngoại đạo Li hệ (Ni kiền tử) chủ trương. 7. Tự tại đẳng nhân tông, cũng gọi Tự tại đẳng tác giả luận. Tông này vọng chấp các pháp đều do trời Tự tại biến hiện ra. Tức chấp trước các pháp do trời Đại tự tại, Trượng phu, Đại phạm, hoặc do các nguyên nhân như thời, phương, không, ngã... biến hóa ra. Đây là Nhất phần thường luận trong Phạm võng lục thập nhị kiến. Các Luận sư Ma hê thủ la chủ trương thuyết này. 8. Hại vi chính pháp tông, cũng gọi là Hại vi chính pháp luận. Tông này lấy việc ăn thịt và giết hại sinh vật làm chính tông. Tức các người Bà la môn vì muốn ăn thịt mà bịa ra rằng nhờ các nghi thức cúng tế, chú thuật và giết các sinh vật để cúng tế... mà người tế cũng như vật tế đều được sinh lên cõi trời! Đây là chủ trương của Bản kiếp luận giả. 9. Biên vô biên đẳng tông, cũng gọi là Hữu biên vô biên luận. Tông này vọng chấp thế gian là có biên hoặc không có biên. Đây là Hữu biên đẳng luận trong Phạm võng lục thập nhị Kiến. 10. Bất tử kiểu loạn tông, cũng gọi Bất tử kiểu loạn luận. Tông này vọng chấp Phạm thiên không chết. Nếu có người hỏi đạo thì đáp bằng những lời giả dối. Đây là Bất tử kiểu loạn luận nói trong Phạm võng lục thập nhị kiến. 11. Chư pháp vô nhân tông,cũng gọi Vô nhân kiến luận. Tông này vọng chấp các pháp đều tự nhiên sinh khởi chứ chẳng do nguyên nhân nào cả. Đây là Vô nhân luận nói trong Phạm võng lục thập nhị kiến. Ngoại đạo Vô nhân chủ trương thuyết này. 12. Thất sự đoạn diệt tông, cũng gọi Đoạn kiến luận. Tông này vọng chấp rằng quả báo ở 7 nơi như: Thân chúng sinh ở cõi Dục và những người trời cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc, sau khi chết đều đoạn diệt. Đây là đoạn diệt luận được nói trong Phạm võng lục thập nhị kiến do ngoại đạo Đoạn kiến chủ trương. 13. Nhân quả giai không tông, cũng gọi Không kiến luận. Tông này phủ nhận thuyết Nhân quả, vọng chấp tất cả đều là không. 14. Vọng kế tối thắng tông, cũng gọi Vọng kế tối thắng luận. Tông này vọng chấp rằng Bà la môn là chủng tộc tối thắng trong 4 chủng tộc, là con dân của Phạm vương, được sinh ra từ miệng của Phạm vương, 3 chủng tộc còn lại đều hèn kém, chẳng phải con dân của Phạm vương. 15. Vọng kế thanh tịnh tông, cũng gọi Vọng kế thanh tịnh luận. Tông này vọng chấp 5 món dục lạc mà các người trời đang thụ hưởng là hiện pháp Niết bàn, hoặc giữ gìn các giới như giới bò, giới chó, lấy việc ăn cỏ, ăn phân để cầu được giải thoát. Các ngoại đạo Hiện pháp Niết bàn và ngoại đạo Thủy đẳng thanh tịnh chủ trương thuyết này. 16. Vọng kế cát tường tông, cũng gọi Vọng kế cát tường luận. Tông này cho rằng cúng tế mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú là việc làm sẽ mang lại sự tốt lành, nhiều phúc báo... Đây là vọng kiến của ngoại đạo Lịch toán. Mười sáu tông trên đây có lẽ đã được căn cứ vào thuyết 62 kiến chấp nói trong kinh Phạm động, Trường a hàm quyển 14 mà lập ra và ngoại trừ 7 tông là: Nhân trung hữu quả, Tòng duyên hiển liễu, Chư nhân túc tác, Hại vi chính pháp, Nhân quả giai không, Vọng kế tối thắng, Vọng kế cát tường là không thấy có tông nào tương đương, còn các tông khác thì đều còn ý chỉ để lại. [X. kinh Phạm võng lục thập nhị kiến; kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.10; luận Đại tì bà sa Q.199, 200; luận Du già sư địa Q.87; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.4, phần cuối; Tuệ lâm âm nghĩa Q.25; luận Thập trụ tâm Q.3].
ngoại đạo thập nhất tông
(外道十一宗) Mười một tông tóm tất cả 95 thứ ngoại đạo ở Ấn độ thời xưa. Đây là cách phân loại của Tổ thứ 4 tông Hoa nghiêm là ngài Trừng quán căn cứ vào 95 thứ ngoại đạo Ấn độ cổ đại được ghi trong kinh Niết bàn quyển 10 mà qui nạp thành 11 tông. Theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 13 (do ngài Trừng quán soạn)thì 11 tông ấy là: 1. Số luận sư: Vọng chấp từ Minh (mờ mịt) sinh ra Số, tức là tuệ. Số luận tức là từ Số khởi Luận, hoặc Luận có năng lực sinh ra Số. Nghĩa là Số luận sư vọng chấp từ Minh (tự tính) sinh ra Giác, từ Giác sinh ra tâm, cho đến 11 căn, hợp với Minh và Thần ngã mà thành 25 đế. Minh là nhân sinh ra muôn vật, Thần ngã là sự thấy biết của ngã (cái ta), còn các đế khác đều có thể biến đổi. 2. Vệ thế sư: Chấp 6 cú sinh. Vệ thế nghĩa là Vô thắng, tức là Hưu lưu tiên nhân, ra đời trước đức Phật 800 năm. Sau khi được 5 thứ thần thông (chân không chạm đất, biết tâm và mệnh số của người khác, mắt trông xa nghìn dặm, nghe gọi tên đến liền, bước đi trên vách đá không ngăn ngại), vị tiên này nói 10 vạn bài kệ, tự cho là mình đã chứng được Bồ đề, nên an nhiên nhập diệt. Lục cú sinh(6 nguyên lí sinh ra muôn vật) mà vị tiên này chấp là: -Thực (có 9 thứ): Thể của các pháp là có thật, là chỗ y chỉ của Đức nghiệp: -Đức (có 24 thứ): Tức là đạo đức. -Nghiệp (có 5 thứ): Tức là động tác, tác dụng. -Đại hữu (có 1 thứ): Nghĩa là Thực, Đức, Nghiệp đều là 1 hữu. -Đồng dị (cũng có 1): Như đất với đất là đồng (giống nhau), từ đất mà trông nước là dị (khác nhau), nước, lửa, gió cũng thế. -Hòa hợp: Do các pháp hòa hợp mà có trụ. 3. Đồ khôi ngoại đạo: Ngoại đạo Đồ khôi và các Bà la môn cùng chấp rằng thể tính của trời Tự tại (ở tầng trời thứ 6 thuộc cõi Dục) là có thật và thường hằng, có năng lực sinh ra các pháp và biến hiện ra các hình tướng trong 6 đường để giáo hóa các chúng sinh. 4. Vi đà luận sư: Vọng chấp 4 chủng tính là do trời Na la diên sinh ra. Vi đà nghĩa là Trí luận; Na la diên nghĩa là Lực sĩ Câu tỏa. Tức Luận sư Vi đà vọng chấp rằng từ nơi rốn của trời Na la diên mọc ra đóa hoa sen lớn, trên hoa sen có Phạm thiên, rồi từ miệng Phạm thiên sinh ra Bà la môn, từ 2 cánh tay sinh ra Sát đế lợi, từ 2 bắp đùi sinh ra Tì xá và từ 2 gót chân sinh ra Thủ đà la, cho nên chủng tính Bà la môn là ưu tú nhất, tôn quí nhất. 5. An đồ Luận sư: Vọng chấp Bản tế sinh. Nghĩa là ngoại đạo này chấp rằng vào lúc ban sơ (sơ tế, bản tế) ở quá khứ, trong thế gian chỉ có nước mênh mông, lênh láng, lúc bấy giờ có Đại an đồ sinh ra, hình dáng giống như quả trứng gà, sau chia làm 2 phần, phần trên là trời, phần dưới là đất, ở giữa sinh ra 1 vị Phạm thiên, rồi Phạm thiên này sinh ra hết thảy muôn vật, vì thế coi Phạm thiên là chủ sinh ra vạn hữu. 6. Thời tán ngoại đạo: Vọng chấp muôn vật do thời gian sinh ra, như cỏ cây tùy thời mà sinh hoa, kết quả, tươi tốt, khô héo, sống chết... cho nên thời là thường, là nhất. Chủ trương này thuộc về thuyết thấy quả mà biết nhân. 7. Phương luận sư: Ngoại đạo này vọng chấp 4 phương sinh ra con người, người sinh ra trời đất, sau khi tiêu diệt lại trở về 4 phương, vì thế Phương là thường, là nhất. 8. Lộ già da: Lộ già da nghĩa là Thuận thế. Tức ngoại đạo vọng chấp các pháp sắc, tâm đều do cực vi (nguyên tử)của 4 đại: Đất, nước, lửa, gió sinh ra. Cho nên cực vi là nhân sinh ra muôn vật; muôn vật vô thường, sau khi hoại diệt lại trở về 4 đại, nhưng thực thể của cực vi thì không hư nát. 9. Khẩu lực luận sư: Vọng chấp hư không là nhân sinh ra muôn vật. Nghĩa là ngoại đạo này chấp từ hư không sinh ra gió, từ gió sinh ra lửa, từ lửa sinh ra hơi nóng, từ hơi nóng sinh ra nước, nước đông cứng lại sinh ra đất, đất sinh ra ngũ cốc, ngũ cốc sinh ra mệnh sống, mệnh sống hết lại trở về hư không. 10. Túc tác luận sư: Vọng chấp khổ vui do nghiệp. Nghĩa là ngoại đạo này chấp rằng tất cả chúng sinh đều tùy theo nghiệp nhân đã tạo tác ở đời trước mà chịu quả báo khổ, vui. Nên tinh tiến giữ giới, thân tâm chịu khổ thì phá trừ được bản nghiệp, bản nghiệp đã hết thì các khổ cũng diệt, tức được Niết bàn, vì thế vọng chấp những việc đã làm ở đời trước là nguyên nhân của tất cả mọi sự vật. 11. Vô nhân luận sư: Ngoại đạo này vọng chấp hết thảy muôn vật đều tự nhiên sinh, tự nhiên diệt, không có nguyên nhân (nhân duyên) nào cả. [X. luận Du già sư địa Q.6, 7; luận Hiển dương thánh giáo Q.9, 10; luận Đại tì bà sa Q.11, 12]. (xt. Ngoại Đạo).
ngoại đạo tiểu thừa niết bàn luận
(外道小乘涅槃論) Cũng gọi Đề bà bồ tát thích Lăng già kinh trung ngoại đạo tiểu thừa niết bàn luận, Phá ngoại đạo tiểu thừa niết bàn luận, Phá ngoại đạo niết bàn luận. Tác phẩm, 1 quyển, do bồ tát Đề bà người Ấn độ soạn, ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Hậu Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Đây là bộ luận thuộc Đại thừa, nội dung căn cứ vào những kiến chấp về Niết bàn của ngoại đạo được nêu ra trong kinh Lăng già a bạt đa la bảo quyển 3, phẩm Niết bàn trong kinh Nhập lăng già quyển 6 và kinh Nhập đại thừa lăng già quyển 4... mà giải thích và bác bỏ những kiến chấp ấy. [X. Pháp kinh lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.6]. (xt. Nhị Thập Chủng Ngoại Đạo).
ngoại đạo tiểu thừa tứ tông luận
(外道小乘四宗論) Cũng gọi Đề bà bồ tát phá Lăng già kinh trung ngoại đạo tiểu thừa tứ tông luận, Phá ngoại đạo tiểu thừa tứ tông luận, Phá ngoại đạo tứ tông luận. Tác phẩm, 1 quyển, do bồ tát Đề bà người Ấn độ soạn, ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Hậu Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Đây là bộ luận thuộc đại thừa. Nội dung nhằm luận phá vọng chấp các pháp là 1, là khác, là câu, bất câu v.v... do ngoại đạo và Tiểu thừa chủ trương. Bốn tông thuộc ngoại đạo và Tiểu thừa được nói trong sách này là chỉ cho: 1. Luận sư Tăng khư chấp trước tất cả pháp là một. 2. Luận sư Tì thế sư chấp trước tất cả pháp là khác. 3. Luận sư Ni kiền tử chấp trước tất cả pháp đều cùng (câu) tồn tại chứ chẳng phải tồn tại riêng lẻ. 4. Luận sư Nhã đề tử chấp trước tất cả pháp chẳng phải cùng nhau (bất câu) tồn tại, mà có tính chất đối đãi. Bốn tông trên đây thuộc 1 trong 4 kiến chấp của ngoại đạo. Bồ tát Đề bà căn cứ theo nội dung kinh Nhập lăng già quyển 3 mà soạn sách này, là tác phẩm anh em với luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn. Nhưng, cứ theo Đề bà bồ tát truyện thì Đề bà có soạn Bách luận 20 phẩm và Tứ bách luận để bác bỏ tà kiến của ngoại đạo, mà không thấy đề cập gì đến việc ngài soạn luận Ngoại đạo tiểu thừa tứ tông này. [X. Bách luận sớ Q.trung, phần trên; Pháp kinh lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.6]. (xt. Ngoại Đạo Tứ Chấp).
ngoại đạo tương thiện
(外道相善) Chỉ cho quán hạnh mà ngoại đạo tu tập. Tướng thiện có 2 nghĩa: 1. Nghĩa tương tự: Sáu hành quán mà ngoại đạo tu tập giống với pháp quán của Bồ tát trong Phật giáo, nhưng giống chứ chẳng phải, vì thế quán hạnh của họ chỉ thuộc thiện tương tự chứ chẳng phải thiện chân chính. 2. Nghĩa tướng, trước tướng: Pháp quán của ngoại đạo tuy là thiện, nhưng vẫn không thấu suốt lí nhân không, pháp không, cho nên quán hạnh của họ thuộc thiện trước tướng chứ chẳng phải thiện lìa tướng, phá tướng.
ngoại đạo tứ chấp
(外道四執) Cũng gọi Ngoại đạo Tứ tông, Ngoại đạo Tứ kiến, Ngoại đạo Tứ kế, Tứ chủng ngoại đạo, Tứ kiến, Tứ chấp. Bốn loại kiến chấp của ngoại đạo Ấn độ đời xưa đối với những vấn đề như: Các pháp là 1 hay khác, thường hay vô thường, nhân quả có hay không v.v... được trình bày như sau: 1. Bốn kiến chấp về một, khác: a) Vọng chấp các pháp là một, tức chấp hết thảy pháp là đồng nhất. Như chủ trương của ngoại đạo Số luận. b) Vọng chấp các pháp là khác, tức chấp hết thảy pháp là sai biệt. Như chủ trương của ngoại đạo Thắng luận. c) Vọng chấp các pháp cũng một cũng khác, tức chấp hết thảy pháp cũng đồng nhất, cũng sai biệt. Như chủ trương của ngoại đạo Ni kiền tử. d) Vọng chấp các pháp chẳng phải một chẳng phải khác, tức chấp hết thảy pháp chẳng phải là đồng nhất, chẳng phải sai biệt. Như chủ trương của ngoại đạo Nhã đề tử và ngoại đạo Tà mệnh. Nhưng luận Ngoại đạo tiểu thừa tứ tông thì cho rằng: a) Vọng chấp tất cả pháp là một, tức cho rằng 2 tướng ngã và giác không lìa nhau, nhân và quả cũng thế. Đây là thuyết của ngoại đạo Tăng khư. b) Vọng chấp tất cả pháp là khác, tức cho rằng ngã và trí, năng và sở đều khác. Như thuyết của ngoại đạo Tì thế sư luận sư. c) Vọng chấp tất cả pháp là cùng (câu), tức cho rằng hết thảy pháp đều cùng nhau tồn tại chứ không phải tồn tại đơn lẻ, đồng nghĩa với thuyết cũng một cũng khác. Đây là chủ trương của ngoại đạo Ni kiền tử luận sư. d) Vọng chấp tất cả pháp không cùng (bất câu), tức cho rằng hết thảy pháp không cùng nhau tồn tại mà có tính chất tương đối, đồng nghĩa với thuyết chẳng phải một chẳng phải khác như chủ trương của ngoại đạo Nhã đề tử luận sư. 2. Bốn kiến chấp về thường, vô thường: a) Vọng chấp tất cả pháp thế gian đều là thường hằng. b) Vọng chấp tất cả pháp thế gian đều là vô thường. c) Vọng chấp tất cả pháp thế gian cũng thường cũng vô thường. d) Vọng chấp tất cả pháp thế gian chẳng phải thường, chẳng phải vô thường. Luận Đại trí độ quyển 7 (Đại 25, 110 thượng) nói: Lại có 4 thứ kiến chấp: Thế gian là thường, thế gian là vô thường, thế gian cũng thường cũng vô thường, thế gian chẳng phải thường chẳng phải vô thường, ngã và thế gian có biên không biên cũng như thế. Cũng có kiến chấp cho rằng sau khi chết là mất, hoặc sau khi chết không mất, hoặc sau khi chết là mất là chẳng mất, hoặc sau khi chết cũng chẳng phải mất chẳng phải chẳng mất. Trong đó, 4 câu Thế gian là thường... là Biến thường luận và Nhất phần thường luận nói trong kinh Phạm võng lục thập nhị kiến; 4 câu Hữu biên vô biên... là Hữu biên đẳng luận; 4 câu Sau khi chết là mất... là Hữu tưởng luận, Vô tưởng luận, Đoạn diệt luận. 3. Bốn kiến chấp về tức, li của ngã và uẩn: Theo luận Du già sư địa quyển 65, thì 4 kiến chấp ấy là: a) Vọng chấp ngã tức là các uẩn. b) Vọng chấp ngã khác với các uẩn nhưng ở trong các uẩn. c) Vọng chấp ngã chẳng phải tức uẩn, mà là khác với các uẩn, lìa uẩn, chẳng phải ở trong uẩn mà ở trong các pháp khác. d) Vọng chấp ngã chẳng phải tức uẩn mà là khác với các uẩn, lìa uẩn chẳng phải ở trong uẩn cũng chẳng phải ở trong bất cứ pháp nào khác, cũng không tương ứng với tất cả uẩn. 4. Bốn kiến chấp về nhân quả có, không: a) Vọng chấp tà nhân tà quả: Như ngoại đạo Đại tự tại thiên chấp muôn vật đều do trời Đại tự tại sinh ra, nếu trời Đại tự tại vui thì 6 đường (trời, người, a tu la, địa ngục, ngã quỉ, súc sinh) đều vui; nếu trời Đại tự tại tức giận thì 4 loài (loài đẻ bọc, loài đẻ trứng, loài đẻ ở nơi ẩm ướt, loài hóa sinh) đều khổ. b) Vọng chấp không nhân có quả: Các ngoại đạo Thường kiến, Vô nhân tìm hiểu tận cùng muôn vật, phát hiện ra rằng sự sống hiện tại của muôn vật không cần nương vào vật khác, rồi vọng chấp muôn vật đều tự nhiên mà có chứ chẳng cần quan hệ nhân quả nào cả. c) Vọng chấp có nhân không quả: Ngoại đạo Đoạn kiến chấp trước chỉ có nhân ở hiện tại chứ không có quả tái sinh ở đời sau, như cỏ cây chỉ sống trong 1 thời kì, sau đó thì chết là hết. d) Vọng chấp không nhân không quả: Ngoại đạo này hoàn toàn không tin luật nhân quả, cho rằng con người chẳng phải chịu quả đời sau, cũng không có nhân hiện tại. 5. Bốn kiến chấp về khổ do mình tự tạo, do người khác gây ra: a) Vọng chấp khổ do chính mình tự tạo lấy. b) Vọng chấp khổ trong 6 đường là do trời Đại tự tại gây ra. c) Vọng chấp khổ do chúng sinh cùng tạo tác. d) Vọng chấp tự nhiên mà có khổ chứ chẳng vì nguyên nhân nào. Ngoài ra, tông Tam luận căn cứ vào nghĩa không, hữu của các pháp mà lập ra thuyết Nội ngoại đạo tứ chấp (cũng gọi Tứ tông), cho rằng tất cả ngoại đạo, tông Tì đàm, tông Thành thực và Đại chấp... đều là những tông phái chấp chặt vọng kiến. [X. luận Nhập đại thừa Q.thượng; luận Du già sư địa Q.6, luận Hiển dương thánh giáo Q.9; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Trung quán luận Q.3 phần đầu; Bách luận sớ Q.1,7]. (xt. Tứ Tông, Ngoại Đạo).
ngoại đạo vấn phật
(外道問佛) Cũng gọi Ngoại đạo vấn Phật hữu vô, Ngoại đạo lương mã tiên ảnh, Thế tôn lương cửu. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về việc đức Phật im lặng để khai thị cho 1 ngoại đạo. Bích nham lục tắc 65 (Đại 48, 195 trung) chép: Có ngoại đạo hỏi Phật: Không hỏi lời có, chẳng hỏi lời không. Đức Thế tôn im lặng hồi lâu. Ngoại đạo khen rằng: Thế tôn đại từ đại bi, gạt đám mây u mê cho con, khiến con được ngộ nhập. Sau khi ngoại đạo kia đi rồi, tôn giả A nan hỏi đức Phật: Ngoại đạo ấy chứng được pháp gì mà nói được ngộ nhập? Phật trả lời: Như con ngựa hay, thoáng thấy bóng cái roi là chạy liền. Ngoại đạo dùng câu không hỏi lời có, chẳng hỏi lời không để thăm dò đại ý Phật pháp, đây là cách thăm dò có ác ý, muốn dồn đối phương vào tình huống tiến thoái lưỡng nan. Bởi vì, nếu đức Phật dùng lời gì mà đáp đi nữa thì cũng khó tránh khỏi rơi vào 2 cực có, không mà sẽ là cơ hội tốt cho ngoại đạo chụp lấy để vấn nạn, cho nên đức Phật chỉ giữ im lặng. Đứng về phương diện diệu chỉ chân thực của Phật pháp, thái độ im lặng ấy đã siêu việt cảnh giới có, không tương đối, không mảy may ô nhiễm. Cái diệu dụng của sự im lặng ấy đã hiện toàn linh cơ, chẳng những đã hóa giải được cái nguy cơ giảo hoạt của ngoại đạo kia, mà còn vận dụng một cách tự tại nêu tỏ đại ý của Phật pháp, vì thế trong lòng ngoại đạo thành thực thán phục mà khen ngợi đức Phật. [X. Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.2; Thiền tông vô môn quan tắc 32; Tông môn thống yếu tập tục Q.1].
ngoại đề
(外題) Tên của bộ kinh hoặc sách được ghi ở ngoài bìa. Như kinh Diệu pháp liên hoa (bản 8 quyển), từ quyển 1 đến quyển 8, ngoại đề của 8 quyển có tất cả 64 chữ, gọi là Ngoại đề lục thập tứ tự. Còn tên kinh được viết ở trang đầu phía trong bìa thì gọi là Nội đề. Ngoài ra, trên Ngoại đề có vẽ kí hiệu . .rất giống chữ... (dĩ) nên gọi là Ngoại đề dĩ tự. (xt. Dĩ Tự Điểm, Đề Hiệu).
ngoạm
To snap—To bite.
ngoạn
To make an excursion.
ngoạn cảnh
To enjoy scenery.
ngoạn mục
Pleasant to the eyes.
ngoạn thạch điểm đầu
Kinh Niết Bàn một khi được thuyết giảng thì ngay cả đá cũng phải gật đầu (theo Liên Xã Cao Hiền Truyện, thì ngài Trúc Đạo Sinh vào núi Hổ Khâu xếp đá làm học trò cho ngài giảng kinh Niết Bàn, các hòn đá đều cảm động gật đầu. Ngày nay muốn diễn đạt ý đã cảm hóa được người ta một cách sâu sắc thì gọi là Ngoan Thạch Điểm Đầu)—Moved by the reciting of the Mahaparinirvana Sutra, even the stupid stones nodded their heads.
ngoắt
To wave—To beckon.
ngoắt ngoéo
Complicated.
ngoằn ngoèo
Winding (zigzag).
ngu
Monkey-witted; silly, stupid, ignorant.
; Monkey-witted—Silly—Stupid—Ignorant.
Ngu Am Trí Cập
(愚庵智及, Guan Chikyū, 1311-1378): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Dĩ Trung (以中), hiệu Ngu Am (愚庵), thông xưng là Tây Lộc (西麓), xuất thân Huyện Ngô (呉縣), Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô), họ Cố (顧). Ông đến xuất gia tại Hải Vân Viện (海雲院), học nội ngoại điển, rồi thọ Cụ Túc giới và chuyên học về giáo lý Hoa Nghiêm. Sau đó, ông đến Kiến Nghiệp (建業, Tỉnh Giang Tô), theo thọ giáo với Tiếu Ẩn Đại Hân (笑隱大訢) ở Đại Long Tường Tập Khánh Tự (大龍翔集慶寺). Có lần ông trở về Hải Vân Viện, nhưng rồi lại ngao du đó đây, đến tham yết Tịch Chiếu Hành Đoan (寂照行端) ở Kính Sơn (徑山) và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 2 (1342) niên hiệu Chí Chánh (至正), ông bắt đầu khai đường thuyết giáo ở Long Giáo Thiền Tự (隆敎禪寺) vùng Khánh Nguyên Lộ (慶元路, Tỉnh Triết Giang) và sống qua một số chùa khác như Phổ Từ Thiền Tự (普慈禪寺), Tịnh Từ Báo Ân Thiền Tự (淨慈報恩禪寺) ở Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), Hưng Thánh Vạn Thọ Thiền Tự (興聖萬壽禪寺) ở Kính Sơn. Đến năm thứ 6 (1373) niên hiệu Hồng Võ (洪武), ông là người dẫn đầu trong số 10 vị Sa Môn cao đức tập trung tại Đại Thiên Giới Tự (大天界寺) trên kinh đô. Vào ngày mồng 4 tháng 9 năm thứ 11 cùng niên hiệu trên, ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi đời, 51 hạ lạp và được ban cho hiệu là Minh Biện Chánh Tông Quảng Huệ Thiền Sư (明辨正宗廣慧禪師). Ông có bộ Ngu Am Trí Cập Thiền Sư Ngữ Lục (愚庵智及禪師語錄) 10 quyển.
ngu dại
Foolish—Stupid.
ngu dị sanh
Xem Phàm phu.
ngu hoặc
Deluded by ignorance, the delusion of ignorance.
; Mê hoặc bởi vô minh—Deluded by ignorant, the delusion of ignorance.
ngu kiến
My humble (modest) opinion.
ngu muội
Ignorance.
ngu ngốc
(愚禿) I. Ngu Ngốc. Ngu là không thông minh, là lời tự khiêm; Ngốc là đầu trọc, sói tóc, cạo trọc đầu. Từ ngữ này vốn được ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa dùng để châm biếm các vị sa môn. Kinh Tì bà lăng kì trong Trung a hàm quyển 12 (Đại 1, 500 thượng) nói: Ta không muốn trông thấy sa môn trọc đầu (Ngốc đầu sa môn). Về sau, ngay trong Phật giáo, những vị tăng phá giới cũng thường bị chê bai là Ngu ngốc (kẻ ngu trọc đầu), Ngốc cư sĩ (cư sĩ trọc đầu). Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 3 (Đại 12, 383 hạ) nói: Kẻ phá giới không giữ pháp, gọi là Ngốc cư sĩ. Từ thời Trung cổ về sau, các vị tăng Nhật bản thường tự xưng là Ngu ngốc, nên nó đã trở thành 1 trong những lời khiêm xưng chung của giới tăng sĩ, đồng nghĩa với các từ ngữ: Bần đạo, Chuyết tăng (tăng quê mùa vụng về)v.v... II. Ngu Ngốc. Biệt hiệu của ngài Thân loan, vị tăng Nhật bản, hàm ý tự cho mình chẳng phải tăng chẳng phải tục. Sau khi dời đến Bắc quốc, ngài Thân loan dùng tên: Ngu ngốc Thích Thân loan.
ngu ngốc sao
(愚禿鈔) Cũng gọi Nhị quyển sao. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thân loan, người Nhật soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 83. Sách này có thể được xem là tác phẩm phán thích giáo tướng của Tịnh độ chân tông Nhật bản. Sách chủ trương thuyết Nhị song tứ trùng, chia Phật giáo thành Đại thừa, Tiểu thừa. Đại thừa lại được chia thành Đốn giáo và Tiệm giáo; Đốn giáo lại được chia ra Nan hành, Dị hành và Hoành siêu, Thụ siêu. Còn Tiệm giáo thì được chia thành Nan hành, Dị hành và Hoành xuất, Thụ xuất.
ngu nhân
Ordinary people.
ngu nhơn
Xem Phàm phu.
ngu nhạc
(娛樂) Ca nhạc vui thú. Ở Ấn độ từ khi đức Phật còn tại thế cho đến ngày nay, giáo đoàn Tỉ khưu phải tuân theo giới cấm không được xem, nghe múa hát, hòa nhạc, diễn kịch v.v... mà chỉ được phép tán tụng theo nhịp, phối hợp với câu văn dạy đạo. Cho mãi đến khoảng trước sau Tây lịch kỉ nguyên, khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi thì mới cho sử dụng những phương thức âm nhạc, hợp xướng, kịch nghệ v.v... để cúng dường, lễ bái tháp Phật. Ngài Mã minh (Phạm: Azvaghowa), 1 thi nhân của Phật giáo Đại thừa, là người giỏi cả thơ và nhạc, ngài từng soạn vở kịch Lại tra hòa la (Phạm:Rawỉrapàla) rất nổi tiếng. Tương truyền, sau khi xem diễn vở kịch này, có 500 vương tử thế phát xuất gia. Tại Trung quốc, vào đời Đường, chùa viện đã là trung tâm văn hóa, đồng thời, cũng là nơi vui chơi của dân chúng. Trong tác phẩm Nam bộ tân thư của mình, ông Tiền hi bạch nói rằng nơi vui chơi phần nhiều tập trung ở chùa Từ ân, một bộ phận nhỏ ở chùa Thanh long, kế đến là chùa Phúc tiến và chùa Vĩnh thọ. Hơn nữa, chùa viện thường được xây cất ở những nơi danh thắng, có vườn hoa, cảnh đẹp, cây cối um tùm nên thu hút rất đông khách du ngoạn, như các chùa Từ ân, Hưng đường, Hưng thiện... nhờ có trồng hoa mẫu đơn, mà danh tiếng vang xa. Đến đời Tống, hàng năm, các chùa viện đều có các cuộc lễ lớn, dân chúng thôn quê cũng như thành thị thường tập trung rất đông để lễ bái tụng kinh mà cũng để vui chơi. Trong những dịp như thế, phương thức bàn về truyện cổ, trong đó có diễn nói Phật pháp, thường được sử dụng để giáo hóa dân chúng về mặt đạo đức. Tại Nhật bản, vào năm Thiên bình thắng bảo thứ 4 (752), nhân dịp cử hành lễ cúng dường khai nhãn Đại Phật ở chùa Đông đại, có diễn vở kịch đeo mặt nạ (kĩ nhạc)từ Ấn độ truyền đến. Các chùa khác cũng thường tấu nhạc Cao li, nhạc Bột hải để giúp vui dân chúng. Niệm Phật dũng (vừa niệm Phật vừa nhún nhảy theo nhịp điệu) do Không dã thượng nhân sáng chế, về sau diễn biến thành Dũng niệm Phật của Nhất biến thượng nhân và được phổ cập toàn quốc. Niệm dũng có tính chất tông giáo này về sau lại sinh ra những hình thức Lục trai niệm Phật, Đăng lung dũng, Bào trai niệm Phật, Cát tây niệm Phật, Lộc đảo dũng v.v... trong đó, một vài loại vẫn còn tồn tại đến nay. Ngoài ra, Niệm Phật dũng đại thành là nhờ ca vũ kĩ nước Xuất vân a sáng chế, là 1 trong những hình thức vui chơi của dân chúng ở thời đại Giang hộ. Niệm Phật dũng bắt đầu từ thời Thất đinh và thịnh hành vào thời đại Giang hộ, là hình thức âm nhạc rất được các vũ sĩ cũng như dân chúng thành thị đương thời xem trọng. Về chủ đề cũng như lời nhạc phần lớn là lấy tài liệu trong Phật giáo; âm điệu, tiết tấu cũng lấy Phạm bái và thanh minh của Phật giáo làm cơ sở. Các hình thức Ngu nhạc như Bồn dũng, Phật giáo song lục... thịnh hành trong dân gian vào thời đại Giang hộ, đều lấy nội dung giáo pháp Phật giáo làm nền tảng.
ngu phu
Bāla-pṛthag-jana (S), Foolish common people Xem Phàm phu.
; Bàla (S). Ignorant, immature, a simpleton, the unenlightened.
; Bala (skt).
ngu phu sở hành thiền
Balopacarikam (skt)—Theo Kinh Lăng Già, đây là một trong bốn thứ Thiền định. Dù người thực hành loại Thiền định nầy bị xem là kẻ ngu si kém trí, đây vẫn là một loại Thiền thông dụng mà phần đông người ta thực tập, trong đó có cả những người thông minh và nhạy trí. Tuy nhiên, Đại Thừa còn đi xa hơn các loại Thiền định nầy là những thứ vốn ít nhiều vẫn có tính cách tương đối, thiếu tự nhiên và không phải là loại tối thượng; vì loại Thiền nầy chú trọng về quán bất tịnh, về sự vô thường của các sự vật và về những khổ đau của cuộc đời, vân vân, là bài học đầu tiên cho những người mới nhập môn Phật giáo—According to the Lankavatara Sutra, this is one of the four kinds of Dhyanas. Though he is regarded as ignorant or dull-witted (bala) who practices this kind of Dhyana, this is the ordinary form of meditation carried on by most people, some of whom are quiteintelligent and sharp-witted. However, the Mahayana goes beyond these meditations which are more or less relative and artificial and not of the highest sort; for meditating on impurities, the impermanence of things, sufferings of life, etc., is the first lesson for the beginners of Buddhism.
ngu phu sở hạnh thiền
(愚夫所行禪) Nhóm từ biếm xưng Thiền do ngoại đạo và hàng nhị thừa Thanh văn, Duyên giác tu tập, là 1 trong 4 loại thiền nói trong kinh Lăng già. Ngoại đạo và 2 thừa Thanh văn, Duyên giác chỉ biết quán xét về lí Nhân không như: Vô ngã, vô thường, bất tịnh... chứ không biết gì về cảnh giới Pháp không, cho nên bị chê là Ngu phu sở hành thiền (Thiền do người ngu tu hành). [X. kinh Lăng già Q.2 (bản 4 quyển)]. (xt. Tứ Thiền).
ngu pháp
Ignorant, immature law or method.
; Còn gọi là Tiểu Thừa Ngu Pháp, một trong hai loại Tiểu Thừa, Thanh Văn và Duyên Giác, chỉ mê chấp ở ngu pháp mà không hiểu được diệu lý pháp không của Đại Thừa—Ignorant, or immature law, or method, i.e. that of sravakas and pratyeka-buddhas, Hinayana.
ngu pháp bất ngu pháp
(愚法不愚法) Cũng gọi Ngu pháp nhị thừa Bất ngu pháp nhị thừa, Ngu pháp Thanh văn Bất ngu pháp Thanh văn. Tức là hàng Tiểu thừa ngu pháp và hàng Tiểu thừa Bất ngu pháp. Tiểu thừa ngu pháp là chỉ cho 2 thừa Thanh văn, Duyên giác ngu về lí pháp không của Đại thừa. Vì hàng Nhị thừa này chỉ chứng sinh không mà chấp trước pháp có, không biết về chân lí nhị không (nhân không, pháp không), của Đại thừa, cho nên bị chê là Ngu pháp. Còn Tiểu thừa bất ngu pháp là chỉ cho Thanh văn, Duyên giác vừa chứng được lí Tiểu thừa lại vừa hiểu được lí Đại thừa. Như vậy, tuy cũng là Tiểu thừa nhưng tâm hiểu biết có hơn kém khác nhau. Do đó có thể hồi chuyển tâm Tiểu thừa hướng vềĐại thừa, cho nên cũng gọi là Hồi tâm tiểu thừa(Hồi tâm nhị thừa). Trong 5 phán giáo của Đại sư Hiền thủ,loại này được liệt vào hàng Đại thừa thủy giáo. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q1; Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.cuối (Tịnh ảnh); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1].
Ngu Quản Sao
(愚管抄, Gukanshō): bộ Sử Luận đầu tiên của Nhật được viết vào đầu thời đại Liêm Thương, do vị tăng của Thiên Thai Tông là Từ Viên (慈圓, Jien) trước tác, gồm 7 quyển, được thành lập vào khoảng năm 1220 (Thừa Cửu [承久] thứ 2), thời kỳ triều đình và chính quyền Mạc Phủ đang khẩn trương cao độ; ngay trước khi xảy ra vụ Loạn Thừa Cửu; và sau vụ loạn thì được tu chỉnh thêm. Đây là thư tịch giải thích về lịch sử kể từ thời Thần Võ Thiên Hoàng (神武天皇, Jimmu Tennō) cho đến Thuận Đức Thiên Hoàng (順德天皇, Juntoku Tennō, 1197-1242) qua thế giới quan Phật Giáo, và thuyết minh về sự biến thiên của chính trị Nhật Bản với tính cách triển khai về mặt đạo lý.
ngu si
Xem Si.
; Mudha (S). Ignorant and unenlightened.
; Mudha (skt)—Tiếng Phạn là Mộ Hà, có nghĩa tâm tính ám muội, hay vô minh và không giác ngộ, không có trí sáng suốt để thông đạt sự lý (còn gọi là vô trí, vô kiến, vô hiện quan, hôn muội, ngu si, vô minh, và hắc ám)—Thick-skulled (headed)—Stupid—Ignorant and unenlightened.
; (愚痴) Phạm: Moha, Mùđha. Cũng gọi Si, Vô minh. Không có trí sáng suốt, ngu tối mê muội, gặp việc không thể phán đoán đúng đắn, là 1 trong 6 phiền não căn bản, cũng là 1 trong 3 độc (tham, sân, si). [X. luận Câu xá Q.4; luận Thuận chính lí Q.11].
ngu si tam chủng phát tướng
(愚痴三種發相) Ba tướng ngu si phát sinh lúc hành giả tu tập Thiền định. Cứ theo Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn, 3 tướng ấy là: 1. Kế đoạn thường si tướng: Lúc hành giả đang tham thiền, chợt nảy sinh ra ý nghĩ phân biệt mình và các pháp là đoạn diệt hay thường trụ; ý nghĩ ấy cứ lởn vởn mãi trong đầu óc, đến nỗi chướng ngại pháp chính định xuất thế . 2. Kế hữu vô si tướng: Lúc hành giả đang tu định, bỗng sinh khởi ý tưởng phân biệt mình và các pháp là có hay không, tâm kiến chấp liền dấy động, làm chướng ngại chính định. 3. Kế thế tính si tướng: Lúc hành giả đang tu định, thình lình khởi tâm suy nghĩ, phân biệt tứ đại, ngũ uẩn, giả danh chúng sinh và các thế giới, dùng trí biện biệt hay hỏi hay nói, tranh cãi đúng sai, lìa đạo chân thực, vì chấp trước tính thế gian như thế nên cản trở chính định.
ngu si trai
(愚痴齋) Trai hội do Thiền sư Động sơn Lương giới thiết lập lúc sắp nhập tịch để ngăn dứt tình cảm luyến chấp của đệ tử. Lương giới truyện trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 15 (Đại 51, 323 trung) chép: Tháng 3 năm Hàm thông thứ 10 (869), đời Đường, sư sai người cạo tóc, mặc áo và bảo đánh chuông, rồi nghiễm nhiên ngồi thị tịch. Khi ấy, vì không ngăn được thường tình nên đại chúng gào khóc vang động, sư bỗng mở mắt đứng dậy và nói: Phàm người xuất gia, tâm không phụ thuộc vào vật mới là bậc tu hành chân chính. Chấm dứt cuộc sống nhọc nhằn, có gì mà bi thương? Rồi sư gọi vị tăng chủ sự bảo sửa soạn 1 bữa cơm chay, gọi là Ngu si trai, để trách tình cảm quyến luyến. Đại chúng vẫn luyến mến không thôi, kéo dài đến ngày mồng 7, thức ăn làm đầy đủ, sư cũng theo chúng thụtrai. Ăn xong, sư nói: Các ông chớ xem thường việc lớn, lúc ta sắp lên đường, không được làm náo động như thế! Đến ngày mồng 8, sau khi tắm gội xong, sư ngồi ngay ngắn thị tịch.
ngu tăng
Ignorant monk.
; Vị tăng bị vô minh khống chế—Ignorant monk.
ngu võng
The net of ignorance.
ngu xuẩn
Foolish—Stupid.
ngu đường đông thật
(愚堂東實) Thiền sư Nhật bản thuộc Tông Lâm tế, người Mĩ nùng, huyện Kì phụ. Sư xuất gia năm 13 tuổi, du phương tham học các nơi, rồi xây dựng các chùa Chính truyền, chùa Đại tiên ở Mĩ nùng. Sau, sư trụ ở chùa Diệu tâm ở Kinh đô (Kyoto), rất được triều đình tín nhiệm. Sư lại đến Giang hộ, ở đây, tướng quân Đức xuyên Gia khang qui y sư, là nhân vật quan trọng của tông Lâm tế ở thời kì Giang hộ. Niên hiệu Khoan văn năm đầu (1661) sư thị tịch, thọ 83 tuổi. Vua ban thụy hiệu Đại Viên Bảo Giám Quốc Sư. Sư có các tác phẩm: Thiên trạch đông dận lục, Ngữ lục. [X. Chính pháp sơn chí Q.6; Bản triều cao tăng truyện Q.44].
ngu đồng
Bàla (S). Ignorant, foolish (like a child). Also trẻ dại.
ngu đồng trì trai tâm
(愚童持齋心) Tâm tin rằng đạo lí nhân quả thế gian và sự trì trai là thiện, rồi dốc lòng làm theo. Là tâm thứ 2 trong 10 Trụ tâm do ngài Không hải, người Nhật, lập ra, tức là Trụ tâm của nhân thừa tu tam qui, ngũ giới, thập thiện và tam cương, ngũ thường... Ngu đồng ví dụ người ngu si không trí, tức chỉ chung cho phàm phu trong 6 đường không được Thánh trí vô lậu. Trì trai là phát khởi tâm thiện, thụ trì trai giới, không ăn quá ngọ, lấy đó hồi hướng cho các thân hữu. Phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 2 trung) nói: Ngu đồng phàm phu giống như con dê đực, 1 lúc nào đó, chợt nghĩ đến trì trai, sinh tâm vui mừng rồi luôn luôn tu tập: Đó là hạt giống thiện nghiệp ban đầu phát sinh. Lại lấy đó làm nhân, trong 6 ngày trai, hồi hướng cho cha mẹ, anh chị em thân thuộc, là mầm giống thứ hai. Lại lấy đây ban cho những người không quen biết, là mộng chồi thứ ba. Lại đem thí này dâng cho các bậc có khí lượng cao cả, là cành lá thứ tư. Lại đem thí này cho người kĩ nhạc và hiến dâng các bậc tôn túc, là hoa nở thứ năm. Lại đem thí này phát tâm thân ái mà cúng dường, là thành quả thứ sáu. Đó là tâm ngu đồng trì trai, tuy còn mờ tối, không được vô lậu, nhưng cũng không mất cái mầm mống của tâm thiện cõi người, vì hạt giống thiện gặp được mưa móc, liền có thể nảy mầm, phát sinh cành lá và khai hoa kết quả. [X. Đại nhật kinh sớ Q.2; luận Thập trụ tâm Q.2].
ngu độn
Vô minh và đần độn—Ignorant and dull-witted.
ngu độn niệm phật
(愚鈍念佛) Chỉ cho người độn căn ngu si, chỉ biết tin vào bản nguyện của đức Phật A di đà và chí thành niệm danh hiệu của Ngài mà được vãng sinh Tịnh độ. Đây là chủ trương của ngài Nguyên không thuộc Tịnh độ chân tông Nhật bản. Vì chúng sinh ở đời mạt pháp nhơ đục, căn cơ yếu kém, không kham được những hạnh nghĩa giải, trì giới, quán tưởng... nên cần dốc lòng tin vào bản nguyện của Phật A di đà để được cứu độ. Chẳng những người ngu độn mà cả những người lợi căn, cũng nên dứt hết các duyên tư lự phân biệt, làm hạnh ngu si, để niệm Phật cầu vãng sinh. (xt. Niệm Phật).
nguy tú
(危宿) Phạm: Zata-bhiwà. Cũng gọi Thiết đa tì sái, Bách dược, Bách độc tú. Sao Nguy, được đặt ở phía bắc của Ngoại viện trong Bắc đẩu mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Một trong 28 sao. Cứ theo kinh Tú diệu quyển thượng, thì vì sao này chỉ có 1 sao, tức là thần Bà lỗ noa (Phạm:Varuịa, Thủy thiên). Trong Bắc đẩu mạn đồ la, hình tượng của vị tôn này là vị tiên có thân màu vàng, quấn áo trời, tay phải dựng lên để ở trước ngực, ngón giữa và ngón vô danh co lại, ngửa lòng bàn tay trái đặt ở trước rốn, cầm chiếc bát nhỏ, ngồi bán già trên tòa tròn. Hình tam muội da là ngôi sao trên hoa sen. Khế ấn dùng ấn chung của 28 sao. Chân ngôn là: Qui mệnh Thiết đa tì sái (Zata-bhiwà) na khất xoa đa la (nakwatra, sao) sa bà hạ. Hoặc dùng chân ngôn chung của 28 sao. [X. kinh Xá đầu gián Thái tử nhị thập bát tinh tú]. (xt. Nhị Thập Bát Tú).
Nguyên
源; C: yuán; J: gen;|1. Suối nguồn, giếng phun; 2. Khởi nguyên, nguồn, nguyên do.
nguyên
Origin, original.
nguyên chiếu
(元照) (1048-1116) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Tống, người Dư hàng (huyện Hàng, tỉnh Chiết giang), tự Trạm nhiên, hiệu An nhẫn tử. Sư xuất gia năm 18 tuổi, theo ngài Thần ngộ Xử khiêm học giáo quán Thiên thai, nhưng tâm chí sư chú trọng Luật học. Sau, sư lễ ngài Quảng từ thụ giới Bồ tát, nối pháp ngài Doãn kham thuộc Luật tông Nam sơn. Khoảng năm Nguyên phong (1078- 1085), sư trụ trì chùa Chiêu khánh, hoằng truyền giới luật. Lúc về già, sư dời đến Linh chi, trụ 30 năm, người đương thời tôn xưng sư là Linh chi tôn giả. Năm Chính hòa thứ 6 (1116), sư thị tịch, thọ 69 tuổi, thụy hiệu Đại Trí Luật Sư. Sư để lại tác phẩm: Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí và các sách chú thích kinh Quán Vô lượng thọ và kinh A di đà. [X. Thích môn chính thống Q.8; Linh chi Sùng phúc tự kí; Hàm thuần lâm an chí Q.79].
Nguyên Chính
(元政, Gensei, 1623-1668): học Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ, nhà Hán Thi, húy là Nhật Chính (日政), Nhật Như (日如), Nhật Phong (日峰); thông xưng là Thâm Thảo Hòa Thượng (深草和尚), Thảo Sơn Nguyên Chính (草山元政); tự Nguyên Chính (元政), hiệu là Diệu Tử (妙子), Bất Khả Tư Nghì (不可思議), Thái Đường (泰堂), Hà Cốc Sơn Nhân (霞谷山人), Huyễn Sanh (幻生), v.v.; xuất thân vùng Kyoto, con trai thứ 5 của Thạch Tỉnh Tông Hảo (石井宗好). Năm 26 tuổi, ông xuất gia theo Nhật Phong (日豐) ở Diệu Hiển Tự (妙顯寺) thuộc Kyoto, rồi đến năm 33 tuổi thì đến ẩn cư ở Xứng Tâm Viện (稱心院, tức Thoại Quang Tự [瑞光寺]) thuộc vùng Thâm Thảo (深草, Fukakusa), Sơn Thành (山城, Yamashiro).
nguyên cát thụ
The tree of the original felicity, i.e. the bodhi-tree.
nguyên diệu
The original or fundamental marvel or mystery, i.e. the conception of nirvàna.
; (元妙) Giác thể Niết bàn vốn không nghĩ bàn được, giống như biển cả, lắng trong viên dung, lặng lẽ mà thường chiếu soi, chiếu soi nhưng vẫn vắng lặng, vì thế nên gọi là Nguyên diệu (vốn nhiệm mầu).
nguyên do
Xem nhân.
Nguyên Hanh Thích Thư
(元亨釋書, Genkōshakusho): 30 quyển, do Hổ Quan Sư Luyện (虎關師錬, Kokan Shiren, 1278-1346) soạn, là bộ sử thư của Phật Giáo Nhật Bản ghi lại đầy đủ một cách tổng hợp quá trình triển khai của Phật Giáo từ khi được truyền vào cho đến cuối thời Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Quyển 1-19 là lược truyện của hơn 400 tên vị tăng lẫn tục; quyển 20-26 nói về Phật Giáo thông sử từ thời Khâm Minh Thiên Hoàng (欽明天皇, Kimmei Tennō, tại vị 539?-571) cho đến thời Thuận Đức Thiên Hoàng (順德天皇, Juntoku Tennō, tại vị 1210-1221); quyển 27-30 luận về lịch sử Phật Giáo Nhật Bản với 10 bộ môn chính. Sư Luyện trình tấu bộ này lên triều đình để xin cho nhập vào Đại Tạng Kinh và mãi cho đến thời đại Nam Bắc Triều mới được phép.
nguyên hanh thích thư
(元亨釋書) Tác phẩm, 30 quyển, do ngài Hổ quan Sư luyện người Nhật bản soạn, hoàn thành vào năm Nguyên hanh thứ 2 (1322), được thu vào Đại Nhật bản quốc sử và Đại Nhật bản Phật giáo toàn thư. Sách này lấy bộ Tăng truyện do ngài Ngưng nhiên soạn làm tư liệu nền tảng, được viết bằng chữ Hán. Nội dung ghi chép truyện kí các vị Cao tăng và lịch sử Phật giáo Nhật bản trong khoảng hơn 700 năm sau khi Phật giáo được truyền vào xứ này. Sách chia làm 3 phần: Truyện kí(từ quyển 1 đến 19, là phần sự tích của 406 vị), Biểu(từ quyển 20 đến 26) và Chí(từ quyển 27 đến 30). [X. Hải tạng Hòa thượng kỉ niên lục; Tục sử ngu sao Q.17].
nguyên hiền
(元賢) Cũng gọi Cổ sơn Nguyên hiền. Cao tăng Trung quốc sống vào đời Minh, người huyện Kiến dương, tỉnh Phúc kiến, họ Thái, tự Vĩnh giác, là cháu 14 đời của ông Thái nguyên định(Tây sơn), bậc đại Nho đời Tống. Lúc nhỏ, sư nghiên cứu học thuyết của các ông Chu đôn di, Chu liêm khê, Chu hi, Trình minh đạo, Trình y xuyên, Trương tái v.v... Năm 18 tuổi sư mới bắt đầu đọc kinh Phật như Lục tổ đàn kinh. Năm 40 tuổi sư theo ngài Vô minh Tuệ kinh ở Thọ xương xuất gia. Sau, sư đến chùa Năng nhân ở núi Bác sơn tại Tín châu(Thượng nhiêu, Giang tây) tham lễ ngài Vô dị Nguyên lai cầu thụ giới Cụ túc. Sư từng trụ trì am Bảo thiện, chùa Dũng tuyền ở núi Cổ sơn tại Phúc châu, chùa Khai nguyên ở Tuyền châu, viện Chân tịch v.v... là những tòa đạo tràng nổi tiếng. Sư chủ trương chân tham thực ngộ, người học đạo phải tham vấn rộng, thưa hỏi xa, phản đối thái độ đương thời không cho đệ tử đi phương xa học hỏi, ra sức bài xích 2 chúng tại gia lạm dụng 3 áo. Về Thiền học, sư chống lại hình thức chỉ học suông những kệ tụng, đáp thoại, thướng đường, tiểu tham... đang lưu hành ở đương thời và tự sáng lập Thiền phái Cổ sơn. Tư tưởng nòng cốt của sư là điều hòa Thiền quán và Tịnh độ, Phật giáo và Nho học; đồng thời, tận lực, điều hòa sự đối lập giữa 2 phái Lâm tế và Tào động trong nội bộ Thiền tông. Bởi thế sư lấy việc đề cao Động thượng tâm pháp và xiển dương tông chỉ Lâm tế làm nhiệm vụ của mình. Ngoài ra, sư còn học theo tinh thần tu trì và lao động của ngài Bách trượng. Năm Vĩnh lịch 11 (1657), sư thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi, đệ tử nối pháp là Lâm đạo bái. Sư có tác phẩm: Kiến châu hoằng thích lục, Vĩnh giác hòa thượng mễ ngôn, Vĩnh giác hòa thượng tục mễ ngôn, Trụ tuyền châu khai nguyên thiền tự ngữ lục, Lăng nghiêm lược sớ, Thiền dư nội tập, Kim cương lược sớ, Cổ sơn chí, Động thượng cổ triệt, Bổ đăng lục, Kế đăng lục, Vãn lục, Tâm kinh chỉ chưởng, Tịnh từ yếu ngữ... [X. Lâm bỉnh phất ngữ lục Q.hạ; Vĩnh giác Hiền công đại thiền sư tháp minh; Tục đăng tồn cảo Q.11].
Nguyên Hiểu
元曉; C: yuánxiao; J: gangyō; K: wǒnhyo, 617-686. |Một trong những nhà lĩnh đạo tư tưởng, tác gia và luận sư của Phật giáo Hàn Quốc. Sư sống vào cuối thời Tam Quốc và đầu thời đại Tân La thống nhất. Sư đóng một vai trò năng động trong sự thâu hoá sâu rộng trào lưu Phật giáo du nhập vào bán đảo Cao Li đương thời. Sư rất tâm đắc và ảnh hưởng tư tưởng Như Lai tạng (如來藏; s: tathāgatagarbha), Duy thức và Hoa Nghiêm (華嚴; k: hwaǒm). Tuy nhiên, với công trình nghiên cứu rộng rãi của sư qua các luận giải và chuyên luận, sư đã dung nhiếp toàn bộ giáo lí đạo Phật được lưu truyền ở Cao Li, gồm các Tông phái như Tịnh độ, Niết-bàn, Tam luận, và Thiên Thai (Pháp Hoa tông). Sư viết hầu như toàn bộ các luận giải về những bộ kinh quan trọng của Đại thừa, tổng cộng hơn 80 tác phẩm với hơn 200 quyển. Trong số những tác phẩm nổi tiếng mà sư đã trứ tác là Luận giải về Đại thừa khởi tín luận (大乘起信論), Luận giải về kinh Niết-bàn, Luận giải về kinh Kim Cương tam-muội. Các tác phẩm nầy được các học giả thượng thủ Phật học Trung Hoa và Nhật Bản tôn trọng nhất, đáp ứng cho sự duy trì Đại thừa khởi tín luận như là tác phẩm quan trọng nhất trong truyền thống Phật giáo Hàn Quốc.|Trong thời gian đầu, Nguyên Hiểu trải qua cuộc đời mình như là một Tăng sĩ, nhưng sau khi giác ngộ được lí Duy thức, Sư rời khỏi Tăng đoàn và chuyển sang truyền bá Phật pháp dưới hình tướng của một cư sĩ. Vì khía cạnh độc đáo này của Sư, nên Sư kết thúc cuộc đời mình khi trở thành một vị anh dùng dân tộc nổi tiếng Cao Li. Sư là đồng sự và là bạn của Nghĩa Tương (義湘; k: ǔisang), một vị Tăng người Tân La có thế lực thuộc tông Hoa Nghiêm (k: hwaǒm). Kết quả quan trọng của sự hợp tác nầy là việc sáng lập tông Hoa Nghiêm như là một dòng pháp có ưu thế trên bán đảo Triều Tiên. 23 tác phẩm hiện còn lưu hành của Nguyên Hiểu nay đang được tiến hành dịch sang tiếng Anh trong chương trình hợp tác giữa Đại học Dongguk và SUNY tại Stony Brook.
nguyên hiểu
(元曉) Cao tăng Triều tiên, thuộc tông Hoa nghiêm, họ Tiết. Năm 29 tuổi, sư xuất gia ở chùa Hoàng long. Năm 660(có thuyết nói 650, hoặc 668- 669), sư cùng với ngài Nghĩa tương vượt biển đến Trung quốc, nhưng giữa đường sư bỗng nghĩ Ngoài tâm không pháp, cần gì đi tìm ở đâu?, sư liền quay về. Sau, sư vâng mệnh vua giảng dạy giáo nghĩa. Sư tự xưng là cư sĩ, mượn sinh hoạt tại gia để làm các Phật sự, nhưng người lại gọi là sư Hải đông. Về già, sư tu theo tông Tịnh độ. Không rõ sư tịch năm nào. Năm 1101, vua Túc tông ban thụy hiệu cho sư là Đại Thánh Hòa Tĩnh Quốc Sư. Sư để lại các tác phẩm: Hoa nghiêm kinh sớ, A di đà kinh sớ, Kim cương tam muội kinh luận, Đại thừa khởi tín luận sớ, Thập môn hòa tránh luận, Pháp hoa tông yếu, Nhị chướng nghĩa, Phán tỉ lượng luận. Trong đó, 2 tác phẩm Nhị chướng nghĩa và Phán tỉ 3530 lượng luận bị thất lạc, hơn 1300 năm sau, tức là vào thế kỉ XX mới được 2 học giả người Nhật bản là Hoành siêu Tuệ nhật và Thần điền Hỉ nhất lang tìm ra được. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Tam quốc di sự Q.3, 4; Cao li sử Q.11; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục; Đông vực truyền đăng mục lục].
Nguyên Hưng tự
(元興寺, Gankō-ji): theo Nhật Bản Thư Kỷ (日本書紀), Tô Ngã Mã Tử (蘇我馬子, Soga-no-Umako, ?-626) phát nguyện tạo dựng ngôi chùa này vào năm 588 trên vùng đất của Chơn Thần Nguyên (眞神原, Makami-no-Hara) thuộc vùng Phi Điểu (飛鳥, Asuka); và ước trong vòng 9 năm chùa mới được hoàn thành vào năm 596. Trước kia ngôi chùa này được gọi là Phi Điểu Tự (飛鳥寺, Asuka-dera) hay Pháp Hưng Tự (法興寺, Hōkō-ji). Trong cuộc Cải Tân Đại Hóa, dòng họ Tô Ngã (蘇我, Soga) bị diệt vong, nên chùa lại thuộc vào tay của chính phủ; rồi dưới triều đại Thiên Võ (天武, Temmu) thì chùa trở thành chùa quan, và dưới thời đại của dòng họ Đằng Nguyên (藤原, Fujiwara), nó trở thành một trong 4 ngôi chùa lớn nổi tiếng. Vào năm 710, kinh đô được dời về Bình Thành (平城, Heizei), nên năm sau thì Thiền Viện của Pháp Hưng Tự cũng được dời về nơi đây và trở thành ngôi Thiền Viện độc lập. Đến năm 718, đại bộ phận chùa được dời về vị trí hiện tại và đổi tên thành Nguyên Hưng Tự. Đến thời đại Nại Lương, nơi đây rất thịnh hành việc chép kinh. Giáo học nơi đây có Tam Luận Tông và Pháp Tướng Tông, mỗi mỗi hình thành nên tăng đoàn riêng của mình và hình thành hai hệ thống giáo học lớn của kinh đô. Tuy nhiên, vào năm 1451 và 1859, do vì hỏa hoạn, ngôi già lam bị cháy rụi, hiện tại chỉ còn lưu lại tòa nhà chính mà thôi.
nguyên hưng tự
Gangō-ji (J)Tên một ngôi chùa.
Nguyên Khánh Tự
(元慶寺, Genkei-ji): ngôi chùa của Thiên Thai Tông, hiện tọa lạc tại Yamashina-ku (山科區), Kyoto-shi (京都市), tên núi là Hoa Đảnh Sơn (華頂山), tượng thờ chính là Dược Sư Như Lai. Người khai sáng chùa là Tăng Chánh Biến Chiếu (遍照), rất nổi danh về thi ca. Vào năm đầu (877) niên hiệu Nguyên Khánh (元慶), thể theo sắc chỉ của hai Thiên Hoàng Thanh Hòa (清和) và Dương Thành (陽成), chùa được xây dựng gần bên Hoa Sơn (華山), thuộc vùng Sơn Khoa (山科, Yamashina). Mặc dầu hiện tại chùa rất nhỏ, những vẫn nổi tiếng với tư cách là một trong 33 ngôi cổ sát thường được chiêm bái ở vùng Tây Quốc (西國). Chính Hoa Sơn Pháp Hoàng (華山法皇) là người khởi đầu cho truyền thống chiêm bái này. Trong khuôn viên vườn chùa có mộ của Tăng Chánh Biến Chiếu. Tôn tượng Dược Sư Như Lai là kiệt tác của Biến Chiếu, còn tượng Hiếp Thị A Di Đà Phật là của Từ Giác Đại Sư (慈覺大師), tượng Tỳ Sa Môn Thiên Vương là tác phẩm của Vận Khánh (運慶). Ngoài ra còn có một số tượng tự tác của Biến Chiếu và Hoa Sơn Pháp Hoàng.
nguyên khí
Yuan-ch'i (C), Primordial breath.
nguyên không
(源空) Cũng gọi Pháp nhiên thượng nhân, Hắc cốc thượng nhân. Cao tăng Nhật bản, Tổ khai sáng của tông Tịnh độ, người huyện Cương sơn. Năm 9 tuổi sư xuất gia, 15 tuổi lên núi Tỉ duệ thờ ngài Hoàng viên và Duệ không làm thầy. Sư học tập giáo nghĩa Thiên thai và đọc nhiều kinh điển; sư xem tất cả các kinh tới 5 lần mà vẫn chưa thấy được con đường xuất li, sau nhờ đọc bộ Quán kinh sớ của Đại sư Thiện đạo mà khai ngộ. Sư bèn dựa vào tác phẩm Vãng sinh yếu tập của ngài Nguyên tín mà sáng lập tông Tịnh độ, chuyên tu pháp môn Niệm Phật tại Cát thủy thuộc Đông sơn. Trên từ triều đình, công khanh, dưới đến các tầng lớp vũ sĩ, thứ dân... đều qui y sư, nơi đạo tràng, tiếng xưng danh niệm Phật của tăng tục không dứt, hưng bị những giáo đồ của phái bảo thủ dèm pha. Sau vì việc 2 cung nữ của Thượng hoàng Hậu điểu vũ tên là Tùng trùng và Linh trùng xuất gia tu hành ở đạo tràng Niệm Phật tại Lộc cốc, đã dẫn đến việc tố cáo của Nam đô Bắc lãnh, nên cuối cùng đạo tràng Niệm Phật của sư bị đình chỉ, 2 vị tăng bị xử trảm, còn sư lúc đó đã 75 tuổi thì bị lưu đày đến Tán kì. Cùng năm ấy, sư được cho phép vào ở chùa Thắng vĩ tại Nhiếp tân (phủ Đại phản)tạm trú 4 năm. Ở đây, sư tiếp tục hoằng dương Tịnh độ, giáo hóa tăng tục. Đến niên hiệu Kiến lịch năm đầu (1211) sư mới được phóng thích trở về Kinh đô (Kyoto). Năm sau, sư tịch ở Đại cốc, Đông sơn, thọ 80 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, Hắc cốc thượng nhân ngữ đăng lục, được thu vào Pháp nhiên thượng nhân toàn tập. [X. Pháp nhiên thượng nhân truyện kí; Bản triều tổ sư truyện kí hội từ; Nguyên hanh thích thư Q.5].
nguyên lai
(元來) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Tào động sống vào đời Minh, người huyện Long thư, tỉnh An huy, họ Sa, cũng có tên là Đại nghĩ, hiệu Vô dị, người đời gọi là Thiền sư Bác sơn. Năm 15 tuổi, sư lên núi Ngũ đài, vào chùa Bảo phương tham lễ ngài Vô minh Tuệ kinh, đọc Cảnh đức truyền đăng lục có chỗ tỉnh ngộ, nên sư theo ngài Tuệ kinh đến Ngọc sơn và được ngài ấn khả. Năm Vạn lịch 30 (1602) đời Minh, sư ở chùa Năng nhân tại núi Bác sơn, Tín châu, cách huyện Quảng phong, tỉnh Giang tây hơn 30 cây số về mạn tây nam, đồ chúng đến tham học rất đông. Sư cũng từng ở chùa Đổng nham, chùa Bảo lâm núi Đại ngưỡng. Năm Thiên khải thứ 7 (1627), sư dời đến núi Cổ sơn, học chúng đông tới vài nghìn người. Năm Sùng trinh thứ 2 (1629), sư trụ trì chùa Thiên giới tại Kim lăng. Sư suốt đời đề cao tông chỉ Thiền Tịnh Bất Nhị. Những bậc học sĩ, đại phu theo sư cầu giới pháp không dưới vài vạn người. Tháng 9 năm Sùng trinh thứ 3 (1630) sư thị tịch, hưởng dương 56 tuổi. Môn nhân xây tháp ở núi Bác sơn, còn bát của sư thì thờ ở núi Hương lô. Sư để lại tác phẩm: Vô dị thiền sư quảng lục 35 quyển. [X. Tục đăng tồn cảo Q.11; Ngũ đăng nghiêm thống Q.16; Cao tăng trích yếu Q.4; Tục đăng chính thống Q.38; Trung quốc tịnh độ giáo lí sử (Vọng nguyệt Tín hanh)].
Nguyên Lại Triều
(源賴朝, Minamoto-no-Yoritomo, 1147-1199, tại nhiệm 1192-1194): vị Tướng Quân đầu tiên của chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương, người khai sáng ra chế độ chính trị Võ Gia, con trai thứ 3 của Nguyên Nghĩa Minh (義明, Minamoto-no-Yoshitomo); thông xưng là Tam Lang (三郎), Tá Điện (佐殿), Võ Vệ (武衛), Liêm Thương Điện (鎌倉殿), Nguyên Nhị Vị (源二位), Hữu Đại Tướng Quân (右大將軍), Hữu Mạc Hạ (右幕下); tên lúc nhỏ là Quỷ Võ Giả (鬼武者), Quỷ Võ Hoàn (鬼武丸); thần hiệu là Bạch Kỳ Đại Minh Thần (白旗大明神); giới danh là Võ Hoàng Khiếu Hậu Đại Thiền Môn (武皇嘯厚大禪門). Thân phụ ông là Nguyên Nghĩa Triều (源義朝, Minamoto-no-Yoshitomo); thân mẫu là Do Lương Ngư Tiền (由良御前, Yura Gozen), con gái của (藤原季範, Fujiwara-no-Suenori). Trong vụ loạn Bình Trị (平治), ông bị lưu đày đến vùng Y Đậu (伊豆, Izu), sau đến năm 1180, ông phụng mạng sắc chỉ của Dĩ Nhân Vương (以仁王, Mochihitoō), cử binh truy thảo dòng họ Bình (平, Taira), rồi bị bại trận ở Thạch Kiều Sơn (石橋山, Ishibashiyama); nhưng sau đó thì đại thắng trong trận chiến ở Phú Sĩ Xuyên (富士川). Ông chiếm cứ vùng Đông Quốc (東國, Tōgoku) ở Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) và mở ra chính quyền Mạc Phủ. Ông nhận Phạm Lại (範賴, Noriyori), Nghĩa Kinh (義經, Yoshitsune) làm em, diệt vong Nguyên Nghĩa Trọng (源義仲, Minamoto-no-Yoshinaka) và dòng họ Bình. Sau đó, ông định ra quy chế thủ hộ địa đầu; và từng làm các chức quan như Chánh Nhị Vị (正二位), Quyền Đại Nạp Ngôn (權大納言), Hữu Cận Vệ Đại Tướng (右近衛大將), Chinh Di Đại Tướng Quân (征夷大將軍).
Nguyên Lại Gia
(源賴家, Minamoto-no-Yoriie, 1182-1204, tại chức 1202-1203): vị Tướng Quân đời thứ 2 của chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương, con trai của Nguyên Lại Triều (源賴朝, Minamoto-no-Yoritomo), mẹ là Bắc Điều Chính Tử (北條政子, Hōjō Masako); tên lúc nhỏ là Vạn Thọ (萬壽); giới danh là Pháp Hoa Viện Điện Kim Ngô Đại Thiền Các (法華院殿金吾大禪閤). Ông bị dòng họ Bắc Điều (北條, Hōjō) cưỡng ép phải từ chức, nên ông đã nhường chức lại cho em ruột là Nguyên Thật Triều (源實朝, Minamoto-no-Sanetomo). Chính ông muốn trừ khử dòng họ Bắc Điều, nhưng không thành công. Sau ông đến ẩn cư tại Tu Thiền Tự (修禪寺, Shuzen-ji) ở vùng Y Đậu (伊豆, Izu); và cuối cùng bị nhóm người Bắc Điều Thời Chính (北條時政, Hōjō Tokimasa) giết chết tại đây.
nguyên minh
(元明) Cũng gọi Bản minh. Thể bản giác thanh tịnh sáng suốt. Kinh Lăng nghiêm quyển 6 (Đại 19, 130 thượng) nói: Biển giác tính lắng trong Giác lặng vốn nhiệm mầu Nguyên minh chiếu chỗ sinh Sinh thành, tính chiếu mất.
Nguyên Minh Thiên Hoàng
(元明, Gemmei Tennō, tại vị 707-715): vị nữ đế trị vì đầu thời đại Nại Lương (奈良, Nara), hoàng nữ thứ 4 của Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇), vợ của Thảo Bích Hoàng Tử (草壁皇子), mẹ của hai vị Thiên Hoàng Văn Võ (文武, Mommu) và Nguyên Chánh (元正, Genshō), tên là A Bế (阿閉, Abe). Bà dời đô về Bình Thành (平城, Heizei) thuộc tiểu quốc Đại Hòa (大和, Yamato), ra lệnh cho nhóm Thái An Vạn Lữ (太安萬侶, Ō-no-Yasumaro) soạn bộ Cổ Sự Ký (古事記, Kojiki, 3 quyển) để ghi chép về những phong tục, tập quán của các tiểu quốc.
Nguyên Mãn Trọng
(源滿仲, Minamoto-no-Mitsunaka, 912-997): vị Võ Tướng sống vào giữa thời Bình An, trưởng tử của Nguyên Kinh Cơ (源經基, Minamoto-no-Tsunemoto), được gọi là Trấn Thủ Phủ Tướng Quân (鎭守府將軍). Ông rất giỏi về võ lược, trú tại vùng Đa Điền (多田, Tada), tiểu quốc Nhiếp Tân (攝津, Settsu), thường xưng là họ đa điền. Ông nuôi dưỡng nhân tài, làm cơ sở cho dòng họ Nguyên (源, Minamoto).
Nguyên Nhân
(源仁, Gennin, 818-887/890): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời đại Bình An, húy là Nguyên Nhân (源仁), thông xưng là Trì Thượng Tăng Đô (持上僧都), Nam Trì Viện Tăng Đô (南持院僧都), Thành Nguyện Tự Tăng Đô (成願寺僧都). Ông theo Hộ Mạng (護命, Gomyō) học về Pháp Tướng, sau đó học Mật Giáo với Thật Huệ (實惠, Jitsue), Chơn Nhã (眞雅, Shinga) và Tông Duệ (宗叡, Shūei) và thọ pháp Quán Đảnh. Đến năm 875, ông được mời làm Tự Trưởng của Đông Tự (東寺, Tō-ji) và Quyền Thiếu Tăng Đô. Ông kiến lập nên Nam Trì Viện (南持院, Nanji-in), lấy tên là Thành Nguyện Tự (成願寺, Jōgan-ji) và thuyết giảng về tông yếu của mình. Các đệ tử phú pháp của ông có Ích Tín (益信, Yakushin), Thánh Bảo (聖寳, Shōbō). Trước tác của ông có Quán Đảnh Thông Dụng Tư Ký (灌頂通用私記) 3 quyển.
nguyên nhân
Hetu (S). The original or fundamental cause which produces phenomena, e.g. karma, reincarnation.
; (原人) I. Nguyên Nhân. Phạm:Puruwa. Tên 1 vị thần của đạo Bà la môn ở Ấn độ.Theo bài ca Nguyên nhân trong Lê câu phệ đà (Phạm:Fg-veda) thì vị thần này là chúa tể trong tất cả thời hiện tại, quá khứ và vị lai, có nghìn đầu, nghìn mắt, nghìn chân. Từ đầu thần này sinh ra Bà la môn, từ vai sinh ra Sát đế lợi, từ bắp vế sinh ra Thủ đà la, từ tim sinh ra mặt trăng, từ mắt sinh ra mặt trời, từ hơi thở sinh ra gió, từ rốn sinh ra cõi hư không, từ trên đầu sinh ra cõi trời, từ chân sinh ra đất. II. Nguyên Nhân. Danh hiệu của thần Phạm thiên sáng tạo Bà la môn giáo và Ấn độ giáo. III. Nguyên Nhân. Dịch cũ: Cố nhân...... Tên hiệu của vị thứ thần trong Ma ni giáo. Vị thần tối cao của Ma ni giáo là thần Đại minh (Zarvàn), thông qua vị sứ giả là Thiên mẫu mà sáng tạo ra thần Nguyên nhân, tức là ông Tổ đầu tiên của loài người.
; (元因) Nguyên nhân sinh thành muôn vật. Đứng trên lập trường giáo lí căn bản của Phật giáo mà nói, thì nhân và duyên là tất cả điều kiện nhờ đó mà muôn sự muôn vật được sinh thành, tồn tại và biến hóa. Nguyên nhân dẫn khởi tác dụng sinh ra kết quả, đó chính là cách nói thông thường: Hễ tạo nhân xa thì kết quả xa, tạo nhân gần thì kết quả gần, tạo nhân thiện thì kết quả thiện, tạo nhân ác thì kết quả ác, tạo vô lượng nhân thì kết vô lượng quả, dù trải qua bao nhiêu kiếp cũng không sai lầm. Đây cũng chính là quan điểm chung trong Nhân quả luận của Phật giáo.
nguyên phẩm năng trị
(元品能治) Đoạn trừ vô minh căn bản, phẩm cuối cùng trong 42 phẩm vô minh do tông Thiên thai thành lập. Có 2 thuyết: 1. Đoạn trừ bằng trí Đẳng giác: Vô minh căn bản chướng ngại quả vị Diệu giác, vì thế, muốn cho trí Diệu giác hiển hiện thì phải dùng trí Đẳng giác đoạn trừ. 2. Đoạn trừ bằng trí Diệu giác: Vì thế lực của vô minh căn bản rất mạnh, trí của nhân vị Đẳng giác không thể dứt được, nên phải dùng trí của quả vị Diệu giác để đoạn trừ.Đoạn trừ bằng trí Đẳng giác là thứ tự đoạn hoặc rồi vào quả vị; còn đoạn trừ bằng trí Diệu giác là thứ tự vào quả vị rồi đoạn hoặc. [X. kinh Niết bàn Q.16 (bản Nam); chương Nhất thừa kinh Thắng man; Duy ma kinh huyền sớ Q.3; Ma ha chỉ quán (hội bản) Q.1, phần 5]. (xt. Vô Minh).
nguyên phẩm vô minh
Xem Căn bản vô minh.
; Primal ignorance; the original state of avidyà, unenlightenment, or ignorance; original innocence.
Nguyên Thản Sơn
(原坦山, Hara Tanzan, 1819-1892): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Giang Hộ và Minh Trị, húy Thản Sơn (坦山), thụy hiệu Hạc Sào (鶴巢), xuất thân vùng Lục Áo (陸奥, Michinoku, thuộc Fukushima-ken [福島縣]). Năm 1833, ông vào Trường Xương Bình (昌平) học về kinh sử, rồi theo Đa Kỷ An Thúc (多紀安叔) học về y học. Về sau nhân cuộc thi giảng ở Chiên Đàn Lâm (栴檀林) của Cát Tường Tự (吉祥寺, Kichijō-ji), ông được Đại Trung Kinh Sán (大中京璨) khai ngộ cho nên ông chuyển sang Thiền Tông. Ông xuất gia học đạo với Thật Sơn (實山) ở Tổng Tuyền Tự (總泉寺, Sōsen-ji), sau đó kế thừa dòng pháp của Kinh Sán. Ông đã từng sống qua các chùa như Tâm Tánh Tự (心性寺, Shinshō-ji) trên kinh đô, Tối Thừa Tự (最乘寺, Saijō-ji) ở Thần Nại Xuyên (神奈川, Kanagawa). Ông cũng có mối quan tâm đến khoa học phương Tây, và hy vọng sẽ làm sáng tỏ được tâm thức luận của Phật Giáo thông qua khoa học. Năm 1879, ông làm Giảng Sư cho Phân Khoa Triết Học Ấn Độ của Trường Đại Học Đông Kinh (東京大學, Tokyo Daigaku), đến năm 1885 thì làm hội viên của Hội Học Sĩ Viện Đế Quốc (帝國學士院), và năm 1891 thì làm Học Giám của Đại Học Tào Động Tông (曹洞宗大學). Trước tác của ông có Thời Đắc Sao (時得抄), Tâm Tánh Thật Nghiệm Lục (心性實驗錄), Tâm Thức Luận Lược Biện Đối Phá (心識論略辨對破), Đại Thừa Khởi Tín Luận Lưỡng Dịch Thắng Nghĩa (大乘起信論兩譯勝義), Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa (楞嚴經講義), Thản Sơn Hòa Thượng Toàn Tập (坦山和尚全集) 1 quyển.
Nguyên Thiều
元韶; 1648-1728, còn được gọi là Siêu Bạch Hoán Bích;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế, đời pháp thứ 33. Sư là người đầu tiên truyền tông phong Lâm Tế sang miền Trung Việt Nam.|Sư xuất gia năm 19 tuổi tại chùa Báo Tư, thụ giáo với Hoà thượng Bản Quả Khoáng Viên. Năm 1677, Sư theo thuyền đi từ Trung Quốc đến phủ Quý Ninh (Quy Nhơn) lập chùa Thập Tháp Di Ðà để dạy chúng. Sau đó, Sư lại ra Thuận Hoá lập chùa Hà Trung rồi lên Xuân Kinh lập chùa Quốc Ân và tháp Phổ Ðồng.|Sau, vì Cao tăng giáo hoá chúng hiếm hoi (có lẽ vì Thiền sư Hương Hải đã ra miền Bắc cùng với khoảng 50 đệ tử) nên Sư phụng mệnh sang Trung Quốc mời các danh tăng và thỉnh pháp khí. Sư về Quảng Ðông và mời được các vị nổi danh thời đó như Thạch Liêm, Hưng Liên Quả Hoằng, Giác Phong…|Ngày 19 tháng 10 năm Mậu Thân, niên hiệu Bảo Thái thứ 9 (1728), Sư có chút bệnh bèn gọi chúng lại phó chúc và nói kệ:|寂寂鏡無影。明明珠不容|堂堂物非物。蓼蓼空勿空|Tịch tịch kính vô ảnh|Minh minh châu bất dung|Ðường đường vật phi vật|Liêu liêu không vật không.|*Lẳng lặng gương không ảnh|Sáng sáng ngọc không hình|Rõ ràng vật không vật|Vắng lặng không chẳng không.|Nói xong, Sư ngồi yên viên tịch, thọ 81 tuổi. Ðồ chúng lập tháp ở chùa Kim Cang để thờ.* Một tháp khác cũng được lập tại Thuận Hoá. Chúa Nguyễn ban hiệu là Hạnh Ðoan Thiền Sư. |*Theo nguồn tài liệu của sử gia Nguyễn Hiền Ðức thì Sư ẩn vào Nam, có lẽ vì lí do chính trị thời đó, đến Ðồng Nai lập chùa Kim Cang hoằng hoá. Nhờ vậy mà Phật giáo Nam bộ bắt đầu hưng thịnh và lan rộng khắp nơi. Hệ thống truyền thừa còn tồn tại đến ngày nay. Tuy vậy, nguồn tài liệu này vẫn chưa được chính thức thừa nhận vì còn chứa nhiều điểm mâu thuẫn.
nguyên thuỷ phật giáo
(原始佛教) Cũng gọi Tảo kì Phật giáo, Sơ kì Phật giáo.Chỉ cho nền Phật giáo ở thời kì đầu đốilại với Phật giáo Đại thừa được phát triển sau này.Từ khi đức Phật thành đạo, Ngài bắt đầu sáng lập giáo đoàn hoằng dương giáo pháp, cho đến khoảng 100 năm (hoặc 200 năm) sau khi đức Phật nhập diệt, thời kì này giáo pháp chỉ là 1 vị, giáo đoàn thì thống nhất, chưa có sự phân chia thành các bộ phái. Trong thời kì này các vị tỉ khưu giữ giới rất nghiêm cẩn, lấy việc khất thực để tự nuôi sống; khu vực truyền bá giáo pháp chủ yếu là vùng trung châu sông Hằng ở Ấn độ. Kinh điển trong thời kì này bao hàm hình thái nguyên thủy nhất của giáo pháp đức Phật, là nền tảng của giáo lí Tiểu thừa và Đại thừa về sau này. Tóm lại, nền Phật giáo trong khoảng 1 hoặc 2 trăm năm sau đức Phật nhập diệt như vừa nói ở trên, được gọi là Nguyên thủy Phật giáo. Vào cuối thế kỉ XIX, các học giả phương Tây bắt đầu nghiên cứu Phật giáo nguyên thủy qua các kinh điển bằng tiếng Tích lan vàPàli, lấy Phật giáo phương Nam làm chính. Việc nghiên cứu này dần dần thịnh hành ở các nước Anh, Đức, Pháp... sau mới truyền đến Nhật bản và Trung quốc. Trước đó, các học giả Trung quốc và Nhật bản đã không biết có sự tồn tại của Thánh điểnPàli, mà cũng chưa hiểu rằng Thánh điển ấy giống với kinh A hàm, là kinh Phật Hán dịch xưa nay vẫn quen gọi là kinh Tiểu thừa. Bởi thế, từ khi Đại sư Trí khải đời Tùy lập phán giáo Ngũ thời bát giáo, phán thích kinh A hàm là giáo nghĩa nông cạn nhất trong Tam tạng giáo đến nay thì giá trị của kinh A hàm đã bị các học giả và các nhà tông giáo xem thường. Nhưng về tên gọi và thời đại của Phật giáo nguyên thủy trong giới học giả có nhiều ý kiến khác nhau. Trước hết, học giả Phật giáo người Anh là ông Đại vệ tư (Thomas William Rhys Davids, 1843-1922) soạn cuốn Early Buddhism, sau đó, trong tác phẩm Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận của mình, được xuất bản vào năm Đại chính 13 (1924), nhà học giả Nhật bản là ông Mộc thôn Thái hiền (Kimura Taiken) chính thức dịch từ ngữ Early Buddhism là Nguyên thủy Phật giáo. Tên gọi Nguyên thủy Phật giáo theo tiếng Anh đúng ra phải là Primitive Buddhism, nhưng vì tiếng Primitive ngoài các nghĩa đầu tiên, trước nhất ra, nó còn các nghĩa nguyên thủy, thời kì đầu chưa được khai hóa... dễ bị coi là từ ngữ có hàm ý đánh giá thấp kém, cho nên các học giả phương Tây thường tránh, không dùng mà, thay vào đó, sử dụng từ ngữ Early Buddhism. Một học giả người Nhật bản khác là ông Tỉ kì Chính trị thì cho rằng, nếu từ Early Buddhism là chỉ cho Phật giáo ở thời kì đầu tiên(tức là thời đại đức Phật và các đệ tử của Ngài), thì đáng lẽ phải dịch là Căn Bản Phật Giáo chứ không nên gọi chung là Nguyên Thủy Phật Giáo. Các vị học giả khác như Pháp sư Thích ấn thuận của Trung quốc, các ông Vũ tỉnh Bá thọ, Xích chiểu Trí thiện, Tây nghĩa hùng... của Nhật bản, cũng có quan điểm tương tự và chia ra các thời kì như: Căn bản Phật giáo, Nguyên thủy Phật giáo, Bộ phái Phật giáo... để giải thích, chỉ về mặt thời gian và nội dung thì sự phân chia có hơi khác như sau: 1. Theo Pháp sư Thích ấn thuận và ông Xích chiểu Trí thiện: Sự hoạt động giáo hóa 1 đời của đức Phật trong 49 năm (hoặc 45 năm) là Căn bản Phật giáo, là nguồn gốc của tất cả Phật pháp; sau khi đức Phật nhập diệt đến thời kì bộ phái đối lập là Nguyên thủy Phật giáo; sau khi giáo đoàn chia làm 2 bộ căn bản là Thượng tọa và Đại chúng là thời kì Bộ phái Phật giáo. 2. Theo ông Vũ tỉnh Bá thọ: Thời đại đức Phật và các vị đệ tử được Ngài trực tiếp truyền trao Chính pháp(tức khoảng 30 năm sau khi đức Phật nhập diệt)là Căn bản Phật giáo; từ đó, đến khoảng vua A dục lên ngôi, giáo đoàn phân chia thành Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ thì dừng, đó là Nguyên thủy Phật giáo. 3. Theo ông Tây nghĩa hùng: Căn bản Phật giáo là giáo pháp của đức Thế tôn thuộc giai đoạn xưa nhất trong tư liệu của Nguyên thủy Phật giáo, còn thời đại đức Phật, đệ tử và sau khi đức Phật nhập diệt, đến trước khi giáo đoàn chia thành 2 bộ căn bản là Nguyên thủy Phật giáo. Các học giả nói trên tuy chủ trương phân chia thời đại Căn bản Phật giáo và Nguyên thủy Phật giáo khác nhau, nhưng đối với phạm vi tư liệu nghiên cứu thì đều đồng ý lấy Thánh điển được kết tập vào thời đại Nguyên thủy Phật giáo làm chủ yếu, tức là kinh A hàm và Luật tạng Hán dịch và tiếng Pàli. Căn cứ vào văn hiến hiện còn mà nói thì vào thời đại đức Phật, Luật bộ mới chỉ có 1 bộ phận Ba la đề mộc xoa mà thôi, còn 4 A hàm(hoặc 5 A hàm)thuộc Kinh bộ thì chưa được kết tập. Do đó, nói 1 cách chặt chẽ, bởi thiếu những văn hiến Phật giáo căn bản, nếu không dựa vào Thánh điển được kết tập vào thời đại Nguyên thủy Phật giáo mà tìm kiếm thì cũng không thể nào mở ra con đường nghiên cứu căn bản Phật giáo. Vài mươi năm trở lại đây, các học giả Trung quốc, Nhật bản phần nhiều căn cứ vào các tạng kinhPàli, Hán dịch, tiếng Phạm, Tây tạng... để nghiên cứu về Phật giáo căn bản và, đặc biệt là các học giả Nhật bản, đã khá thành công. Còn các học giả phương Tây thì vì thiếu khả năng đọc chữ Hán, nên phần nhiều nghiên cứu qua các kinh điển tiếng Pàli, khiến cho kết luận nghiên cứu đôi khi có chỗ thiên lệch. Nhưng phương pháp nghiên cứu của họ đã căn cứ vào Ngôn ngữ học, hảo cổ học, Tư tưởng sử... rất có tính cách khoa học, khúc chiết, rõ ràng và lại có thái độ phê phán: Đó là những điều mà các học giả phương ông cần noi theo. Bất luận là Căn bản Phật giáo hay Nguyên thủy Phật giáo, giáo pháp trung tâm của đức Phật vẫn chỉ là học thuyết Duyên khởi. Giáo pháp này do chính đức Phật đã căn cứ vào tư tưởng nghiệp luận, giải thoát quan trong Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad) của Ấn độ và tư tưởng chúng sinh bình đẳng của Kì na giáo, cùng với nhiều năm tu đạo chứng ngộ của bản than đức Phật mà được sáng tạo ra.Học thuyết Duyên khởi gồm có: 1. Ba pháp ấn(hoặc 4 pháp ấn). 2. Mười hai nhân duyên. 3. Bốn chân lí (4 đế). 4. Tám chính đạo. Tất cả giáo pháp của Phật giáo đều lấy thuyết Duyên khởi làm chỗ y cứ, cũng có thể nói thuyết Duyên khởi là đại biểu của Phật pháp, Duyên khởi là từ đồng nghĩa với Pháp. Tại Ấn độ, các tư tưởng triết học tuy đã thịnh hành từ xưa, nhưng trong triết học Ấn độ không có thuyết Duyên khởi, mà các tông giáo hoặc triết học khác trên thế giới cũng không có thuyết Duyên khởi, nó là tư tưởng đặc biệt của riêng Phật giáo và cái đặc trưng cơ bản làm cho Phật giáo khác với các tôn giáo và triết học khác cũng chính là thuyết Duyên khởi này. Kể từ sau khi Phật giáo dần dần phát triển, các tông phái ở bất cứ thời đại nào hoặc ở bất cứ khu vực nào, hễ có 2 chữ Phật giáo đứng đầu thì đều lấy thuyết Duyên khởi làm giáo lí căn bản. Trái lại, nếu thiếu giáo lí căn bản này thì chẳng những đã mất đi cái đặc trưng mà còn vì thế cũng khó có thể gọi được là Phật giáo nữa. [X. Nguyên thủy Phật giáo thánh điển chi tập thành (Ấn thuận); Nguyên thủy Phật giáo (Thủy dã Hoằng nguyên); Nguyên thủy Phật giáo thánh điển chi thành lập sử nghiên cứu (Tiền điền Huệ học); Căn bản Phật giáo (Kim cương Tú hữu)].
nguyên thần
Xem Thần ngã.
Nguyên thủ
元首; C: yuánshǒu; J: genshu;|Người đứng đầu, người lĩnh đạo, thủ lĩnh, nhà cai trị, quốc chủ, tối cao, thứ nhất, đầu tiên.
nguyên thủy
Prabhù (S). Beginning in the beginning, primordial. Prabhù is the title of Vishnu aas a personification of the sun.
Nguyên Tiêu
(元霄): lễ hội truyền thống rất quan trọng, vốn phát xuất từ Trung Quốc, được tiến hành vào ngày rằm tháng Giêng âm lịch, sau dịp tiết xuân; còn gọi là Tiểu Chánh Nguyệt (小正月), Nguyên Tịch (元夕), Đăng Tiết (燈節), Thượng Nguyên Tiết (上元節). Như trong bài Song Đầu Mẫu Đơn Đăng Ký (雙頭牡丹燈記) của Cù Hựu (瞿佑, 1341-1427) người vùng Tiền Đường (錢塘, nay thuộc Hàng Châu [杭州], Triết Giang [浙江]) có câu: “Mỗi tuế Nguyên Tịch, ư Minh Châu trương đăng ngũ dạ, khuynh thành sĩ nữ, giai đắc túng quan (每歲元夕、於明州張燈五夜、傾城士女、皆得縱觀, mỗi năm vào dịp Nguyên Tịch, tại Minh Châu giăng đèn năm đêm, nam nữ khuynh thành đều được xem thoải mái).” Chánh nguyệt (正月, tháng Giêng) là tháng đầu tiên trong một năm, người xưa gọi là tiêu (霄); vì vậy, ngày rằm tháng Giêng được gọi là Nguyên Tiêu Tiết (元霄節, Tết Nguyên Tiêu). Đây cũng là ngày lễ hội tình nhân của người Trung Quốc. Nguồn gốc truyền thuyết về lễ hội này vốn có từ xa xưa. Có thuyết cho rằng nó được thiết lập từ thời Hán Văn Đế (漢文帝, tại vị 180-157 tcn). Tương truyền sau khi Hán Cao Tổ Lưu Bang (漢高祖劉邦, tại vị 202-195 tcn) qua đời, Lữ Hậu (呂后, 241-180 tcn) soán quyền, cả dòng tộc nhà họ Lữ lên năm quyền bính; sau khi ba qua đời, nhóm người Châu Bột (周勃), Trần Bình (陳平), v.v., dẹp trừ thế lực của Lữ Hậu, lập Lưu Hằng (劉恆) lên làm Hán Văn Đế. Nhân ngày bình định thế lực nhà họ Lữ và thống nhất quốc gia vào ngày rằm tháng Giêng, từ đó hằng năm vào ngày này, nhà vua thường mặc áo mỏng, ra ngoài cung nội cùng với dân chúng vui chơi thái bình, và cũng lấy ngày này làm Tết Nguyên Tiêu. Dưới thời Hán Võ Đế, hoạt động tế tự Thái Nhất Thần (太一神, các vị thần chủ tể của vũ trụ) cũng được quy định đúng ngày rằm tháng Giêng; cho nên khi Tư Mã Thiên (司馬遷, 135-90 tcn) sáng kiến ra Thái Sơ Lịch (太初歷), xác định Tết Nguyên Tiêu là lễ hội vô cùng trọng đại đối với quốc gia và dân tộc. Về truyền thống thắp đèn vào dịp Nguyên Tiêu này, nguồn gốc của nó phát xuất từ thuyết Tam Nguyên (三元) của Đạo Giáo: rằm tháng Giêng là Thượng Nguyên Tiết, rằm tháng 7 là Trung Nguyên Tiết (中元節) và rằm tháng 10 là Hạ Nguyên Tiết (下元節). Người chủ quản ba lễ hội này là 3 vị quan tên Thiên, Địa, Thủy. Thiên Quan (天官), thường được gọi là Thiên Quan Tứ Phước (天官賜福, Quan Trời Ban Phước), là người thường vui vẻ, hoan hỷ, nên vào dịp Thượng Nguyên, kỷ niệm sinh nhật của ông thì cần phải đốt đèn chúc mừng. Lại có thuyết cho rằng tục lệ giăng đèn vào dịp này vốn phát xuất từ thời đại của Minh Đế (明帝, tại vị 57-75) nhà Đông Hán. Nhà vua rất tin sùng Phật pháp, nghe rằng vào ngày rằm tháng Giêng, chúng tăng thường chiêm ngưỡng xá lợi Phật, thắp đèn cúng dường chư Phật, bèn ra lịnh cho thắp đèn cúng dường chư Phật suốt một ngày đêm tại Hoàng Cung cũng như các chùa chiền, miếu vũ và cho mọi người rước đèn đi khắp nơi. Từ đó, trở đi, nghi thức Phật Giáo này đã trở thành lễ hội truyền thống trọng đại của dân gian, phá triển từ trong cung đình ra đến ngoài dân chúng. Có thuyết khác cho rằng Lễ Thượng Nguyên là để kỷ niệm Đông Phương Sóc (東方朔, 154-93 tcn) và Nguyên Tiêu Cô Nương (元宵姑娘). Tương truyền Hán Võ Đế có một vị thần rất sủng ái tên Đông Phương Sóc, nhân vật rất hiền lương và phong lưu. Có hôm nọ vào dịp tiết đông, sau mấy ngày tuyết rơi nhiều, Đông Phương Sóc bèn đến Ngự Hoa Viên để ngắm hoa mai cùng với nhà vua, khi vừa đến cổng vườn hoa, chợt phát hiện có một người cung nữ đang khóc thảm thiết, chuẩn bị gieo mình xuống giếng tự sát. Ông hoang mang vội vàng chạy đến cứu và hỏi rõ nguyên nhân vì sao tự sát. Nguyên lai cung nữ ấy tên là Nguyên Tiêu (元宵), gia đình có song thân và một người em gái. Từ ngày vào cung nội đến nay, chưa có cơ duyên gặp người thân; cho nên cứ mỗi năm vào tháp chạp cho đến đầu xuân, thường nhớ đến gia đình, song thân, muốn báo hiếu cũng không thực hiện được; vì vậy quyết định tự sát cho xong. Nghe vậy, Đông Phương Sóc rất thông cảm cho hiếu tình cao cả của nàng cung nữ, bèn hứa sẽ tìm cách giúp nàng đoàn tụ cùng gia đình. Có hôm nọ, ông ra ngoài thành, thấy trên đường Trường An có một gian bói toán, nhiều người tranh nhau xem bói. Ai cũng bốc trúng quẻ “chánh nguyệt thập lục hỏa phần thân (正月十六火焚身, mười sáu tháng Giêng lửa thiêu thân).” Nhất thời, kinh đô Trường An sinh hỗn loạn vì quẻ bói xấu kia; mọi người đều tìm biện pháp giải quyết khỏi ách nạn ấy. Thấy vậy, Đông Phương Sóc bảo rằng: “Vào đêm 13 tháng Giêng, Thần Lửa có phái một vị Thần Nữ Áo Đỏ hạ phàm thẩm tra, vị ấy là người phụng chỉ đốt cháy Trường An. Ta sẽ thảo đôi dòng này đưa các ngươi tâu lên Thiên Tử, có thể giúp người tìm ra biện pháp.” Nói xong, ông viết lên một phong thiếp hồng, giao mọi người rồi quay về nhà. Dân chúng cầm thiếp hồng đến Hoàng Cung, tâu lên Hoàng Thượng. Hán Võ Đế xem qua, thấy có dòng chữ: “Trường An tại kiếp, hỏa phần đế khuyết, thập ngũ thiên hỏa, diệm hồng tiêu dạ (長安在劫、火焚帝闕、十五天火、焰紅宵夜, Trường An kiếp nạn, lửa thiêu cung vua, ngày rằm lửa bốc, đỏ rực đêm rằm).” Nhà vua kinh sợ, cho triệu Đông Phương Sóc đa mưu túc kế đến để tìm biện pháp giải quyết. Ông giả bộ thưa rằng: “Thần thường nghe rằng Thần Lửa rất thích bánh nếp tròn, trong cung nội có Nguyên Tiêu chẳng phải là người làm bánh nếp tròn ngon lắm sao ? Vào đêm rằm, bảo cung nữ đó làm bánh, Hoàng Thượng đích thân dâng hương cúng dường, truyền lệnh cho mỗi nhà trong kinh đô đều phải làm bánh nếp tròn để cùng nhau dâng cúng cho Thần Lửa. Rồi ra lịnh cho khắp thần dân đều cầm đèn vào đêm rằm, đốt pháo, phóng lửa khói, như thể cả thành đang bị đốt cháy. Ngoài ra, còn thông báo cho bá tánh ngoài thành, vào đêm rằm được vào thành ngắm đèn hoa; nhờ vậy mới có thể tiêu trừ tai họa và giải nạn được.” Hoàng Đế nghe xong rất cao hứng, lập tức truyền lệnh cho thực hiện phương pháp của Đông Phương Sóc. Vào đêm rằm tháng Giêng, khắp thành Trường An náo nhiệt, vui nhộn hơn bao giờ. Cả song thân và em gái Nguyên Tiêu cũng được vào thành xem hoa đăng, nhờ vậy cả gia đình nàng được đoàn tụ. Từ đó, tương truyền Hán Võ Đế hạ lịnh dâng cúng bánh nếp tròn nhân ngày rằm tháng Giêng hằng năm. Tục lệ này vẫn được lưu truyền mãi cho đến ngày hôm nay. Từ “thang viên (湯圓, bánh nếp tròn, bánh trôi nước)” có nghĩa là “tròn nóng”, có âm đọc cùng với từ “đoàn viên (團圓, đoàn tụ, sum họp)”, tức chỉ cho sự đoàn tụ, hòa hợp, hạnh phúc của gia đình; cũng là hình thức thể hiện sự tưởng nhớ đến thân nhân ở xa, mong ngày hội ngộ, và nói lên nguyện vọng muốn có cuộc sống an bình, đoàn tụ trong tương lai. Ngoài ra, cũng có thuyết cho rằng nguồn gốc của Tết Nguyên Tiêu là Tết Trạng Nguyên. Nhân dịp này, nhà vua triệu tập các Trạng Nguyên đến để thết đãi và mời vào vườn Thượng Uyển ngắm hoa, làm thi phú. Hoạt động của lễ hội này phát triển theo thời gian và diễn biến của lịch sử. Như dưới thời nhà Hán, Tết Nguyên Tiêu được tiến hành trong 1 ngày, đến thời nhà Đường thì kéo dài 3 ngày, nhà Tống là 5 ngày; sang đến nhà Minh thì vào ngày mồng 8, người ta đã bắt đầu thắp đèn cho đến ngày 17. Trong ngày Tết Nguyên Tiêu, ngoài ngắm đèn, ăn bánh trôi, còn có rất nhiều hoạt động vui chơi giải trí, tỷ dụ như đi cà kheo, múa ương ca, múa sư tử, v.v. Đối với Việt Nam, rằm tháng Giêng cũng là một ngày rất quan trọng đối với người dân. Họ thường đến chùa lễ Phật, dâng hương tụng kinh, sám hối, cầu an để nguyện cầu cho một năm mới được an bình, hanh thông, hạnh phúc, vạn sự cát tường như ý. Bên cạnh đó, cũng nhân ngày này, tín đồ Phật tử Việt Nam thường hành lễ dâng sao giải nạn hạnh ách của một năm. Cho nên dân gian Việt Nam vẫn có câu rằng: “Lễ Phật quanh năm, không bằng rằm tháng Giêng.” Lễ hội này đã lưu lại khá nhiều dấu ấn trong các văn chương, thi phú như trong Cựu Đường Thư (舊唐書), phần Trung Tông Kỷ (中宗紀) có đoạn: “Cảnh Long tứ niên Thượng Nguyên dạ, đế dữ Hoàng Hậu vi hành quán đăng (景龍四年上元夜、帝與皇后微行觀燈, vào đêm Thượng Nguyên năm Cảnh Long thứ 4 [710], nhà vua [Đường Trung Tông] cùng với Hoàng Hậu thân hành đi xem hoa đăng).” Hay trong Thủy Hử Truyện (水滸傳), hồi thứ 66 có kể rằng: “Thứ nhật, chánh thị chánh nguyệt thập ngũ nhật, Thượng Nguyên giai tiết, hảo sanh tình minh, hoàng hôn nguyệt thướng, lục nhai tam thị, các xứ phường ngung hạng mạch, điểm phóng hoa đăng (次日、正是正月十五日、上元佳節、好生晴明、黃昏月上、六街三市、各處坊隅巷陌、點放花燈, hôm sau, đúng vào ngày rằm tháng Giêng, tiết đẹp Thượng Nguyên, trời đất trong sáng, hoàng hôn trăng lên, sáu phố ba chợ, các nơi phố phường, hẽm ngách, đều thắp sáng thả hoa đăng).” Đặc biệt thi ca đã ca ngợi nhiều về lễ hội linh thiêng này. Tùy Dương Đế (隋煬帝, tại vị 604-618) có để lại bài Nguyên Tịch Ư Thông Cù Kiến Đăng Dạ Thăng Nam Lâu (元夕於通衢建燈夜升南樓, Ngày Nguyên Tiêu Lập Hoa Đăng Nơi Đường Lộ, Đêm Lên Lầu Nam) như sau: “Pháp luân thiên thượng chuyển, Phạm thanh thiên thượng lai, đăng thọ thiên quang chiếu, hoa diệm thất chi khai, nguyệt ảnh nghi lưu thủy, xuan phong hàm dạ lai, phần động hoàng kim địa, chung phát Lưu Ly đài (法輪天上轉、梵聲天上來、燈樹千光照、花焰七枝開、月影疑流水、春風含夜梅、燔動黃金地、鐘發琉璃台, xe pháp trên trời chuyển, tiếng Phạm vẳng trời bay, đèn cây ngàn ánh chiếu, hoa rực bảy nhánh khai, ánh trăng như nước chảy, gió xuân ngậm đêm mai, xoay động vàng ròng đất, chuông vọng Lưu Ly đài).” Thi sĩ Thôi Dịch (崔液, ?-713) nhà Đường có làm bài Thượng Nguyên Dạ (上元夜): “Ngọc lậu đồng hồ thả mạc tồi, thiết quan kim tỏa triệt dạ khai, thùy gia kiến nguyệt năng nhàn tọa, hà xứ văn đăng bất khán lai (玉漏銅壺且莫催、鐵關金鎖徹夜開、誰家見月能閒坐、何處聞燈不看來, thời gian vàng ngọc chớ giục thôi, khóa vàng cửa thiết suốt đêm khai, nhà ai trăng ngắm ngồi nhàn hạ, nào chốn nghe đèn chẳng đến xem).” Trong khi đó, Trương Hỗ (張祜, khoảng 785-849?) nhà Đường cũng có làm bài Chánh Nguyệt Thập Ngũ Dạ Đăng (正月十五夜燈) như sau: “Thiên môn khai tỏa vạn đăng minh, chánh nguyệt trung tuần động địa kinh, tam bách nội nhân liên tụ vũ, nhất tấn thiên thượng trước từ thinh (千門開鎖萬燈明、正月中旬動地京、三百內人連袖舞、一進天上著詞聲, mở tung ngàn cửa đèn sáng trong, tuần giữa tháng giêng động thần kinh, ba trăm người cùng nối áo múa, vọng đến trời cao khúc thái bình).” Thi hào Lý Thương Ẩn (李商隱, khoảng 813-858) nhà Đường có bài thơ diễn tả về phong cảnh Tết Nguyên Tiêu rằng: “Nguyệt sắc đăng sơn mãn đế đô, xa hương bảo cái ải thông cù, thân nhàn bất đổ trung hưng thịnh, tu trục hương nhân tái Tử Cô (月色燈山滿帝都、香車寶蓋隘通衢、身閒不睹中興盛、羞逐鄉人賽紫姑, trăng tỏ đèn đêm khắp đế đô, xe hương lọng báu rợp đường xa, nhàn hạ chẳng màng đời suy thịnh, dân làng dâng cúng đáp Tử Cô [theo truyền thuyết dân gian trung quốc là một cô nương bần cùng nhưng hiền lương]).” Hay như thi hào Âu Dương Tu (歐陽修, 1007-1072) nhà Tống có để lại bài Sanh Tra Tử Nguyên Tịch (生查子元夕) rằng: “Khứ niên Nguyên Dạ thời, hoa thị đăng như trú, nguyệt đáo liễu tiêu đầu, nhân ước hoàng hôn hậu, kim niên Nguyên Dạ thời, nguyệt dữ đăng y cựu, bất kiến khứ niên nhân, lệ thấp xuân sam tụ (去年元夜時、花市燈如晝、月到柳梢頭、人約黃昏後、今年元夜時、月與燈依舊、不見去年人、淚濕春衫袖, năm ngoái đêm Nguyên Tiêu, hoa đèn như ngày sáng, trăng đến trên đầu liễu, người về sau hoàng hôn, năm nay đêm Nguyên Tiêu, nguyệt cùng trăng như cũ, chẳng thấy người cũ đâu, lệ ướt tay áo mỏng).” Thi nhân Nguyên Hảo Vấn (元好問, 1190-1257) nhà Nguyên cũng có bài Kinh Đô Nguyên Tịch (京都元夕) như sau: “Huyền phục hoa trang trước xử phùng, lục nhai đăng hỏa náo nhi đồng, trường sam ngã diệc hà vi giả, dã tại du nhân tiếu ngữ trung (袨服華妝著處逢、六街燈火鬧兒童、長衫我亦何爲者、也在遊人笑語中, áo thâm hoa kết mặc theo cùng, phố phường đèn sáng rộn nhi đồng, áo rộng ta cũng là ai nhỉ, vẫn với du nhân cười nói vang).” Sau này, Kheo Phùng Giáp (丘逢甲, 1864-1912) nhà Thanh có làm bài Nguyên Tịch Vô Nguyệt (元夕無月) rằng: “Tam niên thử tịch vô nguyệt quang, minh nguyệt đa ưng tại cố hương, dục hướng hải thiên tầm nguyệt khứ, ngũ canh phi mộng độ côn dương (三年此夕無月光、明月多應在故鄉、欲向海天尋月去、五更飛夢渡鯤洋, ba năm đêm ấy chẳng sáng trăng, trăng tỏ phần nhiều tại cố hương, muốn hướng chân trời tìm trăng lặn, năm canh cỡi mộng vượt ngàn trùng).” Ngoài ra, còn một số câu đối liễn được dùng để treo nhân dịp Tết Nguyên Tiêu, như: “phong thanh nguyệt lãng, đăng thái tinh huy (風清月朗、燈彩星輝, gió mát trăng thanh, đèn rực sao tỏ)”, “vô biên xuân sắc, hữu khánh niên đầu (無邊春色、有慶年頭, vô biên sắc xuân, tốt đẹp đầu năm)”, “nguyệt quang kiểu khiết, nhân chúc huy hoàng (月光皎潔、銀燭輝煌, ánh trăng sáng tỏ, đèn hoa huy hoàng)”, “vạn gia Nguyên Tịch yến, nhất lộ thái bình ca (萬家元夕宴、一路太平歌, vạn nhà đón Nguyên Tịch, một cõi thái bình ca)”, “minh nguyệt thiên môn tuyết, ngân đăng vạn thọ hoa (明月千門雪、銀燈萬樹花, trăng tỏ ngàn nhà tuyết, đèn trong vạn cây hoa)”, “phóng thủ kình minh nguyệt, khai tâm lạc Nguyên Tiêu (放手擎明月、開心樂元宵, buông tay nâng trăng sáng, mở lòng vui Nguyên Tiêu)”, “vạn hộ quản huyền ca thạnh thế, mãn thiên diệm hỏa diệu xuân quang (萬戶管弦歌盛世、滿天焰火耀春光, vạn nhà gãy đàn ca đời thịnh, khắp trời lửa rực tỏa ánh xuân)”, “thiên không minh nguyệt tam thiên giới, nhân túy xuân phong thập nhị lâu (天空明月三千界、人醉春風十二樓, trời cao trăng tỏ ba ngàn cõi, người say xuân gió mười hai lầu)”, “Ngũ dạ tinh kiều liên Nguyệt Điện, lục nhai đăng hỏa bộ Thiên Thai (五夜星橋連月殿、六街燈火步天台, năm đêm sao cầu nối Cung Nguyệt, sáu đường đèn rực bước Thiên Thai)”, “ngọc vũ vô trần thiên khoảnh bích, ngân hoa hữu diệm vạn gia xuân (玉宇無塵千頃碧、銀花有焰萬家春, nhà ngọc không bụi ngàn dặm sáng, hoa đồng tỏa rạng vạn chốn xuân)”, v.v.
Nguyên Trí
(源智, Genchi, 1183-1238): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống vào khoảng đầu và giữa thời Liêm Thương, trú trì đời thứ 2 của Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in) cũng như Tri Ân Tự (知恩寺, Chion-ji); húy là Nguyên Trí (源智), thường được gọi là Hạ Mậu Thượng Nhân (賀茂上人), hiệu là Thế Quán Phòng (勢觀房), xuất thân vùng Kyoto, con của vị Trưởng Quan Kami vùng Bị Trung (僃中, Bicchū) là Bình Sư Thạnh (平師盛). Cha ông mất trong cuộc chiến loạn Nguyên Bình (源平), đến năm 1195 ông theo làm môn đệ của Nguyên Không (源空, Genkū, tức Pháp Nhiên), rồi xuất gia với Từ Viên (慈圓), học Tịnh Độ Giáo với Nguyên Không, và thường xuyên hầu hạ vị này cho đến khi qua đời thì ông được truyền trao cho bản Nhất Mai Khởi Thỉnh Văn (一枚起請文). Sau đó, ông hoạt động giáo hóa đồ chúng, rồi làm vị Tổ đời thứ 2 của Tri Ân Viện và Tri Ân Tự. Chúng đệ của ông như Liên Tịch (蓮寂), Túc Liên (宿蓮), v.v, đã hình thành nên hệ phái Môn Đồ Tử Dã (紫野門徒). Trước tác của ông để lại có Tuyển Trạch Yếu Quyết (選擇要決) 1 quyển, Ngọc Quế Tự A Di Đà Như Lai Tạo Lập Nguyện Văn (玉桂寺阿彌陀如來造立願文).
nguyên tuyển
(元選) Từ gọi chung thệ nguyện và trí tuệ. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 269 trung) nói: Nguyện và tuệ tròn đầy, thành Phật trong 3 cõi. Trong quá khứ, khi còn là tỉ khưu Pháp tạng, đức Phật A di đà đã phát 48 thệ nguyện lớn, dùng vô lượng công đức thệ nguyện và trí tuệ tiếp dẫn chúng sinh về Tịnh độ cực lạc. [X. Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.thượng].
nguyên tâm
(元心) Tâm bản giác tròn đầy, là nguồn gốccủa muôn vật, cho nên gọi là Nguyên tâm.Tức là Nhất tâm nói trong luận Đại thừa khởi tín.
Nguyên Tín
(源信, Genshin, 942-1017): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời kỳ Bình An, xuất thân vùng Đại Hòa (大和, Yamato, thuộc Nara-ken [奈良縣]). Hồi nhỏ ông lên Tỷ Duệ Sơn, theo hầu Lương Nguyên (良源, Ryōgen), người sau này trở thành Tọa Chủ nơi đây, và đến năm 13 tuổi thì được cho thọ giới. Với tài năng học vấn ưu tú của mình, năm lên 33 tuổi ông đã nổi tiếng rồi, nhưng sau ông lại chán ghét danh lợi mà từ bỏ tất cả rồi sống ẩn tu. Sau đó ông lại được quan tâm nhờ trước tác liên quan đến Nhân Minh Học của lý luận Phật Giáo. Đến năm 44 tuổi, ông viết xong 3 quyển Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集). Chính từ đó bộ sách này được dùng làm kim chỉ nam kết duyên với Niệm Phật, nên chế ra 12 điều khởi thỉnh quy định mỗi tháng vào ngày 15 là ngày niệm Phật. Năm 62 tuổi, ông ủy thác cho đệ tử là Tịch Chiêu (寂昭, Jakushō) sang nhà Tống cầu pháp, và viết nên bộ Thiên Thai Tông Nghi Vấn Nhị Thập Thất Điều (天台宗疑問二十七條). Đến năm 64 tuổi, ông viết bộ Đại Thừa Đối Câu Xá Sao (大乘對倶舍抄), và năm sau thì trước tác bộ Nhất Thừa Yếu Quyết (一乘要決).
nguyên tín
Geshin (J)Tên một vị sư.
; (源信) Cao tăng Nhật bản thuộc tông Thiên thai, tổ của dòng Huệ tâm, thường gọi là Huệ tâm tăng đô, người Đại hòa (huyện Nại lương). Sư lên núi Tỉ duệ thờ ngài Lương nguyên làm thầy, học rộng nhớ dai, được nhiều người kính phục. Về sau, sư sáng lập ra dòng Huệ tâm rất có thế lực. Tác phẩm của sư có đến hơn 70 bộ 150 quyển, trong đó, nổi tiếng hơn cả là Nhất thừa yếu quyết, Vãng sinh yếu tập, Quán tâm lược yếu tập... đều được thu vào Huệ tâm tăng đô toàn tập. Ngoài ra, trong những sách về mĩ thuật Tịnh độ giáo, tương truyền có rất nhiều tác phẩm của sư, nhưng không có chứng cứ để khảo sát. Sư thị tịch vào niên hiệu Khoan nhân năm đầu (1017), hưởng thọ 76 tuổi. [X. Thủ lăng nghiêm viện Nguyên tíntăng đô truyện; Huệ tâm tăng đô hành trạng kí; Đại Nhật bản quốc Pháp hoa kinh nghiệm kí Q.hạ].
nguyên tú
(元琇) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, Tổ thứ 12 (có thuyết nói thứ 10) của tông Thiên thai. Sư từng theo Pháp sư Vật ngoại tu học Chỉ quán ở chùa Quốc thanh, hiểu thấu ý chỉ sâu kín, diễn giảng lưu loát, người đời gọi sư là Diệu thuyết tôn giả. Một hôm, sư lên tòa nói pháp, có 10 vị tăng lạ, xếphàng ở cuối giảng đường nghe pháp, nghe giảng xong 10 vị ấy bay lên hư không mất dạng. Sư có 2 vị đệ tử nối pháp là Thanh tủng và Thường tháo. [X. Phật tổ thống kỉ Q.8; Thích môn chính thống Q.2].
nguyên tĩnh
(元靜) Thiền sư Trung quốc, thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người Ngọc sơn, Lãng châu, tỉnh Tứ xuyên, họ Triệu, sau đổi tên là Đạo hưng. Lúc lên 10 tuổi, vì bị bệnh nên sư có ý muốn xuất gia. Không bao lâu sư theo ngài Tông duệ ở viện Đại từ bảo sinh tại Thành đô và đến năm Nguyên hựu thứ 3 (1088) thì chính thức được thụ giới. Về sau, sư tham học và nối pháp của ngài Ngũ tổ Pháp diễn. Sư khai sáng Nam đường ở núi Đại tùy tại Bành châu, tỉnh Tứ xuyên, nên người đời gọi sư là Nam đường Nguyên tĩnh (Đạo hưng). Sư từng trụ trì các chùa: Chiêu giác, Năng nhân và Đại tùy ở Thành đô. Năm Thiệu hưng thứ 5 (1135) sư thị tịch, hưởng thọ 71 tuổi. Sư có tác phẩm: Nam đường Hưng hòa thượng ngữ yếu 1 quyển. [X. Gia thái phổ đăng lục Q.11; Ngũ đăng hội nguyên Q.19; Tục truyền đăng lục Q.25; Ngũ đăng toàn thư Q.42].
nguyên tĩnh thập môn
(元靜十門) Mười điều răn dạy chúng tăng tu hành của Thiền sư Nguyên tĩnh chùa Đại tùy đời Tống. Đó là: 1. Phải tin chắc có ý chỉ Giáo ngoại biệttruyền.2. Phải biết rõ có nhân duyên Giáo ngoại biệt truyền.3. Phải hiểu được ý chỉ hữu tình thuyết pháp và vô tình thuyết pháp không hai không khác. 4. Phải thấy tính rõ ràng như xem vật trong lòng bàn tay của mình.5. Phải có đủ mắt lựa chọn pháp.6. Phải vào cảnh giới dứt bặt tung tích như đường chim bay.7. Gồm đủ văn võ.8. Dẹp tà hiển chính.9. Cần có đại cơ đại dụng.10. Phải đi trong dị loại(đi vào trong đường luân hồi để cứu độ chúng sinh).[X. Thiền uyển mông cầu Q.hạ].
nguyên tạng
The Yuan Tripitaka, compiled by order of Thế Tổ (Kublai), founder of the Yuan dynasty and printed from blocks.
; (元藏) Cũng gọi Đại Phổ ninh tự bản, Nguyên bản.Đại tạng kinh được khắc bản và ấn hành vào đời Nguyên từ năm Chí nguyên 14 (1277) đến năm Chí nguyên 27 (1290), dưới sự giám sát của ngài Đạo an, thuộc tông Bạch vân, trụ trì chùa Đại Phổ ninh tại huyện Dư hàng, Hàng châu, tỉnh Chiết giang, Trung quốc. Đại tạng này lấy 2 bản: Tạng Tư khê và Tạng Phúc châu làm bản gốc, rồi so sánh, xem xét, bổ sung mà biên soạn thành, tổng cộng có 1437 bộ kinh, luật, luận Đại, Tiểu thừa. Hình thức bản in mỗi trang 6 dòng (hàng), mỗi dòng 17 chữ. Chùa Tăng thượng và chùa Thiển thảo ở Đông kinh, Nhật bản, đều có cất giữ đầy đủ bản Tạng này.Đời Nguyên, ngoài bản này ra còn có bản khắc Đại tạng kinh khác nữa, nhưng đãbị thất lạc. [X. Tam duyên sơn chí Q.2; Cổ kinh đềbạt Q.hạ]. (xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh).
nguyên tố
(元素) Yếu tố cấu thành muôn pháp theo quan niệm của Phật giáo.(xt. Lục Đại).
nguyên tổ
(元祖) Vị Tổ đầu tiên sáng lập tông phái. Lí hoặc luận của Mâu tử trong Hoằng minh tập quyển 1, (Đại 52, 2 thượng) nói: Phật là vị nguyên tổ của đạo đức. Tại Nhật bản, các ngài Nguyên không, tổ khai sáng tông Tịnh độ và ngài Nhật liên, tổ khai sáng tông Nhật liên, đều được tôn xưng là Nguyên tổ.
nguyên tử luận
(原子論) Học thuyết chủ trương tất cả các vật tồn tại đều do nguyên tử tổ hợp mà thành. Nguyên tử(atom)tương đương với chữ Aịu trong tiếng Phạm, nghĩa là nhỏ như hạt bụi (vi trần). Phân tử cực nhỏ không thể phân chia được gọi là Cực vi (Phạm:Paramàịu). Lấy phần cực vi làm trung tâm hợp với 6 phân tử cực vi của 6 phương làm 1 đơn vị, gọi là Vi trần. Nguyên tử luận cho rằng: Hết thảy mọi hiện tượng trong thế giới đều do sự quan hệ và vận động một cách ngẫu nhiên, máy móc của những hạt nguyên tử mà phát sinh. Học thuyết này đối lập với Mục đích luận, nhưng phù hợp với Duy vật luận. Ở Ấn độ, đầu tiên có Kì na giáo, kế đến là phái Thắng luận, đều lấy thuyết Nguyên tử làm giáo nghĩa cơ bản và cố sức xây dựng luận chứng về Nguyên tử luận. Trong Phật giáo, Hữu bộ và Kinh lượng bộ của Tiểu thừa đều dùng tư tưởng Nguyên tử luận để cải cách Phật giáo. Nhưng phái Trung quán thì đứng trên lập trường cơ bản là các pháp vốn không có thực thể tồn tại một cách cố định, rồi phái Du già Duy thức thì theo quan điểm ngoài tâm không có vật gì tổn tại để cùng phê phán kịch liệt tư tưởng của Hữu bộ và Kinh lượng bộ.
nguyên đạo
(原道) Tác phẩm, do Hàn dũ soạn vào đời Đường, Trung quốc. Nội dung trình bày Đạo của các bậc Thánh hiền như vua Nghiêu, vua Thuấn, Chu công, Khổng tử, tìm hiểu nguồn gốc Nho gia nhằm chấn hưng Nho giáo, phê bình Lão giáo là tư lợi, chê bai Phật giáo thiếu thực tế, chủ trương hủy bỏ kinh sách, tự quan của 2 đạo này. Đến đời Tống, thiên luận Nguyên đạo này mới được chú ý, Âu dương tu cũng soạn Bản luận chủ trương bài Phật. Nhưng đồng thời cũng có nhiều luận văn phản bác Nguyên đạo, như Phi hàn, Phụ giáo của Đại sư Khế tung, Hộ pháp luận của cư sĩ Trương thương anh, Nguyên đạo luận của vua Tống hiếu tông nhà Nam Tống và Tam giáo bình tâm luận của Lưu mật...
nguyện
Pāṇidhana (P).
; Pranihita, pranidhàna (S). Vow, resolve, wish; sincere promise; to vow, to wish, to pledge, to be willing, to desire.
; (願) Phạm: Praịidhàna. Trong lòng quyết ý mong muốn thành tựu được mục đích. Cứ theo phẩm Vấn tăng na trong kinh Phóng quang bát nhã quyển 3 và kinh Vô lượng thọ quyển hạ, thì Phật và Bồ tát ngay lúc mới phát tâm đều nguyện thành Vô thượng bồ đề và độ hết thảy chúng sinh. Đây gọi là Hoằng nguyện, cũng gọi là Tổng nguyện. [X. kinh Đạo hành bát nhã Q.6; kinh Niết bàn Q.24 (bản Bắc); kinh Bồ tát địa trì Q.9; luận Đại trí độ Q.7; luận Thành duy thức Q.9; Phát bồ đề tâm kinh luận Q.thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3].
nguyện ba la mật
Pranidāna-pāramitā (S)Một trong Thập Ba la mật. Quán Trung đạo, tu từ bi để hớa độ chúng sanh, nói pháp vi diệu, biện tai vô ngại, khiến chúng sanh không thối chuyển với quả Phật.
; Pranidhàna pàramità (S). The vow pàramità, the eighth of the ten pàramitàs, a bodhisattva's vow to attain bodhi and save all beings to the other shore.
; (願波羅蜜) Phạm: Praịidhàna-pàramità. Cũng gọi Bát la ni đà na ba la mật. Hạnh nguyện rộng lớn của Bồ tát trên cầu đạo Bồ đề (giác ngộ), dưới hóa độ chúng sinh, là 1 trong 10 Ba la mật. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 18 (bản 80 quyển) thì Nguyện ba la mật có mười đức:1. Thành tựu cho hết tất cả chúng sinh.2. Trang nghiêm hết tất cả thế giới.3. Cúng dường hết tất cả chư Phật.4. Thông suốt hết các pháp không chướng ngại.5. Tu hành hết các hạnh trong khắp pháp giới.6. Thân hằng trụ trong hết các kiếp vị lai.7. Trí biết hết tất cả tâm niệm.8. Giác ngộ hết lưu chuyển hoàn diệt.9. Thị hiện trong hết tất cả quốc độ.10. Chứng hết được trí tuệ của Như lai. [X. kinh Hoa nghiêm Q.3 (bản 60 quyển); kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị Bồ tát].
nguyện ba la mật bồ tát
Praṇidhāna-pāramitā (S)Tên một vị Bồ tát.
; (願波羅蜜菩薩) Nguyện ba la mật, Phạm: Praịidhàna= pàramità. Hán âm: Ba la ni đà na ba la mật đa. Hán dịch: Thệ nguyện đáo bỉ ngạn. Vị Bồ tát ngồi ở phía nam, hàng trên, trong viện Hư không tạng thuộc Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, là 1 trong 10 bồ tát Ba la mật. Cũng được thấy trong Mạn đồ la Thiên thủ Quan âm. Vị Bồ tát này dùng 5 đại nguyện làm pháp nội chứng, lấy việc hóa độ chúng sinh làm bản thệ. Mật hiệu là Thành tựu kim cương, hình Tam muội da là túi lọc nước. Hình tượng của vị tôn này có thân màu vàng lợt, mặc áo yết ma, bàn tay phải dựng đứng hướng ra phía trước, ngón vô danh và ngón út co lại; bàn tay trái dựng thẳng, ngửa ra và hơi hướng lên, ngón trỏ và ngón giữa cầm túi lọc nước, ngồi bán già trên hoa sen đỏ. [X. kinh Kim cương đính du già thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ Q.hạ; Thanh long tự nghi quĩ Q.trung].
nguyện chú
The original resolve in a previous existence which incites a man to build a pagoda, copy a sùtra etc,.
nguyện chủ
(願主) Cũng gọi Bản nguyện chủ, Phát nguyện chủ, Bản nguyện. Người phát nguyện làm cho ngôi Tam bảo hưng thịnh, hoặc xây cất chùa viện, đắp vẽ tượng Phật, ấn tống kinh sách, hoặc treo phan, thắp đèn, đốt hương, rải hoa, hoặc cúng dường trai tăng v.v... đem công đức này hồi hướng vãng sinh về nước Cực lạc. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ].
Nguyện căn
xem năm căn lành.
nguyện hành
(願行) Cũng gọi Hành nguyện. Từ gọi chung Nguyện và Hành. Nguyện là mong muốn, hành là thực hành. Cứ theo Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ quyển hạ, phần 2 và Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 1, phần đầu, giải thích, thì chí mong hướng tới nhưng cần phải thực hành mới được đầy đủ, còn thực hành thì cũng phải có chí mong muốn mới đạt được kết quả. Vì thế nguyện và hành không thể tách rời nhau, mà phải kết hợp mới thành hiệu quả. Như các vị Bồ tát phát 4 thệ nguyện rộng lớn rồi nhờ thực hành 6 độ mà thành Phật quả. [X. phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm Q.40; phẩm Phụng trì trong kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.hạ; luận Bồ đề tâm; Tán A di đà Phật kệ].
nguyện hành cụ túc
(願行具足) Nguyện và hành đầy đủ. Tức tự mình phát nguyện rồi gắng sức tu hành để thành tựu thệ nguyện ấy 1 cách trọn vẹn. Quán kinh sớ Huyền nghĩa phần (Đại 37, 250 thượng) nói: Nay trong Quán kinh này, 10 tiếng xưng niệm danh hiệu Phật tức là có 10 nguyện 10 hành đầyđủ. Khi niệm Na mô A di đà Phật, thì Na mô nghĩa là qui mệnh, cũng tức là nghĩa phát nguyện hồi hướng, đó là Nguyện; còn niệm A di đà Phật tức là Hành. Tịnh độ chân tông của Nhật bản cho rằng, vì trong pháp thể Na mô A di đà Phật có đầy đủ nguyện và hành của mình, cho nên chỉ cần 1 niệm tịnh tín, thì khi xưng niệm danh hiệu Na mô A di đà Phật liền đầy đủ nguyện và hành của đức Phật A di đà.
nguyện hạnh
To vow and perform the discipline the vow involves.
nguyện hải
The Bodhisattva's vow is deep and wide like ocean.
; (願海) Biển nguyện. Ví dụ bản nguyện của chư Phật Bồ tát rộng sâu, giống như biển cả mông mênh không bờ bến. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 3 (Đại 9, 410 thượng) nói: Nuôi lớn trong sạch, biển nguyện rộng sâu. [X. kinh Hoa nghiêm Q.6 (bản 80 quyển); Vạn thiện đồng qui tập Q.6].
Nguyện Học
願學; ?-1174|Thiền sư Việt Nam thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ 10, kế thừa Thiền sư Viên Trí.|Sư họ Nguyễn, quê ở làng Phù Cầm. Lớn lên, Sư đến tham vấn Thiền sư Viên Trí ở chùa Mật Nghiêm và ngộ đạo nơi đây.|Sư đạt nhiều thần thông như trị bệnh, cầu mưa… Vua Lí Anh Tông kính phục, để Sư ra vào cung tự do. Sau, Sư viện cớ già bệnh về trụ trì chùa Quảng Báo ở làng Chân Hộ, Như Nguyệt. Học chúng đến rất đông, không dưới 100 người.|Niên hiệu Thiên Cảm Chí Bảo thứ 8, Sư gọi chúng lại phó chúc, nói kệ rồi viên tịch.
nguyện luân
The vow-wheel, which overcomes all opposition; also the revolving of the bodhisattva's life around his vow.
; (願輪) Bánh xe nguyện. Có 2 nghĩa: 1. Thệ nguyện rộng lớn của Bồ tát kiên cố, có năng lực phá dẹp tất cả ma chướng đối địch, giống như bánh xe báu của Luân vương, nên gọi là Nguyện luân. 2. Bản thân Bồ tát, trước sau xoay chuyển trong thệ nguyện của mình, siêng năng tinh tiến không ngừng, cũng như bánh xe quay vòng, vì thế gọi là Nguyện luân.
nguyện lực
Pranihitabāla (S).
; The power of the vow.
; (願力) Cũng gọi Bản nguyện lực, Đại nguyện nghiệp lực, Túc nguyện lực. (xt. Bản Nguyện Lực).
nguyện phật
A Buddha of the vow, who passes through the eight forms of an incarnate Buddha bát tướng.
nguyện sinh
(願生) Gọi đủ: Nguyện vãng sinh. Đồng nghĩa: Dục sinh. Nguyện cầu vãng sinh về cõi Phật. Như nguyện sinh về Tịnh độ cực lạc của đức Phật A di đà ở phương Tây, hay nguyện sinh về cõi trời Đâu suất của bồ tát Di lặc... [X. kinh Quán vô lượng thọ; Vô lượng thọ kinh Ưu ba đề xá nguyên sinh kệ; Chuyển kinh hành đạo nguyện vãng sinh Tịnh độ pháp sự tán thượng, hạ].
nguyện thuyền
The Amitàbha's likened a boat which ferries all beings to his Pure Land.
; (願船) Thuyền thệ nguyện. Bản nguyện của Phật và Bồ tát thề nguyền cứu vớt hết thảy chúng sinh chìm đắm trong biển khổ sinh tử, như 48 thệ nguyện của đức Phật A di đà. Những đại nguyện này có năng lực cứu độ chúng sinh trong biển sinh tử đưa đến bến bờ Niết bàn, giống như con thuyền chở người vượt biển, cho nên được ví dụ là Nguyện thuyền.
nguyện thành tựu văn
(願成就文) Gọi tắt: Thành tựu văn. Kinh văn nói về việc đức Phật A di đà phát nguyện thành tựu Phật quả khi còn ở địa vị tu nhân. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng ghi lời nguyện thứ 11 của Ngài như sau (Đại 12, 268 thượng): Nếu tôi được thành Phật mà những trời, người trong cõi nước của tôi không trụ ở chính định cho đến khi được diệt độ, thì tôi sẽ không lên ngôi Chính giác. Cũng kinh trên, quyển hạ, thuật lại tướng thành tựu như sau (Đại 12, 272 trung): Nếu có những chúng sinh được sinh về nước kia thì tất cả đều trụ nơi chính định. Tại sao vậy? Vì trong nước Phật kia không có tà kiến và bất định.
nguyện thân
The resolve of a Buddha to be born in the Tusita heaven Đâu suất thiên for the work of saving all beings.
nguyện thực
Vow-food; to nourish the life by the vow, and thus have strength to fulfil its duties.
; (願食) Thức ăn bằng sức thệ nguyện. Một trong 5 loại thức ăn, 1 trong 9 loại thức ăn. Chư Phật Bồ tát phát thệ nguyện rộng lớn độ thoát chúng sinh, muốn chúng sinh diệt hết phiền não, chứng được Bồ đề, nên các Ngài dùng thệ nguyện này để nuôi thân, thường tu muôn hạnh, nuôi lớn tất cả mầm lành để bồi bổ thêm cho tuệ mệnh, cũng như người thế gian ăn uống để bồi dưỡng thân thể, vì thế gọi là Nguyện thực. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.19; Đại minh tam tạng pháp số Q.24].
nguyện trí
Phạn ngữ là praṇidhi-jđna, chỉ trí tuệ do nguyện lực dẫn sanh, tùy nguyện mà rõ biết, đối với các pháp không còn có sự chướng ngại. Xem thêm Ngũ trí tam-muội.
; Pranidhi-jāna (S).
; (願智) Phạm: Praịidhi-jĩàna. Nguyện biết hết tất cả trí tuệ, là 1 trong những đức chung của Phật, chỉ có bậc La hán Bất động(bậc cao nhất trong 6 loại A la hán) mới có thể phát khởi trí này. Trước hết phát nguyện thành khẩn cầu biết được cảnh giới của Phật, rồi dùng trí thế tục làm tự tính, lại nương vào Thiền thứ tư làm sở y, nhờ gia hạnh này mà phát khởi diệu trí. Luận Câu xá quyển 27 (Đại 29, 142 thượng) nói: Lấy nguyện làm đầu, diệu trí phát sinh, như nguyện đã thành, nên gọi Nguyện trí. Ngoài ra, theo luận Thành thực quyển 16 thì Nguyện trí là 1 trong 5 trí, chỉ cho cái trí không bị chướng ngại đối với các pháp. [X. luận Đại tì bà sa Q.178, 179; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.75; Câu xá luận quang kí Q.27].
nguyện tác
Resolve to be, or become, e.g. nguyện tác Phật, resolve to become Buddha.
nguyện tác phật tâm
(願作佛心) Tâm ước mong được thành Phật, cũng tức là tâm cầu đạo quả Giác ngộ. Cứ theo Vãng sinh luận chú quyển hạ thì trong kinh Vô lượng thọ, do đức Phật nói ở thành Vương xá, có ghi rằng: Đối với 3 hạng chúng sinh thượng, trung, hạ, tuy hành nghiệp có hơn kém khác nhau, nhưng đối với việc phát nguyện vãng sinh Tịnh độ thì mọi người đều phát tâm Vô thượng bồ đề. Tâm Vô thượng bồ đề này tức là tâm ước mong được thành Phật; tâm ước mong được thành Phật tức là tâm hóa độ chúng sinh; tâm hóa độ chúng sinh tức là tâm thu nhận chúng sinh sinh về nước Phật. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; kinh Quán vô lượng thọ].
nguyện tâm
(願心) Có 2 nghĩa: 1. Tâm nguyện cầu, như nguyện cầu được tỏ ngộ, hoặc nguyện vãng sinh Tịnh độ, cũng chỉ cho tâm nguyện đại bi của đức Phật A di đà được thể hiện qua lời thệ nguyện cứu độ chúng sinh trong vĩnh kiếp. 2. Tâm thứ 10 của giai vị Thập tín trong các giai vị tu hành của hàng Bồ tát, nghĩa là các thứ nguyện thanh tịnh của Bồ tát khi tu hành phát ra.
nguyện văn
(願文) Cũng gọi Kì nguyện văn, Phát nguyện văn. Bài văn phát nguyện bày tỏ ý hướng khi làm các việc phúc thiện như: Xây dựng chùa tháp, in kinh tạc tượng, thiết trai, tu pháp v.v... Phong tục này đã có rất sớm. Tại Trung quốc, vào thời Nam Bắc triều đã có các bài văn nguyện được khắc ở sau lưng hào quang hoặc ở tòa sen của các pho tượng Phật bằng đồng để cầu siêu cho người chết, hoặc cầu an cho thân tộc.Trong Quảng hoằng minh tập có nhiều bài nguyện văn như Thiên tăng hội nguyện văn của Trầm ước, Chu kinh tạng nguyện văn của Vương bao, Liêu dương sơn tự nguyện văn của Lư tư đạo đời Bắc Tề v.v... Ngoài ra, nếu trong ngày xướng đọc văn nguyện để kết nguyện thì gọi là Kết nguyện văn; nếu văn nguyện được viết bằng thể kệ tụng cho ngắn gọn, thì gọi là Chú nguyện văn. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.12].
nguyện độ
Salvation through trust in the vow, e.g. of Amitàbha.
; (願土) Chỉ cho Tịnh độ cực lạc ở phương Tây, đất nước được thành tựu do sức bản nguyện của đức Phật A di đà. Vãng sinh lễ tán (Đại 47, 445 hạ) nói: Quán tưởng cõi nước Cực lạc của đức Phật A di đà được thành tựu bởi 48 thệ nguyện trang nghiêm của Ngài. Cõi nước ấy rộng lớn bằng phẳng do toàn các thứ báu tạo nên, đẹp đẽ hơn cõi nước của các đức Phật khác.
nguyệt
Candra, soma (S). The moon.
nguyệt am thiện quả
Gettan zenka (J)Tên một vị sư.
Nguyệt Am Tông Quang
月菴宗光; J: gettan sōkō; 1326-1389;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Lâm Tế, dòng Nam Phố Thiệu Minh (nampo jōmyō), hệ phái Diệu Tâm tự (myōshin-ji).|Sư sống cùng thời với Thiền sư Bạt Ðội Ðắc Thắng (bassui tokushō), sớm xuất gia và tham học với nhiều vị Thiền sư Nhật danh tiếng đương thời như Cổ Tiên Ấn Nguyên (kosen ingen), Mộng Song Sơ Thạch (musō soseki) và Cô Phong Giác Minh (kohō kakumō). Nơi Thiền sư Ðại Trùng Tông Sầm (大蟲宗岑; daichū sáshin), Sư triệt ngộ. Sau một thời gian dài chu du đây đó, Sư khai sáng thiền viện Ðại Minh (daimyō-ji) tại Tajima, tỉnh Hyōgo và bắt đầu cuộc đời giáo hoá vinh quang của mình.|Pháp ngữ của Sư được các môn đệ biên tập và lưu lại đến ngày nay và trong số đó có rất nhiều bài thuyết pháp dành cho giới Cư sĩ. Sư giữ quan niệm rằng, cư sĩ cũng có thể tu tập thiền với những kết quả khả quan và nếu họ tu tập với tất cả tấm lòng thì có thể vượt qua cả những vị tăng ni vì trong thời của Sư, rất nhiều vị xuất gia tu hành chỉ chú trọng đến việc học suông. Sư được xem là một tấm gương sáng, là một vị Thiền sư sống với quần chúng, sống vì quần chúng ngoài tăng đoàn. Ví dụ như Sư chẳng ngần ngại gì khi thuyết pháp cho một nữ Cư sĩ, vốn theo đuổi thực hành những nghi lễ rườm rà, ôm ấp nhiều khái niệm về thiên đường, địa ngục, cõi Phật… Chẳng đi quanh co, Sư giảng ngay về Tâm và Phật tính cho vị nữ cư sĩ này: »Tâm này chính là Phật. Tâm này từ vô thuỷ vô minh đến giờ chưa từng vướng mắc Phiền não. Nếu phiền não chẳng có thì cũng chẳng có pháp nào được chứng đắc khi đạt đạo. Và nếu như Giác ngộ cũng như phiền não không thật có thì tâm này chẳng bao giờ liên quan gì đến sinh tử Luân hồi… Chẳng có Vô minh để vượt qua, chẳng có vọng niệm nào phải đoạn diệt. Vì không có thiện ác nên thiên đường địa ngục cũng không tìm đâu ra. Vì phải cũng như trái đều không có nên cũng chẳng có Tịnh độ cũng như trần cảnh.«
nguyệt am tông quang
Gettan sōkō (J)Tên một vị sư.
nguyệt bà thủ na
(月婆首那) Phạm: Upazùnya. Vị Vương tử của nước Ưu thiền ni thuộc Trung thiên trúc. Ngài có thiên tư sáng láng, chuyênnghiên cứu kinh Phật, giỏi âm vận tiếng địa phương. Vào đầu đời Đông Ngụy, ngài đến Trung quốc, trụ ở Nghiệp đô, lần lượt phiên dịch các kinh như: Kinh Tăng già tra, 4 quyển, kinh Tần bà sa la vương vấn Phật cúng dường, 1 quyển, kinh Ma ha ca diếp, 2 quyển, kinh Thắng thiên vương bát nhã, 7 quyển... Các sự tích khác về ngài không được rõ. [X. Tục cao tăng truyện Q.1; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9, 11; Khai nguyên thích giáo lục Q.6, 7].
nguyệt chi bồ tát
Xem Trúc Pháp Hộ.
nguyệt chi quốc
Indo-Scythians.
nguyệt chu hoà thượng di lục
(月舟和尚遺錄) Gọi tắt: Nguyệt chu lục. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Nguyệt chu (1618-1696) thuộc tông Tào động Nhật bản giảng nói, thị giả là Trích thủy biên chép, được thu vào Đại chính tạng tập 82. Nội dung bao gồm: Thướng đường, đối cơ, tiểu Phật sự, chân tán, kệ tụng... cuối quyển có phụ thêm 1 bài Nguyệt chu hành trạng.
nguyệt chu thọ quế
(月舟壽桂) Thiền sư Nhật bản thuộc tông Lâm tế, người Kinh đô(Kyoto), biệt hiệu Huyễn vân. Sư là người học rộng, có tài thơ văn, là nhân vật đại biểu cho thời kì cuối của nền văn học Ngũ sơn. Năm Thiên văn thứ 2 (1533) sư tịch, hưởng thọ 74 tuổi. Sư để lại ngữ lục và các tác phẩm: Huyễn vân văn tập, Thi cảo cập tục cẩm tú đoạn, Sử kí sao, 8 quyển, Hoàng thị khẩu nghĩa 24 quyển. [X. Diên bảo truyền đăng lục Q.33; Bản triều cao tăng truyện Q.44].
nguyệt chủng
(月種) Phạm: Candra-vaôza. Cũng gọi Nguyệt thống. Một họ trong dòng Sát đế lợi, cùng với Nhật chủng là 2 Vương tộc lớn thời cổ đại ở Ấn độ. Tương truyền họ là con cháu của Nguyệt thiên.
nguyệt cung
Candragomin (S).
; The moon-palace of the Nguy念7879;t thiên tử made of silver and crystal.
nguyệt cái
Candracchattra (S)Tên một vị thiênXem Nguyệt Xứng.
nguyệt cái trưởng giả
(月蓋長者) Nguyệt cái, Phạm: Somachattra. Vị Trưởng giả ở nước Tì xá li, Ấn độ, sống vào thời đức Phật tại thế. Ông từng vào phương trượng của cư sĩ Duy ma để nghe pháp môn Bất nhị; ông cũng thỉnh 3 bậc Thánh ở phương Tây là đức Phật Vô lượng thọ, bồ tát Quan thế âm và bồ tát Đại thế chí cứu trừ 6 thứ bệnh dịch trong nước, bồ tát Quan thế âm liền thị hiệntuyên thuyết thần chú Tiêu phục độc hại đà la ni.Trong Thiền lâm, tượng của trưởng giả Nguyệt cái thường được thờ ở bên phải bồ tát Quan âm trên lầu các cửa chùa. [X. kinh Thỉnh Quan thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú; phẩm Hương tích Phật kinh Duy ma; phẩm Pháp cúng dường kinh Duy ma cật sở thuyết Q.hạ; phẩm Pháp cúng dường kinh Thuyết vô cấu xưng Q.6].
nguyệt cơ
(月基) Danh tăng Trung quốc thời hiện đại,người huyện Giang tô, tỉnh Giang tô, họ Vương, hiệu là Đại bản. Năm Dân quốc 11 (1922), sư nương vào Hòa thượng Tùng thái xuất gia ở am Khánh long tại Đông đài, Giang tô. Năm Dân quốc 20 (1933), sư thụ giới Cụ túc ở chùa Định tuệ, núi Tiêu sơn, Trấn giang. Sư tốt nghiệp ở các viện Phật học Khải tuệ, Lĩnh đông và Mân nam, từng giữ các chức vụ: Tri khách chùa Định tuệ, Giáo sư viện Phật học Bạch tước ở Ngô hưng, Trụ trì các chùa Thê hà ở Nhiếp sơn tại Nam kinh, chùa Hương lâm ở Chung sơn, Ủy viên thường vụ phân hội Phật giáo Nam kinh, Ủy viên thường vụ Hội Phật giáo Trung quốc. Sau, sư sáng lập tinh xá Thê hà ở Cao hùng, Đài loan. Sư có các tác phẩm: Mật nghiêm kinh thuật yếu, Phật môn giai thoại, Trung ương thượng nhân cách mệnh sử thoại, Nam kinh Thê hà tự nạn dân thu dung sở chi hồi ức.
Nguyệt Cảm
(月感, Gekkan, 1600-1674): học Tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; húy là Minh Liễu (明了), Nguyệt Cảm (月感); tự là Viên Hải (圓海); xuất thân vùng Phản Tỉnh (坂井, Sakai), Phì Hậu (肥後, Higo, thuộc Kumamoto-ken [熊本縣]). Ông được Liễu Tôn (了尊) ở Diên Thọ Tự (延壽寺) nuôi dưỡng, cho tu học và cuối cùng kế thế trú trì chùa này. Sau ông đến đọc các kinh sách ở Tàng Kinh Các của Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji), rồi du học ở Trường Khi (長崎, Nagasaki). Năm 1652, ông phê phán học thuyết tà nghĩa Tự Tánh Duy Tâm (自性唯心) của Năng Hóa Tây Ngâm (能化西吟) ở Học Liêu của Tây Bổn Nguyện Tự (西本願寺, Nishihongan-ji). Vấn đề này làm phát triển sự đối lập giữa Tây Bổn Nguyện Tự và Hưng Chánh Tự (興正寺, Kōshō-ji), rồi theo lệnh của chính quyền Mạc Phủ thì Học Liêu bị phá bỏ và bản thân ông bị lưu đày đến địa phương Xuất Vân (出雲, Izumo). Về sau, ông chuyển sang Phái Đại Cốc (大谷派). Trước tác của ông có An Tâm Quyết Định Sao Nhu Ký (安心決定鈔糅記) 17 quyển, Tứ Thập Bát Nguyện Lược Sao (四十八願略鈔) 2 quyển, v.v.
nguyệt diện phật
The "moon-face Buddha", whose life is only a day and a night, in contrast with the sun face Buddha whose life is 1,800 years.
nguyệt diệu
(月曜) Phạm: Soma. Cũng gọi Thái âm, Nguyệt tinh, Nguyệt thiên diệu. Tức là mặt trăng, 1 trong 7 ngôi sao, 1 trong 9 vì tinh tú. Cứ theo kinh Tú diệu thì người sinh vào ngày Tú diệu sẽ rất thông minh tài trí, hình tướng đẹp đẽ, thích làm việc phúc, hay bố thí và thường hiếu thuận.Trong Mật giáo, Nguyệt diệu được coi là 1 bộ chúng thuộc Ngoại kim cương bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới. Hình tượng vị tôn này có thân màu da người, ngồi tréo chân trên bệ tròn, tay phải cầm vật hình bán nguyệt, trên đó có 1 con thỏ, tay trái để ở trước ngực. Đại nhật kinh sớ quyển 4 giải thích theo nghĩa sâu kín, cho rằng cầm mặt trăng là biểu thị hạnh bồ đề. [X. Tú diệu nghi quĩ; Bí tạng kí Q.cuối].
nguyệt dụ bồ tát thập chủng thiện pháp
(月喻菩薩十種善法) Mười pháp lành của Bồ tát được ví dụ với mặt trăng tròn sáng. Cứ theo kinh Trừ cái chướng bồ tát sở vấn quyển 7, Bồ tát đã sạch hết duyên trần, thể tính tròn sáng, ánh sáng trí tuệ chiếu soi cùng khắp, nếu các hữu tình qui ngưỡng thì khiến cho họ phát tâm bồ đề, thành tựu chủng trí; giống như mặt trăng lìa các nhiễm ô che khuất, tròn sáng rực rỡ, chiếu rọi khắp nơi, công đức không giới hạn, vì thế nên dùng mặt trăng làm thí dụ. Mười pháp lành ấy là: 1. Giai sinh hoan hỷ: Đều sinh vui mừng. Khi Bồ tát mới ra đời đã có thể làm cho các hữu tình xa lìa phiền não mà sinh vui mừng, giống như mặt trăng khi mới mọc, người thấy đều được mát mẻ, tâm sinh vui thích. 2. Chúng sở nhạo kiến: Mọi người đều muốn thấy. Khi Bồ tát mới ra đời, các căn thanh tịnh, chủng tử thuần khiết, đầy đủ mọi uy nghi khiến các hữu tình trông thấysinh tâm ưa thích; giống như mặt trăng lúc mới mọc, trong suốt tròn sáng, không ai mà không thích nhìn. 3. Thiện pháp tăng trưởng: Pháp lành thêm lớn. Bồ tát từ lúc mới phát tâm đã tinh tiến siêng tu mọi pháp lành, dần dần thêm lớn, cho đến khi ngồi ở đạo tràng, tất cả tướng tốt đẹp đều đầy đủ, thànhtựu trí đức; giống như mặt trăng mọc từ ngày mồng 1 đến ngày 15, ánh sáng tăng dần, đến ngày 15 thì tròn sáng rực rỡ, soitỏ khắp nơi. 4. Ác pháp tổn giảm: Pháp ác giảm dần.Khi Bồ tát có đủ trí xuất thế thì tất cả pháp ác mỗi ngày mỗi giảm, cho đến lúc ngồi ở đạo tràng thì sạch hết tất cả, thành tựu đoạn đức; giống như mặt trăng ngày 16 đến ngày 30, ánh sáng càng lúc càng giảm, đến đêm 30 thì bóng tối tràn ngập. 5. Hàm giai xưng tán: Thảy đều khen ngợi. Bồ tát khi mới ra đời, tất cả trời, gười, A tu la... đều khen ngợi; giống như mặt trăng lúc mới mọc, tất cả nhân dân lớn, bé trong thế gian đều ngẩng trông và khen đẹp. 6. Thể tướng thanh tịnh: Thể tướng trong sạch. Bồ tát tu hạnh xa lìa, thể tướngkhông nhiễm, thanh tịnh và hóa sinh, chẳng phải nhờ vả di thể bất tịnh của cha mẹ; giống như Nguyệt thiên tử do nghiệp thù thắng cảm được quả báo, thể tướng thanh tịnh, trong trắng không nhuốm. 7. Thừa tối thượng thừa: Ngồi xe tối thượng. Bồ tát được Tối thượng thừa, quay bánh xe pháp lớn, độ tất cả hữu tình khiến cho họ mở tỏ, vượt ra ngoài 3 cõi; giống như Nguyệt thiên tử xoay bánh xe trong sáng, chiếu rọi khắp 4 thiên hạ, khiến mọi người đều thoát khỏi bóng tối. 8. Thường tự trang nghiêm: Thường tự làm đẹp. Bồ tát tu các công đức thù thắng vi diệu thường tự trang nghiêm, không nhờ những vật trang sức bên ngoài; giống như Nguyệt thiên tử không cần tắm gội mà tự trong sáng sạch sẽ. 9. Du hí pháp lạc: Dạo chơi trong niềm vui pháp. Bồ tát thường dạo chơi trong pháp lạc thắng diệu, không nhiễm các cảnh giớidục lạc của thế gian; giống như Nguyệt thiên tử thường cảm nhận niềm vui cõi trời mà xa lìa uế nhiễm. 10. Cụ đại thần thông: Đủ thần thong lớn. Bồ tát được thần thông tự tại, vô lượng uy đức, khiến tất cả hữu tình xa lìa cấu nhiễm mê ám; giống như Nguyệt thiên tử trong sạch tròn sáng, chiếu soi hết thảy mọi vật khắp 4 thiên hạ.
nguyệt giang chính ấn thiền sư ngữ lục
(月江正印禪師語錄) Cũng gọi Nguyệt giang hòa thượng ngữ lục, Nguyệt giang Ấn thiền sư ngữ lục. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Nguyệt giang Chính ấn thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Nguyên, ngài Cư giản biên tập, được thu vào Vạn tục tạng tập 123. Nội dung ghi chép các phần: Thướng đường, tiểu tham ngữ, niêm cổ, tụng cổ, phổ thuyết, pháp ngữ, tán... của Thiền sư Chính ấn ở các chùa: Bích vân, Điện sơn, Nam thiền hưng quốc, Tuyên hóa và chùa Đạo tràng.
nguyệt hà
(月霞) Danh tăng Trung quốc, người huyện Hoàng cương, tỉnh Hồ bắc, họ Hồ, tên Hiển châu. Năm 17 tuổi, sư xuất gia ở chùa Đại chung tại Nam kinh, năm sau thụ giới Cụ túc ở núi Cửu hoa, là đệ tử nối pháp của Hòa thượng Dã khai ở chùa Thiên ninh tại Thường châu. Sư từng tham học ở các đại tông môn như: Kim sơn, Thiên ninh, Cao mân... và kết am tĩnh tu trên núi Chung nam. Sư lần lượt gần gũi các vị: Hòa thượng Liễu trần, Xích sơn Lão nhân. Mới đầu, sư học giáo nghĩa Thiên thai, sau chuyển sang học Hoa nghiêm. Đối với Pháp giới quán của ngài Đỗ thuận, chương sớ của các ngài Pháp tạng và Trừng quán, sư nghiên cứu rất sâu. Năm 41 tuổi, sư đi nhiều nơi trong và ngoài nước tuyên giảng các kinh luận Đại thừa như Hoa nghiêm, Lăng già, Đại thừa khởi tín... đặc biệt ra sức xiển dương tư tưởng Hoa nghiêm. Sư từng được mời đến tinh xá Kì hoàn ở Kim lăng để diễn giảng, đồng thời sáng lập hội Giáo dục Tăng già ở các tỉnh Giang tô, Hồ bắc. Năm Dân quốc thứ 2 (1913), sư giảng kinh ở vườn hoa Cáp đồng tại Thượng hải, năm sau, sư mở trường Đại học Hoa nghiêm tại đây. Về già, sư lập Pháp giới học uyển. Năm Dân quốc thứ 6 (1917), sư tịch ở chùa Ngọc tuyền tại Tây hồ thuộc Hàng châu, hưởng thọ 60 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Duy ma cật kinh giảng nghĩa. [X. Trung quốc Phật giáo cận đại sử hạ sách (Đông sơ)].
Nguyệt hạ
(月下): dưới trăng; bên cạnh đó, nó còn là tên gọi của Nguyệt Hạ Lão Nhân (月下老人), Nguyệt Lão Công (月老公), Nguyệt Lão (月老), là vị thần chuyên quản lý việc hôn nhân trong truyền thuyết thần thoại Trung Quốc. Căn cứ tác phẩm Phù Sanh Lục Ký (浮生六記) của Trầm Phục (沉复, 1763-1825) nhà Thanh có giải thích rằng: “Nhất thủ hoán hồng ty, nhất thủ huề trượng huyền hôn nhân bộ, đồng nhan hạc phát (一手挽紅絲、一手攜杖懸婚姻簿、童顏鶴髮, ông lão một tay kéo sợi tơ hồng, một tay cầm gậy treo sổ hôn nhân, khuôn mặt trẻ con, tóc hạc).” Trong Tục U Quái Lục (續幽怪錄), phần Định Hôn Điếm (定婚店) của Lý Phục Ngôn (李復言, ?-?) nhà Đường sáng tác có ghi rõ truyền thuyết cho rằng vào năm đầu (627) niên hiệu Trinh Quán (貞觀), dưới thời vua Đường Thái Tông (唐太宗), có một người tên Vi Cố (韋固), lúc nhỏ đã để tang cả song thân, lớn lên đi khắp nơi để cầu hôn mà chẳng nơi nào thành công cả. Một hôm nọ, chàng ta đến thành nhà Tống, tá túc trong một quán nọ. Người khách cùng ở trọ giới thiệu chàng với tiểu thư của quan Tư Mã Phan Phòng (司馬潘防), tiền nhiệm vùng Thanh Hà (清河). Sáng sớm hôm sau, Vi Cố đến trước cổng Long Hưng Tự (龍興寺) ở phía tây quán trọ, chí thành cầu nguyện cho việc hôn nhân được thành tựu. Đến tối, khi trăng lên, chợt thấy một lão già mang cái túi sau lưng, ngồi trên tầng cấp cổng chùa, đang đọc văn thư dưới ánh trăng. Thoáng nhìn qua, những dòng chữ trên quyển sách ấy rất kỳ lạ, không đọc ra được. Động tính hiếu kỳ, Vi Cố buột miệng hỏi: “Ông lão đang đọc loại sách gì vậy ? Lúc nhỏ tôi đã từng khổ công học khá nhiều, vậy mà nay chẳng đọc được dòng chữ trên sách đó, cũng chẳng phải là tiếng Phạn của Thiên Trúc (天竺), và sách này xưa nay chưa từng thấy qua.” Lão già cười bảo: “Đây chẳng phải là sách của thế gian đâu, làm sao ngươi có cơ hội xem qua được chứ ?” Vi Cố hỏi tiếp: “Thế thì đó là sách gì ?” Lão già đáp: “Sách của cõi u minh.” Vi Cố lại hỏi: “Người của cõi u minh làm sao mà gặp được tôi chứ ?” Đáp: “Các quan lại của cõi này mỗi người chủ quản mỗi công việc của nhân gian, cho nên thường lui tới nhân gian.” Lại hỏi: “Họ chủ quản việc gì ?” Đáp: “Hồ sơ hôn nhân của con người trong thiên hạ.” Nghe vậy, Vi Cố rất mừng rỡ, thưa rằng: “Tôi Vi Cố, cô thân một mình, mong sao sớm được lập gia thất, sanh con nối dõi tông đường; nhưng trong mười năm qua, đã cầu hôn ở nhiều nơi mà vẫn chưa thành công. Hôm nay, có người hẹn với tôi đến thương nghị với tiểu thư của Phan Tư Mã để cầu hôn, liệu việc có thành công chăng ?” Lão ông đáp: “Nay cơ duyên vẫn chưa đến. Vợ ngươi nay chỉ mới ba tuổi, cần phải mười bảy tuổi mới có thể lập gia thất được.” Nghe vậy, Vi Cố hoàn toàn thất vọng, nhân đó hỏi thêm rằng: “Thế thì, trong cái túi ông lão mang trên lưng có gì vậy ?” Đáp: “Tơ hồng, dùng để cột chân nam nữ thành vợ chồng. Chỉ cần một sợi tơ hồng này thôi, không ai có thể trốn thoát được.” Lại hỏi: “Vậy tôi có thể biết được người vợ tương lai của tôi thế nào không ?” Đáp: “Là con gái của bà lão bán rau họ Trần ở phía bắc quán trọ.” Lại hỏi: “Có thể gặp được không ?” Đáp: “Bà ấy thường bế con theo bán rau, ngươi chạy theo ta, ta sẽ chỉ cho thấy.” Nói xong, lão già xếp sách bỏ vào túi cất bước chạy; Vi Cố hối hả chạy theo sau. Khi đến chợ rau, họ trông thấy bà cụ mù một mắt, trên tay ẵm một đứa con gái khoảng 3 tuổi; tuy nhiên hình dạng đứa bé rát khó thấy. Lão già chỉ đưa bé nói: “Đó là vợ tương lai của ngươi.” Thoáng thấy, Vi Cố tức giận bảo: “Tôi phải giết nó !” Ông lão nói: “Trong mạng người này có quyết định thọ hưởng tước lộc, lại còn nương vào tài năng nhà ngươi mà được phong làm quan huyện, làm sao ngươi có thể giết được chứ ?” Nói xong, ông lão biến mất. Vi Cố trở về quán trọ, mài con dao nhỏ, đem giao cho người hầu, bảo: “Nếu ngươi thay ta giết đứa bé kia, ta sẽ thưởng cho một vạn tiền.” Tên nô bộc nhận lời ngay. Sáng hôm sau, tên nô bộc giả dạng đến chợ bán rau, dùng dao nhỏ đâm đứa bé và trở về báo cho Vi Cố sự việc hoàn tất. Từ đó, chàng thanh niên này tiếp tục tha phương cầu hôn khắp nơi, nhưng cũng không hề thành công. Mười bốn năm sau, nhân vì triều đình tưởng nhớ đến công đức của phụ thân Vi Cố, phong cho anh làm Tham Quân (參軍) vùng Tương Châu (相州). Sắc Sứ Vương Thái (王泰) biết chàng có tài năng, nhường cho trông coi quản lý hình ngục, đem con gái gả cho. Tiểu thư họ Vương khoảng 17 tuổi, dung mạo rất xinh đẹp, làm cho Vi Cố hài lòng khôn xiết. Chỉ có một điều là trên lông mi của nàng ta thường gắn cái kẹp hoa, ngay cả khi tắm rửa cũng không hề tháo ra. Cưới nhau được ba năm, Vi Cố cũng đã ba lần hỏi nguyên do vì sao mang kẹp hoa như vậy, phu nhân đều thương tâm rơi lệ giải thích rằng: “Thiếp chỉ là con nuôi của Sắc Sứ thôi, chẳng phải là con ruột. Xưa kia, phụ thân thiếp từng làm Huyện Lịnh của thành nhà Tống, sau đó qua đời trong khi thiếp đang còn ẵm trên tay. Mẹ cũng như anh thiếp cũng thay nhau từ trần. Nơi phía nam thành có một trang điền, chủ nhân là bà họ Trần, xót thương đem thiếp về nuôi. Quán trọ gần bên trang điền ấy, ngày nào bà cụ cũng đi bán rau kiếm sống qua ngày. Thấy thiếp đang còn nhỏ, không thể bỏ một mình ở nhà, nên thường ẵm thiếp ra chợ rau. Có hôm nọ, bỗng nhiên có tên tặc tử điên khùng, dùng dao đâm thiếp và viết thương đến nay vẫn còn. Cho nên, thiếp thường đeo kẹp hoa để che vết thương ấy. Khoảng bảy, tám năm trước, thúc thúc đến làm quan vùng phụ cận này, thiếp theo người cho đến bây giờ.” Vi Cố hỏi: “Bà họ Trần có phải mù một mắt không ?” Phu nhân đáp: “Đúng vậy !” Nhân đó, Vi Cố thuật lại toàn bộ câu chuyện năm xưa cho vợ nghe; cả hai lại càng thương yêu, kính mến nhau. Về sau, họ sanh hạ được con trai tên Vi Côn (韋鯤), Vi Cố được phong làm Thái Thú (太守) trấn thủ biên cương Nhạn Môn (雁門) và cô gái họ Vương được phong là “Thái Nguyên Quận Thái Phu Nhân (太原郡太夫人).” Từ đó, tín ngưỡng về Nguyệt Lão rất thịnh hành ở Trung Quốc, ở bất cứ địa phương nào cũng đều có đền thờ vị thần hôn nhân này. Trong Hồng Lâu Mộng (紅樓夢), hồi thứ 57 của Tào Tuyết Cần (曹雪芹, 1715?-1763?) nhà Thanh có câu: “Nhược thị Nguyệt Hạ Lão Nhân bất dụng hồng tuyến thuyên đích, tái bất năng đáo nhất xứ (若是月下老人不用紅線拴的、再不能到一處, nếu như ông già dưới trăng không dùng giây tơ buộc lại, lại không thể đến một nơi được).” Việt Nam chúng ta có từ “Ông Tơ Bà Nguyệt” cũng xuất phát từ truyền thuyết kể trên. Như trong bài văn khấn cầu hôn có câu: “Con lạy bà Nguyệt ông Tơ, con lạy Hoàng Bảy Hoàng Bơ Hoàng Mười, tuổi con nay đã cao rồi, mà không tìm được một người kết duyên, tâm tư mang nặng ưu phiền, lòng con buồn tủi triền miên tháng ngày, con còn lầm lỗi chi đây, cúi xin nguyệt lão từ đây độ trì, tơ hồng lưỡng tính xương kỳ, quế loan cầm sắt yến đi khan thường, thiên tiêu nguyệt lão rủ thương, rất công rất chính chẳng thiên bên nào…”
nguyệt kị
(月忌) Cũng gọi Tường nguyệt. Ngày giỗ được cử hành mỗi tháng một lần. [X. Sa thạch tập Q.2, phần đầu].
nguyệt liễn
(月輦) Xe của Nguyệt thiên tử. Cứ theo kinh Khởi thế quyển 10 thì nguyệt liễn được làm bằng lưu li xanh, cao 16 do tuần, rộng 8 do tuần; Nguyệt thiên tử và các thiên nữ ngồi trong xe này cùng nhau hưởng thụ công đức 5 dục lạc của cõi trời và muốn đi đâu tùy ý.
nguyệt luân
The moon's disk, the moon.
; (月輪) I. Nguyệt Luân. Bánh xe mặt trăng, tên khác của mặt trăng, vì mặt trăng tròn như bánh xe nên gọi là Nguyệt luân. Cứ theo luận Câu xá quyển 11, thì đường kính Nguyệt luân dài 50 do tuần, phía dưới của Nguyệt luân là bảo thủy châu Pha chi ca có thể lạnh cũng có thể chiếu sáng. Trong Nguyệt luân có Nguyệt cung tạo thành bởi pha lê màu bạc và màu xanh, là nơi ở của Nguyệt thiên tử cùng với vợ và thiên chúng. Mật giáo gọi Nguyệt luân là Nguyệt thiên, là 1 trong 12 vị thần trời hộ thế. Lại vì Nguyệt luân chỉ cho mặt trăng tròn nên cũng được dùng để tượng trưng cho trí đức viên mãn, tâm Phật, tâm bồ đề... [X. kinh Trường a hàm Q.22; kinh khởi thế Q.10; luận Bồ đề tâm]. II. Nguyệt Luân (?- ?). Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tếsống vào đời Thanh, người Mã long, tỉnh Vân nam, họ Dịch. Sư xuất gia và thụ giới Cụ túc năm 18 tuổi, tham học Thiền sư Chân viên Nguyệt đàm, hơn 1 năm sau sư được ấn khả. Sau đó, sư lại đi tham vấn các bậc tôn túc khắpmiền Nam, Bắc. Sư ở Yên kinh (Bắc bình) 26 năm, rất đông người từ khắp nơi đến tham học, danh tiếng của sư được lan truyền đến triều đình. Vua rất quí trọng và 2 lần ban cho sư áo đỏ và Đại tạng kinh. Cuối đời, sư trở về tỉnh Vân nam, trụ trì 2 ngôi chùa nổi tiếng là Hoa đình và Hoa nghiêm, chấn hưng tông phong, có ngữ lục lưu hành ở đời. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư vân)].
nguyệt luân quán
(月輪觀) Cũng gọi Tịnh bồ đề tâm quán. Pháp quán tưởng tâm của mình như mặt trăng tròn sáng. Tức pháp quán chữ (a). Cứ theo luận Bồ đề tâm thì trăng tròn là thể viên minh giống như tâm bồ đề, cho nên ví dụ tâm mình như vầng trăng. Người tu hành trong tâm quán tưởng vầng trăng sáng, có thể thấy tâm mình vốn vắng lặng trong sáng, cũng như ánh trăng chiếu khắp hư không mà không hề phân biệt. Hành giả lúc mới bắt đầu tu quán, nếu trong tâm không quán tưởng được thì có thể vẽ 1 vòng tròn, đường kính 1 khuỷu tay, trong vòngtròn có hoa sen trắng 8 cánh (hoặc vẽ vầng trăng trên hoa sen), trên hoa sen viết 1 chữ (a) màu vàng. Hành giả ngồi kết già, nhìn thẳng vào hình vẽ, 2 tay kết ấn, quán tưởng tâm mình cũng như mặt trăng. Đây là pháp quán cơ bản trong các pháp quán của Mật giáo. [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung; Kim cương đính liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ; kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng đại giáo vương Q.thượng; kinh Tâm địa quán Q.8].
nguyệt luân quán, nguyệt luân tam muội
The moon contemplation (or samàdhi) in regard to its sixteen nights of waxing to the full, and the application of this contemplation to the development of bodhi within, especially of the sixteen kinds of bodhisattva mind of the lotus and of the human heart.
nguyệt lâm sư quán
Gatsurin Shikan (J)Tên một vị sư.
Nguyệt Lâm Đạo Kiểu
(月林道皎, Gatsurin Dōkō, 1293-1351): vị Thiền Tăng của Phái Dương Kì (楊岐) và Tùng Nguyên (松源) thuộc Lâm Tế Tông, húy là Diệu Hiểu (妙曉), Đạo Kiểu (道皎); đạo hiệu là Nguyệt Lâm (月林), thụy hiệu là Phổ Quang Đại Tràng Quốc Sư (普光大幢國師); hiệu là Độc Bộ Tẩu (獨歩叟), Viên Minh Tẩu (圓明叟), Phật Từ Tri Giám Đại Sư (佛慈知鑑大師); xuất thân vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro, thuộc Kyoto); con của Trung Nạp Ngôn Cửu Ngã Cụ Phòng (中納言久我具房). Lúc còn tuổi thơ, ông đã theo mẹ đến Bình Truyền Tự (平泉寺) làm thị giả và học về giáo học, đến năm 16 tuổi thì xuống tóc xuất gia, làm môn đệ của Cao Phong Hiển Nhật (高峰顯日) ở Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji). Sau khi Thầy mình qua đời, ông đến tham bái Tông Phong Diệu Siêu (宗峰妙超) ở Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji). Sau đó ông đã quy y cho Hoa Viên Thượng Hoàng (花園上皇). Vào mùa xuân năm thứ 2 (1322) niên hiệu Nguyên Hanh (元亨), ông sang nhà Nguyên cầu pháp, đến tham bái Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂) và kế thừa dòng pháp của vị này. Vua Văn Tông (文宗) nhà Nguyên có ban cho ông hiệu là Phật Từ Tri Giám Đại Sư. Đến năm 1330, ông quay trở về nước. Ông nhận lời quy y cho vị Lãnh Chúa vùng Mai Tân (梅津, Umezu) là Thanh Cảnh (清景), cải đổi ngôi chùa của Thiên Thai Tông thành Trường Phước Thiền Tự (長福禪寺), và làm vị Tổ khai sơn chùa này. Đến ngày 25 tháng 2 năm thứ 2 niên hiệu Quán Ứng (觀應), ông thị tịch, hưởng thọ 59 tuổi đời và 44 hạ lạp. Ông được ban thụy hiệu là Phổ Quang Đại Tràng Quốc Sư. Bộ Nguyệt Lâm Kiểu Thiền Sư Ngữ Lục (月林皎禪師語錄), 2 quyển, hiện vẫn còn.
nguyệt mi
New moon eyebrows, i.e. arched like the Buddha's.
Nguyệt Minh
(月明, Gatsumyō, 1386-1440): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa thời đại Thất Đinh; húy là Nguyệt Chu (月周), Nguyệt Minh (月明), tự là Cụ Giác (具覺). Năm 1403, ông xuất gia thọ giới với Nhật Tể (日霽) ở Diệu Bổn Tự (妙本寺); rồi đến năm 1405 thì làm trú trì đời thứ 5 của chùa, và năm 1413 thì được phong chức Tăng Chánh. Ông chủ trương giáo nghĩa Bổn Tích Nhất Trí, rồi cọng thêm việc chúng môn đồ phê phán ông trong việc kết thân với hàng công khanh để tạo thêm thế lực cho chùa, và đây cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho sau này môn lưu của Nhật Long (日隆) bị phân phái. Hơn nữa, môn đồ của Tỷ Duệ Sơn cũng phản bác về việc ông được thăng chức Tăng Chánh, nên các đường tháp của chùa đã bị tàn phá tan tành. Trước tác của ông có Hộ Quốc Lợi Sanh Luận (護國利生論) 1 quyển, Chánh Tượng Mạt Tam Thời Chi Hành Tướng (正像末法之行相) 1 quyển, Tái Hưng Diệu Bổn Tự Đại Chúng Trung Thư (再興妙本寺大眾中書) 1 quyển.
nguyệt minh
Candraprabhā (S)Nguyệt QuangTên một vị sư.
nguyệt phận
Candrabhāgā (S)Tên một vị thiên.
nguyệt quan
(月官) Phạm: Chandragomin. Tạng:Btsun-pa. Danh tăng kiêm học giả phái Du già hành ở Ấn độ, sống vào khoảng thế kỉ VII. Sư là con của học giả Vệ thế ca (Phạm: Vizewaka) xuất thân từ vương tộc Bengal ở Đông Ấn độ. Ở tuổi 20, sư đã có trình độ học vấn sâu rộng, từng theo 1 vị A xà lê Đại thừa thụ tam qui ngũ giới, lại theo ngài An tuệ (Phạm: Sthiramati) học Duy thức, theo A xà lê A thù ca (Phạm: Azoka) nhận mật chỉ. Sư kết hôn với con gái của vua Ngõa nam đắc lạp (Phạm: Varendra) tên là Đala (Phạm: Tàrà), nhưng vì hôn thê trùng tên với thần nữ Đa la nên sư không chịu, bèn quyết chí xuất gia. Nhà vua nổi giận, sai quan Hình lại ném sư xuống sông Hằng. Lúc ấy, có vị sư xuất hiện, khuyên sư nên cầu nguyện thần Đa la, nhờ đó, sư đã được 1 ông chài cứu sống. Về sau, sư thông suốt các kinh sách như: Ba nhĩ ni (Phạm: Pàịini), Thánh diệu cát tường chân thực danh kinh Phạm: Maĩjuzrì-nàma-saôgìti), Nhất bách ngũ thập tán Phật tụng Phạm: Zatapaĩcazatikà-nàma-stotra) của ngài Mã minh. Sau, sư cảm nhận lời dạy của bồ tát Quan thế âm (Phạm: Bhaỉỉ= àraka-lokezvara) nên trứ tác nhiều sách về Đại thừa như: Nguyệt đăng chú (Phạm: Candrapradìpa-ỉìkà), Nhập tam thân (Phạm:Kàyatrayavatàra) và rất nhiều tác phẩm khác. Bấy giờ, trong phái Đại thừa Trung quán cụ duyên có ngài Nguyệt xứng và ngài Phổ hiền cùng soạn sách, sư Nguyệt quan xem qua liền ném những sách của mình soạn xuống giếng. Bồ tát Quan thế âm hiện ra bảo rằng: Các trứ tác của ông phát xuất từ thâm tâm rất lợi ích cho hữu tình. Sư tuân theo lời dạy của Bồ tát bèn xuống giếng lấy sách của mình lên và nhờ uống nước giếng mà tâm trí sáng suốt, đến tranh luận với ngài Nguyệt xứng và bác bỏ luận thuyết của ngài. Sư suốt đời tận lực hộ trì giáo pháp. Về già, sư lên núi Bổ đà lạc ca và sau tịch ở đó. Tác phẩm của sư rất nhiều, tương truyền lớn nhỏ tất cả có tới 432 bộ. [X. History of Buddhism by Bu-ston (E. Obermiller); Đông bắc Đế quốc đại học Tây tạng Đại tạng kinh tổng mục lục].
Nguyệt Quang
月光; C: yuèguāng; J: gakkō;|Danh hiệu của một vị Bồ Tát.
nguyệt quang
Candra-Prabhā (S)Thực Lạc1- Nguyệt Quang đồng tử, con một trưởng giả tên Nhựt Thân khuyên cha không nên mưu hại Phật. 2- Là tên Nguyệt Quang Phật, một vị cổ Phật. 3- Là tên một đại thần đa mưu cản vua A xà Thế không cho vua hại mẹ. 4- Là tên của một vị Bồ tát trong tám vạn Bồ tát du hành. 5- Là tên Nguyệt Quang Bồ tát, một vị Bồ tát hầu bên mặt Dược Sư Phật Xem Ba tư nặc vương. Xem Nguyệt Minh
; Candraprabha (S). Moon-light. One of the three honoured ones in the Vajradhàtu, and in Manjusrì court of the Garbhadhàtu, known as Thanh lương Kim cương.
nguyệt quang bồ tát
Xem Nguyệt Quang. Xem Nguyệt Quang.
; (月光菩薩) Nguyệt quang, Phạm: Candra-prabha. I. Nguyệt Quang Bồ Tát. Tên của đức Phật khi tu hạnh Bồ tát ở quá khứ hiện thân Quốc vương. (xt. Nguyệt Quang Vương). II. Nguyệt Quang Bồ Tát. Cũng gọi Nguyệt tịnh bồ tát, Nguyệt quang biến chiếu bồ tát. Vị Bồ tát thị giả của đức Dược sư Như lai. Cứ theo kinh Dược sư Như lai bản nguyện, thì vị Bồ tát này cùng với bồ tát Nhật quang (Phạm: Sùryaprabha) đều là bậc Thượng thủ trong vô lượng vô số Bồ tát sẽ lần lượt được bổ xứ thành Phật. Ngoài ra, theo Tu Dược sư nghi quĩ bố đàn pháp, bồ tát Nguyệt quang có thân màu trắng, ngồi trên tòa hình con ngỗng, tay cầm mặt trăng. [X. kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyện công đức; Dược sư Như lai quán hành nghi quĩ pháp]. III. Nguyệt Quang Bồ Tát. Vị Bồ tát trong viện Văn thù trên Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Là 1 trong 16 vị tôn của Hiền kiếp thuộc Mạn đồ la Kim cương giới. -Trong Mạn đồ la Kim cương giới, bồ tát Nguyệt quang ngồi ở mé tây của viện thứ 2 trong hội Vi tế. Thân hình màu trắng, tay trái nắm lại để ở ngang hông, tay phải cầm vầng trăng sáng hoặc cầm hoa sen, trên hoa có nửa vầng trăng. Mật hiệu là Thanh lương kim cương, hình Tam muội da là hình bán nguyệt. -Trong Mạn đồ la Thai tạng giới, vị Bồ tát này ngồi ở phía bên phải bồ tát Diệu cát tường, khoảng giữa bồ tát Diệu âm và bồ tát Vô cấu quang trong viện Văn thù. Tay phải nắm lại, cầm hoa sen để ở ngang hông, trên hoa sen có nửa vành trăng; tay trái cầm hoa sen búp để ở ngang ngực, ngồi kết già trên đài sen. Mật hiệu là Uy đức kim cương, hình Tam muội da là hoa sen xanh, trên hoa đặt hình bán nguyệt. [X. kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp đại thừa hiện chứng đại giáo vương Q.hạ; Hiền kiếp thập lục tôn; A xà lê sở truyền Mạn đồ la trong Đại nhật kinh sớ Q.6; Kim cương giới mạn đồ la sao Q.2; Bí tạng kí; Kim cương giới thất tập Q.hạ; Thai tạng giới thất thập Q.trung; Chư thuyết bất đồng kí Q.5].
nguyệt quang phật
Xem Nguyệt Quang.
nguyệt quang thái tử
(月光太子) Tiền thân của đức Phật ở đời quá khứ khi Ngài còn tu hạnh Bồ tát. Thái tử Nguyệt quang là con 1 vị quốc vương, một hôm đang đi dạo chơi bên ngoài, gặp 1 người bệnh hủi cầu xin Thái tử cứu chữa. Nguyệt quang hỏi các thầy thuốc, họ cho biết chỉ có máu tủy của 1 người từ nhỏ đến lớn chưa từng nóng giận thì mới chữa được bệnh này. Thái tử liền cắt da lấy máu cho uống và chặt xương lấy tủy thoa lên than người bệnh. [X. luận Đại trí độ Q.12; Kinh luật dị tướng Q.31].
nguyệt quang vương
(月光王) Nguyệt quang, Phạm: Candra-prabha. Hán âm: Chiến đạt la bát lạt bà, Chiên đà bà la tì. I. Nguyệt Quang Vương. Cũng gọi Nguyệt quang bồ tát. Vị vua ở Ấn độ thời cổ đại, tiền thân của đức Phật ở quá khứ khi Ngài còn tu hạnh Bồ tát. Vị vua này có uy đức lớn, đã bố thí đầu của mình cho Bà la môn Lao độ sai, mà thành tựu viên mãn hạnh Bố thí ba la mật. [X. kinh Hiền ngu Q.6; kinh Nguyệt quang bồ tát; kinh Đại bảo tích Q.80]. II. Nguyệt Quang Vương. Tên khác của vua Ba tư nặc nước Xá vệ ở Ấn độ vào thời đức Phật tại thế. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật quyển thượng (Đại 8, 825 trung) nói: Vua Ba tư nặc của nước Xá vệ tên là Nguyệt quang.
nguyệt quang đại thần
(月光大臣) Vị đại thần của vua Tần bà sa la nước Ma yết đà ở Ấn độ đời xưa. Ông là người thông minh đa trí, khi Thái tử A xà thế đối xử với vua cha 1 cách bạo ác, ông đã cùng với lương y Kì bà hết sức can gián. [X. kinh Quán vô lượng thọ].
nguyệt quang đồng tử
(月光童子) Nguyệt quang, Phạm: Candra-prabha. Cũng gọi Nguyệt minh đồng tử, Nguyệt quang bồ tát, Nguyệt quang nhi. Con của trưởng giả Thân nhật ở thành Vương xá vào thời đại đức Phật tại thế. Cứ theo kinh Nguyệt quang đồng tử, thì trưởng giả Thân nhật nghe lời của Lục sư ngoại đạo: Bất lan ca diếp đào hầm đốt lửa trong đó để hãm hại đức Phật, đồng tử Nguyệt quang biết chuyện liền can ngăn nhưng ông ta không nghe. Khi đức Phật đến, hầm lửa bỗng biến thành ao tắm; Thân nhật sợ hãi, xin sám hối và qui y Phật, được Phật mở tỏ cho liền chứng pháp Nhẫn bất thoái chuyển. Ngoài ra, theo kinh Thân nhật, sau khi đức Phật nhập diệt khoảng 1.000 năm, đồng tử Nguyệt quang sinh vào nước Tần (Trung quốc) làm Thánh quân, giữ gìn kinh pháp, giáo hóa nhân dân làm cho đạo pháp hưng thịnh. [X. kinh Đức hộ trưởng giả Q.hạ; kinh Bảo vũ Q.1; kinh Nguyệt đăng tam muội; kinh Nguyệt minh bồ tát].
Nguyệt Quang đồng tử kinh
月光童子經; C: yuèguāngtóngzǐjīng; J: gakkō-dōshikyō;|1 quyển. Theo truyền thống, thường gán cho Pháp Hộ (s: dharmapāla), nhưng theo những học giả hiện đại thì đó là một kinh văn nguỵ tác.
nguyệt thiên
Candra (S), Candra-deva (S).
; Candradeva, or Somadeva (S). The ruler of the moon. Nguyệt thiên tử, the male regent of the moon named Ti Cát tường, one of the metamorphoses of Bodhisattva Mahàsthàmapràpta Đại thế Chí.
; (月天) Phạm: Candra. Hán âm: Chiên đà la, Chiến đạt la, Chiến nại la. Cũng gọi Nguyệt thiên tử, Bảo cát tường thiên tử. Vị tôn trong viện Ngoại kim cương bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới, là 1 trong 12 vị trời, 1 trong 20 vị trời thuộc Ngoại bộ của Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Vị tôn này vốn là mặt trăng được Bà la môn giáo Ấn độ thần cách hóa, gọi là Nguyệt thiên. Xưa gọi là Tô ma (Phạm: Soma), Tô ma đề bà (Phạm: Soma-deva), Tinh tú vương (Phạm:Nakwatra-nàtha), Sáng dạ Phạm:Nizà-kara), Thái bạch quang (Phạm: Zìtànzu)...Trong Mật giáo, Nguyệt thiên thuộc Thiên bộ hộ trì Phật pháp, được an vị ở bên cạnh Câu ma la thiên về phía tây trong viện Ngoại kim cương bộ của Thai tạng giới. Về hình tượng thì Nguyệt thiên có thân màu da người, ngồi trên 3 con ngỗng, tay trái để ở ngang ngực, ngón giữa, ngón vô danh và ngón út co lại, tay phải cầm gậy, đầu gậy có hình nửa mặt trăng. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa; kinh Đại lâu thán Q.6; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.5; Thập nhị thiên cúng nghi quĩ; Bí tạng kí]. (xt. Nguyệt Liễn).
nguyệt thượng bồ tát
Candrottara (S)Tên một vị Bồ tát.
nguyệt thượng nữ
(月上女) Con gái của trưởng giả Tì ma la cật ở thành Vương xá tại Ấn độ thủa xưa. Nguyệt thượng nữ có nhan sắc xinh đẹp, được nhiều người trong thành đến cầu hôn. Nguyệt thượng liền hẹn 7 ngày sau sẽ chọn. Đến kì hạn, Nguyệt thượng bay lên hư không nói kệ, mọi người nghe xong liền dứt tâm tham dục. Sau đó, Nguyệt thượng nữ gặp ngài Xá lợi phất và cùng theo Ngài đến chỗ đức Phật. Tại đây, Nguyệt thượng nữ luận bàn thâm nghĩa với ngài Xá lợi phất và ngài Văn thù sư lợi, hiện nhiều thần biến kì lạ, đồng thời chuyển thân nữ thành thân nam rồi qui y Phật và xuất gia. [X. kinh Nguyệt thượng nữ Q.thượng].
nguyệt thượng nữ kinh
Candrottara darika pariccha (S).
; (月上女經) Phạm: Candrottàra-dàrikàparipfcchà. Kinh, 2 quyển, do ngài Xà na quyệt đa dịch vào năm Khai hoàng 11 (591) đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này thuật lại việc Nguyệt thượng nữ, con gái của trưởng giả Tì ma la cật ở thành Tì da li được gặp ngài Xá lợi phất, được đến chỗ đức Phật, gặp bồ tát Văn thù sư lợi... rồi hiện thần biến, chuyển thân nữ thành thân nam, qui y Phật và xuất gia v.v... [X. kinh Nguyệt thượng nữ]. (xt. Nguyệt Thượng Nữ).
nguyệt thị
(月氏) Kuwana. Cũng gọi Nguyệt chi, Nguyệt để, Nhục chi. Một chủng tộc sinh sống ở khoảng thế kỉ III trước Tây lịch đến thế kỉ V Tây lịch ở các vùng tây Bắc Trung quốc, Tây vực, giữa Trung quốc và Ấn độ, tây bắc Ấn độ, lưu vực sông Hằng, lưu vực Ngũ hà v.v... Giữa các học giả có nhiều thuyết về chủng tộc Nguyệt thị, hoặc cho rằng họ thuộc chủng tộc Tây tạng, hoặc chủng tộc Mông cổ, chủng tộc Đột quyết, Ấn độ Tây đề á (Indo-cythians), Để khương... Tập tục của chủng tộc này giống với tập tục của tộc Hung nô. Theo Sử kí và Hán thư thì tộc Nguyệt thị sống ở khoảng giữa Đôn hoàng và núi Kì liên thuộc vùng Tây bắc Trung quốc. Vào đầu đời Hán, vì tránh Hung nô ở phía bắc, nên họdời sang phía tây, sau cướp lấy đất của tộc Tắc (Saka) và Ô tôn, hàng phục Đại hạ (Bactria), chiếm cứ 1 vùng từ song Qui (nay là sông A mẫu) trở về phía bắc, gọi là Đại nguyệt thị. Số còn lưu lại ở Đôn hoàng thì chiếm cứ vùng Nam sơn (tức núi Kì liên), gọi là Tiểu nguyệt thị, cũng gọi Hoàng trung nguyệt thị (Hoàng trung tức vùng phụ cận Tây ninh ngày nay), Hoàng trung nguyệt thị hồ. Sau khi định cư, Đại nguyệt thị đóng đô ở thành Lam tử (thuộc Bắc bộ A phú hãn hiện nay) về phía nam sông Qui, đem vùng đất của Đại hạ chia cho Ngũ hấp hầu (năm chư hầu)trấn giữ: Hưu mật hấp hầu cai quản thành Hòa mặc (Sarik-chaupan), Song mi hấp hầu cai quản thành Song mi (Mastoj), Quí sương hấp hầu cai quản thành Hộ táo (tây bộ Wakhan), Hật đốn hấp hầu cai quản thành Bạc mao (Badaxshan) và Đô mật (Cao phụ) hấp hầu cai quản thành Cao phụ (Jamgan). Ngũ hấp hầu đều trực thuộc Đại nguyệt thị. Hơn 100 năm sau, Quí sương Hấp hầu là Khưu tựu khước (Kujura adphises I) đánh dẹp hết 4 Hấp hầu kia, tự lập làm vua, đặt quốc hiệu là Quí sương (Kushàn) thay cho địa vị của Đại nguyệt thị, rồi chinh phục An tức, thôn tính vùng đất Cao phụ (Kabul, thủ đô của nước Afghanistan ngày nay), đồng thời diệt Bộc đạt, Kế tân (Dardisthan), chiếm vùng đất tỉnh Bàng già phổ (Panjab) của Ấn độ... Từ đó về sau, Đại nguyệt thị lẽ ra phải được gọi là Vương triều Quí sương, nhưng Trung quốc vẫn cứ gọi là Đại nguyệt thị. Sau khi Khưu tựu khước mất, con là Diêm cao trân Wema Kadphises II) lên thay, lại đánh chiếm lấy nước Kiện đà la ở Bắc Ấn độ, để tướng quân lại trấn giữ, đó là thời kì toàn thịnh của Đại nguyệt thị. Thời kì Diêm cao trân tại vị, ông ra sức phát triển giao thông đối ngoại, đặc biệt là trao đổi sứ thần với La mã, dùng vàng đúc tiền để mở mang kinh tế. Cũng nhờ sự dung hợp văn hóa Đông Tây mà nền mĩ thuật Phật giáo kiểu Hi lạp được hình thành, tức là mĩ thuật Kiện đà la mà đối với nền mĩ thuật Phật, giáo châu Á nói chung, đã có ảnh hưởng rất sâu đậm. Đến thời vua Ca nị sắc ca thì biên cương lại được mở rộng thêm, thế lực của Đại nguyệt thị vượt qua dãy núi Thông lãnh sang phía đông, đến sông Qui ở phía Bắc, An tức ở phía tây và phía nam thì lưu vực Ngũ hà cho đến dãy núi Tần đà sơn (Vindhya). Vua đóng đô ở thành phố Bố lộ sa bố la (Phạm: Puruwapura), hết sức bảo hộ Phật pháp, xây cất chùa tháp, đồng thời, triệu thỉnh 500 vị A la hán đến nước Ca thấp di la để biên soạn luận Đại tì bà sa. Trong lịch sử Phật giáo Ấn độ, lòng chân thành kính tin và sự cống hiến của vua Ca nị sắc ca đối với Phật giáo chỉ đứng sau vua A dục (Phạm: Azoka) mà thôi. Các bậc Đại luận sư lừng danh như: Long thụ, Mã minh... đều sinh vào thời đại vua Ca nị sắc ca. Khoảng thế kỉ III trước Tây lịch, vua A dục của Ấn độ từng phái các vị Truyền giáo tăng sứ đến nước Đại hạ hoằng pháp, mà Đại hạ đương thời là căn cứ địa của Đại nguyệt thị, cho nên đương nhiên là giữa Đại nguyệt thị và Phật giáo đã có sự tiếp xúc. Lãnh thổ của Đại nguyệt thị lúc đó đã rất rộng: Từ Bắc Ấn độ cho đến phía nam dãy núi Hưng đô khố thập (Hindukush), vì thế, Đại nguyệt thị chẳng những chỉ trở thành môi giới của việc giao lưu văn hóa giữa Trung quốc và Ấn độ mà đối với việc truyền bá Phật pháp sang phía đông cũng có ảnh hưởng rất to lớn. Cứ theo Lí hoặc luận của Mâu tử và Hậu Hán thư quyển 42, thì trong năm Vĩnh bình (58-78) vua Minh đế nhà Hậu Hán từng sai các ông Thái hâm, Tần cảnh v.v... đến Đại nguyệt thị sao chép kinh Phật mang về Lạc dương. Các bậc Đại đức Tam tạng nổi tiếng như: Chi lâu ca sấm, Chi diệu, Chi cương lương tiếp v.v... của Nguyệt thị cũng nối tiếp nhau đến Trung quốc truyền pháp. Còn những vị mang họ Chi như: Chi lượng, Chi khiêm, Trúc pháp hộ, Chi pháp độ, Chi đạo căn, Chi thi luân... đại khái tổ tiên của các vị đều thuộc chủng tộc Nguyệt thị, trong đó, ngài Trúc pháp hộ vốn có tên là Nguyệt chi bồ tát, là người sống ở Đôn hoàng, con cháu đời sau của Tiểu nguyệt thị ở vùng Nam sơn còn sót lại. Ngoài ra, Đại đường tây vực kí của ngài Huyền trang và Vãng ngũ Thiên trúc quốc truyện của ngài Tuệ siêu người Triều tiên, thì các ngài Diệu âm, Pháp thắng, Đàm ma nan đề, Phù đà bạt ma, Di đà sơn, Đạt ma mạt ma... đều đã xuất thân từ Đại nguyệt thị. Sau khi vua Ca nị sắc ca băng hà, các vua: Ngõa tây sắc ca (Phạm:Vasiwka), Phất duy sắc ca (Phạm:Huviwka), Ngõa tô đề bà (Phạm:Vàsudeva).... lần lượt lên nối ngôi. Đến thời vua Ngõa tô đề bà, vương triều Tát san (Sàsan) của Ba tư và vương triều Cấp đa (Gupta) ở Trung Ấn độ kế tiếp nổi lên, còn ở phía bắc lại bị Hung nô xâm nhập, cho nên thế nước suy dần và đến khoảng thế kỉ thứ V (470-480) thì diệt vong. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại uyển liệt truyện thứ 63 trong Sử kí; Tây vực truyện 78 trong Hậu Hán thư; Đại nguyệt thị quốc chi Phật giáo (Vũ khê Liễu đế); Trung quốc biên cương dân tộc sử (Lưu nghĩa đường); Tây vực sử thượng chi tân nghiên cứu (Bạch điểu Khố cát); Đông dương học báo 2, phần 1].
Nguyệt Thị hay Nguyệt Chi
(月氏・月支, Gesshi): tên gọi một dân tộc thuộc hệ Turco và Iran sống ở vùng trung ương châu Á vào thời đại Tần Hán. Vào đầu thời nhà Tiền Hán, dân tộc này bị bọn Hung Nô đuổi chạy từ địa phương Đôn Hoàng (敦煌) thuộc Tỉnh Cam Túc (甘肅省) đến địa phương Iri; rồi đến khoảng thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, họ lại bị Ô Tôn (烏孫) đuổi lần nữa và dời đến bên bờ sông Amur; về sau dân tộc này đã chinh phục nhà Đại Hạ và kiến lập nên một quốc gia lớn mạnh. Những người mà bị bọn Hung Nô đuổi chạy về phía Tây thì gọi là Đại Nguyệt Thị, còn những người lưu lại ở vùng đất cũ thì gọi là Tiểu Nguyệt Thị.
nguyệt thứ giảng
Monthly preaching.
nguyệt thử
The moon rat, one of the two rats, black and white, that gnaw the cord of life, i.e. night and day.
nguyệt tinh
Xem Tô ma.
nguyệt tinh ma ni
The pearl or jewel in the fortieth hand of the "one thousand hand" Quán Âm, towards which worship is paid in case of fevers; the hand is called Nguyệt tinh thủ.
; (月精摩尼) Phạm: Candra-bhàsa-mani. Cũng gọi Nguyệt quang ma ni, Nguyệt ái châu, Nguyệt tinh. Một thứ ngọc quí, vật cầm ở tay bên trái trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm, có năng lực tiêu trừ các chứng bệnh nhiệt độc hại, làm cho an lành mát mẻ. Tay cầm ngọc này được gọi là Nguyệt tinh thủ, hoặc Nguyệt ma ni thủ. [X. Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni; kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp].
nguyệt tràng tướng tam muội
Candra-dhvaja-ketu-samādhi (S).
nguyệt trù
Chandracarma (S)Tên một vị sư.
Nguyệt tạng kinh
月藏經; C: yuèzàng jīng; J: getsuzōkyō;|Xem Đại tập Nguyệt tạng kinh (大集月藏經).
nguyệt tạng phần
(月藏分) Cũng gọi Đại phương đẳng đại tập nguyệt tạng kinh. Kinh, 11 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 13. Nội dung kinh này do thu tập các bộ kinh Đại phương đẳng đại tập mà thành, được chia làm 17 phần, Nguyệt tạng phần là phần thứ 15, gồm có 10 phẩm. (xt. Đại Tập Kinh).
Nguyệt Tịnh
(月淨): tức Nguyệt Quang (s: Candraprabha, 月光), Nguyệt Quang Biến Chiếu (月光遍照), là một trong hai vị Bồ Tát thường theo hầu bên cạnh đức Phật Dược Sư. Theo Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh (藥師瑠璃光如來本願功德經), vị Bồ Tát này cùng với Bồ Tát Nhật Quang (s: Sūryaprabha, 日光) là bậc thượng thủ trong vô lượng vô số Bồ Tát. Lại theo Tu Dược Sư Nghi Quỹ Bố Đàn Pháp (修藥師儀軌布壇法), Bồ Tát Nguyệt Quang có thân màu trắng, ngồi ngự trên con ngỗng trắng, tay cầm vòng tròn mặt trăng.
nguyệt xưng
(月稱) Phạm: Candrakìrti. Tạng: Zla-ba grags-pa, hoặc Zla-grags. Cao tăng Ấn độ sống vào khoảng thế kỉ VII, thuộc phái Trung quán cụ duyên, dòng dõi Bà la môn ở vùng Sa mãn đa (Phạm: Samanta), Nam Ấn độ. Sư y vào ngài Ca ma la bồ đề (Phạm: Kamalabuddhi) xuất gia, học tập tông nghĩa và các bộ luận của bồ tát Long thụ. Sư cũng học Đát đặc la (Phạm: Tantra, mật chú), đạt được bí thuật. Sau khi học xong, sư trụ trì chùa Na lan đà (Phạm: Nàlanda) chuyên biên tập và chú thích các sách. Sư chủ yếu xiển dương tông phong Thiền phái Trung quán cụ duyên của ngài Phật hộ và có lần sư đã tranh luận về tông nghĩa với ngài Nguyệt quan thuộc phái Du già. Về cuối đời, sư đại phá ngoại đạo ở Khang ca na (Phạm: Koíkaịa) tại Nam Ấn độ, rồi vào núi Mạn nô hãn cát (Phạm: Manubhaíga) tu luyên chân ngôn, sau sư tịch ở đó. Sư để lại các tác phẩm: Trung luận chú (tức Căn bản Trung luận chú minh giải), Tứ bách luận chú(tức Bồ tát du già sư tứ bách luận quảng chú), Nhất thiết Như lai kim cương tam nghiệp tối thượng bí mật đại giáo vương kinh chú (tức Tác quang minh quảng thích), Nhập trung quán (Phạm: Madhya= makàvatàra), Lục chi du già chú, Kim cương tát đỏa thành tựu pháp, Nhập trung quán tuệ... [X. Đông bắc Đế quốc đại học Tây tạng đại tạng kinh tổng mục lục; Bát nhã tư tưởng sử; The Buddhism of Tibet by L.A. Waddell; History of Buddhism by E. Obermiller; The Conception of Buddhist Nirvàịa by Th. Scherbatsky; Aspects of Mahàyàna Buddhism and its Relation to Hìnayàna by N. Dutt].
Nguyệt Xứng
月稱; S: candrakīrti; tk. 6/7;|Ðược xem là Luận sư quan trọng nhất trong tông Trung quán sau Long Thụ. Sư quê ở Nam Ấn, xuất gia từ lúc nhỏ tuổi. Nhân lúc đọc trứ tác của Long Thụ, Sư bỗng hiểu ý. Sau, Sư trở thành viện trưởng của Na-lan-đà và viết nhiều bài luận chú về các tác phẩm của Long Thụ. Các tác phẩm quan trọng của Sư là Minh cú luận (明句論; nguyên bản Phạn ngữ), Nhập trung quán luận (入中觀論). Tương truyền rằng, trong một cuộc hành trình truyền Pháp về hướng Nam, Sư đã giáo hoá rất nhiều người. Sư sống rất thọ, nhưng chắc chắn là không thọ đến 300 (!) tuổi như sử sách Tây Tạng thuật lại.|Các tác phẩm còn lưu lại của Sư (trích): 1. Minh cú luận (s: prasannapadā), gọi đủ là Trung quán minh cú luận (s: madhyamakavṛtti-prasannapadā), tác phẩm chú giải Trung quán luận (madhyamaka-śāstra) của Long Thụ (nāgārjuna) duy nhất bằng nguyên văn Phạn ngữ (sanskrit), bản Tạng ngữ cũng còn; 2. Nhập trung quán luận (madh-yamakāvatāra), chỉ còn bản Tạng ngữ; 3. Nhập trung luận thích (madhyamakāvatāra-bhāṣya), chỉ còn bản Tạng ngữ; 4. Nhân duyên tâm luận thích (pratītya-samutpāda-hṛdaya-vṛtti), một tác phẩm chú giải Nhân duyên tâm luận tụng (pratītyasamut-pāda-hṛdaya-kārikā), được xem là của Long Thụ, chỉ còn bản Tạng ngữ; 5. Thất thập không tính luận thích (śūnyatā-saptativṛtti), chú giải Thất thập không tính luận (śūnyatā-saptati) của Long Thụ. Long Thụ (và Parahita) cũng có soạn một tác phẩm dưới tên này. Chỉ còn bản Tạng ngữ; 6. Lục thập tụng như lí luận thích (yukti-ṣaṣṭhikā-vṛtti), luận giải Lục thập tụng như lí luận (yukti-ṣaṣṭhikā), một tác phẩm được xem là của Long Thụ, chỉ còn bản Tạng ngữ; 7. Bồ Tát du-già hành tứ bách luận thích (bo-dhisattvayogācāra-catuḥśataka-ṭīkā), chú thích bộ Tứ bách luận (catuḥśataka) của Thánh Thiên (āryadeva), chỉ còn bản Tạng ngữ; 8. Trung quán luận tụng (madhyamaka-śāstra-stuti).
nguyệt xứng
Candrakīrti (S)Tên một trưởng già thành Tỳ xá ly cầu Phật trị bệnh truyền nhiễm cho dân trong thành.
; Candrakìrti (S). Name.
nguyệt yểm tôn
Xem Hàng Tam Thế Minh Vương.
nguyệt ái tam muội
A Buddha's "moon-love samàdhi", in which he rids men of the distresses of love and hate.
; (月愛三昧) Tam muội trong đó đức Phật an trụ để chữa khỏi bệnh ghẻ lở cho vua A xà thế trên hội Niết bàn. Tam muội này có năng lực dập tắt lửa lòng tham muốn của chúng sinh, như ánh trăng trong mát hay giải trừ nóng bức. Lại như ánh trăng từ ngày mồng 1 đến 15 dần dần tỏa ra rộng lớn, Tam muội này có khả năng làm cho thiện căn của người mới phát tâm tăng trưởng dần dần cho đến đầy đủ Đại niết bàn. Ví như vầng trăng tròn là vua trong các vì sao, được tất cả chúng sinh ưa thích, Tam muội này cũng thế, là vua trong các điều thiện, là vị cam lộ được hết thảy chúng sinh ưa thích, vì vậy nên gọi là Nguyệt ái tam muội. [X. phẩm Phạm hạnh trong kinh Đại bát niết bàn Q.20 (bản Bắc); Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5, phần đầu; Duy ma kinh huyền sớ Q.4; Niết bàn kinh hội sớ Q.18].
nguyệt đan
(月單) Bản báo cáo thu chi hàng tháng trong các Thiền viện. Trong Thiền lâm, người đảm trách chức vụ trông coi việc thu chi trong chùa phải kết toán mỗi tháng 1 lần, làm thành bản tường trình chi tiết, gọi là Nguyệt đơn. [X. môn Bạ khoán trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.16].
nguyệt đàn
An external altar in temples in the open, i.e. under the moon.
; (月壇) Đàn lộ thiên được thiết lập ở phía ngoài vách điện đường. Vì ánh trăng thường soi vào nên gọi là Nguyệt đàn. [X. môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.1].
nguyệt đăng tam muội
Candra-dipa-samàdhi (S). The samàdhi said to have been given to Nguyệt quang đồng tử by Buddha and taught in the Nguyệt đăng tam muội kinh.
; (月燈三昧) Tam muội Nguyệt đăng. Đức Phật từng giảng cho Đồng tử Nguyệt quang lúc Ngài ở núi Kì xà quật gần thành Vương xá nghe về pháp môn tam muội Hết thảy các pháp thể tính bình đẳng không hí luận. Vì Tam muội này được đặt theo tên của Đồng tử Nguyệt quang cho nên gọi là Nguyệt đăng tam muội. [X. kinh Nguyệt đăng tam muội]. (xt. Nguyệt Đăng Tam Muội Kinh).
nguyệt đăng tam muội kinh
Samādhirāja (S)Một bộ kinh trong Phương Quảng bộ.
; Candra-pradīpa-sŪtra (S)Chính định vương kinhTên một bộ kinh.
; Samàdhiràja-sùtra (S). Sùtra of the King of Concentration. Also Tam muội vương kinh.
; (月燈三昧經) Phạm: Samàdhi-ràja. Kinh, 10 quyển, do ngài Na liên đề lê da xá dịch vào đời Cao Tề, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật giảng cho Đồng tử Nguyệt quang nghe về việc nhờ tu tâm bình đẳng, tâm cứu hộ, tâm vô ngại, tâm vô độc và vô lượng Tam muội ở địa vị tu nhân, hoặc do rõ biết thể tính của các pháp đúng như thực mà chứng được bồ đề; thành tựu bố thí, trì giới, nhẫn nhục... thì đạt được Tam muội Thể tính các pháp bình đẳng không hí luận. Kinh này có 2 kinh biệt sinh, đều do ngài Tiên công dịch vào đời Lưu Tống. 1. Kinh Nguyệt đăng tam muội, cũng gọi kinh Văn thù sư lợi bồ tát thập sự hành 1 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 15, hiện còn trong các bản Đại tạng đời Tống, Nguyên, Minh. Bản kinh Biệt sinh này tương đương với nửa phần trước quyển thứ 6 của kinh Nguyệt đăng tam muội do ngài Na lien đề lê da xá dịch nói ở trên. 2. Bản kinh Biệt sinh này cũng cùngtên với kinh Nguyệt đăng tam muội, và cùng được thu vào Đại chính tạng tập 15, có 1 quyển, hiện cũng được thu vào Đại tạng Cao li, nhưng không phải do ngài Tiên công dịch mà theo bài Bạt trong Tạng kinh Súc loát thì do ngài An thế cao dịch, được ghi trong Lịch đại tam bảo kỉ quyển 4. Bản kinh Biệt sinh này tương đương với nửa phần sau quyển 5 của kinh Nguyệt đăng tam muội do ngài Na liên đề lê da xá dịch đã nói ở trên. Nguyên bản tiếng Phạm của kinh Nguyệt đăng tam muội này được xuất bản vào năm 1896 tại Calcutta, Ấn độ, tựa đề là Tam muội vương (Samàdhi-ràja). Trong văn trích dẫn của luận Đại thừa tập bồ tát học (Zikwàsamuccaya) bản tiếng Phạm, gọi kinh này là kinh Tam muội vương nguyệt đăng. [X. Pháp kinh lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.6].
Nguyệt đăng tam-muội kinh
月燈三昧經; C: yuèdēng sānmèi jīng; J: gattō zammai kyō; S: samādhirāja-sūtra; t: chos thams cad kyi rang bzhin mnyam pa nyid rnam par spros pa ting nge 'dzin gyi rgyal pa;|Kinh dạy cho Candrapradita Kumāra về pháp thiền đinh thù thắng nhất, trong đó giang giải rằng hành giả nếu đem hết công phu quán chiếu thâm sâu với tâm hoà hợp thì có thể đạt được giác ngộ. Trong 3 bản dịch tiếng Hán (tất cả đề cùng tên), chỉ có bản của Na-liên-đề Da-xá (s: narendrayaśas) là hoàn chỉnh, mặc dù bản nầy dường như hơi có rút ngắn lại hơn là dựa vào bản tiếng Phạn và bản tiếng Tây Tạng.|1. (Với tên khác) Nhập ư đại bi đại phương đẳng đại tập thuyết kinh (入於大悲大方等大集説經), Na-liên-đề Da-xá (那連提耶舍, s: narendrayaśas) dịch năm 557. |2. (Với tên khác) Đãi huệ tam muội kinh (逮慧三昧經), Tiên Công (先公) dịch; 1 quyển. Môt bản dịch khác của bản 6 quyển của Na-liên-đề Da-xá (s: narendrayaśas).|3. (Với tên khác) Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát thập sự hạnh kinh (文殊師利菩薩十事行經), 1 quyển. Gồm phần trích từ quyển thứ 7 trong bản dịch của Na-liên-đề Da-xá. Về bản tiếng Anh của chương 8, xin xem Regamey (1938).
nguyệt đỉnh đạo luân
Yueh-ting Tao lun (C)Tên một vị sư.
Ngũ Đại
(五代, 907-960): tên gọi 5 triều đại mà đã từng hưng vong ở vùng Hoa Bắc Trung Quốc dưới thời kỳ quá độ từ nhà Đường chuyển sang nhà Tống. Đó là Hậu Lương (後梁), Hậu Đường (後唐), Hậu Tấn (後晋), Hậu Hán (後漢) và Hậu Chu (後周).
Nguỵ kinh
僞經; C: wèijīng; J: gikyō;|»Kinh giả mạo,« một trong hai loại kinh nguỵ tạo chính ở Đông Á, rất đáng ngờ vì nó giống như kinh văn xuất phát từ Ấn Độ.
nguỵ nghi kinh
(僞疑經) Cũng gọi Nghi ngụy kinh. Kinh bị ngờ là kinh giả. Từ ngữ gọi chung những kinh ngụy tác, hoặc có nguồn gốc đáng ngờ và bị nghi là kinh giả. Bởi vì ở Ấn độ có không ít những kinh giả mượn lời Phật nói, nhằm mục đích làm hỗn loạn giáo lí của đức Phật. Nhưng, những kinh điển mà ngày nay gọi là ngụy kinh là chỉ cho các nước Trung quốc, Nhật bản, phỏng theo kinh luận mà chế tác rồi cho là phiên dịch từ kinh văn tiếng Hồ từ Tây vực hay tiếng Phạm từ Ấn độ; hoặc trà trộn với tư tưởng ngoại lai, hoặc các tôn giáo khác, thậm chí các kinh điển của tín ngưỡng dân gian cũng được coi là chân kinh mà xếp vào Đại tạng. Vấn đề Ngụy kinh được nêu ra đầu tiên là do các nhà biên soạn Mục lục kinh, họ cho rằng Ngụy kinh làm rối loạn Chân kinh và làm đảo lộn chân lí do đức Phật tuyên dương, bởi thế họ chủ trương tất cả kinh phiên dịch đều do đức Phật nói, trái lại là ngụy kinh. Xuất tam tạng kí tập của ngài Tăng hựu đời Lương thuộc Nam triều nêu ra những Nghi kinh được liệt kê trong Tông lí chúng kinh mục lục của ngài Đạo an đời Tiền Tần, như: Kinh Bảo Như lai... gồm 26 bộ 30 quyển, rồi liệt kê những ngụy kinh do chính ngài Tăng hựu sưu tập như: Kinh Tỉ khưu ứng cúng pháp hành... gồm 20 bộ 26 quyển trong Tân tập nghi kinh Ngụy soạn tạp lục, lại thêm những ngụy kinh được ghi trong Nghi lục của Tăng pháp như: Kinh Bảo đính... gồm 44 bộ. Tổng cộng có 70 bộ kinh Nghi ngụy. Chúng kinh biệt lục trong Lịch đại tam bảo kỉ quyển 15, liệt kê Ngụy kinh có 17 bộ 20 quyển. Ngụy thế chúng kinh mục lục của Lí khuếch ghi Ngụy kinh 62 bộ, Ngụy luận 4 bộ. Đại đường nội điển lục quyển 10 ghi 183 bộ 334 quyển. Đại chu san định chúng kinh mục lục quyển 15 liệt kê 228 bộ 419 quyển. Nghi hoặc tái tường lục trong Khai nguyên thích giáo lục quyển 18 ghi 14 bộ 19 quyển; Ngụy vọng loạn chân lục cũng trong Khai nguyên thích giáo lục liệt kê 392 bộ 1055 quyển. Thông thường, kinh Nghi ngụy theo thời đại mà tiếp tục tăng lên. Vào thời ngài Đạo an đời Tiền Tần mới chỉ có 26 bộ 30 quyển. Đến thời ngài Tăng hựu đời Lương tăng lên 46 bộ, 56 quyển, tăng khoảng gấp đôi; thời ngài Ngạn tông đời Tùy lại tăng lên 209 bộ, 490 quyển. Đến thời ngài Trí thăng đời Đường lại tăng lên gấp đôi là 406 bộ, 1074 quyển. Đời Tùy, Đường được xem là thời kì toàn thịnh của Phật giáo Trung quốc, mà cũng là thời kì các kinh Nghi ngụy thịnh hành. hưng trong Khai nguyên thích giáo lục, ngài Trí thăng đã loại bỏ toàn bộ cáckinh giả và bị ngờ là giả ra khỏi Đại tạng, do đó, con số 406 bộ, 1047 quyển Ngụy kinh nói trên không được đưa vào Đại tạng; bởi thế, những kinh Nghi ngụy lưu hành trong dân gian thời bấy giờ, đến nay chỉ còn nghe tên, thậm chí đã mất hẳn. Tuy nhiên, trong Đại tạng hiện nay vẫn còn 1 số ít kinh Nghi ngụy. Thời gần đây, 1 số lượng lớn kinh điển Phật được tìm thấy trong các hang động ở huyện Đôn hoàng, tỉnh Thiểm tây, Trung quốc, trong đó có rất nhiều Ngụy kinh đã bị thất lạc từ trước. Vào đầu năm Chiêu hòa của Nhật bản, ông Thỉ xuy Khánh huy đã xem xét các bản kinh của các ông A. Stein và P. Pelliot, trong đó chọn ra được hơn 50 quyển Ngụy kinh trọng yếu, được đưa vào Đại chính tạng tập 85 (Nghi tự bộ), khoảng hậu bán thế kỉ trở đi việc nghiên cứu các Ngụy kinh mới có những bước tiến dài. Gần đây, việc nghiên cứu Ngụy kinh rất có kết quả, trước hết phải kể đến tác phẩm Nghi kinh nghiên cứu của ông Mục điền Đế lượng, trong đó, tác giả sưu tập 30 quyển nguyên bản Ngụy kinh chưa được đưa vào Đại chính tạng tập 85. Ông xem xét những mục đích nhắm tới trong các Ngụy kinh được soạn thuật rồi qui nạp vào 6 loại như sau: 1. Được soạn thuật theo ý muốn của người thống trị: Như kinh Đại bảo vân ở thời Vũ tắc thiên. 2. Nhằm phê phán chính sách thi hành của nhà thống trị: Như kinh Nhân vương bát nhã, kinh Tượng pháp quyết nghi của Tam giai giáo và kinh Du già pháp kính. 3. Để phù hợp với tư tưởng Ngũ luân truyền thống của Trung quốc: Như kinh Phụ mẫu ân trọng, kinh Vu lan bồn, kinh Tu di tứ vực, kinh Thanh tịnh pháp hành... 4. Cổ xúy giáo nghĩa tín ngưỡng đặc biệt: Như kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm, kinh Đại bát niết bàn hậu phần, kinh Đại thông phương quảng, kinh Quán thế âm tam muội... 5. Nêu tên cá nhân đặc biệt hiện còn nổi bật: Như kinh Cao vương Quan thế âm, kinh Tăng già hòa thượng nhập Niết bàn thuyết lục độ, kinh Khuyến thiện... 6. Những loại kinh mê tín về chữa bệnh, cầu phúc: Như kinh Tứ thiên vương, kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo, kinh Thiên địa bát dương thần chú, kinh Phật thuyết diên thọ mệnh, kinh Phật thuyết thất thiên Phật thần phù... Trong đó, đặc biệt loại Ngụy kinh thứ 6 là nhiều nhất. Những Ngụy kinh liên quan đến Thiền tông thì có các kinh như: Kinh Pháp cú, Kinh Kim cương tam muội, kinh Thiền môn, kinh Pháp vương, kinh Viên giác... Trong đó, kinh Kim cương tam muội và kinh Viên giác là những Ngụy kinh được xem là kinh phiên dịch và được đưa vào Đại tạng. [X. Minh sa dư vận; Chiêu hòa pháp bảo tổng mục lục Q.1; chương 5, bộ 2, Phật điển tổng luận trong Phật thư giải thuyết đại từ điển (Tiểu dã Huyền diệu)].
ngà ngà say
To be slightly drunk
ngà voi sanh hoa
(tượng nha sanh hoa象牙生華-): Kinh văn nói rằng: "Khi trời có sấm sét chuyển mưa thì trên tất cả các ngà voi đều sanh ra những vân hoa." Có ba cách giải thích điều này. Một thuyết cho rằng ở đây chỉ loài cỏ ngà voi (象牙 草- tượng nha thảo), khi trời có sấm sét thì trổ hoa. Thuyết thứ hai cho rằng trong kinh có nói đến loài voi khi nghe tiếng sấm thì trên ngà của chúng trổ ra hoa. Thuyết thứ ba nói rằng không có hoa được sanh ra, nhưng là trên các ngà voi hiện lên những đường vân có hình như vân hoa. Chúng tôi xét rằng: Thuyết thứ nhất võ đoán chữ thảo (草- cỏ), trong kinh văn không có; thuyết thứ hai nói là “trong kinh nói” nhưng không nói là kinh nào, đã thử tìm cũng không thấy. Vì thế, chúng tôi chọn tin theo thuyết thứ ba.
ngài ban bố sự bất diệt
Amatassadata (S)Một trong những tên người khác dùng để tôn vinh Ngài.
ngài cưu ma la thập
Kumārajīva (S)Đồng Thọ, La Thập Pháp sưTên một vị sư. Cha người Ấn, mẹ người Dao Tần (Tân cương). Từ 7 tuổi mỗi ngày ngài tụng hai ngàn câu kệ và thuộc lòng nhiều kinh điển. Ngài dịch kinh Bát nhã Ba la mật và rất nhiều kinh điển khác tại Trường An từ năm 401 đến 412 nhằm đời Đông Tấn. Ngài là dịch giả có công lớn nhất, đã dịch 98 bổn chia làm 420 quyển trong đó có A di đà Kinh, Diệu Pháp Liên hoa, Liên Hoa Kinh, Thành Thiệt Luận, Kim XCang Bát Nhã Ba la mật đa Kinh.
ngàn
Một ngàn: Thousand.
ngày cúng cô hồn
All Soul's Day.
ngày lành
Lucky day.
ngày phật thích ca xuất gia
Ngày Đức Phật Thích Ca xuất gia là ngày mồng tám tháng hai âm lịch—Sakyamuni Buddha's Leaving Home Day, the 8th day of the second month Lunar calendar.
ngày trai tịnh
Vrata (S)Còn gọi là ngày Bố tát của tín đồ Bà la môn.
ngày tế lễ
Soma (S)Thái Âm tinh, Nguyệt tinhDùng trong Ấn giáo.
ngày xưa
Formerly.
ngày xấu
Unlucky day.
ngách
Back street.
ngán
To be sick of (disgusted).
ngâm
To chant—To mutter—To hum.
; (吟) Tức ngâm vịnh, hoặc chỉ cho thơ, ca theo thể văn vần dùng để ngâm vịnh. Khi ngâm vịnh, âm thanh được kéo dài ra, theo nhịp điệu như tiếng chim hót; lúc bổng lúc trầm, khi buồn khi vui, tùy theo cảm xúc của người câm. Xưa nay Thiền tông thường sử dụng thể văn này, mượn phương thức ngâm vịnh thơ văn để xiển dương ý chỉ Thiền. Chẳng hạn như các tác phẩm: Tân phong ngâm của ngài Động sơn, Ngoạn châu ngâm của ngài Đơn hà, Lão hoạch châu ngâm của ngài Quan nam, Lệ giác ngâm và Qui tịch ngâm của ngài Hương nghiêm v.v... đều thịnh hành trong các tùng lâm. [X. chương Minh kí châm ca trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.30].
ngâm phúng
Ngâm Vịnh—To intone—To repeat.
ngâm vịnh
See Ngâm Phúng.
ngân
Rupya (skt). Bạc—Silver. Tiền bạc: Money.
Ngân Các Tự
(銀閣寺, Ginkaku-ji): ngôi chùa của Phái Tướng Quốc Tự (相國寺派) thuộc Lâm Tế Tông, hiện tọa lạc tại Ginkakuji-chō (銀閣寺町), Sakyō-ku (左京區), Kyōto-shi (京都市); hiệu là Đông Sơn Từ Chiếu Tự (東山慈照寺), tên thường gọi là Ngân Các Tự. Tượng thờ chính là Thích Ca Như Lai. Vị Tướng Quân đời thứ 8 của dòng họ Túc Lợi là Nghĩa Chính (義政, Yoshimasa) đã bỏ công trong vòng 10 năm trường từ năm 1482 (Văn Minh [文明] 14) để xây dựng nên chùa này. Từ đó, chùa được lấy tên theo hiệu của Nghĩa Chính là Từ Chiếu Tự (慈照寺). Nghĩa Chính vô cùng yêu thích ngôi Tây Phương Tự (西芳寺) do Mộng Song Quốc Sư (夢窻國師) sáng lập ra, mới bắt chước các kiến trúc của Tây Lai Đường (西來堂), Đông Am (東庵), Lưu Ly Điện (瑠璃殿), Ngao Nguyệt Kiều (遨月橋) của chùa này, mà tạo nên Đông Cầu Đường (東求堂), Tây Chỉ Am (西指庵), Quan Âm Điện (觀音殿), Long Bối Kiều (龍背橋). Nghĩa Chính cũng thỉnh thoảng đến chơi Kim Các Tự (金閣寺, Kinkaku-ji), nhưng rõ ràng Ngân Các Tự không thể nào sánh bằng chùa này được. Đối xứng với sự sáng lạn của vương triều Bình An thông qua Kim Các Tự, Ngân Các Tự thể hiện sự thâm u, nghiêm tịnh của Thiền. Tuy nhiên, khi tiếp xúc trực tiếp với ngôi bảo sát này, ta thấy chùa có vẻ đẹp tuyệt trần qua làn cát trắng phản chiếu; còn phía trước Hướng Nguyệt Đài (向月台) có khu vườn hồ nhân tạo nhưng rất hữu tình. Còn Đông Cầu Đường, nơi được xem như là thư phòng của Nghĩa Chính, và Quan Âm Điện, tuy là quy mô nhỏ, nhưng cho đến nay vẫn còn truyền đạt cho chúng ta biết được tính mỹ thuật cũng như tính thoát tục của Nghĩa Chính. Cả hai đều được xếp vào hạng quốc bảo.
ngân luân vương
(銀輪王) Vị Luân vương ra đời lúc con người sống 8 vạn tuổi, vua thống trị 3 châu: Nam thiệm bộ, Đông thắng thân, và Tây cù đà ni. Là 1 trong 4 vị Luân vương. Nhưng theo Pháp hoa kinh huyền tán quyển 4, thì sự ra đời của vị Luân vương này và Đồng luân vương, Thiết luân vương đều không có thời gian nhất định. (xt. Tứ Luân Vương, Chuyển Luân Thánh Vương).
ngân oản lí thạnh tuyết
(銀椀裏盛雪) Cũng gọi Ba lăng ngân oản lí, Ba lăng ngân oản thịnh tuyết. Tên công án trong Thiền tông. Cái chén bạc đựng đầy tuyết, biểu thị chúng sinh và Phật là nhất như, bình đẳng tức sai biệt, sai biệt tức bình đẳng, là 1 trong 3 chuyển ngữ của ngài Ba lăng Hạo giám, đệ tử nối pháp của Thiền sư Vân môn Văn yển. Bích nham lục tắc 3 (Đại 48, 153 hạ) chép: Có vị tăng hỏi ngài Ba lăng: Thế nào là tông Đề bà? Ngài Ba lăng đáp: Trong chén bạc đựng đầy tuyết Đề bà tức là tôn giả Ca na đề bà (Phạm: Kàịadeva), Tổ phó pháp thứ 15 của Thiền tông Ấn độ. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.15; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.35; Thiền tông chính mạch Q.15]. (xt. Ba Lăng Tam Chuyển Ngữ).
Ngân sơn
銀山; S: kailāsa, kailāś, rajatādṛ;|Tên của một ngọn núi ở dãy Hi-mã-lạp sơn, được xem là trú xứ của thần Thấp-bà (s: śi-va). Ấn Ðộ giáo xem núi này là thiêng liêng nhất. Phật giáo cũng xem Ngân sơn là thánh địa. Trên một cao nguyên khoảng 4600m, ngọn núi này bỗng vọt lên trên 7000m. Từ ngọn núi này xuất phát bốn con sông quan trọng của châu Á là Brahmaputra, Indus, Sutlej và Karnali.|Hai tác giả về Phật giáo danh tiếng của phương Tây là Lạt-ma Gô-vin-đa và W. Y. Evans-Wentz đều đã chiêm bái Ngân sơn. Cảm hứng về ngọn núi này, Gô-vin-đa viết trong quyển The Way of the White Clouds: »Có những ngọn núi chỉ là núi và có những ngọn núi lại có một nhân cách riêng. Nhân cách một ngọn núi không phải chỉ vì hình dạng kì lạ của nó mà có… Nhân cách nói chung là một uy lực, tác động lên người khác mà chủ thể của nó không hề muốn hay không hề biết. Uy lực này nằm trong sự liên tục, sự nhất quán, sự hoà hợp của tính cách con người. Nếu chúng lại là nhân cách của một ngọn núi thì ngọn núi xuất hiện như một tập hợp của uy lực toàn vũ trụ và chúng ta xem đó là một ngọn núi thiêng.«|Evans-Wentz tả như sau: »Cảm giác nhìn ngắm ngọn núi thật vô cùng kì diệu làm người hành hương quên hết lo âu và sợ hãi. Ai có thể mô tả được sự vô lượng vô biên của không gian? Ai có thể mô tả một cảnh vật, cảnh vật đó là hiện thân của cái vô cùng, biết thở theo nhịp của cái vô cùng? Với hồ nước trong xanh, thảo nguyên xanh thẳm bát ngát và các ngọn đồi vàng rực bao quanh, hiện lên một dãy núi tuyết và ở giữa là ngọn núi với đỉnh cao trắng xóa, được người Tây Tạng gọi là ›Bảo ngọc đầy tuyết trắng.‹« (Cuchamana and the Secret Mountains, Stanford University 1981).
ngân sơn
Kailāsa (S).
ngân sơn thiết bích
(銀山鐵壁) Đồng nghĩa: Bích lập vạn nhận, châm đáp bất nhập. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Núi bạc vách sắt. Bạc và sắt cứng chắc, khó đâm thủng, vách núi cheo leo, cao vút, khó vượt qua. Trong Thiền tông, từ ngữ này được dùng để chỉ cho cảnh giới tuyệt đối mà cái biết phân biệt của phàm tình khó có thể thấu suốt được, hoặc để ví dụ cho linh tính sẵn có của mọi người vốn siêu việt. Bài tựa của ngài Phổ chiếu trong Bích nham lục (Đại 48, 139 thượng) nói: Núi bạc vách sắt (ngân sơn thiết bích) ai dám dùi mài? Muỗi đốt trâu sắt khó bâm được vòi; nếu chẳng gặp bậc Đại tông sư thì làm sao ngộ được lẽ huyền vi? [X. Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục Q.4; Phật quả khắc cần thiền sư tâm yếu Q.hạ; Bích nham lục tắc 42].
ngân sắc
Màu bạc—Silver-colour.
ngân sắc thiên hậu
Rapyamanya (S).
ngân xuyên song tháp
(銀川雙塔) Hai tòa tháp tọa lạc trên 1 vùng đồng bằng ở thành Ngân xuyên thuộc biên giới phía bắc Trung quốc, đó là: 1. Tháp chùa Thừa thiên, thường gọi là Tây tháp, ở phía Tây nam thành Ngân xuyên, do ông Hạ chủ lượng xây dựng vào năm Thiên khánh thứ 3 (1050) đời Tây hạ. Tháp này có hình bát giác, gồm 13 tầng cao hơn 70 mét. Kĩ thuật xây tháp trong công xảo minh của Ấn độ đã được sử dụng trong việc kiến trúc tòa tháp này, đồng thời cũng kế thừa phong cách kiến trúc truyền thống của Trung quốc. 2. Tháp Hải bảo, thường gọi là Bắc tháp, ở phía Bắc thành Ngân xuyên, cách Tây tháp khoảng 1,7 km, tương truyền do ông Hách liên bột bột người Hung nô xây cất vào đời Đông Tấn, đến nay đã hơn 1.500 năm. Tháp gồm 9 tầng 11 cấp, cao khoảng 60 mét, do những phiến đá xanh xếp thành, từ xa trông giống như 1 tòa lâu đài nguy nga tráng lệ. Mỗi góc mái tháp ở mỗi tầng của Tây tháp và Bắc tháp đều có treo p h o n g linh, mỗi khi gió thổi, linh phát ra tiếng lâng lâng siêu thoát.
ngân địa
(銀地) Cũng gọi Kim địa, Lưu li địa. Tiếng gọi chung các tự viện và đạo tràng. Thủa xưa, ở Ấn độ, Trưởng giả Cấp cô độc, thành Xá vệ từng trải vàng ròng ra mua đất của Thái tử Kì đà để lập tinh xá cúng dường đức Phật, do đó, chùa viện được gọi là Kim địa. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 263 thượng) nói: Kim địa, hoặc gọi là Kim điền, tức là khu vườn của Thái tử Kì đà ở nước Xá vệ mà Trưởng giả Cấp cô độc đã trải vàng ròng ra mua để cất tinh xá, thỉnh đức Phật cư trụ.
ngân địa đạo trường
(銀地道場) Đạo tràng ở núi Thiên thai, Trung quốc, tiếp giáp với dãy núi Kim địa, Đại sư Trí giả đã truyền pháp ở đây. Theo truyền thuyết, vào thời quá khứ, đức Phật Định quang đã từng thị hiện nơi này. [X. Đại minh nhất thống chí Q.47].
Ngã
我; S: ātman; P: atta;|Tức là cái »ta« thể tính trường tồn, không bị ảnh hưởng của tụ tán, sinh tử. Ðạo Phật không công nhận sự hiện diện của ngã. Trong toàn bộ mọi hiện tượng tâm lí và vật lí không có một chủ thể gì được gọi là độc lập, thường còn (Vô ngã, Ngũ uẩn).|Theo đạo Phật, ý nghĩ cho rằng có »ta«, có »người« – những đơn vị độc lập không phụ thuộc vào nhau – chính là Vô minh, Si mê. Sự nhận thức là có »ta« tự khởi lên bởi vì con người thường bị tri thức mê hoặc – tri thức ở đây là thức thứ sáu, khả năng suy nghĩ phân biệt – cho rằng thế giới nhị nguyên vốn có sẵn và từ đó phát sinh ra sự suy nghĩ và hành động theo quan niệm rằng, »ta« và người, vật bên ngoài hoàn toàn là những đơn vị độc lập. Dần dần, ý nghĩ »ta« khắc sâu vào Tâm và những ý nghĩ khác như »ta yêu cái này, ta ghét cái nọ; cái này của ta, cái này của ngươi« bắt đầu nẩy nở. Những ý nghĩ nêu trên lại có ảnh hưởng trở lại với ý nghĩ »ta« và vì vậy, cái »ta« này cai trị tâm linh của con người. Nó sẵn sàng tấn công tất cả những gì mà nó cảm thấy bị đe dọa, tham khát những gì giúp nó gia tăng quyền lực. Thù hận, tham khát và xa rời chân tính là những tai hại phát sinh từ đó và chúng trực tiếp đưa con người đến bể Khổ.|Trong Thiền tông, người ta sử dụng phương pháp Toạ thiền (j: zazen) để phá vỡ cái vòng lẩn quẩn nêu trên. Trong quá trình tu tập dưới sự hướng dẫn của một vị Lão sư (j: rōshi), người ta có thể dần dần vượt khỏi sự khống chế của cái »Ngã«, tiêu diệt »Ngã« hay đúng hơn, vượt khỏi cái »ý nghĩ sai lầm là có tự ngã« bởi vì nhìn theo khía cạnh tuyệt đối thì người ta không thể tiêu diệt một cái gì không có thật, chưa hề có thật như cái »Ngã«.
ngã
Ātman (S), Atta (P), Ātman (S), Ātumā (P), bdag-nyid (T), Ego (S), self, selfhood Nội thể bất khả diễn đạt, bất tử, vô hình. Sự đồng hoá ngã với đại ngã là một trong những điểm then chốt trong ẤẤn giáo.
; Atman (S). I, my, mine; self, ego, personality, soul; the master of the body.
; Atta (p)—Atman (skt)—Ego—I—Me—Self—Myself. Tôi—Của tôi—Cái của tôi—Cá nhân—Chủ tể của thân so với vị vua trị vì trong một xứ—I, My, Mine—Personality—The master of the body, compared to the ruler of the country. Ngoại đạo cho rằng ngã là thân ta, còn đạo Phật thì cho rằng Giả Ngã là sự hòa hợp của ngũ uẩn, chứ không có thực thể (vô thường, và vô ngã)—The erroneous ideas of a permanent self continued in reincarnation is the sources of all ilusion. Bụ the Nirvana sutra definitely asserts a permanent ego in the transcendental world, above the range of reincarnation; and the trend of Mahayana supports such permanence. Ego composed of the five skandhas and hence not a permanent entity. It is used for Atman, the self, personality. Buddhism take as a fundamental dogma, i.e. impermanence, no permanent ego, only a temporal or functional ego. The erroneous ida of a permanent self continued in reincarnation is the souce of all illusion.
; (我) Phạm: Àtman. Hán âm: A đặc man, A thản ma. Nghĩa gốc là hô hấp, chuyển thành nghĩa sinh mệnh, tự kỉ, thân thể, tự ngã, bản chất, tự tính, hoặc chỉ chung cho chủ thể độc lập vĩnh viễn, tiềm ẩn trong nguồn gốc của mọi vật và chi phối cá thể thống nhất. Đây là 1 trong các chủ đề trọng yếu của giới tư tưởng Ấn độ. Phật giáo chủ trương thuyết vô ngã, chỉ rõ mối quan hệ giữa sự tồn tại và tính duyên khởi, phủ định các tính chất thường (sự tồn tại liên tục vĩnh viễn), nhất (sự tồn tại độc lập tự chủ), chủ (sở hữu chủ trung tâm), tể (chi phối hết thảy) mà chủ trương ngã không tồn tại, không chân thực. Danh từ Ngã đã được sử dụng từ thời đại Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda, 1500 trước Tây lịch) trở đi, đến thời đại Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa, 1000-800 trước Tây lịch) thì hơi thở (Phạm: Pràịa, tức là khí tức) trong chủ thể sinh mệnh con người dần dần diễn biến thành hiện tượng sinh mệnh mang ý vị cá thể, còn ngã thì lại là bản chất. Như trong Bách đạo phạm thư (Phạm: Zatapatha), những hiện tượng sinh mệnh như lời nói, sức nhìn, sức nghe v.v... là lấy ngã làm nền tảng để biểu hiện, hơn nữa, do ngã thống ngự, cho nên ngã được xem là đồng nhất với Tạo vật chủ (Phạm: Prajàpati). Thời đại Áo nghĩa thư (Phạm:Upaniwad, 800-600 trước Tây lịch), chủ trương ngã sáng tạo ra vũ trụ, hoặc cho rằng ngã là cá nhân(tiểu ngã) nhưng đồng thời cũng là đại ngã, nguyên lí trung tâm của vũ trụ (Phạm: Brahman) và xem Phạm (Brahman) và Ngã (Àtman) là đồng thể, đồng nhất. Lại tiến thêm bước nữa mà chủ trương chỉ có Ngã mới là sự tồn tại chân thực, còn ngoài ra đều là huyễn (Phạm: Màyà). Trong các kinh A hàm của Phật giáo đã phủ định 4 quan niệm sau đây về ngã. 1. Toàn thể của các cá thể loài người là Ngã, tức 5 uẩn là Ngã. 2. Sinh mệnh trung tâm trong các cá thể là Ngã, tức Ngã có 5 uẩn. 3. Nguyên lí vũ trụ là Ngã, tức trong Ngã có 5 uẩn. 4. Mỗi một yếu tố tồn tại đều có tính chất (tự tính) cố hữu, tức trong 5 uẩn có Ngã. Bốn quan niệm trên đây là cái mà đời sau gọi là Hữu thân kiến, có thể chia làm 2 loại: Một là Ngã kiến, tức 5 uẩn của quan niệm thứ nhất là Ngã; hai là Ngã sở kiến, tức 3 quan niệm còn lại. Ngã sở chỉ cho sở hữu, sở thuộc của Ngã và những vật không lìa Ngã. Về mối quan hệ giữa chủ thể cấu thành sinh tử luân hồi và thuyết Vô Ngã, Phật giáo bộ phái có các giải thích sau: - Thuyết nhất thiết hữu bộ lập Nhân ngã kiến và Pháp ngã kiến, tuy phủ định Ngã (tức Nhân ngã) của sinh mệnh cá thể, nhưng thừa nhận Ngã thực thể (tức Pháp ngã,và tất cả yếu tố cấu thành sự tồn tại) là hằng hữu. - Độc tử bộ và Chính lượng bộ chủ trương Ngã chẳng tức uẩn, chẳng li uẩn, sinh mệnh cá thể chẳng những không do 5 uẩn giả hợp tạo thành (tức uẩn) mà cũng chẳng phải ngoài 5 uẩn có Ngã riêng (li uẩn), tức là chủ trương giữa Ngã và 5 uẩn có mối quan hệ bất tức bất li. - Kinh lượng bộ có thuyết Bổ đặc già la thắng nghĩa. Luận Thành duy thức quyển 1 chia Ngã do ngoại đạo và các phái trong Phật giáo bộ phái chủ trương làm 3 loại để phê phán, đó là: 1.Tức uẩn ngã: Ngã do thế gian phổ thông chủ trương. 2. Li uẩn ngã: Ngã do Số luận, Thắng luận và Kinh lượng bộ chủ trương. 3. Phi tức phi li uẩn ngã: Ngã do Độc tử bộ, Chính lượng bộ chủ trương. Phật giáo Đại thừa không những phủ định Ngã cá thể (nhân ngã) mà còn phủ định luôn cả pháp ngã tồn tại mà Phật giáo bộ phái thừa nhận và chủ trương thuyết Nhân vô ngã, Pháp vô ngã (Nhân pháp nhị vô ngã), cho rằng tất cả đều không tự tính(không tính). Đồng thời, Phật giáo bộ phái cho rằng, tất cả sự tồn tại đều là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, nhưng nếu diệt trừ hết phiền não thì đạt đến cảnh giới Niết bàn cứu cánh. Trái lại Phật giáo Đại thừa chủ trương tất cả sự tồn tại vốn là không, cảnh giới Niết bàn sau khi khai ngộ chắc chắn là cảnh giới tuyệt đối tự do, bởi thế có thuyết 4 đức: Thường, lạc, ngã, tịnh. Vì ngã ở đây khác xa với cái tiểu ngã mà phàm phu chấp trước, nên gọi là Đại ngã, Chân ngã. Nói một cách khái quát, Ngã có thể được chia làm 4 loại: 1. Phàm ngã: Ngã do phàm phu mê chấp. 2. Thần ngã (Phạm:Puruwa, Hán dịch: Trượng phu, nhân (nguyên nhân)): Ngã do Lục sư ngoại đạo chủ trương. 3.Giả ngã:Không có thực thể mà giả gọi là Ngã, như gọi thân thể do 5 uẩn giả hợp là Ngã. 4. Chân ngã: Chỉ cho Pháp thân Như lai, đặc tính của Pháp thân này được thuyết minh do căn cứ vào Bát đại tự tại ngã. Ngoài ra, về thuyết Ngã, các học phái (ngoại đạo) Ấn độ có 16 thứ phân loại thông thường gọi là 16 tri kiến, hoặc 16 thần ngã. Tri kiến có hàm ý là người biết, người thấy, tức chủ trương Ngã có năng lực biết và thấy. Mười sáu loại tri kiến hoặc thần ngã là: Ngã, chúng sinh, thọ giả, mệnh giả, sinh giả, dưỡng giả, chúng số, nhân (giả), tác giả, sử tác giả, khởi giả, sử khởi giả, thụ giả, sử thụ giả, tri giả và kiến giả. [X. luận Đại trí độ Q.35].
ngã (nhân) chấp
Atma-graha (skt)—Chấp vào khái niệm của một cái ngã thật—Chấp vào Thường ngã—Chấp vào cái ngã thường hằng chứ không phải là sự phối hợp của năm uẩn sanh bởi nhân duyên—Holding to the concept of the reality of the ego—Permanent personality—The atman—Soul—Self—This holding is an illusion—The clinging to the idea of self—The false tenet of a soul, or ego, or permanent individual, that the individual is real, the ego an independent unit and not a mere combination of the five skandhas produced by cause and effect disintegrating.
ngã ba la mật
The Ego pàramità in the four based on the Nirvàna sùtra in which the transcendental ego is tự tại, i.e. has a real and permanent nature; the four are thường permanency, lạc joy, ngã personality, tịnh purity.
; Ngã Ba La Mật là một trong thứ được nói đến trong kinh Niết Bàn, là cái ngã siêu việt và tự tại là thường, lạc, ngã, tịnh—The ego paramita in the four based on the Nirvana sutra in which transcendental ego is sovereign, i.e. has a real and permanent nature; the four are permanence, joy, personality, and purity.
ngã chấp
xem ngã kiến.
; Chấp cái thân thể do tứ đại, ngủ uẩn hòa hợp này là thật TA gọi là ngã chấp.
; Atma-gràha (S). Holding to the concept ođ the ego. Also nhân chấp.
; Chấp cái thân thể do tứ đại, ngũ uẩn hòa hợp này là thật Ta, nên gọi là ngã chấp.
; (我執) Phạm: Àtma-gràha. Cũng gọi Nhân chấp, Sinh chấp. Cố chấp có thực ngã. Thể của chúng sinh chỉ do 5 uẩn giả hợp mà thành, nếu chấp có thực ngã chủ tể tồn tại mà sinh ra vọng tưởng phân biệt ta và của ta, thì gọi là Ngã chấp. Luận Câu xá quyển 29 cho rằng Ngã chấp có 5 lỗi: 1. Khởi ngã kiến và hữu tình kiến thì rơi vào ác kiến. 2. Giống với các ngoại đạo. 3. Cũng như vượt đường mà đi. 4. Đối với tính không, tâm chẳng ngộ nhập, không sinh tịnh tín, không thể an trụ, chẳng được giải thoát. 5. Thánh pháp không thể thanh tịnh. Tiểu thừa xem Ngã chấp là gốc của muôn điều ác, là căn nguyên của tất cả sai lầm và phiền não. Thành duy thức luận thuật kí quyển 1 phần đầu cũng nói: Phiền não chướng có rất nhiều phẩm loại, nhưng tựu trung đều lấy Ngã chấp làm gốc mà sinh khởi; nếu chẳng chấp ngã thì không có phiền não. Theo luận Thành duy thức quyển 1, Ngã chấp có thể được chia làm 2 loại là : 1. Câu sinh ngã chấp: Ngã chấp bẩm sinh, tức là do sức nội nhân huân tập hư vọng từ vô thủy đến nay, sinh ra đã có, không cần phải học hỏi, tập tành, nên gọi là Câu sinh. 2. Phân biệt ngã chấp: Ngã chấp thuộc về tính hậu thiên tức là do sức tác động của ngoại cảnh mà phát sinh, không cùng có 1 lúc với thân, nhưng phải học hỏi, tập quen và phân biệt mới phát khởi; cho nên gọi là Phân biệt ngã chấp. Phân biệt ngã chấp thường sinh ra tác dụng phát nghiệp, còn Câu sinh ngã chấp thì hay khởi tác dụng nhuận sinh, cả 2 đều có khả năng làm não loạn thân tâm chúng sinh, khiến cho họ cứ mãi phải sinh tử luân hồi. [X. phẩm Phá chấp ngã trong luận Câu xá Q.30; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng phần cuối]. (xt. Nhị Chấp, Ngã).
ngã chấp tập khí
Ātman--graha-vāsanā (S).
; (我執習氣) Phạm:Àtma-gràha-vàsanà. Cũng gọi Ngã chấp huân tập. Chỉ cho tập khí (chủng tử) do ngã chấp huân tập (xông ướp) thành, là 1 trong 3 loại tập khí. Tập khí này tuy là 1 loại danh ngôn huân tập, nhưng do ngã chấp huân thành chủng tử, khiến cho hữu tình sinh ra phân biệt có mình và người, vì thế mới lập riêng 1 loại tập khí này. Luận Thành duy thức quyển 8 (Đại 31, 43 trung) nói: Ngã chấp tập khí là loại chủng tử chấp ngã, ngã sở hư vọng, có 2 loại: 1. Câu sinh ngã chấp: Tức chấp ngã, ngã sở đến giai vị Tu đạo mới đoạn trừ được. 2. Phân biệt ngã chấp: Tức chấp ngã, ngã sở đến giai vị Kiến đạo thì đoạn trừ được. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.8 phần đầu]. (xt. Tam Chủng Tập Khí).
ngã hữu
The illusion that the ego has real existence.
; Ảo tưởng cho rằng cái ngã là có thật—The ilusion that the ego has real existence.
ngã không
Xem Vô ngã. Xem Nhân vô ngã.
; Illusion of the concept of the reality of the ego as being composed of elements and disintegrated when they are dissolved.
; The non-reality of the atman, the soul, the person.
; (我空) Phạm: Àtma-zùnyatà. Cũng gọi Nhân không, Sinh không, Giả danh không, Nhân vô ngã, Chúng sinh vô ngã. Ngã thể chỉ là do sự giả hòa hợp của 5 uẩn, chẳng phải thực có, nên gọi là Ngã không, là 1 trong 2 không. Phàm phu đối với pháp 5 uẩn cưỡng lập chủ tể, gọi là Ngã chấp; nếu tìm trong 5 pháp: Sắc, thụ, tưởng, hành, thức mà không có tự tính, không thấy ngã thể thường nhất, thì là Ngã không. Đại thừa nghĩa chương quyển 1, (Đại 44, 485 trung) nói: Chúng sinh do nhiều pháp hợp thành, nên gọi là Chúng sinh; nhưng chúng sinh chỉ là giả có, chứ không có tự tính, cho nên gọi là Chúng sinh vô ngã. Vì tất cả tính tướng của chúng sinh đều không, nên nói là Không. Tính thực là ngã, nhưng trong 5 uẩn không có ngã, cho nên gọi là Ngã không. [X. kinh Phóng quang bát nhã Q.18; luận Thành duy thức Q.1; phẩm Diệt pháp tâm trong luận Thành thực Q.12; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.3; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu]. (xt. Vô Ngã).
ngã không chân như
Giáo thuyết Tiểu Thừa về “Ngã Không Chân Như.” Kỳ thật không có cái thực ngã—The Hinayana doctrine of impersonality in the absolute, that in truth there is no ego; this position abrogates moral responsibility.
; (我空真如) Chỉ cho chân lí vô ngã. Nghĩa là duyên nơi Ngã không mà khởi trí, nương vào trí này mà hiển hiện lí chân như. Chân như là chân lí thường trụ. Chân lí này là chân thể vô ngã lìa ngã chấp, vì thế gọi là Ngã không chân như, là chân lí mà hàng Thanh văn và Duyên giác chứng ngộ được. [X. luận Thành duy thức Q.1; Hoa nghiêm nguyên nhân luận; Hoa nghiêm kinh Khổng mục chương Q.3].
ngã không pháp hữu
(我空法有) Ngã không có thật, pháp thì có thật. Đây là chủ trương của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Thân thể của chúng sinh do 5 uẩn giả hòa hợp mà thành, không có tính thường nhất, cũng không có năng lực chi phối, đây là Ngã không. Nhưng đối với tất cả các pháp tồn tại khác thì có thực thể, có bản chất độc lập, là có thật, cho nên gọi là Pháp hữu.
ngã kiến
(hay ngã chấp): quan điểm cho rằng có một bản ngã thực sự tồn tại độc lập so với các đối tượng bên ngoài nó gọi là ngoại cảnh. Nhận thức này là sai lầm, không đúng thật với thực tại vốn hiện hữu do sự kết hợp của nhân duyên, kể cả cái gọi là bản ngã đó cũng không ngoại lệ.
; Māyādṛṣṭi (S), Ātman-dṛṣṭi (S)Vọng kiến chấp trước có thật ngãý mê chấp có ta.
; Satkàyadrsti (S). The erronous doctrine that the ego, or self composed of the five temporary skandhas is a reality and permanent. Also thân kiến.
; Thân Kiến—Tà kiến cho rằng thân tứ đại do ngũ uẩn hợp thành mà cho là thực, là thường trụ cố định—False view that every man has a permanent lord within—Wrong view on the existence of a permanent ego—The erroneous doctrine that the ego or self composed of the temporary five skandhas, is a reality and permanent.
; (我見) Phạm: Àtma-dfwỉi. Chỉ cho vọng kiến chấp trước có thực ngã. Theo luận Đại thừa khởi tín thì Ngã kiến được chia ra 2 loại: 1.Nhân ngã kiến: Chấp trước thân tâm do 5 uẩn sắc, thụ, tưởng, hành và thức giả hợp là thực ngã. 2. Pháp ngã kiến: Vọng chấp tất cả pháp đều có thể tính thực tại. Tông Duy thức cho rằng Ngã kiến là 1 trong 4 phiền não căn bản, tương ứng với thức Mạt na. Thức Mạt na này do sức huân tập hư vọng từ vô thủy đến nay, duyên với Kiến phần của thức A lại da mà có kiến chấp thực ngã thực pháp. [X. luận Đại tì bà sa Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; luận Câu xá Q.19; luận Thành duy thức Q.4, 6; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.2 phần đầu].
ngã kiến thân phọc
(我見身縛) Cũng gọi Thực chấp thủ thân hệ (Phạm: Idaô-satyabhiniveza-kàya-grantha; Pàli: Idaô-saccàbhinivesa-kàyagantha). Vọng kiến chấp trước có thực ngã trói buộc thân tâm, là 1 trong 4 phược. Cứ theo luận Tập dị môn túc quyển 8, Ngã kiến thân phược tức là chấp trước Ngã và thế gian hoặc thường, hoặc vô thường, hoặc cũng thường cũng vô thường, hoặc chẳng phải thường chẳng phải vô thường; lại chấp Ngã và thế gian hoặc hữu biên, hoặc vô biên, hoặc cũng hữu biên cũng vô biên, hoặc chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên. [X. luận Đại tì bà sa Q.48; Hoa nghiêm kinh Khổng mục chương Q.3; Đại tạng pháp số Q.20]. (xt. Tứ Phược, Phược).
ngã liệt mạn
Unamana (skt)—Sự ngã mạn cho rằng ta không kém hơn kẻ hơn ta là bao, đây là một trong cửu mạn—The pride of thinking myself not much inferior to those who far surpass me, one of the nine kinds of pride. ** For more information, please see Cửu Mạn.
ngã lòng
To lose courage—To lose heart—Discouraged—Disheartened.
ngã lạc
Attasukha (P), Ātmasukha (S), Self happiness Attasukha (P).
; Atmasukha (S). Happiness of oneself.
ngã lực
Ātma-ṣakti (S), Force of a devine self.
ngã mạn
tự cao, tự cho mình là hay, giỏi và có ý chê khinh người khác.
; Ātman-māna (S), Ahaṇkāra (S), Asmimmano (P), Egotism and arrogance Vì chấp thật tự ngã nên khi tiếp xúc với người khác thì tỏ ra thái đ kiêu căng gọi là ngã mạn. Căn bản của bảy loại mạn do chấp trước ngã và ngã sở mà khởi mạn. Tâm kiêu mạn (một trong 9 thứ mạn).
; Abhimàma, àtma-mada (S). Egotism and arrogance; exalting self and depreciating others; self intoxication, pride.
; Vì chấp thật tự ngã nên khi tiếp xúc với người khác thì tỏ ra thái độ kiêu căng, gọi là ngã mạn.
; Asmimana (p)—Abhimana or atma-mada (skt). Sự kiêu hãnh của tự ngã: Self-superiority—Self-sufficiency—Pride of self. Cậy vào cái ta mà khinh mạn hay kiêu ngạo người khác: Exalting self and depreciating others—Self-intoxication or pride of self. Tính tự cao tự đại của cái ta: Ego-conceit—Egotism.
; (我慢) Phạm: Àtma-màịa. Tâm kiêu mạn do chấp ngã là trung tâm, 1 trong 7 thứ mạn, 1 trong 9 thứ mạn. Luận Thành duy thức quyển 4 (Đại 31, 22 trung) nói: Ngã mạn là tâm cao ngạo do chấp ngã mà sinh. Ngoại đạo Số luận lập Ngã mạn làm 1 trong 25 đế gọi là Ngã mạn đế, do sự biến đổi của giác dụng trong Đại đế mà sinh khởi. (xt. Ngã Mạn Đế, Mạn).
ngã mạn cống cao
Pride—The pride of thinking oneself is superior to equals—Exalting self and depreciating others—Egotism or overweening pride.
ngã mạn đế
(我慢諦) Cũng gọi Mạn đế, Ngã tâm. Tâm ngạo mạn do chấp ngã mà sinh, là đế thứ 3 trong 25 đế do ngoại đạo Số luận ở Ấn độ đời xưa lập ra. Cứ theo luận Kim thất thập quyển thượng, trung, thì Tự tính đế(nguyên lí vật chất) và thần ngã (nguyên lí tinh thần) nương vào nhau mà sinh ra Đại đế (quyết trí có năng lực biết rõ đây kia), rồi lại do sự tăng trưởng giác dụng trong Đại đế mà sinh khởi ngã chấp, gọi là Ngã mạn đế. Ngã mạn đế là do 3 đức đại đế (tức là 3 đức Tát đỏa, La xà, Đa ma, dịch là: Mừng, lo, tối, vui, khổ, xả của Tự tính đế) hoạt động mà sinh khởi, khi 3 đức này mất thế cân bằng thì lần lượt tăng trưởng 3 thứ ngã mạn: Đại sơ, Chuyển dị, Diệm xí. 1. Đại sơ ngã mạn: Đại sơ nghĩa là Đại đế tăng trưởng lúc ban đầu; do sự tăng trưởng của Đa ma(tối tăm) trong Đại đế mà sinh, tính này còn tối tăm, ngu si, hay sinh ra 10 đế là: Sắc, thanh, hương, vị, xúc (Ngũ duy) và hỏa, không, địa, thủy, phong (Ngũ đại). 2. Chuyển dị ngã mạn, cũng gọi Biến dị ngã mạn. Chuyển dị nghĩa là tối tăm ngu si chuyển biến, sinh ra ánh sáng nhạt; tính này do Tát đỏa (vui) trong Đại đế tăng trưởng mà sinh, có khả năng sinh ra 11 đế là: Mắt, tai, mũi, lưỡi, than (Ngũ tri căn) và lưỡi (nói) tay, chân, nam nữ (sinh thực khí), đại khiển (Ngũ tác căn), cho đến tâm căn. 3. Diệm xí ngã mạn: Diệm xí nghĩa là ánh sáng nhạt tăng trưởng, sức nóng bốc mạnh, là do sự tăng trưởng của La xà (lo) trong Đại đế mà sinh, có khả năng sinh ra 21 đế nói trên; đây là vì Đại sơ ngã mạn và Chuyển dị ngã mạn không thể 1 mình sinh ra các đế mà phải nhờ sự trợ giúp của Diệm xí ngã mạn mới có thể phát sinh tác dụng năng sinh. Lại vì Diệm xí ngã mạn là do sự tăng trưởng của La xà mà sinh, cho nên trong 3 đức thì chỉ có đức La xà là có đủ tác dụng hoạt động. [X. kinh Niết bàn Q.35 (bản Nam); Bách luận sớ Q.thượng phần giữa]. (xt. Nhị Thập Ngũ Đế, Số Luận Học Phái).
ngã mạn định
(我慢定) Cũng gọi Khan chấp định. Thấy các cảnh giới kì lạ trong định, rồi mê đắm chấp trước cho là cảnh giới thù thắng.
ngã mặn
See Khai Tố.
ngã ngu
Ego ignorance, holding to the illusion of the reality of the ego.
; Sự ngu si của cái ngã, hay sự chấp chặt vào ảo tưởng của một thực ngã—Ego ignorance, holding to the illusion of the reality of the ego.
; (我愚) Vọng chấp ngã là thật có, tức là chưa thông đạt chân lí vô ngã. Thành duy thức luận thuật kí quyển 1 phần đầu (Đại 43, 229 hạ) nói: Người ấy nghe pháp Tứ đế, tuy đã dứt được ngã ngu, nhưng đối với các pháp vẫn còn chấp là thật có.
ngã ngã sở
Tôi và cái của tôi (thân ta và các sự vật ngoài thân ta nhưng thuộc về ta)—I and mine—The self and its possession.
; (我我所) Ta, của ta. Ngã chỉ cho thân mình; Ngã sở (Phạm: Mama-kàra), chỉ cho những vật ngoài mình, chấp đó là sở hữu của mình, vì thế gọi là Ngã ngã sở. Luận Đại trí độ quyển 31 (Đại 25, 295 thượng) nói: Ngã là gốc rễ của tất cả phiền não, trước hết chấp 5 uẩn là Ngã, rồi sau chấp ngoại vật là Ngã sở. [X. Chú Duy ma kinh Q.2; Duy ma nghĩa kí Q.1 phần cuối; Viên giác kinh sao Q.9]. (xt. Ngũ Kiến).
ngã ngũ
Concluded—Settled.
ngã ngữ thủ
The attachment to doctrines or statements about the ego.
; Ngôn ngữ của kẻ mê chấp đủ loại ngã kiến, gọi là ngã ngữ thủ, là một trong tứ thủ—The attachment to doctrines or statements about the ego, one of the four kinds of attchment. ** For more information, please see Tứ Thủ.
; (我語取) Phạm: Àtma-vàdopàdàna. Những phiền não do duyên theo trong thân mà sinh khởi, là 1 trong 4 thủ (phiền não).Tức chỉ cho tham, mạn, vô minh và nghi ở Sắc giới và Vô sắc giới. [X. luận Phật tính Q.3]. (xt. Tứ Thủ).
Ngã nhân
(我人): ta và người; hay ngã tướng (我相), nhân tướng (人相) cùng với chúng sanh tướng (眾生相) và thọ giả tướng (壽者相) tạo thành 4 tướng. Như trong Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, Taishō Vol. 17, No. 842) có đoạn rằng: “Nhất thiết chúng sanh tùng vô thỉ lai, vọng tưởng chấp hữu ngã, nhân, chúng sanh cập dữ thọ mạng, nhận Tứ Điên Đảo vi thật ngã thể (一切眾生從無始來、妄想執有我、人、眾生及與壽命、認四顚倒爲實我體, hết thảy chúng sanh từ vô thỉ đến nay, lầm tưởng chấp có ta, người, chúng sanh cùng với thọ mạng, nhận Bốn Điên Đảo này làm ngã thể thật).” Hay trong Hoa Nghiêm Nguyên Nhân Luận Hợp Giải (華嚴原人論合解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 58, No. 1033) quyển Hạ lại có đoạn: “Tiện ngộ thử thân đản thị chúng duyên, tợ hòa hợp tướng, nguyên vô ngã nhân, vi thùy tham sân (便悟此身但是眾緣、似和合相、元無我人、爲誰貪嗔, bèn ngộ thân này chỉ là các duyên, giống như tướng hòa hợp, vốn không ta người, ai là tham sân).”
ngã nhân tứ tướng
The four ejects of the ego in Diamond sùtra: (1) ngã tướng the illusion that in the five skandhas there is a real ego; (2) nhân tướng that this ego is a man, and different from beings of the other paths; (3) chúng sinh tướng that all beings have an ego born oof the five skandhas; (4) thọ giả tướng that the ego has age, i.e. a determined or fated period of existence.
; Bốn tướng ngã nhân—Four ejects of the ego in the Diamond sutra (Kinh Kim Cang):
ngã pháp
Self (or the ego) and things.
; Ngã và pháp—The self or ego and things.
ngã pháp câu hữu tông
Vàtsìputrìyà (S). The school that regards the ego and things are real. Also Độc tử bộ.
; Độc Tử Bộ—Ngã Pháp Câu Hữu Tông là một tông phái Tiểu Thừa cho rằng ngã và pháp đều có thật—The school that regards the ego and things as real, the Vatsiputriya school.
; (我法俱有宗) Tông phái chủ trương Ngã và Pháp đều thực có, là 1 trong 10 tông của Ngũ giáo thập tông do tông Hoa nghiêm lập ra. Như Nhân thiên giáo trong Ngũ giáo do Ngũ tổ Tông mật của tông Hoa nghiêm lập và các bộ trong 20 bộ thuộc Tiểu thừa như: Độc tử bộ, Pháp thượng bộ, Hiền trụ bộ, Chính lượng bộ, Mật lâm sơn bộ, Kinh lượng bộ v.v... đều thuộc Ngã pháp câu hữu tông. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.8]. (xt. Ngũ Giáo Thập Tông).
ngã pháp nhị chấp
(我法二執) Cũng gọi Nhân pháp nhị chấp, Sinh pháp nhị chấp. Gọi tắt: Nhị chấp. Tức là Ngã chấp và Pháp chấp. Thuyết nhất thiết hữu bộ Tiểu thừa chủ trương pháp thể là có thật, nên chỉ đề xướng thuyết Ngã chấp; còn Đại thừa thì quán xét các pháp đều không, cho nên gọi những người chủ trương thật có pháp là Pháp chấp mà đề xướng Ngã pháp nhị chấp. Hai vọng chấp này đều lấy Tát ca da kiến làm thể và do lực dụng bất đồng nên có 2 chướng khác nhau, tức chấp ngã gọi là Phiền não chướng và chấp pháp gọi là Sở tri chướng. Vì đoạn trừ 2 chướng này nên nói Nhị không, Nhị không trí. Trừ hết 2 chướng thì chứng được Đại bồ đề. [X. luận Thành duy thức Q.1, 2, 5; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng phần cuối; Thành duy thức luận Q.1 phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.4 phần cuối]. (xt. Ngã Chấp, Pháp Chấp).
ngã quỷ
See Ngạ Quỷ.
ngã si
Ātman-moha (S)Si mê ngã tướng.
; Ego-infatuation, confused by the belief in the reality of the ego.
; Ego-infactuation, confused by the belief in the reality of the ego.
; (我痴) Phạm: Àtmamoha. Si mê nơi ngã tướng, ngu tối không thấy lí vô ngã. Cùng với Ngã kiến, Ngã mạn, Ngã ái hợp thành 4 thứ phiền não căn bản. Duy thức tam thập luận tụng (Đại 31, 60 trung) nói: Bốn thứ phiền não thường đi cùng nhau, nghĩa là Ngã si, Ngã kiến, Ngã mạn, Ngã ái và Xúc... cùng đi chung. Bởi vì tất cả hoặc chướng đều lấy ngu si làm gốc, cho nên biết từ Ngã si mà sinh ra 3 thứ phiền não kia. [X. luận Thành duy thức Q.4; luận Biện trung biên Q.thượng; Bách pháp vấn đáp sao Q.1].
ngã sở
Ātman-kara (S)Các vật ngoài tự thân là của ta.
; Mine, personal, subjective; personal conditions, possessions, or anything related to the self. Also ngã sở hữu, ngã sở sự.
; Attaniya or Atmaniya (p)—Atmiya (skt)—Cái thuộc về của tôi hay cái do ta sở hữu—Mine—Belonging to oneself.
; (我所) Phạm: Mama-kàra. Gọi đủ: Ngã sở hữu. Quan niệm cho rằng các vật ngoài tự thân (ta) đều là vật sở hữu của ta. Trong Phật giáo, Ngã và Ngã sở (ta và của ta) bị coi là cội gốc phân biệt của tất cả sự phân biệt ở thế gian, cho nên Ngã và Ngã sở là đối tượng phải được phá trừ. Ngã sở lại được chia làm 3 thứ là: Tương ứng ngã sở, Tùy chuyển ngã sở và Bất li ngã sở; nếu chấp trước Ngã sở thì gọi là Ngã sở kiến. Pháp ngũ thủ uẩn mà Ngã sở kiến chấp trước đều bắt nguồn từ quan niệm Ngã sở này, cho nên luận Tập dị môn túc quyển 12 (Đại 26, 419 hạ) nói: Đối với ngũ thủ uẩn, tùy theo quan niệm kiến chấp về Ngã hoặc Ngã sở mà từ đó khởi lên quan niệm kiến chấp về nhẫn, dục, tuệ. [X. luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; Chú Duy ma cật kinh Q.5; Bách pháp vấn đáp sao Q.1]. (xt. Ngã Sở Kiến).
ngã sở hiến
Ātmadāna (S), Surrendering of the self to gods.
ngã sở kiến
Ātman-darshan (S), A vision of the self.
; The incorrect view that anything is really mine, for all things are but temporal combinations.
; Tà kiến cho rằng sự vật thuộc về ta, vì sự vật chỉ là giả hợp chứ không có thật—The incorrect view that anything is really mine, for all things are but temporal combinations.
; (我所見) Phạm: Mama-kàra-dfwỉi. Vọng chấp pháp 5 uẩn là của ta, hoặc thuộc về ta. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập thì Ngã sở kiến có 3 thứ: 1. Tương ứng ngã sở: Ngã có hình tướng vật chất; như nói Ngã có sắc cho đến Ngã có thức, tức chấp trước 5 uẩn tương ứng với thân ta. 2. Tùy chuyển ngã sở: Hình tướng vật chất thuộc về ta; như nói Sắc thuộc về ta cho đến Thức thuộc về ta là chấp trước pháp 5 uẩn tùy thuộc nơi ta, do sức tự tại của ta mà xoay chuyển. 3. Bất li ngã sở: Ta ở trong hình tướng vật chất, như nói Ta ở trong sắc cho đến Ta ở trong thức, tức là chấp trước thực ngã không lìa 5 uẩn, ở khắp trong thân thể. Trong 5 uẩn, mỗi mỗi uẩn đều có 3 nghĩa này, nên gọi chung là Thập ngũ ngã sở kiến (15 Ngã sở kiến); 15 ngã sở kiến này lại cộng thêm 5 thứ ngã kiến nữa mà thành 20 loại Tát ca da kiến. [X. luận Đại tì bà sa Q.8, 9, 49; luận Câu xá Q.19; luận Thành duy thức Q.4, 6; Câu xá luận quang kí Q.19; Thành duy thức luận thuật kí Q.5, phần đầu].
ngã sở lạc
Ātmananda (S), Bliss of the self.
ngã sở nghịch
Ātma-dorsa (S), Hostility towards the self.
ngã sở sự
Personal conditions, possessions, or anything related to the self.
ngã sở thức
Ātma-chintana (S), Thoughts towards the self.
ngã sở tâm
Tâm nghĩ rằng nó là chủ của vạn hữu—The mind that thinks it is owner of things.
ngã sỡ hữu
Personal—Subjective.
ngã sỡ tri
Ātman-jāna (S), Knowledge of the self.
ngã sự
My body; myself; my affair.
; Thân tôi: My body. Chính tôi: Myself. Công việc của tôi: My affairs.
ngã thiên nhĩ cẩu
(我天爾狗) Ta, Trời, Ông, Chó. Đây là phương pháp biện luận xoay vòng mà bồ tát Đề bà, người Nam Ấn độ, đã sử dụng để khuất phục các Luận sư ngoại đạo ở nước Bát la da già (Phạm: Prayàga) thuộc Trung Ấn độ vào khoảng thế kỉ III. Đại đường tây vực kí quyển 5 (Đại 51, 897 trung) nói: Mới đầu, bồ tát Đề bà từ Nam Ấn độ đến già lam này, trong thành có 1 ngoại đạo Bà la môn, nổi tiếng về tài biện luận vô ngại, thường dồn đối phương đến chỗ lí cùng, ngôn tận. Ông ta nghe ngài Đề bà là người học thức cao xa, nghiên cứu sâu rộng, muốn chiết phục ngài, nên 1 hôm ông ta đến hỏi: Ngài tên là gì? Đề bà đáp: Tên Thiên. Ông ta hỏi: Thiên là ai? Đề bà đáp: Ta. Người kia hỏi: Ta là ai? Đề bà đáp: Chó. Người kia hỏi: Chó là ai?. Đề bà đáp: Ông. Người kia hỏi: Ông là ai? Đề bà đáp: Thiên. Người kia hỏi: Thiên là ai? Đề bà đáp: Ta. Người kia hỏi: Ta là ai? Đề bà đáp: Chó. Người kia hỏi: Chó là ai? Đề bà đáp: Ông. Người kia hỏi: Ông là ai? Đề bà đáp: Thiên. Cứ hỏi đáp xoay vòng như thế mãi; sau Luận sư kia mới ngộ được. [X. Bách luận tự; Bách luận sớ Q.thượng phần trên; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.6; Đề bà bồ tát truyện; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4]. (xt. Ca Na Đề Bà).
ngã thất
The ego as the abode (of all suffering).
; “Ngã” chính là nhà chứa đựng những khổ đau phiền não—The ego as the abode of all suffering.
ngã thắng mạn
Adhimàna (S). The pride of thinking oneself superior to equals.
; Adhimana (skt)—Ngã mạn cho rằng ta hơn những kẻ ngang hàng với ta—The pride of thinking onself superior to equals, one of the nine kinds of pride. ** For more information, please see Cửu Mạn.
ngã thức
Ātmabodha (S), Knowledge of the Self Kinh điển Vệ đà.
; Atman-vijnana (skt)—I-consciousness.
ngã tiêm mạn
Ùnamàna (S). The pride of thinking myself not much inferior to those who far surpass me. One of cửu mạn.
ngã tích sở tạo chư ác nghiệp
(我昔所造諸惡業) Câu thứ nhất trong bài sám hối ghi trong phẩm Phổ hiền hành nguyện kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản 40 quyển). Khi sám hối trong các khóa lễ tụng, các tông phái Phật giáo đều đọc bài sám hối này. Toàn văn như sau (Đại 10, 847 thượng): Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp Giai do vô thủy tham sân si Tòng thân ngữ ý chi sở sinh Nhất thiết ngã kim giai sám hối. (Xưa kia con gây bao ác nghiệp Đều do ba độc tham, sân, si Từ thân, ngữ, ý phát sinh ra Hết thảy con nay xin sám hối).
ngã tín lực
Ātmavīrya (S), Strength of the self in being one with God.
ngã tính
The nature of the ego.
ngã tòng lai nghi trước giá hán
(我從來疑著這漢) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Từ trước đến giờ tôi vốn nghi ngờ gã ấy. Nghĩa là từ trước đến nay tôi vẫn ngờ người ấy không phải nhân vật tầm thường và đã đúng như thế. Không tầm thường có hàm ý là người đã siêu việt cảnh giới thiện ác, không thể theo tiêu chuẩn phổ thông để đánh giá họ. Lâm tế lục khám biện (Đại 47, 503 trung) ghi: Phổ hóa Thác khai nói: Ngày mai ở viện Đại bi có trai tăng. Thị giả về thưa lại với sư, sư nói: Từ trước đến giờ ta vẫn ngờ gã ấy.
ngã tướng
Egoism, the concept of the ego as real; representation of self.
; The appearance of ego—Nơi ngũ uẩn mà ảo chấp là có thực ngã nên sanh lòng khinh khi người nghèo, kẻ ngu—The illusion that in the five skandhas there is a real ego; thus creating the idea of looking down on the poor, stupid and deluded.
; (我相) I. Ngã Tướng. Chỉ cho tướng dáng của Ngã, tức là cái tướng của Ngã tựa hồ như thật do vọng tưởng biến hiện ra, nhưng vì mê lầm nên phàm phu chấp trước là thực có. Ngã tướng gồm 2 loại: 1. Ngã tướng của thế gian: Như hữu tình, ý sinh, sinh giả, sĩ phu, tác giả, thụ giả, tri giả, kiến giả v.v... 2. Ngã tướng của Thánh giáo: Như Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, Vô học, Nhị thập thất hiền thánh, Thập tam trụ v.v... Theo tông Duy thức thì thức ý và thức mạt na của phàm phu từ vô thủy đến nay vọng chấp phân biệt ngã, pháp, rồi huân tập vào thức A lại da, cho nên khi các thức sinh thì Kiến phần và Tướng phần của thức A lại da theo đó mà biến hiện các vọng tướng như thực ngã, thực pháp, phàm phu liền chấp các tướng ấy là thật. Bởi thế, tướng của ngã, pháp vốn không có thực thể, chỉ tùy các duyên phân biệt vọng chấp mà giả lập Ngã tướng của thế gian, cũng tùy duyên giả lập ra việc đoạn ác chứng đạo và giả lập Ngã tướng của Thánh giáo. Theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 1 phần đầu, Luận sư Hộ pháp cho rằng do tâm phân biệt vọng chấp ngã, pháp từ vô thủy đến nay huân tập (xông ướp) bản thức (A lại da) mà sinh ra Kiến phần và Tướng phần; nhưng vì kẻ phàm phu không biết Kiến phần và Tướng phần thực ra chỉ từ trong thức A lại da biến ra, nên mới vọng chấp có thực ngã, thực pháp, tuy không thực có ngã, pháp nhưng tùy theo vọng tình chấp tướng, nên gọi là ngã, pháp. Luận sư An tuệ thì chủ trương Kiến phần và Tướng phần đều là tính Biến kế sở chấp, hư vọng, không có thực thể, tuy nhiên, ở trên Kiến phần và Tướng phần(đều không) này giả lập ngã, pháp mà cho rằng ngã, pháp là Biệt vô. II. Ngã Tướng. Vọng chấp trong 5 uẩn có Ngã, Ngã sở, là 1 trong 4 tướng. (xt. Tứ Tướng).
ngã tưởng
The thought that the ego has reality.
; Tưởng nghĩ đến tự ngã vì cho rằng tự ngã là có thực—Thought of self—The thought that the ego has reality.
ngã và ngã sở
kiến chấp mê lầm cho rằng có một bản ngã tồn tại độc lập (ngã) và các đối tượng thuộc về bản ngã ấy (ngã sở); thường hiểu đơn giản là “ta và vật của ta”. Người tu tập nếu biết được cái ta (ngã) vốn đã là không thật, thì những vật do ta sở hữu (ngã sở) cũng không thật có.
ngã xuống
To collapse
ngã ái
Self-love; the love of or attachment to the ego.
; Yêu cái ta, yêu hay chấp vào thực ngã, khởi lên với thức thứ tám—Self-love; the love of or attachment to the ego, arising with the eighth vijnana.
; (我愛) Phạm: Àtma-sneha. Yêu quí cái ta rất sâu đậm, là 1 trong 4phiền não căn bản, do thức mạt na chấp thức a lại da làm ngã mà sinh khởi. Luận Thành duy thức quyển 4 (Đại 31, 33 trung) nói: Ngã ái là ngã tham, nghĩa là yêu thương say đắm cái ta. [X. Đại phương quảng Viên giác tu đa la liễu nghĩa; Thành duy thức luận Q.5 phần đầu; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.hạ phần đầu]. (xt. Tứ Phiền Não).
ngã điên đảo
The illusion that the ego is real; also the incorrect view that the Nirvàna-ego is non-ego. One of the tứ điên đảo.
; Phiền não vì cho rằng ngã là có thực—One of the four inverted or upside-down ideas, the illusion that the ego is real—The illusion that the ego has real existence. ** For more information, please see Tứ Điên Đảo.
ngã đảo
The illusion of an ego, one of the four inverted or upside-down ideas.
ngã đẳng mạn
Mànàtimàna (S). The pride of thinking oneself equal to those who surpass us.
; Manatimana (skt)—Ngã mạn cho rằng ta bằng những kẻ hơn ta, đây là một trong chín loại ngã mạn—The pride of thinking oneself equal to those who surpass us, one of the nine kinds of pride.
ngã đức
Power or virtue of the ego, the ego being defined as tự tại sovereign, master, free.
; Sức mạnh hay đức của ngã được định nghĩa như là tự tại, khắc phục và giải thoát—Power or virtue of the ego, the ego being defined as sovereign, master, free.
ngó chòng chọc
To stare.
ngó chừng
To keep watching.
ngó lơ
To be careless. To avoid someone.
ngó ngoái
To look back.
ngó sen
Lotus root.
ngó thấy
To see.
ngó trân trân
See ngó chòng chọc.
ngóc
To lift up one's head.
ngón tay chỉ trăng
Finger pointing to the moon.
ngóng
To wait impatiently.
ngóp
Lóp ngóp—To get up with difficutlty.
Ngô
(呉・吳・吴): (1) Nhà Ngô do Thái Bá (泰伯) kiến lập dưới thời nhà Chu (周), trải qua 25 đời vua, kéo dài 759 năm, sau bị nhà Việt (越) tiêu diệt vào năm 472 trước công nguyên. (2) Nhà Ngô do Tôn Quyền (孫權) kiến lập dưới thời Tam Quốc, đóng đô ở Kiến Nghiệp (建業), trải qua 4 đời vua và kéo dài 60 năm, sau bị nhà Tấn (晉) tiêu diệt vào năm 280. (3) Nhà Ngô dưới thời Ngũ Đại, do Dương Hành Mật (楊行密) kiến lập, trải qua 4 đời vua và kéo dài 46 năm, sau bị Từ Tri Cáo (徐知誥) tiêu diệt vào năm 937. (4) Địa danh, ngày xưa là địa phương nước Ngô, nay là một dãy Tỉnh Giang Tô (江蘇省). (5) Tên gọi chung Trung Quốc ngày xưa. (6) Đồ vật mang từ Trung Quốc sang.
; 呉; C: wú; J: go;|1. Tên một triều đại thời cổ Trung Hoa: a. Thời Xuân Thu, Ngô là vương quốc hùng mạnh bị vương triều Yüeh đánh bại; b. Đông Ngô, phần lớn lãnh thổ phía Đông của thời Tam Quốc (CE 229-280), tương đương tỉnh Chiết Giang; 2. Hò hét, ồn ào, nói oang oang; 3. Cách phát âm của người Nhật dành cho những Hán tự vốn được đọc theo cách phát âm Ngô, không đọc theo âm Hán. Nhiều thuật ngữ Phật học dùng cách phát âm nầy.
ngô ca
(吳哥) Angkor. Cũng gọi Lộc ngột, An ca. Kinh đô của vương triều An ca, dân tộc Khmer, ở Bắc bộ Cao miên, từ thế kỉ IX đến thế kỉ XV. Đô thành này gồm có hơn 600 tòa kiến trúc, được cấu tạo toàn bằng những khối đá lớn với những bức phù điêu khắc bằng đá rất đẹp, vốn có tên là Nangara, đời sau gọi lầm là An ca. Đến thế kỉ thứ XV, người Thái vây đánh Ngô ca, cướp bóc tàn phá, vương triều phải dời đến Bách nang bôn ở phía nam (tức là Phnom Pênh), Ngô ca từ đó trở nên hoang vu. Vào thế kỉ XX, Ngô ca trở thành khuôn mẫu cho việc khôi phục di tích xưa. Năm 1907, cục Bảo hộ An ca tiếp quản Ngô ca, từ trong bùn đất, cỏ cây rậm rạp, người ta đã đào được 1 tòa kiến trúc kì quan hoành tráng và được trùng tu, bảo tồn. Từ sau năm 1968, Cao miên lâm vào cảnh chiến tranh, rồi từ 1975 đến 1979 lại bị cộng sản Cao miên tàn phá. Hiện nay, nhà nước Cao miên tuy có lưu tâm bảo tồn cổ tích Ngô ca, nhưng hiệu quả không có bao nhiêu. (xt. An Ca Nghệ Thuật).
ngô châu thạch khanh
Wu chou Shih fan (C).
ngô khắc kỉ
(吳克己) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Tống, người Tiền đường, tỉnh Chiết giáng, tự Phục chi, hiệu Khải am. Thủa nhỏ, ông đọc Chu quan, vì cảm khái mà nảy sinh chí giúp đời. Sau ông ẩn ở Tả khê, thường đọc kinh Lăng nghiêm và Tông kính lục, rồi ông theo lời khuyên của ngài Bảo tích Thực công tu tập chỉ quán mà được tỏ ngộ. Về sau, ông chuyên tu Tịnh độ. Khoảng năm Càn đạo ( 1165-1173), ông kết Liên xã với ngài Thực công ở Tô châu và cùng nhau soạn Thích môn chính thống nói rõ sự truyền thừa của tông Thiên thai. Năm Gia định thứ 7 (1214) ông qua đời tại Bảo sơn, thọ 75 tuổi. Ông có tác phẩm: Pháp hoa xu kiện.
ngô nhuận giang
(吳潤江) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người Khai bình, tỉnh Quảng đông. Truyền nhân đời thứ 18 của Hồng giáo thuộc Tạng mật và đời thứ 3 của Tổ sư Bối nhã Đạt lại. Thủa nhỏ, ông đọc kinh sử tử tập và học tập văn Khư lô ở thư viện Thánh tâm. Khoảng năm Dân quốc thứ 14, 15 (1925- 1926), vì ông bị bệnh lâu mà không thuyên giảm nên mới qui y Phật giáo. Năm 20 tuổi, ông được ngài Nặc na hô đồ khắc đồ truyền pháp Quán đính ở Phật giáo cư sĩ lâm tại Nam kinh, từ đó ông tu tập pháp Vô thượng du già của Hồng giáo và tích cực hoằng dương pháp môn này. Ông từng biên chép và in ấn kinh Đại bạch tản cái Phật mẫu tổng trì đà la ni, khuyến khích người học niệm quán Tam muội, đặt vững nền tảng cho Mật tạng tại Quảng đông. Năm 1949, ông đến Hồng kông, sáng lập tinh xá Nặc na tại Cửu long để làm đạo tràng Mật giáo. Ông thường ra Đài loan và nước ngoài hoằng pháp. Ông có các tác phẩm: Kim cương bát nhã ba la mật kinh giảng nghĩa, Nặc môn phổ truyền chân ngôn, Thánh cứu độ Phật mẫu tu trì pháp, Phật giáo đích vũ trụ quan cập nhân sinh quan.
Ngô Thê Kính
(吾妻鏡, Azumakagami): còn gọi là Đông Giám (東鑑, Azumakagami), bộ Sử Thư được thành lập vào cuối thời Liêm Thương, gồm 52 quyển (khuyết mất quyển thứ 45). Nó được biên thuật theo dạng nhật ký với thể văn Hán Văn, nói về những sự kiện của chế độ Mạc Phủ Liêm Thương. Đây là một tư liệu lịch sử vô cùng quan trọng, đã ghi lại toàn bộ biến chuyển lịch sử trong thời gian 87 năm, kể từ khi Tướng Quân Nguyên Lại Chính (源賴政, Minamoto-no-Yorimasa) cử binh vào năm 1180 (niên hiệu Thừa Trị [承治] thứ 4) cho đến khi Tông Tôn Thân Vương (宗尊親王, Munetaka Shinnō) trở về kinh đô Kyoto vào năm 1266 (niên hiệu Văn Vĩnh [文永] thứ 3). Bộ này đã sử dụng khá nhiều tài liệu của các bản nhật ký, cổ văn thư, tác phẩm văn học, v.v., có giá trị to lớn như là sử liệu quan trọng để nghiên cứu về thời đại Liêm Thương.
ngô thừa ân
Wu Ch-eng-en (C)Người viết bộ Tây du ký.
ngô đô pháp thừa
(吳都法乘) Tác phẩm, 12 quyển, (hoặc 30 quyển), do Chu vĩnh niên soạn vào đời Minh, Trung quốc. Nội dung biên tập các kí sự về Phật giáo ở đất Ngô, thuộc tỉnh Giang tô. Bản 30 quyển, mỗi thiên đều thu chép tất cả các việc dù lớn hay nhỏ được ghi trong các sách, có nói rõ xuất xứ và tác giả. Ông Chu vĩnh niên (1582-1647) tự là An kì, người huyện Giang ngô, tỉnh Giang tô, ông phát nguyện khắc tạng Kinh, trọn đời cúng tăng. Ngoài sách này ra, ông còn có các tác phẩm như: Đặng úy Thánh ân tự chí, Hổ khâu sơn Linh nham tự hợp chí. [X. Ngô đô pháp thừa Q.đầu; Trung quốc Phật giáo sử tịch khái luận (Trần viên); Tứ khố toàn thư tổng mục đề yếu Q.145; Hổ khâu sơn chí (Cố mi)].
ngô đạo huyền
(吳道玄) Họa gia Trung quốc, sống vào đời Đường, người Dương địch, Khai phong (huyện Vũ, tỉnh Hà nam). Lúc đầu, ông tên là Đạo tử, sau đồi là Đạo huyền. Thủa nhỏ, ông mồ côi, nghèo khổ, lớn lên, ông đến Lạc dương cùng với các ông Trương húc, Hạ tri chương học thư pháp nhưng không thành công. Về sau, ông chuyên tâm tập vẽ, nghiên cứu đến chỗ sâu xa kì diệu, lập ra trường phái riêng. Các hình tượng Phật, quỉ thần, người, vật, cầm thú, sơn thủy, lầu gác, do ông vẽ đều đứng đầu vào thời ấy. Bút pháp của ông siêu tuyệt, người đời gọi ông là Bách đại họa thánh (ông thánh nghề vẽ của trăm đời). Lúc đầu, ông làm quan ở Cổn châu giữ chức Hà khâu úy, sau được triệu vào cung làm Nội giáo bác sĩ, nếu vua không ban chiếu lệnh thì ông chẳng vẽ. Lúc tuổi trẻ, nét vẽ của ông hơi tỉ mỉ, đến trung niên thì lỗi lạc hồn hậu, tranh sơn thủy của ông biểu tỏ vẻ kiệt xuất phong trần, trong tranh nét mực hơi nhạt, rất tự nhiên, người đời gọi là Ngô trang. Ông từng vẽ tranh biến tướng địa ngục ở chùa Cảnh công tại Khai phong, không vẽ rõ quỉ quái, mà vẽ những kẻ bán thịt, bán cá ở cõi u minh, rất nhiều người nhìn thấy sợ tội mà đã đổi nghề. [X. Phật tổ thống kỉ Q.40; Lịch đại danh họa kí Q.9; Vạn bảo toàn thư Q.4; Thái bình quảng kí Q.212; Dậu dương tạp trở tục tập Q.5; Lang gia đại túy biên Q.18].
Ngô Ỷ
(呉綺, 1620-1695): nhà văn học dưới thời nhà Thanh, tự là Viên Thứ (薗次, 園次), hiệu Thính Ông (聽翁), Phong Nam (豐南), được gọi là Hồng Đậu Từ Nhân (紅豆詞人); xuất thân Giang Đô (江都). Ông là người có tư chất khác thường, năm lên 5 tuổi đã có thể làm thơ được; khi lớn lên thì phát triển thông minh trí tuệ, đọc sách không chán; học rộng nhiều tài. Năm thứ 15 (1654) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông đỗ Tiến Sĩ, được ban cho chức Bí Thư Viện Trung Thư Xá Nhân (秘書院中書舍人). Vâng chiếu chỉ Hoàng Đế, ông sáng tác kịch bản của Dương Kế Thạnh (楊繼盛), tức là Trung Mẫn Ký (忠愍記). Xem xong Hoàng Đế Thuận Trị rất hài lòng, bèn lấy chức quan Binh Bộ Thị Lang (兵部侍郎) của Dương Kế Thạnh mà ban cho Ngô Ỷ. Ngoài ra, ông còn được cử làm Tri Phủ (知府) của Hồ Châu (湖州), Triết Giang (浙江). Trong thời gian tại nhiệm, bá tánh đều được yên bình; người dân Hồ Châu thấy ông có phong lực, phong cách, phong nhã; nên gọi ông là Tam Phong Thái Thú (三風太守). Tính cách của ông thản nhiên, nhẹ nhàng, bình dị, gần gủi với mọi người, hoan hỷ kết thân với bằng hữu; nên các danh sĩ bốn phương lai vãng liên tục, thương cùng ông ngâm thơ, xướng từ, vui chơi, yến tiệc không ngừng. Vì vậy, ông bị kẻ xấu bẩm báo lên, và cuối cùng trở về quê cũ. Tuổi già của ông rất nghèo túng, chẳng có điền sản. Ông là người tài hoa xuất chúng, từ khúc rất tinh xảo; những thi từ ông sáng tác được thâu lục vào bộ Lâm Huệ Đường Tập (林蕙堂集) 26 quyển. Trước tác của ông có Lĩnh Nam Phong Vật Ký (嶺南風物記), Tống Kim Nguyên Thi Vịnh (宋金元詩詠), Tuyển Thanh Tập (選聲集), Khiếu Thu Phong (嘯秋風), Tú Bình Nguyên (繡平原), Trung Mẫn Ký (忠愍記), v.v.
ngôn
Words, speech; to speak.
; Vaca (p & skt)—Lời nói—Words—Speech—To speak.
ngôn bình đẳng
Vajrasamatā (S).
; Vàksamatà (S). Equality of speech.
ngôn cú
Sentences.
; Câu—Sentence.
ngôn giáo
Desanàpàtha (S). Scriptural text. The teaching of Buddha as embodied in words.
; Spoken teaching. Giáo thuyết nguyên thủy của Phật Tổ Thích Ca, chưa được ghi lại bằng chữ viết cho đến đầu thế kỷ thứ nhứt Tây lịch, khi mà Tạng Kinh Pali được ghi lại trên những lá kè, trong các tự viện ở Tích Lan—The original teaching of the Buddha, which was not recorded in writing until the 1st century B.C., when Pali canon was written on palm leaves in the monasteries in Sri Lanka. Giáo Thuyết của Đức Phật biểu hiện bằng ngôn ngữ: The teaching of Buddha as embodied in words.
; (言教) Phạm: Nirukti. Chỉ cho giáo pháp do đức Như lai dùng ngôn ngữ để diễn bày. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 5 hạ) nói: Các loại nhân duyên, các loại thí dụ, diễn rộng ngôn giáo. Phổ thông cho rằng Phật giáo nói có, nói không, chẳng phải có, chẳng phải không đều là để giải bày giáo pháp. Giáo lí ấy tuy là pháp đã được giải bày, nhưng chân đế không tên, lí chẳng thể nói, thì ngôn giáo đã rơi vào Đệ nhị nghĩa. Nhị đế nghĩa quyển thượng (Đại 45, 90 trung) nói: Giáo có lời để nói, lí thì không thể nói; lí đã không thể nói thì làm thế nào để ngộ được? Cho nên người ngộ được lí ắt phải mượn lời để nói, vì lẽ ấy nên nói có, nói không, nói chẳng phải có, chẳng phải không... đều là giáo khiến cho ngộ lí. Lại cứ theo luận Hiển dương thánh giáo quyển 20, thì Ngôn giáo có 4 loại là: Sai biệt lí thú, Kiến lập lí thú, Vô dị lí thú, Vô tác dụng lí thú và có 4 câu phân biệt là: Ngôn định ý bất định, Ý định ngôn bất định, Ngôn ý câu định và Ngôn ý câu bất định. [X. luận Du già sư địa Q.78; Đại thừa huyền luận Q.1; Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao Q.3; Tam luận huyền nghĩa kiểm u tập Q.5].
ngôn hành
Words and deeds.
; Vaci-sankhara (p)—Vacika-samskara (skt)—Lời nói và hành động—Saying and doing—Words and deeds—Verbal functions of the mind.
ngôn hứa đối
(言許對) Tiếng dùng trong Nhân minh. Một trong 3 tiêu chuẩn để phân biệt tự tướng và sai biệt trong luận thức Nhân minh. Ngôn là ngôn trần, tức là lời trình bày rõ ràng; Hứa là ý hứa, tức là ý chấp nhận. Phàm lời nói được trình bày và ý tứ trong đó được thừa nhận, cả 2 đều nhất trí, thì gọi là Ngôn trần. Trái lại, nếu lời nói được trình bày và ý tứ được thừa nhận không hoàn toàn nhất trí, thì gọi là Ý hứa. Ngôn trần là ý nghĩa trong lời nói, Ý hứa là ý nghĩa ngoài lời nói. Ngôn trần thì trong ngoài như một, cho nên gọi là Tự tướng, còn Ý hứa thì trong ngoài khác nhau, cho nên gọi là Sai biệt. (xt. Thể).
ngôn khuyết
(言缺) Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi thiếu (khuyết)ngôn trần hoặc ngôn trần không đầy đủ trong luận thức Nhân minh. Ngôn trần tức là lời nói mà người lập luận và người địch luận (người vấn nạn) đưa ra để trình bày ý kiến chủ trương của mình. Trong tác pháp 3 phần của Nhân minh, ngôn trần là yếu tố mà phần Tông (mệnh đề) không thể thiếu được. Chẳng hạn như lập tông Âm thanh là vô thường thì trong đó âm thanh và vô thường đều là ngôn trần; âm thanh là tiền trần (danh từ trước), vô thường là hậu trần (danh từ sau). Tiền trần biểu thị tự tướng của 1 pháp, cho nên cũng được gọi là Tự tướng (hoặc Tự tính); còn hậu trần thì biểu thị cho cái nhân tố đặc biệt của 1 pháp làm cho nó không giống các pháp khác, cho nên cũng được gọi là Sai biệt, tức là dùng tính chất sai biệt để hiển bày tự tính. Trong đối luận Nhân minh, tiền trần và hậu trần của phần Tông, bất cứ chủ trương, lập luận ra sao, đều phải đầy đủ và hoàn chỉnh, nếu không sẽ mắc lỗi ngôn khuyết; vì cái nội dung muốn trình bày mà đã khuyết (thiếu) thì lẽ tất nhiên chẳng có gì để đôi bên tranh luận. (xt. Khuyết Quá).
ngôn liễu nhân
(言了因) Đối lại: Ngôn sinh nhân. Tiếng dùng trong Nhân minh. Ngôn ngữ năng lập của người lập luận, 1 trong 6 nhân, 1 trong 3 Liễu nhân. Trong luận thức Nhân minh, người lập luận đã nêu ra Tông (mệnh đề), lại lập Nhân (lí do) để làm sáng tỏ chủ trương lập luận của mình, khiến địch luận (người vấn nạn) nhờ đó mà hiểu rõ. Đứng về phương diện địch luận mà nói, Nhân này được gọi là Ngôn liễu nhân, nghĩa là nhờ ngôn luận của người lập luận mà đối phương hiểu được rõ ràng. (xt. Liễu Nhân).
ngôn luận
Speech.
ngôn ngoại tông trung
Gongai SōchŪ (J).
ngôn ngữ
Language—Words—Speech—Verbal expression.
ngôn ngữ đạo đoạn
(言語道斷) Phạm: Sarva-vàda-caryoccheda. Cũng gọi Ngữ ngôn đạo đoạn, Ngôn ngữ đạo quá, Danh ngôn đạo đoạn. Đường ngôn ngữ dứt bặt, là nhóm từ được dùng để khen ngợi chân lí sâu xa, mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 5 (Đại 9, 424 hạ) nói: Xa lìa chấp tướng, quán chân thực, Được sức tự tại, thấy quyết định; Ngôn ngữ đạo đoạn, hành xứ diệt. [X. kinh Hoa nghiêm Q.11 (bản 60 quyển); luận Thành duy thức Q.10; Pháp hoa huyền nghĩa Q.2].
Ngôn niệm
(言念): tưởng nghĩ rằng, trộm nghĩ rằng; tương đương với thiết niệm (竊 [窃]念, nép nghĩ, thiết nghĩ, trộm nghĩ); là từ dùng để biểu thị một cách khiêm hạ về ý kiến, suy nghĩ của kẻ dưới với đấng bề trên. Ngôn (言) ở đây chỉ đóng vai trò là trợ từ. Như trong Chu Thư (周書), Truyện Lý Viễn (李遠傳) có câu: “Ngôn niệm trinh lương, truy tăng thương điệu (言念貞良、追增傷悼, tưởng nghĩ trinh lương, càng nhớ càng thêm thương xót).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 2, phần Gia Trì Pháp Sự Trần Tình Văn (加持法事陳情文), có đoạn: “Cung văn, Phật chơn Pháp Thân do nhược hư không, ứng vật hiện hình như thủy trung nguyệt; ngôn niệm thần tăng mỗ giáp, hạnh xử Trung Hoa, thao vi Thích tử, hà thiên địa bao hàm chi đức, cảm quân sư ban huấn chi ân (恭聞、佛眞法身猶若虛空、應物現形如水中月、言念臣僧某甲、幸處中華、叨爲釋子、荷天地包含之德、感君師頒訓之恩, Cúi nghe: Phật thật Pháp Thân giống như hư không, theo vật hiện hình như trăng trong nước; tưởng nghĩ nạp tăng …, may ở Trung Hoa, làm đệ tử Phật; mang trời đất che chở muôn đức, cảm thầy tổ dạy dỗ công ơn).”
ngôn sinh nhân
(言生因) Đối lại: Ngôn liễu nhân. Tiếng dùng trong Nhân minh. Nhân làm phát sinh sự hiểu biết, 1 trong 6 nhân, 1 trong 3 sinh nhân của Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, người lập luận đã lập Tông (mệnh đề), sau lại nêu ra Nhân (lí do) để giải thích chủ trương luận thức của mình, khiến cho đối phương hiểu rõ. Đứng về phía bản thân người lập luận mà nói, thì Nhân này được gọi là Ngôn sinh nhân. (xt. Lục Nhân, Sinh Nhân).
ngôn thuyên
Ngôn ngữ là công cụ để giải thích, làm rõ nghĩa lý, giống như cái nơm là dụng cụ để bắt cá—Words as explaining meaning; explanation.
; (言詮) Đồng nghĩa: Y ngôn, Y thuyên. Dùng ngôn ngữ văn tự để hiển bày nghĩa lí. [X. luận Kim cương châm; Thập địa kinh luận Q.2; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung, phần cuối].
ngôn thuyên trung đạo
(言詮中道) Đối lại: Li ngôn trung đạo. Trung đạo được giải bày bằng lời nói. Thực tướng trung đạo vốn dứt bặt nói năng, nhưng, muốn thuyết minh ắt phải dùng ngôn ngữ, vì thế, trung đạo biểu đạt bằng ngôn ngữ gọi là Ngôn thuyên trung đạo. Tông Pháp tướng sử dụng thuyết Tam tính đối vọng là: Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính và Viên thành thực tính (trong đó, tính Biến kế sở chấp chẳng phải có, 2 tính Y tha khởi và Viên thành thực chẳng phải không) để hiển bày nghĩa chẳng phải có chẳng phải không, gọi là Tam tính đối vọng trung đạo. Vì trung đạo này được thuyết minh bằng ngôn ngữ, nên cũng gọi là Ngôn thuyên trung đạo. [X. luận Thành duy thức Q.7; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu]. (xt. Nhị Trùng Trung Đạo, Tam Tính Đối Vọng Trung Đạo).
Ngôn thuyết
(言說): nói năng, bàn luận, diễn thuyết, giải thích bằng ngôn từ. Ngôn thuyết có nhiều loại khác nhau; theo Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 1 có nêu ra 3 loại, gồm: Tà Kiến (邪見), Mạn (慢) và Danh Tự (名字); trong đó, hai loại đầu thuộc về bất tịnh, loại thứ ba là tịnh. Hơn nữa, Thích Ma Ha Diễn Luận (釋摩訶衍論) quyển 2 lại nêu lên 5 loại khác như: Tướng Ngôn Thuyết (相言說), Mộng Ngôn Thuyết (夢言說), Vọng Chấp Ngôn Thuyết (妄執言說), Vô Thỉ Ngôn Thuyết (無始言說) và Như Nghĩa Ngôn Thuyết (如義言說); trong đó, bốn loại đầu thuộc về thuyết hư vọng, loại cuối cùng là thuyết như thật. Như trong Phật Thuyết Đại Phương Quảng Bồ Tát Thập Địa Kinh (佛說大方廣菩薩十地經, Taishō No. 308) có đoạn: “Thiện nam tử ! Bồ Đề giả, thị giai ngôn thuyết tục sổ thí thiết. Thiện nam tử ! Bồ Đề giả phi ngôn thuyết phi tục sổ phi thí thiết. Thiện nam tử ! Như Bồ Đề phi ngôn thuyết, Tát Đỏa cập tâm chí nhất thiết pháp, diệc phục như thị (善男子、菩提者。菩提者、是皆言说俗数施设。是皆言說俗數施設、善男子。善男子、菩提者非言说非俗数非施设。菩提者非言說非俗數非施設、善男子。善男子、如菩提非言說、萨埵及心至一切法。薩埵及心至一切法、亦复如是。亦復如是当作是, Này thiện nam tử ! Bồ Đề đều do ngôn thuyết, thế tục tính đếm, thiết lập mà thành. Này thiện nam tử ! Bồ Đề không phải do ngôn thuyết, không phải do thế tục tính đếm, chẳng phải do thiết lập mà thành. Này thiện nam tử ! Nếu như Bồ Đề không phải do ngôn thuyết, thì Tát Đỏa, tâm cho đến hết thảy các pháp cũng giống như vậy).” Hay như trong Bảo Tạng Luận (寶藏論) của Tăng Triệu (僧肇, 383-414) cũng có giải thích rằng: “Thí như hư không, ly số phi số, ly tánh phi tánh, phi nhất phi dị, phi cảnh phi ly cảnh, bất khả ngôn thuyết, quá ư văn tự, xuất ư tâm lượng, vô hữu khứ lai, vô hữu xuất nhập (譬如虛空、離數非數、離性非性、非一非異、非境非離境、不可言說、過於文字、出於心量、無有去來、無有出入, ví như hư không, lìa cả số lượng và không phải số lượng, lìa cả tánh và không phải tánh, chẳng phải một và cũng chẳng phải khác, chẳng phải cảnh và cũng chẳng phải lìa cảnh, chẳng thể giải thích bằng ngôn từ, vượt qua cả văn từ, ra khỏi sự suy lường của tâm, không có đi và đến, không có ra và vào).” Hơn nữa, trong Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Bất Tư Nghì Phật Cảnh Giới Kinh (文殊師利所說不思議佛境界經, Taishō No. 340) quyển thượng cũng có câu: “Thế Tôn ! Không dĩ ngôn thuyết cố hữu; tham sân si, diệc dĩ ngôn thuyết cố hữu (世尊、空以言說故有、貪瞋癡、亦以言說故有, Thế Tôn ! Không vì do ngôn thuyết mà có; tham sân si cũng vì do ngôn thuyết mà có).”
ngôn thuyết
Verbal expression.
; See Ngôn Ngữ.
ngôn thuyết pháp thân
(言說法身) Pháp thân được hiển bày bằng lời nói. Là 1 trong 2 loại pháp than (Ngôn thuyết pháp thân, Chứng đắc pháp thân). Pháp thân vốn không hình tướng, xa lìa nói năng, nhưng nếu không nói thì không biểu hiện được pháp thân, vì thế phải dùng ngôn ngữ để thuyết minh pháp thân và gọi đó là Ngôn thuyết pháp thân. [X.Kim cương bát nhã kinh luận Q.thượng (Đạt ma cấp đa dịch)]. (xt. Chứng Đắc Pháp Thân).
ngôn thuyết pháp tướng
See Desana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ngôn tiến thưởng lao
(言薦賞勞) Lời khen ngợi và ban thưởng cho người có công. Trong Thiền lâm, sau khi kết thúc hạ an cư, bậc thầy thường khen thưởng cho những người tu hành tinh tiến để khuyến khích các người khác. Hư đường lục quyển 8 (Đại 47, 1045 thượng) nói: Được lời khen ngợi và ban thưởng (ngôn tiến thưởng lao), cũng như trong tối bắt được vật.
ngôn trần
Những điều được trình bày ra bằng lời nói, như pháp suy luận trong Nhân Minh Học—Things set out in words, i.e. a syllogism.
; (言陳) Cũng gọi Ngôn hiển, Ngôn chương. Đối lại: Ý hứa. Tiếng dùng trong Nhân minh. Lời của người lập luận trình bày chủ trương của mình, hoặc lời của địch luận (người vấn nạn) đưa ra ý kiến của mình để phản bác đối phương. Trong 4 lỗi tương vi của Nhân, thì Pháp sai biệt tương vi(trái với ý nghĩa của danh từ sau) và Hữu pháp sai biệt tương vi(trái với ý nghĩa mà mình chủ trương trong danh từ trước) là những lỗi do người lập luận, ngoài ngôn trần ra, còn gián tiếp dùng những chữ khác để biểu thị ý nghĩa chủ trương của mình. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.hạ, phần đầu; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa đoán Q.hạ; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.6,7]. (xt. Ngôn Khuyết, Ý Hứa).
ngôn từ
Words—Language—Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Chính do con người không biết rõ cái bản tánh của các ngôn từ, nên người ta xem ngôn từ là đồng nhất với ý nghĩa.”—In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “It is owing to his not perfectly understanding the nature of words that he regards them as identical with the sense.”
ngôn vong lự tuyệt
(言亡慮絕) Đồng nghĩa: Tâm ngôn lộ tuyệt, Tuyệt ngôn tuyệt tư, Danh ngôn đạo đoạn, Li ngôn tuyệt lự, Tuyệt ngôn li niệm, Ngôn ngữ đạo đoạn tâm hành xứ diệt. Quên hết lời nói, dứt bặt suy nghĩ. Từ ngữ này biểu thị cảnh giới giác ngộ tuyệt đối, không còn lời nói hoặc ý nghĩ nào có thể diễn đạt được, tức biểu thị cảnh giới đệ nhất nghĩa đế. [X. luận Thành duy thức Q.7; Tam luận huyền nghĩa Q.thượng; Trung quán luận sớ Q.1, phần cuối; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung, phần đầu].
ngôn y
Word-dependence, i.e. that which can be expressed in words, the phenomenal, or describable.
; Tùy vào ngôn ngữ mà giải thích. Tất cả các pháp hữu vi đều quy vào loại có thể định nghĩa hay giải thích bằng ngôn ngữ (khác với pháp vô vi không thể gọi ra bằng tên, không thể diễn tả bằng lời)—Word-dependence, i.e. that which can be expressed in words, the phenomenal or describable.
ngôn đoan ngữ đoan
(言端語端) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lời nói ngay thẳng. Nghĩa là lời nói có khả năng trực tiếp hiển bày 1 cách trọn vẹn diệu lí của chí đạo. Đây là lời cảnh giác của những người chỉ biết 1 mặt chê bai văn tự ngữ ngôn. Lập trường của Thiền tông là bất lập văn tự, minh tâm kiến tính, bởi vì Thiền tông cho rằng nếu dùng ngôn ngữ văn tự để diễn giải thì sẽ đánh mất diệu lí của chí đạo, không thể đạt đến nghĩa rốt ráo, cho nên chủ trương bài xích văn tự ngôn ngữ. Nhưng nếu chẳng phải là bậc căn trí thượng thặng mà cứ 1 mực bài trừ văn tự ngôn ngữ để chứng ngộ Phật đạo, thì lại thường dễ sinh ra các mối tệ thiên chấp, tà kiến. Bởi vậy, các Thiền sư chính thống 1 mặt đề cao cảnh giác về giới hạn và chướng ngại của ngôn ngữ tư biện, mặt khác, không hoàn toàn gạt bỏ ngôn ngữ văn tự mà dùng chúng để tiến hành việc tham khảo, khai thị, khám biện các Thiền sinh... Nghĩa là cần phải đúng lúc dùng Ngôn đoan ngữ đoan để cảnh tỉnh những kẻ chỉ biết có 1 mặt là bài trừ ngôn ngữ văn tự, mà thực tế thì mờ mịt chẳng biết gì, giống như bọn Dã hồ thiền tựa hồ như đúng mà thực ra thì sai lầm. Bích nham lục tắc 2 (Đại 48, 142 thượng) nói: Chí đạo không khó, ngôn đoan ngữ đoan, một có nhiều thứ, hai chỉ một thể.
ngõ
Gate.
ngõa
Miếng Ngói—Tile. Đồ Sứ: Pottery.
ngõa bát
Bình bát bằng đồ sứ—An earthernware begging bowl.
ngõa khí
Một cái bình bằng sành, ám chỉ Phương Pháp Thanh Văn—An Earthern Vessel, implies the Sravaka Method. Kim Khí: Một cái bình bằng kim khí, ám chỉ Phương Pháp Bồ Tát—A golden vessel, implies the Bodhisattva-Method.
ngõa sư
Bhàrgavà (S). Name. Also Bạt già bà.
; Đức Phật trong một tiền kiếp là một người thợ đồ gốm—The Buddha in a previous incarnation as a potter.
Ngõa Ốc Năng Quang
(瓦屋能光, Gaoku Nōkō, ?-933): húy là Năng Quang (能光), đạo hiệu Ngõa Ốc (瓦屋). Sau khi xuất gia, ông sang nhà Đường cầu pháp và được ấn khả của Lương Giới (良价). Trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Phục (天復, 901-904), ông đi du hóa đất Thục và khi Lộc Kiền Ỷ (祿虔扆), vị quan Tiết Độ Sứ của quân Vĩnh Thái (永泰) cải đổi ngôi nhà của mình ở Bích Kê Phường (碧鷄坊) thành Thiền viện, ông được thỉnh về làm tổ khai sơn nơi đây. Từ đó, ông giáo hóa rất nhiều tín đồ tăng tục và nỗ lực xiển dương Thiền phong của mình.
ngù ngờ
Simple-minded—Nave.
ngăn
Xem Cái, Xem Triền cái.
ngăn cản
See Ngăn ngừa.
ngăn ngừa
To prevent.
ngăn nắp
Well-ordered.
ngũ
Panca (S). Five.
; Panca (skt)—Five.
ngũ (thần) thông
Pancàbhijnà (S). The five supernatural powers: (1) Thiên nhãn thông: divyacaksus, devas vision, instantaneous view of anything anywhere in the form-realm.(2) Thiên nhĩ thông: divyasrotra, deva hearing, ability to hear any sound anywhere.(3) Tha tâm thông: paracitta-jnàna, ability to know the thoughts of all other minds. (4) Túc mạng thông: Pùrvanivàsànusmrti-jnàna, knowledge of all former existences of self and others. (5) Thần túc thông: rddhi-sàksàtkriyà, power to be anywhere; magical powers.
ngũ (trí) như lai, ngũ phật
The Five Dhyàni-Buddhas of the Vajradhàtu and Garbhadhàtu. A Shingon term for the five Buddhas in their five manifestations.
ngũ (trọng) vân
The five banks of clouds or obstructions for a woman—See Ngũ chướng.
ngũ (trọng) đái
The five heavy blockacges or serious hindrances—See Ngũ Độn Sử.
ngũ a hàm
Xem A hàm.
; The five Agamas: Trường A Hàm: Dirghagama. Trung A Hàm: Mahdyamagama. Tạp A Hàm: Tăng Dục Đa A Hàm—Samyuktagama. Tăng Nhất A Hàm: Ương Quật Đa La A Hàm—Ekottarikagama. Khuất Đà Ca A Hàm: Ksudrakagama.
; (五阿含) A hàm, Phạm: Àgama. Hán dịch: Pháp qui, Pháp tạng, Truyền giáo. Cũng gọi Ngũ a cấp ma. Chỉ cho 5 bộ A hàm là Trường a hàm, Trung a hàm, Tăng thuật đa (Tương ứng) a hàm, Ương quật đa la (Tăng nhất) a hàm và Khuất đà ca (Tạp) a hàm. Trong đó, Khuất đà ca a hàm còn được gọi là Tạp tạng. Năm bộ A hàm này tương đương với Ngũ bộ kinh (Paĩca-nikàyà) bằng tiếngPàli. Theo Tì nại da tiểu phẩm (Vinaya cùơavagga), Nhất thiết thiện kiến (Samanta-pàsàdikà) và bài tựa trong Trường bộ kinh chú (Sumaígala-vilàsinì) bằng tiếng Pàli, thì 5 bộ là: -Trường bộ (Dìgha-nikàya), -Trung bộ (Majjhima-nikàya), -Tương ứng bộ (Saôyutta-nikàya), -Tăng chi bộ (Aíguttara-nikàya) và -Tiểu bộ (Khuddaka-nikàya). [X. luật Ngũ phần Q.30; luật Ma ha tăng kì Q.32; luật Tứ phần Q.54; Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Đại A la hán nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; luận Phân biệt công đức Q.1]. (xt. A Hàm, A Hàm Kinh).
ngũ a hàm thiên
See Ngũ Tịnh Cư thiên.
ngũ ba la mật
Năm Ba La Mật—The five paramitas: Bố thí: Dana—Almsgiving. Trì giới: Sila—Commandment-keeping.
; (五波羅蜜) Năm Ba la mật. Chỉ cho Bố thí ba la mật, Giới ba la mật, Nhẫn nhục ba la mật, Tinh tiến ba la mật và Thiền ba la mật. Giữa 5 Ba la mật này và Bát nhã ba la mật thứ 6 có mối quan hệ chủ tớ, vì nhờ công đức của Bát nhã ba la mật mà đạt được 5 thứ Ba la mật này.
ngũ biên
Năm loại biên kiến—The five alternatives: Thị Hữu: Things exist. Thị Vô: Things do not exist. Diệc Hữu Diệc Vô: Both exist and non-exist. Phi Hữu Phi Vô: Neither exist nor non-exist. Phi Phi Hữu, Phi Phi Vô: Neither non-exist nor are without non-existence.
; (五邊) Đối lại: Trung đạo thực trí. Chỉ cho 5 thứ biên kiến (thấy 1 bên), đó là: Có, không, cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải chẳng có chẳng phải chẳng không. Bốn biên kiến trước là căn cứ vào cảnh sở duyên, 1 biên kiến sau là căn cứ vào pháp quán năng duyên, dựa vào đó mà thành lập Ngũ biên. Theo Thông huyền sao thì chấp Có là tăng ích báng, chấp Không là tổn giảm báng, chấp Cũng có cũng không là tương vi báng, chấp Chẳng phải có chẳng phải không là ngu si báng, chấp Chẳng phải chẳng có chẳng phải chẳng không là hí luận báng. [X. Đại thừa khởi tín luận biệt kí].
ngũ biến hành
The five universal mental activities associated with every thought: tác ý the idea, xúc mental contact, thọ reception, tưởng conception, tư perception.
; Năm loại tâm sở tương ứng với mọi tâm vương—The five universal mental activities associated with every thought: Tác Ý: The idea. Xúc: Contact. Thọ: Reception. Tưởng: Conception. Tư: Perception.
; (五遍行) Chỉ cho 5 thứ tâm sở: Xúc (Phạm: Sparza), Tác ý (Phạm: Manasi-kàra), Thụ (Phạm: Vedanà), Tưởng (Phạm: Saôjĩà), Tư (Phạm: Cetanà), là 1 trong 6 vị tâm sở do tông Duy thức thành lập. Năm tâm sở này trùm khắp và tương ứng với tất cả tâm vương và các tâm sở khác, vì chúng có đủ 4 nghĩa: Nhất thiết tính (thông 3 tính thiện, ác, vô kí), Nhất thiết địa (thông cả 3 cõi 9 địa), Nhất thiết thời (từ vô thủy đến nay không gián đoạn), Nhất thiết câu (khi 1 Biến hành sinh khởi thì 4 Biến hành kia cũng đều sinh khởi). Ngoài 5 tâm sở này ra, không 1 tâm sở nào có đủ 4 nghĩa trên đây, cho nên chỉ có 5 tâm sở này được gọi là Biến hành. [X. luận Thành duy thức Q.3, 5; luận Du già sư địa Q.3; luận Đại thừa ngũ uẩn; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Đại thừa A tì đạt ma tạp tập Q.1; luận Đại thừa bách pháp minh môn].
ngũ biệt cảnh
(五別境) Chỉ cho 5 thứ tâm sở: Dục (Phạm: Chanda), Thắng giải (Phạm: Adhimowa), Niệm (Phạm: Smfti), Định (Phạm: Samàdhi), Tuệ (Phạm: Prajĩà), là 1 trong 6 vị tâm sở do tông Duy thức thành lập. Năm tâm sở này duyên các cảnh khác nhau mà sinh khởi, thông cả 3 tính thiện, ác, vô kí và 3 cõi 9 địa, có đủ 2 nghĩa Nhất thiết tính và Nhất thiết địa, nhưng không có 2 nghĩa Nhất thiết thời và Nhất thiết câu. Trong đó, Định và Tuệ là cùng cảnh chuyển, nhưng Dục, Thắng giải và Niệm thí khác cảnh chuyển, cho nên căn cứ vào số nhiều mà gọi là Biệt cảnh. Theo Bách pháp vấn đáp sao quyển 1 nói, khi tâm duyên theo cảnh vui thì là tâm sở Dục, khi duyên theo cảnh quyết định là tâm sở Thắng giải,khi duyên theo cảnh sở quán là tâm sở Định và Tuệ, khi duyên theo cảnh đã từng nhận biết là tâm sở Niệm. Vì duyên theo các cảnh khác nhau mà sinh khởi các tâm sở khác nhau, nên gọi là Biệt cảnh. Ngoài ra, theo các nhà Duy thức, trong Ngũ biệt cảnh, Dục, Thắng giải, Niệm và Định tương ứng với sáu thức trước, còn Tuệ thì tương ứng với 7 thức trước. [X. luận Thành duy thức Q.5; luận Du già sư địa Q.3; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.5, phần cuối].
ngũ bá niên kỳ
Five five-hundred-year periods Theo Đại Tạng kinh, lịch sử Phật giáo sau khi Phật nhập diệt được chia làm 5 thời kỳ: (1) Thời kỳ thứ nhất Phật tử hành đạo và đạt được giải thoát (2) Phật tử còn thường luyện tập thiền định (3) Phật tử ham thích nghe giảng Pháp (4) Phật tử ham thích xây cất chùa chiền (5) Phật tử chỉ chuyên tâm cãi lý với nhau.
ngũ bách biên bức
(五百蝙蝠) Năm trăm con dơi. Là tiền thân của 500 vị La hán kết tập luận Đại tì bà sa. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2, thì tiền thân của 500 vị La hán này là 500 con dơi sống trên cây, sau, cây này bị lửa đốt cháy, lúc đó, lại có người tụng tạng A tì đạt ma dưới gốc cây, vì thích nghe pháp âm nên 500 con dơi chịu khổ chứ không bay đi. Sau khi chết, 500 con dơi này được sinh làm người, xuất gia tu học Phật pháp và đều chứng Thánh quả. Về sau, 500 vị nhận lời mời của Hiếp tôn giả và vua Ca nị sắc ca tham dự hội kết tập luận Đại tì bà sa.
ngũ bách bộ
(五百部) Năm trăm bộ. Từ ngữ dùng để hình dung các bộ phái Tiểu thừa chia ra rất nhiều. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 63, sau khi đức Phật nhập diệt khoảng 500 năm, trong Tiểu thừa chia ra 500 bộ. Nhưng đây không phải là con số thực, mà chỉ nói chung về số nhiều thôi.
ngũ bách cổ khách
(五百估客) Năm trăm lái buôn. Theo luận Đại trí độ quyển 7, xưa có 500 thương gia ra biển tìm của báu, gặp lúc cá chúa Ma già la há miệng, nước biển chảy cuồn cuộn vào miệng cá, 500 người trên thuyền buôn rất nguy khốn. Lúc ấy, có 1 người Ưu bà tắc đã thụ 5 giới nhóm họp mọi người và bảo đồng thanh niệm Phật, cá chúa nghe tiếng niệm Phật, liền hối ngộ và ngậm miệng lại, nhờ đó 500 người trên thuyền thoát nạn. [X. Kinh luật dị tướng Q.43].
ngũ bách do tuần
Theo Kinh Pháp Hoa thì con đường đi đến đất châu bảo là con đường dài năm trăm do tuần đầy khó khăn nguy hiểm—According to the Lotus Sutra, the journey to the Land of Treasure is the five hundred Yojanas of difficult and perilous journey.
; (五百由旬) Năm trăm do tuần. Phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa nói rằng, vượt qua được quãng đường dài 500 do tuần đầy tai nạn và hiểm nguy, thì đến được bảo sở (nơi giải thoát yên vui). Có rất nhiều thuyết giải thích khác nhau về Ngũ bách do tuần này. Theo ngài Thiên thai Trí khải thì Phàm thánh đồng cư độ (cõi nước trong đó phàm phu 6 đường và các bậc Thánh tam thừa cùng sống chung với nhau, tức quả báo của 3 cõi) là 300 do tuần; Phương tiện hữu dư độ (chỉ cho nơi sinh sống của những người đã dứt hết phiền não của Kiến hoặc và Tư hoặc mà ra khỏi sinh tử của 3 cõi) là 400 do tuần; Thực báo vô chướng ngại độ(chỉ cho cõi quả báo của những người đã chứng 1 phần lí trung đạo) là 500 do tuần; vượt qua cõi Thực báo vô chướng ngại thì đến Thường tịch quang độ, là cõi rốt ráo, cùng tột, tức là trụ xứ của chư Phật Như lai. Theo ngài Cát tạng thì 3 cõi là 300 do tuần, Thanh văn địa là 400 do tuần, Duyên giác địa là 500 do tuần. Còn ngài Khuy cơ thì cho rằng kết hoặc trong 3 cõi là 300 do tuần, tập khí do Bồ tát thất địa đoạn trừ là 400 do tuần, vô minh do Bồ tát bát địa trở lên đoạn trừ là 500 do tuần. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.7, hạ; Pháp hoa kinh huyền luận Q.8; Pháp hoa kinh huyền tán Q.8]. (xt. Hóa Thành Dụ).
ngũ bách dị bộ
Năm trăm bộ phái khác nhau được thành lập 500 năm sau ngày Phật nhập diệt—The five hundred sects according to the five hundred years after the Buddha's death.
ngũ bách giới
The five hundred precepts of nuns.
; 500 giới Tỳ Kheo Ni, thật sự là 348—The five hundred rules for nuns, actually 348—See Giới Cụ Túc.
; (五百戒) Năm trăm giới, số giới Cụ túc của Tỉ khưu ni. Con số giới điều của tỉ khưu ni, trong các bộ luật nói không đồng nhất, như luật Tứ phần ghi 348 giới, Thập tụng tỉ khưu ni giới bản thì gồm 350 giới, còn các bộ luật khác cũng không bộ nào ghi quá 500 giới. Có lẽ so với giới Cụ túc của tỉ khưu (250 giới) nhiều gấp đôi mà gọi là Ngũ bách giới chăng? [X. kinh Đại Ái đạo tỉ khưu ni Q.thượng; kinh Tì ni mẫu Q.8; luật Tứ phần Q.21; Tứ phần tỉ khưu ni sao Q.3; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 2].
Ngũ bách kết tập
五百結集; C: wǔbăi jiéjí; J: gohyaku ketsujū;|Lần kết tập kinh điển với 500 vị A-la-hán. Xem Đệ nhất kết tập (第一結集).
ngũ bách kết tập
(五百結集) Cũng gọi Ngũ bách tập pháp, Ngũ bách xuất. Năm trăm vị tỉ khưu kết tập giáo pháp của đức Phật lần thứ nhất. Sau khi đức Phật nhập diệt, được sự bảo trợ của vua A xà thế, 500 vị tỉ khưu, do tôn giả Ma ha ca diếp làm Thượng thủ, nhóm họp ở thành Vương xá, nước Ma yết đà để kết tập những lời chỉ dạy của đức Phật khi Ngài còn tại thế. Trong hội này, ngài Ca diếp đề cửtôn giả A nan đọc tụng lại giáo pháp của đức Phật. Đây là cuộc kết tập lần đầu tiên và có 500 vị tỉ khưu La hán tham dự, cho nên được gọi là Ngũ bách kết tập. [X. Hữu bộ tì nại gia tạp sự Q.39; Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; luật Ma ha tăng kì Q.32]. (xt. Kết Tập).
ngũ bách la hán
(五百羅漢) Gọi đủ: Ngũ bách vị A la hán. Chỉ cho 500 vị Thanh văn đã chứng quả Vô học. Trong các kinh luận thường thấy các nhóm từ như Ngũ bách A la hán, Ngũ bách tỉ khưu, Ngũ bách thượng thủ... Về bản sinh nhân duyên, việc thụ kí của Ngũ bách la hán, thì trong kinh Phật ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi, phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trong kinh Pháp hoa... đều có nói đến. Sau khi đức Phật diệt độ, tôn giả Ma ha ca diếp đã cùng với 500 vị La hán kết tập pháp tạng ở thành Vương xá. Tương truyền, vào thời vua A dục, từng có 500 vị tăng La hán và 500 vị tăng phàm phu nhóm họp để đọc tụng Phật pháp. Trong đại hội kết tập lần thứ 4, dưới sự bảo trợ của vua Ca nị sắc ca, cũng có 500 vị La hán tạo luận Đại tì bà sa. Tại Trung quốc, sự sùng bái Ngũ bách La hán rất là thịnh hành. Ở núi Thụy phong, huyện Thái ninh, tỉnh Phúc kiến, có viện Ngũ bách La hán. Càn minh viện Ngũ bách La hán danh hiệu bi 1 quyển trong Đại minh tục tạng tập 43, có ghi danh hiệu của 18 Tôn giả trụ thế và 500 Tôn giả Thạch kiều, nhưng trình bày rất lộn xộn, thường nêu cả Phạm Hán, có những vị ra đời lúc đức Phật còn tại thế và có những vị xuất hiện sau khi Phật nhập diệt. Đây có lẽ là do bổ sung cho đủ số 500 vị, nên liệt kê tên của các vị La hán được thấy rải rác ở nhiều chỗ trong các kinh luận chăng? [X. kinh Pháp cú thí dụ Q.2; luật Ngũ phần Q.30; Tát bà đa tì ni ma đắc lặc già Q.5; luật Tứ phần Q.54; luận Đại tì bà sa Q.200; luận Đại trí độ Q.2].
Ngũ bách La-hán
五百羅漢; C: wǔbăi luóhàn; J: gohyaku rakan;|Có hai nghĩa: 1. 500 vị A-la-hán với Ma-ha Ca-diếp (摩訶迦葉; s: mahākāśyapa) làm thượng thủ để kết tập kinh điển lần thứ nhất ngay sau khi đức Phật nhập niết-bàn; 2. 500 vị A-la-hán do Hiếp Tôn giả (脅尊者; s: pārśva) làm thượng thủ để kết tập Tì-bà-sa luận (毘婆沙論; s: vibhāṣā-śāstra) trong hội nghị kết tập kinh điển lần thứ 4 dưới sự bảo trợ của vua Ka-nị-sắc-ca (迦膩色迦王; s: kaniṣka).
ngũ bách nhuế đồ
(五百毳徒) Năm trăm đồ chúng. Thuế đồ là đồ chúng mặc áo dệt bằng lông chim. Người mặc áo lông chim biểu thị ý nghĩa được vua chúa kính trọng. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 25 ghi, Thiền sư Đạo tiềm mới đến Lâm xuyên, yết kiến ngài Tịnh tuệ, ngài bảo (Đại 51, 412 trung): Sau này ông sẽ có 500 thuế đồ, nên được vua chúa kính trọng.
ngũ bách nhân thụ kí
(五百人授記) Chỉ cho 500 vị đệ tử của đức Phật được Ngài thụ kí cho thành Phật và có hiệu là Phổ minh Như lai. Cứ theo phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trong kinh Pháp hoa, thì đức Phật từng thụ kí cho tôn giả Kiều trần như, bảo rằng Tôn giả sẽ cúng dường 6 vạn 2 nghìn ức đức Phật, sau đó thành Phật, hiệu là Phổ minh Như lai. Rồi lần lượt đến các vị: Ưu lâu tần loa ca diếp, Già da ca diếp, Na đề ca diếp, Ca lưu đà di, Ưu đà di, A nâu lâu đà, Li bà đa, Kiếp tân na, Bạc câu la, Chu đà sa già đà v.v... cũng đều được thụ kí thành Phật và cùng hiệu là Phổ minh Như lai. Nhưng trong kinh không thấy nêu tên của 500 vị đệ tử cũng như sự tích cụ thể của các ngài.
ngũ bách sinh
Five hundred generations.
ngũ bách thân nhân
(五百身因) I. Ngũ Bách Thân Nhân. Năm trăm vị tỉ khưu đã chứng quả A la hán nói về nguyên nhân sinh ra thân người. Có vị nói vô minh là nguyên nhân sinh ra thân, có vị nói ái và vô minh là nguyên nhân sinh ra thân, có vị cho rằng hành thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, ẩm thực và ngũ dục là nguyên nhân sinh ra thân. [X. kinh Niết bàn Q.35 (bản Bắc)]. II. Ngũ Bách Thân Nhân. Năm trăm vị đệ tử của Phật, mỗi vị đều nói về nhân duyên kiếp trước của mình. [X. kinh Phật ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi].
ngũ bách thế
Five hundred generations.
ngũ bách thế oán gia
(五百世怨家) Gây thù kết oán với nhau trong 500 đời. Cứ theo kinh Tì đàm bà sa (được trích dẫn trong Kinh luật dị tướng quyển 46) có 1 cô gái bị quỉ đói cầm giữ, cô ta bèn dùng chú thuật hỏi quỉ đói lí do vì sao? Quỉ đói bảo cô ta là oán gia của nó, cô gái và nó đã từng giết hại lẫn nhau trong 500 đời. Nếu nay cô gái thề dứt trừ tâm thù oán cũ thì nó cũng nguyện xả bỏ.
ngũ bách thế vô thủ
(五百世無手) Đưa rượu cho người uống bị quả báo 500 đời không có tay. Rượu làm cho tâm tính mê loạn, là cội gốc sinh ra tội ác, cho nên đức Phật cấm các đệ tử, xuất gia cũng như tại gia, không được uống rượu. Trong các kinh, đức Phật đã từng nhiều lần nói rõ về những lỗi lầm và hậu quả tai hại do người uống rượu gây ra. Kinh Phạm võng quyển hạ dạy rằng, giả sử bản thân mình không uống rượu, nhưng nếu đưa rượu cho người khác uống thì cũng sẽ bị quả báo 500 đời không có tay. [X. kinh Nâu di trong Trường a hàm Q.11; kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.6; luật Tứ phần Q.16; luận Đại trí độ Q.13]. (xt. Ẩm Tửu Giới).
ngũ bách tiên nhân
(五百仙人) Năm trăm người tiên. Tức 500 vị cao đức của ngoại đạo. Theo luận Đại trí độ quyển 17 thì có 3 truyền thuyết về 500 vị tiên nhân này: 1. Vua Ưu điền nước Kiêu thưởng di, vì say đắm nữ sắc mà đã chặt đứt tay chân của 500 vị tiên nhân. 2. Có 500 vị tiên nhân ở trong núi, vì nghe giọng hát của cô gái Chân đà la mà mất thiền định. 3. Có 500 vị tiên nhân đang bay giữa hư không, nghe tiếng hát của cô gái Chân đà la, vì đắm say nên mất thần túc bị rơi xuống đất. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4, phần 3].
ngũ bách trưởng giả tử
(五百長者子) Năm trăm người con của Trưởng giả. Theo phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma cật, 500 người con của Trưởng giả ở thành Tì xá li và đồng tử Bảo tích cùng đến chỗ đức Phật, cầm lọng 7 báu cúng dường Ngài. Lại theo kinh Quán Phật tam muội quyển 3, thì 500 Thích tử trông thấy thân tướng đoan nghiêm của đức Phật đen đúa như người bằng than, ốm o gầy gò như người Bà la môn. Đức Phật liền nói nhân duyên bản sinh (nhân duyên kiếp trước) cho họ nghe; Ngài bảo rằng sau khi đức Tì bà thi Như lai Ứng cúng Chính biến tri nhập Niết bàn, trong thời tượng pháp, có vị Trưởng giả tên là Nhật nguyệt đức, ông có 500 người con không tin Phật pháp, 500 người con ấy chính là tiền thân của 500 vị Thích tử này.
ngũ bách trần điểm kiếp
(五百塵點劫) Cũng gọi Ngũ bách ức trần điểm kiếp. Năm trăm kiếp hạt bụi. Từ ngữ biểu thị số kiếp lâu xa từ khi đức Phật Thích ca thành Phật đến nay. Cứ theo phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa quyển 5, nếu nghiền nát 500 nghìn vạn ức na do tha a tăng kì tam thiên đại thiên thế giới thành bụi nhỏ, rồi mỗi lần qua phương đông 500 nghìn vạn ức na do tha a tăng kì cõi nước thì bỏ xuống 1 hạt bụi. Cứ như thế đi về phương đông cho đến khi bỏ hết bụi nhỏ. Các thế giới đã đi qua đều hóa thành bụi nhỏ, mỗi 1 hạt bụi ấy tính là 1 kiếp. Từ khi đức Thích tôn thành Phật đến nay còn lâu hơn trăm nghìn vạn ức na do tha a tăng kì kiếp số ví dụ ở trên, thực không thể tính toán được. [X. Pháp hoa văn cú Q.9, hạ; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1].
Ngũ bách tập pháp
五百集法; C: wǔbăi jífǎ; J: gohyaku shūhō;|Hội nghị kết tập kinh điển gồm 500 vị A-la-hán. Xem Đệ nhất kết tập (第一結集).
ngũ bách vấn sự
Năm trăm câu hỏi của ngài Mục Kiền Liên hỏi Phật về vấn đề giới luật—The five hundred questions of Mahamaudgalyayana to the Buddha on discipline.
ngũ bách đà la ni
(五百陀羅尼) Đà la ni, Phạm: Dhàraịi. Hán dịch: Năng trì, Năng già, Tổng trì. Năm trăm đà la ni, là nhóm từ lược nêu 1 số ít Đà la ni trong vô lượng vô số pháp môn Đà la ni của chư Phật và Bồ tát. Luận Đại trí độ căn cứ vào 500 môn Đà la ni này chỉ nêu tên gọi của hơn 10 môn là: Văn trì đà la ni, Phân biệt tri đà la ni, Nhập âm thanh đà la ni, Tịch diệt đà la ni, Vô biên toàn đà la ni, Tùy địa quán đà la ni, Uy đức đà la ni, Hoa nghiêm đà la ni, Tịnh âm đà la ni, Hư không tạng đà la ni, Hải tạng đà la ni, Phân biệt chư pháp địa đà la ni, Minh chư pháp nghĩa đà la ni v.v... [X. luận Đại trí độ Q.5; Pháp giới thứ đệ Q.hạ; Chỉ quán phụ hành (hội bản) Q.3, phần 3].
ngũ bách đại la hán
Năm trăm vị Đại La Hán là những vị đã soạn ra bộ Vi Diệu Pháp Tỳ Ba Sa Luận, bốn trăm năm sau ngày Phật nhập diệt—Five hundred great arhats who formed the synod under Kaniska and are supposed compilers of the Abhidharma-Mahavibhasa-Sastra, four hundred years after Buddha entered nirvana.
ngũ bách đại nguyện
(五百大願) Cũng gọi Ngũ bách thệ nguyện. Năm trăm bản nguyện rộng lớn của Phật Thích ca, khi Ngài còn tu hạnh Bồ tát ở nhân vị. Ở đời quá khứ, khi đức Thích tôn còn là vị Phạm chí tên Bảo hải, đã phát 500 thệ nguyện rộng lớn trước đức Phật Bảo tạng; Ngài phát thệ sẽ không thành Phật ở Tịnh độ mà thành Phật ở Uế độ. Từ đó, trải qua vô lượng kiếp, đức Thích tôn đã thực hành những hạnh khó làm, các hạnh kham khổ, cho đến các việc xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết bàn... tất thảy đều theo bản nguyện Ngài đã lập. [X. kinh Bi hoa Q.6,7; kinh Đại thừa bi phân đà lợi Q.5; kinh Quán thế âm bồ tát vãng sinh Tịnh độ bản duyên].
ngũ bát nhã trí
yeshe nga (T), Yeshe nga (T), Five wisdoms
ngũ bát thập cụ
(五八十具) Từ gọi tắt của Ngũ giới, Bát giới, Thập giới, Cụ túc giới. Tức là tiêu đề gọi chung 5 giới của Ưu bà tắc (Cận sự), 8 giới của Ưu ba bà sa (Cận trụ), 10 giới của Sa di (Cần sách) và giới Cụ túc của tỉ khưu (Bật sô). Trong đó, 5 giới và 8 giới là giới tại gia, còn 10 giới và giới Cụ túc thuộc giới xuất gia. [X. luận Câu xá Q.14; luận Thuận chính lí Q.36; Câu xá luận quang kí Q.14; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 3].
ngũ bát thức
(五八識) Năm thức tám thức. Từ gọi chung 5 thức trước và thức thứ 8 trong Duy thức học. Tức là: Thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân và thức A lại da. Năm thức trước và thức thứ 8 thuộc hiện lượng, không chấp ngã và chấp pháp. Khi chứng được quả Phật thì 5 thức trước chuyển thành trí Thành sở tác; còn thức thứ 8 thì chuyển thành trí Đại viên kính, cũng gọi là trí Nhất thiết chủng. [X. luận Thành duy thức Q.10; Bách pháp vấn đáp sao Q.8].
ngũ bát tôn
(五八尊) Chỉ cho bồ tát Thiên thủ Quan âm. Cứ theo kinh Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni và kinh Thiên quang nhãn Tự tại bồ tát bí mật pháp, thì bồ tát Quan thế âm ở quá khứ được nghe đà la ni Quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm, đã thệ nguyện hiện ra nghìn mắt nghìn tay để tế độ hết thảy chúng sinh.Thiên thủ Quan âm tức là Quan âm nghìn tay. Đem 1.000 tay này phối với 25 Hữu trong 3 cõi, thì trong mỗi Hữu Ngài dùng 40 tay để tế độ, tức là Quan âm 40 tay; 40 là do số 5 nhân với 8 (5 x 8 = 40), vì thế gọi là Ngũ bát tôn (vị Tôn 5, 8).
ngũ bình
Năm cái bình mà Phật giáo Mật Tông dùng để dâng hoa cúng Phật, hoa trong bình được cắm chung với năm quý vật, năm loại hạt và năm loại thuốc trộn với nước hoa—The five vases used by the esoteric school for offering flowers to their Buddha, the flowers are stuck in a mixture of the five precious things, the five grains and the five medicines mingled with scented water.
; (五瓶) Cũng gọi Ngũ bảo bình. Chỉ cho 5 chiếc bình báu được đặt ở chính giữa của Đại đàn khi lập đàn tu pháp trong Mật giáo. Theo cách bài trí bảo bình, vốn có thể đặt từ 18 bình cho đến hơn 100 bình, nhưng vì phương tiện hoặc khả năng không cho phép, thì tối thiểu cũng đặt 6 bình, tức là ngoài 5 bình trên đại đàn ra, còn phải đặt 1 bình nữa ở ngoài đàn để khi hành giả ra vào hoặc dẫn đệ tử vào thì lấy nước trong bình này rảy lên thân thể. Ở đây chỉ bàn về việc trang nghiêm trên đàn tu pháp nên gọi Ngũ bình. Trong bảo bình chứa đầy 20 thứ hương dược: Năm thứ báu, 5 loại hạt, 5 thứ hương thơm, 5 thứ thuốc. Nước thơm trong 5 bình tượng trưng trí của 5 đức Phật. Năm bình biểu thị nghĩa 5 trí, 5 bộ, 5 Phật, 1 bình ở chính giữa tượng trưng đức Đại nhật Như lai, 4 bình còn lại tượng trưng cho 4 vị bồ tát Phổ hiền... Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 6 và kinh Nhiếp chân thực thì 5 bình được bài trí theo thứ tự và phương vị như sau: 1. Đàn Kim cương giới: Bình có giải màu trắng buộc ở cổ được đặt ở chính giữa, 4 bình còn lại đặt theo thứ tự các màu: Xanh, vàng, đỏ, đen. 2. Đàn Thai tạng giới: Chính giữa đàn cũng đặt bình có giải màu trắng, 4 bình còn lại thì đặt theo thứ tự các màu: Đỏ, vàng, xanh, đen. 3. Đàn bất nhị: Theo thứ tự trắng, vàng, đỏ, xanh, đen. Ngoài ra, khi bài trí các bình, thông thường bình có giải màu trắng đặt ở chính giữa, 4 bình còn lại được chia làm 2 loại: 1. Bình Sửu, Dần: Bắt đầu đặt từ góc Đông bắc. 2. Bình Thìn, Tị: Bắt đầu đặt từ góc Đông nam. Sau hết, cứ theo kinh Nhất thiết Như lai đại bí mật vương vị tằng hữu tối thượng vi diệu đại noa la quyển 1, Bảo bình hạng nhất cao 20 ngón tay, bụng rộng 16 ngón tay, cổ cao 5 ngón, miệng rộng 8 ngón. Về chất liệu thì 7 loại: Bình làm bằng vàng, bạc, đồng, pha lê, sắt, gỗ và đất nung. Trong đó, khi tu các pháp Tức tai, Tăng ích và Quán đính thì dùng bình vàng, pha lê và đất nung; các pháp Hàng phục (Điều phục) và A tu la thì dùng bình bằng đồng; còn các pháp Phẫn nộ thì dùng bình bạc, sắt và gỗ. Lại nữa, pháp Tức tai dùng bình màu trắng, pháp Tăng ích bình màu vàng, pháp Kính ái bình màu đỏ, pháp Hàng phục bình màu đen... Còn hoa dùng để cắm vào bình thì có: 5 cọng hoa sen, 3 cọng hoa sen, 1 cọng hoa và 1 lá sen, đó là tượng trưng cho 5 trí, 3 bộ và 1 pháp giới. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; kinh Đà la ni tập Q.1, 12; phẩm Phụng thỉnh cúng dường kinh Nhuy hi da Q.trung; kinh Nhất tự kì đặc Phật đính Q.thượng; Thành tựu diệu pháp liên hoa kinh vương du già quán trí nghi quĩ; Kim cương tát đỏa nghi quĩ; Mật giáo pháp cụ tiện lãm].
ngũ bình quán đảnh
Lễ Quán Đảnh với năm bình tượng trưng cho trí huệ của năm vị Phật—Baptism with water of the five vases representing the wisdom of the five Buddhas—See Ngũ Phật.
ngũ bình quán đỉnh
(五瓶灌頂) Cũng gọi Bình thủy quán đính. Rưới nước trong 5 chiếc bình lên đỉnh đầu hành giả, tượng trưng cho người thụ Quán đính được trí tuệ của Ngũ trí Như lai. Khi cử hành nghi thức Quán đính, trước hết, kết tụng ấn ngôn (kết ấn và tụng chân ngôn) của 5 đức Phật để gia trì vào 5 bình nước, sau đó đem 5 bình ấy dời từ Đại đàn đến đàn Chính giác (Tiểu đàn) rồi lấy nước trong 5 bình rưới lên đỉnhđầu của người thụ Quán đính. (xt. Ngũ Bình).
ngũ bình trí thuỷ
(五瓶智水) Nước thơm trong 5 chiếc bình, tượng trưng cho trí của 5 đức Phật. Trong Mật giáo, khi tu pháp, đặt 5 chiếc bình báu ở chính giữa và 4 góc của Đại đàn, nước thơm đựng trong 5 bình tượng trưng cho nước trí của 5 đức Phật. Khi truyền pháp Quán đính, lấy nước trong bình rưới lên đỉnh đầu của người lãnh nhận pháp Quán đính. (xt. Ngũ Bình).
ngũ bình trí thủy
Năm bình là biểu tượng của năm phần trong Kim Cang Giới và nước hoa trí huệ của năm vị Phật—The five vases are emblems of the five departments of the Vajradhatu, and the fragrant water of the wisdom of the five Wisdom-Buddhas—See Ngũ Phật Trí.
ngũ bí mật
Năm vị Kim cang Bồ Tát—The five Bodhisattvas of the Diamond realm: Kim Cang Tát Đỏa: Tất cả các loài chúng sanh đều có lục đại tự tánh, ở đây nói về các loài hữu tình chúng sanh, được đặt ở trung tâm—Vajrasattva represents the six fundamental elements of sentient existence and here indicates the birth of bodhisattva sentience, in the middle. Dục Kim Cang: Bodhisattvas of Desire—Bồ tát Dục hay phàm phu mới gặp được giáo thọ A Xà Lê, được đặt ở phía Đông. Dục ở đây là muốn phát tâm Bồ Đề và cứu độ chúng sanh—Ordinary people who have just met the Acarya, in the East—Desire is that of bodhi and the salvation of all. Xúc Kim Cang: Bồ Tát Xúc hay vị đã phát tâm Bồ Đề, tu hạnh đại bi, và muốn tiếp xúc với thế giới bên ngoài để cứu độ, được đặt ở phía Nam—Bodhisattvas of Contact—One who has resolved the Bodhicitta, vowed to practice great loving kindness, and wanted to contact with the needy world for its salvation, in the South. Ái Kim Cang: Bodhisattvas of Love—Vị đã thành tựu Phật quả và phát nguyện thương yêu chúng sanh, được đặt ở phía Tây—One who has attained the Buddhahood and vowed to love all sentient beings. Mạn Kim Cang: Bodhisattvas of Pride—Vị đã tự tại nơi Niết Bàn, được đặt ở phía Bắc—One who entered Nirvana (pride here means the power of nirvana), in the North.
; (五秘密) Cũng gọi Ngũ bí mật bồ tát, Ngũ kim cương bồ tát. Chỉ cho 5 vị Bồ tát: Kim cương tát đỏa, Kim cương dục, Kim cương xúc, Kim cương ái và Kim cương mạn, thuộc Kim cương giới của Mật giáo. Năm vị Bồ tát này cũng được gọi là Kim cương tát đỏa, Kim cương tiễn, Kim cương hỉ duyệt, Kim cương ái, Kim cương dục tự tại; hoặc cũng gọi là Đại thánh, Nhãn tiễn, Kế lí kế la tôn, Ái, Mạn; hoặc gọi là Phổ hiền bồ tát, Dục kim cương, Kế lí kế la tôn, Ái kim cương, Kim cương mạn tôn; hoặc gọi là Kim cương tát đỏa, Ý sinh, Xúc, Ái kết, Ý khí. Năm vị tôn Bồ tát này đều chung 1 thể, biểu thị tướng bất động đối với phiền não ái dục của hữu tình và trực tiếp hiển bày công đức của 5 trí, cũng tức là quán tưởng cái thể hư vọng dục, xúc, ái, mạn của chúng sinh là cùng 1 thể tính với Kim cương tát đỏa của tâm bồ đề chân thực. Vì cái lí thú nhơ sạch không 2, nhân quả cùng thể rất sâu xa kín nhiệm và khó hiểu, nên gọi là Ngũ bí mật. Ngũ bí mật cùng ở trong 1 vòng tròn, có hàm nghĩa là không trụ nơi sinh tử, biểu trưng cho đức của đại trí; cùng ngồi chung trên 1 hoa sen, có nghĩa là không trụ nơi Niết bàn, biểu trưng cho đức của Đại bi. Theo Kim cương đính du già Kim cương tát đỏa Ngũ bí mật tu hành niệm tụng nghi quĩ, thì Kim cương Dục cầm cung và tên kim cương bắn nát tất cả chủng tử hữu lậu trong thức A lại da thứ 8, thành tựu Đại viên kính trí. Kim cương Kế lí kế la (Kim cương Xúc), ôm lấy Kim cương tát đỏa, biểu thị ý nghĩa trừ sạch vọng chấp của thức Mạt na thứ 7 chấp chặt thức A lại da làm Ngã si, Ngã kiến, Ngã mạn, Ngã ái, để thành tựu Bình đẳng tính trí. Kim cương tát đỏa trụ nơi Đại trí ấn, biểu thị ý nghĩa dùng trí của 37 vị tôn thuộc Kim cương giới, để thành tựu thân của quả đức Tự thụ dụng và Tha thụ dụng. Kim cương Ái cầm cờ ma kiệt, biểu thị ý nghĩa làm sạch ý thức duyên theo tâm hữu lậu nhơ và sạch để thành tựu Diệu quan sát trí. Kim cương Mạn dùng 2 Kim cương quyền đặt ở dưới háng, biểu thị nghĩa trừ sạch thân chất ngại của 5 thức, khởi tinh tiến dũng mãnh, làm cho tất cả hữu tình thành Phật mà thành tựu Thành sở tác trí. Ấn tướng của 5 vị tôn này là dùng ấn Cực hỉ tam muội da làm ấn chung, hoặc mỗi vị đều có ấn riêng. Còn pháp tu diệt tội thờ bồ tát Ngũ bí mật làm bản tôn thì gọi là Ngũ bí mật pháp. Mạn đồ la lấy Ngũ bí mật làm trung tâm để kiến lập, gọi là Ngũ bí mật mạn đồ la. [X. kinh Đại lạc kim cương bất không chân thực tam ma da; Đại lạc kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ; Kim cương đính du già tha hóa tự tại thiên lí thú hội Phổ hiền tu hành niệm tụng nghi quĩ; Phổ hiền kim cương tát đỏa lược du già niệm tụng nghi quĩ; Kim cương đính thắng sơ Du già kinh trung lược xuất Đại lạc kim cương tát đỏa niệm tụng nghi quĩ; Lí thú thích Q.thượng].
ngũ bí mật mạn đà la
Mạn Đà La gồm mười bảy hình ảnh, gồm năm vị Kim Cang Bồ Tát (see Ngũ Bí Mật) và mười hai vị thị giả theo hầu—The Mandala of this group contains seventeen figures representing the five esoteric Bodhisattvas with their twelve subordinates.
ngũ bí mật mạn đồ la
(五秘密曼荼羅) Cũng gọi Thập thất tôn mạn đồ la. Trong tranh tượng của Mật giáo, bức Mạn đồ la gồm 5 vị Bồ tát bí mật là: Kim cương tát đỏa, Dục bồ tát, Xúc bồ tát, Ái bồ tát, Mạn bồ tát và thêm vào Bát cúng dường, Tứ nhiếp bồ tát nữa, cộng chung thành 17 vị tôn, gọi là Ngũ bí mật mạn đồ la, hoặc Thập thất tôn mạn đồ la. Tương đương với Hội lí thú trong 9 hội của Kim cương giới. Ngũ bí mật lấy tâm bồ đề thanh tịnh làm thể, lấy Kim cương tát đỏa làm chủ tôn, lấy 4 bồ tát Kim cương: Dục, Xúc, Ái, Mạn làm quyến thuộc, biểu thị ý nghĩa Phiền não tức bồ đề. Bức tranh Mạn đồ la phổ thông được lưu truyền là: Ở chính giữa vẽ Kim cương tát đỏa, bên phải vẽ 2 bồ tát Dục và Xúc, bên trái vẽ 2 bồ tát Ái và Mạn. Nếu giải thích theo ý nghĩa sâu kín, thì bồ tát Dục là trí Đại viên kính của Kim cương giới, vì thế là Đại tuệ; bồ tát Xúc là trí Tính bình đẳng của Bảo bộ, cho nên là Đại định; bồ tát Ái là trí Diệu quan sát của Liên hoa bộ, bởi thế là Đại bi; còn bồ tát Mạn là trí Thành sở tác của Yết ma bộ, cho nên là Đại tinh tiến. Nhiếp định vào tuệ, nhiếp tinh tiến vào bi, hợp 4 vị Bồ tát này lại, thành là 2 đức Bi và Trí; lại hợp 2 đức Bi, Trí lại thành là 1 Kim cương tát đỏa, đó tức là Ái nhiễm minh vương. [X. Ngũ bí mật nghi quĩ; Đại lạc Kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ].
ngũ bảo
The five precious things, syn all the precious things. There are several groups, e.g. - gold, silver, pearls, cowries, and rubies; or, coral, crystal, gold, silver, and cowries.
; Năm thứ quí là vàng, bạc, trân châu, san hô, mã não—The five precious things such as gold, silver, pearls, coral and amber.
; (五寶) Chỉ cho 5 vật báu: Vàng, bạc, hổ phách, thủy tinh, lưu li. Trong Mật giáo, khi thiết lập đàn tràng tu pháp, đem 5 vật báu và 5 vị thuốc, 5 thứ hương, 5 thứ hạt giống, chôn ở 4 phương và chính giữa đàn. Năm vật báu này là tháp của 5 bộ, cho nên chúng tượng trưng cho kho báu của thần đất. Hoặc khi cử hành lễ Quán đính thì 5 vật báu được bỏ vào 5 chiếc bình của đại đàn, vì đàn tràng tức là Mạn đồ la tâm của hành giả, với ý nghĩa là mở tâm Bồ đề thanh tịnh để khai phát đức của 5 trí. Về chủng loại Ngũ bảo thì các kinh và nghi quĩ nói không giống nhau. Như kinh Thành tựu Diệu pháp liên hoa kinh Du già quán trí nghi quĩ và Kiến lập Mạn đồ la hộ ma nghi quĩ... liệt kê Ngũ bảo là: Vàng (Phạm: Suvarịa), Bạc (Phạm: Rajata), Chân châu (Phạm: Muktikà), Sắt (Phạm: Mahànìla) và Phả lê (Phạm:Zilà). Phẩm Hộ ma pháp tắc trong kinh Tô tất địa yết ra quyển hạ, liệt kê: Vàng, Bạc, Chân châu, Loa bối (Phạm: Zaôkha) và Xích châu (Phạm: Lohita-muktikà). Còn luật Thập tụng quyển 61 thì nêu: Vàng, Bạc, Ma ni châu, Pha lê và Tì lưu li. Ngũ bảo được sử dụng hiện nay là: Vàng, Bạc, Hổ phách (Phạm: Musàla-galva), Thủy tinh (Phạm: Sphaỉika) và Lưu li. [X. kinh Nhuy hi da Q.trung; kinh Đà la ni tập Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.4; Kiến lập mạn đồ la thứ đệ pháp; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.8]. (xt. Bảo).
ngũ bảo thiên quan
See Ngũ Phật Bảo Quan.
ngũ bất chính thực
Năm thứ không hợp cho một vị Tăng ăn—Five improper things for a monk to eat: Cành non: Twigs. Lá cây: Leaves. Bông: Flowers. Trái: Fruit. Bột: Powder.
ngũ bất hoàn quả
See Ngũ Tịnh Cư Thiên.
Ngũ Bất hoàn thiên
xem Năm cõi tịnh cư.
ngũ bất hoàn thiên
Năm tầng trời mà chúng sanh không còn bị tái sanh vào các đường dữ nữa—Five Heavens-from-which-there-is-no-return because the residents do not ever fall back to the lower realms. ** For more information, please see Ngũ Tịnh Cư Thiên.
ngũ bất khả tư nghì
Theo Trí Độ Luận, có năm thứ bất khả tư nghì—According to the Sastra on the Prajna-Paramita Sutra, there are five inconceivable or thought-surpassing or beyond mentation things. Chúng sanh vô biên bất khả tư nghì: The number of living beings—Innumerable number of sentient beings is inconceivable.
ngũ bất khả tư nghị
(五不可思議) Năm thứ không thể nghĩ bàn. 1. Chúng sinh nhiều ít không thể nghĩ bàn: Chúng sinh tăng giảm không ngừng. 2. Quả báo của nghiệp không thể nghĩ bàn: Nương vào sức nghiệp mà muôn vật biến hiện. 3. Năng lực của người tọa thiền không thể nghĩ bàn: Nhờ sức Thiền định mà phát sinh thần thông. 4. Sức của rồng không thể nghĩ bàn: Chỉ 1 giọt nước của rồng cũng tuôn mưa lênh láng, gây ra lũ lụt. 5. Sức của chư Phật không thể nghĩ bàn: Nhờ Phật pháp mà chứng được quả lớn Niết bàn. [X. luận Đại trí độ Q.26, 30; Vãng sinh luận chú Q.hạ]. (xt. Tư Bất Tư Nghị).
ngũ bất năng xứ
Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm bất năng xứ (năm điều mà một vị Tỳ Kheo không thể làm được)—According to the Sangiti Sutta, there are five impossible things: Một vị lậu tận Tỳ Kheo không thể cố ý sát hại đời sống loài hữu tình: An Arahant is incapable of deliberately taking the life of a living being. Một vị lậu tận Tỳ Kheo không thể cố ý lấy của không cho để tạo tội trôm cắp: An Arahant is incapable of taking what is not given so as to constitute theft. Một vị lậu tận Tỳ Kheo không thể cố ý hành dâm: An Arahant is incapable of committing sexual intercourse. Một vị lậu tận Tỳ Kheo không thể tự mình biết mà nói láo: An Arahant is incapable of telling a deliberate lie. Một vị lậu tận Tỳ Kheo không thể tiêu dùng các vật chứa cất vào các thú vui dục lạc như khi còn là cư sĩ: An Arahant is incapable of storing up goods for sensual indulgence as he did formerly in the household life.
ngũ bất phó thỉnh
(五不赴請) Năm lí do Phật không nhận lời đến thụ trai. Cứ theo Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da quyển 34, có 1 Trưởng giả thiết trai tại nhà mình, để cúng dường Phật và chúng tăng, các tỉ khưu đều đến dự, chỉ có đức Thế tôn là không đi. Nhân dịp này, Phật nói vì 5 lí do mà hôm ấy Ngài không nhận lời thỉnh. 1. Như lai đang nhập thiền định. 2. Như lai đang nói pháp cho các vị trời nghe. 3. Như lai bận săn sóc 1 vị tăng đang lâm bệnh. 4. Đức Phật đi xem xét ngọa cụ và phòng xá khi các vị tỉ khưu đi phó trai. 5. Vì các tỉ khưu may ngọa cụ mới, bỏ ngọa cụ cũ không đúng qui định, cho nên Phật ở lại tinh xá để chế giới, bởi thế không phó thỉnh.
ngũ bất thối
Năm điều bất thối theo Pháp Tướng Tông—The five non-backslidings according to the Dharmalaksana: Tín Bất Thối: Never receding from the faith obtained. Vị Bất Thối: Never receding from the position attained. Chứng Bất Thối: Never receding from the realization attained. Hạnh Bất Thối: Never receding from a right course of action. Luật Nghi Bất Thối: Never receding from being in accordance with procedures.
ngũ bất ứng thí
1. Tài vật phi nghĩa; 2. Rượu, thuốc hút, độc dược; 3. Lưới bẫy, chài bắt; 4. Võ khí giết người; 5. Âm nhạc, nữ sắc. Đây là năm điều không nên dùng để bố thí.
ngũ bất ứng đáp
(五不應答) Có 5 trường hợp người ta đặt câu hỏi mình không nên đáp. 1. Hỏi thử: Do tâm kiêu mạn nên họ đem điều họ biết hỏi xem mình có biết không. 2. Không nghi ngờ mà hỏi: Tự họ không có điều gì thắc mắc nhưng giả bộ hỏi. 3. Không vì hối lỗi đã phạm mà hỏi: Biết đã phạm tội mà không có tâm hối cải, lại đặt ra câu hỏi. 4. Hỏi vặn: Đã biết người mình hỏi không thể trả lời mà cứ cố tình nạn vấn để dồn đối phương vào đường cùng. 5. Không chịu nghe mà hỏi: Đã nghe qua rồi, nhưng không tiếp nhận, lại hỏi nữa. [X. luật Thập tụng Q.50; Pháp uyển châu lâm Q.24].
ngũ bị
(五備) Năm điều kiện mà chúng tăng cần phải có, đó là: Phúc đức, giới hạnh, học rộng, biện tài, trí tuệ. Có đủ 5 điều kiện này thì đạo nghiệp tiến nhanh, chưa đầy đủ thì bị ngưng trệ. [X. La thập đáp Viễn pháp sư thư trong Thích thị yếu lãm Q.trung].
ngũ bố thí
Five kinds of dana or charity—See Ngũ Chủng Bố Thí.
ngũ bố uý
(五怖畏) Bố úy, Phạm:Vibhìwaịa. I. Ngũ Bố Úy. Cũng gọi Ngũ khủng bố, Ngũ bố, Ngũ úy. Năm nỗi sợ hãi của hành giả trước khi vào giai vị Kiến đạo. 1. Bất hoạt úy, cũng gọi Bất hoạt khủng bố (sợ không sống được): Người mới học đạo tuy có làm việc bố thí, nhưng lại sợ rằng chính mình không thể sống đầy đủ, cho nên thường tích trữ tiền của để phòng hờ, chứ chưa thể cho hết những cái mình có. 2. Ác danh úy, cũng gọi Ác danh khủng bố (sợ danh tiếng bị hoen ố): Người mới học đạo vì hóa độ chúng sinh mà vào quán rượu, nhưng chưa thể giữ thái độ an nhiên tự tại, vì còn sợ người khác chê cười. 3. Tử úy, cũng gọi Tử khủng bố (sợ chết): Người tu hành tuy phát tâm rộng lớn mà bố thí tài vật, nhưng vẫn còn sợ chết nên chưa dám xả thân. 4. Ác đạo úy, cũng gọi Ác thú khủng bố, Ác thú úy, Đọa ác đạo úy (sợ rơi vào đường ác): Hành giả sơ học vì sợ tạo nghiệp bất thiện sẽ bị đọa ác đạo, nên lúc nào cũng sống trong sợ hãi. 5. Đại chúng uy đức úy, cũng gọi Chúng trung bố úy, Đại chúng úy, Xử chúng khiếp úy (sợ uy đức của đại chúng): Người mới học đạo đứng trước nơi triều đình hoặc đối trước đại chúng thông hiểu pháp nghĩa, có uy đức lớn, thường e sợ ngôn ngữ cử chỉ của mình có chỗ sơ suất mà phạm lỗi. Năm tâm niệm sợ hãi nói trên, khi vào được Sơ địa thì hành giả trút bỏ hết. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; kinh Hoa nghiêm Q.23 (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q.34 (bản dịch mới); kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.9; luật Thập tụng Q.52; luận Đại tì bà sa Q.75; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, thượng]. II. Ngũ Bố Úy. Cũng gọi Ngũ khủng bố. Năm nỗi sợ hãi sinh khởi ở đời sau: 1. Thân không giữ giới, tâm không tu tuệ nên cũng không thể độ người khác. 2. Nuôi dưỡng sa di, mà không thể dạy họ giữ giới, tu tuệ. 3. Làm chỗ nương tựa cho người khác, mà không thể khiến họ giữ giới, tu tuệ. 4. Ở chung với tịnh nhân, sa di mà không biết 3 tướng đào đất, cắt cỏ, dùng nước tưới dội. 5. Tụng niệm 3 tạng kinh luật luận mà trước sau lộn xộn. [X. luật Thập tụng Q.49; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 1]. III. Ngũ Bố Úy. Năm sự sợ hãi: 1. Sợ bị lửa 3 độc (tham, sân, si) thiêu đốt. 2. Sợ bị 5 món dục lạc lôi cuốn. 3. Sợ dao phiền não làm thương tổn. 4. Sợ bị trôi dạt trong các cõi. 5. Sợ khói giác quán hun ngạt. Khi hành giả đạt được nhất thiết trí thì xa lìa 5 nỗi sợ hãi trên. [X. phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm Q.36].
ngũ bố úy
Paca-vibhisana (S).
; The five fears of beginners in the bodhisattva way: fear of 1-Bất hoạt úy, giving away all lest they should have no means of livelihood; 2-Ác danh úy, sacrifying their reputation; 3-Tử úy, sacrifying themselves through dread of dying; 4- Ác đạo úy, falling into evil; 5- Đại chúng oai đức úy, addressing an assembly, especially of men of position.
; Five Fears—See Ngũ Úy.
ngũ bồ đề
The five bodhi, or stages of enlightenment: 1-Phát tâm bồ đề, resolve on supreme bodhi; 2-Phục tâm bồ đề, mind control, i.e. of the passions, and observance of the paramitas; 3-Minh tâm bồ đề, mental enlightenment, study, and increase in knowledge and in prajnàpàramità; 4-Xuất đáo bồ đề, mental expansion, freedom from the limitations of reincarnation and attainment of complete knowledse; 5-Vô thượng bồ đề, attainment of a passionless condition and of supreme perfect enlightenment
; The five bodhi or stages of enlightenment: Phát tâm bồ đề: Vì vô thượng Bồ Đề mà phát tâm—Resolve on supreme bodhi. Phục tâm bồ đề: Chế phục phiền não mà tu hành các hạnh Ba La Mật—Mind control (the passions and observance of the paramitas). Minh tâm bồ đề: Quán sát các pháp để tu hành Bát Nhã Ba La Mật—Mental enlightenment, study and increase in knowledge and in the prajnaparamitas. Xuất đáo bồ đề: Xuất ly tam giới và đạt đến nhất thiết trí—Mental expansion, freedom from the limitations of reincarnation and attainment of Complete knowledge. Vô thượng bồ đề: Đạt tới tình trạng vô dục và vô thượng Bồ Đề—Attainment of a passionless condition and of supreme perfect enlightenment.
; (五菩提) Chỉ cho 5 Bồ đề của Phật. 1. Phát tâm bồ đề: Ở trong cõi sống chết không thể tính lường mà phát tâm cầu Vô thượng chính đẳng chính giác. 2. Phục tâm bồ đề: Áp phục phiền não mà tu hành các ba la mật. 3. Minh tâm bồ đề: Quán xét các pháp trong 3 đời mà thực hành Bát nhã ba la mật. 4. Xuất đáo bồ đề: Ở trong Bát nhã ba la mật được sức phương tiện, nhưng cũng không chấp trước Bát nhã ba la mật, đoạn trừ hết thảy phiền não, chứng được Vô sinh pháp nhẫn, ra khỏi 3 cõi, đạt đến Nhất thiết trí. 5. Vô thượng bồ đề: Ngồi nơi đạo tràng, dứt sạch các phiền não, được Vô thượng chính đẳng chính giác. [X. luận Đại trí độ Q.53].
ngũ bộ
The five classes or groups. Tứ Diệu Đế và Tu Đạo: The Four Noble truths and Practice—See Tứ Diệu Đế and Tu Đạo. Tiểu Thừa Ngũ Bộ: The five early Hinayana Sects—See Nhất Thiết Hữu Bộ.
; (五部) I. Ngũ Bộ. Chỉ cho quán hành Tứ đế của giai vị Kiến đạo và Tu đạo. Theo thuyết của Nhất thiết hữu bộ thuộc Tiểu thừa, thì bậc Thánh ở giai vị Kiến đạo quán xét khổ, tập, diệt, đạo dứt trừ Kiến hoặc của mỗi bộ để thấy được lí 4 đế, sau đó tiến vào giai vị Tu đạo, trừ sạch Tu hoặc mà chứng quả A la hán. Nhưng người phàm phu không thấy được lí 4 đế như bậc Thánh Kiến đạo, cho nên cũng không thể phân biệt sự sai khác giữa 5 bộ, chỉ tu 6 hành quán hữu lậu ở ngay lúc tu đạo, tổng hợp các hoặc của 5 bộ thành 9 phẩm, dùng trí hữu lậu hợp đoạn (dứt chung) 5 bộ Kiến, Tu (hoặc) của 8 địa dưới gọi là Ngũ bộ hợp đoạn, hoặc gọi là Ngũ bộ tạp đoạn. [X. luận Đại tì bà sa Q.51; luận Câu xá Q.19; Câu xá luận quang kí Q.1,19]. II. Ngũ Bộ. Chỉ cho 5 bộ trong Mạn đồ la Kim cưong giới của Mật giáo. 1. Phật bộ, cũng gọi Như lai bộ: Biểu thị lí trí đầy đủ, giác đạo viên mãn, nhưng ở địa vị phàm phu thì lí trí này chưa lộ rõ, khi vào quả vị thì lí trí mới hiện bày. Đại nhật Như lai là bộ chủ, màu trắng, hiện tướng tĩnh lặng, ngồi tòa Sư tử, chủng tử là (vaô), hình tam muội da là tháp, ấn xứ là thân, xâu chuỗi là hạt bồ đề, ngón cái và ngón trỏ của tay phải cầm tràng hạt. 2. Kim cương bộ: Biểu trưng cho trí, tức lí của tự tâm chúng sinh, trí sẵn có này dù trải qua vô lượng kiếp trong vũng bùn sinh tử nhưng vẫn không bị hư hoại, có khả năng phá diệt phiền não, cũng như kim cương tuy bị chôn vùi trong bùn lâu ngày nhưng vẫn không mục nát. Đức Phật A súc là bộ chủ, màu xanh, hiện tướng giận dữ, ngồi tòa Voi, chủng tử là (hùô), hình tam muội da là chày 5 chĩa, ấn xứ là tâm, xâu chuỗi là hạt kim cương, ngón cái và ngón giữa của tay phải lần tràng hạt. 3. Bảo bộ: Tượng trưng phúc đức, tức vô lượng phúc đức trong muôn đức tròn đầy của Phật. Đức Phật Bảo sinh là bộ chủ, màu vàng ròng, hiện tướng vui vẻ, ngồi trên tòa Ngựa, chủng tử là (trà#), hình tam muội da là ngọc báu, ấn xứ là trán, xâu chuỗi là các thứ báu, ngón cái và ngón áp út của tay phải cầm tràng hạt. 4. Liên hoa bộ: Biểu thị lí, tức là lí của tâm bồ đề thanh tịnh vốn có sẵn trong tự tâm chúng sinh, ở trong bùn sinh tử của 6 đường mà vẫn không bị hoen ố, giống như hoa sen từ dưới bùn lầy mọc lên mà vẫn thơm sạch. Đức Phật A di đà là bộ chủ, màu đỏ lợt, hiện tướng trong lành, ngồi trên tòa chim Công, chủng tử là (hrì#), hình tam muội da là hoa sen, ấn xứ là miệng, xâu chuỗi là hạt sen, ngón cái, ngón vô danh và ngón út của tay phải cầm tràng hạt. 5.Yết ma bộ: Biểu thị đức của nghiệp dụng hóa tha, tức Phật vì rũ lòng thương xót chúng sinh mà thành tựu mọi sự nghiệp cứu độ. Đức Phật Bất không thành tựu là bộ chủ, nhiều màu, hiện các loại tướng, ngồi trên tòa chim Cánh vàng, chủng tử là (a#), hình tam muội da là yết ma, ấn xứ là đỉnh đầu, xâu chuỗi là các thứ báu, dùng cả 4 cách nói trên để lần tràng. Kim cương giới là pháp môn Thủy giác thượng chuyển. Chuyển 9 thức ở trong mê thành 5 quả trí, 5 bộ biểu thị 5 đức nội chứng của 5 Phật thuộc Kim cương giới. Năm Phật là giáo chủ của 5 bộ, các vị tôn quyến thuộc của 5 Phật được gọi chung là Ngũ bộ chư tôn; sự tập hợp của Ngũ bộ chư tôn gọi là Ngũ bộ hải hội. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1, 3; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.9; kinh Nhất thiết Như lai kim cương tam nghiệp tối thượng bí mật đại giáo vương Q.1; Kim cương đính kinh nhất tự đính luân du già nhất thiết thời xứ niệm tụng thành Phật nghi quĩ; Bổ đà lạc hải hội quĩ; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu; Bí tạng kí]. III. Ngũ Bộ. Gọi đủ: Ngũ bộ luật. Năm bộ luật Tiểu thừa do 5 bộ truyền trì là Đàm vô đức, Tát bà đa, Sa di tắc, Ca diếp di và Ma ha tăng kì. (xt. Ngũ Bộ Luật).
ngũ bộ bí kinh
(五部秘經) Năm bộ kinh cơ bản của Mật tông. Tức là kinh Đại nhật 7 quyển, kinh Kim cương đính 3 quyển, kinh Tô tất địa 3 quyển, kinh Du kì 1 quyển và kinh Yếu lược niệm tụng 1 quyển. Năm bộ kinh nói trên thêm vào 2 bộ luận Phát bồ đề tâm và luận Thích Ma ha diễn của ngài Long thụ nữa thì gọi là 5 kinh 2 luận. Hoặc hợp chung kinh Yếu lược niệm tụng với kinh Đại nhật thành 1 bộ, rồi thêm kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng 4 quyển mà thành 5 bộ. Hoặc hợp kinh Yếu lược với kinh Đại nhật làm 1 bộ, kinh Kim cương đính với kinh Du kì làm 1, rồi cộng với kinh Tô tất địa mà gọi chung là Tam bộ kinh. [X. Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.12].
ngũ bộ bí quán
(五部秘觀) Pháp quán bí mật thông dụng trong 5 bộ (Phật bộ, Kim cương bộ, Bảo bộ, Liên hoa bộ và Yết ma bộ) của Mật giáo. Khi tu pháp, trước hết, hành giả quán hình tượng Bản tôn ở trên đàn, kế đến quán thân mình tức là ấn khế, lời nói của mình tức là chân ngôn, tâm mình tức là Bản tôn. Ba mật bình đẳng này bao trùm khắp pháp giới, gọi là Tự tam bình đẳng (ba bình đẳng của mình). Ba bình đẳng của mình và 3 bình đẳng của Bản tôn là cùng 1 duyên tướng, gọi là Tha tam bình đẳng (ba bình đẳng của người khác). Cho đến 3 bình đẳng của tất cả chư Phật đã thành, chưa thành đều cùng 1 duyên tướng, gọi là Cộng tam bình đẳng (ba bình đẳng chung). Do cùng 1 duyên tướng này, cho nên chư Phật nhập vào thân ta gọi là Nhập ngã; thân ta nhập vào thân chư Phật gọi là Ngã nhập. Do Nhập ngã và Ngã nhập cho nên các công đức mà chư Phật đã tu được trong vô lượng vô số kiếp đều có đầy đủ ở trong thân ta. Vả lại, lí tự tính bản lai của hết thảy chúng sinh, cùng với lí tự tính của ta và chư Phật là bình đẳng, không sai khác, chỉ vì chúng sinh không rõ biết điều đó nên phải luân hồi sinh tử; bởi vậy, các công đức mà ta tu tập được tự nhiên trở thành công đức của hết thảy chúng sinh, đây chính là hạnh lợi tha mà hành giả Chân ngôn hằng quán tưởng.
ngũ bộ bí tạng
(五部秘藏) Pháp môn bí mật của 5 bộ: Phật bộ, Kim cương bộ, Bảo bộ, Liên hoa bộ và Yết ma bộ thuộc Kim cương giới Mật giáo.
ngũ bộ cửu quyển
(五部九卷) Cũng gọi Ngũ bộ cửu thiếp. Chỉ cho 5 bộ sách gồm 9 quyển do ngài Thiện đạo, Tổ sư tông Tịnh độ, soạn vào đời Đường. Đó là: 1. Quán vô lượng thọ kinh sớ, 4 quyển. 2. Tịnh độ pháp sự tán, 2 quyển. 3. Quán niệm pháp môn, 1 quyển. 4. Vãng sinh lễ tán kệ, 1 quyển và 5. Bát chu tán, 1 quyển. Đây là 5 bộ sách trọng yếu của tông Tịnh độ.
ngũ bộ giáo chủ
The five Dhyani-Buddhas—See Ngũ Trí Như Lai.
; (五部教主) Năm đức Giáo chủ của 5 bộ thuộc Kim cương giới Mật giáo. 1. Đại nhật Như lai, bộ chủ của Phật bộ. 2. A súc Như lai, bộ chủ của Kim cương bộ. 3. Bảo sinh Như lai, bộ chủ của Bảo bộ. 4. A di đà Như lai, bộ chủ của Liên hoa bộ. 5. Bất không thành tựu Như lai, bộ chủ của Yết ma bộ. (xt. Ngũ Bộ).
ngũ bộ hải hội
(五部海會) Các vị tôn của 5 bộ (Phật bộ, Kim cương bộ, Bảo bộ, Liên hoa bộ, Yết ma bộ) thuộc Kim cương giới Mật giáo đều hội họp để hưng khởi pháp sự.
ngũ bộ hợp đoạn
Năm bộ hợp đoạn—To cut off the five classes of misleading things—See Ngũ Bộ (A).
; (五部合斷) Cũng gọi Ngũ bộ tạp đoạn. Pháp quán hợp đoạn 5 bộ Kiến hoặc và Tu hoặc thuộc 8 địa dưới. Năm bộ chỉ cho 4 bộ Kiến hoặc và 1 bộ Tu hoặc. Theo thuyết của Hữu bộ Tiểu thừa thì Dị sinh phàm phu không có năng lực vào được giai vị Kiến đạo để thấy lí Tứ đế, mà cũng không thể phân biệt 5 bộ, cho nên chỉ tu 6 hành quán hữu lậu, khi đến giai vị Tu đạo thì dứt hết cả 5 bộ Kiến hoặc và Tu hoặc (hợp đoạn) của 8 địa dưới, nhưng vẫn chưa thể dùng trí hữu lậu để dứt trừ mê hoặc ở địa thứ 9. Nhưng Đại thừa thì cho rằng trí hữu lậu không có khả năng đoạn trừ được Kiến hoặc. [X. luận Đại tì bà sa Q.50; luận Câu xá Q.19].
ngũ bộ luật
(五部律) Năm bộ luật thuộc 5 bộ phái khác nhau do 5 vị đệ tử của ngài Ưu ba cúc đa (Tổ phó pháp thứ 5 của Thiền tông Ấn độ) truyền bá vào khoảng 100 năm sau khi đức Phật nhập diệt. 1. Đàm vô đức bộ (Phạm: Dharmaguptaka, Hán dịch: Pháp chính, Pháp hộ, Pháp kính, Pháp mật là tên của bộ chủ. Cũng gọi Đàm ma cúc đa). Quảng luật do bộ này truyền là luật Tứ phần 60 quyển; giới bản là Tứ phần tăng giới bản 1 quyển, Tứ phần luật tỉ khưu giới bản 1 quyển, Tứ phần tỉ khưu ni giới bản 1 quyển. Bốn bộ luật nói trên đều do ngài Phật đà da xá dịch vào đời Diêu Tần. 2. Tát bà đa bộ (Phạm:Sarvàsti-vàda, Hán dịch: Nhất thiết hữu, cũng gọi Tát bà đế bà). Quảng luật do bộ này truyền bá là luật Thập tụng 61 quyển, do ngài Phất nhã đa la và ngài Đàm ma lưu chi cùng dịch vào đời Diêu Tần, giới bản là Thập tụng tỉ khưu ba la đề mộc xoa giới bản 1 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần; Thập tụng tỉ khưu ni ba la đề mộc xoa giới bản 1 quyển, do ngài Pháp hiển sưu tập vào đời Lưu Tống, Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ giới kinh 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ bật sô ni giới kinh 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường. 3. Di sa tắc bộ (Phạm: Mahizàsaka, Hán dịch: Bất trước hữu vô quán). Quảng luật do bộ này truyền là luật Ngũ phần 30 quyển, do ngài Phật đà thập dịch vào đời Lưu Tống, giới bản là Sa di tắc ngũ phần giới bản 1 quyển, do ngài Phật đà thập dịch vào đời Lưu Tống, Ngũ phần tỉ khưu ni giới bản 1 quyển, do ngài Minh huy sưu tập vào đời Lương. 4. Ca diếp di bộ (Phạm:Kàzyapìya, Hán dịch: Trùng không quán). Quảng luật do bộ này truyền là luật Giải thoát, giới bản là Giải thoát giới kinh 1 quyển, do ngài Bát nhã lưu chi dịch vào đời Nguyên Ngụy. 5. Ma ha tăng kì bộ (Phạm: Mahàsaíghika): Quảng luật do bộ này truyền là luật Ma ha tăng kì 40 quyển, do các ngài Pháp hiển và Phật đà bạt đà la cùng dịch vào đời Đông Tấn, giới bản là Ma ha tăng kì luật đại tỉ khưu giới bản 1 quyển, do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào thời Đông Tấn, Ma ha tăng kì tỉ khưu ni giới bản 1 quyển, do các ngài Pháp hiển và Giác hiền cùng dịch vào đời Đông Tấn. Về danh nghĩa của bộ này có nhiều thuyết khác nhau. a) Cứ theo kinh Xá lợi phất vấn, vì đa số vâng giữ luật Ma ha tăng kì, nên gọi là Đại chúng luật. b) Cứ theo kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 22 thì ngoài 5 bộ nói trên, còn có Bà ta phú la bộ, cộng thành 6 bộ luật. Trong đó, Ma ha tăng kì bao gồm hết các kinh sách của 5 bộ kia, cho nên đặc biệt gọi là Ma ha tăng kì luật. Nhưng theo Xuất tam tạng kí tập quyển 3 thì Bà ta phú la bộ tức là Ma ha tăng kì bộ. c) Cứ theo Tam luận huyền nghĩa thì Độc tử bộ là tên dịch của Bà ta phú la; Phiên dịch danh nghĩa tập dịch Bà ta là Độc, Phú la là Tử. Ngoài ra, về sự phân chia Ngũ bộ thì có 2 thuyết: 1. Theo Xuất tam tạng kí tập quyển 3 thì khi đức Phật còn tại thế, có 1 vị Trưởng giả nằm mộng thấy 1 tấm chiên bằng dạ màu trắng tự nhiên đứt ra làm 5 khúc, Trưởng giả lo sợ liền đến thưa hỏi đức Phật về việc ấy. Đức Phật giải thích rằng đó là điềm báo trước tạng Luật sẽ chia làm 5 bộ. 2. Cứ theo Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 4, sau khi Phật thành đạo được 38 năm, 1 hôm Ngài đến thụ trai trong cung vua tại thành Vương xá. Thụ trai xong, Ngài sai tôn giả La hầu la rửa bát, vì trượt tay nên bát vỡ làm 5 mảnh. Các vị tỉ khưu thỉnh vấn Phật về việc này, Ngài bảo sau khi Ngài nhập diệt 500 năm thì các tỉ khưu chia tạng Luật làm 5 bộ. Quả nhiên về sau ngài Ưu ba cúc đa có 5 vị đệ tử, mỗi người chấp 1 kiến giải riêng, bèn chia tạng Luật của Như lai làm 5 bộ. Lại nữa, theo kinh Xá lợi phất vấn, màu áo của 5 bộ đều khác nhau: Ma ha tăng kì bộ mặc áo màu vàng, Đàm vô đức bộ mặc áo màu đỏ, Tát bà đa bộ mặc áo màu đen, Ca diếp di bộ mặc áo màu mộc lan, Di sa tắc bộ mặc áo màu xanh. Nhưng theo Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển hạ thì Tát bà đa bộ mặc áo màu đỏ lợt, Đàm vô đức bộ mặc áo màu đen, 3 bộ còn lại thì giống như trên đã ghi. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.60; kinh Phật tạng Q.trung; Ma ha tăng kì luật hậu kí; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 1, tiết 2; Tứ phần luật sớ Q.2, Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 1; Đại thừa huyền luận Q.5; Đại đường tây vực kí Q.3; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng].
ngũ bộ mẫu
(五部母) Bà mẹ của 5 bộ. Chỉ cho các vị tôn chi phối việc sinh trưởng và nuôi dưỡng công đức 5 bộ thuộc Kim cương giới Mật giáo. Cứ theo kinh Nhiếp vô ngại, Bí tạng kí... thì bộ mẫu của 5 bộ là: 1. Phật bộ: Không có bộ mẫu, vì đức Đại nhật là nguồn gốc. 2. Kim cương bộ: Bộ mẫu là Kim cương ba la mật. 3. Bảo bộ: Bộ mẫu là Bảo ba la mật. 4. Liên hoa bộ: Bộ mẫu là Pháp ba la mật. 5. Yết ma bộ: Bộ mẫu là Yết ma ba la mật. Nếu các bộ mẫu không lấy năng sinh làm nghĩa, mà lấy dưỡng dục làm nghĩa, thì Phật bộ đáng lẽ cũng phải có bộ mẫu; 3 bộ của Thai tạng giới lấy Phật nhãn làm bộ mẫu của Phật bộ, vì vậy nên Phật bộ trong 5 bộ cũng lấy Phật nhãn làm bộ mẫu.
ngũ bộ mật kinh
Pàncatantra (S). The five Tantric Books.
ngũ bộ quán đỉnh
(五部灌頂) Pháp quán đính của 5 bộ trong Mật giáo. Nghĩa là khi cử hành nghi thức quán đính của Kim cương giới thì kết ấn và tụng chú (chân ngôn) của 5 bộ, rồi lấy nước trong bình của bộ ấy rưới lên chỏm đầu của đệ tử. Theo kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng quyển 2, trước hết, kết ấn khế và tụng chân ngôn Đại nhật quán đính, gia trì trên đỉnh đầu của đệ tử, rồi lấy nước trong bình có giải màu trắng buộc ở cổ bình rưới lên. Kế đến, lần lượt kết tụng ấn ngôn Đông Phật quán đính, gia trì ở trán, rưới nước trong bình có giải màu đỏ; kết tụng ấn ngôn Nam Phật quán đính, gia trì ở bên phải đỉnh đầu, rưới nước trong bình có giải màu vàng; kết tụng ấn ngôn Tây Phật quán đính, gia trì ở phía sau đỉnh đầu, rưới nước trong bình có giải màu xanh; kết tụng ấn ngôn Bắc Phật quán đính, gia trì bên trái đỉnh đầu, rưới nước trong bình có giải màu đen. [X. Kim cương vương bồ tát niệm tụng nghi quĩ].
ngũ bộ thiền kinh
(五部禪經) Năm bộ kinh nói về pháp Thiền, đều được thu vào Đại chính tạng tập 15. Đó là: 1. Kinh Thiền pháp yếu giải, 2 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần. 2. Kinh Đạt ma đa la thiền, 2 quyển, do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào đời Đông Tấn. 3. Kinh Tọa thiền tam muội pháp môn, 2 quyển, do ngài Tăng già la sát soạn, ngài Cưu ma la thập dịch. 4. Ngũ môn thiền kinh yếu dụng pháp, 1 quyển, do ngài Phật đà mật đa soạn, ngài Đàm ma mật đa dịch vào đời Lưu Tống. 5. Kinh Thiền yếu, 1 quyển, không rõ tên người dịch.
ngũ bộ toà
(五部座) Cũng gọi Ngũ tòa, Ngũ Phật tòa, Ngũ chủng tòa, Ngũ thú tòa. Tòa Như lai của 5 bộ thuộc Kim cương giới Mật giáo. Tức 5 bộ, mỗi bộ quán 3 chữ chủng tử của mình mà thành. 1. Tòa sư tử của Phật bộ: Do chủng tử chữ Vaô trong vòng tròn biến ra. Đức Phật Tì lô giá na là vua các pháp, cho nên trong các pháp biến hóa một cách tự tại không bị trở ngại, giống như sư tử là chúa các loài thú, sống giữa các loài thú mà không sợ hãi, nên dùng sư tử làm tòa. 2. Tòa voi của Kim cương bộ: Do chủng tử chữ Hùô trong vòng tròn biến ra. Vua Kim cương bộ có sức cứng chắc không vật gì phá được, cũng như sức voi mạnh mẽ nhất trong loài thú, cho nên dùng voi làm tòa. 3. Tòa ngựa của Bảo bộ: Do chủng tử chữ Trà trong vòng tròn biến ra. Vua pháp quán đính rưới nước tốt lành, cũng như ngựa có đủ tuệ dụng, tôn quí cát tường, cho nên dùng ngựa làm tòa. 4. Tòa chim Công của Liên hoa bộ: Do chữ chủng tử Hrì trong vòng tròn biến ra. Vua Chuyển pháp luân quay bánh xe đại pháp, cũng như chim công xinh đẹp, thông minh, có nhiều màu sắc, cho nên dùng chim công làm tòa. 5. Tòa chim cánh vàng của Yết ma bộ: Do chủng tử chữa# trong vòng tròn biến ra. Vua Bất không nghiệp dùng trí dụng tùy phương tiện yết ma dẫn dắt người, trời và tất cả các rồng, cũng như chim cánh vàng (Ca lâu la– Kim sí điểu) tùy theo phương hướng mà hàng phục loài rồng, cho nên dùng chim cánh vàng làm tòa. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Kim cương đính kinh nghĩa quyết Q.thượng].
Ngũ bộ tâm quán
五部心觀; C: wǔbù xīnguān; J: gobu shinkan;|Tên gọi đầy đủ là Lí-đa tăng-bá-la ngũ bộ tâm quán (悝多僧蘖囉五部心觀), được trình bày ở Trung Hoa theo chỉ dẫn của sư Thiện Vô Uý (善無畏; s: śubhakarasiṃha). Gồm những bức hoạ miêu tả hình ảnh các vị thần, các thủ ấn, và biểu tượng của Kim Cương giới mạn-đồ-la (金剛界曼荼羅; s: vajradhātu-mahāmaṇḍala), với những lời thần chú và chú thích hoàn toàn bằng tiếng Phạn. Một bản sao tác phẩm nầy do Pháp Toàn (法全) truyền lại cho Viên Trân (圓珍; j: enchin) năm 885 sau CN. Để nghiên cứu thêm, xin xem tác phẩm của Śaśibala (1986).
ngũ bộ tôn pháp
See Ngũ Chủng Tu Pháp.
; (五部尊法) Cũng gọi Ngũ chủng đàn pháp. Căn cứ vào 5 pháp tu trong Mật giáo mà nói về sự khác nhau của 5 bộ, tức là: 1. Tức tai pháp: Dùng các vị tôn của Phật bộ, cho nên có 5 Phật trí. 2. Tăng ích pháp: Dùng các vị tôn của Bảo bộ, cho nên có bảo (của báu), quang (ánh sáng), chàng (cờ), tiếu (cười)... Cầu phúc đức là bảo, cầu trí tuệ là quang, cầu quan vị là chàng, cầu kính yêu là tiếu. 3. Hàng phục pháp: Dùng các vị tôn của Kim cương bộ, cho nên có 5 vị tôn rất giận dữ. 4. Ái kính pháp: Dùng các vị tôn của Liên hoa bộ, cho nên có bản tôn Quan thế âm. 5. Câu triệu pháp: Dùng các vị tôn của Yết ma bộ, cho nên có câu (móc câu), sách (vòng dây), tỏa (khóa), linh (chuông rung)... [X. điều Ngũ bộ tôn pháp trong Bổ đà lạc hải hội quĩ].
Ngũ bộ Tăng
xem Năm bộ Tăng.
ngũ bộ tịnh cư diêm ma la
Xem Viêm ma thiên.
ngũ bộ tịnh cư viêm ma la
(五部淨居炎摩羅) Cũng gọi Ngũ bộ tịnh. Một trong 28 bộ chúng quyến thuộc của bồ tát Thiên thủ Quan âm, là vị thiện thần thường theo ủng hộ hành giả. Ngũ tịnh cư tức Ngũ na hàm tịnh cư ở trên trời, Viêm ma la thì ở dưới đất. Khi điều thiện đạt đến cực quả, thì Tịnh cư thiên hiển thị lễ pháp; khi điều ác đạt đến cực quả thì Viêm ma la hiển thị trị pháp. Nay lấy quĩ tắc trên dưới hợp lại làm 1 bộ, cho nên gọi là Ngũ bộ tịnh cư viêm ma la. Cứ theo Thiên thủ quan âm tạo thứ tự pháp nghi quĩ, thì hình tượng của vị thần này, thân màu tím nhạt, tay trái cầm cờ Viêm ma, tay phải cầm cây gậy người nữ. [X. kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni; Thiên thủ nhị thập bát bộ chúng thích].
ngũ bộ tổng trì
(五部總持) Chỉ cho Đà la ni (Phạm: Dhàraịi, Hán dịch: Tổng trì) của 5 bộ thuộc Kim cương giới Mật giáo. Năm bộ là Phật bộ, Kim cương bộ, Liên hoa bộ, Bảo bộ và Yết ma bộ.
Ngũ bộ đại luận
五部大論; C: wǔbù dàlùn; J: gobudairon;|»Năm bộ luận lớn của Đại thừa« do Bồ Tát Di-lặc trứ tác.
ngũ bộ đại luận
The five great sastras: Du Già Sư Địa Luận: Ceremonials of the esoteric cult for ridding from calamity. Phân Biệt Du Già Luận: Ceremonials of the esoteric cult for prosperity. Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận: Ceremonials of the esoteric cult for subduing evils (spirits). Biện Trung Biên Luận Tụng: Ceremonials of the esoteric cult for seeking the love of Buddhas. Kim Cang Bát Nhã Luận: Ceremonials of the esoteric cult for calling the good to aid.
; (五部大論) Cũng gọi Ngũ đại luận. Năm bộ luận lớn do ngài Vô trước soạn theo giáo chỉ của bồ tát Di lặc. Đó là: 1. Luận Du già sư địa, 100 quyển, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. 2. Luận Phân biệt du già, không rõ dịch giả. 3. Đại thừa trang nghiêm kinh luận, 13 quyển, ngài Ba la phả mật đa la dịch vào đời Đường. 4. Biện trung biên luận tụng, 1 quyển, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. 5. Luận Kim cương bát nhã, 2 quyển, ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần. [X. Du già luận kí Q.1, phần đầu].
ngũ bộ đại luật
The first five volumes of Vinayana of Hinayana Sects. Đàm Ma Cúc Đa: Tứ Phần Luật (Pháp chính, pháp hộ, pháp kinh, pháp mật)—Dharmagupta. Tát Bà Đế Bà: Thập Tụng Luật—Sarvastivada. Di Sa Tắc Bộ: Ngũ Phần Luật—Mahisasaka. Ca Diếp Di Bộ: Giải Thoát Giới Kinh—Kasyapiya. Bà Thu Phú La Bộ: Vatsiputriya.
ngũ bộ đại thừa kinh
Năm bộ kinh lớn trong trường phái Thiên Thai—The five chief Mahayana Sutras in the T'ien-T'ai Sect: Hoa Nghiêm: Avatamsaka Sutra. Đại Tập: Mahasanghata Sutra. Đại Bát Nhã: Mahaprajna Sutra. Pháp Hoa: Lotus Sutra.
ngũ canh
xem Năm canh
; (五更) Cũng gọi Ngũ dạ, Ngũ cổ. Canh nghĩa là trải qua. Thời gian trong 1 đêm được chia làm 5 canh: Canh 1 (Giáp dạ), 8 giờ tối hôm nay. Canh 2 (Ất dạ), 10 giờ tối hôm nay. Canh 3 (Bính dạ), 0 giờ sáng hôm nay. Canh 4 (Đinh dạ), 2 giờ sáng hôm sau. Canh 5 (Mậu dạ), 4 giờ sáng hôm sau. [X. Hán cung cựu nghi; Nhan thị gia huấn thư chứng].
ngũ canh chuyển
(五更轉) Một loại tục dao (câu hát thông tục) trong Phật giáo được lưu hành vào đời Đường. Trong 1 đêm từ canh 1 đến canh 5, đêm tối chuyển từ mờ mịt đến sáng dần, trạng thái này được ví dụ cho tâm vô minh hôn ám của người ta do tin theo và thực hành chính pháp của Phật mà dần dần được tỏ ngộ thấu suốt. Loại tục dao này lấy 1 đêm 5 canh làm đơn vị, mỗi canh là 1 bài 4 câu theo cùng 1 cách thức, nối tiếp nhiều bài thành thiên. Chẳng hạn như đoạn trước của Nam tông định tà chính ngũ canh chuyển như sau: Canh một bắt đầu: Vọng tưởng chân như chẳng phải hai Mê thì chân ấy hóa vọng ngay Ngộ đến, vọng kia là chân thực Niệm chẳng khởi, Niết bàn đây! (...) Canh hai thôi thúc: Đại viên gương báu sáng như nhiên Chúng sinh không rõ bệnh phan duyên Do đó ngăn che tâm chẳng tỏ Sạch bụi nhơ, dứt não phiền. Ngoài ra, còn có Đại thừa ngũ canh chuyển, Vô tướng ngũ canh chuyển, Duy ma ngũ canh chuyển, Đạt ma ngũ canh chuyển v.v... Thời gần đây, loại tục dao này được tìm thấy rất nhiều trong các hang động tại Đôn hoàng thuộc tỉnh Thiểm tây, Trung quốc.
ngũ chi giới
(五支戒) Năm Sự giới chi mạt (ngọn) được mở ra từ một lí Đại Bồ đề tâm căn bản (gốc). Năm giới này được nói trong phẩm Thánh hạnh của kinh Niết bàn quyển 11 (bản Nam). Đó là: Căn bản nghiệp thanh tịnh giới, Tiền hậu quyến thuộc dư thanh tịnh giới, Phi chư ác giác giác thanh tịnh giới, Hộ trì chính niệm niệm thanh tịnh giới, Hồi hướng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề giới. Trong Niết bàn nghĩa kí quyển 5, ngài Tịnh ảnh giải thích là: 1. Căn bản nghiệp thanh tịnh: Xa lìa bất thiện nghiệp đạo căn bản. 2. Tiền hậu quyến thuộc dư thanh tịnh: Xa lìa phương tiện trước sau của bất thiện nghiệp đạo. 3. Phi chư ác giác giác thanh tịnh: Xa lìa 8 ác giác. 4. Hộ trì chính niệm niệm thanh tịnh: Tu 6 niệm tâm, giúp thành tựu giới hạnh. 5. Hồi hướng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề: Giữ gìn giới hạnh mong cầu thành Phật. Ngài Bảo lượng đem 5 chi giới này phối hợp với các giới Đại, Tiểu thừa, cho rằng 4 giới trọng của Tiểu thừa là Căn bản nghiệp thanh tịnh giới; từ thiên thứ 2 trở xuống, tức các giới khác ngoài 4 giới trọng là Tiền hậu quyến thuộc dư thanh tịnh giới, không khởi 3 độc (tham, sân, si) và không phạm giới Bồ tát là Phi chư ác giác giác thanh tịnh giới; không phạm 40 giới khinh là Hộ trì chính niệm niệm thanh tịnh giới; tu hành 4 giới trên để hồi hướng bồ đề là Hồi hướng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề giới. Ngài Thiên thai Trí khải thì cho rằng 4 giới trọng hoặc tính giới của 10 điều thiện là Căn bản nghiệp thanh tịnh giới; 4 thiên còn lại như Thâu lan gia... là Tiền hậu quyến thuộc dư thanh tịnh giới; Định cộng giới là Phi chư ác giác giác thanh tịnh giới; Đạo cộng giới là Hộ trì chính niệm niệm thanh tịnh giới; Đại thừa giới là Hồi hướng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề giới. [X. Niết bàn kinh tập giải Q.27; Tứ niệm xứ Q.3; Niết bàn kinh hội sớ Q.11; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4, phần đầu].
Ngũ chi tác pháp
五支作法; C: wǔzhī zuòfǎ; J: goshisahō;|Phương pháp lập luận gồm 5 phần, gồm: 1. Tông (宗; s: pratijñā): tiền đề; 2. Nhân (因; s: hetu): lí do; 3. Dụ (喩; s: udāharana): thí dụ dẫn chứng; 4. Hợp (合; s: upanaya): sự quy nạp; 5. Kết (結; s: nigamana): kết luận. Pháp nầy đã được các nhà Cổ nhân minh học trước Trần-na (陣那; s: dignāga) sử dụng.
ngũ chi tác pháp
Avayava (skt)—Năm chi tạo pháp—The five parts of a syllogism: Lập Tông: Nói về sở tính của chư pháp—Pratijna (skt)—The proposition. Biện Nhân: Dựa theo các pháp mà kiến lập ra ngôn luận thuận ích với đạo lý—Hetu (skt)—The reason. Dẫn Dụ: So sánh với các pháp dễ hiểu—Udaharana (skt)—The example. Hợp: Upanaya (skt)—The application. Kết: Nigamana (skt)—The summing up or conclusion.
; (五支作法) Phạm: Paĩca-avayava-vàkya. Cũng gọi Ngũ phần tác pháp. Tiếng dùng của Nhân minh cũ. Phương thức suy luận được cấu tạo nên bởi 5 chi, tức là: Tông (Phạm:Pratijĩà), Nhân (Phạm: Hetu), Dụ (Phạm: Udàharaịa), Hợp (Phạm: Upanaya) và Kết (Phạm: Nigamana). Phương thức lập luận của các bậc Đại sư thuộc Nhân minh cũ như các ngài Di lặc, Vô trước, Thế thân v.v... đều không nhất định. Luận Du già sư địa của ngài Di lặc và luận Hiển dương thánh giáo của ngài Vô trước, đều nói rằng khi nghị luận, có thể thành lập 8 pháp, đó là: Lập tông, biện nhân, dẫn dụ, đồng loại, dị loại, hiện lượng, tỉ lượng và chính giáo lượng. Trong đó, 5 pháp trước thông thường được gọi là luận thức Ngũ chi tác pháp, cũng tức là luận thức Ngũ phần được nói trong luận Như thực của ngài Thế thân. Phương pháp luận chứng 5 chi hoặc 5 phần như sau: 1. Lập tong (mệnh đề): Trên núi kia đang có lửa cháy. 2. Biện nhân (lí do): Vì thấy có khói trên núi. 3. Dẫn dụ (thí dụ chứng minh) chia làm 2 loại: Đồng dụ và Dị dụ. Đồng dụ: Có khói ắt có lửa, như trong nhà bếp; Dị dụ: Không có lửa thì chẳng có khói, như trong hồ nước. 4. Hợp (dùng sau mệnh đề khẳng định): Núi đó cũng như thế. 5. Kết (phần kết luận, tức lập lại Tông): Vì thế biết trên núi đó đang có lửa cháy. Ngũ chi tác pháp nói trên, ngoài các vị Luận sư của Phật giáo ra, cũng được các học phái khác ứng dụng. Như ông Kiều đạt ma (Phạm: Gotama) của học phái Ni da dã (Phạm: Nyàya) trong 6 pháiTriết học ở Ấn độ cũng từng lập luận thức hệt như luận thức 5 phần nói trên. Lại nữa, trong tác pháp 5 chi, khi thuộc tính của 2 đối tượng giống nhau về 1 mặt nào đó, thì đi đến kết luận là thuộc tính của các mặt khác cũng giống nhau. Nhưng kết luận này có thể đúng mà cũng có thể sai, vì nó thuộc về phương pháp loại suy. Đối với tác pháp 5 chi, trong bộ Chính lí kinh chú, ông Phiệt sa diễn na đã có sự phát triển quan trọng, trong chi Dụ (đồng dụ và dị dụ) ông đều thêm 1 mệnh đề Toàn xưng, làm cho chi Dụ gần giống như Tam đoạn luận pháp (syllogism). Qua sự cải tạo của ông, tác pháp 5 chi đã từ phương pháp loại suy tiến đến phương thức diễn dịch suy lí và kết luận có tính logic tất nhiên. Chẳng hạn như tác pháp 5 chi trong Chính lí kinh chú sau đây: 1. Tông: Âm thanh là vô thường. 2. Nhân: Vì nó được tạo ra. 3. Đồng dụ: Phàm những cái được tạo ra đều là vô thường, như cái chậu, cái dĩa v.v... -Dị dụ: Phàm những cái không phải do tạo ra mà có thì đều là thường trụ, như thần ngã... 4. Hợp: Âm thanh lời nói cũng như thế, vì là cái được tạo ra (hợp đồng dụ); Âm thanh không giống như thần ngã, không thuộc về cái không phải do tạo ra mà có (hợp dị dụ). 5. Kết: Vì thế biết âm thanh là vô thường. Ngũ chi tác pháp của ông Phiệt sa diễn na chỉ có 3 danh từ (trừ thí dụ chứng minh), nếu bỏ Hợp, Kết thì 3 chi Tông, Nhân, Dụ đại khái tương đương với kết luận, Tiểu tiền đề và Đại tiền đề của Tam đoạn luận pháp. Còn nếu bỏ Tông, Nhân thì 3 chi Dụ, Hợp và Kết đại khái giống với Tam đoạn luận pháp. Tuy nhiên, đứng về phương diện logic mà nói, thì Toàn xưng phán đoán được sử dụng trong phần Dị dụ chưa được chặt chẽ. Mãi đến thế kỉ VI, Đại luận sư Nhân minh là ngài Trần na (Phạm: Dignàga), trong Tập lượng luận đề ra Tam chi tác pháp(luận thức 3 phần): Lập tông, Biện nhân, Dẫn dụ với sự cải cách lớn lao thì luận lí Nhân minh mới được hoàn chỉnh và cũng từ đó luận chứng Nhân minh được chia thành Cựu Nhân minh (Ngũ chi tác pháp), và Tân Nhân minh (Tam chi tác pháp) khác nhau. [X. luận Du già sư địa Q.15; luận Hiển dương thánh giáo Q.11; luận Đại thừa a tì đạt ma Q.16; phẩm Đọa phụ xứ luận Như thực; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần đầu; Du già sư địa luận lược toản Q.5; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.1 (Văn quĩ); History of Indian Logic, Calcutta, 1921 by S.C. Vidvabhùsana; Indian Logic in the Early School, Oxford, 1930 by H.N. Randle; Ấn độ triết học nghiên cứu 5; Phật giáo luận lí học (Vũ tỉnh Bá thọ)]. (xt. Tam Chi Tác Pháp, Nhân Minh).
ngũ chu nhân quả
(五周因果) Cũng gọi Hoa nghiêm ngũ chu nhân quả. Năm vòng nhân quả nói rõ nghĩa lí kinh Hoa nghiêm (80 quyển) được trình bày trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 3, 4. Tức là: 1. Sở tín nhân quả: Hội Hoa nghiêm thứ nhất ở Bồ đề tràng thuyết pháp môn quả báo y, chính của của đức Như lai, tức từ quyển thứ 1 đến quyển thứ 11, tất cả có 6 phẩm, 5 phẩm trước nói rõ về quả đức của Già na, phẩm còn lại hiển bày bản nhân của Phật, khiến cho người sinh tâm tin nhận mà vui theo. 2. Sai biệt nhân quả, cũng gọi Tu chính nhân quả, Sinh giải nhân quả: Hội thứ 2 đến hội thứ 7 ở điện Phổ quang minh tuyên thuyết pháp môn nhân quả sai biệt của Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và Đẳng giác. Tức từ quyển 12 đến quyển 48, tất cả có 29 phẩm; 26 phẩm trước nói rõ về nhân sai biệt của 51 giai vị, còn 3 phẩm sau cùng thuyết minh về quả tướng 3 đức sai biệt của Phật. 3. Bình đẳng nhân quả, cũng gọi Tu hiển nhân quả, Xuất hiện nhân quả: Hội thứ 7 ở điện Phổ quang minh tuyên thuyết pháp môn nhân quả bình đẳng, tức từ quyển 49 đến quyển 52, có 2 phẩm, phẩm Phổ hiền hạnh nói về nhân tròn đầy bình đẳng của bồ tát Phổ hiền, phẩm Như lai xuất hiện thuyết minh quả viên mãn bình đẳng của đức Phật Tì lô giá na, nhân quả dung nhiếp, bình đẳng không hai. 4. Thành hành nhân quả, cũng gọi Xuất thế nhân quả: Hội thứ 8 ở điện Phổ quang minh, tuyên thuyết pháp môn thành hành nhân quả, xa lìa pháp thế gian. Tức từ quyển 53 đến quyển 59, có 1 phẩm, trước hết nói về nhân hạnh của 5 giai vị, sau đó trình bày quả tướng đại dụng của 8 tướng thành Phật. 5.Chứng nhập nhân quả: Hội thứ 9 trong rừng Thệ đa tuyên thuyết diệu môn Nhập pháp giới. Tức từ quyển 60 đến quyển 80, có 1 phẩm, trước hết nói về đại dụng tự tại của quả Phật, sau đó hiển bày sự khởi dụng tu nhân của Bồ tát, 2 môn nhân và quả đồng thời chứng nhập. Năm vòng nhân quả trên đây đều qui kết ở diệu môn chứng nhập nhân quả thứ 5, tức từ Sở tín nhân quả đầu tiên đến Thành hành nhân quả thứ 4 là muốn khiến hành giả tin sâu nơi quả đức của Già na, hiểu rõ nhân quả của 6 giai vị, cho đến nương vào đó mà tu hành thực tiễn; đây là con đường tắt duy nhất chứng nhập pháp giới. Ngoài ra, trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí, ngài Pháp tạng lập ra 5 phần như Giáo khởi nhân duyên phần v.v... để giải thích phân biệt kinh Hoa nghiêm. Chỗ khác nhau giữa 5 vòng và 5 phần là 5 vòng dựa vào nghĩa lí, còn 5 phần thì căn cứ theo văn kinh mà phân biệt. [X. Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.8; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.17; Đại tạng pháp số Q.26]. (xt. Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh).
ngũ chuyên
Năm thứ chuyên cần—Theo Chân Tông của Nhật Bản, muốn vãng sanh Tịnh Độ, Phật ử phải tu một trong năm thứ chuyên sau đây—According to the Japanese Shin Sect, to ensure rebirth in the Pure Land, Buddhists must devote practicing one of the following devotions: Chuyên Lễ: Devotion in worship. Chuyên Độc Tụng kinh điển: Devotion in reciting or reading sutras. Chuyên Quán: Devotion in meditation. Chuyên niệm hồng danh Phật: Devotion in invocation of the name of Amitabha Buddha. Chuyên Tán thán chư Phật: Devotion in praising Buddhas.
ngũ chuyển
Năm chuyển hay năm giai đoạn phát triển từ nhân đến quả theo Mật Giáo—The five evolutions or developments according to the Esoteric Sects: Phát Tâm Bồ Đề hay nguyện đắc thành quả vị Phật: To resolve on Buddhahood. Tu Hành hay trì giữ giới luật: Observance of the rules. Giác ngộ Bồ Đề: Do nhân hành mà chứng được đạo quả—Attainment of enlightenment.
; (五轉) Gọi đủ: A tự ngũ chuyển. Năm giai đoạn biểu thị tâm Bồ đề chuyển biến dần lên theo thứ tự tu hành từ nhân đến quả trong Mật giáo. (xt. A Tự Ngũ Chuyển).
ngũ chuyển dữ tứ trọng viên đàn
(五轉與四重圓壇) Mật giáo dùng Ngũ chuyển phối hợp với 4 lớp Viên đàn của Thai tạng giới. Được chia làm 2 thứ từ quả đến nhân và từ nhân đến quả. 1. Từ quả đến nhân: Là môn Hóa tha, lấy chữ (a) làm chủng tử của Đại nhật ở chính giữa, lấy Trung đài làm phát tâm, Bát diệp làm tu hành, Nhị trùng làm Bồ đề, Tam trùng làm Niết bàn, Thế thiên đẳng làm phương tiện. 2. Từ nhân đến quả: Là môn tự lợi, lấy chữ (à#) làm chủng tử của Đại nhật ở chính giữa, lấy Trung đài làm phương tiện, Bát diệp làm Niết bàn, Nhị trùng làm Bồ đề, Tam trùng làm tu hành, Thế thiên đẳng làm phát tâm. [X. Bồ đề tâm nghĩa Q.6]. (xt. A Tự Ngũ Chuyển, Tứ Trùng Viên Đàn).
ngũ chuyển thành thân
See Ngũ Chuyển and Ngũ Tướng Thành Thân.
ngũ chánh hành
See Ngũ Chánh Hạnh.
ngũ chánh hạnh
The five proper courses to ensure the bliss of the Pure Land: Tụng đọc chánh hạnh: Tụng đọc Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ và Kinh Quán Vô Lượng Thọ—Intone the three sutras (Amitabha, Infinite Life, Meditation on the Infinite Life). Quán sát chánh hạnh: Quán sát về Tây Phương Tịnh Độ—Meditate on the Pure Land. Lễ bái chánh hạnh: Lễ bái Đức Phật A Di Đà—Worship solely Amitabha. Xưng danh chánh hạnh: Xưng tụng hồng danh Đức Phật A Di Đà—Invoke the name of Amitabha Buddha. Tán thán cúng dường chánh hạnh: Tán thán cúng dường Đức Phật A Di Đà—Extol and make offerings to Amitabha Buddha. ** For more information, please see Ngũ Chủng Pháp Sư.
ngũ chánh sắc
See Ngũ Sắc.
ngũ châu
The five continents.
ngũ chính hành
(五正行) Năm hạnh chân chính, do tông Tịnh độ lập ra cho người tu hành pháp môn niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh độ. Đó là: 1. Chính hạnh đọc tụng. 2. Chính hạnh quán xét. 3. Chính hạnh lễ bái. 4. Chính hạnh xưng danh. 5. Chính hạnh tán thán, cúng dường. Năm hạnh này căn cứ vào 3 bộ kinh Tịnh độ, chỉ thực hành những hạnh hướng về đức Phật A di đà và cõi Cực lạc phương Tây, cho nên gọi là Chính hạnh. Trái lại, làm 5 việc trên đối với các đức Phật khác, Bồ tát khác thì gọi là Tạp hạnh. [X. Tán thiện nghĩa trong Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.4 (Thiện đạo); Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. Ngũ Tạp Hạnh).
ngũ chính sắc, ngũ sắc, ngũ chính hạnh
The five proper courses to insure the bliss of the Pure Land: (1) Intone the three sùtras Vô lượng thọ kinh, Quán vô lượng thọ kinh and A di đà kinh; (2) meditate on the Pure Land; 3) worship solely Amitabha; (4) invoke his name; (5) extol and make offerings to him.
Ngũ chúng
五衆; C: wǔzhòng; J: goshū;|Có các nghĩa sau: 1. Từ Hán cổ (Cưu-ma-la-thập, s: kumārajīva) để dịch từ »Ngũ uẩn« (theo kinh Pháp Hoa); 2. Năm chúng đệ tử của Đức Phật: Tỉ-khâu (比丘; s: bhikṣu, p: bhikkhu), Tỉ-khâu-ni (比丘尼; s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī), Thức-xoa-ma-na (式叉摩那; s: śikṣamāṇā, p: sikkhamānā), Sa-di (沙彌; s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera), và Sa-di-ni (沙彌尼; s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerī). Trong Năm chúng nầy, Tỉ-khâu và Tỉ-khâu-ni thụ nhận Cụ túc giới, Thức-xoa-ma-na thụ nhận Sáu pháp (Lục pháp 六法; sau khi thụ giới Sa-di), Sa-di và Sa-di-ni thụ nhận mười giới (Thập giới 十戒; theo Đại trí độ luận quyển thứ 10 大智度論卷十; Tứ Phần luật hành sự sao tư trì kí, phần 1, quyển 1 四分律行事鈔資持記卷中一之一).
ngũ chúng
(五衆) I. Ngũ Chúng. Dịch cũ: Ngũ uẩn. Tức là sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Chữ chúng hàm có nghĩa là tụ tập, nhóm họp. (xt. Ngũ Uẩn). II. Ngũ Chúng. Cũng gọi Xuất gia ngũ chúng. Năm chúng xuất gia. 1. Tỉ khưu (Phạm: Bhikwu, Pàli: Bhikkhu). 2. Tỉ khưu ni (Phạm: Bhiwuịì, Pàli: Bhikkhunì). 3. Thức xoa ma na (Phạm: Zikwamàịa, Pàli: Sikkhamànà). 4. Sa di (Phạm: Zràmaịera, Pàli: Sàmaịera). 5. Sa di ni (Phạm:Zràmaịerikà, Pàli: Sàmaịerì). Trong đó, tỉ khưu và tỉ khưu ni thụ giới Cụ túc, thức xoa ma na thụ 6 pháp, sa di và sa di ni thụ 10 giới. [X. luận Đại trí độ Q.10; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 1, tiết 1]. (xt. Thất Chúng). III.Ngũ Chúng. Cơ cấu giáo hóa của Phật giáo được thành lập vào đời Tùy. Vua Văn đế nhà Tùy, Trung quốc, ban lệnh tuyển chọn các bậc cao tăng có học vấn uyên thâm để đảm nhận các chức vụ giáo hóa gọi là Ngũ chúng, mỗi chúng đặt 1 vị Chúng chủ. Đó là: 1. Niết bàn chúng: Chúng chủ có các ngài Pháp thông, Đồng chân, Thiện trụ. 2. Địa luận chúng: Chủ yếu y cứ vào kinh Hoa nghiêm; Chúng chủ có các ngài Tuệ thiên, Linh xán. 3. Đại luận chúng: Đại luận chỉ cho luận Đại trí độ, chủ yếu y cứ theo kinh Đại phẩm bát nhã. Chúng chủ gồm các vị Pháp ngạn, Bảo tập, Trí ẩn. 4. Giảng luật chúng, Chúng chủ có ngài Hồng tuân... 5. Thiền môn chúng, Chúng chủ là ngài Pháp ứng...
ngũ chúng ma
The five maras associated with the five skandhas—See Ngũ Uẩn.
ngũ chúng xuất gia
Five groups of the order: Tỳ Kheo: Monks. Tỳ Kheo Ni: Nuns. Thức Xoa Ma Na: Nun-Candidates. Sa Di: Male novices. Sa Di Ni: Female novices.
Ngũ chướng
五障; C: wǔzhàng; J: goshō; S: pañca-avara-ṇāni.|Có các nghĩa sau: 1. Năm loại chướng ngại: Phiền não chướng (煩惱障), Nghiệp chướng (業障), Sinh chướng (生障), Pháp chướng (法障), Sở tri chướng (所知障); 2. Năm loại chướng ngại đối với phụ nữ: Không thể sinh trong cõi trời Phạm thiên, không thể sinh trong cõi trời Đế thích, không thể sinh làm Ma vương, không thể sinh làm Chuyển luân thánh vương, không thể làm Phật; 3. Năm loại chướng ngại: Lừa dối (khi 欺), lười biếng (đãi 怠), nóng nảy (sân 瞋), giận (hận 恨), thù (oán 怨).
ngũ chướng
PacanīvaraṇaXem Ngũ cái.
; The five hindrances, or obstacles, also ngũ ngại. (I) Of women, i.e. inability to become Phạm thiên vương Brahma-kings, Đế thích Indras, Ma vương Mara-kings, Chuyển luân thánh vương Cakravarti-kings, or Phật Buddhas. II) The hindrances of: (1) Phiền não chướng, the passion nature, e.g. original sin; (2) Nghiệp chướng, of karma caused in previous lives; (3) Sinh chướng, the affairs of life; (4) Pháp chướng, no friendly or competent preceptor; (5) Sở tri chướng, partial knowledge.
; Năm chướng ngại—The five hindrances.
; (五障) Phạm: Paĩca àvaraịàni. Pàli: Paĩca nìvaraịàni. Cũng gọi Ngũ ngại. I. Ngũ Chướng. Người đàn bà bị chướng ngại không thể thành 5 bậc: Phạm thiên vương, Đế thích, Ma vương, Chuyển luân thánh vương và Phật. Trong kinh Đại bảo tích quyển 38 chỉ nói 4 chướng mà thiếu mất chướng Ma vương. [X. phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa; kinh Siêu nhật minh tam muội Q.hạ; Pháp hoa kinh huyền tán Q.9, phần đầu]. (xt. Nữ Tử Ngũ Chướng). II. Ngũ Chướng. Cũng gọi Ngũ cái chướng. Chỉ cho 5 thứ chướng ngại trên con đường tu hành Phật đạo. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 1 thì 5 chướng ngại ấy là: 1. Phiền não chướng: Chướng ngại do các phiền não căn bản. 2. Nghiệp chướng: Chướng ngại do các nghiệp ác ở quá khứ, hiện tại. 3. Sinh chướng: Chướng ngại vì nghiệp kiếp trước mà sinh vào hoàn cảnh tồi tệ, xấu xa. 4. Pháp chướng: Chướng ngại vì đời trước không được gặp thiện tri thức nên nay không được nghe pháp. 5. Sở tri chướng: Dù được nghe pháp nhưng do các thứ nhân duyên trở ngại, cho nên không thể tu hành Bát nhã ba la mật. Ngoài ra, còn có 5 chướng khác như: Ác đạo chướng (sinh vào 3 đường ác địa ngục, ngã quỉ, súc sanh), Bần cùng chướng (sinh vào nhà nghèo cùng), Nữ thân chướng (làm thân đàn bà), Hình tàn chướng (thân thể tàn phế, không đủ các căn) và Hỉ vong chướng (hay quên)... III. Ngũ Chướng. Chỉ cho tác dụng tâm lí làm chướng ngại 5 lực. Đó là: Lừa dối làm chướng ngại Tín, lười biếng làm chướng ngại Tiến, bực tức làm chướng ngại Niệm, hờn giận làm chướng ngại Định và thù oán làm chướng ngại Tuệ. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1, phần đầu].
ngũ chướng của nữ nhân
Theo phẩm Đề Bà trong Kinh Pháp Hoa, người nữ có năm chướng ngại—According to the Lotus Sutra, Devadatta Chapter, there are five hindrances or obstacles of women: Chẳng được làm Phạm Thiên Vương: Inability to become Brahma-kings. Chẳng được làm Đế Thích: Inability to become Indras. Chẳng được làm Ma Vương: Inability to become Mara-kings. Chẳng được làm Chuyển Luân Vương: Inability to become Cakravarti-kings. Chẳng được làm Phật: Inability to become Buddhas. Kỳ thật, một người mang thân nữ muốn thành Phật thì phải tu trong kiếp nầy sao cho chuyển thành người nam trong kiếp lai sanh trước khi thành Phật—In fact, if a woman wants to become a Buddha, that person has to cultivate in this life so that in her next rebirth she can become a man.
ngũ chướng ngại
Năm chướng ngại cho sự tiến bộ tinh thần, làm rối loạn sự nhìn sâu vào vạn hữu, ngăn cản con người đạt tới sự tập trung hoàn toàn, cũng như khám phá ra chân lý—Five hindrances to spiritual progress that hinder the mind, obstruct insight, and prevent cultivators from attaining complete concentration and from knowing the truth (Five factors (hindrances) which blind our vision from the truth): Theo quan điểm Phật Giáo Đại Thừa—According to the point of view of Mahayana Buddhism: Tham dục: Kamachanda (p)—Tham ái duyên theo dục giới—Sensuous lust—Greed. Sân hận: Vyapada (p)—Ill-will—Hatred. Si mê: Ignorance—Physical and mental torpor. Lo âu: Uddhaccakukkucca (p)—Restlessness and worry.
ngũ chướng tam tòng của nữ nhân
Năm chướng ngại và ba phục tòng của người nữ—The five hindrances and the three subbordinations of women: Năm Chướng Ngại—The five hindrances—See Ngũ Chướng Của Nữ Nhân. (II) Tam Tòng—The three subordinations: Tại gia tòng phụ: Ở nhà thì phục tòng cha—At home she must subordinate to her father. Xuất giá tòng phu: Khi lấy chồng thì phải phục tòng chồng—When she gets married, she must subordinate to her husband. Phu tử tòng tử: Khi chồng qua đời thì phải phục tòng người con trai cả—When her husband dies, she must subordinate to her eldest son.
ngũ chủng a na hàm
See Ngũ Tịnh Cư Thiên.
ngũ chủng a xà lê
Năm loại giáo thọ—Five categories of acarya. Xuất Gia A Xà Lê: Người sở y đắc xuất gia hay người phụ trách dạy dỗ những người mới xuất gia—One who has charged of novices. Giáo Thọ A xà Lê: Giáo Thọ Tăng—A teacher of the discipline. Yết Ma A Xà Lê: Thọ Giới Tăng hay vị Tăng làm phép thọ giới yết ma—A teacher of duties. Thọ Kinh A Xà Lê: Vị Tăng dạy kinh cho người khác—A teacher of the scriptures. Y Chỉ A Xà Lê: Thầy y chỉ (dù chỉ trong một thời gian rất ngắn)—The master of the community (though in a very short period of time).
ngũ chủng bát
See Ngũ Chủng Bất Hoàn.
ngũ chủng bát nhã
(五種般若) Bát nhã, Phạm: Prajĩa. Chỉ cho 5 thánh trí Bát nhã chiếu rọi pháp giới, thấu suốt chân lí. Theo Bát nhã tâm kinh sớ, Bát nhã tâm kinh u tán quyển thượng, thì 5 Bát nhã là: 1. Thực tướng bát nhã: Chỉ cho lí của chân như. Lí này là thực tính của Bát nhã, cho nên gọi là Thực tướng bát nhã. 2. Quán chiếu bát nhã: Chỉ cho trí tuệ thanh tịnh vô lậu. Trí tuệ này có năng lực soi rõ các pháp vô tướng, thảy đều vắng lặng, vì thế gọi là Quán chiếu bát nhã. 3. Văn tự bát nhã: Chỉ cho ngôn ngữ chương cú của Bát nhã. Ngôn ngữ văn tự có thể giải thích rõ lí Bát nhã, tính tịch lặng như hư không, cho nên gọi là Văn tự bát nhã. 4. Quyến thuộc bát nhã: Chỉ cho 6 độ muôn hạnh. Sáu độ muôn hạnh tương ứng với diệu tuệ, có khả năng thành tựu Bát nhã, là quyến thuộc của tuệ tính quán chiếu, vì thế gọi là Quyến thuộc bát nhã. 5. Cảnh giới bát nhã: Chỉ cho tất cả pháp. Các pháp là cảnh giới của chân trí bát nhã, cảnh không có tự tướng, do trí hiển phát, cho nên gọi là Cảnh giới bát nhã. Cứ theo Kim cương kinh sớ kí khoa hội quyển 1, thì 5 Bát nhã trên đây là do ngài Cưu ma la thập căn cứ vào Văn tự bát nhã, Quán chiếu bát nhã và Thực tướng bát nhã nói trong luận Đại trí độ mà lập thêm Quyến thuộc bát nhã và Cảnh giới bát nhã. Trong đó, Quyến thuộc bát nhã được lập ra từ Quán chiếu bát nhã và Cảnh giới bát nhã được lập ra từ Thực tướng bát nhã. Ngoài ra, Đại phẩm kinh nghĩa sớ quyển 1 của ngài Cát tạng có nêu ra thuyết Năm Tì đàm: Tự tính, Cộng hữu, Phương tiện, Cảnh giới và Văn tự. Trong đó, Cảnh giới tì đàm tương đương với Thực tướng bát nhã, Tự tính tì đàm tương đương với Quán chiếu bát nhã và Văn tự tì đàm tương đương với Văn tự bát nhã... [X. Kim cương kinh toản yếu san định kí Q.2; Đại minh tam tạng pháp số Q.20; Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ Q.1, phần đầu; Bát nhã tâm kinh hội sớ liên châu kí Q.thượng; Nhân vương kinh sớ pháp hành sao Q.thượng].
Ngũ chủng Bất hoàn
xem A-na-hàm.
ngũ chủng bất hoàn
Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm loại bất hoàn hay ngũ chủng Na Hàm—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five kinds of anagamins (Na Hàm) who never return to the desire-real: Trung Gian Bát Niết Bàn: Thánh giả bất hoàn chết ở Dục giới rồi vãng sanh về Sắc giới—The “less-than-half-timer”—The anagamin who enters on the intermediate stage between the realm of desire and the higher realm of form. Sinh Bát Niết Bàn: Đã sanh ra trong cõi Sắc giới thì không bao lâu sau sẽ đoạn lìa tất cả mọi phiền não còn sót lại—The “more-than-half-timer”—The anagamin who is born into the form world and soon overcome the remains of illusions. Hữu Hạnh Bát Niết Bàn: Đã sanh vào cõi bất hoàn một thời gian sau khi tinh tấn tu tập sẽ đi đến quả vị cuối cùng là Niết Bàn—The “gainer with exertion”—The anagamin who diligently works his way through the final stage. Vô Hạnh Bát Niết Bàn: Đã sanh vào cõi bất hoàn mà không chịu tinh tấn tu hành thì quả vị cuối cùng sẽ bị trì hoản—The “gainer without exertion”—The anagamin whose final departure is delayed through lack of aid and slackness. Thượng Lưu Bát Thú A-Ca-Ni-Sa: Người đã sanh vào cõi bất hoàn đi từ Hạ Thiên tiến lên Thượng Thiên để cuối cùng đạt đến cứu cánh Niết Bàn—He who goes upstreamto the highest—The anagamin who proceeds from lower to higher heavens into nirvana.
; (五種不還) Cũng gọi Ngũ chủng A na hàm, Ngũ bất hoàn quả, Ngũ chủng ban. Chỉ cho 5 bậc thánh quả Bất hoàn được phân loại theo căn cơ lợi độn và chứng quả A la hán trước hay sau. Đó là: 1. Trung ban (Phạm: Antaraparivinvàyin): Bậc Thánh đã chứng quả Bất hoàn lúc bỏ thân ở cõi Dục sinh lên cõi Sắc, trong giai đoạn Trung hữu chứng quả A la hán và được ban Niết bàn. Lại chia làm 3 bậc: Tốc ban, Phi tốc ban và Kinh cửu ban. 2. Sinh ban (Phạm: Upapadya-pari= nirvàyin): Bậc Thánh quả Bất hoàn sinh vào cõi Sắc, không bao lâu liền khởi tu Thánh đạo, dứt trừ hoặc nghiệp ở thượng địa (cõi Vô sắc) mà vào Niết bàn. 3. Hữu hành ban (Phạm: Sàbhisaô= skàra-parinirvàyin): Bậc Thánh quả Bất hoàn sinh lên cõi Sắc, trải qua thời gian lâu dài, siêng tu gia hạnh mà được ban Niết bàn. 4. Vô hành ban (Phạm: Anabhisaô= skara-parinirvàyin): Bậc Thánh quả Bất hoàn sinh lên cõi Sắc, nhưng chưa thể gia công dụng hạnh, phải trải qua thời gian lâu dài mới đoạn trừ được hoặc ở thượng địa mà được ban Niết bàn. 5. Thượng lưu ban (Phạm: Ùrdhva= srota-parinirvàyin): Bậc Thánh quả Bất hoàn sinh vào trời Sơ thiền của cõi Sắc, từ đó dần dần sinh lên đến cõi trời Sắc cứu cánh, hoặc đến cõi trời Hữu đính mà ban Niết bàn. Lại được chia làm 2 loại là Nhạo tuệ và Nhạo định. Nhạo tuệ là ưa thích trí tuệ, tu các thiền định để sinh lên tầng trời Sắc cứu cánh là nơi cao nhất của cõi Sắc mà vào Niết bàn. Nhạo định là ưa thích thiền định, nhưng không tu lẫn lộn các tĩnh lự khác, dần dần sinh lên cõi trên, cuối cùng sinh lên tầng trời Hữu đính, là nơi cao nhất của cõi Vô sắc mà vào Niết bàn. Thượng lưu ban này lại chia làm 3 loại: Toàn siêu ban, Bán siêu ban và Biến một ban. Ngoài ra, Trung ban và Thượng lưu ban mỗi loại lại lập riêng ra 3 thứ, rồi hợp chung với Sinh ban, Hữu hành ban và Vô hành ban nói ở trên thì thành là 9 loại Bất hoàn. Nếu chỉ lập riêng Thượng lưu ban làm 3 loại và hợp chung với 4 loại trước thì gọi là Thất thiện sĩ thú. Nhưng theo luận Đại tì bà sa quyển 115 thì chỉ lập riêng Trung ban làm 3 thứ là Tốc ban, Phi tốc ban và Kinh cửu ban, rồi hợp chung với 4 Ban còn lại trong 5 loại Bất hoàn mà gọi là Thất thiện sĩ thú. Lại nữa, trong Ngũ chủng bất hoàn, 3 thứ Sinh ban, Hữu hành ban và Vô hành ban hợp chung lại làm 1 Sinh ban, rồi cộng với Trung ban và Thượng lưu ban mà gọi là Tam chủng ban. Hoặc Ngũ chủng bất hoàn thêm vào Vô sắc ban, Hiện ban thì thành Thất chủng bất hoàn. Trong đó, 5 loại từ Trung ban cho đến Thượng lưu ban nhập Niết bàn ở cõi Sắc, Vô sắc ban vì từ trong Thượng lưu ban lập riêng ra, cho nên ban Niết bàn ở cõi Vô sắc. Còn Hiện ban thì nhập tịch ở cõi Dục. [X. kinh Tạp a hàm Q.27; kinh Trung a hàm Q.2, 30; kinh Tọa thiền tam muội Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.174, 175; luận Câu xá Q.24]. (xt. Thất Thiện Sĩ Thú, Cửu Chủng Bất Hoàn).
ngũ chủng bất nam
The five kinds of pandakas, i.e. eunuchs, or impotent males.
; Pandakas (skt)—Năm loại bất nam—Five kinds of impotent males or eunuchs: Sinh Bất Nam: Impotent male by birth. Kiền Bất Nam: Bị thiến mất nam căn—Impotent male by emasculation. Đồ Bất Nam: Loại thấy người khác dâm là xuất tinh khí—Impotent male by uncontrollable emission. Biến Bất Nam: Loại gặp nam thì nữ căn khởi, mà gặp nữ thì nam căn khởi—Hermaphrodite. Bán Bất Nam: Loại chỉ dùng được nam căn trong nửa tháng—Impotent for half a month.
ngũ chủng bất năng nam
(五種不能男) Cũng gọi Ngũ chủng bất nam, Ngũ chủng hoàng môn (Phạm: Paĩca paịđakà#). Chỉ cho 5 hạng người không có nam căn (bộ phận sinh dục của đàn ông) hoặc nam căn không được hoàn bị. Cứ theo luật Thập tụng quyển 21 thì 5 hạng người ấy là: 1. Sinh bất năng nam, cũng gọi Sinh bất nam, Sinh hoàng môn (Phạm: Jàtipaịđaka). Sinh ra đã không thể làm dâm. 2. Bán nguyệt bất năng nam, cũng gọi Bán bất nam, Bán nguyệt hoàng môn (Phạm: Pakwa-Paịđaka): Nửa tháng có khả năng làm dâm, nửa tháng không có khả năng làm dâm. 3. Đố bất năng nam, cũng gọi Đố bất nam, Đố hoàng môn (Phạm: Ìrwyapaịđaka): Thấy người khác làm dâm sinh ghen mà nổi lòng dâm. 4. Tinh bất năng nam, cũng gọi Biến bất nam, Biến hoàng môn, Bão sinh hoàng môn, Xúc bão hoàng môn (Phạm: Àsaktapràdurbhàvì-paịđaka): Lúc làm dâm thì nam căn biến mất. 5. Bệnh bất năng nam, cũng gọi Kiện bất nam, Kiện hoàng môn, Hình tàn hoàng môn (Phạm: Àpat-paịđaka): Tức do nam căn bị bệnh mà cắt bỏ. Luận Câu xá quyển 15 thì chia Hoàng môn làm 2 loại là Phiến sỉ (Phạm:Waịđha) và Bán trạch ca (Phạm:Paịđaka), Phiến sỉ là người không có nam căn, lại chia ra 2 thứ là Bản tính phiến sỉ (sinh ra đã không có nam căn) và Tổn hoại phiến sỉ (do nam căn bị bệnh mà cắt bỏ). Bán trạch ca là người có nam căn nhưng không đầy đủ, cũng chia ra 3 loại: Tật đố, Bán nguyệt và Quán sái. Trong đó, Bản tính phiến sỉ tương đương với Sinh bất nam, Tổn hoại phiến sỉ tương đương với Bệnh bất nam, Tật đố bán trạch ca tương đương với Đố bất nam, Bán nguyệt bán trạch ca tương đương với Bán nguyệt bất nam, Quán sái bán trạch ca tương đương với Tinh bất năng nam. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 8 thì gọi chung 5 loại Bất nam là Bán trạch ca, tức là: Sinh tiện bán trạch ca, Tật đố bán trạch ca, Bán nguyệt bán trạch ca, Quán sái bán trạch ca và Trừ khử bán trạch ca. Còn riêng loại Phiến sỉ thì chỉ được dùng để chỉ cho người không có nam căn. Những người phiến sỉ và bán trạch ca này đều không được xuất gia thụ giới Cụ túc. [X. luật Tứ phần Q.35; luật Ma ha tăng kì Q.23; luận Thuận chính lí Q.9; luận Câu xá Q.3; Pháp hoa văn cú kí Q.9, phần đầu; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 3; Câu xá luận quang kí Q.3; Huyền ứng âm nghĩa Q.24; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần cuối].
ngũ chủng bất nữ
The five kinds of sexually incomplete females.
ngũ chủng bất phiên
Năm loại từ ngữ chẳng phiên dịch được do Ngài Huyền Trang đời Đường quy định—Five kinds of terms which Hsuan-Tsang did not translate but transliterated: Bí Mật Chi: Vì huyền bí thâm mật nên không phiên dịch được mà chỉ phiên âm như Chú Đà La Ni—The Esoteric—Cannot be translated such as Dharani mantras. Hàm Đa Nghĩa: Vì nhiều nghĩa nên không dịch được mà chỉ phiên âm—Those with several meanings. Thử Phương Sở Vô: Những thứ không có nơi nầy (Trung Hoa) nên không dịch được mà chỉ phiên âm—Those without equivalent in China. Thuận Theo Cổ Lệ: Có thể phiên dịch được, nhưng vì muốn theo cổ lệ nên giữ nguyên chữ mà chỉ phiên âm—Old-established terms. Vi Sinh Thiện: Muốn làm cảm động người nghe để họ phát thiện tâm nên không phiên dịch—Those which would be less impressive when translated.
; (五種不翻) Có 5 trường hợp không phiên dịch mà phải giữ âm tiếng Phạm, khi dịch 1 bản kinh tiếng Phạm ra Hán văn. Đây là 5 nguyên tắc do Đại sư Huyền trang đời Đường đặt ra để làm mẫu mực cho người dịch kinh đời sau noi theo. Đó là: 1. Vì bí mật: Như các Đà la ni (thần chú) trong kinh là lời nói bí mật của chư Phật, sâu xa mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn nên không dịch nghĩa. 2. Một chữ bao hàm nhiều nghĩa: Như từ Bạc già phạm (Phạm: Bhagavad) có 6 nghĩa: Tự tại, xí thịnh, đoan nghiêm, danh xưng, cát tường, tôn quí... vì thế không thể chọn 1 nghĩa nào để phiên dịch. 3. Vì ở Trung quốc không có: Như cây Diêm phù (Phạm: Jambu) mọc ở Ấn độ, ở Trung quốc không có loại cây này, cho nên phải giữ nguyên âm. 4. Theo thông lệ từ xưa: Như A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (Phạm: Anuttarasamyak-saôbodhi), nghĩa là Vô thượng chính đẳng chính giác, nhưng từ đời Đông Hán trở về sau, các nhà dịch kinh đều chỉ phiên âm, vì muốn giữ lại qui thức của người xưa nên không dịch. 5. Vì lòng tôn trọng: Như các từ Bát nhã, Thích ca mâu ni, Bồ đề tát đỏa... không dịch là trí tuệ, năng nhân, đạo tâm chúng sinh... là vì muốn cho mọi người giữ ý niệm tôn trọng, nếu dịch rõ ra sẽ bị coi nhẹ. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.20; bài tựa trong Phiên dịch danh nghĩa tập]. (xt. Dịch Kinh).
ngũ chủng bất sinh
(五種不生) Năm trường hợp không phải sinh vào. Tức là 5 thứ lợi ích mà hàng Thượng nhẫn vị đạt được. Đó là: 1. Sinh bất sinh: Đã được phi trạch diệt, không còn phải sinh vào các loài đẻ trứng, đẻ ở nơi ẩm ướt. 2. Xứ bất sinh: Không phải sinh vào cõi trời Vô tưởng, cõi trời Đại phạm hay Bắc câu lô châu. 3. Thân bất sinh: Không thụ sinh các thân: Phiến sỉ (không có nam, nữ căn, tức bộ phận sinh dục nam hay nữ), Bán trạch ca (nam căn không đầy đủ), Nhị hình (có cả 2 nam và nữ căn). 4. Hữu bất sinh: Đã được phi trạch diệt nên không còn phải thụ sinh lần thứ 8 ở cõi Dục và sinh lần thứ 2 ở cõi Sắc. 5. Hoặc bất sinh: Kiến hoặc đã bị trừ diệt hết sạch, không còn sinh khởi lại được nữa. [X. luận Câu xá Q.23].
ngũ chủng bất thoái
(五種不退) Năm thứ không lui mất. Tức là 5 thứ công đức giúp người đã sinh về Tịnh độ vĩnh viễn không lui mất tâm bồ đề. 1. Đại bi nhiếp trì bất thoái: Chúng sinh đã sinh về Tịnh độ, nhờ được nguyện lực đại bi của đức Phật A di đà nhiếp giữ nên họ không bao giờ lui mất tâm bồ đề. 2. Phật quang chiếu xúc bất thoái: Người đã sinh về Tịnh độ, thường được hào quang của Phật soi sáng, cho nên họ không bao giờ lui mất tâm bồ đề. 3. Thường văn pháp âm bất thoái: Chúng sinh đã sinh về Tịnh độ, thường được nghe tiếng pháp do chim, nước, cây rừng diễn nói nên không bao giờ lui mất tâm bồ đề. 4. Thiện hữu đồng cư bất thoái: Chúng sinh đã sinh về Tịnh độ cùng được làm bạn với các vị Bồ tát ở cõi ấy, cho nên trong không có phiền não hoặc nghiệp trói buộc, ngoài không có ác duyên tà ma quấy nhiễu, cho nên vĩnh viễn không lui mất tâm bồ đề. 5. Thọ mệnh vô lượng bất thoái: Người đã sinh về Tịnh độ thì tuổi thọ vô lượng, cho nên không bao giờ lui mất tâm bồ đề. [X. luận Tịnh độ thập nghi].
ngũ chủng bất ứng thí
(五種不應施) Có 5 thứ vật không nên đem cho (bố thí) người khác. Tức là: 1. Của cải và vật dụng bất hợp pháp. 2. Rượu và thuốc độc. 3. Lưới, bẫy, cung, nỏ... là những thứ dụng cụ dùng để bắt chim, thú. 4. Dao, gậy, cung, tên. 5. Âm nhạc, nữ sắc. [X. Pháp uyển châu lâm Q.18].
ngũ chủng bố thí
The five kinds of almsgiving, or dànas - to those from afar, to those going afar, to the sick, the hungry, and those wise in Buddhist doctrine.
; Năm loại bố thí—The five kinds of almsgiving or danas: Thí cho kẻ ở phương xa lại: Alsmgiving to those from afar (a distance). Thí cho kẻ sắp đi xa: Almsgiving to those going afar (going to a distance). Thí cho kẻ bịnh tật ốm đau: Almsgiving to the sick. Thí cho người đói khát: Almsgiving to the hungry. Thí trí huệ và đạo đức cho người: Almsgiving to those wise in Buddhist doctrine.
; (五種布施) Năm đối tượng cần được bố thí. 1. Người từ xa đến. 2. Người sắp ra đi. 3. Người đau yếu gầy ốm. 4. Người đang đói khát. 5. Người có pháp trí tuệ. [X. Chư kinh yếu tập Q.11].
ngũ chủng chánh hành
See Ngũ Chánh Hạnh.
ngũ chủng chánh hạnh
Paca-cara (S)Một phẩm trong Căn bản chánh hạnh luận (Mulacara).
ngũ chủng chánh sắc
See Ngũ Chánh Hạnh.
ngũ chủng cúng dường
Five objects of offering: nhang xoa chaling incense, hoa flower, nhang đốt burning incense, đồ ăn uống food and drink, đồ đèn sáng lamp or candles.
; Five kinds of offerings—See Ngũ Cúng Dường.
ngũ chủng cố tư
(五種故思) Cũng gọi Ngũ chủng cố tư nghiệp. Chỉ cho 5 thứ nghiệp được tạo tác một cách cố ý. Đó là: 1. Bị người khác sai khiến và sau khi suy nghĩ, thực hiện ý định. 2. Bị người khác khuyến khích, tuy mình không muốn, nhưng lại thấy có lợi, nên suy tính rồi thực hiện việc làm. 3. Do không hiểu biết mà làm, nghĩa là tùy theo sở thích, suy nghĩ kĩ rồi bắt đầu thực hiện hành động. 4. Do tham, sân, si che lấp, cố ý đạt cho được mục đích mong muốn mà làm việc ác. 5. Do vọng kiến phân biệt điên đảo, ưa thích tà pháp, cầu mong đời sau được sinh lên cõi trời, nên cố ý làm việc bất thiện. Năm thứ Cố tư nghiệp trên, 3 loại trước thuộc nghiệp nhẹ, là nghiệp bất định, cũng gọi Bất tăng trưởng nghiệp, nên không hẳn phải chịu quả báo dị thục. Còn 2 loại sau là nghiệp nặng, là nghiệp quyết định, cũng gọi Tăng trưởng nghiệp, nhất định phải chịu quả báo dị thục. [X. luận A tì đạt ma tập Q.4; luận A tì đạt ma tạp tập Q.7]. (xt. Cố Tư Nghiệp).
ngũ chủng duy thức
Năm loại Duy Thức—Five kinds of wisdom or insight or idealistic representation in the sutras and sastras (the first four are objective and the fifth is subjective): Cảnh Duy thức: Căn cứ vào cảnh mà thuyết về Duy Thức—Wisdom or insight in objective conditions. Giáo Duy thức: Giải thích về Duy Thức—Wisdom or insight in interpretation. Lý Duy thức: Luận về thành tựu đạo lý Duy Thức—Wisdom or insight in principles. Hành Duy thức: Nói rõ quán pháp của Duy Thức—Wisdom or insight in meditation and practice. Quả Duy thức: Nói về diệu cảnh giới của Phật quả—Wisdom or insight in the fruits or results of Buddhahood.
; (五種唯識) I. Ngũ Chủng Duy Thức. Năm thứ Duy thức do ngài Từ ân thuộc tông Pháp tướng căn cứ vào các nghĩa Duy thức được trình bày trong các kinh luận mà lập ra. 1. Cảnh duy thức: Theo cảnh sở quán để thuyết minh nghĩa Duy thức, như thí dụ Nhất xứ tứ kiến (cùng 1 cảnh mà có 4 cái thấy khác nhau) nói trong kinh A tì đạt ma. 2. Giáo duy thức: Căn cứ vào ngôn giáo năng thuyên để nói rõ về nghĩa Duy thức, như ý chỉ duy thức tâm nói trong các kinh như kinh Giải thâm mật v.v... 3. Lí duy thức: Căn cứ vào lí Duy thức đã được các kinh luận thành tựu mà nói về lí chuyển biến của Duy thức. 4. Hành duy thức: Nương vào pháp quán Duy thức được nói trong kinh luận để thuyết minh Bồ tát y cứ vào Tứ tầm tư, Tứ như thực trí... mà tư duy quán xét lí Duy thức. 5.Quả duy thức: Căn cứ vào cảnh giới vi diệu của quả Phật được thuyết minh trong kinh luận để nói rõ do tư duy quán xét lí Duy thức mà được quả trí vô lậu. [X. luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.5; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối; Duy thức nghĩa chương Q.3, phần đầu; Bát nhã tâm kinh u tán Q.thượng; Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng, phần đầu]. II. Ngũ Chủng Duy Thức. Năm nghĩa Duy thức của tông Pháp tướng. 1. Tự tướng: Tám thức là tự thể của thức. 2. Tương ứng: Sáu loại (vị) tâm sở là tương ứng của thức. 3. Sở biến: Kiến phần, Tướng phần của tâm và tâm sở là sở biến của thức. 4. Phần vị: Pháp bất tương ứng là phần vị giả lập của tâm, tâm sở và của sắc pháp do thức biến ra. 5. Thực tính: Pháp vô vi là thực thể của tâm, tâm sở, sắc pháp và bất tương ứng pháp. [X. luận Thành duy thức Q.7].
ngũ chủng dục vọng
Five types of desire—See Ngũ Dục.
ngũ chủng gia dự
(五種嘉譽) Năm từ ngữ khen ngợi người tu pháp môn niệm Phật. 1. Nhân trung hảo nhân: Người tốt trong loài người. 2. Nhân trung diệu hảo nhân: Người tâm đức tốt đẹp trong loài người. 3. Nhân trung thượng thương nhân: Người bậc cao thượng trong loài người. 4. Nhân trung hi hữu nhân: Người hiếm có trong loài người. 5. Nhân trung tối thắng nhân: Người hơn hết trong loài người. Kinh Quán vô lượng thọ thì ví hành giả niệm Phật như hoa phân đà lợi. Hoa phân đà lợi là hoa sen trắng, loại hoa tôn quí nhất trong các loài hoa; cho nên người niệm Phật là người đáng quí nhất trong loài người. [X. kinh Niết bàn Q.18 (bản Bắc); Tán thiện nghĩa trong Quán kinh sớ Q.4; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập].
ngũ chủng hành
(五種行) I. Ngũ Chủng Hạnh. Năm hạnh của vị Pháp sư nói trong phẩm Pháp sư kinh Pháp hoa quyển 4, tức là: Thụ trì, đọc tụng, giải thích, viết chép. [X. Pháp hoa văn cú Q.8, phần đầu]. (xt. Ngũ Chủng Pháp Sư). II. Ngũ Chủng Hạnh. Năm chính hạnh của hành giả Tịnh độ: 1. Chính hạnh đọc tụng. 2. Chính hạnh quán sát. 3. Chính hạnh lễ bái. 4. Chính hạnh xưng danh. 5. Chính hạnh tán thán, cúng dường. [X. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa]. (xt. Ngũ Chính Hạnh).
ngũ chủng hạnh
See Ngũ Chủng Pháp Sư.
ngũ chủng hộ ma
Five kinds of braziers. 1-4) From one to four—See Hộ Ma (2). 5) Kính Ái Hộ Ma: Được sự thương yêu hộ trì của chư Phật và chư Bồ Tát—To obtain the loving protection of the Buddhas and Bodhisattvas.
ngũ chủng kim cang sứ
See Ngũ Đại Sứ Giả.
ngũ chủng kết giới tướng
(五種結界相) Năm loại tướng kết giới. Theo luật qui định, khi các vị tỉ khưu cử hành nghi thức Bồ tát thuyết giới hoặc kết hạ an cư, phải kết giới trước khi cử hành. Tùy theo hình tướng của khu vực kết giới mà chia làm 5 loại giới tướng là: 1. Phương tướng: Chỗ kết giới có hình vuông. 2. Viên tướng: Chỗ kết giới có hình tròn. 3. Cổ hình tướng: Chỗ kết giới có hình cái trống. 4. Bán nguyệt hình tướng: Chỗ kết giới có hình bán nguyệt. 5. Tam giác tướng: Chỗ kết giới có hình tam giác. Năm loại tướng kết giới này, nếu 4 phía của khu vực kết giới mà 1 phía có dòng sông chảy, thì lấy nước chảy làm giới tướng, nếu không có nguồn nước hoặc nước không thường chảy thì không được. Hoặc dùng cây làm giới tướng, nếu cây khô mục và không nối liền nhau thì không được. Hoặc dùng con đường làm giới tướng, nếu đường bị cắt đứt thì cũng không được. Hoặc dùng tảng đá làm giới tướng, nhưng nếu đá nằm rải rác cũng không được. Nếu không có dòng nước, gốc cây... thì phải dựng đá hoặc trồng cây ở 4 bên khu vực kết giới để làm tướng kết giới. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 2; Thích thị yếu lãm Q.hạ]. (xt. Kết Giới).
ngũ chủng linh
The five kinds of bells—See Ngũ Linh.
; (五種鈴) Năm loại linh (chuông nhỏ): Linh 1 chĩa, linh 3 chĩa, linh 5 chĩa, linh báu, linh tháp, gọi chung là Kim cương linh, 1 trong những loại pháp khí của Mật giáo. Linh biểu thị nghĩa thuyết pháp, 5 loại linh này biểu thị 5 trí, 5 Phật thuyết pháp. Theo Nhân vương kinh pháp thì 5 loại linh này được sử dụng khi tu hành đại pháp trên đàn tràng, hành giả để linh 5 chĩa trên mâm kim cương đặt ở phía đông, linh báu đặt ở phía nam, linh 1 chĩa đặt ở phía tây, linh 3 chĩa đặt ở phía bắc, linh tháp tức là pháp được đặt ở chính giữa. (xt. Kim Cương Linh).
ngũ chủng lực
(五種力) Năm nguyện lực của đức Phật A di đà: Uy thần lực cùng với mãn túc lực, minh liễu lực, kiên cố lực và cứu cánh lực được mở ra từ Bản nguyện lực của giai vị tu nhân. Theo sự giải thích của ngài Tuệ viễn trong Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ, thì Uy thần lực là uy lực hiện tại của Vô lượng thọ Như lai; Bản nguyện lực của giai vị tu nhân là Tổng (chung), 4 nguyện còn lại là Biệt (riêng). Trong đó, Mãn túc nguyện là tâm nguyện tròn đủ, Minh liễu nguyện là tâm nguyện hiển lộ rõ ràng, Kiên cố nguyện là tâm nguyện không thể bị các duyên làm hư hoại. Cứu cánh nguyện là tâm nguyện vĩnh viễn không trở lui. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng, Tán A di đà Phật kệ].
ngũ chủng ma
The five kinds of Maras associated with the five skandhas—See Ngũ Uẩn.
ngũ chủng na hàm
See Ngũ Chủng Bất Hoàn
ngũ chủng ngôn thuyết
(五種言說) Năm loại ngôn thuyết. 1. Tướng ngôn thuyết: Ngôn thuyết do chấp trước các tướng sắc, thanh v.v... mà phát sinh. 2. Mộng ngôn thuyết: Ngôn thuyết do nương theo cảnh giới hư vọng chẳng thật hiện ra trong giấc mộng mà phát sinh. 3. Chấp trước ngôn thuyết: Ngôn thuyết do nghĩ đến các việc đã nghe, đã làm ở quá khứ mà phát sinh. 4. Vô thủy ngôn thuyết: Ngôn thuyết do chấp trước hí luận và nương theo sự huân tập chủng tử phiền não từ vô thủy đến nay mà phát sinh. 5. Như nghĩa ngôn thuyết: Ngôn thuyết phát sinh đúng như nghĩa, giải rõ ý chỉ không khác. Trong 5 thứ ngôn thuyết trên đây, 4 thứ trước là do hư vọng mà thốt ra, cho nên không nói được lí chân thực. Còn ngôn thuyết thứ 5 là thực thuyết, cho nên nói được chân lí. Bồ tát Mã minh đã y cứ vào 4 loại ngôn thuyết trước mà chủ trương rằng chân như lìa tướng ngôn thuyết. [X. luận Thích Ma ha diễn Q.2; luận Biện hiển mật nhị giáo Q.thượng].
ngũ chủng ngưu vị
xem năm món chế biến từ sữa.
; Five kinds of food from the ox: nhũ milk, lạc cream, sinh tô butter, thục tô cooked butter, đề hồ cheese.
ngũ chủng nhân ngã kiến
(五種人我見) Năm thứ tà chấp do nhân kiến, ngã kiến sinh khởi. Cứ theo luận Đại thừa khởi tín thì 5 thứ nhân ngã kiến ấy là: 1. Chấp hư không là tính Như lai. 2. Chấp tính chân như Niết bàn là không vô. 3. Chấp Như lai tạng có tự tướng sắc pháp, tâm pháp khác nhau. 4. Chấp tự thể của Như lai tạng có đầy đủ hết thảy nhiễm pháp sinh tử của thế gian. 5. Chấp Niết bàn của Như lai chứng được cuối cùng sẽ hết, sau khi hết trở lại làm chúng sinh. [X. Khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ, phần cuối; Khởi tín luận sớ bút tước kí Q.5].
ngũ chủng nhất thừa
(五種一乘) Năm loại nhất thừa do tông Hoa nghiêm dựa theo Thủy giáo, Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo mà lập ra. Đó là: 1. Biệt giáo nhất thừa: Pháp môn nói Nhất thừa vô tận, khác xa với các thừa khác, cho nên gọi Biệt giáo nhất thừa. Đây là lập theo Viên giáo. 2. Đồng giáo nhất thừa: Pháp môn nói Nhất thừa đồng với Tam thừa, Tam thừa cũng đồng với Nhất thừa, cho nên gọi là Đồng giáo nhất thừa. Đây cũng lập theo Viên giáo. 3. Tuyệt tưởng nhất thừa: Pháp môn Ngôn ngữ đạo đoạn tâm hành xứ diệt, các tưởng đều dứt, không có năng thừa và sở thừa, vì thế gọi là Tuyệt tưởng nhất thừa. Đây là lập theo Đốn giáo. 4. Phật tính nhất thừa, cũng gọi Phật tính bình đẳng nhất thừa: Pháp môn nói tổng quát cả Phật tính, trung đạo, chân vọng, vì thế gọi là Phật tính nhất thừa. Đây là lập theo Chung giáo. 5. Mật ý nhất thừa, cũng gọi Mật nghĩa ý nhất thừa: Pháp môn nói về việc hiển rõ Tam thừa chân thực và giấu kín Nhất thừa phương tiện, cho nên gọi là Mật ý nhất thừa. Đây là lập theo Thủy giáo. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Ngũ giáo chương tùy lộ kí Q.16].
ngũ chủng niệm tụng
(五種念誦) Năm loại niệm tụng của Mật giáo. Thông thường, các kinh và nghi quĩ chỉ nêu có 4 loại niệm tụng, riêng Bí tạng kí và Kim cương giới đối thụ kí là nêu ra 5 loại niệm tụng. Năm loại niệm tụng ghi trong Bí tạng kí là: 1. Liên hoa niệm tụng: Cách niệm tụng mà tiếng tụng chỉ nghe ở lỗ tai mình, cách tụng này được dùng trong Liên hoa bộ. 2. Kim cương niệm tụng: Cách tụng thầm, miệng ngậm, chỉ hơi động đầu lưỡi. Cách này được sử dụng trong Kim cương bộ. 3. Tam ma địa niệm tụng: Cách niệm tụng không động lưỡi, chỉ niệm thầm trong tâm. Cách này dùng trong Phật bộ. 4. Thanh sinh niệm tụng, cũng gọi Sinh niệm tụng: Quán tưởng Thương khư (Phạm: Zaíkha, vỏ sò trắng) trên tâm hoa sen, lại quán tưởng từ Thương khư phát ra âm thanh mầu nhiệm, giống như rung chuông thành tiếng, rồi theo âm thanh ấy mà tụng niệm. Đây là pháp tụng niệm của Yết ma bộ. 5. Quang minh niệm tụng, cũng gọi Quang niệm tụng: Tưởng niệm ánh sáng từ trong miệng phóng ra, chiếu soi khắp pháp giới mà trì tụng. Đây là cách niệm tụng của Bảo bộ. Còn 5 loại niệm tụng ghi trong Kim cương giới đối thụ kí là: Thanh, Kim cương, Tam ma địa, Chân thực (cũng gọi Thực tướng) và Phẫn nộ. Bốn loại trước giống với 4 cách niệm tụng: Âm thanh, Kim cương, Tam ma địa và Chân thực của pháp Kim cương giới. Còn Phẫn nộ niệm tụng thì bên trong trụ nơi tâm từ bi, bên ngoài hiện tướng mạnh bạo, dữ tợn, nhíu mày, trợn mắt, phát tiếng giận dữ mà trì tụng, giống như pháp niệm tụng Hàng ma. [X. Kim cương giới đại pháp đối thụ kí Q.8]. (xt. Tứ Chủng Niệm Tụng).
ngũ chủng nạp y
(五種衲衣) Năm loại áo của các vị tăng sĩ Phật giáo: 1. Áo có thí chủ. 2. Áo không có thí chủ. 3. Áo may bằng vải bọc xác chết. 4. Áo người chết. 5. Áo phẩn tảo.
ngũ chủng pháp
(五種法) Cũng gọi Ngũ chủng thành tựu pháp. Năm loại pháp tu của Mật giáo. Tức là pháp Tức tai, pháp Tăng ích, pháp Hàng phục, pháp Kính ái và pháp Câu triệu. Theo Du già hộ ma quĩ, nếu đem 5 pháp trên đây phối hợp với 5 trí, 5 bộ thì Phật bộ là pháp Tức tai, Kim cương bộ là pháp Hàng phục, Bảo bộ là pháp Tăng ích, Liên hoa bộ là pháp Kính ái và Yết ma bộ là pháp Câu triệu. (xt. Ngũ Chủng Tu Pháp).
ngũ chủng pháp giới
The Hoa nghiêm school five forms of dharmadhàtu: (1) Hữu vi pháp giới or Sự, the phenomenal realm; (2) Vô vi pháp giới or Lý, the inactive, quiescent, or noumenal realm; (3) Diệc hữu vi diệc vô vi pháp giới or Sự lý vô ngại, both, i.e. interdependant and interactive; (4) Phi hữu vi phi vô vi pháp giới, neither active nor inactive, but it is also Sự lý vô ngại, e.g. water and wave, wave being water and water wave; (5) Vô chướng ngại pháp giới or Sự sự vô ngại, the unimpeded realm the unity of the phenomenal and noumenal, of the collective and individual.
; See Ngũ Pháp Giới.
ngũ chủng pháp sư
The five kinds of masters of the Law, v. Lotus sùtra, one who receives and keeps; reads; recites; expounds; and copies the sùtra
; Năm loại Pháp Sư—The five kinds of masters of the Law: Thụ Trì Pháp Sư: Ghi nhớ và trì giữ không quên: Receives and keeps. Đọc Kinh Pháp Sư: Pháp sư chuyên nhìn vào kinh mà đọc—Reads. Tụng Kinh Pháp Sư: Pháp sư đã thuộc kinh không cần đọc mà vẫn tụng được—Recites. Giảng Thuyết Pháp Sư: Pháp sư có khả năng đem các lời kinh Phật mà giảng giải cho người khác—Expounds. Thư Tả Pháp Sư: Pháp sư chuyên ghi chép lại kinh điển để truyền bá—Copies the sutra. ** For more information, please see Ngũ Chánh Hạnh.
; (五種法師) Cũng gọi Ngũ pháp sư. Năm bậc pháp sư có khả năng hoằng dương Phật pháp. 1. Thụ trì pháp sư: Người có khả năng tiếp nhận, tin tưởng vững chắc và nhớ giữ không quên lời dạy của Như lai được ghi chép trong các kinh luận. 2. Độc kinh pháp sư: Người có khả năng đọc văn kinh không nhầm lẫn. 3. Tụng kinh pháp sư: Người có khả năng tụng kinh thuộc lòng, không cần có văn kinh trước mặt. 4. Giải thuyết pháp sư: Người có khả năng truyền dạy và giải thích những câu văn trong kinh. 5. Thư tả pháp sư: Người có khả năng viết chép văn kinh để lưu truyền rộng rãi trong thế gian. Ngoài ra, luận Đại trí độ quyển 56 nêu ra 6 bậc Pháp sư. Và phẩm Pháp sư trong kinh Pháp hoa bản tiếng Phạm liệt kê 7 bậc Pháp sư gồm: Thụ trì, Thuyết thoại, Giải thuyết, Thân cận, Thư tả, Kí ức và Đổ kiến. [X. phẩm Pháp sư kinh Pháp hoa; Pháp hoa văn cú Q.8, phần đầu; Pháp hoa sớ tuệ quang kí Q.52]. (xt. Lục Chủng Pháp Sư, Pháp Sư).
ngũ chủng pháp thân
Phật có ngũ chủng pháp thân: - Pháp tánh sanh thân - Công đức pháp thân - Biến hoá pháp thân - Hư không pháp thân - Thật tướng pháp thân.
; Năm loại pháp thân của Phật—The five kinds of a Buddha's dharmakaya: Theo trường phái Thiên Thai—According to the T'ien-T'ai Sect:
; (五種法身) Chỉ cho 5 loại pháp thân của đức Phật. Có các thuyết khác nhau như sau: I. Ngũ Chủng Pháp Thân. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 4 nêu 5 loại pháp thân là: 1. Pháp tính sinh thân: Pháp tính này thể vốn tròn sáng, thường trụ, bao trùm muôn vật, thân Như lai từ đó sinh ra. 2. Công đức pháp thân: Như lai lấy công đức muôn hạnh làm nhân mà thành tựu quả Pháp thân. 3. Biến hóa pháp thân: Pháp thân Như lai không có cảm nào mà không thông, không 1 cơ nào mà không ứng, giống như vừng trăng trên vạn dòng sông, tùy theo nước mà hiện bóng, bóng tuy có khác nhưng trăng vốn là một. 4. Hư không pháp thân: Pháp thân Như lai dung thông 3 đời, bao trùm cõi đại thiên, 1 tính tròn sáng, mảy bụi không dính. 5. Thực tướng pháp thân: Pháp thân Như lai lìa các hư vọng, hội nhập chân như, không sinh không diệt. II. Ngũ Chủng Pháp Thân. Theo kinh Bồ tát anh lạc thì 5 loại pháp thân là: 1. Như như trí pháp thân: Thực trí chứng lí như như. 2. Công đức pháp thân: Hết thảy công đức 10 lực, 4 vô úy. 3. Tự pháp thân: Ứng thân của bồ tát Địa thượng ứng hiện; tông Thiên thai gọi là Thắng ứng thân, tông Pháp tướng gọi là Tha thụ dụng thân trong Báo thân. 4. Biến hóa pháp thân: Tức là Liệt ứng thân theo tông Thiên thai và Biến hóa thân theo tông Pháp tướng. 5. Hư không pháp thân: Lí như như giống như hư không, xa lìa tất cả các tướng. Trong 5 loại pháp thân trên, Như như trí pháp thân và Công đức pháp thân thuộc về Báo thân, Tự pháp thân và Biến hóa pháp thân thuộc về Ứng thân, còn Hư không pháp thân thì chính là Pháp thân. Nhưng tất cả được gọi chung là Pháp thân là vì đều mang đức tướng của Pháp thân. (xt. Pháp Thân). III. Ngũ Chủng Pháp Thân. Năm loại Pháp thân do Mật giáo lập. Tức là Tự tính, Thụ dụng, Biến hóa, Đẳng lưu và Lục đại pháp than (Pháp giới thân). (xt. Pháp Thân). IV. Ngũ Chủng Pháp Thân. Chỉ cho Tự tính pháp thân, Tự thụ dụng pháp thân, Tha thụ dụng pháp thân, Biến hóa pháp thân và Đẳng lưu pháp thân. V. Ngũ Chủng Pháp Thân. Chỉ cho Giới thân, Định thân, Tuệ thân, Giải thoát thân và Giải thoát tri kiến thân. (xt. Ngũ Phần Pháp Thân).
ngũ chủng phạm âm
(五種梵音) Năm thứ âm thanh trong sạch của Đại phạm thiên vương. Tức là: Chính trực, hòa nhã, thanh triệt (trong suốt), thâm mãn và chu biến viễn văn (khắp nơi đều nghe thấy). Đại Phạm thiên vương nhờ có tu tập thiền định, giới hạnh thanh tịnh, tâm lìa dục nhiễm nên mới có được 5 thứ tiếng thanh tịnh này. [X. kinh Trường a hàm Q.5; Đại minh tam tạng pháp số Q.22].
ngũ chủng quyến thuộc
(五種眷屬) Năm loại quyến thuộc. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6, phần cuối, thì Như lai nói pháp phải nhờ các duyên, duyên ấy tức là những người nghe pháp, nghe rồi nhờ pháp mà trở nên gần gũi, liền thành quyến thuộc. Có 5 thứ: 1. Lí tính quyến thuộc: Lí tính của chư Phật và chúng sinh là bình đẳng, tự nhiên liên quan với nhau, cho nên tất cả chúng sinh dù chưa từng nghe pháp cũng được gọi là quyến thuộc. 2. Nghiệp sinh quyến thuộc: Nhờ nghiệp thiện nghe pháp ở quá khứ nên lại được sinh vào thời đại có Phật, nghe pháp được độ. 3. Nguyện sinh quyến thuộc: Xưa kia nhờ nghe pháp kết duyên, nhưng chưa được chứng quả, từng phát thệ nguyện, chỉ nhằm đắc đạo; nay nhờ nguyện trước, gặp Phật nghe pháp. 4. Thần thông quyến thuộc: Đời trước gặp Phật, phá trừ mê hoặc, thấy được chân lí, nay sinh nơi khác, nhân việc Phật ra đời, dùng sức thần thông sinh đến cõi này, giúp Phật giáo hóa chúng sinh. 5. Ứng sinh quyến thuộc: Bồ tát đã phá trừ vô minh hoặc nghiệp, đã chứng được pháp thân liền có khả năng giáo hóa, nên ứng hiện vào sinh tử, dẫn dắt chúng sinh, khiến họ hướng về Phật đạo. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.13].
ngũ chủng quán đảnh
Năm loại quán đảnh—The five abhisecani baptisms of the esoteric school: Quán đảnh dành cho A Xà Lê (Giáo thọ sư): Abhisecani baptism for ordaining acaryas, teachers or preachers of the Law. Quán đảnh dành cho thu nhận đệ tử: Abhisecani baptism for admitting disciples. Quán đảnh dành cho chấm dứt tai ương, khổ đau và tội lỗi: Abhisecani baptism for putting an end to calamities or suffering for sins. Quán đảnh dành cho sự tiến bộ và thành công: Abhisecani baptism for advancement or success. Quán đảnh dành cho việc kiểm soát những thói hư tật xấu: Abhisecani baptism for controlling evil spirits or getting rid of difficulties. ** For more information, please see Ngũ Chủng Tu Pháp.
; See Ngũ Chủng Tu Pháp.
ngũ chủng quán đỉnh
The five abhisekani baptisms of the esoteric school - for ordaining àcàryas, teachers, or preachers of the Law; for admitting disciples; for putting an end to calamities or suffering for sins; for advancement, or success; and for controlling (evil spirits) or getting rid of difficulties.
ngũ chủng quả
Paca-phalani (S).
; (五種果) Phạm: Paĩca phalàni. Cũng gọi Ngũ quả. I. Ngũ Chủng Quả. Năm thứ quả hữu vi, vô vi do 6 nhân sinh ra và đạo lực chứng được: 1. Đẳng lưu quả (Phạm: Niwyandaphala): Chúng sinh do tạo nghiệp ác, ưa thích điều ác, thì nghiệp ác chuyển nhiều, kết thành quả ác; trái lại, nếu tu nghiệp thiện, ưa thích điều thiện, thì nghiệp thiện chuyển nhiều, kết thành quả thiện. Quả theo nghiệp chuyển, nghiệp và quả giống nhau, cho nên gọi là quả Đẳng lưu. Quả này do nhân Đồng loại và nhân Biến hành trong 6 nhân mà có được. 2. Dị thục quả (Phạm: Vipàka-phala): Chúng sinh do tạo nghiệp ác ở đời hiện tại mà chịu quả khổ ở đời vị lai; cũng thế, nhờ gây nghiệp thiện ở đời này mà được hưởng quả vui trong đời sau. Vì quả báo khác thời nên gọi là quả Dị thục (quả chín khác thời). Quả này do nhân Di thục trong 6 nhân mà có được. 3. Li hệ quả (Phạm: Visaôyogaphala): Quả vô vi, nhờ vào đạo lực Niết bàn mà chứng được, xa lìa tất cả phiền não trói buộc (li hệ). Pháp này thường trụ, không phải từ 6 nhân sinh ra, chỉ do đạo lực mà chứng được. 4. Sĩ dụng quả (Phạm: Puruwakàraphala). Sĩ dụng là do người bỏ sức ra làm lụng để mà dùng. Nghĩa là các pháp trong thế gian, tùy theo lực dụng tạo tác của mỗi hạng người mà được kết quả khác nhau. Như người nông dân nhờ cày cấy mà thu hoạch thóc lúa, người buôn bán nhờ hàng hóa mà được lời lãi... cho nên gọi là Sĩ dụng quả. Quả này do các nhân Câu hữu và Tương ứng trong 6 nhân mà có được. 5. Tăng thượng quả (Phạm:Adhipatiphala): Các căn và thức do chủ thể và đối tượng hòa hợp mà thành tựu tác dụng nhận thức, cho nên 6 căn đều có sức tăng thượng thù thắng. Như căn mắt tuy có tính thấy nhưng nếu không có thức mắt (chủ thể) duyên cảnh (đối tượng) thì không thể sinh ra tác dụng nhận thức, vì thế gọi là Tăng thượng quả. Quả này là do nhân Năng tác trong 6 nhân mà có. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.3; luận Hiển dương thánh giáo Q.18; luận Đại tì bà sa Q.121; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Câu xá Q.6; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.15]. II. Ngũ Chủng Quả. Năm thứ quả chứng khác nhau của Nhị thừa. Tức là quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán và quả Độc giác. [X. kinh Niết bàn Q.21 (bản Bắc); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.hạ, phần 4; Tam luận danh giáo sao Q.1]. (xt. Ngũ Quả Hồi Tâm).
ngũ chủng sám hối
(五種懺悔) Năm phương thức sám hối. Cứ theo kinh Quán Phổ hiền hành pháp, nếu các bậc quốc vương, đại thần muốn sám hối, thì phải tu hành 5 việc: 1. Bất tất lễ bái, ưng thường ức niệm đệ nhất nghĩa không: Nghĩa là không cần câu nệ việc lễ tụng, mà phải giữ tâm nhớ nghĩ chính lí, không phỉ báng Tam bảo, không làm não hại người tu phạm hạnh. 2. Hiếu dưỡng phụ mẫu, cung kính sư trưởng: Hiếu dưỡng cha mẹ, cung kính bậc thầy, thì không phạm tội trái đạo lí. 3. Chính pháp trị quốc, bất tà uổng nhân dân: Dùng đạo chính thuận để sửa nước an dân, thường phải dạy dân kính tin Tam bảo, giữ giới tu thiện, không được dùng pháp luật gian ác làm oan khuất nhân dân. 4. Ư lục trai nhật sắc chư cảnh nội linh hành bất sát: Vào 6 ngày trai dạy dân trong cả nước không được sát sinh, khiến cho toàn quốc thường được phúc lành và hưởng yên vui lâu dài. 5. Thâm tín nhân quả, tri Phật bất diệt: Hành vi là nhân, cảm báo là quả, nếu tin sâu nhân quả thì không dám làm điều ác; nếu biết pháp thân thường trụ, thì không sinh kiến chấp đoạn diệt.
ngũ chủng sắc pháp
(五種色法) Năm loại sắc pháp. Tổng quát các pháp làm 12 xứ, rồi thu nhiếp vào pháp xứ để làm đối tượng khách quan của ý xứ, gồm có 5 thứ gọi là Ngũ chủng sắc pháp. Đó là: Cực lược sắc, Cực quýnh sắc, Thụ sở dẫn sắc, Biến kế sở khởi sắc và Định sở sinh tự tại sắc. (xt. Pháp Xứ Sở Nhiếp Sắc).
ngũ chủng tam muội
Năm loại Tam muội—Five kinds of samadhi: Tứ Thiền Bát Định trong luân hồi sanh tử: On mortality, four meditations and eight concentrations. Thanh Văn Tứ Đế: Sravaka on the four truths (axioms). Duyên Giác Thập Nhị Nhơn Duyên: Pratyeka-buddha on the twelve nidanas. Bồ Tát Lục Độ Vạn Hạnh: Bodhisattva on the six paramitas and ten thousand good practices. Phật Thừa bao trùm tất cả: The Buddha-vehicle which includes all others.
ngũ chủng tam muội da
(五種三昧耶) Chỉ cho 5 loại Tam muội da của tông Chân ngôn. Tam muội da nghĩa là thệ nguyện, cũng tức là giới pháp không được trái phạm. Năm Tam muội da theo thứ tự là: 1. Sơ kiến tam muội da: Mới được thấy Tam muội da, ở bên ngoài cách xa đàn tràng lễ bái Mạn đồ la, đem hương hoa để cúng dường, chưa được trao cho chân ngôn và ấn khế. 2. Nhập đổ tam muội da: Được đưa vào đàn Mạn đồ la và trông thấy chỗ ngồi của Mạn đồ la, nếu muốn thỉnh chân ngôn và ấn khế thì được theo ý muốn mà trao cho. 3. Cụ đàn tam muội da: Vị A xà lê đặc biệt vì người này mà làm Mạn đồ la, tâu trình các vị tôn và ấn... đồng thời trao chân ngôn, thủ ấn và các hành pháp cho họ. 4. Truyền giáo tam muội da: Hành giả có khả năng nương theo các pháp tắc của môn Chân ngôn mà tu trì, đồng thời đã biết đủ các phương tiện mà duyên đàn cần có, xứng đáng ở vào địa vị làm thầy, thì vị A xà lê liền cử hành nghi lễ truyền giáo Mạn đồ la cho. 5. Bí mật tam muội da: Trong đàn bí mật thụ quán đính đúng như pháp, đã vào đàn này thì sinh được trí bí mật, thấy hết ấn đàn phối vị như giáo pháp đã nói. Đến đời sau, 5 loại Tam muội da trên đây được phối hợp với pháp Quán đính: Sơ kiến tam muội da là Mạn đồ la cúng, Nhập đổ tam muội da là Kết duyên quán đính, Cụ đàn tam muội da là Thụ minh (Học pháp) quán đính, Truyền giáo tam muội da là Truyền pháp quán đính và Bí mật tam muội da là Dĩ tâm quán đính. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.15; Bồ đề tâm nghĩa Q.3; Đại nhật kinh sớ sao Q.3; Nhũ vị sao Q.15].
ngũ chủng tam muội đạo
(五種三昧道) Năm loại Tam muội: Tông Chân ngôn đem chia tất cả Tam muội làm 5 thứ thân Hỉ kiến tùy loại của đức Đại nhật Như lai vì nhiếp hóa hết thảy chúng sinh mà hiện ra. 1. Phật địa tam muội đạo: Phát tâm Bồ đề cùng tột, ở trong tất cả Tam muội đạo tinh tiến vững mạnh, Bồ tát Nhất sinh bổ xứ trụ trong Phật địa tam muội đạo, thực hành Đại không tam muội đạo, xa lìa hí luận vi tế, biết rõ các pháp thế gian vốn từ nhân duyên sinh khởi, trụ ở nghiệp địa, cũng an trụ vững chắc trong Phật địa. 2. Bồ tát tam muội đạo: Bồ tát Bát địa tự tại, không chấp trước hết thảy vì hiểu rõ tất cả đều huyễn hóa, cho nên được người đời gọi là bậc Quán tự tại. 3. Thanh văn tam muội đạo: Trụ ở 9 tưởng, 8 bối xả, 8 thắng xứ, 3 tam muội v.v... biết rõ nghĩa nhân duyên sinh diệt, xa lìa đoạn kiến, thường kiến, trí quán sát tột bậc, đạt được cái nhân tu hành chẳng tùy thuận. 4. Duyên giác tam muội đạo: Quán xét 12 nhân duyên, thấu suốt thực tướng của pháp nhân duyên, nhưng vì trí tuệ chưa được vô ngại, nên trụ ở pháp vô ngôn thuyết mà không chuyển vô ngôn thuyết, đối với tất cả pháp chứng Tam muội dứt bặt ngôn ngữ.5. Thế gian tam muội đạo: Tu các Tam muội 4 thiền, 8 định của thế gian, người tu hành không hiểu được nghĩa nhân duyên 1 cách chân chính, quán xét nhân quả và nghiệp của thế gian đều thuộc về thần ngã hoặc Phạm thiên... [X. phẩm Cụ duyên chân ngôn trong kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.6; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.6; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.14].
ngũ chủng tam quy
Năm giai đoạn quy y—There are five stages of taking refuges: (A) Quy Y Phật: Take refuge in the Buddha. Quy Y Pháp: Take refuge in the Dharma. Quy Y Tăng: Take refuge in the Sangha. Quy Y Bát giới: Take refuge in the eight commandments. Quy Y Thập giới: Take refuge in the Ten commandments. The five modes of trisarana, or formulas of trust in the Triratna, taken by those who: Phiên tà: Turn from heresy. Trì ngũ giới: Take the five commandments. Trì bát giới: Take the eight commandments. Trì Thập giới: Take the ten commandments. Trì cụ túc giới: Take the complete commandments.
ngũ chủng tam thừa
(五種三乘) Năm loại Tam thừa do tông Hoa nghiêm căn cứ vào 5 giáo: Tiểu thừa, Thủy giáo, Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo mà lập ra. 1. Thủy biệt chung đồng tam thừa: Thiết lập theo Tiểu thừa giáo. Sự khởi đầu của Tiểu thừa giáo là Thanh văn tu 4 đế, Duyên giác tu 12 nhân duyên, Bồ tát tu 6 độ, nhân hạnh của 3 thừa tuy khác nhau, nhưng cuối cùng đều có thể dứt trừ hết Kiến hoặc và Tư hoặc trong 3 cõi mà chứng quả A la hán như nhau. 2. Thủy chung câu biệt tam thừa: Thiết lập theo Thủy giáo. Thủy giáo lập nên chủng tính khác nhau, nhân tu hành (đế, duyên, độ) của 3 thừa đều khác nhau, cuối cùng chỉ có Bồ tát thành Phật, còn Nhị thừa định tính thì nhập Niết bàn Vô dư (khôi thân diệt tri). 3. Thủy chung câu đồng tam thừa: Thành lập theo Chung giáo. Tam thừa Chung giáo lúc còn tu nhân đều có Phật tính Như lai tạng bình đẳng, đồng tu 6 độ, cùng học Bát nhã, cuối cùng đều thành Phật.4. Thủy chung câu li tam thừa: Thành lập theo Đốn giáo. Đốn giáo lấy dứt tưởng làm tông chỉ. Tam thừa từ đầu đến cuối đều xa lìa tưởng tâm duyên và tướng ngôn thuyết, vì thế gọi là Thủy chung câu li (đầu cuối đều lìa). 5. Thủy chung câu đồng tam thừa: Thành lập theo Viên giáo. Viên giáo ở thời kì tu nhân thì hợp 3 về 1, rõ biết pháp Tam thừa mà mình chứng được đều nương nơi giáo pháp Nhất thừa vô tận mà có, cuối cùng đều thành Phật. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.16].
ngũ chủng tam đế
(五種三諦) Năm loại Tam đế do tông Thiên thai thành lập. Tức là: 1. Biệt giáo cách lịch tam đế, cũng gọi Thứ đệ tam đế, Biệt tướng tam đế. Tính chất đặc biệt của 3 đế (Không đế, Giả đế, Trung đế) này là ngăn cách không dung thông, Không chẳng phải Giả, Trung; Giả chẳng phải Không, Trung; Trung chẳng phải Không, Giả. Người tu hành trước hết phải chứng Không đế, rồi tiến đến chứng Giả đế, sau cùng mới chứng Trung đế, không phải chứng một là chứng tất cả. Đây là 3 đế cách biệt của Biệt giáo. 2. Viên giáo viên dung tam đế, cũng gọi Bất thứ đệ tam đế, Phi tung phi hoành tam đế. Tính chất đặc biệt của 3 đế này là viên dung không ngăn ngại. Tức là theo đức dụng mà chia làm 3: Không, Giả, Trung, nhưng thể của chúng thì chỉ là một, viên dung nhau không trở ngại. Đây là Tam đế viên dung của Viên giáo. 3. Biệt tiếp Thông tam đế: Căn cơ được tiếp dẫn từ chân đế và tục đế của Thông giáo mà phát hiện Trung đế, Trung đạo được nhận biết là Đãn trung (chỉ là Trung, chứ chẳng dung Không, Giả). 4. Viên tiếp Thông tam đế: Căn cơ được tiếp dẫn như trên, cũng từ chân đế và tục đế của Thông giáo mà phát hiện Trung đế, nhưng Trung đạo được nhận biết ở đây là Bất đãn trung(chẳng những chỉ là Trung mà còn dung hàm cả Không và Giả). 5. Viên tiếp Biệt tam đế: Từ 3 đế cách biệt của Biệt giáo mà phát hiện Trung đế, Trung đế ở đây cũng là Bất đãn trung. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, phần cuối, Q.3, phần đầu, Q.5, phần đầu].
ngũ chủng tham
Theo Thanh Tịnh Đạo, có năm loại tham—According to The Path of Purification, there are five kinds of avarice: Tham đối với chỗ ở: Avarice about dwellings. Tham đối với quyến thuộc: Avarice about families. Tham đối với lợi lộc: Avarice about gain. Tham đối với pháp: Avarice about Dharma. Tham đối với tiếng khen: Avarice about praise.
ngũ chủng thiên
Năm loại chư Thiên—Five classes of devas Từ 1 đến 3 cũng giống như trong Tam Chủng Thiên: From 1 to 3 are similar to that of the three classes of devas—See Tam Chủng Thiên.
; (五種天) Chỉ cho 5 thứ thiên (trời): 1. Thế gian thiên: Chỉ cho bậc vua chúa thế gian, như gọi Thiên tử. 2. Sinh thiên: Chỉ cho các cõi trời mà chúng sinh có thể sinh đến được, như từ cõi trời Tứ vương đến cõi trời Phi tưởng. 3. Tịnh thiên: Chỉ cho các bậc Thánh từ quả Dự lưu đến Bích chi phật. 4. Nghĩa thiên: Chỉ cho hàng Bồ tát từ giai vị Thập trụ trở lên có khả năng hiểu được nghĩa thâm diệu của Đại thừa. 5. Đệ nhất nghĩa thiên: Chỉ cho Niết bàn của Phật chứng được. [X. kinh Niết bàn Q.18, 22 (bản Bắc)].
ngũ chủng thiền
The five varieties of meditation. Phàm Phu Thiền: Thiền phàm phu dành cho tất cả mọi người, giúp ta tập trung và kiểm soát tâm, là loại thiền không chứa đựng nội dung triết lý hay tôn giáo. Thiền phàm phu là thứ thiền thực hành thuần túy vì tin rằng nó có thể cải thiện sức khỏe tinh thần lẫn thể xác. Tuy nhiên, dù thiền phàm phu có ích lợi rất nhiều trong việc tu tập hơn là đọc vô số sách đạo đức triết học, vẫn không thể giải quyết được vấn đề nền tảng của con người và mối tương quan của con người và vũ trụ, vì nó không thể phá vỡ được cái mê hoặc cơ bản về chính mình của hạng người thường, là mình rõ ràng khác với vũ trụ—Ordinary Zen for anybody and everybody, which help people learn to concentrate and control their mind, being free from any philosophic or religious content. Ordinary is a pure Zen practice, in the belief that it can improve both physical and mental health. However, the fact remains that ordinary Zen, although far more beneficial for the cultivation of the mind than the reading of countless books on ethics and philosophy, is unable to resolve the fundamental problem of man and his relation to the universe, because it cannot pierce the ordinary man's basic delusion of himself as distinctly other than the universe.
; (五種禪) I. Ngũ Chủng Thiền. Chỉ cho 5 thứ thiền định: Tứ niệm xứ, Bát bối xả (quán), Cửu thứ đệ định(luyện), Sư tử phấn tấn tam muội (huân) và Siêu việt tam muội (tu). Trong đó, Tứ niệm xứ là Sở quán, 4 thứ còn lại là Năng quán. II. Ngũ Chủng Thiền. Năm loại thiền do ngài Khuê phong Tông mật, Tổ thứ 5 của tông Hoa nghiêm phân biệt:1. Ngoại đạo thiền. 2. Phàm phu thiền. 3. Tiểu thừa thiền. 4. Đại thừa thiền. 5. Tối thượng thừa thiền (cũng gọi Như lai thanh tịnh thiền, Nhất hạnh tam muội, Chân như tam muội).
ngũ chủng thiện căn phát tướng
(五種善根發相) Năm thứ tướng công đức do ngồi thiền mà phát được. 1. Tức đạo thiện căn phát tướng: Người tu hành quán đếm hơi thở được thành tựu thì lúc thiền định lòng an vui mà phát ra căn lành. Chia làm 2 loại: a) Biết quán đếm hơi thở thì phát các tướng căn lành. b) Biết theo dõi hơi thở thì phát tướng căn lành thù thắng. 2. Bất tịnh quán thiện căn phát tướng: Người tu hành ở trong thiền định khởi niệm bất tịnh quán, xả bỏ chỗ thương yêu đắm đuối mà phát thiện căn. Chia làm 3 loại: a) Tu pháp Cửu tướng thì sẽ phát thiện căn.b) Tu pháp Bối xả sẽ phát thiện căn. c) Tu pháp Đại bất tịnh thì sẽ phát thiện căn.3. Từ tâm thiện căn phát tướng: Người tu hành ở trong thiền định khởi tâm từ bi, vào sâu trong định phát ra căn lành thanh tịnh.4. Nhân duyên quán thiện căn phát tướng: Người tu hành ở trong thiền định sinh khởi chính kiến, xa lìa tà kiến đoạn, thường, tâm sinh pháp hỉ mà phát thiện căn. 5. Niệm Phật thiện căn phát tướng: Người tu hành ở trong thiền định, nhớ nghĩ công đức tướng hảo của Phật mà phát thiện căn thanh tịnh. [X. Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu].
ngũ chủng thiện tính
(五種善性) Năm thứ tính thiện của người phàm phu do ngài Thiện đạo chỉ ra trong Quán niệm pháp môn. Đó là: 1. Khi nghe chính pháp liền bỏ ác làm thiện. 2. Bỏ tà làm chính. 3. Bỏ hư làm thực. 4. Bỏ trái làm phải. 5. Bỏ ngụy làm chân. Năm hạng người này gọi là Tự tính thiện nhân (Người tốt bẩm sinh). Ngài Thân loan người Nhật bản dựa theo đây mà chia tính thiện làm 5 thứ là Thiện tính, Chính tính, Thực tính, Thị tính và Chân tính. [X. Ngu ngốc sao Q.thượng]. (xt. Thiện).
ngũ chủng thuyết nhân
The five kinds of those who have testified to Buddhism: (A) Phật tự khẩu thuyết: The Buddha. Phật đệ tử thuyết: Đệ tử Phật thuyết pháp—Buddhist disciples. Bậc Hiền triết thuyết hay tiên nhân thuyết: The sages. Bậc Thánh nhân hay chư Thiên thuyết: The saints—Devas. Hóa nhân hay Phàm phu thuyết: The incarnated beings. Theo Kinh Hoa Nghiêm—According to the Flower Adornment Sutra: Phật thuyết: The Buddha. Bồ Tát thuyết: Bodhisattvas. Thanh văn thuyết: Sravakas (hearers).
; (五種說人) Năm hạng người có khả năng thuyết pháp. I. Ngũ Chủng Thuyết Nhân. Theo luận Đại tri độ quyển 2 thì 5 hạng người có khả năng thuyết pháp là: Phật, đệ tử Phật, tiên nhân, chư thiên và hóa nhân. Quán kinh huyền nghĩa phần quyển 1 của ngài Thiện đạo thì liệt kê: Phật thuyết, Thánh đệ tử thuyết, Thiên tiên thuyết, quỉ thần thuyết, và biến hóa thuyết. Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí quyển 4 thì nêu: Duy ma sở thuyết, Bát nhã chuyển giáo, Pháp hoa lãnh giải... tức do các Thánh đệ tử nói. Còn trong các kinh ghi Phạm thiên, Đế thích... thuyết pháp tức là chư thiên nói. Bà tẩu trong Phương đẳng tức là do tiên nhân nói. Địa thần trong kinh Kim quang minh, 10 La sát trong kinh Pháp hoa... tức là do quỉ thần nói. Trong 4 hạng người trên đây, người ẩn nguyên hình của mình đi, biến hóa ra thể khác để nói pháp, tức là do Biến hóa nói, như lúc đức Phật nhập Niết bàn, ngài Kiêu phạm ba đề biến hóa làm nước mà nói kệ. Bốn loại người nêu trên khi nói pháp, nếu được đức Phật ấn khả, thì đều gọi là Phật thuyết. [X. luận Phân biệt công đức Q.1; Đại A la hán nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tịnh ảnh)]. II. Ngũ Chủng Thuyết Nhân. Cũng gọi Ngũ loại thuyết. Kinh Hoa nghiêm chia những người có khả năng thuyết pháp làm 5 loại, tức là: 1. Phật: Như các phẩm A tăng kì, phẩm Tướng hảo trong kinh Hoa nghiêm là do đức Phật nói. 2. Bồ tát: Như các phẩm Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng v.v... kinh Hoa nghiêm đều do các Bồ tát nói. 3. Thanh văn: Phần đầu của phẩm Nhập pháp giới, kinh Hoa nghiêm là các bậc Thanh văn nói. 4. Chúng sinh: Như các thiện hữu nêu trong kinh Hoa nghiêm tức là chúng sinh nói pháp. 5. Khí thế giới: Như cây Bồ đề, thuộc khí thế giới, cũng có khả năng diễn nói pháp âm. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1]. (xt. Ngũ Loại Thuyết Pháp]. III. Ngũ Chủng Thuyết Nhân. Năm hạng người có khả năng nói chân ngôn. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 7 thì 5 loại người có khả năng nói chân ngôn là: Như lai, Bồ tát Kim cương, Nhị thừa, Chư thiên và Địa cư thiên. Trong đó, Địa cư thiên là chỉ cho các loài rồng, chim, tu la... [X. Đại tì lô giá na thành Phật kinh văn thứ đệ; Đại nhật kinh sớ sao Q.2].
ngũ chủng thuyết pháp
(五種說法) Cũng gọi Như lai ngũ chủng thuyết pháp. Năm thứ lực dụng thuyết pháp của Như lai. 1. Ngôn thuyết lực: Đức Như lai tuy dùng âm thanh ngôn ngữ nói ra các pháp 3 đời, thế gian, xuất thế gian, có tội không có tội, hữu lậu vô lậu... nhưng lời nói của Ngài là pháp tính bất hoại và cũng không chấp trước vào đó. 2. Tùy nghi lực: Như lai tùy theo căn cơ của chúng sinh mà nói các giáo pháp thiên, viên, tiệm, đốn khiến cho tất cả đều được hiểu rõ. 3. Phương tiện lực: Như lai dùng các phương tiện 1 cách khéo léo để thuyết pháp, như nói bố thí thì được giàu to, giữ giới được sinh lên cõi trời... khiến cho chúng sinh tu theo đó mà thoát khổ được vui. 4. Pháp môn lực: Như lai nói các pháp sâu xa mầu nhiệm, khiến chúng sinh ra khỏi sinh tử, đến cảnh giới thanh tịnh giải thoát. 5. Đại bi lực: Như lai thấy chúng sinh chấp trước các thứ vọng kiến vọng tình nên sinh khởi 32 thứ tâm đại bi, đối với người chấp không thì nói có, đối với người sân hận thì nói từ bi, khiến cho tất cả chúng sinh thoát khỏi mọi nỗi khổ não. [X. kinh Tư ích phạm thiên sở vấn Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3].
ngũ chủng thuận thụ
(五種順受) Chỉ cho 5 thứ thuận thụ. 1. Tự tính thuận thụ: Chỉ cho tất cả các Thụ. Tức lấy tâm sở Thụ (cảm nhận) làm thể, bao gồm 3 thụ, 5 thụ, thông cả 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai). Vì thuận với tự tính nên gọi là Tự tính thuận thụ. 2. Tương ứng thuận thụ: Chỉ cho tất cả sự tiếp xúc. Tức lấy tâm sở Xúc làm thể, xúc và thụ ứng nhau, cho nên gọi là Tương ứng thuận thụ. 3. Sở duyên thuận thụ: Chỉ cho tất cả cảnh. Tức lấy 6 cảnh sắc, thanh v.v... làm thể, cảnh sở duyên thuận với thụ năng duyên, cho nên gọi là Sở duyên thuận thụ. 4. Dị thục thuận thụ: Chỉ cho cảm nghiệp dị thục. Tức lấy nghiệp nhân chiêu cảm tất cả quả dị thục làm thể, nghiệp cảm dị thục thuận với quả dị thục, tức Thuận lạc thụ nghiệp, Thuận khổ thụ nghiệp, Thuận bất khổ bất lạc thụ nghiệp v.v... đều được gọi là Dị thục thuận thụ. 5. Hiện tiền thuận thụ: Chỉ cho Chính hiện hành thụ. Tức lấy Chính hiện hành thụ làm thể, chỉ thuận với hiện tại. [X. luận Câu xá Q.15; luận Đại tì bà sa Q.115].
Ngũ chủng thô trọng
五種麤 (麁) 重; C: wǔzhǒng cūzhòng; J: goshu sojū;|Năm ý nghĩa thô trọc, nặng nề, yếu đuối và khúc mắc của phiền não, đó là: 1. Hiện trọng tướng (現重相); 2. Cương cường tướng (剛強相); 3. Chướng ngại tướng (障碍相); 4. Khiếp liệt tướng (怯劣相); 5. Vô năng lực tự tại tướng (無能力自在相; theo Du-già luận 瑜伽論).
ngũ chủng thông
Five kinds of supernatural power: (1) Đạo thông, of bodhisattvas through their insight into truth; (2) Thần thông, of arhats through their mental concentration; (3) Y thông, supernatural or magical powers depending on drugs, charms, incantations, etc..(4) Báo thông, Nghiệp thông, reward or karma powers of transformation possessed by devas, nagas, etc (5) Yêu thông, magical powers of goblins, satyrs, etc..
; See Ngũ Thông.
; (五種通) Cũng gọi Ngũ thông. Chỉ cho 5 năng lực của 3 nghiệp thân, khẩu, ý thông dụng vô ngại và có thể biến hóa 1 cách tự tại. Đó là: 1. Đạo thông: Do chứng ngộ lí thực tướng trung đạo mà có được, như thông lực vô ngại của Bồ tát. 2. Thần thông: Do tĩnh tâm tu thiền mà được, như thông lực tự tại của các vị A la hán. 3. Y thông: Nhờ linh đan và phù chú mà được, như thông lực tự tại biến hóa của thần tiên. 4. Báo thông, cũng gọi Nghiệp thông. Tức nương vào quả báo mà tự có, như thông lực biến hóa của các vị trời. 5. Yêu thông: Chỉ cho thông lực biến hóa 1 cách quái gở của các loài yêu tinh, như cáo, chồn sống lâu năm hoặc các cây cổ thụ thành tinh. [X. Tông kính lục Q.15; Đại tạng pháp số Q.27].
ngũ chủng thông kinh
(五種通經) Năm phương thức để lưu thông kinh điển và hoằng dương Phật pháp, đó là: Thụ trì, đọc, tụng, giải thích và viết chép. Đây tức là 5 hạnh của vị Pháp sư. [X. Pháp hoa văn cú Q.8, phần đầu]. (xt. Ngũ Chủng Pháp Sư).
ngũ chủng thậm thâm
(五種甚深) Chỉ cho 5 cảnh giới chân như lí trí rất sâu xa mà đức Phật đã chứng được. Năm cảnh giới ấy là: 1. Nghĩa thậm thâm: Nghĩa chủng trí của Như lai sâu xa, mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn. 2. Thực thể thậm thâm: Lí thể thực tướng của Như lai, chẳng không chẳng có, không phải 1 không phải khác, chẳng thể nghĩ bàn. 3. Nội chứng thậm thâm: Tất cả trí tuệ của Như lai sâu xa vô lượng, khó hiểu khó vào, không thể nghĩ bàn. 4. Y chỉ thậm thâm: Pháp thể chân như của Như lai bao trùm hết thảy mọi chỗ, không nhơ không sạch, chẳng đổi chẳng dời, không thể nghĩ bàn. 5. Vô thượng thậm thâm: Cảnh giới Vô thượng chính đẳng chính giác mà Như lai đã ngộ nhập là chỗ không thể nghĩ bàn.
ngũ chủng tinh tiến
(五種精進) Năm thứ tinh tiến. Tinh tiến tức là tâm lí và hành vi mạnh mẽ, hăng hái tu thiện dứt ác. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 6 thì 5 tinh tiến là: 1. Bị giáp tinh tiến: Đầu tiên phát tâm thệ nguyện mạnh mẽ, không sợ bất cứ việc khó làm nào, tu hành các hạnh tối thắng, giống như người trước đội mũ, mặc áo giáp (bị giáp) rồi sau ra trận xông pha, thấy quân địch không sợ hãi. 2. Gia hạnh tinh tiến: Sinh khởi phương tiện vững chắc để sách tấn tâm mình, quyết định dũng mãnh tu hành. 3. Vô hạ tinh tiến: Không tự khinh thường, cũng không sợ hãi, tâm mạnh mẽ, không khiếp nhược. 4. Vô căn tinh tiến: Có khả năng chịu đựng các nỗi khổ như rét mướt, nóng bức, đói khát v.v... 5. Vô túc tinh tiến: Không bằng lòng với những việc thiện nhỏ, mong cầu những công đức tối thắng, tối thượng. [X. luận Du già sư địa Q.89; luận A tì đạt ma tập Q.1; luận Hiển dương thánh giáo Q.1]. (xt. Tinh Tiến).
ngũ chủng tu pháp
Năm loại tu pháp—Five kinds of esoteric ceremonial: Phiến Để Ca: Tức Tai hay Tịch Tai có nghĩa là dập tắt tai họa—Santika (skt)—For stopping calamities. Bố Sắc Trừng Ca: Paustika (skt)—Tăng ích hay Tăng vinh có nghĩa là tăng trưởng—For success or prosperity. A Tỳ Già Lỗ Ca: Điều phục hay hàng phục—Abhicaraka (skt)—For supressing or exorcising. A Yết Sa Ni: Câu triệu hay Nhiếp triệu có nghĩa là vời đến—Akarsani (skt)—For calling or attracting of good beings or aid. Phạt Thi Ca La Nã: Kính ái hay Khánh ái—Vasikarana (skt)—For seeking the aid of Budhas and Bodhisattvas.
; (五種修法) Năm pháp tu Hộ ma của Mật giáo. 1. Phiến để ca (Phạm:Zàntika): Tức tai, Tịch tai. 2. Bố sắt trưng ca (Phạm:Puwỉika): Tăng ích, Tăng vinh. 3. A tì già ro ca (Phạm:Abhicàruka): Điều phục, Hàng phục. 4. A cát sa ni (Phạm: Àkarwaịì): Câu triệu, Nhiếp triệu. 5. Phạt thi ca ra noa (Phạm: Vazì karaịa): Kính ái, Khánh ái. Năm pháp tu này tương ứng với nội chứng của 5 trí và 5 bộ Kim cương giới. Hình dáng, hoa văn và màu sắc của lò hương, cây hộ ma, thời gian bắt đầu, phương hướng và cách ngồi... của mỗi pháp tu đều khác nhau. [X. Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ].
ngũ chủng tán loạn
The five kinds of mental aberration: 1-Tự nhiên tán loạn, the five senses themselves not functioning properly; 2-Ngoại tán loạn, external distraction, or inability to concentrate the attention; 3-Nội tán loạn, internal distraction, or mental confusion; 4-Thô trọng tán loạn distraction caused by ideas of me and mine, personality, possession etc.; 5-Tư duy tán loạn, confusion of thought produced by hinayàna ideas.
; See Ngũ Tán Loạn.
; (五種散亂) Tán loạn, Phạm: Vikwepa. Năm thứ tán loạn. Tức là: 1. Tự tính tán loạn: Năm thức không giữ được tự tính của chúng, cứ chạy theo cảnh vật bên ngoài, thay đổi từng niệm. 2. Ngoại tán loạn: Ý thức rong ruổi theo ngoại cảnh, sinh khởi các thứ phân biệt. 3. Nội tán loạn: Tâm chợt sinh chợt diệt, niệm niệm trôi chảy không dừng. 4. Thô trọng tán loạn: Vì chấp trước các pháp thô trọng như ngã, ngã sở (ta, của ta) nên không được giải thoát. 5. Tư duy tán loạn: Tâm thấp kém, tức xả bỏ Đại thừa mà nhớ nghĩ Tiểu thừa. Luận Lục môn giáo thụ tập định cũng nêu ra 5 thứ tán loạn: 1. Tâm ngoài tán loạn. 2. Tâm trong tán loạn. 3. Tâm tà duyên tán loạn. 4. Tâm thô trọng tán loạn. 5. Tâm tác ý tán loạn. (xt. Tán Loạn).
ngũ chủng tánh
Paca-gotrani (S).
; The five germ-natures or roots of bodhisatva development: Tập Chủng Tánh: Ngôi vị thập trụ, tu tập không quán, phá bỏ các hoặc kiến—The germ-nature of study of the void or immaterial, which corrects all illusions of time and space (Thập trụ). Tánh Chủng Tánh: Ngôi vị thập hạnh, có khả năng phân biệt bản tánh của vạn pháp—The germ-nature of ability to discriminate all the natures of phenomena and transform the living (Thập hạnh). Đạo Chủng Tánh: The middle-way germ-nature, which attains insight into Buddha-laws (Thập hồi hướng). Thánh Chủng Tánh: Ngôi vị thập địa, bồ tát phá bỏ vô minh để đi từ Hiền giả đến Thánh—The saint germ-nature which produces holiness by destroying ignorance (Thập địa in which the bodhisattva leaves the ranks of the sages and becomes the saints). Đẳng Giác Chủng Tánh: Ngôi Bồ Đề có khả năng tiến đến Phật quả—The bodhi-rank germ-nature which produces Buddhahood.
ngũ chủng tín tâm
The five right objects of faith: From one to four: See Tứ Tín Tâm. 5) Ngũ Ba La Mật—The five paramitas: Bố Thí: Almsgiving. Trì Giới: Morality.
ngũ chủng tính
The five germ-natures, or root of bodhisattva development: (1) Tập chủng tính, the germ-nature of study of the void which corrects all illusions of time and space; (2) Tính chủng tính, that of ability to discriminate all the germ-natures of phenomina and transform the living; (3) Đạo chủng tính, (the middle) way germ-nature, which attains insight into Buddha-laws; (4) Thánh chủng tính, the saint germ-nature which produces holiness by destroying ignorance; (5) Đẳng giác chủng tính the bodhi-rank germ-nature which produces Buddhahood.
; (五種性) Phạm: Paĩca-gotràịi. Cũng gọi Ngũ tính, Ngũ chủng chủng tính, Ngũ thừa chủng tính, Ngũ chủng thừa tính.Chỉ cho 5 thứ chủng tính của chúng sinh. Tông Pháp tướng chia tất cả các loại căn cơ của chúng sinh hữu tình làm 5 thứ để quyết định có thể thành Phật hay không thể thành Phật. Đó là: 1. Thanh văn thừa định tính (Phạm: Sràvakayaønàbhisamaya-gotra), cũng gọi Thanh văn định tính, Định tính thanh văn, Quyết định thanh văn. Là người có đủ hạt giống vô lậu có khả năng chứng quả A la hán.2. Độc giác thừa định tính (Phạm: Pratyekabuddhayaønàbhi-gotra), cũng gọi Bích chi phật thừa tính, Duyên giác định tính, Định tính duyên giác. Là người có đủ hạt giống vô lậu có khả năng chứng quả Bích chi phật. Hai chủng tính trên đây chỉ có hạt giống vô lậu sinh không, cho nên rất nhàm chán sinh tử, chuyên tu pháp tự lợi, ưa sự vắng lặng, chỉ đoạn trừ phiền não chướng, chứng lí sinh không, quyết định được quả của thừa mình mà vào Niết bàn vô dư. Vì 2 chủng tính này không có đủ hạt giống Phật tính, cho nên không thể thành Phật, tức thuộc căn cơ Nhị thừa, vì thế được gọi chung là Nhị thừa định tính. 3. Như lai thừa định tính (Phạm: Tathàgatayaønàbhi-gotra), cũng gọi Như lai thừa tính, Bồ tát định tính, Định tính bồ tát. Là người có đủ hạt giống vô lậu, có khả năng chứng quả Phật. Do sẵn có hạt giống vô lậu sinh không, pháp không, cho nên tu hạnh tự lợi lợi tha, dứt trừ phiền não chướng và sở tri chướng, chứng chân như 2 không (sinh không, pháp không), được diệu quả Bồ đề Niết bàn. Tức vào Vô trụ xứ Niết bàn mà thành quả Đại giác viên mãn cùng tột. Thuộc về căn cơ Đại thừa. 4. Bất định chủng tính (Phạm:Aniya taikatara-gotra), cũng gọi Bất định tính, Tam thừa bất định tính. Người vốn có hạt giống vô lậu sai khác nhau nên chưa quyết định được là thuộc về loại căn cơ nào trong hàng Tam thừa. Bất định chủng tính được chia ra 4 thứ: a) Bồ tát Thanh văn nhị tính bất định: Người có cả 2 hạt giống quả Phật và quả La hán.b) Bồ tát Độc giác nhị tính bất định: Người có cả 2 hạt giống quả Phật và Bích chi phật. c) Thanh văn Độc giác nhị tính bất định: Người có cả 2 hạt giống quả La hán và quả Bích chi phật. d) Thanh văn Độc giác Bồ tát tam tính bất định: Người có 1 lúc cả 3 thứ hạt giống của quả La hán, quả Bích chi phật và quả Phật. 5. Vô tính (Phạm:A-gotra), cũng gọi Vô chủng tính, Vô hữu xuất thế công đức chủng tính, Nhân thiên thừa tính. Nghĩa là người tuy không có hạt giống vô lậu của Tam thừa, nhưng có đủ hạt giống hữu lậu có thể thành tựu quả người, trời... Bốn chủng tính trước gọi là Hữu ban Niết bàn pháp, còn chủng tính Vô tính thì gọi là Vô ban Niết bàn pháp. Chủng tính Vô tính vốn không có hạt giống vô lậu, chỉ có hạt giống hữu lậu, vì thế không sinh khởi trí vô lậu xuất thế, không thể giải thoát khỏi sinh tử, chỉ nhờ tu tập nghiệp lành ở thế gian mà được hưởng quả lành cõi người, cõi trời. Đây gọi là Vô tính xiển đề. Trong 5 tính, thì Định tính Thanh văn, Định tính Duyên giác và Vô tính đều không có hạt giống Phật, rốt ráo không thành Phật, cho nên gọi là Tam vô. Còn Bồ tát định tính và người chứng quả Phật trong Bất định tính thì có hạt giống Phật và quyết định thành Phật, nên gọi Nhị hữu. Phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa phối hợp 3 thứ cỏ, 2 thứ cây với các loại căn cơ trong 5 tính. Các nhà Duy thức Đại thừa lấy 5 tính khác nhau làm tiền đề mà lập ra thuyết Tam thừa chân thực, Nhất thừa phương tiện, chủ trương rằng Phật vì chủng tính Thanh văn và Độc giác mà nói pháp Nhị thừa, vì chủng tính Bồ tát mà nói pháp Đại thừa, lại vì dẫn dụ chủng tính Bất định mà phương tiện chỉ nói pháp Nhất thừa. Phật tuy nói Nhất thừa nhưng thực ra có Nhị thừa, Tam thừa khác nhau. [X. kinh Nhập lăng già Q.2; kinh Đại thừa lăng già Q.2; phẩm Vô tự tướng tính trong kinh Giải thâm mật Q.2; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.1, 5; Phật địa kinh luận Q.2; luận Đại tì bà sa Q.68, 144; luận Phật tính Q.1; luận Du già sư địa Q.21, 52; luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần đầu; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu, Q.2, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối; Pháp hoa kinh huyền tán Q.1]. (xt. Ngũ Tính, Ngũ Tính Thành Phật).
ngũ chủng tăng
(五種僧) Chỉ cho 5 loại tăng. 1. Vô sỉ tăng: Người phá giới cấm mà thân mặc áo pháp. 2. Á dương tăng: Người không thông hiểu 3 tạng kinh, luật, luận, giống như con dê câm (á dương). 3. Bằng đảng tăng: Người thích chơi bời, kinh doanh, tranh đấu, phương tiện khéo léo câu kết bè đảng. 4. Thế tục tăng: Người khéo sống cuộc đời phàm phu, làm cả những việc hợp pháp và phi pháp. 5. Thắng nghĩa tăng: Người học pháp vô học, sự hiểu biết có thừa, biện tài vô ngại, tùy căn cơ mà nói pháp, làm lợi ích cho chúng sinh. Những vị này không làm các việc trái phép, là bậc tối thắng trong chúng tăng.[X. luận A tì đạt ma tạng hiển tông Q.20].
ngũ chủng tăng thượng duyên
Five excellent causes—See Ngũ Duyên.
; (五種增上緣) Cũng gọi Ngũ tăng thượng duyên, Ngũ duyên. Năm thứ duyên tăng thượng của người niệm Phật cầu vãng sinh. 1. Diệt tội tăng thượng duyên, cũng gọi Hiện sinh diệt tội tăng thượng duyên. Niệm danh hiệu đức Phật A di đà làm duyên tăng thượng để tiêu trừ tất cả nghiệp chướng. 2. Hộ niệm đắc trường mệnh tăng thượng duyên, cũng gọi Hộ niệm tăng thượng duyên, Hiện sinh hộ niệm tăng thượng duyên. Tức được đức Phật A di đà, bồ tát Quan thế âm và bồ tát Đại thế chí giữ gìn, che chở. 3. Kiến Phật tăng thượng duyên, cũng gọi Kiến Phật tam muội tăng thượng duyên. Hành giả niệm Phật, nhờ sức bản nguyện của đức A di đà mà được thấy Phật. 4. Nhiếp sinh tăng thượng duyên: Chúng sinh nhờ nguyện lực của Phật A di đà mà được vãng sinh. 5. Chứng sinh tăng thượng duyên: Người niệm Phật, nhờ nguyện lực của Phật, sau khi mệnh chung nhất định được vãng sinh.[X. Quán niệm pháp môn; Quán niệm pháp môn tư kí Q.hạ; luận Thích Tịnh độ quần nghi Q.7; Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.3].
ngũ chủng tăng thượng duyên, ngũ duyên
Five excellent causes, e.g. of blessedness: keeping the commandments; sufficent food and clothing; a secluded abode; cessation of worry; good friendship.
ngũ chủng tạng
The five stores, or the five differentiations of the one Buddha-nature: (1) Như Lai tạng, the Tathàgata-nature, which is the fundamental universal nature possessed by all the living. (2) Chính pháp tạng, the source or treasury of all right laws and virtues; (3) Pháp thân tạng, the storehouse of the dharmakàya obtained by all saints; (4) Xuất thế tạng, the eternal spiritual nature, free from earthly errors; (5) Tự tính thanh tịnh tạng, the storehouse of the pure Buddha-nature.
; Tám vạn bốn ngàn pháp môn của Đức Phật có thể được chia ra làm năm tạng (tùy theo căn cơ trình độ của chúng sanh, họ phải dùng một trong năm chủng tạng nầy mà tu tập. Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài quan sát trong hàng đệ tử của Ngài, thấy ai có sở trường chuyên môn nào thì phó chúc giáo pháp cho họ thọ trì và truyền bá, tức là thọ lãnh giáo pháp từ kim khẩu của Đức Phật. Sau khi Đức Phật diệt độ, các vị nầy y theo chánh pháp mà truyền trì diệu lý, như tôn giả A Nan (Ananda) đa văn, thọ trì Tạng Kinh, Tôn giả Ưu Ba Ly (Upali) thọ trì Tạng Luật, tôn giả Ca Chiên Diên (Katyayana) thọ trì Tạng Luận, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi (Manjusri) có đại trí nên thọ trì Bát Nhã Đại Thừa, ngài Kim Cang Thủ Bồ Tát (Vajrapani) được truyền thọ Mật chú Đà La Ni (Dharani), vân vân—The five “stores” or the five differentiations of the one Buddha-nature
; (五種藏) Chỉ cho 5 thứ Như lai tạng được nói trong chương Tự tính thanh tịnh của kinh Thắng man. Theo sự giải thích trong phẩm Tự thể tướng của luận Phật tính quyển 2, thì chân tính có nghĩa của 5 tạng, tức là: 1. Như lai tạng: Tất cả pháp đều không ngoài tự tính của Như lai, cho nên nói các pháp là Như lai tạng. 2. Chính pháp tạng: Các chính pháp như 4 niệm xứ... của tất cả các bậc Thánh đều lấy tính này làm cảnh, cho nên gọi tính này là Chính pháp tạng. 3. Pháp thân tạng: Tất cả thánh nhân đều tin ưa chính tính, nhân dó mà được 4 đức và công đức của hết thảy Như lai nhiều hơn số cát sông Hằng, cho nên gọi tính này là Pháp thân tạng. 4. Xuất thế tạng: Chính tính xa lìa lỗi lầm của tất cả pháp thế gian và chân thực không hư hoại, cho nên gọi tính này là Xuất thế tạng. 5. Tự tính thanh tịnh tạng: Tất cả pháp đều thuận theo chính tính, thì là chính chứ không phải tà, còn nếu các pháp trái ngược lại với tính này thì là tà chứ chẳng phải chính. Thuận theo chính tính là thanh tịnh, trái với chính tính là nhiễm ô, cho nên gọi là Tự tính thanh tịnh tạng. [X. Thắng man kinh bảo quật Q.hạ, phần cuối].
ngũ chủng tạp hạnh
See Nhũ Chánh Hạnh.
ngũ chủng tỉ lượng
The five references in (Indian) logic: (1) Tướng, from appearance, e.g. fire from smoke; (2) Thể, from the corporeal, e.g. two or more things from one; (3) Nghiệp, from action, e.g. the animal from its footmark; (4) Pháp, from recognized law, old age from youth; (5) Nhân quả, đrom cause and effect, that a traveller has a destination.
; (五種比量) Năm phương pháp suy lí. 1. Tướng tỉ lượng: Căn cứ vào tướng trạng của những cái đã thấy mà suy ra những việc khác, như khi thấy khói thì suy ra biết có lửa. 2. Thể tỉ lượng: Từ thể tính này mà suy ra biết thể tính kia, tức dựa vào thể của 1 phần mà suy ra toàn bộ, như lấy hiện tại mà suy ra quá khứ, vị lai. 3. Nghiệp tỉ lượng: Do động tác mà suy ra biết chủ thể của động tác ấy, như thấy lốt chân động vật rộng và dài mà suy ra biết là voi, do vết trườn trên đất mà suy ra biết đó là rắn. 4. Pháp tỉ lượng: Từ sự tương quan của 1 pháp mà suy ra biết chân lí của nó, như thấy có sinh ra thì biết chắc sẽ có chết.5. Nhân quả tỉ lượng: Thấy nhân mà suy ra biết kết quả của nó. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.11].
ngũ chủng tịnh thực
(五種淨食) Năm thứ thức ăn đúng với giới luật qui định của tỉ khưu dùng. 1. Hỏa tịnh thực: Phải dùng thức ăn đã được nấu chín. 2. Đao tịnh thực: Ăn trái cây phải dùng dao gọt vỏ và bỏ hột. 3. Trảo tịnh thực: Ăn trái cây phải dùng móng tay (trảo) lột vỏ. 4. Yên can tịnh thực: Nếu ăn hột trái cây thì chỉ được ăn các hột không còn làm giống được nữa. 5. Điểu trác tịnh thực: Ăn trái cây do chim ăn còn thừa. [X. Tì nại da tạp sự Q.36].
ngũ chủng tổng trì
(五種總持) Tổng trì, Phạm: Dhàraịì. Hán âm: Đà la ni. Cũng gọi Ngũ trì. Năm thứ tổng trì: 1. Văn trì: Nghe âm của 1 chữ mà hiểu được giáo pháp của 5 thừa cũng như sự sai khác giữa Hiển giáo và Mật giáo. 2. Pháp trì: Đối với pháp nắm giữ hết không để sót mất. 3. Nghĩa trì: Đối với nghĩa của các pháp, giữ nhớ hết, không để quên mất. 4. Căn trì: Đối với cảnh sở duyên của 6 căn thu tóm hết mà không có niệm khác. 5. Tạng trì: Thu tóm lí Như lai tạng mà để sót mất. [X. Biện hoặc chỉ nam Q.3; Hiển Mật bất đồng tụng].
ngũ chủng tỷ lượng
Năm phương pháp suy lý trong Phật giáo—The five inferences in Buddhism logic: Tướng Tỷ Lượng: Căn cứ vào thứ đã thấy mà suy lý ra những thứ khác—Inference from appearance (fire from smoke). Thể Tỷ Lượng: Từ bộ phận mà suy ra cái lý của toàn thể—Inference from the corporeal (two or more things from one).
ngũ chủng vô
(五種無) Năm nguyên lí Vô (không) của học phái Thắng luận ở Ấn độ. Học phái Thắng luận chia tất cả sự vật khách quan thành 6 phạm trù lớn như Thực, Đức, Nghiệp v.v... gọi là Lục cú nghĩa(6 nguyên lí). Về sau lại thêm Vô thuyết nữa mà thành Thất cú nghĩa. Vô thuyết (Phạm: Abhàva) nghĩa là chẳng có, không tồn tại. Sáu cú nghĩa trước đều thuộc về cú nghĩa Hữu (có), còn Vô thuyết thì thuộc về cú nghĩa Phi hữu (chẳng phải có). Trong luận Thắng tông thập cú nghĩa, Luận sư Tuệ nguyệt (Phạm: Mati-candra) của học phái Thắng luận có nêu ra 5 thứ cú nghĩa Vô thuyết như sau: 1. Vị sinh vô (Phạm: Pràg-abhàva): Các nhân duyên Thực, Đức, Nghiệp không đầy đủ nên vẫn chưa sinh ra. 2. Dĩ diệt vô (Phạm: Pradhavaô= sàbhàva): Các nhân duyên Thực, Đức, Nghiệp hoặc vì thế lực của nhân đã hết, hoặc do trái duyên mà sinh, nên mặc dù đã sinh thành nhưng cuối cùng cũng sẽ hoại diệt, không tồn tại được. 3. Cánh hỗ vô (Phạm: Anyonyàbhàva): Các nhân duyên Thực (đất, nước, lửa, gió, không, thời gian, phương sở, ngã, ý), Đức, Nghiệp... chẳng tồn tại lẫn cho nhau, như bò chẳng phải ngựa (tức sự tồn tại của bò chẳng phải sự tồn tại của ngựa và ngược lại), cái lọ sành chẳng phải là vải... 4. Bất hội vô: Hữu tính và các nhân duyên Thực, Đức, Nghiệp... không hòa hợp nhau, cho nên rốt cuộc không có. Như nói con thỏ không sừng, tức con thỏ và sừng không hòa hợp nhau. 5. Tất cánh vô (Phạm:Atyantàbhàva): Vì không có nhân nên trong 3 thời quá khứ, hiện tại và vị lai đều không sinh khởi, tức là từ đầu đến cuối đều chẳng có, tuyệt đối không tồn tại. (xt. Thập Cú Nghĩa).
ngũ chủng vấn
(五種問) Năm loại hỏi. Tức là 5 nguyên nhân đặt câu hỏi. Đó là: Vì không hiểu, vì nghi ngờ, định thăm dò thử, tiếp xúc nhẹ nhàng hoặc muốn lợi lạc hữu tình mà hỏi. [X. Du già sư địa luận thích].
ngũ chủng ác bệnh
Năm loại bệnh ngặt nghèo trong thành Vaisali vào thời của Đức Phật—Five epidemics in Vaisali during the Buddha's lifetime: Xuất Huyết Mắt: Bleeding from the eyes. Xuất Mủ Tai: Pus discharged from the ears. Xuất Huyết Mũi: Nose-bleeding. Chứng Cứng Hàm: Chứng khít hàm—Lockjaw. Chứng Táo Bón: Astringent taste of all food.
; (五種惡病) Năm chứng bệnh nguy hiểm lưu hành ở nước Tì xá li lúc đức Phật còn tại thế. Đó là: 1. Hai con mắt đỏ như máu. 2. Hai tai chảy mủ. 3. Lỗ mũi chảy máu. 4. Lưỡi bị cứng đờ nói không thành tiếng. 5. Thức ăn đưa vào miệng trở thành thô ráp khó nuốt. [X. kinh Thỉnh Quan âm; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2, phần 2].
ngũ chủng ác tính
(五種惡性) Năm hạng người có tính ác. Trong Quán niệm pháp môn, ngài Thiện đạo chia căn tính của phàm phu làm 5 hạng là: 1. Người dè bỉu việc chân thật, làm việc dối trá. 2. Người chê bai việc chính làm việc tà. 3. Người chê bai việc phải làm việc trái. 4. Người chê bai việc thực làm việc hư. 5. Người chê việc thiện làm việc ác. Năm hạng người trên đây gọi là Tự tính ác nhân (bản tính ác). Ngài Thân loan của Nhật bản căn cứ vào đây chia tính ác làm 5 loại: Ác tính, tà tính, hư tính, phi tính và ngụy tính. [X. Ngu ngốc sao Q.thượng].
ngũ chủng đàn pháp
The five kinds of mandala ceremonials.
; Năm loại tất địa—The five kinds of Mandala ceremonials—See Ngũ Chủng Tu Pháp.
ngũ chủng đại sư công đức
(五種大師功德) Chỉ cho 5 thứ công đức mà các vị Giới sư, Pháp sư phải có đầy đủ. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 17 thì 5 công đức ấy là: 1. Giới hạnh vô thất: Kiên trì giới luật do đức Như lai chế định, không để vi phạm. 2. Thiện kiến lập pháp: Giảng giải giới luật 1 cách khéo léo khiến người tu học không trái phạm. 3. Thiện chế lập sở học: Khéo thuyết minh những chỗ nên học trong luật nghi để khỏi sai lầm. 4. Thiện đoạn nghi hoặc: Khéo giảng giải rộng rãi những pháp cần phải học hoặc những chỗ nghi ngờ của mọi người, khiến họ tu trì đúng pháp. 5. Giáo thụ xuất li: Khéo đem giới pháp do đức Như lai chế định truyền dạy cho mọi người, khiến họ thụ trì đúng pháp để thành tựu Thánh đạo, ra khỏi sinh tử.
ngũ chủng đắc thất
(五種得失) Cũng gọi Ngũ thứ tương đối. Chỉ cho 5 thứ tương đối chính hạnh và tạp hạnh của người tu pháp môn Tịnh độ cầu vãng sinh. Đó là: 1. Thân sơ đối: Người tu chính hạnh tán thán, lễ bái và niệm PhậtA di đà, Phật liền thấy, nghe và biết điều đó. Biết nghiệp của Phật và của người niệm Phật gần nhau, nên gọi là Thân duyên. Còn người tu tạp hạnh thì 3 nghiệp của Phật và của người ấy thường xa cách nhau, cho nên gọi là Sơ hạnh. 2. Cận viễn đối: Tâm nguyện được thấy đức Phật A di đà của người tu chính hạnh rất tha thiết, lúc nào cũng tưởng niệm y như đức Phật đang ở trước mắt mình, cho nên gọi là Cận duyên. Còn người tu tạp hạnh thì tâm lơ là, không tha thiết với Phật A di đà, cho nên gọi là Viễn hạnh. 3. Vô gián hữu gián đối: Người tu chính hạnh nhớ tưởng đức Phật A di đà thường không gián đoạn, cho nên là vô gián. Còn người tu tạp hạnh niệm Phật luôn gián đoạn, vì thế là hữu gián. 4. Bất hồi hướng hồi hướng đối: Người tu chính hạnh không dùng hồi hướng riêng biệt mà vẫn tự có đức hồi hướng, thành tựu nghiệp vãng sinh. Còn người tu tạp hạnh thì cần phải có sự hồi hướng mới cảm được nghiệp vãng sinh. 5. Thuần tạp đối: Người tu chính hạnh là hạnh thuần túy Cực lạc nên là thuần. Nhưng người tu tạp hạnh thì chẳng phải hạnh thuần túy Cực lạc, mà còn tạp tu cả nhân thiên, Tam thừa và Tịnh độ ở 10 phương, cho nên là tạp. [X. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập].
ngũ chủng định tâm
Xem ngũ định.
ngũ chủng độ
(五種土) Năm loại quốc độ được nói trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 7. 1. Duy tính độ: Duy tính tức là thể của pháp tính mà Như lai đã chứng được, nghĩa là bản thể Như lai ngoài thân không có quốc độ, ngoài quốc độ không có thân, thân và độ không khác, chỉ 1 pháp tính. 2. Song mẫn độ: Thân Như lai và quốc độ là 1, dung thông vô ngại, giống như hư không, tính và tướng đều vắng lặng. 3. Câu tính tướng độ: Như lai dùng trí như thực biến hóa ra vô lượng vô biên tướng biển, châu báu trang nghiêm, tùy theo tâm chúng sinh mà hiện bày ra các quốc độ tính, tướng khác nhau. 4. Dung tam thế gian độ: Thân pháp giới của Như lai bao trùm và dung thông trong 3 thế gian (hữu tình thế gian, khí thế gian, trí chính giác thế gian), tất cả chúng sinh, đất nước đều là pháp thân thanh tịnh của Như lai. 5. Tổng nhiếp độ: Mười thân và 4 trí mà Như lai đã chứng, mỗi mỗi đều viên dung gọi là Tính chu biến, nói 1 cõi thì chứa hết thảy cõi, nêu 1 thân thì gồm thu tất cả thân, mọi pháp đều dung nhiếp nhau, không mảy may ngăn ngại.
ngũ chủng ấn
The signs of the five kinds of vision—See Ngũ Nhãn.
ngũ cung dưỡng
(五供養) Cũng gọi Ngũ cúng. Năm vật cúng dường Bản tôn khi tu pháp Nhất tòa Mật giáo. Đó là hương xoa, vòng hoa, hương đốt, thức ăn, uống và đèn. Nếu thêm món nước thơm(át già) nữa thì gọi là Lục cúng dường. Ở đây chia ra Lí cúng dường và Sự cúng dường. Nếu sắp bày đầy đủ các vật cúng ở trên đàn, rồi dùng tam mật gia trì để cúng dường thì gọi là Sự cúng dường. Còn nếu không chuẩn bị vật cúng, chỉ ngồi ngay thẳng quán xét tâm bồ đề, dùng ấn khế và chân ngôn để cúng dường thì gọi là Lí cúng dường. Nếu cúng dường trước khi gia trì Bản tôn thì gọi là Tiền cúng dường; nếu cúng dường sau khi tụng niệm xong, thì gọi là Hậu cúng dường. Ngoài ra, 6 thứ cúng dường nói trên được phối với 6 Ba la mật, tức là nước thơm phối với Đàn ba la mật, hương xoa phối với Giới ba la mật, tràng hoa phối với Nhẫn nhục ba la mật, hương đốt phối với Tinh tiến ba la mật, thức ăn uống phối với Thiền ba la mật và đèn được phối với Bát nhã ba la mật. [X. phẩm Cúng dường trong kinh Tô tất địa yết ra Q.hạ; Lí thú thích Q.hạ; Kim cương đính kinh nhất tự đính luân vương du già nhất thiết thời xứ niệm tụng thành Phật nghi quĩ; Đại nhật kinh sớ Q.8; Nhũ vị sao Q.2].
Ngũ cái
五蓋; C: wǔgài; J: gogai;|Chữ Cái cũng được viết là 盖, »Năm loại ngăn che (trí huệ)«. Năm loại phiền não chướng ngại chân tâm: đó là tham dục (貪欲), sân khuể (瞋恚), hôn trầm (沈), điệu hối (掉悔), nghi (疑).
ngũ cái
xem năm pháp ngăn che.
; Pacanīvaraṇāni (S)Ngũ chướng, Ngũ triền cáiNăm thứ phiền nảo che lắp tâm tánh: tham dục, sân, thụy miên, trạo cử, nghiXem Ngũ ác.
; The five covers: tham dục desire, sân nhuế anger, thụy miên drowsiness, trạo hối excitability, nghi pháp doubt.
; Năm nắp che hay năm chướng ngại về tinh thần và luân lý khiến chúng sanh chẳng thấy chẳng trì được thiện pháp—Five covers, mental and moral hindrances, which prevent sentient beings from seeing and practicing good deeds. Tham dục: Desire. Sân nhuế: Anger. Thụy miên: Drowsiness. Trạo hối: Sự xao động ăn năn trong tâm—Excitability.
; (五蓋) Phạm: Paĩca àvaraịàni. Cái nghĩa là che lấp, tức chỉ cho 5 thứ phiền não che lấp tâm tính, làm cho pháp lành không sinh ra được. Đó là: 1. Tham dục cái (Phạm: Ràgaàvaraịa): Tham đắm cảnh năm dục (tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ), không biết nhàm chán, nên tâm tính bị che lấp. 2. Sân khuể cái (Phạm: Pratighaàvaraịa): Đối trước cảnh trái ý, lòng tức giận nổi lên làm che lấp tâm tính. 3. Hôn miên cái (Phạm: Styànamiddha-àvaraịa), cũng gọi Thụy miên cái: Hôn trầm và buồn ngủ khiến tâm tính li bì, không thể tích cực hoạt động. 4. Trạo cử ác tác cái (Phạm:Auddhatya -kaukftya-àvaraịa), cũng gọi Điệu hí cái, Trạo hối cái, Trạo hí cái. Sự chao động (trạo) của tâm, hoặc lo buồn, ân hận (hối) đối với những việc đã làm, khiến tâm tính bị che lấp. 5. Nghi cái (Phạm: Vicikitsà-àvaraịa): Đối với giáo pháp do dự không quyết đoán, vì vậy mà tâm tính bị che lấp. Các phiền não đều có nghĩa là cái, nhưng 5 thứ trên đây hay làm chướng ngại 5 uẩn vô lậu, tức là tham dục và sân khuể hay chướng ngại giới uẩn, hôn trầm và thụy miên chướng ngại tuệ uẩn, trạo cử và ác tác chướng ngại định uẩn và nghi là ngờ vực lí Tứ đế, vì thế chỉ lập 5 thứ này làm Cái. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; luận Đại trí độ Q.17; luận Đại tì bà sa Q.38, 48; luận Câu xá Q.21; luận Thuận chính lí Q.55; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7; Ma ha chỉ quán Q.4; Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng, phần đầu]. (xt. Khí Ngũ Cái).
ngũ câu luân
Năm vị đồng tu với Phật Thích Ca và cũng là năm đệ tử quy-y đầu tiên với Ngài—Sakyamuni's five comrades—Sakyamuni five old companions in asceticism and first converts.
; (五俱倫) Cũng gọi Ngũ câu lân. Chỉ cho 5 vị tỉ khưu đầu tiên được đức Phật hóa độ ở vườn Lộc dã khi Ngài mới thành đạo. Theo Pháp hoa văn cú quyển 4, phần 3 thì 5 vị tỉ khưu ấy theo thứ tự là: Kiều trần như, Át bệ, Bạt đề, Thập lực ca diếp và Ma nam câu lợi. Nhưng ý nghĩa của từ Câu luân không được rõ. Có thuyết cho rằng 5 vị này từ đời quá khứ đến nay đều là bạn đồng tu, cho nên gọi là Câu luân. Hoặc có thuyết chủ trương Câu luân là tên dịch khác của A nhã kiều trần như, cũng gọi Câu lân, bậc Thượng thủ trong 5 vị tỉ khưu, vì thế gọi chung là Ngũ câu luân. [X. Pháp uyển châu lâm Q.11; Tịch chiếu đường cốc hưởng tập Q.4].
ngũ câu ý thức
(五俱意識) Là ý thức sinh khởi cùng lúc với 5 thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tức chỉ cho Minh liễu ý thức, 1 trong 4 loại ý thức. Minh liễu ý thức khởi lên cùng 1 lúc với 5 thức, giúp 5 thức phát sinh hiện hành và phân biệt rõ ràng khi duyên theo đối tượng; vì thế gọi là Ngũ câu ý thức. [X. luận Thành duy thức Q.7; Bách pháp vấn đáp sao Q.1].
ngũ công đức môn
The five effective or meritorious gates to Amitabha's Pure Land,i.e. worship of him, praise of him, vows to him, meditation on him, willingness to suffer for universal salvation.
; Năm loại công đức phải thành tựu để được vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà—The five effective or meritorious gates to Amitabha's Pure Land: Lễ Bái Môn: Đem thân nghiệp thờ kính Phật A Di Đà—Worship Amitabha Budha. Tán thán Môn: Đem khẩu nghiệp xưng danh hiệu Đức Phật A Di Đà—Praise Amitabha Buddha. Tác Nguyện Môn: Hướng về A Di Đà Phật mà phát nguyện sanh về cõi Cực Lạc—Vow to Amitabha Buddha. Quán sát Môn: Đem trí huệ thiền định xem xét các công đức của cõi Phật A Di Đà—Meditate on Amitabha Buddha. Hồi hướng Môn: Sẳn sàng chịu khổ để cứu dộ chúng sanh, đem tất cả công đức của mình bố thí lại cho hết thảy chúng sanh—Willingness to suffer for universal salvation.
; (五功德門) Cũng gọi Công đức ngũ niệm môn, Ngũ quả môn. Năm thứ quả tướng mà người vãng sinh Tịnh độ Cực lạc đạt được. Theo luận Tịnh độ của ngài Thiên thân thì 5 quả tướng ấy là: 1. Cận môn: Mới sinh về Tịnh độ, vào Đại thừa chính định tụ, gần chứng được Vô thượng chính đẳng chính giác. 2. Đại hội chúng môn: Sinh về Tịnh độ rồi liền được dự vào số chúng của Đại hội Như lai. 3. Trạch môn: Dự vào số đại chúng tức đã đến được cảnh giới an tâm tu hành. 4. Ốc môn: Đã vào được chỗ an tâm tu hành thì đến được cảnh giới người tu hành an trụ. 5. Viên lâm du hí địa môn: Sau khi việc tu hành đã thành tựu liền đến chỗ giáo hóa chúng sinh. Trong đó, 4 môn trước nói về thành tựu công đức đi vào, còn môn thứ 5 thì nói về thành tựu công đức đi ra. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; Vãng sinh luận chú lược sao Q.hạ; Giáo hành tín chứng lục yếu sao Q.6]. (xt. Ngũ Niệm Môn).
ngũ cúng dường
The five kinds of offerings -unguents, chaplets, incense, foods, and lamps (or candles)
; Năm thứ lễ vật để cúng dường—The five kinds of offerings—The five Buddhist offerings: (A) Đồ Hương: Hương xức—Thuốc cao—Unguents. Hoa Man: Tràng hạt—Chaplets. Thiêu Hương (nhang hay hương thắp): Incense. Phạn Thực: Thực phẩm—Food. Đăng Minh: Đèn hay nến thắp—Lamps or candles. (B) Nước: Water. Nhang: Incense. Hoa: Flowers. Gạo: Rice. Đèn: Candles. Theo Kinh Đại Bảo Tích, Đức Phật dạy có năm thứ cúng dường Pháp Thân và Sanh Thân Phật: “Này chư Tỳ Kheo! Cho dù chúng sanh cúng dường Pháp Thân hay Sinh Thân ta cũng đều nhận, thọ cho đó. Bởi do nơi cúng dường như vậy, các chúng sanh ấy sẽ được đầy đủ các quả báo thiện lành, chứng được tam thừa, tâm không thối chuyển. Các người thiện nam tín nữ hữu tâm và cúng thí như vậy, có thể thanh tịnh được thân tâm, trang nghiêm quả vị vô thượng Bồ Đề, có thể được an lạc vi diệu, hay bố thí tất cả vật cho tất cả người, trong tất cả thời gian. Người ấy có thể thọ được tất cả các quả báo lành. Lại nữa, tất cả các vật thực dù tịnh hay bất tịnh, dù là thượng vị hay đồ tối dở, cho chí đến cát, đá, bùn, đất, sỏi, sạn, gạch, ngói, độc dược, vân vân mỗi khi đưa vào trong miệng của Như Lai thì đều hóa thành ra chất thượng vị Cam Lồ hết cả.”—According to the Great Jewel Collection Sutra, there are five kinds of offerings for the purpose of the Buddha's Dharma Body and Birth-Body: “Bhikshus! Whether sentient beings make offerings to the Dharma-Body or Birth-Body, I will receive and approve of them. Through their offerings, those sentient beings will acquire complete wholesome consequences, attain the three vehicles, and their minds will not regress. For the good men and faithful women who have faith and make offerings in that way, it is possible for them to purify their bodies and minds, adorn the achievement of the Ultimate Enlightenment of Buddhahood. It is possible to have the ultimate peace and happiness, and they often make offerings of all materials goods to all people across all periods past, present, and future. Such a person will reap all the wholesome consequences of those actions. Moreover, with all edible items, whether they are pure or impure, most tasteful or greatly distasteful, including items such as sand, rock, dirt, mud, brick, roof tile, poison, etc., when they are placed into the Tathagata's mouth. All are turned into the most delicious and holiest of foods.” Nếu có chúng sanh nào vì Pháp Thân hoặc sanh thân của ta mà tạo dựng nhà cửa, chỗ kinh hành, để cúng dường ta, thời ta liền thọ dụng: Build homes, places of worship, etc, to make offerings to me, I will immediately accept. Nếu có chúng sanh nào tạo dựng rừng cây, vườn hoa, giảng đường, tịnh xá để cúng dường ta, thời ta liền thọ dụng: Build parks, flower gardens, roads, and temples to make offerings to me, I will immediately accept. Nếu các hàng đệ tử có những ẩm thực, ngọa cụ như giường, nệm, chăn, chiếu, vân vân, thuốc men, phòng nhà dâng cúng ta thời ta liền thọ dụng" The various level of Buddhists who have foods, bedding materials such as mattresses, blankets, etc., medicines, and places to live, etc, make offerings to me, I will accept. Nếu có các Pháp sư thăng tòa thuyết pháp, thời lúc ấy ta cũng chí tâm lắng nghe: If any Dharma Master build high thrones to speak of the Dharma, during such time, I will concentrate to listen. Nếu có người cúng thí cho vị pháp sư ấy những y phục ẩm thực, ngọa cụ, thuốc men, phòng nhà, vườn rừng, xe cộ, ruộng nương, tỳ nô, thời ta cũng liền nhận thọ cho đó: If someone makes offerings to that Dharma Master, such as Buddhist robes, foods, bedding materials, medicines, a room, a garden, vehicle, crop field, servants during such time I will also accept those offerings.
Ngũ Căn
(s: pañcendriyāni, 五根): tức Năm Căn Vô Lậu (無漏五根), dùng để hàng phục phiền não, đưa vào Thánh đạo và có tác dụng tăng thượng, thuộc trong 37 phẩm trợ đạo, gồm có: (1) Tín Căn (s: śradhendriya, 信根): niềm tin vào Tam Bảo, đạo lý Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦), v.v.; (2) Tấn Căn (s: vīryendriya, 進根): hay còn gọi là Tinh Tấn Căn, siêng năng dũng mãnh tu các pháp lành; (3) Niệm Căn (s: smṛtīndriya, 念根): nghĩ nhớ đến các pháp đúng; (4) Định Căn (s: samādhīndriya, 定根): năng lực khiến cho tâm dừng lại một chỗ, không bị tán loạn; và (5) Tuệ Căn (s: prajñendriya, 慧根): nhờ có định mà trí tuệ quán xét sanh khởi, cho nên biết được như thật chân lý. Năm pháp này là căn bản thường khiến cho sanh khởi hết thảy các thiện pháp.
Ngũ căn
五根; C: wǔgēn; J: gokon; S: pañca-indriya.|I. Năm căn, năm giác quan. Đó là Nhãn căn, nhĩ căn, tỉ căn, vị căn, và xúc căn. Trong giáo lí Duy thức, chúng được xem như là một phần của A-lại-da thức.|II. Năm căn lành: 1. Tín căn (信根); 2. Tinh (tiến) căn (精根); 3.Niệm căn (念根); 4. Định căn (定根); 5. Huệ căn (慧根). Năm căn lành nầy được xếp vào trong 37 phẩm trợ đạo.
ngũ căn
xem năm căn lành.
; Paca-indryāṇi (S), Pacendriyāṇi (S), Five organs, Five sense-organs, Five facultiestín, tinh tiến, niệm, định, tuệ.
; Pancendriyàni (S). The five roots, i.e. the five organs ofthe senses: nhãn eyes, nhĩ ears, tỷ nose, thiệt tongue, and thân body as roots of knowing. The five spiritual organs or positive agents: tín faith, tinh tiến energy, niệm memory, định visionary meditation, tuệ wisdom.
; Pancendriyani (skt) Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm căn—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five roots or faculties (indriyani)—The five organs of the senses—Five spiritual faculties: Mắt: Eyes. Tai: Ears. Mũi: Nose. Lưỡi: Tongue. Thân: Body. ** Ngũ căn có thể là những cửa ngõ đi vào địa ngục, đồng thời chúng cũng là những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì từ đó mà chúng ta gây tội tạo nghiệp, nhưng cũng nhờ đó mà chúng ta có thể hành trì chánh đạo—The five sense-organs can be entrances to the hells; at the same time, they can be some of the most important entrances to the great enlightenment; for with them, we create karmas and sins, but also with them, we can practise the right way.
; (五根) Phạm: Paĩcendriyàịi. Năm căn. I.Ngũ Căn. Cũng gọi Ngũ sắc căn. Chỉ cho 5 sắc căn, chỗ nương của 5 thức. Tức: Nhãn căn (Phạm:Caksurindriya), Nhĩ căn (Phạm: Zrotrendriya), Tị căn (Phạm:Ghràịendriya), Thiệt căn (Phạm: Jihvendriya), Thân căn (Phạm: Kayendriya). Cũng tức là 5 quan năng chủ về: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác. Nếu thêm Ý căn vào 5 căn thì gọi là 6 căn. Năm căn ngoài khả năng thu nhận 5 đối tượng ở ngoại giới, còn có khả năng dẫn khởi tác dụng nhận biết của 5 thức trong nội tâm, vì có các tác dụng thù thắng ấy nên gọi là Căn. Lại vì 5 căn là do vật chất (sắc) cấu tạo thành, cho nên cũng gọi là 5 Sắc căn. Phái Số luận có thuyết Ngũ tri căn, trong đó, Thân căn cũng được gọi là Bì căn. Nói về thể của 5 căn, Tát bà đa bộ (Thuyết nhất thiết hữu bộ) chia 5 căn làm 2 thứ là Phù trần căn và Thắng nghĩa căn. Phù trần căn (cũng gọi Phù căn) là các căn thô phù bên ngoài (như mắt, tai, mũi...) tự chúng không có khả năng nhận thức sự vật, phải nhờ vào Thắng nghĩa căn theo bên cạnh giúp sức mới có thể sinh ra tác dụng nhận biết. Những Phù căn này thông thường được gọi là 5 giác quan. Còn Thắng nghĩa căn là bộ phận bên trong của nhục thể, mắt thường (mắt thịt) chẳng thể thấy được, nhưng có tác dụng sinh ra thức và thu lấy cảnh (đối tượng). Thắng nghĩa căn và Phù trần căn tuy cùng do cực vi tạo thành, nhưng Thắng nghĩa căn lấy tịnh sắc do 4 đại thù thắng tạo ra làm thể, là thực pháp nhưng mắt thường không thể thấy được. Do đó, Tát bà đa bộ chủ trương 5 căn là chỉ cho Thắng nghĩa căn, tức là cái mà ngày nay chúng ta thường gọi là hệ thần kinh, chứ không phải Phù trần căn mà thông thường ta gọi là 5 cảm quan. Nhưng Đại chúng bộ... thì cho sắc, hương, vị, xúc là thể của 5 căn, lấy máu thịt làm tính, không có tịnh sắc, không có khả năng nắm bắt đối tượng(thủ cảnh). Tức thuyết này chủ trương 5 căn là Phù trần căn. Còn theo thuyết của Duy thức Đại thừa thì như ngài Hộ pháp lập tịnh sắc hiện hành làm 5 căn, nhưng ngài Nan đà thì cho rằng 5 căn chỉ là chủng tử chứ không phải tịnh sắc hiện hành. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; luận Dị bộ tông luân; luận Thành thực Q.4; luận Đại thừa a tì đạt ma tập Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần đầu]. (xt. Ngũ Căn Hữu Tứ Sự Tăng Thượng). II.Ngũ Căn. Chỉ cho 5 căn vô lậu trong 37 đạo phẩm. Năm căn này là cội gốc sinh ra hết thảy pháp lành có tác dụng tăng thượng đối với việc áp phục phiền não, dẫn vào Thánh đạo, cho nên được gọi là Căn (gốc rễ). Đó là: 1. Tín căn (Phạm: Zraddhendriya): Tin Phật, Pháp, Tăng, tin đạo lí Tứ đế (khổ, tập, diệt, đạo). 2. Tiến căn (Phạm: Vìryendriya), cũng gọi Tinh tiến căn, Cần căn: Gắng sức mạnh mẽ tu tập pháp lành. 3. Niệm căn (Phạm: Smftìndriya): Nhớ nghĩ chính pháp. 4. Định căn (Phạm: Samàdhìndriya): Chú tâm vào 1 đối tượng duy nhất, không để tán loạn. 5. Tuệ căn (Phạm: Prajĩendriya): Ở trong định khởi trí quán, biết rõ chân lí như thực. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 16 thì 5 căn này theo thứ tự còn có tác dụng đối trị với bất tín, giải đãi (biếng nhác), phóng dật (buông thả), trạo cử (xao động) và phiền não vô minh. Ngoài ra, theo Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết (hội bản) quyển 7, phần 1, thì người tu hành mầm lành tuy đã hơi nứt nhưng vẫn chưa sinh rễ (căn), nay tu 5 pháp khiến cho rễ lành sinh ra, vì thế 5 pháp này đều gọi là Căn. Năm căn và 5 lực trong 37 đạo phẩm là cùng 1 thể, 5 lực hiển bày sức tăng thượng của 5 căn. Năm lực là pháp tu của người lợi căn, 5 căn là pháp tu của người độn căn. Năm căn này cũng có tác dụng tăng thượng đối với pháp vô lậu. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; kinh Tăng nhất a hàm Q.23, 42; luận Đại tì bà sa Q.96; luận Đại trí độ Q.90; luận Du già sư địa Q.57; Pháp giới thứ đệ Q.trung]. (xt. Tam Thập Thất Đạo Phẩm).
ngũ căn bản
See Ngũ Căn Bản Phiền Não.
; (五根本) Chỉ cho 5 phiền não căn bản: Tham, sân, si, mạn, nghi. Tông Thiên thai chia tất cả phiền não làm 2 loại là lợi, độn và gọi 5 phiền não căn bản này là Ngũ độn sử. [X. Đại nhật kinh sớ Q.2]. (xt. Phiền Não).
ngũ căn bản phiền não
Năm phiền não căn bản—The five great passions or disturbers or Klesas: Tham: Desire. Sân: Anger or hatred. Si: Stupidity or ignorance. Mạn: Pride.
ngũ căn hữu tứ sự tăng thượng
(五根有四事增上) Bốn nghĩa tăng thượng của 5 căn. Cứ theo luận Ngũ sự tì bà sa quyển thượng, thì 5 căn có 4 nghĩa tăng thượng sau đây: 1. Trang nghiêm thân: Mắt, tai, mũi, lưỡi trang nghiêm thân, tạo nên sự hoàn mĩ, nếu thiếu bất cứ căn nào trong các căn này thì sẽ trở nên tàn tật, xấu xí, còn nếu các căn đầy đủ thì tăng thêm vẻ đẹp. 2. Đạo dưỡng thân: Mắt thấy sắc đẹp xấu, tai nghe tiếng hay dở, mũi ngửi mùi thơm hôi, lưỡi nếm vị đắng ngọt, sự nhận biết, có thể phân biệt rõ ràng, khiến thân theo tốt, tránh xấu, làm tăng thêm vẻ đẹp. 3. Sinh thức: Thức là phân biệt. Mắt đối với sắc, tai đối với tiếng, mũi đối với mùi, lưỡi đối với vị, thân đối với xúc... đều sinh ra các thức phân biệt và pháp tương ứng tăng thượng. 4. Bất cộng sự: Mắt chỉ thấy sắc, tai chỉ nghe tiếng, mũi chỉ ngửi mùi, lưỡi chỉ nếm vị, thân chỉ chạm xúc. Như thế mỗi căn đều có công dụng riêng (bất cộng), không lẫn lộn với nhau, đối với các pháp tương ứng với mỗi căn tự nó có sức tăng thượng. [X. luận Đại tì bà sa Q.142].
ngũ căn sắc
The five senses correspond to colours: Tín Căn tương ứng với sắc Trắng có nghĩa là vì tin nơi Tam Bảo và Tứ Diệu Đế nên chúng sanh có thể vượt qua mọi cấu nhiễm: The sense of belief corresponds to White colour, signifies that owing to the belief in the Triple Gem and the Four Noble Truths, sentient beings are able to overcome all defilements. Tấn Căn tương ứng với sắc Đỏ, có nghĩa là đại cần dũng: Energy or Vigor corresponds to Red colour, signifies great endeavor.
; (五根色) Màu của 5 căn. Năm căn là Tín căn, Tiến căn, Niệm căn, Định căn và Tuệ căn. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 6, nếu đem 5 màu phối với 5 căn thì theo thứ tự là: Trắng, đỏ, vàng, xanh và đen, gọi là Ngũ căn sắc. Ngoài ra, cũng có thuyết phối hợp thứ tự 5 màu: Trắng, vàng, đỏ, xanh, đen với 5 căn gọi là Ngũ căn sắc.
ngũ cư
See Ngũ Tịnh Cư Thiên.
ngũ cương
(五綱) Cũng gọi Ngũ nghĩa, Ngũ cương phán. Năm tiêu chuẩn phán giáo của tông Nhật liên, Nhật bản. Tức là dùng Giáo, Cơ, Thời, Quốc, Tự để phân biệt sự sâu cạn của giáo pháp trong Phật giáo để nói rõ giáo pháp ấy có thích hợp với thời đại không. Đây chính là giáo tướng phán thích của tông Nhật liên. - Giáo chỉ cho giáo tướng phán thích. - Cơ chỉ cho căn cơ tiếp nhận giáo pháp. - Thời chỉ cho sự biến thiên của thời đại. - Quốc chỉ cho hoàn cảnh và phong tục tập quán của 1 nước. - Tự chỉ cho thứ tự truyền bá giáo pháp. [X. Hiển báng pháp sao; Thánh ngu vấn đáp; Giáo cơ thời quốc sao].
Ngũ cảnh
五境; C: wǔjìng; J: gokyō; S: pañca-visaya.|Năm đối cảnh. Theo giải thích của Du-già hành phái, đây là 5 yếu tố để cho Ngũ căn tiếp xúc. Đó là: đối tượng của mắt (sắc 色; s: rūpa); đối tượng của tai (thanh 聲; s: śabda), đối tượng của mũi (hương 香; s: gandha), đối tượng của lưỡi (vị 味 s: rasa), đối tượng của thân (xúc 觸; s: sprastavya:). Đối tượng của 5 giác quan. Sự sắp xếp nầy chủ yếu được phát triển trong Câu-xá luận (倶舎論). Theo giáo lí của Pháp tướng tông, Ngũ cảnh được xem như là những khía cạnh của Ngũ thức. Xem thêm Ngũ trần (五塵).
ngũ cảnh
The objects of the five senses, corresponding to the sense of sắc form, thanh sound, hương smell, vị taste, and xúc touch.
; Năm cảnh hay năm pháp, là cảnh giới sở duyên của ngũ căn—The five objects of the five senses, corresponding to the senses: Sắc: Form. Thanh: Sound. Hương: Smell. Vị: Taste. Xúc: Touch.
; (五境) Phạm: Paĩcàrthà. Cũng gọi Ngũ trần, Ngũ diệu dục cảnh. Chỉ cho 5 đối cảnh (tượng) khách quan mà 5 căn chấp lấy, cũng là 5 cảnh giới mà 5 thức duyên theo; tức là sắc cảnh, thanh cảnh, hương cảnh, vị cảnh và xúc cảnh. Nếu thêm pháp cảnh là đối tượng của ý căn thì là 6 cảnh. Năm cảnh này thường làm cho người ta sinh phiền não, ô nhiễm tâm tính, giống như bụi bặm nên gọi là 5 trần; lại vì tham đắm mà khởi chấp trước, lầm cho là cảnh tịnh diệu, nên cũng gọi là Ngũ diệu dục cảnh. [X. luận Câu xá Q.1; luận Phẩm loại túc Q.1; luận Đại tì bà sa Q.13; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Thuận chính lí Q.1; Câu xá luận quang kí Q.1]. (xt. Ngũ Dục, Lục Cảnh).
ngũ cấm
See Ngũ Giới.
ngũ cần chi
Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm cần chi—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five factors of endeavour: Ở đây vị Tỳ Kheo có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai: “Đây là Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác (Chánh Đẳng Chánh Giác), Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.”—Here a monk has faith, trusting in the enlightenment of the Tathagata: “Thus this Blessed Lord is an Arahant, a fully-enlightened Buddha, perfected in knowledge and conduct, a Well-Farer, Knower of the world, unequalled Trainer of men to be tamed, Teacher of gods and humans, a Buddha, a Blessed Lord.” Vị ấy thiểu bệnh, thiểu não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình hợp với sự tinh tấn: He is in good health, suffers little distress sickness, having a good digestion that is neither too cold nor too hot, but of a middling temperature suitable for exertion. Vị ấy không lường đảo, dối gạt, nêu rõ tự mình một cách chơn thật đối với bậc Đạo Sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị đồng phạm hạnh: He is not fraudulent or deceitful, showing himself as he really is to his teacher or to the wise among his companion in the holy life. Vị ấy sống siêng năng, tinh tấn, từ bỏ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì nỗ lực, không tránh né đối với các thiện pháp: He keeps his energy constantly stirred up for abandoning unwholesome states and arousing wholesome states, and is steadfast, firm in advancing and persisting in wholesome states. Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sự sanh diệt của các pháp, thành tựu Thánh quyết trạch, đưa đến sự đoạn diệt chơn chánh các khổ đau: He is a man of wisdom, endowed with wisdom concerning rising and cessation, wuth the Ariyan penetration that leads to the complete destruction of suffering.
ngũ cốc
(五穀) Cũng gọi Ngũ chủng cốc tử. Chỉ cho 5 loại hạt là đại mạch (Phạm: yava,lúa mì hạt to), tiểu mạch (Phạm: godhùma, lúa mì hạt nhỏ), đạo cốc (Phạm: zàli, lúa nếp), tiểu đậu (Phạm: masùra, đậu nhỏ) và hồ ma (Phạm: atasì, vừng hay mè). Trong Mật giáo, khi tu pháp Hộ ma (Phạm: Homa) thì dùng Ngũ cốc làm vật cúng dường; khi kiến lập Mạn đồ la thì bỏ 5 loại hạt, 5 vật báu, 5 vị thuốc, 5 mùi thơm vào trong bình, đặt ở chính giữa đàn tràng và nơi chôn vật báu ở 4 phía. Phép chôn vật báu này tượng trưng cho việc an lập vật báu 5 trí ở trong tâm Bồ đề, tức biểu thị nghĩa nảy mầm lành ngũ cốc để diệt 5 thứ lỗi lầm. Nhưng tên gọi của Ngũ cốc tùy theo các kinh và nghi quĩ mà có khác nhau. Như kinh Tô tất địa quyển hạ, nêu 5 thứ là lúa nếp, đại mạch, tiểu mạch, đậu nhỏ và vừng. Kinh Đà la ni tập quyển 12, liệt kê 5 thứ là lúa nếp, đậu nhỏ, đại mạch, tiểu mạch và lúa xanh. Còn Quán trí nghi quĩ thì nêu 5 thứ là lúa nếp, đại mạch, tiểu mạch, đậu xanh và hạt cải trắng. [X. kinh Nhuy hi da Q.trung; kinh Đà la ni tập Q.9; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.4; Kiến lập mạn đồ la cập giản trạch địa pháp; Đại nhật kinh sớ Q.4].
ngũ cổ chử
(五股杵) Cũng gọi Ngũ trí kim cương chử, Ngũ phong kim cương chử, Ngũ phong quang minh, Ngũ cổ kim cương, Ngũ cổ chử, Ngũ cổ. Cây chày kim cương có 5 chĩa (múi), là 1 trong những pháp cụ quan trọng của Mật giáo. Năm chĩa tượng trưng 5 trí, 5 Phật. Chĩa ở chính giữa tượng trưng cho 5 thực trí của Phật, 4 chĩa chung quanh châu đầu vào tượng trưng cho quyền trí của Phật. Về chất liệu, chày này phần nhiều được làm bằng đồng. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5; Kim cương đính kinh sớ Q.3]. (xt. Kim Cương Chử).
ngũ cổ ấn
(五股印) Cũng gọi Đại yết ma ấn, Ngũ phong ấn, Ngũ trí ấn, Ngũ đại ấn. Ấn tướng có hình dáng cây chày kim cương 5 chĩa(ngũ cổ) biểu thị nghĩa 5 trí, 5 Phật. Là 1 trong các ấn bí mật được sử dụng trong nghi thức truyền pháp Quán đính của Mật giáo. Có nhiều loại: 1. Ngoại Ngũ Cổ Ấn. Cũng gọi Ngoại phược ngũ cổ ấn, Trí pháp ấn, Đại suất đô bà ấn, Thập chân như ấn. Gồm 2 ấn tướng: a) Hai tay kết ngoại phược, 2 ngón giữa dựng như cái kim, 2 ngón cái và ngón út mở ra. Đây là ấn của Kim cương tát đỏa trong hội Tam muội da nói trong Liên hoa bộ tâm nghi quĩ. b) Hai tay kết ngoại phược, ngón giữa, ngón cái, ngón út của 2 tay đều dựng thẳng và sáp vào nhau, 2 ngón trỏ co lại giống như cái móc câu, đặt ở bên cạnh lưng của ngón giữa nhưng không dính nhau, làm thành hình cái chày 5 chĩa, biểu thị cho 5 trí kim cương. Phẩm Mật ấn kinh Đại nhật bảo ấn này là ấn của Kim cương đại tuệ, của Bảo ấn thủ... Phẩm Ái nhiễm vương trong kinh Du kì quyển thượng thì cho là ấn của Ái nhiễm Minh vương. Còn phẩmTựa kinh Du kì thì cho rằng ấn này là ấn chung của 37 vị tôn, cũng tức là ấn tối mật của Đại nhật Như lai. 2. Nội Ngũ Cổ Ấn. Cũng gọi Nội phược ngũ cổ ấn. Ấn tướng là 2 tay kết nội phược, ngón vô danh của 2 tay giao nhau trong lòng bàn tay, các ngón còn lại thì giống như ấn Ngoại ngũ cổ phược. Đây là ấn Chấp kim cương nói trong phẩm Mật ấn của kinh Đại nhật. 3. Bán Ngũ Cổ Ấn. Ấn tướng là 4 ngón của tay phải xòe ra, ngón giữa để ở chính giữa tạo thành hình cái chày 5 chĩa. Ấn này được sử dụng khi gia trì các vật. 4. Ngoại Phược Đô Ngũ Cổ Ấn. Ấn tướng là trước kết Ngoại ngũ cổ ấn, sau đó các đầu ngón tay chụm vào 1 chỗ để làm 5 chĩa. Phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật bảo ấn này là của bồ tát Kiên cố ý. 5. Nội Phược Đô Ngũ Cổ Ấn. Ấn tướng là Nội ngũ cổ ấn, chụm 5 đầu ngón tay vào 1 chỗ làm thành 5 cái chĩa. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13, 17].
ngũ cụ túc
The five complete ustensils for worship - two flower-vases, two candle sticks, and a censer.
; Năm thứ đồ thờ đầy đủ—The five complete utensils for worship: (2) Hai bình bông: Two flower vases. (2) Hai chân đèn: Two candlesticks. (1) Lư hương: a censer.
; (五具足) Chỉ cho 5 thứ vật dụng trưng bày để cúng dường trước bàn thờ Phật. Tức là 2 chiếc bình cắm hoa, 2 cây đèn và 1 lư hương. Nếu chỉ để 1 bình hoa, 1 cây đèn và 1 lư hương thì gọi là Tam cụ túc.
ngũ diệp
(五葉) Chỉ cho 5 đời hoặc 5 nhà của Thiền tông. Kệ truyền pháp của ngài Bồ đề đạt ma, Sơ tổ Thiền tông Trung quốc nói (Đại 51, 219 hạ): Ngô bản lai tư độ, Truyền pháp cứu mê tình; Nhất hoa khaingũ diệp, Kết quả tự nhiên thành. (Ta xưa đến đất này, Truyền pháp độ mê tình; Một hoa nở năm cánh, Kết quả tự nhiên thành). Có thuyết cho rằng ngũ diệp biểu thị 5 đời, từ Sơ tổ Đạt ma truyền đến Lục tổ Tuệ năng thì chính pháp hưng thịnh. Lại có thuyết cho rằng 5 cánh chỉ cho 5 phái: Tào động, Lâm tế, Vân môn, Qui ngưỡng và Pháp nhãn, tức là lời tiên tri của Tổ Đạt ma về sự kiện Thiền tông chia thành 5 nhà. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.3].
ngũ diệu
The five wonders, i.e. of purified or transcendental sight, sound, taste, smell, and touch in the Pure Land.
; Năm thứ tinh diệu chỉ năm cảnh của Sắc, Thanh, Hương, Vị, và Xúc trong cõi Tịnh Độ—The five wonders of purified or transcendental sight, sound, smell, taste, and touch in the Pure Land.
; (五妙) Cảnh thanh tịnh vi diệu trong 5 cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc. Đó là nói theo cảnh giới Cực lạc. Cứ theo Vãng sinh yếu tập quyển thượng, thì Tịnh độ cực lạc có 10 điều vui, trong đó, điều vui thứ 4 được gọi là Ngũ diệu cảnh giới lạc.
ngũ diệu cảnh giới lạc
Cảnh giới hỷ lạc của Sắc, Thanh, Hương, Vị và Xúc nơi cõi Tịnh Độ—The joys of purified or transcendental sight, sound, taste, smell and touch in the Pure Land.
ngũ diệu dục
(五妙欲) Gọi tắt: Ngũ diệu. Chỉ cho 5 cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc. Năm cảnh hữu lậu này bản chất của chúng là khổ đau, nhơ nhớp, nhưng cái lòng ham muốn (dục) của người thế tục lại cảm nhận là vui sướng, là tuyệt diệu, vì thế gọi là Ngũ diệu dục. Phạm: Paĩca kàmà. Pàli: Paĩca Kàmà. I. Ngũ Dục. Cũng gọi Ngũ diệu dục, Diệu ngũ dục, Ngũ diệu sắc. Chỉ cho 5 thứ tình tham muốn do say đắm 5 trần cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc mà nổi lên. Đó là: 1. Sắc dục (Phạm: Rùpa-kàma): Tham đắm sắc đẹp của thế gian. 2. Thanh dục (Phạm: Zabda-kàma): Say đắm về âm thanh như lời ca, tiếng nhạc... 3. Hương dục (Phạm: Gandha-kàma): Đắm say mùi thơm như các loại nước hoa quyến rũ. 4. Vị dục (Phạm: Rasa-kàma): Tham muốn những thức ăn uống ngon ngọt. 5. Xúc dục (Phạm: Sprawỉavya-kàma): Ham thích sự xúc chạm mịn màng, trơn láng. Trái với ngũ dục thô trọng này của cõi Dục là 5 dục của cõi Sắc và cõi Vô sắc được gọi là Thanh khiết ngũ dục (5 dục trong sạch). [X. kinh Phật di giáo; luận Đại trí độ Q.17, 37; Ma ha chỉ quán Q.4 hạ]. II. Ngũ Dục. Chỉ cho 5 món dục: Tài dục, Sắc dục, Ẩm thực dục, Danh dục và Thụy miên dục.1. Tài dục: Tham muốn tiền của. 2. Sắc dục: Tham muốn sắc đẹp thế gian. 3. Ẩm thực dục: Tham muốn sự ăn uống. 4. Danh dục: Tham muốn danh vọng cao sang. 5. Thụy miên dục: Tham muốn sự ngủ nghỉ.[X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.27; Đại minh tam tạng pháp số Q.24].
ngũ duy
Pancatanmatrani (skt)—Năm yếu tố sanh ra từ ngã mạn, vi tế và thô thiển—The five subtle and rudimentary elements out of which rise the five sensations: Thanh Duy: Sensation of sound. Xúc Duy: Sensation of touch. Sắc Duy: Sensation of form. Vị Duy: Sensation of taste. Hương Duy: Sensation of smell.
; (五唯) Phạm: Paĩca tanmàtràịi. Cũng gọi Ngũ duy lượng, Ngũ vi trần, Ngũ trần. Chỉ cho 5 thứ: Sắc, thanh, hương, vị, xúc từ Ngã mạn (ý thức tự ngã) sinh ra, tương đương với 5 trần cảnh, là 1 khoa trong 25 đế của học phái Số luận. Đây là 5 nguyên tố rất nhỏ nhiệm(cực vi), cảm giác của chúng ta không thể nhận biết được. Trong Ngũ duy thì Sắc sinh ra lửa, Thanh sinh ra không, Hương sinh ra đất, Vị sinh ra nước và Xúc sinh ra gió. Chữ duy ở đây có nghĩa là chỉ có 5 nguyên tố này là bản thể năng sinh. [X. kinh Niết bàn Q.35 (bản Nam); luận Kim thất thập Q.thượng; luận Ngoại đạo Tiểu thừa niết bàn; Câu xá luận quang kí Q.3; Đại thừa nghĩa chương Q.6; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung].
ngũ duy lượng
See Ngũ Duy.
ngũ duyên
Five excellent causes of blessedness: (A) Trì giới: Keeping the commandments. Đủ đầy thực phẩm và quần áo: Sufficient food and clothing. Sống ẩn dật: Living and practicing in a secluded abode. Chấm dứt mọi lo âu: Cessation of worry. Chọn đúng thiện hữu tri thức: Selecting or choosing good friendship. (B) Loại trừ tội lỗi: Riddance of sins. Hộ trì trường thọ: Protection through long life. Quán tưởng Phật hay Đức A Di Đà: Vision of Buddha or Amitabha. Phổ Cứu A Di Đà: Universal salvation by Amitabha. Chắc chắn vãng sanh Tây Phương Cực Lạc: Assurance of Amitabha's heaven.
; (五緣) I. Ngũ Duyên. Tông Thiên thai chia 25 phương tiện làm 5 khoa, trong đó mỗi khoa có 5 duyên, gọi là Ngũ duyên. Tức là: Giữ giới trong sạch, ăn mặc đầy đủ, ở nơi vắng vẻ, dứt các duyên phiền não, được gần thiện tri thức.II. Ngũ Duyên. Gọi đủ: Ngũ chủng tăng thượng duyên. Chỉ cho 5 tăng thượng duyên: Tăng thượng duyên diệt tội, tăng thượng duyên hộ niệm được trường thọ, tăng thượng duyên thấy Phật, tăng thượng duyên nhiếp sinh và tăng thượng duyên chứng sinh. [X. Quán niệm pháp môn]. (xt. Ngũ Chủng Tăng Thượng Duyên].
Ngũ Duệ Linh Mặc
(五洩靈黙, Goei Reimoku, 747-818): người vùng Tỳ Lăng (毘陵), họ là Tuyên (宣). Tuy rằng ông làm quan, nhưng vẫn đến tham vấn Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) và khế ngộ được huyền cơ. Sau khi xuất gia và thọ Cụ Túc giới, ông đến làm thị giả cho Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷) trong vòng mấy năm. Sau đó vào năm đầu (785) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông đến sống tại Phố Dương (浦陽), rồi chuyển đến Ngũ Duệ Sơn (五洩山). Đến ngày 23 tháng 3 năm thứ 13 niên hiệu Nguyên Hòa (元和), ông thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 41 hạ lạp.
ngũ dõng
Bāla-samyutta (P), The Five Strengths Tên một bộ kinh.
ngũ dược
See Ngũ Dược Thảo.
; (五藥) Cũng gọi Ngũ chủng dược. Năm thứ thuốc, có nhiều thuyết khác nhau. Theo luật Ngũ phần quyển 5 thì 5 thứ thuốc là: Sinh tô (Phạm:Navanìta), Thục tô (Phạm: Sappi), Du (Phạm: Tela), Mật (Phạm: Madhu) và Thạch mật (Phạm: Phàịita). Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 1 thì nêu 5 thứ: Dư cam tử, Ha lê lặc, Tì hê lặc, Tất bát lê và Hồ tiêu. Mật giáo thì cho ngũ dược là bao quát tất cả các dược liệu. Khi lập đàn tu pháp hoặc cử hành pháp địa trấn thì lấy 5 thứ thuốc, 5 thứ vật báu, 5 thứ hạt... chôn chung xuống đất, chỗ dưới đàn tràng để biểu thị ý nghĩa dùng pháp dược của Phật cứu chữa bệnh vô minh phiền não của chúng sinh. Hoặc lúc làm lễ quán đính thì để 5 thứ thuốc này và 5 vật báu vào trong 5 cái bình, biểu thị ý nghĩa tiêu trừ tội lỗi của 5 thức hữu lậu. Về tên gọi của 5 thứ thuốc thì tùy theo kinh quĩ hoặc tu pháp khác nhau mà có các thuyết bất đồng. Cứ theo kinh Tố tất địa yết ra quyển hạ thì 5 thứ thuốc là: Càn thác ha rị, Vật rị ha để, Sa ha, Sa ha đề bà và Thuế đa nghĩ lí ngật rị ca. Còn Thành tựu Diệu pháp liên hoa kinh vương Du già quán trí nghi quĩ thì liệt kê 5 thứ: Sa hạ giả la, Sa hạ nễ phạ, Kiến tra ca lê, Nghĩ rị yết ra noa và Vật rị hạ để; cũng có thể được thay thế bằng phục linh, nhân sâm, xích tiễn, thạch xương bồ và thiên môn đông... [X. kinh Nhuy hi da Q.trung; Thiện kiến luật tì bà sa Q.15; Đại nhật kinh sớ Q.4; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.5].
ngũ dược thảo
Five kinds of roots used as food in sickness. Củ cải: Turnip. Hành: Onion. Bột hoàng tinh: Arrowroot. Củ cải đỏ: Radish or carrot. Rễ cây khử độc: A root curing poison.
Ngũ dục
五欲; C: wǔyù; J: goyoku;|Có ba nghĩa sau: 1. Sự khao khát từ 5 giác quan. Năm loại ham muốn phát sinh từ sự tiếp xúc của các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý với cảnh trần. Là sự ham muốn thường tình của người đời; 2. Nói đến 5 đối tượng trong ý nghĩa chính nó là nguyên nhân của những tham dục nầy; 3. Năm loại tham dục: tài sản (tài), nữ sắc (sắc), ăn uống (thực), tiếng khen (danh), ngủ nghỉ (thùy).
ngũ dục
xem năm dục.
; Pacakāma (S), Five desires Five sensual pleasures, Fivefold cravings5 thứ ham muốn: của cải, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ (hoặc là 5 trần cảnh: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.) phát sinh từ ngũ căn.
; Pancakàmaguna (S). The five desires, arising from the objects of the five senses, things seen, heard, smelt, tasted, and touched. Also, the five desires of wealth, sex, food-and-drink, fame, and sleep. Fivefold craving.
; Five Desires—Phàm phu định nghĩa hạnh phúc là được thỏa mãn những ham muốn của mình, nhưng theo đạo Phật thì càng ham muốn nhiều thì càng khổ nhiều, vì ham muốn của con người thường là vô cùng vô tận mà sức lực của con người lại hữu hạn. Một khi ham muốn không được thỏa mãn là đau khổ. Khi chỉ thỏa mãn được một phần ham muốn, thì chúng ta vẫn tiếp tục theo đuổi chúng, và vì đó mà chúng ta gây thêm nhiều đau khổ. Chỉ khi nào chúng ta tự biết đủ hay không còn chạy theo ham muốn thì chúng ta mới thật sự có được sự yên ổn nơi thân tâm—Ordinary people define happiness as the satisfaction of all desires, but Buddhism believes that more desire brings more suffering because these desires are boundless but our ability to realize them is limited. Once desires are unfulfilled, we suffer. When desires are partially fulfilled, we continue to pursue their complete fulfillment, and we create more suffering. It is only after we feel self-sufficient with few desires, and no longer pursue fulfillment of desires, we then can have a peaceful state of mind. Nghĩa của Ngũ Dục—The meanings of Five Desires:Năm thứ dấy lên lòng dục của con người từ bên trong là sắc, thanh, hương, vị, và xúc—The five creature desires stimulated by the objects of the five earthly senses—The five desires, arising from the objects of the five senses or internal organs, such as things seen, heard, smelt, tasted, or touched. Ngũ dục là năm thứ dục dấy lên dục vọng của con người từ bên ngoài—Five desires are five kinds of desire stimulated by external materials. Nội dung của Ngũ Dục—The contents of Five kinds of Desires: Tài Dục: Ham muốn của cải, thế lực và tiền tài—Desires of wealth, power, and money. Ham muốn về tài năng: Desires for talent. Sắc Dục: Ham muốn sắc dục—Desire of sex or beauty. Danh Dục: Ham muốn danh tiếng, ảnh hưởng và tiếng khen—Desire of fame, influence and praises. Thực Dục: Ham muốn ăn uống—Desire of food and drink or eating. Thùy Dục: Ham muốn ngủ nghỉ—Desire of sleep and rest. ** Đức Phật ví chúng sanh chạy theo dục lạc của thế gian như những đứa trẻ đang liếm mật trên lưỡi dao. Không có cách gì mà họ không bị cắt đứt lưỡi—Buddha Sakyamuni compared sentient beings chasing after the fleeting pleasures of this world to a child licking honey off a sharp knife. There is no way they can avoid hurting themselves.
ngũ dục công đức
Panca-kama-guna (p)—Five strands of sense-desire—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm dục công đức—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five strands of sense-desire (cords of sensual pleasure): Sắc do nhãn nhận thức, sắc nầy khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích và hấp dẫn lòng dục: A sight seen by the eye as being desire, attractive, nice, charming, associated with lust and arousing passion. Âm thanh do tai nhận thức, âm thanh nầy khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích và hấp dẫn lòng dục—A sound heard by the ear as being desire, attractive, nice, charming, associated with lust and arousing passion. Mùi hương nầy do mũi nhận thức, mùi nầy khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích và hấp dẫn dục vọng—A smell smelt by the nose as being desire, attractive, nice, charming, associated with lust and arousing passion. Vị do lưỡi nhận thức, vị nầy khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích và hấp dẫn lòng dục—A flavour tasted by the tongue as being desire, attractive, nice, charming, associated with lust and arousing passion. Xúc chạm do thân nhận thức, xúc chạm nầy khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích và hấp dẫn dục vọng—A tangible object felt by the body as being desire, attractive, nive, charming, associated with lust and arousing passion.
Ngũ Gia
(五家): xem Ngũ Môn bên dưới.
ngũ gia
Gồm: Lâm Tế, Vĩ ngưỡng, Tào động, Vân môn, Pháp nhãn. Thiền tông do lục tổ Huệ Năng khai sáng, thạnh về phương nam, gọi là Nam tông, sau chia thành 5 phái, trong ấy Lâm tế là mạnh nhất.
; Là năm phái thiền của Thiền tông: Lâm Tế, Tào Động, Pháp Nhãn, Vân Môn, Qui Ngưỡng.
; (五家) Danh từ gọi chung các phái của Thiền tông phương Nam, Trung quốc. Chỉ cho tông Qui ngưỡng, tông Lâm tế, tông Tào động, tông Vân môn và tông Pháp nhãn. Thiền tông Trung quốc từ Sơ tổ Bồ đề đạt ma truyền đến đời thứ 5 là ngài Hoằng nhẫn, sau đó chia ra 2 phái là Bắc tông Thần tú và Nam tông Tuệ năng. Bắc tông chủ trương tiệm ngộ, lưu hành ở phương Bắc, không chia thành chi phái; Nam tông chủ trương đốn ngộ, lưu hành ở phương Nam, từ đời Trung đường trở về sau rất thịnh, đặc biệt là 2 chi Nam nhạc Hoài nhượng và Thanh nguyên Hành tư, 2 dòng phái chính của Thiền Nam tông. Từ cuối đời Đường trở đi, Thiền Nam tông phát triển thành 5 phái: Lâm tế, Qui ngưỡng, Tào động, Pháp nhãn và Vân môn, mỗi phái đều lập ra tông phong đặc sắc riêng. Tuy chia ra 5 nhà như trên, nhưng chỗ chỉ qui của Thiền Nam tông vẫn là 1, khác chăng là về tông phong mà thôi. (xt. Ngũ Gia Thất Tông).
ngũ gia biện
(五家辨) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hổ quan Sư luyện (1278-1346) thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn. Nội dung sách này nói về hệ thống truyền thừa của 5 nhà Thiền tông Trung quốc, chủ trương 5 tông hoàn toàn thuộc về pháp hệ của ngài Mã tổ Đạo nhất. (xt. Ngũ Phái Nhất Trích Đồ).
ngũ gia biện chính
(五家辨正) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đức nghiêm Dưỡng tồn người Nhật soạn, ấn hành vào khoảng năm Nguyên lộc (1688-1703), được thu vào Vạn tục tạng tập 147, là tập luận văn nói về hệ phổ Thiền tông. Trong tác phẩm Ngũ gia biện của mình, ngài Hổ quan Sư luyện (1278-1346) thuộc tông Lâm tế Nhật bản, chủ trương rằng 5 phái thiền Lâm tế, Qui ngưỡng, Tào động, Vân môn và Pháp nhãn đều thuộc pháp hệ của ngài Mã tổ Đạo nhất, vài trăm năm sau quan điểm này đã trở nên phổ biến. Nhưng ngài Dưỡng tồn rất ngờ ý kiến này, đã suy nghĩ nhiều và muốn làm sáng tỏ vấn đề. Ngài may mắn gặp được tác phẩm Pháp Môn Sừ Quĩ do ngài Bạch nham Tịnh phù, vị tăng Trung quốc, soạn vào đời Thanh được truyền đến Nhật bản. Ngài Dưỡng tồn liền lấy đó làm tư liệu mà soạn thành Ngũ gia biện chính rồi in kèm với Pháp môn sừ quĩ để bác bỏ quan điểm của ngài Sư luyện.
Ngũ Gia Chánh Tông Tán
(五家正宗贊, Gokeshōshūsan): 4 quyển, do Hy Tẩu Thiệu Đàm (希叟紹曇) nhà Tống soạn, san hành vào năm thứ 2 (1254) niên hiệu Bảo Hựu (寳祐). Đây là tác phẩm thâu lục các truyền ký của 74 vị Thiền sư và thêm vào mỗi truyện một bài tán theo thể văn 4-6. Tại Nhật Bản, có Bản Ngũ Sơn san hành vào năm thứ 5 (1349) niên hiệu Trinh Hòa (貞和), bản năm thứ 13 (1608) niên hiệu Khánh Trường (慶長), bản năm thứ 11 (1634) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), bản năm thứ 3 (1660) niên hiệu Vạn Trị (萬治) thỉnh thoảng cũng được san hành.
ngũ gia chính tông tán
(五家正宗贊) Cũng gọi Chính tông tán. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Hi tẩu Thiệu đàm soạn vào đời Tống, ấn hành vào năm Bảo hựu thứ 2 (1254), được thu vào Vạn tục tạng tập 135. Nội dung sách này thu chép lược truyện của hơn 70 vị kì túc từ Tổ sư Bồ đề đạt ma đến Đại sư Tuyết phong và Thiền tông ngũ gia. Sau mỗi truyện có phụ thêm bài tán theo thể biền ngẫu tứ lục miêu tả đạo phong của các ngài.
Ngũ gia giải
五家解; C: wǔjiā jiě; K: ogahae; J: gokekai.|Tên gọi tắt của bản Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật kinh ngũ gia giải thuyết nghị (金剛般若波羅蜜經五家解説誼; k: kǔmgang panyaparamilgyǒng o ka hae sǒrǔi).|Ngũ gia giải thuyết nghị |五家解説誼; C: wǔjiā jiě shuōyí; K: ogahae sǒrǔi; J: goke kaisetsugi.|Tên gọi tắt của bản Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật kinh ngũ gia giải thuyết nghị (金剛般若波羅蜜經五家解説誼; k: kǔmgang panyaparamilgyǒng o ka hae sǒrǔi)
ngũ gia ngữ lục
(五家語錄) Gọi tắt: Ngũ tông lục. Tác phẩm, 5 quyển, do Quách ngưng chi biên soạn vào đời Minh, được thu vào Tục tạng kinh đời Minh hòm 58. Nội dung sách này thu chép ngữ lục của các vị Tổ thuộc 5 nhà Thiền tông Trung quốc, gồm có 7 bộ: 1. Lâm tế tông Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục, quyển 1. 2. Qui ngưỡng tông Đàm châu Qui sơn Linh hựu thiền sư ngữ lục, 1 quyển. 3. Tào động tông Thụy châu Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục, 1 quyển. 4. Phủ châu Tào sơn Bản tịch thiền sư ngữ lục, 1 quyển. 5. Vân môn tông Vân môn Khuông chân thiền sư quảng lục, 3 quyển. 6. Pháp nhãn tông Kim lăng Thanh lương viện Văn ích thiền sư ngữ lục, 1 quyển. 7. Viên châu Ngưỡng sơn Tuệ tịch thiền sư ngữ lục, 1 quyển. Trong đó, ngoài 2 ngữ lục của tông Vân môn và tông Lâm tế, 5 ngữ lục còn lại là những tác phẩm được biên tập sớm nhất rất được mọi người chú ý. [X. Phật điển sớ lục mục lục Q.hạ; Phù tang tạng ngoại hiện tồn mục lục; Đệ nhị thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ)].
ngũ gia sở cộng
Năm nhà của chung hay tiền của thế gian đều có một thứ cám dỗ chung—The five classes of wealth in the world which have their common prey, the wealth struggled for by others: Vua: Rulers. Giặc: Thieves. Lửa: Fire Nước: Water. Con ác: Prodigal sons
; (五家所共) Tiền tài vật chất ở thế gian là của chung của 5 nhà: Vua quan (tham ô), giặc cướp, hỏa hoạn, bão lụt và con ngỗ nghịch, mình không thể dùng riêng, vì thế không nên cố tìm cầu. Luận Đại trí độ quyển 11 (Đại 25, 142 trung) nói: Giàu sang tuy vui nhưng tất cả đều vô thường, của chung 5 nhà, khiến lòng người tán loạn, bồn chồn không yên định.
ngũ gia tham tường yếu lộ môn
(五家參詳要路門) Tác phẩm, 5 quyển, do sư Đông lãnh Viên từ, người Nhật soạn, ấn hành vào năm Thiên minh thứ 8 (1788), được thu vào Đại chính tạng tập 81. Trong sách này, tác giả thu chép những chỗ đặc sắc trong gia phong của 5 nhà Thiền tông Trung quốc. Nội dung bao gồm: Lâm tế tông chiến cơ phong luận thân sơ, Vân môn tông trạch ngôn cú luận thân sơ, Tào động tông cứu tâm địa luận thân sơ, Qui ngưỡng tông minh tác dụng luận thân sơ và Pháp nhãn tông tiên lợi tế luận thân sơ. Ngoài ra, còn chép thêm Lạp bát thị chúng, Khán kinh bảng... Tác giả trình bày rất tỉ mỉ, rõ ràng về hành trạng và ngữ lục của các Tổ sư.
Ngũ Gia Thất Tông
(五家七宗, Gokeshichishū): Thiền Tông của Trung Quốc từ vị Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma (菩提達磨), kinh qua Nhị Tổ Huệ Khả (慧可), Tam Tổ Tăng Xán (僧燦), Tứ Tổ Đạo Tín (道信), và Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (弘忍); sau đó thì phân ra thành Bắc Tông Thiền của Thần Tú (神秀) và Nam Tông Thiền của Huệ Năng (慧能). Nam Tông Thiền thì hưng thạnh từ cuối thời Trung Đường. Đặc biệt hệ thống của hai vị đệ tử của Huệ Năng là Nam Nhạc Hoài Nhượng (南岳懷讓) và Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思) thì trở thành chủ lưu Thiền Tông từ cuối thời nhà Đường trở đi; về sau hệ thống này lại phân phái ra thành Ngũ Gia Thất Tông vốn cao xướng Tông phong đặc dị của họ. Cuối thời nhà Đường, Tông Quy Ngưỡng (潙仰宗) phát xuất từ dòng Thiền của Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), môn hạ của Nam Nhạc, càng lúc càng phát triển mạnh mẽ; rồi tiếp theo thì Tông Lâm Tế vốn chủ trương Thiền phong đại cơ đại dụng cũng bắt đầu hình thành, và sau đó thì Hoàng Long Phái (黃龍派) và Dương Kì Phái (楊岐派) do người sáng lập ra là môn hạ của Thạch Sương Sở Viên (石霜楚圓) cũng ra đời. Đối với việc thành lập Ngữ Lục Thiền vào thời Bắc Tống vốn đại biểu là hai bộ Mã Tổ Tứ Gia Lục (馬祖四家錄) và Hoàng Long Tứ Gia Lục (黃龍四家錄), những người của Phái Hoàng Long đã đóng góp rất nhiều; tuy nhiên phái này thì lại sớm bị suy vong. Mặt khác, Phái Dương Kì thì được rất nhiều vị thuộc tầng lớp sĩ phu thời Bắc Tông quy y theo, nên từ cuối thời nhà Minh cho đến đầu thời nhà Thanh thì hưng long rực rỡ. Còn Tào Động Tông thì chủ trương Thiền phong chuyên ngồi Thiền và tu Ngũ Vị (五位), nên không phát triển mạnh như Lâm Tế Tông được. Pháp Nhãn Tông thì vào đầu thời nhà Tống nhân có nhà họ Tiền (錢) ở Giang Nam quy y theo, đã thể hiện hưng thạnh rất rõ ràng đến nỗi đã thành lập nên được Tổ Đường Tập (祖堂集) và Truyền Đăng Lục (傳燈錄) với tính cách là tập đoàn chuyên tu theo lối công án niệm tụng. Bộ Tông Môn Thập Quy Luận (宗門十規論) của Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益), tác phẩm nói lên hết tất cả đặc sắc của bốn Tông kia, lần đầu tiên xuất hiện. Vân Môn Tông (雲門宗) thì chiếm cứ vùng Quảng Đông, rồi sau đó thì kế thừa bước chân của Pháp Nhãn Tông và phát triển mạnh ở vùng đất Giang Nam, song đến cuối thời Nam Tống thì tiêu mất bóng dáng. Sự khác nhau của Ngũ Gia là sự khác nhau về Tông phong, còn Tông chỉ thì chẳng có gì khác nhau cả. Chính Đạo Nguyên (道元, Dogen) cũng cho rằng: “Cho dầu là Ngũ Gia đi nữa thì cũng chỉ Một Phật Tâm Ấn mà thôi.”
Ngũ gia thất tông
五家七宗; J: goke-shishishū;|Năm nhà và bảy tông của Thiền tông Trung Quốc. Ngũ gia gồm có:|1. Quy Ngưỡng tông, do hai Thiền sư khai lập là Quy Sơn Linh Hựu (771-853) và môn đệ Ngưỡng Sơn Huệ Tịch Thiền sư (807-883 hoặc 813/814-890/891);|2. Lâm Tế tông, do Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền (?-866) khai sáng;|3. Tào Ðộng tông, do hai Thiền sư khai sáng, đó là Ðộng Sơn Lương Giới (807-869) và Tào Sơn Bản Tịch (840-901);|4. Vân Môn tông, được Thiền sư Vân Môn Văn Yển (864-949), môn đệ của Tuyết Phong Nghĩa Tồn Thiền sư thành lập;|5. Pháp Nhãn tông, do Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích (885-958) thành lập (trước đó tông này cũng được gọi là Huyền Sa tông, gọi theo tên của Thiền sư Huyền Sa Sư Bị, thầy của Thiền sư La-hán Quế Sâm, sư phụ của Ðại Pháp Nhãn);|Nếu kể cả hai nhánh của Lâm Tế tông được thành lập sau Thiền sư Thạch Sương Sở Viên (Từ Minh) thì có tất cả là bảy tông:|6. Dương Kì phái, được Thiền sư Dương Kì Phương Hội (992-1049) thành lập;|7. Hoàng Long phái, được Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam (1002-1069) sáng lập.
ngũ gia thất tông
Goke-Shichi-shŪ (J)Tên một tông phái.
; Năm nhà bảy phái, chỉ sự phân chia tông phái trong Thiền tông Trung Hoa. Thiền Tông Trung Hoa chia làm hai phái Bắc Thần Tú, Nam Huệ Năng. Bắc Thần Tú vẫn duy trì một tông không bị phân chia, Nam Huệ Năng chia ra làm bảy phái (Qui Ngưỡng, Lâm tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn, Hoàng Long và Dương Kỳ)—Divisions of the Chinese Zen or Meditative School. It divided into Northern and Southern schools under Shen-Hsiu and Hui-Neng respectively. The northern school continued as a unit, the southern divided into seven sects.
; (五家七宗) Cũng gọi Ngũ phái thất lưu. Năm nhà 7 tông, từ gọi chung các phái Thiền Nam tông của Trung quốc. Tức là 5 tông: Lâm tế, Qui ngưỡng, Tào động, Vân môn và Pháp nhãn, cộng thêm 2 phái Hoàng long và Dương kì phát xuất từ tông Lâm tế mà gọi chung là 7 tông. Thiền tông Trung quốc từ Sơ tổ Bồ đề đạt ma truyền đến đời thứ 5 là ngài Hoằng nhẫn, sau đó chia làm 2 phái Bắc tông Thần tú và Nam tông Tuệ năng. Tổ Tuệ năng có 2 vị đệ tử lớn là Nam nhạc Hoài nhượng và Thanh nguyên Hành tư. Hai vị này lập thành 2 phái và truyền thừa như sau: 1. Sau ngài Nam nhạc Hoài nhượng truyền đến các vị: Mã tổ Đạo nhất, Bách trượng Hoài hải, Hoàng bá Hi vận, Lâm tế Nghĩa huyền. Ngài Nghĩa huyền phát triển Thiền pháp rất mạnh, lập thành tông Lâm tế. Từ ngài Nghĩa huyền lại truyền đến các vị: Hưng hóa Tồn tưởng, Nam viện Tuệ ngung, Phong huyệt Diên chiểu, Thủ sơn Tỉnh niệm, Phần dương Thiện chiêu và Thạch sương Sở viên. Sau ngài Sở viên lại truyền đến các vị: Hoàng long Tuệ nam và Dương kì Phương hội, 2 vị này lại sáng lập 2 phái là Hoàng long phái và Dương kì phái. Còn ngài Bách trượng Hoài hải thì truyền cho ngài Qui sơn Linh hựu, ngài Linh hựu lại truyền cho Ngưỡng sơn Tuệ tịch, lập ra Qui ngưỡng tông. Như vậy, pháp hệ của ngài Nam nhạc Hoài nhượng có 2 tông Lâm tế và Qui ngưỡng, 2 phái Hoàng long và Dương kì. 2. Pháp hệ của ngài Thanh nguyên Hành tư có 3 tông là Tào động, Vân môn và Pháp nhãn, nhưng sự truyền thừa của 3 tông này có nhiều thuyết khác nhau, nguyên nhân là vì có những quan điểm bất đồng về trường hợp pháp thống của Thiền sư Đạo ngộ. Nay trình bày sơ lược như sau: a) Theo Tống cao tăng truyện quyển 10, Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14, Thiền lâm tăng bảo truyện quyển 4 và Truyền pháp chính tông kí quyển 7, thì Đạo ngộ là chỉ cho Thiên hoàng Đạo ngộ, đệ tử của Thiền sư Thạch đầu Hi thiên. Tức là ngài Thanh nguyên Hành tư truyền cho ngài Thạch đầu Hi thiên, ngài Thạch đầu Hi thiên lại truyền đến các vị Thiên hoàng Đạo ngộ và Dược sơn Duy nghiễm. Rồi ngài Thiên hoàng truyền đến các vị: Long đàm Sùng tín, Đức sơn Tuyên giám, Tuyết phong Nghĩa tồn và Vân môn Văn yển, người sáng lập tông Vân môn. Còn ngài Tuyết phong Nghĩa tồn thì truyền đến các vị: Huyền sa Sư bị, La hán Quế sâm và Pháp nhãn Văn ích người sáng lập tông Pháp nhãn. Về phía ngài Dược sơn Duy nghiễm, đồng môn với ngài Thiên hoàng Đạo ngộ, thì truyền đến các vị: Vân nham Đàm thạch, Động sơn Lương giới và Tào sơn Bản tịch người sáng lập tông Tào động. b) Cứ theo Tổ đình sự uyển quyển 1, Phật tổ lịch đại thông tải quyển 20, Thiền tông chính mạch quyển 7, Ngũ tông nguyên... thì có 2 vị Đạo ngộ. Thứ nhất: Thiên hoàng Đạo ngộ, đệ tử nối pháp của Thiền sư Thạch đầu Hi thiên, nhưng pháp thống của ngài Thiên hoàng Đạo ngộ chỉ truyền đến các vị Tuệ chân, U nhàn và Văn bôn là dứt. Thứ hai: Thiên vương Đạo ngộ, đệ tử của Thiền sư Mã tổ Đạo nhất, pháp thống của ngài Đạo ngộ này lần lượt truyền đến các vị Long đàm Sùng tín, Đức sơn Tuyên giám, Tuyết phong Nghĩa tồn, từ đó phát sinh 2 tông Vân môn và tông Pháp nhãn. Thuyết này căn cứ vào bài minh khắc trên bia của Thiền sư Đạo ngộ ở chùa Thiên vương tại phía tây thành Giang lăng, do ông Khâu huyền tố soạn c) Cứ theo Nhất nguyên ngũ phái biện, Ngũ phái nhất trích đồ và Phật tổ tông phái đồ... thì cũng đều chủ trương có 2 vị Đạo ngộ. Trong đó, Thiên vương Đạo ngộ là đệ tử của Thiền sư Mã tổ Đạo nhất thì cũng đồng với thuyết ở trên đã nói. Nhưng có thuyết khác cho rằng ngài Dược sơn Duy nghiễm, đồng môn với ngài Đạo ngộ, cũng là đệ tử của Mã tổ, rồi đem tông Tào động qui về pháp hệ của ngài Mã tổ, vì thế, trong Ngũ gia biện, ngài Hổ quan Sư luyện, vị tăng Nhật bản, mới chủ trương tất cả 5 nhà Thiền Nam tông của Trung quốc thuộc Pháp hệ của ngài Mã tổ Đạo nhất, khiến cho pháp thống của ngài Thanh nguyên Hành tư tiêu ma hết. Tuy nhiên, 1 vị tăng người Nhật khác là ngài Đức nghiêm Dưỡng tồn soạn Ngũ gia biện chính để bác bỏ thuyết của ngài Hổ quan Sư luyện. d) Cứ theo bài Bạt trong Nhân thiên nhãn mục của ngài Trí hựu, thì bài minh khắc trên bia của ngài Thiên vương Đạo ngộ là do người đời sau mượn tên của ngài Khâu huyền tố mà ngụy soạn, bởi vì những nhân duyên ngữ cú của Thiên vương Đạo ngộ được ghi trong văn bia này hoàn toàn tương đồng với những nhân duyên ngữ cú của Thiền sư Đàm chiếu (pháp hệ ngài Mã tổ)ở chùa Bạch mã được ghi trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 10 và trong Kinh châu cựu đồ chí. Cho nên ngài Trí hựu chủ trương chỉ có 1 Thiên hoàng Đạo ngộ là đệ tử nối pháp của Thiền sư Thạch đầu Hi thiên mà thôi. [X. Thích thị nguyên lưu ngũ tông thế phổ định tổ đồ tự; Phật tổ thống kỉ Q.29; Giáo ngoại biệt truyền Q.7; Lâm gian lục Q.thượng; Liên đăng hội yếu Q.19; Ngũ đăng hội nguyên Q.7; Ngũ gia ngữ lục tự; Ngũ gia tông phái đồ]. (xt. Ngũ Gia, Thiền Tông).
ngũ gia tông chỉ toản yếu
(五家宗旨纂要) Cũng gọi Tam sơn Lai thiền sư ngũ gia tông chỉ toản yếu. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Tam sơn Đăng lai soạn, ngài Tính thống biên tập, ấn hành vào năm Khang hi 42 (1703) đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 114.Nội dung sách này trình bày về tông phong đặc thù và pháp môn trọng yếu của 5 nhà Thiền tông, nhưng trọng tâm là tông Lâm tế và tông Tào động. Bàn về tông phong của các nhà thì như: Toàn cơ đại dụng của tông Lâm tế, Chính thiên giúp nhau của tông Tào động, thầy trò xướng họa của tông Qui ngưỡng, những lời nói cao xa của tông Vân môn và thấy sắc rõ tâmcủatông Pháp nhãn. Còn về pháp môn của các nhà thì có: Tứ liệu giản, Tam huyền tam yếu của tông Lâm tế; Chính thiên ngũ vị, Tứ tân chủ của tông Tào động... đều có giải thích sơ lược và phụ thêm bài tụng. Ngoài ra cũng chép thêm thuyết Tam thân tứ trí và Bát thức niêm bình. Đây là bộ sách nhập môn của Thiền tông.
ngũ gia tông phái
(五家宗派) Tác phẩm, do ngài Đạt quan Đàm dĩnh (989-1060) soạn vào đời Tống. Sách này hiện nay đã thất truyền nên không rõ nội dung thế nào. Nhưng qua sự trích dẫn rải rác trong các sách khác thì được biết rằng ngài Đàm dĩnh thuộc tông Lâm tế đời Tống, soạn sách này vào năm Gia hựu (1056-1063) đời vua Nhân tông, trong đó thu chép truyện kí, ngữ lục của các Thiền sư của 5 nhà Thiền tông (Qui ngưỡng, Lâm tế, Tào động, Vân môn, Pháp nhãn) ở thời kì Đường Tống.
Ngũ Gia và tông phong
Goke : khái niệm gọi là Ngũ Gia do Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益) khởi xướng qua tác phẩm của ông là Tông Môn Thập Quy Luận (宗門十規論, Shūmonjukkiron) vốn đã được một số trước tác khác kế thừa như Ngũ Gia Tông Phái (五家宗派, Gokeshūha) của Đạt Quán Đàm Dĩnh (達觀曇頴), Nhân Thiên Nhãn Mục (人天眼目, Nindenganmoku, năm 1188) của Hối Nham Trí Chiêu (晦巖智昭, hậu bán thế kỷ 12), Ngũ Gia Chánh Tông Tán (五家正宗賛, Gokeshōshūsan, năm 1254) của Hy Tẩu Thiệu Đàm (希叟紹曇), cho nên vào thời nhà Tống thì khái niệm này đã trở thành cố định. Sự hiện hữu của bộ Ngũ Gia Ngữ Lục (五家語錄, Gokegoroku, năm 1630) do Ngữ Phong Viên Tín (五風圓信, 1571-1647) và Quách Ngưng Chi (郭凝之, ?-?) biên tập, có thể nói là sự quy kết của khái niệm này. Sự cố định của Ngũ Gia đã dẫn đến sự cố định hóa tông phong của mỗi tông phái. Trong các tác phẩm như Nhân Thiên Nhãn Mục, v.v., ta có thể tìm thấy những quy định rất chi tiết về tông phong; nhưng người mà thể hiện quan niệm thông thường đơn giản và dễ hiểu về Ngũ Gia có thể được xem như khởi đầu từ Cao Phong Nguyên Diệu (高峰原妙, 1238-1295) nhà Nguyên. Đó là những giải thích như Lâm Tế Tông thì đau nhức khoái lạc, Quy Ngưỡng Tông thì cẩn trọng nghiêm khắc, Vân Môn Tông thì cao siêu cổ xưa, Tào Động Tông thì chi tiết chặt chẽ, Pháp Nhãn Tông thì rõ ràng sáng sủa. Hơn nữa, về tính cách của Ngũ Gia thì ở tại Nhật Bản cũng có đề cập đến qua tác phẩm Ngũ Gia Tham Tường Yếu Lộ Môn (五家參詳要路門, Gokesanshōyōromon, năm 1788) của Đông Lãnh Viên Từ (東嶺圓慈, 1721-1791). Ngoài ra, từ lập trường nhìn tuyệt đối Phật đạo toàn nhất, Đạo Nguyên (道元, Dōgen, 1200-1253) của Nhật Bản đã phê phán kịch liệt bộ Nhân Thiên Nhãn Mục khi giải thích riêng về Ngũ Gia.
ngũ gian sắc
(五間色) Năm màu trung gian, đối lại với 5 màu chính(xanh, vàng, đỏ, trắng, đen). Tức là 5 màu: Màu lụa đào, màu hồng, màu tím, màu xanh lá cây, màu diêm sinh. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 1, tiết 1]. (xt. Ngũ Sắc).
ngũ giác
Lầu năm góc: Pentagon.
; (五覺) Chỉ cho Bản giác, Thủy giác, Tương tự giác, Tùy phần giác và Cứu cánh giác. 1. Bản giác: Tính giác thường trụ sẵn có. Nghĩa là bản thể của tâm xa lìa các niệm, thanh tịnh sáng suốt, đó là Pháp thân bình đẳng của Như lai. 2. Thủy giác: Nương vào công đức tu hành mà hiển bày thể của bản giác. Nghĩa là thể tính của bản giác vốn chân thực nhưng từ chân khởi vọng mà thành bất giác, nếu bỏ vọng về chân thì thể bản giác hiển hiện, nên gọi là Thủy giác. 3. Tương tự giác: Bồ tát ở giai vị Thập tín chứng được Thủy giác tương tự. Nghĩa là Bồ tát đã xả bỏ phân biệt chấp tướng thô trọng, sắp phá vỡ hoặc vô minh, thể bản giác sắp hiển lộ, tuy chưa thật sự chứng được nhưng đã gần giống với chân nên gọi là Tương tự giác. 4. Tùy phần giác: Bồ tát ở các giai vị Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, đã tùy phần chứng được Thủy giác chân chính. Nghĩa là Bồ tát phá được 1 phẩm hoặc vô minh thì ngay đó chứng được 1 phần lí pháp tính, nhưng giác đạo chưa tròn đủ nên gọi là Tùy phần giác. 5. Cứu cánh giác: Bồ tát ở giai vị Diệu giác chứng được Thủy giác rốt ráo tột bậc, hợp làm 1 với Bản giác. Nghĩa là Bồ tát Thập địa đã hoàn thành nhân vị, chứng Phật quả Diệu giác, đầy đủ các phương tiện, thấy suốt tâm tính, xa lìa các niệm vi tế, tâm tính thanh tịnh thường trụ, cho nên gọi Cứu cánh giác. [X. luận Đại thừa khởi tín (ngài Chân đế dịch); Đại minh tam tạng pháp số Q.20].
ngũ gián sắc
See Ngũ Sắc.
Ngũ giáo
五教; C: wǔ jiāo; J: gokyō;|Năm loại giáo pháp. Theo nội dung, phương thức và thời gian truyền bá, giáo lí trong các kinh điển Phật giáo được chia thành 5 loại. Sự phân loại nầy thường theo nội dung (giáo hoá căn cơ) sâu cạn của kinh. Cách phân loại của tông Hoa Nghiêm và Thiên Thai là phổ biến hơn cả. Nhưng vào trước thời kì phán giáo (thời kì Trung Hoa phân chia Nam-Bắc triều), đã có một số phân loại. Đó là:|A. Năm giáo pháp theo đề xuất của sư Tự Quỹ (自軌): 1. Giáo lí Duyên khởi (như Nhất thiết hữu bộ…); 2. Giáo lí Giả danh (như Thành thật luận…); 3. Giáo lí tính không (kinh Bát-nhã), 4. Giáo lí Diệu hữu (kinh Niết-bàn); 5. Giáo lí Chân tế (Thật tại Tối thượng, kinh Hoa Nghiêm).|B. Năm giáo pháp theo sư Huệ Quán (慧觀) và Pháp Vân (法雲): 1. Giáo lí về Hữu (kinh A-hàm); 2. Giáo lí về Tính không (kinh hệ Bát-nhã); 3. Giáo lí về khen ngợi pháp Bồ Tát, phê phán pháp Thanh văn (ức dương giáo, Bao biếm ức dương giáo, kinh Duy-ma-cật); 4. Đồng quy giáo (kinh Pháp Hoa); 5. Thường Trụ giáo (kinh Niết-bàn).|C. Theo giáo lí của tông Hoa Nghiêm do sư Pháp Tạng (法藏) chủ trương, 5 giáo pháp gồm: 1. Tiểu thừa giáo (小乘教); 2. Đại thừa thuỷ giáo (大乘始教), là giáo lí cơ sở của Đại thừa, đó là giáo lí của tông Pháp tướng và tông Tam luận; 3. Đại thừa chung giáo (大乘終教): là giáo lí thời kì cuối của Đại thừa, khẳng định mọi chúng sinh đều có Phật tính; 4. Đại thừa đốn giáo (大乘頓教); 5. Đại thừa viên giáo (大乘圓教), là giáo lí hoàn chỉnh nhất của Đại thừa, còn gọi là giáo lí Hoa Nghiêm.
ngũ giáo
The five divisions of Buddhism according to the Hoa Nghiêm school. Theo Đỗ Thuận tới Hiền Thủ: (1) tiểu thừa hìnayàna; (2) đại thừa thủy giáo the primary stage of Mahàyàna; (3) đại thừa chung giáo Mahàyàna in its final stage; (4) đại thừa đốn giáo the immediate, direct, or intuitive school; (5) đại thừa viên giáo the complete, or perfect teaching of Hoa nghiêm, combining all the rest into one-embracing vehicle.
; Năm giáo phái của tông Hoa Nghiêm. Có hai nhóm—The five divisions of Buddhism according to the Hua-yen School. There are two groups: Từ sư Đỗ Thuận xuống đến sư Hiền Thủ—From Tu-Shun down to Hsien-Shou:Tiểu Thừa Giáo: Theravada (skt)—Phái Tiểu Thừa Theravada giải thích về “ngã không,” chư pháp là có thật, và niết bàn là đoạn diệt (dành cho hạng chúng sanh có căn cơ thấp kém nhỏ nhoi). Giáo lý nầy thuộc kinh điển A Hàm. Mặc dù chúng phủ nhận sự hiện hữu của một bản ngã cá biệt, lại chủ trương thực hữu và thừa nhận sự hiện hữu của tất cả pháp sai biệt hay pháp hữu. Theo kinh điển nầy thì Niết Bàn là cứu cánh diệt tận, nhưng lại không thấu triệt về tính cách bất thực (pháp không) của chư pháp. Về duyên khởi, luận, giáo lý nầy thuộc về nghiệp cảm duyên khởi—The Doctrine of the Small Vehicle or Hinayana. The Hinayana corresponds to the Agama sutras which interpret that the self is without substance, the separate elements or dharmas are real, and nirvana is their total annihilation. This doctrine refers to the teaching of the four Agamas. Although they deny the existence of the personal self (pudgala-sunyata), they are realistic and admit the existence of all separate elements (dharma). They hold that Nirvana is total extinction, and yet they do not understand much of the unreality of all elements (dharma-sunyata). As to the causation theory, they attribute it to action-influence. Đại Thừa Thủy Giáo: Khởi thủy Đại Thừa, được chia làm hai chi (giáo lý dạy cho những người vừa bước lên Đại Thừa). Cả hai đều không thừa nhận sự hiện hữu của Phật tánh trong mọi loài, nên cả hai được xem như là nhập môn sơ thủy—The Elementary Doctrine of the Great Vehicle (Mahayana). The primary or elementary stage of Mahayana is divided into two sections. Since neither admits the existence of the Buddha-nature (Buddha-svabhava) in all beings, both are considered to be elementary: Tướng Thủy Giáo: Giáo lý nhập môn y cứ trên sai biệt tướng của chư pháp, như Pháp Tướng Tông. Tướng Thủy Giáo phân tách về tánh đặc thù của chư pháp, được tìm thấy trong các kinh Du Già—The elementary doctrine based on the specific character of all elements (dharma-laksana), e.g., the Idealistic School or Dharmalaksana. Realistic Mahayana which analyzes the specific and distinct character of the dharmas, found in the Yogachara Sutras. Pháp Tướng tông nêu lên thuyết A-Lại-Da duyên khởi trên nền tảng pháp tướng và không biết đến nhất thể của sự và lý. Vì tông nầy chủ trương sự sai biệt căn để của năm hạng người, nên không thừa nhận rằng mọi người đều có thể đạt đến Phật quả—The Dharmalaksana School sets forth the theory of causation by ideation-store (Alaya-vijnana) on the basis of phenomenal charateristics (laksana) and does not recognize the unity of fact and principle. Also, since it maintains the basic distinction of five species of men, it does not admit that all men can attain Buddhahood. Không Thủy Giáo: Giáo lý nhập môn y cứ trên sự phủ định về tất cả các pháp hay pháp không, như Tam Luận Tông. Không Thủy Giáo dạy về lẽ không của chư pháp, được tìm thấy trong các kinh Bát Nhã—The elementary doctrine based on negation of all elements or dharma-sunyata, e.g., San-Lun School. This is the Idealistic Mahayana that holds all dharmas are non-substantial, found in Prajna or Wisdom Sutras. Tam Luận tông chủ trương thiên chấp về “Không” trên căn cứ của “tự tánh” (Svabhava-alaksana) hay tánh vô tướng không có bản chất tồn tại, nhưng lại thừa nhận nhất thể của hữu, nên tông nầy xác nhận rằng mọi người trong tam thừa và năm chủng tánh đều có thể đạt đến Phật quả—The San-Lun holds the one-sided view of “Void” on the basis of “own nature” or no abiding nature, but admitting the unity of being and non-being, it affirms that men of the three vehicles and the five species are all able to attain Buddhahood. Đại Thừa Chung Giáo: Đại Thừa trong giai đoạn cuối dạy về Chân Như (dharmatathata) và Phật tánh phổ quát, dạy về lẽ chân như bình đẳng, và khả năng thành Phật của chúng sanh, tìm thấy trong Kinh Lăng Già, Đại Bát Niết Bàn hay Đại Thừa Khởi Tín Luận, vân vân. Giáo lý nầy thừa nhận rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và đều có thể đạt đến Phật quả. Thiên Thai tông theo giáo lý nầy. Chân lý cứu cánh Đại Thừa được trình bày bằng giáo lý nầy. Do đó, nó được gọi là giáo lý thuần thục hay Thục Giáo. Trong thủy giáo, sự và lý luôn tách rời nhau, trong khi ở chung giáo, sự lúc nào cũng là một với lý, hay đúng hơn cả hai là một. Như Lai Tạng Duyên Khởi là đặc điểm của giáo lý nầy. Nó cũng còn được gọi là Chân Như Duyên Khởi—The Final Mahayana teaching, or the Mahayana in its final stage which teaches the Bhutatathata and universal Buddhahood, or the essentially true nature of all things and the ability of all beings to attain Buddhahood. This is the final metaphysical concepts of Mahayana, as presented in the Lankavatara Sutra, the Mahaparinirvana text, and the Awakening of Faith, etc. This doctrine asserts that all living beings have Buddha-nature and can attain Buddhahood. The T'ien-T'ai School adheres to this doctrine. By this teaching the Ultimate Truth of Mahayana is expounded. Therefore, it is called the Doctrine of Maturity. As it agrees with reality, it also called the True Doctrine. In the elementary doctrine, fact and principle were always separate, while in this final doctrine, fact is always identified with principle, or in short, the two are one. The causation theory by Matrix of the Thuscome is special to this doctrine. It is also called the theory of causation by Thusness or Tathata. Đại Thừa Đốn Giáo: The Abrupt Doctrine of the Great Vehicle. Giáo lý nầy chỉ cho ta sự tu tập không cần ngôn ngữ hay luật nghi, mà gọi thẳng vào trực kiến của mỗi người—This means the training without word or order, directly appealing to one's own insight. Giáo lý nầy nhấn mạnh đến “trực kiến,” nhờ đó mà hành giả có thể đạt đến giác ngộ viên mãn tức khắc. Tất cả văn tự và ngôn ngữ đều đình chỉ ngay. Lý tánh sẽ tự biểu lộ trong thuần túy của nó, và hành động sẽ luôn luôn tùy thuận với trí huệ và tri kiến—This teaching emphasized on one's own insight by which one can attain enlightenment all at once. All words and speech will stop at once. Reason will present itself in its purity and action will always comply with wisdom and knowledge. Đốn giáo bằng chánh định nơi tư tưởng hay niềm tin chứ không bằng tu trì thiện nghiệp. Giáo lý nầy dạy cho người ta chứng ngộ tức thì dựa trên những giảng giải bằng lời hay qua tiến trình thực hành tu tập cấp tốc, tìm thấy trong Kinh Duy Ma Cật—The Mahayana immediate, abrupt, direct, sudden, or intuitive school, by right concentration of thought, or faith , apart from good works (deeds). This teaching expounds the abrupt realization of the ultimate truth without relying upon verbal explanations or progression through various stages of practice, found in Vimalakirti Sutra. Giáo lý nầy chủ trương nếu tư tưởng không còn mống khởi trong tâm của hành giả thì người ấy là một vị Phật. Sự thành đạt nầy có thể gặt hái được qua sự im lặng, như được Ngài Duy Ma Cật chứng tỏ, hay qua thiền định như trường hợp của Tổ Bồ Đề Đạt Ma, sơ tổ Thiền Tông Trung Hoa—This doctrine holds that if thought ceases to arise in one's mind, the man is a Buddha. Such an attainment may be gained through silence as shown by Vimalakirti, a saintly layman in Vaisali, or through meditation as in the case of Bodhidharma, the founder of Chinese Ch'an School. Viên Giáo: Viên giáo dạy về Nhất Thừa hay Phật Thừa. Viên giáo Hoa Nghiêm, phối hợp tất cả làm thành một tông, được tìm thấy trong các Kinh Hoa Nghiêm và Pháp Hoa. Có hai trình độ của Đại Thừa Viên Giáo—The Round Doctrine of the Great Vehicle or the Perfect teaching expounds the One Vehicle, or the Buddha Vehicle. The complete or perfect teaching of the Hua-Yen, combining the rest into one all-embracing vehicle, found in the Avatamsaka and Lotus Sutras. There are two grades of the round or perfect doctrine.
; (五教) Năm loại giáo pháp phân biệt Thánh giáo đức Phật nói trong 1 đời. I. Ngũ Giáo. Năm giáo do ngài Pháp tạng Hiền thủ lập vào đời Đường: 1. Tiểu thừa giáo (Ngu pháp Thanh văn giáo).2. Đại thừa thủy giáo (Quyền giáo). 3. Đại thừa chung giáo (Thực giáo). 4. Đốn giáo. 5. Viên giáo. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ Q.3]. (xt. Ngũ Giáo Thập Tông). II. Ngũ Giáo. Năm giáo do ngài Khuê phong Tông mật lập vào đời Đường: 1. Nhân thiên giáo: Giáo pháp nói về lí nhân quả báo ứng lành dữ trong 3 đời, tu 4 thiền 8 định. 2. Tiểu thừa giáo: Giáo pháp nói về lí ngã không, tu quán trí vô ngã để đoạn trừ ác nghiệp tham... chứng được ngã không chân như. 3. Đại thừa pháp tướng giáo: Giáo pháp tương đương với Tướng thủy giáo. Tức là giáo pháp nói về tướng duy thức biến hiện, tu quán Duy thức, 6 độ, 4 nhiếp, chiết phục phiền não chướng và sở tri chướng, chứng chân như ngã không và pháp không. 4. Đại thừa phá tướng giáo: Giáo pháp tương đương với Không thủy giáo. Tức là giáo pháp nói về lí tất cả đều không, quán không nghiệp nhân, không quả báo, không tu, không chứng để phá cái chấp các pháp có tướng cố định. 5. Nhất thừa hiển tính giáo: Nhờ vào phương tiện ẩn mật chỉ thẳng tự tâm tức là chân tính bản giác, lìa các vọng tưởng chấp trước mà ngay trong tự thân thấy được trí tuệ rộng lớn của Như lai. [X. luận Hoa nghiêm nguyên nhân; Hoa nghiêm nguyên nhân luận phát vi lục Q.trung; Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự Q.thượng, phần 2; Viên giác kinh đại sớ Q.thượng, phần 1]. III. Ngũ Giáo. Năm giáo do Tam tạng Ba phả mật đa la lập vào đời Đường. 1. Tứ đế giáo: Giáo nói về pháp Tứ đế, ngộ lí Niết bàn chân không, như các kinh A hàm. 2. Vô tướng giáo: Giáo nói các pháp đều không, để ngộ lí pháp không của Đại thừa, như kinh Bát nhã. 3. Quán hành giáo: Giáo nói về các pháp quán tâm hành, để hiển rõ lí tu nhân khế hợp với quả, như kinh Hoa nghiêm. 4. An lạc giáo: Giáo pháp nói về 4 đức thường, lạc, ngã, tịnh và lí thường trụ vắng lặng, khiến chúng sinh được yên vui, như kinh Niết bàn. 5. Thủ hộ giáo: Giáo nói về việc thủ hộ chính pháp, khiến chúng sinh giữ gìn không để mất, như kinh Đại tập. [X. Hoa nghiêm sớ Q.2; Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.5; Đại tạng pháp số Q.27; Giáo thừa pháp số Q.19; Đại minh tam tạng pháp số Q.21].
Ngũ giáo chương
五教章; C: wǔjiāo zhāng; J: gokyōjō;|Hoa Nghiêm ngũ giáo chương.
Ngũ giáo cửu sơn
五教九山; C: wǔjiāo jiǔshān; J: gokyōkyūsan; K: ogyo kusan.|Năm giáo pháp và Chín tông phái (Cửu sơn). Mô tả tình hình sinh hoạt của Tăng-già Phật giáo từ cuối triều đại Tân La cho đến gần hết thời kì Cao Li (k: koryǒ). Những giáo pháp và tông phái nầy được hợp nhất lại trong thời kì Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn) thành hai tông phái Giáo (教; k: kyo) và Thiền (禪; k: sǒn).
Ngũ giáo lưỡng tông
五教兩宗; C: wǔjiāo liǎngzōng; J: gokyō ryōshū; K: ogyo yangjong.|Năm giáo phái và hai Thiền phái. Đề cập đến tình hình phân định các tông phái Phật giáo ở Hàn Quốc vào thời kì Cao Li (k: koryǒ), sau sự phân phái Ngũ giáo cửu sơn. Hai Thiền phái trong thời điểm nầy là Thiên Thai (k: ch'ǒnt'ae) và Thiền (k: sǒn).
ngũ giáo lưỡng tông
(五教兩宗) Từ gọi chung các tông phái Phật giáo Triều tiên tồn tại trong khoảng 300 năm từ giữa thời đại Cao li đến đầu triều nhà Lí. Về nội dung của Ngũ giáo lưỡng tông (5 giáo 2 tông) có nhiều thuyết khác nhau, vì thời đại không đồng nên có thay đổi. Theo điều Ngũ giáo lưỡng tông kì đảo bình tặc trong Triều tiên Phật giáo thông sử hạ biên của Lí năng hòa, thì Ngũ giáo là: Giới luật tông, Pháp tướng tông, Pháp tính tông, Viên dung tông và Thiên thai tông, còn Lưỡng tông là Thiền tịch tông và Tào khê tông. Nhưng theo tác phẩm Thiền tông cửu sơn lai lịch do Kim bao quang soạn, thì Ngũ giáo là: Giới luật, Pháp tướng, Niết bàn, Pháp tính và Viên dung, còn Lưỡng tông là Tào khê tông và Thiên thai tông. Phần đông đều chấp nhận thuyết của Kim bao quang. [X. Lí triều thực lục Phật giáo sao tồn Q.1; Lí triều Phật giáo; Triều tiên thiền giáo sử].
ngũ giáo phật thân
(五教佛身) Năm giáo do tông Thiên thai phán biệt đều có lập riêng Phật thân, gọi là Ngũ giáo Phật thân. Năm giáo là: Tiểu thừa giáo, Thủy giáo, Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo. 1. Tiểu thừa giáo lập 2 thân: Sinh thân và Hoá thân. 2. Thủy giáo lập 3 thân: Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. Ngoài ra còn lập 2 thân: Sinh thân, Pháp thân và 4 thân: Pháp thân, Tự thụ dụng thân, Tha thụ dụng thân và Ứng hóa thân. 3. Chung giáo lập 3 thân: Pháp thân, Báo thân và Ứng thân; cũng lập 2 thân: Tự tính pháp thân và Ứng hóa pháp thân, còn lập 4 thân: Tự tính thân, Pháp thân, Báo thân, Ứng thân, hoặc Ứng hóa thân, Công đức thân, Trí tuệ thân và Như như thân. 4. Đốn giáo chỉ lập 1 thân: Thực tính thân.5. Viên giáo lập: Giải cảnh thập Phật và Hành cảnh thập Phật.
ngũ giáo thập lí
(五教十理) Năm giáo và 10 lí mà tông Pháp tướng dùng để chứng minh sự tồn tại của thức A lại da thứ 8. Đại thừa chủ trương có thức A lại da thứ 8, còn tất cả kinh luận Tiểu thừa thì chỉ nói có 6 thức chứ không nói 8 thức, vì thế mà Đại thừa mới nêu ra Ngũ giáo thập lí (5 giáo 10 lí) để chứng minh sự tồn tại của thức A lại da thứ 8. Ngũ giáo nghĩa là trong các kinh có 5 chỗ nói đến thức A lại da thứ 8, tức là 2 chỗ trong kinh Đại thừa A tì đạt ma, 1 chỗ trong kinh Giải thâm mật, 1 chỗ trong kinh Nhập lăng già và 1 chỗ trong A cấp ma của Đại chúng bộ. Thập lí trong các kinh: 1. Sự tập khởi của chủng tử các pháp tạp nhiễm, thanh tịnh gọi là tâm, nếu không có thức A lại da thì tâm trì chủng kia không nên có. Nói cách khác, tâm trì chủng (giữ gìn chủng tử) ấy chính là thức A lại da. 2. Tâm dị thục chiêu cảm nghiệp thiện, ác chính là thức A lại da. 3. Chúng sinh hữu tình trôi lăn trong 5 đường 4 loài, cái bị trôi lăn ấy chính là thức A lại da(tức chủ thể luân hồi). 4. Có sắc căn thân là có chấp thụ, sắc căn thân ấy chính là thức A lại da. 5. Ba thứ thọ, noãn, thức nương vào nhau mà tiếp tục tồn tại; cái giữ cho thọ và noãn được tương tục lâu dài, chính là thức A lại da. Nếu không có thức này thì mệnh sống không thể có. 6. Các loài hữu tình khi mệnh chung ắt ở trạng thái tán tâm, chứ không phải ở trong định vô tâm, vậy nếu không có thức A lại da duy trì thì tâm ấy tiêu mất, không thể chuyển sinh. 7. Thức duyên danh sắc, danh sắc duyên thức, tự thể của thức ấy chính là thức A lại da. 8. Tất cả hữu tình đều nhờ ăn mà sống, cái thể ăn của thức ấy chính là thức A lại da. 9. Người ở trong định Diệt tận, thân ngữ, tâm hành đều diệt, nhưng thọ (sự sống) không diệt, thân cũng không mất hơi ấm (noãn), các căn không biến đổi, hư hoại, thức chẳng lìa thân. Thức chẳng lìa thân ấy chính là thức A lại da. 10. Vì tâm nhơ nhớp nên có hữu tình nhơ nhớp, vì tâm trong sạch nên có hữu tình trong sạch; tâm nhơ nhớp và trong sạch ấy chính là thức A lại da. [X. luận Thành duy thức Q.3, 4].
ngũ giáo thập tông
(五教十宗) Năm giáo 10 tông. Đây là sự phán thích về giáo tướng của tông Hoa nghiêm, do Tổ sư Hiền thủ thành lập. Ngài Hiền thủ căn cứ vào tông nghĩa của tông Hoa nghiêm mà chia Thánh giáo Như lai nói trong 1 đời thành 5 giáo 10 tông. Ngài Đỗ thuận(Sơ tổ tông Hoa nghiêm) từ pháp quán thực tiễn mà lập ra Tiểu thừa giáo, Đại thừa thủy giáo, Đại thừa chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo. Còn ngài Hiền thủ thì căn cứ vào giáo nghĩa để thành lập 5 giáo. Quan điểm khác nhau của 2 ngài về Ngũ giáo là ở tác dụng Nhất tâm hồi chuyển. Ngũ giáo là căn cứ vào sự sâu cạn của pháp nghĩa sở thuyên mà chia giáo tướng của Như lai làm 5 loại, còn Thập tông là dựa theo nghĩa lí Phật nói mà chia làm 10 loại.Nội dung 5 giáo là: 1. Tiểu thừa giáo, cũng gọi Ngu pháp tiểu thừa giáo, Ngu pháp thanh văn giáo: Giáo pháp trong kinh A hàm như 4 đế, 12 nhân duyên v.v... nói cho những người thuộc căn cơ Tiểu thừa. 2. Đại thừa thủy giáo, cũng gọi Phần giáo: Giáo pháp nói cho hàng Tiểu thừa mới vào Đại thừa, nhưng căn cơ của họ chưa chín mùi. Giáo pháp này là cửa đầu tiên của Đại thừa, trong đó lại được chia làm 2 thứ: Không thủy giáo và Tướng thủy giáo. a) Không thủy giáo: Giáo pháp nói trong kinh Bát nhã... nghĩa là tất cả vật chất đều không có thực thể nhất định, chủ trương hết thảy vốn không. Nhưng giáo pháp này mới chỉ nói rõ nghĩa không về phá tướng trừ chấp, chứ chưa suốt hết pháp lí Đại thừa, cho nên gọi là Không thủy giáo. b) Tướng thủy giáo: Chỉ cho giáo pháp nói trong kinh Giải thâm mật... nghĩa là các pháp đều do nhân duyên sinh và muôn vật đều có bản thể và hiện tượng khác nhau, chủ trương 5 tính đều khác nhau. Vì giáo pháp này bàn rộng về pháp tướng mà ít nói đến pháp tính, vả lại, chỉ đứng về phương diện sự pháp sinh diệt mà thuyết minh A lại da duyên khởi, cho nên gọi là Tướng thủy giáo. 3. Đại thừa chung giáo, cũng gọi Thực giáo, Thục giáo, Chung giáo. Giáo pháp nói chân như tùy duyên mà sinh các pháp nhơ, sạch nhưng thể của nó vốn tự thanh tịnh, vì thế cho rằng hết thảy chúng sinh đều sẽ thành Phật, như các kinh Lăng già, Thắng man và luận Đại thừa khởi tín chủ trương. Giáo pháp này bàn nhiều về pháp tính mà ít nói đến pháp tướng, thảng hoặc có đề cập đến pháp tướng thì cũng chỉ nhằm qui về pháp tính. Nói 8 thức thông với Như lai tạng, tùy duyên thành lập 2 nghĩa sinh diệt và không sinh diệt. Vì giáo này đã đạt đến chỗ cùng tột của thuyết Đại thừa, cho nên được gọi là Đại thừa chung giáo. 4. Đốn giáo, cũng gọi Đại thừa đốn giáo. Giáo này không lập văn tự, chỉ biện minh về chân tính, không đặt ra các giai vị đoạn hoặc (phiền não) chứng lí, mà chủ trương tu mau, ngộ ngay, như được nói trong kinh Duy ma. Giáo này khác với chủ trương tu chứng theo trình tự từ thấp đến cao của 2 giáo Thủy, Chung, cũng không giống với viên minh cụ đức(đầy đủ đức tròn sáng)của Viên giáo, cho nên lập riêng thành 1 giáo. 5. Viên giáo, cũng gọi Nhất thừa viên giáo. Giáo này nói tính hải viên dung, tùy duyên khởi thành pháp giới vô tận, các pháp vô ngại, tức là nhau hòa nhập vào nhau, 1 giai vị tức là tất cả giai vị, tất cả giai vị tức là 1 giai vị, Thập tín mãn tâm liền thành chính giác, vì thế gọi là Viên, như giáo thuyết của kinh Hoa nghiêm, kinh Pháp hoa v.v... Giáo này lại chia ra 2 thứ: Biệt giáo nhất thừa và Đồng giáo nhất thừa:a) Biệt giáo nhất thừa: Giáo này vượt ngoài các giáo mà nói kinh Hoa nghiêm là pháp môn viên dung không thể nghĩ bàn, khác hẳn với giáo Tam thừa, vì thế gọi là Biệt giáo nhất thừa. Đây là Viên giáo do ngài Hiền thủ thành lập. b) Đồng giáo nhất thừa: Kinh Pháp hoa chủ trương xóa bỏ Nhị thừa, thuyết này tương đồng với giáo Tam thừa, vì thế gọi là Đồng giáo nhất thừa. Đây là Viên giáo do tông Thiên thai thành lập. Nội dung 10 tông là: 1. Ngã pháp câu hữu tông: Chủ trương ngã và pháp đều đủ và có thực thể tồn tại. Đây là tông nghĩa của Nhân thiên giáo và các bộ phái: Độc tử, Pháp thượng, Hiền trụ, Chính lượng, Mật lâm sơn và Kinh lượng thuộc Tiểu thừa. 2. Pháp hữu ngã vô tông: Chủ trương pháp thể thường có, nhưng không có ngã chủ quan tồn tại. Đây là tông nghĩa của các bộ phái: Tát bà đa (Hữu bộ) Tuyết sơn, Đa văn, Hóa địa... thuộc Tiểu thừa. 3. Pháp vô khứ lai tông: Chủ trương chỉ có các pháp trong hiện tại là có thực thể còn các pháp quá khứ, vị lai thì thể dụng đều không. Đây là tông nghĩa của các bộ phái: Đại chúng, Kê dận, Chế đa sơn, Tây sơn trụ, Bắc sơn trụ, Pháp tạng và Ẩm quang thuộc Tiểu thừa. 4. Hiện thông giả thực tông: Chủ trương các pháp trong hiện tại, trừ 5 uẩn ra, còn tất cả đều không có thực thể, đều là có giả. Đây là tông nghĩa của Thuyết giả bộ và luận Thành thực trong Tiểu thừa. 5. Tục vọng chân thực tông: Chủ trương tất cả sự vật trong thế tục đều là giả, chỉ có chân lí Phật giáo là thực tại. Đây là tông nghĩa của Thuyết xuất thế bộ thuộc Tiểu thừa.6. Chư pháp đãn danh tông: Chủ trương hết thảy các pháp chỉ có cái tên giả mà thôi chứ hoàn toàn không có thực thể. Đây là tông nghĩa của Nhất thuyết bộ thuộc Tiểu thừa. 7. Nhất thiết giai không tông: Chủ trương các pháp đều không, thuộc Đại thừa vô tướng. Đây là tông nghĩa của Đại thừa thủy giáo (Tông này chỉ căn cứ vào Không thủy giáo mà đặt tên). 8. Chân đức bất không tông: Chủ trương bản tính của tất cả sự vật là chân như, đầy đủ tính công đức vô lậu của Như lai tạng; cũng tức là lí chân như cùng với sự vạn hữu dung thông vô ngại. Đây là tông nghĩa của Đại thừa chung giáo. 9. Tướng tưởng câu tuyệt tông: Chủ trương chân lí vượt ra ngoài cảnh tướng và tâm tưởng, không thể nói năng, chẳng thể nghi bàn. Đây là tông nghĩa của Đốn giáo.10. Viên minh cụ đức tông: Chủ trương các pháp đều không ngăn ngại lẫn nhau, có quan hệ hết lớp này đến lớp khác vô cùng, đầy đủ tất cả công đức. Đây chỉ cho giáo thuyết trong kinh Hoa nghiêm, là tông nghĩa của Nhất thừa viên giáo. Trong 10 tông trên đây, 6 tông trước thuộc Tiểu thừa giáo, vốn do ngài Khuy cơ thành lập, ngài Pháp tạng dùng theo. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Ngũ giáo chương quan chú Q.thượng, phần 1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ Q.2, 3; Hoa nghiêm kinh lược sớ san định kí Q.1; Hoa nghiêm huyền đàm Q.5; Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.5, 8; Viên giác kinh lược sớ Q.thượng, phần 1; Viên giác kinh đại sớ Q.thượng, phần 1; Viên giác kinh lược sớ sao Q.3; Ngũ giáo chương phục cổ kí Q.2].
ngũ giả danh hảo tâm bố thí nhân
Năm loại người giả danh hảo tâm mà bố thí—Five kinds of people who pretend to give out of goodness of their hearts. Miệng nói tốt, hoặc nói bố thí mà không bao giờ chịu thực hành, chỉ là những lời hứa trống rỗng: Talk of goodness or giving, but they never carry out what they say, only hollow speech or empty promises. Lời nói và hành động đều trái ngược nhau, tức là ngôn hành bất tương ưng: Speech and actions contradict one another. Bố thí mà trong tâm luôn mong cầu được bồi hoàn bằng các sự đền ơn đáp nghĩa: Give but their minds always hope that their actions will be compensated and be returned in some way. Bỏ ra có một tấc mà muốn thâu vào một thước: Give little but want a great deal in return. Gieo trồng ít mà muốn đặng trái nhiều: Plant few seeds but wish to harvest abundance of fruits.
ngũ giải thoát luân
The five wheels of liberation or salvation (the five mandala in which are the Five Dhyani-Buddhas)—See Ngũ Phật.
; (五解脫輪) I. Ngũ Giải Thoát Luân. Cũng gọi Ngũ nguyệt luân, Ngũ trí nguyệt luân. Năm vòng tròn trong 1 vòng tròn lớn của Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Mạn đồ la Kim cương giới là pháp tu sinh tu hiển, người vào luân đàn(đàn hình tròn)này cởi bỏ được sự trói buộc của sinh tử trong 5 đường, thành tựu 5 trí trong sạch tròn sáng, cho nên ví dụ như vầng trăng (nguyệt luân)có đầy đủ đức tròn sáng, vì thế gọi là Ngũ giải thoát luân. Về hình vẽ, trong 1 vòng tròn Kim cương lớn vẽ 5 vòng tròn, chính giữa là đức Đại nhật Như lai, phương đông là A súc Như lai, phương nam là Bảo sinh Như lai, phương tây là A di đà Như lai và phương bắc là Thiên cổ lôi âm Như lai. Trong hội Thành thân thì có vị Đại thần nâng đỡ lấy vòng Kim cương lớn này. Bốn vị Đại thần biểu thị 4 đại: Đất, nước, lửa, gió, còn Ngũ giải thoát luân thì biểu thị cho không đại của 5 trí. [X. kinh Kim cương đính Q.thượng; kinh Đại giáo vương Q.5] II. Ngũ Giải Thoát Luân. Tên khác của Ngũ luân tháp. (xt. Ngũ Luân Tháp).
ngũ giải thoát thành thục tưởng
Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm giải thoát thành thục tưởng—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five perceptions of making for maturity of liberation: Vô Thường Tưởng: Anicca-sanna (p)—The perception of impermanence. Khổ Tưởng Trong Vô Thường: Anicce-dukkha-sanna (p)—The perception of suffering in impermanence. Vô Ngã Tưởng trong Khổ: Dukkhe-anatta-sanna (p)—The perception of impersonality in suffering. Đoạn Trừ Tưởng: Pahana-sanna (p)—The perception of abandoning. Vô Tham Tưởng: Viraga-sanna (p)—The perception of dispassion.
ngũ giải thoát xứ
Vimuttayatanani (p)—Five bases of deliverance—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm giải thoát xứ—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five bases of deliverance: Giải Thoát Xứ Thứ Nhất—The first base of deliverance: Ở đây vị Tỳ Kheo, khi nghe bậc Đạo Sư, hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và văn cú. Nhờ vậy mà sanh khoan khoái, nhờ khoan khoái hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tỉnh—Here, the teacher or a respected fellow-disciple teaches a monk Dhamma. Anh he receives the teaching, he gains a grasp of both the spirit and the letter of the teaching. At this, joy arises in him, and from this joy, delight; and by this delight his sense are calmed, he feels happiness as a result, and with this happiness his mind is established. Ở đây vị Tỳ Kheo không nghe giáo pháp, nhưng vị ấy, theo điều đã nghe đã học từ trước, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, vị ấy đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và văn cú. Nhờ vậy mà sanh khoan khoái, nhờ khoan khoái sanh hỷ. Nhờ hỷ tâm mà thân khinh an. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ tâm được định tỉnh—Here a monk who has not heard the teaching, but in the course of teaching Dhamma to others he has learnt it by heart as he has heard it. At this, joy arises in him, and from this joy, delight; and by this delight his senses are calmed, he feels happiness as a result, and with this happiness his mind is established. Giải Thoát Xứ Thứ Ba—The third base of deliverance: Ở đây vị Tỳ Kheo không được nghe bậc Đạo Sư hay một vị đồng phạm đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Vị ấy theo điều đã nghe đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng, do vậy đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý và văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và văn cú mà thân được khinh an. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tỉnh—Here a monk who has not heard the teaching, but as he is chanting the Dhamma, joy arises in him, and from this joy, delight; and by this delight his senses are calmed, he feels happiness as a result, and with this happiness his mind is established. Giải Thoát Xứ Thứ Tư—The fourth base of deliverance: Ở đây vị Tỳ Kheo, không nghe một bậc Đạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh thuyết pháp; cũng không theo điều đã nghe đã học mà thuyết pháp rộng rãi cho các người khác; cũng không theo điều đã nghe đã học, tụng đọc một cách rõ ràng. Vị ấy theo những điều đã nghe đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy. Nhờ vậy mà đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý và văn cú. Nhờ hiểu nghĩa lý và văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an. Nhờ khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tỉnh: Here a monk who has not heard the teaching from a teacher or a respected fellow-disciple; nor has he taught the Dhamma; nor has he chanted the Dhamma; but when he applies his mind to the Dhamma, thinks and ponders over it and concentrates his attention on it, joy arises in him, and from this joy, delight; and by this delight his senses are calmed, he feels happiness as a result, and with this happiness his mind is established. Giải Thoát Xứ Thứ Năm—The fifth base of deliverance: Ở đây vị Tỳ Kheo không nghe bậc Đạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe đã học thuyết giảng một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã nghe đã học dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát, nhưng vị Tỳ Kheo ấy khéo nắm giữ một định tướng, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ, nên đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý và văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và văn cú, nên khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm định tỉnh—Here a monk who has not heard the teaching from a teacher or a respected fellow-disciple; nor has he taught the Dhamma; nor has he chanted the Dhamma; nor has he thought or pondered over the Dhamma; but when he has properly grasped some concentration-sign (samadhi-nimittam), has well considered it, applied his mind to it (supadharitam), and has well penetrated it with wisdom (suppatividdham-pannaya). At this, joy arises in him, and from this joy, delight; and by this delight his senses are calmed, he feels happiness as a result, and with this happiness his mind is established.
Ngũ Giới
(s: pañca-sīla, p: pañca-śīla, 五戒): chỉ cho 5 loại giới điều do tầng lớp nam nữ tại gia thọ trì, trừ khi chúng ta không tin Phật, nhưng một khi đã tin Phật, học Phật thì nhất định phải thọ trì 5 giới điều này, gồm: (1) Không sát sanh (p: pāṇātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi, 不殺生, I undertake the training rule to abstain from taking life); (2) Không trộm cắp (p: adinnādānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi, 不偷盜, I undertake the training rule to abstain from taking what is not given); (3) Không dâm dục (p: musāvāda veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi, 不淫欲, I undertake the training rule to abstain from sexual misconduct); (4) Không nói dối (p: musāvāda veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi, 不妄語, I undertake the training rule to abstain from false speech); và (5) Không uống rượu (p: surā-meraya-majja-pamādaṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi, 不飲酒, I undertake the training rule to abstain from drinks and drugs that cause heedlessness). Năm Giới này còn gọi là Ưu Bà Tắc Ngũ Giới (優婆塞五戒), Ưu Bà Tắc Giới (優婆塞戒). Trong Phật Thuyết Diễn Đạo Tục Nghiệp Kinh (佛說演道俗業經, Taishō No. 820) có đoạn rằng: “Cư sĩ phục vấn: 'Sơ học đạo giả, thỉ dĩ hà chí ?' Phật ngôn: 'Tiên tập Ngũ Giới Tự Quy ư tam, hà vị Ngũ Giới ? Nhất viết từ tâm tư nhân bất sát, nhị viết thanh liêm tiết dụng bất đạo, tam giả trinh lương tiên khiết bất nhiễm, tứ viết đốc tín tánh hòa bất khi, ngũ viết yếu đạt chí minh bất loạn; hà vị Tam Tự Quy, nhất viết quy Phật vô thượng chánh chơn, nhị viết quy Pháp dĩ tự ngự tâm, tam viết quy chúng thánh chúng chi trung, sở thọ quảng đại, do như đại hải, mĩ sở bất bao' (居士復問、初學道者、始以何志、佛言、先習五戒自皈於三、何謂五戒、一曰慈心思仁不殺、二曰清廉節用不盜、三曰貞良鮮潔不染、四曰篤信性和不欺、五曰要達志明不亂、何謂三自皈、一曰皈佛無上正眞、二曰皈法以自御心、三曰皈眾聖眾之中、所受廣大、猶如大海、靡所不包, Cư sĩ lại hỏi: 'Người mới học đạo, trước hết lấy gì làm chí ?' Phật dạy: 'Trước tu tập Năm Giới và Ba Tự Quy Y, thế nào là Năm Giới ? Thứ nhất là từ tâm, thương người mà không giết hại; thứ hai là thanh liêm, tiết kiệm mà không trộm cắp; thứ ba là trinh tiết, trong sạch mà không ô nhiễm [không tà dâm]; thứ tư là một lòng tin, hòa thuận mà không xem thường [không nói dối]; thứ năm là cần đạt chí sáng suốt mà không rối loạn [không uống rượu]; thế nào là Ba Quy Y; một là Quy Y Phật, đấng vô thượng chánh chơn; hai là Quy Y Pháp, để tự chế ngự tâm; ba là Quy Y Tăng, trong các bậc Thánh; thọ trì rộng lớn, giống như biển lớn, không nơi nào không dung chứa').” Theo Kinh Lượng Bộ (s: Sautrāntika, 經量部) của Tiểu Thừa, người thọ Tam Quy thì đã trở thành Ưu Bà Tắc (s, p: upāsaka, 優婆塞); nhưng Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (s: Sarvāstivādin, 說一切有部) lại quy định rằng trước thọ Tam Quy, sau thọ Năm Giới mới được gọi là Ưu Bà Tắc. Ba giới đầu để phòng thân, giới thứ tư phòng về miệng, giới thứ năm phòng cả thân và miệng, bảo vệ cho cả 4 giới trên. Từ xưa, ở Trung Quốc đã phối hợp Ngũ Giới với Ngũ Thường (五常, Nhân [仁], Nghĩa [義], Lễ [禮], Trí [智], Tín [信]); rồi đặt giới Không Sát Sanh ở phương Đông, Không Trộm Cắp ở phương Bắc, Không Tà Dâm ở phương Tây, Không Uống Rượu ở phương Nam, và Không Nói Dối ở Trung Ương. Năm Giới đóng vai trò quan trọng và quyết định trong việc thoát ly sanh tử, chứng thành Phật đạo; cho nên trong Ưu Bà Tắc Giới Kinh (優婆塞戒經, Taishō No. 1488) có dạy rằng: “Nhược hữu thuyết ngôn, ly Ngũ Giới độ sanh tử giả, vô hữu thử xứ. Thiện nam tử ! Nhược nhân dục độ sanh tử đại hải, ưng đương chí tâm thọ trì Ngũ Giới (若有說言、離五戒已度生死者、無有是處、善男子、若人欲度生死大海、應當至心受持五戒, nếu có người bảo rằng lìa Năm giới mà vượt qua sanh tử thì không có việc ấy. Này thiện nam tử ! Nếu có người muốn qua biển sanh tử lớn, hãy nên chí tâm thọ trì Năm Giới).” Hay Tứ Thập Nhị Chương Kinh (四十二章經, Taishō No. 784) cũng khẳng định rằng: “Phạn thiện nhân thiên, bất như phạn trì Ngũ Giới giả nhất nhân (飯善人千、不如飯持五戒者一人, cúng dường cơm cho ngàn người thiện không bằng cúng dường cơm cho một người giữ Năm Giới).” Một số lời dạy trong các kinh điển về việc hành trì Năm Giới như Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō No. 945) quyển 6 có câu: “Nhược bất đoạn sát, tu Thiền định giả, thí như hữu nhân, tự tắc kỳ nhĩ, cao thanh đại khiếu, cầu nhân bất văn (若不斷殺、修禪定者、譬如有人、自塞其耳、高聲大叫、求人不聞, người tu Thiền định, nếu không đoạn trừ sát sanh, ví như có người, tự bịt tai mình, la vang lớn tiếng, kêu người chẳng nghe).” Ưu Bà Tắc Giới Kinh quyển 6, Phẩm Ngũ Giới (五戒品) thứ 22 có dạy về giới trộm cắp rằng: “Nhược hữu chúng sanh thâu thiết thường trụ tài vật, cốc mễ, ẩm thực, y phục, nãi chí nhất vật bất dữ thủ giả, đương đọa Vô Gián Địa Ngục, cầu xuất vô kỳ (若有眾生偷竊常住財務、榖米、飲食、衣服、乃至一物不與取者、當墮無間地獄、求出無期, nếu có chúng sanh nào trộm cắp tài vật của thường trụ, thóc gạo, đồ ăn uống, áo quần, cho đến một vật không cho mà lấy, sẽ bị đọa Địa Ngục Vô Gián, không có thời hạn cầu mong thoát ra).” Trong khi đó, Vô Tự Bảo Khiếp Kinh (無字寶篋經, Taishō No. 828) khuyên rằng: “Ái tự mạng giả, tắc bất sát sanh; ái tự tài giả, bất đạo tha tài; ái tự thê giả, bất xâm tha thê (愛自命者、則不殺生、愛自財者、不盜他物、愛自妻者、不侵他妻, thương mạng sống mình, tất không sát sanh; thương tài sản mình, không lấy của người; thương vợ của mình, không phạm vợ người).” Lăng Nghiêm Kinh lại dạy về giới điều Không Nói Dối như sau: “Nhược bất đoạn kỳ đại vọng ngữ giả, như khắc nhân phẩn, vi Chiên Đàn hình, dục cầu hương khí, vô hữu thử xứ (若不斷其大妄語者、如刻人糞、爲旃檀形、欲求香氣、無有是處, nếu không đoạn trừ nói dối, như khắc phân người làm hình Chiên Đàn, muốn cầu hương thơm, không có việc ấy).” Về giới Không Uống Rượu, Ni Càn Tử Thọ Ký Kinh (尼乾子受記經) quyển 5, Phẩm Vấn Tội Quá (問罪過品) thứ 7, dạy rõ rằng: “Ẩm tửu đa phóng dật, hiện thế thường ngu si, vong thất nhất thiết sự, thường bị trí giả ha, lai thế thường ám độn, đa thất chư công đức, thị cố hiệt tuệ nhân, ly chư ẩm tửu thất (飲酒多放逸、現世常愚癡、忘失一切事、常被智者呵、來世常闇鈍、多失諸功德、是故黠慧人、離諸飲酒失, uống rượu nhiều buông túng, đời nay thường ngu si, quên mất tất cả chuyện, thường bị người trí trách, đời sau thường ngu độn, mất hết các công đức, cho nên người thông tuệ, lìa sai lầm uống rượu).” Trong Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, CBETA No. 1452) quyển 20, phần Trì Giới Kệ (持戒偈) có cảnh tỉnh người hành trì Năm Giới rằng: “Ngũ Giới bất trì, nhân thiên lộ cùng, cử túc hà vãng, ngưu mã thai trung (五戒不持。人天路窮。舉足何徃。牛馬胎中, Năm Giới chẳng giữ, trời người cùng đường, nhấc chân về đâu, vào thai trâu ngựa).”
Ngũ giới
xem Năm giới.
; 五戒; C: wǔjiè; J: gokai; S: pañca-śīla; P: pañca-sīla;|Năm giới.
ngũ giới
Paca-śīlani (S), Paca-sikkāpada (P), Five precepts, Pacaśīla (S, P), Paca-śīkṣāpada (S, P)Năm điều cấm đối với người tu tại gia: - không sát sanh - không trộm cắp - không tà dâm - không vọng ngự - không rượu chè.
; Pancasìla (S). The five commandments, or precepts, against: (1) Sát sinh, Prànàtipàta, Killing; (2) Trộm cắp, Adattàdàna, Stealing; (3) Tà dâm, Kàmamithyàcàra, Adultery; (4) Vọng ngữ, Mrsàvàca, Lying; (5) Uống rượu, Suràmaireya, Use of intoxicants.
; (五戒) Phạm:Paĩca zìlàni. Chỉ cho 5 loại giới do đức Phật chế định. I. Ngũ Giới. Cũng gọi Ưu bà tắc ngũ giới, Ưu bà tắc giới.Năm thứ chế giới của nam nữ Phật tử tại gia thụ trì. Đó là: 1. Không sát sinh. 2. Không trộm cướp. 3. Không gian dâm. 4. Không nói dối. 5. Không uống rượu. Trong hệ thống Kinh lượng bộ Tiểu thừa, người thụ 3 qui y thì thành Ưu bà tắc và được cho phép trong 5 giới, tùy theo khả năng, hễ giữ được giới nào thì thụ trì giới đó. Còn chủ trương của Thuyết nhất thiết hữu bộ thì trước phải thụ 3 qui y, sau thụ đầy đủ 5 giới mới trở thành Ưu bà tắc, cho nên phải thụ trì cả 5 giới. Trong 5 giới, 4 giới trước thuộc tính giới, giới sau cùng thuộc về già giới. Lại nữa, 3 giới trước phòng ngừa thân, giới thứ 4 phòng ngừa miệng, giới thứ 5 phòng ngừa chung cả thân và miệng để giữ gìn 4 giới trước. Trung quốc từ xưa đem 5 giới phối hợp với 5 thường(nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), rồi lại phối hợp với 5 phương như: Không sát sinh phối với phương đông, không trộm cướp phối với phương bắc, không gian dâm phối với phương tây, không uống rượu phối với phương nam và không nói dối phối với trung ương. [X. kinh Tạp a hàm Q.33; kinh Tăng nhất a hàm Q.20; kinh Tì ni mẫu Q.1; luận Đại trí độ Q.13; Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.1; luận Câu xá Q.14; Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ Q.2; Ma ha chỉ quán Q.6]. II. Ngũ Giới. Cũng là 5 loại chế giới của nam nữ Phật tử tại gia thụ trì được ghi trong các kinh: Quán đính quyển 1, kinh Ưu bà tắc ngũ giới uy nghi, kinh Tứ thiên vương v.v... Đó là: 1. Sát sinh. 2. Trộm cướp. 3. Gian dâm. 4. Nói 2 lưỡi, nói lời ác, nói dối láo, nói thêu dệt. 5. Uống rượu. Trong 5 giới này, giới thứ 4 bao gồm hết những cái xấu ác của khẩu nghiệp, được rút từ thuyết Thập ác ra. III. Ngũ Giới. Năm thứ chế giới của Bồ tát tại gia thụ trì. Đó là: 1. Tuyệt đối không được dứt sự sống. 2. Cái gì người ta không cho, tuyệt đối không được lấy. 3. Tuyệt đối không được nói láo. 4. Tuyệt đối không được gian dâm. 5. Tuyệt đối không được tà kiến. Năm giới trên đây được nói trong Đại nhật kinh sớ quyển 18. Chỗ khác với 5 giới thông thường là thay thế giới Uống rượu bằng giới Tà kiến. [X. kinh Tạp a hàm Q.31; kinh Tăng nhất a hàm Q.7; phẩm Thụ phương tiện học xứ trong kinh Đại nhật Q.6; kinh Ưu bà tắc giới Q.6; kinh Ưu bà tắc ngũ giới tướng; luận Du già sư địa Q.54].
ngũ giới pháp
(五戒法) Năm giới pháp đầu tiên đức Phật truyền cho 2 người đệ tử tại gia. Cứ theo kinh Đề vị Ba lợi thì sau khi thành đạo, đức Phật dời Bồ đề tràng để đến vườn Lộc dã, trên đường đi, 2 anh em Đề vị và Ba lợi làm nghề buôn bán được gặp đức Phật và cúng dường Ngài. Sau đó, đức Phật nói pháp Thập thiện rồi truyền thụ qui y và 5 giới cho họ để trở thành Ưu bà tắc. Đây là 2 đệ tử Ưu bà tắc đầu tiên trong giáo đoàn Phật giáo. Nếu đệ tử Ưu bà tắc phá 5 giới này thì không phải là Thanh tịnh sĩ (người trong sạch), vì nếu phạm thì tức là phá 5 phần pháp thân và tất cả Phật pháp. Năm giới này là gốc rễ của tất cả giới luật Đại, Tiểu thừa, nếu đã vi phạm thì không còn được thụ giới Đại, Tiểu thừa nữa.
ngũ giới phần thụ
(五戒分受) Chỉ cho việc thụ trì từng phần của 5 giới. Luận Thập trụ tâm quyển 2 nói rõ tướng của 5 giới, đồng thời thảo luận về vấn đề có được phép nhận và giữ(thụ trì) từng phần của 5 giới hay không. Người chất vấn căn cứ vào nghĩa của Tát bà đa bộ và dẫn chứng thuyết của luận Câu xá mà chủ trương 5 giới phải thụ đủ. Còn người trả lời thì dẫn thuyết của luận Đại trí độ cho rằng trong 5 giới tùy ý muốn thụ phần nào cũng được, nếu thụ 1 giới thì gọi là 1 phần, nếu thụ 2, 3 giới thì gọi là ít phần, nếu thụ cả 5 giới thì gọi là toàn phần, bởi vậy chủ trương có thể thụ trì từng phần.
ngũ hiệp am
Gogō-an (J)Tên một ngôi chùa.
ngũ hoặc
(五惑) Cũng gọi Ngũ độn sử. Tức là 5 thứ mê vọng: Tham, sân, si, mạn, nghi... (xt. Ngũ Độn Sử).
ngũ hà
Pendjab (S), Punjab (S)Một địa danh, nơi cư trú của hai nhân vật trong kinh Na Tiên Tỳ kheo (Milindapanha).
; Punjab (S). Punjab.
Ngũ Hành
(五行): là quan niệm về vật chất của người Trung Quốc cổ đại, phần nhiều được dùng trong các phương diện triết học, y học cũng như bói toán; tức là 5 nguyên tố cần thiết vận hành giữa trời đất gồm Thủy (水), Hỏa (火), Mộc (木), Kim (金) và Thổ (土). Tên gọi khác của Ngũ Thường (五常, 5 yếu tố con người thường cần phải thực hiện) gồm Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí và Tín. Người Trung Quốc co rằng tự nhiên được cấu thành bởi 5 yếu tố, tùy theo các yếu tố này mà thạnh suy, khiến cho tự nhiên sinh ra các biến hóa, có ảnh hưởng đến vận mạng của con người, đồng thời làm cho vũ trụ tuần hoàn không ngừng. Trong các kinh điển luận về Ngũ Hành, trước hết thấy xuất hiện trong Thượng Thư (尚書), phần Hồng Phạm (洪範) có nêu rõ rằng: “Ngũ Hành, nhất viết Thủy, nhị viết Hỏa, tam viết Mộc, tứ viết Kim, ngũ viết Thổ (五行、一曰水、二曰火、三曰木、四曰金、五曰土, Ngũ Hành, thứ nhất là Thủy, thứ hai là Hỏa, thứ ba là Mộc, thứ tư là Kim, thứ năm là Thổ).” Nguồn gốc của Ngũ Hành vốn phát xuất từ số của sách Hà Đồ (河圖), Lạc Thư (洛書); số 1, 6 là Thủy; 2, 7 là Hỏa; 3, 8 là Mộc; 4, 9 là Kim; 5, 10 là Thổ. Theo Hà Đồ, nếu xoay về bên trái thì tương sinh; theo Lạc Thư, nếu xoay về bên phải thì tương khắc. Như vậy Ngũ Hành tương khắc gồm có Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ Khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim. Ngũ Hành tương sinh là Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Năm yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với các truyền thống văn hóa Trung Quốc khác như phương vị, thiên can, địa chi, màu sắc, thời tiết, v.v. Xin liệt kê theo thứ tự các yếu tố Ngũ Hành, Ngũ Tài (五材), Ngũ Sắc (五色, 5 màu sắc), Ngũ Phương (五方), Ngũ Quý (五季, 5 mùa), Ngũ Thời (五時), Ngũ Tiết (五節), Ngũ Tinh (五星, 5 ngôi sao), Ngũ Thanh (五聲, 5 loại tiếng), Ngũ Âm (五音, 5 loại âm), Ngũ Tạng (五臟), Ngũ Phủ (五腑), Ngũ Chí (五志, 5 loại cảm xúc), Ngũ Quan (五官, 5 giác quan), Ngũ Giác (五覺, 5 loại cảm giác), Ngũ Dịch (五液, 5 loại chất dịch), Ngũ Vị (五味, 5 loại mùi vị), Ngũ Xú (五臭), Ngũ Khí (五氣), Ngũ Vinh (五榮), Ngũ Thú (五獸, 5 loại thú thần thoại), Ngũ Súc (五畜, 5 loại súc vật), Ngũ Cốc (五穀), Ngũ Quả (五果), Ngũ Thái (五菜), Ngũ Thường (五常), Ngũ Chính (五政), Ngũ Ác (五惡), Ngũ Hóa (五化), Thiên Can (千干), Địa Chi (地支). Kim thường đi với Kim, màu xanh, phương Đông, mùa xuân, buổi sáng, Tân Niên, Mộc Tinh (木星), tiếng kêu gọi, Giác, gan, mật, bực tức, mắt, màu sắc, nước mắt, chất chua, mùi hôi (của cừu, nai, v.v.), gân, móng, Thanh Long (青龍), con chó, lúa tẻ, trái Mận, rau Hẹ, Nhân, khoan dung, gió, sanh sản, Giáp và Ất, Dần và Mão. Hỏa đi với Hỏa, màu đỏ, phương Nam, mùa hè, giữa ngày, Thượng Tỵ (上巳, tiết hội của người Hán được tổ chức vào ngày Tỵ của thượng tuần tháng 3 Âm Lịch để cầu gió mát), Hỏa Tinh (火星), tiếng cười, Chưng, tim, ruột non, niềm vui, lưỡi, sự xúc chạm, mồ hôi, vị đắng, mùi khét, máu, mặt, Châu Tước (朱雀), con dê, thóc, trái Hạnh, rau Kiệu, Lễ, sự sáng suốt, sức nóng, sự trưởng thành, Bính và Đinh, Tỵ và Ngọ. Thổ đi với Thổ, màu vàng, phương giữa, giữa hè, xế chiều, Đoan Ngọ (端午, mồng 5 tháng 5 Âm Lịch), Thổ Tinh (土星), tiếng ca, Cung, lá lách, bụng, suy tư, miệng, mùi vị, nước dãi, vị ngọt, mùi hương thơm, thịt, môi, Hoàng Lân (黃麟) hay Đằng Xà (滕蛇), con bò, lúa, trái Táo, rau Quỳ, sự cung kính, ẩm thấp, biến hóa, Mậu và Kỷ, Thìn, Mùi, Tuất và Sửu. Kim đi với Kim, màu trắng, phương Tây, mùa Thu, mặt trời lặn, Thất Tịch (七夕, mồng 7 tháng 7 Âm Lịch), Kim Tinh, tiếng khóc, Thương, phổi, ruột già, sự đau buồn, mũi, hương thơm, nước mũi, vị đắng, mùi tanh, hơi, lông, Bạch Hổ (白虎), con gà, gạo, trái Đào, rau Hành, Nghĩa, sức mạnh, khô ráo, thâu lại, Canh và Tân, Giáp và Dậu. Thủy đi với Thủy, màu đen, phương Bắc, mùa Đông, giữa đêm, Trùng Dương (重陽, mồng 9 tháng 9 Âm Lịch, còn gọi là Trùng Cửu [重九]), Thủy Tinh (水星), tiếng rên rỉ, quả thận, bàng quang, sự lo sợ, lỗ tai, âm thanh, nước bọt miếng, vị mặn, mùi thối mục, xương, tóc, Huyền Võ (玄武), lợn, đậu, hạt dẻ, lá dâu, Trí, sự tĩnh lặng, lạnh lẽo, che giấu, Nhâm và Quý, Hợi và Tý.
ngũ hành
Wu-hsing (C), Five elements.
; (五行) I. Ngũ Hành. Chỉ cho 5 nguyên tố vận hành, tức là: Thủy (nước), hỏa (lửa), mộc (cây), kim (vàng) và thổ (đất). Vì giữa khoảng trời đất 5 nguyên tố này vận hành không ngừng, cho nên gọi là Ngũ hành. Đây là những nguyên tố sinh thành trưởng dưỡng muôn vật, cùng với thuyết Tứ đại năng tạo(4 yếu tố tạo ra vạn vật): Đất, nước, lửa và gió của Phật giáo có điểm giống nhau. Ngũ hành là tư tưởng đã có sẵn ở Trung quốc trước khi Phật giáo truyền đến, rất phổ biến trong các học phái: Nho, Mặc, Đạo, đến các nhà Pháp, Binh, Y... Từ sau đời Hán, thuyết Ngũ hành càng thịnh hơn và được phối hợp với mọi sự tượng của đời sống con người. Ngũ hành chủ yếu có 2 nghĩa tương sinh và tương khắc. Từ thời Nam Bắc triều trở đi, thuyết Ngũ hành lẫn lộn vào Phật giáo, kinh Đề vị đem phối hợp Ngũ hành với Ngũ giới; Tam chủng tất địa phá địa ngục chuyển nghiệp chướng xuất tam giới bí mật đà la ni pháp thì đem Ngũ hành phối hợp với Ngũ tự(a, va, ra, ha, kha), Ngũ Phật(Kim cương giới: Tì lô già na, A súc, Bảo sinh, A di đà, Bất không thành tựu; Thai tạng giới: Đại nhật, Bảo chàng, Khai phu hoa vương, Vô lượng thọ, Thiên cổ lôi âm), Ngũ trí (Pháp giới thể tính trí, Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí), Ngũ tạng (tim, gan, lá lách, phổi, thận)... Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì phối hợp Ngũ hành với Ngũ căn (Tín, Tiến, Niệm, Định, Tuệ)... [X. Tú diệu nghi quĩ; Ma ha chỉ quán Q.8, thượng; Đại minh tam tạng pháp số Q.23]. II. Ngũ Hành. Cũng gọi Tu hành ngũ môn. Chỉ cho 5 pháp môn tu hành. Ngũ môn là trong 6 độ hợp 2 độ Định và Tuệ lại làm 1 môn Chỉ quán thì chỉ còn lại 5 độ, vì thế gọi là Ngũ môn. Theo luận Đại thừa khởi tín thì 5 môn đó là: 1. Thí môn, thí có 3 nghĩa: a) Tài thí: Nếu thấy mọi người đến cầu xin, thì tùy theo khả năng đem tài vật của mình ban bố cho họ để xả bỏ tính keo tham của mình, làm cho mọi người được vui mừng. b) Vô úy thí: Khi người gặp tai nạn, khủng bố uy hiếp, thì tùy theo năng lực của mình phương tiện cứu giúp, làm cho nạn nhân không còn sợ hãi, được yên vui. c) Pháp thí: Nếu có chúng sinh đến cầu nghe pháp thì tùy chỗ mình hiểu biết mà phương tiện thuyết giảng, không phải vì mong được danh lợi mà chỉ nghĩ đến việc lợi mình lợi người để hồi hướng đạo Giác ngộ.2. Giới môn: Tuyệt đối không làm các điều ác, xa lánh chỗ ồn ào, thường ở nơi vắng vẻ, ít tham muốn, luôn biết đủ, tu các hạnh khổ; đối với những tội lỗi nhỏ nhặt cũng sinh tâm sợ hãi, xấu hổ, sửa đổi ăn năn, không coi thường các giới cấm do đức Phật chế định, luôn thận trọng đối với việc chê bai hiềm khích để ngăn ngừa tội lỗi. 3. Nhẫn môn: Chịu đựng được những việc thương tổn não hại do người khác gây ra cho mình mà không ôm lòng sân hận báo thù; cũng nên giữ thái độ thản nhiên trước 8 việc thường diễn ra trong cuộc đời: lợi, hại, khen, chê, tâng bốc, dèm pha, khổ, vui...4. Tiến môn: Đối với các việc lành, lòng hăng hái sốt sắng, lập chí vững chắc mạnh mẽ, siêng tu tất cả công đức lợi mình, lợi người để xa lìa mọi nỗi khổ. 5. Chỉ quán môn: Chỉ là chặn đứng tất cả tướng cảnh giới lăng xăng; Quán là phân biệt các tướng nhân duyên sinh diệt. Nương theo 2 nghĩa này tu tập dần dần, không lìa bỏ nên mau được thành tựu. Ngoài ra, Chỉ quán được phối hợp với 2 môn Chân như và Sinh diệt, tức là: Nương vào môn Chân như dứt bặt các cảnh tướng mà không chỗ phân biệt, thì thành trí Căn bản vô phân biệt, đó là Chỉ môn; nương vào môn Sinh diệt phân biệt các tướng mà quán xét lí thú của các tướng thì thành trí Hậu đắc, đó là Quán môn. Tuy nhiên, 2 môn này chỉ do 1 tâm, vì vậy phải vận dụng cả 2 môn song song mới có thể gọi là Chỉ quán chân chính. [X. Viên giác kinh đại sớ sao Q.5, thượng; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ, phần cuối; Khởi tín luận sớ bút tước kí Q.6; Khởi tín luận nghĩa kí giáo lí sao Q.18, 19]. (xt. Chỉ Quán).
ngũ hình
(五形) Năm hình, chỉ cho hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình bán nguyệt và hình cầu. Mật giáo cho 5 hình này là hình màu của 5 chữ và 5 đại, là gốc của tất cả mọi hình màu. Năm hình theo thứ tự tương ứng với 5 màu: Vàng, trắng, đỏ, đen và xanh. 1. Hình vuông: Chữ (a) địa đại màu vàng. Hình vuông có 4 cạnh đều nhau, biểu thị nghĩa mặt đất an trụ bất động, tương ứng với lí chữ A vốn chẳng sinh. 2. Hình tròn: Chữ (phạ) thủy đại màu trắng. Hình tròn là hình quay vòng tự tại, không trụ 1 chỗ, nước (thủy đại) thì tùy theo đồ đựng chứ không có hình nhất định, cho nên hình tròn tương ứng với nghĩa chữ Phạ là lời nói xoay chuyển không cùng. 3. Hình tam giác: Chữ (ra) hỏa đại màu đỏ. Hình tam giác bén nhọn, biểu thị nghĩa đức dụng mạnh mẽ của lửa(hỏa đại) đốt sạch bụi bặm nhơ nhớp, tương ứng với lí chữ Ra trần cấu bất khả đắc. 4. Hình bán nguyệt: Chữ (ha) phong đại màu đen. Hình bán nguyệt 1 phía là bằng phẳng an trụ, 1 phía là tròn trịa xoay chuyển không an trụ, biểu thị nghĩa hay tạo tác các pháp, tương ứng với chữHagió bão(phong đại) có đủ sức thành tựu cũng như phá hoại các pháp. 5. Hình cầu: Chữ (kha) không đại màu xanh, kết hợp giữa hình tam giác và hình bán nguyệt, vuông tròn chẳng hai, đầy đủ các hình như ý bảo châu, tương ứng với pháp tính chữ Kha đồng như hư không. Thuyết 5 đại, 5 màu và 5 hình này là của Mật giáo, còn Hiển giáo thì chỉ lập 4 đại (đất, nước, lửa, gió), 4 màu(vàng, trắng, đỏ, xanh) và 4 hình(vuông, tròn, tam giác, bán nguyệt) mà thôi. [X. Ngũ luân cửu tự bí thích].
Ngũ Hương
(五香): tức Ngũ Phận Hương (五分香), là 5 phần hương, gồm hương của Giới (s: śīla, p: sīla, 戒), hương của Định (s, p: samādhi, 定), hương của Tuệ (s: prajñā, p: paññā, 慧), hương của Giải Thoát (s: vimukti, p: vimutti, 解脫) và hương của Giải Thoát Tri [Trí] Kiến (s: vimuktijñāna-darśana, p: vimutti-ñāṇadassana, 解脫知[智]見).
ngũ hương
The incense composed of five ingredients: trầm hương, sandalwood; aloes; đinh hương, cloves; nghệ, saffron and long não, camphor.
; (五香) I. Ngũ Hương. Năm thứ hương được chôn xuống đất cùng với 5 vật báu, 5 loại hạt khi lập đàn tu pháp Mật giáo. Đó là: Trầm hương, bạch đàn hương, đinh hương, uất kim hương và long não hương. [X. Thành tựu Diệu pháp liên hoa kinh vương Du già quán trí nghi quĩ; Kiến lập mạn đồ la cập giản trạch địa pháp]. II. Ngũ Hương. Năm thứ hương mà hành giả Mật giáo sắm sửa đầy đủ khi tu pháp để giúp cho việc tu trì tụng các chân ngôn được thành tựu. Đó là: Trầm thủy hương, bạch đàn hương, tử đàn hương, sa la hương và thiên mộc hương. [X. phẩm Bị vật trong kinh Tô tất địa yết ra Q.hạ]. III. Ngũ Hương. Năm loại hương thông dụng trong Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bộ của Mật giáo. Đó là: Sa đường, thế lệ dực ca, tát chiết la sa, ha lê lặc, thạch mật. [X. phẩm Phân biệt thiên hương trong kinh Tô tất địa yết ra Q.thượng]. IV. Ngũ Hương. Năm loại hương được sử dụng khi tu pháp Khổng tước kinh trong Mật giáo. Đó là: Trầm hương, bạch giao hương, tử hương, an tức hương và huân lục hương. [X. Nhũ vị sao Q.2, 25]. V. Ngũ Hương. Cũng gọi Ngũ phần hương, Ngũ phần pháp hương. Hương thanh tịnh của 5 phần pháp thân. Tức chỉ cho Giới hương, Định hương, Tuệ hương, Giải thoát hương và Giải thoát tri kiến hương. [X. Tập chư kinh lễ sám nghi Q.thượng; Đại tạng pháp số Q.33; Kiến lập hộ ma tư kí]. (xt. Ngũ Phần Hương).
ngũ hạ kết
cũng gọi là ngũ độn sử, là năm mối trói buộc của chúng sanh Dục giới, gồm những trói buộc vì quan điểm sai lầm, vì sự nghi ngờ, vì giữ theo tà giới, vì tham lam và vì sân hận. Ngũ hạ kết bao gồm: 1. Thân kết; 2. Giới cấm thủ kết; 3. Nghi kết; 4. Tham kết: trói buộc do lòng tham lam; 5. Sân kết: trói buộc do lòng sân hận.
; Xem ngũ độn sử.
ngũ hạ phần kết
(五下分結) Phạm: Paĩca-àvarahàgìya-saôyo= janàni. Gọi đủ: Ngũ thuận hạ phần kết. Gọi tắt: Ngũ hạ kết, Ngũ hạ. Đối lại: Ngũ thượng phần kết. Chỉ cho 5 thứ kết hoặc(phiền não buộc chặt)thuận theo hạ phần giới, tức là 5 thứ kết hoặc thuộc hạ phần giới (cõi Dục) trong 3 cõi. Năm thứ kết hoặc này buộc chặt chúng sinh trong cõi Dục, khiến không thể nào thoát ra được. Ngũ hạ phần kết là: 1. Dục tham: Đối với cảnh vừa ý sinh tâm tham đắm, không biết thế nào là đủ. 2. Sân khuể: Đối với cảnh trái ý nổi lòng giận tức, mãi không thôi. 3. Hữu thân kiến: Đối với danh(tâm), sắc(sắc thân), 5 ấm, 12 nhập, 18 giới, vọng chấp là thân, bám chặt vào ngã kiến. 4. Giới cấm thủ kiến: Chấp lấy các tà giới phi lí, vô đạo. 5. Si: Tâm mê trái lí, ngờ vực không quyết, do sự ngờ vực này mà mê chân theo vọng, bỏ giác hợp trần. Do 2 kết Dục tham và Sân khuể nói trên mà chúng sinh cõi Dục không thể thoát ra khỏi cõi Dục, nếu người có khả năng vượt thoát nhưng lại do 3 kết sau (Hữu thân kiến, Giới cấm thủ kiến, Nghi) nên cuối cùng cũng trở lại cõi Dục, vì thế lập riêng 5 thứ kết hoặc này mà gọi là Thuận hạ phần kết. Ngũ thuận hạ phần kết lấy 31 việc làm tự tính, Dục tham và Sân khuể mỗi thứ đều là sở đoạn(cái được đoạn trừ)của 5 bộ cõi Dục, cho nên có 10 việc; Hữu thân kiến là Kiến khổ sở đoạn(phiền não do Kiến đạo dứt trừ) trong 3 cõi, vì thế có 3 việc; Giới cấm thủ kiến đều là sở đoạn của Kiến đạo và Tu đạo trong 3 cõi, cho nên có 6 việc; Nghi đều là sở đoạn của 4 bộ trong 3 cõi, vì thế có 12 việc, tổng cộng là 31 việc. [X. kinh Tạp a hàm Q.32; luận Câu xá Q.21; luận Đại tì bà sa Q.49; luận Thuận chính lí Q.54; Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần cuối]. (xt. Ngũ Bộ).
Ngũ hạnh
五行; C: wǔxíng; J: gogyō;|Có các nghĩa sau: |I. Năm pháp tu của Phật giáo Đại thừa được dạy trong Đại thừa khởi tín luận, đó là năm loại đầu trong Lục độ: Bố thí (布施), Trì giới (持戒), Nhẫn nhục (忍辱), Tinh tiến (精進), và Chỉ quán (止観); |II. Năm công hạnh của hàng Bồ Tát được dạy trong kinh Niết-bàn: 1. Thánh hạnh (聖行): chỉ Bồ Tát tu tam học (Giới, Định, Huệ); 2. Phạm hạnh (梵行): tu tập tâm từ bi để cứu giúp chúng sinh; 3. Thiên hạnh (天行): Phát nguyện tu tập vì lợi ích cho người khác; 4. Anh nhi hạnh (嬰兒行): Thể hiện thiện tâm để cứu độ hàng Trời, Người và Tiểu thừa; 5. Bệnh hạnh (病行): thị hiện có các bệnh khổ như chúng sinh để cứu giúp họ;|III. Ngũ hành: Năm thành tố tạo nên vũ trụ theo tư tưởng Trung Hoa cổ đại: Mộc, Hoả, Thổ, Kim, và Thuỷ. Được thấy đầu tiên trong chương Hồng phạm (洪範) của Thư kinh (書經);|VI. Ngũ Thường trong Nho giáo: Nhân (仁), Nghĩa (義), Lễ (禮), Trí (智), Tín (信). (Theo Tuân Tử, Phi thập nhị tử 荀子・非十二子)
ngũ hạnh
(五行) Chỉ cho 5 pháp tu của Bồ tát. 1. Thánh hạnh: Thánh nghĩa là chính. Bồ tát nương vào chính hạnh tu tập giới, định, tuệ. 2. Phạm hạnh: Phạm nghĩa là tịnh (thanh tịnh). Đối với Không và Hữu Bồ tát không nhiễm trước gọi là Tịnh. Đem tịnh tâm này vận dụng vào lòng thương xót, ban niềm vui và chấm dứt các nỗi thống khổ cho chúng sinh. 3. Thiên hạnh: Thiên tức chỉ cho Đệ nhất nghĩa thiên. Bồ tát theo lí thiên nhiên mà tu nên thành tựu diệu hạnh. 4. Anh nhi hạnh: Anh nhi (đứa bé 5, 6 tuổi) ví dụ người, trời, Tiểu thừa. Bồ tát đem tâm từ bi thị hiện tu hành các hạnh thiện nhỏ giống như người, trời, Thanh văn và Duyên giác. 5. Bệnh hạnh: Bồ tát đem tâm bình đẳng vận dụng đại bi vô duyên, thị hiện các hạnh phiền não, bệnh khổ... giống như chúng sinh. Nghĩa của 5 hạnh trên đây là do tông Thiên thai giải thích, trong đó Biệt giáo và Viên giáo phối với 5 hạnh thì có nghĩa khác nhau. Căn cứ theo nghĩa của Biệt giáo thì thứ tự 5 hạnh như sau: 1. Thánh hạnh: Hạnh tự lợi của Bồ tát dưới Sơ địa. 2. Phạm hạnh: Hạnh hóa tha của Bồ tát dưới Sơ địa. 3. Thiên hạnh: Nội chứng của Bồ tát dưới Sơ địa. 4. Anh nhi hạnh: Sự hóa hiện làm các việc thiện tùy theo cảm ứng của Bồ tát từ Sơ địa trở lên. 5. Bệnh hạnh: Sự hóa hiện làm những việc ác tùy theo cảnh ngộ của Bồ tát Sơ địa trở lên. Năm hạnh trên đây trước sau ngăn cách, không dung thông nhau, gọi là Thứ đệ ngũ hạnh. Lại vì đây là hạnh của Biệt giáo nên cũng gọi Biệt ngũ hạnh. Còn căn cứ vào nghĩa của Viên giáo thì 5 hạnh là: 1. Viên thánh hạnh: Lấy sự trang nghiêm của Như lai trong kinh Pháp hoa làm hạnh. 2. Viên phạm hạnh: Là nhà của Như lai. 3. Viên thiên hạnh: Là tòa của Như lai. 4. Viên anh nhi hạnh: Áo nhu hòa của Như lai. 5. Viên bệnh hạnh: Áo nhẫn nhục của Như lai. Năm thứ hạnh này ở trong 1 tâm, tròn đủ không thiếu, tính tu chẳng hai, nhân quả dung tức, là 1 hạnh thực tướng, 1 tức là 5, 5 tức là 1, không là nhau cũng chẳng lìa nhau, không thể nghĩ bàn, vì thế gọi là Bất thứ tự ngũ hạnh, Như lai hạnh, Nhất tâm ngũ hạnh, Viên ngũ hạnh, Nhất ngũ hạnh. Ngoài ra, cứ theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 4, phần cuối, thì Nhất tâm ngũ hạnh tức là Tam đế tam muội, Thánh hạnh tức là Chân đế tam muội, Phạm hạnh, Anh nhi hạnh, Bệnh hạnh tức là Tục đế tam muội, Thiên hạnh tức là Trung đạo vương tam muội. [X. phẩm Thánh hạnh trong kinh Niết bàn Q.11 (bản Nam); Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.3, hạ, Q.4, thượng; Niết bàn kinh sớ Q.13; Đại thừa nghĩa chương Q.12].
ngũ hải
(五海) Năm thứ biển có đầy đủ mọi công đức. I. Ngũ Hải. Chỉ cho 5 phần pháp nghĩa trong tạng Vô tận viên minh tính hải của đức Như lai tự chứng. Tức là: 1. Nhất thiết chư pháp giới hải: Biển hết thảy các pháp giới. 2. Nhất thiết chúng sinh hải: Biển tất cả chúng sinh. 3. Pháp giới nghiệp hải: Biển nghiệp pháp giới. 4. Nhất thiết chúng sinh dục nhạo chư căn hải: Biển các căn ưa muốn của hết thảy chúng sinh. 5. Nhất thiết tam thế chư Phật hải: Biển hết thảy chư Phật 3 đời. Mỗi 1 biển trong 5 biển này đều có đầy đủ tính chất của 4 biển còn lại, vì sự sâu rộng vô cùng và đầy đủ các công đức khó nghĩ bàn của chúng nên gọi là Hải. [X. kinh Hoa nghiêm Q.3 (bản dịch cũ); kinh Giải thâm mật Q.5; phẩm Bồ tát công đức trong kinh Bồ tát địa trì Q.8; luận Du già sư địa Q.46; luận Hiển dương thánh giáo Q.8; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3]. II. Ngũ Hải. Nhân quả phát tâm và tu hành của đức Như lai được chia làm 5 thứ, đó là: 1. Đại từ bi tâm hải: Biển tâm từ bi rộng lớn. 2. Đại viên mãn nhân hải: Biển nhân tròn đầy rộng lớn. 3. Nhất thiết chúng sinh hải: Biển hết thảy chúng sinh(độ hết thảy chúng sinh). 4. Quảng đại thệ nguyện hải: Biển thệ nguyện rộng lớn. 5. Đại tự tại quả hải: Biển quả tự tại to lớn.Sự nghiệp phát tâm, tu hành, độ sinh, thệ nguyện và thành quả của đức Như lai đều sâu rộng, mênh mông không bờ bến như biển cả, nên gọi là Hải. [X. luận Thích ma ha diễn Q.6, 7; Thích ma ha diễn luận sớ Q.hạ, phần đầu].
ngũ hậu đắc trí
(五後得智) Năm trí được sau. Tức là 5 thứ trí tuệ hóa tha đạt được sau khi tu hành trọn đủ các hạnh Bồ tát. Đó là: 1. Thông đạt trí: Trí biết được cảnh muốn thấy 1 cách tự tại. 2. Tùy niệm trí: Trí ở trước lúc quán xét trong tâm rõ biết thực tướng các pháp, sau đó tuy không cần quán xét mà vẫn có thể ghi nhớ mãi không quên. 3. An lập trí: Trí ở trong cảnh giới đã biết rõ các pháp, có thể thiết lập chính giáo dạy người khác tu hành. 4. Hòa hợp trí: Dùng trí tuệ đã được, quán xét cảnh các pháp hòa hợp, chuyển hóa tất cả phiền não thành bồ đề. 5. Như ý trí: Trí có khả năng đạt được tất cả mọi việc theo ý muốn 1 cách tự tại.
ngũ hắc
(五黑) Đối lại: Ngũ giới. Năm đen, nghĩa là nghiệp ác nhơ nhớp. Tức chỉ cho 5 điều ác: Giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối và uống rượu. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ].
ngũ hệ
(五系) Năm buộc. Nghĩa là dùng 5 loại xác chết như xác người chết, xác rắn chết v.v... buộc lấy Thiên ma ba tuần khiến nó không đi lại được. Hoặc có thuyết cho rằng buộc 5 chỗ: Hai tay, 2 chân và cổ của Thiên ma. Pháp hoa kinh tam đại bộ bổ chú quyển 5 dẫn lời giải thích của ngài Chương an cho rằng Ngũ hệ chia làm 2 thứ: Ngũ thi hệ và Hệ ngũ xứ. Trong đó, Ngũ thi chỉ cho xác người chết, rắn chết, chó chết v.v... còn Hệ ngũ xứ là buộc 5 chỗ. Theo kinh Thủ lăng nghiêm tam muội thì buộc ở 2 tay, 2 chân và cổ gọi là Ngũ xứ hệ ma (trói ma ở 5 chỗ). Còn Ngũ thi hệ thì như dùng quán bất tịnh để đối trị ma ái dục; Ngũ xứ hệ thì như lí đối trị ma chấp trước tà kiến. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.6 (bản Bắc)].
ngũ hối
(五悔) Cũng gọi Ngũ sám hối. Năm pháp sám hối để diệt trừ tội lỗi. I. Ngũ Hối. Theo tông Thiên thai, khi tu Pháp hoa tam muội thì có 5 pháp sám: 1. Sám hối: Ăn năn tội lỗi và tu tập quả lành.2. Khuyến thỉnh: Khuyến thỉnh chư Phật trong 10 phương quay bánh xe pháp cứu độ chúng sinh. 3. Tùy hỉ: Vui mừng, khen ngợi những hạnh lành của người khác. 4. Hồi hướng: Hồi hướng công đức của hạnh lành về giác ngộ. 5. Phát nguyện: Phát nguyện quyết tâm thành Phật. Năm pháp sám hối trên đây, tông Thiên thai gọi là Biệt phương tiện hạnh, giúp cho việc tu Pháp hoa tam muội, từ 5 phẩm vị đầu tiên đến giai vị Đẳng giác, mỗi giai vị đều phải siêng năng thực hành phương tiện này để giúp đỡ Quán môn. [X. Ma ha chỉ quán Q.7, hạ; Tu sám yếu chỉ].II. Ngũ Hối. Chỉ cho 5 bài kệ được đọc khi tu pháp Kim cương giới của Mật giáo, đó là: Qui mệnh, Sám hối, Tùy hỉ, Khuyến thỉnh và Hồi hướng. Năm bài kệ này có thể được phối hợp với 5 trí và cùng nghĩa với 10 nguyện rộng lớn của bồ tát Phổ hiền, cho nên cũng gọi Phổ hiền hạnh nguyện tán. [X. Kim cương đính Liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ; Kim cương đính kinh Kim cương giới đại đạo tràng; Tì lô già na Như lai Tự thụ dụng thân nội chứng trí quyến thuộc pháp thân dị danh Phật tối thượng thừa bí mật tam ma địa lễ sám văn; Nhũ vị sao Q.1]. (xt. Mật Giáo Sám Pháp).
Ngũ Hồ
(五湖): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi chung của 5 hồ lớn ở vùng Giang Nam (江南), như trong Sử Ký (史記), phần Tam Vương Thế Gia (三王世家) có câu: “Đại Giang chi nam, Ngũ Hồ chi gian, kỳ nhân khinh tâm (大江之南、五湖之間、其人輕心, ở phía Nam của Đại Giang, khoảng giữa của Ngũ Hồ, lòng người nhẹ nhõm).” Tư Mã Trinh (司馬貞) giải thích rằng: “Ngũ Hồ giả, Cụ Khu, Thao Cách, Bành Lễ, Thanh Thảo, Động Đình thị dã (五湖者、具區、洮滆、 彭蠡、青草、洞庭是也, Ngũ Hồ là Cụ Khu, Thao Cách, Bành Lễ, Thanh Thảo, Động Đình).” Trong Đan Duyên Tổng Lục (丹鉛總錄), phần Địa Lý (地理) của Dương Thận (楊愼, 1488-1559) nhà Minh có ghi rằng: “Vương Bột văn 'khâm Tam Giang nhi đới Ngũ Hồ', tắc tổng ngôn Nam phương Ngũ Hồ; Động Đình nhất dã, Thanh Thảo nhị dã, Bà Dương tam dã, Bành Lễ tứ dã, Thái Hồ ngũ dã (王勃文'襟三江而帶五湖'、則總言南方之湖、洞庭一也、青草二也、鄱陽三也、彭蠡四也、太湖五也, đoạn văn 'ôm Ba Sông mà mang Năm Hồ' của Vương Bột là tên gọi chung của năm hồ lớn ở phương Nam; một là Động Đình, hai là Thanh Thảo, ba là Bà Dương, bốn là Bành Lễ, năm là Thái Hồ).” Thao Cách nay là Hồ Trường Đãng (長蕩湖) ở Giang Tô (江蘇); Bành Lễ hiện tại là Hồ Bà Dương; Thanh Thảo nay thuộc Đông Nam bộ của Động Đình Hồ. (2) Chỉ Động Đình Hồ, như trong bài thơ Quy Nhạn (歸雁) của thi hào Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Niên niên sương lộ cách, bất quá Ngũ Hồ thu (年年霜露隔、不過五湖秋, hằng năm sương khói phủ, chẳng qua Ngũ Hồ thu).” (3) Chỉ cho 5 hồ lớn hiện tại ở vùng Hoa Trung (華中) và Hoa Đông (華東); gồm: Hồ Động Đình, Hồ Bà Dương, Hồ Sào (巢湖), Hồ Hồng Trạch (洪澤湖) và Thái Hồ (太湖). (4) Vào cuối thời Xuân Thu (春秋), quan Đại Phu của nước Việt là Phạm Lãi (范蠡), bổ tá Việt Vương Câu Tiễn (越王勾踐) đi diệt vong nhà Ngô; sau khi thành công, ông lui về ẩn cư, cỡi thuyền con mà ẩn cư nơi Ngũ Hồ; cho nên về sau Ngũ Hồ được dùng để chỉ cho nơi ẩn cư. Như trong bài thơ Thư Tình Tặng Thái Xá Nhân Hùng (書情贈蔡舍人雄) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Ngã túng Ngũ Hồ trạo, yên đào tứ băng bôn (我縱五湖棹、煙濤恣崩奔, ta tung hoành khắp chốn, khói mây mặc rong chơi).”
ngũ hội niệm phật
(五會念佛) Cũng gọi Ngũ hội chân thanh. Năm hội niệm Phật do ngài Pháp chiếu đời Đường phỏng theo sự miêu tả gió thổi cây báu phát ra 5 thứ âm thanh trong kinh Vô lượng thọ mà sáng lập pháp môn Năm hội niệm Phật làm cho kẻ tăng người tục ham thích cảnh Tịnh độ. Nghi thức này thường lựa chọn 1 số vị xuất gia, tại gia có giọng hay, tiếng tốt, họp tập lại, uy nghi tề chỉnh, chia làm 5 hội, dựa theo 5 âm điệu cao thấp, nhanh chậm mà niệm Phật. Hội thứ nhất niệm chậm rãi, âm điệu trầm bình; hội thứ 2 cũng niệm chậm rãi nhưng âm điệu cao hơn; hội thứ 3 niệm không chậm không nhanh; hội thứ 4 niệm nhanh dần; hội thứ 5 niệm nhanh hơn. Năm hội niệm Phật này có năng lực: Trừ 5 khổ, dứt 5 cái(phiền não), cắt đứt 5 đường, tịnh hóa 5 mắt, đầy đủ 5 căn, thành tựu 5 lực, được giác ngộ, đủ 5 giải thoát, mau chóng thành tựu 5 phần pháp thân... Hiện nay, tại Nhật bản, phái Bản nguyện tự thuộc Chân tông vẫn còn thực hành pháp môn niệm Phật này. [X. Tịnh độ ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán, phần đầu; Tịnh độ ngũ hội niệm Phật tụng kinh quán hành nghi].
ngũ hội pháp sư
(五會法師) Tiếng tôn xưng ngài Pháp chiếu đời Đường, người sáng lập pháp môn Ngũ hội niệm Phật và được xem là hậu thân của Đại sư Thiện đạo. (xt. Ngũ Hội Niệm Phật, Pháp Chiếu).
Ngũ không
五空; C: wǔkōng; J: gokū;|Năm loại tính Không (được đề cập trong kinh Kim Cương tam-muội (金剛三昧經; s: vajrasamādhi-sūtra): Tam giới không, Lục thú không, Pháp tướng không, Danh sắc không, Nghĩa thức không.
ngũ khổ
Five kinds of suffering, Five sufferings.
; (五苦) Năm thứ khổ não. Trong các kinh luận, có nhiều thuyết khác nhau về Ngũ khổ. Như kinh Ngũ khổ chương cú nêu 5 nỗi khổ trong 5 đường là: 1. Chư thiên khổ: Tất cả người các cõi trời đều chịu khổ sinh già bệnh chết, tùy theo nghiệp đã tạo ở đời trước mà quyết định tuổi thọ dài hay ngắn; đồng thời các trời đều có 2 đại nạn là hết số và hết kiếp. 2. Nhân đạo khổ: Từ kẻ nô tì đến bậc Chuyển luân Thánh vương đều phải chịu vô lượng trăm ngàn nỗi khổ như sống, già, bệnh, đói, khát, rét, bức, v.v... 3. Súc sinh khổ: Các loài chim, thú, trùng, cá... đều chịu muôn thứ khổ như: Đói, khát, lạnh, nóng, làm thực phẩm cho người và ăn nuốt lẫn nhau. 4. Ngã quỉ khổ: Quỉ đói thân cao 1 do tuần, mà cổ họng nhỏ như lỗ kim, từ trong yết hầu phun ra lửa, ăn uống không được. 5. Địa ngục khổ: Địa ngục có các cái khổ của 8 địa ngục lạnh, 8 địa ngục nóng như: thành bằng sắt, vạc dầu sôi, rừng gươm, núi dao v.v... Luận Du già sư địa quyển 44, nêu 5 thứ khổ: Khổ vì bị bức bách, khổ vì thiếu thốn đủ thứ, khổ vì cõi đời bất bình đẳng, khổ vì cái mình yêu thích bị biến hoại và khổ vì những phiền não thô trọng trong 3 cõi. Đại minh tam tạng pháp số quyển 24 nêu 5 khổ: 1. Sinh lão bệnh tử khổ: Chúng sinh lúc mới đầu thai ở trong bụng mẹ chật chội nhớp nhúa; đến lúc ra khỏi thai(sinh), gió lạnh chạm vào mình thì như bị vật gì đâm, đến lúc tuổi già(lão), khí lực suy yếu, đi đứng không vững, còn bị ốm đau,(bệnh) nóng lạnh não hại, cuối cùng lúc chết(tử) thì 4 đại tan rã, thần thức phiêu tán, các duyên ấy thảy đều là khổ. 2. Ái biệt li khổ: Người mình yêu thương thì phải xa cách, lìa tan, không được sống chung 1 chỗ. 3. Oán tăng hội khổ: Người mình chán ghét, vốn muốn xa lánh thì lại cứ phải gặp nhau luôn. 4. Cầu bất đắc khổ: Đối với các cảnh sắc thanh ở thế gian và tất cả lợi dưỡng đáng yêu thích, lòng tham muốn lắm mà không đạt được. 5. Ngũ ấm thịnh khổ: Ngũ ấm tức sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Ở đây là chỉ chung cho 1 thân người. Nghĩa là thân 5 ấm chịu các nỗi khổ rất mãnh liệt. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.7; luận Hiển dương thánh giáo Q.15; Quán vô lượng thọ kinh sớ (Trí khải); Du già sư địa luận lược toản Q.11].
ngũ kim cương bồ tát
(五金剛菩薩) Cũng gọi Ngũ Bí mật. Năm vị bồ tát Kim cương của Kim cương giới Mật giáo. 1. Kim cương Tát đỏa: Ngồi ở chính giữa. 2. Bồ tát Kim cương Dục: Ngồi ở phía đông. 3. Bồ tát Kim cương Xúc: Ngồi ở phía nam. 4. Bồ tát Kim cương Ái: Ngồi ở phía tây. 5. Bồ tát Kim cương Mạn: Ngồi ở phía bắc.Năm vị tôn bồ tát Kim cương này cùng ngồi trong 1 vòng tròn, hàm ý không ở trong sinh tử, để bày tỏ cái đức đại trí; 5 vị tôn cùng ngồi ở 1 hoa sen, tức hàm ý không trụ nơi Niết bàn, để bày tỏ cái đức đại bi. Trong 5 vị tôn này, Kim cương Tát đỏa là chủ, còn các vị Dục, Xúc, Ái, Mạn đều mang tên các phiền não là hiển bày cái ý sâu xa, mầu nhiệm, bí mật: Phiền não tức bồ đề, nhiễm tịnh không hai, nhân quả đồng thể, sự tức chân thực, cho nên gọi là Ngũ Bí mật. [X. Lí thú thích Q.thượng; Đại lạc kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ]. (xt. Ngũ Bí Mật).
ngũ kinh
Paca-piṭaka (S).
Ngũ kiến
五見; C: wǔjiàn; J: goken; S: pañca-dṛṣṭi.|Năm nhận thức sai lầm. »Ngũ kiến« (五見) còn được gọi là Ngũ ác kiến (五惡見) và Ác kiến (惡見). Đó là:|1. Ngã kiến (我見): quan niệm chấp trước về tự thể tồn tại riêng biệt của bản ngã, đi đôi với quan niệm thực có bản ngã sở hữu mọi thứ trong vũ trụ. Còn gọi là Thân kiến (身見), Hữu thân kiến (有身見; s: satkāya-dṛṣṭi); 2. Biên kiến (邊見; s: antaparigraha-dṛṣṭi): quan niệm chấp trước về một bên, hoặc là thường kiến (e: eternalism), hoặc là đoạn kiến (e: nihilism); 3. Tà kiến (邪見; s: mithyā-dṛṣṭi): Không có kiến giải chân chính về mối tương quan nhân quả; 4. Kiến thủ kiến (見取見; s: dṛṣṭi-parāmarśa-dṛṣṭi): Kiến chấp cho một quan niệm sai lầm rồi áp đặt trên những quan niệm khác; 5. Giới cấm thủ kiến (戒禁取見; śīla-vrataparāmarśa-dṛṣṭi): Quan niệm chấp trước sai lầm về tu khổ hạnh, giới luật và thệ nguyền của ngoại đạo có thể dẫn đến chân lí.|Bốn kiến giải đầu loại trừ kiến giả cuối cùng được gọi là Tứ kiến (四見).
ngũ kiến
xem năm kiến chấp.
; The five wrong views: (1) Thân kiến, satkàya-drsti, i.e. ngã kiến, ngã sở kiến, the view that there is a real self, an ego, and a mine and thine; (2) Biên kiến, antargràha, extreme views, e.g đoạn extinction or thường permanence; (3) Tà kiến, mithyà, perverse view, which, denying cause and effect, destroy the foundation of morality; (4) Kiến thủ kiến, drstiparàmarsa, stubborn perverted views, viewing inferior things as superior, or counting the worse as the better; (5) Giới cấm thủ kiến, silà-vrata-paràmarsa, rigid views in favour of rigorous ascetic prohibitions, e.g. covering oneself with ashes.
; (五見) Phạm: Paĩca-dfwỉaya#. Cũng gọi Ngũ nhiễm ô kiến, Ngũ tịch kiến, Ngũ lợi sử. Chỉ cho 5 thứ ác kiến trong các phiền não căn bản. Đó là: 1. Tát ca da kiến: (Phạm:Sat-kàyadfwỉi): Thuyết nhất thiết hữu bộ giải thích là: Hữu thân kiến, Ngụy thân kiến, Hoại thân kiến, Thân kiến; Kinh bộ thì giải thích là hư ngụy; còn tông Duy thức thì giải thích là di chuyển. Tức tự chấp có sự tồn tại của cái ta, gọi là Ngã kiến; cho rằng vật này thuộc về ta thì gọi là Ngã sở kiến. 2. Biên chấp kiến: (Phạm:Anta-gràhadfwỉi), cũng gọi Biên kiến: Kiến giải cực đoan, chỉ chấp 1 bên, như cho rằng sau khi ta chết vẫn thường còn không mất, đây gọi là Thường kiến(Hữu kiến); hoặc cho rằng sau khi ta chết thì dứt hẳn, đây gọi là Đoạn kiến(Vô kiến). 3. Tà kiến: (Phạm:Mithyà-dfwỉi): Kiến giải chối bỏ đạo lí nhân quả. 4. Kiến thủ kiến: (Phạm: Dfwỉiparàmarza): Tức kiến giải chấp trước sự sai lầm cho là chân thực. 5. Giới cấm thủ kiến: (Phạm:Zìlavrata-paràmarza), cũng gọi Giới thủ kiến, Giới đạo kiến. Kiến giải cho những qui luật, cấm chế không chân chính là giới hạnh có thể đạt được Niết bàn. [X. luận Đại tì bà sa Q.46; luận Câu xá Q.19; luận Thành thực Q.10]. (xt. Ngũ Lợi Sử).
ngũ kiếp tư duy
(五劫思惟) Chỉ cho sự tư duy suốt trong thời gian 5 kiếp. Lúc đức Phật A di đà còn ở địa vị tu nhân là tỉ khưu Pháp tạng, trước khi phát 48 thệ nguyện, Ngài đã từng tư duy trong suốt thời gian 5 kiếp. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 267 hạ), nói: Lúc bấy giờ vị tỉ khưu kia nghe Phật nói về cõi nước trang nghiêm thanh tịnh, thảy đều thấy rõ, liền phát thệ nguyện thù thắng vô thượng, tâm Ngài vắng lặng, không đắm trước các pháp, tất cả thế gian không ai sánh kịp. Ngài tư duy trong suốt 5 kiếp, đầy đủ các hạnh thanh tịnh, trang nghiêm nước Phật. Ngoài ra, tượng Phật A di đà tư duy trong 5 kiếp được gọi là Ngũ kiếp tư duy Di đà, tương Phật A Di Đà Tư Duy Năm Kiếp truyền do Đại sư Thiện đạo vẽ, hiện được thờ ở chùa Đông đại tại huyện Nại lương, Nhật bản. [X. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn); Vô lượng thọ nghĩa sớ (Cát tạng); Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.trung].
ngũ kì đặc mộng
(五奇特夢) Năm điềm mộng đặc biệt kì lạ. Cứ theo kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1, thủa xa xưa, khi còn ở địa vị tu nhân, đức Thế tôn là tỉ khưu Thiện tuệ đang tu đạo ở trong núi. Có lần mộng thấỵ điều kì lạ, Ngài liền đến thỉnh ý đức Phổ quang Như lai giải thích cho. 1. Mộng nằm trên biển cả: Cho biết thân đức Thế tôn hiện còn đang ở trong biển sinh tử, chưa đến được bờ bên kia, chưa chứng Niết bàn. 2. Mộng gối đầu trên núi Tu di: Cho biết đức Thế tôn đã ra khỏi biển sinh tử, lên bờ bên kia, sắp chứng Niết bàn. 3. Mộng thấy tất cả chúng sinh ở trong biển nhập vào thân mình: Cho biết đức Thế tôn sẽ ở trong biển trần lao làm chỗ nương tựa cho chúng sinh, giúp đỡ các hữu tình vượt sang bờ bên kia. 4. Mộng thấy tay cầm mặt trời: Cho biết đức Thế tôn đem ánh sáng trí tuệ soi rọi khắp pháp giới, mở đường dẫn lối từ mê mờ về chính giác. 5. Mộng tay cầm mặt trăng: Cho biết đức Thế tôn dùng trí phương tiện đi vào thế giới sinh tử trần lao, dùng pháp thanh lương, giáo hóa chúng sinh khiến xa lìa nhiệt não.
ngũ kế
(五髻) Năm búi tóc. Tóc của các pho tượng trong Mật giáo thường được tết lại thành 5 búi: Trước, sau, bên trái, bên phải và chính giữa để biểu thị 5 Phật, 5 trí. Như tóc của bồ tát Văn thù sư lợi được tết thành 5 búi gọi là Ngũ kế Văn thù. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 635 thượng) nói: Vẽ hình tượng bồ tát Văn thù sư lợi, thân màu vàng ròng, trên đỉnh đầu có 5 búi tóc (...). Đầu có 5 búi tóc là tượng trưng cho 5 trí Như lai đã thành tựu từ lâu.
ngũ kế quán
(五髻冠) Mũ báu có hình 5 búi tóc được sử dụng trong Mật giáo, biểu thị cho 5 thứ trí. Kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 8 thượng) nói: Hành giả trì chân ngôn, kế đó đến viện thứ 3, trước hết vẽ hình bồ tát Diệu cát tường, thân màu vàng ròng đầu đội Ngũ kế quan, giống như hình đồng tử.
ngũ kết
(五結) Năm thứ phiền não: Tham kết, Sân kết, Mạn kết, Tật kết và Khan kết. Năm phiền não này như những sợi dây trói buộc chúng sinh, làm cho trôi nổi lăn lộn mãi trong 3 cõi sống chết, không cách nào thoát ra được, vì thế gọi là kết(buộc chặt). [X. Trung a hàm Q.56; luận A tì đạt ma phát trí Q.3; luận Tập dị môn túc Q.12; luận Đại tì bà sa Q.49]. (xt. Kết).
ngũ kết nhạc tử
(五結樂子) Thần âm nhạc theo hầu trời Đế thích. Vị thần từng đến nhà Nhân đà la ở núi Bệ đà đề, phía bắc thôn Nại lâm, phía đông thành Vương xá, gẩy đàn cầm lưu li khen ngợi công đức của Phật. [X. kinh Trung a hàm Q.33].
ngũ li bố uý
(五離怖畏) Xa lìa 5 thứ sợ hãi. 1. Không bị lửa tham thiêu đốt. 2. Không sinh giận dữ. 3. Không bị gươm dao làm hại. 4. Không trôi nổi trong sông yêu thương. 5. Không bị các thứ khói vọng tưởng xông hại.
ngũ loại
(五類) Cũng gọi Ngũ loại môn. Tất cả các pháp tùy theo tính chất mà được chia làm 5 bộ loại: 1. Dị thục sinh: Cái do nhân dị thục sinh ra, nghĩa là quả báo do nghiệp nhân thiện ác ở quá khứ mang lại. 2. Sở trưởng dưỡng: Những vật ở hiện tại được nuôi lớn bằng ăn uống, thuốc thang... từ nhỏ biến thành lớn, từ ngắn đổi ra dài. Thể của chúng là do cực vi tạo nên.3. Đẳng lưu tính: Tính trước sau đều như nhau, lưu loại giống nhau, nhân trước quả sau giống nhau liên tục sinh ra. Tức là những cái do nhân đồng loại và nhân biến hành sinh ra, chứ không phải cái thuộc về Di thục sinh và Sở trưởng dưỡng. 4. Hữu thực sự: Không có 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt trôi chảy đổi dời. Tức chỉ cho pháp Vô vi, Pháp giới trong 18 giới có pháp Vô vi này, vì thế gọi là Hữu thực sự. 5. Nhất sát na: Chỉ cho pháp tồn tại 1 sát na trong hiện tại, tức là pháp sơ vô lậu của giai vị Kiến đạo, là cái mà từ vô thủy đến nay chưa từng phát khởi, thế mà trong 1 sát na hiện tại bỗng nhiên sinh khởi. [X. luận Câu xá Q.2; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Thuận chính lí Q.5; luận Du già sư địa Q.54, 64; luận Ngũ sự tì bà sa Q.hạ].
ngũ loại thanh
(五類聲) Cũng gọi Ngũ ngũ thanh, Tương tùy thanh, Ngũ cú. Năm loại thanh của 25 phụ âm (văn thể) trước trong 35 chữ phụ âm Tát đàm. Đó là: Âm răng hàm, âm răng, âm lưỡi, âm cổ họng, và âm môi. 1. Năm chữ như: ... tức là âm răng hàm, thuộc âm hầu (gutturals), là âm từ cổ họng phát ra. 2. Năm chữ như: ... tức là âm răng, thuộc về âm ngạc (palatals), là âm phát ra do đầu lưỡi tiếp xúc với hàm ếch. 3. Năm chữ như: ... tức âm lưỡi, thuộc âm nướu (linguals) là âm do đầu lưỡi chạm vào chân răng hàm trên mà phát ra. 4. Năm chữ như: .... tức âm cổ họng, thuộc âm răng (dentals) là âm đầu lưỡi chạm vào răng mà phát ra. 5. Năm chữ như: ... tức âm môi, thuộc âm môi (labials) là âm phát ra do 2 môi mở rộng.(xt. Tất Đàm).
ngũ loại thiên
The five kinds of devas: (1) Thượng giới thiên, in the upper realms of form and non form; (2) Hư không thiên, in the sky, i.e. four of the six devas of the desire-realm; (3) Địa cư thiên, on the earth, i.e. the other two of the six devas; (4) Du Hư không thiên, wandering devas of the sky, e.g. sun, moon, stars; (5) Địa hạ thiên, under-world devas, e.g. nàgas, asuras, màras, etc..
; (五類天) Chư thiên thuộc Ngoại kim cương bộ của Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo có 5 loại khác nhau. Bí tạng kí nêu 5 loại ấy như sau: 1. Thượng giới thiên: Chỉ cho người trời ở cõi Sắc và Vô sắc. 2. Hư không thiên: Chỉ cho 4 cõi trời từ trời Dạ ma trở lên. 3. Địa cư thiên: Chỉ cho 4 Thiên vương và trời Đao lợi. 4. Du hư không thiên: Chỉ cho mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao. 5. Địa hạ thiên: Chỉ cho loài rồng, A tu la, vua Diêm ma... Còn theo Thập bát hội chỉ qui thì Ngũ loại chư thiên là: 1. Cư thượng giới thiên vương: Chỉ cho trời Ma hê thủ la... 2. Du hư không chư thiên: Chỉ cho Nhật thiên tử. 3. Cư hư không thiên: Chỉ cho Ma vương... 4. Địa cư thiên: Chỉ cho Chủ tạng thiên... 5. Địa hạ thiên: Chỉ cho Phạ ra hi thiên... Ngoài ra, Chư bộ yếu mục và kinh Giáo vương (bản 30 quyển) đều nói 20 thiên chia làm 5 loại. [X. kinh Đại giáo vương Q.10; Lí thú thích Q.hạ; Hiền kiếp thập lục tôn; Đà la ni chư bộ yếu mục].
ngũ loại thuyết pháp
(五類說法) Sự thuyết pháp trong bộ kinh Hoa nghiêm được chia làm 5 loại khác nhau. Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1, thì 5 loại thuyết pháp ấy như sau: 1. Phật nói: Như phẩm A tăng kì, phẩm Tùy hảo... là do chính đức Phật nói. 2. Bồ tát nói: Như phẩm Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng v.v... là do các vị đại Bồ tát nói. 3. Thanh văn nói: Như phần đầu của phẩm Nhập pháp giới là do hàng Thanh văn nương nhờ thần lực của đức Phật gia bị mà nói. 4. Chúng sinh nói: Như các bài kệ khen ngợi của Phạm thiên v.v... Vả lại, bản thể của chư Phật và chúng sinh vốn không hai, cho nên pháp do Phật nói cũng chính là chúng sinh nói. 5. Khí thế giới nói: Như cây Bồ đề diễn nói tiếng pháp. Khí thế giới nói là chỉ cho cỏ cây, đất nước v.v... là những thứ do thần lực không thể nghĩ bàn của Phật biến hiện ra. [X. Hoa nghiêm kinh sớ diễn nghĩa sao Q.8; Giáo thừa pháp số Q.17].
ngũ luân
The five wheels, or things that turn: (1) The ngũ thể or five members, i.e. the knees, the elbows, the head; (2) The five foundations of the world: the wheel of space, the wheel of wind, the wheel of water, the wheel of diamond or earth, on these rest the nine concentric circles and eight seas; (3) The five elements, earth, water, fire, air and space.
; (五輪) I. Ngũ Luân. Trong Mật giáo, Ngũ luân chỉ cho 5 trí luân, tức là 5 đại: Đất, nước, lửa, gió và không. Năm đại này như cái vòng tròn xoay chuyển cùng khắp, không khiếm khuyết nên gọi là Ngũ luân(5 vòng tròn). Nếu đem 5 phần của thân thể chúng sinh(đầu, mặt, ngực, rốn, đầu gối)tương ứng với 5 đại, theo thứ tự phối hợp với 5 luân (không, gió, lửa, nước, đất)và 5 chữ Tất đàm ( , , , , ) để quán tưởng thì gọi là Ngũ luân quán, hoặc Ngũ luân thành thân quán. Phương pháp quán tưởng này giúp hành giả thể nhận được thân mình tức là thân Phật. Pháp quán Ngũ tướng thành thân của Kim cương giới là đối lại với pháp quán Ngũ luân thành thân của Thai tạng giới. Nếu đứng về phương diện thân hình của chúng sinh mà nói, thì Ngũ luân nghĩa là ngũ thể(đầu,2 tay, 2 đầu gối). Lại nữa, vì sắc không lìa tâm, tâm chẳng lìa sắc, cho nên có thể nói được là 5 đại tức 5 trí, 5 trí tức 5 luân. Nếu nói theo màu sắc và hình dáng thì trong 5 luân, không là hình cầu màu xanh, gió là hình bán nguyệt màu đen, lửa là hình tam giác màu đỏ, nước là hình tròn màu trắng và đất là hình vuông màu vàng. [X. Tôn thắng Phật đính tu Du già pháp quĩ nghi Q.thượng; Ngũ luân cửu tự minh bí mật thuyết]. (xt. Ngũ Tự Nghiêm Thân Quán). II. Ngũ Luân. Chỉ cho tháp Ngũ luân. Tức là dùng những cái nêu 5 luân lần lượt xếp đống lên thành hình tháp, tượng trưng cho hình tướng pháp thân của đức Đại nhật Như lai. [X. kinh Lăng già Q.1]. (xt. Ngũ Luân Tháp). III. Ngũ Luân. Chỉ cho 5 ngón tay. Tức theo thứ tự từ ngón út, ngón vô danh v.v... phối hợp với 5 luân: Đất, nước, lửa, gió và không. [X. Quảng đại nghi quĩ; Tôn thắng Phật đính tu Du già pháp nghi quĩ; Kiến lập mạn đồ la hộ ma nghi quĩ]. IV. Ngũ Luân. Chỉ cho Ngũ giải thoát luân của Kim cương giới. Tức ở trong 1 cái vòng tròn Kim cương lớn, bày xếp 5 cái vòng tròn, để tượng trưng cho chỗ giải thoát của 5 đức Phật. (xt. Ngũ Giải Thoát Luân).
Ngũ luân cửu tự minh bí mật thích
五輪九字明祕密釋; C: wǔlún jiǔzì míng mìmì shì; J: gorin kuji myō himitsu shaku;|Luận giải về năm luân xa và chín chủng tự bí mật do Giác Tông (覺鑁; j: kakuban) biên soạn. Trình bày về nhiều loại thiền định bí mật, các pháp quán tưởng để hợp nhất sự thăng hoa. Năm luân xa trong thân thể tương quan với Ngũ tạng (五藏) trong lí thuyết đạo Lão (giải thích bằng hình minh hoạ), và chín chủng tự chân ngôn của Phật A-di-đà, hrīḥ a mṛ ta te se ha ra hūṃ, tương ứng với mạn-đồ-la của 8 vị Đại Bồ Tát chung quanh Phật A-di-đà. Xin xem bản dịch tiếng Anh của Pruden (1979).
ngũ luân quán
(五輪觀) Cũng gọi Ngũ trí luân, Ngũ luân tam ma địa, Ngũ luân thành thân quán Pháp quán của Thai tạng giới Mật giáo phối hợp 5 luân, 5 chữ trên 5 chỗ: Đỉnh đầu, mặt, ngực, rốn và đầu gối của tự thân hành giả. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 14, khi vị A xà lê muốn kiến lập Đại bi thai tạng kiến lập đệ tử, thì trước hết phải trụ trong Du già mà quán thân mình: Từ rốn trở xuống phải quán tưởng là Kim cương luân hình vuông, chính giữa đặt chữA; từ rốn trở lên đến tim quán tưởng là Thủy luân hình tròn, ở chính giữa đặt chữVa; từ tim trở lên đến cổ họng phải quán tưởng là Hỏa luân hình tam giác, chính giữa đặt chữRa; từ cổ họng trở lên đến đỉnh đầu phải quán tưởng là Phong luân hình bán nguyệt, chính giữa đặt chữ Ha; cuối cùng ở khoảng không trên hết quán tưởng 1 cái chấm, để trên chữ Thập (..), trong cái chấm đặt chữ Kha. Tức có nghĩa là xả bỏ cái thân thịt do mẹ cha sinh, vào thẳng hình Tam muội da của Đại nhật Như lai để trở thành thân Phật tướng tốt tròn đầy. Ngũ luân quán này khác với Ngũ tướng thành thân quán của pháp Kim cương giới, nhưng là pháp quán cùng loại với Ngũ tự nghiêm thân quán và Chi phần sinh mạn đồ la. [X. Tôn thắng Phật đính tu Du già pháp quĩ nghi Q.thượng; Quảng đại nghi quĩ Q.thượng; Ngũ luân cửu tự minh bí mật thích].
ngũ luân tam muội
(五輪三昧) Cũng gọi Ngũ luân thiền. Năm thứ công đức do tu thiền định mà được. Năm pháp môn này là mượn thí dụ để đặt tên, vì đã xa lìa tâm tán loạn ở cõi dưới(cõi Dục), lần lượt chuyển lên đến quả cùng tột của giai vị Vô học, nên gọi là Luân. Đó là: 1. Địa luân tam muội: Hành giả ở trong Chỉ, nếu chứng định Vị đáo địa thì bỗng nhiên tâm lặng lẽ, tự biết tướng của thân và tâm đều không, an nhiên vào định, giữ tâm không động, giống như đất có 2 nghĩa: Trụ vững bất động và sinh ra muôn vật. 2. Thủy luân tam muội: Hành giả ở trong Địa luân, nếu phát sinh các công đức thiền định, nước định thấm nhuần tâm, tự biết mầm lành trong tâm thêm lớn, thân tâm nhẹ nhàng, diệt trừ tâm cao mạn, tâm theo pháp lành; hệt như nước có 2 nghĩa: Thể tính nhuần thấm và nuôi lớn muôn vật.3. Phong luân tam muội: Hành giả nếu nhờ thiền định mà phát được trí tuệ tương tự, phương tiện vô ngại, được đạo phương tiện thì có thể phát khởi các thứ thiện căn xuất thế, công đức thêm lớn, cũng có khả năng diệt trừ tất cả các kiến chấp phiền não; giống như gió có 3 nghĩa: Di chuyển trong hư không 1 cách vô ngại, cổ động vạn vật và có khả năng phá hoại. Nếu hàng Nhị thừa được Tam muội này thì tức là tướng 5 phương tiện tựa vô lậu giải phát sinh; còn nếu hàng Bồ tát chứng Tam muội này thì liền vào Thập tín thiết luân. 4. Kim sa luân tam muội: Kim (vàng) ví dụ chân thực; Sa (cát) ví dụ không dính mắc. Nếu hành giả phát được trí tuệ chân thực về Kiến hoặc, Tư hoặc, không bám không dính thì chứng được 3 đạo quả, cũng như vàng và cát, cho nên gọi là Kim sa luân tam muội. Nếu Bồ tát chứng Tam muội này thì liền vào giai vị Tam hiền Thập địa, có khả năng phá trừ hết thảy trần sa phiền não.5. Kim cương luân tam muội, cũng gọi Thanh tịnh thiền. Tức là đạo vô ngại thứ 9; ví như kim cương, thể cứng chắc, dụng sắc bén, có công năng phá nát mọi vật mà không bị vọng hoặc xâm hại, có khả năng cắt đứt hết thảy kết sử, thành tựu quả A la hán. Nếu Tam muội này ở trong tâm Bồ tát thì chính là Kim cương bát nhã, có thể phá trừ hoặc vô minh vi tế, chứng Nhất thiết chủng trí. Bồ tát nhờ đó sẽ chứng quả đại Bồ đề. [X. Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.3, thượng].
ngũ luân tháp
(五輪塔) Cũng gọi Ngũ luân, Ngũ luân suất đô bà, Ngũ luân tháp bà, Ngũ giải thoát luân, Pháp giới tháp. Tháp 5 luân, biểu thị ý nghĩa đất, nước, lửa, gió và không. Khi Mật giáo giải thích 5 đại: Đất (địa luân), nước (thủy luân), lửa (hỏa luân), gió (phong luân) và không (không luân), thì dùng các hình vuông, tròn, tam giác, bán nguyệt và hình bảo châu (có thuyết nói là hình cầu) để tượng trưng cho mỗi đại. Dùng vàng, đồng hoặc đá làm thành vật tiêu biểu của Ngũ luân, rồi theo thứ tự từ dưới lên trên chồng xếp những vật ấy thành hình 1 ngôi tháp, gọi là Ngũ luân tháp, mỗi mặt đều có khắc chữ chủng tử của 5 đại. Tháp Ngũ luân vốn biểu thị hình tướng pháp thân của đức Đại nhật Như lai, trong đó thờ xá lợi. Đời sau, tháp Ngũ luân thường được dùng để làm hình mồ mả. [X. Bí tạng kí].
ngũ luân tế
(五輪際) Chỉ cho Hư không ở vị trí thấp nhất trong 5 luân. Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng (Đại 24, 1011 thượng) nói: Các trời ấy đều có ao nước lớn, hoa sen mọc trong ao nên gọi là Thủy thiên, 4 loài chúng sinh phi sắc đều do hóa sinh, dưới cùng là Ngũ luân tế, đó là 1 cõi Phật, tên là Pháp giới đại nhẫn.
ngũ luân tự
(五輪字) Chỉ cho 5 chữ: (a), (va), (ra), (ha) và (kha). Năm chữ này theo thứ tự là chủng tử của 5 luân: Đất, nước, lửa, gió và không, vì thế nên gọi Ngũ luân tự.
ngũ luận sư
(五論師) Năm vị Luận sư thông suốt tạng Luận và giỏi về nghị luận. Theo Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 2 thì 5 vị Luận sư ấy là: 1. Luận sư A thấp phược lũ sa, tức là Luận sư Mã minh (Phạm: Azvaghowa, khoảng 100-160 TL). Tương truyền có lần ngài Mã minh dùng sức thần thông hiện ra 1 nghìn con ngựa trắng, làm cho 1 nghìn con chim đều kêu lên, nhân đó mà phá ngoại đạo, khiến chính pháp tiếp tục hưng thịnh, không để dứt mất. Ngoài ra, truyền thuyết cũng nói lúc ngài nói pháp, có sức cảm được bầy ngựa cất tiếng kêu bi thương, vì thế người đời gọi ngài là Mã minh ( ). Vì ngài soạn các bộ luận: Đại thừa khởi tín và Đại thừa trang nghiêm... nên được gọi là Luận sư. 2. Luận sư Na già hạt thụ na, tức là Luận sư Long thụ (Phạm:Nàgàrjuna). Ngài hiểu rõ Phật pháp sâu xa màu nhiệm, nên xuất gia hàng phục ngoại đạo, thuyết minh đệ nhất nghĩa. Vì ngài soạn các bộ luận: Trung quán và Đại trí độ nên được tôn xưng là Luận sư. 3. Luận sư Ca na đề bà (Phạm:Kàịadeva), là đệ tử của Luận sư Long thụ. Vì ngài soạn Bách luận, luận Đại trượng phu... nên được gọi là Luận sư. 4. Luận sư Cưu ma la đa, tức là Luận sư Đồng thụ (Phạm:Kumàrajìva, 344-413, có thuyết nói 350-409). Do ngài phát huy luận nghĩa nên được gọi là Luận sư. 5. Luận sư Thất lợi la đa, tức là Luận sư Thắng thụ (Phạm: Srìràta hoặc Srìlabdha). Vị Luận sư này có biện tài vô ngại, thường hàng phục ngoại đạo như ánh sáng mặt trời phá tan bóng tối, nên được gọi là Luận sư.
ngũ lược thập quảng
(五略十廣) Phần chính của bộ Ma ha chỉ quán được chia làm 10 khoa gọi là Thập quảng, tức là: Đại ý, Thích danh, Thể tướng, Nhiếp pháp, Thiên viên, Phương tiện, Chính quán, Quả báo, Khởi giáo và Chỉ qui. Trong phần Đại ý lại chia ra 5 khoa gọi là Ngũ lược, tức là: Phát đại tâm, Tu đại hạnh, Cảm đại quả, Liệt đại võng và Qui đại xứ. Thập quảng được giải thích như sau: 1. Đại ý: Tức bao gồm Ngũ lược: a) Phát đại tâm: Tu Chỉ quán trước hết phải phát tâm bồ đề, vì thế nói rõ 4 thệ nguyện rộng lớn và nêu bày đại ý của 6 chương trước trong Thập quảng. b) Tu đại hạnh: Thuyết minh 4 loại tam muội, nêu rõ đại ý của Chỉ quán trong Thập quảng. c) Cảm đại quả: Tức kết quả của việc tu Chỉ quán là từ Quán hạnh trải qua Tương tự mà đến giai vị Phần chân tức thì cảm được quả báo lớn 8 tướng thành Phật, nêu rõ đại ý của quả báo trong Thập quảng. d) Liệt đại võng: Sau khi được đại quả, tiến tới việc hóa tha, tuyên thuyết 5 thời 8 giáo, phá tan lưới(võng)tà kiến, nêu rõ đại ý của Khởi giáo trong Thập quảng. e) Qui đại xứ: Sự nghiệp hóa tha đã được hoàn tất liền nhập Đại niết bàn, tức nói rõ đại ý của Chỉ qui trong Thập quảng. 2. Thích danh: Giải thích danh xưng của Chỉ quán. 3. Thể tướng: Thuyết minh Chỉ và Quán không có thể riêng biệt mà là cùng 1 pháp tính với 2 lực dụng tịch và chiếu. 4. Nhiếp pháp: Chỉ và Quán bao nhiếp hằng sa vô lượng các pháp. 5. Thiên viên: Chỉ và Quán của 4 thời và 3 giáo trước đều là thiên (lệch về 1 bên), duy có Chỉ quán của giáo hiện nay là viên dung. 6. Phương tiện: Phương tiện gia hạnh trước khi tu pháp Chỉ quán, tức nói rõ về 25 phương tiện. 7. Chính quán: Nói rõ về tướng tu Chỉ quán chính thức(nhưng chương này còn bỏ dở vì ngài Trí khải đã thị tịch, cho nên bộ Ma ha Chỉ quán còn thiếu 3 chương là các chương Quả báo, Khởi giáo và Chỉ qui). [X. Ma ha chỉ quán Q.1, thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1, phần 2 và phần 3].
ngũ lạc
(五樂) I. Ngũ Lạc. Chỉ cho 5 niềm vui: Vui xuất gia, vui xa lìa, vui tịch lặng, vui bồ đề và vui Niết bàn.1. Vui xuất gia: Người đời gây nhiều nghiệp chướng, phiền não, nếu xuất gia tu đạo thì có thể chấm dứt hẳn mọi khổ đau. 2. Vui xa lìa: Tức niềm vui Sơ thiền. Ở Sơ thiền xa lìa mọi ái nhiễm phiền não của cõi Dục, được thiền định giác quán mà sinh vui mừng. 3. Vui tịch lặng: Tức niềm vui Nhị thiền. Ở Nhị thiền đã lìa thiền định giác tán động của Sơ thiền, nhờ thế mà tâm vắng lặng phát được niềm vui thắng định. 4. Vui bồ đề: Bồ tát thành tựu quả bồ đề vô lậu, tự thụ hưởng niềm vui ấy, nhưng vì lòng thương nên đem niềm vui này ban bố cho chúng sinh. 5. Vui Niết bàn: Bồ tát dứt giả về chân, vào Niết bàn vô dư, được sự vắng lặng cùng tột.[X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.13; Đại minh tam tạng pháp số Q.25]. II. Ngũ Lạc. Chỉ cho 5 giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân có khả năng đối ứng với các thú vui thích của 5 cảnh: Sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, và sự mịn màng trơn láng.(xt. Ngũ Dục).
Ngũ lợi sử
五利使; C: wǔlìshǐ; J: gorishi;|Năm loại phiền não (do mê lầm về lí) mà những người tu tập lâu năm thường gặp: thân kiến (身見), biên kiến (邊見), tà kiến (邪見), kiến thủ kiến (見取見), giới cấm thủ kiến (戒禁取見). Cũng còn gọi là Ngũ kiến (五見). Đây là năm loại sau cùng trong Thập sử (十使). Năm loại đầu gọi là Ngũ độn sử (五鈍使).
ngũ lợi sử
Paca-dṛṣtayah (S), Paca-tiksna-dula (S)Ngũ tín lựcGồm: Tín, tinh tấn, niệm, định, tuệ. Năm thứ kiến hoặc do mê lý mà phát khởi. Năm loại sử đoạn diệt dễ dàng: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ, Giới cấm thủ.
; Five sharp, or keen "runners' or lictors,
; (五利使) Phạm: Paĩca-dfwỉaya. Cũng gọi Ngũ nhiễm ô kiến, Ngũ tịch kiến, Ngũ kiến. Lợi là sắc bén, Sử là sai khiến. Ngũ lợi sử là chỉ cho năm thứ phiền não(hoặc) do mê lí mà khởi, thường xui khiến chúng sinh tạo các nghiệp ác. Đó là: 1. Hữu thân kiến: Do không rõ cái lí thân ta là do sự hòa hợp của 5 uẩn mà có 1 cách giả tạm, nên mới chấp trước thật có thân ta. 2. Biên chấp kiến: Chấp trước 2 kiến giải cực đoan, cho rằng sau khi ta chết là dứt hẳn, hoặc sau khi ta chết sẽ còn mãi không mất.3. Tà kiến: Phủ định lí nhân quả, cho rằng chẳng có tội phúc, thiện ác gì hết. Đây là loại tà kiến nguy hiểm nhất trong các tà kiến.4. Kiến thủ kiến: Cố chấp cái thấy biết hẹp hòi kém cỏi của mình mà không chịu mở rộng tầm nhìn để học hỏi những điểu cao xa ưu việt. 5. Giới cấm thủ kiến: Chấp chặt những giới cấm trái đạo, phi pháp, cho đó là nhân sinh lên cõi trời, hoặc là con đường đến Niết bàn, như giữ giới bò, giới chó... [X. luận Đại tì bà sa Q.49; luận Câu xá Q.19; luận Thành thực Q.10; luận Tạp a tì đàm tâm Q.4; luận Thành duy thức Q.6; Đại thừa nghĩa chương Q.6; Câu xá luận quang kí Q.19]. (xt. Phiền Não).
Ngũ Lực
(s: pañca-bala, 五力): lực có nghĩa là tác dụng hay hoạt động, là 1 trong 37 phẩm trợ đạo, gồm có: (1). Tín Lực (s: raddhā-bala, 信力): năng lực tin tưởng,(2). Tinh Tấn Lực (s: vīrya-bala, 精進力): năng lực cố gắng tinh tấn,(3). Niệm Lực (s: smṛti-bala, 念力): năng lực bảo trì,(4). Định Lực (s: samādhi-bala, 定力): năng lực chú tâm tập trung vào Thiền định,(5). Tuệ Lực (s: prajñā-bala, 慧力): năng lực chọn lọc trí tuệ.
Ngũ lực
xem Năm sức.
; 五力; C: wǔlì; J: goriki; S: pañca-balani.|Năm lực đạt được do tu tập »Năm thiện pháp căn bản« (Ngũ thiện căn 五善根): 1. Tín lực (信力); 2. Tinh tiến lực (精進力); 3. Niệm lực (念力); 4. Định lực (定力); 5. Huệ lực (慧力).
ngũ lực
Paca-balāni (S), Pacabala (S), Prajā-bala, Five powers, Five mental forces Năm sức mạnh: tín lực (sức mạnh của đức tin), tấn lực (sức mạnh của tinh tấn), niệm lực (sức mạnh của lòng niệm), định lực (sức mạnh của thiền định), huệ lực (sức mạnh của trí huệ).
; Pancabala (S). Five powers or faculties, five mental forces: (1) tín lực, sraddhà bala, force of faith; (2) tinh tiến lực, virya bala f. of energy; (3) niệm lực, sati bala, f. of mindfulness; (4) định lực, samàdhi bala, f. of concentration of mind or meditation; (5) tuệ lực, prajnà bala, f. of wisdom,wisdom.
; (五力) Phạm, Pàli: Paĩca balàni. Năm thứ lực dụng. I. Ngũ Lực. Chỉ cho 5 lực (khoa thứ 5) trong 37 đạo phẩm. Tức là 5 thứ lực dụng duy trì sự tu hành để đạt đến giải thoát nhờ sự lớn mạnh của 5 căn (Tín...) sinh ra. Đó là: 1. Tín lực (Phạm: Zraddhà-bala): Thành kính đối với Tam bảo có thể phá trừ tất cả tà tín. 2. Tinh tiến lực (Phạm:Vìrya-bala): Tu 4 chính cần có thể dứt trừ các điều ác. 3. Niệm lực (Phạm: Smriti-bala): Tu 4 niệm xứ để đạt chính niệm. 4. Định lực (Phạm: Samàdhi-bala): Chuyên tâm thiền định để đoạn trừ phiền não tham dục. 5. Tuệ lực (Phạm: Prajĩà-bala): Quán xét lí 4 đế để thành tựu trí tuệ, có thể đạt được giải thoát. Nội dung của 5 lực trên đây giống với 5 căn vô lậu, là giáo lí thực tiễn của đạo Phật. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; luận Đại trí độ Q.19; luận Đại tì bà sa Q.141; luận Câu xá Q.25; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.trung, hạ]. (xt. Ngũ Căn). II. Ngũ Lực. Năm lực dụng thuyết pháp của Như lai. 1. Ngôn thuyết lực: Đức Như lai tuy có nói nhiều pháp như tam thế cấu tịnh, thế gian xuất thế gian, hữu tội vô tội, hữu lậu vô lậu, hữu vi vô vi v.v... nhưng những lời nói ấy như lời nói của người huyễn, không có quyết định, cho đến như hư không chẳng sinh chẳng diệt, ngôn thuyết ấy tức chẳng phải ngôn thuyết. 2. Tùy nghi lực: Như lai tùy nghi nói các pháp theo nhiều cách. Như nói cấu pháp tức tịnh pháp, hoặc nói tịnh pháp tức cấu pháp; nói sinh tử tức Niết bàn, hoặc nói Niết bàn tức sinh tử... 3. Phương tiện lực: Như lai vì muốn cho chúng sinh thực hành bố thí mà nói bố thí là nhân của sự giàu có, cao sang. 4. Pháp môn lực: Như Phật nói các pháp 6 căn đều là cửa giải thoát. 5. Đại bi lực: Như lai vì muốn cho chúng sinh tin hiểu rằng các pháp là vô ngã, nên khởi 32 thứ đại bi để nói pháp. [X. kinh Tư ích phạm thiên sở vấn Q.2; kinh Trì tâm phạm thiên sở vấn Q.1; kinh Thắng tư duy phạm thiên sở vấn Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3]. III. Ngũ Lực. Cũng gọi Ngũ lực nan phán. Năm thứ lực dụng mà Duy thức không phân biệt phán định. Tức là: 1. Định lực: Sức thiền định vắng bặt của Như lai có thể cảm ứng khắp cả 10 phương. 2. Thông lực: Sức thần thông của Như lai biến hóa vô cùng, tùy cơ cảm mà ứng hiện.3. Tá thức lực: Từ cõi Nhị thiền trở lên không có tầm tứ, ngôn ngữ, nếu muốn ứng dụng thuyết pháp thì phải mượn (tá) 3 thức: Thức mắt, thức tai và thức thân của cõi Sơ thiền để thành lực dụng của mình. 4. Đại nguyện lực: Sức nguyện rộng lớn của Như lai có thể độ chúng sinh trong nhiều kiếp.5. Pháp uy đức lực: Chỉ cho sức uy đức ứng hóa của Như lai; nói ra 1 tiếng mà cảm ứng mọi loài, ban ra 1 pháp mà các ma đều khiếp phục, lợi sinh vô tận, công đức khó lường. Năm lực trên đây đều là thắng dụng không thể nghĩ bàn, không tương ứng với thức pháp, vì thế nên nói Duy thức không phân biệt chia chẻ. [X. Tông kính lục Q.48; Đại minh tam tạng pháp số Q.25]. IV. Ngũ Lực. Năm lực chế phục 5 căn được lập trong kinh Na tiên tỉ khưu. Tức là 5 thứ lực. Chế phục mắt, chế phục tai, chế phục mũi, chế phục miệng và chế phục thân.
ngũ lực bất khả đáo
(五力不可到) Năm lực không thể ngăn chặn thân trung ấm đi thụ sinh đến các cõi, vì đây là do nghiệp lực của chúng sinh, không 1 sức nào cản trở nổi. Cứ theo Chư kinh yếu tập quyển 19 thì 5 lực ấy là: 1. Định lực: Tức sức đại định của chư Phật.2. Thông lực: Sức thần thông của chư Phật. 3. Đại nguyện lực: Sức thệ nguyện rộng lớn của chư Phật. 4. Pháp uy đức lực: Sức uy đức của Phật pháp. 5. Tá thức lực: Tức là sức của người đã chứng Nhị thiền trở lên.
ngũ ma tự
(五摩字) Phạm: Paĩcamakàra. Cũng gọi Ngũ ma sự. Năm thứ tượng trưng hợp nhất với tính (Phạm: Zakti) làm môi giới để đạt được thú vui cực độ. Đó là: Rượu (Phạm: Madya), thịt (Phạm: Màmsa), cá (Phạm:Matsya), gạo rang (Phạm:Mudrà) và trai gái giao hợp (Phạm: Maithuna). Chữ Phạm của 5 từ trên đều bắt đầu bằng chữ M, vì thế nên có tên là Ngũ ma tự. Ngũ ma tự chủ yếu được thấy trong văn hiến của phái Tính lực (Phạm: Zàkta) thuộc Ấn độ giáo. Ngũ ma tự có khi cũng được cho là tượng trưng 5 đại: Đất, nước, lửa, gió, và không, cũng gọi là Ngũ thực tính (Phạm: Paĩcatattva), là do căn cơ của người ta bất đồng nên ý nghĩa tượng trưng cũng khác nhau. Với người hạ căn thì cấm chỉ không được uống rượu cho đến việc trai gái giao hợp, nhưng với người thượng căn thì đó là môi giới đồng hóa với sự sống của vũ trụ. Rượu thuộc lửa, sau khi thiêu đốt là năng lực sản sinh ra các yếu tố. Thịt thuộc gió, có năng lực nuôi lớn thân tâm. Cá thuộc nước, biểu hiện sức sống của các loài thủy tộc. Gạo rang thuộc đất, là nền tảng của sinh mệnh trên mặt đất. Trai gái giao hợp thuộc không, biểu hiện sức sống của vũ trụ sáng tạo. Tác pháp Ngũ ma tự là 1 trong những đặc sắc của Mật giáo tả đạo, về sau cũng truyền đến Tây tạng. Nhưng trong văn hiến của Phật giáo tuyệt nhiên không có thuyết này.[X. Đại niết bàn đát đặc la bản tiếng Phạm (Mahànirvàịà, VII, 103-111); Nhất thiết Như lai kim cương tam nghiệp tối thượng bí mật đại giáo vương kinh (Guhyasamàjatantra); Đại bi không trí kim cương đại giáo vương nghi quĩ kinh; Tantra of the Great Liberation by A. Avalon; Shakti and Shakta by J. Woodroff; Guhyasamàja-tantra, GOS. L III by B. Bhattacharyya].
Ngũ minh
五明; S: pañcavidyā;|Là năm nghành học truyền thống tại Ấn Ðộ, nhằm trau dồi trí huệ nhận thức các hiện tượng tập tục. Năm khoa này vẫn còn được giảng dạy tại những ngôi chùa lớn tại Tây Tạng (Tông-khách-ba), bao gồm cụ thể:|1. Y phương minh (醫方明; s: cikitsāvidyā): là y học, dược học; 2. Công xảo minh (工巧明; s: śilavidyā): nghiên cứu công nghệ, nghệ thuật, kĩ thuật, khoa học; 3. Nhân minh (因明; s: hetuvidyā): cách gọi Luận lí học theo đạo Phật; 4. Thanh minh (聲明; s: śabdavidyā): khoa nghiên cứu ngôn ngữ, văn phạm, có thể hiểu là ngôn ngữ học; 5. Nội minh (内明; s: adhyātmavidyā): là nghiên cứu tôn giáo mình, tìm hiểu ý nghĩa của kinh sách thuộc nội điển.
ngũ minh
Pancavidyà (S). The five sciences or studies in India: (1) thanh minh sabda, grammar and composition; (2) công xảo minh silpakarmasthàna, the arts and mathematis; (3) y phương minh cikitsà, medicine; (4) nhân minh hetu, logic; (5) nội minh adhyàtma, philosophy.
; (五明) Phạm: Paĩca vidyà-sthànàni. Năm môn học ở Ấn độ thời xưa. 1. Thanh minh (Phạm: Sabda-vidyà): Môn học về ngôn ngữ văn chương. 2. Công xảo minh (Phạm: Zilpakarmavidyà): Môn học về công kệ, kĩ thuật, lịch toán.3. Y phương minh (Phạm: Cikitsàvidyà): Môn học về y dược, chú pháp 4. Nhân minh (Phạm: Hetu-vidyà): Môn học về luận lí. 5. Nội minh (Phạm:Adhyàtmà-vidyà): Môn học về tông chỉ giáo lí của phái mình. Ngũ minh cũng chia ra nội minh và ngoại minh. Theo Pháp hoa tam đại bộ bổ chú quyển 14, thì 5 minh nói trên là Nội ngũ minh, còn Thanh minh, Y phương minh, Công xảo minh, Chú thuật minh và Phù ấn minh là Ngoại ngũ minh. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.3; kinh Bồ tát thiện giới Q.3; luận Du già sư địa Q.38; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần đầu; Du già sư địa luận lược toản Q.7; Du già luận kí Q.5, thượng; Đại đường tây vực kí Q.2].
ngũ minh kinh
Paca-vidyā (S)Năm môn học của Bà la môn giáo gồm: nội minh, công xảo minh, y phương minh, nhân minh và thanh minh.
Ngũ Môn
(五門): hay còn gọi là Ngũ Gia (五家), tên gọi chung của 5 Tông phái lớn của Trung Quốc, gồm Quy Ngưỡng (潙仰), Lâm Tế (臨濟), Tào Động (曹洞), Vân Môn (雲門) và Pháp Nhãn (法眼). Khái niệm gọi là Ngũ Gia do Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益) khởi xướng qua tác phẩm của ông là Tông Môn Thập Quy Luận (宗門十規論). Bộ Nhân Thiên Nhãn Mục (人天眼目), 3 quyển, hay bản 6 quyển, do Hối Nham Trí Chiêu (晦巖智昭) nhà Tống biên, san hành vào năm thứ 15 (1188) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), là tác phẩm nêu rõ tông yếu của Ngũ Gia, trình bày cương lĩnh các Tông phái do chư vị tiên đức đề xướng và thâu lục những niêm đề, kệ tụng của liệt vị cổ đức.
ngũ môn thiền
(五門禪) I. Ngũ Môn Thiền. Tức là 5 nghĩa vô thường, khổ, không, vô ngã và tịch diệt nói trong chương Ca chiên diên, phẩm Đệ tử, kinh Duy ma. Ngài Duy ma cho rằng các pháp rốt ráo chẳng sinh chẳng diệt là nghĩa vô thường, tất cả đều không. Lấy nghĩa ấy so sánh mà làm 5 môn thiền của Viên giáo. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.4, phần 1]. II. Ngũ Môn Thiền. Chỉ cho Bất tịnh quán, Từ bi quán, Nhân duyên quán, Giới phân biệt quán và Sổ tức quán, là Ngũ đình tâm quán nói trong Thất phương tiện của Tiểu thừa. Trong Ngũ môn thiền kinh yếu dụng pháp, Niệm Phật quán được thay thế bằng Giới phân biệt quán, gọi là Ngũ môn thiền. (xt. Ngũ Đình Tâm Quán).
ngũ mộc
(五木) Năm loại cây dùng để nấu nước thơm tắm tượng Phật trong ngày lễ Phật đản. Đó là: Cây đào, cây mận, cây thông, cây trắc bách và cây liễu. [X. Niên trung hành sự trong Oánh sơn thanh qui Q.hạ].
ngũ mộng
(五夢) Năm thứ ác mộng mà vua A xà thế nước Ma yết đà đã thấy trong đêm đức Như lai nhập diệt. Đó là: 1. Mặt trăng lặn và mặt trời từ trong đất mọc lên. 2. Các vì tinh tú rơi xuống như mưa. 3. Khói từ đất bốc lên. 4. Trên bầu trời xuất hiện 7 sao chổi. 5. Trên trời có 1 khối lửa lớn che khắp hư không rồi rơi xuống đất. [X. kinh Hậu phần niết bàn Q.hạ; Câu xá tụng sớ giới phẩm Q.2].
ngũ mộng pháp
(五夢法) Năm nguyên nhân sinh ra mộng. Theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 21 thì đó là: 1. Nhiệt khí đa kiến hỏa: Hơi nóng nhiều thì mộng thấy lửa. Như người thợ rèn làm việc gần lửa, vì tướng nóng nhiều, sinh ra tưởng nóng, cho nên mộng thấy lửa. 2. Lãnh khí đa kiến thủy: Hơi lạnh nhiều thì mộng thấy nước. Như người đào giếng, vì tướng lạnh nhiều liền sinh tưởng lạnh, cho nên mộng thấy nước. 3. Phong khí đa kiến phi trụy: Hơi gió nhiều thì thấy bay lên hoặc rơi xuống. Như người ngồi khinh khí cầu lên cao, vì tướng động nhiều liền sinh tưởng động, cho nên mộng thấy bay lên hay rơi xuống. 4. Văn kiến đa thục cảnh: Thấy nghe nhiều thì mộng thấy cảnh quen thuộc. Như người ngồi thiền tụng kinh, điều luyện thân tâm, vì tập quen nhiều liền sinh tưởng quen thuộc, cho nên mộng thấy cảnh quen thuộc. 5. Thiên thần dữ tâm linh sở cảm: Thiên thần và tâm linh cảm ứng thì mộng thấy thiên thần. Như người có tâm hướng thiện, thờ cúng thiên thần, vì lòng chí thành, tưởng nhớ không quên, nên mộng thấy thiên thần.(xt. Mộng).
ngũ một
(五沒) Năm tướng suy của người cõi trời hiện ra khi sắp hết phúc phải sinh xuống nhân gian.Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 19 (bản Bắc) thì 5 tướng ấy là: 1. Áo xiêm dơ bẩn. 2. Hoa trên đầu héo khô. 3. Thân thể hôi hám. 4. Chảy mồ hôi ở nách. 5. Không thích ngồi tòa cũ. (xt. Ngũ Suy).
Ngũ Na-hàm thiên
xem Năm cõi tịnh cư.
ngũ nan
(五難) I. Ngũ Nan. Năm điều khó khăn của người tu hành đạo Phật trong thời đại 5 trược xấu xa, không có Phật xuất hiện. Đó là: 1. Thân thiện với ngoại đạo, làm loạn pháp Bồ tát. 2. Hàng Thanh văn chỉ biết lợi mình, gây chướng ngại cho tâm đại từ bi. 3. Bị kẻ ác phá hoại công đức thù thắng. 4. Bị thiện quả điên đảo làm hư mất hạnh thanh tịnh. 5. Chỉ nương cậy vào sức mình, không có tha lực giúp đỡ. [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng; An lạc tập Q.thượng; luận Tịnh độ thập nghi]. II. Ngũ Nan. Năm điều khó khăn được nghe Phật pháp. Theo kinh Niết bàn quyển 2 (bản Nam) thì 5 điều ấy là: 1. Khó gặp được Phật ra đời. 2. Khó được thân người. 3. Gặp Phật nhưng khó sinh tâm tin. 4. Khó nhẫn được điều khó nhẫn. 5. Khó giữ giới chứng quả A la hán.
ngũ nghiệp
The five kinds of karma: of which the groups are numerous and differ.
; (五業) I. Ngũ Nghiệp. Năm loại nghiệp. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 114 thì tùy theo sự mau hay chậm của việc chịu báo mà nghiệp được chia làm 5 loại: 1. Thuận hiện pháp thụ nghiệp: Đời này gây nghiệp chịu báo ngay ở đời này. 2. Thuận thứ sinh thụ nghiệp: Gây nghiệp ở hiện tại đời sau mới chịu báo. 3. Thuận hậu thứ thụ nghiệp: Từ đời thứ 3 trở về sau mới chịu báo. 4. Thời phận bất định dị thục định nghiệp: Chỉ biết quả mà không biết lúc nào chịu báo. 5. Thời phận bất định dị thục bất định nghiệp: Không biết quả mà cũng không biết lúc nào chịu báo. [X. luận Câu xá Q.15; luận Thuận chính lí Q.40; Câu xá luận quang kí Q.15]. II. Ngũ Nghiệp. Cứ theo thuyết của luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 7, 5 nghiệp là: 1. Thủ thụ nghiệp: Như mắt có thể thấy sắc v.v... 2. Tác dụng nghiệp: Như đất có khả năng giữ gìn, nâng đỡ ... hoặc tạo ra tự tướng các pháp, nghĩa là các sắc chất ngại, biến hoại... 3. Gia hạnh nghiệp: Trước hết ý hiểu biết rồi đưa đến thân tạo nghiệp... 4. Chuyển biến nghiệp: Như những người thợ kim hoàn làm ra các đồ trang sức... 5. Chứng đắc nghiệp: Tu Thánh đạo, chứng Niết bàn... [X. luận Đại thừa a tì đạt ma tập Q.4; Tạp tập luận thuật kí Q.8]. III. Ngũ Nghiệp. Năm hạnh nghiệp của chư Phật đối với chúng sinh nói trong Nhiếp đại thừa luận bản, quyển hạ(do ngài Huyền trang dịch). Đó là: 1. Lấy việc cứu giúp hết thảy chúng sinh trong khổ nạn làm nghiệp: Chúng sinh tạo các nghiệp ác, phải chịu những tật não như mù, điếc, điên cuồng... sống trong khổ nạn, nếu khi được gặp Phật cứu giúp thì người mù được thấy, người điếc được nghe, người điên được tỉnh. 2. Lấy việc cứu giúp các cõi ác làm nghiệp: Chúng sinh vì tạo nghiệp chẳng lành bị rơi vào các cõi ác, Phật mở lòng đại từ bi cứu giúp họ ra khỏi 3 đường ác(địa ngục, ngã quỉ, súc sinh)khiến được yên vui trong cõi người, cõi trời. 3. Lấy việc cứu giúp những người tu theo phi phương tiện làm nghiệp: Phi phương tiện nghĩa là phương pháp không đưa đến giải thoát; ngoại đạo tu các hạnh khổ như giữ giới bò(bắt chước bò ăn cỏ), giới chó(bắt chước chó ăn phân) v.v... không thể ra khỏi 3 cõi, gọi là Phi phương tiện. Đức Phật dạy các ngoại đạo lìa bỏ phi phương tiện mà cầu hạnh giải thoát, sống trong giáo pháp của Như lai. 4. Lấy việc cứu giúp Tát ca da kiến làm nghiệp: Tát ca da kiến tức là thân kiến (thấy có thân ta), chúng sinh trôi lăn trong 3 cõi, nhận lầm thân ngũ uẩn giả hòa hợp là cái ta thường hằng bất biến. Đức Phật muốn cứu giúp chúng sinh chấp ngã, nên chỉ cho con đường chính vô ngã có thể vượt khỏi 3 cõi, làm cho chúng sinh phá trừ thân kiến giả dối không thực. 5. Lấy việc cứu giúp các thừa làm nghiệp: Thừa ở đây chỉ cho 2 hạng người tu hành đạo Phật. Một là người đối với đạo Bồ tát muốn trở lui; hai là hàng Thanh văn có chủng tính quanh co giữa Đại thừa và Tiểu thừa, không biết đi đường nào. Hạng người thứ nhất thấy chúng sinh khó độ, hạnh Bồ tát khó làm nên muốn rút lui khỏi đạo Bồ tát Đại thừa, mà tu đạo Tiểu thừa; hạng người thứ 2 tuy có chủng tính Đại thừa nhưng lại phát tâm nhỏ hẹp. Đức Phật thương xót 2 hạng người này, nên nói pháp Nhất thừa khiến cho Bồ tát muốn trở lui không còn thoái tâm, mà Thanh văn bất định thì bỏ Tiểu thừa về Đại thừa. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.hạ (bản dịch đời Lương); Nhiếp đại thừa luận thích Q.10 (bản dịch đời Đường)]. IV. Ngũ Nghiệp. Năm nghiệp nói trong luận Vãng sinh của bồ tát Thế thân. Tức là: 1. Nghiệp thân: Lễ lạy. 2. Nghiệp khẩu: Nói lời khen ngợi. 3. Nghiệp ý: Khởi tâm phát nguyện 4. Nghiệp trí: Phát khởi trí quán. 5. Nghiệp trí phương tiện: Phát tâm hồi hướng. Năm nghiệp trên đây là pháp môn tu hành cầu sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; Vãng sinh luận chú kí Q.5].
ngũ nghĩa bình đẳng
(五義平等) Năm nghĩa của tâm vương và tâm sở có tác dụng đối ứng lẫn nhau (tương ứng pháp). Đó là: 1. Sở y bình đẳng: Chỗ nương như nhau, tức là khi tâm vương nương nơi căn mắt thì tâm sở cũng nương nơi căn mắt; cả 2 cùng nương 1 sự vật. 2. Sở duyên bình đẳng: Chỗ duyên theo như nhau, tức là cái đối tượng mà tâm vương và tâm sở chấp lấy đều giống nhau. 3. Hành tướng bình đẳng: Hành tướng như nhau, tức là hình thái của đối tượng hiện ra trong tâm vương và tâm sở giống nhau. 4. Thời bình đẳng: Thời gian như nhau, tức là tác dụng của tâm vương và tâm sở diễn ra cùng 1 lúc. 5. Sự bình đẳng: Việc như nhau, tức là khi tâm vương và tâm sở tác dụng thì 1 tâm vương và 1 tâm sở đồng loại khởi tác dụng, chứ không phải cùng lúc có 2 tâm vương hoặc 2 tâm sở trở lên khởi tác dụng. Cũng có thuyết chỉ nói 4 nghĩa bình đẳng chứ không nêu Hành tướng bình đẳng. [X. luận Câu xá Q.4].
ngũ nghĩa phần thông
(五義分通) Trong luật Tứ phần (vốn là Tiểu thừa) có 5 chỗ mà ý nghĩa tương thông với nghĩa của Đại thừa theo sự nhận xét của Nam sơn luật tông, cho nên gọi là Ngũ nghĩa phần thông. Năm nghĩa ấy là: 1. Đạp bà yếm Vô học: Theo luật Tứ phần quyển 3 thì vị A la hán tên là Đạp bà la tử, suy nghĩ thân này là vô thường, sinh diệt không bền chắc, muốn cầu pháp bền vững, muốn đem hết sức mình cúng dường chư tăng. Tức là nhàm chán thân 3 thừa (Vô học), hướng tâm về Đại thừa, cầu pháp Bồ tát, tu hạnh lợi tha. 2. Thí sinh thành Phật đạo: Tứ phần tăng giới bản (Đại 22, 1030 hạ) nói: Nay ta nói giới kinh, những công đức đã nói, ban cho các chúng sinh, đều cùng thành Phật đạo; căn cứ vào câu đều cùng thành Phật đạo thì biết đây là pháp Đại thừa chứ chẳng phải Tiểu thừa. 3. Tương triệu vi Phật tử: Trong bài tựa luật Tứ phần quyển 1, có các câu: Như thế các Phật tử hay Phật tử cũng như thế. Trong giới Tiểu thừa, chúng tăng thường được gọi là Tỉ khưu, còn trong giới Đại thừa (kinh Phạm võng) thì gọi là Phật tử. Nay căn cứ vào lời xưng hô Phật tử thì ta biết đó là nghĩa Đại thừa.4. Xả tài dụng phi trọng: Đây là lúc sám hối tội Đọa, đầu tiên đối trước chúng tăng xả bỏ tài vật mà mình đã lấy, rồi sau mới làm pháp sám hối, chúng tăng thu giữ vật ấy, trong vòng 1 ngày, trả nó lại cho chủ cũ. Tứ phần luật tông cho rằng tuy không trả lại chủ cũ mà dùng nó trong chúng tăng, thì cũng chỉ kết tội nhẹ Đột cát la chứ không thành tội nặng (phi trọng) trộm cướp, vì người sám hối đã thực tâm xả bỏ. Đó là nghĩa của Đại thừa lấy ý nghiệp làm chủ. 5. Trần cảnh phi căn cảnh: Các trần cảnh như sắc, thanh v.v... là do thức mắt, thức tai nhận biết, chứ chẳng phải do căn mắt, căn tai nhận biết. Phần giải thích về giới Tiểu vọng ngữ trong luật Tứ phần quyển 11 có những câu: Thấy là thức mắt thấy, nghe là thức tai nghe, xúc giác thì thuộc 3 thức là thức mũi, thức lưỡi và thức thân, còn biết thì thuộc về thức ý. Nghĩa trong các câu trên đây khác hẳn với nghĩa căn thấy, căn nghe... của Hữu bộ Tiểu thừa chủ trương, nhưng giống hệt với nghĩa thức thấy, thức nghe... của Đại thừa. [X. Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q.3, hạ; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 3, tiết 1; Tứ duyên kí Q.3, hạ].
Ngũ nghịch
五逆; C: wǔnì; J: gogyaku; S: pañcanantarya-karmāṇi;|Năm tội lớn
ngũ nghịch
Xem Ngũ vô gián nghiệp.
; Pancànantarya (S). Ngũ vô gián nghiệp, the five rebellious acts of deadly sins: giết cha parricide, giết mẹ matricide, giết A la hán killing an arhat, làm thân Phật chảy máu shedding the blood of a Buddha, phá hòa hợp tăng destroying the harmony of the sangha, or fraternity.
; (五逆) Cũng gọi Ngũ nghịch tội. Chỉ cho 5 cái tội cực ác trái với đạo lí. Cứ theo thuyết của Tiểu thừa thì 5 tội nghịch là: 1. Hại mẹ, cũng gọi giết mẹ. (Phạm: Màtf-ghàta). 2. Hại cha, cũng gọi giết cha (Phạm: Pitfghàta). 3. Hại A la hán, cũng gọi giết A la hán (Phạm: Arhad-ghàta). 4. Ác tâm làm thân Phật ra máu, cũng gọi làm thân Phật ra máu (Phạm: Tathàgatasyàntike duwỉa-cittarudhirotpàdana). 5. Phá tăng, cũng gọi Phá hòa hợp tăng, Đấu loạn chúng tăng (Phạm: Saôghabheda). Trong 5 tội trên đây, 2 tội trước là bỏ ruộng ân nghĩa, 3 tội sau là hủy hoại ruộng đức, vì thế gọi là Năm tội nghịch, Năm tội nặng. Vì hành vi của 5 tội là nguyên nhân làm cho người vi phạm phải rơi vào địa ngục Vô gián nên cũng gọi là Năm nghiệp Vô gián (Phạm: Paĩca anantarya-karmàịi), gọi tắt là Năm vô gián hoặc 5 tội không cứu được. Ba tội trước là tội cố ý giết hại cha, mẹ và A la hán. Còn tội Phá hòa hợp tăng thì chia làm 2: a) Phá yết ma tăng: Li khai giáo đoàn mà mình vốn là 1 thành viên để thành lập giáo đoàn mới thực hành các việc bố tát, yết ma riêng rẽ. b) Phá pháp luân tăng: Tôn thờ thầy khác, lập học thuyết khác, tổ chức giáo đoàn riêng. Ngoài ra, theo luận Câu xá quyển 18, thì Ngũ vô gián đồng loại nghiệp (Phạm:Paĩca Upànantarìyaịi), cũng gọi Cận ngũ vô gián, Ngũ vô gián đồng phận, Cận ngũ nghịch, Loại tự ngũ nghịch, là 5 tội cùng loại với 5 nghiệp Vô gián nói trên. Tức là: 1. Ô nhiễm ni A la hán (Phạm:Màtur arhantyà dùwaịam). 2. Giết bồ tát Trụ định địa (Phạm: Niyatabhùmisthitasya bodhisattvasya màraịam). 3. Giết bậc thánh Hữu học (Phạm: Zaikwsasya màraịam). 4. Phá hòa hợp tăng (Phạm: Saôghàyadvàraharaịam). 5. Phá hoại tháp (Phạm: Stùpabhedanam). Kinh Đại tát già ni kiền tử sở thuyết quyển 4 thì nêu 5 tội nặng là: 1. Phá hoại chùa tháp, thiêu hủy kinh tượng, chiếm đoạt tài sản của Tam bảo, hoặc sai bảo người khác làm các việc ấy. 2. Chê bai Thanh văn, Duyên giác và pháp Đại thừa. 3. Cản trở người tu hành hoặc giết hại người xuất gia. 4. Vi phạm 1 trong 5 tội nghịch của Tiểu thừa.5. Chủ trương không có nghiệp báo, thực hành 10 nghiệp bất thiện; hoặc không sợ quả báo đời sau, khuyến khích người khác làm 10 điều ác. Trong Kim quang minh tối thắng vương kinh sớ quyển 5, ngài Tuệ chiểu hợp tội giết cha và giết mẹ trong 5 tội nghịch của Tiểu thừa làm 1 và thêm tội phỉ báng Phật pháp mà lập thành 5 tội nghịch chung cho cả 3 thừa.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.47; kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.3; kinh Đại tập địa tạng thập luân Q.3; luật Tứ phần Q.46; luật Thập tụng Q.36; luận Câu xá Q.17; luận Thuận chính lí Q.43; Du già luận kí Q.3, thượng, Q.5; Du già sư địa luận lược toản Q.4; Câu xá luận quang kí Q.18].
ngũ nghịch khinh trọng
(五逆輕重) Sự nặng nhẹ của 5 tội nghịch. Năm tội nghịch chung của 3 thừa là: Giết mẹ, giết cha, giết A la hán, làm cho thân Phật chảy máu và phá hòa hợp tăng. Trong đó, tội phá hòa hợp tăng thuộc về ngữ nghiệp và là tội nặng nhất. Bốn tội còn lại thuộc về thân nghiệp và theo thứ tự là làm thân Phật chảy máu, giết A la hán, giết mẹ, giết cha. [X. luận Câu xá Q.17; Đại thừa nghĩa chương Q.7]. (xt. Ngũ Nghịch).
ngũ nghịch tội
xem Năm tội nghịch.
; Five gravest offenses.
ngũ nghịch vãng sinh
(五逆往生) Người phạm 5 tội cực ác, nhưng nhờ sức niệm Phật mà được vãng sinh Tịnh độ cực lạc. Đây là chủ trương của kinh Quán vô lượng thọ, cho rằng sự niệm Phật chí thành có 1 công năng siêu tuyệt. Nhưng kinh Vô lượng thọ thì cho rằng người phạm 5 tội nghịch và tội phỉ báng Phật pháp đều không được sinh về Tịnh độ phương Tây. [X. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa]. (xt. Nghịch Báng Trừ Thủ).
ngũ nguyện
(五願) Năm tâm nguyện mà Bồ tát phát khởi làm lợi mình và lợi người. Đó là: 1. Phát tâm nguyện: Bồ tát mới phát khởi tâm đại Bồ đề vô thượng. 2. Sinh nguyện: Nguyện đời vị lai được sinh vào các cõi lành. 3. Cảnh giới nguyện: Nguyện đời vị lai đạt được trí tuệ, biết rõ 5 cảnh giới vô lượng (chúng sinh cảnh vô lượng, thế giới vô lượng, pháp giới vô lượng, điều phục giới vô lượng, điều phục giới phương tiện giới vô lượng). 4. Bình đẳng nguyện: Nguyện trong đời vị lai thành tựu Tứ nhiếp pháp bình đẳng của Bồ tát. 5. Đại nguyện: Nguyện ở đời vị lai dùng Tứ nhiếp pháp bình đẳng để làm lợi ích cho chúng sinh. Trong 5 nguyện trên, nguyện thứ nhất thuộc về lợi mình, còn 4 nguyện sau là những nguyện làm lợi cho người. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.12].
ngũ nguyện kiến lập
(五願建立) Cũng gọi Ngũ nguyện khai thị. Đối lại: Nhất nguyện kiến lập. Tức là pháp nghĩa của Tịnh độ chân tông Nhật bản do sư Thân loan y cứ vào 5 đại nguyện trong 48 nguyện của đức Phật A di đà mà thành lập. Năm nguyện ấy là:Nguyện thứ 11 trụ trong định đến diệt độ, nguyện thứ 12 ánh sáng vô lượng, nguyện thứ 13 thọ mệnh vô lượng, nguyện thứ 17 chư Phật ngợi khen và nguyện thứ 18 dốc lòng kính tin mến mộ. [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng; Hiển tịnh độ chân thực giáo hành chứng văn loại]. (xt. Nhất Nguyện Kiến Lập).
ngũ ngũ bách niên
The five periods each of 500 years.
; (五五百年) Cũng gọi Ngũ cá ngũ bách niên, Ngũ cá ngũ bách tuế, Ngũ ngũ bách tuế. Năm lần 500 năm, 1 thứ quan niệm về lịch sử tông giáo; tức là thời gian biểu thị sự thịnh suy của giáo pháp đức Phật. Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 2, khoảng thời gian 2.500 năm sau khi đức Phật nhập diệt được chia làm 5 lần 500 năm. Trong đó 2 lần 500 năm đầu là thời Chính pháp, lần 500 năm thứ 3 và thứ 4 là thời Tượng pháp, 500 năm cuối cùng là thời Mạt pháp, là 500 năm đầu của 1 vạn năm mạt pháp. 1. Năm trăm năm thứ nhất: Thời kì Giải thoát kiên cố(Học tuệ kiên cố), trong thời kì này có rất nhiều người tu hành đạt được giải thoát, giác ngộ. 2. Năm trăm năm thứ hai: Thời kì Thiền định kiên cố, trong thời kì này có rất nhiều người tu Thiền đắc định. 3. Năm trăm năm thứ ba: Thời kì Đa văn kiên cố, trong thời kì này mọi người lắng nghe và nghiên cứu Phật pháp rất nhiệt tâm, nhưng ít người thực hành. 4. Năm trăm năm thứ tư: Thời kì tạo tự kiên cố, trong thời kì này mọi người chuyên lo xây dựng chùa viện. 5. Năm trăm năm thứ năm: Thời kì Đấu tranh kiên cố, trong thời kì này mọi người luôn tranh giành kích bác lẫn nhau, cho thuyết mình là hơn, thuyết người là kém.[X. Hiền hộ phần trong kinh Đại phương đẳng đại tập Q.3; luận Thích tịnh độ quần nghi Q.3; Kim cương bát nhã kinh tán thuật Q.thượng; Mạt pháp đăng minh kí; Đại thừa pháp tướng danh mục Q.6, hạ]. (xt. Chính Tượng Mạt).
ngũ nhiếp luận
(五攝論) Năm Nhiếp luận. Tức chỉ cho 1 bộ luận Nhiếp đại thừa, 2 bộ giải thích Nhiếp luận và 2 bản dịch bộ giải thích Nhiếp luận. Đó là: 1. Vô trước Nhiếp luận: Tức là bộ luận Nhiếp đại thừa 3 quyển, do bồ tát Vô trước soạn, được thu vào Đại chính tạng tập Q.31. 2. Thiên thân Nhiếp luận: Tức là bộ Đại thừa nhiếp luận thích 15 quyển, do bồ tát Thiên thân soạn, để giải thích bộ luận Nhiếp đại thừa của bồ tát Vô trước. 3. Vô tính Nhiếp luận: Tức là bộ Nhiếp đại thừa luận thích 10 quyển, do bồ tát Vô tính soạn cũng để giải thích bộ luận Nhiếp đại thừa. 4. Lương Nhiếp luận: Tức là bản Hán dịch bộ Đại thừa Nhiếp luận thích 15 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Lương, được thu vào Đại chính tạng tập 31. 5. Đường Nhiếp luận: Tức là bản dịch bộ Nhiếp luận của bồ tát Vô trước và bộ Nhiếp luận thích của bồ tát Vô tính, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, gồm 10 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 31. (xt. Nhiếp Đại Thừa Luận, Nhiếp Đại Thừa Luận Thích).
ngũ nhiệt
(五熱) Năm nóng. Tức là phương pháp tu khổ hạnh bằng cách phơi mình dưới ánh nắng và đốt lửa ở 4 phía, của ngoại đạo Ấn độ thời xưa. Ngoại đạo tu hạnh khổ này được gọi là Ngũ nhiệt chích thân ngoại đạo. [X. Duy ma kinh nghĩa sớ Q.trung].
ngũ nhân
The five causes, i.e. (1) sinh nhân producing cause; (2) y nhân supporting cause; (3) lập nhân upholding or establishing cause; (4) trì nhân maintaining cause; (5) dưỡng nhân nourishing or strengthening cause
; (五因) I. Ngũ Nhân. Năm mối quan hệ giữa nhân năng tạo là 4 đại(đất, nước, lửa, gió) và quả sở tạo là các sắc pháp. Đó là: 1. Sinh nhân (Phạm: Janana): Từ 4 đại sinh ra các sắc pháp như mẹ sinh ra con. 2. Y nhân (Phạm: Nizraya): Sắc sở tạo đã sinh thì sắc tùy thuộc theo 4 đại, như đệ tử nương theo thầy. 3. Lập nhân (Phạm:Sthàna): Nhân này giữ gìn sắc pháp do 4 đại tạo ra như đất giữ gìn muôn vật. 4. Trì nhân (Phạm: Upastambha): Nhờ sức của nhân này giữ gìn mà sắc sở tạo được nối tiếp không dứt, cũng như thức ăn giữ cho mệnh sống liên tục. 5. Dưỡng nhân (Phạm: Upabfôhana): Làm cho sắc pháp do 4 đại tạo ra thêm lớn, giống như mưa móc nuôi dưỡng cỏ cây. Năm nhân duyên trên đây thuộc về năng tác nhân hữu lực trong 6 nhân, chứ không thuộc về 5 nhân kia như đồng loại nhân v.v... Còn trong 4 duyên thì 5 nhân này thuộc về nhân duyên. [X. luận Du già sư địa Q.3; luận Thuận chính lí Q.20; luận Đại tì bà sa Q.127; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Câu xá Q.7; Câu xá luận quang kí Q.7; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần đầu]. II. Ngũ Nhân. Chỉ cho 5 cái nhân thành lập pháp hữu vi. Đó là: 1. Sinh nhân: Tức hoặc nghiệp phiền não sinh ra thân chúng sinh. 2. Hòa hợp nhân: Như thiện hòa với tâm thiện, bất thiện hòa hợp với tâm bất thiện, vô kí hòa hợp với vô kí. 3. Trụ nhân: Tức là chúng sinh nương vào 4 phiền não lớn là ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái mà sống còn, giống như tòa nhà nương vào những trụ cột mà đứng vững. 4. Tăng trưởng nhân: Chúng sinh nhờ vào thức ăn uống mà thân mệnh được nuôi lớn.5. Viễn nhân: Nhân xa. Tức nhờ sức linh nghiệm của thần chú mà có thể thoát khỏi sự não hại của ma quỉ, cũng như nhờ vũ lực của vua mà tránh được nạn giặc cướp. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.21 (bản Bắc); Niết bàn kinh sớ tư kí Q.6].
ngũ nhân ngũ quả
(五因五果) Năm môn nhân và quả của việc vãng sinh Tịnh độ. Năm môn của nhân tức là 5 niệm môn: Lễ bái, tán thán, phát nguyện, quán sát và hồi hướng. Năm môn của quả: Cận môn, đại hội chúng môn, trạch môn, ốc môn và viên lâm du hí địa môn. Nhờ 5 nhân này mà được 5 quả này. [X. luận Tịnh độ (Thiên thân); Vãng sinh luận chú Q.hạ]. (xt. Ngũ Công Đức Môn, Ngũ Niệm Môn).
ngũ nhân phi khí
(五人非器) Chỉ cho 5 hạng người không tin, không thực hành, tức là không có khả năng thụ trì được Phật pháp. Đây là nói về 5 hạng căn cơ đối với kinh Hoa nghiêm. 1. Vô tín phi khí: Tức là hạng người nghe kinh Hoa nghiêm không tin và sinh tâm phỉ báng. 2. Vi chân phi khí: Hạng người làm trái với lẽ chân thực, tức là lợi dụng kinh Hoa nghiêm để cầu danh lợi, thuyết pháp bất tịnh, thu góp tà thiện, tức quên mất tâm bồ đề mà tu các thiện căn, đó là nghiệp ma. 3. Quai thực phi khí: Tức là người làm những việc trái với đạo chân thực, không có chính kiến, nương vào lời nói, chấp lấy văn tự, tùy theo âm thanh mà chấp lấy nghĩa lí, còn chính lí siêu việt thì không thể thâm nhập được. Luận Thập địa có nêu ra 5 lỗi của việc dựa vào âm thanh mà chấp lấy nghĩa lí là: Không có chính tín, lui mất tâm dũng mãnh, lừa dối người, phỉ báng Phật và khinh thường pháp. 4. Hiệp liệt phi khí: Hạng người hẹp hòi, yếu kém. Tức chỉ cho Nhị thừa, căn cơ hẹp hòi, kém cỏi, tuy nghe pháp nhưng không hiểu được ý nghĩa sâu xa, mầu nhiệm. 5. Thủ quyền phi khí: Hạng người chấp chặt vào giáo pháp tạm thời, tức chỉ cho hàng Bồ tát Tam thừa cộng giáo, tùy theo giai vị tu tập của giáo mình mà chấp trước giáo pháp quyền tiểu, không tin giáo pháp viên dung đầy đủ muôn đức. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.3 (Trừng quán)].
Ngũ Nhãn
(s: pañca cakṣūṃṣi, p: pañca cakkhūni, 五眼): chỉ cho 5 loại nhãn lực. (1) Nhục Nhãn (s: māṃsa-cakṣus, 肉眼), là con mắt vốn có đầy đủ nơi nhục nhân này. (2) Thiên Nhãn (s: divya-cakṣus, 天眼), là con mắt của người trên cõi Trời Sắc Giới (s: rūpa-dhātu, 色界), chứng đắc được nhờ có tu Thiền Định. Mắt này xa gần trước sau, trong ngoài, ban ngày hay ban đêm, trên hay dưới đều có thể thấy được. (3) Tuệ Nhãn (s: prajñā-cakṣus, 慧眼), là con mắt của hàng Nhị Thừa, có thể biết rõ chân không vô tướng, cũng có thể quán sát các hiện tượng đều là không tướng, định tướng. (4) Pháp Nhãn (s: dharma-cakṣus, 法眼), là con mắt của chư vị bồ tát có thể quán chiếu thấy tất cả các pháp môn để cứu độ hết thảy chúng sanh. (5) Phật Nhãn (s: buddha-cakṣus, 佛眼), là con mắt của Phật, có đầy đủ tác dụng của 4 loại nhãn lực vừa nêu trên. Mắt này không có gì không thấy biết, cho đến không việc gì không biết, không nghe; cả nghe và thấy đều dùng hỗ tương lẫn nhau, không có tư duy nào mà không thấy được. Các nhà Thiên Thai Tông thuyết rằng nhân vị có Nhục Nhãn, Thiên Nhãn, Tuệ Nhãn, Pháp Nhãn; và quả vị có Phật Nhãn. Trong Đại Huệ Độ Kinh Tông Yếu (大慧度經宗要, Taishō Vol. 33, No. 1697) có câu: “Lục Độ vạn hạnh ư chi viên mãn, Ngũ Nhãn vạn đức tùng thị sanh thành, Bồ Tát chi yếu tạng dã, chư Phật chi chơn mẫu dã (六度萬行於之圓滿、五眼萬德從是生成、菩薩之要藏也、諸佛之眞母也, sáu độ muôn hạnh nơi đây tròn đầy, năm nhãn muôn đức từ đây sanh thành; là kho báu của Bồ Tát, là đức mẹ của chư Phật).” Hay trong Vạn Thiện Đồng Quy Tập (萬善同歸集, Taishō Vol. 48, No. 2017) quyển Trung có đoạn: “Lịch Ngũ Vị Bồ Tát chi đạo, nhập Tam Đức Niết Bàn chi thành, luyện Tam Nghiệp nhi thành Tam Luân, ly Tam Thọ nhi viên Tam Niệm; nhân tùng Tam Quán huân phát, quả cụ Ngũ Nhãn viên minh, phương năng du hí thần thông, xuất nhập bách thiên Tam Muội (歷五位菩提之道、入三德涅槃之城、練三業而成三輪、離三受而圓三念、因從三觀薰發、果具五眼圓明、方能遊戲神通、出入百千三昧, trãi qua con đường Bồ Tát Năm Vị, bước vào thành trì Niết Bàn Ba Đức, luyện Ba Nghiệp trở thành Ba Luân, lìa Ba Thọ tròn đầy Ba Niệm, nhân từ Ba Quán phát khởi, quả đủ Năm Nhãn sáng soi; mới nên dong ruỗi thần thông, ra vào trăm ngàn Tam Muội).” Trong phần Phổ Biến Văn (普變文) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Xuzangjing Vol. 65, No. 1277) quyển 2 cũng có câu: “Nghênh thỉnh thiên hiền vạn thánh, quy y Ngũ Nhãn Lục Thông, vọng pháp giá dĩ quang lâm, nhạ hương xa nhi hạ giáng (迎請千賢萬聖、歸依五眼六通、望法駕以光臨、迓香車而下降, nghinh thỉnh ngàn hiền vạn thánh, quy y năm nhãn sáu thần thông, mong ngự giá pháp quang lâm, cỡi xe hương mà giáng xuống).”
; (s: pañca cakṣūṃṣi, p: pañca cakkhūni, 五眼): chỉ cho 5 loại nhãn lực. (1) Nhục Nhãn (s: māṃsa-cakṣus, 肉眼), là con mắt vốn có đầy đủ nơi nhục nhân này. (2) Thiên Nhãn (s: divya-cakṣus, 天眼), là con mắt của người trên cõi Trời Sắc Giới (s: rūpa-dhātu, 色界), chứng đắc được nhờ có tu Thiền Định. Mắt này xa gần trước sau, trong ngoài, ban ngày hay ban đêm, trên hay dưới đều có thể thấy được. (3) Tuệ Nhãn (s: prajñā-cakṣus, 慧眼), là con mắt của hàng Nhị Thừa, có thể biết rõ chân không vô tướng, cũng có thể quán sát các hiện tượng đều là không tướng, định tướng. (4) Pháp Nhãn (s: dharma-cakṣus, 法眼), là con mắt của chư vị bồ tát có thể quán chiếu thấy tất cả các pháp môn để cứu độ hết thảy chúng sanh. (5) Phật Nhãn (s: buddha-cakṣus, 佛眼), là con mắt của Phật, có đầy đủ tác dụng của 4 loại nhãn lực vừa nêu trên. Mắt này không có gì không thấy biết, cho đến không việc gì không biết, không nghe; cả nghe và thấy đều dùng hỗ tương lẫn nhau, không có tư duy nào mà không thấy được. Các nhà Thiên Thai Tông thuyết rằng nhân vị có Nhục Nhãn, Thiên Nhãn, Tuệ Nhãn, Pháp Nhãn; và quả vị có Phật Nhãn. Trong Đại Huệ Độ Kinh Tông Yếu (大慧度經宗要, Taishō Vol. 33, No. 1697) có câu: “Lục Độ vạn hạnh ư chi viên mãn, Ngũ Nhãn vạn đức tùng thị sanh thành, Bồ Tát chi yếu tạng dã, chư Phật chi chơn mẫu dã (六度萬行於之圓滿、五眼萬德從是生成、菩薩之要藏也、諸佛之眞母也, Sáu Độ muôn hạnh nơi đây tròn đầy, Năm Nhãn muôn đức từ đây sanh thành; là kho báu của Bồ Tát, là đức mẹ của chư Phật).” Hay trong Vạn Thiện Đồng Quy Tập (萬善同歸集, Taishō Vol. 48, No. 2017) quyển Trung có đoạn: “Lịch Ngũ Vị Bồ Tát chi đạo, nhập Tam Đức Niết Bàn chi thành, luyện Tam Nghiệp nhi thành Tam Luân, ly Tam Thọ nhi viên Tam Niệm; nhân tùng Tam Quán huân phát, quả cụ Ngũ Nhãn viên minh, phương năng du hí thần thông, xuất nhập bách thiên Tam Muội (歷五位菩提之道、入三德涅槃之城、練三業而成三輪、離三受而圓三念、因從三觀薰發、果具五眼圓明、方能遊戲神通、出入百千三昧, trãi qua con đường Bồ Tát Năm Vị, bước vào thành trì Niết Bàn Ba Đức, luyện Ba Nghiệp trở thành Ba Luân, lìa Ba Thọ tròn đầy Ba Niệm, nhân từ Ba Quán phát khởi, quả đủ Năm Nhãn sáng soi; mới nên dong ruỗi thần thông, ra vào trăm ngàn Tam Muội).” Trong phần Phổ Biến Văn (普變文) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Xuzangjing Vol. 65, No. 1277) quyển 2 cũng có câu: “Nghênh thỉnh thiên hiền vạn thánh, quy y Ngũ Nhãn Lục Thông, vọng pháp giá dĩ quang lâm, nhạ hương xa nhi hạ giáng (迎請千賢萬聖、歸依五眼六通、望法駕以光臨、迓香車而下降, nghinh thỉnh ngàn hiền vạn thánh, quy y Năm Nhãn Sáu Thần Thông, mong ngự giá pháp quang lâm, cỡi xe hương mà giáng xuống).”
Ngũ nhãn
xem Năm thứ mắt.
; 五眼; C: wǔyăn; J: gogen; S: pañcacakṣuṃṣi;|Năm loại mắt
ngũ nhãn
Paca-cakṣuṃṣi (S), Five eyesGồm: Phật, pháp, thiên, huệ, nhục, nhãn.
; The five kinds of eyes or vision: (1) Nhục nhãn, human eye; (2) Thiên nhãn, deva eye; (3) Huệ nhãn, the eye of wisdom; (4) Pháp nhãn, the eye of dharma; (5) Phật nhãn, Buddha vision or omniscience.
; (五眼) Phạm: Paĩca cakwùôiwi. Pàli: Paĩca cakkhùni. Chỉ cho 5 loại mắt. Tức là: 1. Nhục nhãn (Phạm: Màôsa-cakwus): Mắt của người phàm tục. 2. Thiên nhãn (Phạm: Divya-cakwus): Mắt của người trời ở cõi Sắc nhờ tu Thiền định mà đạt được. Mắt này có khả năng thấy hết mọi thứ xa gần, trước sau, trong ngoài, ngày đêm, trên dưới... 3. Tuệ nhãn (Phạm: Prajĩà-cakwus). Mắt này có thể thấy rõ chân không vô tướng; tức là thấu suốt hết thảy hiện tượng đều là không tướng, định tướng. 4. Pháp nhãn (Phạm: Dharma-cakwus): Mắt của Bồ tát. Mắt này thấy được tất cả các pháp môn. 5. Phật nhãn (Phạm: Buddha-cakwus): Mắt Phật. Mắt này có đủ công năng của cả 4 loại mắt trên, thấu suốt hết thảy mọi pháp, không có gì mà chẳng thấy biết. Tông Thiên thai cho rằng Nhục nhãn, Thiên nhãn, Tuệ nhãn và Pháp nhãn thuộc nhân vị, Phật nhãn thuộc quả vị. Lại tùy theo 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên mà nghĩa của Ngũ nhãn đều khác. Mật giáo thì cho rằng Ngũ nhãn không có hơn kém khác nhau, nhưng đặc biệt coi trọng Phật nhãn và Phật cách hóa Phật nhãn, gọi là Phật nhãn tôn. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.2; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; kinh Văn thù sư lợi vấn Q.hạ; luận Đại trí độ Q.33, 39; Hoa nghiêm kinh sớ Q.57; Đại thừa nghĩa chương Q.20; Tam quán nghĩa Q.thượng].
Ngũ Như Lai
(五如來): xem Ngũ Phật (五佛) bên dưới.
ngũ như lai
(五如來) I. Ngũ Như Lai. Chỉ cho 5 đức Phật được tôn trí trong Mạn đồ la của Mật giáo. Mạn đồ la Kim cương giới tôn trí đức Đại nhật Như lai ở chính giữa, phương đông là A súc Như lai, phương tây là Vô lượng thọ Như lai(Phật A di đà), phương nam là Bảo sinh Như lai và phương bắc là Bất không thành tựu Như lai. [X. Tối thắng diệu cát tường căn bản trí tối thượng bí mật nhất thiết danh nghĩa Tam ma địa phần Q.thượng]. (xt. Ngũ Phật). II. Ngũ Như Lai. Chỉ cho 5 Phật: Phật 10 phương, Phật quá khứ, Phật vị lai, Phật hiện tại và Phật Thích ca... [X. Truyền quang lục Q.hạ]. III. Ngũ Như Lai. Năm đức Như lai được tôn thờ trên đàn của lễ hội cúng thí ngã quỉ: 1. Bảo thắng Như lai: Biểu thị sự diệu dụng của Bình đẳng tính trí. 2. Diệu sắc thân Như lai: Biểu thị sự diệu dụng của Đại viên kính trí. 3. Cam lộ vương Như lai: Biểu thị sự diệu dụng của Diệu quan sát trí. 4. Quảng bác thân Như lai: Biểu thị sự diệu dụng của Pháp giới trí. 5. Li bố úy Như lai: Biểu thị sự diệu dụng của Thành sở tác trí. [X. Thí chư ngã quỉ ẩm thực cập thủy pháp; Bí tạng kí].
ngũ như lai sắc
(五如來色) Cũng gọi Ngũ Phật sắc. Màu sắc trên hình tượng của 5 đức Như lai trong Mật giáo, có nhiều thuyết: 1. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 4, đức Đại nhật Như lai ở chính giữa có thân màu vàng tía, đức Bảo chàng Như lai(hoặc A súc) có thân màu trắng, 3 đức Phật còn lại(Khai phu hoa, hoặc Bảo sinh, Vô lượng thọ, Thiên cổ lôi âm, hoặc Thích ca) đều có thân màu vàng ròng.2. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 6, căn cứ vào thứ lớp quán sắc pháp của hành giả thì 5 đức Phật theo thứ tự có thân màu trắng, đỏ, vàng, xanh và đen. 3. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 20, về mặt thứ tự của quả địa Phật đức, lấy nghĩa màu xanh gồm đủ tất cả màu mà nói, thì 5 đức Phật theo thứ tự là: Tất cả màu(xanh), vàng, đỏ, trắng và đen. Ngoài ra, kinh Nhiếp chân thực cho rằng 5 đức Phật theo thứ tự có thân màu trắng, xanh, vàng, sen hồng và nhiều màu. Còn Đại lạc nghi quĩ nêu các màu thân hình của 5 đức Như lai theo thứ tự là: Trắng, xanh, vàng, đỏ và xanh lá cây.
ngũ nhạc
(五岳) Chỉ cho 5 ngọn núi ở Trung quốc, đó là: Đông nhạc Thái sơn (huyện Thái an, tỉnh Sơn đông), Nam nhạc Hành sơn (huyện Hành sơn, tỉnh Hồ nam), Tây nhạc Hoa sơn (huyện Hoa âm, tỉnh Thiểm tây), Bắc nhạc Hằng sơn(huyện Đại đồng, tỉnh Sơn tây) và Trung nhạc Tung sơn (huyện Đăng phong, tỉnh Hà nam). Thời vua Nghiêu, chỉ có Tứ nhạc do 4 viên quan trông coi việc tế lễ. Về sau, thêm Trung nhạc mà thành chế độ Ngũ nhạc. Việc cúng tế Ngũ nhạc là đặc quyền của Thiên tử, còn vua chư hầu thì chỉ được thờ cúng trong phạm vi lãnh thổ của mình mà thôi.Ngoài ra, Ngũ nhạc là nơi tĩnh tu sớm nhất của các tăng sĩ và đạo sĩ, như ngài Đạo an đời Phù Tần đã vào Hằng sơn xây dựng chùa tháp, ngài Tăng lãng vào Thái sơn sáng lập chùa Lãng công Cốc sơn(chùa Thần thông), Tổ sư Bồ đề đạt ma đã trụ ở chùa Thiếu lâm tại Tung sơn, ngài Tuệ tư đời Trần trụ ở chùa Phúc nghiêm tại Hành sơn v.v... [X. Lịch đạiTam bảo kỉ Q.12; Tập cổ kim Phật đạo luận hành Q.1; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển 7, 8, 13, 41, 55, 67, 163].
Ngũ nhẫn
五忍; C: wǔrěn; J: gonin;|Năm loại nhẫn nhục được ghi trong Nhân vương kinh (仁王經): 1. Phục nhẫn (伏忍); 2. Tín nhẫn (信忍); 3. Thuận nhẫn (順忍); 4. Vô sinh nhẫn (無生忍); 5. Tịch diệt nhẫn (寂滅忍).
ngũ nhẫn
(五忍) Tức là 5 nhẫn: Phục, Tín, Thuận, Vô sinh và Tịch diệt. 1. Phục nhẫn: Chỉ cho hàng Tam hiền trước Thập địa, ở giai vị này hành giả chưa chứng vô lậu, phiền não chưa dứt hết, chỉ có thể chế ngự nó không cho sinh khởi. Trong đó, Thập trụ thuộc về hạ phẩm nhẫn, Thập hành thuộc về trung phẩm nhẫn, Thập hồi hướng thuộc về thượng phẩm nhẫn. 2. Tín nhẫn: Chỉ cho hàng Bồ tát Thập địa được niềm tin vô lậu, tùy thuận không còn nghi ngờ. Trong đó, Sơ địa thuộc về hạ phẩm nhẫn, Nhị địa thuộc trung phẩm nhẫn, Tam địa thuộc thượng phẩm nhẫn. 3. Thuận nhẫn: Chỉ cho Bồ tát thuận theo đạo Bồ đề, hướng tới quả vô sinh. Trong đó, Bồ tát địa thứ 4 thuộc hạ phẩm nhẫn, địa thứ 5 thuộc trung phẩm nhẫn và địa thứ 6 thuộc thượng phẩm nhẫn. 4. Vô sinh nhẫn: Chỉ cho Bồ tát đã trừ hết vọng hoặc, rõ biết các pháp đều không sinh. Trong đó, Bồ tát địa thứ 7 thuộc về hạ phẩm nhẫn, Bồ tát địa thứ 8 thuộc trung phẩm nhẫn và Bồ tát địa thứ 9 thuộc thượng phẩm nhẫn. 5. Tịch diệt nhẫn: Ở địa vị này, Bồ tát đã dứt hết sạch các vọng hoặc phiền não, thanh tịnh vô vi, tịch diệt vắng lặng. Trong đó, địa thứ 10 thuộc về hạ phẩm nhẫn, Phật quả là thượng phẩm nhẫn. Trong 5 nhẫn, 4 nhẫn trước mỗi nhẫn đều chia ra 3 phẩm: Thượng, trung, hạ, còn 1 nhẫn sau cùng được chia làm 2 phẩm: Thượng và hạ. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5, thượng; Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ Q.3, 4 (Trí khải); Đại thừa nghĩa chương Q.12].
ngũ nhật bát giảng
(五日八講) Năm ngày 8 buổi giảng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Trong 5 ngày chia ra 8 thời giảng 8 quyển kinh Pháp hoa. Tức là bắt đầu giảng thời thứ nhất vào buổi tối ngày đầu tiên đến thời giảng thứ 8 vào buổi sáng ngày thứ 5 là kết thúc. Cứ theo truyện ngài Tuệ minh đời Đường trong Pháp hoa kinh truyện kí quyển 2, 3, thì ngài Tuệ minh nhận lời thỉnh cầu của chư thiên, đã chia 8 thời khai giảng kinh Pháp hoa, đó là đầu mối của Pháp hoa bát giảng.
ngũ nhật thập toà
(五日十座) Cũng gọi Pháp hoa thập giảng. Năm ngày 10 buổi giảng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Trong 5 ngày chia ra 10 buổi giảng kinh. Tức là ngoài việc giảng 8 quyển kinh Pháp hoa, còn giảng thêm kinh Vô lượng nghĩa 1 quyển làm phần khai kinh và kinh Phổ hiền quán 1 quyển làm phần kết kinh, hợp làm 10 quyển trong 5 ngày, mỗi ngày giảng 2 quyển, cho nên gọi là Ngũ nhật thập giảng. [X. truyện Đường Tuệ minh trong Pháp hoa kinh truyện kí Q.3].
ngũ niên đại hội
Pacapariśad (S)Hội bao dung, không ngăn ngại ai.
; (五年大會) Phạm: Paĩca-vàrwikamaha. Hán âm: Ban xà vu sắt, Ban già vu sắc, Ban già việt sư. Gọi tắt: Ban già. Cũng gọi Ngũ niên công đức hội, Ngũ niên hội. Đại hội cúng dường chư tăng 10 phương và bố thí cho nhân dân do vua A dục tổ chức lần đầu tiên vào khoảng 100 năm sau đức Phật nhập diệt. Từ đó cứ 5 năm Đại hội lại được mở 1 lần, đã 1 thời rất thịnh hành ở Ấn độ. Về sau, vua chúa và vương hầu các nước Tây vực cũng làm theo và Đại hội thường được tổ chức vào mùa xuân; chư tăng từ khắp nơi về tham dự, thời gian hội lâu nhất là 3 tháng. Điều Yết nhã cúc xà quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 5 (Đại 51, 894 hạ) nói: Cứ 5 năm mở đại hội Vô già 1 lần, đem hết của trong kho phát cho dân chúng. [X. Ngạch thượng hữu chân châu man tỉ khưu ni duyên trong kinh Soạn tập bách duyên Q.8; luật Ma ha tăng kì Q.3; Đại trang nghiêm kinh luận Q.8; A dục vương truyện Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.17; điều Kiệt xoa quốc trong Cao tăng Pháp hiển truyện]. (xt. Vô Già Hội).
ngũ niệm lực
(五念力) Lực dụng của 5 môn tu Tịnh độ cầu vãng sinh.Cứ theo Vãng sinh luận chú quyển hạ, tu 5 niệm môn: Lễ bái, khen ngợi, phát nguyện, quán sát và hồi hướng thì sẽ sinh về cõi nước Cực lạc, được thấy đức Phật A di đà.
ngũ niệm môn
(五念門) Cũng gọi Ngũ niệm, Tu tịnh độ ngũ niệm môn.Chỉ cho 5 môn tu hành quán niệm cầu sinh về cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà được nói trong luận Tịnh độ của bồ tát Thiên thân. Đó là: 1. Lễ bái môn: Giữ cho thân nghiệp thanh tịnh, 1 lòng cung kính lễ bái đức A di đà Như lai, nguyện sinh về cõi nước của Ngài. 2. Tán thán môn: Giữ cho khẩu nghiệp thanh tịnh, xưng tán danh hiệu, công đức, trí tướng quang minh của đức A di đà Như lai, tu hành chân thực, cầu sinh về cõi nước của Ngài. 3. Tác nguyện môn: Tâm thường phát nguyện, tu pháp Xa ma tha (Phạm: Zamatha= Chỉ) dứt tâm tán loạn, cầu sinh về cõi nước của Ngài. 4. Quán sát môn: Dùng trí tuệ chính niệm quán tưởng 3 thứ sau đây: a) Quán tưởng công đức trang nghiêm của cõi nước Tịnh độ cực lạc. b) Quán tưởng công đức trang nghiêm của Phật A di đà. c) Quán tưởng công đức trang nghiêm của các vị Bồ tát ở cõi nước ấy. Tu hành pháp Tì bà xá na (Phạm: Vipazyanà = Quán) để quán phá tâm mê tối cầu sinh về cõi Tịnh độ cực lạc. 5. Hồi hướng môn: Đem những công đức thiện căn mà mình đã có hồi hướng đến khắp tất cả chúng sinh, nguyện cùng sinh về cõi Cực lạc, cùng chứng Phật đạo. Trong Vãng sinh lễ tán của Đại sư Thiện đạo, thứ tự của Ngũ niệm môn có hơi thay đổi, tức là: 1. Thân nghiệp lễ bái môn. 2. Khẩu nghiệp tán thán môn. 3. Ý nghiệp ức niệm quán sát môn. 4. Tác nguyện môn. 5. Hồi hướng môn. Trong đó, 3 môn đầu là tu 3 nghiệp thân, khẩu, ý, còn 2 môn sau là phát nguyện, hồi hướng; nghĩa là 3 môn đầu là khởi hành, 2 môn sau là an tâm. Ngoài ra, tu theo 5 niệm môn trên đây, kết quả cũng có 5 môn, gọi là Ngũ công đức môn hoặc Ngũ quả môn. Đó là: 1. Cận môn: Thân không rơi lại vào cõi mê mà được gần gũi với cảnh giới ngộ của Phật.2. Đại hội chúng môn: Được dự vào hàng chúng hội của bậc Thánh. 3. Trạch môn: Thành tựu được pháp Chỉ4. Ốc môn: Thành tựu được pháp Quán. 5. Viên lâm du hí địa môn, cũng gọi Giáo hóa địa chi ích. Nghĩa là trở lại cõi mê, lấy việc cứu độ chúng sinh làm niềm vui. Lại nữa, giữa Ngũ niệm môn (Ngũ nhân môn) và Ngũ công đức môn (Ngũ quả môn) trên đây, thì Lễ bái môn tương đối với Cận môn, các môn còn lại của 2 môn cũng theo thứ tự đều có quan hệ nhân quả đối nhau. Trong 2 môn nhân quả này, mục đích của 4 môn trước là làm cho chính mình vào được đạo giác ngộ (bồ đề), vì thế gọi là Nhập môn; còn mục đích của môn sau cùng thì lấy việc cứu độ người khác ra khỏi biển khổ làm mục đích, cho nên gọi là Xuất môn, hợp 2 môn lại gọi chung là Xuất nhập nhị môn.[X. Vô lượng thọ kinh ưu bà đề xá nguyện sinh kệ; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.4; Vãng sinh luận chú lược sao Q.hạ; Vãng sinh lễ tán tư kí Q.thượng]. (xt. Chỉ Quán, Niệm Phật, Tịnh Độ Tông).
ngũ niệm xứ
(五念處) Năm niệm xứ do vua A tu la nói. Đức Phật vì chư thiên nói 4 niệm xứ là: Thân niệm xứ, Thụ niệm xứ, Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ để đối trị 4 cái điên đảo: Tịnh, Lạc, Thường, Ngã. Thấy vậy, vua A tu la bèn ganh với Phật mà nói 5 niệm xứ. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2, phần 2]. (xt. A Tu La Thuyết Ngũ Niệm Xứ Tam Thập Bát Phẩm).
ngũ nạp y
(五衲衣) Cũng gọi Nạp y, Tệ nạp y, Hoại nạp y, Bách nạp y. Áo vá, tức là áo pháp được may bằng những mảnh vải vụn 5 màu. [X. luật Tứ phần Q.41; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 1]. (xt. Nạp Y).
ngũ phong
(五風) Chỉ cho 5 thứ gió tiềm tàng trong thân người. Cứ theo luận Kim thất thập quyển trung thì 5 thứ gió ấy là: 1. Gió Ba na (Phạm:Pràịa), cũng gọi gió Hô hấp. Gió này hít thở từ miệng, mũi, động đến 13 căn. 2. Gió A ba na (Phạm: Apàna), cũng gọi gió Súc tị. Gió này khi thấy sự vật đáng sợ thì lẩn tránh, làm cho người ta trở thành khiếp nhược. 3. Gió Ưu đà na (Phạm:Udàna), cũng gọi gió Thắng tha. Gió này làm cho người ta kiêu căng ngạo mạn, cho mình là hơn hết, không ai sánh bằng. 4. Gió Bà na (Phạm:Vyàna), cũng gọi gió Thiên nhãn. Gió này lan khắp toàn thân, đến chỗ cùng cực thì dần dần ra khỏi thân thể con người; khi gió ra hết thì người chết.5. Gió Sa ma na (Phạm:Samàna), cũng gọi gió Nhiếp trì. Gió này trụ ở trong tâm, giữ gìn thân thể. Sự thịnh suy của 5 thứ gió này có ảnh hưởng đến mọi hành động và sự thăng trầm của con người.
ngũ phong hải âm
Gohō Kaion (J)Tên một vị sư.
ngũ phong lâu các
(五峰樓閣) Năm ngọn núi giữa các lầu gác. Đây là 1 trong những pháp quán tưởng của Mật giáo về 5 vị Phật. Tức lúc quán tưởng thì quán 5 ngọn núi là tọa vị của 5 đức Phật, ở giữa và 4 phía có lập lầu gác. Cũng tức là quán tưởng 3 chữ: Ba la, Hồng, Kiếm, là núi Tu di, ở đỉnh núi quán tưởng 5 chữ: Tông, Hồng, Đa ra, Hề rị, và Ác là đại điện, trên điện có 5 lầu gác, trang trí bằng lưới ngọc, tràng hoa, trong điện kiến lập Mạn đồ la, chính giữa đặt 8 cây cột kim cương. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Kim cương đính kinh nghĩa quyết Q.thượng].
Ngũ Phong Thường Quán
(五峰常觀, Gobō Jōkan, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, pháp từ của Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), xuất thân Thoại Châu (瑞州, Cao An, Tỉnh Giang Tây). Ông đã từng sống ở Ngũ Phong Sơn (五峰山) thuộc Quân Châu (筠州, Tỉnh Giang Tây).
; 五峰常觀; C: wǔfēng chángguàn; J: gohō jō-kan; tk 8/9;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Bách Trượng Hoài Hải. Sư được nhắc lại trong Bích nham lục, Công án 70 và 71.
ngũ phong thường quán
Godō Jōkan (J)Tên một vị sư.
ngũ phái nhất trích đồ
(五派一滴圖) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nhật am Nhất đông thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn, được thu vào phần phụ lục của Pháp môn sừ quĩ trong Vạn tục tạng tập 147. Trong sách này, soạn giả đem so sánh những chỗ dị đồng về thuyết truyền thừa 5 tông phái Thiền tông được trình bày trong Cảnh đức truyền đăng lục của ngài Đạo nguyên, trong bài tựa Trùng hiệu ngũ gia tông phái của ngài Mộng đường và trong Ngũ gia biện của ngài Hổ quan Sư luyện, rồi soạn giả nhận định rằng trong các thuyết, thuyết của ngài Hổ quan Sư luyện chủ trương 5 phái Thiền tông Trung quốc đều bắt nguồn từ pháp hệ của Thiền sư Mã tổ Đạo nhất là chính xác hơn cả.
Ngũ pháp
五法; C: wǔfǎ; J: gohō;|Năm pháp, ngũ sự. Thường đề cập đến 5 pháp, năm phạm trù, giới luật, giáo pháp, v.v… được nói đến trong kinh văn từ trước hay sau nầy, thế nên có nhiều nghĩa khác nhau. Các thuật ngữ đặc biệt thường dùng là: |I. Ngũ uẩn (五蘊, theo Câu-xá luận 倶舎論); II. Ngũ trí (theo Duy thức tông): 1. Chân như (眞如); 2. Đại viên kính trí (大圓鏡智); 3. Bình đẳng tính trí (平等性智); 4. Diệu quan sát trí (妙觀察智); 5. Thành sở tác trí (成所作智).|III. Năm phạm trù về danh và tướng được giải thích trong kinh Lăng-già (楞伽經; s: lankāvatāra-sūtra): 1. Tướng (相); 2. Danh (名); 3. Vọng tưởng (妄想); 4. Chính trí (正智); 5. Như như (如如; s: bhūta-tathatā).|IV. Viết tắt của Ngũ vị thất thập ngũ pháp (五位七十五法).|V. Năm thức (五識).
ngũ pháp
Pacadharma (S), Pacadhamma Tướng danh ngũ pháp. Gồm: Danh, Tướng, Phân biệt, Chánh trí, Như nhưTam tính ngũ pháp. Gồm: - tướng: sâm la vạn tượng các hữu vi pháp, do nhân duyên mà sinh, hiển lộ thành các tướng trạng. - danh: tên gọi các tướng - phân biệt (= vọng tưởng): tâm phân biệt - chánh trí: không còn tâm phân biệt vọng tưởng - như như: cái chánh trí chứng đắc chân như.
; Pancadharma (S). Five dharmas: (1) Danh, nàma, name; (2) tướng, nimitta, appearance; (3) phân biệt, vikalpa, discrimination; (4) chính trí, samyak-jnàna, right knowledge; (5) như như, tathatà, suchness.
; (五法) I. Ngũ Pháp. Cũng gọi Ngũ sự, Tướng danh ngũ pháp. Chỉ cho 5 pháp: Danh, tướng, phân biệt, chính trí và chân như, là bản chất của các pháp mê ngộ, được nói trong kinh Nhập lăng già quyển 7. Danh là tên giả được đặt ra trong thế giới hiện tượng; Tướng chỉ cho các tướng trạng sai biệt trong hiện tượng giới do nhân duyên hòa hợp sinh ra; Phân biệt là do chấp trước 2 pháp danh và tướng nói trên mà sinh khởi tâm hư vọng phân biệt; Chính trí là trí tuệ khế hợp với chân như; Chân như là bản thể của tất cả sự tồn tại, cũng tức là chân lí bình đẳng như thực. Trong 5 pháp trên, 3 pháp trước là pháp mê, 2 pháp sau là pháp ngộ. II. Ngũ Pháp. Cũng gọi Lí trí ngũ pháp. Năm pháp của Phật địa: Pháp giới thanh tịnh, Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí và Thành sở tác trí. Trong đó, lí Chân như sở ngộ(Pháp giới thanh tịnh) cùng với trí Bồ đề năng ngộ(4 trí) bao hàm 3 thân Phật(Tự tính thân, Thụ dụng thân, Biến hóa thân). [X. kinh Phật địa]. (xt. Trí). III. Ngũ Pháp. Năm pháp hạnh trong 25 phương tiện được nói trong Ma ha chỉ quán quyển 4, hạ. Đó là: Dục, Tinh tiến, Niệm, Xảo tuệ và Nhất tâm. IV. Ngũ Pháp. Năm uẩn. Luận Câu xá gọi Ngũ uẩn là Ngũ pháp. Tức là sắc uẩn, thụ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. V. Ngũ Pháp. Chỉ cho 5 pháp: Sắc pháp, Tâm pháp, Tâm sở pháp, Bất tương ứng pháp và Vô vi pháp, tức là 5 vị của 75 pháp. (xt. Ngũ Pháp Sự Lí Duy Thức).
ngũ pháp bất đắc thụ nhân giới
(五法不得授人戒) Năm điều mà vị tỉ khưu mắc phải thì không được truyền trao giới pháp cho người khác. Đó là: 1. Không có niềm tin: Nếu tỉ khưu không có chính tín thì tự mình không thể giữ gìn giới pháp mà mình đã nhận lãnh, vì thế không được làm thầy truyền giới cho người khác. 2. Không biết hổ thẹnvới chính mình: Nếu tỉ khưu không có tâm hổ thẹn thì ắt hẳn là phóng túng buông thả, thiếu giới hạnh, cho nên không được làm thầy truyền giới cho người. 3. Không biết xấu hổ với người khác: Nếu tỉ khưu không biết xấu hổ với người thì chắc chắn sẽ hủy phạm giới pháp mà không ăn năn hối lỗi, vì thế không được làm thầy truyền trao giới pháp cho người khác.4. Lười biếng: Nếu tỉ khưu lười biếng thì ắt buông lung dông dỡ, tự mình chẳng thể giữ gìn được giới pháp mà mình đã thụ, cho nên cũng không được làm thầy truyền giới cho người. 5. Hay quên: Nếu tỉ khưu đã không ghi nhớ được nghĩa lí các pháp, thì đối với giới luật mà mình đã học cũng bị lãng quên, vì thế không được làm thầy trao giới cho người khác.[X. luật Tứ phần Q.59].
ngũ pháp nhân
(五法人) Người tin theo 5 thứ pháp do Đề bà đạt đa đặt ra. Đề bà đạt đa đặt ra 5 pháp để đối lại với giáo pháp của đức Phật, nhằm mục đích chia rẽ giáo đoàn. Năm pháp ấy là: 1. Trọn đời đi xin ăn. 2. Mặc áo may bằng những miếng vải vụn.3. Ngủ dưới gốc cây. 4. Không ăn bơ, muối, 5. Không ăn thịt, cá. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 3, tiết 1].
ngũ pháp sự lí duy thức
(五法事理唯識) Sự và lí của 5 pháp đều duy thức. Năm pháp chỉ cho: Tâm pháp, Tâm sở pháp, Sắc pháp, Bất tương ứng pháp và Vô vi pháp. Theo tông Duy thức Đại thừa thì 5 pháp trên đều do thức biến hiện. Trong đó, Tâm pháp là tự tướng của thức, Tâm sở pháp tương ứng với 8 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt na và A lại da mà sinh khởi; Sắc pháp do Tâm pháp và Tâm sở pháp biến hiện; Bất tương ứng pháp là nhờ các phần vị: Tâm pháp, Tâm sở pháp, Sắc pháp... mà có; còn Vô vi pháp thì là thực tính của thức.
ngũ pháp thoái bồ đề
(五法退菩提) Năm trường hợp làm lui mất tâm bồ đề được ghi trong kinh Niết bàn quyển 28 (bản Bắc). Đó là: 1. Xuất gia theo ngoại đạo: Người xuất gia nên tu theo chính pháp, nếu theo ngoại đạo thì sẽ tăng thêm các tà kiến, tạo nghiệp chẳng lành, do đó tâm bồ đề sẽ bị lui mất. 2. Không tu tâm đại từ: Người tu hạnh Bồ tát phải đem tâm đại từ bình đẳng thương quí tất cả chúng sinh, ban cho họ niềm vui chính pháp thanh tịnh, sau đó chứng quả giác ngộ; nếu không thực hành như thế thì tâm bồ đề sẽ bị lui mất. 3. Hay tìm lỗi của pháp sư: Người tu hạnh Bồ tát thờ kính Sư trưởng như thờ cha mẹ, nghe lời dạy bảo của thầy thì quả Bồ đề mới có cơ thành tựu. Nếu cứ chăm chăm tìm lỗi của thầy thì không những phụ công răn dạy mà còn lỗi đạo thờ thầy, do đó tâm bồ đề sẽ bị lui mất. 4. Thường thích ở trong sinh tử: Người tu hạnh Bồ tát cần phải siêng năng gắng sức để cầu thoát li, nếu cứ đam mê 5 dục, tạo các nghiệp ác, đối với sinh tử tâm không nhàm chán, thì tâm bồ đề sẽ bị lui mất. 5. Không ưa đọc tụng kinh điển: Người tu hạnh Bồ tát nên tin nhận kinh pháp do đức Như lai tuyên thuyết, thành tâm đọc tụng để tìm cầu nghĩa lí sâu xa mầu nhiệm, rồi y theo sự hiểu biết mà tiến tu mong thành tựu quả Bồ đề, nếu không như thế thì tâm bồ đề sẽ bị lui mất.
ngũ pháp thân
Paca-dharmakāya (S), Five dharma bodies.
; (五法身) Năm pháp thân. Có Đại thừa và Tiểu thừa khác nhau. 1. Tiểu thừa lập 5 phần pháp thân: Giới, Định, Tuệ, Giải thoát và Giải thoát tri kiến. Tiểu thừa cho 5 phần này là Pháp thân trong 3 thân 2. Đại thừa lập 3 loại 5 pháp thân: a) Kinh Bồ tát anh lạc lập: Như như trí pháp thân, Công đức pháp thân, Tự pháp thân, Biến hóa pháp thân và Hư không pháp thân. b) Tông Hoa nghiêm lập: Pháp tính sinh thân, Công đức pháp thân, Biến hóa pháp thân, Hư không pháp thân và Thực tướng pháp thân. c) Mật giáo lập: Tự tính pháp thân, Thụ dụng pháp thân, Biến hóa pháp thân, Đẳng lưu pháp thân và Pháp giới thân. [X. Hoa nghiêm đại sớ sao Q.4; Ngũ luân cửu tự minh bí thích]. (xt. Ngũ Chủng Pháp Thân).
Ngũ pháp tạng
五法藏; C: wǔfǎzàng; J: gohōzō;|Năm phạm trù về các cấu trúc cơ bản của các pháp (s: pañca-dharma-kośāḥ). Theo Thành thật luận (成實論; s: satyasiddhi-sastra) Ngũ pháp tạng gồm: Quá khứ tạng (過去藏; s: atīta-kośa); Hiện tại tạng (現在藏; s: pratyutpanna-kośa); Vị lai tạng (未來藏; s: anāgata-kośa); Vô vi tạng (無為藏; s: asaṃskṛta-kośa); và Bất khả thuyết tạng (不可説藏; s: anabhilāpya-kośa). Ba tạng trước được gọi là Hữu vi tụ, Tạng thứ tư gọi là Vô vi tụ, Tạng thứ 5 gọi là Phi nhị tụ, chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi.
ngũ pháp tạng
(五法藏) Phạm: Paĩca dharma-kozà#. Gọi tắt: Ngũ tạng. Cũng gọi Ngũ pháp hải.Chỉ cho 5 tạng, là thế giới quan của Độc tử bộ. Độc tử bộ chia vạn hữu trong vũ trụ ra làm 5 tạng: 1. Quá khứ tạng (Phạm:Atìta-koza). 2. Hiện tại tạng (Phạm:Pratyutpannakoza). 3. Vị lai tạng (Phạm:Anàgata-koza). 4. Vô vi tạng (Phạm:Asaôskfta-koza). 5. Bất khả thuyết tạng (Phạm: Anabhilàpya-koza). Trong 5 tạng trên, 3 tạng trước tập hợp các pháp hữu vi, gọi chung là Tam thế tạng, hoặc gọi là Hữu vi tụ. Vô vi tạng cũng gọi là Vô vi tụ, là tập hợp các pháp vô vi; Bất khả thuyết tạng, cũng gọi Phi nhị tụ, tức là tập hợp các pháp chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi. Bởi vì Độc tử bộ vốn chủ trương Ngã chẳng phải uẩn chẳng phải lìa uẩn và cho rằng Ngã là có thực. Quan niệm này đã bị luận Trung quán, luận Thành thực, luận Câu xá, luận Thành duy thức... bài bác. Các ngài Trí khải, Pháp tạng v.v... cũng cho đó là Ngoại đạo trà trộn vào Phật giáo.[X. phẩm Hữu ngã vô ngã trong luận Thành thực Q.3; phẩm Phá ngã trong luận Câu xá Q.29; luận Trung quán Q.2; luận Đại trí độ Q.1; luận Dị bộ tông luân].
Ngũ phương
(五方): năm phương gồm Đông, Tây, Nam, Bắc và trung ương (ở giữa). Như trong Lễ Ký (禮記), phần Vương Chế (王制) có câu: “Ngũ phương chi dân, ngôn ngữ bất thông, thị dục bất đồng (五方之民、言語不通、嗜欲不同, dân của năm phương, ngôn ngữ chẳng thông, ham muốn bất đồng).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: “Ngũ phương chi dân giả, vị Trung Quốc dữ Tứ Di dã (五方之民者、謂中國與四夷也, dân của năm phương là Trung Quốc và Tứ Di [tức Đông Di, Nam Man, Tây Nhung, Bắc Địch]).”
Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả
(五方蠻雷使者): tên gọi vị sứ giả bộ hạ của Lôi Tổ trong Lôi Bộ. Từ này thấy xuất hiện trong Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn Ngọc Xu Bảo Kinh (九天應元雷聲普化天尊玉樞寶經) của Đạo Giáo: “Cửu Thiên Lôi Công Tướng Quân, Ngũ Phương Lôi Công Tướng Quân, Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả, Lôi Bộ Binh Sứ Giả, Mạc Trám Phán Quan, phát hiệu thi lịnh, tật như phong hỏa (九天雷公將軍、五方雷公將軍、八方雲雷將軍、五方蠻雷使者、雷部兵使者、莫賺判官、發號施令、疾如風火, Cửu Thiên Lôi Công Tướng Quân, Ngũ Phương Lôi Công Tướng Quân, Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả, Lôi Bộ Binh Sứ Giả, Mạc Trám Phán Quan ban hành hiệu lịnh, nhanh như gió lửa).” Hay trong Tử Vi Huyền Đô Lôi Đình Ngọc Kinh (紫微玄都雷霆玉經) cũng có đoạn rằng: “Bắc Cực Tử Vi Đại Đế thống lãnh Tam Giới, chưởng ác Ngũ Lôi; Thiên Bồng Quân, Thiên Du Quân, Dực Thánh Quân, Huyền Võ Quân phân ty lãnh trị; Thiên Cương Thần, Hà Khôi Thần, thị vi chiêu lôi hịch đình chi ty; Cửu Thiên Lưu Kim Hỏa Linh Đại Tướng Quân, Thiên Đinh Lực Sĩ, Lục Đinh Ngọc Nữ, Lục Giáp Tướng Quân, thị vi tiết độ lôi đình chi sứ; Cửu Thiên Khiếu Mạng Phong Lôi Sứ Giả, Lôi Lịnh Sứ Giả, Hỏa Lịnh Đại Tiên Hỏa Bá, Phong Lịnh Hỏa Lịnh Phong Bá, Tứ Mục Hạo Ông, Thương Nha Phích Lịch Đại Tiên, thị vi nhiếp hạt lôi đình chi thần; Hỏa Bá Phong Đình Quân, Phong Hỏa Nguyên Minh Quân, Lôi Quang Nguyên Thánh Quân, Vũ Sư Trượng Nhân Tiên Quân, thị vi lôi đình phong vũ chi chủ; trung hữu Tam Ngũ Thiệu Dương Lôi Công Hỏa Xa Thiết Diện Chi Thần, trung hữu Phụ Phong Mãnh Lại Ngân Nha Diệu Mục Tiên Hỏa Luật Lịnh Đại Thần, Lang Nha Mãnh Lại Đại Phán Quan, Ngũ Lôi Phi Tiệp Sứ Giả, Ngũ Phương Lôi Công Tướng Quân, Bát Phương Vân Lôi Đại Tướng, Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả, Tam Giới Man Lôi Sứ Giả, Cửu Xã Man Lôi Sứ Giả, thật ty kỳ lịnh, dụng Tán Kì quyền (北極紫微大帝統禦三界、掌握五雷、天蓬君、天猷君、翊聖君、玄武君分司領治、天罡神、河魁神、是爲召雷檄霆之司、九天流金火鈴大將軍、天丁力士、六丁玉女、六甲將軍、是爲節度雷霆之使、九天嘯命風雷使者、雷令使者、火令大仙火伯、風令火令風伯、四目皓翁、蒼牙霹靂大仙、是爲攝轄雷霆之神、火伯風霆君、風火元明君、雷光元聖君、雨師丈人仙君、是爲雷霆風雨之主、中有三五邵陽雷公火車鐵面之神、中有負風猛吏銀牙耀目飆火律令大神、狼牙猛吏大判官、五雷飛捷使者、五方雷公將軍、八方雲雷大將、五方蠻雷使者、三界蠻雷使者、九社蠻雷使者、實司其令、用贊其權, Bắc Cực Tử Vi Đại Đế thống lãnh Ba Cõi, chưởng quản Ngũ Lôi; Thiên Bồng Quân, Thiên Du Quân, Dực Thánh Quân, Huyền Võ Quân phân chia các ban mà thống trị; Thiên Cương Thần, Hà Khôi Thần là các thần quản lý việc kêu sấm gọi sét; Cửu Thiên Lưu Kim Hỏa Linh Đại Tướng Quân, Thiên Đinh Lực Sĩ, Lục Đinh Ngọc Nữ, Lục Giáp Tướng Quân là sứ điều chỉnh sấm sét; Cửu Thiên Khiếu Mạng Phong Lôi Sứ Giả, Lôi Lịnh Sứ Giả, Hỏa Lịnh Đại Tiên Hỏa Bá, Phong Lịnh Hỏa Lịnh Phong Bá, Tứ Mục Hạo Ông, Thương Nha Phích Lịch Đại Tiên là thần cai quản sấm sét; Hỏa Bá Phong Đình Quân, Phong Hỏa Nguyên Minh Quân, Lôi Quang Nguyên Thánh Quân, Vũ Sư Trượng Nhân Tiên Quân là chủ tể quản lý gió mưa, sấm sét; trong đó có Thần Tam Ngũ Thiệu Dương Lôi Công Hỏa Xa Thiết Diện, trong đó lại có Phụ Phong Mãnh Lại Ngân Nha Diệu Mục Tiên Hỏa Luật Lịnh Đại Thần, Lang Nha Mãnh Lại Đại Phán Quan, Ngũ Lôi Phi Tiệp Sứ Giả, Ngũ Phương Lôi Công Tướng Quân, Bát Phương Vân Lôi Đại Tướng, Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả, Tam Giới Man Lôi Sứ Giả, Cửu Xã Man Lôi Sứ Giả thật sự thi hành lịnh của Bắc Cực Tử Vi Đại Đế để tán dương quyền lực Người).”
Ngũ Phương Ngũ Đế
(五方五帝): còn gọi là Ngũ Phương Thần (五方神); là tên gọi của các vị Thiên Đế của 5 phương trong thần thoại Trung Quốc, về sau được Đạo Giáo tôn thờ như là thần. Theo Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七簽) quyển 18, phần Lão Tử Trung Kinh (老子中經), của Đạo Giáo cho biết, Đông phương Thương Đế (蒼帝) là Đông Hải Quân (東海君), Nam phương Xích Đế (赤帝) là Nam Hải Quân (南海君), Tây phương Bạch Đế (白帝) là Tây Hải Quân (西海君), Bắc phương Hắc Đế (黑帝) là Bắc Hải Quân (北海君), và trung ương Hoàng Đế Quân (黃帝君). Cổ Công Sảng (賈公彥, ?-?) nhà Đường giải thích rằng: “Ngũ Đế giả, Đông phương Thanh Đế Linh Uy Ngưỡng, Nam phương Xích Đế Xích Tiêu Nỗ, Trung ương Hoàng Đế Hàm Xu Nữu, Tây phương Bạch Đế Bạch Chiêu Củ, Bắc phương Hắc Đế Diệp Quang Kỷ (五帝者、東方青帝靈威仰、南方赤帝赤熛怒、中央黃帝含樞紐、西方白帝白招矩、北方黑帝葉光紀, Ngũ Đế là Thanh Đế Linh Uy Ngưỡng ở phương Đông, Xích Đế Xích Tiêu Nỗ ở phương Nam, Hoàng Đế Hàm Xu Nữu ở phương giữa, Bạch Đế Bạch Chiêu Củ ở phương Tây, Hắc Đế Diệp Quang Kỷ ở phương Bắc).” Đạo Giáo lấy phương Đông Thanh Long (青龍) là Thanh Đế, phương Tây Bạch Hổ (白虎) là Bạch Đế, phương Nam Châu Tước (朱雀) là Xích Đế, phương Bắc Huyền Võ (玄武) là Hắc Đế, phương giữa Kỳ Lân (麒麟) là Hoàng Đế.
ngũ phương sắc
(五方色) Chỉ cho màu của 5 phương. Trong Mật giáo có 2 thuyết: 1. Theo thuyết của ngài Tam tạng Bất không thì phương Đông màu xanh, phương Tây màu trắng, phương Nam màu đỏ, phương Bắc màu đen và phương Trung ương màu vàng. Đây là theo pháp thế gian. 2. Theo thuyết của ngài Thiện vô úy thì phương Đông màu vàng, phương Nam màu đỏ, phương Tây màu trắng, phương Bắc màu đen và Trung ương màu xanh.
ngũ phương tiện
(五方便) I. Ngũ Phương Tiện. Gọi đủ: Nhị thập ngũ phương tiện. Chỉ cho 25 phương tiện tu tập Chỉ quán của tông Thiên thai. (xt. Nhị Thập Ngũ Phương Tiện, Phương Tiện). II. Ngũ Phương Tiện. Năm thứ phương tiện tùy cơ do ngài Thiên thai Trí khải căn cứ vào môn niệm Phật mà lập ra. Đó là: 1. Xưng danh vãng sinh niệm Phật tam muội môn: Pháp môn mà hành giả niệm Phật tu tập để cầu sinh về Tịnh độ. 2. Quán tướng diệt tội niệm Phật tam muội môn: Pháp môn niệm Phật cầu diệt tội và tiêu trừ các chướng nạn, sợ hãi. 3. Chư cảnh duy tâm niệm Phật tam muội môn: Pháp môn niệm Phật cầu xa lìa tâm mê muội và chấp trước các cảnh tướng. 4. Tâm cảnh câu li niệm Phật tam muội môn: Pháp môn niệm Phật để cầu diệt trừ chấp trước tâm thực có. 5. Tính khởi viên thông niệm Phật tam muội môn: Pháp môn niệm Phật để được sự vắng lặng sâu xa. [X. Ngũ phương tiện niệm Phật môn]. III. Ngũ Phương Tiện. Chỉ cho 5 pháp môn phương tiện chứng được giải thoát do Thiền Bắc tông lập ra. (xt. Bắc Tông Ngũ Phương Tiện Môn).
ngũ phương tiện niệm phật môn
(五方便念佛門) Cũng gọi Ngũ phương tiện môn, Vĩ đề tác ngũ phương tiện niệm Phật quán môn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung nói rõ về 5 môn niệm Phật và thứ tự để vào phương tiện ấy. Trước hết nói về thứ tự từ cạn đến sâu khi hành giả niệm Phật, tức là: Ngưng tâm thiền, Chế tâm thiền, Thể chân thiền, Phương tiện tùy duyên thiền, Tức nhị biên phân biệt thiền; kế đến nói về sự cạn sâu của Viên quán không cạn sâu, mục đích của 5 môn niệm Phật và thứ tự vào phương tiện; lại nói về Nhất hạnh tam muội trong kinh Đại bảo tích quyển 116 và văn quán lễ tượng vẽ trong kinh Đại bảo tích quyển 89; cuối cùng là dựa vào 4 giáo hóa pháp mà nói về sự niệm Phật của hành giả. [X. Phật tổ thống kỉ Q.25; Lạc bang di cảo Q.thượng; Tịnh độ chỉ qui tập Q.thượng; Nhật bản quốc thừa hòa ngũ niên nhập Đường cầu pháp mục lục; Nhập Đường tân cầu thánh giáo mục lục; Tịnh độ giáo chi nghiên cứu].
Ngũ Phước
(五福): 5 thứ phước đức, gồm: sống lâu, giàu sang, sức khỏe, đạo đức và được ơn trời ban. Bên cạnh đó, trong dân gian cũng rất thông dụng câu “ngũ phước biền trăn (五福駢臻, năm phước cùng đến)”. Câu này vốn phát xuất từ câu chuyện của Đậu Vũ Quân (竇禹鈞). Vốn xuất thân là vị quan dưới thời Hậu Chu, Ngũ Đại, làm quan đến chức Gián Nghị Đại Phu (諫議大夫), tánh tình thuần hậu, thích giúp người. Lúc nhỏ ông đã để tang cha, rất chí hiếu, hết lòng cung phụng mẫu thân. Năm lên 30 tuổi, ông vẫn chưa có đứa con nào. Một hôm nọ, ông nằm mộng thấy cha mình bảo rằng: “Mạng con không có con nối dõi, lại thêm đoản mạng, nên hãy mau nỗ lực làm việc thiện”. Nghe lời cha dạy, từ đó ông bắt đầu phát nguyện làm việc thiện. Về sau, ông lại thấy cha về báo mộng cho biết rằng: “Vì con có âm đức nên trên trời ban cho con được tăng thêm 3 kỷ (36 năm) tuổi thọ, tặng cho con 5 đứa con, đứa nào cũng sẽ được phú quý, vinh hiển; và sau khi qua đời thì sẽ được sanh lên cõi Trời.” Nhờ tích tập phước đức do làm việc thiện, sau này cả 5 người con của Vũ Quân đều đỗ đến Tiến Sĩ, thảy đều làm quan lớn cho triều đình. Tên của họ là Nghi (儀), Nghiễm (儼), Khản (侃), Xứng (偁) và Hy (僖). Đương thời, họ được gọi là “Yến Sơn Đậu Thị Ngũ Long (燕山竇氏五龍, năm con rồng của nhà họ Đậu ở Yến Sơn)”. Năm người con do trời ban của Vũ Quân được xem như là 5 điều phước; từ đó xuất hiện câu “ngũ phước biền trăn (五福騈臻, năm phước cùng đến)” và phổ cập cho đến ngày nay.
ngũ phần
(五分) I. Ngũ Phần. Năm bộ luận Đại thừa do ngài Vô trước soạn. Tức là: Luận Du già sư địa, luận Phân biệt du già, Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Biện trung biên luận tụng và luận Kim cương bát nhã. Vì đối lại với danh từ Thập chi luận nên gọi là Ngũ phần. (xt. Ngũ Bộ Đại Luận). II. Ngũ Phần. Chỉ cho 5 phần pháp thân: Giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến.
ngũ phần giới
(五分戒) Năm phần giới Ưu bà tắc được phân chia theo việc nhận giữ nhiều hay ít. Đó là: 1. Nhất phần giới: Thụ 3 qui y và nhận giữ 1 giới. 2. Thiểu phần giới: Thụ 3 qui y và nhận giữ 2 giới. 3. Vô phần giới: Thụ 3 qui y và nhận giữ 2 giới mà phá 1 giới trong 2 giới ấy. 4. Đa phần giới: Thụ 3 qui y và nhận giữ 3 hoặc 4 giới. 5. Mãn phần giới: Thụ 3 qui y và nhận giữ cả 5 giới. [X. Ưu bà tắc giới Q.3].
ngũ phần hương
(五分香) Năm phần hương ví dụ với 5 phần pháp thân. Bậc thánh Vô học tự mình thành tựu 5 pháp công đức, gọi là 5 phần pháp thân. Đó là: Giới thân, định thân, tuệ thân, giải thoát thân và giải thoát tri kiến thân. Năm thân này được ví dụ như hương thơm, nên gọi là 5 phần hương. Tức giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương và giải thoát tri kiến hương. (xt. Ngũ Phần Pháp Thân).
Ngũ phần luật
五分律; C: wǔfēn lǜ; J: gobunritsu;|Bộ giới luật gồm 5 quyển của Hoá Địa bộ (còn gọi là Di-sa-tắc bộ; s: mahīśāsaka).
ngũ phần luật
Mahisasakaviraya (S), Mahi-sasakavinaya (S), Mahisasakaviraya Di sa tắc bộ hoà nê Ngũ phần luật, Di sa tắc bộ Ngũ phần luậtGồm 30 quyển.
; (五分律) Cũng gọi Sa di tắc bộ hòa hê ngũ phần luật.Gọi tắt: Di sa tắc bộ luật. Luật, 30 quyển, do 2 ngài Phật đà thập và Trúc đạo sinh cùng dịch vào thời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 22. Đây là bộ giới luật do Hóa địa bộ (Di sa tắc bộ)lưu truyền và do ngài Pháp hiển thỉnh được bản tiếng Phạm từ nước Sư tử (Tích lan) mang về. Vì bộ luật này gồm có 5 phần nên gọi là Ngũ phần luật. Trong đó qui định giới tỉ khưu 251 điều, giới tỉ khưu ni 370 điều. Theo sự nghiên cứu của các học giả thời cận đại thì nội dung bộ luật này rất gần với tạng Luật tiếngPàli của Phật giáo Nam truyền. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.2; Xuất tam tạng kí tập Q.3; Đại đường tây vực kí Q.12].
Ngũ phần pháp thân
五分法身; C: wǔfēn fǎshēn; J: gobun hōshin;|Năm phần pháp thân chứng đạt được hoặc trong quả vị Vô học (無學位); hoặc trong quả vị Phật. Ý nghĩa của thuật ngữ nầy là thể tính bao hàm trong giới (戒), định (定), huệ (慧), giải thoát (解脱), và giải thoát tri kiến (解脱知見; theo kinh Niết-bàn 涅槃經)
ngũ phần pháp thân
Asamasana paca-skandha (S).
; Panca dharmakàya (S). The five attributes of the spiritual body of the Tathàgata. i.e. giới that he is above all moral conditions; định tranquil and apart from all false ideas; tuệ wise and omniscient; giải thoát free, unlimited, unconditioned which is the state of nirvana; giải thoát tri kiến that he has perfect knowledge of his state.
; (五分法身) Cũng gọi Vô lậu ngũ uẩn, Vô đẳng đẳng ngũ uẩn (Phạm: Asamasama-paĩcaskandha). Năm thứ công đức đầy đủ trong tự thể của Phật và A la hán. Có hai cách giải thích. A. Theo cách giải thích của Tiểu thừa: Câu xá luận quang kí quyển 1, phần cuối, nêu và giải thích 5 phần pháp thân là: 1. Giới thân (Phạm: Zìla-skandha), cũng gọi Giới uẩn, Giới chúng, Giới phẩm. Tức là thân nghiệp và ngữ nghiệp vô lậu. 2. Định thân (Phạm: Samàdhiskandha), cũng gọi Định uẩn, Định chúng, Định phẩm. Tức là 3 Tam muội không, vô nguyện và vô tướng của bậc Vô học. 3. Tuệ thân (Phạm:Prajĩà-skandha), cũng gọi Tuệ uẩn, Tuệ chúng, Tuệ phẩm. Tức là chính kiến, chính tri của bậc Vô học.4. Giải thoát thân (Phạm: Vimuktiskandha), cũng gọi Giải thoát uẩn, Giải thoát chúng, Giải thoát phẩm. Tức là thắng giải tương ứng với chính kiến. 5. Giải thoát tri kiến thân (Phạm: Vimukti-jĩàna-darzana-skandha), cũng gọi Giải thoát sở kiến thân, Giải thoát tri kiến uẩn, Giải thoát tri kiến chúng, Giải thoát tri kiến phẩm. Tức là tận trí, vô sinh trí của bậc Vô học. Trong đó, Giải thoát thân và Giải thoát tri kiến thân hợp lại gọi chung là Giải tri kiến. Bởi vì tận trí và vô sinh trí của bậc Vô học Tiểu thừa là giải thoát tri kiến. Trong giáo đoàn Phật giáo, điều này vốn được coi là pháp môn ngăn dứt những dục vọng của nhục thể và tinh thần, giúp cho tâm tĩnh lặng, trí tuệ sáng suốt để ngay từ trong tất cả sự trói buộc mà được giải thoát. B. Theo cách giải thích của Đại thừa. Trong Đại thừa nghĩa chương quyển 20, phần đầu, ngài Tuệ viễn giải thích năm phần pháp thân như sau: 1. Giới thân: Chỉ cho Giới pháp thân Như lai đã xa lìa hết thảy lỗi lầm của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 2. Định thân: Trong Định pháp thân của Như lai, chân tâm vắng lặng, tự tính không động, xa lìa tất cả vọng niệm. 3. Tuệ thân: Tuệ pháp thân của Như lai thể chân tâm tròn sáng, tự tính sáng tỏ, quán xét thấu suốt hết thảy pháp tính, tức chỉ cho trí căn bản. 4. Giải thoát thân: Giải thoát pháp thân của Như lai tự thể không bị câu thúc, giải thoát khỏi tất cả sự trói buộc. 5. Giải thoát tri kiến thân: Giải thoát tri kiến pháp thân của Như lai tự thể chứng biết xưa nay vốn thanh tịnh vô nhiễm, đã thực sự giải thoát. Về danh nghĩa của Ngũ phần pháp thân thì sách đã dẫn trên giải thích rằng : Phần tức là nhân, vì 5 thứ nói trên là nhân để thành thân, nên gọi là phần; Pháp là tự thể, vì 5 thứ trên là tự thể của bậc Vô học nên gọi là pháp; lại nữa, pháp nghĩa là khuôn phép, mà 5 thứ trên là khuôn phép để thành thân nên gọi là pháp; Thân tức là thể, 5 thứ trên là thể của chư Phật, cho nên gọi là thân; thân cũng có nghĩa là chỗ tích tụ mọi công đức, vì thế gọi là thân. Về thứ tự của Ngũ phần pháp thân thì rất rõ ràng, từ giới sinh định, từ định phát tuệ, do tuệ mà được giải thoát, do giải thoát mà có giải thoát tri kiến. Giới, định, tuệ là căn cứ theo nhân mà đặt tên, còn giải thoát và giải thoát tri kiến thì căn cứ theo quả mà đặt tên, tuy nhiên, cả 5 thứ đều là công đức của Phật. Theo luận Câu xá quyển 1, thì giới uẩn thuộc về sắc uẩn, 4 uẩn còn lại thuộc về hành uẩn. Thỉnh quan âm kinh sớ của ngài Trí khải thì cho rằng: Nếu chuyển được 5 ấm sắc, thụ, tưởng, hành, thức thì lần lượt có thể được Ngũ phần pháp thân: Giới thân, định thân... Ngoài ra, trong Ngũ phần pháp thân của Mật giáo, thì Giới chỉ cho Tam muội da giới: Chúng sinh và Phật không hai, 6 đại vô ngại; Định chỉ cho tâm đại quyết định, an trụ trong chúng sinh và Phật không hai; Tuệ chỉ cho trí tuệ tự giác rõ suốt lí 6 đại vô ngại; Giải thoát chỉ cho địa vị tự ngộ, rõ suốt lí 6 đại vô ngại, xa lìa mọi chấp trước mà được giải thoát; Giải thoát tri kiến chỉ cho sự thấy biết sau khi chứng ngộ không còn bị các chấp trước trói buộc. [X. kinh Tạp a hàm Q.24, 47; kinh Trường a hàm Q.9; kinh Tăng nhất a hàm Q.2, 18, 29; kinh Tăng già la sát sở tập Q.hạ; kinh Quán Phổ hiền hành pháp; kinh Bồ tát anh lạc Q.thượng; Phật địa kinh luận Q.4].
ngũ phần pháp thân hương
The five kinds of incense, or fragrance corresponding with the Panca dharmakàya.
ngũ phần thập chi
(五分十支) Từ chỉ chung 5 bộ đại luận (ngũ phần) và 10 bộ luận (thập chi) phụ thuộc. Năm bộ đại luận là: Luận Du già sư địa, luận Phân biệt du già, Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Biện trung biên luận tụng và Kim cương bát nhã. Mười bộ luận phụ thuộc gồm: Luận Bách pháp minh môn, luận Đại thừa ngũ uẩn, luận Hiển dương thánh giáo, luận Nhiếp đại thừa, luận A tì đạt ma tạp tập, luận Biện trung biên, luận Nhị thập duy thức, luận Tam thập duy thức, luận Phân biệt du già và Đại thừa trang nghiêm kinh luận.Trên đây đều là những bộ luận căn bản của tông Duy thức pháp tướng. [X. Du già luận kí Q.1, phần đầu; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1, phần đầu]. (xt. Thập Chi Luận, Ngũ Bộ Đại Luận).
ngũ phẩm đệ tử vị
(五品弟子位) Gọi tắt: Ngũ phẩm vị. Chỉ cho giai vị Ngoại phàm trước Thập tín, là hành vị thứ nhất trong 8 hành vị của Viên giáo do tông Thiên thai lập, tương đương với vị Quán hành tức trong Lục tức vị. Vì giai vị này chia ra 5 phẩm và chuyên tâm vào sự tu hành thực tiễn của chính mình, nên gọi là Ngũ phẩm đệ tử vị. Năm phẩm là: 1. Tùy hỉ phẩm: Nghe pháp thực tướng viên dung vi diệu mà trong lòng tin hiểu vui mừng, nên bên trong dùng 3 quán để quán xét cảnh của 3 đế, bên ngoài thì dùng 5 hối mà siêng năng tinh tiến sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, phát nguyện và hồi hướng. 2. Đọc tụng phẩm: Sau khi tin hiểu thì đọc tụng và thuyết giảng kinh pháp mầu nhiệm sâu xa. 3. Thuyết pháp phẩm: Thuyết pháp để dẫn dắt người khác, cũng lại nhờ công đức ấy mà quán xét tâm mình để tiến tu. 4. Kiêm hành lục độ phẩm: Ngoài việc quán xét tâm còn tu thêm 6 pháp: Bố thí, giữ giới, nhịn nhục, tinh tiến, thiền định và trí tuệ. 5. Chính hành lục độ phẩm: Khi công phu quán xét tâm đã tiến triển thì thực hành hạnh hóa tha, lí sự đầy đủ và đến đây thì lấy việc thực hành 6 độ làm chính yếu. Ngũ phẩm đệ tử vị có xuất xứ từ phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa, còn trong Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 5, phần đầu, thì Ngũ phẩm đệ tử vị được so sánh với Ngũ đình tâm vị của Tam tạng giáo. Ngoài ra, Pháp hoa văn cú kí quyển 27 đem Ngũ phẩm đệ tử vị phối hợp với Tam tuệ vị, trong đó, Tùy hỉ, Đọc tụng và Thuyết pháp phối với Văn tuệ vị, Kiêm hành lục độ phối với Tư tuệ vị, còn Chính hành lục độ thì phối với Tu tuệ vị. Theo truyền thuyết, Đại sư Trí khải tông Thiên thai từng tự xưng mình là Ngũ phẩm đệ tử vị. [X. Thiên thai tứ giáo nghi; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ; Phật tổ thống kỉ Q.6]. (xt. Lục Tức).
Ngũ Phận chi hương
(五分之香): năm loại hương. Bậc Thánh vô học tự thân chứng đắc 5 pháp công đức hay Ngũ Phần Pháp Thân (五分法身), tức là: Giới Thân (戒身), Định Thân (定身), Tuệ Thân (慧身), Giải Thoát Thân (解脫身) và Giải Thoát Tri Kiến Thân (解脫知見身). Nếu lấy hương để ví dụ, tức là hương của Giới (s: śīla, p: sīla, 戒), hương của Định (s, p: samādhi, 定), hương của Tuệ (s: prajñā, p: paññā, 慧), hương của Giải Thoát (s: vimukti, p: vimutti, 解脫) và hương của Giải Thoát Tri [Trí] Kiến (s: vimuktijñāna-darśana, p: vimutti-ñāṇadassana, 解脫知[智]見). Trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) của Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨) có giải thích về 5 phần hương rằng: “Thiêu hương giả, diệc phi thế gian hữu tướng chi hương, nãi thị vô vi Chánh Pháp chi hương dã; huân chư xú uế vô minh ác nghiệp, tất linh tiêu diệt; kỳ Chánh Pháp hương giả, hữu kỳ ngũ chủng: nhất giả Giới Hương, sở vị năng đoạn chư ác, năng tu chư thiện; nhị giả Định Hương, sở vị thâm tín Đại Thừa, tâm vô thối chuyển; tam giả Huệ Hương, sở vị thường ư thân tâm, nội tự quán sát; tứ giả Giải Thoát Hương, sở vị năng đoạn nhất thiết vô minh kết phược; ngũ giả Giải Thoát Tri Kiến Hương, sở vị quán chiếu thường minh, thông đạt vô ngại; như thị ngũ chủng hương, danh vi tối thượng chi hương, thế gian vô tỷ; Phật tại thế nhật, linh chư đệ tử, dĩ trí tuệ hỏa, thiêu như thị vô giá trân hương, cúng dường thập phương chư Phật (燒香者、亦非世間有相之香、乃是無爲正法之香也、薰諸臭穢無明惡業、悉令消滅、其正法香者、有其五種、一者戒香、所謂能斷諸惡、能修諸善、二者定香、所謂深信大乘、心無退轉、三者慧香、所謂常於身心、內自觀察、四者解脫香、所謂能斷一切無明結縛、五者解脫知見香、所謂觀照常明、通達無礙、如是五種香、名爲最上之香、世間無比、佛在世日、令諸弟子以智慧火、燒如是無價珍香、供養十方諸佛, đốt hương không phải là đốt loại hương có hình tướng của thế gian, mà là loại hương vô vi Chánh Pháp; xông các ác nghiệp vô minh nhơ nhớp, tất khiến tiêu diệt; loại hương Chánh Pháp ấy, có năm loại: một là Hương Giới, nghĩa là có thể đoạn trừ các điều ác, tu tập các việc lành; hai là Hương Định, nghĩa là tin sâu Đại Thừa, tâm không thối chuyển; ba là Hương Huệ, nghĩa là thường nơi thân tâm này quán sát bên trong; bốn là Hương Giải Thoát, nghĩa là có thể đoạn trừ các vô minh ràng buộc; năm là Hương Giải Thoát Tri Kiến, nghĩa là quán chiếu thường sáng tỏ, thông đạt không ngăn ngại; năm loại hương này được gọi là hương tối thượng, trên thế gian không gì sánh bằng; khi đức Phật còn tại thế, Ngài bảo các đệ tử lấy lửa trí tuệ, đốt loại hương trân quý như vậy để cúng dường mười phương chư Phật).” Cho nên, trong bài kệ niêm hương thường có câu: “Giới Hương, Định Hương dữ Huệ Hương, Giải Thoát, Giải Thoát Tri Kiến Hương, quang minh vân đài biến pháp giới, cúng dường thập phương vô thượng tôn (戒香定香與慧香、解脫解脫知見香、光明雲臺遍法界、供養十方無上尊, Hương Giới, Hương Định cùng Hương Huệ, Giải Thoát, Hương Giải Thoát Tri Kiến, sáng chói đài mây khắp pháp giới, cúng dường mười phương vô thượng tôn).”
Ngũ Phật
(五佛): năm vị Phật ngự ở 5 hướng khác nhau, được vẽ trong các đồ hình của Kim Cang Giới Mạn Trà La (金剛界曼荼羅) cũng như Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼荼羅); còn gọi là Ngũ Trí Như Lai (五智如來), Ngũ Như Lai (五如來), Ngũ Bộ Giáo Chủ (五部敎主). Trong Kim Cang Giới Mạn Trà La có Đại Nhật Như Lai (s: Vairocana, 大日如來, tức Tỳ Lô Giá Na Phật [毘盧遮那佛]) ở trung ương, màu vàng, thuộc Thổ; A Súc Như Lai (s: Akṣbhya, 阿閦如來) ở phương Đông, màu xanh, thuộc Mộc; Bảo Sanh Như Lai (s: Ratna-saṃbhava, 寶生如來) ở phương Nam, màu hồng, thuộc Hỏa; A Di Đà Như Lai (s: Lokeśvara-rāja, 阿彌陀如來, tức Thế Tự Tại Như Lai [世自在如來]) ở phương Tây, màu trắng, thuộc Kim; Bất Không Thành Tựu Như Lai (s: Amogha-siddhi, 不空成就如來, tức Thích Ca Như Lai [釋迦如來]) ở phương Bắc, màu đen huyền, thuộc Thủy. Trong Thai Tạng Giới Mạn Trà La, ngoài Đại Nhật Như Lai ở trung ương, màu vàng, thuộc Thổ như trên; còn có Bảo Tràng Như Lai (s: Ratna-ketu, 寶幢如來) ở phương Đông, màu xanh, thuộc Mộc; Khai Phu Hoa Vương Như Lai (s: Saṃkusumita-rāja, 開敷華王如來) ở phương Nam, màu hồng, thuộc Hỏa; Vô Lượng Thọ Như Lai (s: Amitāyus, 無量壽如來) ở phương Tây, màu trắng, thuộc Kim; và Thiên Cổ Lôi Âm Như Lai (s: Dundubhi-svara, 天鼓雷音如來) ở phương Bắc, màu đen huyền, thuộc Thủy. Tu Chứng Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修設瑜伽集要施食壇儀, CBETA No. 1081) giải thích rằng Ngũ Phật hình thành Ngũ Trí: “Ngũ Phật giả, quân Giá Na Phật sở hiện, vị Giá Na Như Lai nội tâm chứng tự thọ dụng dĩ, thành ư Ngũ Trí; nhất Đại Viên Kính Trí, lưu xuất Đông phương A Súc Như Lai, chấp Kim Cang Chử; nhị Bình Đẳng Tánh Trí, lưu xuất Nam phương Bảo Sanh Như Lai, chấp Ma Ni Châu; tam Diệu Quan Sát Trí, lưu xuất Tây phương Di Đà Như Lai, chấp Diệu Liên Hoa; tứ Thành Sở Tác Trí, lưu xuất Bắc phương Thành Tựu Như Lai, thủ Luân Tướng Giao; ngũ Pháp Giới Thanh Tịnh Trí, tức trung ương Tỳ Lô Giá Na Như Lai, thủ Thiên Bức Luân (五佛者、均遮那佛所現、謂遮那如來內心證自受用已、成於五智、一大圓鏡智、流出東方阿閦如來、執金剛杵、二平等性智、流出南方寶生如來、執摩尼珠、三妙觀察智、流出西方彌陀如來、執妙蓮華、四成所作智、流出北方成就如來、手輪相交、五法界清淨智、卽中央毗盧遮那如來、手千輻輪, năm vị Phật đều do Giá Na Phật biến hiện, nghĩa là trong nội tâm của Giá Na Như Lai tự thọ dụng xong, thành ra năm loại trí; một là Đại Viên Kính Trí, lưu xuất A Súc Như Lai ở phương Đông, tay cầm Chày Kim Cang; hai là Bình Đẳng Tánh Trí, lưu xuất Bảo Sanh Như Lai ở phương Nam, tay cầm hạt châu Ma Ni; ba là Diệu Quan Sát Trí, lưu xuất Di Đà Như Lai ở phương Tây, tay cầm Hoa Sen Mầu; bốn là Thành Sở Tác Trí, lưu xuất Thành Tựu Như Lai ở phương Bắc, tay bắt ấn Luân Tướng Giao; năm là Pháp Giới Thanh Tịnh Trí, tức Tỳ Lô Giá Na Như Lai ở trung ương, tay cầm ngàn vòng bánh xe).” Cũng theo tài liệu này cho biết rằng mỗi vị Phật đều có 4 Bồ Tát tùy tùng, hộ trì: “Ngũ Phật các hữu tứ Bồ Tát, A Súc Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát, nhị Kim Cang Vương Bồ Tát, tam Kim Cang Ái Bồ Tát, tứ Kim Cang Thiện Tai Bồ Tát; Bảo Sanh Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Bảo Bồ Tát, nhị Kim Cang Uy Vương Bồ Tát, tam Kim Cang Tràng Bồ Tát, tứ Kim Cang Quyến Bồ Tát; Di Đà Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Pháp Bồ Tát, nhị Kim Cang Kiếm Bồ Tát, tam Kim Cang Nhân Bồ Tát, tứ Kim Cang Lợi Bồ Tát; Thành Tựu Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Nghiệp Bồ Tát, nhị Kim Cang Ngữ Bồ Tát, tam Kim Cang Dược Xoa Bồ Tát, tứ Kim Cang Quyền Bồ Tát; Tỳ Lô Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát, nhị Kim Cang Bảo Ba La Mật Bồ Tát, tam Kim Cang Pháp Ba La Mật, tứ Kim Cang Yết Ba La Mật Bồ Tát (五佛各有四菩薩、阿閦佛四菩薩者、一金剛薩埵菩薩、二金剛王菩薩、三金剛愛菩薩、四金剛善哉菩薩、寶生佛四菩薩者、一金剛寶菩薩、二金剛威光菩薩、三金剛幢菩薩、四金剛眷菩薩、彌陀佛四菩薩者、一金剛法菩薩、二金剛劍菩薩、三金剛因菩薩、四金剛利菩薩、成就佛四菩薩者、一金剛業菩薩、二金剛語菩薩、三金剛藥叉菩薩、四金剛拳菩薩、毗盧佛四菩薩者、一金剛波羅密菩薩、二金剛寶波羅密菩薩、三金剛法波羅密菩薩、四金剛羯波羅密菩薩, năm vị Phật mỗi vị đều có 4 Bồ Tát, 4 Bồ Tát của A Súc Phật gồm, một là Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát, hai là Kim Cang Vương Bồ Tát, ba là Kim Cang Ái Bồ Tát, bốn là Kim Cang Thiện Tai Bồ Tát; 4 Bồ Tát của Bảo Sanh Phật gồm, một là Kim Cang Bảo Bồ Tát, hai là Kim Cang Uy Vương Bồ Tát, ba là Kim Cang Tràng Bồ Tát, bốn là Kim Cang Quyến Bồ Tát; 4 Bồ Tát của Di Đà Phật gồm, một là Kim Cang Pháp Bồ Tát, hai là Kim Cang Kiếm Bồ Tát, ba là Kim Cang Nhân Bồ Tát, bốn là Kim Cang Lợi Bồ Tát; 4 Bồ Tát của Thành Tựu Phật gồm, một là Kim Cang Nghiệp Bồ Tát, hai là Kim Cang Ngữ Bồ Tát, ba là Kim Cang Dược Xoa Bồ Tát, bốn là Kim Cang Quyền Bồ Tát; 4 Bồ Tát của Tỳ Lô Phật gồm, một là Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát, hai là Kim Cang Bảo Ba La Mật Bồ Tát, ba là Kim Cang Pháp Ba La Mật, bốn là Kim Cang Yết Ba La Mật Bồ Tát).”
; 五佛; C: wǔfó; J: gobutsu; S: pañca-buddha;|I. Năm vị Phật theo Mật giáo, trong Kim cương giới mạn-đồ-la (金剛界曼荼羅; s: vajradhātumaṇḍala) và Thai tạng giới mạn-đồ-la (胎藏界曼荼羅; s: garbhadhātu-maṇḍalas). Trong cả hai đồ hình mạn-đồ-la, 4 Đức Phật ngự ở 4 phương, còn Phật Đại Nhật Như Lai (Tì-lô Giá-na 毘盧遮那; s: mahāvairocana) trụ tại trung tâm. Trong Kim cương mạn-đồ-la, 5 vị Phật là: 1. Tì-lô Giá-na (毘盧遮那; s: mahāvairocana; 2. A-súc (阿閦; s: akṣobhya); 3. Bảo Sinh (寶生; s: ratnasaṃbhava); 4. A-di-đà (阿彌陀; s: amitābha); 5. Bất Không Thành Tựu (不空成就; s: amoghasiddhi). Trong Thai tạng giới mạn-đồ-la, còn gọi là Thai tạng giới ngũ Phật (胎藏界五佛), 5 vị Phật là: 1. Tì-lô Giá-na (毘盧遮那); 2. Đức Phật Bảo Tràng (寶幢; s: ratnaketu); 3. Khai Phu Hoa Vương (開敷華王; s: saṃkusumitarāja); 4. Vô Lượng Thọ (無量壽; s: amitāyus), 5. Thiên Cổ Lôi Âm (天鼓雷音; s: divyadundubhi-meganirghoṣa). Xem thêm Ngũ Trí Như Lai để biết thêm giải thích về từng loại trí tuệ biểu hiện qua mỗi vị Phật nầy.|II. 1. Phật trong 10 phương; 2. Phật quá khứ; 3. Phật vị lai; 4. Phật hiện tại; 5 Phật Thích-ca Mâu-ni.
ngũ phật
Paca-buddha (S), Five Buddhas.
; (五佛) Cũng gọi Ngũ trí Phật, Ngũ trí Như lai, Ngũ thiền định Phật. Chỉ cho 5 đức Phật trong Mạn đồ la Kim cương giới và Thai tạng giới của Mật giáo. A. Ngũ Phật trong Mạn đồ la Kim cương giới, ngồi trong Ngũ giải thoát luân. 1. Đại nhật Như lai: Ngồi ở chính giữa, thân màu trắng, trụ trong ấn Trí quyền, chủng tử là (vaô). 2. A súc Như lai: Ngồi ở phía đông, mình màu vàng ròng, tay trái nắm lại thành quyền đặt ở hông, tay phải rủ xuống chạm đất, chủng tử là (hùô). 3. Bảo sinh Như lai: Ngồi ở phía nam, mình màu vàng, tay trái nắm lại thành quyền đặt ở rốn, tay phải hướng ra ngoài kết ấn Thí nguyện, chủng tử là (trà#). 4. A di đà Như lai: Ngồi ở phía tây, mình màu vàng, trụ trong ấn Tam ma địa, chủng tử là (hrì#). 5. Bất không thành tựu Như lai: Ngồi ở phía bắc, mình màu vàng, tay trái nắm lại thành quyền đặt ngang rốn, tay phải duỗi 5 ngón để ngang ngực, chủng tử (a#). B. Ngũ Phật trong Mạn đồ la Thai tạng giới, ngồi trong Trung đài bát diệp. 1. Đại nhật Như lai: Ngồi ở chính giữa, mình màu vàng ròng, trụ trong ấn Pháp giới định, chủng tử là (à#). 2. Bảo chàng Như lai: Ngồi ở phía đông, mình màu đỏ lợt, tay trái nắm lại thành quyền đặt ở hông, tay phải kết ấn Xúc địa (chạm đất), chủng tử là (a). 3. Khai phu hoa vương Như lai: Ngồi ở phía nam, mình màu vàng ròng, trụ trong thiền định Li cấu, chủng tử là (à). 4. Vô lượng thọ Như lai: Ngồi ở phía tây, mình màu vàng ròng, trụ trong ấn Di đà định, chủng tử là (aô). 5. Thiên cổ lôi âm Như lai: Ngồi ở phía bắc, mình màu vàng sậm, hiện tướng nhập định, chủng tử là (a#). Vì Kim cương giới là Mạn đồ la quả, biểu thị trí; Thai tạng giới là Mạn đồ la nhân, biểu thị lí, nên chủng tử và sắc tướng của 5 vị Phật tuy khác nhau, nhưng thể tính thì không khác. Trong Thai tạng giới và Kim cương giới, danh hiệu của đức Đại nhật và A di đà giống nhau, còn 3 vị Bảo chàng, Khai phu hoa vương và Thiên cổ lôi âm, thì theo thứ tự, tức là A súc, Bảo sinh và Bất không thành tựu ở Kim cương giới. Năm vị Phật này là do 5 trí như: Pháp giới thể tính trí, Đại viên kính trí v.v... mà thành, vì thế nên gọi là Ngũ trí Phật, Ngũ trí Như lai. Về việc phối hợp 5 Phật với 5 đại, 5 phương... thì có 2 thuyết, trong đó, ngài Tam tạng Bất không căn cứ vào nghĩa của Thai tạng bản hữu môn, lấy Trung nhân ......làm tông, thuận theo thế gian phối hợp với ngũ hành, nên Không đại phối với Phật A súc ở phương đông, Hỏa đại phối với Phật Bảo sinh ở phương nam, Phong đại phối với Phật A di đà ở phương tây, Thủy đại phối với Phật Bất không thành tựu ở phương bắc và Địa đại phối với Phật Đại nhật ở trung ương. Còn ngài Tam tạng Thiện vô úy thì theo nghĩa Kim cương giới tu sinh, lấy Đông nhân ......làm tông, đem Địa đại phối với Phật A súc ở phương đông, Hỏa đại phối với Phật Bảo sinh ở phương nam, Thủy đại phối với Phật A di đà ở phương tây, Phong đại phối với Phật Bất không thành tựu ở phương bắc và Không đại được phối với Phật Đại nhật ở trung ương. Ngoài ra, 5 đức Phật được lưu truyền ở Tây tạng gọi là Ngũ thiền định Phật. Năm vị Phật này trụ ở Tịnh độ, hóa hiện thân người để cứu độ chúng sinh, đó là Phật Câu lưu tôn, Câu na hàm mâu ni, Ca diếp, Thích ca văn và Di lặc. Năm vị Phật này sinh ra 5 vị pháp tử Bồ tát thiền định là Phổ hiền, Kim cương thủ, Bảo thủ, Liên hoa thủ và Nhất thiết thủ. Năm vị Bồ tát này sẽ NGŨ PHẬT Năm vị Phật của Tây Tạng gánh vác việc hóa độ chúng sinh sau khi các đức Phật nhập diệt. [X. kinh Đại nhật Q.1; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu; Lược thuật kim cương đính du già phân biệt thánh vị pháp môn; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.1; kinh Đại bi không trí kim cương đại giáo vương nghi quĩ Q.2].
ngũ phật bảo quán
(五佛寶冠) Cũng gọi Ngũ Phật quan, Ngũ trí quan, Ngũ trí bảo quan, Ngũ bảo thiên quan, Quán đính bảo quan, Bảo quan. Mũ báu có hình của 5 vị hóa Phật biểu thị cho đức của 5 trí tròn đầy. Mũ báu này do các vị tôn: Đại nhật Như lai, Kim cương tát đỏa, bồ tát Hư không tạng, các Phật đính... đội trên đầu. Trong pháp tu, khi đệ tử vào đạo tràng Mạn đồ la thụ pháp Quán đính, thì vị A xà lê kết ấn và tụng chú Ngũ Phật quán đính, gia trì trên đỉnh đầu, trán, bên phải, bên trái, phía sau đỉnh đầu của hành giả, kế đó lấy nước trong bình 5 trí rưới lên đầu và đội mũ 5 Phật cho hành giả. Khi đã nhận lãnh Ngũ Phật quán đính rồi thì ngay tự thân hành giả đã trở thành Đại nhật Như lai. Có 2 cách sắp xếp 5 vị Phật ở trên mũ, một là an trí Đạinhật Như lai ở chính giữa, 4 phía an trí 4 vị Phật; hai là sắp 5 đức Phật thành hàng ngang. [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung; kinh Đà la ni tập Q.2; Đại lạc Kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ; Tôn thắng Phật đính tu Du già pháp quĩ nghi Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.8].
ngũ phật gia
Five buddha families, rig nga (T), gyel wa rig nga (T)Gồm 5 gia hệ: Phật, Kim Cương, Bảo, Liên Hoa và Nghiệp (Tỳ Lô Giá Na Phật, A Súc Bệ Phật, Bảo Sanh Phật, A Di Đà Phật và Bất Không Thành Tựu Phật).
ngũ phật ngũ thân
(五佛五身) Năm đức Phật của Mật giáo và 5 thân được phối hợp với 5 đức Phật ấy. 1. Đại nhật Như lai, là Thường trụ tam thế tịnh diệu pháp thân. 2. A súc Như lai, là Kim cương kiên cố tự tính thân. 3. Bảo sinh Như lai, là Phúc đức trang nghiêm thánh thân. 4. A di đà Như lai, là Thụ dụng trí tuệ thân.5. Bất không thành tựu Như lai, là Biến hóa thân. [X. Kim cương giới lễ sám].
ngũ phật quán đỉnh
(五佛灌頂) Lấy nước thơm từ 5 cái bình tượng trưng cho trí của 5 đức Phật rưới lên đầu của hành giả, biểu thị ý nghĩa thụ pháp và kết duyên. Đây là nghi thức trong Mật giáo.
ngũ phật quán đỉnh ấn minh
(五佛灌頂印明) Ấn tướng và chân ngôn của 5 đức Phật được kết tụng khi trao mũ báu 5 trí cho hành giả trong lễ quán đính. Ngũ Phật chỉ cho Phật Đại nhật (Biến chiếu tôn), Phật A súc, Phật Bảo sinh, Phật Di đà và Phật Bất không. 1. Biến chiếu tôn: Ấn tướng là Ngoại phược (2 tay chắp, các ngón tay đan vào nhau rồi nắm lại), 2 ngón giữa dựng đứng, đốt trên của ngón tay co lại và chạm vào nhau để làm thành hình thanh gươm, 2 ngón trỏ đặt sát vào lưng 2 ngón giữa, để lên đỉnh đầu. Trong Kim giới sa thải thì 2 ngón trỏ không đặt sát vào lưng ngón giữa, mà làm thành 3 chĩa. Chân ngôn là: Án (qui mệnh) tát phạ đát tha nga đới thấp phược lí da (Nhất thiết Như lai tự tại) tì sái ca (quán đính) hồng (ngã). 2. Phật A súc: Ấn tướng là Ngoại phược, 2 ngón giữa dựng đứng như cây kim, để ở trán. Chân ngôn là: Án (qui mệnh) phạ nhật la tát đát phạ (Kim cương tát đỏa) tì sân già (quán đính ) hợp (ngã) hồng (chủng tử). 3. Phật Bảo sinh: Ấn tướng là Ngoại phược, 2 ngón giữa làm thành hình báu, để ở bên phải của đỉnh đầu. Chân ngôn là: Án (qui mệnh) phạ nhật la ra đát nẵng (Kim cương bảo) tì sân già (quán đính) hợp (ngã) đát lạc (chủng tử). 4. Phật Vô lượng thọ: Ấn tướng là Ngoại phược, 2 ngón giữa làm thành hình lá sen, để ở phía sau đỉnh đầu. Chân ngôn là: Án (qui mệnh) phạ nhật la bạt na ma (Kim cương liên) tì sân già (quán đính) hợp (ngã) hội rị (chủng tử). 5. Phật Bất không thành tựu: Ấn tướng là Ngoại phược, 2 ngón giữa đặt vào trong lòng bàn tay, 2 mặt sát vào nhau, 2 ngón cái và 2 ngón út đều chạm nhau, để ở bên trái của đỉnh đầu. Chân ngôn là: Án (qui mệnh) phạ nhật la yết ma (Kim cương nghiệp) tì sân già (quán đính) hợp (ngã) ác (chủng tử). [X. kinh Lược xuất Q.2; Liên hoa bộ tâm quĩ; Kim cương vương quĩ; Thắng sơ du già quĩ; Chư nghi quĩ bẩm thừa lục; Nhũ vị sao Q.3].
ngũ phật sinh ngũ bồ tát ngũ kim cương ngũ phẫn nộ
(五佛生五菩薩五金剛五忿怒) Năm đức Phật của Mật giáo xuất sinh 5 vị Bồ tát, 5 vị Kim cương và 5 vị Minh vương Phẫn nộ. Theo thứ tự, các vị tôn được sinh ra này biểu thị cho Pháp thân, Bát nhã và Giải thoát; cũng biểu thị cho Cảnh, Trí và Hành. 1. Đại nhật Như lai xuất sinh bồ tát Chuyển pháp luân, Kim cương biến chiếu, Bất động minh vương. 2. A súc Như lai xuất sinh bồ tát Hư không tạng, Như ý kim cương, Quân đồ lợi minh vương. 3. Bảo sinh Như lai xuất sinh bồ tát Phổ hiền, Kim cương tát đỏa, Tôn bà minh vương. 4. A di đà Như lai xuất sinh bồ tát Quan thế âm, Pháp kim cương, Mã đầu minh vương. 5. Bất không Như lai xuất sinh bồ tát Di lặc, Nghiệp kim cương, Kim cương dạ xoa.
ngũ phật tại định
Dyāni-Buddha (S)Thiền Phật, Thiền Na Phật.
ngũ phật tử
(五佛子) I. Ngũ Phật Tử. Năm vị tỉ khưu được đức Phật hóa độ đầu tiên. Cứ theo kinh Trung bản khởi quyển thượng thì 5 vị tỉ khưu theo thứ tự là: Câu lân, Bạt đề, Ma nam câu lợi, Thập lực ca diếp và Át bệ. (xt. Ngũ Tỉ Khưu). II. Ngũ Phật Tử. Chỉ cho 5 bậc thánh: Quả Dự lưu, quả Nhất lai, quả Bất hoàn, quả A la hán và Bích chi phật thừa. [X. Đại tạng pháp số Q.31].
ngũ phật yết ma ấn
(五佛羯磨印) Ấn yết ma của 5 đức Phật trong Mật giáo. Ấn yết ma tượng trưng sự nghiệp uy nghi của vị tôn đó. Trong 5 đức Phật thì Đại nhật Như lai dùng ấn Trí quyền, đức Phật A súc thì dùng ấn Xúc địa (tay phải rủ xuống chạm đất), đức Phật Bảo sinh dùng ấn Thí nguyện (bàn tay phải ngửa lên), đức Phật A di đà dùng ấn Tam ma địa và đức Phật Bất không thành tựu dùng ấn Yết ma.
ngũ phật đỉnh
(五佛頂) Cũng gọi Ngũ đính luân vương, Như lai ngũ đính. Chỉ cho 5 vị tôn có đầy đủ đức Vô kiến đính tướng của Như lai, đó là: 1. Bạch tản cái Phật đính (Phạm: Uwịìsa-sitàtapattrà), cũng gọi Bạch tản Phật đính. 2. Thắng Phật đính (Phạm: Uwịìwajayà), cũng gọi Thắng đính. 3. Tối thắng Phật đính (Phạm:Uwịìwavijayà), cũng gọi Tối thắng đính. 4. Quang tụ Phật đính (Phạm:Uwịìwatejoràzi), cũng gọi Hỏa tụ Phật đính, Hỏa tụ đính. 5. Trừ chướng Phật đính (Phạm: Uwịìwa-vikìrịa), cũng gọi Xả trừ đính. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 5 thì 5 vị Phật đính là đính tướng 5 trí của đức Thích ca Như lai, tượng trưng bằng hình tướng Bồ tát. Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 7 thì cho rằng Bạch tản Phật đính là đính các tướng của Như lai; Thắng Phật đính là đính Đại tịch của Như lai; Tốit hắng Phật đính là đính Thần thông thọ lượng bí mật của Như lai; Quang tụ Phật đính là đính Định tuệ quang minh của Như lai; Trừ chướng Phật đính là đính Thần thông lực vô úy của Như lai; có thể làm cho nghiệp nhơ nhớp của tất cả chúng sinh được thanh tịnh. Có chỗ dùng Kim luân Phật đính và Cao Phật đính để thay cho Tối thắng Phật đính và Trừ chướng Phật đính. Ngoài ra, pháp tu thờ Ngũ Phật đính làm bản tôn để cầu tiêu trừ tai ách, gọi là Ngũ Phật đính pháp, thịnh hành trong Thai Mật ở Nhật bản. [X. kinh Đại nhật Q.1; kinh Nhất tự kì đặc Phật đính Q.thượng; Tôn thắng Phật đính tu Du già pháp nghi quĩ Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.10, 16; Bí tạng kí Q.cuối].
ngũ phật đỉnh pháp
(五佛頂法) Pháp tu thờ 5 vị Phật đính: Kim luân Phật đính, Bạch tản cái Phật đính, Quang tụ Phật đính, Cao Phật đính và Thắng Phật đính làm bản tôn để cầu tiêu trừ tai ách, tăng thêm phúc lợi nói trong kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương. Năm vị Phật đính đều có thân tướng màu vàng, ngồi trên hoa sen trắng, đầu đội mũ, cổ đeo chuỗi anh lạc, tay mang vòng xuyến, trang phục đẹp đẽ. Trong đó, vị tôn Nhất tự đính luân vương trong tư thế đang chiêm ngưỡng đức Như lai, còn các vị tôn kia đều trong tư thế nhìn Nhất tự đính vương. Chủng tử của 5 vị tôn này theo thứ tự là: (bhrùô), (laô), (traô), (ỉrùô), (zaô) và hình tam muội da theo thứ tự là bánh xe, cái lọng, tâm ấn Phật, quả Nhị nặc bố la ca và gươm. [X. kinh Nhất tự Phật đính luân vương Q.1; Nhất tự đính luân vương niệm tụng nghi quĩ].
ngũ phọc
(五縛) Năm thứ trói buộc. Tức là 5 thứ phiền não trói buộc tâm, tâm sở pháp và sở duyên. Câu xá luận quang kí quyển 1 nêu ra 2 phược là: Tương ứng và Sở duyên. Nghĩa là các phiền não trói buộc tâm, tâm sở pháp, đồng thời cũng tương ứng với tâm, tâm sở pháp, gọi là Tương ứng phược; khi các phiền não duyên theo cảnh, trói buộc cảnh sở duyên ấy, gọi là Sở duyên phược. Sở duyên phược này lại được chia ra làm 4 phược là: Đồng bộ đồng phẩm, Đồng bộ dị phẩm, Dị bộ đồng phẩm và Dị bộ dị phẩm, cộng với Tương ứng phược, gọi là Ngũ phược. Đồng bộ đồng phẩm trong Sở duyên phược, thì bộ chỉ cho 5 bộ Tứ đế và Tu đạo; còn phẩm thì chỉ cho 9 phẩm thượng, trung, hạ của Hoặc(phiền não)phải bị đoạn trừ. Nếu cho Hoặc thượng thượng phẩm mà Kiến khổ phải đoạn trừ là Đồng bộ đồng phẩm, thì Hoặc thượng trung phẩm cho đến hạ hạ phẩm mà Kiến khổ phải đoạn là Đồng bộ dị phẩm. Hoặc thượng thượng phẩm mà Kiến tập phải đoạn cho đến Tu đạo phải đoạn là Dị bộ đồng phẩm, Hoặc thượng trung phẩm cho đến hạ hạ phẩm là Dị bộ dị phẩm. Các bộ và phẩm còn lại cứ suy đây thì biết. Ngoài ra, sự mạnh yếu của 5 phược là y theo thứ tự thuận của 5 phược mà thay đổi, giảm bớt, bởi thế, nếu đoạn trừ 3 phược trước thì tùy theo chỗ tương ứng mà chứng được Trạch diệt; còn nếu đoạn trừ 2 phược sau thì không thể chứng được Trạch diệt. [X. Câu xá luận bảo sớ Q.1; Câu xá luận chỉ yếu sao Q.1; Câu xá luận yếu giải Q.1].
ngũ quan
(五官) I. Ngũ Quan. Chỉ cho 5 cảm quan nhìn, nghe, ngửi, nếm và xúc chạm, tức là 5 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. II. Ngũ Quan. Chỉ cho 5 sứ giả lớn, tức là 5 thứ hình phạt: Sinh, già, bệnh, chết, lao ngục. III. Ngũ Quan. Cũng gọi Ngũ quan vương. (xt. Ngũ Quan Vương).
ngũ quan vương
(五官王) Vị vua coi về việc xét xử 5 hình phạt trong cõi U minh, tức là vị quan trị tội nói dối, là vị vua thứ 4 trong 10 vị vua ở cõi này.Cứ theo kinh Dự tu thập vương sinh thất và kinh Địa tạng thập vương, thì bản địa của vị vua này là bồ tát Phổ hiền. Đại điện của vua được xây dựng ở ngã ba sông. Người chết trong vòng 28 ngày, phải đến chỗ vua này để tiếp nhận sự phán xét về các việc thiện ác mình đã làm lúc còn sống. Danh xưng Ngũ quan vương xưa nay thấy rải rác trong các kinh. Kinh Quán đính quyển 12 (Đại 21, 535 hạ) nói: Quỉ thần và thuộc hạ dưới địa phủ tâu lên Ngũ quan, Ngũ quan xem xét, cân nhắc rồi quyết định việc chết, sống. Kinh Tịnh độ tam muội cho rằng Ngũ quan là chỉ cho Tiên quan......(vị quan coi về việc ngăn cấm sát sinh), Thủy quan (vị quan coi việc ngăn cấm trộm cướp), Thiết quan......(vị quan coi việc ngăn cấm tà dâm), Thổ quan......(vị quan coi việc ngăn cấm nói 2 lưỡi) và Thiên quan (vị quan coi việc ngăn cấm uống rượu)... Nhưng kinh Địa tạng thập vương nói trên, vì đem 10 điều ác phối đáng với 10 vị vua cõi U minh, thế nên cho Ngũ quan vương là vị quan trị tội nói dối. [X. Pháp uyển châu lâm Q.88; Phật tổ thống kỉ Q.33; môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Thập Vương, Diêm La Thập Điện).
ngũ quá
(五過) I. Ngũ Quá. Năm điều xấu do phá hủy giới cấm của Phật, đó là: 1. Tự hại: Người phá hủy giới pháp thì 3 nghiệp thân, miệng, ý thảy đều bất tịnh, thường chịu nghèo khổ, không có phúc đức, thiện thần xa lánh. 2. Bị người trí quở trách: Người phá hủy giới cấm thường bị các tỉ khưu quở trách và tránh xa như tránh xác chết hôi thối. 3. Tiếng xấu đồn xa: Người phá hủy giới cấm thì 3 nghiệp nhơ nhớp, thường ở chung với kẻ ác, tiếng xấu đồn đi khắp nơi, người tốt không dám giao tiếp. 4. Lúc sắp chết sinh tâm hối hận: Người phá hủy giới cấm, lúc sắp chết thì cảnh ác hiện ra ở trước mắt, ăn năn không kịp.5. Chết rồi rơi vào đường ác: Người phá hủy giới cấm đã dứt hẳn hạnh thanh tịnh, hoàn toàn không có nhân lành, phúc hết khổ đến, liền rơi vào đường ác. [X. luật Tứ phần Q.59; Đại minh tam tạng pháp số Q.23]. II. Ngũ Quá. Năm lỗi lầm do không hiểu đúng chính pháp. Đó là: 1. Không có lòng tin chân chính. 2. Lui mất tâm dũng mãnh. 3. Dối gạt người khác.4. Phỉ báng chính pháp. 5. Coi thường giáo pháp của Phật. [X. Qui kính nghi thông chân kí Q.trung].
ngũ quán
The five meditations refered to in the Lotus 25: (1) Chân quán, on the true, idem không quán, to meditate on the reality of the void, or infinite in order to be rid of illusions in views and thoughts; (2) Thanh tịnh quán, on purity, to be rid of any remains of impurity connected with the temporal, idem giả quán; (3) Quảng đại trí tuệ quán, on the wider and greater wisdom, idem trung quán, by study of the middle way; (4) Bi quán, on pitifulness, or the pitiable condition of the living, and by the above three to meditate on their salvation; (5) Từ quán, on mercy and the extension of the first three meditations to the carrying of joy to all the living.
; (五觀) I. Ngũ Quán. Năm pháp quán. Đó là: 1. Chân quán: Tức pháp quán Không, quán xét lí chân đế để đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc. 2. Thanh tịnh quán: Tức pháp quán Giả. Sau khi dứt trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, thân được thanh tịnh, lại quán giả để đoạn trừ Trần sa hoặc. 3. Quảng đại trí tuệ quán: Tức pháp quánTrung, do đã dứt trừ Vô minh hoặc mà đạt được trí tuệ rộng lớn. 4. Bi quán: Dùng 3 pháp quán nói trên quán xét chúng sinh, để cứu giúp họ thoát khỏi khổ não. 5. Từ quán: Dùng 3 pháp quán nói trên quán xét chúng sinh, để ban cho họ sự an vui.[X. phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa]. II. Ngũ Quán. Cũng gọi Thực thời ngũ quán, Sa môn thụ thực ngũ quán. Năm pháp quán tưởng mà sa môn phải thực hành trước khi thụ trai. Đó là: 1. Kế công đa thiểu, lượng bỉ lai xứ: Quán xét công đức của mình nhiều hay ít, có xứng với thức ăn của thí chủ đem đến không? 2. Thổn kỉ đức hạnh, toàn khuyết ứng cúng: Xét đức hạnh của mình đủ hay thiếu mà nhận của cúng dường. 3. Phòng tâm li quá, tham đẳng vi tông: Đề phòng tránh xa 3 lỗi: Đối với thức ăn thật ngon, không được khởi tâm tham; với thức ăn ngon vừa, không được khởi tâm si; với thức ăn không ngon, không được khởi tâm sân. 4. Chính sự lương dược, vị liệu hình khô: Phải quán xét thức ăn chỉ là phương thuốc công hiệu để trị bệnh gầy ốm của thân thể, nên không được tham đắm. 5. Vị thành đạo nghiệp, ứng thụ thử thực:Chỉ vì muốn thành tựu đạo nghiệp mà phải tiếp nhận thức ăn này. Bởi thế chỉ ăn vừa đủ, giúp cho thân thể khỏe mạnh để tiếp tục việc tu đạo. Vì phải quán tưởng 5 việc trên, nên Trai đường còn được gọi là Ngũ quán đường. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 3, Q.hạ, phần 2; Thích thị yếu lãm Q.thượng; chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ].
Ngũ quả
五果; C: wǔguǒ; J: goka;|Có hai nghĩa: 1. Sự tinh giản mọi liên hệ nhân quả thành 5 phạm trù; 2. Thuật ngữ để gọi 5 quả vị của pháp tu Tiểu thừa.
ngũ quả
The five fruits or effects: (1) Dị thục quả, fruit ripening divergently, e.g. pleasure and goodness are in different categories; (2) Đẳng lưu quả, fruit of the same order, e.g. goodness reborn from previous goodness; (3) Độ dụng quả, present position and function fruit, the rewards of moral merit in previous lives; (4) Tăng thượng quả, superior fruit, or position arising from previous earnest endeavour and superior capacity; (5) Ly hệ quả, fruit of freedom from all bonds.
; (五果) Phạm: Paĩca phalànì. I. Ngũ Quả. Năm quả vị. Chỉ cho 4 quả hữu vi do 6 nhân sinh ra và 1 quả vô vi nhờ đạo lực mà chứng được. Đó là: 1. Quả Đẳng lưu (Phạm: Niwyandaphala), cũng gọi quả Y, quả Tập. 2. Quả Dị thục (Phạm:Vipàka-phala), cũng gọi quả Báo. 3. Quả Li hệ (Phạm:Saôyoga-phala), cũng gọi quả Giải thoát. 4. Quả Sĩ dụng (Phạm: Puruwakàraphala), cũng gọi quả Sĩ phu, quả Công dụng. 5. Quả Tăng thượng (Phạm:Adhipatiphala). Trong 5 quả trên, quả Li hệ thuộc về quả vô vi, 4 quả còn lại thuộc quả hữu vi. Theo luận Câu xá, trong 4 quả hữu vi thì quả Đẳng lưu là từ 2 nhân Đồng loại và Biến hành trong 6 nhân mà ra, quả Dị thục thì từ nhân Dị thục mà ra, quả Sĩ dụng từ 2 nhân Câu hữu và Tướng ứng mà ra, quả Tăng thượng thì từ nhân Năng tác mà ra. Còn quả Li hệ thì không do 6 nhân sinh ra, chỉ nhờ đạo lực mà chứng được Trạch diệt vô vi. Nhưng luận Thành duy thức thì cho rằng 5 quả là do 10 nhân và 4 duyên sinh ra. Trong đó, quả Dị thục là do nhân dắt dẫn, nhân sinh khởi, nhân định dị, nhân đồng sự và nhân không trái nhau sinh ra; quả Đẳng lưu thì từ nhân dẫn dắt, nhân sinh khởi, nhân nhiếp thụ, nhân dẫn phát, nhân định dị, nhân đồng sự và nhân không trái nhau sinh ra; quả Li hệ thì từ các nhân: Nhiếp thụ, dẫn phát, định dị, đồng sự và không trái nhau sinh ra; riêng quả Tăng thượng thì do cả 10 nhân sinh ra; còn quả Sĩ dụng thì hoặc từ các nhân: Quan đãi, nhiếp thụ, đồng sự, không trái nhau sinh ra; hoặc do các nhân: Quan đãi, dắt dẫn, sinh khởi, nhiếp thụ, dẫn phát, định dị, đồng sự và không trái nhau sinh ra. [X. luận Đại tì bà sa Q.121; luận Câu xá Q.6; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Hiển dương thánh giáo Q.18; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.15; Thành duy thức luận thuật kí Q.8, phần đầu; Câu xá luận quang kí Q.6]. (xt. Ngũ Chủng Quả). II. Ngũ Quả. Tức là 4 quả Thanh văn: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán và 1 quả Độc giác: Bích chi phật. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.21 (bản Bắc); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3]. (xt. Ngũ Quả Hồi Tâm). III. Ngũ Quả. Chỉ cho 5 loại trái cây mà các tỉ khưu phải nấu chín hoặc gọt vỏ mới được ăn. Đó là: 1. Loại quả có hạt như: Táo, hạnh, đào, mận... 2. Loại quả có da như: Dưa, lê, dâu... 3. Loại quả có vỏ như: Dừa, hồ đào, thạch lựu...4. Loại có vỏ sần sùi như: Tùng, bách, tô nhẫm... 5. Loại có góc cạnh như: Ấu, các loại dậu lớn nhỏ... Năm loại trái cây trên đây cũng được dùng để cúng dường trong pháp hội Vu lan bồn.[X. Vu lan bồn kinh sớ Q.hạ; Vu lan bồn kinh tân sớ]. (xt. Ngũ Chủng Tịnh Thực). IV. Ngũ Quả. Chỉ cho 5 quả hiện tại: Thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thụ trong mười hai chi nhân duyên. Khi phối hợp 12 nhân duyên với nhân quả 3 đời, thì 2 chi vô minh và hành là nhân quá khứ; 3 chi ái, thủ, hữu là nhân hiện tại; 2 chi sinh, lão tử là quả vị lai; còn 5 chi thức, danh sắc, lục thập, xúc, thụ là quả thân ngũ ấm hiện tại do nghiệp nhân quá khứ chiêu cảm, cho nên gọi là Ngũ quả. (xt. Hiện Tại Ngũ Quả).
ngũ quả hồi tâm
(五果廻心) Bậc thánh Ngũ quả xoay chuyển tâm Tiểu thừa trở về tâm bồ đề của Đại thừa. Bậc thánh Ngũ quả chỉ cho 4 quả Thanh văn và 1 quả Độc giác. Sau khi hồi tâm hướng về Đại thừa, thời gian mà các bậc thánh này thành tựu Vô thượng chính đẳng chính giác thì không nhất định. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 21 (bản Bắc), thì quả Tu đà hoàn trải qua 8 vạn kiếp, quả Tư đà hàm trải qua 6 vạn kiếp, quả A na hàm trải qua 4 vạn kiếp, quả A la hán trải qua 2 vạn kiếp và quả Bích chi phật thì trải qua 1 kiếp. Nhưng tông Pháp tướng thì chủ trương sự hồi tâm của 5 quả thánh này chỉ giới hạn ở chủng tính Bất định, chứ không chung cho Nhị thừa định tính và sự hồi tâm này sinh khởi trước khi vào Niết bàn vô dư. Còn tông Pháp tính cho rằng Nhị thừa định tính đều có thể hồi tâm và rằng người đã 1 lần vào Niết bàn vô dư thì cũng có thể phát tâm hướng về Đại thừa mà thành Phật đạo. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.11, 22 (bản Bắc); luận Thành duy thức Q.10; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.7, phần 1; Hoa nghiêm kinh văn cú Q.7, thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1].
ngũ sinh
Five rebirths, i.e. five states, or conditions of a bodhisattva's rebirth: (1) Tức khổ sinh, to stay calamities; (2) Tùy loại sinh, in any class that may need him; (3) Thắng sinh, in superior condition, handsome, wealthy or noble; (4) Tăng thượng sinh, in various grades of kingship; (5) Tối hậu sinh, final rebirth before Buddhahood.
; (五生) Chỉ cho 5 loại thụ sinh của Bồ tát. 1. Tức khổ sinh, cũng gọi Trừ tai sinh. Thụ sinh vào các loài để dứt trừ khổ nạn cho chúng sinh. Như gặp thời đói kém thì sinh làm thân cá... đem thịt mình để cứu đói cho chúng sinh; vào thời có bệnh dịch thì làm thầy thuốc giỏi để cứu chữa cho họ. 2. Tùy loại sinh: Bồ tát thuận theo tất cả các loài mà sinh vào, để cứu độ chúng. 3. Thắng sinh, cũng gọi Đại thế sinh. Bồ tát dùng tính mà thụ sinh, nên sắc thân và thọ mệnh thù thắng hơn thế gian. 4. Tăng thượng sinh: Đứng đầu các giai vị từ Sơ địa đến Thập địa. 5. Tối hậu sinh: Trong vòng sinh tử luân hồi, Bồ tát là thân cuối cùng.
ngũ suy
Năm thứ tướng suy của người cõi trời sắp chết. l. Bông trên đầu héo tàn; 2. quần áo nhơ bẩn ; 3. thân thể hôi thúi ; 4. nách ra mồ hôi, 5. không ưa tòa ngồi.
; Năm thứ tướng suy của người cõi trời sắp chết: 1. Bông trên đầu héo tàn; 2. Quần áo nhơ bẩn; 3. Thân thể hôi thúi; 4. Nách ra mồ hôi; 5. Không ưa tòa ngồi.
; (五衰) I. Ngũ Suy. Cũng gọi Ngũ suy tướng, Thiên nhân ngũ suy.Năm tướng suy của người trời hiện ra trên thân thể khi tuổi thọ sắp hết. 1. Hoa trên mũ héo úa. 2. Dưới nách ra mồ hôi. 3. Áo quần dơ bẩn. 4. Thân mất vẻ uy nghi, toát ra mùi hôi và thường chớp mắt. 5. Không thích ngồi ở chỗ cũ và có cử chỉ suồng sã đối với ngọc nữ. Luận Câu xá quyển 10 gọi đây là tướng Đại suy, ngoài ra còn có thuyết nêu tướng Tiểu suy. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.24; kinh Phật bản hạnh tập Q.5]. (xt. Thiên Nhân Ngũ Suy). II. Ngũ Suy. Năm quả báo xấu mà người phạm giới phải chịu. Cứ theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 2, thì Ngũ suy là: 1. Cầu mong tiền của nhưng không được toại nguyện. 2. Dầu có được thì cũng ngày ngày suy hao.3. Đi đến đâu người ta cũng khinh thường. 4. Tiếng xấu lan truyền khắp nơi. 5. Sau khi chết rơi vào địa ngục. Ngoài ra, luận Tứ phần quyển 59 có nêu ra 5 lỗi của người phạm giới, cũng gọi là Ngũ suy. [X. kinh Bát nê hoàn Q.thượng; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.3; luật Tứ phần Q.59]. (xt. Ngũ Quá).
ngũ suy tướng
The five signs of decay or approaching death, of which descriptions vary, e.g. uncontrolled discharge, flowers on the head wither, unpleasant odour, sweating armpits, uneasiness (or anxiety).
ngũ sơn
Gozan (J), Wu-shan (C), Gosan (J).
ngũ sơn bản
(五山版) Chỉ cho sách vở Thiền và các tập thơ văn do phái Ngũ sơn khắc bản ở Liêm thương và Kinh đô, trong khoảng thời gian từ cuối đời Liêm thương đến đời Thất đinh, Nhật bản. Đó là các sách Thiền bản đời Tống và đời Nguyên, Trung quốc, được khắc lại ở các chùa: Đông phúc, Kiến nhân tại Kinh đô và các chùa: Kiến trường, Thọ phúc tại Liêm thương. Hình thức Ngũ sơn bản đều phỏng theo các bản gỗ đời Tống, đời Nguyên, chung quanh bản có đường viền, là khuôn mẫu cho bản in của Nhật bản đời sau. [X. Ngũ sơn văn học tiểu sử; Nhật bản cổ khắc thư sử; Nhật bản ấn loát sử].
Ngũ Sơn Thập Sát
(五山十刹, Gozanjussatsu): là tên gọi mà chính phủ sắp theo thứ tự những ngôi tự viện Thiền tiêu biểu, còn vị trú trì sẽ được chọn các vị cao tăng trên toàn quốc đến đảm nhiệm những ngôi chùa này. Các tự viện được liệt vào loại này sẽ được chính phủ công nhận quyền uy của mình, có nghĩa vụ phụng sự cho quốc gia thông qua các lễ như Chúc Thánh, v.v., với tư cách là chùa quan, và thậm chí có khi tình hình tu tập hằng ngày trong chùa còn được giám sát. Tuy nhiên, cũng do vì có liên quan đến việc cầu đảo cho quốc gia, cũng có trường hợp những ngôi chùa quan này được miễn thuế, nhưng mối quan hệ giữa quốc gia và các chùa quan này thì không rõ ràng cho lắm. Ngũ Sơn gồm có 5 chùa lớn là: (1) Kính Sơn Hưng Thánh Vạn Thọ Tự (徑山興聖萬壽寺, thuộc Phủ Lâm An, Hàng Châu, Tỉnh Triết Giang), (2) Bắc Sơn Cảnh Đức Linh Ẩn Tự (北山景德靈隱寺, như trên), (3) Nam Sơn Tịnh Từ Báo Ân Quang Hiếu Tự (南山淨慈報恩光孝寺, như trên), (4) Thái Bạch Sơn Thiên Đồng Cảnh Đức Tự (太白山天童景德寺, thuộc Phủ Khánh Nguyên, Minh Châu, Tỉnh Triết Giang), và (5) A Dục Vương Sơn Mậu Phong Quảng Lợi Tự (阿育王山鄮峰廣利寺, như trên). Thập Sát gồm 10 ngôi chùa là: (1) Trung Sơn Thiên Ninh Vạn Thọ Vĩnh Tộ Tự (中山天寧萬壽永祚寺, thuộc Phủ Lâm An, Hàng Châu), (2) Đạo Tràng Sơn Hộ Thánh Vạn Thọ Tự (道塲山護聖萬壽寺, thuộc Huyện Ô Trình, Hồ Châu, Tỉnh Triết Giang), (3) Tương Sơn Thái Bình Hưng Quốc Tự (蔣山太平興國寺, thuộc Phủ Thượng Nguyên, Kiến Khang, Tỉnh Giang Tô), (4) Vạn Thọ Sơn Báo Ân Quang Hiếu Tự (萬壽山報恩光孝寺, thuộc Phủ Bình Giang, Tô Châu, Tỉnh Giang Tô), (5) Tuyết Đậu Sơn Tư Thánh Tự (雪竇山資聖寺, thuộc Phủ Khánh Nguyên, Minh Châu), (6) Giang Tâm Sơn Long Tường Tự (江心山龍翔寺, thuộc Huyện Vĩnh Gia, Ôn Châu, Tỉnh Triết Giang), (7) Tuyết Phong Sơn Sùng Thánh Tự (雪峰山崇聖寺, thuộc Huyện Hầu Quan, Phúc Châu, Tỉnh Phúc Kiến), (8) Vân Hoàng Sơn Bảo Lâm Tự (雲黃山寳林寺, thuộc Huyện Kim Hoa, Vụ Châu, Tỉnh Triết Giang), (9) Hổ Kheo Sơn Vân Nham Tự (虎丘山雲巖寺, thuộc Phủ Bình Giang, Tô Châu), và (10) Thiên Thai Sơn Quốc Thanh Kính Trung Tự (天台山國清敬忠寺, thuộc Huyện Thiên Thai, Đài Châu, Tỉnh Triết Giang). Chế độ này cũng được kế thừa cho đến thời nhà Nguyên, nhưng vào năm 1330 vua Tok Temru (tức Văn Tông, tại vị 1329-1332) đã bỏ ly cung của mình ở ngoại ô Kim Lăng (金陵) mà biến nơi đây thành Đại Long Tường Tập Khánh Tự (大龍翔集慶寺), thỉnh Tiếu Ẩn Đại Hân (笑隱大訢) đến làm tổ khai sơn chùa này và xếp nó lên trên cả Ngũ Sơn. Đến thời nhà Minh, chỉ có ngôi chùa này được đổi tên thành Thiên Giới Thiện Thế Thiền Tự (天界善世禪寺), và thể chế này vẫn được tiếp tục duy trì. Dưới chế độ Ngũ Sơn Thập Sát này còn có các ngôi chùa gọi là Giáp Sát (甲刹, tương đương với những ngôi chùa tổ trung tâm ở Nhật). Sau này ở Nhật người ta cũng mô phỏng theo hình thức này và Ngũ Sơn ở hai vùng kinh đô Kyoto cũng như Liêm Thương đã được liệt vào. Cùng với sự chỉnh bị về chế độ các ngôi chùa quan, nghi thức Bỉnh Phất (秉拂) để trắc nghiệm tư cách trở thành trú trì cũng được quy định rõ rệt, và việc tiến cử trú trì cũng theo thứ tự từ các ngôi chùa Giáp Sát cho đến Thập Sát và Ngũ Sơn.
Ngũ sơn thập sát
五山十剎; C: wǔshān shíshā; J: gozan jis-setsu;|Nghĩa là năm núi và mười chùa; chỉ một giáo hội bao gồm năm ngọn núi và mười chùa tại hai thành phố Hàng Châu và Minh Châu, được Tống Ninh Tông sáng lập. Ngũ sơn thập sát tại Trung Quốc được theo gương của Ngũ tinh xá thập tháp tại Ấn Ðộ mà thành lập. Thiền tông Nhật Bản cũng theo cách tổ chức này mà thành lập Ngũ sơn thập sát tại hai thành phố lớn là Kinh Ðô (kyōto) và Liêm Thương (kamakura). Ngũ sơn thập sát tại Nhật đã trở thành những trung tâm quan trọng của văn hoá và nghệ thuật tại đây (Ngũ sơn văn học). Tất cả năm núi và mười chùa tại Trung Quốc và Nhật Bản đều thuộc về tông Lâm Tế.|Danh từ »Sơn« ở đây được sử dụng như một chùa, một Thiền viện bởi vì hầu hết các thiền viện đời xưa đều được thành lập trên một ngọn núi và các vị Thiền sư trụ trì tại đây cũng thường được gọi dưới tên ngọi núi này.|Ngũ sơn tại Trung Quốc là:|1. Kính sơn tại Hàng Châu với Hưng Thánh Vạn Thọ tự; 2. A-dục vương sơn tại Ninh Ba với Mậu Phong Quảng Lợi tự; 3. Thái Bạch sơn tại Hàng Châu với Thiên Ðồng Cảnh Ðức tự; 4. Bắc sơn tại Hàng Châu với Cảnh Ðức Linh Ẩn tự; 5. Nam sơn với chùa Tịnh Từ Báo Ân Quang Hiếu.|Ngũ sơn thập sát tại Trung Quốc thì cố định, còn tại Nhật thì thay đổi theo thời đại, vương triều. Mãi đến năm 1386 thì danh sách của Ngũ sơn tại đây mới có thể được gọi là hoàn chỉnh, cố định. Ngũ sơn bao gồm (Kinh Ðô [kyōto]-Liêm Thương [kamakura]):|1. Thiên Long tự (j: tenryū-ji) – Kiến Trường tự (kenchō-ji); 2. Tướng Quốc tự (shōkoku-ji) – Viên Giác tự (engaku-ji); 3. Kiến Nhân tự (kennin-ji) – Thọ Phúc tự (jufuku-ji); 4. Ðông Phúc tự (tōfuku-ji) – Tịnh Trí tự (jōchi-ji); 5. Vạn Thọ tự (manju-ji) – Tịnh Diệu tự (jōmyō-ji).|Nam Thiền tự (nanzen-ji), một ngôi chùa lớn tại Kinh Ðô cũng có khi được đặt trên địa vị cao hơn Ngũ sơn tại đây.
ngũ sơn thập sát
(五山十刹) Cũng gọi Ngũ nhạc thập sát. Năm ngôi tự viện bậc nhất và 10 ngôi tự viện bậc nhì trong các ngôi chùa do triều đình qui định ở Trung quốc và Nhật bản. I. Ngũ sơn Thập sát của Trung quốc. Thuộc Thiền tông, được qui định vào thời vua Ninh tông nhà Nam Tống. A. Ngũ Sơn: 1. Chùa Hưng thánh vạn thọ thiền, ở núi Kính sơn, huyện Hàng, tỉnh Chiết giang. 2. Chùa Cảnh phúc linh ẩn ở núi Linh ẩn, huyện Hàng, tỉnh Chiết giang. 3. Chùa Tịnh từ ở núi Nam bình, huyện Hàng, tỉnh Chiết giang. 4. Chùa Cảnh đức ở núi Thiên đồng, huyện Ngân, tỉnh Chiết giang. 5. Chùa Quảng lợi ở núi A dục vương, huyện Ngân, tỉnh Chiết giang. B. Thập Sát: 1. Chùa Thiên ninh vạn thọ vĩnh tộ ở núi Trung thiên trúc, huyện Hàng, tỉnh Chiết giang. 2. Chùa Hộ thánh vạn thọ ở núi Đạo tràng, huyện Ngô hưng, tỉnh Chiết giang. 3. Chùa Thái bình hưng quốc (cũng gọi chùa Linh cốc), ở núi Tưởng sơn, Nam kinh, tỉnh Giang tô. 4. Chùa Báo ân quang hiếu, ở núi vạn thọ, huyện Ngô, tỉnh Giang tô. 5. Chùa Tư thánh ở núi Tuyết đậu, huyện Ngân, tỉnh Chiết giang. 6. Chùa Long tường ở núi Giang tâm, huyện Vĩnh gia, tỉnh Chiết giang. 7. Chùa Sùng thánh ở núi Tuyết phong, huyện Mân hầu, tỉnh Phúc kiến. 8. Chùa Bảo lâm ở núi Vân hoàng, huyện Kim hoa, tỉnh Chiết giang. 9. Chùa Vân nham ở núi Hổ khâu, huyện Ngô, tỉnh Giang tô. 10. Chùa Quốc thanh trung, ở núi Thiên thai, huyện Lâm hải, tỉnh Chiết giang. Có thuyết cho rằng Ngũ sơn bắt đầu từ ngài Đại tuệ Tông cảo trở về sau, do chúng tăng ở chùa Linh ẩn đương thời nhóm họp ở Trực chỉ đường đặt ra chứ không phải do Ngũ Sơn Bản triều đình qui định. Lúc bấy giờ, Ngũ sơn được hưởng quyền lợi đặc biệt. Đến niên hiệu Chí thuận năm đầu (1330) đời Nguyên, vua Văn tông ban lệnh xây chùa Long tường tập khánh ở Kim lăng, thế lực bao trùm, Ngũ sơn mới dần dần suy vi. Về sau, Giáo viện cũng thiết lập Ngũ sơn thập sát song song với Thiền viện Ngũ sơn thập sát. [X. Lời tựa trong Hộ pháp lục Giác nguyên thiền sư di y tháp minh; điều Du phương tham thỉnh, chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ]. II. Ngũ sơn Thập sát của Nhật bản. Cũng gọi: Phù tang ngũ sơn thập sát. Nhật bản phỏng theo chế độ của Trung quốc, vào cuối thời Liêm thương cũng thiết lập Ngũ sơn, nhưng đến thời Thất đinh cơ cấu Ngũ sơn mới hoàn chỉnh. Đến niên hiệu Kiến vũ năm đầu (1334) Thập sát mới được thành lập, nhưng chưa đủ số. Đến năm Lịch ứng thứ 4 (1341) Túc lợi Trực nghĩa mới chế định Ngũ sơn thập sát, về sau thay đổi luôn. Đến năm Chí đức thứ 3 (1386), chùa Nam thiền được xếp vào hàng đầu Ngũ sơn, từ đó, Kinh đô và Liêm thương đều lập riêng Ngũ sơn Thập sát mà hình thành thế đối lập. Ngũ sơn ở Kinh Đô: 1. Chùa Thiên long. 2. Chùa Tướng quốc. 3. Chùa Kiến nhân. 4. Chùa Đông phúc. 5. Chùa Vạn thọ. Thập sát ở Kinh Đô: 1. Chùa Đẳng trì. 2. Chùa Lâm xuyên. 3. Chùa Chân như. 4. Chùa An quốc. 5. Chùa Bảo chàng. 6. Chùa Phổ môn. 7. Chùa Quảng giác. 8. Chùa Diệu quang. 9. Chùa Đại đức. 10. Chùa Long tường. Ngũ Sơn ở Liêm Thương: 1. Chùa Kiến trường. 2. Chùa Viên giác. 3. Chùa Thọ phúc. 4. Chùa Tịnh trí. 5. Chùa Tịnh diệu. Thập Sát ở Liêm Thương: 1. Chùa Thiền hưng. 2. Chùa Thụy tuyền. 3. Chùa Đông thắng. 4. Chùa Vạn thọ. 5. Chùa Đông tiệm. 6. Chùa Vạn phúc. 7. Chùa Thái khánh. 8. Chùa Hưng thánh. 9. Chùa Pháp tuyền. 10. Chùa Trường lạc. [X. Phù tang ngũ sơn kí; Liêm thương ngũ sơn kí; Nhật bản Thiền tông sử yếu].
ngũ sơn tùng lâm
Gozan Sōrin (J).
Ngũ sơn văn học
五山文學; J: gozan bungaku;|Tên gọi chung của những tác phẩm của các vị Thiền sư Nhật Bản thuộc hệ thống Ngũ sơn tại Kinh Ðô (kyōto) trong thời Túc Lợi (ashikaga hoặc muromachi, 1338-1573). Thiền sư Trung Quốc Nhất Sơn Nhất Ninh – đến Nhật năm 1299 – và môn đệ người Nhật của sư là Tuyết Thôn Hữu Mai (雪村有梅; j: sesson yūbai) được xem là Khai tổ của của phong trào văn học này. |Các tác giả nổi danh nhất của Ngũ sơn văn học là Mộng Song Sơ Thạch (musō soseki) – không những là một Thiền sư trứ danh mà còn là một nghệ sĩ xuất chúng –, Hổ Quan Sư Luyện (虎關師鍊; j: kokan shiren, 1278-1346) – một môn đệ khác của Nhất Sơn Nhất Ninh –, Nghĩa Ðường Châu Tín (義堂周信; j: gidō shūshin, 1325-1388) và Tuyệt Hải Trung Tân (絕海中津; j: zekkai chū-shin, 1336-1405), cả hai đều là môn đệ của Mộng Song Sơ Thạch.|Các tác giả nêu trên chuyên nghiên cứu và phổ biến cách làm thơ (thi pháp) và triết lí của Tân nho giáo. Vì vậy, trong thời gian này, văn hoá, nghệ thuật và khoa học của Trung Quốc được truyền sang Nhật rất mạnh. Nhiều vị còn nổi danh trong các lĩnh vực nghệ thuật như Thư đạo (j: shōdō),… Qua những bài văn rõ ràng mạch lạc của mình – tất cả đều được viết bằng tiếng Nhật – Thiền sư Mộng Song Sơ Thạch đã góp công rất nhiều trong việc phổ biến Thiền học tại Nhật.
ngũ sơn văn học
(五山文學) Tên một văn phái trong văn học của Nhật bản lấy Ngũ sơn làm trung tâm. Phái văn học này bắt đầu hoạt động vào cuối thời Liêm thương khi ngài Nhất sơn Nhất ninh đến Nhật bản, qua thời Thất đinh thì nổi tiếng trên văn đàn. Vào thời đại Liêm thương, tông Lâm tế du nhập Nhật bản, được 2 họ Bắc điều và Túc lợi ủng hộ, xây cất các chùa viện lớn, các bậc danh tăng Trung quốc đến Nhật bản và các bậc cao tăng Nhật bản đến Trung quốc không dứt, đã tạo thành 1 thời đại tiêu biểu cho văn học. Các thi nhân văn sĩ Ngũ sơn rất yêu thích thơ Bạch lạc thiên, nhưng sau chuyển sang ái mộ thơ Tô đông pha và Hoàng sơn cốc; văn thể cũng từ lối văn biền ngẫu chuyển sang cổ thể của Hàn dũ và Liễu tôn nguyên. Đồng thời, Lí học và hội họa đời Tống cũng được truyền vào và đã có ảnh hưởng rất lớn đối với Nhật bản sau này.Niên hiệu Chính an năm đầu (1299), ngài Nhất sơn Nhất ninh từ Trung quốc đến Nhật bản, các vị đệ tử ưu tú của ngài gồm có: Hổ quan Sư luyện, Tuyết thôn Hữu mai, Trung nghiêm Viên nguyệt, Mộng song Sơ thạch..., rồi học trò của Mộng song Sơ thạch thì có: Xuân ốc Diệu ba, Long thu Chu trạch, Nghĩa đường Chu tín, Tuyệt hải Trung tân, Cổ kiếm Diệu khoái v.v... tất cả đã góp phần làm nên thời đại hoàng kim cho nền văn học Ngũ sơn ở thời Nam Bắc triều của Nhật bản, đến thời Thất đinh thì dần dần suy vi. Song thời đại Thất đinh thì có: Duy tiếu Đắc nham, Giang tây Long phái, Thái bạch Chân huyền và Tâm điền Thanh bá được gọi chung là Tứ tuyệt. Các nhà văn thì có: Hoành xuyên Cảnh tam, Cảnh từ Chu lân, Ngạn long Chu hưng, Sách ngạn Chu lương... là nổi tiếng hơn cả. Sau, các vị Thiền sư trên đây, vì nhận lời thỉnh cầu đi khắp nơi giảng kinh thuyết pháp, nên lại đặt cơ sở cho nền Hán học bột phát ở thời đại Giang hộ. [X. Ngũ sơn văn học tiểu sử].
ngũ sư
The five masters or teachers, i.e. respectively of the kinh sùtras, the luật vinaya, the luận sàstras, the vi diệu pháp abhidharma, and thiền định meditation.
; (五師) I. Ngũ Sư. Chỉ cho Kinh sư, Luật sư, Luận sư, Pháp sư và Thiền sư. [X. Tì nại da tạp sự Q.12]. II. Ngũ Sư. Năm vị Tổ sư. Có Dị thế ngũ sư và Đồng thế ngũ sư khác nhau. Cứ theo Tam luận huyền nghĩa thì: 1. Dị thế ngũ sư: Chỉ cho 5 vị Tổ sư phó pháp tạng sau khi đức Phật nhập diệt là: Ma ha ca diếp, A nan, Mạt điền địa, Xá na bà tư và Ưu bà cúc đa. 2. Đồng thế ngũ sư: Chỉ cho 5 vị đệ tử của Tổ Ưu bà cúc đa là: Đàm vô đức, Tát bà đa, Di sa tắc, Ca diếp di và Bà thô phú la. [X. kinh Đại tập Q.23; Thiện kiến luật Q.2; A dục vương truyện Q.7]. (xt. Đồng Thế Ngũ Sư, Dị Thế Ngũ Sư).
Ngũ sắc
(五色): 5 sắc màu, gồm: hồng, vàng, lam, trắng và đen. Theo Đạo Giáo, 5 màu này là hồng, vàng, xanh lá cây, trắng và đen; đối ứng với Ngũ Hành, như phương Đông, Giáp Ất, Mộc, thuộc màu xanh lá cây; phương Nam, Bính Đinh, Hỏa, màu hồng; phương Tây, Canh Tân, Kim, màu trắng; phương Bắc, Nhâm Quý, Thủy, màu đen; phương giữa, Mậu Kỷ, Thổ, màu vàng. Ngũ sắc tường vân (五色祥雲) là đám mây lành có 5 sắc màu, như một số câu đối thường dùng trong nhà như: “Tứ thời giai khí thân nhân lí, ngũ sắc tường vân tích thiện gia (四時佳氣親仁里、五色祥雲積善家, bốn thời khí tốt thân nhân xóm, năm sắc mây lành chứa thiện nhà)”, “Nhất đại tường vân huy ngũ sắc, bách niên cảnh phước khánh Tam Đa (一代祥雲輝五色、百年景福慶三多, một đời mây lành sáng năm sắc, trăm năm hưởng phước rạng Ba Điều [phước nhiều, thọ nhiều và sanh con trai nhiều]).”
ngũ sắc
Paca-varna (S).
; The five primary colours, also called ngũ chính (or đại) sắc: thanh blue, hoàng yellow, xích red, bạch white, hắc black. Ngũ gián sắc: compound colours. The ngũ căn sắc are: tín faith white; tinh tiến zeal red; niệm memory yellow; định meditation blue; tuệ wisdom black.
; (五色) Phạm: Paĩca varịa. Pàli:Paĩca vaịịà. Cũng gọi Ngũ chính sắc, Ngũ đại sắc. Tức chỉ cho năm màu căn bản: Xanh (Phạm: Nìla), vàng (Phạm: Pìta), đỏ (Phạm: Lohita), trắng (Phạm: Avadàta) và đen (Phạm: Kfwịa). Tại Ấn độ, chư tăng trong giáo đoàn không được dùng 5 màu này làm màu của áo pháp, vì cho rằng năm màu này là màu lòe loẹt, hoa mĩ. Nhưng màu sắc trang nghiêm cõi Tịnh độ và mây 5 sắc trong vật cầm tay của bồ tát Quan âm nghìn tay đều là 5 màu này. Trong Mật giáo, 5 màu được phối hợp với 5 trí, 5 Phật, 5 chữ, 5 đại, 5 căn, 5 phương, 5 chuyển, 5 hình v.v... đồ biểu như sau: Ngoài ra, thứ tự sắp xếp 5 màu, tùy theo các kinh và nghi quĩ mà có khác. Chủ yếu có 7 cách sắp xếp, đó là: Trắng đỏ vàng xanh đen; Trắng xanh vàng đỏ đen; Trắng vàng đỏ xanh đen; Xanh vàng đỏ trắng đen; Trắng vàng xanh đỏ đen; Vàng đỏ trắng xanh đen; Vàng trắng đỏ xanh đen. Còn màu trung gian của 5 màu là màu lụa đào, màu hồng, màu tía, màu xanh lá cây và màu diêm sinh, gọi là Ngũ gian sắc. [X. kinh Tệ túc trong Trường a hàm Q.7; phẩm Nhập mạn đồ la cụ duyên chân ngôn trong kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.4, 5; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 1, tiết 1; Đại tạng pháp số Q.31].
ngũ sắc căn
(五色根) Năm căn thuộc Sắc uẩn. Tức là căn mắt, căn tai, căn mũi, căn lưỡi và căn thân.
ngũ sắc giới đạo
(五色界道) Cũng gọi Chúng sắc giới đạo. Năm màu được dùng làm đường ranh giới khi vẽ Mạn đồ la để phân biệt các tầng lớp. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 6 thì đường ranh giới ở chính giữa và đường ranh giới của lớp thứ nhất phải đủ 5 màu, trước hết dùng màu trắng làm đường ranh giới chung quanh, rồi phía ngoài theo thứ tự dùng các màu đỏ, vàng, xanh và đen; đường ranh giới của lớp thứ 2 cũng theo thứ tự như trên, nhưng chỉ có 3 màu trắng, đỏ, vàng; đường ranh giới chung quanh lớp thứ 3 chỉ dùng 1 màu thuần trắng. Đường riềm phía ngoài chỗ hành đạo và cúng dường thì tùy ý vẽ thuần 1 màu, nhưng kinh Nhuy hi da quyển trung thì bảo chỉ dùng màu trắng. Về thứ tự sắp xếp 5 màu này có rất nhiều thuyết khác nhau, như kinh Đà la ni tập quyển 1 nói thứ tự là: Trắng, đỏ, xanh, vàng, đen. Chư thuyết bất đồng kí quyển 2 nói: Trắng, vàng, đỏ, xanh, đen. Thông thường, trong các bức vẽ Mạn đồ la được lưu truyền trước nay, thì Mạn đồ la Kim cương giới theo thứ tự 5 màu: Trắng, xanh, vàng, đỏ, đen; còn Mạn đồ la Thai tạng giới thì theo thứ tự trắng, đỏ, vàng, xanh, đen. Ngoài ra, đường ranh giới cũng có 3 loại khác nhau: Đàn Thành tựu dùng chày 5 chĩa làm đường ranh giới, đàn Bí mật dùng chày kim cương chữ thập (..), còn đàn Đại bi thì dùng 5 màu. [X. Đại tì lô già na thành tựu du già Q.thượng; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.5, 6; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.12, 17, 52].
ngũ sắc liệt thứ
(五色列次) Sắp xếp thứ tự 5 màu chính theo Mật giáo. Có nhiều thuyết khác nhau. Thông thường, thứ tự 5 màu theo tự nhiên là: Trắng, đỏ, vàng, xanh, đen. Đây là thứ tự 5 màu của Thai tạng giới, nói trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1 và phẩm Quảng đại giải thoát mạn đồ la trong kinh Bất không quyên sách quyển 9. Theo phẩm Tu hành nghi quĩ trong kinh Nhiếp chân thực quyển hạ và Đại lạc kim cương tát đỏa niệm tụng nghi quĩ, thì thứ tự 5 màu là: Trắng, xanh, vàng, đỏ, đen. Đây là thứ tự 5 màu của Kim cương giới. Đại nhật kinh sớ quyển 6 và kinh Đà la ni tập quyển 7 thì nêu thứ tự 5 màu là: Trắng, vàng, đỏ, xanh, đen. Đây là 5 màu của Kim cương giới và Thai tạng giới Bất nhị, là theo thứ tự nhiễm trước. Ngoài ra còn có các thứ tự như: Xanh vàng đỏ trắng đen, trắng đỏ xanh vàng đen, trắng vàng xanh đỏ đen, vàng đỏ trắng đen xanh, vàng trắng đỏ đen xanh. [X. kinh Đà la ni tập Q.1; phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Du kì; Từ thị quĩ Q.thượng; phẩm Bách tự thành tựu trì tụng trong Đại nhật kinh sớ Q.19; phẩm Chúc lụy Q.20; Ngũ luân cửu tự bí thích].
ngũ sắc phấn
(五色粉) Bột pha nhuộm 5 màu trắng, vàng, đỏ, xanh, đen dùng để sơn phết đàn tu pháp của hành giả Chân ngôn. Trong các loại bột 5 màu này, màu trắng là bột gạo, màu vàng là bột uất kim hoặc bột hoàng thổ, màu đỏ là bột chu sa, bột xích thổ, màu xanh là bột chàm, màu đen là bột mực hoặc bột than. Các loại bột đều được trộn lẫn với bột trầm hương. [X. kinh Đà la ni tập Q.9].
ngũ sắc quang ấn
(五色光印) Ấn Quang minh quán đính được kết khi trì tụng Chư Phật quang minh chân ngôn quán đính đà la ni. Tướng ấn là 5 ngón tay phải xòe ra, từ đầu 5 ngón phóng ra ánh sáng 5 màu, quán tưởng chiếu soi khắp các chúng sinh khổ não, khiến cho được niềm vui Phật pháp vô thượng.
ngũ sắc thuỷ
(五色水) Nước 5 màu để tắm Phật trong lễ Phật đản. Tức là nước hương Đô lương màu xanh, nước hương Uất kim màu đỏ, nước hương Khâu tế màu trắng, nước hương Phụ tử màu vàng và nước hương An tức màu đen.
ngũ sắc tuyến
(五色綫) Cũng gọi Ngũ sắc diên, Ngũ sắc lũ, Ngũ sắc thằng, Ngũ sắc ti. Sợi dây được xe bằng 5 sợi tơ xanh, vàng, đỏ, trắng, đen. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 5 thì trước khi xe dây, phải dùng chân ngôn của 5 đức Như lai để gia trì mỗi sợi tơ màu, lúc xe xong, lại dùng chân ngôn Thành biện chư sự để gia trì chung cho 5 sợi. Năm màu tức là màu của 5 đức Như lai, tượng trưng cho 5 trí, cũng tiêu biểu cho 5 pháp: Tín, tiến, niệm, định và tuệ. Bởi thế, sợi dây 5 màu có thể được dùng trong đạo tràng quán đính, làm kim cương tuyến, đàn tuyến, kết tuyến, yêu tuyến v.v... Trong đó, sợi dây giăng trên đầu cọc kim cương của đại đàn (thường gọi là Đàn tuyến)và khi truyền pháp Quán đính, sợi dây được cột vào tay người thụ pháp, gọi là Kim cương tuyến. Sợi dây được tết 21 cái nút để trao cho người nhận pháp trong lễ truyền Quán đính, gọi là Kết tuyến, hoặc gọi là Nhị thập nhất kết tu đa la(tu đa la nghĩa là tuyến). Sợi dây tết 7 nút để thắt ở lưng, gọi là Yêu tuyến.Ngoài ra, sợi dây 5 màu cũng có thể dùng để buộc miệng túi đựng vật báu, ngũ cốc... chôn ở 4 phía của Mạn đồ la. Tại Ấn độ, những người Bà la môn thường buộc sợi dây 5 màu trên cánh tay, nhưng đức Phật cấm các vị tỉ khưu không được làm thế. [X. kinh Tô tất địa yết ra Q.hạ; kinh Đại nhật Q.5; kinh Đà la ni tập Q.12; kinh Nhuy hi da Q.trung; Tì nại da tạp sự Q.1; Chư kinh yếu tập Q.19].
ngũ sắc vân
(五色雲) Phạm: Paĩca-rùpamegha. Cũng gọi Ngũ thể điệp vân. Vật cầm tay có hình đám mây 5 màu của bồ tát Quan âm. Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni (Đại 20, 118 hạ) nói: Nếu người muốn mau thành tựu Phật đạo, thì nên đến trước tay cầm đám mây 5 màu, niệm chân ngôn: Án phạ nhật la ca rị ra tra hợp tra. Kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp thì cho rằng, nếu người nào muốn thành tựu pháp tiên thì nên tu pháp Ngũ sắc vân.
ngũ sở y độ
(五所依土) Năm cõi nước thanh tịnh trong đó 5 thân của Như lai an trụ. 1. Pháp tính độ: Cõi nước của Như lai pháp thân thanh tịnh an trụ; thân này tuy lấy chân như làm thể, nhưng không sai khác với cõi nước, không đồi dời, vắng lặng lìa tướng. 2. Thực báo độ: Cõi nước của Như lai báo thân viên mãn an trụ; thân này lấy 5 uẩn vô lậu làm thể, do công đức tu hành ở đời trước mà thành tựu trang nghiêm vô ngại, và cảnh trí dung nhiếp nhau. 3. Sắc tướng độ: Cõi nước của Như lai thân vi trần tướng hải an trụ; thân này lấy Ngũ Sắc Tuyến Tay Ngũ Sắc Vân trí hậu đắc tự lợi làm thể, thành tựu muôn đức, đầy đủ các thứ báu trang nghiêm. 4. Tha thụ dụng độ: Cõi nước của Như lai thân Tha thụ dụng an trụ; thân này lấy trí hậu đắc lợi tha làm thể, dùng sức đại bi tùy nghi biến hiện ra các cõi nước thanh tịnh lớn nhỏ, hơn kém. 5. Biến hóa độ: Cõi nước của Như lai thân biến hóa an trụ; thân này lấy trí thành sự lợi tha làm thể, tu hạnh lợi tha, cho nên thuận theo tâm chúng sinh, biến hiện ra các cõi nước nhơ sạch.
ngũ sứ giả
The five messengers of Manjusri, Văn thù sư lợi,
; (五使者) Cũng gọi Văn thù ngũ sứ giả, Ngũ chủng kim cương sứ. Năm vị đồng tử ở bên trái bồ tát Văn thù, trong viện Văn thù, trên Hiện đồ mạn đồ la Thái tạng giới của Mật giáo. Đó là: 1. Đồng tử Kế thiết ni(Phạm:Kezinì): Kế thiết ni nghĩa là đoan nghiêm, biểu thị sự thanh tịnh của tâm trí. 2. Đồng tử Ưu ba kế thiết ni (Phạm: Upakezinì): Ưu ba nghĩa là gần gũi, lệ thuộc, biểu thị Tam muội năng thí của bồ tát Văn thù. 3. Đồng tử Chất đa la (Phạm:Citrà): Chất đa la nghĩa là nhiều màu sắc, biểu thị công đức phổ hiện sắc thân của bồ tát Văn thù.4. Đồng tử Phạ tô ma để (Phạm: Vasumatì): Phạ tô ma để nghĩa là tài tuệ, cũng gọi địa tuệ, biểu thị trí tuệ màu nhiệm tự tại của bồ tát Văn thù. 5. Đồng tử A yết sa ni (Phạm: Akarwaịì): A yết sa ni nghĩa là triệu thỉnh (mời gọi), câu triệu, chiêu triệu. Biểu thị cho việc dắt dẫn chúng sinh đạt đến giác ngộ. Theo phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật quyển 1, 5 sứ giả này đều được xếp ở vị trí bên trái của bồ tát Văn thù; nhưng theo Đại nhật kinh sớ quyển 5 và Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, thì 5 sứ giả này được an trí ở 2 bên phải và trái của bồ tát Văn thù. Ngoài ra, theo kinh Đại nhật, dưới quyền 5 vị sứ giả này, mỗi vị còn có 1 người phụng giáo.[X. Đại nhật kinh sớ Q.10; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.15, 35].
ngũ sự
(五事) I. Ngũ Sự. Năm pháp mê ngộ, tức là Danh, Tướng, Phân biệt, Chính trí và Như như. (xt. Ngũ Pháp). II. Ngũ Sự. Năm tướng pháp mê ngộ, tức là Sở thuyên tướng, Năng thuyên tướng, Tương thuộc tướng, Chấp trước tướng và Bất chấp trước tướng. (xt. Ngũ Tướng). III. Ngũ Sự. Năm loại nhân thiện ác mang lại quả báo như sau: Được sinh lên cõi trời, được sinh vào cõi người, rơi vào địa ngục, đọa làm ngã quỉ, rơi vào loài súc sinh, được người ta tôn quí, thương kính, sinh vào nhà hèn hạ, tôi tớ, nghèo khổ v.v... Trong đó, 5 nhân sinh lên cõi trời là: Từ tâm, hiền lương, trinh khiết, thành kính, không uống rượu... IV. Ngũ Sự. Gọi đủ: Đại thiên ngũ sự. Năm sư kiện dẫn đến việc phân chia giáo đoàn Phật giáo nguyên thủy. (xt. Đại Thiên Ngũ Sự). V. Ngũ Sự. Chỉ cho 5 việc của đức Phật thực hiện, được ghi trong bài kinh thứ 5, phẩm Thính pháp, kinh Tăng nhất a hàm quyển 28. 1. Chuyển pháp luân. 2. Nói pháp cho thân phụ nghe. 3. Nói pháp cho thân mẫu nghe. 4. Chỉ dạy cho người phàm phu lập hạnh Bồ tát. 5. Thụ kí cho Bồ tát. (xt. Phật Hữu Ngũ Sự).
ngũ sự sinh nhân trung
(五事生人中) Năm việc được sinh vào cõi người. Cứ theo kinh Biện ý trưởng giả tử vấn, nếu chúng sinh làm 5 việc thì sẽ được sinh vào cõi người. Năm việc đó là: 1. Bố thí: Thường làm việc nhân từ, không tiếc của báu, cứu giúp người nghèo khổ.2. Trì giới: Không làm các điều ác, làm tất cả điều thiện. 3. Nhẫn nhục: Bị người xúc phạm, sẵn lòng bỏ qua, không hận thù người. 4. Tinh tiến: Gắng sức làm những việc tốt lành, không xao lãng, biếng nhác. 5. Trung hiếu: Hiếu thảo, trung nghĩa.
ngũ sự sinh thiên thượng
(五事生天上) Năm việc sinh lên cõi trời. Cứ theo kinh Biện ý trưởng giả tử vấn, nếu chúng sinh làm 5 việc thì sẽ được sinh lên cõi trời. Năm việc ấy là: 1. Từ tâm: Thương yêu mọi vật, không giết hại chúng sinh, làm cho chúng được yên vui. 2. Hiền lương: Không trộm cắp tài vật của người khác, không tham lam bỏn sẻn, bố thí để giúp những người nghèo cùng. 3. Trinh khiết: Giữ gìn trai giới, không phạm tà sắc. 4. Thành tín: Nói lời chân thật, không dối gạt người. 5. Không uống rượu: Rượu làm cho tâm tính cuồng loạn, có thể dẫn đến hành động xấu ác, cho nên phải xa lìa.
ngũ sự thành tựu
(五事成就) Năm nghĩa thành tựu trong phần tựa chung của mỗi bộ kinh. Trong luận Đại trí độ quyển 2, bồ tát Long thụ có nêu Lục sự thành tựu (sáu việc thành tựu)là: Tín thành tựu (Như thị), Văn thành tựu (ngã văn), Thời thành tựu (Nhất thời), Chủ thành tựu (Phật), Xứ thành tựu (tại... ), Chúng thành tựu (số thính chúng)... Nhưng, ngài Trúc đạo sinh đem Chủ thành tựu và Xứ thành tựu trong Lục sự thành tựu hợp chung lại làm 1 mà thành Ngũ thành tựu: Tín thành tựu (như thị), Văn thành tựu (ngã văn), Thời thành tựu (nhất thời), Chủ xứ thành tựu (Phật tại...), Chúng thành tựu (số thính chúng)... Ngoài ra, ngài Cảnh hưng cũng đem Tín thành tựu hợp lại với Văn thành tựu làm 1 mà thành Ngũ sự thành tựu: Tín văn thành tựu (Như thị ngã văn), Thời thành tựu (nhất thời), Chủ thành tựu (Phật), Xứ thành tựu (tại...) và Chúng thành tựu (số thính chúng). (xt. Lục Thành Tựu).
ngũ sự thí
xem năm sự bố thí.
Ngũ sự Tì-bà-sa luận
五事毘婆沙論; C: wǔshì pípóshā lùn; J: goji bibasha ron; S: pañca-vastuka-vibhāṣa; E: five phenomena vibhāṣa treatise.|Được Pháp Cứu (法救; dharmatrāta) soạn; gồm 2 quyển. Ngài Huyền Trang dịch vào năm 663. Đây là một luận A-tì-đạt-ma về 5 loại cấu trúc cơ bản của pháp giới: sắc (色; s: rūpa), tâm (心; s: citta), tâm sở (心所; s: caittas), bất tương ưng (不相應), và vô vi (無爲).
ngũ sự vọng ngữ
The five things fallaciously explained by Mahàdeva, as stated in the Kathàvatthu.
ngũ tam bát nhị
(五三八二) Chỉ cho 5 pháp, 3 tính, 8 thức và 2 vô ngã, do tông Pháp tướng thành lập. Năm pháp là: Tướng, danh, phân biệt, chính trí và như như; 3 tính là: Tính biến kế sở chấp, tính y tha khởi và tính viên thành thực; 8 thức là: Thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân, thức ý, thức mạt na và thức A lại da; 2 vô ngã là: Nhân vô ngã và pháp vô ngã. [X. kinh Lăng già Q.1].
ngũ tham nhật
(五參日) Năm ngày tham hỏi một lần. Đây là qui định trong Thiền môn. Tức vào các ngày mồng 5, 10, 20, 25 mỗi tháng. Ngoài ra, 2 ngày mồng 1 và 15 có nghi thức thướng đường chúc thánh riêng, cho nên tính chung thì đúng là 5 ngày tham hỏi 1 lần. (xt. Ngũ Tham Thướng Đường).
Ngũ Tham Thượng Đường
(五參上堂, Gosanjōdō): Ngũ Tham (五參) nghĩa là tham vấn cách nhau 5 ngày; Thượng Đường (上堂) là vị trú trì lên Pháp Đường thuyết tháp. Trong Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規) quy định rằng mỗi tháng có 6 lần tham vấn: ngày mồng một, 5, 10, 15, 20 và 25. Tuy nhiên, từ bản Tùng Lâm Hiệu Định Thanh Quy Tổng Yếu (叢林校定清規總要) trở về sau gọi ngày mồng 1, 15 là Đán Vọng Thượng Đường (旦望上堂), như vậy mỗi tháng chỉ có 4 lần mà thôi. Tại Trung Quốc, có quy định rằng những vị quan từ Ngũ Phẩm trở lên cứ cách nhau 5 ngày phải đến tham kiến một lần vào buổi sáng, cho nên tương truyền truyền thống Ngũ Tham Thượng Đường trong Thiền Tông cũng được bắt chước từ đây.
ngũ tham thượng đường
(五參上堂) Cũng gọi Ngũ nhật thướng đường, Ngũ nhật thăng đường, Ngũ tham thăng tòa. Gọi tắt: Ngũ tham, Ngũ thướng đường. Qui chế trong Thiền viện, cách 5 ngày vị Trụ trì lên giảng đường thuyết pháp 1 lần để chúng tăng đến học hỏi. Thiền uyển thanh qui quyển 2 chép: Năm ngày 1 lần thăng tòa giảng nói về tông chỉ. Lúc đầu, hàng tháng vào các ngày 1, 5, 10, 15, 20 và 25, vị Trụ trì lên giảng đường nói pháp. Về sau, qui định lấy ngày mồng 1(Đán), 15(Vọng)làm ngày Thướng đường chúc thánh gọi là Đán vọng thướng đường, mà thành là 1 tháng 4 lần thướng đường. Nếu tính chung Đán vọng và 4 ngày thướng đường (5, 10, 20, 25) thì gọi là Ngũ đán vọng. Pháp ngũ tham có lẽ đã phỏng theo chế độ quan lại từ Ngũ phẩm trở lên ở Trung quốc thời xưa, cứ cách 5 ngày phải vào chầu 1 lần. [X. chương Trụ trì trong Sắc tu bách trượng thanh qui Q.thượng; môn Thùy thuyết loại thứ 11 trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Ngũ Thiên
(五篇): 5 thiên giới luật; còn gọi là Ngũ Phạm (五犯), Ngũ Phạm Tụ (五犯聚), Ngũ Chúng Tội (五眾罪), Ngũ Chủng Chế (五種制); tức Ba La Di (s: pārājika, 波羅夷), Tăng Tàn (s: saṃghāvaśeṣa, 僧殘), Ba Dật Đề (s: pāyattika, 波逸提), Ba La Đề Đề Xá Ni (s: pratideśanīya, 波羅提提舍尼), Đột Cát La (s: duṣkṛta, 突吉羅); tổng quát 250 giới của Tỳ Kheo và 348 giới của Tỳ Kheo Ni. (1) Ba La Di, ý dịch là đoạn đầu (斷頭), là tội nặng nhất trong giới luật; người phạm tội giống như bị đứt đầu, vĩnh viễn bị đuổi ra khỏi tăng đoàn, tức 4 tội Ba La Di của Tỳ Kheo, và 8 tội Ba La Di của Tỳ Kheo Ni. (2) Tăng Tàn là tội nặng sau Ba La Di; người phạm tội giống như bị người làm cho tàn hại, chỉ còn lại cổ họng mà thôi; người phạm tội phải nhờ tăng chúng vì người ấy mà tiến hành pháp sám hối để hóa giải tội lỗi. Đó là 13 tội Tăng Tàn của Tỳ Kheo, 17 tội Tăng Tàn của Tỳ Kheo Ni. (3) Ba Dật Đề, ý dịch là đọa; nghĩa là người phạm tội này thì sẽ bị đọa vào Địa Ngục Nóng Lạnh; tức là 30 tội Xả Đọa (捨墮) và 90 tội Đơn Đọa (單墮) của Tỳ Kheo, 30 tội Xả Đọa và 178 tội Đơn Đọa của Tỳ Kheo Ni. (4) La Đề Đề Xá Ni, ý dịch là tác hướng bỉ hối (作向彼悔), nghĩa là người phạm tội này thì nên hướng vị Tỳ Kheo khác mà chí thành sám hối thì sẽ được hóa giải tội lỗi; tức là 4 tội Đề Xá Ni của Tỳ Kheo, 8 tội Đề Xá Ni của Tỳ Kheo Ni. (5) Đột Cát La, ý dịch là ác tác (惡作), nghĩa là những sai phạm do hai nghiệp thân và miệng tạo ra. Giới này khó giữ mà dễ phạm, nên thường phải thận trọng, ghi nhớ; tức là 2 pháp Bất Định, 100 Chúng Học, 7 tội Diệt Tránh của Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni. Năm Thiên này cọng thêm tội Thâu Lan Giá (s: sthūlātyaya, 偷蘭遮), gọi là Lục Tụ (六聚). Như trong Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Thuật Nghĩa (沙彌律儀要略述義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1119) có đoạn: “Sa Di thập chi giới tướng, thị Ngũ Thiên Tam Tụ chi cơ, nhị thập tứ môn uy nghi (沙彌十支戒相、是五篇三聚之基、二十四門威儀, mười chi giới tướng của Sa Di là cơ sở của năm thiên ba tụ, là hai mươi bốn cửa oai nghi).” Hay trong Tăng Yết Ma (僧羯磨, Taishō Vol. 40, No. 1809) lại có đoạn: “Thử Yết Ma giả, tắc thiệu long chi chánh thuật, khuông hộ chi hoằng quy, tông tự quy ư Ngũ Thiên, lạm tràng khởi ư Tứ Phần (此羯磨者、則紹隆之正術、匡護之宏規、宗緒歸於五篇、濫觴起於四分, pháp Yết Ma này, là phương thuật để phát triển, là quy tắc để hộ trì, nối dõi quy về năm thiên, đầu nguồn phát xuất nơi Tứ Phần).”
ngũ thiên
(五篇) Cũng gọi Ngũ phạm, Ngũ phạm tụ, Ngũ chúng tội, Ngũ chủng chế. Năm khoa mục lớn của giới luật. Tức là: - Ba la di (Phạm: Pàràjika). - Tăng tàn (Phạm: Saôghàvazewa). - Ba dật đề (Phạm:Pàyattika). - Ba la đề đề xá ni (Phạm: Pratide= zanìya). - Đột cát là (Phạm:Duwkfta). Năm thiên trên đây bao gồm 250 giới của tỉ khưu và 348 giới của tỉ khưu ni. 1. Ba la di: Tội nặng nhất trong giới luật. Người phạm tội này như bị chặt đầu, vĩnh viễn bị đuổi ra khỏi tăng đoàn. Tức là 4 Ba la di trong giới Tỉ khưu và 8 Ba la di trong giới Tỉ khưu ni. 2. Tăng tàn: Tội nặng thứ nhì sau Ba la di. Người phạm tội này như bị kẻ ác làm tổn hại, tàn phế; phải xin chúng tăng làm pháp sám hối cho mới trừ được tội. Tức là 13 Tăng tàn trong giới Tỉ khưu và 17 Tăng tàn trong giới Tỉ khưu ni. 3. Ba dật đề: Tội đọa. Người phạm tội này phải đọa vào địa ngục lạnh nóng. Tức là 30 Xả đọa và 90 Đơn đọa trong giới Tỉ khưu; 30 Xả đọa và 178 Đơn đọa trong giới Tỉ khưu ni. 4. Ba la đề đề xá ni: Hướng vào người khác sám hối. Người phạm tội này phải hướng vào vị tỉ khưu khác để cầu sám hối. Tức là 4 Đề xá ni trong giới Tỉ khưu và 8 Đề xá ni trong giới Tỉ khưu ni. 5. Đột cát la: Ác tác, lỗi do 2 nghiệp thân và khẩu phạm phải; giới này khó giữ nhưng lại dễ phạm, thường phải ghi nhớ và học tập. Tức là 2 Bất định, 100 Chúng học, 7 Diệt tránh trong giới Tỉ khưu và giới Tỉ khưu ni. Cứ theo Phiên dịch danh nghĩa tập, thì 5 thiên giới pháp trên đây được phối hợp với 5 thứ hình phạt người phạm tội: Chết, đày đến nơi khác, giam giữ, đánh bằng gậy và đánh bằng roi. Người tu hành phạm giới, tùy tội nặng nhẹ, cứ theo thứ tự 5 hình phạt trên đây mà trừng trị. [X. luật Ma ha tăng kì Q.32; luật Tứ phần Q.59, 60; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 1; Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ Q.1].
ngũ thiên ngũ bách phật thần chú trừ chướng diệt ti kinh
Wu-ch'ien-wu-pai fo-ming shen-chou chu-chang mieh-tsui ching (C)Tên một bộ kinh. Tên một bộ kinh.
ngũ thiên thượng mạn
(五千上慢) Cũng gọi Ngũ thiên khởi khứ. Năm nghìn vị đệ tử mang lòng tăng thượng mạn. Khi đức Thế tôn bắt đầu giảng kinh Pháp hoa thì trong hội tọa có 5 nghìn vị tỉ khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di ôm lòng tăng thượng mạn, chưa nghe đức Phật giảng rộng về pháp môn Khai tam hiển nhất thì đã đứng dậy đi ra, gọi là Ngũ thiên thượng mạn. Theo Pháp hoa văn cú quyển 4, phần đầu giải thích, thì sở dĩ 5 nghìn vị đệ tử này chưa nghe Phật nói mà đã bỏ đi là vì họ mắc 3 cái lỗi: Chướng, Chấp và Mạn. Chướng là trong đời 5 trược ác có rất nhiều chướng ngại; Chấp là họ chấp Tiểu thừa, chê Đại thừa; Mạn là chưa chứng mà nói đã chứng. Họ chưa nghe đức Phật nói về Khai tam hiển nhất thì vẫn chưa sinh tâm hủy báng, còn tạo thành nhân duyên hạt châu, cho nên họ bỏ đi là có lợi. Nhưng, nếu họ ở lại mà nghe đức Phật giảng rộng về pháp môn Khai tam hiển nhất, họ sẽ cảm thấy trái ý mà sinh lòng hủy báng, thì như thế sẽ tự chướng ngại và chướng ngại người khác, điều đó có hại cho chính họ, cho nên đức Phật đã không ngăn cản, cứ để họ bỏ đi. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10, phần cuối; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.10, phần cuối].
ngũ thiên trúc
(五天竺) Cũng gọi Ngũ Ấn độ. Gọi tắt: Ngũ thiên, Ngũ trúc, Ngũ Ấn. Vào thời Trung cổ, toàn cõi Ấn độ được chia làm 5 khu vực: Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung, gọi là Ngũ Thiên trúc. Theo Đại đường tây vực kí quyển 2, bờ cõi của Ngũ Ấn độ như sau: Chu vi rộng hơn 9 vạn dặm, 3 mặt đều giáp biển, phía Bắc giáp núi Tuyết sơn, về địa hình thì phía Bắc rộng, phía Nam hẹp, có hình bán nguyệt, gồm hơn 70 nước. (xt. Ấn Độ).
ngũ thiên đại quỷ
(五千大鬼) Năm nghìn đại quỉ trách mắng người phá giới.Đệ tử Phật do tín tâm xuất gia thụ chính giới của Phật mà cố ý hủy phạm Thánh giới thì có 5.000 đại quỉ lúc nào cũng đứng ngăn ở trước mặt người ấy, trách mắng người ấy là đại tặc. Nếu người phạm giới vào phòng xá, thành ấp hoặc nhà cửa thì đại quỉ thường quét xóa lốt chân của người ấy. [X. kinh Phạm võng Q.hạ].
ngũ thiền na phật
gyel wa rig nga (T), Five dhyāna buddhas
Ngũ thiền định Phật
五禪定佛; C: wǔ chándìng fó; J: go zenjō butsu;|Ngũ Phật (五佛).
ngũ thiện căn
Five good deeds, Five roots of goodness.
ngũ thiện ngũ ác
(五善五惡) Chỉ cho 5 điều thiện và 5 điều ác. Năm điều thiện: Không giết hại, không trộm cướp, không gian dâm, không nói dối, không uống rượu. Trái lại, là 5 điều ác. Năm điều thiện mang lại quả báo hạnh phúc; 5 điều ác chiêu cảm quả báo khổ đau. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ]. NGŨ THÔNG I. Ngũ Thông. Phạm: Paĩcàbhijĩà. Cũng gọi Ngũ thần thông. Chỉ cho 5 thứ năng lực siêu tự nhiên do tu 4 tĩnh lự căn bản mà được. Thần nghĩa là không thể nghĩ bàn. Thông nghĩa là tự do tự tại. Năm thần thông là: 1. Thần cảnh trí chứng thông (Phạm: Fddhi-viwaya-jĩàna-sàkwàtkriyà= bhijĩà), cũng gọi Thần cảnh thông, Thần túc thông, Thân như ý thông, Như ý thông, Thân thông, Nghĩa là có thể tự do tự tại đi đến bất cứ nơi nào. 2. Thiên nhãn trí chứng thông (Phạm: Divya-cakwur-jĩàna-sàkwàtkrìyà= bhijĩà), cũng gọi Thiên nhãn trí thông, Thiên nhãn thông. Nghĩa là có thể thấy những cái mà mắt người thường không thể thấy được. 3. Thiên nhĩ chứng trí thông (Phạm: Divya-zrotra-jĩànasàkwàtkriyàbhijĩà), cũng gọi Thiên nhĩ trí thông, Thiên nhĩ thông. Nghĩa là có khả năng nghe được những âm thanh mà tai của người thường không thể nghe được. 4. Tha tâm trí chứng thông (Phạm: Ceta#-paryàya-jĩàna-sàkwàtkriyà= bhijĩà), cũng gọi Tha tâm trí thông, Tri tha tâm thông, Tha tâm thông. Nghĩa là có năng lực biết rõ ý nghĩ trong đầu óc người khác. 5. Túc trụ tùy niệm trí chứng thông (Phạm: Pùrve-nivàsànusmftì-jĩànasàkwàtkriyàbhijĩà), cũng gọi Túc trụ trí thông, Thức túc mệnh thông, Túc mệnh thông. Nghĩa là có năng lực biết rõ các việc ở đời quá khứ. Trong 5 thần thông trên, 4 thông trước chung cho hữu lậu, thuộc về trí thế tục. Còn Tha tâm trí thông thì chung cho vô lậu, thuộc về 5 trí: Pháp trí, loại trí, đạo trí, thế tục trí và tha tâm trí. Ngoài ra, Ngũ thông là từ 4 tĩnh lự căn bản sinh khởi, cho nên không phải chỉ có bậc Thánh, mà ngoại đạo và phàm phu dị sinh cũng có thể đạt được. Người tiên có được 5 thứ thần thông này gọi là Ngũ thông tiên.[X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.6; kinh Đại tát già ni càn tử sở thuyết Q.7, 8; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.19; luận Đại tì bà sa Q.141; luận Đại trí độ Q.5, 28; luận Thành thực Q.16]. (xt. Tam Minh). II. Ngũ Thông. Năm lực dụng của thần thông. 1. Đạo thông: Sau khi chứng lí trung đạo có thể khởi đại dụng, trong vô tâm ứng hợp vạn vật, tùy duyên biến hóa muôn hình, không có thể nhất định, giống như trăng đáy nước, hoa đốm giữa hư không. 2. Thần thông: Trong tâm tĩnh lặng có thể chiếu soi khắp muôn vật, ghi nhớ rõ ràng các việc đời trước... đều do sức định. 3. Y thông: Biết tất cả pháp thuật mà ứng dụng nơi thân, cho nên có thể nương vào (y) bùa chú mà đi lại, hoặc nhờ sức thuốc luyện mà sinh ra linh biến. 4. Báo thông: Tức sức thần thông nương vào quả báo mà có, biết trước các việc của quỉ thần, biến hóa các hình chư thiên, biết rõ chỗ của trung ấm hữu tình đầu thai, đồng thời có thể ẩn hiện như thần rồng.5. Yêu thông: Biến hóa như tinh linh các loài chồn, cáo, cây, đá... có thể gá vào người, đồng thời có sức thông tuệ lạ thường... [X. Tông kính lục Q.15; Đại tạng pháp số Q.2].
ngũ tháp tự
(五塔寺) I. Ngũ Tháp Tự. Cũng gọi Ngũ tháp triệu. Tên Mông cổ: Tháp bố tư nhĩ hãn triệu. Chữ triệu nghĩa là chùa trong tiếng Mông cổ. Chùa ở thành phố Qui tuy, Tuy viễn, được xây cất vào khoảng năm Ung chính thứ 5 đến thứ 10 (1727-1732) đời Thanh. Vì ở phía sau chùa có 5 ngôi tháp nên gọi là Ngũ tháp tự. Năm ngôi tháp này được xây trên 1 nền hình vuông, chu vi khoảng 32 mét, mặt ngoài tháp được xây toàn bằng gạch lưu li trên có khắc chữ Phạm và rất nhiều tượng Phật cùng các hình vẽ thất trân bát bảo, được mạ bằng kim nhũ sáng chói, rực rỡ lạ thường, 1 tác phẩm nghệ thuật tuyệt mĩ của Mông cổ. Trên cửa tháp có tấm biển Kim Cương Tòa Xá Lợi Bảo Tháp được viết bằng 3 thứ chữ: Hán, Tây tạng và Mông cổ. Trong tòa Kim cương bảo có 1 bức vẽ Thiên văn. II. Ngũ Tháp Tự. Chùa ở phía ngoài cửa Tây trực, thành phố Bắc bình, Trung quốc, được sáng lập vào khoảng năm Vĩnh lạc (1403-1424) đời vua Thành tổ nhà Minh, là ngôi chùa mang phong cách Ấn độ. (xt. Đại Chính Giác Tự).
ngũ thân
(五身) Năm thân Phật theo thuyết của tông Hoa nghiêm. Tức là: 1. Pháp tính sinh thân: Thân Phật do thể pháp tính viên mãn thường trụ sinh ra. 2. Công đức pháp thân: Thân Phật lấy công đức của muôn hạnh làm nhân mà thành tựu. 3. Biến hóa pháp thân: Thân Phật ánh hiện biến hóa do ứng theo cơ cảm của chúng sinh. 4. Hư không pháp thân: Thân Phật rộng lớn bao trùm pháp giới. 5. Thực tướng pháp thân: Pháp thân chân thực vi diệu, vô tướng vô vi. Trong 5 thân trên, 2 thân trước là Báo thân, thân thứ 3 là Hóa thân, còn 2 thân sau là Pháp thân. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.4].
Ngũ thông
五通; C: wǔtōng; J: gotsū;|Năm năng lực siêu nhiên: 1. Thần cảnh trí chứng thông (神境智證通), cũng gọi là Thần cảnh thông (神境通), Thần túc thông (神足通), Thân như ý thông (身如意通), Như ý thông (如意通); 2. Thiên nhãn trí chứng tông (天眼智證通), cũng gọi là Thiên nhãn trí thông (天眼智通), Thiên nhãn thông (天眼通); 3. Thiên nhĩ trí chứng thông (天耳智證通), còn gọi Thiên nhĩ trí thông (天耳智通), Thiên nhĩ thông (天耳通); 4. Tha tâm trí chứng thông (他心智證通), hoặc Tha tâm trí thông (他心智通), Tri tha tâm thông (知他心通), Tha tâm thông (他心通); 5. Túc trú tuỳ niệm trí chứng thông (宿住隨念智證通), cũng gọi là Túc trú trí thông (宿住智通), Thức túc mệnh thông (識宿命通), Túc mệnh thông (宿命通; theo Phật Quang Đại từ điển)
ngũ thông
Five supernatural powersXem Ngũ thần thông.
ngũ thông bồ tát
(五通菩薩) Người đầu tiên lưu truyền bức tranh vẽ hình tượng đức Phật A di đà. Cứ theo Tập thần châu Tam bảo cảm thông lục quyển trung của ngài Đạo tuyên, thì bồ tát Ngũ thông ở chùa Kê đầu ma xứ Thiên trúc(Ấn độ)từng đến thế giới An lạc cầu thỉnh hình tượng Phật A di đà, để làm lợi ích cho chúng sinh ở cõi Sa bà nguyện sinh về Tịnh độ. Đức Phật A di đà hứa khả, nên có sự lưu truyền hình tượng Di đà và 50 vị Bồ tát. (xt. A Di Đà Ngũ Thập Bồ Tát Tượng). NGŨ THÔNG THẦN Tục gọi: Ngũ thánh. Tên vị thần dâm tà trong truyền thuyết dân gian Trung quốc thời cổ đại, hay làm cho người ta mê mẩn; vốn là 5 anh em, đã được thờ cúng từ cuối đời Đường, miếu hiệu là Ngũ thông. Trong bài minh Đại qui hư hựu sư của Trịnh ngu đời Đường có những từ ngữ: Ngưu A Bàng, Quỉ Ngũ Thông. Có thuyết nói rằng vua Thái tổ nhà Minh lúc mới định thiên hạ, nằm mơ thấy các binh lính chết trận đến xin cứu giúp, vua bèn cho phép 5 người lập thành 1 ngũ được hưởng đồ huyết thực ở các nơi và ra lệnh cho người ở Giang nam, mỗi nhà lập 1 miếu nhỏ cao 5 thước, tục gọi là Ngũ thánh đường để thờ cúng. Khoảng năm Khang hi (1662-1722) đời Thanh, Tuần phủ Giang ninh là Thang bân, từng cho phá hủy các miếu này, nhưng vẫn chưa phá hết. [X. Lưu thanh nhật trát; Cai dư tùng khảo Q.35]. NGŨ THỜI BÁT GIÁO Năm thời tám giáo do ngài Trí khải tông Thiên thai thành lập. Đại sư Trí khải căn cứ vào nội dung các kinh điển do đức Phật nói để phân loại, giải thích, rồi theo thứ tự thời gian đức Phật thuyết pháp mà chia làm 5 thời. Lại căn cứ theo phương pháp đức Phật dắt dẫn chúng sinh mà chia giáo pháp của Ngài làm 8 giáo, gọi chung là Ngũ thời bát giáo. I. Ngũ Thời. 1. Thời Hoa nghiêm: Đức Phật nói kinh Hoa nghiêm trong 21 ngày đầu tiên sau khi Ngài thành đạo. Nội dung thuyết pháp ở thời kì này, chính là Viên giáo, phụ là Biệt giáo, mà đối tượng thuyết pháp là chúng Đại bồ tát Biệt giáo và các vị ưu tú trong Viên giáo. Nói theo ý nghĩa giáo hóa của đức Phật, thì thời kì này là Ngài dự định thử nghiệm xem Phật tuệ tự nội chứng của Ngài có thích hợp với căn cơ của chúng sinh hay không, cho nên thời kì này được gọi là Nghĩ nghi thời.......... Nói theo thứ tự giáo pháp thì tương đương với Nhũ vị (vị sữa) đầu tiên được vắt ra từ thân bò. Kinh Hoa nghiêm có chia ra phần trước và phần sau khác nhau. Phần trước là giáo pháp nói trong 21 ngày đầu, không có hàng Thanh văn tham dự; phần sau như phẩm Nhập pháp giới thì có các vị đại Thanh văn như ngài Xá lợi phất... Nhưng giáo pháp của thời kì này quá cao, hàng Thanh văn đều như điếc như câm nên chưa thể nhận lãnh được hiệu quả lợi ích của sự giáo hóa. 2. Thời Lộc uyển: Trong khoảng 12 năm sau khi đức Phật nói kinh Hoa nghiêm, là thời kì Phật nói 4 bộ kinh A hàm Tiểu thừa ở 16 nước lớn. Vì nơi nói pháp đầu tiên trong thời kì này là vườn Lộc dã, nên gọi là thời Lộc uyển(thời vườn Nai), lại lấy tên kinh đã nói nên cũng gọi là thời A hàm. Giáo pháp nói trong thời kì này tương đối thấp, chỉ là giáo phápTiểu thừa(tức 3 tạng giáo). Nói theo ý nghĩa giáo hóa thì vì thời kì này lấy những người có căn cơ tương đối thấp kém làm đối tượng để dẫn dụ, nên gọi là thời Dụ dẫn, nói theo thứ tự giáo pháp thì thời kì này ví dụ như Lạc vị (váng sữa).3. Thời Phương đẳng: Thời kì Phật nói các kinh Đại thừa như Duy ma, Tư ích, Thắng man... trong khoảng 8 năm sau thời Lộc uyển. Giáo pháp của thời này gồm cả 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên, đả phá thiên kiến của thời thứ 2 cho rằng sự thâm chứng của Phật và thiển chứng của Tiểu thừa là giống nhau. Trong đó bao hàm ý nghĩa chê bai Tiểu thừa, khen ngợi Đại thừa, quở trách Thiên giáo, tán dương Viên giáo, muốn cho hàng Thanh văn sinh tâm chán Tiểu thừa, mến Đại thừa. Nếu nói theo ý nghĩa giáo hóa của đức Phật, thì thời kì này gọi là thời Đàn ha......(quở trách Tiểu thừa); nói theo thứ tự giáo pháp thì thời này ví dụ là Sinh tô vị (sữa đặc). Lại Phương đẳng là danh từ gọi chung các kinh Đại thừa, mà thời kì này là thời kì đầu tiên nói kinh Đại thừa, cho nên cũng gọi là thời Phương đẳng. 4. Thời Bát nhã: Chỉ cho thời kì Phật nói các kinh Bát nhã, trong khoảng 22 năm sau thời Phương đẳng. Giáo pháp nói trong thời kì này là Thông giáo, Biệt giáo và Viên giáo. Nói theo ý nghĩa giáo hóa của Phật, thời kì này là thời gạn bỏ các thiên chấp phân biệt Đại thừa, Tiểu thừa, nói các pháp đều Không, dung hợp Đại, Tiểu thừa vào 1 vị, nên gọi là thời Đào thải......; nói theo thứ tự giáo pháp thì ví dụ cho vị Thục tô (bơ). Thời này đức Phật nói cho ngài Tu bồ đề(thuộc hàng Thanh văn) về lí Bát bát khiến ngài ngưỡng mộ Đại thừa; vả lại, thời kì này là từ Nhị thừa tiến dần đến lí Không của Đại thừa nên gọi là Bát nhã chuyển giáo. Vì thời này có thể trừ bỏ sự phân biệt về mặt giáo pháp nên cũng gọi là Pháp khai hội. Trong đó, ngoài việc thuyết minh lí Không tiêu cực của Thông giáo(tức Bát nhã chung cho cả 3 thừa), còn nói rõ về lí trung đạo bất không tích cực của Biệt giáo và Viên giáo(tức là Bát nhã của Bồ tát). 5. Thời Pháp hoa Niết bàn: Chỉ cho thời kì làm cho người nghe pháp tiến đến cảnh giới cao nhất và chứng nhập tri kiến Phật. Đây là thời kì đức Phật nói kinh Pháp hoa trong khoảng 8 năm sau cùng và nói kinh Niết bàn 1 ngày 1 đêm trước khi Ngài nhập diệt. Giáo pháp nói trong thời kì này thuần là Viên giáo, tứclàhội thông các giáo pháp phương tiện của 4 thời trước, đồng thời mở ra Viên giáo chân thực sáng tỏ tròn đầy. Nói theo ý nghĩa giáo hóa của đức Phật thì giáo pháp ở thời kì này không chỉ dừng lại ở mặt lí luận pháp khai hội mà thực tếcònlàm cho tất cả mọi người đều chứng nhập nhân khai hội. Nói theo thứ tự giáo pháp thì thời kì này ví dụ cho vị Đề hồ (phó mát). Mối quan hệ giữa kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn là ở chỗ làm sáng tỏ lí rốt ráo chỉ có một Phật thừa. Kinh Pháp hoa thuộc về hậu giáo hậu vị trong 5 vị tiền phiên là mở ra hội Nhị thừa trong khoảng từ thời Hoa nghiêm trở về sau cho đến kinh Pháp hoa, mục đích là hoàn thành việc nhập Phật tri kiến (Đại thu giáo :Thu hết mọi người). Còn kinh Niết bàn thì đối với những người có năng lực mà kinh Pháp hoa bỏ sót, dõi theo lại cả 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên, nói về Phật tính thường trụ, về phù trì giới luật, khiến tất cả đều thành Phật; vì thế kinh Niết bàn là hậu giáo hậu vị trong 5 vị hậu phiên, cũng gọi Hậu giáo Niết bàn kinh (Quấn thập giáo :Giáo nhặt nhạnh, tức thu hết những người còn sót lại). Năm thời còn được chia ra Thông và Biệt. Thông ngũ thời là trong mỗi thời kì tùy theo năng lực của người nghe mà nói pháp thích hợp, khiến mỗi người đạt lợi ích khác nhau về giáo pháp, để hiển bày sự dung thông của giáo pháp. Còn Biệt ngũ thời tức là y theo thứ tự đem phương pháp giáo hóa chúng sinh của đức Phật chia làm 5 thời kì để nói rõ về thứ tự thuyết pháp. Ngoài ra, về số năm thuyết pháp của 5 thời có nhiều thuyết khác nhau, vả lại 5 thời này có nên theo thời gian mà phân chia, hoặc theo lí luận mà phân loại hay không, thì từ xưa đến nay đã thành vấn đề tranh luận. II. Bát Giáo. Gồm 4 giáo hóa nghi, tức là 4 hình thức và nghi tắc được đức Phật sử dụng để giáo hóa chúng sinh cùng 4 giáo hóa pháp, tức là nội dung giáo pháp mà đức Phật dùng để giáo hóa chúng sinh. A. Bốn Giáo Hóa Nghi. 1. Đốn giáo: Đầu tiên, đức Phật trực tiếp dùng phương pháp tự nội chứng để chỉ dạy chúng sinh, tương đương với thời kinh Hoa nghiêm đã nói. 2. Tiệm giáo: Nội dung của việc giáo hóa là dùng những giáo pháp từ cạn dần dần (tiệm) đến sâu, tương đương với 3 thời: A hàm, Phương đẳng, Bát nhã. 3. Bí mật giáo: Đức Phật ứng theo căn cơ, năng lực, bản chất bất đồng của chúng sinh mà truyền dạy các giáo pháp khác nhau, khiến cho người kia người này không biết lẫn nhau. 4. Bất định giáo: Chúng sinh tuy cùng tham dự 1 pháp hội nhưng tùy theo năng lực, trình độ của mỗi người mà hiểu giáo pháp khác nhau. Trong đó, điểm giống nhau giữa Bí mật giáo và Bất định giáo là Đồng thính dị văn, tức là cùng ngồi nghe pháp trong 1 hội mà pháp được nghe đều khác nhau, nhưng Bí mật giáo thì mọi người đều không biết nhau về sự sai biệt của lợi ích, đó là nhân pháp đều không biết; còn Bất định giáo thì mọi người biết rõ nhau về sự sai biệt của lợi ích, đó là nhân biết, pháp không biết. Bất định giáo nghĩa là giáo pháp mà mọi người thể ngộ không nhất định, vì thế, nói một cách chặt chẽ, thì Bí mật giáo nói trên lẽ ra phải được gọi là Bí mật bất định giáo, mà Bất định giáo thì phải được gọi là Hiển lộ bất định giáo. Còn Đốn giáo và Tiệm giáo là những giáo công khai nên gọi đó Hiển lộ định giáo. B. Bốn Giáo Hóa Pháp. 1. Tam tạng giáo, gọi tắt: Tạng giáo. Giáo pháp Tiểu thừa. Tức nói kinh A hàm của hàng Tam thừa để nêu tỏ lí Đãn không, đồng thời từ Tích không quán (Chuyết độ quán) mà vào lí Niết bàn vô dư. Bồ tát của Tam tạng giáo này đã chế phục được Kiến hoặc và Tư hoặc, nhưng chưa dứt hết phiền não, vì giáo hóa chúng sinh, phải trải qua khoảng thời gian dài 2 A tăng kì kiếp thực hành nhân hạnh đi đến chứng ngộ, cho nên gọi là Phục hoặc hành nhân (tu nhân chế phục phiền não). 2. Thông giáo: Vì giáo này là giáo môn đầu tiên của Đại thừa chung cho Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát nên gọi là Thông giáo. Tức là giáo từ lí như huyễn tức không mà quán thể không quán(cũng gọi Xảo độ quán). Người độn căn trong hàng Bồ tát của giáo này, chỉ có thể hiểu được giáo lí tương đối nông cạn, cùng với Bồ tát của Tạng giáo cùng chứng quả Bồ đề. Bồ tát thắng căn thì có thể lãnh ngộ được lí trung đạo sâu kín mầu nhiệm, cuối cùng vào được 2 giáo Biệt và Viên. Cứ như thế từ Thông giáo tiến dần đến Biệt giáo, gọi là Biệt tiếp Thông (hoặc Biệt nhập Thông); từ Thông giáo tiến dần đến Viên giáo, gọi là Viên tiếp Thông (hoặc Viên nhập Thông). Đồng thời, Bồ tát Thông giáo vì học tập giáo pháp của Biệt giáo mà dùng danh mục tu hành của Biệt giáo để biểu thị giai vị của Thông giáo thì gọi là Danh Biệt nghĩa Thông (tên thuộc Biệt giáo, nghĩa thuộc Thông giáo). 3. Biệt giáo: Biệt có 2 nghĩa là không chung và cách biệt. Tức là không chung cho 2 thừa mà chỉ nói riêng cho Bồ tát, lại từ phương diện sai biệt (cách biệt) mà quán xét các pháp, vì thế gọi Biệt giáo. Giáo này lần lượt quán 3 đế Không, Giả, Trung để ngộ lí Trung đạo, nhưng vì Trung đạo này khác với Không, Giả nên gọi là lí Đãn trung (nghĩa là ngoài quán Không, Giả ra còn có cái Trung độc lập). Pháp quán này gọi là Thứ đệ tam quán, hoặc gọi là Cách lịch tam quán. Bồ tát Biệt giáo đến Sơ địa ngộ lí Trung đạo thì đồng với Bồ tát Viên giáo, nhưng dưới Sơ địa thì từ lí Đãn trung thể ngộ lí Bất đãn trung (Không, Giả chẳng lìa Trung) bao hàm trong đó; tức là từ khoảng Thập trụ đến Thập hồi hướng, có người từ Biệt giáo tiến dần đến Viên giáo, đây gọi là Viên tiếp Biệt (hoặc gọi là Viên nhập Biệt). Biệt tiếp Thông, Viên tiếp Thông và Viên tiếp Biệt được gọi chung là Tam bị tiếp. Bị tiếp có nghĩa là trong khi quán xét thực lí, thể ngộ được ý sâu xa trong ấy, từ đó lại tiếp tục tiến dần lên giáo pháp cao hơn nữa. Ba giáo nói trên, về phương diện lí luận, đều có thể thông đến Phật quả, nhưng trong thực tế, hành giả ngay khi ở trong nhân đã Bị tiếp đến nỗi không ai có thể đạt đến giai vị đoạn hoặc của Tam tạng giáo, giai vị Bồ tát Bát địa trở lên cho đến giai vị Bồ tát Sơ địa trở lên của Biệt giáo, cho nên gọi là Hữu giáo vô nhân (có giáo pháp mà không có người thực chứng) hoặc gọi là Quả đầu vô nhân. 4. Viên giáo: Viên nghĩa là không thiên lệch, tròn đủ dung hợp lẫn nhau. Tức bất luận mê hay ngộ, về mặt bản thể đều không phân biệt. Đó là chân lí mà Phật đã giác ngộ, cho nên Viên giáo chỉ rõ sở ngộ của Phật, tức là nêu bày giáo pháp tự nội chứng của Ngài. Viên giáo quán 3 đế Không, Giả, Trung, trong 1 đế bao gồm 2 đế kia, vì thế, lí Trung đạo này gọi là lí Bất đãn trung. Bồ tát Viên giáo dùng 1 tâm mà quán 3 quán Không, Giả, Trung, cho nên 3 quán này gọi là Nhất tâm tam quán, hoặc gọi là Bất thứ đệ tam quán, Viên dung tam quán. Trong 4 giáo trình bày ở trên, Tạng giáo và Thông giáo là Giáo chứng câu quyền (giáo pháp và chứng ngộ đều là phương tiện chứ không phải chân thực); Biệt giáo là Giáo quyền chứng thực (giáo pháp là phương tiện mà chứng ngộ là chân thực); còn Viên giáo là Giáo chứng câu thực (giáo pháp và chứng ngộ đều là chân thực). Nếu đem 4 giáo này phối hợp với 5 thời thì thời Hoa nghiêm thứ 1 chính thức nói Viên giáo kèm theo Biệt giáo (Kiêm), thời Lộc uyển thứ 2 chỉ nói Tam tạng giáo (Đãn), thời Phương đẳng thứ 3 thì nói 4 giáo đối ứng với căn cơ (Đối), thời Bát nhã thứ 4 thì chính thức nói Viên giáo kèm thêm 2 giáo Thông, Biệt (Đới); trong thời Pháp hoa Niết bàn thứ 5 thì Pháp hoa là thuần viên, truy thuyết kinh Niết bàn là đồng thời nói 4 giáo, truy mẫn thì là thuần Viên giáo. Đồng thời, Viên của Pháp hoa và Viên của 4 thời trước tuy là cùng 1 giáo nghĩa, nhưng luận về tác dụng thì có sự hơn, kém khác nhau; nghĩa là Viên của kinh Pháp hoa là thuần viên độc diệu, có tác dụng siêu việt cái Viên của 4 thời trước. Do đó, kinh Pháp hoa là giáo pháp tối thắng vượt ngoài 4 giáo, hơn 8 đề hồ, cũng tức là vượt ngoài 8 giáo hóa nghi, hóa pháp mà trở thành giáo pháp Đề hồ tối thượng diệu vị. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1, 10; Tứ giáo nghĩa Q.6; Pháp hoa kinh văn cú Q.6, phần cuối; Duy ma kinh huyền sớ Q.6; Ma ha chỉ quán Q.5, phần cuối; Thiên thai bát giáo đại ý; Học Thiên thai tông pháp môn đại ý; Thiên thai tứ giáo nghi; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Thiên thai tứ giáo nghi tập giải Q.thượng; Thiên thai tứ giáo nghi bị thích Q.thượng]. (xt. Tam Chiếu, Ngũ Vị).
ngũ thù thắng căn
xem năm căn lành.
Ngũ thú
五趣; C: wǔqù; J: goshu; S: gati-pañcaka.|Năm cõi loài hữu tình sinh đến sau khi chết: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, Người, Trời. Cũng được gọi là Ngũ đạo (五道).
ngũ thú
Paca-gatayah (S), Panca-gatiyo (P), Five evil realms Năm đường ác.5 cõi loài hữu tình sinh đến sau khi chết.
; The five gati, i.e. destinations, destinies: địa ngục hell, ngạ quỉ hungry ghosts, súc sinh animals, người human beings, trời devas.
; (五趣) Phạm: Paĩca gataya. Pàli: Paĩca gatiyo. Cũng gọi Ngũ đạo, Ngũ ác thú, Ngũ hữu. Năm cõi mà các loài hữu tình, tùy theo nghiệp đã tạo, sẽ sinh đến sau khi chết. Đó là: 1. Địa ngục (Phạm: Naraka), Hán âm: Na lạc ca. 2. Quỉ (Phạm: Preta), Hán âm: Bệ lệ đa, cũng gọi Ngã quỉ. 3. Bàng sinh (Phạm: Tiryaĩc), Hán âm: Để lật xa, cũng gọi Súc sinh. 4. Nhân (Phạm: Manuwya), Hán âm: Ma nâu ti, cũng gọi Nhân gian. 5. Thiên (Phạm: Deva), Hán âm: Đề bà, cũng gọi Thiên thượng. Luận Đại tì bà sa quyển 172, căn cứ theo Thuyết nhất thiết hữu bộ, cho rằng Thú có nghĩa là nơi đến, là chỗ kết sinh của các loài hữu tình, do quả dị thục chiêu cảm nghiệp thiện, ác của đời quá khứ. Thuyết nhất thiết hữu bộ cũng chủ trương Thú không thông với 2 tính thiện và tính nhiễm, nếu thông thì nghiệp phiền não của địa ngục thú có thể trở thành trời Tha hóa tự tại và trời Tha hóa tự tại cũng có thể trở thành nghiệp phiền não của địa ngục thú. Nếu như vậy thì sự kết sinh trong các thú sẽ hỗn loạn, cho nên Thuyết nhất thiết hữu bộ chỉ lấy tính vô phú vô kí của dị thục sinh làm thể của Thú. Nhưng Đại chúng bộ thì cho rằng thể của Thú thông suốt cả 3 tính thiện, nhiễm và vô kí, đồng thời lập thuyết thành tựu và hiện hành khác nhau. Tức là địa ngục thú có thể thành tựu và hiện hành nghiệp phiền não của địa ngục thú, còn đối với nghiệp phiền não của trời Tha hóa tự tại thì chỉ có thể thành tựu chứ không thể khởi hiện hành. Căn cứ theo đó thì trời Tha hóa tự tại có thể thành tựu và hiện hành nghiệp phiền não ở cõi trời Tha hóa tự tại, nhưng nghiệp phiền não này ở địa ngục thú thì chỉ thành tựu chứ không khởi hiện hành, có như thế thì các thú mới không bị hỗn loạn.Trong Ngũ thú thì có 3 cõi địa ngục, ngã quỉ, súc sinh là thuần ác, còn 2 cõi trời, người thì thiện ác lẫn lộn. Vì tất cả ngũ thú đều thuộc về hữu lậu, trái với cõi Tịnh độ vô lậu, nên gọi chung là ác thú. Ngoài ra, vì lấy nghĩa nhân quả không mất đi, nên gọi là Ngũ hữu. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.18; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Câu xá Q.8; luận Đại tì bà sa Q.69; luận Đại trí độ Q.10, 30; luận Du già sư địa Q.4].
ngũ thú sinh tử luân
(五趣生死輪) Phạm: Bhava-cakra. Cũng gọi Ngũ đạo luân, Sinh tử luân, Thập nhị duyên khởi đồ. Bức tranh vẽ hình vòng tròn luân hồi sinh tử của chúng sinh trong 5 cõi. Bức tranh này trước hết vẽ 1 bánh xe có 5 tay hoa xe chia làm 6 ô, phía dưới là Địa ngục, 2 bên là Bàng sinh và Ngã quỉ, bên trên là 2 cõi người và trời. Trong cõi người chia làm 4 châu. Phần trục xe ở giữa bánh xe làm 1 hình tròn màu trắng, vẽ 1 tượng Phật, trước tượng Phật có hình chim bồ câu biểu thị tham nhiễm, rắn biểu thị giận dữ, lợn biểu thị ngu si. Vành bánh xe vẽ 12 hình tượng trưng 12 nhân duyên: Hình La sát (vô minh), hình Ngõa luân (hành), hình con vượn (thức), hình người ngồi thuyền(danh sắc), hình nam nữ vuốt ve nhau (xúc), hình nam nữ chịu khổ vui (thụ), hình người nữ ôm người nam (ái), hình người đàn ông cầm bình lấy nước (thủ), hình trời Đại phạm (hữu), hình người đàn bà có thai (sinh), hình nam nữ già yếu (lão), hình nam nữ mang bệnh (bệnh), hình cỗ xe chở người chết (tử), hình nam nữ lo sầu (ưu), hình nam nữ khóc lóc (bi), hình nam nữ chịu khổ (khổ) và hình nam nữ lôi kéo con lạc đà khó điều phục (não). Phía trên bánh xe còn vẽ hình 1 con quỉ vô thường rất lớn, 2 tay ôm lấy bánh xe sinh tử, 2 bên đầu của quỉ lớn có viết 2 bài kệ. Phần trên của quỉ vô thường vẽ hình cái đàn tròn màu trắng, tượng trưng cho tướng Niết bàn viên tịnh. Bức tranh vẽ bánh xe sinh tử luân hồi trong 5 cõi này đã lưu truyền từ lâu. Trong hang điện thứ 17 của quần thể hang động Ajanta tại Ấn độ vẫncòn 1 bức vẽ Ngũ thú sinh tử luân rất xưa. Ngoài ra, bức tranh do Tây tạng truyền thì vẽ A tu la làm 1 cõi riêng mà lập thành Lục thú sinh tử luân. [X. kinh Tạp a hàm Q.44; Hữu bộ tì nại da Q.34; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.17; Pháp uyển châu lâm Q.23; Thích thị yếu lãm Q.hạ].
ngũ thường
Wu-chang (C), Wu-ch'ang (C), Five constants Năm đức hạnh của Khổng giáo mà một người cần có: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
ngũ thường ngũ giới
(五常五戒) Năm thường năm giới. Tức là 5 thường của đạo Nho: Nhân, nghĩa, lễ, trí và tín được phối hợp với 5 giới của đạo Phật: Không giết hại, không trộm cướp, không gian dâm, không nói dối và không uống rượu. (xt. Hiếu).
ngũ thượng kết
Coi Ngũ lợi sử.
ngũ thượng phần kết
(五上分結) Phạm: Paĩcaùrdhvabhàgìyasaôyojanàni. Gọi đủ: Ngũ thuận thượng phần kết. Gọi tắt: Ngũ thượng kết, Ngũ thượng. Năm thứ phiền não (kết = thắt, buộc) trói buộc chúng sinh ở 2 cõi Sắc và Vô sắc thuộc thượng phần giới, làm cho không ra khỏi được 2 cõi này. Đó là: 1. Sắc tham: Phiền não tham đắm 5 món dục lạc của cõi Sắc. 2. Vô sắc tham: Phiền não tham đắm cảnh giới thiền định của cõi Vô sắc. 3. Điệu cử: Chúng sinh trong 2 cõi trên do tâm niệm loạn động mà lui mất thiền định.4. Mạn: Chúng sinh trong 2 cõi trên do tâm kiêu mạn mà cậy mình, lấn lướt người khác.5. Vô minh: Phiền não do tham đắm thiền định mà không rõ biết chân tính. Năm phiền não (kết) này lấy 8 việc ở cõi trên do Tu đạo đoạn trừ trong thân bậc Thánh làm tự tính, nghĩa là Sắc tham, tức ái của cõi Sắc do Tu đạo đoạn trừ (1 việc); Vô sắc tham, tức là ái của cõi Vô sắc do Tu đạo đoạn trừ (1 việc); Điệu cử tức là Điệu cử của 2 cõi trên đều do Tu đạo đoạn trừ (2 việc); Mạn tức là Mạn của 2 cõi trên đều doTu đạo đoạn trừ (2 việc); Vô minh tức là Vô minh của 2 cõi trên đều do Tu đạo đoạn trừ (2 việc). Ngũ thượng phần kết này chỉ giới hạn ở Tu đạo đoạn chứ không chung cho Kiến đạo đoạn, vì những phiền não(kết hoặc)do Kiến đạo đoạn thường làm cho con người sa đọa, cho nên không được lập làm Thượng phần kết. [X. kinh Chúng tập trong Trường a hàm Q.8; luận Câu xá Q.21; luận Đại tì bà sa Q.49; luận A tì đạt ma phát trí Q.3; luận Thành thực Q.10]. (xt. Ngũ Hạ Phần Kết).
ngũ thải phan
(五彩幡) Cờ phan 5 màu. Trên lá phan có thể viết văn kinh hoặc những phù hiệu hay hình vẽ tượng trưng cho giáo pháp, nhưng không được vẽ tượng Phật và Bồ tát. Bởi vì cờ phan vốn được dùng để cúng dường Phật, Bồ tát, không lẽ trên vật cúng dường lại vẽ hình tượng của các bậc được cúng dường? [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 4; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.19].
ngũ thất tam bất dịch
(五失三不易) Gọi đủ: Ngũ thất bản tam bất dị. Năm điều sai lầm(mất ý gốc), 3 điều không dễ (khó khăn). Đây nói về việc phiên dịch kinh chữ Phạm ra chữ Hán có những điểm khó khăn. (xt. Dịch Kinh).
Ngũ Thần Bát Giáo
(五辰八敎): hay Ngũ Thời Bát Giáo (五時八敎), tức là chủ trương của Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-397) về giáo phán của Thiên Thai Tông, lấy nội dung của các kinh điển Phật Giáo, rồi phân loại, giải thích; theo thứ tự thời gian thuyết pháp của đức thích tôn mà phân thành 5 thời là Hoa Nghiêm (華嚴), Lộc Uyển (鹿苑), Phương Đẳng (方等), Bát Nhã (般若), Pháp Hoa (法華), Niết Bàn (涅槃); rồi căn cứ vào hình thức, phương tiện hóa độ chúng sanh mà phân thành Hóa Nghi Tứ Giáo (化儀四敎) là Đốn (頓), Tiệm (漸), Bí Mật (秘密), Bất Định (不定); và nương theo nội dung giáo lý để hóa đạo thích ứng với căn cơ chúng sanh mà phân thành Hóa Pháp Tứ Giáo (化法四敎) là Tạng (藏), Thông (通), Biệt (別), Viên (圓). Đây được gọi là Ngũ Thời Bát Giáo. Về Ngũ Thời: (1) Thời Hoa Nghiêm, chỉ thời kỳ đầu tiên trong vòng 37 ngày sau khi thành đạo, đức Phật thuyết Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經), như lúc mặt trời chiếu trên núi cao. Nội dung thuyết pháp đương thời là Viên Giáo, Biệt Giáo. Đối tượng thuyết pháp là chúng Đại Bồ Tát của Biệt Giáo cũng như các phần tử ưu tú trong Viên Giáo. Nếu nói theo ý nghĩa đức Phật thuyết pháp, nhờ trí tuệ nội chứng, Ngài nghĩ ra cách thí nghiệm xem thử giáo pháp có thích hợp với căn cơ chúng sanh hay không; nên thời này được gọi là Nghĩ Nghi Thời (擬宜時, thời tìm ra phương pháp thích nghi); tương đương với vị sữa được lấy từ trong con bò ra. Hoa Nghiêm Kinh có 2 phần: trước và sau. Phần trước là thuyết pháp trong 37 ngày, không bao hàm Thanh Văn (聲聞); phần sau như Phẩm Nhập Pháp Giới (入法界品), có các Đại Thanh Văn như Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗), v.v. Trình độ thuyết pháp của thời này rất cao, hàng Thanh Văn như câm như điếc, chưa thể lãnh hội trọn vẹn giáo thuyết. (2) Thời Lộc Uyển (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿苑), chỉ khoảng thời gian 12 năm sau khi đức Phật tuyên thuyết Hoa Nghiêm Kinh; là thời kỳ tại 16 nước lớn, Ngài thuyết 4 bộ A Hàm (阿含) của Phật Giáo Nguyên Thủy, gồm Trường A Hàm Kinh (長阿含經, hay Trường Bộ [p: Dīghanikāya, 長部]), Trung A Hàm Kinh (中阿含經, hay Trung Bộ [p: Majjhimanikāya, 中部]), Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經, hay Tương Ưng Bộ [p: Saṁyuttanikāya, 相應部]), Tăng Nhất A Hàm Kinh (增一阿含經, hay Tăng Chi Bộ [p: Aṅguttaranikāya, 增支部]); giống như thời kỳ mặt trời chiếu soi hang đá. Nhân vì lần đầu tiên Ngài thuyết pháp tại Lộc Dã Uyển (鹿野苑), nên có tên gọi như vậy. Bên cạnh đó, do vì kinh điển được thuyết vào thời kỳ này là A Hàm nên được gọi là Thời A Hàm. Trình độ giáo pháp thời kỳ này rất thấp, chỉ là giáo lý của Phật Giáo Nguyên Thủy, được ví như vị cạo sữa. (3) Thời Phương Tiện, chỉ khoảng thời gian sau thời Lộc Uyển, thuyết các kinh điển Đại Thừa như Duy Ma (s: Vimalakīrti-nideśa, 維摩), Thắng Man (s: Śrīmālā-siṁha-nāda-sūtra, 勝鬘), v.v., như lúc mặt trời chiếu xuống bình địa. Giáo pháp thời này cũng có Tạng, Thông, Biệt Viên; được ví cho vị của ván sữa sống. Phương tiện là thông xưng của kinh điển đại thừa và thời kỳ này bắt đầu tuyên thuyết kinh điển ấy, nên có tên gọi là Thời Phương Tiện. (4) Thời Bát Nhã, chỉ trong vòng 22 năm sau Thời Phương Tiện, là thời kỳ thuyết các kinh điển thuộc hệ Bát Nhã, cho nên theo tên kinh mà có tên gọi như vậy. Thời kỳ này giống như mặt trời chiếu từng khu vực. Giáo pháp thời này thuộc về Tam Giáo Thông, Biệt và Viên; phá trừ những thiên chấp về Đại Thừa, Tiểu Thừa; thuyết rõ các pháp đều là Không, dung hợp cả đại lẫn tiểu thành một vị; được ví như vị của ván sữa chín. Thời kỳ này đức Phật vì nhóm Tu Bồ Đề (s, p: Subhūti, 須菩提) thuyết Bát Nhã, khiến cho họ ngưỡng mộ Đại Thừa. (5) Thời Pháp Hoa Niết Bàn, chỉ thời kỳ năng lực của người thọ giáo tiến đến cảnh giới tối cao, chứng nhập tri kiến của Phật, khoảng trong vòng 8 năm cuối trước khi đức Phật nhập Niết Bàn; trong thời gian ấy Ngài thuyết Pháp Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) và Đại Bát Niết Bàn Kinh (s: Mahāparinirvāṇasūtra, 大般涅槃經) trước khi nhập diệt một ngày một đêm. Thời kỳ này giống như mặt trời chiếu đúng ngọ. Giáo pháp thời kỳ này thuần túy Viên Giáo viên mãn, được ví như vị của Đề Hồ. Về Bát Giáo, như có đề cập bên trên, gồm Hóa Nghi Tứ Giáo (化儀四敎, tức 4 hình thức và nghi tắc được đức Phật dùng để giáo hóa chúng sanh) và Hóa Pháp Tứ Giáo (化法四敎, tức 4 nội dung giáo pháp được đức Phật dùng để giáo hóa chúng sanh). Hóa Nghi Tứ Giáo có: (1) Đốn Giáo (頓敎), ban đầu đức Phật lấy phương pháp tự nội chứng trực tiếp giáo hóa chúng sanh; tương đương với giáo thuyết của Hoa Nghiêm Kinh. (2) Tiệm Giáo (漸敎), là giáo pháp có nội dung giáo hóa từ cạn tiến dần đến sâu; tương đương với ba thời thuyết giáo của A Hàm, Phương Đẳng và Bát Nhã. (3) Bí Mật Giáo (秘密敎), đức Phật tùy theo căn cơ, trình độ, năng lực bất đồng của mỗi chúng sanh mà thuyết giáo, khiến cho kia đây không biết nhau. (4) Bất Định Giáo (不定敎), tức giáo pháp không nhất định, tùy theo căn cơ của mỗi chúng sanh mà thể ngộ chân lý khác nhau. Trong đó, Bí Mật Giáo và Bất Định Giáo có điểm cọng thông là “Đồng Thính Dị Văn (同聽異聞, cùng nghe mà hiểu khác)”; có nghĩa là cùng ngồi trong một pháp hội nghe pháp mà mỗi người nghe hiểu mỗi khác, không ai giống ai. Hóa Pháp Tứ Giáo có: (1) Tam Tạng Giáo (三藏敎), gọi tắt là Tạng Giáo (藏敎), tức Tiểu Thừa Giáo (小乘敎). (2) Thông Giáo (通敎), Thông có 3 nghĩa là thông đồng, thông nhập và cọng thông; tức giáo nghĩa Đại Thừa cọng thông cả Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát. (3) Biệt Giáo (別敎), nghĩa là không cọng Hai Thừa mà chỉ vì Bồ Tát thuyết pháp, hoặc do sai biệt mà quán sát các pháp. (4) Viên Giáo (圓敎), nghĩa là giáo lý viên dung, không thiên chấp, là lý chân thật, hay lý giác ngộ của đức Phật. Như trong Thiên Thai Tứ Giáo Nghi (天台四敎儀, Taishō No. 1931) có giải thích rằng: “Thiên Thai Trí Giả Đại Sư, dĩ Ngũ Thời Bát Giáo, phán thích Đông lưu nhất đại Thánh Giáo, khánh vô bất tận (天台智者大師、以五時八敎、判釋東流一代聖敎、罄無不盡, Thiên Thai Trí Giả Đại Sư lấy Ngũ Thời Bát Giáo để giải thích Thánh Giáo một đời được truyền sang phương Đông, đến rốt cùng tận).” Hay như trong Bổ Tục Cao Tăng Truyện (補續高僧傳, CBETA No. 1524) quyển 25, phần Nam Châu Phổ Hiệp Pháp Sư Truyện (南洲溥洽法師傳) cũng có câu: “Hồng Võ Tân Hợi, xuất thế trú Cô Sơn Mã Não Giảng Tự, hựu trú Tô Châu Bắc Thiền, học đồ vân tập, sư vi khai diễn Ngũ Thời Bát Giáo, Như Lai nhất đại thí hóa chi nghi, vô trí ngu cao hạ, nhân nhân mãn sở dục nhi thối (洪武辛亥、出世住孤山瑪瑙講寺、又住蘇州北禪、學徒雲集、師爲開演五時八敎、如來一代施化之儀、無智愚高下、人人滿所欲而退, vào năm Tân Hợi [1371], niên hiệu Hồng Võ, Phổ Hiệp Pháp Sư đến trú tại Mã Não Giảng Tự ở Cô Sơn, rồi chuyển đến trú tại Bắc Thiền ở Tô Châu, học đồ tập trung rất đông, sư vì họ mà diễn giảng Ngũ Thời Bát Giáo, là nghi tắc giáo hóa một đời của Như Lai; không phân biệt trí ngu, cao thấp, mọi người đều thỏa mãn sự ham muốn của mình và lui ra).”
Ngũ thần thông
五神通; C: wǔ shéntōng; J: goshintsū;|Năm năng lực thần thông của đức Phật: Có thể đi lại bất kì nơi nào tùy ý (Thần túc thông); Có thể thấy được suốt khắp (Thiên nhãn thông); Có thể nghe được mọi chuyện (Thiên nhĩ thông); Có thể thấu rõ ý nghĩ trong tâm người khác (Tha tâm thông); Có thể biết rõ những kiếp trước (Túc mệnh thông).
ngũ thần thông
Pacabhia (P), Paca-bhijā (S), Five supernatural powers (P)Ngũ thông.
ngũ thập bát giới
(五十八戒) Năm mươi tám giới, tức là 10 giới nặng và 48 giới nhẹ nói trong kinh Phạm võng.
ngũ thập công đức
(五十功德) Chỉ cho công đức của người thứ 50 tùy hỉ nghe kinh Pháp hoa. Cứ theo phẩm Tùy hỉ công đức trong kinh Pháp hoa quyển 6, thì công đức tùy hỉ nghe kinh Pháp hoa của người thứ 50 rộng lớn vô biên. (xt. Ngũ Thập Triển Chuyển Tùy Hỉ).
ngũ thập lục ức thất thiên vạn tuế
(五十六億七千萬歲) Năm mươi sáu ức bảy nghìn vạn năm, tức chỉ cho số năm từ khi đức Phật Thích ca nhập diệt đến khi bồ tát Di lặc ra đời. Hiện nay bồ tát Di lặc đang trụ ở Nội viện trên cung trời Đâu suất, khi hết tuổi thọ 4.000 năm ở cõi trời mới hạ sinh xuống nhân gian thành Phật. Nếu tính theo số năm ở nhân gian thì là 56 ức 7 nghìn vạn năm.[X. kinh Bồ tát xử thai Q.3; Chính tượng mạt pháp hòa tán].
ngũ thập ngũ thiện tri thức
(五十五善知識) Cũng gọi Ngũ thập ngũ thánh. Năm mươi lăm bậc thiện tri thức nói trong kinh Hoa nghiêm. Cứ theo phẩm Pháp giới, kinh Hoa nghiêm (bản 40 quyển), thì Đồng tử Thiện tài đi cầu pháp môn tâm yếu khắp nơi, đầu tiên tham vấn bồ tát Văn thù, rồi đi về phương Nam, lần lượt tham vấn 55 vị thiện tri thức. Nhưng ở hội cuối cùng của phẩm Nhập pháp giới thì cho rằng vị thứ nhất là bồ tát Văn thù và vị thứ 53 là bồ tát Di lặc đều là Văn thù; rồi lại vị thứ 51 là Đồng tử Đức sinh và vị kế đó là Đồng nữ Hữu đức thì cùng vấn đáp trong 1 hội, bởi vậy, không tính bồ tát Văn thù và Đồng nữ Hữu đức, còn lại 53 vị, gọi là Ngũ thập tam thiện tri thức, hoặc Ngũ thập tam tham. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) thì liệt kê 46 vị, thiếu 9 vị từ vị thứ 43 là Đồng nữ Thiên chủ quang trở xuống. Ngoài ra, Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 căn cứ vào thứ tự nhân quả tu chứng của 53 vị thiện tri thức mà phối hợp với 5 tướng, gọi là Ngũ tướng tri thức. Trong đó, 41 vị đầu là nói rõ về tướng kí vị tu hành, 11 vị trong 9 hội từ Ma da phu nhân trở xuống nói rõ về tướng Hội duyên nhập thực, bồ tát Di lặc nói rõ về tướng Nhiếp đức thành nhân, bồ tát Văn thù thì nói rõ về tướng Trí chiếu bất nhị, còn bồ tát Phổ hiền thì nói rõ về tướng Hiển nhân quảng đại. Năm tướng này cũng tức là 5 hành tướng: Cao hạnh, đại hạnh, thắng hạnh, thâm hạnh và quảng hạnh của Bồ tát. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.55; Hoa nghiêm kinh Hành nguyện phẩm sớ Q.3; Đại minh tam tạng pháp số Q.49]. (xt. Ngũ Thập Tam Tham, Thiện Tài Đồng Tử).
ngũ thập nhất tâm sở
(五十一心所) Năm mươi mốt tâm sở do tông Duy thức Đại thừa thành lập, được qui vào 6 nhóm: - Biến hành có 5: Xúc, tác ý, thụ, tưởng, tư. - Biệt cảnh có 5: Dục, thắng giải, niệm, định, tuệ. - Thiện gồm có 11: Tín, tinh tiến, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại. - Phiền não gốc có 6: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. - Tùy phiền não có 20: Phẫn, hận, não, phú, cuống, siểm, kiêu, hại, tật,khan, vô tàm, vô quí, bất tín, giải đãi, phóng dật, hôn trầm, điệu cử, thất niệm, bất chính tri, tán loạn.- Bất định gồm có 4: Hối, miên, tầm, tứ. (xt. Lục Vị Tâm Sở).
ngũ thập nhị chúng
(五十二衆) Chỉ cho 52 loài chúng sinh trên hội Niết bàn. Khi đức Phật nhập diệt, Ngài phóng ánh sáng, các loài chúng sinh thấy hào quang, liền từ khắp nơi về dự hội Niết bàn. Theo Niết bàn kinh sớ khoa kinh văn của ngài Chương an thì có tất cả 52 chúng là: 1. Vô lượng chư đại tỉ khưu. 2. Sáu mươi ức tỉ khưu ni. 3. Thập địa bồ tát tỉ khưu. 4. Một hằng sa Bồ tát. 5. Hai hằng sa Ưu bà tắc. 6. Ba hằng sa Ưu bà di. 7. Bốn hằng sa các Li xa. 8. Năm hằng sa đại thần trưởng giả. 9. Sáu hằng sa Tì sa li vương và phu nhân cùng với cung phi thể nữ và các vua trong cõi Diêm phù đề. 10. Bảy hằng sa phu nhân của các vua. 11. Tám hằng sa các thiên nữ. 12. Chín hằng sa các long vương. 13. Mười hằng sa các quỉ thần vương. 14. Hai mươi hằng sa Kim sí điểu vương. 15. Ba mươi hằng sa Càn thát bà vương. 16. Bốn mươi hằng sa Khẩn na la vương. 17. Năm mươi hằng sa Ma hầu la già vương. 18. Sáu mươi hằng sa A tu la vương. 19. Bảy mươi hằng sa Đà na bà vương. 20. Tám mươi hằng sa La sát vương. 21. Chín mươi hằng sa thụ lâm thần vương. 22. Một nghìn hằng sa Trì chú vương. 23. Một ức hằng sa quỉ mị tham sắc. 24. Trăm ức hằng sa thể nữ ở các cõi trời.25. Nghìn ức hằng sa quỉ vương trên mặt đất.26. Mười vạn ức hằng sa các thiên tử. 27. Mười vạn ức hằng sa phong thần ở 4 phương. 28. Mười vạn ức hằng sa thần chủ về mây mưa sấm sét. 29. Hai mươi hằng sa vua đại hương tượng. 30. Hai mươi hằng sa vua thú sư tử. 31. Hai mươi hằng sa vua các loài chim. 32. Hai mươi hằng sa trâu dê. 33. Hai mươi hằng sa các thần tiên trong 4 thiên hạ. 34. Tất cả ong chúa trong Diêm phù đề. 35. Tất cả tỉ khưu, tỉ khưu ni trong Diêm phù đề. 36. Chúng người, trời trong vô lượng thế giới.37. Hết thảy thần núi trong Diêm phù đề. 38. Bốn vị thần biển cả và các thần sông. 39. Trời Tứ thiên vương. 40. Thích đề hoàn nhân và chư thiên cõi trời Ba mươi ba. 41. Chư thiên cõi trời Dạ ma. 42. Chư thiên cõi trời Đâu suất. 43. Chư thiên cõi trời Lạc biến hóa. 44. Chư thiên ở tầng trời thứ 6 của cõi Dục.45. Vua Đại phạm thiên cùng với các Phạm chúng. 46. Các A tu la. 47. Thiên ma ba tuần ở cõi Dục. 48. Trời Đại tự tại. 49. Bồ tát Vô biên thân ở thế giới Phật phương đông. 50. Bồ tát Vô biên thân ở thế giới Phật phương nam. 51. Bồ tát Vô biên thân ở thế giới Phật phương tây. 52. Bồ tát Vô biên thân ở thế giới Phật phương bắc. [X. Niết bàn kinh hội sớ Q.1; Tịch chiếu đường cốc hưởng tục tập Q.10].
ngũ thập nhị chúng (năm mươi hai chúng) hay ngũ thập nhị hội chúng
thuật ngữ xuất phát từ kinh Đại Bát Niết-bàn này được dùng để chỉ tất cả các loài chúng sanh thuộc mọi tầng lớp, chủng loại khác nhau khắp trong vũ trụ, vì phần đầu kinh này khi mô tả về các loài chúng sanh kéo về tụ hội nơi Phật nhập Niết-bàn đã diễn tả đủ tất cả là 52 hội chúng khác nhau, bắt đầu từ chư đại tỳ-kheo gần gũi bên Phật cho đến cuối cùng là chư đại Bồ Tát trong khắp mười phương thế giới.
ngũ thập nhị chủng cung vật
(五十二種供物) Chỉ cho 52 loại phẩm vật do 52 chúng dâng cúng dường đức Phật trên hội Niết bàn.
ngũ thập nhị hội chúng
xem ngũ thập nhị chúng
ngũ thập nhị số
(五十二數) Năm mươi hai đơn vị chỉ số lượng của Ấn độ. Theo luận Câu xá quyển 12, thì trong kinh Giải thoát nói 60 số, nhưng luận Câu xá chỉ liệt kê 52 số, còn 8 số đã mất nên không ghi. Năm mươi hai số ấy là: 1. Một (Phạm: Eka). 2. Mười (Phạm: Daza). 3. Trăm (Phạm: Zata). 4. Nghìn (Phạm: Sahasra). 5. Vạn (Phạm: Hrabheda, Bát la tiết đà). 6. Lạc xoa (Phạm: Lakwa). 7. Độ lạc sa (Phạm: Atilakwa, Át để lạc xoa).8. Câu chi (Phạm:Koỉi). 9. Mạt đà (Phạm: Madhya). 10. A dữu đa (Phạm: Ayuta). 11. Đại a dữu đa (Phạm: Mahà-ayuta). 12. Na dữu đa (Phạm: Nayuta). 13. Đại na dữu đa (Phạm: Mahànayuta). 14. Bát la dữu đa (Phạm:Prayuta). 15. Đại bát la dữu đa (Phạm: Mahàprayuta). 16. Căng yết la (Phạm: Kaíkara). 17. Đại căng yết la (Phạm: Mahàkaíkara). 18. Tần bạt la (Phạm: Bimbara). 19. Đại tần bạt la (Phạm: Mahàbimbara). 20. A sô bà (Phạm: Akwobhya). 21. Đại a sô bà (Phạm: Mahàakwobhya). 22. Tì bà ha (Phạm: Vivàha). 23. Đại tì bà ha (Phạm: Mahà-vivàha). 24. Ốt tỗn già (Phạm:Utsaíga). 25. Đại ốt tỗn già (Phạm: Mahàutsaíga). 26. Bà hát na (Phạm:Vàhana). 27. Đại bà hát na (Phạm: Mahàvàhana). 28. Địa trí bà (Phạm: Titibha). 29. Đại địa trí bà (Phạm: Mahà-titibha). 30. Hê đô (Phạm: Hetu). 31. Đại hê đô (Phạm: Mahà-hetu). 32. Yết lạp bà (Phạm: Karabha). 33. Đại yết lạp bà (Phạm: Mahàkarabha). 34. Ấn đạt la (Phạm: Indra). 35. Đại ấn đạt la (Phạm: Mahà-indra). 36. Tam ma bát đam (Phạm: Samàpta). 37. Đại tam ma bát đam (Phạm: Mahàsamàpta). 38. Yết để (Phạm:Gati). 39. Đại yết để (Phạm:Mahà-gati). 40. Niêm phiệt la xà (Phạm: Nimbarajas). 41. Đại niêm phiệt la xà (Phạm:Mahànimbarajas). 42. Mụ đạt la (Phạm:Mudrà). 43. Đại mụ đạt la (Phạm:Mahà-mudrà). 44. Bạt lam (Phạm:Vala). 45. Đại bạt lam (Phạm:Mahà-vala). 46. San nhã (Phạm:Saôjĩà). 47. Đại san nhã (Phạm:Mahà-saôjĩà). 48. Tì bộ đa (Phạm:Vibhùta). 49. Đại tì bộ đa (Phạm:Mahà-vibhùta). 50. Bạt la tài (Phạm:Balàkwa). 51. Đại bạt la tài(Mahà-balàkwa). 52. A tăng kì (Phạm: Asaíkya). Phần A tì đạt ma thuộc chương 249 trong Phiên dịch danh nghĩa đại tập (Phạm: Mahàvyutpatti) liệt kê thêm 8 số nữa là đủ 60 số như kinh Giải thoát đã ghi mà luận Câu xá quyển 12 đề cập ở trên: 53. Vô lượng (Phạm: Apramàịa). 54. Vô biên (Phạm: Aprameya). 55. Vô tăng (Phạm: Aparimita). 56. Xuất biên (Phạm: Aprimàịa). 57. Vô tỉ (Phạm: Atulya). 58. Bất khả tỉ (Phạm:Amàpya). 59. Bất khả tư nghị (Phạm: Acintya). 60. Bất khả thuyết (Phạm: Anabhilàpya). [X. luận Đại tì bà sa Q.177; luận Đại trí độ Q.4; luận Hiển dương thánh giáo Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.15; Câu xá luận quang kí Q.12; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].
ngũ thập nhị vị
(五十二位) Năm mươi hai giai vị của Bồ tát Đại thừa. Tức là: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác. Về những giai vị này, các kinh luận nói không giống nhau, như kinh Hoa nghiêm chỉ nói 41 giai vị là: Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và Phật địa; phẩm Bồ tát giáo hóa trong kinh Nhân vương quyển thượng thì nói 51 giai vị gồm: Thập thiện, Tam hiền tam thập tâm, Thập địa và Phật địa; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp thì nêu Thập tín và 42 giai vị Hiền thánh, gọi là Thập tín tâm, Thập tâm trụ, Thập hành tâm, Thập hồi hướng tâm, Thập địa tâm, Nhập pháp giới tâm, Tịch diệt tâm...; kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 8 thì trước Thập tín nêu Can tuệ địa, sau Thập hồi hướng lại thêm 4 thiện căn: Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp, cộng thành 57 giai vị. Trong các kinh trên đây, chỉ có kinh Anh lạc là nói về 52 giai vị danh nghĩa trọn vẹn, vị thứ đầy đủ, cho nên từ xưa đã được các tông phái Đại thừa sử dụng rất rộng rãi. Năm mươi hai giai vị đó là: 1. Thập tín tâm: Tín tâm, Niệm tâm, Tinh tiến tâm, Tuệ tâm, Định tâm, Bất thoái tâm, Hồi hướng tâm, Hộ pháp tâm, Giới tâm và Nguyện tâm. 2. Thập trụ tâm: Phát tâm trụ, Trị địa tâm trụ, Tu hành tâm trụ, Sinh quí tâm trụ, Phương tiện tâm trụ, Chính tâm trụ, Bất thoái tâm trụ, Đồng chân tâm trụ, Pháp vương tử tâm trụ và Quán đính tâm trụ. 3. Thập tâm hành: Hoan hỉ tâm hành, Nhiêu ích tâm hành, Vô sân hận tâm hành, Vô tận tâm hành, Li si loạn tâm hành, Thiện hiện tâm hành, Vô trước tâm hành, Tôn trọng tâm hành, Thiện pháp tâm hành và Chân thực tâm hành. 4. Thập hồi hướng tâm: Cứu hộ nhất thiết chúng sinh li tướng hồi hướng tâm, Bất hoại hồi hướng tâm, Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng tâm, Chí nhất thiết xứ hồi hướng tâm, Vô tận công đức tạng hồi hướng tâm, Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng tâm, Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sinh hồi hướng tâm, Như tướng hồi hướng tâm, Vô phược giải thoát hồi hướng tâm và Pháp giới vô lượng hồi hướng tâm. 5. Thập địa tâm: Tứ vô lượng tâm, Thập thiện tâm, Minh quang tâm, Diệm tuệ tâm, Đại thắng tâm, Hiện tiền tâm, Vô sinh tâm, Bất tư nghị tâm, Tuệ quang tâm và Thụ vị tâm. Tâm ở địa thứ 51 gọi là Nhập pháp giới tâm, tức Đẳng giác. Tâm ở địa thứ 52 gọi là Tịch diệt tâm, tức Diệu giác. Trong đó, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác y theo thứ tự phối hợp với Tập chủng tính, Tính chủng tính, Đạo chủng tính, Thánh chủng tính, Đẳng giác tính và Diệu giác tính. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.7 (bản dịch đời Lương); Du già sư địa luận lược toản Q.12; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, phần cuối; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối; Bồ tát giới nghĩa sớ Q.thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.5-14]. (xt. Bồ Tát Giai Vị).
ngũ thập pháp
(五十法) Năm mươi pháp gồm trong 8 nhóm: Ba tam muội, 4 thiền định, 4 tâm vô lượng, 4 định cõi Vô sắc, 8 bối xả, 8 thắng xứ, 9 định thứ đệ và 10 nhất thiết xứ được nói trong kinh Đại phẩm Bát nhã. [X. luận Đại trí độ Q.21].
ngũ thập phần
(五十分) Năm mươi phần. Ngoại đạo Số luận chia Hoặc (phiền não) và Trí (trí tuệ) làm 4 phần: Nghi đảo (ngờ vực đảo điên), Vô năng (không có năng lực), Hoan hỉ (vui mừng) và Thành tựu. Trong đó, Nghi đảo, Vô năng và Hoan hỉ thuộc về Hoặc, còn Thành tựu thì thuộc về Trí. Bốn phần này lại được chia làm 5 nghi đảo, 28 vô năng, 9 hoan hỉ và 8 thành tựu, cộng chung thành 50 phần. [X. luận Kim thất thập Q.trung, hạ]. (xt. Tứ Phần).
ngũ thập tam phật
(五十三佛) I. Ngũ Thập Tam Phật. Năm mươi ba đức Phật. Tức là 53 đức Phật ở đời quá khứ từ Phật Định quang đến Phật Xử thế được ghi trong kinh Vô lượng thọ do ngài Khang tăng khải dịch vào đời Tào Ngụy. Đó là: 1. Phật Định quang. 2. Phật Quang viễn. 3. Phật Nguyệt quang. 4. Phật Chiên đàn quang. 5. Phật Thiện sơn vương. 6. Phật Tu di thiên quang. 7. Phật Tu di đẳng diệu. 8. Phật Nguyệt sắc. 9. Phật Chính niệm. 10. Phật Li cấu. 11. Phật Vô trước. 12. Phật Long thiên. 13. Phật Dạ quang. 14. Phật An minh đính. 15. Phật Bất động địa. 16. Phật Lưu li diệu hoa. 17. Phật Lưu li kim sắc. 18. Phật Kim tạng. 19. Phật Diệm quang. 20. Phật Diệm căn. 21. Phật Địa động. 22. Phật Nguyệt tượng. 23. Phật Nhật âm. 24. Phật Giải thoát hoa. 25. Phật Trang nghiêm quang minh. 26. Phật Giác hải thần thông. 27. Phật Thủy quang. 28. Phật Đại hương. 29. Phật Li trần cấu. 30. Phật Xả yếm ý. 31. Phật Bảo diệm. 32. Phật Diệu đính. 33. Phật Dũng lập. 34. Phật Công đức trì tuệ. 35. Phật Tế nhật nguyệt quang. 36. Phật Nhật nguyệt lưu li quang. 37. Phật Vô thượng lưu li quang. 38. Phật Tối thượng thủ. 39. Phật Bồ đề hoa. 40. Phật Nguyệt quang. 41. Phật Nhật minh. 42. Phật Hoa sắc vương. 43. Phật Thủy nguyệt quang. 44. Phật Trừ si minh. 45. Phật Độ cái hành. 46. Phật Tịnh tín. 47. Phật Thiện Tú (Túc). 48. Phật Uy thần. 49. Phật Pháp tuệ. 50. Phật Loan âm. 51. Phật Sư tử âm. 52. Phật Long âm. 53. Phật Xử thế. Theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng, thì 53 đức Phật trên đây ra đời trước đức Phật trên đây ra đời trước đức Phật Thế tự tại vương(Thầy của bồ tát Pháp tạng, tiền thân của đức Phật A di đà). Tức đức Phật Định quang là Phật đầu tiên xuất hiện trong quá khứ, cuối cùng đến Phật Xửthế, rồi sau đó đức Phật Thế tự tại vương mới ra đời. Nhưng, theo các bản dịch kinh Vô lượng thọ đời Đường, Tống và bản dịch Tây tạng thì ngược lại, Phật Thế tự tại vương ra đời đầu tiên trong quá khứ, còn Phật Định quang thì xuất hiện sau cùng. II. Ngũ Thập Tam Phật. Chỉ cho 53 đức Phật mà 3.000 vị Phật trong 3 kiếp (Trang nghiêm, Hiền, Tinh tú) đã được nghe danh hiệu và trì niệm khi còn ở giai vị tu nhân. Đó là: 1. Phật Phổ quang. 2. Phật Phổ minh. 3. Phật Phổ tĩnh. 4. Phật Đa ma la bạt chiên đàn hương. 5. Phật Chiên đàn quang. 6. Phật ma ni chàng. 7. Phật Hoan hỉ tạng ma ni bảo tích. 8. Phật Nhất thiết thế gian nhạo kiến thượng đại tinh tiến. 9. Phật Ma ni chàng đăng quang. 10. Phật Tuệ cự chiếu. 11. Phật Hải đức quang minh. 12. Phật Kim cương lao cường phổ tán kim quang. 13. Phật Đại cường tinh tiến dũng mãnh. 14. Phật Đại bi quang. 15. Phật Từ lực vương. 16. Phật Từ tạng. 17. Phật Chiên đàn hốt trang nghiêm thắng. 18. Phật Hiền thiện thủ. 19. Phật Thiện ý. 20. Phật Quảng trang nghiêm vương. 21. Phật Kim hoa quang. 22. Phật Bảo cái chiếu không tự tại vương. 23. Phật Hư không bảo hoa quang. 24. Phật Lưu li trang nghiêm vương. 25. Phật Phổ hiện sắc thân quang. 26. Phật Bất động trí quang. 27. Phật Hàng phục chúng ma vương. 28. Phật Tài quang minh. 29. Phật Trí tuệ thắng. 30. Phật Di lặc tiên quang. 31. Phật Thế tịnh quang. 32. Phật Thiện tịch nguyệt âm diệu tôn trí vương. 33. Phật Long chủng thượng tôn vương. 34. Phật Nhật nguyệt quang. 35. Phật Nhật nguyệt châu quang. 36. Phật Tuệ chàng thắng vương. 37. Phật Sư tử hống tự tại lực vương. 38. Phật Diệu âm thắng. 39. Phật Thường quang chàng. 40. Phật Quán thế đăng. 41. Phật Tuệ uy đăng vương. 42. Phật Pháp thắng vương. 43. Phật Tu di quang. 44. Phật Tu mạn na hoa quang. 45. Phật Ưu đàm bát la hoa thù thắng vương. 46. Phật Đại tuệ lực vương. 47. Phật A súc tì hoan hỉ quang. 48. Phật Vô lượng âm thanh vương. 49. Phật Tài quang. 50. Phật Kim hải quang. 51. Phật Sơn hải tuệ tự tại thông vương. 52. Phật Đại thông quang. 53. Phật Nhất thiết pháp thường mãn vương. Theo Tam kiếp tam thiên Phật duyên khởi, thì khi còn ở địa vị tu nhân, 3 nghìn vị Phật trong 3 kiếp được nghe và trì niệm danh hiệu của 53 đức Phật liền vượt qua được các tội nghiệp sinh tử trong vô số ức kiếp. Trong đó, 1 nghìn vị đầu tiên đã thành Phật trong kiếp Trang nghiêm ở quá khứ; 1 nghìn vị kế tiếp lần lượt thành Phật trong kiếp Hiền ở hiện tại và 1 nghìn vị sau cùng sẽ thành Phật trong kiếp Tinh tú ở vị lai. Nếu chúng sinh muốn diệt trừ 4 tội nặng và sám hối tội 5 nghịch, 10 ác... thì nên siêng năng lễ kính danh hiệu của 53 vị Phật này. [X. kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị bồ tát; kinh Quán Hư không tạng bồ tát].
ngũ thập tam tham
(五十三參) Cũng gọi Thiện tài đồng tử ngũ thập tam tham. Năm mươi ba lần tham vấn. Cứ theo phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm, thì đồng tử Thiện tài đi khắp nơi để cầu nghĩa cốt yếu của pháp môn. Đầu tiên, Đồng tử đến tham vấn bồ tát Văn thù, được sự chỉ dạy của Bồ tát, Đồng tử bèn đi về phương Nam, trải qua 110 thành, tham vấn tất cả 53 vị thiện tri thức, vì thế gọi là Ngũ thập tam tham. Năm mươi ba vị thiện tri thức mà Đồng tử đến tham vấn là: 1. Tham vấn tỉ khưu Đức vân (Phạm: Maghazrì-bhikwu, cũng gọi tỉ khưu Công đức vân, tỉ khưu Cát tường vân) ở núi Diệu phong nước Thắng lạc, Đồng tử hỏi về việc học và tu hành đạo Bồ tát như thế nào để mau được thành tựu viên mãn, thì được chỉ dạy cho pháp môn Ức niệm nhất thiết chư Phật cảnh giới trí tuệ quang minh phổ kiến. 2. Tham vấn tỉ khưu Hải vân (Phạm: Sàgara-megha) ở nước Hải môn, được chỉ dạy pháp môn Chư Phật Bồ tát hành quang minh phổ nhãn. 3. Tham vấn tỉ khưu Thiện trụ (Phạm: Su-pratiwỉhita) ở làng Hải ngạn đảo Lăng già, được chỉ dạy pháp môn Phổ tốc tật cúng dường chư Phật thành tựu chúng sinh vô ngại giải thoát. 4. Tham vấn đại sĩ Di già (Phạm: Megha-dramiđa, cũng gọi lương y Di già) ở thành Tự tại nước Đạt lí tị đồ, được chỉ dạy pháp môn Diệu âm đà la ni quang minh. 5. Tham vấn trưởng giả Giải thoát (Phạm:Vimuktika-zrewđhin) ở thành Trụ lâm, được chỉ dạy pháp môn Như lai vô ngại trang nghiêm giải thoát. 6. Tham vấn tỉ khưu Hải chàng (Phạm: Sàgara-dhvaja) ở nước Lợi già la cõi Diêm phù đề, được chỉ dạy về pháp môn Bát nhã ba la mật tam muội quang minh. 7. Tham vấn ưu bà di Hưu xả (Phạm: Àsa) ở nước Phổ trang nghiêm xứ Hải triều, được chỉ dạy pháp môn Li ưu an ẩn chàng giải thoát. 8. Tham vấn tiên nhân Tì mục cù sa (Phạm: Bhìsmottaranirghowa, cũng gọi tiên nhân Tì mục đa la) ở nước Na la tố, được chỉ dạy pháp môn Bồ tát vô thắng chàng giải thoát. 9. Tham vấn Bà la môn Thắng nhiệt (Phạm: Jayowmàya, cũng gọi Bà la môn Phương tiện) ở làng Y sa na. Bà la môn này thường ngày tu các khổ hạnh, cầu nhất thiết trí. Đồng tử Thiện tài vâng theo lời dạy của Thắng nhiệt, leo lên núi dao, gieo mình vào đống lửa, thì chứng được Tam muội Bồ tát thiện trụ và Tam muội Bồ tát tịch tĩnh lạc thần thông. 10. Tham vấn đồng nữ Từ hạnh (Phạm:Maìtràyaịì, cũng gọi đồng nữ Di đa la ni) ở thành Sư tử phấn tấn, được chỉ dạy pháp môn Bát nhã ba la mật phổ trang nghiêm. 11. Tham vấn tỉ khưu Thiện kiến (Phạm:Su-darzana, cũng gọi tỉ khưu Thiện hiện) ở nước Tam nhãn, được chỉ dạy pháp môn Bồ tát tùy thuận đăng giải thoát. 12. Tham vấn đồng tử Tự tại chủ (Phạm:Indriyezvara, cũng gọi đồng tử Thích thiên chủ) ở nước Danh văn, được nói cho nghe về pháp môn Nhất thiết công xảo đại thần thông trí quang minh. 13. Tham vấn ưu bà di Cụ túc (Phạm: Prahùtà, cũng gọi ưu bà di Tự tại) ở thành Hải trụ, được vị này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát vô tận phúc đức tạng giải thoát. 14. Tham vấn cư sĩ Minh trí (Phạm: Vidvan, cũng gọi trưởng giả Cam lộ) ở thành Đại hưng, được cư sĩ nói cho nghe về pháp môn Tùy ý xuất sinh phúc đức tạng giải thoát. 15. Tham vấn trưởng giả Pháp bảo kế (Phạm:Ratna-cùđa, cũng gọi trưởng giả Pháp bảo chu la) ở thành Sư tử, được vị này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát vô lượng phúc đức bảo tạng giải thoát. 16. Tham vấn trưởng giả Phổ nhãn (Phạm:Samanta-netra, cũng gọi trưởng giả Phổ nhãn diệu hương) ở thành Phổ môn nước Đằng căn, được vị này nói cho nghe về pháp môn Linh nhất thiết chúng phổ kiến chư Phật hoan hỉ. 17. Tham vấn vua Vô yếm túc (Phạm: Anala, cũng gọi vua Mãn túc), ở thành Đa la chàng, được vị này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát như huyễn giải thoát. 18. Tham vấn vua Đại quang (Phạm: Mahà-prabha) ở thành Diệu quang, được vị này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát đại từ vi thủ tùy thuận thế gian tam muội. 19. Tham vấn ưu bà di Bất động(Phạm: Acalà) ở nước An trụ, được vị này nói cho nghe về pháp môn Cầu nhất thiết pháp vô yếm túc tam muội quang minh. 20. Tham vấn ngoại đạo Biến hành (Phạm:Sarva-gàmin, cũng gọi ngoại đạo Tùy thuận nhất thiết chúng sinh) ở thành Đô tát la, được vị này nói cho nghe về pháp môn Chí nhất thiết xứ bồ tát hạnh. 21. Tham vấn trưởng giả Chúc hương (Phạm:Utpala-bhùti, cũng gọi trưởng giả Thanh liên hoa hương, trưởng giả Ưu bát la hoa hương) ở nước Quảng đại, được vị này nói cho nghe về pháp môn Điều hòa nhất thiết hương pháp. 22. Tham vấn thuyền sư Bà lí la(Phạm: Vairocana, cũng gọi hải sư Tự tại) ở đại thành Lâu các, được vị này nói cho nghe về hạnh Đại bi chàng. 23. Tham vấn trưởng giả Vô thượng thắng (Phạm:Jayottama) ở thành Khả lạc, được vị này nói cho nghe về pháp môn Chí nhất thiết xứ tu Bồ tát hạnh thanh tịnh. 24. Tham vấn tỉ khưu ni Sư tử tần thân (Phạm:Siôha-vijfmbhità, cũng gọi tỉ khưu ni Sư tử phấn tấn) ở thành Ca lăng ca lâm nước Du na, được vị này chỉ dạy pháp môn Thành tựu nhất thiết trí giải thoát. 25. Tham vấn Bà tu mật đa nữ (Phạm: Vasumitrà, cũng gọi Bà tu di đa nữ) ở thành Bảo trang nghiêm nước Hiểm nạn, được vị này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát li tham tế giải thoát. 26. Tham vấn cư sĩ Bê sắt chi la (Phạm: Vewỉhila, cũng gọi trưởng giả An trụ) ở thành Thiện độ, được cư sĩ nói cho nghe về pháp môn Bồ tát sở đắc bất ban niết bàn tế giải thoát. 27. Tham vấn bồ tát Quán tự tại (Phạm: Avalokitezvara, cũng gọi bồ tát Quán thế âm) ở núi Bổ đà lạc ca, được Ngài chỉ dạy pháp môn Đại bi hạnh. 28. Tham vấn bồ tát Chính thú(Phạm: Ananya-gàmin), được Ngài chỉ dạy pháp môn Bồ tát phổ tật hành giải thoát. 29. Tham vấn thần Đại thiên (Phạm: Mahà-deva) ở thành Nọa la bát để, được vị thần này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát vân võng giải thoát. 30. Tham vấn thần đất An trụ (Phạm: Sthàvarà) ở Bồ đề tràng nước Ma kiệt đà, được vị thần này nói cho nghe về pháp môn Bất khả hoại trí tuệ tạng. 31. Tham vấn vị thần chủ về ban đêm là Bà san bà diễn để(Phạm:Vasantì, cũng gọi Bà sa đà dạ thiên) ở thành Ca tì la nước Ma yết đà, được vị thần này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát phá nhất thiết chúng sinh ám pháp quang minh giải thoát. 32. Tham vấn vị thần chủ về ban đêm là Phổ đức tịnh quang (Phạm: Samantagambhìra-srì-vimala-prabhà, cũng gọi Thậm thâm diệu đức li cấu quang minh dạ thiên) ở Bồ đề tràng nước Ma kiệt đà; được vị thần này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát tịch tĩnh thiền định nhạo phổ du bộ giải thoát. 33. Tham vấn vị thần chủ về ban đêm là Hỉ mục quan sát chúng sinh (Phạm: Pramudita-nayana-jagad-virocanà, cũng gọi Hỉ mục quan sát chúng sinh dạ thiên) ở phía bên phải Bồ đề tràng, được vị thần này nói cho nghe về pháp môn Đại thế lực phổ hỉ chàng giải thoát. 34. Tham vấn vị thần chủ về ban đêm là Phổ cứu chúng sinh diệu đức (Phạm: Samanta-sattva-trànoja#-zrì, cũng gọi Diệu đức cứu hộ chúng sinh dạ thiên) ở trong hội tòa, được vị này nói cho nghe về pháp môn Phổ hiện nhất thiết thế gian điều phục chúng sinh giải thoát. 35. Tham vấn vị thần chủ về ban đêm là Tịch tĩnh âm hải(Phạm:Prazanta-rutasàgaravatì, cũng gọi Tịch tĩnh âm dạ thần), được vị thần này nói cho nghe về pháp môn Niệm niệm xuất sinh quảng đại hỉ trang nghiêm giải thoát. 36. Tham vấn vị thần chủ về ban đêm là Thủ hộ nhất thiết chúng sinh (Phạm: Sarvanagara-rakwas a m b h a v a - teja#-zrì, cũng gọi Diệu đức thủ hộ chư thành dạ thiên) ở trong hội tòa, được vị này nói cho nghe về pháp môn Thậm thâm tự tại diệu âm giải thoát. 37. Tham vấn vị thần chủ về ban đêm là Khai phu nhất thiết thụ hoa (Phạm: Sarva-vfkwa-praphullana-saôvàsà, cũng gọi Khai phu thụ hoa dạ thiên) được vị thần này nói cho nghe về pháp môn Xuất sinh quảng đại quang minh giải thoát. 38. Tham vấn vị thần chủ về đêm là Đại nguyện tinh tiến lực cứu hộ nhất thiết chúng sinh (Phạm: Sarva-jagad-rakwìpraịidhàna-vìrya-prabhà, cũng gọi Nguyện dũng quang minh thủ hộ chúng sinh dạ thiên), được vị thần này nói cho nghe về pháp môn Giáo hóa chúng sinh linh sinh thiện căn giải thoát. 39. Tham vấn vị thần Diệu đức viên mãn (Phạm: Su-tejo-maịđalarati-zrì, cũng gọi Diệu đức viên mãn thiên) ở vườn Lam tì ni và được vị này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát ư vô lượng kiếp biến nhất thiết xứ thị hiện thụ sinh tự tại giải thoát. 40. Tham vấn Thích ca Cù ba nữ (Phạm: Gopà,cũng gọi Cù di nữ) ở thành Ca tì la và được vị này nói cho nghe về pháp môn Quán sát bồ tát tam muội hải giải thoát. 41. Tham vấn phu nhân Ma da (Phạm: Màyà) ở tòa hoa sen báu lớn, được phu nhân chỉ dạy pháp môn Bồ tát đại nguyện trí huyễn giải thoát. 42. Tham vấn Vương nữ thiên chủ quang (Phạm: Surendràbhà, cũng gọi Thiên quang đồng nữ, Chánh niệm quang đồng nữ) ở Thiên cung và được chỉ dạy pháp môn Vô ngại niệm thanh tịnh trang nghiêm giải thoát. 43. Tham vấn Biến hữu đồng tử sự (Phạm:Visvà-mitra, cũng gọi Biến hữu đồng tử) ở thành Ca tì la, vị này không chỉ dạy gì khác, chỉ nói hãy đến tham vấn đồng tử Thiện tri chúng nghệ. 44. Tham vấn đồng tử Thiện tri chúng nghệ (Phạm: Zilpabhijĩa) và được vị đồng tử này nói cho nghe pháp môn Tứ thập nhị tự mẫu. 45. Tham vấn ưu bà di Hiền thắng (Phạm: Bhadrottamà) ở thành Bà đát na nước Ma kiệt đà và được vị này nói cho nghe về pháp môn Vô y xứ đạo tràng giải thoát. 46. Tham vấn trưởng giả Kiên cố giải thoát(Phạm:Muktà-sàra, cũng gọi trưởng giả Kiên cố) ở thành Ốc điền, được vị này nói cho nghe về pháp môn Vô trước niệm thanh tịnh trang nghiêm giải thoát. 47. Tham vấn trưởng giả Diệu nguyệt (Phạm:Su-candra) và được nghe trưởng giả nói về pháp môn Tịnh trí quang minh giải thoát. 48. Tham vấn trưởng giả Vô thắng quân (Phạm:Ajita-sena) ở thành Xuất sinh và được vị này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát vô tận tướng giải thoát. 49. Tham vấn Bà la môn Tối tịch tĩnh(Phạm: Ziva-ràgra, cũng gọi Bà la môn Thi tì tối thắng) ở tụ lạc Pháp phía nam thành và được vị này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát thành nguyện ngữ giải thoát. 50. Tham vấn đồng tử Đức sinh và đồng nữ Hữu đức (Phạm:Zrì-samabhava, Zrì-matì) ở thành Diệu ý hoa môn và được nghe 2 vị này nói rõ về pháp môn Bồ tát huyễn trụ giải thoát. 51. Tham vấn bồ tát Di lặc (Phạm: Maitreya) ở trước lầu gác Tì lô giá na trang nghiêm tạng trong vườn Đại trang nghiêm tại nước Hải ngạn, được Bồ tát chỉ dạy các pháp yếu, rồi mở cửa lầu gác, bảo đồng tử Thiện tài bước vào trong. Lầu gác này rộng lớn vô lượng giống như hư không. Ở trong lầu gác này, đồng tử Thiện tài được nghe pháp âm sâu xa mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, liền được vô lượng các môn tổng trì, trụ trong cảnh giới tự tại giải thoát bất khả tư nghị của Bồ tát. Bồ tát Di lặc lại bảo đồng tử Thiện tài đến tham vấn bồ tát Văn thù sư lợi. 52. Tham vấn bồ tát Văn thù sư lợi (Phạm:Maĩju-zrì) ở thành Tô ma na tại nước Phổ môn. Khi đồng tử Thiện tài đến thì bồ tát Văn thù sư lợi từ đàng xa duỗi cánh tay phải qua 110 do tuần, xoa đỉnh đầu của Thiện tài, giảng nói diệu pháp, khiến Thiện tài thành tựu được vô số pháp môn, đầy đủ vô lượng đại quang minh, lại khiến Thiện tài vào đạo tràng của hạnh Phổ hiền. Lúc đó, Thiện tài khao khát muốn đến tham vấn bồ tát Phổ hiền. 53. Tham vấn bồ tát Phổ hiền (Phạm: Samanta-bhadra): Sau khi chứng được các môn Tổng trì từ nơi bồ tát Văn thù sư lợi, đồng tử Thiện tài thu nhiếp các căn, dốc lòng cầu được thấy bồ tát Phổ hiền; lúc ấy, đồng tử Thiện tài liền thấy bồ tát Phổ hiền ngồi trên tòa sư tử bằng hoa sen báu trong chúng hội ở trước đức Như lai, từ các lỗ chân lông trên thân Bồ tát phóng ra những áng mây ánh sáng; bồ tát Phổ hiền liền duỗi cánh tay phải xoa đỉnh đầu Thiện tài, giảng nói các pháp cho Thiện tài nghe, ngay đó, Thiện tài liền chứng được các môn Tam muội nhiều như số bụi nhỏ của tất cả các cõi Phật. (xt. Ngũ Thập Ngũ Thiện Tri Thức, Thiện Tài Đồng Tử).
ngũ thập tam tôn
(五十三尊) Năm mươi ba vị tôn. Tức 37 vị tôn của Kim cương giới Mật giáo và 16 vị Bồ tát trong kiếp Hiền. Ba mươi bảy vị tôn của Kim cương giới gồm 5 đức Phật, 4 vị bồ tát Ba la mật, 16 vị Đại bồ tát, 8 vị bồ tát Cúng dường và 4 vị Nhiếp bồ tát. Còn 16 vị Bồ tát trong kiếp Hiền là: Di lặc tôn, Bất không kiến, Nhất thiết diệt ác thú, Li nhất thiết ưu ám, Hương tượng, Dũng mãnh tôn, Hư không tạng, Trí chàng, Vô lượng quang, Nguyệt quang, Hiền hộ, Quang võng, Kim cương tạng, Vô tận tuệ, Biện tích và Phổ hiền đại quang minh, gọi chung là Hiền kiếp thập lục tôn. [X. kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp đại thừa hiện chứng đại giáo vương Q.hạ; Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.3; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu]. (xt. Kim Cương Giới Tam Thập Thất Tôn, Hiền Kiếp Thập Lục Tôn).
ngũ thập thiên cung
(五十天供) Tác pháp cúng dường 50 vị thần để hàng phục các ma, đẩy lùi các chướng nạn về tinh tú, cầu nguyện nhân dân yên vui, đất nước thanh bình, mùa màng bội thu. Ngũ thập thiên là các vị thiện thần giữ gìn 8 phương trời đất, gồm có 12 vị trời, 28 ngôi sao, 9 ngôi sao và vị tôn Bất động 4 tay. Có thuyết nói Ngũ thập thiên là chỉ cho 5 vị Đại tôn, 28 ngôi sao và 7 ngôi sao. Pháp cúng dường 50 vị trời này đại khái cũng giống như pháp cúng dường 12 vị trời. Trong 50 vị trời, thì ấn khế và chân ngôn của Bất động tôn và 12 vị trời đều khác nhau, còn 9 ngôi sao và 28 ngôi sao thì dùng ấn khế và chân ngôn chung. [X. Cúng dường Thập nhị đại uy đức thiên báo ân phẩm; Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ; Chư tôn yếu sao Q.11, 12].
ngũ thập triển chuyển tuỳ hỉ
(五十展轉隨喜) Cũng gọi Ngũ thập triển chuyển. Năm mươi người theo thứ tự tùy hỉ. Nghĩa là tùy hỉ nghe kinh Pháp hoa rồi theo thứ tự truyền lại từ người thứ 1 đến người thứ 50. Theo phẩm Tùy hỉ công đức trong kinh Pháp hoa quyển 6, thì công đức tùy hỉ của người thứ 50 được nghe kinh Pháp hoa rộng lớn vô biên. Công đức của người này vượt xa công đức của người bố thí những thứ vui chơi cho mọi người trong 1 thế giới suốt thời gian 80 năm và nói pháp khiến cho những người ấy đều chứng được quả A la hán. Do đó, ta có thể biết công đức tùy hỉ của 49 người trước, nhất là người đầu tiên được nghe kinh Pháp hoa mà tùy hỉ thì công đức vô lượng vô biên như thế nào. Căn cứ theo thứ tự trước sau của 50 người này, để nói về công đức hơn kém của họ đạt được, thì có 2 thuyết của 2 vị Luận sư ở 2 miền Nam, Bắc. Luận sư miền Nam lập ra 3 triển chuyển: Triển chuyển hơn, triển chuyển vừa và triển chuyển kém, dùng triển chuyển sau cùng và kém nhất trong triển chuyển kém để so sánh mà hiển bày vừa và hơn. Luận sư miền Bắc thì cho rằng 50 giai vị gồm 10 địa và 40 tâm là 50 người, trong đó, người thứ 50 tùy hỉ nghe pháp tức là Bồ tát địa thứ 10 nghe đức Phật nói pháp, cho nên là Tối thắng(hơn nhất, hơn hết). Đại sư Trí khải tông Thiên thai thì giải thích theo 2 cách: 1. Hoành: Căn cứ theo 4 chúng của 3 giáo: Tạng, Thông, Biệt. Tạng giáo lập 4 môn: Có, không, cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải không; mỗi môn đều có 4 chúng: Tỉ khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di, thêm sa di, sa di ni nữa thành là 6 người, 4 môn thì có 24 người; mỗi mỗi lại có Tùy tín hành và Tùy pháp hành khác nhau, cho nên thành 48 người, thêm 2 người đầu tiên và 2 người cuối cùng thì tất cả là 50 người. Thông giáo và Biệt giáo cũng như thế. 2. Trực: Căn cứ theo Viên giáo, số pháp có tiểu 7, đại 7. Tiểu 7 là 1 đơn vị 7, đại 7 có 7 lần 7 là 49. Thầy trò đều có công đức tự hành và hóa tha, 1 người sau cùng chỉ có khả năng tự ngộ mà không có đức hóa tha, cộng chung là 50 người. [X. Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.8; Pháp hoa kinh văn cú Q.10, phần đầu; Pháp hoa văn cú kí Q.10, trung; Pháp hoa nghĩa sớ Q.11 (Pháp tạng); Pháp hoa kinh huyền tán Q.10].
ngũ thập tự môn
(五十字門) Cũng gọi Ngũ thập tự mẫu. Năm mươi chữ cái của tiếng Phạm. Năm mươi chữ cái này bao gồm 16 nguyên âm và 34 phụ âm, là những chữ phải học tập khi còn vỡ lòng. (xt. Tất Đàm).
ngũ thập ác
(五十惡) Năm mươi thứ ác hàm chứa trong 5 ấm; 50 thứ ác này nằm trong 4 chủng loại: 1. Thức ấm gồm có 8 thứ: Thức mắt, thức mũi, thức lưỡi, thức thân, thức ý, thức mạt na và thức A lại da. 2. Hai ấm thụ và tưởng đi theo thức nên mỗi ấm đều có 8 thứ ác. 3. Hành ấm có 9 thứ, trong đó 8 thứ tương ứng với tưởng, còn 1 thứ không tương ứng với tưởng, đó chính là pháp Bất tương ứng.4. Sắc ấm có 17 thứ ác, tức là: Thụ, tưởng, hành, thức, 5 căn(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), 5 trần(sắc, tiếng, mùi, vị, xúc)và 3 sắc thuộc pháp xứ là luật nghi sắc, bất luật nghi sắc và tự tại sở sinh sắc. [X. kinh Kim cương tam muội (bản dịch đời Bắc Lương)].
Ngũ Thể
(五體): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Gồm: gân, mạch, thịt, xương, da. (2) Là 5 bộ phận của con người, gồm: đầu, hai tay và hai chân; hoặc đầu, cổ, ngực, tay, chân. (3) Chỉ cho toàn thân. (4) Là hai đầu gối, hai khuỷu tay và đầu, còn gọi là Ngũ Luân (五輪). Trong Phật Giáo có thuật ngữ thường được dùng là Ngũ Thể đầu địa (五體投地, năm vóc gieo xuống đất), hay Ngũ Luân đầu địa (五輪投地). Theo tác phẩm Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記) quyển 2, phần Tam Quốc (三國) của Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang (三藏法師玄奘, 602-664) cho biết rằng: “Trí kính chi thức, kỳ nghi cửu đẳng: nhất phát ngôn úy vấn, nhị phủ thủ thị kính, tam cử thủ cao ấp, tứ hiệp chưởng bình củng, ngũ khuất tất, lục trường cứ, thất thủ tất cứ địa, bát Ngũ Luân cụ khuất, cửu Ngũ Thể đầu địa; phàm tư cửu đẳng, cực duy nhất bái, quỳ nhi tán đức, vị chi tận kính (致敬之式、其儀九等、一發言慰問、二俯首示敬、三舉手高揖、四合掌平拱、五屈膝、六長踞、七手膝踞地、八五輪俱屈、九五體投地、凡斯九等、極唯一拜、跪而讚德、謂之盡敬, hình thức kính thành tột cùng, nghi thức của có chín: một là mở lời thăm hỏi; hai là cúi đầu thể hiện cung kính; ba là đưa tay lên cao vái xuống; bốn là chấp tay ngang ngực; năm là quỳ mọp xuống; sáu là ngồi xoải chân dài ra; bảy là tay, đầu gối và chân chấm đất; tám là năm điểm đều cong gập lại; chín là năm vóc gieo xuống đất; phàm chín nghi thức này, đến tận cùng chỉ có một lạy, quỳ mà tán thán đức độ, gọi đó là cung kính đến tận cùng).” Đây là hình thức lễ bái, được thể hiện từ đơn giản đến phức tạp, gọi là Thiên Trúc Cửu Nghi (天竺九儀), vốn là phương pháp lễ bái cung kính tột cùng của Ấn Độ cổ đại; sau này Phật Giáo dùng nghi thức này để kính lễ Tam Bảo. Ngũ Thể Đầu Địa còn được dùng để thể hiện sự kính trọng, khâm phục đối phương tột độ. Trong Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂首楞嚴經) quyển 1 có đoạn: “A Nan văn dĩ, trùng phục bi lệ, ngũ thể đầu địa, trường quỳ hiệp chưởng (阿難聞已、重復悲淚、五體投地、長跪合掌, A Nan nghe xong, lại càng buồn khóc, Năm Vóc gieo xuống, quỳ lạy chấp tay).” Hay như trong lương thư (梁書) quyển 54, Phần Chư Di Liệt Truyện (諸夷列傳), Hải Nam Chư Quốc (海南諸國) lại có đoạn rằng: “Kim dĩ thử quốc quần thần dân thứ, sơn xuyên trân trọng, nhất thiết quy thuộc, ngũ thể đầu địa, quy thành Đại Vương (今以此國群臣民庶、山川珍重、一切歸屬、五體投地、歸誠大王, nay lấy quần thần, nhân dân nước này, trân trọng núi sông, hết thảy đều quy phục, Năm Vóc gieo xuống đất, kính thành Đại Vương).” Hoặc như trong Đàm Hoa Ký (曇花記) quyển 52 của nhà viết kịch Hí Khúc Đồ Long (屠隆, 1543-1605) nhà Minh có câu: “Đệ tử sắc thân cấu uế, căn khí hạ phàm, hà hạnh mông Đại Sĩ giáng lâm, Ngũ Thể đầu địa, bất thắng bi ngưỡng (弟子色身垢穢、根器下凡、何幸蒙大士降臨、五體投地、不勝悲仰, đệ tử sắc thân nhơ nhớp, căn khí phàm phu, sao may mong được Đại Sĩ giáng lâm, xin Năm Vóc gieo xuống đất, kính ngưỡng vô cùng).”
Ngũ thể
五體; C: wǔtǐ; J: gotai;|Có các nghĩa sau: 1. Năm chi phần thân thể: Hai đầu gối, hai khuỷu tay, và đầu; 2. Toàn thân thể.
ngũ thể
xem năm vóc.
; Five members of the body: head, elbows, knees.
; (五體) Cũng gọi Ngũ luân. Năm thể: Gân, mạch, thịt, xương, da lông; hoặc gọi chung năm bộ phận trên thân thể: Đầu gối phải, đầu gối trái, tay phải, tay trái và đầu. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển hạ, phần 3 (Đại 40, 395 trung) nói: Năm chỗ đều tròn, nên gọi là Ngũ luân. Tứ chi và đầu gọi là Ngũ thể. Luân là chỉ riêng cho 5 chỗ; Thể thì chỉ chung cho toàn thân.
Ngũ thể đầu địa
五體投地; C: wǔtǐ tóudì; J: gotaitōji; S: pañca-mandala-namaskāra.|Cách lễ lạy với năm phần thân thể gồm hai đầu gối, hai khuỷu tay, và đầu chạm sát đất. »Gieo năm vóc sát đất.« Phủ phục toàn thân thể sát đất để thể hiện lòng cung kính.
ngũ thể đầu địa
Five members of the body touching ground.
; (五體投地) Cũng gọi Ngũ luân đầu địa, Đầu địa lễ, Tiếp túc lễ, Đầu diện lễ, Đính lễ. Năm vóc gieo sát đất. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2, thì phép lễ của Ấn độ có 9 cách mà gieo 5 vóc(đầu, 2 tay và 2 gối)xuống đất là cách lễ thứ 9, cũng là cách lễ thành kính nhất trong 9 cách lễ. Về sau, Phật giáo cũng dùng cách lễ này để bày tỏ lòng tôn kính cao nhất. Cách lễ này là: Trước hết quì gối bên phải sát đất, kế đến là gối bên trái, rồi đến 2 khuỷu tay đặt sát đất, 2 bàn tay ngửa ra duỗi thẳng quá trán, sau cùng là đỉnh đầu đặt sát đất, hồi lâu như thế gọi là 1 lễ.Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao, khi lễ kính Tam bảo thì 5 thể phải gieo xuống đất để chiết phục sự kiêu mạn và tỏ lòng thành kính. Năm ý nghĩa về sự gieo 5 vóc xuống đất của người lễ như sau: 1. Khi gối bên phải sát đất, nguyện cho chúng sinh được đạo chính giác. 2. Khi gối bên trái sát đất, nguyện cho chúng sinh không khởi tà kiến ngoại đạo, tất cả đều an trụ trong đạo chính giác. 3. Khi tay phải sát đất, nguyện như Thề tôn ngồi tòa kim cương, đại địa rúng động, hiện bày tướng lành, chứng nhập đại Bồ đề. 4. Khi tay trái sát đất, nguyện cho chúng sinh xa lìa ngoại đạo, dùng 4 nhiếp pháp thu phục những người ương ngạnh, khiến họ vào chính đạo. 5. Khi đỉnh đầu sát đất, nguyện cho chúng sinh lìa tâm kiêu mạn, đều được thành tựu đính tướng Vô kiến. [X. kinh Quán vô lượng thọ; kinh Li cấu tuệ bồ tát sở vấn lễ Phật pháp; Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ (Trí khải); Thích môn qui kính nghi Q.hạ; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 3; Pháp uyển châu lâm Q.20; Thích thị yếu lãm Q.trung]. (xt. Khể Thủ, Lễ).
ngũ thệ nguyện
(五誓願) Năm thệ nguyện được dùng trong Thai tạng giới của tông Chân ngôn, Nhật bản. 1. Thệ nguyện dứt tất cả điều ác. 2. Thệ nguyện độ thoát hết thảy chúng sinh.3. Thệ nguyện tu tập tất cả pháp. 4. Thệ nguyện kính thờ hết thảy Phật. 5. Thệ nguyện chứng được đại Bồ đề. Còn trong Kim cương giới thì dùng Ngũ đại nguyện.
ngũ thị giả
(五侍者) Năm người hầu. Tức 5 vị thị giả mỗi vị giữ 1 chức vụ theo hầu bên vị Trụ trì trong Thiền lâm. Đó là: 1. Thiêu hương thị giả, cũng gọi Thị hương. Người theo hầu vị Trụ trì trong những giờ thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, khai thất, niệm tụng, phóng tham... 2. Thư trạng thị giả, cũng gọi Thị trạng. Trông coi việc thư từ qua lại cho vị Trụ trì. 3. Thỉnh khách thị giả, cũng gọi Thị khách. Tiếp đãi khách của vị Trụ trì. 4. Y bát thị giả, cũng gọi Thị y. Trông coi áo bát và các vật dụng của Trụ trì. 5. Thang dược thị giả, cũng gọi Thị dược. Săn sóc việc ăn uống thuốc thang cho vị Trụ trì. Trong 5 Thị giả, 3 vị Thiêu hương, Thư trạng và Thỉnh khách được gọi là Sơn môn tam đại thị giả(3 vị thị giả quan trọng trong Thiền lâm). [X. điều Tây tự đầu thủ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; Thiền lâm tượng khí tiên Q.6]. (xt. Thị Giả).
ngũ thọ
Paca-vedanāh (S).
ngũ thọ, thụ
The five sensations.
Ngũ thời
五時; C: wǔshí; J: goji;|Năm thời thuyết giáo. Sự phân chia các giai đoạn Phật Thích-ca Mâu-ni tùy căn cơ mà dùng nhiều phương thức giảng dạy giáo pháp cho chúng sinh, từ khi ngài thành đạo cho đến khi nhập niết-bàn. Mặc dù có nhiều lí thuyết khác nhau về sự sắp xếp nầy, tất cả đều xuất phát từ căn nguyên giải thích của sư Huệ Quán (慧觀) vào thế kỉ thứ 5.|A. Huệ Quán chủ trương phân chia giáo pháp thành Đốn giáo và Tiệm giáo; lại phân chia Tiệm giáo thành 5 thời: 1. Tam thừa biệt giáo: (như kinh A-hàm, v.v…); 2. Tam thừa thông giáo (như kinh Bát-nhã; s: prajñāpāramitā-sūtra, v.v…); 3. Ức dương giáo (như kinh Duy-ma-cật, v.v…); 4. Đồng quy giáo (kinh Hoa Nghiêm, v.v…); 5. Thường Trụ giáo (kinh Niết-bàn,v.v…). Đây là cách phân loại giáo pháp của Niết-bàn tông.|B. Theo giáo lí tông Hoa Nghiêm của Lưu Cầu (劉虬), Đốn giáo và Tiệm giáo trong kinh Hoa Nghiêm được chia thành 5 giáo pháp sau: 1. Nhân Thiên giáo; 2. Hữu tướng giáo (kinh A-hàm và những kinh công nhận các pháp có tự thể riêng biệt); 3. Vô tướng giáo (giáo lí Bát-nhã Ba-la-mật-đa, v.v…, phủ nhận các pháp tồn tại với tự thể riêng biệt); 4. Đồng quy giáo (như kinh Pháp Hoa, v.v…); 5. Thường trụ giáo (kinh Niết-bàn, v.v…).|C. Trí Khải có thay đổi chút ít so với phán giáo của Lưu Cầu. Theo giáo lí tông Thiên Thai, năm thời giáo là: 1. Thời kì Hoa Nghiêm: sau khi đức Phật thành đạo, ngài giảng kinh Hoa Nghiêm trong vòng 21 ngày cho hàng Bồ Tát. Đây là giáo pháp dành cho hàng căn cơ lanh lợi, theo giáo pháp nầy, các hàng Bồ Tát như thế có thể trực ngộ nhanh chóng lí chân như.|2. Thời kì Lộc Uyển: Sau khi đức Phật giảng kinh Hoa Nghiêm, những người có căn cơ thấp không thể hiểu nổi; thế nên ngài chuyển sang giáo pháp phương tiện nầy để hướng dẫn cho chúng sinh được lợi lạc. Nên đức Phật nói pháp cho hàng cho háng căn cơ thấp tại vườn Lộc Uyển gần thành Ba-la-nại. Thời kì này là 12 năm, kinh điển khai triển trong thời kì nầy là kinh A-hàm, nên giáo pháp thời nầy được gọi là thời A-hàm; 3. Thời Phương đẳng (s: vaipulya, sơ khởi Đại thừa). Vì căn cơ chúng sinh thời đó đang đắm chấp vào giáo lí Tiểu thừa nên bây giờ đức Phật giảng pháp Đại thừa như kinh Duy-ma-cật, kinh Kim Quang Minh, và kinh Thắng Man, truyền bá rộng rãi Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo và Viên giáo. Giáo pháp nầy nhằm đưa chúng sinh từ đắm chấp Tiểu thừa sang Đại thừa. Thời kì nầy kéo dài 8 năm; 4. Thời Bát-nhã: Thời kì nầy Đức Phật giảng kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa suốt 22 năm để giác ngộ cho chúng sinh về lí Tính không; 5. Thời Pháp Hoa, Niết-bàn: Đức Phật nói rõ mục tiêu tối hậu của giáo lí Tiểu thừa và Đại thừa đều là giải thoát như nhau. Nên giáo pháp nầy còn gọi là Nhất thừa giáo, khẳng định sự hiện hữu của Phật tính trong mỗi chúng sinh.
Ngũ thời bát giáo
五時八教; C: wǔshí bājiāo;|Hệ thống giáo pháp theo giải thích của Trí Khải. Thứ tự thời gian Đức Phật giảng pháp được chia thành 5 thời kì (Ngũ giáo). Phương pháp Đức Phật dùng để giáo hoá cũng được phân thành 4 loại (giáo hoá nghi), và nội dung của giáo pháp được chia thành 4 phạm trù (giáo hoá pháp).|A. Bốn giáo hoá nghi là: 1. Đốn giáo: giáo lí chỉ dạy chúng sinh giác ngộ ngay Phật tính nơi chính mình; 2. Tiệm giáo: giáo lí dẫn đắt chúng sinh giác ngộ qua nhận thức từ cạn đến sâu; 3. Bí mật giáo: giáo lí chúng sinh được truyền thụ bí mật tương ứng với căn cơ riêng mình mà người khác không hay biết; 4. Bất định giáo: dành cho chúng sinh tuy cùng nghe kinh trong một pháp hội, nhưng tùy theo căn tính riêng mỗi người màcó sự thể nhập giáo pháp khác nhau. Thêm nữa, giáo pháp »phi đốn phi tiệm, phi mật phi hiển« còn được gọi là giáo pháp »Pháp Hoa và Niết-bàn.«|B. Bốn giáo hoá pháp: 1. Giáo pháp Tiểu thừa hay Tam tạng giáo; 2. Thông giáo: Đây là giáo lí Đại thừa gồm các kinh Phương đẳng, Bát-nhã Ba-la-mật-đa, Pháp Hoa và Niết-bàn, dành cho hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ Tát; 3. Biệt giáo: đây là giáo lí dành riêng cho hàng Bồ Tát. Hành giả tu tập theo giáo pháp nầy biết rõ có sự nhấn mạnh vào lí Trung đạo để thể hội lí Tính không và tự thể của các pháp. Giáo lí của tông Hoa Nghiêm thuộc dạng nầy; 4. Viên giáo: Chủ trương giác và mê không khác nhau trong thể tính. Viên giáo siêu việt và viên dung tất cả các pháp, đây chính là giáo pháp giác ngộ chân thật của Đức Phật. Viên giáo thật sự bao gồm tất các giáo pháp khác, được kinh Pháp Hoa xiển dương một cách trọn vẹn nhất.
Ngũ thời giáo
五時教; C: wǔshí jiāo; J: ojikyō;|Ngũ thời bát giáo.
ngũ thời giáo
The five periods or divisions of Sakyamuni's teaching. According to Thiên Thai sect, they are: (1) Hoa nghiêm thời, the Avatamsaka or first period in three divisions each of seven days after his enlightenment, when he preached the contents of this sùtra; (2) Lộc uyển thời, the twelve years of his preaching the A hàm in the deer park; (3) Phương đẳng thời, the eight years of preaching mahàyàna-cum-hinayàna doctrines, the vaipulya period; (4) Bát nhã thời, the twenty two years of his preaching the prajnà or wisdom sùtras; (5) Pháp hoa Niết bàn thời, the eight years of his preaching the Lotus sùtra and, in a day and a night, the Nirvàna sùtra.
; (五時教) Cũng gọi Ngũ thời. Năm thời giáo. Tức là những kinh điển do đức Phật nói trong 45 năm được phân chia theo nội dung giáo nghĩa từ cạn đến sâu làm 5 giai đoạn, gọi là Ngũ thời giáo. Ở Trung quốc, việc truyền dịch kinh điển không theo thứ tự thời gian phát triển trước sau, mà chỉ y cứ vào 5 thời phán giáo này làm tiêu chuẩn. Có các thuyết về Ngũ thời giáo như sau: I. Ngũ thời giáo của tông Niết bàn. Ngài Tuệ quán thời Lưu Tống chủ trương giáo pháp có Đốn giáo và Tiệm giáo. Tiệm giáo lại chia làm 5 thời giáo: 1. Tam thừa biệt giáo, cũng gọi Hữu tướng giáo. Tức là giáo pháp được nói riêng cho mỗi thừa trong 3 thừa như nói pháp Tứ đế cho Thanh văn, Thập nhị nhân duyên cho Duyên giác và Lục độ cho Bồ tát. 2. Tam thừa thông giáo, cũng gọi Vô tướng giáo. Tức là giáo pháp được nói chung cho cả 3 thừa, như kinh Bát nhã. 3. Ức dương giáo, cũng gọi Bao biếm ức dương giáo. Tức là giáo pháp khen ngợi Bồ tát, chê trách Thanh văn, như các kinh Duy ma, Tư ích... 4. Đồng qui giáo, cũng gọi Vạn thiện đồng qui giáo. Tức là giáo pháp xóa bỏ sự phân biệt 3 thừa mà đưa tất cả về 1 Phật thừa, như kinh Pháp hoa. 5. Thường trụ giáo, cũng gọi Song lâm thường trụ giáo. Tức giáo pháp chủ trương tính Phật là thường trụ, như kinh Niết bàn. Trên đây là thuyết phán giáo đầu tiên của Trung quốc, lưu hành ở Giang nam, các vị Lưu cầu, Tăng nhu, Trí tạng, Pháp vân... đều theo thuyết này; các vị Tăng tông, Bảo lượng... còn đem 5 thời giáo này phối hợp với thí dụ 5 vị(nhũ, lạc, sinh tô, thục tô, đề hồ)nói trong kinh Niết bàn, đến ngài Thiên thai Trí khải thì thuyết này được tập đại thành. Về sau, ngài Tuệ quang ở miền Bắc lập phán giáo 4 tông cũng lấy 5 thời giáo này làm căn cứ. [X. Tam luận huyền nghĩa Q.thượng; Đại phẩm kinh du ý; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10, phần đầu; Pháp hoa huyền luận Q.3; Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.35; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1]. II. Ngũ thời giáo của Lưu cầu thời Nam Tề.Cư sĩ Lưu cầu cũng chủ trương giáo pháp có Đốn giáo và Tiệm giáo.Tiệm giáo lại chia làm 5 thời: 1. Thiên nhân giáo: Giáo pháp thế gian. 2. Hữu tướng giáo: Giáo pháp thừa nhận có sự sai biệt giữa những hiện tượng tồn tại, như các kinh A hàm... 3. Vô tướng giáo: Giáo pháp phủ định sự sai biệt giữa các hiện tượng tồn tại, như các kinh Bát nhã... 4. Đồng qui giáo: Như kinh Pháp hoa... 5. Thường trụ giáo: Như kinh Niết bàn... [X. Đại thừa nghĩa chương Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10, phần đầu; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1; Pháp hoa kinh huyền tán Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1]. III. Ngũ thời giáo của ngài Trí khải đời Tùy. Thuyết 5 thời này gồm: Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã và Pháp hoa Niết bàn. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo). IV. Ngũ thời giáo của ngài Pháp bảo đời Đường. 1. Tiểu thừa giáo. 2. Bát nhã giáo. 3. Thâm mật giáo. 4. Pháp hoa giáo. 5. Niết bàn giáo. [X. Câu xá luận bảo sớ Q.1; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.50].
ngũ thời ngũ giáo
(五時五教) Năm thời năm giáo. Tức là thuyết phán giáo của tông Thai Mật Nhật bản. Tông Thai Mật Nhật bản căn cứ vào thuyết Ngũ thời giáo của Đại sư Trí khải của tông Thiên thai Trung quốc, rồi đứng trên lập trường Mật giáo mà chia thời thứ 5 trong 5 thời ra làm 3 giai đoạn: Sơ, trung, hậu, cho rằng đức Phật theo thứ tự này nói kinh Pháp hoa, kinh Niết bàn và kinh Đại nhật. Từ đó, đưa Mật giáo xếp vào trong 4 giáo hóa pháp mà gọi chung là Ngũ giáo. Thuyết này do ngài An nhiên tổng hợp thuyết của các ngài Viên nhân, Viên trân mà hoàn thành. Nhưng trong Thai Mật Nhật bản cũng có y kiến phản đối việc bài xích 4 giáo mà lập thành thuyết 5 giáo này. [X. Tô tất địa kinh lược sớ Q.1; Bồ đề tâm nghĩa Q.5, phần cuối; Tự tại kim cương tập Q.9]. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).
Ngũ thụ
五受; C: wǔshòu; J: goju;|Năm cảm giác, năm cảm thụ: Ưu thụ (優受), hỉ thụ (喜受), khổ thụ (苦受), lạc thụ (樂受) và xả thụ (捨受, cảm thụ thân tâm không vui, không khổ, thoát khỏi tất cả những cảm thụ nêu bên trên).
ngũ thụ
(五受) Phạm: Paĩca vedanà. Pàli: Paĩca vedanà. I. Ngũ Thụ. Năm thứ cảm nhận tùy theo xúc giác. Theo luận Câu xá thì 5 thụ gồm có: 1. Khổ thụ (Phạm: Du#kha-vedanà): Cảm nhận sự bứt rứt của thân tương ứng với 5 thức. 2. Lạc thụ (Phạm: Sukha-vedanà): Cảm nhận sự khoan khoái của thân tương ứng với 5 thức và sự vui vẻ của tâm tương ứng với ý thức tĩnh lự thứ 3. 3. Ưu thụ (Phạm: Daurmanasyavedanà): Sự cảm nhận lo âu của tâm tương ứng với ý thức. 4. Hỉ thụ (Phạm: Saurmanasyavedanà): Sự cảm nhận vui vẻ của tâm tương ưng với ý thức ở cõi Sơ thiền, Nhị thiền và cõi Dục. 5. Xả thụ (Phạm: Upekwà-vedanà): Thân và tâm cảm nhận không khổ không vui.Đối với cảm nhận tạp nhiễm của chúng sinh, thì 5 thụ này có tác dụng tăng mạnh, cho nên gọi là 5 căn, cũng gọi Ngũ thụ căn, tức khổ căn, lạc căn, ưu căn, hỉ căn và xả căn.[X. kinh Đại tập pháp môn Q.hạ; luận Câu xá Q.3; luận A tì đạt ma phát trí Q.14; luận Thành duy thức Q.5]. II. Ngũ Thụ. Năm thụ được phân biệt theo tự tính và tương ứng của chúng. Tức là: 1. Tự tính thụ (Phạm: Svabhàvavedanìyatà): Tâm sở của thụ, tức là các cảm nhận khổ, vui... 2. Tương ứng thụ (Phạm: Saôpra= yukta-vedanìyatà): Tâm sở xúc tương ứng với các cảm nhận khổ, vui... 3. Sở duyên thụ (Phạm: Àlambanavedanìyatà), cũng gọi Cảnh giới thụ. Tức là cảnh giới của các cảm nhận khổ, vui... 4. Dị thục thụ (Phạm: Vipàkavedanìyatà), cũng gọi Báo thụ. Cảm nhận các nghiệp dị thục. 5. Hiện tiền thụ (Phạm: Sammukhìbhàva-vedanìyatà): Sự cảm nhận đang khởi lên hiện hành trong các thụ khổ, vui...[X. luận Câu xá Q.15; luận Đại tì bà sa Q.115; luận Thuận chính lí Q.40; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; Câu xá luận quang kí Q.15].
ngũ thủ
(五手) Năm loại ấn của cõi trời Tịnh cư. Tức là: 1. Tư duy thủ: Ngón út và ngón vô danh hơi co, 3 ngón kia duỗi xòe ra như 3 cái gậy, đầu hơi nghiêng, tay co lại hướng vào trong, ngón trỏ chỉ vào má. 2. Thiện thủ: Ấn Thí vô úy. Hai tay đều có thể kết ấn này, nhưng thường dùng tay trái nhiều hơn. 3. Tiếu thủ: Đặt tư duy thủ ở trước ngực, ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa hướng lên.4. Hoa thủ: Ngửa bàn tay lên, ngón cái ngón trỏ cầm hoa, 3 ngón còn lại dựng đứng hoặc duỗi thẳng. 5. Hư không thủ: Nghiêng bàn tay phải, xòe các ngón tay trong hư không. [X. Đại nhật kinh sớ Q.16].
Ngũ thủ uẩn
五取蘊; C: wǔqǔyùn; J: goshuun; S: pañca-upādāna.|Xem năm thứ uẩn mà như một cái gì đó rồi chấp trước nó một cách lầm lạc. Ngũ uẩn (五蘊).
ngũ thủ uẩn
(五取蘊) Phạm: Paĩca upàdàna-skandhà. Pàli: Paĩca upàdàna-kkhandhà. Cũng gọi Ngũ thụ ấm. Năm uẩn hữu lậu do thủ (phiền não)sinh ra hoặc sinh ra thủ. Chỉ cho sắc thủ uẩn, thụ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn. Luận Đại tì bà sa quyển 75 giải thích rằng: Nếu sắc hữu lậu hữu thủ thì sắc ấy ở quá khứ, vị lai và hiện tại, hoặc khởi dục, hoặc khởi tham, sân, si, bố(sợ), hoặc lại theo đó mà sinh khởi tâm sở Tùy phiền não, thì gọi là Sắc thủ uẩn. Phân biệt rộng ra thì thụ, tưởng, hành, thức cũng như thế. Trong luận còn phân biệt sự sai khác giữa uẩn và thủ uẩn, cho rằng uẩn chung cả hữu lậu và vô lậu, còn thủ uẩn thì chỉ có hữu lậu mà thôi. Ngoài ra, bàn về danh nghĩa của Thủ uẩn thì luận Câu xá quyển 1 cho rằng tất cả phiền não gọi chung là Thủ, uẩn từ thủ sinh, hoặc uẩn thuộc về thủ, hoặc uẩn sinh ra thủ, vì thế gọi là Thủ uẩn. Nhưng luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 thì đặc biệt gọi Dục tham có trong các uẩn là Thủ, rồi đem hợp với uẩn gọi là Thủ uẩn. [X. kinh Tạp a hàm Q.3; kinh Pháp thừa nghĩa quyết định Q.thượng; luận Du già sư địa Q.65; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần cuối; Câu xá luận quang kí Q.1].
ngũ thứ đệ
Pacakrama (S).
; (五次第) Phạm: Paĩcakrama. Tạng: Rim-pa chen-po. Tác phẩm, do ngài Long thụ (Phạm: Nàgàrjuna –nhưng không phải ngài Long thụ ở thế kỉ thứ II) soạn vào thế kỉ X. Cứ theo Bí mật tập hội đát đặc la (Phạm: Guhyasamàja-tantra, kinh Nhất thiết Như lai kim cương tam nghiệp tối thượng bí mật đại giáo vương) thì Ngũ thứ đệ này tương đương với Cứu cánh thứ đệ (Phạm: Utpanna-krama) của Thánh giả lưu (Tạng: Fphags-lugs), là 5 loại pháp thành tựu chiếu theo thứ lớp pháp quán Du già để chứng ngộ an vui cùng tột. Nếu coi Lược tập thành tựu pháp (Phạm: Piịđìkftasàdhana) tương đương với Sinh khởi thứ đệ (Phạm: Utpatti-krama) của Thánh giả lưu là Thứ đệ thứ nhất trong 5 thứ đệ thì thành 6 thứ đệ, nhưng thông thường thì 5 loại được liệt kê sau đây là Ngũ thứ đệ: 1. Kim cương niệm tụng thứ đệ(Phạm: Vajrajàpa-krama), cũng gọi Ngữ tịnh hóa thứ đệ (Phạm:Vàgviveka-krama), là pháp niệm tụng lấy sự hô hấp làm nền tảng, theo lời bạt trong sách cho biết thì có 67 bài kệ (có bản in gồm 69 bài). 2. Vô thượng ý thứ đệ (Phạm: Anuttarasamàdhi-krama), cũng gọi Tâm tịnh hóa thứ đệ (Phạm: Cittavivekakrama), Tâm thanh tịnh thứ đệ (Phạm: Cittavizudhi-krama), có 100 bài kệ (hoặc 94 bài). 3. Tự gia trì thứ đệ (Phạm: Svàdhiwỉhàna-krama), có 56 bài kệ. 4. Lạc hiện đẳng giác thứ đệ (Phạm: Sukhàbhisaôbodhi-krama), có 40 bài kệ (hoặc 38 bài). 5. Song nhập thứ đệ (Phạm: Yuganaddha-krama), có 35 bài kệ (hoặc có 36 bài). Sách này có nhiều bản chú thích bằng tiếng Tây tạng. [X. Tây tạng mật giáo giáo lí chi nghiên cứu (Tửu tỉnh Chân điển); Etudes et textes tantriques, Paĩcakrama, par L. de la Vallée Poussin; Discovery of a work by Àryadeva in Sanskrit, JASB. 1898, by H.P.Zastrì; Cittavisuddhiprakaraịa of Àryadeva, Visva-Bharati Studies, No.8, by P.B.Patel].
Ngũ thức
五識; C: wǔshì; J: goshiki;|Có các nghĩa sau:|I. Năm thức phát sinh do 5 giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, với 5 đối tượng của chúng là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, phát sinh các thức là: Nhãn thức (眼識), Nhĩ thức (耳識), Tỉ thức (鼻識), Thiệt thức (舌識), Thân thức (身識). Do các thức nầy được xem là 5 thức đầu trong 6 thức, nên chúng thường được gọi là Tiền ngũ thức (前五識) trong Hán ngữ. Theo giáo lí Du-già hành tông, đây là 5 thức đầu tiên trong Bát thức (八識). Trong Tam giới, chúng sinh ở cõi Dục có đủ 6 thức, ở cảnh giới Đệ nhất thiền của cõi Sắc thì không còn Nhĩ thức và Thiệt thức, khi đến cảnh giới Đệ nhị thiền thiên trở lên thì chỉ còn thức (phân biệt) thứ sáu (theo Câu-xá-luận 倶舎論).|II. Năm thức đề cập trong luận Đại thừa khởi tín: 1. Nghiệp thức (業識): phát khởi khi tâm chưa giác ngộ do vô minh; 2. Chuyển thức (轉識): Nghiệp thức trải qua một sự chuyển biến thành thức năng kiến; 3. Hiện thức (現識): Căn cứ vào sự chuyển biến của Nghiệp thức mà thế giới khách quan được biểu hiện; 4. Trí thức (智識): Thức tạo ra những phân biệt sai lầm căn cứ vào sự nhận biết đối tượng trong thế giới khách quan; 5. Tương tục thức (相續識): y cứ vào sự phân biệt sai lầm, các tư tưởng đau khổ, vui thích tương tục không dứt, nên tương tục trong luân hồi.
ngũ thức
Pacaviāṇa (P), Dvi-pancaviāṇa (P), Paca-vijānani (S), Five sensory conscious-nesses Ngũ trí.
; The five parijnànas, perceptions or cognitions: (1) Nghiệp thức: initial functioning of mind under the influence of the original vô minh unenlightenment or state of ignorance.(2) Chuyển thức: the act of turning towards the apparent object for its observation.(3) Hiện thức: observation of the object as it appears.(4) Tri thức: the deductions derived from its appearance.(5) Tương tục thức: the consequent feelings of like or dislike. pleasure or pain, from which arise the delusions and incarnations.
; (五識) I. Ngũ Thức. Phạm: Paĩca vijĩànàni. Pàli: Paĩca viĩĩànàni. Chỉ cho 5 thức: Thức mắt (Phạm: Cakwur-vijĩàna), thức tai (Phạm:Zrotravijĩàna), thức mũi (Phạm: Ghràịavijĩàna), thức lưỡi (Phạm: Jihvà-vijĩàna), thức thân (Phạm: Kàya-vijĩàna). Vì đây là 5 thức trước trong 6 hoặc 8 thức nên gọi là Tiền ngũ thức. Hoặc có thêm chữ thân để chỉ số phức mà gọi là Ngũ thân thức. Trong 5 thức, thức mắt lấy căn mắt làm sở y(chỗ nương gá), duyên theo sắc cảnh; thức tai lấy căn tai làm sở y, duyên theo thanh cảnh; thức mũi lấy căn mũi làm sở y, duyên theo hương cảnh; thức lưỡi lấy căn lưỡi làm sở y, duyên theo vị cảnh; thức thân lấy căn thân làm sở y, duyên theo xúc cảnh. Đó là Tiền thập ngũ giới (15 giới trước). Năm thức mỗi mỗi đều khác nhau, vì lấy 5 căn mắt, tai... làm sở y, đây là nói theo nghĩa bất cộng y (không nương chung). Nhưng, theo luận Câu xá quyển 1, thì 5 thức mắt, tai v.v... cũng lấy ý căn sinh diệt không ngừng làm chỗ nương gá chung (cộng sở y).Còn luận Thành duy thức quyển 4 thì bảo rằng Câu hữu sở y (đều có chỗ nương) của 5 thức có 4 thứ là Đồng cảnh y, Phân biệt y, Nhiễm tịnh y và Căn bản y. Đồng cảnh y nghĩa là 5 căn mắt, tai... là chỗ nương chung của 5 thức, tức năng y và sở y cùng nương gá chung 1 cảnh hiện tiền. Phân biệt y nghĩa là ý thức thứ 6 là chỗ nương gá của 5 thức phân biệt trước. Còn ý thức thứ 6 là thức phân biệt rõ ràng, tác dụng phân biệt của 5 thức trước không rõ ràng, phải nhờ vào sức của ý thức thứ 6 thì sự duyên cảnh mới rõ ràng, vì thế thức thứ 6 cũng được gọi là Minh liễu y(chỗ nương rõ ràng). Nhiễm tịnh y nghĩa là thức thứ 7 là chỗ nương nhơ, sạch của 5 thức, tức 5 thức do sự nhơ nhớp hay trong sạch của thức thứ 7 mà trở thành hữu lậu hay vô lậu. Căn bản y nghĩa là thức thứ 8 là chỗ nương căn bản của 5 thức, tức thức thứ 8 là gốc của các thức, thường nắm giữ chủng tử của các thức và giúp các thức sinh khởi. Năm thức này đều là ngoại môn chuyển (chuyển ở cửa ngoài), đều lấy các cảm quan vật chất (sắc căn) làm chỗ nương gá và lấy vật chất (sắc pháp) làm đối tượng, chỉ khởi tác dụng đối với các đối tượng hiện tại, cũng chỉ nhận biết đối tượng bằng trực giác (hiện lượng), chứ không khởi tác dụng thường hằng. Theo Thuyết nhất thiết hữu bộ thì hành tướng của 5 thức thô to và luôn luôn tương ứng với tầm tứ, thông cả 3 tính thiện, bất thiện và vô kí, chỉ đi với nhiễm chứ không rời nhiễm và do Tu đạo đoạn trừ. Ở cõi Dục chỉ có 2 thức mũi và lưỡi, ở tầng trời Sơ thiền cõi Sắc thì có 3 thức mắt, tai và thân, còn từ Nhị thiền trở lên đều không có 5 thức. Duy thức Đại thừa thì chủ trương 5 thức không tương ứng với tầm, tứ, thông cả 3 tính, có nhiễm, có lìa nhiễm và Nhị thiền trở lên cũng có 5 thức. Lại trong 5 uẩn, 5 thức này cùng với ý thức đều thuộc về Thức uẩn; trong 12 xứ, cùng với ý thức đều thuộc về ý xứ; còn trong 18 giới thì 5 thức đều được lập làm giới thức mắt cho đến giới thức tai. Ngoài ra tông Duy thức cho rằng 5 thức là do chủng tử ở trong thức gốc A lại da thứ 8 chuyển biến mà sinh ra, vì thế, 5 thức cũng được gọi là 5 chuyển thức. [X. luận Thành duy thức Q.7; luận Ngũ sự tì bà sa Q.hạ; luận Thức thân túc Q.6; luận Đại tì bà sa Q.42, 72; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Câu xá Q.2; luận Thuận chính lí Q.4; Thành duy thức luận thuật kí Q.4, phần cuối, Q.7, phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần cuối]. II. Ngũ Thức. Năm thức của ý được nói trong luận Đại thừa khởi tín, đó là: Nghiệp thức, Chuyển thức, Hiện thức, Trí thức và Tương tục thức.
ngũ thức uẩn
Dvīpaca-viāṇa (P), Paca-viāṇa (P), Pacupādānakkhandha (S).
Ngũ thừa
五乘; C: wǔshèng; J: gojō;|Có hai nghĩa: 1. Năm pháp môn tu tập đưa đến những quả báo khác nhau tùy theo mỗi thừa; 2. Theo Hiển chính luận (顯正論; k: hyǒn chǒng non), 5 thừa là: Bồ Tát thừa, Bích-chi Phật thừa, A-la-hán thừa, Nhân thừa, Thiên thừa.
ngũ thừa
Pacayāna (S), Five Vehicles Gồm: nhơn thừa, thiên thưa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ tát thừa. Hoa Nghiêm chia thành: Nhất thừa, Bồ tát thừa, Duyên giác thừa, Thanh văn thừa, Tiểu thừa).
; (五乘) Thừa, Phạm: Yàna. Năm cỗ xe (dụ chỉ pháp môn tu hành) vận chuyển chúng sinh đến thế giới yên vui. Có nhiều thuyết khác nhau. I. Ngũ Thừa. Theo nghĩa thông dụng: 1. Nhân thừa (Phạm: Manuwya-yàna): Dùng 3 qui y và 5 giới làm xe, vận chuyển chúng sinh ra khỏi 3 đường ác mà sinh vào cõi người. 2. Thiên thừa (Phạm: Deva-yàna): Dùng 10 điều thiện, 4 thiền 8 định làm xe, vận chuyển chúng sinh vượt khỏi 4 châu mà sinh lên các cõi trời. 3. Thanh văn thừa (Phạm: Zravakayàna): Dùng pháp môn 4 đế làm xe, vận chuyển chúng sinh vượt qua 3 cõi, đến Niết bàn Hữu dư mà thành A la hán. 4. Duyên giác thừa (Phạm: Pratyekayàna): Dùng pháp môn 12 nhân duyên làm xe, vận chuyển chúng sinh ra khỏi 3 cõi, đến Niết bàn Vô dư mà thành Bích chi phật. 5. Bồ tát thừa (Phạm: Bodhisattvayàna): Dùng pháp môn 6 độ bi trí làm xe, vận chuyển chúng sinh vượt qua cảnh giới của 3 thừa 3 cõi mà đến đại Niết bàn vô thượng bồ đề. [X. Vu lan bồn kinh sớ Q.thượng; Pháp hoa huyền luận Q.7]. II. Ngũ Thừa. Theo kinh Lăng già A bạt đa la bảo quyển 2: 1. Thiên thừa: Dùng pháp môn Thập thiện làm xe, vận chuyển chúng sinh khiến họ sinh lên các tầng trời cõi Dục. 2. Phạm thừa (Phạm: Brahma-yàna): Dùng pháp môn 4 thiền, 4 tâm vô lượng, 4 định vô sắc làm xe, vận chuyển chúng sinh ra khỏi biển sinh tử mà sinh lên các tầng trời cõi Sắc và cõi Vô sắc. 3. Thanh văn thừa: Dùng pháp môn Tứ đế sinh diệt làm xe, vận chuyển chúng sinh ra khỏi 3 cõi. 4. Duyên giác thừa: Dùng pháp môn 12 nhân duyên sinh diệt vô sinh làm xe, vận chuyển chúng sinh ra khỏi 3 cõi. 5. Chư Phật Như lai thừa (Phạm: Buddha-yàna): Dùng các pháp môn: Sáu độ sự lí, 3 quán thứ đệ... chuyên chở chúng sinh cùng đến đại Niết bàn. [X. kinh Nhập lăng già Q.4; Lăng già kinh nghĩa sớ Q.2, phần cuối; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. III. Ngũ Thừa. Theo tông Hoa nghiêm: 1. Nhất thừa(Phạm:Eka-yàna): Dùng pháp Nhất thừa thực tướng làm xe để đến Niết bàn. 2. Bồ tát thừa: Dùng 6 độ muôn hạnh làm xe để ra khỏi 3 cõi. 3. Duyên giác thừa: Dùng pháp 12 nhân duyên làm xe để vượt ra ngoài 3 cõi. 4. Thanh văn thừa: Dùng pháp môn 4 đế làm xe để vượt thoát 3 cõi. 5. Tiểu thừa (Phạm: Hìna-yàna): Tức Nhân thiên thừa, dùng 5 giới 10 thiện làm xe để ra khỏi 4 đường (địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, a tu la). [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương nghĩa uyển sớ Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương khuông chân sao Q.2]. IV. Ngũ Thừa. Theo kinh Xưng tán Đại thừa công đức: 1. Thanh văn thừa. 2. Độc giác thừa. 3. Vô thượng thừa (Phạm:An-uttarayàna). 4. Chủng chủng thừa (Phạm:Nànàyàna). 5. Nhân thiên thừa (Phạm: Devamanuwya-yàna). Ngũ thừa này do đức Phật tùy theo các loại chúng sinh mà nói ra bằng 1 thứ pháp âm.V. Ngũ Thừa. Theo tông Chân ngôn. Tông này phối hợp 5 đại với 5 thừa mà thành lập riêng 5 thừa thành Phật. Năm thừa này đều là tự thể trong pháp thân của đức Phật Tì lô giá na(Đại nhật Như lai). Đó là: 1. Nhân thừa, tức địa đại, vì loài người đều ở trên mặt đất. 2. Thiên thừa, tức là thủy đại. Nước lấy chữ Vaô làm chủng tử, Vaô có nghĩa lìa nói năng. Nước tùy theo đồ đựng hình dáng vuông hay tròn mà xoay chuyển một cách tự tại, tương ứng với nghĩa tự tại của trời.3. Thanh văn thừa, tức hỏa đại. Vì Thanh văn từ nơi tâm phát hỏa, nên hoại thân diệt trí. Chủng tử của Hỏa thiên là chữ Ra, Ra là chủng tử của Ngữ bồ tát, Thanh văn nương vào lời dạy mà được độ, cho nên được phối với hỏa đại. 4. Duyên giác thừa, tức là phong đại. Chủng tử của phong đại là chữ Ha, Ha nghĩa là nhân duyên. Duyên giác quán 12 nhân duyên, cho nên 2 nghĩa này tương ứng. Lại nữa, sự khai ngộ của Duyên giác là do quán lí duyên khởi vô thường mà chứng ngộ, như từ duyên gió mà quán hoa rơi lá rụng liền thể ngộ lí vô thường, vì thế phối hợp Duyên giác với phong đại. 5. Bồ tát thừa, tức là không đại. Vì Bồ tát quán nhân không và pháp không. [X. Bí tạng kí Q.cuối; Bí tạng kí sao Q.10]. VI. Ngũ Thừa. Theo tông Tịnh độ: 1. Nhân thừa. 2. Thiên thừa. 3. Thanh văn thừa. 4. Duyên giác thừa. 5. Bồ tát thừa. Năm thừa này đều nhờ sức bản nguyện rộng lớn của đức Phật A di đà mà được sinh về Tịnh độ phương Tây, gọi là Ngũ thừa tề nhập. VII. Ngũ Thừa. Theo tông Thiên thai: Ngũ thừa là: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn Duyên giác thừa, Bồ tát thừa và Phật thừa. Tóm lại, pháp thế gian dạy dỗ, dắt dẫn chúng sinh vào cõi người cõi trời, gọi là Thế gian thừa; pháp môn giáo hóa, vận chuyển chúng sinh đến các quả vị Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát... để vượt ra khỏi cõi mê sinh tử, gọi là Xuất thế gian thừa. Ngoài ra, còn có các thuyết Tứ thừa như sau:1. Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ tát thừa và Phật thừa. 2. Nhân thiên thừa, Tiểu thừa, Tam thừa và Nhất thừa. 3. Nhân thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa. 4. Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa và Bồ tát thừa. Về trí quán của 4 thừa: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật thì được phân biệt như sau: Hạ quán trí, Trung quán trí, Thượng quán trí và Thượng thượng quán trí, gọi là Tứ thừa quán trí.
ngũ thừa (thặng)
Five vehicles conveying to the karma reward : (1) Nhân thừa, rebirth among men conveyed by observing the five commandments; (2) Thiên thừa, among devas by the ten forms of good action; (3) Thanh văn thừa, among the sràvakas by the four noble truths; (4) Duyên giác thừa, among pratyeka-buddhas by the twelve nidànas; (5) Bồ tát thừa, among the bodhisattvas and Buddhas by the six pàramitas.
ngũ thừa tề nhập
(五乘齊入) Năm thừa đều sinh về Tịnh độ. Nghĩa là căn cơ 5 thừa như Nhân, Thiên, Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát đều nhờ sức bản nguyện của đức Phật A di đà mà được sinh về cõi Báo độ chân thực. [X. Quán kinh sớ huyền nghĩa phần; Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.2, 6]. (xt. Ngũ Thừa).
ngũ thực
Five kinds of spiritual food by which roots of goodness are nourished: (1) Niệm thực, correct thoughts; (2) Pháp hỉ thực, delight in the Law; (3) Thiền duyệt thực, pleasure in meditation; (4) Nguyện thực, firm resolve, or vows of self-control; (5) Giải thoát thực, deliverance from the karma of illusion.
; (五食) Chỉ cho 5 thứ thức ăn xuất thế gian. Tức là 5 thứ pháp thực nuôi lớn gốc lành tuệ mệnh của bậc Thánh. Đó là: 1. Niệm thực: Người tu hành thường giữ chính niệm để nuôi lớn tất cả căn lành. 2. Pháp hỉ thực: Người tu hành ưa thích pháp Đại thừa, nhờ đó mà nuôi lớn hạt giống đạo nên tâm họ thường vui vẻ. 3. Thiền duyệt thực: Người tu hành do được sức thiền định mà có thể tự nuôi tuệ mệnh, đạo phẩm tròn sáng, tâm thường vui mừng. 4. Nguyện thực: Người tu hành trọn đời giữ nguyện, không bỏ muôn hạnh mà nuôi lớn tất cả căn lành. 5. Giải thoát thực: Người tu hành cởi bỏ tất cả sự trói buộc của hoặc nghiệp, đối với pháp được tự tại, nuôi lớn tất cả thiện căn bồ đề. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.41; Hoa nghiêm kinh sớ Q.19, 28].
; (五實) Năm sự thực của đức Phật do ngài Thân loan, người Nhật bản, căn cứ vào phần Tán thiện nghĩa trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện đạo mà phân biệt. Đó là: 1. Chân thực quyết liễu nghĩa: Lời nói của đức Phật không hư dối nên gọi là chân thực; quyết định chính lí, rốt ráo rõ ràng, nên gọi là quyết liễu. 2. Thực tri: Chỉ cho Nhất thiết chủng trí. Nghĩa là trí của Phật biết khắp các tướng sai biệt của tất cả pháp, nên gọi là thực tri. 3. Thực giải: Chỉ cho 4 vô ngại. Tức là Pháp vô ngại giải, Nghĩa vô ngại giải, Từ vô ngại giải và Nhạo thuyết vô ngại giải. Bốn thứ vô ngại này đều hiểu đúng sự thực, cho nên gọi là thực giải. 4. Thực kiến: Chỉ cho mắt của Phật. Mắt của Phật có năng lực thấy suốt tính tướng trong Như lai tạng là thường trụ, cái thấy ấy thấy hết thảy pháp, khế hợp với sự thực nên gọi là thực kiến. 5. Thực chứng: Chỉ cho đại Niết bàn. Tức là Phật chứng được đại quả Niết bàn chân thực, tròn đủ muôn đức, cho nên gọi là thực chứng. [X. Ngu ngốc sao Q.hạ].
ngũ tinh
(五星) Cũng gọi Ngũ chấp. Năm ngôi sao. Đó là: 1. Tuế tinh: Sao Mộc, thuộc mộc trong ngũ hành, là con của Thanh đế ở phương đông. 2. Huỳnh hoặc tinh: Sao Hỏa, thuộc hỏa trong ngũ hành, là con của Xích đế ở phương nam. 3. Trấn tinh: Sao Thổ, thuộc thổ trong ngũ hành, là con của Hoàng đế ở trung ương. 4. Thái bạch tinh: Sao Kim, thuộc kim trong ngũ hành, là con của Bạch đế ở phương tây. 5. Thần tinh: Sao Thủy, thuộc thủy trong ngũ hành, là con của Hắc đế ở phương bắc. Chu kì vận hành của 5 vì sao này nhanh chậm không giống nhau. Sao Thái bạch và sao Thần phải cần thời gian 1 năm mới đi hết 1 vòng, sao Huỳnh hoặc 2 năm, sao Tuế 12 năm, sao Trấn 29 năm rưỡi. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.40; kinh Tú diệu Q.thượng; kinh Đại phương quảng bồ tát Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ Q.3].
ngũ tinh xá thập tháp
(五精舍十塔) Năm ngôi tinh xá và 10 tòa tháp, là những Thánh tích của Phật giáo ở Ấn độ. I. Ngũ Tinh Xá. Về 5 ngôi tinh xá có các thuyết sau đây: 1. Theo luận Đại trí độ quyển 3 bản Cao li, thì 5 tinh xá là: Trúc viên, Bề bà la bạt thứ, Tát đa bát na cầu ha, Nhân đà thế la cầu ha và Tát pha thứ hồn trực ca bát bà la đều ở thành Vương xá. Nhưng theo 3 bản đời Tống, Nguyên, Minh thì chỉ cho 5 núi bao quanh thành Vương xá: Bệ bà la bạt thứ (Phạm: Vebhàravana), Tát đa ban na cầu ha (Phạm: Sattapaịịiguhà), Nhân đà thế la cầu ha (Phạm: Indasàlaguhà), Tát pha thứ hồn trực ca bát bà la (Phạm: Sappasoịđikapabhàra) và Kì xà quật (Pàli: Gijjhakùỉa). 2. Theo Phiên dịch danh nghĩa tập thì 5 tinh xá là: Cấp cô độc viên, Thứu lãnh, Di hầu giang, Am la thụ viên và Trúc lâm... 3. Theo Chỉ quật dịch thổ tập quyển 21, Phiên Phạm ngữ quyển 9, thì 5 tinh xá là: Trúc viên, Bề bà la bạt thứ tát đa ban na cầu ha, Nhân đà thế la cầu ha, Tát pha thứ hồn trực ca bát bà la và Kì xà quật. 4. Theo Loại tụ danh vật khảo quyển 334, thì 5 tinh xá là: Tinh xá Kì viên, tinh xá Trúc lâm, tinh xá Đại lâm, tinh xá Thệ đa lâm và chùa Na lan đà, cũng gọi là Thiên trúc ngũ sơn. II. Thập Tháp. Có các thuyết sau đây: 1. Theo kinh Đại bát niết bàn quyển hạ (bản 3 quyển) do ngài Pháp hiển dịch vào đời Đông Tấn, thì sau khi đức Phật nhập diệt, 8 ông vua được chia 8 phần xá lợi, đưa về 8 nước xây tháp cúng dường, 1 tháp thờ bình chia xá lợi do Bà la môn Hương tính xây, còn 1 tháp do các Lực sĩ xây ở ngay nơi trà tì để thờ 1 phần xá lợi còn lại, như vậy tất cả là 10 ngôi tháp. 2. Theo luật Thập tụng quyển 60 thì trong cõi Diêm phù đề(Ấn độ) có 10 tòa tháp, trong đó 8 tháp thờ xá lợi, tháp thứ 9 thờ cái bình dùng để chia xá lợi, còn tòa tháp thứ 10 thì thờ tro. Tám tòa tháp thờ xá lợi nói trên được xây ở các nước: Câu thi, Ba ba, Già la, La ma già, Tì lưu đề, Ca duy vệ, Tì xá li và Ma già đà. 3. Có thuyết cho 10 tháplà: Đính tháp (tháp thờ xương đầu), Nha tháp (tháp thờ răng hàm), Xỉ tháp (tháp thờ răng), Phát tháp (tháp thờ tóc), Trảo tháp (tháp thờ móng tay), Y tháp (tháp thờ áo), Bát tháp (tháp thờ bát), Tích tháp (tháp thờ gậy tích), Bình tháp (tháp thờ bình đựng nước) và Dư tháp (tháp thờ kiệu). Nhưng thuyết này không rõ chỗ y cứ. Ngoài ra, kinh Ban nê hoàn quyển hạ và kinh Trường a hàm quyển 5 thì nêu ra thuyết 11 tháp. Trong đó, kinh Ban nê hoàn cho rằng tháp thứ 9 là tháp thờ bình chia xá lợi, tháp thứ 10 là tháp định, tháp thứ 11 là tháp thờ tro. Còn kinh Trường a hàm thì cho rằng tháp thứ 9 là tháp thờ bình, tháp thứ 10 thờ tro và tháp thứ 11 thờ tóc. Đến đời sau, Trung quốc và Nhật bản đặt ra chế định Ngũ sơn Thập sát chính đã căn cứ vào thuyết Ngũ tinh xá thập tháp này.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.32; kinh Phật bản hạnh tập Q.48; Tuyển tập tam tạng cập tạp tạng truyện; Thích ca phổ Q.4; Niết bàn kinh sớ tam đức chỉ qui Q.20; Pháp hoa kinh văn cú Q.1, phần trên; Đại tạng pháp số Q.32].
ngũ tiểu bộ
(五小部) Gọi đủ: Thiên thai ngũ tiểu bộ. Đối lại: Tam đại bộ. Chỉ cho 5 bộ sách nhỏ trong các soạn thuật của ngài Thiên thai Trí khải, đó là: 1. Kim quang minh kinh huyền nghĩa, 2 quyển, gọi tắt: Quang minh huyền. 2. Kim quang minh văn cú, 6 quyển, gọi tắt: Quang minh sớ. 3. Quan âm huyền nghĩa, 2 quyển, gọi tắt: Quan âm huyền, Biệt hành huyền. 4. Quan âm nghĩa sớ, 2 quyển, gọi tắt: Quan âm sớ, Biệt hành sớ. 5. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ, 1 quyển, gọi tắt: Quán kinh sớ. Ngũ tiểu bộ này đều có chú giải của ngài Tứ minh Tri lễ, tức là: - Kim quang minh kinh huyền nghĩa thập di kí, 6 quyển. - Kim quang minh kinh văn cú kí, 8 quyển. - Quan âm huyền nghĩa kí, 4 quyển. - Quan âm nghĩa sớ kí, 4 quyển. - Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao, 3 quyển. [X. Sơn gia chính thống học tắc Q.thượng].
ngũ tiễn
(五箭) Cũng gọi Hoa tiễn. Năm mũi tên. Năm mũi tên ví dụ cho 5 món dục (tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ). Năm món dục này có sức phá hoại sự nghiệp tu đạo như mũi tên hại thân thể, cho nên gọi là Ngũ tiễn.
ngũ trang nghiêm pháp
(五莊嚴法) Năm pháp trang nghiêm pháp giới thanh tịnh.1. Tinh tiến: Tinh là xa lìa cấu uế 2 bên (có và không) mà trụ nơi chân lí tột cùng; Tiến là siêng chăm gắng sức trong pháp giới thanh tịnh. 2. Minh vương: Biểu thị bản thệ nguyện lực của các vị tôn trong 3 bộ, dùng đạo Tam muội của chư Phật làm chỗ nương tựa. 3. Trừ chướng: Pháp Tức tai có thể dứt bặt 3 chướng 3 hoặc của 6 đường và 3 thừa. 4. Thành tựu chư dũng mãnh sự: Tức pháp Điều phục có công năng hàng phục những kẻ oán địch của phàm thánh từ vô thủy đến nay. 5. Thành tựu nhất thiết chân ngôn: Tức pháp Tăng ích có năng lực làm cho phàm thánh có đầy đủ niềm vui và lấy pháp thành tựu này làm chân ngôn. Năm pháp trên đây là cương yếu của bộ kinh Tô tất địa yết la trong Mật giáo. [X. kinh Tô tất địa yết la Q.thượng; Tô tất địa yết la kinh lược sớ Q.1].
ngũ tri căn
(五知根) Phạm: Paĩca buddhìndriyàịi. Cũng gọi Ngũ căn. Năm căn nhận biết về âm thanh, chạm xúc, màu sắc, vị và hương. Đó là: Nhĩ căn hạm: Zrotrendriya), Bì căn (Phạm: Tvagindriya), Nhãn căn (Phạm: Cakwurindriya), Thiệt căn (Phạm: Rasanendriya) và Tị căn (Phạm: Nàsikendriya). Là 1 khoa trong 25 đế của học phái Số luận. Theo luận Kim thất thập quyển trung thì Nhĩ căn là từ âm thanh sinh ra, đồng loại với không đại, vì thế chỉ nhận biết âm hanh; Bì căn tức là xúc sinh ra, đồng loại với phong đại, cho nên chỉ nhận biết xúc; Nhãn căn là từ màu sắc sinh ra, cùng loại với hỏa đại, vì thế chỉ nhận biết màu sắc; Thiệt căn là từ vị sinh ra, cùng loại với thủy đại, cho nên chỉ nhận biết mùi vị; Tị căn là từ hương sinh ra, cùng loại với địa đại, vì thế chỉ nhận biết hương. [X. kinh Niết bàn Q.35 (bản Nam); luận Kim thất thập Q.thượng; luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.32; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung, phần đầu].
ngũ triền cái
Five hindrances, Five screens Five moral hindrances Năm ngón che ngănGồm: - tham dục - sân nhuế: oán ghét - thuỵ miên: tâm dã dượi và hôn trầm - trạo hối: tâm lo âu, xao động - nghi pháp: hoài nghiXem Ngũ cái
; Pancanìvaranàni (S). Fivefold obstacle (on the progress of mind): (1) Tham dục, Kàma, Sensuous desires; (2) Sân, Vyàpàda, Ill-will; (3) Thụy miên, Styàna-middha, Sloth torpor; (4) Trạo cử, Anuddhatya, restlessness; (5) Nghi, Vicikitsà, Sceptical doubt.
Ngũ trí
五智|Năm trí.
ngũ trí
Xem Ngũ thức.
; The five kinds of wisdom of the Chân Ngôn tông. Of the six elements earth, water, fire, air, space, and consciousness, the first five form the phenominal world, or Garbhadhàtu, the womb of all things thai tạng giới, the sixth, is the conscious, or perceptive, or wisdom world, the Vajradhàtu, kim cương giới, sometimes called the Diamond realm. The two realms are not originally apart, but one, and there is no consciousness without the other five elements. The sixth element, consciousness, vijnàna, thức, is further subdivided into five called ngũ trí, the five wisdoms: (1) Pháp giới thể tính trí, the wisdom of the embodied nature of the dharmadhàtu; (2) Đại viên cảnh trí, the great round mirror wisdom; (3) Bình đẳng tính trí, wisdom in regard to all things equally and universally; (4) Diệu quan sát trí, wisdom of profound insight, or discrimination; (5) Thành sở tác trí, the wisdom of perfecting the double work of self-welfare and the welfare of others.
; (五智) Phạm:Paĩca jĩànàni.I. Ngũ Trí. Năm trí thể của đức Đại nhật Như lai do Mật giáo thành lập.1. Pháp giới thể tính trí (Phạm: Dharma-dhàtu-svabhava-jĩàna): Tức là trí thể tính của các pháp thế gian và xuất thế gian. Trí này đạt được khi thức A ma la thứ 9 từ hữu lậu chuyển thành vô lậu; phối với Đại nhật Như lai ở Trung ương và Phật bộ. 2. Đại viên kính trí (Phạm: Adarzajĩàna): Tức trí hiển hiện muôn tượng trong pháp giới đều trong sạch tròn sáng. Trí này đạt được khi thức A lại da thứ 8 từ hữu lậu chuyển thành vô lậu; phối với đức A súc Như lai ở phương Đông và Kim cương bộ, vì thế cũng gọi là Kim cương trí.3. Bình đẳng tính trí (Phạm: Samatàjĩàna), cũng gọi Quán đính trí. Tức tríhiển hiện đầy đủ tính bình đẳng của các pháp. Trí này đạt được khi thức mạt na thứ 7 từ hữu lậu chuyển thành vô lậu; phối với đức Bảo sinh Như lai ở phương Nam và Bảo bộ.4. Diệu quan sát trí (Phạm: Pratyave= kwanà), cũng gọi Liên hoa trí, huyển pháp luân trí. Tức trí xem xét căn cơ chúng sinh mà nói pháp 1 cách tự tại. Trí này đạt được khi ý thức thứ 6 từ hữu lậu chuyển thành vô lậu; phối với đức Phật A di đà ở phương Tây và Liên hoa bộ.5. Thành sở tác trí (Phạm: Kftyà= nuwỉhàna-jĩàna), cũng gọi Yết ma trí. Tức trí thành tựu sự nghiệp của mình và người. Trí này đạt được khi 5 thức trước từ hữu lậu chuyển thành vô lậu; phối với đức Phật Bất không thành tựu ở phương Bắc và Yết ma bộ. Trên đây là nói về Kim cương giới; nếu nói về Thai tạng giới thì năm trí theo thứ tự được phối hợp với: Đại nhật Như lai, Bảo chàng Như lai, Khai phu hoa Như lai, Vô lượng thọ Như lai và Thiên cổ lôi âm Như lai. Năm trí này lại có 2 nghĩa: Biệttướng và Các cụ. Biệt tướng là phối hợp riêng 5 trí với 5 đức Phật và 5 bộ. Còn Các cụ là tất cả chư Phật đều có đủ 5 trí. Đó là ý chỉ đặc biệt sâu xa Nhị nhi bất nhị, Tức li bất mậu(hai mà không hai, tức, lìa không lầm) của Mật giáo.[X. kinh Đại bi không trí kim cương đại giáo vương nghi quĩ Q.2; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu; Lược thuật kim cương đính du già phân biệt thánh vị pháp môn; Kim cương đính kinh nhất tự đính luân vương du già nhất thiết thời xứ niệm Phật thành Phật nghi quĩ; Tức thân thành Phật nghĩa].II. Ngũ Trí. Chỉ cho 5 thứ trí mà đức Phật đã chứng được nói đến trong kinh Vô lượng thọ quyển hạ và trong Lược luận an lạc tịnh độ nghĩa.Đó là: 1. Phật trí: Gọi chung tất cả trí của Phật.2. Bất tư nghị trí: Trí Phật không thể nghĩ bàn, có thể lấy ít làm nhiều, lấy gần làm xa, lấy nhẹ làm nặng, lấy dài làm ngắn và ngược lại.3. Bất khả xưng trí: Trí Phật dứt bặt nói năng, không phải tướng chẳng phải hình, vượt ngoài đối đãi.4. Đại thừa quảng trí: Trí Phật biết tất cả, dứt sạch phiền não, đầy đủ thiện pháp, độ hết chúng sinh.5. Vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí: Trí Phật chân thực chẳng hư dối, được Tam muội như thực, thường ở trong định mà chiếu soi khắp muôn pháp, không có gì so sánh được, không thể suy lường được.Vô lượng thọ kinh tông yếu (bản 2 quyển) phối hợp Bất tư nghị trí với Thành sở tác trí, phối hợp Bất khả xưng trí với Diệu quan sát trí, phối hợp Đại thừa quảng trí với Bình đẳng tính trí và phối hợp Vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí với Đại viên kính trí.[X. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.hạ (Tuệ viễn); Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Cát tạng); Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.hạ].III. Ngũ Trí.Năm thứ trí do bậc Thánh chứng được nói trong luận Thành thực quyển 16:1. Pháp trụ trí: Trí biết rõ các pháp sinh khởi.2. Nê hoàn trí: Trí biết rõ các pháp diệt hết.3. Vô tránh trí: Trí không tranh cãi với người khác.4. Nguyện trí: Trí ở trong các pháp không bị chướng ngại.5. Biên tế trí: Trí tối thượng, được sức tự tại đối với sự thêm bớt của mệnh sống.
ngũ trí chân ngôn
(五智真言) Chân ngôn biểu thị Ngũ trí ngũ Phật của Kim cương giới, tức là chủng tử của 5 đức Phật: (vaô), (hùô), (trà#), (hrì#) và (a#), theo thứ tự là chân ngôn của 5 đức Phật: Đại nhật, A súc, Bảo sinh, Di đà và Bất không thành tựu thuộc Phật bộ. Giống với Ngũ trí chân ngôn của 5 vị Đại hư không tạng thuộc Bảo bộ.[X. phẩm Kim cương cát tường thành tựu trong kinh Du kì; kinh Lược xuất Q.1].
Ngũ Trí Như Lai
(五智如來): xem Ngũ Phật (五佛) bên trên.
; 五智如來; C: wǔzhì rúlái; J: gochi nyorai;|Năm vị Phật hiện thân của 5 dạng trí huệ khác nhau: 1. Đại Nhật Như Lai (s: ma-hāvairocana), hiện thân cho trí tuệ viên mãn từ thể tính của pháp giới (Pháp giới thể tính trí 法界體性智); 2. A-súc Như Lai (s: akṣobhya), hiện thân của Đại viên kính trí (大圓鏡智); 3. Bảo Sinh Như Lai (s: ratna-saṃbhāva), hiện thân của Bình đẳng tính trí (平等性智); 4. A-di-đà Như Lai (s: amitābha), hiện thân của Diệu quan sát trí (妙觀察智); 5. Bất Không Thành Tựu Như Lai hay Thích-ca Mâu-ni Như Lai hiện thân của Thành sở tác trí (成所作智). Xem thêm Ngũ Phật (五佛).
ngũ trí như lai
(五智如來) Mật giáo phối hợp 5 trí với 5 đức Phật, gọi là Ngũ trí Như lai. Đó là:1. Đại nhật Như lai: An vị ở chính giữa, đầy đủ trí Pháp giới thể tính.2. A súc Như lai: An vị ở phương Đông, đầy đủ trí Đại viên kính.3. Bảo sinh Như lai: An vị ở phương Nam, đầy đủ trí Bình đẳng tính.4. A di đà Như lai: An vị ở phương Tây, đầy đủ trí Diệu quan sát.5. Bất không thành tựu Như lai: An vị ở phương Bắc, đầy đủ trí Thành sở tác.[X. luận Bồ đề tâm]. (xt. Ngũ Trí).
Ngũ Trí Phật
五智佛; C: wǔzhì fó; J: gochi butsu;|Ngũ Phật.
ngũ trí tam thân
(五智三身) Năm trí của đức Đại nhật Như lai, mỗi trí đều sinh đủ thân 3 Phật, Bồ tát và Kim cương, như:1. Pháp giới thể tính trí: Thân nghiệp là Phật Tì lô giá na, khẩu nghiệp là bồ tát Phổ hiền và ý nghiệp là Bất động kim cương.2. Đại viên kính trí: Thân nghiệp là Phật A súc, khẩu nghiệp là bồ tát Văn thù sư lợi và ý nghiệp là Hàng tam thế kim cương.3. Bình đẳng tính trí: Thân nghiệp là Phật Bảo sinh, khẩu nghiệp là bồ tát Hư không tạng và ý nghiệp là Quân đồ lợi kim cương.4. Diệu quan sát trí: Thân nghiệp là Phật A di đà, khẩu nghiệp là bồ tát Quán tự tại và ý nghiệp là Lục túc kim cương.5. Thành sở tác trí: Thân nghiệp là Phật Thích ca hoặc Phật Bất không thành tựu, khẩu nghiệp là bồ tát Kim cương nghiệp và ý nghiệp là Ma ha dược xoa kim cương. [X. kinh Liên hoa tam muội; Thập trụ tâm quảng danh mục Q.6].
Ngũ trí Tam-muội
Theo đức Phật giảng giải trong kinh Đại Bát Niết-bàn này ở quyển 31 (trang 76, Tập 6) thì Ngũ trí Tam-muội gồm: 1. Tam-muội Vô thực, 2. Tam-muội Vô quá, 3. Tam-muội Thân ý thanh tịnh nhất tâm, 4. Tam-muội Nhân quả câu lạc, 5. Tam-muội Thường niệm. Năm phép tam-muội này giúp sanh khởi trí tuệ, nên tùy theo mức độ phá trừ phiền não cũng được giảng giải thành năm bậc như sau: 1. Sơ trí: Hành giả khi tu tập nếu khởi sanh phiền não, liền ngay khi ấy khởi sanh trí tuệ dứt trừ phiền não, làm cho tâm định được thanh tịnh như bậc thánh. 2. Đệ nhị trí: Tâm được thanh tịnh như bậc thánh, tự biết đó không phải là chỗ phàm phu có thể đạt được, mà là chỗ hàng trí giả ngợi khen xưng tán. Vì đạt được trí tuệ của bậc thánh, không gọi là phàm phu. Phân biệt như vậy phá được giả danh, gọi là đệ nhị trí. 3. Đệ tam trí: Dứt trừ hết thảy phiền não tham ái nên gọi là tịch diệt. Vì tịch diệt nên đạt đên sự nhiệm mầu. Lìa các phiền não nên gọi là xa lìa. Đạt được trí này thì lìa xa cõi dục, gọi là đệ tam trí. 4. Đệ tứ trí: Tùy sự chứng đắc dứt trừ phiền não mà được an ổn tịch diệt, lìa xa sự vui thế tục nên gọi là hiện tại an vui, về sau cũng an vui. Hiện tại an vui là cái vui dứt trừ phiền não; về sau an vui là cái vui Niết-bàn. Đó gọi là đệ tứ trí. 5. Đệ ngũ trí: Hành giả thường thực hành tâm vô tướng, đạt được sự nhất tâm xuất định nhập định, gọi là đệ ngũ trí. Chứng đắc năm trí này tức là chứng quả Tam-muội, nên gọi là Ngũ trí Tam-muội. Lại theo Niết-bàn kinh sớ giải dẫn Thành luận quyển 6, phẩm Ngũ trí, thì Ngũ trí này gồm: 1. Pháp trụ trí (法住智): rõ biết sự sanh khởi của tất cả các pháp; 2. Nê-hoàn trí (泥洹智): rõ biết sự diệt mất của tất cả các pháp; 3. Vô tranh trí (無諍智): rõ biết lẽ chân thật không còn phải tranh cãi, biện luận với bất cứ ai; 4. Nguyện trí (願智): đối với tất cả các pháp không còn có sự chướng ngại; 5. Biên tế trí (邊際智): đạt được trí tuệ tối thượng, đối với tất cả các pháp thiền định đều có thể tu tập tăng trưởng, được sức tự tại.
ngũ trí ấn
(五智印) I. Ngũ Trí Ấn.Năm trí ấn. Theo Kim cương đính nghĩa quyết thì 5 trí ấn là:1. Kim cương trí ấn: (hùô).2. Bảo trí ấn: (trà#).3. Pháp luân trí ấn: (hrì#).4. Yết ma trí ấn: (a#).5. Nhất thiết Như lai pháp giới trí ấn: (vaô).II. Ngũ Trí Ấn. Tên gọi khác của ấn Ngũ cổ. (xt. Ngũ Cổ Ấn).
Ngũ trùng duy thức
五重唯識; C: wǔzhòng wéishì; J: gojū yuishiki;|Năm cấp độ lĩnh hội nguyên lí Duy thức. Đo là năm sự phân loại theo trình độ thể nhập giáo lí Duy thức từ cạn đến sâu. Đo là: 1. Khiển hư tồn thật thức (遣虚存實識); 2. Xả lạm lưu thuần thức (捨濫留純識); 3. Nhiếp mạt quy bản thức (攝末歸本識); 4. Ẩn liệt hiển thắng thức (隱劣顯勝識); 5. Khiển tướng chứng tính thức (遣相證性識). Đây là giáo lí Ngũ trùng duy thức do sư Khuy Cơ (窺基) trình bày trong Đại thừa pháp viên nghĩa lâm chương (大乘法圓義林章). Trong tác phẩm nầy, khi phân chia giữa nhận thức chủ quan và thế giới khách quan thì 100 pháp thuộc về thế giới khách quan, trong khi Ngũ trùng duy thức được xem như là thể tính của nhận thức chủ quan.
ngũ trùng duy thức
(五重唯識) Cũng gọi Ngũ trùng duy thức quán. Năm lớp quán về Duy thức theo thứ tự từ cạn đến sâu, từ thô đến tế do ngài Khuy cơ thuộc tông Pháp tướng sáng lập. Năm lớp quán ấy là: 1. Khiển hư tồn thực thức: Khiển là loại bỏ, tức phủ định. Trong ba tính, Biến kế sở chấp là hư dối, thể và dụng đều không có, cho nên cần loại bỏ(khiển hư); lấy Y tha, Viên thành làm thể tướng và thực tính của các pháp, vì 2 tính này là chân thực, cho nên giữ lại(tồn thực), đồng thời quán 2 tính này là do thức hiển hiện. 2. Xả lạm lưu thuần thức: Bỏ cái tạp nhạp, giữ cái thuần túy. Ở lớp quán thứ 1, sự Y tha và lí Viên thành tuy không lìa thức, nhưng trong thức vẫn còn cảnh khách quan (Tướng phần)và tâm chủ quan(Kiến phần, Tự chứng phần), tâm chỉ có bên trong, cảnh thì thông cả bên ngoài, vì sợ Tướng phần bên trong và cảnh tượng ngoài tâm lẫn lộn, không thể đạt đến chính quán, nên phải bỏ cảnh giữ tâm. 3. Nhiếp mạt qui bản thức: Thu ngọn về gốc. Ở lớp quán thứ 2 tuy đã lìa bỏ cảnh tượng hỗn tạp do tâm và cảnh đối đãi tạo ra, nhưng tâm pháp được giữ lại vẫn có gốc của tự thể thức (Tự chứng phần) và ngọn của tác dụng (Kiến và Tướng phần) khác nhau. Vì ngọn mà lìa gốc thì không tồn tại, cho nên phải thu ngọn về gốc.4. Ẩn liệt hiển thắng thức: Ẩn giấu cái yếu kém, hiển bày cái mạnh mẽ. Tự thể của tâm sở và tâm vương tuy giống nhau ở chỗ Kiến phần và Tướng phần biến hiện làm năng duyên và sở duyên, nhưng tâm sở vốn bị phụ thuộc vào tâm vương nên tác dụng rất yếu kém, vì thế phải ẩn giấu tâm sở yếu kém và hiển bày tâm vương mạnh mẽ.5. Khiển tướng chứng tính thức: Bỏ tướng chứng tính. Ở lớp thứ 4, tuy đã hiển bày tâm vương tồn tại, nhưng tâm vương có Sự và Lí khác nhau(Sự là tướng dụng của Y tha khởi, Lí là tính thể của Viên thành thực), vì thế phải loại bỏ tướng dụng của Y tha mà chứng vào thực tính của Viên thành. Trên đây là nói về tâm vương, nếu đứng trên quan điểm chung mà nhận xét, thì về mặt Sự và Lí của 5 pháp: Tâm vương, tâm sở, sắc pháp, bất tương ứng hành pháp và chân như thì cũng cần bỏ 4 lớp trước mà chứng vào lớp thứ 5. Lại nữa, mục đích mà 5 lớp quán trên đây nhắm tới là nói rõ cái thứ tự ngộ nhập 3 tính, vì thế, nếu lìa 3 tính thì pháp quán không tồn tại. Ngoài ra, lớp thứ 1 là Tổng quán (quán chung), 4 lớp sau là Biệt quán (quán riêng). Bốn lớp trước thuộc về Tướng duy thức, quán thức hiện tượng, là pháp tu của giai vị tiền Kiến đạo; lớp thứ 5 thuộc về Tính duy thức, quán duy thức chân như, là pháp tu của giai vị hậu Kiến đạo.[X. Bát nhã tâm kinh u tán Q.thượng; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1, phần đầu; Duy thức nghĩa chương Q.1, phần cuối, Q.2, phần đầu; Đại thừapháp tướng tông danh mục Q.5].
ngũ trùng huyền nghĩa
(五重玄義) Cũng gọi Ngũ trùng huyền đàm, Ngũ trùng huyền, Ngũ huyền, Ngũ chương. Năm cách giải thích ý nghĩa sâu xa của các kinh do ngài Trí khải thuộc tông Thiên thai đặt ra. Đó là:1. Thích danh: Giải thích tên bộ kinh.2. Biện thể: Nói rõ về thể tính mà bộ kinh ấy tuyên thuyết, như Pháp hoa lấy Thức tướng trung đạo làm diệu thể sở thuyên của toàn bộ kinh.3. Minh tông: Bàn rõ về tông chỉ của bộ kinh.4. Luận dụng: Luận về công dụng của bộ kinh.5. Phán giáo, cũng gọi Phán giáo tướng. Phân lập giáo tướng để định giá trị của bộ kinh.Cách giải thích trên đây được ứng dụng trong các tác phẩm của ngài Trí khải như: Pháp hoa huyền nghĩa; Duy ma kinh huyền sớ; Kim quang minh kinh huyền nghĩa; Nhân vương kinh sớ; Kim cương bát nhã kinh sớ, Quan âm huyền nghĩa...[X. A di đà kinh nghĩa kí; Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ; Huyền nghĩa tư loại tụ Q.1, 4; Pháp hoa lược nghĩa kiến văn Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa giảng thuật Q.1]. (xt. Pháp Hoa Ngũ Trùng Huyền Nghĩa).
ngũ trùng niệm phật
(五重念佛) I. Ngũ Trùng Niệm Phật. Năm pháp môn niệm Phật được nêu trong bộ Hoa nghiêm đại sớ sao quyển 62. Tức là:1. Xưng danh vãng sinh niệm Phật môn: Miệng xưng niệm danh hiệu của Phật cầu được vãng sinh.2. Quán tướng diệt tội niệm Phật môn: Quán tưởng sắc tướng của Phật để cầu diệt trừ tội lỗi.3. Nhiếp cảnh duy tâm niệm Phật môn: Quán xét muôn pháp chỉ do 1 tâm tạo ra. 4. Tâm cảnh vô ngại niệm Phật môn: Tâm năng quán và cảnh sở quán dung hòa nhau không ngăn ngại. 5. Duyên khởi viên thông niệm Phật môn: Quán pháp giới là 1 tướng, dứt bặt tâm cảnh, pháp tính tự duyên chứ chẳng phải tùy duyên, tự tính dung thông chứ chẳng phải cái này cái kia dung nhập lẫn nhau. Trong 5 môn trên, 2 môn trước thuộc sự niệm Phật, còn 3 môn sau thì thuộc về lí niệm Phật.II. Ngũ Trùng Niệm Phật. Năm pháp môn phương tiện niệm Phật do Đại sư Trí khải lập ra. Đó là:1. Xưng danh vãng sinh niệm Phật tam muội môn. 2. Quán tướng diệt tội niệm Phật tam muội môn.3. Chư cảnh duy tâm niệm Phật tam muội môn.4. Tâm cảnh câu li niệm Phật tam muội môn.5. Tính khởi viên thông niệm Phật tam muội môn.
ngũ trùng tháp
(五重塔) Cũng gọi Ngũ tằng phù đồ, Ngũ tằng pháp, Ngũ cấp tháp. Tháp 5 tầng, trên nóc tháp có đặt tướng luân. Ở Ấn độ từ xưa đã có kiến trúc kiểu tháp này. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 53 và Lạc dương già lam kí quyển 2, thì ở Trung quốc từ đời Đông Tấn về sau đã thịnh hành việc xây kiểu tháp 5 tầng này và hiện nay còn lại rất nhiều.[X. kinh Đà la ni tập Q.2; Quảng hoằng minh tập Q.2; Lạc dương già lam kí Q.1; Pháp uyển châu lâm Q.38].
ngũ trùng thế giới
(五重世界) Sự thành lập 1 thế giới Phật được xếp theo thứ tự 5 lớp. Tức là: Nhất thế giới, Nhất thế giới tính, Nhất thế giới hải, Nhất thế giới chủng và Nhất Phật thế giới. Trong đó, thế giới tính thứ 2, luận Đại trí độ gọi là Nhất Phật thế giới. Còn Quán chú ngũ giáo chương quyển hạ, phần 4, thì căn cứ theo thứ tự Thập trùng thế giới nói trong kinh Hoa nghiêm (bản dịchcũ) mà gọi đó là Thế giới tính.[X. kinh Hoa nghiêm Q.56 (bản dịch cũ); luận Đại trí độ Q.50; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.1, phần cuối; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; luận Chương sở tri Q.thượng; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.52].
ngũ trùng tương truyền
(五重相傳) Cũng gọi Ngũ trùng huyết mạch, Ngũ trùng. Năm lớp truyền pháp, là nghi thức truyền pháp của tông Tịnh độ Nhật bản. Tức dùng thứ tự 5 lớp truyền thừa tông nghĩa, đồng thời trao truyền 5 phần huyết mạch. Tương truyền, nghi thức này đầu tiên do ngài Thanh cương truyền cho ngài Thánh thông vào năm Minh đức thứ 4 (1393). Đối tượng vốn là chúng xuất gia (học tượng tương thừa), nhưng về sau chúng tại gia cũng được truyền trao 5 lớp kết duyên (Hóa tha ngũ trùng). Cũng có chỗ gọi phương thức thầy trò truyền pháp này là Dự hiệu, Liên xã hiệu, A hiệu...
ngũ trùng tương đối
(五重相對) Cũng gọi Ngũ trùng giáo tướng, Ngũ đoạn tương đối, Ngũ đoạn tương truyền. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Năm cặp đối nhau, là từ ngữ được sử dụng trong Ngũ cương phán giáo của tông Nhật liên. Đó là:1. Nội ngoại tương đối: Phật giáo và ngoại đạo.2. Đại tiểu tương đối: Đại thừa và Tiểu thừa. 3. Quyền thực tương đối: Thực giáo của kinh Pháp hoa và Quyền giáo trong các kinh khác. 4. Bản tích tương đối: Bản môn và Tích môn của kinh Pháp hoa. 5. Giáo quán tương đối: Giáo tướng được hiển bày trên văn kinh và tâm quán được hiển bày trong nghĩa văn.
ngũ trùng vân
(五重雲) Năm lớp mây, ví dụ cho 5 chướng của người đàn bà. Thân người đàn bà có 5 cái chướng ngại, đó là: Không thể trở thành Phạm thiên vương, Đế thích, Ma vương, Chuyển luân thánh vương và Phật. Vì 5 chướng này được ví dụ như những đám mây dày đặc che lấp nên gọi là Ngũ trùng vân. [X. kinh Trung a hàm Q.28; luận Đại tríđộ Q.9].
Ngũ Trược
(s: pañca kaṣāyāḥ, p: pañcā kasāyā, 五濁): còn gọi là Ngũ Chỉ (五滓), tức trong thời Giảm Kiếp (減刼, thời kỳ thọ mạng của chúng sanh giảm xuống dần) sẽ sanh khởi 5 loại nhơ bẩn hay điều không tốt lành. Theo Kinh Bi Hoa (悲華經) quyển 5, Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林) quyển 98, Ngũ Trược gồm (1) Kiếp Trược (s: kalpa-kaṣāya, 刼濁): vào thời Giảm Kiếp, khi thọ mạng của chúng sanh giảm xuống còn 30 tuổi thì sẽ sanh ra nạn đói, giảm đến 20 tuổi thì sẽ có bệnh dịch hoành hành, đến 10 tuổi thì xảy ra nạn đao binh, làm cho tất cả chúng sanh thảy đều bị tai hại. (2) Kiến Trược (s: dṛṣṭi-kaṣāya, 見濁): khi chánh pháp đã diệt, tượng pháp xuất hiện, tà pháp chuyển sanh, tà kiến tăng trưởng mạnh và khiến cho mọi người không còn tu theo con đường lành nữa. (3) Phiền Não Trược (s: kleṣa-kaṣāya, 煩惱濁): chúng sanh có nhiều ái dục, bỏn xẻn, keo kiệt, đấu tranh lẫn nhau, ăn chơi trác táng, thọ nhận các tà pháp và làm cho tâm thần bị não loạn. (4) Chúng Sanh Trược (s: sattva-kaṣāya, 眾生濁): còn gọi là Hữu Tình Trược (有情濁), chúng sanh có nhiều điều xấu ác, tệ hại, không hiếu kính cha mẹ, tôn trưởng, không biết sợ nghiệp quả báo, không làm việc phước thiện công đức, không tu hạnh bố thí trí tuệ cũng như ăn chay, không giữ gìn các giới cấm, v.v. (5) Mạng Trược (s: āyu-kaṣāya, 命濁): hay còn gọi là Thọ Trược (壽濁), từ ngàn xưa thọ mạng con người là 80.000 tuổi, thời nay do vì ác nghiệp tăng trưởng nhiều, cho nên tuổi thọ giảm dần, vì vậy người thọ 100 tuổi rất hiếm có. Như vậy, trong Ngũ Trược, Kiếp Trược là chung và bốn loại kia là riêng Như trong A Di Đà Kinh (阿彌陀經) có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni Phật, năng vi thậm nan hy hữu chi sự, năng ư Ta Bà quốc độ ngũ trược ác thế, kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (釋迦牟尼佛、能爲甚難希有之事、能於娑婆國土五濁惡世、劫濁、見濁、煩惱濁、眾生濁、命濁中、得阿耨多羅三藐三菩提, Phật thích ca mâu ni có thể làm những việc rất khó khăn hiếm có, có thể nơi quốc độ Ta Bà có năm món trược, gồm kiếp trược, kiến trược, chúng sanh trược, mạng trược, mà chứng quả giải thoát hoàn toàn).” Hay trong bài Lô Sơn Huệ Viễn Pháp Sư Lụy (廬山慧遠法師誄) của Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) nhà Tống, thời Nam Triều có câu: “Linh thanh tục chấn, Ngũ Trược tạm long (令聲續振、五濁暫隆, khiến cho thanh danh mãi chấn đông, Ngũ Trược tạm thời ngừng phát triển).” Hoặc trong bài Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Tràng Tán (佛頂尊勝陀羅尼幢贊) của Độc Cô Cập (獨孤及, 725-777) nhà Đường cũng có câu: “Mang mang Ngũ Trược, khách trần phú chi (茫茫五濁、客塵覆之, mịt mờ Năm Trược, khách trần lấp che).” Hơn nữa, trong bài tựa của Kinh Lăng Nghiêm (楞嚴經) cũng có đoạn: “Phục thỉnh thế tôn vị chứng minh, Ngũ Trược ác thế thệ tiên nhập, như nhất chúng sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ Nê Hoàn (伏請世尊爲證明、五濁惡世誓先入、如一眾生未成佛、終不於此取泥洹, cúi xin Thế Tôn chứng minh cho, đời ác Năm Trược thề vào trước, nếu một chúng sanh chưa thành Phật, trọn không nơi đây nhập Niết Bàn).”
Ngũ trược
濁|Ngũ trọc.
ngũ trược
Five defilements, Five turbidities, Five defilements, Paca-kaṣāyaḥ (S), Ājiva-kaṣāyaḥ (S).Ngũ trọc (1) Kiếp trược (2) Kiến trược (3) Phiền não trược (4) Chúng sanh trược (5) Mệnh trược.
Ngũ trần
五塵; C: wǔchén; J: gojin;|Đối tượng của 5 giác quan: màu sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm và xúc chạm. Gọi là »trần« vì nó làm ô nhiễm 5 thức. Xem thêm Ngũ cảnh (五境).
ngũ trần
The objects of the five senses which being dusty or earthly things can taint the true nature.
Ngũ trọc
五濁; C: wǔzhuó; J: gotaku; S: pañcakaṣāya; cũng đọc là Ngũ trược; |Danh từ Hán Việt dùng để chỉ những thứ nhơ bẩn cặn đục (Hán: trọc) dấy lên trong một Kiếp suy giảm. Ngũ trọc bao gồm: |1. Kiếp trọc (劫濁; s: kalpakaṣāya): nhiều căn bệnh dấy lên, nạn đói hoành hành, chiến tranh mọi nơi…; 2. Kiến trọc (見濁; s: dṛṣṭikaṣāya): tà kiến thịnh hành; 3. Phiền não trọc (煩惱濁; s: kleśakaṣāya): chúng sinh có nhiều tham dục, tâm thần phiền loạn; 4. Chúng sinh trọc (眾生濁; s: sattva-kaṣāya): chúng sinh không tuân theo luân lí, không sợ quả báo…; 5. Mệnh trọc (命濁; s: āyuskaṣāya): thọ mệnh của con người ngắn dần.
ngũ trọc
Xem Ngũ trược.
; (五濁) Phạm: Paĩca kawàyà. Cũng gọi Ngũ trỉ. Chỉ cho 5 thứ cặn đục nổi lên trong kiếp giảm(thời đại mà tuổi thọ con người rút ngắn dần).Cứ theo kinh Bi hoa quyển 5 và Pháp uyển châu lâm quyển 98, thì Ngũ trược là:1. Kiếp trược (Phạm: Kalpa-kawàya). Trong thời kiếp giảm, khi tuổi thọ con người giảm xuống còn 30 tuổi thì nạn đói kém xảy ra, lúc còn 20 tuổi thì nạn bệnh dịch xảy ra và lúc còn 10 tuổi thì nạn binh đao nổi dậy, chúng sinh trong thế giới thảy đều bị hại. 2. Kiến trược (Phạm:Dfwỉi-kawàya). Chính pháp diệt rồi, Tượng pháp dần dần xuất hiện, tà pháp bắt đầu sinh, tà kiến tăng mạnh, khiến con người không tu pháp lành. 3. Phiền não trược (Phạm: Klezakawàya). Chúng sinh nhiều ái dục, tham lam, bỏn sẻn, tranh đua, nịnh hót, lừa gạt, tiếp nhận các pháp tà, làm cho tâm thần bị não loạn.4. Chúng sinh trược (Phạm: Sattvakawàya), cũng gọi Hữu tình trược. Chúng sinh phần nhiều tồi tệ, xấu xa, không hiếu kính cha mẹ, người lớn tuổi, không sợ quả báo ác, không tạo công đức, không tu tuệ thí, chẳng giữ trai giới.5. Mệnh trược(Phạm:Àyu-kawàya), cũng gọi Thọ trược. Đời xưa con người thọ 8 vạn tuổi, đời nay do nghiệp ác tăng mạnh nên tuổi thọ giảm dần, hiếm người sống được trăm tuổi. Trong 5 trược thì Kiếp trược là Tổng (chung), 4 trược còn lại là Biệt (riêng). Lại trong 4 trược thì Kiến trược và Phiền não trược là tự thể mà tạo thành Chúng sinh trược và Mệnh trược. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 4, phần cuối, thì Kiếp trược không có thể riêng, kiếp là thời gian dài, sát na là thời gian ngắn, gom chung 4 trược mà thành lập giả danh Kiếp trược. Chúng sinh trược cũng không có thể riêng, nhìn chung từ quả báo của Mạn mà lập giả danh Chúng sinh trược. Phiền não trược lấy Ngũ độn sử làm thể, Kiến trược lấy Ngũ lợi sử làm thể, Mệnh trược lấy sự giữ gìn sắc tâm liên tục làm thể. Trong đó, Kiến trược và Phiền não trược là nhân, Mệnh trược là quả, còn Chúng sinh trược thì là người gieo nhân được quả. Cứ theo kinh Bi hoa, con người thọ từ 8 vạn tuổi giảm dần xuống còn 2 vạn tuổi thì Ngũ trược bắt đầu sinh khởi; lúc đó, thế giới hiện thực đầy dẫy phiền não khổ đau, gọi là Ngũ trược ác thế, cũng gọi Trược ác thế, Trược thế. Mới đầu, 5 trược tương đối nhỏ nhẹ, rồi dần dần tùy theo sự biến hóa của thời đại mà 5 trược tăng mạnh, gọi là Ngũ trược tăng thời. [X. kinh Tạp a hàm Q.32; kinh A di đà, kinh Bi hoa Q.2; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.21; kinh Văn thù sư lợi vấn Q.hạ; luận Thuận chính lí Q.32; luận Câu xá Q.12; Chú duy ma cật kinh Q.3; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.3; kinh Bồ tát địa trì Q.7; Hoa nghiêm kinh khổng mục hương .2].
ngũ trọc, trược
Pancakasàya (S) The five periods of turbidity, impurity, or chaos, i.e. of decay: (1) Kiếp trọc, kalpa kasàya, the kalpa in decay, when it suffers deterioration and gives rise to the ensuing form; (2) Kiến trọc, drsti kàsaya, deterioration of view egoism, etc.; (3) Phiền não trọc, klesa kàsaya, the passions and delusion of desire, anger, stupidity, pride and doubt prevail; (4) Chúng sinh trọc, sattva kàsaya, human miseries increase and happiness decrease; (5) Mệnh trọc, àjìva kàsaya, human life t ime gradually diminishes.
Ngũ trụ Bồ Tát
vị Bồ Tát trụ ở địa vị thứ năm trong Thập trụ của hàng Bồ Tát. Thập trụ chỉ mười địa vị tu chứng mà vị Bồ Tát lần lượt trải qua trước khi đạt được quả vị Phật, vì thế có thể xem như tương đương với Thập địa. Kinh luận đề cập đến mười địa vị này không hoàn toàn giống nhau, nhưng tựu trung đều là để tạm hình dung được con đường tu tập mà vị Bồ Tát phải trải qua. Địa vị thứ năm ở đây có thể là Phương tiện cụ túc trụ, tương đương với Cực nan thắng địa trong hệ thống Thập địa. Tuy có sự khác biệt về tên gọi, nhưng tất cả các kinh luận đều thống nhất trong cách mô tả về mười địa vị của Bồ Tát. Theo đó, từ địa vị thứ sáu trở lên Bồ Tát không còn chịu sự ràng buộc của sanh tử, có thể hoàn toàn tự do tự tại trong việc hóa thân độ sanh tùy ý muốn.
ngũ trụ địa hoặc
(五住地惑) Cũng gọi Ngũ trụ địa phiền não. Chỉ cho 5 phiền não: Kiến nhất xứ trụ địa, Dục ái trụ địa, Sắc ái trụ địa, Hữu ái trụ địa và Vô minh trụ địa. Vì 5 thứ phiền não này là chỗ nương tựa, chỗ cư trú của hết thảy phiền não và lại hay sinh ra các phiền não khác, cho nên gọi là Trụ địa. Đại thừa nghĩa chương quyển 5, phần đầu, giải thích về Ngũ trụ địa hoặc như sau:1. Kiến nhất xứ trụ địa: Kiến hoặc trong 3 cõi như Thân kiến v.v..., lúc vào giai vị Kiến đạo thì cùng dứt hết 1 lượt.2. Dục ái trụ địa: Trong các phiền não ở cõi Dục, ngoại trừ Kiến và Vô minh, còn tất cả phiền não đều do đắm trước cảnh năm dục: Sắc, thanh, hương, vị, xúc mà sinh.3. Sắc ái trụ địa: Trong các phiền não ở cõi Sắc, ngoại trừ Kiến và Vô minh, còn tất cả phiền não đều do tham đắm sắc thân của chính mình mà sinh.4. Hữu ái trụ địa: Trong các phiền não ở cõi Vô sắc, ngoại trừ Kiến và Vô minh, những phiền não còn lại đều do thương yêu đắm đuối thân mình mà sinh.5. Vô minh trụ địa: Tất cả vô minh trong 3 cõi. Vô minh là tâm mê ám, thể của nó tối tăm, là cội gốc của hết thảy phiền não. Trong 5 trụ địa hoặc trên đây, tông Duy thức cho rằng 4 trụ địa trước là hạt giống của phiền não chướng, còn trụ địa sau cùng là hạt giống của sở tri chướng. Tông Thiên thai thì cho Kiến nhất xứ trụ địa là Kiến hoặc, trụ địa thứ 2, 3, 4 là Tư hoặc của 3 cõi, gọi chung là Hoặc kiến tư của giới nội. Hàng Nhị thừa dứt hết 4 trụ địa này thì ra khỏi 3 cõi. Còn Vô minh trụ địa là Hoặc của giới ngoại(ngoài 3 cõi). Căn cứ vào trụ địa này mà lập ra 42 phẩm tu hành khác nhau, qua 42 phẩm vị này thì dứt hết Vô minh, lìa 2 thứ sinh tử (phần đoạn và biến dịch), chứng được đại Niết bàn.[X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; luận Thành duy thức Q.8; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối; Thắng man kinh thuật kí Q.hạ; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5, phần đầu; Pháp hoa văn cú kí Q.2, phần cuối; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2, phần cuối].
ngũ tu di
(五須彌) I. Ngũ Tu Di. Năm núi Tu di, ví dụ sự rộng lớn của tướng lông trắng ở giữa 2 đầu chân mày của đức Phật A di đà. Phần quán thân Phật trong kinh Quán vô lượng thọ Phật (Đại 12, 343 trung) nói: Tướng lông trắng giữa 2 chân mày của đức Phật A di đà uốn lượn xoay vòng bên phải như 5 tòa núi Tu di. Núi Tu di cao 336 vạn dặm, mỗi bề cũng rộng như vậy, mà tướng lông trắng của Phật A di đà còn rộng lớn gấp 5 lần như thế, cho nên gọi là Ngũ tu di chứ chẳng phải chỉ cho 5 tòa núi Tu di khác nhau. [X. Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.cuối (Tuệ viễn); Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ (Trí khải)]. II. Ngũ Tu Di. Ví dụ tâm ngã mạn, phiền não, vô minh của chúng sinh cao rộng không lường được, giống như 5 núi Tu di. (xt. Tứ Đại Hải).
ngũ tà mệnh
The five improper ways of gain or livelihood for a monk: (1) Trá hiện dị tướng, changing his appearance; (2) Tự thuyết công năng, advertising his own powers and virtue; (3) Chiêm tướng cát hung, fortune telling by physiognomy, etc.; (4) Cao thanh hiện oai, hectoring and bullying; (5) Thuyết sở đắc lợi dĩ động nhân tâm, praising the generosity of another to induce the hearer to bestow presents.
; (五邪命) Chỉ cho 5 việc trái với chính pháp mà vị tỉ khưu làm để mưu sinh. Đó là: 1. Giả hiện tướng khác lạ: Những tỉ khưu làm trái ngược với lời dạy chân chính của đức Phật, ở trước mắt người thế tục giả hiện tướng đặc biệt khác lạ, mong làm cho mọi người sinh lòng kính ngưỡng. 2. Tự khoe khoang tài năng của mình: Tỉ khưu dùng tài miệng lưỡi khen mình, chê người, mong được người khác kính ngưỡng. 3. Xem tướng tốt xấu: Tỉ khưu luyện tập tà thuật, xem tướng tốt xấu, bói toán lành dữ, khiến người ta tin tưởng mà cung phụng mình. 4. Cao giọng lớn tiếng, trá hiện uy nghi: Tỉ khưu nói lớn, giả dạng oai nghiêm để khiến người ta kính sợ. 5. Khoe lợi để khiến người động lòng: Tỉ khưu được lợi ở chỗ này, đưa đến nơi khác khoe khoang, mong người ta động tâm mà cúng dường. Năm việc trên đây đều là cách sinh sống không chính đáng. Những tỉ khưu chân chính nên thận trọng và tránh xa. [X. luận Đại trí độ Q.19]. NGŨ TÁC NGHIỆP CĂN Phạm: Paĩca karmendriyàịi. Cũng gọi Ngũ tác căn, Ngũ nghiệp căn, Ngũ nghiệp. Năm cỗi gốc tạo nên những hoạt động của chúng sinh. Tức là 5 đế, từ đế thứ 14 đến 18 trong 25 đế của Số luận, đó là: 1. Thiệt căn, cũng gọi Ngữ cụ, Khẩu thanh, có tác dụng nói năng. 2. Thủ căn (căn tay): Có tác dụng nắm giữ.3. Túc căn, cũng gọi Cước căn (căn chân): Có tác dụng bước đi. 4. Nam nữ căn, cũng gọi Nhân căn, Tiểu tiện xứ (bộ sinh dục của nam, nữ): Có tác dụng tính giao và sinh con. 5. Đại di căn, cũng gọi Đại tiện xứ(hậu môn): Có tác dụng loại bỏ phẩn uế. [X. kinh Niết bàn Q.35 (bản Nam), luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn; luận Kim thất thập Q.thượng, trung; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.6].
Ngũ Tài
(五材): 5 yếu tố hình thành nên vạn vật, gồm Kim (金), Mộc (木), Thủy (水), Hỏa (火) và Thổ (土). Bên cạnh đó, nó còn có nghĩa là 5 vật liệu để làm đồ thủ công, gồm kim (金, vàng), mộc (木, gỗ), bì (皮, thuộc da), ngọc (玉) và thổ (土, đất).
ngũ tác nghiệp căn
The five working organs: the mouth, hands, feet, sex organ, and anus.
ngũ táng
(五葬) Năm cách chôn cất xác người chết. Tùy theo tập tục của mỗi nơi mà có 5 cách táng như sau: Thổ tang (chôn), hỏa táng (đốt), thủy tang (thả xuống nước), dã tang (bỏ xác ngoài đồng hoang) và lâm tang (bỏ trong núi rừng cho chim thú ăn). (xt. Táng).
ngũ tánh
Five natures.
Ngũ Tánh Các Biệt
(五姓[性]各別, Goshōkakubetsu): chúng sanh có 5 loại tố chất (tánh) của nhân cách mang tính tôn giáo vốn đầy đủ tính tiên thiên và được chia làm 5 loại theo chủ trương của Duy Thức Pháp Tướng Tông. Tánh (姓、性) là từ gọi tắt của chủng tánh (種姓、種性). Năm loại tánh ấy gồm: (1) Thanh Văn Định Tánh (聲聞定性), (2) Độc Giác Định Tánh (獨覺定性), (3) Bồ Tát Định Tánh (菩薩定性), (4) Bất Định Tánh (不定性) và (5) Vô Chủng Tánh (無種性). Ba loại đầu, mỗi con đường tu hành và quả chứng ngộ đạt được là quyết định, không có thay đổi, nên được gọi là Quyết Định Tánh (決定性). Loại Bất Định Tánh thứ tư thì không dứt khoát và có thể thay đổi. Loại Vô Chủng Tánh thứ năm thì không thể nào đạt được chứng ngộ. Trong 5 loại kể trên, chỉ có loại thứ 3 và 4 mới mới có thể thành Phật. Đây là giáo nghĩa chủ trương của Duy Thức Pháp Tướng Tông. Chính giáo nghĩa này đã tạo nên điểm tương phản với quan niệm của Phật Giáo Đại Thừa là hết thảy chúng sanh đều thành Phật, từ đó gây nên sự luận tranh giữa các tông phái. Đặc biệt, tại Nhật Bản thì những luận tranh của Tối Trừng (最澄, Saichō), Đức Nhất (德一, Tokuitsu) và Ứng Hòa (應和, Ōwa) dưới thời Bình An (平安, Heian) là nổi tiếng nhất.
ngũ tâm
(五心) Năm thứ tâm theo thứ tự sinh khởi khi tâm thức nhận biết ngoại cảnh. Đó là: 1. Suất nhĩ tâm, cũng gọi Suất nhĩ đọa tâm. Suất nhĩ nghĩa là đột nhiên. Tức là tâm thình lình khởi lên trong sát na(tích tắc) đầu tiên khi thức mắt tiếp xúc với ngoại cảnh (đối tượng), chưa phân biệt thiện ác. 2. Tầm cầu tâm: Tâm muốn xét biết ngoại cảnh 1 cách rõ ràng, nên suy cầu tìm kiếm mà khởi lên kiến giải phân biệt. 3. Quyết định tâm: Khi tâm đã phân biệt được các đối tượng đã nhận biết, thì có thể quyết định thiện hay ác. 4. Nhiễm tịnh tâm: Tâm sinh khởi các tình cảm tốt xấu đối với ngoại cảnh. 5. Đẳng lưu tâm: Đối với các pháp thiện ác đã phân biệt nhiễm tịnh rồi, thì mỗi pháp đều tùy loại nối nhau không ngừng; đối với thiện pháp thì sinh ra tưởng thanh tịnh; đối với ác pháp thì sinh ra tưởng ô nhiễm, niệm niệm nối nhau, trước sau không khác. Trong 5 tâm trên thì tâm suất nhĩ thường chỉ khởi lên 1 niệm, còn 4 tâm kia thì thường là nhiều niệm tiếp nối nhau.
ngũ tân
(五辛) Tân, Phạm: Parivyaya; Tạng: Spod. Cũng gọi Ngũ huân ... Năm loại rau có vị cay nồng. Cứ theo kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 8, năm loại rau này, nếu ăn chín thì sinh tâm dâm, ăn sống thì tăng thêm tâm bực tức, vì thế những người cầu giác ngộ không được ăn 5 loại rau này. Về ngũ tân, có nhiều thuyết khác nhau, nhưng có thể tóm lại thành 2 thuyết: 1. Theo kinh Phạm võng quyển hạ, thì 5 loại rau cay nồng là: Hành, hẹ, tỏi, củ kiệu và hưng cừ (Trung quốc cũng như Việt nam không có loại rau này). 2. Theo Bồ tát giới nghĩa sớ quyển hạ, thì ngũ tân là: Tỏi, hành, hưng cừ, hẹ, củ kiệu...
ngũ tân, ngũ huân
The five condiments, i.e. garlic, leek, onion, shallot, and pimento. Tỏi, hành, hẹ, kiệu, nén.
Ngũ tình
五情; C: wǔqíng; J: gojō;|Năm loại tình thức tham luyến, sinh khởi khi tiếp xúc với 5 đối tượng của giác quan: sắc, thanh, hương, vị xúc (theo kinh Pháp Hoa 法華經).
ngũ tình
The feelings or passions which are stirred by the five senses.
; (五情) Chỉ cho 5 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân của chúng sinh. Vì 5 căn này hay sinh ra tình thức, cho nên gọi Ngũ tình. [X. luận Đại trí độ Q.17, 40].
ngũ tín lực
Xem Ngũ lực.
Ngũ tính
五性; C: wǔxìng; J: goshō; S: pañca-gotrāṇi.|Năm tính. Xem Ngũ tính các biệt (五性各別).
ngũ tính
The five different natures as grouped by the pháp tướng tông dharmalaksana sect: (1) thanh văn sràvakas; (2) duyên giác pratyeka-buddhas; (3) bồ tát bodhisattvas; (4) bất định indefinite; (5) ngoại đạo outsiders.
; (五姓) I. Ngũ Tính. Cũng gọi Ngũ chủng tính, Ngũ chủng chủng tính, Ngũ chủng thừa tính, Ngũ thừa chủng tính. Năm tính khác nhau của chúng sinh do chủng tử có sẵn(tiên thiên)trong thức A lại da quyết định mà không có cách nào thay đổi được. Đây là thuyết của tông Pháp tướng, gọi là Ngũ tính các biệt. Đó là: 1. Bồ tát định tính (Định tính Bồ tát). 2. Độc giác định tính (Định tính Độc giác). 3. Thanh văn định tính (Định tính Thanh văn).4. Tam thừa bất định tính (Bất định chủng tính).5. Vô tính hữu tình (Hữu tình không có tính).Trong đó, 3 tính đầu nhất định sẽ đạt được quả Phật, quả Bích chi phật hoặc quả A la hán (tính thứ 2 và thứ 3 gọi chung là Định tính nhị thừa). Tính thứ 4 là chủng tử vốn có của 3 bậc Thanh văn, Độc giác và Bồ tát, nên trước phải tu hạnh Nhị thừa rồi sau mới chuyển về Đại thừa mà chứng quả Phật. Nếu quả ấy chưa quyết định thì có 4 loại khác nhau: 1. Tam thừa. 2. Bồ tát, Độc giác. 3. Bồ tát, Thanh văn. 4. Độc giác, Thanh văn. Tính thứ 5 là vĩnh viễn đắm chìm trong cõi mê, không cách nào lìa được khổ, chỉ có thể tu 5 giới, làm 10 điều lành để gieo nhân sinh lên cõi trời và cõi người. Năm tính sai khác trên đây là căn cứ vào điều được nói trong kinh Lăng già quyển 2 và kinh Giải thâm mật quyển 2, vì thế có chỗ cho rằng thuyết Tất cả chúng sinh thảy đều thành Phật nói trong kinh Pháp hoa chỉ là pháp môn phương tiện khuyến khích chúng sinh Bất định tính chuyển về Đại thừa mà thôi. (xt. Nhất Xiển Đề, Ngũ Chủng Tính). II. Ngũ Tính. Chỉ cho 5 dòng họ của đức Phật, tức là: Cù đàm, Cam giá, Thích ca, Nhật chủng và Xá di. Vì Thích ca là 4 người con của vua Cam giá nên lập làm 4 họ, nhưng thực ra đều phát sinh từ Cù đàm. Cù đàm, Thích ca tên tuy khác nhưng họ chỉ là 1. Còn 2 họ Xá di và Thích ca thì phát sinh từ Cam giá, Cam giá phát sinh từ Cù đàm, đều là 1 họ trong dòng Sát đế lợi, cho nên chi nhánh thì nhiều mà nguồn gốc chỉ là một. (xt. Cam Giá Vương).
Ngũ tính các biệt
五性各別; C: wǔxìng gěbié; J: goshō kakubetsu;|Năm tính khác nhau. Giáo lí của Du-già hành phái (瑜伽行派) phân chia căn tính bản hữu của chúng sinh thành 5 loại, đó là: 1. Định tính Thanh Văn; 2. Định tính Duyên Giác; 3. Định tính Bồ Tát; 4. Bất định tính; 5. Vô chủng tính (Nhất-xiển-đề 一闡提; s: icchantika). Giáo lí nầy là một trong những điểm tranh luận của các tông phái bản xứ tại Đông Nam Á, như Hoa Nghiêm có nhiều điểm bất đồng với Du-già hành tông.
ngũ tính thành phật
(五性成佛) Năm tính thành Phật tùy theo chủng tính khác nhau của chúng sinh. Theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 2, 5 tính thành Phật là: 1. Bất định tính bán thành Phật: Tính bất định chỉ cho căn tính không nhất định. Nghĩa là người căn tính không nhất định, khi gần các bậc Thanh văn, Duyên giác thì tu tập pháp Thanh văn, Duyên giác, mà khi gần Bồ tát thì tùy thuận tu tập pháp Bồ tát. Người tu tập pháp Thanh văn, Duyên giác thì tham đắm quá nhỏ, không thích độ sinh, không cầu quả Phật nên không thành Phật. Người tu tập theo hạnh lợi sinh của Bồ tát thì cầu chứng bồ đề mà được thành Phật, nên gọi là Bất định tính bán thành Phật (tính bất định nên có thể thành Phật mà cũng có thể không thành Phật). 2. Vô chủng tính bất thành Phật: Người không có lòng tin, không gây nhân lành, phủ định lí nhân quả, không chịu sự giáo hóa, cam tâm chìm đắm trong sinh tử, không cần cầu giải thoát, nên gọi Vô chủng tính bất thành Phật(không có chủng tính thành Phật). 3. Thanh văn tính bất thành Phật: Căn tính Thanh văn chỉ tu tập pháp Tứ đế sinh diệt mà chứng được quả Niết bàn chân không, tham đắm nơi vắng lặng, sợ sinh tử, không thể phát khởi hạnh độ sinh để cầu Phật đạo, vì thế gọi là Thanh văn tính bất thành Phật (tính Thanh văn không thành Phật). 4. Duyên giác tính bất thành Phật: Căn tính Duyên giác chỉ quán pháp 12 nhân duyên mà chứng được quả Niết bàn chân không, vì cố chấp thiên không, không cầu Phật đạo, cho nên gọi là Duyên giác tính bất thành Phật (tính Duyên giác không thành Phật). 5. Bồ tát tính toàn thành Phật: Bồ tát tự giác, giác tha, vận dụng bi trí, xem kẻ oán người thân đều bình đẳng, tu tập các nhân, chứng quả Bồ đề, cho nên gọi Bồ tát tính toàn thành Phật. (xt. Ngũ Tính, Ngũ Chủng Tính).
Ngũ Tôn Phật
五尊佛; C: wǔzūn fó; J: goson butsu.|Ngũ Phật.
ngũ tông
Sau ngài Huệ Năng, Thiền tông Trung hoa chia làm 5 phái: Lâm tế, Vĩ ngưởng, Pháp nhãn, Tào động, Vân môn. Ngày nay phái Vĩ ngưỡng và Tào động không còn.
; (五宗) I. Ngũ Tông. Chỉ cho 5 tông Đại thừa: Tông Thiên thai, tông Hoa nghiêm, tông Pháp tướng, tông Tam luận và tông Luật. II. Ngũ Tông. Chỉ cho 5 tông phái Thiền: Tông Qui ngưỡng, tông Lâm tế, tông Tào động, tông Vân môn và tông Pháp nhãn. III. Ngũ Tông. Chỉ cho 5 tông do pháp sư Tự quĩ ở chùa Hộ thân đời Tề thành lập: Tông Nhân duyên, tông Giả danh, tông Bất chân, tông Chân thực và tông Pháp giới. (xt. Ngũ Tông Giáo).
ngũ tông giáo
(五宗教) Cũng gọi Ngũ giáo. Năm tông được chia loại theo giáo nghĩa và tôn chỉ trong các kinh, do ngài Tự quĩ ở chùa Hộ thân phán lập. Đó là: 1. Nhân duyên tông: Dùng lí 6 nhân 4 duyên để phá thuyết tà nhân, vô nhân sai trái của ngoại đạo. Đây là chỉ cho Nhất thiết hữu bộ, Tuyết sơn bộ, Đa văn bộ... 2. Giả danh tông: Chủ trương tất cả pháp hữu vi đều thuộc về giả tướng do nhân duyên sinh, không có thực thể, chỉ có giả danh tồn tại. Đây chỉ cho Kinh lượng bộ, Thuyết giả bộ, luận Thành thực... 3. Bất chân tông: Chủ trương hết thảy các pháp vốn hư dối, không có thể thực, nhưng vì chúng sinh chấp trước thực có nên phải dùng lí Không để phủ định. Đây là chỉ cho kinh Bát nhã, Tam luận... 4. Chân tông: Chân lí khẳng định tức không tức hữu là vĩnh viễn bất biến (pháp giới thường trụ), phổ biến tất cả (đều có Phật tính)... Đây là chỉ cho kinh Niết bàn.5. Pháp giới tông: Muôn sự muôn vật trong vũ trụ thảy đều chân thực, dung hợp lẫn nhau, tự do tự tại, không ngăn ngại nhau. Đây là chỉ cho kinh Hoa nghiêm. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.10, phần đầu; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.10, phần đầu; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Tứ giáo nghĩa Q.1].
ngũ tông nguyên
(五宗原) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hán nguyệt Pháp tạng soạn vào đời Minh, ấn hành vào niên hiệu Sùng trinh năm đầu (1538), được thu vào Vạn tục tạng tập 114. Ngài Hán nguyệt Pháp tạng phản đối việc tông Tào động xóa bỏ hết sạch tông chỉ của 5 nhà, chỉ truyền mỗi một việc đức Thích ca đưa cành hoa trong hội Linh sơn, nên phê bình chủ trương của tông Tào động là pháp chết, truyền kín trong thất và cho rằng từ thời đức Phật Uy âm đến nay, không 1 lời nào 1 pháp nào mà chẳng phải là phù ấn của tông chỉ 5 nhà. Vì sửa sai sự ngộ nhận của tông Tào động mà ngài Hán nguyệt soạn sách này. Sau khi sách được hoàn thành, ngài Mộc trần Đạo mân là pháp đệ của ngài Hán nguyệt, soạn Ngũ Tông Tịch .........quở trách ngài Hán nguyệt, còn đệ tử của ngài Hán nguyệt là Đàm cát Hoằng nhẫn thì soạn Ngũ Tông Cứu để bài bác ngài Mộc trần và cực lực bênh vực cho thầy mình. Ngoài ra, Thiền sư Mật vân Viên ngộ, thầy của ngài Hán nguyệt cho rằng Hán nguyệt là đệ tử danh lợi, nên cũng soạn Tịch Vọng Cứu Lược Thuyết , 10 quyển. Đến đời Thanh, Hoàng đế Ung chính cũng soạn Giản Ma Biện Dị Lục để phá bỏ Ngũ Tông Cứu của ngài Đàm cát. Nội dung sách này gồm 8 chương: Lâm tế tông, Lưỡng mạch hợp tông kí lai hữu cứ, Vân môn tông, Qui ngưỡng tông, Pháp nhãn tông, Tào động tông, Tổng kết, Truyền y pháp chú và có phần phụ lục lời tụng của tông Lâm tế.
ngũ tướng
(五相) I. Ngũ Tướng. Cũng gọi Ngũ suy. Năm tướng suy của những người cõi trời báo hiệu sắp hết tuổi thọ. Tức là: Áo xiêm dơ bẩn, hoa trên đầu héo úa, thân thể toát ra mùi hôi, dưới nách ra mồ hôi và không thích ngồi ở chỗ cũ. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.19]. (xt. Ngũ Suy).II. Ngũ Tướng. Năm tướng mà hành giả Mật giáo phải có đủ khi tu pháp quán thành tựu thân Bản tôn. Tức là thông suốt tâm bồ đề, tu tâm bồ đề, thành tâm kim cương, chứng thân kim cương và tròn đầy thân Phật. (xt. Ngũ Tướng Thành Thân Quán). III. Ngũ Tướng. Cũng gọi Ngũ sự. Năm tướng pháp mê ngộ. Tức là: Tướng sở thuyên, tướng năng thuyên, tướng tương thuộc, tướng chấp trước và tướng bất chấp trước. Tướng sở thuyên là pháp, tướng năng thuyên là danh, 2 tướng này thông cả 3 tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực. Tướng tương thuộc là tướng mê chấp, chấp trước pháp tướng và danh tướng, đều thuộc về tính Biến kế sở chấp. Tướng chấp trước lấy sở chấp làm tự tính, thuộc về tính Y tha khởi. Tướng bất chấp trước thì lìa tướng chấp trước, thuộc về tính Viên thành thực.[X. luận Thành duy thức Q.8].
ngũ tướng thành thân quán
(五相成身觀) Cũng gọi Ngũ chuyển thành thân, Ngũ pháp thành thân. Hành giả quán tưởng thân mình đầy đủ 5 tướng để thành tựu thân Bản tôn. Là 1 trong những pháp quán tưởng của Mật giáo. Năm tướng là: 1. Thông đạt bồ đề tâm: Trên mặt lí luận, ngộ được bản tính của chính mình tức là tâm bồ đề (giác ngộ). 2. Tu bồ đề tâm: Thể ngộ như thế rồi, trên mặt thực tiễn, tiến tu để cầu thực chứng. 3. Thành kim cương tâm: Quán hình Tam muội da của Bản tôn, rồi nương vào 2 pháp quán Quảng kim cương và Liễm kim cương mà chứng được sự dung thông vô ngại giữa thân mình và chư Phật. 4. Chứng kim cương thân: Thân của hành giả ngay đó thành thân Tam muội da Bản tôn. 5. Phật thân viên mãn: Sau khi hoàn thành quán hạnh thì ta và Phật là 1, không hai. Pháp quán này và pháp quán Tam mật đều là quán hạnh trọng yếu của pháp Kim cương. Nhưng pháp quán Tam mật thì hành giả và Bản tôn dung nhập vào nhau, đó là quán theo chiều ngang; còn pháp quán Ngũ tướng thành thân thì quán thứ tự 5 tướng theo chiều dọc. Năm tướng này mỗi tướng có 2 môn: Tự chứng và Hóa tha.Ngoài ra, 5 tướng này theo thứ tự phối hợp với 5 trí: Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí và Pháp giới thể tính trí. Lại nữa, nếu phối hợp 5 tướng với chủng tử vị, tam muội da vị và tôn hình vị, thì Thông đạt bồ đề tâm và Tu bồ đề tâm là chủng tử vị; Thành kim cương tâm và Chứng kim cương thân là tam muội da vị; Phật thân viên mãn là tôn hình vị. Nếu lại theo thứ tự phối hợp với 3 thân, thì chủng tử vị là Pháp thân, tam muội da vị là Báo thân và tôn hình vị là Ứng thân. [X. kinh Kim cương đính Q.thượng; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung; Kim cương đính du già kinh thập bát hội chỉ qui].
Ngũ Tạng
(五臟): năm thứ nội tạng gồm tim, thận, phổi, gan, mật. Chúng còn được gọi là Ngũ Nội (五內), chỉ chung cho cả cơ thể con người.
Ngũ tạng
五臟; C: wǔzàng; J: gōzō;|Năm thứ nội tạng: tim, phổi, gan, thận, dạ dày. Còn gọi là Ngũ nội (五内).
ngũ tạng
(五藏) I. Ngũ Tạng. Phạm:Piỉaka. Năm tạng thánh giáo. Có nhiều thuyết khác nhau: 1. Thuyết của kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đaquyển 1: a) Tố đát lãm tạng, tức Kinh tạng nói về định.b) Tì nại da tạng, tức Luật tạng, nói về giới luật. c) A tì đạt ma tạng, tức Luận tạng, nói về tuệ phân biệt tính tướng. d) Bát nhã ba la mật đa tạng: Nói về trí tuệ chân thực của Đại thừa. e) Đà la ni tạng: Nói về chân ngôn mật chú. Tạng này đức Phật nói cho những người không thể thụ trì 4 tạng kể ở trên hoặc phạm các tội nặng như: 4 trọng tội, 5 tội nghịch, phỉ báng chính pháp, xiển đề v.v... nghe để được tiêu trừ tội lỗi, mau chóng giải thoát, đốn ngộ Niết bàn. 2. Thuyết của Pháp tạng bộ: a) Kinh tạng: Nói về định. b) Luật tạng: Nói về giới. c) Luận tạng: Nói về tuệ. d) Chú tạng: Nói về các thần chú. e) Bồ tát tạng: Nói về bản hạnh của Bồ tát.3. Thuyết của Đại chúng bộ: Kinh, Luật, Luận, Tạp tập tạng và Cấm chú tạng. 4. Thuyết của các Luận sư Thành thực luận: Kinh, Luật, Luận, Tạp và Bồ tát tạng. [X. luận Phân biệt công đức Q.1; Di bộ tông luân luận thuật kí; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2, phần đầu; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương toản chú Q.2; luận Biện hiển mật nhị giáo Q.hạ; Chân ngôn tông giáo thời vấn đáp Q.4]. II. Ngũ Tạng. Gọi đủ: Ngũ pháp tạng. Chỉ cho 5 pháp tạng do Độc tử bộ thành lập.(xt. Ngũ Pháp Tạng).
ngũ tạng tam ma địa quán
(五藏三摩地觀) Cũng gọi Ngũ luân tam ma địa, Ngũ vật quán. Pháp quán gia trì 5 chữ (a), (vaô), (raô), (haô), (khaô) ở chỗ 5 tạng: Gan, phổi, tim, thận, lá lách của hành giả, đồng thời, quán 5 tạng tức là 5 đại, 5 Phật, 5 trí để ngay thân này thành Phật. Là 1 trong các pháp quán của Mật giáo và cùng loại với pháp quán Ngũ tự nghiêm thân. [X. Tam chủng tất địa phá địa ngục chuyển nghiệp chướng xuất tam giới bí mật đà la ni pháp; Phật đính tôn thắng tâm phá địa ngục chuyển nghiệp chướng xuất tam giới bí mật tam thân Phật quả tam chủng tất địa chân ngôn nghi quĩ].
ngũ tạp hành
(五雜行) Đối lại: Ngũ chính hành. Năm loại tạp hành. Đó là: 1. Độc tụng tạp hành: Ngoài việc đọc tụng các kinh thuộc Tịnh độ giáo như: Kinh Vô lượng thọ, Quán vô lượng thọ, A di đà v.v... để cầu vãng sinh, còn thụ trì đọc tụng tất cả kinh Đại thừa, Tiểu thừa, Hiển giáo, Mật giáo v.v... 2. Quán sát tạp hành: Ngoài việc suy tư, quán tưởng, nhớ nghĩ về chính báo, y báo trang nghiêm của cõi Tịnh độ cực lạc ra, còn quán xét tất cả sự lí của Đại Tiểu thừa và Hiển Mật giáo... 3. Lễ bái tạp hành: Ngoài việc lễ lạy đức Phật A di đà ra, còn lễ lạy tất cả Phật, Bồ tát và chư thiên... 4. Xưng danh tạp hành: Ngoài việc niệm danh hiệu của Phật A di đà, còn niệm danh hiệu của tất cả Phật, Bồ tát và chư thiên... 5. Tán thán cúng dường tạp hành: Ngoài việc ngợi khen cúng dường Phật A di đà, còn ngợi khen tất cả Phật, Bồ tát và chư thiên... [X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.4 (Thiện đạo); Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập].
ngũ tắc pháp vấn
(五則法問) Năm tắc pháp vấn. Chỉ cho sự bàn luận và hỏi đáp về Phật pháp mà tông Tào động của Nhật bản thực hành mỗi ngày 1 tắc trong khoảng 5 ngày từ ngày 16 đến ngày 20 tháng 4 hoặc tháng 10, gọi là Ngũ tắc pháp vấn. Trong đó, ngày 16 là ngày pháp vấn của Pháp chàng sư, ngày 17 là ngày pháp vấn của Thủ tọa, ngày 18 là pháp vấn của Thư kí, ngày 19 là ngày pháp vấn của Phó ti và ngày 20 là pháp vấn của vị Tri khách. [X. Chư tông giai cấp Q.thượng; Động thượng hành sự quĩ phạm Q.trung].
ngũ tỉ khâu
(五比丘) Phạm: Paĩca bhikwava. Pàli: Paĩca vaggiyà bhikkhù. Cũng gọi Ngũ quần tỷ khưu. Năm vị tỷ khưu được đức Thế tôn hóa độ trong lần chuyển pháp luân đầu tiên ở vườn Nai sau khi Ngài thành đạo. Tên phiên dịch của 5 vị tỷ khưu này trong các kinh nói không giống nhau, được liệt kê theo biểu đồ sau đây:Ngoài ra, Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 6 phần 2 liệt kê: Át bệ, Bạt đề, Câu lợi, Thích ma nam, Thập lực ca diếp và cho rằng Ma nam và Câu lợi là 2 vị khác nhau; Ma nam là tên khác của Trần như, ý kiến này đều là lầm lẫn. Vì Ma nam là gọi tắt của Ma ha na ma, nghĩa là Đại danh, là tiếng tôn xưng Thái tử Câu lợi, vì ngài là họ Thích nên cũng gọi Thích ma nam. [X. kinh Trung a hàm Q.56; kinh Tăng nhất a hàm Q.3, 14; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; kinh Phật bản hạnh tập Q.34; luật Ngũ phần Q.15; luật Tứ phần Q.14, 32; Tì nại da phá tăng sự Q.6; Pháp hoa văn cú Q.1, phần đầu; Pháp hoa kinh huyền tán Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.2; Pháp uyển châu lâm Q.11].
ngũ tỉ khưu
Pancavargìya (S). The first five of Buddha converts, also called ngũ đệ tử five disciples: A nhã Kiều trần như Ajnàta Kaundinya, Át bệ Asvajit, Bạt đề Bhadrika, Thập lực Ca diếp Dasabala Kàsyapa, Ma nam Câu ly Mahànàma Kulika.
Ngũ tỉ-khâu
五比丘; C: wǔbǐqiū; J: gohiku;|Năm vị Tỉ-khâu ban đầu cùng thực hành pháp tu khổ hạnh với Thích-ca Mâu-ni, sau đó là những người đầu tiên thụ nhận giáo pháp của Đức Phật trong lần chuyển pháp luân đầu tiên (Sơ chuyển pháp luân 初轉法輪), sau đó trở thành những đệ tử đầu tiên của Đức Phật. Năm vị này là: Kiêu-trần-như (憍陳如; s: kauṇḍinya), Át-bệ (額鞞; s: aśvajit), Bạt-đề (跋提; s: bhadrika), Thập Lực Ca-diếp (十力迦葉; s: daśabala-kāś-yapa), và Ma-nam Câu-lợi (摩男倶利; s: mahānāman).
ngũ tịnh
The five "clean" products of the cow, i.e. urine, dung, milk, cream, and cheese. The five pure-dwelling heavens in the fourth dhyana heaven into which arhats are finally born.
; (五淨) I. Ngũ Tịnh. Năm thứ sạch sẽ. Tức là sữa, sữa đặc, váng sữa, phân và nước tiểu của con bò vàng chưa rơi xuống đất. Người Ấn độ, theo tập tục từ nghìn xưa, cho rằng con bò là sứ giả của Phạm thiên nên tôn nó là Thánh ngưu (bò thánh),do đó, phân và nước tiểu của bò cũng được xem là vật sạch sẽ. Mật giáo cũng theo tập tục này mà dùng phân và nước tiểu của bò làm vật liệu đắp đàn và sái tịnh pháp cụ, nền đàn. Cứ theo kinh Tô tất địa quyển trung phẩm Cúng dường, hành giả Chân ngôn, trong lúc trì tụng chân ngôn, nếu sinh tâm ô uế, buông lung đến nỗi tụng chân ngôn bị lầm lẫn; nếu uống ngũ tịnh này thì có thể làm cho các thức ăn bất tịnh đã ăn trong vòng nửa tháng được trong sạch, đồng thời chân ngôn cũng được thanh tịnh và tăng thêm uy lực. Ngoài ra, trong các kinh và nghi quĩ cũng có ghi chép đầy đủ về các phương pháp Ngũ tịnh chân ngôn và Ngũ tịnh gia trì của 3 bộ: Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bộ. II. Ngũ Tịnh. Chỉ cho trời Ngũ tịnh cư thuộc Tứ thiền cõi Sắc. (xt. Ngũ Tịnh Cư Thiên).
Ngũ tịnh cư thiên
xem Năm cõi tịnh cư.
; 五淨居天; C: wǔjìngjū tiān; J: gojōgoten;|Một trong những cõi trời theo trong thần thoại Phật giáo Ấn Độ. Tên 5 cõi trời thuộc Đệ tứ thiền. Đó là: 1. Vô phiền; 2. Vô nhiệt; 3. Thiện kiến; 4. Thiện hiện; 5. Sắc cứu cánh. Các bậc Thánh đã chứng quả vị Bất lai được sinh ở cõi trời nầy.
ngũ tịnh cư thiên
(五淨居天) Tịnh cư, Phạm: Zuddhàvàsa. I. Ngũ Tịnh Cư Thiên. Cũng gọi Ngũ bất hoàn thiên, Ngũ tịnh cư xứ, Ngũ na hàm thiên, Ngũ tịnh cư. Chỉ cho 5 tầng trời trong đệ Tứ thiền thuộc cõi Sắc, là nơi sinh đến của các bậc Thánh quả A na hàm. Đó là: 1. Vô phiền thiên (Phạm: Avfha), cũng gọi A duy phan, A bệ lệ xá, A phù ha na. Cõi trời này không còn khổ, vui, tâm và cảnh không giao tiếp, không có tất cả phiền não.2. Vô nhiệt thiên (Phạm: Atapa), cũng gọi A đáp hòa, A đà ba, A đáp ba. Cõi trời này không có tất cả nhiệt não bức bách. 3. Thiện kiến thiên (Phạm: Sudfza), cũng gọi Tu đề xá. Cõi trời này không có các tướng trần cấu, từ trong định tuệ thấy khắp các thế giới trong 10 phương đều tròn đầy ngưng lặng. 4. Thiện hiện thiên (Phạm: Sudarzana), cũng gọi Tu đà thi ni, Tu đề xá na. Cõi trời này có năng lực thấy suốt rõ ràng, tất cả hiện tượng đều không ngăn ngại. 5. Sắc cứu cánh thiên (Phạm: Akaniwỉha), cũng gọi A ca nị tra, A ca ni tra. Cõi trời này không còn hình sắc, là nơi cao nhất, thù thắng nhất trong cõi Sắc. Cứ theo kinh Lăng nghiêm quyển 9, thì 5 tầng trời nói trên đều xếp theo chiều ngang trong cõi trời Tứ thiền, nhưng trời Tứ thiền chỉ có thể nghe tên của 5 tầng trời này, chứ không thấy được, cũng như trong đạo tràng Thánh địa ở thế gian có nhiều La hán cư trụ mà người thường không thấy được. Còn luận Câu xá quyển 24 cho rằng do tu cả 5 phẩm mà được sinh lên các tầng trời Ngũ tịnh cư. Năm phẩm tức chỉ cho 5 phẩm tạp tu Tĩnh lự thứ 4, đó là: 1. Hạ phẩm: Trước hết khởi nhiều niệm vô lậu, kế đến nhiều niệm hữu lậu, sau đó lại khởi nhiều niệm vô lậu, cứ như thế trở đi trở lại, sau giảm dần cho đến 3 tâm hiện tiền thì thành tựu tĩnh lự. 2. Trung phẩm: Tức 6 tâm hiện tiền. 3. Thượng phẩm: Tức 9 tâm hiện tiền. 4. Thượng thắng phẩm: Tức 12 tâm hiện tiền. 5. Thượng cực phẩm: Tứ 15 tâm hiện tiền.Về sức cảm sinh lên cõi trời Ngũ tịnh cư thì luận Câu xá nêu 2 thuyết: 1. Dùng sức vô lậu huân tập hữu lậu mà cảm sinh về cõi Ngũ tịnh cư. 2. Do 5 căn Tín, Tiến, Niệm, Định, Tuệ lần lượt tăng lên mà cảm sinh về cõi Ngũ tịnh cư. Ngoài ra, theo Luận sự (Pàli: Kathàvatthu), thì tuổi thọ của người các tầng trời Ngũ tịnh cư như sau: Trời Vô phiền 1 nghìn kiếp, trời Vô nhiệt 2 nghìn kiếp, trời Thiện kiến 4 nghìn kiếp, trời Thiện hiện 8 nghìn kiếp và trời Sắc cứu cánh 1 vạn kiếp. Còn theo Tứ a hàm mộ sao giải quyển hạ, thì cõi Ngũ tịnh cư vốn chỉ có 3 tầng trời, tức là Tu đề xá (Thiện kiến thiên), Tu đề xá na (Thiện hiện thiên) và Bệ thủ đà (Phạm:Vizuddha, Thanh tịnh thiên). Trong đó, Thanh tịnh thiên lại được chia ra 3 tầng trời: A bệ lệ xá (Vô phiền thiên), A đáp ba (Vô nhiệt thiên) và A ca nị tra (Sắc cứu cánh thiên), mà gọi chung là Ngũ tịnh cư thiên. [X. kinh Trung a hàm Q.9; kinh Trường a hàm Q.20; kinh Khởi thế Q.8; kinh Thủ lăng nghiêm Q.9; luận Dị môn túc Q.14; luận Đại tì bà sa Q.136, 175; luận Thuận chính lí Q.65]. II. Ngũ Tịnh Cư Thiên. Cũng gọi Ngũ tịnh cư chúng, Ngũ thiên tử. Chỉ cho 5 vị tôn ngồi ở phía đông thuộc Ngoại kim cương bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Đó là: 1. Tự tại thiên tử: Phối hợp với trời Sắc cứu cánh. 2. Phổ hoa thiên tử: Phối hợp với trời Thiện kiến. 3. Quang man thiên tử: Phối hợp với trời Thiện hiện. 4. Ý sinh thiên tử, cũng gọi Mãn ý thiên tử. Phối hợp với trời Vô nhiệt. 5. Danh xưng viễn văn thiên tử, cũng gọi Biến âm thanh thiên tử. Phối hợp với trời Vô phiền. [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật Q.4; phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật Q.5; Quảng đại nghi quĩ Q.trung; Đại nhật kinh sớ Q.5, 13, 16].
ngũ tồn thất khuyết
(五存七缺) Kinh Vô lượng thọ có 12 bản dịch, trong đó, 5 bản hiện còn và 7 bản đã thất lạc, nên gọi là Ngũ tồn thất khuyết (còn 5 mất 7). Năm bản hiện còn là: 1. Kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác, 2 quyển, do ngài Chi lâu ca sấm dịch vào đời Hậu Hán. 2. Kinh A di đà, 2 quyển, do cư sĩ Chi khiêm dịch vào đời Ngô. 3. Kinh Vô lượng thọ, 2 quyển, do ngài Khang tăng khải dịch vào đời Tào Ngụy. 4. Hội Vô lượng thọ Như lai, 2 quyển, trong kinh Đại bảo tích, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời Đường. 5. Kinh Đại thừa Vô lượng thọ trang nghiêm, 3 quyển, do ngài Pháp hiền dịch vào đời Tống. Bảy bản đã mất là: 1. Kinh Vô lượng thọ, 2 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán. 2. Kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác, 2 quyển, do ngài Bạch diên dịch vào đời Tào Ngụy. 3. Kinh Vô lượng thọ, 2 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 4. Kinh Vô lượng thọ chí chân đẳng chính giác, 1 quyển, do ngài Trúc pháp lực dịch vào đời Đông Tấn. 5. Kinh Vô lượng thọ, 2 quyển, do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào đời Lưu Tống. 6. Kinh Tân vô lượng thọ, 2 quyển, do ngài Bảo vân dịch vào đời Lưu Tống. 7. Kinh Tân vô lượng thọ, 2 quyển, do ngài Đàm ma mật đa dịch vào đời Lưu Tống.
ngũ tổ
(五祖) I. Ngũ Tổ. Tức là Thiền sư Hoằng nhẫn, tổ thứ 5 của Thiền tông, Trung quốc. [X. Tống cao tăng truyện Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.3; Truyền pháp chính tông kí Q.6]. II. Ngũ Tổ. Tức là Thiền sư Pháp diễn, trụ ở núi Ngũ tổ tại Kì châu, sống vào đời Tống, Trung quốc. III. Ngũ Tổ. Chỉ cho 5 vị Tổ sư của tông Tịnh độ: Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo, Pháp chiếu và Thiếu khang. IV. Ngũ Tổ. Chỉ cho 5 vị Tổ của Liên xã: Thiện đạo, Pháp chiếu, Thiếu khang, Tỉnh thường và Tông trách. V. Ngũ Tổ. Chỉ cho 5 vị Tổ sư của tông Hoa nghiêm: Đỗ thuận, Trí nghiễm, Pháp tạng, Trừng quán và Tông mật.
Ngũ Tổ Pháp Diễn
五祖法演; C: wǔzǔ fǎyǎn; J: goso hōen; ~ 1024-1104;|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, dòng Dương Kì. Sư nối pháp của Bạch Vân Thủ Ðoan. Các môn đệ có tiếng của Sư là Viên Ngộ Khắc Cần (Phật Quả), Thanh Viễn Phật Nhãn, Huệ Cần Phật Giám và Khai Phúc Ðạo Ninh.|Sư họ Ðặng, quê ở Miên Châu, xuất gia năm 35 tuổi. Sau khi thụ giới cụ túc, Sư chuyên học pháp môn Duy thức. Những thuyết này không giải đáp những thắc mắc nên Sư xuống miền Nam tham vấn các vị Thiền sư. Cuối cùng đến hội Bạch Vân và nơi đây, Sư được Ấn chứng.|Công án của Sư sau đây thường được nhắc lại: »Giữa đường gặp người đạt đạo, chớ nói hay im mà đối đãi. Thử hỏi đối đãi ra làm sao?«
ngũ tổ pháp diễn
Wuzu Fayan (C), Goso Hōen (J), Wu-tsu Fa-yen (C), Wuzu Fayan (C)(Sanh khoảng 1024, mất 1104) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Bạch Vân Thủ Đoan.
ngũ tổ sơn
(五祖山) Cũng gọi Phùng mậu sơn. Tục gọi: Đông sơn. Núi ở phía đông bắc huyện Hoàng mai, tỉnh Hồ bắc, Trung quốc. Thiền sư Hoằng nhẫn, tổ thứ 5 của Thiền tông, Trung quốc, đến nơi đây sáng lập chùa Chân tuệ làm đạo tràng xiển dương Thiền phong, do đó mà núi này nổi tiếng. Sau khi Ngũ tổ thị tịch, đệ tử là ngài Thần tú an táng nhục thân của Tổ ở đây. Về sau, có các vị: Sư giới, Thiền sư Tú, Pháp diễn v.v... nối tiếp nhau trụ trì. Trong đó, ngài Pháp diễn mở mang xây dựng thành 1 đại tùng lâm, phát triển Thiền phong Dương kì, đệ tử rất đông. Các vị long tượng nổi tiếng trong Thiền lâm như: Viên ngộ Khắc cần, Phật giám Tuệ cần, Phật nhãn Thanh viễn... đều xuất thân từ đây.[X. Tống cao tăng truyện Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.3; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển thứ 1175].
Ngũ Tổ Sư Giới
(五祖師戒, Goso Shikai, ?-?): vị tăng của Vân Môn Tông trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống. Ông xuất gia, sau đó đến tham yết Song Tuyền Sư Khoan (雙泉師寛) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến sống tại Ngũ Tổ Sơn (五祖山) thuộc Kì Châu (蘄州, Tỉnh Hồ Bắc) và tiếp hóa đồ chúng. Đến cuối đời, ông chuyển đến Đại Ngu Sơn (大愚山) ở Huyện Cao An (高安縣, Tỉnh Giang Tây) và thị tịch tại đây.
Ngũ Tổ Tự
(五祖寺): còn gọi là Đông Sơn Tự (東山寺), Đông Sơn Thiền Tự (東山禪寺), Đông Thiền Tự (東禪寺); hiện tọa lạc tại Ngũ Tổ Trấn (五祖鎭), Huyện Hoàng Mai (黃梅縣), Tỉnh Hồ Bắc (湖北省); là đạo tràng hoằng pháp của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, là một trong những ngôi danh lam quan trọng của Phật Giáo thuộc địa khu Hán tộc. Chùa được kiến lập vào năm 654 (Vĩnh Huy [永徽] 5) nhà Đường. Sau khi Hoằng Nhẫn khai sáng đạo tràng tại Đông Sơn (東山), gây chấn động toàn quốc, môn đồ thường trú đương thời có khi lên đến cả ngàn người. Từ khi Võ Tắc Thiên (武則天, tại vị 684-705) tức vị, phật giáo được xem trọng hơn. Vào năm 700 (Cửu Thị [久視] nguyên niên), bà cung thỉnh các đệ tử của Hoằng Nhẫn là Thần Tú (神秀), Huyền Ước (玄約), Huệ An (慧安), v.v., đến Nội Đạo Tràng (內道塲) để cúng dường, rồi ban tặng danh hiệu Quốc Sư; cho nên thanh danh của Ngũ Tổ Tự theo đó lại tăng thêm. Đến năm 848 (Đại Trung [大中] 2), kiến lập ngôi tự viện của Tổ Sư Ngũ Tổ, rồi đổi tên chùa thành Đại Trung Đông Sơn Tự (大中東山寺), cũng gọi là Ngũ Tổ Tự. Trong khoảng thời gian niên hiệu Cảnh Đức (景德, 1004-1007) nhà Bắc Tống, vua Chơn Tông (眞宗, tại vị 997-1022) nhà Tống lại ban cho tên là Chơn Tuệ Thiền Tự (眞慧禪寺). Vua Anh Tông (英宗, tại vị 1063-1067) nhà Tống thì ban cho bức ngạch với dòng chữ “Thiên Hạ Tổ Đình (天下祖庭).” Vào năm 1102 (Sùng Ninh [崇寧] nguyên niên), vua Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) nhà Tống, đề mấy chữ “Thiên Hạ Thiền Lâm (天下禪林)”. Trong khoảng thời gian này, các Pháp Sư như Sư Giới (師戒), Pháp Diễn (法演), Biểu Tự (表自), Tông Bạt (宗拔), v.v., đảm nhiệm chức Phương Trượng (Trú Trì) của chùa; đặc biệt dưới thời kỳ Pháp Diễn trú trì, ông đã xiển dương tông phong đến thời cực thịnh. Từ đó trở về sau, Phật Quả Khắc Cần (佛果克勤), Phật Giám Huệ Cần (佛鑑慧懃), Phật Nhãn Thanh Viễn (佛眼清遠), ba nhân vật được người đương thời tôn xưng là Tam Kiệt (三傑), đã tuyên dương Phật pháp và làm cho Thiền phong hưng thịnh. Đến cuối thời nhà Tống, Đông Sơn gặp nạn chiến hỏa, nhất thời chùa phải chịu cảnh tiêu điều. Vào năm 1282 (Chí Nguyên 19 [至元] nhà Nguyên), Thiền Sư Liễu Hành (了行) đến chùa, tiến hành trùng kiến tổ đình. Năm 1322 (Chí Trị [至治] 2), Thiền Sư Pháp Thức (法式) khôi phục lại mọi Phật sự ở đây và trở thành vị Tổ thời Trung Hưng của chùa. Năm 1331 (Chí Thuận [至順] 2), vua Văn Tông (文宗, tại vị 1328-1329) nhà Nguyên đổi tên chùa thành Đông Sơn Ngũ Tổ Tự (東山五祖寺) và chùa tồn tại cho đến ngày nay. Chính tại chùa này đã diễn ra truyền kỳ nổi tiếng của Thiền Tông về việc trình kệ kiến giải giữa Thần Tú và Huệ Năng (慧能). Sau đó, Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đã gọi Huệ Năng vào thất, giảng cho nghe Kinh Kim Cang, rồi truyền trao y bát. Lúc bấy giờ, Lục Tổ vâng mệnh đi về phương Nam; và từ đó Thiền Tông phân thành Nam Đốn Bắc Tiệm. Chùa vốn mang phong cách kiến trúc điển hình của Phật Giáo Hán truyền; chủ yếu nằm ở trục trung tâm, phân thành Sơn Môn (山門), Thiên Vương Điện (天王殿), Đại Hùng Bảo Điện (大雄寶殿), Ma Thành Điện (麻城殿), Ngũ Tổ Chơn Thân Điện (五祖眞身殿), Thánh Mẫu Điện (聖母殿) v.v.. Tại Sơn Môn có khắc hai bài kệ của Thần Tú và Huệ Năng. Thiên Vương Điện là kiến trúc được tạo lập trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Trung (大中, 847-860) nhà Đường, trước cổng có con sư tử đá thời nhà Đường và trên cửa chính của điện có bức ngạch “Chơn Tuệ Thiền Tự” của vua Chơn Tông nhà Tống. Đại Hùng Bảo Điện cũng được kiến lập trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Trung, có bức hoành “Đại Hùng Bảo Điện” do thủ bút của nhà Thư Pháp, thi nhân và là cư sĩ Phật tử nổi danh Triệu Phác Sơ (趙朴初, 1907-2000). Còn Ma Thành Điện, tức Tỳ Lô Điện (毘盧殿), tương truyền sau khi tín đồ vùng Ma Thành (麻城) đến chiêm bái Ngũ Tổ hiển linh, nên cùng nhau vác gạch ngói lên xây dựng ngôi điện này. Chơn Thân Điện là ngôi điện tôn trí chơn thân nhục tượng của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, kiến trúc rất độc đáo, tạo hình tráng lệ; phía trước hai bên có Lầu Chuông và Lầu Trống, ở giữa là Chánh Điện, bên trên có bức hoành với dòng chữ “Chơn Thân Điện”. Ngay chính giữa là Pháp Vũ Tháp (法雨塔), nơi tàng trí chơn thân Ngũ Tổ. Thánh Mẫu Điện là nơi tôn thờ bà họ Châu, mẫu thân của Ngũ Tổ. Ngoài ra, còn có một số kiến trúc khác như Quan Âm Điện, Tổ Đường, Địa Tạng Điện, Thiền Đường, Khách Đường, Phương Trượng Thất, Trai Đường, v.v. Âu Dương Tu (歐陽修[脩], 1007-1072), nhà Nho học thời nhà Tống có làm bài thơ Sơ Tình Độc Du Đông Sơn Tự Ngũ Ngôn Lục Vận (初晴獨游東山寺五言六韻) rằng: “Nhật noãn Đông Sơn khứ, tùng môn sổ lí tà, sơn lâm ẩn giả thú, chung cổ Phạm vương gia, địa tích trì xuân tiết, phong tình biến vật hoa, vân quang tiệm dung dữ, điểu lộng dĩ giao gia, băng hạ tuyền sơ động, yên trung minh vị nha, tự lân đa bệnh khách, lai thám dục khai hoa (日暖東山去、松門數里斜、山林隱者趣、鐘鼓梵王家、地僻遲春節、風晴變物華、雲光漸容與、鳥哢已交加、冰下泉初動、煙中茗未芽、自憐多病客、來探欲開花, rời Đông Sơn trời ấm, cửa tùng bóng chiều tà, núi rừng thú ẩn dật, chuông trống thoát tục gia, chốn hoang xuân về chậm, gió tạnh biến vật hoa, mây sáng bóng dần tỏ, chim ca buổi giao hòa, dưới băng suối vừa động, mầm non chè nhú ra, tự thương thân lắm bệnh, về đây chợt đơm hoa).”
ngũ tộc như lai
(五族如來) Chỉ cho 5 đức Như lai trong Kim cương giới Mật giáo. Tộc, Phạm, Kula, nghĩa là Bộ tộc, bởi thế, 5 đức Phật: Đại nhật, A súc, Bảo sinh, A di đà và Bất không thành tựu của 5 bộ được gọi là Ngũ tộc Như lai. [X. kinh An tượng tam muội nghi quĩ].
ngũ tội
Five sins, Five offenses.
ngũ tự
(五序) Năm phần tựa nhỏ trong phần tựa riêng của kinh Pháp hoa do ngài Thiên thai Trí khải chia ra. Đó là: 1. Chúng chuẩn tự: Tức là câu Lúc bấy giờ 4 chúng vây quanh đức Thế tôn. 2. Hiện thụy tự: Tức là Lục thụy (đức Thế tôn hiện 6 điềm lành). 3. Nghi niệm tự: Tức là câu Lúc bấy giờ bồ tát Di lặc nghĩ rằng. 4. Phát vấn tự: Tức là câu Lúc bấy giờ bồ tát Di lặc muốn giải quyết điều thắc mắc của mình. 5. Đáp vấn tự: Tức là câu Lúc bấy giờ bồ tát Văn thù sư lợi... [X. Pháp hoa văn cú Q.2, phần cuối].
ngũ tự chú
(五字咒) Cũng gọi Ngũ tự Văn thù chú, Ngũ tự đà la ni. Đà la ni Văn thù 5 chữ. Tức chân ngôn 5 chữ (a), (ra), (pa), (ca) và (na). Theo Tam chủng tất địa quĩ, nếu tụng 1 biến Ngũ tự chú thì công đức cũng nhiều bằng tụng 1 trăm biến Đại tạng kinh, có thể vào tất cả bình đẳng của Như lai, tất cả văn tự cũng đều bình đẳng, mau chóng thành tựu Đại bát nhã; nếu tụng 2 biến thì có thể diệt trừ trọng tội trong ức kiếp sinh tử; tụng 3 biến thì được Tam muội hiện tiền; tụng 4 biến thì được sức tổng trì không bao giờ quên mất, tụng 5 biến thì mau thành tựu Vô thượng bồ đề. [X. kinh Văn thù thiên bát; Ngũ tự đà la ni tụng].
Ngũ tự chú pháp
五字咒法; C: wǔzì zhòufǎ; J: goji juhō;|Tên viết tắt của Kim Cương đỉnh kinh Du-già Văn-thù Sư-lợi Bồ Tát pháp nhất phẩm (金剛頂經瑜伽文殊師利菩薩法一品).
ngũ tự minh vương
(五字明王) Gọi đủ: Thành tựu phú quí kim cương Hư không tạng câu triệu ngũ tự minh vương. Chân ngôn 5 chữ của 5 vị Đại bồ tát Hư không tạng. Tức là 5 chữ: (vaô), (hùô), (trà#), (hrì#), (a#), là những chữ chủng tử của 5 vị Đại bồ tát Hư không tạng.[X. phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Du kì Q.hạ].
ngũ tự môn
(五字門) Tức 5 chữ (a), (va), (ra), (ha) và (kha), là chủng tử 5 đại. (xt. Ngũ Đại Tự Nghĩa).
ngũ tự nghiêm thân quán
(五字嚴身觀) Cũng gọi Ngũ đại thành thân quán, Ngũ luân thành thân quán, Ngũ luân quán. Đối lại: Ngũ tướng thành thân quán. Pháp tu này quán tưởng pháp thân vốn có của hành giả cứng chắc như kim cương. Tức hành giả dùng 5 chữ (a), (vaô), (lãm), (hàm), (khiếm), (hoặc a, phạ, la, hạ, kha) bố trí ở 5 chỗ trên thân thể đúng theo thứ tự, để gia trì trang nghiêm thân mình. Trong đó, chữ A là hình vuông màu vàng, quán tưởng là Kim cương luân, gia trì ở dưới thân, gọi là Du già tọa, trụ trong đất tâm bồ đề cứng chắc như kim cương. ChữVaôlà hình tròn màu trắng, quán tưởng là thủy luân, gia trì ở phía trên rốn, gọi là Đại bi thủy, có thể được tam muội Đại bi. Chữ Lãm là hình tam giác màu như ánh mặt trời buổi sáng, quán tưởng làm hỏa luân, gia trì ở chỗ trái tim, gọi là Trí hỏa quang(ánh lửa trí) có công năng tiêu trừ cấu uế. Chữ Hàm là hình bán nguyệt màu đen, quán tưởng là phong luân, gia trì ở khoảng giữa 2 chân mày, gọi là Tự tại lực, có công năng đẩy lui ác ma. Chữ Khiếm là hình cầu nhiều màu, quán tưởng là không luân, gia trì trên đỉnh đầu, gọi là Đại không, có công năng làm cho thân mình ngang bằng với pháp giới. Ngũ tự nghiêm thân quán là pháp quán phải thực hành trước khi tu pháp Đạo tràng quán của Thai tạng giới, là pháp môn Tức thân thành Phật dành cho những người có căn cơ thù thắng. Nếu nói theo nghĩa căn cơ yếu kém từ Hiển vào Mật thì trở thành Ngũ tướng thành thân quán của Kim cương giới. Nhưng theo thuyết Hồng tự thứ đệ của Thai tạng giới, thì 5 chữ chỉ được bố trí gia trì ở tim mà thôi. Còn theo Thai tạng giới niệm tụng thứ đệ quyển thượng của ngài Tông duệ, thì Ngũ tự quán bố trí ở cả thân và tâm. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật Q.5; phẩm Trì tụng pháp tắc trong kinh Đại nhật Q.7; Thanh long tự nghi quĩ Q.thượng; Huyền pháp tự nghi quĩ Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.14; Đại tì lô giá na kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ Q.hạ]. (xt. Ngũ Luân Quán).
ngũ tự sắc
(五字色) Màu sắc của 5 chữ biểu thị 5 đại theo thuyết của ngài Tam tạng Bất không. Chữ (a) màu vàng, biểu thị cho địa đại(đất). Chữ (vi) màu đen, biểu thị cho thủy đại (nước). Chữ (ra) màu đỏ, biểu thị cho hỏa đại (lửa).Chữ (hùô) màu trắng, biểu thị cho phong đại (gió). Chữ (khaô) màu xanh, biểu thị cho không đại (hư không). [X. Ngũ luân cửu tự minh bí mật thích].
ngũ tự văn thù bồ tát
Majughoṣa (S)Diệu Âm Bồ tát.
; (五字文殊菩薩) Phạm: Maĩjughowa. Hán âm: Mạn thù già sa. Cũng gọi: Diệu âm bồ tát, Ngũ kế bồ tát. Chỉ cho bồ tát Văn thù sư lợi lấy 5 chữ (a), (ra), (pa), (ca) và (na) làm chân ngôn. Vị tôn này ngồi ở phía bên phải của bồ tát Nguyệt quang trong viện Văn thù thuộc Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Cát tường kim cương. Về hình tượng thì vị Bồ tát này có thân màu vàng, ngồi trên hoa sen đỏ, trên đầu có 5 búi tóc (ngũ kế), tay phải cầm hoa sen xanh để ở ngang ngực, tay trái đặt ngang, cầm quyển kinh Bát nhã tiếng Phạm, biểu thị Trí ba la mật; hoa sen xanh biểu thị Tam muội vô nhiễm. Hình Tam muội da là hoa sen xanh, trên hoa có Phạm khiếp (kinh Bát nhã), có thuyết cho là Trí kiếm, biểu thị trí Đại không của vị Bồ tát này.Ngoài ra, pháp tu thờ bồ tát Ngũ tự văn thù làm bản tôn, gọi là Ngũ tự văn thù pháp, phần nhiều tu pháp này để cầu được trí tuệ sâu xa, làm cho chính pháp trụ lâu nơi đời. [X. Ngũ tự đà la ni tụng; Kim cương đính kinh Du già văn thù sư lợi bồ tát cúng dường nghi quĩ; Kim cương đính siêu thắng tam giới kinh thuyết văn thù ngũ tự chân ngôn thắng tướng; Thai tạng giới thất tập Q.trung].
ngũ tự văn thù pháp
(五字文殊法) Cũng gọi Ngũ kế văn thù pháp. Pháp tu thờ bồ tát Ngũ tự văn thù làm bản tôn, trì tụng chân ngôn 5 chữ (a), (ra), (pa), (ca) và (na) để cầu được trí tuệ sáng suốt. Cứ theo Ngũ tự đà la ni tụng, thì người tu pháp này sẽ mau chóng đạt được trí tuệ của chư Phật, khiến ngay thân phàm phu này thành Phật. Còn theo Văn thù ngũ tự chân ngôn thắng tướng, thì người tu hành tụng 1 biến chân ngôn này có thể tiêu trừ tất cả nạn khổ, tụng 2 biến có thể trừ diệt tội nặng sinh tử trong ức kiếp, tụng 3 biến thì Tam muội hiện trước, tụng 4 biến thì được sức tổng trì không quên, tụng 5 biến liền thành Vô thượng bồ đề. Ở đây nói 1 biến, 2 biến v.v... hàm nghĩa 1 câu chi biến, 2 câu chi biến...
Ngũ Tỳ Kheo
(s: pañca-bhikṣavah, p: pañcavaggiyā-bhikkhū, 五比丘): hay còn gọi là Ngũ Quần Tỳ Kheo (五群比丘, nhóm năm vị Tỳ Kheo), tên của 5 vị Tỳ Kheo mà trước khi chưa thành chánh quả, đức Thế Tôn đã từng chung sống tu khổ trong vòng 6 năm trường. Sau khi biết được việc tu khổ hạnh, ép xác không phải là pháp môn để đạt đến giải thoát, nên ngài xuống tắm dưới sông Ni Liên Thuyền (s: Nairañjanā,p: Nerañjarā, 尼連禪河), nhận bát cháo sữa của cô gái chăn dê cúng dường và trở lại ăn uống bình thường. Thấy vậy, 5 vị này khinh thường và bỏ ngài đi. Sau khi thành đạo, đức Thế Tôn nhớ đến 5 người này, bèn đến Vườn Lộc Uyển (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿苑) tuyên thuyết bài pháp đầu tiên hóa độ cho họ. Đây là những người đệ tử đầu tiên nhất của đức Phật và được gọi là 5 vị Tỳ Kheo, gồm:(1) A Nhã Kiều Trần Như (p: Ājñātakauṇḍinya, p: Aññā-Koṇḍañña, 阿若憍陳如), còn gọi là A Nhã Cư Lân (阿若居隣), A Nhã Câu Lân (阿若拘隣), A Nhã Đa Kiều Trần Na (阿若多憍陳那), Kiều Trần Như (憍陳如),(2) A Thấp Bà Thị (s: Aśvajit, Aśvaka; p: Assaji, 阿濕婆恃), hay còn gọi là A Thuyết Thị (阿說示), A Thuyết Chỉ (阿說旨), A Thấp Ti (阿濕卑), Mã Thắng (馬勝), (3) Bạt Đề (s: Bhadrika, p:Bhaddiya, 跋提、拔提), còn gọi là Bà Đề (婆提), Bạt Đề Lê Ca (跋提黎迦), Bà Đế Lợi Ca (婆帝利迦),(4) Ma Ha Nam (s, p: Mahānāma, 摩訶男), còn gọi là Ma Ha Na Ma (摩訶那摩), và (5) Thập Lực Ca Diếp (s: Daśabala-kāśyapa, p: Das abala-kassapa, 十力迦葉). Trường hợp Thập Lực Ca Diếp đôi khi được thay bằng Bà Sa Ba (s: Bāṣpa, p: Vappa, 婆沙波), như trong Trung Bổn Khởi Kinh (中本起經), Phật Sở Hành Tán (佛所行讚), v.v.
ngũ tỳ kheo
Pacavargīya (S), Pavavaggiyā (P).
ngũ uý
(五畏) Phạm: Paĩca-vibhìwaịa. Cũng gọi Ngũ khủng bố, Ngũ bố. Chỉ cho 5 tâm sợ hãi của hành giả dưới giai vị Kiến đạo (hoặc gọi là Bồ tát mới học). Đó là: 1. Bất hoạt úy: Sợ không sống được. Người mới học đạo tuy thực hành bố thí nhưng không dám cho tất cả những tài vật mình có, vì sợ không còn gì để sống. 2. Ác danh úy: Sợ tiếng xấu. Người mới học đạo tuy muốn hóa độ chúng sinh mà vào nơi quán rượu, nhưng còn e dè, ngần ngại vì sợ người khác chê cười. 3. Tử úy, cũng gọi Mệnh chung úy: Sợ chết. Người học đạo tuy phát tâm rộng lớn, bố thí hết tài vật, nhưng không dám hi sinh thân mệnh. 4. Ác đạo úy, cũng gọi Đọa ác đạo úy: Sợ đường ác. Người gây các nghiệp bất thiện, sợ rơi vào 3 đường ác nên lúc nào cũng lo sợ. 5. Đại chúng uy đức úy: Sợ uy đức của đại chúng. Ở giữa đại chúng hoặc trước mặt người có uy đức, sợ những lời nói hoặc cử chỉ của mình lầm lỗi nên không dám mạnh dạn. [X. kinh Hoa nghiêm Q.34 (bản dịch mới); kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.9].
Ngũ Uẩn
(s: pañca-skandha, p: pañca-khandha, 五蘊): còn gọi là Ngũ Ấm (五陰), Ngũ Chúng (五眾), Ngũ Tụ (五聚). Uẩn (s: skandha, p: khandha, ) âm dịch là Tắc Kiện Đà (塞健陀), ý là tích tụ, loại biệt, tức là 5 loại khác nhau về các pháp hữu vi; về mặt khách quan, là chỉ cho toàn thể thế giới vật chất cũng như tinh thần. Ngũ Uẩn gồm: (1) Sắc Uẩn (s: rūpa-skandha, p: rūpa-khandha, 色蘊), tức chỉ cho nhục thể hữu tình, thế giới vật chất, các yếu tố Đất, Nước, Gió, Lửa, cũng như những loại được hình thành từ các yếu tố ấy. Trong 75 pháp của Câu Xá Luận (具舍論), 11 pháp Nhãn (眼, mắt), Nhĩ (耳, tai), Tỷ (鼻, mũi), Thiệt (舌, lưỡi), Thân (身, thân thể), Sắc (色, sắc màu), Thanh (聲, âm thanh), Hương (香, mùi hương), Vị (味, mùi vị), Xúc (觸, xúc chạm), Vô Biểu (無表, không thể hiện) là chỉ cho Sắc Uẩn. (2) Thọ Uẩn (s: vedanā-skandha, p: vedanā-khandha, 受蘊), chỉ cho tác dụng cảm thọ của khổ, vui, v.v., mang tính tinh thần (tri giác), mang tính nhục thể (cảm giác); được phân loại thành 3 loại Thọ là Khổ, Vui, Không Khổ Không Vui; hay 5 loại Thọ là Ưu (憂, buồn), Hỷ (喜, mừng), Khổ (苦, khổ), Lạc (樂, vui), Xả (捨, xả bỏ). (3) Tưởng Uẩn (s: sañjā-skandha, p: saññā-khandha, 想蘊), tương đương với khái niệm, biểu tượng. (4) Hành Uẩn (s: saṁkhāra-skandha, p: saṅkhāra-khandha, 行蘊), nghĩa hẹp là chỉ cho tư duy (ý chí); nghĩa rộng là chỉ cho các pháp tâm bất tương ứng với tính cách là sức mạnh để vận động hết thảy tác dụng tinh thần, tác dụng vật chất, trừ ba uẩn Thọ, Tưởng và Thức. Tỷ dụ như Đắc (得, đạt được), Phi Đắc (非得, không đạt được), Sanh (生, sanh), Trụ (住, tồn tại), Dị (易, thay đổi), Diệt (滅, hoại diệt), Danh (名), Cú (句), Văn (文), v.v. (5) Thức Uẩn (s: vijñāna-skandha, p: viññāṇa-khandha, 識蘊), với tính cách là chủ thể của tâm, nó chỉ cho Nhãn Thức (眼識) cho đến 6 thức kia; hơn nữa thức thứ 7 Mạt Na (末那) cũng như thức thứ 8 A Lại Da (s, p: ālaya, 阿賴耶) của Duy Thức Học, cũng thuộc về Thức Uẩn này. Trong Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Thư (大慧普覺禪師書, Taishō No. 1998A) quyển 28 có đoạn rằng: “Phật vi nhất thiết mê nhân nhận Ngũ Uẩn hòa hợp vi tự thể tướng, phân biệt nhất thiết pháp vi ngoại trần tướng, háo sanh ố tử niệm niệm thiên lưu, bất tri mộng huyễn hư giả, uổng thọ luân hồi (佛爲一切迷人認五蘊和合爲自體相、分別一切法爲外塵相、好生惡死念念遷流、不知夢幻虛假、枉受輪回, Phật vì hết thảy người mê nhận Năm Uẩn hòa hợp là tướng tự thể, phân biệt tất cả pháp là tướng ngoại trần, thích sống sợ chết mỗi niệm trôi nỗi, chẳng biết mộng huyễn giả dối, uổng thọ luân hồi).” Hay như trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, CBETA No. 1456) quyển 38 cũng có câu: “Ngũ Uẩn sơn trung tịch diệt trường, lục song hư sưởng dạ sanh quang, chỉ tu hoán tỉnh yểm trung chủ, mạc sử hôn trầm tự cái tàng (五蘊山中寂滅塲、六窗虛敞夜生光、只須喚醒弇中主、莫使昏沉自蓋藏, Năm Uẩn trong rừng vắng lặng trường, sáu cửa toang mở đêm phát quang, chỉ nên tỉnh thức làm chủ cả, chớ để hôn trầm che kín màng).” Hoặc trong phần Bát Nhã (般若) của Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh (六祖大師法寶壇經, Taishō No. 2008) có đoạn: “Đương dụng đại trí tuệ, đả phá Ngũ Uẩn phiền não trần lao, như thử tu hành, định thành Phật đạo, biến Tam Độc vi Giới Định Tuệ (當用大智慧、打破五蘊煩惱塵勞、如此修行、定成佛道、變三毒為戒定慧, nên dùng trí tuệ lớn, đả phá Năm Uẩn phiền não trần lao; tu hành như vậy, nhất định thành Phật đạo, biến Ba Độc thành Giới Định Tuệ).” Trong Kinh Bát Nhã có câu rất nổi tiếng là: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách (觀自在菩薩行深般若波羅蜜多時、照見五蘊皆空、度一切苦厄, khi Bồ Tát Quán Tự Tại thực hành sâu trí tuệ Bát Nhã Ba La Mật Đa, thấy rõ Năm Uẩn đều không, thoát khỏi hết thảy khổ ách).” Từ đó, Ngũ Uẩn Giai Không (五蘊皆空, Năm Uẩn Đều Không) hay Nhất Thiết Giai Không (一切皆空, Tất Cả Đều Không) được xem như là tư tưởng căn bản của Phật Giáo. Như trong Thiền Gia Quy Giám (禪家龜鑑, CBETA No. 1255) có đoạn: “Phàm nhân lâm mạng chung thời, đản quán Ngũ Uẩn giai không, Tứ Đại vô ngã, chân tâm vô tướng, bất khứ bát lai, sanh thời tánh diệc bất sanh, tử thời tánh diệc bất khứ, trạm nhiên viên tịch, tâm cảnh nhất như (凡人臨命終時、但觀五蘊皆空、四大無我、眞心無相、不去不來、生時性亦不生、死時性亦不去、湛然圓寂、心境一如, phàm người khi đến lúc lâm chung, nên quán Năm Uẩn vô thường, Bốn Đại vô ngã, chân tâm vô tướng, không đến không đi, khi sanh tánh cũng không sanh, khi chết tánh cũng không mất, vắng lặng tròn đầy, tâm cảnh như một).”
Ngũ uẩn
五蘊; C: wǔyùn; J: goun; S: pañca-skandha; P: pañca-khandha; cũng gọi là Ngũ ấm (五陰), năm nhóm;|Năm (pañca) nhóm (skandha) tượng trưng cho năm yếu tố tạo thành con người, toàn bộ thân tâm. Ngoài ngũ uẩn đó ra không có gì gọi là cái »ta.«|Ngũ uẩn là: 1. Sắc (色; s, p: rūpa), chỉ thân và sáu giác quan (Lục căn); 2. Thụ (受; s, p: vedanā), tức là cảm giác; 3. Tưởng (想; s: saṃjñā; p: saññā); 4. Hành (行; s: saṃskāra; p: saṅkhāra); 5. Thức (識; s: vijñāna; p: viññāṇa).|Ngũ uẩn cũng được gọi là năm ràng buộc vì chỉ có Phật hay A-la-hán mới không bị dính mắc nơi chúng. Ðặc tính chung của chúng là Vô thường, Vô ngã và Khổ. Kinh Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh nhấn mạnh đến tính Không của ngũ uẩn (xem Năm trí).|Sắc do Tứ đại chủng (s, p: mahābhūta) tạo thành, đó là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan và đối tượng của các giác quan. Thụ là toàn bộ các cảm giác, không phân biệt chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính. Tưởng là nhận biết các cảm giác như âm thanh, màu sắc, mùi vị…, kể cả nhận biết ý thức đang hiện diện. Hành là những hoạt động tâm lí sau khi có tưởng, ví dụ chú ý, đánh giá, vui thích, ghét bỏ, quyết tâm, tỉnh giác… Thức bao gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan: ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.|Tính chất khổ và vô thường của năm uẩn là một trong những quan điểm quan trọng nhất của Phật giáo. Khổ xuất phát từ sự bấp bênh, không chắc thật của các uẩn đó; và con người được thành tạo từ năm uẩn đó không gì khác hơn là một sự giả hợp, không có một cái »ta« thật sự đứng đằng sau con người đó (Vô ngã). Tri kiến về tính vô ngã của ngũ uẩn là một tri kiến rất quan trọng, nó có thể đưa đến giải thoát. Ðại sư người Ðức Ni-a-na Ti-lo-ka (nya-nātiloka) trình bày như sau về tầm quan trọng đó: »Ðời sống của mỗi chúng ta thật chất chỉ là một chuỗi hiện tượng thân tâm, một chuỗi hiện tượng đã hoạt động vô lượng kiếp trước khi ta sinh ra và sẽ còn tiếp tục vô tận sau khi ta chết đi. Ngũ uẩn này, dù riêng lẽ từng uẩn hay hợp chung lại, chúng không hề tạo thành một cái gì gọi là cái ta. Ngoài chúng ra, không còn cái gì được gọi là một thể của cái ta độc lập với chúng, để ta tạm gọi nó là cái ta. Lòng tin có một cái ta, có một nhân cách độc lập chỉ là một ảo tưởng.« Joseph Goldstein cũng viết: »Cái mà chúng ta gọi là cái ta chỉ là ngũ uẩn đang hiện hành vô chủ.«
ngũ uẩn
xem năm ấm.
; Paca-kkhandha (P), Paca-skandha (S), Five aggregates, Five skandhasNgũ ấmGồm: Sắc (rupa, form), thọ (vedana, feeling), tưởng (sanja, ideation), hành (samskara, reaction), thức (vijana, consciousness).
; Pancaskandha (S). The five skandhas, the five cumulations, substances, or aggregates, five groups of clinging i.e. the components of an intelligent being especially a human being: (1) Sắc uẩn, rùpa, the corporeal group; (2) Thụ uẩn, vedanà, the feeling group; (3) Tưởng uẩn, sanjnà, the perception group; (4) Hành uẩn, samskàra, the mental formation group; (5) Thức uẩn, vijnàna, the consciousness group.
; Cũng gọi là Ngũ Ấm, tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là vật chất (như xương, thịt…), Thọ là cảm thọ, Tưởng là tư tưởng, Hành là hành vi và sự biến đổi, Thức là phân biệt nhận thức. Do năm thứ này tổ chức thành thân tâm con người, gọi là thân Ngũ uẩn.
; (五蘊) Phạm: Paĩca skandha. Pàli: Paĩca khandhà. Cũng gọi Ngũ ấm, Ngũ chúng, Ngũ tụ. Hán âm: Tắc kiện đà. Năm nhóm tích tụ tất cả pháp hữu vi theo từng loại khác nhau. Một trong 3 khoa (Uẩn, Xứ, Giới).1. Sắc uẩn (Phạm: Rùpa-skandha): Nhóm gồm tất cả sắc pháp. 2. Thụ uẩn (Phạm:Vedanà-skandha): Các cảm thụ do khổ, vui, không khổ không vui... sinh ra. 3. Tưởng uẩn (Phạm: Saôjĩàskandha): Các thứ tưởng do nhãn xúc mà sinh ra. 4. Hành uẩn (Phạm: Saôskàraskandha): Chỉ cho tất cả pháp hữu vi ngoại trừ sắc, thụ, tưởng, thức, cũng tức là tác dụng của ý chí và tâm. 5. Thức uẩn (Phạm: Vijĩànaskandha): Nhóm gồm các loại thức như thức mắt, thức tai v.v... Trong 75 pháp do tông Câu xá thành lập thì 72 pháp hữu vi thuộc về 5 uẩn và trong trăm pháp của tông Duy thức thì 94 pháp thuộc về 5 uẩn, không bao gồm pháp vô vi. Năm uẩn thông cả hữu lậu, vô lậu và 3 tính thiện, ác, vô kí, cho nên trong các luận nhiều tên gọi được sử dụng để thuyết minh các chủng loại khác nhau. Như luận Đại tì bà sa quyển 75, trong Ngũ uẩn, pháp nào thuộc về hữu lậu thì gọi là Ngũ thủ uẩn. Đại thừa nghĩa chương quyển 8, phần đầu, lại căn cứ vào hữu lậu, vô lậu và 3 tính mà lập tất cả 9 loại:1. Sinh đắc thiện ấm.2. Phương tiện thiện ấm.3. Vô lậu thiện ấm.4. Bất thiện ngũ ấm.5. Uế ô ngũ ấm.6. Báo sinh ngũ ấm.7. Uy nghi ngũ ấm.8. Công xảo ngũ ấm.9. Biến hóa ngũ ấm. Trong đó, 3 loại đầu là thiện, loại thứ tư là ác, 5 loại sau là vô kí. Loại thứ 3 thuộc vô lậu, ngoài ra đều thuộc hữu lậu.Ma ha chỉ quán quyển 5, phần đầu và Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 5, phần đầu cũng nêu ra thuyết này. Đa số các phái Tiểu thừa đối với sự phân tích 5 uẩn đều rút ra kết luận Nhân vô ngã, chủ trương thân con người là do 5 uẩn tạm thời hòa hợp, chỉ có cái tên giả chứ không có thể thực. Nhưng học thuyết của Đại thừa thì không những chỉ phủ nhận tính chân thực của cái thể do năm uẩn hòa hợp (thân con người) mà còn phủ nhận luôn tính chân thựccủa bản thân 5 uẩn, rồi tiến bước nữa mà phát triển thành lí luận Pháp vô ngã.[X. kinh Niết bàn Q.39 (bản Bắc); Bát nhã tâm kinh; luận Tập dị môn túc Q.11; luận Câu xá Q.1, 29; luận Du già sư địa Q.54; luận Đại tì bà sa Q.74; luận Hiển dương thánh giáo Q.5; luận Thuận chính lí Q.1, 2].
ngũ uẩn dụ
(五蘊喻) Năm ví dụ về 5 uẩn được nói trong kinh Đại trang nghiêm quyển 12. Đó là: 1. Sắc ví như bọt nước: Bọt nước do gió thổi trên mặt nước tạo thành, chỉ có hình tướng hư giả chứ không có thể chất chắc thật; sắc thân của chúng sinh cũng giống như thế, hư giả chẳng thật. 2. Thụ ví như bọt nước: Nước bị gió thổi làm chao động, hoặc bị vật khuấy động mà tạo thành bọt, chỉ trong chốc lát là tan biến; cảm nhận những cái khổ, vui của chúng sinh cũng giống như thế, lúc nổi lúc tankhông thường còn. 3. Tưởng ví như sóng nắng: Sóng nắng là chỉ cho ánh sáng mặt trời. Nghĩa là từ xa nhìn đồng không mông quạnh, người ta thấy bốc lên những tia dợn nắng giống như sóng nước, kì thực chẳng phải nước, nhưng người khát nước lại tưởng là nước. Vọng tưởng của chúng sinh cũng giống như thế, vốn không có thực thể, do niệm mà thành tưởng, đều là hư dối. 4. Hành ví như cây chuối: Hành nghĩa là tạo tác. Thân cây chuối mềm, dễ gãy, không bền chắc, các hành động do chúng sinh tạo tác cũng giống như thế, không chắc thật. 5. Thức ví như việc ảo thuật: Thức nghĩa là phân biệt. Nhà ảo thuật biến cái khăn thành con ngựa, cây cỏ thành người, đều do ảo giác mà ra, vốn không có thực thể. Tâm thức của chúng sinh phân biệt các pháp cũng giống như thế, đều tùy thuộc vào cảnh sinh diệt chứ không có thật.
ngũ uẩn ma
(五蘊魔) Cũng gọi Uẩn ma, Ngũ ấm ma, Ngũ chúng ma, Thân ma. Năm uẩn: Sắc, thụ, tưởng, hành và thức như loài ma, hay làm cho chúng sinh hữu tình chịu nhiều thứ chướng hại, vì thế gọi là Ngũ uẩn ma. (xt. Tứ Ma).
ngũ uẩn thật tướng
(五蘊實相) Năm uẩn tức là lí chân như thực tướng. 1. Sắc uẩn thực tướng: Sắc là giả sắc chất ngại, thực là bát nhã chân không. Ngay nơi giả sắc ấy mà rõ được chân không, nên gọi là Sắc uẩn thực tướng. 2. Thụ uẩn thực tướng: Thụ là cảm thụ hư giả của 6 căn, thực là bát nhã chân không. Ngay nơi cảm thụ hư giả ấy mà rõ được chân không, cho nên gọi là Thụ uẩn thực tướng.3. Tưởng uẩn thực tướng: Tưởng là những suy tư giả tưởng, thực là bát nhã chân không. Ngay nơi suy tư giả tưởng ấy mà rõ được chân không, vì thế gọi là Tưởng uẩn thực tướng.4. Hành uẩn thực tướng: Hành là các hành tạo tác hư giả, thực là bát nhã chân không. Ngay nơi tạo tác hư giả ấy mà rõ chân không, bởi vậy gọi là Hành uẩn thực tướng.5. Thức uẩn thực tướng: Thức là giả thức phân biệt, thực là bát nhã chân không. Ngay nơi giả thức phân biệt ấy mà rõ chân không, cho nên gọi là Thức uẩn thực tướng.
ngũ uẩn trạch
(五蘊宅) Ngôi nhà 5 uẩn. Thân tâm con người do 5 uẩn sắc, thụ, tưởng, hành, thức giả hòa hợp mà tạo thành, được ví dụ như ngôi nhà, nên gọi là Ngũuẩn trạch.[X. kinh Tối thắng vương Q.4].
ngũ vân
(五雲) Năm đám mây ví dụ cho 5 chướng của người tu đạo: Lừa dối, biếng nhác, giận dữ, ân hận và oán ghét. Năm cái chướng này gây trở ngại cho việc tu đạo, giống như đám mây ngăn che ánh mặt trời nên gọi là Ngũ vân.(xt. Ngũ Chướng).
ngũ vô gián
(五無間) I. Ngũ Vô Gián. Cũng gọi Ngũ vô gián ngục. Năm quả báo vô gián, tức chỉ cho địa ngục A tị. Chúng sinh hữu tình trong pháp giới, tùy chỗ tạo nghiệp mà phải đọa vào địa ngục này, chịu khổ báo không lúc nào gián đoạn. Địa ngục A tị là nơi khổ nhất trong 8 địa ngục lớn, là quả báo mà những người gây nghiệp cực ác phải gánh chịu. Cứ theo kinh Địa tạng bồ tát bản nguyện quyển thượng, thì 5 quả báo vô gián là: 1. Thời vô gián: Trải qua nhiều kiếp chịu tội, không lúc nào ngưng nghỉ. 2. Hình vô gián: Địa ngục này mỗi bề đều 8 vạn do tuần, tất cả hữu tình chịu khổ trong đó, thân hình của họ cũng lớn như vậy, đầy ắp địa ngục, 1 người cũng đầy, nhiều người cũng đầy, không 1 khoảng trống. 3. Thụ khổ vô gián: Các chúng sinh chịu khổ trên núi dao rừng gươm, với những hình cụ như: Chĩa 3 chạc, gậy sắt, cối xay, cối giã, cưa, đục, vạc nước sôi v.v... chịu đủ các khổ, không lúc nào ngừng. 4. Thú quả vô gián: Bất luận trai gái, lớn bé, già trẻ, sang hèn, cho đến trời rồng, thần quỉ... tội nghiệp đã đến, đều cùng chịu khổ như thế. 5. Mệnh vô gián: Nếu rơi vào địa ngục này thì từ lúc mới vào cho đến trăm nghìn muôn kiếp, trong 1 ngày 1 đêm, vạn lần chết đi, muôn lần sống lại, dù cầu 1 niệm ngưng nghỉ cũng không được, trừ khi hết nghiệp mới được thụ sinh. [X. phẩm Quán Phật tâm trong kinh Quán Phật tam muội hải Q.5; phẩm Nê lê trong kinh Đại lâu thán Q.2; phẩm Địa ngục trong kinh Khởi thế Q.4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2]. II. Ngũ Vô Gián. Cũng gọi Ngũ vô gián nghiệp. Năm nghiệp chiêu cảm quả khổ ở địa ngục Vô gián. Tức chỉ cho 5 tội nghịch: Giết mẹ, giết cha, giết A la hán, phá hòa hợp tăng và làm cho thân Phật chảy máu. (xt. Ngũ Nghịch).
Ngũ Vô gián nghiệp
xem Năm tội nghịch.
Ngũ vô gián nghiệp
五無間業; S: pañcanantaryakarmāṇi;|Năm tội lớn
ngũ vô gián nghiệp
Paca-nantaryakarmāṇi (S), Pacānantarika-kammāni (P)Ngũ nghịch, Năm tội lớn.
Ngũ Vô gián tội
xem Năm tội nghịch.
ngũ vô lượng
(五無量) Chỉ cho 5 thứ vô lượng do Mật giáo thành lập, đó là: Tâm, thân, trí, chúng sinh và hư không. Do tâm vô lượng mà có thể đạt được thân, trí, chúng sinh và hư không vô lượng, tức biểu thị nghĩa thành tựu tối thắng giác. Năm thứ vô lượng này có thể theo thứ tự phối hợp với 5 đức Phật: A súc, Bảo sinh, Vô lượng thọ, Bất không thành tựu và Đại nhật. Ngoài ra, cũng có thể phối với 5 chữ và 5 đại. [X. phẩm Bách tự quả tương ứng trong kinh Đại nhật; Đại nhật kinh sớ Q.18; Biện hoặc chỉ nam Q.1].
ngũ vấn thập đề
(五問十題) Năm người hỏi mười vấn đề, đây là tiếng dùng trong việc bàn về nghĩa. Lúc vị giảng sư bàn về nghĩa, có 5 người hỏi, mỗi người đặt 2 vấn đề. Vấn đề được hỏi đầu tiên được gọi là Nghiệp nghĩa, vấn đề thứ 2 gọi là Phó nghĩa. Tổng cộng 5 người hỏi 10 vấn đề nên gọi là Ngũ vấn thập đề.
Ngũ vị
五位; C: wǔwèi; J: go-i;|Năm phẩm loại. Năm giai vị. Có các nghĩa sau: 1. Theo Du-già hành phái (瑜伽行派; e: yogācāra school), quá trình tu đạo được chia thành 5 bậc. Năm giai vị nầy được liệt kê trong luận tạng của Tiểu thừa và Đại thừa. Chúng chủ yếu được giải thích trong A-tì-đạt-ma câu-xá luận (s: abhidharmakośa-bhāṣya) và Duy thức tam thập tụng – cả hai đều là trứ tác của Thế Thân (世親; s: vasu-bandhu). I. Theo trường phái Duy thức, Ngũ vị bao gồm: Tư lương vị (資糧位), Gia hạnh vị (加行位), Thông đạt vị (通達位), Tu tập vị (修習位) và Cứu cánh vị (究竟位). Theo luận Câu-xá thì Ngũ vị bao gồm: Tư lương vị (資糧位), Gia hạnh vị (加行位), Kiến đạo vị (見道位), Tu đạo vị (修道位) và Vô học vị (無學位); II. Theo kinh Kim cương tam-muội (金剛三昧經; s: vajrasamādhi-sūtra), Ngũ vị là: Tín vị (信位), Tư vị (思位), Tu vị (修位), Hạnh vị (行位), và Xả vị (捨位).
ngũ vị
Go-i (J).
; Five favours, five tastes, i.e. sweet, sour, bitter, acid, salt.
; (五位) I. Ngũ Vị. Cũng gọi Ngũ sự, Ngũ pháp, Ngũ phẩm. Chỉ cho 5 phẩm loại khác nhau bao gồm tất cả pháp hữu vi và vô vi.1. Sắc pháp: Chỉ cho thế giới vật chất.2. Tâm pháp: Chỉ cho thức chủ thể cấu tạo thành tâm.3. Tâm sở pháp: Chỉ cho các tác dụng của tâm.4. Tâm bất tương ứng hành pháp: Chẳng phải sắc pháp, chẳng phải tâm pháp mà là pháp hữu vi không tương ứng với tâm, như: Sinh trụ dị diệt, để nói rõ các hiện tượng tồn tại. 5. Vô vi pháp: Chỉ chung cho các pháp không do tạo tác mà có, sự sinh diệt biến hóa của chúng chẳng phải do nhân duyên, cũng không khởi tác dụng. Trong 5 vị này, luận Câu xá lại chia Sắc pháp thành 11 thứ, Tâm pháp 1 thứ, Tâm sở pháp 46 thứ, Bất tương ứng hành pháp 14 thứ và Vô vi pháp 3 thứ, tổng cộng 75 thứ, cho nên gọi là 5 vị 75 pháp. Tông Duy thức Đại thừa thì chia Tâm pháp thành 8 thứ, Tâm sở pháp 51 thứ, Sắc pháp 11 thứ, Bất tương ứng hành pháp 24 thứ và Vô vi pháp 6 thứ, tổng cộng 100 thứ, vì thế gọi là 5 vị 100 pháp. Tông Câu xá sắp xếp thứ tự của 5 vị là: Sắc, tâm v.v... vì tông này cho rằng đối tượng ngoài tâm là có thật, từ đó lại khởi lên tâm và tâm sở trong nội tâm. Còn tông Duy thức thì xếp theo thứ tự: Tâm, tâm sở v.v... vì tông này chủ trương các pháp đều do thức biến hiện chứ không có thực thể. [X. luận Câu xá Q.4; luận Thuận chính lí Q.10; luận Thành duy thức Q.7; Bách pháp minh môn luận sớ Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.7, phần cuối]. II. Ngũ Vị. Cũng gọi Duy thức ngũ vị, Duy thức tu đạo ngũ vị. Chỉ cho 5 giai vị của Bồ tát Đại thừa do tông Duy thức phân lập. Đó là: 1. Tư lương vị: Giai vị chứa nhóm các thiện hữu lậu để đạt đến quả vị Phật. Chỉ cho hàng Bồ tát Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, lấy phúc đức trí tuệ làm tư lương trợ đạo, vì thế gọi là Tư lương vị. Ba giai vị này gọi là Đại thừa tam hiền vị. Trong đó, Thập trụ nặng về tu tập Lí quán, Thập hạnh nghiêng về tu tập Sự quán, còn Thập hồi hướng thì phần nhiều tu Lí sự bất nhị quán. Pháp tu hành này gọi là Đại thừa thuận giải thoát phần, tuy đã dứt trừ được sự hiện hành của 2 chấp phân biệt, nhưng hạt giống của năng thủ và sở thủ vẫn còn tiềm phục chưa trừ. Đây là giai vị chiết phục chướng ngại đầu tiên trong 5 giai vị của Duy thức. 2. Gia hạnh vị: Chỉ cho Bồ tát tứ gia hạnh vị (Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất), nhờ đã được tư lương phúc đức mà thêm công dụng hạnh để vào Kiến đạo (Hoan hỉ địa) trụ ở vị chân như. Giai vị này có thể đạt đến cảnh giới không có 2 ngã(nhân ngã và pháp ngã) mà có 2 vô ngã (nhân vô ngã và pháp vô ngã), nhưng trong tâm vẫn hiện tiền tướng như, nên vẫn chưa phải thực trụ nơi cảnh giới Duy thức. Đây gọi là Đại thừa thuận quyết trạch phần. 3. Thông đạt vị, cũng gọi Kiến đạo vị. Bồ tát Sơ địa thể hội chân như, trí chiếu soi lí, thấy được Trung đạo, nên gọi là Thông đạt vị. Tức là giai vị chứng được trí vô lậu đầu tiên, đồng thời thể hội lí chân như. Đây là giai đoạn hoàn thành sự tu hành trong đại kiếp thứ nhất, tương đương với giai đoạn Nhập tâm của Sơ địa, nên cũng gọi là Kiến đạo vị. 4. Tu tập vị, cũng gọi Tu đạo vị. Chỉ cho Bồ tát từ Nhị thừa đến Thập địa, mặc dù đã thấy đạo rồi, nhưng vì đoạn trừ chướng ngại, lại phải tu tập trí căn bản, nên gọi là Tu tập vị. 5. Cứu cánh vị: Chỉ cho quả Phật Diệu giác, là giai vị cùng tột, nên gọi là Cứu cánh vị. [X. luận Thành duy thức Q.9; luận Đại thừa a tì đạt ma tập Q.5; luận Du già sư địa Q.64; Duy thức tam thập luận tụng; Đại thừa pháp tướng danh mục Q.1, trung]. III. Ngũ Vị. Chỉ cho 5 giai vị tu hành của Tiểu thừa. Tức là: 1. Tư lương vị: Lại chia làm 3 vị: Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm(trong 4 niệm xứ quán xét riêng từng pháp một)và Tổng tướng niệm(quán chung 4 pháp 1 lượt). 2. Gia hạnh vị: Gồm có 4 vị: Noãn vị, Đính vị, Nhẫn vị, Thế đệ nhất vị. Bốn giai vị thêm công dụng tu hành, chứng được đạo quả. 3. Kiến đạo vị: Chỉ cho quả Thanh văn đầu tiên, dứt Kiến hoặc trong 3 cõi, thấy được lí chân không.4. Tu đạo vị: Chỉ cho các quả Thanh văn thứ 2, thứ 3, tu pháp Tứ đế, dứt Tư hoặc ở cõi Dục.5. Vô học vị: Chỉ cho quả A la hán thứ 4, dứt sạch Kiến, Tư hoặc trong 3 cõi, chứng chân lí rốt ráo, không còn gì để học.[X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ].IV. Ngũ Vị. Cũng gọi Động sơn ngũ vị. (xt. Động Sơn Ngũ Vị).
; (五味) Phạm: Paĩca rasà.I. Ngũ Vị. Chỉ cho 5 vị: Nhũ (Phạm: Kwìra, sữa), lạc (Phạm: Dadhi, váng sữa), sinh tô (Phạm: Navanìta, sữa đặc), thục tô (Phạm: Ghfta, bơ), đề hồ (Phạm: Sarpirmaịđa, phó mát). Năm vị này đều được chế biến từ sữa.Các kinh luận thường dùng 5 vị này để ví dụ sự sai khác về căn cơ hoặc giáo pháp. Như kinh Niết bàn quyển 10 (bản Bắc) nói: Thanh văn như sữa, Duyên giác như lạc, Bồ tát như sinh tô, thục tô, chư Phật Thế tôn như đề hồ. Đây là ví dụ về căn cơ (người), còn ví dụ về giáo pháp (pháp) thì như kinh Niết bàn quyển 14 (bản Bắc), phẩm Thánh hạnh (Đại 12, 449 thượng) nói: Ví như từ bò vắt ra nhũ (sữa), từ nhũ có lạc (váng sữa), từ lạc có sinh tô (sữa đặc), từ sinh tô có thục tô (bơ), từ thục tô có đề hồ (phó mát). Đề hồ là thức ăn ngon nhất, có nhiều dược chất, có thể chữa khỏi các bệnh. Này các thiện nam tử! Phật cũng như thế, từ Phật có 12 thể tài kinh, từ 12 thể tài kinh có Tu đa la, từ Tu đa la có kinh Phương đẳng, từ kinh Phương đẳng có Bát nhã ba la mật, từ Bát nhã ba la mật có Đại niết bàn; cũng như đề hồ, nói đề hồ là ví dụ Phật tính, Phật tính tức là Như lai. Đoạn văn kinh trên đây từ ngài Tuệ quán đời Lưu Tống và cư sĩ Lưu cầu đời Tiêu Tề đến nay đều được dùng để ví dụ thứ tự thuyết giáo của 1 đời đức Phật, nhưng sự giải thích của các nhà thì có nhiều điểm dị đồng. Đại phẩm kinh du ý của ngài Cát tạng (Đại 33, 66 hạ) nói: Bàn về vị tương sinh của 5 nhà, nhà thứ 1 nói rằng, 12 thể tài phối hợp với A hàm, Tu đa la phối với Thiền kinh. Tại sao? Vì định hay phát sinh trí nên Tu đa la được phối với Thiền kinh. Phương đẳng phối với Bát nhã, Tư ích..., Bát nhã phối với Pháp hoa, Đề hồ phối với Niết bàn. Ngài Thiên thai Trí khải thì dựa theo thứ tự thời gian thuyết giáo của 1 đời đức Phật mà lập thành 5 thời, rồi dùng 5 vị phối hợp với 5 thời, ví dụ cho sự phát sinh dần dần của 5 thời giáo, gọi là Ước giáo tương sinh, lại dùng tính đậm, lạt của 5 vị ví dụ cho sự lợi, độn của căn cơ, gọi là Ước cơ nùng đạm. Năm vị: 1. Nhũ vị: Vị sữa từ bò mà có, cho nên được dùng để ví dụ 12 thể tài kinh từ đức Phật nói mà có. Đầu tiên, đức Phật tuyên thuyết giáo pháp Hoa nghiêm viên đốn, chỉ dành cho hàng Bồ tát đại cơ, không chung cho hàng Thanh văn, Duyên giác. Vì kinh Hoa nghiêm được nói ra trước tiên, sâu cạn lẫn lộn nên ví như vị sữa. 2. Lạc vị: Vị váng sữa từ sữa mà có, cho nên được dùng để ví dụ 9 thể tài kinh là từ 12 thể tài kinh mà ra. Thời thứ 2, đức Phật ở vườn Lộc dã nói kinh A hàm, dắt dẫn hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác, dứt trừ Kiến, Tư hoặc, chứng lí chân không là từ đốn bày ra tiệm, nên ví dụ như vị váng sữa. 3. Sinh tô vị: Vị sữa đặc có từ váng sữa, cho nên được dùng để ví dụ những kinh Phương đẳng Đại thừa được nói ra tiếp sau 9 thể tài kinh. Ở thời thứ 3, đức Phật tuyên thuyết các kinh Đại thừa như Lăng già, Lăng nghiêm... khen ngợi Đại thừa, quở trách Tiểu thừa, khiến hàng Tiểu thừa chán Tiểu mến Đại, cho nên ví dụ như sữa đặc. 4. Thục tô vị: Vị bơ từ sữa đặc mà có, cho nên dùng để ví dụ kinh Bát nhã được nói ra tiếp sau kinh Phương đẳng. Ở thời thứ 4, đức Phật tuyên thuyết các môn không tuệ, quét sạch nghi chấp của hàng Nhị thừa, trao cho giáo pháp Đại thừa, khiến cho tâm họ dần dần thông suốt, nên ví như vị thục tô. 5. Đề hồ vị: Vị phó mát từ bơ mà có, cho nên dùng để ví dụ kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn được nói tiếp sau kinh Bát nhã. Ở thời thứ 5, trên hội Linh sơn, đức Phật tuyên thuyết kinh Pháp hoa xóa bỏ Quyền giáo Tam thừa của 4 vị trước để qui về Thực giáo Nhất thừa viên diệu, khiến cho chúng sinh đều được thành Phật; lại nói kinh Niết bàn, đề cao giới luật và bàn về lí thường trụ, cho nên ví dụ như vị đề hồ tối thượng. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1, phần đầu; Pháp hoa kinh văn cú Q.6, phần cuối; Tam luận du ý nghĩa; Đại thừa huyền luận Q.5 (phần Giáo tích nghĩa); Niết bàn kinh nghĩa kí Q.10 (Tịnh ảnh); Niết bàn kinh hội sớ Q.13]. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo). II. Ngũ Vị. Chỉ cho 5 vị: Chua, đắng, ngọt, cay, mặn.
Ngũ Vị Bách Pháp
(五位百法, Goihyappō): pháp phân loại về sự tồn tại do Phái Duy Thức thuyết ra. Phái này phân chia hết thảy tồn tại ra làm 5 pháp là: (1) Tâm (心), (2) Tâm Sở (心所), (3) Sắc (色), (4) Bất Tương Ưng Hành (不相應行), và (5) Vô Vi (無爲). Thêm vào đó Tâm thì được chia thành 8 pháp, Tâm Sở 51 pháp, Sắc 11 pháp, Bất Tương Ưng Hành 24 pháp và Vô Vi 6 pháp, như vậy tất cả cọng lại thành 100 loại nên được gọi là Ngũ Vị Bách Pháp (Năm Vị Trăm Pháp). Trong số đó, Tâm là trung tâm thể của tâm nên còn được gọi là Tâm Vương (心王). Còn Tâm Sở là tâm tác dụng vi tế hoạt động tùy theo Tâm Vương, còn được chia ra làm 6 loại khác gồm Biến Hành (遍行), Biệt Cảnh (別境), Thiện (善), Phiền Não (煩 惱), Tùy Phiền Não (隨煩惱) và Bất Định (不定). Sắc là nói về hết thảy cái mang tính vật chất như nhục thể, sự vật, v.v. Riêng Bất Tương Ưng Hành thì không phải là tâm mà cũng chẳng phải là vật chất, mà nói về nguyên lý hình thành nên hiện tượng. Cuối cùng Vô Vi nhằm chỉ đến chơn như, và cũng nói về bản chất của hiện tượng.
ngũ vị bách pháp
(五位百法) Năm vị 100 pháp. Đây là cách chia loại và sắp xếp các pháp của tông Pháp tướng Duy thức. Một trăm pháp(sự tướng)này đều không có thực thể, chỉ là phân vị giả lập mà thôi. Trong 100 pháp thì tâm là thù thắng nhất, mặc dù không có đối tượng vật chất nhưng từ nơi tâm mà có đối tượng biến hóa. Trong tâm vương, ngoài 6 thức ra còn có thức Mạt na và thức A lại da. Chỗ đặc sắc của Duy thức là căn cứ vào sự tổ hợp và quan hệ giữa sự đối đãi nhau của 100 pháp mà trình bày rõ về những hoạt động và hiện tượng của tâm; nắm bắt tính đa dạng và tính phức tạp của những hiện tượng tinh thần 1 cách cụ thể, rồi lại dùng phương pháp phân tích để thuyết minh và lí giải. Đó chính là sự nghiên cứu về tâm lí của Phật giáo. Một trăm pháp gồm: 1. Tâm pháp có 8: Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý, mạt na và a lại da thức. 2. Tâm sở hữu pháp (Tâm sở)có 51: Tác ý, xúc, thụ, tưởng, tư, dục, thắng giải, niệm, định, tuệ, tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, cần(tinh tiến), khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại, tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, phẫn, hận, phú, não, tật, khan, cuống, siểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quí, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chính tri, hối, miên (thụy), tầm và tứ. 3. Sắc pháp có 11: Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp xứ sở nhiếp sắc. 4. Tâm bất tương ứng hành pháp có 24: Đắc, mệnh căn, chúng đồng phận, dị sinh tính, vô tưởng định, diệt tận định, vô tưởng báo (vô tưởng sự), danh thân, cú thân, văn thân, sinh, lão, trụ, vô thường, lưu chuyển, định dị, tương ứng, thế tốc, thứ đệ, phương, thời, số, hòa hợp tính và bất hòa hợp tính. 5. Vô vi pháp có 6: Hư không, trạch diệt, phi trạch diệt, bất động diệt (bất động), tưởng thụ diệt và chân như. Trên đây, 5 phẩm loại được gọi là Ngũ vị, cùng nêu chung với 100 pháp, gọi là 5 vị 100 pháp. Và trong 5 phẩm loại, trừ pháp vô vi ra, còn 4 phẩm loại kia đều thuộc về pháp hữu vi. Sự phân loại các pháp trên đây là căn cứ theo luận Đại thừa bách pháp minh môn và luận Thành duy thức, còn trong các luận khác thì sự phân loại có hơi bất đồng. [X. luận Thành duy thức Q.7; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2; Đại thừa bách pháp minh môn luận sớ; Đại thừa bách pháp minh môn luận giải]. (xt. Bách Pháp).
ngũ vị chúc
(五味粥) Cũng gọi Lạp bát chúc, Hồng tao. Cháo 5 vị. Trong Thiền lâm, vào ngày đức Phật thành đạo mồng 8 tháng chạp (Lạp bát), các tự viện thường nấu cháo ngũ cốc (trộn lẫn 5 thứ hạt)để cúng dường, gọi là Ngũ vị chúc, Lạp bát chúc, hoặc là Hồng tao. Hồng là màu của loại đậu đỏ; Tao là nhiều vị trộn lẫn với nhau. Điều Nguyệt phần tu tri trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 7 (Đại 48, 1155 thượng) ghi: Ngày mồng 8 tháng 12 Phật thành đạo, Khố ti chuẩn bị nấu Hồng tao.
Ngũ vị thiền
五味禪|Chỉ năm phương pháp tu thiền, do Thiền sư Khuê Phong Tông Mật phân chia ra trong tác phẩm Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự (禪源諸詮集都序):|1. Phàm phu thiền (凡夫禪; j: bompu-zen): Cách thiền của phàm phu, những người không theo đạo mà chỉ muốn thân thể, tâm trạng được khoẻ mạnh.|2. Ngoại đạo thiền (外道禪; gedō-zen): Chỉ những phương pháp thiền nằm ngoài Phật giáo.|3. Nhị thừa thiền (二乘禪) hay Tiểu thừa thiền (小乘禪; shōjō-zen): Thiền theo những phương pháp được nêu ra trong kinh sách Phật giáo Nam truyền. Cách thiền này dẫn đến Diệt tận định, và nếu hành giả ở trong trạng thái này khi chết thì không tái sinh nữa, thoát khỏi Luân hồi (saṃsāra).|4. Ðại thừa thiền (大乘禪; daijō-zen): Mục đích chính ở đây là Kiến tính (見性; ken-shō), Giác ngộ. Kinh nghiệm giác ngộ cho thấy rằng, ta chính là vạn vật mà vạn vật không khác ta và từ kinh nghiệm này, những hành động hằng ngày sẽ là những hành động cứu độ tất cả chúng sinh.|5. Tối thượng thừa thiền (最上乘禪; saijō-jō-zen): Trong dạng thiền này, đường đi và mục đích trở thành một. Thiền không phải là một phương pháp để đạt giác ngộ nữa mà trở thành một sự biểu hiện trực tiếp của Phật tính (j: busshō). Kinh sách viết rằng, đây là cách thiền của các chư Phật và là cách thiền tuyệt đỉnh (vô thượng, tối thượng, không còn cách nào hơn được) trong Phật pháp.|Quan niệm thường gặp như Ðại thừa thiền là Thiền của tông Lâm Tế và Tối thượng thừa thiền là Thiền của tông Tào Ðộng không đúng lắm bởi vì hai dạng Thiền trên bổ sung lẫn nhau mặc dù người ta chú trọng đến kinh nghiệm Kiến tính trực tiếp và phương pháp dẫn đến kinh nghiệm này hơn trong tông Lâm Tế; còn trong tông Tào Ðộng thì phương pháp Chỉ quản đả toạ (只管打坐; j: shikantaza) được xếp ở hàng đầu.|Ngũ vị thiền của sư Tông Mật phản ánh quan niệm truyền thống của Phật giáo, nhưng nhìn theo thời nay – trong thời đại mà Thiền được truyền bá khắp nơi trên hoàn cầu, vượt qua giới hạn của các nền văn hoá Phật giáo – quan niệm này không còn đúng lắm và cần được đính chính lại. Ví dụ như một người theo Thiên chúa giáo hoặc Hồi giáo vẫn có thể thực hiện Tiểu thừa, Ðại thừa hoặc Tối thượng thừa thiền mặc dù theo hệ thống ngũ vị thì tất cả những loại thiền nằm ngoài Thiền tông đều phải được gọi là »Ngoại đạo thiền.« Ngũ vị thiền như vậy đặc biệt có giá trị trong phạm vi lí thuyết của Thiền tông Phật giáo, trong khi nhìn từ khía cạnh tuyệt đối, so sánh với những kinh nghiệm của các Thánh nhân của tất cả truyền thống tôn giáo trên thế giới thì nó chẳng có giá trị là bao.
ngũ vị thiền
(五味禪) Cũng gọi: Ngũ thiền, Ngũ loại thiền. Đối lại: Nhất vị thiền. Năm pháp thiền có thứ bậc cạn sâu khác nhau do ngài Khuê phong Tông mật phân lập. Đó là: 1. Thiền ngoại đạo: Người tu thiền thích cảnh giới trên, chán cảnh giới dưới. 2. Thiền phàm phu: Người tu thiền tin lí nhân quả 1 cách chân chính, nhưng cũng do tâm thái thích, chán mà tu tập. 3. Thiền Tiểu thừa: Người tu pháp thiền này chỉ ngộ được lí ngã không. 4. Thiền Đại thừa: Người tu pháp thiền này ngộ được lí ngã không và pháp không. 5. Thiền Tối thượng thừa, cũng gọi Thiền Như lai thanh tịnh, Nhất hạnh tam muội, Chân như tam muội. Người tu pháp thiền này đốn ngộ tâm mình xưa nay vốn thanh tịnh, không phiền não, vốn tự đầy đủ trí tính vô lậu, tâm ấy là Phật, hoàn toàn không khác. Thiền này là cội gốc của tất cả pháp thiền, là do môn đệ của tổ Bồ đề đạt ma truyền nối. Ngài Tông mật chủ trương Thiền, Giáo là một, cho Nhất hạnh tam muội nói trong các kinh (giáo nội)là Tam muội vương căn bản, tức là thiền chân thực do Phật và Tổ truyền. Nhưng Thiền tông chê đó là thiền Như lai 5 vị xen tạp, khác xa với thiền Tổ sư 1 vị thuần tịnh. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.13; Liên đăng hội yếu Q.4, 7; Cổ tôn túc ngữ lục Q.3; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.11; Ngũ đăng nghiêm thống Q.3; Ngũ đăng toàn thư Q.5].
ngũ vị thất thập ngũ pháp
(五位七十五法) Năm phẩm loại bao gồm 75 pháp, là cách phân chia, sắp xếp tất cả các pháp của tông Câu xá. Đó là: 1. Sắc pháp (chỉ cho tất cả vật chất) gồm 11 thứ: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, sắc, thanh, hương, vị, xúc và vô biểu sắc. 2. Tâm pháp (chủ thể của tác dụng tâm) có 1 thứ, tức 6 thức tâm vương. 3. Tâm sở hữu pháp (gọi tắt: Tâm sở, tức tác dụng của tâm) gồm 46 thứ, chia làm: a) Đại địa pháp (tác dụng tương ứng với tất cả tâm), có 10 thứ: Thụ, tưởng, tư, xúc, dục, tuệ, niệm, tác ý, thắng giải và tam ma địa. b) Đại thiện địa pháp (những tâm sở chỉ tương ứng với các tâm thiện), có 10 thứ: Tín, bất phóng dật, khinh an, xả, tàm, quí, vô tham, vô sân, bất hại và cần (tinh tiến). c) Đại phiền não địa pháp (những tâm sở chỉ tương ứng với tất cả tâm bất thiện và tuy chẳng phải ác chẳng phải thiện nhưng chướng ngại đạo), có 6 thứ: Si, phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm và trạo cử. d) Đại bất thiện địa pháp (những tâm sở tương ứng với tất cả tâm bất thiện), có 2 thứ: Vô tàm và vô quí. e) Tiểu phiền não địa pháp (tâm sở tương ứng với vô minh, nhưng không thể cùng 1 lúc sinh khởi từ 2 thứ trở lên), có 10 thứ: Phẫn, phú, khan, tật, não, hại, hận, siểm, cuống và kiêu. f) Bất định địa pháp (tâm sở tương ứng với bất định, tức là ngoài các tâm sở đã nói ở trên), có 8 thứ: Tầm, tứ, thụy miên, ác tác, tham, sân, mạn và nghi. 4. Tâm bất tương ứng hành pháp (các pháp tồn tại không thuộc về sắc pháp, cũng chẳng phải là tâm, tâm sở), có 14 thứ: Đắc, phi đắc, chúng đồng phận, vô tưởng, vô tưởng định, diệt tận định, mệnh căn, sinh, trụ, dị, diệt, danh thân, cú thân và văn thân. 5. Vô vi pháp(chỉ cho các pháp mà bản thân chúng không sinh diệt biến hóa, cũng không bị bất cứ 1 tác dụng nào làm cho sinh diệt biến hóa), có 3 thứ: Hư không, trạch diệt và phi trạch diệt. Trong 5 vị, sự phân loại và số mục của Tâm sở hữu pháp có hơi khác với luận Đại tì bà sa và luận Thuận chính lí quyển 11. Còn 75 pháp nếu căn cứ vào sắc và phi sắc mà phân biệt, thì 11 sắc pháp là sắc, 64 pháp còn lại là phi sắc; nếu đứng về phương diện hữu đối và vô đối mà phân biệt, thì 5 căn và 5 cảnh là hữu đối, 65 pháp còn lại là vô đối; nếu phân biệt theo hữu vi và vô vi, thì 72 pháp trước là hữu vi, 3 pháp sau cùng là vô vi; nếu phân biệt theo mặt tương ứng và bất tương ứng, thì có 47 thứ tâm và tâm sở là tương ứng, 28 thứ còn lại là bất tương ứng; nếu căn cứ vào việc do 4 đại chủng hay không do 4 đại chủng tạo ra mà phân biệt, thì 5 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, 4 trần sắc, thanh, hương, vị và vô biểu sắc là do 4 đại chủng (đất, nước, lửa, gió) tạo ra, Xúc thì vừa do vừa không do 4 đại chủng tạo ra, còn 64 pháp còn lại thì không do 4 đại chủng tạo ra. Nếu phân biệt theo đế và phi đế, thì 73 pháp là đế, còn hư không và phi trạch diệt là phi đế. [X. luận Đại tì bà sa Q.42, 75; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; Duy ma kinh sớ am la kí Q.18; Câu xá luận quang kí Q.4; Câu xá luận pháp tông nguyên]. (xt. Thất Thập Ngũ Pháp).
ngũ vị tân
xem năm món cay.
Ngũ vị vô tâm
五位無心; C: wǔwèi wúxīn; J: goi mushin;|Theo giáo lí của Du-già hành tông, có 5 trường hợp mà ý thức (意識; s: mano-vijñāna) không hiện hữu: 1. Ngủ say (Cực trọng thùy miên 極重睡眠; s: acittaka); 2. Hôn mê, ngất xỉu (Cực trọng muộn tuyệt 極重悶絶; s: mūrcchā); 3. Vô tưởng định (無想定; s: asaṃjñi-samāpatti); 4. Sinh trong Vô tưởng thiên (無想天; s: āsaṃjñika); 5. Trong Diệt tận định (滅盡定; s: nirodha-samāpatti; theo Thành duy thức luận 成唯識論)
ngũ vị vô tâm
(五位無心) Năm trường hợp không có tâm thức phân biệt sinh khởi (vô tâm),đó là trong trạng thái ý thức tạm thời gián đoạn. Tông Duy thức lập ra 5 vị. 1. Vô tưởng thiên (Phạm: Àsaôjĩika): Thuộc tầng thứ 3 (Quảng quả thiên) trong 8 tầng trời Đệ tứ thiền của cõi Sắc. Nếu người lúc còn sống tu tập định Vô tưởng, có thể nhờ sức nhàm chán thô tưởng mà sinh đến cõi trời này. Một khi sinh vào đây rồi thì trừ lúc mới sinh và lúc sắp chết tạm thời có tưởng, còn trong khoảng 500 đại kiếp trung gian thì 6 thức và các tâm sở không sinh khởi, tất cả đều dứt bặt, không tâm, không tưởng, chịu quả báo vô tâm. 2. Vô tưởng định (Phạm: Asaôjĩisamàpatti): Nhân để sinh về cõi trời Vô tưởng. Cũng là Tam muội vô tâm mà phàm phu dị sinh (ngoại đạo hoặc phàm phu) tu tập để cầu sinh về cõi trời Vô tưởng. Trời Đệ tam thiền của cõi Sắc có 3 tầng trời, trong đó, tầng trời sau cùng là Biến tịnh thiên. Nếu đã diệt trừ được tham ở Biến tịnh thiên mà chưa diệt trừ được sự ô nhiễm của trời Đệ tứ thiền trở lên, thì sinh khởi tác ý ra khỏi tưởng (tức nhàm chán cõi thấp kém mong quả báo cõi trời kia) mà vào định này. Lúc đó, 6 thức tâm vương cùng với 5 biến hành, 5 biệt cảnh, 11 thiện v.v... toàn bộ 22 pháp đều đoạn diệt. 3. Diệt tận định (Phạm: Nirodhasaôàpatti): Định vô tâm vô lậu, chỉ có bậc Thánh mới chứng được. Khi bậc Thánh tu định, sinh khởi tác ý ngăn dứt tưởng mà vào định này. Lúc đó, chẳng những dứt bặt 6 thức hiện hành mà cả thức thứ 7 nhiễm ô và 5 biến hành tương ứng với nó, cho đến tuệ biệt cảnh, 4 phiền não: Ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái và 8 Tùy phiền não... toàn bộ 19 pháp đều đoạn trừ. Lấy 7 ngày là thời gian lâu nhất. 4. Cực trọng thụy miên (Phạm: Acittaka): Ngủ rất say, do mệt mỏi cực độ mà sinh ra. Khi chúng sinh ngủ thì 6 thức tai, mắt, mũi, lưỡi v.v... mê mờ, không còn thấy nghe hay biết, vì thế cũng thuộc vị Vô tâm. 5. Cực Trọng muộn tuyệt (Phạm: Murcchà): Ngất xỉu, do các nguyên nhân như: Gió, nóng, v.v... dẫn đến. Lúc chúng sinh ngất xỉu thì 6 thức hôn mê, không còn thấy nghe hay biết. Trong cả 2 trường hợp ngủ rất say và ngất xỉu 6 thức đều không hiện hành. Lúc hơi thở tạm dứt cũng không có ý thức, nên cũng thuộc vị Cực trọng muộn tuyệt. Tóm lại, ở trong 5 vị này, 6 thức và các tâm sở tương ứng với chúng đều không hiện hành, vì thế gọi là Vô tâm. Ngoài ra, trong 5 vị này, phàm phu dị sinh có 4 vị(trừ vị Diệt tận định). Bậc Thánh chỉ có 3, tức Diệt tận định, Thụy miên và Muộn tuyệt; trong đó, Như lai và các Bồ tát tự tại không có Thụy miên và Muộn nguyệt mà chỉ có Diệt tận định thôi. Riêng luận Du già sư địa quyển 13 nêu thuyết 6 vị Vô tâm, tức 5 vị trên đây và thêm vào 1 vị Vô dư y Niết bàn. [X. Du già sư địa luận Q.63; Du già sư địa luận thích; Thành duy thức luận thuật kí Q.7, phần đầu; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.hạ].
ngũ vọng tưởng
(五妄想) Năm vọng tưởng, tức chỉ cho 5 uẩn. 1. Kiên cố vọng tưởng: Tức Sắc uẩn. Thể, tâm và mệnh của chúng sinh đều là sự kết hợp của các tướng vọng tưởng, sự kết hợp này rất chặt chẽ bền chắc mà thành sắc thân, vì thế sắc thân được gọi là Kiên cố vọng tưởng. 2. Hư minh vọng tưởng: Tức Thụ uẩn. Chúng sinh do dục tưởng mà 2 tướng tốt xấu, lợi hại thường hiện, đó là Thụ uẩn. Thụ uẩn vốn không có thực thể, chỉ là hư vọng, vì thế gọi là Hư minh vọng tưởng. 3. Dung thông vọng tưởng: Tức Tưởng uẩn. Tâm là hư dối nhưng lại có thể sai khiến thân thể hiện có. Thân và tâm này do tưởng mà dung thông nhau, cho nên gọi là Dung thông vọng tưởng. 4. U ẩn vọng tưởng: Tức Hành uẩn. Chúng sinh trong 1 đời, thân thể biến hóa từng giây từng phút, không lúc nào dừng nghỉ. Tuy vậy mà chúng sinh vẫn u mê không biết, vì thế gọi là U ẩn vọng tưởng. 5. Điên đảo vọng tưởng, cũng gọi Vi tế tinh tưởng. Tức là Thức uẩn. Tâm thức chúng sinh hư vọng điên đảo, biến chuyển không ngừng, nhưng rất nhỏ nhiệm không thể thấy được; giống như dòng nước, trông xa tựa hồ phẳng lặng, nhưng thực thì đang ngấm ngầm chảy xiết, vì thế gọi là Điên đảo vọng tưởng. [X. kinh Thủ lăng nghiêm Q.10].
ngũ xan
(五慳) Cũng gọi Ngũ khan. Chỉ cho 5 thứ bỏn sẻn nói trong phẩm Tạp phiền não luận Thành thực quyển 10. 1. Trụ xứ xan: Chỉ 1 mình chiếm riêng 1 nơi nào đó, không cho ai khác ở chung. 2. Gia xan: Chỉ 1 mình mình ra vào nhà này, không cho ai khác cùng ra vào; nếu có người trong đó thì mình phải là hơn. 3. Thí xan: Chỉ mình được nhận của bố thí, không ai khác được nhận; nếu có người khác nhận thì họ không được nhận nhiều hơn mình. 4. Xưng tán khan: Chỉ mình được khen ngợi, nếu có người khác thì không được hơn mình. 5. Pháp xan: Chỉ mình hiểu biết nghĩa sâu xa của 12 thể tài kinh, không nói cho ai biết.
ngũ xiển đề la
(五闡提羅) Xiển đề la, cũng gọi Phiến đề la (người không có nam căn, nữ căn). Chỉ cho 5 vị tỉ khưu ở đời quá khứ làm việc phi pháp, đời sau chịu quả báo sinh vào cõi người làm Xiển đề la. Cứ theo kinh Vị tằng hữu nhân duyên quyển hạ, thì ở đời quá khứ có 5 vị tỉ khưu trây lười biếng nhác, ngoài hiện vẻ thiền tướng, nhưng trong nghĩ điều xằng bậy, nhận sự cúng dường của người con gái Đề vi trọn đời, lại tìm cầu tiền của để thỏa mãn dục lạc, nói dối là đã chứng quả A la hán. Sau khi chết, 5 tỉ khưu ấy rơi vào địa ngục, qua 8 nghìn kiếp lại sinh làm người, các căn ám độn, không có nam căn, nữ căn và làm người khiêng kiệu cho bà Đề vi (vợ vua Ba tư nặc, cũng chính là hậu thân của người con gái Đề vi ở quá khứ).
ngũ xoa địa ngục
(五叉地獄) Địa ngục có cây xoa sắt 5 chĩa chuyên dùng để phanh thây xẻ xác tội nhân.[X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.53].
ngũ xuyết bát
(五綴缽) I. Ngũ Chuyết Bát. Bát bị vá 5 chỗ. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 98 thì ngài La hầu la có lần rửa bát của đức Phật ở ao rồng trượt tay đánh rơi, bát vỡ làm 5 mảnh, đức Phật đích thân vá lại, vì thế gọi là Ngũ chuyết bát. II. Ngũ Chuyết Bát. Bát có đường vá chiều dài dưới 1 thước (Tàu). Cứ theo luật Tứ phần quyển 9 thì Chuyết là đơn vị chiều dài của chỗ vá, lấy khoảng cách 2 ngón tay là 1 chuyết, tương đương với 2 tấc (Tàu), cho nên 5 chuyết tức khoảng 1 thước (32 phân Tây). Nếu bát của tỉ khưu bị rạn nứt, nhưng đường vá chưa đến 5 chuyết mà xin bát mới, thì phạm tội Ni tát kì ba dật đề. Nếu đã đủ 5 chuyết, nhưng chỗ rạn nứt không rò rỉ mà tìm bát mới thì phạm tội Đột cát la. III. Ngũ Chuyết Bát. Năm cách vá bát sắt. Phần Khất học xứ trong Tát bà đa bộ luật nhiếp quyển 7 có ghi 5 phương pháp vá bát sắt: 1. Dùng chiếc đinh nhỏ bít lỗ thủng lại. 2. Dùng miếng sắt nhỏ đóng vào cho chắc chắn. 3. Dùng miếng sắt hình răng cá kẹp chặt trong ngoài. 4. Dùng miếng sắt nhỏ bít lỗ thủng rồi đóng đinh chung quanh. 5. Dùng mạt vụn, có 2 thứ là mạt sắt vụn và mạt đá nghiền. [X. Thích thị yếu lãm Q.trung; Tứ phần luật hàm chú giới bản Q.3, phần cuối].
ngũ xứ chân ngôn
(五處真言) Chỉ cho chân ngôn Nhập Phật tam muội da gia trì ở 5 chỗ trên thân thể của hành giả Mật giáo. Về 5 chỗ, các kinh đều nói khác nhau. Cứ theo Để rị tam muội da Bất động tôn uy nộ vương sứ giả niệm tụng pháp, thì 5 chỗ là trán, vai trái, vai phải, tim và cổ họng. Còn kinh Đại tì lô giá na Phật thuyết yếu lược niệm tụng thì bảo 5 chỗ là tim, trán, đỉnh đầu và 2 vai. Chân ngôn là: Nẵng mạc tam mãn đa một đà nẫm (Qui mệnh tất cả Như lai) a tam mê (asame, vô đẳng, nghĩa là 3 thân) đát rị tam mê (trisame, 3 bình đẳng, nghĩa là 3 thân Pháp, Báo, Hóa hợp làm 1 thân để hóa độ chúng sinh) tam ma duệ (samaye, tam muội da) sa phạ hạ (svàhà, thành tựu). [X. Thanh long quĩ Q.thượng].
ngũ xứ cung dưỡng
(五處供養) Chỉ cho việc cúng dường 5 bậc, đó là: Cúng dường cha, mẹ, thân giáo sư (Hòa thượng), quĩ phạm sư (vị thầy làm khuôn phép cho mình) và người đau ốm. Các vị thân giáo sư và quĩ phạm sư là nơi mà tỉ khưu nhận lãnh giáo pháp; cha mẹ là các bậc sinh thành dưỡng dục mình, còn những người đau ốm là nơi đáng thương xót nhất, vì thế nên thường cúng dường. [X. điều Ân hiếu trong Thích thị yếu lãmQ. trung].
ngũ xứ cúng dường
The five to be constantly served: cha father, mẹ mother, ông thầy thân dạy mình teacher, ông thầy làm khuôn phép cho mình religious director, người có bệnh the sick.
ngũ xứ gia trì
(五處加持) Gia trì ở 5 chỗ trên thân thể theo pháp tu của Mật giáo. Khi vào đàn tu pháp, trước hết, hành giả Chân ngôn dùng ấn khế hoặc pháp khí gia trì ở 5 chỗ trên thân thể để trừ sạch 3 nghiệpnơi thân và hiển phát công đức của 5 trí vốn có sẵn trong tâm. Năm chỗ này trong các kinh đều nói khác nhau, nhưng thông thường phần nhiều theo thuyết 5 chỗ ghi trong Để rị tam muội da Bất động tôn uy nộ vương sứ giả niệm tụng pháp. Năm chỗ ấy là: Trán, vai trái, vai phải, tim và cổ họng. Năm chỗ cũng được phối hợp với 5 trí 5 Phật, có 2 thuyết: Thuyết thứ nhất cho rằng trán biểu thị cho Pháp giới thể tính trí của Đại nhật Như lai, tim biểu thị cho Đại viên kính trí của A súc Như lai, vai phải biểu thị cho Bình đẳng tính trí của Bảo sinh Như lai, cổ họng biểu thị cho Diệu quan sát trí của Vô lượng thọ Như lai, vai trái biểu thị cho Thành sở tác trí của Bất không thành tựu Như lai. Thuyết thứ hai thì chủ trương cổ họng, tim, vai phải, trán, vai trái theo thứ tự tượng trưng cho Đại nhật, A súc, Bảo sinh, A di đà và Bất không thành tựu.[X. kinh Đại tì lô giá na Phật thuyết yếu lược niệm tụng; kinh Tô tất địa yết ra Q.hạ; Ngũ tự đà la ni tụng; Ma lợi chi thiên nhất ấn pháp].
ngũ y
(五衣) Phạm: Pàli: Paĩca cìvaràịi. Cũng gọi Ni ngũ y. Năm áo của tỉ khưu ni. Đó là:1. Tăng già lê (Phạm:Pàli:Saíghàỉì).2. Uất đà la tăng (Phạm, Pàli: Uttaràsaíga).3. An đà hội(Phạm:Antarvàsa,Pàli: Antaravàsa).4. Tăng kì chi (Phạm: Saôkakwikà, Pàli:Saíkacchà).5. Quyết tu la (Phạm:Kusùla). Ba áo trước giống với 3 áo của tỉ khưu là Đại y, Thượng y và Nội y. Còn Tăng kì chi, cũng gọi Kì chi, Yểm dịch y, Phú bác y, là 1 miếng vải hình chữ nhật, khoác trên vai bên trái để che cánh tay trái, còn 1 đầu thì vắt chéo để che nách bên phải. Quyết tu la, cũng gọi Thùy y, tức là quần. [X. luật Thập tụng Q.46; luật Ma ha tăng kì Q.30, 38; luật Tứ phần Q.27; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2]. (xt. Tam Y, Pháp Y).
ngũ ác
The five sins - killing, stealing, adultery, lying, drinking intoxicants.
; Nivarana (skt)—The five sins: Sát sanh: Killing. Trộm cắp: Stealing. Tà dâm: Sexual misconduct. Vọng ngữ: Lying. Uống chất cay độc: Drinking intoxicants.
; (五惡) Năm thứ ác: Sát sinh, trộm cướp, gian dâm, nói dối, uống rượu. Nếu làm 5 việc ác này thì trong đời hiện tại bị luật pháp nhà nước bắt tội, thân gặp ách nạn, gọi là Ngũ thống; đời vị lai phải chịu quả báo trong 3 đường (địa ngục, ngã quỉ, súc sinh), gọi là Ngũ thiêu. [X. kinh Ưu bà tắc ngũ giới uy nghi; kinh Tứ thiên vương; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.hạ (Tuệ viễn)].
Ngũ ác kiến
五惡見; C: wǔèjiàn; J: goakuken;|Xem Ngũ kiến (五見; s: pañca-dṛṣṭi).
ngũ ác kiến
xem năm kiến chấp.
ngũ ác thú
Five evil diections.
; See Ngũ Thú.
ngũ âm
The five notes of the musical scale (instrument).
; (五音) Cũng gọi Ngũ thanh, Ngũ điệu tử. Năm âm điệu cổ truyền của Trung quốc, tức là: Cung, thương, dốc, chủy, vũ. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 271 thượng) nói: Khi gió mát thổi thì phát ra năm âm thanh, cung thương mầu nhiệm, tự nhiên hòa nhau. Trong 5 âm, Cung là âm thổ, âm này rất trầm, phối với trung ương. Thương là âm kim, hơi trầm, là điệu bình, phối với phương tây. Dốc là âm mộc, nửa trầm nửa bổng, là điệu song, phối với phương đông. Chủy là âm hỏa, hơi bổng, là điệu hoàng chung, phối với phương nam. Vũ là âm thủy, âm này rất bổng, là điệu bàn thiệp, phối với phươngbắc. Mật giáo đời sau đem Ngũ âm phối liệt với Ngũ trí, Ngũ Phật, Ngũ bộ, Ngũ sắc. Cung tượng trưng cho Pháp giới thể tính trí ở trung ương, Thương tượng trưng Diệu quan sát trí phương tây, Dốc tượng trưng Đại viên kính trí phương đông, Chủy tượng trưng Bình đẳng tính trí phương nam và Vũ tượng trưng Thành sở tác trí phương bắc. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.8, phần 2; Tịnh độ ngũ hội niệm Phật pháp sự nghi tán; Hán thư lịch luật chí 1, thượng; Thông điển Q.143; Tùy thư âm nhạc chí thứ 9].
ngũ âm thất thanh
(五音七聲) Năm âm bảy thanh, là phương pháp biểu thị âm luật cao thấp được sử dụng từ xưa ở Trung quốc. Năm âm từ thấp đến cao là: Cung, thương, dốc, chủy, vũ. Dưới dốc thêm biến chủy, dưới vũ thêm biến cung mà thành là 7 thanh. Bảy thanh lại có luật toàn và lữ toàn khác nhau: Thêm biến chủy, biến cung là lữ toàn; còn dưới thương thêm anh thương, dưới vũ thêm anh vũ thì gọi là luật toàn.Âm giai của 12 âm luật được sử dụng trong Phạm bái âm phổ cũng từ Ngũ âm thất thanh này mà ra. [X. Thông điển Q.143; Tùy thư âm nhạc chí thứ 9; Lễ kí chú sớ Q.37].
Ngũ Ðài sơn
五臺山; C: wǔtái-shān; J: godaizan;|Một trong Tứ đại danh sơn của Trung Quốc, nằm ở tỉnh Sơn Tây. Ngũ Ðài sơn là một trong những danh thắng được xem là thiêng liêng nhất của Trung Quốc, là mục đích của nhiều người đi hành hương. Núi này được xem là trú xứ của Bồ Tát Văn-thù Sư-lị (s: mañjuśrī) và cũng là một trung tâm quan trọng của nền Phật giáo Mông Cổ. (Về chi tiết chuyện nầy, xin xem Trung Quốc Phật Giáo Sử Từ Điển 中国仏教史辞典, trang 112.2 của Kamata). Những tu viện đầu tiên ở đây được kiến lập trong thế kỉ 4-5; trong thế kỉ thứ 6 đã có hơn 200 và trong số đó, 57 vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Ngôi chùa chính được xây dựng vào khoảng từ năm 471-500, còn được gọi là Thanh Lương sơn (清涼山).|Niềm tin rằng, Ngũ Ðài sơn là trú xứ của Bồ Tát Văn-thù cũng được phổ biến tại Ấn Ðộ và Nepal, vốn bắt nguồn từ một đoạn văn trong kinh Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm. Ðoạn kinh này bảo rằng, đức Văn-thù xuất hiện ở một xứ nằm hướng Ðông bắc và giáo hoá nơi đây. Người ta cũng tìm thấy nhiều đoạn văn tương tự trong những bài kinh khác.|Ngũ Đài Sơn (k: odaesan) là một trong những sơn tự lớn của Phật giáo Hàn Quốc, toạ lạc ở Kangwǒndo.
ngũ ý
(五意) I. Ngũ Ý. Chỗ nương tựa của ý thức, tức là thức Mạt na. Theo luận Đại thừa khởi tín, thì ý có 5 tên: Nghiệp thức, Chuyển thức, Hiện thức, Trí thức và Tương tục thức. 1. Nghiệp thức: Thức A lại da căn bản do vô minh bất giác mà sinh khởi tâm động, tức vọng tâm hiện khởi. 2. Chuyển thức: Nương nơi tâm động mà sinh ra tướng hay thấy, tức là tác dụng chủ quan. 3. Hiện thức: Có khả năng hiện khởi tất cả cảnh giới, tức là đối tượng khách quan. 4. Trí thức: Có năng lực phân biệt các cảnh giới, cho những vật thực tại là đối tượng ngoài tâm. 5. Tương tục thức: Chỉ cho tác dụng (niệm) phân biệt liên tục, tức do nhận thức mà có các khái niệm chứa lại trong tâm thức tương ứng không dứt, từ đó mà sinh ra ý thức.Về mối quan hệ giữa thức A lại da, ngũ ý và ý thức, theo Khởi tín luận nghĩa sớ quyển thượng, phần cuối, của ngài Tuệ viễn, thì tâm là thức thứ 8, ngũ ý là thức thứ 7, ý thức là thức thứ 6. Còn theo Khởi tín luận nghĩa kí quyển trung, phần cuối, của ngài Pháp tạng, thì trong ngũ ý, Nghiệp thức, Chuyển thức và Hiện thức là Tự thể phần, Kiến phần và Tướng phần của thức thứ 8; Trí thức, Tương tục thức là ý thức; còn thức thứ 7 thì sách này chưa đề cập đến. Khởi tín luận sớ kí quyển 3 của ngài Nguyên hiểu cũng cho rằng Nghiệp thức, Chuyển thức và Hiện thức là thức thứ 8, Trí thức là thức thứ 7 và Tương tục thức là thức thứ 6. [X. luận Thích ma ha diễn Q.4]. II. Ngũ Ý. Chỉ cho Nhân ý, Thiên ý, Tuệ ý, Bồ tát ý và Phật ý theo kinh Pháp hoa.
ngũ đao
The five swords or slayers who were sent in pursuit of a man who fled from his king; e.g. the five skandhas.
; The five swords—The five skandhas—See Ngũ Uẩn.
; (五刀) Năm con dao, ví dụ cho Ngũ ấm. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 23 (bản Bắc), thì có người bị nhà vua lùng bắt nên sợ quá mà bỏ trốn đi, lại có 5 Chiên đà la (Phạm,Pàli: Caịđàla,người đồ tể, kẻ bạo ác) cầm dao đuổi theo sau. Năm người cầm dao này ví dụ cho 5 ấm: Sắc, thụ, tưởng, hành và thức của con người. [X. kinh Tạp a hàm Q.43].
ngũ điều ca sa
(五條袈裟) Cũng gọi Ngũ thiếp ca sa, Ngũ điều y, Ngũ điều. Áo 5 nẹp, 1 trong 3 áo của tỉ khưu, khâu những nẹp vải lại thành 1 bức hình chữ nhật, chiều ngang gồm 5 nẹp, vì thế gọi là Ngũ điều ca sa. Theo luật Tứ phần thì chiếu dài khoảng 4 khuỷu tay(7 thước 2 tấc Tàu), chiều rộng khoảng 2 khuỷu tay. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 1].
ngũ điều cà sa
See Ngũ Điều Y.
ngũ điều y
Ngũ điều cà sa—Áo của người xuất gia tu Phật thường được may bằng năm mảnh chấp lại—The monk's robe of five patches, ordinarily worn in the monastery, when abroad and for general purposes. Hạ Y: Termed as the lowest of the grades of patch-robes. Viện Nội Đạo Hành Tạp Tác Y: Áo mặc để làm việc trong khuôn tự viện—It is styled the garment ordinary worn in the monastery.
ngũ đoạn
(五斷) Từ gọi chung Kiến đạo đoạn và Tu đạo đoạn. -Kiến đạo đoạn, cũng gọi Kiến sở đoạn: Ở giai vị kiến đạo thấy suốt lí của 4 đế khổ, tập, diệt, đạo mà đoạn trừ các phiền não của 4 đế ở cõi dưới, tức là kiến khổ sở đoạn, kiến tập sở đoạn, kiến diệt sởđoạn và kiến đạo sở đoạn, là Tứ đoạn; rồi tiến lên tu tập mà đoạn trừ Tu đạo đoạn, gọi chung là Ngũ đoạn. -Tu đạo đoạn, cũng gọi Tu sở đoạn, tức là các phiền não bị đoạn trừ ở giai vị Tu đạo.Tóm lại, Ngũ đoạn là: Khổ đoạn, Tập đoạn, Diệt đoạn, Đạo đoạn và Tu đạo đoạn. [X. luận Câu xá Q.19].
ngũ đài
See Ngũ Đài Sơn.
Ngũ Đài Sơn
(五臺[台]山, Godaizan): ngọn núi nằm ở phía đông bắc Tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Từ hình trạng 5 đỉnh núi chút vót ở 5 phương, ngọn núi này có tên như vậy. Nó tương đương với Thanh Lương Sơn (清涼山) trong Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經) và được xem như là nơi trú ngụ của Bồ Tát Văn Thù (s: Mañjuśrī, 文殊); cho nên từ thời nhà Đường trở về sau, nơi đây là thánh địa tín ngưỡng của Bồ Tát Văn Thù. Từ Tây Vức, người đến chiêm bái cũng rất đông; đối với chư tăng Triều Tiên và Nhật Bản, Ngũ Đài Sơn là thánh địa khát ngưỡng của họ. Viên Nhân (圓仁, Ennin) ghi chép rất rõ về ngọn núi này qua bộ Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Hành Ký (入唐求法巡禮行記) của ông. Hơn nữa, Thành Tầm (成尋, Jōjin) cũng có viết cuốn Tham Thiên Thai Ngũ Đài Sơn Ký (參天台五台山記). Ngoài ra, còn có Cổ Thanh Lương Truyện (古清涼傳) của Huệ Tường (慧祥) nhà Đường, Quảng Thanh Lương Truyện (廣清涼傳) của Diên Nhất (延一) nhà Tống là những thư tịch viết về nơi danh thắng này.
ngũ đài sơn
Godai-zan (J), Wu-t'ai shan (C), Wutaishan (C), Wu Tai mountain Một trong bốn hòn núi nổi tiếng ở Trung quốc để chiêm bái, thuộc tỉnh Sơn Tây. Tu viện đầu tiên được xây dựng tr6en núi này có từ thế kỷ thứ 4 hay 5.
; Pancasirsha—Pancasikha—Một trong bốn ngọn núi thiêng liêng của Phật giáo Trung quốc (gần hướng đông bắc của tỉnh Sơn Tây). Ngũ Đài Sơn là pháp hội của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát—One of the four mountains sacred to Buddhism in China (near the north-eastern border of Shansi). The mountain that contains the Buddhist Congregation of the Manjusri Maha Bodhisattva.
; (五臺山) I. Ngũ Đài Sơn. Núi ở mạn đông bắc huyện Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Núi này cùng với các núi Nga mi, Phổ đà và Cửu hoa được gọi chung là Tứ đại linh sơn của Phật giáo Trung quốc. Vì 4 ngọn núi ở bốn phía đông, tây, nam, bắc và 1 ngọn ở chính giữa cao chót vót, trên chóp núi không có cây cối, đất đá chồng xếp lên giống như những cái đài, nên gọi là Ngũ đài sơn. Lại vì 5 ngọn này cao lớn sừng sững, vượt lên trên các dãy núi khác, vào tháng nóng nhất trong mùa hạ cũng không nóng, cho nên còn có biệt hiệu là núi Thanh lương(mát mẻ). Đây vốn là đạo tràng của bồ tát Văn thù thị hiện, nên xưa nay rất được tín ngưỡng ở Trung quốc. Phẩm Bồ tát trụ xứ trong kinh Hoa nghiêm và kinh Bảo tạng đà la ni nói rằng, chỗ ở của bồ tát Văn thù là 5 ngọn núi, gọi là núi Thanh lương. Đây là nguồn gốc của tín ngưỡng Văn thù. Trong 5 ngọn núi, ngọn phía đông có tên là Vọng hải phong, cũng gọi Vô tuất đài, Thường sơn đính; ngọn phía tây là Quải nguyệt phong, cũng gọi Mậng đăng sơn, ngọn phía nam là Cẩm tú phong, cũng gọi Hệ chu sơn, ngọn phía bắc là Hiệp đẩu phong, cũng gọi Hạ ốc sơn, Phú tú đỏa; ngọn chính giữa có tên là Thúy nham phong. Từ khi vua Văn đế nhà Bắc Ngụy du ngoạn Thúy nham phong và sáng lập chùa Đại phù đồ linh thứu về sau, chùa Phật được xây dựng rất nhiều tại đây. Vào thời thịnh nhất, chùa Phật ở trong và ngoài 5 ngọn có đến hơn 300 ngôi, hiện nay còn khoảng hơn 100 ngôi. Trong đó có nhiều chùa rất nổi tiếng như: Chùa Đại Phật quang, chùa Đại Hiển thông, chùa La hầu, chùa Thanh lương, chùa Kim các, chùa Bắc sơn, chùa Vọng hải, chùa Đại văn thù v.v... Có rất nhiều vị danh tăng có quan hệ với núi này như ngài Bất không xây dựng chùa Kim các, chùa Ngọc hoa... là trung tâm của Mật giáo. Ngài Pháp chiếu xây chùa Trúc lâm, tu tập Niệm Phật tam muội, sau có ngài Viên nhân người Nhật bản, kế thừa giáo pháp Niệm Phật tam muội của ngài Pháp chiếu, đưa về truyền bá ở núi Tỉ duệ, mở đầu pháp môn Dẫn thanh niệm Phật tại Nhật bản. Ngài Trừng quán đời Đường thì soạn bộ Hoa nghiêm kinh sớ ở chùa Đại Hoa nghiêm. Ngoài ra còn nhiều vị cao tăng sống vào đời Tống cũng đến tham bái núi Ngũ đài, như ngài Từ tạng người Cao li, ngài Phật đà ba lợi người nước Kế tân v.v... Đến đời Nguyên, Hoàng thái hậu của vua Thành tông từng kiến thiết chùa Đại vạn Thánh hựu quốc và trùng tu các chùa ở núi Ngũ đài. Quốc sư Bát tư ba cũng có lần trụ ở núi này. Khoảng năm Vạn lịch đời Minh, chùa Đại tháp viện được sửa chữa lại, tháp xá lợi Hộ quốc Thích ca văn Phật được xây trên đài tháp, thân tháp làm hình cầu, trên đặt tướng luân 13 bậc, tháp cao 27 trượng, chu vi 25 trượng, là tháp Lạt ma kiểu Tây tạng, 1 cảnh quan tráng lệ nhất trong núi. Từ Hoàng đế Khang hi trở về sau, vua chúa các đời đều đến núi này và sửa sang lại. Các tín đồ Phật giáo Mãn châu, Mông cổ cũng thường đến đây lễ tháp. Các vị Đạt lai lạt ma cũng nhiều lần đến trụ ở đây. Hiện nay, các vị tăng trụ ở Ngũ đài chia làm 2 phái: Phái áo xanh và phái áo vàng. Chư tăng thuộc phái áo xanh trụ ở chùa Đại hiển thông, chùa Kim các, chùa Đại tháp viện, chùa Linh cảnh v.v... Còn các vị tăng thuộc phái áo vàng là chư tăng Lạt ma, trụ ở 18 ngôi chùa như: Bồ tát đính, Kim cương quật, La hầu v.v...[X. Tục cao tăng truyện Q.7, 25; Đại tông triều tặng Tư không đại biện chính Quảng trí tam tạng hòa thượng biểu chế tập Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.42, 43, 45; Thanh lươngsơn chí; Nguyên sử bản kỉ 10, 18, 22; Khang hi đông hoa lục Q.32, 61; Càn long đông hoa lục Q.24, 31; Gia khánh đông hoa lục Q.28, 30;Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển 31-34; Chức phương điển 29]. II. Ngũ Đài Sơn. Núi ở quận Bình xương, đạo Giang nguyên, Hàn quốc. Núi này và núi Kim cương được gọi chung là 2 núi lớn của Hàn quốc. Trên núi này có 5 ngọn: Mãn nguyệt, Kì lân, Trường lãnh, Tượng vương và Trí lô. Ở chỗ bằng phẳng trên các ngọn núi này đều có xây chùa hoặc am, trong đó, chùa Thượng viện có tàng trữ quả chuông Triều tiên xưa nhất của cả nước. Ở ngay cửa vào núi là chùa Nguyệt tinh với tòa tháp 9 tầng là do Luật sư Từ tạng, người Tân la sáng lập. Ngài Từ tạng đến Trung quốc vào đời Đường, lên núi Ngũ đài chiêm bái bồ tát Văn thù, khi trở về nước, ngài thỉnh xá lợi Phật về và xây dựng chùa Nguyệt tinh để thờ. Hiện nay, chùa này là 1 trong 31 bản sơn của Phật giáo Hàn quốc. Tòa tháp 9 tầng ở chùa này và quả hồng chung của chùa Thượng viện đều là tinh túy của mĩ thuật Tân la.
ngũ đàn pháp
(五壇法) Pháp bí mật trong Mật giáo, lập 5 đàn tràng lớn, thờ 5 vị Đại minh vương làm bản tôn để tu. Đàn chính giữa thờ Bất động minh vương, đàn phía đông thờ Hàng tam thế minh vương, đàn phía nam thờ Quân đồ lợi minh vương, đàn phía tây thờ Đại uy đức minh vương và đàn phía bắc thờ Kim cương dạ xoa minh vương. Khi tu pháp này, phải cần 5 vị A xà lê đồng thời mỗi vị tu ở mỗi đàn. Tu pháp này để trừ tà khí chướng nạn, hoặc để hàng phục oan gia. [X. A sa phược sao Q.119; Loại tụ danh vật khảo Q.29].
ngũ đán vọng
(五旦望) Từ ngữ gọi chung các ngày Ngũ tham thướng đường và ngày Chúc thánh thướng đường trong Thiền lâm. Ngày Ngũ tham thướng đường chỉ cho 4 ngày: Mồng 5, mồng 10, 20 và 25 mỗi tháng; còn ngày Chúc thánh thướng đường tức là 2 ngày: Mồng 1(đán) và 15(vọng), tất cả 6 ngày, đều có thướng đường (thuyết pháp). [X. môn Tiết thời trong Thiền lâm tượng khí tiên].
ngũ đát đặc la
(五怛特羅) Phạm: Paĩcatantra. Cũng gọi Ngũ quyển thư. Sách ngụ ngôn trong văn học cổ điển Ấn độ được viết bằng tiếng Phạm, nguyên bản đã thất truyền nên không biết ai là tác giả cũng như niên đại soạn thuật. Nội dung lấy sự tụ tán li hợp của bạn bè làm trung tâm, do nhiều chuyện tích thí dụ cấu thành, mượn chuyện tăng lữ Bà la môn vâng mệnh vua làm thầy dạy Thái tử về các bí quyết cai trị, ngoại giao, xử thế, đạo đức v.v... để trang bị cho vị vua tương lai 1 nền giáo dục hoàn hảo. Sách gồm 5 thiên chuyện cổ chủ yếu có tính cách giáo dục là: Gặp được bạn bè, Bạn bè li biệt, Sự tranh đấu giữa quạ khoang và cú vọ (con kiêu), Được đó rồi mất đó và Hành vi chưa suy nghĩ kĩ... vì thế nên gọi là Ngũ đát đặc la. Ngoài ra, sách này cũng ghi thêm 1 số chuyện tiền thân của đức Phật bằng văn xuôi, 1 số ngụ ngôn trong Đại tự sự thi Ma ha bà la đa (Phạm:Mahàbhàrata) và 1 số chuyện cổ dân gian... Từ xưa, bản gốc của sách này đã được chép ra thành nhiều bản. Hiện nay còn có 5 loại bản tiếng Phạm, trong đó bản lưu truyền xưa nhất là Đát đặc la cơ da ý ca (Phạm: Tantràkhyàyika), được thành lập vào khoảng thế kỉ III, IV. Một bản khác thì vào khoảng thế kỉ V, VI đã được dịch ra tiếng Ba tư. Từ thế kỉ thứ V đến XI, có các bản dịch tiếng Syria và Arabia kế tiếp nhau xuất hiện. Khoảng thế kỉ XIII thì có bản dịch tiếng Latin được ấn hành. Từ đó về sau sách này được lưu truyền rộng rãi ở phương Tây, cho đến nay, kể cả phương Đông lẫn phương Tây, đã có bản dịch của hơn 60 thứ tiếng. Đối với sự phát triển và giao lưu văn học thông tục (ngụ ngôn, đồng dao, chuyện cổ dân gian...) của các quốc gia trên thế giới, hiển nhiên sách này đã có 1 giá trị bất hủ.
ngũ đình tâm quán
l. bất tịnh quán; 2. từ bi quán; 3. nhân duyên quán; 4. lục thức quán; 5. Sổ tức quán. Đây là năm thứ thiền quán của thừa thanh văn.
; Đây là năm thứ thiền quán của thừa Thanh văn: 1. Bất tịnh quán; 2. Từ bi quán; 3. Nhân duyên quán; 4. Lục thức quán; 5. Sổ tức quán.
; Năm phép quán để lắng tâm và diệt trừ ngũ dục—The five meditations for settling the mind and ridding it of the five errors of desires, hate, ignorance, the self, and a wayward or confused mind—The five-fold procedures for quieting the mind. Năm phép quán theo Phật Giáo Đại Thừa—The five meditations for setting the mind in Mahayana Buddhism: Quán Bất Tịnh: Quán thân bất tịnh—Contemplation of the impurity of the body—Quán thế gia bất tịnh để diệt trừ tham dục và keo kiệt. Ngoài ra, Phật dạy nên quán Thân và chư pháp bất tịnh. Kỳ thật dưới lớp da, thân thể chúng ta chứa đựng toàn là những thứ nhơ nhớp và hôi thúi như thịt, xương, máu, mủ, đàm, dãi, phân, nước tiểu, vân vân. Thế nên sau khi quán sát tường tận, chúng ta thấy rõ không có gì để ôm ấp thân nầy—Meditation on impurity of the worldly life to adjust the mind with regard to passion and avarice. Besides, the Buddha also advised us to contemplate that the body and all things as impure or filthy (vileness of all things). In fact, beneath the layers of skin, our body contains filthy and smelly substances such as meat, bones, blood, pus, phlegm, saliva, excrement, urine, etc. After reflecting carefully of it, we can conclude that our body is hardly worth cherishing. Quán Từ bi: Quán từ bi để thương xót các loài hữu tình, đồng thời vun bồi ý niệm thiện cảm với mọi người cũng như diệt trừ sân nhuế, lấy từ bi diệt trừ sân hận. Chúng ta nên quán rằng tất cả chúng sanh, nhất là con người, đều đồng một chân thể bình đẳng. Vì thế, nếu muốn, họ cũng có thể đoạn trừ lòng thù hận và mở rộng lòng yêu thương cứu độ chúng sanh—Contemplation on Compassion and Loving-kindness—Meditation on pity (mercy) for all and to rid of hate and to cultivate the idea of sympathy to others and to stop the tendency of anger and destroy resentment. We must visualize that all sentient beings, especially people equally have a Buddha-nature. So, they are able, if they want, to eradicate hatred and develop kindness and compassion to save others. Quán Nhân Duyên: Quán sát lý mười hai nhân duyên để trừ khử vô minh để thấy rằng vạn pháp vạn hữu, hữu hình cũng như vô hình đều vô thường. Chúng do duyên sanh mà có. Thân ta, sau khi trưởng thành, già, bệnh, chết; trong khi tâm ta luôn thay đổi, khi giận khi thương, khi vui khi buồn—Contemplation on the twelve links of Dependent Origination or Causality to rid of ignorance. Contemplation on Cause and Condition to see that all things in the world either visible or invisible are impermanent. They come into being through the process of conditions. Our body, after adulthood, grows older, delibitates and dies; whle our mind is always changing, at times filled with anger or love, at times happy or sad. Quán giới phân biệt: Quán giới phân biệt để nhận thức sự sai khác giữa các quan điểm, để diệt trừ ngã kiến—Meditation on diversity of realms to see the difference of standpoints and to get rid of selfish views. Quán giới phân biệt là phân biệt và quán tưởng sự giả hợp của 18 giới gồm 6 căn, 6 trần và sáu thức để thấy chúng không thật có “ngã pháp.” Mục đích là để diệt trừ ngã chấp và pháp chấp: Contemplation on the Relativity of the eighteen realms aims at discerning the falsity of the union of the 18 realms of six sense organs, six objects, and six related Alaya consciousnesses, so as to get rid of the ego-attachment and the dharma-attachment. Quán chư pháp để có sự phân biệt chân chánh cũng như diệt trừ bản ngã: Contemplation on all dharmas to obtain right discrimination and to rid of the self. Quán Sổ tức (trì tức niệm): Đếm số hơi thở nhằm đưa đến sự tập trung tư tưởng và diệt trừ loạn tâm. Đây là phương thức hay nhất cho người sơ cơ kiểm soát và thanh tịnh tâm mình bằng cách đếm hơi thở vào thở ra: Contemplation on counting breath (Breathing) leading to concentration so as to rid of scattered (inattentive—distracted—unsettled—confused) mind (to correct the tendency of mental dispersion). This is the best way for beginners to control and pacify their mind by counting their breathing in and out. Năm phép quán theo Phật Giáo Nguyên Thủy. Trong kinh Trung A Hàm, Đức Phật đã chỉ vạch 5 điều mà hành giả cần quán chiếu, để loại trừ những tư tưởng bất thiện, tâm trở lại an trụ vững vàng và vắng lặng, hợp nhất và định vào đề mục mà mình đang quán chiếu, để tự mình làm chủ lấy con đường mà tiến trình tư tưởng mình đã trải qua. Tự mình cắt lìa tham ái và trọn vẹn tháo gỡ thằng thúc phát sanh bởi tham ái. Làm được như vậy là tự mình đã khắc phục ngã mạn và chấm dứt khổ đau—The five meditations for setting the minh in the Theravada Buddhism. In Majjhima Nikaya, the Buddha pointed out five things a cultivator should always reflect on in order to remove evil thoughts, and to help the mind stand firm and calm, become unified and concentrated within its subject of meditation. To accomplish these, that meditator is called the master of the paths along which thoughts travel. He thinks the thought that he wants to think. He has cut off craving and removed the fetter fully; mastering pride he has made an end of suffering Nếu khi suy niệm về một đề mục mà những tư tưởng xấu xa tội lỗi, bất thiện, kết hợp với tham sân si phát sanh đến hành giả, để loại trừ những tư tưởng bất thiện ấy, vị nầy nên hướng tâm suy niệm về một đề mục khác có tính cách thiện lành. Chừng ấy tâm bất thiện bị loại trừ. Do sự loại trừ nầy, tâm trở lại vững vàng an trụ, và trở nên vắng lặng, hợp nhất và định vào đề mục mình đang quán chiếu: If through reflection on an object, evil, unwholesome thoughts associated with desire, hate and delusion arise in a meditator, in order to get rid of them he should reflect of another object which is wholesome. Then the evil, unwholesome thoughts are removed; they disappear. By their removal the mind stands firm and becoming calm, unified and concentrated within his subject of meditation. Nếu khi đã hướng tâm về đề mục khác có tính cách thiện lành mà những tư tưởng bất thiện vẫn còn phát sanh, hành giả nên suy xét về mối hiểm họa của nó như sau: “Quả thật vậy, những tư tưởng nầy của ta rõ ràng là bất thiện, đáng bị chê trách, và chúng sẽ đem lại quả khổ.” Chừng ấy, những tư tưởng bất thiện sẽ bị loại trừ tan biến. Do sự loại trừ nầy mà tâm của hành giả trở lại vững vàng an trụ, và trở nên vắng lặng, hợp nhất và định vào đề mục mình đang quán chiếu: If the evil thoughts still arise in a meditator who reflects on another object which is wholesome, he should consider the disadvantages of evil thoughts thus: “Indeed, these thoughts of mine are unwholesome, blameworthy, and bring painful consequences.” Then his evil thoughts are removed, they disappear. By their removal the mind stands firm and becoming calm, unified and concentrated within his subject of meditation. Nếu đã suy xét về hiểm họa của những tư tưởng bất thiện mà nó vẫn còn phát sanh, hành giả nên phát lờ đi, không để ý đến, không lưu tâm suy niệm về các pháp bất thiện ấy nữa. Chừng ấy những tư tưởng bất thiện sẽ bị loại trừ tan biến. Do sự loại trừ nầy mà tâm hành giả trở lại vững vàng an trụ, và trở nên vắng lặng, hợp nhất và định vào đề mục mình đang quán chiếu: If the evil thoughts still arise in a meditator who thinks over their disadvantages, he should pay no attention to, and not reflect on those evil thoughts. The the evil thoughts are removed, they disappear. By their removal the mind stands firm and becoming calm, unified and concentrated within his subject of meditation. Nếu đã không để ý đến, không lưu tâm suy niệm về các tư tưởng bất thiện ấy nữa, mà chúng vẫn còn phát sanh, hành giả nên suy niệm về việc loại trừ nguồn gốc của những tư tưởng bất thiện ấy. Chừng ấy, những tư tưởng bất thiện bị loại trừ tan biến. Do sự loại trừ nầy mà tâm hành giả trở lại vững vàng an trụ, và trở nên vắng lặng, hợp nhất và định vào đề mục mình đang quán chiếu: If the evil thoughts still arise in a meditator who pays no attention to and does not reflect on evil thoughts, he should reflect on removing the roof of those thoughts. Then the evil unwholesome thoughts are removed, they disappear. By their removal, the mind stands firm and becoming calm, unified and concentrated within his subject of meditation. Nếu đã suy niệm về việc loại trừ nguồn gốc của những tư tưởng bất thiện ấy mà chúng vẫn còn phát sanh, hành giả nên cắn răng lại và ép lưỡi vào đóc giọng, thu thúc, khắc phục và lấy tâm thiện kiểm soát tâm bất thiện. Chừng ấy, những tư tưởng bất thiện bị loại trừ tan biến. Do sự loại trừ nầy mà tâm hành giả trở lại vững vàng an trụ, trở nên vắng lặng, hợp nhất và định vào đề mục mà mình đang quán chiếu: If the evil thoughts still arise in a meditator who reflects on the removal of their root, he should with clenched teeth, and tongue pressed against his palate restraint, overcome and control the evil mind with the good mind. Then the evil thoughts are removed, they disappear. By their removal the mind stands firm and becoming calm, unified and concentrated within his subject of meditation.
; Five meditations—See Ngũ Đình Tâm Quán. Tứ Niệm Xứ: Four foundations of mindfulness—See Tứ Niệm Xứ.
; (五停心觀) Cũng gọi Ngũ quán, Ngũ niệm, Ngũ đình tâm, Ngũ độ quán môn, Ngũ độ môn, Ngũ môn thiền. Năm pháp quán dứt trừ phiền não mê hoặc. Đó là: 1. Bất tịnh quán (Phạm: Azubhàsmfti): Quán tưởng thân mình và thân người là nhơ nhớp để trừ bỏ lòng tham muốn. 2. Từ bi quán (Phạm: Maitrì-smfti), cũng gọi Từ tâm quán, Từ mẫn quán. Quán tưởng lòng thương xót để đối trị với phiền não oán giận. 3. Duyên khởi quán (Phạm: Idaôprat= yayatà-pratìkyasamutpàda-smfti), cũng gọi Nhân duyên quán, Quán duyên quán. Quán tưởng 12 duyên khởi thuận và nghịch để đối trị phiền não ngu si. 4. Giới phân biệt quán(Phạm: Dhàtuprabheda-smfti), cũng gọi Giới phương tiện quán, Tích giới quán, Phân tích quán, Vô ngã quán. Quán tưởng các pháp 18 giới đều do sự hòa hợp của đất, nước, lửa, gió, không và thức mà có thể đối trị ngã chấp. 5. Sổ tức quán (Phạm: Ànàpàna-smfti), cũng gọi An na ban na quán, Trì tức niệm. Đếm số hơi thở ra, thở vào để đối trị tầm, tứ tán loạn, giữ cho tâm dừng yên ở 1 cảnh. [X. phẩm Lực chủng tính trong kinh Bồ tát địa trì Q.3; luận Câu xá Q.22, 29; luận Đại tì bà sa Q.40; luận Du già sư địa Q.26; luận Thuận chính lí Q.59; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.11; Đại thừa nghĩa chương Q.12; Ma ha chỉ quán Q.7, phần 2].
ngũ đình tâm quán, ngũ đình tứ niệm
The five meditations for setting the mind and ridding it of the five errors of desire, hate, ignorance, the self and a wayward or confused mind. The five meditations are: bất tịnh the vileness of all things, từ bi pity for all, nhân duyên causality, phân biệt right discrimination, sổ tức breathing.
ngũ đình tâm vị
(五停心位) Giai vị tu Ngũ đình tâm quán, là vị thứ 1 trong 7 phương tiện. Ở giai vị này hành giả tu các pháp quán Bất tịnh, Từ bi, Duyên khởi, Giới phân biệt và Sổ tức để điều hòa tâm tham lam, tán loạn, lần lượt tiến vào Thánh vị. Tiểu thừa cho rằng từ Ngũ đình tâm vị trải qua Biệt tướng niệm trụ vị mà đạt tới Tổng tướng niệm trụ vị, 3 giai vị này gọi chung là Tam hiền. (xt. Ngũ Đình Tâm Quán).
ngũ đình tứ niệm
Ngũ Đình Tâm quán và Tứ Niệm Xứ nhằm giúp cho tâm định tĩnh cũng như thoát khỏi ngũ dục và loạn tâm—Five meditations and four foundations of mindfulness for settling the mind and ridding it of the five errors of desire, hate, ignorance, self, and wayward or confused mind.
; (五停四念) Chỉ cho Ngũ đình tâm quán và Tứ niệm xứ (trụ). Ngũ đình tâm quán, tức là: Bất tịnh quán, Từ bi quán, Duyên khởi quán, Giới phân biệt quán và Sổ tức quán. Còn Tứ niệm xứ, tức là: Thân niệm xứ, Thụ niệm xứ, Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3 (Đại 33, 707 hạ) nói: Ngũ đình tứ niệm, có định nên gọi là Đình; có tuệ nên gọi là Quán. Quán có công năng chuyển hóa tà, Định có công năng chế phục loạn. (xt. Ngũ Đình Tâm Quán, Tứ Niệm Trụ).
Ngũ Đăng Hội Nguyên
(五燈會元, Gotōegen): 20 quyển, do Đại Xuyên Phổ Tế (大川普濟) nhà Tống soạn, san hành vào năm đầu (1253) niên hiệu Bảo Hựu (寳祐) nhà Tống. Đây là bộ sách chỉnh lý lại nội dung của 5 thư tịch truyền đăng, liệt kê những truyền ký của chư Phật tổ từ 7 vị Phật trong quá khứ trải qua 27 vị tổ Tây Thiên, 6 vị tổ Đông Độ, 17 đời môn hạ của Nam Nhạc (南岳) cho đến Đức Sơn Sĩ Quyên (德山士涓). Về soạn giả, có thuyết cho là do vị Thủ Tòa Huệ Minh (慧明), môn nhân của Phổ Tế, biên soạn. Do vì nạn binh hỏa vào cuối thời nhà Tống và đầu nhà Nguyên nên bản san hành bị cháy mấy; nhưng nhóm Trang Tức Hàn Thị (莊卽韓氏) ở Hội Khể (會稽) đã trùng san lại vào năm thứ 24 (1364) niên hiệu Chí Chánh (至正) nhà Nguyên. Từ đó trở về sau, bộ này được san hành qua các niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖), Vạn Lịch (萬曆), Sùng Trinh (崇禎), Quang Tự (光緒), v.v. Tại Nhật Bản, có Bản Ngũ Sơn từ năm thứ 3 (1364) cho đến thứ 7 (1368) niên hiệu Trinh Trị (貞治) và các bản phục khắc vào niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), Khoan Vĩnh (寬永) dưới thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi, 1392-1573).
ngũ đăng hội nguyên
(五燈會元) Tác phẩm, 20 quyển, do ngài Phổ tế soạn vào đời Nam Tống (bản in đời Tống ghi do ngài Tuệ minh soạn), được thu vào Vạn tục tạng tập 138. Sách này rút lấy những phần cốt yếu từ 5 bộ Đăng lục, tức là từ Cảnh đức truyền đăng lục, Quảng đăng lục, Liên đăng hội yếu, Phổ đăng lục và Tục đăng lục mà đúc kết lại thành 1 bộ, vì thế nên gọi là Ngũ đăng hội nguyên. Nội dung sách này thu chép 7 đức Phật quá khứ, 27 vị Tổ Ấn độ và hành trạng, cơ duyên của 6 vị Tổ Trung quốc trở xuống đến Thiền sư phó pháp đích truyền là Đức sơn Tử quyên đời thứ 17 thuộc pháp hệ ngài Nam nhạc. Đến khi nhà Nam Tống mất, bản khắc gỗ của sách này bị quân Nguyên đốt hết, ông Hàn trang tiết và Thái úy Khang lí ở Hội kê khắc lại. Vào năm Vĩnh lạc 15 (1417) đời Minh, ngài Nam thạch Văn tú hoàn thành bộ Ngũ đăng hội nguyên bổ di, 1 quyển, ghi thêm lược truyện của 28 vị sau Ngũ đăng hội nguyên như ngài Linh ẩn Đông cốc quang ở Hàng châu v.v... được thu vào phần phụ lục của Tăng tập Tục truyền đăng lục trong Vạn tục tạng tập 142. (xt. Đăng Lục).
Ngũ Đăng Hội Nguyên Tục Lược
(五燈會元續略, Gotōegenzokuryaku): gọi tắt là Ngũ Đăng Tục Lược (五燈續略, Gotōzokuryaku), 4 hay 8 quyển, do Viễn Môn Tịnh Trụ (遠門淨柱) nhà Minh soạn, san hành vào năm thứ 5 (1648) niên hiệu Thuận Trị (順治). Với mục đích thâu tập những ngôn hạnh của các nhân vật sau thời Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元), bộ này thâu lục những Ngữ Lục của tổng số hơn 400 người, trong Tào Động Tông từ Hoa Tạng Huệ Tộ (華藏慧祚), Thiên Đồng Như Tịnh (天童如淨) cho đến Tuyết Quan Trí Ngân (雪關智誾), Giác Lãng Đạo Thạnh (覺浪道盛); trong Lâm Tế Tông từ Từ Hóa Ấn Túc (慈化印肅) cho đến Thiên Ẩn Viên Tu (天隱圓修). Về số lượng người thì Lâm Tế Tông đông hơn nhiều. Thông qua lời phàm lệ và lời tựa chúng ta cũng biết được rằng mục đích của người biên tập, vốn là pháp từ của Thạch Vũ Minh Phương (石雨明方) thuộc Tào Động Tông, muốn làm sáng tỏ hệ phổ của Tào Động Tông dưới thời nhà Tống, Nguyên, Minh; cho nên tác phẩm này đã cung cấp cho chúng ta khá nhiều tư liệu để nghiên cứu về lịch sử Thiền Tông sau thời nhà Tống trở đi.
ngũ đăng hội nguyên tục lược
(五燈會元續略) Gọi tắt: Ngũ đăng tục lược. Tác phẩm 4 quyển hoặc 8 quyển, có 1 quyển thủ riêng, do ngài Viễn môn Tịnh trụ soạn vào năm Sùng trinh 17 (1644) đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 138. Nội dung sách này thu chép những ngữ lục của các Thiền sư thuộc các tông từ Ngũ đăng hội nguyên trở về sau, như tông Tào động từ ngài Hoa tạng Tuệ tộ, Thiên đồng Như tịnh đến ngài Giác lãng Đạo thịnh; tông Lâm tế từ ngài Từ hóa Ấn túc đến các vị Đại đức thuộc hệ phái ngài Thiên ẩn Viên tu, gồm tất cả hơn 400 vị. Trong đó, các vị thuộc tông Lâm tế tuy chiếm đa số, nhưng, căn cứ vào bài tựa và phàm lệ của soạn giả Tịnh trụ, vốn là đệ tử nối pháp của ngài Thạch vũ Minh phương thuộc tông Tào động, thì người ta có thể nhận ra rằng mục đích biên soạn của sách này là nhằm xác định dòng phái của tông Tào động trong 3 đời Tống, Nguyên, Minh và sưu tập các ngữ lục của những vị Đại đức thuộc tông này. Trong các sách vở của Thiền tông như Truyền đăng lục v.v... sách này là nguồn tư liệu trọng yếu cho việc nghiên cứu lịch sử Thiền tông Trung quốc từ đời Tống trở về sau.
Ngũ Đăng Lục
(五燈錄, Gotōroku): tên gọi chung của 5 bộ sách truyền đăng gồm Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄, Keitokudentōroku), Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄, Tenshōkōtōroku), Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, Kenchūseikokuzokutōroku), Tông Môn Liên Đăng Hội Yếu (宗門聯燈會要, Shūmonrentōeyō) và Gia Thái Phổ Đăng Lục (嘉泰普燈錄, Kataifutōroku), mỗi bộ đều 30 quyển.
ngũ đăng lục
(五燈錄) Từ ngữ gọi chung 5 bộ lục, tức là: Cảnh đức truyền đăng lục của ngài Đạo nguyên, Thiên thánh quảng đăng lục của Cư sĩ Lí tuân úc, Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục của ngài Duy bạch, Liên đăng hội yếu của ngài Ngộ minh và Gia thái phổ đăng lục của ngài Chính thụ. Về tông chỉ, pháp ngữ cũng như các chi phái trong Thiền môn, Ngũ đăng ghi chép rất rõ ràng từ đầu đến cuối. Vào đời Tống, ngài Phổ tế nhận thấy Ngũ đăng quá bao la, học giả khó có thể thông suốt được, cho nên ngài đã rút lấy những phần cốt yếu mà soạn thành bộ Ngũ đăng hội nguyên để giúp người học dễ hiểu hơn. [X. bài Tựa trong Thiền tông chính mạch].
Ngũ Đăng Nghiêm Thống
(吾燈嚴統, Gotōgentō): 25 quyển, 2 quyển mục lục, do Phí Ẩn Thông Dung (費隱通容) và Bách Si Hành Nguyên (百癡行元) nhà Thanh cùng soạn, san hành vào năm thứ 10 (1653) niên hiệu Thuận Trị (順治). Bất mãn với sự tồn tại của Ngũ Đăng Hội Nguyên Tục Lược (吾燈會元續略)―tác phẩm đặt trọng tâm thâu tập những Ngữ Lục của Tào Động Tông, Thông Dung cho rằng trong Ngũ Gia chỉ có Tào Động Tông là thuộc về pháp thống của hệ thống Thanh Nguyên (青原) và chủ trương các tông khác thuộc về hệ thống Nam Nhạc (南岳), cho nên ông biên tập thành bộ này. Nhân vật được thâu lục vào bộ này gồm từ 27 vị tổ của Tây Thiên, 6 vị tổ của Đông Độ cho đến những người môn hạ của phái Trạm Nhiên Viên Trừng (湛然圓澄) thuộc hệ thống Thanh Nguyên của Tào Động Tông, và những người môn hạ của phái Thiên Ẩn Viên Tu (天隱圓修) thuộc hệ thống Nam Nhạc. Nếu nhìn từ mặt lịch sử, tác phẩm này có nhiều vấn đề như điểm công nhận sự hiện hữu của Thiên Vương Đạo Ngộ (天王道悟) và cho 2 tông Vân Môn, Pháp Nhãn thuộc về môn hạ của Nam Nhạc; hay điểm thâu lục phần lớn dựa vào Ngũ Đăng Hội Nguyên (吾燈會元); hay điểm cho rằng sự kế thừa của Vô Minh Huệ Kinh (無明慧經), Vô Dị Nguyên Lai (無異元來), v.v., là không rõ ràng, v.v.
ngũ đăng nghiêm thống
(五燈嚴統) Tác phẩm, 25 quyển, có riêng 2 quyển mục lục, do các ngài Phí ẩn Thông dung và Bách si Nguyện công cùng soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 139. Ở đầu quyển mục lục có phụ thêm bài tựa, phàm lệ, văn bia và các bài minh tháp... Nội dung sách này ghi chép 7 đức Phật quá khứ, 27 vị tôn giả Tổ sư Ấn độ từ ngài Ma ha Ca diếp trở xuống, 6 vị Tổ sư Trung quốc từ ngài Bồ đề đạt ma trở xuống, các bậc kì túc thuộc 2 pháp hệ Nam nhạc và Thanh nguyên đến pháp hệ truyền đăng của 5 nhà Thiền tông như các đệ tử nối phápcủa ngài Vân môn là Trừng viễn... xếp ngài Thiên hoàng Đạo ngộ vào pháp hệ ngài Thanh nguyên, đồng thời bỏ bớt các cơ duyên ngữ cú của 18 đời thuộc pháp hệ Thanh nguyên ghi trong Ngũ đăng hội nguyên tục lược. Sách này sửa chữa những sai lầm của Ngũ đăng hội nguyên tục lược, khảo xét, so sánh rất kĩ, khiến cho đạo thống truyền nối từ trước không rơi vào tình trạng lộn xộn, vì thế gọi là Ngũ đăng nghiêm thống. [X. Tông thống biên niên Q.32; Thiền tịch chí Q.thượng, hạ].
ngũ đăng nghiêm thống giải hoặc thiên
(五燈嚴統解惑篇) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Phí ẩn Thông dung soạn vào đời Minh, ấn hành năm Vĩnh lịch thứ 8 (1654), được thu vào Vạn tục tạng tập 139. Trong các bài Minh tông chính ngụy, Trích khi thuyết, Tịch mậu thuyết..., do các sư tông Tào động thuộc pháp hệ ngài Thanh nguyên viết, có trách ngài Thông dung khi soạn Ngũ đăng nghiêm thống đã xếp Thiền sư Thiên hoàng Đạo ngộ vào pháp hệ Thanh nguyên, xếp Thiền sư Thiên vương Đạo ngộ vào pháp hệ Nam nhạc là sai lầm và yêu cầu ngài Thông dung sửa lại. Bởi vậy, ngài Thông dung mới soạn Giải hoặc thiên để bác bỏ. Trong thiên này cũng có phụ thêm phần giải đáp của ngài Thông dung đối với những lời phê bình hoặc khuyên bảo của các người khác.
Ngũ Đăng Toàn Thư
(五燈全書, Gotōzensho): 120 quyển, do Tể Lôn Siêu Vĩnh (霽崙超永) nhà Minh biên soạn, Luân Am Siêu Bát (輪菴超撥) hiệu đính, san hành vào năm thứ 36 (1697) niên hiệu Khang Hy (康熙). Bộ này được hình thành dựa trên cơ sở của Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元), tham khảo các sách truyền đăng từ xưa nay, rút ra những tinh yếu, cắt bỏ đi những phần rắc rối; bên cạnh người biên soạn đã bỏ ra hơn 10 năm trường đi sưu tra khắp các địa phương để hoàn thành bộ Truyền Đăng Lục vĩ đại như thế này. Nội dung của tác phẩm này gồm 7 vị Phật thời quá khứ, chư vị tổ sư của Tây Thiên, Đông Độ, và kèm theo liệt vị tổ sư cũng như cư sĩ xuất hiện sau khi bộ Ngũ Đăng Hội Nguyên ra đời, tổng cọng hơn 7.000 người. Tuy nhiên, cũng có khá nhiều vấn đề như một số bộ phận chưa chỉnh lý, hay điểm công nhận sự hiện hữu của Thiên Vương Đạo Ngộ (天皇道悟), v.v.
ngũ đăng toàn thư
(五燈全書) Tác phẩm, 120 quyển và 16 quyển mục lục, do ngài Tễ luân Siêu vĩnh biên soạn vào đời Thanh, ấn hành vào năm Khang hi 36 (1697), được thu vào Vạn tục tạng tập 140- 142, ở đầu quyển mục lục có phụ thêm bài tựa, biểu tâu vua, phàm lệ... Nội dung sách này, ngài Siêu vĩnh trích lấy những chỗ cốt yếu trong các bộ truyền đăng lục như Ngũ đăng hội nguyên... và bỏ ra hơn 10 năm đi các nơi sưu tập tư liệu mà soạn thành. Ngoài 7 đức Phật, các vị Tổ Ấn độ, Trung quốc ra, còn gồm có các Tổ sư, Kì túc, Cư sĩ v.v... từ Ngũ đăng hội nguyên trở về sau, bất luận là dòng chính hay dòng phụ, đều được ghi chép, tất cả hơn 7.000 vị. Đây là bộ sách tập đại thành của các Truyền đăng lục. Sách này thừa nhận pháp hệ của Thiền sư Thiên vương Đạo ngộ đời Đường. Ngoài ra, trong sách có trường hợp trùng lập, 1 số nhân vật được ghi lại nhiều lần.
Ngũ Đăng Tục Lược
(五燈續略, Gotōzokuryaku): xem Ngũ Đăng Hội Nguyên Tục Lược (五燈會元續略, Gotōegenzokuryaku) ở trên.
ngũ đương thiệu
(五當召) Chữ triệu, tiếng Mông cổ, có nghĩa là chùa. Chùa ở hào (rạch nước) Ngũ đương cách Bao đầu, Tuy viễn về phía đông bắc khoảng 50 cây số, được xây dựng vào khoảng năm Khang hi (1662-1722) đời Thanh, trên 1 diện tích hơn 20 nghìn mét vuông. Chùa dựa vào núi, tường, cột, vách đều được mạ vàng, ngói màu vàng, nóc màu đỏ, mái cong, rường cột đều chạm trổ rất đẹp. Chùa có nhiều kinh sách, nhưng đáng tiếc đã bị hủy hoại trong thời cách mạng văn hóa của cộng sản Trung quốc do Mao trạch đông khởi xướng. Các kiến trúc trong chùa được chia làm 6 bộ phận: 1. A luân độc cung: Được xây dựng vào năm Gia khánh thứ 5 (1800), là cung điện xây trên dốc núi, địa thế hiểm yếu, 4 bức vách trong điện đều có vẽ tranh Phật, rất đẹp đẽ, nét vẽ tinh vi, sống động. 2. Động khoát nhĩ độc cung (Chùa Quảng giác): Được cất vào năm Càn long 14 (1749), vua Càn long ban hiệu là Quảng Giác Cung, trên cổng chính có tấm biển khắc bằng các thứ chữ Hán, Mãn châu, Mông cổ và Tây tạng. 3. Động khoát nhĩ hoạt Phật phủ miếu: Nơi làm việc và nghỉ ngơi của vị Phật sống.4. Nhật mộc luân độc cung: Được kiến thiết vào năm Quang tự 18 (1892), là kiến trúc sau cùng của chùa Ngũ đương. 5. Khước y lạp độc cung: Được xây vào năm Đạo quang 15 (1835), trong điện có tượng Phật cao 10 mét. 6. Tô cát bí độc cung: Được cất vào năm Càn long 22 (1757) là kiến trúc lớn nhất trong chùa, cung điện rất nguy nga tráng lệ. Ngày xưa các cuộc hội họp của chùa đều được tổ chức ở đây.
ngũ đại
Paca-mahābhŪta (S), Pacabhuta (S), jung wa nga (T), Five elements Gồm: Không, Hỏa, Phong, Thủy, Địa.
; Pancamahàbhùta (S). The five elements: earth, water, fire, wind, and space.
; (五大) I. Ngũ Đại. Phạm: Paĩca mahà-bhùtàni. Cũng gọi Ngũ đại chủng. Chỉ cho 5 nguyên tố của thể tính rộng lớn, sinh thành ra muôn pháp, tức là: Đất, nước, lửa, gió và không. Tính chất của 5 nguyên tố này theo thứ tự là cứng, ướt, nóng, động và vô ngại; tác dụng là giữ gìn, thu nhiếp, thành thục, tăng trưởng, không ngăn ngại. Trong Phật giáo có các thuyết: Tứ đại, Ngũ đại, Lục đại, Thất đại... Đại khái các tông Câu xá, Duy thức... đều áp dụng thuyết Tứ đại, vì tứ đại tạo ra tất cả các sắc pháp nên gọi là Tứ đại chủng hay Năng tạo tứ đại. Mật giáo thì chuyên sử dụng thuyết Ngũ đại, Lục đại(đất, nước, lửa, gió, không, thức), chủ trương tứ đại không lìa tâm đại, cho rằng tâm và sắc tuy khác nhưng thể tính của chúng thì chẳng phải 2; rằng lục đại sinh ra 4 pháp thân, 3 thế gian, là thể tính của pháp giới, cũng chính là thân Tam ma da của Như lai. Chủng tử của Ngũ đại theo thứ tự là: (a), (va), (ra), (ha) và (kha). Nghĩa của các chữ chủng tử này theo thứ tự là: Vốn chẳng sinh (a), lìa lời nói (va), lìa bụi nhơ (ra), lìa nhân duyên (ha), như hư không (kha). Lại đem Ngũ đại phối với ngũ phương(vị), ngũ sắc, ngũ Phật, ngũ môn và ngũ trí. Còn nói về hình tướng và màu sắc thì đất là hình vuông màu vàng; nước hình tròn màu trắng; lửa hình tam giác màu đỏ; gió hình bán nguyệt màu đen; không là hình bảo châu màu xanh. Đây chính là tháp Ngũ luân hình Tam muội da của đức Đại nhật Như lai. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; phẩm A xà lê chân thực trí trong kinh Đại nhật Q.5; Tôn thắng Phật đính tu du già pháp nghi quĩ Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.37; Tức thân thành Phật nghĩa; Kim cương giới mạn đồ la sao Q.thượng]. (xt. Lục Đại). II. Ngũ Đại. Chỉ cho 5 đại: Không đại, phong đại, hỏa đại, thủy đại và địa đại do Ngũ duy sinh ra. Ngũ duy chỉ cho: Thanh duy, xúc duy, sắc duy, vị duy và hương duy. Đây là 1 khoa trong 25 đế do học phái Số luận thành lập. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí, thì có thuyết cho rằng từ Ngã mạn sinh ra 10 pháp là ngũ đại và ngũ duy; nhưng cũng có thuyết chủ trương Ngã mạn chỉ sinh ra ngũ duy, còn ngũ duy thì sinh ra ngũ đại, và ngũ đại sinh ra 11 căn. Phật giáo thì cho tứ đại và ngũ đại là năng tạo, còn học phái Số luận thì chủ trương ngũ đại là sở tạo. Đây là sự sai khác căn bản giữa 2 bên. [X. kinh Niết bàn Q.35, 36 (bản Nam); luận Đại trí độ Q.70; luận Kim thất thập; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối]. (xt. Nhị Thập Ngũ Đế, Tứ Đại).
ngũ đại bộ
(五大部) Chỉ cho 5 loại đại bộ. I. Ngũ Đại Bộ. Cũng gọi Ngũ bộ Đại thừa kinh. Năm loại đại bộ kinh điển trong các kinh Đại thừa. Đây là cách phân loại của Khai nguyên thích giáo lục đối với các kinh Đại thừa. Tức là: 1. Bát nhã bộ: Gồm 21 bộ, 736 quyển, 73 pho. 2. Bảo tích bộ: Gồm 82 bộ, 169 quyển, 17 pho. 3. Đại tập bộ: Gồm 24 bộ, 142 quyển, 14 pho. 4. Hoa nghiêm bộ: Gồm 26 bộ, 187 quyển, 18 pho. 5. Niết bàn bộ: Gồm 6 bộ, 58 quyển, 6 pho.Về sau, các bộ kinh lục đều theo phương pháp phân loại này. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.10, 11, 12; Chính ngoa tập; Khai nguyên thích giáo lục lược xuất Q.1; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.19, 20; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.1]. II. Ngũ Đại Bộ. Toàn thể kinh Đại thừa được chia làm 5 đại bộ. Theo Duyệt tạng tri tân của ngài Trí húc thì 5 đại bộ là: 1. Hoa nghiêm bộ. 2. Phương đẳng bộ. 3. Bát nhã bộ. 4. Pháp hoa bộ. 5. Niết bàn bộ. Đây là do ngài Trí húc y cứ vào Ngũ thời phán giáo của tông Thiên thai mà thành lập. Trong đó, bộ Bảo tích và Đại tập (do Khai nguyên lục chia ra) được đưa vào Phương đẳng bộ, lập riêng Pháp hoa bộ, còn các kinh trùng dịch, đơn dịch ngoài 5 đại bộ thì phần lớn cũng được đưa vào Phưong đẳng bộ. Đại tạng kinh bản rút gọn của Nhật bản chủ yếu là dựa theo cách phân loại này. Trong 5 đại bộ trên, Hoa nghiêm bộ gồm 28 bộ, 233 quyển; Phương đẳng bộ gồm 363 bộ, 1133 quyển; Bát nhã bộ gồm 29 bộ, 447 quyển; Pháp hoa bộ gồm 14 bộ, 57 quyển; Niết bàn bộ gồm 16 bộ, 121 quyển. [X. Duyệt tạng tri tân Q.1; Đại nhật bản hiệu đính súc loát Đại tạng kinh mục lục]. III. Ngũ Đại Bộ. Năm đại bộ chú sớ do Luật sư Nam sơn Đạo tuyên soạn thuật. Đó là: 1. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao 3 quyển (nay chia ra 12 quyển). 2. Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ 4 quyển (nay chia làm 8 quyển). 3. Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ 4 quyển (nay chia làm 8 quyển). 4. Tứ phần luật thập tì ni nghĩa sao 3 quyển (nay được chia làm 6 quyển, nhưng 2 quyển sau đã bị thất lạc). 5. Tứ phần tỉ khưu ni sao 3 quyển (nay là 6 quyển). [X. Tứ phần luật tùy cơ yết ma sớ chính nguyên kí Q.1; Bát tông cương yếu Q.thượng].
ngũ đại châu
The five continents: Á châu: Asia. Âu châu: Europe. Mỹ châu: America. Phi châu: Afirca. Úc châu: Australia.
ngũ đại chủng tánh
Paca-mahābhŪtani (S).
ngũ đại dương
The five oceans: Ấn Độ dương: Indian Ocean. Bắc Băng dương: Arctic Ocean. Đại Tây dương: Atlantic Ocean.
ngũ đại hình
Năm biểu trưng của năm yếu tố lớn—The symbols of the five elements:Đất hình vuông: Earth as square.
; (五大形) Hình tướng của 5 đại. Theo Mật giáo, 5 đại (địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại) theo thứ tự là hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình bán nguyệt và hình vòm cầu. 1. Địa đại: Hình vuông, có nghĩa an trụ bất động, tương ứng với lí vốn chẳng sinh của chữ (a). 2. Thủy đại: Hình tròn, có nghĩa xoay chuyển tự tại vô ngại, tương ứng với nghĩa lời nói xoay chuyển vô cùng của chữ (va). 3. Hỏa đại: Hình tam giác, biểu thị nghĩa bén nhạy của lửa, thiêu đốt hết phiền não nhơ nhớp, tương ứng với lí tất cả trần cấu đều vắng lặng của chữ (ra). 4. Phong đại: Hình bán nguyệt, biểu thị nghĩa tạo tác các pháp, tương ứng với sức mạnh sinh thành và phá hoại của chữ (ha). 5. Không đại: Hình vòm cầu, do hình tam giác và hình bán nguyệt hợp lại mà thành, biểu thị nghĩa vuông tròn không hai, đầy đủ các hình, tương ứng với pháp tính hư không của chữ (kha). [X. Lục đại áo nghĩa chương; Thập trụ tâm quảng danh mục Q.6].
ngũ đại hư không tạng bồ tát
(五大虛空藏菩薩) Cũng gọi Ngũ đại kim cương hư không tạng.Chỉ cho 5 vị Bồ tát là: Pháp giới hư không tạng, Kim cương hư không tạng, Bảo quang hư không tạng, Liên hoa hư không tạng và Nghiệp dụng hư không tạng. Hoặc còn gọi là: Giải thoát hư không tạng, Phúc trí hư không tạng, Năng mãn hư không tạng, Thí nguyện hư không tạng và Vô cấu hư không tạng. Hoặc cũng có tên là: Trí tuệ hư không tạng, Ái kính hư không tạng, Quan vị hư không tạng, Năng mãn hư không tạng và Phúc đức hư không tạng. Đây tức là nghĩa 5 đức Phật: Đại nhật, A súc, Bảo sinh, Di đà, Thích ca mỗi vị đều trụ trong tam muội Như ý bảo châu và 5 vị Bồ tát này là do 5 đức Phật biến hiện ra. Cũng có chỗ cho rằng 5 vị Bồ tát này là do y cứ vào tam muội Ngũ trí mà được lập ra. Chủng tử của 5 vị Bồ tát này theo thứ tự là 5 chữ: (vaô), (hùô), (trà#), (hrì#) và (a#). Hình tam muội da là: Tháp, chày 5 chĩa, vật báu như ý, hoa sen và yết ma. Về hình tượng của 5 vị bồ tát Đại hư không tạng này, theo phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Du già du kì, thì ở trong 1 vòng tròn sáng lớn lại vẽ 5 vòng tròn nhỏ, trong vòng tròn nhỏ ở chính giữa vẽ bồ tát Pháp giới hư không tạng màu trắng, tay trái cầm móc câu, tay phải cầm vật báu, trong vòng tròn phía trước (đông) vẽ bồ tát Kim cương hư không tạng màu vàng, tay trái cầm móc câu, tay phải cầm kim cương báu, trong vòng tròn bên phải (nam)vẽ bồ tát Bảo quang hư không tạng màu xanh, tay trái cầm móc câu, tay phải cầm vật báu có 3 múi, phóng ra ánh sáng lớn; trong vòng tròn phía sau (tây) vẽ bồ tát Liên hoa hư không tạng màu đỏ, tay trái cầm móc câu, tay phải cầm hoa sen màu hồng; trong vòng tròn bên trái (bắc) vẽ bồ tát Nghiệp dụng hư không tạng màu tím, tay trái cầm móc câu, tay phải cầm kim cương bảo. Năm vị Bồ tát này theo thứ tự ngồi trên lưng sư tử, voi, ngựa, chim công và chim Ca lâu la (chim cánh vàng). Ấn tướng chung của 5 vị là Ngoại ngũ cổ ấn, 2 ngón giữa tạo thành hình báu, trên đầu 4 ngón còn lại quán tưởng là hình báu. Ngoài r a , Tượng Năm Bồ Tát Đại Hư Không Tạng pháp tu lấy 5 vị bồ tát Đại hư không tạng này làm bản tôn, gọi là Đại hư không tạng pháp, thường được tu để cầu thêm lợi ích hoặc khi trời đất biến đổi. [X. kinh Ngũ đại hư không tạng bồ tát tốc tật đại thần nghiệm bí mật thức; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Nhũ vị sao Q.10, 12].
ngũ đại hư không tạng pháp
(五大虛空藏法) Cũng gọi Kim môn điểu mẫn pháp. Pháp tu lấy 5 vị bồ tát Hư không tạng làm bản tôn để cầu tăng thêm lợi ích, tiêu trừ tai nạn...
ngũ đại khoa học
Five major sciences, rig gnas che ba lnga (T).
ngũ đại long vương
(五大龍王) Cũng gọi Ngũ loại long vương. Năm vị vua rồng lớn. Đó là: 1. Thiện trụ long vương (Phạm: Susamsthita-nàga-ràjà). 2. Nan đà bà nan đà long vương (Phạm: Nandopananda-nàga-ràjà). 3. A nậu đạt long vương (Phạm: Anavatapta-nàga-ràjà). 4. Bà lâu na long vương (Phạm: Varuịa-nàga-ràjà). 5. Ma na tô bà đế long vương (Phạm: Manasvì-nàga-ràjà). Năm vua rồng này theo thứ tự là chúa các loài rồng voi, rồng rắn, rồng ngựa, rồng cá và rồng tôm; đồng thời, nương vào sức uy thần của Phật, tu hành pháp Đại thừa, thống lãnh quyến thuộc, không làm các việc tổn hại chúng sinh. [X. kinh Đại phưong đẳng đại tập Q.58; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.19].
ngũ đại lực bồ tát
The five powerful Bodhisattvas guardians of the four quarters and the center.
; (五大力菩薩) Cũng gọi Ngũ đại lực tôn. Chỉ cho 5 vị Đại lực tôn hộ trì Tam bảo, che chở đất nước, hiện tướng phẫn nộ được tôn thờ trong Mật giáo. Theo phẩm Thụ trì trong kinh Nhân vương (bản dịch cũ), thì 5 vị Đại lực bồ tát là: Kim cương hống, Long vương hống, Vô úy thập lực hống, Lôi điện hống và Vô lượng lực hống. Nhưng phẩm Phụng trì trong kinh Nhân vương do ngài Bất không dịch thì nêu Ngũ phương bồ tát: Đông phương Kim cương thủ, Nam phương Kim cương bảo, Tây phương Kim cương lợi, Bắc phương Kim cương dược xoa và Trung ương Kim cương ba la mật đa. Trong đó, Kim cương ba la mật đa tức là Kim cương hống, Kim cương bảo tức là Long vương hống, Kim cương thủ tức là Vô úy thập lực hống, Kim cương dược xoa tức là Lôi điện hống và Kim cương lợi tức là Vô lượng lực hống. Cứ theo Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh đạo tràng niệm tụng nghi quĩ thì 5 vị Bồ tát này nương vào 2 loại luân mà hiện thân: Dùng Chính pháp luân hiện thân chân thực, dùng Giáo lệnh luân hiện thân uy nộ. Tức thân Chính pháp luân của bồ tát Kim cương thủ ở phương đông là bồ tát Phổ hiền, thân Giáo lệnh luân là Uy nộ hàng tam thế kim cương, hiện 4 đầu 8 tay. Thân Chính pháp luân của bồ tát Kim cương bảo ở phương nam là bồ tát Hư không tạng, thân Giáo lệnh luân là Uy nộ cam lộ quân đồ lợi kim cương, thị hiện 8 tay. Thân Chính pháp luân của bồ tát Kim cương lợi phương tây là bồ tát Văn thù sư lợi, thân Giáo lệnh luân là Uy nộ lục túc kim cương, hiện 6 tay 6 đầu, ngồi trên lưng trâu. Thân Chính pháp luân của bồ tát Kim cương xoa ở phương bắc là bồ tát Tồi phục nhất thiết ma oán, thân Giáo lệnh luân là Uy nộ tịnh kim cương, hiện 4 tay. Thân Chính pháp luân của bồ tát Kim cương ba la mật đa ở chính giữa là bồ tát Chuyển pháp luân, thân Giáo lệnh luân là Uy nộ bất động kim cương. Ngoài ra, Nhân vương bát nhã kinh niệm tụng thứ đệ, Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh đạo tràng niệm tụng nghi quĩ... cũng nói về hình tượng của 5 vị tôn này và phương pháp kiến lập Mạn đồ la.
ngũ đại minh vương
(五大明王) Cũng gọi Ngũ đại tôn, Ngũ phẫn nộ, Ngũ bộ phẫn nộ. Chỉ cho 5 vị Đại minh vương: Bất động minh vương, Hàng tam thế minh vương, Quân đồ lợi minh vương, Đại uy đức minh vương và Kim cương dạ xoa minh vương. Năm vị tôn này là do 9 thức biến ra, là thân Giáo lệnh luân của 5 đức Phật biến hiện ra để phá dẹp các ma chướng trong ngoài. Bất động minh vương ở chính giữa là thân Giáo lệnh luân của đức Đại nhật Như lai, có năng lực hàng phục tất cả các ma. Thân Giáo lệnh luân của A súc Như lai là Hàng tam thế minh vương ở phương đông, có khả năng hàng phục trời Đại tự tại. Thân Giáo lệnh luân của Bảo sinh Như lai là Quân đồ lợi minh vương ở phương nam, có thể hàng phục ma ngũ ấm. Thân Giáo lệnh luân của Vô lượng thọ Như lai là Đại uy đức minh vương ở phương tây, có khả năng hàng phục ma người. Thân Giáo lệnh luân của Bất không thành tựu Như lai là Kim cương dạ xoa minh vương ở phương bắc, có thể hàng phục ma trên mặt đất. Nếu nói về ma bên trong thì hoa sen trên đầu Bất động minh vương tượng trưng cho thức thứ 9, 8 tay của Hàng tam thế minh vương tượng trưng cho thức thứ 8, con rắn quấn khắp thân của Quân đồ lợi minh vương tượng trưng cho thức thứ 7, 6 mặt 6 tay của Đại uy đức minh vương tượng trưng cho thức thứ 6, 5 con mắt của Kim cương dạ xoa minh vương tượng trưng cho 5 thức trước. Vì có thuyết cho rằng Kim cương dạ xoa minh vương và Ô xu sa ma minh vương là cùng 1 thể tính, cho nên cũng có trường hợp dùng Ô xu sa ma minh vương để thay thế Kim cương dạ xoa minh vương. Ngôi nhà để thờ Ngũ đại minh vương gọi là Ngũ đại đường. Pháp bí mật lấy Ngũ đại minh vương làm bản tôn để tu, gọi là Ngũ đàn pháp. [X. Nhân vương kinh nghi quĩ Q.thượng (bản dịch mới); Bổ đà lạc hải hội quĩ; Bí tạng kí; Giác nguyên sao Q.hạ; Chư tôn ấn nghĩa Q.4; Nhũ vị sao Q.9].
ngũ đại nguyện
(五大願) Năm thệ nguyện rộng lớn trong Mật giáo. Đó là: 1. Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ. 2. Phúc trí vô biên thệ nguyện tập. 3. Pháp môn vô biên thệ nguyện học. 4. Như lai vô biên thệ nguyện sự. 5. Vô thượng bồ đề thệ nguyện thành. Đây là bản nguyện của đức Đại nhật Như lai, cũng là thệ nguyện chung của chư Phật và Bồ tát. Có thể được phối hợp với 5 đức Phật: A súc, Bảo sinh, A di đà, Bất không thành tựu, và Đại nhật. Ngũ đại nguyện này tương đương với Tứ hoằng thệ nguyện của Hiển giáo. [X. Phật đính tôn thắng đà la ni niệm tụng nghi quĩ pháp; Vô úy tam tạng thiền yếu; Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh đạo tràng niệm tụng nghi quĩ Q.hạ]. (xt. Tứ Hoằng Thệ Nguyện).
ngũ đại phi tình
Chúng vô tình quan hệ trực tiếp với ngũ đại, trong khi chúng hữu tình quan hệ với ngũ đại cộng thêm tâm thức—The inanimate connected directly with the five great elements, while the animate connected with the same five, plus the mind or perception.
ngũ đại quán
Meditation on the five elements—See Ngũ Đại.
; (五大觀) Pháp quán xét 5 đại: 1. Quán địa đại, quán màu trắng. 2. Quán thủy đại, quán màu xanh lá cây. 3. Quán hỏa đại, quán màu đỏ. 4. Quán phong đại (gió), quán màu đen. 5. Quán không đại, quán màu xanh. [X. kinh Thủ hộ quốc Q.2].
ngũ đại quán môn
(五大觀門) Pháp môn quán xét 5 đại: Đất, nước, lửa, gió và không. NGŨ ĐẠI SỚ Cũng gọi Ngũ bộ sớ. Năm bộ sớ chú thích 5 bộ kinh bí mật do Thai Mật của Nhật bản lập. Đó là: 1. Đại nhật kinh nghĩa thích, 14 quyển, do Tam tạng Thiện vô úy đời Đường giảng, ngài Nhất hạnh ghi lại. 2. Kim cương đính Đại giáo vương kinh sớ, 7 quyển, do ngài Viên nhân người Nhật soạn. 3. Tô tất địa yết la kinh lược sớ, 7 quyển, do ngài Viên nhân người Nhật soạn. 4. Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương kinh lược nghĩa thích hội bản, 5 quyển, do ngài Viên trân người Nhật soạn.5. Kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kì kinh tu hành pháp, 3 quyển, do ngài An nhiên người Nhật soạn.
ngũ đại sắc
Năm màu chính—The five chief colours: Màu vàng biểu trưng cho đất: Yellow for earth. Màu trắng biểu trưng cho nước: White for water. Màu đỏ biểu trưng cho lửa: Red for fire. Màu đen biểu trưng cho gió: Black for wind. Màu xanh da trời biểu trưng cho hư không: Azure for space or sky.
ngũ đại sứ giả
Ngũ Thiên Sứ Giả—Năm sứ giả lớn—The five duta—Five great lictors or deva-messengers: Sanh: Birth. Già: Old-age. Bịnh: Disease. Khổ: Sufferings—Earthly laws and punishments. Chết: Death.
; (五大使者) Cũng gọi Ngũ thiên sứ giả, Ngũ thiên sứ. Chỉ cho sinh, lão, bệnh, tử và vương pháp lao ngục. Đây là sứ giả của vua Diêm la, tức là những sứ giả phát từ nghiệp đạo tự nhiên để cảnh giới người đời. [X. kinh Phật thuyết Diêm la vương ngũ thiên sứ giả].
ngũ đại sứ giả, ngũ thiên sứ giả
The five dùta, i.e. great lictors, or deva messengers - birth, old age, disease, death, earthly laws and punishments.
ngũ đại thiên sứ giả
See Ngũ Đại Sứ Giả.
ngũ đại thí
(五大施) Chỉ cho việc gìn giữ 5 giới. Các thầy tu của Bà la môn giáo qui định mỗi ngày phải thực hành Ngũ đại tế (Phạm: Paĩca mahàyajĩa), tức là: Cúng dường các thần (Phạm:Devayajĩa), bố thí sinh linh (Phạm:Bhùtayajĩa), tế bái tổ linh (Phạm:Pitfyajĩa), đọc tụng Phệ đà (Phạm: Brahmayajĩa), bố thí nhân loại (Phạm: Nfyajĩa). Ngũ đại tế này, sau được Phật giáo thay thế bằng Ngũ đại thí. [X. kinh Ngũ đại thí].
ngũ đại tôn căn bản ấn
(五大尊根本印) Tức là ấn Ngũ cổ ngoại phược, 2 cổ tay tréo nhau. Hoặc đặt cổ tay phải ở trên cổ tay trái, lưng 2 bàn tay sáp vào nhau và tréo 2 ngón giữa, còn các ngón cái, ngón út và ngón vô danh đều dựng đứng, đây chính là ấn Ngũ cổ của Liên hoa bộ. Hoặc có thuyết cho rằng Ngũ đại tôn thường dùng ấn kiếm. Cũng có thuyết nói khi dùng ấn Ngoại ngũ cổ để tụng chú Từ cứu thì vị A xà lê ở Trung đàn kết ấn Kiếm bằng ngón tay giữa mà tụng.
ngũ đại tôn nhất đàn pháp
(五大尊一壇法) Cũng gọi Ngũ tôn hợp hành pháp. Pháp tu trong Mật giáo an vị Ngũ đại tôn ở cùng 1 đàn. Tức là tu pháp Ngũ đại tôn chung trong 1 đàn theo qui định của Nhân vương bát nhã đạo tràng niệm tụng nghi quĩ. Ngũ đại tôn chỉ cho 5 vị Đại minh vương: Bất động, Hàng tam thế, Quân đồ lợi, Đại uy đức và Kim cương dạ xoa.
ngũ đại tôn phối trí
(五大尊配置) Vị trí của 5 vị Đại minh vương trong Mật giáo. Chính giữa là Bất động minh vương, phương đông là Hàng tam thế minh vương, phương nam là Quân đồ lợi minh vương, phương tây là Đại uy đức minh vương, phương bắc là Kim cương dạ xoa minh vương. Nhưng khi xếp thành 1 hàng thẳng thì vị trí có khác: Chính giữa là Bất động minh vương, phương đông là Hàng tam thế minh vương, phương tây là Quân đồ lợi minh vương, phía đông của Hàng tam thế là Kim cương dạ xoa minh vương, phía tây của Quân đồ lợi là Đại uy đức minh vương. Hoặc chính giữa là Bất động minh vương, phương đông là Quân đồ lợi minh vương, phương tây là Kim cương dạ xoa minh vương, phía đông của Quân đồ lợi là Hàng tam thế minh vương, phía tây của Kim cương dạ xoa là Đại uy đức minh vương.
ngũ đại tôn tổng ấn minh
(五大尊總印明) Cũng gọi Ngũ đại tôn tổng nhiếp ấn minh. Ấn khế và chân ngôn chung của 5 vị Đại minh vương. Tức là 5 vị đều kết ấn Ngoại ngũ cổ và tụng chú Từ cứu. Đây là ấn minh do thầy truyền nên các nghi quĩ không có chép.Theo sự giải thích về nghĩa sâu kín thì 2 ngón tay giữa của Ngoại ngũ cổ ấn làm thành hình thanh gươm, 2 ngón trỏ dựng thẳng, cũng gọi là Ngũ kiếm ấn, từ thanh gươm của vị tôn ở chính giữa sinh ra các thanh gươm ở 4 phương, thành 4 vị Đại minh vương. Ấn này được phối hợp với 5 vị Đại minh vương, tức 2 ngón út là Kim cương dạ xoa minh vương ở phương bắc, ngón trỏ của tay phải là Hàng tam thế minh vương ở phương đông, 2 ngón cái là Quân đồ lợi minh vương ở phương nam, ngón trỏ của tay trái là Đại uy đức minh vương ở phương tây, còn 2 ngón giữa là Bất động minh vương ở trung ương.
ngũ đại tông phái
The five great Buddhist schools: Trường phái giáo thuyết: The Teaching school. Trường phái Luật: The Vinaya school. Thiền tông: The Zen school. Mật tông: The Secret school. Tịnh Độ tông: The Pure Land school.
ngũ đại tự nghĩa
(五大字義) Mật giáo dùng 5 câu Ngã giác bản bất sinh, xuất quá ngôn ngữ đạo, chư quá đắc giải thoát, viễn li ư nhân duyên, tri không đẳng hư không để giải thích nghĩa sâu xa của 5 đại: Địa, thủy, hỏa, phong, không. Tức là: 1. Ngã giác bản bất sinh(ta biết vốn không sinh): Là chữ (a), nghĩa của địa đại(đất). Ý nói các pháp vốn chẳng sinh, không thực có, như tâm của chúng ta chẳng phải xanh vàng đỏ trắng, vuông tròn dài ngắn, nếu tìm cầu thì cả quá khứ, hiện tại, vị lai tâm này đều không có, là bất khả đắc. Vì thế nói các pháp vốn không sinh. 2. Xuất quá ngữ ngôn đạo(đạo vượt ngoài lời nói): Là chữ (va), nghĩa của thủy đại (nước). Nghĩa là tất cả các pháp dùng lời nói để diễn đạt đều không thể được. Vì các pháp đã là tự nhiên như thế thì không thể dùng 8 khái niệm phù phiếm như: Sinh diệt, nhất dị, thường đoạn, khứ lai để biểu đạt. Bởi lẽ các pháp vốn dứt bặt ngôn ngữ tứ cú bách phi, xa lìa hí luận, như nước có công năng rửa sạch các vật. 3. Chư quá đắc giải thoát(các lỗi lầm được giải thoát): Là chữ (ra), nghĩa của hỏa đại(lửa). Ý nói tất cả các pháp trần cấu không thực có. Các pháp lấy 6 đại làm thể tính, mà thể của 6 đại thì thanh tịnh, mầu nhiệm, vốn không có bụi nhơ, chỉ vì tâm mê nên trở thành bất tịnh, đó là thực nghĩa của các pháp trần cấu không thực có, như lửa có công năng thiêu đốt bụi nhơ. 4. Viễn li ư nhân duyên (xa lìa mọi nhân duyên): Là chữ (ha), nghĩa của phong đại (gió). Ý nói nghiệp nhân của tất cả các pháp đều không có thật. Vì các pháp đã là không sinh thì vốn thực có, không phải nay mới sinh, cho nên không có nghiệp nhân, đó là thực nghĩa nghiệp nhân của tất cả các pháp không thực có, như gió có công năng phá hoại các vật. 5. Tri không đẳng hư không (biết tính không cũng đồng như hư không): Là chữ (kha), nghĩa của không đại. Ý nói tất cả các pháp giống như hư không, chẳng thể nắm bắt được. Vì các pháp xưa nay vốn không sinh không diệt, cho nên là đồng với hư không. Chẳng nắm giữ 1 vật gì là tính của không đại. Pháp quán về nghĩa của Ngũ đại tự trên đây, theo thuyếttrong Bí tạng kí quyển cuối, nếu quán về tính không thực có của chúng thì mới chỉ là nghĩa trừ mê mà thôi, còn quán về tính tròn sáng của chúng mới là nghĩa cùng tột. [X. phẩm Nhập chân ngôn trong kinh Đại nhật Q.2].
ngũ đại đệ tử
Five great ones nga de zang po (T)Gồm 5 đại đệ tử đầu tiên của đức Phật: Kiều Trần Như, A xả bà thệ, Bà Sa Bà, Ma Ha Na Ma, Bạt Đề.
ngũ đạm thực
(五啖食) Phạm: Paĩca-bhojanìya. Cũng gọi Ngũ chính thực. Chỉ cho 5 loại thức ăn: Cơm, cơm nấu với đậu, miến, thịt và bánh. [X. Ngũ bộ tì nại da Q.36].
Ngũ đạo
五道; C: wǔdào; J: godō;|Có hai nghĩa:|1. Chỉ năm đường tái sinh của Hữu tình, đó là Lục đạo loại trừ A-tu-la ra, bao gồm: Địa ngục (地獄), Ngạ quỷ (餓鬼), Súc sinh (畜生), Nhân gian (人間), và Thiên thượng (天上). Cũng viết là Ngũ thú (五趣; s: gati-pañcaka).|2. Ngũ đạo (s: pañca-mārga), cũng được gọi là Duy thức tu đạo ngũ vị; song song với Thập địa là con đường tu học của một vị Bồ Tát với năm giai đoạn, được Ðại sư Vô Trước (asaṅga) đề xướng: 1. Tư lương đạo (資糧道; saṃbhāra-mārga), tức là tích trữ lương Phật đạo, trì Giới, Nhiếp căn, tu tập Chỉ, Quán; 2. Gia hạnh đạo (加行道; prayoga-mārga), ở đây có nghĩa là chuẩn bị, tu tập như trên để những thiện căn vững chắc, trở thành thiện căn bản (kuśalamūla); 3. Kiến đạo (見道; darśana-mārga), cũng được gọi là Thông đạt đạo; 4. Tu tập đạo (修習道; bhāvanā-mārga), thực hành 37 Bồ-đề phần; 5. Vô học đạo (無學道; aśaikṣa-mārga), có nghĩa là đến bờ bên kia, không còn gì để học, cũng được gọi là Cứu kính đạo (究竟道; niṣṭhāmārga), tức là đạo tột cùng, đạo tuyệt đối đoạn hoặc, chứng ngộ chân lí;|Các phép tu hành của mỗi giai đoạn trên được trình bày khác nhau trong Thanh văn thừa (s: śrāvakayāna), Ðộc giác thừa (prat-yekabuddhayāna) và Bồ Tát thừa (bo-dhisattvayāna). Trong Bồ Tát thừa thì Kiến đạo mới là bước đầu của Bồ Tát thập địa. Mặc dù có mang tên là Duy thức tu đạo ngũ vị nhưng ngũ đạo được áp dụng trong tất cả các tông phái Phật giáo Ðại thừa. Tại Tây Tạng, Ngũ đạo được nhắc đến nhiều trong các tác phẩm mang tên Bồ-đề đạo thứ đệ (t: lamrim).
ngũ đạo
Five paths, lam nga (T), Paca-mārga (S).
; Five ways of rebirth: thiên devas, nhân humen, ngạ quỉ hungry demons.
; The five gati—See Ngũ Thú.
ngũ đạo chuyển luân vương
Một trong Thập Ngục Vương, người xử lại tội nhân sau ba năm thọ ngục—One of the ten kings of Hades who retries the sufferers on their third year of imprisonment.
; (五道轉輪王) Cũng gọi Chuyển luân vương. Vua thứ 10 trong 10 vị vua ở cõi u minh. Cứ theo kinh Dự tu sinh thất và kinh Địa tạng thập vương, thì vị vua này chuyên phán xét các việc thiện ác của những người chết đã tạo tác lúc còn sinh tiền. Bản địa của vị vua này là A di đà Như lai. Lúc thân trung hữu của người chết sắp hết hạn kì thì phải đến điện lớn của vị vua này để nhận sự phán xét cuối cùng rồi mới có thể đi đầu thai kiếp khác. Cứ theo truyền thuyết, trước lúc chuyển sinh, đầu tiên trung hữu phải đến đình Mạnh bà uống cháo lú để quên hết mọi việc đời trước, kế đó là đến đài Chuyển luân để đầu thai trong 5 đường (có chỗ nói 6 đường), như thế mới không làm cho thiên hạ đại loạn. (xt. Diêm La Thập Điện).
ngũ đạo lục đạo
Năm nẻo sáu đường—The five gati, the six gati—See Ngũ Đạo and Lục Đạo.
; (五道六道) Đồng nghĩa: Ngũ thú, Lục thú. Năm đường, sáu đường. Năm đường chỉ cho: Đường địa ngục, đường ngã quỉ, đường súc sinh, đường người và đường trời, nếu thêm đường a tu la nữa thì là 6 đường, gọi là Lục đạo. [X. luận Đại trí độ Q.30; Thành duy thức luận xu yếu Q.hạ, phần đầu].
ngũ đạo minh quan
Một vị quan trong Thập Ngục Vương—An officer in the retinue of the ten kings of Hades.
ngũ đạo tâm
Theo A Tỳ Đạt Ma Luận, có năm loại đạo tâm—According to the Abhidharma, there are five kinds of path consciousness. Đạo Tâm Nhập Lưu—Path consciousness of stream-entry: Tâm Nhập Lưu Đạo Sơ Thiền, đồng phát sanh cùng Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: The first jhana path consciousness of stream-entry together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. Tâm Nhập Lưu Đạo Nhị Thiền, đồng phát sanh cùng Sát, Phỉ, Lạc, và Nhất Điểm: The second jhana path consciousness of stream-entry together with sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. Tâm Nhập Lưu Đạo Tam Thiền, đồng phát sanh cùng Phỉ, Lạc, và Nhất Điểm: The third jhana path consciousness of stream-entry together with zest, happiness, and one-pointedness. Tâm Nhập Lưu Đạo Tứ Thiền, đồng phát sanh cùng Lạc và Nhất Điểm: The fourth jhana path consciousness of stream-entry together with happiness and one-pointedness. Tâm Nhập Lưu Đạo Ngũ Thiền, đồng phát sanh cùng Nhất Điểm: The fifth jhana path consciousness of stream-entry together with one-pointedness. Ngũ Nhứt Lai Đạo Tâm—Five kinds of path conscious of once-returning—The same as in (A), just replace “Stream-entry” with “Once-returning.” Ngũ Bất Lai Đạo Tâm—Five kinds of path consciousness of non-returning—The same as in (A), just replace “Stream-entry” with “Non-returning.” Ngũ Vô Sanh Đạo Tâm—Five kinds of path consciousness of Arahantship—The same as in (A), just replace “Stream-entry” with “Arahantship.”
Ngũ Đạo Tướng Quân
(五道將軍): tên gọi vị thần của Đạo Giáo, trợ thủ quan trọng của Đông Nhạc Đại Đế (東岳大帝), chủ tể cõi Địa Ngục. Truyền thuyết ông chưởng quản việc sanh tử của con người, có chức phận tương đương với vị Phán Quan của Diêm Vương (閻王). Trong tác phẩm Hàn Cầm Hổ Thoại Bổn (韓擒虎話本) nhà Đường có câu: “Ngũ Đạo Tướng Quân, thân phi hoàng kim truy giáp, đảnh đới phụng sí, cao thanh xướng dạ (五道將軍、身披黃金錙甲、頂戴鳳翅、高聲唱諾, Ngũ Đạo Tướng Quân, thân mang áo giáp nặng hoàng kim, đầu đội cánh phụng, lớn tiếng xướng dạ).” Lại có thuyết cho rằng Ngũ Đạo Tướng Quân (五盜將軍, chữ đạo [盜, trộm, cắp] ở đây khác với đạo [道, con đường] ở trên) là thần trộm cắp, nên nếu nằm mộng thấy vị thần này thì không tốt.
ngũ đạo tướng quân
Một vị tướng quân trong Thập Ngục Vương chuyên giữ sổ bộ đời—A general in the retinue of the ten kings of Hades, who keeps the book of life.
ngũ đảnh
Pancasikha (skt)—The five locks on a boy's head—See Ngũ Phật Đảnh Tôn.
ngũ đảnh luân vương
See Ngũ Phật Đảnh Tôn.
ngũ đảnh sơn
See Ngũ Đài Sơn.
ngũ đấu mễ đạo
Wu-tou-mi-tao (C).
ngũ đẩu mễ đạo
(五斗米道) Cũng gọi Thiên sư đạo. Đạo 5 đấu gạo, 1 phái trong Đạo giáo do Trương lăng sáng lập vào đời Đông Hán, người theo học phải đóng 5 đấu gạo, vì thế nên người đương thời gọi là Ngũ đẩu mễ đạo.Về sau, Trương giác cầm đầu bọn giặc Hoàng cân (giặc khăn vàng) cũng thực hành đạo này để chữa bệnh cho dân chúng, khi khỏi bệnh, Trương giác cũng bắt người ta tạ 5 đấu gạo. Người đời sau gọi Trương giác là Trương thiên sư, cho nên Ngũ đẩu mễ đạo còn được gọi là Thiên sư đạo.
Ngũ Đẩu Tinh Quân
(五斗星君): là 5 vị thần thánh được Đạo Giáo kính thờ, chuyên quản lý việc sống chết, phước họa, giàu sang của con người, được phân làm Bắc Đẩu Tinh Quân (北斗星君), Nam Đẩu Tinh Quân (南斗星君), Đông Đẩu Tinh Quân (東斗星君), Tây Đẩu Tinh Quân (西斗星君) và Trung Đẩu Tinh Quân (中斗星君). Mỗi vị tinh quân quản hạt mỗi cung khác nhau. (1) Bắc Đẩu Tinh Quân có 7 cung, được gọi là Thất Tinh (七星), hay Thất Nguyên (七元), chủ yếu chưởng quản về việc giải ách, kéo dài mạng sống. Bảy cung gồm: Thiên Quỹ Tinh (天櫃星), Dương Minh Tham Lang Tinh Quân (陽明貪狼星君); Thiên Tuyền Tinh (天璇星), Âm Tinh Cự Môn Tinh Quân (陰精巨門星君); Thiên Ki Tinh (天璣星), Chơn Nhân Lộc Tồn Tinh Quân (眞人祿存星君); Thiên Quyền Tinh (天權星), Huyền Minh Văn Khúc Tinh Quân (玄明文曲星君); Thiên Hành Tinh (天衡星), Đơn Nguyên Liêm Trinh Tinh Quân (丹元廉貞星君); Khai Dương Tinh (開陽星), Bắc Cực Võ Khúc Tinh Quân (北極武曲星君); Diêu Quang Tinh (搖光星), Thiên Xung Phá Quân Tinh Quân (天沖破軍星君). Trên thực tế, chùm sao Bắc Đẩu có 9 ngôi sao, nên còn thêm Động Minh Tinh (洞明星), Ngoại Phụ Tinh Quân (外輔星君); và Ẩn Nguyên Tinh (隱元星), Nội Bậc Tinh Quân (內弼星君). (2) Nam Đẩu Tinh Quân thì chưởng quản về kéo dài tuổi thọ, độ người, chia thành 6 cung, gồm: Thiên Phủ Tinh (天府星), Ty Mạng Tinh Quân (司命星君); Thiên Tướng Tinh (天相星), Ty Lộc Tinh Quân (司祿星君); Thiên Lương Tinh (天梁星), Diên Thọ Tinh Quân (延壽星君); Thiên Đồng Tinh (天同星), Ích Toán Tinh Quân (益算星君); Thiên Quỹ Tinh (天櫃星), Độ Ách Tinh Quân (度厄星君); và Thiên Cơ Tinh (天機星), Thượng Sanh Tinh Quân (上生星君). (3) Đông Đẩu Tinh Quân có 5 cung, chưởng quản việc tính toán mạng sống, gồm: Thương Linh Diên Sanh Tinh Quân (蒼靈延生星君), Lăng Diên Hộ Mạng Tinh Quân (陵延護命星君), Khai Thiên Tập Phước Tinh Quân (開天集福星君), Đại Minh Hòa Dương Tinh Quân (大明和陽星君), và Vĩ Cực Tổng Giám Tinh Quân (尾極總監星君). (4) Tây Đẩu Tinh Quân có 4 cung chưởng quản về mạng sống, hộ thân, gồm: Bạch Tiêu Tinh Quân (白標星君), Cao Nguyên Tinh Quân (高元星君), Hoàng Linh Tinh Quân (皇靈星君), Cự Uy Tinh Quân (巨威星君). (5) Trung Đẩu Tinh Quân, còn gọi là Đại Khôi (大魁), chủ yếu quản lý việc bảo vệ mạng sống, gồm 3 cung: Hách Linh Độ Thế Tinh Quân (赫靈度世星君), Cán Hóa Thượng Thánh Tinh Quân (幹化上聖星君), Xung Hòa Chí Đức Tinh Quân (沖和至德星君). Trong 5 chùm sao nói trên, hai chùm sao Bắc Đẩu và Nam Đẩu được người đời kính phụng nhiều nhất. Người sanh năm Giáp và Ất thì thuộc về Đông Đẩu; năm Bính, Đinh thuộc về Nam Đẩu; năm Mậu, Kỷ thuộc về Trung Đẩu; năm Canh, Tân thuộc về Tây Đẩu; năm Nhâm, Quý thuộc về Bắc Đẩu. Như trong Thái Thượng Lão Quân Thuyết Ngũ Đẩu Kim Chương Thọ Sanh Kinh (太上老君說五斗金章受生經) của Đạo Giáo có giải thích rõ rằng: “Giáp Ất sanh nhân Đông Đẩu chú sanh, Bính Đinh sanh nhân Nam Đẩu chú sanh, Mậu Kỷ sanh nhân Trung Đẩu chú sanh, Canh Tân sanh nhân Tây Đẩu chú sanh, Nhâm Quý sanh nhân Bắc Đẩu chú sanh; chú sanh chi thời các bẩm Ngũ Hành chân khí, chân khí hỗn hợp, kết tú thành thai; thọ thai thập nguyệt, châu hồi thập phương, thập phương sanh khí, …, thọ sanh chi thời, Ngũ Đẩu Tinh Quân, Cửu Thiên thánh chúng, chú sanh chú lộc, chú phú chú bần, chú trường chú đoản, chú cát chú hung, giai do chúng sanh, tự tác tự thọ (甲乙生人東斗注生、丙丁生人南斗注生、戊己生人中斗注生、庚辛生人西斗注生、壬癸生人北斗注生、注生之時、各稟五行眞氣、眞氣混合、結秀成胎、受胎十月、周回十方、十方生氣…受生之時、五斗星君、九天聖眾、注生注祿、注富注貧、注長注短、注吉注凶、皆由眾生、自作自受, người sanh năm Giáp Ất thì Đông Đẩu ban cho mạng sống, người sanh năm Bính Đinh thì Nam Đẩu ban cho mạng sống, người sanh năm Mậu Kỷ thì Trung Đẩu ban cho mạng sống, người sanh năm Canh Tân thì Tây Đẩu ban cho mạng sống, người sanh năm Nhâm Quý thì Bắc Đẩu ban cho mạng sống; khi ban cho mạng sống, mỗi người đều nhờ chân khí Ngũ Hành, chân khí hỗn hợp, kết tụ thành thai; thọ thai mười tháng, vòng quanh mười phương, mười phương sinh khí, …, khi thọ thai ấy, Ngũ Đẩu Tinh Quân, Cửu Thiên thánh chúng, ban cho sự sống, phước lộc; ban cho giàu có, nghèo cùng; ban cho ngắn dài; ban cho tốt xấu, đều do chúng sanh, tự làm tự chịu).”
ngũ đế
Năm chân lý—The five parijnanas, ordinarily those arising from the five senses Nhân đế: Tập đế—The cause. Quả đế: Khổ đế—The effect (suffering). Trí đế: Năng tri đế hay Đạo đế—Diagnosis. Cảnh đế: Sở tri đế hay Diệt đế—The end or cure (the extinction of suffering). Thắng đế: Chân Như—The supreme axiom.
; (五帝) Năm vị vua trời trong thần thoại Trung quốc thời cổ, được đạo Lão thờ làm thần. Cứ theo Đường triều giả công ngạn sớ thì Ngũ đế là: Đông phương Thanh đế, Nam phương Xích đế, Trung ương Hoàng đế, Tây phương Bạch đế và Bắc phương Hắc đế. [X. kinh Hiếu tử trung; kinh Thái thượng phi hành cửu thần ngọc].
; (五諦) Chỉ cho 5 thứ chân lí. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 46 thì Ngũ đế là: Nhân, quả, trí, cảnh và thắng. Còn theo luận Hiển dương thánh giáo quyển 8 thì Ngũ đế là: Nhân, quả, năng tri, sở tri và chí. Bốn đế trước theo thứ tự tương đương với tập, khổ, đạo, diệt, còn thắng đế (hoặc chí đế) cuối cùng là chân như, tức lí thể cùng tột của Phật giáo. [X. Du già luận kí Q.11, phần cuối]. (xt. Tứ Đế).
ngũ đỉnh
(五頂) I. Ngũ Đính. Phạm: Paĩcazikhin. Hán âm: Ban già thi khí. Chỉ cho 5 búi tóc trên chỏm đầu, như hình đồng tử Ngũ tự Văn thù tôn. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối]. II. Ngũ Đính. Gọi đủ: Ngũ Phật đính. (xt. Ngũ Phật Đính).
ngũ đồng duyên ý thức
Ý thức cùng với năm thức khác duyên với năm cảnh—The mental conception combines with the perceptions of the five senses.
; (五同緣意識) Thức thứ 6 cùng với 5 thức trước cùng duyên theo cảnh.Tức là Ý thức khởi tác dụng cùng với 5 thức mắt, tai, mũi, lưỡi và thân cùng nhận biết 5 cảnh sắc, thanh, hương, vị và xúc.
ngũ độ
Năm phương tiện đưa chúng sanh qua biển sanh tử—The five means of transportation over the sea of mortality to salvation (five paramitas): (A) Bố thí: Almsgiving. Trì giới: Commandment-keeping. Nhẫn nhục: Patience under provocation. Tinh tấn: Zeal. Thiền định: Meditation. ** See Lục Độ Ba La Mật. (B) Năm vương quốc Ấn Độ hay năm tôn giáo lớn ở Ấn Độ—The five kingdoms of ancient India or five great religions of India.
; (五土) I. Ngũ Độ. Chỉ cho 5 loại cõi nước là chỗ y chỉ của thân Phật. Tức là: 1. Pháp tính độ: Cõi nước y chỉ của Pháp thân thanh tịnh Như lai. 2. Thực báo độ: Cõi nước y chỉ của Báo thân viên mãn Như lai. 3. Sắc tướng độ: Cõi nước y chỉ của thân Vi trần tướng hải Như lai. 4. Tha thụ dụng độ: Cõi nước y chỉ của thân Tha thụ dụng Như lai. 5. Biến hóa độ: Cõi nước y chỉ của thân Biến hóa Như lai. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.20]. II. Ngũ Độ. Chỉ cho 5 cõi: Bất tịnh, Bất tịnh tịnh, Tịnh bất tịnh, Tạp và Tịnh. Đây là thuyết của tông Tam luận. Năm cõi này là do nghiệp của chúng sinh chiêu cảm mà có, cho nên gọi là Chúng sinh độ. Lại vì 5 cõi này là đất nước do đức Phật giáo hóa, nên cũng gọi là Phật độ. [X. Đại thừa huyền luận Q.5]. (xt. Phật Độ).
ngũ độc
Five poisons, dug (T).
; The five kysaya periods of turbidity, impurity or chaos: Kiếp độc: The kalpa in decay, when it suffers deterioration and gives rise to the ensuing form—The defilement of the world-age, when war and natural disasters are rife. Kiến độc: Deterioration of view, egoism—The defilement of views, when incorrect, perverse thoughts and ideas are predominant. Phiền não độc: The passions and delusions of desire, anger, stupidity, pride, and doubt prevail—The defilement of passions, when all kinds of transgressions are exalted. Chúng sanh độc: In consequence human miseries increase and happiness decreaces—The defilement of the human being condition, when people are usually dissatisfied and unhappy. Mệnh độc: Human lifetime gradually diminishes to ten years—The defilement of the life-span, when the human life-span as a whole decreases.
Ngũ độn sử
五鈍使; C: wǔdùnshǐ; J: godonshi;|Năm loại phiền não ảnh hưởng đến người tu tập sơ cơ, đó là: Dục (欲), sân (瞋), si (癡), mạn (慢), nghi (疑). Đây là năm loại đầu trong Thập sử (十使), năm loại sau là Ngũ lợi sử (五利使).
ngũ độn sử
xem ngũ hạ kết. Xem thêm kết sử.
; Paca-kleśa-dula (S)Năm loại sử khó đoạn diệt: Tham dục, Sân nhuế, Ngu si, Mạn, Nghi.
; Panca klesa (S). The five dull, unintelligent, or stupid vices or temptations: tham desire, sân anger or resentment, si stupidity or foolishness, mạn arrogance, nghi doubt.
; Panca-klesa—Năm thứ mê mờ ám độn bắt nguồn từ thân kiến mà sanh ra—Five dull, unintelligent, or stupid vices or temptations—Five envoys of stupitity caused by the illusion of the body or self: Tham: Desire—Hankering after—Greed, which causes clinging to earthly life and things, therefore reincarnation. Sân: Anger or resentment. Si: Stupidity or foolishness. Mạn: Arrogance. Nghi: Doubt.
; (五鈍使) Đối lại: Ngũ lợi sử. Chỉ cho 5 phiền não căn bản: Tham, sân, si, mạn, nghi. Năm thứ phiền não này thường sai khiến tâm thần hành giả, làm cho trôi nổi, lăn lộn trong 3 cõi nên gọi là Sử. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.5; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung, phần đầu].
ngũ đức
(五德) I. Ngũ Đức. Khi nói kinh Vô lượng thọ, đức Thế tôn vào định tịch tịnh, hiện tướng 5 đức tốt lành, đó là: 1. Trụ nơi pháp kì đặc. 2. Trụ nơi Phật thường trụ. 3. Trụ nơi hạnh đạo sư. 4. Trụ nơi đạo tối thắng. 5. Hiện 5 thứ đức của Như lai. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng]. II. Ngũ Đức. Năm đức mà người được giao trách nhiệm cử tội trong ngày lễ Tự tứ kết thúc hạ an cư cần phải có. Năm đức có 2 loại: 1. Năm đức tự tứ: Không yêu thương, không ghét bỏ, không sợ hãi, không si mê và biết tự tứ hay không tự tứ. 2. Năm đức cử tội: Biết thời, chân thực, lợi ích, nhu hòa và có lòng thương. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng]. III. Ngũ Đức. Năm đức của vị Giới sư. Đó là: 1. Trì giới: Giữ gìn giới pháp. 2. Thập lạp: Mười tuổi hạ. 3. Giải luật tạng: Thông hiểu tạng luật. 4. Thông thiền tư: Thông suốt thiền định.5. Tuệ tạng cùng huyền: Trí tuệ cùng suốt lí huyền vi. [X. Thiên thai giới sớ Q.thượng]. IV. Ngũ Đức. Năm đức chăm sóc người bệnh: 1. Biết thức ăn nào người bệnh ăn được và không ăn được. 2. Không ghê tởm phẩn, giải và đờm dãi của người bệnh. 3. Có lòng thương xót không vì cơm áo. 4. Biết cách cho bệnh nhân uống thuốc thang. 5. Có khả năng nói pháp cho bệnh nhân nghe. [X. luật Tứ phần Q.41].
ngũ đức thuỵ hiện
(五德瑞現) Năm đức tướng tốt lành Phật thị hiện khi Ngài tuyên thuyết kinh Vô lượng thọ. Tức là: 1. Trụ kì đặc pháp: Trụ ở pháp cao siêu đặc biệt mà ở thế gian không có. 2. Trụ Phật sở trụ: Trụ nơi chư Phật cùng trụ, tức là nơi quả Niết bàn thường trụ.3. Trụ đạo sư hạnh: Phật trụ nơi hạnh 4 nhiếp pháp để giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh vào Phật pháp. 4. Trụ tối thắng đạo: Phật trụ nơi Vô thượng bồ đề, bên trong chứng được đạo chân thực, biết rõ đức của chư Phật. 5. Hành Như lai đức: Thực hành các đức của Như lai: Mười lực, 4 vô úy, 18 pháp riêng, 5 mắt, 6 thần thông, 4 vô ngại... để độ chúng sinh. Trong 5 đức nói trên, Trụ kì đặc pháp là tổng(chung), 4 đức còn lại là biệt (riêng). Trụ Phật sở trụ và Trụ tối thắng đạo là thuộc về đức tự lợi, còn Trụ đạo sư hạnh và Hành Như lai đức thì thuộc về đức lợi tha. [X. kinh Vô lượng thọ tự phần; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn)].
ngũ đức tự tứ
Năm đức tự tứ—Cử hành nghi thức tự tứ cử tội trong ngày kết thúc an cư kiết hạ—The five virtues require in a confessor at the annual confessional ending the rainy retreat: Bất Ái: Không luyến ái—Freedom from predilections. Bất Nhuế: Không sân hận—Freedom from anger. Bất Bố: Không sợ hãi—Freedom from fear. Bất Si: Không si mê—Freedom from ignorance or not easily deceived. Trị tự tứ bất dữ tự tứ: Biết tự tứ và không biết tự tứ—Discernment of shirkers of confession.
Ngũ ấm
五陰; C: wǔyīn; J: goon; S: pañcaskandha; P: pañcakhandha;|Năm nhóm, năm tập hợp mà Đức Phật dạy, gọi chúng như là những nhân tố hợp thành những gì được chúng ta gọi là »chúng sinh«. Ngũ ấm là tiếng Hán cựu dịch từ chữ pañca-skandḥāh tiếng Phạn. Sau nầy dịch là Ngũ uẩn (五蘊).
ngũ ấm
xem năm ấm.
; Gồm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Xem Ngũ uẩn.
; Coi ngũ uẩn.
ngũ ấm ma
The five maras associated with the five skandhas—See Ngũ Uẩn.
ngũ ấm sí thạnh khổ
(五陰熾盛苦) Phạm: Saôkwepeịa paĩcopàdànaskandha-dukha. Pàli: Paĩc upàdàna-kkhandhà pi dukkhà. Cũng gọi Ngũ thịnh ấm khổ, Ngũ thủ uẩn khổ. Các nỗi khổ não bốc cháy mạnh mẽ do có đủ 5 ấm, cũng tức là trong 5 ấm đầy dẫy khổ não. Một trong 8 khổ. Chẳng hạn như sinh, già, bệnh, chết, lo âu sầu não, oán ghét gặp gỡ, thương yêu phải xa lìa, những điều mong cầu không đạt được v.v... đều là khổ cả. [X. kinh Trung a hàm Q.7; kinh Tăng nhất a hàm Q.17; luận Du già sư địa Q.66; luận Đại trí độ Q.23; luận Hiển dương thánh giáo Q.15; Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần đầu]. (xt. Bát Khổ).
Ngũ ấm thạnh khổ
五陰盛苦; C: wǔyīnshèngkǔ; J: goonjōku;|Khổ do năm uẩn. Cảm giác bất an từ sự kiện là sự hiện hữu của con người không nằm bên ngoài hợp thể ngũ uẩn. Đây là một trong »Tứ khổ Bát khổ« (四苦八苦) do Phật Thích-ca Mâu-ni dạy trong Tứ đế (四諦).
ngũ ấm thế gian
(五陰世間) Cũng gọi Ngũ uẩn thế gian, Ngũ chúng thế gian. Tức là 5 ấm: Sắc, thụ, tưởng, hành, thức, có 10 cõi hữu lậu, vô lậu khác nhau. Là 1 trong 3 thế gian. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 5, thượng, thì 10 cõi tuy gọi chung là Ấm nhập giới, nhưng thực ra trong đó mỗi cõi đều khác nhau, như 3 đường ác (địa ngục, ngã quỉ, súc sinh) là Ác ấm giới nhập hữu lậu, còn 3 đường thiện (trời, người, a tu la) là Thiện ấm giới nhập hữu lậu; Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác) là Ấm giới nhập vô lậu, Bồ tát là Ấm giới nhập cũng hữu lậu cũng vô lậu, Phật là Ấm giới nhập chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu. Vì ấm giới của 10 cõi mỗi cõi tự khác nhau nên gọi là Ngũ ấm thế gian. Đây là lí thuyết do Đại sư Thiên thai Trí khải căn cứ vào luận Đại trí độ mà lập ra. [X. luận Đại trí độ Q.47; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.18; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3].
ngũ ấm xí thịnh khổ
The mental and physical sufferings arising from the full-orbed activities of the five skandhas.
ngũ ấn
See Ngũ Độ (B).
Ngũ ẩn
五隱; C: wǔyǐn; J: goon;|Ngũ ấm (五陰), Ngũ uẩn.
ngũ ế
(五翳) Chỉ cho 5 thứ có thể che khuất mặt trời, mặt trăng như: Khói, mây, bụi, sương mù và bàn tay của thần A tu la. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, phần đầu].
ngơ ngẩn
Foolish—Feather-brained.
ngư lam quan âm
(魚籃觀音) Bồ tát Quan âm được biểu trưng bằng hình tượng tay cầm giỏ cá, hoặc ngồi trên lưng con cá lớn, 1 trong 33 hóa thân của Ngài. Đây là tín ngưỡng dân gian bắt đầu từ đời Đường, Trung quốc. Hiện nay thịnh hành tại Nhật bản. Có thuyết cho rằng Ngư lam Quan âm tức là Mã lang phụ Quan âm (Quan âm vợ chàng họ Mã); hoặc cho rằng tượng Ngư lam Quan âm là do người đời Đường lầm nhận tượng nàng Linh chiếu (con gái của cư sĩ Bàng uẩn) cầm giỏ rồi lưu truyền mà thành. [X. Phật tổ thống kỉ Q.41; Phật tổ lịch đại thông tải Q.20; Tống học sĩ toàn tập bổ di Q.3].
ngư mẫu niệm tử
(魚母念子) Cá mẹ nhớ tưởng bảo vệ cá con, ví dụ việc chư Phật gia hộ cho hành giả, khiến họ thành đạo. Luận Đại trí độ quyển 37 (Đại 25, 333thượng) nói: Vì Phật nhớ nghĩ nên không bị đọa lạc, ví như cá con nhờ mẹ nhớ tưởng, che chở mà được sống, nếu không thì chết. Nghĩa là nhờ đức Phật từ bi hộ niệm mà căn lành của Bồ tát không bị hư nát, cũng như cá mẹ luôn thương yêu bảo vệ cá con nên cá con không chết mà được trưởng thành. Tịnh độ luận chú của ngài Đàm loan dùng thí dụ này để hiển bày sự trụ trì của đức Phật A di đà, còn A di đà kinh nghĩa sớ của ngài Nguyên chiếu thì dùng thí dụ này để nói rõ sự hộ niệm của chư Phật. [X. luận Đại trí độ Q.79].
ngư phúc nhi
(魚腹兒) Trẻ con trong bụng cá. Câu chuyện của ngài Bạc câu la lúc còn nhỏ. Cứ theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 3, ngài Bạc câu la sinh trong gia đình Bà la môn, mẹ mất sớm, cha lấy vợ kế. Mẹ kế độc ác, một hôm tức giận, đem ném ngài xuống sông, bị con cá lớn nuốt vào bụng. Nhưng nhờ có phúc duyên hay 1 phép lạ nào mà ngài vẫn không chết, vì ngay lúc đó có người chài lưới bắt được con cá ấy, đưa đến chợ bán. Cha ngài trông thấy mua cá đem về, lấy dao mổ bụng. Lúc đó, ngài Bạc câu la ở trong bụng cá lên tiếng nói rằng (Đại 50, 508 trung): Mong cha an lành, đừng làm con bị thương! Ông bố liền mổ bụng cá ôm con ra. Lớn lên, Bạc câu la xin Phật xuất gia, chứng được quả A la hán.
ngư sơn
(漁山) Cũng gọi Ngô sơn. Núi ở phía tây huyện Đông a, tỉnh Sơn đông, Trung quốc. Tương truyền, Trần tư vương nước Ngụy là Tào thực, từng du ngoạn Ngư sơn, nghe tiếng tụng kinh trong hang núi, âm thanh trầm bổng vang xa, nhà thơ liền phỏng theo mà chế ra Phạm bái (đọc canh cúng dường, tán thán Phật đức), người đời gọi là Ngư phạm, Ngư bái.
ngư thí ngạ quỷ
(魚施餓鬼) Bố thí thức ăn cho cá và quỉ đói. Dân chài lưới sát sinh hàng ngày, vì sợ quả báo nên muốn làm phúc để cầu mong tránh được tai nạn đắm thuyền, hoặc bị loài cá độc giết hại trở thành ma đói; bởi vậy, họ thường ném thức ăn xuống biển để bố thí cho chúng. Ngoài ra, từ ngữ Xuyên thí ngã quỉ là chỉ cho nghi thức bố thí thức ăn cho quỉ đói để cầu siêu cho người chết đuối, hoặc chỉ cho nghi thức thí thực ở ven sông.
ngư tử
(魚子) I. Ngư Tử. Trứng cá. Trứng cá tuy nhiều nhưng thành cá thì không được bao nhiêu; ví dụ nhân tuy nhiều mà kết quả thì ít. Luận Đại trí độ quyển 4 (Đại 25, 88 thượng) nói: Bồ tát phát tâm rộng lớn, trứng cá và hoa cây xoài, ba việc ấy nhân tuy nhiều, nhưng kết quả thì rất ít. Nghĩa là người phát tâm Bồ tát thì nhiều mà thành Phật thì rất ít. II. Ngư Tử. Cá con, ví dụ chúng sinh. Vì Phật hộ niệm chúng sinh giống như cá mẹ yêu thương cá con, cho nên ví chúng sinh là Ngư tử. (xt. Ngư Mẫu Niệm Tử).
ngư vương bối mẫu
xem bối mẫu.
; (魚王貝母) Chỉ cho cá chúa và mẹ sò. Cả 2 lúc đi thì bầy cá bầy sò đều theo sau. Trong kinh điển, ý này thường được dùng để ví dụ cho chúng sinh khi chưa đến được địa vị Thánh nhân, nếu 1 phiền não lớn sinh khởi thì hàng loạt phiền não khác nổi lên. Ma ha chỉ quán quyển 5, hạ (Đại 46, 69 thượng) nói: Vua cá mẹ sò, các sử (phiền não) đầy đủ.
Ngưng
凝; C: níng; J: gyō;|Có hai nghĩa: 1. Đông lại, đóng băng, làm cho cứng; 2. Chăm chú vào, tập trung vào.
Ngưng Nhiên
(凝然, Gyōnen, 1240-1321): vị học Tăng của Hoa Nghiêm Tông sống vào khoảng giữa thời Liêm Thương, húy là Ngưng Nhiên (凝然), hiệu Thị Quán Phòng (示觀房), thụy hiệu là Thị Quán Quốc Sư (示觀國師), xuất thân vùng Cao Kiều (高橋, Takahashi), Y Do (伊予, Iyo, thuộc Ehime-ken [愛媛縣]), họ Đằng Nguyên (藤原, Fujiwara). Năm 1225, ông thọ giới ở Giới Đàn Viện tại Diện Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji), rồi đến năm 1257 thì thọ Cụ Túc Giới ở Giới Đàn Viện của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Năm 1259, ông theo hầu Viên Chiếu (圓照), từ đó về sau thì ông theo học giáo lý của cả tám Tông phái với Thánh Thủ (聖守), Tông Tánh (宗性), Trường Tây (長西), v.v. Năm 1277, ông kế thừa Viên Chiếu làm Viện Chủ của Giới Đàn Viện. Năm 1307, ông trao truyền Bồ Tát giới cho Hậu Vũ Đa Thượng Hoàng (後宇多上皇), sau đó còn thuyết giảng Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương (華嚴五敎章) trong cung nội nữa. Đến năm 1316, ông chuyển đến ở tại Đường Chiêu Đề Tự (唐招提寺, Tōshōdai-ji). Ông rất tinh thông về giáo lý của các Tông phái Phật Giáo cũng như Nho Giáo, và trước tác của ông lên đến 126 bộ, 1204 quyển. Hơn nữa, ông còn viết về Phật Giáo Sử như bộ Tam Quốc Phật Pháp Truyền Thông Duyên Khởi (三國佛法傳通緣起), v.v. Ông đã dưỡng thành một số đệ tử nổi tiếng như Thiền Nhĩ (禪爾), Thiền Minh (禪明), v.v. Trước tác của ông để lại có rất nhiều như Bát Tông Cương Yếu (八宗綱要) 1 quyển, Tam Quốc Phật Pháp Truyền Thông Duyên Khởi (三國佛法傳通緣起) 3 quyển, Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương Thông Lộ Ký (華嚴五敎章通路記) 52 quyển, Đồng Chiếu Thượng Nhân Hành Trạng Ký (同照上人行狀記) 3 quyển, v.v.
Ngưng nhiên
(凝然): dáng vẻ đứng yên không cử động, tâm tập trung và một sự vật nào đó. Thiền Sư Nam Đài Thủ An (南臺守安) có bài kệ rằng: “Nam Đài tĩnh tọa nhất lô hương, chung nhật ngưng nhiên vạn lự vong, bất thị tức tâm trừ vọng tưởng, đô duyên vô sự khả thương lường (南台靜坐一爐香、終日凝然萬慮忘、不是息心除妄想、都緣無事可商量, Nam Đài tĩnh tọa một lò hương, ngày trọn an nhiên vạn lo buông, chẳng phải nơi tâm trừ vọng tưởng, do duyên vô sự mới tỏ tường).” Trong Tối Thượng Thừa Luận (最上乘論) do Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (五祖弘忍) thuật có đoạn: “Chỉ vị phàn duyên vọng niệm phiền não chư kiến, hắc vân sở phú, đản năng ngưng nhiên thủ tâm, vọng niệm bất sanh, Niết Bàn pháp tự nhiên hiển hiện; cố tri tự tâm, bổn lai thanh tịnh (只爲攀緣妄念煩惱諸見、黑雲所覆、但能凝然守心、妄念不生、涅槃法自然顯現、故知自心、本來清淨, chỉ vì vin theo duyên, vọng niệm, phiền não, các tri kiến, bị che lấp bởi đám mây đen, nhưng nếu có thể tập trung giữ tâm, thì vọng niệm chẳng sanh, pháp Niết Bàn tự nhiên hiện rõ; cho nên phải biết rằng tự tâm xưa nay vốn thanh tịnh).” Da Luật Sở Tài (耶律楚材, 1190-1244), hiệu là Trạm Nhiên Cư Sĩ (湛然居士), hậu duệ của Đông Đan Vương Đột Dục (東丹王突欲) nhà Liêu, có làm bài thơ rằng: “Tùng chinh vạn lí đồ phong sa, nam bắc đông tây tổng thị gia, lạc đắc hung trung không sách sách, ngưng nhiên tâm thị bạch Liên Hoa (從征萬里走風沙、南北東西總是家、落得胸中空索索、凝然心是白蓮花, chiến chinh vạn dặm bụi gió xa, nam bắc đông tây thảy là nhà, tỉnh được trong lòng không vắng lặng, tập trung tâm ấy trắng sen hoa).” Ngoài ra, trong Thiền Quan Sách Tấn (禪關策進, Taishō No. 2024), phần Chư Tổ Pháp Ngữ Tiết Yếu Đệ Nhất (諸祖法語節要第一) có đoạn: “Bích Phong Kim Thiền Sư, tham Tấn Vân Hải, thị dĩ vạn pháp công án, nghi chi tam niên, ngẫu trích sơ thứ, hốt ngưng nhiên cửu chi (璧峰金禪師、參晉雲海、示以萬法公案、疑之三年、偶摘蔬次、忽凝然久之, Bích Phong Kim Thiền Sư đến tham học với Tấn Vân Hải, được dạy cho lấy vạn pháp làm công án; Bích Phong nghi ngờ ba năm, tình cờ hái rau, bỗng nhiên trơ người không cử động một hồi lâu).”
; 凝然; C: níngrán; J: gyōnen;|Có các nghĩa sau: |1. Vững chắc, kiên định, yên tĩnh, không thay đổi, bất động; |2. Ngưng Nhiên (1240-1321), Cao tăng tông Hoa Nghiêm Nhật Bản, là tác giả đã biên soạn nhiều bản tóm tắt tiểu sử quan trọng của các vị Tổ sư các tông phái Phật giáo Trung Hoa. Họ của sư là Fujiwara và sư xuất thân từ quận Y dư (伊予; j: iyo) thuộc vùng Shikoku. Năm 18 tuổi, sư xuất gia với Đại sư Viên Chiếu (圓照; j: enshō) ở Giới Đàn viện (戒檀院; j: kaidan-in) (một chi phái của Đông Đại tự 東大寺; j: tōdaiji). Sư thụ giới năm 20 tuổi. Sư tham học giới luật với các vị Huyền Chứng (證玄; j: shōgen) và Tịnh Nhân (淨因; j: jōin), thụ pháp Mật giáo với Thánh Thủ (聖守; j: shōshu). Mặc dù sư xuất thân từ tông Hoa Nghiêm, nhưng sư cũng nghiên cứu giáo lí Duy thức, Tam luận, Tịnh độ, Thiền, Nho giáo, Lão giáo và các triết gia (Trung Hoa) thời Chiến Quốc. Năm 1276, sư giảng kinh Hoa Nghiêm tại Đại Phật đường, Đông Đại tự. Sau khi Viên Chiếu (圓照; j: enshō) tịch, sư kế vị thầy mình trú trì Giới Đàn viện (戒檀院), tiếp tục giảng kinh Hoa Nghiêm và giảng dạy giới luật (戒律). Năm 1313 sư đến Tōshōdaiji (cũng thuộc Nại Lương, Nara), ở đó 5 năm trước khi trở về lại Giới Đàn viện. Ngoài việc thuyết giảng, sư còn biên soạn các bài nghiên cứu về giáo lí các tông Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Chân ngôn, Tam luận, Pháp tướng, Câu-xá, Thành thật, Luật và Tịnh độ, cũng như nghiên cứu lịch sử, Thần đạo và âm nhạc. Sư biên soạn tổng cộng hơn 1200 quyển. Sư viên tịch tại Giới đàn viện năm 82 tuổi. Những tác phẩm nổi tiếng của sư gồm Bát tông cương yếu (八宗綱要), Tam Quốc Phật Pháp truyền thông lục khởi (三國佛法傳通縁起) và Tịnh độ nguyên lưu chương (淨土源流章).
ngưng nhiên
(凝然) Cao tăng Nhật bản thuộc tông Hoa nghiêm, người Y thế (huyện Ái viên) họ Đằng nguyên. Năm 16 tuổi, sư thụ giới Bồ tát ở núi Tỉ duệ. Sau sư nhận chức Trưởng lão ở viện Giới đàn chùa Đông đại và thường trụ tại chùa này. Sư nghiên cứu rộng rãi giáo nghĩa của các tông: Luật, Thai Mật, Hoa nghiêm, Duy thức, Tam luận, Tịnh độ và Thiền.Thiên hoàng Hậu vũ đa được sư truyền trao giới Bồ tát và nhà vua ban hiệu cho sư là Ngưng Nhiên Quốc Sư. Niên hiệu Nguyên hanh năm đầu (1321) sư tịch, hưởng thọ 82 tuổi.Sư có các tác phẩm: Bát tông cương yếu, Tam quốc Phật pháp truyền thông duyên khởi, Nội điển trần lộ chương, Tịnh độnguyên lưu chương, Thanh minh nguyên lưu chương. [X. Viên chiếu thượng nhân hành trạng Q.trung; Bản triều cao tăng truyện Q.16].
ngưng nhiên thường
(凝然常) Cũng gọi Bản tính thường, Tự tính thường. Lặng yên thường trụ. Tức chỉ cho thể vắng bặt thường trụ của Tự tính thân, cũng là chân như pháp tính của tự tính thường trụ. Tông Pháp tướng lấy Chân như pháp thân làm ngưng nhiên thường trụ, không bị huân tập và biến đổi. Còn tông Hoa nghiêm thì cho rằng chân như là ngưng nhiên, khi tùy duyên tạo ra các pháp cũng không mất tự thể. [X. luận Thích Tịnh độ quần nghi Q.2]. (xt. Tam Chủng Thường, Chân Như Ngưng Nhiên).
ngưu
Go, gaus (S). Ox, bull, bullock, etc.
ngưu bì
Ox-hide - mortal happiness injures the wisdom-life of gods and men, just as ox hide shrinks and crushed a man who is wrapped in it and placed under the hot sun.
; (牛皮) Da bò. Da bò tuy quí, nhưng khoác lên mình, trải qua nhiều ngày phơi nắng, thì càng thêm khô cứng và co lại, khó cởi ra được, nguy hại cho thân thể. Trong kinh Phật,việc này được dùng để ví dụ trời, người tu phúc hữu tướng, hữu lậu, sẽ gây tổn hại cho giới, định, tuệ, mất đi tuệ mệnh pháp thân. [X. Ma ha chỉ quán Q.5].
ngưu chủ
Xem Kiều phạm ba đề.
; Gavàmpati (S). Kiều phạm ba đề, the king of bull, name of a great disciple of Buddha.
ngưu cung
Xem Mật Ngưu cung.
ngưu cẩu ngoại đạo
Go-vratika, kukkura-vratika (S). Heretics who live as oxen or dogs.
; (牛狗外道) Ngoại đạo giữ các giới bò, giới chó. Một trong 6 thứ ngoại đạo khổ hạnh ở Ấn độ đời xưa.Ngoại đạo này biết được kiếp trước họ là bò, chó nay được sinh trong cõi người, hoặc thấy bò, chó sau khi chết được sinh lên cõi trời, nên cho rằng làm như bò, chó mới thực là nghiệp nhân sinh thiên. Bởi vậy, họ tu đủ các loại khổ hạnh, như bắt chước bò, chó ăn cỏ, ăn phân để mong được sinh lên cõi trời! [X. kinh Đại bát niết bàn Q.16; luận Đại tì bà sa Q.114; luận Câu xá Q.19; Pháp uyển châu lâm Q.83].
ngưu dương nhãn
Only the eyes (i.e. vision or insight) of oxen and sheep.
; (牛羊眼) Mắt bò, mắt dê. Chỉ cho con mắt tầm thường, dùng để ví dụ cái thấy yếu kém, vụng về. [X. luận Đại trí độ Q.82; Ma ha chỉ quán (hội bản) Q.1, phần 5].
ngưu giới
To live as a cow, eating grass with bent head, etc., as certaain Indian heretics are said to have done, in the belief that a cow's next reincarnation would be in the heavens.
; (牛戒) Giới bò, 1 trong các giới cấm thủ kiến. Ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa có kiến chấp sai lầm rằng, người hành động giống như bò là nhân nghiệp sinh lên cõi trời, cho nên giữ giới bò, tức là tu các thứ khổ hạnh như bắt chước bò, theo cách nhắm mắt, cúi đầu, ăn cỏ để mong được sinh thiên. [X. phẩm Long điểu trong kinh Trường a hàm Q.19; luận Đại trí độ Q.22; luận Câu xá Q.16].
ngưu hoàng gia trì
(牛黃加持) Cũng gọi Ngưu vương gia trì. Phương pháp dùng nước hương ngưu hoàng đã được gia trì bằng Đà la ni của Chuẩn đề Quan âm, rồi bôi vào sản môn để cầu cho việc sinh sản được an ổn. Pháp này bắt nguồn từ kinh Thất câu chi Phật mẫu sở thuyết chuẩn đề đà la ni.
ngưu hoá châu
Aparagdaniya (S), Godāna (S)Tây Ngưu hoá châu, Cồ da ni châu1- Ở châu nay loài bò sản sanh rất nhiều, người ta dùng bò trong việc đổi chác nên gọi là Cồ đà ni. Cõi này hình thể như chiếc xe, dân sống lâu trăm tuổi, có 2 Trung châu là Siểm châu (Satha) và Thượng nghi châu (Uttaramantrina). 2- Cù đà la: Tổ tiên đời thứ Tư của dòng họ Thích Ca.
ngưu hóa châu
Godànìya, aparagodàna (S). The western of the four continents into which every world is divided, where oxen are the principal product and medium of exchange.
ngưu mao trần
Gorājas (S).
; Go-rajas (S). The amount of dust that can rest on the top of a cow's hair, i.e. seven times that on a sheep's.
ngưu phấn
Gomaya (S). Cow dung, considered in India as clean and cleansing.
ngưu thi
Xem Kiều phạm ba đề.
; Xem ngưu chủ.
ngưu tiêu
Ṛṣabha (S), Ṛṣabhanātha (S)Lặc Sa Bà, Ngưu VươngKhai tổ thứ 24 của Kỳ na giáo.
ngưu tân dật thư
(牛津逸書) Anectota Oxniensia. Cũng gọi Ngưu tân Đại học dật thư. Những nguyên điển của Phật giáo bằng tiếng Phạm được Đại học Oxford của nước Anh lần lượt xuất bản từ năm 1881. Bộ sách này do học giả Max Müller (1823-1920), nhà Tỉ giảo tông giáo học, Ngôn ngữ học người Đức, được sự giúp sức của ông Nam điều Văn hùng, học giả Nhật bản, hiệu đính và lần lượt xuất bản các kinh nguyên văn tiếng Phạm như: Kinh Kim cương bát nhã, kinh Vô lượng thọ, kinh A di đà, Bát nhã tâm kinh, Tôn thắng đà la ni v.v... Sau đó, các kinh nói trên lại được dịch ra tiếng Anh và xếp vào bộ Đông Phương Thánh Thư. Việc xuất bản loại nguyên điển cùng với bản dịch này đã có ảnh hưởng rất lớn đối với phong trào nghiên cứu Đông phương học ở thế kỉ XIX.
ngưu tích
Ox tracks, i.e. the teaching of a Buddha.
ngưu tướng
Xem Kiều phạm ba đề.
ngưu tế
(牛祭) Lễ tế thần Ma tra la được cử hành vào ngày 12 tháng 10 hàng năm ở chùa Quảng long tại Kinh đô (Kyoto), Nhật bản.Ngưu tế nguyên là Ma tra la thần phong lưu, vào thời đại Giang hộ được gọi là Ma tra la thần tế lễ. Xét về nguồn gốc, có lẽ tế lễ này đã phát khởi từ Thường hành tam muội đường, vì thần Ma tra la là thần thủ hộ đạo tràng Thường hành tam muội. Thông thường, cử hành lễ tế này để cầu cho nhân dân được bình an, tiêu trừ tai nạn và dịch bệnh... Trong pháp tế, thần Ma tra la cỡi bò mà đi, vì thế nên gọi Ngưu tế.
ngưu vương
Xem Kiều phạm ba đềXem Ngưu Tiêu.
; The king of bull, i.e. a Buddha, or bodhisattva.
; (牛王) Phạm: Fwabha. Cũng gọi Siêu quần, Thắng quần. Hình tướng của bò chúa uy dũng hơn hết trong loài bò. Ví dụ đức Phật là bậc tối thắng trong loài người. [X. chương Nhiếp thụ, kinh Thắng man; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Pháp hoa kinh huyền tán Q.5, phần đầu].
ngưu vương bảo ấn
(牛王寶印) Bùa hộ mệnh do các chùa Phật hoặc đền thờ thần ở Nhật bản ấn hành. Tại Nhật bản, vào thời Nại lương, các nơi như: Nhị nguyệt đường của chùa Đông đại ở Nara, núi Cao dã ở Kỉ y, Tam sơn ở Hùng dã, đền Kì viên ở Kyoto v.v... đều có bản gỗ in hộ phù, nhưng kiểu mẫu thì đều khác nhau. Ngưu vương bảo ấn của Nhị nguyệt đường chùa Đông đại có đề hàng chữ Nam mô Tối thượng Phật diện trừ dịch bệnh, Nam mô Tối thượng Phật diện nguyện mãn túc. [X. Tịch chiếu đường cốc hưởng tập Q.1; Chân tục Phật sự biên Q.1].
Ngưu xa
(s: go-ratha, 牛車): xe trâu, tên gọi của một trong 3 xe hay 4 xe. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka,妙法蓮華經) quyển 2, Phẩm Thí Dụ (譬喻品) có nêu ra 3 loại xe: dê, nai, trâu và Đại Bạch Ngưu Xa (大白牛車, xe trâu trắng lớn); xe trâu tỷ dụ cho Bồ Tát Thừa (s: bodhisattva-yāna, 菩薩乘). Như trong Thích Ca Như Lai Thành Đạo Ký Chú (釋迦如來成道記註) quyển hạ do Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường soạn, Huệ Ngộ Đại Sư (慧悟大師) ở Nguyệt Luân Sơn (月輪山), vùng Tiền Đường (錢唐) chú giải, có đoạn rằng: “Pháp Hoa Kinh Tam Xa dụ dã, Dương Xa dụ Thanh Văn Thừa, Lộc Xa dụ Duyên Giác Thừa, Ngưu Xa dụ Bồ Tát Thừa; Tam Thừa câu dĩ vận tải vi nghĩa; tiền Nhị Thừa thị phương tiện thi thiết, duy Đại Bạch Ngưu Xa thị thật (法華經三車喻也、羊車喻聲聞乘、鹿車喻緣覺乘、牛車喻菩薩乘、三乘俱以運載爲義、前二乘是方便施設、惟大白牛車是實, về thí dụ Ba Xe của Kinh Pháp Hoa, Xe Dê ví cho Thanh Văn Thừa, Xe Nai ví cho Duyên Giác Thừa, Xe Trâu ví cho Bồ Tát Thừa; cả Ba Thừa đều có nghĩa vận tải; Hai Thừa đầu là phương tiện đặt ra, chỉ có Xe Trâu Trắng Lớn là thật).” Hay trong Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Chánh Mạch Sớ (大佛頂首楞嚴經正脈疏) quyển 17 do Giao Quang Đại Sư (交光大師) nhà Minh (1368-1662) thuật, có giải thích về Nhất Thừa rằng: “Nhất Thừa giả, Nhất Phật Thừa dã; tức Pháp Hoa Đại Bạch Ngưu Xa, tịch diệt trường địa, tức bản giác quả thể, vạn vọng bản không, nhất chơn thanh tịnh (一乘者、一佛乘也、卽法華大白牛車、寂滅塲地、卽本覺果體、萬妄本空、一眞清淨, Nhất Thừa là Nhất Phật Thừa; tức là Xe Trâu Trắng Lớn của Kinh Pháp Hoa, là đạo tràng vắng lặng, tức là thể quả của bản giác, mọi hư vọng vốn không, nguồn chơn thanh tịnh).” Hoặc như trong Đại Thừa Khởi Tín Luận Liệt Cương Sớ (大乘起信論裂網疏, Taishō No. 1850) quyển 1 do Linh Phong Ngẫu Ích Sa Môn Trí Húc (靈峰蕅益沙門智旭, 1599-1655) soạn, có đoạn: “Thỉ tùng danh tự, vận chí quán hành, nãi chí cứu cánh, tự vận công tất, vận tha bất hưu, danh vi Đại Bạch Ngưu Xa, kim ngôn Đại Thừa, chánh chỉ Đại Bạch Ngưu Xa, giản phi môn ngoại Tam Xa cố dã (始從名字、運至觀行、乃至究竟、自運功畢、運他不休、名爲大白牛車、今言大乘、正指大白牛車、揀非門外三車故也, ban đầu từ danh từ, vận chuyển đến quán sát và thực hành, cho đến cứu cánh; công phu tự vận chuyển mình xong, vận chuyển người khác chẳng ngừng nghỉ, đó gọi là Xe Trâu Trắng Lớn; nay nói Đại Thừa [cỗ xe lớn], chính là chỉ cho Xe Trâu Trắng Lớn; chẳng phải là ba cỗ xe ngoài cửa kia).”
ngưu xa
Bullock cart. Bạch ngưu xa, white bullock cart, as the one universal vehicle of salvation.
; (牛車) Phạm: Go-ratha. Xe bò, 1 trong 3 loại xe, 1 trong 4 loại xe. Phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa nêu 3 loại xe: Xe dê, xe nai và xe bò trắng lớn. Xe bò ví dụ cho Bồ tát thừa. (xt. Hỏa Trạch Dụ).
Ngưu Ðầu thiền
牛頭禪; C: níutóu-chán; J: gozu-zen;|Một dòng thiền nhỏ tại Trung Quốc, không được xếp vào Ngũ gia thất tông. Khai tổ dòng này là Thiền sư Pháp Dung ở Ngưu Ðầu sơn, một môn đệ của Tứ tổ Ðạo Tín. Nhánh Thiền này được Truyền Giáo Ðại sư (j: dengyō daishi) Tối Trừng (saichō) truyền sang Nhật, cũng là người thành lập Thiên Thai tông (j: tendai-shū) tại đây. Dòng này tàn lụi chỉ sau vài thế hệ.
Ngưu Đầu
(牛頭): tức là Ngưu Đầu Chiên Đàn (牛頭栴檀), còn gọi là Xích Chiên Đàn (赤栴檀, Chiên Đàn Đỏ). Chiên Đàn là tên của một loại gỗ thơm, vốn phát xuất từ Ngưu Đầu Sơn (牛頭山); nên có tên gọi là Ngưu Đầu Chiên Đàn. Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập (翻譯名義集, Taishō Vol. 54, No. 2131) quyển 3 cho biết rằng: “Chánh Pháp Niệm Kinh vân: 'Thử châu hữu sơn, danh viết Cao Sơn; Cao Sơn chi phong, đa hữu Ngưu Đầu Chiên Đàn; nhược chư thiên dữ Tu La chiến thời, vi đao sở thương, dĩ Ngưu Đầu Chiên Đàn, đồ chi tức dũ; dĩ thử sơn phong trạng như ngưu đầu, ư thử phong trung, sanh Chiên Đàn thọ, cố danh Ngưu Đầu.' Đại Luận vân: 'Trừ Ma Lê Sơn, vô xuất Chiên Đàn, Bạch Đàn trị nhiệt bệnh, Xích Đàn khử phong thũng' (正法念經云、此洲有山、名曰高山、高山之峰、多有牛頭旃檀、若諸天與修羅戰時、爲刀所傷、以牛頭旃檀、塗之卽愈、以此山峰狀如牛頭、於此峰中、生旃檀樹、故名牛頭、大論云、除摩梨山、無出旃檀、白檀治熱病、赤檀去風腫, Chánh Pháp Niệm Kinh dạy rằng: 'Châu này có núi, tên là Cao Sơn, trên đỉnh Cao Sơn, có nhiều Ngưu Đầu Chiên Đàn; nếu khi các trời cùng giao chiến với Tu La, bị đao làm thương tích, thì lấy Ngưu Đầu Chiên Đàn thoa vào tức lành liền; vì hình trạng đỉnh núi này giống như đầu con trâu, trong đỉnh núi lại có cây Chiên Đàn, nên có tên là Ngưu Đầu.' Đại Luận còn dạy rằng: 'Trừ Ma Lê Sơn không có Chiên Đàn, loại Bạch Đàn trị bệnh nóng sốt, loại Xích Đàn thì khử phong thũng').” Đây là loại gỗ đặc biệt có công năng trị bệnh, và bảo vệ thân thể không bị đốt cháy nếu thoa vào mình. Như Bắc Sơn Lục (北山錄, Taishō Vol. 52, No. 2113) quyển 3 giải thích rằng: “Ma La Da Sơn hữu Chiên Đàn danh Ngưu Đầu Hương, nhược dĩ đồ thân, thiết nhập hỏa khanh hỏa bất năng thiêu (摩羅耶山有栴檀名牛頭香、若以塗身、設入火坑火不能燒, núi Ma La Da có loại Chiên Đàn tên Ngưu Đầu Hương, nếu lấy thoa vào mình, giả sử có vào trong hầm lửa, lửa không thể đốt cháy được).” Hay trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 9, No. 278) quyển 50 cũng có cùng thông tin như trên: “Phục hữu hương danh Ngưu Đầu Chiên Đàn, tùng Ly Cấu Sơn vương sanh, nhược dĩ đồ thân, hỏa bất năng thiêu (復有香名牛頭栴檀、從離垢山王生、若以塗身、火不能燒, lại có loại hương tên là Ngưu Đầu Chiên Đàn, từ vua Ly Cấu Sơn sanh ra, nếu lấy thoa vào mình, lửa không thể đốt cháy được).” Hoặc như trong Tuyển Tập Bách Duyên Kinh (撰集百緣經, Taishō Vol. 4, No. 200) quyển 3 có đoạn: “Kỳ nhân thân thể, sanh chư ác sang, thậm hoạn khổ não, thống bất khả ngôn, hoán chư lương y, dĩ chiêm liệu trị, vân tu Ngưu Đầu Chiên Đàn, dụng đồ sang thượng, khả đắc trừ dũ (其人身體、生諸惡瘡、甚患苦惱、痛不可言、喚諸良醫、以瞻療治、云須牛頭栴檀、用塗瘡上、可得除愈, người ấy thân thể, mọc các mụn nhọt dữ, lo âu khổ não, đau không tả xiết, bảo các lương y, xem xét trị liệu; họ bảo rằng nên lấy Ngưu Đầu Chiên Đàn đem thoa trên mụn nhọt ấy, có thể hết đau).” Trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 10 có ghi lại rằng: “Quốc Nam tân hải hữu Mạt Lạt Da Sơn, sùng nhai tuấn lãnh, động cốc thâm giản, kỳ trung tắc hữu Bạch Đàn Hương thọ, Chiên Đàn Nễ Ba thọ, thọ loại Bạch Đàn, bất khả dĩ biệt, duy ư thạnh Hạ, đăng cao viễn chiêm, kỳ hữu đại xà oanh chi giả, ư thị tri chi, do kỳ mộc tánh lương lãnh, cố xà bàn dã; ký vọng kiến dĩ, xạ tiễn vi ký, Đông Trập chi hậu, phương nãi thái phạt (國南濱海有秣剌耶山、崇崖峻嶺、洞谷深澗、其中則有白檀香樹、栴檀你婆樹、樹類白檀、不可以別、唯於盛夏、登高遠瞻、其有大蛇縈者、於是知之、猶其木性涼冷、故蛇盤也、旣望見已、射箭爲記、冬蟄之後、方乃採伐, ven bờ biển phía Nam của nước ta có núi Mạt Lạt Da, vách núi dựng đứng, đỉnh núi cao vút, hang động sâu thẳm, trong đó ắt có cây Bạch Đàn Hương, cây Chiên Đàn Nễ Ba, cây thuộc loại Bạch Đàn, không thể phân biệt được; chỉ vào giữa mùa Hạ, lên trên cao nhìn từ xa, cây nào có rắn cuốn chúng quanh, mới biết được rằng, do vì tánh cây ấy mát lạnh, nên rắn cuốn quanh; sau khi nhìn xong, bắn mũi tên để ghi dấu; sau mùa Đông Trập [ngủ đông], mới có thể hái chặt về).”
ngưu đầu
Gozu (J).
; The ox-head lictors in the hells.
ngưu đầu a bàng
(牛頭阿傍) Chỉ cho loài quỉ tốt thân người đầu bò. Kinh Ngũ khổ chương cú (Đại 17, 547 trung) nói: Có ngục tốt tên A bàng, đầu bò tay người, 2 chân có móng bò, sức mạnh dời được núi.
ngưu đầu chiên đàn
(牛頭旃檀) Phạm: Gozìrwa-candana.Loại chiên đàn mọc ở Ấn độ, có mùi thơm nhất trong các loại chiên đàn. Thân cây cao khoảng 9 mét, lá xanh quanh năm, gỗ có mùi thơm, màu vàng xám, hoặc màu đồng đỏ, có thể dùng để chạm trổ, hoặc nghiền với rễ thành bột để làm hương đốt, hoặc chế dầu thơm. Thủa xưa, vua Ưu điền ở Ấn độ đã từng sai người lấy gỗ này để khắc tượng Phật, đến nay còn nổi tiếng. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 67 (bản dịch mới) thì chiên đàn ngưu đầu mọc ở vùng Ma la da (Phạm: Malaya) phía tây nam núi Ma la da thuộc miền Nam Ấn độ. Nhưng, theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 69, thì ở châu Uất đơn việt có 10 dãy núi lớn, dãy thứ 5 tên là Cao tụ, có 5 ngọn lớn, ngọn thứ 2 gọi là Ngân phong (ngọn núi bạc), mọc rất nhiều cây chiên đàn. Ngọn núi này hình dáng như đầu bò, nên những cây chiên đàn mọc ở đây được gọi là Ngưu đầu chiên đàn. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.22; Tuệ lâm âm nghĩa Q.3; Kinh luật dị tướng Q.6]. (xt.Đàn Tượng).
Ngưu Đầu Mã Diện
(牛頭馬面): tên gọi hai vị quỷ tốt trong cõi âm ty, cũng là hai vị tướng quân cai quản chúng âm linh Ngạ Quỷ dưới Địa Ngục, còn gọi là Câu Hồn Sứ Giả (勾魂使者), được xếp vào trong 10 vị quỷ Ly Mị Võng Lượng (魑魅魍魎). Ngưu Đầu (牛頭) xuất xứ từ Phật Giáo, tên là A Bàng (阿傍); có đầu trâu, tay người, hai chân trâu; tay cầm cây cây Cương Xoa (鋼叉); sức mạnh vô song, có thể nâng ngọn núi lớn được. Theo Thiết Thành Nê Lê Kinh (鐵城泥犁經), khi đang còn làm thân người, A Bàng không hiếu thuận với cha mẹ, nên sau khi chết bị biến thành con quỷ có đầu trâu, có trách nhiệm tuần tra tứ phương và bắt tội nhân trốn ngục; nên có tên gọi là Phòng La Nhân (防邏人). Có tư liệu cho rằng ban đầu trong Phật Giáo chỉ có Ngưu Đầu, chứ không có nhân vật Mã Diện (馬面); nhưng sau khi Phật Giáo du nhập vào Trung Quốc, do quan niệm đối xứng của dân gian, dần dần xuất hiện thêm Mã Diện. Cũng có thuyết cho rằng Mã Diện có tên gọi khác là Mã Diện La Sát (馬面羅刹), hay Mã Đầu La Sát (馬頭羅刹), có khuôn mặt con ngựa, cũng xuất phát từ Phật Giáo, là vị thần lớn trong Mật Giáo. Tương truyền Mã Diện La Sát là hóa thân của Bồ Tát Quan Âm và cũng là dịch nhân cõi Âm Phủ. Hai vị quỷ tốt này thường đi chung với nhau, bắt tội nhân trốn ngục và mang trở về địa ngục.
ngưu đầu mã đầu
(牛頭馬頭) Chỉ cho loài quỉ thân người đầu bò và thân người đầu ngựa, là ngục tốt ở địa ngục. Nhưng cũng có thuyết cho rằng những tội nhân trong địa ngục đều mang hình tướng mình người, đầu bò, đầu ngựa. [X. kinh Ngũ khổ chương cú; luận Lập thế a tì đàm Q.8].
Ngưu Đầu Pháp Dung
(牛頭法融, Gozu Hōyū, 594-657): vị tổ của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, người vùng Diên Lăng (延陵), Nhuận Châu (潤州), họ là Vi (韋). Ban đầu ông học về Nho Giáo, nghiên cứu hết thảy các kinh thư, sau đó ông theo tham học và xuất gia với vị Pháp Sư ở Mao Sơn (茅山, Tỉnh Giang Tô). Ông đã từng vào trong núi ngồi an nhiên trong vòng 20 năm, đến năm thứ 17 (643) niên hiệu Trinh Quán (貞觀), ông đến trú tại U Thê Tự (幽棲寺) thuộc Ngưu Đầu Sơn (牛頭山). Sau đó ông giảng kinh Pháp Hoa và có được sự huyền nhiệm, đến năm thứ 3 (652) niên hiệu Vĩnh Huy (永徽), thể theo lời thỉnh cầu ông đến giảng Đại Phẩm Bát Nhã Kinh tại Kiến Sơ Tự (建初寺) ở Kiến Nghiệp (建業, Tỉnh Giang Tô) và cũng có được sự kỳ ứng. Ông thị tịch vào ngày 23 tháng giêng năm thứ 2 nhuận niên hiệu Hiển Khánh (顯慶), hưởng thọ 64 tuổi. Trước tác của ông để lại có Tuyệt Quán Luận (絕觀論) 1 quyển.
Ngưu Đầu Sơn
(牛頭山, Gozusan): ngọn núi tọa lạc tại phía Nam Huyện Giang Ninh (江寧縣), Phủ Giang Ninh (江寧府), Tỉnh Giang Tô (江蘇省); tên gọi khác là Ngưu Thủ Sơn (牛首山), Thiên Khuyết Sơn (僊闕山), Tiên Quật Sơn (僊窟山), Song Phong Phá Đầu Sơn (雙峰破頭山). Vì hình thế ngọn núi giống như hai đầu con trâu đối lập nhau nên có tên như vậy. Trong núi có Hoằng Giác Tự (弘覺寺, còn gọi là Sùng Giáo Tự [崇敎寺], Phật Quật Tự [佛窟寺]), nơi Ngưu Đầu Pháp Dung (牛頭法融) từng cư ngụ. Từ đó, Ngưu Đầu Sơn còn là tên gọi khác của Ngưu Đầu Pháp Dung, người sáng lập ra Ngưu Đầu Tông (牛頭宗).
ngưu đầu sơn
A mountain in Kiang ning in Giang Tô which gave its name to a school, the followers of Pháp Dung, called Ngưu đầu sơn pháp or Ngưu đầu thiền.
; (牛頭山) I. Ngưu Đầu Sơn. Cũng gọi Ngưu thủ sơn, Thiên khuyết, Tiên quật sơn. Núi ở phía nam huyện Thượng nguyên, phủ Giang ninh, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Núi cao khoảng 448 mét, chu vi khoảng 27km. Vì có 2 ngọn núi trơ trọi đối diện nhau, trông giống như 1 cặp sừng bò nên gọi là Ngưu đầu sơn. Tương truyền, bồ tát Văn thù sư lợi cùng với 10.000 vị Bồ tát, mùa hạ trụ ở núi Ngũ đài, mùa đông thì các Ngài dời đến ở núi này. Hiện nay núi phía bắc gọi là Ngưu thủ sơn, còn núi phía nam thì gọi là Tổ đường sơn. Vào đầu đời Lưu Tống, quan Tư không họ Lưu xây chùa Phật quật(có thuyết nói do quan Tư không Từ độ sáng lập vào khoảng năm Thiên giám đời Lương; lại có thuyết cho rằng chùa Phật quật là do vua Lương vũ đế tạo lập), đồng thời viết chép 7 tạng kinh sách: Phật kinh, Đạo thư, Phật kinh sử, Tục kinh sử, Y phương đồ phù... cất giữ trong chùa. Sau, vào năm Đại minh thứ 3 (459), ông lại xây chùa U thê.Vào năm Trinh quán 18 (644) đời Đường, ngài Pháp dung đến núi này, cất Thiền thất ở phía bắc chùa U thê, với hơn 100 đồ chúng về đây tu tập Thiền pháp mà phát triển thành 1 Thiền phái gọi là Ngưu đầu thiền. Về sau, có các ngài Pháp trì, Tuệ trung, Huyền tố... đều tu học ở chùa U thê, từ đó, chùa U thê được đổi tên là Tổ đường tự. Trong chùa Phật quật có động Bích chi phật, vì thế nên được gọi là Phật quật tự (chùa động Phật)cũng là nơi ở của ngài Pháp dung. Năm Đại lịch thứ 9 (774) đời Đường, vua Đạitông sai Thái tử đến đây kiến tạo 1 tòa tháp 7 tầng. Sau đó không lâu, chùa Phật quật được đổi tên là Trường lạc tự, Tư thiện viện, Phúc xương viện... Đến năm Chính thống 14 (1449) đời Minh, chùa lại được đổi tên là Hoằng giác tự, đến đời Thanh lại được gọi là Phổ giác tự. Chùa này vốn là 1 trong 8 tùng lâm lớn tại Kim lăng, nay đã suy đồi. Hiện còn điện Đại hùng, điện Tì lô, động Quan âm, động Văn thù và ngôi tháp gạch. Ngoài ra, còn có các thắng cảnh như động Xả thân, động Bích chi và ngọn núi Đâu suất thẳng đứng. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.15; Tục cao tăng truyện Q.20; Tống cao tăng truyện Q.8, 9; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.41; Tổ đình sự uyển Q.1; Ngũ đăng hội nguyên Q.4; Liên đăng hội yếu Q.2]. II. Ngưu Đầu Sơn. Tạng: Glaí-ru hoặc Fgeu-to-zan. Cũng gọi Ngưu giác sơn, Ngưu giác phong sơn. Núi ở vùng Ujyat, bên bờ sông Karakash, phía tây nam Hòa điền thuộc tỉnh Tân cương, Trung quốc. Học giả A. Stein người Anh cho rằng Ngưu đầu sơn là tên cũ của núiKohmarì hiện nay. Cứ theo điều Cù tát đán na quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 12, thì ở phía tây nam Vương thành có núi Cù thất lăng già (Hán dịch là Ngưu giác), ven núi có 1 ngôi chùa, thủa xưa đức Phật từng đến đây nói pháp cho chư thiên nghe. Trong hang núi Ngưu giác có 1 thạch thất lớn,trong có vị A la hán nhập định Diệt tận đợi Phật Di lặc ra đời, khoảng vài trăm năm nay rất nhiều người đến đây cúng dường. Gần đây sườn núi bị lở, bít mất cửa vào.Theo Vu điền quốc huyền kí bằng tiếng Tây tạng (Li#i-yul luí-bstan-pa) thì vua Vijayavirya từng xây chùa Ngưu đầu sơn trên núi Ngưu giác (Glaí-mgo-ri). Theo phẩm Thập hồi hướng trong kinh Hoa nghiêm quyển 32( bản dịch mới) và kinh Đại phương đẳng đại tập (bản dịch Tây tạng), thì núi này nằm ở nước Sớ lặc (Kha-za), điều này có 2 sự lầm lẫn, vì 2 nước Vu điền và Sớ lặc gần nhau.[X. Thích ca mâu ni Như lai tượng pháp diệt tận kí; Hoa nghiêm kinh thám huyềnkí Q.15; Thích ca phương chí Q.thượng; Chỉ quật dịch thổ tập Q.8; The Life of Buddha by W.W. Rockhill; Ancient Khotan vol.I by A. Stein; Giải thuyết tây vực kí; Vu điền quốc sử].
Ngưu Đầu Thiên Vương
(牛頭天王, Gozutennō): Ngưu Đầu (牛頭) xuất xứ từ Phật Giáo, tên là A Bàng (阿傍); có đầu trâu, tay người, hai chân trâu; tay cầm cây cây Cương Xoa (鋼叉); sức mạnh vô song, có thể nâng ngọn núi lớn được. Theo Thiết Thành Nê Lê Kinh (鐵城泥犁經), khi đang còn làm thân người, A Bàng không hiếu thuận với cha mẹ, nên sau khi chết bị biến thành con quỷ có đầu trâu, có trách nhiệm tuần tra tứ phương và bắt tội nhân trốn ngục; nên có tên gọi là Phòng La Nhân (防邏人). Tuy nhiên, Ngưu Đầu Thiên Vương còn là tên gọi của vị Thần Thủ Hộ ở Tinh Xá Kỳ Viên (p: Jetavana, 祇園精舍) và cũng được xem là sự thị hiện của Phật Dược Sư (s: Bhaiṣajyaguru, 藥師). Đây là vị Thần chuyên trừ các dịch bệnh, nên được tôn thờ ở các đền thờ Kỳ Viên Xã (祇園社, Gion-sha, tức Bát Phản Thần Xã [八坂神社]), Kyoto, v.v. Tượng thờ thể hiện hình tướng giận dữ, có đầu trâu phía trên.
ngưu đầu thiên vương
(牛頭天王) Cũng gọi Kì viên thiên thần. Vị thiện thần thủ hộ tinh xá Kì viên ở Ấn độ. Theo Kì viên ngưu đầu thiên vương duyên khởi chép, thì Ngưu đầu thiên vương là con của Vũ đáp thiên vương nước Phong nhiêu, là Hóa thân của đức Dược sư Như lai, trên đỉnh đầu có 1 đầu bò cao 3 thước và 1 sừng màu đỏ cũng cao 3 thước, vì thế, sau khi lên ngôi, vị này xưng hiệu là Ngưu đầu thiên vương.Hiện nay, Ngưu đầu thiên vương là vị thần được cúng tế trong đền thờ Kì viên tại Kinh đô (Kyoto), Nhật bản.
ngưu đầu thiền
Niu Tu Chan (C), Gozu-zen (J).
; (牛頭禪) Cũng gọi Ngưu đầu tông, Ngưu đầu lưu. Một dòng Thiền ở Trung quốc do Thiền sư Ngưu đầu Pháp dung sáng lập vào đời Đường. Ban đầu, Pháp dung theo sư Cảnh thuộc tông Tam luận xuất gia, sau sư vào hang đá phía bắc chùa U thê, núi Ngưu đầu tại Giang ninh tu Thiền, cảm được điềm lành 100 con chim ngậm hoa cúng dường. Vào khoảng năm Trinh quán (627- 649), ngài Đạo tín, Tổ thứ tư của Thiền tông Trung quốc, nghe danh sư, Tổ đến truyền trao đại pháp cho sư, từ đó tòa pháp của sư rất thịnh, về sau trở thành 1 phái riêng gọi là tông Ngưu đầu.Môn hạ của sư có các vị: Trí nghiêm, Tuệ phương, Pháp trì, Trí uy và Tuệ trung, gọi chung là Ngưu đầu lục tổ (6 vị Tổ của tông Ngưu đầu). Môn hạ của Tuệ trung có sư Phật quật Duy tắc, kế thừa Duy tắc có Vân cư Phổ trí. Môn hạ Trí uy có sư Huyền tố, kế thừa Huyền tố có sư Đạo khâm, đều là các bậc thạc đức 1 đời. Sư Đạo khâm rất được vua Đường đại tông ngưỡng mộ, được vua ban hiệu Quốc Nhất Thiền Sư. Môn hạ của Đạo khâm có sư Điểu sào Đạo lâm, nổi tiếng trong Thiền lâm về những cơ ngữ đối đáp với thi hào Bạch cư dị. Tông Ngưu đầu cực thịnh 1 thời vào đời Đường nhưng đến đời Tống trở về sau thì suy vi, không phát triển được nữa. Trong tác phẩm: Trung quốc truyền tâm địa thiền môn sư tư thừa tập đồ của mình, ngài Tông mật nói (Vạn tục 116, 436 thượng): Ý chỉ của tông Ngưu đầu là: Thể nhận các pháp như mộng, xưa nay thường vô sự, tâm cảnh vốn vắng lặng, chẳng phải hôm nay mới không. Mê thì chấp trước các pháp thực có, vì thế mới thấy các việc thịnh suy, sang hèn (...) Giả sử có 1 pháp hơn cả Niết bàn thì pháp ấy cũng như mộng như huyễn. Tức tông phong Ngưu đầu là: Ở ngay nơi không mà hiển bày lí tính vi diệu bất không. Nhưng các sư Nam tông (tức Thiên phái ngài Lục tổ Tuệ năng)chê bai thuyết này. Như ngài Hoàng bá Hi vận phê bình tông Ngưu đầu rằng: Vẫn còn chưa biết đến cái then chốt hướng thượng. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.4, 9; Tổ đình sự uyển Q.1; Ngũ đăng hội nguyên Q.4].
ngưu đầu tông
Gozu-shŪ (J)Tên một tông phái.
; Niu-t'ou tsung (C), Gozu shŪ (J)Tên một tông phái.
người
Purusa (S). Man, male.
người ban bố tình thương tinh khiết nhất
Varado (S)Danh hiệu người khác dùng để gọi đức Phật.
người ban phúc lành
Āmisadānaṁ (P), Giver of temporal blessing.
người có thần thông
Abhiavosita (P).
người cứu độ
Tayin (S), Saviour Một trong những danh hiệu được dùng để chỉ đức Phật.
người gỗ
người được làm bằng gỗ, bên trong khoét rỗng có đặt máy móc khiến cho có thể cử động, đi, đứng, nháy mắt... như người thật. Theo mô tả này thì cũng tương tự như các người máy hiện nay, nhưng có hình thức đơn sơ hơn.
người hành hương sông hằng
Gaṅgā-putra (S), Ganges pilgrim.
người không giác ngộ
A man not yet illuminated, i.e., ignorant. Kẻ bị vô minh chế ngự—Ignorant, immature, a simpleton, dominated by avidya (ignorance).
người kỳ diệu lạ thường
Acchariyamanussa (S), The wonderful man Một trong những tên người khác dùng để tôn vinh đức Phật.
người phá hoại sự sống
Bhunahuno (P).
người sùng kính thượng đế
Bhakta (S).
Người thứ tám
Tức là người có đủ tám đức giác tri hay tám điều giác ngộ được dạy trong kinh Bát Đại Nhân Giác. Xem tám điều giác ngộ.
người thực hiện nghi quỹ
Sādhaka (S).
người trần tục
Grhin (S). Secular, layman. Also cư sĩ, tục nhân.
người tu nơi rừng núi
Āranyaka (S), One who lives in forest.
người đi hành hương
Puattitthagāmi (S), Pilgrim.
; Punnatitthagàmi (P). Pilgrim.
người đã diệt hết nguyên nhân của tái sanh
Jatikkhayam (P).
người đã diệt hết nguyên nhân của tái sinh
Jàtikkhayam (P). One who has destroyed all the chance of being reborn.
người đã thành tựu
Siddhàrtha (S). One who has accomplished his task.
người đã đạt được phép thần thông
Abhinnàvosita (P). One who has obtained the abhinna (supernatural knowledge).
người đóng giày
Cāmāripa (S).
người ở trên trời
Gaganasad (S), Habittant in the sky.
ngưỡng
(仰) Cũng gọi Nga, Ngã, Nha, Ngang, Cận, Áng. Là chữ (ía) trong 51 chữ cái của mẫu tự Tất đàn, âm thứ 5 của hầu âm (tức âm răng) trong 5 loại âm thuộc phụ âm. Căn cứ vào hình tướng của chữ mà giải thích theo nghĩa cạn hẹp thìía là chi phần; còn căn cứ vào nghĩa của chữ mà giải thích theo ý sâu kín thìía là chi phần bất khả đắc. Sự giải thích này là chuyển biến từ tiếng Phạm aíga mà có. Ngoài ra, kinh Văn thù vấn giải thích chữ ía là âm thanh tịnh của 5 đường. Kinh Đại bát niết bàn quyển 8 (bản Bắc) thì giải thích ía là tướng phá hoại của tất cả các hành.[X. kinh Phật bản hạnh tập Q.11; phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính; kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4].
ngưỡng khẩu thực
(仰口食) Cũng gọi Ngưỡng thực. Thuật kiếm sống bằng cách xem các vì tinh tú, mặt trời, mặt trăng, gió mưa, sấm sét v.v..., là 1 trong 4 cách mưu sinh không chính đáng mà giới luật cấm người xuất gia không được làm. Ngưỡng khẩu nghĩa là ngửa miệng, vốn từ chữ Pàli: Ubbhamukha (ngẩng đầu, ngửa mặt) mà ra. Hàm ý ngửa mặt xem trăng sao để kiếm ăn. [X. luận Đại trí độ Q.3; Tam tạng pháp số Q.19]. (xt. Tứ Chủng Tà Mệnh).
ngưỡng nguyệt điểm
(仰月點) Cũng gọi Viên điểm bán nguyệt.Tức là cái chấm không (Không điểm) ở trên hình nửa mặt trăng ngửa . Một loại không điểm thuộc Nghiêm tự văn của văn tự Tất đàm. Trong cách phát âm các chữ cái Tất đàm, có loại chữ mà khi đọc phải mở to miệng, gọi là Biến khẩu thanh, như chữ (ya), (la), (va)... mà thông thường trước các chữ Biến khẩu thanh nói trên, nếu có âm mũi như (m), (n)... thì âm mũi này lại biến thành âm Ngưỡng nguyệt điểm, như: Sam+yam = sa yyam, yam+lokaư = ya llokam v.v... Tóm lại, trong văn tự Tất đàm, hễ có những cái chấm hoặc nét đặc thù như trên thì gọi là Nghiêm tự văn, nghĩa là những cái đặc thù ấy làm cho văn tự thêm đẹp. Các học giả Thai Mật của Nhật bản, như ngài An nhiên cho 5 chữ sau đây thuộc về Ngưỡng nguyệt điểm, đó là: (ía), (ĩa), (ịa), (na), (ma). Còn chữ (aô) thì thuộc về Viên điểm (chấm tròn). Các học giả Đông Mật thì ngoài 6 chữ trên đây, thêm vào chữ (kha) mà lập thành 7 loại Không điểm, đồng thời cho 7 loại Không điểm này đều thông với Ngưỡng nguyệt điểm. Về chỗ dị đồng giữa Viên điểm và Ngưỡng nguyệt điểm, cứ theo Tất đàm tam mật sao thì Viên điểm là thực thể, còn Ngưỡng nguyệt là điểm trang nghiêm, cả 2 đều là Không điểm. Ngoài ra, cũng có thuyết cho rằng Viên điểm là căn cứ theo nhật luân của Thai tạng giới mà hiển bày Không đại; còn Ngưỡng nguyệt điểm thì căn cứ vào nguyệt luân của Kim cương giới mà hiển bày Không đại. [X. Tất đàm tạng Q.3, 5; Tất đàm tam mật sao Q.thượng]. (xt. Không Điểm).
ngưỡng phú thế giới
(仰覆世界) Chỉ cho thế giới ngửa (ngưỡng) và thế giới úp (phúc) trong các loại thế giới được kinh Hoa nghiêm nói đến. Đứng ngay thẳng là thế giới ngửa, đứng đảo ngược là thế giới úp như cái tổ ong. Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển17 (Đại 10, 89 hạ) nói: Thế giới ngửa tức là thế giới úp, thế giới úp tức là thế giới ngửa, vì thế gọi là Ngưỡng phúc thế giới.
Ngưỡng sơn
仰山; C: yăngshān; J: gyōsan;|Chỉ Thiền sư Huệ Tịch (慧寂), Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂).
ngưỡng sơn
Yang Shan (C).
; (仰山) Cũng gọi là Đại ngưỡng sơn.Núi ở phía nam huyện Nghi xuân, tỉnh Giang tây, Trung quốc. Vì núi rất cao, phải ngửa mặt lên mới nhìn thấy chóp núi, nên gọi là Ngưỡng sơn. Vào thời vua Hi tông nhà Đường, đệ tử nối pháp của Thiền sư Qui sơn Linh hựu là ngài Tuệ tịch, đến đây khai sáng Thiền viện, xiển dương tông phong Qui sơn Linh hựu mà phát triển thành tông Qui ngưỡng; Ngưỡng sơn nhân đó mà nổi tiếng. Sau khi ngài Tuệ tịch nhập diệt, trải qua các đời Trí tề, Trạch khấu... đến đời đệ tử của ngài Tuệ nam là Hành vĩ thì tông môn hưng thịnh 1 thời. Trong núi có 3 tòa tháp là: Tây tháp truyền pháp hệ Đam nguyên, Nam tháp truyền pháp hệ Qui sơn và Đông tháp. Ngoài ra, dưới núi có chùa Thê ẩn(đời Tống đổi tên là Thái bình hưng quốc thiền tự) và 2 ngôi miếu thờ 2 vị Long thần. [X. Tống cao tăng truyện Q.12; Cảnh đức truyền đăng lục Q.11; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.24; Thích thị kê cổ lược Q.3]. (xt. Ngưỡng Sơn Tuệ Tịch).
ngưỡng sơn bất tằng du sơn
(仰山不曾游山) Tên công án trong Thiền tông. Ngưỡng sơn chẳng từng dạo chơi núi. Nội dung nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Ngưỡng sơn Tuệ tịch và một vị tăng. Tắc 34, Bích nham lục (Đại 48, 172 hạ) ghi: Ngài Ngưỡng sơn hỏi vị tăng: -Ông vừa rời nơi nào đến đây? Vị tăng đáp: -Từ Lư sơn đến. Ngài Ngưỡng sơn hỏi: -Ông từng đến ngọn Ngũ lão chưa? Vị tăng trả lời: -Chưa từng đến! Ngài Ngưỡng sơn nói: -Xà lê chưa từng dạo chơi núi! Đến Lư sơn mà không lên ngọn Ngũ lão danh tiếng thì không thể nói đã đến Lư sơn. Cho nên vị tăng hành cước trong công án trên thực chưa có được một chút căn bản về Thiền. Đối với hạng tăng hành cước như vậy, các bậc Tông sư thường giữ im lặng, hoặc đánh hay hét (nếu gặp Thiền sư Lâm tế, hoặc Đức sơn), nhưng ở đây Thiền sư Ngưỡng sơn đã nói câu Xà lê chưa từng dạo chơi núi để khai thị cho vị tăng, chứng tỏ ngài rất có lòng từ bi (lão bà tâm).
ngưỡng sơn chỉ tuyết
(仰山指雪) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về việc ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch chỉ vào tuyết để khai thị đại chúng. Tắc 28, Thung dung lục ghi: Một hôm tuyết rơi, phủ đầy trên mình sư tử đá trước sân làm cho toàn thân sư tử thành 1 màu trắng xóa. Thiền sư Ngưỡng sơn chỉ vào sư tử hỏi mọi người: Có gì trắng hơn màu này không? Trong chúng không ai đáp được. Về sau, ngài Vân môn Văn yển bình: Ngay lúc ấy nên xô ngã; ngài Tuyết đậu Trùng hiển lại bình ngài Vân môn Văn yển rằng: Chỉ biết xô ngã, chẳng biết đỡ dậy. [X. Ngưỡng sơn Tuệ tịch thiền sư ngữ lục; Ngũ đăng hội nguyên Q.9; Tông môn thống yếu tục tập Q.8].
ngưỡng sơn cẩn bạch
(仰山謹白) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói việc Thiền sư Ngưỡng sơn Tuệ tịch nằm mộng thấy mình lên cung trời Đâu suất. Tắc 90, Thung dung lục (Đại 48, 285trung) ghi: Ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch trong mộng thấy mình lên cung trời Đâu suất, Tịnh độ của bồ tát Di lặc, ngồi ở tòa thứ 2, lúc đó có 1 vị tôn giả nói: Hôm nay đến lượt tòa thứ 2 thuyết pháp. Ngài Ngưỡng sơn liền đứng dậy gõ kiểng (kiền chùy) nói: Pháp Ma ha diễn lìa tứ cú, dứt bách phi, cẩn bạch!Rồi xuống tòa. [X. tắc 25 trong Vô môn quan; Ngũ đăng hội nguyên Q.9; Thiền lâm loại tụ Q.5]. (xt. Tứ Cú Bách Phi).
ngưỡng sơn dũng
Yang shan Yung (C)Tên một vị sư.
Ngưỡng Sơn Huệ Tịch
(仰山慧寂, Gyōzan Ejaku, 807-883): vị tăng của Tông Quy Ngưỡng (潙仰宗) Trung Quốc, người Huyện Hoài Hóa (懷化), Thiều Châu (韶州, thuộc Tỉnh Quảng Đông), họ là Diệp (葉). Năm lên 15 tuổi, ông có chí xuất gia, nhưng bị cha mẹ phản đối; đến năm lên 17 thì ông cắt đứt hai ngón tay để thệ nguyện quyết tâm đi theo chánh pháp, rồi đến tham bái Thông Thiền Sư (通禪師) ở Nam Hoa Tự (南華寺) và làm Sa Di với vị này. Sau ông thọ giới, chuyên học về Luật tạng, và đã từng tham yết Nham Đầu (巖頭) cũng như Thạch Thất (石室). Ngoài ra, ông còn thọ học nghĩa Viên Tướng với Đam Nguyên Ứng Chơn (耽源應眞), kế đến theo hầu Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐) trong vòng 15 năm, và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến trú tại Ngưỡng Sơn thuộc Tỉnh Giang Tây và bắt đầu cử xướng Thiền phong của mình. Sau đó, ông lại chuyển đến Quan Âm Viện (觀音院) ở Giang Tây (江西), rồi vào trong Đông Bình Sơn (東平山) vùng Thiều Châu (韶州). Ông được ban tặng cho hiệu là Trừng Hư Đại Sư (澄虛大師) và Tử Y. Ông thị tịch vào năm thứ 3 niên hiệu Trung Hòa (中和, có thuyết cho là năm thứ 2 [916] niên hiệu Trinh Minh), hưởng thọ 77 tuổi đời. Ông được ban cho thụy hiệu là Trí Thông Đại Sư (智通大師). Bộ Viên Châu Ngưỡng Sơn Huệ Tịch Thiền Sư (袁州仰山慧寂禪師) của ông được biên soạn vào thời nhà Minh.
; 仰山慧寂; C: yǎngshān huìjì; J: kyōzan ejaku; 807-883;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ lừng danh của Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu và cùng thầy khai sáng tông Quy Ngưỡng. Trí huệ và kinh nghiệm giác ngộ thâm sâu của Sư nổi danh trong thiền giới thời đó nên Sư cũng có biệt danh là »Tiểu Thích-ca.« Môn đệ hàng đầu của Sư là Nam Tháp Quang Dũng, Vô Trước Văn Hỉ và Tây Tháp Quang Mục.|Trước tuổi 20, Sư yết kiến và trau dồi kinh nghiệm với nhiều ngôi sao sáng trong Thiền tông và đã mang danh là một thiền sinh xuất sắc. Dưới sự hướng dẫn của Quy Sơn, Sư đạt yếu chỉ thiền.|Sư họ Diệp, quê ở Hoài Hoá, Thiều Châu. Sư muốn xuất gia nhưng cha mẹ không cho, bèn chặt hai ngón tay, thệ nguyện cầu chính pháp để đáp ân nghĩa. Cha mẹ đành cho phép. Chưa thụ giới cụ túc, Sư đã đi du phương.|Ðến Thiền sư Thạch Sương Tính Không, nghe một vị tăng hỏi Tính Không: »Thế nào là ý Tổ sư từ phương Tây sang?« Tính Không liền đáp: »Như người trong giếng sâu ngàn thước, người này chẳng nhờ một tấc giây mà ra được, người này trả lời được.« Câu trả lời này cứ quấn mãi tâm Sư. Ðến Thiền sư Ðam Nguyên Ứng Chân, Sư hỏi: »Thế nào là người trong giếng ra được?« Ðam Nguyên liền đáp: »Ðồ ngốc! Ai ở trong giếng?« Sư chưa rõ việc nhưng vẫn được Ðam Nguyên truyền cho cách sử dụng 97 viên tướng để hoằng hoá, một phương pháp quan trọng để hướng dẫn môn đệ sau này trong tông Quy Ngưỡng.|Ðến Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu, Quy Sơn hỏi: »Ngươi là Sa-di có chủ hay không chủ?« Sư thưa: »Có chủ.« Quy Sơn lại hỏi: »Chủ ở chỗ nào?« Sư từ bên Ðông sang bên Tây đứng, Quy Sơn biết môn đệ hảo hạng. Sư trình lại câu hỏi »Thế nào ra khỏi giếng ngàn thước không cần giây.« Quy Sơn hét: »Huệ Tịch!« Sư ứng: »Dạ.« Quy Sơn bảo: »Ra rồi!« Nhân đây, Sư đại ngộ, lại hỏi: »Thế nào là chỗ trụ của chư Phật?« Quy Sơn bảo: »Dùng cái diệu tư (nghĩ nhớ) mà không tư, xoay cái tư tinh anh sáng suốt vô cùng. Tư hết, trở về nguồn, nơi tính tướng thường trụ, sự lí không hai, Chân Phật như như.« Sư trút sạch hồ nghi nơi đây, ở lại hầu hạ Quy Sơn.|Sư đến phiên chăn trâu sườn núi, thấy một vị tăng lên núi không bao lâu trở xuống, Nghe Sư hỏi vì sao, vị tăng thuật lại: »Hoà thượng hỏi tôi tên gì, tôi thưa Quy Chân, Hoà thượng hỏi Quy Chân ở đâu, tôi đáp không được.« Sư bảo vị tăng, nếu Quy Sơn hỏi như vậy nữa thì trả lời »Quy Chân ở trong mắt, trong tai, trong mũi.« Vị tăng lại lên núi ra mắt Quy Sơn. Quy Sơn hỏi lại như trước, vị tăng trả lời như Sư đã dạy và bị Quy Sơn quở: »Kẻ nói suông vô ích, đây là lời của thiện tri thức đứng đầu 500 người!«|Sư và thầy đồng tình đồng ý như hai cha con nên người đời cũng nói rằng »Hai cha con hát bằng một miệng.« Sư học hỏi nơi Quy Sơn 15 năm, trước về Vương Mãn, sau về Ngưỡng Sơn trụ trì, người người đua nhau đến học.|Sư thượng đường dạy chúng: »Hết thảy các ngươi, mỗi người tự hồi quang phản quán, chớ ghi ngôn ngữ của ta. Các ngươi từ kiếp vô thuỷ đến giờ trái sáng hợp tối, gốc vọng tưởng quá sâu khó nhổ mau được. Do đó giả lập phương tiện dẹp thức thô của các ngươi, như đem lá vàng dỗ con nít khóc, có cái gì là phải? Như các người bán hàng hoá cùng vàng lập phố bán. Bán hàng hoá chỉ nghĩ thích hợp với người mua. Vì thế, nói ›Thạch Ðầu là phố chân kim, chỗ ta là phố tạp hoá.‹ Có người đến tìm phẩn chuột ta cũng bết phẩn chuột cho, kẻ khác đến cầu chân kim ta cũng trao cho… Tìm hỏi thì có trao đổi, chẳng tìm hỏi thì không ta. Nếu nói bên thân Thiền tông cần một người làm bạn cũng không, huống là có năm bảy trăm chúng. Nếu ta nói Ðông nói Tây, ắt giành nhau lượm lặt, như đem nắm tay không để lừa gạt con nít, trọn không có thật. Nay ta nói rõ các ngươi, việc bên cạnh thánh, chớ đem tâm nghĩ tính, chỉ nhằm vào biển tính của chính mình mà tu hành như thật…«|Sư trước ở Ngưỡng Sơn, sau dời về Quan Âm chỉ dạy tăng chúng. Sắp tịch, Sư làm bài kệ: |一二二三子,平目復仰視|兩口一無舌,即是吾宗旨|Nhất nhị nhị tam tử|Bình mục phục ngưỡng thị|Lưỡng khẩu nhất vô thiệt|Tức thị ngô tông chỉ.|Một hai hai ba con|Mắt thường lại ngước xem|Hai miệng một không lưỡi|Ðây là tông chỉ ta.|Nói xong, Sư ngồi hai tay bó gối viên tịch, thọ 77 tuổi. Vua phong danh hiệu Trí Thông Thiền sư. Những lời khuyên dạy của Sư được ghi trong Viên Châu Ngưỡng Sơn Huệ Tịch Thiền sư ngữ lục.
ngưỡng sơn huệ tịch
Yang Shan Hui Chi (C), Kyozan Ejaku (J)Tên một vị sư.
; (仰山慧寂) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người Phiên ngung, tỉnh Quảng đông, họ Diệp, hiệu là Tiểu Thích ca. Năm 9 tuổi, sư đến nương tựa Thiền sư Thông ở chùa Hòa an, 17 tuổi tự chặt 2 ngón tay lập thệ xuất gia. Mới đầu, sư tham yết ngài Đam nguyên Ứng chân, tỏ ngộ được huyền chỉ. Không bao lâu, sư vào cửa ngài Qui sơn Linh hựu và được ấn khả. Sau đó, sư đến Giang lăng thụ giới, nghiên cứu tạng Luật, lại tham lễ ngài Nham đầu Toàn khoát, rồi trở về Qui sơn thị giả ngài Linh hựu 15 năm, cùng xiển dương tong môn. Dưới thời vua Hi tông nhà Đường, sư dời đến Ngưỡng sơn, phát huy Thiền pháp của ngài Qui sơn, hình thành tông Qui ngưỡng. Sau, sư trụ ở viện Quan âm tại tỉnh Giang tây, rồi lại về núi Đông bình ở Thiều châu. NămTrinh minh thứ 2 (916) đời Hậu Lương thuộc Ngũ đại, sư thị tịch, hưởng thọ77 tuổi, có để lại bài kệ (Đại 51, 283 hạ) như sau: Tuổi tròn bảy mươi bảy Hôm nay lão tăng đi Mặc kệ cho chìm nổi Bó gối ngồi khoanh tay. Năm sau, sư được đặt thụy hiệu Trí Thông Thiền Sư. [X. Tống cao tăng truyện Q.12; Cảnh đức truyền đăng lục Q.11; Truyền pháp chính tông kí Q.7]. (xt. Ngưỡng Sơn).
ngưỡng sơn huệ tịch thiền sư ngữ lục
(仰山慧寂禪師語錄) Gọi đủ: Viên châu Ngưỡng sơn Tuệ tịch thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch soạn vào đời Đường, các vị Ngữ phong Viên tín và Quách ngưng chi biên tập vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung, phần đầu, ghi chép hành trạng của ngài Tuệ tịch; phần kế tiếp gồm 70 điều, ghi chép những cơ ngữ vấn đáp của ngài Tuệ tịch với các vị: Qui sơn, Bàng uẩn, Tam thánh, Nhũ nguyên, Bách trượng, Hoàng bá, Nam tuyền... và các pháp ngữ thướng đường, thị chúng của ngài Tuệ tịch.Phần cuối cùng, ghi sơ lược việc ngài Ngưỡng sơn thị tịch. [X. Ngự tuyển ngữ lục Q.4].
ngưỡng sơn sáp thiêu
(仰山插鍬) Tên công án trong Thiền tông. Ngưỡng sơn cắm mai. Nội dung nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Qui sơn Linh hựu và đệ tử là Ngưỡng sơn Tuệ tịch. Cứ theo tắc 15 trong Thung dung lục, một hôm, trên đường hành cước, ngài Ngưỡng sơn đến tham vấn Thiền sư Qui sơn, Thiền sư hỏi (Đại 48, 236 trung): Từ đâu tới? Ngài Ngưỡng sơn đáp: -Từ ruộng tới. Thiền sư hỏi: -Trong ruộng có nhiều người không?Ngài Ngưỡng sơn cắm mai xuống đất rồi khoanh tay đứng nhìn. Thiền sư Qui sơn nói: Nam sơn có nhiều người cắt cỏ. Ngài Ngưỡng sơn liền nhổ mai lên rồi vác đi. [X. điều Tuệ tịch trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.11; Ngưỡng sơn Tuệ tịch thiền sư ngữ lục; Ngũ đăng hội nguyên Q.9].
ngưỡng sơn thập cửu môn
(仰山十九門) Mười chín pháp môn do ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch đặt ra để dắt dẫn người học. Đó là: 1. Thùy thị tam muội môn: Chỉ dạy người học tu tập Tam muội (Thiền định). 2. Vấn đáp hỗ hoán môn: Chỉ dạy người học hỏi đáp, ứng đối. 3. Tính khởi vô tác môn: Chỉ dạy người học chân như pháp tính (tính Phật) mọi người đều đã sẵn có, không đợi tạo tác mới có. 4. Duyên khởi vô ngại môn: Chỉ dạy pháp lí duyên khởi vốn tự tại vô ngại. 5. Minh cơ phổ hỗ môn: Biết rõ căn cơ của người học để tiếp hóa. 6. Ám hợp tân chủ môn: Tân chỉ cho người học; Chủ chỉ cho người thầy. Tức người dạy và người học căn cơ thầm khế hợp nhau. 7. Tam sinh bất cách môn: Chỉ bảo người học dứt hết mọi sự phân biệt ngăn cách quá khứ, hiện tại, vị lai và nêu tỏ cái lí tất cả đều thành Phật, bất luận thuộc căn cơ nào. 8. Tức huyễn minh chân môn: Nhờ vào sự biến đổi hư huyễn của thế giới hiện tượng để dạy người học thấy rõ chân lí pháp tính như như thường trụ tức huyễn. 9. Dụng liễu sinh duyên môn: Đối với các duyên hòa hợp mà người tu hành gặp, mỗi mỗi đều phân tích biện biệt, thấy rõ chỗ sâu kín vi diệu, để làm cho người học khế hợp chân lí. 10. Tựu sinh hiển pháp môn: Chỉ bày cho người học thấy rõ 1 cách triệt để cái diệu lí Tự thân tức pháp. 11. Minh phù sinh duyên môn: Chỉ dẫn cho người học tự biết cơ duyên, hoàn cảnh xảo diệu thích đáng mà thầm hợp chân lí. 12. Tam cảnh thuận chân môn: Chỉ rõ cho người học biết rằng tùy thuận 3 loại cảnh (tính cảnh, độc ảnh cảnh, đới chất cảnh) tức là chân lí. 13. Tùy cơ thức sinh môn: Vì thích ứng với căn cơ người học mà dùng nhiều phương pháp để cứu xét rõ. 14. Hải ấn thu sinh môn: Dùng sự lắng trong sâu rộng của Hải ấn tam muội để thu nhiếp người học. Hải ấn tam muội giống như biển cả sâu rộng, dung chứa muôn vật, ánh hiện vạn tượng; thường được dùng để diễn tả pháp nghĩa sâu xa thù thắng, hoặc ví dụ Phật trí không thể nghĩ bàn. 15. Mật dụng linh cơ môn: Người thầy sử dụng căn cơ bén nhạy của người học một cách kín đáo. 16. Thốt trác đồng thời môn: Khi thấy cơ duyên khai ngộ của người học đã chin mùi, người thầy nhân đó hướng dẫn, nắm lấy thời cơ mà giúp duyên khai ngộ; giống như gà mẹ khi nghe gà con ở trong trứng kêu(thốt)thì gà mẹ liền mổ(trác)bể vỏ trứng khiến gà con chui ra. 17. Tùy thu tùy phóng môn: Người thầy xem xét cơ nghi để tùy duyên tiếp hóa, hoặc dùng biện pháp nghiêm khắc, cứng rắn, phủ định những cái thấy sai lầm của người học, khiến họ không còn chấp trước; hoặc dùng thái độ khoan hòa khẳng định quan điểm của người học, để mặc người học tự do phát triển. Như vậy, nắm bắt hay buông lơi, tùy duyên thu phát đều tự tại vô ngại. 18. Quyển thư vô nhập môn: Người thầy tùy cơ duyên chỉ dạy người học, hoặc nắm bắt hoặc buông thả, hoặc đoạt lấy hoặc ban cho, mà co hay duỗi đều không trở ngại. 19. Nhất đa tự tại môn: Mối quan hệ giữa thầy và trò dung thông vi diệu, dứt hẳn mọi tình chấp đối đãi như: Một nhiều, lớn nhỏ, tôn ti, tinh thô... mà nhậm vận tự như, hòa hài không gián cách, tự tại vô ngại mà diễn bày đại pháp. [X. Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.hạ].
ngưỡng sơn tuỳ phần
(仰山隨分) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch và 1 vị tăng. Tắc 77, Thung dung lục chép: Có vị tăng hỏi ngài Ngưỡng sơn: Biết chữ không? Ngài Ngưỡng sơn đáp: Tùy phần(tùy theo câu hỏi mà đáp). Vị tăng đi 1 vòng theo chiều tay phải; ngài Ngưỡng sơn vẽ 1 chữ thập (...) trên đất; vị tăng lại đi 1 vòng về phía trái, ngài Ngưỡng sơn sửa chữ thập (...) thành chữ vạn (....); vị tăng lại vẽ 1 hình tròn dùng 2 tay nâng lên, như tư thế Tu la lấy bàn tay che mặt trời mặt trăng; ngài Ngưỡng sơn liền vẽ 1 vòng tròn bao quanh chữ (....); vị tăng lại làm tư thế Lâu chí (Vị Phật sau cùng trong 1 nghìn vị Phật trong kiếp Hiền), ngài Ngưỡng sơn bèn ấn khả và dặn phải khéo giữ gìn. [X. Ngưỡng sơn Tuệ tịch thiền sư ngữ lục; Ngũ đăng hội nguyên Q.5; Tông môn thống yếu tục tập Q.8].
ngưỡng sơn tông
Kyozan-shŪ (C), Yang-shan tsung (C), Kyozan-shu (J)Tên một tông phái.
ngưỡng sơn tồi xuất chẩm tử
(仰山推出枕子) Cũng gọi Ngưỡng sơn chẩm tử. Tên công án trong Thiền tông. Ngưỡng sơn đưa cái gối ra.Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch và 1 vị tăng. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11 (Đại 51, 283 trung) chép: Một vị tăng hỏi ngài Ngưỡng sơn: -Pháp thân có thuyết pháp chăng? Ngài Ngưỡng sơn đáp: -Ta không thuyết được, nhưng có 1 người thuyết được. Vị tăng lại hỏi: -Người thuyết được ở đâu? Ngài Ngưỡng sơn liền đưa ra 1 cái gối.
ngưỡng sơn tứ đằng điều
(仰山四藤條) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về trường hợp ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch tiếp dẫn ngài Hoắc sơn Cảnh thông. Điều Tấn châu Hoắc sơn Cảnh thông trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 12 (Đại 51, 293 hạ) chép: Sư lần đầu tiên tham vấn ngài Ngưỡng sơn, ngài nhắm mắt ngồi yên lặng. Cảnh thông nói: Như thế! Như thế! Hai mươi tám vị Tổ Ấn độ cũng như thế, 6 vị Tổ của Trung quốc cũng như thế, Hòa thượng cũng như thế, Cảnh thông này cũng như thế. Nói xong, sư xoay về bên phải đứng kiễng 1 chân. Ngài Ngưỡng sơn đứng dậy đánh cho 4 roi mây(tứ đằng điều). Cảnh thông nhân đó tự xưng Tập vân phong hạ tứ đằng điều thiên hạ đại thiền Phật. [X. Tông môn thống yếu tục tập Q.8; Ngũ đăng hội nguyên Q.9].
ngưỡng sơn vấn tam thánh
(仰山問三聖) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch và ngài Tam thánh Tuệ nhiên. Tắc 68, Bích nham lục (Đại 48, 197 hạ) chép: Ngài Ngưỡng sơn hỏi ngài Tam thánh: -Ông tên gì? Ngài Tam thánh trả lời: -Con tên Tuệ tịch! Ngài Ngưỡng sơn nói: -Tuệ tịch là ta! Ngài Tam thánh bèn thưa: -Con tên Tuệ nhiên! Ngài Ngưỡng sơn phá lên cười. Ý nghĩa trung tâm của công án này là hiển bày Thiền cơ Người, cảnh đều đoạt vàngười, cảnh đều chẳng đoạt.
ngưỡng sơn xuất tỉnh
(仰山出井) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này thuật lại quá trình liễu ngộ Thiền chỉ của ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch gọi là Ngưỡng sơn xuất tỉnh (Ngưỡng sơn ra khỏi giếng sâu). Khi ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch còn là sa di dưới tòa của Thiền sư Thạch sương Tính không, có lần 1 vị tăng đến thưa hỏi ngài Tính không: Ý của Tổ sư từ Ấn độ sang là thế nào? Ngài Tính không nói: Khi nào ông không dùng sợi dây mà có thể cứu được người ra khỏi giếng sâu nghìn thước thì ta sẽ trả lời câu hỏi của ông về ý của Tổ sư Ấn độ sang. Về sau, ngài Ngưỡng sơn đi hành cước 4 phương, tham vấn các bậc danh đức như: Đam nguyên, Qui sơn... về tắc công án này, nhưng không liễu ngộ. Cuối cùng, ngài Ngưỡng sơn gác vấn đề này qua 1 bên, không còn bận tâm về việc người dưới giếng ra hay không ra, thì bỗng thấy thân tâm giải thoát, ngộ được cứu cánh của Thiền. [X. chương Thạch sương Tính không trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.9].
ngược gia trì
(瘧加持) Cũng gọi Ngược bệnh pháp. Cách gia trì cho người bị bệnh sốt rét khiến cho họ khỏi bệnh. Trong các kinh và nghi quĩ như: Kinh Diệp y Quán tự tại bồ tát, kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát trị bệnh hợp dược, Tì sa môn nghi quĩ, A tra bạc câu nguyên soái đại tướng thượng Phật đà la ni tu hành nghi quĩ quyển trung, Kim cương đồng tử thành tựu nghi quĩ quyển trung v.v... đều có nói về cách gia trì bệnh này. Ngài Thành hiền người Nhật đã căn cứ vào các thuyết mà soạn ra Tác pháp tập trình bày rõ ràng về phương pháp gia trì này như sau: Để người bệnh quay mặt về hướng nam, người tu pháp(người gia trì)ngồi ở phía sau người bệnh, trước hết kết ấn Hộ thân và ấn kết giới để ngăn ngừa ác ma gây trở ngại, kế đến kết định ấn Di đà rồi vào minh tưởng. Đầu tiên, quán tưởng trong vòng tim của người bệnh có 5 chữ: (vaô), (hùô), (trà#), (f), (a#) và theo thứ tự quán tưởng biến 5 chữ này thành 5 đức Phật: Đại nhật, A súc, Bảo sinh, Di đà và Bất không, rồi lại quán tưởng 5 vị Phật này thành 5 vị Đại minh vương. Sau đó, quán tưởng Bất động minh vương hàng phục tất cả các ma, Hàng Tam thế minh vương hàng phục thiên ma, Quân đồ lợi minh vương hàng phục thân ma, Đại uy đức minh vương hàng phục nhân ma và Kim cương Dạ xoa minh vương hang phục địa ma. Tiếp theo, tụng chú Từ cứu gia trì người bệnh, sau đó dùng ngón tay trỏ viết các chữ chủng tử của 5 vị Đại minh vương ở đầu, vai trái, ngực, vai phải và ở cổ của người bệnh. Còn trên lưng bệnh nhân thì viết 5 loại chữ A, trên ngực viết các chữ Vaô, Hùô, Trà#, FvàA#; cánh tay trái viết chữ Vaô, cổ tay phải viết chân ngôn A xà lê vị, ở giữa trán viết chữVaô, bên trái trán viết chữF, bên phải trán viết chữ Hùô.Sau cùng, lại niệm chú Từ cứu, bảo người bệnh đứng dậy đi tới trước, không được ngoái đầu lại.
ngạ
Hungry, starved. Also ngã.
; Đói—Hungry—Famished—Starving.
ngạ quỉ
Preta (S), Peta (S), Yadik (T), Hungry ghost Peta (P), yadik (T)Bế lê đa,Ti đế la, Di lệ đa, Tỉ lễ đa, Bệ lệ đaMột loại chúng sanh, một trong 8 loại quỉ: Càn thát bà, Đảm tinh quỉ, Cưu bàn trà, Ngạ quỉ, Chư long, Phú đơn na, Dạ xoa, La sát.
; Preta (S). Hungry demons, ghosts.
ngạ quỉ giới
The realm, sphere of hungry demons.
ngạ quỉ sự
Pretavāstu (S), Pretavatthu (P).
; Pretavàstu (S). Stories of the pretas.
ngạ quỉ thú
The path of the hungry demons.
ngạ quỉ đạo
The way of hungry demons.
Ngạ Quỷ
(s: preta, p: peta, 餓鬼): quỷ đói, ma đói; âm dịch là Bế Lệ Đa (薜荔多、閉戾多), Tỉ Lễ Đa (俾禮多), Ti Lợi Đa (卑利多), Di Lệ Đa (彌荔多), Bế Đa (閉多); là một loại trong Tam Đồ (三途, Ba Đường), Ngũ Thú (五趣, Năm Cõi) hay Lục Thú (五趣, Sáu Cõi). Người nào đời trước tạo ác nghiệp, nhiều ham muốn, sau khi chết sẽ đọa làm thân quỷ đói, thường bị khổ sở vì đói khát. Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh (正法念處經, Taishō Vol. 17, No. 721) quyển 16, Phẩm Ngạ Quỷ (餓鬼品), cho biết rằng trú xứ của Ngạ Quỷ có hai nơi: một là trong cõi người, hai là tại thế giới Ngạ Quỷ cách 500 Do Tuần dưới lòng đất cõi Diêm Phù Đề (s: Jampudīpa, 閻浮提). Kinh điển này và Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 6, phần Liệt Số Bộ (列數部) thứ 4 cũng có nêu ra tên 36 loại Ngạ Quỷ. (1) Ca Bà Ly (迦婆離), Hoạch Thân Ngạ Quỷ (鑊身餓鬼, Ngạ Quỷ thân cái vạc nước sôi); (2) Tô Chi Mục Khư (甦支目佉), Châm Khẩu Ngạ Quỷ (針口餓鬼, Ngạ Quỷ miệng nhỏ như cây kim); (3) Bàn Đa Bà Xoa (槃多婆叉), Thực Thổ Ngạ Quỷ (食吐餓鬼, Ngạ Quỷ ăn vào nôn mữa ra); (4) Tỳ Sư Tha (毘師咃), Thực Phẩn Ngạ Quỷ (食糞餓鬼, Ngạ Quỷ ăn phân); (5) A Bà Xoa (阿婆叉), Vô Thực Ngạ Quỷ (無食餓鬼, Ngạ Quỷ không ăn được gì cả); (6) Kiền Đà (揵陀), Thực Khí Ngạ Quỷ (食氣餓鬼, Ngạ Quỷ ăn hơi); (7) Đạt Ma Bà Xoa (達摩婆叉), Thực Pháp Ngạ Quỷ (食法餓鬼, Ngạ Quỷ ăn pháp); (8) Bà Lợi Lam (婆利藍), Thực Thủy Ngạ Quỷ (食水餓鬼, Ngạ Quỷ ăn nước); (9) A Xa Ca (阿賒迦), Hy Vọng Ngạ Quỷ (悕望餓鬼, Ngạ Quỷ hy vọng); (10) Xí Tra (企吒), Thực Thùy Ngạ Quỷ (食唾餓鬼, Ngạ Quỷ ăn đồ khạc nhổ); (11) Ma La Bà Xoa (摩羅婆叉), Thực Man Ngạ Quỷ (食鬘餓鬼, Ngạ Quỷ ăn tràng hoa); (12) Ra Ngật Tra (囉訖吒), Thực Huyết Ngạ Quỷ (食血餓鬼, Ngạ Quỷ ăn máu); (13) Mông Ta Bà Xoa (瞢娑婆叉), Thực Nhục Ngạ Quỷ (食肉餓鬼, Ngạ Quỷ ăn thịt); (14) Tô Kiện Đà (蘇揵陀), Thực Hương Yên Ngạ Quỷ (食香煙餓鬼, Ngạ Quỷ ăn khói nhang); (15) A Tỳ Già La (阿毘遮羅), Tật Hành Ngạ Quỷ (疾行餓鬼, Ngạ Quỷ chạy nhanh); (16) Xi Đà La (蚩陀邏), Tứ Tiện Ngạ Quỷ (伺便餓鬼, Ngạ Quỷ dòm rình đại tiểu tiện); (17) Ba Đa La (波多羅), Địa Hạ Ngạ Quỷ (地下餓鬼, Ngạ Quỷ sống dưới lòng đất); (18) Hĩ Lợi Đề (矣利提), Thần Thông Ngạ Quỷ (神通餓鬼, Ngạ Quỷ có thần thông); (19) Xà Bà Lệ (闍婆隸), Xí Nhiên Ngạ Quỷ (熾燃餓鬼, Ngạ Quỷ bốc cháy); (20) Si Đà La (蚩陀羅), Tứ Anh Nhi Tiện Ngạ Quỷ (伺嬰兒便餓鬼, Ngạ Quỷ dòm rình con nít đại tiểu tiện); (21) Ca Ma (迦摩), Dục Sắc Ngạ Quỷ (欲色餓鬼, Ngạ Quỷ ham sắc dục); (22) Mâu Đà La Đề Ba (牟陀羅提波), Hải Chử Ngạ Quỷ (海渚餓鬼, Ngạ Quỷ sống ở cồn biển); (23) Diêm La Vương Sứ (閻羅王使), Chấp Trượng Ngạ Quỷ (執杖餓鬼, Ngạ Quỷ cầm gậy); (24) Bà La Bà Xoa (婆羅婆叉), Thực Tiểu Nhi Ngạ Quỷ (食小兒餓鬼, Ngạ Quỷ ăn thịt con nít); (25) Ô Thù Bà Xoa (烏殊婆叉), Thực Nhân Tinh Khí Ngạ Quỷ (食人精氣餓鬼, Ngạ Quỷ ăn tinh khí người); (26) Bà La Môn La Sát Ngạ Quỷ (婆羅門羅剎餓鬼, Ngạ Quỷ La Sát Bà La Môn), (27) Quân Trà Hỏa Lô (君茶火爐), Thiêu Thực Ngạ Quỷ (燒食餓鬼, Ngạ Quỷ ăn lửa cháy); (28) A Du Bà Ra Tha (阿輸婆囉他), Bất Tịnh Hạng Mạch Ngạ Quỷ (不淨巷陌餓鬼, Ngạ Quỷ ăn đồ bất tịnh nơi đường hẽm, bờ ruộng); (29) Bà Di Bà Xoa (婆移婆叉), Thực Phong Ngạ Quỷ (食風餓鬼, Ngạ Quỷ ăn gió); (30) Ương Già Ra Bà Xoa (鴦伽囉婆叉), Thực Hỏa Thán Ngạ Quỷ (食火炭餓鬼, Ngạ Quỷ ăn than); (31) Tỳ Sa Bà Xoa (毘沙婆叉), Thực Độc Ngạ Quỷ (食毒餓鬼, Ngạ Quỷ ăn chất độc); (32) A Tra Tỳ (阿吒毘), Khoáng Dã Ngạ Quỷ (曠野餓鬼, Ngạ Quỷ sống nơi đồng trống); (33) Xa Ma Xá La (賒摩舍羅), Trũng Gian Trú Thực Nhiệt Hôi Thổ Ngạ Quỷ (塚間住食熱灰土餓鬼, Ngạ Quỷ sống nơi gò mã ăn tro đất nóng); (34) Tỳ Lợi Sai Thọ Trung Trú Ngạ Quỷ (毘利差樹中住餓鬼, Ngạ Quỷ sống trong cây Tỳ Lợi Sai); (35) Già Đa Bà Tha (遮多波他), Tứ Giao Đạo Ngạ Quỷ (四交道餓鬼, Ngạ Quỷ sống nơi đường giao thông); và (36) Ma La Ca Da (魔羅迦耶), Sát Thân Ngạ Quỷ (殺身餓鬼, Ngạ Quỷ giết thân). Trong tác phẩm Pháp Tánh Tức Phật Tánh Luận (法性卽佛性論) của Củng Tự Trân (龔自珍, 1792-1841) nhà Thanh có đoạn: “Tự Phật tri kiến, nãi chí Địa Ngục tri kiến, giai biến nhất thiết xứ, nhữ khai Ngạ Quỷ tri kiến, quỷ pháp giới biến nhất thiết xứ (自佛知見、乃至地獄知見、皆遍一切處、汝開餓鬼知見、鬼法界遍一切處, từ tri kiến của Phật, cho đến tri kiến Địa Ngục, đều biến khắp tất cả nơi chốn, ngươi khai mở tri kiến Ngạ Quỷ, pháp giới quỷ biến khắp tất cả mọi nơi).” Trong Thiền môn có bài tán liên quan đến Ngạ Quỷ rằng: “Diện Nhiên Đại Sĩ, Quan Âm hóa hiện, cứu độ Ngạ Quỷ thị họa tiên, A Nan bạch Kim Tiên, diễn thuyết chơn thuyên, thanh lương trừ hỏa diệm (面然大士、觀音化現、救度餓鬼示禍先、阿難白金仙、演說眞詮、清涼除火燄, Diện Nhiên Đại Sĩ, Quan Âm hóa hiện, cứu độ Ngạ Quỷ hiện tai ương, A Nan thưa Kim Tiên, diễn thuyết chân lý, mát tươi trừ lửa nóng).”
Ngạ quỷ
餓鬼; S: preṭa; P: peta;|Là quỷ đói, một trong ba đường tái sinh xấu (Lục đạo). Ngạ quỷ là hạng chúng sinh được xem như hạnh phúc hơn Ðịa ngục (s: naraka) nhưng đau khổ hơn A-tu-la (s: āsura). Người ta cho rằng các yếu tố tái sinh thành quỷ đói là keo kiệt, ganh tị và tham lam. Loài chúng sinh này được biểu diễn bằng cái bụng rất lớn và cái miệng rất nhỏ.
ngạ quỷ
preta (S), yadik (T), Gaki (J), Hungry ghosts,
; Pretas (skt)—Tiếng Phạn âm là Tiết Lệ Đa, dịch là quỷ đói. Ngạ quỷ là một trong ba đường ác. Ngạ quỷ là loại quỷ miệng như cây kim nhỏ, đến độ không thể ăn uống. Ngạ quỷ có nhiều loại và tùy theo quả báo mà thọ khổ khác nhau. Người có chút phúc đức thì chịu khổ ít, người khác ít phúc đức hơn thì không được ăn uống lại phải chịu cực hình liên tục; có kẻ được làm chúa ngục cho Diêm Vương, lại có kẻ phải lang thang trong chốn nhân gian, nhứt là lúc về đêm. Theo Tỳ Kheo Khantipalo trong Đạo Phật Được Giải Thích, ngạ là luôn luôn cảm nhận những khát ái không bao giờ thỏa mãn, và trong nấc thang tâm thức, ngạ quỷ là loài chúng sanh ở dưới con người. Chúng sanh đi về cảnh giới ngạ quỷ do bởi lòng tham. Hãy nghĩ đến những người cứ bám chặt vào tiền tài, vào những sở hữu vật chất. Những người hà tiện, những người thích thú trong sự thủ đắc các thứ nhiều hơn, tốt hơn, lớn hơn so với người khác; những người như thế đang triển khai các yếu tố tâm thức mà nếu họ chấp chặt vào đó thì chúng sẽ dẫn họ thác sanh vào loài ngạ quỷ—Hungry spirits, one of the three lower destinies. They are also called needle-mouth ghosts, with mouths so small that they cannot satisfy their hunger or thirst. They are of varied classes, and are in differing degrees and kinds of suffering, some wealthy and light torment, others possessing nothing and in perpetual torment; some are jailers and executioners of Yama in the hells, others wander to and fro amongst men, especially at night. According to Bikkhu Khantipalo, “Hungry” means experiencing constantly unsatisfied cravings, and preta is a kind of being which is below man in the spiritual scale. With greed, sentient beings some to the state of pretas. Think of peopl whose attachments to money and material possessions are very strong. The misers of this world are those who rejoice in having more, better and bigger things than other people.Such people are developing factors of mind which if they persist in them, will lead them to uprise among these hungry ghosts.
; (餓鬼) Phạm: Preta. Pàli: Peta. Hán âm: Tiết lệ đa, Bế lệ đa, Tỉ lễ đa, Ti lợi đa, Di lệ đa, Bế đa, hoặc tiếng Phạm Pitf, Hán âm là Đế lê. Cũng gọi Quỉ đạo, Quỉ thú, Ngã quỉ đạo. Loài quỉ thường chịu khổ đói khát, do đời trước tạo nghiệp ác, nhiều tham muốn. Là 1 trong 6 đường, 1 trong 5 ngả, 1 trong 6 ngả. Theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 16, loài ngã quỉ có 2 chỗ ở: Trong thế giới loài người và trong thế giới ngã quỉ, dưới cõi Diêm phù đề 500 do tuần. Về tên gọi thì có 36 loài như: Ca bà li (thân bị nấu trong cái vạc), Kiện đà (ăn hơi), Bà la ba xoa (ăn thịt trẻ con), A tra tì (ở chỗ đồng trống), Ma la ca da (tự giết mình) v.v... Luận Thuận chính lí quyển 31 liệt kê 3 loại ngã quỉ: 1. Vô tài ngã quỉ (ngã quỉ không có của cải): Gồm 3 loại: Ngã quỉ miệng lửa, ngã quỉ miệng kim, ngã quỉ miệng hôi. Loại ngã quỉ này hoàn toàn không có thức ăn, thường bị khổ não vì đói khát; nếu may gặp được chút thức ăn, thì khi đưa đến miệng, bỗng bốc thành lửa, không thể ăn được. 2. Thiểu tài ngã quỉ (ngã quỉ ít của cải): Gồm 3 loại: Ngã quỉ lông kim, ngã quỉ lông hôi, ngã quỉ bướu cổ. Loại ngã quỉ này chuyên ăn máu mủ. 3. Đa tài ngã quỉ (ngã quỉ nhiều của cải): Gồm có 3 loại: Ngã quỉ ăn đồ cúng tế thừa, ngã quỉ ăn vật người ta vứt bỏ và ngã quỉ được thức ăn ngon. Hai loại ngã quỉ Thiểu tài và Đa tài cũng gọi là Hữu tài ngã quỉ (ngã quỉ có của cải). Luận Du già sư địa quyển 4 thì nêu ra 3 loại ngã quỉ là: Ngã quỉ do cảnh bên ngoài làm chướng ngại việc ăn uống; ngã quỉ do bên trong thân làm chướng ngại việc ăn uống và ngã quỉ không bị chướng ngại trong việc ăn uống. Luận Đại trí độ quyển 30 thì gọi loại ngã quỉ không có uy đức, thường chịu khổ đói khát là Ngã quỉ và gọi loại ngã quỉ có uy đức, hưởng thụ nhiều thú vui là Tệ quỉ.Ngã quỉ ở cõi Diêm ma do vua Diêm ma thống trị. Cũng có loại ngã quỉ ở những nơi tha ma mộ địa và hang núi tối tăm tại nhân gian. Theo luận Tạp a tì đàm tâm quyển 8, ngã quỉ có loại do hóa sinh, có loại do thai sinh. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 6 thì thân ngã quỉ cao nhất là 1 do tuần, còn nhỏ nhất bằng đứa trẻ cao 3 tấc. Về tuổi thọ, có thuyết cho rằng dài nhất là 8 vạn 4 nghìn năm, còn ngắn nhất thì không nhất định, hoặc cho rằng 5 nghìn năm ở nhân gian là 1 ngày 1 đêm trong cõi ngã quỉ. Theo kinh Nghiệp báo sai biệt thì có 10 thứ nghiệp khiến chúng sinh chịu báo ngã quỉ. 1. Thân tạo nghiệp ác nhẹ. 2. Miệng tạo nghiệp ác nhẹ. 3. Ý tạo nghiệp ác nhẹ. 4. Khởi nhiều tham muốn. 5. Khởi tâm ác tham. 6. Ghen ghét. 7. Tà kiến. 8. Luyến tiếc của cải lúc hấp hối. 9. Chết vì đói. 10. Chết vì khát. Ngoài ra, thế tục gọi trẻ con tham ăn là ngã quỉ, kẻ tham dâm là Sắc ngã quỉ, kẻ giàu có mà keo kiệt là Tài ngã quỉ. [X. kinh Ngũ khổ chương cú; kinh Quán Phật tam muội hải Q.5; kinh Ưu bà tắc giới Q.7; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Chương sở tri Q.thượng; luận Câu xá Q.11].
ngạ quỷ báo ứng kinh
(餓鬼報應經) Kinh, 1 quyển, được dịch vào đời Đông Tấn (317-420), không rõ dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này thuật lại việc tôn giả Đại Mục kiền liên giảng nói cho các loài ngã quỉ nghe về những nghiệp nhân của chúng. Bản dịch khác của kinh này là kinh Quỉ vấn Mục liên 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán.
ngạ quỷ giới
Thế giới của loài ngạ quỷ, một trong thập giới—The realm of hungry ghosts, one of the ten realms or states of existence.
; (餓鬼界) Thế giới của loài Ngã quỉ, 1 trong 10 giới. Cảnh giới ngã quỉ đói khát triền miên, khổ não vô cùng. [X. kinh Dược sư bản nguyện]. (xt. Thập Giới).
ngạ quỷ nghiệp
(餓鬼業) Một trong 6 nghiệp, là nghiệp hạ phẩm trong 10 nghiệp ác. Mười nghiệp ác là: Giết hại, trộm cướp, tà dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói ác, tham muốn, sân hận và tà kiến. Mười nghiệp ác này có thể chia làm 3 phẩm: 1. Thượng phẩm: Khi làm việc ác, trong lúc định làm, đang làm và làm xong rồi mà không có tâm hối cải, gọi là Thượng phẩm. 2. Trung phẩm: Làm xong rồi mà biết hối cải, gọi là Trung phẩm. 3. Hạ phẩm: Lúc đang làm mà biết hối cải, gọi là Hạ phẩm. Theo Đại thừa nghĩa chương quyển 7 (Đại 44, 610 hạ) nói: Tạo mười nghiệp ác, thượng phẩm sinh địa ngục, trung phẩm sinh súc sinh, hạ phẩm sinh ngã quỉ. [X. phẩm Lục nghiệp trong luận Thành thực]. (xt. Lục Nghiệp).
ngạ quỷ nhân
(餓鬼因) Chỉ cho nghiệp nhân đưa đến quả báo ngã quỉ. Có 2 loại: 1. Nghiệp nhân chung: Tức ngoài các nghiệp ác như phá luật nghi; phạm giới Bồ tát, hủy Phật Niết bàn v.v... Còn có các tạp nghiệp khác như muốn được nổi tiếng, hoặc không có đức mà muốn sánh với bậc thánh, hoặc khởi 10 điều ác hạ phẩm. 2. Nghiệp nhân riêng: Được ghi rõ trong kinh Ngã quỉ báo ứng, kinh Lục đạo luân hồi, kinh Phật thuyết quỉ vấn Mục liên... Theo kinh Ngã quỉ báo ứng, trong các loài ngã quỉ ở địa ngục, có loài thường bị khổ nhức đầu, vì lúc làm người hay dùng gậy đánh vào đầu chúng sinh; có loài khắp mình lở loét đau đớn, là vì đã từng dùng lửa thui nướng súc vật như lợn, dê, trâu, bò v.v...; có loài ăn mãi không no, là vì đời trước tuy có cho chúng sinh ăn uống, nhưng không cho no đủ v.v... [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.8; Ma ha chỉ quán Q.1 hạ].
ngạ quỷ sự
Petavatthu (P), Stories of the Departed Một trong 15 tập trong Tiểu bộ kinh gồm những truyện tái sinh ở cõi ngạ quỷ.
; (餓鬼事) Pàli: Peta-vatthu. Gọi tắt: Ti đa. Một kinh trong Tiểu bộ kinh (Khuddaka-nkàya) Pàli, thành lập khoảng 200 năm sau đức Phật nhập diệt. Nội dung kinh này nói về cảnh gới, nghiệp nhân và sự giải thoát của ngã quỉ, gồm 4 phẩm, 51 sự và 717 bài tụng. Kinh này không có bản Hán dịch. Sách chú thích có Chân đế đăng (Pàli: Paramattha-dìpanì) của ngài Đạt ma ba la (Pàli:Dhammapàla) và bản dịch tiếng Nhật của Cung điền Lăng đạo (Nam truyền Đại tạng kinh quyển 25). [X. Buddhist India by T.W. Rhys Davids; Heaven and Hell in Buddhist Perspective by Bimala Churn law; A History of Pàli Literature, vol.I].
ngạ quỷ tam chướng
(餓鬼三障) Ba thứ chướng ngại trong việc ăn uống của ngã quỉ. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 4 thì 3 chướng ấy là: 1. Ngoại chướng: Khi gặp được thức ăn thì thức ăn biến thành lửa, ăn không được, khi thấy ao, hồ muốn uống nước, nhưng đến nơi thì nước hóa thành máu mủ, không uống được. 2. Nội chướng: Cổ họng của ngã quỉ nhỏ như cây kim, bụng to như trống, miệng thì bốc lửa, dù có thức ăn cũng không nuốt được. 3. Không chướng: Tuy không bị chướng ngại về ăn uống, nhưng vì nghiệp lực chiêu cảm, nên thức ăn uống đều cháy thành than đỏ, do đó vẫn phải chịu đói khát.
ngạ quỷ thành
Thành trì của loài ngạ quỷ—The city or region of the hungry ghosts—See Ngạ Quỷ Giới.
; (餓鬼城) Chỉ cho chỗ ở của ngã quỉ. Cứ theo luận Thuận chính lí quyển 31, ở phía tây châu Thiệm bộ, có 500 cái bãi nhỏ, trong đó có 2 bãi là chỗ ngã quỉ ở, mỗi bãi đều có 250 thành, 1 bãi do quỉ có uy đức ở, bãi còn lại do quỉ không có uy đức ở.
ngạ quỷ thú
See Ngạ Quỷ Đạo.
ngạ quỷ thực tử
(餓鬼食子) Ngã quỉ ăn thịt con. Theo kinh Bách duyên quyển 5, xưa có người đàn bà, vì ghen ghét với người vợ lẽ của chồng đang mang thai, bí mật hạ độc làm cho sẩy thai, nhưng khi bị bại lộ lại thề rằng (Đại 4, 226 hạ): Nếu quả thật ta làm hư thai của ngươi thì sau khi ta chết ta sẽ làm ngã quỉ, 1 ngày 1 đêm sinh ra 500 đứa con, sinh ra liền ăn thịt, nhưng không bao giờ no bụng. Đúng như lời thề, sau đó người đàn bà ấy chết sinh vào loài ngã quỉ, 1 ngày sinh ra 500 đứa con, sinh ra đến đâu ăn ngay đến đó, nhưng không thể no được.
ngạ quỷ trụ xứ
(餓鬼住處) Chỉ cho nơi ở của loài ngã quỉ. Các kinh luận phần nhiều cho rằng cõi Diêm ma (Phạm: Yama-loka) là chỗ ở chính của loài ngã quỉ; cõi Diêm ma hoặc còn được gọi là cõi Bệ lệ đa (Phạm:Preta-loka), thế giới Ngã quỉ, do vua Diêm ma làm lãnh chúa. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 16 thì liệt kê 2 nơi: 1. Trong nhân gian. 2. Trong thế giới Ngã quỉ, tức ở dưới cõi Diêm phù đề 500 do tuần, chu vi 3 vạn 6 nghìn do tuần. Luận Đại tì bà sa quyển 172 thì cho rằng, ngoại trừ chỗ ở chính là cõi Diêm ma, ngã quỉ còn ở 2 nơi trong châu Thiệm bộ: 1. Núi rừng, cung điện, nơi thanh tịnh, là chỗ ở của loài ngã quỉ có uy đức. 2. Những nơi bẩn thỉu, rác rưởi là chỗ ở của loài ngã quỉ không có uy đức. [X. kinh Ưu bà tắc giới Q.7; luận Câu xá Q.11; luận Thuận chính lí Q.31].
ngạ quỷ ái
Một trong hai loại ái, hạng phàm phu ái trước ngũ dục như sự ham muốn của loài quỷ đói—Desire as eager as that of a hungry ghost, one of the two kinds of love. ** For more information, please see Nhị Ái.
; (餓鬼愛) Tên gọi khác của ái dục, là 1 trong 2 thứ ái. Vì chúng sinh yêu mến vợ con, tham đắm 5 dục không khác gì loài ngã quỉ, cho nên gọi là Ngã quỉ ái. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 5 (Đại 12, 394 trung) nói: Ái có 2 thứ: Ngã quỉ ái và Pháp ái. Người giải thoát chân thực lìa ngã quỉ ái, vì thương xót chúng sinh nên có Pháp ái.
ngạ quỷ đạo
Xem Địa ngục đạo.
; Con đường của ngạ quỷ hay của những kẻ có nghiệp nhân ngạ quỷ, một trong lục đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a tu la, nhân và thiên)—The destiny of the hungry ghosts, one of the six paths.
; (餓鬼道) Cũng gọi Ngã quỉ thú. Cõi ngã quỉ, 1 trong 5 đường, 1 trong 5 ngả. Trong loài quỉ có những loài có uy lực lớn như Dạ xoa, La sát v.v..., cho nên dịch mới chỉ dịch là Quỉ chứ không thêm chữ ngã. Nhưng, những kinh luận dịch cũ thì phần nhiều gọi là Ngã quỉ, vì trong loài quỉ thì Ngã quỉ nhiều nhất. Theo Đại thừa nghĩa chương quyển 8, phần cuối, loài quỉ này thường bị đói nên gọi là Ngã (đói), mọi người thấy chúng đều sợ nên gọi là Quỉ. Loài quỉ này gầy còm xấu xí, suốt năm không được ăn uống, hoặc ở dưới đáy biển, hoặc gần nơi rừng núi, vui ít khổ nhiều mà lại sống lâu. Vì đời trước tham lam, ghen ghét, lừa gạt mọi người, nên phải rơi vào đường Ngã quỉ. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.16]. (xt. Ngũ Thú, Luân Hồi).
ngạ qủy
Peta (P)Xem quỉ đói.
ngạc ngư
Cá sấu—An alligator.
ngạc nhiên
To be surprised (astonished).
ngạch
Bỗng nhiên: Suddenly. Cái trán: The forehead. Con số cố định: A fixed number.
; (額) Cũng gọi Biển ngạch, Biểu. Chỉ cho những tấm biển bằng gỗ, giấy, vải lụa trên có đề chữ hoặc vẽ tranh, treo ở cửa các dinh thự, công đường các quan lại thời xưa tại Trung quốc, sau, dần dần các chùa của Phật giáo cũng dùng ngạch. Những tấm biển do vua ban là thụ ngạch (biển treo dọc), còn các biển khác là hoành ngạch (biển treo ngang). [X. Thế gia đệ nhị thập ngũ lưu hầu trong Sử kí Q.55; truyện Tùy linh dụ trong Tục cao tăng truyện Q.9].
ngạch châu
(額珠) Hạt ngọc quí trên trán, ví dụ cho Phật tính sẵn có trong tất cả chúng sinh. Kinh Đại bát niết bàn quyển 7 (bản Bắc) chép rằng, có 1 lực sĩ đấu với người khác, khi chạm trán thì viên ngọc kim cương ở khoảng giữa 2 chân mày bị lặn vào trong da, chỗ ấy bèn thành cái nhọt lớn. Sau nhờ thầy thuốc nói thì lực sĩ mới biết ngọc kim cương đã ở trong mình. Mẩu truyện trên đây ví dụ tất cả chúng sinh đều có sẵn tính Phật, nhưng vì phiền não che lấp nên không biết, phải nhờ thiện tri thức chỉ bảo mới rõ được. [X. Niết bàn kinh nghĩa kí Q.3; Niết bàn kinh sớ Q.11].
ngạch cửa
Threshold of door.
ngạch nhĩ đức phái
(額爾德派) Tạng: Dge-lugs-Pa. Cũng gọi Đâu suất giáo phái, Đức hạnh phái, Cách lỗ phái, Tân cam đan phái (Tạng: Bka-gdams gsar-ma-pa, Hoàng mạo phái, Hoàng giáo. Tông phái Phật giáo Tây tạng do ngài Tông khách ba sáng lập vào thế kỉ XV, phái này đội mũ vàng nên gọi là phái Hoàng mạo (Hoàng giáo) để phân biệt với phái đội mũ đỏ là phái Hồng mạo (Hồng giáo). Thánh điển căn bản của phái này là 2 tác phẩm quan trọng của ngài Tông khách ba, đó là: Luận Bồ đề đạo thứ đệ (Tạng: Lam-rim chen-pô) và luận Bí mật đạo thứ đệ (Tạng: Síags-rim chen-pô). Phái này chủ trương nghiêm trì giới luật, tôn trọng nghi quĩ pháp tắc và thực hành chủ nghĩa độc thân. Lúc đầu, phái này được gọi là phái Cách lỗ, nhưng sau đổi thành Ngạch nhĩ đức là do chuyển âm từ tên của chùa trung tâm là Cát lặc đan (Tạng:Dga- ldan) do ngài Tông khách ba sáng lập. Sau khi ngài Tông khách ba thị tịch (1478), đệ tử là Đạt nhĩ ba nhân khâm (Tạng: Darma rin-po-chen, 1364-1432) thừa kế pháp tịch, tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động và phát triển rất mạnh. Ngoài chùa Cát lặc đan nói trên, phái này còn xây dựng nhiều chùa lớn như chùa Biệt bạng (Tạng: Fbras-spuís), chùa Sắc lạp (Tạng: Se-ra), chùa Trát thập luân bố (Tạng: Bkra-zis lhun-po) v.v... đều là những chùa trung tâm quan trọng của phái này. Từ nửa sau thế kỉ XVII đến thế kỉ XVIII, phái Hoàng mạo đã nắm giữ trọn chủ quyền trên toàn cõi Tây tạng và bành trướng thế lực đến các vùng Mông cổ, Đông bắc, Hoa bắc v.v... để củng cố địa vị. [X. Mông tạng Phật giáo sử; Mông cổ Phật giáo sử; Tây tạng (Đa điền Đẳng quan); Tây tạng Phật giáo nghiên cứu; The Buddhism of Tibet by L. A. Waddell; The Religion of Tibet by Ch.Bell]. (xt. Tông Khách Ba).
ngạch thượng châu
Hạt châu kim cương trên trán, ý nói mọi người đều có Phật tánh—The pearl on the forehead, e.g. the Buddha-nature in every one.
ngại
Chướng ngại: Hindrance—A stumbling-block. Lo ngại: Hesitant—Worried.
ngại ngùng
To hesitate.
ngạn
Bờ sông: Kula (skt)—River bank—Shore. Hoàn thành: Accomplished.
Ngạn Câu
(岸駒, Ganku, 1749-1838): nhà danh họa sống cuối thời Giang Hộ, Tổ của Phái Ngạn (岸派); họ là Ngạn (岸), tên ban đầu là Củ (矩), sau đổi thành Câu (駒); tên lúc nhỏ là Ất Thứ Lang (乙次郎); tự Bí Nhiên (賁然); tự xưng là Ngạn Câu theo lối Trung Quốc; hiệu là Lan Trai (蘭齋), Đồng Công Quán (同功館), Khả Quan Đường (可觀堂); xuất thân trong một gia đình thương gia ở vùng Kim Trạch (金澤, Kanazawa), Gia Hạ (加賀, Kaga). Ông lên kinh đô Kyoto, ban đầu học theo học Phái Nam Tần (南蘋派) cùng các phái khác, và rất giỏi về thể loại tranh hoa chim cũng như động vật. Đặc biệt, những bức tranh vẽ về cọp của ông thì rất nổi tiếng, đã sáng tác khá nhiều cho cung đình và dòng họ Tiền Điền (前田, Maeda) ở vùng Gia Hạ. Ông được nhậm chức làm quan Tùng Ngũ Vị quản lý vùng Việt Tiền (越前, Echizen). Một số tác phẩm tiêu biểu của ông có Mẫu Đơn Khổng Tước Đồ (牡丹孔雀圖), Tùng Hạ Ẩm Hổ Đồ (松下飲虎圖), Mãnh Hổ Đồ (猛虎圖), Hổ Khê Tam Tiếu Đồ Áo (虎溪三笑圖襖), Tây Bổn Nguyện Tự Chướng Bích Họa (西本願寺障壁畫), v.v.
ngạn ngữ
Proverb.
ngạn thọ
Cây mọc bên bờ sông, nói về sự sống không chắc chắn—A tree on a river's brink, life's uncertainty.
ngạn thọ, tỉnh đằng
xem cây lớn mọc sát ven sông.
ngạn tung
Ngạn Tung là một vị Tăng đời nhà Đường, ông là một dịch giả và cũng là một nhà trước tác, nhưng không rõ vào khoảng thời gian nào—Yen-Ts'ung, a T'ang monk, translator and writer, date unknown.
ngạn tông
Sư Ngạn Tông, người gốc miền bắc Trung Quốc. Ông là một dịch giả và cũng là một nhà trước tác nổi tiếng vào khoảng 557-610 sau Tây Lịch—Yen-T'sung, a famous monk, native of Northern China, a translator and writer, about 557-610 A.D.
; (彥琮) Cũng gọi Đạo giang. Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tùy, người Triệu quận (nay là huyện Hình đài, tỉnh Hà bắc) họ Lí. Thủa nhỏ theo pháp sư Tín đô Tăng biên, 10 tuổi xuống tóc, đổi tên là Đạo giang. Thầy dạy tụng kinh Đại noa, 1 ngày liền thuộc, mọi người đều kinh ngạc. Khi Vũ đế nhà Bắc chu thi hành chính sách diệt Phật, sư bị buộc phải mặc áo tại gia, đổi tên là Ngạn tông và ra làm quan, tuy vâng lệnh triều đình nhưng không hề bỏ giới hạnh. Thời Tuyên đế, sư được thăng chức Lễ bộ nhưng sư không nhận. Đến khi Văn đế nhà Tùy lên ngôi, phục hưng Phật pháp, sư mặc lại pháp phục và giảng kinh Bát nhã cho các triều thần nghe. Sau, vua thỉnh sư vào kinh đô trông coi việc phiên dịch kinh điển. Năm Đại nghiệp thứ 6 (610) sư thị tịch, thọ 54 tuổi. Sư có các tác phẩm: Chúng kinh mục lục, Tây vực chí, Văn tập, Biệt tập. [X. Tục cao tăng truyện Q.2; Quảng hoằng minh tập Q.4; Đại đường nội điển lục Q.5].
; (彥悰) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, đã từng theo học Đại sư Huyền trang cuối những năm Trinh quán (627-649). Sư thông minh dĩnh ngộ, học rộng nhớ dai, giỏi văn chương, chuyên việc soạn thuật, rất được người đương thời kính trọng. Sư có các tác phẩm: Đại đường kinh sư tự lục truyện, Tập sa môn bất ưng bái tục đẳng sự. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện, Hộ pháp sa môn Pháp lâm biệt truyện. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
ngạn đạt phược
Còn gọi là Càn Thát Bà—See Gandharva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ngạn đầu
Bờ biển khổ—The shore of the ocean of suffering.
ngạnh
Ương ngạnh—Hard—Obstinate.
ngạnh nhu
Hard and soft.
Ngạnh sáp
梗澁; C: gěngsè; J: kyōjū; |Cay đắng, khó khăn, khắc nghiệt.
ngạo nghễ
Disdainful—Scornful.
ngả mình
To lie down.
Ngải kỳ
(艾旗): lá cờ ngải, biểu tượng đuổi tà, chém ma quỷ, rất phổ biến trong dịp Tết Đoan Ngọ. Như trong bài thơ Bồ Kiếm Ngải Kỳ (蒲劍艾旗) của Chu Tác Nhân (周作人, 1885-1967) có câu: “Bồ kiếm ngải kỳ mang bán nhật, phân lai hương đại dữ hương cầu, hùng hoàng ngạch thượng thư vương tự, hỷ thính nhân xưng lão hổ đầu (蒲劍艾旗忙半日、分來香袋與香球、雄黃額上書王字、喜聽人稱老虎頭, kiếm bồ cờ ngải bận nửa ngày, chia thành thơm túi trái thơm cầu, trên cổ đá quý viết vương chữ, vui thấy người kêu lão cọp đầu).”
ngất đi
To be unconscious.
ngần ngại
To hesitate.
ngầy ngật
To feel sick.
ngẩng đầu
To hold up (raise) one's head.
ngẫm nghĩ
To reflect—To meditate—To think.
Ngẫu hài
偶諧; C: ǒuxié; J: gukai;|Xứng hợp nhau; phù hợp với nhau; cùng tán thành. Phối hợp, liên hợp, liên kết, hợp nhất, kết hợp (結合).
ngẫu khổng
(藕孔) Chỉ cho cái lỗ giống như lỗ ống sáo trong củ sen. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 16, A tu la và trời Đế thích đánh nhau, A tu la thua to, 4 quân (Tượng binh, Mã binh, Xa binh, Bộ binh) đều chui vào trong cái lỗ ngó sen.
ngẫu ngộ
Sudden meeting.
ngẫu nhiên
Suddenly. See Ngẫu Tượng.
ngẫu ti
(藕絲) Chỉ cho những sợi tơ của cọng hoặc củ sen. Nghĩa là sau khi bẻ cọng sen gãy ra có những sợi tơ vẫn còn dính lại. Phật giáo dùng từ ngữ này để ví dụ việc đoạn trừ phiền não mê sự. Bởi vì phiền não mê lí tính của nó tuy sắc bén, nhưng ở giai vị Kiến đạo có thể đoạn trừ hết, giống như phá đá. Còn đối với các phiền não mê sự mà giai vị tu đạo phải đoạn, tính của nó tuy yếu ớt, nhưng lại khó dứt hẳn, giống như những sợi tơ ngó sen. Cho nên Cổ đức đã có lời tụng: Kiến đạo như phá đá, Tu đạo như tơ sen.
ngẫu tượng
An idol—An image.
; (偶像) Chỉ cho các pho tượng Phật, Bồ tát, Thánh thần được tạo bằng đất, gỗ hoặc kim loại. Từ Ngẫu tượng bắt nguồn từ tiếng La tinh Idola, có nghĩa là hình tượng, tư thái, về sau biểu thị các nghĩa như: Thiên kiến làm phương hại nhận thức đúng đắn, quan niệm vào trước là chủ..., nghĩa này bắt đầu từ ông Giordano Bruno (1548-1600) người Ý đại lợi. Phật giáo Ấn độ ở thời kì đầu, dùng hoa sen và bánh xe báu để làm biểu tượng của đức Phật. Trong các kinh điển Đại thừa ở thời kì đầu như kinh Bát chu tam muội, Đạo hành bát nhã v.v... cho rằng tạo lập tượng Phật là 1 trong những phương pháp để đạt đến Bát chu tam muội, Quán Phật tam muội. Ngoài ra, các tôn tượng của Mật giáo là do Lục đại (đất nước lửa gió không thức) tạo thành, hình tượng chư tôn là do đức Đại nhật Như lai biểu hiện, cho nên là đồng nhất thể với Đại nhật Như lai. Thủ ấn, vật cầm, thân hình của tượng cũng do thân mật của chư tôn biểu hiện. Người tu hành nương vào tượng Bản tôn để quán tưởng thân mình an trụ trong thân của Bản tôn, miệng tụng chân ngôn của Bản tôn, tâm quán tưởng bản thệ của Bản tôn, được sự gia hộ của Bản tôn, nhờ thế mà được vào cùng một cảnh giới với Bản tôn. Như vậy, tượng Phật không phải chỉ là 1 loại ngẫu tượng thuần túy, mà là đối tượng để cúng dường, lễ bái và tín ngưỡng.
ngẫu tượng sùng bái
(偶像崇拜) Tôn sùng lễ bài ngẫu tượng. Có thể nói bắt đầu từ giai đoạn kinh tế săn bắn về sau, thời kì văn hóa nhân loại dần dần phát triển, đối với các vật thể được công nhận không có tính nhân cách, siêu việt năng lực tự nhiên và những vật thể có tính nhân cách, có thể phát huy năng lực linh dị, thì đã được con người sùng bái, như sự sùng bái Thánh thạch (đá linh thiêng), Thánh thụ (cây linh thiêng) v.v... Đến thời kì Nông canh (cày cấy, trồng trọt) thì sự sùng bái tổ tiên dần dần hưng thịnh, về sau, đối tượng sùng bái từ hình thái loài người được mở rộng thành hình thái chim thú hỗn hợp. Gần đây, các học giả tranh luận nhiều về những tượng điêu khắc được tìm thấy trong những di chỉ thuộc thời đại đồ đá cũ (ère poléolithique), người thì cho rằng đó là những ngẫu tượng thần linh có sớm nhất, người khác lại chủ trương đó là các hình tượng do những ông đồng bà bóng tạo ra khi làm pháp thuật. Vào thời kì đầu của xã hội văn minh, 1 mặt coi ngẫu tượng chỉ là sự tạo hình của thần linh chứ chẳng phải bản thân thần linh, mặt khác, một khi ngẫu tượng đã được tạo thành, thì lại xem là thần linh gá vào đó và y hệt thần thánh không khác. Phương diện thứ nhất khác với quan niệm vật thần, phương diện thứ 2 lại bất đồng với quan niệm về thần trừu tượng. Lại vì các thần linh đều có hình tượng cụ thể khác nhau, cho nên ngẫu tượng được chế tạo cũng phải khác nhau, đối tượng tôn sùng của những tông giáo phát triển đến cao độ như Phật giáo, Cơ đốc giáo... thì lấy hình thái loài người làm chính. Vấn đề Cơ đốc giáo vào thời kì đầu có sùng bái thần tượng hay không thì còn nhiều tranh luận. Cũng có tông giáo vì muốn áp chế các tông giáo khác nên chủ trưong phá hoại ngẫu tượng, cho rằng sùng bái ngẫu tượng cũng đồng như tà giáo, dị giáo. Phật giáo tuy sáng tạo nhiều tượng Phật, Bồ tát, nhưng mỗikiểutạo tượng đều có biểu trưng khác nhau và về phương diện nghệ thuật đều có giá trị rất cao, ý nghĩa mà các pho tượng Phật tiêu biểu tuyệt đối không phải như ý nghĩa sùng bái ngẫu tượng mà dị giáo chê bai. (xt. Phật Giáo Đồ Tượng Học).
Ngẫu Ích Trí Húc
(蕅益智旭, Gueki Chikyoku, 1599-1655): vị tăng sống dưới thời nhà Minh, người Mộc Độc (木瀆), Huyện Ngô (呉縣, Tỉnh Giang Tô), họ là Chung (鍾), tên Tế Minh (際明), tự Ngẫu Ích (蕅益), hiệu Bát Bất Đạo Nhân (八不道人). Hồi nhỏ ông học Nho học, từng soạn ra Tịch Phật Luận (闢佛論) khoảng 10 thiên. Đến năm lên 17 tuổi, nhân đọc bộ Tự Tri Lục (自知錄) và Trúc Song Tùy Bút (竹窗隨筆) của Liên Trì Châu Hoằng (蓮池袾宏), mới biết mình đã phạm phải sai lầm lớn, bèn đem cuốn Tịch Phật Luận đốt đi. Năm 20 tuổi, ông tụng Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh (地藏本願經), phát khởi chí nguyện xuất gia. Năm 23 tuổi, ông phát 48 lời nguyện, tự đặt tên là Đại Lãng Ưu Bà Tắc (大朗優婆塞). Nhân nghe giảng Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂首楞嚴經), ông sanh tâm nghi ngờ các vấn đề như làm sao có sự giác ngộ lớn, làm thế nào sanh khởi hư không cùng với thế giới, cho nên cuối cùng ông quyết chí xuất gia. Đến năm 24 tuổi, ông theo xuất gia với Tuyết Lãnh (雪嶺), đệ tử của Hám Sơn (憨山), đổi tên là Trí Húc. Trong khoảng thời gian mùa hạ và thu, ông đến nghe giảng về Duy Thức Luận (唯識論) ở Vân Thê Tự (雲棲寺), bỗng nhiên chỗ nghi ngờ càng mâu thuẩn hơn với tông chỉ của Phật Đảnh Kinh. Ông bèn đến Kinh Sơn ngồi Thiền, bỗng nhiên ngộ được rằng hai tông tánh và tướng vốn không xung đột và mâu thuẩn lẫn nhau. Đến năm 26 tuổi, ông thọ Bồ Tát giới, rồi năm sau thì đọc hết Luật tạng. Nhân vì bệnh tình nguy ngập, ông chuyên tâm cầu được vãng sanh về Tịnh Độ. Đến năm 30 tuổi, thể theo lời thỉnh cầu của đạo hữu Tuyết Hàng (雪航), ông đến Long Cư Tự (龍居寺) giảng thuyết về Luật. Sau ông đến Kim Lăng (金陵), rất đau xót trước những sa sút, suy đồi về tông môn, nên từ đó ông quyết chí hoằng truyền Luật. Năm 32 tuổi, nhân muốn chú thích Kinh Phạm Võng (梵綱經), nên ông tham cứu tường tận giáo nghĩa Thiên Thai. Năm sau, ông đến Linh Phong Tự (靈峰寺) vùng Triết Giang (浙江), rồi sống qua các nơi như Cửu Hoa (九華), Ôn Lăng (溫陵), Thạch Thành (石城), Thịnh Khê (晟溪), Tân An (新安), v.v., chuyên tâm hoằng dương giáo nghĩa Thiên Thai và chú thích các kinh luận. Đến năm 56 tuổi, nhân lúc ngọa bệnh tại Linh Phong, ông có soạn ra Tây Trai Tịnh Độ Thi (西齋淨土詩) cùng với 9 bộ khác, gọi chung là 10 bộ trọng yếu của Tịnh Độ. Sau khi lành bệnh, ông viết ra 2 cuốn Duyệt Tạng Tri Tân (閲藏知津) và Pháp Hải Quán Lạn (法海觀瀾). Đến tháng 10, bệnh cũ tái phát, ông để lại di chúc, truyền trao câu kệ cầu sanh Tịnh Độ. Vào tháng giêng năm thứ 12 niên hiệu Thuận Trị (順治), ông ngồi xếp bằng an nhiên chấp tay hướng về phương Tây mà thị tịch, hưởng thọ 57 tuổi đời và 34 hạ lạp. Ông là người rất nghiêm trì giới luật, ghét bỏ danh lợi, chuyên tâm hoằng dương Luật tạng, lúc sanh tiền thường xuyên lấy việc đọc tạng kinh luật và trước tác làm sự nghiệp. Giáo nghĩa các tông Pháp Tướng, Thiền, Luật, Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Tịnh Độ ông đều thông suốt, nhưng lại thiên nặng về Thiên Thai và chủ trương tam giáo Nho Lão Phật nhất trí với nhau. Trừ các tông phái Phật Giáo ra, ông còn nghiên cứu cả Nho Giáo và Cơ Đốc Giáo, cho nên phạm vi trước tác của ông rất rộng rãi. Thiền pháp của ông vốn kế thừa Văn Tự Thiền của Diên Thọ (延壽), Phạn Kỷ (梵琦), Chơn Khả (眞可), nhưng tất cả đều hội quy về Thiên Thai Giáo Quán. Ông cũng có cái nhìn độc đáo về giáo nghĩa Thiên Thai. Về Luật Tông, ông chú trọng thật tiễn hành trì giới luật. Tuy nhiên, Thiền, Giáo và Luật học của ông cuối cùng đều quy về Tịnh Độ với chủ trương Thiền Tịnh hợp nhất. Tổng kết tư tưởng của ông là Tam Học nhiếp quy về một niệm, và lấy niệm Phật để thống nhiếp toàn bộ giáo lý của một đời đức Thích Ca. Đến cuối thời nhà Thanh, hầu hết các nhà Thiên Thai đều lấy kinh luận và kinh sớ của ông làm y cứ để thuyết giảng, hình thành nên Phái Linh Phong (靈峰派) với chủ trương “dung hợp Thiền Giáo Luật quy nhập Tịnh Độ” và kéo dài mãi cho đến ngày nay. Sau khi qua đời, đệ tử Thành Thời (成時) phong cho ông thụy là Thỉ Nhật Đại Sư (始日大師), ngoài đời gọi ông là Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư, được sùng kính như là vị tổ thứ 9 của Tịnh Độ Tông. Ông cùng với Hám Sơn (憨山), Tử Bá (紫柏), Liên Trì (蓮池) được gọi là tứ đại cao tăng thời nhà Minh. Đệ tử của ông có Chiếu Nam (照南), Linh Thịnh (靈晟), Tánh Đản (性旦), Đẳng Từ (等慈), v.v.Trước tác của ông có rất nhiều, hơn 40 bộ như Lăng Nghiêm Kinh Huyền Nghĩa (楞嚴經玄義) 2 quyển, Lăng Nghiêm Kinh Văn Cú (楞嚴經文句) 10 quyển, A Di Đà Kinh Yếu Giải (阿彌陀經要解) 1 quyển, Kim Cang Kinh Phá Không Luận (金剛經破空論) 1 quyển, Phạm Võng Kinh Hợp Chú (梵綱經合注) 7 quyển, Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập Yếu (毘尼事義集要) 17 quyển, Tướng Tông Bát Yếu Trực Giải (相宗八要直解) 8 quyển, Duyệt Tạng Tri Tân (閲藏知津) 48 quyển, Chu Dịch Thiền Giải (周易禪解) 10 quyển, Tứ Thư Ngẫu Ích Giải (四書蕅益解) 4 quyển, v.v. Đệ tử Thành Thời biên tập di văn của ông thành Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận (蕅益大師宗論) gồm 10 quyển, và ngày nay được biên tập thành Ngẫu Ích Đại Sư Toàn Tập (蕅益大師全集).
ngẫu ích trí húc
(蕅益智旭) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Minh, người Mộc độc, huyện Ngô, tỉnh Giang tô, họ Chung, tự Ngẫu ích, hiệu là Bát bất đạo nhân. Vì sư ở núi Linh phong (huyện Hàng, tỉnh Chiết giang) xây chùa, lập Liên xã, viết sách... nên người đời gọi sư là Linh phong Ngẫu ích Đại sư. Thủa nhỏ, sư theo Nho học, thề sẽ tiêu diệt đạo Phật và đạo Lão, nhưng khi tình cờ được đọc các tác phẩm Tự tri lục và Trúc song tùy bút của ngài Châu hoành, sư liền đốt bỏ cuốn Tịch Phật luận (bàn về việc diệt Phật) do sư biên soạn. Trong thời gian thụ tang cha, sư được biết bản nguyện của bồ tát Địa tạng nên có ý định xuất gia. Năm 22 tuổi, sư chuyên tâm niệm Phật. Năm sau, sư phát 48 nguyện, tự xưng là Đại lãng ưu bà tắc. Năm 24 tuổi, sư lễ ngài Tuyết lãnh đệ tử của Đại sư Hám sơn xin xuất gia. Sư học Hoa nghiêm, Thiên thai, Duy thức, muốn thống nhất Thiền, Giáo, Luật, tổng hợp các hệ thống Phật giáo, nhưng trên phương diện tu trì thực tiễn thì nghiêng nặng về pháp môn niệm Phật. Đồng thời, sư còn nghiên cứu về Nho gia, Cảnh giáo và chủ trương dung hợp Phật, Đạo và Nho. Sư cùng với các ngài Hám sơn, Tử bá và Liên trì được tôn xưng là Tứ Đại Cao Tăng đời Minh. Năm 1655 sư thị tịch, thọ 57 tuổi. Sư có các tác phẩm: Duyệt tạng tri tân, Di đà kinh yếu giải, Linh phong ngẫu ích tông luận và các bản chú thích Đại thừa khởi tín luận, Đại thừa chỉ quán luận. [X. Tịnh độ Thánh hiền lục Q.6; Linh phong Ngẫu ích đại sư tông luận Q.1]. (xt. Trí Húc).
ngẫu ích đại sư tông luận
(蕅益大師宗論) Cũng gọi Linh phong tông luận, Linh phong Ngẫu ích đại sư tông luận, Ngẫu ích tông luận. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Thành thời biên tập vào đời Minh. Sách này thu chép những tông luận trong 1 đời hoằng hóa của ngài Ngẫu ích. Nội dung gồm: Nguyện văn, pháp ngữ, đáp vấn, phổ thuyết, trà ngữ, thuyết, văn, ngẫu lục, thư, luận, biện, nghị, kí, duyên khởi, tự, đề bạt, sớ, truyện, thọ tự, tháp chí minh, tế văn, tụng, minh, châm, từ, tán, thi kệ v.v... Ở đầu quyển có bài tựa của ngài Trí húc và lời tựa của ngài Thành thời.
ngậm câm
To hold one's tongue—To be silent.
ngậm hờn
To keep (habour) a resentment.
ngậm miệng
To shut (close) one's mouth.
ngậm ngùi
To have compassion—To pity.
ngậm oan
To bear injustice in silence.
ngậm vành
To be grateful forever.
ngậm đắng nuốt cay
To endure hardships
ngật
Ăn—To eat. Chấm dứt: To finish—To end—To stop.
ngật khí la
Khakkhara (skt)—Cây gậy của vị sư trụ trì—A beggar's staff—An abbot's staff.
ngật lật song đề tán
(吃栗雙提贊) (742-797) Phạm: Khri-sroí lde-btsan. Cũng gọi Khất lê tô lung lạp tán, Xích tùng đức tán. Vua nước Tây tạng, con của công chúa Kim thành (người Hán), người đã đặt nền tảng cho thời đại toàn thịnh của Thổ phồn. Ông lên ngôi năm 13 tuổi, Tể tướng Mã tương (Phạm: Ma-shaí), vốn theo Bổng giáo (tông giáo truyền thống của dân Tây tạng) và có ác cảm đối với Phật giáo từ lâu. Do đó, nhân vua còn nhỏ dại, Mã tương thừa cơ phá hủy Phật giáo, xua đuổi tăng chúng, đốt hết kinh tượng biến Đại điện thờ Phật Thích ca ở thủ đô Lha-sa thành lò sát sinh! Khi vua lớn khôn, hết lòng phục hưng Phật giáo, trở thành 1 trong 3 vua hộ pháp vĩ đại của lịch sử Phật giáo Tây tạng. Ông được tôn là Hóa thân của bồ tát Văn thù. Khi ngài Liên hoa giới (Phạm: Kamalazìla) từ Ấn độ đến Tây tạng truyền đạo vua đã đóng vai trò quan trọng trong công cuộc thiết lập cơ sở của Mật giáo Ấn độ tại Tây tạng. [X. Cựu đường thư Q.146; Tân đường thư Q.141; Tây tạng vương thống kí].
ngật tố
Ăn chay—To eat vegetarian food.
ngắm nhìn
To behold.
ngắn
Xem Đoản.
; Short.
ngắt (cắt)
To pick—To pluck.
ngắt đứt
To interrupt. Chán ngắt: Tiresome—Wearisome.
ngặt
Strict—severe—Stern—Dangerous—Difficult.
ngặt vì
Unfortunately.
ngịch lưu quả
Xem Tu đà hườn.
ngọ cung
(午供) I. Ngọ Cúng. Cúng Phật vào giờ ngọ. (xt. Phật Cúng). II. Ngọ Cúng. Chúng tăng thụ trai vào giờ ngọ. Điều Cảnh chúng trong Thiền uyển thanh qui quyển 6 (Vạn tục 111, 455 hạ) nói: Trước khi thụ trai, nghe 3 tiếng mộc bản, chúng tăng chuẩn bị sẵn bát, kế đến đánh chuông lớn báo đến giờ thụ trai.
ngọ cúng
Cúng ngọ—The noon offering of incense.
ngọa
Sayana (skt). Nằm—Lying down.
ngọa bịnh
To fall ill—To confine to bed by sickness—Forced to stay in bed due to illness.
ngọa cụ
Sayanāsana (S).
; Vật dụng để nằm như giường, chiếu, đồ ngủ—A couch, bed, mat, bedding, sleeping garments.
Ngọa nhục
(臥蓐, 臥褥): nằm trên đệm cỏ, chiếu rơm. Tương truyền ngày xưa, người phụ nữ khi sinh con thường nằm trên chiếc đệm bằng cỏ, hay chiếu rơm. Cho nên “ngọa nhục chi thần” (臥蓐之辰) có nghĩa là lúc chuyển bụng sinh con. Trong Hậu Hán Thư (後漢書) quyển 64 có đoạn: “Triệu Kì tự Bân Khanh, Kinh Triệu Trường Lăng nhân dã …, niên tam thập dư, hữu trọng tật, ngọa nhục thất niên (趙岐字邠卿、京兆長陵人也…年三十餘、有重疾、臥蓐七年, Triệu Kì tự là Bân Khanh, người vùng Trường Lăng, Kinh Triệu …, năm lên hơn ba mươi tuổi, có bệnh nặng, nằm đệm cỏ bảy năm).” Hay trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, CBETA No. 1252) quyển 2, phần Bảo Thai (保胎), có câu: “Thiết niệm: Mỗ dựng thê tần phiền tiện chất, bồ liễu vi xu, tương lâm ngọa nhục chi kỳ (切念、某孕妻蘩蘋賤質、蒲柳微軀、將臨臥蓐之期, Nép nghĩ: vợ mang thai … yếu mềm hèn mọn, thân mảnh bồ liễu, sắp đến kỳ chuyển bụng sinh con).”
ngọa pháp
Tư thế ngủ của chư Tăng Ni—The sleeping manner of monks and nuns.
ngọa phật
Phật nằm (tư thế lúc Ngài nhập Niết Bàn)—The Sleeping Buddha (the posture when he entered Nirvana).
ngọa phật tự
Chùa Phật Nằm (tư thế lúc Ngài nhập Niết Bàn)—A shrine of the Sleeping Buddha, i.e. of the dying Buddha.
ngọc
Precious stone—Gem—Jade.
Ngọc chúc
(玉燭): có 3 nghĩa chính. (1) Chỉ cho bốn mùa khí tiết điều hòa, thông suốt; hình dung cuộc sống thái bình, thịnh vượng. Như trong Nhĩ Nhã (爾雅), chương Thích Thiên (釋天) có câu: “Tứ khí hòa, chánh quang chiếu, thử chi vị ngọc chúc (四氣和、正光照、此之謂玉燭, bốn mùa điều hòa, ánh sáng chiếu tỏ, đây gọi là ngọc chúc).” Học giả trứ danh Quách Phác (郭璞, 276-324) nhà Tây Tấn chú thích là: “Đạo quang chiếu (道光照, bảo là ánh sáng chiếu tỏ).” Hình Bỉnh (邢昺, 932-1010) nhà Bắc Tống lại giải thích rõ thêm rằng: “Đạo quang chiếu giả, đạo, ngôn dã; ngôn tứ thời hòa khí, ôn nhuận minh chiếu, cố viết ngọc chúc (道光照者、道、言也、言四時和氣、溫潤明照、故曰玉燭, đạo quang chiếu, đạo có nghĩa là nói, nói rõ bốn mùa khí tiết điều hòa, ấm áp, ẩm ướt, chiếu sáng, nên gọi là ngọc chúc).” Trong bài Thượng Chấp Chính Tứ Thập Vận (上執政四十韻) của Nhã Hổ (雅琥, ?-?) nhà Nguyên có câu: “Ngọc chúc điều nguyên khí, kim xu vận đại quân (玉燭調元氣、金樞運大鈞, nến ngọc điều khí tiết, đức vua vận muôn dân).” (2) Từ mỹ xưng của cây nến. Như trong bài thơ Kim Tỏa (金鎖) của cung nhân thời vua Hy Tông (僖宗, tại thế 862-888) nhà Đường có câu: “Ngọc chúc chế bào dạ, kim đao ha thủ tài (玉燭製袍夜、金刀呵手裁, đèn ngọc suốt đêm chế áo bào, đao vàng tay cắt than buốt đau).” (3) Tỷ dụ cho ánh sáng con mắt. Như trong bài thơ Bệnh Mã (病馬) của Tào Đường (曹唐, ?-?) nhà Đường có câu: “Tứ đề bất tạc kim châm liệt, song nhãn dong khai ngọc chúc tà (四蹄不鑿金砧裂、雙眼慵開玉燭斜, bốn móng chẳng đục chày vàng nẻ, hai mắt lững lờ ánh sáng mờ).” Trong Liễu Đường Duy Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (了堂惟一禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1417) quyển 1 có đoạn: “Cung nguyện, kim luân thống ngự, thọ đẳng càn khôn, ngọc chúc quân điều, minh du nhật nguyệt (恭願、金輪統御、壽等乾坤、玉燭均調、明踰日月, kính mong đức vua ngự mãi, thọ bằng càn khôn, đèn ngọc thường soi, sáng hơn nhật nguyệt).” Hay trong Lễ Phật Nghi Thức (禮佛儀式, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1492) cũng có đoạn: “Duy nguyện hoàng đồ củng cố, đế đạo hà xương, văn võ lộc tăng, hưng long Tam Bảo, ngọc chúc thường điều, sĩ dân lạc nghiệp, đàn na diễn khánh, bất phùng Tam Tai Bát Nạn, chí thành vô thượng bồ đề (惟願皇圖鞏固、帝道遐昌、文武祿增、興隆三寶、玉燭常調、士民樂業、檀那衍慶、不逢三災八難、至成無上菩提, cúi mong cơ đồ củng cố, đạo vua sáng ngời, văn võ lộc thêm, hưng thịnh Tam Bảo, đèn ngọc thường soi, muôn dân lạc nghiệp, thí chủ vui mừng, chẳng gặp Ba Tai Tám Nạn, chứng quả vô thượng bồ đề).”
ngọc da
Yu-Hua—Tên của một thiếu nữ mà Đức Phật đã nhân đó nói Ngọc Hoa Nữ Kinh—Name of the woman to whom the sutra Yu-Hua is addressed.
ngọc da kinh
(玉耶經) Cũng gọi Trưởng giả nghệ Phật thuyết tử phụ vô kính kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc đàm vô lan (Phạm: Dharmarakwa) dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Nội dung kinh này tường thuật việc người con dâu của Trưởng giả Tu đạt (Pàli: Sudatta) Cấp cô độc tên là Ngọc da, cậy thế nhà giàu có mà tỏ thái độ vênh váo khinh bạc, thiếu mất đức khiêm tốn của người đàn bà, bởi thế Trưởng giả Tu đạt mới đến xin đức Phật dạy bảo. Nhận lời thỉnh cầu của Trưởng giả, đức Phật bèn giáo hóa Ngọc da và nàng đã vâng lời dạy răn của đức Phật, ăn năn lỗi lầm của mình, xin đức Phật lãnh nhận 10 giới. Kinh này phân biệt người vợ làm 7 hạng (vợ như mẹ, vợ như em gái, vợ như thầy, vợ như người vợ, vợ như tớ gái, vợ như kẻ thù, vợ như kẻ sát nhân) và cho rằng 5 hạng trước được mọi người kính yêu, tiếng tốt vang xa, là nền tảng làm cho gia đình hạnh phúc, phồn vinh; còn 2 hạng vợ sau ở đời vị lai sẽ chịu quả báo xấu ác. Kinh này còn có 3 bản dịch khác là: 1. Ngọc da nữ kinh, được dịch vào đời Tây Tấn (không rõ dịch giả). 2. A túc đạt kinh do ngài Cầu na bạt đà la dịch vào đời Lưu Tống. 3. Bản kinh thứ 9 trong phẩm Phi thường của Tăng nhất a hàm quyển 49 (tương đương với kinh Sattabhariyà trong Tăng chi bộ VII. 95 tiếng Pàli), do ngài Tăng già đề bà dịch vào đời Đông Tấn (các bản ghi trên đều được thu vào Đại chính tạng tập 2). Ngoài ra, mục An công thất dịch kinh lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 3 có kinh Thất phụ 1 quyển (tên kinh Thất phụ giống với kinh Sattabhariyà bản Pàli) và nhận xét theo cách sắp xếp thứ tự của kinh Ngọc da, thì có lẽ kinh Thất phụ cũng là bản dịch khác của kinh Ngọc da. [X. Pháp kinh lục Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.2, 3, 5].
ngọc da nữ kinh
Yu-Hua Sutra—See Ngọc Da.
Ngọc diệp
(玉葉): lá ngọc, là kính ngữ dùng cho những người cao quý xuất thân hoàng thân quốc thích, thường đi chung với kim chi (金枝, cành vàng). Như trong Tây Du Ký (西遊記), hồi 93 có đoạn rằng: “Bần tăng thị cá xuất gia dị giáo chi nhân, chẩm cảm dữ ngọc diệp kim chi vi ngẫu (貧僧是個出家異敎之人、怎敢與玉葉金枝爲偶, bần tăng là người xuất gia khác tôn giáo, nào dám sánh đôi cùng với cành vàng lá ngọc).” Như trong Lịch Triều Thích Thị Tư Giám (歷朝釋氏資鑑, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 76, No. 1517) có đoạn: “Kim chi nhi chi chi đĩnh tú, ngọc diệp nhi diệp diệp tương thừa, pháp luân đại chuyển ư Chi Na, đế nhật trường huy ư Chấn Đán (金枝而枝枝挺秀、玉葉而葉葉相承、法輪大轉於支那、帝日長輝於震旦, cành vàng mà cành cành rực rỡ, lá ngọc mà lá lá truyền thừa, xe pháp chuyển lớn nơi Chi Na, ngày vua sáng mãi nơi Trung Quốc).”
Ngọc giai
(玉階): thềm ngọc, thềm cung vua, hay chỉ cho triều đình. Như trong bài Hòa Giả Chí Xá Nhân Tảo Triều Đại Minh Cung (和賈至舍人早朝大明宮) của Sầm Tham (岑參, 715-770) nhà Đường có câu: “Kim tỏa hiểu chung khai vạn hộ, ngọc giai tiên trượng ủng thiên quan (金鎖曉鐘開萬戶、玉階仙仗擁千官, chuông sớm vòng vàng bày vạn hộ, thềm ngọc gậy tiên giữ ngàn quan).” Hay trong bài thơ Ngọc Giai Oán (玉階怨) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường cũng có câu: “Ngọc giai sanh bạch lộ, dạ cửu xâm la (玉階生白露、夜久侵羅襪, thềm ngọc sinh sương trắng, đêm về thấm vớ tơ).” Trong bài thơ Cái Chổi của vua Lê Thánh Tông (黎聖宗, tại vị 1460-1497) lại có câu thơ rằng: “Lời chúa vâng truyền xuống ngọc giai, cho làm lệnh tướng quét trần ai.”
ngọc hoa
Yu-Hua Palace—See Ngọc Tuyền Ngọc Hoa Lưỡng Tông (2).
ngọc hoa tự
(玉華寺) Cũng gọi Ngọc hoa cung tự. Chùa nằm về phía tây nam huyện Nghi quân, Phu châu, tỉnh Thiểm tây, Trung quốc, được sáng lập vào năm Vũ đức thứ 7 (624) đời Đường. Ban đầu, nơi này được gọi là Nhân trí cung. Năm Trinh quán 21 (647), vua Thái tông cho xây rộng thêm và đổi tên là Ngọc hoa cung. Tháng 5 năm Trinh quán 22 (648), theo lời thỉnh cầu của vua Thái tông, ngài Huyền trang đến ở tại cung này, tháng 10 ngài dịch kinh Năng đoạn kim cương bát nhã. Năm Vĩnh huy thứ 3 (651), cung Ngọc hoa được đổi thành chùa Ngọc hoa. Tháng 10 năm Hiển khánh thứ 4 (659), khi ngài Huyền trang vâng sắc dịch kinh Đại bát nhã, vì không thích cảnh náo nhiệt tại Trường an, nên ngài đến trụ ở chùa này, bấy giờ có các vị Tịch chiếu làm Đô duy na, Khuy cơ, Phổ quang, Huyền tắc... làm việc ở dịch trường. Trong chùa có các điện như: Điện Quang vân, điện Minh nguyệt, điện Gia thọ, điện Khánh phúc và đình Bát quế... đều được sử dụng làm đạo tràng để phiên dịch kinh Đại bát nhã và các kinh khác. [X. lời Bạt trong luận A tì đạt ma giới thân túc; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.6,10; Tục cao tăng truyện Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Quảng dư kí Q.8].
ngọc hoàn
Vòng ngọc thạch đeo ở một trong những cánh tay phải của “Thiên-Thủ” Quán Âm (Ngàn Tay Quán Âm)—The jade ring in one of the right hands of the “thousand-hand” Kuan-Yin.
; (玉環) Chiếc vòng bằng ngọc. Là vật cầm tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm. Trong 40 tay của Bồ tát, tay cầm ngọc này được gọi là Ngọc hoàn thủ (tay cầm vòng ngọc). [X. kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp; Thiên thủ quyển trong A sa phược sao Q.88].
ngọc hoàng
Yu-huang (C), Jade Emperor Chúa tể của tầng trời cao nhất trong Đạo gia.
; Emperor of Jade.
Ngọc Hoàng Thượng Đế
(玉皇上帝): tên gọi của vị vua tối cao của bầu trời, là chủ của Thiên Đình, với nhiều tôn xưng khác nhau như Hạo Thiên Thượng Đế (昊天上帝), Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝), Ngọc Đế (玉帝), Ngọc Hoàng (玉皇), Hạo Thiên Kim Khuyết Chí Tôn Ngọc Hoàng Đại Đế (昊天金闕至尊玉皇大帝), Huyền Khung Cao Thượng Ngọc Hoàng Đại Thiên Đế (玄穹高上玉皇大天帝), Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Linh Cao Thượng Đế (玉皇大天尊玄靈高上帝), hay dân gian thường gọi là Thiên Công (天公, Ông Trời). Dưới thời nhà Tống, vua Chơn Tông (眞宗, tại vị 997-1022) cũng như Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) đều có ban Thánh hiệu cho Ngọc Hoàng Đại Đế. Vua Chơn Tông ban cho Thánh hiệu là Thái Thượng Thiên Chấp Phù Ngự Lịch Hàm Chơn Thể Đạo Ngọc Hoàng Đại Thiên Đế (太上開天執符御歷含眞體道玉皇大天帝). Vua Huy Tông là Thái Thượng Thiên Chấp Phù Ngự Lịch Hàm Chơn Thể Đạo Hạo Thiên Ngọc Hoàng Thượng Đế (太上開天執符御歷含眞體道昊天玉皇上帝). Trong các kinh điển của Đạo Giáo tôn xưng là Hạo Thiên Kim Khuyết Vô Thượng Chí Tôn Tự Nhiên Diệu Hữu Di La Chí Chơn Ngọc Hoàng Đại Đế (昊天金闕無上至尊自然妙有彌羅至眞玉皇大帝). Ngài được xem như là một vị thần minh tối cao của Đạo Giáo, địa vị chỉ dưới Tam Thanh Tôn Thần (三清尊神) mà thôi. Dưới con mắt thế tục, Ngài được kính ngưỡng như vị thần tối vĩ đại, là vua trong các vị thần. Theo truyền thuyết dân gian, Ngọc Hoàng Thượng Đế không những thọ mạng Thiên Tử thống trị con người, mà còn cai quản cả Tam Giáo Nho, Lão, Thích, cùng với chư vị thần tiên của ba đạo này, cũng như các thiên thần, địa kỳ, người, quỷ đều thuộc quyền thống quản của Ngài. Ngoài việc quản lý ba cõi Thiên, Địa, Nhân, Ngọc Hoàng Đại Đế còn trông coi về sự hưng long, suy bại, tốt xấu, phước họa của vũ trụ vạn vật. Thuộc hạ quản lý về học vụ có Văn Xương Đế Quân (文昌帝君); về thương vụ có Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君); về công vụ có Công Thánh Tiên Sư (巧聖先師); về nông vụ có Thần Nông Tiên Đế (神農先帝); về việc địa phương có Đông Nhạc Đại Đế (東岳大帝), Thanh Sơn Vương (青山王), Thành Hoàng Da (城隍爺), Cảnh Chủ Công (境主公), Thổ Địa Công (土地公), Địa Cơ Chủ (地基主); về cõi âm có Phong Đô Đại Đế (酆都大帝) và Thập Điện Diêm Vương (十殿閻王). Theo lý luận của Đạo Giáo, Trời có 13 tầng, mỗi tầng có 3 vạn dặm, địa phương ngoài Trời ra được gọi là Vô Cực (無極), cõi trong Trời là Thái Cực (太極). Ngọc Hoàng Đại Đế là thần linh tối cao vô thượng trong vũ trụ, hết thảy chư thần linh đều phải vâng lịnh Ngài. Cõi Trời Thái Cực chia thành 5 cõi Trời khác nhau: Trung Thiên (中天) có Ngọc Hoàng Đại Đế an ngự, trên chưởng quản 36 cõi trời, ba ngàn thế giới, dưới trông coi 72 cõi, hết thảy sinh linh. Đông Thiên (東天) có Tam Quan Đại Đế (三官大帝), chủ quản ban phước, kéo dài tuổi thọ, giải trừ tai ách, xá tội, tiêu nạn. Nam Thiên (南天) có Văn Hành Thánh Đế (文衡聖帝), chủ quản việc ủy nhiệm chư thần linh, lên xuống, khảo sát, xem xét công tội của các thần. Tây Thiên (西天) có Thích Ca Mâu Ni (釋迦牟尼), chủ quản việc tín ngưỡng, quy y của con người. Bắc Thiên (北天) có Tử Vi Đại Đế (紫微大帝), chủ quản việc ban phước, tiêu tai, ban bố tài lộc. Về lai lịch của Ngài, theo Cao Thượng Ngọc Hoàng Bản Hạnh Tập Kinh (高上玉皇本行集經) của Đạo Giáo cho rằng vào thời xa xưa có một trú xứ tên Quang Nghiêm Diệu Lạc Quốc (光嚴妙樂國); Quốc Vương xứ này là Tịnh Đức Vương (淨德王), Hoàng Hậu là Bảo Nguyệt Quang (寶月光). Cả hai đều lớn tuổi nhưng không có con nối dõi. Bỗng một đêm nọ, bà mộng thấy Thái Thượng Lão Quân (太上老君) ẵm một đứa hài nhi đưa vào trong bài thai của Hoàng Hậu. Bà cung kính đón nhận, đến khi tỉnh dậy mới hay rằng mình đã có thai. Mang thai tròn 12 tháng, rồi đến ngày mồng 9 tháng giêng năm Bính Ngọ thì hạ sinh Thái Tử. Ngay từ lúc nhỏ, Thái Tử đã thông tuệ, đến khi lớn lên phụ tá cho Quốc Vương rất đắc lực, thương dân, làm việc thiện, cứu người nghèo khổ. Sau khi vua cha băng hà, Thái Tử từ bỏ ngôi vị, vào trong Phổ Minh Hương Nham Sơn (普明香岩山) tu đạo, trãi qua 3.200 kiếp, mới chứng được Kim Tiên, hiệu là Tự Nhiên Giác Hoàng. Sau đó, lại trãi qua cả ức kiếp mới chứng thành Ngọc Đế, hy sinh thân mạng để cứu độ chúng sanh. Từ đó, mồng 9 tháng giêng hằng năm được xem như là ngày khánh đản của Ngọc Hoàng Đại Đế. Tại các Đạo Quán đều có thiết lễ dâng cúng, gọi là Ngọc Hoàng Hội (玉皇會) để cầu nguyện phước quả, sống lâu. Tại tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc cũng như Đài Loan, ngày này được gọi là ngày Bái Thiên Công (拜天公, Lạy Ông Trời); cho nên cả gia đình lớn nhỏ, già trẻ đều giữ gìn trai giới, tắm rửa sạch sẽ, dâng hương hành lễ, vái lạy, tụng kinh. Thời xưa, ở phương Bắc của Trung Quốc có tục lệ tế lễ Ngọc Hoàng, rước tượng Ngài đi cùng khắp thôn xóm. Tương truyền 25 tháng 12 là ngày Ngọc Hoàng Đại Đế hà phàm tuần tra nhân gian, cho nên các Đạo Quán cũng như trong dân gian đều có thắp hương, tụng kinh để nghênh đón Ngài. Trong Đạo Mẫu của Việt Nam, Ngọc Hoàng được gọi là Vua Cha Ngọc Hoàng, là cha của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Trong bài Mộng Tiên (夢仙), Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) có đoạn thơ xưng tán Ngọc Hoàng Đại Đế rằng: “An kỳ tiện môn bối, liệt thị như công khanh, ngưỡng yết Ngọc Hoàng Đế, khể thủ tiền trí thành (安期羨門輩、列侍如公卿、仰謁玉皇帝、稽首前致誠, mong sao lòng kẻ mọn, hầu hạ như công khanh, ngưỡng tâu Ngọc Hoàng Đế, cúi đầu tâm chí thành).
ngọc hoàng thượng đế
Xem Phạm thiên.
ngọc hàm sơn thạch quật
(玉函山石窟) Cũng gọi Phật dục tự, Hưng long sơn. Hang động trong núi Ngọc hàm, tọa lạc gần huyện Tế nam, tỉnh Sơn đông, Trung quốc. Một trong những quần thể chùa viện hang động được tạo lập vào đời Tùy. Trên sườn núi đá vôi lưng chừng núi Phật dục về mé tây có khắc hơn 90 pho tượng Phật bằng đá, trong đó, phía tây bắc có tượng Phật A di đà và tượng bồ tát Di lặc được tạc vào năm Càn nguyên thứ 2 (759) và năm Khai thành thứ 2 (837) đời Đường, số còn lại đều được tạc vào khoảng năm Khai hoàng (581-600) đời Tùy, gồm các pho tượng Phật Thích ca, Phật A di đà, bồ tát Di lặc v.v... Về cách bày xếp khám thờ Phật, thì tầng thứ 1 có 5 khám, đều khắc theo hình thức Tam tôn; tầng thứ 2 có 27 pho tượng Phật nhỏ; tầng thứ 3 gồm tượng Phật và tượng Bồ tát vừa lớn vừa nhỏ; tầng thứ 4 có 17 pho, tầng thứ 5 cũng khắc tượng Tam tôn. Hào quang phía sau tượng Phật được trang sức bằng hoa văn Đường thảo, khám thờ Phật có chạm trổ đẩu củng, nét khắc rất tinh xảo. Phần nhiều các chùa viện hang động của Phật giáo tại Trung quốc là do vua chúa các triều đại tạo lập, nhưng Hàm sơn thạch quật này là do các chư tăng và Phật tử chung sức tạo thành, hình thức kiến tạo đơn giản, chất phác, đậm sắc địa phương. [X. Tế nam cận giao Bắc Ngụy Tùy Đường tạo tượng (Kinh tam lâm, Văn tham tư, kì thứ 9, năm 1955)].
ngọc hào
Chùm lông trắng (bạch mao) giữa hai chân mày của Phật nơi Ngài phóng quang đi khắp các cõi—The urna or white curl between the Buddha's eyebrows, from which he sent forth his ray of light illuminating all worlds.
; (玉豪) Chỉ cho sợi lông trắng ở khoảng 2 chân mày của đức Phật, vì màu trắng của sợi lông sáng trong như viên bạch ngọc, nên gọi là Ngọc hào. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 11 (Đại 54, 370 thượng) nói: Ngọc hào là sợi lông trắng ở khoảng giữa 2 đầu chân mày của Như lai, sáng trong như ngọc trắng. Từ sợi lông này phóng ra ánh sáng, chiếu rọi khắp các thế giới trong 10 phương, vì thế gọi là Ngọc hào thụy sắc. Tây vực kí Trương thuyết tự (Đại 51, 868 thượng) nói: Ngọc hào rực rỡ, nước cam lộ rưới khắp đại thiên, gương vàng soi sáng, gió ấm chan hòa mặt đất.
Ngọc kệ
(玉偈): câu kệ tụng quý giá như vàng ngọc. Kệ (s, p: gāthā, 偈): âm dịch là Già Đà (伽陀), Già Tha (伽他), Kệ Đà (偈佗); ý dịch là phúng tụng (諷誦、諷頌), tạo tụng (造頌), kệ tụng (偈頌), tụng (頌), cô khởi tụng (孤起頌), bất trùng tụng kệ (不重頌偈). Về nghĩa rộng, Già Đà chỉ cho ca dao, thánh ca; nghĩa hẹp chỉ cho đoạn cuối hay phần chót của kinh văn; nội dung không nhất định và có quan hệ với mạch văn trước sau. Như trong Khai Phước Đạo Ninh Thiền Sư Ngữ Lục (開福道寧禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1353) quyển 1 có câu: “Lang hàm ngọc kệ biến mãn Long Cung, hải giác thiên nhai tiềm phu áo nghĩa, hoặc chiêm hoặc lễ huýnh thoát căn trần, nhược kiến nhược văn câu thành chủng trí (琅函玉偈遍滿龍宮、海角天涯潛敷奧義、或瞻或禮迥脫根塵、若見若聞俱成種智, hòm báu kệ ngọc cùng khắp Long Cung, góc biển bờ trời thầm tuyên áo nghĩa, hoặc nhìn hoặc lễ mau thoát bụi trần, nếu thấy nếu nghe đều thành chủng trí).” Hay trong Lô Sơn Liên Tông Bảo Giám (廬山蓮宗寶鑑, Taishō Vol. 47, No. 1973) quyển 9, phần Niệm Phật Chánh Báo Thuyết (念佛正報說), lại có câu: “Thần yết từ nhan đắc pháp ấn nhi hoàn quốc, mộ du kim sát thính ngọc kệ dĩ tiêu dao (晨謁慈顏得法印而還國、暮遊金剎聽玉偈以逍遙, sáng viếng tôn sư được pháp ấn mà về nước, chiều chơi tự viện nghe kệ ngọc bỗng tiêu dao).”
ngọc long tự
GyokuryŪ-ji (J)Tên một ngôi chùa.
Ngọc Lâm Thông Tú
(玉林通琇, Gyokurin Tsūshū, 1614-1675): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Ngọc Lâm (玉林), xuất thân Giang Âm (江陰), Thường Châu (常州, Tỉnh Giang Tô), họ Dương (楊). Ông thọ Cụ Túc giới với Thiên Ẩn Viên Tu (天隱圓修) ở Kinh Khê (荆溪), làm thị giả hầu thầy trong một thời gian và cuối cùng được thầy phú pháp cho. Sau khi Viên Tu qua đời, ông bắt đầu khai diễn pháp tịch tại Báo Ân Viện (報恩院) thuộc vùng Võ Khang (武康, Tỉnh Triết Giang). Vào năm thứ 15 (1658) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông vào cung nội nhận sắc hiệu Đại Giác Thiền Sư (大覺禪師), rồi đến năm thứ 17 (1660) lại được ban cho hiệu là Đại Giác Phổ Tế Năng Nhân Quốc Sư (大覺普濟能仁國師). Vào năm thứ 4 (1665) niên hiệu Khang Hy (康熙), ông trú tại Thiên Mục Sơn (天目山), Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Đến ngày mồng 10 tháng 8 năm thứ 14 (1675) niên hiệu Khang Hy, ông thị tịch, hưởng thọ 62 tuổi đời và 43 hạ lạp. Đệ tử của ông có hơn 20 người. Ông có để lại tác phẩm Ngọc Lâm Tú Quốc Sư Ngữ Lục (玉林琇國師語錄) 12 quyển. Về sau, Vương Hy (王熙) soạn bài tháp minh và Phan Lỗi (潘耒) biên tập hành trạng của ông.
ngọc lâm thông tú
(玉林通琇) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Thanh, người huyện Giang âm, tỉnh Giang tô, họ Dương, tự Ngọc lâm, người đời gọi Ngọc lâm Quốc sư. Năm19 tuổi, sư y vào ngài Khánh sơn Viên tu xuất gia và thụ giới Cụ túc, về sau được nối pháp. Sư trụ trì chùa Báo ân ở huyện Vũ khang, tỉnh Chiết giang, sau vâng sắc của vua Thế tổ nhà Thanh về kinh đô, ở điện Vạn thiện xiển dương đại pháp, được phong hiệu là Đại Giác Thiền Sư. Ít lâu sau, sư trở về núi, để đệ tử là Lữu khê Hành sâm ở lại hoằng pháp tại Bắc kinh, đó là sự mở đầu cho dòng pháp của sư lưu hành ở nơi này. Năm sau, sư được phong hiệu Đại Giác Phổ Tế Thiền Sư và được ban áo đỏ. Năm Thuận trị 17 (1660), vua thỉnh sư làm Bản sư để truyền giới Bồ tát, lại phong hiệu làm Đại Giáo Phổ Tế Năng Nhân Quốc Sư. Thời gian thuyết pháp trong cung, sư có soạn 1 bài Khách vấn, Đại học sĩ Kim chi tuấn vâng sắc làm lời bình và lời tựa để ấn hành. Cuối đời, sư cất chùa Thiền nguyên ở núi Tây thiên mục tại Chiết giang và thường trụ ở chùa này, phát huy Thiền pháp, hình thành phái Sư tử chính tông. Tháng 7 năm Khang hi 14 (1675), sư thị tịch ở am Từ vân tại Hoài an, tỉnh Giang tô, hưởng thọ 62 tuổi. Tháp thờ sư được dựng ở núi Tây thiên mục, ông Vương hi vâng sắc soạn bài minh tháp. Đệ tử nối pháp của sư là Thích Siêu kì biên soạn Niên phổ về sư 2 quyển. Sư có tác phẩm: Ngọc lâm Thông tú Quốc sư ngữ lục 12 quyển. [X. Tục chỉ nguyệt lục Q.19; Đại thanh nhất thống chí Q.9, 61; Thích thị nghi niên lục Q.12].
Ngọc lịch
(玉曆、玉歷): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho ngày đầu tiên của năm Âm Lịch, tức mồng 1 Tết. Như trong bài Kiến Bình Vương Khánh Cải Hiệu Khải (建平王慶改號啟) của Lương Giang Yêm (梁江淹, ?-?) thời Nam Triều có đoạn “Thiết dĩ hoàng cù vĩnh mật, tắc ngọc lịch duy trinh (竊以皇衢永謐、則玉歷惟禎, nép nghĩ đường vua mãi yên, tất đầu năm tốt đẹp).” (2) Lịch thư do nhà vua ban cho vào mỗi đầu năm. Như trong bài thơ Quận Trung Xuân Yến Nhân Tặng Chư Khách (郡中春宴因贈諸客) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có câu: “Thị thời tuế nhị nguyệt, ngọc lịch bố Xuân Phân (是時歲二月、玉歷布春分, lúc bấy giờ nhằm tháng hai, lịch ngọc ban bố dịp Xuân Phân).” Hay trong bài thơ Nhâm Tý Thu Quá Cố Cung (壬子秋過故宮) của Tống Nột (宋訥, 1311-1390) nhà Minh cũng có câu: “Triêu hội bảo đăng trầm chuyển lậu, thọ thời ngọc lịch bãi ban xuân (朝會寶燈沉轉漏、授時玉歷罷班春, sáng gặp đèn báu thầm khắc đếm, truyền cho lịch ngọc thôi ban [bố] xuân).” (3) Loại dầu cao quý giá, tức là thuốc tiên trong truyền thuyết. Như trong bài thơ Mông Tứ Tửu (蒙賜酒) của Dữu Tín (庾信, 513-581) nhà Bắc Chu có câu: “Kim cao hạ đế đài, ngọc lịch tại bồng lai (金膏下帝臺、玉歷在蓬萊, thuốc vàng dưới bệ vua, cao ngọc chốn bồng lai).” Trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 23, phần Niêm Công Thiếp Pháp Ngữ (拈公帖法語), có câu: “Kim luân thống ngự tam thiên giới, ngọc lịch diên hồng ức vạn xuân (金輪統御三千界、玉曆延洪億萬春, xe vàng thống lãnh ba ngàn cõi, lịch ngọc kéo dài ức vạn xuân).” Hay trong Chương Sở Tri Luận (彰所知論, Taishō Vol. 32, No. 1645) quyển Hạ cũng có đoạn: “Huống Chánh Biến Tri chi diệu dụng, kỳ thục năng ngộ ư thử; thạnh hỉ Ưu Đàm thụy thế, thiên khai ngọc lịch chi kỳ; Tượng Giáo trung hưng, thời tế kim luân chi trị (況正遍知之妙用、其孰能語於此、盛矣優曇瑞世、天開玉曆之期、像教中興、時際金輪之治, huống chi sự diệu dụng của Chánh Biến Tri, liệu ai có thể ngộ được điều này; hưng thịnh thay hoa Ưu Đàm hiện thế, trời mở lịch ngọc thời kỳ; Tượng Giáo chấn hưng, gặp lúc xe vàng cai trị).”
ngọc nhu
Pliable jade, i.e. beef.
ngọc nhãn
(玉眼) Tượng Phật được khắc bằng gỗ ở Nhật bản, trong mắt có khảm màng mỏng thủy tinh và vẽ con ngươi, gọi là Ngọc nhãn. Từ thời Đằng nguyên bắt đầu sáng tạo ra cách Kí mộc tạo (tượng ghép gỗ) thì thường ứng dụng phương pháp này để làm mắt tượng Phật. Từ thời Liêm thương trở đi, mắt các tượng Phật phần nhiều đều là ngọc nhãn.
ngọc như ý
Maṇi-jewel.
; Cintàmani (S). Sacred gem, Jewel of the thought. Also như ý châu.
; Cintamani (skt)—Fabulous gem—The philosopher's stone—Wish-fulfilling jewel—Wish-gem.
ngọc nữ
A pretty girl, a precious maidens. ** For more information, please see Bảo Nữ.
ngọc phương
Tên của một ngôi tịnh xá nổi tiếng nằm trong quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Tịnh xá được Ni Sư Huỳnh Liên kiến lập vào năm 1958, và được trùng tu lại trong những năm 1970 và 1972. —Name of a famous monastery located in Gò Vấp district, Saigon City, South Vietnam. It was built 1958 by Venerable Elder Bikkhuni Huỳnh Liên. It was rebuilt in 1970 and in 1972.
ngọc phật
Một tượng Phật bằng ngọc thạch nổi tiếng được tìm thấy khi đào một cái giếng ở Khotan, cao khoảng từ 3 đến 4 bộ Anh—A famous jade Buddha recovered while digging a well in Khotan, 3 to 4 feet high.
; (玉佛) Cũng gọi Ngọc tượng. Tượng Phật tạc bằng ngọc. Điều Sư tử quốc Vô úy sơn tự trong Cao tăng Pháp hiển truyện (Đại 51, 864 hạ) nói: Cất một điện Phật, khắc các pho tượng bằng những vật báu, trong đó có một pho bằng ngọc màu xanh, cao khoảng 3 trượng, toàn thân sáng chói, tướng hảo uy nghiêm, không thể diễn tả bằng lời, trong bàn tay phải có một viên bảo châu vô giá. Điều Tam ma đát tra quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 10 (Đại 51, 927 hạ) nói: Có pho tượng Phật bằng ngọc màu xanh, cao 8 thước, đầy đủ tướng tốt, thường hiện linh ứng. Cứ theo điều Vu điền ngọc Phật trong Minh đào tông nghi Xuyết canh lục quyển 28, thì tại nước Vu điền có người đào giếng phát hiện được 1 tượng Phật bằng ngọc, cao khoảng 3, 4 thước, màu xanh mỡ, rọi ánh sáng vào thấy suốt gân, xương, mạch máu. [X. Lương thư Q.54; History of Indian and Indonesian Art, by Ànanda Coomaraswamy; The Chronicle of the Emerald Buddha, by C. Notton].
ngọc phật tự
(玉佛寺) I. Ngọc Phật Tự. Ngôi chùa nổi tiếng ở Thượng hải, có thờ pho tượng rất lớn khắc bằng đá ngọc. Pho tượng này do ngài Tuệ căn ở núi Phổ đà rước từ Miến điện về vào năm Quang tự thứ 8 (1882) đời Thanh, lúc đầu thờ ở chùa Giang loan, sau chùa này bị phá hủy trong chiến tranh. Năm Dân quốc thứ 7 (1918), Ngài Khả thành thuộc tông Lâm tế xây cất chùa mới ở địa chỉ hiện nay, gọi là Ngọc Phật thiền tự. Sau khi chùa được hoàn thành, tượng Ngọc Phật được rước về thờ tại đây. Chùa Ngọc Phật cách thành phố Thượng hải không xa, trong chùa có các kiến trúc như: Điện Đại hùng, điện Thiên vương, lầu Ngọc Phật, điện Ngọa Phật v.v... Trong điện Ngọa Phật (Phật nằm) có cất giữ kinh điển, tượng Phật và các di vật văn hóa quí báu. Trong điện Đại hùng có 3 pho tượng Phật rất lớn đều được an trí trên đàn Tu di cao 3 thước, có 2 pho tượng Phật Thích ca, 1 pho Niết bàn, 1 pho ngồi, chạm bằng ngọc; tượng Niết bàn thờ ở điện Ngọa Phật, còn tượng ngồi thì thờ tại lầu Ngọc Phật, đặt trong khám Phật có nạm pha lê. II. Ngọc Phật Tự. Chùa trong Hoàng cung ở Bangkok, Thái lan, do vua Lapma đời thứ 1 (Rama I) thuộc vương triều Bangkok xây dựng vào cuối thế kỉ XVIII để thờ pho tượng Phật bằng ngọc bích được liệt vào hàng quốc bảo. Theo truyền thuyết, pho tượng Phật này được khắc từ nguyên khối ngọc màu xanh biếc và đặt trên đàn tế mạ vàng cao 11 mét, trên đỉnh đầu tượng có treo lọng hoa 9 tầng, ở 2 bên là 2 quả cầu tượng trưng cho mặt trời và mặt trăng. Hàng năm, tùy theo mùa, vua Thái lan đích thân đến chùa thay áo cho tượng Ngọc Phật, mùa nóng là áo vàng ròng có mạ đá quí, mùa mưa là áo vàng ròng điểm xuyết những hạt châu báu, mùa mát là áo thuần vàng ròng. Chùa này là nơi để các vua Thái lan làm lễ đăng quang khi lên ngôi, cũng là nơi dành cho Hoàng gia cử hành các nghi thức cúng tế.
Ngọc soạn
(玉饌): món ăn trân quý như ngọc. Trong bài thơ Kỉ (麂) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có đoạn: “Vĩnh dữ thanh khê biệt, mông tương ngọc soạn câu, bất cảm hận bào trù, loạn thế khinh toàn vật (永與清溪別、蒙將玉饌俱、不敢恨庖廚、亂世輕全物, mãi xa khe trong vắng, mong cùng cỗ ngọc theo, chẳng dám hận nhà bếp, đời loạn khinh mọi vật).” Hay trong bài Ngô Đô Phú (吳都賦) của Tả Ân (左思, khoảng 250-305) nhà Tấn lại có câu: “Căng kỳ yến cư, tắc châu phục ngọc soạn (矜其宴居、則珠服玉饌, kính người sống nhàn hạ, nên mặc đồ châu báu, ăn thứ ngọc ngà).” Hoặc trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 6, phần Tiến Vong Kệ Tán Môn (薦亡偈讚門), cũng có câu: “Diên đôi ngọc soạn thiên trù cúng, hương nhiệt kim lô hải ngạn yên (筵堆玉饌天廚供、香爇金爐海岸煙, cỗ đầy món ngọc bếp trời cúng, hương rực lò vàng ven biển mù).”
ngọc thành khang tứ lang
(玉城康四郎) Học giả Phật giáo Nhật bản. Ông tốt nghiệp khoa Triết học trường Đại học Đế quốc, Đông kinh, năm 1931. Ông làm Giáo sư các trường Đại học Đông kinh và Đại học Đông bắc. Ông dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo với các chủ đề: Triết học của ngài Trần na, Pháp xứng, Thực tướng quán của Thiên thai, Phật học Trung quốc. Ông có các tác phẩm: Sự hình thành của tư tưởng Ấn độ cận đại, sự hình thành của tư tưởng Phật giáo Trung quốc, Minh tưởng và kinh nghiệm.
ngọc thạch
Gem and stone.
Ngọc thất
(玉室): nhà ngọc, chỉ nơi cư trú của thần tiên. Như trong Tấn Thư (晉書), Truyện Hứa Mại (許邁傳), có đoạn: “Tự Sơn Âm Nam chí Lâm An, đa hữu kim đường ngọc thất, tiên nhân chi thảo, Tả Nguyên Phóng chi đồ, Hán mạt chư đắc đạo giả giai tại yên (自山陰南至臨安、多有金堂玉室、仙人芝草、左元放之徒、漢末諸得道者皆在焉, từ Sơn Âm đi về phía Nam đến Lâm An, có nhiều nhà vàng thất ngọc, cỏ thơm của tiên nhân, nhóm của đạo sĩ Tả Nguyên Phóng, những người đắc đạo cuối thời nhà Hán đều ở đây).” Hay trong bài thơ Túc Cửu Tiên Sơn (宿九仙山) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Ngọc thất kim đường dư Hán sĩ, đào hoa lưu thủy thất Tần nhân (玉室金堂餘漢士、桃花流水失秦人, nhà ngọc lầu vàng nhiều Hán sĩ, đào hoa nước chảy mất Tần nhân).”
Ngọc thọ
(玉樹): cây bằng ngọc, cây trắng như ngọc. Trần Thúc Bảo (陳叔寶, tại vị 583-589, Hoàng Đế cuối cùng của nhà Trần thời Nam Bắc Triều) có làm bài thơ Ngọc Thọ Hậu Đình Hoa (玉樹後庭花): “Lệ vũ phương lâm đối cao các, tân trang diễm chất bổn khuynh thành, ánh hộ ngưng kiều sạ bất tấn, xuất duy hàm thái tiếu tương nghinh, yêu cơ thiểm tợ hoa hàm lộ, ngọc thọ lưu quang chiếu hậu đình (麗宇芳林對高閣、新粧艶質本傾城、映戸凝嬌乍不進、出帷含態笑相迎、妖姫臉似花含露、玉樹流光照後庭, nhà đẹp rừng thơm đối gác cao, tân trang tuyệt chất vốn nghiêng thành, cửa sáng mỹ miều thẹn chẳng bước, khỏi rèm thư thả đón cười duyên, xinh sao mắt tợ hoa ngậm móc, cây ngọc sáng quang chiếu sau vườn).” Có thuật ngữ “kiêm gia ỷ ngọc thọ (蒹葭倚玉樹, cỏ kiêm và cỏ lau nương tựa vào cây ngọc)” thường được dùng để ví dụ bên xấu bên đẹp, không thể nào so sánh được; từ đó nó có nghĩa là mượn sự vinh quang, phú quý, cao đẹp của người khác để thăng hoa bản thân mình. Thuật ngữ này vốn phát xuất từ Thế Thuyết Tân Ngữ (世說新語), phần Dung Chỉ (容止) của Lưu Nghĩa Khánh (劉義慶, 403-444) nhà Tống thời Nam Triều: “Ngụy Hoàng Đế sử hậu đệ Mao Tằng dữ Hạ Hầu Nguyên tinh tọa, thời nhân vị kiêm gia ỷ ngọc thọ (魏蝗帝使後弟毛曾與夏侯元並坐、時人謂蒹葭倚玉樹, Ngụy Hoàng Đế bảo em vợ là Mao Tằng và Hạ Hầu Nguyên cùng ngồi chung, người đương thời gọi đó là cỏ lau nương cây ngọc).” Câu “ngọc thọ phong trưởng, chi điều mậu thạnh thiên xuân (玉樹豐長、枝條茂盛千春)” có nghĩa là cây ngọc phát triển mạnh mẽ, nên các cành lá tươi tốt mãi mãi, có thể kéo dài đến cả ngàn năm.
ngọc trai
Pearl.
Ngọc triện
(玉篆): có hai nghĩa chính. (1) Từ mỹ xưng của lối chữ Triện; phần lớn chỉ cho những văn tự trong các điển tịch, văn cáo, sách phù lục, v.v. Như trong bức Lập Thông Đạo Quán Chiếu (立通道觀詔) của Vương Bao (王褒, ?-?) nhà Hán có đoạn: “Thánh triết vi ngôn, tiên hiền điển huấn, kim khoa ngọc triện, bí tích di thư, tinh nghi hoằng xiển, nhất dĩ quán chi (聖哲微言、先賢典訓、金科玉篆、秘蹟遺書、幷宜弘闡、一以貫之, Thánh triết lời hay, tiên hiền giáo huấn, khoa vàng Triện ngọc, dấu tích di thư, đều nên mở rộng, xuyên suốt như một).” Hay trong bài thơ Hòa Tả Vệ Võ Thương Tào Tặng Hữu Vệ Lý Kỵ Tào (和左衛武倉曹贈右衛李騎曹) của Tôn Địch (孫逖, 696-761) nhà Đường có câu: “Văn trường san ngọc triện, võ sự chưởng kim nao (文塲刊玉篆、武事掌金鐃, văn chương in Triện ngọc, chuyện võ nao bạt cầm).” (2) Chỉ cho loại sách của tiên gia. Như trong bài thơ Trung Nguyên Dạ Ký Đạo Lữ (中元夜寄道侶) của Lục Quy Mông (陸龜蒙, ?-881) nhà Đường có câu: “Đinh ninh độc thọ kim phi ước, hứa dữ thân đề ngọc triện danh (丁寧獨受金妃約、許與親題玉篆名, đinh ninh riêng chịu nàng hôn ước, hứa cùng nhau đề sách tiên tên).”
ngọc trùng trù tử
(玉蟲厨子) Trù tử tức là cỗ khám thờ Phật, hoặc được sử dụng để cất giữ kinh điển. Ngọc trùng trù tử là khám thờ Phật có hình dáng cung điện được đặt trong Kim đường chùa Pháp long tại Nhật bản. Vì cỗ khám này có trang sức cánh con ngọc trùng cho nên có tên như trên: Khám cao 2,33 mét, nền là tòa Tu di hình vuông, trên cột khám có chạm các hoa văn chim bay theo kiểu Đường thảo có thếp vàng, phía dưới thì nhấn rất nhiều cánh ngọc trùng, ngói lợp làm bằng lá đồng, gọi là Hành cơ tập, đáng gọi là kết tinh của nền kiến trúc ở thời đại Phi điểu. Bên trong khám có Thiên Tôn Phật bằng đồng mạ vàng. Màu nền của hội họa thì lấy sơn đen làm chính, còn màu đỏ, màu xanh lá cây, màu vàng đất... thì dùng để vẽ các đường nét. Cửa cung điện có tượng Bồ tát và tượng Thiên bộ, mặt sau có bức vẽ cúng dường tháp Đa bảo. Mặt chính phía dưới tòa Tu di vẽ tranh cúng dường xá lợi, mặt bên phải vẽ tranh xả thân cho hổ đói ăn, mặt bên trái có bức tranh tả cảnh bỏ mình để được nghe bài kệ, mặt sau vẽ núi Tu di. Ngoài ra, trong cùng 1 bức tranh còn có các hình vẽ khác để biểu thị sự lưu chuyển của thời gian. Nét vẽ đơn thuần này đã ảnh hưởng phần nào đến sự phát triển hội họa ở đời sau. [X. Nhật bản quốc bảo toàn tập, tập 28; Nhật bản kiến trúc sử; Quốc bảo mục lục].
ngọc tuyền ngọc hoa lưỡng tông
Hai tông phái Ngọc Tuyền và Ngọc Hoa—The two schools of the Jade-fountain and Jade-flower: Ngọc Tuyền Tông: Thiên Thai Tông (T'ien-T'ai Sect)—Ngọc Tuyền là tên của một tự viện ở Đang Dương thuộc tỉnh Hồ Bắc, nơi Trí Khải Đại Sư (Trí Nhất), sơ tổ của tông Thiên Thai đã sống—Yu-Ch'uan sect, was the name of the monastery in Tang-Yang, Hupei, where Chih-I, the founder of the T'ien-T'ai school lived. Ngọc Tuyền Tông: Pháp Tướng Tông (Dharmalaksana Sect)—Ngọc Hoa là tên của một tự viện, nơi Huyền Trang, tổ của tông phái nầy đã sống và làm việc. Nơi đây ông đã dịch 600 cuốn của bộ kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa—Yu-Hua, was the name of a palace which was transformed into a temple where Hsuan-Tsang, the founder in China, lived and worked. There he translated the Mahaprajna-Paramita-Sutra, 600 books (chuan).
; (玉泉玉花兩宗) Chỉ cho tông Thiên thai và tông Pháp tướng. Vì Đại sư Thiên thai Trí giả từng trụ ở chùa Ngọc tuyền, cho nên dùng Ngọc tuyền để chỉ cho tông Thiên thai. Còn ngài Huyền trang thì ở tại chùa Ngọc hoa dịch kinh Đại bát nhã và truyền tong Pháp tướng, thế nên dùng Ngọc hoa để chỉ cho tông Pháp tướng. (xt. Ngọc Tuyền Tự, Ngọc Hoa Tự).
Ngọc Tuyền Tự
(玉泉寺, Gyokusen-ji): còn gọi là Ngọc Tuyền Thiên Thai (玉泉天台), là ngôi tự viện quan trọng của Phật Giáo thuộc địa khu Hán tộc, là đơn vị bảo hộ văn vật trọng điểm của quốc gia; hiện tọa lạc tại Ngọc Tuyền Sơn (玉泉山), Phủ Kinh Khê (荆溪府), trong phạm vi của Đương Dương, Tỉnh Hồ Bắc. Trong khoảng niên hiệu Kiến An (建安) nhà Đông Hán, tăng Phổ Tịnh (普淨) đã từng kết thảo am tu tập tại núi này. Vào năm 528 (Đại Thông [大通] 2) của Nam Bắc Triều, vua Lương Võ Đế ban sắc chỉ kiến tạo nơi đây ngôi Phú Thuyền Sơn Tự (覆船山寺). Đến năm 593 (Khai Hoàng [開皇] 13) nhà Tùy, Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-397) vâng chỉ kiến lập chùa, nhân thấy dòng suối dưới núi trong vắt như viên ngọc, bèn đổi tên thành Ngọc Tuyền Tự. Chính Đại Sư đã từng thuyết giảng Pháp Hoa Huyền Nghĩa (法華玄義) và Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀) tại chùa này. Trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Nghiệp (大業, 605-617) nhà Tùy, Tấn Vương Dương Quảng (晉王揚廣, tại vị 604~618) ban cho bức ngạch đề dòng chữ “Ngọc Tuyền Tự (玉泉寺)”. Năm 676 (Nghi Phụng [儀鳳] nguyên niên) nhà Đường, Thần Tú đến trú tại đây và xiển dương Thiền pháp; từ đó, ngôi già lam này càng lúc càng hưng thịnh và nổi tiếng khắp chốn tòng lâm trong thiên hạ. Về sau, trãi qua các triều đại, chùa đều được trùng tu và sữa chữa nhiều lần. Từ khi Giám Chơn (鑑眞, Ganjin, 688-763), đệ tử của Hoằng Cảnh (弘景), được mời sang Nhật làm Luật Sư, ngôi chùa này trở nên nổi tiếng như là nơi nghiên cứu về Giới Luật rất thịnh hành. Ngoài ra, Nam Nhạc Hoài Nhượng (南岳懷讓) đã từng xuống tóc xuất gia với Hoằng Cảnh tại linh địa này; hay như trường hợp Đại Mai Pháp Thường (大梅法常) lúc thanh niên đã tu học tại đây.
Ngọc tướng
(玉相): chỉ cho bản chất thuần mỹ, cao quý như ngọc. Như trong bài thơ Tổ Đạo Triệu Vương Ứng Chiếu Thi (祖道趙王應詔詩) của Trương Hoa (張華, 232-300) nhà Tấn có câu: “Bẩm tư tự nhiên, kim chất ngọc tướng (稟姿自然、金質玉相, hình dáng tự nhiên, chất vàng tướng ngọc).” Từ đó, từ này còn được dùng để chỉ cho tướng hảo trang nghiêm của các bậc Thánh như Phật, Bồ Tát, v.v. Như trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh Trực Chỉ Sớ (觀無量壽經直指疏, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 22, No. 413) quyển 1, phần Quán Kinh Trực Chỉ Sớ Tự (觀經直指疏序), có đoạn: “Dục đỗ toàn thể chi kim dung, tiên chiêm mi hào chi ngọc tướng, Quan Âm thượng đảnh ư Phật quả, Thế Chí hạ động hàm linh (欲睹全體之金容、先瞻眉毫之玉相、觀音上頂於佛果、勢至下動於含靈, muốn thấy toàn thể ấy dung vàng, trước nhìn lông mày ấy tướng ngọc, Quan Âm trên đảnh chứng Phật quả, Thế Chí dưới động đến sinh linh).” Hay trong Thiền Môn Chư Tổ Sư Kệ Tụng (禪門諸祖師偈頌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1298) quyển 1, phần Thích Ca Như Lai Thành Đạo Ký (釋迦如來成道記) do Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường soạn, có câu: “Giáo cập Thần Châu, thanh lưu Hoa Hạ, Bột thao sanh quý thế, hoạch phụng chơn đàm, tuy lục tục nhi dĩ tự kim ngôn, tại phiêu linh nhi bất phùng ngọc tướng, kiến văn tận nhĩ, tông trí chiêu nhiên (敎及神州、聲流華夏、勃叨生季世、獲奉眞譚、雖錄續而以敘金言、在飄零而不逢玉相、見聞盡爾、宗致昭然, giáo pháp đến tận Thần Châu [Trung Nguyên], thanh danh vang khắp Hoa Hạ [Trung Quốc], Bột tôi nhờ sanh vào đời tốt, được vâng lời chơn, tuy liên tục mà để tỏ bày lời vàng, vì phiêu lưu mà không gặp tướng ngọc, thấy nghe cùng khắp, tông chỉ sáng ngời).”
ngọc viên
Tên của một ngôi Tổ Đình thuộc hệ phái Khất Sĩ, tọa lạc trong thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, Nam Việt Nam. Tổ đình được Tổ Sư Minh Đăng Quang xây dựng năm 1948. Ngôi chánh điện hình chữ nhật, tượng trưng cho “Thuyền Bát Nhã.” Giữa chánh điện là Pháp tháp nơi đặt tôn tượng của Đức Phật Thích Ca—Name of a monastery, a Patriarch Temple of the Vietnamese Medicant Sect, located in Vinh Long Town, Vinh Long province, South Vietnam. It was established and built in 1948 by the Most venerable Master and Zen Master Minh Đăng Quang. The Main Hall is rectangular symbolizing the “Prajna Boat.” In the middle of the Main Hall is the Dharma stupa where the statue of Lord Sakyamuni Buddha is placed and worshipped. Ngoi: To rise up (above mud or water).
ngọc điệp
(玉牒) Chỉ cho kinh điển Phật. Nhân minh nhập chính lí luận sớ quyển thượng (Đại 44, 91 trung) nói: Kim dung xán lạn, ngọc điệp huy hoàng, tuy chí giáo đã hưng thịnh, nhưng sách này chưa đầy đủ.
ngọn
Top (of tree or mountain)—End—Extremity—Crest (of waves)—Blade (of grass)—Summit (of hill or mountain).
ngọn ngành
In detail.
ngọn đèn
Xem Hải đảo.
ngọt
Madhura (S)Mỹ Càn thác bàMỹ Càn thác bà: Một trong bốn vị vua Càn thát bà đến nghe Phật giảng kinh Pháp Hoa. Bốn vị ấy là: Nhạc Càn thác bà vương, Nhạc âm Càn thác bà vương, Mỹ Càn thác bà vương, Mỹ âm Càn thác bà vương.
ngọt dịu
Sweetish.
ngọt giọng
Sugary tone.
ngọt mật chết ruồi
You catch more flies with honey than with verjuice.
ngỏ lời
To express—To speak to someone.
ngỏ ý
To express (make known) one's intention.
ngốc am trang thiền sư ngữ lục
(呆庵莊禪師語錄) Cũng gọi Kính trung hòa thượng ngữ lục. Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Kính trung Phổ trang soạn vào đời Minh, ngài Tuệ khải biên tập, ấn hành vào năm Sùng trinh thứ 3 (1630), được thu vào Vạn tục tạng tập 123. Nội dung bộ sách này thu chép các ngữ lục của Thiền sư Phổ trang khi ngài trụ trì và hoằng pháp tại các chùa: Bắc thiền ở Vũ châu (Lâm xuyên, tỉnh Giang tây), Chân như thiền ở núi Vân cư, Nam khang, Giang tây và Vạn thọ thiền ở núi Kính sơn, Hàng châu (huyện Hàng, tỉnh Chiết giang), gồm các hạng mục: Thướng đường, Tiểu tham, Niêm cổ, Tụng cổ, Kệ, Thi, Tán, Tháp minh v.v...
ngốc không
(禿空) Đầu trọc chấp không. Từ châm biếm Phương quảng đạo nhân, những người chấp trước đãn không(chỉ có không, hoàn toàn không). Phương quảng đạo nhân là những người ngoại đạo trà trộn vào Phật giáo Đại thừa, với ý đồ xuyên tạc giáo lí Phật giáo; họ chủ trương trong pháp giới hoàn toàn không có vật gì, tất cả chỉ là ngoan không. Vì thế Phật giáo gọi họ làÁc thủ không, Thốc không. [X. Ma ha chỉ quán Q.7].
; (禿空) Danh từ này dùng để chế diễu kẻ ác thủ không trong Phương quảng đạo nhân. Phương quảng đạo nhân là những người ngoại đạo bám vào Phật pháp Đại thừa, chủ trương trong pháp giới không có 1 mảy may gì hết, chấp trước ngoan không. Vì thế kiến chấp không này được gọi là Ác thủ không, Ngốc không.
ngốc nhân
(禿居士) Cũng gọi là Thốc, Thốc cư sĩ, Thốc nô, Thốc tì. Người trọc đầu. Từ ngữ phỉ báng tăng già. Tức chê bai, chế diễu những người bề ngoài là hình tướng xuất gia, cạo tóc, nhưng thực ra là kẻ phá giới, không giữ giáo chế, luật nghi, hoặc những người xuất gia chỉ lấy đó làm kế mưu sinh. Năm Đại trung tường phù thứ 3 (1010), vua Chân tông nhà Tống ban sắc lệnh cấm chỉ người trong nước vô cố dùng chữ Thốc hủy nhục tăng ni. Ngoài ra, người ngu cũng bị gọi là Thốc lũ sinh, Ngu thốc. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.47; kinh Niết bàn quyển 3 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.38]. (xt. Thế Phát).
; (禿人) Cũng gọi Ngốc, Ngốc cư sĩ, Ngốc nô, Ngốc tì. Người trọc đầu. Lời phỉ báng những người bề ngoài mang hình tướng xuất gia, đầu tròn áo vuông, nhưng thực ra là kẻ phạm trai phá giới, không tuân thủ giáo luật, hoặc lời chê bai những kẻ mượn màu áo xuất gia làm kế mưu sinh. Năm Đại trung tường phù thứ 3 (1010) đời Bắc Tống, vua Chân tông ban lệnh cho thiên hạ cấm chỉ không được vô cớ dùng chữ ngốc để sỉ nhục tăng ni. Ngoài ra, người ngu cũng bị gọi là Ngốc lũ sinh, Ngu ngốc. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.47; kinh Niết bàn Q.3 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.38]. (xt. Thế Phát).
ngồi
To sit.
ngồi bó gối
To sit with one's arms around one's knees.
ngồi chễm chệ
To sit solemnly (in state).
ngồi không
To stay idle.
ngồi kiết già
Vajra postureXem Liên hoa tọa.
ngồi lì
To sit tight.
ngồi một cách an vui
Phải ngồi đúng chỗ thích nghi. Khi thấy cha mẹ chồng đến phải đứng dậy để tỏ lòng kính trọng, chứ không được ngồi—Sit happily. A wife should sit in a becoming way. On seeing her parents-in-law or her husband, she should stand up as a sign of respect, and not remained seated. Ăn một cách an vui: Có nghĩa là trước khi ăn cơm phải coi có dọn đầy đủ cho cha mẹ chồng và chồng chưa. Cũng phải coi chừng người làm trong nhà, phải xem coi họ có được chăm sóc đầy đủ không—Eat happily means that before partaking of her meals, a wife should first see that her parents-in-law and husband are served. She should also see that her servants are well cared for.
ngồi thiền
To sit in meditative position—To meditate.
ngồi tréo ngoảy
To sit with one leg across (over) the other.
ngồi xếp bằng
Agura (S).
ngồi xếp chéo lỏng
Thế ngồi Thiền theo kiểu Nhật Bản, ngồi xếp chéo lỏng, không phải bán già mà cũng không phải kiết già—The loose cross-legged sitting position originated from Japan. It is neither the half-lotus nor the full-lotus.
ngồi yên
To sit still.
ngổn ngang
In disorder—Out of order—In confusion.
ngỗ nghịch
Insubordinate—Disobedient.
Ngộ
悟; C: wù; J: satori (悟り);|Một thuật ngữ của Thiền tông, được dùng để chỉ sự »nhận thức«, »trực nhận«, »thấu hiểu xuyên suốt.« »Nhận thức« ở đây không phải là sự hiểu biết thông thường hoặc nhận thức theo các hệ thống triết lí mà chính là sự trực nhận chân lí không có sự phân biệt giữa »Người nhận thức« và »Vật được nhận thức« (Nhân vật bất nhị 人物不二). Một danh từ khác đồng nghĩa với ngộ là Kiến tính (j: ken-shō). Biểu thị Ðại ngộ triệt để cũng thường được sử dụng để chỉ sự Giác ngộ tột cùng, viên mãn.|Danh từ Ngộ được thông dụng khi Thiền tông bắt đầu hưng thịnh. Trước đó, các Cao tăng hay dùng chữ Bồ-đề (菩提), cách phiên âm chữ Bodhi của Phạn ngữ hoặc cách dịch nghĩa của nó là Giác, Giác ngộ (覺悟) hơn. Có lẽ các vị Thiền sư muốn thống nhất hoá tư tưởng »Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự«, chủ trương đem danh từ Ngộ vào pháp ngữ.|Nếu nghiên cứu kĩ cách sử dụng danh từ Ngộ và Giác (Bồ-đề) trong các kinh luận, thiền ngữ Trung Quốc, người ta có thể thấy được một sự khác biệt tinh tế trong cách sử dụng. Ngộ thường được dùng để chỉ cái kinh nghiệm thức tỉnh trong ý nghĩa ngay thức thì của nó trong khi Giác được dùng với nghĩa »Ngộ thường trực«. Người đã có kinh nghiệm Ngộ cần phải tu tập thêm để đạt đến mức toàn vẹn của Giác.|Trong thời gian Thiền tông phát triển tại Nhật, các vị Thiền sư tại đây lại phân biệt giữa hai danh từ Ngộ (j: satori) và Kiến tính (見性; j: kenshō) và sự khác biệt giữa hai danh từ này cũng giống như trường hợp giữa Giác và Ngộ. Trong những khóa thực hành thiền căn bản, các vị Lão sư (j: rōshi) thường dùng danh từ Kiến tính để chỉ những kinh nghiệm ngộ đạo ban sơ của thiền sinh, rất ít khi dùng chữ Ngộ.
ngộ
Satori (J), Enlightenment Giác ngộ.
; Awaken to, apprehend, perceive, become aware.
; Đẹp Đẽ: Pretty. Gặp gỡ: Tri ngộ—To meet. Giác Ngộ: Budh (skt). Bừng tỉnh: Tỉnh thức: Jagarati (p)—Jagara (skt)—To apprehend—To awake—To awaken—To wake up. Giác ngộ: Sambodhi (skt)—Knowledge—Enlightenment. Làm tỉnh ngộ: Sambodhana (skt)—Arousing—Awaking—Recognizing.
; (悟) Đối lại: Mê. Sinh khởi chân trí, xoay chuyển mê mộng, tỏ ngộ chân lí, gọi là Ngộ. Như nói chuyển mê khai ngộ, chứng ngộ, giác ngộ, ngộ nhập... Vì giáo lí trong Phật giáo có sâu cạn khác nhau nên cảnh giới ngộ cũng bất đồng: Tiểu thừa đoạn phiền não trong 3 cõi thì chứng được lí trạch diệt; tông Duy thức chủ trương ngộ nhập tính Duy thức; tông Tam luận nhằm đến được cảnh Không bất khả đắc; tông Hoa nghiêm chủ trương chứng nhập Tự cảnh giới của Thập Phật; tông Thiên thai chủ trương chứng ngộ thực tướng các pháp, còn Thiền tông thì đề xướng Kiến tính thành Phật v.v... Nói tóm lại, cảnh giới ngộ của Đại thừa là chứng biết chân lí, dứt sạch phiền não, đầy đủ vô lượng diệu đức, ứng hiện muôn cảnh 1 cách tự tại. Nếu phân biệt mê ngộ trong 10 cõi (địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, tu la, người, trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Phật) thì 6 cõi trước là mê, 4 cõi sau là ngộ. Nếu nói theo 1, 9 đối đãi thì 9 cõi trước là nhân, 1 cõi sau là quả, nghĩa là chỉ có quả vị Phật là cảnh giới ngộ viên mãn. Nếu nói theo trình độ chứng ngộ thì ngộ 1 phần là tiểu ngộ, ngộ toàn phần là đại ngộ. Nếu căn cứ vào thời gian nhanh chậm, thì có thể chia làm Tiệm ngộ và Đốn ngộ. Nếu lại căn cứ vào trí giải mà bàn thì hiểu biết được lí gọi là Giải ngộ, còn do tu hành thực tiễn đạt được lí thì gọi là Chứng ngộ. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.4; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.8, hạ; Long môn Phật nhãn hòa thượng ngữ lục trong Cổ tôn túc ngữ lục Q.30].
ngộ (lãnh) hội
To understand wrongly.
ngộ biến
To meet with a danger.
ngộ chân biện
Wu-chen p'ien (C)"Bàn về thấy được chân lý" do Trướng bá Đoàn viết.
ngộ chân long cốc
Zen Master Ngộ Chân Long Cốc—Thiền sư Ngộ Chân Long Cốc, quê ở Nam Việt. Ngài là một thiền sư thuộc dòng Lâm Tế, nhưng không rõ đời nào. Ngài khai sơn chùa Đức Vân trên núi Chứa Chan ở Biên Hòa. Lúc cuối đời ngài đi vân du, ngài thị tịch hồi nào và ở đâu không ai biết—A Vietnamese zen master from South Vietnam. He was a monk from the the Linn Chih Zen Sect; however, his generation was unknown. He built Đức Vân Temple on Mount Chưa Chan in Biên Hòa province. Late in his life, he became a wandering monk. His whereabout and when he passed away were unknown.
ngộ chân tự
Wu-chen Temple.
ngộ diện
Face to face.
ngộ giải
Understand wrongly.
ngộ hiểm
To be in danger.
ngộ khai
(悟開) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Tịnh độ, sống vào đời Thanh, người Mộc độc, Tô châu, họ Tương, tự Hoát nhiên, hiệu Thủy vân đạo nhân. Thủa nhỏ, sư đã học thông kinh sử, nhưng vì nhà nghèo, sư phải bỏ học để theo nghề buôn bán. Một hôm, đang trên đường đi, sư gặp 1 vị tăng giáo hóa, sau đó sư qui y Tam bảo, lễ ngài Tường phong Văn công cầu xuất gia và y vào Hòa thượng Như giám ở chùa Cao mân thụ giới Cụ túc. Sư tham cứu nhiều năm, giảng pháp ở chùa Hiển thân tại Kinh nam, sau sư về ẩn ở am Bảo tạng tại Linh nham, tinh cần niệm Phật, tiếp hóa hậu lai. Ngày 20 tháng 9 năm Quang đạo thứ 10 (1830), sư tịch. Sư để lại các tác phẩm: Tịnh nghiệp tri tân, Tịnh nghiệp sơ học tu tri, Niệm Phật cảnh sách, Thập lục quán cổ đạo tình... mỗi loại 1 quyển. [X. Tịnh độ Thánh hiền tục lục].
ngộ không
(悟空) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Vân dương, Kinh triệu (nay là Kinh dương, tỉnh Thiểm tây), họ Xa, tên Pháp giới, tự Ngộ không, là hậu duệ của họ Thác bạt đời Bắc Ngụy. Năm Thiên bảo thứ 9 (750), nước Kế tân sai Đại thủ lãnh Tát ba đạt cán và Tam tạng Xá lợi việt ma đến Trung quốc cầu thân. Năm sau, triều đình nhà Đường cử sư làm Tả vệ theo phái đoàn của Trung sứ Trương thao quang đến nước Kế tân đáp lễ. Sau khi hoàn tất sứ mệnh, Sứ đoàn Trương thao quang trở về nước, riêng sư vì lâm bệnh nên phải lưu lại Kế tân. Sau khi bệnh thuyên giảm, sư xin ngài Tam tạng Xá lợi việt ma thế phát xuất gia, pháp hiệu là Đạt ma đà đô (Phạm:Dharma-dhàtu, Hán dịch: Pháp giới), lúc ấy sư được 27 tuổi. Năm 29 tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở nước Ca thấp di la, học luật nghi và tiếng Phạm ở chùa Mông đề, học xong, sư đi tham lễ các chùa Phật suốt 4 năm. Sau, sư đến Trung Thiên trúc chiêm bái các Thánh tích như: Tháp nơi Phật giáng sinh ở thành Ca tì la vệ, tháp ở đạo tràng Bồ đề nơi Phật thành đạo tại nước Ma yết đà và lưu lại an cư ở chùa Bồ đề. Sau an cư, sư đến chiêm bái tháp nơi đức Phật nhập Niết bàn ở Sa la song lâm tại thành Câu thi na, cuối cùng, sư về trụ ở chùa Na lan đà. Năm Hiển đức thứ 3 (765), sư trở về Trung quốc, mang theo các kinh bằng tiếng Phạm như: Kinh Thập địa, kinh Hồi hướng luân, kinh Thập lực và xá lợi Phật. Dọc đường, qua các nước, sư đều lưu lại để dịch các kinh nói trên. Vào tháng 9 năm Trinh nguyên thứ 5 (789), sư theo quan Trung sứ Đoàn minh tú về nước, dâng xá lợi Phật và các kinh đã dịch được lên vua. Sư vâng chiếu chỉ chính thức được độ làm tăng và được ban pháp hiệu là Ngộ không. Những kinh do sư dịch gồm 3 bộ 11 quyển được thu vào Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục. Còn hành trạng của sư do ngài Viên chiếu soạn được ghi trong Đại đường trinh nguyên tân dịch Thập địa kinh... trong Đại chính tạng tập 17. [X. Tống cao tăng truyện Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.17].
ngộ nghĩnh
Lovely—Pretty.
ngộ nhất thừa
Ekayanavabodha (skt)—Realization of the One Vehicle—See Nhất Thừa.
ngộ nhẫn
The patience of enlightenmant.
; (悟忍) Cũng gọi Hỉ nhẫn, Tín nhẫn. Tên khác của Vô minh pháp nhẫn, tức là Nhẫn vị trong Thập tín, cũng là 1 trong 3 nhẫn của Tịnh độ. Hành giả tinh tiến dũng mãnh, chuyên cần quán tưởng vẻ trang nghiêm của Tịnh độ, trong tâm thấy được cảnh giới ấy; khi công phu đã sâu, bỗng nhiên tỏ ngộ là đạt được vô sinh nhẫn. Như phu nhân Vi đề hi hiện tiền được thấy Phật A di đà mà thoắt nhiên khai ngộ được Vô sinh pháp nhẫn. [X. kinh Quán vô lượng thọ; Định thiện nghĩa trong kinh Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.3].
ngộ nhận
To mistake.
ngộ nhập
To apprehend or perceive and enter into (the idea of reality).
; Giác ngộ lý thực tướng, hay nhập vài lý thực tướng (tỉnh ngộ và đắc nhập là hai trình độ liên tiếp của người tu Phật. Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện, Đức Phật đã dạy: “Muốn làm cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật, nên ngài đã thị hiện ở đời.”)—To aprehend or perceive and enter into the idea of reality. Sugandhara, tên của một nhà sư người Kashmir: Sugandhara, name of a Kashmir monk.
; (悟入) I. Ngộ Nhập. Tỏ ngộ lí thực tướng của các pháp; chứng nhập lí thực tướng các pháp. Theo phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa, thì đức Phật vì muốn cho chúng sinh ngộ nhập tri kiến của Phật, nên xuất hiện nơi đời. II. Ngộ Nhập. Phạm: Skandhila. Hán âm: Tắc kiến địa la, Tắc kiến đà, Tác kiến địa la. Vị Cao tăng kiêm học giả của Thuyết nhất thiết hữu bộ, là thầy của bồ tát Thế thân và luận sư Chúng hiền, người nước Ca thấp di la thuộc Bắc Ấn độ. Ngài là người tính tình ôn hòa, thuần hậu, khi ngài Thế thân soạn luận Câu xá, thì ngài Chúng hiền làm luận Thuận chính lí để phá, trong đó có lời phê bình phát xuất từ lòng hiềm khích không đáng, vì thế tôn giả Ngộ nhập mới soạn luận Nhập a tì đạt ma 2 quyển, nói rõ giáo nghĩa của Hữu bộ 1 cách khéo léo. Sau đó, tiếng tăm của ngài Thế thân lừng lẫy, tôn giả Chúng hiền bèn kín đáo nói với ngài Thế thân rằng: Họa ắt đến với ông, trước khi nó đến, ông nên lánh sang nước Ca thấp di la. Về sau, quả nhiên ứng nghiệm. [X. Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện; Câu xá luận bảo sớ Q.1; điều Ca thấp di la trong Đại đường tây vực kí Q.3].
ngộ nạn
To be in danger.
ngộ phán
Mistrial.
ngộ pháp nan
(遇法難) Gặp được Phật pháp là 1 việc hiếm có, rất khó khăn. Nhờ căn lành kiếp trước sâu dày mới gặp được giáo pháp vô thượng vi diệu, cho nên, nếu may mắn gặp được Phật pháp, thì nên dốc lòng tin nhận và vâng theo đó mà thực hành. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ]. NGỘ SÁT Sát, gọi đủ là Sát đa la, (Phạm:Kwetra), có nghĩa là ruộng đất, cõi nước. Chỉ cho nơi an trụ của người đã giác ngộ. Kinh Viên giác (Đại 17, 920 thượng) nói: Nếu muốn trở về ngộ sát, trước phải diệt tham sân si.
ngộ phật, mê phàm
Those who greatly realize delusion are Buddhas; those who are greatly deluded are ordinary people.
ngộ sát
The ksetra or land of perception or enlightenment.
; Cõi nước nơi những người giác ngộ an trụ để tự ngộ và giác ngộ cho chúng sanh, như Ta Bà thế giới là ngộ sát của Đức Phật Thích Ca: The ksetra or land of enlightenment or perception, i.e. Saha world is the Buddha's ksetra. Giết hại chúng sanh, nhưng không cố ý sát sinh: To kill through negligence—Manslaughter.
ngộ tha
Parartha (S).
; (悟他) Phạm: Para-saôvid. Tiếng dùng trong Nhân minh. Làm cho người khác được tỏ ngộ. Là 1 trong Nhị ngộ. Tha là chỉ cho những người khác với người lập luận, bao gồm người vấn nạn và người chứng nghĩa. Ngộ tha nghĩa là dùng lời nói khiến những người khác hiểu rõ chính lí, đạt được chính trí. [X. luận Nhân minh chính lí môn; Nhân minh nhập chính lí luận Ngộ tha môn thiển thích]. (xt. Nhị Ngộ).
ngộ thiền
(悟禪) Tỏ ngộ được lí thiền. Tham cứu để đạt được lí thiền, hoặc thực tiễn tu tập công phu tọa thiền, hoặc tham cứu ý chỉ mầu nhiệm của Phật pháp trong những cổ tác công án v.v... đều lấy việc giải thoát thân tâm, thấy tính ngộ đạo làm mục đích. [X. Thiền lâm loại tụ Q.5].
ngộ tiến
(悟進) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đầu đời Thanh, người huyện Gia hưng, tỉnh Chiết giang, họ Trương, hiệu Giới am. Thủa nhỏ, sư theo ngài Uyên hồ Diệu dụng ở am Đồng nguyệt, sau lễ ngài Vạn như Thông vi ở Long trì cầu thế phát xuất gia và được giao nhiệm vụ coi kho; sư khắc khổ tham thiền, ngày thường quên ăn, đêm thì bỏ ngủ. Một hôm, sư nghe tiếng búa chặt vào cây, bỗng có chỗ tỉnh ngộ, sư bèn đến Kiến ninh (Phúc kiến) tham yết ngài Diệu dụng, sư hoát nhiên đại ngộ. Về sau, sư lần lượt trụ trì điện Quan âm ở Kính sơn, chùa Kim minh ở Gia hưng... đại chấn tông phong, người đến tham học rất đông và có nhiều đệ tử được nối pháp. Năm Khang hi 12 (1673) sư thị tịch, hưởng thọ 62 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Giới am Tiến thiền sư ngữ lục, 10 quyển, Giới am hòa thượng nguyên lưu tụng. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.68].
ngộ tân tử tâm thiền sư
Thiền Sư Ngộ Tân Tử Tâm ở Hoàng Long, sanh năm 1044 tại Thiều Châu. Sư xuất gia và thọ cụ túc giới tại tuviện Phật Đà lúc còn rất trẻ. Về sau sư vân du tới viếng Thiền Sư Hoàng-Long-Tổ Tâm thuộc dòng Lâm Tế—Zen master Wu-Xin-Tzu-Xin-Huang-Lung was born in 1044 in Shao-Chou. As a very young man, he entered Fo-Tuo Monastery where he gained ordination. Later he traveled to visit the teacher Huang-Lung-Zu-Xin of the Lin-Chi lineage. Một hôm ngài thượng đường thuyết pháp: “Này chư Thượng Tọa, thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Thân nầy không nhắm đời nay độ, còn đợi đời nào độ thân nầy? Nay còn sống đó, các ngài hãy tham thiền đi, tham thiền là để buông bỏ. Buông bỏ cái gì? Buông bỏ tứ đại, ngũ uẩn; buông bỏ bao nhiêu nghiệp thức từ vô lượng kiếp đến nay; hãy nhìn xuống dưới gót chân của mình mà suy xét cho thấu đáo để thấy đạo lý ấy là gì? Suy tới lui hốt nhiên tâm hoa bừng nở, chiếu khắp mười phương. Sự chứng ngộ thì không thể trao truyền dù chính các ngài biết rõ nó là cái gì. Đây là lúc các ngài có thể biến đất lớn thành vàng ròng, quậy sông dài thành biển sữa. Há không sướng khoái bình sinh hay sao! Vậy thì đừng phí thì giờ niệm ngôn niệm ngữ mà hỏi đạo hỏi thiền nơi sách vở; bởi vì đạo thiền không ở nơi sách vở. Dù cho thuộc lòng một bộ Đại Tạng cũng như Bách gia chư tử, chẳng qua là những lời rỗi rãi, khi chết đi chẳng dùng được gì.”—One day he entered the hall to preach his disciples: “O brothers, to be born as a human being is a rare event, and so is the opportunity to listen to discourses on Buddhism. If you fail to achieve emancipation in this life, when do you again expect to achieve it? While still alive, be therefore assiduous in practicing meditation. The practice consists of abandonments. The abandonments of what? You may ask. Abandon your four elements (bhuta), abandon your five aggregates (skandha), abandon all the workings of your relative consciousness (karmavijnana), which you have been cherishing eternity; retire within your inner being and see into the reason of it. As your self-reflection grows deeper and deeper, the moment will surely come upon you when the spiritual flower will suddenly burst into bloom, illuminating the entire universe. The experience is incommunicable, though you yourselves know perfectly well what it is. This is the moment when you can transform this great earth into solid gold, and the great rivers into an ocean of milk. What a satisfaction this is then to your daily life! Being so, do not waste your time with words and phrases, or by searching for the truth of Zen in books; for the truth is not to be found there. Even if you memorize the whole Tripitaka as well as all the ancient classics, they are mere idle words which are of no use whatever to you at the moment of your death. ” Sư thị tịch năm 1115. Tháp cốt của sư đã được xây về phía bắc của tu viện Hối Đường—He died in 1115. The master's stupa was built north of the abbot's room at Hui-T'ang Monastery.
Ngộ tích
悟跡; J: goseki;|Là dấu vết của sự ngộ nhập, của kinh nghiệm Kiến tính; theo Thiền tông thì sự chứng ngộ thâm sâu không để lại một dấu vết gì. Người nào có những hành động mà những người xung quanh có thể nhận ra được là đã có chút tỉnh, có ngộ nhập thì vị này được gọi là có »ngộ tích« và các Thiền gia chính tông cũng không ngần ngại gì với sự quả quyết rằng, người đó »mang hơi hám của sự giác ngộ.« Chỉ khi nào »hơi hám« này hoàn toàn biến mất và người này sống thật tự nhiên với cái đã chứng ngộ được và cũng không tự biết mình đã chứng ngộ mà cũng không đề cao việc này – lúc đó người này mới được Thiền tông thừa nhận là đã chứng ngộ.|Quốc sư Nam Dương Huệ Trung một lần thử một vị tăng – vị này mang danh hiệu Tam Tạng (thông cả ba tạng kinh điển) và tự xưng là có tha tâm thông (Lục thông) – nghĩa là đọc được ý nghĩ của người. Sư hỏi vị này: »Ông thử nói, hiện giờ Lão tăng ở chỗ nào?« Tăng thưa: »Hoà thượng là thầy của một nước, sao lại đến Tây Xuyên xem đò đưa?« Sư im lặng giây lâu, hỏi tiếp: »Ông hãy nói, hiện giờ Lão tăng ở chỗ nào?« Tăng thưa: »Hoà thượng là thầy của một nước, sao lại đến cầu Thiên Tân xem khỉ đùa giỡn?« Sư im lặng giây lâu, lại hỏi: »Ông hãy nói, hiện giờ Lão tăng ở chỗ nào?« Tăng mờ mịt không biết nói gì. Sư liền quát: »Dã hồ tinh! Tha tâm thông ở chỗ nào!«|Thiền sư Vân Cư Ðạo Ưng lúc còn ở với thầy là Ðộng Sơn Lương Giới có thiên thần dâng cơm cúng dường, vì vậy mà Sư không đến trai đường. Nghe chuyện này, Ðộng Sơn bảo sư: »Ta bảo ông là kẻ vẫn còn kiến giải. Ông hãy đến đây buổi chiều.« Chiều, Sư đến. Ðộng Sơn gọi Sư: »Am chủ Ưng!« Sư ứng thinh: »Dạ!« Ðộng Sơn bảo: »Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác là cái gì?« Sư trở về am ngồi lặng lẽ, thiên thần tìm mãi không thấy, trải ba ngày như thế mới thôi cúng dường.
ngộ tính
Ability to be enlightened.
ngộ từ
(悟慈) Danh tăng Trung quốc, sống vào thời Dân quốc, người Đài loan, Đài nam. Năm Dân quốc 31 (1942), sư xuống tóc xuất gia ở chùa Bảo tế tại Ma đậu. Năm Dân quốc 41 (1952), sư sáng lập chùa Quan âm giảng; năm Dân quốc 44 (1955), sáng lập thư viện Phật học Đài nam và Pháp âm tạp chí xã. Năm Dân quốc 50 (1961), sư sang Nhật bản, lần lượt theo học tại các Đại học như: Đại học Câu trạch, Đại học Lập chính ở Đông kinh và Đại học Đại cốc ở Kinh đô (Kyoto), tại đây sư đã học xong chương trình Tiến sĩ. Khi trở về nước, sư tiếp nhận trụ trì chùa Khai nguyên ở Đài nam. Về sau, sư đạt được học vị Tiến sĩ Triết học tại trường Đại học Đông phương ở Hoa kì. Năm Dân quốc 64 (1975), sư mở bệnh viện Từ ái, lại nhận trụ trì chùa Bảo tế và làm Giám đốc nhà Phổ môn từ ái. Sư dốc sức vào sự nghiệp hoằng pháp và từ thiện. Sư có các tác phẩm: Pháp hoa kinh giảng thoại, Lăng nghiêm kinh giảng thoại, Siêu thánh Thích ca, Phật pháp tăng tam bảo giảng thoại, Phật Đạo nhị giáo đích lãnh chiến.
ngộ tự
(悟自) Phạm: Àtma-saôvid. Tiếng dùng trong Nhân minh. Làm cho chính mình được tỏ ngộ. Là 1 trong 2 ngộ của luận lí học Nhân minh.
ngộ ân
Vị sơ tổ của tông Thiên Thai Sơn Ngoại, thị tịch năm 986 sau Tây Lịch (Ngài Ngộ Ân chùa Từ Quang đời Tống, là chi phái của Cao Luận Tôn Giả Thanh Tùng, và là sơ tổ của phái Thiên Thai Sơn Ngoại. Ngài tới học yếu chỉ Tam Quán với ngài Chí Nhân, danh tiếng lừng lẫy. Ngộ Ân truyền cho Hồng Mẫn và Nguyên Thanh; Nguyên Thanh truyền cho Trí Viên; Trí Viên truyền cho Quảng Chiếu; Quảng Chiếu truyền cho Kế Tề và My Nhuận)—Founder of the external school of the T'ien-T'ai, died in 986 A.D.
; (晤恩) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Tống, người Thường thục, tỉnh Giang tô, họ Lộ, tự Tu kỉ, là Thủy tổ phái Sơn ngoại, tông Thiên thai. Năm 13 tuổi, sư nghe tụng kinh Di đà mà phát tâm xuất gia. Lúc đầu, sư học luật Nam sơn, được ít lâu, sư theo ngài Chí nhân ở viện Từ quang tại Tiền đường học tập giáo quán Thiên thai. Sư thông suốt ý chỉ huyền diệu của kinh Pháp hoa, kinh Kim quang minh, Chỉ quán..., có tài hùng biện không ai sánh kịp. Người thời bấy giờ gọi sư là Nghĩa hổ. Trong pháp nạn Hội xương (841), phần nhiều kinh sách của tông Thiên thai đã bị mất. Sư nghiên cứu rất sâu về chỉ thú của Thập diệu, Ngũ trùng, giảng Huyền nghĩa, Văn cú, Chỉ quán hơn 20 lần, nhờ đó đã làm sáng tỏ đại ý của kinh Pháp hoa. Sư thường ăn ngày 1 bữa, không lìa áo bát, không cất giữ tài vật, tiền bạc; thường nằm nghiêng bên phải, ngồi kết già, không bàn chuyện thế tục, không thích giao du, đối với người giầu sang quyền quí, không bao giờ sư khuất phục. Sư thường than thở thời bấy giờ ít người giữ giới nên sư dạy học trò rất nghiêm. Trước sư dạy cho họ tu tịnh nghiệp, sau đó, bất luận trí ngu, sư đều chỉ bày cho họ lí Nhất thừa viên giáo. Vào đầu tháng 8 năm Ung hi thứ 3 (986) đời Tống, biết mình sắp tịch, sư bèn nhịn ăn, không nói, chỉ một lòng niệm Phật. Đến ngày 25 tháng 8, sau khi giảng về chỗ cốt yếu của pháp Chỉ quán và ý nghĩa quán tâm cho các đệ tử nghe, sư liền ngồi ngay thẳng thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi. Sư có các tác phẩm: Tam đại bộ, Kim quang minh huyền nghĩa văn cú, Kim ti luận. [X. Tống cao tăng truyện Q.7; Phật tổ thống kỉ Q.10].
ngộ đạo
To awaken to the truth.
; To realize (enlighten) the path. Theo Kinh Pháp Cú, câu 280, Đức Phật dạy—According to the Dharmapada Sutra, verse 280, the Buddha taught: “Khi đáng nỗ lực, không nỗ lực, thiếu niên cường tráng đã lười biếng, ý chí tiêu trầm và nhu nhược: kẻ biếng nhác làm gì có trí để ngộ Đạo—One who does not strive when it is time to strive, who though young and strong but slothful with thoughts depressed; such a person never realizes the path.”
; (悟道) Cũng gọi Đắc ngộ. Tức là thấy rõ tâm tính, thấu suốt đại đạo. Ngộ đạo là mục đích chung cùng hướng tới của các tông phái, nhưng danh từ Ngộ đạo phần nhiều được Thiền tông sử dụng với nghĩa đắc pháp khai ngộ, gọi là Kiến tính ngộ đạo.
Ngộ Đạt
(悟達, Gotatsu, 811-883): vị cao tăng sống dưới thời nhà Đường, xuất thân Hồng Nhã (洪雅), Mi Châu (眉州, nay là Tỉnh Tứ Xuyên), họ Trần (陳), pháp danh Tri Huyền (知玄), tự Hậu Giác (後覺). Hồi nhỏ ông rất thích hình tượng Phật và hình ảnh chư tăng. Đến năm lên 7 tuổi, nhân đến nghe Pháp Thái (法泰) ở Ninh Di Tự (寧夷寺) giảng về Kinh Niết Bàn (涅槃經), đêm đó chợt mộng thấy đức Phật ở chánh điện chùa lấy tay xoa đầu mình. Đến năm 11 tuổi, ông theo xuất gia với Pháp Thái, chuyên nghiên cứu về Kinh Niết Bàn. Hai năm sau, ông vâng mệnh vị Thừa Tướng thăng đường thuyết pháp ở Đại Từ Tự (大慈寺) đất Thục, thính giả đến nghe lên đến cả vạn người, ai cũng mến phục trí tuệ của ông, bèn tôn xưng ông là Trần Bồ Tát. Sau ông theo Luật Sư Biện Trinh (辯貞) thọ Cụ Túc giới, rồi theo Pháp Sư An Quốc Tín (安國信) học về Duy Thức, và tự mình nghiên cứu thêm các kinh điển của những tông phái khác. Ông thường hận mình không thể thuyết kinh được bằng tiếng địa phương. Nhân tụng chú Đại Bi, cảm ứng được vị thần tăng thay lưỡi cho ông trong mộng; hôm sau khi thức dậy, tiếng nói thay đổi. Một thời gian lâu sau, ông ngao du lên kinh đô, gặp lúc vua Võ Tông đang mến mộ phép thuật thành tiên của các đạo gia, nhà vua mời ông cùng luận tranh với các đạo sĩ ấy. Ông biện tài lanh lợi, nói thẳng chẳng sợ, nhà vua tuy không thích lời nói của ông nhưng cũng rất vui lòng với kiến thức của ông. Đến thời vua Tuyên Tông, nhà vua mời ông vào cung nội giảng kinh, ban cho Tử Y, phong làm vị Thủ Tòa của Tam Giáo. Vua Ý Tông thường thân lâm đến nghe giảng kinh và ban cho tòa ngồi bằng gỗ trầm hương; do vì ông sanh tâm hoan hỷ nên sanh ra mụt nhọt có mặt người nơi đầu gối của nhiều đời oan nghiệp chất chồng, sau nhờ tôn giả Ca Nặc Ca (迦諾迦) giúp cho rửa sạch mụt ấy. Về sau ông xin trở về chùa cũ của mình, đến sống tại Đơn Cảnh Sơn (丹景山) thuộc Bành Châu (膨州). Khi vua Hy Tông đến viếng thăm đất Thục, có ban cho ông hiệu Ngộ Đạt Quốc Sư. Khá nhiều tầng lớp sĩ phu cùng giao du với ông, như Lý Thương Ẩn (李商隱) sau khi về vui thú điền viên, đã cùng sống với ông trong một thời gian rất lâu. Ông thị tịch vào năm thứ 3 (883) niên hiệu Trung Hòa (中和), hưởng thọ 73 tuổi đời và 54 hạ lạp. Trước tác của ông có Từ Bi Thủy Sám Pháp (慈悲水懺法) 3 quyển, Thắng Man Kinh Sớ (勝鬘經疏) 4 quyển, Bát Nhã Tâm Kinh Sớ (般若心經疏), Kim Cang Kinh Sớ (金剛經疏), v.v. Trong bài cung văn đầu Kinh Thủy Sám có đoạn: “Quốc Sư Ngộ Đạt, quyên trừ lụy thế chi khiên vưu, sự khải nhất thời, pháp lưu thiên cổ, soạn vi Thượng Trung Hạ tam quyển chi nghi văn, nhân thiên kính ngưỡng, sám ma thân khẩu ý Thập Ác chi tội nghiệp, phàm thánh quy sùng (國師悟達、蠲除累世之愆尤、事啟一時、法流千古、撰爲上中下三卷之儀文、人天敬仰、懺摩身口意十惡之罪業、凡聖皈崇, Quốc Sư Ngộ Đạt trừ sạch các oan khiên của nhiều đời, việc mở ra một lúc, pháp lưu lại muôn thưở, soạn thành văn nghi thức ba quyển Thượng Trung Hạ, người trời đều kính ngưỡng; sám hối tội nghiệp Mười Điều Ác của thân, miệng, ý, phàm thánh thảy quy sùng).” Trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀) quyển 51, phần Tăng Chức Sư Hiệu (僧職師號) có câu: “Hiến Tông tứ Sa Môn Tri Huyền Ngộ Đạt Quốc Sư (憲宗賜沙門知玄悟達國師, vua Hiến Tông [tại vị 805-820] nhà Đường ban tặng cho Sa Môn Tri Huyền là Ngộ Đạt Quốc Sư).” Hay như trong Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳) quyển 3, Truyện Đường Kinh Sư Mãn Nguyệt (唐京師滿月傳) cũng có câu: “Thời Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền, hiếu học Thanh Minh, lễ Nguyệt vi sư (時悟達國師知玄、好學聲明、禮月爲師, lúc bấy giờ Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền thích học về Thanh Minh, bèn bái Mãn Nguyệt làm thầy).”
ngộ đạt
(悟達) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Hồng nhã, Mi châu (nay là Hồng nhã, tỉnh Tứ xuyên), họ Trần, pháp danh Tri huyền, tự là Hậu giác. Năm 11 tuổi, sư y vào ngài Pháp thái xuất gia ở chùa Ninh di, học kinh Niết bàn. Hai năm sau, sư vâng mệnh Thừa tướng, thăng tòa thuyết pháp ở chùa Đại từ tại đất Thục, thính chúng có tới hơn vạn người, thảy đều kinh ngạc về trí tuệ siêu phàm của sư và tôn xưng sư là Trần bồ tát. Sau, sư cầu Luật sư Biện trinh thụ giới Cụ túc, rồi học Duy thức và tự nghiên cứu các học thuyết của bách gia chư tử. Sư từng hận là hương âm (tiếng nói làng quê mỗi làng mỗi khác) của sư không thể giảng kinh, do đó trì tụng chú Đại bi, cảm được Thần tăng trong mộng thay lưỡi cho sư, hôm sau, tiếng nói của sư liền thay đổi. Khi trưởng thành, sư đến kinh đô. Lúc bấy giờ vua Vũ tông tin sùng Đạo giáo, muốn hóa cánh thành tiên, hạ lệnh cho sư tranh luận với Đạo sĩ; sư nói thẳng, chẳng kiêng dè, lời biện bác sắc bén, thao thao; nhà vua tuy không ưa những lời bộc trực của sư, nhưng cũng phải khen ngợi kiến thức của sư. Đến khi vua Tuyên tông lên ngôi, sư được triệu vào cung giảng kinh, vua ban áo đỏ và tôn sư làm Tam giáo thủ tọa (bậc đứng đầu 3 giáo: Nho, Phật, Đạo). Đến thời vua Ý tông, sư được nhà vua đích thân đến tòa giảng ban cho sư trầm hương làm tòa ngồi, nhân đó sư sinh tâm vui thích nên oan nghiệp kiếp trước có cơ trả báo: Trên đầu gối của sư mọc lên một cái nhọt hình mặt người, đau nhức vô cùng. Sau, nhờ tôn giả Ca nặc ca dùng nước Tam muội mới rửa sạch được cái nhọt này. Từ đó, sư xin vua trở về chùa cũ ở núi Đan cảnh tại Bành châu. Khi vua Hi tông đến đất Thục, ban cho sư hiệu Ngộ Đạt Quốc Sư. Năm Trung hòa thứ 3 (883), sư thị tịch, thọ 73 tuổi, 54 tuổi hạ. Sư để lại các tác phẩm: Từ bi thủy sám pháp, 3 quyển, Thắng man kinh sớ, 4 quyển, Bát nhã tâm kinh sớ, Kim cương kinh sớ, 20 quyển. [ X. Tống cao tăng truyện Q.6; Thần tăng truyện Q.8; Phật tổ thống kỉ Q.42; Thích thị kê cổ lược Q.3].
ngộ độc
Poisoned.
Ngộ Ấn
悟印; 1019-1088|Thiền sư Việt Nam thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ 8, nối pháp Thiền sư Quảng Trí.|Sư tên Ðàm Khí, quê ở Tư lí làng Kim Bài. Năm lên mười, Sư được dạy chữ Hán và Phạn, học vấn ngày càng tiến. Năm 19 tuổi, Sư xuất gia thụ giới cụ túc, chuyên học hai bộ kinh Viên giác và Pháp hoa. Sư được Thiền sư Quảng Trí ở chùa Quán Ðỉnh truyền tâm ấn. Sau, Sư đi vào Ninh Sơn phủ Thiên Ứng kết cỏ làm am tu học, lấy hiệu là Ngộ Ấn.|Một vị tăng đến hỏi: »Thế nào là Phật, Pháp và Thiền?« Sư đáp: »Ðấng Pháp vương vô thượng, ở thân là Phật, ở miệng là Pháp, ở tâm là Thiền. Tuy có ba thứ, kì thật là một. Ví như nước ba con sông, tuỳ chỗ đặt tên tuy chẳng đồng, mà tính nước không khác.«|Niên hiệu Quảng Hựu thứ 4, ngày 14 tháng 6, Sư biết mình sắp thị tịch bèn gọi chúng nói kệ:|妙性虛無不可攀。虛無心悟得何難|玉焚山上色常潤。蓮發爐中濕未乾|Diệu tính hư vô bất khả phan|Hư vô tâm ngộ đắc hà nan|Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận|Liên phát lô trung thấp vị càn.|*Diệu tính rỗng không chẳng thể vin|Rỗng không tâm ngộ việc dễ tin|Tươi nhuần sắc ngọc trong núi cháy|Lò lửa hoa sen nở thật xinh.|Nói xong, Sư vui vẻ thị tịch.
ngộ ấn
Thiền Sư Ngộ Ấn (1019-1088)—Zen Master Ngộ Ấn—Người ta nói rằng mẹ ngài bỏ ngài từ khi còn là một đứa trẻ. Một nhà sư Chiêm Thành lượm ngài đem về nuôi. Năm 19 tuổi ngài thọ cụ túc giới. Về sau ngài học thiền với Thiền sư Quảng Trí và trở thành Pháp tử đời thứ tám dòng Vô Ngôn Thông. Rồi ngài tới Thiên Ứng dựng thảo am tu thiền. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo ở Bắc Việt. Ngài thị tịch năm 1088, thọ 69 tuổi—It is said that he was abandoned by his mother when he was child. A Champa monk picked him up and raised him in his temple. He received complete precepts at the age of 19. Later he studied meditation with Zen master Quảng Trí at Quán Đảnh Temple. The latter transmitted Dharma to him to be the Dharma heir of the eighth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. Later, he went to Thiên Ứng to build a thatch hut and stayed there to practice meditation. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in the North. He passed away in 1088, at the age of 69.
ngộp
To feel dizzy.
ngộp thở
To suffocate—To chock.
Ngột Am Phổ Ninh
(兀庵普寧, Gotsuan Funei, ?-1276): vị tăng của phái Phá Am và Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc,xuất thân xứ Thục (蜀, thuộc Tỉnh Tứ Xuyên ngày nay), hiệu là Ngột Am (兀庵). Ông xuất gia hồi nhỏ, rồi đến tham vấn các vị lão túc khắp nơi và sau khi nghe Si Tuyệt Đạo Xung (癡絕道冲) giảng thuyết thì khai ngộ, nên cuối cùng ông lên Dục Vương Sơn (育王山) tham yết Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範), đắc được yếu chỉ và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông trú tại Linh Nham Tự (靈巖寺) thuộc Tượng Sơn (象山), nhưng vì quân Mông Cổ xâm nhập đến, nên năm 1260 ông qua Nhật lánh nạn. Ông dừng chân trú tại Thánh Phước Tự (聖福寺, Shōfuku-ji), Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji), rồi trở thành vị tổ thứ 2 của Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) và bắt đầu chỉnh bị Thiền quy, nhưng đến năm 1265 ông trở về lại Trung Hoa. Sau đó, ông đã từng sống qua các chùa như Song Lâm Tự (雙林寺) ở Vụ Châu (婺州, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay), Giang Tâm Long Tường Tự (江心龍翔寺) ở Ôn Châu (溫州, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay); và cuối cùng vào ngày 24 tháng 11 năm 1276, ông thị tịch ở chùa này. Ông được ban thụy hiệu là Tông Giác Thiền Sư (宗覺禪師). Trước tác của ông có Ngột Am Ninh Hòa Thượng Ngữ Lục (兀庵寧和尚語錄), 1 quyển.
; 兀菴普寧; C: wūān pǔníng; J: gottan funei; 1197-1276;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế hệ phái Dương Kì. Sư nối pháp Thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm.|Sư được Thiền sư Lan Khê Ðạo Long khuyến khích sang Nhật năm 1260. Trước tiên, Sư đến Kinh Ðô (kyōto) và một thời gian trụ trì chùa Kiến Trường (kenchōji) theo lời mời của Tướng quân Bắc Ðiều Thời Lại (shōgun hōjō tokiyori). Sư cũng hướng dẫn vị Tướng quân này trên con đường tu thiền và vị này sau cũng được Sư Ấn khả. Sau, Sư trở về Trung Quốc và tịch tại đây.
ngột am phổ ninh
Gottan Funei (J)Tên một vị sư.
; (兀庵普寧) Thiền sư Trung quốc thuộc phái Dương kì tông Lâm tế, sống vào đời Nam Tống, người Thành đô, tỉnh Tứ xuyên, Tây thục, là Tổ khai sáng của phái Ngột am, tông Lâm tế, Nhật bản. Sư xuất gia từ nhỏ, lúc đầu học Duy thức, sau xuống miền Nam tham yết các bậc lão túc trong Thiền lâm. Sư lên núi A dục vương ở Tứ minh, tham vấn ngài Vô chuẩn Sư phạm và thể chứng được huyền chỉ. Sư được ngài Sư phạm viết tặng 2 chữ Ngột Am mà sư đã dùng làm hiệu. Đương thời, sư cùng với 3 vị: Tổ trí, Diệu luân và Liễu tuệ được gọi chung là Tứ triết (4 người hiền trí) dưới cửa ngài Sư phạm. Về sau, sư dời đến chùa Linh ẩn ở Hàng châu, núi Thiên đồng ở Tứ minh làm Đệ nhất tòa. Ít lâu sau, sư hoằng pháp ở chùa Linh nham núi Tượng sơn. Niên hiệu Cảnh định năm đầu (1260, có thuyết nói năm thứ 2, hoặc niên hiệu Khai khánh năm đầu), sư sang Nhật bản, trụ ở chùa Thánh phúc tại Bác đa. Không bao lâu, sư đến kinh đô (Kyoto), được Mạc phủ Bắc điều Thời lại đương thời kính trọng, thỉnh sư trụ trì chùa Kiến trường tại Liêm thương, tăng tục theo về rất đông. Sau khi ông Bắc điều Thời lại tạ thế chưa bao lâu, vào niên hiệu Hàm thuần năm đầu (1265), sư trở về Trung quốc, trụ ở chùa Song lâm tại Vụ châu. Về già, sư dời đến ở chùa Long tường tại Giang tâm, Ôn châu. Niên hiệu Cảnh viêm năm đầu (1276) sư thị tịch, thọ 80 tuổi, thụy hiệu Tông Giác Thiền Sư. Sư có tác phẩm: Ngữ lục, 3 quyển. [X. Nguyên hanh thích thư Q.6; Diên bảo truyền đăng lục Q.2; Đông nham An thiền sư hành thực].
ngột am phổ ninh thiền sư ngữ lục
(兀庵普寧禪師語錄) Cũng gọi Tông giác thiền sư ngữ lục, Ngột am Ninh hòa thượng ngữ lục, Ngột am hòa thượng ngữ lục, Ngột am lục. Ngữ lục, 3 quyển, do ngài Ngột am Phổ ninh soạn vào đời Nam Tống, nhóm các ngài Tịnh thiều biên tập, ấn hành lần đầu vào khoảng năm Hàm thuần (1265-1274), được thu vào Vạn tục tạng tập 123. Nội dung sách này gồm các phần: Khánh nguyên phủ Tượng sơn Linh nham Quảng phúc thiền viện ngữ lục, Cự phúc sơn Kiến trường hưng quốc thiền tự ngữ lục, Pháp ngữ, Phật tổ tán, Tiểu Phật sự... tại Trung quốc. Và các pháp ngữ ở chùa Thánh phúc và chùa Kiến trường bên Nhật bản. Đây là tư liệu tham khảo giúp cho việc tìm hiểu mối quan hệ giữa Trung quốc và Nhật bản vào các thời đại Tống, Nguyên và Bắc điều, Thời tông, cũng như mối quan hệ giữa vũ sĩ với Thiền ở thời Liêm thương.
Ngột ngột
兀兀; C: wùwù; J: gotsugotsu;|Kiên định, không dao động, không lay chuyển. Nỗ lực làm một việc.
ngớt
To die down—To decrease.
ngớt mưa
Rain is dying down (almost over).
ngờ nghệch
Stupid—Idiot.
ngờ vực
Suspect—Doubt.
ngỡ
To believe—To think.
ngợi khen
To praise—To congratulate—To compliment.
ngợm
Stupid—Idiot.
ngụ trung
(禺中) Giờ Tị. Chỉ cho khoảng thời gian từ 9 giờ đến 10 giờ sáng, tức trước giờ Ngọ. Nay chỉ chung cho thời gian trước giờ thụ trai của chư tăng là Ngu trung (Trung ngọ). Ngoài ra, tông Thiên thai dẫn thuyết Nhật xuất tam chiếu trong kinh Hoa nghiêm, đem phối với 5 thời gian mà phán định thời Bát nhã (thứ 4) trong 5 thời là Ngu trung thời giáo. (xt. Tam Chiếu).
ngụ tông
(寓宗) Cũng gọi Phụ tông. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tông phái phụ thuộc vào tông phái khác. Theo phần Chư tông chí trong Nguyên hanh thích thư quyển 27, thì 3 tông Tịnh độ, Thành thực và Câu xá là Ngụ tông, giống như nước chư hầu phụ thuộc vào nước Thiên tử. Ở Nhật bản, vào thời đại Liêm thương, 3 tông này còn thuộc sự nghiên cứu của các tông khác chứ chưa thành 1 tông độc lập, vì thế gọi là Ngụ tông. [X. Thập tông lược kí].
ngục phọc
(獄縛) Chúng sinh luân hồi sinh tử bị trói buộc trong lao ngục 3 cõi, gọi là Ngục phược. Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 5 (Đại 50, 315 thượng) nói: Ngục tù 3 cõi trói buộc, chẳng có chút gì vui.
Ngục tốt
(s: naraka-pāla, 獄卒): chỉ cho hạng lính quỷ trong Địa Ngục; còn gọi là Địa Ngục Tốt (地獄卒), Na Lạc Già Tốt (那洛迦卒). Trong cõi Địa Ngục, họ thường hiện thân hình quái dị, đáng sợ như đầu trâu, mặt ngựa, v.v., thường bức bách, la mắng tội nhân. Trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 16 có đoạn: “Ác La Sát, ngục tốt, tác chủng chủng hình, ngưu, mã, trư, dương, chương, lộc, hồ, cẩu, hổ, lang, sư tử, lục bác, đại điểu, điêu thứu, thuần điểu, tác thử chủng chủng chư điểu thú đầu, nhi lai thôn đạm, giảo khiết, niết xế tội nhân (惡羅剎、獄卒、作種種形、牛、馬、豬、羊、獐、鹿、狐、狗、虎、狼、師子、六駮、大鳥、鵰鷲、鶉鳥、作此種種諸鳥獸頭、而來吞噉、齩嚙、䶩掣罪人, ác La Sát, lính ngục, hiện các loại hình, trâu, ngựa, heo, dê, hươu, nai, chồn, chó, hổ, sói, sư tử, lục bác [loại như ngựa], chim lớn, kên kên, chim cút, hiện các loại đầu chim thú, mà đến nhai nuốt, cắn xé, kéo giựt tội nhân).” Về vấn đề ngục tốt có phải là hữu tình hay không, có nhiều thuyết khác nhau. Duy Thức Nhị Thập Luận Thuật Ký (唯識二十論述記, Taishō Vol. 43, No. 1834) quyển Thượng cho biết rằng trong các bộ phái, Đại Chúng Bộ (s, p: Mahāsāṅghika, 大眾部), Chánh Lượng Bộ (s: Sammatīya, p: Sammitiya, 正量部) chủ trương ngục tốt thật sự là hữu tình; trong khi đó, Tát Bà Đa Bộ (s: Sarvāstivāda, 薩婆多部), Kinh Lượng Bộ (s: Sautrāntika, 經量部), v.v., lại cho là không phải. Trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 7, Thiên Lục Đạo (六道篇), Địa Ngục Bộ (地獄部), có đoạn: “Đồng trụ biến sắc vĩnh thụ pháp tràng, thiết võng cải hình phương khai Tịnh Độ, ngưu đầu trịch đao cánh thọ Tam Quy, ngục tốt khí tiên hoàn trì Ngũ Giới (銅柱變色永豎法幢、鐵網改形方開淨土、牛頭擲刃更受三歸、獄卒棄鞭還持五戒, trụ đồng đổi màu mãi dựng cờ pháp, lưới sắt thay hình mở ra Tịnh Độ, đầu trâu ném đao lại thọ Tam Quy, lính ngục bỏ roi hành trì Năm Giới).”
ngục tốt
(獄卒) Phạm: Naraka-pàla. Cũng gọi Địa ngục tốt, Na lạc ca tốt. Loài quỉ ở địa ngục mang hình tướng đáng sợ như đầu trâu, đầu ngựa để trừng trị các tội nhân. Luận Đại trí độ quyển 16 (Đại 25, 176 thượng) nói: Ngục tốt ác La sát hiện các loại thân hình đầu trâu, ngựa, lợn, dê, hươu nai, chồn, chó, hổ(cọp), chó sói, sư tử, chim đại bàng, chim cắt, chim kên kên v.v... đến cắn xé, gặm mổ, ăn nuốt tội nhân. Cứ theo Duy thức nhị thập luận thuật kí, trong các bộ thì Đại chúng bộ, Chính lượng bộ chủ trương thuyết ngục tốt chính thực là hữu tình, còn Tát bà đa bộ và Kinh bộ thì cho rằng ngục tốt chẳng phải là hữu tình. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.2, 5; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Câu xá Q.11; luận Thuận chính lí Q.31; luận Duy thức nhị thập; Câu xá luận quang kí Q.11].
Ngụy
(魏): (1) Nhà Ngụy (403-225 trước CN), tên của một trong 7 nước lớn dưới thời Chiến Quốc, cùng với Hàn (韓), Triệu (趙) phân nhà Tấn (晉) thời Xuân Thu làm ba và độc lập mỗi phương, chiếm cứ địa phương phía Tây Nam Tỉnh Sơn Tây và phía Bắc Tỉnh Hà Nam ngày nay, sau đó bị nhà Tần (秦) tiêu diệt. (2) Nhà Ngụy (220-265), tên của một trong 6 triều đại, do Tào Phi (曹丕), con của Tào Tháo (曹操), kiến lập nên sau khi nhà Hậu Hán (後漢) cáo chung, thống trị phần nữa phía Bắc Trung Quốc, cùng với nhà Ngô (呉) và Thục (蜀) thành lập thế trụ ba chân vạc, sau bị nhà Tấn (晉) tiêu diệt vào năm 265. (3) Vương quốc Bắc Triều (385-556) do Thác Bạt Khuê (拓拔珪) thuộc dân du mục Tiên Ti (鮮卑) kiến lập dưới thời nhà Đông Tấn (東晉), còn gọi là Hậu Ngụy (後魏) hay Bắc Ngụy (北魏); về sau nước này phân liệt thành Đông Ngụy (東魏) và Tây Ngụy (西魏), trải qua 16 đời vua và kéo dài 172 năm.
ngụy
False, counterfeit, forged. False or forged sùtras, which were produced after the Wei, Ngụy, dynasty.
ngụy biện
Fallacy, sophism.
; (偽辯) Cũng gọi Quỉ biện. Lối biện luận hư ngụy, dùng cách khéo léo, láu lỉnh để trình bày những điều sai trái mà thành như thật. Vào khoảng thế kỉ thứ V trước Tây lịch, lối biện luận này được gọi là Ngụy biện học (Sophist). Nói theo mặt phải thì ngụy biện có thể giúp làm phát sinh tinh thần phê phán; nhưng nói theo mặt trái thì nó nhằm mục đích dồn đối phương vào thế bí, dùng miệng lưỡi để cưỡng lời đoạt lí. Trong 6 phái Triết học ở Ấn độ, phái San xà da, (Phạm, Pàli: Saĩjaya) chính là phái Ngụy biện luận Pàli: Amarà-vikkhepika). Lối biện luận của họ dùng mánh khóe gian giảo, lắt léo, khó lường và thiếu giá trị tri thức chính xác nên được gọi là Bất khả tri luận (Pàli: Ajĩà-vàda). Theo phẩm Lô ca da đà trong kinh Nhập lăng già quyển 6 và Trường bộ kinh chú vănPàli (Sumaígala-vilasinì) chép, trong các phái ngoại đạo ở Ấn độ cổ đại, thì phái Thuận thế (Phạm: Pàli: Lokàyata, Hán âm: Lô ca da đà, Lộ già da tha) là 1 học phái Ngụy biện nổi tiếng, chuyên dùng lời lẽ quỉ quyệt 1 cách khéo léo để mê hoặc người đời, họ chối bỏ tính cách thần quyền truyền thống của Bà la môn. Ngoài 4 đại (đất, nước, lửa, gió), phái này lập riêng Linh ngã (cái ta hôn thiêng) và chủ trương chủ nghĩa khoái lạc của phái Duy vật. Trong Luận lí học Ấn độ, Ngụy biện luận được xem là 1 yếu tố lớn trong Luận lí học, nhưng Phật giáo thì cho lối biện luận ấy là không chính đáng, vả lại vô ích, nên chê là Hí luận (Phạm:Prapaĩca). [X. luận Đại thừa quảng bách luận thích Q.2; luận Thành duy thức Q.1; luận Kim thất thập].
ngụy biện luận
Sophism.
Ngụy Nguyên
(魏源, Gigen, 1794-1856): học giả của Công Dương Học (公羊學) sống vào giữa thời nhà Thanh, xuất thân Thiều Dương (邵陽, Hồ Nam), tự là Mặc Thâm (默深). Trước tác của ông có rất nhiều như Hải Quốc Đồ Chí (海國圖志), Thi Cổ Vi (詩古微), Thánh Võ Ký (聖武記), v.v.
ngụy ngôn
Mrsàvàca (S). Falshood, fallacy, delusion.
ngụy quân tử
Tartuffe, sanctimonious hypocrite.
ngụy triều
Wei Dynasty.
ngủ
Sleeping.
ngủ chập chờn
To sleep with one eye open.
ngủ li bì
To sleep all day (around the clock).
ngủ mê như chết
To sleep heavily.
ngủ một cách an vui
Nghĩa là trước khi đi ngủ phải quan sát nhà cửa, bàn ghế. Cửa nẻo phải then gài cẩn thận. Phải xem coi những người làm trong nhà có làm đủ bổn phận của họ chưa, và cha mẹ chồng đã đi ngủ chưa. Thế thường người vợ phải thức khuya dậy sớm. Trừ khi nào ốm đau bệnh hoạn, không bao giờ ngủ ngày—Sleep happily means before sleeping, a wife should see that all doors are closed, furniture is safe, servants have performed their duties, and parents-in-law have retired. As a rule, a wife should rise early in the morning and, unless unwell, she should not sleep during the day. Coi chừng củi lửa: Phải xem chồng và cha mẹ chồng như lửa. Mỗi khi có việc với cha mẹ chồng và chồng phải nên hết sức thận trọng như phải thận trọng với lửa vậy—Tend the fire. Parents-in-law and husband should be regarded as flames of fire. One should deal carefully with them as one would deal with fire. Tôn trọng các vị trời trong nhà: Cha mẹ chồng và chồng phải được tôn kính như những vị trời trong nhà. Nên nhớ Đức Phật thường nhắc đến cha mẹ chồng như những vị trời trong nhà—Honour the household divinities. Parents-in-law and husband should be regarded as divinities. It is noteworthy that the Buddha himself refers to parents-in-law as divinities deserving her respect.
ngủ ngon
To sleep well.
ngủ nướng
To lie late abed.
ngủ tỉnh
To sleep with one's eyes open.
ngữ
Vāc (S), Vācā (S, P), Vāk (S, P), Vag (S), Vaco (P), Vacī (P), Vāco (P), Words, Speech Xem Phạm bái.
; Vac, bhàsà (S). Words, discourse, conversation, speech, language; to say, speak with.
ngữ biểu nghiệp
(語表業) Phạm: Vàg-vijĩapti-karman. Ý tạo nghiệp được biểu thị qua lời nói; là 1 trong 3 biểu nghiệp. Cứ theo luận Câu xá quyển 13, thì Ngữ biểu nghiệp lấy lời nói làm thể; nhưng Đại thừa thì cho rằng cả 3 Biểu nghiệp thân, ngữ, ý đều lấy sự hiện hành của tâm sở Tư làm thể. (xt. Nghiệp).
ngữ diệu hạnh
Vāk-sucarita (S)Một trong Tam diệu hạnh.
ngữ học
Linguistics; lexicography; philology.
ngữ luân cảnh giới
(語輪境界) Chỉ cho cảnh giới thân Đà la ni của đức Phật, do chân ngôn chữ (aô) tạo thành, có trăm ánh sáng chiếu khắp. Phẩm Bách tự quả tướng trong kinh Đại nhật quyển 6 (Đại 18, 40 trung), nói: Phật dạy: Bí mật chủ! Ông hãy xem cảnh giới ngữ luân của ta rộng lớn trùm khắp cửa thanh tịnh của vô lượng thế giới. Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 13 (Vạn tục 36, 469 thượng) nói: Ông hãy quán xét ngữ luân của ta, tức là quán xét cảnh giới tự luân thân Đà la ni của Phật.
Ngữ Lục
(語錄, Goroku): tác phẩm bút ký mà các vị thị giả hay người tham học ghi lại y nguyên bằng thể văn những lời chỉ dạy của chư vị tổ sư trong Thiền lâm mà họ thường thuyết giáo bằng tục ngữ thông thường. Bản thâu tập và ghi chép lại những ngữ yếu này được gọi là Ngữ Lục. Trong các loại ngữ lục có Quảng Lục là loại ký lục thâu tập trên phạm vi rộng lớn. Ở Nhật bản có thêm văn tiếng Nhật thì được gọi là Pháp Ngữ (法語). Theo văn bia nơi tháp của Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), v.v., ban đầu hình như nó được gọi là Ngữ Bản (語本). Từ Ngữ Lục được tìm thấy đầu tiên là phần Bắc Sơn Tham Huyền Ngữ Lục (北山參玄語錄) trong Huệ Nghĩa Tự Thần Thanh Chương (慧義寺神清章) của bản Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳). Nhưng các Ngữ Lục có ý nghĩa được dùng ngày nay vốn bắt đầu từ Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) cũng như các Thiền tăng thuộc môn hạ ông ta, gồm các bản như Lâm Tế Lục (臨濟錄), Truyền Tâm Pháp Yếu (傳心法要), v.v., đặc biệt rất nổi tiếng.
Ngữ lục
語錄; J: goroku;|Danh từ được dùng để chỉ những lời dạy, bài viết của những vị Thiền sư. Các tác phẩm này thường được mang tên của chư vị và được gắn thêm danh từ »ngữ lục« này phía sau.
ngữ lục
Goroku (J), Yulu (C), Goroku (J).
; Quotation book
; (語錄) Các bộ sách ghi chép lời nói pháp hoặc lời mở bày của các Tổ sư Thiền tông. Thông thường, các Thiền sư nói pháp, chỉ dạy không dùng những lời văn hoa bong bảy mà dùng những từ ngữ bình dị để nói ngay vào tông chỉ, sau đó, các đệ tử hoặc người tham học mới sưu tập, ghi chép lại thành sách, gọi là Ngữ lục. Từ sau ngày ngài Lục tổ Tuệ năng đầu đời Đường có Pháp bảo đàn kinh thì ngữ lục ở các nơi dần dần xuất hiện. Từ thời Ngũ đại, Triệu Tống trở về sau, chế độ tùng lâm trong Thiền tông được thiết lập, theo đó, dưới chức vụ Trụ trì, có chức Thư kí đảm nhiệm việc ghi chép ngôn hạnh của Thiền sư, về sau biên tập thành ngữ lục như: Mã tổ Đạo nhất thiền sư ngữ lục, Triệu châu Tùng thẩm thiền sư ngữ lục v.v... Trong ngữ lục, phần pháp ngữ của Tổ sư được ghi chép tỉ mỉ rõ ràng, gọi là Quảng lục, như Mã tổ Đạo nhất thiền sư quảng lục, Vân môn Khuông chân thiền sư quảng lục; nếu chỉ ghi chép phần trọng yếu thôi thì gọi là Ngữ yếu, như Bách trượng Hoài hải thiền sư ngữ yếu. Nếu chỉ thu tập pháp ngữ của 1 người thôi thì gọi là Biệt tập, biên tập pháp ngữ của nhiều người thì gọi là Thông tập. Từ Ngữ lục đầu tiên được thấy là Bác sơn tham huyền ngữ lục trong Tống cao tăng truyện quyển 6, nhưng ý nghĩa của 2 chữ Ngữ lục ngày nay không giống như Bắc sơn tham huyền ngữ lục mà nó đã bắt nguồn từ ngài Mã tổ Đạo nhất và các Thiền sư dưới hội của ngài, trong đó nổi tiếng hơn cả là Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục và Hoàng bá thiền sư truyền tâm pháp yếu. Ngoài ra, Ngữ lục không chỉ được dung trong Thiền tông mà các ngữ yếu của các vị Tổ sư ngoài Thiền tông cũng được gọi là Ngữ lục. Từ đời Tống về sau thì Nho giáo và Đạo giáo cũng có ngữ lục. Rồi đến nội dung ngữ lục cũng dần dần bao gồm cả thi kệ và văn sớ...
ngữ mật
Secret, esoteric words.
; (語密) Phạm: Vàg-guhya. Cũng gọi Khẩu mật. Lời nói của Như lai thần biến chẳng thể nghĩ bàn, tức chỉ tất cả ngôn ngữ thành tựu muôn đức, là 1 trong 3 mật của Như lai. Vì đây là cảnh giới Phật tự chứng mà Nhị thừa, phàm phu, Đẳng giác và Thập địa bồ tát đều không thể thấy nghe, cho nên gọi là Ngữ mật. Theo thuyết của Mật giáo, các vị tôn đều có 4 thứ Mạn đồ la, trong đó, Pháp mạn đồ la là ngôn giáo của chủng tử và chân ngôn đà la ni, vì thế là Ngữ mật của Như lai. Trong 3 bộ của Thai tạng giới, thì Liên hoa bộ được phối hợp với Ngữ mật. Trong 3 mật của chúng sinh thì người tu hành miệng tụng chân ngôn, cho đến tất cả khẩu nghiệp nói năng đều được gọi là Ngữ mật.[X. luận Đại trí độ Q.10; luận Thập trụ tâm Q.10]. (xt. Tam Mật).
ngữ nghiệp
Xem Khẩu nghiệp.
; The karma produced by speech.
ngữ nguyên học
Etymology.
Ngữ Phong Viên Tín
(語風圓信, Gofū Enshin, 1571-1647): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, ban đầu lấy hiệu là Tuyết Đình (雪庭), sau đổi thành Tuyết Kiều (雪嶠) và cuối đời lấy tên là Ngữ Phong Lão Nhân (語風老人), sinh ngày mồng 10 tháng 2 năm thứ 5 niên hiệu Long Khánh (隆慶) tại Huyện Ngân (鄞縣), Phủ Ninh Ba (寧波府, Tỉnh Triết Giang), họ Chu (朱). Năm 29 tuổi, ông theo xuất gia với Bảo Phong Pháp (寳峰法), sau đó đến tham học với Diệu Trinh (妙楨) ở Phổ Tế Tự (普濟寺), Tần Vọng Sơn (秦望山, Tỉnh Triết Giang), rồi tham yết Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏). Cuối cùng ông đến tham vấn Huyễn Hữu Chánh Truyền (幻有正傳) ở Long Trì Viện (龍池院), được đại ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 8 (1635) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông đến Thiên Chỉ Am (千指菴) ở Kính Sơn (徑山), rồi năm thứ 12 cùng niên hiệu trên thì chuyển đến Khai Tiên Tự (開先寺) ở Lô Sơn (廬山) và năm thứ 16 thì đến Đông Tháp Tự (東塔寺) ở Gia Hòa (嘉禾, Tỉnh Triết Giang). Đến cuối đời, ông chuyển về sống tại Vân Môn Tự (雲門寺), Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày 22 tháng 8 năm thứ 4 niên hiệu Thuận Trị (順治), ông thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi đời và 48 hạ lạp. Bộ Tuyết Kiều Viên Tín Thiền Sư Ngữ Lục (雪嶠圓信禪師語錄) 4 quyển và Kính Sơn Ngữ Phong Lão Nhân Tự Lâm Tế Đệ Thập Tam Thế Tuyết Kiều Tín Đại Thiền Sư Đạo Hạnh Bi (徑山語風老人嗣臨濟第十三世雪嶠信大禪師道行碑) vẫn còn lưu truyền đến nay. Ông cùng với Quách Ngưng Chi (郭凝之) biên tập Tiên Giác Tông Thừa (先覺宗乘) 5 quyển, Ưu Bà Di Chí (優婆夷志), Ngũ Gia Ngữ Lục (五家語錄), v.v.
ngữ phạm
(語梵) Cũng gọi Khẩu mật. Chỉ cho Ngữ mật và Phạm luân. Ngữ mật, Phạm: Vàg-guhya, là 1 trong 3 mật của Như lai.Theo luận Đại trí độ quyển 10, khi đức Phật nói pháp thì từ 1 dặm đến 10 dặm,hoặc trăm nghìn muốn ức vô số vô lượng khắp cả hư không, đều nghe âm thanh của Phật. Hơn nữa, trong cùng 1 pháp hội, có người nghe nói bố thí, người nghe trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ, cho đến 12 thể tài kinh, 8 vạn pháp tụ, như thế Phật dùng 1 âm thanh thuyết pháp, chúng sinh tùy theo căn cơ mà nghe nhận, gọi là Ngữ mật. Phạm luân là tên khác của pháp luân. Giáo pháp do đức Phật tuyên thuyết có năng lực phá trừ nghiệp ác của chúng sinh, cũng như bánh xe báu của Luân vương có công năng nghiền nát núi non, sỏi đá, cho nên gọi là Pháp luân. Phạm nghĩa là thanh tịnh. Pháp do đức Phật nói thanh tịnh, vì thế gọi là Phạm luân. [X. luận Đại trí độ Q.25].
ngữ sâm lậu
(語滲漏) Sấm lậu nghĩa đen là chảy ra, rỉ ra, trong kinh điển chỉ cho phiền não. Ngữ sấm lậu nghĩa là cái thấy biết còn bị vướng mắc trong văn tự ngôn ngữ, là 1 trong 3 Sấm lậu do Thiền sư Động sơn Lương giới lập ra. Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục (Đại 47, 526 thượng) nói: Ngữ sấm lậu, nghĩa là nếu chấp trước ngôn ngữ văn tự thì sẽ đánh mất tông chỉ, mê mờ chân lí.(xt. Động Sơn Tam Sấm Lậu).
ngữ vô biểu nghiệp
(語無表業) Phạm: Vàc-avijĩapti-karman. Loại nghiệp thể không cách nào biểu tỏ cho người khác biết, cùng sinh trong thân với Ngữ biểu nghiệp. Là 1 trong 3 Vô biểu nghiệp. Khi lời nói phát động ở nơi miệng tạo ra 1 tác nghiệp nào đó, đồng thời, nguyên nhân chiêu cảm quả báo ngày sau, đã được huân tập(xông ướp)trong thân mình, cái bị huân tập đó không hình không tướng, không thể biểu hiện cho người khác thấy, vì thế gọi là Ngữ vô biểu nghiệp. Tiểu thừa cho rằng Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp đều lấy sắc tính làm thể; nhưng Đại thừa thì chủ trương 3 Vô biểu nghiệp thân, ngữ, ý đều lấy chủng tử của tâm sở Tư làm thể. (xt. Nghiệp).
ngữ đấu mễ đạo
Wou-tou-mi-tao (C), Five Pecks of Rice School Một trường phái của Đạo gia do Trương Đạo Lăng thành lập vào năm 126-144 C.E. ở Tứ Xuyên và vẫn còn hoạt động cho đến thế kỷ thứ 15. Còn được gọi là Thiên sư phái.
ngữ đẳng
(語等) Âm thanh của chư Phật 3 đời đều như nhau không khác, không thêm không bớt, đều dùng 64 thứ Phạm âm để diễn nói giáo pháp, là 1 trong 4 đẳng. Kinh Lăng già quyển 3, (Đại 16, 498 hạ) nói: Ngữ đẳng là gì? Là 64 thứ Phạm âm ngôn ngữ của ta cùng nhau sinh khởi, không thêm không bớt, không có sai khác, như tiếng chim Ca lăng tần già; các đức Như lai, Ứng cúng, Đẳng chính giác kia cũng như thế. (xt. Tứ Đẳng).
ngữi được mùi
Gandhagrāhaka (S), Perceiving odour.
ngự chú
(禦注) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho những sách chú giải do vua soạn. Loại sách này không nhiều. Trong Tứ khố toàn thư tổng mục đề yếu quyển 32, chỉ có 3 bộ Ngự chú của vua Thế tổ nhà Thanh là Ngự chú hiếu kinh, 1 quyển, Ngự toản hiếu kinh tập chú, 1 quyển và Ngự chú đạo đức kinh, 1 quyển. Trong Đại chính tân tu Đại tạng kinh thì có Ngự chú Kim cương ba la mật kinh tuyên diễn của Đạo nhân đời Đường. Sách này là do Đạo nhân bổ sung Ngự chú của vua Huyền tông mà thành. Ngoài ra, trong Vạn tục tạng kinh của Nhật bản có Ngự chú Viên giác kinh, 2 quyển, của vua Hiếu tông nhà Tống và Tứ thập nhị chương kinh ngự chú, 1 quyển, do vua Chân tông nhà Tống soạn.
ngự chế giản ma biện di lục
(禦制揀魔辨异錄) Cũng gọi Giản ma biện dị lục. Tác phẩm, 8 quyển, do vua Thế tong nhà Thanh soạn và ấn hành vào năm Ung chính 11 (1733), được thu vào Vạn tục tạng tập 114. Vào đời Minh, ngài Hán nguyệt Pháp tạng thuộc tông Lâm tế soạn cuốn sách Ngũ tông nguyên, rồi đệ tử của ngài là sư Đàm cát Hoằng nhẫn cũng soạn Ngũ tong cứu 1 quyển đề phê bình và bài bác chủ trương của tông Tào động. Việc này đã gây ra cuộc tranh luận gay gắt trong Thiền lâm đương thời mà mãi đến đời nhà Thanh dư âm vẫn còn. Vua Thế tông soạn sách này để bài bác ngài Pháp tạng và Hoằng nhẫn. Nhà vua cho rằng tông thừa mà 2 vị Pháp tạng, Hoằng nhẫn chủ trương là tà ma dị thuyết; vua nêu ra từng điểm sai lầm trong ngữ lục và tác phẩm của 2 vị ấy để chỉ trích và bác bỏ. Nhà vua cũng nêu ra trường hợp những người theo ngài Pháp tạng ăn thịt, uống rượu, phá hủy giới luật, làm nguy hại cho Phật giáo rất lớn, cần phải trừ sạch. Cho nên Thế tông đã có những hành động cụ thể đàn áp môn đồ của ngài Pháp tạng. (xt. Ngũ Tông Nguyên).
ngự linh hội
(禦靈會) Cũng gọi Ngự linh tế. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Pháp hội cúng tế cầu siêu cho vong linh người chết oan. Trong văn hiến hiện còn, cho thấy hội Ngự linh được cử hành sớm nhất tại Nhật bản là vào năm Trinh quán thứ 5 (863) để cúng tế Thiên hoàng Sùng đạo và Thân vương Y dư chết vì tai nạn, đây chính là khởi nguồn của Ngự linh thần xã thượng và hạ ở Kinh đô (Kyoto) hiện nay. Hiện nay cóThần hạnh tế cúng Thần dư Phụng an vào ngày mồng 1 tháng 5 và Hoàn hạnh tế cúng Thần dư Độ ngự vào ngày 18 tháng 5. Ngự linh hội đã thịnh hành từ thời kì Bình an đến nay và hiện còn được cử hành tại Dã thần xã và Kì viên xã. (xt. Kì Viên Hội).
ngự phật danh
(禦佛名) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tức là xưng niệm danh hiệu Phật A di đà và chư Phật, gọi là Ngự Phật danh. Nhưng về mặt dụng ngữ thì Ngự Phật danh đặc biệt chỉ cho văn kính lễ trong pháp hội, đem việc xưng niệm danh hiệu Phật, Bồ tát và các Tổ sư phổ thành khúc điệu.
ngự tu pháp
(禦修法) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho việc tu trì mật pháp và pháp hội tu trì mật pháp ở Nhật bản. Trong tông Chân ngôn, Ngự tu pháp được gọi là Hậu thất nhật ngự tu pháp. Tức là pháp bí mật mỗi năm được tu trong 7 ngày từ mồng 8 đến 14 tháng giêng ở viện Chân ngôn, trong cung, để cầu cho Thiên hoàng mạnh khỏe, nước thịnh và dân an. Vì đối lại với Tiền thất nhật tiết hội ở trong cung, nên gọi pháp tu này là Hậu thất nhật ngự tu pháp.Tông Thiên thai thì có Ngũ chủng đại pháp, Lục chủng chuẩn đại pháp, Ngũ chủng bí pháp... đều thuộc về Ngự tu pháp. Ngũ chủng đại pháp: 1. Trấn tướng Dạ xoa pháp. 2. Đại xí thịnh pháp. 3. Thất Phật Dược sư pháp. 4. Như pháp diên mệnh pháp. 5. An trấn pháp. Lục chủng chuẩn đại pháp: 1. Pháp hoa pháp.2. Như lai pháp Tôn thắng pháp.3. Như pháp Phật nhãn pháp.4. Như pháp Bắc đẩu pháp.5. Diệp y Quán âm pháp.6. Nhất tự kim luân pháp. Ngũ chủng bí pháp:1. Tô tất địa đại pháp.2. Ngũ bí mật pháp.3. Như pháp ái nhiễm pháp.4. Tôn thắng pháp. 5. Ô sô sa ma pháp.
ngự tuyển ngữ lục
(禦選語錄) Cũng gọi Ung chính ngự tuyển ngữ lục. Ngữ lục, 19 quyển, do vua Thế tông soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 119. Nội dung thu tập các pháp ngữ của các Thiền sư xưa nay ở Trung quốc, các cư sĩ và vua Thế tông đời Thanh. Gồm có: Chính tập 12 quyển, Ngoại tập 1 quyển, Tiền tập 2 quyển, Hậu tập 3 quyển và Đương kim pháp hội 1 quyển. Trong đó,Chính tập có các bài ngữ yếu ngắn của 15 vị: Tăng triệu, Vĩnh gia Huyền giác, Hàn sơn, Thập đắc, Qui sơn Linh hữu, Ngưỡng sơn Tuệ tịch, Triệu châu Tùng thẩm, Vân môn Văn yển, Vĩnh minh Diên thọ, Tử dương Chân nhân Trương bình thúc, Tuyết đậu Trùng hiển, Viên ngộ Khắc cần, Ngọc lâm Thông tú, Cung khê Hành sâm và Thạc ung thân vương Viên minh cư sĩ(vua Thế tông). Ngoại tập là phần Tịnh độ vấn đáp của ngài Vân thê Châu hoành. Tiền tập vàHậu tậpđều là ngữ lục của các Thiền sư nhiều đời. Ở cuối bài Ngự chế tổng tự có dòng chữ: Ung chính Quí sửu thập nhất niên (1733), tứ nguyệt sóc nhật. Ở đầu ngữ lục của mỗi vị đều có bài tựa Ngự chế đề ngày 15 tháng 4 đến ngày 15 tháng 8 năm Quí sửu (1733).Cứ theo bài hậu tựa Ngự chế cho biết về lí do biên soạn Ngữ lục này là vì nhà vua không vừa lòng với các bộ ngữ lục đã có từ trước nên vua mới soạn ra bộ sách này. Sách được nhập Tạng vào niên hiệu Càn long năm đầu (1736). [X. Đại Thanh tam tạng thánh giáo mục lục Q.5; Trung quốc Phật giáo sử (Tưởng duy kiều) Q.4].
Ngự Văn
(御文, ofumi): những thông tin về Liên Như (蓮如, Rennyo), vị tổ đời thứ 8 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji) được Phái Đại Cốc (大谷派) gọi là Ngự Văn. Trong khi đó, Phái Bổn Nguyện Tự (本願寺派) thì gọi là Ngự Văn Chương (御文章, gobunshō). Liên Như có viết rất nhiều bức văn, trong số đó người cháu của ông là Viên Như (圓如, Ennyo) chọn ra 80 bức, biên tập thành 5 thiếp, và thường được gọi là Ngự Văn. Mấy bản này có tên là Thiếp Nội Ngự Văn (帖內御文), còn lại những phần thông tin về Liên Như được gọi là Thiếp Ngoại Ngự Văn (帖外御文). Có thể cho rằng Ngự Văn có tính cách như là quyển sách bố giáo của chúng môn đồ. Còn nội dung của mấy bức này thì có rất nhiều loại khác nhau, tỷ dụ như thế nào là sự cứu độ nhờ niệm Phật, người niệm Phật cần phải hội đủ những điều kiện như thế nào, và những tín ngưỡng do người niệm Phật cần phải tuân giữ cũng như nhiều phương diện đối với xã hội. Trong số đó, loại Ngự Văn có nội dung phê phán việc niệm Phật dị đoan, hay phê phán về tín tâm không thuần thục, là nhiều nhất. Những bản Ngự Văn hiện tồn cho đến ngày nay, trong đó loại xưa nhất là tháng 3 năm 1461, là Ngự Văn ban cho Kim Sum Đạo Tây (金森道西), người khai sáng Thiện Lập Tự (善立寺, Zenritsu-ji) ở vùng Cận Giang (近江, Ōmi). Ngoài ra còn có các bản Ngự Văn ghi lại những thông tin năm trước khi Liên Như qua đời vào ngày 15 tháng 12 năm 1498. Nỗ lực do Liên Như dồn tất cả để viết nên những bức Ngự Văn như thế này thật vô cùng lớn lao, nội chỉ với một bản thôi, bất cứ ai cũng có thể chỉ cho người khác pháp môn niệm Phật đúng đắn. Thông qua các bức Ngự Văn như vậy, đương nhiên Liên Như muốn tuyên dương giáo thuyết của Chơn Tông, thể hiện rõ tư duy của ông về các giáo thuyết dị đoan, về thái độ đúng đắn của tín ngưỡng, về quyền lực chính trị với bản thân ông, về những biến động của chúng môn đồ, và ta cũng có thể biết được khá nhiều vấn đề liên quan đến Chơn Tông dưới thời đại Chiến Quốc. Cả hai loại Thiếp Ngoại Ngự Văn cũng như Thiếp Nội Ngự Văn đều được thâu lục vào trong hai bộ Liên Như Thượng Nhân Ngự Văn Toàn Tập (蓮如上人御文全集) và Liên Như Thượng Nhân Di Văn (蓮如上人遺文).
ngự văn chương
(禦文章) Cũng gọi Liên như thượng nhân ngự văn. Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Liên như ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 83. Nội dung gồm có các bài thuyết phápkhai thị của ngài Liên như, Tổ trung hưng Tịnh độ Chân tông Nhật bản. Nửa bộ trướcđược thu chép khi ngài trụ ở đạo tràng Cát kì. Lời văn bình dị, tông nghĩa rộng rãi, có thể làm khóa tụng hàng ngày.
Ngự Đường Quan Bạch
(御堂關白, Midō Kampaku): tên tự xưng riêng của Đằng Nguyên Đạo Trưởng (藤原道長, Fujiwara-no-Michinaga) sau khi ông xây dựng xong Pháp Thành Tự (法成寺, Hōjō-ji).
ngự ảnh đường
(禦影堂) I. Ngự Ảnh Đường. Cũng gọi Ảnh đường. Chỉ cho tòa nhà thờ tượng các vị Tổ sư trong các chùa tại Nhật bản. (xt. Ảnh Đường). II. Ngự Ảnh Đường. Đạo tràng Niệm Phật tam muội ở chùa Thiện quang mới tại khu Hạ kinh, thành phố Kyoto, Nhật bản, là Bản sơn của phái Ngự ảnh đường thuộc Thời tông.
nha
1) Văn phòng: Bureau—Service. 2) Răng: Tooth—Teeth.
nha bồ tát
Kim Cang Dược Xoa—Một vị Bồ Tát hay nhe răng lởm chởm ra để bảo vệ Phật; thường thì vị nầy ở bên đông độ của Kim Cang Giới—The Bodhisattva fiercely shoowing his teeth in defence of the Buddha; hie is in the east of the Buddha in the Vajradhatu.
nha nam
(牙南) Một trong những lễ tiết tông giáo của dân tộc Thái ở vùng Tây song bản nạp thuộc tỉnh Vân nam, Trung quốc. Nha nam là dịch âm từ tiếng Thái, Hán dịch là Trích thủy(nước giọt xuống). Vào những dịp như: Phật đản, giải hạ, tế thần trại, tế quỉ thần, cúng cô hồn, dựng trại, làm nhà mới... lúc các vị sư bắt đầu hoặc khi kết thúc thời tụng kinh chú nguyện, thì lấy nước sạch đựng trong bình sành, rưới trên đất để bày tỏ lòng chí thành thanh tịnh chiêm bái Phật, cúng tế thần linh cầu xin chứng giám, phù hộ cho được an khang hạnh phúc.
nha tự
(牙字) Chỉ cho chữ (hùô), là chữ chủng tử của bồ tát Kim cương nha trong hội Thành thân của Mật giáo. Chữ Hùô có nghĩa là phá dẹp, làm cho người khác sợ hãi. Hùô cũng có nghĩa là ăn nuốt, khủng bố người khác, vì thế gọi Hùô là Nha tự (chữ răng). (xt. Kim Cương Nha Bồ Tát).
nhai
1) Con đường hay phố thị: A street, especially with shops, a market. 2) Nhai thức ăn: To chew—To ruminate.
nhai phương
Phố thị bận rộn của cuộc sống—The busy mart of life.
nhai phường hoá chủ
(街坊化主) Gọi tắt: Nhai phường, Hóa chủ. Chức vụ trong Thiền lâm có trách nhiệm đi vào làng xóm, phố phường khuyến hóa tín đồ cúng dường tài vật cho Tam bảo.[X. văn Qui kính trong Thiền uyển thanh qui Q.8].
nham
Ghềnh đá—A cliff.
nham hiểm
High and dangerous.
nham hộ quan âm
(岩戶觀音) Bồ tát Quan âm thường tĩnh tọa trong hang núi nên gọi là Nham hộ Quan âm, là 1 trong 33 hóa than Quan âm.Trong các hang núi thường có các loài rắn, rết,bò cạp nhả ra khí độc hại, nếu niệm danh hiệu bồ tát Nham hộ Quan âm thì những khí độc ấy sẽ tiêu tan hết. [X. phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoaQ.7; Phật tượng đồ vậng Q.2]. (xt. Tam Thập Tam Quan Âm).
nham toà
(岩座) Tục gọi: Bàn thạch tòa. Tòa ngồi của Phật và Bồ tát có hình dáng giống như tảng đá bằng phẳng tượng trưng cho sự an trụ bất động. Như tòa sen của bồ tát Mã đầu Quan âm và tòa bảo thạch của Bất động minh vương trong Mật giáo. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.5].
nham tỉnh đại huệ
(岩井大慧) Học giả Phật giáo Nhật bản. Năm 1918, ông tốt nghiệp tại Đại học Đế quốc ở Đông kinh. Sau đó, ông từng là Giáo sư của các Đại học Đông kinh, Đại học Đại cốc, Đại học Đông dương... Ông chuyên nghiên cứu về mối quan hệ giữa dân tộc Mông cổ và Lạt ma giáo. Ông có các tác phẩm: Tây tạng Ấn độ văn hóa, Nhật chi Phật giáo sử luận khảo.
Nham Ðầu Toàn Hoát
巖頭全豁; C: yántóu quánhuò; J: gantō zenkatsu; 828-887;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ xuất sắc của Ðức Sơn Tuyên Giám Thiền sư. Thiền sư Thuỵ Nham Sư Ngạn là người nối pháp của Sư.|Sư họ Kha, quê ở Tuyền Châu, xuất gia lúc còn nhỏ tuổi. Sau, Sư du phương, kết bạn cùng Tuyết Phong Nghĩa Tồn và Khâm Sơn Văn Thuý Thiền sư (Sư và Tuyết Phong trở thành hai môn đệ hàng đầu của Ðức Sơn, Khâm Sơn sau đến Ðộng Sơn Lương Giới thụ pháp). Nơi Ðức Sơn, Sư ngộ yếu chỉ thiền. Cùng với Tuyết Phong, Sư đến từ giã Ðức Sơn, Ðức Sơn hỏi: »Ði về đâu?« Sư thưa: »Tạm từ Hoà thượng hạ sơn.« Ðức Sơn hỏi: »Con về sau làm gì?« Sư thưa: »Chẳng quên« Ðức Sơn lại hỏi: »Con nương vào đâu nói lời này?« Sư thưa: »Ðâu chẳng nghe: ›Trí vượt hơn thầy mới kham truyền trao, trí ngang bằng thầy, kém thầy nửa đức.‹« Ðức Sơn bảo: »Ðúng thế! Ðúng thế! Phải khéo hộ trì.« Sau khi rời Ðức Sơn, Sư đến núi Ngọa Long Ðộng Ðình cất am. Học giả đến học tấp nập.|Có một vị tăng mới đến, Sư hỏi: »Từ đâu đến?« Tăng thưa: »Từ Tây Kinh đến.« Sư hỏi: »Sau trận giặc Hoàng Sào lại lượm được kiếm chăng?« Tăng thưa: »Lượm được.« Sư đưa cổ ra làm thế nhận chặt, tăng nói: »Ðầu thầy rơi.« Sư cười to.|Sư dạy chúng: »Phàm việc trong đại tổng cương tông phải biết cú. Nếu chẳng biết cú khó hội được câu nói. Cái gì là cú? Khi trăm việc chẳng suy nghĩ, gọi là chính cú, cũng gọi là cư đỉnh (ở trên đỉnh), là được trụ, là rõ ràng, là tỉnh tỉnh, là chắc thật, là khi Phật chưa sinh, là đắc địa… Phá tất cả thị phi sẽ được tự do tự tại với những gì còn đối đãi. Nếu nhìn chẳng thấu liền bị người đâm đui mắt…«|Sau này có người hỏi Phật, hỏi pháp, đạo, thiền, Sư đều »Hư!« lên một tiếng. Sư thường bảo chúng: »Khi Lão già này đi sẽ rống lên một tiếng.«|Ðời Ðường, niên hiệu Quang Khải, giặc cướp lộng hành, chúng tăng đều lánh đi nơi khác. Sư vẫn an nhiên ở lại. Giặc cướp đến, thấy không có gì lấy được, tức giận đâm Sư. Sư không đổi thần sắc, chỉ rống lên một tiếng xa mười dặm rồi tịch. Tiếng rống của Sư nổi danh trong lịch sử của Thiền tông, và đã gây thắc mắc cho nhiều thiền sinh đời sau (Bạch Ẩn Huệ Hạc).
Nham Đầu Toàn Khoát
(巖頭全奯, Gantō Zenkatsu, 828-887): hay còn gọi là Toàn Hoát (全豁), người Huyện Nam An (南安縣), Tuyền Châu (泉州, thuộc Tỉnh Phúc Kiến ngày nay), họ là Kha (柯). Ban đầu ông theo xuất gia với Nghĩa Công (義公) ở Linh Tuyền Tự (靈泉寺), rồi thọ cụ túc giới ở Tây Minh Tự (西明寺) thuộc Trường An (長安). Ông đã từng giao du với Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存) và Khâm Sơn Văn Thúy (欽山文邃), rồi sau khi đến tham vấn Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂); ông lại đến học pháp với Đức Sơn Tuyên Giám (德山宣鑑) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Về sau, ông đến cử xướng Thiền phong ở Ngọa Long Sơn (臥龍山, Nham Đầu) bên Hồ Động Đình (洞庭湖). Vào ngày mồng 8 tháng 4 năm thứ 3 (887) niên hiệu Quang Khải (光啓, theo Tổ Đường Tập là ngày mồng 4 tháng 4 năm thứ 5 niên hiệu Trung Hòa), ông bị giặc cướp đâm cho một đao, ông rán hết sức mình thét vang một tiếng và thị tịch, hưởng thọ 60 tuổi đời. Sau ông được ban cho thụy hiệu là Thanh Nghiễm Đại Sư (清儼大師).
nham đầu
Yen-t'ou (C)Tên một vị sư.
nham đầu thiền sư
Zen Master Yan-T'ou—See Toàn Khoát Nham Đầu Thiền Sư.
nham đầu toàn hoát
Yen Tou Chuan huo (C), Ganto Zenkatsu (J), Gantō Zenkatsu (J), Yen-t'ou Chuan-huo (C), Ganto Zenkatsu (J)Tên một vị sư.
nham đầu toàn khoát
Zen Master Yan-T'ou—See Toàn Khoát Nham Đầu Thiền Sư.
nham đầu tứ tạng phong
(岩頭四藏鋒) Bốn tiêu chuẩn được sử dụng để kiểm nghiệm cảnh giới tu hành theo hai phương diện Sự và Lí do Thiền sư Nham đầu Toàn khoát (828-887) đặt ra. Sự là thế giới hiện tượng sai biệt, có hình tướng, có giới hạn; còn Lí là thế giới bản thể, chân thực, bình đẳng, trong đó muôn vật đều viên dung vô ngại. Bốn tiêu chuẩn ấy là: 1. Tựu sự tàng phong: Kiểm xét cảnh giới sự tướng sai biệt. 2. Tựu lí tàng phong: Kiểm xét cảnh giới nhất như viên dung. 3. Nhập tựu tàng phong: Kiểm xét cảnh giới gồm đủ cả Sự và Lí. 4. Xuất tựu tàng phong: Kiểm xét cảnh giới dứt bặt Sự và Lí đối đãi. Nhân thiên nhãn mục quyển 6 (Vạn tục 113, 444 thượng) nói: Bốn tàng phong là do sư đặt ra. Nghĩa là tựu sự thì toàn là sự, mà tựu lí thì toàn là lí; nhập tựu thì lí và sự đều đầy đủ, mà xuất tựu lí và sự đều dứt bặt.
nhan
Dung nhan—Counternance—Appearance.
Nhan Bính
(顔丙, Ganhei): xem Như Như Cư Sĩ (如如居士, Nyonyo Koji, ?-1212) bên dưới.
nhan diên chi
(顔延之) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào thời Lưu Tống, người Lâm nghi, Lang gia (nay là huyện Lâm nghi, tỉnh Sơn đông), tự là Diên niên. Thủa nhỏ, ông mồ côi cha mẹ, sống trong cảnh nghèo khổ, nhưng rất chăm học, có tài văn chương, nổi tiếng ngang với Tạ linh vận. Tính tình ông chân thật, thẳng thắn, thích uống rượu và ca hát, nên người đời gọi ông là Nhan bưu. Sau khi nhà Đông Tấn mất, ông ra làm quan dưới triều Lưu Tống, được 2 vua Vũ đế và Văn đế hậu đãi. Ông từng giữ các chức Trung thư lang, Thái thú huyện Vĩnh gia... Sau ông trở thành 1 văn nhân hoạt động tích cực trong cung đình. Về già, ông được phong chức Kim tử Quang lộc đại phu. Ông vốn kính thờ Phật pháp, thông suốt kinh luận. Vào năm Nguyên gia thứ 10 (433) đời vua Văn đế, Hà thừa thiên soạn luận Đạt tính, chủ trương hình hài tan rã thì tinhthần cũng tiêu diệt, để phụ họa với luận Bạch hắc của sa môn Tuệ lâm. Nhan diên chi bèn đứng trên lập trường của Phật giáo soạn 1 thiên Thích Hà hành dương đạt tính luận để bác bỏ luận điệu của Hà thừa thiên. Năm Hiếu kiến thứ 3 (456) đời vua Hiếu vũ đế ông mất, thọ 73 tuổi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.36; Tuệ nghiêm truyện trong Lương cao tăng truyện Q.7; Hoằng minh tập Q.4].
Nhan Hồi
(顔回, 513-428 trước CN): tự là Tử Uyên (子淵), còn được gọi là Nhan Uyên (顔淵), người nước Lỗ, một trong những đệ tử kiệt xuất của Khổng Tử, có đức hạnh số một, nhưng mất sớm trước thầy vào năm 32 tuổi.
nhan hồi
Yen Hui (C)Học trò Không Tử.
nhan nhản
Abundant—Numerous.
nhan sắc
Beauty.
nhan thị gia huấn
(顔氏家訓) Tác phẩm, 2 quyển, (sau chia làm 7 quyển), do ông Nhan chi thôi (531-590) soạn vào thời Nam Bắc triều và được biên tập lại vào khoảng năm Nhân thọ (601-604) đời vua Văn đế nhà Tùy. Đây là 1 tập văn mang nội dung dạy dỗ con cháu, gồm 20 thiên với các mục: Sinh hoạt, học vấn, văn học, đạo đức, dưỡng sinh, ngôn ngữ và các nghề nghiệp trong gia đình. Ông đã căn cứ vào sự thể nghiệm của chính mình để dạy cho con cháu về cách lập thân, tề gia, chỉ rõ và sửa đổi những sai lầm của xã hội.Trong đó, thiên Qui tâm nêu lên ngũ thường là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của Nho giáo và 5 giới căn bản là không giết hại, không trộm cắp, không gian dâm, không nói dối, không uống rượu của Phật giáo, mà ông cho rằng cả 2 đều giống nhau. Ý ông muốn điều hòa pháp thế tục và pháp xuất gia bằng cách dung hợp nghĩa tinh túy của Nho giáo và Phật giáo. Nhan chi thôi tên là Giới, tự là Hạnh, người Lâm nghi. Lúc đầu, ông làm quan cho nhà Tiêu Lương thuộc Nam triều, sau chuyển làm quan dưới các triều Bắc Tề, Bắc Chu. Đến đầu đời Tùy, ông được triệu ra làm Học sĩ. Ông rất kính tin Phật pháp, thông suốt các kinh luận, thường cùng với các bậc cao tăng bàn luận về yếu chỉ sâu xa của Phật pháp. [X. Đường Hộ pháp sa môn Pháp lâm biệt truyện Q.hạ; Quảng hoằng minh tập Q.3, 26].
nhang đèn
Incense and lamp.
nhanh
Quick—Fast—Rapid.
nhanh mắt
Quick-sighted.
nhanh tay
Quick-handed.
nhanh trí
Quick-witted (minded).
nhau
Together.
nheo mắt
To screw up one's eyes.
nhgẹn ngào
To be chocked by tears.
nhi nữ
Woman.
nhi đồng
Young child.
Nhiên Không
(然空, Nenkū, ?-1297): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng giữa và cuối thời Liêm Thương, vị Tổ đời thứ 4 của Thanh Tịnh Hoa Viện (清淨華院), vị Tổ của Phái Nhất Điều (一條派) thuộc Dòng Trấn Tây (鎭西流), húy là Nhiên Không (然空), hiệu là Lễ A (禮阿), Pháp Quang Minh Viện (法光明院), con của A Bộ Trinh Công (阿部貞公). Ông theo học Thiên Thai với Vĩnh Tồn (永存) trên Tỷ Duệ Sơn, rồi từ năm 1272 trở đi trong vòng 3 năm trường ông theo Lương Trung (良忠) học về Tịnh Độ ở vùng Liêm Thương. Sau đó, ông cùng Lương Không (良空) lên kinh đô, chuyên tâm bố giáo ở Pháp Quang Minh Viện, nhưng vì gặp trở ngại nên ông phải cung thỉnh Lương Trung lên kinh đô. Vào năm 1277, ông kế thừa cuốn Mạt Đại Niệm Phật Thọ Thủ Ấn (末代念佛授手印) của Lương Trung, rồi sau khi thầy qua đời, ông đã cùng với Lương Không, Đạo Quang (道光) hoạt động mạnh mẽ, làm vị Tổ đời thứ 4 của Thanh Tịnh Hoa Viện, và đóng vai trò trung tâm trong giới Tịnh Độ Tông ở Kyoto. Trước tác của ông có Tịnh Độ Lược Yếu Sao (淨土略要鈔) 1 quyển, Tâm Hành Tạp Quyết (心行雜決) 1 quyển.
nhiên nhục thân đăng
(然肉身燈) Dùng thân làm đèn, 1 trong các pháp khổ hạnh. Cứ theo Tư trị thông giám hậu chu kỉ chép, vào năm Hiển đức thứ 2 (955) đời vua Thế tông, triều đình cấm tăng tục xả thân, chặt chân tay, luyện ngón tay, treo đèn, đeo kìm... Luyện ngón tay là quấn hương vào ngón tay rồi đốt; treo đèn là ở trần rồi dùng các móc sắt móc trên da khắp mình, mỗi các móc đều treo 1 ngọn đèn nhỏ, đổ dầu vào đèn rồi đốt, tục gọi là Nhiên nhục thân đăng.
nhiên vương phật
Xem Thế Tự Tại vương Phật.
Nhiên Ðăng Cát Tường Trí
然燈吉祥智; S: dīpaṅkaraśrījñāna;|A-đề-sa
Nhiên Ðăng Phật
然燈佛; S, P: dīpaṅkara;|Vị cổ Phật từng sống cách thời đại chúng ta vô lượng kiếp. Ðức Phật này là vị đầu tiên của 24 vị Phật trước đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni. Tương truyền dưới thời Nhiên Ðăng Phật thì đức Thích-ca là một nhà sư khổ hạnh tên là Thiện Huệ (s: sumedha). Với thiên nhãn thông, Nhiên Ðăng Phật nhận ra Thiện Huệ sẽ thành Phật dưới tên Cồ-đàm (gautama) và thụ kí cho Thiện Huệ. Phật Nhiên Ðăng được xem là vị Phật quan trọng nhất trong các vị trước Thích-ca. Ngài là vị đại diện cho Phật quá khứ tương tự như trường hợp Di-lặc được xem là đại diện cho Phật vị lai. Tại Trung Quốc và Việt Nam, người ta thờ »Tam thế Phật« là thờ ba vị này.|Theo truyền thuyết, thân Phật Nhiên Ðăng cao »80 trượng«, giáo hoá 84.000 vị A-la-hán, Ngài sống 100.000 năm. Tháp đựng xá-lị Phật Nhiên Ðăng cao 36 do-tuần (s: yojana 15-20km).
nhiên đăng hội
(然燈會) Hội thắp đèn. Trong các kinh đều nói thắp đèn ở trước tháp Phật, tượng Phật, kinh Phật... được công đức rất lớn, bởi thế Nhiên đăng là 1 cách cúng dường mà về sau đã trở thành Pháp hội.Việc đốt đèn vốn để thắp sáng phòng tăng, nhưng nó đã trở thành 1 pháp sự vào thời nào thì không thể xác định được. Trong các điều Xá vệ thành nước Câu tát la, Ba liên phất ấp nước Ma kiệt đà, Trúc sát thi la quốc, Ma đầu la quốc... trong Phật quốc kí của ngài Pháp hiển đời Đông Tấn có tường thuật về việc thắp đèn. Như vậy, trong các pháp hội ở Ấn độ thời xưa, đốt đèn đã được thực hành phổ biến. Nhưng, Nhiên đăng hội trở thành 1 pháp hội độc lập thì đã được bắt đầu tại Trung quốc. Cứ theo kinh điển và sử sách ghi chép thì Nhiên đăng hội trải qua các đời đều rất thịnh hành. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.38; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Đại Tống tăng sử lược Q.hạ].
nhiên đăng phật
Dīpaṅkara-buddha (S), Dīpaṅkara (S, P).
; Dipankara (S). Dipankara Buddha, the first of the 24 Former Buddhas.
; (然燈佛) Nhiên đăng, Phạm: Dìpaôkara. Hán âm: Đề hòa kiệt la, Đề hoàn kiệt. Cũng gọi Phổ quang Phật, Đĩnh quang Phật.Tên đức Phật ở đời quá khứ đã thụ kí cho bồ tát Thích ca thành Phật. Cứ theo kinh Tu hành bản khởi quyển thượng, nước Đề hòa vệ (Phạm:Dìpavatì) có vị Thánh vương tên Đăng thịnh, khi sắp băng hà, vua phó thác việc nước cho thái tử Đĩnh quang. Nhưng Thái tử biết đời là vô thường, nên đem đất nước giao lại cho người em, rồi xuất gia làm sa môn, về sau chứng quả Phật. Lúc bấy giờ có Phạm chí Nho đồng gặp đức Phật Đĩnh quang đi du hóa, liền mua hoa cúng Phật, Phật bèn thụ kí cho Nho đồng đời vị lai sẽ thành đạo. Phạm chí Nho đồng ấy chính là Phật Thích ca mâu ni sau này. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.1; kinh Hiền ngu Q.3; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Phóng quang bát nhã Q.6; kinh Tâm địa quán Q.1; luận Đại trí độ Q.9].
nhiêu ích
(饒益) I. Nhiêu Ích. Hàm ý ban pháp đem lại lợi ích cho người. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển thượng (Đại 14, 538 thượng) nói: Bồ tát ở cõi nước thanh tịnh đều là nhiêu ích cho các chúng sinh. II. Nhiêu Ích. Hàm ý giàu có, đầy đủ, là tên của 1 thế giới. Phẩm Như lai danh hiệu trong kinh Hoa nghiêm quyển 12 (Đại 10, 59 hạ) nói: Này các Phật tử! Ở phía đông nam thế giới Sa bà này có 1 thế giới tên là Nhiêu ích, đức Như lai ở thế giới ấy hiệu là Hiện quang minh.
nhiêu ích hữu tình giới
Xem Nhiếp chúng sanh giới.
nhiếp
To collect, gather together, combine, include; lay hold of; assist, act for or with; control, direct, attend to.
nhiếp a tì đạt ma nghĩa luận
(攝阿毗達磨義論) Pàli: Abhidhammattha-saígaha. Tác phẩm, do ngài A nâu lâu đà soạn, ngài Pháp phảng dịch. Nội dung sách này nói về cương yếu giáo học A tì đạt ma của Phân biệt Thượng tọa bộ ở Tích lan. Gồm có 9 phẩm theo thứ tự là: Nhiếp tâm phân biệt, Nhiếp tâm sở phân biệt, Nhiếp tạp phân biệt, Nhiếp lộ phân biệt, Nhiếp li lộ phân biệt, Nhiếp sắc phân biệt, Nhiếp tập phân biệt, Nhiếp duyên phân biệt và Nhiếp nghiệp xứ phân biệt. Trong đó, 5 phẩm đầu nói về tâm pháp và tâm sở pháp, phẩm thứ 6 nói về sắc pháp và Niết bàn pháp, phẩm thứ 7 nói về các pháp tướng, phẩm thứ 8 nói về duyên khởi luận và phẩm thứ 9 nói về tu định và tuệ. Ở đầu mỗi phẩm đều có 1 bài tụng trình bày đại khái về nội dung của phẩm ấy. Phần chính văn của mỗi phẩm được chia ra hơn 10 đoạn, mỗi đoạn đều có nhiếp tụng. Luận này được thành lập vào khoảng đầu thế kỉ XII về trước, là bộ luận tổng kết cách ngắn gọn rõ ràng bản Luận tạngPàli, là khóa trình bắt buộc trong các viện Phật học quốc gia thuộc Phật giáo Nam truyền. Nguyên văn của luận này được hiệu đính và xuất bản vào năm 1884. Ngoài ra cũng có bản dịch tiếng Anh (Compendium of Philosophy, 1910, P.T.S) và bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh quyển 65). [X. A History fPàliLiterature by B.C. Law].
nhiếp chánh pháp luận
Saddharmasaṃ-parigraha-śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
nhiếp chân thật luận
Tattva-saṃgraha (S)Chân chính yếu tậpTên một bộ luận kinh. Xem Như Lai.
nhiếp chúng sanh giới
Sattvarthakriya-śīla (S)Nhiêu ích Hữu tình giới.
nhiếp chúng sinh giới
(攝衆生戒) Phạm: Sattvàrtha-kriyà-zìla. Cũng gọi Nhiêu ích hữu tình giới, Nhiêu ích chúng sinh giới, Tiếp sinh giới, Lợi chúng sinh giới. Chỉ cho giới pháp làm lợi ích chúng sinh, 1 trong 3 tụ tịnh giới. Kinh Bồ tát địa trì quyển 4 nêu ra 11 thứ:1. Làm bạn với tất cả chúng sinh thực hiện các việc lợi ích. 2. Đối với những chúng sinh chịu các khổ như đã bị bệnh, chưa bị bệnh và người săn sóc bệnh, đều kết bạn. 3. Vì chúng sinh mà nói các pháp thế gian và xuất thế gian, hoặc dùng mọi phương tiện để giúp họ mở mang trí tuệ. 4. Biết ơn báo ơn. 5. Che chở cho chúng sinh trong các trường hợp bị khủng bố, tai ách, khiến họ thoát khỏi tình trạng sợ hãi, lo âu. 6. Thấy chúng sinh nghèo khó, khốn quẫn, tùy theo nhu cầu đều giúp đỡ hết. 7. Đức hạnh đầy đủ, nương nơi chính thụ, nuôi chúng đúng như pháp. 8. Trước dùng lời an úy, tùy thời qua lại, cung cấp các thức ăn uống, nói lời dịu hiền của thế gian, khiến những người đã an ổn đều thuận theo, người chưa an ổn thì được an ổn. 9. Đối với những người có thực đức thì vui vẻ khen ngợi. 10. Đối với những người làm ác, phạm tội, dùng từ tâm lựa lời khuyên bảo, khiến họ hối cải. 11. Dùng thần lực thị hiện vào các đường ác, khiến chúng sinh sợ hãi tội ác, vui theo Phật pháp, sinh tâm hiếm có... [X. luận Du già sư địa Q.40; luận Thành duy thức Q.9; Thích môn qui kính nghi Q.thượng]. (xt. Tam Tụ Tịnh Giới).
nhiếp chúng sinh nguyện
(攝衆生願) Cũng gọi Nhiếp sinh nguyện, Lợi chúng sinh nguyện. Nguyện thu nhiếp lấy chúng sinh, là 1 trong 3 loại nguyện nằm trong 48 bản nguyện của đức Phật A di đà. Trong Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển thượng, khi giải thích về 48 thệ nguyện của đức Phật A di đà, ngài Tuệ viễn đem chia làm 3 loại: Nhiếp tịnh độ nguyện, Nhiếp pháp thân nguyện và Nhiếp chúng sinh nguyện. Nghĩa là trong 48 nguyện thì nguyện 12, 13 và 17 thuộc về Nhiếp pháp thân nguyện, nguyện 31 và 32 thuộc về Nhiếp tịnh độ nguyện, còn lại tất cả các nguyện khác đều là Nhiếp chúng sinh nguyện. Còn theo thuyết của ngài Cát tạng thì nguyện 12, 13 và 17 là Nhiếp pháp thân nguyện; nguyện 1, 31 và 32 là Nhiếp tịnh độ nguyện; 42 nguyện còn lại là Nhiếp chúng sinh nguyện. [X. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Cát tạng); Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.trung).
Nhiếp căn
攝根; S, P: indriyasaṃvara; nghĩa là phòng hộ các giác quan;|Phương pháp tu tập quán sát sự vật một cách khách quan và tránh những ý nghĩ bâng quơ, không cho tâm thức lạc lõng trong những cảm giác như yêu thích, ghét bỏ, sân hận… khi tiếp xúc với một pháp nào đó bằng những căn môn (giác quan). Nhiếp căn là yếu tố quan trọng để đạt Ðịnh (s, p: samādhi), cần phải được thực hành trong đời sống hàng ngày, đó là một quy định của Giới (s: śīla).|Phép nhiếp căn được mô tả như sau: »Vị tỉ khâu khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân chạm xúc, ý khởi pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Vị ấy để tâm không cho các yếu tố bất thiện tác dụng lên mắt, vị ấy đạt được nhiếp căn nhãn thức, tỉ thức, thiệt thức, v.v… Tập được nhiếp phục các căn, vị ấy cảm nhận được hỉ lạc thanh tịnh.«
nhiếp căn
Indriyaśaṃvara (S, P).
nhiếp cảnh tòng thức thể
(攝境從識體) Cũng gọi Nhiếp dư qui thức thể, Nhiếp cảnh tòng tâm thể. Một trong Tứ trùng xuất thể do tông Pháp tướng thành lập. Cảnh chỉ cho sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; Thức chỉ cho tâm thức. Nhiếp cảnh tòng thức thể nghĩa là thu nhiếp tất cả các cảnh sở duyên mà đưa về tâm thức năng duyên, tức là muôn pháp duy thức, tâm thức là gốc của hết thảy sự vật.[X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1]. (xt. Tứ Trùng Xuất Thể).
nhiếp giáo vị tận quá thất
(攝教未盡過失) Lỗi lầm vì thu nhiếp giáo chưa hết. Nghĩa là khi lập Phán thích giáo tướng thì trong đó phải đề cập đến tất cả các giáo tướng, không được bỏ sót. Nếu không thu nhiếp lấy hết thì thành lỗi lầm.
nhiếp giả tuỳ thật thể
(攝假隨實體) Cũng gọi Nhiếp giả tòng thực thể. Một trong Tứ trùng xuất thể do tông Pháp tướng thành lập. Giả chỉ cho pháp giả lập; Thực chỉ cho thực pháp làm chỗ nương cho giả pháp. Nhiếp giả tùy thực thể có nghĩa là thu nhiếp giả pháp để qui về thực pháp, lấy thực pháp làm thể. Như 4 trần(sắc, hương, vị, xúc)là thực pháp, cái bình do 4 trần tạo thành là pháp giả lập, vì thế thu nhiếp giả pháp khiến theo về với thực thể 4 trần, nêu 4 trần làm thể của giả pháp. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu]. (xt. Tứ Trùng Xuất Thể).
nhiếp hoá
(攝化) Gọi đủ: Nhiếp thụ giáo hóa. Cũng gọi Tiếp hóa, Giáo hóa. Nghĩa là Phật và Bồ tát rủ lòng từ bi, đưa tay tiếp nhận chúng sinh, rồi giáo hóa làm lợi ích cho họ. Nhiếp hóa lợi ích chúng sinh, gọi là Nhiếp hóa lợi sinh. Vì chúng sinh có căn cơ không giống nhau, nên phải dùng nhiều phương pháp để nhiếp hóa, gọi là Nhiếp hóa tùy duyên.
nhiếp hộ
Xem Nhiếp thọ.
nhiếp hộ căn môn
Indriyesu-gutta-dvāratā (S), Guarding the sense-door.
nhiếp loại luận
(攝類論) Tác phẩm Nhân minh của Phật giáo Tây tạng, gồm 3 phần: Lược tập, Trung tập và Quảng tập. Là bộ sách nhập môn cho những người học tập Nhân minh. Pháp tắc và học phong biện luận trong sách này là do học giả Hiệp ba khúc sâm, người Tây tạng, kết hợp với phong cách biện luận của các Luận sư thuộc Kinh bộ Phật giáo mà lập ra, là 1 đặc sắc lớn của Nhân minh học Tây tạng.
Nhiếp Luận Tông
(攝論宗, Setsuron-shū): tên gọi của học phái lấy bộ Nhiếp Đại Thừa Luận (攝大乘論) của Vô Trước (s: Asaṅga, 無著) làm đối tượng nghiên cứu. Bộ luận này do Chơn Đế (s: Paramārtha, 眞諦, 499-569) dịch vào năm 563. Đây là một trong 13 học phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc. Bên cạnh bộ luận trên, tông này còn lấy bộ Nhiếp Đại Thừa Luận Thích (攝大乘論釋) của Thế Thân (s: Vasubandhu, 世親) và được hình thành ở phương Nam do môn hạ của Chơn Đế là Huệ Khải (慧愷), Pháp Thái (法泰). Còn ở phương Bắc thì những môn đồ của Địa Luận Tông chạy qua lánh nạn phế Phật thời Bắc Chu, rồi chuyển qua Nhiếp Luận Tông và chính những người này đã truyền bá ở đây. Nhiếp Luận Tông ở phương Bắc do Đàm Thiên (曇遷) lập nên và hưng thạnh từ thời nhà Tùy cho đến đầu thời nhà Đường. Còn Tĩnh Tung (靖嵩) thì học giáo học Duy Thức với Pháp Thái (法泰) ở phía Nam, rồi sau đó truyền sang phương Bắc. Sau này khi giáo học Duy Thức tân dịch của Huyền Trang (玄奘, 602-664) được truyền bá, pháp hệ của Nhiếp Luận Tông bắt đầu đi đến diệt vong.
nhiếp luận tông
(攝論宗) Tông phái dựa theo luận Nhiếp đại thừa mà được thành lập, là 1 trong 13 tông phái của Phật giáo Trung quốc, tôn ngài Chân đế làm Tổ khai sáng. Năm Thái thanh thứ 2 (548) đời Lương, ngài Chân đế nhận lời thỉnh của vua Vũ đế vào Kiến khang, rồi vì chiến loạn nên ngài phải lưu lạc các nơi. Năm Thiên gia thứ 4 (563), ngài trụ ở chùa Chế chỉ tại Quảng châu, phiên dịch luận Nhiếp đại thừa 3 quyển của ngài Vô trước và Nhiếp đại thừa luận thích 12 quyển của ngài Thế thân. Đồng thời soạn Nghĩa sớ 8 quyển, biệt dịch Quyết định tạng luận, Tam vô tính luận, Chuyển thức luận và soạn Cửu thức nghĩa kí... tạo thành học thuyết của 1 tông. Ngoài ngài Chân đế, các nhà truyền dịch luận Nhiếp đại thừa và Nhiếp đại thừa luận thích, còn có các ngài: Phật đà phiến đa đời Bắc Ngụy, Đạt ma cấp đa và Hành cự đời Tùy, Huyền trang đời Đường và còn có bản dịch Tây tạng. Nhưng tông Nhiếp luận chỉ dùng bản dịch của ngài Chân đế là chỗ y cứ chính mà thôi. Về môn nhân của ngài Chân đế thì có các vị Tuệ khải, Tào tì, Pháp thái, Tăng tông, Đạo ni, Pháp hoài, Tuệ khoáng... đều nối tiếp nhau hoằng dương Nhiếp luận tại miền Nam. Kịp đến đệ tử của ngài Đạo ni là các vị Đạo nhạc, Trí quang, Tuệ hưu... vào năm Khai hoàng thứ 10 (590), vâng sắc chỉ của vua theo thầy vào Trường an thì từ đó về sau ở miền Nam không còn ai chủ giảng Nhiếp luận. Trước đó, vào năm Khai hoàng thứ 7 (587), ngài Đàm thiên đã vào Trường an để tuyên giảng luận Nhiếp đại thừa. Về sau, vua Văn đế xây chùa Thiền định, thỉnh ngài Đàm thiên trụ trì, ngài lần lượt soạn Nhiếp luận sớ 10 quyển, Cửu thức chương... chùa Thiền định bèn trở thành trung tâm của tông Nhiếp luận. Sau khi thầy trò ngài Đạo ni lên miền Bắc thì phong trào học tập nghiên cứu Nhiếp luận lại càng thịnh, rất nhiều nhân tài xuất hiện. Kể từ Trần qua Tùy đến Đường, lần lượt có các vị: Pháp thường, Trí nghiễm, Tuệ hưu, Linh phạm, Thần chiếu, Đạo kiệt, Tăng vinh, Tuệ tiến, Tĩnh tung, Trí ngưng, Pháp hộ, Đạo nhân, Tăng biện, Trí tắc, Đạo tích, Đạo cơ, Thiện tuệ... đều tận lực hoằng truyền giáo nghĩa Nhiếp luận, hưng thịnh 1 thời. Đến đời Đường, ngài Huyền trang tuyên dương Du già Duy thức, đem luận Nhiếp đại thừa xếp vào làm 1 trong 11 bộ luận được luận Thành duy thức viện dẫn, từđó tông Nhiếp luận dần dần suy vi, cuối cùng, không còn là 1 tông phái độc lập nữa mà bị nhiếp thuộc vào tông Pháp tướng. Luận Nhiếp đại thừa lập 10 loại Thắng tướng, lấy thức A lại da làm chỗ nương của các pháp, thuyết minh tướng của tất cả các pháp đều có 3 tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực. Từ đó nhập vào Duy thức quán, tu Lục ba la mật, chứng Thập địa Bồ tát, vào Vô trụ xứ Niết bàn được trí Vô phân biệt, hiển hiện 3 thân Phật. Giáo nghĩa chủ yếu của tông Nhiếp luận là nhằm thuyết minh quan điểm của luận Nhiếp đại thừa. Ngoài 8 thức ra, ngài Chân đế còn dựa vào kinh Lăng già, Quyết định tạng luận... mà đề xướng nghĩa 9 thức, tức ngoài thức A lại da thứ 8 lại lập thêm thức A ma la thứ 9, cho rằng thức A lại da thứ 8 là hữu lậu tùy miên thức, thức A ma la thứ 9 mới là chân thường tịnh thức. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.5; Duy ma kinh huyền sớ Q.2, 3, 5; Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.3, phần đầu; Nhiếp đại thừa luận sớ Q.5; Nhiếp đại thừa luận sao; Nhiếp đại thừa luận chương Q.1; Nhiếp luận chương Q.1; Nhiếp đại thừa nghĩa chương Q.4; Tục cao tăng truyện Q.1-4, 10-15, 17, 18, 22, 24-29; Tống cao tăng truyện Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.7, 8] .(xt. Cửu Thức Nghĩa, A Ma La Thức).
nhiếp luật nghi giới
Saṃvara-śīla (S), Moral restraint Luật nghi giới, Tự tánh giới, Cấm giớiPháp môn đoạn trừ các điều ác.
; (攝律儀戒) Phạm: Saôvara-zìla. Cũng gọi Luật nghi giới, Tự tính giới, Nhất thiết bồ tát giới. Là một trong Tam tụ tịnh giới. Nhiếp hàm ý là thâu tóm hết, tức là tuân thủ tất cả các loại giới luật do đức Phật chế định, tích thiện ngừa ác; là giới pháp do 7 chúng(tỉ khưu, tỉ khưu ni, thức xoa ma na, sa di, sa di ni, ưu bà tắc, ưu bà di) thụ trì, gồm có 5 giới, 8 giới, 10 giới và Cụ túc giới... Theo Thích môn qui kính nghi quyển thượng thì Nhiếp luật nghi giới có công năng đoạn trừ các điều ác, là nhân của pháp thân.[X. kinh Bồ tát địa trì Q.4; luận Du già sư địa Q.40; luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Tam Tụ Tịnh Giới).
nhiếp mạt quy bản pháp luân
(攝末歸本法輪) Pháp luân thu nhiếp lấy ngọn đưa trở về gốc, là 1 trong 3 pháp luân do ngài Cát tạng y cứ vào phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa mà lập ra. Chỉ cho kinh Pháp hoa. Nghĩa là kinh Pháp hoa là giáo pháp họp 3 thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát)đưa về 1 Phật thừa, ví như gom hết ngành ngọn mà đưa trở về gốc vậy. [X. Pháp hoa du ý Q.thượng]. (xt. Tam Pháp Luân).
nhiếp mạt quy bản thức
(攝末歸本識) Thu nhiếp thức ngọn đưa về thức gốc, là lớp thứ 3 trong 5 lớp quán Duy thức. Trong 5 lớp quán Duy thức, quán đến lớp thứ 2 là Xả lạm lưu thuần thức thì tâm pháp được lưu giữ lại, nhưng vẫn có gốc(bản)của tự thể thức và ngọn(mạt)của tác dụng(tức là Kiến phần và Tướng phần), cho nên thu nhiếp lấy Kiến phần và Tướng phần đưa về Tự thể phần, gọi là Nhiếp mạt qui bản thức. Bởi vì Kiến phần là tác dụng năng thủ của thức bên trong, mà Tướng phần là cảnh sở thủ của thức bên trong, 2 phần này đều khởi lên ở phần Tự thể của thức, nều lìa phần Tự thể này thì sẽ không có 2 phần Kiến, Tướng riêng biệt, vì thế mà bỏ ngọn để trở về gốc. Đây là pháp quán Thể Dụng đối nhau. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối; Bát nhã tâm kinh u tán Q.thượng]. (xt. Ngũ Trùng Duy Thức).
nhiếp na tỉ phạt mẫu sa
(聶那比伐姆沙) Pàli: Ĩàịàbhivaôsa. Danh tăng nước Miến điện, thuộc phái Thông kiên (Pàli: Pàrupana,cũng gọi là phái Toàn triền), sống vào thời vua Mạnh vân (Bodawpaya, trị vì 1782-1819). Giới Phật giáo Miến điện lúc bấy giờ chia thành 2 phái Thông kiên (đắp y trùm kín cả 2 vai) và Thiên đản (Pàli: Ekaôsika,đắp y để hở 1 vai) đối lập nhau về quan niệm pháp đắp y thượng. Đến khi vua Mạnh vân lên ngôi, sư Nhiếp na tỉ phạt mẫu sa nhận lệnh vua bàn thảo rõ về 2 phái, cuối cùng đoán định chủ trương của phái Thiên đản hoàn toàn không có căn cứ trong kinh điển cũng như về truyền thống. Không bao lâu, phái Thiên đản bị cấm ngặt. Sư rất được nhà vua tôn kính, là 1 trong 4 vị Trưởng lão lãnh trách nhiệm đứng đầu Tăng già và thống lãnh giáo đoàn. Sư để lại các tác phẩm: Duyệt tạng trang nghiêm (chú thích luận Chỉ đạo), Thiện tai duyệt ý(chú thích 1 phần Trường bộ kinh), Tứ sa di sự, Vương huấn sự, Vương trung vương duyệt ý và phiên dịch kinh Bản sinh thành tiếng Miến điện. [X. The Pàli Literature of Burma by M.H. Bode; Hinduism and Buddhism, vol.III by Ch. Eliot].
nhiếp nhập bồ tát
Xem Kim Cang Linh Bồ tát.
nhiếp phạ
Sava (S)Thi thể người mới chết.
nhiếp phọc
(攝嚩 ) Phạm: Zava. Xác người mới chết chưa bị rữa nát. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 35 (Đại 54, 542 thượng) nói: Nhiếp phạ, Đường (Trung quốc)dịch là Tân tử nhân, vị hoại giả dã (người mới chết, chưa bị nát).
nhiếp thiện pháp giới
Kuśala-dharma-saṃgrahaka-śīla (S)Pháp môn tu tập tất cả các pháp lành.
; (攝善法戒) Phạm: Kuzala-dharma-saôgrahakazìla.Cũng gọi Thụ thiện pháp giới, Nhiếp trì nhất thiết bồ đề đạo giới, Tiếp thiện giới. Giới thệ nguyện tu hành tất cả pháp lành, là 1 trong 3 tụ tịnh giới. Theo Thích môn qui kính nghi quyển thượng thì công đức siêng tu các pháp lành là nhân của Báo thân. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.4; luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Tam Tụ Tịnh Giới).
nhiếp thọ
Parigraha (S)Nhiếp hộPhật A di đà nhiếp thọ và hộ niệm không sót một chúng sanh nào đã niệm Phật.
nhiếp thụ
To gather, gather up, receive.
nhiếp thụ chiết phục
(攝受折伏) Gọi tắt: Nhiếp chiết, Chiết nhiếp. Cũng gọi: Nhiếp chiết nhị môn. Từ ngữ gọi chung Nhiếp thụ và Chiết phục. Nghĩa là thu lấy và bẻ gãy, là 2 phương pháp giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh. Từ ngữ này có xuất xứ từ chương Thập thụ kinh Thắng man và phẩm Thụ phương tiện học xứ kinh Đại nhật. Nhiếp thụ là làm cho đối phương hiểu rõ rồi dùng lời hòa nhã giải thích, là phương pháp dắt dẫn họ nhiếp trụ nơi thiện pháp. Còn Chiết phục là nghiêm khắc quở trách đối phương; đồng thời phân tích đạo lí 1 cách tỉ mỉ khiến họ hiểu rõ, giúp họ phá mê được ngộ, là phương pháp hướng dẫn họ xa lìa ác pháp. Đối với những người không có trí hoặc phạm tội trên ý niệm, thì dùng phương pháp Nhiếp thụ; còn đối với những kẻ có tà trí, phỉ báng chính pháp hoặc phạm tội ngũ nghịch, thì phải áp dụng biện pháp Chiết phục. [X. kinh Chúng hứa ma ha đế Q.12; luận Du già sư địa Q.86; Thắng man bảo quật Q.thượng, phần cuối; Pháp hoa huyền nghĩa Q.6, phần đầu; Pháp hoa văn cú Q.8, phần cuối; Du già luận kí Q.22; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1].
nhiếp thụ kì đặc
(攝受奇特) Là 1 trong 3 việc đặc biệt lạ lùng của đức Phật. Nghĩa là đức Phật biết tất cả căn cơ lợi độn của chúng sinh, tùy theo căn cơ mà nhiếp thụ, giáo hóa chỉ bày khiến họ đều được nghe pháp yếu, tinh tiến tu hành, ra khỏi sinh tử. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.4] (xt. Tam Chủng Kì Đặc Sự).
nhiếp thủ
(攝取) Phạm: Parigraha. I. Nhiếp Thủ. Cũng gọi Nhiếp thủ bất xả. Thu nhiếp lấy. Nghĩa là đức Phật A di đà thu lấy và giữ gìn tất cả những chúng sinh niệm Phật, không bỏ sót ai. Cứ theo kinh Quán vô lượng thọ thì ánh sáng của Phật A di đà chiếu khắp thế giới trong 10 phương, thu nhiếp và hộ niệm tất cả chúng sinh không bỏ sót, cho nên gọi là Nhiếp thủ bất xả, hoặc gọi là Nhiếp thủ chiếu hộ, Nhiếp hộ. Sự lợi ích mà ánh sáng của Ngài ban cho, được gọi là Nhiếp thủ quang ích.Quán kinh sớ Định tán nghĩa của ngài Thiện đạo nêu ra 3 duyên nhờ đó mà chúng sinh niệm Phật được sự lợi ích nhiếp thủ gọi là Nhiếp thủ tam duyên: 1. Thân duyên: Ý chí và hành vi(tức 3 nghiệp thân, khẩu, ý)của Phật và chúng sinh ứng hợp nhau. 2. Cận duyên: Chúng sinh muốn được thấy Phật thì Phật liền theo niệm mà hiện ra trước mắt. 3. Tăng thượng duyên: Chúng sinh nhờ niệm Phật mà tiêu trừ được tội chướng, lúc lâm chung, đức Phật và chúng Thánh đến đón về Tịnh độ. [X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.hạ (Trí khải); An lạc tập Q.hạ; Vãng sinh lễ tán kệ]. II. Nhiếp Thủ. Hàm ý chọn lựa. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 267 trung) nói: Ta phải tu hành chọn lấy(nhiếp thủ)cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh vô lượng vi diệu, khiến cho ta ở trong quốc độ ấy mau được thành Phật.
nhiếp thủ quang ích
(攝取光益) Sự lợi ích được ánh sáng của đức Phật A di đà thu nhiếp lấy. Ánh sáng của đức Phật A di đà nhiếp lấy tất cả chúng sinh niệm Phật không bỏ sót, vì niệm Phật là thực hành bản nguyện của đức Phật A di đà, hơn nữa, theo 3 duyên là Thân duyên, Cận duyên và Tăng thượng duyên, nên hành giả niệm Phật chỉ nhờ sự lợi ích nhiếp thủ của ánh sáng đức Phật A di đà. [X. Quán kinh sớ định thiện nghĩa; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. Nhiếp Thủ).
nhiếp thừa viễn
(聶承遠) Cư sĩ dịch kinh ở đời Tây Tấn. Ông thường ở Quan lạc, thông suốt kinh truyện, có tài văn chương. Ông từng tham gia công tác dịch kinh của ngài Trúc pháp hộ, hết lòng phục vụ và góp công lớn trong việc nhuận sắc văn. Người đời rất thích đọc văn ông.Ngoài ra, theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 6 thì ông còn là dịch giả của các kinh Ca diếp cật A nan, 1 quyển, kinh Việt nan, 1 quyển. Trong đó, kinh Việt nan được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nhưng theo Thủy hưng lục thì giả thuyết cho kinh Việt nan do ông dịch vẫn chưa được xác định. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].
nhiếp thực giới
(攝食界) Khu vực được phân định dành cho việc nấu nướng hoặc cất chứa thức ăn, là 1 trong 3 loại kết giới. Khu vực này phải cách li với chỗ ở của các tỉ khưu để tránh cho tỉ khưu khỏi phạm tội Túc chử. Túc chử......nghĩa là tỉ khưu nấu thức ăn trong chỗ ở của mình, vốn là điều bị giới luật cấm. Bởi vì việc chính của người tu hành là xa lìa các thứ tham muốn, trong đó việc đối trị tham ăn cũng là giới điều cơ bản trong giới luật do đức Phật chế định; nghĩa là người tu hành phải dùng pháp khất thực để nuôi thân và trị bệnh đói, chứ không được cất chứa thức ăn và nấu nướng ở trong chùa. Về sau xảy ra trường hợp vị tỉ khưu bị bệnh nặng, không đi khất thực được, bèn nhờ người trong thành Xá vệ nấu cháo giúp, nhưng vì cửa thành mở muộn, vị tỉ khưu ấy chưa kịp được cháo ăn thì chết. Đức Phật vì thương xót chúng tăng nên đặc biệt phương tiện chế định Nhiếp thực giới này. Nghĩa là trong phạm vi khu vực Nhiếp thực giới(hoặc tịnh trù)đặc biệt này, tỉ khưu được phép cất chứa và nấu nướng thức ăn mà không phạm tội Túc chử. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển thượng, phần 2, tiết 1 (Đại 40, 204 hạ) nói: Nhiếp thực giới là khu vực cách li chỗ chúng tăng ở để khỏi phạm tội đun nấu trong trụ xứ.[X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.2, phần cuối; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma Q.thượng; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q.2; Thích thị yếu lãm Q.hạ]. (xt. Kết Giới).
nhiếp tâm
To collect the mind, concentrate the attention.
; (攝心) Thu nhiếp tâm, chuyên chú vào 1 cảnh, khiến không hôn trầm, tán loạn. Tức trong lúc thiền quán, vì không để niệm khác sinh khởi, nên chọn nơi yên tĩnh, đếm hơi thở để điều tâm, cốt ngăn ngừa tâm rong ruổi, khiến tâm an trụ ở 1 đối tượng. Cứ theo Đại thông thiền sư bi văn của ông Trương thuyết thì ngài Thần tú thuộc Bắc tông, cho rằng Nhiếp tâm là tiền phương tiện của Định Tuệ, nhưng ngài Thần hội thuộc Nam tông thì phản đối cách tọa thiền khán tâm khán tịnh, cho rằng khởi tâm chiếu soi ra bên ngoài, hay nhiếp tâm lóng lặng bên trong đều chướng ngại bồ đề, mà chủ trương kiến tính đốn ngộ. [X. kinh Phật thùy bát Niết bàn lược thuyết giáo giới; luận Đại trí độ Q.50; Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.2, 5; Tông kính lục Q.37; Thần hội hòa thượng di tập (Hồ thích)].
nhiếp tăng giới
(攝僧界) Gọi tắt: Tăng giới. Là 1 trong 3 thứ kết giới. Theo luật Phật chế thì chúng tăng ở châu Diêm phù mỗi nửa tháng phải tập họp 1 lần để cử hành nghi thức Bồ tát thuyết giới, nhưng vì phạm vi quá rộng, không dễ gì định ngày nhóm họp, hơn nữa, chúng tăng tới lui qua lại, ắt sẽ mỏi mệt mà bỏ phế việc tu hành, cho nên phải chia ra từng khu vực nhất định, khiến cho chúng ở trong mỗi khu vực đều có thể nhóm họp và cùng nhau tác pháp để khỏi phạm tội biệt chúng. Nhiếp tăng giới có thể chia làm 2 loại lớn là Tự nhiên giới và Tác pháp giới. 1. Tự nhiên giới, cũng gọi Bất tác pháp giới. Chia làm 4 giới: Tụ lạc, lan nhã, đi đường, trên mặt nước. 2. Tác pháp giới: Tức y theo pháp Bạch nhị yết ma mà vạch ra 1 khu vực nhất định để bổ sung cho chỗ mà giới Tự nhiên không đủ, được chia làm 3 loại: Đại giới, Giới tràng và Tiểu giới. Phạm vi của Đại giới nhỏ nhất là lấy đường ranh phía ngoài của 1 ngôi chùa làm giới hạn, còn lớn thì từ 10 dặm đến 100 dặm, chia làm 3 loại: Nhân pháp nhị đồng, Pháp thực nhị đồng và Pháp đồng thực biệt. Khu đất kết giới tức là chỉ cho Đại giới. Giới tràng là khu vực kết giới nhất định tùy theo chỗ, là nơi cử hành các pháp thụ giới, sám hối... nhỏ nhất phải chứa được 21 người. Tiểu giới là khu vực tạm thời, vì sợ các nạn duyên như ác tỉ khưu quấy phá khiến bỏ bê pháp sự, nên đặc biệt kết giới vào 1 lúc nào đó, xong việc thì giải liền. Phạm vi của Tiểu giới tùy theo số chúng tăng nhiều hay ít, lấy chỗ ngồi làm giới hạn. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.17; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma Q.thượng; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 2]. (xt. Kết Giới).
nhiếp tướng quy tính duy thức
(攝相歸性唯識) Nhiếp tướng đưa về tính Duy thức, 1 trong 10 lớp Duy thức do tông Hoa nghiêm lập ra. Nghĩa là 8 thức đều là tướng chứ không có tự thể, chỉ là do Chân như tùy duyên hiển hiện ra mà thôi; bản tính của thức nằm trong Như lai tạng bản giác, ngoài ra không có bản tính nào khác, cho nên nhiếp tướng của thức trở về lí bản giác để thành lập nghĩa Duy thức. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.13]. (xt. Thập Trùng Duy Thức).
nhiếp tướng quy tính thể
(攝相歸性體) Nhiếp tướng về tính thể, 1 trong Tứ trùng xuất thể do tông Pháp tướng lập ra. Tướng chỉ cho các sự tướng sai biệt của hiện tượng; Tính chỉ cho chân như thực tính. Nghĩa là ngoài chân như ra không có tự thể riêng của muôn pháp, cho nên nhiếp sự tướng sai biệt của hiện tượng giới trở về với lí bản thể chân như bình đẳng. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu]. (xt. Tứ Trùng Xuất Thể).
nhiếp tịnh độ nguyện
(攝淨土願) Cũng gọi Đắc tịnh độ nguyện, Cầu Phật độ nguyện. Nguyện nhiếp thủ tịnh độ, 1 trong 3 nguyện. Cứ theo Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển thượng của ngài Tuệ viễn, trong 48 nguyện của đức Phật A di đà thì nguyện thứ 31 là Quốc độ thanh tịnh nguyện và nguyện thứ 32 là Quốc độ nghiêm sức nguyện, thuộc về Nhiếp tịnh độ nguyện. (xt. Nhiếp Chúng Sinh Nguyện).
nhiếp tử
(鑷子) Phạm: Ajapadaka-daịđa. Gọi tắt: Nhiếp. Cái nhíp, dùng để nhổ râu hoặc lông mũi, 1 trong 18 vật dụng của tỉ khưu. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1008 thượng) nói: Phật tử thường phải 2 thời đầu đà, mùa đông, mùa hạ tọa thiền, kết hạ an cư, thường dùng dương chi(tăm)... cái nhíp, cái võng, kinh luật, tượng Phật, hình tượng Bồ tát. [X. luật Thập tụng Q.39; luật Ngũ phần Q.26]. (xt. Thập Bát Vật).
nhiếp y giới
(攝衣界) Cũng gọi Bất thất y giới, Bất li y túc giới.Giới nhiếp áo, 1 trong 3 loại kết giới. Giới này thuộc về người, trong phạm vi của 1 khu vực đã được phân định bằng tác pháp kết giới, tỉ khưu được phép lìa 3 áo ngủ cách đêm mà vẫn không phạm lỗi ngủ lìa áo. Theo giới Phật chế, tỉ khưu phải thường giữ 3 tấm áo, luôn đem theo bên mình, như 2 cánh của con chim, dù chỉ 1 trong 3 áo còn để lại ở nhà tăng, thì ngay ngày hôm ấy cũng phải trở về, chứ không được lìa áo mà ngủ lại ở nơi khác. Nếu tỉ khưu không tuân thủ thì phạm tội lìa áo ngủ cách đêm. Nhưng vì có trường hợp vị tỉ khưu bị bệnh, không thể lúc nào cũng đem theo áo Tăng già lê nặng nề, nên đức Phật đặc biệt chế giới Nhiếp y này, cho phép tỉ khưu trong phạm vi nhất định ấy được lìa áo ngủ cách đêm mà không phạm tội. [X. luật Tứ phần Q.35; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 2, tiết 2; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma Q.thượng; Thích thị yếu lãm Q. hạ]. (xt. Kết Giới).
nhiếp ích
(攝益) Hàm ý là hướng dẫn, làm lợi ích. Luận Câu xá quyển 2 (Đại 29, 7 hạ) nói: Ở đây nương kia, vắng lặng chính thụ, thấy sắc nghe tiếng, tâm được nhẹ nhàng, cảm xúc thù thắng, thân được nhiếp ích.
nhiếp ý âm nhạc
(攝意音樂) Âm nhạc thu nhiếp ý. Tức là âm nhạc có sức thu hút tâm người, khiến cho người ta chuyên chú vào 1 đối tượng, không phóng tâm chỗ khác. Đại nhật kinh sớ quyển 8 (Đại 39, 666 trung) ghi: Nói nhiếp ý có nghĩa là giống như người đời thấy sắc đẹp, nghe tiếng hay thì tâm họ say đắm, hễ tâm chuyên chú vào 1 cảnh rồi thì không còn rong ruổi theo cảnh khác nữa. Nay kĩ nhạc kim cương này có sức thu hút tâm người cũng lại như thế.
nhiếp đà bật đà
(攝拖苾馱) Phạm: Zabda-vidyà. Hán dịch: Thanh minh. Môn học về âm vận và ngữ pháp của văn tự, 1 trong Ngũ minh. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 (Đại 54, 228 trang) nói: Nhiếp tha bật đà: Nhiếp tha là thanh, bật đà là minh, tức là 1 Minh trong Ngũ minh luận. (xt. Thanh Minh).
nhiếp đại quỹ
(攝大軌) I. Nhiếp Đại Quĩ. Gọi đủ: Nhiếp đại tì lô già na thành Phật thần biến gia trì kinh nhập liên hoa thai tạng hải hội bi sinh mạn đồ la quảng đại niệm tụng nghi quĩ cúng dường phương tiện hội.Cũng gọi: Nhiếp đại tì lô già na niệm tụng nghi quĩ. Nghi quĩ, 3 quyển, do ngài Thâu bà ca la dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Nội dung nói về pháp tu hành chân thực của kinh Đại nhật. II. Đại Nghi Quĩ. Gọi đủ: Nhiếp vô ngại đại bi tâm đà la ni kinh kế nhất pháp trung xuất vô lượng nghĩa nam phương mãn nguyện bổ đà lạc hải hội ngũ bộ chư tôn đẳng hoằng thệ lực phương vị cập uy nghi hình sắc chấp trì Tam ma da tiêu xí mạn đồ la nghi quĩ. Cũng gọi: Bổ đà lạc hải hội quĩ, Nhiếp vô ngại kinh. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung sách này nói về nguyên lí thủ ấn và Ngũ bộ tôn pháp.
nhiếp đại thừa luận
Mahāyānasaṃgraha-śāstra (S), Shodaijoron (J), Mahāyāna-sampa-rigraha-śāstra (S), Shodaijoron (J)Nhiếp luận Tên một bộ luận kinh. Do Ngài Vô Trước biên soạn.
; Mahāyānāsamparigraha (S)Do ngài Vô Trước biên soạn.
; Shodaijiron (J)Tên một bộ luận kinh.
; Mahàyàna-samparigraha-sastra (S).
; (攝大乘論) Phạm: Mahàyàna-saôparigrahazàstra. Cũng gọi: Nhiếp luận, Quảng bao đại nghĩa luận. Tác phẩm, do ngài Vô trước, người Ấn độ soạn, có 3 bản Hán dịch: 1. Bản do ngài Phật đà phiến đa (Phạm: Buddhazànta) dịch vào đời Hậu Ngụy, gồm 2 quyển. 2. Bản do ngài Chân đế dịch vào đời Trần (cũng gọi Lương dịch Nhiếp đại thừa luận), gồm 3 quyển. 3. Bản do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, gồm 3 quyển. Tựa đề là Nhiếp đại thừa luận bản. Cả 3 bản dịch trên đây đều được thu vào Đại chính tạng tập 31. Ngoài ra cũng có bản dịch Tây tạng gồm 4 quyển. Nội dung bản luận này giải thích phẩm Nhiếp đại thừa trong kinh Đại thừa a tì đạt ma của Ấn độ đời xưa, nói rõ giáo nghĩa Đại thừa, nhấn mạnh quan điểm của phái Du già, tất cả có 10 chương. Vì nội dung luận này bao nhiếp hết thảy yếu nghĩa pháp môn Thánh giáo của Phật giáo Đại thừa, cho nên gọi là luận Nhiếp đại thừa, là bộ luận trọng yếu căn bản của tông Nhiếp luận. Luận này có rất nhiều sách chú thích, ở Ấn độ thì có: Nhiếp đại thừa luận thích của ngài Thế thân, Nhiếp đại thừa luận thích của ngài Vô tính. Ở Trung quốc –chỉ kể những bản chú thích quan trọng hơn– thì có: Nhiếp đại thừa luận sớ (8 quyển, do các ngài Chân đế và Tuệ khải soạn chung), Nhiếp đại thừa luận nghĩa chương (10 quyển, do ngài Đạo cơ soạn), Nhiếp đại thừa luận sớ (10 quyển, do ngài Thần thái soạn), Nhiếp đại thừa luận sao (10 quyển, do ngài Khuy cơ soạn), Nhiếp đại thừa luận chỉ qui (do ngài Pháp hộ soạn)... [X. Pháp kinh lục Q.2; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.19; Duyệt tạng tri tân Q.37].
nhiếp đại thừa luận thích
Mahāyāna-saṃgraha-upanibandhana (S)Tên một bộ luận kinh.
; Māhāyānā-samparigraha śāstravyākhya (S)Do ngài Thế Thân biên soạn.
; (攝大乘論釋) Sách chú thích luận Nhiếp đại thừa của ngài Vô trước. I. Nhiếp Đại Thừa Luận Thích. Phạm: Mahàyàna-saôgraha-bhàwya. Tác phẩm, do ngài Thế thân soạn, có 3 bản Hán dịch: 1. Bản do ngài Chân đế dịch vào đời Trần, gồm 12 quyển, có thuyết nói 15 quyển. Cũng gọi Lương dịch Nhiếp đại thừa luận thích, Nhiếp luận thích, Lương thích luận, được dịch vào năm Thiên gia thứ 4 (563) ở chùa Chế chỉ tại Quảng châu do ngài Tuệ khải ghi chép. 2. Bản do ngài Đạt ma cấp đa và Hành cự cùng dịch vào năm Khai hoàng thứ 10 (590) đời Tùy, gồm 10 quyển, tựa đề là Nhiếp đại thừa luận thích luận, cũng gọi Tùy dịch Thế thân Nhiếp luận. 3. Bản do ngài Huyền trang dịch vào năm Trinh quán 21 đến 23 (647-649) đời Đường, gồm 10 quyển. Người đời gọi là Đường dịch Thế thân Nhiếp luận. Cả 3 bản dịch trên đây đều được thu vào Đại chính tạng tập 31. Trong đó, bản dịch của ngài Chân đế chỉ rõ thể của 8 thức là 1, chủng tử và hiện hành cùng 1 thể và có nói về tên khác của thức A đà na thứ 7. Những điểm này không thấy có trong 2 bản dịch đời Tùy và Đường. Còn những chỗ khác nhau cũng rất nhiều. Điều này là vì giữa các đệ tử của ngài Thế thân có những kiến giải bất đồng, bèn căn cứ vào Thích luận của Ngài mà thêm bớt, cho nên giữa các nguyên bản dịch cũ và mới tất có chỗ khác nhau. Chính ngài Chân đế khi phiên dịch, muốn cho nghĩa lí được sáng tỏ hơn, nên cũng từng có chỗ bổ sung. Bộ sách chú thích này chủ yếu được tông Nhiếp luận sử dụng. Còn các nhà Pháp tướng đời Đường thì chuyên dùng bản dịch của ngài Huyền trang. Ngài Pháp tạng thuộc tông Hoa nghiêm thì căn cứ theo bản dịch (cũ)của ngài Chân đế mà phối hợp với thuyết Thủy giáo và Chung giáo trong Ngũ giáo.Trong các bản chú sớ về sách này hiện còn thì có: Nhiếp luận chương, Nhiếp đại thừa luận sao, Nhiếp đại thừa luận sớ, Nhiếp đại thừa luận nghĩa kí, Nhiếp đại thừa luận Thiên thân thích lược sớ... [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.13; Pháp kinh lục Q.5; Ngạn tông lục Q.2; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.7, 8]. II. Nhiếp Đại Thừa Luận Thích. Phạm: Mahàyàna-saôgrahopani= bandhana. Cũng gọi Vô tính Nhiếp đại thừa luận thích, Vô tính Nhiếp luận. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Vô tính soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Bộ sách này có lẽ đã được biên soạn đồng thời với Nhiếp đại thừa luận thích của ngài Thế thân, nhưng rành rọt hơn. Đối với các tiền đề như: Đại ý về Thù thắng ngữ của Thập tướng thù thắng trong phần Tổng tiêu cương yếu, lí do tại sao Thanh văn thừa không nói về thức A lại da trong phần Sở tri y, các thuyết khác nhau về thức A lại da của các vị Luận sư, 21 thứ công đức và 16 nghiệp sai biệt của Phật trong phần Sở tri tướng, 11 thứ khác nhau về hiện quán của Thanh văn Bồ tát trong phần Nhập sở tri tướng và công đức của Pháp thân trong phần Quả đoạn v.v... và v.v... đều được giải thích 1 cách rõ ràng, tỉ mỉ. Trong luận Thành duy thức có rất nhiều chỗ căn cứ theo bộ sách này. Trong Thành duy thức luận thuật kí, ngài Khuy cơ cũng thường viện dẫn tác phẩm này để giải thích ý nghĩa. Về chú sớ thì có: Vô tính thích luận sớ, 4 quyển, của ngài Trí nghiễm, Vô tính Thích luận cổ tích kí, 1 quyển, của ngài Đại hiền (người Nhật)... nhưng rất tiếc là đều đã thất lạc. [X. Tục cao tăng truyện Q.13; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
nhiếp đạo chân
(聶道真) Cư sĩ dịch kinh đời Tây Tấn, con của ông Nhiếp thừa viễn. Thủa nhỏ, ông theo học thân phụ, thông suốt nội ngoại điển và giỏi tiếng Phạm, viết vănrất hay. Lúc đầu, ông theo cha đến phụ giúp công việc ở dịch trường của ngài Trúc pháp hộ, ít lâu sau ông chính thức được tham dự công tác phiên dịch và giữ chức Bút thụ. Cuối năm Vĩnh gia, ngài Trúc pháp hộ về ẩn cư ở vùng biên thùy phía tây, ông cũng đi theo. Sau khi ngài Trúc pháp hộ thị tịch, ông tiếp nối công việc truyền dịch. Trong bộ Hoa nghiêm, ông dịch được 24 phẩm, 38 quyển. Ngoài ra, các bộ mục lục kinh như Lịch đại tam bảo kỉ... còn ghi số lượng kinh điển do ông dịch có tới mấy mươi bộ, rất nổi tiếng ở thời bấy giờ. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.2].
Nhiễm
染; C: răn; J: zen;|1. Nhuộm (áo quần, v.v…); bị nhuộm hay biến màu; 2. Thuốc nhuộm, mực, màu; 3. Bị ảnh hưởng tâm lí hoặc về thể chất bởi một việc gì đó; 4. Học tập, trở thành thói quen; [Phật học] 1. Bị phiền não, bị nhiễm ô, bị tiêm nhiễm (s: saṃkleśa); 2. Bất tịnh, không trong sạch, sự ô uế, vọng tâm; 3. Tham lam, ham muốn (s: rāga); mê mờ.
nhiễm
To dye, tinge, infect, contaminate, pollute; lust.
nhiễm duyên
Nidàna or link of pollution.
; (染緣) Duyên nhơ nhớp. Chỉ cho duyên dẫn đến quả khổ hoặc nghiệp sinh tử. Nước chân như nương theo sóng của nhiễm duyên này mà nổi lên những đợt sóng sinh tử.
nhiễm giới
The sphere of pollution.
; (染界) Chỉ cho thế giới Sa bà. Trong thế giới này đặc biệt có rất nhiều việc nhiễm ô, cho nên gọi là Nhiễm giới.
nhiễm hương nhân
(染香人) Người nhuốm mùi thơm. Chỉ cho người niệm Phật. Người niệm Phật được thấm nhuần công đức của Phật, công đức ấy tràn đầy thân tâm nên gọi là Nhiễm hương nhân. (xt. Hương Quang Trang Nghiêm).
Nhiễm não
染惱; C: rănnăo; J: nennō; |Làm ô nhiễm, làm vẩn đục, phiền não.
nhiễm pháp
Polluting things.
; (染法) Cũng gọi là Phiền não, Tùy phiền não. Gọi đủ: Nhiễm ô pháp. Hoặc dựa vào các pháp sở duyên mà gọi là Bất thiện, Hữu phú pháp. Chỉ cho các pháp tương ứng với vô minh hay làm nhơ bẩn thiện tâm, tịnh tâm. Các pháp nhiễm ô là pháp có tội, hay che lấp nên bị người có trí quở trách. Đại thừa nghĩa chương cho rằng Nhiễm pháp tụ là từ gọi chung các phiền não, ác nghiệp, nghiệp quả... đối lại với Tịnh pháp tụ.[X. luận Câu xá Q.18; luận Thuận chính lí Q.44]. (xt. Nhiễm Tịnh Nhị Pháp).
Nhiễm phẩm
染品; C: rănpǐn; J: zenbon; |Hạng bị ô nhiễm, ngược với hạng thanh tịnh (thanh tịnh phẩm 清淨品).
nhiễm sắc
(染色) Chỉ cho áo ca sa. Áo pháp của tỉ khưu có 3 loại, vì tránh dùng 5 màu chính(xanh, vàng, đỏ, trắng, đen)nên được nhuộm bằng những hoại sắc khác như màu mộc lan... gọi là Nhiễm sắc. Ngoài ra, áo được nhuộm thành nhiều màu cũng gọi là Nhiễm sắc.
Nhiễm số
染數; C: rănshŭ; J: zenshu; |Thói quen nhiễm ô. Tập khí ô nhiễm.
nhiễm trước
(染著) Các phiền não tham ái làm cho tâm nhơ bẩn và đắm trước. Kinh Đại bản trong Trường a hàm quyển 1 (Đại 1, 8 thượng) nói: Người thấy được nhân duyên sâu xa thì không cầu thầy bên ngoài, có thể ở ngay nơi ấm(5 ấm)giới(18 giới)nhập(12 nhập)mà lìa dục không nhiễm trước. Tâm kinh trong Trung a hàm quyển 45 (Đại 1, 709 thượng) nói: Bấy giờ có vị tỉ khưu, một mình ở nơi vắng vẻ, ngồi yên tư duy, tâm nghĩ như vầy: Ai bỏ thế gian? Ai bị nhiễm trước? Ai được tự tại?. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 78 (Đại 10, 433 hạ) nói: Đại bồ tát cũng lại như thế, uống thuốc tâm bồ đề kéo dài mệnh sống, trong vô số kiếp, tu các hạnh Bồ tát, không hề cảm thấy nhàm chán hay mệt mỏi, cũng không nhiễm trước. [X. kinh Thích đề hoàn nhân vấn trong Trường a hàm Q.10; phẩm Thanh văn Bích chi phật trong kinh Bất thoái chuyển pháp luân Q.2; luận Đại trí độ Q.12].
Nhiễm tâm
染心; C: rănxīn; J: zenshin; |1. Vọng tâm, tâm bị nhiễm ô (s: kliṣṭa-citta); 2. Tâm thế gian, tâm thế tục; 7. Thức thứ 7.
nhiễm tâm
A mind contaminated (with desire, or sexual passion)
; (染心) Cũng gọi Nhiễm ô tâm. Tâm nhơ nhớp, tức là tâm say đắm, tâm dâm dục. Cứ theo luận Đại thừa khởi tín thì thể tính của tâm vốn trong sạch, chỉ vì bất giác nổi lên vô minh mà bị phiền não làm cho nhơ bẩn, cho nên gọi là Nhiễm tâm. Gồm 6 loại:1. Chấp tương ứng nhiễm: Tức là ngã chấp. Nhị thừa và Bồ tát đến địa vị Tín tương ứng mới đoạn được tâm này. 2. Bất đoạn tương ứng nhiễm: Tức pháp chấp phân biệt khởi, đến địa vị Tịnh tâm địa(Sơ địa)thì dứt trừ tâm này. 3. Phân biệt trí tương ứng nhiễm: Tức pháp chấp câu sinh khởi, từ địa thứ 2(Cụ giới địa)trở lên mới đoạn dần, đến địa thứ 7 (Vô tướng phương tiện địa)thì dứt hẳn. 4. Hiện sắc bất tương ứng nhiễm: Tức vọng tâm hiện ra cảnh giới chấp thủ, đến địa vị thứ 8(Sắc tự tại địa)thì đoạn hết. 5. Năng kiến tâm bất tương ứng nhiễm: Tức vọng tâm năng thủ, ở địa vị thứ 9(Tâm tự tại địa)trừ diệt hết. 6. Căn bản nghiệp bất tương ứng nhiễm: Tức tự thể của tâm mê vọng ô nhiễm, ở địa vị thứ 10(Cứu cánh địa)dứt sạch. Trong 6 loại Nhiễm tâm trên đây, 3 loại trước là tâm Tương ứng nhiễm, tướng của chúng thô to, nương theo cảnh mà khởi, tương ứng với tâm nhơ bẩn. Còn 3 loại sau là tâm Bất tương ứng nhiễm, tướng của chúng nhỏ nhiệm, không nương theo cảnh mà khởi, vì do tự tính mà thành nên gọi là Bất tương ứng. [X. luận Đại tì bà sa Q.22, 28, 38; luận Câu xá Q.10].
Nhiễm tướng
染相; C: rănxiāng; J: zensō; |Tướng trạng ô nhiễm (s: saṃkleśa-lakṣaṇa).
Nhiễm tập
染習; C: rănxí; J: zenshū; |Tập khí nhiễm ô.
nhiễm tập
Contaminated by bad customs, or habits.
Nhiễm tịnh
染淨; C: rănjìng; J: zenjō;|Dơ bẩn (s: kleśa) và trong sạch (s: saṃkleśa-vyavadāna)
nhiễm tịnh
Impurity and purity.
nhiễm tịnh nhị pháp
(染淨二法) Cũng gọi Tịnh pháp bất tịnh pháp. Từ ngữ gọi chung cho Nhiễm pháp và Tịnh pháp. Nhiễm nghĩa là phiền não nhơ nhớp, là pháp của vô minh; Tịnh nghĩa là trong sạch, xa lìa phiền não, là pháp của pháp tính. Theo Nhiếp đại thừa luận thích quyển 13 thì sinh tử là Bất tịnh phẩm, Niết bàn là Tịnh phẩm. Luận Thành duy thức quyển 3 (Đại 31, 14 trung) nói: Các pháp tạp nhiễm là Khổ đế, Tập đế, tức là những pháp thường dẫn đến thụ sinh và hoặc nghiệp. Các pháp thanh tịnh là Diệt đế, Đạo đế, tức là các pháp hay chứng Niết bàn và đạo. Đoạn văn trên đây ý nói pháp sinh tử bất tịnh là Nhiễm pháp; trái lại, pháp Niết bàn hoặc Diệt đế, Đạo đế là Tịnh pháp. Còn luận Đại thừa khởi tín thì cho rằng cảnh giới do vô minh vọng hiện là Nhiễm pháp, tịnh tướng của chân như là Tịnh pháp. Nhiễm pháp từ vô thủy đến nay huân tập không dứt, cho đến sau khi thành Phật mới đoạn diệt hết. Tịnh pháp huân tập cũng không có gián đoạn, vì thế vô minh huân tập cũng gọi là nhiễm pháp huân tập hoặc Nhiễm huân; chân như huân tập cũng gọi là Tịnh pháp huân tập hay Tịnh huân. Pháp hoa kinh huyền nghĩa thích tiêm quyển 14 (Đại 33, 919 thượng) nói: Vô minh che pháp tính, tạo đủ các pháp, gọi là Nhiễm; pháp tính chiếu vô minh, ứng khắp mọi duyên, gọi là Tịnh. Nước đục, nước trong, sóng và tính ướt không khác. Trong đục tuy tương tức nhưng do duyên mà đục thành ra bản hữu(có sẵn), đục tuy bản hữu nhưng toàn thể là trong. Thập bất nhị môn chỉ yếu sao quyển hạ cũng nói: Do tâm còn bị phiền não trói buộc mà tạo ra các pháp, một và nhiều trở ngại lẫn nhau, niệm niệm tham đắm, gọi là Nhiễm. Khi tâm lìa chướng ứng phó các duyên, một và nhiều tự tại, niệm niệm xả li, gọi là Tịnh. [X. luận Thành duy thức Q.4; luận Biện trung biên Q.thượng; Đại thừa chỉ quán pháp môn Q.1].
nhiễm y
(染衣) Áo nhuộm. Áo của các vị tăng Phật giáo mặc.Sau khi xuất gia, cởi bỏ áo thế tục, mặc áo được nhuộm bằng hoại sắc như màu mộc lan... gọi là Nhiễm y. Vả lại, khi xuất gia phải cạo bỏ râu tóc và mặcáo nhuộm, mới là tăng, ni, vì vậy cũng gọi là Thế phát nhiễm y.
Nhiễm ái
染愛; C: rănài; J: zen'ai; |Ái dục nhiễm ô; chấp trước nhiễm ô.
nhiễm ái
Polluting desire.
Nhiễm ô
染汚; C: rănwū; J: zenma;|1. Dơ bẩn, hư hỏng. Làm dơ áo quần,v.v… Bẩn thỉu, thô bỉ, ô uế. Làm tâm thanh tịnh bị nhiễm ô bởi phiền não (s: saṃkleśa); 2. Giấu diếm, dối gạt, bao phủ bên ngoài bởi sự ô trọc.
nhiễm ô
Klista (S)Tạp nhiễm.
; Soiled, defiled, polluted.
; (染污) Phạm: Kliwỉa. Cũng gọi là Tạp nhiễm, Nhiễm. Tên khác của phiền não, chỉ cho những pháp hữu lậu làm trở ngại việc ngộ đạo, tức là các pháp bất thiện và hữu phú vô kí. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 2, phần cuối, Nhiễm ô không chỉ giới hạn ở nhiễm pháp(bất thiện và hữu phú vô kí)mà phàm là pháp hữu lậu thì đều thuộc về nhiễm ô. Còn theo Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 3 thì nhiễm ô có 3 thứ: 1. Phiền não nhiễm ô, cũng gọi Phiền não tạp nhiễm. Tức là các lậu hoặc. 2. Nghiệp nhiễm ô, cũng gọi Nghiệp tạp nhiễm. Tức là các hạnh ác. 3. Sinh nhiễm ô, cũng gọi Sinh tạp nhiễm. Tức là sinh lão tử. Luận Biện trung biên quyển hạ (Đại 31, 476 trang) nói: Phiền não tạp nhiễm lại có 3 thứ: Các kiến chấp, tham sân si và hậu hữu nguyện. Ba phiền não này được đối trị bằng: Không trí, Vô tướng trí và Vô nguyện trí. Nghiệp tạp nhiễm là những nghiệp thiện ác được tạo ác, có thể được đối trị bằng Bất tác trí. Sinh tạp nhiễm có 3 thứ: Hậu hữu sinh; Sinh dĩ tâm tâm sở niệm niệm hởi và Hậu hữu tương tục; có thể được đối trị bằng: Vô sinh trí, Vô khởi trí và Vô tự tính trí. [X. luận Câu xá Q.6, 7; Nhiếp đại thừa luận thích Q.3 (bản dịch đời Lương)].
nhiễm ô vô tri
(染污無知) Phạm: Kliwỉàjĩàna. Cũng gọi Nhiễm vô tri. Đối lại: Bất nhiễm ô vô tri. Nhiễm ô là tên khác của phiền não, nghĩa là bị lây dính sự nhơ nhớp; Vô tri là đối với cảnh không thể khai ngộ. Tóm lại, Nhiễm ô vô tri là chỉ cho tất cả phiền não thể, phiền não chướng, thường che lấp nghĩa chân thực, ngăn ngại cái thấy chân chính. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 1 thì Nhiễm ô vô tri lấy vô minh làm thể, vô minh tương ứng với các hoặc. Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ quyển hạ, phần đầu (Đại 44, 189 hạ) nói: Như lai đoạn trừ 2 thứ vô tri: Nhiễm ô và Bất nhiễm ô. Nhiễm ô vô tri tức là tính ngũ trụ kết phiền não, Bất nhiễm ô tức là tâm vô minh đối cảnh. Xét theo đây thì biết tính ngũ trụ kết phiền não là Phiền não chướng, tâm vô minh đối cảnh là Trí chướng. [X. luận Đại tì bà sa Q.99, 143; luận Thuận chính lí Q.28].
nhiễm ô ý
(染污意) Tên gọi khác của thức Mạt na thứ 7 do tông Duy thức lập ra. Thức này là gốc của mọi mê lầm, ô nhiễm, lấy thức A lại da thứ 8 làm chỗ nương, lấy Kiến phần của thức thứ 8 làm đối tượng duyên theo mà sinh ngã chấp thường tương ứng với 4 phiền não: Ngã si, ngã kiến, ngã mạn và ngã ái. (xt. Mạt Na Thức).
nhiễu
xem hữu nhiễu.
nhiễu phật
(繞佛) Cũng gọi Toàn nhiễu, Hành đạo. Một trong những nghi lễ của Phật giáo, tức là đi vòng quanh đức Phật, tùy ý, theo chiều bên phải(theo chiều kim đồng hồ)1 vòng, 3 vòng, hoặc trăm vòng để biểu lộ lòng cung kính, khát ngưỡng. Đây vốn là 1 trong những lễ tiết của Ấn độ đời xưa, lúc đức Phật tại thế Ngài vẫn duy trì nghi thức này. Về sau lại được ứng dụng trong việc tu niệm hoặc trong pháp hội hành đạo. [X. phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa; Thích thị yếu lãm Q.trung]. (xt. Hành Đạo).
nhiễu tháp
(繞塔) Đồng nghĩa: Nhiễu Phật. Chỉ cho việc đi vòng quanh tháp Phật theo phía bên phải để tỏ lòng cung kính ngưỡng mộ. Kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp (Đại 9, 391 hạ) nói: Tháp Phật Đa bảo từ dưới đất nhô lên, Phật Thích ca mâu ni liền đưa tay phải mở cửa tháp, (...) hành giả vui mừng đọc kệ khen ngợi, đi quanh tháp 7 vòng xong, đức Đa bảo Như lai nói ra tiếng lớn.
nhiệm vụ
Kicca (P), Duty.
nhiệt hải
(熱海) Cũng gọi Đại thanh trì, Điền trì, Hàm hải. Hồ nước lớn, nằm về phía tây Thiên sơn, phía bắc núi Thông lãnh, tức là hồ Issykkul ở Turkistan thuộc Nga. Hồ này chiều đông tây dài 182km, chiều nam bắc chỗ rộng nhất là 60km, diện tích 6332km vuông. Nước trong hồ có vị mặn, nhờ thế nên mùa đông nước không đóng băng. Đại đường tây vực kí quyển 1 (Đại 51, 871 thượng) nói: Hồ này chu vi hơn 1000 dặm, chiều đông tây dài, chiều nam bắc hẹp, 4 bên giáp núi, các dòng nước giao nhau, mang màu xanh đen, vị mặn pha đắng, sóng lớn cuồn cuộn mênh mông, rồng cá ở lẫn lộn, linh quái thỉnh thoảng nổi lên, cho nên khách qua đường thường cúng tế để cầu phúc; các loài thủy tộc tuy nhiều, nhưng không ai dám bắt.
nhiệt não
(熱惱) Chỉ cho nỗi khổ não ngặt nghèo, làm cho thân tâm nóng bức như đốt cháy. Phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm quyển 78 (Đại 10, 432 thượng) nói: Cũng như chiên đàn trắng, nếu dùng để bôi vào mình, thì nó có khả năng trừ diệt tất cả nhiệt não, làm cho thân tâm đều được mát mẻ.
nhiệt tế
Griṣma-ṛtu (S)Mùa nóng.
Nho
儒; C: rú; J: ju;|Có các nghĩa sau: 1. Học giả, giới trí thức (Nho sĩ); 2. Yếu, mềm; 3. Người theo đạo Khổng, Nho giáo.
nho gia
Rujia (C).
nho giáo
(儒教) Chỉ cho sự giáo hóa của nhà Nho, tức là tư tưởng truyền thống của đức Khổng tử (552-479 trước Tây lịch). Nho giáo có những sinh hoạt mang tính tông giáo như: Tế trời, sùng bái Tổ tiên, thờ cúng Khổng tử... gây ảnh hưởng rất lớn trong xã hội truyền thống. Các nhà đại Nho từ xưa như Đổng trọng thư, Hàn dũ, Khang hữu vi... đã tận lực biến Nho gia thành Nho giáo. Thuyết luân lí tu kỉ trị nhân (sửa mình trị người)của Nho gia mang đậm màu sắc của tư tưởng chính trị. Trung tâm của tư tưởng này là Nhân..... Nói theo nghĩa rộng, Nhân là từ gọi chung tất cả đức mục; còn nói theo nghĩa hẹp, thì Nhân tức là yêu người. Nhân kết hợp với Nghĩa, Lễ, Trí và Tín thành là Ngũ thường, cũng gọi là ngũ đức. Vào cuối thời kì Xuân thu, xã hội Trung hoa phân hóa, sa đọa, chính trị bại hoại, đạo đức suy đồi, văn hóa luân lí trụy lạc, đức Khổng tử ra sức cổ động các nước chư hầu thi hành nhân chính, bắt chước Nghêu, Thuấn, Văn, Vũ để khôi phục trật tự xã hội thời Tây Chu. Sang thời Chiến quốc, ngài Mạnh tử nối theo học thuyết của đức Khổng tử, tận lực đề xướng nhân nghĩa, xét đến bản tính nội tại của con người mà chủ trương thuyết Tính thiện và đề cao Vương đạo luận để xiển dương bản tính thiện ấy. Trái lại, Tuân tử thì chủ trương thuyết Tính ác, cho rằng bản tính là ác nên phải dùng lễ nghĩa và sự giáo hóa của Thánh nhân để ước thúc những hành vi của con người, khiến họ hướng thiện. Về sau, Tần thủy hoàng phá bỏ hết, đốt sách, chôn học trò, cực lực chống đối Nho gia và các học phái khác. Đến đời Hán, Vũ đế áp dụng chính sách của Đổng trọng thư, độc tôn Nho giáo. Năm Kiến nguyên thứ 5 (136 tr. TL), đặt chức Bác sĩ trông coi về Ngũ kinh(Thi, Thư, Dịch, Xuân thu và Lễ), Ngũ kinh bèn trở thành học trình của giai cấp chính trị. Bởi vậy, suốt từ đời Hán đến đời Thanh truyền thống tư tưởng Nho gia là cột trụ của các thể chế vương triều, cũng là khuôn phép sinh hoạt của quốc dân nói chung. Qua các thời đại Nam Bắc triều đến Tùy, Đường, Phật giáo và Đạo giáo hưng thịnh, thế lực của Nho gia suy yếu dần. Hàn dũ soạn sách Nguyên đạo , ra sức cổ vũ việc khôi phục đạo của tiên vương, muốn xây dựng Đạo thống quan Nho giáo để chống lại Phật giáo và Đạo giáo. Tư tưởng của họ Hàn đã mở đường cho Nho học đời Tống. Nho học đời Tống được gọi là Tống học, Đạo học, Lí học, Lí khí học, Tính lí học, Chu tử học, Trình chu học, Tân nho học... nêu lên những vấn đề như bản thể vũ trụ, tâm tính con người, lí và khí, thảo luận về đạo tu thân, kì vọng xác lập 1 nền luân lí đạo đức chung cho loài người. Đứng về phương diện Nho giáo truyền thống mà nói, thì Tống học đã thêm vào cho Nho giáo cái tính tông giáo và triết học, chẳng hạn những vấn đề lí, tâm tính và triết học là những cái mà bậc tiên Nho ít bàn đến. Tóm lại, Tống học muốn trung hưng Nho học để chặn đà phát triển của Phật giáo và Đạo giáo, nhưng vô hình trung Tống học đã sử dụng lí luận và phương pháp của Phật giáo và Đạo giáo, đặc biệt là chịu ảnh hưởng tư tưởng Hoa nghiêm, Thiền của Phật giáo và Thiên đạo quan của Đạo giáo; vì thế, 1 mặt mạnh mẽ phê phán học thuyết của Phật và Đạo, mặt khác lại điều hòa với 2 học thuyết ấy. Chu đôn di mở đầu phong trào Lí học, soạn Thái cực đồ thuyết, chủ trương vũ trụ vạn vật phát sinh từ bản thể Thái cực, người đứng đầu muôn vật, có đầy đủ thiện tính ngũ hành, được phát huy 1 cách thích đáng tức là nhân nghĩa. Kế tiếp, Trình hạo, Trình di và Trương tái xiển dương cái học Lí, Khí, trở thành 3 phái Lí học đời Bắc Tống. Chu hi đời Nam Tống tập đại thành Lí học, chủ trưởng Đạo thuộc hình nhi thượng, vô hình vô ảnh, là nguyên lí hoặc khái niệm trừu tượng. Còn Khí thì thuộc hình nhi hạ, hữu hình hữu tướng, là sự vật cụ thể. Lại nữa, Lí là đạo của hình nhi thượng, là gốc của muôn vật; Khí là khí của hình nhi hạ, là cụ thể của muôn vật, cho nên chủ trương Lí, Khí nhị nguyên luận. Nhưng Lục cửu uyên phản đối học thuyết này của Chu hi và đề xướng Nhất nguyên luận Tâm tức lí. Các Nho gia Kim lí tường, Hứa hành... đời Nguyên tôn sùng học thuyết Trình, Chu. Vương thủ nhân đời Minh thì kế thừa học thuyết Tâm tức lí, sáng lập học phái Dương minh đối kháng lại với học thuyết của Chu tử. Đến đời Thanh, các Nho gia muốn tìm lại cái chân tướng của Khổng học, bèn trút bỏ cái vỏ Tống học để theo đuổi công tác khảo chứng, chú giải các sách xưa, Cố viêm vũ mở đầu phong trào này. Nhiều học giả khảo chứng nối tiếp xuất hiện, phê phán 1 cách nghiêm túc Chu tử học, xiển minh nghĩa lí Ngũ kinh, lấy khảo chứng làm trọng tâm học thuật của thời đại. Nhưng cái học khảo chứng dần dần đi đến chỗ chi li, suy cứu, chú giải từng câu, từng chữ, thiếu tinh thần hoạt bát, không thể tạo nên được một hệ thống tư tưởng sinh động độc lập nên bị chê là xơ cứng. Đến thời cận đại, trong tư tưởng giới đã xảy ra các cuộc tranh luận bài Khổng, tôn Khổng. Đầu năm Dân quốc (1912), Khang hữu vi tổ chức Hội Khổng giáo ở Thượng hải, chủ trương lập Khổng giáo làm quốc giáo. Mặt khác, phong trào Ngũ tứ vận động nêu ra khẩu hiệu Âu hóa toàn diện, tư tưởng Nho gia bị phê phán rất khắt khe. Trước tình hình ấy, 1 số nhà Nho cố gắng giải thích Nho học như 1 thứ tông giáo nhân văn để mong vãn cứu phần nào giá trị đạo thống Nho gia đang hồi tuột dốc. Nhưng điều kiện cũng như cấu trúc xã hội ngày nay đã thay đổi, Nho giáo khó có thể khôi phục được vai trò lãnh đạo xã hội như xưa và có lẽ cũng chỉ còn là vang bóng của 1 thời đã qua! [X. Nhân văn chủ nghĩa dữ tông giáo (Mâu tông tam); Tân nguyên đạo (Phùng hữu lan)].
nho phật vấn đáp
(儒佛問答) Tác phẩm, 1 quyển, do Lâm đạo xuân – người Nhật– soạn. Nội dung sách này giải đáp các nạn vấn đặt ra cho Phật giáo theo quan điểm của Nho học. Những tác phẩm cùng tính chất còn có: Nho Thích bút trận, 1 quyển do ngài Huyền quang soạn, Nho Phật hợp luận, 10 quyển, do ngài Trí thoát soạn, Nho Thích vấn đáp, 5 quyển, Nho Phật hoặc vấn, 3 quyển, không rõ tác giả.
Nho quả
儒果; C: rúguǒ; J: juka;|Cao tăng thời Bắc Nguỵ, thành viên của Địa luận tông (地論宗) phái Bắc. Sư là đệ tử của Đạo Sủng (道寵).
Nho Thích chất nghi luận
儒釋質疑論; C: rúshì zhíyí lùn; J: jushaku shitsugi ron; K: yusǒk chirǔi ron.|Tác phẩm biện giải được viết vào trước thời kì Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn), trong đó tác giả vô danh đã công kích Phật giáo từ quan điểm của Tân Nho giáo dựa trên quan điểm bất đồng về triết học của Tam giáo (三教). Một số sử gia gán tác phẩm nầy cho Kỉ Hoà (己和), vì ông ta được biết dã soạn một vài tác phẩm tương tự rất gần với thời gian tác phẩm nầy xuầt hiện, nhưng do vì văn phong có nhiều điểm khác nhau giữa tác phẩm của Kỉ Hoà và tác phẩm nầy nên giả thuyết kia vẫn còn mong manh.
nho đồng
(儒童) Phạm, Pàli: Màịava, Màịavaka. Hán âm: Ma nạp bà, Ma nạp phạ ca. Cũng gọi Thiếu niên, Nhân đồng tử, Tịnh trì. Từ gọi chung các đồng tử hoặc đặc biệt chỉ cho những thiếu niên Bà la môn. Cứ theo Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu quyển thượng, phần đầu, thì Nho nghĩa là tốt đẹp, Đồng nghĩa là tuổi trẻ, tức chỉ cho thiếu niên tốt đẹp. Ngoài ra, bồ tát Văn thù sư lợi cũng được gọi là Nho đồng Văn thù bồ tát. Nhưng Nho đồng được dùng ở đây là để khen ngợi cái đức lớn của Ngài, chứ không phải với nghĩa nhỏ tuổi. [X. luận Tập dị môn Q.5; luận Câu xá Q.29; Vãng sinh yếu tập Q.thượng].
nho đồng bồ tát
(儒童菩薩) I. Nho Đồng Bồ Tát. Tên của Phật Thích ca khi còn là 1 vị Bồ tát ở đời quá khứ. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng (Đại 3, 472 hạ) nói: Thời đức Phật Định quang ra đời, ở nước Đại bát ma có vị Thánh vương tên là Chế thắng trị, thiên hạ thái bình, nhân dân yên vui và sống lâu. Khi ấy ta là Bồ tát, hiệu Nho đồng. Lúc bấy giờ bồ tát Nho đồng từng mua 5 cọng hoa sen cúng dường đức Phật Định quang, lại trải tóc lót đường để Phật đi qua, được Ngài thụ kí thành Phật trong vị lai. [X. kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; luận Du già sư địa Q.3]. II. Nho Đồng Bồ Tát. Từ gọi đức Khổng tử. Cứ theo luận Phá tà dẫn kinh Thanh tịnh pháp hành (Đại 52, 478 hạ) chép: Đức Phật sai 3 vị đệ tử đến nước Trung quốc giáo hóa. Tại đây, bồ tát Nho đồng được gọi là Khổng khâu, bồ tát Quang tịnh được gọi là Nhan hồi và ngài Ca diếp thì được gọi là Lão tử. Nhưng kinh Thanh tịnh pháp hành nói trên bị xem là kinh giả, nên không được đưa vào trong Đại tạng. Lại ở tỉnh Giang tô có chùa Nho đồng, tương truyền được xây dựng vào năm Cảnh phúc thứ 2 (893) đời Đường, vốn là đền thờ ngài Khổng tử, đến thời Nam Đường được đổi làm chùa Nho đồng.
nhu hoà nhẫn nhục y
(柔和忍辱衣) Áo nhu hòa nhẫn nhục. Tức dùng áo của Như lai ví dụ tâm nhu hòa nhẫn nhục, 1 trong Hoằng kinh tam quĩ. Phẩm Pháp sư trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 31 hạ) nói: Áo Như lai là tâm nhu hòa nhẫn nhục. (xt. Y Tọa Thất Tam Quĩ).
Nhu nhuyến
柔軟; C: róuruăn; J: nyūnan; |Linh động, mềm dẻo, hoà nhã, dịu dàng, ôn hoà (s: mṛdu).
Nhu nhuyến âm
柔軟音; C: róuruănyīn; J: nyūnan'on; |Âm thanh lời nói dịu dàng, hoà ái của Đức Phật, là một trong tám loại âm thanh lời nói của ngài.
nhu nhuyến địa
Xem Bạc Địa.
nhu nhuyễn ngữ
(柔軟語) Lời nói nhu hòa làm đẹp lòng người. Kinh Đại tập quyển 6 (Đại 13, 37 hạ) nói: Đối với chúng sinh thường dùng lời nói nhu hòa, dịu dàng, sẽ được tướng Phạm âm.
nhu nhuyễn tâm
(柔軟心) Tâm nhu nhuyến, chỉ cho 2 pháp Chỉ và Quán thăng bằng, không thô động, hôn trầm, cho nên biết rõ thực tướng các pháp. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 842 thượng) nói: Nhu nhuyến tâm nghĩa là Chỉ và Quán rộng hay lược đều thuận tu hành để trở thành tâm bất nhị. Ví như nhìn bóng trong nước, nhờ mặt nước trong (Chỉ)và yên lặng(Quán)mà thấy được bóng. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.13].
nhu phật
(濡佛) Phật đằm đìa, thấm ướt. Chỉ cho tượng Phật, tượng Bồ tát không thờ rong Phật khám hoặc nhà điện, mà an trí trên đất lộ thiên, hay được khắc trên các vách đá, sườn núi, quanh năm dãi dầu gió mưa, nên gọi là Nhu Phật, Lộ Phật.
nhu thuận nhẫn
Anulomiki-dharma-kṣānti (S)Tâm nhu nhuyễn tuỳ thuận dược chân lý.
; (柔順忍) Phạm: Anulomikè-dharma-kwànti. Cũng gọi Tư duy nhu thuận nhẫn. Chỉ cho tâm tuệ nhu nhuyến, có thể tùy thuận chân lí, 1 trong 3 nhẫn. Nhu thuận nghĩa là tâm nhu nhuyến, trí tùy thuận, đối với lí thực tướng không trái; Nhẫn nghĩa là tâm tuệ an trụ nơi pháp. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Đại 37, 106 thượng) nói: Tam địa trở về trước, bỏ lời nói trở về chân thực, gọi là Nhu thuận nhẫn. Nhu thuận nhẫn đồng nghĩa với Thuận nhẫn(vị thứ 2 trong 10 nhẫn)được nói trong phẩm Thập nhẫn kinh Hoa nghiêm quyển 29 (bản 60 quyển) và trong Vô lượng thọ kinh sớ của ngài Nghĩa tịch. (xt. Tam Pháp Nhẫn).
Nhuy Tân
(蕤賓): có ba nghĩa chính:(1) Tên gọi âm thứ 4 trong 6 âm thanh thuộc về Dương của 12 luật âm, tương đương với âm Phù Chung (鳧鐘, fushō) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Chu Lễ (周禮), chương Xuân Quan (春官), Đại Ty Nhạc (大司樂) có ghi rằng: “Nãi tấu Nhuy Tân, ca Hàm Chung, vũ Đại Hạ, dĩ tế sơn xuyên (乃奏蕤賓、歌函鐘、舞大夏、以祭山川, bèn tấu điệu Nhuy Tân, ca khúc Hàm Chung, múa điệu Đại Hạ, để tế núi sông).” (2) Tên gọi khác của tháng 5 Âm Lịch. Như trong bài Hòa Hồ Tây Tào Thị Cố Phú Tào (和胡西曹示顧賊曹) của Đào Tiềm (陶潛, tức Đào Uyên Minh [陶淵明], khoảng 365-427) nhà Tấn có câu: “Nhuy Tân ngũ nguyệt trung, thanh triêu khởi Nam ti, bất sử diệc bất trì, phiêu phiêu xuy ngã y (蕤賓五月中、清朝起南颸、不駛亦不遲、飄飄吹我衣, Nhuy Tân giữa tháng Năm, sáng trong dậy gió Nam, chẳng nhanh cũng chẳng chậm, thổi áo ta bềnh bồng).” Trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Ngũ nguyệt kiến Ngọ viết Đôn Tang, hựu viết Nhuy Tân, hoặc danh Thiên Trung Tiết, hoặc Tu Nguyệt, hựu xưng Cao Nguyệt, Bồ Nguyệt, Ngải Nguyệt, Lựu Nguyệt đẳng (五月建午曰敦牂、又曰蕤賓、或名天中節、或脩月、又稱皋月、蒲月、艾月、榴月等, tháng Năm kiến Ngọ gọi là Đôn Tang, hay gọi là Nhuy Tân, hoặc có tên Thiên Trung Tiết, hoặc Tu Nguyệt, còn gọi là Cao Nguyệt, Bồ Nguyệt, Ngải Nguyệt, Lựu Nguyệt, v.v.).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 còn cho biết thêm về Nhuy Tân rằng: “Ngọ vi Nhuy Tân, ngũ nguyệt chi thần danh Ngọ; Ngọ giả, trưởng dã; minh vật giai trưởng đại, cố vị chi Ngọ (午爲蕤賓、五月之辰名午、午者、長也、明物皆長大、故謂之午, Ngọ là Nhuy Tân, chi của tháng Năm là Ngọ; Ngọ là trưởng [phát triển], nghĩa là muôn vật đều phát triển to lớn, nên gọi nó là Ngọ).” (3) Chỉ tiết Đoan Ngọ vào tháng 5 Âm Lịch. Như trong tác phẩm Toàn Nguyên Tán Khúc (全元散曲), chương Nghênh Tiên Khách (迎仙客), Ngũ Nguyệt (五月) của Tùy Thọ Sum (隋樹森, 1906-1989) có câu: “Kết ngải nhân, khánh Nhuy Tân, Xương Bồ tửu hương khai ngọc tôn (結艾人、慶蕤賓、菖蒲酒香開玉樽, bện người ngải [trừ tà], vui khúc Nhuy Tân, hương rượu Xương Bồ thơm phức chén ngọc).” Hay trong Thủy Hử Truyện (水滸傳) hồi thứ 13 của có đoạn: “Thời phùng Đoan Ngọ, Nhuy Tân tiết chí, Lương Trung Thư dữ Thái Phu Nhân tại hậu đường gia yến, khánh hạ Đoan Dương (時逢端午、蕤賓節至、梁中書與蔡夫人在後堂家宴、慶賀端陽, gặp dịp Đoan Ngọ, tiết tháng 5 đến, Lương Trung Thư cùng Thái Phu Nhân ở nhà sau vui yến tiệc gia đình, để chúc mừng tiết Đoan Dương).” Trong Chuẩn Đề Tịnh Nghiệp (準提淨業, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1077) quyển 3 có câu: “Nhuy Tân ngũ nguyệt luật, đắc Hạ khí cố, kiên băng tiêu tán (蕤賓五月律、得夏氣故、堅冰消散, Nhuy Tân luật tháng Năm, vì có khí Hè, băng cứng tiêu tan).” Hay trong bài Trí Môn Tộ Thiền Sư Ngữ Lục Tự (智門祚禪師語錄序) của Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1315) quyển 39 có đoạn: “Thời Tân Mùi tuế Nhuy Tân nguyệt chi ngũ nhật, môn nhân trú Minh Châu Tuyết Đậu Sơn Tư Thánh Tự Minh Giác Đại Sư Tứ Tử Trùng Hiển tự (時辛未歲蕤賓月之五日、門人住明州雪竇山資聖寺明覺大師賜紫重顯序, lúc bấy giờ vào ngày mồng 5 tháng 5 năm Tân Mùi [1031], môn nhân Minh Giác Đại Sư hiệu Tứ Tử Trùng Hiển [tức Tuyết Đậu Trùng Hiển] ở Tuyết Đậu Sơn Tư Thánh Tự vùng Minh Châu, ghi lời tựa).”
nhuyễn
soft Êm dịu, nhẹ nhàng.
; Soft, yielding.
nhuyễn ngữ
Soft or gentle words adapted to the feelings of men.
; (輭語) Đối lại: Thô ngữ. Lời nói êm ái, dịu dàng thích hợp lòng người. Điều Thủ tọa trong Thiền uyển thanh qui quyển 3 (Vạn tục 111, 447 thượng) nói: Tất cả những việc không đúng qui củ trong Tăng đường, trước khi dùng cháo, phải thông báo cho đại chúng biết; lời nói phải êm ái, dịu dàng(nhuyến ngữ), ngắn gọn và chính xác.
nhuyễn tặc
(輭賊) Loại giặc âm thầm, êm dịu. Chỉ cho danh vọng, lợi dưỡng. Vì danh tiếng và lợi lộc ngấm ngầm ăn mòn công đức, phá hoại đạo tâm của người tu hành nên được ví như giặc. Thiên thai trí giả đại sư biệt truyện (Đại 50, 192 hạ) nói: Đêm qua, ta nằm mơ gặp bọn cướp, đó chính là các nhuyến tặc hôm nay.
Nhuận
潤; C: rùn; J: jun, nyun;|1. Thấm nước, làm cho đất màu mỡ, làm phong phú, làm ích lợi, trang nghiêm; 2. Sáng ngời, xuất sắc; 3. [Phật học] Tính chất kết dính, sự kết dính (s: sneha). Ứơt, thấm nước; 3. Trạng thái lỏng, dễ biến đổi (s: seka); 4. Đem sự an lạc đến cho chúng sinh.
Nhuận sinh
潤生; C: rùnshēng; J: nyunjō;|Sự nuôi dưỡng hay »tưới tẩm« các nhiễm ô. Nuôi dưỡng các phiền não.
nhuận sinh hoặc
(潤生惑) Đối lại: Phát nghiệp hoặc. Chỉ cho hoặc nghiệp dẫn đến quả báo đời sống kế tiếp, lúc chúng sinh hấp hối, khởi lên ý niệm tham đắm câu sinh khởi đối với tự thể, hoàn cảnh và nơi mình sắp sinh đến. Loại hoặc nghiệp này có năng lực giúp cho hoặc phát nghiệp thêm mạnh, đồng thời, tẩm tưới, nuôi lớn mầm sống ở tương lai. Hoặc này chính là phiền não Câu sinh khởi(cùng khởi lên 1 lượt với lúc con người sinh ra), tương đương với Ái(thương yêu), Thủ(giữ chặt lấy)trong 12 chi nhân duyên. Hai chi này tham cầu Hữu(sự sống) ở tương lai, thường phát nghiệp tẩm tưới, nuôi dưỡng mầm sống, vì thế nên gọi là Năng nhuận chi. Ngoài ra, nếu Nhuận sinh hoặc lấy phiền não câu sinh khởi để tẩm tưới, nuôi lớn nghiệp đã tạo tác, làm cho sinh ra quả khổ, thì gọi là Nhuận nghiệp. [X. luận Thành duy thức Q.8; Câu xá luận quang kí Q.10]. (xt. Phát Nghiệp Nhuận Sinh).
nhuế
Xem Sân.
; Anger.
nhà dòng
Monastery.
nhà giáo
Teacher.
nhà hạ
Xem Hạ triều.
nhà khách
Guest (reception)-room.
nhà làm luật
Law-maker.
nhà lửa tam giới
Theo kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì Phật ví Tam giới như nhà lửa, không yên, đầy dẫy sự khổ, rất đáng sợ hãi—According to the Wonder Lotus Sutra, the Buddha compared the three realms as a burning house; sentient beings in these realms are not stable, indeed, they are continuously suffering and frightening.
nhà mô phạm
See Nhà giáo.
nhà sinh lý học
Physiologist.
nhà sư
Buddhist monk.
nhà sư khổ hạnh lang thang không một xu dính túi
A penniless wandering asectic.
nhà tai mắt
A very important person.
nhà truyền giáo phật giáo
Buddhist missionaries.
nhà trí thức
Intellectual—Scholar.
nhà tu
Convent (Catholic).
nhà tu hành
Religious monk/priest.
nhà tu khổ hạnh
Recluse—Asectic.
nhà tâm lý học
Psychologist.
nhà tôn giáo
Religionist.
nhà viết sử
Historian.
nhà xã hội học
Sociologist.
nhà ân
Xem Ân triều.
nhà đạo đức
Moralist.
nhàm chán
To detest.
nhàn
Leisure; idleness; unoccupied, easy, quiet, vacant.
; Idle.
nhàn bất nhàn
(閑不閑) Chỉ cho 2 cảnh giới nhàn và bất nhàn. Nhàn cũng gọi là Hữu hạ......, tức là nơi an ổn để tu hành đạo Phật, như trongcõi người. Còn Bất nhàn cũng gọi là Vô nhàn, Vô hạ, tức là nơi bất an, khó có thể tu hành đạo Phật, tức chỉ cho 8 chỗ khổ nạn là: Địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, Trường thọ thiên, Bắc câu lư châu, mù điếc câm ngọng, mưu trí thế gian, sinh ra trước Phật và sau Phật. Tám nơi này do nghiệp lực chiêu cảm, hoặc khổ quá, hoặc sướng quá, nên không dễ tu hành. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Thuyết vô cấu xưng Q.2; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn); Tuệ lâm âm nghĩa Q.18]. (xt. Bát Nạn).
nhàn bộ
To go for a walk.
nhàn cung dưỡng
(閑供養) Chỉ cho sự cúng dường với tâm ích kỉ, tức là chỉ mong cầu phúc báo cho riêng mình.
nhàn cư
Aranyaka (S). To lead a life of idleness. Also nhàn tịch, ẩn cư, a lan nhã.
; To be idle.
nhàn cư thập thiện
Mười lợi ích thiện lành của cuộc sống ẩn dật, trong đó thiếu vắng những hành động sau đây—Ten wholesome advantages of a hermitage which are absent of the following actions: 1) Không ham bóng sắc dục vọng: Không có cảnh nam nữ, tức không có lòng ham muốn—Absence of sex and passion. 2) Không nói điều tà vạy: Không có nhơn duyên gây ra lời ăn tiếng nói lộn xộn, tức không có việc bày điều đặt chuyện láo xược—Absence of temptation to say wrong things. 3) Không có kẻ thù: Không có kẻ đối địch—Absence of enemies, and so of strife. 4) Không xung đột với ai: Không sợ việc tranh giành—Absence of conflicts. 5) Không có bằng hữu khen chê: Không có bạn nói chuyện thị phi, tức không có việc khen chê—Absence of friends to praise or blame. 6) Không có ai để cho mình bươi móc lỗi lầm của họ: Không thấy kẻ lỗi lầm—Absence of other people for us to pick their faults. 7) Không có ai để chúng ta nói chuyện về họ: Không có việc đàm luận việc quấy của người khác—Absence of people for us to talk about them. 8) Không bạn bè, không đệ tử, không kẻ hầu người hạ cho chúng ta vui chơi, dạy dỗ hay sai bảo (không gây tội tạo nghiệp): Absence of friends for us to play with; absence of disciples for us to teach, absence of servants for to us ask for running errands (no further creating of karma). 9) Không ao ước có bạn đồng hành: No longing for companions. 10) Không có những phiền phức gây nên bởi xã hội như khách khứa, lịch sự, quần áo chỉnh tề, cũng như giao tế xã hội: Absence of troubles caused by society such as guests, politeness, neat clothes, as well as social relations.
nhàn cư thập đức
See Nhàn Cư Thập Thiện.
nhàn cư vi bất thiện
Idleness is the root of all evils (Satan finds some mischief for idle hands to do).
nhàn cư xứ
Xem A luyện nhã.
nhàn hạ
Unoccupied—Free—Idle.
nhàn lãm
To see at leisure.
nhàn rỗi
Leisure life—Leisure time.
nhàn sướng
Easy and happy.
nhàn trần cảnh
Lời nói không còn cần thiết—Words, or expressions to be shut off; unnecessary words.
; (閑塵境) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho những điều kiện ngoại tại vô nghĩa, vô giá trị, đặc biệt chỉ cho văn tự, ngôn ngữ bông lông, không chuyên chở 1 nội dung nào. Chữ cảnh trong Trần cảnh là chỉ cho 6 cảnh (sắc thanh hương vị xúc pháp), đối tượng của 6 căn (mắt tai mũi lưỡi thân ý), vì chúng có tính chất làm cho tâm con người ô nhiễm nên gọi là Trần cảnh (cảnh bụi bặm). Văn tự nói trên được phối hợp với Sắc trần cảnh, ngôn ngữ phối với Thanh trần cảnh. Phần dạy chúng trong Lâm tế lục (Đại 47, 499 thượng) nói: Như người học đạo ngày nay cần phải tự tin, chớ tìm cầu bên ngoài, tất cả các nhàn trần cảnh đều không thể phân biệt được tà chính, nếu như có Phật có Tổ đều là công việc trong giáo môn.
nhàn tọa
To sit idly.
nhàn xứ
Xem A luyện nhã.
; Place of leisure.
; 1) Chốn A Luyện Nhã: A hermitage. 2) Nơi nhàn tĩnh: A shut-in place, a place of peace. 3) Tự viện: A Buddhist monastery.
nhàn đàm hí luận
Prapanca (skt)—Idle talk/chat—Vain talk or diffusive trivial reasoning.
nhàn đạo nhân
Hành giả hay người đã thuần thục về tôn giáo—A practitioner, one well-trained in the religion.
nhào
To dive—To rush.
nhàu
Creasy—Tumbled.
nhá nhem
At dusk—At nightfall.
nhám
Rough—Uneven—Harsh.
nhánh
Branch—Bough.
nháo nhác
Frightened.
nhát
To frighten.
nháy
To blink (eyes)—To wink.
nhâm
Dệt—To weave.
nhâm bà
Nimba (skt)—Cây nhâm bà, có trái nhỏ và đắng như trái khổ qua; người Ấn nhai lá cây nầy trong tang lễ—The neemb tree, which has a small bitter fruit; its leaves in India are chewed at funeral ceremonies.
nhâm sinh cuồng ngôn
(壬生狂言) Cũng gọi: Nhâm sinh đại niệm Phật. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Nhâm sinh nói khùng. Một loại kịch không lời được biểu diễn ở chùa Nhâm sinh tại Kinh đô (Kyoto) Nhật bản. Nhâm sinh cuồng ngôn vốn là pháp niệm Phật chính hạnh (Dung thông niệm Phật); đến đời sau, ngoài pháp niệm Phật chính hạnh còn sang lập niệm Phật loạn hạnh, tức cuồng ngôn. Niệm Phật loạn hạnh hàng năm được cử hành ở chùa Nhâm sinh, vì nổi tiếng về loạn hạnh cuồng ngôn, nên người đời gọi là Nhâm sinh uồng ngôn. Trên sân khấu của Đại niệm Phật đường, các hương sĩ chùa Nhâm sinh đeo mặt nạ, tùy theo nhịp điệu diễn tấu của các nhạc cụ như: Kèn, sáo, trống... mà nhảy múa. Đây là loại kịch đồng thoại chịu ảnh hưởng của nhạc Năng gồm 30 nhạc khúc: Dũng thủ, Hồng diệp thú, Thang lập, Viên tọa đầu, Hoa chiết, Ngã quỉ giác lực, Sơn đoan, Đại nguyên nữ, Pháo lạc cát, Đạo thành tự v.v...
nhâm-bà
phiên âm từ Phạn ngữ là nimba, cũng đọc là nhậm-bà, nhẫm-bà, là tên một loài cây hình dáng tương tự như cây xoan, có tên khoa học là azadirachtaindica.
Nhân
仁; C: rén; J: jin;|Có các nghĩa sau: 1. Lòng tốt, lòng từ, nhân đức, nhân đạo, lòng tốt bẩm sinh của con người; 2. Đạo lí cơ bản để làm người; 3. Đức tính mà mọi người tốt đều nhắm đến; 4. Người có đức hạnh tốt; 5. Tâm thể của con người; [Thuật ngữ Phật học] 6. »Ngài«, tiếng xưng hô kính trọng với những người có địa vị cỡ ngang mình, hoặc cao hơn một chút.
; 人; C: rén; J: nin, jin;|Người, loài người. Tha nhân. Theo thuật ngữ Phật học, có hai nghĩa: 1. Loài người, chúng sinh, loài hữu tình trong Dục giới, do gieo nhân trong quá khứ mà được thân người hiện tại. Là một trong sáu nơi (Lục đạo 六道) mà chúng sinh sẽ sinh về sau khi chết; 2. Ngã, bản ngã. Cá nhân như một hữu thể; linh hồn. Chấp vào sự hiện hữu của cá nhân mình (ngã chấp).
nhân
Hetu (P), Root Một trong 4 hành tướng của Tập đế: Nhân, Tập, Sanh, DuyênXem Tập, Xem Người, Xem Nhân duyên.
; Mànusya; nara; purusa; pudgala (S). Man; the sentient.
; 1) Hetu (skt): Nguyên nhân—Cause—Reason—Nguyên nhân hay cái đi ở trước; điều kiện, lý do, nguyên lý.—Cause, antecedent, condition; reason, principle. 2) Nhân từ: Kindness. 3) Manusya (skt)—Man—Chúng sanh con người có suy tưởng trong dục giới, những nghiệp trong quá khứ ảnh hưởng đến hoàn cảnh hiện tại. Con người chiếm một vị trí rất quan trọng trong vũ trụ của Phật giáo, vì con người có quyền năng quyết định cho chính họ. Đời sống con người là sự hỗn hợp của hạnh phúc và đắng cay. Theo Đức Phật, con người có thể quyết định dành cuộc đời cho những mục tiêu ích kỷ, bất thiện, một hiện hữu suông rỗng, hay quyết định dành đời mình cho việc thực hiện các việc thiện làm cho người khác được hạnh phúc. Trong nhiều trường hợp, con người cũng có thể có những quyết định sinh động để uốn nắn đời mình theo cách nầy hay cách khác; con người có cơ hội nghĩ đến đạo và giáo lý của Ngài hầu hết là nhằm cho con người, vì con người có khả năng hiểu biết, thực hành và đi đến chứng ngộ giáo lý. Chính con người, nếu muốn, họ có thể chứng nghiệm giác ngộ tối thượng và trở thành Phật, đây là hạnh phúc lớn không phải chỉ chứng đắc sự an tịnh và giải thoát cho mình, mà còn khai thị đạo cho nhiều người khác do lòng từ bi—The sentient thinking being in the desire realm, whose past deeds affect his present condition. Man occupies a very important place in the Buddhist cosmos because he has the power of decision. Human life is a mixture of the happy with a good dash of the bitter. According to the Buddha, a man can decide to devote himself to selfish, unskilful ends, a mere existence, or to give purpose to his life by the practice of skilful deeds which will make others and himself happy. Still, in many cases, man can make the vital decision to shape his life in this way or that; a man can think about the Way, and it was to man that the Buddha gave most of his important teachings, for men could understand, practice and realize the Way. It is man who can experience, if he wishes, Enlightenment and become as the Buddha and the Arahants, this is the greatest blessing, for not only the secure tranquillity of one person's salvation is gained but out of compassion the Way is shown in many others. 4) Cơ hội được tái sanh làm con người rất ư là hãn hữu, chính vì thế mà Đức Phật dạy: “Được sinh ra làm người là điều vô cùng quý báu, một cơ hội lớn lao không nên để uổng phí. Giả tỷ có một người ném vào đại dương một mảnh ván, trên mảnh ván có một lỗ hỏng, mảnh ván trôi dạt do nhiều luồng gió và nhiều dòng nước xô đẩy trên đại dương. Trong đại dương có một con rùa chột mắt, một trăm năm mới ngoi lên mặt biển một lần để thở. Dù cho mất cả một đại kiếp, con rùa cũng khó mà trồi lên mặt nước và chui vào lỗ hỏng của mảnh ván ấy. Cũng thế, nếu một khi người ta đã bị đọa xuống ba cảnh giới đầy thống khổ hay hạ tam đồ, thì việc được tái sanh làm người cũng thật là hiếm hoi.”—The opportunity to be reborn as a human being is so rare; thus the Buddha taught: “Supposing a man threw into the ocean a piece of wood with a hole in it and it was then blown about by the various winds and currents over the waters. In the ocean lived a one-eyed turtle which had to surface once in a hundred years to breathe. Even in one Great Aeon it would be most unlikely in surfacing, to put its head into the hole in that piece of wood. Such is the rarity of gaining birth among human beings if once one has sunk into the three woeful levels or three lower realms.”
; (因) Phạm: Hetu. I. Nhân. Nguyên nhân dẫn sinh ra kết quả. Nói theo nghĩa hẹp thì nguyên nhân bên trong trực tiếp dẫn sinh ra kết quả, gọi là Nhân (nội nhân = nhân bên trong), còn nguyên nhân bên ngoài gián tiếp giúp đỡ thì gọi là Duyên(ngoại duyên=duyên bên ngoài). Nhưng, nói theo nghĩa rộng, tất cả những điều kiện góp phần vào việc dẫn sinh ra kết quả và giúp cho vạn vật sinh tồn, biến hóa, thì đều được gọi là Nhân. Tức là Nhân theo nghĩa rộng bao gồm cả Nội nhân và Ngoại duyên. Về chủng loại của Nhân thì có các thuyết: Hai nhân, Năm nhân, Sáu nhân, Mười nhân, trình bày sơ lược như sau: 1. Hai loại nhân: Gồm có: Năng sinh nhân và Phương tiện nhân, Chính nhân và Liễu nhân, Chính nhân và Duyên nhân, Tập nhân (cũng gọi Đồng loại nhân) và Báo nhân (cũng gọi Dị thục nhân), Dẫn nhân (cũng gọi Khiên dẫn nhân, là Nghiệp chủng tử gián tiếp dẫn sinh quả báo trong đời vị lai lâu xa) và Sinh nhân (cũng gọi Sinh khởi nhân, là Nghiệp chủng tử trực tiếp dẫn sinh quả báo trong đời vị lai gần kề), Thông nhân (Nhân chung cho nhiều quả báo) và Biệt nhân (Nhân riêng cho 1 quả báo đặc biệt). 2. Năm loại nhân: Gồm: Sinh nhân, Y nhân, Lập nhân, Trì nhân và Dưỡng nhân. Nếu lấy 4 đại (đất, nước, lửa, gió) tạo ra muôn vật làm Nhân và muôn vật được tạo ra làm Quả, thì 4 đại đối với muôn vật có đủ ý nghĩa của 5 Nhân trên đây. Tức là: Sinh nhân, chỉ cho 4 đại là Nhân sinh ra muôn vật; Y nhân, chỉ cho 4 đại là Nhân làm chỗ nương tựa cho muôn vật; Lập nhân, chỉ cho 4 đại là Nhân bảo tồn muôn vật; Trì nhân, chỉ cho 4 đại là Nhân tiếp tục duy trì muôn vật; còn Dưỡng nhân, chỉ cho 4 đại là Nhân nuôi lớn muôn vật. Hai thuyết trên là do luận Đại tì bà sa quyển 111 và luận Câu xá quyển 7 lập ra. Kinh Đại bát niết bàn quyển 21 (bản Bắc) thì chia tất cả Nhân làm 5 loại là: Sinh nhân, Hòa hợp nhân, Trụ nhân, Tăng trưởng nhân và Viễn nhân. 3. Sáu loại nhân: Tông Hữu bộ chia Nhân ra làm 6 loại: a) Năng tác nhân: Trừ tự thể ra, tất cả các pháp hữu vi, vô vi khác đều có khả năng trở thành Nhân sinh ra tự thể. Loại này lại được chia làm 2 thứ là Hữu lực năng tác nhân và Vô lực năng tác nhân. b) Câu hữu nhân: Pháp đồng thời tồn tại, làm Nhân lẫn cho nhau. Cũng được chia làm 2 thứ là Hỗ vi quả câu hữu nhân vàĐồng nhất quả câu hữu nhân. c) Đồng loại nhân: Khi các pháp cùng loại liên tục sinh ra thì pháp trước là nhân đồng loại của pháp sau. d) Tương ứng nhân: Sự quan hệ hỗ tương giữa tâm và tâm sở trong nhân Câu hữu. e) Biến hành nhân: Sức mạnh của phiền não (tức Biến hành hoặc) trong Đồng loại nhân có thể ảnh hưởng đều khắp tất cả các pháp nhiễm ô. f) Dị thục nhân: Ác nghiệp và thiện nghiệp hữu lậu chiêu cảm quả báo vô kí. Ngoài ra còn có thuyết 6 loại nhân:Đương hữu nhân, Tương tục nhân, Tướng nhân, Năng tác nhân, Hiển liễu nhân và Đãi nhân. 4. Mười loại nhân: Do tông Duy thức thành lập. - Tùy thuyết nhân: Ngôn ngữ (năng thuyết) là Nhân miêu tả sự vật (sở thuyết), nên ngôn ngữ là Tùy thuyết nhân. - Quan đãi nhân (cũng gọi Dĩ hữu nhân). Quan đãi chỉ cho tính tương đối, tính điều kiện. Tương đối với 1 vật nào đó mà nói, cái điều kiện có thể dẫn sinh ra 1 yêu cầu nhất định là Quan đãi nhân, như đói khát là Quan đãi nhân của việc ăn uống, tay là Quan đãi nhân của sự cầm vật, chân là Quan đãi nhân của sự đi lại... - Khiên dẫn nhân: Chủng tử là Nhân dẫn sinh ra tự quả trong vị lai lâu xa.- Nhiếp thụ nhân: Tất cả các duyên ngoài chủng tử có thể trợ giúp lẫn nhau để sinh ra quả.- Sinh khởi nhân: Chủng tử là Nhân dẫn sinh ra tự quả trong vị lai gần.- Dẫn phát nhân: Khi chủng tử khởi hiện hành, có khả năng dẫn sinh ra quả cùng loại.- Định biệt nhân: Tất cả các pháp hữu vi đều có thể dẫn sinh ra tự quả mà không làm cho nhau hỗn loạn.- Đồng sự nhân: Nhân và quả hòa hợp làm một.- Tương vi nhân: Nhân tạo ra sự trái ngược khi các pháp sinh thành.- Bất tương vi nhân: Nhân tạo ra sự thuận lợi cho các pháp sinh thành. Ngoài ra, luận Phật tính quyển 2 nêu 3 nhân Phật tính là: Ứng đắc, Gia hạnh và Viên mãn. Kim quang minh kinh huyền nghĩa quyển thượng và Tứ giáo nghĩa cũng nêu 3 nhân Phật tính là: Chính nhân, Liễu nhân và Duyên nhân. Còn kinh Pháp hoa và kinh Trí ấn thì nêu lên các thuyết 7 loại nhân, 11 loại nhân... Kinh Ưu bà tắc giới quyển 1 lại nêu ra thuyết 12 loại nhân... Ngoài các thuyết nói trên đây, còn có thuyết 10 tập nhân, tức chỉ cho 10 thứ ác nghiệp chìm mê chẳng ngộ, nên đời vị lai đã sinh vào địa ngục. Hết thảy các pháp đều do nhân duyên mà sinh khởi, có nhân ắt có quả, như lấylúa mì làm ví dụ: Hạt lúa mì là nhân, còn mưa, nắng, gió, sức người, đất đai, phân bón... là duyên. Có đủ các nhân duyên như vậy mới sinh ra được hạt lúa mì. Thuyết Nhân quả tương ứng tương thù này là lí luận cơ bản của Phật giáo để giải thích rõ mối quan hệ giữa hết thảy sự vật trong thế giới.[X. kinh Đại bát niết bàn Q.28, 29 (bản Bắc); luận A tì đạt ma phát trí Q.1; luận Đại tì bà sa Q.16; luận Câu xá Q.6; luận Đại trí độ Q.32; luận Du già sư địa Q.5, 38; luận Hiển dương thánh giáo Q.18; luận Thành duy thức Q.2, 8].II. Nhân. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho lí do mà người lập luận dựa vào để thành lập Tông(mệnh đề), là 1 trong 5 chi tác pháp(tác pháp 5 phần) của Cổ nhân minh; 1 trong 3 chi tác pháp của Tân nhân minh. Trong đối luận Nhân minh, Nhân (lí do) là căn cứ mà người lập luận dựa vào để biện luận và chứng minh cho chủ trương của mình, khiến đối phương phải thừa nhận. Nhân được chia làm 2 loại: 1. Chính nhân: Có đủ 3 điều kiện: Phải hoàn toàn có quan hệ với Tông, phải quyết định có tính cách của đồng phẩm, tuyệt đối không được có tính cách của dị phẩm. Đây là Nhân đúng, hoàn toàn chính xác, có thể bênh vực được cho Tông. 2. Tự nhân: Tự là sai, nghĩa là dường như đúng mà kì thực là sai. Tức là Nhân (lí do) không có đủ 3 điều kiện nói trên, là Nhân sai lầm, hoàn toàn không chứng minh được cho Tông. Tự nhân còn được chia làm 3 loại: Bất thành, Bất định và Tương vi.[X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng; Nhân minh nhập chính lí luận minh đăng sao Q.1, phần cuối; Đông phương luận lí học (Nhất hạnh]. (xt. Bất Thành Nhân, Bất Định Nhân, Nhân Tam Tướng, Nhân Minh, Tương Vi).
nhân biến
Xem Nhân năng biến.
nhân bản
Humanism.
nhân bảo
The treasure of men, Buddha.
; Phật là kho bảo của loài người— Buddha is the treasure of men.
; (人寶) Danh từ khen ngợi đức Phật là bậc quí báu trong loài người. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma cật sở thuyết (Đại 14, 537 hạ) nói: Khen chê chẳng động như núi Tu di, đối với người thiện và bất thiện đều có lòng từ bi; tâm hành bình đẳng giống như hư không, ai nghe bậc Nhân bảo mà không kính tin thừa sự?.[X. Duy ma kinh nghĩa sớ Q.2].
Nhân chấp
人執; C: rénzhí; J: ninshū;|Chấp vào bản ngã; chấp vào sự hiện hữu như một con người. Thuật ngữ thường đề cập là Ngã chấp (我執). Nhân ngã chấp (人我執; theo Du-già luận 瑜伽論).
nhân chấp
The (false) tenet of a soul, or ego, or permanent individual.
; See Ngã Chấp.
nhân chủng
Human race.
nhân cách thần
(人格神) Thần được nhân cách hóa. Các tông giáo Hữu thần luận phần nhiều chủ trương Nhân cách thần. Phật giáo thì không lập Nhân cách thần mà lấy Pháp làm cơ sở. Các vị đệ tử thông qua nhân cách của đức Phật mà tin thờ Pháp của Ngài. Sau khi đức Phật nhập diệt thì Phật đà quan và Phật thân luận được phát triển. Trong giáo lí Phật giáo, mối quan hệ giữa chân lí của Pháp và nhân cách của Phật, cho đến nay, vẫn đang còn là 1 vấn đề được nghị luận.
nhân cát giá
Mànusa krtya (S). Demons shaped like men.
nhân danh
On behalf of—In the name of.
nhân di phẩm
(因异品) Phạm: Vaidharmya-dfwỉànta-hetu. Tiếng dùng trong Nhân minh. Phẩm loại có ý nghĩa khác với Nhân (lí do), là điều kiện phải có của Dị dụ trong luận thức Nhân minh. Như trong luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì là cái được tạo ra. Dị dụ: Như hư không... Hư không không có tính tạo tác, là phẩm loại mà ý nghĩa khác với Nhân có tính tạo tác, cho nên gọi là Nhân dị phẩm. Nhân dị phẩm lại có thể được chia làm 3 phẩm: Tự dị, Cộng dị và Tha dị. (xt. Cộng Dị Phẩm, Nhân Minh, Dị Du).
Nhân duyên
因緣; S: hetuprātyaya; J: innen;|Nghĩa là cái lí do chính (nhân; s: hetu) và các điều kiện phụ trợ giúp (duyên; s: prātyaya); danh từ này được sử dụng trong các trường phái Phật giáo để làm sáng tỏ luật Nhân quả, Nghiệp (s: karma).
nhân duyên
Nidāna (S, P), Paṭicca-samuppāda (P), Pratīya-samutpāda (S), Dependent Origination, Ni đà na, Nhân, Duyên khởi1- Nhơn, nguyên do, lý do. Nhân muốn sanh ra quả phải có cái duyên (duyên cớ) phò trợ. Nhơn có hai thứ: - liễu nhơn: nhơn duyên chiếu liễu, làm cho tỏ rõ. - sanh nhơn: nhơn sanh ra vật 2- Ni đà na, Nhân duyên kinh: Loại kinh ghi lại nhân duyên giáo hóa của PhậtDuyên khởi , Xem Duyên khởi
; Hetupratyaya (S). Nhân is a primary cause and duyên is an environmental or secondary cause.
; Nhân là bản nhân, duyên là trợ duyên. Như một hột lúa là bản nhân, nhân công, nước, đất là trợ duyên, nhân duyên hòa hợp sanh ra cây lúa.
; Hetu-pratyaya (skt)—Dependent Origination—Causes and conditions—Những nhân ảnh hưởng đến việc tái sanh trở lại cõi người—The causative influences for being reborn as a human beings: 1) Nhân: Hetu (skt)—A primary cause—A root-cause. 2) Duyên: Pratyaya (skt)—An environmental or secondary cause. ** A seed is a primary cause (hetu); rain, dew, farmer, etc, are the environmental or secondary cause (pratyaya).
; (因緣) Phạm: Hetu-pratyaya. Từ gọi chung nhân và duyên. Nhân là nguyên nhân bên trong trực tiếp sinh ra kết quả. Duyên chỉ cho nguyên nhân gián tiếp giúp đỡ bên ngoài. Do vậy mà Nhân duyên còn được gọi là Nội nhân ngoại duyên, Thân nhân sơ duyên. Và nói theo nghĩa rộng thì Nhân hàm ý là Nhân và duyên, bao gồm Nội nhân ngoại duyên. Hết thảy muôn vật đều tùy thuộc vào sự tan hợp của nhân duyên mà sinh diệt, gọi là Nhân duyên sinh, Duyên sinh, Duyên thành, Duyên khởi. Tất cả pháp do nhân duyên mà sinh diệt, gọi là Nhân duyên sinh diệt pháp; còn cái kết quả do nhân và duyên hòa hợp mà sinh ra thì gọi là Nhân duyên hòa hợp. Hết thảy vạn hữu đều do nhân duyên hòa hợp mà giả sinh, không có tự tính, đó chính là lí Nhân duyên tức không. Nếu lấy phiền não làm nhân, lấy nghiệp làm duyên thì sẽ chiêu cảm quả cõi mê; còn nếu lấy trí làm nhân, lấy định làm duyên thì sẽ chiêu cảm quả cõi ngộ. Ngoài ra, luận Câu xá quyển 6, quyển 7 có nêu thuyết 6 nhân 4 duyên. Sáu nhân: Năng tác nhân, Câu hữu nhân, Tương ứng nhân, Đồng loại nhân, Biến hành nhân và Dị thục nhân. Bốn duyên: Nhân duyên, Sởduyênduyên, Đẳng vô gián duyên và Tăng thượng duyên. Trong đó, Năng tác nhân trong 6 nhân là Tăng thượng duyên trong 4 duyên, còn 5 nhân kia thì là Nhân duyên trong 4 duyên. Nhưng tông Duy thức thì cho rằng Đồng loại nhân trong 6 nhân là chung cho cả Nhân duyên và Tăng thượng duyên, còn 5 nhân kia là Tăng thượng duyên. Đồng loại nhân là nguyên nhân dẫn sinh ra quả Đẳng lưu, vì thế cũng gọi là Tự chủng nhân. Cũng như luận Câu xá cho rằng nhân khác tính dẫn sinh ra quả khác tính là nhân duyên. [X. kinh Tạp a hàm Q.1; kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; phẩm Quán tứ đế trong Trung luận Q.4; luận Đại tì bà sa Q.16; luận Đại thừa khởi tín; luận Thành duy thức Q.2; luận Du già sư địa Q.3, 5, 38;luận Hiển dương thánh giáo Q.18]. (xt. Nhân, Duyên). II. Nhân Duyên. Nhân tức là duyên, chỉ cho Nhân duyên trong 4 duyên. (xt. Tứ Duyên). III. Nhân Duyên. Phạm: Nidàna. Cũng gọi Duyên khởi.Thể tài thứ 6 trong 12 thể tài kinh. (xt. Ni Đà Na).
nhân duyên biến
(因緣變) Đối lại: Phân biệt biến. Do nhân duyên biến hiện, là 1 trong 2 biến. Nhân duyên biến dùng sức dị thục của nghiệp trước (chủng tử nghiệp thiện, ác) làm duyên Tăng thượng, lấy chủng tử của tự than các pháp làm nhân mà biến hiện. Cũng tức là lấy chủng tử Danh ngôn làm nhân, lấy chủng tử Nghiệp làm duyên, mà không nhờ vào sức của sự suy tính phân biệt... tự nhiên vận hành biến hiện các pháp. Chủng tử Danh ngôn và chủng tử Nghiệp đều là những chủng tử chân thực hữu dụng của các pháp, cho nên các pháp do 2 loại chủng tử này biến hiện ra cũng là thể dụng chân thực. Như tác dụng 5 căn phát ra thức duyên lấy cảnh và sự thực dụng của 5 cảnh sắc, hương... Pháp nhân duyên biến này thuộc về Tính cảnh trong 3 loại cảnh; hoặc có thuyết cho rằng 1 phần của Đới chất cảnh cũng thuộc về Nhân duyên biến. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần đầu; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.3; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng; Bách pháp vấn đáp sao Q.2]. (xt. Phân Biệt Biến).
nhân duyên bích chi ca la
Xem Độc giác Phật.
nhân duyên bản sự
Xem Căn bản Thuyết Nhất thiết hữu bộ Ni đà na Mục đác ca.
nhân duyên cộng tập hội
1) Sự nối kết của các chuỗi nhân duyên—A concatenation of causal chains. 2) Đức Phật dạy: “Do sự nối kết của các chuỗi nhân duyên mà có sự sinh, có sự diệt—The Buddha taught: “Because of a concatenation of causal chains there is birth, there is disappearance.”
nhân duyên luân
(因緣輪) Bánh xe nhân duyên. Vì nhân duyên sinh khởi liên tục không gián đoạn, không cùng cực, giống như bánh xe quay chuyển, nên gọi là Nhân duyên luân.
nhân duyên luận
Pratītya-samutpāda-śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
nhân duyên quán
Quán sát về nhân duyên—Meditation on nidanas.
; (因緣觀) Cũng gọi Duyên khởi quán, Quán duyên quán. Quán xuôi quán ngược 12 nhân duyên, nhận thức rõ sự liên tục của nhân quả 3 đời để đối trị chướng ngu si, giác ngộ lí sinh tử lưu huyển. Đây là 1 trong Ngũ đình tâm quán. (xt. Ngũ Đình Tâm Quán).
Nhân duyên sanh
xem Mười hai nhân duyên.
nhân duyên sanh
Causally-produced.
nhân duyên sanh pháp
Pháp khởi lên từ những nhân trực tiếp hay gián tiếp—Real entities that arise from direct or indirect causes.
nhân duyên sinh tử
(因緣生死) Bồ tát thị hiện nhân duyên sinh tử để hóa độ chúng sinh, là 1 trong 7 loại sinh tử. Các vị Bồ tát từ Hoan hỉ địa trở lên đều dùng lí sở quán bất khả tư nghị làm nhân và dùng trí chân vô lậu năng quán làm duyên để phá trừ phiền não vô minh. Song, vì hóa độ chúng sinh nên các Ngài thị hiện có sinh tử. (xt. Thất Chủng Sinh Tử).
nhân duyên thuyết
Patthana (S), Conditional Relations Phát Thú LuậnMột tập trong 7 tập của bộ Thắng Pháp Tạng. 2- nhân quả tương quan.
; (因緣說) Chỉ cho phần nói về nhân duyên thấy Phật nghe pháp và nhân duyên đức Phật thuyết pháp giáo hóa trong các kinh, như phẩm Tựa của các kinh, là 1 trong 12 thể tài kinh. (xt. Thập Nhị Bộ Kinh).
nhân duyên thuyết chu
(因緣說周) Vòng nói về nhân duyên, là vòng thứ 3 trong 3 vòng thuyết pháp kinh háp hoa. Trong vòng Thí thuyết thứ 2, những người hạ căn vẫn chưa liễu ngộ, vì thế, trong vòng Nhân duyên thuyết thứ 3 này, đức Phật lại nói về cơ duyên của đức Đại thông trí thắng Như lai ở thời quá khứ lâu xa, khiến 1.200 vị Thanh văn như các ngài: Kiêu trần như, Phú lâu na v.v...liễu ngộ và được đức Phật thụ kí. Vòng Nhân duyên thuyết này là phần thuyết tướng, từ phẩm Hóa thành dụ đến phẩm Thụ học vô học nhân kí trong kinh Pháp hoa.[X. Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.3; Pháp hoa văn cú Q.4, thượng]. (xt. Tam Chu Thuyết Pháp).
nhân duyên thích
(因緣釋) Dùng 4 Tất đàn làm nhân duyên để giải thích sự hưng khởi của giáo pháp, là 1 trong 4 phương pháp được ngài Trí khải tông Thiên thai sử dụng để giải thích Pháp hoa văn cú. Pháp hoa văn cú quyển 1, thượng ( Đại 34, 2 thượng) nói: Nhân duyên cũng gọi là cảm ứng, chúng sinh nếu không có cơ duyên thì dù gần cũng chẳng thấy; còn nếu có sức thiện căn thì tuy xa cũng có thể tự thấu suốt; đó là vì lẽ cảm ứng đạo giao nên dùng nhân duyên mà giải thích vậy. (xt. Tứ Chủng Thích Nghĩa).
nhân duyên truyện
Nidānakatha (S).
nhân duyên trí
(因緣智) Trí hiểu rõ tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh và làm duyên lẫn cho nhau, tức là trí tuệ căn cứ vào chân lí do đức Phật chỉ dạy mà thông suốt nghĩa nhân duyên.
nhân duyên tâm luận thích
Pratītya-samutpāda-hṛdaya-vṛtti (S)Tên một bộ luận kinh.
nhân duyên tâm luận tụng
Pratītya-samutpāda-hṛdaya-kārikā (S)Tên một bộ luận kinh.
nhân duyên tính
(因緣性) Chỉ cho tính chất nhân duyên, là Nhân duyên trong 4 duyên. Tiểu thừa cho rằng trong 6 nhân, trừ Năng tác nhân ra, còn 5 nhân kia đều là Nhân duyên tính. Tông Duy thức thì cho rằng nhân quả của chủng tử và hiện hành cùng với chủng tử của tự loại nối tiếp nhau là Nhân duyên tính. Nay nêu ra để thuyết minh như sau: Tiểu thừa cho rằng sự sinh khởi ra nhãn thức lấy tác dụng phát thức thủ cảnh của nhãn căn làm nhân, lấy sắc cảnh(đối tượng) bên ngoài làm duyên, cho nên nhãn căn và sắc cảnh là nhân duyên tính hữu vi sinh khởi ra nhãn thức. Còn tông Duy thức thì cho rằng thiện pháp ở quá khứ làm nhân cho thiện pháp ở hiện tại, thiện pháp ở hiện tại làm nhân cho thiện pháp ở vị lai; pháp ác và pháp vô kí cũng như thế. Cứ theo đó thì chủng tử Thân nhân duyên của các pháp là Nhân duyên tính, còn pháp hiện hành huân tập sinh ra chủng tử này là Nhân duyên tính của chủng tử. Rồi chủng tử của niệm trước lại sinh ra chủng tử tự loại của niệm sau là nhân duyên tính của chủng tử khởi sau. Tức trong 6 nhân, chỉ có Đồng loại nhân là chung cho cả Nhân duyên tính và Tăng thượng duyên tính, còn 5 nhân kia đều là Tăng thượng duyên tính.[X. luận Đại tì bà sa Q.16; luận Câu xá Q.7; luận Thành duy thức Q.2]. (xt. Lục Nhân, Nhân Duyên).
nhân duyên y
Hetu-pratyaya (S)Tất cả các pháp.
; Mọi pháp đều dựa vào chủng tử của mình mà sinh khởi (ba loại sở y là nhân duyên y, tăng thượng duyên y và đẳng vô gián y)—Dependent on cause, or the cause or causes on which anything depends.
; (因緣依) Cũng gọi Chủng tử y, Căn bản y. Chủng tử làm nhân duyên cho tất cả các pháp nương vào đó mà sinh khởi, 1 trong 3 chỗ nương của tâm, tâm sở. Hết thảy các pháp hữu vi đều nương nơi chủng tử của chính mình mà sinh khởi, nếu lìa nhân duyên chủng tử thì quyết không thể sinh, vì thế tất cả chủng tử là nhân của các pháp, đồng thời cũng là pháp sở y để các pháp nương vào đấy mà sinh, đó tức là Nhân duyên y. Chủng tử y được đề cập trong luận Du già sư địa chỉ giới hạn ở phương diện chủng tử sinh khởi hiện hành mà thôi, chứ không giải thích rõ nghĩa khi chủng tử sinh chủng tử và hiện hành huân chủng tử thì làm nhân duyên lẫn cho nhau. Bởi vậy, luận Duy thức mới nói rộng về nghĩa Nhân duyên y để thay thế cho thuyết Chủng tử y. Thành duy thức luận thuật kí quyển 4, phần cuối (Đại 43, 379 thượng) ghi: Nếu nói chủng tử y thì chỉ là pháp hiện hành có chủng tử, chủng tử trông chủng tử thì đáng lẽ không có chủng tử y này. Nay nói Nhân duyên y là cốt để hiểu theo nghĩa rộng. Tóm lại, nếu nói theo nghĩa hẹp thì Nhân duyên y đồng nghĩa với Chủng tử y, tức là chỉ nói về chủng tử của các pháp mà thôi. Còn nếu giải thích theo nghĩa rộng thì pháp hiện hành huân sinh chủng tử và chủng tử của niệm trước dẫn sinh ra chủng tử của niệm sau... đều là Nhân duyên y. [X. luận Du già sư địa Q.1, 55; luận Thành duy thức Q.4]. (xt. Sở Y).
Nhân dân
人民; C: rénmín; J: ninmin; S: manuṣya; P: ma-nussā.|Loài người nói chung. Hàng phàm phu (s: manuṣya; p: manussā; theo kinh Pháp Hoa).
nhân dũng
Humanity and courage.
; (仁勇) Thiền sư Trung quốc, thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người Tứ minh, tỉnh Chiết giang, họ Trúc. Mới đầu, sư học giáo pháp tông Thiên thai. Một hôm, nhân tham yết Thiền sư Trùng hiển ở núi Tuyết đậu mà chuyển sang tham thiền. Về sau, sư đến núi Vân cái ở Đàm châu, tỉnh Hồ nam, vào cửa ngài Dương kì Phương hội liền ngộ yếu chỉ của Thiền. Sau khi ngài Phương hội thị tịch, sư cùng với bạn đồng tham là Bạch vân Thủ đoan hành cước 4 phương. Về sau, sư trụ trì chùa Bảo ninh ở Kim lăng, tỉnh Giang tô, tích cực xiển dương Thiền học.Đệ tử nối pháp của sư có các vị: Thọ thánh Trí uyên, Thọ thánh Sở văn, Bảo tích Tông ánh, Cảnh phúc Nhật dư... Sư để lại tác phẩm: Bảo ninh Nhân dũng thiền sư ngữ lục 1 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.15; Gia thái phổ đăng lục Q.4].
nhân dũng bảo ninh
See Bảo Ninh Nhân Dũng.
nhân dược vương tử
Đức Phật Thích Ca trong một tiền kiếp, người mà chúng ta chỉ cần chạm vào là đã có thể trị được bá bệnh—Human-touch healing prince—Sakyamuni in a previous incarnation, whose touch healed all diseases.
; (人藥王子) Vị Vương tử có tài chữa bệnh rất kì diệu, là tiền thân của đức Thích ca khi Ngài còn tu hạnh Bồ tát ở các kiếp quá khứ. Cứ theo kinh Bồ tát tạng quyển hạ, cõi Diêm phù đề có vị Vương tử, con của vua Ma hê tư na, có tài chữa bệnh rất thần diệu, chỉ cần sờ vào người đau là bệnh của người ấy khỏi liền, vì thế nên gọi là Nhân dược vương tử. Vị Vương tử này đã chữa bệnh cho mọi người bằng cách đó trong 1.000 năm. Đến khi mệnh chung, xương của Vương tử được nghiền thành bột, bôi lên thân người bệnh thì bệnh cũng lành.
nhân dị phẩm
Hetu-virudha (skt)—In a syllogism the example not accordant with the reason.
nhân dịp
On the occasion of.
nhân dục
Human desire.
Nhân gian
人間; C: rénjiān; J: ningen;|Có các nghĩa: 1. Người, loài người; 2. Nơi loài người sinh sống, thế gian; 3. Loài người (s: manuṣya, manuṣa), phiên âm là Mạt-nô-sa (末奴沙), Ma-nô-xà (摩奴闍)… và còn được dịch là Nhân gian giới (人間界), Nhân giới (人界), Nhân thú (人趣), Nhân đạo (人道) và Thế gian (世間). Một trong 6 nơi (Lục đạo 六道), năm đường (Ngũ thú 五趣), hoặc mười cõi (Thập giới 十界) mà loài hữu tình thụ sinh; 4. Ở ngay trong thế giới loài người.
nhân gian
In this world.
; (人間) Phạm: Manuwya. Hán âm: Ma nâu sa, Mạt nô sa, Ma nô xà, Ma nâu sử. Cũng gọi Nhân gian giới, Nhân giới, Nhân thú, Nhân đạo, Thế gian. Chỉ cho nơi loài người sinh sống, 1 trong 6 đường, 5 ngả, 10 cõi. Tiếng Manuwya là từ ngữ căn Manas (Mạt na: Suy xét) mà ra, tức cho rằng con người có khả năng tư duy khảo sát. Còn về nơi ở của con người thì có 4 châu quanh núi Tu di. Diện mạo của con người ở châu nào thì giống với địa hình của châu ấy, tuổi thọ con người ở mỗi châu cũng khác nhau tùy theo nghiệp nhân. [X. phẩm Diêm phù đề châu trong Trường a hàm Q.18; kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); kinh Khởi thế Q.1; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Câu xá Q.1; Pháp uyển châu lâm Q.5; Huyền ứng âm nghĩa Q.25]. (xt. Thập Tuế Giảm Kiếp, Tứ Châu, Kiếp).
Nhân gian giới
人間界; C: rénjiānjiè; J: ningenkai;|Cõi con người sinh sống. Nhân giới (人界).
nhân gian đạo
Mānuṣya-gati (S), Path to human-beings.
nhân già lam
Narasam-gharama (skt)—Một ngôi già lam (chùa) cổ gần kinh đô Ca Tỳ La Vệ—An ancient monastery close to the capital of Kapisa.
Nhân giả
仁者; C: rénzhě; J: jinsha;|»Ngài«, tiếng xưng hô kính trọng với những người có địa vị ngang hoặc hơn mình một chút.
nhân giả
Kind Sir!
; (仁者) Gọi tắt: Nhân. Tứ kính xưng đối với người khác. Nghĩa là bậc có lòng nhân từ, thương người... Đại nhật kinh sớ quyển 4 (Đại 39, 622 hạ) nói: Tiếng Phạm: Nhĩ nhĩ, Hán dịch là Nhân giả. Chương Bà tu mật trong Cảnh đức truyền đăng lục (Đại 51, 208 trung) chép: Sư nói: Này Nhân giả! Bàn luận thì đánh mất nghĩa lí, mà đạt nghĩa lí thì không bàn luận.
Nhân giới
人界; C: rénjiè; J: ninkai;|Nơi loài người sinh sống, là một trong mười giới (Thập giới 十界).
nhân hiền kiếp
Bhadra-Kalpa (S).
nhân hoa
(人華) Hoa người. Phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa quyển 3 (Đại 9, 20 trung), chép: Đức Phật nói pháp ví như áng mây lớn, tuôn nước mưa 1 mùi vị thấm nhuần nhân hoa, làm cho mỗi hoa đều kết quả. Trong phẩm này, đức Phật dùng 3 thứ cỏ (cỏ thấp, cỏ vừa, cỏ cao) và 2 thứ cây (cây bé, cây to) để ví dụ Phật dùng trí phương tiện diễn nói pháp 1 tướng 1 vị (giống như nước mưa chỉ có 1 mùi vị) thấm nhuần tất cả chúng sinh, chúng sinh tùy theo căn tính (như cỏ cây thấp cao nhỏ lớn khác nhau) mà tiếp nhận; vì tiếp nhận không giống nhau nên được đạo quả có lớn nhỏ bất đồng. [X. Pháp hoa nghĩa kí Q.6; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, hạ]. (xt. Tam Thảo Nhị Mộc).
nhân hoà tự
Ninwa (S)Chùa bản doanh của phái Ngự Thất, Mật tông Nhật bản.
; (仁和寺) Cũng gọi Ngự thất ngự sở, Ngự thất, Nhân hòa tự môn tích. Chùa ở khu Hữu kinh thuộc thành phố Kyoto, Nhật bản, do Thiên hoàng Vũ đa kế thừa Sắc nguyện của Thiên hoàng Quang hiếu sáng lập vào năm Nhân hòa thứ 4 (888), là Đại bản sơn của phái Ngự thất thuộc tông Chân ngôn. Về sau, Thiên hoàng Vũ đa xuất gia, năm Diên hỉ thứ 4 (904), ông dời đến trụ ở chùa này, do đó mà chùa được gọi là Ngự thất ngự sở và bắt đầu lập chế độ Môn tích. Đến thời Minh trị Duy tân, chùa được đổi thành Tiểu tùng cung. Chùa có Bản đường, Ngự ảnh đường là những kiến trúc thời Thiên chính(cuối thời Thất đinh), sau đổi thành Tử thần điện, Thanh lương điện. Cửa Nhân vương và tháp 5 tầng là các kiến trúc đời Khoan vĩnh (đầu đời Giang hộ). Ở Linh bảo quán có cất chứa rất nhiều vật báu, pháp khí của Mật giáo; 30 quyển kinh do ngài Không hải viết tay mang từ Trung quốc (đời Đường) về, được cất giữ trong hòm.
nhân huân tập kính
(因熏習鏡) Tức là gương như thực chẳng không, 1 trong Tứ kính. Nghĩa là bản giác (tính giác có sẵn) thường trụ là tính chân thực của hết thảy pháp, tự đầy đủ tính công đức vô lậu, thường làm nhân để huân tập (xông ướp) chúng sinh; giống như tấm gương (kính) sáng, có thể ánh hiện tướng của cảnh giới, mà không ra không vào, không mất không hoại. [X. luận Đại thừa khởi tín]. (xt. Tứ Kính, Bản Giác).
nhân hành quả
Ba thứ nhân, hành, và quả (hạt giống, sự nẩy mầm, và trái)—Cause, action, and effect (seed, germination, and fruit).
; (因行果) Chỉ cho 3 giai đoạn từ nhân đến quả theo thuyết của Mật tông. Đó là: 1. Tâm bồ đề là nhân của nhân. 2. Đại bi là hạnh của căn. 3. Phương tiện là quả rốt ráo. Nhân, hạnh, quả này gồm chung cho tất cả các tông phái Đại, Tiểu, Hiển, Mật. [X. kinh Đại nhật Q.1]. (xt. Tam Cú Giai Đoạn).
nhân hành quả đức
(因行果德) Chỉ cho hạnh tu của nhân vị và công đức của quả vị. Lục độ, Tứ nhiếp... là hạnh tu ở nhân vị; Tứ trí, Tam thân, Thập lực, Tứ vô úy... là công đức ở quả vị. Nhân hạnh và quả đức của chư Phật đều tròn đầy và vô lượng.
nhân hòa
Human harmony.
Nhân Hòa Tự
(仁和寺, Ninna-ji): ngôi chùa tọa lạc tại Sakyō-ku (左京區), Kyōto-shi (京都市), còn được gọi là Ngự Thất Ngự Sở (御室御所), Nhân Hòa Tự Môn Tích (仁和寺門蹟), là ngôi chùa trung tâm Tổng Bản Sơn của Phái Ngự Thất (御室派) thuộc Chơn Ngôn Tông. Vào năm 886 (niên hiệu Nhân Hòa [仁和] thứ 2), Quang Hiếu Thiên Hoàng (孝光天皇, Kōkō Tennō) cho thiết lập ngôi già lam ở phía nam Đại Nội Sơn (大內山), nhưng giữa chừng thì băng ngự; sau đó, kế thừa di chí của phụ thân, Vũ Đa Thiên Hoàng (宇多天皇, Uda Tennō) tiếp tục công trình xây dựng; đến năm 888 (niên hiệu Nhân Hòa thứ 4) thì hoàn thành, cho tôn trí tôn tượng A Di Đà Tam Tôn và lấy tên là Nhân Hòa Tự. Về sau, Vũ Đa Thiên Hoàng nhường ngôi lại cho Đề Hồ Thiên Hoàng (醍醐天皇, Daigo Tennō), rồi theo xuất gia với Ích Tín (益信, Yakushin) và cuối cùng băng ngự tại chùa này. Từ đó trở về sau, từ thời vị Pháp Thân Vương Tánh Tín (性信, Shōshin), cho đến đầu thời Minh Trị (明治, Meiji), chư vị Pháp Thân Vương vẫn tiếp tục hộ trì cho chùa. Các ngôi đường xá của chùa được tạo lập trong khoảng thời gian niên hiệu Khoan Vĩnh (寛永, 1624-1644), bao gồm luôn cả các ngôi điện trong cung nội. Bức A Di Đà Tam Tôn là tượng thuộc loại quốc bảo có dạng thức kiến tạo đương thời. Ngoài ra, chùa còn lưu giữ khá nhiều bảo vật khác như tượng vẽ Khổng Tước Minh Vương (孔雀明王) thuộc thời Nam Tống của Trung Quốc, cũng như các tranh tượng Mật Giáo. Bên cạnh đó, còn có các bản sao cổ như Biệt Tôn Tạp Ký (別尊雜記) 57 quyển—bộ sách thâu tập các tranh tượng do Tâm Giác (心覺, Shinkaku, 1117-1180) soạn, Y Tâm Phương (醫心方, bản chép tay dưới thời Bình An) 5 thiếp—sách y học tối cổ của Nhật Bản do Đơn Ba Khang Lại (丹波康賴, Tamba-no-Yasunori, 912-995) biên, v.v.
Nhân hùng sư tử
xem Nhân trung sư tử.
nhân hùng sư tử
A Lion among men, a Buddha.
; See Nhân Trung Sư Tử in Vietnamese-English Section.
Nhân Hải
(仁海, Ningai, 951-1046): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời đại Bình An, vị trú trì đời thứ 62 của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), Tự Trưởng đời thứ 26 của Đông Tự (東寺, Tō-ji), vị tổ khai sáng Dòng Tiểu Dã (小野流), húy là Thiên Tâm (千心) và Nhân Hải (仁海), thông xưng là Tiểu Dã Tăng Chánh (小野僧正), Vũ Tăng Chánh (雨僧正), xuất thân vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi, thuộc Ōsaka ngày nay), con của Cung Đạo Duy Bình (宮道惟平). Năm lên 7 tuổi, ông xuất gia trên Cao Dã Sơn, đến năm 990 thì thọ pháp Quán Đảnh. Năm sau ông kiến lập Mạn Trà La Tự (曼茶羅寺, Mandara-ji) ở vùng Tiểu Dã (小野). Vào năm 1018, ông tu phép cầu mưa ở Thần Tuyền và được hiệu nghiệm; từ đó về sau ông đã tiến hành 9 lần cầu mưa, nên được gọi là Vũ Tăng Đô. Năm 1031, ông làm chức Quyền Đại Tăng Đô và Tự Trưởng của Đông Tự, thanh danh của ông rất lớn nên rất nhiều người theo ông. Đệ tử của ông có một số nhân vật nổi tiếng như Thành Tôn (成尊, Seison), Thành Điển (成典, Seiten), Giác Nguyên (覺源, Kakugen), Chơn Giác (眞覺, Shinkaku), Viên Chiếu (圓照, Enshō). Trước tác của ông để lại có Tiểu Dã Lục Thiếp (小野六帖) 7 quyển, Thỉnh Vũ Kinh Thứ Đệ (請雨經次第) 1 quyển, Kim Cang Phong Tự Kiếp Lập Tu Hành Duyên Khởi (金剛峰寺建立修行緣起) 1 quyển, v.v.
nhân hậu
Kindness.
nhân hữu
Human existence.
; Sự hiện hữu của con người—Human bhava or existence.
nhân khâm kiều
(仁欽喬) Dịch cũ: Bảo thắng. Danh tăng Tây tạng, họ Mã, là vị tăng dịch kinh ở thời kì đầu của Phật giáo Tây tạng.Sư là 1 trong 7 vị tăng người Tây tạng đầu tiên được vua Tây tạng là Tán phổ xích tùng đức tán (742-797) cho phép xuất gia khi chùa Tang da được hoàn thành. Vào thời vua Xích tổ đức tán (815- 838), sư cùng với ngài Thắng hữu (Phạm: Jina-mitra), vị tăng người Ấn độ đến Tây tạng hoằng pháp, cùng dịch kinh Đại lượng Phật; vâng sắc chỉ tham dự việc qui định các từ ngữ phiên định và đặt ra thể lệ phiên dịch (thống nhất trong các kinh Phật Tạng dịch).
nhân khâm tang ba
(仁欽桑波) Hán dịch: Bảo hiền. Danh tăng Tây tạng, người ở vùng A lí. Sư xuất gia năm 13 tuổi, từng 3 lần sang Ấn độ, Ca thấp di la cầu pháp. Sư thỉnh các vị tăng Ấn độ đến A lí để cùng dịch các kinh luận Hiển giáo và Mật giáo, trong đó, có 17 bộ kinh, 33 bộ luận Hiển giáo, 108 bộ Đát đặc la Mật giáo. Sư là người đầu tiên trong thời kì hậu truyền dịch, dịch lại các bản mật chú; những dịch phẩm sau thời sư được gọi là Tân mật, vì thế sư được tôn xưng là Lạc khâm(Đại dịch sư). Ngoài ra, sư cũng dịch rất nhiều loại sách thuốc.
Nhân không
人空; C: rénkōng; J: ningū;|Không có một ngã tính hiện hữu riêng biệt, thường hằng; cũng thường được gọi là Ngã không (我空) và Nhân vô ngã (人無我). Trong Phật giáo Đại thừa, điều nầy được nhận thấy trước tiên, nhưng không là một cấp bậc nhìn nhận tính không một cách rốt ráo, mới mức độ kế tiếp là Pháp không (法空). (Theo Phật tính luận 佛性論)
nhân không
Xem Nhân vô ngã.
; Men without ego.
; Con người chỉ là một phối hợp tạm thời bởi ngũ uẩn, lục đại (đất, nước, lửa, gió, hư không và tâm thức), và 12 nhân duyên, chứ không có thực ngã hay một linh hồn trường tồn—Impersonality—Man is only a temporary combination formed by the five skandhas, the six elements (earth, water, fire, air, space and mind), and the twelve nidanas, being the product of previous cause, and without a real self or permanent soul.
Nhân không quán
人空觀; C: rénkōngguān; J: ningūkan;|Pháp quán sát về không có một ngã tính hiện hữu thường hằng, nhất định; hay là chúng sinh có một ngã tính. Pháp quán nầy là sơ khởi, sâu hơn là pháp quán các pháp không tồn tại trên cở sở tự tính (Pháp không quán 法空觀).
nhân không quán
Quán sát hay thiền quán về những điều kiện giả tạm của con người—To contemplate or meditate on the temporary conditions of man.
nhân kí phẩm
(人記品) Tức là phẩm Thụ học vô học nhân kí thứ 19 trong 28 phẩm của kinh Pháp hoa. Nội dung phẩm này nói về việc đức Phật thụ kí cho 2.000 vị học và vô học, như các ngài A nan, La hầu la v.v... trong vị lai sẽ thành Phật. Học, chỉ cho những vị chưa dứt hết sạch các phiền não, vẫn còn phải tu học giới định tuệ vô lậu. Còn Vô học thì chỉ cho những bậc đã đoạn trừ tất cả phiền não, chứng được quả A la hán.
nhân kết thứ
Manusa-krtya (skt)—Loại quỷ có hình thù giống như loài người—Demons shaped like men.
nhân la bà na
(堙羅婆那) Phạm: Airàvaịa. Cũng gọi Y la bát na, Y la diệp. Tên con voi mà trời Đế thích thường cỡi. Voi này dài 9 do tuần, cao 3 do tuần, thường ở sườn núi vàng thứ nhất. Cứ theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 21, thì voi chúa này có đầy đủ tất cả công đức của đại long tượng(voi rồng), trời Đế thích thường cõi voi này để đánh đuổi A tu la khi xảy ra chiến tranh. [X. kinh Hoa nghiêm Q.66 (bản 80 quyển); Hoa nghiêm sớ sao Q.43; Câu xá luận quang kí Q.19; Huyền ứng âm nghĩa Q.11, 22; Tuệ lâm âm nghĩa Q.12, 16].
nhân la na
Airavana (skt)—Ế La Diệp—Nhân Na Bà Na—Y La Bà Nô—Y La Bát Đa La—Y La Bát Na—Y Lan. 1) Vua của loài voi: A king of the elephants. 2) Tên một con voi của vua trời Đế Thích: Indra's white elephants. 3) Tên một loài cỏ: Name of a certain tree or herb. 4) Tên của một vị long vương: Name of a naga.
nhân loại
Humanity.
nhân loại khổ đau và cuồng loạn
Suffering and distracted humanity.
nhân luận sinh luận
(因論生論) Nhờ vào luận mà sinh ra luận nghị. Nghĩa là từ chủ đề luận nghị căn bản mà dần dần triển khai các phần nghị luận phụ thuộc. Có 2 trường hợp dùng Nhân luận sinh luận là: 1. Mở đầu luận mới (chi luận), thì dùng từ ngữ Nhân luận sinh luận. 2. Khi kết thúc mới dùng từ ngữ Nhân luận sinh luận. [X. luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.5; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần đầu].
nhân lí luận
(因理論) Tác phẩm về Nhân minh của Tây tạng. Nội dung sách này trình bày về những qui luật kiến lập luận thức Nhân minh, là tài liệu giáo khoa cơ bản của việc học tập Nhân minh. Nhưng vì các chùa lớn ở Tây tạng đều có biên chép, ấn hành, nên các bản in phần nhiều không giống nhau.
nhân lúc
Just as—When.
nhân lục bát chuyển
(因六八轉) Từ ngữ gọi chung 3 khoa: Nhân minh, Lục hợp thích và Bát chuyển thanh. Trong 3 khoa trên, Nhân minh là Luận lí học (logique) của Ấn độ; Lục hợp thích là 6 phương thức được sử dụng để giải thích những danh từ phức hợp trong văn pháp tiếng Phạm; Bát chuyển thanh là 8 loại vĩ ngữ biến hóa của danh từ, hình dung từ, đại danh từ, phân từ v.v... Ba khoa này là 3 môn học mà những người nghiên cứu về Ấn độ học phải sử dụng, cho nên các nhân sĩ Phật giáo xưa nay, đặc biệt đặt tên tắt bằng cách ghép chung 3 khoa lại để gọi. (xt. Bát Chuyển Thanh, Lục Hợp Thích, Nhân Minh).
nhân lục nghĩa
(因六義) Gọi đủ: Duyên khởi nhân môn lục nghĩa pháp. Gọi tắt: Nhân môn lục nghĩa. Sáu nghĩa của Nhân trong các pháp duyên khởi. Thuyết này từ căn bản do ngài Trí nghiễm (Tổ thứ 2 của tông Hoa nghiêm) đề xướng, sau đệ tử là ngài Pháp tạng (Tổ thứ 3 của tông Hoa nghiêm) thừa kế, rồi y cứ theo thuyết trong Thập địa kinh luận, trong Đại thừa a tì đạt ma tạp tập luận và Chủng tử lục nghĩa trong luận Nhiếp đại thừa, luận Thành duy thức mà lập ra thuyết Nhân môn lục nghĩa này. Nay đem 6 nghĩa của Nhân trình bày sơ lược như sau: 1. Không hữu lực bất đãi duyên: Vốn là không, nhưng có đầy đủ lực dụng mà không cần đợi duyên. Tức thể tính của Nhân là không (vì không có tự tính nên gọi là không), nhưng có đủ toàn bộ lực dụng để dẫn sinh ra quả mà không cần đợi (tức không cần sự giúp đỡ) lực dụng của duyên. Tương đương với nghĩa Sát na diệt trong 6 nghĩa của chủng tử. 2. Không hữu lực đãi duyên: Không, có sức đợi duyên. Tức thể tính của Nhân là không, tuy có đủ lực dụng sinh ra quả, nhưng còn phải nhờ vào lực dụng của duyên khác mới dẫn sinh ra quả. Tương đương với nghĩa Quả câu hữu trong 6 nghĩa của chủng tử. 3. Không vô lực đãi duyên: Không, không có sức đợi duyên. Tức thể tính của Nhân là không, không có đủ lực dụng để dẫn sinh ra quả, mà cần phải nhờ sự giúp sức của các duyên khác mới có thể dẫn sinh ra quả. Tương đương với nghĩa Đãi chúng duyên trong 6 nghĩa của chủng tử. 4. Hữu hữu lực bất đãi duyên: Có, có lực không đợi duyên. Tức thể tính của Nhân là có giả (bản thể không thay đổi, nhưng tùy duyên mà hiển hiện ra các pháp, gọi là có giả), có đủ toàn bộ lực dụng dẫn sinh ra quả, mà không cần nhờ sức giúp đỡ của các duyên khác. Tương đương với nghĩa tính quyết định trong 6 nghĩa của chủng tử. 5. Hữu hữu lực đãi duyên: Có, có sức đợi duyên. Tức thể tính của Nhân là có giả, tuy có đủ lực dụng dẫn sinh ra quả, nhưng vẫn phải nhờ sức giúp đỡ của các duyên khác mới sinh được. Tương đương với nghĩa Dẫn tự quả trong 6 nghĩa của chủng tử. 6. Hữu vô lực đãi duyên: Có, không sức đợi duyên. Tức thể tính của Nhân là có giả, không đủ lực dụng dẫn sinh ra quả, mà cần phải nhờ sự giúp sức của các duyên khác mới sinh được. Tương đương với nghĩa Hằng tùy chuyển trong 6 nghĩa của chủng tử. Nhân lục nghĩa trình bày ở trên có thể được qui nạp vào 3 hình thức sau đây: 1. Nhân hữu lực bất đãi duyên, cũng gọi Nhân sinh: Tức tự thể của Nhân có đầy đủ lực dụng sinh ra quả (nguyên nhân trực tiếp), chứ không cần nhờ sức giúp đỡ của các duyên khác (nguyên nhân gián tiếp). 2. Nhân vô lực đãi duyên, cũng gọi Duyên sinh: Tức tự thể của Nhân không có lực dụng sinh ra quả, cần phải nhờ sức giúp đỡ của các duyên khác. 3. Nhân hữu lực đãi duyên, cũng gọi Nhân duyên sinh: Tức cần phải có sức đóng góp của cả Nhân lẫn Duyên mới có thể sinh ra quả. Ba hình thức trên hoàn toàn không có nghĩa cá biệt, chỉ có quan điểm khác nhau mà thôi. Kì thực, 3 hình thức này hàm nhiếp toàn thể lẫn nhau; nghĩa là khi Nhân sinh thì nhân ấy hàm nhiếp toàn thể duyên; khi Duyên sinh thì duyên đoạt lấy toàn bộ lực dụng của Nhân, nhưng trong đó cũng có hàm nhiếp nghĩa của Nhân; còn khi Nhân duyên sinh thì Nhân và Duyên đều đầy đủ. Vì tự thể của Nhân không có thực tính, đó là nghĩa Không; vì Nhân đợi duyên mới sinh, đó là nghĩa Có. Do đó mà biết, tự thể của Nhân gồm cả 2 nghĩa Không và Có mà hình thành 6 nghĩa của Nhân. Về luận thuyết được dùng làm chỗ căn cứ của Nhân lục nghĩa thì có 4 thứ thâm quán (quán xét sâu xa)nói trong Thập địa kinh luận quyển 8, đó là: 1. Phi tha tác: Chẳng phải do cái gì khác tạo tác. Vì từ Nhân sinh ra. 2. Phi tự tác: Chẳng phải do mình tạo tác. Vì do duyên sinh ra. 3. Phi nhị tác: Chẳng phải mình và cái gì khác tạo tác. Vì chỉ tùy thuận sinh, vì chẳng ai biết, vì khi tạo tác thì không dừng. 4. Phi vô nhân tác: Chẳng phải không có Nhân tạo tác. Vì tùy thuận nên có. Và luận thuyết trong luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 4 (Đại 31, 712 hạ): Vì tự có chủng tử nên chẳng từ pháp khác; vì đợi các duyên nên chẳng phải tự tạo tác; vì không có tác dụng nên chẳng phải cùng sinh; vì có công năng nên chẳng phải không có nhân. Ngoài ra, còn có thuyết Chủng tử lục nghĩa trong luận Nhiếp đại thừa và luận Thành duy thức. Nhân lục nghĩa của tông Hoa nghiêm sử dụng thuyết Chủng tử lục nghĩa để giải thích tư tưởng Như lai tạng, cho rằng Như lai tạng là Nhân của muôn vật, có 6 nghĩa, từ đó mà thành lập nghĩa Nhất thừa vô tận duyên khởi. Nhân lục nghĩa tuy được căn cứ vào thuyết Chủng tử lục nghĩa mà thành lập, nhưng nghĩa lí của Nhân lục nghĩa lại khác xa với ý thú của Chủng tử lục nghĩa. Vì Chủng tử lục nghĩa nói theo thức A lại da, còn Nhân lục nghĩa thì bàn theo tâm Như lai tạng của Chân như. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.2 (bản dịch đời Lương); luận Thành duy thức Q.2; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.3, hạ; Hoa nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp Q.hạ]. (xt. Chủng Tử Lục Nghĩa).
nhân lực
Đối lại với duyên lực. Đây là nguyên nhân chính sinh ra sự vật—The causal force, as contrasted with environmental or secondary force (duyên lực).
; (因力) Đối lại: Duyên lực. Sức trực tiếp sinh thành muôn vật. Luận Câu xá quyển 2 (Đại 29, 7 hạ) nói: Các căn sinh chẳng phải do hữu dụng, nếu có nhân lực thì dù vô dụng cũng vẫn sinh. Luận Câu xá quyển 17 (Đại 29, 89 trung) nói: Nếu do nhân lực thì người dứt thiện căn sẽ tiếp nối khi sắp chết; nếu do duyên lực thì người đoạn thiện căn sẽ tiếp nối khi sắp sinh ra. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ].
nhân ma sa
See Nhân Mãng Sa.
nhân minh
Hetuvidyà (S). The science of cause, logical reasoning, with its syllogistic method of tôn proposition, nhân the reason, dụ the exemple.
; Hetuvidya (skt)—Tiếng Phạn là Hetuvidya, thuộc về khoa lý luận học, lập ra pháp ba chi (tông, nhân và dụ)—The logically reasoning of a cause—The science of cause or logical reasoning or logic with its syllogistic method of the proposition, the reason, the example. a) Tông: The method of proposition. b) Nhân: The method of reason. c) Dụ The method of example. ** For more information, please see Pháp Tự Tướng Tương Vi Nhân.
; (因明) Phạm: Hetu-vidyà. Hán âm: Hê đô phí đà. Môn Luận lí học (Logic) của Ấn độ, 1 trong Ngũ minh. Nhân (hetu) là căn cứ suy lí, là lí do, nguyên nhân; Minh (vidyà) là hiểu rõ, giải thích rõ những lí do, nguyên nhân được nêu ra để chứng minh cho chủ trương của người lập luận. Khi ta tìm hiểu 1 sự kiện, phải có năng lực suy diễn, tức phải căn cứ vào sự kiện đã biết để so sánh và suy diễn ra sự kiện chưa biết. Nhưng quá trình suy diễn phải có mạch lạc, rõ ràng mới có thể đưa đến kết luận chính xác, đó là nghĩa căn bản của Nhân minh. Người sáng lập ra Nhân minh là Akwapàda Gautama, thủy tổ của phái Chính lí (Phạm: Nyàya), 1 trong 6 phái triết học của Ấn độ. Sự tích về Akwa-pàda đến nay vẫn mờ mịt, chỉ đoán được là ông đã sinh ra khoảng mấy trăm năm trước Tây lịch mà thôi. Đến thời đại đức Phật thì Nhân minh học ở Ấn độ đã rất có hệ thống. Sau khi đức Phật thành đạo, Ngài thường ứng dụng phương pháp luận lí Nhân minh để thuyết pháp, điều này thấy rõ trong các kinh. Nhân minh được lưu truyền trong Phật giáo, gọi là Nội đạo nhân minh; còn Nhân minh do các phái ngoại đạo học tập và nghiên cứu thì gọi là Ngoại đạo nhân minh. Lịch sử của Ngoại đạo nhân minh hiện nay khó tìm hiểu được chính xác, nhưng Nội đạo nhân minh thì tương đối khá rõ ràng. Sau đức Phật nhập diệt khoảng 700 năm, ngài Long thụ đã viết luận Phương tiện tâm để giải thích phương pháp Nhân minh. Sau đó 200 năm, ngài Di lặc thuyết bộ luận Du già sư địa gồm 100 quyển, trong đó, quyển thứ 15 bàn về Luận lí học Nhân minh. Về sau, lại có ngài Vô trước soạn luận Hiển dương thánh giáo gồm 20 quyển, trong đó, quyển thứ 10 trình bày phương pháp nghị luận Nhân minh rất rõ ràng. Em ngài Vô trước là ngài Thế thân thì viết các luận như: Luận quĩ, Luận thức, Luận tâm, có thể gọi là tập đại thành những qui tắc luận lí Nhân minh. Sau đức Phật nhập diệt khoảng 1.100 năm, có ngài Trần na tiếp nối nghiên cứu và sửa đổi những chỗ rườm rà, bổ sung những điểm thiếu sót trong luận thức Nhân minh, từ đó Nhân minh được gọi là Tân nhân minh, còn Nhân minh từ ngài Trần na về trước thì gọi là Cổ nhân minh. Ngài Trần na soạn hơn 40 bộ sách nói về Nhân minh, nhưng rất tiếc đến nay chỉ còn lại 1 bộ Nhân minh chính lí môn luận. Đệ tử của Ngài là Thương yết la chủ nhận thấy tác phẩm Nhân minh chính lí môn luận của Thầy mình rất sâu xa khó hiểu, nên soạn bộ Nhân minh nhập chính lí luận để giải thích, các học giả Phật giáo đời sau, khi nghiên cứu Nhân minh, phần nhiều y cứ theo bộ luận này. Về sau, pháp tôn của ngài Trần na là Pháp xứng(đệ tử ngài Hộ pháp ở chùa Na lan đà)cũng soạn 8 tác phẩm về Nhân minh, trong đó, có bộ Thích lượng luận, đã trút bỏ khỏi Nhân minh học sự ràng buộc của thuật biện luận, khiến cho sự kết hợp giữa Luận lí học và Trí thức luận lại càng mật thiết, cơ sở thêm vững chắc .Tại Trung quốc, sau khi ngài Huyền trang từ Ấn độ trở về, những tác phẩm Nhân minh bằng tiếng Phạm lần lượt được dịch ra Hán văn. Về sau, ngài Khuy cơ chú thích bộ Nhân minh nhập chính lí luận của ngài Thương yết la chủ thành bộ Nhân minh nhập chính lí luận sớ mà người đời gọi là Nhân minh đại sớ. Sau, đệ tử của ngài Khuy cơ là Tuệ chiểu cũng soạn các bộ Nhân minh nghĩa đoán, Nhân minh nhập chính lí luận toản yếu... Nối tiếp, có ngài Trí chu soạn Nhân minh nhập chính lí luận sớ tiền kí và Nhân minh nhập chính lí luận sớ hậu kí để phân tích câu văn và nghĩa lí trong bộ Nhân minh đại sớ. Về sau, lại có các ngài Đạo ấp, Đại hiền... kế tục nhau mở rộng Nhân minh học.Nhưng, từ các đời Nguyên, Minh về sau, vì bộ Nhân minh đại sớ bị thất lạc, nên khoảng vài trăm năm sự truyền lưu Nhân minh rơi vào tình trạng suy vi. Mãi đến cuối đời Thanh, cư sĩ Dương nhân sơn tìm lại được bộ Nhân minh đại sớ tại Nhật bản, đem về khắc in để lưu thông, phong trào học tập, nghiên cứu Nhân minh dần dần được khôi phục. Từ đời Dân quốc đến nay, các học giả danh tiếng như: Lữ trừng, Ngu ngu, Đường đại viên, Chu thúc ca, Pháp phong, Trần đại tề... lần lượt xuất hiện, áp dụng phương pháp Luận lí học Tây phương, trứ thuật, giảng giải Nhân minh, nhờ đó Nhân minh học tiếp tục được lưu truyền. Ở Tây tạng, từ đời Tống, Nguyên trở đi, việc học tập, nghiên cứu Nhân minh rất thịnh, trước sau phiên dịch tất cả 66 bộ luận Nhân minh từ tiếng Phạm ra tiếng Tây tạng. Rất nhiều vị tăng học giả Tây tạng nổi tiếng về Nhân minh và không ít những tác phẩm Nhân minh bằng tiếng Phạm còn được lưu truyền đến ngày nay là nhờ các bản dịch Tây tạng. Tại Nhật bản, năm 653, vị tăng Nhật bản là Đạo chiêu đến Trung quốc, vào cửa ngài Huyền trang học tập Nhân minh. Sau khi về nước, ngài Đạo chiêu trụ ở chùa Nguyên hưng truyền bá Nhân minh học, người đời gọi là Nam tự truyền, hoặc Phi điểu truyền. Về sau, năm 716, vị tăng người Nhật khác là Huyền phưởng cũng đến Trung quốc, theo ngài Trí chu học Nhân minh; sau khi về Nhật bản, trụ ở chùa Hưng phúc hoằng dương Nhân minh, người đời gọi là Bắc tự truyền, hoặc Lạp sơn truyền. Trong hàng môn đệ của 2 phái này, có rất nhiều học giả Nhân minh lỗi lạc xuất hiện, nối tiếp nhau trứtác, khiến cho đến nay việc học tập, nghiên cứu Nhân minh vẫn hưng thịnh. Sự khác nhau giữa Cổ nhân minh – trước ngài Trần na– và Tân nhân minh –từ ngàiTrần na về sau– là ở chỗ kiến lập luận thức. Cổ nhân minh lập luận thức gồm 5 phần, gọilà Ngũ chi tác pháp ......(luận thức do 5 phần cấu tạo thành). Thí dụ: 1. Tông: Âm thanh là vô thường. 2. Nhân: Vì do sự tạo tác mà có ra. 3. Dụ: Ví như cái bình... 4.Hợp: Cái bình là do sự tạo tác mà có, là vô thường; âm thanh cũng do sự tạo tác mà có, nên âm thanh cũng là vô thường. 5. Kết: Vì thế nên biết rằng âm thanh là vô thường. Tông, là chủ trương của người lập luận, chủ trương này không được đối phương thừa nhận, nó là mục tiêu tranh luận của đôi bên. Như vậy, chủ đề tranh luận mà không được đối phương (hay địch luận) chấp nhận, thì người lập luận phải nêu lí do để thuyết phục đối phương, nêu lí do đó tức làNhân, phần thứ 2 của luận thức. Phần nhân này chính là lí do biện hộ cho chủ trương lập Tông. Lập luận trên đây nêu rõ chủ đề của sự tranh biện Âm thanh là vô thường. Muốn thuyết phục để đối phương công nhận, người lập luận viện lí do Vì là do sự tạo tác mà có ra để làm Nhân bênh vực cho chủ trương lập luận của mình. Nghĩa là, nếu đã do sự tạo tác mà có, thì phải là vô thường. Đã nêu lí do để chứng minh rồi, nên trong đoạn thứ 3 là Dụ lại đem ví dụ cho đối phương hiểu rõ thêm: Ví như cái bình v.v.... Cái bình là vật thấy ngay trước mắt, ai cũng biết nó được tạo tác ra, là vô thường, có thể dùng để ví dụ. Phần thứ 4, đem hợp lại: Cái bình là do sự tạo tác mà có ra, là vô thường; âm thanh là do sự tạo tác mà có, nên âm thanh cũng là vô thường. Đây là phần Hợp mà qua 3 đoạn trước, ta cũng có thể đoán ra được rồi. Có sự tổng kết ấy rồi, sự tranh luận đã rõ, nên có thể kết luận, bởi vậy có phần thứ 5 là Kết: Vì thế nên biết rằng âm thanh là vô thường. Luận thức năm phần Tông, Nhân, Dụ, Hợp, Kết trên đây, không những chỉ phức tạp mà sức chứng minh cũng rất yếu ớt. Chẳng hạn như phần Hợp thì chỉ có tác dụng so sánh, suy lí chứ sức chứng minh không đủ mạnh; còn phần Kết thì chỉ lập lại điều đã nói trong phần Tông, chứ không có công dụng gì, nên 2 phần này không cần thiết. Bởi vậy, khi Cổ nhân minh được truyền đến ngài Trần na thì ngài bỏ 2 phần này ra và sửa đổi lại 1 số điểm ở 2 phần Nhân, Dụ mà trở thành Tân nhân minh. Sau những sự cải cách lớn lao như trên, luận thức của Tân nhân minh chỉ còn 3 phần, gọi là Tam chi tác pháp (luận thức do 3 phần cấu tạo thành). Thí dụ: 1. Tông: Âm thanh là vô thường. 2. Nhân: Vì do sự tạo tác mà có ra. 3. Dục: Những gì do sự tạo tác mà có ra đều là vô thường. Ví như cái bình v.v... Trong luận thức của Tân nhân minh trên đây, ta nhận thấy ngoài sự sửa đổi 5 phần ra 3 phần, còn có 1 sự cải cách rất lớn ở phần thứ 3, là Dụ. Ở Cổ nhân minh, phần Dụ: Ví như cái bình v.v... chẳng qua chỉ là 1 sự chứng minh. Nhưng trong Tân nhân minh, ở phần Dụ còn thêm: Những gì do sự tạo tác mà có ra đều là vô thường – Những gì ấy là nói về toàn thể những cái đồng phẩm, đồng loại với âm thanh, mà trong đó âm thanh là một. So với luận thức Ngũ chi tác pháp của Cổ nhân minh, thì luận thức Tam chi tác pháp của Tân nhân minh, tuy nói là giản dị, vắn tắt hơn, nhưng cũng là rõ ràng và chính xác hơn nhiều. Đó là điểm đặc sắc trọng đại của Tân nhân minh. Về Năng lập (nền tảng thành lập luận thức) và Sở lập (luận thức được thành lập nên), thì Cổ nhân minh cho rằng 3 phần Tông, Nhân, Dụ đều thuộc về Năng lập, còn Tân nhân minh thì cho 2 phần Nhân, Dụ (yếu tố để thành lập tông) là Năng lập; còn Tông(do Nhân, Dụ thành lập nên) là Sở lập. Trong Tông có 2 phần: Danh từ trước (tiền trần) và danh từ sau (hậu trần). Như âm thanh là danh từ trước, còn vô thường là danh từ sau. Danh từ trước chỉ cho tự tính, vật thể; danh từ sau chỉ cho nghĩa lí, sai biệt. Âm thanh và vô thường được kết hợp lại bằng chữ là thành 1 mệnh đề Âm thanh là vô thường. Mệnh đề này Cổ nhân minh cho là Năng lập, còn những yếu tố (tức âm thanh và vô thường) kết thành mệnh đề này là Sở lập. Theo cách phân chia trên, thì Tông là chủ trương của người lập luận, là chủ thể của sự tranh luận, gọi là Sở lập; còn Nhân, Dụ để biện minh cho Tông, gọi là Năng lập.Trong Cổ nhân minh có 9 cú Nhân, tức là 9 trường hợp của Nhân. Nhân là yếu tố quan trọng để thành lập Tông, phải hội đủ 2 điều kiện mới là Nhân chính xác. Đó là: 1. Quyết định phải có tính cách của đồng phẩm. 2. Tuyệt đối không được có tính cách của dị phẩm. Đồng phẩm nghĩa là đồng loại, tức chỉ cho tất cả những gì có tính cách đồng nhất với Tông. Như cái bình, cái bát v.v... có tính cách giống với âm thanh là vô thường vì bình, bát... cũng được tạo ra, cũng là vô thường. Cho nên có thể gọi bình, bát là đồng phẩm với âm thanh. Dị phẩm nghĩa là khác phẩm loại, tức chỉ cho tất cả những cái có tính cách mâu thuẫn với Tông. Như hư không, không có tính cách vô thường, vì hư không chẳng phải do sự tạo tác mà có như âm thanh, nó là thường có, nên là dị phẩm với âm thanh, cũng gọi là Dị dụ. Như nói theo thí dụ Âm thanh là vô thường, thì trừ âm thanh ra, những sự vật nào có tính cách vô thường, đều là đồng phẩm với âm thanh, còn những sự vật nào không có tính cách vô thường đều là dị phẩm. Ví dụ:Tông: Loài người ai cũng phải chết. Nhân: Vì là động vật vậy. Như thế, trong phần Dụ, con bò là loài động vật, con bò cũng phải chết, thì là đồng phẩm với loài người. Như đã nói ở trên, đồng phẩm tức là đồng loại. Như vậy, đất, đá không là động vật, sẽ không chết, thì là dị phẩm. Tóm lại, Nhân có tính cách đồng phẩm, không có tính cách dị phẩm mới là Nhân đúng. Như ví dụ trên là đúng. Trên đây là nói tổng quát về Cổ nhân minh. Còn Tân nhân minh, tuy không nêu ra 9 trường hợp về Nhân (9 cú nhân), nhưng lại đề ra 3 tướng –ba điều kiện– mà ai cũng thấy là đơn giản và khái quát hơn nhiều. Ba tướng ấy là: 1. Phải hoàn toàn có quan hệ với Tông pháp. 2. Phải quyết định có tính cách của đồng phẩm. 3. Phải tuyệt đối không có tính cách của dị phẩm. Xét ra thì 3 điều kiện (3 tướng) này chỉ là sự tổng hợp của 9 cú nhân trong Cổ nhân minh. Ba điều kiện thì 1 là hoàn toàn do Tân nhân minh sáng tạo ra (điều kiện thứ 1), còn điều kiện thứ 2 là qui định sự quan hệ của Nhân với đồng phẩm, điều kiện thứ 3 là qui định sự quan hệ của Nhân với dị phẩm. Tóm lại, 9 cú nhân trong Cổ nhân minh được đổi thành 2 điều kiện trong Tân nhân minh. Còn điều kiện thứ 1 phải thêm vào vì rất cần thiết, không thể thiếu được. Trong Cổ nhân minh không có sự phân biệt về Dụ thể và Dụ y. Nhưng trong Tân nhân minh thì sự phân biệt ấy rất rõ ràng. Dụ thể là đem tất cả những gì có tính cách của đồng phẩm ra mà ví dụ, còn Dụ y là chỉ nêu ra 1 vài cái trong đồng phẩm để chứng minh. Chẳng hạn, trong câu Tất cả những gì do sự tạo tác mà có ra, đều là vô thường – ví như cái bình..., thì Tất cả những gì do sự tạo tác mà có ra đều là vô thường là Dụ thể (toàn thể của dụ), còn ví như cái bình... là Dụ y (1 vật y nơi toàn thể ấy được đưa ra để chứng minh). Dụ trong Cổ nhân minh chỉ là Dụ y chứ không có Dụ thể, vì chỉ vẻn vẹn ví như cái bình. Những điểm khác nhau giữa Cổ nhân minh và Tân nhân minh còn nhiều, ở đây chỉ nêu ra mấy điểm đại khái thôi, học giả cần phải nghiên cứu môn Nhân minh thật sâu rộng mới hiểu thấu được. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu; Nhân minh nhập chính lí luận thuật kí; Nhân minh luận sớ minh đăng sao; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí; Nhân minh khái luận (Thái hư), Nhân minh học (Ngu ngu); Nhân minh đại sớ lê trắc (Trần đại tề); Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề); Phật gia la tập nghiên cứu (Hoắc thao hối); Thích lượng luận lược giải (Pháp tôn biên tập); Phật giáo luận lí học (Vũ tỉnh Bá thọ); Đông phương luận lí học (Nhất hạnh)].
nhân minh bát môn
(因明八門) Cũng gọi Nhân minh bát nghĩa. Tiếng dùng trong Nhân minh. Tám nghĩa môn do ngài Thương yết la chủ, Luận sư Tân nhân minh lập ra để thu tóm hết chính lí của Nhân minh. Đó là: Chân năng lập, Tự năng lập, Chân năng phá, Tự năng phá, Chân hiện lượng, Tự hiện lượng, Chân tỉ lượng, Tự tỉ lượng. 1. Chân năng lập (Phạm: Sàdhana): Lập luận đúng. Đây là luận thức đầy đủ, chính xác về mặt lí luận và chứng minh, tức là cả về hình thức và nội dung đều hoàn toàn không có lỗi, có thể đạt đến mục đích ngộ tha, nghĩa là làm cho người khác hiểu. 2. Tự năng lập (Phạm: Sàdhanàbhàsa): Lập luận sai. Đây là luận thức được thành lập 1 cách sai lầm, lí luận không rõ ràng, chứng minh không hợp lí, không làm sáng tỏ được ý nghĩa mình chủ trương, không thể làm cho đối phương tin phục và hiểu được ý mình. 3. Chân năng phá (Phạm: Dùwaịa): Phá luận đúng. Đây là trường hợp mình đả phá chủ trương lập luận của đối phương, làm cho họ thấy rõ được những sai lầm trong luận thức của họ (ngộ tha). 4. Tự năng phá (Phạm: Dùwaịàbhàsa): Phá luận sai. Đây là trường hợp mà luận thức của đối phương vốn đầy đủ và chính xác, nhưng mình lại cho là sai lầm nên muốn phá. Người phá luận trong trường hợp này dù có cố sức vạch lá tìm sâu thì cũng tự chuốc lấy thất bại mà thôi. 5. Chân hiện lượng (Phạm: Pratyakwa): Sự hiểu biết chính xác về hiện lượng. Lượng nghĩa là đo lường, là mực thước cho sự phân biệt đúng và sai của tri thức. Trí óc suy xét, cho cái này đúng, cái kia sai, là lượng. Khi ta dùng ngũ quan mà nhận thức sự vật chung quanh, như mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi... thì biết ngay mà không cần suy xét, thì gọi là Hiện lượng. Chân hiện lượng nghĩa là sự nhận biết bằng trực giác 1 cách đúng đắn, chính xác, khi thấy sợi dây thì biết ngay đó là sợi dây. 6. Tự hiện lượng (Phạm: Pratya= kwàbhàsa): Sự nhận thức về hiện lượng 1 cách sai lầm. Nghĩa là sự nhận biết về hiện lượng nhiều khi cũng rất sai lầm, vì đôi khi thấy khói cho là mây, thấy sương bảo là khói, trong lúc vội vàng thấy sợi dây cho ngay đó là con rắn... đó là Tự hiện lượng. 7. Chân tỉ lượng (Phạm: Anumàna): Sự hiểu biết đúng đắn về tỉ lượng. Tỉ lượng là sự hiểu biết bằng suy xét, so đo, tức là tầng trên của Hiện lượng. Hiện lượng chỉ mới là cảm nhận thấy, nghe, như thấy mây nói là mây, thấy khói biết là khói; còn Tỉ lượng là tác dụng phân biệt của tri thức, khói ấy do đâu mà có, mây ấy rồi sẽ ra sao v.v.... Nói cách khác, đó là sự so sánh cái này, cái kia, rồi suy ra một cái lí, một sự thực, một lời giải. Ví như thấy mây đen nổi lên thì biết sẽ có mưa. Đó là Chân tỉ lượng, nghĩa là Tỉ lượng chính xác. 8. Tự tỉ lượng (Phạm: Anumànàbhàsa): Sự hiểu biết sai lầm về tỉ lượng. Trong trường hợp phân biệt và suy đoán sai lầm thì gọi là Tự tỉ lượng. Chẳng hạn, từ xa thấy sương mù cho là khói, rồi bảo rằng ở đó có lửa. Đó là Tự tỉ lượng, nghĩa là tựa hồ như đúng, nhưng kì thực là sai. Trong 8 nghĩa môn trên, Chân năng lập, Chân năng phá, Chân hiện lượng, Chân tỉ lượng, được gọi là Tứ chân; còn Tự năng lập, Tự năng phá, Tự hiện lượng, Tự tỉ lượng thì gọi là Tứ tự. Mục đích của Nhân minh là khơi mở chính trí, lĩnh ngộ chân lí. Tứ tự tuy không thể làm phát sinh chân trí, nhưng Tự năng lập và Tự năng phá là muốn nhằm vào cái sở lập hoặc sở phá để làm cho người khác hiểu(ngộ tha); còn Tự hiện lượng và Tự tỉ lượng thì cũng muốn làm cho chính mình nhận thức được chân lí. Nếu đứng về phương diện công dụng mà nhận xét, thì Tứ tự khác với Tứ chân; nhưng, nếu đứng trên quan điểm mục đích mà nói, thì Tứ tự và Tứ chân giống nhau, bởi thế, Nhân minh vẫn xếp Tứ tự vào 2 môn Ngộ tha và Tự ngộ. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần đầu; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu; Nhân minh nhập chính lí luận sớ tiền kí Q.thượng, phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.1; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề); Đông phương luận lí học (Nhất hạnh)]. (xt. Bát Môn Lưỡng Ích, Nhân Minh).
nhân minh chánh lý môn luận
Nyaya-dvaratarka-sastra (skt)—Bộ luận về lý luận học được Ngài Trần Na biên soạn và ngài Nghĩa Tịnh dịch sang Hoa Ngữ vào thời nhà Đường—A treatise composed by Dignaga, translated into Chinese by I-Ching during the T'ang dynasty.
nhân minh chánh lý môn luận bản
Nyāyadvāratāraka-śāstra (S), Hetuvidyānyaya-dvāra-śāstra-mŪla (S)Chánh lý môn luận bản, Lý môn luậnTên một bộ luận kinh do ngài Trần Na biên soạn.
nhân minh chính lí môn luận
(因明正理門論) Cũng gọi Chính lí môn luận, Lí môn luận.Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trần na, người Ấn độ soạn, ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Luận này có bản dịch khác là Nhân minh chính lí môn luận bản do ngài Huyền trang dịch, cũng được thu vào Đại chính tạng tập 32. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.8, 9; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9].
nhân minh chính lí môn luận bản
Hetuvidyànyàya-dvàra-sàstra-mùla (S).
; (因明正理門論本) Phạm: Nyàya-dvàra-tarka-zàstra. Cũng gọi Chính lí môn luận bản. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trần na, người Ấn độ soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung luận này giải thích rõ về những qui tắc của luận lí Nhân minh. Vì muốn phá những kiến chấp mê lầm của ngoại đạo và nêu tỏ chính lí của Phật pháp, nên ngài Trần na đã dựa vào thuyết của bồ tát Di lặc trong luận Du già sư địa và Cổ nhân minh của ngài Thế thân, lập ra các thuyết Chân năng lập, Chân năng phá... để giải thích rõ thực nghĩa của các pháp, mở ra 1 kỉ nguyên mới cho nền Luận lí học của Ấn độ. Đây là tác phẩm xưa nhất về Tân nhân minh được dịch ra chữ Hán hiện còn. Bản dịch khác của luận này là: Nhân minh chính lí môn luận, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào năm Cảnh vân thứ 2 (711) đời Đường. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.8, 9; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9].
nhân minh danh nghĩa tập
(因明名義集) Tác phẩm về Nhân minh của Tây tạng được thu vào Long đa Lạt ma toàn tập. Nội dung sách này gồm 2 phần: 1. Phần do ngài Trọng khâm a vượng đạt kiệt soạn: Lược thuật về sự truyền bá các tác phẩm Nhân minh ở Tây tạng, về các tác phẩm tiêu biểu của các học giả Tây tạng góp phần vào việc phát triển Nhân minh, về các luận chứng của các loại luận thức và về những qui tắc kiến lập luận thức. 2. Phần do ngài A vượng lạc tang soạn: Trình bày 1 cách khái quát về tính chất, công dụng, đặc trưng của các loại nhận thức. Đặc điểm của bộ sách này là sưu tập đầy đủ, chú thích giản đơn những danh từ thường thấy trong Nhân minh.
Nhân Minh Học
(因明學, Immyōgaku): tên gọi của một trong 5 học vấn gồm Nhân Minh (因明), Thanh Minh (聲明), Công Xảo Minh (工巧明), Y Phương Minh (醫方明) và Nội Minh (內明). Nếu xét từ ý nghĩa của chữ, Nhân Minh (hetu-vidyā, 因明) có nghĩa là học vấn về lý do (nhân) trong suy lý, suy luận, nhưng về cơ bản thì nó là học vấn nhằm khảo sát kỹ thuật cũng như quy tắc của nghị luận. Các bậc vương hầu Ấn Độ từ ngày xưa đã từng tạo ra những cuộc luận tranh giữa các tôn giáovà các triết học ngay trước mặt họ, rồi tìm ra điểm hay dở của chúng và bên nào giành được thắng lợi thì sẽ được viện trợ hậu hỷ về mặt tài chính. Từ phong tục này, Nhân Minh đã trở thành một loại vấn đề mang tính sống còn, nên nó được nghiên cứu rất thấu đáo. Trần Na (s: Dignāga, Dinnāga, t: Phyogs-kyi glaṅ-po, 陳那), nhân vật xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 5 hay 6 Tây Lịch, đã kết hợp tiêu điểm luận cứu trong chính cái suy lý, suy luận để làm sáng tỏ hình thứcđúng hay không đúng của nhân, và xác lập nên học vấn hơn hẳn cả luận lý học thông thường. Chính vì lẽ đó, Nhân Minh trước thời Trần Na được gọi là Cổ Nhân Minh, còn Nhân Minh trở về sau là Tân Nhân Minh. Tân Nhân Minh này đã từng luận tranh với học phái Nyāya và nhờ có Pháp Xưng (s: Dharmakīrti, 法稱, khoảng thế kỷ thứ 7) mà hình thành nên hệ thống giáo học rất tinh xảo. Tuy nhiên, tác phẩm Hán dịch đáng chú mục là sách cương yếu Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận (因明入正理論) của Thương Yết La Chủ (s: Śaṃkrasvāmin, 商羯羅主) nhân vật sống cùng khoảng thời kỳ và cũng là môn nhân của Trần Na. Sau đó có bộ sách chú thích rất lớn về tác phẩm này cũng được viết nên là Nhân Minh Đại Sớ (因明大疏). Ở Nhật Bản, nếu nói về nghiên cứu Nhân Minh thì người ta chỉ tập trung nghiên cứu bộ này mà thôi. Khởi đầu là Thiện Châu (善珠, Zenshu, 723-797) ở Thu Tiểu Tự (秋篠寺) dưới thời Nại Lương, các học giả Nhân Minh đã xuất hiện liên tục, đặc biệt trong Pháp Tướng Tông truyền thống nghiên cứu về Nhân Minh này rất được xem trọng.
nhân minh luận
Hetuvidyā śāstra (S).
; Hetuvidya-sastra (skt)—Một trong Ngũ Minh Luận, lý luận về bản chất của sự thật và sự sai lầm—One of the Pancavidya-sastra, a treatise explaining causality, or the nature of truth and error.
nhân minh luận sớ minh đăng sao
(因明論疏明燈抄) Cũng gọi Nhân minh nhập chính lí luận sớ minh đăng sao, Nhân minh minh đăng sao.Gọi tắt: Minh đăng sao. Tác phẩm, 12 quyển, do ngài Thiện châu (724-797) người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 68. Đây là tác phẩm về Nhân minh học nổi tiếng nhất tại Nhật bản, có ảnh hưởng rất sâu đối với việc phát triển Nhân minh học ở xứ Phù tang. Về sau, các tác phẩm Nhân minh đại sớ sao, 3 quyển, của ngài Minh thuyên (789- 868) và Nhân minh tứ chủng tương vi lược tư kí, 2 quyển, của ngài Chân hưng (934- 1004) đều có trích dẫn sách này.
nhân minh luận sớ thuỵ nguyên kí
(因明論疏瑞源記) Cũng gọi Nhân minh nhập chính lí luận sớ thụy nguyên kí. Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Phượng đàm (1654-1736) thuộc tông Hoa nghiêm Nhật bản soạn. Đây là sách chú thích bộ Nhân minh đại sớ của ngài Từ ân Khuy cơ, trong sách thu chép rất nhiều tư liệu mà hiện nay hiếm thấy. Sách này rất có giá trị tham khảo đối với việc nghiên cứu Nhân minh. Có điều đáng tiếc là sách đã truyền lầm phần nguyên văn liên quan đến chú thích, nên hơn 200 năm nay đã bị chỉ trích khá nhiều.
nhân minh luận toản yếu
(因明論纂要) Cũng gọi Nhân minh luận nghĩa toản yếu, Nhân minh toản yếu. Gọi đủ: Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuệ chiểu soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 44. Nội dung sách này chú thích bộ luận Nhân minh nhập chính lí do ngài Huyền trang dịch.
nhân minh nhập chánh lý luận
Nyaya-pravesa (skt)—Thuyết minh về lý luận (chân năng lập, chân năng phá, chân hiện lượng, chân tỷ lượng, tự năng lập, tự năng phá, tự hiện lượng, tự tỷ lượng) do đệ tử của Trần Na là Thương Yết La soạn, Trần Huyền Trang đời Đường dịch sang Hoa Ngữ, một quyển bao gồm những lời bình—A treatise on logic composed by Sankarasvamin, follower of Dignaga, translated into Chinese by Hsuan-Tsang in one book, on which there are numerous commentaries and works.
nhân minh nhập chính lí luận
(因明入正理論) Phạm: Nyàya-praveza. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Thương yết la chủ, người Ấn độ soạn, ngài Huyền trang dịch vào năm Trinh quán 21 (647) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Tác giả Thương yết la chủ là đệ tử của Luận sư Tân nhân minh Trần na, vì bộ luận Nhân minh chính lí môn của thầy quá sâu xa khó hiểu, nên ngài Thương yết la chủ mới tóm lược yếu chỉ rồi thêm vào phần luận thuyết của mình soạn mà thành bộ sách này, để làm nền tảng cho lớp hậu học bước vào chính lí của Nhân minh. Nội dung tác phẩm này trình bày về nghĩa của 8 môn: Chân năng lập, Chân năng phá, Tự năng lập, Tự năng phá, Chân hiện lượng, Tự hiện lượng, Chân tỉ lượng, Tự tỉ lượng. Trong đó, Chân năng lập và Tự năng lập là phần chủ yếu của luận này, được trình bày rất chi tiết, rõ ràng; còn 6 môn kia thì chỉ nói sơ lược mà thôi. Chân năng lập chuyên nói về 3 chi: Tông (mệnh đề), Nhân (lí do) và Dụ (thí dụ), còn Tự năng lập thì nêu ra 33 lỗi (9 lỗi về Tông, 14 lỗi về Nhân và 18 lỗi về Dụ) của Nhân minh. Chỗ khác nhau giữa luận này và luận Nhân minh chính lí môn (gọi tắt: Luận chính lí môn) là: Ngoài việc bỏ bớt 9 cú nhân (9 trường hợp về Nhân)trong luận Chính lí môn để thay vào đó bằng 3 tướng nhân (ba điều kiện về Nhân) ra, ngài Thương yết la chủ còn dành quá nửa tác phẩm của mình để giải thích tỉ mỉ, rõ ràng về 33 lỗi của 3 chi Nhân minh. Cũng vì những điểm then chốt, cốt tủy trong bộ luận này được tác giả trình bày 1 cách sáng sủa, ngắn gọn, cho nên từ xưa đến nay được người đời học tập, nghiên cứu rộng rãi hơn bộ luận Chính lí môn. Tại Ấn độ, từ thế kỉ IX về sau, tín đồ Kì na giáo từng chú thích luận này. Còn ở Trung quốc, sau khi được Đại sư Huyền trang dịch sang Hán văn, thì các ngài Trần thái, Tĩnh mại, Khuy cơ... cũng lần lượt soạn sách chú thích, trong đó, đặc biệt bộ Nhân minh nhập chính lí luận sớ của ngài Khuy cơ là bản chú giải chi tiết rõ ràng hơn cả, đã có ảnh hưởng rất lớn đối với việc nghiên cứu Nhân minh học tại Trung quốc và Nhật bản. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9].
nhân minh nhập chính lí luận sớ
(因明入正理論疏) Cũng gọi Nhân minh đại sớ. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Khuy cơ soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 44. Nội dung sách này chia làm 4 môn: Trình bày lí do soạn luận, Giải thích đề mục, Nêu rõ những điểm khó khăn và Giải thích chính văn. Từ xưa đến nay bộ sách giá trị này được lưu hành tại Trung quốc, Nhật bản và được các nhà nghiên cứu Nhân minh xem là kim chỉ nam.
nhân minh nhập chính lý luận
Nyāyapraveśa (S), Nyāyadvāratāraka (S)Nhập Chánh lý luậnDo Thương Yết La Chủ biên soạn, môn đệ của ngài Trần Na biên soạn.
Nhân Minh Thiên Hoàng
(仁明天皇, Nimmyō Tennō, tại vị 833-850): vị Thiên Hoàng trị vì đầu thời Bình An, Hoàng Tử thứ 2 của Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō), tên là Chánh Lương (正良, Masara), còn gọi là Thâm Thảo Đế (深草帝).
nhân minh thuyết
Hetuvidyā (S)Đề cao luận lý học, bàn định chánh tà chơn ngụy. Một trong ngũ minh: - thinh minh - công xảo minh - y phương minh - nhân minh - nội minh.
nhân minh thất luận
(因明七論) Cũng gọi Thất bộ lượng lí luận. Tác phẩm, do ngài Pháp xứng, người Nam Ấn độ soạn vào khoảng thế kỉ VI, VII, bản Tạng dịch được thu vào Đan châu nhỉ trong Đại tạng kinh Tây tạng. Ngài Pháp xứng –đệ tử bồ tát Trần na– soạn bộ luận này nhằm mục đích phát huy nền Luận lí học của Thầy mình. Nội dung bao gồm 7 luận: Thích lượng luận, Định lượng luận, Chính lí trích luận, Nhân trích luận, Quán tương thuộc luận, Thành tha tương tục luận và Tránh chính lí luận. Ba luận trước nói về thể chế của Nhân minh, còn 4 luận sau thì trình bày về những bộ phận tổ chức thành Nhân minh.
nhân minh thất luận nhập môn
(因明七論入門) Cũng gọi Nhân minh thất luận nhập môn trừ ám luận. Tác phẩm, do ngài Tông khách ba, Tổ khai sáng phái Hoàng giáo thuộc Lạt ma giáo Tây tạng soạn. Sách này trình bày 1 cách khái quát về nội dung của bộ Nhân minh thất luận, vì thế nên cũng gọi là Nhân minh khái luận. Trong sách nói rõ về tính chất, sai biệt và công dụng của ngoại cảnh và nội tâm.
nhân minh thất luận trừ ám trang nghiêm chú
(因明七論除暗莊嚴注) Tác phẩm về Nhân minh của Phật giáo Tây tạng do ngài Khắc chủ kiệt cách lôi bối tang soạn. Sách này dùng hình thức biện luận để trình bày về nội dung của Thích lượng luận, là 1 trong những tác phẩm nổi tiếng về Nhân minh học, cho nên được phái Cách lỗ của Tây tạng dùng làm sách nhập môn cho việc học tập và nghiên cứu Nhân minh.
nhân mãng sa
Da thịt—Human mamsa or flesh.
nhân mạch hội
(因脉會) Chỉ cho pháp hội, trong đó Nhân duyên huyết mạch được trao truyền cho những tín đồ đã thụ Tam qui ngũ giới. Nhân mạch, nói đầy đủ là Nhân duyên huyết mạch, chỉ cho phổ hệ truyền thừa giới pháp. Tại Nhật bản, pháp hội này thường được cử hành từ 1 đến 3 ngày. [X. Thụ giới hội tác pháp trong Tào động tông hành trì quĩ phạm Q.2].
nhân mạn đà la
Mạn Đà La của Thai tạng giới, về phía đông; đối lại với Kim Cang Tạng Mạn Đà La, về phía tây trong Mạn Đà La—The Garbhadhatu mandala, which is east; in contrast with Vajradhatu mandala, which is west (quả mạn đà la).
; (因曼陀羅) Cũng gọi Lí mạn đồ la, Đông mạn đồ la. Tức chỉ cho Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Thai tạng giới là pháp môn hiển bày lí đức sẵn có của chúng sinh, thuộc về Nhân; còn Mạn đồ la Kim cương giới là pháp môn hiển bày trí đức tu được, thuộc về quả. Vì thế, Mạn đồ la Thai tạng giới gọi là Nhân và Mạn đồ la Kim cương giới gọi là Quả. Khi lí và trí so sánh với nhau thì lí là nhân, trí là quả. (xt. Thai Tạng Giới Mạn Đồ La).
nhân mệnh bất đình
(人命不停) Sinh mệnh của con người thay đổi không dừng, thường phải chăm chú quán xét, lìa bỏ các tâm xấu ác. Kinh Đại niết bàn quyển 23 (Đại 12, 498 hạ) nói: Mệnh người chẳng dừng, còn hơn thác nước, hôm nay tuy còn, ngày mai khó giữ, há lại buông lung, chạy theo pháp ác?.
nhân nghiệp
The work, or operation, of cause, or causes.
; Sự hoạt động của nhân—Sự hoạt động phối hợp trực tiếp hay gián tiếp của nhân chính hay nhân phụ (nhân tức là lực đích thân sinh ra quả, nghiệp là sở tác trợ duyên sinh quả; hai thứ nầy hòa hợp với nhau mà sanh ra vạn pháp)—The work or operation of causes—The co-operation of direct and indirect causes, of primary and environmental causes.
; (因業) Nhân là nguyên nhân bên trong trực tiếp sinh ra kết quả; còn Nghiệp tức nghiệp lực, là duyên bên ngoài giúp thêm sức cho Nhân sinh ra quả. Nghĩa của Nhân nghiệp tương đương với nghĩa của Nhân duyên, cả 2 đều có công năng dẫn sinh ra kết quả của các pháp. Theo kinh Đại nhật quyển 2, hết thảy các pháp đều từ Nhân nghiệp dấy sinh. [X. Đại nhật kinh sớ Q.19].
nhân nghĩa
Love and righteousness—Charity and justice.
nhân nguyên
Cause; cause and origin.
; Cause—Cause and origin.
Nhân ngã
人我; C: rénwǒ; J: ninga;|1. Quan niệm (sai lầm về) bản ngã, nghĩa là quan niệm có một cá nhân hiện hữu, một bản ngã tồn tại riêng biệt; 2. Theo triết học của phái Số luận (s: sāṃkhya), đó là ý niệm về một linh hồn (phi vật chất).
nhân ngã
Personality, the human soul.
; Personality—The human soul.
Nhân ngã chấp
人我執; C: rénwǒzhí; J: ningashū;|Tin rằng có sự hiện hữu của một bản ngã, hay của cá nhân, còn gọi là Nhân ngã kiến (人我見). Đây là một kiến chấp rất nặng, nhưng cũng còn được xem là ít vi tế hơn Pháp ngã chấp (法我執).
Nhân ngã kiến
人我見; C: rénwǒjiàn; J: ningaken;|Có hai nghĩa sau: 1. Quan niệm cố chấp có một bản ngã hiện hữu riêng biệt, đó là một kiến chấp sai lầm. Thường sánh đôi với từ Pháp ngã kiến (法我見), kiến chấp sai lầm vi tế hơn về các pháp; 2. Chấp vào cảm nhận chủ quan.
nhân ngã kiến
Tà kiến cho rằng có một cái ngã độc lập và thường hằng—The eroneous (false) view that there is an independent and permanent human personality or soul (that every man has a permanent lord within).
nhân ngã pháp ngã
(人我法我) Gọi đủ: Nhân ngã chấp pháp ngã chấp. Cũng gọi Nhân pháp nhị ngã, Sinh ngã Pháp ngã. Đồng nghĩa: Ngã chấp pháp chấp. Chấp trước thực có cái ta là Nhân ngã; chấp trước thực có các pháp là Pháp ngã. Nhân ngã là quả của pháp ngã; Nhị thừa chỉ dứt quả của nhân ngã, còn Bồ tát thì đoạn trừ cả nhân của pháp ngã. Nói cách khác, Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác) đã dứt được chấp ngã, nhưng vẫn còn chấp pháp; Bồ tát thì đoạn trừ cả chấp ngã và chấp pháp. Theo luận Đại thừa khởi tín thì Ngã kiến có 2 thứ là Nhân ngã kiến và Pháp ngã kiến: a) Nhân ngã kiến: Phàm phu chấp trước nhân ngã, hiểu lầm pháp thân của Như lai. b) Pháp ngã kiến: Nhị thừa tuy chứng nhân vô ngã, nhưng vẫn còn thấy pháp 5 uẩn(sắc thụ tưởng hành thức)sinh diệt, sợ hãi sinh tử, ưa thích Niết bàn. Ngoài ra, Nhân ngã là nói theo dịch cũ, chỉ giới hạn ở cõi người; còn Sinh ngã là nói theo dịch mới, bao gồm cả chúng sinh ở các cõi khác. [X. luận Tam vô tính Q.hạ; Nhiếp đại thừa luận thích Q.10 (bản dịch đời Lương); Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu]. (xt. Nhị Chấp).
nhân nhân
Những đệ tử Phật chưa đạt được Phật quả mà vẫn còn tạo nghiệp và lăn trôi trong luân hồi sanh tử—Followers of Buddha who have not yet attained Buddhahood, but are still producers of karma and reincarnation.
; (人因) Nhân quá khứ của các quả báo về dung nhan, tư tưởng, hành vi, yểu thọ, nghèo giầu... của con người ở đời này. Theo Thích thị yếu lãm quyển hạ, con người sinh trong cuộc đời nhận chịu những quả báo khác nhau như giầu sang, nghèo hèn, xinh đẹp, xấu xí, yên vui, lo sợ v.v... đều do nghiệp nhân bất đồng mà ra. Như người sinh ra chịu thân phận thấp hèn là vì gây nhân kiêu căng, tự đại, khinh miệt người khác, hành động ngông cuồng, chẳng lễ kính Tam bảo. Nếu chí thành không lừa dối, tụng kinh giữ giới, khuyên người lánh ác làm thiện, không tìm lỗi của người, thì hơi miệng thơm sạch, thân tâm yên vui, được mọi người khen ngợi, quí mến... [X. kinh Nghiệp báo sai biệt].
; (因人) Đối lại: Quả nhân. Từ gọi chung những người còn ở giai vị tu nhân, chưa đến quả Phật. (xt. Nhân Vị).
nhân nhân bổn cụ
Mọi người đều có Phật tánh—Every man has by origin the perfect Buddha-nature.
nhân nhân trọng pháp
(因人重法) Do người mà giáo pháp nói ra được tôn trọng. Nghĩa là người thuyết pháp mà sự học vấn, hiểu biết, thực hành, chứng ngộ càng sâu, địa vị càng cao, thì giáo pháp do người ấy nói ra càng có giá trị, càng được người đời tôn trọng. Bởi thế, trong các sách của Phật giáo phần nhiều có đề tên tác giả, đó là vì muốn cho giáo pháp được trình bày trong sách được người đời tôn trọng kính tin.[X. Vãng sinh luận chú Q.thượng].
Nhân nhượng
仁讓; C: rénràng; J: ninjō;|Nhân đức, lòng khoan dung.
nhân nhượng
To make concessions.
nhân năng biến
Hetu-pariṇāma (S)Sinh biến, Nhân biếnChủng tử trong A lại da chuyển biến hiện khởi ra các pháp.
; Sự tự chuyển biến từ nhân sang quả—A cause that is also an effect—The power in a cause to transform itself into an effect.
; (因能變) Phạm: Hetu-pariịàma. Cũng gọi Nhân biến. Đối lại: Quả năng biến. Chủng tử(hạt giống)trong thức A lại da thứ 8 chuyển biến hiện khởi ra các pháp, gọi là Nhân năng biến. Rồi 8 thức do chủng tử sinh khởi, mỗi thức lại có năng lực từ tự thể của mình biến hiện ra 2 phần là Kiến phần và Tướng phần, gọi là Quả năng biến. Biến của Nhân năng biến là nghĩa chuyển biến, sinh biến; còn Biến của Quả năng biến thì là nghĩa biến hiện, duyên biến. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, Nhân năng biến là chỉ cho tập khí của 2 nhân Đẳng lưu và Dị thục trong thức thứ 8, có năng lực chuyển biến sinh thành các pháp, vì thế gọi là Nhân năng biến. Đó là: 1. Đẳng lưu tập khí, cũng gọi Danh ngôn chủng tử. Tức chủng tử thân nhân duyên sinh ra các pháp, là tập khí do 3 tính thiện, ác và vô kí huân tập trong 7 thức trước mà thành. Vì tập khí này có thể dẫn sinh ra quả cùng loại với tự tính nên gọi là Đẳng lưu tập khí. Như nhân thiện dẫn sinh quả thiện, nhân ác sinh ra quả ác, đều do tác dụng năng biến của Đẳng lưu tập khí. 2. Dị thục tập khí, cũng gọi Nghiệp chủng tử. Tức chủng tử sơ nhân duyên sinh ra pháp. Loại chủng tử này do 2 nghiệp thiện và ác hữu lậu trong 6 thức huân tập sinh trưởng, có khả năng giúp đỡ để sinh ra quả không thiện không ác(vô kí), khác với thiện, ác của tự tính, vì thế gọi là Dị thục tập khí. Trên đây là nói theo tâm hữu lậu, còn nếu nói theo chủng tử vô lậu thì Thành duy thức luận thuật kí quyển 4 cho rằng, chủng tử và hiện hành của thức thứ 6 và thức thứ 7 chỉ có nhân quả Đẳng lưu, chứ không có nhân quả Dị thục. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần cuối; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.3].
nhân nội nhị minh
Nhân Minh và Nội Minh—Reason and authority—See Ngũ Minh.
Nhân phi nhân
人非人; C: rénfēirén; J: ninhinin;|»Người mà cũng không phải người.« Có hai nghĩa: 1. Một từ đề cập tổng quát đến tám loại quỷ thần; 2. Đặc biệt đề cập đến loài Khẩn-na-la (緊那羅; s: kiṃnara).
nhân phi nhân
Human and non-human being.
; Kinnara—Một chúng sanh giống như con người, Một loại chúng sanh có dáng vẻ như người nhưng lại có các bộ phận trong cơ thể của loài thú, một nhạc sĩ huyền thoại của cõi trời, có đầu ngựa với một sừng, và thân hình giống như hình người. Con nam thì ca còn con nữ thì múa—Non-Human Angels—A being resembling but not a human being. A being having the appearance of humans but possessing parts of animals. A kind of mythical celestial musician. It has a horse-like head with one horn, and a body like that of human. The males sing and the females dance.
; (人非人) I. Nhân Phi Nhân. Từ gọi chung Nhân và Phi nhân (người và chẳng phải người). Phi nhân gồm: Thiên long bát bộ, Dạ xoa, các ác quỉ vương. II. Nhân Phi Nhân. Cũng gọi Khẩn nại la, Khẩn đà la, Chân đà la, Khẩn nại lạc, Nghi thần, Ca thần. Tên khác của thần Khẩn na la (Phạm: Kiônara), vị thần âm nhạc trong Thiên long bát bộ. Hình dáng vị thần này giống như người, nhưng thực ra không phải người, vì thế nên gọi là Nhân phi nhân (người chẳng phải người). Tuy không phải là người nhưng khi đến lễ đức Phật, họ đều hiện thân hình người. [X. Pháp hoa huyền tán Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.3]. (xt. Khẩn Na La).
nhân phong xuy hoả
(因風吹火) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tùy theo chiều gió mà thổi lửa, ví dụ khi tiếp hóa người học, phải nên xem căn cơ của họ để ứng dụng những phương pháp thích hợp trong việc chỉ dạy. Tắc 26, Bích nham lục (Đại 48, 167 trung) nói: Hỏi một đáp mười, nêu một rõ ba, thấy thỏ thả chim ưng, nhân gió thổi lửa (nhân phong xuy hỏa).
nhân pháp
Men and things; also men and the Buddha's teaching.
; (A) Con người và vạn hữu: Men and things. (B) Con người và Phật pháp hay giáo pháp của Phật: Men and the Buddha's law or Buddha's teaching.
; (人法) Từ gọi chung người và pháp. 1. Nhân Pháp. - Nhân: Người nói pháp hoặc người nghe pháp. - Pháp: Giáo pháp được nói ra hay được học tập. II. Nhân Pháp. - Nhân: Có tác dụng của tâm. - Pháp: Không có tác dụng của tâm. Chẳng hạn như: Chúng sinh nhờ nhân duyên hòa hợp mà được thành lập, đó là Nhân(người); còn 5 uẩn là những yếu tố cấu tạo thành chúng sinh, đó là Pháp.
nhân pháp nhị không
(人法二空) Cũng gọi Ngã pháp nhị không, Sinh pháp nhị không. Từ gọi chung Nhân không và Pháp không. - Nhân không: Chẳng chấp nhân ngã, vì thân người là do 5 uẩn giả hòa hợp, không có ngã thể làm chủ tể thường nhất. Quán xét về chân lí này gọi là Nhân không quán. - Pháp không: Chẳng chấp pháp ngã, vì các pháp sắc, thụ, tưởng... cũng qui về không, không có thực tính. Tiểu thừa chủ trương pháp là có thực, cho nên chỉ lập Ngã không; còn luận Thành thực thì cho rằng các pháp 5 uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức)cũng là không, cho nên gọi chung là Nhị không (Nhân không và Pháp không). Cứ theo Trung luận sớ quyển 18 của ngài Cát tạng, thì Nhân pháp nhị không có Tiểu thừa và Đại thừa khác nhau: - Không của Tiểu thừa là Tích không, Giới nội không, Đãn không. - Không của Đại thừa là Tính không, Bất đãn không, Bất khả đắc không. Ngoài ra, theo Hoa nghiêm kinh khổng mục chương quyển 3 của ngài Trí nghiễm, thì Nhân không của Tiểu thừa Thông giáo chưa thanh tịnh, đến Tam thừa mới thanh tịnh; Pháp không ở Tam thừa chưa thanh tịnh, đến Nhất thừa mới hoàn toàn thanh tịnh.[X. luận Thành duy thức Q.1; phẩm Quán tà kiến trong Trung luận Q.4; Đại thừa nghĩa chương Q.1; Hoa nghiêm sớ sao huyền đàm Q.4; Bát nhã tâm kinh lược sớ liên châu kí Q.hạ]. (xt. Ngã Không).
nhân pháp vô ngã
Pudgaladharma (skt)—Sự vô ngã hay không có linh hồn cá nhân lẫn các sự vật bên ngoài—The egolessness of both the individual soul and external objects.
nhân phần
Nhân phần đối lại với quả phần—Cause as contrasted with effect.
nhân phần khả thuyết
(因分可說) Đối lại: Quả phần bất khả thuyết. Cảnh giới duyên khởi của bồ tát Phổ hiền là phần hạn mà người tu hành ở nhân vị có thể hiểu biết được, có thể bàn nói được, gọi là Nhân phần khả thuyết. Trái lại, biển tính mà đức Phật chứng ngộ được là cảnh giới tự nội chứng của chư Phật, không thể nói bàn được, gọi là Quả phần bất khả thuyết. Nhưng Quả phần bất khả thuyết này tùy theo cơ duyên của những người tu hành ở nhân vị mà có thể nói được 1 phần nào, đó chính là Nhân phần khả thuyết vậy. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.12; Thập địa kinh luận Q.2; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. (xt. Bất Khả Thuyết, Nhân Phần Quả Phần).
nhân phần khả thuyết, quả phần bất khả thuyết
Nhân phần đưa đến quả vị Phật của Phật có giảng thuyết được, nhưng tính hải mà Phật chứng ngộ là pháp của Phật tự biết, chẳng thể dùng ngôn từ mà diễn đạt—The causes that give rise to the Buddha's Buddhahood may be stated, that is, such part as is humanly manifested; but the full result is beyond description.
nhân phần quả phần
(因分果分) Cũng gọi Nhân phần khả thuyết, Quả phần bất khả thuyết; Duyên khởi nhân phần, Tính hải quả phần. Phần hạn của nhân và phần hạn của quả. Thuyết này có xuất xứ từ Thập địa kinh luận. Cứ theo Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1, Quả phần là cảnh giới nội chứng của chư Phật, chỉ có thể thân chứng chứ không thể nói bàn, nên gọi là Bất khả thuyết. Còn Nhân phần là giáo pháp ứng theo cơ duyên mà được nói ra, là phần hạn mà người tu hành ở nhân vị có thể hiểu rõ, cho nên gọi là Khả thuyết. Còn Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 10 nêu ra 4 thuyết về Nhân phần và Quả phần như sau: 1. Nhân phần là giáo năng thuyên (giải thích rõ), Quả phần là nghĩa sở thuyên (được giải thích rõ). 2. Nhân phần là nhân hạnh của Bồ tát trước Thập địa, Quả phần là trí chứng của Bồ tát Thập trụ. 3. Thập địa có Tiệm tăng môn và Viên mãn thời môn. Nhân phần là Tiệm tăng môn, có giới hạn nên có thể diễn đạt được. Còn Viên mãn thời môn vì không có giới hạn nên không thể nói bàn được. 4. Nhân phần là chỉ cho người nghe pháp môn Thập địa, rồi trên bình diện ý thức, hiển bày được nghĩa tương tự. Còn Quả phần là sự chứng nhập chính hạnh của Thập địa, dứt bặt mọi ngôn ngữ, tư duy. Nhưng ngài Pháp tạng cho 4 thuyết trên là không khế lí và giải thích Nhân phần, Quả phần bằng 2 nghĩa như sau: 1. Thập địa có 2 thứ là Tựu thực và Tùy tướng. Thập địa tựu thực là cảnh giới mà chỉ có trí Phật biết được, nên gọi là Quả phần. Còn Thập địa tùy tướng là chỗ mà Bồ tát có thể biết, có thể thực hành, cho nên gọi là Nhân phần. Tức là Quả phần sâu xa huyền nhiệm, không thể nghĩ bàn; còn Nhân phần thì tùy cơ giáo hóa nên có thể nói bàn. 2. Thập địa có 2 thứ là Diệu trí và Phương tiện kí pháp. Nếu đứng về phương diện Diệu trí mà bàn, thì chính trí là cảnh giới của chân như, lìa tướng nói năng, nên gọi là Quả phần, là bất khả thuyết. Còn nếu nói theo Phương tiện kí pháp thì vì tùy theo cơ duyên ứng hợp với đại chúng để giải bày nghĩa sai biệt của Thập địa, nên gọi là Nhân phần, có thể bàn nói được. Trong 2 thuyết trên, ngài Pháp tạng giải thích Quả phần là chỗ biết, chỗ làm của đức Phật, nhưng ngài Tuệ uyển thì trong Tục Hoa nghiêm kinh lược sớ san định kí quyển 9 cho rằng 2 phần Nhân Quả đều ở nơi Thập địa, chẳng phải 1 chẳng phải khác. Còn ngài Trừng quán thì trong Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 34 cho rằng trí chứng nhập Niết bàn giống như cùng vào biển quả rốt ráo, cho nên biết chia ra Nhân phần và Quả phần chỉ là sự sai biệt tạm thời giữa tu và chứng, chứ thực ra Nhân và Quả vốn không hai, hệt như sóng với nước vậy. Ngoài ra, trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1, ngài Pháp tạng coi 2 phần Nhân và Quả này là 2 môn trong Nhất thừa Biệt giáo. [X. Thập địa kinh luận Q.2; Hoa nghiêm ngũ giáo chương thông lộ kí Q.2].(xt. Đồng Biệt Nhị Giáo).
nhân phẩm
Human dignity.
nhân phẩm của chính mình
Self-respect.
nhân quyền
Human right.
Nhân quả
因果; J: inga;|Là »nguyên nhân và kết quả«; trong Thiền tông – một tông phái với một cơ sở siêu thời gian và không gian, đặc biệt chú trọng đến kinh nghiệm trực nhận – người ta thường sử dụng câu »Nhân quả nhất như« (因果一如; j: inga ichinyo), nghĩa là nhân quả là một (Nghiệp).
nhân quả
Hetu-phala (S)Nguyên nhân và kết quả.
; Cause and effect.
; 1) Nhân là nguyên nhân, là năng lực phát động; quả là kết quả, là sự hình thành của năng lực phát động. Định luật nhân quả chi phối vạn sự vạn vật trong vũ trụ không có ngoại lệ: Cause is a primary force that produces an effect; effect is a result of that primary force. The law of causation governs everything in the universe without exception. 2) Luật nhân quả hay sự tương quan giữa nguyên nhân và kết quả trong luật về “Nghiệp” của Phật giáo. Mọi hành động là nhân sẽ có kết quả hay hậu quả của nó. Giống như vậy, mọi hậu quả đều có nhân của nó. Luật nhân quả là luật căn bản trong Phật giáo chi phối mọi hoàn cảnh. Luật ấy dạy rằng người làm việc lành, dữ hoặc vô ký sẽ nhận lấy hậu quả tương đương. Người lành được phước, người dữ bị khổ. Nhưng thường thường người ta không hiểu chữ phước theo nghĩa tâm linh, mà hiểu theo nghĩa giàu có, địa vị xã hội, hoặc uy quyền chánh trị. Chẳng hạn như người ta bảo rằng được làm vua là do quả của mười nhân thiện đã gieo trước, còn người chết bất đắc kỳ tử là do trả quả xấu ở kiếp nào, dầu kiếp nầy người ấy không làm gì đáng trách—Law of cause and effect or the relation between cause and effect in the sense of the Buddhist law of “Karma”—The law of causation (reality itself as cause and effect in momentary operation). Every action which is a cause will have a result or an effect. Likewise every resultant action or effect has its cause. The law of cause and effect is a fundamental concept within Buddhism governing all situations. The Moral Causation in Buddhism means that a deed, good or bad, or indifferent, brings its own result on the doer. Good people are happy and bad ones unhappy. But in most cases “happiness” is understood not in its moral or spiritual sense but in the sense of material prosperity, social position, or political influence. For instance, kingship is considered the reward of one's having faithfully practiced the ten deeds of goodness. If one meets a tragic death, he is thought to have committed something bad in his past lives even when he might have spent a blameless life in the present one. 3) Nhân quả là một định luật tất nhiên nêu rõ sự tương quan, tương duyên giữa nhân và quả, không phải có ai sinh, cũng không phải tự nhiên sinh. Nếu không có nhân thì không thể có quả; nếu không có quả thì cũng không có nhân. Nhân nào quả nấy, không bao giờ nhân quả tương phản hay mâu thuẫn nhau. Nói cách khác, nhân quả bao giờ cũng đồng một loại. Nếu muốn được đậu thì phải gieo giống đậu. Nếu muốn được cam thì phải gieo giống cam. Một khi đã gieo cỏ dại mà mong gặt được lúa bắp là chuyện không tưởng: causality is a natural law, mentioning the relationship between cause and effect. All things come into being not without cause, since if there is no cause, there is no effect and vice-versa. As so sow, so shall you reap. Cause and effect never conflict with each other. In other words, cause and effect are always consistent with each other. If we want to have beans, we must sow bean seeds. If we want to have oranges, we must sow orange seeds. If wild weeds are planted, then it's unreasonable for one to hope to harvest edible fruits. 4) Một nhân không thể sinh được quả, mà phải được sự trợ giúp của nhiều duyên khác, thí dụ, hạt lúa không thể nẩy mầm lúa nếu không có những trợ duyên như ánh sáng, đất, nước, và nhân công trợ giúp. Trong nhân có quả, trong quả có nhân. Chính trong nhân hiện tại chúng ta thấy quả vị lai, và chính trong quả hiện tại chúng ta tìm được nhân quá khứ. Sự chuyển từ nhân đến quả có khi nhanh có khi chậm. Có khi nhân quả xãy ra liền nhau như khi ta vừa đánh tiếng trống thì tiếng trống phát hiện liền. Có khi nhân đã gây rồi nhưng phải đợi thời gian sau quả mới hình thành như từ lúc gieo hạt lúa giống, nẩy mầm thành mạ, nhổ mạ, cấy lúa, mạ lớn thành cây lúa, trổ bông, rồi cắt lúa, vân vân, phải qua thời gian ba bốn tháng, hoặc năm sáu tháng. Có khi từ nhân đến quả cách nhau hằng chục năm như một đứa bé cắp sách đến trường học tiểu học, đến ngày thành tài 4 năm đại học phải trải qua thời gian ít nhất là 14 năm. Có những trường hợp khác từ nhân đến quả có thể dài hơn, từ đời trước đến đời sau mới phát hiện: One cause cannot have any effect. To produce an effect, it is necessary to have some specific conditions. For instance, a grain of rice cannot produce a rice plant without the presence of sunlight, soil, water, and care. In the cause there is the effect; in the effect there is the cause. From the current cause, we can see the future effect and from the present effect we discerned the past cause. The development process from cause to effect is sometimes quick, sometimes slow. Sometimes cause and effect are simultaneous like that of beating a drum and hearing its sound. Sometimes cause and effect are three or four months away like that of the grain of rice. It takes about three to four, or five to six months from a rice seed to a young rice plant, then to a rice plant that can produce rice. Sometimes it takes about ten years for a cause to turn into an effect. For instance, from the time the schoolboy enters the elementary school to the time he graduates a four-year college, it takes him at least 14 years. Other causes may involve more time to produce effects, may be the whole life or two lives. 5) Hiểu và tin vào luật nhân quả, Phật tử sẽ không mê tín dị đoan, không ỷ lại thần quyền, không lo sợ hoang mang. Biết cuộc đời mình là do nghiệp nhân của chính mình tạo ra, người Phật tử với lòng tự tin, có thêm sức mạnh to lớn sẽ làm những hành động tốt đẹp thì chắc chắn nghiệp quả sẽ chuyển nhẹ hơn, chứ không phải trả đúng quả như lúc tạo nhân. Nếu làm tốt nữa, biết tu thân, giữ giới, tu tâm, nghiệp có thể chuyển hoàn toàn. Khi biết mình là động lực chính của mọi thất bại hay thành công, người Phật tử sẽ không chán nản, không trách móc, không ỷ lại, có thêm nhiều cố gắng, có thêm tự tin để hoàn thành tốt mọi công việc. Biết giá trị của luật nhân quả, người Phật tử khi làm một việc gì, khi nói một lời gì, nên suy nghĩ trước đến kết quả tốt hay xấu của nó, chứ không làm liều, để rồi phải chịu hậu quả khổ đau trong tương lai: By understanding and believing in the law of causality, Buddhists will not become superstitious, or alarmed, and rely passively on heaven authority. He knows that his life depends on his karmas. If he truly believes in such a causal mecahnism, he strives to accomplish good deeds, which can reduce and alleviate the effect of his bad karmas. If he continues to live a good life, devoting his time and effort to practicing Buddhist teachings, he can eliminate all of his bad karmas. He knows that he is the only driving force of his success or failure, so he will be discouraged, put the blame on others, or rely on them. He will put more effort into performing his duties satisfactorily. Ralizing the value of the law of causality, he always cares for what he thinks, tells or does in order to avoid bad karma.
; (因果) Phạm: Hetu-phala. Chỉ cho nguyên nhân và kết quả, cũng tức là luật nhân quả. Trong hệ thống giáo nghĩa của Phật giáo, luật nhân quả được sử dụng như là lí luận cơ bản để thuyết minh tất cả sự quan hệ của thế giới. Bởi vì trong sự hình thành của hết thảy các pháp, thì nhân là năng sinh, quả là sở sinh. Tức là pháp nào có năng lực sinh ra kết quả là nhân, còn pháp nào từ nhân mà sinh ra là quả. Nếu nói về quan hệ nhân quả theo thời gian, thì nhân trước, quả sau, gọi là Nhân quả khác thời. Nhưng nếu nói về mặt không gian thì giống như những cây lau trong bó lau nương tựa vào nhau mà đứng vững, đó là quan hệ nhân quả theo nghĩa rộng, gọi là Nhân quả cùng thời. Về luận điểm nhân quả của ngoại đạo ở Ấn độ thời xưa, có thể chia làm 4 loại mà Phật giáo gọi là Ngoại đạo tứ chấp, hay đơn giản hơn là Tứ chấp. Đó là: 1. Nhân tà quả tà: Chủ trương nguyên nhân sinh ra muôn vật là do năng lực của trời Đại tự tại. 2. Không nhân có quả: Thừa nhận thế giới hiện tượng là quả, nhưng cho rằng nhân của quả này khó tìm biết được, nên phủ định nguyên nhân sinh ra quả này. 3. Có nhân không quả: Thừa nhận thế giới hiện tượng là nhân, nhưng cho rằng kết quả của cái nhân đó khó có thể tìm biết được, nên phủ định kết quả của nhân này.4. Không nhân không quả: Tức chối bỏ cả nhân lẫn quả. Ngoài 4 luận điểm trên, trong tư tưởng giới Ấn độ thời ấy còn có 2 luận thuyết nữa về nhân quả là: 1. Trong nhân có quả: Bà la môn giáo và học phái Số luận chủ trương thế giới hiện tượng do quả hiển hiện, thì quả ấy ắt đã có trong nhân, tức trong nhân thường có tính của quả, cho nên tính chất của nhân và quả giống nhau. 2. Trong nhân không quả: Học phái Thắng luận và những nhà tư tưởng đối lập với Bà la môn giáo cho rằng phải có nhiều yếu tố căn bản kết hợp lại với nhau mới có thể sinh khởi thế giới hiện tượng. Tức họ chủ trương trong nhân chưa chắc đã có tính của quả và phải có nhiều nhân hòa hợp với nhau mới có thể sinh ra quả; bởi thế họ cho rằng tính chất của nhân và quả hoàn toàn không giống nhau. Luận thuyết này cũng có thể được gọi là Trong quả có nhân. Về Nhân quả luận của Phật giáo thì đại khái có thể chia làm 2 hệ thống Đại thừa và Tiểu thừa. Tiểu thừa lấy tông Câu xá làm điển hình, đề ra thuyết Bốn duyên, sáu nhân, năm quả. Đại thừa thì lấy tông Duy thức làm đại biểu, chủ trương thuyết Bốn duyên, mười nhân, năm quả làm nội dung chính yếu của Nhân quả luận, nhưng đối với sự giải thích về 4 duyên, 5 quả thì quan điểm của Đại thừa và Tiểu thừa lại khác nhau. Tông Duy thức cho rằng muôn vật trong vũ trụ đều do chủng tử(hạt giống)hàm chứa trong thức A lại da biến hiện ra; các pháp do chủng tử biến hiện thành phải trải qua mối quan hệ nhân quả 3 pháp 2 lớp là: Chủng tử sinh hiện hành, Hiện hành huân chủng tử, Chủng tử sinh chủng tử, tác dụng xoay chuyển mà biến hiện ra muôn tượng la liệt trong vũ trụ. Trong đó, mối quan hệ Chủng tử sinh chủng tử là quan hệ nhân quả khác thời; còn quan hệ Chủng tử sinh hiện hành, Hiện hành huân chủng tử là quan hệ nhân quả cùng thời. Ngoài ra, trong 6 nhân, 5 quả, thì mối quan hệ giữa nhân Dị thục và quả Dị thục, giữa nhân Đồng loại, nhân Biến hành và quả Đẳng lưu... đều là quan hệ nhân quả khác thời. Còn mối quan hê giữa nhân Câu hữu, nhân Tương ứng và quả Sĩ dụng thì là quan hệ nhân quả cùng thời. Riêng mối quan hệ giữa nhân Năng tác và quả Tăng thượng thì gồm cả nhân quả khác thời và nhân quả cùng thời. Còn mối quan hệ giữa nhân Đồng loại và quả Đẳng lưu thì vì lấy pháp tự loại làm nhân, dẫn sinh ra quả Đẳng lưu đồng loại, nên gọi là Nhân quả tự loại. Những hành vi của chúng sinh có thể mang lại nhân quả khác thời, tức là nghiệp nhân thiện chắc chắn sẽ có quả báo thiện, nghiệp nhân ác ắt sẽ chiêu cảm quả báo ác, đó gọi là Thiện nhân thiện quả, Ác nhân ác quả. Nhưng nói 1 cách chặt chẽ thì phải gọi là Thiện nhân lạc quả, Ác nhân khổ quả. Đó là quả báo do 2 nghiệp thiện ác mang lại, thuộc về tính vô kí không thiện không ác. Còn nói thiện, ác là đặc biệt chỉ cái nhân chắc chắn, nhất định mang lại quả báo, vì thế không nên dùng quả thiện, quả ác để gọi quả báo. Lí nhân quả ấy rõ ràng không rối loạn, gọi là Nhân quả báo ứng. Nếu không thừa nhận sự tồn tại của lí nhân quả mà rơi vào kiến giải phủ định nhân quả, thì gọi là Bát vô nhân quả. Còn nếu đứng trên lập trường thực tiễn tu hành mà bàn về quan hệ nhân quả, thì nhờ nhân tu hành mà được quả thành Phật. Gọi là Tu nhân đắc quả, Tu nhân cảm quả hay Thù nhân cảm quả. Ngoài ra, do nghiệp nhân thiện ác mà mang lại quả báo khổ vui thì đó là mối quan hệ nhân quả giữa nhân Di thục và quả Dị thục. Còn do phúc đức (thiện nghiệp của thế gian) mà chiêu cảm quả vui cõi người, cõi trời, thì đó là quan hệ nhân quả giữa nhân phúc và quả phúc. Lại do tu tập trí tuệ mà được quả báo giác ngộ, thì đó là quan hệ nhân quả giữa nhân trí và quả trí. Ba loại quan hệ nhân quả trình bày trên đây gọi là Tam nhân tam quả. Còn thông thường nói Tam thế nhân quả, Nhân quả báo ứng... thì phần nhiều là chỉ cho mối quan hệ nhân quả giữa nhân Dị thục và quả Dị thục. Hết thảy các pháp đều do lí nhân quả mà sinh thành hoại diệt; sự hiển hiện của 10 cõi mê ngộ là do mối quan hệ nhân quả mà thành, như nhân quả thế gian, nhân quả xuất thế gian v.v... Nếu đứng về phương diện Tứ đế mà nói thì Khổ đế và Tập đế là nhân quả của cõi mê thế gian, còn Diệt đế và Đạo đế là nhân quả của cõi ngộ xuất thế gian. Tóm lại, lí nhân quả này thực sự là giáo lí cơ bản trọng yếu của Phật giáo, trong các kinh thường nói rõ về lí này, đồng thời, dùng lí nhân quả thiện ác báo ứng như bóng theo hình, nối nhau không dứt để khuyên người đới gắng sức bỏ ác làm lành, tu hành Phật đạo, để mau thoát khỏi cảnh giới hữu lậu khổ đau mà đạt đến cảnh giới vô lậu yên vui. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Câu xá Q.6; luận A tì đạt ma phát trí Q.1, 15; luận Đại tì bà sa Q.10, 11, 16; luận Du già sư địa Q.5, 38; luận Hiển dương thánh giáo Q.18; luận Thành duy thức Q.3, 7, 8; Đại thừa nghĩa chương Q.3, 4]. (xt. Thập Nhân, Ngũ Quả, Lục Nhân, Tứ Duyên, Nhân, Chủng Tử).
nhân quả ba đời
Nhân quả báo ứng thông cả ba đời—The law of cause and effect (karma and its retribution) permeates all three life spans. 1) Hiện báo: Immediate retributions—See Hiện Báo. 2) Sanh Báo: Rebirth retributions or next life retributions—See Sanh Báo. 3) Hậu Báo: Future retributions—See Hậu Báo.
nhân quả báo ứng
(因果報應) Cũng gọi Nhân quả ứng báo, Nhân quả nghiệp báo, Thiện ác nghiệp báo. Gieo nhân thì được quả, lí ấy rất rõ ràng, không sai lầm. Nghĩa là tất cả mọi sự vật đều bị pháp tắc nhân quả chi phối; hễ nhân lành ắt sinh quả lành, gọi là Thiện nhân thiện quả; còn nhân ác thì chắc chắn mang lại quả ác, gọi là Ác nhân ác quả, không hề sai trật. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 277 thượng) nói: Trong khoảng trời đất, năm đường phân minh, mông mênh mờ mịt, thiện ác báo ứng, họa phúc theo nhau. Luận Du già sư địa quyển 38 thì nói: Đã làm rồi thì không mất, chưa làm thì không có. Đó là đặc điểm của Nhân quả luận trong Phật giáo, tức là bất cứ 1 hành vi tư tưởng nào cũng chắc chắn mang lại hậu quả tương ứng sau này. Khi nhân chưa sinh ra quả thì không thể làm cho nhân mất đi; trái lại, nếu không tạo nghiệp nhân thì chắc chắn cũng không có quả báo tương ứng. Ngoài ra, luật Nhân quả báo ứng không phải chỉ chi phối những hành vi ở hiện tại, mà nó cũng ảnh hưởng đến cả quá khứ và vị lai. Nghĩa là quả báo hiện tại là do hành vi tạo nghiệp nhân thiện ác ở quá khứ và họa phúc báo ứng trong vị lai là do hành vi tạo nghiệp nhân thiện ác ở đời này. [X. kinh Luân chuyển ngũ đạo tội phúc báo ứng; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.4; Pháp uyển châu lâm Q.70]. (xt. Nhân Quả).
nhân quả di thời
(因果异時) Đối lại: Nhân quả đồng thời. Nhân quả khác thời, nghĩa là thời gian từ nguyên nhân sinh ra kết quả có trước sau khác nhau. Cứ theo các nhà Duy thức thì tự loại chủng tử (hạt giống) nối tiếp nhau, nhân của niệm trước sinh ra quả của niệm sau, vì thời gian có khác nhau nên gọi là Nhân quả dị thời. Tức sự quan hệ giữa chủng tử sinh chủng tử là nhân quả khác thời. Còn chủng tử sinh hiện hành, Hiện hành huân chủng tử, thì chủng tử và hiện hành có quan hệ nhân quả lẫn nhau là Nhân quả đồng thời. Tức nhân trước quả sau của 1 pháp là nhân quả khác thời, còn 2 pháp và 3 pháp làm nhân quả lẫn cho nhau, như bấc đèn và ngọn lửa... là nhân quả cùng thời. Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 9 trung) nói: Hiện hành và chủng tử tuy khác loại nhưng không trái ngược nhau, trong 1 thân cùng lúc có tác dụng năng sinh; chứ không giống như chủng tử tự loại tuy tương sinh nhưng có trước sau khác nhau, ắt không cùng có 1 lúc. (xt. Nhân Quả Đồng Thời).
nhân quả giai không tông
Tông phái tà giáo chủ trương nhân quả đều không (còn gọi là Không Kiến Luận, đặt ra chủ thuyết không nhân không quả)—A sect of “heretics” who denied cause and effect both in regard to creation and morals.
; (因果皆空宗) Cũng gọi Không kiến luận, Không kiến ngoại đạo. Ngoại đạo vọng chấp không có lí nhân quả, phủ định thuyết nhân quả, chủ trương hết thảy các pháp trong thế gian đều là không. Một trong 16 tông ngoại đạo ở Ấn độ. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1, phần đầu (Đại 45, 250 thượng) nói: Các ngoại đạo tà kiến chấp không có sự thương yêu nuôi nấng... thấy người làm lành sinh vào cõi ác, thấy kẻ độc ác lại sinh cõi lành, liền cho là không có nhân quả, bài bác cho rằng tất cả đều không. [X. luận Du già sư địa Q.7; luận Hiển dương thánh giáo Q.10]. (xt. Ngoại Đạo Thập Lục Tông).
nhân quả lịch nhiên
(因果曆然) Lí nhân quả rõ ràng, dễ nhận thấy. Chỉ quán nghĩa lệ quyển thượng (Đại 16, 447 hạ) nói: Xét trong các giáo thì nhân quả rõ rang (nhân quả lịch nhiên). [X. Tông kính lục Q.12].
nhân quả môn
(因果門) Đối lại: Thể dụng môn. Pháp môn được tông Pháp tướng sử dụng để nói rõ mối quan hệ giữa 7 chuyển thức và thức thứ 8 về phương diện chủng tử và hiện hành. Mối quan hệ năng trì, sở trì giữa chủng tử và thức thứ 8 gọi là Thể dụng môn, tức thức thứ 8 năng trì là thể, chủng tử sở trì là dụng. Còn mối quan hệ năng trì, sở trì giữa chủng tử và hiện hành thì gọi là Nhân quả môn, tức chủng tử năng sinh là nhân, hiện hành sở sinh là quả. Đây là Nhân quả môn luận theo tính dụng sai biệt. Phổ thông thường nói Chủng tử là nhân duyên gần của các pháp chính là y cứ vào Nhân quả môn này. Ngoài ra, nếu thức thứ 8 có năng lực sinh ra các pháp thì gọi là Nhiếp dụng qui thể nhân quả môn. [X. luận Thành duy thức Q.2]. (xt. Thể Dụng Môn).
nhân quả tỷ lượng
Thấy cái nhân mà suy ra cái lý của quả—Inference from cause and effect (a traveller has a destination).
nhân quả vi tông
(因果爲宗) Nhân quả Nhất thừa được dùng làm tông chỉ. Đây là lớp huyền nghĩa thứ 3 trong 5 lớp huyền nghĩa của kinh Pháp hoa do tông Thiên thai thành lập. Kinh Pháp hoa lấy nhân quả Nhất thừa làm tông chỉ. Tông chỉ nhân quả này là then chốt của việc tu hành, là yếu quyết để hiển bày Thể; nhưng Thể của thực tướng các pháp trong kinh Pháp hoa chính là diệu lí chân thường chẳng phải nhân chẳng phải quả, không tu không chứng. Nếu người mê mất chân lí thực tướng này thì là hạng phàm phu; còn người ngộ được chân lí thực tướng này thì là hạng Thánh bậc thượng. Kinh Pháp hoa căn cứ vào tông chỉ nhân quả mà luận về lí của việc tu hành và ngộ đạo, chủ trương việc tu hành có thứ tự trước sau, bắt đầu việc tu hành là nhân, kết thúc việc tu hành là quả. Toàn bộ kinh thuyết minh đạo lí nhân quả để nêu tỏ cái lí thể của thực tướng, vì thế nên kinh Pháp hoa lấy nhân quả làm tông. Hai chữ nhân, quả ở đây được giải thích theo 2 lớp: 1. Lấy đệ tử (đối cơ) làm nhân, Thầy (đức Thế tôn) làm quả. Cũng có nghĩa đệ tử là nhân vị tu hành, còn Thầy là quả vị Phật. 2. Đệ tử và Thầy đều có nhân quả riêng của mình. Tức Thầy và đệ tử đều tự có lúc bắt đầu và lúc kết thúc các giai vị tu hành, mà nhân quả của mỗi bên cũng đều có Quyền và Thực. Tức là nhân quả của đệ tử nói trên và nhân quả của Phật ở Tích môn... đều gọi là Quyền nhân, Quyền quả. Còn nhân quả của đệ tử khai hội(đã xóa bỏ giáo pháp 3 thừa mà qui về giáo pháp 1 thừa) ở Tích môn và nhân quả của Phật ở Bản môn thì đều gọi là Thực nhân, Thực quả. Như vậy, nhân quả có 2 lớp và đều có Quyền và Thực khác nhau theo nghĩa được hiển bày trong 2 môn Bản, Tích của kinh Pháp hoa. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.9, hạ]. (xt. Ngũ Trùng Huyền Nghĩa, Bản Tích Nhị Môn).
nhân quả đồng thời
(因果同時) Đối lại: Nhân quả dị thời. Chỉ cho 3 pháp: Chủng tử năng sinh, Hiện hành sở sinh và Chủng tử sở huân đắp đổi (triển chuyển) đồng thời làm nhân quả lẫn nhau. Cứ theo các nhà Duy thức thì chủng tử là nhân sinh ra hiện hành; mà hiện hành này cũng có thể là nhân trở lại huân tập quả chủng tử. Như vậy, ba pháp: Chủng tử + Hiện hành + Chủng tử triển chuyển (đắp đổi) đồng thời làm nhân làm quả cho nhau. Triển chuyểncó 2 nghĩa: Hỗ tương triển chuyển và Thứ đệ triển chuyển. Triển chuyển ở đây nghĩa là Hỗ tương triển chuyển (đắp đổi lẫn nhau), cũng tức là Cánh hỗ nói trong luận Thành duy thức. Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 10 thượng) nói: Khi thức năng huân... từ chủng tử sinh ra thì liền có năng lực làm nhân huân tập lại chủng tử. Ba pháp triển chuyển, nhân quả đồng thời. Như bấc đèn sinh lửa, lửa sinh nóng đốt bấc đèn. Cũng như bó lau, những cây lau nương tựa lẫn nhau, nhân quả đồng thời, lí không nghiêng đổ. (xt. Nhân Quả Dị Thời).
nhân quả ứng báo
Những ai phủ nhận luật nhân quả luân hồi sẽ hủy hoại tất cả những trách nhiệm luân lý của chính mình—Cause and effect in the moral realm have their corresponding relations. Whoever denies the rule of “cause and effect” will destroy all moral responsibility.
nhân quần
The public.
nhân quỷ
Người và quỷ—Men and disembodied spirits (demons or disembodied ghosts).
nhân sinh
Human life.
; (人生) I. Nhân Sinh. Chỉ cho sự hóa sinh trong loài người, tức sự thành lập hữu tình thế gian của cõi Dục, vào thời kì đầu tiên trong kiếp Thành. [X. Trường a hàm Q.22; luận Câu xá Q.12]. (xt. Kiếp Sơ). II. Nhân Sinh. Tức là người ta sinh ra đời, hoặc chỉ cho sinh mệnh của con người. Kinh Bát nê hoàn quyển thượng (Đại 1, 177 thượng) nói: Con người sinh ra đời, không ai không có khổ. (xt. Thất Duy).
nhân sinh học
(人生學) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Vương ân dương soạn, xuất bản lần đầu vào năm Dân quốc 23 (1934), nhà xuất bản Phật giáo Đài loan tái bản năm Dân quốc 68 (1979). Nội dung sach này chia làm 4 thiên: 1. Thiên thứ nhất: Thực tướng của nhân sinh.2. Thiên thứ hai: Thế gian học (Nho học đại nghĩa). 3. Thiên thứ ba: Xuất thế học (Giải thoát đạo luận). 4. Thiên thứ tư: Đại bồ đề luận.
nhân sơn
(仁山) Danh tăng Trung quốc, người Kim đàn, tỉnh Giang tô, họ Cố, biệt hiệu Thiên tình Năm 18 tuổi, sư theo Hòa thượng Tây lai xuất gia tại Quan âm các ở Kim sơn, Trấn giang. Năm 19 tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở núi Bảo hoa tại Nam kinh, rồi đến chùa Kim sơn học tập kinh điển trong 6 năm. Năm Quang tự 32 (1906), sư đến Học đường Phổ thông ở chùa Thiên ninh tại Dương châu học kinh Hoa nghiêm, sau lại vào tinh xá Kì hoàn ở Nam kinh cùng học với các vị Thái hư, Trí quang, Quán đồng... Dân quốc năm đầu (1912), sư cùng các vị Thái hư, Hoành mô, Quán đồng tổ chức hội Phật giáo Hiệp tiến. Đây là Hội đoàn đầu tiên của Phật giáo Trung quốc. Năm Dân quốc thứ 8 (1919), sư mở Học viện Thiên thai ở chùa Phóng sinh ở tại Cao bưu thuộc tỉnh Giang tô, năm Dân quốc thứ 10 (1921) đổi tên là Học viện Tứ hoằng, chuyên phát huy giáo nghĩa Thiên thai, những tăng sĩ ưu tú ở khắp nơi đều về học. Học viện này sau sánh ngang với Học viện Pháp giới ở vùng Giang nam. Năm Dân quốc 17 (1927), bộ Nội chính nhà nước đề xướng phong trào Miếu sản hưng học (lấy tài sản của các chùa viện làm kinh phí để chấn hưng việc học), sư cùng các vị Trí quang v.v... vận động dân chúng địa phương kiến nghị xin chính phủ bảo vệ tài sản của chùa, kết quả phong trào Miếu sản hưng học bị tạm ngưng. Suốt một đời, sư dốc sức vào việc vận động canh tân Phật giáo, mở các học viện để đào tạo tăng tài. Những cống hiến của sư đã có ảnh hưởng rất lớn đối với công cuộc cải cách Phật giáo Trung quốc đương thời. Năm Dân quốc 40 (1951), sư thị tịch ở Quan âm các tại Kim sơn, thọ 65 tuổi, tăng lạp 47. Sư để lại các tác phẩm: Hoa nghiêm tân sớ, Pháp hoa tích nghi, Sư địa luận thuyên thích, Pháp hải ba lan.
nhân sư
A leader, or teacher of men. The Lion of men, Buddha.
; Thầy của loài người—The leader or teacher of men.
; (人師) Thầy người, chỉ cho phàm phu có khả năng dạy bảo người khác. Từ này không dùng cho các bậc Thánh như Phật, Bồ tát...
Nhân sư tử
人師子; C: rénshīzǐ; J: ninshishi;|»Sư tử trong loài người«, một trong những danh hiệu của đức Phật, ví đức tính thẳng thắn, dũng mãnh của Ngài như tính can đảm của loài sư tử.
nhân sư tử
A lion among men, a Buddha.
; Phật là bậc thầy hay hướng đạo sư của loài người—The Lion of men, Buddha as leader and commander.
nhân sự thượng đường
(因事上堂) Vì có việc nên thăng đường thuyết pháp. Trong Thiền lâm, vị Trụ trì thướng đường thuyết pháp có 2 trường hợp là Định thời và Tùy thời. Định thời là những thời thuyết pháp đã được qui định, như 1 tháng 2 kì, hoặc 3 hay 5... Còn Tùy thời là do các việc xảy ra bất thường, như lành dữ họa phúc, có người thị tịch, hoặc bậc tôn túc đến... mà thướng đường thuyết pháp, vì thế cũng gọi là Nhân sự thướng đường. Trường hợp thướng đường thuyết pháp này lấy sự làm nguyên do, nên nhân cơ hội này tuyên giảng pháp yếu, khai thị đại chúng. Như Từ minh nhân sự tụng (Vạn tục 113, 39 thượng) chép: Tới giờ mở bát trải khăn đơn Ăn xong thu dọn ngủ là hơn. Người đá vỗ tay cười ha hả Gái gỗ đờn tranh ngươi cũng đờn. Thiền lâm tượng khí tiên quyển 11 nói: Tuy những việc ấy không nhất định, nhưng phần nhiều có các việc trái ngược, khó khăn. Lại vì trường hợp thuyết pháp này không nói rõ là việc gì, cho nên gọi là Nhân sự.
nhân tam tướng
(因三相) Phạm: Liígasya trairùpyam. Cũng gọi Tam hướng. Tiếng dùng trong Nhân minh. Ba tướng của Nhân. Tức 3 điều kiện mà chi Nhân (lí do) trong luận thức Nhân minh bắt buộc phải có đầy đủ mới là Nhân chính xác. Đó là: 1. Biến thị tông pháp tính: Nhân phải có quan hệ hoàn toàn với Tông. 2. Đồng phẩm định hữu tính: Phải quyết định có tính cách của Đồng phẩm. 3. Dị phẩm biến vô tính: Phải tuyệt đối không có tính cách của Dị phẩm. Ví dụ: Tông: Con người phải chết. Nhân: Vì là sinh vật vậy Trong đó, Vì là sinh vật vậy hoàn toàn có quan hệ với con người. Vì con người cũng là sinh vật. Nhân có quan hệ với tính cách của Tông là thế và hoàn toàn chính xác.[X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh đại sớ tư sao Q.4; Đông phương luận lí học (Nhất hạnh)]. (xt. Đồng Phẩm Định Hữu Tính, Dị Phẩm Biến Vô Tính).
nhân thi thiết luận
Puggalla-paatti (S), Concepts of Persons Nhân thị thuyếtMột tập trong 7 tập của bộ Thắng Pháp Tạng.
Nhân thiên
人天; C: réntiān; J: ninden;|»Người và Trời«. Hai trong năm (hoặc sáu) nơi mà loài hữu tình tái sinh. Được sinh vào trong hai cõi giới nầy thường được xem là có được quả báo do tạo những »nghiệp lành«; khác với tạo »nghiệp ác«, sẽ có quả báo sinh vào những cõi thấp kém hơn; hoặc là khi đã chuyển hoá toàn bộ nghiệp chướng, sẽ có quả báo sinh vào cảnh giới bậc Thánh (A-la-hán, Duyên Giác, Phật…).
nhân thiên
Men and devas.
; Men and devas.
; (人天) Chỉ cho cõi người và cõi trời trong 10 cõi, 6 đường. Kinh Hoa nghiêm quyển 5 (Đại 9, 424 thượng) nói: Lìa bỏ thú vui của cõi trời, cõi người, thường hành tâm đại từ. PhẩmTòng địa dũng xuất trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 41 trung) nói: Thường ưa nơi vắng lặng, siêng năng tinh tiến, chưa từng nghỉ ngơi, cũng không trụ nơi cõi người, cõi trời. [X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.2].
Nhân Thiên Bảo Giám
(人天寳鑑, Nindenhōkan): 2 quyển, do Tứ Minh Đàm Tú (四明曇秀) nhà Tống biên, san hành vào năm thứ 3 (1230) niên hiệu Thiệu Định (紹定). Đây là tập thâu lục có 110 thiên, gồm những lời hay việc tốt qua sự tích của chư vị cổ đức bất kể thành phần hay tôn giáo nào như Thiền, Giáo, Luật, Nho, Thích, Đạo với mục đích làm gương sáng cho đàn hậu học noi theo, làm phát khởi ý khí mãnh liệt để đến với đạo. Bản này khi san hành có lời tựa của Lưu Phỉ (劉棐), lời bạt của Sư Tán (師贊) và lời trước ngữ của Diệu Trạm (妙湛).
nhân thiên bảo giám
(人天寶鑒) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đàm tú soạn vào đời Nam Tống, được khắc bản in vào khoảng năm Thiệu định (1228-1233) đời vua Lí tông. Về nội dung, tác giả đã căn cứ vào kinh, luật, luận của Phật giáo, các sách Nho và Lão, biên tập vài trăm điều mục gồm những đoạn văn có lời hay ý đẹp về gương tu hành và những điều cần biết của người học đạo.
Nhân thiên giáo
人天教; C: réntiān jiāo; J: ninden kyō;|Giáo lí dành cho loài người và trời, giáo pháp đầu tiên trong Năm giáo pháp (Ngũ giáo) do Thiền sư Tông Mật (宗密) sắp xếp. Đó là những giáo lí căn bản về quả báo, để khuyến khích con người có thú hướng sinh về cõi người vã cõi trời.
nhân thiên giáo
Những ai giữ ngũ giới sẽ tái sanh trở lại vào cõi người và những ai hành thập thiện sẽ được tái sanh vào cõi trời—Rebirth as human beings for those who keep the five commandments and as devas for those who keep the ten commandments. Tiểu Thừa Giáo: See Tiểu Thứa Giáo in (A). Đại Thừa Pháp Tướng: See Đại Thừa Thủy Giáo (a). Đại Thừa Pháp Tướng Giáo: See Đại Thừa Thủy Giáo (b).
Nhân Thiên Nhãn Mục
(人天眼目, Nindenganmoku): 3 quyển, 6 quyển, do Hối Nham Trí Chiêu (晦巖智昭) nhà Tống biên, san hành vào năm thứ 15 (1188) niên hiệu Thuần Hy (淳熙). Để cho mọi người biết rõ tông yếu của Ngũ Gia (五家, 5 tông phái lớn) ở Trung Quốc, tác phẩm này nêu lên cương lĩnh các tông phái do chư vị tiên đức đề xướng và thâu lục những niêm đề, kệ tụng của liệt vị cổ đức. Sau khi Trí Chiêu biên tập xong, vào năm thứ 6 (1258) niên hiệu Bảo Hựu (寳祐), Vật Sơ Đại Quán (物初大觀) hiệu đính lại; thêm vào đó, vào năm thứ 4 (1317) niên hiệu Diên Hựu (延祐), Trí Hựu (致祐) ở Thiên Phong (天峰), Phủ Châu (撫州) lại biên tập lần nữa, chỉnh lại thứ tự truyền thừa của chư vị tổ sư là Lâm Tế (臨濟), Quy Ngưỡng (潙仰) Tào Động (曹洞), Vân Môn (雲門), Pháp Nhãn (法眼) và cho san hành. Bản trên có 3 quyển, nhưng bản Triều Tiên san hành vào năm đầu (1368) niên hiệu Hồng Võ (洪武) nhà Minh gồm 6 quyển. Thứ tự của Ngũ Gia trong bản này có hơi khác là Lâm Tế, Vân Môn, Tào Động, Quy Ngưỡng và Pháp Nhãn; trong quyển 5, 6 có thêm vào phần Tông Môn Tạp Lục Phụ Long Đàm Khảo (宗門雜錄附龍潭考). Bản 6 quyển này làm cơ sở cho Minh Tục Tạng Bản (明續藏本) được san hành vào năm thứ 14 (1586) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆) nhà Minh, Vạn Tục Tạng Bản (卍續藏本) cũng như bản hiện đang lưu hành. Ngoài ra, bộ Tăng Tập Nhân Thiên Nhãn Mục (増集人天眼目) do Nhân Cự (仁岠) trùng hiệu đính được san hành vào năm thứ 42 (1703) niên hiệu Khang Hy (康熙) nhà Thanh, gồm 2 quyển thượng hạ, có nội dung khác xa với bản đang lưu hành. Ngoài những bản nêu trên, còn có các dị bản của Bản Triều Triên, Bản Ngũ Sơn, v.v.
Nhân thiên nhãn mục
人天眼目; C: réntiān yănmù; J: ninden gan-moku;|Tác phẩm gồm 6 quyển của Trí Chiêu (智昭).
nhân thiên nhãn mục
(人天眼目) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Hối nham Trí chiêu soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung sách này thu tập những thiên văn thơ, kệ tụng, lời khai thị đại chúng của các bậc Tổ sư và cương yếu của 5 phái Thiền tông đương thời: Lâm tế, Vân môn, Tào động, Qui ngưỡng và Pháp nhãn để nêu rõ đặc trưng của 5 phái. Sách này và luận Tông môn thập qui của ngài Pháp nhãn Văn ích rất nổi tiếng trong Thiền lâm Trung quốc.
nhân thiên thắng diệu thiện quả
Quả tái sanh thắng thiện giữa người và trời—The highest forms of reincarnation, those among men and devas.
; (人天勝妙善果) Quả báo tốt đẹp của 2 cõi trời, người trong 6 đường. So với quả báo của 4 cõi khác (địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, a tu la) thì có thể nói quả báo của cõi trời, cõi người tốt đẹp hơn nhiều, nên gọi là Thắng diệu thiện quả (quả tốt đẹp vượt trội).
nhân thiên thừa
Nhân Thừa và Thiên Thừa, hai trong ngũ thừa—Men and Deva vehicles, two of the five Vehicles.
nhân thiên trí kính nguyện
(人天致敬願) Cũng gọi Linh thành tôn đức nguyện, Văn danh tu hành đắc tha kính ích nguyện, Văn danh đắc ích nguyện, Tác lễ trí kính nguyện, Văn danh tu hành chúng sở kính trọng nguyện, Văn danh kính trọng nguyện. Nguyện thứ 37 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà ghi trong kinh Vô lượng thọ. Lời văn nguyện tùy các bản dịch bất đồng mà có hơi khác nhau. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 hạ) chép: Khi tôi thành Phật, các trời và người ở vô lượng bất khả tư nghị thế giới của chư Phật trong 10 phương, nếu nghe danh hiệu của tôi mà 5 vóc sát đất, hay cúi đầu làm lễ, vui mừng tin ưa, tu hạnh Bồ tát, thì sẽ được tất cả trời và người chí thành cung kính. Nếu không như thế thì tôi không chứng ngôi Chính giác. [X. Vô lượng thọ Như lai hội (bản dịch đời Đường); kinh Vô lượng thọ trang nghiêm (bản dịch đời Tống); Vô lượng thọ kinh sao; Cửu phẩm vãng sinh nghĩa].
nhân thuyết
Men. Khí hay Chư pháp (vạn vật) thuyết: All things.
nhân thuận dư lực
(因順餘力) Từ ngữ hiển bày sự sai biệt giữa trời, người, Thanh văn... ở cõi Tịnh độ cực lạc. Nhân là vì lẽ; Thuận là thuận theo; Dư phương chỉ cho các thế giới rộng lớn được giáo hóa. Tịnh độ cực lạc thực ra không có sự sai khác giữa người và trời, nhưng vì lí do tiếp dẫn chúng sinh ở các thế giới trong 10 phương, nên thuận theo tướng của thế giới mà lập ra các tên gọi người, trời... Thuận theo có 3 nghĩa: 1. Nói theo bản nghiệp: Theo lời ngài Nghĩa tịch được trích dẫn trong Lục yếu sao quyển 4, thì trong số những người vãng sinh, có người được sinh làm người, có người được sinh làm trời, khi họ sinh về Tịnh độ, tuy hình dáng không khác nhau, nhưng vì thuận theo bản nghiệp của họ mà có tên gọi người, trời... 2. Nói theo chỗ ở: Kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 4 có nói về tướng của cõi Phật Tịnh quang minh, theo đó thì trong cõi Phật không có tên gọi Nhị thừa, tất cả đều là Bồ tát bất thoái chuyển, các vị Bồ tát sống lâu nửa kiếp, không có người, trời khác nhau, ở trên mặt đất là người, trụ trên hư không là trời. 3. Nói theo tên gọi cũ: Vãng sinh luận chú quyển thượng cho rằng Thanh văn là từ phương khác sinh về Tịnh độ, vì vẫn dùng tên cũ nên gọi là Thanh văn. [X. kinh Vô lượng thọ; Tán A di đà Phật kệ].
nhân thành giả
(因成假) Hết thảy các pháp hữu vi đều do nhân duyên tạo thành, nên thể của chúng là giả chứ chẳng phải thực. Là 1 trong 3 giả (Nhân thành giả, Tương tục giả, Tương đãi giả). Nói theo tâm pháp thì Nhân thành giả là do tâm năng duyên, duyên theo pháp trần của ngoại giới mà sinh ra. Còn nói theo sắc pháp thì về mặt chính báo, Nhân thành giả là do nghiệp lực nương gá vào cha mẹ mà được thân người; về mặt y báo, Nhân thành giả là các vật thể do sự hòa hợp của 4 cực vi sắc, hương, vị, xúc mà được hình thành. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, hạ]. (xt. Tam Giả Thi Thiết).
nhân tháp
(仁塔) Tháp Phật. Vì trong danh hiệu Thích ca mâu ni Phật thì từ Thích ca (Phạm: Zàkya hoặc Zakya) là tên dòng họ, Hán dịch là Năng nhân (dòng họ hay làm điều nhân từ), vì thế tháp Phật được gọi là Nhân tháp, chùa Phật được gọi là Nhân từ, Phật gọi là Nhân tiên.
nhân thân
Thân thể con người—The human body or person.
; (人身) Chỉ cho thân người trong thế gian. Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 64 (Đại 10, 346 trung) nói: Được thân người là khó. Phạm võng kinh Bồ tát giới tự (Đại 24, 1003 thượng) nói: Một khi đã mất thân người, muôn kiếp khó lại được nữa. Kinh Đại bát niết bàn quyển 23 (Đại 12, 498 hạ) nói: Thân người khó được, ví như hoa ưu đàm.
nhân thân nan đắc, phật pháp khó gặp; được thân người, gặp phật pháp mà không chịu tu tập, để một phen mất đi thân người, muôn kiếp khó tìm lại đượ
It is difficult to be born as a human being, it is difficult to encouter the Buddha-dharma; now one has been born as a human being and has had a chance to encounter the Buddha-dharma, but does not zealouly practice what one knows, once losing human body, it is hard to have it back throughout the eons.
nhân thân ngưu
Trâu ngựa trong lớp con người (ngu, si và không biết làm việc thiện)—Cattle in human shape (stupid, ignorant and heedless).
; (人身牛) Mang thân người mà tâm trí thì như con bò, ví dụ người chưa nghe Phật pháp, không có trí tuệ. Luận Đại trí độ quyển 5 (Đại 25, 101 trung) nói: Có trí tuệ mà không nghe nhiều thì chẳng biết thực tướng. (...) Nghe nhiều mà không có trí tuệ thì cũng không biết thực nghĩa. (...) Còn không nghe nhiều cũng không có trí tuệ, thì đó là Nhân thân ngưu (bò mang thân người).
nhân thí thiết luận
(人施設論) Pàli: Puggala-paĩĩatti. Hán âm: Bổ đặc già la bộn na để. Tác phẩm, phân loại và thuyết minh về Bổ đặc già la, là 1 trong 7 bộ luận bằng tiếng Pàli của Phật giáo Thượng tọa bộ Nam truyền. Nội dung chủ yếu của luận này là bàn về Nhân ngã thi thiết trong 6 thi thiết (Uẩn, Xứ, Giới, Căn, Đế, Nhân ngã) và về các chủng loại của nhân ngã. Toàn bộ chia làm 2 phần: Phần Luận mẫu (Pàli: Màtikà) và phần Giải thuyết. Phần Giải thuyết là bộ phận chủ yếu của sách này. Phổ thông cho rằng sách này và luận Phân biệt là 2 trứ tác sớm nhất trong 7 bộ luậnPàli, đồng thời, giữa luận này và phẩm Nhân trong luận Xá lợi phất a tì đàm (Hán dịch) cùng với luận Tập dị môn túc có quan hệ mật thiết với nhau. Hiện nay nguyên văn của luận này đã được xuất bản cùng với các bản dịch tiếng Anh (A Designation of Human Types, P.T.S.1924) và tiếng Nhật (quyển 47 trong Đại tạng kinh Nam truyền). [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; A tì đạt ma luận thư chi nghiên cứu; A History of PàliLiterature by B.C.Law].
Nhân thú
人趣; C: rénqù; J: ninshu;|Cõi người, nhân gian (人間), nơi thụ sinh làm người (s: manuṣya-gata). một cõi trong lục đạo, lục thú.
nhân thú
Sphere, realm of men.
; Nẻo của chúng sanh con người, một trong sáu nẻo (lục đạo)—Human stage of the six gati or states of existence—See Nhân Thừa.
nhân thập tứ quá
Mười bốn sự sai lầm về nhân—The fourteen possible errors or fallacies in the reasons in the syllogism.
; (因十四過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Mười bốn lỗi của Nhân. Trong Tam chi tác pháp (luận thức 3 phần)của Nhân minh, do phần thứ 2 là Nhân (lí do)không chính xác mà tạo thành 14 lỗi, được chia làm 3 loại: 1. Bốn lỗi bất thành, gồm: Lưỡng câu bất thành, Tùy nhất bất thành, Do dự bất thành và Sở y bất thành, đều do Nhân thiếu tướng thứ 1 tạo ra. 2. Sáu lỗi bất định, gồm: Cộng bất định, Bất cộng bất định, Đồng phẩm nhất phần chuyển dị phẩm biến chuyển bất định, Dị phẩm nhất phần chuyển đồng phẩm biến chuyển bất định, Câu phẩm nhất phần chuyển bất định và Tương vi quyết định bất định, đều do Nhân thiếu tướng thứ 2 hoặc thứ 3 tạo nên. 3. Bốn lỗi tương vi, gồm: Pháp tự tướng tương vi, Pháp sai biệt tương vi, Hữu pháp tự tướng tương vi và Hữu pháp sai biệt tương vi, đều do Nhân cùng lúc thiếu cả tướng thứ 2 và tướng thứ 3 tạo nên. Lỗi thứ nhất: Lưỡng câu bất thành (Hai bên đều thấy Nhân này là sai). Cả người lập luận và người vấn nạn đều không thấy Nhân này có quan hệ với Tông pháp (danh từ trước của Tông). Như lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì con mắt thấy được. Trong trường hợp trên, ai cũng biết rằng cái Nhân (lí do) Vì là con mắt thấy được chẳng dính dáng 1 chút gì đến âm thanh cả. Tông nói 1 đường Nhân nói một nẻo, chuyện đầu Ngô mình Sở và cả đôi bên lập luận và địch luận đều thấy rõ lỗi ấy, cho nên gọi là Lưỡng câu bất thành. Lỗi thứ hai: Tùy nhất bất thành (Một bên không thừa nhận). Nghĩa là 1 bên thì cho là Nhân có quan hệ với Tông, còn 1 bên thì cho rằng Nhân không hoàn toàn có quan hệ với Tông. Chẳng hạn, đứng trước Thanh hiển luận sư mà Thắng luận sư lập luận: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì nó có tính cách được tạo ra. Nhưng chủ trương của Thanh hiển luận cho rằng âm thanh có trước khi phát âm, đến khi phát âm(nghĩa là có sự tác động) nó mới hiển rõ ra cho ta nghe thấy, chứ không phải lúc phát âm mới có, mới phát sinh. Do đó, âm thanh là thường có, không phải vô thường. Như thế, Nhân ở đây chỉ được người lập luận thừa nhận, còn đối phương thì không thừa nhận, cho nên gọi là Tùy nhất bất thành. Lỗi thứ ba: Do dự bất thành (Do dự). Trong trường hợp này Nhân có quan hệ với Tông hay không, chưa thể quyết định được, vì thế gọi là Do dự. Như có người từ xa xa trông thấy 1 đám gì đang bay lên, chưa rõ là mây, là khói hay sương mù, hoặc là bụi... mà lập luận thức. Tông: Đàng kia có lửa cháy. Nhân: Vì trông như có khói bay lên. Nhân trong luận thức này không thành lập được Tông, vì còn do dự không quyết, nên gọi là Do dự bất thành. Lỗi thứ tư: Sở y bất thành. Danh từ trước của Tông là chỗ dựa(sở y) của Nhân, nếu như danh từ trước không được đối phương thừa nhận thì Nhân này cũng bị lỗi. Nghĩa là nếu Tông phạm lỗi Sở biệt bất cực thành thì Nhân cũng bị luôn lỗi Sở y bất thành. Như Thắng luận sư đối với Vô không luận sư (người chủ trương không có hư không) mà lập luận thức: Tông: Hư không là thực có. Nhân: Vì là chỗ nương (sở y) của đức. Hư không là khái niệm được học phái Thắng luận công nhận là có thật, nhưng phái Vô không luận thì phủ nhận, cho là không có thực thể, bởi thế, Nhân ở đây không có chỗ dựa nên phạm lỗi Sở y bất thành. Bốn lỗi trên là do Nhân thiếu quan hệ với Tông, gọi là 4 lỗi Bất thành. Lỗi thứ năm: Cộng bất định (Có cả đồng phẩm và dị phẩm). Đây là trường hợp mà phạm vi của Tông quá rộng, bao hàm cả tính cách đồng phẩm và tính cách dị phẩm của Tông. Chẳng hạn như Thanh luận sư đối với đệ tử Phật mà lập luận: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì có tính cách đo lường được. Trong trường hợp này, cái Nhân (lí do) Vì có tính cách đo lường được có thể thành tựu cho đồng phẩm của Tông (như cái bình...), mà cũng có thể thành tựu cho dị phẩm của Tông (như hư không). Như vậy không thể xác định được rằng Tông đúng hay không đúng, nên gọi là Bất định. Lỗi thứ sáu: Bất cộng bất định (không có đồng phẩm cũng không có dị phẩm). Trong trường hợp này thì phạm vi của Nhân lại hẹp quá, chẳng liên quan gì đến tính cách đồng phẩm mà cũng không dính líu gì đến tính cách dị phẩm. Như lập luận thức: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì là cái nghe được vậy. Trong trường hợp này, những cái thường còn (đồng phẩm của Tông) và những cái vô thường (dị phẩm của Tông), không 1 cái gì có tính cách nghe được cả. Nói cách khác, ngoài âm thanh ra, trên thế giới này không còn có 1 cái gì có tính cách nghe được nữa. Như vậy, Nhân chẳng có liên quan gì với đồng phẩm hay dị phẩm và do đó không thể biện minh cho sự thành lập của Tông, mà cũng chẳng tìm đâu ra 1 ví dụ. Cho nên bị lỗi Bất định. Lỗi thứ bảy: Đồng phần, Dị toàn bất định (Có 1 phần đồng phẩm và toàn phần dị phẩm). Trong trường hợp này Nhân có 1 phần đồng phẩm và toàn phần dị phẩm. Như lập luận thức: Tông: Nguyễn văn A là đàn bà. Nhân: Vì không sinh con. Đàn ông không sinh con, đàn bà cũng có người không sinh con. Như vậy, đồng phẩm chỉ có một phần thôi và 1 phần không (nghĩa là chỉ có 1 số đàn bà không sinh con, chứ không phải toàn thể đàn bà không sinh con), còn dị phẩm lại hoàn toàn có (nghĩa là toàn thể Nguyễn văn A đều không sinh con). Trong trường hợp này, cái Nhân Vì không sinh con không thể xác định được Nguyễn văn A là đàn ông hay đàn bà, cho nên bị lỗi Bất định. Lỗi thứ tám: Dị phần, đồng toàn bất định(Có tính cách đồng phẩm mà lại bị xen vào 1 ít dị phẩm). Trong trường hợp này Nhân cũng bị lỗi Bất định. Như lập luận thức: Tông: Nguyễn văn A là đàn ông. Nhân: Vì không sinh con. Toàn thể đàn ông không sinh con đã đành, nhưng đàn bà cũng có người không sinh con, thế là Nhân bị xen vào 1 phần dị phẩm, cho nên phạm lỗi Bất định. Lỗi thứ chín: Câu phần bất định (Có 1 ít đồng phẩm và 1 ít dị phẩm). Nhân có 1 phần đồng phẩm và cũng có 1 phần dị phẩm, nhưng không đủ tính cách quan hệ với Tông, do đó không xác định sự thành lập Tông. Như Thanh luận sư đối với Thắng luận sư mà lập luận thức: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì không có tính chất ngại. Trong trường hợp này, thường còn lấy hư không, cực vi... làm đồng phẩm, như thế thì Vì không có tính chất ngại chỉ đúng với hư không chứ không đúng với cực vi (bởi lẽ cực vi cũng còn là vật chất, vẫn có tính chất ngại). Hoặc lấy cái bình, niềm vui... làm đồng phẩm thì Vì không có tính chất ngại đúng với niềm vui mà không đúng với cái bình... Như vậy, Nhân đồng thời cùng quan hệ 1 phần với đồng phẩm và 1 phần với dị phẩm, không xác định được Tông là thường còn hay vô thường, cho nên bị lỗi bất định. Từ lỗi thứ 5 đến lỗi thứ 9, là do thiếu tính cách đồng phẩm hoặc bị xen lẫn tính cách dị phẩm mà có, gọi là 5 lỗi Bất định về Nhân. Lỗi thứ mười: Tương vi quyết định bất định, cũng gọi Tương vi quyết định. Đây là 1 lỗi đặc biệt trong 33 lỗi Nhân minh. Trong 5 lỗi (từ lỗi thứ 5 đến lỗi thứ 9) được trình bày ở trên, đều do Nhân thiếu mất tướng thứ 2 hoặc tướng thứ 3 mà gây ra, do đó, không quyết định được sự thành lập Tông, nên là những lỗi Bất định. Nhưng lỗi thứ 10 không thuộc vào loại Bất định trên, vì, đứng về mặt lập luận mà nói thì Nhân trong trường hợp này đầy đủ cả 3 tướng, có thể chứng minh cho Tông, chứ không phải bất định như 5 trường hợp nói trên. Vấn đề ở đây là: Người lập luận chủ trương âm thanh là vô thường, kẻ đối phương thì chủ trương ngược lại: Âm thanh là thường còn. Tông nghĩa của 2 bên trái nhau, nhưng Nhân của 2 bên đều có đủ điều kiện thành lập Tông (nghĩa là đủ cả 3 tướng), nên không thể quyết định ai phải ai trái, để đến nỗi bị lỗi này. Trường hợp có thể gọi là bất phân thắng bại, nhưng theo luận lí Nhân minh thì 2 bên bại cả, vì luận thức của đôi bên đều sai nên mới đến nỗi như thế. Cũng như trên đã nói, phái Thắng luận chủ trương Âm thanh là vô thường, đứng trước phái Thanh sinh luận chủ trương Âm thanh là thường còn mà lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì là do sự động tác mà có ra. Dụ: Như cái bình... Đó là 1 luận thức mà phần Nhân hoàn toàn đầy đủ, không thiếu 1 điều kiện nào trong 3 tướng. Nhưng, vì phái Thanh sinh luận cùng với phái Thắng luận đều thừa nhận là tính chất của âm thanh có thể nghe được, có thể là thường còn, cho nên phái Thanh sinh luận lại đối với Thắng luận mà lập: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì là cái nghe được. Dụ: Ví như tính chất của âm thanh. Vì cả 2 phái đều thừa nhận tính chất âm thanh có thể nghe thấy, có thể thường còn nên luận thức sau vẫn đầy đủ 3 điều kiện (phái Thanh sinh luận liệt tính chất âm thanh vào đồng phẩm với Tông). Luận thức của 2 bên đều đầy đủ, không ai thuyết phục được ai, như vậy, trên lập trường Nhân minh đều bị lỗi bất định. Lập luận đúng, nhưng không tìm thấy lỗi của đối phương nên cũng bị lỗi. Trong trường hợp như thế thì phải dùng 1 thứ Nhân hoàn toàn hơn để thuyết phục đối phương. Lỗi thứ mười một: Pháp tự tướng tương vi (Trái với chủ trương của Tông). Pháp là danh từ sau (hậu trần) của Tông, trái với ý nghĩa của Tông. Như lập luận thức: Tông: Anh A sẽ không phải chết. Nhân: Vì anh ta là 1 sinh vật. Không một sinh vật nào mà sẽ không chết, như vậy rõ ràng sinh vật đã mâu thuẫn với ý nghĩa sẽ không phải chết, nên phạm lỗi Pháp tự tướng tương vi. Lỗi thứ mười hai:Pháp sai biệt tương vi (Trái với chủ trương của Tông). Lỗi này do Nhân trái với ý nghĩa ẩn tàng trong Tông. Như muốn chứng minh sự tồn tại của 1 nguyên lí duy nhất sáng tạo ra muôn vật mà lập luận thức: Tông: Muôn vật phải là do 1 cái gì khác tạo ra. Nhân: Vì tự mình không thể tạo ra mình được. Dụ: Ví như đồ vật nhân tạo. Đứng về phương diện ngôn ngữ mà nhận xét, thì luận thức trên đây không có 1 lỗi nào có thể chỉ trích hay bác bỏ được. Thiên chúa giáo chủ trương Thần tạo ra muôn vật và ở ngoài vòng muôn vật. Và câu do 1 cái gì khác tạo ra ấy không phải là 1 nguyên nhân khác, 1 điều kiện khác mà chính là muốn nói do 1 vị thần duy nhất tạo ra. Chỉ vì sợ bị lỗi bất cực thành nên phải nói gián tiếp như thế. Tại sao? Vì cái Nhân tự mình không thể tạo ra mình được đã là mâu thuẫn hẳn với ý nghĩa của Tông rồi. Vì nếu mình không thể tự tạo ra mình, thì vị thần duy nhất kia do ai tạo ra? Không lẽ vị thần ấy lại tự tạo ra mình? Lỗi thứ mười ba: Hữu pháp tự tướng tương vi (Trái với danh từ trước). Lỗi này là do Nhân trái với ý nghĩa trong danh từ trước (tiền trần) của Tông. Như Thắng luận sư lập luận thức: Tông: Tính có không phải là Thực, là Đức, là Nghiệp. Nhân: Vì có 1 Thực, vì có Đức, Nghiệp. Trong trường hợp này, Nhân dùng tính có(Hữu tính) để phủ định Thực, Đức, Nghiệp, nhưng đồng thời cũng lại phủ định luôn cả Tính có. Vì thế nên bị lỗi. Lỗi thứ mười bốn: Hữu pháp sai biệt tương vi(Mâu thuẫn với ý nghĩa ẩn tàng trong danh từ trước của Tông). Như lập luận thức: Tông: Có một đấng thường trụ. Nhân: Vì không có hình tướng. Ý của người lập luận là muốn lập 1 đấng Tạo hóa tạo ra muôn vật, nhưng nếu bị đối phương bác bỏ bằng luận thức: Tông: Đấng ấy của ông là thường trụ, nhưng không tạo ra được vật gì cả. Nhân: Vì không có hình tướng. Thì người lập luận sẽ bị lỗi mâu thuẫn với ý nghĩa ẩn tàng trong danh từ trước của Tông mà mình muốn thành lập. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh đại sớ tư sao Q.4; Đông phương luận lí học (Nhất hạnh)]. (xt. Nhân Minh Tam Tướng, Nhân Minh).
nhân thế
Human life.
nhân thể
Pudgala (S), Puggala (P).
; Human body.
; (因體) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, ý nghĩa của Nhân (lí do) đối với danh từ trước (Hữu pháp) của Tông được cả 2 bên lập luận và địch luận thừa nhận. Như lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì là do tính tác động tạo ra. Trên đây, ý nghĩa do tính tác động tạo ra là Nhân thể, được cả Thanh luận sư và tín đồ Phật giáo công nhận. Lại khi giải thích Nhân thể phải dựa vào ngôn ngữ, phân biệt Nhân thể phải nhờ trí tuệ, vì thế Nhân thể có 6 nghĩa, gọi là Lục nhân, gồm 3 sinh nhân của người lập luận là: Ngôn sinh nhân, Trí sinh nhân và Nghĩa sinh nhân. Vì 3 nhân này có thể làm cho địch luận (người vấn nạn) sinh ra sự hiểu biết, nên gọi là Sinh nhân. Và 3 liễu nhân của người địch luận là: Trí liễu nhân, Ngôn liễu nhân và Nghĩa liễu nhân. Vì 3 nhân này có thể làm cho người địch luận hiểu rõ (liễu ngộ) được lí nghĩa của người lập luận, cho nên gọi là Liễu nhân. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần cuối]. (xt. Lục Nhân, Nhân Minh).
nhân thị thuyết
Xem Nhân thi thiết luận.
nhân thứ
Generosity.
nhân thừa
Mānuṣayāna (S).
; Men-vehicle.
; Một trong ngũ thừa (Thiên, Nhân, A tu la, Ngạ quỷ, Địa ngục). Con người phải trì ngũ giới để được bảo đảm sanh trở lại cõi người—Man—The sentient thinking being in the desire-realm, one of the five vehicles (the world of men). Human being must keep five commandments to ensure rebirth in the world of men.
nhân tiên
The immortal among men, the Buddha.
; 1) Con người đã đạt được khả năng bất tử—Humans who have attained the powers of immortals—Human genii—Immortal among men. 2) Phật: The Buddha. 3) Tên của vua Bình Sa Vương trong kiếp tái sanh: A name for Bimbisara in his reincarnation.
; (人仙) Từ tôn xưng đức Phật. Kinh Đại bát niết bàn quyển 2 (Đại 12, 375 hạ) nói: Xa lìa bậc Nhân tiên, không thể cứu được nữa.
nhân trung
Khoảng giữa mũi và môi trên—Space between the nose and the upper lip.
nhân trung chi long
rồng giữa loài người, ý nói những bậc kiệt xuất, phi thường giữa những người tầm thường. Vì quan niệm ngày xưa cho rồng là loài cao quý, linh diệu.
nhân trung hữu quả
(因中有果) Phạm: Sat-kàrya. Trong nhân có sẵn tính chất của quả. Đây là chủ trương của học phái Số luận trong 6 phái Triết học ở Ấn độ đời xưa. Học phái này cho rằng sự sinh thành của muôn vật là sự khai phát của tự tính, vì thế trong tự tính tự nhiên đã có sẵn tính chất quả của muôn vật, như từ cát không thể ép cho ra dầu, nhưng ép vừng (mè)thì được dầu; nếu trong nhân không có sẵn tính quả thì không thể sinh ra quả. Thuyết này ngược lại với thuyết Trong nhân không quả của học phái Thắng luận. [X. luận Kim thất thập Q.thượng; luận Du già sư địa Q.6; luận Hiển dương thánh giáo Q.9; Ma ha chỉ quán Q.10, thượng]. (xt. Nhân Trung Vô Quả).
nhân trung hữu quả tông
(因中有果宗) Cũng gọi Nhân trung hữu quả luận. Tông phái ngoại đạo chấp trước trong nhân của các pháp đã có sẵn tính chất của quả, 1 trong 16 tông ngoại đạo ở Ấn độ cổ đại. Ngoại đạo này chủ trương trong nhân đã có tính chất của quả rồi, chẳng hạn muốn có gạo nếp thì phải cấy lúa nếp, chứ trồng ngô thì không thể có được gạo nếp. [X. luận Du già sư địa Q.6; luận Hiển dương thánh giáo Q.9; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1]. (xt. Nhân Trung Hữu Quả, Vũ Chúng Ngoại Đạo).
nhân trung ngưu vương
(人中牛王) Cũng gọi Nhân trung tượng vương, Nhân trung long vương, Nhân trung sư tử, Nhân trung liên hoa phân đà lợi, Nhân trung trượng phu, Nhân trung lương mã, Nhân sư tử, Nhân trung đặc ngự. Đức hiệu của Phật. Ngưu vương, Tượng vương, Long vương, Liên hoa phân đà lợi v.v... trong loài người là những lời khen ngợi đức hạnh rộng lớn vô biên của Phật ví như sức mạnh của trâu chúa, rồng chúa, voi chúa và sự quí hiếm của hoa sen trắng... vậy.Theo luận Du già sư địa quyển 82, thì do Phật có cái đức chế ngự đại chúng nên gọi là Nhân trung ngưu vương. [X. kinh Li cấu tuệ bồ tát sở vấn lễ Phật pháp; luận Đại trí độ Q.8].
nhân trung phân đà lợi hoa
1) Theo Kinh Niết Bàn, Phật là một bông sen giữa các chúng sanh con người: According to the Nirvana Sutra, the Buddha is a Lotus among men. 2) Tất cả những ai trì niệm hồng danh Phật A Di Đà: All who invoke Amitabha.
; (人中分陀利花) I. Nhân Trung Phân Đà Lợi Hoa. Phạm: Puịđarìka. Hán dịch: Bạch liên hoa. Hoa sen trắng trong loài người. Vì hoa sen trắng thanh khiết, quí hiếm nên được dùng làm đức hiệu của Phật. [X. kinh Niết bàn Q.18 (bản Bắc)]. II. Nhân Trung Phân Đà Lợi Hoa. Từ ngữ khen tặng người niệm Phật. Vì những người niệm Phật là rất quí, như hoa sen trắng. [X. kinh Quán vô lượng thọ]. (xt. Liên Hoa).
Nhân trung sư tử
(Sư tử giữa loài người) một tôn hiệu để xưng tán đức Phật, là bực dũng mãnh hơn hết trong loài người, như sư tử là loài thú oai mãnh hơn hết trong các loài thú. Có khi cũng dùng Nhân hùng sư tử.
nhân trung sư tử
Phật là Sư Tử trong loài người—The Buddha, a Lion among men.
; (人中師子) I. Nhân Trung Sư Tử. Cũng gọi Nhân hùng sư tử, Nhân sư tử vương, Nhân sư tử. Sư tử trong loài người. Từ ngữ tôn xưng đức Phật. Vì Ngài là bậc hùng dũng nhất trong loài người, giống như sư tử là chúa của trăm loài thú. Theo luận Đại trí độ quyển 7, sư tử một mình đi giữa các loài thú mà không sợ hãi, có thể hàng phục tất cả. Đức Phật cũng thế, ở trong 96 thứ ngoại đạo mà hàng phục tất cả, chẳng sợ hãi, nên gọi là Nhân sư tử. [X. kinh Niết bàn Q.33 (bản Bắc); kinh Vô lượng thọ]. II. Nhân Trung Sư Tử. Tiếng tôn xưng ngài Phật đà tư na. Theo lời Bạt trong Trị thiền bệnh bí yếu pháp, thì vị sa môn Đại thừa tên là Phật đà tư na là bậc thiên tài xuất chúng, một mình đi qua các nước, có thể tụng nửa ức kệ, thông suốt pháp thiền, người đời gọi ngài là Nhân trung sư tử. [X. luận Đại trí độ Q.8].
nhân trung tam ác
The three most wicked among men.
; Ba cái ác của loài người—The three most wicked among men: (A) 1) Tham: Desire. 2) Sân: Hatred. 3) Si: Ignorance. (B) 1) Nhất xiển đề: The slanderers of Mahayana. 2) Những kẻ phá giới: Those who break Buddhist precepts. 3) Những kẻ phá hòa hợp Tăng: Those who break the harmony of the Sangha.
; (人中三惡) Ba hạng người ác trong loài người. Tức là: Hạng Nhất xiển đề, người phỉ báng Đại thừa và người phạm 4 giới cấm nặng (sát sinh, trộm cắp, dâm dục, nói dối). (xt. Nhất Xiển Đề, Tứ Trọng Cấm).
nhân trung thuyết quả
Satkaryavada (S).
; (因中說果) Phạm:Sat-kàrya-vàda. Đối lại: Quả trung thuyết nhân. Trong nhân nói quả, tức là đối với nguyên nhân mà giả đặt ra cái tên gọi kết quả. Trong trường hợp dùng sự quan hệ giữa sợi (nhân) và quần áo (quả) làm ví dụ, rồi nếu nói sợi tức là quần áo thì đó là trong nhân nói quả; còn nếu nói quần áo tức là sợi thì đó là trong quả nói nhân. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 37 (bản Bắc) thì đức Như lai có khi trong nhân nói quả, có khi trong quả nói nhân. Như người thế gian nói đất sét tức là bình, sợi tức là áo... đó là trong nhân nói quả; còn nếu nói trâu tức là cỏ nước, người tức là ăn thì đó là trong quả nói nhân. [X. luận Đại trí độ Q.18, 31, 43; luận Thành thực Q.15]. (xt. Quả Trung Thuyết Nhân).
nhân trung thụ
Phật là một tàng cây lớn (cây Bồ Đề) cho nhân loại—The Buddha, a tree among men. The Buddha who provided the bodhi tree as a shelter for men.
; (人中樹) Cây giữa loài người, đức hiệu của Phật. Thân nghiệp của Phật có khả năng làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, diệt tan nhiệt não, cũng như cây cối che mát cho mọi loài. Kinh Nhân vương quyển thượng (Đại 8, 838 thượng) nói: Đấng Pháp vương vô thượng như cây đại thụ giữa loài người, tỏa bóng che mát khắp vô lượng chúng sinh.
nhân trung tôn
The Honoured One among men, the Buddha.
; Phật là bậc đáng tôn quí trong loài người—The Honored One among or of men—The Buddha
; (人中尊) Bậc tôn quí nhất trong loài người, là từ ngữ kính xưng đức Phật. Phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 4 trung) nói: Có đức Phật, bậc nhân trung tôn, hiệu là Nhật nguyệt đăng minh.
Nhân trung tượng vương
xem Voi chúa giữa loài người.
nhân trung vô quả
Asatkaryavāda (S).
; (因中無果) Phạm: A-sat-kàrya. Đối lại: Nhân trung hữu quả. Nghĩa là trong nhân không nhất định đã có sẵn tính chất của quả. Đây là chủ trương của học phái Thắng luận trong 6 phái Triết học ở Ấn độ đời xưa. Học phái này cho rằng nhân có 2 loại là nhân hòa hợp và nhân không hòa hợp, phải cần có các nhân hòa hợp mới có quả, như đất sét tuy là nhân của cái bình, nhưng phải đợi các trợ nhân thì mới thành bình, bởi thế phái này lập thuyết nhân quả khác nhau. [X. luận Kim thất thập Q.thượng; Trung quán luận sớ Q.2, phần đầu; Bách luận sớ Q.hạ, phần đầu; Ma ha chỉ quán Q.10, thượng]. (xt. Nhân Trung Hữu Quả).
nhân trích luận
(因滴論) Cũng gọi Nhân nhất trích luận. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp xứng người Nam Ấn độ soạn vào khoảng thế kỉ VI, VII, 1 trong 7 bộ luận về Nhân minh. Nội dung nói rõ về qui tắc thành lập Nhân (lí do). Theo qui định của 3 chùa lớn thuộc phái Cách lỗ của Phật giáo Tây tạng thì luận này được xếp vào loại sách nhập môn của người học tập Nhân minh. Về sách chú thích luận này thì có Quảng chú của ngài Luật thiên.
nhân trực
(因直) Chức vụ thuộc Trực đàn liêu trông coi việc trao nhân duyên huyết mạch trong pháp hội truyền giới của Thiền lâm. [X. Thụ giới hội tác pháp trong Tào động tông hành trì quĩ phạm Q.2].
nhân tu
The practice of Buddhism as the cause of Buddhahood.
; Sự tu hành như là nhân để thành Phật—The practice of Buddhism as the cause of Buddhahood.
nhân tài
Talented man.
nhân tánh
Sivali (P).
nhân tánh tự tánh
Hetu-svabhāva (S)Nhân tự tánhTánh thân nhân làm sanh khởi các pháp.
nhân tâm
Human heart.
nhân tính
Human nature.
; (仁性) Phạm, Pàli: Sìvali. Hán âm: Thi lợi ca, Thi bà la, Thế bạt la, Thi bạt la. Cũng gọi Nhân cát. Đệ tử của đức Phật, thuộc dòng Sát đế lợi. Ngài bẩm tính nhân từ nên gọi là Nhân tính. Vào các kiếp quá khứ, Ngài thường đem tiền của tặng cho người nghèo, nhờ thiện nghiệp ấy nên nhiều đời Ngài được sinh vào cõi trời, cõi người, phúc đức đầy đủ. Đến khi đức Phật ra đời, Ngài được làm đệ tử, chứng quả A la hán, được xếp vào hàng Chúng đồng văn (Đại chúng cùng nghe) trong hội tọa kinh Vô lượng thọ. [X. kinh Ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi; luận Đại trí độ Q.24].
nhân tôn
Benevolent and honoured one, i.e. Buddha.
; 1) Benevolent and honoured—Kindly honoured one. 2) Phật: Buddha—See Nhân Trung Tôn.
; (人尊) Bậc tôn quí trong loài người, là từ tôn xưng đức Phật. Phẩm Tựa kinh Tăng nhất a hàm (Đại 2, 550 thượng) nói: Bậc nhân tôn nói Lục độ ba la mật.
nhân tôn ngưu vương
The Buddha, the Lord of the herd.
nhân tướng
Human appearance—Chấp cái ngã là người khác hay đạo khác—The ego of a man or that this ego is a man and different from beings of the other paths—Man is different from other organisms. Chúng sanh tướng: Living beings appearance—Chấp ngã đưa vào ngũ uẩn mà sanh—The ego of all beings, that all beings have an ego born of the five skandhas—All the living are produced by the skandhas. Thọ giả tướng: The appearance of longevity—Chấp thọ mệnh một thời của cái ngã, từ đó sanh ra chấp trước vào tướng sự và ao ước phúc lợi—Life is limited to the organism—The ego has age, i.e. a determined or fated period of existence, thus creating the idea of attaching all appearances and desiring for welfare and profit.
; (因相) Tướng nhân sinh ra muôn pháp, 1 trong 3 tướng của thức A lại da. Thức A lại da có năng lực thu giữ hết thảy chủng tử, là nguyên nhân sinh ra muôn pháp, vì thế gọi là Nhân tướng. Nhân tướng có 2 nghĩa: 1. Y trì nhân: Giữ gìn chủng tử các pháp không để mất. 2. Sinh khởi quán: Chủng tử chính là nhân duyên gần để hiện khởi các pháp. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.4]. (xt. A Lại Da Tam Tướng).
nhân tạo
Artificial—Not natural.
nhân tạo hoa
(人造華) Hoa nhân tạo, thường được làm bằng vải, gỗ, giấy, đồng... dùng để thờ trên bàn Phật.Theo Quán mộc tôn nghi trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4, thì mỗi ngày tắm Phật, nên bày các thứ hoa thơm cỏ lạ để cúng dường, nhưng vào mùa đông hiếm có hoa tươi, nên cắt giấy hoặc lụa làm hoa nhân tạo để cúng dường trước tượng Phật, trông cũng rất đẹp. Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 6 (Đại 19, 133 trung) nói: Ở giữa đàn bát giác cao 1 trượng 6, đặt 1 hoa sen nhân tạo bằng vàng bạc đồng hoặc gỗ. Trong các chùa viện hiện nay cũng có nơi dùng gỗ làm hoa sen rồi sơn son thiếp vàng để thờ cúng trước bàn Phật, gọi là Thường hoa, Mộc hoa, Mộc liên hoa. Trong các trường hợp khác, như nghi thức lễ tang, người ta cũng dùng hoa giấy. [X. Trần thiêm khái nang sao Q.15].
nhân tập sinh duyên
(因集生緣) Bốn hành tướng của Tập đế trong 16 hành tướng của Tứ đế. Tức khi quán xét về Tập đế thì trước hết quán tất cả hoặc nghiệp đều là nhân sinh ra quả khổ, gọi là Nhân; thu tập các quả khổ và làm cho chúng hiện khởi, gọi là Tập; khiến cho quả khổ nối nhau không dứt, gọi là Sinh; tập thành quả khổ và làm cho quả khổ thành tựu, gọi là Duyên. (xt. Thập Lục Hành Tướng, Tứ Đế).
nhân tế
Puruṣamedha (S)Việc tế lể lấy người làm vật hy sinh.
; (人祭) Phạm: Puruwamedha. Dùng người làm vật hi sinh trong lễ tế Tô ma của Bà la môn giáo ở Ấn độ đời xưa. Lễ tế này giống như lễ tế dùng ngựa làm con sinh, nhưng vì dùng ngựa không thể đạt được điều mong cầu lớn hơn nên mới dùng người làm vật hi sinh để tế, nên gọi là Nhân tế. Chương 30 trong Bạch nhu phệ đà liệt kê 184 hạng người được dùng làm con sinh, trong đó, có hạng trộm cắp, ca sĩ, kĩ nữ, đàn bà giặt áo v.v... Về cách tế sinh thì có nhiều thuyết khác nhau, có thuyết nói bắt người nhảy vào lửa, hoặc sau khi lễ bái thần Thái dương phải ẩn vào trong núi cho đến hết đời.
nhân từ
Xem Bất nhuế.
; Avyàpàda (S). Goodness; absence of the desire to injure. Also khoan dung.
; Benevolent—Benevolence—Clemency.
nhân từ nhất
Most charitable.
nhân tự
(因字) I. Nhân Tự. Chỉ cho chữ (hùô, Hồng). Chữ Hồng là chủng tử của bồ tát Quang, có nghĩa diệt trừ sạch nghiệp nhân nên gọi là Nhân tự. Chữ Hồng cũng là chủng tử của đức A súc Như lai, biểu thị đức của tâm bồ đề trong sạch. Cứ theo kinh Du kì, từ Nhân tự kim cương có năng lực phát sinh lửa mạnh, thiêu đốt những sự không tốt lành. II. Nhân Tự. Chỉ cho chữ (a), chữ (a#, ác). Chữ A là chủng tử của tâm bồ đề, có nghĩa là nhân nên gọi là Nhân tự. Chữ Ác là chủng tử của Kim cương tát đỏa trong hội Yết ma, thể của nó lấy tâm bồ đề làm nhân nên gọi là Nhân tự.
nhân tự tánh
Xem Nhân tánh tự tánh.
nhân tự tính
Svahetulakshana (skt). 1) Đặc tính tự là nguyên nhân, tức là thực tính—Self-cause-characteristic, that is, reality. 2) Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Phân biệt suông cũng giống như sừng thỏ, chứ không có những dấu hiệu thực sự của tự tính.”—In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “A mere discrimination is the hare's horn, there are no real signs of selfhood.”
nhân tự tướng
Svahetulakṣaāa (S).
; Svahetulaksana (S). Self cause characters.
Nhân uân
(氤氳): thời xưa chỉ cho trạng thái hai khí âm dương hòa hợp nhau. Như trong Bạch Hỗ Thông (白虎通), phần Giá Thú (嫁娶) có câu: “Thiên địa nhân uân, vạn vật hóa thuần (天地氤氳、萬物化淳, khí trời đất hòa hợp, muôn vật trở nên thuần).” Hay trong tác phẩm Tề Đông Dã Ngữ (齊東野語), phần Cổ Tương Thọ Từ (賈相壽詞) có đoạn: “Thính vạn vật nhân uân, tùng lai hình sắc, mỗi hướng tĩnh trung thứ (聽萬物氤氳、從來形色、每向靜中覷, lắng nghe khí âm dương hòa hợp muôn vật, hình sắc xưa nay, mỗi lần đều hướng vào trong sự tĩnh lặng mà nhìn kỹ).” Trong Hoa Nghiêm Kinh Hải Ấn Đạo Tràng Sám Nghi (華嚴經海印道場懺儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1470) quyển 31 lại có câu: “Nhất thiết bảo hương thọ, hương khí nhân uân, phổ huân thập phương (一切寶香樹、香氣氤氳、普熏十方, tất cả những cây có hương thơm báu, khí hương nghi ngút, xông khắp mười phương).” Trong bản Chánh Khắc Trung Khoa Du Già Tập Yếu (正刻中科瑜伽集要), hiện tàng bản khắc gỗ tại Chùa Báo Quốc, Huế; ghi năm ấn bản là “Đồng Khánh Mậu Tý (同慶戊子, 1889)”, có bài tán: “Trầm nhũ Chiên Đàn giá mạc luân, kim lô tài nhiệt phún tường vân, nhân uân biến triệt tam thiên giới, vi thụy vi tường đạt Thế Tôn (沉乳栴檀價莫倫、金爐纔爇噴祥雲、氤氳遍徹三千界、爲瑞爲祥達世尊, trầm đốt Chiên Đàn đâu sánh bằng, lò vàng vừa đốt tỏa mây lành, khí xông trùm khắp ba ngàn cõi, linh hiển cát tường đấng Thế Tôn).”
nhân viên quả mãn
The cause perfect and the effect complete, i.e. the practice of Buddhism.
; Nhân tu hành đầy đủ và Phật quả viên mãn (theo Kinh Tâm Địa Quán: “Ba tăng kỳ kiếp độ chúng sanh, siêng tu tám vạn Ba La Mật, nhân viên quả mãn thành chánh giác, trụ thọ ngưng lại không đến đi)—The cause perfects and the effect completes (the practice of Buddhism).
; (因圓果滿) Muôn hạnh ở nhân vị đã tròn, muôn đức ở quả vị đã đủ. Kinh Tâm địa quán quyển 1 (Đại 3, 295 thượng) nói: Ba tăng kì kiếp độ chúng sinh, Siêng tu tám vạn ba la mật. Nhân tròn quả đủ thành chính giác, Thọ mệnh thường nhiên chẳng đến đi.
Nhân vô ngã
人無我; C: rén wúwǒ; J: ninmuga; S: pudgala-nairātmya, anātman;|Sự hiện hữu của con người là hợp thể của Ngũ uẩn, nên không có một chủ thể nào là thường hằng.
nhân vô ngã
Pudgalanairātmya (S), Egolessness of person, Selflessness of person, Chúng sinh vô ngã, Sinh không, Nhân không, Ngã không.
; Pudgalanairàtmya (S) Doctrine of non-ego.
; Pudgalanairatmya (skt)—Selflessness of person—Con người không có sự thường hằng của cái ngã—Man as without ego or permanent soul—No permanent human ego or soul.
nhân vô ngã trí
Pudgalanairatmyajnana (skt). 1) Trí huệ của một con người vô ngã: The knowledge or wisdom of a man without ego (anatman). 2) Cái trí biết rằng không có cái ngã hay linh hồn: The knowledge that there is no ego-soul.
nhân vương
The benevolent king, Buddha.
; 1) Vua nhân từ: The benevolent king. 2) Phật: Buddha.
; (仁王) I. Nhân Vương. Từ tôn xưng đức Phật. Đức Phật hiệu là Năng nhân, là Pháp vương, nên gọi chung là Nhân vương. II. Nhân Vương. Chỉ cho 16 vị Quốc vương của 16 nước lớn ở Ấn độ thời xưa được ghi trong kinh Nhân vương. III. Nhân Vương. Cũng gọi Nhị vương tôn, Nhị thiên vương. Hai vị lực sĩ Kim cương được thờ ở 2 bên cổng chùa để thủ hộ. Vị bên trái là Mật tích kim cương, vị bên phải là Na la diên kim cương. (xt. Nhị Vương Tôn).
nhân vương bát nhã ba la mật kinh
(仁王般若波羅蜜經) Cũng gọi Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật kinh, Nhân vương bát nhã ba la mật hộ quốc kinh, Nhân vương bát nhã kinh, Nhân vương kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 8. Kinh này được chia làm 8 phẩm: Phẩm Tựa, phẩm Quán không, phẩm Bồ tát giáo hóa, phẩm Nhị đế, phẩm Hộ quốc, phẩm Tán hoa, phẩm Thụ trì và phẩm Chúc lụy. Nội dung kinh này đức Phật nói cho 16 vị Đại quốc vương nghe về hạnh gìn giữ quả Phật, Thập địa và nhân duyên giữ gìn đất nước và nếu giảng nói, thụ trì kinh này thì được tiêu tai tăng phúc. Kinh này cùng với kinh Pháp hoa, kinh Kim quang minh là 3 bộ kinh hộ quốc; khi tu pháp hội Nhân vương thì tụng 3 bộ kinh này. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ thì kinh này có 3 người dịch là: Trúc pháp hộ, Cưu ma la thập và Chân đế. Đại đường nội điển lục và các bộ Mục lục sau đó đều theo thuyết trên. Nhưng Xuất tam tạng kí tập thì xếp kinh này vào Thất dịch tạp kinh lục (Những kinh mất tên người dịch). Còn Chúng kinh mục lục (Pháp kinh lục) quyển 2 đời Tùy thì xếp kinh này vào Nghi hoặc lục, cho rằng không phải do ngài Cưu ma la thập hoặc Trúc pháp hộ dịch. Niên hiệu Vĩnh thái năm đầu (765) đời Đường, vua Đại tông ban sắc cho Tam tạng Bất không dịch lại, lấy tựa đề là Nhân vương hộ quốc Bát nhã ba la mật đa kinh(gọi tắt: Nhân vương hộ quốc kinh, Tân dịch nhân vương kinh), gồm 2 quyển 8 phẩm, được thu vào Đại chính tạng tập 8, văn từ trong bản dịch này hơi giống với bản dịch cũ. Về sách chú sớ thì bản dịch của ngài Cưu ma la thập có: Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ 5 quyển (ngài Trí khải giảng, đệ tử Quán đính ghi), Nhân vương bát nhã kinh sớ 6 quyển (Cát tạng), Nhân vương kinh sớ 6 quyển (Viên trắc). Còn chú sớ bản dịch của ngài Bất không thì có: Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ 3 quyển (Lương bí), Nhân vương kinh sớ 4 quyển (Tịnh nguyên)v.v... [X. Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ Q.1 (Trí khải); Du già sư địa luận lược toản Q.10; Đại đường nội điển lục Q.2-4; Khai nguyên thích giáo lục Q.2, 4, 6].
Nhân Vương Bát Nhã Kinh
(c: Jên-wang-pan-jo-ching, 仁王般若經): còn gọi là Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (仁王般若波羅蜜多經), Nhân Vương Hộ Quốc Kinh (仁王護國經), Tân Dịch Nhân Vương Hộ Quốc Kinh (新譯仁王護國經), Hộ Quốc Nhân Vương Bát Nhã Kinh (護國仁王般若經), 2 quyển, hiện còn, Taishō 8, 834, No. 246, Đường Bất Không (不空, 705-774) dịch.
Nhân vương bát-nhã ba-la-mật kinh
仁王般若波羅蜜經; C: rénwáng bōruò bōluómì jīng; J: ninō hanyaharamitsukyō;|Tên gọi đầy đủ trong Đại Chính tân tu đại tạng là Phật thuyết nhân vương bát-nhã ba-la-mật kinh (佛説仁王般若波羅蜜經); thường được gọi tắt là Nhân vương kinh (仁王經), 2 quyển, được Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) dịch sang Hán văn.
Nhân vương bát-nhã kinh sớ
仁王般若經疏; C: rénwáng bānruòjīng shū; J: jinou hannyakyō so;|Gồm 6 quyển, được Cát Tạng (吉蔵) biên soạn.
nhân vương chú
(仁王咒) Tức Đà la ni được nói trong kinh Nhân vương. Đà la ni này là pháp môn thù thắng của hết thảy chư Phật. [X. phẩm Phụng trì trong kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa]. NHÂN VƯƠNG HỘ QUỐC BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA KINH ĐẠO TRÀNG NIÊM TỤNG NGHI QUĨ Cũng gọi Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh đà la ni niệm tụng nghi quĩ, Nhân vương hộ quốc bát nhã nghi quĩ, Nhân vương niệm tụng nghi quĩ. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nghi quĩ này giải thích phẩm Phụng trì trong kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển hạ, đồng thời, nói rõ qui tắc kiến lập Nhân vương kinh pháp mạn đồ la và thứ tự tu pháp này. Toàn sách chia làm 5 khoa: 1. Nói rõ việc Bồ tát hiện uy đức. 2. Qui tắc kiến lập Mạn đồ la. 3. Pháp tắc vào đạo tràng. 4. Giải thích pháp quán Văn tự đà la ni. 5. Đà la ni quán tưởng bố tự luân. Trong Súc loát Đại tạng kinh, Nghi quĩ này được chia làm 2 quyển. Ngoài ra, Nhân vương bát nhã niệm tụng pháp do ngài Tam tạng Bất không dịch là do chỉnh lí khoa thứ 3 đến khoa thứ 5 trong nghi quĩ này mà thành 1 quyển(cũng được thu vào Đại chính tạng tập 19), văn từ hơi khác.
nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ
(仁王護國般若波羅蜜多經疏) Cũng gọi Tân dịch Nhân vương bát nhã kinh sớ, Tân dịch Nhân vương kinh sớ. Kinh sớ, 3 quyển, do ngài Lương bí soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 33. Đây là sách chú thích kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa 2 quyển, bản dịch của ngài Tam tạng Bất không đời Đường. Nội dung sách này trước hết giải thích sơ lược về đề kinh và đại ý kinh, kế đến lập 4 môn: Duyên khởi của kinh, Thuyết minh tông thể, Sở nhiếp sở bị và Giải thích kinh văn.[X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15, 16; Chư a xà lê chân ngôn Mật giáo bộ loại tổng lục Q.thượng].
nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ
(仁王護國般若經疏) Kinh sớ, 5 quyển, do ngài Trí khải đời Tùy giảng, đệ tử Quán đính ghi, được thu vào Đại chính tạng tập 33. Đây là sách chú thích kinh Nhân vương bát nhã ba la mật đa 2 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần. Trước hết dùng Ngũ trùng huyền nghĩa trình bày đại ý của kinh, sau đó là giải thích văn kinh. Cứ theo Tùy Thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện, thì vào cuối thời Trần, ngài Trí khải có tuyên giảng kinh Nhân vương bát nhã 2 lần. Phương pháp chú thích kinh Nhân vương trong sách này đại khái cũng giống như cách chú thích trong Thiên thai tam đại bộ, tức là cũng dùng Ngũ trùng huyền nghĩa, Tứ thích... để giải thích văn kinh, nhưng phần thích nghĩa thì kém sinh động, nên e rằng bộ kinh sớ này có lẽ đã do người đời sau soạn, rồi mượn tên của ngài Trí khải. [X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Đại minh tam tạng thánh giáo tam tạng mục lục; Duyệt tạng tri tân Q.36].
Nhân vương hộ quốc bát-nhã ba-la-mật kinh
仁王護國般若波羅蜜經; C: rénwáng hùguó bānruò bōluómì jīng; J: ninnō gokoku hannya haramitsu kyō;|Kinh, gồm 2 quyển, được Bất Không (不空) dịch. Là một bộ kinh trí huệ về một vị vua nhân đức hộ trì cho đất nước mình. Có lẽ xuất xứ biên soạn kinh là ở Đông Nam Á. Nội dung kinh gồm có những giải thích về Thập tam không (十三空), Thập tứ nhẫn (十四忍), Nhị đế (二諦).
nhân vương hội
(仁王會) Cũng gọi Nhân vương trai, Nhân vương bát nhã hội, Nhân vương đạo tràng, Bách tòa đạo tràng, Bách tòa hội. Pháp hội tuyên giảng và tán thán kinh Nhân vương bát nhã để cầu nguyện mưa hòa gió thuận, đất nước thanh bình, nhân dân an lạc. Theo kinh Nhân vương, khi nước nhà bị tai nạn loạn lạc, nếu trì tụng kinh này thì mùa màng bội thu, dân giầu nước yên. Tại Trung quốc, vào năm Vĩnh định thứ 3 (559) đời vua Vũ đế nhà Trần thời Nam Bắc triều, vua ban sắc thiết lập Nhân vương đại trai trong cung, đó là khởi nguồn của loại pháp hội này. Từ đó về sau, mỗi năm cử hành pháp hội 2 lần, giảng kinh Nhân vương bát nhã. Năm Chí đức thứ 3 (585), Trần hậu chủ(kế vị Vũ đế)thỉnh Đại sư Trí khải chủ giảng Nhân vương bát nhã bách tòa ở điện Thái cực. Năm Trinh quán thứ 3 (629) đời Đường, vua Thái tông ban sắc cho tăng ni trong kinh thành, ngày 27 hàng tháng hành đạo, giảng tụng kinh Nhân vương để cầu phúc cho nước nhà. Thời vua Đại tông, ngài Tam tạng Bất không dịch kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa (bản dịch mới), cũng nhiều lần lập hội giảng tụng, hoặc cầu mưa, hoặc cầu dẹp yên quân giặc. Đời sau, loại pháp hội này rất thịnh hành. Tại Nhật bản, Thiên hoàng Tề minh thiết lập pháp hội tu Nhân vương bát nhã lần đầu tiên vào năm Tề minh thứ 6 (660). Từ đó về sau, mỗi khi Thiên hoàng lên ngôi thì khắp nơi trên toàn quốc đều tu pháp hội Nhân vương bát nhã, gọi là Nhất đại nhất độ Nhân vương hội. Ngoài ra còn có hội Nhân vương lâm thời được cử hành vào những dịp lễ lớn của quốc gia, hội Nhân vương trong 2 mùa Xuân và Thu, hội Nhân vương của Mạc phủ v.v... Tại Cao li, từ vua Văn tông (1047-1082) trở về sau, cũng có nhiều lần thiết lập Bách tòa Nhân vương hội. [X. Phật tổ thống kỉ Q.6, 37, 39; Tùy Thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện; Quốc thanh bách lục Q.1; Tục cao tăng truyện Q.7; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14, 16; Nhật bản thư kỉ Q.26, 29, 30; Cao li sử Q.4-10].
Nhân vương kinh
仁王經; C: rénwáng jīng; J: ninōgyō;|1. Tên gọi tắt của Nhân vương bát-nhã Ba-la-mật kinh (仁王般若波羅蜜經), được Cưu-ma La-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) dịch; 2. Tên gọi tắt của Nhân vương hộ quốc bát-nhã ba-la-mật kinh (仁王護國般若波羅蜜經), được Bất Không (不空) dịch.
nhân vương kinh mạn đồ la
(仁王經曼荼羅) Mạn đồ la được vẽ theo hình Nhân vương và Nhân vương đạo tràng niệm tụng nghi quĩ để dùng khi tu pháp kinh Nhân vương. Có 2 loại: 1. Mạn đồ la treo trong đạo tràng: Trong Mạn đồ la này có vẽ 5 vị Bồ tát ở 5 phương là: Kim cương thủ, Kim cương bảo, Kim cương lợi, Kim cương dược xoa và Kim cương ba la mật đa. Rồi vẽ 5 thân Chính pháp luân của 5 vị Bồ tát này là: Phổ hiền, Hư không, Văn thù sư lợi, Tồi nhất thiết ma oán và Chuyển pháp luân. Sau hết, vẽ 5 thân Giáo lệnh của 5 Bồ tát là 5 vị Đại minh vương: Hàng tam thế, Cam lộ quân đồ lợi, Đại uy đức, Tịnh thân kim cương, Bất động, cùng các quyến thuộc. 2. Mạn đồ la trải trên đàn lớn: Trong 4 lớp của đàn, theo thứ tự vẽ thân Chính pháp luân của 5 vị Bồ tát ở 5 phương, hình Tam muội da của 4 Bồ tát nội cúng dường, 4 Bồ tát ngoại cúng dường và 4 Nhiếp bồ tát. [X. phẩm Phụng trì trong kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.hạ].
nhân vương kinh pháp
(仁王經法) Pháp bí mật được tu theo tinh thần trong các kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa và Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh đạo tràng nghi quĩ để cầu giữ vững quốc gia, tăng trưởng tuổi thọ, thiên hạ thái bình và tiêu trừ 7 nạn(mặt trời mặt trăng, các ngôi sao, nước cuốn, lửa cháy, bão táp, khô hạn, chiến tranh). Đàn tràng được thiết trí khi tu pháp này gồm: Đàn lớn, đàn Hộ ma, đàn 12 vị trời và đàn Thánh thiên; kinh chú tụng trì là kinh Nhân vương và đà la ni Nhân vương bát nhã... Pháp này cùng với Thỉnh vũ kinh pháp, Khổng tước kinh pháp và Thủ hộ kinh pháp được gọi chung là Tứ đại pháp (4 pháp lớn).
nhân vương môn
(仁王門) Cũng gọi Nhị vương môn. Cửa lầu an trí thần giữ gìn già lam (chùa viện). Cửa bên trái đặt thần Mật tích kim cương, cửa bên phải đặt thần Na la diên kim cương. Di tích của kiểu kiến trúc này hiện còn được thấy ở cửa tháp tại Ba hách đặc (Bharhut) bên Ấn độ.
nhân vật sống động
A vivid human personality.
nhân vật thuỷ nghĩa luận
(人物始義論) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Khang pháp sướng soạn vào đời Đông Tấn, hiện đã thất lạc. Nội dung sách này thuật lại các cuộc luận bàn về những điều không tưởng của các nhân vật đương thời. Thời vua Thành đế (ở ngôi 326-342), ngài Khang pháp sướng cùng với các học giả Bát nhã như: Khang tăng uyên, Chi mẫn độ... đi về miền Nam, thường cầm phất trần tha thẩn ở chỗ ngã tư đường, mỗi khi gặp danh sĩ thì đàm luận suông từ sáng sớm đến chiều tối. Danh sĩ thời bấy giờ là Dữu lượng từng hỏi (Đại 49, 74 thượng): - Cái phất trần này vì sao còn mãi? Khang pháp sướng đáp: - Người liêm khiết chẳng cầu, kẻ tham lam thì không cho, nên nó còn mãi. Thời Lục triều vì loạn lạc nên chúng tăng ở Hoa bắc lánh xuống miền Nam và thường tiếp xúc, đàm luận với các danh sĩ. Do đó, loại trứ tác như trên đã được soạn thuật để cho hợp với sở thích thanh đàm của giới quí tộc Giang nam đương thời.[X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Lương cao tăng truyện Q.4].
nhân vị
The causative position, i.e.
; 1) Personalism. 2) Địa vị tu hành Phật Nhân từ khi phát tâm cho đến lúc thành Phật: The causative position, i.e. that of a Buddhist, for he has accepted a cause, or enlightenment, that produces a changed outlook. ** For more information, please see Quả Vị.
; (因位) Đối lại: Quả vị. Đồng nghĩa: Nhân địa. Giai vị tu nhân Phật, tức là những giai vị tu hành, khi chưa chứng được quả Phật, cho nên gọi là Nhân vị. (xt. Nhân Địa).
nhân vị vạn hành
(因位萬行) Đối lại: Quả địa vạn đức. Từ gọi chung muôn hạnh được tu ở Nhân vị. Muốn thành quả Phật thì lúc ở Nhân vị cần phải tu muôn hạnh, chứa góp muôn điều thiện, nhờ đó mới có thể chứng được quả Phật. (xt. Quả Địa Vạn Đức).
nhân yết đà
Aṅga-jāta (S)Một trong 16 vị A la hán vâng lời Phật dạy trụ ở thế gian giữ gìn chánh pháp.
; (因揭陀) Phạm: Aígada. Cũng gọi Nhân kiệt đà. Vị A la hán thứ 13 trong 16 vị Đại a la hán, cùng với 1.300 A la hán quyến thuộc trụ trong núi Quảng hiếp, giữ gìn Chính pháp, làm lợi ích cho loài hữu tình. Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu đời Đường vẽ hình tượng vị A la hán này trong tư thế ngồi với 2 bàn chân xếp lên nhau, tay trái cầm quyển kinh đưa lên ngang ngực, cúi đầu chăm chú xem, tay phải cầm tràng hạt. Thi hào Tô đông pha làm bài tán rằng: Nâng kinh cầm chuỗi Gậy thì dựa vai Chống gậy đứng dậy Kinh, chuỗi chẳng còn Không đi không đứng Chẳng ngồi chẳng nằm Hỏi sư lúc ấy Kinh, gậy đâu rồi? [X. Đại A la hán Nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập; Das Pantheon des Tschantscha Hutuktu (E.Pander].
nhân ái
Kindness of heart—Charity—Benevolence.
nhân điểu minh ám
(人鳥明暗) Người chim sáng tối. Đối với đêm đen, người và chim thấy sáng tối khác nhau. Ban đêm, loài chim mắt đỏ thấy sáng, còn loài người thì chỉ thấy 1 màu tối đen. Từ ngữ này ví dụ lập trường không giống nhau thì chỗ thấy biết cũng khác nhau. Luận Hiển Mật nhị giáo quyển thượng (Đại 77, 375 thượng) nói: Văn tùy theo sự chấp trước mà chỗ thấy ẩn, còn nghĩa thì tùy theo căn cơ mà hiện bày; ví như chỗ thấy của trời và quỉ khác nhau, người và chim thấy sáng tối không giống nhau.
nhân đà la
Xem Đế ThíchXem Đế Thích thiên.
; Indra (S). Vedic god. Also Đế thích.
; Indra (skt)—Thích Đề Hoàn Nhân—Thiên Đế—Thiên Chủ Đế—Trời Đế Thích—Nhân Đề Lê—Nhân Đề—Nhân Đạt Nhân Đạt La—Nguyên thủy là thần sấm sét hay mưa, biểu hiệu của Kim Cang Thủ, trở thành Thiên chủ của Đông Độ, chỉ sau có Phạm Thiên—Visnu và Siva—A god of the atmosphere, i.e. of thunder and rain; his symbol is the vajra or thunderbolt; he became “lord of the gods of the sky,” “region of the east quarter,” popularly chief after Brahma, Visnu, and Siva.
; (因陀羅) I. Nhân Đà La. Phạm: Indra.Pàli: Inda. Cũng gọi Nhân đạt la, Nhân đề lê, Nhân đề, Nhân để. Hán dịch: Thiên chủ, Đế. Chỉ cho trời Đế thích, là thần Hộ pháp của Phật giáo, 1 trong 12 vị trời.Trời Đế thích đứng đầu cõi trời Đao lợi (trời 33), ở trong thành Thiện kiến trên đỉnh núi Tu di, thống lĩnh 4 vị Thiên vương nên gọi là Thiên chủ, Đế thích, Thích ca thiên vương, Thích ca nhân đà la. Về các tên khác của Nhân đà la, kinh Tạp a hàm quyển 2 (bản Biệt dịch) và kinh Tạp a hàm quyển 40, nêu ra 8 tên là: Thích đề hoàn nhân, Phú lan đà la, Ma già bà, Bàsa bà, Kiêu thi ca, Xá chi bát đê, Thiên nhãnvà Nhân đề lợi. Ngoài ra, biệt danh của vị trời này từ xưa lưu truyền có từ 108 cho đến cả nghìn danh hiệu. Về hình tượng, thông thường là hình người trời, thân có nghìn mắt, ngồi trên lưng 1 con voi rất lớn. Theo kinh Trường a hàm quyển 40, Nhân đà la có trí tuệ thông minh, có khả năng quán xét cả nghìn lí nghĩa cho nên gọi là Thiên nhãn. Nhân đà la vốn là vị thần của Bà la môn giáo, Ấn độ giáo, cùng với Phạm thiên, Tì sa môn thiên... đều đã được đưa vào Phật giáo rất sớm. Theo thần thoại Ấn độ, vào thời đại Phệ đà, Nhân đà la là thần sấm và mưa, ở vào địa vị cao nhất trong các thần, rất được sung bái. Vì giỏi chiến thuật đánh thành, phá trận, rượt đuổi chiến xa, hua múa chày kim cương phá dẹp các ma, nên được khen là Thần công phá thành trì. Về sau, dần dần phát triển thành thần chiến tranh, thần thủ hộ các anh hùng hoặc chiến sĩ. Vì thế, những bài thơ, tụng có liên quan đến Nhân đà la đã chiếm đến 1 phần 4 trong toàn bộ sách Lê câu phệ đà. [X. kinh Trường a hàm Q. 21; kinh Đại lâu thán Q.5; kinh Khởi thế Q.8; kinh Bồ tát bản duyên Q.2; kinh Đại bát niết bàn Q.33 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.54, 56; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2, phần đầu; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.28; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.4; Tuệ lâm âm nghĩa Q.27]. (xt. Đế Thích Thiên). II. Nhân Đà La. Cũng gọi Nhân đạt la, Ấn nại rô, Ấn đà rô, Chấp lực Dược xoa đại tướng, Nhân đạt la niết lí để phương đế xứ đại tướng. Gọi đủ: Dược xoa đại tướng nhân đà la.Vị thiện thần hộ trì Phật pháp, 1 trong 12 vị thần tướng Dược sư. Về hình tượng, cứ theo Tịnh lưu li tịnh độ phiêu, vị thần này có thân màu vàng, cỡi con nghê, tay trái cầm cây phất trần trắng, tay phải cầm linh(chuông nhỏ có quả lắc). Nhưng theo Tu Dược sư nghi quĩ bố đàn pháp, thì vị thần này thân màu hồng, tay cầm gậy. Ngoài ra, kinh Đà la ni tập quyển 3 liệt kê tên của 16 vị Thần vương, trong đó, Ấn đà rô thần vương thứ 9 có lẽ là Dược xoa đại tướng Nhân đà la. [X. Dược sư lưu li quang vương thất Phật bản nguyện công đức kinh niệm tụng nghi quĩ cúng dường pháp; Dược sư Như lai quán hành nghi quĩ pháp]. (xt. Dược Sư Thập Nhị Thần Tướng). III. Nhân Đà La. Cũng gọi Nhâm phạm nhân.Danh tăng kiêm họa sĩ Trung quốc sống vào đời Nguyên.Vì ở Trung quốc không có họ Nhân nên từ xưa sư được coi như 1 vị tăng Thiên trúc. Nhưng trên bức tranh Hàn Sơn Thập Đắc do sư vẽ có ghi mấy dòng chữ: Tuyên thụ Biện lương thượng phương hựu quốc Đại quang giáo thiền tự trụ trì, Phật tuệ Tịnh biện Viên thông pháp bảo đại sư, Nhâm phạm Nhân, trong đó, Biện lương chỉ cho đường Biện lương nằm ở phủ Khai phong. Căn cứ vào đó mà suy thì sư phải là vị tăng người Trung quốc sống vào đời Nguyên, trụ trì Đại quang giáo thiền tự, được phong hiệu Đại sư. Trong các bức tranh vẽ có ẩn tàng Thiền cơ, giầu khí phách, rất được ngài Sở thạch Phạm kì tán thưởng. Tại Nhật bản, có nhiều nơi còn giữ được những họa phẩm của sư, bức Bố Đại được tàng trữ ở viện Mĩ thuật tại Đông kinh, bức Trí Thường Thiền Sư được cất giữ ở Gia tĩnh đường... Hai bức họa này cùng với các bức: Hàn Sơn Thập Đắc, Đơn Hà Thiêu Phật... đều được xác định là quốc bảo của Nhật bản. [X. Sở thạch Phạm kì thiền sư ngữ lục Q.14].
nhân đà la bà tha na
Indravadana or Indrabhavana (skt)—Tên của trời Đế Thích—Name for Indra.
nhân đà la ha tất đa
(因陀羅呵悉多) Phạm: Indrahasta. Cũng gọi Nhân đạt la hát tất đá, Nhân đà la ha tắc đa.Tức là bạch bì hoặc nhân sâm, thuộc loại dược liệu.Theo kinh Kim quang minh tối thắngvương quyển 7, Bạch bì là vị thứ 7 trong 32 vị hương dược(thuốc thơm). Còn Nhân sâm thì thấy được ghi trong kinh Mâu lê mạn đà la chú. [X. kinh Quảng đại bảo lâu các thiện trụ bí mật đà la ni Q.trung].
nhân đà la ni la mục tử
Indranila-Mukta (skt)—Viên ngọc bích của trời Đế Thích—Indra's blue or green stone, which suggests an emerald, Indranilaka. a) Indranila (skt): Ngọc bích—A sapphire. b) Mukta (skt): Ngọc châu—A pearl.
nhân đà la quật
(因陀羅窟) Phạm: Indrazailaguhà. Cũng gọi Đế thích quật, Đế thích nham, Nhân đà la thế la lũ ha, Nhân đà la thế la cầu ha, Nhân sa cựu, Thiên đế thạch thất, Thạch thất tinh xá. Hang động ở nước Ma yết đà thuộc Trung Ấn độ (nay là Tiểu bang Bihar), là nơi mà thủa xưa đức Phật đã giải đáp 24 nghi vấn do trời Đế thích nêu ra, là 1 trong 5 tinh xá ở thời đại đức Phật còn tại thế. Cửa hang hiện nay rộng 3 mét, cao 5 mét, bên trong có nhiều con dơi; bên ngoài, chỗ gần cửa hang, có nhiều chim thứu (kên kên) bay lượn, vì thế có tên là Thứu môn (Gidda-dwar). [X. kinh Đế thích sở vấn; Cao tăng Pháp hiển truyện; Đại đường tây vực kí Q.9].
nhân đà la thế la cầu ha
Indrasailaguha (skt). 1) Hang động của Đế Thích—Indra's cave. 2) Xà Thần Sơn: The mountain of the snake god 3) Tiểu Cô Thạch Sơn: Núi của những đỉnh cô lập nhỏ gần tu viện Nalanda, đỉnh phía tây là một hang núi rộng, nhưng không cao, nơi mà về phía nam của hang đá nầy Đức Thế Tôn thường hay thăm viếng. Người ta nói trời Đế Thích đã hỏi Tứ Thập Nhị Chương và Đức Phật cũng trả lời đầy đủ tại đây—The mountain of small isolated peaks located near Nalanda, where on the south crag of the west peak is a rock cave, board but not high, which Sakyamuni frequently visited. Indra is said to have forty-two questions on stone, to which the Buddha rpplied.
nhân đà la thệ đa
Indraceta (skt)—Thị giả của trời Đế Thích—Indra's attendants.
nhân đà la võng
Xem Đế vương Bồ tát.
; See Bảo Võng.
; (因陀羅網) Phạm: Indra-jàla. I. Nhân Đà La Võng. Cũng gọi Thiên đế võng, Đế võng. Tấm lưới báu trang hoàng ở cung điện của trời Đế thích. Mỗi mắt lưới đều có kết bảo châu, nhiều vô lượng, mỗi viên bảo châu đều ánh hiện hình ảnh của tất cả các viên bảo châu khác, vô lượng viên bảo châu như thế giao thoa phản chiếu, ánh hiện trùng trùng, vô cùng vô tận. Kinh Hoa nghiêm dùng Nhân đà la võng để ví dụ cho nghĩa 1 và nhiều tương tức tương nhập (tức là nhau hòa nhập vào nhau), trùng trùng vô tận của các pháp. Nếu đứng về phương diện cảnh mà nói, thì gọi là Nhân đà la võng cảnh; đứng về phương diện định mà nói thì gọi là Nhân đà la võng định; còn đứng về mặt độ (cõi) mà nói thì gọi là Nhân đà la võng độ, đây đều là hiển bày pháp môn Sự sự viên dung vô ngại. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ]. II. Nhân Đà La Võng. Loại vũ khí do thần A thuận na (Phạm: Arjuna) ở Ấn độ sử dụng. Lúc chiến đấu, thần A thuận na dùngthứ vũ khí này để chế ngự quân địch, làm cho địch lâm vào tình cảnh nguy khốn.
nhân đà la võng cảnh giới môn
(因陀羅網境界門) Cũng gọiNhân đà la vi tế cảnh giới môn. Môn Pháp giới sum la muôn tượng, trùng trùng vô tận, ánh hiện, phản chiếu lẫn nhau,muôn màu, muôn vẻ, như tấm lưới châu báu của trời Đế thích; là 1 trong 10 huyền môn của Hoa nghiêm. Nhân đà la võng là tấm lưới treo ở cung điện của trời Đế thích, các mắt lưới đều được trang sức bằng ngọc minh châu; mỗi hạt minh châu trong suốt, vô lượng hạt minh châu sáng rỡ, ánh hiện lẫn nhau, trùng trùng vô tận, không gian có hạn mà cảnh giới thì vô cùng; giống như ánh sáng của muôn nghìn tấm gương chiếu rọi vào nhau, lớp này lớp khác dàn trải ra đến vô cùng tận. Trong các kinh luận, tấm lưới trời Đế thích thường được dùng để ví dụ cho tính chất vô tận của Pháp giới duyên khởi. Ở đây, pháp môn Nhân đà la võng cảnh giới này cũng như vậy, mỗi mỗi pháp, mỗi mỗi vị, giao xen nhau, hòa nhập vào nhau, không hề trở ngại, điều này phá tan nghi chấp của chúng sinh cho rằng Tất cả pháp không thể trùng trùng vô tận. [X. phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Thập Huyền Môn).
nhân đà la đạt bà môn phật
Indradhvaja (skt)—Trong một tiền kiếp Đức Phật tái sanh làm con trai thứ bảy của Đức Phật Đại Thông Trí Thắng—A Buddha's incarnation of the seventh son of the Buddha Mahabhijnabhibhu.
Nhân đạo
人道; C: réndào; J: nindō;|Cõi giới được tái sinh làm người. Một trong sáu cõi chúng sinh đi đầu thai (s: mānuṣya-gati). Xem Nhân gian (人間), Lục đạo (六道).
nhân đạo
The principles of human conduct.
; 1) Lòng nhân đạo: Humanity—to treat people with humanity. 2) Nhân thừa: The human stage of the gati or states of existence—See Nhân Thừa. 3) Con đường hay nguyên tắc của nhân: The way or principle or causation.
nhân đạt oa huân nỗ lạc truy
(仁達哇熏努洛追) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ cho dử (ghèn) ở trong mắt. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ cho sự chấp trước vào cái thấy hẹp hòi, nhỏ nhặt của mình. Gia thái phổ đăng lục quyển 15 (Vạn tục 137, 119 hạ) nói: Dù có khuấy nước sông thành váng sữa thì mắt của tôm cua vẫn đóng ghèn.
nhân đạt đà la đại tướng
Trời Đế Thích như một vị đại tướng giữ tháp Phật Dược Vương—Indra as General who guards the shrine of Bhaisajya.
Nhân đầu tràng
人頭幢; C: réntóuchuáng; J: nintōtō;|Dịch chữ daṇḍa từ tiếng Phạn (sanskrit) và Pa-li. Đàn-noa (檀拏).
nhân đẳng khời
Hetu-samutthana (P)ý nghiệp là nhân khởi.
nhân đẳng khởi
(因等起) Đối lại: Sát na đẳng khởi. Đồng nghĩa: Động cơ. Do tác dụng của tâm tư duy mà phát khởi nghiệp, cũng chỉ cho tâm, tâm sở sinh ra biểu nghiệp và vô biểu nghiệp. Theo luận Đại tì bà sa quyển 117 và luận Câu xá quyển 13, vì Nhân đẳng khởi có nghĩa là dẫn phát, năng chuyển, nên cũng gọi là Năng chuyển tâm, Chuyển tâm. Nhân đẳng khởi có 2 loại: 1. Viễn nhân đẳng khởi: Nhân đẳng khởi xa. Tức suy nghĩ trước những việc cần phải làm, là nghiệp nhân gián tiếp, tương đương với Thẩm lự tư, Quyết định tư của Duy thức. 2. Cận nhân đẳng khởi: Nhân đẳng khởi gần. Tùy sự suy nghĩ lúc nào cần phải làm thì làm liền, chứ không suy nghĩ trước, cũng tức thân hành động, miệng phát ra lời nói, tương đương với Động phát thắng tư của Duy thức. Về vấn đề này, có thuyết khác cho rằng, ý niệm trước Quyết định tư là Viễn nhân đẳng khởi, ý niệm sau Quyết định tư là Cận nhân đẳng khởi. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần đầu; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần cuối]. (xt. Sát Na Đẳng Khởi, Tư).
nhân địa
The causal ground, fundamental cause.
; Trạng thái thực tập giáo lý nhà Phật dẫn tới quả vị Phật—Fundamental cause or causal ground—The state of practicing the Buddha religion which leads to the resulting Buddhahood (quả địa).
; (因地) Đối lại: Quả địa. Đồng nghĩa: Nhân vị. Chỉ cho các địa vi hoặc giai vị đạt được trong quá trình từ khi tu tập nhân hạnh đến chứng quả vị. Nhân địa có thể chia làm 2 loại: 1. Nói theo quả vị Phật, thì từ Đẳng giác trở xuống đều là Nhân địa, như câu Bồ tát Pháp tạng khi còn ở nhân vị trong Giáo hành tín chứng quyển 2, là nói theo quả địa của đức Phật A di đà. Vì bồ tát Pháp tạng là danh hiệu của đức Phật A di đà khi còn ở địa vị tu nhân (nhân vị)trong quá khứ. 2. Nói theo Bồ tát từ Sơ địa trở lên, thì các giai vị Bồ tát trước Thập địa đều là nhân vị. Tóm lại, giai vị đã chứng gọi giai vị chưa chứng là Nhân địa. Như kinh Lăng nghiêm quyển 5 (Đại 19, 128 trung) nói: Con xưa kia ở nơi nhân địa dùng tâm niệm Phật mà vào Vô sinh nhẫn. (xt. Quả Địa).
nhân địa phật
(因地佛) Đối lại: Quả thượng Phật. Chỉ cho hàng Bồ tát trong khoảng thời gian từ lúc mới phát tâm đến khi thành Phật, tu nhân hạnh trên cầu bồ đề, dưới hóa độ chúng sinh.
nhân địa đảo giả hoàn nhân địa khởi
(因地倒者還因地起) Do đất mà bị vấp ngã, cũng lại từ đất đứng dậy. Thành ngữ này được dùng để ví dụ ý nghĩa nghịch duyên tức là thuận duyên. Đại trang nghiêm kinh luận quyển 2 (Đại 4, 263 trung) nói: Như người do đất mà vấp ngã, lại nhờ đất mà đứng dậy được; vì Phật mà bị tội lỗi, cũng nhờ Phật mà tội tiêu diệt.
nhân định
Thời gian từ 9 đến 11 giờ đêm, khoảng thời gian mà con người an định cho cả đêm—The third beat of the first watch from 9:00 PM to 11:00 PM when men are settled for the night..
; (人定) Ấn độ chia ngày đêm làm 6 thời, trong đó, Nhân định là đầu đêm mà Trung quốc xưa gọi là giờ Hợi, tức khoảng thời gian từ 21 giờ đến 23 giờ. Thiền môn lấy thời gian này để bắt đầu ngủ nghỉ, nên gọi là Nhân định.
nhân đồng phẩm
Of the same order as the reason.
; (因同品) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho phẩm loại có cùng 1 ý nghĩa với Nhân (lí do) trong luận thức Nhân minh, tức là phẩm loại cùng nghĩa với ý nghĩa của pháp năng lập, 1 trong những điều kiện bắt buộc phải có trong Đồng dụ. Nhân đồng phẩm khác với Tông đồng phẩm ở chỗ đồng với pháp năng lập chứ không phải với pháp sở lập. Như trong luận thức:Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì nó có tính cách được tạo ra. Đồng dụ: Như cái bình... Trong đó, Tính cách được tạo ra là pháp năng lập, cho nên, phàm những vật có tính cách được tạo ra, như cái bình, cái chén, cái chậu v.v... đều là Nhân đồng phẩm. Ngoài ra, Nhân đồng phẩm còn được chia làm nghĩa loại và thể loại khác nhau, mà Nhân minh có khi chuyên dùng nghĩa loại, có khi dùng cả hai. Trong Nhân đồng phẩm còn có Cộng đồng phẩm, Tự đồng phẩm và Tha đồng phẩm khác nhau. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Đồng Dụ, Tự Đồng Dụ, Tông Đồng Phẩm).
nhân đức
Benevolent character.
nhân, hạnh, quả
Cause, action, effect.
Nhất Hưu Tông Thuần
(一休宗純, Ikkyū Sōjun, 1394-1481): vị tăng của Phái Đại Ứng (大應派) thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, cha là Hoàng Đế Hậu Tiểu Tùng (後小松), mẹ là con của Nam Triều Di Thần (南朝遺臣), hiệu là Nhất Hưu (一休), ngoài ra còn có các biệt hiệu khác như Cuồng Vân Tử (狂雲子), Mộng Khuê (夢閨), Hạt Lư, Quốc Cảnh (國景), Vân Hoa (雲華), v.v. Vào ngày mồng một tháng giêng năm đầu (1394) niên hiệu Ứng Vĩnh (應永), mẹ ông rời khỏi cung nội và hạ sanh ra ông nơi nhà thứ dân. Đến năm thứ 6 (1399) cùng niên hiệu trên, ông đến xuất gia làm đồng tử với Tượng Ngoại Thiền Giám (象外禪鑑) ở An Quốc Tự (安國寺) thuộc kinh đô Kyoto, và được đặt cho tên là Chu Kiến (周建). Ông từng học làm thơ với Thanh Tẩu Sư Nhân (清叟師仁), Cung Triết Long Phàn (恭哲龍攀), Tường Cầu Thư Ký (祥球書記), và mỗi ngày thường làm ra một bài thơ. Hơn nữa, ông cũng chẳng hài lòng với mấy bài viết về hàng thị tộc quan lại nhân ngày kiết chế Thượng Đường, nên đã làm hai câu đem trình lên cho Cung Triết xem. Cung Triết nghe mấy câu kệ nói về sự ngu dốt của tòng lâm mà nhân đó khen ông. Sau ông đến tham vấn Khiêm Ông Tông Vi (謙翁宗爲) ở Tây Kim Tự (西金寺), rồi sau khi vị này qua đời thì ông lại đến tham yết Hoa Tẩu Tông Đàm (華叟宗曇) ở Kiên Điền (堅田) vùng Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]). Về sau ông được thầy ban cho hai chữ Nhất Hưu (一休) và lấy đó làm đạo hiệu. Sau khi hầu hạ thầy được một thời gian khá lâu, cuối cùng ông mới được ấn chứng cho. Nhưng rồi, ông lại đem ném ấn chứng nầy vào lửa, và bắt đầu sống cuộc đời phóng khoáng lãng du đó đây, và đã từng trú chân tại một số chùa như Thù Ân (酬恩) ở vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]), Từ Tế (慈濟) ở vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi, thuộc Ōsaka-fu [大阪府]), v.v. Đến tháng 2 năm thứ 6 niên hiệu Văn Minh (文明), Nhu Trọng Tông Giáng (柔仲宗降) phụng sắc chỉ cung thỉnh ông đến trú trì Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji), nhưng ông tự răn mình và không chấp nhận lời thỉnh cầu trên. Ông thị tịch vào ngày 21 tháng 11 năm thứ 13 (1481) cùng niên hiệu trên, hưởng thọ 88 tuổi. Ông để lại di kệ rằng: “Tu Di nam bạn, thùy hội ngã Thiền, Hư Đường lai dã, bất trực bán tiền. (修彌南畔、誰會我禪、虛堂來也、不直半錢, ven phía nam núi Tu Di, có ai là người hiểu được Thiền của ta. Hư Đường Trí Ngu có đến chăng nữa, cũng chỉ đáng nửa xu mà thôi”. Trước tác của ông có Cuồng Vân Tập (狂雲集).
nhã
Tao nhã—Polite.
; (惹) Cũng gọi Xà, Xã, Nhã, Tha, Ta, Nặc. Chỉ cho chữ (ja), là 1 trong 50, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 hạ) nói: Chữ Nhạ, nghĩa là tất cả pháp sinh bất khả đắc. Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 407 hạ) nói: Chữ Xà, nghĩa là vào các pháp sinh bất khả đắc. Hoặc nói (Đại 25, 408 hạ): Nếu nghe xướng chữ Xà thì biết ngay các pháp sinh lão bất khả đắc(chẳng thực sinh lão). Chữ Xà đề xà la (Phạm: Jàtijarà), Hán dịch là Sinh lão (sống, già). Trong đó, Xà đề nghĩa là sinh, Xà la nghĩa là lão, cả 2 đều bắt đầu bằng chữ Nhạ (ja), vì thế mà có thuyết trên.Nhưng kinh Đại bát nê hoàn quyển 5 lại nêu ra nghĩa thiêu (Phạm: Jvala), còn kinh Hoa nghiêm quyển 76 (bản dịch mới) thì nêu nghĩa Vào biển thế gian thanh tịnh.[X. kinh Quang tán bát nhã Q.7; kinh Phóng quang bát nhã Q.4; kinh Đại bát nhã Q.53].
; (若) Cũng gọi Nhưỡng, Nương, Nhạ. Chỉ cho chữ (jĩa) trong 42 chữ cái Tất đàm. Chữ này biểu thị các pháp trí bất khả đắc. Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 76 (Đại 10, 418 trung) nói: Khi xướng chữ Nương, thì vào cửa Bát nhã ba la mật, là cửa trí tuệ thế gian. Đó là nghĩa trí, vì chữ jĩa ở đây là từ chữ Phạm jĩana mà ra. [X. phẩm Quán trong kinh Quang tán bát nhã Q.7; phẩm Đà lân ni trong kinh Phóng quang bát nhã Q.4; phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm Q.31; luận Đại trí độ Q.48].
Nhã Chơn
(雅眞, Gajin, ?-999): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, Kiểm Hiệu đời thứ 4 của Cao Dã Sơn, húy là Nhã Chơn (雅眞), thông xưng là Thiên Dã Kiểm Hiệu (天野檢校). Ông làm Giảng Sư ở Hòa Tuyền (和泉, Izumi), sau đó đến thọ phép Quán Đảnh với Chơn Lại (眞賴) ở Thạch Sơn Tự (石山寺) và trú tại đây. Vào năm 952, thể theo lời thỉnh cầu của Khoan Không (寬空) ở Cao Dã Sơn, ông lên đó làm Chấp Hành Chánh Biệt Đương (執行正別當), rồi nhân đó cho tái kiến tháp miếu thờ Không Hải vốn bị thiêu cháp trước đây, và đến năm 984 thì làm Kiểm Hiệu. Đệ tử phú pháp của ông có Nhân Hải (仁海), Thiên Nhật (遍日).
nhã da
(惹耶) Phạm: Jayà. Cũng gọi Thệ da, Xã da, Giả da, Bán giả da.Hán dịch; Thắng.Vị tôn ngồi bên phải Đồng mẫu lư, phíadưới Phì giả da, trong viện Văn thù trên Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, là quyến thuộc của bồ tát Văn thù, 1 trong 4 chị em Thiên nữ. Về hình tượng của vị tôn này, có nhiều thuyết khác nhau, hoặc dựng bàn tay hướng về phía trước, ngón trỏ, ngón giữa, ngón vô danh co lại, giữa ngón trỏ và ngón giữa có kẹp 1 mũi tên. Hoặc có thuyết cho rằng tay phải cầm cây mâu mũi nhọn, tay trái nắm lại ngửa lên, ngón trỏ, ngón giữa duỗi thẳng để ở cạnh hông. Chủng tử là (ka), hình Tam muội da là cây gậy. Mật hiệu là Kim cương, biểu thị Thường ba la mật. Trong Ngoại kim cương bộ thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới; thì vị Thiên nữ này là vợ của Nhật thiên, ngồi ở phía bên phải của Nhật thiên. Còn trong Mạn đồ la kinh Lí thú, đoạn 4 chị em Thiên nữ, thì Nhạ da ngồi ở phía trước trời Đô mâu lô, biểu trưng Thường ba la mật. [X. Lí thú thích Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.16; Chư thuyết bất đồng kí Q.5; Thai tạng giới thất tập Q.hạ].
nhã la nghiêm
(若羅嚴) Vị tăng dịch kinh ở đời Tây Tấn. Sư từng dịch kinh tại Lạc dương, dịch được 1 bộ kinh Thời phi thời. Lời bạt trong kinh này (Đại 55, 501 trung) nói: Pháp sư Nhược la nghiêm người nước ngoài, tay cầm bản Phạm, miệng tự tuyên dịch, đạo nhân tại Lương châu ở trong thành Vu điền ghi chép. Những sự tích khác về sư không được rõ.
; (若羅嚴) Cao tăng nước ngoài đến Trung quốc dịch kinh vào đời Tây Tấn. Lời ghi ở phía sau bộ kinh Hữu thời phi thời (Đại 55, 501 trung) nói: Pháp sư Nhã la nghiêm người nước ngoài, tay cầm bản tiếng Phạm đọc dịch ra tiếng Hán, có đạo nhân người Lương châu trong thành Vu điền ghi chép lại.
nhã lợi an nhân
(雅利安人) Nguời Nhã lợi an (Aryans), một chủng tộc Ấn Âu sống ở vùng Trung á, có than hình cao lớn, mặt vuông, râu rậm, mũi thon cao, mắt đen. Khoảng 2000 năm trước Tây lịch, dân tộc Aryans di chuyển theo 2 hướng đông, tây. Nhánh hướng tây đi sang phía bắc Hi lạp, Ý đại lợi, trở thành thủy tổ của dân Âu châu. Hướng đông chia thành 2 chi, 1 chi đi vào Ba tư thành giống dân Iraq, 1 chi xâm nhập và định cư ở vùng Ngũ hà (Phạm: Paĩjàb) thượng du sông Ấn độ (Indus), tiêu diệt nền văn minh Ấn độ địa phương mà sáng lập văn hóa Ấn độ thuộc hệ Aryan. Các học giả gọi giống người này là Ấn độ Nhã lợi an nhân (Indo-Aryans). Người Ấn độ Nhã lợi an sùng bái nhiều thần tự nhiên, kinh điển đầu tiên đại biểu cho nền văn hóa mới được hình thành ở địa phương Ngũ hà là kinh Phệ đà, Thánh điển căn bản của Bà la môn giáo. Phệ đà được chia làm 4 phần, trong đó, phần thu chép những bài ca tán tụng các thần là Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda), là phần được biên soạn sớm nhất trong 4 kinh Phệ đà. Sau đó, người Nhã lợi an lại di huyển đến vùng đồng bằng mầu mỡ giữa khoảng song Hằng (Phạm: Gaígà) và sông Diêm mâu na (Phạm: Yamunà), ở đây, họ xác lập chế độ Bốn giai cấp: Bà la môn (giáo sĩ), Sát đế lợi (vua chúa), Phệ xá (dân thường) và Thủ đà la (nô lệ). Đến khoảng 1000-800 năm trước Tây lịch thì Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa, sách chú thích kinh Phệ đà gốc) được biên soạn thành. Niên đại thành lập 3 Phệ đà kia cũng được coi là cùng thời kì này. Về sau, người Ấn độ Nhã lợi an dần dần lại tiến tới vùng trung du sông Hằng về phía đông, ở đây, họ kết hôn với dân địa phương mà sản sinh ra 1 giống hỗn huyết, sử dụng thứ tục ngữ Prakrit biến hóa từ ngữ hệ Nhã lợi an và lâu dần quên mất tông giáo và tập quán Phệ đà truyền thống. Có thuyết cho rằng việc người Nhã lợi an dời đến định cư ở lưu vực sông Hằng tại Ấn độ diễn ra 2 lần: Lớp người đến lần đầu kết hôn với dân địa phương, còn những người đến lần thứ 2 thì tiến vào vùng Câu lô (Phạm: Kuru), Phan ca lạp (Phạm: Paĩcàla) và vẫn giữ huyết thống thuần chủng, đánh đuổi dân địa phương đi các nơi khác. Đến thời đại đức Thích tôn, những người dời đến lần đầu vẫn duy trì chủ nghĩa Bà la môn tối thượng, còn những người di cư lần thứ 2 thì ở các vùng Kiêu tát la (Phạm:Kozala), Ma kiệt đà (Phạm: Magadha)... hình thành các quốc gia mới, không tôn trọng giáo quyền Bà la môn, lấy vua làm người chỉ đạo tư tưởng văn hóa. Đức Thích tôn vốn xuất thân từ vương thất dòng Thích ca của 1 nước nhỏ lệ thuộc nước Kiêu tát la, sau khi thành Phật, Ngài chủ trương thủ tiêu chế độ xã hội 4 giai cấp, tất cả mọi người, không phân biệtdòng họ, hoàn cảnh xuất thân, đều được gia nhập giáo đoàn của Ngài. [X. Ấn độ Phật giáo sử khái thuyết (Đại hòa dịch); Thế giới Phật giáo thông sử thượng sách (Thánh nghiêm); Ấn độ sử cương yếu (Lí chí thuần); Ấn độ Phật giáo tư tưởng thể hệ luận sử (Hoàng công vĩ)]. (xt. Tứ Tính).
nhã lợi an tông giáo
(雅利安宗教) Chỉ cho cộng đồng tông giáo của các dân tộc thuộc ngữ hệ Ấn Âu. Đây là khái niệm giả thiết của nhà ngôn ngữ học người Anh ở thế kỉ XIX là ông Max Müller (1823- 1900). Ông Max Müller căn cứ vào từ A lợi nhã (Phạm: Àrya, hàm ý là Thánh nhân, cao quí) được nói đến trong các sách vở xưa của Ấn độ mà gọi ngữ hệ Ấn Âu là Nhã lợi an (Aryan), đồng thời, giả thiết rằng tổ tiên của các cộng đồng dân tộc thuộc ngữ hệ Ấn Âu là người Nhã lợi an. Ông nghiên cứu và so sánh các sách Lê câu phệ đà Phạm:Fg-veda) của Ấn độ, A phàm sĩ pháp (Avesta) của Ba tư và các điển tịch của Hi lạp cổ đại, lại đem đối chiếu với các loại hiện vật khảo cổ mới phát hiện được, rồi suy đoán rằng tông giáo của các dân tộc thuộc ngữ hệ Ấn Âu đều bắt đầu từ tông giáo nguyên thủy của 1 cộng đồng, tức là Nhã lợi an tông giáo. Max Müller cho rằng tông giáo này lấy thần hương thiên (trời xanh)làm trung tâm, tiếng Phạm gọi vị thần này làDyaus pità, tiếng Hi lạp gọi là Zeus, tiếng La tinh gọi là Jupiter, tiếng Teutons gọi là Tiu... đều từ cùng 1 vị thần tối cao mà biến hình và dưới những tên gọi khác nhau. Gần đây, thuyết này được ông Georges Dumézil, Giáo sư Tỉ giảo ngôn ngữ học tại học viện Paris ở Pháp thừa nhận, đồng thời nêu ra 2 đặc điểm của tong giáo Nhã lợi an. 1. Xã hội được chia làm 3 đẳng cấp: Tế tư, Vũ sĩ và Nông dân. Ba đẳng cấp này phản ánh tư tưởng 3 công năng của 3 vị chủ thần. 2. Trong thế giới thần linh tồn tại 2 khuynh hướng đối lập: Ánh sáng và bong tối, trật tự và hỗn loạn, thiện và ác, lợi và hại v.v... Duy có điều là thuyết này cho đến nay vẫn chưa được nhiều người chấp nhận.
nhã na
Jnana (skt), 1) Trí, so với “huệ”—Knowledge—Understanding—Intellectual judgments, as compared with “wisdom”, or moral judgments. 2) Nhã Na còn có nghĩa bao trùm cả “trí” lẫn “huệ”—Jnana is supposed to cover both “knowledge” and “wisdom.”
nhã na bạt đà la
(若那跋陀羅) Cũng gọi Trí hiền. Cao tăng người nước Ha lăng vùng Nam hải, dịch kinh vào đầu đời Đường.Sư thông suốt Tam tạng, hiểu rộng Nhị thừa. Ngài Hội ninh của Trung quốc muốn sang Ấn độ, trên đường qua nước Ha lăng thì gặp sư, ngài Hội ninh bèn lưu lại cùng sư phiên dịch kinh Đại bát niết bàn hậu phần 2 quyển rồi gửi về Giao châu.[X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9].
nhã nhặn
Gallant—Courteous.
Nhã phạm
(雅範): chỉ phong độ thoát tục, phẩm cách cao thượng. Như trong bài Thù Đức Phú (酬德賦) của Tạ Thiếu (謝朓, 464-499) nhà Tề thời Nam Triều có câu: “Viên nhã phạm dĩ tự tuy, ý tiền tu chi sở úc (援雅範以自綏、懿前修之所勖, nương phong độ để tự yên, đức tu trước nên cố gắng).” Hay trong tác phẩm Quế Lâm Sương (桂林霜), phần Hoàn Trung (完忠), của Tưởng Sĩ Thuyên (蔣士銓, 1725-1784) nhà Thanh lại có câu: “Cửu ngưỡng hồng danh, hạnh chiêm nhã phạm (久仰鴻名、幸瞻雅範, lâu ngưỡng tiếng thơm, may nhìn phong cách).”
nhã ý
Amiability.
nhã đề tử
Jnatiputra (skt)—Ni Kiền Nhã Đề Tử, một trong sáu vị sư ngoại đạo Ấn Độ trong thời Đức Phật còn tại thế—Nirgranthajnati, one of the six heterodox teachers in India at the time of the Buddha. ** For more information, please see Lục Sư Ngoại Đạo.
nhãn
Caksu (S). Eye. Also mắt.
; Caksuh (skt)—The eye—See Caksus in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (眼) Phạm: Cakwus. Cơ quan cảm giác thuộc về thị giác, hoặc chỉ cho cơ năng nhận thức của thị giác. Đối với cách phân loại Nhãn, có nhiều thuyết: A. Tam nhãn: Theo luận Du già sư địa quyển 14 thì Tam nhãn là: 1. Nhục nhãn: Chỉ có thể thấy vật chất (sắc)có hình tướng. 2. Thiên nhãn: Có khả năng thấy được cả vật chất(sắc) không hiển rõ. 3. Tuệ nhãn, cũng gọi Thánh tuệ nhãn. Có năng lực nhìn thấu tất cả nguyên lí về vật chất và tinh thần. B. Ngũ Nhãn: Theo luận Đại trí độ quyển 33, thì Ngũ nhãn là: 1. Nhục nhãn: Những vật chất bị ngăn che thì nhục nhãn không thấy được. 2. Thiên nhãn: Có khả năng thấy được các giả tướng do nhân duyên tạo thành, nhưng không thấy được thực tướng. 3. Tuệ nhãn: Có năng lực thấy được lí không, nhưng đối với người khác thì không có lợi ích gì. 4. Pháp nhãn: Có năng lực giúp người khác đến giác ngộ, nhưng không biết có đạo phương tiện. 5. Phật nhãn: Có năng lực thấy biết tất cả. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 20, phần cuối, thì phàm phu có được nhục nhãn và thiên nhãn. Hàng nhị thừa tu quán pháp, nếu nói theo sự chứng nhập cảnh giới giác ngộ thì có pháp nhãn, nhục nhãn và thiên nhãn; nếu nói theo tác dụng giác ngộ thì có tuệ nhãn, nhục nhãn và thiên nhãn. Hàng Bồ tát, nếu nói theo nhập bồ đề thì có tuệ nhãn, nhục nhãn và thiên nhãn; nếu nói theo tác dụng của bồ đề thì có pháp nhãn, nhục nhãn và thiên nhãn. Còn Phật thì có đủ cả 5 nhãn. Còn tông Thiên thai thì cho rằng, Bồ tát ở Nhân vị có đủ 4 nhãn trước, khi đến Quả vị (Giác vị) mới được Phật nhãn. Tuy nhiên, về ý nghĩa của Ngũ nhãn thì trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên đều có sự giải thích khác nhau. Mật giáo do đứng trên lập trường bình đẳng nên cho rằng Ngũ nhãn như nhau, nhưng đặc biệt trọng Phật nhãn và nhân cách hóa thành các đấng Phật nhãn. Ngoài ra, còn có thuyết Thập nhãn, tức là: Nhục nhãn, Thiên nhãn, Tuệ nhãn (Thánh tuệ nhãn), Pháp nhãn, Phật nhãn (Phật chính giác nhãn), Trí nhãn(Trí tuệ nhãn), Minh nhãn (Quang minh nhãn), Xuất sinh tử nhãn (Đạo lợi nhãn),Vô ngại nhãn (Vô vi nhãn) và Phổ nhãn (Nhất thiết trí nhãn).
nhãn căn
Cakkhu-vatthu (P), Eye-base, Cakṣur-indriya (S)Một trong ngũ căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân căn).
; Organ of sight.
; Một trong lục căn—One of the six senses, the organ of sight—See Lục Căn.
; (眼根) Phạm: Cakwur-indriya. Pàli: Cakkhundriya. Hán âm: Chước sô. Gọi tắt: Nhãn. Con mắt, chỗ nương tựa của thức mắt, có khả năng thấy các cảnh sắc không bị ngăn che, là 1 trong 5 hay 6 căn, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới. Thông thường gọi Nhãn căn là chỉ cho con mắt, nhưng theo các kinh, luận như Đại tì bà sa thì Nhãn căn được chia làm 2 loại: 1. Phù trần căn (được cấu tạo bằng gân, thịt). 2. Thắng nghĩa căn (tức thần kinh thị giác). Trong đó, Phù trần căn lấy sắc, hương, vị, xúc làm thể, là bộ phận mắt thường có thể thấy được; còn hắng nghĩa căn thì lấy tịnh sắc (cái tinh túy nhất của 4 đại chủng) làm thể, là bộ phận mắt thường không thể thấy được. Về vấn đề khi mắt thấy sắc thì thức mắt (nhãn thức) thấy hay căn mắt (nhãn căn= mắt thịt) thấy, xưa nay có 4 thuyết, đó là: 1. Căn kiến: Căn thấy. Nghĩa là căn mắt thấy sắc(đối tượng), còn thức mắt thì chỉ có thể phân biệt rõ các sắc do căn mắt đã thấy. Lí do: Thức là cái không bị chướng ngại, vậy tại sao không thấy được những vật bên ngoài bức tường ngăn che? Điều này chứng minh thức mắt không thể thấy sắc. Còn Căn là cái có chướng ngại, bởi thế không thể thấy được những vật bị ngăn che.Tóm lại, căn mắt thấy sắc chứ không phải thức mắt thấy sắc. Đây là thuyết của ngài Thế hữu và được luận Đại tì bà sa công nhận. 2. Thức kiến: Thức thấy. Nghĩa là, nếu cho rằng thức có thể thấy sắc, thì đáng lẽ thức phải có tướng thấy, nhưng thức không có tướng thấy, cho nên chủ trương thức thấy sắc là không hợp lí. Đây là thuyết của ngài Pháp cứu. 3. Căn thức tương ứng chi tuệ kiến: Căn và thức ứng nhau sinh ra tuệ thấy. Nghĩa là, nếu cho rằng căn và thức ứng nhau mà sinh ra tuệ thấy sắc, thì căn tai và thức tai ứng nhau sinh ra tuệ, cũng nghe được tiếng, nhưng tuệ không có tướng nghe, cho nên chủ trương tuệ thấy là không hợp lí. 4. Căn thức hòa hợp kiến: Căn và thức hòa hợp mà thấy sắc. Nếu cho rằng căn và thức hòa hợp mà thấy sắc, thì lẽ ra phải thường thấy sắc, vì không lúc nào mà căn và thức không hòa hợp, cho nên chủ trương này không hợp lí. Trong 4 thuyết trên, như đã nói, luận Đại tì bà sa chỉ thừa nhận thuyết Căn kiến mà bác bỏ 3 thuyết còn lại, cho là không hợp lí. Đối với vấn đề này, quan điểm của Phật giáo Đại thừa thì thế nào? Duy thức Đại thừa chủ trương Căn và Thức hòa hợp mà thấy (căn+ thức= thấy). Bởi vì tông Duy thức cho rằng tất cả pháp đều do thức A lại da thứ 8 biến hiện ra. [X. kinh Tạp a hàm Q.13; luận Đại tì bà sa Q.13; luận Câu xá Q.2; luận Đại trí độ Q.33; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần đầu]. (xt. Nhãn, Nhãn Thức).
nhãn cảm thọ
Cakkhuppasada-rŪpa (P), Eye-sense.
nhãn dược
(眼藥) Thuốc bôi mắt. Hành giả Mật giáo dung thuốc bôi lên mí mắt để tránh lười biếng và ngủ gục. Phẩm Viên bị thành tựu trong kinh Tô tất địa yết la quyển hạ, có chép về cách chế thuốc và chân ngôn Nhãn dược của Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bô. Dùng chân ngôn gia trì vào thuốc hoặc gia trì vào nước rửa mắt. Cách chế Nhãn dược như sau: Lấy Tô rô đa, An thiện na, Sáp sa mật, hương long não, Tất bạt, vỏ cây đinh hương, Đắc già la hương, đường phèn... tất cả cân lượng bằng nhau, giã nát thành bột, dùng nước dãi ngựa trộn nhiễn, rồi tụng 100 biến chân ngôn để gia trì.
nhãn giới
Cakkhu-dhātu (P), Cakṣudhātu (S).
; The element or realm of sight.
; Caksurdhatu (skt)—Field of vision, or the eye-realm, or sight faculty; the element or realm of sight—See Nhãn Căn.
nhãn hoành tị trực
(眼橫鼻直) Đồng nghĩa: Hoa hồng liễu lục. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Mắt nằm ngang, mũi thẳng đứng, cũng như hoa đỏ liễu xanh, là những cái hiển nhiên trước mắt. Thiền lâm dùng từ ngữ này để ví dụ sự thấy biết đúng như thực. Việc cầu đạo không cần phải đi tìm đâu xa, mà phải nhìn ngay nơi bản lai diện mục.
nhãn kiến
Dassana-kicca (S), Function of seeing.
nhãn lực
Eyesight.
nhãn môn
Cakkhu-dvara (P), Eye door.
nhãn môn tâm
Cakkhudvaravajjana-citta (P), Eye-door-adverting-consciousness.
nhãn mục
The eyes.
nhãn mục di danh
(眼目异名) Nhãn và mục tuy tên gọi khác, nhưng cùng 1 nghĩa, 1 vật, tức là con mắt. Như tính và thể, tất cả và hết thảy... đó là Nhãn mục dị danh, tức tên gọi khác mà nghĩa thì giống nhau. [X. Câu xá luận quang kí Q.1, 20].
nhãn nhập
Cakkhu-samphassa (P), Eye contact.
; The eye-entrance, one of the twelve entrances, i.e. the basis of sight consciousness.
; Một trong thập nhị nhập—One of the twelve entrances, the eye entrance, the basis of sight consciousness—See Thập Nhị Nhập.
nhãn thức
Cakkhu-viāṇa (P), Cakṣur-vijāna (S), Seeing-consciousness.
; Caksuvijnàna (S). Eye-consciousness. Sight-perception, the first vijnàna, consciousness.
; Cakshurvijnana (skt)—The sense of vision—Nhiệm vụ của nhãn thức là nhận biết hình dáng. Không có nhãn thức, chúng ta sẽ không nhìn thấy gì cả; tuy nhiên nhãn thức lại tùy thuộc vào nhãn căn. Khi nhãn căn gặp một hình dạng thì nhãn thức liền phát sanh. Nếu Nhãn căn không gặp hình dáng thì nhãn thức không bao giờ phát sinh (một người bị mù không có nhãn căn, như vậy nhãn thức không bao giờ phát sinh). Người tu tập nên luôn thấu triệt điểm tối yếu nầy để thực tập sao cho hạn chế nhãn căn tiếp xúc với hình sắc, để làm giảm thiểu sự khởi dậy của nhãn thức. Phật nhắc nhở chúng đệ tử của Ngài rằng, phương pháp duy nhất để giảm thiểu sự khởi dậy của nhãn thức là thiền định—Eye Consciousness—Sight consciousness—Sight-preception, the first vijnana—The function of the eye consciousness is to perceive and apprehend visual forms. Without the eye consciousness we could not behold any visual form; however, the eye consciousness depends on the eye faculty. When the eye faculty and any form meet, the eye consciousness develops instantly. If the eye faculty and the form never meet, eye consciousness will never arise (a blind person who lacks the eye faculty, thus eye consciousness can never develop). Buddhist cultivators should always understand thoroughly this vital point to minimize the meeting between eye faculty and visual forms, so that no or very limited eye consciousness will ever arise. The Buddha reminded his disciples that meditation is the only means to limit or stop the arising of the eye consciousness .
; (眼識) Phạm: Cakwur-vijĩàna. Pàli: Cakkhu-viĩĩàịa. Sự nhận biết nương vào nhãn căn để phân biệt cảnh sắc, theo căn mà đặt tên nên gọi là Nhãn thức, 1 trong 5 thức, 1 trong 6 thức, 1 trong 18 giới. Luận Đại tì bà sa chủ trương nhãn căn thấy sắc, cho nên lập thuyết Nhãn căn kiến. Ngài Pháp cứu chủ trương nhãn thức thấy sắc, nên lập thuyết Nhãn thức kiến. Còn tông Duy thức Đại thừa thì lập thuyết Căn thức hòa hợp kiến. Các vị Luận sư của Hữu bộ tông như ngài Thế hữu được gọi là Nhãn kiến gia; đối lại, các vị Luận sư của Đại chúng bộ như ngài Pháp cứu được gọi là Thức kiến gia. Các nhà Duy thức thì cho rằng muôn pháp là do Duy thức biến hiện, nhãn thức và tướng phần của sắc hòa hợp nhau sinh ra hân biệt, cho nên thức này hiện ra ảnh tượng của sắc. [X. luận Đại tì bà sa Q.13, 71; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2; Thành duy thức nhị thập luận thuật kí Q.thượng]. (xt.Nhãn Căn).
nhãn thức giới
Caksuvijnàna-dhàtu (S). The element or realm of sight perception
; Caksur-vijnana-dhatu (skt)—The element or realm of sight-perception—See Nhãn Thức.
nhãn tiền
Right in this life—Before the eye.
nhãn trí
Knowledge obtained from seeing.
; Trí hiểu biết qua nhãn thức—Knowledge obtained from seeing.
nhãn tật bệnh đà la ni kinh
(眼疾病陀羅尼經) Gọi đủ: Năng tịnh nhất thiết nhãn tật bệnh đà la ni kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh này nói về công đức của Tịnh nhãn đà la ni. Nghĩa là người tu hành chuyên tâm trì tụng Đà la ni này thì mắt được trong sáng, không bị trần cấu làm ô nhiễm, các chứng bệnh về mắt được tiêu trừ.
nhãn đồng
(眼同) Tục ngữ ở đời Nguyên, Trung quốc. Có nghĩa là mọi người. Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1133 thượng) nói: Nếu có người bỏ quên đồ vật, mọi người (nhãn đồng) ai lượm được thì giao trả lại.
nhãng
Forget—To be absent-minded.
nhãng tai
To be hard of hearing.
nhãng trí
To be absent-minded.
nhìn ngoái lại
To look back.
nhăn
Wrinkled—Creasy.
nhĩ
Srotra (S), The ear
; 1) Nhĩ căn, một trong sáu căn: Srotra (skt)—The ear, one of the six organs of the sense. 2) Ngừng lại: To stop—To put down.
nhĩ căn
Śrotendriya (S), Srotrendriya (S)Một trong ngũ căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân căn).
; The organ of hearing.
; Srotrendriya (skt)—The organ of hearing.
; (耳根) Phạm: Zrotrendriya. Pàli: Sotindriya. Hán âm: Thú lũ đa nhân tính lị diệm. Gọi tắt: Nhĩ. Lỗ tai, 1 trong 6 căn, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới, 1 trong 22 căn. Nhĩ căn là chỗ nương của nhĩ thức(thức tai)có tác dụng thu lấy thanh cảnh (âm thanh). Trong 12 xứ, Nhĩ căn được gọi là Nhĩ xứ, trong 18 giới được gọi là Nhĩ giới. Ngoài ra, chữ Zrotratrong tiếng Phạm, Hán dịch là Nhĩ(tai), Năng văn(có khả năng nghe). [X. luận Đại tì bà sa 142; luận Phẩm loại túc Q.1; luận Du già sư địa Q.3, 54; luận Thành duy thức Q.4, 8; chương Ngũ căn trong Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3; Phạm ngữ tạp danh]. (xt. Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Lục Căn, Nhĩ Thức).
nhĩ diệm
(爾焰) Phạm: Jĩeya. Cũng gọi là Nhĩ viêm. Hán dịch: Sở tri, Cảnh giới, Trí mẫu, Trí cảnh. Pháp ngũ minh: Thanh minh, Công xảo minh, Y phương minh, Nhân minh và Nội minh đều là các cảnh giới có năng lực sinh ra trí tuệ, gọi là Nhĩ diệm. Thắng man bảo quật quyển thượng, phần cuối (Đại 37, 16 trung) nói: Nhĩ viêm nghĩa là trí mẫu, vì có năng lực sinh ra trí tuệ; cũng gọi là Trí cảnh; vì pháp Ngũ minh hay sinh ra trí hiểu biết, cho nên Trí mẫu là trí soi rọi, gọi là Trí cảnh. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.9; luận Du già sư địa Q.86; Huyền ứng âm nghĩa Q.12].
nhĩ dđương
(耳璫) Cũng gọi Nhị đang. Đồ châu ngọc đeo ở tai, như vòng hay hoa tai. Về tiếng Phạm của danh từ Nhĩ đang, các kinh nêu ra nhiều thuyết: 1. Theo phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm quyển 7, thì Y xá na dùng ngọc báu Tì lưu li ma ni làm Nhĩ đang, tiếng Phạm làKarịa-cùđaka. 2. Theo Hữu bộ tì nại da dược sự quyển 2, thì con lớn của trưởng giả Tự tại có Nhĩ đang bảo châu ở tai, tiếng Phạm làKarịikà. Về sau, con trưởng giả dùng gỗ làm Nhĩ đang để trang sức, nên người đời gọi ông là Mộc đang (Phạm:Dàru-karịi). 3. A tì đạt ma câu xá thích luận quyển 6 ghi Nhĩ đang là Kim cương nhĩ đang, tiếng Phạm làVajra-vàlaka. Trong giới luật, đức Phật cấm các tỉ khưu không được đeo Nhĩ đang và dùng các vật trang sức nói chung, nếu vi phạm sẽ bị tội Đột cát la. Nhưng, đối với hàng Bồ tát tại gia thì đức Phật cho phép đeo các đồ trang sức như tràng hoa, anh lạc, chỉ trừ đeo vòng ở chân và hoa tai(Nhĩ đang). Bởi thế, tượng các Bồ tát, ngoại trừ vòng đeo ở chân và Nhĩ đang, phần nhiều được trang sức bằng tràng hoa, anh lạc... Nhưng các vị tôn trong Mật giáo thì được đeo Nhĩ đang. [X. phẩm Chiến đấu kinh Thế kí trong Trường a hàm Q.21; hội Vô lượng thọ Như lai trong kinh Đại bảo tích Q.18; kinh Phật bản hạnh tập Q.44; phẩm Đại tập trong kinh Bảo tinh đà la ni Q.4; luận Du già sư địa Q.56; Huyền ứng âm nghĩa Q.22; Tuệ lâm âm nghĩa Q.20].
nhĩ giới
Sota-dhātu (P).
nhĩ luân
Vòng đeo tai—An ear-ring.
nhĩ lộ chỉ nễ bồ tát
(弭路枳你菩薩) Bồ tát Nhị lộ chỉ nễ. Trong Quan âm bộ của Mạn đồ la Mật giáo do A xà lê Thiện vô úy truyền, có bồ tát Tì lộ ca na, tên tiếng Phạm là Vilokana. Vi nghĩa là rộng lớn, lokana nghĩa là xem khắp, thấy khắp, Hán dịch là Biến quan bồ tát (Bồ tát thấy khắp). Có thuyết cho rằng bồ tát Tì lộ ca na chính là bồ tát Nhị lộ chỉ nễ. Trong Thai tạng đồ tượng thì gọi Nhị lộ chỉ nễ là Thắng thế. Cứ theo kinh Bất không quyên sách quyển 9, hình tượng của vị Bồ tát này giống như hình tượng được vẽ trong Thai tạng đồ tượng, tức là ngồi bán già, tay trái nắm lại, cầm hoa sen, đặt trên bắp vế, bàn tay phải giơ lên.
nhĩ môn thức
Sota-dvaravajjana-citta (P).
nhĩ mạn sa
Mìmàmsà (S). Name of a Buddhist sect.
nhĩ mạn sa phái
Mīmāmsā (S).
nhĩ mạn sai
Mimamsa (skt)—Một trong ba phái triết hoc chính thống ở Ấn Độ, phái nầy cho rằng chỉ có sự giải thích của kinh Vệ Đà là chính đáng (Phật giáo gọi phái nầy là Thanh Luận Sư)—The Mimamsa system of Indian philosophy founded by Jaimini, especially the Purva-mimamsa. It was one of the three great divisions of Orthodox Hindu philosophy.
; (弭曼差) Phạm: Mìmàôsà. Cũng gọi Di mạn sa, Di tức già. Hán dịch: Khảo sát nghiên cứu. Chỉ cho Thanh hiển luận sư, 1 trong 6 phái triết học ở Ấn độ đời xưa. Học thuyết nghiên cứu Phệ đà của Ấn độ có thể chia làm 2 phái: 1. Nhị mạn sai, cũng gọi Nghiệp nhị mạn sai; Tiền nhị mạn sai, căn cứ vào phần Nghi quĩ và Thích nghĩa trong nửa trước của bộ Phạm thư, lấy việc cúng tế làm chính, nghiên cứu, hội thông các nghĩa nghi ngờ và dị thuyết. 2. Phệ đàn đa, cũng gọi Trí nhị mạn sai, Hậu nhị mạn sai, căn cứ vào phần Áo nghĩa thư trong nửa sau của bộ Phạm thư, lấy việc nghiên cứu về Phạm (Brahman) làm chính. Hai phái này hợp lại gọi chung là Di mạn sai. [X. Bát nhã đăng luận thích Q.13; luận Thành duy thức Q.1; Thanh hiển luận].
nhĩ mạt hạ
Mimaha (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Nhĩ Mạt Hạ là một vương quốc cổ cách Samarkand chừng 70 dậm, nơi mà bây giờ la Moughian hay Naghin tại Turkestan—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Mimaha, an ancient kingdom about seventy miles east of Samarkand, the present Moughian or Maghin in Turkestan.
nhĩ mục
Ears and eyes.
nhĩ ngữ giới
Mật giới được truyền bằng cách nói thầm vào tai, một lối thực hành của Mật giáo—Secret rules whispered in the ear, an esoteric practice.
; (耳語戒) Cũng gọi Tam tụng tam muội da. Truyền trao giới pháp bằng cách kề tai nói nhỏ, 1 trong các pháp tu của Mật giáo. Trong Mật giáo, khi cử hành lễ thụ Quán đính, trước hết, dẫn người thụ giới vào trong đạo tràng, dùng vải sạch phủ mặt người ấy rồi kề tai người ấy mà đọc bài kệ Tam muội da giới, phải đọc thật nhỏ không để cho người chưa thụ giới được nghe tiếng. [X. phẩm Chuyển tự luân trong kinh Đại nhật Q.3; Đại nhật kinh sớ Q.8].
nhĩ nhập
Nhĩ nhập, một trong thập nhị nhập—The entrance of the ear, one of the twelve entrances.
nhĩ thức
Soto-viāṇa (P), Śrotra-vijāna (S), Hearing-consciousness
; Ear -consciousness. Ear perception, ear discernment
; Srotravijnana (skt)—Nhiệm vụ của Nhĩ thức là nhận biết âm thanh; tuy nhiên, nhĩ thức tùy thuộc nơi nhĩ căn. Khi nhĩ căn và âm thanh gặp nhau, nhĩ thức liền phát sanh (nơi người điếc thì nhĩ căn và âm thanh không bao giờ gặp nhau, nên nhĩ thức không bao giờ khởi sanh). Hành giả nên luôn nhớ như vậy để tu tập thiền định mà đóng bớt nhĩ căn—Ear Consciousness—Ear perception—Ear-discernemtn—Auditory consciousness—Hearing consciousness—The function of the ear consciousness is to perceive and apprehend sounds; however, ear consciousness depends on the ear faculty. Ear faculty and any sound meet, the ear consciousness develops instantly (in a deaf person, ear faculty and sounds never meet, therefore no ear consciousness will arise). Buddhist cultivators should always remember this and try to practise meditation stop or close the ear consciousness if possible.
nhĩ tiền
(爾前) Gọi đủ: Nhĩ tiền giáo. Từ đây trở về trước. Chỉ cho giáo pháp của đức Phật nói trước thời Pháp hoa. Trong 5 thời phán giáo của Đại sư Trí khải đời Tùy, thì giáo pháp của 4 thời trước chưa chia thành Chân thực và Phương tiện, được gọi chung là Nhĩ tiền để phân biệt với thời thứ 5 là Pháp hoa Niết bàn. Bởi vậy, từ ngữ Nhĩ tiền biểu thị ý nghĩa cách lịch, phương tiện, quyền giả, Tam thừa..., còn Pháp hoa thì biểu thị ý nghĩa viên dung, chân thực, Nhất thừa... [X. Pháp hoa văn cú Q.4, phần 1].
nhĩ xứ
Nhĩ xứ, một trong mười hai xứ—The place of the ear, one of the twelve places.
nhũ dược
(乳藥) Thuốc sữa. Thầy thuốc dùng sữa làm thuốc tốt để chữa bệnh, nhưng còn tùy theo thức ăn nuôi bò và điều kiện chăn bò khác nhau mà sữa có thể là vị cam lộ, mà cũng có thể là thuốc độc. Ví dụ giáo pháp cũng vậy, tuy cùng gọi là giáo pháp, nhưng còn tùy theo người nói và thời gian được nói khác nhau mà có tà, chính bất đồng. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 2, lúc đầu, đức Phật vì căn cơ của hàng Tiểu thừa mà nói nghĩa vô thường, đến thời Niết bàn đức Phật lại nói nghĩa thường trụ. Hàng Tiểu thừa sinh ngờ cho rằng 2 thuyết trước sau trái ngược nhau. Đức Phật bèn nói ví dụ về 2 người thầy thuốc mới và cũ cùng dùng thuốc sữa(nhũ dược) như sau: Xưa có 1 ông vua ngu độn, ngự y của vua cũng dốt, mỗi lần vua bị bệnh, ngự y chẳng xem xét bệnh chứng ra sao, cứ 1 mực dùng thuốc sữa để chữa cho vua. Sau có 1 người thầy thuốc mới đến khuyên vua không nên uống thuốc sữa, vua nghe theo và hạ lệnh cho cả nước không được dùng thuốc sữa. Về sau, nhà vua bị bệnh, người thầy thuốc mới lại cho vua uống thuốc sữa. Vua liền chê trách ông lang là lời nói và việc làm trước sau mâu thuẫn. Ông này tâu: Nếu bò không bị nhốt, không ăn bã rượu và cỏ khô, mà được thả ngoài đồng rộng thoáng, được ăn cỏ tươi và uống nước trong, thì sữa bò là nước cam lộ, là thuốc hay, ngoài ra đều là độc dược. Trong ví dụ trên, thầy thuốc cũ ví dụ cho ngoại đạo, thầy thuốc mới dụ cho đức Như lai. Người thầy thuốc cũ chỉ biết dùng thuốc sữa, cũng như ngoại đạo chỉ biết nói là thường; người thầy thuốc mới lúc đầu khuyên không nên dùng thuốc sữa, cũng như đức Phật lúc đầu vì muốn phá dẹp thuyết tà thường của ngoại đạo mà chỉ nói nghĩa vô thường. Sau khi giáo pháp vô thường đã được thành lập, đức Phật mới lại nói về lí chân thường.
nhũ hải tử
(乳海子) Cũng gọi Đại không sư. Trong Mật giáo, từ ngữ Nhũ hải tử được dùng để chỉ cho người đã thể nhập được trí đức của Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới. Bởi vì, chủng tử của Đại nhật Như lai thuộc kim cương giới là chữ (vaô), tượng trưng cho Trí pháp thân, được phối hợp với Thủy đại trong 5 đại: Địa, thủy, hỏa, phong, không, cho nên nước trí của đức Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới còn được gọi là Nhũ thủy, Nhũ hải; do đó, người thể nhập được trí đức của Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới được gọi là Nhũ hải tử. Còn chủng tử của Đại nhật Như lai thuộc Thai tạng giới là chữ (a) tượng trưng cho Lí pháp thân. Trong Mật giáo, chữ A và chữ Vaôbiểu thị cho Lí và Trí của Thai tạng giới và Kim cương giới. Bởi vậy, hành giả Chân ngôn khi quán xét lí đại không bất sinh của chữ A mà chứng được trí thủy(nước trí)của chữVaô, thì đặc biệt được gọi là Đại không sư, Nhũ hải tử.
nhũ kinh
(乳經) Chỉ cho kinh Hoa nghiêm. Tông Thiên thai đem giáo pháp do đức Phật nói trong 1 đời phân biệt làm 5 thời 8 giáo, gọi là Ngũ thời bát giáo. rong 5 thời thì thời Hoa nghiêm được phối hợp với Nhũ vị, thời Lộc uyển được phối hợp với Lạc vị... Kinh Hoa nghiêm tức là bộ kinh đức Phật nói trong thời Hoa nghiêm, tương đương với Nhũ vị đầu tiên trong 5 vị, vì thế nên được gọi là Nhũ kinh. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 2, phần đầu (Đại 33, 692 hạ) nói: Nhũ kinh, 1 thứ nhân quả rộng, cao và dài, 1 thứ nhân quả hẹp, thấp và ngắn, 1 thô 1 diệu. Ngoài ra, các bộ kinh A hàm đức Phật tuyên thuyết ở thời Lộc uyển được gọi là Lạc kinh; các kinh Duy ma, Tư ích... được nói trong thời Phương đẳng, gọi là Sinh tô kinh; các kinh Bát nhã được nói trong thời Bát nhã, gọi là Thục tô kinh; còn các bộ kinh Pháp hoa và Niết bàn được nói trong thời Pháp hoa Niết bàn thì gọi là Đề hồ kinh.
nhũ mi
(乳糜) I. Nhũ Mi. Phạm: Tarpaịa. Hán âm: Đát bát na, Thán ba na. Thức ăn được biến chế bằng bột ngũ cốc. Phẩm Tự tha lợi trong luận Du già sư địa quyển 36 và Hữu bộ tì nại da quyển 36, giải nghĩaTarpaịalà bánh, cháo sữa. (xt. Đát Bát Na). II. Nhũ Mi. Phạm: Pàyasa. Cũng gọi Nhũ chúc. Cháo nấu với tấm, sữa bò, hoặc sữa dê. Là một trong 8 thứ cháo. Trước khi thành Chính giác, đức Phật có tiếp nhận của người cùng dường 1 bát cháo sữa(có thuyết nói là sữa bò). Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 658 hạ) nói: Nhũ mi bên Tây vực có nhiều loại, có nơi dùng nước cốt lá gai để nấu, có nơi dùng các loại đậu và các vị thuốc, như trong Thập tụng dược pháp có nói rõ; tuy nhiên vẫn cho nhũ mi là bậc nhất. Phật sở hành tán quyển 3 (Đại 4, 24 hạ) nói: Kinh dâng hương nhũ mi Cúi xin thương xót nhận Bồ tát nhận và dùng Kia được hiện pháp quả.
nhũ mộc
(乳木) Chỉ cho loại củi tươi có bôi nước sữa dùng để đốt trong lò khi tu pháp Hộ ma trong Mật giáo, các kinh và nghi quĩ gọi là củi tẩm nước sữa, củi ẩm ướt. Nhũ mộc tượng trưng cho thân hữu lậu, cho phiền não nhuận sinh. Về độ dài của Nhũ mộc, các kinh nói không giống nhau, như kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng quyển 4 nói độ dài là 12 ngón tay; kinh Tô tất địa yết la quyển hạ thì cho rằng độ dài là 2 ngón tay. Còn số những thanh Nhũ mộc được đốt thì có thể chia ra 9 loại: 3 thanh, 7 thanh, 21 thanh, 54 thanh, 108 thanh, 1.080 thanh, 8.000 thanh, 10.000 thanh, 100.000 thanh... [X. kinh Mâu lê mạn đà la; Đại nhật kinh sớ Q.8]
nhũ quang phật kinh
(乳光佛經) Cũng gọi Nhũ quang kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tập 17. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật bị cảm cúm, ngài A nan đến nhà Phạm chí Ma da lợi xin sữa bò. Vì có lòng ghen ghét nên Phạm chí này chỉ cho ngài A nan 1 con bò cái hung dữ để ngài đến vắt sữa. Lúc ấy, trời Đế thích hóa làm 1 cậu bé vắt sữa và nói kệ cho bò nghe, bò được nghe danh hiệu của Phật liền bỏ tính hung dữ và vui vẻ cúng dường. Nhân việc này, đức Phật nói về nhân duyên ở đời quá khứ của con bò cho ngài A nan nghe như sau: Vào kiếp quá khứ, con bò ấy là một trưởng giả rất tham lợi và hay xúc phạm người khác, cho nên sau khi chết bị đọa làm thân bò. Đời nay hết tội, nghe danh hiệu Phật mà cúng dường sữa. Nhờ nhân duyên ấy, đời sau sẽ thành Phật hiệu là Nhũ Quang Phật. [X. Đại đường nội điển lục Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].
nhũ thuỷ
(乳水) I. Nhũ Thủy. Sữa và nước hòa lẫn với nhau. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 74 đem sữa ví dụ cho tâm chúng sinh và nước ví dụ cho tâm Phật, nghĩa là tâm chúng sinh như sữa, là tâm sở duyên, còn tâm Phật như nước, là tâm năng duyên; nước mà hòa lẫn với sữa thì tựa hồ là 1 vị. Ngoài ra, nếu đổ sữa và nước vào một cái chậu rồi quậy đều cho sữa và nước hòa lẫn với nhau, thì cả bầy ngỗng chỉ có con ngỗng chúa là phân biệt được đâu là sữa, đâu là nước và chỉ uống sữa mà chừa nước lại. Do đó, từ ngữ Nhũ thủy nhãn(mắt sữa nước)được dùng để dụ cho người tu học đã có được con mắt pháp để phân biệt tà chính. II. Nhũ Thủy. Ví dụ trí thủy(nước trí)của đức Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới của Mật giáo. (xt. Nhũ Hải Tử).
nhũ trung sát nhân
(乳中殺人) Trong sữa có chất độc chết người. Chất độc dụ cho lí thực tướng. Thí dụ này có xuất xứ từ kinh Niết bàn. Tông Thiên thai chia giáo pháp của đức Phật nói trong 1 đời làm 5 thời(Hoa nghiêm, Lộc uyển, Phương đẳng, Bát nhã và Pháp hoa Niết bàn), rồi phối hợp 5 thời với 5 vị(Nhũ, Lạc, Sinh tô, Thục tô, Đề hồ), tức thời Nhũ vị thứ nhất là thời Hoa nghiêm. Trong thời này, Phật tuyên nói kinh Hoa nghiêm thuộc Đốn giáo cho hàng Bồ tát; đồng thời, Phật lại nói kinh Đề vị là Bất định giáo, khiến hàng Tiểu thừa nghe được lợi ích của Đại thừa, gọi là Nhũ trung sát nhân. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10, phần đầu (Đại 33, 806 trung) ghi: Kinh Niết bàn quyển 27 nói rằng: Bỏ chất độc vào trong sữa thì sữa sẽ giết người, vị Lạc tô, Đề hồ cũng có thể giết người. Điều này có nghĩa là ở nơi Phật quá khứ đã từng nghe giáo pháp Đại thừa thực tướng, giáo pháp này được ví như chất độc. Nay lại nghe giáo pháp của đức Thích ca, chất độc ấy liền phát, kết thành lậu hoặc chết người. Nếu như Đề vị, Ba lợi, chỉ nghe 5 giới, không khởi Pháp nhẫn, 300 người được Tín nhẫn, Tứ thiên vương được Nhu thuận nhẫn, đều uống thuốc an lạc, đeo bùa trường sinh, trụ trong giới pháp, thấy mẹ sinh ra chư Phật, đó là Nhũ trung sát nhân. Cứ theo sự giải thích của Đại sư Trí khải thì thí dụ này có 2 nghĩa: 1. Nếu căn cứ vào Tiệm, Đốn mà nói rộng về Bất định giáo thì chỗ nào cũng đều thấy được tính Phật. 2. Nếu căn cứ theo Hành bất định mà nói rõ thì tâm hạnh của người tu hành ví như sữa, trí thực tướng ví như chất độc. Mà chất độc thì có khả năng làm chết người, tức là trí thực tướng này có đủ sức mạnh phá trừ vô minh, người tu hành nhờ đó mà sau 1 lần chết đi –đại tử nhất phiên– tức trút bỏ hết sạch mọi phiền não nghiệp chướng, mà được giải thoát rốt ráo. Ngoài ra, đem chất độc thực tướng mà đức Phật đã nói từ nhiều kiếp lâu xa đến nay bỏ vào trong sữa tâm của phàm phu thì tuệ độc ấy khai phát ra không có thời gian nhất định, cũng không có thứ tự trước sau, hoặc khai phát ở thời sơ vị(Nhũ vị), hoặc khai phát ở thời hậu vị(Đề hồ vị), đó chính là bỏ chất độc vào trong sữa vậy. Tông Thiên thai cho rằng tính Phật của phàm phu như con bê mới đẻ thì máu và sữa chưa khác nhau, tính Phật của Thanh văn như sữa thanh tịnh, Bích chi phật như lạc, Bồ tát như sinh tô, thục tô, Phật như đề hồ. Đề hồ hàm chứa đủ 5 vị, đều có nghĩa sát(giết). Nếu chúng sinh ở địa vị phàm phu được nghe Hoa nghiêm liền thấy chân lí mà vào Phật tuệ, thì gọi là Huyết nhũ sát nhân(máu sữa giết người). Nếu trước chứng được giai vị Thập trụ, sau nhờ Hoa nghiêm mà được ngộ, thì gọi là Lạc trung sát nhân; người ở giai vị Thập hạnh được ngộ, gọi là Sinh tô sát nhân; người ở giai vị Thập hồi hướng mà được ngộ thì gọi là Thục tô sát nhân; người ở giai vị Thập địa mà được ngộ thì gọi là Đề hồ trung sát nhân. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, phần cuối].
nhơn
Xem nhân.
nhơn duyên
Hetupaccaya (P), Hetupratyapa (S)(Nhơn: nguyên do, cơ hội. Duyên: yếu tố hỗ trợ nhơn phát sinh ra quả.) Bởi nhơn duyên hoà hợp nên sinh ra vạn pháp. Con người luân hồi trong tam giới vì 12 nhơn duyên, ai tu tập diệt trừ 12 nhơn duyên ấy thì dứt được đường luân hồi. Nhơn duyên lớn mà Phật xuất thế là sự tế độ, truyền trao Phật Huệ cho chúng sanh. Ngài Địa Tạng Bồ tát, cùng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền, Quan Âm, Di Lặc đều là những vị có nhơn duyên lớn đối với cõi ta bà vì các Ngài có thệ nguyện lớn để độ tất cả chúng sanh trong sáu nẻo luân hồi.
nhơn duyên kinh
Nidāna sŪtra (S).
nhơn yết đà
Ingata (S)Tên một vị thiên. Một trong 16 vị đại A la hán đước đức Phật cử đi hoằng pháp nước ngoài.
nhơn đà la bạt đế
Xem Hỷ kiến thành.
như
Tatha (S)Bản tánh chân thật bất biến của muôn vật. Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
; Tathà (S). So, thus, in such manner, like, as. Như ảo: as an illusion, or illusory. Như hóa: as if transformed. Như vân: like a cloud. Như điện: like lightning. Như mộng: like a dream. Như bào: like a bubble. Như huyễn: illusory, magical.
; Như thật tế của bản thể tự tánh.
; (如) Phạm:Tathà. Cũng gọi Như như, Chân như, Như thực.Bản tính chân thực bất biến của hết thảy muôn vật. Bởi vì tất cả các pháp đều có thuộc tính riêng biệt không giống nhau, như đất có tính cứng chắc, nước có tính ướt át v.v... nhưng, những thuộc tính riêng biệt ấy chẳng phải thực có, mà tất cả đều lấy Không làm thực thể, cho nên gọi thực tính là Như. Lại vì Như là bản tính của các pháp nên cũng gọi là Pháp tính, mà Pháp tính là biên tế cùng cực của chân thực rốt ráo, nên Pháp tính còn được gọi là Thực tế. Do đó nên biết: Như, Pháp tính, Thực tế đều là tên khác của thực tướng các pháp. Đứng về phương diện hiện tượng mà nhìn, thì các pháp tuy có sai biệt, nhưng nhận xét về mặt lí thể thì các pháp bình đẳng không khác nhau. Lí thể bình đẳng này của các pháp cũng gọi là Như. Do đó nên biết Như cũng là tên khác của Lí. Vì lí ấy chân thực nên gọi là Chân như; vì lí ấy là 1 nên gọi là Nhất như. Lại đứng về phương diện lí thể của Như mà nói, thì vì các giáo môn đều khác nhau, nên đặt tên cho Như cũng bất đồng, chẳng hạn kinh Bát nhã gọi Như là Không, mà kinh Pháp hoa thì gọi Như là Trung... Ngoài ra, tông Thiên thai căn cứ vào thuyết Thập như thị(Thập như)nói trong phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa, thừa nhận rằng trong 10 giới, mỗi giới đều có đủ 9 giới kia, nên thành 100 giới (Thập giới)và trong 100 giới, mỗi giới đều có 10 như(Thập như), hợp thành 1.000 như(Thiên như). [X. kinh Tạp a hàm Q.12, 16, 21; kinh Đại bát nhã Q.296; Phật địa kinh luận Q.7; luận Đại thừa khởi tín; luận Đại trí độ Q.32; Đại thừa nghĩa chương Q.1]. (xt. Thập Như Thị, Bách Giới Thiên Như, Chân Như).
như bái
(如沛) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Thanh, người Đồng an, tỉnh An huy, họ Khang, hiệu Tuệ môn. Thủa nhỏ, sư đã có chí xuất trần. Năm 17 tuổi, sư tham vấn ngài Tuyên tín Hành di, sau lại tham yết ngài Ẩn nguyên Long kì ở núi Hoàng bá, tỉnh Phúc kiến và được nối pháp. Khi ngài Ẩn nguyên dời về chùa Long tuyền tại Quảng đông, sư cũng theo hầu và làm chức Tây đường. Sau, sư bái biệt Ẩn nguyên trở về Ôn lăng, ở trong động Chí công 2 năm; sau lại vâng mệnh ngài Ẩn nguyên đến trụ tại núi Sư tử 8 năm, cho đến khi ngài Ẩn nguyên sang Nhật bản, sư mới về ở tại núi Hoàng bá thuộc tỉnh Phúc kiến. Năm Khang hi thứ 3 (1664) sư tịch, hưởng dương 50 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Tuệ môn hòa thượng ngữ lục 4 quyển, Tuệ môn thiền sư hựu lục 4 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.89; Bá tông phổ lược Q.thượng].
Như Hiện Nguyệt Quang
如現月光; ?-1765|Thiền sư Việt Nam thuộc tông Lâm Tế truyền sang miền Bắc, pháp hệ thứ 37. Sư nối pháp Thiền sư Chân Nguyên và truyền lại cho đệ tử là Tính Tĩnh.|Sư sinh ở làng Ðường Hào, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, xuất gia năm 16 tuổi tại chùa Long Ðộng trên núi Yên Tử. Nơi đây, Sư chuyên cần tu học dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Chân Nguyên. Khi Chân Nguyên tịch, Sư được truyền y bát của phái Trúc Lâm Yên Tử, kế thừa thầy chăm sóc các ngôi chùa Long Ðộng, Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang.|Năm 1748, Sư được vua Lê Hiến Tông phong chức Tăng thống và năm 1757 hiệu Tăng Thống Thuần Giác Hoà Thượng. Sư sống rất đạm bạc, ăn mặc rất sơ sài nhưng các vị đại thần đều quý trọng. Tương truyền rằng, Sư có hơn 60 vị đệ tử anh tài mà Thiền sư Tính Tĩnh là vị được truyền y bát Trúc Lâm, thay thế Sư chăm lo các ngôi chùa nêu trên.|Ngày mùng 6 tháng 9 năm Ất Dậu, Sư gọi chúng lại từ biệt rồi tịch. Môn đệ xây tháp thờ tại chùa Nguyệt Quang. Chùa này bây giờ nằm ở phường Ðông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
như hoá
(如化) Hóa, Phạm: Nirmita. Cũng gọi Biến hóa, Biến hóa sự, Đẳng biến sự. Là 1 trong 10 thí dụ của kinh Đại phẩm bát nhã. Phàm những vật do sức thần thông của thần tiên, sức nghiệp của trời rồng, cho đến chú thuật, thiền định... biến hiện ra, đều gọi là Hóa. Những sự vật biến hóa này đều là không chứ chẳng phải thật, cho nên chúng được dùng để ví dụ tất cả các pháp đều là không, giống như các vật biến hóa không có thật. (xt. Thập Dụ).
như huyễn
Māyopama (S), Illusory.Xem Huyễn.
; (如幻) Huyễn, Phạm: Màyà. Vốn là giả mà giống như thật, 1 trong 10 thí dụ của kinh Đại phẩm bát nhã. Các nhà ảo thuật(huyễn sư)dùng thuật ảo biến hiện ra voi, ngựa, người, vật... làm cho người ta thấy, nghe cứ như thật, gọi là Huyễn. Nhưng, những huyễn tướng huyễn sự ấy đều là không chứ chẳng phải thật, cho nên chúng được dùng để ví dụ tất cả các pháp đều là không, giống như huyễn tướng không thật có. [X. luận Đại trí độ Q.6]. (xt. Thập Dụ, Huyễn).
như huyễn tam muội
Māyopamasamādhi (S).
; (如幻三昧) Tam muội thấu suốt lí tất cả các pháp như huyễn, cũng chỉ cho Tam muội biến hóa ra các sự vật như huyễn. Tam muội này giống như nhà ảo thuật biến hiện ra nam, nữ, binh lính... đều được như ý, không bị trở ngại. Bồ tát ở trong Tam muội này, tuy dùng năng lực biến hóa của Tam muội như huyễn để hóa độ chúng sinh, nhưng cũng biết rõ lí các pháp đều như huyễn, cho nên Bồ tát không bị dính mắc vào việc độ sinh mà hóa dụng 1 cách tự tại vô ngại. Ngoài ra, Tam muội như huyễn còn là 1 trong 25 tam muội, được dùng để phá Nam diêm phù đề hữu trong Nhị thập ngũ hữu. [X. kinh Viên giác; luận Đại trí độ Q.50]. (xt. Nhị Thập Ngũ Tam Muội).
như huyễn tam muội thân
Māyopama-samādhi-kāya (S).
như hóa
Nirmita (S)Hóa lạc thiên.
như không
(如空) Thể tính các pháp là chân không bình đẳng. Nhưnghĩa là bản tính chân thực bất biến của hết thảy muôn vật; Khônglà chỉ cho cái tính hư giả chẳng thật của sự vật, hoặc chỉ cho cái tính Không vắng lặng, trong sáng của lí thể. Bởi vì, nói theo lập trường chân lí Phật giáo, tất cả các pháp tuy đều có đặc tính riêng biệt, không giống nhau, nhưng lí thể của các pháp thì bình đẳng như nhau, không có sai khác, nghĩa là thực thể các pháp đều là không. (xt. Như, Không).
Như Lai
(s, p: tathāgata, 如來): âm dịch là Đa Đà A Già Đà (多陀阿伽陀), Đa Tha A Già Độ (多他阿伽度), Đa Đà A Già Độ (多陀阿伽度), Đát Tát A Kiệt (怛薩阿竭), Đát Tha Nga Đa (怛他誐多), Đa A Kiệt (多阿竭); còn gọi là Như Khứ (如去), là một trong 10 danh hiệu của đức Phật, tôn xưng của vị Phật. Nếu phân tích Phạn ngữ tathāgata, có 2 loại: tathā-gata (如去, Như Khứ), tathā-āgata(如來, Như Lai). Như Khứ có nghĩa là cỡi đạo chơn như mà đạt đến quả Phật Niết Bàn. Theo cách giải thích sau có nghĩa là do chơn lý mà đến để thành chánh giác. Đức Phật cỡi chân lý mà đến, do chơn như mà hiện thân, nên được gọi là Như Lai. Một số kinh điển giải thích về thuật ngữ này như sau. Trong Thanh Tịnh Kinh (清淨經) của Trường A Hàm (長阿含) quyển 12 có đoạn: “Phật ư sơ dạ thành tối chánh giác, cập mạt hậu dạ, ư kỳ trung gian hữu sở ngôn thuyết, tận giai như thật, cố danh Như Lai; phục thứ, Như Lai sở thuyết như sự, sự như sở thuyết, cố danh Như Lai (佛於初夜成最正覺、及末後夜、於其中間有所言說、盡皆如實、故名如來、復次、如來所說如事、事如所說、故名如來, đức Phật vào đầu đêm thành chánh giác tối thượng, cho đến cuối đêm, trong khoảng thời gian giữa ấy, những lời nói của ngài, hết thảy đều như thật, nên được gọi là Như Lai; lại nữa, các việc do Như Lai nói ra, việc đúng như lời nói, nên được gọi là Như Lai).” Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 24 thì định nghĩa là: “Như thật đạo lai, cố danh vi Như Lai (如實道來、故名爲如來, đến với đạo như thật, nên có tên là Như Lai)”; hoặc quyển 55 thì cho là: “Hành Lục Ba La Mật, đắc thành Phật đạo, … cố danh Như Lai (行六波羅蜜、證成佛道、… 故名如來, thực hành Sáu Ba La Mật, chứng thành Phật đạo, … nên có tên là Như Lai).” Hay như theo Thành Thật Luận (成實論) quyển 1 là: “Như Lai giả, thừa như thật đạo lai thành chánh giác, cố viết Như Lai (如來者、乘如實道來成正覺、故曰如來, Như Lai là mang đạo như thật đến đây và thành chánh giác, nên được gọi là Như Lai).” Chuyển Pháp Luân Luận (轉法輪論) giải thích rằng: “Như thật nhi lai, cố danh Như Lai; … Niết Bàn danh Như, tri giải danh Lai, Chánh Giác Niết Bàn cố danh Như Lai (如實而來、故名如來、… 涅槃名如、知解名來、正覺涅槃故名如來, như thật mà đến, nên có tên là Như Lai; Niết Bàn gọi là Như, hiểu biết gọi là Lai; vì vậy Chánh Giác Niết Bàn được gọi là Như Lai).” Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) cũng có giải thích tương tợ như vậy: “Như chư Phật thừa như thật đạo lai thành chánh giác, kim Phật diệc như thị lai, cố danh Như Lai (如諸佛乘如實道來成正覺、今佛亦如是來、故名如來, như các đức Phật mang đạo như thật đến đây và thành chánh giác, nay Phật cũng đến như vậy, nên có tên là Như Lai).” Bí Tạng Ký Bổn (秘藏記本) của Mật Giáo thì cho rằng: “Thừa như nhi lai cố viết Như Lai (乘如而來故曰如來, cỡi đạo như thật mà đến nên có tên là Như Lai).” Trong tác phẩm Giáo Hành Tín Chứng (敎行信證) quyển 4 của Thân Loan (親鸞, Shinran, 1173-1262) Nhật Bản có định nghĩa về Như Lai rằng: “Chơn như tức thị nhất như, nhiên giả Di Đà Như Lai tùng Như Lai sanh thị hiện Báo Ứng Hóa chủng chủng thân giả (眞如卽是一如、然者彌陀如來從如來生示現報應化種種身也, chơn như tức là nhất như, tuy nhiên, Di Đà Như Lai từ Như Lai sanh ra, thị hiện các loại thân như Báo Thân, Ứng Thân, Hóa Thân).” Ngoài ra, bản chú giải trường bộ kinh bằng tiếng Pāli là Sumaṅgala-vilāsinī có nêu 9 nghĩa của Như Lai, hay Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận (十住毘婆沙論) thì giải thích 11 nghĩa, v.v. Tại Chánh Điện của dũng tuyền tự (湧泉寺), thuộc Phúc Châu (福州), Tỉnh Phúc Kiến (福建), Trung Quốc có câu đối rằng: “Bảo tướng hiện Như Lai nhân chứng Bồ Đề không Ngũ Uẩn, kim thân Quán Tự Tại tu La Hán ngộ Tam Thừa (寶相現如來因證菩提空五蘊、金身觀自在果修羅漢悟三乘, tướng báu hiện Như Lai nhân chứng Bồ Đề không Năm Uẩn, thân vàng Quán Tự Tại tu La Hán ngộ Ba Thừa).” Hay như tại Huệ Tế Tự (慧濟寺) thuộc Phổ Đà Sơn (普陀山), Tỉnh Triết Giang (浙江省) cũng có câu đối: “Tự Tại tự quán Quán Tự Tại, Như Lai như kiến kiến Như Lai (自在自觀觀自在、如來如見見如來, Tự Tại tự quán Quán Tự Tại, Như Lai như thấy thấy Như Lai).”
; 如來; S, P: tathāgata;|Là »Người đã đến như thế«; danh hiệu chỉ một vị đã đến bậc giác ngộ cao nhất, bậc Chính đẳng chính giác. Như Lai là một trong mười danh hiệu của một vị Phật. Theo ý nghĩa nguyên thuỷ thì danh từ Như Lai không phải là một »danh hiệu.« Phật Thích-ca Cồ-đàm sử dụng danh từ này để tránh sử dụng chữ »ta«, »tôi« trong lúc giảng dạy, thuyết Pháp và đây cũng là một phong cách biểu lộ sự khiêm tốn của Ngài.|Với sự phát triển của Phật giáo theo thời gian, ý nghĩa của danh từ Như Lai đã biến đổi. Trong Ðại thừa, Như Lai chỉ Ứng thân (s: nirmāṇakāya, Ba thân) của Phật. Ðó là con người toàn hảo, có thể xuất hiện dưới mọi dạng khác nhau, có Mười lực (s: daśabala) của một vị Phật. Như Lai cũng biểu hiện cụ thể của Chân như, thể tính của vũ trụ, được xem là sứ giả trực tiếp của Chân như, là gạch nối giữa hiện tượng và bản thể. Trong nhiều trường hợp, Như Lai được xem là đồng nghĩa với Trí huệ (s: prajñā) và tính Không (s: śūnyatā).
như lai
Niorai (J), Nyorai (J), dezhin shekpa (T), Tathāgata (S, P ), Niorai (J), dezhin shekpa (T)Đa đà a già đà, Đa đà a già độ, Thường trụ, Vô biên thânMột trong 10 danh hiệu của Phật. Nghĩa là Người đã đến như vậy, người đã ra đi như vậy. Người không do đâu mà lại, cũng không đi đâu. Như lai là tên mà đức Phật dùng để chỉ chính mình Xem Tathagata
; Tathàgata (S). A tittle of Buddha.
; Bản thể của tự tánh cùng khắp không gian, bất khứ bất lai, đúng như bổn lai nên gọi là Như lai.
; (如來) Phạm, Pàli: Tathàgata. Hán âm: Đa đà a già đà, Đa tha a già độ, Đa đà a già độ, Đát tát a kiệt, Đát tha nga đa, Đa a kiệt. Cũng gọi Như khứ. Từ ngữ tôn xưng đức Phật, là 1 trong 10 hiệu của Phật. Tiếng Phạm Tathàgata có thể được chia làm 2 là:Tathà-gata(Như khứ)và Tathà-àgata(Như lai). Nếu theo cách thứ nhất thì có nghĩa là noi theo đạo Chân như mà đến quả Phật Niết bàn, cho nên gọi là Như khứ; còn nếu theo cách thứ 2 thì có nghĩa là từ chân lí mà đến (như thực mà đến)và thành Chính giác, cho nên gọi là Như lai. Vì đức Phật theo chân lí mà đến và từ chân như mà hiện thân, nên tôn xưng Ngài là Như lai. Kinh Thanh tịnh trong Trường a hàm quyển 12 (Đại 1, 75 hạ) nói: Từ khi thành đạo đến lúc vào Niết bàn, trong suốt khoảng thời gian ấy, đức Phật nói ra điều gì cũng đều như thực, cho nên gọi là Như lai. Lại nữa, những điều đức Như lai nói đều đúng lí Như, cho nên gọi là Như lai. Luận Đại trí độ quyển 55 (Đại 25, 454 hạ) nói: Tu hành 6 Ba la mật được thành Phật đạo (...) nên gọi là Như lai. Trí biết tất cả các pháp Như, từ trong Như đến, nên gọi là Như lai. Trường bộ kinh chú (Sumaígalavilàsinì) tiếngPàlinêu ra 9 nghĩa của từ Như lai; luận Thập trụ tì bà sa quyển 1 thì nêu 11 nghĩa. Còn kinh Đại bảo tích quyển 90, kinh Đại uy đức đà la ni quyển 13, phẩm Như lai tạng trong luận Phật tính quyển 2... cũng đều nêu ra nhiều nghĩa khác nhau. Lại theo luận Thành thực quyển 1 và Hành tông kí quyển thượng, thì người noi theo đạo chân như đến mà thành Chính giáo, là Chân thân Như lai, còn người theo đạo chân như đến để hóa độ chúng sinh trong 3 cõi, là Ứng thân Như lai. Ngoài ra, tông Thiên thai y cứ vào từ ngữ Thừa như thực đạo lai thành chính giác trong luận Thành thực quyển 1, để giải thích nghĩa Chân thân Như lai và Ứng thân Như lai, gọi là Nhị Như Lai. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 9 thì: Thừa(trí như như)như thực(cảnh như như) đạo(nhân)lai thành Chính giác (quả), nghĩa là nhân, cảnh và trí khế hợp, công quả tròn đầy, đó là Chân thân Như lai; còn dùng trí như thực noi theo đạo như thực(cảnh và trí khế hợp)mà đến 3 cõi để thị hiện 8 tướng thành đạo thì là Ứng thân Như lai. Ngoài ra, tông Thiên thai còn y cứ vào từ ngữ Như pháp tướng giải, như pháp tướng thuyết trong luận Đại trí độ quyển 2 mà giải thích nghĩa Pháp thân, Báo thân và Ứng thân, gọi là Tam Như Lai. Theo Pháp hoa văn cú quyển 9 thì nghĩa Tam Như Lai là: Trùm khắp mọi nơi mà không sai khác là Như; không động mà ứng hiện đến khắp mọi nơi là Lai: Đây chỉ cho pháp thân Như lai. Từ lí gọi là Như, từ trí là Lai: Đây chỉ cho Báo thân Như lai. Cảnh và trí thầm hợp là Như, đi đến 3 cõi quay bánh xe pháp mà nói diệu pháp là Lai: Đây chỉ cho Ứng thân Như lai. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); kinh Thập hiệu; kinh Tọa thiền tam muội Q.thượng; luận Đại trí độ Q.10, 21, 70, 72, 85; Vô lượng thọ Như lai quán hành cúng dường nghi quĩ; phẩm Bồ đề trong luận Du già sư địa Q.38; Đại nhật kinh sớ Q.1; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1]. (xt. Thập Hiệu).
như lai bi bồ tát
Tathāgata-Karna (S)Tên một vị Bồ tát.
như lai bi khổ tát
(如來悲苦薩) Như lai bi, Phạm: Tathàgata-karịà. Hán âm: Đát tha nga đa ca lư noa. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 3 phía bắc trong viện Thích ca trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, chủ về tâm Bi vô lượng trong 4 tâm vô lượng của đức Phật. Mật hiệu là Từ hóa kim cương. Hình tượng của vị tôn này toàn thân màu da người, tóc rủ xuống, khoác áo trời che 2 khuỷu tay, chắp 2 tay, tréo chân, ngồi trên lá sen. Chủng tử là (ka), hình Tam muội da là bàn tay chắp, hoặc châu Như ý. Ấn khế là Phổ thông hợp chưởng. Chân ngôn là chân ngôn Bi vô lượng tâm: Án (oô) ma ha (mahà) ca lư noa dạ (karnaga – bi) sa phả la (sphara– phổ cập quảng đại).
như lai biện thuyết bồ tát
(如來辯說菩薩) Vị Bồ tát này được bày ở viện Biến tri trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy thuộc Mật giáo truyền, cũng tức là bồ tát Như lai biện tài của viện Biến tri trong đồ tượng thuộc Thai tạng giới. Trong đồ tượng của Thai tạng giới, hình tượng vị tôn này ngồi bán già trên tòa sen, tay phải dựng đứng đưa về phía trước, kết ấn Tam nghiệp diệu thiện (tức co ngón vô danh, ngón út, duỗi ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa); tay trái nắm lại, cầm hoa sen, đặt ở trên eo. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 13 và Huyền pháp quĩ quyển thượng, thì ấn khế của vị tôn này là Hư tâm hợp chưởng, co 2 ngón trỏ, để ở lưng ngón giữa, nhưng đầu ngón tay không chạm vào nhau. Hai ngón trỏ tượng trưng cho răng, 2 ngón cái tượng trưng cho lưỡi, bởi vậy, 2 ngón cái lay động là tượng trưng cho ý biện thuyết. Chân ngôn của vị Bồ tát này là: Qui mệnh A chấn để dã na bộ đa (Acintyad= bhuta,bất khả tư nghị kì đặc) lộ ba phạ tăng pavazam, ngữ phần đoạn) tam ma đá bát ra bát đa (samatapràpta,phổ chí) vi du đà sa phạ ra (vizuddha svara,thanh tịnh ngôn âm) sa ha (svàhà,thành tựu). Công đức của sự kết tụng ấn khế và chân ngôn này là có thể đạt được 4 biện tài vô ngại và khả năng giảng nói Chính pháp. [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật Q.4]
như lai bái
(如來唄) Bài kệ tán thán sắc thân mầu nhiệm của đức Như lai. Kinh Thắng man ghi toàn văn như sau (Đại 12, 217 thượng): Thân Như lai mầu nhiệm Thế gian không ai bằng Không sánh không nghĩ bàn Vì thế con đính lễ Thân Như lai vô tận Trí tuệ cũng như thế Hết thảy pháp thường trụ Thế nên con qui y. Trong 8 câu trên đây, 4 câu đầu tán thán Ứng thân của đức Phật, 2 câu kế tiếp tán thán Báo thân của Phật, còn Hết thảy pháp thường trụ là tán thán Pháp thân của Phật.
như lai bí mật
Tathāgata-guhyaka (S)Tên một quyển sách viết hồi thế kỷ thứ 3.
như lai bí mật tạng kinh
(如來秘密藏經) Cũng gọi Đại phương quảng Như lai bí mật tạng kinh, Bí tạng kinh, Bí mật tạng kinh.Kinh, 2 quyển, được dịch vào đầu thời Nam Bắc triều (350-431), mất tên người dịch, thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này nói về việc đức Phật tuyên thuyết tạng pháp bí mật cho bồ tát Vô lượng chí trang nghiêm vương từ nước Thường xuất đại âm đến nghe. Bồ tát vui mừng đem thân cúng dường đức Phật và biến hiện thần thông rộng lớn hiếm có. Nhân dịp này, đức Phật cũng diễn nói tạng pháp bí mật cho ngài Ca diếp theo lời ngài thỉnh vấn. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.6; Đại đường nội điển lục Q.2; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.11; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục 4].
như lai bảo bồ tát
Sarva-tathāgata-manih (S)Tên một vị Bồ tát.
; (如來寶菩薩) Như lai bảo, Phạm: Sarva-tathàgatamaịi#. Hán âm: Tát phạ đát tha nghiệt đa ma ni. Nghĩa là châu báu của hết thảy Như lai. Vị Bồ tát ngồi ở phía bắc đức Thích ca trong viện Thích ca trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Tức là vị Phật mẫu ngồi ở phía bên phải của đức Thích ca Như lai trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền; cũng chính là các vị Biến tri nhãn, Năng tịch mẫu ở bên phải đức Thế tôn trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1; cũng tương đương với các vị Phật nhãn, Phật mẫu ở phía bắc đức Thế tôn trong Đại nhật kinh sớ quyển 5. Vị tôn này dùng tâm đại từ của đức Thích ca quan sát chúng sinh, vì thế gọi là Phật nhãn, Biến tri nhãn, chủ về đức Tam muội Bảo xứ của Thích ca Như lai. Mật hiệu là Bảo tướng kim cương. Hình tượng vị tôn này thân màu vàng, bàn tay phải dang ra ở trước ngực, ngón giữa, ngón vô danh và ngón út co lại; bàn tay trái đặt ngang ngực, cầm hoa sen, trên hoa có 3 viên ngọc báu, mặt xoay về phía trái hơi ngước nhìn lên, ngồi kết già trên tòa sen đỏ. Chủng tử là (ta), hình Tam muội da là ngọc báu Như ý trên hoa sen, hoặc là con mắt trên đỉnh đầu đức Phật. Theo Huyền pháp quĩ quyển 2, thì ấn khế của vị tôn này là Nội phược quyền, duỗi ngón giữa, co ngón trỏ đặt ở lưng ngón giữa, nhưng không chạm vào nhau. Chân ngôn là chân ngôn của Năng tịch mẫu, tức là: Qui mệnh Đát tha nga đa (Tathàgata – Như lai) tác khất sô (Cakwu–mắt) vĩ dã phược lộ ca dã (vyàvalokaya–xem thấy) sa phạ hạ (svàhà–thành tựu). [X. Đại nhật kinh sớ Q.10].
như lai bất tư nghị bí mật đại thừa kinh
(如來不思議秘密大乘經) Cũng gọi Như lai bí mật đại thừa kinh, Bí mật đại thừa kinh. Kinh, 20 quyển, do ngài Pháp hộ dịch vào khoảng niên hiệu Cảnh đức năm đầu đến năm Gia hựu thứ 3 (1004-1058) đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 11.Toàn kinh chia làm 25 phẩm, trong đó nói rõ Bồ tát nhờ thân mật thanh tịnh, nên pháp thân vô tướng thị hiện ở khắp mọi nơi, hóa độ chúng sinh; nhờ ngữ mật thanh tịnh nên tùy thời nghe được âm thanh của tất cả loài hữu tình; lại nhờ tâm mật thanh tịnh nên biết rõ được ý niệm của hết thảy chúng sinh. Rồi giải thích về nguyên do tam mật(thân mật, ngữ mật, tâm mật) chẳng thể nghĩ bàn của Như lai. Sau đó, nói về sự vượt thắng trong 6 năm tu khổ hạnh và quá trình hàng phục ma vương, ngoại đạo của Bồ tát, nương vào sở duyên quán cơ mà thu nhiếp tất cả các duyên. Sau khi thành Phật, Như lai đi vào thành Khoáng dã khất thực, chư thiên và quỉ thần đều phát thiện tâm đến qui y. Đức Phật lại nhận lời thỉnh cầu của Bí mật chủ tuyên thuyết các pháp: Các hành vô thường, các pháp vô ngã. Bí mật chủ bèn xin đức Phật cho ông được hộ trì kinh Như lai bất tư nghị bí mật này trong 500 năm sau khi đức Phật nhập diệt. Kinh này còn có 2 bản dịch khác nữa là Hội Mật tích Kim cương lực sĩ trong kinh Đại bảo tích và bản dịch Tây tạng. Nhưng so với hội Mật tích Kim cương lực sĩ thì kinh này có phần rộng hơn, còn nội dung của 2 bản thì như nhau, chỉ khác về văn từ và Hội Mật tích không có chia các phẩm mục.
như lai chính cần bồ tát
(如來正勤菩薩) Vị Bồ tát ngồi ở viện Biến tri trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Trong viện Biến tri, ngoài bồ tát Như lai Chính cần ra, ấn khế và chân ngôn của các vị tôn khác đại đa số thuộc các ấn khế và chân ngôn được kết tụng trong hội Như lai thân thuộc pháp tu Thai tạng giới. Trong phẩm Mật ấn kinh Đại nhật quyển 4 không thấy nói đến ấn khế và chân ngôn của vị tôn này, cho nên không được xếp vào hội Như lai thân. Có lẽ ấn khế và chân ngôn của vị tôn này đã được thu vào trong ấn Như lai niệm xứ.
như lai câu bồ tát
(如來鈎菩薩) Cũng gọi Kim cương câu bồ tát. Vị Bồ tát được trưng bày ở viện Biến tri của đồ tượng Thai tạng, trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy thuộc Mật giáo truyền. Hình tượng vị tôn này ngồi kết già trên hoa sen, tay phải để ở trước ngực, ngón trỏ dựng thẳng, dùng 4 ngón còn lại cầm hoa sen, trên hoa sen đặt cái móc câu, trên móc câu có ánh lửa; khuỷu tay trái dựng đứng, vắt áo trời ở cổ tay, ngón vô danh và ngón út nắm lấy áo, 3 ngón còn lại thì dựng thẳng. Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4 thì ấn khế của vị tôn này là Nội phược quyền, dang ngón trỏ tay phải ra, co lóng thứ 3 lại, làm thành hình móc câu, dáng như triệu thỉnh chư Phật và Bồ tát, tức giống như hình tướng của ấn Đại câu triệu. Vị Bồ tát này cùng thể với bồ tát Kim cương câu của Kim cương giới và bồ tát Kim cương câu nữ của Thai tạng giới. Chân ngôn là chân ngôn Đại câu triệu. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13].
như lai công đức lục chủng tướng
(如來功德六種相) Sáu thứ tướng công đức của Như lai. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 74, thì 6 thứ tướng công đức của Như lai được nêu ra là nhằm khiến cho chúng sinh tu hành như Phật, tất cả đều thành tựu đạo quả. Sáu tướng ấy là: 1. Viên mãn: Các đức Như lai muôn hạnh đầy đủ, chủng trí tròn sáng, thành tựu tất cả công đức thế gian và xuất thế gian. 2. Vô cấu: Như lai đã chứng được thường, lạc, ngã, tịnh nên tất cả phiền não ô nhiễm đều không còn. 3. Bất động: Các đức Như lai nhờ đã chứng được thiền định hoàn toàn vắng lặng, sinh ra tất cả công đức, nên hết thảy ngoại đạo, ma quân, giặc cướp, thân thuộc, cho đến nước, lửa, gió... đều không thể làm nhiễu loạn, tổn hại được. 4. Vô đẳng: Các thứ công đức của Như lai rộng lớn thù thắng, uy lực tự tại; tất cả hữu tình cho đến Bồ tát đều không thể sánh được. 5. Lợi ích hữu tình: Như lai thành tựu các công đức vô thượng, hay phương tiện thị hiện làm các việc lợi ích, độ thoát hữu tình chúng sinh khiến thành tựu Thánh đạo. 6. Công năng: Các đức Như lai thực hiện những việc lợi ích chúng sinh chẳng phải do khởi ý thệ nguyện đặc biệt để làm, cũng chẳng phải trải qua quá trình tạo tác lựa chọn phân biệt, mà tất cả đều thành tựu một cách tự nhiên.
như lai cú sinh chấp kim cương
(如來句生執金剛) Là 1 trong 19 vị Chấp kim cương nội quyến thuộc của hội Mạn đồ la nói trong kinh Đại nhật, Mật giáo. Vị tôn này coi về đức duyên khởi chủng tử, hình Tam muội da và hình tượng của các vị tôn. Chữ Cú trong tên gọi của vị tôn này là dịch ý từ tiếng Phạm Padaô, nay dịch nghĩa là trụ xứ. Nếu theo nghĩa vạn vật đều được an trụ trong đức đại không của chữ A vốn chẳng sinh, thì Cú tức là chỉ cho đức của chữ A. Từ chữ A này mà sinh ra ấn trí Tam muội da là đức của chư Phật tự chứng, lại nương theo ấn này mà thành tựu thân Đại mạn đồ la đầy đủ mọi tướng hảo. Đây là nghĩa sâu xa của tên gọi Như Lai Cú Sinh. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].
như lai gia
(如來家) I. Như Lai Gia. Nhà Như lai. Chỉ cho pháp giới Chân như, nơi an trụ của Như lai. [X. luận Thành duy thức Q.9]. II. Như Lai Gia. Chỉ cho giai đoạn sau khi đã vượt qua giai vị phàm phu tiến vào địa vị Bồ tát trong quá trình tu hành của Bồ tát Đại thừa. Kinh Bồ tát địa trì quyển 9 (Đại 30, 941 thượng) nói: Bồ tát làm việc lợi ích chúng sinh, tu tất cả hạnh Bồ đề vô thượng, làm mọi Phật sự, vượt giai vị phàm phu, lên địa vị Bồ tát, sinh vào nhà Như lai(sinh Như lai gia), gọi là Phật tử(con Phật), nhất định được Vô thượng bồ đề rốt ráo. [X. kinh Hoa nghiêm Q.48 (bản 60 quyển); Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.12].
như lai giáp trụ bồ tát
(如來甲胄菩薩) Cũng gọi Như lai giáp bồ tát. Vị Bồ tát được an trí ở viện Biến tri trong đồ tượng Thai tạng của Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy thuộc Mật giáo truyền. Vị Bồ tát này biểu trưng đức của Như lai, có công năng phòng ngừa ma quân phiền não, giống như áo giáp, mũ sắt(giáp trụ)có tác dụng bảo vệ chống lại quân địch. Hình tượng vị tôn này ngồi xếp bằng trên tòa sen, mình mặc áo giáp, đội mũ sắt, tay phải nắm lại đặt ở eo; tay trái nắm lại, cầm hoa sen giơ lên, trên hoa có giáp trụ. Cứ theo Tác lễ phương tiện thứ đệ, thì ấn khế của vị tôn này là Hư tâm hợp chưởng, 2 ngón trỏ hơi co, đặt ở lưng ngón giữa nhưng không dính sát nhau. Còn theo phẩm Chư thứ đệ giai cụ duyên, thì chân ngôn của vị tôn này là: Qui mệnh Bát na chiến noa (pracaịda,cực bạo ác) phạ nhật la (vajra,kim cương) nhập phạ la (jvala,quang minh) vĩ sa phổ ra (visphara, phổ biến) hồng ùô,chủng tử). Nhưng theo Đại nhật kinh sớ quyển 9 thì đây không phải chân ngôn của Như lai giáp, mà có lẽ là chân ngôn của Kim cương tát đỏa viên quang.
như lai hào tướng bồ tát
(如來毫相菩薩) Như lai hào tướng, Phạm: Tathàga= torịà. Cũng gọi Thích ca hào tướng bồ tát, Chân đa ma ni hào tướng bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 2 phía bắc đức Phật trong viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Như lai hào tướng là đức của Đại nhật Như lai, còn Thích ca hào tướng là quyến thuộc của đức Thích ca. Vị tôn này chủ về công đức của tướng bạch hào(tướng lông trắng)trong 32 tướng hảo của Như lai. Mật hiệu là Diệu quang kim cương. Hình tượng của vị tôn này thân màu vàng ròng, ngồi xếp bằng trên hoa sen, bàn tay phải ngửa lên đặt ở dưới rốn, tay trái cầm hoa sen, trên hoa có bảo châu. Chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là bảo châu Như ý. Ấn khế là tay phải nắm lại thành quyền, ngón cái duỗi ra, 4 ngón còn lại để ở khoảng giữa chân mày. Chân ngôn là chân ngôn Tạng phẩm, tức: Qui mệnh Bá la đề (varade,dữ nguyện) bá la bổ la bát đế (varapràpte,đắc nguyện) hồng (hùô,chủng tử), sa ha (svàhà,thành tựu). Ngoài ra, đối với hình tượng, chủng tử, hình Tam muội da, ấn khế, chân ngôn... của vị tôn này, trong các kinh và nghi quĩ của Mật giáo còn có nhiều thuyết khác nhau. [X. Đại nhật kinh số Q.5, 10, 13].
như lai hỉ bồ tát
(如來喜菩薩) Như lai hỉ, Phạm: Tathàgata-mudità. Hán âm: Đát tha nga đa mẫu nễ đa. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 8 trong ngoại viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, chủ về tâm Hỉ vô lượng trong 4 tâm Vô lượng của Phật. Mật hiệu là Xứng pháp kim cương. Hình tượng vị tôn này toàn thân màu da người, ngồi trên hoa sen, ca sa trùm kín vai phải và ngực, bàn tay phải ngửa lên đặt trước ngực, co ngón giữa, ngón vô danh và ngón út; tay trái cầm lá sen đựng đầy hoa. Hình Tam muội da là hoa sen vàng hoặc là hoa trên lá sen. Ấn khế là ấn Phổ thông hợp chưởng. Chân ngôn là chân ngôn Hỉ vô lượng tâm: Án (oô) truật đà (suddha, thanh tịnh) bát la mô na (pramoda,hỉ duyệt) sa phả la (sphàra,phổ cập khoáng đại).
như lai hộ vương
Tathāgatagupta (S)Tên một vị vua Bắc Ấn thời xưa.
như lai hỷ bồ tát
Tathāgata-muditā (S)Tên một vị Bồ tát.
như lai kim cương
(如來金剛) Chỉ cho 3 vị tôn được bày ở viện Biến tri trong đồ tượng Thai tạng của Mật giáo. Một (hoặc cả 3)trong 3 vị tôn này là đồng thể với Như lai tam muội da kim cương trong viện Biến tri của Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền. Trong pháp tu của Thai tạng giới, các vị tôn này lấy ấn Kim cương đại tuệ làm nội chứng. Hình tượng của 3 vị tôn này như sau: Vị thứ nhất: Ngồi bán già trên hoa sen, chân phải gác lên chân trái, khuỷu tay phải dựng thẳng, bàn tay ngửa lên, đầu ngón cái và đầu ngón trỏ bấm vào nhau, 3 ngón kia hơi co lại; tay trái đặt ở trước ngực, cầm cây chày 5 chĩa. Vị thứ hai: Ngồi bán già trên hoa sen, chân phải gác lên chân trái, bàn tay phải duỗi, đặt trên bắp đùi; bàn tay trái ngửa lên, cầm hoa sen, trên hoa dựng cây chày kim cương 3 chĩa, trên chày có ánh lửa sáng. Vị thứ ba: Ngồi bán già trên hoa sen, chân trái gác lên chân phải, tay phải để ở chỗ eo, cầm hoa sen, trên hoa có chày yết ma; tay trái kết ấn Thí nguyện.
như lai linh đạc bồ tát
(如來鈴鐸菩薩) Vị Bồ tát được bày ở viện Biến tri của đồ tượng Thai tạng trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy thuộc Mật giáo truyền. Trong hội Như lai thân của pháp tu Thai tạng, tuy có kết ấn khế và tụng chân ngôn của vị tôn này, nhưng trong phẩm Mật ấn kinh Đại nhật quyển 4, không thấy có nói đến vị tôn này, hoặc đã được thu vào Như lai pháp loa ấn (Đại pháp loa ấn) rồi chăng? Hình tượng vị tôn này ngồi bán già trên tòa hoa sen, khuỷu tay phải dựng thẳng, cầm linh kim cương trong tư thế đang rung. Tay trái nắm lại đặt ở cạnh sườn.
như lai liên hoa bồ tát
(如來蓮華菩薩) Vị Bồ tát được đặt ở viện Biến tri trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Vị tôn này dùng tòa hoa sen kim cương bất hoại làm nội chứng tự thệ của mình. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 13, tòa hoa sen này còn được gọi là tòa Kim cương, tòa Kim cương bất hoại. Ấn khế của vị tôn này là ấn Hư tâm hợp chưởng, các ngón tay xòe ra làm thành hình cái linh, 2 ngón út và 2 ngón cái cầm lấy nhau, hợp ngón trỏ, ngón giữa thành ấn Lục diệp(ấn 6 cánh). Ấn mẫu đầu tiên là ấn hoa sen chưa nở, tượng trưng cho tòa ngồi của Pháp thân, kế đến là ấn hoa nở 8 cánh, tượng trưng tòa ngồi của Báo thân, cuối cùng là ấn 6 cánh, tượng trưng cho tòa ngồi của Ứng thân.Chân ngôn là: Qui mệnh (à#).
như lai luân bồ tát
(如來輪菩薩) Cũng gọi Như lai pháp luân bồ tát. Vị Bồ tát được bày ở viện Biến tri của đồ tượng Thai tạng trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy thuộc Mật giáo truyền. Vị Bồ tát này lấy ấn khế và chân ngôn Chuyển pháp luân làm tự nội chứng của mình, tượng trưng cho đức quay bánh xe pháp của Như lai. Hình tượng vị tôn này ngồi xếp bằng trên hoa sen, bàn tay phải dựng đứng, 5 ngón duỗi xòe ra; tay trái đặt ngang ngực, cầm hoa se, trên hoa có bánh xe 8 nan hoa, chung quanh vành bánh xe có ánh lửa sáng. Ấn minh là ấn Chuyển pháp luân. Ấn tướng là 2 tay duỗi 5 ngón, tay trái úp xuống, tay phải ngửa lên, lưng 2 bàn tay sáp vào nhau, các ngón út, vô danh, giữa và trỏ, 8 ngón này đan vào nhau, đầu ngón cái tay trái và đầu ngón cái tay phải hợp lại với nhau. Chân ngôn là: Nam ma tam mạn đa phạt chiết la noản (nama# samanta vajraịàô, qui mệnh phổ biến chư Chấp kim cương) phạt chiết la trở ma cú ngân (vajràtmakohaô, ngã thị kim cương thân). Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 9, thì Chân ngôn này có 4 nghĩa: Bình đẳng, bản thệ, trừ chướng và cảnh giác. [X. phẩm Mật ấn kinh Đại nhật Q.4]. (xt. Chuyển Pháp Luân Ấn).
như lai mẫn bồ tát
(如來愍菩薩) Như lai mẫn, Phạm: Tathàgatamrđità. Hán âm: Đát tha nga mẫu lệ chi đa. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 2, phía bắc, trong viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo, mật hiệu là Giáo lệnh kim cương. Cứ theo Chư thuyết bất đồng kí, thì Tứ vô lượng tôn và Như lai Mẫn bồ tát có lẽ là Ngũ tịnh cư thiên. Hình tượng vị tôn này là Thiên nữ, toàn thân màu da người, ngồi trên lá sen, mặc áo khái đang, bàn tay phải ngửa lên, cầm lá sen, trên lá sen đựng đầy hoa. Tay trái cầm bảo châu, trên bảo châu có ánh lửa, mặt hơi nhìn về phía trái. Hình Tam muội da là bảo hoa hoặc bảo châu. Ấn khế và chân ngôn là ấn ngôn của bồ tát Bi mẫn.[X. phẩm Chân ngôn tạng trong kinh Đại nhật Q.2].
như lai ngũ phần pháp thân
Gồm: giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến.
như lai ngữ bồ tát
Tathāgata-vaktra (S)Tên một vị Bồ tát.
; (如來語菩薩) Như lai ngữ, Phạm: Tathàgata-vaktra. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 2, phía nam, trong viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Tiếng PhạmVaktrahàm ý là khí cụ của ngôn ngữ, cũng tức là miệng phát ra lời nói, vì thế, phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4 gọi vị Bồ tát này là Bồ tát Như lai ngữ môn và Thai tạng đồ tượng gọi là Bồ tát Như lai khẩu. Nhưng trong viện Biến tri của Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, thì cùng lúc có cả 2 vị Bồ tát Như lai khẩu và Như lai thần, vậy không biết vị tôn nào trong 2 vị là tên gọi khác của Bồ tát Như lai ngữ này? Đức Như lai dùng viên âm vi diệu mà tuyên thuyết đại pháp, các loài chúng sinh nghe pháp, loài nào hiểu theo loài ấy. Vị Bồ tát này từ trí của Như lai sinh ra, chủ về đức phát ngôn diễn thuyết của Như lai. Mật hiệu là Tính không kim cương. Hình tượng, theo Hiện đồ mạn đồ la, thì toàn thân màu da người, bàn tay phải ngửa lên đặt ở trước ngực; bàn tay trái dựng thẳng, ngón trỏ, ngón cái co lại, cầm hoa sen, trên hoa có bảo châu. Chủng tử là (va). Hình Tam muội da là cái môi trên hoa sen. Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4, thì ấn khế của vị tôn này là Hư tâm hợp chưởng, 2 ngón trỏ và 2 ngón vô danh hợp vào trong lòng bàn tay, đầu các ngón chụm vào 1 chỗ; 2 ngón trỏ và 2 ngón giữa dựng đứng, 2 ngón cái hơi co. Chân ngôn là: Qui mệnh Đát tha nghiệt đa (Tathàgata,Như lai) ma ha phạ ngật đát la (mahàvaktra,đại ngữ môn) vi thấp phược nhương nẵng (visvajĩàna,chủng chủng xảo trí) ma hộ na dã (mahodaya,quảng đại) sa ha (svàhà,thành tựu). [X. Đại nhật kinh sớ Q.13].
như lai nha bồ tát
Tathāgata-Damstra (S)Tên một vị Bồ tát.
; (如來牙菩薩) Như lai nha, Phạm: Tathàgatadaôwỉrà. Hán âm: Đát tha nga đa năng sắt tra la. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ nhất, phía nam đức Phật, trong ngoại viện Thích ca của Mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Vị tôn này chủ về đức của Phật, xóa bỏ tâm chấp trước về sự sai khác giữa chúng sinh và chư Phật. Mật hiệu là Hộ pháp kim cương, Điều phục kim cương. Hình tượng của Ngài toàn thân màu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, bàn tay phải để ngang ngực, ngón giữa và ngón áp út hơi co lại, tay trái nắm, đặt ở trước ngực, cầm hoa sen nở, trên hoa có cái răng, mặt nhìn nghiêng bên phải. Chủng tử là (daô), hình Tam muội da là cái răng trên hoa sen. Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4, ấn khế của Bồ tát này là Hư tâm hợp chưởng, 2 ngón trỏ co lại để trong lòng bàn tay và hướng lên. Chân ngôn là: Qui mệnh Đát tha nga đa (Tathàgata,Như lai) năng sắt tra la (daôwỉra,nha) la sa la sa ngật la (rasàgara,vị thắng thượng) tam bát la bác ca (sampsàpaka,đắc) tát phạ (sarva, nhất thiết) đát tha nga đa (tathàgata,Như lai) vi sái dã (viwaya,cảnh giới) tam bà phạ (sambhava,sinh) sa ha (svàhà,thành tựu). Nghĩa là Qui mệnh khắp hết thảy chư Phật, răng Như lai được nhai pháp vị vô thượng, là từ cảnh giới của tất cả Như lai sinh ra.
như lai nhãn bồ tát
(如來眼菩薩) Cũng gọi Như lai quan bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở viện Biến tri của Thai tạng đồ tượng trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy thuộc Mật giáo truyền. Vị tôn này đồng thể với bồ tát Bi sanh nhãn(Phật nhãn) của hội Như lai thân. Nhưng chân ngôn của 2 Bồ tát này không giống nhau. Trong Thai tạng đồ tượng, hình tượng Bồ Tát Như Lai Ngữ của vị tôn này ngồi xếp bằng trên tòa sen, khuỷu tay phải dựng thẳng, bàn tay ngửa lên, đầu ngón cái và đầu ngón trỏ bấm vào nhau, 3 ngón kia thì hơi co; tay trái để ở trước ngực, cầm hoa sen, trên hoa sen có 2 con mắt. Ấn khế giống vối ấn khế của bồ tát Bi sinh nhãn. Chân ngôn là: Qui mệnh Đát tha yết đa chước ngật sô (Tathàgata cakwu,Như lai nhãn) vĩ dã phạ lộ ca dã (vyavalokàya,quan) sa ha (svàhà,thành tựu).[X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; phẩm Mật ấn kinh Đại nhật Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.9].
như lai như ý bảo bồ tát
(如來如意寶菩薩) Vị Bồ tát này được bày ở viện Biến tri trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, vị tôn này được xem là giống với bồ tát Đại dũng mãnh (Phạm: Mahà-vìra). Phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 6 hạ) hình dung vị tôn này như sau:Lại ở phương nam kia Cứu thế Phật, Bồ tát Đại đức Thánh tôn ấn Hiệu là Mãn chúng nguyện Chân đà la ni châu Trụ trong hoa sen trắng. Theo sự giải thích trong Đại nhật kinh sớ quyển 5, thì vị tôn này là do tâm bồ đề thanh tịnh và vô biên hạnh nguyện tập thành, thường hay mưa xuống tất cả của báu thế gian và xuất thế gian.
như lai niệm xứ bồ tát
(如來念處菩薩) Vị Bồ tát ngồi ở viện Biến tri của đồ tượng Thai tạng trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy thuộc Mật giáo truyền. Hình tượng vị tôn này ngồi bán già trên hoa sen, tay phải dựng thẳng, đầu ngón cái và ngón trỏ bấm vào nhau, 3 ngón còn lại thì duỗi và xòe ra; khuỷu tay trái dựng thẳng, cầm 1 vật như quyển sách nhỏ. Ấn khế là Hư tâm hợp chưởng, co 2 ngón trỏ, đầu 2 ngón cái sáp vào nhau, tức là ấn Đại tuệ đao. Chân ngôn là: Qui mệnh Đát tha nghiệt đa sa ma lật để (Tathàgatasmfti,Như lai niệm) tát đỏa (sattva,chúng sinh, hữu tình) hệ đá tệ ôn nghiệt đa (heddhabhyudgata, chư lợi ích sinh) già già na (gagana,hư không) tảm mang tảm ma (samàsama,đẳng vô đẳng) sa ha (svàhà,thành tựu). Nghĩa là Như lai niệm niệm lợi ích hữu tình ngang với hư không, mà hư không lại chẳng sánh bằng. [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.13].
như lai phát sinh kệ
(如來發生偈) Cũng gọi Năng sinh chư Phật kệ. Bài kệ trích từ phẩm Bí mật mạn đồ là trong kinh Đại nhật quyển 5 (Đại 18, 31 thượng) như sau: Hay sinh thân tùy loài Pháp tướng của các pháp Chư Phật và Thanh văn Duyên giác vì cứu đời Chúng Bồ tát cần mẫn Và Nhân tôn cũng vậy Chúng sinh khí thế giới Theo thứ lớp lập thành Pháp sinh, trụ, dị, diệt Lí hằng thường như thế Do đủ trí phương tiện Lìa ngu si chướng ngại Thường thấu suốt lí ấy Nói pháp chính biến tri. Cứ theo sự giải thích trong Đại nhật kinh sớ quyển 14, thì ý nghĩa của bài kệ trên là: Chữ (a) là bản thể của các pháp năng sinh, cho nên cũng có thể gọi là Pháp thân vô tướng, Pháp thân bình đẳng. Như lai phát sinh kệ tức là biểu hiện Pháp thân vô tướng này, có khả năng tùy duyên mà phổ hiện sắc thân, sinh ra các thân Phật như: Thụ dụng, Biến hóa, Đẳng lưu v.v..., đồng thời, do sự giáo hóa của các thân ấy mà được nghĩa của các quả: Phật, Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác...
như lai phương tiện thiện xảo chú kinh
(如來方便善巧咒經) Phạm: Sapta-buddhaka-sùtra. Cũng gọi Như lai thiện xảo chú kinh, Như lai phương tiện xảo chú kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh này tường thuật lúc đức Phật ở trên đỉnh núi Kê la bà, có 1 vị tỉ khưu trong rừng bị ác quỉ bắt, 1 vị tỉ khưu khác thì bị tà mị ám, cả 2 đều buồn khổ áo não. Đức Phật khi ấy nhân lời thỉnh cầu của bồ tát Hư không tạng bèntuyên nói thần chú diệt trừ bệnh khổ, thoát khỏi nạn quỉ mị. Những bản dịch khác của kinh này có: - Kinh Hư không tạng bồ tát vấn thất Phật đà la ni, được dịch vào đời Lương(mất tên người dịch). - Kinh Thánh hư không tạng bồ tát đà la ni, do ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].
như lai phương tiện xảo kinh
Sapta-Buddhaka sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
như lai phổ quang bồ tát
(如來普光菩薩) Cũng gọi Phổ quang bồ tát, Viên quang bồ tát, Như lai viên quang bồ tát. Chỉ cho Như lai diệm quang bồ tát được bày ở viện Biến tri trong Thai tạng đồ tượng và trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Vị Bồ tát này biểu thị cho đức đại trí viên mãn của Như lai, ánh sáng chiếu khắp các pháp giới. Trong Thai tạng đồ tượng, hình tượng vị tôn này ngồi kết già trên hoa sen, đầu đội mũ báu, 2 tay ngửa lên đặt ở trước rốn, cầm hoa sen có hình cái bát, thân và bát có ánh lửa bừng sáng. Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4, Đại tì lô già na kinh quảng đại nghi quĩ quyển thượng và Nhiếp đại nghi quĩ quyển trung, thì ấn khế của vị tôn này là Hư tâm hợp chưởng, 2 ngón cái hơi co vào trong lòng bàn tay, 2 ngón trỏ dựng thẳng và xòe ra, dáng như đang phóng ánh sáng. Chân ngôn là: Qui mệnh Nhập phạ la ma lí nễ (jvalàma-lini,quang diệm man) đát tha nghiệt đa lật chỉ (tathàgatarci, Như lai quang minh) sa ha (svàhà,thành tựu).[X. Đại nhật kinh sớ Q.13].
như lai quyên sách bồ tát
(如來罥索菩薩) Vị Bồ tát ở viện Biến tri trong Thai tạng đồ tượng và trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Hình tượng vị tôn này ngồi xếp bằng trên tòa sen, khuỷu tay phải dựng thẳng hướng về phía bên phải, tay ngửa lên, ngón cái và ngón trỏ duỗi, còn 3 ngón kia co lại; tay trái đặt ở trước ngực, cầm hoa sen, trên hoa có vòng dây(quyên sách). Ấn khế của vị tôn này là Nội phược quyền, 2 ngón trỏ dựng đứng hợp lại thành dáng cái vòng, biểu thị vòng dây. Chân ngôn là: Qui mệnh Hệ hệ (he, he,hô triệu) ma ha bá xa (mahàpàza,đại sách) bát la sa lao na lí dã (prasrau-darya?quảng như không) tát đỏa đà đổ (sattvadhàtu,hữu tình giới) vi mô ha ca (vimohaka,trừ si) đát tha yết đa địa mục khất để nễ xã đa (tathàgatàdhi= mukti nirjata,Như lai tín giải sinh) sa ha (svàhà,thành tựu). [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.13].
như lai quyền
(如來拳) Gọi đủ: Như lai quyền ấn. Một trong các loại ấn gốc(ấn mẹ)của Mật giáo dùng làm chuẩn cho các loại ấn khế khác khi kết thủ ấn. Là 1 trong 4 thứ quyền(nắm tay). Như lai quyền (nắm tay Như lai) có 2 loại: 1. Liên hoa quyền, cũng gọi là Thai tạng quyền, Thai quyền, được dùng trong Mạn đồ la Thai tạng giới. Ấn tướng là ngón cái đè lên cạnh ngoài chỗ lóng trên cùng của ngón trỏ, biểu thị tháp lí của pháp tính 5 đại: Đất, nước, lửa, gió, không. 2. Quyền ấnđược nêu trong Vô lượng thọ quĩ, Dược sư quán hành quĩ, Kim luân yếu lược niệm tụng pháp... Ấn này biểu thị lí và trí ngầm hợp, sắc và tâm không hai, cho nên khi tu Đạo tràng quán thì dùng ấn này. Ấn tướng là: Tay trái đặt ở dưới, kết Liên hoa quyền, nhưng dựng ngón cái vào trong bàn tay phải, tay phải đặt ở trên làm Kim cương quyền, nắm lấy đầu ngón cái của tay trái. Liên hoa quyền của tay tráitượng trưng cho Liên hoa bộlà Lí. Kim cương quyền của tay phải tượng trưng cho Kim cương bộ là Trí. Hai nắm tay chồng lên nhau biểu thị ý nghĩa Lí và Trí không hai, vì thế gọi là Như lai quyền ấn, cũng gọi là Trí quyền ấn. Nhưng, Như lai quyền được nói trong các kinh và nghi quĩ thông thường là chỉ cho Liên hoa quyền. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13]. (xt. Lục Chủng Quyền Ấn).
như lai quyền giáo
Phật vì thích ứng mọi đương cơ mà thiết lập giáo pháp quyền xảo phương tiện để giáo hóa chúng sanh, nên gọi là Như lai quyền giáo.
như lai sư tử hống kinh
Siṃha-nadira sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
; (如來師子吼經) Phạm: Siôha-nadika-sùtra. Kinh, 1 quyển, do ngài Phật đà phiến đa (Phạm: Buddhazànta) dịch vào năm Chính quang thứ 6 (525) đời Nguyên Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Kinh này chủ trương tất cả pháp tính đều không thể diễn tả, trí không thể tìm cầu bên ngoài, mà phải cầu bên trong, để từ đó nói rõ về chỉ thú của sự tự nội chứng. Có thể nói kinh này thuộc loại kinh duy trì lập trường Không quán của Đại thừa. Địa điểm tuyên thuyết kinh này là điện Thắng tạng trong cung Nhật nguyệt, hơn nữa, đại chúng dự hội vượt hẳn con số bình thường, đây cũng là 1 trong những nét đặc biệt của kinh này. Bản dịch khác của kinh này là kinh Đại phương quảng sư tử hống, do ngài Địa bà ha la dịch vào niên hiệu Vĩnh long năm đầu (680) đời Đường và hiện vẫn còn bản dịch Tây tạng. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.6].
như lai sở thuyết thanh tịnh điều phục kinh
(如來所說清淨調伏經) Cũng gọi Tịch điều âm sở vấn kinh, Tịch điều âm kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp hải dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Nội dung kinh này thuật lại việc bồ tát Văn thù sư lợi nói cho Thiên tử Tịch điều âm nghe về yếu nghĩa của giới Đại thừa và chỗ khác nhau giữa tì ni(luật)của Bồ tát và Thanh văn. Kinh này đại thể giống với kinh Thanh tịnh tì ni phương quảng do ngài Cưu ma la thập dịch, nhưng văn thì dài hơn. Ngoài ra, kinh này còn có bản dịch khác là: Kinh Văn thù sư lợi tịnh luật, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4; Lịch đại tam bảo kỉ Q.4, 10; Khai nguyên thích giáo lục Q.5].
như lai sứ
Tathàgata-dùta (S). A Tahàgata apostle sent to do his work.
như lai sứ giả
(如來使者) Cũng gọi Bất động Như lai sứ. Chỉ cho Minh vương Bất động, 1 trong 5 vị Đại minh vương của Mật giáo. Bởi vì Minh vương Bất động lấy việc tuyên bố giáo lệnh của đức Như lai làm bản thệ, cho nên được gọi là Như lai sứ giả. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 5, thì Bất động Minh vương Như lai sứ giả là người hầu và làm các việc do đức Như lai sai bảo. Ngoài ra, các kinh và nghi quĩ, khi nói về Minh vương Bất động thì phần nhiều cũng gọi là Như lai sứ giả. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1].
như lai thiền
Tathàgata's meditation.
; (如來禪) I. Như Lai Thiền. Chỉ cho Thiền định của Phật địa, là 1 trong 4 loại thiền, có xuất xứ từ phẩm Tập nhất thiết pháp trong kinh Đại thừa nhập lăng già quyển 3. Tức là thiền định tiến vào đất Như lai, chứng được 3 thứ vui của Thánh trí, thị hiện diệu dụng rộng lớn không thể nghĩ bàn làm lợi ích cho chúng sinh. II. Như Lai Thiền. Một trong 5 loại thiền(Ngũ vị thiền). Trong Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng, phần 1, ngài Tông mật chia thiền định làm 5 loại, trong đó, loại thứ 5 Tối thượng thừa thiền được gọi là Như lai thanh tịnh thiền, gọi tắt là Như lai thiền, cũng gọi Nhất hạnh tam muội, Chân như tam muội. Chỉ thú của loại thiền này là trực ngộ tâm mình xưa nay vốn thanh tịnh, không có phiền não, đầy đủ trí tính vô lậu. Tâm thanh tịnh này không khác với Phật, tâm này tức là Phật, vì thế nên ngài Tông mật gọi đó là Như lai thanh tịnh thiền và cho đó là thiền do môn hạ Tổ Đạt ma trao truyền cho nhau. Nhưng từ giữa đời Đường trở về sau, Thiền tông nhân thịnh hành các phương thức bất lập văn tự, kiến tính thành Phật, như đánh hét, tọa thiền... trong việc tiếp hóa người học; thêm nữa, đương thời Như lai thiền lại bị kẹt vào danh tướng nghĩa giải mà không đạt đến mùi vị thiền chân thực do Tổ sư Đạt ma từ Ấn độ truyền sang. Vì thế, Thiền sư Tuệ tịch ở Ngưỡng sơn mới lập ra tên gọi Tổ sư thiền, lấy đây làm tâm ấn do Tổ Đạt ma truyền, biểu thị ý nghĩa các Tổ sư dùng tâm ấn tâm trao truyền cho nhau để phân biệt với các loại thiền khác trong nội giáo. [X. chương Ngưỡng sơn Tuệ tịch trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.11]. (xt. Ngũ Vị Thiền, Tổ Sư Thiền).
như lai thiệt bồ tát
Tathāgata-jihva (S)Tên một vị Bồ tát.
; (如來舌菩薩) Như lai thiệt, Phạm:Tathàgata-jihva. Hán âm: Đát tha nga tha nhĩ ha phạ. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 6 phía nam đức Phật trong nội viện Thích ca trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo; cũng là vị Bồ tát ở viện Biến tri trong Thai tạng đồ tượng và trong Mạn đồ la do A xà lê truyền. Vị tôn này chủ về tướng lưỡi thuyết pháp của đức Phật, thường biểu hiện đức chân thực ngữ. Mật hiệu là Biện thuyết kim cương. Tuy nhiên, vị tôn này và bồ tát Như lai biện thuyết là 2 vị khác nhau. Trong Hiện đồ Mạn đồ la, hình tượng vị tôn này toàn thân màu da người, ngồi bán già trên hoa sen đỏ, bàn tay phải duỗi thẳng và ngửa lên, đặt ở trước ngực; bàn tay trái dựng đứng, dùng ngón cái và ngón trỏ cầm hoa sen nở, trên hoa sen để cái lưỡi (thiệt), trên lưỡi có ánh lửa sáng. Chủng tử là (ji), hình Tam muội da là lưỡi trên hoa sen. Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4, thì ấn khế của vị tôn này là co 2 ngón vô danh(nhị thủy luân), dùng 2 ngón cái(nhị không luân)chập lại đưa vào lòng bàn tay, ngón cái đè lên móng tay của 2 ngón vô danh. Nhị thủy (2 ngón vô danh) trong ấn khế biểu thị nghĩa nói năng, đưa vào trong lòng bàn tay biểu thị nghĩa vào tự môn chữ (a); dùng nhị không(2 ngón cái)đè lên trên nhị thủy biểu thị nghĩa đại không. Chân ngôn là: Qui mệnh Đát tha nghiệt đa (Tathàgata,Như lai) nhĩ ha phạ (jihva,thiệt) tát để dã (satya, chân thực) đạt ma (dharma,pháp) bát la để sắt sỉ đa (pratiwỉhita,tính) sa ha (svàhà,thành tựu). [X. Đại nhật nghĩa kinh thích Q.10].
như lai thân
Tathāgatakāya (S), Heart of Tathāgata.
; Tathàgata-kàya (S). Body of Tathàgata.
như lai thân hội
(如來身會) Hội Như lai thân. Hội này nói rõ nghĩa tu hành đắc quả của 13 đại hội thuộc Thai tạng giới, Mật giáo. Vì hội này kết tụng 25 ấn khế và chân ngôn đầy đủ tam mật Như lai, cho nên gọi là Như lai thân hội. Hội này gồm có 25 ấn khế và chân ngôn thuộc viện Biến tri, đó là: Đại tuệ đao, Đại pháp hoa, Liên hoa tọa, Kim cương đại tuệ, Như lai đính, Như lai đính tướng, Hào tướng tạng, Đại bát, Thí vô úy, Dữ mãn nguyện, Bi sinh nhãn, Như lai sách, Như lai tâm, Như lai tề, Như lai yêu, Như lai tạng, Phổ quang, Như lai giáp, Như lai thiệt, Như lai ngữ, Như lai nha, Như lai biện thuyết, Như lai trì thập lực, Như lai niệm xứ và Nhất thiết pháp bình đẳng khai ngộ. Có thuyết cho rằng: Nhập Phật tam muội, Pháp giới sinh, Chuyển pháp luân v.v... cũng thuộc về hội Như lai thân. [X. phẩm Mật ấn kinh Đại nhật Q.4]
như lai thí nguyện bồ tát
(如來施願菩薩) Vị Bồ tát ngồi ở viện Biến tri trong Thai tạng đồ tượng và trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Hình tượng vị tôn này ngồi bán già trên tòa sen, tay phải rủ xuống kết ấn Thí nguyện; tay trái cầm hoa sen, trên hoa có tướng của ấn Thí nguyện, chung quanh ấn có ánh lửa sáng.
như lai thương khư bồ tát
(如來商佉菩薩) Như lai thương khư, Phạm: Tathàgatazaíkha#. Hán âm: Đát tha nghiệt đa thương khư. Cũng gọi: Như lai pháp loa bồ tát, Pháp loa bồ tát, Cát tường thương khư bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở viện Biến tri trong Thai tạng đồ tượng và trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Trong Thai tạng đồ tượng, hình tượng vị tôn này ngồi bán già trên hoa sen, khuỷu tay phải dựng thẳng hướng ra phía trước, ngón cái và ngón trỏ duỗi thẳng, 3 ngón kia thì co lại; tay trái nắm để ở trước ngực, cầm hoa sen, trên hoa sen đựng 1 cái vỏ ốc, trên vỏ ốc có ánh lửa sáng. Chủng tử là (aô), tức là trên chữ (a) biểu thị nghĩa vốn chẳng sinh, thêm ở phía trên 1 dấu chấm Đại không biểu thị nghĩa trùm khắp hết thảy chỗ, thành là thể tính của Niết bàn đại tịch. Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4 thì ấn khế của vị tôn này là Hư tâm hợp chưởng, co 2 ngón trỏ, lấy 2 ngón cái vắt tréo lên đó. Chân ngôn là: Qui mệnh ám (aô,chủng tử). [X. Đại nhật kinh sớ Q.13].
như lai thường trú
The Tathàgata is eternal, always abiding.
như lai thược khất để
(如來鑠乞底) Thước khất để, Phạm: Zakti. Hán dịch: Sóc(cây giáo ngắn). Cũng gọi Như lai sóc, Như lai sóc bồ tát.Vị Bồ tát ngồi ở viện Thích ca trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo, chủ về đức phương tiện bảo hộ chúng sinh của Như lai. Mật hiệu là Chúng hành kim cương. Hình tượng vị tôn này thân màu da người, ngồi bán già trên tòa sen, tay phải cầm cây giáo hướng ra ngoài, tay trái nắm lại đặt ở eo. Chủng tử là (za), hình Tam muội da là cây giáo. Về hình tượng của của vị Bồ tát này còn nhiều thuyết khác nhau. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.5, 6; Bí tạng kí].
như lai thất, y, tọa
The abode of the Tathàgata.
như lai thần bồ tát
(如來唇菩薩) Vị Bồ tát ở viện Biến tri trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Trong phẩm Mật ấn của kinh Đại nhật quyển 4, có nêu ra ấn minh của bồ tát Như lai ngữ môn và bảo rằng ấn minh này được kết tụng trong hội Như lai thân thuộc pháp tu Thai tạng giới. Ngữ môn tức chỉ cho miệng, vì vậy, bồ tát Như lai ngữ môn còn được gọi là Như lai khẩu bồ tát. Thần(môi) cũng hàm ý là ngữ môn, mà trong viện Biến tri của Mạn đồ la do A xà lê truyền lại cùng lúc nêu ra 2 vị Bồ tát là Như lai khẩu và Như lai thần, thì thật khó mà phân biệt được sự sai khác giữa 2 vị tôn này. (xt. Như Lai Ngữ Bồ Tát).
Như Lai Thập Hiệu
(如來十號): xem Thập Hiệu (十號) bên dưới.
như lai thập lực sinh chấp kim cương
(如來十力生執金剛) Vị Chấp kim cương nội quyến thuộc của Thuyết hội mạn đồ la nói trong kinh Đại nhật, Mật giáo, 1 trong 19 Chấp kim cương. Vị Chấp kim cương này coi về Trí phương tiện hậu đắc của đức Như lai. Trí này là quyền trí phương tiện hóa tha do 10 trí lực của Như lai sinh ra, vì thế mà vị tôn này được gọi là Như lai thập lực sinh. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1]
như lai thắng đức lục nghĩa
(如來勝德六義) Sáu nghĩa thắng đức của Như lai. 1. Nghĩa tự tính: Pháp thân của chư Phật đều nương vào lí thể chân như làm tự tính. 2. Nghĩa nhân: Chư Phật trong vô lượng vô số kiếp đã tu tập nhân của thắng quả. 3. Nghĩa quả: Chư Phật đã vĩnh viễn đoạn trừ hết thảy phiền não chướng và chứng được quả Bồ đề vô thượng. 4. Nghĩa nghiệp: Chư Phật dùng thân nghiệp thanh tịnh thị hiện thần thông lớn, dùng khẩu nghiệp thanh tịnh diễn nói Chính pháp, dùng ý nghiệp thanh tịnh khéo điều phục để dắt dẫn chúng sinh ra khỏi biển khổ sinh tử, chứng nhập Đại bồ đề. 5. Nghĩa tương ứng: Trong nhân vị... , chư Phật đã tu tập nhiều hạnh khổ khó làm, cho nên thành tựu được các công đức Thập lực, Tứ vô sở úy... mà tương ứng với lí pháp tính. 6. Nghĩa sai biệt: Chư Phật nói pháp giáo hóa chúng sinh, tùy nơi mà thị hiện tướng sai biệt của 3 thân: Pháp thân, Báo thân, Ứng thân.
như lai thị giáo thắng quân vương kinh
(如來示教勝軍王經) Cũng gọi Thắng quân vương kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này tường thuật lúc đức Phật trụ ở vườn Cấp cô độc, rừng Thệ đa, thành Xá vệ, chỉ dạy đường lối trị nước theo chính pháp cho vua Thắng quân (tức Ba tư nặc) như áp dụng 4 việc bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự để thu phục các quan và dân chúng. Đức Phật còn nêu các sự kiện như già, bệnh, chết, suy hao... để khuyên tu các pháp quán trọng yếu như quán vô thường, quán tận diệt, cho đến việc hộ trì Phật pháp, nguyện cầu chính pháp Thánh tuệ... Tóm lại, tư tưởng trong toàn bộ kinh phần nhiều thuộc Tục đế môn, là tư tưởng của luận A tì đạt ma Tiểu thừa. Bản dịch khác của kinh này là Phật thuyết Thắng quân vương sở vấn kinh, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.11].
như lai thức
Xem Vô cấu thức.
như lai thừa
Tathāgayāna (S).
; Tathৡta-yàna (S). Tathàgata-vehicle, or means of salvation.
như lai tiến bồ tát
Tathāgata-hasa (S)Tên một vị Bồ tát.
như lai tiếu bồ tát
(如來笑菩薩) Như lai tiếu, Phạm: Tathàgata-hàsa. Hán âm: Đát tha nga tha ha sa. Vị Bồ tát ngồi ở phía cực nam trong nội viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Vị tôn này vốn là tướng răng của đức Như lai, biểu thị cho cái đức hoan hỉ của Ngài, tương đương với bồ tát Như lai thần (môi)hoặc bồ tát Như lai khẩu(miệng)ở viện Biến tri trong Mạn đồ la do A xà lê truyền. Mật hiệu là Hoan hỉ kim cương, Phá nhan kim cương. Hình tượng vị tôn này toàn thân màu da người, ngồi xếp bằng trên hoasen đỏ, miệng mở răng lộ, cánh tay phải giơ lên, lòng bàn tay úp xuống, đặt ở gần miệng; tay trái nắm lại để ở cạnh eo, cầm hoa sen nở. Chủng tử là (hà) hoặc (ha#). Hình tam muội da là hoa sen nở. Ấn khế và chân ngôn thì dùng ấn khế và chân ngôn của bồ tát Kim cương tiếu. (xt. Như Lai Thần Bồ Tát). NHƯ LAI TRANG NGHIÊM TRÍ TUÊ QUANG MINH NHẬP NHẤT THIẾT PHẬT CẢNH GIỚI KINH Cũng gọi Như lai nhập nhất thiết Phật cảnh giới kinh, Trí tuệ trang nghiêm kinh, Như lai trang nghiêm Phật cảnh giới kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Đàm ma lưu chi dịch vào năm Cảnh minh thứ 2(501) đời Bắc Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung kinh này tường thuậtviệc đức Phật tuyên thuyết pháp bất sinh bất diệt, mở bày bản nghĩa pháp thân Như lai, đạo lý phương tiện thị hiện và đại dụng tùy cơ giáo hóa; đồng thời, nói rõ về nghĩa bồ đề và hạnh Bồ tát cho Đồng chân Diệu cát tường (Văn thù sư lợi)nghe. Kinh này còn có 3 bản dịch khác là: 1. Đại thừa nhập chư Phật cảnh giới trí quang minh trang nghiêm, do ngài Pháp hộ dịch vào đời Tống. 2. Độ nhất thiết chư Phật cảnh giới trí nghiêm kinh. 3. Bản dịch tiếng Tây tạng. Trong các bản dịch trên, bản của ngài Hộ pháp có nội dung rộng nhất, còn bản Độ nhất thiết chư Phật cảnh giới trí nghiêm kinh thì vắn tắt hơn cả và rất gần với nguyên bản.[X. Ancient Khotan, Plate CIX].
như lai trang nghiêm trí huệ quang minh nhập nhất thiết phật cảnh giới kinh
Ju-lai chuang-yen chih-hui kuang-ming ju i-chieh fo-ching-chieh ching (C).
như lai trí
Xem Phật huệ.
như lai tàng
Xem Như lai tạng.
như lai tâm bồ tát
(如來心菩薩) Vị Bồ tát ngồi ở viện Biến tri trong Thai tạng đồ tượng và trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Hình tượng vị tôn này đầu đội mũ báu, mình mặc áo yết ma, 2 tay ngửa lên đặt ở trước rốn, cầm hoa sen, trên hoa có hạt châu biểu thị cho tâm nguyệt luân(tròn sáng như mặt trăng). Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4, thì ấn khế của vị tôn này là Nội phược quyền, ngón trỏ tay phải dựng thẳng, lóng thứ 3 của ngón giữa hơi co làm thành hình móc câu. Chân ngôn là: Qui mệnh nhưỡng nộ ôn bà phạ (oô, jĩànudbhava, trí sinh) sa ha (svàhà, thành tựu). [X. Đại nhật kinh sớ Q.13].
như lai tâm kinh
(如來心經) Cũng gọi Phật đính phóng vô cấu quang minh nhập phổ môn quán sát nhất thiết Như lai tâm đà la ni kinh, Quán sát nhất thiết Như lai tâm đà la ni kinh, Phật đính phóng vô cấu quang minh kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào năm Thái bình hưng quốc thứ 5 (980) đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật ở trên cung trời Đâu suất giảng nói về quả báo của 6 pháp Ba la mật. Lúc đó, tại cung trời Đao lợi, Thiên tử Ma ni tạng vô cấu nằm mộng được Cự khẩu thiên dạ xoa báo cho biết 7 ngày nữa sẽ chết và đọa địa ngục chịu khổ. Thiên tử hoảng sợ, đến cầu cứu trời Đế thích và cùng nhau đến chỗ đức Phật, Phật bèn vì họ mà tuyên thuyết Phật đính phóng vô cấu quang minh nhập phổ môn quán sát nhất thiết Như lai tâm đà la ni và bảo họ trì tụng Đà la ni này sẽ được các công đức thù thắng chẳng thể nghĩ bàn. Tiếp sau, Phật lại dạy nghi tắc để thành tựu Đà la ni này. Ngoài ra, duyên do Phật nói kinh này cũng hơi giống với duyên do Phật nói Tôn thắng đà la ni, tức Đà la ni chuyên dùng để cầu tiêu tai, sống lâu và được lưu truyền rất rộng.
như lai tê bồ tát
(如來臍菩薩) Vị Bồ tát ngồi ở viện Biến tri trong Thai tạng đồ tượng và trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Hình tượng của vị tôn này ngồi bán già trên tòa sen, tay phải đặt trên đầu gối, bàn tay úp và rủ xuống, kết ấn Xúc địa(chạm đất); tay trái để trước ngực cầm hoa sen, trên hoa sen có 1 vật hình tròn như quả cầu(biểu trưng cho cái rốn – tề). Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4 và Quảng đại nghi quĩ quyển thượng, thì ấn khế của vị tôn này là Nội phược quyền, bàn tay phải duỗi, ngón trỏ và ngón giữa hơi co. Chân ngôn là: Qui mệnh a một lật đổ ôn bà phạ (amfitodbhava,cam lộ sinh) sa ha (svàhà,thành tựu). [X. Đại nhật kinh sớ Q.13].
như lai tính
Buddhatà (S). The nature of Tathàgata. Buddhahood.
như lai tại triền
The Tathàgata in bonds, i.e. limited and subject to the delusions and sufferings of life. Như lai xuất triền: unlimited and free from them.
Như Lai tạng
如來藏; S: tathāgata-garbha;|Nghĩa là cái gốc, nơi xuất xứ của Như Lai; quan điểm Ðại thừa, chỉ mỗi chúng sinh đều chứa Pháp thân (s: dharmakāya, Ba thân) trong thân mình, chứa khả năng thành Phật, khả năng Giác ngộ. Trong các kinh Ðại thừa, Như Lai tạng đồng nghĩa với Phật tính, Pháp giới, Chân như.
như lai tạng
Tathāgatagarbha (S), deshin shekpai nying po (T), Āmra-vijāna (S), Deshin shekpai nying po (T), Nyorai-zō (J)Thanh tịnh thức, vô cấu thức, chơn như thức, bạch tịnh thức, Như lai tàng, Am ma la thứcCái thức của Như lai, Phật thức. Thức thứ chín, vốn trong sạch, không ô nhiễm, tức là chơn tâm thường trụ từ vô thuỷ của chúng sanh. A ma la thức là phần thanh tịnh của A lại da thức. (Pháp tánh tông gọi thức này là thức thứ chín, tức là Như Lai thức) Xem Am một la.
; Tathàgata-garbha (S). The Tathàgata womb or store.
; The Tathagata-nature, which is the fundamental universal nature possessed by all the living. Chánh Pháp Tạng: Pháp giới tạng—The source or treasury of all right laws and virtues. Pháp Thân Tạng: The storehouse of the dharmakaya obtained by all saints. Xuất Thế Tạng: Xuất thế gian thượng thượng tạng—The eternal spiritual nature, free from earthly errors. Tự Tánh Thanh Tịnh Tạng: The storehouse of the pure Buddha-nature.
; (如來藏) I. Như Lai Tạng. Phạm: Tathàgata-garbha. Chỉ cho pháp thân Như lai xưa nay vốn thanh tịnh(tức là tự tính thanh tịnh)ẩn tàng trong thân phiền não của hết thảy chúng sinh, nhưng không bị phiền não làm ô nhiễm, bản tính vẫn tuyệt đối thanh tịnh và vĩnh viễn bất biến. Mặt khác, tất cả hiện tượng ô nhiễm và thanh tịnh đều duyên theo Như lai tạng mà sinh khởi, gọi là Như lai tạng duyên khởi. Trong các kinh luận, tư tưởng này thường được dùng để nói rõ về ý nghĩa mê và ngộ đối lập trong con người. Chương Pháp thân trong kinh Thắng man (Đại 12, 221 hạ) nói: Pháp thân Như lai không lìa phiền não tạng, gọi là Như lai tạng. Kinh Đại phương đẳng Như lai tạng cũng nêu 9 thí dụ như: Trong hoa sen có hóa Phật, mật ngọt trong rừng rậm, vàng ròng rơi vào chỗ nhơ bẩn, tượng vàng bọc trong giẻ rách, cô gái nghèo hèn mang thai quí tử... để giải thích rõ ý nghĩa Như lai tạng ẩn giấu trong phiền não. Theo phẩm Như lai tạng trong luận Phật tính quyển 2, thì Tạng có 3 nghĩa: 1. Sở nhiếp tạng: Hết thảy chúng sinh đều được thu nhiếp vào trong trí Như lai. 2. Ẩn phú tạng: Pháp thân Như lai bất luận ở nhân vị hay quả vị đều không thay đổi, nhưng chúng sinh bị phiền não che lấp nên chẳng thấy được. 3. Năng nhiếp tạng: Quả đức Như lai đều thu nhiếp trong tâm phàm phu. Còn theo phẩm Tự thể tướng của luận Phật tính quyển 2 và chương Tự tính thanh tịnh trong kinh Thắng man, thì Tạng có 5 nghĩa là: Tự tính, nhân, chí đắc, chân thực và bí mật. 1. Tự tính: Muôn vật đều là tự tính Như lai, đó là nói theo nghĩa tự tính, nên gọi là Như lai tạng. 2. Nhân...: Tạng này là đối cảnh do Thánh nhân tu hành Chính pháp mà sinh ra, đó là nói theo nghĩa trở thành nhân của cảnh giới, nên gọi là Chính pháp tạng, hoặc Pháp giới tạng. 3. Chí đắc: Tin tưởng tạng này có thể đạt được quả đức pháp thân Như lai, đó là nói theo nghĩa chí đắc(đạt được), nên gọi là Pháp thân tạng. 4. Chân thực: Tạng này vượt ra ngoài tất cả sự hư dối của thế gian, đó là nói theo nghĩa chân thực nên gọi là Xuất thế tạng, hoặc Xuất thế gian thượng thượng tạng. 5. Bí mật: Tất cả pháp nếu thuận theo tạng này thì được thanh tịnh, trái lại thì trở thành ô trọc, đó là nói theo nghĩa bí mật, nên gọi là Tự tính thanh tịnh tạng. Năm tạng nêu trên được gọi là Ngũ chủng tạng.Theo Đại thừa chỉ quán pháp môn quyển 1, thì Tạng có 3 nghĩa: Năng tàng, Sở tàng và Năng sinh. Viên giác kinh lược sớ quyển thượng thì nêu 3 nghĩa: Ẩn phú, Hàm nhiếp và Xuất sinh, gọi là Tam chủng Như lai tạng. Lại theo chương Không nghĩa ẩn phú chân thực trong kinh Thắng man, thì Như lai tạng có thể chia làm 2 loại: 1. Như lai tạng vượt ngoài phiền não, hoặc chẳng giống với phiền não, cũng tức trong Như lai tạng, phiền não là không, gọi là Không như lai tạng. 2. Như lai tạng đầy đủ tất cả pháp mà chẳng lìa, chẳng thoát, chẳng khác với phiền não, đây tức là Bất không Như lai tạng. Lại nữa, theo chương Pháp thân kinh Thắng man, thì Như lai tạng còn có thể chia làm 2 loại: 1. Tại triền: Ở trong trạng thái bị phiền não trói buộc(triền), bao hàm Không như lai tạng và Bất không như lai tạng. 2. Xuất triền: Trạng thái đã thoát ra khỏi sự trói buộc(xuất triền)của phiền não. Theo luận Đại thừa khởi tín thì Chân như có 2 mặt là Như thực không và Như thực bất không. Thể tướng của giác nếu được ví dụ bằng 4 tấm gương thì tức là: 1. Gương Như thực không: Tức Không như lai tạng. 2. Gương Nhân huân tập: Tức Bất không như lai tạng. 3. Gương Pháp xuất li. 4. Gương Duyên huân tập. Hai ví dụ trước là Tại triền, 2 ví dụ sau là Xuất triền. Luận Thích ma ha diễn quyển 2 qui nạp các thuyết kể trên mà lập ra 10 loại Như lai tạng: Đại tổng trì Như lai tạng, Viễn chuyển viễn phược Như lai tạng, Dữ hành dữ tướng Như lai tạng, Chân như chân như Như lai tạng, Sinh diệt chân như Như lai tạng, Không Như lai tạng, Bất không Như lai tạng, Năng nhiếp Như lai tạng và Ẩn phú Như lai tạng. Có thuyết cho Như lai tạng, thức A lại da và thức A ma la(thức thứ 9)là một. Như kinh Nhập lăng già quyển 7 (Đại 16, 556 trung) nói: Thức A lê da gọi là Như lai tạng và cùng có với 7 thức vô minh và (Đại 16, 556 hạ) nói: Thức Như lai tạng không ở trong thức A lê da, cho nên 7 thứ thức có sinh có diệt, mà thức Như lai tạng thì không sinh không diệt. Như lai tạng nói ở đây tức là thức A ma la. Tại Ấn độ, tư tưởng Như lai tạng được thành lập sớm hơn thuyết Duy thức và khác với tư tưởng của Trung quán, Duy thức. Nhưng người đời sau không lập riêng Như lai tạng ngoài thuyết Duy thức, mà lại bàn về Như lai tạng trong thuyết Duy thức. Còn ở Trung quốc thì tông Địa luận cho Như lai tạng là cứu cánh, rồi lập ra thuyết Tịnh thức duyên khởi. Tông Thiên thai thì cho rằng Như lai tạng tức là Thực tướng và coi là diệu pháp bất khả tư nghị. Trong khởi tín luận nghĩa kí quyển thượng, ngài Pháp tạng –Tổ thứ 3 tông Hoa nghiêm– có lập giáo phán 4 tông, trong đó tông thứ 4 tức là tông Như lai tạng duyên khởi. Nội dung tông này bao hàm những học thuyết của các kinh luận như Lăng già, Mật nghiêm, Khởi tín, Bảo tính v.v... Nói theo Ngũ giáo phán của tông Hoa nghiêm thì tông Như lai tạng duyên khởi tương đương với Chung giáo thứ 3. Ngoài ra, những gì được nói trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, chính đã căn cứ vào tư tưởng Như lai tạng mà có vậy.[X. kinh Đại bát niết bàn Q.7 (bản Bắc); kinh Lăng già a bạt đa la bảo Q.2, 4; kinh Nhập lăng già Q.1; kinh Đại thừa mật nghiêm Q.hạ; kinh Đại bát nhã Q.578; kinh Vô thượng y Q.thượng; luận Kim cương tiên Q.5; Đại trí độ luận sớ Q.14; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.1, 3, phần cuối; Tứ phần luật sớ sức tông kí Q.3, phần đầu]. (xt. Thí Dụ). II. Như Lai Tạng. Chỉ cho tất cả tạng kinh do đức Phật tuyên thuyết. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 1 (Đại 2, 550 hạ) nói: Người nào chuyên tâm trì tụng kinh Tăng nhất tức là tổng trì Như lai tạng.
như lai tạng duyên khởi
(如來藏緣起) Cũng gọi Chân như duyên khởi. Chỉ cho tâm tự tính thanh tịnh của Như lai tạng sinh khởi hết thảy muôn pháp, loại thứ 3 trong 4 loại duyên khởi. Tư tưởng Duyên khởi luận này được nói rõ ràng trong kinh Lăng già và kinh Mật nghiêm. Nghĩa là Như lai tạng 1 mặt thường trụ bất biến, đồng thời, mặt khác, lại tùy duyên khởi động mà biến sinh ra muôn vật. Tiến trình Như lai tạng tùy duyên khởi động là: Trước hết, nhất tâm của Như lai tạng bị ác tập của vô minh từ vô thủy đến nay huân tập(xông ướp)mà thành thức A lại da(Tàng thức), kế đó là từ Tạng thức hiện khởi muôn vật, nhưng bản tính của Như lai tạng vẫn không bị tổn hại, mà lại trở thành mối quan hệ Như lai tạng là thể, còn Tàng thức là tướng. Lại nữa, thực thể của Như lai tạng có 2 nghĩa Chân như môn và Sinh diệt môn. Đứng về phương diện Chân như môn mà nói, thì thể của Như lai tạng là nhất vị bình đẳng, tính không sai khác; còn đứng về phương diện Sinh diệt môn mà bàn, thì Như lai tạng tùy duyên nhiễm tịnh mà sinh khởi các pháp, như theo duyên nhơ nhớp mà sinh ra 6 đường, theo duyên trong sạch mà biến hiện ra 4 Thánh v.v... [X. kinh Nhập lăng già Q.1, 2, 7; kinh Đại thừa mật nghiêm Q.hạ; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung, phần đầu]. (xt. Tứ Chủng Duyên Khởi).
như lai tạng kinh
(如來藏經) Kinh, 1. Có 2 bản dịch ra chữ Hán. 1. Đại phương đẳng Như lai tạng kinh, do ngài Phật đà bạt đà la (Phạm: Buddhabhadra, Giác hiền – 359-429) dịch vào năm Nguyên hi thứ 2 (420) đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 16. 2. Đại phương quảng Như lai tạng kinh, do ngài Bất không Kim cương (Phạm: Amoghavajra, 705-774) dịch vào khoảng năm Đại lịch (746-771), đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Hai bản dịch trên đây chỉ khác nhau chút ít, nhưng nội dung bản dịch của ngài Bất không tương đối phong phú và rõ ràng hơn bản dịch của ngài Phật đà bạt đà la. Ngoài ra, hiện còn có bản dịch Tây tạng. Kinh này có 4 lần được dịch ra chữ Hán, nhưng hiện nay chỉ còn bản dịch thứ 3 và thứ 4. Bản đầu tiên do ngài Pháp cự dịch vào đời Tây Tấn, cứ đó suy ra ta có thể biết kinh Như lai tạng đã được truyền vào Trung quốc khoảng thế kỉ III Tây lịch. Vì kinh này giải thích rõ về Như lai tạng (Phạm: Tathàgata-garbha) nên gọi là Như lai tạng kinh. Nội dung nói rõ mặc dù chúng sinh sống trong phiền não khổ đau, nhưng Như lai tạng cũng không vì thế mà bị nhiễm ô; đồng thời, dùng 9 thứ thí dụ để thuyết minh tự tính thanh tịnh của Như lai tạng. Phần thí dụ này chiếm phần lớn bộ kinh. Về hình thức thì sau mỗi đoạn văn trường hàng(văn xuôi)đều có kệ trùng tụng (văn vần lập lại ý chính trong đoạn văn xuôi). Nội dung kinh chỉ nhấn mạnh đến Như lai tạng chứ không nói rõ về mối quan hệ giữa Như lai tạng và thức A lại da. Cứ theo hình thức nội dung và niên đại phiên dịch mà suy đoán, thì kinh này là tác phẩm xuất hiện sớm nhất trong số các kinh luận nói về Như lai tạng. Ý chỉ nòng cốt: Như lai tạng của hết thảy chúng sinh là thường trụ bất biến trong kinh này sau được kinh Niết bàn kế thừa và triển khai thành thuyết Hết thảy chúng sinh đều có Phật tính.
như lai tạng tánh
The natures of all the livings are the nature of Tathàgata
như lai tạng tâm
Tathāgatagarbha-hṛidaya (S), Gem of Tathāgata.
; Tathàgata-garbha-hrdaya (S). Heart of Tathàgata.
như lai tạng tính
(如來藏性) Tự tính của hết thảy chúng sinh đều ẩn chứa công đức của Như lai. Du già luận kí quyển 20 (Đại 42, 764 thượng) ghi: Kinh Lăng già nói: Như lai tạng tính đầy đủ hết thảy công đức nhiều như số cát sông Hằng, vốn đã tự có chứ chẳng phải đến nay mới có. (...) Còn kinh Hoa nghiêm thì nói: Phật tử! Hết thảy chúng sinh đều có Như lai tạng tính Phật, đầy đủ mọi công đức.
như lai từ bồ tát
Tathāgata-maitrī (S)Tên một vị Bồ tát.
; (如來慈菩薩) Như lai từ, Phạm: Tathàgata-maitrì. Hán âm: Đát tha nga đa muội để lợi. Vị Bồ tát ngồi ở phía cực bắc trong nội viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Vị tôn này biểu thị tâm Từ vô lượng trong 4 tâm vô lượng(từ, bi, hỉ, xả)của đức Phật. Mật hiệu là Hộ niệm kim cương. Hình tượng vị tôn này toàn thân màu da người, khoác áo choàng, tréo chân ngồi trên lá sen, mặt xoay về phía trái, 2 tay cầm lá sen, trên lá sen có đựng hoa sen…………. Chủng tử là (mai). Hình Tam muội da là hoa sen trên lá sen, hoặc là châu như ý. Ấn khế là Phổ thông hợp chưởng(cũng gọi ấn Phổ thông). Chân ngôn là chân ngôn Từ vô lượng tâm: Án (oô,qui mệnh) ma hạ (mahà,đại) muội đát la dạ (màitràyà,từ) sa phả la (sphàra,phổ cập khoáng đại).
như lai xả bồ tát
Tathagatopeksa (S)Tên một vị Bồ tát.
; (如來捨菩薩) Như lai xả, Phạm: Tathàgatopekwà. Hán âm: Đát tha nga đa ô bế khất sái. Vị Bồ tát ngồi ở phía cực bắc trong ngoại viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Vị tôn này biểu thị tâm Xả vô lượng trong 4 tâm vô lượng(từ, bi, hỉ, xả)của đức Phật. Mật hiệu là Bình đẳng kim cương. Hình tượng vị tôn này toàn thân màu da người, tréo chân ngồi trên lá sen, bàn tay phải đặt trên bắp đùi, ngón cái hướng vào trong, 4 ngón kia hướng ra ngoài; tay trái cầm hạt châu trắng, mặt hơi nghiêng về phía trái. Chủng tử là (u), hình Tam muội da là hạt châu trắng. Ấn khế là Phổ thông hợp chưởng. Chân ngôn là chân ngôn Xả vô lượng tâm: Án (oô,qui mệnh) ma hộ bế khất sái (mahopekwà,đại xả) sa phả la (sphàra, phổ cập khoáng đại).
như lai yêu bồ tát
(如來腰菩薩) Vị Bồ tát ngồi ở viện Biến tri trong Thai tạng đồ tượng và Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Trong Thai tạng đồ tượng, hình tượng vị tôn này ngồi xếp bằng trên hoa sen, tay phải ngửa lên đặt trên bắp đùi, tay trái để ở chỗ eo, cầm hoa sen, trên hoa sen có 1 vật giống cái vòng. Về ấn khế của vị tôn này thì các kinh và nghi quĩ nói đều khác nhau. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 13 thì ấn khế của vị tôn này là ấn của Như lai câu, ngón trỏ ở trong, duỗi ngón vô danh. Chân ngôn là: Qui mệnh đát tha nghiệt đa (tathàgata, Như lai) tam bà phạ (sambhava,sinh) sa ha (svàhà,thành tựu). [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật Q.4].
như lai đao bồ tát
(如來刀菩薩) Vị Bồ tát được bày ở viện Biến tri trong đồ tượng Thai tạng trên Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Đây chính là vị tôn lấy ấn minh Đại tuệ đao làm tự nội chứng được nói trong phẩm Mật ấn kinh Đại nhật quyển 4 vậy. Đại tuệ đao(Dao tuệ lớn)ví dụ trí tuệ sắc bén, có khả năng chặt đứt tất cả phiền não. Hình tượng vị tôn này ngồi xếp bằng trên hoa sen, tay phải cầm thanh kiếm, bàn tay trái ngửa lên để ở trước rốn, các ngón cái, ngón giữa, ngón vô danh và ngón út hơi co lại. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13].
như lai đỉnh bồ tát
(如來頂菩薩) Vị Bồ tát được bày trong việc Biến tri trên đồ tượng Thai tạng thuộc Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Hình tượng vị tôn này ngồi xếp bằng trên tòa sen, tay phải úp lên ngực, ngón cái, ngón trỏ duỗi thẳng, co 3 ngón còn lại; tay trái cầm hoa sen để ở chỗ eo, trên hoa có 1 cái vòng, trong vòng có nhiều hạt châu nhỏ, trên vòng có ánh lửa sáng. Ấn khế là Nội phược quyền, 2 ngón giữa dựng đứng, 2 ngón trỏ để dính sát vào lưng 2 ngón giữa, 2 ngón cái duỗi thẳng đè lên 2 ngón giữa. Chân ngôn là: Qui mệnh hồng hồng (hùô hùô). Theo Đại nhật kinh sớ quyển 13 thì chân ngôn này mang ý nghĩa của Tam muội giải thoát. [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật Q.4].
như lai đỉnh tướng
(如來頂相) Một trong những ấn minh của hội Như lai thân pháp trong pháp tu Thai tạng của Mật giáo, biểu thị Vô kiến đính tướng của Như lai. Ấn minh Như lai đính biểu thị tướng Đại nhân đặc biệt tôn quí của đức Phật, còn ấn minh Như lai đính tướng này thì biểu thị thân lượng rộng lớn vô biên của Phật. Cứ theo Thanh long nghi quĩ quyển thượng, thì ấn khế là tay phải nắm lại thành quyền, đặt lên đỉnh đầu để gia trì, như vậy thì tất cả thiên thần đều không thể thấy được đính tướng của Phật. Chân ngôn là: Qui mệnh Già già na a nan đa tát phát ra nễ (gaganànta spharaịa,Hư không vô lượng phổ biến) tì du đà đạt ma nễ xà đa (vizuddha dharma nirjàta,thanh tịnh pháp sinh) sa ha (svàhà, thành tựu). [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.2].
như lai địa
The state or condition of a Tathàgata.
như lai độc chứng tự thệ tam muội kinh
(如來獨證自誓三昧經) Cũng gọi Độc chứng tự thệ tam muội kinh, Như lai tự thệ tam muội kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào năm Thái thủy thứ 2 đến niên hiệu Kiến hưng năm đầu (266-313) đời Tây Tấn, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Độc chứng tự thệ tam muội là tên của đạo tràng, tức là tinh xá Giao lộ trong khu rừng cây ở nước Cú đàm di nơi thủa xưa đức Phật ở. Nội dung kinh này đức Như lai nói về 3 loại nhân duyên trong Phật pháp cho bồ tát Hiền nho nghe, tức là Như lai thụ kí cho 3 hạng người là bậc Đồng chân, Liễu sinh và A duy nhan. Sau đó, đức Như lai lại nói về pháp xuất gia và tuyên bố tôn giả Ma ha Ca diếp đã noi theo sự tự thệ này mà được giới. Các bậc Đồng chân, Liễu sinh và A duy nhan được nói trong kinh này tức tương đương với 3 giai vị thứ 8, thứ 9 và thứ 10 của Bồ tát Thập trụ nói trong kinh Hoa nghiêm. Do đó, tư tưởng về thứ bậc tu hành của các Bồ tát Thập trụ, Thập địa rất được học giả đời sau chú ý. Ngoài ra, kinh này còn có bản dịch khác là: Độc chứng tự thệ tam muội kinh, do ngài An thế cao dịch vào đời Đông Hán. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.6; Đại đường nội điển lục Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].
như lai ấn
Xem Chân Đà ra ni Hào tướng ấn.
như lai ấn bồ tát
(如來印菩薩) Gọi đủ: Nhất thiết Như lai Ấn bồ tát. Vị Bồ tát ở viện Biến tri trong bức vẽ Thai tạng của Mật giáo, tương đương với bồ tát Nhất thiết biến tri ấn của Hiện đồ mạn đồ la. Hình tượng vị Bồ tát này đầu đội mũ, áo trời bay phất phới, 2 tay ngửa lên đặt trên đầu gối, cầm đài sen, ngồi kết già trên tòa sen.
như lung như á
(如聾如啞) Cũng gọi Như lung như manh. Như điếc như câm. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 44 (bản 60 quyển) thì khi đức Phật nói kinh Hoa nghiêm giáo hóa hàng Đại Bồ tát, các vị Thanh văn như ngài Xá lợi phất... tuy ngồi trong pháp hội mà như điếc như câm, không hiểu gì hết, vì giáo thuyết của đức Phật quá cao xa. Bởi lẽ các ngài có tai mà không nghe được giáo lí viên đốn, nên gọi là như điếc; có mắt mà không được thấy sắc thân trang nghiêm của Như lai và không thể ngợi khen, cho nên nói là như mù (manh), như câm. Tóm lại, từ ngữ như lung như á được dùng để ví dụ cho hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác, đối với giáo pháp viên đốn của hàng Bồ tát Đại thừa khó có thể hiểu nổi.[X. phẩm Tính khởi trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ); phẩm Xuất hiện trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.hạ].
như lí sư
(如理師) Phạm:Yathàrthazàstf. Chỉ cho bậc Đại sư nói giáo pháp đúng như thực để cứu độ chúng sinh; là lời gọi tôn kính đối với đức Phật. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 1 thượng) nói: Bậc Nhất thiết trí diệt tối tăm. Vớt chúng sinh khỏi biển sinh tử. Cúi đầu kính lạy Như lí sư Nay con nói luận Đối pháp tạng. Bài kệ trên đây được đặt ở đầu luận Câu xá hiển bày đức độ cao cả, tôn quí của đức Thế tôn, vượt hơn các Thánh chúng, cho nên đối với đức độ của Ngài càng thêm tôn sùng, lễ kính. Ngoài ra, luận Câu xá còn nêu ra các nghĩa của Như lí sư là như thực, không điên đảo, truyền dạy, khuyên răn hết lòng, gọi là Như lí sư. Lời của bậc thầy này biểu hiện đức lợi tha, nói chính giáo đúng như lí để cứu vớt chúng sinh ra khỏi vũng bùn sinh tử. [X. kinh Trường a hàm Q.12; Câu xá luận sớ Q.1].
như lý sư
Yathārthasatṛ (S)Tên một vị sư.
như lư đạt
Jyahroda (S)Một trưởng giả thành Xá vệ.
Như Mẫn
(如敏, Nyobin, ?-920): vị Thiền tăng xuất thân Mân Xuyên (閩川, thuộc Tỉnh Phúc Kiến), sau khi xuất gia ông đến tham yết Trường Khánh Đại An (長慶大安) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến ở tại Linh Thọ Thiền Viện (靈樹禪院) vùng Thiều Châu (韶州, Tỉnh Quảng Đông), rồi được vua nhà Nam Hán quy y theo và ban tặng cho hiệu là Tri Thánh Đại Sư (知聖大師). Ông thị tịch vào năm thứ 4 niên hiệu Càn Hanh (乾亨) nhà Nam Hán.
như ngữ
(如語) Lời nói chân thực không hư dối. Chỉ cho lời như thực, lời đúng như pháp. Kinh Kim cương (Đại 8, 750 trung) chép: Như lai là bậc nói lời chân thực, là bậc nói lời không hư dối, nói lời đúng như pháp.
như như
Tathatà (S). Absolute. Suchness. The real truth of things. Also thật tính.
như như bất động
Bản thể của tự tánh cùng khắp không gian thời gian, chẳng động chẳng tịnh, chẳng biến chẳng dời, chẳng sanh chẳng diệt, gọi là Như như bất động.
Như Như Cư Sĩ
(如如居士, Nyonyo Koji, ?-1212): tức Nhan Bính (顔丙, Ganhei), vị cư sĩ của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, còn gọi là Đơn Hà Tiên Sinh (丹霞先生), xuất thân Thuận Xương (順昌, Tỉnh Phúc Kiến). Ông đến tham vấn Khả Am Huệ Nhiên (可庵慧然) ở Tuyết Phong Sơn (雪峰山) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông hoạt động giáo hóa ở trung tâm Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến) và cử xướng Thiền Tam Giáo Nhất Trí. Vào ngày 15 tháng 6 năm thứ 5 niên hiệu Gia Định (嘉定), ông từ trần. Trước tác của ông hiện có Như Như Cư Sĩ Ngữ Lục (如如居士語錄) 15 quyển, Tam Giáo Đại Toàn Ngữ Lục (三敎大全語錄) 1 quyển.
như như như thuyết
(如如如說) Lời nói xứng hợp hoặc tương ứng với lí Chân như. Chữ như đầu hàm ý là xứng hợp hoặc tương ứng; 2 chữ như như sau chỉ cho lí Chân như. Vì môn Chân như có 2 Như là Thể như và Tướng như, nên ghép lại mà gọi là Như như. Có 1 dụng ngữ cùng loại là Như như pháp thân tức chỉ cho chân lí của Như như. [X. luận Thích ma ha diễn Q.2, phần đầu; Đại nhật kinh sớ Q.1].
như như trí huệ
Nyo-nyo-chi (J).
như như trí pháp thân
Cái thực trí đã chứng ngộ lý như như—The spiritual body of bhutatathata-wisdom (Sambhogakaya). Công đức pháp thân: Hết thảy công đức thành tựu—The spiritual body of all virtuous achievement (Sambhogakaya). Tự pháp thân: Ứng thân—The spiritual body of incarnation in the world (Nirmakaya). Biến hóa pháp thân: The spiritual body of unlimited powers of transformation (Nirmakaya). Hư không pháp thân: Lý như như lìa tất cả tướng cũng như hư không—The spiritual body of unlimited space (Dharmakaya). (B) Theo Kinh Hoa nghiêm—According to the Flower Adornment Sutra: Pháp tánh sanh thân: Thân Như Lai do pháp tánh sanh ra—The body or person of Buddha born from the dharma-nature. Công đức pháp thân: Thân do muôn đức của Như Lai mà hợp thành—The dharmakaya evolved by Buddha-virtue, or achievement. Biến hóa pháp thân: Thân biến hóa vô hạn của Như Lai, hễ có cảm là có hiện, có cơ là có ứng—The dharmakaya with unlimited powers of transformation. Thực tướng pháp thân: Thực thân hay thân vô tướng của Như Lai—The real dharmakaya. Hư không pháp thân: Pháp thân Như Lai rộng lớn tràn đầy khắp cả hư không. Pháp thân của Như Lai dung thông cả ba cõi, bao trùm tất cả các pháp, siêu việt và thanh thịnh—The universal dharmakaya. The dharmakaya as being like space which enfolds all things, omniscient and pure. ** For more information, please see Ngũ Phần Pháp Thân and Ngũ Thân.
như như tính
Citaprakṛtiprabhāsvara (P)(Thích Tâm Thiện, Tàng thức, Lotusnet).
như pháp
(nói về thức ăn): nghĩa là những món ăn mà các vị tỳ-kheo có thể thọ dụng đúng như giới luật chế định.
; According to the Law, according to rule.
; (如法) Chỉ cho sự thuận theo giáo pháp do đức Phật nói ra mà không chống trái; cũng chỉ cho sự phù hợp với đạo lí chân chính. Trong các pháp tu của Mật giáo, phần nhiều 2 chữ Như pháp được đặt ngay ở đầu. Chẳng hạn như: 1. Như pháp Ái nhiễm pháp, cũng gọi Đại ái nhiễm pháp. Mật pháp được thực hành để an trí Như ý bảo châu của Đông Mật Nhật bản. 2. Như pháp Phật nhãn pháp: Pháp tu lấy Phật nhãn làm bản tôn. Phật nhãn tôn là chỉ cho Phật mẫu có năng lực sinh ra trí Bát nhã tất cánh không của chư Phật. 3. Như pháp Bắc đẩu pháp: Pháp tu lấy sao Bắc đẩu làm bản tôn. Sao Bắc đẩu là chùm sao nổi bật nhất trong các tinh tú. Ngoài ra, cũng có Như pháp tôn thắng pháp, Như pháp tôn tinh pháp... [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; phẩm Phương tiện kinh Duy ma; kinh Du kì].
như thuyết
(如說) Khế hợp với giáo pháp của đức Phật nói; thí dụ như câu Như thuyết tu hành, nghĩa là y theo giáo pháp của đức Phật dạy mà tu hành.
như thảo phú địa luật
Tinavatthàraka (S). One of the seven Adhikaranasamathas.
như thật
YathābhŪtaṃ (S), As it is.
; (如實) I. Như Thực. Đồng nghĩa: Như pháp, Như thuyết. Như nghĩa là khế hợp; Thực nghĩa là chân thực. Tức là giáo pháp chân thực khế hợp với đạo lí chân thực, thì gọi là Như thực. II. Như Thực. Cũng gọi Chân như thực tướng. Tên khác của Chân như. Nghĩa là lí thể của các pháp chân thực không thay đổi, bình đẳng không sai khác, nên gọi là Như thực. Chữ như ở đây có nghĩa bình đẳng. (xt. Như, Chân Như). III. Như Thực. Chỉ cho cái đúng như mặt mũi xưa nay (thực tế).
như thật bất không
(如實不空) Chỉ cho Y ngôn chân như, 1 trong 2 loại Chân như được lập trong luận Đại thừa khởi tín.Như thực là tên gọi khác của Chân như. Như thực bất không, nghĩa là tự thể của Chân như có đầy đủ các công đức thanh tịnh vô lậu, vì thế gọi là Như thực bất không. Cũng tức là nghĩa Bất không chân như. (xt. Chân Như).
như thật không
(如實空) Chỉ cho Y ngôn chân như, 1 trong 2 loại Chân như của luận Đại thừa khởi tín. Như thực là tên khác của Chân như. Như thực không, nghĩa là thể của Chân như rỗng không, thanh tịnh, lìa tất cả vọng nhiễm, cho nên gọi là Như thực không. Cũng tức là nghĩa Không chân như. (xt. Chân Như).
như thật không kính
(如實空鏡) Gương như thực không, 1 trong 4 thứ gương. Nghĩa là tâm thể li niệm, xa lìa tất cả tướng tâm, cảnh, giới, rốt ráo thanh tịnh, không chút ô nhiễm; giống như mặt gương rỗng không trong sáng, chẳng ánh hiện bất cứ vật gì bên ngoài. [X. luận Đại thừa khởi tín]. (xt. Tứ Kính, Bản Giác).
như thật luận
(如實論) Gọi đủ: Như thực luận phản chất nạn phẩm. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Trần, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Luận này dùng luận thức Nhân minh để phản bác những vấn nạn mà các luận sư ngoại đạo đặt ra để chứng minh luận thức mình chủ trương là đúng sự thực. Nội dung chia làm 3 phẩm: Phẩm Vô đạo lí nạn, phẩm Đạo lí nạn và phẩm Đọa phụ xứ. Về tác giả của luận này, bản Cao li không ghi, các bộ Kinh lục cũng khuyết tên soạn giả, chỉ có 3 bản Tống, Nguyên, Minh đề do ngài Thế thân soạn. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.1; truyện Đạt ma cấp đa trong Tục cao tăng truyện Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.7; Đại đường nội điển lục Q.6].
Như thật tri kiến
如實知見; S: yathābhūtaṃ-jñānadarśana; P: yathābhūta-ñāṇadassana; tức là »Nhìn nhận vạn vật như chúng đích thật là«;|Mục đích tối thượng của đạo Phật và là điểm khác nhau giữa một phàm phu và một bậc Giác ngộ. Trong khi bậc giác ngộ đã đạt Như thật tri kiến thì những người còn u mê cứ quanh quẩn mãi trong cái tranh cãi, vướng mắc vào những Ðảo kiến, phân biệt, thị phi, cho tất cả những hiện tượng xung quanh là thật, là trường tồn, là có tự Ngã. Ðó chính là yếu tố trói buộc chúng sinh vào Luân hồi.
như thật tri kiến
(如實知見) Sự thấy biết đúng như thực tướng. Chỉ cho sự thấy biết khế hợp với đạo lí chân thực. Cứ theo phẩm Thọ lượng trong kinh Pháp hoa thì đức Như lai biết rõ thực tướng của 3 cõi. Còn theo Đại nhật kinh sớ quyển 1, thì hết thảy chư Phật đều thấu suốt thực tướng các pháp và nói cho chúng sinh hiểu biết về thực tướng ấy để được giác ngộ giải thoát. Vì thế Phật được gọi là bậc Như thực tri, Như thực thuyết.
như thật tri tự tâm
(如實知自心) Biết tâm mình 1 cách đúng như thực. Mật giáo dùng chữ (a) vốn chẳng sinh làm thể tính của tâm bồ đề thanh tịnh, cho nên chủ trương người tu hành phải quán xét tâm mình để rõ biết nghĩa chân thực của nó. Phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật (Đại 18, 1 hạ) nói: Thế nào là bồ đề? Nghĩa là biết rõ tâm mình 1 cách như thực. Sự giải thích này về tâm bồ đề mà người tu hành mong cầu thực ra là mở bày chỗ quí báu của công đức Như lai. Ý nghĩa trong câu nói trên đại khái cho rằng tâm của hết thảy chúng sinh vốn có đầy đủ công đức của Mạn đồ la Kim cương giới và Thai tạng giới, bởi thế, người tu hành phải quán xét thực tướng của tự tâm 1 cách đúng như thực. Nếu chứng biết tâm mình một cách rõ suốt thì chứng được quả Phật bồ đề. Cho nên câu Như thực tri tự tâm (Biết tâm mình đúng như thực)trong Mật giáo chứa đựng vô lượng nghĩa sâu xa, mầu nhiệm và được xem là toàn thể yếu chỉ tinh túy của bộ kinh Đại nhật.
như thật trí
(如實智) Trí như thực. Chỉ cho trí chung của cả 5 trí nói trong Mật giáo. Năm trí là: Pháp giới thể tính trí, Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí và Thành sở tác trí, là trí thể mà hành giả Chân ngôn chứng được nhờ kết quả của sự phát tâm tu hành, cũng chính là trí nội chứng của đức Đại nhật Như lai. Nếu đứng trên quan điểm hướng nội tự chứng mà nói, thì 5 trí trên gọi là trí Chính thể; còn nói theo phương diện hướng ngoại lợi sinh thì gọi là trí Hậu đắc. Vì thế, Như thực trí tuy chung cho cả 2 trí Chính thể và Hậu đắc, nhưng nói theo sự tự chứng thì phần nhiều dùng danh từ Chính thể trí, vì chứng lí thực tế chữ (a) vốn chẳng sinh của lục đại chân như, nên gọi là Như thực trí. Ngoài ra, vì đức Phật có năng lực tự biết rõ thực tướng các pháp, cho nên được gọi là bậc Như thực tri. Lại vì đức Phật chẳng những tự thấu suốt thực tướng các pháp, mà còn giảng nói cho chúng sinh biết rõ về thực tướng ấy, cho nên Ngài cũng được tôn xưng là bậc Như thực thuyết. Hai danh xưng đều là đức hiệu của Phật thường được thấy trong các kinh điển. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].
như thật tu hành
(如實修行) Chỉ cho sự tu hành đúng với thực tướng, như Bồ tát Sơ địa trở lên, chứng được lí Chân như mà khởi hạnh. Ngoài ra, như thực tu hành là nương vào giáo pháp của đức Phật(lí thực tướng) mà tu hành, cho nên đồng nghĩa với Như pháp tu hành, Như thuyết tu hành. Như kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 279 thượng) nói: Phải nên tin thuận, như pháp tu hành. [X. kinh Già da sơn đính; Vãng sinh luận chú Q.thượng, hạ].
như thật tu hành tương ưng
(如實修行相應) Chỉ cho lòng tin và sự tu hành ứng hợp với nghĩa thực của giáo pháp. Theo Vãng sinh luận chú quyển hạ của ngài Đàm loan thì niệm Phật có 3 thứ chẳng tương ứng, tức là tuy niệm Phật mà lòng tin chẳng thuần,không chuyên nhất, chẳng liên tục, gọi là Bất tương ứng. Trái lại, tâm thuần, chuyên nhất và liên tục thì gọi là Tương ứng. (xt. Tam Tín Tam Bất).
như thật xứ kiến
Yathàbhùtàvasthàna-darsana (S). The view of all things in their true nature.
như thật ấn
Yathàtathya-mudrà (S). The seal of suchness.
như thật, chính thật
Yathàbhùta (S). Real, evident, in reality, in truth. Conformed with the truth.
như thị
Evam (S), Thus Chỉ sự ấn khả, thừa nhận. Ở Thái các sư dùng từ này để kết thúc các thời khóa.
; Evam (S). Thus, so; so it is; so let it be; such and such.
; (如是) I. Như Thị. Như vầy. Chỉ cho Tín thành tựu trong 6 thành tựu. Thông thường từ ngữ này được đặt ở đầu mỗi bộ kinh, là để biểu thị niềm tin sâu xa rằng những điều ghi chép trong kinh này đều là giáo pháp do chính đức Phật nói ra. (xt. Lục Thành Tựu). II. Như Thị. Như thế. Từ ngữ biểu thị thực tướng các pháp. (xt. Thập Như Thị). III. Như Thị. Đúng vậy! Đúng vậy! Đây là lời công nhận và tán thành những điều mà một người nào đó hiểu biết và trình bày.
như thị ngã văn
câu mở đầu trong tất cả các kinh do Phật thuyết. Trong tất cả các kinh được Việt dịch từ trước đến nay, các vị tiền bối đều xem đây là lời ngài A-nan thuật lại để xác tín rằng kinh này do Phật thuyết và chính ngài được nghe. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng cách hiểu như thế chưa hoàn toàn chuẩn xác vì mấy lý do sau đây. Thứ nhất, chính trong kinh này có thuật lại đoạn di ngôn của đức Phật về việc đặt câu “như thị ngã văn” ở đầu tất cả các kinh điển, nhưng đó là sự dặn dò chung cho tất cả đệ tử Phật chứ không phải riêng ngài A-nan, mặc dù ngài là người thưa hỏi. Vì thế, đại từ “tôi” ở đây phải được hiểu là người nói lại hoặc ghi chép lại kinh Phật, cho dù người đó là bất cứ ai trong số các đệ tử của Phật. Thứ hai, tuy ngài A-nan là bậc Đa văn đệ nhất, nhưng Đại hội kết tập kinh điển (lần thứ nhất) không chỉ duy nhất có mình ngài. Ngược lại, ngài Ca-diếp mới là chủ trì đại hội và có sự tham dự của 500 vị A-la-hán, trong đó ngài A-nan là người chứng quả sau cùng. Như vậy, ngoài yếu tố đa văn ra thì tất cả các vị khác đều là những người có sự tu tập và chứng ngộ trước ngài A-nan. Do đó các vị không đến Đại hội chỉ để nghe ngài A-nan tuyên thuyết lại kinh điển, mà còn giữ vai trò xác nhận và bổ sung những chỗ thiếu sót. Điều này có thể được chứng minh ngay trong kinh này, vì từ đầu kinh đã có đoạn nói rõ là ngài A-nan và ngài Ca-diếp đều không có mặt. Vậy “tôi” ở đây không thể là ngài A-nan. Trong kinh Lăng nghiêm cũng có trường hợp tương tự, khi ngài A-nan gặp nạn Ma-đăng-già, không có mặt tại Pháp hội, nhưng mọi chi tiết vẫn được kể rõ trong kinh, vậy chắc chắn phải là do những vị khác bổ sung vào. Thứ ba, kinh điển sau khi Phật nhập diệt chỉ được truyền lại bằng cách trực tiếp, người này đọc cho người kia nghe, vì chưa được ghi chép thành văn tự. Như vậy, đại từ “tôi” chắc chắn đã được dùng bởi tất cả những người đứng ra truyền lại kinh điển cho người khác, và điều này còn trải qua nhiều thế kỷ trước khi chính thức có sự ghi chép kinh điển. Vì những lý do đó, chúng tôi cho rằng đại từ “tôi” không nhất thiết chỉ riêng ngài A-nan. Mặt khác, khi kinh điển đã chính thức được ghi chép lại, thì đây phải là kết quả việc làm của nhiều người trong các Đại hội kết tập chứ không phải của riêng một người, nên việc sử dụng đại từ “chúng tôi” là thích hợp hơn. Ngoài ra, chữ “văn” cần phải dịch là “được nghe” để nhấn mạnh việc người nghe không chỉ tình cờ nghe được, mà là một sự tiếp nhận chính thức và đáng tin cậy; chữ “như thị” phải dịch là “đúng như thế này” mới hợp với ý nghĩa của nó thường được dùng trong kinh Phật. Chúng ta đều biết, đức Phật thường dùng chữ “như thị” mỗi khi xác nhận một sự việc hay một câu nói nào đó là hoàn toàn đúng thật.
; Thus have I heard, i.e. from the Buddha.
; (如是我聞) Phạm: Evaô mayà zrutaô. Pàli: Evaô me sutaô. Cũng gọi Ngã văn như thị, Văn như thị. Tôi nghe như vầy. Lời mở đầu trong các kinh.Lúc đức Thế tôn sắp nhập diệt, Ngài đã dặn tôn giả A nan (Phạm: Ànanda), vị đệ tử đa văn bậc nhất, rằng kinh tạng do Ngài tuyên thuyết trong 1 đời, đều phải đặt ở đầu quyển câu Như thị ngã văn để phân biệt với kinh điển của ngoại đạo. Như thị là chỉ cho lời nói, việc làm và cử chỉ của đức Phật được trình bày trong kinh. Còn Ngã văn thì chỉ cho người biên tập kinh tạng là tôn giả A nan, tự nói chính mình đã được nghe những lời đức Phật nói và thấy những việc đức Phật làm. Như thị cũng có nghĩa là tin thuận theo giáo pháp mà chính mình đã được nghe; Ngã văn là người có niềm tin vững chắc vào giáo pháp được nghe ấy. Đây chính là Tín thành tựu và Văn thành tựu, cũng gọi là Chứng tín tự. [X. luận Đại trí độ Q.1, 2; Phật địa kinh luận Q.1; Pháp hoa văn cú Q.1, phần đầu; Chú duy ma cật kinh Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2]. (xt. Lục Thành Tựu).
như thị ngữ kinh
Itivṛttaka sŪtra (S), Iṭivuttaka (P), Itivṛttaka (S), Ityuktaka (S), As It was said Kinh Phật thuyết như vậyGồm 112 bài kinh ngắn khởi đầu bằng: "Tôi nghe như vầy...", ghi lại hành nghi ở đời quá khứ của Phật và đệ tử Bản sự kinh, Đế mục đa già.
; (如是語經) Như thị ngữ, Pàli: Itivuttaka. Hán âm: Y đế phật đa già. Kinh, gồm 4 thiên (Pàli: Nipàta, tập), tổng cộng 11 chương (Pàli: Vagga, phẩm), 112 kinh, là kinh thứ 4 trong Kinh tạng tiểu bộ (Khuddaka-nikàya) tiếngPàli. Thiên thứ 1 có 3 chương 27 kinh, thiên thứ 2 có 2 chương 22 kinh, thiên thứ 3 có 5 chương 50 kinh và chương thứ 4 có 1 chương 13 kinh. Như thị ngữ nghĩa là nói như thế. Ở cuối mỗi kinh đều có lời kết iti(... như thị) hoặc Ayam pi attho vutto bhagavatà iti me sutan ti (Tôi nghe đức Thế tôn nói nghĩa này). Ở đầu kinh thì mở đầu bằng Vuttam(từng nói như vầy) hoặcVuttaô hetaô bhagavatà vuttam arahatà ti me sutaô (Tôi nghe đức Thế tôn Ứng cúng từng nói như vầy). Trong các kinh, câu văn định hình iti vuccati (Như thị ngôn, nói như vầy) cũng thường được sử dụng, do đó có thể biết nguyên do về cái tên của kinh này.Các kinh đều do văn trường văn mở đầu và văn kết thúc theo 1 hình thức nhất định. Như văn kết thúc của văn xuôi thường là câu: Đức Thế tôn ở đây nói như vậy, sau đó là văn vần được dùng để lập lại nội dung của văn xuôi đã trình bày. Sự kết hợp giữa văn xuôi và văn vần là đặc trưng quan trọng của kinh này. Nhưng trong chương 4, chương 5 của thiên thứ 3 và thiên thứ 4 cũng thiếu câu văn mở đầu, kết thúc và văn vần lập lại. Còn ở cuối mỗi chương đều phụ thêm văn vần tóm tắt. Nói về nội dung thì kinh này theo hình thức trùng tụng(lập lại)trong các kinh, thu tập từ 1 pháp đến 4 pháp có liên quan đến pháp số, tức từ thiên thứ 1 đến thiên thứ 4, lần lượt nói rõ từ 1 pháp đến 4 pháp. Nội dung toàn kinh rộng rãi và khác nhau, nhưng cũng bao hàm về tư tưởng trọng yếu, trong đó, phần chính là giáo lí về người xuất gia, cũng bao gồm cả giáo thuyết về người tại gia. Giáo pháp được trình bày 1 cách đơn giản, phần nhiều còn mang phong cách của kinh cổ xưa. Cứ theo sự suy đoán của các học giả hiện đại thì: 1. Về lịch sử thành lập: Thời đại thành lập thiên thứ 1, thiên thứ 2 tương đối sớm hơn. Trong thiên thứ 3 và thứ 4 có nhiều chỗ bị xem là do người đời sau thêm vào. 2. Về hình thức nguyên thủy của Tiểu bộPàli: Thời kì đầu tiên hình thành Phật giáo bộ phái đã bao gồm kinh này rồi. Trong các kinh điển Hán dịch, tương đương với kinh này có kinh Bản sự, do ngài Huyền trang dịch vào niên hiệu Vĩnh huy năm đầu (650), gồm 7 quyển, 138 kinh, từ phẩm Tam pháp mà thành. Đem bản dịch chữ Hán của kinh này đối chiếu với kinh Như thị ngữ tiếngPàli, thì rõ ràng hệ thống của 2 kinh khác nhau, nhưng thực ra chúng đã phát xuất từ cùng 1 nguồn gốc. Tên tiếng Phạm của kinh Bản sự là Itivfttaka, hàm ý là: Sinh khởi như thế, sự việc phát sinh từ quá khứ, so sánh với Nói như thế (Như thị ngữ)trong bản kinh tiếngPàlithì ngữ ý rất khác nhau. Nhưng nếu so sánh bảnPàli với bản Hán dịch trong hệ thống kinh điển truyền thừa thì phải công nhận rằng bản Pàligần với hình thái nguyên thủy nhất. Ngoài ra, kinh này hiện nay có bản nguyên văn được ấn hành và bản dịch tiếng Anh (Sayings of Buddha, New York, 1908), cùng với bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh tập 23). [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; A History ofPàliLiterature by B. C. Law; Dictionary of Pàli Proper Names by Malalasekera; A Chinese Collection of Itivuttaka by K. Watanabe (Journal of P. T. S. 1906-1907); A History of Indian Literature, vol. II, by M. Winternitz; Nam Bắc lưỡng truyền đích Bản sự kinh (Độ biên Hải húc, Hồ nguyệt toàn tập thượng quyển); Nguyên thủy Phật giáo thánh điển đích thành lập sử nghiên cứu (Tiền điền Huệ học)].
như thực xứ kiến
YathābhŪtārtha-sthāna-darśana (S).
như thực ấn
Yathātathya-mudrā (S).
như trạm
(如湛) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Nam Tống, người huyện Vĩnh gia, họ Tiêu, tự Tòng viễn, hiệu Giả danh. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, y vào Pháp sư Trạch khanh, ở Xa khê. Về sau, sư đến Hoành sơn tham vấn Pháp sư Tuệ giác Tề ngọc, sư siêng năng tinh tiến tìm hiểu yếu chỉ sâu xa của giáo quán. Sau, sư đến trụ ở chùa Thọ thánh nhiều năm, không 1 ngày nào bỏ việc tụng niệm. Hằng ngày, sư trì tụng kinh Pháp hoa và niệm 2 vạn câu Thánh hiệu Di đà. Có khi sư ngồi giữa đám cỏ rậm tụng kinh Di đà, đem thân bố thí cho muỗi mòng mong cho chúng được kết duyên với Phật. Những năm cuối đời, sư từ bỏ mọi việc, chỉ ngồi yên trong am nhỏ siêng tu tịnh nghiệp. Tháng 7 năm Thiệu hưng thứ 10 (1140) sư thị tịch. Sư để lại các tác phẩm: Giả danh tập 10 quyển, Quán kinh sớ tịnh nghiệp kí 4 quyển, Quang minh huyền nghĩa hộ quốc kí 4 quyển, Kim cương tập giải 2 quyển, Thanh văn hội dị dữ phục tông khởi nghi... [X. Phật tổ thống kỉ Q.15; Thích môn chính thống Q.7].
Như Trừng Lân Giác
如澄麟角; 1696-1733|Thiền sư Việt Nam thuộc tông Lâm Tế truyền sang Ðàng ngoài, pháp hệ thứ 37. Sư kế thừa Thiền sư Chân Nguyên, sau thành lập một nhánh thiền gọi là Liên Phái.|Sư tên Trịnh Thập, con của Phổ Quang Vương. Lớn lên, Sư được vua Lê Hi Tông gả công chúa thứ tư cho. Một hôm, Sư sai quân đào đất làm ao nuôi cá bỗng dưng tìm thấy một cọng sen lớn. Sư cho đó là điềm lành liền đổi nhà thành chùa, đặt tên là Liên Tông, viện tên là Li Cấu. Sư cũng dâng sớ xin vua được phép xả tục xuất gia. Vua nhận lời và ngay khi được phép, Sư đến Thiền sư Chân Nguyên Chính Giác tại chùa Long Ðộng.|Chân Nguyên gặp Sư hỏi: »Duyên xưa gặp gỡ, vì sao đến chậm vậy?« Sư thưa: »Thầy trò hội hiệp thời tiết đến thì gặp.« Chân Nguyên bảo: »Trùng hưng Phật Tổ sau này là trông cậy ở ngươi.«|Từ đây, Sư ngày ngày ngiên cứu, thông suốt Tam tạng. Sư được Chân Nguyên truyền giới và Tâm ấn. Sau đó, Sư trở về trụ trì tại chùa Liên Tông. Ðồ chúng nghe tin đến học rất đông, do đó mà phái thiền Liên Tông hoặc Liên Phái được thành lập.|Một hôm, Sư bảo chúng: »Giờ quy tịch của ta sắp đến. Ta được pháp nơi Hoà thượng Chân Nguyên, sẽ trao lại cho các ngươi. Hãy nghe kệ đây:|本從無本。從無爲來|還從無爲去。我本無來去|死生何曾累|Bản tòng vô bản, tòng vô vi lai|Hoàn tòng vô vi khứ, ngã bản vô lai khứ|Tử sinh hà tằng luỵ.|*Vốn từ không gốc|Từ không mà đến|Lại từ không mà đi|Ta vốn không đến đi|Tử sinh làm gì luỵ.«|Sư bảo: »Thân khổ Tứ đại này đâu thể giữ lâu.« Nói xong, Sư ngồi yên thị tịch, nhằm niên hiệu Long Ðức thứ 2, thọ 37 tuổi.
Như Tín
(如信, Nyoshin, 1239-1300): vị Tăng của Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và cuối thời Liêm Thương, vị Tổ kế thế đời thứ 2 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), vị Tổ thứ 2 của Cẩm Chức Tự (錦織寺, Kinshoku-ji), húy Như Tín (如信) cháu của Thân Loan(親鸞, Shinran), con của Thiện Loan (善鸞, Zenran). Tương truyền lúc ông còn nhỏ tuổi thì đã được Thân Loan truyền thọ cho giáo nghĩa của Chơn Tông. Ông chủ yếu sống và giáo hóa ở vùng Lục Áo (陸奥, Michinoku), rồi sáng lập ra Nguyện Nhập Tự (願入寺). Vào năm 1287, ông truyền trao tông nghĩa cho Giác Như (覺如, Kakunyo) ở Kyoto. Đến năm 1299, nhận lời thỉnh cầu của người môn đệ Thừa Thiện (乘善), ông chuyển đến sống tại một thảo am ở vùng Kim Trạch (金澤, Kanazawa) thuộc Thường Lục (常陸, Hitachi) và qua đời ở nơi đó. Vì Giác Như chủ trương Bổn Nguyện Tự thuộc dòng chánh thống, nên Như Tín được xem như là đệ tử thứ 2 của Bổn Nguyện Tự.
như tịnh hoà thượng ngữ lục
(如淨和尚語錄) Cũng gọi Thiên đồng Như tịnh thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 2 quyển, do Thiền sư Thiên đồng Như tịnh (1163-1228) thuộc tông Tào động soạn vào đời Nam Tống, các vị Văn tố, Diệu tông và Duy kính biên tập; được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung sách này ghi chép lại những bài pháp ngữ thướng đường cho đến các bài tiểu tham, phổ thuyết, pháp ngữ, tụng cổ, tán Phật tổ, tự tán, tiểu Phật sự, kệ tụng... của Thiền sư Như tịnh nói ở chùa Thanh lương thuộc phủ Kiến khang, chùa Thụy nham ở Thai châu, chùa Tịnh từ tại phủ Lâm an, chùa Thụy nham thuộc Minh châu và chùa Cảnh đức ở Thiên đồng. Ngài Như tịnh là bậc Tông tổ tiêu biểu của tông Tào động, đệ tử nối pháp của ngài là Thiền sư Đạo nguyên, Tổ khai sáng của tông Tào động Nhật bản. Bởi thế, qua bộ ngữ lục này, ta có thể thấy được địa vị quan trọng của ngài Như tịnh đối với lịch sử tông Tào động Trung quốc và Nhật bản.Ngoài ra, 1 vị đệ tử nối pháp nữa của ngài Như tịnh là Nghĩa viễn, đem 20 tắc Thướng đường pháp ngữ của ngài Như tịnh ở Thiên đồng chưa được khắc in trong Như tịnh Hòa thượng ngữ lục, biên tập thành 1 quyển và ấn hành, gọi là Thiên đồng sơn Cảnh đức tự Như tịnh thiền sư tục ngữ lục, còn gọi là Thiên đồng di lạc lục, cũng được thu vào Đại chính tạng tập 48.
như tự
(如字) I. Như Tự. Chỉ cho chữ (ta), vì chữ này biểu thị nghĩa như như, nên gọi là Như tự. II. Như Tự. Chỉ cho chữ (trà#), là chủng tử của Bảo sinh Như lai, tượng trưng cho đức của ma ni bảo châu. Vì chữ này bao hàm chữ của bản thể nên gọi là Như tự.
như vầy
tādi (S, P), Such.
như ý
Maṇi (S), Maṇika (S)Ly cấu, Như ý châu.
; At will, according to desire.
; (如意) I. Như Ý. Sự vừa lòng đẹp ý. II. Như Ý. Chỉ cho cái đồ dùng vị Giảng sư cầm lúc thuyết pháp và ở trong pháp hội. Vật dụng này vốn là cái để gãi lưng ở Ấn độ thời xưa, tiếng Phạm là Anuruddha (A na luật), được làm bằng xương, sừng, tre, gỗ..., cán dài 3 thước(Tàu), hình dáng như đám mây hoặc như bàn tay, dùng để gãi ngứa. Vì nó gãi ngứa ở chỗ mà tay không với tới được một cách vừa ý, nên được gọi là Như ý, cũng gọi Dưỡng hòa tử. Nhưng tại Trung quốc và Nhật bản, cây Như ý lại trở thành vật cầm tay biểu thị ý nghĩa tốt lành. Trong Phật giáo, lúc vị Pháp sư thuyết pháp và ở trong pháp hội cũng cầm cây Như ý, giống như các quan đại thần thời xưa, khi vào triều, tay cầm cái hốt trên đó đã ghi những việc mình muốn tâu lên vua để khỏi quên. Cứ theo điều Như ý trong Thích thị yếu lãm quyển trung, thì vua Cao tổ nhà Tề đã từng ban cho ẩn sĩ Minh tăng thiệu 1 cây Như ý bằng trúc, vua Vũ đế nhà Lương cũng từng ban cho Thái tử Chiêu minh 1 cây Như ý bằng mộc tê (quế hoa). Theo truyện Trí khải trong Phật tổ thống kỉ quyển 6, thì khi ngài Trí khải vâng lời Đại sư Tuệ tư thay Đại sư giảng kinh Bát nhã, Đại sư Tuệ tư tay cầm cây Như ý đến tòa giảng khen ngợi ngài Trí khải. [X. kinh Ưu bà tắc Q.5; Tăng ni nhật dụng vật trong luật Tứ phần Q.19; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].
như ý bình
(如意瓶) Cũng gọi Thiện bình, Bảo bình, Đức bình, Mãn bình, Hiền bình, Cát tường bình. Bình như ý. Bình này có công năng sinh ra phúc lành đầy đủ như ý của mình mong muốn, nên gọi là bình Như ý. Trong Mật giáo, bình này được dùng để đựng 5 thứ báu, 5 loại hương, 5 vị thuốc, 5 thứ hạt và nước thơm để cúng dường chư Phật, Bồ tát. Bình này được đặt ở 4 phía của hội Nhất ấn trong Mạn đồ la Kim cương giới; cũng được đặt ở chính giữa và 4 góc của Đại đàn. (xt. Ngũ Bình).
như ý bảo chân ấn
Xem Chân Đà ra ni Hào tướng ấn.
như ý bảo châu
(如意寶珠) Phạm: Cintà-maịi. Hán âm: Chân đà ma ni, Chấn đa mạt ni. Cũng gọi Như ý bảo, Như ý châu, Ma ni bảo châu, Mạt ni bảo, Vô giá bảo châu, Như ý ma ni. Chỉ cho loại bảo châu có năng lực biến hiện ra các thứ quí báu theo ý muốn của mình. Bảo châu này còn có công năng trừ bệnh, dứt khổ. Thông thường bảo châu này được dùng để ví dụ đức cao quí của Phật và tượng trưng cho công đức của kinh điển. Cứ theo kinh Tạp bảo tạng quyển 6 thì bảo châu Như ý được lấy từ bộ óc của cá Ma kiệt. Còn theo luận Đại trí độ quyển 29 thì bảo châu Như ý lấy từ óc của vua rồng, hoặc từ vật kim cương của trời Đế thích cầm ở tay rơi xuống vỡ nát mà có. Cũng có thuyết cho rằng bảo châu này là do xá lợi của đức Phật biến hóa ra để làm lợi ích cho chúng sinh. Bảo châu như ý là vật cầm tay của các ngài Như ý luân Quan âm, Mã đầu Quan âm và bồ tát Địa tạng, có khả năng làm cho nguyện vọng của chúng sinh được đầy đủ như ý. Ngoài ra, theo phẩm Như ý bảo châu trong kinh Như ý bảo châu chuyển luân bí mật hiện thân thành Phật kim luân chú vương, thì bảo châu Như ý do 11 thứ trân quí hợp thành, đó là: Xá lợi Phật, vàng ròng, bạc, trầm hương, bạch đàn, tử đàn, hương đào, trầm cây dâu, trầm cây bạch tâm, trầm cây bách và chân tất. Cũng tức là bảo châu Như ý hình tròn được làm bằng vàng ròng, bạc trắng, ở giữa đặt 32 viên xá lợi Phật, đựng trong 1 cái bình quí rồi nhồi bột hương trát bên ngoài bình làm thành bảo châu. Trong Mật giáo, nếu pháp tu lấy bảo châu này làm bản tôn thì gọi là pháp Như ý bảo châu.[X. phẩm Ác hữu trong kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.4; kinh Quán Phật tam muội hải Q.10, 16; phẩm Thụ trì trong kinh Nhân vương bát nhã Q.hạ; kinh Đại bảo tích Q.110; kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.7; luận Đại tì bà sa Q.102]. NHƯ Ý BẢO CHÂU CHUYỂN LUÂN BÍ MẬT HIÊN THÂN THÀNH PHẬT KIM LUÂN CHÚ VƯƠNG KINH Cũng gọi Như ý bảo châu kim luân chú vương kinh, Kim luân chú vương kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này nói về công đức của bảo châu Như ý. Toàn kinh chia làm 9 phẩm: Phẩm Phóng bát, phẩm Thiện ác nhân quả, phẩm Như ý bảo châu, phẩm Đại mạn đồ la, phẩm Quán đính ấn chân ngôn, phẩm A xà lê thành Phật, phẩm Tất địa thành tựu, phẩm Hộ ma và phẩm Chúc lụy.
như ý bảo châu luận
(如意寶珠論) Cũng gọi Như ý luận. Tên gọi khác của luận Thích ma ha diễn (gọi tắt: Thích luận), do ngài Long thụ soạn để chú thích luận Đại thừa khởi tín của ngài Mã minh. Nội dung luận này bàn rõ về yếu chỉ Đại thừa (Ma ha diễn)như: Nhất nhất tâm thức, Như nghĩa ngôn thuyết, Bất nhị ma ha diễn... Từ xưa đến nay tác phẩm này được giới Phật giáo Trung quốc, Nhật bản, Đại hàn... xem trọng, đặc biệt Mật giáo lại càng chú trọng hơn bằng cách chú thích, khắc bản in, giảng giải để quảng bá. Văn từ của bộ Thích luận này rất hoàn bị, đầy đủ vô biên công đức, bao quát hết các nghĩa, giống như bảo châu như ý hàm chứa vô lượng công đức thù thắng, có thể tùy thời ánh hiện muôn tượng, vì thế được gọi là Như ý bảo châu luận. Lại nữa, pháp môn Đại thừa bất nhị được trình bày trong toàn bộ Thích luận là thể tính của vô lượng vô số pháp môn, cũng như bảo châu Như ý là gốc của các thứ báu trong thế gian, cho nên lấy tên là Như ý luận.
như ý bảo thụ sử
(如意寶樹史) Tạng: Dpag-bsam ljon-bzaí. Cũng gọi: Như ý bảo châu sử. Gọi đủ: Fphags-yul rgya-nag-chenpo bod daí sog-yul-du dam-pa#i chosbyuí-tshul dpag bsam ljon-bzaí. Tác phẩm lịch sử về chính pháp Phật giáo tại các nước Ấn độ, Tây tạng, Trung quốc, Mông cổ, do vị tăng học giả người Tây tạng là Tùng ba khám bố (Tạng: Sum-pa mkhan-po, 1704-1776) soạn thành vào năm 1748. Sách được chia làm 4 thiên: - Thiên thứ 1: Trình bày về lịch sử Phật giáo Ấn độ, như nguồn gốc của dòng dõi Thích ca, bàn về những truyện tiền thân của đức Phật, truyện Phật Thích ca, 3 lần kết tập, sự phân hóa từ 4 bộ phái căn bản chia thành 18 bộ phái, sự truyền bá của Tiểu thừa và Đại thừa, chùa Đại bồ đề, sự thiết lập Bồ đề già da, nguyên nhân sự suy vi của Phật giáo, sự kết tập và giáo nghĩa của Kim cương thừa, những Vương triều bảo hộ Phật giáo sau khi đức Phật nhập diệt, quá trình Phật giáo truyền bá đến các nước châu Á, truyện kí và sự tích của các Luận sư từ ngài Long thụ trở xuống, nguồn gốc của văn tự, văn pháp, luận lí, tạo pháp, vẽ tượng... - Thiên thứ 2: Trình bày về lịch sử Phật giáo Tây tạng. - Thiên thứ 3: Nói về lịch sử Phật giáo và các triều vua Trung quốc. - Thiên thứ 4: Ghi chép về lịch sử Phật giáo và các triều vua Mông cổ. Sau hết, tác giả nói rõ về lí do biên soạn bộ sử này và các kinh điển được dùng làm tư liệu tham khảo. Tác giả vốn tên là Da xá phạ trụ (Tạng: Ye-zes dpal-#byor), là 1 tăng sĩ bác học, ngoài Phật học, tác giả còn tinh thông các nền học thuật khác. Tác giả đã dành trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp học vấn và sáng tác. Ngài đã có 88 tác phẩm. Bộ sử này là 1 trong những tác phẩm tiêu biểu của ngài. [X. Nhật bản Tây tạng học hội hội báo số 2]. (xt. Da Xá Phạ Trụ).
như ý bảo tổng trì vương kinh
(如意寶總持王經) Kinh, 1 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào năm Thái bình hưng quốc thứ 5 (980), đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nhan đề Như ý bảo tổng trì của kinh này là tên của thần chú. Nội dung kinh này nói về cách thụ trì và công đức của thần chú (chương cú) Như ý bảo tổng trì, đồng thời nhấn mạnh rằng nếu thụ trì thần chú này mà lòng tin không trong sạch, hoặc không kiên định chuyên chú thì không thể thấy nghe chư Phật. Nhưng trong kinh này không ghi chép nguyên văn của thần chú nói trên.
như ý bảo ấn
(如意寶印) I. Như Ý Bảo Ấn. Cũng gọi Nhất thiết Bồ tát chân đà ma ni ấn. Chỉ cho hạt bảo châu như ý Chân đà ma ni đại biểu cho hình Tam muội da của hết thảy Bồ tát. II. Như Ý Bảo Ấn. Cũng gọi Như ý Bảo châu ấn, Như ý châu ấn, Bảo ấn, Bảo châu ấn. Thủ ấn được kết để hiển bày bảo châu như ý. Về hình tướng của ấn này, các kinh và nghi quĩ đều nói khác. 1. Cứ theo kinh Văn thù sư lợi pháp bảo tạng đà la ni, thì 2 tay tréo vào nhau, 2 ngón trỏ chống vào nhau, co 2 ngón cái tréo nhau để trong lòng bàn tay. Ấn này cũng được gọi là ấn Đại tinh tiến như ý bảo. 2. Cứ theo kinh Bất không quyên sách, thì ấn này là Nội phược quyền, 2 ngón cái đè lên nhau ở trong lòng bàn tay, dựng đứng 2 ngón giữa, đầu ngón hơi co và chạm vào nhau, cạnh lóng giữa của 2 ngón trỏ, 2 ngón giữa ép vào nhau, đầu ngón thì dính vào nhau. Ấn này cũng được gọi là ấn Bất không quyên sách như ý bảo. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5, 10; Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.6, 8].
như ý bổng
(如意棒) Cây gậy trên đầu có đặt viên bảo châu như ý, là 1 trong những pháp khí của Mật giáo. Gậy này cũng là hình Tam muội da của trời Tì sa môn. Cứ theo Từ thị bồ tát niệm tụng pháp quyển hạ, thì tay thứ 13 bên phải trong 30 tay của bồ tát Di lặc cầm cây gậy này. Còn theo kinh Bất không quyên sách quyển 22 thì cây Như ý bảo trượng(gậy như ý bảo)mà bồ tát Bất không vương Quan thế âm cầm ở 1 tay trong 6 tay của Ngài là đồng loại với cây Như ý bổng này. Vì thương xót chúng sinh nên các vị Bồ tát dùng cây gậy này phá trừ nghiệp tham lam, bỏn sẻn để mang lại cho họ niềm vui bảo châu như ý. Cũng gọi Ma ca la câu xá. Bảo châu như ý có khả năng hàm chứa (tàng)muôn pháp, cho nên dùng châu như ý làm nghĩa hàm tàng mà gọi là Như ý châu tàng. Hoặc dùng với nghĩa tàng là nănghàm, châu là sở hàm mà gọi là Như ý châu tàng(kho châu như ý). [X. luận Thích ma ha diễn Q.2].
Như ý châu
如意珠; S: cintāmaṇi;|1. Ngọc như ý, được xem là thuộc tính của các vị Phật và Bồ Tát (Ðịa Tạng, Quán Thế Âm, Bảo Sinh Phật);|2. Ngọc cũng tượng trưng cho tâm thức tự tại.
như ý châu
Sintamani (S), mani-gem Xem như ý.
; Cintàmani (S). Sacred gem. Jewel of the thought, the talisman pearl capable of responding to every wish.
như ý câu lâu la vương
Mahāṛddhiprāpta (S)Một vị vua trong loài Câu lâu la (Kim súy điểu).
như ý luân bồ tát niệm tụng pháp
(如意輪菩薩念誦法) Cũng gọi Quán tự tại bồ tát như ý luân niệm tụng nghi quĩ, Quán tự tại như ý luân niệm tụng pháp, Như ý luân niệm tụng nghi quĩ, Như ý luân niệm tụng pháp. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nghi quĩ này là pháp niệm tụng của bồ tát Quan âm Như ý luân, là nguyên bản thứ tự pháp Như ý luân Tứ độ gia hạnh và thứ tự tác pháp được trình bày trong đó là tác pháp tiêu chuẩn của pháp tu Mật giáo.
như ý luân du già
(如意輪瑜伽) Cũng gọi Quán tự tại bồ tát như ý luân du già, Quán tự tại bồ tát như ý luân du già niệm tụng pháp, Như ý luân du già niệm tụng pháp. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung nghi quĩ này nói về tiêu chuẩn tuyển chọn đệ tử vào đàn để được trao truyền pháp tu, đồng thời, giải thích rõ ý nghĩa 6 tay của bồ tát Quan âm Như ý luân và tư tưởng thành Phật ngay trong đời hiện tại. Ngoài ra, nghi quĩ này còn có thể bổ sung cho những chỗ nói chưa được rõ ràng trong nghi quĩ niệm tụng Quán tự tại bồ tát Như ý luân cũng do ngài Tam tạng Bất không dịch.
như ý luân liên hoa tâm như lai tu hành quán môn nghi
(如意輪蓮華心如來修行觀門儀) Cũng gọi Như ý luân liên hoa tâm quán môn nghi. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Từ hiền dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung nghi quĩ này tường thuật việc đức Thế tôn ở trên đỉnh núi Tu di nói cho các chúng hữu tình nghe về pháp tu Như ý luân Quan âm và thứ tự niệm tụng. Thứ tự niệm tụng nói trong kinh này tức là hình thái nguyên thủy của thứ tự pháp Như ý luân. Toàn kinh được viết theo thể văn vần Ngũ ngôn.
như ý luân mạn đồ la
(如意輪曼荼羅) Mạn đồ la lấy bồ tát Quan âm Như ý luân làm vị Trung tôn mà kiến lập. Có nhiều thuyết khác nhau: 1. Cứ theo phẩm Đàn pháp trong kinh Như ý luân đà la ni, thì Mạn đồ la này chia ra Nội viện và Ngoại viện, ở chính giữa Nội viện vẽ 1 hoa sen nở gồm 32 cánh, trên đài sen đặt bồ tát Thánh quán tự tại Như ý luân 2 tay. Bốn phương vẽ tượng minh vương Viên mãn ý nguyện, bồ tát Đại thế chí, minh vương Quan thế âm mã đầu và minh vương Quan thế âm tứ diện. Bốn góc thì vẽ bồ tát Bạch y quan thế âm mẫu, bồ tát Đa la, La sát nữ nhất kế và bồ tát Tì câu chi. Bốn phương của Ngoại viện thì vẽ trời Đế thích, vua Diêm ma, Thủy thiên và trời Đa văn, 4 góc là thần Hỏa thiên, vua La sát, vua Phong thiên và vua Đại tự tại thiên. Xen vào đó còn vẽ các tượng Nhật thiên tử, Nguyệt thiên tử, Địa thiên thần, Đại phạm thiên vương, A tố la vương và minh vương Thủy phược bà ca. 2. Cứ theo Biệt tôn tạp kí quyển 18, thì Nội viện có 1 vòng tròn to bằng bánh xe lớn, ở giữa vòng tròn là tượng bồ tát Quan thế âm Như ý luân 2 tay; 4 phương và 4 góc đặt 8 vị Đại Quan âm gồm minh vương Viên mãn ý nguyện...(như đã nói ở trên). Bốn góc phía ngoài vòng tròn vẽ hình 4 vị bồ tát Nội cúng dường: Hí, Man, Ca, Vũ. Bốn phương của Ngoại viện đặt 4 Nhiếp bồ tát: Câu, Sách, Tỏa, Linh và 4 góc là 4 bồ tát Ngoại cúng dường: Hương, Hoa, Đăng, Đồ. Còn mặt đông của Ngoại viện là Nguyệt thiên, Đa văn thiên; mặt nam là Tự tại thiên, Phạm thiên, Đế thích thiên, Hỏa thiên, mặt tây là Địa thiên, Diệm ma thiên; mặt bắc là La sát thiên, Nhật thiên, Thủy thiên và Phong thiên. Ngoài ra, kinh Thất tinh như ý luân bí mật yếucó nêu Mạn đồ la Thất tinh như ý luân, ở giữa cũng an trí bồ tát Quan âm Như ý luân 2 tay làm trung tâm, nhưng 4 chung quanh thì vẽ 7 ngôi sao Bắc đẩu và thần Quỉ tử mẫu.
như ý luân pháp
(如意輪法) Cũng gọi Như ý luân quan âm pháp, Như ý luân bảo châu pháp. Pháp tu lấy bồ tát Quan âm Như ý luân làm bản tôn để cầu tăng thêm phúc đức, giảm thiểu tội chướng, diệt trừ khổ não và đầy đủ ý nguyện. Ngoài ra, nếu pháp tu lấy viên bảo châu Như ý của bồ tát Quan thế âm Như ý luân cầm làm bản tôn, thì gọi là pháp Như ý bảo châu, gọi tắt là pháp Bảo châu. Pháp này là pháp sâu kín nhất trong Mật giáo, là pháp bí mật quán tưởng xá lợi đức Phật chính là bảo châu Như ý. Khi tu pháp này thì đặt tháp ở chính giữa đạo tràng, trong tháp đặt chiếc bình bằng vàng có đựng xá lợi(bảo châu Như ý) của đức Phật. Chủng tử là (trà#), biểu thị nghe chân lí Pháp thân như như mà phát tâm bồ đề, nương theo như như tịch tĩnh tu hành mà chứng được quả phiền não tức bồ đề, nhập vào nghĩa bí tạng hải tam đức của Đại niết bàn. [X. Quán tự tại bồ tát như ý luân niệm tụng nghi quĩ; Quán tự tại bồ tát như ý luân du già; Quán tự tại như ý luân bồ tát du già Pháp yếu].
như ý luân quan âm
(如意輪觀音) Như ý luân, Phạm: Cintàmaịicakra. Gọi đủ: Như ý luân Quán thế âm bồ tát. Cũng gọi Như ý luân bồ tát, Như ý luân vương bồ tát. Một trong 6 vị bồ tát Quan âm. Vị Bồ tát này tay cầm bảo châu như ý và pháp luân(bánh xe pháp)để cứu giúp tất cả chúng sinh đau khổ và thành tựu các nguyện vọng của chúng sinh. Như ý bảo châu chỉ cho vật trân quí ở thế gian và của báu thực tướng xuất thế gian; 2 thứ của báu này có công năng khiến chúng sinh sinh ra phúc đức. Pháp luân nghĩa là quay bánh xe pháp, có khả năng làm cho chúng sinh sinh ra trí đức. Bồ tát Như ý luân Quan âm được an trí trong viện Quan âm của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo, mật hiệu là Trì bảo kim cương, hình Tam muội da là bảo châu Như ý, chủng tử là (hrì#). Hình tượng của Ngài có nhiều kiểu khác nhau như: 2 tay, 4 tay, 6 tay, 8 tay, 10 tay, 12 tay... Trong đó, tượng Như ý luân Quan âm có 2 tay là tượng Phật trước thời Mật giáo, còn tượng Như ý luân Quan âm có 6 tay thì rất được người đời tôn thờ. Từ xưa đến nay, 6 tay của vị Bồ tát này được phối hợp với 6 vị Quan âm và 6 đường, tức: Bên phải, tay thứ nhất là tay Tư duy phối với Thánh quan âm và đường địa ngục; tay thứ 2 là tay Như ý bảo châu phối với Thiên thủ quan âm và đường ngã quỉ; tay thứ 3 là tay Niệm châu (cầm xâu chuỗi)phối với Mã đầu quan âm và đường súc sinh. Bên trái, tay thứ 1 là tay Quang minh sơn(cầm núi ánh sáng)phối với Thập nhất diện(11 mặt)quan âm và đường a tu la; tay thứ 2 là tay Liên hoa(cầm hoa sen) phối với Chuẩn đề quan âm và đường loài người; tay thứ 3 là tay Kim cương luân(cầm bánh xe kim cương)phối với Như ý luân quan âm và đường trời. Trên đây là biểu thị ý nghĩa 6 tay của bồ tát Như ý luân Quan âm có năng lực cứu vớt chúng sinh trong 6 đường khiến cho hết khổ được vui. Ngoài ra, trong các kinh luận vẫn còn có nhiều thuyết về Như ý luân Quan âm. Từ xưa đến nay vị Bồ tát này rất được các dân tộc vùng Nam hải sùng bái tôn thờ. Trong động Nghìn Phật ở huyện Đôn hoàng, tỉnh Thiểm tây, Trung quốc, còn tượng vẽ bồ tát Quan âm Như ý luân có 6 tay được bảo tồn. Tại Tích lan, Java, Nhật bản... cũng còn có các loại hình tượng của vị Bồ tát này.[X. phẩm Tựa kinh Như ý luân đà la ni; phẩm Tụng niệm pháp trong kinh Như ý luân đà la ni; kinh Như ý ma ni chuyển luân thánh vương; kinh Quán tự tại bồ tát như ý tâm đà la ni chú; Quán tự tại bồ tát như ý luân du già; Quán tự tại bồ tát như ý luân niệm tụng nghi quĩ].
như ý luân quan âm bồ tát
Cintamanicakra Bodhisattva (S).
như ý luân quán âm
Cintamanicakra Avalokiteśvara (S)Như ý luân Quán Thế ÂmTên một vị Bồ tát.
; Cintàmanicakra-Bodhisattva (S)
như ý luân quán âm bồ tát
Cintamanicakra (S)Tên một vị Bồ tát.
như ý luân đà la ni kinh
(如意輪陀羅尼經) Kinh, 1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào năm Cảnh long thứ 3 (709) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20.Kinh này gồm có 10 phẩm, nội dung tường thuật việc đức Phật đáp lời thỉnh cầu của bồ tát Quán tự tại mà tuyên thuyết Đà la ni căn bản, Đà la ni đại tâm, Đà la ni tiểu tâm và nói về công đức niệm tụng những Đà la ni này cùng với phương pháp thụ trì. Kinh này có 3 bản dịch khác nhau: 1. Quán thế âm bồ tát bí mật tạng như ý luân đà la ni thần chú kinh, do ngài Thực xoa nan đà dịch. 2. Quán thế âm bồ tát như ý ma ni đà la ni kinh, do ngài Bảo tư duy dịch. 3. Quán tự tại bồ tát như ý tâm đà la ni chú kinh, do ngài Nghĩa tịnh dịch. Ba bản dịch trên đây đều được dịch vào đời Đường, trong đó, bản của ngài Bồ đề lưu chí là hoàn bị hơn cả. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14].
như ý ma ni bình
(如意摩尼瓶) Bình báu có vẽ Mạn đồ la. Bình này có công năng sinh ra tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, giống như bảo châu Như ý có khả năng sinh ra các bảo vật. Cứ theo phẩm Như ý ma ni bình trong kinh Bất không quyên sách quyển 12, thì bình này được làm bằng vàng, bạc, đồng, sành..., trên thân bình vẽ hoa sen, miệng bình vẽ tua nhụy hoa để làm kí hiệu 4 phương và hoa sen được chia làm 3 tầng trên, giữa, và dưới. Trên lá sen ở các mặt đông, nam, tây, bắc của mỗi tầng có vẽ tượng các Bồ tát, Thiên tử, tinh tú, chư thiên... Ngoài ra, còn vẽ hình các đồ trang sức như chuỗi ngọc, áo trời, gậy... Cứ theo truyền thuyết, bình này đến nay vẫn chưa được làm xong.
như ý ma ni đà la ni kinh
Padmacintamani-dhāraṇī sŪtra (S)Quán Thế Âm Bồ tát Như ý ma ni Đà la ni kinh.
; (如意摩尼陀羅尼經) I. Như Ý Ma Ni Đà La Ni Kinh. Cũng gọi: Quán thế âm bồ tát như ý ma ni đà la ni kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bảo tư duy dịch vào khoảng năm Tự thánh thứ 9 đến năm Thần long thứ 2 (693-706) đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 20. (xt. Kinh Quan Thế Âm Bồ Tát Như Ý Ma Ni Đà La Ni). II. Như Ý Ma Ni Đà La Ni Kinh. Cũng gọi: Như ý ma ni kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào sau năm Thái bình hưng quốc (980) đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật nói cho ngài A nan về pháp tiêu trừ tai nạn sấm sét sợ hãi. Kinh nói, ở 4 phương đông, tây, nam, bắc, đều có thần sấm tên là A già, Thiết đế rô, Đa bát ra, Tảo na ma nễ. Nếu người nào biết được chỗ ở của thần sấm rồi, viết tên hiệu của vị thần ấy mà cúng dường thì tránh được tất cả sự sợ hãi và thương tổn do sấm sét gây ra. Ngoài ra, ngài Thí hộ còn dịch 1 bản kinh cùng loại với kinh trên là Tiêu trừ nhất thiết thiểm điện chướng nạn tùy cầu như ý đà la ni kinh.
như ý man dụ
Aradanakalpalata (S)Phật truyện bằng tiếng Phạn.
như ý thông
Rddhisàksàkriyà (S). Supernatural power. Also thần túc thông.
; (如意通) Cũng gọi Như ý túc thông, Thân như ý thông, Thân thông, Thần cảnh trí chứng thông, Thần cảnh trí thông, Thần túc thông. Sức thần thông có thể bay đi vô ngại và tự tại chuyển biến cảnh giới, hóa hiện các loài như người... Là 1 trong 5 thần thông, 1 trong 6 thần thông. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 5 thì có 3 loại Như ý: Năng đáo, Chuyển biến và Thánh như ý. Trong đó, Năng đáo (có thể đến nơi)lại chia làm 4 thứ: 1. Thân có thể bay đi, như chim không bị ngăn ngại. 2. Dời xa lại gần, không đi vẫn đến. 3. Biến mất ở nơi đây, hiện ra ở đằng kia.4. Chỉ một niệm liền đến. Chuyển biến có nghĩa là lớn có thể biến thành nhỏ, nhỏ có thể biến ra lớn, một biến ra nhiều, nhiều biến thành một... Tức là đối với mọi vật đều có thể chuyển biến một cách tự do, tự tại. Thánh như ý nghĩa là quán tưởng vật chẳng vừa ý và nhơ nhớp trong 6 trần thành vật trong sạch; quán tưởng vật vừa ý và trong sạch thành nhơ nhớp. Pháp Thánh như ý này chỉ Phật mới có được. Như ý thông nói trên là do tu 4 Như ý túc(4 thần túc)mà lần lượt sinh ra, chứ chẳng phải được liền 1 lúc. Lại nữa, trong Như ý thông thì 4 thứ Năng đáo tương đương với 3 thứ thần dụng là Vận thân, Thắng giải và Ý thế được nói trong luận Đại tì bà sa. Còn Chuyển biến tương đương với Thế tục sở hân(cái mà người thế tục thích), Thánh như ý tương đương với Thánh giả sở nhạo (điều mà bậc Thánh ưa)... Do đó đủ biết những điều mà 2 bộ luận này(tức Đại trí độ và Đại tì bà sa)nói phần nhiều giống nhau. Ngoài ra, luận Du già sư địa quyển 37, đem Thần cảnh trí thông (Như ý thông) của Phật và Bồ tátchialàm 2 thứ là Năng biến thông và Năng hóa thông. Trong đó, Năng biến thông có 18 thần biến là: Chấn động (làm rúng động khắp tất cả thế giới), Xí nhiên (lửa cháy bừng bừng), Lưu bố(ánh sáng chiếu khắp nơi), Thị hiện(tùy theo ý muốn mà thị hiện), Chuyển biến (biến vật này thành vật khác), Vãng lai(tùy ý muốn mà qua lại khắp nơi không gì làm cho trở ngại được), Quyển (biến xa thành gần), Thư(biến gần thành xa), Chúng tượng nhập thân(cóthể làm cho các hình tượng như người, vật đi vào thân mình), Đồng loại vãng thú(có thể đi đến các chúng Sát đế lợi, Bà la môn cho đến chư thiên... đồng hóa như họ về sắc tướng, ngôn ngữ... để diễn nói chính pháp), Hiển(hiện thân 1 cách tự do, tự tại trăm nghìn lần trước đại chúng), Ẩn (có thể ẩn giấu thân mình trăm nghìn lần 1 cách tự tại), Sở tác tự tại(trong tất cả thế giới của loài hữu tình có thể đi lại tự tại, không bị trở ngại), Chế tha thần thông(có năng lực chế phục thần thông của kẻ khác không cho biến hiện),Năng thí biện tài(nếu khi chúng sinh hết khả năng biện luận thì có khả năng ban cho sức biện tài), Năng thí ức niệm(đối với chính pháp, nếu chúng sinh không ghi nhớ được thì có thể ban cho sức ghi nhớ),Năng thí an lạc(có thể ban cho những người nghe pháp niềm yên vui khiến thân tâm được lợi ích)và Phóng đại quang minh(dùng thần thông phóng ra vô lượng ánh sáng, làm các Phật sự giúp cho chúng sinh được vô lượng lợi lạc). Năng hóa thông thì có 3 thứ biến hóa là: Hóa thân, Hóa cảnh và Hóa ngữ. [X. luận Đại tì bà sa Q.141; luận Câu xá Q.27; luận Tập dị môn túc Q.15; luận Thành thực Q.16; Thập địa kinh luận nghĩa kí Q.8]. (xt. Thập Bát Biến, Ngũ Thông, Lục Thông, Tứ Thần Túc).
như ý tâm đà la ni chú kinh
(如意心陀羅尼咒經) Cũng gọi Quán tự tại bồ tát như ý tâm đà la ni chú kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào năm Cảnh long thứ 4 (710) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh tường thuật việc bồ tát Quán tự tại được đức Phật hứa khả, tuyên nói Đà la ni Vô chướng ngại Quán tự tại liên hoa như ý bảo luân vương. Đức Phật lại bảo: Nếu ai trì tụng thần chú này 1 biến thì trừ diệt được tội, qua khỏi tai nạn và thành tựu sự nghiệp. Còn nếu ngày nào cũng trì tụng 108 biến thì cảm thấy được thế giới Cực lạc của đức Phật A di đà và núi Bổ đát la của bồ tát Quan thế âm, không bị đọa vào đường ác. Kinh này có 3 bản dịch khác như sau: 1. Phẩm thứ nhất kinh Quán thế âm bồ tát bí mật tạng như ý luân đà la ni thần chú, do ngài Thực xoa nan đà dịch vào đời Đường. 2. Nửa trước của kinh Quán thế âm bồ tát như ý ma ni đà la ni, do ngài Bảo tư duy dịch vào đời Đường. 3. Phẩm thứ 1, thứ 2 kinh Như ý luân đà la ni, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời Đường. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13; Tịnh độ y bằng kinh luận chương sớ mục lục].
Như ý túc
如意足; S: ṛddhipāda; P: iddhipāda; hoặc Thần túc, thường được gọi là Tứ như ý túc (四如意足; s: catvāra ṛddhipādāḥ), Tứ thần túc;|Chỉ những nẻo đường dẫn đến Thần thông (Lục thông). Như ý túc bao gồm: 1. Dục (chanda), nghĩa là tập trung vào ý chí mạnh mẽ; 2. Tinh tiến (s: vīrya), tập trung vào nghị lực; 3. Tâm (citta), chú tâm; 4. Trạch pháp (s: mīmāṃsā), chú tâm vào sự tra tầm.
như ý túc
Iddhipāda (P), Ṛddhipāda (S)(Tứ) Thần túcTứ thần túc: Gồm:.
; Rddipàda (S). Roads to powers, to success. Xem tứ như ý túc.
như ý túc thông
Xem Thần túc thông.
như ý túc thị hiện
Iddhi-pratiharya (P), Ṛddhipratiharya (S)Thần thông thị hiện, Thần túc biến hóa thị hiện, Thần thông biến hiệnKhả năng dùng thần thông biến hóa, thực hiện theo như ý muốn mà không ngăn ngại.
như ý điện
(如意殿) Chỉ cho cung điện được trang nghiêm bằng châu như ý. Tức là cung điện của bồ tát Di lặc trên cõi trời Đâu suất. (xt. Như Ý Bảo Châu).
Như Đạo
(如道[導], Nyodō, 1253-1340): vị Tăng của Phái Tam Môn Đồ thuộc Chơn Tông, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương; Tổ đời thứ 2 của Chuyên Chiếu Tự (專照寺, Senshō-ji); húy là Như Đạo (如道[導]); tên lúc nhỏ là Châu Thiên Đại Lữ (珠千代麿); thông xưng là Đại Đinh Như Đạo (大町如道); hiệu Không Như (空如); xuất thân là con của Bình Khoang Cơ (平康基, Taira-no-Yasumoto). Năm 1282, ông theo học giáo nghĩa của Chơn Tông với Viên Thiện (圓善) ở vùng Hòa Điền (和田), Tam Hà (三河, Mikawa); đến năm 1285 thì bố giáo ở vùng Việt Tiền (越前, Echizen); rồi năm 1293 thì sáng lập Chuyên Tu Tự (專修寺) ở Đại Đinh (大町, Ōmachi). Vào năm 1311, ông được Giác Như (覺如, Kakunyo), Tổ đời thứ 13 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), truyền trao cho bản Giáo Hành Tín Chứng (敎行信証); nhưng vì sau đó ông chủ trương pháp môn bí mật gọi là Bất Bái Bí Sự (不拜秘事, chuyện bí mật không lễ bái), nên bị đuổi ra khỏi Tông môn. Năm 1313, ông viết cuốn Ngu Ám Ký Phản Trát (愚暗記返札) để phản biện lại lời phê phán về Chơn Tông của Cô Sơn (孤山), Tăng sĩ của Trường Tuyền Tự (長泉寺) thuộc Thiên Thai Tông. Môn hạ của ông có Như Giác (如覺), Đạo Tánh (道性), Tổ Hải (祖海), v.v. Trước tác của ông để lại có Ngu Ám Ký Phản Trác.
như ảo
Màyopama (S). Illusory, magical. Also như huyễn.
như ảo tam muội
Màyopamasamàdhi (S). Meditation on the unreality of all things.
nhương na bạt đà la
(攘那跋陀羅) Phạm: Jĩànabhadra. Hán dịch: Trí hiền. Cũng gọi Xà nhã na bạt đạt la. Cao tăng người nước Ba đầu ma, tinh thông Tam tạng, nhất là Luật bộ. Năm Minh đế thứ 2 (558) đời Bắc Chu, sư ở chùa Bà gia tại cố đô Trường an, cùng với ngài Xà na da xá (Phạm:Jinayaza), cùng dịch bộ Ngũ minh luận, do sa môn Trí tiên biên chép. [X. Khai nguyên thích lục Q.7; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.10].
nhương ngu lí đồng nữ
(蘘麌哩童女) Nhương ngu lí, Phạm: Jàígulì. Cũng gọi Thường cầu lợi, Thường cù lê, Nhương ngu lê, Nhương câu lê. Vị thần nữ tiêu trừ rắn độc, cũng là hóa thân của bồ tát Quán tự tại, ở trên núi Hương túy, uống nước độc, ăn trái độc, với bản nguyện diệt trừ các thứ độc hại. Vì Ngài hiện tướng người nữ nên gọi là Đồng nữ, cũng gọi Độc nữ; nhưng thực ra Ngài chẳng phải nữ nên cũng gọi là Đồng tử. Theo kinh Thường cù lợi độc nữ đà la ni, thì Ngài là hình đồng nữ, dùng da làm áo, tay trái cầm kiếm hàng độc, tay phải kết ấn Quản độc mộc, khắp mình quấn rắn độc làm vòng, xuyến, chuỗi anh lạc... để trang điểm. Theo kinh Nhương ngu lê đồng nữ, thì thân Ngài màu xanh, có 7 mặt, 4 tay, 2 tay bên phải cầm cây xoa 3 chĩa và 3 đến 5 cái lông chim công; 2 tay bên trái giữ con rắn đen và kết ấn Thí vô úy, dùng rắn độc làm chuỗi anh lạc để trang sức và từ trong các lỗ chân lông đều phát ra lửa. Pháp tu thờ vị tôn này làm bản tôn, gọi là pháp Nhương ngu lí đồng nữ. [X. kinh Quán tự tại bồ tát hóa thân Nhương ngu lí duệ đồng nữ tiêu phục độc hại đà la ni].
nhương ngu lý đồng nữ
Janguli (S)Tên một vị thiên.
Nhương tướng kim cương đà-la-ni kinh
壤相金剛陀羅尼經; C: răngxiàng jīngāng tuóluóníjīng; J: esō kongō daranikyō; S: vajravidāraṇa-dhāraṇī; T: rdo rje rnam par 'joms pa shes bya ba'i gzungs| 1 quyển. Sa-la-ba (沙羅巴, t: zhwa lu pa) dịch. Bản phiên âm Phạn phù hợp với bản dịch tiếng Tây Tạng và Phạn. Các bản dịch khác là Kim cương tồi toái đà-la-ni (金剛摧碎陀羅尼).
nhược hồng tông hộc
(弱吽鍐斛) Nhược ( , ja#), Hồng ( , hùô), Tông ( , vaô), Hộc ( , o#h). Theo thứ tự, 4 chữ trên là chủng tử của 4 Nhiếp bồ tát: Kim cương câu, Kim cương sách, Kim cương tỏa và Kim cương linh trong 37 vị tôn thuộc Mạn đồ la Kim cương giới, Mật giáo. (xt. Tứ Nhiếp Bồ Tát).
nhượng như
Shanka (S)Tên vị Cghuyên luân thánh vương vào thời Di Lặc hiện thân ở cõi ta bà.
nhạ cự la
Xem Nặc cự la.
nhạ da
Jaya (S)Giả DaThiên nữ trong Văn Thù viện.
nhạ đề tử
Xem Ni Kiền Đề.
; Xem Ni kiền đà.
nhạc
Manòjna (S). Music.
; 1) Âm nhạc: Làm cho giải khuây—Music, that which causes joy. 2) In-law (father or mother).
; (樂) Dùng nhạc khí tấu lên âm khúc. Có 3 loại: Thanh nhạc, Khí nhạc, Vũ nhạc. Nhạc được đề cập đến trong kinh phần nhiều là chỉ cho nhạc khí. Phẩm Phương tiện, kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 9 thượng) nói: Nếu sai người tấu nhạc thì đánh trống, thổi tù và, ống tiêu, ống sáo, gảy đàn cầm, đàn tì bà, đàn không hầu, xoa nạo, đồng bạt... những âm thanh mầu nhiệm phát ra từ các nhạc khí ấy đềuđem cúng dường, hoặc đem tâm hoan hỉ ca vịnh khen ngợi đức của Phật, dù chỉ 1 âm thanh nhỏ, tất cả đều đã thành Phật đạo. Cứ theo chương thứ nhất trong kinh Lăng già Laíkàvatàra sùtra) bản tiếng Phạm, thì Ấn độ có thất toàn âm, gồm: Cụ lục (Saharwya), Thần tiên khúc (Fwabha), Trì địa điệu (Gàndhàra), Minh ý (Dhaivata), Cận văn (Niwàda), Trung lệnh (Madhyama) và Kê thi ca (Kaizika). Cũng có chỗ dùng Đẳng ngũ (Phạm: Paĩcama) thay cho Kê thi ca. Tại Trung quốc, Ngũ thanh và Bát âm được dùng làm nhạc. Ngũ thanh là 5 âm giai: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ. Bát âm là 8 thứ tiếng về âm nhạc như: Sanh (tiếng sênh), Thổ (tiếng trống đất),Cách (tiếng trống da), Mộc (tiếng mõ gỗ), Thạch (tiếng khánh đá), Kim (tiếng chuông đồng), Ti (tiếng dây đàn) và Trúc (tiếng ống sáo tre). Về sau, khi nhạc từ các nước Ấn độ, Tây vực... được truyền đến Trung quốc thì Ngũ thanh lại thêm Biến cung và Biến chủy mà trở thành Thất thanh, đồng thời, các chủng loại nhạc khí cũng có nhiều hơn. Phật giáo cấm chỉ việc dùng lời ca, tiếng nhạc, điệu múa làm mục đích vui chơi. Kinh Thiện sinh trong Trường a hàm quyển 11 có liệt kê 6 lỗi về kĩ nhạc; kinh Tăng nhất a hàm quyển 38 lấy việc cấm đàn hát làm 1 pháp trong giới Bát quan trai; luật Ngũ phần quyển 26 cấm tỉ khưu không được múa hát để cúng dường tháp. Nhưng, Pháp hoa kinh huyền tán quyển 4, phần cuối (Đại 34, 727 trung) chép: Kinh Phát bồ đề tâm nói: Không nên đem âm nhạc, nữ sắc cho người, vì các thứ đó sẽ làm loạn tâm chúng sinh. Nhưng nếu đem cúng dường Phật thì không sai trái, như việc cúng dường âm nhạc trong Kim tạng. [X. Phát bồ đề tâm kinh luận Q.thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4, phần 3; Tiền Hán thư Q.21, hạ; Tùy thư Q.14]. (xt. Phật Khúc).
nhạc càn thác bà
The Gandharvas, Indra's musicians—See Gandharva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
nhạc càn thác bà vương
Manodja (S)1- Nhạc, âm nhạc, pháp nhạc, thiên nhạc 2- Tên một trong bốn vị vua Càn thát bà đến nghe Phật giảng kinh Pháp Hoa. Bốn vị ấy là: Nhạc Càn thác bà vương, Nhạc âm Càn thác bà vương, Mỹ Càn thác bà vương, Mỹ âm Càn thác bà vương.
nhạc hội
Concert.
nhạc kinh
Yueh-ching (C), Book of Music Do Khổng Phu Tử san định.
nhạc sư
Music teacher.
nhạc thiên
Deva musicians—See Gandharva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (樂天) Phạm: Apsara. Cũng gọi Phi thiên. Loài hữu tình ở cõi trời, bay đi trong hư không, chuyên tấu nhạc và rải hoa. Nhạc thiên thường sống trong cảnh giới vui sướng, nhưng cũng có cái khổ về ngũ suy. Ở phía tây Ngoại viện Thai tạng giới của Mật giáo cũng có Nhạc thiên, là quyến thuộc của Phong thiên. Tên tiếng Phạm của Nhạc thiên trong Mật giáo làVàdya devatà. Vàdyanghĩa là nhạc khí, âm nhạc;Devatà nghĩa là thần, vì hếVàdya devatà được dịch là Nhạc thiên. Trong kinh chép ấn tướng và chân ngôn của Nhạc thiên tức là ấn tướng và chân ngôn của Nhạc thần Càn thát bà, bởi vậy, xưa nay đều coi Nhạc thiên là cùng thể với Càn thát bà. [X. điều Trường can tự Phật tượng trong Pháp uyển châu lâm Q.13].
nhạc thần
Music-deity.
nhạc thụ
Khi thọ lãnh thuận cảnh thì thân tâm vui vẻ—The sensation, or perception of pleasure.
nhạc trời
Heavenly music.
nhạc âm
1) Âm thanh của tiếng nhạc: The sound of music. 2) See Mạt Nô Thị Nhã Táp Phược La (1).
nhạc âm càn thác bà
Manodjasvara (S)Một trong bốn vị vua Càn thát bà đến nghe Phật giảng kinh Pháp Hoa. Bốn vị ấy là: Nhạc Càn thác bà vương, Nhạc âm Càn thác bà vương, Mỹ Càn thác bà vương, Mỹ âm Càn thác bà vương.
nhạc âm càn thát bà vương
Manòdijnasvara (S) King of Gandharvas.
nhạc âm thụ
Music-tree.
; Gió nhẹ thổi vào là cây trên cõi nước của Đức Phật A Di Đà làm phát ra những âm thanh như tiếng nhạc—The trees in Amitabha's paradise which give forth music to the breeze.
nhạn hành
(雁行) Cũng gọi Nhạn lập. Bầy chim nhạn đậu thẳng hàng, ví dụ chúng tăng đi thành hàng tề chỉnh.Chim nhạn đậu có hàng dọc, hàng ngang khác nhau. Khi vị Trụ trì lên giảng đường thuyết pháp, chúng tăng trong chùa đứng trước tòa pháp xếp thành 2 hàng đông và tây, gọi là Nhạn hàng trắc lập. Điều Vị hành giả phổ thuyết, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng (Đại 48, 1122 thượng) nói: Vị Tham đầu sắp xếp chúng tăng đứng thành hàng thẳng(nhạn lập), cắm hương xong, lạy 3 lạy rồi lui ra, chia thành hai hàng đứng tề chỉnh (nhạn lập) ở phía sau Đông tự và Tây tự. Ngoài ra, chúng tăng đứng xếp hang nghiêm chỉnh trước Phật gọi là Nhạn hang ban.[X. Tục cao tăng truyện Q.22; Thướng đường trong Thiền uyển thanh qui Q.2; môn Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên].
nhạn môn
(雁門) I. Nhạn Môn. Chỉ cho Phật môn, vì đức Phật được tôn xưng là Nhạn vương, nên Phật môn cũngđược gọi là Nhạn môn. II. Nhạn Môn (476-?). Tôn hiệu của ngài Đàm loan, cao tăng Trung quốc thuộc tông Tịnh độ sống vào thời Bắc Ngụy, Sơ tổ tông Tịnh độ Trung quốc và được tôn làm Tổ thứ 3 của Tịnh độ chân tông Nhật bản. Vì sinh quán của ngàiởNhạn môn thuộc Tứ châu (nay là huyện Đại, tỉnh Sơn tây) nên có tôn hiệu này. (xt. Đàm Loan).
nhạn tháp
(雁塔) I. Nhạn Tháp. Phạm: Haôsa-stùpa. Cũng gọi Cắng sa tháp. Tòa tháp ở phía trước chùa Đông phong, hang núi Đế thích (Phạm:Indrazailaguhà) nước Ma yết đà, Ấn độ đời xưa. Chúng tăng ở chùa này theo Tiểu thừa, ăn tịnh nhục, Bồ tát muốn dắt dẫn chuyển hóa họ, bèn hóa thân làm chim nhạn (Phạm: Haôsa) từ trên không rơi xuống chết trước mặt 1 vị tăng; chúng tăng thấy thế vừa thẹn vừa sợ, liền xây linh tháp chôn cất, gọi là Nhạn tháp. II. Nhạn Tháp. Cũng gọi Đại nhạn tháp. Ngôi tháp ở chùa Đại từ ân, thành Tây an, do ngài Huyền trang xây dựng vào năm Vĩnh huy thứ 3 (652) đời Đường, phỏng theo kiểu tháp Nhạn ở chùa Đông phong bên Ấn độ, cho nên gọi là Nhạn tháp. (xt. Đại Nhạn Tháp, Tiểu Nhạn Tháp). III. Nhạn Tháp. Cũng gọi Tiểu nhạn tháp. Ngôi tháp ở chùa Đại tiến phúc, ngoài cửa Vĩnh ninh, thành Tây an, được kiến thiết vào khoảng năm Cảnh long đời Đường.[X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.3; Trường an chí Q.8; Loại tụdanh vật khảo Q.27; Trường an sử tích chi nghiên cứu]. (xt. Đại Nhạn Tháp, Tiểu Nhạn Tháp).
nhạn thư
(雁書) Sự tích chim nhạn đưa thư, 1 trong những truyện bản sinh về đức Phật. Cứ theo phẩm Ác hữu trong kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 4, thủa xưa, vua nước Ba la nại là Ma ha la xà có 2 người con, người anh tên Thiện hữu, người em tên Ác hữu. Người anh muốn đi tìm hạt châu Như ý để cứu giúp nhân dân trong nước, liền cùng với em ra biển, anh được hâu, em vì ghen tị mà chọc mắt anh cho mù rồi cướp lấy châu trở về, nói dối là anh đã chết chìm ngoài biển. Sau khi nghe tin, cha mẹ than khóc không thôi. Còn Thiện hữu sau khi lành vết thương, mắt sáng lại, cư ngụ tại nước Lợi sư bạt. Một hôm, bỗng thấy con chim nhạn trắng nuôi ở trong cung ngày trước, trên cổ có buộc bức thư của mẹ, bay đến kêu vang, Thiện hữu liền viết thư kể rõ sự thực, gửi nhạn đem về. Vua và Hoàng hậu xem thư xong, liền sai người đi đón Thiện hữu về nước. Ác hữu thời ấy chính là tiền thân của Đề bà đạt đa, còn Thiện hữu tức là tiền thân của đức Phật.
nhạn đường
(雁堂) Cũng gọi Nhạn vũ. Chỉ cho ngôi Tinh xá của đức Phật được xây cất trong khu rừng ở nước Tì xá li thuộc Ấn độ đời xưa. Vì kiểu dáng của ngôi Tinh xá giống như con chim nhạn, nên gọi là Nhạn đường. Về sau, Nhạn đường được dùng để chỉ cho chùa Phật. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.10; Thích thị yếu lãm Q.thượng].
nhạo
To like, to expect, to desire.
; To laugh at—To mock.
nhạo báng
See Nhạo.
nhạo thật bồ tát
Satyarata (S)Tên một vị Bồ tát.
nhạy cảm
Sensitivity.
nhả
To spit out.
nhảm nhí
Nonsense.
nhảy
To jump—To leap.
nhảy nhót
To jump about.
nhấn
To press.
nhấn mạnh
To emphasize—To stress—To press.
nhấp pháp ấn tam muội
Sarva-dharma-pnavesa-mudrā-samādhi (S).
Nhất
一; C: yī; J: ichi; |1. Một, số một, đơn độc (s: eka; t: gcig); 2. Một người nào đó, một vật nào đó (s: ekatya); 3. Giống nhau; số ít, một người, một loại (s: ekadhya).
nhất
Eka (S). One, unity, monad, the same. Nhất tam muội: Ekàgrya (S). Undeflected concentration, meditation on one subject nhất hạnh tam muội.
; Eka (skt)—Một—One—Unity—The same—Once.
; (一) I. Nhất. Số 1. II. Nhất. Biểu thị nghĩa sở hữu, đều là... III. Nhất. Biểu thị nghĩa bình đẳng, tuyệt đối. Tắc 45 trong Bích nham lục (Đại 48, 181 hạ) ghi: Có vị tăng hỏi ngài Triệu châu: - Muôn pháp qui về một (nhất), một qui về chỗ nào? Thiền sư Triệu châu đáp: - Lúc ở Thanh châu, tôi có may chiếc áo nặng 7 cân.
nhất ai nhất tạt
(一挨一拶) Đồng nghĩa: Ai tạt. Một đun một đẩy. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền tông, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho việc Thiền sư dùng lời nói, cử chỉ, hoặc nhẹ nhàng, hoặc nặng nề, đưa đẩy để khám nghiệm trình độ hiểu đạo của người học sâu hay cạn. Tắc 23 trong Bích nham lục (Đại 48, 164 thượng) nói: Một cơ một cảnh, một ra một vào, một đun một đẩy (nhất ai nhất tạt), cốt thấy sâu cạn, bề mặt bề trái của vấn đề.
nhất ban đảm bản đắc nhân tăng
(一般擔板得人憎) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thông thường, những kẻ vác tấm ván trên vai bị người ta ghét. Người vác tấm ván trên vai mà đi thì chỉ thấy được phía trước chứ không thấy phía sau, vì chẳng ngoái cổ lại được; ví dụ người chấp trước tự ngã, vị kỉ, chỉ biết có mình, không quan tâm đến ai, không tùy thuận thế thái nhân tình; vì họ không biết tùy duyên thích ứng, nên không được người đời cảm thông và tha thứ. Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 3 (Đại 47, 1004 thượng) ghi: Lúc ấy, có vị tăng hỏi rằng: Những kẻ vác tấm ván bị người ghét (Nhất ban đảm bản đắc nhân tăng), đóng cửa mười năm trong rừng sâu.
Nhất Biến
(一遍, Ippen, 1239-1289): vị tăng sống vào giữa thời kỳ Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), vị tổ sư khai sáng ra Thời Tông của Nhật Bản, húy là Trí Chơn (智眞), người vùng Y Do (伊予). Ông đầu sư với Thánh Đạt (聖達), đệ tử của Chứng Không (証空), môn đệ của Pháp Nhiên (法然, Hōnen); nhưng sau đó thì đến vùng Hùng Dã (熊野, Kumano) chuyên tâm tu tập, được linh ứng cho biết rằng chúng sanh quyết định sẽ được vãng sanh. Từ đó về sau, ông khuyên dân chúng tu tập pháp môn Niệm Phật Nhảy (踊念佛, Odorinembutsu, có nghĩa vừa đánh trống vừa niệm Phật và xướng to theo kiểu tán của Nhật, rất giống với hình thức nhảy múa, nên có tên gọi như vậy. Pháp môn này do vị tăng sống giữa thời Bình An là Không Dã [空也, Kūya, 903-972] sáng lập nên), rồi phân chia cho mọi người các thẻ có ghi danh hiệu A Di Đà. Vì ông đã từng đi khắp nơi để truyền giáo, nên được gọi là Du Hành Thượng Nhân, Xả Thánh. Giáo pháp của ông có thể tìm thấy qua mấy bộ Ngữ Lục (語錄), Bá Châu Vấn Đáp Tập (播州問答集), v.v. Ông được ban cho thụy hiệu là Viên Chiếu Đại Sư (圓照大師) và Chứng Thành Đại Sư (証成大師).
; 一遍; C: yībiàn; J: ippen;|Thiền sư Nhật Bản, được xem là vị tổ của Thời tông (時宗), một phái của Tịnh độ Phật giáo, có chùa chính là Du Hành tự ở Fujisawa. |Nhất Biến sinh ra trong thời đại quận công Ehime và được học tập rất sớm với với một đệ tử của Pháp Nhiên. Sư xuất gia rồi hoàn tục một lần, nhưng sau đó thay đổi ý định. Sau khi hành hương đến Thiện Quang tự (善光寺; j: zenkōji) ở quận Nagano, sư đến một ngôi chùa hẻo lánh ở Ehime, thực hành pháp tu rất nghiêm mật, cuối cùng, Sư đạt được sự an trú toàn vẹn nơi Phật A-di-đà. Qua kinh nghiệm của mình, Sư trở nên rất tự tin cho rằng với bất kì tầng bực thiết tha tu tập của bất cứ căn cơ nào của chúng sinh, dù nam hay nữ, họ đều có thể được vãng sinh ở Tịnh độ, dù chỉ bằng công đức trì niệm một danh hiệu đức Phật A-di-đà. Sau đó, sư đi khắp nơi trong nước, phát cho mọi người những tờ giấy ghi chép lời chỉ dạy căn bản cho pháp tu Tịnh độ. Có đến hàng ngàn người hành trì theo sự khuyến giáo của sư. Khi biết mình sắp viên tịch vào năm 51 tuổi, sư đốt tất cả nhưng gì sư đã trước tác, nên nay chẳng còn tác phẩm nào của sư lưu hành.
nhất biến
Once, one recital of Buddha's name, or of a sùtra, or a mantra.
; Một lần niệm hồng danh của Phật—One recital of Buddha's name.
; (一遍) Vị Tổ khai sáng của Thời tông Nhật bản, tên là Trí chân, xuất gia năm 7 tuổi. Lúc đầu, sư tu học ở núi Tỉ duệ, sau đến phủ Thái tể tu Tịnh độ. Khi tham học ở Hùng dã, sư mới đổi tên là Nhất biến. Từ đó về sau, sư hoằng dương pháp môn niệm Phật của Không dã thượng nhân ở khắp nơi trên toàn quốc, người đương thời gọi sư là Du hành thượng nhân, Xả thánh, tín chúng rất đông. Sư thị tịch vào năm Chính ứng thứ 2 (1289) ở Quan âm đường tại Binh khố hòa điền, Nhật bản, thụy hiệu là Viên Chiếu Đại Sư. Sư có các tác phẩm: Ngữ lục cập Bá châu vấn đáp tập, Nhất biến thượng nhân hội truyện.
nhất biến thương nhân
Ippen Shonin (J)Tên một vị sư.
nhất biện hương
(一瓣香) Cũng gọi Nhất chú hương. Một nén hương hay 1 thẻ hương. Nhất biện hương có nghĩa là đốt hương kính lễ. Trong Thiền lâm, khi vị tôn túc thăng tòa thuyết pháp, đốt đến nén hương thứ 3 thì nói: Một nén hương này (Nhất biện hương) kính dâng cho Pháp sư... đã truyền đạo pháp cho con. Ngày nay dùng Nhất biện tâm hương, Tâm hương nhất biện để dụ cho tâm tinh thành sùng kính 1 người nào đó, tấm lòng cung kính ấy cũng giống như đốt hương lạy Phật.
nhất bách
Sata (skt)—Một trăm—One hundred.
nhất bách bát
(一百八) Gọi tắt: Bách bát. Số 108. Phật giáo thường dùng con số này để gọi thay cho phiền não, hoặc kết hợp với các từ ngữ khác như: Bách bát phiền não, Bách bát kết nghiệp, Nhất bách bát dụ, Bách bát tôn công đức, Nhất bách bát pháp minh môn...
nhất bách bát biến
(一百八遍) Tức niệm Phật 108 lần. Con số 108 nguyên là số của phiền não, do đó, xâu chuỗi dùng để niệm Phật thường có 108 hạt. Bởi vậy, niệm Phật 108 lần là để đối trị 108 cái phiền não.
nhất bách bát danh đà la ni kinh
(一百八名陀羅尼經) Cũng gọi Thánh đa la nhất bách bát danh kinh, Thánh đa la bồ tát nhất bách bát danh đà la ni kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này tường thuật việc Đại bồ tát Đa la nói pháp Đà la ni, các trời, người, Dạ xoa, Càn thát bà... nghe đều sợ hãi. Bấy giờ, Tự tại thiên vương nói chú khen ngợi bồ tát Đa la nhất bách bát danh, bồ tát Đa la phóng ánh sáng chiếu soi các quốc độ trong 10 phương, rồi nói về nhân duyên Như lai cứu độ, che chở hết thảy chúng sinh cho Tự tại thiên vương và các trời, người nghe; sau đó, dùng các loại tia sáng trang nghiêm Như lai, tán thán công đức của bồ tát Đa la nhất bách bát danh. Bản dịch khác của kinh này có: Tán dương Thánh đức Đa la bồ tát nhất bách bát danh kinh, 1 quyển, do ngài Thiên tức tai dịch và Thánh đa la bồ tát phạm tán, 1 quyển, do ngài Thí hộ dịch.
nhất bách bát pháp minh môn
(一百八法明門) Một trăm lẻ tám pháp minh môn nói trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 6. Pháp minh môn có công năng làm cho chúng sinh phá trừ tối tăm, được trí tuệ thông suốt tất cả. Khi bồ tát Hộ minh (tên của đức Phật Thích ca mâu ni khi ở Thiên cung), từ cung trời Đâu suất sắp thác sinh xuống nhân gian, ngồi trên tòa sư tử tuyên thuyết 108 minh môn này để cho chư thiên ghi nhớ rồi mới hạ sinh.
nhất bách bát tràng hạt
Một trăm lẽ tám tràng hạt—One hundred and eight pearls (beads).
nhất bách bát tý kim cang tạng vương bồ tát
Xem Kim Cang tạng vương Bồ tát.
nhất bách nghĩa môn
(一百義門) Một trăm nghĩa môn do Đại sư Thiện đạo thiết lập để giải thích nghĩa 9 phẩm trong kinh Quán vô lượng thọ. Ngay đầu phần Tán thiện nghĩa, ở đoạn văn trước Thượng bối quán, mỗi phẩm trong 9 phẩm được chia làm 11 môn như sau: 1. Giải thích tổng quát về cáo mệnh. 2. Giải thích về việc phân định ngôi thứ. 3. Nêu chung các loài có duyên. 4. Biện minh lí do lấy tam tâm (chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm) làm nhân chính yếu. 5. Giải thích rõ việc lựa chọn căn cơ khamnổi hay không. 6. Giải thích rõ việc chúng sinh tiếp nhận giáo pháp không giống nhau. 7. Giải thích rõ thời tiết tu tập nhanh, chậm khác nhau. 8. Giải thích việc hồi hướng hạnh tu tập, nguyện sinh về Tịnh độ của Phật Di đà. 9. Giải thích rõ lúc lâm chung, Phật Bồ tát đến đón rước không đồng, thời gian đi có nhanh, chậm. 10. Giải thích rõ khi sinh về Tịnh độ, hoa sen nở có nhanh, chậm khác nhau. 11. Giải thích rõ sau khi hoa sen nở, được lợi ích không giống nhau. Trong 9 phẩm, mỗi phẩm đều có 11 môn này, cộng chung là 99 nghĩa môn. Nhưng vì muốn dùng số chẵn nên gọi là 100.
nhất bách ngũ thập tán
Satapancastika (S)Phật truyện bằng tiếng Phạn.
nhất bách ngũ thập tán phật tụng
Sapta-pancasatkastotra (S)Tên một bộ luận kinh.
; (一百五十贊佛頌) Phạm: Zata-paĩcàzatakastotra. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Ma điệt lí lợi chế tra soạn, ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung sách này gồm 148 bài tụng tán thán đức của Phật. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13].
nhất bách nhất thập thiện tri thức
(一百一十善知識) Chỉ cho 110 vị thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đã gặp khi qua 110 thành trong 53 cuộc hỏi đạo. Thực ra, trong kinh Hoa nghiêm chỉ ghi có 54 chỗ và gặp 55 vị thiện tri thức. Nhưng vì trong quá trình tu hành có đương phần và thắng tiến nên nhân đôi số 55 thiện tri thức thành 110 thiện tri thức. [X. kinh Hoa nghiêm Q.59 (bản 60 quyển)].
nhất bách nhất thập thành
(一百一十城) Một trăm mười tòa thành mà đồng tử Thiện tài đã trải qua khi đi hỏi đạo nơi 53 vị thiện tri thức. Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 78 (Đại 10, 428 hạ) ghi: Con của vị trưởng giả này khi xưa thụ giáo nơi ngài Văn thù ở Phúc thành, rồi lần lượt đi về phương Nam, cầu thiện tri thức, trải qua 110 vị, sau cùng mới đến chỗ của ta. [X. kinh Hoa nghiêm Q.59 (bản 60 quyển)].
nhất bách tam thập lục địa ngục
(一百三十六地獄) Một trăm ba mươi sáu địa ngục. Cõi Dục có 8 đại địa ngục căn bản, mỗi đại địa ngục lại đều có 16 tiểu địa ngục, 8 lần 16 thành 128, cộng với 8 địa ngục căn bản thành 136 địa ngục lớn và nhỏ. [X. phẩm Địa ngục trong kinh Trường a hàm Q.19; luận Câu xá Q.11].
nhất bách đan ngũ
(一百單五) Chỉ cho ngày Hàn thực (ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch) là ngày thứ 105 sau tiết Đông chí. Vào ngày này, trong Thiền lâm, chư tăng phải ăn đồ nguội chứ không đun nấu. Đại ứng lục quyển thượng (Đại 80, 101 trung) nói: Nhất bách đơn ngũ (ngày Hàn thực) trước tiết Thanh minh.
nhất bách ứng đương học pháp
(一百應當學法) Ưng đương học, Phạm: Zikwàkaraịìya, Pàli: Sikkhà-karaịìya. Cũng gọi Nhất bách chúng học, Ưng đương học. Một trăm pháp mà tăng ni cần phải học. Luật Tứ phần liệt kê 100 giới Ưng đương học như sau: - Từ giới thứ 1 đến giới 25: Nói về uy nghi của tỉ khưu. - Từ giới 26 đến giới 47: Nói về việc ăn uống. - Từ giới 48 đến giới 51: Nói về việc đại tiểu tiện. - Từ giới 52 đến giới 59: Nói về việc giảng kinh thuyết pháp. - Từ giới 60 đến giới 85: Nói về việc kính trọng tháp Phật. - Từ giới 86 đến giới 92: Cũng nói về việc thuyết pháp. - Từ giới 93 đến giới 95: Nói về uy nghi. - Từ giới 96 đến giới 100: Cũng nói về việc giảng kinh thuyết pháp.
nhất bát
(一鉢) Cái bát của tăng sĩ Phật giáo. Thông thường nói Ba áo một bát là nói lên cuộc sống đơn giản mộc mạc của người tu hành Phật đạo.
nhất bão vong bách cơ
(一飽忘百饑) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một no quên trăm đói. Nghĩa là 1 lần được ăn no bỗng quên bẵng 100 lần bị đói trước kia. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được sử dụng để ví dụ 1 khi đã vào được cảnh giới giải thoát tự do tự tại, thì không còn cố bám vào cái cõi đời nhọc nhằn, rối rắm này nữa. Triệu châu lục quyển hạ (Vạn tục 118, 167 hạ) nói: Mặt trời xế bóng, lần này chẳng dẵm đạp chỗ có thời gian, từng nghe một no quên trăm đói(Nhất bão vong bách cơ), chính là thân lão tăng hôm nay vậy.
nhất bút câu
(一筆勾) Nghĩa là phá trừ tất cả duyên trần. Đại sư Liên trì từng làm 7 bài Nhất bút câu để khuyến cáo người đời như: Ngũ sắc kim chương nhất bút câu, Ngư thủy phu thê nhất bút câu... Ngày nay, Nhất bút câu được dùng với nghĩa là không đề cập đến những việc trước kia nữa.
Nhất bút tam lễ
一筆三禮; C: yībǐ sānlǐ; J: ippitsu sanrai;|Nhất đao tam lễ (一刀三禮).
nhất bút tam lễ
Mỗi nét họa hình của Thế Tôn, lễ lạy ba lần—Three salutions at each drawing or painting of a picture of the Buddha.
; (一筆三禮) Một bút ba lạy. Nghĩa là khi vẽ, khắc tượng Phật hoặc viết chép văn kinh, mỗi lần đặt bút xuống lại lạy 3 lạy để bày tỏ lòng thành kính thiết tha.
nhất bạch tam kiết ma
Trong nghi lễ thọ giới, vị sư được thọ giới sẽ trả lời ba lần mỗi câu hỏi của sư chứng minh—One announcement and three responses—It is the mode of ordaining monks, three responses to the one call of the abbot.
nhất bạch tam yết ma
(一白三羯磨) Cũng gọi Bạch tứ yết ma, Tam yết ma, Bạch tứ. Một lần tác bạch (thưa các việc) ba lần yết ma. Trong tăng đoàn, mỗi khi có những việc trọng đại như thụ giới, phân xử các tội nặng như trị phạt, diệt tránh... thì cần phải tiến hành nghị quyết trước chúng tăng từ 4 vị Yết ma sư trở lên, trình tự của nghị quyết này là 1 lần cáo bạch (Nhất bạch) và 3 lần xin biểu quyết (tam yết ma). [X. luận Tứ phần Q.33, 39; luật Ma ha tăng kì Q.23; Thụ giới bồ tát nghi; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].
nhất bạch tam yết-ma
xem bạch tứ-yết-ma.
nhất bản thập chi
(一本十支) Một gốc 10 nhánh. Tông Pháp tướng lấy luận Du già sư địa làm luận gốc, gọi là Nhất bản, còn lấy các luận chú thích luận Du già sư địa làm luận nhánh (chi luận). Luận nhánh có 10 bộ, gọi là Thập chi. Đó là: 1. Luận Bách pháp minh môn, cũng gọi luận Lược trần danh số. Luận này chép sơ lược những danh số trong Bản địa phần của luận Du già sư địa và lấy tất cả pháp vô ngã làm tông. 2. Luận Ngũ uẩn, cũng gọi luận Thô thích thể nghĩa, luận Y danh thích nghĩa. Luận này nói sơ lược về cảnh sự trong phần Bản địa của luận Du già sư địa và lấy vô ngã duy pháp làm tông. Hai bộ luận trên đều do ngài Thiên thân soạn. 3. Luận Hiển dương thánh giáo, cũng gọi luận Tổng bao chúng nghĩa, do ngài Vô trước soạn. Luận này tóm tắt yếu nghĩa của 17 địa Du già và lấy minh giáo làm tông.4. Luận Nhiếp đại thừa, cũng gọi luận Quảng bao đại nghĩa, do ngài Vô trước soạn. Bao gồm các pháp môn sâu kín của Du già, giải rõ tông yếu của 1 phẩm A tì đạt ma nhiếp Đại thừa và lấy sự giản biệt Tiểu thừa vào hàng Thập địa làm tông. 5. Luận Tạp tập, cũng gọi luận Phân biệt danh số, luận Quảng trần thể nghĩa; do ngài Vô trước soạn. Bao gồm tất cả pháp môn của luận Du già sư địa, tập hợp tất cả tông yếu của kinh A tì đạt ma và lấy 3 khoa: Uẩn, Xứ, Giới làm tông. 6. Luận Biện trung biên, cũng gọi luận Li tịch chương trung. Phần kệ tụng do bồ tát Di lặc trứ tác, luận giải thích do ngài Thiên thân soạn. Nội dung luận này gồm 7 phẩm nói về pháp tướng Du già và lấy Trung đạo làm tông. 7. Luận Nhị thập duy thức, cũng gọi luận Tồi phá tà sơn. Nội dung giải thích 7 vấn nạn để thành lập Duy thức du già và lấy Duy thức vô cảnh làm tông. 8. Luận Tam thập duy thức, cũng gọi luận Cao kiến pháp chàng. Nội dung bàn rộng về cảnh thể Du già và lấy ngoài thức chẳng có gì thực có làm tông. Hai bộ luận trên (7 và 8), phần kệ tụng gốc do ngài Thiên thân trứ tác, còn phần giải thích Tam thập duy thức là do nhóm 10 vị Luận sư như ngài Hộ pháp... soạn. 9. Luận Đại thừa trang nghiêm, cũng gọi luận Trang nghiêm thể nghĩa. Phần kệ gốc do bồ tát Di lặc trứ tác, phần giải thích do ngài Thiên thân soạn. Nội dung bao gồm tất cả pháp môn Nhất địa của Bồ tát Du già và lấy trang nghiêm Đại thừa làm tông. 10. Luận Phân biệt du già, cũng gọi luận Nhiếp tán qui quán, do bồ tát Di lặc tạo. Luận này chưa có bản Hán dịch. Nếu căn cứ vào phẩm Phân biệt du già trong kinh Giải thâm mật mà suy đoán, thì luận này lấy Chỉ quán làm tông.
nhất bảo
Một bảo vật (sự linh mẫn của tâm tánh)—The one precious thing—The spirit or intelligent mind or nature .
; (一寶) Một vật báu. Ví dụ cho bản tính của chúng sinh hay bản thể của vũ trụ. Phẩm Quảng chiếu không hữu trong luận Bảo tạng (Vạn 96, 25 thượng) nói: Trong trời đất, giữa khoảng vũ trụ, có một vật báu ẩn trong hình sơn. Vật biết khôn sáng, trong ngoài rỗng không, tĩnh lặng khó thấy, gọi là Huyền huyền (lặng lẽ sâu kín). Nhất bảo này đầy khắp không gian vô hạn, xuyên suốt thời gian vô cùng, thường trụ trong 3 đời và khắp cả 10 phương, nên Thiền tông cũng thường dẫn từ này để dạy chúng. Tắc 62 trong Bích nham lục (Đại 48, 193 hạ) ghi: Trong trời đất, giữa khoảng vũ trụ, có một vật báu, ẩn tại hình sơn, cầm lồng đèn hướng tới điện Phật, đem 3 cửa để trên lồng đèn.
nhất bất khứ nhị bất trụ
(一不去二不住) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một không đi hai chẳng ở. Nghĩa là nếu một chưa kết thúc, thì hai kế tiếp sẽ chẳng đến. Trong Thiền lâm, cụm từ này thường được dùng để biểu thị đạo lí tự nhiên như thế. [X. chương Hoàng long Tuệ nam trong Ngũ đăng hội nguyên Q.17].
nhất bổng
(一棒) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một cây gậy, hàm ý là đánh cho 1 gậy. Đây là cơ pháp của Thiền sư dùng để tiếp hóa người học. Đồng nghĩa với từ Nhất hát (1 tiếng hét). Triệu châu lục quyển hạ (Vạn tục 118, 166 thượng) nói: Sư đi ngang qua chính điện, thấy 1 vị tăng đang lễ bái, sư đánh cho 1 gậy(đả nhất bổng). Vị tăng thưa: Lễ bái cũng là việc tốt mà! Sư nói: Việc tốt chẳng bằng vô sự.
nhất bổng đả sát
(一棒打殺) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một gậy đánh chết. Đây là cơ phong nghiêm khắc thầy dùng để cảnh tỉnh đệ tử, nhằm trừ sạch vọng tưởng ác kiến của người học. Vân môn lục quyển trung (Đại 47, 560 trung) nói: Lúc đức Thế tôn hạ sinh, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, bước đi bảy bước, mắt nhìn bốn phía nói: Trên trời dưới trời, chỉ có ta là tôn quí. Sư nói: Nếu lúc đó mà ta gặp, thì ta đã đánh cho 1 gậy chết (Nhất bổng đã sát).
nhất chi hoa
(一枝花) Một nhành hoa, tức Thiền tông gọi là hoa Kim ba la. Thủa xưa, Phạm thiên vương dâng hoa Kim ba la thỉnh đức Thế tôn thuyết pháp. Sau khi thăng tòa, Ngài đưa nhành hoa lên để khai thị đại chúng. Mọi người trong pháp hội đều im lặng, chỉ có tôn giả Ca diếp ngộ được ý Phật nên mỉm cười.
nhất chiến
Divākara (S)Tên một vị sư. Sư Ấn độ vào Trung quốc dịch kinh (613 - 687).
nhất chuyển ngữ
A turning word; a fateful word.
; Một chữ làm chuyển đổi—A turning word—A word when spoken and heard just at the right time and place, has the power to serve as a turning point in one's life.
; (一轉語) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một câu nói khiến cho người chuyển mê khai ngộ. Nghĩa là lúc Thiền sinh mờ mịt không hiểu, hết đường tới lui, thì lập tức vị thầy chuyển đổi cơ pháp nói ra 1 câu làm cho Thiền sinh tỉnh ngộ, gọi là Nhất chuyển ngữ. Tắc 8 trong Thung dung lục (Đại 48, 232 thượng) nói: Thủa quá khứ thời đức Phật Ca diếp tôi từng trụ ở núi này. Có người học hỏi tôi: Bậc đại tu hành còn rơi vào nhân quả không? Tôi nói là không rơi vào nhân quả. Do câu nói ấy mà tôi bị đọa làm loài chồn đã 500 đời. Nay xin Hòa thượng nói cho tôi 1 chuyển ngữ (Nhất chuyển ngữ). Ngài Bách trượng nói: Không lầm nhân quả. Ngay câu nói ấy, ông già đại ngộ. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.22; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.38].
nhất chuỳ
(一槌) Một dùi. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cái dùi làm bằng gỗ hình 8 góc, gõ vào cái kiểng thì phát ra tiếng. Trong các tùng lâm, Nhất chùy được dùng để thông báo mọi việc cho đại chúng biết. Ngoài ra, khi vị Trụ trì thướng đường thuyết pháp, vị Bạch chùy sư(người phụ trách việc đánh kiểng)cũng đánh chùy 1 hồi. Tắc 92 trong Bích nham lục (Đại 48, 216 hạ) nói: Trong hội nếu có người thông minh linh lợi, thì đâu nhọc Văn thù đánh một dùi (nhất chùy).
nhất chuỳ tiện thành
(一槌便成) Một dùi liền thành. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là vị thầy đánh 1 tiếng kiểng, người học ngộ liền. Đồng nghĩa với Ngôn hạ tức ngộ (ngay câu nói đó mà triệt ngộ tức khắc). Tắc 46, trong Bích nham lục (Đại 48, 182 trung) nói: Một chùy liền ngộ, siêu phàm vượt thánh.
nhất chân
Nhất như—Nhất thật—The whole of reality (bhutatathata).
nhất chân (chơn)
The whole of reality, the universe, the all. Nhất chân địa: the state of meditation on the absolute.
nhất chân như
See Chân Như (B).
nhất chân pháp giới
The dharma realm of one reality. Nhất chân vô vi: the one reality, or undivided absolute, is static, not phenominal, effortless, self existing.
; Là biệt danh của tự tánh, cũng là quả chứng cùng tột của tông Hoa Nghiêm.
; Pháp giới của chân thực—The dharma realm of the one reality.
; (一真法界) Nhất tức không hai, Chân tức chẳng vọng, giao thoa dung nhiếp, nên gọi là Pháp giới. Tức là Pháp thân bình đẳng của chư Phật, từ xưa đến nay vốn không sinh không diệt, chẳng không chẳng có, lìa danh lìa tướng, không trong không ngoài, chỉ có một chân thực chẳng thể nghĩ bàn, vì thế gọi là Nhất chân pháp giới. [X. Hoa nghiêm kinh sớ sao Q.60; Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.1].
nhất chân vô vi
(一真無爲) Thể của Nhất chân pháp giới không do tạo tác(vô vi)mà tự nhiên hình thành, thể ấy không 2 không vọng, thanh tịnh vô lậu, tính không sinh không diệt, nên diệu dụng vô cùng.
nhất chân địa
The state of meditation on the absolute.
; (一真地) Chỉ cho giai vị chứng ngộ diệu lí Nhất chân pháp giới. Trong kinh Tứ thập nhị chương có câu Coi bình đẳng như Nhất chân địa.
nhất chích nhãn
(一隻眼) Đồng nghĩa: Đính môn nhãn, Chính nhãn, Hoạt nhãn, Minh nhãn. Một con mắt. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho con mắt trí tuệ có chính kiến chân thực về Phật pháp, không giống như mắt thịt của phàm phu. Tắc 8 trong Bích nham lục (Đại 48, 48 thượng) nói: Có được Nhất chích nhãn thì đoạn được 10 phương, đứng thẳng nghìn trượng.
Nhất chơn
(一眞): toàn thể sự chân thật, không hư dối, chỉ cho vũ trụ, tất cả; đồng nghĩa với nhất như (一如), nhất thật (一實), chơn như (眞如). Như trong Khuyến Tu Tịnh Độ Thi (勸修淨土詩) của Đại Sư Thật Hiền Tỉnh Am (實賢省庵, 1686-1734) nhà Thanh có câu: “Tứ Đại chi trung na nhất chơn, ngã dữ Di Đà phi lưỡng cá (四大之中那一眞、我與彌陀非兩箇, ngay trong bốn đại còn chân thật, ta với Di Đà đâu hai thể).” Hay trong Nguyên Thỉ Thuyết Tiên Thiên Đạo Đức Kinh Chú Giải (元始說先天道德經註解) của Đạo Giáo có đoạn: “Hư vô bất động, nhất chơn phổ phát, thanh tịnh diệu thông, đạo tại kỳ thỉ (虛無不動、一眞普發、清靜妙通、道在其始, hư vô chẳng động, chân thật rộng khắp, trong sạch diệu thông, đạo nơi khởi đầu).” Hoặc trong Triệt Ngộ Đại Sư Di Tập (徹悟大師遺集) quyển trung cũng có câu: “Thống duy nhất chơn pháp giới, cái viên cai vạn hữu, duy thị nhất tâm (統唯一眞法界、蓋圓該萬有、唯是一心, khắp cùng pháp giới chơn như, bao trùm cả vạn hữu, chỉ là nhất tâm).” Câu “nhất chơn diệu thể, ninh hữu khứ lai chi thoại (一眞妙體、寧有去來之瑞)” có nghĩa là thể tánh vi diệu của chơn như vốn không sanh, không diệt, chẳng không chẳng có, lìa xa danh tướng, chẳng trong chẳng ngoài, vượt ra mọi phạm trù đối đãi, thì làm sao có tướng đến và đi.
nhất chướng nhất thiết chướng
(一障一切障) Chướng một chướng tất cả. Nghĩa là chúng sinh tạo tác nghiệp ác, khi phát khởi 1 niệm sân hận thì trăm nghìn cửa nghiệp chướng mở ra, tất cả thiện căn đều bị tiêu diệt, tất cả nghiệp chướng đồng thời thêm lớn, bởi thế nên hễ chướng 1 thì chướng tất cả.
nhất chất bất thành
(一質不成) Một chất chẳng thành, 1 trong 3 Bất thành do ngài Đạo an đời Đông Tấn lập ra. Trong luận Tịnh độ của mình, ngài Đạo an đã giải thích rõ sự quan hệ giữa Tịnh độ và Uế độ là: Nếu nhìn bằng tâm ô nhiễm thì khắp thế giới đều là Uế độ; còn nếu nhìn với tâm thanh tịnh thì tất cả mọi nơi, đâu cũng là Tịnh độ. Vì thế nên biết Tịnh độ là do tịnh nghiệp tạo thành, Uế độ là do uế nghiệp sinh ra; như vậy, bản chất của 2 cõi này cũng chẳng là một. Đó chính là ý nghĩa Nhất chất bất thành. [X. An lạc tập Q.thượng]. (xt. Tam Bất Thành).
nhất chỉ
(一指) Một ngón tay. Theo kinh Lăng nghiêm quyển 6, sau khi đức Như lai nhập diệt, nếu có vị tỉ khưu nào phát tâm quyết định tu tập Tam ma đề, thiêu 1 lóng ngón tay và đốt 1 liều hương trên thân thể ở trước hình tượng đức Như lai, thì vô lượng oan trái của người ấy ở các kiếp trước đồng thời trả hết, dứt hẳn các lậu hoặc.
nhất chỉ thiền
(一指禪) Cũng gọi Câu chi nhất chỉ, Câu chi thụ chỉ, Nhất chỉ đầu thiền. Thiền một ngón tay. Tên công án trong Thiền tông. Cơ pháp dựng đứng 1 ngón tay để tiếp hóa người học của Hòa thượng Câu chi ở Kim hoa, Vụ châu, vào đời Tống. Nguyên lúc đầu Hòa thượng Câu chi còn trụ ở am, nhân việc 1 ni sư hỏi 3 lần mà Hòa thượng không đáp được, Hòa thượng liền lập chí đi tìm thầy hỏi đạo. Được thần núi mách bảo, Hòa thượng đến tham yết Thiền sư Thiên long, ngài Thiên long dùng 1 ngón tay khai thị, ngay lúc ấy Hòa thượng Câu chi đại ngộ. Từ đó trở đi, hễ có ai đến tham vấn, Hòa thượng đều dựng 1 ngón tay lên. Đến lúc lâm chung, Hòa thượng dạy chúng (Đại 51, 288 trung): Ta được ngài Thiên long truyền cho Nhất chỉ thiền mà suốt đời dùng không hết. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.7, 11; Ngũ đăng hội nguyên Q.4; Bích nham lục tắc 19].
Nhất chỉ tiểu tiêu tức
一紙小消息; C: yīzhǐ xiǎoxiāoxí; J: isshi koshōsoku;|Một lá thư riêng của Pháp Nhiên gởi cho một đệ tử của mình ở Kuroda, được lưu lại trong tông môn Tịnh độ, được dùng cho đến ngày nay để chỉ dạy cho những hành giả trong tông môn này. Ngược với bài viết Nhất Mai khởi thỉnh văn (一枚起請文; j: ichimai kishomon), thư này bày tỏ lòng nhiệt thành từ kinh nghiệm cá nhân của Pháp Nhiên về hiệu nghiệm của pháp tu Niệm Phật (念佛; j: nembutsu). Cả hai bản văn Nhất chỉ tiểu tiêu tức và Nhất mai khởi thỉnh văn đều được chư tăng ngày nay sử dụng trong công phu hằng ngày.
nhất chụ
(一炷) Chú nghĩa là đốt hương. Nhất chú là đốt hương 1 lần. Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 7 (Đại 48, 1154 thượng) nói: Trước Thánh tăng, đốt 1 nén hương, trải tọa cụ lễ 3 lễ, đi quanh Thiền đường 1 vòng.
nhất chứng nhất thiết chứng
(一證一切證) Chứng một chứng tất cả. Bậc thượng căn dùng trí viên diệu soi rõ tính cảnh viên thông, không đầu không cuối, chẳng cạn chẳng sâu, chẳng có chẳng không, không pháp nào chẳng đủ, chẳng chỗ nào không thông, bởi thế cho nên hễ chứng nhập 1 chỗ thì chứng nhập tất cả chỗ.[X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.3].
nhất chửu
(一肘) Phạm: Hasta. Một khuỷu tay, là đơn vị đo chiều dài của Ấn độ đời xưa. Cứ theo luận Câu xá quyển 12, 7 hạt lúa mạch là 1 đốt ngón tay, 3 đốt là 1 ngón tay, 24 ngón tay xếp theo hàng ngang gọi là 1 khuỷu tay(nhất trửu). Theo Đại đường tây vực kí quyển 2, thì 1 cung bằng 4 khuỷu tay, 1 khuỷu tay bằng 24 ngón tay. Nhưng ngón tay của mỗi người có dài, ngắn khác nhau, nên chiều dài của 1 khuỷu tay cũng không nhất định, đại khái khoảng 1 thước 4 tấc, cho đến 1 thước 8 tấc (Tàu). Chiều dài 1 khuỷu tay của đức Phật thì gấp đôi độ dài trên. [X. luận Bồ đề tâm; Tạo tượng lượng đạc kinh giải].
Nhất cung
(一弓) [tạp]: đơn vị đo lường, tức chiều dài của cây cung (s, p: dhanu, 弓). Hạc Lâm Ngọc Lộ (鶴林玉露) 9 có đoạn rằng: “Hình Công thi vân: 'Ngọa chiêm khoan nhàn ngũ bách cung, cái Phật gia dĩ tứ trửu vi cung, trửu nhất xích bát thốn, tứ trửu cái thất xích nhị thốn, kỳ thuyết xuất dịch Phạn (荆公詩云、臥占寬閑五百弓, 蓋佛家以四肘爲弓、肘一尺八寸、四肘蓋七尺二寸、其說出譯梵, Thơ Hình Công ghi rằng: 'Nằm nhàn nhã bói xem năm trăm cung (s: dhanuú paca-śatāni, 五百弓), rõ ràng nhà Phật lấy chiều dài 4 khuỷu tay làm một cung, một khuỷu tay dài một thước tám tấc, 4 khuỷu tay chắc chắn là bảy thước hai tấc, thuyết này được dịch từ tiếng Phạn')”. Câu Xá Luận (倶舍論) 2 có đoạn rằng: “Nhị thập tứ chỉ, hoành bố vi trửu, thụ tích tứ trửu vi cung (二十四指、横布爲肘, 竪積四肘爲弓, dàn ngang 24 ngón tay là một khuỷu tay, chất đứng 4 khuỷu tay thành một cung)”. Tụng Sớ (頌疏) 6 ghi rằng: “Nhất trửu hữu nhất xích bát thốn, nhất cung hữu thất xích nhị thốn (一肘有一尺八寸、一弓有七尺二寸, một khuỷu tay có một thước tám tấc, một cung có bảy thước hai tấc).”
nhất cung
(一弓) Phạm: Dhanu. Đơn vị đo chiều dài ở Ấn độ đời xưa, tương đương với 4 khuỷu tay. Luận Câu xá quyển 12 (Đại 29, 62 trung) nói: Hai mươi bốn ngón tay sắp xếp theo chiều ngang là 1 khuỷu tay, còn dựng đứng 4 khuỷu tay là 1 cung. Theo Câu xá luận sớ quyển 6, thì 1 khuỷu tay bằng 1 thước 8 tấc Tàu, nên 1 cung là 7 thước 2 tấc. [X. Hạc lâm ngọc lộ Q.9]. (xt. Cung).
Nhất cá bán cá
一個半個; C: yīgě bàngě; J: ichigohango;|Một thành phần rất nhỏ; rất ít.
nhất cá bán cá
(一個半個) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một người và nửa người. Chỉ cho người cực kì ưu tú, rất là hiếm có. Như Thiền sư Nam tuyền từng nói: Nên biết, khi Phật chưa xuất thế, thì đời vẫn chưa có được 1 người rưỡi. Nhóm từ này có xuất xứ từ sự tích về ngài Đạo an và Tập tạc xỉ. Chả là vào đời Tiền Tần, vua Phù kiên đánh chiếm thành Tương dương, thu được ngài Đạo an và Tập tạc xỉ, vua vui mừng nói với tả hữu: Ta đem 10 vạn quân đánh lấy thành Tương dương, chỉ để được 1 người rưỡi. Ngài Đạo an là một người, còn Tập tạc xỉ chỉ có một nửa người. Vì Tập tạc xỉ bị què 1 chân nên vua nói đùa là nửa người.
nhất cá hỗn thân vô xứ trước
(一個渾身無處著) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Khắp mình không chỗ dính. Nghĩa là khi người đã khai ngộ, toàn thân bao trùm vũ trụ, đầy khắp hư không mà không dính mắc vào bất kì nơi nào. Vô môn quan (Đại 48, 295 hạ) nói: Giơ chân đạp đổ biển Hương thủy, cúi đầu nhìn xuống trời Tứ thiền; khắp mình không chỗ dính(Nhất cá hồn thân vô xứ trước), hãy tiếp tục một hướng tiến lên.
nhất cá quan tài lưỡng cá tử hán
(一個棺材兩個死漢) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một cái quan tài liệm hai người chết. Trong Thiền lâm, nhóm từ trên được sử dụng để hình dung sự hiểu biết tầm thường, cùng 1 ngôi mộ mà chôn 2 vị Thiền tăng trở lên. Tắc 20 trong Bích nham lục (Đại 48, 161 thượng) ghi: Vị tăng hỏi ngài Đại mai: - Thế nào là ý Tổ sư từ Tây thiên đến? Ngài Đại mai trả lời: - Tổ sư từ Tây thiên đến không có ý. Ngài Diêm quan nghe vậy, nói: - Một cái quan tài liệm 2 gã chết. Ngài Huyền sa chêm vào: - Diêm quan là tác gia. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.7].
nhất cú
A word or sentence.
; Một câu—One sentence—A word.
; (一句) Tiếng dùng trong Thiền lâm. I. Thiền Cú. Một câu, một lời. Kì viên chính nghi (Vạn tục 111, 85 hạ) chép: Đạt ma chưa từng nói một lời; Tuệ khả chẳng hề hỏi một câu. II. Nhất Cú. Câu nói lên 1 chân lí. Triệu châu lục quyển thượng (Vạn tục 118, 154 thượng) ghi: Có vị tăng hỏi ngài Triệu châu: - Thế nào là một câu? Ngài Triệu châu trả lời: - Nếu giữ chặt lấy một câu thì ông sẽ già đi!.Ngoài ra, Thiền tông cũng thường dùng các từ ngữ như Nhất cú đạo đắc (nói được 1 câu), Mạt hậu nhất cú (1 câu sau cùng), Thấu quan nhất cú (1 câu thấu suốt được cửa...) để biểu thị ý nghĩa chân lí hoặc lí Không của Bát nhã.
nhất cú hợp đầu ngữ
(一句合頭語) Đối lại: Vạn kiếp hệ lô quyết. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một câu thấu rõ được mặt mũi của chính mình, nhưng nếu để mình bị vướng mắc vào chỗ thể hội ấy, thì sẽ bị ràng buộc, mất tự do. Hợp đầu nghĩa là thấu rõ, thể hội.Chương Thuyền tử Đức thành trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14 (Đại 51, 315 trung) chép: Đức thành hỏi: - Học được điều ấy ở đâu? Thiện hội trả lời: - Chẳng phải chỗ thể hội của tai và mắt. Đức thành cười nói: - Một câu thể hội được(nhất cú hợp đầu), nhưng nếu dính mắc vào đó thì giống như con lừa bị buộc vào cây cọc đến muôn kiếp. Thả sợi tơ nghìn thước, ý tại đầm sâu, lìa lưỡi câu ba tấc, nói mau! Nói mau! Thiện hội vừa hé miệng thì lập tức sư lấy cây sào khua xuống nước 1 cái, ngay lúc ấy Thiện hội đại ngộ.
nhất cú tiệt lưu vạn cơ tẩm sảo
(一句截流萬機寢削) Một câu dứt dòng, muôn cơ dẹp hết. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là chỉ nói 1 câu 1 lời thôi, cũng có công năng chặt đứt tất cả tâm vọng tưởng phân biệt, chấm dứt mọi tâm cơ suy lường tính toán và ngay lúc đó chân tướng của bản thể hiển hiện. Tẩm tước nghĩa là đình chỉ, trừ bỏ. Tắc 56 trong Bích nham lục (Đại 48, 190 trung) nói: Bẩm tính của Đại trượng phu là làm tổ của tâm (một câu dứt dòng, muôn cơ dẹp hết).
Nhất Cú Tri Giáo
一句知教; tk. 16-17|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Ðộng pháp hệ thứ 35. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Tịnh Chu ở An Kiết. Một trong những đệ tử đắc pháp của Sư là Thiền sư Thông Giác, người Việt Nam. Với Thông Giác, Thiền Tào Ðộng được truyền sang miền Bắc Việt Nam lần đầu tiên.|Trong thời du phương, Sư có dịp yết kiến Thiền sư Tịnh Chu và đắc pháp nơi đây.|Sau, Sư từ biệt thầy về núi Phụng Hoàng, Hồ Châu giáo hoá. Nơi đây, Sư khai đường dạy chúng. Học giả bốn phương quy tụ về đây rất đông.|Sắp tịch, Sư truyền pháp cho đệ tử Thông Giác và bài kệ:|春色色草茸茸|萬宇枝條開切切。一莖楊發產重重|水浸月圓澄海底。山頭日出露巖峰|Xuân sắc sắc, thảo nhung nhung|Vạn vũ chi điều khai thiết thiết|Nhất hành dương phát sản trùng trùng|Thuỷ tẩm nguyệt viên trừng hải để|Sơn đầu nhật xuất lộ nham phong.|*Xuân sặc sỡ, cỏ như nhung|Khắp chốn ngàn cây bông trổ gấp|Một cành dương liễu nẩy trùng trùng|Trăng chìm đáy biển nước sóng lặng|Ðỉnh núi nhật lên bày chót cao.|Nói kệ xong, Sư từ giã chúng ngồi yên mà hoá.
nhất cú tri giáo
Thiền sư Trung Hoa, quê ở núi Phụng Hoàng, Hồ Châu, Trung Quốc. Sau khi sư được Thiền sư Tịnh Chu truyền tâm ấn, sư trở về núi Phụng Hoàng hoằng hóa và thị tịch tại đây, nhưng không rõ năm nào—A Chinese Zen Master from Mount Phụng Hoàng, Hồ Châu, China. After Zen Master Tịnh Chu transmitted the Dharma mind seal to him, he returned to Mount Phụng Hoàng to expand Buddhism and passed away there; however, his passing away day was unknown.
nhất cú tử
(一句子) Cũng gọi Hướng thượng để na nhất cú. Tử là trợ từ. Nhất cú vốn chỉ cho 1 câu nói. Nhất cú tử là câu nói vô ngôn, vô thuyết mà biểu đạt được chỗ rốt ráo của Phật pháp. Lâm tế lục (Đại 47, 500 thượng) chép: Này các đạo hữu! Như có học ở các nơi đến, sau khi chủ khách gặp nhau, chỉ sau 1 câu nói mà nhận ra được vị thiện tri thức hàng đầu. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14 (Đại 51, 314 thượng) chép: Dược sơn thăng tòa nói rằng: Ta có một câu nói (nhất cú tử) chưa từng nói với ai. Rồi sư bước xuống, ra khỏi Thiền đường, lại nói thêm rằng: Hãy đi theo ta!. Tắc 76 trong Bích nham lục (Đại 48, 203 trung) ghi: Một câu nói hết, hiếm được gặp người đó. Những công án Nhất cú tử nói trên đều nhằm nói rằng: Ai hiểu được, nói được Nhất cú tử thì người đó đã kiến tính triệt ngộ rồi.
nhất cú đạo tận
Với một câu làm tỏ bày chư pháp—With one sentence to make clear the whole Law.
; (一句道盡) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ dùng 1 câu nói mà thấu suốt hết cốt tủy của Phật pháp. Tắc 76 trong Bích nham lục (Đại 48, 203 trung) ghi: Thiền sư Bảo phúc nói: Người cho, người nhận, cả hai đều mù (theo lệnh thi hành, một câu nói hết thật hiếm khi gặp được ngườt như vậy).
nhất cú đạo đoạn
(一句道斷) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một câu dứt bặt nói năng. Chỉ dùng 1 câu mà dứt hết mọi lời. Tắc 63 trong Bích nham lục (Đại 48, 195 thượng) nói: Các vị ở nhà Đông và nhà Tây đều là Thiền tăng xoàng (Chính cửa miệng thốt ra lời thân thiết, một câu dứt bặt nói năng, quét sạch vọng tưởng chấp trước).
nhất cú đầu hoả
(一句投火) Một câu lao vào lửa. Nghĩa là tâm cầu đạo của Bồ tát rất thiết tha, nếu được nghe 1 câu chính pháp với điều kiện phải lao đầu vào lửa, thì Bồ tát cũng sẵn sàng chấp nhận. Truyện Pháp trí Tri lễ trong Phật Tổ thống kỉ quyển 8 (Đại 49, 193 thượng) nói: Nửa kệ quên mình, một câu vào lửa (nhất cú đầu hỏa).
nhất căn
(一根) I. Nhất Căn. Cũng gọi Nhất cơ. Chỉ cho nhĩ căn. Chúng sinh trong cõi Diêm phù đề tuy đầy đủ 6 căn nhưng chỉ có nhĩ căn là nhạy bén nhất, nghe pháp dễ thâm nhập, thông suốt đạo vô thượng, vì thế có tên là Nhất căn. II. Nhất Căn. Một thứ căn tính nào đó, tức là căn tính tin nhận cùng 1 loại giáo pháp. III. Nhất Căn. Chỉ cho bất cứ 1 căn nào trong 6 căn nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân và ý.
nhất cơ
(一機) I. Nhất Cơ. Cơ duyên cùng 1 loại. Nghĩa là động cơ sẽ cùng tiếp nhận 1 loại giáo pháp. Tắc 46 trong Bích nham lục (Đại 48, 182 trung) nói: Người xưa lập bày nhất cơ nhất cảnh để tiếp dẫn người học. II. Nhất Cơ. Cơ là cơ quan, là nơi phát động. Nhất cơ ví dụ nhĩ căn, 1 căn trở về nguồn, các căn đều giải thoát. Kinh Lăng nghiêm nói rằng: Tuy thấy các căn đều động, nhưng chỉ do 1 cơ quan điểu khiển mà thôi. [X. kinh Lăng nghiêm Q.6].
nhất cơ nhất cảnh
One subjective corresponds to one objective: 1) Cơ: The subjective (fire). 2) Cảnh: The objective (smoke).
; (一機一境) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một cơ một cảnh. Cơ là tác dụng tâm ở bên trong; Cảnh là vật có hình tướng ở bên ngoài. Ví dụ như đức Thế tôn đưa cành hoa sen lên, là Cảnh; Tổ Ca diếp lĩnh hội được ý của Phật, là Cơ. Lại như thấy khói ở đằng xa, đó là Cảnh; thấy khói mà biết có lửa, đó là Cơ. Tắc 3 trong Bích nham lục (Đại 48, 142 hạ) nói: Một cơ một cảnh, một lời một câu, vẫn mong có chỗ vào. Trên da thịt lành lặn, khoét thành mụn nhọt, thành hang thành ổ, đại dụng hiện tiền, không cần khuôn phép. Ngoài ra, các Thiền sư đã triệt ngộ tự tính, khi giơ gậy, dựng phất trần để xét nghiệm người học, thì gọi là Thiền giả nhất cơ nhất cảnh.
nhất cạch thủ
(一磔手) Phạm:Vitasti. Cũng gọi Nhất kiệt thủ, Nhất trương thủ, Nhất xách thủ, Nhất tháp thủ, Một gang tay. Đơn vị đo chiều dài của Ấn độ đời xưa. Trách nghĩa là giang ra. Nhất trách thủ chỉ cho khoảng cách giang ra giữa đầu ngón tay cái và đầu ngón giữa, dài khoảng 23 phân tây. Nhưng khoảng cách này không nhất định, vì có người ngón tay dài, người ngón tay ngắn, chỉ ước chừng đại khái thế thôi. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.22; Tuệ lâm âm nghĩa Q.24].
nhất cạch thủ bán
(一磔手半) Cũng gọi Nhất kiệt thủ bán. Một gang tay rưỡi. Theo Trần thiêm ái nang sao quyển 15, Nhất trách thủ bán bằng khoảng 1 thước 3 tấc (Tàu), hoặc 1 thước 2 tấc (Một trách bằng 8 tấc, nửa trách bằng 4 tấc). Thai nhi trong bụng mẹ đến 140 ngày (tức khoảng hơn 4 tháng rưỡi) thì tứ chi đầy đủ, 2 tay ngang mặt, ngồi chồm hổm, thân dài bằng 1 gang tay rưỡi (nhất trách thủ bán) của người mẹ. Tại Nhật bản, khi đúc hoặc tạc tượng Phật mang theo bên mình để trì niệm, người ta thường dùng độ dài của Nhất trách hủ bán, tức là lấy ý nghĩa thân thai nhi trong bụng mẹ nói trên.
nhất cảnh
One region, realm, order, or category. Nhất cảnh tam đế: the three axioms in the one category; the three are không, giả, trung which exist in every universe.
; One region—One realm.
nhất cảnh tứ tâm
(一境四心) Cũng gọi Nhất thủy tứ kiến. Một cảnh bốn tâm. Ví dụ cùng 1 dòng nước, nhưng vì quả báo bất đồng mà trời, người, ngã quỉ, súc sinh nhìn thấy có 4 tướng khác nhau: 1. Trời thấy nước là cõi báu trang nghiêm: Vì phúc báu của chư thiên thù thắng nên thấy nước là đất báu trang nghiêm do lưu li hợp thành. 2. Người thấy nước là nước: Nước mà người thế gian trông thấy, tuy có trong đục sai khác, nhưng đều là nước. 3. Ngã quỉ thấy nước là máu mủ: Vì đời trước tham lam bỏn sẻn, tội chướng sâu nặng, đọa vào loài ngã quỉ nhiều kiếp không hề thấy nước; do đói khát bức bách, nên khi thấy dòng nước, lòng muốn uống lắm, liền chạy vội đến bờ sông, khi đến nơi thấy toàn là máu mủ! 4. Cá thấy nước là nhà ở: Cá bơi lội trong nước, chúng thấy nước là nơi cư trú của chúng chứ không phải là nước. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.4 (bản dịch của ngài Huyền trang); Đại minh tam tạng pháp số Q.18].
nhất cầm nhất tung
(一擒一縱) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một bắt một thả. Cầm là chặn đứng dòng suy tư của người học, Túng là buông thả tự do. Đây là cơ pháp ứng biến linh động mà Thiền sư dùng để dắt dẫn người học. Tắc 49 trong Bích nham lục (Đại 48, 185 thượng) nói: Một bắt một thả, gặp kẻ mạnh thì mình yếu; gặp người hèn thì mình sang.
Nhất Cửu
一九; C: yījiǔ; J: ichikū;|Một cách gọi xưng danh Phật A-di-đà của tông Chân Ngôn.
nhất cửu chi giáo
(一九之教) Giáo pháp Cửu phẩm vãng sinh do tông Tịnh độ thiết lập. Trong bài tựa luận Tịnh độ (Đại 47, 83 trung), ngài Ca tài nói: Nhị bát hoằng qui thịnh hành ở Ấn độ, Nhất cửu chi giáo dần dần truyền đến Trung quốc. Trong đó, Nhị bát(hai tám)chỉ cho 16 pháp quán nói trong kinh Quán vô lượng thọ; còn Nhất cửu là chỉ cho 9 phẩm vãng sinh của tông Tịnh độ.
nhất cửu chi sanh
Sanh vào một trong cửu phẩm Tịnh Độ—Future life in tha Amitabha Pure Land.
nhất cực
(一極) Pháp tột bậc. Kinh Hoa nghiêm bàn rộng yếu chỉ của pháp giới là tột bậc không hai.Đức Như lai ra đời, đầu tiên giảng nói về cảnh giới chân thực của Phật và Bồ tát cho hàng Đại bồ tát nghe, chứ không nói pháp Nhị thừa phương tiện. Vì thế mà hàng Thanh văn, Duyên giác, tuy vẫn cùng nghe nhưng không hiểu được gì cả.Phổ hiền hành nguyện phẩm sớ gọi là Nhất cực xướng cao, Nhị thừa tuyệt thính (Nói pháp tột bậc, Nhị thừa không hiểu).
nhất danh
(一名) Danh tức tên gọi. Nhất danh nghĩa là lí tuy là 1 nhưng tên gọi thì có nhiều thứ khác nhau. Như Niết bàn còn có nhiều tên khác như: Vô sinh, Vô tác, Vô vi, Giải thoát, Bỉ ngạn, Vô thoái, An xứ, Tịch tĩnh, Vô tướng, Vô nhị, Nhất hạnh, Thanh lương, Vô tránh, Cát tường... Tuy đặt nhiều tên như vậy, nhưng đều chỉ là 1 tên Niết bàn, nên gọi là Nhất danh. [X. kinh Niết bàn Q.33 (bản Bắc)].
nhất danh tứ thật
xem tiên-đà-bà.
; (一名四實) Một tên gọi chỉ cho 4 nghĩa khác nhau. Ví dụ mật ngữ của Như lai sâu xa khó hiểu, chỉ người có trí mới thấu suốt được. Kinh Đại bát niết bàn quyển 9 (bản Nam) nêu thí dụ: Ví như các bầy tôi hầu hạ Đại vương, khi vua cần nước thì bảo: Đem tiên đà bà đến đây! Người bầy tôi có trí hiểu ngay rằng vua cần dùng nước, liền dâng nước. Khi vua cần muối, gọi Tiên đà bà, quan hầu cũng hiểu ý mà dâng muối. Khi vua cần chén uống nước cũng gọi Tiên đà bà, quan hầu liền dâng chén. Khi vua muốn đi chơi, gọi Tiên đà bà, quan hầu liền đem ngựa đến. Như vậy, chỉ 1 danh từ Tiên đà bà mà có tới 4 nghĩa: Nước, muối, đồ vật và ngựa khác nhau, nên gọi là Nhất danh tứthực. Nhất danh tứ thực ví dụ giáo pháp Như lai tuyên thuyết không ngoài Tứ pháp ấn: Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã. Hàng Bồ tát Đại thừa khéo thông đạt nên tu quán Vô thường, Khổ, Vô ngã để chứng nhập Niết bàn giải thoát. (xt. Tiên Đà Bà).
nhất danh vô lượng nghĩa
(一名無量義) Đối lại: Nhất nghĩa vô lượng danh. Trong một danh từ có vô lượng vô biên nghĩa lí. Phẩm Ca diếp trong kinh Niết bàn quyển 33 (bản Bắc) chép: Từ một tên gọi nói ra vô lượng nghĩa, từ trong một nghĩa nói ra vô lượng tên gọi. Ý nói đức Phật sử dụng danh tướng 1 cách linh động tự do để thích ứng với căn cơ, trình độ của chúng sinh mà nói pháp.
nhất dao thiêu tựu
(一窑燒就) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cùng 1 lò nung thành nhiều đồ vật. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được sử dụng để ví dụ cùng 1 vị thầy đã đào tạo được nhiều học trò ưu tú. Tắc 6 trong Thung dung lục (Đại 48, 231 thượng), nói: Đầu bạc đầu xanh chừ, con của một nhà (nhất diêu thiêu tựu); có câu không câu chừ, có cơ tuyệt dòng.
nhất diện
(一面) I. Nhất Diện. Một mặt. Thiền uyển thanh qui quyển 3, thiên Duy na (Vạn tục 111, 446 thượng) nói: Mỗi người làm 1 tấm thẻ nhập liêu, trên 1 mặt tấm thẻ ghi thứ tự tuổi hạ, gọi là Nhất diện. II. Nhất Diện. Một phía. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 2 trung) nói: Tất cả đều lễ chân đức Phật, rồi lui ra ngồi ở một phía. III. Nhất Diện. Chỉ cho 1 phương diện, 1 người hoặc chính mình trong các việc. Thiên Giám viện trong Thiền uyển thanh qui quyển 3 (Vạn tục 111, 446 thượng) nói: Như những việc nhỏ nhặt, tầm thường trong viện thì mỗi người (nhất diện) hãy tự xử trí lấy.
nhất diện khí
(一面器) Chỉ cho các khí cụ đựng vật cúng dường đặt ở mặt chính của Đại đàn. Trong Mật giáo, khi tu pháp Hộ ma, những đồ đựng vật cúng dường làm bằng kim loại quí như vàng bạc... hay bằng gốm, được đặt ở 4 phía của đàn Hộ ma, gọi là Tứ diện khí. Trong đó, Nhất diện khí ở mặt chính Đại đàn gồm các đồ đựng nước thơm, hương bột và hoa, mỗi thứ 2 cái (gọi chung là Lục khí), 1 cái lư hương, 2 cái mâm đựng thức ăn uống, 2 cái bình, 2 cái chân đèn, tổng cộng 13 cái.
nhất diệp quan âm
(一葉觀音) Cũng gọi Liên diệp Quan âm, Nam minh Quan âm. Đại sĩ Quan âm ngồi trên 1 lá sen(Nhất diệp), 1 trong 33 thân tướng Quan âm. Tương truyền, trên đường từ Trung quốc trở về Nhật bản, ngài Đạo nguyên gặp 1 trận bão ở núi Nam minh. Lúc ấy, ngài ở trên thuyền khấn thầm, bỗng thấy đức Đại bi ngồi trên lá sen nổi trên mặt biển, sóng gió liền lặng. Khi lên bờ, ngài Đạo nguyên tự khắc tượng Quan âm mà ngài nhìn thấy, để thờ ở chùa Quan âm tại núi Nam minh. Do đó mà có danh hiệu Nam minh Quan âm.Phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 56 hạ) nói: Nếu bị nước lớn cuốn trôi, xưng niệm danh hiệu Quán thế âm, liền được vào chỗ cạn. [X. Phật tượng đồ vậng Q.2; Kiến tê kí Q.thượng].
Nhất diệp thiên chu
(一葉扁舟): một chiếc thuyền con; như trong Tiền Xích Bích Phú (前赤壁賦) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) có câu: “Giá nhất diệp chi thiên chu, cử bào tôn dĩ tương chúc, ký phù du ư thiên địa, diểu thương hải chi nhất túc (駕一葉之扁舟、舉匏樽以相屬、寄蜉蝣與天地、渺滄海之一粟, cỡi một chiếc thuyền cỏn con, nhấc chén rượu để chúc nhau, gởi thân phù du cùng trời đất, tựa hạt thóc trong biển xanh).” Hay trong Liễu Vĩnh Từ Toàn Tập (柳永詞全集), bài Mê Thần Dẫn (迷神引) có câu: “Nhất diệp thiên chu khinh phàm quyển, tạm bạc Sở Giang nam ngạn (一葉扁舟輕帆卷、暫泊楚江南岸, một chiếc thuyền con buồm nhẹ lướt, tạm dừng bờ nam Sở Giang).” Câu “nhất diệp thiên chu, chánh trực trang nghiêm chi hải (一葉扁舟、正直莊嚴之海)” có nghĩa là với một chiếc thuyền nhỏ bé thôi cũng đủ để làm trang nghiêm biển công đức.
nhất duyên
(一緣) Chỉ cho nhân duyên, cơ duyên cùng 1 loại.Kinh Đại tập quyển 38 (Đại 13, 260 thượng) nói: Đi, đứng, ngồi, nằm, thường là một duyên. Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa quyển 1 (Đại 33, 684 hạ) nói: Một căn một duyên, cùng một đạo vị.
nhất dẫn
(一引) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một tổ 3 người hướng dẫn chúng tăng cử hành các nghi thức trong Thiền viện. Chương Tạ quải tháp trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1141 hạ) nói: Lựa những vị có tuổi hạ cao, 1 vị làm Tham đầu, 1 vị làm Phó tham. Vị Tham đầu lãnh đạo chung; ba người làm 1 tổ, mỗi tổ có 1 vị Tiểu tham đầu.
Nhất dị
一異; C: yīyì; J: ichi-i;|Một và nhiều; đồng nhất và dị biệt.
nhất dị
Ekatva-anyatva (skt)—Một và nhiều—One and many—Oneness and otherness.
; (一異) Nhất là 2 cái giống nhau; Dị là 2 cái khác nhau, bất luận thiên về 1 bên nào cũng đều là sai lầm. Phật giáo chủ trương Trung đạo để phá trừ sự thiên chấp sai lầm ấy, nên gọi là Bất nhất bất dị (chẳng phải 1, chẳng phải khác).
nhất dị tứ cú
(一異四句) Bốn câu một khác. Tất cả kiến chấp của ngoại đạo không ngoài Thường kiến và Đoạn kiến. Thường kiến là chấp có, Đoạn kiến là chấp không. Trong Thường kiến lại chấp nhất, chấp dị thành ra có 4 câu: 1. Chấp thể của Hữu pháp và Hữu đẳng tính là 1 (nhất): Ngoại đạo chấp 5 uẩn là có thật (Hữu pháp); 5 uẩn đều có tự tính (Hữu đẳng tính); thể của 5 uẩn và của tự tính 5 uẩn là 1, nên gọi là Nhất. 2. Chấp thể của Hữu pháp và Hữu đẳng tính khác nhau: Ngoại đạo chấp thể của 5 uẩn và của tự tính 5 uẩn khác nhau, nên gọi là Dị. 3. Chấp thể của Hữu pháp và Hữu đẳng tính cũng 1 cũng khác: Ngoại đạo chấp thể của 5 uẩn và của tự tính 5 uẩn cũng 1 cũng khác, nên gọi là Diệc nhất diệc dị. 4. Chấp thể của Hữu pháp và Hữu đẳng tính chẳng phải 1 chẳng phải khác: Ngoại đạo chấp thể của 5 uẩn và của tự tính 5 uẩn chẳng phải 1 chẳng phải khác, nên gọi là Phi nhất phi dị. [X. luận Thành duy thức Q.1].
nhất gia
(一家) Một nhà. Chỉ cho 1 tông, 1 phái, hoặc 1 môn. Duy ma kinh nghĩa sớ quyển thượng (Đại 56, 20 hạ) nói: Chữ Như thị có rất nhiều nghĩa, nhưng nay chỉ y cứ vào sự giải thích của Một nhà (nhất gia) mà thôi.
nhất gia yến
Sư trụ trì mới về trú xứ mời các đồng viện tham dự buổi tiệc đãi trong tịnh xá—A monastery family party, when a monk, on becoming head of a monastery, invites his colleagues to a feast.
; (一家宴) Cũng gọi Nhất gia diên. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ cho bữa tiệc chỉ tổ chức trong phạm vi gia đình, chứ không mời người khác. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để chỉ cho buổi tiệc tấn phong Trụ trì, chỉ có những thành viên của bản tự tham dự chứ không mời các chùa viện khác. Về sau, không chỉ giới hạn trong nghi thức tấn phong Trụ trì, mà bất cứ vào dịp nào, hễ tổ chức tiệc tùng mà không mời các chùa khác tham dự, thì cũng gọi là Nhất gia yến. Pháp diễn thiền sư ngữ lục (Đại 47, 650 hạ) nói: Kết hạ không có khả năng cúng dường đại chúng, làm bữa tiệc trong chùa (nhất gia yến) rồi đưa tay lên nói với mọi người: Mời gọi phiền phức, tiếp đón phiền phức, tiễn đưa phiền phức, xin đừng trách tôi không chu đáo, kính mong quí vị hiểu cho!.
nhất gian
(一間) Phạm: Eka-vicika. Hán âm: Ế ca tị chí ca. Dịch cũ: Nhất chủng tử. Cũng gọi Nhất gián thánh giả. Chỉ cho bậc Thánh Bất hoàn hướng, 1 trong 18 bậc Thánh Hữu học. Trong 9 phẩm Tu hoặc ở cõi Dục, các bậc Thánh này đã dứt được 7 hoặc 8 phẩm, vẫn còn 1 hay 2 phẩm chưa dứt, còn phải 1 lần thụ sinh ở cõi Dục để tu quả vị Bất hoàn. Vì phải thụ sinh 1 lần nữa mới được vào Niết bàn nên gọi là Nhất gián. Luận Câu xá quyển 24 (Đại 29, 124 thượng) nói: Bậc Thánh đã dứt được 7 hay 8 phẩm Tu hoặc, còn thụ sinh 1 đời nữa gọi là Nhất gián.
nhất giác tiên nhân
See Độc Giác Tiên Nhân.
; (一角仙人) Cũng gọi Độc giác tiên nhân. Người tiên một sừng, tên 1 vị tiên trong thần thoại Ấn độ cổ đại, cũng là tiền thân đức Phật trong các truyện Bản sinh. Tương truyền, vào thời quá khứ xa xưa, trong 1 quả núi ở nước Ba la nại có 1 vị tiên, trong khi đang ngồi trên 1 tảng đá, bỗng động lòng dâm dục và tinh khí chảy ra. Lúc đó, có 1 con nai cái đến liếm ăn nên thụ thai, về sau sinh ra 1 con nai con hình dáng giống như người, trên đầu có 1 cái sừng, chân tựa như chân nai, vì thế gọi là Nhất giác tiên nhân. Lớn lên, người tiên này được cha dạy cho học, thông suốt 18 thứ Đại kinh; lại học tọa thiền, thực hành 4 tâm Vô lượng, chứng được 5 thần thông. Một hôm, trên đường lên núi, gặp mưa lớn, đường trơn, tiên nhân trượt ngã và bị thương ở chân. Tiên nhân nổi giận, dùng chú thuật không cho mưa, khiến ngũ cốc khô cháy, nhân dân đói khổ. Vua nước Ba la nại bèn sai dâm nữ Phiến đà đem những thứ quí báu và thức ăn ngon đến dụ dỗ, tiên nhân thấy sắc đẹp, khởi dục tâm, liền mất thần thông. Nhất giác tiên nhân thủa ấy chính là tiền thân của đức Phật Thích ca, còn dâm nữ Phiến đà là tiền thân của bà Da du đà la. [X. luận Đại trí độ Q.17; Kinh luật dị tướng Q.39].
nhất giả nhất thiết giả
(一假一切假) Một giả tất cả giả. Trong 3 pháp quán Không, Giả, Trung do tông Thiên thai lập, thì Giả không những chỉ có nghĩa là Giả quán, mà còn biểu thị nghĩa tức Không quán, tức Trung quán, cho nên gọi là Nhất giả nhất thiết giả. (xt. Nhất Tâm Tam Quán).
nhất giải thoát
(一解脫) Một giải thoát. Ý nói người không còn bị ràng buộc, đã được tự do, tự tại. Tất cả chúng sinh đều có tính Phật, vốn là giải thoát, nhưng vì sinh tâm chấp trước, mê lầm điên đảo, nên bị bao thứ trói buộc. Nếu 1 niệm bỏ vọng về chân, hiểu rõ đạo lí trói buộc tức không trói buộc thì cùng 1 giải thoát với chư Phật, không có sai khác. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Bắc); phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa].
nhất giới
(一界) I. Nhất Giới. Cũng gọi Nhất thế giới. Một thế giới, tức chỉ cho nơi chúng sinh cư trú. Kinh Lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 108 trung) nói: Uy thần của Phật làm cho các thế giới hợp chung lại thành một thế giới. (xt. Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới). II. Nhất Giới. Chỉ cho 1 pháp giới nào đó trong 10 pháp giới.Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa quyển 2, thượng (Đại 33, 696 thượng) nói: Dùng trí Phật vô biên, chiếu soi cảnh Phật rộng lớn (...) Thân mình thân người hoàn toàn tịch lặng, vi diệu, tất cả chẳng phải quyền chẳng phải thực, nhưng có thể ứng với quyền của 9 giới, với thực của 1 giới mà Phật pháp vẫn không bị tổn giảm.
nhất hoa ngũ diệp
(一花五葉) Cũng gọi Nhất hoa khai ngũ diệp. Một hoa nở 5 cánh, chỉ cho 5 phái Thiền: Tào động, Lâm tế, Vân môn, Qui ngưỡng và Pháp nhãn hình thành sau thời Lục tổ Tuệ năng. Điều Bồ đề đạt ma trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 (Đại 51, 219 hạ): Ta vốn đến đất này, Truyền pháp cứu mê tình; Một hoa nở năm cánh, Kết quả tự nhiên thành.
Nhất hoá
一化; C: yī huà; J: ichike;|Chỉ một cuộc đời hoằng hoá của đức Phật, của các vị Tổ sư.
nhất hoá
(一化) I. Nhất Hóa. Chỉ cho sự giáo hóa trong suốt 1 đời hoặc sự giáo hóa trong 1 giai đoạn của đức Phật. Trong Quán kinh diệu tông sao có từ ngữ Nhất thời nhất hóa. II. Nhất Hóa. Đồng nghĩa: Nhất hóa ích. Lợi ích của sự giáo hóa. Pháp hoa văn cú quyển 7 (Đại 34, 285 trung) nói: Sau khi pháp hội viên mãn, tất cả đều được nhất hóa thấm nhuần.
nhất hoá ngũ vị chi giáo
(一化五味之教) Cũng gọi Ngũ thời chi giáo. Giáo pháp một hóa năm vị. Chỉ cho giáo phán 5 thời do tông Thiên thai thành lập. Tông Thiên thai đem chia giáo pháp mà đức Phật nói trong 1 đời (Nhất hóa) làm 5 thời: Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã và Pháp hoa Niết bàn, rồi đem 5 thời ấy phối hợp với 5 vị (ngũ vị) của sữa được nói trong kinh Niết bàn quyển 8 (bản Bắc) là: Nhũ, lạc, sinh tô, thục tô và đề hồ, nên gọi là Nhất hóa ngũ vị chi giáo. Pháp hoa văn cú quyển 6, hạ (Đại 34, 86 hạ) nói: Bốn bậc Đại đệ tử (Xá lợi phất, Mục kiền liên, Tu bồ đề, Ma ha ca diếp) thâm thiết hiểu được ý Phật, lãnh hội thứ tự trước sau của giáo pháp 5 vị mà đức Phật tuyên thuyết trong 1 đời. (xt. Ngũ Vị).
nhất hoả lộng nê đoàn hán
(一火弄泥團漢) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lũ trẻ con giỡn lửa vọc bùn, ý chỉ cho việc làm của kẻ tầm thường. Trong Thiền lâm, nhóm từ này thường được dùng để châm biếm người ngu ngơ vô trí. Tắc 36 trong Bích nham lục (Đại 48, 174 trung) chép: Tuyết đậu có lời bình rằng: Cảm tạ ông về lời đáp!(Lũ trẻ con giỡn lửa vọc bùn, trong 3 đứa có 1 đứa cầm đầu).
Nhất hàn
(一寒): vô cùng nghèo nàn, nghèo mạt, tương đương với xích bần (赤貧).
Nhất Hành
(一行, Ichigyō, 683-727): còn gọi là Nhất Hành A Xà Lê (一行阿闍梨), vị cao tăng Mật Giáo và nhà thiên văn lịch toán nổi tiếng của Trung Quốc, một trong 5 vị tổ của Mật Giáo, người vùng Cự Lộc (鉅鹿, thuộc Huyện Cự Lộc, Hà Bắc), họ Trương (張), xuất thân gia đình làm quan hiển hách, học thông kinh sử. Ban đầu ông theo Thiền Sư Châu Cảnh (州景) ở Kinh Châu (荆州) xuất gia, sau học Thiền với Thiền Sư Phổ Tịch (普寂) ở Tung Sơn (嵩山). Bên cạnh đó ông cũng thường theo hầu hạ các cao tăng Ấn Độ như Thiện Vô Úy (善無畏), Kim Cang Trí (金剛智); đã cùng với Thiện Vô Úy dịch Đại Nhật Kinh (大日經), thánh điển quan trọng của Mật Giáo và thọ phép quán đảnh với Kim Cang Trí. Ngoài ra, ông còn tinh thông cả Thiền, số học, lịch pháp, v.v. Vào năm thứ 9 (721) niên hiệu Khai Nguyên (開元), nhà vua sai ông đính chính lịch pháp truyền thống rồi cho lưu hành khắp thiên hạ. Bộ Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) gồm 20 quyển do ông biên tập là tư liệu rất quan trọng đối với Mật Giáo. Đến năm thứ 15 niên hiệu Khai Nguyên, ông thị tịch, hưởng thọ 45 tuổi, được ban cho thụy hiệu là Đại Huệ Thiền Sư (大慧禪師). Trước tác của ông có Tú Diệu Nghi Quỹ (宿曜儀軌), Phạm Thiên Hỏa La Nghi Quỹ (梵天火羅儀軌), Thất Diệu Tinh Thần Biệt Hành Pháp (七曜精神別行法), Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Tiêu Tai Trừ Nạn Niệm Tụng Nghi Quỹ (藥師瑠璃光如來消災除難念誦儀軌), v.v. Ngoài ra ông đã cùng với đệ tử Huệ Giác (慧覺) soạn ra Hoa Nghiêm Kinh Hải Ấn Đạo Tràng Sám Nghi (華嚴經海印道塲懺儀) 42 quyển.
nhất hành
1) One act (of body, mouth or mind). 2) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Nhất Hành (683-727), đệ tử của Thiện Vô Úy, tinh thông về Tam Luận, Thiền, Thiên Thai và lịch số, từng giúp Thiện Vô Úy dịch kinh Đại Nhật. Nhờ nghe thầy giảng, Nhất Hành đã trước tác một bản sớ về Kinh Đại Nhật, gọi là Đại Nhật Kinh Sớ. Vì là một học giả uyên thâm về Thiên Thai giáo, nên bản sớ giải của ông được xem như chứa đựng rất nhiều giáo nghĩa Thiên Thai. Bản cảo lưu truyền chưa được tu chính, sau cùng được Trí Nghiễm, đệ tử của Thiện Vô Úy và Ôn Cổ, đệ tử của Kim Cang Trí, hiệu đính và đặt tựa lại là Đại Nhật Kinh Thích Nghĩa. Đông Mật vẫn y theo bản kinh cũ chưa được tu chính, trong lúc Thai Mật lại dùng bản được hiệu đính nầy. Nhất Hành theo học với cả hai Pháp sư Ấn Độ là Thiện Vô Úy và Kim Cang Trí và được cả hai truyền cho các nghi quỹ về Kim Cang Giới (Vajradhatu) và Thai Tạng Giới (Garbhadhatu), nhưng có người cho rằng ông coi Kim Cang Giới quan trọng hơn—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, I-Hsing (683-727), a pupil of Subhakarasimha, who was well versed in the San-Lun, the Zen, the T'ien-T'ai, and the calendar, assisted Subhakarasimha in his translation of the 'Great Sun' text. On hearing the lecture from his teacher, I-Hsing compiled a commentary on the 'Sun' text called Ta-Jih-Ching-Su. Since he was a savant of the T'ien-T'ai doctrine, his commentary is said to contain some of the T'ien-T'ai tenets. The commentary, as it was left in an unrevised manuscript, was afterward revised by Chih-Yen, a pupil of Subhakarasimha, and Wên-Ku, a pupil of Vajrabodhi, and was called by a new name Ta-Jih-Ching I-Shih. The Tomitsu follows the former revision whilt the Taimitsu adopts the latter. I-Hsing studied under the two Indian teachers Subhakarasimha and Vajrabodhi, and received the cults of both the Realm of Matrix Repository (Garbhadhatu) and the Realm of Diamond Elements (Vajradhatu), but he is said to have held the latter as the more important of the two.
; (一行) I. Nhất Hạnh. Chuyên chú vào 1 việc, đặc biệt chỉ cho việc tu hành niệm Phật. Quán kinh sớ quyển 1 của ngài Thiện đạo (Đại 37, 249 hạ) nói: Muốn thành Phật, cần phải tu đầy đủ muôn hạnh mới thành tựu, há chỉ nương vào một hạnh (nhất hạnh)niệm Phật mà mong thành Phật được ư?. II. Nhất Hạnh (683-727). Cũng gọi Nhất hạnh A xà lê. Vị cao tăng của Mật tông, cũng là nhà thiên văn lịch toán lỗi lạc của Trung quốc vào đời Đường, người Cự lộc, tỉnh Hà bắc, họ Trương, là 1 trong 5 vị Tổ của Mật tông. Sư xuất thân từ 1 gia đình quan lại nổi tiếng, học thông kinh sử. Lúc đầu, sư y vào Thiền sư Cảnh xuất gia ở Kinh châu, sau theo Thiền sư Phổ tịch ở Tung sơn học thiền, rồi lại theo ngài Chân toản ở Đương dương học luật. Sư rút ra những chỗ cốt yếu từ trong kinh, luật, luận tổng hợp thành bộ Nhiếp điều phục tạng 10 quyển. Sư từng theo học 2 vị cao tăng Ấn độ là các ngài Thiện vô úy và Kim cương trí. Sư cùng dịch kinh Đại nhật với ngài Thiện vô úy và được ngài Kim cương trí truyền bí pháp Quán đính.Ngoài ra, sư còn tinh thông về Thiền, Đạo, số học và lịch pháp. Năm Khai nguyên thứ 9 (721), vua ban sắc thỉnh sư sửa lại quyển Truyền thống lịch pháp và lưu hành khắp trong thiên hạ. Sư soạn lịch Đại diễn 52 quyển(bộ lịch pháp này từ năm 763 đến nay được Nhật bản và nhiều nơi sử dụng). Sau đó, sư cùng với ông Lương lệnh toản cùng soạn Hoàng đạo du nghi dùng để đo tính lại các vị trí của hơn 150 định tinh và tính ra chiều dài tương đương với vĩ độ của tuyến Tí, Ngọ. Năm Khai nguyên 15 (727), sư thị tịch, hưởng dương 45 tuổi, thụy hiệu Đại Tuệ Thiền Sư. Sư có các tác phẩm: Đại nhật kinh sớ 20 quyển, Tú diệu nghi quĩ, 1 quyển, Phạm thiên hỏa la nghi quĩ, 1 quyển, Thất diệu tinh thần biệt hành pháp, 1 quyển, Dược sư lưu li quang Như lai tiêu tai trừ nạn niệm tụng nghi quĩ, 1 quyển, Hoa nghiêm kinh hải ấn đạo tràng sám nghi, 42 quyển, Đại diễn lịch, 52 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.5; Thích môn chính thống Q.3; Phật tổ lịch đại thông tải Q.26; Cựu đường thư phương kỉ truyện].
nhất hành nhất thiết hành
(一行一切行) Cũng gọi Viên hạnh. Trong một hạnh đầy đủ tất cả hạnh. Như Diệu hạnh do các tông Thiên thai và Hoa nghiêm lập ra đều thuộc Nhất hạnh nhất thiết hạnh. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1 (Đại 35, 108 hạ) nói: Một hạnh tức tất cả hạnh, lúc mới phát tâm liền thành chánh giác, đầy đủ thân trí tuệ, tự chứng ngộ chứ không do người khác. Đây chính là Viên dung tương nhiếp môn trong các hạnh vị của Bồ tát, nghĩa là trong 1 hạnh đã bao gồm các hạnh trước sau, đây là hạnh pháp giới viên cực, tự tại vô ngại, thủy chung đều như nhau. Cho nên viên mãn từng giai vị liền đến quả vị Phật. Đây cũng tức là hạnh viên dung vô ngại, chủ bạn đầy đủ. [X. Ma ha chỉ quán Q.1, thượng].
nhất hành tam muội
Trong cuộc sống hàng ngày, đi, đứng, ngồi, nằm, thường hành theo trực tâm, như Lục Tổ nói: “Đối với tất cả pháp đều chẳng có chấp trước”.
nhất hành thảo
(一莖草) Cũng gọi Nhất chi thảo. Một cọng cỏ, từ ngữ hình dung những vật nhỏ nhiệm. Một cọng cỏ, 1 ngôi chùa hay Kim thân 1 trượng 6 thước thường được nêu lên song song để biểu thị ý nghĩa tâm và Phật không 2, vật và ngã là 1. Tắc 4 trong Thung dung lục (Đại 48, 230 thượng) chép: Có lần, đang cùng đi với chúng đệ tử, đức Phật chỉ tay xuống đất dạy rằng: Nên dựng 1 ngôi chùa ở chỗ này. Đế thích lấy 1 cọng cỏ cắm trên đất nói: Dựng chùa đã xong! Đức Phật mỉm cười. Triệu châu Hòa thượng ngữ lục (Vạn tục 118, 155 thượng) nói: Việc ấy như viên minh châu ở trên bàn tay, Hồ đến thì hiện Hồ, Hán đến thì hiện Hán, lão tăng lấy 1 cọng cỏ làm thành Kim thân 1 trượng 6 thước, đem Kim thân 1 trượng 6 thước làm thành 1 cọng cỏ. Phật tức là phiền não, phiền não tức là Phật.
nhất hình
See Nhứt Hình và Nhất Kỳ.
; (一形) Cũng gọi Nhất sinh, Nhất kì, Nhất thế. Chỉ cho khoảng thời gian 1 thân người liên tục tồn tại. An lạc tập quyển thượng (Đại 47, 10 hạ) nói: Một đời (nhất hình) của chúng sinh xưa nay như thế nào? Hoặc 100 năm, hoặc 10 năm, cho đến ngày nay không 1 việc ác nào mà không làm.
nhất hóa
The teaching and influence of a Buddha during one Buddha period; also the teaching of the whole truth at once
; Sự giáo hóa và ảnh hưởng của một vị Phật trong thời tại thế của vị Phật nầy—The teaching and influence of a Buddha during one Buddha-period.
nhất hóa ngũ vị giáo
See Nhứt Hóa Ngũ Vị Giáo.
nhất hư
(一虛) Một cái rỗng không, tức chỉ cho hư không. Chân thân Như lai vô hình vô tướng, hệt như hư không, tuy cùng là Nhất hư, nhưng muôn tượng hiện bày la liệt; tuy bao hàm muôn tượng, nhưng 1 tướng cũng chẳng lập. Phổ hiền hành nguyện phẩm sớ nói: Lặng lẽ giữa nơi muôn nghìn biến hóa, động dụng trong 1 cái rỗng không.
nhất hưu hoà thượng
(一休和尚) Cao tăng Nhật bản thuộc tông Lâm tế, tên Chu kiến, pháp danh Tông thuần, tự Nhất hưu, hiệu là Cuồng vân tử. Tương truyền, sư là con của dòng Thiên hoàng Hậu tiểu tùng ở Nhật bản, xuất gia năm lên 6 tuổi. Lúc đầu, sư ở chùa Kiến nhân học tập thơ văn, sau sư đến tham học ngài Hoa tẩu Tông đàm ở Kiên điền tại Cận giang (huyện Tư hạ) và được ấn khả. Sau đó, sư đi nhiều nơi, giao du với các tầng lớp nhân sĩ. Sư thích ngâm vịnh, lại giỏi hội họa và viết chữ rất đẹp. Sư ra sức vận động cải cách Thiền phong cô lập lúc bấy giờ hướng tới đại chúng hóa. Năm 81 tuổi, sư nối pháp đời 47 của chùa Đại đức, tận lực chấn hưng chùa này, đem trà đạo vào Thiền viện, hình thành 1 phong cách đặc biệt không giống với các Thiền viện khác. Năm Văn minh 13 (1481) sư thị tịch, thọ 88 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Phật quỉ quân, Nhất hưu pháp ngữ, Cuồng vân tập (tập thơ do người sau sưu tập).
Nhất Hưu Tông Thuần
一休宗純; J: ikkyū sōjun; 1394-1481;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Lâm Tế (j: rinzai), hệ phái Ðại Ðức tự (j: daitokuji-ha). Sư là một trong những Thiền sư danh tiếng nhất của Thiền tông Nhật Bản. Với phong điệu của một »Cuồng Thánh«, Sư đả phá những phong cách tệ mạt trong những thiền viện lớn mà Sư cho rằng đang trên đường tàn lụi. Cách sống và giáo hoá của Sư vượt trên tất cả những tục lệ và vì vậy có rất nhiều tích nói về Sư, phần đúng, phần huyền hoặc.|Tương truyền Sư là con của một cung phi, bị Nhật hoàng hất hủi khi mang thai Sư. Lên năm tuổi, Sư được mẹ gửi vào một ngôi chùa gần nhà. Năm lên mười ba, Sư đến Kiến Nhân tự (kennin-ji) nhưng chỉ khoảng bốn năm sau đó, Sư rời chùa này vì không hài lòng với phong cách sinh hoạt quá phàm tục của những vị tăng tại đây. Sư đến tham học với Khiêm Ông (gen'ō) – một vị tăng độc cư tu tập – và cũng có chút sở đắc nơi đây nhưng không bao lâu, Khiêm Ông tịch và Sư lại phải lên đường cầu đạo.|Chỉ một năm sau, Sư tìm được vị chân sư của mình là Hoa Tẩu Tông Ðàm (華叟宗曇; kesō sōdon, 1352-1428), vị trụ trì của Ðại Ðức tự. Hoa Tẩu không ở tại chùa Ðại Ðức mà lại ngụ tại một am gần đó để tránh sự náo nhiệt, phong cách quá nhập thế của một Thiền viện thời đó. Sư lưu lại đây chín năm và và kiên nhẫn chịu đựng phương pháp tu tập rốt ráo của Hoa Tẩu. Nhân khi tham Công án thứ 15 của tập Vô môn quan – với tên Ðộng Sơn (Thủ Sơ) ba hèo (Ðộng Sơn tam đốn) – Sư có ngộ nhập. Không bao lâu sau, trong khi toạ thiền trên một chiếc thuyền, Sư nhân nghe một con quạ kêu to bỗng nhiên ngộ đạo. Sư bèn trình Hoa Tẩu và được vị này Ấn khả. Sư không nhận ấn chứng này và có thuyết bảo rằng, Sư xé bỏ bản ấn chứng này ngay sau khi nhận. Sư tự tin rằng, kinh nghiệm giác ngộ của ai chỉ có người ấy biết và không ai có thẩm quyền quyết định được cái thật hoặc giả của kinh nghiệm giác ngộ của Sư. Với những hành động này, Sư đảo ngược truyền thống ấn chứng của Thiền tông và chính Sư cũng không ấn chứng cho ai trong cả cuộc đời hoằng hoá của mình. Mặc dù vậy, Sư ở lại hầu cho đến lúc Hoa Tẩu viên tịch (1428).|Trong suốt một thời gian khoảng 30 năm, Sư không dừng chân nơi nào, chỉ chu du tuỳ duyên hoằng hoá nơi quần chúng. Sư tiếp xúc với mọi tầng cấp của xã hội Nhật thời bấy giờ như quan tước, võ sĩ, văn hào, nghệ sĩ… và cả kĩ nữ, và Sư đặc biệt đề cao tính tình chất phác của họ. Con đường hoằng hoá quần chúng của Sư đi xa, cũng có nhiều người cho rằng đi quá xa so với giáo lí của nhà Phật. Sư không để ý gì đến Giới luật, ăn thịt cá, mê rượu, gái. Một mặt Sư chê bai, than trách về tư cách đạo đức giả, gian trá của các vị tăng tại những Thiền viện lớn bấy giờ, mặt khác Sư lại rất chú tâm đến việc phổ biến Phật pháp trong quần chúng và các hành động »phá giới« của Sư nêu trên đều có thể xem là trùng hợp với việc thực hành Phật pháp của phần lớn của Phật tử nằm ngoài Tăng-già thời bấy giờ. Sư viết: »Thời xưa, mọi người có tín tâm đều vào cửa chùa, nhưng ngày nay tất cả đều rời chùa. Nếu nhìn kĩ thì người ta sẽ thấy rằng, các phường chủ không biết gì – không tham thiền, chẳng quán công án mà chỉ chú tâm đến vật chất, trang trí bồ đoàn. Họ rất tự hào về ca-sa của họ nhưng mặc dù họ mang ca-sa, họ cũng chỉ là phàm phu thay áo. Dù họ mang ca-sa, ca-sa cũng trở thành dây xích, gậy sắt trói buộc, hành hạ thân họ.«|Sư chỉ trích mạnh mẽ sự tôn thờ và ham muốn thác sinh nơi Cực lạc Tịnh độ của Phật tử. Sư dạy: »Nếu ai thanh lọc tâm địa và Kiến tính, người ấy chẳng còn muốn tái sinh cõi Phật, chẳng còn sợ địa ngục, chẳng còn phiền não phải đoạn, chẳng còn phân biệt thiện ác; người ấy đã đạt tự do tự tại trong sinh tử luân hồi, muốn tái sinh vào nơi nào cũng được – chỉ khi tâm người ấy mong cầu.« Vì thế mà Sư chế nhạo tất cả những phong tục có tính cách mê tín dị đoan như đốt đèn, cầu cúng, dâng lễ vật cho người chết và tụng kinh cầu siêu cầu an.|Sư tự gọi mình là »Cuồng Vân« (狂雲; kyōun) và rất nhiều câu chuyện thú vị về việc tuỳ cơ hoằng hoá và nhạo đời của Sư được lưu truyền. Một lần nọ, Sư khất thực tại một nhà giàu sang với quần áo rách rưới dơ bẩn và chỉ nhận được nửa xu. Sau đó, Sư thay y phục, mặc ca-sa tía đến khất thực và được mời ngay vào nhà dùng cơm cùng với gia đình. Sư liền cởi áo tía ra, đặt nó vào ngay chỗ ngồi ăn và bảo rằng: »Bữa ăn thịnh trọng ngày hôm nay không phải dành cho ta mà là áo ca-sa tía này.«|Tính tình chân chính, phong cách tự do, bất lệ thuộc của Sư chính là nguyên do vì sao Sư rất được quần chúng mộ đạo yêu thích. Sư là một trong những vị Thiền sư nổi danh nhất thời trung cổ của Nhật Bản. Năm 1456, Sư nhận lời trụ trì Diệu Tâm tự (myōshinji) và sống tại một am gần đó. Từ đây, Sư được các vị tăng dần dần chấp nhận, tôn kính, ngay cả những vị mà ngày xưa Sư chỉ trích thậm tệ. Vào những năm cuối đời, Sư được cử trụ trì Ðại Ðức tự (daitoku-ji). Không bao lâu sau – vào năm 1481 – Sư viên tịch, thọ 87 tuổi.
nhất hưu tông thuần
IkkyŪ Sōjun (J)Tên một vị sư.
Nhất hướng
一向; C: yīxiàng; J: ikkō;|1. Nhiệt tình, chỉ nhắm tới một mục đích, không mong mỏi điều gì khác ngoài mục đích đang dự tính. Tha thiết, nhiệt thành; 2. Hoàn toàn, toàn vẹn, đầy đủ (s: eka-aṃsa); 3. Triệt để, cho đến mức có thể được; 4. Chỉ riêng về một hướng, chỉ có, chỉ là.
nhất hướng
One direction, each direction; with single mind, the mind fixed in one direction, undistracted.
; Tâm định trên một hướng—One direction—Each direction—Undistracted—With a single mind—The mind is fixed on one direction.
; (一向) Phạm: Zama-eka-ayana-màrga. I. Nhất Hướng. Sự chuyên tâm nhất ý. Tức 1 lòng niệm Phật, tu hành, như Nhất hướng chuyên niệm, Nhất hướng chuyên tu. II. Nhất Hướng. Biểu thị ý nghĩa hoàn toàn, triệt để. Phật địa kinh luận quyển 1 (Đại 26, 292 hạ) nói: Thụ dụng các cõi Phật thanh tịnh như thế, hoàn toàn thanh tịnh vi diệu, triệt để an lạc, hoàn toàn vô tội, triệt để tự tại.
Nhất Hướng Chuyên Tu
(一向專修, ikkōsenshū): chuyên tu hướng về một. Trong cuốn Nhất Niệm Đa Niệm Chứng Văn (一念多念証文) của Thân Loan (親鸞, Shinran) có đoạn rằng: “cái gọi nhất tâm chuyên niệm có nghĩa nhất tâm là trú tâm Kim Cang, còn chuyên niệm là nhất hướng chuyên tu; nhất hướng không làm điều thiện nào khác, không niệm Phật nào khác, còn chuyên tu nghĩa là siêng năng tu hành không có hai tâm niệm danh hiệu bổn nguyện [A Di Đà Phật].”
nhất hướng kí
(一向記) Phạm: Ekàôza-vyàkaraịa. Cũng gọi Nhất định đáp, Định đáp, Quyết liễu đáp, Tất định luận, Nhất hướng luận, Quyết định kí luận. Nghĩa là trả lời những câu hỏi của người khác 1 cách khẳng định, quyết đoán, không trù trừ, do dự. Là 1 trong 4 loại kí đáp. Luận Câu xá quyển 19 (Đại 29, 103 trung) chép: Nếu có người hỏi rằng: Tất cả loài hữu tình (sinh vật) đều sẽ phải chết, đúng không? Thì phải trả lời dứt khoát rằng (Nhất hướng kí): Tất cả loài hữu tình đều sẽ phải chết. [X. kinh Tập chúng trong Trường a hàm Q.8; kinh Giải thâm mật Q.5; Phật địa kinh luận Q.6].
nhất hướng ký
Câu trả lời khẳng định—A confirmatory reply to a question.
nhất hướng nhất quỹ
(一向一揆) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Nhất hướng chỉ cho Nhất hướng tông, tức là Tịnh độ chân tông, Nhật bản; Nhất quĩ nghĩa là đoàn kết 1 mối để chống xâm lăng.Vào khoảng những năm Khoan chính, Văn minh, Thiên chính (1460-1591) dưới thời Thất đinh ở Nhật bản, để bảo vệ sự an toàn của tông môn, chư tăng và môn đồ của Chân tông đã cất quân chống lại sự bạo ngược của các lãnh chúa, quần hùng, nên được người đời gọi là Nhất hướng nhất quĩ.
nhất hướng thanh tịnh, vô hữu nữ nhân
Phật độ duy chỉ một đường thanh tịnh, không có nữ nhân—The land of the Buddha everywhere is pure, no women are there.
Nhất hướng thuyết
一向說|Nghĩa là »Phật lúc nào cũng dạy một điều duy nhất«.
nhất hướng tiểu thừa tự
Tự viện Tiểu Thừa—A monastery wholly Hinayana.
Nhất Hướng Tông
(一向宗, Ikkō-shū): tên gọi khác của Tịnh Độ Chơn Tông, tông phái chỉ nhất hướng tin vào đức Phật A Di Đà mà thôi.
nhất hướng tông
Nhất Hướng Chân Tông—Tín đồ của tông phái nầy thực tập bằng cách niệm danh hiệu Phật A Di Đà để đạt được nhất tâm—The Pure Land Shin Sect of which followers practice by repeating the name of Amitabha Buddha to obtain unwavering concentration.
; (一向宗) Chỉ cho Tịnh độ chân tông của Phật giáo Nhật bản. Vì tông này chủ trương lấy việc chuyên tâm (nhất hướng) niệm Phật, qui mệnh đức Phật A di đà làm tông chỉ, cho nên gọi là Nhất hướng tông. [X. Tam quốc Phật tổ truyện tập].
nhất hướng vị tha ân
(一向爲他恩) Ơn một lòng vì người khác. Tức ân đức của Như lai đối với tất cả chúng sinh. Đức Như lai trong vô lượng kiếp chuyên tâm (nhất hướng) tu tập các công đức, không hề nghĩ đến bản thân mà chỉ vì mục đích cứu độ tất cả chúng sinh (vị tha), nên gọi là Nhất hướng vị tha ân, là 1 trong 10 ân của Như lai. [X. Hoa nghiêm đại sớ sao Q.23; Đại minh tam tạng pháp số Q.36]. (xt. Thập Ân).
nhất hướng xuất sanh bồ tát kinh
Anantamukhasadhakadhāraṇī (S)Tên một bộ kinh.
Nhất hướng xuất sinh Bồ Tát kinh
一向出生菩薩經; C: yīxiàng chūshēng púsà jīng; J: ikkō shusshō bosatsu kyō;|Tên gọi khác của bản Xuất sinh vô biên môn đà-la-ni kinh (出生無邊門陀羅尼經).
nhất hướng xuất sinh bồ tát kinh
(一向出生菩薩經) Phạm: Anantamukhasàdhaka dhàraịì. Kinh, 1 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật tuyên thuyết Đà la ni Nhập vô biên môn cho tôn giả Xá lợi phất. Bản dịch khác của kinh này là kinh A nan đà mục khư ni ha li đà, do ngài Cầu na bạt đà la dịch vào đời Lưu Tống. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].
nhất hướng đại thừa tự
Tự viện Đại Thừa—A monastery wholly Mahayana.
; (一向大乘寺) Gọi chung các ngôi chùa chuyên tu tập pháp Đại thừa. Luận Hiển giới quyển thượng dẫn Đại đường tây vực kí, nói rằng thời gian ngài Huyền trang đến Ấn độ và Tây vực cầu pháp, thỉnh kinh thì có 15 nước, trong đó, ngài có ghi rõ số các chùa và tăng đồ chuyên tu học Đại thừa.
nhất hạ
The summer retreat of 90 days from the 16th of 4th moon to the 15th of the 7th moon.
; An cư kiết hạ từ ngày 16 tháng tư đến 15 tháng bảy—The summer retreat from the 16th of the 4th month to the 15th of the 7th month.
nhất hạ cửu tuần
(一夏九旬) Gọi tắt: Nhất hạ. Một hạ gồm có 9 tuần (1 tuần 10 ngày), 9 tuần là 90 ngày, tức tính từ 16 tháng 4 đến 15 tháng 7 âm lịch mỗi năm. Đây là thời gian kết hạ an cư của tăng đoàn Phật giáo.Cảnh đức truyền đăng lục quyển 17 (Đại 51, 337 thượng) nói: Tào sơn 1 đời hành cước, đến đâu cũng quan tâm đến 1 hạ 9 tuần. [X. môn Thời tiết trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. An Cư).
nhất hạng
First class.
Nhất Hạnh
一行; 683-727; cũng được gọi là Nhất Hạnh Thiền sư.|Cao tăng đời Ðường, được xem là trong tám vị Tổ chủ trương Phó thụ bát tổ (傅授八祖) của tông Chân Ngôn.|Sau khi cha mẹ mất một cách đột ngột, sư đầu tiên làm quen với Ðạo giáo. Sau đó, sư đến vị Tổ thứ bảy của Bắc tông thiền là Phổ Tịch (普寂; 631-739) tu học Thiền, rồi đến học Luật nơi Huệ Chân (惠眞; 673-751), một đệ tử của Hoằng Cảnh (弘景). Thêm vào đó, trong khoảng thời gian lưu lại ở dãy Thiên Thai, sư nghiên cứu Toán học, Thiên văn học cũng như cách bói toán theo Ðạo gia, một biệt tài trứ danh của sư sau này. Năm 716, sư trở thành môn đệ của Thiện Vô Uý (善無畏), sau đó được mời vào cung của Huyền Tống. Sư cũng được Kim Cương Trí (金剛智) hướng dẫn vào những kĩ thuật tu học của Mật giáo sau cuộc hội ngộ lần thứ nhất vào năm 720. Tác phẩm lớn nhất của sư, một bài sớ vĩ đại về kinh Ðại Nhật với tên Ðại Nhật kinh sớ được hoàn tất vào năm 725. Sư cũng được xem là người phát minh ra đồng hồ chạy bằng dây thép xoắn.
nhất hạnh
EkavyŪha (S)Chuyên chú vào một việc.
; One act (of body, moutf or mind); holding to one course; devoted. Nhất hạnh tam muội, chân như tam muội, nhất tướng tam muội: a samàdhi for realizing that the nature of all Buddhas is the same; entire concentration of the mind on Buddha.
nhất hạnh cư tập
(一行居集) Tác phẩm, 8 quyển, do cư sĩ Bành thiệu thăng soạn vào đời Thanh. Văn từ trong sách rất thanh nhã, không liên quan đến ngữ lục cổ hủ, mỗi chữ đều từ trong biển tính tuôn ra, làm sáng tỏ tinh nghĩa của Tịnh độ. Trong sách có phụ thêm Nho môn công án niêm đề, 1 quyển.
nhất hạnh tam muội
(一行三昧) Phạm: Ekavyùha-sanàdhi. Cũng gọi Nhất tam muội, Chân như tam muội, Nhất tướng tam muội, Nhất tướng trang nghiêm tam ma địa. Chính định do tâm chuyên chú vào 1 hạnh mà tu tập, có 2 loại Lí và Sự. 1. Về Lí: Nhất hạnh tam muội là tam muội định tâm quán xét pháp giới 1 tướng bình đẳng. Vào Tam muội này thì biết rõ Pháp thân của hết thảy chư Phật và thân của chúng sinh là bình đẳng không hai, không có tướng sai khác. Cho nên trong tất cả mọi cử chỉ như: Đi, đứng, ngồi, nằm đều thuần nhất 1 trực tâm, không động đạo tràng, liền thành Tịnh độ. Luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 25, 401 trung) nói: Hành giả vào được Nhất trang nghiêm tam muội thì quán xét các pháp đều là 1, hoặc quán vì tất cả pháp có tướng nên là 1, hoặc quán vì tất cả pháp không tướng nên là 1, hoặc quán vì tất cả pháp đều không nên là 1, cứ như thế vô lượng đều là 1 (...) Tam muội này thường chỉ có 1 hạnh. Trong Tam muội tương ứng với rốt ráo khôngnày không có 1 thứ hạnh nào khác. 2. Về Sự: Nhất hạnh tam muội là Niệm Phật tam muội do nhất tâm niệm Phật. Kinh Văn thù sư lợi sở thuyết Ma ha bát nhã ba la mật quyển hạ (Đại 8, 731 trung) nói: Này các thiện nam tử, thiện nữ nhân! Muốn vào được Nhất hạnh tam muội, thì phải ở những nơi vắng vẻ, buông bỏ vọng tưởng, không chấp tướng mạo, buộc tâm vào 1 đức Phật, niệm danh hiệu của Ngài. Đức Phật mà mình đã chọn ở phương nào thì ngồi ngay thẳng xoay mặt về hướng ấy, 1 lòng chuyên niệm, liên tục không gián đoạn, thì ngay trong niệm ấy thấy được chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai. [X. kinh Đại bảo tích Q.47; kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; luận Đại trí độ Q.43; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ].
Nhất hạnh tam-muội
一行三昧; C: yīxíng sānmèi; J: ichigyō zanmai; S: ekavyūha-samādhi.|Chuyên một công phu tu tập chính định. Chính định viên mãn hợp nhất thân tâm trong mọi công hạnh (theo Văn-thù Sư-lợi thuyết Ma-ha bát-nhã ba-la-mật kinh 文殊師利説摩訶般若波羅蜜經, Khởi tín luận 起信論).
nhất hạt
(一喝) Một tiếng hét. Trong Thiền tông, thầy thường dùng tiếng hét để làm cho người học khai ngộ. Tiếng hét này có đại cơ, đại dụng chứ không phải như tiếng hét bình thường. Lâm tế lục (Đại 47, 504 thượng) chép: Sư hỏi vị tăng: Có lúc tiếng hét như gươm báu Kim cương vương, có lúc tiếng hét như con sư tử lông vàng ngồi xổm trên đất, có lúc tiếng hét như cần câu khùa dưới bóng cỏ, có lúc tiếng hét không có tác dụng của 1 tiếng hét. Ông hiểu thế nào? Vị tăng suy nghĩ, sư liền hét.
nhất hạt vạn cơ bãi tam triều lưỡng nhĩ lung
(一喝萬機罷三朝兩耳聾) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một tiếng hét muôn cơ dứt, 3 ngày điếc cả 2 tai. Nghĩa là khi thầy hét 1 tiếng thì tất cả ý thức phân biệt của người học đều dừng nghỉ, trong 3 ngày, 2 tai không còn nghe được âm thanh gì nữa. Đây là cuộc thể nghiệm đại ngộ của Thiền sư Bách trượng Hoài hải khi tham vấn ngài Mã tổ Đạo nhất. Chương Bách trượng Hoài hải trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 6 (Đại 48, 249 hạ) nói: Lão tăng trước đây bị 1 tiếng hét của Mã đại sư, làm cho tai điếc mắt mờ suốt 3 ngày.
nhất hằng hà sa
See Nhứt Hằng Hà Sa.
; (一恒河沙) Gọi tắt: Nhất hằng. Chỉ cho số cát trong 1 sông Hằng. Lưu vực sông Hằng (Phạm: Gaígà) bên Ấn độ là nơi đức Phật giáng sinh và du hành hóa đạo, do đó mà nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo. Hai bờ sông có bãi cát dài. Khi thuyết pháp, đức Phật thường dùng số cát sông Hằng để ví dụ số lượng nhiều không thể tính đếm được. [X. luận Đại trí độ Q.7]. (xt. Hằng Hà Sa).
nhất họa tam lễ
Mỗi nét vẽ hình tượng chư Phật đều phải lễ lạy Tam Bảo—In drawing an image of Buddha, at each drawing thrice to pay homage to the Triratna.
Nhất hồi chu
一回周; C: yīhuízhōu; J: ikkaishū;|Ngày giỗ đầu tiên sau khi mất. Còn gọi là Nhất hồi kị (一回忌).
nhất hồi cử trước nhất hồi tân
(一回舉著一回新) Cũng gọi Nhất hồi niêm xuất nhất hồi tân.Tiếng dùng trong Thiền lâm. Mỗi lần nêu lên là mỗi lần mới. Nghĩa là cùng 1 câu nói, mà mỗi lần nêu ra lại có sự thể ngộ khác, không giống như trước. Tắc 30 trong Bích nham lục (Đại 48, 169 hạ) chép: Trấn châu sản xuất loại củ cải khá lớn (Mọi người đều biết, rất kị nói đến! Mỗi lần nêu ra là mỗi lần mới). Nạp tăng trong thiên hạ đều dùng nó.
Nhất hồi kị
一回忌; C: yīhuíjì; J: ikkaiki;|Ngày giỗ đầu tiên sau khi mất. Còn gọi là Nhất hồi chu (一回周).
nhất hồi kị
(一回忌) Cũng gọi Nhất chu kị, Chính kị nhật, Nhất chu quan, Tiểu tường kị. Ngày giỗ đầu. Vào ngày này, các tín chủ thường thỉnh chư tăng cử hành lễ truy tiến và làm các việc thiện để cầu cho người quá cố được siêu thoát như: tạo tượng Phật, xây chùa tháp, bố thí tài, pháp, tụng kinh, trì chú, trai tăng v.v... (xt. Niên Kị).
nhất hồi ẩm thuỷ nhất hồi trước ế
(一回飲水一回著噎) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một lần uống nước, một lần bị nghẹn. Trong Thiền lâm, cụm từ này được chuyển dụng để chỉ cho sự biến hóa của các pháp là điều mà không ai có thể tiên liệu được. Tắc 2 trong Thung dung lục (Đại 48, 228 hạ) nói: Rỗng rang không thánh, một lần uống nước, một lần bị nghẹn.
nhất hội
(一會) I. Nhất Hội. Thông thường chỉ cho 1 cuộc hội họp có hình thức tông giáo. II. Nhất Hội. Một lần giảng kinh. Thời đức Phật còn tại thế, khi giảng 1 bộ kinh, Ngài thường chia làm nhiều lần, mỗi lần là 1 hội. Như kinh Đại bát nhã được giảng ở 4 chỗ gồm 16 hội. III. Nhất Hội. Một hồi chuông trống. Trong các chùa viện Thiền tông, khi đánh chuông trống, phải theo đúng pháp tắc đã được qui định, hễ đánh 1 lần, gọi là Nhất hội; đánh 2 lần, gọi là Nhị hội...
nhất hội nhất thiết hội
(一會一切會) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hiểu một hiểu tất cả. Hội nghĩa là hiểu được, lí giải được. Ý nói hễ triệt để hiểu được 1 việc thì tất cả các lí sự khác đều tự nhiên lãnh hội 1 cách thấu suốt, rõ ràng. Tắc 60 trong Bích nham lục (Đại 48, 192 trung) chép: Nói vậy thì lí và trí thầm hợp, cảnh và thức hội nhau. Vì sao? Vì hiểu 1 thì hiểu tất cả; rõ 1 thì rõ tất cả.
nhất hợp tướng
Piṇḍagraha (S).
; An orgamism, a cosmos, or any combined form, e.g. a man, a world.
; Thế giới do nhiều vi trần hợp thành, gọi là nhất hợp tướng. Thân người do nhiều tế bào hợp thành cũng gọi là nhất hợp tướng. Tất cả vật chất đều do nhiều nguyên tử hợp thành cũng như vậy.
; (一合相) Phạm: Piịđa-gràha. Một hợp tướng. Chỉ cho 1 sự vật do nhiều nhân duyên kết hợp mà thành. Nói theo quan điểm của Phật giáo thì tất cả mọi hiện tượng trong thế gian đều là 1 hợp tướng. Kinh Kim cương bát nhã ba la mật (Đại 8, 752 trung) nói: Nếu thế giới là có thực, thì đó là Nhất hợp tướng; Như lai nói Nhất hợp tướng chẳng phải Nhất hợp tướng, đó gọi là Nhất hợp tướng.
nhất hữu đa chủng
(一有多種) Đối lại: Nhị vô lưỡng ban. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nhất biểu thị nguyên lí tuyệt đối, nhất vị bình đẳng. Đa chỉ cho các tướng sai biệt, nhiều chủng loại. Nghĩa hoàn chỉnh của Nhất hữu đa chủng là Bình đẳng tức sai biệt. Tức là đứng từ góc độ bình đẳng mà nhìn, thì trời đất muôn vật là một; nhưng nếu từ phương diện sai biệt mà quan sát thì vũ trụ vạn hữu lại có thiên hình vạn trạng khác nhau. Tắc 2 trong Bích nham lục (Đại 48, 142 thượng) nói: Một có nhiều loại, hai lại chẳng hai (Nhất hữu đa chủng, nhị vô lưỡng ban).
nhất khanh mai khước
(一坑埋却) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chôn hết trong một hố. Trong Thiền tông, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ cho việc chôn vùi tất cả ngôn ngữ, suy tư, luận đoán, dứt hết thị phi không để chúng làm hoặc loạn. Tắc 33 trong Bích nham lục (Đại 48, 172 hạ) ghi: Ngài Tuyết đậu lại nói: Nạp tăng trong thiên hạ, không ai nhảy ra được (Toàn thân ở trong, một hố chôn hết, liệu Xà lê có nhảy ra được không?).
nhất khiếp tứ xà
(一篋四蛇) Một cái hòm nhỏ (cái rương nhỏ) đựng 4 con rắn, ví dụ thân người là do 4 đại: Đất, nước, lửa, gió hòa hợp mà thành. Luận Đại trí độ quyển 22 (Đại 25, 228 thượng) nói: Bốn đại trong thân bức hại lẫn nhau, như người mang cái hòm đựng rắn độc, lẽ nào kẻ trí lại cho là an ổn? [X. kinh Tạp a hàm Q.43; kinh Đạt ma đa la thiền Q.thượng].
nhất khiếu
(一竅) Chỉ cho bộ phận trọng yếu của sự vật. Khiếu nghĩa là hang, lỗ; chuyển chỉ cho phần trung tâm của sự vật. Trong Tề vật luận của Trang tử, Nhất khiếu nghĩa là cửa ngõ trọng yếu nhất (quan khiếu chí yếu); nghĩa là 1 cửa thông suốt thì trăm cửa đều thông suốt. Tắc 36 trong Bích nham lục (Đại 48, 174 hạ) chép: Không thấy tất cả sắc mới chỉ là đề xuất một nửa; phải lấy tất cả sơn hà đại địa không một mảy may lầm lỗi mới là toàn đề, rồi cứ thế tiến lên chỗ trọng yếu (Nhất khiếu) mới lãnh hội được yếu chỉ tọa thiền.
Nhất khoả minh châu
一顆明珠; C: yīkē míngzhū; J: ikkamyōju;|Viên ngọc báu sáng ngời. Một tiểu luận của Đạo Nguyên Hi Huyền, lập trên cơ sở lời trần thuật của sư Huyền Sa Sư Bị: »Mười phương thế giới đều là hạt minh châu.« Luận giải nầy là một chương trong tác phẩm Chính pháp nhãn tạng (正法眼藏; j: shōbōgenzō).
nhất khoả minh châu
(一顆明珠) I. Nhất Khỏa Minh Châu. Một viên minh châu. Minh châu được dùng để ví dụ cho chân như, Phật tính, chính pháp, vì chân như, Phật tính, chính pháp có năng lực hiển bày tướng chân thực của thế giới này. Tướng chân thực ấy tròn đầy không khiếm khuyết, không có trong ngoài, giống như minh châu trong ngoài đều lóng lánh, không có sắc, không có tâm, bình đẳng không hai. Chương Huyền sa sư bị trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 18 (Đại 51, 346 hạ) chép: Vị tăng hỏi: Theo như lời Hòa thượng nói, khắp 10 phương thế giới là 1 viên minh châu, đệ tử làm sao hiểu được? Ngài Huyền sa trả lời: Khắp 10 phương thế giới là 1 viên minh châu, hiểu để làm gì? II. Nhất Khỏa Minh Châu. Gọi đủ: Chính pháp nhãn tạng nhất khỏa minh châu. Tên 1 chương sách trong bộ Chính pháp nhãn tạng quyển 4, được thu vào Đại chính tạng tập 82. [X. Chính pháp nhãn tạng Q.4].
nhất khoản tiện chiêu tự lĩnh xuất đầu
(一款便招自領出頭) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nhất khoản là một tờ cáo trạng; Tự lãnh xuất đầu vốn là ngôn ngữ được sử dụng trong tòa án, nghĩa là tự ra trước tòa để nhận tội trạng. Ở đây có nghĩa là tự mình nhận lấy khuyết điểm. Tắc 18 trong Thung dung lục (Đại 48, 238 trung) ghi: Vị tăng hỏi: Đã có, thì tại sao lại chui vào cái đãy da này? (Nhất khoản tiện chiêu, tự lãnh xuất đầu).
nhất khách phiền lưỡng chủ
(一客煩兩主) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một người khách cùng 1 lúc muốn được 2 người chủ tiếp đãi. Đứng về phương diện chủ nhà mà nói thì quả thật ông khách này quá phiền hà. Thiền tông mượn nhóm từ này để chỉ cho người khéo ứng dụng Thiền cơ một cách linh hoạt. Tắc 87 trong Thung dung lục (Đại 48, 283 trung) chép: Sau, đến chỗ ngài Minh chiêu nêu lại câu nói trước (Nhất khách phiền lưỡng chủ).
nhất khí
(一氣) Gốc của trời đất, âm dương, là chỗ y cứ của đạo, ví dụ cho tâm tự tính thanh tịnh. Khi nhiễm tịnh chưa khởi lên thì Phật và chúng sanh là bình đẳng bất nhị, hết thảy các pháp đều từ tâm tự tính thanh tịnh mà sinh ra, vì thế dùng Nhất khí để ví dụ cho Nhất tâm.
nhất không
All is empty, or of the void, non material.
; Tất cả đều không—Non-material—All is empty—All is of the void.
; (一空) Vắng lặng tuyệt đối. Nhất biểu thị con số vượt ngoài sự đối đãi, là trạng thái duy nhất tuyệt đối. Không nghĩa là tính vốn vắng lặng, muôn pháp qui về Nhất không. Tam tạng pháp số quyển 4 nói: Nhất không nghĩa là hết thảy các pháp đều không có tự tính, hoặc sắc pháp, hoặc tâm pháp, hoặc chính báo, hoặc y báo, cho đến pháp nhân quả, thánh phàm, tuy có những hiện tượng khác nhau, nhưng tìm đến thể tính thì rốt cuộc đều là Không. [X. Ma ha chỉ quán Q.7, thượng].
nhất không nhất thiết không
(一空一切空) Một không thì tất cả đều không. Trong 3 pháp quán: Không, Giả, Trung do tông Thiên thai lập ra, thì trong Không chẳng phải chỉ có nghĩa là Không, mà cũng bao hàm cả 2 nghĩa Giả và Trung để biểu thị nghĩa Không chân thực, vì thế gọi là Nhất không nhất thiết không. Ma ha chỉ quán quyển 5, thượng (Đại 46, 55 trung) nói: Một không tất cả không, Giả và Trung cũng đều không, đó là Tổng không quán (...) Nếu tất cả pháp là một pháp thì tôi nói đó là Không, tùy theo trí mà đạt tất cả trí.
nhất khẩu thôn tận
(一口吞盡) Một hớp nuốt hết. Ý nói dung chứa tất cả sự vật, không sót. Tắc 11 trong Bích nham lục (Đại 48, 151 trung) chép: Ngài Hoàng bá dạy mọi người rằng: (Khuấy nước động chậu, một hớp nuốt hết, nạp tăng trong thiên hạ nhảy không ra). Tất cả các ngươi đều là hạng ăn bã rượu!.
nhất khắc thiên kim
Một khắc đáng giá ngàn vàng (thời gian quý báu như vàng)—Time is as precious as gold (time is as precious as gold).
nhất kinh kì nhĩ
(一經其耳) Một lần nghe qua tai. Đây là lời thuộc văn nguyện thứ 7 trong 12 thệ nguyện của đức Phật Dược sư. Nguyện ấy như sau (Đại 14, 450 thượng): Tôi nguyện đời sau, khi chứng được Bồ đề, nếu có chúng sinh nào bị bệnh bức bách, không thầy không thuốc, chẳng có người thân, nghèo cùng khốn khổ, được nghe danh hiệu của tôi, chỉ một lần qua tai, thì các bệnh hoạn đều được tiêu trừ, thân tâm yên vui, quyến thuộc sum vầy, của cải sung túc, cho đến chứng được Vô thượng bồ đề.
nhất kiến
Cái nhìn hay cuộc gặp gỡ đầu tiên—At first sight or at the first meeting.
nhất kiếp
(一劫) I. Nhất Kiếp. Một thời kì dài lâu. Kiếp, gọi đủ là Kiếp ba, dịch âm Hán từ chữ Kalpa của tiếng Phạm. Theo luận Đại trí độ quyển 38, đơn vị thời gian ngắn nhất gọi là Niệm, đơn vị thời gian dài nhất gọi là Kiếp. Thích ca thị phổ (Đại 50, 84 hạ) nói: Kiếp ba, Hán dịch là Đại thời. Một đại thời có vô số năm, phải mượn thí dụ để diễn tả mới có thể biết được. [X. luận Đại tì bà sa Q.135; luận Đại trí độ Q.7]. (xt. Kiếp). II. Nhất Kiếp. Chỉ cho một lần tai ách. Đây là nói về sự hoại diệt của thế gian.
nhất kì
(一蟣) Phạm: Likwà. Kỷ là trứng rận, từ này được chuyển dụng làm đơn vị đo chiều dài, gấp 7 lần 1 mảy bụi nơi kẽ hở. Luận Câu xá quyển 12 (Đại 29, 62 trung) nói: Bảy ngưu mao trần(hạt bụi nhỏ bằng đầu cái lông bò) bằng 1 mảy bụi nơi kẽ hở, 7 mảy bụi nơi kẽ hở bằng 1 trứng rận, 7 trứng rận bằng 1 con rận.
; (一期) I. Nhất Kỳ. Qui định 1 thời hạn tu hành. Như người tu Tam muội thường hành thì thời hạn là 7 ngày đến 90 ngày. Các Thiền viện ở Trung quốc lấy ngày 15 tháng giêng đến ngày 15 tháng 7 âm lịch làm 1 kỳ hạn, rồi lại từ 15 tháng 7 đến 15 tháng giêng năm sau là 1 kỳ hạn. Đặc biệt vài ngày trước hoặc sau ngày 15 tháng 7 là kỳ hạn thay đổi các chức sự trong tùng lâm. Thời gian tại chức phải lấy 1 năm 2 kỳ làm hạn. Đạo tràng Luật tông mỗi năm truyền giới 2 lần. Truyền giới vào mùa xuân, gọi là Xuân kỳ; truyền giới vào mùa đông, gọi là Đông kỳ. II. Nhất Kỳ. Đồng nghĩa: Nhất sinh, Nhất thế, Nhất đại, Nhất hình. Một đời người. (xt. Nhất Hình).
nhất kì tung hoành
(一期縱橫) Tiếng dùng trong phán giáo của tông Thiên thai. Tông Thiên thai chia giáo pháp do đức Phật nói trong 1 đời làm 5 thời và 4 giáo. Nhất kỳ là chỉ cho thời gian đức Phật thuyết pháp độ sinh; Tung hoành là chỉ cho 5 thời 4 giáo. Năm thời là: Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã, Pháp hoa Niết bàn. Vì trong thời này, đức Phật nói pháp theo thứ tự từ cạn đến sâu, cho nên gọi là Tung. Còn 4 giáo là: Tạng, Thông, Biệt, Viên, tuy sâu cạn khác nhau, nhưng khi đức Phật thuyết pháp cũng có Kiêm, Đãn, Đối, Đới, là nhằm khế hợp với căn tính chúng sinh, chứ không phải theo thứ tự cạn sâu, cho nên gọi là Hoành.
nhất kế
(一髻) Tết một búi tóc trên đầu. Đây là tập tục của Bà la môn ở Ấn độ thời xưa.
nhất kế la sát
Ekajataraksa (S), Ekajata-raksah (S)Ế ca nhạ tra La sát vươngTên một vị thiên. Vị Bồ tát dùng trí bất nhị hiện hình phẫn nộ để hàng phục phiền nảo.
; (一髻羅刹) Phạm: Ekajaỉà-rakwa. Gọi đủ: Nhất kế la sát vương bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở phía cực nam trong viện Tô tất địa trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Điện lôi kim cương. Chủng tử là (Ca) hoặc (Ế). Vị Bồ tát này dùng trí bất nhị hiện tướng phẫn nộ, hàng phục các phiền não nên gọi là Nhất kế la sát. Nếu ai thụ trì chân ngôn của vị Bồ tát này thì phá dẹp được thiên ma, ác dạ xoa, la sát tư, quỉ thần độc ác, tất cả những tai họa như dịch bệnh, nước lửa, giặc cướp và mọi oán địch đều được tiêu trừ. Ngoài ra, theo Thai tạng giới thất tập quyển trung, thì hình tượng của vị Bồ tát này là thân màu xanh lục, ngồi trên hoa sen đỏ, hiện tướng phẫn nộ, có 4 tay, tay thứ 1 bên phải cầm kiếm, tay thứ 2 cầm búa lưỡi móc câu; tay thứ 1 bên trái cầm vòng Nhất Hưu dây, duỗi thẳng xuống, tay thứ 2 cầm chày 3 chĩa. [X. Bí tạng kí; Chư thuyết bất đồng kí Q.6; Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa kí Q.3].
nhất kế la sát nữ
(一髻羅刹女) Tên vị La sát giữ gìn che chở chúng sinh. Cứ theo kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương quyển trung, vị La sát nữ này ở trên bờ biển, khi nghe mùi máu mủ, có thể đi 8 vạn du thiện na trong 1 đêm. Vị La sát này thường hộ vệ Bồ tát lúc còn ở trong thai, lúc vừa sinh ra hoặc đã sinh ra, lại dùng chân ngôn của Phật mẫu đại khổng tước minh vương để bảo vệ hành giả và các quyến thuộc.
nhất kế tôn đà la ni kinh
(一髻尊陀羅尼經) Gọi tắt: Nhất kế tôn kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này trước hết nói về 10 thứ lợi ích và 4 loại quả báo tốt của việc thụ trì đọc tụng chân ngôn, kế đến nói về 3 loại Đà la ni, pháp làm đàn Quán đính 7 ngày, pháp lập đàn, Hộ ma, Căn bản ấn và pháp kết giới. [X. Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q.thượng; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].
nhất kỳ
Một đời—A lifetime—The period of an individual existence.
Nhất lai
xem Bốn quả thánh.
; 一來; C: yīlái; J: ichirai; S: sakṛḍāgāmin; P: sakaḍāgāmin; phiên âm Hán Việt là là Tư-đà-hàm (斯陀含);|Chỉ các bậc thánh đã đạt được quả giai đoạn hai của Thánh đạo (s: ārya-mārga). Các vị đó đã đoạn diệt gần hết ba gốc Bất thiện (s: akuśala) là Ba độc tham, sân và si, chỉ còn sinh lại một lần nữa trước khi đạt Niết-bàn.|Thánh quả Nhất lai là một trong Tứ quả (p: cātvariphalani) trên con đường tu tập trở thành một bậc A-la-hán. Thánh quả này được chia làm hai thành phần: 1. Nhất lai hướng (一來向), nghĩa là người vừa bước nhập quả vị và 2. Nhất lai quả (一來果), người đã thành tựu quả vị này. Hành giả chứng đắc quả vị nầy là đã chuyển hoá toàn triệt sáu loại đầu tiên trong chín loại phiền não (Cửu chủng phiền não 九種煩惱); hành giả ấy sẽ tái sinh một lần nữa trong cõi trời hay cõi người, rồi sau đó chứng nhập Niết-bàn. Cũng được gọi là Đệ nhị quả.
nhất lai
Sakrdàgàmin (S). Only one more return to mortality. Also tư đà hàm.
; Sakrdagamin (skt)—Chỉ còn tái sanh một lần—Only one more return to mortality.
nhất lai bồ tát
Bồ Tát chỉ còn tái sanh một lần nữa, người đã thực chứng Tứ Thánh Đế và đã diệt trừ đa phần nhiễm trược. Người nầy chỉ còn trở lại trần thế một lần nữa trước khi thực chứng A La Hán—One-Life Bodhisattva—Once-Returner—One-life Bodhisattva—Who is one lifetime away from Buddhahood—The best known example is the Bodhisattva Maitrya—An enlightened being in the second stage towards Arhatship, who has realized the Four Noble Truths and has eradicated a great portion of defilements. He will return to the human world for only one more rebirth before he reaches full realization of Arhatship.
Nhất lai hướng
一來向; C: yīláixiàng; J: ichiraikō;|Hành giả đang thể nhập vào quả vị Nhất lai.
nhất lai hướng
(一來向) Phạm: Zakfdàgàmi-pratipannaka. Cũng gọi Tư đà hàm hướng. Là 1 trong 4 hướng, 4 quả của Thanh văn.Quả Tư đà hàm cũng gọi là quả Nhất lai, là quả thứ 2 trong 4 quả Thanh văn, là bậc Thánh đã đạt được quả Dự lưu, đã dứt hết 6 phẩm Tu hoặc ở cõi Dục, còn phải 1 lần thụ sinh vào cõi người nữa mới được chứng quả A la hán. Còn Nhất lai hướng thì chỉ cho giai vị tu nhân để hướng tới quả vị Tư đà hàm, tức là giai vị tu hành đoạn trừ 6 phẩm trước trong 9 phẩm Tu hoặc ở cõi Dục. (xt. Tứ Hướng Tứ Quả, Tư Đà Hàm).
Nhất lai quả
一來果; C: yīláiguǒ; J: ichiraika; S: sakṛ-dāgāmi-phala.|Hành giả đã hoàn thành viên mãn quả vị Nhất lai. Nhất lai.
nhất liên
Bông sen của cõi Tịnh Độ—The Lotus-flower of the Pure Land of Amitabha.
nhất liên hoa
See Nhất Liên.
nhất liên thác sinh
(一蓮托生) Cùng gá sinh trong một hoa sen. Ýnói những người vãng sinh Tịnh độ được thác sinh trong hoa sen. Từ ngữ này đồng nghĩa với câu: Chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ (Các bậc thượng thiện đều họp ở một chỗ)trong kinh A di đà, hoặc câu: Các lưu bán tọa thừa hoa đài, đãi ngã Diêm phù đồng hành nhân (Mỗi người đều dành nửa tòa sen để đợi người đồng hành của mình từ cõi Diêm phù đề đến sau) trong Ngũ hội pháp sự tán.
nhất liên viện
Chiren In (J)Tên một ngôi chùa.
nhất loạt
Uniformly.
nhất luận
(一論) Cũng gọi Vãng sinh luận. Chỉ cho luận Tịnh độ của bồ tát Thế thân. Vì sợ lẫn lộn với luận Tịnh độ của ngài Ca tài nên đặc biệt gọi là Nhất luận. Những kinh luận mà tông Tịnh độ y cứ vốn được gọi là Tam kinh nhất luận. Nhất luận tức là bộ luận này.
nhất lí
(一理) Các pháp đều cùng một nguyên lí. Lí của vũ trụ vô thủy vô chung, không thêm không bớt, đồng nhất bình đẳng, nên gọi là Nhất lí. Vả lại, lí tính dung nhiếp tất cả các pháp. Lí tuy là 1 nhưng xuyên suốt các pháp. Các pháp tuy thiên sai vạn biệt, nhưng đều bắt nguồn từ 1 lí. Sự lí dung thông, pháp pháp vô ngại; tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian đều không ngoài một nguyên lí này.Pháp hoa văn cú kí quyển 6 trung (Đại 34, 263 thượng) nói: Từ một nguyên lí biến thông tất cả.
nhất lũ nhất xúc
(一縷一觸) Được một sợi chỉ của áo ca sa hoặc một lần chạm vào áo ca sa cũng được vô lượng công đức. Cứ theo Vãng sinh yếu tập chỉ huy sao quyển 9, có 1 con bò thường dùng sừng của nó chạm vào ca sa, nhờ đó mà đời sau được làm tăng và được nghe Phật pháp. [X. Pháp hoa văn cú kí Q.3].
nhất lưu
Once-returner.
; Trong cùng một dòng—Of the same class—Of the same flow.
; (一流) Một dòng phái. Từ khi các tông thành lập tông chỉ, thầy trò truyền trao cho nhau không dứt, giống như dòng sông luôn chảy không ngừng, nên gọi là Nhất lưu.
nhất lạc sách
(一絡索) I. Nhất Lạc Tác. Dây dợ quấn lại thành 1 cục, chỉ cho lời nói lằng nhằng, lộn xộn không rõ ràng. II. Nhất Lạc Tác. Một đoạn, 1 tiết văn chương, gọi là Nhất lạc tác. Từ ngữ này thường thấy trong các sách vở thuộc Thiền tông. Như tắc 44 trong Bích nham lục (Đại 48, 181 trung) chép: Ở mặt sau, ngài Tuyết đậu dẫn 1 đoạn văn (nhất lạc tác) dạy chúng của ngài Vân môn đã tụng ra công án này.
nhất lạp
The end of the monastic year at the summer retreat; a monastic year; also called pháp lạp, pháp tuế, hạ.
; (一臘) Lạp vốn nghĩa là sự cúng tế vào mùa đông, thông thường chỉ cho cuối năm. Trong Phật giáo, Lạp được chuyển dụng chỉ cho tuổi thụ giới của tăng ni. Từ sau khi thụ giới, cứ mỗi năm qua 1 lần hạ an cư, bắt đầu từ ngày 16 tháng 4 đến hết ngày 15 tháng 7 âm lịch, thì tăng ni được tính thêm 1 tuổi, gọi là Pháp tuế, cũng gọi là Pháp lạp. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 298 hạ), nói: Hạ lạp là tuổi đạo của Thích tử. Muốn biết thứ tự lớn nhỏ thì hỏi hạ lạp, vị nào nhiều tuổi hạ là lớn. Ngoài ra, vị trưởng lão có tuổi hạ cao nhất gọi là Nhất lão.
nhất lệ ti
(一綟絲) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một cuộn tơ nhuộm màu. Lệ là cỏ lệ. Lấy cỏ lệ làm thuốc nhuộm; nhuộm tơ thành màu đen hoặc màu xanh lá mạ, gọi là Lệ ti. Thiền tông dùng từ ngữ này để ví dụ cho nguồn gốc mê vọng của chúng sinh, tức là vô minh phiền não.Tắc 19 trong Bích nham lục (Đại 48, 159 thượng) nói: Một hạt bụi bay lên, là đại địa thu trọn; 1 đóa hoa nở là thế giới bừng dậy. Nhưng khi bụi chưa bay lên, hoa chưa bừng nở thì mắt dính vào đâu? Cho nên nói: Như chém 1 cuộn tơ, chém 1 mối là chém hết; như nhuộm 1 cuộn tơ, nhuộm 1 lần là nhuộm tất cả.
nhất lộ
(一路) Một con đường duy nhất. Nghĩa là các đức Phật Như lai xa lìa sinh tử vào Đại niết bàn đều do con đường chính duy nhất là Đại định Thủ lăng nghiêm. Ngoài con đường này ra thì chẳng còn con đường nào khác để mà vào.[X. kinh Thủ lăng nghiêm Q.5].
nhất ma nhất mễ
(一麻一米) Một hạt vừng (mè) một hạt gạo. Lúc mới xuất gia cầu đạo, đức Thế tôn tu khổ hạnh ở trong rừng, mỗi ngày chỉ ăn 1 hạt vừng, 1 hạt gạo. Luận Đại trí độ quyển 34 (Đại 25, 311 thượng) nói: Đức Thích ca văn Phật ở trong rừng Ưu lâu tần loa, ăn một hạt vừng, một hạt gạo. Những thầy tu ngoại đạo nói: Bậc tiên sư của chúng tôi tuy tu khổ hạnh, nhưng cũng không thể siêng tu khổ hạnh 6 năm như thế.
nhất ma vạn tiễn
(一魔萬箭) Một ma vạn mũi tên. Nghĩa là tuy 1 việc ác cực nhỏ, nhưng cũng đáng sợ như 1 vạn mũi tên bắn vào mình. Qui nguyên trực chỉ tập quyển thượng (Vạn tục 108, 119 hạ) nói: Thấy 1 việc ma như 1 vạn mũi tên ghim vào vào tim; nghe 1 tiếng ma như nghìn mũi dùi xuyên vào tai.
nhất mai khởi thỉnh văn
(一枚起請文) Cũng gọi Nhất mai tiêu tức, Nhất mai thệ văn. Nguyện văn, 1 thiên, do ngài Nguyên không, Tổ của tông Tịnh độ Nhật bản soạn. Vào tháng giêng năm Kiến lịch thứ 2 (1212), trước khi thị tịch, ngài Nguyên không đã đáp lời thỉnh cầu của các môn nhân, soạn ra bài văn này để làm lời di huấn cho đệ tử. Nội dung nói về yếu nghĩa vãng sinh Tịnh độ. Về sau, bài văn này được các chùa thuộc tông Tịnh độ ở Nhật bản đọc tụng trong 2 khóa sớm tối.
nhất manh dẫn chúng manh
(一盲引衆盲) Một người mù dẫn lũ mù. Nghĩa là ông thầy tà kiến dắt dẫn người học vào con đường sai lầm. Hoặc ví dụ 1 người, 1 việc sai lầm sẽ ảnh hưởng đến người khác. Bài tụng Can đầu tiến bộ trong Vô môn quan (Đại 48, 298 hạ) nói: Mù mất mắt trên trán, Nhận định lầm phương hướng; Liều mình thường bỏ mạng, Một mù dẫn lũ mù.
nhất mao
(一毛) Một sợi lông. Kinh Lăng nghiêm quyển 4 cho rằng hiện cõi Bảo vương trên đầu 1 sợi lông(nhất mao), tức là hiện y báo trong chính báo. Đức Phật có năng lực thần thông chẳng thể nghĩ bàn, cho nên có thể hiện y báo trong chính báo, hiện chính báo trong y báo, y báo, chính báo dung thông, sự lí vô ngại, lớn nhỏ dung nhau, một nhiều bình đẳng, vì thế mà có thể hiện cõi nước Bảo vương trên đầu một sợi lông vậy.
nhất môn
The one door out of mortality into Nirvàna. Nhất môn phổ môn: the one door is the all door; by entering the one door all doors of the faith are open.
; (一門) Nhất là nhất lí, tức Sở thong (cái được làm thông suốt). Môn là chính giáo, tức Năng thong (cái làm cho thông suốt). Như đức Phật nói giáo pháp Nhất thừa thì có thể làm cho lí thực tướng được thông suốt vậy.
nhất môn phổ môn
(一門普門) Từ gọi chung Nhất môn và Phổ môn. Nhất môn chỉ cho pháp môn 1 trí 1 đức; còn Phổ môn là pháp môn bao gồm toàn đức toàn trí. Phổ môn theo Hiển giáo là pháp Thực tướng trung đạo viên thông; còn theo Mật giáo thì đức Đại nhật Như lai là Bản tôn của Phổ môn, vì Ngài có đầy đủ vô lượng vạn đức nên Ngài là Bản tôn của Phổ môn. Còn các đức Phật và Bồ tát khác như: Di đà, Dược sư, Bất động, Quan âm... thì vì mỗi Ngài chỉ đứng đầu về 1 đức nào đó trong vạn đức của Đại nhật Như lai, nên chỉ là Bản tôn của Nhất môn. Đại nhật kinh sớ (Đại 39, 582 thượng) nói: Nếu các hànhgiảân cần tu tập, làm cho 3 nghiệp của mình thanh tịnh đồng đẳng với Bản tôn, từ 1 môn này mà thể nhập được pháp giới, thì tức là vào tất cả môn của pháp giới. Nghĩa là hành giả Mật giáo qui y Bản tôn của Nhất môn, siêng năng tu tập mà được vào pháp giới; rồi qui y Bản tôn của Phổ môn là Pháp thân Đại nhật thì cũng được vào tất cả môn củapháp giới. Vì thế cho nên sau khi liễu ngộ chân lí Một tức tất cả và từ Tam ma địa Bất động minh vương mà quan sát vũ trụ thì tất cả vũ trụ đều là Tam muội của Bất động minh vương phẫn nộ; rồi lại từ Tam ma địa của bồ tát Quan âm mà quan sát thế giới thì tất cả thế giới đều là Tam muội của bồ tát Quan âm từ bi. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3; Quan âm huyền nghĩa Q.hạ].
nhất mạch
(一麥) Một hạt lúa mạch. Đơn vị đo chiều dài của Ấn độ đời xưa, nhỏ nhất là bằng 1 hạt lúa mạch. Luận Câu xá luận quyển 12 (Đại 29, 62 trung) Nói: Bảy con rận là 1 hạt lúa mạch, 7 hạt lúa mạch là 1 đốt ngón tay, 3 đốt ngón tay là 1 ngón tay.
nhất mặc
(一默) Im lặng không nói. Chư Phật, Bồ tát hoặc nói hoặc im đều là hiển bày diệu lí. Kinh Duy ma quyển trung có thuật lại 1 cuộc luận đàm về pháp môn Bất nhị, kể rằng: Sau khi 32 vị Bồ tát mỗi vị đều đã tỏ bày ý kiến của mình về pháp môn Bất nhị, lúc ấy, bồ tát Văn thù sư lợi mới hỏi cư sĩ Duy ma: Thế nào là Bồ tát vào pháp môn Bất nhị?, cư sĩ Duy ma im lặng không nói. Bồ tát Văn thù khen rằng (Đại 14, 551 hạ): Hay thay! Hay thay! Cho đến không còn văn tự ngôn ngữ mới thực là vào pháp môn Bất nhị. Đây là dùng ngôn ngữ để dẹp ngôn ngữ mà hiển bày thực tướng. Vì thế trong nội giáo có câu: Duy ma nhất mặc nhất thanh lôi(sự im lặng của cư sĩ Duy ma là 1 tiếng sấm).
nhất nghiệp
A karma.
nhất nghiệp nhân
A karma cause (Causative of the next form of existence).
nhất nghiệp sở cảm
(一業所感) Cùng 1 nghiệp chiêu cảm quả báo. Nghĩa là nhiều người ở đời trước tạo cùng 1 nghiệp, nên đời này cùng chịu chung 1 quả báo. Cứ theo luận Câu xá quyển 17, chúng sinh trong 1 đời tạo nhiều nghiệp thiện ác, tà chính khác nhau, nhưng trong đó nghiệp nào chủ yếu nhất sẽ dẫn chúng sinh ấy sinh ra ở đời sau, còn các nghiệp khác thì nương tựa nhau đưa đến nhiều quả báo khác nhau ở đời sau như thọ yểu, giàu nghèo, sang hèn... [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.29, 30; Bồ tát anh lạc bản nghiệp kinh sớ Q.hạ].
nhất nghĩa vô lượng danh
(一義無量名) Một nghĩa vô lượng tên. Ý nói cùng 1 nghĩa nhưng có rất nhiều tên gọi khác nhau. Như 1 nghĩa Đế thích mà có các tên gọi: Kiêu thi ca, Bà ta bà, Phú lan đà la, Ma khư bà, Nhân đà la, Thiên nhãn, Xá chi phu, Kim cương, Bảo đính, Bảo chàng... Cũng như 1 nghĩa chân tục nhị đế mà có các tên gọi như: Thế đế, tục đế, hữu đế, phàm đế, chân đế, đệ nhất nghĩa đế, không đế, thánh đế...
nhất nguyên
(一源) Một nguồn, ví dụ như các pháp cùng bắt nguồn từ 1 nguyên lí, đặc biệt chỉ cho nguồn gốc Nhất thừa rốt ráo thành Phật. Kinh Đại tập quyển 8 (Đại 13, 50 thượng), nói: Các pháp không 2, không có phân biệt; 1 vị 1 thừa, 1 đạo 1 nguồn.
nhất nguyên luận
(一元論) Anh ngữ: Monism. Đối lại: Nhị nguyên luận, Đa nguyên luận.Kiến giải căn cứ vào 1 nguyên lí duy nhất để thuyết minh toàn thể vũ trụ. Luận thuyết này cho rằng căn bản của vũ trụ thế giới là 1 và muôn sự muôn vật trong vũ trụ đều bắt đầu từ cái 1 ấy, vì thế gọi là Nhất nguyên luận. Còn Nhị nguyên luận thì chủ trương thần linh và thế giới, tinh thần và vật chất, bản chất và hiện tượng... hoàn toàn đối lập nhau. Nhất nguyên luận, trái lại, cho rằng hết thảy vạn vật đều từ 1 nguyên lí căn bản sinh thành, cho nên không có sự đối lập giữa thần linh và thế giới, giữa tinh thần và vật chất... Tư tưởng giới Ấn độ dựa theo thuyết Nhất nguyên luận mà phát sinh ra nhiều luận phái khác nhau, như triết học Phệ đà chủ trương bản chất của vũ trụ là Phạm (Phạm: Brahman), bản chất chủ thể cá nhân là Ngã (Phạm: Àtman), 2 nguyên lí này cùng là 1 thể, tức Phạm-Ngã nhất như. Vũ trụ vạn hữu cuối cùng sẽ trở về Phạm và Ngã này. Muốn biểu hiện cái nội dung bản chất của luận thuyết Nhất nguyên này thực không phải việc dễ, vì thế mới nảy sinh ra các quan niệm về thực tại (Phạm: Sat, có), tinh thần (Phạm: Cit, biết), chí phúc (Phạm: Ànanda, vui mừng)... Tuy nhiên, loại Nhất nguyên luận bản chất tuyệt đối này lại khó giải thích được mọi sự phát sinh của hiện tượng giới, như những hiện tượng vật chất thuộc tự nhiên giới và những cái khổ, cái ác... thuộc tinh thần giới của con người. Muốn phân định sự đối lập giữa nguyên lí tinh thần (Phạm: Puruwa- Thần ngã) và nguyên lí vật chất (Phạm:Prakfti- Tự ngã) để giải quyết những vấn đề trên mà Nhị nguyên luận xuất hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thời đại. Ngoài ra, còn có thuyết Nhất nguyên duy vật luận của phái Lục sư ngoại đạo. Các luận thuyết kể trên đều có chỗ mâu thuẫn của chúng. Để giải quyết những quan niệm thiên chấp sai lầm, Phật giáo bèn khẳng định thái độ cùng lập trường của mình và nhất khái phủ định tất cả nguyên lí cố định về tinh thần, vật chất, thần, ngã, hoặc thuyết Hình nhi thượng học (siêu hình học) v.v... Phật giáo Tiểu thừa phân loại những yếu tố (pháp) cấu tạo thành các loại hiện tượng giới, nên sản sinh ra thuyết 75 pháp chia làm 5 vị và 100 pháp chia làm 5 vị mà thành là 1 trong những học thuyết Đa nguyên luận. Phật giáo Đại thừa thì lại tông hợp các pháp mà gọi là chân như, pháp tính, thực tướng, Phật tính, Như lai tạng, duy tâm, nhất niệm v.v... mà thành là 1 Nhất nguyên luận. Còn về nguồn gốc của các hiện tượng giới thì Phật giáo Đại thừa cho là vô minh và A lại da thức. Về mối quan hệ giữa vô minh và chân như thì đã có nhiều tranh luận. Tóm lại, Phật chưa từng xem những khái niệm về Nhất nguyên, Nhị nguyên, Đa nguyên... là những nguyên lí thực thể cố định, mà nhìn chung là những cái đó không có tự tính. Đây là thái độ cơ bản của Phật giáo về vũ trụ quan.
nhất nguyện kiên lập
The one vow—See Tứ Thập Bát Nguyện.
nhất nguyện kiến lập
(一願建立) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Kiến lập 1 nguyện, do Tịnh độ chân tông Nhật bản căn cứ vào nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà mà lập ra. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ quyển 1 (Đại 37, 250 trung) nói: Tỉ khưu Pháp tạng (...) phát 48 nguyện, lời nguyện nào cũng nói khi tôi thành Phật, chúng sinh ở 10 phương xưng niệm danh hiệu của tôi, nguyện sinh về cõi nước tôi, cho đến 10 niệm, nếu không được sinh thì tôi không lên ngôi chính giác. Tịnh độ chân tông Nhật bản đã dựa vào ý nghĩa này mà lập ra thuyết Nhất nguyện kiến lập.
nhất nguyệt tam chu
(一月三舟) Một mặt trăng 3 con thuyền. Trăng ví dụ đức Phật, 3 thuyền ví dụ căn cơ sai khác của chúng sinh. Ở đây, ý nói dưới ánh trăng vằng vặc, người đi thuyền về hướng nam nghìn dặm, thấy trăng đi theo mình về nam; người chèo thuyền về hướng bắc 10 dặm, cũng thấy trăng theo mình về bắc; còn người ngồi yên trên thuyền đậu ở 1 chỗ thì không thấy trăng di động. Nhưng mặt trăng thì chỉ là 1, không hề có sai khác. Chỉ 1 vầng trăng, nhưng do thuyền đi, thuyền đậu, mà người ngồi trên thuyền thấy có khác nhau. Điều này ví dụ vì cơ cảm của chúng sinh bất đồng nên thấy thân Phật không giống nhau. Kinh Hoa nghiêm quyển 16 (Đại 10, 80 hạ) nói: Bấy giờ, nhờ uy thần của đức Như lai, tất cả thế giới trong trong 10 phương, mỗi 4 thiên hạ trong cõi Diêm phù đề, đều trông thấy Như lai ngồi dưới gốc cây, mỗi đức Phật đều có chúng Bồ tát nhờ thần lực của Phật diễn nói chính pháp; những người trông thấy ai cũng nói chính mình được diện kiến đức Phật. Lúc ấy, đức Thế tôn vẫn không rời khỏi gốc cây Bồ đề. Ý trong đoạn kinh trên cho rằng Như lai chứng được bồ đề, cái thể ấy không có chỗ nương, không có trú xứ, không đi, không đến, chỉ tùy theo cơ cảm của chúng sinh mà hiển hiện Ứng thân khác nhau thôi.
nhất nguyệt tam thân
(一月三身) Một trăng 3 thân. Ngài Phi tích đời Đường đã dùng Nguyệt thể (mặt trăng), Nguyệt quang (ánh sáng của mặt trăng) và Nguyệt ảnh (bóng của mặt trăng) để ví dụ 3 thân của đức Phật. 1. Nguyệt thể: Ví dụ cho Pháp thân, vì Pháp thân là lí thường trụ không dời đổi, nguyên lí sinh ra các pháp, bao trùm muôn vật, như vầng trăng giữa hư không, bóng trăng phản chiếu khắp trăm nghìn vạn ức dòng sông. 2. Nguyệt quang: Ví dụ Báo thân, vì Báo thân là trí lặng chiếu, trí không có tự thể, dựa vào lí mà phát, cũng như ánh sáng mặt trăng chiếu soi môn tượng, tất cả sáng tỏ không lầm lẫn. 3. Nguyệt ảnh: Ví dụ Ứng thân, vì Ứng thân là tác dụng biến hóa, dụng không có tự tính, từ thể sinh ra, có cảm thì thông, không cảm thì dừng; cũng như bóng trăng, có nước thì hiện, không nước thì ẩn. Tuy vậy, cả 3 đều cùng 1 thể, hình thức tuy khác, nhưng thực chất chỉ là 1 mà thôi. [X. luận Niệm Phật tam muội bảo vương Q.trung, hạ].
nhất ngôn
Một lời nói—One word only.
; (一言) Một lời. Nhất ngôn có liên quan đến việc ngộ đạo của Thiền sư Tông mật đời Đường. Truyện kể rằng: Một hôm, Thiền sư Tông mật ở núi Khuê phong đọc chưa hết quyển kinh Viên giác, đến chữ Nhất ngôn thì hoát nhiên khai ngộ, nhận rõ tâm mình tức là tâm Phật, nhất định sẽ thành Phật, nên khi biên soạn sớ giải kinh Viên giác, trong lời tựa (Đại 39, 524 trung) ngài viết: Ngay chữ Nhất ngôn, bỗng nhiên tâm địa khai thông. [X. Viên giác kinh lược sớ].
nhất ngôn thanh
(一言聲) Thanh của 1 chữ. Trong văn phạm tiếng Phạm, từ ngữ này biểu thị số ít của danh từ, đại danh từ, hình dung từ, số từ... (xt. Tam Ngôn Thanh).
nhất ngôn tứ mã
(一言駟馬) Gọi đủ: Nhất ngôn kí xuất, tứ mã nan truy. Tên công án trong Thiền tông. Một lời đã nói ra, xe 4 ngựa kéo đuổi không kịp. Có vị tăng hỏi ngài Từ minh: Thế nào là mặt mũi xưa nay? Ngài Từ minh trả lời: Một lời nói ra, xe 4 ngựa kéo đuổi không kịp (Nhất ngôn tứ mã).Tắc 89 trong Thung dung lục (Đại 48, 285 thượng) nói: Còn như nơi vạn dặm không có 1 tấc cỏ thì thế nào? (Một lời nói ra, xe 4 ngựa kéo đuổi không kịp).
nhất ngốc thừa
A “bald-pated” vehicle—An unproductive monk or disciple.
; (一禿乘) Những kẻ cố chấp ngoan không, đoạn không, phản lại chính pháp của Phật, nghĩa là người không có công đức. Ma ha chỉ quán quyển 7, hạ (Đại 46, 100 trung) nói: Người đời nay cho rằng chỉ cần xả bỏ Ác thủ không (chấp trước ngoan không, đoạn không) là Đại thừa, nhưng cái không này chẳng ngoài cái ác đơn thuần và phức tạp của 62 thứ tà kiến thì làm sao gọi được là Thừa? Giả sử cho là Thừa thì chỉ là Nhất ngốc thừa, không có pháp môn nào cứu được họ. Đại thành chính pháp, kho báu kim cương, đầy đủ không thiếu, không đâu mà không có, chẳng lẽ chỉ dung kẻ chấp ngoan không, đoạn không thôi sao?.
Nhất Nhiên
一然; C: yīrán; J: ichinen; K: iryǒn (1206-1289);|Một vị cao tăng Hàn Quốc vào thời Cao Li (k: koryǒ). Là nhà văn sáng tác sung sức nhất, nổi tiêng với tác phẩm Tam quốc di sự (三國遺事; k: samguk yusa), là một tập hợp những sự kiện và giai thoại làm nền tảng khoa giáo cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Hàn Quốc.
nhất nhân
A cause; the cause from which the Buddha-law arises.
; Nhất nhơn—A cause—The cause from which the Buddha-law arises.
; (一因) I. Nhất Nhân. Cùng một nhân hạnh. Nghĩa là tất cả chúng sinh đều có Phật tính, vì cùng 1 nhân hạnh ấy cho nên đều có thể đạt đến Niết bàn.Kinh Đại bát niết bàn quyển 32 nói: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đều cùng 1 thừa, cùng 1 giải thoát, cùng 1 nhân, cùng 1 quả, cùng 1 vị cam lộ, tất cả sẽ được thường, lạc, ngã, tịnh. II. Nhất Nhân. Chỉ cho nguyên nhân, nguyên lí duy nhất.Các hệ thống triết học Ấn độ đời xưa như: Phệ đà, Áo nghĩa thư, Phệ đàn đa... đều chủ trương 1 nguyên nhân duy nhất sinh ra muôn vật, đó là: Người duy nhất (Phạm: Tad-ekam), Sinh chủ (Phạm: Prajàpati), Tự tại thiên (Phạm: Ìzvara), Phạm (Phạm: Brahman), Ngã (Phạm: Puruwa hay Àtman). Phật giáo phủ định thuyết Nhất nhân này mà chủ trương các pháp đều do nhân duyên sinh. [X. luận Câu xá Q.6, 7; Trung luận sớ (Nguyệt xứng, Prasannapadà, XXVI); phẩm Quán tác giả nghiệp trong Bát nhã đăng luận thích Q.6; phẩm Phá nhân trung vô quả trong Bách luận Q.hạ; Câu xá luận quang kí Q.7].
; (一人) Người bậc nhất. Chỉ cho đức Phật. Phật tu hành đắc đạo trong cõi người, là bậc tôn thắng nhất trong thế gian, nên gọi là Nhất nhân. Phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 14 hạ) nói: Tất cả chúng sinh trong ấy đều là con ta (...) chỉ 1 mình ta (Nhất nhân) có năng lực cứu được.
nhất nhân huýnh xuất nhất quả bất dung
(一因迥出一果不融) Một nhân tách xa, một quả không dung. Tiếng dùng biểu thị nghĩa nhân quả cách rời của Biệt giáo trong 4 giáo Hóa pháp do tông Thiên thai phán lập. Trong nhân có đủ 3 nhân Phật tính là Chính nhân, Liễu nhân và Duyên nhân. Theo giáo nghĩa của Biệt giáo, vì Tu đức và Tính đức không tương tức nhau, nên ở nhân vị còn trong mê mà nói về lí chính nhân của Tính đức vốn có; còn Duyên nhân và Liễu nhân của Tu đức không tương tức nhau, gọi là Nhất nhân quýnh xuất. Lí của quả tột cùng chứng được là nhân quả không 2, đây là giáo nghĩa của Biệt giáo. Một quả pháp thân cách rời với giai vị nói trên, nên gọi là Nhất quả bất dung. [X. Pháp hoa huyền tiêm Q.1; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ].
nhất nhân ngoại đạo
(一因外道) Ngoại đạo chủ trương vũ trụ vạn vật do 1 nguyên nhân duy nhất sinh thành. Chẳng hạn như Ca la cưu đà ca chiên diên thứ 5 trong phái Lục sư được đề cập đến trong kinh Duy ma; Vi đà luận sư thứ 4, Y xa na luận sư thứ 5, Nữ nhân quyến thuộc luận sư thứ 9, La đà la luận sư thứ 12, Ma hê thủ la luận sư thứ 15, An đồ luận sư thứ 20... được nói đến trong luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn. Mặc dầu trên lập trường quan điểm, những Luận sư này có chỗ dị đồng, nhưng nói chung thì họ đều thuộc loại ngoại đạo chủ trương thuyết Nhất nhân.
Nhất nhân tác hư
(一人作虚) [tạp]: tên gọi một công án trong Thiền Tông, nghĩa là một người làm (cho là, nói) sai. Có công án rằng: “Nhất nhân thổ hư ngôn, tắc vạn nhân tương truyền vi thật dã (一人吐虚言、則萬人相傳爲實也, một người nói lời sai tất vạn người truyền nhau là thật)”. Hư Cốc Tập (虚谷集) có đoạn rằng: “Hữu tăng vấn Hưng Hóa Tồn Tương, Đa Tử tháp tiền, cọng đàm hà sự ? Hóa vân: 'Nhất nhân tác hư vạn nhân truyền thật' (有僧問興化存奬、多子塔前、共談何事, có vị tăng hỏi Hưng Hóa Tồn Tương (興化存奬, 830-888) rằng: 'Trước tháp Đa Tử, cùng luận việc gì ? Hưng Hóa đáp: 'Một người cho là sai, vạn người truyền là thật)”. Như vậy chân lý là cái mà mọi người tự ngộ tự đắc, mỗi bước cũng như ngôn ngữ, chữ nghĩa đều mất đi cái chân thật của chân lý. Câu này cùng nghĩa với câu nói của Thiền sư Diên Chiểu (延沼, 896-973) rằng: “Nhất khuyển phệ hư, thiên nhu nhai thật (一犬吠虚、千猱啀實, một con chó sủa lên sai, ngàn con vượn hùa nhau cho là thật)”.
nhất nhân tác hư
(一人作虛) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một người truyền hư. Không cốc tập quyển 6 (Vạn tục 117, 316 thượng) chép: Vị tăng hỏi ngài Hưng hóa: - Nhiều người đang bàn luận việc gì ở trước tháp? Ngài Hưng hóa nói: - Một người truyền hư, muôn người truyền thực. Từ ngữ này đồng nghĩa với câu Nhất khuyển phệ hư, thiên nhu nhai thực (Một con chó sủa láo, nghìn con vượn hú thật) của Thiền sư Diên chiểu dẫn trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 13.
Nhất nhân đương thiên
(一人當千): lấy đao của một người mà địch với ngàn người, biểu thị người có sức dũng mãnh phi thường. Như Niết Bàn Kinh (涅槃經) 2 có đoạn rằng: “Thí như Nhân Vương hữu đại lực sĩ, kỳ đao đương thiên, cánh vô hữu năng hàng phục chi giả, cố xưng thử nhân nhất nhân đương thiên (譬如人王有大力士、其刀當千、更無有能降伏之者、故稱此人一人當千, ví như Nhân Vương có tay đại lực sĩ, cây đao vị ấy có thể địch với ngàn người, không ai có thể hàng phục được anh, cho nên gọi người ấy là 'một người địch với ngàn người').”
nhất nhân đương thiên
(一人當千) Một người địch lại nghìn người, chỉ cho người có sức mạnh dũng cảm. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 2 (Đại 12, 373 hạ) nói: Ví như nhà vua có đại lực sĩ, sức địch lại nghìn người, không ai khuất phục được, cho nên gọi người ấy là Nhất nhân đương thiên.
nhất nhãn chi qui
Rùa biển một mắt, từ đáy biển trồi lên trong một bọng cây, thấy được vầng nhựt nguyệt, rồi theo lượn sóng mà tấp vào bờ. Ý nói sự hiếm quý của sự thị hiện của Phật, cũng như được sanh làm người vậy—A sea turtle which has only one eye, and that underneath, entered a hollow in a floating log; the log, tossed by the waves, happen to roll over, whereupon the turtle momentarily saw the sun and moon. This refers to the rareness of the appearance of a Buddha, also of the difficulty of being born as a man.
nhất nhãn chi quy
(一眼之龜) Con rùa một mắt. Con rùa chỉ có 1 mắt ở bụng gặp được hốc cây nổi giữa biển cả là 1 cơ hội cực kì khó khăn. Hình ảnh này được dùng để ví dụ có được thân người, gặp Phật ra đời, được nghe Phật nói pháp là việc hiếm có, rất khó được. Kinh Tạp a hàm quyển 15 nói rằng: Giữa đại dương mênh mông, có 1 con rùa, dưới bụng có 1 mắt, trôi nổi bềnh bồng theo sóng nước, may gặp được 1 hốc gỗ nổi, rùa liền chui vào, bỗng nhiên gió thổi, khúc gỗ lật ngửa lên, con mắt ở bụng rùa nhờ đó thấy được ánh sáng của mặt trời mặt trăng. Cũng thế, chúng sinh được thân người, gặp Phật ra đời, cũng giống như con rùa có 1 mắt dưới bụng gặp được hốc cây nổi mà thấy ánh sáng mặt trời mặt trăng là việc rất khó có được. Phẩm Trang nghiêm vương trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 60 thượng) nói: Phật khó được gặp, như hoa Ưu đàm bát la, hoặc như con rùa có 1 mắt gặp được hốc cây nổi (...) Chư Phật khó gặp, cơ duyên cũng khó được. (xt. Manh Qui Phù Mộc).
Nhất như
(一如): “nhất (一)” nghĩa là không hai, “như (如)” là không khác; cho nên không hai không khác gọi là nhất như, tức là lý của chân như. Như trong Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh (文殊師利所說摩訶般若波羅蜜經, Taishō Tripitaka Vol. 8, No. 232) quyển Hạ có đoạn rằng: “Bất tư nghì Phật pháp, đẳng vô phân biệt, giai thừa nhất như, thành tối chánh giác, tất cụ vô lượng công đức, vô lượng biện tài (不思議佛法、等無分別、皆乘一如、成最正覺、悉具無量功德、無量辯才, Phật pháp không thể nghĩ bàn, bình đẳng không phân biệt, đều cỡi nhất như, thành chánh giác tột cùng, tất đủ vô lượng công đức, vô lượng biện tài).”
; 一如; C: yīrú; J: ichinyo;|Là cái »Một«, »Không hai«; 1. Sự vô phân biệt giữa cái này cái nọ; 2. Nguyên tắc căn bản của tất cả những hiện hữu, đồng nghĩa với Chân như (眞如), Pháp tính (法性), Thật tướng (實相); 3. Lúc nào cũng như thế.
nhất như
OnenessXem Chân như.
; The Bhùtatathatà (S). Oneness.
; The one bhutatathata or absolute (chân như). 1) Chân Như: The true suchness or true character, or reality. 2) Pháp tánh: Nature of things or beings. ** For more information, please see Chân Như.
; (一如) I. Nhất Như. Lí Chân như không 2 không khác, bình đẳng không sai biệt, nên gọi là Nhất như. Nhất là tuyệt đối duy nhất. Như là dịch ý từ tiếng PhạmTathà(Chân như)cũng gọi là Bất dị. Nghĩa là trong Chân như thì những cái tên giả như Phật và chúng sinh đều dứt bặt; trong tính bình đẳng thì chẳng còn hình tướng mình và người. Kinh Thủ lăng nghiêm tam muội quyển hạ (Đại 15, 639 hạ) nói: Cõi ma như tức là cõi Phật như; cõi ma như, cõi Phật như, không hai không khác. II. Nhất Như (1352-1425). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Minh, người Thượng ngu, tỉnh Chiết giang, họ Tôn, giữ chức Tăng lục ti Hữu thiện thế và trụ trì chùa Thượng thiên trúc. Cứ theo Thích thị kê cổ lược tục tập, ngày 28 tháng 2 năm Vĩnh lạc 17 (1419), Hoàng đế hạ chiếu ban cho ngài 2 bức tranh tượng Phật, 5 viên xá lợi Phật, 1.000 quan tiền, 3 bản ca khúc danh xưng chư Phật Bồ tát, 1 bức tranh Phật thành đạo... Ngài từng biên tập ngữ lục Thiền tông và cùng với 8 vị như Đạo thành... vâng sắc chỉ xem xét lại Tạng kinh, đối chiếu và so sánh lại các bản mới, cũ, rồi qui tụ chúng tăng viết chép lại. Niên hiệu Hồng hi năm đầu (1425) ngài thị tịch, thọ 74 tuổi. Ngài để lại các tác phẩm: Đại minh tam tạng pháp số, 50 quyển, Pháp hoa khoa chú (Nhất như tân chú)...
nhất như pháp giới
(一如法界) Chỉ cho lí màu nhiệm của Chân như pháp tính, là diệu lí tịch diệt vô vi.
nhất như quán âm
Một trong 33 đại biểu của Quán Âm, đi lên từ trên mây—One of the thirty-three representations of Kuan-Yin, ascending on the clouds.
nhất như vô nhị như
(一如無二如) Nhất như là không 2 không khác, tức là lí Chân như. Nghĩa là trong cảnh giới Chân như không có các cái tên giả như Phật và chúng sinh; trong tính bình đẳng không có hình tướng mình và người. Kinh Thủ lăng nghiêm tam muội quyển hạ nói: Cõi ma như tức cõi Phật như, chỉ có nhất như, không có nhị như. Sở dĩ nói Phật và ma đều như là vì ma là chúng sinh tạo ác cùng cực, Phật là bậc tu thiện chí cực, tuy có thiện ác khác nhau, nhưng bản tính chỉ là 1, cho nên nói Nhất như vô nhị như.
nhất như đốn chứng
Immediate experiential enlightenment by the Tathàgata truth; the immediate realization that all is bhùtatathatà.
; Tức thì chứng ngộ Bồ Đề—Immediate experiential enlightenment by the Tathagata truth—The immediate realization that all is bhutatathata.
; (一如頓證) Mười phương chúng sinh đều nương vào lí nhất như mà chứng ngay quả Phật. Nhất như là lí Chân như; Đốn chứng là chứng quả tức khắc.
Nhất nhất
(s: vyasta, ekaika, pratikṣaṇam, 一一) [tạp]: mỗi một, từng. Kinh Thủ Lăng Nghiêm (首楞嚴經) có đoạn rằng: “Hiện nhất nhất hình tụng nhất nhất chú (現一一形、誦一一咒, hiện mỗi một hình, tụng mỗi một chú)”. Kinh Quán Vô Lượng Thọ (觀無量壽經) có đoạn rằng: “Nhất nhất chỉ đoan hữu bát vạn tứ thiên họa do như ấn văn, nhất nhất họa hữu bát vạn tứ thiên sắc, nhất nhất sắc hữu bát vạn tứ thiên quang, kỳ quang nhu nhuyến thiện chiếu nhất thiết (一一指端有八萬四千畫由如印文、一一畫有八萬四千色、一一色有八萬四千光、其光柔輭善照一切, mỗi một đầu ngón tay có 84.000 bức tranh như hoa văn, mỗi một bức tranh có 84.000 sắc màu, mỗi một sắc màu có 84.000 ánh sáng, ánh sáng ấy mềm mại chiếu khắp tất cả)”. Phần Khai Đề của Kinh Phạm Võng (梵綱經) có đoạn rằng: “nhất nhất tự tự, nhất nhất cú cú, giai thị chư tôn pháp Mạn Đà La thân (一一字字、一一句句、皆是諸尊法曼陀羅身, Mỗi một chữ, mỗi một câu, đều là thân pháp Mạn Đà La của chư tôn)”.
nhất nhất
Ekaika (S), Vyasta (S), Ekaika (S), Patikasanam (P).
; Mọi người hay mọi vật—All—Everything—Everyone—One by one.
; (一一) Phạm: Vyasta, Ekaika, Pratikwaịam. Mỗi mỗi, mỗi một, tất cả... Kinh Phạm võng mở đề (Đại 62, 2 trung) nói: Mỗi một câu, mỗi một chữ đều là thân Pháp mạn đồ la của chư tôn. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 343 thượng) nói: Mỗi một viên Bảo châu có 8 vạn 4 nghìn tia sáng, mỗi một tia sáng làm thành 8 vạn 4 nghìn màu kim sắc khác nhau, mỗi một màu kim sắc chiếu sáng khắp cõi báu.
nhất nhất tâm thức
(一一心識) Cũng gọi Nhất nhất thức tâm, Nhất tâm nhất tâm thức, Câu phi niệm,Tịch diệt tịch tĩnh niệm. Mỗi mỗi tâm thức. Chỉ cho thức sở nhập của chân như, là tâm niệm chẳng phải thường chẳng phải vô thường, vì thế mà gọi là Câu phi (đều chẳng phải). Đây là thức thứ 10 trong 10 thức do Mật giáo y cứ vào luận Thích ma ha diễn mà thành lập. Nghĩa là vì tâm sở y của Chân như môn hợp với lí của thực tướng nhất vị nên gọi là Tâm thức. Vả lại, thể chân như chung cho tất cả loài hữu tình, phi tình và chỉ có 1 nên gọi là Nhất tâm. Thích ma ha diễn luận tán huyền sớ quyển 2 (Vạn tục 72, 44 hạ) nói: Thức tâm thứ 10 là pháp sở y căn bản của Chân như môn, chỉ duyên theo chân lí của tự môn, thể soi sáng dụng, thể ấy độc lập nên gọi là Duyên. Tâm này duyên theo chân lí làm cảnh giói, cho nên khác với thức thứ 9 (nhất thiết nhất tâm thức) không duyên theo chân lí. Tâm thức thứ 10 này của Mật giáo tương đương với Viên giáo trong 4 giáo của tông Thiên thai. [X. luận Thích ma ha diễn Q.2; Thích ma diễn luận kí Q.2; Thai tạng kim cương bồ đề tâm nghĩa lược vấn đáp Q.2, phần cuối; Tông kính lục Q.45].(xt. Nhất Thiết Nhất Tâm Thức, Thập Thức).
nhất nhật bất tác nhất nhật bất thực
(一日不作一日不食) Một ngày không làm một ngày không ăn. Tức là không ăn cơm của Phật 1 cách uổng phí. Đây là 1 trong những qui tắc của tùng lâm do Thiền sư Bách trượng Hoài hải ở đời Đường lập ra. Ngài có tiếng là người đặt ra những pháp tắc, hành trì nghiêm ngặt. Chính bản thân ngài cũng suốt đời siêng năng làm việc hàng ngày, nghiêm giữ thanh qui, không hề trễ nải. Một hôm, chúng tăng thấy ngài đã già yếu, muốn để ngài nghỉ ngơi, nên đem cất giấu hết những dụng cụ làm việc của ngài. Hôm ấy ngài được nghỉ ngơi, nhưng suốt ngày cũng nhịn đói để thực hành cái nguyên tắc mà ngài đã chế định: Một ngày không làm, một ngày không ăn. [X. Tống cao tăng truyện Q.10; Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6].
nhất nhật kinh
See Đốn Kinh.
; (一日經) Cũng gọi Đốn tả kinh. Bộ kinh được chép xong trong 1 ngày, hoặc chỉ cho việc chép kinh trong 1 ngày. Tại Nhật bản, bắt đầu từ giữa thời đại Bình an, qua các thời Nam Bắc triều, phong trào chép Nhất nhật kinh, đặc biệt là kinh Pháp hoa, để cầu siêu độ cho vong linh những người quá cố rất thịnh hành. Trong khoảng thời gian mười mấy năm, Nhất nhật kinh đã được chép đi chép lại và chép đủ 1.000 bộ, gọi là Thiên bộ Nhất nhật kinh. Có khi rất nhiều người chép Nhất thiết kinh (Đại tạng kinh) trong 1 ngày. (xt. Đốn Tả).
nhất nhật phật
(一日佛) Phật một ngày. Nghĩa là 1 ngày không lo âu, không phiền não, được thanh tịnh và giải thoát như Phật. Tông kính lục quyển 23 (Đại 48, 543 trung) nói: Một niệm tương ứng 1 niệm Phật, 1 ngày tương ứng 1 ngày Phật.
nhất nhật tam thời
(一日三時) Một ngày 3 thời. Tức 1 ngày được chia làm 3 thời: Sáng sớm, giữa trưa và chiều tối. Phong tục Ấn độ đời xưa chia ngày làm 3 thời và đêm 3 thời(đầu đêm, nửa đêm, cuối đêm), cho nên trong kinh thường nói ngày đêm 6 thời. Như kinh A di đà (Đại 12, 347 thượng) nói: Cõi nước của Phật A di đà thường trỗi thiên nhạc, đất toàn bằng vàng, ngày đêm 6 thời, trời mưa hoa Mạn đà la. (xt. Lục Thời).
nhất nhật trai
(一日齋) Trai một ngày. Tức là 1 ngày tu hành, thụ trì giới Bát quan trai.
nhất nhị tam tứ ngũ lục thất
(一二三四五六七) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một hai ba bốn năm sáu bảy. Trong Thiền lâm, nhóm từ này dùng để chỉ cho 1 việc thông thường có thể xảy ra ở bất cứ đâu và vào bất cứ lúc nào, hoặc chỉ cho cái lí đương nhiên mà trẻ con cũng có thể hiểu được. Tắc 21 trong Bích nham lục (Đại 48, 161 hạ) chép: Có vị tăng hỏi ngài Trí môn: - Lúc hoa sen chưa nhô lên khỏi mặt nước thì thế nào? Ngài Trí môn đáp: - Hoa sen (một hai ba bốn năm sáu bảy), nghi chết người trong thiên hạ.
nhất nhựt
A day from sun rise to sun set.
nhất nhựt nhất dạ
One day one night.
nhất nhựt phật
A one-day Buddha—One who lives a whole day purely.
nhất ninh
Nhà sư Trung Hoa sang Nhật vào khoảng năm 1299—A Chinese monk who went to Japan in 1299.
Nhất niệm
一念; C: yīniàn; J: ichinen;|Một ý nghĩ, một ý niệm, một khoảnh khắc của một ý nghĩ.
nhất niệm
A ksana, or thought; a concentration of mind; a moment, the time of a thought.
; A ksana (skt)—A concentration of mind—A thought—The time of a thought.
; (一念) I. Nhất Niệm. Một niệm. Đơn vị thời gian cực ngắn, hoặcchỉ cho khoảng 1 cái nháy mắt, hay 1 khoảnh khắc vừa thành tựu 1 sự việc nào đó.Về Nhất niệm, có nhiều thuyết khác nhau như: Kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng (Đại 8 , 826 thượng) nói: Chín mươi sát na là 1 niệm, trong khoảng 1 sát na có 900 lần niệm sinh diệt, cho đến tất cả các pháp cũng như thế. Vãng sinh luận chú quyển thượng (Đại 40, 834 hạ) nói: Một trăm lẻ một lần sinh diệt gọi là 1 sát na, 60 sát na gọi là 1 niệm hoặc nói: Hai mươi niệm là 1 cái nháy mắt, 20 cái nháy mắt là 1 cái khảy móng tay. Tất cả đều chỉ cho thời gian cực ngắn. Ngoài ra, khoảng thời gian nảy ra 1 ý niệm, gọi là Nhất niệm khoảnh, hoặc Nhất phát ý khoảnh. [X. luật Ma ha tăng kì Q.17; luận Đại trí độ Q.38; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18]. II. Nhất Niệm. Phạm: Eka-citta. Một lần xưng niệm. Niệm có nghĩa là nhớ nghĩ, thông thường có các danh từ như: Tâm niệm, quán niệm, xưng niệm... Tông Tịnh độ giải nghĩa chữ Niệm là Xưng niệm, cho nên phối hợp 1 niệm với 1 danh hiệu Phật, rồi xưng niệm 1 danh hiệu Phật tức là 1 niệm. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 279 thượng) nói: Nếu ai được nghe danh hiệu của đức Phật A di đà, vui mừng hớn hở, cho đến dù chỉ 1 niệm(nãi chí nhất niệm), nên biết người ấy được lợi ích lớn, đầy đủ công đức vô thượng. III. Nhất Niệm. Chỉ cho 1 tâm niệm trọn đủ 3.000 tính tướng do tông Thiên thai lập ra. Nghĩa là tâm đầy đủ tất cả, gọi là Nhất niệm. IV. Nhất Niệm. Nhất niệm tương ứng. Y cứ vào trí tuệ tương ứng với 1 sát na mà khai ngộ tức khắc, gọi là Nhất niệm tương ứng (1 niệm ứng hợp nhau). Luận Đại thừa khởi tín cho rằng Bản giác tương ứng với Thủy giác mà cái niệm vô niệm của lí và trí ngầm hợp nhau, tức là Nhất niệm. [X. kinh Đại bát nhã Q.393]. V. Nhất Niệm. Nhất niệm được dùng chung với các ngữ cú khác thì có: - Nhất niệm tín giải: Nghe qua Phật pháp 1 lần sinh lòng tin hiểu liền được khai ngộ, gọi là Nhất niệm tín giải. - Hành chi nhất niệm: Niệm 1 danh hiệu Phật A di đà, gọi là Hành chi nhất niệm. - Tín chi nhất niệm: Trong 1 sát na, sinh khởi tín tâm đối với đức Phật A di đà, gọi là Tín chi nhất niệm. - Nhất niệm nghiệp thành: Cái sát na phát tín tâm ấy chính là nhân của sự quyết định vãng sinh, gọi là Nhất niệm nghiệp thành. - Nhất niệm thập niệm: Bất luận niệm danh hiệu Phật A di đà 1 biến hay 10 biến đều là nhân vãng sinh Tịnh độ, gọi là Nhất niệm thập niệm. Ngoài ra, còn rất nhiều thành ngữ liên quan đến từ nhất niệm như: Nhất niệm bất sinh, Nhất niệm tùy hỷ... [X. phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa].
Nhất niệm bất sinh
一念不生; J: ichinen-fushō;|Có nghĩa là »một ý nghĩ cũng không phát sinh ra«; theo Thiền tông thì khi tâm thức của một người bình thường không sản sinh ra một ý niệm vô minh nào thì chính ngay lúc ấy người này là Phật. Nhất niệm bất sinh được dùng để chỉ một trạng thái thoát khỏi mọi khái niệm, vô minh, cảm giác – một trạng thái chỉ có thể thực hiện được bằng cách Toạ thiền (j: zazen) và trạng thái này cũng chính là toạ thiền trong dạng thuần tuý nhất.
nhất niệm bất sinh
Ichinen-fushō (J).
; Not a thought arising; beyond the necessity of thinking.
; Không một niệm nào phát sanh—Not a thought arising.
; (一念不生) Một niệm chẳng sinh, chỉ cho cảnh giới hoàn toàn vô niệm, tức là cảnh giới Phật. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 2 (Đại 35, 512 trung) nói: Đốn giáo có nghĩa chỉ cần 1 niệm chẳng sinh, liền gọi là Phật, vì không theo thứ lớp qua các giai vị, nên nói là Đốn. Thích thị kê cổ lược quyển 3 (Đại 49, 833 trung) nói: Nếu 1 niệm chẳng sinh thì quá khứ, vị lai dứt, thể chiếu sáng độc lập, ta và vật như như.
nhất niệm bất sinh toàn thể hiện
(一念不生全體現) Khi 1 niệm không sinh thì toàn thể chân lí vũ trụ tự nhiên hiện bày. Chúng sinh vốn có sẵn tính Phật, chỉ vì vọng tưởng, trầm mê nên tính Phật ấy không hiển lộ ra được. Nếu như vọng niệm chẳng sinh thì bản lai diện mục tự nhiên hiện bày. Tắc 76 trong Thung dung lục (Đại 48, 275 trung) nói: Gặp sang thì hèn, gặp hèn thì sang; được châu vọng tưởng bày, chí đạo xa vời vợi (Nhất niệm bất sinh toàn thể hiện).
nhất niệm diệt tội
(一念滅罪) Đối lại: Đa niệm diệt tội. Nghĩa là nhờ 1 niệm tín tâm, hoặc 1 tiếng xưng danh chí thành, mà có thể diệt trừ được phiền não tội chướng.
nhất niệm nghiệp thành
At one thought the work completed; karma complete in one thought.
; Chỉ trong một niệm là nghiệp đã được thành lập. Nếu thành tâm trì niệm hồng danh Phật A Di Đà thì đường vào Tịnh độ là chắc chắn—Karma complete in one thought or at just one thought the work completed. If one has sincere thought or fath in Amitabha's vow, entrance into the Pure Land is assured.
; (一念業成) Một niệm thành tựu tịnh nghiệp. Nghĩa là ngay cái giây phút mà tín tâm của hành giả ứng hợp với một niệm Phật trí thì tức khắc vãng sinh Tịnh độ. Đây là nghĩa Nhất niệm do ngài Hạnh tây thuộc tông Tịnh độ Nhật bản thành lập. (xt. Nhất Niệm Nghĩa Đa Niệm Nghĩa). NHẤT NIỆM NHẤT THỜI BIẾN CHÍ PHẬT HỘI LỢI ÍCH QUẦN SINH TRANG NGHIÊM Trong cùng 1 niệm đến khắp các hội của Phật để trang nghiêm và làm lợi ích cho chúng sinh. Đây là 1 trong 29 thứ trang nghiêm ở nước Cực lạc phương Tây. Là 1 trong 4 thứ thành tựu trang nghiêm công đức tu hành chính yếu của Bồ tát, do ngài Thiên thân thành lập trong luận Tịnh độ. Luận Tịnh độ (Đại 26, 231 thượng) nói: Ánh sáng trang nghiêm thanh tịnh, trong cùng 1 niệm chiếu khắp các Phật hội, làm lợi ích hết thảy chúng sinh. Ý nói Ứng hóa thân của Bồ tát, trong tất cả thời không trước không sau, 1 lòng 1 niệm phóng ánh sáng chói lọi soi khắp các thế giới trong 10 phương, giáo hóa chúng sinh, tạo ra các thứ phương tiện tu hành để diệt trừ khổ não cho tất cả chúng sinh.
nhất niệm nghĩa đa niệm nghĩa
(一念義多念義) Cũng gọi Nhất niệm đa niệm. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Nghĩa một niệm, nghĩa nhiều niệm. Nghĩa 1 niệm chỉ cho 1 tiếng xưng danh đã đủ để làm nhân quyết định vãng sinh, bởi thế không cần nhiều niệm xưng danh. Còn nghĩa nhiều niệm thì chỉ cho người đã phát tâm niệm Phật thì phải niệm liên tục cho đến lúc lâm chung không dứt, mới được vãng sinh Tịnh độ. Nhưng Tịnh độ chân tông Nhật bản lại giải thích khác: Một niệm là tín tâm, nhiều niệm là xưng danh, tức cho rằng nhân vãng sinh quyết định ở 1 niệm tín tâm, còn nhiều niệm xưng danh sau đó thì là biểu hiện sự báo ân đức Phật. Ngoài ra, còn có các quan điểm về vấn đề này như: - Ngài Hạnh tây đề xướng Phật trí nhất niệm, chủ trương Phật và phàm phu là cùng 1 thể, trong 1 niệm tín tâm của phàm phu ứng hợp với 1 niệm Phật trí thì chắc chắn cũng vãng sinh Tịnh độ. - Ngài Long khoan thì chủ trương nghĩa nhiều niệm, cho rằng phải tích lũy nhiều công phu niệm Phật, niệm liên tục, không ngừng nghỉ, mới có thể vãng sinh.
nhất niệm phát khởi
(一念發起) Một niệm phát khởi. Tức là do phát tâm bồ đề mà sinh khởi 1 niệm quy y Phật, Pháp, Tăng để hướng tới giác ngộ.
nhất niệm tam thiên
In one thought to survey or embrace the 3,000 worlds.
; Một niệm bao trùm chúng sanh trong cả tam thiên đại thiên thế giới—In one thought to survey or embrace the three thousand worlds with all its forms od existence.
; (一念三千) Một niệm ba nghìn. Nhất niệm cũng gọi Nhất tâm, chỉ cho tâm niệm hoạt động trong khoảng thời gian ngắn nhất. Tam thiên biểu thị ý nghĩa tổng hợp tất cả thiện ác, tính tướng, người và vật sai khác trong thế gian và xuất thế gian. Nhất niệm tam thiên nghĩa là ngay trong 1 tâm niệm của phàm phu có đầy đủ 3.000 các pháp tính tướng của thế gian. Vì theo tư tưởng của tông Thiên thai thì ngay trong 1 tâm niệm, dù thuộc 3 tính hữu lậu hay vô lậu, đều có đủ các pháp mê ngộ của 3.000 thế gian, không thiếu sót. Ma ha chỉ quán quyển 5, thượng (Đại 46, 54 thượng) nói: Trong 1 tâm đủ 10 pháp giới, 1 pháp giới lại đủ 10 pháp giới, nên thành 100 giới; 1 pháp giới có 30 loại thế gian, thành ra 100 pháp giới có 3.000 loại thế gian. Ba nghìn loại thế gian này ở ngay trong 1 tâm niệm, trừ trường hợp vô tâm, như lúc chết ngất chẳng hạn, còn ngoài ra hễ mống lên 1 ý niệm liền đầy đủ 3000 thế gian. Nhưng không phải nói 1 niệm ở trước, tất cả pháp ở sau; cũng không nói tất cả pháp ở trước, 1 niệm ở sau. Như vậy thì bất cứ 1 tâm niệm nào của chúng ta phát khởi trong ngày hay đêm, đều cũng thuộc về 1 pháp giới nào đó trong 10 pháp giới. Nếu như phát khởi tâm niệm giận dữ tương ứng với việc giết hại, thì đó là pháp giới địa ngục; nếu tương ứng với tham muốn thì là pháp giới ngã quỉ; nếu tương ứng với luật đạo đức nhân luân thì là pháp giới nhân gian; nếu tương ứng với chân như thì là pháp giới Phật. Cho nên, hễ 1 niệm tương ứng với pháp giới nào thì tâm ta thuộc về pháp giới ấy. Vả lại, tâm 1 niệm này của chúng sinh tuyệt không cách lìa với tất cả pháp mà là dung hợp trong nhau, hòa nhập vào nhau. Vì tâm ấy chẳng phải cô lập, nên nó ở trong 1 pháp giới nào tức đầy đủ 10 pháp giới. Đồng thời, trong 10 pháp giới, mỗi giới lại đủ 10 giới, nên tổng cộng thành 100 pháp giới; 100 giới pháp này lại đầy đủ 10 Như thị (như thị tính, như thị tướng, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bản mạt cứu cánh...),tức thành 1.000 như thị; rồi lại phối hợp với 3 loại thế gian lànămấm, chúng sinh và quốc độ thành ra 3.000 thế gian. Như vậy, trong 1 tâm niệm có đầy đủ 3.000 thế gian. Giáo nghĩa Nhất niệm tam thiên này bắt nguồn từ câu Tâm, Phật và chúng sinh, cả 3 không sai khác trong phẩm Dạ ma thiên cung tự tại của kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ). Người mới học căn cơ còn non nớt, không nên tu tập pháp quán quá cao, mà phải nên bắt đầu quán xét ngay từ tâm mình, lấy sự vật cụ thể làm đối tượng để quán xét. Vì thế nên tông Thiên thai lập ra pháp Nhất tâm tam quán để làm chìa khóa vào cửa cho người mới học. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3; Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, thượng; Pháp hoa văn cú Q.2 thượng; Thập bất nhị môn yếu sao Q.thượng]. (xt. Tam Thiên Chư Pháp, Sơn Gia Sơn Ngoại).
nhất niệm tham sân khởi, bá vạn chướng môn khai
A thought of greed and anger arises, thousand doors of hindrances open.
nhất niệm tuỳ hỉ
(一念隨喜) Một niệm vui theo. Nghĩa là khi được nghe Phật pháp, sinh khởi một niệm vui mừng, tin tưởng. Hoặc 1 lòng tôn kính đức Phật mà qui y.
nhất niệm tương ưng
(一念相應) Một niệm ứng hợp nhau. Có 4 nghĩa: 1. Tâm 1 niệm ứng hợp với lí Không. 2. Hàng Bồ tát từ địa thứ 5 trở lên, trong 1 niệm, 2 trí Chân đế và Tục đế đều khởi 1 lượt, vì 2 trí này không khác nhau nên ứng hợp nhau. 3. Tự tính linh tri của Thủy giác và Bản giác vốn chẳng phải 2, nên ngầm ứng hợp nhau. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 576 trung) nói: Như bậc Bồ tát đã viên mãn quả Thập địa, đầy đủ phương tiện, một niệm tương ứng, giác tâm mới khởi lên, tâm không có tướng ban đầu. Nhờ xa lìa những niệm nhỏ nhiệm mà thấy được tâm tính thường trụ, gọi là Cứu cánh giác. 4. Niềm tin 1 niệm của hành giả ứng hợp với trí Phật và tâm Phật. Vì 1 niệm của trí Phật là bản nguyện A di đà, nên niềm tin của hành giả ứng hợp với tâm Phật thì năng sở không 2, tín trí là 1, niệm niệm nối nhau,chắc chắn vãng sinh. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung, phần đầu; Tứ giáo nghĩa Q.8].
nhất niệm tương ưng huệ
(一念相應慧) Chỉ cho định tuệ tương ứng với 1 sát na hiện tiền, hoặc khế hợp với chân lí. Người đạt đến cảnh giới này thì thấy vật mất, cảnh diệt mà thấu suốt bản tính linh tri của mình. Kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 393 (Đại 6, 1035 trung) nói: Từ đạo Vô gián này, dùng Kim cương dụ định 1 sát na tương ứng với diệu tuệ, dứt hẳn tất cả phiền não chướng, sở tri chướng và các tập khí thô trọng nối nhau thì chứng được Vô thượng chính đẳng bồ đề. [X. luận Đại trí độ Q.29; luận Đại thừa khởi tín].
nhất niệm tịnh tín
(一念淨信) Một niệm tín tâm thanh tịnh. Kinh Kim cương (Đại 8, 749 trung) nói: Người nghe chương cú này, cho đến sinh 1 niệm tịnh tín.... Ý nói tin rằng Bát nhã ba la mật có năng lực sinh ra tất cả chư Phật và Phật tính sẵn có trong thân mình thanh tịnh không nhiễm ô; tin rằng tính của chư Phật là bình đẳng không hai; tin rằng chúng sinh trong 6 đường xưa nay vốn không có tướng và tin rằng tất cả chúng sinh đều sẽ thành Phật... Phàm tín tâm thanh tịnh như thế, đều gọi là Nhất niệm tịnh tín (1 niềm tin trong sạch).
Nhất niệm vạn niên
一念萬年; J: ichinen-mannen;|Nghĩa là khoảnh khắc của một khái niệm bằng mười ngàn năm và ngược lại; biểu đạt này được dùng để miêu tả kinh nghiệm của các vị Thánh nhân của tất cả các thời đại, các nền văn hoá. Thành ngữ này muốn diễn tả rằng, đối với các bậc giác ngộ thì thời gian không có thật – theo quan niệm thông thường. Dưới cái nhìn của các vị này thì một khoảnh khắc của một niệm, một nhận thức, một Sát-na chính là vĩnh cửu (chữ vạn trong tiếng Hán được dùng để chỉ một con số rất lớn, vô lượng). Biểu thị »Nhất niệm vạn niên« được tìm thấy trong bản Tín tâm minh của Tam tổ Tăng Xán.
nhất niệm vạn niên
Ichinen-mannen (J).
; In a moment's thought to obtain a myriad years.
; Chỉ một niệm Di Đà mà được vạn năm không trở lại luân hồi sanh tử—In a moment's thought of Amitabha to obtain a myriad years and no return to mortality.
; (一念萬年) Đồng nghĩa: Nhất tức nhất thiết. Một niệm tức muôn năm, muôn năm tức một niệm. Đây là ngữ cú tuyệt đối siêu việt những khái niệm tương đối như ngắn dài, nhanh chậm về thời gian. Nghĩa là trong 1 tâm niệm gói ghém hết năm tháng của vạn năm, không sót. Như câu ngạn ngữ: Mười đời xưa nay ở ngay trong 1 niệm. Tín tâm minh (Đại 48, 377 thượng) nói: Tông chẳng phải ngắn dài, 1 niệm là vạn năm; chẳng ở đâu mà không đâu chẳng ở, 10 phương hiện trước mắt.
nhất nạp
(一衲) Một bộ áo. Nạp là áo của tăng sĩ Phật giáo, do đó, Nhất nạp cũng được chuyển dụng để chỉ cho 1 vị tăng. (xt. Nạp Y).
nhất nữ bất giá nhị phu
Người xưa tin rằng một người đàn bà không bao giờ lấy hai chồng—Old timers believed that one woman should never have (get married to) two husbands.
nhất phiến bạch vân bất lộ xú
(一片白雲不露醜) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một áng mây trắng bao phủ mặt đất, che lấp kín những gì xấu xí. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để ví dụ chân lí bao dung hết thảy, vượt ngoài tất cả các pháp đối đãi như hữu vô, thị phi, thiện ác...
nhất phu nhất thê
Monogamy.
nhất pháp
A dharma, or law; a thing, a matter. Nhất pháp ấn: the seal or assurance of the one truth, or law. Nhất pháp cú: the one law abode. Nhất pháp giới: the bhùtatathatà considered in term of mind and as a whole; a law-realm; a spititual real; a universe.
; A dharma or law—A thing.
; (一法) I. Nhất Pháp. Đối lại: Vạn pháp. Chỉ cho 1 sự, 1 vật. Pháp ở đây biểu thị nghĩa tồn tại, sự vật, chứ hoàn toàn không có nghĩa phép tắc. II. Nhất Pháp. Chỉ cho pháp tuyệt đối, độc nhất vô nhị. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 5 (Đại 9, 429 trung) nói: Văn thù, pháp vốn thế Pháp vương chỉ nhất pháp Hết thảy người giải thoát Một đường vượt sinh tử.
nhất pháp cú
(一法句) Câu diễn đạt chân lí. Nhất pháp là nghĩa triệt ngộ pháp thân; Cú là câu giải thích rõ lí nghĩa. Câu nêu tỏ được Nhất pháp, gọi là Nhất pháp cú. Chư Phật và Bồ tát do sức bản nguyện của các Ngài, hiện thân trong tất cả cõi Phật và dưới mọi hình thức, diễn nói Nhất pháp cú khắp hết thảy pháp giới. Kinh Đại pháp cự đà la ni quyển 1 (Đại 21, 662 hạ) nói: Trong Đà la ni nhất pháp cú này, chứa đựng vô lượng ức số tu đa la (kinh); đó là nghĩa quyết định. Nên biết tất cả giáo pháp do Như lai nói, không có ngằn mé, các ông cũng được nhiều loại pháp môn. Luận Thập trụ tì bà sa quyển 11 (Đại 26, 78 thượng) nói: Phật pháp quí ở chỗ tu hành như lời Phật dạy, chứ không quí đọc tụng nhiều. Đức Phật dạy, tu hành Nhất pháp cú, được lợi ích cho mình, gọi là Đa văn, trí tuệ cũng như thế. Ngoài ra, tông Tịnh độ căn cứ vào câu Nhất pháp cú tức là Thanh tịnh cú của bồ tát Thế thân mà chủ trương Thanh tịnh cú là chỉ cho Pháp thân vô vi của trí tuệ chân thực. Trong luận Tịnh độ, ngài Thế thân nói rằng những cảnh giới thù thắng như: Phật, Bồ tát, thế giới Cực lạc... gồm 29 câu, tất cả công đức trang nghiêm của 29 câu này được thu gọn vào Nhất cú thanh tịnh. Vì thế, 29 câu là Nhất pháp cú rộng, còn 29 câu thu gọn vào 1 câu là Nhất pháp cú lược. Vì rộng và lược hòa nhập vào nhau, cho nên nói cảnh giới Tịnh độ tức là Pháp thân vô vi của trí tuệ chân thực. [X. kinh Độ thế phẩm Q.3; luận Vãng sinh; Vãng sinh luận chú Q.hạ].
Nhất pháp giới
一法界; C: yīfǎjiè; J: ichihokkai;|Chỉ một pháp giới; riêng một pháp giới. Chỉ một, độc nhất, tuyệt đối một pháp giới hiện hữu. Nơi duy nhất bao gồm và lưu xuất tất cả các pháp (theo Khởi tín luận 起信論).
nhất pháp giới
The bhutatathata considered in terms of mind as a whole—A spiritual realm.
; (一法界) Cũng gọi Nhất tâm pháp giới, Độc nhất pháp giới, Nhất chân vô ngại pháp giới. Chỉ cho lí thể chân như độc nhất vô nhị, tuyệt đối bình đẳng. Giới có các nghĩa sở y(chỗ nương), sở nhân (từ chỗ đó mà ra); Thánh pháp nương vào Chân như mà sinh, Chân như là chỗ sở y, sở nhân của Thánh pháp, cho nên gọi là Pháp giới. Vì Chân như là pháp bình đẳng không 2, duy nhất chân thực, nên gọi là Nhất pháp giới. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 576 thượng) nói: Tâm chân như là thể pháp môn đại tổng tướng của Nhất pháp giới. Tâm chân như vốn không sinh không diệt, hết thảy pháp do nương vào vọng niệm mà có sai khác, nếu lìa vọng niệm, thì tâm chân như hiển hiện và không có tướng của tất cả cảnh giới. Ngoài ra, Nhất pháp giới, tông Thiên thai gọi là Chư pháp thực tướng, tông Hoa nghiêm gọi là Nhất chân pháp giới, còn luận Đại thừa khởi tín thì gọi là Chân như môn. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn); Đại minh tam tạng pháp số Q.4].
nhất pháp giới tâm
A mind universal which is above limitations of existence or differentiation.
; (一法界心) Tâm nhất pháp giới. Chỉ cho tâm cùng tột, vượt ra ngoài mọi đối đãi, xa lìa tất cả sự sai biệt. Luận Nhị giáo quyển thượng (Đại 77, 375 hạ) nói: Tâm nhất pháp giới chẳng phải trăm sai, không phải nghìn đúng.
nhất pháp thân
(一法身) Nhất là bình đẳng không 2, Pháp thân mà chư Phật chứng được cùng với lí thể của pháp giới là 1, không sai khác. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 5 (Đại 9, 429 trung) nói: Thân của hết thảy chư Phật chỉ là nhất pháp thân, nhất tâm, nhất trí tuệ, lực và vô úy cũng thế.
Nhất pháp trung đạo
一法中道; C: yīfǎ zhōngdào; J: ippōchūdō;|Trong giáo lí Duy thức, chỉ quan niệm rằng mỗi một tính trong Tam tính (三性), tự nó đã chứa sẵn đầy đủ ý nghĩa Trung đạo. Nghĩa là, theo tính »biến kế sở chấp« thì »nhân hữu« – con người thì hiện hữu –, và »pháp không« pháp giới không hiện hữu. Ý nghĩa Trung đạo ở đây là »nhân không pháp không.«
nhất pháp trung đạo
(一法中道) Đối lại: Tam tính đối vọng trung đạo. Chỉ cho diệu lí Trung đạo chẳng phải có chẳng phải không do tông Pháp tướng thành lập. Theo tông Pháp tướng, tính Biến kế sở chấp là vọng tình nên cho nó là không, còn tính Y tha khởi và tính Viên thành thực là có giả, thực giả nên cho chúng là có. Ba tính này là 3 tính trên 1 pháp, nên pháp ấy là Trung đạo chẳng phải có chẳng phải không. Đây là từ Tam tính đối vọng mà lập nghĩa trung đạo, gọi là Tam tính đối vọng trung đạo.Nếu nói 1 cách tỉ mỉ rõ ràng thì mỗi 1 tính trong 3 tính đều có nghĩa trung đạo. Như tính Biến kế sở chấp là tính có, lí không, trên vọng tình thì có, nên chẳng phải không; nhưng nói theo lí thì là không, nên chẳng phải có, đó là Trung đạo chẳng có chẳng không. Tính Y tha khởi trên sự hòa hợp của các duyên là giả tồn tại, cho nên là giả có, thực không, vì là giả có nên chẳng phải là không; vì là thực không nên chẳng phải có; đó là Trung đạo chẳng có chẳng không. Còn tính Viên thành thực thì xa lìa tất cả vọng tưởng và không có tướng, nên chẳng phải có; nhưng vì nó là tính chân thực thường trụ nên chẳng phải không, đó là Trung đạo chẳng phải có, chẳng phải không. Trên đây là căn cứ vào 1 tính trong 3 tính để lập nghĩa Trung đạo, gọi là Nhất pháp trung đạo. Hoặc có thuyết cho rằng Nhất pháp trung đạo là căn cứ vào Tam tính đối vọng mà lập ra thể của tính Viên thành thực, trên tính Y tha khởi thành là Nhất pháp, rồi trên nhất sắc, nhất hương mà bàn về lí trung đạo. Vì thế, Bách pháp vấn đáp sao quyển 8 cho rằng ngoài Tam tính đối vọng trung đạo ra, không có nghĩa Nhất pháp trung đạo. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Thành duy thức luận đồng học sao Q.7, phần 3]. (xt. Trung Đạo).
nhất pháp ấn
The seal or assurance of the one truth or law.
; (一法印) Cũng gọi Thực tướng ấn, Nhất thực tướng ấn. Đối lại: Tam pháp ấn. Ấn tính của Phật giáo Đại thừa. Phật giáo Đại thừa lấy nghĩa lí thực tướng của các pháp làm nền tảng, vì thế nói nghĩa lí thực tướng của các pháp là ấn tín của Phật giáo Đại thừa. Tất cả giáo thuyết nào không thuộc phạm trù này đều không phải giáo pháp của Phật giáo Đại thừa. [X. luận Đại trí độ Q.22; Pháp hoa huyền nghĩa Q.8, thượng; Duy ma kinh huyền sớ Q.6].
nhất phát ý khuynh
(一發意頃) Đồng nghĩa: Nhất niệm chi khoảnh. Chỉ cho thời gian ngắn, chỉ bằng khoảnh khắc nảy ra 1 ý nghĩ.
nhất phóng nhất thâu
(一放一收) Đồng nghĩa: Thời phóng thời tróc (lúc thả lúc bắt). Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một buông 1 thu. Nghĩa là buông thả ra, thu bắt lại, là phương pháp được Thiền sư vận dụng 1 cách khéo léo để thích ứng với căn cơ của người học lúc tiếp hóa họ. Tắc 99 trong Bích nham lục (Đại 48, 222 trung) nói: Người người đều đầy đủ, ai nấy thảy viên thành; hãy xem sư nhất phóng nhất thu giữa 4 bề thụ địch.
nhất phù âu
(一浮漚) Một đám bọt nổi trên mặt nước. Giữa biển cả mênh mông 1 đám bọt nước nổi lềnh bềnh, thoắt còn thoắt mất, ví dụ thân người vô thường, sống chết khó biết chắc. Kinh Lăng nghiêm quyển 3 (Đại 19, 119 trung) nói: Hãy nhìn lại thân thể do cha mẹ sinh ra, khác nào như thổi 1 mảy bụi trong 10 phương hư không, chợt còn chợt mất, như đám bọt nước nổi trong biển cả, nổi lên, tan biến vô thường.
Nhất phương
一方; C: yīfāng; J: ippō;|1. Một bên, một mặt; 2. Phía bên kia, phần bên kia; 3. Trong lúc ấy; 4. Rất, lắm.
Nhất phần
一分; C: yīfēn; J: ichibun;|Một phần, từng phần, cục bộ, không hoàn chỉnh. Phản nghĩa với toàn phần, cụ phần (具分).
nhất phần
(一分) Đối lại: Toàn phần. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho 1 bộ phận của danh tướng hoặc sự vật, hoặc chỉ cho 1 phần danh tướng hay sự vật trong nhiều loại tướng, sự vật. (xt. Toàn Phần).
Nhất phần Bồ Tát
一分菩薩; C: yīfēn púsà; J: ichibun bosat-su;|Chỉ một vị Bồ Tát chỉ thụ nhận và thực hành một phần giới bản (theo Bồ Tát Anh Lạc bản nguyện kinh 菩薩瓔珞本業經).
nhất phần bồ tát
A one-tenth Bodhisattva; one who keeps one-tenth of the precepts. Nhất phần ưu bà tắc: one-fifth upàsaka who observes only one of the five precepts.
; A one-tenth bodhisattva—A disciple who keeps one-tenth of the commandments.
; (一分菩薩) Chỉ cho hàng Bồ tát thụ 1 phần giới pháp. Luận Hiển giới quyển trung (Đại 74, 606 thượng) nói: Bồ tát Thập địa có 8 vạn uy nghi, Bồ tát trước Thập địa chỉ có tùy phần uy nghi, huống chi là Nhất phần bồ tát hay Cụ phần bồ tát. Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển hạ (Đại 24, 1021 trung) nói: Người thụ 1 phần giới là Nhất phần bồ tát, cho đến thụ 2 phần, 3 phần, 4 phần; còn thụ 10 phần thì gọi là Cụ túc thụ giới.
Nhất phần gia
一分家; C: yīfēnjiā; J: ichibunke;|Một nhánh của Duy thức tông do An Huệ (安慧; s: sthiramati) đề xướng. Sư chủ trương – đối nghịch với giáo thuyết cho rằng thức có ba hoặc bốn phần –, thức chỉ có một phần. Luận điểm nầy được tranh cãi nhiều trong trường phái của Hộ Pháp (護法; s: dharmapāla). Họ cho rằng nầy cho rằng thức có bốn phần (四分).
nhất phần gia
(一分家) Nhà một phần. Chỉ cho thuyết Nhất phần về tâm thức do ngài An tuệ thành lập.Theo thuyết này, khi khởi tác dụng nhận thức thì chỉ khởi nơi Tự chứng phần (phần tự thể); còn Kiến phần (tác dụng năng duyên của chủ thể nhận thức) và Tướng phần (đối tượng bị nhận thức) thì tính có lí không, là Biến kế sở chấp (vọng chấp) thuộc về pháp không có thực thể. Đây là sức huân tập (xông ướp thành thói quen) chấp trước ngã, pháp của phàm phu từ vô thủy đến nay mà sinh ra thức thể giống như năng duyên và sở duyên. Thuyết Nhất phần của ngài An tuệ xưa nay vốn khó hiểu, tuy không phải là nghĩa chính thống, nhưng có thể nói nó đã mở đường cho học thuyết của ngài Hộ pháp; nó khác với học thuyết của ngài Hộ pháp nhưng cùng bắt nguồn từ ngài Thế thân. Ngoài ra, cũng có thuyết Nhị phần của ngài Nan đà, thuyết Tam phần của ngài Trần na, rồi cuối cùng đến thuyết Tứ phần của ngài Hộ pháp là thuyết hoàn chỉnh và chặt chẽ nhất để trở thành thuyết chính thống. [X. luận Thành duy thức Q.8; Thành duy thức luận thuật kí Q.3]. (xt. Tứ Phần).
nhất phần giới
(一分戒) Thụ 1 phần trong toàn bộ giới pháp, như Nhất phần bồ tát thuộc về Nhất phần giới.Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển hạ (Đại 24, 1021 trung) nói: Người thụ một phần giới gọi là Nhất phần bồ tát, thụ 2 phần giới là Nhị phần bồ tát v.v... Thụ 10 phần giới (toàn bộ) thì gọi Cụ túc thụ giới.
nhất phần thường luận
(一分常論) Cũng gọi Tứ chủng nhất phần thường luận, Tứ nhất phần thường luận. Ngoại đạo chấp thường kiến, 1 trong 62 kiến chấp của ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Ngoại đạo này chấp sắc pháp(vật chất) và tâm pháp(tinh thần)1 phần vô thường, 1 phần thường còn, vì thế gọi là Nhất phần thường luận, gồm có 4 loại: 1. Ngoại đạo được Túc trụ thong (thần thông biết được đời trước) có năng lực thấy được các việc đời trước, cho rằng các loài đều do ý muốn của Phạm thiên tạo ra, nhưng không thấy được sự bắt đầu và kết thúc của Phạm thiên, vì thế nên cho Phạm thiên là thường, còn tự thân mình và thế gian là vô thường. 2. Chấp sắc pháp diệt mất và tâm pháp thường còn, hoặc chấp tâm pháp diệt mất, sắc pháp thường còn. Hoặc cho rằng sắc pháp là 1 phần của tâm pháp, nên là thường còn.3. Chấp mình từ cõi trời Hí vong sinh xuống nhân gian, nhờ Túc trụ thông biết được quá khứ, cho rằng trụ xứ của mình ở kiếp trước là thường còn. 4. Chấp mình từ cõi trời Ý ức khuể sinh xuống nhân gian, nhờ Túc trụ thông biết được quá khứ, nhận rằng chỗ mình ở trong đời trước là thường còn. Ngoại đạo chấp trước loại kiến giải trên, tương đương với tông Tự tại đẳng nhân trong 16 tông ngoại đạo. [X. kinh Phạm động trong Trường a hàm Q.14; luận Đại tì bà sa Q.199; luận Du già sư địa Q.6; Đại thừa nghĩa chương Q.6]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến, Thường Kiến).
nhất phẩm
Varga (skt)—One chapter of a sutra.
; (一品) Phạm: Varga. Hán âm: Bạt cừ. Một phẩm. Chỉ cho 1 chương hoặc 1 thiên kinh Phật. Phẩm nghĩa là biệt, là đơn vị dùng để chia 1 tác phẩm ra làm nhiều phần riêng biệt. (xt. Phẩm).
nhất phẩm (kinh)
Varga (S). A chapter, or a division (of the sùtra).
nhất phẩm kinh
(一品經) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Một phẩm kinh. Nghĩa là 28 phẩm của kinh Pháp hoa được chép riêng ra từng phẩm 1, gọi là Nhất phẩm kinh. Phong trào này thịnh hành vào cuối thời đại Bình an của Nhật bản. Ngoài ra, người Nhật cũng dùng 28 phẩm kinh Pháp hoa làm đề tài ca nhạc mà soạn thành những bài hát ngắn, gọi là Nhất phẩm kinh hòa ca.
nhất phật nhất thiết phật
(一佛一切佛) Một đức Phật tức là hết thảy các đức Phật. Vì các đức Phật đều bình đẳng nên 1 đức Phật tức là tất cả các đức Phật. Lại nữa, một đức Phật bao gồm tất cả đức Phật, cho nên 1 đức Phật có đầy đủ nghĩa của hết thảy các đức Phật. Như kinh Đại bảo tích quyển 116 nói rằng: Công đức vô lượng vô biên của 1 đức Phật và công đức vô lượng của chư Phật không hai. Pháp quán Chân thân thứ 9 trong kinh Quán vô lượng thọ Phật nói: Thấy đức Phật Vô lượng thọ tức là thấy vô lượng chư Phật trong 10 phương.
nhất phật quốc độ
Eka-buddha-kseta (S).
; See Nhất Phật thế giới.
Nhất Phật thế giới
一佛世界; C: yīfó shìjiè; J: ichibutsusekai;|Cõi Phật, thế giới Phật.
nhất phật thế giới
A Buddha-cosmos; a world undergoing transformation by a Buddha. A Buddha domain; or a one Buddha region.
; Phật giới hay Tịnh độ—A Buddha-cosmo or Buddha-domain (a world undergoing transformation by a Buddha)—Buddha-region—Pure Land.
; (一佛世界) Phạm: Eka-buddha-kwetra. Cũng gọi Nhất Phật độ, Nhất Phật sát, Nhất Phật quốc độ. Chỉ cho phạm vi giáo hóa chúng sinh của 1 đức Phật. Người đời sau dần dần mở rộng phạm vi này ra 4 châu, cho đến tam thiên đại thiên thế giới, hoặc vô biên thế giới.[X. luận Đại trí độ Q.4; Câu xá luận quang kí Q.12; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.52].
nhất phật thừa
Xem Nhấtt thừa.
; Mahàyàna (S). The one-Buddha vehicle.
; The One-Buddha-Yana—Những người theo Phật giáo Đại thừa tin rằng đây là con đường duy nhất giúp chúng ta đáo bỉ ngạn Niết Bàn—The Mahayanists believe that this is the perfect and only way to the shore of parinirvana—See Nhất Thừa.
nhất phật tịnh độ
A Buddha's Pure Land, especially that of Amitabha.
; (一佛淨土) Chỉ cho cõi nước thanh tịnh của 1 đức Phật cư trụ, hoặc chỉ cho Tịnh độ của 1 đức Phật nào đó. Nhưng đến đời sau thì từ ngữ này chuyên chỉ riêng Tịnh độ của đức Phật A di đà ở phương Tây. Luận Tịnh độ thập nghi (Đại 41, 78 trung) nói: Tâm của chúng sinh ở cõi Diêm phù đề phần nhiều vẩn đục và tán loạn, nên ở đây chỉ tán thán Nhất Phật tịnh độ ở phương Tây, khiến cho chúng sinh chuyên tâm vào 1 cảnh hầu dễ được vãng sinh.
nhất phật xuất thế nhị phật niết bàn
(一佛出世二佛涅槃) Một là Phật xuất thế, hai là Phật niết bàn.Xuất thế là lìa khỏi thế gian; Niết bàn là cảnh giới hoàn toàn giác ngộ, vượt ra ngoài vòng sinh tử luân hồi, là mục đích thực tiễn cuối cùng của Phật giáo. Nói đúng ra trong các kinh điển Phật giáo không hề có câu này, mà chỉ thấy được truyền tụng trong dân gian. Có lẽ đã do các cuốn tiểu thuyết dẫn các từ ngữ Phật giáo như Phật, Xuất thế, Niết bàn... để hợp thành câu này nhằm diễn tả tính trạng linh hồn đã ra khỏi thể xác lúc con người hôn mê bất tỉnh.
nhất phật đa phật
One Buddha or many Buddhas.
; (一佛多佛) Một đức Phật, nhiều đức Phật. Đại thừa chủ trương cùng 1 thời đại có nhiều đức Phật ra đời. Tiểu thừa thì có 2 thuyết: - Theo luận Câu xá quyển 12, các Luận sư thuộc Tát bà đa bộ cho rằng, trong vô biên thế giới chỉ có 1 đức Phật duy nhất ra đời, chứ không có 2 đức Phật xuất hiện cùng 1 lúc. - Các luận sư khác thì chủ trương, trong 1 tam thiên đại thiên thế giới, tuy không có 2 đức Phật ra đời cùng 1 lúc, nhưng ở các tam thiên đại thiên thế giới khác cũng có nhiều đức Phật xuất hiện. Luận Đại trí độ quyển 9 cho thuyết trước là bất liễu nghĩa, còn thuyết sau là liễu nghĩa.
nhất quang tam tôn
Three honoured ones in one light or halo.
; Ba đấng Chí Tôn dưới một vầng hào quang (Di Đà, Quán Âm, và Thế Chí)—Three Honored Ones in one light or halo (Amitabha, Avalokitesvara, Mahasthamaprapta).
; (一光三尊) Chỉ cho bức tranh Tam tôn Phật: Một vị ở chính giữa, 2 vị đứng hầu 2 bên trong cùng 1 vòng hào quang sau lưng. Vòng hào quang này thông thường là hình chiếc thuyền. Tại Trung quốc, vào thời Bắc Ngụy, đã có không ít tượng Phật mang hình thức vòng hào quang loại này, như tượng 3 vị Phật ngồi được tàng trữ ở chùa Thảo đường tại Trường an, được tạo vào năm Hưng hòa (539-542) đời Bắc Ngụy.
nhất quyết
To determine—To decide.
nhất quán
1) Nhất điểm quán: The contemplation on the one-pointedness. 2) Một đề mục quán tưởng: Theo Vi Diệu Pháp, đây là quán tưởng về tánh cách không trong sạch của thức ăn, hay sự ghê tởm của vật thực—According to The Abhidharma, this is the one perception of loadsomeness of material food (ahare patikkulasanna).
nhất sanh
Một đời người—A whole lifetime—Lifetime—Throughout one's life.
nhất sanh bất phạm
Life-long innocence.
nhất sanh bổ xứ
Eka-jati-prati-badha (skt)—Giai đoạn mà vị Bồ Tát chỉ một lần sanh ở chỗ nầy là được bổ lên ngôi vị Phật—The stage of having only one lifetime or one enlightenment to attain Buddhahood.
nhất sanh bổ xứ bồ tát
Vị chỉ còn sanh vào cõi Tịnh Độ một lần nữa là được lên ngôi Phật, thường chỉ áp dụng cho Bồ Tát. Tất cả các vị vãng sanh Tịnh Độ, người nào cũng quyết thực là nhất sanh bổ xứ, trong số đó có vô số “Thượng Thiện Nhân”—One who, in this one life, accomplishes the three stages for final entry. The stage of having only one lifetime to go before enlightenment, generally attributed to Bodhisattvas (associated with 20th vow of Amitabha). Everyone in the Pure Land is sure to experience the stage of having only one lifetime to go before enlightenment, and among them are countless numbers of such superlative Bodhisattvas.
nhất sanh bổ xứ bồ tát tượng
A 30-armed image of Maitreya (Di Lặc).
nhất sanh nhập diệu giác
Buddha enlightenment can be attained by any in one lifetime.
nhất sanh viên mãn
Perfect Realization in a lifetime—Trong các thời kỳ giáo thuyết của Đức Phật, chỉ có thời kỳ Hoa Nghiêm là nói rõ nghĩa của “Nhất Sanh Viên Mãn.” Đức Phật giảng rất rõ về Nhất Sanh Viên Mãn trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Đây là con đường trở về cõi An Dưỡng Địa hay Tây Phương Cực Lạc của người tu mà Đức Phật đã khuyến tấn tứ chúng rất rõ ràng trong Hải Hội Hoa Tạng trong Kinh Hoa Nghiêm—Among the teachings given by Sakyamuni Buddha for a certain era, only the Flower Ornament or Avatamsaka Sutra explains “Perfect Realization in a Single Lifetime.” The basis for perfect realization is explained in the Chapter of the “Vows of Samantabhadra in the Ten Great Vows which show the way back to the land called “Peaceful Nurturing” or Amitabha's Pure Land. In Avatamsaka Sutra, the Buddha urged the whole assembly to advance toward the Pure Land in the Flower Treasury World.
nhất sinh
All one's life, a whole life time. Nhất sinh bổ xứ: from one enlightenment to attain to Buddhahood.
; (一生) I. Nhất Sinh. Một lần sinh. Nghĩa là Bồ tát Đẳng giác còn phải 1 lần sinh tử nữa để dứt hết hoặc Vô minh mới được lên ngôi vị Phật quả Diệu giác, thế nên Bồ tát Đẳng giác được gọi là Nhất sinh bổ xứ. II. Nhất Sinh. Trong một đời. Nghĩa là đồng tử Thiện tài đã viên thành quả Phật chỉ trong 1 đời, cho nên được bồ tát Di lặc khen rằng: Trong khi các vị Bồ tát khác phải trải qua vô lượng kiếp mới viên thành hạnh nguyện Bồ tát thì Trưởng giả tử này(Thiện tài), chỉ trong 1 đời đã có thể làm cõi Phật thanh tịnh, hóa độ chúng sinh, vì thế gọi là Nhất sinh. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.2].
nhất sinh bất phạm
(一生不犯) Một đời không phạm. Nghĩa là trọn 1 đời giữ gìn giới luật, không phạm giới dâm, không gần người nữ, sống cuộc đời thanh tịnh.
nhất sinh bổ xứ
(一生補處) Phạm: Eka-jàti-pratibadha. Cũng gọi Nhất sinh sở hệ. Gọi tắt: Bổ xứ. Người sinh ra 1 lần cuối cùng ở nhân gian để thành Phật. Bổ xứ là chỉ cho địa vị tối cao của Bồ tát, tức là bồ tát Đẳng giác. Hiện nay, bồ tát Di lặc thường được gọi là Bồ tát Nhất sinh bổ xứ. Cứ theo kinh Di lặc thướng sinh, bồ tát Di lặc hiện đang ở trên cung trời Đâu suất, đợi hết đời này thì sinh xuống nhân gian lần cuối cùng để tu hành thành Phật, nối sau đức Phật Thích ca. Nhất sinh bổ xứ còn được gọi là Nhất sinh sở hệ, nghĩa là vị Bồ tát này chỉ còn bị trói buộc(hệ)1 đời này nữa trong thế giới mê muội, rồi đời sau sẽ thành Phật. Ngoài ra, theo Vô lượng thọ kinh kí quyển thượng, Bồ tát Nhất sinh bổ xứ được chia làm 4 cấp bậc: 1. Bồ tát an trụ ở chính định. 2. Bồ tát tiếp cận Phật địa. 3. Bồ tát trụ ở cung trời Đâu suất. 4. Từ trời Đâu suất sinh xuống nhân gian tu hành thành Phật. [X. phẩm Thập địa trong kinh Bồ tát bản nghiệp; phẩm Cụ duyên chân ngôn trong kinh Đại nhật; Di lặc thướng sinh kinh tông yếu].
nhất sinh bổ xứ bồ tát tối thắng đại tam muội da tượng
(一生補處菩薩最勝大三昧耶像) Cũng gọi Từ sinh tam muội da tượng. Tượng bồ tát Di lặc, thân màu vàng ròng, đầu đội mũ Ngũ trí, dung mạo từ bi hiền hòa, có 30 tay, mỗi tay đều cầm bảo vật. [X. Giác thiền sao; Từ thị niệm tụng pháp Q.thượng].
nhất sinh nhập diệu giác
(一生入妙覺) Một đời chứng nhập được quả Diệu giác. Đây là giáo thuyết do tông Thiên thai lập ra. Tông Thiên thai cho rằng nhất tâm tu hành theo lí diệu giác viên đốn thì có thể từ địa vị phàm phu đạt đến Phật quả Diệu giác ngay trong đời hiện tại, chứ không phải trải qua 3 đại a tăng kì kiếp.
nhất sinh quả toại
(一生果遂) Thành quả trong 1 đời. Nghĩa là nguyện vọng vãng sinh Tịnh độ có thể thành tựu trong 1 đời. Đây là thuyết của Chân tông Nhật bản. Chân tông căn cứ vào nguyện thứ 20 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà, chủ trương người phàm phu khi nghe danh hiệu của Phật mà cầu mong được sinh về Tịnh độ thì ngay trong 1 đời có thể đạt được nguyện vọng. Về vấn đề này, xưa nay đều lấy Tam sinh quả toại làm thuyết chính thống. Tức là đời thứ 1(quá khứ hay hiện tại) được nghe danh hiệu của Phật, đời thứ 2 (hiện tại hay vị lai) siêng năng tu hành niệm Phật, đời thứ 3 (vị lai hay đời vị lai kế tiếp) được vãng sinh. Hoặc lại có thuyết cho rằng đời thứ 1 tự lực niệm Phật, đời thứ 2 được sinh vào Hóa độ và đời thứ 3 sinh về Báo độ. Nhưng Chân tông Nhật bản thì vì đứng trên lập trường tín ngưỡng Tha lực niệm Phật nên lập riêng thuyết Nhất sinh quả toại này. (xt. Bản Nguyện).
nhất sinh tham học sự
(一生參學事) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Việc tham học một đời. Nghĩa là nếu tham cứu đến đáy nguồn của việc lớn sinh tử thì có thể chứng ngộ ngay trong 1 đời. Phật quả Viên ngộ Chân giác thiền sư tâm yếu quyển thượng (Vạn 120, 360 hạ) chép: Ngài Trường khánh nói: Nếu gặp bạn đạo lỗi lạc sánh vai vượt qua, thì việc tham học 1 đời có thể xong ngay!.
nhất sinh tộc
(一生族) Phạm: Eka-jàti. Chủng tộc chỉ sinh ra có 1 đời. Từ chỉ cho đẳng cấp Thủ đà la. Bà la môn giáo ở Ấn độ cổ đại cho rằng trong 4 đẳng cấp thì đẳng cấp Thủ đà la là tiện dân, chẳng những không có quyền lễ bái thần linh và đọc tụng kinh điển Phệ đà, mà cũng không có cả cái quyền được sinh ra ở đời thứ 2 nữa! Vì thế gọi là Nhất sinh tộc.
nhất siêu trực nhập
Hành giả tham Tổ Sư Thiền siêu việt những cấp bậc của giáo môn, trực tiếp ngộ nhập Phật tánh, gọi là nhất siêu trực nhập.
; (一超直入) Một vượt vào thẳng. Nghĩa là chỉ trong khoảnh khắc vượt ra ngoài thế giới mê vọng mà vào thẳng cảnh giới giác ngộ. Cũng tức là ý nghĩa chỉ thẳng lòng người, thấy tính thành Phật. Đây là cảnh giới Tức tâm tức Phật, phi tâm phi Phật.
nhất siêu trực nhập như lai địa
(一超直入如來地) Đồng nghĩa: Lập địa thành Phật. Một nhảy vào thẳng đất Như lai. Nghĩa là không cần trải qua các thứ bậc tu hành mà trực tiếp chứng nhập quả vị Phật. Vĩnh gia chứng đạo ca (Đại 48, 396 thượng) nói: Chỉ hướng cửa vô vi thực tướng, Một vượt vào thẳng đất Như lai. Cần được gốc, chớ lo ngọn, Như ngọc lưu li ngậm ánh trăng. Hiểu rõ ngọc như ý kia rồi, Lợi mình lợi người không cùng tận.
nhất sát
Ksetra (S). Field, plot of land. Also sát độ, sát hải, ruộng đất.
; A ksetra (skt)—Một cõi Phật—A land—A Buddha realm—Chiliocosm.
; (一刹) Sát, Phạm: Kwetra. Một quốc độ, một thế giới. Chỉ cho phạm vi giáo hóa chúng sinh của 1 đức Phật, cũng tức là Tam thiên đại thiên thế giới. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7].
nhất sát na
A ksana (skt)—Một khoảng thời gian ngắn nhất (1/90 của một niệm hay 1/4500 của một phút)—The shortest period of time. (1/90th part of a thought or 1/4500th of a minute).
; (一刹那) Phạm: Kwaịa. Chỉ cho khoảng thời gian cực ngắn, tương đương với1/60 của 1 sao. Theo kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã quyển thượng, thì 1 niệm bằng 90 sát na, trong 1 sát na có 900 lần sinh diệt. Theo các vị Luận sư của A tì đàm thì trong 1 cái búng ngón tay của người tráng sĩ có 65 sát na. [X. luận Đại tì bà sa Q.136].
nhất sát đa sinh
Giết một cứu nhiều—To kill one that many may live.
; (一殺多生) Giết một sống nhiều. Nghĩa là giết 1 người để cứu sống nhiều người, đó là phương tiện quyền biến mà Bồ tát thực hiện nhằm làm lợi ích cho chúng sinh. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 41, Bồ tát tuy nghiêm trì giới luật, nhưng nếu thấy 1 tên cướp, vì lòng tham muốn, định giết nhiều người để đoạt tiền của, hoặc muốn hại các bậc Đại đức, Thanh văn, Độc giác, Bồ tát, không sợ tạo thêm nhiều nghiệp Vô gián, Bồ tát liền vận dụng tâm thiện, tâm vô kí, tâm thương xót, ra tay giết chết tên cướp ấy để cứu sống nhiều người. Bồ tát thà tự mình chịu đọa địa ngục, chứ không để kẻ ác kia phải chịu quả báo Vô gián. [X. kinh Báo ân Q.7; kinh Niết bàn Q.12 (bản Bắc)].
Nhất sơn
(一山) [tạp]: tên gọi riêng của toàn thể một chùa, từ thay thế cho đạo tràng Thiền lâm. Vì phần lớn các tự viện đều tọa lạc trong núi nên có tên gọi như vậy.
nhất sơn
Nhà sư Trung Hoa du hành sang Nhật vào khoảng năm 1299 AD, cũng còn gọi là Nhất Ninh—I-shan, a Chinese monk who voyaged to Japan in 1299 AD, also called I-Ning.
; (一山) I. Nhất Sơn. Một ngôi chùa. Vì chùa phần nhiều được xây dựng trên núi nên 1 ngôi chùa cũng gọi là Nhất sơn. Nhưng trên thực tế, phạm vi của Nhất sơn rộng hơn 1 ngôi chùa. II. Nhất Sơn. Vị tăng thuộc tông Lâm tế đời Tống. (xt. Nhất Sơn Nhất Ninh).
Nhất Sơn Nhất Ninh
(一山一寧, Issan Ichinei, 1247-1317): vị tổ của Phái Nhất Sơn (一山派) thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang), họ là Hồ (胡), hiệu là Nhất Sơn (一山). Lúc còn nhỏ, ông theo làm đệ tử của Vô Đẳng Dung (無等融) ở Hồng Phước Tự (鴻福寺) thuộc vùng Phù Sơn (浮山), Đài Châu, rồi sau đó thọ giới với Xử Khiêm (處謙) ở Phổ Quang Tự (普光寺). Kế đến ông theo học Luật ở Ứng Chơn Tự (應眞寺), học Thiên Thai ở Diên Khánh Tự (延慶寺), sau ông quay trở về với Thiền Tông. Ông lên Thiên Đồng Sơn (天童山) tham vấn khắp chư vị tôn túc như Giản Ông Cư Kính (簡翁居敬), Tạng Tẩu Thiện Trân (藏叟善珍), ở Dục Vương Sơn (育王山), Đông Tẩu Khải (東叟愷), Tịch Song Hữu Chiếu (寂窻有照), Ngoan Cực Hành Di (頑極行彌) ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺), và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Hành Di. Sau đó, ông đến trú tại Tổ Ấn Tự (祖印寺) thuộc vùng Tứ Minh (四明), rồi Phổ Đà Sơn (普陀山). Vào năm thứ 3 (1299) niên hiệu Đại Đức (大德), ông được vua nhà Nguyên là Thành Tông ban cho hiệu là Diệu Từ Hoằng Tế Đại Sư (妙慈弘濟大師), rồi được bổ nhiệm là cai quản toàn bộ tôn giáo ở vùng Triết Giang. Vào tháng 8 cùng năm này, theo lời mời của Tây Giản Tử Đàm (西礀子曇) và Thạch Lương Nhân Cung (石梁仁恭), ông đến Thái Tể Phủ Nhật Bản. Lúc bấy giờ, người chấp quyền là Tướng Quân Bắc Điều Trinh Thời (北條貞時, Hōjō Sadatoki) mới nghi ngờ ông là mật thám của nhà Nguyên, nên bắt ông giam ở Tu Thiền Tự (修禪寺) vùng Y Đậu (伊豆, Izu). Sau đó, biết được ông là một vị danh tăng nên Trinh Thời thỉnh ông đến trú trì Kiến Trường Tự (建長寺), nhưng rồi ông lại chuyển đến Viên Giác Tự (圓覺寺) cũng như Tịnh Trí Tự (淨智寺). Vào năm thứ 2 (1313) niên hiệu Chánh Hòa (正和), theo sắc chỉ của Hậu Vũ Đa Thượng Hoàng (後宇多上皇), ông được thỉnh đến làm vị tổ thứ 3 của chùa này. Chúng đạo tục lúc bấy giờ mới tập trung đến mà tham học với ông; vì không chịu nỗi tình trạng tiếp khách đông đảo như vậy, nên ông đã xin Thượng Hoàng cho lui về ẩn cư, nhưng không được phép. Đến tháng 9 năm đầu (1317) niên hiệu Văn Bảo (文保), ông ngọa bệnh ở chùa này, được Thượng Hoàng đích thân đến vấn an thăm hỏi, và đến ngày 24 tháng 10 cùng năm thì viên tịch, hưởng thọ 71 tuổi. Bài kệ để lại của ông là “Hoành hành nhất thế, Phật tổ thôn khí, tiễn dĩ ly huyền, hư không trụy địa (横行一世、佛祖呑氣、箭巳離弦、虛空墜地, tung hoành một đời, Phật Tổ nuốt khí, tên đã rời dây, hư không xuống đất).” Thượng Hoàng ban cho ông thụy hiệu là Nhất Sơn Quốc Sư (一山國師). Đệ tử nối dòng pháp của ông có Thạch Lương Nhân Cung (石梁仁恭), Vô Trước Lương Duyên (無著良緣), Vô Cảm Lương Khâm (無感良欽), Vô Tướng Lương Chơn (無相良眞), Tuyết Thôn Hữu Mai (雪村友梅), Văn Khê Lương Thông (文溪良聰), Đông Lâm Hữu Kheo (東林友丘), v.v. Trước tác của ông có Nhất Sơn Quốc Sư Ngữ Lục (一山國師語錄).
; 一山一寧; C: yīshān yīníng; J: issan ichinei; 1247-1317;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế. Sau khi nhà Tống bị Mông Cổ lật đổ, Sư được Nguyên Thành Tông cử đến Nhật Bản để nối lại mối quan hệ – vốn bị gián đoạn từ khi Mông Cổ cố gắng xâm lấn nhiều lần. Sư vừa đặt chân lên đất Nhật (1299) liền bị nghi là gián điệp, bị bắt giam. Sau khi được tha, Sư được cử trụ trì Kiến Trường tự (kenchō-ji), năm 1302 trụ trì Viên Giác tự (engaku-ji) và năm 1312, Thiên hoàng Hậu Ðề Hồ (go-daigo) cử Sư làm Phương trượng chùa Nam Thiền (nanzen-ji) tại Kinh Ðô (kyōto).|Sư nổi danh không chỉ là một Thiền sư mà còn là một nghệ sĩ xuất trần, một hoạ sĩ tinh thông Thư pháp (Thư đạo; j: shōdō).|Cùng với môn đệ người Nhật là Tuyết Thôn Hữu Mai (sesson yūbai, 1290-1346), Sư được xem là vị Khai tổ của phong trào văn hoá Ngũ sơn (Ngũ sơn văn học). Thiền sư Mộng Song Sơ Thạch (musō soseki) – cũng một thời gian tu học với Sư – là người đã góp phần lớn trong việc giúp đỡ các Thiền viện tại Kinh Ðô trở thành những trung tâm của văn hoá, nghệ thuật và khoa học với sắc thái Trung Quốc rõ rệt.
nhất sơn nhất ninh
(一山一寧) Thiền sư Trung quốc, thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người Thai châu (huyện Lâm hải, tỉnh Chiết giang), họ Hồ, hiệu Nhất sơn. Sau khi xuất gia, sư học tập, nghiên cứu giáo chỉ tông Thiên thai và Luật tông. Năm Đại đức thứ 3 (1299), sư được vua Thành tông nhà Nguyên ban hiệu Diệu Từ Hoằng Tế và áo kim lan, sắc lệnh cho sư sang Nhật bản giáo hóa. Mạc phủ Liêm thương ngờ sư là trinh thám nên bắt hạ ngục, nhưng ngày đêm sư vẫn an nhiên tụng kinh, Thiền quán. Không bao lâu, sư được phóng thích, rồi lần lượt trụ trì các chùa Kiến trường, Viên giác, Nam thiền... dần dần sư được Thiên hoàng Hậu vũ đa và các công khanh, quí tộc tín nhiệm, cảm mến đạo phong của sư, đến tham vấn rất đông. Sư cũng tinh thông cái học Chu tử và là 1 trong những người đầu tiên khai sáng ra nền văn học Ngũ sơn của Nhật bản. Pháp phái của sư gọi là Nhất sơn phái, 1 trong 24 phái thuộc Thiền tông Nhật bản. Niên hiệu Văn bảo năm đầu (1317) sư tịch, thọ 71 tuổi, được vua ban hiệu là Nhất Sơn Quốc Sư. Sư có tác phẩm: Nhất sơn quốc sư ngữ lục, 2 quyển. [X. Nguyên hanh thích thư Q.8; Diên bảo truyền đăng lục Q.4].
Nhất Sơn Quốc Sư Diệu Từ Hoằng Tế Đại Sư Ngữ Lục
(一山國師妙慈弘濟大師語錄, Issankokushimyōjikōsaidaishigoroku): còn gọi là Nhất Sơn Nhất Ninh Quốc Sư Ngữ Lục (一山一寧國師語錄), Nhất Sơn Ninh Hòa Thượng Ngữ Lục (一山寧和尚語錄), Nhất Sơn Quốc Sư Ngữ Lục (一山國師語錄), Ninh Nhất Sơn Lục (寧一山語錄), 2 quyển, là bộ ngữ lục hoằng pháp do Nhất Sơn Nhất Ninh soạn thuật, và nhóm thị giả Liễu Chơn (了眞) biên tập. Vì bộ này được khai bản ở Đại Vân Am (大雲庵) nên nó còn được gọi là Đại Vân Lục (大雲錄), được thâu lục vào trong quyển thứ 80 của Đại Chánh Tạng (Taishō). Đây là bộ ngữ lục thâu tập các lời dạy khi thượng đường của Nhất Sơn từ khi ông sống tại Ngao Phong Sơn Tổ Ấn Tự (鰲峰山祖印寺) vùng Tứ Minh (四明), Bảo Đà Quan Âm Thiền Tự (寳陀觀音禪寺) ở Phủ Khánh Nguyên (慶元府) bên Trung Quốc cho đến Kiến Trường Tự (建長寺), Viên Giác Tự (圓覺寺), Tịnh Trí Tự (淨智寺), Nam Thiền Tự (南禪寺), của Nhật Bản, kèm theo một số tiểu tham, pháp ngữ, niêm cổ, tụng cổ, kệ tụng, tán Phật tổ, tự tán, tiểu Phật sự, hành ký, v.v.
nhất sơn quốc sư diệu từ hoằng tế đại sư ngữ lục
(一山國師妙慈弘濟大師語錄) Cũng gọi Nhất sơn nhất ninh quốc sư ngữ lục, Nhất sơn ninh hòa thượng ngữ lục, Nhất sơn quốc sư ngữ lục, Ninh nhất sơn lục, Đại vân lục. Ngữ lục, 2 quyển, do ngài Nhất sơn Nhất ninh (1247-1317) trứ tác, các vị thị giả Liễu chân... biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung gồm: - Quyển thượng có các phần: Sơ trụ Tứ minh Ngao phong sơn Tổ ấn thiền tự ngữ lục, do Liễu chân biên tập, Trụ Khánh nguyên phủ Bảo đà Quan âm thiền tự ngữ lục, do Duy phượng biên tập, cùng các mục Tiểu tham, Pháp ngữ, Niêm cổ, Tụng cổ... - Quyển hạ thu chép: Kệ tụng, Tán Phật tổ, Tự tán, Tiểu Phật sự và Hành kí do ngài Ngạn tài soạn, cuối cùng là lời Bạt của ngài Trung phong Minh bản.
nhất sơn quốc sư ngữ lục
Issan Kokushi goroku (J)Tên một bộ sưu tập.
Nhất sư ấn chứng
一師印證; J: isshi-injō; nghĩa là »sự ấn khả chứng minh của một vị thầy«;|Chỉ sự tu tập của một thiền sinh dưới sự hướng dẫn của một vị thầy duy nhất. Sự cần thiết của nhất sư ấn chứng được Thiền tông – nhất là tông Tào Ðộng (j: sōtō-shū) – tại Nhật Bản đề cao từ khoảng thế kỉ 17 để chống lại khuynh hướng chạy tới chạy lui qua nhiều vị thầy của các thiền sinh thời bấy giờ.|Việc tu học trong Thiền tông dưới một vị thầy khác với cái học nơi thế tục ở một điểm: nơi đây thiền sinh không được học suông (tri) rồi truyền cái học suông này cho người khác mà còn phải thực hiện cái chân lí đã được học qua lí thuyết ngay ở chính mình, cứ như người khát nước uống nước (hành). Chỉ khi nào tri và hành hợp nhất thì thiền sinh mới có thể hi vọng một ngày nào đó sẽ Kiến tính (kenshō) ngộ đạo. Vì lí do này mà niềm tin và sự tu tập nơi một vị thầy – trong một tông phái tự gọi là Phật tâm tông và chủ trương việc Dĩ tâm truyền tâm – được xem là tối trọng. Mà cũng có khi một vị thầy nhìn nhận ra khả năng cao tột của một thiền sinh mới đến – nhưng thấy cơ duyên của thiền sinh này không hợp nơi mình thì vị này cũng gửi thiền sinh này đi nơi khác. Việc gửi các môn đệ đi học qua lại nhau của hai vị Mã Tổ Ðạo Nhất và Thạch Ðầu Hi Thiên là những ví dụ hay nhất của phương pháp giảng dạy này.|Vì trong Thiền tông không có bản quy định, thước đo cụ thể cho việc ấn chứng nên các Lão sư (j: rōshi) chỉ có thể hướng dẫn và ấn chứng cho một đệ tử theo khả năng, trình độ đã đạt của mình và một sự hướng dẫn gần gũi trực tiếp. Một khi sự hướng dẫn của một vị thầy bị gián đoạn thì vị thầy sau không thể tiếp nối việc này một cách hoàn hảo. Thiền sinh vì vậy phải có niềm tin vững chắc nơi vị thầy – sau khi đã tìm được vị thích hợp – và chỉ học với vị này mà thôi. Sau khi thiền sinh đã đạt mức độ giác ngộ của vị thầy thì có thể Hành cước đây đó để trau dồi kinh nghiệm qua những cuộc Vấn đáp (j: mondō), cũng thường được gọi là Pháp chiến (j: hossen) với các vị Thiền sư khác.
nhất sư ấn chứng
(一師印證) Một thầy ấn chứng. Nghĩa là người kế thừa pháp thống, chỉ được nhận sự ấn chứng của 1 vị thầy mà thôi. Đây là 1 trong những pháp tắc xưa của tông Tào động Nhật bản.
nhất sắc
One colour—The same colour.
; (一色) Phạm: Eka-rùpa. I. Nhất Sắc. Chỉ cho 1 hình tượng hay 1 hiện tượng vật chất. II. Nhất Sắc. Ý nói cực kì nhỏ bé. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 84, 56 thượng) nói: Nhất sắc nhất hương đều là trung đạo, thụ tưởng hành thức cũng lại như thế. III. Nhất Sắc. Biểu thị sự toàn tâm toàn ý, hoặc sự tu hành Phật đạo thuần nhất. Điển tọa giáo huấn (Đại 82, 320 thượng) nói: Tu đạo phải toàn tâm nhất ý (nhất sắc), nếu không có đạo tâm thì dù vất vả cực nhọc bao nhiêu, cuối cùng cũng vô ích.
nhất sắc biên
(一色邊) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nhất sắc là thuần nhất, tuyệt đối. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để diễn đạt cảnh giới thanh tịnh, bình đẳng vượt ngoài sự sai biệt và quan niệm tương đối. Tắc 42 trong Bích nham lục (Đại 48, 179 hạ) nói: Người xưa dùng tuyết để minh họa cảnh giới thanh tịnh bình đẳng (Nhất sắc biên).
nhất sắc nhất hương vô phi trung đạo
(一色一香無非中道) Một sắc 1 hương đều là Trung đạo. Nghĩa là lí thực tướng Trung đạo tiềm tàng trong hết thảy mọi vật, dù nhỏ nhặt như nhất sắc, nhất hương cũng có đủ bản thể của thực tướng Trung đạo. Theo tông Thiên thai thì đây là cảnh giới chứng ngộ hiển bày sau khi quán chiếu tất cả các pháp dưới ánh sáng của 3 pháp quán: Không, Giả, Trung. [X. chương Viên đốn trong Ma ha chỉ quán Q.1, thượng].
nhất sắc vô biện xứ
(一色無辨處) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Không thể dùng tư duy tương đối để phân biệt cảnh giới tuyệt đối. Tào sơn lục (Đại 47, 533 hạ) nói: Pháp thân pháp tính là việc tôn quí ngoài lề, cũng cần phải chuyển, vì đó là tôn quí đọa; giả sử trâu trắng lộ thiên là pháp thân cứu cánh thì cũng phải chuyển để nó khỏi ngồi ở cảnh giới tuyệt đối (Nhất sắc vô biện xứ), đây gọi là dứt sự cúng dường ngoài lề.
Nhất tam muội
(一三昧) [thuật]: từ gọi tắt của Nhất Hạnh Tam Muội (一行三昧), nghĩa là chuyên tâm vào một việc, không suy nghĩ chuyện khác.
nhất tam muội
Ekàgra, aikàgrya (S). Undeflected concentration, meditation on one subưect.
; Ekagra (skt)—Undeflected concentration—Meditation on one object—Undefeated concentration.
Nhất tam-muội
一三昧; C: yīsānmèi; J: ichisanmai;|Tâm an trú vào cảnh giới nhất như, tâm đạt định; viết tắt của Nhất hạnh tam-muội (一行三昧)
nhất thanh lôi chấn thanh biều khởi
(一聲雷震清飈起) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Sau 1 tiếng sấm vang trời thì sẽ có 1 làn gió mát thoảng qua. Thiền tông dùng cụm từ này với ý khi đã chứng ngộ thì tất cả phiền não đều tiêu trừ.Tắc 49 trong Bích nham lục (Đại 48, 185 thượng) nói: Cá kình nghìn thước phun sóng lớn Một tiếng sấm vang gió thoảng qua.
nhất thiên
Sahasra (skt)—Một ngàn—One thousand.
Nhất thiên nhị bách công đức
(一千二百功德) [danh]: tức công đức của sáu căn thanh tịnh. Trong Phẩm Pháp Sư Công Đức của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân thọ trì thị Pháp Hoa Kinh, nhược độc nhược tụng, nhược giải thuyết, nhược thư tả, thị nhân đương đắc bát bách nhãn công đức, thiên nhị bách nhĩ công đức, bát bách tỷ công đức, thiên nhị bách thiệt công đức, bát bách thân công đức, thiên nhị bách ý công đức, dĩ thị công đức, trang nghiêm lục căn, giai linh thanh tịnh (若善男子、善女人受持是法華經、若讀、若誦、若解說、若書冩、是人當得八百眼功德、千二百耳功德、八百鼻功德、千二百舌功德、八百身功德、千二百意功德、以是功德、莊嚴六根、皆令清淨, nếu có người nam, người nữ nào thọ trì Kinh Pháp Hoa này, nếu đọc, nếu tụng, nếu giải thích, nếu viết chép, người ấy sẽ được 800 công đức về mắt, 1.200 công đức về tai, 800 công đức về mũi, 1.200 công đức về lưỡi, 800 công đức về thân, 1.200 công đức về ý; lấy công đức ấy để trang nghiêm sáu căn, thảy đều làm cho được thanh tịnh)”.
nhất thiên nhị bách công đức
Một ngàn hai trăm công đức trong Kinh Pháp Hoa—One thousand two hundred merits or powers of eye, tongue and mind predicted in the Lotus sutra.
nhất thiên thất bách tắc công án
(一千七百則公案) Một nghìn bảy trăm tắc công án. Đây là con số chỉ chung cho vô số công án trong Thiền tông, chứ không phải con số thật. Tức căn cứ vào cơ duyên truyền pháp của 1.701 vị được ghi trong Cảnh đức truyền đăng lục mà có con số 1.700 tắc công án. Nói cách khác, trong Thiền tông có rất nhiều tắc công án, chứ không phải chỉ có 1.700.
Nhất thiết
(s: sarva, p: sabba, 一切) [thuật]: âm dịch là tát bà (薩婆), hết thảy, tất cả, toàn thể sự vật. Nó có 2 ý nghĩa, khi nói về toàn thể sự vật thì ám chỉ hết thảy toàn phần, còn khi đề cập đến toàn bộ phạm vi có giới hạn thì ám chỉ hết thảy phần nhỏ. Pháp Uyển Quỳnh Lâm (法苑珠林) 28 có đoạn rằng: “Nhất dĩ phổ cập vi ngôn, thiết dĩ tận tế vi ngữ (一以普及爲言、切以盡際爲語, một lấy sự rộng khắp làm tiếng, thiết lấy sự tận cùng làm lời)”. Vĩnh Bình Quảng Lục (永平廣錄) 2 có đoạn rằng: “Bách thiên chư Phật tổng tại phất tử đầu thượng, thị hiện trượng lục tử ma kim sắc chi thân, thừa kỳ quốc du lịch thập phương, thuyết nhất thiết pháp, độ nhất thiết chúng, khởi bất thị không hoa loạn trụy (百千諸佛總在拂子頭上、示現丈六紫磨金色之身、乘其國土遊歷十方、說一切法、度一切眾生、豈不是空華亂墜, trăm ngàn các đức Phật ở trên đầu cây phất trần, thị hiện thân tướng sắc vàng tía cao sáu trượng, từ nước này đi dạo khắp mười phương, thuyết tất cả các pháp, độ tất cả chúng sanh, đó chẳng phải là không hoa rơi xuống cùng khắp sao ?)”.
; 一切; C: yīqiē; J: issai;|Toàn thể, tất cả. Cũng được dịch ý ra chữ Hán là: phổ (普), biến (遍), cụ (具).|Nhất thiết bí mật tối thượng danh nghĩa đại giáo vương nghi quỹ |一切祕密最上名義大教王儀軌; C: yīqiè mìmì zuìshàng míngyì dàjiàowáng yíguǐ; J: issai himitsu saijō myōgi daikyō ō giki;|Hai quyển, gọi tắt là Bí mật danh nghi quỹ (祕密名儀軌), Thí Hộ (施護; s: dānapāla) dịch vào năm 1009 sau C.N. Là bản kế tục có tính chất luận giải (s: akhyānatantra) của Chân thật nhiếp kinh (眞實攝經; s: tattvasaṃgraha). |Phần lớn nghi quỹ nầy luận giải về ý nghĩa của các ý niệm tương ưng của Du-già (Tứ ấn, các tiến trình của Định…) và tên gọi của 37 vị Thánh trong kinh Chân thật nhiếp. Đó là một cuộc luận chiến liên tục chống lại đạo đức quy ước và việc thực hành các lễ nghi được xem là vô ích trong việc tu tập giải thoát. Thay vì vậy, nghi quỹ nầy nhấn mạnh toàn triệt vào các phương pháp quán sát bản tâm, như sự nhận ra tham, sân, si chẳng khác gì hơn là Như Lai – như là tiền đề cho giáo lí căn bản của Mật giáo sau nầy, đặc biệt là giáo lí trong Bí mật tập hội (祕密集會; s: guhyasamāja). Theo chiều hướng này, một đoạn văn được trích dẫn rất thường, có vẻ như tán thành việc thực hiện những chuyện đồi bại như giết hại, nói dối, trộm cắp và dâm dục. Bản dịch của Thí Hộ đã làm khó hiểu đoạn văn nầy – những đoạn khác thì hoàn toàn tối nghĩa –, cũng như lược bỏ nhiều thuật ngữ đề cập đến giới tính trong kinh văn Du-già (chẳng hạn dùng chữ Tướng giả 相者 để thay cho linga; dùng chữ Phá giả 破者 để thay cho bhaga. Tuy nhiên, cũng đáng chú ý khi Ratnākaraśānti giữ thái độ trung hoà dối với những thuật ngữ nầy trong luận giải của mình mang tên Śrīsarvarahasyanibaṃdho-rahaḥpradīpo-nāma; chẳng hạn sư viết: người ta nên giết chết ý tưởng về chúng sinh. Thay vì bản dịch tiếng Anh, chỉ có luận giải bằng tiếng Ấn Độ, cùng với toàn kinh văn tiếng Tây Tạng. (Xin xem Thần bí tư tưởng luận tập của Wayman, Alex: The Sarvarahasyatantra, Acta Indologica 神秘思想論集; về tác phẩm nghiên cứu trước đây của Nhật Bản từ bản dịch tiếng Tây Tạng, xem Mai Vĩ Tường Vân 栂尾祥雲; j: toganō shoūn: Issai himitsusaijō myōgi kyō no kenkyū 一切祕密最上名義經の研究, Studies in the Sarvarahasya-nāma-tantrarāja).
nhất thiết
Sarva (S), All, Sabba (P)Tất cả sự vật.
; Sarva (S). All, the whole. Also nhất thế.
; All—The whole—Altogether.
; (一切) Phạm: Sarva. Pàli: Sabba. Hán âm: Tát bà. Từ chỉ chung cho tất cả sự vật. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 260 trung) nói: Tát bà, Hán dịch: Nhất thiết - Tất cả, hết thảy. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 5 (Đại 54, 1134 hạ) chép: Nhất là nói theo nghĩa phổ cập; Thiết là nói theo nghĩa tận cùng. Phạm vi sử dụng của từ ngữ này rất rộng. Chẳng hạn như những dụng ngữ: Nhất thiết thế gian, nhất thiết chúng sinh, nhất thiết chủng trí... [X. luận Thành duy thức Q.2; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].
nhất thiết biến trí ấn
See Nhất thiết Phật tâm ấn.
nhất thiết biến xứ đạo trí lực
(一切遍處道智力) Phạm: Sarvaragàminìpratipajj ĩànabala. Cũng gọi Tri nhất thiết đạo trí tướng lực, Biến thú hành trí lực, Chí xứ đạo lực. Chỉ cho trí lực của Như lai biết khắp tất cả nhân quả hữu lậu của 6 đường và nhân quả vô lậu của Niết bàn, là 1 trong 10 lực của Như lai. [X. luận Du già sư địa Q.49; luận Câu xá Q.27]. (xt. Thập Lực).
nhất thiết bồ tát chân ngôn
(一切菩薩真言) Chân ngôn chủng tử tâm phổ thông của Mật giáo. Đó là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm ca, biểu thị ý nghĩa tất cả pháp không tạo tác. [X. Đại nhật kinh trì tụng thứ đệ nghi quĩ].
nhất thiết bồ tát ma ha tát
All Bodhisattvas and Mahasattvas.
nhất thiết chân ngôn chú
Chú “Chân Ngôn” (lời chân thật) được phô bày trong hai nhóm Thai Tạng và Kim Cang giới—All the “true word” rulers, shown in the Garbhadhatu and Vajradhatu groups.
nhất thiết chân ngôn chủ
(一切真言主) Tất cả vị chủ của chân ngôn. Chỉ cho tất cả các vị tôn của Mạn đồ la Thai tạng giới và Kim cương giới trong Mật giáo. Kinh Du kì quyển thượng (Đại 18, 255 hạ) nói: Nếu hành giả Chân ngôn trì tụng kinh này 3 trăm nghìn lần, thì tất cả Chân ngôn chủ và Đại mạn noa la vương Kim cương giới đều họp tập, cùng lúc giúp cho thành tựu, mau chóng chứng được địa vị Đại kim cương, cho đến địa vị bồ tát Phổ hiền.
nhất thiết chân ngôn tâm
The first Sanscrit letter "a".
; Chữ Phạn đầu tiên “A” được người theo phái Chân Ngôn đọc là “AN” và được nhấn mạnh như là tâm của trí huệ—The first Sanskrit letter “A” which is pronounced “AN” by the Shingon School and emphasized as the heart of all wisdom.
; (一切真言心) Chỉ cho chữ (aô) trong chân ngôn Bách quang biến chiếu của Mật giáo. Vì chữ Aô là mẹ của các chữ, là nơi phát sinh ra tất cả chân ngôn, nên gọi là Nhất thiết chân ngôn tâm. Kinh Đại nhật quyển 2 (Đại 18, 17 trung) nói: Niệm Nhất thiết chân ngôn tâm chữ A này là trên hết không gì hơn, đây là chỗ an trụ của tất cả chân ngôn, từ chân ngôn này mà được quyết định. Phẩm Bách tự sinh trong Đại nhật kinh sớ quyển 18 (Đại 39, 766 hạ) nói: Chữ Aô này là tâm của tất cả chân ngôn, đứng đầu hết thảy chân ngôn; nên biết đây là chân ngôn Bất không giáo.
nhất thiết chúng sanh
Tất cả chúng sanh—All sentient beings—All living beings.
nhất thiết chúng sanh chi phụ
Cha của tất cả chúng sanh—The Father of all the living.
nhất thiết chúng sanh chi từ phụ
Ám chỉ Đức Phật là cha hiền của tất cả chúng sanh—The Father of all the living—The Buddha.
nhất thiết chúng sanh do như kỷ thân
SarvabhŪtātmabhŪta (S)Coi thân chúng sanh như thân mình.
nhất thiết chúng sanh giai tất thành phật quả
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và cuối cùng rồi cũng đạt được giác ngộ—All beings become Buddha, for all have the Buddha-nature and must ultimately become enlightened.
nhất thiết chúng sanh hoan hỷ kiến phật
Sarvasattva-priya-darsana (skt)—Vị Phật mà khi thấy mặt Ngài chúng sanh cảm thấy hoan hỷ—The Buddha at whose appearance all beings rejoice.
nhất thiết chúng sanh ly chư ác thú
Sarvasattva-papa-prahana (skt)—Một loại tam muội đưa chúng sanh xa rời ác đạo—A samadhi on a world free from all the evil destinies.
nhất thiết chúng sanh tinh khí
Sarvasattvaujohari (skt)—Tinh chất của tất cả chúng sanh—Vitality of all beings (the quintessence or energy of all living beings).
nhất thiết chúng sinh
Sarvasattva (S). All living beings.
nhất thiết chúng sinh do như kỷ thân
Sarvabhùtàtmabhùta (S). Considering others as oneself.
nhất thiết chư hành khổ
Sabbe-saṇkhāra-dukkha (P)Tất cả các hành đều gây khổ.
; (一切諸行苦) Pàli: Sabbe saíkhàrà dukkhà. Cũng gọi Nhất thiết hành khổ. Tất cả các hành là khổ, pháp bản mạt thứ 2 trong 4 pháp bản mạt. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 18 (Đại 2, 640 trung) nói: Hết thảy các hành là khổ, đây là pháp bản mạt thứ 2 do đức Như lai nói. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.8; luận Câu xá Q.23].
nhất thiết chư hành vô ngã
Sabbe-saṇkhāra-anatta (P).
; (一切諸行無我) Pàli: Sabbe dhammà anattà. Cũng gọi Nhất thiết pháp vô ngã. Tất cả hành vô ngã, là pháp bản mạt thứ 3 trong 4 pháp bản mạt. Kinh Tăng nhất a hàm (Đại 2, 640 trung) nói: Tất cả các hành vô ngã, đây là pháp bản mạt thứ 3 trong 4 pháp bản mạt do đức Như lai nói. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.8]. (xt. Tứ Pháp Ấn).
nhất thiết chư hành vô thường
(一切諸行無常) Pàli: Sabbe saíkhàrà aniccà. Cũng gọi Nhất thiết hành vô thường. Tất cả các pháp hữu lậu đều không có tính thường hằng, là pháp bản mạt thứ 1 trong 4 pháp bản mạt. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 18 (Đại 2, 640 thượng) nói: Tất cả các hành đều vô thường, đây là pháp bản mạt thứ 1 do đức Như lai nói. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.8; Câu xá luận quang kí Q.1]. (xt. Chư Hành Vô Thường).
nhất thiết chư pháp
See Nhất thiết pháp in Vietnamese-English Section.
nhất thiết chư pháp vô thường
Sabbe-dhamma-anicca (P)Tất cả pháp hữu lậu không có tánh thường hằng.
nhất thiết chư phật
All Buddhas.
; Tất cả các Đức Phật—All Buddhas.
nhất thiết chư phật bí mật pháp
Sarva-buddha-rahasya (S)Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa.
nhất thiết chư phật bí mật xứ
Sarva-buddha-guhya-sṭhāna (S)Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa.
nhất thiết chư phật bí tạng chi pháp
(一切諸佛秘藏之法) Pháp bí tàng của tất cả chư Phật, chỉ cho kinh Pháp hoa. Phẩm Tín giải kinh Pháp hoa (Đại 9, 18 trung) nói: Pháp bí tàng của tất cả chư Phật chỉ được tuyên thuyết cho hàng Bồ tát.
nhất thiết chư phật chi tạng
Sarva-buddha-nigudha (S)Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa.
nhất thiết chư phật chi đạo tràng
Sarva-buddha-bhodhi-manda (S)Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa.
nhất thiết chư phật kiên cố xá lợi
Sarva-buddhaika-ghana-Sarira (S)Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa.
nhất thiết chư phật mười phương tam thế
Tất cả các Đức Phật trong mười phương ba đời—Buddhas from ten directions from past, present and future.
nhất thiết chư phật sở chuyển pháp luân
Sarva-buddha-dharma-cakra-pravartana (S)Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa.
nhất thiết chư phật sở hộ niệm kinh
Sarva-buddha-parigraha sŪtra (S)Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa.
nhất thiết chư phật đại xảo phương tiện kinh
Sarvopaya-kauśalya (S)Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa.
nhất thiết chủng diệu tam muội
The samàdhi, or trance, which brings every kind of merit for one's adornment.
; Tam muội mang lại mọi công đức trang nghiêm—The samadhi, which brings every kind of merit for one's adornment.
nhất thiết chủng diệu túc tam muội
(一切種妙足三昧) Tam muội là tên khác của Thiền định. Khi an trụ trong Tam muội này, thì tất cả các loại Tam muội và hết thảy công đức trang nghiêm đều đầy đủ, vì thế nên gọi là Nhất thiết chủng diệu túc tam muội. Luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 27, 401 hạ) nói: Người nào được Nhất thiết chủng diệu túc tam muội thì các công đức trang nghiêm đều đầy đủ, nghĩa là dòng họ, gia tộc, quyến thuộc, thân tướng, thiền định, trí tuệ... đều viên mãn thanh tịnh.
nhất thiết chủng thức
The 8th of eight consciousness.
; Thức thứ tám trong Bát Thức—The eighth consciousness of eight consciousness.
Nhất thiết chủng trí
Trí huệ biết được tất cả mọi sự việc, trí huệ bao trùm tất cả, được dùng để chỉ trí huệ giác ngộ hoàn toàn của Phật.
; 一切種智; C: yīqiē zhǒngzhì; J: ichisetsu-shuchi; S: sarva-ākāra-jña-tā, sarvajña-jñā-na.|1. Trí hiểu biết rộng khắp, trí huệ bao trùm khắp tất cả; trí huệ nhận biết sự khác biệt giữa từng hiện tượng trong pháp giới; 2. Trí huệ nhận biết tất cả mọi hiện tượng; như Nhất thiết trí (一切智); 3. Huệ giác viên mãn của chư Phật (佛智).
nhất thiết chủng trí
Sarva-bija-jāna (S)Phật trí, Trí huệ biết uốt hết thảy các pháp.
; Buddha-knowledge or perfect knowledge of all things. Xem tam trí.
; See Nhất thiết chủng diệu tam muội in Vietnamese-English Section.
; (一切種智) Phạm: Sarvathà-jĩàna. Cũng gọi Phật trí. Trí tuệ này chỉ có đức Phật chứng được. Tức là dùng 1 loại trí tuệ mà biết được nhân chủng của tất cả các pháp và tất cả chúng sinh, đồng thời cũng là trí rõ suốt tướng vắng lặng và hành loại của các pháp. Là 1 trong 3 trí. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 581 trung) nói: Chư Phật Như lai xa lìa tướng thấy, có đại trí dụng, tự thể chiếu rọi tất cả vọng pháp, có vô lượng phương tiện, tùy theo căn cơ của chúng sinh, đều có thể chỉ bày các pháp nghĩa, vì thế gọi là Nhất thiết chủng trí. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 259 thượng) nói: Phật biết rõ hết cả tổng tướng và biệt tướng của các pháp thiền định, trí tuệ nên gọi là Nhất thiết chủng trí (...) Nhất thiết trí là trí của Thanh văn, Duyên giác. Đạo trí là trí của Bồ tát, còn Nhất thiết chủng trí là trí của Phật. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.21; luận Đại trí độ Q.50, 84; Vãng sinh luận chú Q.hạ].
nhất thiết chủng tử thức
(一切種子識) Phạm: Sarva-bìja-vijĩàna. Cũng gọi Chủng tử thức. Thức cất chứa tất cả chủng tử(hạt giống) của các pháp không để cho mất mát, là tên khác của thức A lại da. Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 7 hạ) nói: Thức này nắm giữ chủng tử của các pháp, không để mất mát, vì thế gọi là Nhất thiết chủng tử thức. Nhiếp Đại thừa luận thích quyển 2 (Đại 31, 328 thượng) nói: Thức này có công năng sinh ra các pháp tạp nhiễm, công năng sinh ra tuy sai khác nhưng hợp với đạo lí, do tương ứng với công năng sinh ra ấy, nên gọi là Nhất thiết chủng tử thức. Để làm sáng tỏ nghĩa này, hãy dùng 1 ví dụ: Như hạt thóc có công năng nảy mầm, vì thế có tính chủng tử(hạt giống); nếu phơi quá mức, hoặc đem rang thì công năng nảy mầm của hạt thóc ấy bị hư, lúc đó hình dáng hạt thóc tuy vẫn như cũ, nhưng sức sống của nó đã bị hoại diệt, không còn tính chủng tử, thức A lại da cũng như thế. [X. Nhiếp đại thừa luận bản Q.thượng; luận Du già sư địa Q.1]. (xt. A Lại Da Thức).
Nhất thiết công đức trang nghiêm vương kinh
一切功德莊嚴王經; C: yīqiè gōngdé zhuāngyánwáng jīng; J: issai kudoku shōgonnō kyō; S: sarvadharmaguṇavyūharāja-sūtra; T: chos thams cad kyi yon tan bkod pa'i rgyal po|Kinh, 1 quyển, Nghĩa Tịnh (義淨) dịch.
Nhất thiết duy tâm tạo
一切唯心造|Nghĩa là »tất cả đều được tâm tạo«, không có gì nằm ngoài tâm, tất cả đều là sự chuyển biến của thức (thức biến); Duy thức tông, Pháp tướng tông.
nhất thiết giai không tông
(一切皆空宗) Tông phái chủ trương tất cả đều là không, tông thứ 7 trong 10 tông do tông Hoa nghiêm thành lập. Tông này y cứ vào kinh Bát nhã, Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận mà hiển bày nghĩa tất cả các pháp rốt cùng đều là không, nhưng vì chưa đạt đến lí bất không diệu hữu của Đại thừa, nên cũng gọi là Không thủy giáo, tức Đại thừa thủy giáo trong 5 giáo. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.2; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.thượng; Hiền thủngũ giáo nghi Q.2]. (xt. Ngũ Giáo Thập Tông).
nhất thiết giai thành
All beings become Buddha, for all have the Buddha-nature.
; (一切皆成) Cũng gọi Nhất thiết giai thành Phật, Nhất tính giai thành. Đối lại: Ngũ tính các biệt. Hết thảy chúng sinh đều có thể thành Phật, đây là lập trường của các nhà Nhất thừa.Các nhà Tam thừa, như tông Pháp tướng... đề xướng thuyết Ngũ tính các biệt, chủ trương 3 chủng tính: Vô tính hữu tình, Định tính Thanh văn và Định tính Duyên giác đều không có khả năng thành Phật. Nhưng các tông phái Đại thừa khác như Thiên thai, Hoa nghiêm... thì cho rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính đều có thể thành Phật. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 21 (Đại 12, 487 thượng) nói: Tất cả chúng sinh đều có tính Phật; Phật, Pháp, chúng tăng không có sai khác. Kinh đã dẫn, quyển 10 (Đại 12, 423 thượng) nói: Tất cả Tam thừa cùng 1 tính Phật. (...) Tất cả Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác ở đời vị lai đều sẽ qui về Đại bát niết bàn, ví như trăm nghìn dòng sông đều chảy về biển cả. [X. kinh Đại vân Q.4; kinh Niết bàn Q.36 (bản Bắc); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2]. (xt. Phật Tính).
nhất thiết giai thành phật
Mọi chúng sanh đều sẽ thành Phật vì ai cũng có sẳn Phật tánh—All beings become Buddhas, for all have the Buddha-nature and must ultimately become enlightened.
nhất thiết hành thiền
(一切行禪) Tất cả pháp môn tu hành của Đại thừa đều hàm chứa trong thiền định, là 1 trong 9 loại thiền Đại thừa. Nhất thiết hành thiền gồm 13 thứ: 1. Thiện thiền: Loại thiền định có công năng thu nhiếp tất cả pháp lành. 2. Vô kí hóa hóa thiền: Ở trong định có thể biến hóa ra nhiều thứ mà chẳng cần phải tác ý suy tư. 3. Chỉ phần thiền: Thu nhiếp tâm ý, không để tán loạn, ứng hợp với định. 4. Quán phần thiền: Phân biệt rõ ràng, ứng hợp với tuệ. 5. Tự tha lợi thiền: Khi chính định hiện trước thì có thể làm lợi ích cho mình và lợi ích cho người khác. 6. Chính niệm thiền: Chính niệm tư duy, không sinh khởi các tư tưởng tạp nhạp. 7. Xuất sinh thần thông lực công đức thiền: Vào được đại định này thì tất cả công đức thần thông đều từ đó sinh ra. 8. Danh duyên thiền: Đối với danh tướng nhân duyên của tất cả các pháp đều có thể thông suốt vô ngại. 9. Nghĩa duyên thiền: Đối với nghĩa lí nhân duyên của tất cả các pháp đều có thể thông suốt hiểu rõ. 10. Chỉ tướng duyên thiền: Triệt để thấu suốt tướng nhân duyên tịch lặng tròn sáng, vĩnh viễn xa lìa tất cả sự tán loạn. 11. Cử tướng duyên thiền: Có khả năng phân biệt nhân duyên sinh diệt của các pháp 1 cách rõ ràng, không trở ngại. 12. Xả tướng duyên thiền: Lìa bỏ nhân duyên pháp tướng của tất cả thiện ác, được thanh tịnh không nhiễm trước. 13. Hiện pháp lạc trụ đệ nhất nghĩa thiền: Nương nơi thiền định này liền được niềm pháp lạc hiện tiền, an trụ trong đệ nhất nghĩa. [X. phẩm Phương tiện xứ thiền trong kinh Bồ tát địa trì Q.6; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ, phần đầu; Đại minh tam tạng pháp số Q.34]. NHẤT THIẾT HƯ KHÔNG CỰC VI TRẦN SỐ XUẤT SINH KIM CƯƠNG UY ĐỨC ĐẠI BẢO TAM MUỘI Đại bảo tam muội của Đại nhật Như lai trong Mật giáo. Cứ theo kinh Nhiếp chân thực quyển thượng, sau khi đức Đại nhật Như lai vào Tam muội này thì từ vai bên phải của Ngài phóng ra ánh sáng màu vàng ròng, lại từ đầu đến chân, mỗi mỗi chân lông đều phóng ra ánh sáng này, những ánh sáng ấy hợp thành 1 màu, chiếu khắp vô lượng thế giới ở phương nam. Tất cả chúng sinh trong các thế giới tối tăm, cho đến những người mù lòa nhờ ánh sáng chiếu soi mà mọi khổ não đều tiêu trừ, thụ hưởng vô lượng an lạc.
Nhất thiết hạnh (hành)
一切行; C: yīqiēxíng; J: issaigyō;|Tất cả các sự tạo tác, các hoạt động (của thân, khẩu, ý). Tất cả mọi những hiện tượng. Tất cả các sự chức năng (theo Du-già luận 瑜伽論).
Nhất thiết hữu
一切有; C: yīqiè yǒu; J: issai-u;|1. Tất cả những gì hiện hữu; 2. Một quan điểm của Nhất thiết hữu bộ, cho rằng tất cả đều có.
nhất thiết hữu
Xem Đạo sư.
; Sarvabhàva (S). All things or beings.
; Sarvabhava (skt)—Tất cả vạn hữu—All things or beings.
Nhất thiết hữu bộ
一切有部; S: sarvāstivāda; còn gọi là Căn bản nhất thiết hữu bộ (根本一切有部; s: mūlasar-vāstivāda) hoặc Thuyết nhất thiết hữu bộ (說一切有部)|Bộ phái cho rằng mọi sự đều có (Nhất thiết hữu; s: »sarvam asti«). Là một nhánh của Tiểu thừa, tách ra từ Trưởng lão bộ (s: sthavira) dưới thời vua A-dục. Giáo phái này quan niệm là tất cả, hiện tại, quá khứ, vị lai đều hiện hữu đồng thời. Tông phái này hoạt động mạnh tại Kaschmir và Càn-đà-la (gandhāra). Quan điểm của bộ này được xem như nằm giữa Tiểu thừa và Ðại thừa. Nhất thiết hữu bộ có kinh điển riêng viết bằng văn hệ Phạn ngữ (sanskrit), ngày nay chỉ còn bản dịch chữ Hán và Tây Tạng.|Tác phẩm quan trọng nhất của bộ này là A-tì-đạt-ma câu-xá luận (s: abhidharmakośa) của Thế Thân, Ðại tì-bà-sa luận (s: mahāvibhāṣā), một bộ luận được biên soạn trong lần Kết tập tại Kaschmir dưới sự chủ trì của Thế Hữu (vasumitra). Ðại tì-bà-sa luận trình bày quan điểm chính thức của Nhất thiết hữu bộ và là tác phẩm được hoàn tất cuối cùng trong bảy tác phẩm của Luận tạng (s: abhi-dharma-piṭaka). Một số tác phẩm khác cần được nhắc tới là A-tì-đàm tâm luận (abhidharma-hṛdaya), là bộ luận trung tâm của A-tì-đạt-ma với mười chương. Tì-bà-sa luận của Ca-chiên-diên tử cũng viết tổng quát về giáo lí bộ này. Tác phẩm Thế gian giả thiết (s: lokaprajñapti) trình bày quan điểm về sự hình thành thế giới đáng lưu ý. Các quan điểm về giới luật được trình bày trong Tì-nại-da Tì-bà-sa (vinayavibhāṣā).|Giáo pháp của Nhất thiết hữu bộ có tính đa nguyên, xuất phát từ sự phủ nhận cái ngã, một tính chất cá nhân hoặc linh hồn và thừa nhận những đơn vị luân chuyển theo thời gian, được gọi là pháp. Bộ này cho rằng có 75 pháp, và cho đó là những đơn vị cuối cùng, không thể chia cắt (tương tự khái niệm »nguyên tử« của Âu Châu thời thượng cổ) đều hiện hữu đồng thời. Chỉ các pháp này là »có thật.« Họ phân biệt các pháp tuỳ thuộc, Hữu vi (s: saṃskṛta) và các pháp độc lập, Vô vi (s: asaṃskṛta). |Các pháp độc lập là Hư không (s: ākāśa), Niết-bàn vô trụ (s: apratiṣṭhita-nirvāṇa) và Niết-bàn thường trụ (s: pratiṣṭhita-nirvāṇa).|Các pháp hữu vi được chia làm bốn nhóm: Sắc pháp (s: rūpadharma), Tâm (Thức) pháp (s: citta, vijñāna), các hoạt động của những Tâm sở hữu pháp (s: cetasikadharma) và Tâm bất tương ưng hành pháp (s: cittaviprayuktasaṃskāra) – các pháp không thuộc tâm không thuộc vật như già, chết, Vô thường…|Các pháp hữu vi này – theo quan điểm của Nhất thiết hữu bộ – không phải từ đâu sinh ra mà luôn luôn đã có, chỉ đổi từ trạng thái tiềm tàng qua hiện hữu. Vì quan điểm này mà Nhất thiết hữu bộ có tên »Nhất thiết hữu«, nghĩa là quá khứ vị lai đều được chứa trong một »pháp« duy nhất. Trong Nhất thiết hữu bộ, người ta cũng khám phá vài yếu tố nguyên thuỷ của Ðại thừa, như quan điểm Ba thân (s: trikāya) và niềm tin nơi Bồ Tát Di-lặc, đức Phật tương lai.
nhất thiết hữu bộ
Sabbatthavādin (P), Sarvāstivādin (S), Sabbatthavādin (P)Tên một tông phái.
; The realistic school, Sarvàstivàdah (S), asserting the reality of all phenomena.
; Sarvastivadah (skt). (A) Trường phái “Thực Hữu” (người ta cho rằng La Hầu La chính là sơ tổ của trường phái nầy). Trường phái nầy chủ trương vạn hữu đều là thực hữu. Nhất Thiết Hữu Bộ, vì bắt nguồn từ Thượng Tọa Bộ chánh truyền, xướng lên một bác nạn nghiêm khắc và thừa nhận rằng quá khứ và vị lai đều là thực hữu, bởi vì hiện tại có căn để của nó trong quá khứ và hậu quả của nó trong vị lai. Ngoài ra, phái nầy còn chủ trương rằng ba giai đoạn của thời gian phải hiện hữu tách rời nhau, vì những khái niệm về quá khứ và vị lai sẽ không xuất hiện trong chúng ta nếu không có những thực tại phân ly. Trong số các trường phái Phật Giáo dùng chữ Phạn thì Nhất Thiết Hữu Bộ gần với Thượng Tọa Bộ nhất. Với sự suy thoái của Thượng Tọa Bộ tại Ấn Độ thì trường phái Hữu Bộ phải đứng hàng đầu trong cuộc chiến với phái Đại Thừa Luận sư Thế Thân (Vasubandhu), người đã viết bộ A Tỳ Đàm Câu Xá Luận, là một gương mặt lớn trước khi ngã sang phái Đại Thừa dưới ảnh hưởng của người anh là Vô Trước (Asanga). Trường phái nầy phát triển mạnh tại Ấn Độ, trong các vùng Punjab và tỉnh biên giới phía bắc, nay là Pakistan, và hoàng đế Ca Ni Sắc Ca là một nhà bảo trợ lớn cho trường phái nầy (see Ca Ni Sắc Ca). Giống như trường phái Thượng Tọa Bộ, phái nầy không công nhận những quyền năng siêu nhiên mà Đại Chúng Bộ gán cho Đức Phật cùng các Bồ Tát. Họ tin rằng chư Thiên là những người có cuộc sống thần thánh, và ngay cả những người ngoại đạo cũng có thể có những quyền năng siêu nhiên. Họ tin là có thân trung ấm, một sự tồn tại giữa đời nầy và đời tiếp theo. Họ cho rằng Bồ Tát và A La Hán cũng không thoát khỏi hậu quả của nghiệp trong quá khứ. Họ tin rằng không có một chất liệu trường cửu nào trong con người, dù rằng họ thừa nhận thực tại trường cửu của vạn pháp. Cũng như Thượng Tọa Bộ, họ tin vào sự đa nguyên của các yếu tố trong vũ trụ. Theo họ thì có 75 pháp, trong đó có 72 pháp hữu vi, có sanh có diệt, là những hợp thể; và ba pháp vô vi, không sinh không diệt, đó là hư không (akasa), đoạn diệt nhờ trí tuệ (pratisankhya-nirodha), và đoạn diệt không nhờ trí tuệ, mà do quá trình tự nhiên vì thiếu nhân duyên (apratisankhya-nirodha—The Realistic School (claimed Rahula was the founder) which asserted the reality of all phenomena. The Sarvastivada School has its origin in the orthodox Theravada School, raises a rigorous objection and asserts that the past and the future are real, because the present has its root in the past and its consequence in the future. Besides, it holds that the three periods of time ought to exist separately, because the notions of past and future would not occur in us without separate realities. Among the Buddhist schools which adopted Sanskrit for their literary medium, the Sarvastivadins come closest to the Sthaviravadins. With the decline of the Sthaviravadins in India this school bore the brunt of the battle against the Mahayanists. Acarya Vasubandhu, the writer of the Abhidharma-kosa, was a great champion of this school before he was converted to Mahayanism under the influence of his brother Asanga. This school flourished in India in the Punjab and the North-West Frontier Province, now in Pakistan, and king Kanishka, in the first century A.D., was its great patron (see Ca Ni Sắc Ca in Vietnamese-English Section). This school, like the Sthaviravadins, denied the transcendent powers ascribed to the Buddha and the Bodhisattva by the Mahasanghikas. It was their faith that holy life was possible for gods and that even heretics could have supernatural powers. They believed in the antara-bhava, an interim existence between this life and the next. They maintained that Bodhisattvas and Arhats were not free from the effects of past actions. They believed in the absence of any permanent substance in an individual (nairatmya), though they admitted the permanent reality of all things. Like the Sthaviravadins, they believed in the plurality of elements in the universe. According to them, there were seventy-five elements, seventy-two of them compounded (samskrta) and three uncompounded (asamskrta), which were akasa or space, cessation through knowledge (pratisankhya-nirodha), and cessation not through knowledge, but through natural process of the absence of required conditions (apratisankhya-nirodha)—See Bảy Mươi Lăm Pháp Câu Xá Tông. (B) Lịch sử và sự phát triển của Nhất Thiết Hữu Bộ—History and development of the Sarvastivada School: (Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy). 1) Sự có mặt của Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivada) có thể được nhận thấy trong lịch sử Ấn Độ, kéo dài từ cuộc kết tập kinh điển Phật Giáo dưới thời vua A Dục (khoảng năm 200 trước Tây Lịch) cho đến khi Nghĩa Tịnh du hành sang Ấn Độ (671-695 sau Tây Lịch). Trong tập Đối Biện (Katha-Vatthu) được soạn thảo dưới thời vua A Dục, Hữu Bộ hình như chiếm một địa vị vững chắc giữa những phần tử tranh biện. Cứ điểm chính của bộ phái nầy được giảng dạy trong tinh túy của nó và cuối cùng được khai triển thành một hệ thống hoàn toàn được gọi là Tỳ Bà Sa hay Phân Biệt Thuyết (Vaibhasika): The existence of this Sarvastivada School can be seen in Indian history from the time of the Buddhist Council held during Asoka's reign (about 200 B.C.) down to the time of I-Tsing's travel in India (671-695 A.D.). In the Kathavatthu Controversy compiled in the time of King Asoka, Sarvastivada seems to have occupied a strong position among the disputing parties. The principal seat of this school was in Kashmir where its doctrine was taught in its purity and it was finally developed into an elaborate system known as the Vaibhasika. 2) Theo thời gian, một chi lưu khác của Phân Biệt Thuyết được thiết lập ở Kiện Đà La và hình như rất khác biệt với phái Kashmir trong một vài quan điểm: In time another branch of the Vaibhasika was established in Gandhara and it seems to have differed from that of Kashmir in its opinion to some extent. 3) Một trường địa dư của bộ phái nầy rộng lớn hơn bất cứ một bộ phái nào khác, vì phổ biến khắp xứ Ấn Độ, đến cả vùng phía bắc là Persia, Trung Á, và tận miền nam là Sumatra, Java, Đông Dương và toàn thể Trung Hoa: The geographical extent of this school was much greater than that of any other school as it was found in all India, its northern frontier, Persia, Central Aisa, and also to the south in Sumatra, Java, Cochin-China and all of China. 4) Nhất Thiết Hữu Bộ liên hệ chặt chẽ với bộ phái chính truyền là Thượng Tọa Bộ. Nó tách khỏi bộ phái nầy lần đầu tiên có lẽ trước cuộc kết tập dưới thời vua A Dục. Cái ý niệm cho rằng tất cả các pháp đều hiện thực có thể ngược dòng từ thời đại của chính Đức Phật, bởi vì từ ngữ “Sabha-atthi” (tất cả đều hiện thực) được thấy ngay trong Tăng Chi Bộ Kinh: The Sarvastivada School was closely related to the orthodox Theravada School, from which it was first separated probably before the Council of King Asoka. The idea that all things exist may go back to the time of the Buddha himself, for the word 'sabban-atthi' (all things exist) is found already in the Samyukta-nikaya. 5) Bản văn A Tỳ Đạt Ma chính yếu của bộ phái nầy là Phát Trí Luận (Jnanaprasthana) của Ca Đa Diễn Ni Tử (Katyayaniputra) cũng được gọi là Bát Kiền Độ Luận (Asta-Grantha), có lẽ được tập thành rất sớm, khoảng năm 200 trước Tây Lịch. Những tác phẩm phụ theo của bộ phái nầy mà người ta gọi là Lục Túc Luận, hình như là chú giải chuyên biệt về chủ đề chứa đựng trong đó, vẫn còn được lưu truyền cho đến hôm nay: The principal Abhidharma text of this school was Katyayaniputra's Source of Knowledge (Jnana-prasthana), otherwise called Eight Books (Asta-grantha), probably compiled as early as 200 B.C. The subsequent works of the school, also called the Six Padas (Six Legs), seem to have been a special exegesis (Vibhasa) on the subject-matter contained in it. (C) Khi phán xét từ những thảo luận ghi trong văn học Đại Tỳ Bà Sa Luận, điều vô cùng quan trọng hình như được đặt trên sự phân ly của ba thời và thực tại chính của mỗi thời. Tuy nhiên, thực tại chính của ba thời không có nghĩa là ba thời tự chúng thường hằng, cũng không có nghĩa là tất cả các pháp đều thực hữu trong quá khứ và vị lai, cũng như thực hữu trong hiện tại; nhưng không kéo dài từ thời gian nầy đến thời gian khác. Liên hệ với lý thuyết nầy có bốn luận chứng mà ngài Thế Thân đã trích dẫn từ nền văn học Luận Tạng—Judging from the discussions recorded in the Mahavibhasa literature, great importance seems to have been laid on the separateness of the three periods of time and the reality of each. The reality of the three periods of time, however, does not mean that the three periods themselves are eternally extant, nor does it mean that time is a real substance. It means that all things or elements are real in the past and in the future as they are in the present, but without enduring from one period to another. In connection with this theory, four arguments are quoted by Vasubandhu from the Exegetic Literature—See Tứ Luận Chứng. (D) Theo ngài Thế Thân (Vasubandhu) trong Bảy Tác Phẩm của Ngài Thế Thân, thuyết của Nhất Thiết Hữu Bộ không thấy có trong những giáo thuyết thuần túy của Phật giáo, mà là một tân thuyết của nền văn học Luận Tạng của học phái A Tỳ Đàm, chống lại Kinh Lượng Bộ là phái bám chặt vào những bài thuyết pháp của Phật và chủ trương rằng chỉ có hiện tại là hiện hữu—According to Vasubandhu in Seven Works of Vasubandhu, written by Stefan Anacker, the theory of Sarvastivada is not found in the genuine discourses of the Buddha, but it is an innovation of the Vibhasa (Exegetic) Literature of the Abhidharma School. The opinion of the Abhidharmikas is against the Sautrantic School which clings solely to the discourses of the Buddha and maintains that only present exists. (E) Các trường phái của Nhất Thiết Hữu Bộ—Branches of the Sarvastivada: 1) Nhất Thiết Căn Bản Bộ: Mulasvarvastivadah (skt). 2) Ca Diếp Duy Bộ: Kasyapiyah or Suvarsakah. 3) Pháp Mật Bộ: Dharmagupta. 4) Di Sa Tắc Bộ: Mahisasakah or Mahisasikah. 5) Phân Biệt Thuyết Bộ: Vibhajyavadinah. 6) Đa Văn Bộ: Bà Thu Lâu Đa Bộ—Bahusrutiyah.
nhất thiết hữu bộ hiển tông luận
Xem A tỳ đạt ma Hiển tông luận.
nhất thiết hữu bộ pháp uẩn túc luận
Xem A tỳ đạt ma Pháp uẩn túc luận.
nhất thiết hữu bộ phát trí luận
Xem A tỳ đạt ma Phát trí luận.
nhất thiết hữu bộ phẩm loại túc luận
Xem A tỳ đạt ma Phẩm loại túc luận.
nhất thiết hữu bộ thuận chánh luận
Xem A tỳ đạt ma Thuận chánh luận.
nhất thiết hữu bộ thức thân túc luận
Xem A tỳ đạt ma Thức Thân Túc luận.
nhất thiết hữu căn bổn
Mulasarvastivadah (skt)—Một nhánh của trường phái Nhất Thiết Hữu Bộ cho rằng vạn hữu đều có thực hữu—A branch of the Sarvastivadin Sect which asserted the reality of things.
nhất thiết hữu ngại
(一切有礙) Chỉ chung cho tất cả cõi mê, bao gồm hết thảy chúng sinh bị chướng ngại, hoặc tất cả sự vật tạo ra sự chướng ngại. Như kẻ phàm phu thì có các phiền não Kiến hoặc và Tư hoặc; hàng Nhị thừa thì có Sở tri chướng về lí chân như; hàng Bồ tát địa tiền có Trần sa hoặc khiến không biết được hằng sa pháp môn mà chướng ngại lực dụng cứu độ chúng sinh; hàng Bồ tát địa thượng thì có Vô minh hoặc ngăn ngại khiến không thấy được diệu lí thực tướng Trung đạo. Những chướng ngại như vừa nói ở trên đều do chưa chứng được Phật địa, vì còn mê hoặc nên gọi là Nhất thiết hữu ngại. Bài Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 421 thượng) nói: Ánh sáng vô ngại giống hư không, Nên Phật còn hiệu Vô ngại quang; Nhất thiết hữu ngại được soi sáng, Nên đính lễ bậc Nan tư nghị.
nhất thiết hữu tình
All sentient beings.
; Tất cả chúng sanh hữu tình—All sentient beings.
; (一切有情) Phạm: Sarva-sattva, hoặc Sarvabhùta. Cũng gọi Nhất thiết hàm thức, Nhất thiết chúng sinh. Chỉ cho hết thảy loài chúng sinh có sự sống, bao gồm địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, a tu la, người và trời. Kinh Đại bát nhã quyển 578 (Đại 7, 990 trung) nói: Tất cả loài hữu tình đều là Như lai tạng.
nhất thiết hữu tình chúng sanh
See Nhất thiết chúng sanh.
nhất thiết hữu vi
Tất cả pháp hữu vi—All phenomena—The phenomenal (all that is prodcued by causative action—Everything that is dynamic and not static).
nhất thiết hữu vi pháp
(一切有爲法) Hết thảy pháp hữu vi chỉ cho tất cả các pháp do nhân duyên sinh. Kinh Kim cương (Đại 8, 752 hạ) nói: Tất cả pháp hữu vi Như mộng, huyễn, bọt, bóng Như sương mai, tia chớp Nên quán xét như thế. Kinh Hoa nghiêm quyển 25 (Đại 9, 556 thượng) nói: Nên biết như thực tất cả pháp hữu vi, hư giả lừa dối, tạm dừng chốc lát, mê hoặc, phỉnh gạt kẻ ngu.
nhất thiết không
Total Voidness. 1) See Không. 2) Để chứng ngộ Nhất Thiết Không, người ta phải lìa bỏ ba sự chấp thủ—In order to realize Total Voidness, one must do away with the three attachments—See Tam Chấp Thủ.
nhất thiết khẩu nghiệp tuỳ trí huệ hành
(一切口業隨智慧行) Cũng gọi Nhất thiết ngữ nghiệp trí vi tiền đạo tùy trí nhi chuyển. Đức Phật dùng lời nói thanh tịnh vi diệu, theo trí mà chuyển, dẫn dắt làm lợi ích hết thảy chúng sinh, cho nên gọi là Nhất thiết nghiệp tùy trí tuệ hành. Là 1 trong 18 pháp bất cộng của đức Phật. [X. Pháp giới thứ đệ Q.hạ; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.2].
Nhất thiết kinh
(一切經) [thuật]: tên gọi chung của thánh điển Phật Giáo, còn gọi là Nhất Thiết Tạng Kinh, Đại Tạng Kinh, Tam Tạng Thánh Điển, nói tắt là Tạng Kinh.
; 一切經; C: yīqiējīng; J: issaikyō;|Toàn bộ kinh điển của Phật giáo, bao gồm tất cả các Kinh, Luật và Luận.
nhất thiết kinh
The Tripitaka, Đại Tạng Kinh. The whole of the Buddhist Canon.
; The Tripitaka—Đại Tạng Kinh—The whole of the Buddhist Canon.
nhất thiết kinh hội
(一切經會) Cũng gọi Đại tạng hội. Pháp hội được cử hành để cúng dường Nhất thiết kinh (tức Đại tạng kinh).
Nhất thiết kinh âm nghĩa
一切經音義; C: yīqiē jīng yīnyì; J: issai setsu kyō ongi;|100 quyển, Huệ Lâm (慧琳) trứ.
nhất thiết kinh âm nghĩa
I-ch'ieh-ching yin-i (C).
; (一切經音義) I. Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa. Tác phẩm, nguyên tác chỉ gọi là Nhất thiết kinh âm, do ngài Đạo tuệ biên soạn vào thời Bắc Tề, đã bị thất lạc từ lâu. Tên tác phẩm này đầu tiên được thấy trong Đại đường nội điển lục, vốn không có chữ Nghĩa, nhưng người đời sau, khi đề cập đến sách này, đều ghi lầm là Nhất thiết kinh âm nghĩa, như trong Nghiêm kinh thất ngoại tập của cư sĩ Nguyễn nguyên đời Thanh. II. Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa. Cũng gọi Đại đường chúng kinh âm nghĩa, Huyền ứng âm nghĩa. Tác phẩm, 25 quyển, do ngài Huyền ứng soạn vào đời Đường, được thu vào Trung hoa đại tạng kinh tập 30. Sách này phiên âm chữ Phạm ra chữ Hán, chú giải rõ ràng những tự cú, danh tướng khó hiểu của 458 bộ kinh luận từ kinh Hoa nghiêm đến luận Thuận chính lí. Đây là bộ sách xưa nhất trong loại sách âm nghĩa của Phật giáo hiện còn. Sự giải thích trong sách này rất chính xác, được giới học giả xưa nay xem trọng. Ngài Huyền ứng vâng sắc chỉ của nhà vua soạn sách này vào cuối năm Trinh quán, vì tránh tên húy nên kí là Nguyên ứng. [X. Đường thư nghệ văn chí 49]. III. Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa. Cũng gọi Đại tạng âm nghĩa, Tuệ lâm âm nghĩa. Tác phẩm, 100 quyển, do ngài Tuệ lâm soạn từ cuối năm Kiến trung đến năm Nguyên hòa thứ 2 (783-807) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Sách này biên chép từ kinh Đại bát nhã đến Hộ danh pháp, gồm 1225 bộ, khoảng 60 vạn lời, chia làm 9 khoa: Kinh Đại thừa, luật Đại thừa, Thích kinh luận, Tập nghĩa luận, kinh Tiểu thừa, luật Tiểu thừa, luận Tiểu thừa, Tập truyện và Tập lục.Soạn giả từng thờ ngài Tam tạng Bất không làm thầy, thông thạo cả 2 âm Phạm và Hán, nên căn cứ vào kinh, luật, luận, dùng âm Phạm đối chiếu, phiên dịch và chú thích những danh tướng, tự cú khó hiểu từ chữ Phạm ra chữ Hán. Về sau, ngài Hi lân ở nước Liêu, lại nối tiếp sách này, soạn Tục nhất thiết kinh âm nghĩa, 10 quyển, cũng gọi Hi lân âm nghĩa. Tuệ lâm âm nghĩa cùng tên với Huyền ứng âm nghĩa là mở rộng từ Huyền ứng âm nghĩa và Tuệ uyển Hoa nghiêm kinh âm nghĩa, 2 quyển (cũng gọi Tuệ uyển âm nghĩa) mà thành. Những kinh được Khai nguyên thích giáo lục đưa vào Tạng đều phiên âm theo Tuệ lâm âm nghĩa, những phiên âm cũ dùng được thì giữ lại, còn ngoài ra thì do soạn giả tự phiên.
nhất thiết kiến trụ địa hoặc
(一切見住地惑) Cũng gọi Kiến nhất xứ trụ địa hoặc. Chỉ cho tất cả Kiến hoặc trong 3 cõi, 1 trong 5 Trụ địa hoặc. Chúng sinh lấy Ngã kiến làm gốc mà khởi lên các thứ Kiến hoặc, gọi là Nhất thiết kiến trụ địa hoặc. Vì hoặc này là chỗ nương nhờ, là nơi cư trú của tất cả phiền não, nên gọi là Trụ địa. Hoặc này thuộc về hoặc mê lí, cũng là cội gốc của Ngũ trụ địa phiền não. Đoạn trừ xong hoặc này mới vào được giai vị Kiến đạo. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.5]. (xt. Ngũ Trụ Địa Hoặc).
Nhất thiết lưu kinh
一切流經; C: yīqiēliú jīng; J: issairu kyō;|Nhất thiết lưu nhiếp thủ nhân kinh (一切流攝守因經).
Nhất thiết lưu nhiếp kinh
一切流攝經; C: yīqiēliú shè jīng; J: issairu shō kyō;|Nhất thiết lưu nhiếp thủ nhân kinh (一切流攝守因經).
nhất thiết lưu nhiếp thủ nhân kinh
(一切流攝守因經) Gọi tắt: Nhất thiết lưu nhiếp kinh, Nhất thiết lưu kinh, Lưu nhiếp kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này nói về các bậc có trí sáng suốt, thấy biết chân chính, muốn diệt trừ hết tất cả phiền não lậu hoặc, thì nên dùng 7 pháp là: Kiến (Chính kiến), Nhiếp (thu phục), Tị (xa lánh), Dụng (vận dụng), Nhẫn (nín nhịn), Hiểu (hiểu rõ) và Hành niệm (thực hành tu niệm). Trong 7 pháp trên, kinh này đã lấy Nhiếp(thu giữ, chế ngự các giác quan)làm chủ yếu, nên gọi là Nhất thiết lưu nhiếp thủ nhân kinh. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.4; Đại đường nội điển lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.1; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.1].
nhất thiết môn thiền
(一切門禪) Thiền của tất cả các môn định, 1 trong 9 loại thiền định của Đại thừa. Vì tất cả thiền định đều từ môn này mà ra, nên gọi là Nhất thiết môn thiền. Gồm có 4 thứ: 1. Hữu giác hữu quán câu thiền. 2. Hỉ câu thiền. 3. Lạc câu thiền. 4. Xả câu thiền. Bốn thứ thiền trên đây tương đương với Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền của cõi Sắc. Khi đạt đến Xả câu thiền(buông bỏ hết)thì hành giả không còn các tâm niệm thiện ác, thương ghét nữa. [X. Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ, phần đầu; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, phần đầu].
nhất thiết nghĩa thành
Sarvàrthasiddha (S) or Siddhàrtha (S). All wishes realized, name given to Sàkyamuni at his birth.
; Tự tánh thể không, y không hiển dụng, có dụng thì nghĩa thành, nên Trung Quán Luận nói: “Dĩ hữu không nghĩa cú, nhất thiết pháp đắc thành”, nghĩa là: vì có cái nghĩa không nên tất cả pháp mới được thành tựu.
; Sarvarthasiddha or Siddhartha (skt)—All wishes realized—Tên đặt cho Phật Thích Ca lúc Ngài mới đản sanh—Name of Sakyamuni at birth.
Nhất thiết nhân trung tôn
一切人中尊; C: yīqiē rénzhōng zūn; J: issai ninchū son;|Người được tôn kính nhất trong nhân gian. Chỉ một vị Phật, nhưng đặc biệt là Phật Tì-lô-giá-na (毘盧遮那; Đại Nhật Phật. Theo Đại Phương Quảng Phật hoa nghiêm kinh 大方廣佛華嚴經).
nhất thiết nhân trung tôn
The most honoured among men, especially Vairocana.
; Tất cả những bậc được loài người tôn kính nhất—The most honoured among men (Vairocana).
Nhất thiết Như Lai
一切如來; C: yīqiē rúlái; J: issai nyorai;|Tất cả các Đức Như Lai, tất cả chư Phật.
nhất thiết như lai
Sarvatathàgata (S). All Tathàgatas, all Buddhas.
; Sarvatathagata (skt)—Tất cả các Đức Phật—All the Buddhas—All Tathagatas.
Nhất thiết Như Lai bảo
一切如來寶; C: yīqiē rúlái băo; J: issai nyorai hō;|Bảo châu như ý của tất cả chư Phật, đặc biệt là của một vị Phật trong Man-đa-la Thai tạng giới, Ngài cầm hoa sen trên tay trái và viên bảo châu như ý trong tay phải.
nhất thiết như lai bảo
The talismanic pearl of all Buddhas, especially one in the Garbadhàtu mandala who holds a lotus in his left hand and the talismanic pearl in his right.
; Ngọc bảo châu của chư Như Lai (trong pháp giới Mạn Đà La, Liên hoa bên tay trái và bảo châu bên tay mặt)—The talismanic pearl of all Buddhas (on the Garbhadhatu mandala, lotus on the left hand and talismanic pearl on the right hand).
Nhất thiết Như Lai chư pháp bản tính mãn tịnh liên hoa tam-muội
一切如來諸法本性滿淨蓮華三昧; C: yīqiē rúlái zhūfǎ běnxìng mănjìng liánhuā sānmèi; J: issai nyorai shohō honshō manjō renge sanmai;|Một loại Liên hoa tam-muội (蓮華三昧) của Đức Phật Tì-lô-giá-na mà từ trong đó, Đức Phật A-di-đà hoá sinh. Đây là một loại thiền định của Như Lai, quán sát bản tính của tất cả chúng sinh đều thanh tịnh như hoa sen.
nhất thiết như lai chư pháp bản tính thanh tịnh liên hoa tam muội
A lotus-samàdhi of Vairocana from which Amitàbha was born. It is a Tathàgata meditation, that the fundamental nature of all existence is pure like the lotus.
nhất thiết như lai chư pháp bổn tánh thanh tịnh liên hoa tam muội
Liên Hoa Tam Muội của Phật Tỳ Lô Giá Na từ đó Phật A Di Đà được sanh ra. Như Lai thiền định, bản tánh của mọi hiện hữu đều thanh tịnh như Liên Hoa—A lotus samadhi of Vairocana from which Amitabha was born—The Tathagata meditation, that the fundamental nature of all existence is pure like the lotus.
nhất thiết như lai kim cang thệ giới
Lời thệ nguyện nguyên thủy của Như Lai như tiếng rống của sư tử, nguyện rằng tất cả chư chúng sanh rồi sẽ trở thành như Như Lai—The original oath of every Tathagata (with the roar of a lion, he declares that all creatures shall become as himself).
Nhất thiết Như Lai kim cương thệ giới
一切如來金剛誓誡; C: yīqiē rúlái jīngāng shìjiè; J: issai nyorai kongō seikai;|Lời thệ nguyện kiên cố của các đức Như Lai, như tiếng gầm của loài sư tử, tuyên bố rằng tất cả các loài hữu tình đều sẽ được thành Phật.
nhất thiết như lai kim cương thệ giới
The original oath of every Tathàgata, when as with the roar of a lion he declares that all creatures shall become as himself.
; (一切如來金剛誓誡) Chỉ cho bản thệ Tam muội da của Như lai. Khi đức Như lai chứng được Tam muội da này, Ngài thấy những động tác về thân, khẩu, ý của tất cả chúng sinh không khác với Như lai, thiền định, trí tuệ và thân thực tướng cũng bình đẳng với Như lai, hết thảy chúng sinh đều có khả năng thành Phật. Ngay lúc ấy, Ngài liền lập đại thệ nguyện, nguyện dùng vô lượng phương tiện khiến tất cả chúng sinh đều đến Vô thượng bồ đề. Nếu có chúng sinh nào theo Phật mà phát thệ nguyện này thì cũng khiến cho những sự nghiệp mà chúng sinh ấy làm đều thành tính kim cương. Đại nhật kinh sớ quyển 9 (Đại 39, 675 thượng) nói: Tam muội da tức là Tất định sư tử hống, nói nghĩa bình đẳng của các pháp; lập đại thệ nguyện khiến cho tất cả chúng sinh đều được như Phật, muốn vì tất cả chúng sinh khai thị tri kiến thanh tịnh, nên dùng Tam muội da này cảnh giác hết thảy chúng sinh và chư Phật, cho nên Tam muội da này được gọi là Nhất thiết Như lai kim cương thệ giới.
nhất thiết như lai kim cương thọ mệnh đà la ni kinh
(一切如來金剛壽命陀羅尼經) Gọi tắt: Kim cương thọ mệnh đà la ni kinh, Thọ mệnh đà la ni kinh, Thọ mệnh kinh.Kinh, 1 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Toàn bộ kinh có khoảng 1.000 chữ. Nội dung kinh này đức Phật tuyên thuyết thần chú Diên mệnh và pháp đối trị sự sợ hãi về tử vong, đồng thời, nói rõ về công đức đọc tụng kinh này cho Tứ thiên vương nghe. Ngài Bất không còn dịch Kim cương thọ mệnh đà la ni niệm tụng pháp, 1 quyển, cũng gọi Kim cương thọ mệnh niệm tụng pháp (được thu vào Đại chính tạng tập 20). Nội dung là đức Phật Tì lô giá na tuyên thuyết Kim cương thọ mệnh chân ngôn, Giáp trụ chân ngôn và công đức của các Chân ngôn này. Ngài cũng nói về Hộ ma trừ tai diên thọ đàn. Bồ tát Kim cương thọ mệnh được đề cập đến trong Đà la ni này tức là tôn vị Phổ hiền diên mệnh, pháp niệm tụng thì là nghi quĩ gốc của pháp Phổ hiền diên mệnh. Kinh này có 2 bản dịch khác là Kim cương thọ mệnh đà la ni pháp, 1 quyển và Kim cương thọ mệnh đà la ni kinh, 1 quyển. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15, 29; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.5; Diên mệnh pháp trong Chư A xà lê chân ngôn Mật giáo bộ loại chủng lục Q.thượng]. NHẤT THIẾT NHƯ LAI MA HA BỒ ĐỀ KIM CƯƠNG KIÊN LAO BẤT KHÔNG TỐI THẮNG THÀNH TỰU CHỦNG CHỦNG SỰ NGHIÊP TAM MUỘI Cảnh giới thiền định của đức Phật Bất không thành tựu ở phương bắc. Sau khi đức Như lai vào Tam muội này thì từ vai bên trái của Ngài phóng ra ánh sáng 5 màu, chiếu khắp vô lượng thế giới ở phương bắc, cho đến tất cả lỗ chân lông cũng phóng ra ánh sáng 5 màu, đầy khắp cõi hư không phương bắc. Trong các thế giới ấy, xuất hiện vô lượng hóa Phật và các cõi Phật rộng lớn khó nghĩ bàn, mỗi cõi Phật đều có vô lượng vô biên hải hội chúng Đại bồ tát vây quanh, nghe Như lai nói pháp, khiến hết thảy chúng sinh trong thế giới tối tăm, cho đến những người đui mù ở chỗ không có mặt trời, mặt trăng, đều được thấy đức Như lai Tì lô giá na và tất cả chư Phật trong 10 phương thế giới; làm cho những chúng sinh ấy lìa hẳn khổ não, được vô lượng an lạc. [X. kinh Nhiếp chân thực Q.thượng].
nhất thiết như lai nhãn sắc như minh chiếu tam ma địa
A Vairocana-samàdhi, in which the light of the Tathàgata-eye streams forth radiance. Vairocana by reason of this samàdhi is accredited with delivering the "true word" which sums up all the principles and practices of the masters.
; Một loại tam muội của Phật Tỳ Lô Giá Na, trong đó ánh quang nhãn sắc của Như Lai chiếu khắp—A Vairocana-samadhi in which the light of the Tathagata-eye streams forth radiance.
; (一切如來眼色如明照三摩地) Chỉ cho Phật nhãn tam ma địa. Vì muốn làm cho các pháp sự, trí tuệ, ý nguyện tu hành của tất cả các vị A xà lê được thông suốt vô ngại, tất cả các thần chú cũng đều thành tựu, mau được thân Đại kim cương A xà lê pháp tính Đại nhật, khiến cho những người trông thấy đều đính lễ dưới chân, vui mừng qui phục, cho nên đức Như lai trong Kim cương giới của Mật giáo vào trong Tam ma địa này để nói Nhiếp nhất thiết A xà lê hành vị chân ngôn để cho các hành giả Chân ngôn trì tụng hàng ngày. [X. phẩm Nhiếp nhất thiết Như lai Đại a xà lê vị trong kinh Du kì Q.thượng].
Nhất thiết Như Lai nhãn sắc như minh chiếu tam-ma-địa
一切如來眼色如明照三摩地; C: yīqiē rúlái yănsè rúmíng zhào sānmódì; J: issai nyorai genshiki nyomyō shō sanmaji;|Một dạng định của Phật Đại Nhật, trong đó ánh sáng từ mắt của ngài phóng ra từng luồng hào quang. Do công đức của định nầy, Phật Đại Nhật chính thức tuyên thuyết »chân ngữ« thâu nhiếp hết tất cả các nguyên lí và tu tập các công hạnh (theo Du-kì kinh 瑜祇經).
Nhất thiết Như Lai sở hộ quán sát chúng sinh thị hiện Phật sát
一切如來所護觀察衆生示現佛刹; C: yīqiē rúlái suǒhù guānchá zhòngshēng shìxiàn fóchà; J: issai nyorai shogo kansatsu shūjō shigen bussatsu;|Trang nghiêm vương đà-la-ni chú kinh (莊嚴王陀羅尼呪經).
Nhất thiết Như Lai trí ấn
一切如來智印; C: yīqiē rúlái zhì yìn; J: issai nyorai chi in; S: sarvatathāgata-jñāna-mudrā.|Là dấu hiệu biểu tượng cho trí huệ của chư Phật trong Mật tông Phật giáo, là một hình tam giác trên hoa sen trong đồ hình man-đa-la Thai tạng giới (theo Đại Nhật kinh 大日經). Cũng có nghĩa như Nhất thiết Phật tâm ấn (一切佛心印).
nhất thiết như lai trí ấn
A sign of the wisdom of all Buddhas, a triangle on a lotus in the Garbadhàtu group.
; Dấu hiệu trí tuệ của chư Phật—A sign of the wisdom of all Buddhas (a triangle on a lotus in the Garbhadhatu group).
; (一切如來智印) Phạm: Sarvatathàgata-jĩàna-mudrà. Tạng: De-bshin-gzegs-pa thams-cad kyi ye-zes kyi phyag-rgya. Cũng gọi Nhất thiết Phật tâm ấn, Nhất thiết biến tri ấn, Chư Phật tâm ấn, Đại cần dũng ấn, Tam giác ấn. Trí ấn hình tam giác ở giữa viện Biến trí trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo.Ấn này là hình Tam muội da biểu thị 4 loại Pháp thân, là tiêu biểu chung của 4 Trí ấn; màu trắng tinh, dựng trên hoa sen trắng, bên ngoài có những tia sáng bao quanh. Tam giác có nghĩa hàng phục, trừ chướng, tức là đức Phật ngồi ở gốc cây Bồ đề, vận dụng uy lực mạnh mẽ, hàng phục 4 loài ma mà thành Chính giác. Màu trắng tinh biểu thị đại từ bi, nghĩa là Như lai thường phóng ánh sáng từ bi chiếu khắp pháp giới. Bên trong tam giác và trên đầu tam giác đều có chữ....(Vạn), vì tam giác là lửa trí tuệ, cũng là chỗ mới phát tâm bồ đề. Mới phát tâm bồ đề tức như lửa trí đốt vật, có năng lực diệt trừ các nghiệp tham, sân, si... trong 3 cõi, đây là gốc thành tựu muôn đức, nên có chữ Vạn. Nếu khi đến được tột cùng Phật trí thì mọi đức đều đầy đủ, giống như trăng tròn, nên ở trên tam giác lại có vòng tròn, trên vòng tròn có chữ Vạn, biểu thị tướng muôn đức của quả vị, cho nên Thai tạng giới của Mật giáo đã từ ấn này mà sinh khởi, từ ấn này mà hình thành. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.5, 16; Đại nhật kinh sớ sao Q.3].
Nhất thiết Như Lai tâm bí mật toàn thân xá-lợi bảo khiếp ấn đà-la-ni kinh
一切如來心祕密全身舍利寶篋印陀羅尼經; C: yīqiè rúláixīn mìmì quánshēn shèlì băoqièyìn tuóluóní jīng; J: issai nyorai shin himitsu zenshin shari hōkyōin darani kyō; S: sarva-tathāgata-dhiṣṭhānahṛdayaguhya-dhātu-karaṇḍamudrā-dhāraṇī; T: de bshin gshegs pa thams cad kyi byin gyi rlabs sems can la gzigs sin sangs rgyas kyi shing gi bkod pa tun tu ston pa; Gọi tắt là Bảo khiếp ấn đà-la-ni kinh (寶篋印陀羅尼經; s: karaṇḍamudrā-dhāraṇī).|Một bộ kinh thuộc Mật giáo. Có hai bản dịch tiếng Hán: 1. Bất Không (不空; s: amoghavajra) dịch 1 quyển với tên Nhất thiết Như Lai tâm bí mật toàn thân xá-lợi bảo khiếp ấn đà-la-ni kinh (一切如來心祕密全身舍利寶篋印陀羅尼經); 2. Thí Hộ (施護; s: dānapāla) dịch, 1 quyển với tên Nhất thiết Như Lai chính pháp bí mật khiếp ấn tâm đà-la-ni kinh (一切如來正法祕密篋印心陀羅尼經).
nhất thiết như lai tâm định ấn
Dấu hiệu đạt được Phật quả—The sign of the assurance of attaining Buddhahood.
nhất thiết như lai tất định pháp ấn
(一切如來必定法印) Đức hiệu của tâm Bồ đề. Hành giả nhờ công đức phát tâm bồ đề mà được Như lai thụ kí Đại bồ đề, trong tương lai nhất định sẽ thành Phật, vì thế nên tâm bồ đề được gọi là Nhất thiết Như lai tất định pháp ấn. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5].
nhất thiết như lai tất định ấn
The sign of the assurance of attaining Buddhahood.
nhất thiết như lai ô cầm nhị sa tối thắng tổng trì kinh
Uṣnīṣavidyā-dhāraṇī (S)Một bộ kinh trong Mật bộ.
nhất thiết như lai đảnh bạch tán cái kinh
Sarva-tathagatosnisasitatapatra (S)Tên một bộ kinh.
nhất thiết như lai đỉnh bạch tản cái kinh
(一切如來頂白傘蓋經) Phạm:Sarvatathàgatowịìwasit’àta patra. Bộ kinh chữ Phạm do ông Hà cát lâm (B.H. Hodgson) phát hiện. Không có bản dịch chữ Hán. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật ở trên cõi trời Đao lợi nói thần chú từ khoảng giữa 2 chân mày của Ngài truyền ra và công đức của thần chú này.
Nhất thiết Như Lai định
一切如來定; C: yīqiē rúláidìng; J: issai-nyoraijō;|Trạng thái Định của tất cả các vị Như Lai. Bậc định cao nhất trong 108 cấp bậc định được các Bồ Tát tu tập, còn gọi là Đại không tam-muội (大空三昧; s: śūnyasamādhi) và Kim cương tam-muội (金剛三昧; s: vajrasamādhi). Cảnh giới vi diệu của thiền định, chứng đắc được nhờ thấu đạt nguyên lí tất cả các pháp đều có Phật tính.
nhất thiết như lai định
The highest of the 108 degrees of samàdhi practised by Bodhisattvas, also called Đại không Tam muội Sùnyasamàdhi. A samàdhi on the ides that all things are of the (same) Buddha-nature.
; Thiền định cao nhất được các vị Bồ Tát tu tập—The highest samadhi practiced by bodhisattvas.
; (一切如來定) Cũng gọi Đại không tam muội. Tức là Tam muội vào đất Như lai, nội chứng Thánh trí, như thực quán xét hết thảy chúng sinh đều có Phật tính. Kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 9 thượng) chép: Phật nói tất cả đều là không, Đẳng trì của chính giác, Tam muội chứng biết tâm, chẳng phải từ duyên khác mà được. Những cảnh giới như thế đều là Nhất thiết Như lai định(thiền định của tất cả Như lai), cho nên gọi là Đại không, đầy đủ Nhất thiết trí. Lại theo Đại nhật kinh sớ quyển 6 nói, khi vào Chính giác tam muội thì biết các pháp vốn chẳng sinh, thấy tất cả người có tâm đều có tính Phật, tính Phật ấy được gọi là Thủ lăng nghiêm định, cũng gọi là Kim cương tam muội, Bát nhã ba la mật. Nếu những hành giả mới phát tâm mà chính quán tâm tính được như thế, thì gọi là Nhập Như lai định (vào định của Như lai).[X. Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.18]. NHẤT THIẾT NHƯ LAI KIM CƯƠNG TAM NGHIỆP TỐI THƯỢNG BÍ MẬT ĐẠI GIÁO VƯƠNG KINH Cũng gọi: Thí nhất thiết Như lai thân ngữ ý đại bí mật tụ đại vương bản tục. Gọi tắt: Thất quyển giáo vương kinh, Kim cương tam nghiệp kinh, Bí mật đại giáo vương kinh. Kinh, 7 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Bắc Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Nội dung kinh này nói rõ về quá trình ngắn nhất mà hành giả Du già (Phạm: Yogin) có thể đạt đến cảnh giới giải thoát Du già đát đặc la (Phạm: Yoga-tantra), gồm 18 phần: 1. An trụ nhất thiết Như lai tam ma địa đại mạn noa la. 2. Bồ đề tâm. 3. Kim cương trang nghiêm tam ma địa. 4. Nhất thiết Như lai tâm mạn noa la. 5. Nhất thiết minh cú hành. 6. Thân ngữ tâm gia trì. 7. Bí mật tinh diệu hành. 8. Cam lộ tam muội. 9. Tối thượng thanh tịnh chân thực tam muội. 10. Quán sát nhất thiết Như lai tâm. 11. Nhất thiết Như lai chân thực tam muội tối thượng trì minh đại sĩ. 12. Nhất thiết Như lai kim cương tương ứng tam muội tối thượng thành tựu. 13. Kim cương tương ứng trang nghiêm tam muội chân thực quán tưởng chính trí tam ma địa. 14. Thân ngữ tâm vị tằng hữu đại minh cú triệu vĩ nhật lâm tì đa vương tối thắng tam ma địa. 15. Nhất thiết tâm chân thực kim cương xuất sinh tam muội. 16. Nhất thiết mạn noa la thành tựu kim cương hiện chứng bồ đề. 17. Nhất thiết Như lai tam muội pháp kim cương gia trì vương. 18. Tuyên thuyết nhất thiết bí mật hạnh kim cương gia trì. Kinh này rất được Kim cương thừa của Ấn độ và Lạt ma giáo đồ của Tây tạng coi trọng. Trong Đại tạng kinh Tây tạng có hơn 50 bộ chú sớ về kinh này. [X. Đại trung tường phù pháp bảo lục Q.12; Tây tạng Đại tạng kinh tổng mục lục].
Nhất thiết nhất tâm thức
一切一心識; C: yīqiē yīxīnshì; J: issai isshinshiki;|Tất cả các pháp đều chỉ biến hiện từ tâm thức (theo Thích Ma-ha-diễn luận 釋摩訶衍論).
nhất thiết nhất tâm thức
That all things are mind, or mental.
; All things are mind or mental.
; (一切一心識) Cũng gọi Đa nhất tâm, Đa nhất thức tâm. Tâm thức của tất cả các pháp, là chỗ nương cho Sinh diệt môn, thức thứ 9 trong 10 thức do Mật giáo thành lập, cũng tức là thức tâm tạo tác ra tất cả các pháp. Vì sự sinh diệt do tâm này tạo ra có vô lượng sai biệt, tùy theo sự tạo tác ấy nên gọi là Đa, còn tâm tạo tác ra ấy thì chỉ có 1, nên gọi là Nhất, hợp lại gọi chung là Đa nhất thức tâm, thuộc về Hậu đắc như lượng trí. Thích ma ha diễn luận tán quyển 2 (Vạn tục 72, 447 hạ) nói: Nên biết thức tâm thứ 9 tức là Nhất thiết nhất tâm thứ 10 trong 10 tên gọi của pháp sở nhập nói trên, vì nó hay duyên theo Như của Sinh diệt môn, mà không thường duyên theo lí của Chân như môn, nhưng chẳng phải nó không thể duyên theo chân lí của tự môn. [X. luận Thích ma ha diễn Q.2; Thích ma ha diễn luận kí Q.2; Tông kính lục Q.56]. (xt. Thập Thức). NHẤT THIẾT NHƯ LAI BẢO QUAN TAM GIỚI PHÁP VƯƠNG QUÁN ĐÍNH Pháp Quán đính mà bậc trí chứng được nhờ đã thành tựu Tam muội da Kim cương gia trì thù thắng của tất cả Như lai. Là 1 trong các pháp tu của Mật giáo. Người được pháp Quán đính này, có thể chứng Nhất thiết trí trí du già tự tại của hết thảy chư Phật, có khả năng thực hiện các sự nghiệp bình đẳng của tất cả Như lai, thành tựu tất cả thân, khẩu, ý Kim cương Như lai của đức Đại bi Tì lô giá na, thường trụ trong 3 đời để mang lại lợi ích cho loài hữu tình. Đây là thời kì Như lai còn ở giai vị tu nhân, theo thầy quán đính vào Mạn đồ la tam muội da trí, do thầy A xà lê gia trì Như lai tạng tính sẵn có trong thân của đệ tử để thành pháp khí Bồ tát tu hành Chân ngôn, thì đảm trách được giai vị Quán đính truyền thụ, trì chú, cho đến ấn khả... lấy đó làm nhân đầu tiên. Rồi lại do tam mật tương ứng với Tứ trí ấn mà được Bảo quan quán đính của tất cả Như lai, đây tức là đấng Pháp vương tột cùng trong 3 cõi. [X. kinh Kim cương đính Q.thượng; Kim cương đính kinh sớ Q.2]. NHẤT THIẾT NHƯ LAI CHƯ PHÁP BẢN TÍNH THANH TỊNH LIÊN HOA TAM MUỘI Liên hoa tam muội Đại trí tuệ môn của Diệu quán sát trí ở phương tây mà đức Đại nhật Như lai chứng nhập. Sau khi Như lai vào Tam muội này, từ trên lưng của Ngài phóng ra ánh sáng màu hoa sen hồng, chiếu khắp vô lượng thế giới ở phương tây; cho đến tất cả lỗ chân lông cũng đều phóng ra ánh sáng màu hoa sen hồng, chiếu khắp cõi hư không ở phương tây. Trong các thế giới ấy đều có vô lượng hóa thân Phật của Như lai, những hóa Phật ấy cũng hiện các cõi Phật rộng lớn và nói pháp trong đó, khiến cho hết thảy chúng sinh trong các thế giới tối tăm, chỗ không có mặt trời, mặt trăng, cho đến những người mù lòa đều nhờ ánh sáng chiếu soi ấy mà dứt hẳn mọi khổ đau, được hưởng vô lượng an lạc. [X. kinh Nhiếp chân thực Q.thượng].
Nhất thiết nhập xứ
xem Mười nhất thiết nhập.
Nhất thiết pháp
(s: sarva-dharma, p: sabba-dhamma, 一切法) [thuật]: tất cả các pháp, hết thảy các pháp, toàn bộ các pháp, còn có tên là nhất thiết vạn pháp (一切萬法, tất cả vạn pháp). Hết thảy các pháp là tên gọi chung bao gồm tất cả vạn hữu. Trí Độ Luận (智度論) 2 có đoạn rằng: “Nhất thiết pháp lược thuyết hữu tam chủng, nhất giả hữu vi pháp, nhị giả vô vi pháp, tam giả bất khả thuyết pháp, thử tam kỷ nhiếp nhất thiết pháp (一切法略說有三種、一者有爲法、二者無爲法、三者不可說法、此三己攝一切法, hết thảy các pháp nói tắt có 3 loại, một là pháp hữu vi, hai là pháp vô vi, ba là pháp không thể nói được, cả 3 loại này thâu tóm riêng hết thảy các pháp)”.
nhất thiết pháp
Sabbadhamma (P), Sarva-dharma(h) (S), All objectsVạn pháp.
; Sarvadharma (S). All things; all laws, existences, or beings.
; Sarvadharma (skt)—Tất cả các sự vật, sự hiện hữu—All things, laws, existence, or beings.
; (一切法) Phạm: Sarva-dharma. Pàli: Sabba-dhamma. Cũng gọi Nhất thiết chư pháp, Nhất thiết vạn pháp. Hết thảy các pháp. Là từ ngữ chỉ chung cho tất cả pháp hữu vi (Phạm: Saôskfta-dharma), pháp vô vi (Phạm: Asaôskfta-dharma) và pháp bất khả thuyết. Tức bao gồm hết thảy sự vật, vật chất, tinh thần cho đến sự tồn tại của tất cả hiện tượng. Nguyên ý của từ ngữ Nhất thiết pháp là chỉ cho sự tồn tại của hết thảy sự vật do nhân duyên sinh khởi. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.31; luận Đại trí độ Q.2].
nhất thiết pháp bất sinh
Sarva-dharmā-ṇāmanutpāda (S), All objects unborn.
; Sarvadharmànàmanutpàda (S). All things are unborn.
; Sarvadharma-anutpada (skt)—Mọi vật đều không sanh—All things are unborn.
; (一切法不生) Hết thảy pháp chẳng sinh. Nghĩa là tất cả các pháp chân thực đều vượt ra ngoài thế giới sai biệt tương đối. Vì nó là tuyệt đối nên chẳng sinh chẳng diệt, đây là lí bất biến.
Nhất Thiết Pháp Cao Vương Kinh
(一切法高王經) [kinh]: còn gọi là Phật Thuyết Nhất Thiết Pháp Cao Vương Kinh (佛說一切法高王經) hay Nhất Thiết Pháp Nghĩa Vương Kinh (一切法義王經), do Bát Nhã Lưu Chi (s: Prajñāruci, 般若流支) đời Nguyên Ngụy dịch, 1 quyển.
nhất thiết pháp cao vương kinh
(一切法高王經) Kinh, 1 quyển, do ngài Cù đàm bát nhã lưu chi dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Kinh này khen ngợi quá trình thành tựu và công đức của các bậc Bồ tát, là những bậc tối thượng trong pháp môn mà chư Phật 3 đời đã khai thị. Vì thế nên kinh này còn được gọi là Nhất thiết pháp nghĩa vương kinh, Chư pháp dũng vương kinh, Chư pháp tối thượng vương kinh. Pháp môn Nhất thiết pháp cao vương nói rõ về việc người xuất gia thụ giới, tham dự tăng đoàn, tu hành tăng nghiệp (37 phần bồ đề), cho đến được tăng lợi (4 quả Thánh), các lậu đều sạch, chứng quả A lahán; lại phát tâm bồ đề, tu hạnh Bồ tát, hồi hướng phúc đức để báo đáp ân nghĩa tất cả thí chủ và chúng sinh, rồi đem kết quả thành tựu đạo Bồ đề dâng lên cúng dường đức Như lai, vì thế đây là pháp môn tối thượng trong các pháp môn của chư Phật. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.9].
nhất thiết pháp giới quyết định trí ấn
Chân ngôn bảo chứng của Phật Tỳ Lô Giá Na, một biểu tượng qua đó mọi chúng sanh đều có thể đạt được trí huệ chắc chắn của Phật—The true word of assurance of Vairocana, the symbol through which all may attain the sure Buddha-wisdom.
; (一切法界决定智印) Chỉ cho pháp ấn thuộc chân ngôn của đức Phật Tì lô giá na, cho đến chân ngôn của Thiên long bát bộ, đều làm cho chúng sinh nhập vào pháp giới, được trí quyết định. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích Q.8].
nhất thiết pháp giới sinh ấn
Một trong ba dấu hiệu của Mạn Đà La—One of the three signs of the mandala (the sign of producing all things or realms).
nhất thiết pháp giới tự thân biểu
Sự tự hiện thân của Phật—The Buddha's self-manifestation to all creation.
; (一切法界自身表) Biểu thị tự thân trong tất cả pháp giới. Nghĩa là đức Như lai hiện thân của Ngài trong tất cả pháp giới để cho hết thảy chúng sinh đều được trông thấy. Kinh Đại nhật quyển 5 (Đại 18, 31 thượng) nói: Bấy giờ pháp giới sinh ra thân Như lai, Như lai biểu hiện tự thân của Ngài trong tất cả pháp giới, giống như những đám mây trùm khắp các pháp giới. Ý nói thân Như lai hóa hiện ra các sắc thân, những hóa thân ấy nhiều như mây đầy khắp các thế giới trong 10 phương không kể hạn lượng. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích Q.11].
nhất thiết pháp hữu vi
Tất cả pháp sanh diệt—All phenomena—All that is produced by causative action—Everything that is dynamic, not static.
nhất thiết pháp không
Xem Chư pháp không.
; Sarvadharma-sùnyatà (S). The emptiness or unreality of all things.
; Sarvadharma-sunyata (skt)—Cái không của tất cả sự vật—The emptiness or unreality of all things.
nhất thiết pháp không vô sinh vô nhị vô tự tính tướng
Sarvadharmanam-sunyata-anutpada-advaya-nihsvabhava-lakshana (skt)—Khía cạnh hiện hữu trong đó tất cả các sự vật được xem là không, không được sinh ra, không phải hai, và không có tự tính—The aspect of existence in which all things are to be regarded as empty, unborn, non-dual, and without self-substance.
nhất thiết pháp tự tính bình đẳng vô uý
(一切法自性平等無畏) Gọi tắt: Nhất thiết pháp bình đẳng vô úy. Tự tính của tất cả các pháp bình đẳng vô úy, là 1 trong 6 vô úy của hành giả Chân ngôn Mật giáo. Nghĩa là người tu đạo Nhất thừa, quán xét tâm tính vốn không, xa lìa hữu vi, vô vi, tỏ ngộ muôn pháp là Nhất thực chân như. Đối với các pháp, không thấy có năng – sở, gốc – ngọn, mà an trú nơi tâm bồ đề thanh tịnh, không tịch. [X. phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.30]. (xt. Lục Vô Úy).
nhất thiết pháp vô ngã
Sarvadharma-niratmanah (skt)—Tất cả các sự vật đều không có tự ngã—All things are egoless.
nhất thiết pháp vô nhị
Sarva-dharma-niḥsvabhāva (S).
nhất thiết pháp vô tự tướng
Sarva-dharma-lakṣaṇam (S).
nhất thiết phóng
Sarvadà (S). One who gives his all; all bestowing.
Nhất thiết Phật hội
一切佛會; C: yīqiē fóhuì; J: issai butsue;|Pháp hội của tất cả những vị Phật. Thuật ngữ để gọi hai Man-đa-la Thai tạng giới (胎臓界; s: garbhadhātu-maṇḍala) và Kim Cương giới (金剛界; s: vajradhātu-maṇḍala; theo Thập địa kinh luận 十地經論).
nhất thiết phật hội
The assembly of all Buddhas. There are two kinds: 1) Thai Tạng giới: Garbhadhatu. 2) Kim Cang giới: Vajradhatu.
Nhất thiết Phật tâm ấn
一切佛心印; C: yīqiē fóxīn yìn; J: issai busshin'in;|Dấu hiệu ở trên ngực của Đức Phật, đặc biệt là trên ngực (s: trikoṇa) của Đức Phật Tì-lô-giá-na; dấu hiệu biểu trưng cho trí huệ của chư Phật; đó là một ngọn lửa hình tam giác hướng xuống dưới, biểu tượng cho năng lực hàng phục mọi cám dỗ; còn gọi là Nhất thiết Như Lai trí ấn (一切如來智印) và Nhất thiết biến trí ấn (一切偏智印), dấu hiệu biểu tượng cho huệ giác.
nhất thiết phật tâm ấn
Trikona (S). The sign on a Buddha's breast.
; Trikona (skt)—Dấu hiệu trên ngực Như Lai (Phật Tỳ Lô Giá Na). Dấu hiệu về tâm (tam giác lửa trên bông sen trắng, màu trắng tinh biểu tượng cho trí huệ, đỉnh tam giác chỉ xuống chỉ sức mạnh đốt cháy dục vọng và cám dỗ)—The sign on a Buddha's breast (on Vairocana)—The sign of Buddha-mind (a triangle of flames above a white lotus, pure white color representing wisdom, pointing downwards to indicate power over or burn up all passions, opposition, temptations)—The sign of omniscience.
nhất thiết phật đỉnh luân vương
(一切佛頂輪王) Gọi đủ: Nhiếp nhất thiết Phật đính luân vương. Chỉ cho Nhất tự kim luân sinh ra từ Phật nhãn phật mẫu. Tất cả các vị Phật đính luân vương đều cầm bánh xe báu kim cương có 8 nan hoa, vì đó là hình Tam muội da của các Ngài. Phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Du kì (Đại 18, 260 trung) nói: Bấy giờ tất cả các vị Phật đính luân vương, mỗi vị đều đem bánh xe kim cương đặt dưới chân của tất cả Phật mẫu đã sinh ra các Ngài, mỗi bánh xe biến thành 2 cái, 1 cái đỡ chân, 1 cái che trên đầu. (xt. Nhất Tự Kim Luân).
nhất thiết phổ môn thân
The one who completely fills all the "four realms".
; Vị trải thân ra khắp bốn pháp giới—The one who completely fills the four realms (Dharmadhatu).
; (一切普門身) Hết thảy thân Phổ môn, nghĩa là thân trùm khắp 4 lớp pháp giới: Sự pháp giới, Lí pháp giới, Lí sự vô ngại pháp giới và Sự sự vô ngại pháp giới. Đại nhật kinh sớ quyển 8 (Đại 39, 662 hạ) nói: Nay lại lấy đó làm chất đốt cho lửa trí tuệ, cúng dường Nhất thiết phổ môn thân, tăng thêm thế lực bất tư nghị.
nhất thiết sở cầu mãn túc công đức
(一切所求滿足功德) Gọi tắt: Sở cầu mãn túc công đức. Tất cả điều mong cầu đều đầy đủ công đức, là 1 trong 17 thứ công đức làm đẹp cõi nước, thuộc 29 thứ trang nghiêm ở thế giới Cực lạc. Nghĩa là chúng sinh đã sinh về Tịnh độ thì tất cả điều mong cầu đều được đầy đủ. Luận Tịnh độ (Đại 26, 231 thượng) nói: Những điều mà chúng sinh mong muốn, tất cả đều đầy đủ. Tức là do tâm nguyện của đức Phật A di đà mà thế giới thanh tịnh trang nghiêm của Ngài thỏa mãn được tất cả những mong muốn của chúng sinh.
Nhất thiết thiên trí ấn
一切偏智印; C: yīqiē piānzhì yìn; J: issai henchi in;|Dấu hiệu biểu tượng cho Nhất thiết trí. Cũng có nghĩa như Nhất thiết Phật tâm ấn (一切佛心印).
nhất thiết thiền
(一切禪) Chỉ cho thiền định tự hành hóa tha, đầy đủ tất cả công đức, là 1 trong 9 loại thiềnĐại thừa. Nhất thiết thiền được chia làm 2 thứ là Thế gian và Xuất thế gian. Rồi tùy theo chỗ ứng dụng, mỗi thứ này lại được chia làm 3 loại: 1. Hiện pháp lạc trụ thiền: Thiền định của Bồ tát xa lìa tất cả vọng tưởng, thân tâm đều vắng lặng. 2. Xuất sinh tam muội công đức thiền: Thiền định của Bồ tát sinh ra các thứ Tam muội thuộc chủng tính thập lực vô lượng vô biên bất khả tư nghị, nhập vào công đức thắng diệu của tất cả tuệ vô ngại và nguyện trí vô tránh. 3. Lợi ích chúng sinh thiền: Chỉ cho công đức của những việc mà Bồ tát làm để mang lại lợi ích cho loài hữu tình như bố thí, trừ diệt các khổ não, nhiếp phục chúng sinh bằng chính pháp, biết ơn báo ơn, vui vẻ khen ngợi, không mang ý niệm oán ghét, hoặc vận dụng thần lực làm cho chúng sinh yên vui...[X. phẩm Phương tiện xứ thiền trong kinh Bồ tát địa trì Q.6; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, phần đầu; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ, phần đầu].
nhất thiết thiện kiến kinh
Xem Thiên Kiến Luận chú.
nhất thiết thiện kiến luật chú
Xem Thiên Kiến Luận chú.
nhất thiết thân nghiệp tuỳ trí huệ hành
(一切身業隨智慧行) Cũng gọi Nhất thiết thân nghiệp trí vi tiền đạo tùy trí nhi chuyển. Tất cả hành vi của nghiệp thân đều được hướng dẫn bởi trí tuệ, là 1 trong 18 pháp bất cộng của đức Phật. Nghĩa là đức Phật hiện các tướng thù thắng, điều phục chúng sinh, dùng trí tuệ diễn nói tất cả các pháp, làm cho chúng sinh hiểu rõ và chứng nhập. [X. Pháp giới thứ đệ Q.hạ; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.2].
nhất thiết thí
Sarvada (skt)—Toàn trí—All-bestowing—One who who gives his all.
nhất thiết thế gian
(一切世間) Hết thảy thế gian, chỉ cho tất cả các cõi hữu vi, hữu lậu nhơ nhớp, gọi chung Ngũ uẩn thế gian, Chúng sinh thế gian và Khí thế gian. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 582 hạ) nói: Các pháp hữu vi trong hết thảy thế gian không dừng trụ lâu dài, biến hoại trong chốc lát (...) Trong thế gian, tất cả những cái có thân đều bất tịnh, toàn những thứ nhớp nhúa, không có 1 thứ gì đáng ưa thích. (xt. Thế Gian).
nhất thiết thế gian lạc kiến li xa đồng tử
(一切世間樂見離車童子) Pháp mà tất cả thế gian khó tin. Nghĩa là giáo pháp mà chúng sinh trong tất cả thế gian đều khó tin nhận vâng làm. Chỉ cho pháp sâu xa màu nhiệm, rộng lớn khó có thể nói bàn. Kinh A di đà (Đại 12, 348 thượng) nói: Vì các chúng sinh, nói ra pháp này mà tất cả thế gian đều khó tin. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 3 hạ) nói: Muốn cho chúng sinh đều được nghe pháp mà tất cả thế gian khó tin.
nhất thiết thế gian nan tín chi pháp
(一切世間難信之法) Cũng gọi Nhất thiết chúng sinh nhạo kiến lê xa đồng tử, Chúng sinh nhạo kiến tỉ khưu, Nhạo kiến li xa bồ tát. Chỉ cho đồng tử Nhất thiết thế gian nhạo kiến (Phạm: Sarvalokapriyadarzana), dòng Li xa (Phạm: Licchavi) là người hoằng dương kinh điển Đại thừa. Cứ theo kinh Đại pháp cổ quyển hạ, trước khi Chính pháp diệt vong 80 năm thì Nhất thiết thế gian nhạo kiến li xa đồng tử sinh ra ở bờ sông Thiện phương tiện, thôn Đại ba lợi, nước Văn đồ la ở phương Nam, họ Ca da lê, sau xuất gia làm Tỉ khưu, dùng Tứ nhiếp pháp hóa độ chúng sinh. Khi gặp được kinh Đại pháp cổ, đọc tụng thông lợi, Đồng tử liền xả bỏ những vật bất tịnh đã nhận lãnh trước đó, lần lượt tuyên thuyết các kinh: Đại pháp cổ, Đại thừa không, Chúng sinh giới Như lai thường trụ đại pháp cổ... cho mọi người nghe, thường dóng trống Đại pháp, thổi loa Đại pháp, dương cờ Đại pháp, đến năm 100 tuổi, Đồng tử hiện đại thần lực rồi vào Niết bàn. Cũng kinh Đại pháp cổ quyển thượng nói: Thủa quá khứ, trong thời đức Phật Kê la bà, vị Đồng tử này làm vua Chuyển luân vương, dùng Chính pháp trị hóa nhân dân, sửa sang đất nước. Về sau, thời đức Đăng quang Như lai, Đồng tử sinh làm con trưởng của vua Địa tự tại, khi Chính pháp sắp diệt, Đồng tử tuyên giảng kinh Đại pháp cổ, sau khi mệnh chung, được sinh về nước An lạc, chứng đại thần thông, trụ đệ Bát địa. Lại theo Niết bàn kiền độ trong kinh Đại phương đẳng vô tưởng quyển 4, ở đời quá khứ, vào thời đức Phật Đồng tính đăng, có vị Long vương tên Đại tinh tiến, sinh ra ở thành Bảo tụ, chính là tiền thân của Nhất thiết chúng sinh nhạo kiến lê xa đồng tử vậy.[X. phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Kim quang tối thắng vương Q.1; Pháp kinh lục Q.1; Lịch đại tam bảo kỉ Q.10].
nhất thiết thế gian nhạo kiến ly xa đồng tử
Sarvaloka-priyadarśana (S).
nhất thiết thế gian tối thượng biện
(一切世間最上辯) Cũng gọi Tối thượng biện. Tài biện luận vào bậc nhất thế gian, 1 trong 7 thứ biện tài mà Phật và Bồ tát đạt được. Khi thực hành Lục độ để cứu giúp loài hữu tình, Bồ tát tuyên nói pháp Đại thừa rất sâu xa mầu nhiệm, tiếng nói của Bồ tát như sấm vang, trong trẻo rõ ràng, từ nơi xa xôi cũng nghe được, nên gọi là Nhất thiết thế gian tối thượng diệu biện. Luận Đại trí độ quyển 55 (Đại 25, 451 thượng) ghi: Nói pháp bậc nhất trong tất cả thế gian, gọi là Đại thừa, đó là thế gian tối thượng biện. [X. kinh Đại bát nhã Q.499; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2].
nhất thiết thế gian tối tôn đặc thân
(一切世間最尊特身) Thân tôn quí thù đặc nhất trong tất cả thế gian. Đây là từ ngữ tôn xưng pháp thân bất tư nghị của đức Tì lô giá na Như lai. Nghĩa là Pháp thân Như lai tức là tự tính của pháp giới, vì bản tính thanh tịnh, đã gột sạch tất cả trần cấu, cho nên là thân tôn quí đặc thù nhất trong tất cả thế gian. Kinh Đại nhật quyển 5 (Đại 18, 36 hạ) nói: Đức Như lai, thân tôn quí thù đặc nhất trong tất cả thế gian, thân, ngữ, ý cho đến tâm địa đều siêu việt, đến được quả duyệt ý thú thắng.
nhất thiết thế giới tán thán chư phật trang nghiêm
(一切世界贊嘆諸佛莊嚴) Hết thảy thế giới đều khen ngợi sự trang nghiêm của chư Phật. Đây là 1 trong 4 thứ công đức trang nghiêm của Bồ tát, thuộc 29 thứ trang nghiêm ở Tịnh độ Cực lạc. Luận Tịnh độ (Đại 26, 231 trung) nói: Mưa hoa nhạc trời trỗi vang Hương thơm mầu nhiệm cúng dường Ngợi khen công đức chư Phật. Mảy may phân biệt chẳng vương. (xt. Nhị Thập Cửu Chủng Trang Nghiêm).
Nhất thiết thế tôn tối tôn đặc thân
一切世尊最尊特身; C: yīqiē shìzūn zuìzūn tèshēn; J: issai seison saison tokushin;|Người đáng được tôn kính nhất trong những người được thế gian tôn kính. Một danh hiệu của Phật Tì-lô-giá-na (毘盧遮那; Đại Nhật Phật, theo Đại Nhật kinh 大日經).
Nhất thiết trí
(s: sarva-jñatā, sarva-jña, sarva-jñāna, p: sabba-ñöa, 一切智) [thuật]: âm dịch là Tát Bà Nhã (薩婆若), Tát Bà Nhã Đa (薩婆若多), là một trong 3 loại trí (nhất thiết trí, đạo chủng trí và nhất thiết chủng trí [s: sarvajña-jñāna, sarvajñatā, sarva-jña, 一切種智]), là trí tuệ thông đạt hết thảy trong ngoài, biết hết thảy các pháp. Hữu Bộ cho đây là trí tuệ của Phật, và cũng có thuyết cho rằng trí tuệ này thông cả hai thừa Thanh Văn và Duyên Giác. Nó đối với nhất thiết chủng trí, có hai nghĩa chung và riêng. Nếu theo nghĩa chung, nó được gọi là Phật trí, cùng nghĩa với nhất thiết chủng trí. Nếu theo nghĩa riêng, nhất thiết chủng trí là trí nhìn thấy sự khác nhau của sự tướng. Nhất thiết trí là trí tuệ nhìn hiện tượng giới một cách bình đẳng, có tánh không. Nếu nói về nghĩa chung, trong Phẩm Thí Dụ của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Cần tu tinh tấn, cầu nhất thiết trí, Phật trí, tự nhiên trí, vô sư trí (勤修精進、求一切智、佛智、自然智、無師智, siêng tu tinh tấn để cầu được trí tuệ biết hết tất cả, trí tuệ của Phật, , trí tuệ tự nhiên, trí tuệ không cần thầy chỉ dẫn)”. Cùng kinh trên, Phẩm Hóa Thành Dụ có đọan rằng: “Vi Phật nhất thiết trí, phát đại tinh tấn (爲佛一切智、發大精進, vì trí biết hết thảy của Phật mà phát khởi sự tinh tấn lớn)”. Kinh Nhân Vương (仁王經) quyển hạ dạy rằng: “Mãn túc vô lậu giới, thường tịnh giải thoát thân, tịch diệt bất tư nghì, danh vi nhất thiết trí (滿足無漏界、常淨解脫身、寂滅不思議、名爲一切智, cõi đầy đủ vô lậu, thân thường trong sạch giải thoát, vắng lặng không nghĩ bàn, đó gọi là trí tuệ biết hết tất cả)”. Phần cuối quyển 9 của Trung Luận Sớ (中論疏) có đoạn rằng: “Tri nhất thiết pháp, danh nhất thiết trí (知一切法、名一切智, biết hết thảy các pháp được gọi là trí hiểu biết hết tất cả)”. Kế đến, nếu nói về nghĩa riêng, đó là trí tuệ biết được hết thảy lý không bình đẳng. Pháp Hoa Kinh Sớ (法華經疏) 2 của ngài Gia Tường (嘉祥) có giải thích rằng: “Bát Nhã Tam Huệ Phẩm vân: 'Tri nhất thiết pháp nhất tướng, cố danh nhất thiết trí; hựu vân tri chủng chủng tướng cố danh nhất thiết chủng trí (般若三慧品云、知一切法一相、故名一切智、又云知種種相故名一切種智, Phẩm Bát Nhã Tam Huệ dạy rằng: 'Biết tất cả các pháp một tướng nên gọi là nhất thiết trí; biết tất cả các loại tướng nên gọi là nhất thiết chủng trí')”. Cùng quyển trên có giải thích thêm rằng: “Nhất thiết trí giả, vị không trí dã (一切智者、謂空智也, trí biết hết tất cả là trí không)”. Trí Độ Luận (智度論) 27 có đoạn rằng: “Luận nhất thiết chủng trí chi sai biệt, hữu nhân ngôn vô sai biệt, hoặc thời ngôn nhất thiết chủng trí; hữu nhân ngôn tổng tướng thị nhất thiết, biệt tướng thị nhất thiết chủng trí; nhân thị nhất thiết trí, quả thị nhất thiết chủng trí; lược thuyết nhất thiết trí, quảng thuyết nhất thiết chủng trí; nhất thiết trí tổng phá nhất thiết pháp trung vô minh ám, nhất thiết chủng trí quán chủng chủng pháp môn phá chư vô minh (論一切種智之差別、有人言無差別、或時言一切種智、有人言總相是一切、別相是一切種智、因是一切智、果是一切種智、略說一切智、廣說一切種智、一切智總破一切法中無明闇、一切種智觀種種法門破諸無明, Khi luận về sự khác nhau của nhất thiết chủng trí, có người cho rằng không có khác nhau, hay có khi gọi là nhất thiết chủng trí; có người lại cho rằng tướng chung là hết thảy các trí, tướng riêng là nhất thiết chủng trí, nhân là nhất thiết trí, còn quả là nhất thiết chủng trí; nói riêng là nhất thiết trí, nói rộng ra là nhất thiết chủng trí; nhất thiết trí thì phá tan toàn bộ sự tối tăm, vô minh của tất cả các pháp; còn nhất thiết chủng trí thì quán từng loại pháp môn để phá các vô minh)”. Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章) 10 cho rằng: “Cử lục chủng chi sai biệt, hựu dĩ danh Thanh Văn, Duyên Giác chi trí (舉六種之差別、又以名聲聞緣覺之智, nêu lên được 6 loại sai biệt, đó gọi là trí của Thanh Văn và Duyên Giác)”. Trí Độ Luận (智度論) 27 giải thích thêm rằng: “Hậu phẩm trung Phật thuyết nhất thiết trí, thị Thanh Văn, Bích Chi Phật sự, đạo trí thị Bồ Tát sự, nhất thiết chủng trí thị Phật sự, Thanh Văn, Bích Chi Phật câu hữu tổng nhất thiết trí, vô hữu nhất thiết chủng trí (後品中佛說明一切智、是聲聞辟支佛事、道智是菩薩事、一切種智是佛事、聲聞辟支佛倶有總一切智、無有一切種智, trong phẩm sau đức Phật nói về nhất thiết trí là trí của Thanh Văn và Bích Chi Phật, đạo trí là trí của Bồ Tát, nhất thiết chủng trí là trí của Phật, Thanh Văn và Bích Chi Phật đều có chung nhất thiết trí, nhưng không có nhất thiết chủng trí)”.
; xem Tát-bà-nhã.
; 一切智; C: yīqiè zhì; J: issaichi; S: sarvajñatā, sarvākārajñatā;|Trí toàn vẹn, »hiểu biết tất cả«; chỉ trí huệ của một vị Phật, là điểm quan trọng, tiêu biểu nhất của một bậc Chính đẳng chính giác.|Theo quan điểm Tiểu thừa thì Nhất thiết trí được hiểu là mọi hiểu biết đưa đến giải thoát. Còn Ðại thừa cho rằng Nhất thiết trí là trí huệ hiểu biết tất cả các Pháp và thể tính thật sự của nó là Không. Trí này hay được xem là đồng nghĩa với Bát-nhã (s: prajñā). Còn gọi là Phật trí (佛智, theo Pháp Hoa kinh 法華經).
nhất thiết trí
Sarvajāna (S), Sarvaja (S), Sabbau(P), Omniscient, Omniscience Toàn giác, Tát bà nhã, Toàn tri, Nhứt thiết chủng trí tuệ- Cái trí biết tất cả pháp tướng: trong ngoài, hữu vi, vô vi, quá khứ, hiện tại, vị lai; trí huệ của Phật. - Bậc Giác ngộ, Đấng Toàn tri.
; Sarvajna (S). Buddha-wisdom, perfect knowledge, omniscience. Nhất thiết trí địa: the state or place of such wisdom. Nhất thiết trí giả: Buddha. Nhất thiết trí tuệ giả: the all-wise one, a title of Vairocana. Nhất thiết trí tâm: the Buddha's wisdom mind. Nhất thiết trí tướng: sarvajnatà (S) omniscience, or the state or condition of such wisdom.
; Sarvajnana (skt)—Buddha-wisdom—Perfect knowledge—Omniscience—All-knowing.
; (一切智) Phạm: Sarvajĩa. Hán âm: Tát bà nhã, Tát vân nhiên. Chỉ cho trí biết rõ tất cả pháp tướng trong ngoài, là 1 trong 3 trí. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển hạ (Đại 8, 843 thượng) nói: Đầy khắp cõi vô lậu, thân giải thoát thanh tịnh, vắng lặng chẳng nghĩ bàn, gọi là Nhất thiết trí. Luận Du già sư địa quyển 38 (Đại 30, 498 hạ) nói: Đối với tất cả giới, tất cả sự pháp, tất cả phẩm loại, tất cả thời gian, trí tự tại vô ngại gọi là Nhất thiết trí. Tức là biết rõ sự sai khác của tất cả thế giới, chúng sinh giới, sự pháp hữu vi, vô vi và nhân quả 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai 1 cách đúng như thực, gọi là Nhất thiết trí. Còn Nhất thiết trí đối với Nhất thiết chủng trí thì có 2 nghĩa tổng và biệt. - Về phương diện tổng: Nhất thiết trí là Phật trí, đồng nghĩa với Nhất thiết chủng trí. Như Hoa nghiêm kinh đại sớ quyển 16 nói: Như lai dùng trí vô tận, biết các pháp vô tận, nên gọi Nhất thiết trí. - Về phương diện biệt: Nhất thiết trí là trí của tính không, xem thế giới bình đẳng, đây là trí của bậc Thanh văn, Duyên giác. Còn Nhất thiết chủng trí là trí của sự tướng, xem thế giới sai biệt, là trí Phật biết rõ tướng bình đẳng tức là tướng sai biệt. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 258 hạ) nói: Tổng tướng là Nhất thiết trí, Biệt tướng là Nhất thiết chủng trí; nhân là Nhất thiết trí, quả là Nhất thiết chủng trí; nói lược là Nhất thiết trí, nói rộng là Nhất thiết chủng trí. (...) Nhất thiết trí là trí của Thanh văn và Duyên giác; Đạo chủng trí là trí của các Bồ tát, Nhất thiết chủng trí là trí của Phật. [X. luận Đại tì bà sa Q.15; luận Tạp a tì đàm tâm Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.19]. (xt. Nhất Thiết Chủng Trí).
nhất thiết trí cú
(一切智句) Cú hàm ý là chỗ ở. Nhất thiết trí cú là trụ xứ của Phật. Kinh Đại nhật quyển 6 (Đại 18, 42 trung) nói: Thường siêng năng tu tập, cầu nhất thiết trí cú. Bởi vì tính chất của Chân ngôn đều xa lìa cái thấy phân biệt của thế gian. Nếu biết rõ điều này rồi tu hành Chân ngôn đúng như thực, thì đó là Nhất thiết trí cú. Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 14 (Vạn tục 36, 479 thượng) nói: Cú có nghĩa là chỗ ở. Chỗ ở của Nhất thiết trí tức là trụ xứ của Phật. Nên biết tính của Bồ đề giống như hư không, hư không đồng với tính Bồ đề. Mà tính Bồ đề chính là chữ A, là Nhất thiết trí cú vậy.
Nhất thiết trí giả
(s: sarvajña, p: sabbaññū, 一切智者) [thuật]: còn gọi là nhất thiết tri giả (一切知者), nhất thiết trí nhân (一切智人), người có trí tuệ hiểu biết tất cả, người có đầy đủ trí tuệ hiểu biết hết tất cả được gọi là Phật. Trong Phẩm Dược Thảo Dụ của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Ngã thị nhất thiết trí giả, nhất thiết kiến giả, khai đạo giả, thuyết đạo giả (我是一切智者、一切見者、開道者、說道者, ta là người có trí tuệ hiểu biết hết tất cả, người thấy hết tất cả, người mở ra con đường, người giảng thuyết về con đường ấy)”.
nhất thiết trí giả
(一切智者) Phạm: Sarvajĩa. Pàli: Sabbaĩĩu. Đồng nghĩa: Nhất thiết trí nhân, Nhất thiết trí tạng. Bậc giác ngộ đã thực chứng được tất cả trí tuệ. Tên khác của đức Phật. Luận Câu xá quyển 29 (Đại 29, 155 thượng) nói: Phật biết khắp tất cả, nên gọi là Nhất thiết trí giả. Phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 19 trung) nói: Ta là người biết tất cả, thấy tất cả, người biết đạo, người mở đạo, người nói đạo. Mật giáo dùng Nhất thiết trí giả làm đức hiệu của Đại nhật Như lai. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].
Nhất thiết trí huệ
一切智慧; C: yīqiēzhìhuì; J: issaichie;|Nhất thiết trí (theo kinh Pháp Hoa 法華經).
nhất thiết trí huệ giả
The all-wise one (Vairocana).
; (一切智慧者) Tiếng tôn xưng đức Đại nhật Như lai. Kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 8 hạ) nói: Bậc Nhất thiết trí tuệ, xuất hiện nơi thế gian, giống như hoa Ưu đàm, lâu lâu hiện một lần.
Nhất Thiết Trí Kinh
(一切智經) [kinh]: đức Phật vì vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿王) phân biệt về trí tuệ hiểu biết tất cả, cũng như sự hơn thua của 4 giai cấp (tứ tánh, gồm Bà La Môn [s, p: brāmaṇa, 婆羅門], Sát Đế Lợi [s: kṣatriya, p: khattiya, 刹帝利], Tỳ Xá [s: vaiśya, p: vessa, 毘舍] và Thủ Đà La [s: śūdra, p: sudda, 首陀羅]). Nó nằm trong Kinh A Hàm (p: Āgama, 阿含經) 47.
nhất thiết trí kinh
(一切智經) Kinh, do ngài Cù đàm tăng già đề bà dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào kinh Trung a hàm quyển 59 trong Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật phân biệt cho vua Ba tư nặc nghe về Nhất thiết trí và sự hơn kém giữa 4 giai cấp ở Ấn độ đời xưa.
nhất thiết trí lục sư ngoại đạo
(一切智六師外道) Tên của 1 phái ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa, 1 trong 3 loại Lục sư ngoại đạo. Ma ha chỉ quán quyển 10, thượng (Đại 46, 132 hạ) nói: Từ sự cố chấp của các phái lại sinh ra 1 kiến giải, tâm trí họ sáng suốt, lanh lợi; với tâm trí ấy, họ thông hiểu tất cả pháp, vì thế nên gọi là Nhất thiết trí ngoại đạo.[X. Bách luận sớ Q.thượng; Tứ giáo nghĩa Q.2].
Nhất thiết trí nhân
(一切智人) [thuật]: đồng nghĩa với nhất thiết trí giả (s: sarva-jña, 一切智者). Trí Độ Luận (智度論) 2 có đoạn rằng: “Vấn viết: 'Hữu nhất thiết trí nhân, hà đẳng nhân thị ?' Đáp viết: 'Thị đệ nhất đại nhân, tam giới tôn danh viết Phật' (問曰、有一切智人、何等人是、答曰、是第一大人、三界尊名曰佛, Hỏi rằng: 'Có người có trí tuệ hiểu biết tất cả, đó là người như thế nào ?' Trả lời rằng: 'Đó là người vĩ đại số một, cả ba cõi đều tôn kính, gọi ngài là Phật')”.
nhất thiết trí nhãn
(一切智眼) Cũng gọi Phổ nhãn. Con mắt của tất cả trí, 1 trong 10 loại mắt của Bồ tát. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 53 (Đại 35, 901 trung) nói: Nhất thiết trí nhãn tức là Phổ nhãn, chẳng những thấy lớp lớp pháp giới, mà còn thấy pháp giới chính là Nhất thiết trí nhãn. Nghĩa là Bồ tát có đức hạnh tịnh thắng, dùng pháp môn bình đẳng thấy pháp giới, cho nên thấy khắp các pháp chân thực bình đẳng. Nhất thiết trí nhãn ở đây tương đương với Phật nhãn trong Ngũ nhãn. [X. kinh Hoa nghiêm Q.41 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17; Đại thừa nghĩa chương Q.20]. NHẤT THIẾT TRÍ QUANG MINH TIÊN NHÂN TỪ TÂM NHÂN DUYÊN BẤT THỰC NHỤC KINH Cũng gọi Nhất thiết trí quang minh tiên nhân bất thực nhục kinh. Kinh, 1 quyển, khuyết dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 3. Nội dung kinh này kể lại sự tích bản sinh của bồ tát Di lặc làm con của người Bà la môn tên Ca ba lợi. Truyện kể: Thủa xưa, đức Phật Di lặc thị hiện xuống thế giới Thắng hoa phu tuyên thuyết kinh Từ tam muội quang đại bi hải vân, Bà la môn Nhất thiết trí quang minh do nghe kinh này mà phát tâm bồ đề, thệ nguyện trì tụng kinh này, đồng thời, nguyện đời vị lai thành Phật cũng cùng hiệu Di lặc. Sau đó, Bà la môn Nhất thiết trí quang minh xuất gia, trong khoảng 8.000 năm, 1 lòng trì tụng kinh Từ tam muội quang đại bi hải vân. Bấy giờ, trời mưa tầm tã liên tiếp nhiều ngày. Bà la môn không ra ngoài xin ăn. Có 2 mẹ con thỏ rừng, nhận thấy đã 7 ngày rồi mà vị tiên không ăn, liền nhảy vào lửa thiêu thân để cúng dường, vì mong cho chính pháp trụ thế lâu dài. Vị tiên nhân từ tâm thấy thế bèn phát nguyện rằng: Ta thề đời đời chẳng khởi ý tưởng sát sinh, không bao giờ ăn thịt. Nói xong, tiên nhân cũng nhảy vào hầm lửa. Vị tiên nhân này là Di lặc, con của Bà la môn Ca ba lợi. Ngoài ra, kinh trên còn tiên đoán khoảng 56 ức 7 nghìn vạn năm sau, ngài Di lặc sẽ thành Phật.
Nhất thiết trí nhẫn
(一切智忍) [thuật]: nhẫn thứ 6 trong Lục Nhẫn. Xem phần Lục Nhẫn.
Nhất Thiết Trí Quang Minh Tiên Nhân Từ Tâm Nhân Duyên Bất Thực Nhục Kinh
(一切智光明仙人慈心因緣不食肉經) [kinh]: còn gọi là Phật Thuyết Nhất Thiết Trí Quang Minh Tiên Nhân Từ Tâm Nhân Duyên Bất Thực Nhục Kinh (佛說一切智光明仙人慈心因緣不食肉經), không rõ dịch giả, 1 quyển.
nhất thiết trí thiên
Sarvajnadeva (skt)—The deva of universal wisdom.
nhất thiết trí thuyền
(一切智船) Con thuyền trí tuệ. Đức Phật được ví dụ như thuyền bè, đưa người sang bờ Nhất thiết trí, tức là bờ giác ngộ bên kia. Giáo hành tín chứng văn loại quyển 2 (Đại 83, 599 hạ) nói: Tát cạn biển ngu si, đưa vào biển thệ nguyện, dong thuyền Nhất thiết trí, cứu vớt hết chúng sinh. Trên đây là những lời khen ngợi tâm nguyện đại bi của đức Phật A di đà rộng lớn như hư không, các công đức nhiệm mầu không bờ bến, dẫn dắt chúng sinh về Tịnh độ.
Nhất thiết trí trí
(s: sarvajñatā-jñāna, 一切智智) [thuật]: trí tuệ tối cao trong tất cả các trí tuệ. Để phân biệt với nhất thiết trí của Thanh Văn và Duyên Giác, trí tuệ của đức Phật được gọi là nhất thiết trí trí. Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) 1 có đoạn rằng: “Phạn vân Tát Bà Nhã Na tức thị nhất thiết trí, kim vị nhất thiết trí trí, tức thị trí trung chi trí dã (梵云薩婆若那卽是一切智、今謂一切智智、卽是智中之智也, tiếng Phạn là Tát Bà Nhã Na [sarva-jñāna] tức là nhất thiết trí, nay nói nhất thiết trí trí là trí tuệ trong các loại trí tuệ)”. Cùng kinh trên lại nói rằng: “Nhất thiết trí trí, như thật liễu tri, danh vi nhất thiết trí giả (一切智智如實了知、名爲一切智者, Nhất thiết trí trí là hiểu biết như thật, nên được gọi là người có trí tuệ hiểu biết hết thảy)”. Trí tuệ tối cao trong tất cả các trí tuệ giống như cõi hư không, rời xa hết thảy các phân biệt, hay giống như đại địa là nơi để cho tất cả chúng sanh nương tựa, hoặc như thế giới lửa thiêu cháy rụi hết thảy những loại củi vô trí. Nó cũng giống như thế giới gió, trừ khử hết tất cả các bụi bặm phiền não, hay giống như cõi nước, là nơi cho tất cả chúng sanh vui mừng nương tựa. Trí này lấy bồ đề tâm làm nhân, lấy tâm đại bi làm căn, lấy phương tiện làm cứu cánh. Người mà lấy bồ đề tâm làm nhân được gọi là vị hành giả biết tự tâm mình như thật. Người mà lấy tâm đại bi làm căn được gọi là vị hành giả phát nguyện thương xót, cứu độ nỗi khổ của chúng sanh và lấy đó làm niềm vui cho mình. Người mà lấy phương tiện làm cứu cánh được gọi là quả của trí tuệ tối cao trong tất cả các trí tuệ, tức lấy hạnh lợi tha để hành trì. Nhân Vương Kinh (仁王經) quyển trung có dạy rằng: “Tự tánh thanh tịnh, danh bản giác tánh, tức thị chư Phật nhất thiết trí trí (自性清淨名本覺性、卽是諸佛一切智智, tự tánh thanh tịnh là giác ngộ xưa nay, tức là trí tuệ tối cao trong tất cả các trí tuệ của các đức Phật)”.
nhất thiết trí trí
Trí tuệ của chư Phật (bồ đề, toàn giác và thanh tịnh)—The wisdom of all wisdom—Buddha's wisdom (bodhi, perfect enlightenment and purity).
; (一切智智) Phạm: Sarvajĩa-jĩàna. Hán âm: Tát bà nhã na. Chỉ cho trí của Nhất thiết trí, tức là trí tuệ của đức Phật. Nhất thiết trí là trí chung của Thanh văn, Duyên giác và Phật. Nhưng trí của Phật là trí thù thắng nhất trong tất cả trí. Nên ở đây, nhằm phân biệt với trí của Thanh văn, Duyên giác mà gọi trí của Phật là Nhất thiết trí trí. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển thượng (Đại 8, 837 thượng) nói: Tự tính thanh tịnh gọi là tính Bản giác, tức là Nhất thiết trí trí của chư Phật. Kinh Đại nhật quyển 6 (Đại 18, 41 trung) nói: Nhất thiết trí trí lìa tất cả phân biệt và vô phân biệt, là trí thù thắng nhất trong tất cả trí, giống như cõi hư không. Cũng giống như đại địa, là nơi nương tựa của hết thảy chúng sinh, lại như gió, cuốn sạch tất cả bụi phiền não, cũng lại như lửa có năng lực thiêu đốt tất cả củi ngu si vô trí, lại giống như nước, chúng sinh nhờ đó mà được tươi mát, yên vui. Trí này chẳng những dùng nhất thiết chủng biết khắp tất cả pháp, mà còn biết pháp này là tướng rốt ráo thường trụ không hoại diệt, không thêm bớt, giống như kim cương, cho nên là trí tuệ tột cùng chân thực, cũng là pháp vị giải thoát tự chứng của Như lai. [X. phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.1; Đại tì lô giá na kinh trụ tâm sao Q.4].
Nhất thiết trí tâm
(一切智心) [thuật]: tâm cầu trí tuệ biết hết tất cả. Phần cuối quyển trung của bộ Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集, Ōjōyōshū) của Nguyên Tín (源信, Genshin, 942-1017), vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, có đoạn rằng: “Nhất thiết trí tâm giả, thị đệ nhất nghĩa không tương ứng tâm, hoặc khả thị nguyện cầu Phật chủng trí tâm (一切智心者、是第一義空相應心、或可是願求佛種智心, tâm cầu trí tuệ biết hết tất cả là tâm tương ứng với đệ nhất nghĩa không, hay có thể là tâm nguyện cầu trí tuệ thuộc loại của Phật)”.
nhất thiết trí tâm
The Buddha's wisdom mind.
Nhất thiết trí tướng
(s: sarvajñatā, 一切智相) [thuật]: âm dịch là Tát Bà Nhã Đa (薩婆若多), tướng mạo của trí biết hết tất cả. Trí Độ Luận (智度論) 27 có giải thích rằng: “Tát Bà Tần ngôn nhất thiết, Nhã Đa Tần ngôn tướng (薩婆秦言一切、若多秦言相, nhà Tần gọi Tát Bà là hết thảy, Nhã Đa là tướng mạo)”.
nhất thiết trí tướng
Sarva-jatā (S), Omniscience, Sabbautā (P).
; (一切智相) Phạm: Sarvajĩatà. Hán âm: Tát bà nhã đa. Tướng của Nhất thiết trí. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 260 trung) nói: Tát bà, Hán dịch là nhất thiết; Nhã, Hán dịch là trí; Đa, Hán dịch là tướng.
Nhất thiết trí tạng
(一切智藏) [thuật]: kho tàng hiểu biết tất cả, từ tôn xưng dùng cho đức Phật. Kinh Thiện Sanh (善生經) có đoạn rằng: “Như Lai tức thị nhất thiết trí tạng (如來卽是一切智藏, Như Lai là kho tàng hiểu biết hết tất cả)”.
; 一切智藏; C: yīqiē zhì zàng; J: issai chi zō;|Kho tàng chứa đựng tất cả trí huệ, bản tâm của chư Phật (theo Hoa Nghiêm kinh 華嚴經).
nhất thiết trí vô sở uý
(一切智無所畏) Phạm: Sarva-dharmàbhisaôbodhi vaizàradya. Cũng gọi Chư pháp hiện đẳng giác vô úy, Chính đẳng giác vô úy, Đẳng giác vô úy. Trí tuệ vô sở úy, 1 trong 4 vô sở úy của đức Phật. Đức Thế tôn biết rõ các pháp, trụ nơi chính kiến, tuyên thuyết chính pháp ở giữa đại chúng, như sư tử chúa, an ổn không sợ, nên gọi Nhất thiết trí vô sở úy. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.19; luận Đại tì bà sa Q.30; luận Đại trí độ Q.25].
Nhất thiết trí vô sở úy
(s: sarva-dharmābhisaµbodhivaiśāradya, 一切智無所畏) [thuật]: một trong 4 vô úy của đức Phật, còn gọi là chư pháp hiện đẳng giác vô sở úy (諸法現等覺無所畏), chánh đẳng giác vô sở úy (正等覺無所畏), đẳng giác vô sở úy (等覺無所畏). Có nghĩa rằng đức Thế Tôn biết rõ các pháp, an trú trong chánh kiến (thấy đúng), thét lên tiếng rống của con sư tử, an ổn mà không hề sợ hãi gì cả. Hơn nữa, vì tâm giáo hóa tha nhân của đức Phật vốn không khiếp sợ, nên được gọi là nhất thiết trí vô sở úy (trí tuệ hiểu biết tất cả không sợ hãi). Xem phần Tứ Vô Úy.
; xem Bốn đức chẳng sợ.
nhất thiết trí vô sở úy
Sarva-dharma-bhisaṃbodhivaisaradya (S).
Nhất thiết trí địa
(s: sarvajña-bhūmi, p: sabba-ñāṇa, 一切智地) [thuật]: chứng đắc quả vị có trí tuệ biết hết tất cả tức là quả vị Phật, còn gọi là cứu cánh nhất thiết trí địa. Trong Phẩm Hóa Thành Dụ của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Kỳ sở thuyết pháp giai tất chí ư nhất thiết trí địa (其所說法皆悉至於一切智地, sự thuyết pháp của vị ấy thảy đều đạt đến quả vị có trí tuệ biết hết tất cả)”.
; 一切智地; C: yīqiēzhì dì; J: issaichi ji; S: sarvajña-bhūmi.|Cảnh giới của sự thông đạt vạn pháp (theo kinh Pháp Hoa 法華經)
nhất thiết trí địa
Sarvaja-bhŪmi (S).
; Nơi mà chư Bồ Tát đạt được Phật trí—The state or place for Perfect knowledge or Buddha-wisdom.
; (一切智地) Phạm: Sarvajĩa-bhùmi. Cũng gọi Cứu cánh nhất thiết trí địa. Địa vị Nhất thiết trí, tức là quả vị Phật. Phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 19 thượng) nói: Đối với tất cả pháp, dùng trí phương tiện để diễn nói, những người nghe pháp ấy đều đạt đến địa vị Nhất thiết trí. Đại nhật kinh sớ quyển 2 (Đại 39, 604 hạ) nói: Từ Tịnh bồ đề tâm trở lên đến địa vị Thập trụ đều là tu hành theo lòng tin và hiểu, chỉ có đức Như lai là ở địa Nhất thiết trí.
nhất thiết tính
(一切性) Tất cả tính. Chỉ chung cho 4 tính: Tự tính, Tha tính, Cộng tính, Li tính. 1. Tự tính: Chấp trước vào 1 niệm phát sinh từ căn. 2. Tha tính: Chấp trước vào 1 niệm phát sinh từ trần cảnh. 3. Cộng tính: Chấp trước vào 1 niệm phát sinh từ căn và trần hòa hợp. 4. Li tính: Chấp trước vào 1 niệm phát sinh từ chỗ lìa khỏi căn và trần. Nếu không chấp trước vào tướng của 4 tính này thì gọi là Giai không.
Nhất thiết tức nhất
一切即一; C: yīqiē jíyī; J: issai sokuichi;|Tất cả các pháp đều bao hàm trong Một. Tư tưởng của tông Hoa nghiêm, cho rằng thể tính của các pháp bao dung, tương nhiếp lẫn nhau. Xem Nhất tức nhất thiết (一即一切, theo Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh sớ 大方廣佛華嚴經疏).
Nhất thiết vô chướng ngại
(一切無障礙) [tạp]: thông đạt hết thảy không có cái gì ngăn trở cả. Trong Phẩm Thần Lực của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Năng trì thử kinh giả, ư chư pháp chi nghĩa, danh tự cập ngôn từ, nhạo thuyết vô cùng tận, như phong ư không trung, nhất thiết vô chướng ngại (能持此經者、於諸法之義、名字及言辭、樂說無窮盡、如風於空中、一切無障礙, người có thể trì kinh này thì sẽ vui nói không cùng tận nghĩa, chữ và ngôn từ của các pháp, giống như gió trong không trung, tất cả đều không ngăn trở gì cả).”
nhất thiết vô chướng ngại
Hoàn toàn thoát khỏi mọi chướng ngại—Absolutely free or unhindered—Illimitable—Universal.
; (一切無障礙) Gọi tắt: Nhất thiết vô ngại. Thông suốt tất cả, không có gì ngăn ngại. Phẩm Như lai thần lực trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 186 trung) nói: Người trì tụng kinh này Đối với nghĩa các pháp Danh tự và ngôn từ Nói đến vô cùng tận Như gió giữa hư không Hết thảy không chướng ngại.
nhất thiết vô chướng pháp ấn minh
Một dấu hiệu để vượt thắng chướng ngại—A sign for overcoming all hindrances (by making the sign of a sword through lifting both hands, palms outward and thumbs joined, saying Hail ! Bhagavat ! Bhagavatsvaha !).
; (一切無障法印明) Một trong các loại ấn tướng của Mật giáo. Ấn tướng như sau: Tay trái và tay phải đều kết Đao ấn (ấn dao), 2 ngón trỏ hướng ra ngoài dính vào 2 bên và tụng chân ngôn: Bà nga phạ đế (Thế tôn) tô bà ha (thành tựu).
nhất thiết vô ngại
Hoàn toàn thoát khỏi mọi chướng ngại—Absolutely free or unhindered.
nhất thiết vô thượng giác giả cú
(一切無上覺者句) Chỉ cho chữ (aô) trong chân ngôn Bách quang biến chiếu của Mật giáo. Kinh Đại nhật quyển 6 (Đại 18, 40 hạ) nói: Hãy siêng năng mạnh mẽ tu trì Nhất thiết vô thượng giác giả cú này, vì đây là tâm yếu của tất cả pháp môn mà chư Phật đã nói.
nhất thiết vạn
All things.
nhất thiết vạn pháp
All things—See Nhất Thiết Pháp.
nhất thiết vật
All things.
nhất thiết xả bất thủ thí tưởng
(一切捨不取施想) Buông bỏ tất cả, không giữ lấy 1 ý tưởng nào về việc bố thí. Là 1 trong 10 điều lợi ích của Bát nhã. Nghĩa là Bồ tát tu hành Bát nhã, quán chiếu muôn pháp đều vắng lặng, cho nên tuy làm việc bố thí mà không bị dính mắc vào vật để bố thí(tức không nuối tiếc). [X. kinh Nguyệt đăng tam muội Q.6].
nhất thiết xứ
Samanta (S). Everywhere, universal.
; Samanta (skt)—Everywhere—Universal dhyana.
; (一切處) Phạm: Kftsna-àyatana. Có 2 nghĩa: 1. Biến xứ: Bất cứ nơi nào. Vì thông suốt khắp 10 phương không gì ngăn ngại, nên gọi là Nhất thiết biến xứ. 2. Tên của thiền định: Cũng gọi Biến xứ. Vì cảnh sở quán(đối tượng bị quán sát) của thiền định, trùm khắp vạn hữu, bao gồm đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, không, thức, tính chung có 10 loại gọi là Thập nhất thiết xứ, Thập biến xứ. [X. kinh Thập lệ trong Trung a hàm Q.6; Pháp giới thứ đệ Q.hạ].
nhất thiết xứ giai tâm
Cittam hi sarvam (S). All is mind.
nhất thiết xứ vô bất tương ưng chân ngôn
Chân ngôn tương ưng khắp nơi nơi—The “true word” that responds everywhere.
nhất thiết ý nghiệp tuỳ trí huệ hành
(一切意業隨智慧行) Cũng gọi Nhất thiết ý nghiệp tiền đạo tùy trí nhi chuyển. Tất cả hoạt động của ý thức đều được hướng dẫn bởi trí tuệ, là 1 trong 18 pháp bất cộng của đức Phật. Nghĩa là đức Phật chuyển ý nghiệp thanh tịnh theo trí tuệ, hiểu rõ tâm chúng sinh mà nói pháp để phá tan màn vô minh si ám của họ, gọi là Ý nghiệp tùy trí tuệ hành. [X. Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ, phần cuối; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.2, 4].
nhất thiết độ đa cúng vật nghi quỷ
Sarva-bhŪta-bah-vidhi (S).
Nhất Thiền
一禪; C: yīchán; J: ichizen; K: ilsǒn (1533-1608);|Nguyên là Thiền sư Hàn Quốc, thời đại Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn), là một trong bốn vị đệ tử thượng thủ của Hưu Tĩnh (休靜; k: hyujǒng).
nhất thoá tiêu thế giới hoả
(一唾消世界火) Nhổ 1 bãi nước bọt dập tắt ngọn lửa đang thiêu đốt thế giới. Kinh Phật tạng quyển thượng (Đại 15, 783 thượng) nói: Ví như vào lúc hết kiếp, lửa dữ bùng cháy, thiêu đốt thế giới, có người nhổ 1 bãi nước bọt dập tắt ngọn lửa ấy, rồi thổi 1 cái để hình thành lại thế giới và các cung trời. Đây là ví dụ đức Phật nói pháp bất sinh bất diệt khiến người đời tin hiểu là 1 việc còn hiếm có, khó tin hơn gấp bội việc kì đặc vừa nói ở trên.
Nhất thuyết bộ
一說部; S: ekavyāvahārika;|Bộ phái Phật giáo xuất phát từ Ðại chúng bộ. Văn-thù vấn kinh (s: mañjuśrīparivarta) gọi là »Chấp nhất ngữ ngôn bộ«, còn Tông luân luận của Khuy Cơ viết rằng, bộ này quan niệm rằng »Thế pháp, xuất thế pháp đều không thật, chỉ là danh.«
nhất thuyết bộ
Ekavyāhārikah (S), Ekabbo-hārika (P), Ekavyohārikā (P), Ekabbohārā (P)Một trong 9 bộ phái trong Đại chúng bộ.
; Ekavyavahàrika (S). Name of a Buddhist sect. Also chấp nhất ngữ ngôn bộ, tì bà ha la.
; Ekavyavaharika (skt)—Trường phái Tiểu thừa cho rằng vạn hữu giả định chứ không có thực thể—Hinayana school (nominalistic) which considered things as nominal without underlying reality.
; (一說部) Phạm: Eka-vyavahàrika. Cũng gọi Y kha tì bộ, Bà ha lị kha bộ, Tì bà ha la bộ, Chấp nhất ngữ ngôn bộ. Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa, là bộ phái được tách ra từ Đại chúng bộ vào khoảng 200 năm sau đức Phật nhập diệt, do bất đồng quan điểm về thuyết Hiện tại hữu thể, quá khứ, vị lai vô thể mà Đại chúng bộ chủ trương. Vì bộ này cho rằng tất cả các pháp đều hông có thực thể, chỉ có giả danh mà thôi, nên gọi là Nhất thuyết bộ, lập trường tư tưởng khác hẳn với tông chỉ của Đại chúng bộ nên mới lập ra 1 bộ phái riêng biệt. Ngài Khuy cơ và ngài Pháp tạng chia 20 bộ phái Tiểu thừa làm 6 tông, gọi bộ phái này là Chư pháp đãn danh tông, thuộc về Phần thông Đại thừa. Vì bộ phái này chủ trương các pháp đều là giả danh, không có thực thể, nên không khác với thuyết Giai không của Bát nhã. [X. luận Dị bộ tông luân; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Dị bộ tông luân luận thuật kí phát nhận Q.thượng, trung].
nhất thuấn
(一瞬) Một nháy mắt. Theo luật Ma ha tăng kì, thì 20 nháy mắt là 1 cái búng móng tay. Pháp trì trai của người tu hành qui định chỉ ăn vào lúc đúng giờ Ngọ, nếu mặt trời đã xế qua giờ Ngọ khoảng 1 nháy mắt thì không được ăn. [X. luật Ma ha tăng kì Q.17].
nhất thuỷ tứ kiến
(一水四見) Cũng gọi Nhất xứ tứ kiến, Nhất cảnh tứ kiến, Nhất cảnh tứ tâm. Một dòng nước 4 cái thấy. Nghĩa là cùng 1 cảnh giới mà tùy theo nghiệp mỗi loài lại thấy khác nhau. Theo Duy thức học thì cùng là 1 dòng nước, mà người trời nhìn vào thì cho là ao báu trang nghiêm; người thế gian thấy thì cho là ao nước; trong con mắt của ngã quỉ thì đó là 1 hồ máu mủ; còn các loài thủy tộc như tôm, cá thì lại coi đó là chỗ ở đẹp đẽ của chúng. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.4; Đại minh tam tạng pháp số Q.18].
nhất thành
(一成) Một thành, chỉ cho 1 người thành đạo, hoặc chỉ cho 1 việc được thành tựu.
nhất thành nhất thiết thành
Với sự đại giác của Như Lai, tất cả chúng sanh rồi đây sẽ đạt thành đại giác. Một người toàn thiện mọi người rồi đây sẽ được toàn thiện—With the Tathagata's enlightenment all beings were enlightened—In the perfection of one all are perfected—One deed includes all.
; (一成一切成) Một thành thì tất cả thành. Nghĩa là nếu 1 việc thành tựu thì tất cả mọi việc đều được thành tựu. Đây chỉ cho cảnh giới của người thành đạo theo quan điểm Sự sự vô ngại pháp giới của tông Hoa nghiêm. Kinh Hoa nghiêm quyển 52 (bản dịch mới) và Hoa nghiêm kinh sớ quyển 2 nói rằng, khi đức Như lai thành Chính giác, Ngài thấy tất cả chúng sinh cũng thành Chính giác và thấy hết thảy chúng sinh đều vào Niết bàn, đều cùng 1 tính, đó là vô tính. Do lí bao hàm sự nên nói Nhất thành nhất thiết thành, còn do sự bao hàm lí thì nói Giai hữu sở thành(đều có chỗ thành tựu). Ngoài ra, trong Hoa nghiêm kinh chỉ qui và Hoa nghiêm kinh vấn đáp quyển thượng thì có nhóm từ Nhất đắc nhất thiết đắc tức đồng nghĩa với Nhất thành nhất thiết thành. [X. Hoa nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp Q.thượng; Tân Hoa nghiêm kinh luận Q.1].
Nhất thân
一身; C: yīshēn; J: isshin;|1. Một thân, một người; 2. Chỉ một đời; đời nầy (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
nhất thân
(一身) Một thân. Thân ở đây hàm ý là Pháp thân. Vì chư Phật trong 10 phương đã trừ sạch vô minh lậu hoặc, thể pháp tính hoàn toàn hiện bày, không có sắc tướng mình, người khác nhau, nên gọi là Nhất thân. Như kinh Hoa nghiêm nói, thân của hết thảy chư Phật chỉ là 1 Pháp thân.
nhất thông
(一通) Một hồi. Khi đánh trống, đánh bảng, đánh khánh... bắt đầu đánh chậm, sau nhanh dần, đến sau cùng đánh thật nhanh rồi đổ hồi, như thế gọi là Nhất thông. Điều Thướng đường trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn 111, 443 thượng) nói: Nghe 1 hồi trống, vị Thủ tọa và đại chúng lên Pháp đường.
nhất thượng thần thông
(一上神通) I. Nhất Thượng Thần Thông. Chỉ cho 1 lần hiện thần thông. II. Nhất Thượng Thần Thông. Thần thông ưu việt thù thắng nhất, là thần thông của Phật, là đại thần thông, thần thông tối thượng, khác với 6 thần thông của Phật giáo Tiểu thừa. Trong Phật giáo Tiểu thừa, thần thông là biểu hiện thần biến không thể nghĩ bàn. Trong Thiền tông thì thần thông được biểu hiện qua 4 uy nghi: Đi, đứng, ngồi, nằm tự do tự tại, không bị bất cứ việc gì ràng buộc.
nhất thải lưỡng tái
(一彩兩賽) Tiếng dùng trong Thiền lâm. I. Nhất Thái Lưỡng Tái. Chỉ cho trên mặt của 2 con xúc xắc, cùng lúc hiện ra 1 con số như nhau. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để ví dụ giữa 2 người, không phân biệt được ai hơn ai kém. II. Nhất Thái Lưỡng Tái. Thái chỉ cho sự thắng lợi, Tái chỉ cho sự tranh đua. Nhất thái lưỡng tái có nghĩa là trong 2 lần tranh tài, được 1 lần thắng lợi.
nhất thất nhật
(一七日) Cũng gọi Sơ thất nhật, Sơ nguyện kị, Thủy thiện kị, Khốc thiêm kị. Tuần thất đầu trong 7 tuần thất (7 ngày đầu tiên trong 49 ngày) của thân trung ấm. Tức là 7 ngày đầu sau khi người ta chết. [X. điều Truy kị danh số chi thứ đệ trong Chư hồi hướng thanh qui Q.4].
nhất thần giáo
Monotheism—Chủ nghĩa nhất thần giáo.
; (一神教) Tông giáo tín ngưỡng 1 vị thần duy nhất, như Do thái giáo, Cơ đốc giáo, Hồi giáo... Ba tông giáo này đều cho rằng vị thần mà họ tin thờ là chúa tể sáng tạo ra thế giới, ở khắp mọi nơi và không việc gì mà không làm được, đồng thời, tuy không phủ nhận sự tồn tại của các tinh linh ma quỉ hoặc thiên sứ, nhưng cho những loại này không đáng được gọi là thần, vì chúng không phải là thần sáng tạo ra thế giới mà trái lại là những vật bị tạo. Vị thần tối cao của Ấn độ cổ đại là từ 1 vị thần này chuyển hóa đến 1 vị thần khác gọi là Giao thế thần giáo (Kathenotheism), từ trong nhiều vị thần được tin thờ, chọn ra 1 vị làm thần tối cao, gọi là Đơn nhất thần giáo (Henotheism). Đến thời đại Phạm thư, thuyết sáng tạo đã sản sinh ra Tạo vật chủ (Phạm:Prajàpati) được xem là thần tối cao duy nhất. Tông giáo của cổ Ai cập cũng thuộc loại Đơn nhất thần giáo. Nhưng, đối với những vấn đề như: Sự quan hệ giữa vị thần duy nhất này và thế giới được sáng tạo ra, rồi giữa nhân cách tính của thần duy nhất và tính chân lí... như thế nào, thì đã phát sinh nhiều tranh luận. Riêng đối với Phật giáo thì chưa hề giả định sự tồn tại của bất cứ vị nhất thần nào và chính đức Phật cũng đã phủ nhận thuyết thần sáng tạo thế giới. Ngài chủ trương hết thảy sự vật hiện hữu đều là Pháp (dharma), do các mối quan hệ và những điều kiện hỗ tương cấu thành, chứ không phải do vị thần nào sáng tạo.
nhất thập nhất thệ
Eleventh Vow.
nhất thật
The one reality. Nhất thật cảnh giới: the state or real of the one reality. Nhất thật quán: meditation on the one reality. Nhất thật tướng: the state of bhùtatathatà, above all differentiation, immutable; it implies the Buddha-nature or the immateriality and unity of all things. Nhất thật thừa: the one method of salvation. Nhất thật viên thừa: the Tathàgata's perfect vehicle. Nhất thật viên tông: the one real and perfect school. Nhất thật vô tướng: the one reality being indivisible is apart from all sentient (or empty) form, and is therefore styled the formless.
; Chân lý tối thượng—The one reality—The bhutatathata—The supreme fact, or ultimate reality.
; (一實) Cũng gọi Nhất thực chân như, Nhất thực đế. I. Nhất Thực. Tuyệt đối, chân thực. Tức lí thể chân như thực tướng. Thực là thực tướng không điên đảo, không hư dối, bình đẳng không 2, bởi thế Thực đế là 1 trong các Thắng đế.II. Nhất Thực. Giáo pháp lấy Nhất thực làm lí thể, giáo hóa chúng sinh thành Phật, vì nó vận chuyển chúng sinh bằng Nhất thừa, nên đặc biệt được gọi là Nhất thừa giáo pháp. III. Nhất Thực. Theo tông Tịnh độ, Nhất thực chỉ cho bản nguyện của đức Phật A di đà. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.4].
nhất thật cảnh giới
(一實境界) I. Nhất Thực Cảnh Giới. Chỉ cho cảnh giới giác ngộ chân thực, bình đẳng. II. Nhất Thực Cảnh Giới. Chỉ cho tâm thể tự tính thanh tịnh của chúng sinh. Kinh Chiêm sát quyển hạ (Đại 17, 907 thượng) nói: Nhất thực cảnh giới là tâm thể của chúng sinh, từ xưa đến nay không sinh không diệt, tự tính thanh tịnh, không có chướng ngại, lìa mọi phân biệt, bình đẳng trùm khắp giống như hư không. III. Nhất Thực Cảnh Giới. Chỉ cho Pháp thân của đức Như lai.
nhất thật cảnh trí
Theo Giáo Sư Soothill trong Từ Điển Phật Học Trung Hoa—According to Professor Soothill in the Dictionary of Chinese Buddhist Terms: 1) Trạng thái nhất thật: The state or realm of “one reality.” 2) Sự chứng ngộ thật tánh của chư pháp: The realization of the spirituality of all things. 3) Như Lai pháp thân: The Tathagata-dharmakaya.
nhất thật lí
(一實理) Phạm: Ghanaika-sàra. Chỉ cho diệu lí chắc thực duy nhất. Tối thắng diệu cát tường căn bản trí tối thượng bí mật nhất thiết danh nghĩa Tam ma địa phần quyển thượng (Đại 20, 809 hạ) nói: Kim cương nhất thực lí Tối thượng trong thế giới Trí như không tự nhiên Mắt đại trí đại tuệ.
nhất thật quán
(一實觀) Pháp quán chân thực không hai. Kinh Đại bảo tích quyển 112 (Đại 11, 634 trung) nói: Cho dù kết nghiệp đã huân tập qua trăm nghìn muôn kiếp, nhưng chỉ dùng pháp quán chân thực duy nhất mà quán chiếu, thì tất cả đều bị tiêu diệt.
nhất thật thần đạo
(一實神道) Cũng gọi Sơn vương nhất thực thần đạo, Thiên thai thần đạo. Tên gọi của Thần đạo Nhật bản. Tín ngưỡng Thần đạo nương vào giáo pháp Nhất thừa chân thực trong kinh Pháp hoa mà phát triển. Đạo này xuất hiện từ đầu thời Liêm thương hoặc cuối thời kì Bình an, đến thời đại Giang hộ thì lưu hành rộng rãi. Tư tưởng Thần đạo bắt nguồn từ Nhật cát thần sơn vương –Địa chủ thần– của chùa Diên lịch ở núi Tỉ duệ, trong 21 thần xã thì Đại cung và Nhị cung là trung tâm; 21 xã này được phối với 7 xã Sơn vương thuộc Phật và Bồ tát, trong đó, 3 xã: Đại cung, Nhị cung và Thánh chân tử là Hóa thân của các đức Phật: Thích ca, Dược sư và Di đà. Lại nữa, bản địa Thích ca của Bản cung và bản địa Đại nhật Như lai của Y thế đại thần cung là cùng 1 thể, không hai. Ngoài ra, tất cả các thần đều có hể được gọi là Hóa thân của đức Phật Thích ca. Thuyết này được lưu hành khắp vùng Thiên hải vào đầu thời kì Giang hộ tại Nhật bản. Từ việc sáng lập Đông chiếu ở núi Nhật quang, đến việc trấn thủ các thành Nhật cát xã và việc thờ cúng, người ta đều có thể thấy sự thịnh hành này.
nhất thật thừa
Thừa chân thật (cứu độ chúng sanh)—The one method of salvation.
; (一實乘) Lí chân thực duy nhất. Bởi vì giáo pháp chân thực là bình đẳng không hai, có năng lực chuyên chở chúng sinh sang bờ Niết bàn bên kia, nên gọi là Thừa.
nhất thật tướng
Tướng chân như—The state of bhutatathata. 1) Vượt trên mọi sai biệt: Above all differentiation. 2) Bất chuyển: Immutable. 3) Ám chỉ Phật tánh: It implies the Buddha-nature. 4) Ám chỉ tính phi vật chất và đồng nhất của vạn hữu: It implies the immateriality and unity of all things.
; (一實相) Chỉ cho lí chân thực không hai, tức là chân như, pháp tính. Vì lí này không 2, không khác, lìa mọi hư vọng, nên gọi là Nhất thực tướng. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 84, 66 hạ) nói: Chúng sinh còn mê mộng chưa tỉnh, không thể hiểu được Nhất thực tướng, sinh ra các vọng tưởng thị phi, cho nên phải luân hồi trong 5 đường.
nhất thật tướng ấn
(一實相印) Ấn Nhất thực tướng. Nhất thực tướng là lí chân thực lìa các hư vọng; Ấn là tín, như các công văn ở thế gian có đóng dấu mới tin được. Cũng thế, các kinh Đại thừa do đức Phật nói đã được ấn định bằng lí Thực tướng, ngoại đạo không thể trà trộn, thiên ma không thể phá hoại. Hễ giáo pháp có Thực tướng ấn là do Phật nói, nếu không có là do ma nói.[X. phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa Q.1; luận Đại trí độ Q.22; Pháp hoa huyền nghĩa Q.8, phần đầu].
nhất thật viên thừa
(一實圓乘) Chỉ cho kinh Pháp hoa. Kinh Pháp hoa thuyết minh giáo chỉ viên đốn, cho nên được gọi là Nhất thực viên thừa.
nhất thật viên thừa (trong kinh pháp hoa)
Như Lai Viên Thừa—Tathagata's Perfect Vehicle (in the Lotus Sutra).
Nhất thật viên tông
一實圓宗; C: yīshíyuánzōng; J: ichijitsu-enshū;|Tên gọi khác của tông Thiên Thai (天台宗).
nhất thật viên tông
The One Real and Perfect School.
; (一實圓宗) Chỉ cho tông Thiên thai. Tông Thiên thai chủ trương giáo pháp viên đốn Nhất thừa thực tướng, cho nên được gọi là Nhất thực viên tông.
nhất thật vô tướng
Vô tướng là một sự thật không thể phân cách được—The one reality being indivisible is apart from all transient (or empty) forms, and is therefore styled the formless—The invisible.
; (一實無相) Chỉ cho diệu thể chân lí cùng tột, tuyệt đối không hai và xa lìa tất cả tướng hư vọng, đó chính là thực tướng của các pháp. Kinh Vô lượng nghĩa (Đại 9, 385 hạ) nói: Vô lượng nghĩa từ 1 pháp sinh ra, 1 pháp ấy chính là vô tướng. Vô tướng tức chẳng phải tướng, chẳng phải tướng tức vô tướng, như thế gọi là Thực tướng.
nhất thật đế
(一實諦) Lí Nhất thực tướng Trung đạo. Nhất thực tướng này vốn không hư dối, không điên đảo, dù Thánh dù phàm, bản tính không hai, vì thế gọi là Nhất thực đế. [X. kinh Niết bàn Q.13 (bản Bắc)].
nhất thế
Một đời—Lifetime.
Nhất thể
一體; J: ittai;|Chỉ kinh nghiệm »là một« với vũ trụ khi chứng ngộ chân lí. Tất cả những hiện tượng, tất cả các pháp chẳng khác Nhất thể, đều quy về Nhất thể.
nhất thể
Dù tướng có khác, tánh vẫn đồng—Though externally differing, in nature the same.
; (一體) Thể của chân tâm thường trụ. Tự tính thanh tịnh 1 thể không 2, vọng tưởng bỗng sinh, cảnh giới liền hiện. Do đó, chúng sinh hữu tình, quốc độ vô tình, từ 1 chân tâm vọng sinh làm 2; nên biết hữu tình, vô tình đều do tự tâm chúng sinh biến hiện, chẳng phải vật bên ngoài. Vì thế có câu: Tình dữ phi tình cộng nhất thể (Tình và phi tình cùng 1 thể).
nhất thể tam bảo
(一體三寶) Cũng gọi Đồng thể tam bảo, Đồng tướng tam bảo. Tam bảo cùng 1 thể, là 1 trong 3 loại Tam bảo. Tam bảo là Phật, Pháp, Tăng, tên gọi tuy khác nhưng bản thể chỉ là 1. Nhất thể có 3 nghĩa: 1. Về mặt sự: Trong Phật thể, nghĩa giác chiếu, là Phật bảo; nghĩa đáng làm khuôn phép, là Pháp bảo, nghĩa hòa hợp không tranh chấp, là Tăng bảo. Ba nghĩa này tuy có khác, nhưng đức thể không khác, nên gọi là Nhất thể. Đây là giáo nghĩa chung của cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa. 2. Về mặt thể: Sự tuy có khác nhưng thể thì đều là không. Đây là giáo nghĩa riêng của Đại thừa. 3. Về mặt tính: Tam bảo tuy có khác, nhưng đều lấy thực tính làm thể. Nghĩa này cũng chỉ giới hạn trong giáo nghĩa Đại thừa.Hoa nghiêm khổng mục chương quyển 2 (Đại 45, 554 thượng) nói: Đồng tướng tam bảo vốn là cùng 1 chân như pháp tính, có 3 nghĩa khác nhau: Giác ngộ, quĩ pháp và hòa hợp, vì thế gọi là Tam bảo. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5, hạ].
nhất thể tam phân
Trimurti (S)Tam thiênBa ngôi trời của Ấn giáo: Phạm thiên, Tỳ nữu thiên và Đại tự tại thiên.
nhất thể tam phần
(一體三分) Phạm: Trimùrti. Một thể chia làm 3, chỉ cho 3 vị trời Ma hê thủ la, Na la diên và Phạm thiên có cùng 1 thể mà chia ra 3. Đây là thuyết do ngoại đạo Tiểu thừa thành lập. Ngoại đạo Tiểu thừa lấy Phạm thiên làm thần sáng tạo. Ma hê thủ la làm thần hủy diệt, Na la diên làm thần duy trì; bởi thế cho Phạm thiên là nhân, Na la diên là quả. [X. luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn].
nhất thể tam thân tự tánh phật
In one's own body to have the Trikaya.
nhất thể tam thân tự tính phật
(一體三身自性佛) Tự tính Phật 1 thể 3 thân. Hãy quay về qui y nơi 3 thân Phật: Pháp thân, Báo thân và Hóa thân mà tự tính vốn có đủ ngay trong sắc thân của chính mình. Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 354 trung) nói: Hãy qui y thanh tịnh pháp thân Phật trong sắc thân mình; qui y viên mãn báo thân Phật trong sắc thân mình; qui y thiên bách ức hóa thân Phật trong sắc thân mình.
nhất thể tánh
Xem Bình đẳng.
nhất thể tính
Samatà (S). Evenness, sameness. Also bình đẳng tính.
nhất thể tốc tật lực tam muội
(一體速疾力三昧) Gọi đủ: Nhất thiết Như lai nhất thể tốc tật lực tam muội. Tam muội 1 thể có sức nhanh chóng, tên 1 loại tam muội của Mật giáo. Tam muội là tên khác của Thiền định. Nhất thể chỉ cho chữ A. Chữ A là thể tính qui nhất của các pháp, vì thế nên gọi là Nhất thể. Chữ A này có vô lượng vô biên công đức, có năng lực chứng được tất cả phúc trí 1 cách nhanh chóng, cho nên gọi là Tốc tật lực. Đại nhật kinh sớ quyển 6 (Đại 39, 646 thượng) nói: Nhất thiết Như lai nhất thể tốc tật lực tam muội; nghĩa là khi vào Tam muội này thì hành giả chứng biết hết thảy Như lai đều cùng 1 pháp giới trí thể, trong 1 niệm có thể lần lượt quán xét các môn Tam muội nhiều như số bụi nhỏ trong vô lượng thế giới hải, biết bao nhiêu chúng sinh ở trong các Tam muội kia đã được vào đạo; biết vị thiện tri thức kia đã vì bao nhiêu chúng sinh mà làm nhân duyên chủng tử, còn vì bao nhiêu chúng sinh chưa làm nhân duyên chủng tử. Hoặc biết có các chúng sinh vào các pháp môn như thế thì có khả năng vượt ngay lên mà thành Phật, còn nếu vào các pháp môn khác thì bị chậm trễ lâu dài, không thể thành Phật. Vì các căn tính khác nhau như thế nên các phương tiện tiến tới cũng theo đó mà có bất đồng. Cho đến du hí trong đó, lần lượt tu tập, xuất nhập vượt thế gian, ở mỗi mỗi pháp môn đều có thể thành tựu vô lượng chúng sinh, vì thế nên gọi là Nhất thể tốc tật lực tam muội.
Nhất thố mao trần
一兎毛塵; C: yītùmáochén; J: ichitomōjin;|Một nguyên tử của hạt bụi trên đầu sợi lông thỏ. Là đơn vị đo lường, bằng một phần 22.588.608.000 Do-tuần (s: yojana; theo luận Câu-xá 倶舎論).
nhất thố mao trần
An atom of dust on a hare's down (sasorna). A measure, the 22,588,608,000th part of a yojana.
nhất thốc phá tam quan
(一鏃破三關) Cũng gọi Khâm sơn nhất thốc phá tam quan. Tên công án của Thiền tông. Một mũi tên phá 3 cửa ải. Dùng 1 mũi tên bắn phá 3 cửa ải, ví dụ cho 1 niệm vượt qua 3 A tăng kì kiếp, 1 tâm quán xét suốt Tam quán (Không, Giả, Trung), 1 gậy đánh chết chư Phật trong 3 đời, trực tiếp tham cứu bản lai diện mục mà không phải trải qua bất cứ 1 giai đoạn nào. Công án này nói về cơ duyên cuộc vấn đáp giữa Thiền sư Khâm sơn Văn thúy ở Lễ châu vào đời Đường với Thiền khách Cự lương. Tắc 56 trong Bích nham lục (Đại 48, 190 thượng) ghi: Thiền khách Cự lương hỏi ngài Khâm sơn: - Khi 1 mũi tên bắn phá 3 cửa ải thì thế nào?Ngài Khâm sơn đáp: - Hãy thả ông chủ cửa ải ra xem. Cự lương hỏi: - Làm sao biết lỗi để sửa? Ngài Khâm sơn trả lời: - Còn đợi đến bao giờ? Cự lương nói: - Như bắn tên không trúng đích. Cự lương nói xong đi ra. Ngài Khâm sơn bảo:- Hãy lại đây, Xà lê! Cự lương quay đầu lại, ngài Khâm sơn chặn lại nói: - Thôi, hãy gác việc 1 mũi tên phá 3 cửa ải lại, giờ hãy thử bắn tên với Khâm sơn này xem sao! Cự lương định nói. Ngài Khâm sơn đánh cho 7 gậy bảo: - Hãy để cho gã này ngờ 30 năm. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.17].
nhất thốn quang âm nhất thốn kim
Thời giờ là tiền bạc—Time is money.
Nhất thời
(一時): nghĩa là một lúc, một thời, một thưở nọ, v.v. Lúc đức Phật tại thế, xã hội Ấn Độ đang còn thời đại hình thức bộ lạc, rất nhiều các nước lớn nhỏ khác nhau; mỗi nước đều có lịch pháp (cách thức tính ngày giờ) khác nhau. Dưới thời đại nhà Thương Chu (商周, 1134-250 trước công nguyên) của Trung Quốc cũng có lịch pháp, nhưng đồng nhất với nhau. Hai chữ “nhất thời” này là thời gian cảm ứng đạo giao giữa chúng sanh và chư Phật; như thời gian trôi qua, có thể xoay trở lại quá khứ. Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-597), người sáng lập ra Thiên Thai Tông Trung Quốc, vị cao tăng nhà Tùy (隋, 581-618), cách thời đức Phật hơn cả ngàn năm. Vậy mà khi Đại Sư đọc đến Phẩm Dược Vương (藥王品) của Pháp Hoa Kinh thì nhập định, thấy đến chỗ Phật đang thuyết giảng Pháp Hoa Kinh tại Linh Thứu Sơn (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 靈鷲山) và lắng nghe thuyết pháp suốt cả hội. Sau khi ra khỏi định, Đại Sư bảo chúng đệ tử hay rằng Hội Linh Sơn vẫn còn đó vẫn chưa bao giờ tan rã. Chữ “nhất (一)” ở đây còn có nghĩa là “nhất tâm (一心)”. Nhất tâm chính là chân tâm, tức không có sự hiện hữu của thời gian quá khứ, hiện tại hay tương lai gì cả. Cho nên, người Nhật vẫn có câu ngạn ngữ xử thế là “Hito wo ugokasu ni wa magokoro wo motte (人を動かすには真心を持って, muốn làm động lòng người thì hãy lấy chân tâm mà sống).”
; 一時; C: yīshí; J: ichiji; S: ekaṃ-samayam.|1. »Một lần nọ«, »Thời ấy«, thường được dùng trong đoạn mở đầu kinh văn do đức Phật thuyết, không nhất thiết đề cập đến một thời gian cụ thể nào; 2. Cùng một lúc.
nhất thời
Ekasmin samaye (S), Ekam samayan (P). On one occasion; thus I have heard, once etc.
; 1) Một thuở nọ—Thus I have heard—A session of expounding a sutra. 2) Provisional—Temporary.
; (一時) Phạm: Skasmiô samaye. Pàli: Ekaô samayaô. Một thời gian nọ, thủa nọ. Tức chỉ cho đức Phật nói pháp vào 1 lúc nào đó. Các kinh Phật đều mở đầu bằng câu: Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại...(Tôi nghe như vầy, một thời kia đức Phật ở tại...). Đây là 1 trong 6 thứ thành tựu trong phần tựa của các kinh. Luận Kim cương tiên quyển 1 (Đại 25, 801 thượng) chép: Đã nói là tôi nghe thì ắt phải có thời gian, cho nên tiếp theo nói nhất thời (...). Nhưng nhất thời ở đây không nói rõ thời điểm nên không biết vào thời gian nào. Cứ theo Thiên thai quán kinh sớ thì thời có 2 thứ là Ca la và Tam ma da. Ca la, cũng gọi Thực thời, là thời gian ngắn; còn Tam ma da, cũng gọi Giả thời, là thời gian dài. Song, bất luận là thời gian dài hay ngắn, thực hay giả, cứ mỗi khi đức Phật nói xong 1 kinh, thì gọi là Nhất thời. [X. luận Đại trí độ Q.1; Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ Q.thượng; Pháp hoa văn cú Q.hạ].
nhất thời nhất thiết thời
(一時一切時) Một thời tức tất cả thời. Nghĩa là trong khoảng chốc lát tức vô lượng kiếp. Bởi vì trí và cảnh của Như lai viên dung, có thể kéo dài hoặc rút ngắn 1 cách tự tại vô ngại, cho nên có thể rút ngắn nhiều kiếp lại thành 1 giờ, kéo dài 1 giờ ra thành nhiều kiếp.
nhất thụ chi ấm nhất hà chi lưu
(一樹之蔭一河之流) Một bóng cây, 1 dòng sông. Nghĩa là mọi người cùng ngồi dưới 1 bóng cây, cùng bơi qua 1 con sông, đó là do cùng nhân duyên ở đời trước mà tạo thành quả như vậy.
nhất thủ tồi nhất thủ duệ
(一手推一手拽) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một tay đẩy, 1 tay kéo. Thiền tông dùng từ ngữ này để nói về pháp đối cơ tự do vô ngại mà Thiền sư ứng dụng khi khai thị cho người học. Tắc 35 trong Thung dung lục (Đại 48, 250 trung) chép: Ngài Giáp sơn nói: Gà sao đậu trong tổ phượng? Đâu có phải đồng loại với phượng? Hãy ra đi! (Một tay đẩy, 1 tay kéo).
nhất thủ đài nhất thủ nại
(一手抬一手捺) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một tay nâng, 1 tay đè. Trong Thiền lâm, cụm từ này được sử dụng để chỉ cho phương pháp đối cơ tự do vô ngại của Thiền sư khi dắt dẫn người học. Tắc 22 trong Thung dung lục (Đại 48, 241 trung) ghi: Sư nói: Ông già Động sơn chẳng biết tốt xấu gì cả, ta lúc ấy 1 tay nâng, 1 tay đè.
nhất thủy tứ kiến
Chúng sanh nhìn nước qua 4 cách—The same water may be viewed in four ways: 1) Cõi trời nhìn nước như đất bảo thạch: Devas see it as bejewelled land. 2) Người nhìn nước như nước: Men see it as water. 3) Ngạ quỷ nhìn nước như máu mủ: Hungry ghosts see it as pus and blood. 4) Cá nhìn nước như một nơi để sống: Fish sees water as a place to live in.
nhất thức
Tông Thành Thực cho rằng vạn hữu duy tâm—The Satyasiddhi Sect considered that all things are just one mind.
; (一識) Một thức. Tông Thành thực và Kinh bộ Tiểu thừa chủ trương chúng sinh chỉ có 1 thức duy nhất. Tức là thu tóm các thức như: Nhất thiết nhất tâm thức, A lại da thức, Mạt na thức, Ý thức... mà thành lập Nhất thức. Nhất thức này nhờ vào 6 căn để nhận biết 6 cảnh và mượn ví dụ 1 con vượn 6 cửa sổ để thuyết minh. Mật giáo cũng lập Nhất thức và lấy đó làm Pháp giới thể tính trí của Trung đài Đại nhật tôn.
nhất thức ngoại đạo
(一識外道) Ngoại đạo chủ trương trong thân người ta chỉ có 1 thức duy nhất. Họ cho rằng 1 thức này thường nương vào 6 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, để duyên theo cảnh bên ngoài, giống như người ta nuôi 1 con vượn trong căn nhà có 6 cửa sổ trông ra ngoài. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ (Đại 40, 151 thượng) nói: Nhất thức ngoại đạo chủ trương có 1 thức, như 1 căn phòng có 6 cửa sổ, con khỉ đi dạo khắp nơi; căn cũng như thế, 1 thức thông khắp. Đây chính là ví dụ 6 cửa sổ 1 con vượn vậy.
Nhất Thừa
(s: eka-yāna, p: ekāyana, 一乘): hay còn gọi là Nhất Phật Thừa (一佛乘), là từ dùng để đối với Tam Thừa (s: tri-yāna, 三乘, gồm Thanh Văn [聲聞], Duyên Giác [緣覺] và Bồ Tát [菩薩]). Phát xuất từ lời dạy trong Phẩm Phương Tiện của Kinh Pháp Hoa (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) rằng: “Thập phương Phật độ trung, duy hữu Nhất Thừa pháp, vô nhị diệc vô tam. Chư Phật dĩ phương tiện lực, ư Nhất Phật Thừa phân biệt thuyết tam (十方佛土中、唯有一乘法、無二亦無三、 諸佛以方便力、於一佛乘分別說三, trong quốc độ của mười phương các đức Phật, chỉ có một pháp Nhất Thừa, không có hai cũng chẳng có ba. Các đức Phật dùng sức phương tiện nơi Nhất Phật Thừa mà phân biệt nói thành ba)”, Kinh Pháp Hoa lấy ba loại xe dê, nai và trâu để ví dụ cho Tam Thừa (ba cỗ xe), còn xe trâu trắng thì ví cho Nhất Thừa (một cỗ xe).
Nhất thừa
cũng gọi là Phật thừa, Đại thừa, là pháp duy nhất đạt đến sự giải thoát rốt ráo, khác với giáo pháp của Thanh văn thừa và Duyên giác thừa là giáo pháp phương tiện dùng để dẫn dắt người sơ cơ có căn tánh chậm lụt, nên chưa thể đạt đến sự giải thoát rốt ráo. Xem thêm Ba thừa.
; 一乘; C: yīshèng; J: ichijō; S: ekayāna;|Là »Cỗ xe duy nhất« đưa chúng sinh đến Giác ngộ, thành Phật; danh từ này bao hàm hai ý nghĩa. Với cái nhìn tương đối thì danh từ Nhất thừa chính là Phật thừa (佛乘; s: buddhayāna), Bồ Tát thừa (菩薩乘; s: bodhisattvayāna) hoặc Ðại thừa (大乘; s: mahāyāna), được dùng đối ngược với Tiểu thừa (s: hīnayāna) hoặc Ðộc giác thừa (s: pratyekabuddhayāna). Với ý nghĩa tuyệt đối, Nhất thừa bao gồm cả ba cỗ xe (s: triyāna), bao gồm giáo lí có tính chất tạm thời của chúng và chuyển hoá chúng.|Sau sự xuất hiện của khái niệm Nhất thừa, không còn giáo pháp nào của Phật pháp trước đó có thể tồn tại được vì giáo pháp tối thượng đã là nội dung của Nhất thừa. Khái niệm Nhất thừa được đề xướng trong kinh Diệu pháp liên hoa, trong kinh được Phật cho là cao siêu nhất.|Theo giải thích của Khuy Cơ (窺基), giáo lí Nhất thừa của Pháp tướng tông (法相宗) có hai bậc, Nhiếp nhập đại thừa (攝入大乗) và Xuất sinh đại thừa (出生大乗). Nhiếp nhập đại thừa là phương tiện tiếp dẫn người có căn tính bất định (不定性) đến với Nhất thừa, vì thức thể của mỗi chúng sinh khó có khả năng nhận ra Phật tính, cho nên giáo lí nầy khó tương ưng toàn diện với ý nghĩa Nhất thừa. Nhưng vì tất cả đương cơ trong pháp hội kinh Pháp hoa (法華經) đều có khả năng thành Phật, nên giáo lí nầy trở nên rất chân xác và thiết thức trong trường hợp đó. Xuất sinh Đại thừa có nghĩa là tất cả các pháp môn của Phật đều chỉ »xuất sinh« từ giáo lí Đại thừa. Khuy Cơ cho rằng đây là giáo lí trong kinh Thắng-man (勝鬘經; s: śrīmālā-sūtra) và kinh Niết-bàn (涅槃經; s: nirvāṇa-sūtra). Theo Hoa Nghiêm tông (華嚴宗) và Thiên Thai tông (天台宗) thì có sự phân biệt giữa Nhất Phật thừa nầy với Bồ tát thừa trong hệ thống Tam thừa.
nhất thừa
Ekayāna (S), Ekacyāna (S), Ekayānaṁ (S), One yanna, Nhất Phật thừaCổ xe duy nhất, khoa giáo duy nhất của Phật. Nhất thừa là pháp môn Phật giảng lúc sau cùng để độ các vị La hán, Duyên giác, Bồ tát tới quả Phật Như Lai.
; (一乘) Phạm: Eka-yàna. Cũng gọi Phật thừa. Thừa có nghĩa vận chuyển, chuyên chở. Đức Phật nói pháp Nhất thừa, khiến chúng sinh nhờ đó tu hành, ra khỏi biển khổ sinh tử, vận chuyển đến bờ Niết bàn bên kia. Kinh Pháp hoa dùng hình ảnh của cỗ xe bằng 7 báu do trâu trắng lớn kéo để đưa chúng sinh ra khỏi vòng luân hồi sinh tử. Việc đức Phật ra đời cốt nhằm giảng nói kinh Pháp hoa, nhưng vì căn cơ của chúng sinh không giống nhau, cho nên đức Phật phải nói giáo pháp Tam thừa trước, khiến chúng sinh dần dần thuần phục, rồi sau mới dẫn dắt họ vào pháp Nhất thừa. Như kinh Pháp hoa nói: Từ 1 thừa phân biệt nói thành 3, cuối cùng đến thời Pháp hoa, đức Phật mới gom những hạnh nhỏ hẹp của Tam thừa về Nhất thừa rộng lớn. [X. phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa Q.1; phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2].
nhất thừa (thặng)
Ekayàna (S). One Yàna, the vehicle of oneness. Nhất Phật thừa: the one Buddha-Yàna, the one-vehicle. Nhất thừa viên tông: theThiên Thai, or Lotus School of the perfect teaching. Nhất thừa gia: the one-vehicle family or sect. Nhất thừa pháp môn: the one-vehicle method as revealed in the Lotus sùtra. Nhất thừa cứu kính giáo: the one-vehicle in its final teaching. Nhất thừa Bồ đề: the one vehicle enlightenment.
nhất thừa biệt giáo
Trong đó nhất thừa được nêu lên hoàn toàn khác biệt hay độc lập với những thừa khác như trường hợp giáo lý Hoa Nghiêm trong đó nói lên học thuyết về thế giới hỗ tương dung nhiếp. Nhất Thừa cao hơn ba thừa kia. Nhất thừa là chân thật còn ba thừa được coi như là quyền biến (tam quyền nhất thật): One Vehicle of the Distinct Doctrine in which the One Vehicle is set forth entirely distinct or independent from the other Vehicles, as in the case of the teaching of the Avatamsaka School, in which the doctrine of the world of totalistic harmony mutually relating and penetrating is set forth. The One Vehicle is higher than the other three. The One Vehicle is real while the three are considered as temporary. Theo Khuê Phong—According to Kuei-feng:
Nhất thừa Bồ Tát
一乘菩薩; C: yīshèng púsà; J: ichijō bo-satsu;|Là vị Bồ Tát đã nhận thức được chân lí Nhất thừa.
nhất thừa bồ đề
Nhất thừa giác ngộ—The One-Vehicle enlightenment.
; (一乘菩提) Đối lại: Nhị thừa bồ đề phương tiện, Tam thừa bồ đề phương tiện. Hàm ý là Bồ đề chân thực.
nhất thừa chi bảo
See Nhứt Thừa Chi Bảo.
nhất thừa chân thật tam thừa phương tiện
(一乘真實三乘方便) Nhất thừa giáo là giáo pháp chân thực, Tam thừa giáo là giáo pháp phương tiện, do tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm thành lập. (xt. Nhất Thừa).
nhất thừa cơ
(一乘機) Chỉ cho những căn cớ có khả năng tiếp nhận giáo pháp Nhất thừa. Các tông Hoa nghiêm, Thiên thai, Tịnh độ đều nói pháp Nhất thừa, cho nên những người có thể thụ trì các giáo pháp ấy đều được gọi là Nhất thừa cơ.
nhất thừa cứu cánh giáo
Nhất thừa viên giáo được tìm thấy trong Kinh Pháp Hoa—The One vehicle in its final teaching, as found in the Lotus Sutra.
nhất thừa cực xướng
(一乘極唱) Giáo pháp Nhất thừa là lí cùng tột của Đại thừa giáo. Pháp Nhất thừa không có hai, ba, vì là thuyết liễu nghĩa nên gọi là Cực xướng. Cũng chỉ cho pháp môn Trì danh niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh độ cực lạc. Phật thuyết A di đà kinh nghĩa sớ (Đại 37, 356 trung) nói: Nhất thừa cực xướng chung qui là chỉ cho Lạc bang; trong vạn hạnh viên tu thì trì danh niệm Phật là thù thắng hơn cả.
nhất thừa diệu điển
Toàn thiện Đại thừa quyết đoán chỉ một con đường cứu độ trong Kinh Liên Hoa—The Perfect Mahayana which declares one way of salvation—The Lotus Sutra.
Nhất thừa gia
一乘家; C: yīshèngjiā; J: ichijōke;|Các trường phái và học giả Phật giáo xiển dương giáo lí Nhất thừa như: Hoa Nghiêm tông, Thiên Thai tông, Thiền tông, v.v…
nhất thừa gia
The one-vehicle family or sect.
nhất thừa hiển tánh giáo
One of the five divisions of the Avatamsaka School.
Nhất thừa hiển tính giáo
一乘顯性教; C: yīshèng xiǎnxìng jiāo; J: ichijō kenshō kyō;|Giáo lí Nhất thừa nhằm hiển bày bản tính. Một trong 5 dạng giáo lí Phật pháp do Khuê Phong Tông Mật phân loại (Nguyên nhân luận 原人論).
nhất thừa hiển tính giáo
Trình bày Phật tánh phổ quát. Nhất Thừa Hiển Giáo bao gồm cả Đại thừa chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo—The one vehicle which reveals the universal Buddha-nature. It includes the Mahayana in its final stage, the immediate and the complete or perfect teaching of the Hua-Yen. ** For more information, please see Ngũ Thời Giáo.
; (一乘顯性教) Giáo pháp trên hết trong 5 giáo do ngài Khuê phông Tông mật thuộc tông Hoa nghiêm thành lập. Ngài Tông mật chủ trương kinh Hoa nghiêm là giáo pháp Nhất Phật thừa cùng tột, là pháp ẩn mật không cần phương tiện, chỉ thẳng tự tâm tức là chân tính bản giác, xa lìa các vọng tưởng chấp trước, thấy được trí tuệ sâu rộng của Như lai ngay trong thân mình, vì thế phán đó là Nhất thừa hiển tính giáo. (xt. Ngũ Giáo).
nhất thừa hải
(一乘海) Biển pháp Nhất thừa, tức ví dụ giáo pháp Nhất thừa sâu rộng như biển cả. Quán kinh sớ Huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo, khi phán thích về kinh Quán vô lượng thọ có câu: Bồ tát tạng đốn giáo nhất thừa hải. (xt. Thệ Nguyện Nhất Thừa).
nhất thừa kinh
See Nhất Thừa Diệu điển.
; (一乘經) Chỉ cho kinh Pháp hoa. Vì kinh này nói rất rõ ràng về yếu chỉ của giáo pháp Nhất thừa, nên gọi là Nhất thừa kinh.
nhất thừa mãn giáo
(一乘滿教) Một trong 4 giáo do ngài Nguyên hiểu người Tân la (Cao li) thành lập. Ngài Nguyên hiểu chia giáo pháp do đức Phật nói trong 1 đời làm 4 giáo: Tam thừa biệt giáo, Tam thừa thông giáo, Nhất thừa phần giáo và Nhất thừa mãn giáo. Nghĩa của Nhất thừa mãn giáo cũng giống như giáo pháp kinh Hoa nghiêm, vì nói rõ đầy đủ lí của pháp giới nên gọi Mãn giáo. (xt. Hiểu Công Tứ Giáo).
nhất thừa pháp
Ekayāna (S),One-Vehicle Dharma, One-Vehicle teaching.
nhất thừa pháp giới đồ
(一乘法界圖) Gọi đủ: Hoa nghiêm nhất thừa pháp giới đồ.Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nghĩa tương (625-702) người Tân la soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung tác phẩm này dùng 30 câu thơ thể thất ngôn, tất cả có 210 chữ, xếp thành 1 đồ biểu gồm 54 góc, có phụ thêm lời chú thích, vịnh thuật về yếu chỉ Viên giáo nói trong kinh Hoa nghiêm và Thập địa kinh luận. Đồ biểu này được hình thành vào tháng 7, niên hiệu Tổng chương năm đầu (668) đời vua Đường cao tông, là văn hiến trọng yếu về tư tưởng Hoa nghiêm của Triều tiên. Về sách chú thích thì có: Pháp giới đồ kí tùng tủy lục, 4 quyển, trong đó có thêm đồ biểu về Nhất thừa pháp giới. Ba mươi câu thơ 7 chữ trong đồ biểu trên như sau: 1. Nhất vi trần trung hàm thập phương 2. Nhất thiết trần trung diệc như thị 3. Vô lượng viễn kiếp tức nhất niệm 4. Nhất niệm tức thị vô lượng kiếp 5. Cửu thế thập thế hỗ tương tức 6. Nhưng bất tạp loạn cách biệt thành 7. Sơ phát tâm thời tiện chính giác 8. Sinh tử Niết bàn thường cộng hòa 9. Lí sự minh nhiên vô phân biệt 10. Thập Phật thiện hiền đại nhân cảnh 11. Năng nhập Hải ấn tam muội trung 12. Phồn xuất như ý bất tư nghị 13. Vũ bảo ích sinh mãn hư không 14. Chúng sinh tùy khí đắc lợi ích 15. Thị cố hành giả hoàn bản tế 16. Hồi tức vong tưởng tất bất đắc 17. Vô duyên thiện xảo tróc như ý 18. Qui gia tùy phận đắc tư lương 19. Dĩ đà la ni vô tận bảo 20. Trang nghiêm pháp giới thực bảo điện 21. Cùng tọa thực tế Trung đạo sàng 22. Cựu lai Bất động danh vi Phật 23. Pháp tính viên dung vô nhị tướng 24. Chư pháp bất động bản lai tịch 25. Vô danh vô tướng tuyệt nhất sinh 26. Chứng trí sở tri phi dư cảnh 27. Chân tính thậm thâm cực triệt diệu 28. Bất thủ tự tính tùy duyên thành 29. Nhất trung nhất thiết đa trung nhất 30. Nhất tức nhất thiết đa tức nhất.
nhất thừa pháp môn
The one-vehicle method as revealed in the Lotus Sutra.
nhất thừa phân giáo
(一乘分教) Một trong 4 giáo do ngài Nguyên hiểu, người Tân la (Triều tiên), thành lập. Ngài Nguyên hiểu chia giáo pháp do đức Phật nói trong 1 đời làm 4 giáo: Tam thừa biệt giáo, Tam thừa thông giáo, Nhất thừa phần giáo và Nhất thừa mãn giáo. Ý nghĩa của Nhất thừa phần giáo cũng giống như những điều đã được nói trong kinh Phạm võng và kinh Anh lạc. Bởi vì Bồ tát không học chung với hàng Nhị thừa, nên gọi là Nhất thừa. Nhưng lại chưa thể làm cho lí viên dung trùm khắp của Phật pháp được sáng tỏ nên gọi là Phần giáo. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm huyền đàm Q.4]. (xt. Hiểu Công Tứ Giáo).
nhất thừa phật
The one Buddha-Yana
nhất thừa tam bảo
(一乘三寶) Một trong 6 loại Tam bảo. Pháp tu của chủng tính bất định. Cứ theo huyết của kinh Thắng man và kinh Pháp hoa thì Nhất thừa chỉ cho Tam bảo mà Nhất thừa căn bản có được, Phật, Pháp và Tăng đều bao hàm rong thể của Nhất thừa Tam bảo này; tức Pháp thân cứu cánh là Phật bảo, Pháp Nhất thừa là Pháp bảo và chúng Bồ tát tu pháp Nhất thừa là Tăng bảo. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 6 (Đại 45, 343 hạ) chép: Diễn nói pháp Nhất thừa được pháp thân cứu cánh, trên đó không còn nói pháp sự Nhất thừa. Cũng sách đã dẫn, quyển 6 (Đại 45, 345 thượng) nói: Chính pháp trụ, chính pháp diệt, Ba la đề mộc xoa, Tì ni, xuất gia, thụ Cụ túc, 6 phần này đều vì Đại thừa mà giảng nói. Bốn phần đầu là Pháp, 2 phần sau là Tăng, cho nên là Nhất thừa phương tiện, Nhị bảo cũng thuộc Nhất thừa.
nhất thừa tam thừa
(一乘三乘) Một thừa ba thừa. Giáo pháp duy nhất của Phật giáo có công năng làm cho tất cả chúng sinh đều thành Phật, nên gọi là Nhất thừa. Nhưng vì căn cơ, trình độ của chúng sinh không đều nhau, vì phải thích ứng để giáo hóa mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh, cho nên giáo pháp Nhất thừa được chia làm 3, gọi là Tam thừa. Danh từ Nhất thừa có xuất xứ từ các kinh như: Phẩm Minh nan trong kinh Hoa nghiêm, phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa, chương Nhất thừa trong kinh Thắng man... Nhất thừa cũng gọi là Phật thừa, Nhất Phật thừa, Nhất thừa giáo, Nhất thừa cứu cánh giáo, Nhất thừa pháp, Nhất đạo. Bộ kinh tuyên dương giáo pháp Nhất thừa được gọi là Nhất thừa kinh, còn người tin nhận và tu học theo giáo pháp Nhất thừa thì gọi là Nhất thừa cơ. Giáo pháp sâu rộng của Nhất thừa được ví dụ như biển cả, gọi là Nhất thừa hải. Vì Nhất thừa là giáo nghĩa cao nhất của Đại thừa, nên trong sách Phật có từ ngữ Nhất thừa cực xướng. Còn như kinh Pháp hoa là bộ kinh điển thuyết minh lí Nhất thừa, nên được gọi là Nhất thừa diệu điển, văn kinh của kinh Pháp hoa được gọi là Nhất thừa diệu văn. Cứ theo luận Cứu cánh Nhất thừa bảo tính quyển 2 và Đại thừa trang nghiêm kinh luận uyển 4, thì Thanh văn thừa thuộc Tiểu thừa, Hạ thừa; Duyên giác thừa thuộc Bích chi phật thừa, Độc giác thừa, Trung thừa; Bồ tát thuộc Đại thừa, Phật thừa, Như lai thừa, Thượng thừa. Bởi thế, giáo pháp của Tam thừa gọi là Tam thừa giáo. Thanh văn thừa và Duyên giác thừa không tin nhận giáo pháp Đại thừa, cho nên gọi là Ngu pháp nhị thừa; còn như hàng Bồ tát nhị thừa hồi tiểu hướng đại, thì gọi là Bất ngu pháp nhị thừa. Trong pháp Đại thừa, tông Pháp tướng chia chúng sinh làm 5 chủng tính, trong đó hàng Định tính Thanh văn, Định tính Duyên giác và Định tính Bồ tát tín thụ Tam thừa giáo, chỉ có hàng Bất định tính Bồ tát mới có thể tín thụ Nhất thừa giáo và chứng quả Phật, vì thế mới chọn lấy lập trường Tam thừa chân thực, Nhất thừa phương tiện. Nhưng tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm thì ngược lại, xem Nhất thừa là Phật giáo chân thực, cho nên đều chủ trương Nhất thừa chân thực, Tam thừa phương tiện. Còn tông Tam luận thì cho Bồ tát thừa trong Tam thừa là chân thực, Nhị thừa là phương tiện. Ngoài Tam thừa ra, tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm còn lập riêng Phật thừa. Vì vậy mà tông Pháp tướng và tông Tam luận được gọi là Tam xa gia; còn tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm thì được gọi là Tứ xa gia. Sự khác nhau giữa Tam xa và Tứ xa có căn cứ trong phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa, đoạn thuyết minh về mối quan hệ giữa Tam thừa và Nhất thừa mà ra. Sau hết, tông Hoa nghiêm gọi nền giáo lí cùng tột là Nhất thừa Viên giáo mà cho các tông nghĩa khác là Biệt giáo. [X. phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa Q.1; kinh Giải thâm mật Q.2; luận Hiển dương thánh giáo Q.20; Nhiếp đại thừa luận thích Q.10 (ngài Huyền trang dịch)].
nhất thừa viên tông
Lotus school of the perfect teaching (One Vehicle—Thiên Thai Tông).
; (一乘圓宗) Chỉ cho tông Thiên thai. Vì tông này lấy diệu nghĩa của Nhất thừa viên đốn làm tông chỉ, nên có tên như trên.
nhất thừa yếu quyết
(一乘要决) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Nguyên tín, người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 74. Nội dung sách này phán quyết yếu chỉ về sự tranh luận giữa Tam thừa và Nhất thừa và thành lập nghĩa Nhất thừa chân thực, Tam thừa phương tiện. Đồng thời, soạn giả cũng suy tôn tư tưởng Nhất thừa của tông Thiên thai mà bài bác thuyết Ngũ tính các biệt của tông Pháp tướng, chủ trương tất cả chúng sinh đều có Phật tính, nên tất yếu phải dùng Nhất thừa để hóa độ hướng dẫn.
nhất thừa đạo
Ekayāna-magga (P).
Nhất Thừa Đốn Ngộ
(一乘頓悟, Ichijōtongo): Đốn Ngộ (頓悟, Tongo) có nghĩa là đạt được sự chứng ngộ và khai mở tâm địa một cách nhanh chóng mà không trải qua từng giai đoạn theo thứ tự. Trái với Đốn Ngộ là Tiệm Ngộ (漸悟, chứng ngộ từ từ theo từng giai đoạn). Trong Lục Tổ Đàn Kinh (六祖壇經), Phẩm Bát Nhã (般若 品) có đoạn rằng: "Thiện tri thức ! Ngã ư Nhẫn Hòa Thượng xứ, nhất văn ngôn hạ tiện ngộ, đốn kiến chơn như bản tánh, thị dĩ tương thử giáo pháp lưu hành, linh học đạo giả đốn ngộ bồ đề. (善知識、我於忍和尚處、一聞言下便 悟、頓見眞如本性、是以將此敎法流行、令學道者頓悟菩提, Này thiện tri thức ! Ta nương náu nơi chỗ của Hòa Thượng Hoằng Nhẫn, một lần được nghe lời ngài dạy bèn giác ngộ, liền thấy bản tánh chơn như, nên lấy giáo pháp này mà lưu hành, khiến cho người học đạo nhanh chóng chứng ngộ bồ đề)". Nhất Thừa (s: Eka-yāna, p: Ekāyana, 一乘), hay còn gọi là Nhất Phật Thừa (一佛乘), từ dùng để đối với Tam Thừa (s: Tri-yāna, 三乘, gồm Thanh Văn [聲聞], Duyên Giác [緣覺] và Bồ Tát [菩薩]). Phát xuất từ trong lời dạy trong Phẩm Phương Tiện của Kinh Pháp Hoa (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) rằng: "Thập phương Phật độ trung, duy hữu Nhất Thừa pháp, vô nhị diệc vô tam. Chư Phật dĩ phương tiện lực, ư Nhất Phật Thừa phân biệt thuyết tam (十方佛土中、唯有一乘法、無二亦無三、 諸佛以方便力、於一佛乘分別說三, Trong quốc độ của mười phương các đức Phật, chỉ có một pháp Nhất Thừa, không có hai cũng chẳng có ba. Các đức Phật dùng sức phương tiện nơi Nhất Phật Thừa mà phân biệt nói thành ba)", Kinh Pháp Hoa lấy ba loại xe dê, nai và trâu để ví dụ cho Tam Thừa (ba cỗ xe), còn xe trâu trắng thì ví cho Nhất Thừa (một cỗ xe). Như vậy Nhất Thừa Đốn Ngộ có nghĩa là sự giác ngộ nhanh chóng của Nhất Thừa.
nhất thừa đồng giáo
One Vehicl of the Identical Doctrine—Trong đó nhất thừa được giảng thuyết bằng phương pháp đồng nhất hay tương tự với cả ba thừa. Nhất Thừa của tông Hoa Nghiêm bao gồm tất cả các thừa. Tuy nhiên, tùy theo căn cơ mà giảng ba thừa để chuẩn bị cho những kẻ khát ngưỡng. Cả ba đều tuôn chảy từ Nhất Thừa và được giảng dạy bằng phương pháp đồng nhất như là một. Theo tông Hoa Nghiêm thì ba thừa nầy là—In which the One Vehicle is taught an identical or similar method with the other three Vehicles. The One Vehicle of the Avatamsaka School is inclusive of all Vehicles. However, for the convenience the three vehicles are taught to prepare the aspirants. The three flow out of the One Vehicle and are taught in the identical method as the one. The three Vehicles recognized by the Avatamsaka School. Tiểu Thừa: Hinayana (skt)—The Small Vehicle. Đại Thừa Tiệm Giáo: The Gradual Mahayana. Đại Thừa Thủy Giáo: The Elementary Mahayana. Đại Thừa Chung Giáo: The Final Mahayana. Đại Thừa Đốn Giáo: The Abrupt Doctrine of the Great Vehicle.
nhất thực
The one reality (bhutatathata)—See Nhứt Thực.
; (一食) Sự ăn uống ở thế gian. Nếu có thể trong việc ăn uống này mà thấu suốt được Tam đế thì Nhất thực liền thành Pháp thực. Sau đó, vận dụng tâm bình đẳng, trên cúng dường chư Phật ở 10 phương, kế đến cúng dường các bậc Thánh hiền và sau hết cúng dường các chúng sinh trong 6 đường, cúng dường với tâm bình đẳng không phân biệt. [X. kinh Duy ma cật sở thuyết Q.thượng].
nhất thực cảnh giới
Cảnh giới chân như bất biến và vượt trên mọi phân biệt. Phật tánh là phi vật chất và là đồng nhất của chư pháp—The state or realm of bhutatathata (reality) which is above all differentiation, immutable. It's the Buddha-nature or the immateriality and unity of all things—The realization of spirituality of all things—Như Lai pháp thân (The Tathagata-dharmakaya).
nhất thực khuynh
(一食頃) Phạm: Eka-purobhakta. Cũng gọi Nhất thực chi khoảnh. Chỉ cho thời gian 1 bữa ăn, tức là khoảng thời gian rất ngắn. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 hạ) nói: Các vị Bồ tát ở nước Cực lạc, nương theo uy thần của đức Phật, chỉ trong khoảng 1 bữa ăn đã đi qua vô lượng thế giới trong 10 phương. Phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 4 thượng) nói: Bấy giờ thính chúng trong pháp hội cùng ngồi 1 chỗ, trong 60 tiểu kiếp thân tâm không lay động, nghe đức Phật nói pháp, giống như trong khoảng 1 bữa ăn. Ngoài ra, phẩm Sơ phần chúc lụy trong kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 347 đã chia thời gian theo thứ tự dài, ngắn như sau: Một ngày đêm, 1 ngày, nửa ngày, 1 giờ (2 tiếng đồng hồ), khoảng bữa ăn, chốc lát, giây lát, khoảng hơi thở, khoảng nháy mắt... Như vậy, ta thấy thời gian khoảng 1 bữa ăn nằm ở giữa khoảng 1 giờ và chốc lát. [X. kinh Đại bảo tích Q.37; Pháp hoa nghĩa sớ Q.2 (Cát tạng); Pháp hoa kinh huyền tán Q.2, phần cuối; Tuệ lâm âm nghĩa Q.3].
nhất thực thừa
The one method of salvation.
nhất thực tướng
See Nhất Thật Cảnh Giới, and Nhứt Thực Tướng.
nhất thực tướng ấn
Thực tướng là bản thể của tự tánh. Đại thừa dùng tâm ấn này để ấn chứng hành giả đã ngộ nhập thực tướng, gọi là Nhất thực tướng ấn.
nhất thực viên thừa
The Tathagata's perfect vehicle.
nhất thực viên tông
The one real and perfect school.
nhất thực vô tướng
1) The one reality being indivisible is apart from all transient (or empty) forms—Formless—Invisible. 2) The invisible—The one reality being indivisible is aprt from all transient forms, and therfore styled the formless.
nhất tinh minh
(一精明) Một cái tinh minh. Chỉ cho tự tính thanh tịnh sẵn có của hết thảy chúng sinh. Tinh minh là hình dung sự trong sáng nhiệm mầu tuyệt đối. Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 6 (Đại 9, 382 thượng) nói: Vốn từ 1 cái tinh minh mà chia thành 6 thứ hòa hợp. Truyền tâm pháp yếu (Đại 48, 382 thượng) nói: Nói là cùng 1 cái tinh minh mà chia ra 6 hòa hợp. Một cái tinh minh tức là nhất tâm, 6 hòa hợp tức là 6 căn vậy.
nhất tinh sự
(一星事) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Những việc lặt vặt, nhỏ nhặt. Tinh là độ khắc trên cái cán cân để tính cân lạng, người ta thường gọi là Hoa cân. Tắc 9 trong Bích nham lục (Đại 48, 149 trung) chép: Có những kẻ tầm phào nói: Xưa nay chẳng hề có 1 mảy may việc gì (nhất tinh sự), chỉ gặp trà uống trà, gặp cơm ăn cơm. Đây là kẻ đại vọng ngữ: Chưa được nói đã được, chưa chứng nói đã chứng.
nhất tiếu
A smile.
nhất tiển đạo
Đường tên bay—An arrow's flight.
Nhất tiểu kiếp
(一小劫) [thuật]: một kiếp nhỏ. Theo thuyết của các dịch giả sau này, trong khoảng một lần tăng hoặc giảm được gọi là một kiếp nhỏ. Còn theo thuyết của các dịch giả xưa kia thì cho rằng kết hợp cả một lần tăng và giảm được gọi là một kiếp nhỏ. Trong Phẩm Hóa Thành Dụ của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Chư Phật pháp bất hiện tại tiền, như thị nhất tiểu kiếp nãi chí thập tiểu kiếp (諸佛法不現在前、如是一小劫乃至十小劫, pháp của các đức Phật không có ở hiện tại, như vậy một kiếp nhỏ cho đến mười kiếp nhỏ).”
nhất tiểu kiếp
A small kalpa—Thời kỳ phát triển và hoại diệt của vũ trụ—A period of the growth and decay of a universe—See Nhất Tăng Nhất Giảm.
; (一小劫) Một tiểu kiếp, là đơn vị chỉ thời gian. Theo luận Đại tì bà sa... thì lúc tuổi thọ con người chỉ 10 tuổi, từ đó, cứ hết 100 năm tăng lên 1 tuổi, tăng đến 8 vạn 4 nghìn tuổi (84.000) là mức tận cùng của kiếp tăng. Rồi lại bắt đầu từ 8 vạn 4 nghìn tuổi, cứ hết 100 năm thì giảm đi 1 tuổi, giảm đến còn 10 tuổi là mức tận cùng của kiếp giảm. Một lần tăng, 1 lần giảm như thế, tổng cộng là 1.680 vạn năm, gọi là 1 tiểu kiếp. Trong các kinh điển, danh từ Tiểu kiếp thường được nói đến, như kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 4 thượng) nói: Pháp môn giáo hóa hàng Bồ tát được Phật hộ niệm, trong 60 tiểu kiếp không rời khỏi tòa; bấy giờ thính chúng trong pháp hội cũng ngồi 1 chỗ, thân tâm bất động, nghe Phật nói pháp suốt 60 tiểu kiếp mà tưởng chừng chỉ trong khoảng thời gian 1 bữa ăn. [X. luận Câu xá Q.10; luận Đại tì bà sa Q.135].
nhất tiễn quá tây thiên
(一箭過西天) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một mũi tên vượt quá Tây thiên. Nghĩa là vượt ra ngoài ngôn ngữ, tâm đắc, không có bất cứ dấu vết nào để truy tìm. Tức hình dung cảnh giới cao xa, dứt bặt mọi tung tích.Thiên Hành lục trong Lâm tế lục (Đại 47, 506 trung) chép: Sư nói: Dù có cũng không nói được. Phong nói: Hãy nói xem! Sư bảo: Một mũi tên vượt quá Tây thiên.
nhất tiễn đạo
(一箭道) Một đường tên bắn. Tên dặm đường của Ấn độ đời xưa, tương đương với 1 cây số. Về sau, Nhất tiễn đạo được dùng để chỉ 1 quãng đường rất gần. [X. phẩm Dược vương kinh Pháp hoa; Pháp hoa gia tường sớ Q.11].
nhất tiệp phu
(一捷夫) Chỉ cho người làm việc nhanh nhẹn. Luận Đại tì bà sa quyển 136 (Đại 27, 701 trung) nói: Có 1 người nhanh nhẹn (Nhất tiệp phu) đến nói rằng: Bây giờ các ông có thể cùng bắn tên ra 1 lượt, tôi có thể tiếp lấy hết, không để 1 mũi tên nào rơi xuống.
nhất toàn nhất chú
(一旋一咒) Một vòng 1 biến chú. Nghĩa là đi nhiễu Phật 1 vòng, tụng xong 1 Đà la ni. Ma ha chỉ quán quyển 2, phần đầu (Đại 46, 13 trung) nói: Cúng dường xong, lễ trước Tam bảo đã thỉnh (...), bày tỏ lòng ăn năn sám hối rồi đứng dậy đi nhiễu 120 vòng. Một vòng 1 biến chú, không chậm không nhanh, không cao không thấp.
nhất toàn đà la ni
(一旋陀羅尼) Tên của Đà la ni thứ nhất trong 3 Đà la ni nói trong phẩm Khuyến phát kinh Pháp hoa. Đà la ni này là giáo pháp chuyển hóa toàn bộ tâm phàm phu chấp trước các pháp có hình tướng, nhằm đạt đến trí lực của lí Không, tương đương với Không quán trong 3 quán: Không, Giả, Trung của tông Thiên thai. (xt. Tam Đà La Ni).
nhất toạ thực
(一坐食) Phạm: Ekasanika. Cũng gọi Nhất thực pháp. Một bữa ăn, tức mỗi ngày chỉ ăn 1 lần và ngồi ở 1 chỗ trong lúc ăn, khi đã đứng dậy rồi thì không ngồi xuống để ăn tiếp nữa. Là 1 trong 12 hạnh đầu đà. Vì trong 1 ngày mà ăn nhiều lần thì dễ trở ngại cho việc tu đạo, bởi thế, người tu hành muốn mau thành quả thì chỉ nên ăn ngày 1 bữa vào đúng giờ Ngọ mà thôi.
nhất trang nghiêm tam muội
(一莊嚴三昧) Tam muội là tên khác của Thiền định. Nhất trang nghiêm tam muội là 1 trong 108 Tam muội. Đây là Thiền định quán chiếu tất cả các pháp đều là 1 tướng chứ không có 2 tướng. Phẩm Thích ma ha diễn trong luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 25, 401 trung) nói: Nhất trang nghiêm tam muội là quán các pháp đều là một; hoặc vì các pháp có tướng, nên là 1, hoặc vì tất cả các pháp đều không có tướng, nên là 1; hoặc tất cả các pháp đều không, nên là 1. Như vậy, vô lượng pháp đều là 1. Vì Nhất tướng trí tuệ trang nghiêm là Tam muội, nên gọi là Nhất trang nghiêm.
nhất tri bán giải
(一知半解) Biết một hiểu nửa, nghĩa là kiến thức nông cạn. Đại tuệ Phổ giác thiền sư ngữ lục quyển 18 (Đại 47, 887 trung) nói: Văn chương mĩ thuật của thế gian còn cần phải hiểu rõ, rồi sau mới đạt đến chỗ tinh vi, huống hồ là pháp xuất thế gian, các ông làm sao thấu rõ? Một nghìn hai trăm Thiền sinh ở đây, có kiến thức nông cạn (nhất tri bán giải), người nào vào thất mà nói được, thì chắc chắn là hơn họ rồi. [X. Thiền lâm bảo huấn Q.3].
Nhất triêu
一朝; C: yī zhāo; J: itchō;|Qua một đêm, trong một ngày. Chỉ một khoảng thời gian rất ngắn.
nhất trung
(一中) Cũng gọi Điểm trà nhất trung. I. Nhất Trung. Một nhà trai, 1 thời pháp. Đây là tiếng dùng của Thiền tông trong lúc pha trà, tức là đi rót trà cho tất cả mọi người trong nhà trai. Sắc tu Bách rượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1142 hạ) nói: Hôm nay, sau khi thụ trai, vị Khố ti(người phụ trách việc nhà kho)châm trà cho đại chúng tại nhà trai (nhất trung), kính mong đại chúng thùy từ chứng giám. Phần Dạy chúng trong Thiên mục Minh bản thiền sư tạp lục quyển thượng (Vạn tục 122, 365 hạ) nói: Chiều hôm qua, vị Thủ tọa và Duy na đến am, thưa thỉnh: Mùa an cư kết hạ đã đến gần, xin Hòa thượng thăng tòa nói cho đại chúng 1 thời pháp (nhất trung). II. Nhất Trung. Tòa ngồi ở chính giữa (1 tòa ngồi được đặt riêng ở giữa), vì tòa này được đặt ở chính giữa nên gọi là Nhất trung. Đây là chỗ ngồi của chủ nhà, nếu người khác được mời ngồi vào chỗ ấy, thì đó là bày tỏ lòng tôn kính của người chủ đối với khách. [X. Ngọa vân mộng ngữ tập]. III. Nhất Trung. Ăn một bữa vào lúc giữa ngày. Người tu hành trì trai, chỉ ăn một bữa vào giờ Ngọ nên gọi là Nhất trung. IV. Nhất Trung. Nhất trung đạo, tiếng dùng của tông Thiên thai. Ma ha chỉ quán quyển 5, phần đầu (Đại 46, 55 trung) nói: Một Trung thì tất cả đều Trung, chẳng Không, Giả nào mà không Trung, đó là tất cả Trung quán vậy. (xt. Nhất Trung Nhất Thiết Trung).
nhất trung kiếp
(一中劫) Một trung kiếp, đơn vị tính thời gian của Ấn độ đời xưa. Một tiểu kiếp là tuổi thọ con người trải qua 1 chu kì tăng và 1 chu kì giảm, tổng cộng .680 vạn năm. Hợp 20 tiểu kiếp thì thành 1 trung kiếp, gồm 33.600 vạn năm, gọi là Nhất trung kiếp. [X. luận Câu xá Q.10]. (xt. Nhất Tiểu Kiếp).
nhất trung nhất thiết trung
See Nhứt trung nhứt thiết trung.
; (一中一切中) Một Trung tất cả Trung. Tông Thiên thai thành lập 3 pháp quán: Không quán, Giả quán và Trung quán, nhưng khi tu 1 pháp tức cũng gồm cả 2 pháp còn lại. Như khi tu Trung quán, thì Không quán và Giả quán cũng đều là Trung, vì thế nên gọi là Nhất trung nhất thiết trung. Đại sư Trí khải đặc biệt gọi 3 pháp quán này là Bất khả tư nghị tam quán. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, phần đầu]. (xt. Nhất Tâm Tam Quán).
nhất trác trác đắc
(一逴逴得) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trác nghĩa là vượt qua, tức 1 bước nhảy vọt vượt qua các vọng tưởng phiền não. Cũng hàm ý ngay lúc ấy được tỉnh ngộ.
nhất trì
To adhere to one Buddha and one sutra.
nhất trí
Cùng nhau đồng ý—Unanimous—In chorus.
; (一致) Một mối, toàn thể giống nhau. Nghĩa là tông thú cùng tột của Phật thừa duy chỉ có 1 chứ không có 2. Nhưng vì căn cơ của chúng sinh khác nhau, nên đức Phật tạm thời đặt ra 3 thừa để giáo hóa cho phù hợp mọi trình độ, chung qui là nhằm hiển thực. Đó là lí nhất trí của Phật thừa. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.4].
nhất trước
(一著) Cũng gọi Nhất trước tử. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên là dụng ngữ trong môn chơi về cờ tướng, đi 1 nước cờ gọi là Nhất trước. Trong Thiền lâm, từ này được dùng để chỉ cho 1 sự kiện, 1 việc. Tắc 6 trong Bích nham lục nói: Một việc (nhất trước) hướng thượng, nghìn Thánh chẳng truyền.
nhất trường ma la
(一場懡㦬) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một chuỗi hổ thẹn. Ma la nghĩa là tàm quí, sỉ nhục. Các bộ ngữ lục của Thiền tông thường dùng nhóm từ này. Tắc 7 trong Thung dung lục (Đại 48, 231 hạ) nói:Con nít được tiền nín khóc ngay Thấy roi lướt gió ấy ngựa hay Mây vén trăng tròn nhìn tổ hạc (Một chuỗi hổ thẹn dưới gốc cây) Lạnh thấu xương da dễ ngủ thay!.
Nhất trượng lục tượng
(一丈六像) [đồ]: nghĩa là tượng Phật cao 1 trượng 6 thước, hình hóa thân. Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) có đoạn rằng: “Nhất trượng lục tượng tại trì thủy thượng (一丈六像在池水上, tượng cao một trượng sáu thước nằm trên mặt nước hồ)”. Nó còn được dịch là trượng lục điều hạ (丈六條下).
; 一丈六像; C: yīzhàngliù xiàng; J: ichijōroku zō;|Hình dáng cao một trượng sáu của Đức Phật, chiều cao của hoá thân Phật. Trượng lục (丈六).
nhất trảm nhất thiết trảm
(一斬一切斬) Đối lại: Nhất nhiễm nhất thiết nhiễm. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chém một tức chém tất cả. Nghĩa là nếu dứt được căn bản vô minh thì tất cả phiền não và vọng kiến tự nhiên đều dứt hết. Tắc 19 trong Bích nham lục (Đại 48, 159 thượng) nói: Như chém một cuộn tơ, chém 1 nhát là chém hết các sợi tơ, như nhuộm 1 cuộn chỉ, nhuộm 1 lần là nhuộm tất cả các sợi chỉ.
nhất trần
A grain of dust, an atom, a particle. Nhất trần pháp giới: the whole in an atom, a universe in a grain of dust. Nhất vi trần.
; A grain of dust—Một hạt bụi—An atom—A particle.
nhất trần bất nhiễm
(一塵不染) Một mảy bụi không nhiễm. Trần, Phạm: Artha, hoặc Viwaya. Dịch mới: Cảnh, cảnh giới. Chỉ cho đối tượng(đối cảnh)mà 6 căn duyên theo để sinh ra cảm giác. Phật gọi 6 thứ: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là Trần cảnh (cảnh bụi bặm) của 6 căn. Vậy, nếu 6 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà hoàn toàn thanh tịnh, không ô nhiễm, thì gọi là Nhất trần bất nhiễm. Về sau, từ ngữ này của Phật giáo được người đời sử dụng để nói về nhân cách cao khiết và đức tính thanh liêm của các ông quan, hoặc các bậc cao sĩ.
nhất trần pháp giới
Cả pháp giới trong một nguyên tử, cả vũ trụ trong nhất trần—The whole in an atom, a universe in a grain of dust—Nhất trần là một vi vũ trụ của toàn vũ trụ—One grain of dust is a microcosmo of the universe whole.
; (一塵法界) Một hạt bụi dung chứa cả pháp giới. Một hạt bụi tuy là cực nhỏ, nhưng nếu dùng con mắt trí tuệ mà quan sát thì biết trong 1 hạt bụi bao hàm cả vũ trụ, vì thế gọi là Nhất trần pháp giới. Phương Tây cũng có câu ngạn ngữ tương tự: Thấy thế giới trong 1 hạt cát.
nhất tu nhất thiết tu
(一修一切修) Một tu tất cả tu. Nghĩa là bậc thượng căn đại trí vận dụng toàn tính khởi tu, hiểu biết rõ tu tức là tính, tính tu không 2, sự lí dung nhau; đốt hương, rải hoa đều là Trung đạo, ngồi thiền tụng kinh cũng là Chân như. Bởi thế, hễ tu 1 hạnh thì tất cả hạnh đều tu, cho nên gọi là Nhất tu nhất thiết tu.
Nhất Ty Văn Thủ
(一糸文守, Isshi Bunshu, 1608-1646): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, xuất thân gia đình Cửu Ngã (久我) ở kinh đô Kyoto, tự là Nhất Ty (一糸). Năm lên 14 tuổi, ông đến tham học với Tuyết Sầm Kim (雪岑崟) ở Tướng Quốc Tự (相國寺, Sōkoku-ji), sau đến tham bái Trạch Am Tông Bành (澤庵宗彭). Vào năm thứ 3 (1626) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), ông theo xuất gia với Luật Sư Hiền Hậu (賢後) trên kinh đô, rồi lại đến tham vấn Trạch Am lần thứ hai. Về sau, ông theo học với Ngu Đường Đông Thật (愚堂東寔), Tuyết Cư Hy Ưng (雪居希膺) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Ngu Đường (có thuyết cho rằng ông kế thừa dòng pháp của Không Tử Nguyên Phổ [空子元普] ở Vĩnh Nguyên Tự [永源寺]). Hậu Thủy Vĩ Thượng Hoàng (後水尾上皇) quy y theo ông, ông được vị này rất tín nhiệm, cho nên vào năm thứ 15 (1638) niên hiệu Khoan Vĩnh, ông cho xây dựng ở vùng Hạ Mậu (賀茂) ngôi Linh Nguyên Viện (靈源院), rồi ba năm sau thì cho xây dựng thêm ngôi Đại Mai Sơn Pháp Thường Tự (大梅山法常寺) ở vùng Đơn Ba (丹波, Tamba, thuộc kinh đô Kyoto); nhưng hai năm sau thì ông lại đến trú ở Vĩnh Nguyên Tự (永源寺, Eigen-ji) vùng Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]). Ông thị tịch vào ngày 19 tháng 3 năm thứ 3 niên hiệu Chánh Bảo (正保), hưởng thọ 39 tuổi đời và 20 hạ lạp. Đến năm 1678, ông được ban tặng hiệu Định Tuệ Minh Quang Phật Đảnh Quốc Sư (定慧明光佛頂國師). Dòng pháp từ của ông có Thạch Đỉnh Văn Ngoan (石鼎文頑), Như Tuyết Văn Nham (如雪文巖), Trí Minh Tịnh Nhân (智明淨因), v.v. Ông có lưu lại khá nhiều thư tịch như Đại Mai Nhất Ty Hòa Thượng Ngữ Lục (大梅一糸和尚語錄) 5 quyển, Phật Đảnh Quốc Sư Nhất Ty Hòa Thượng Ngữ Lục (佛頂國師一糸和尚語錄) 5 quyển, Nhất Ty Hòa Thượng Thi Kệ (一糸和尚詩偈) 1 quyển, Nhất Ty Hòa Thượng Pháp Ngữ (一糸和尚法語), Đại Mai Sơn Dạ Thoại (大梅山夜話), v.v.
nhất tánh tông
Nhất Tánh Tông trong Phật giáo Đại thừa quyết đoán rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh như nhau—Monophysitic or Pantheistic sect of Mahayana, which assert that all beings have one and the same nature with all Buddhas.
nhất táp
(一匝) Cũng gọi Nhất hồi. Một vòng, đi quanh 1 vòng. Thiên Quải đáp trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 440 thượng) nói: Theo vị Thủ tọa đi 1 vòng Thiền đường, đến trước Thánh tăng chào hỏi.
Nhất tâm
(s: eka-citta, 一心): chỉ cho chơn như, tâm Như Lai Tạng (s: tathāgata-garbha, 如來藏); tức là nguyên lý căn bản của vũ trụ, tâm tánh tuyệt đối không hai. Như trong Nhập Lăng Già Kinh (入楞伽經, Taishō Vol. 16, No. 671) quyển 1, Phẩm Thỉnh Phật (請佛品) thứ nhất, có câu: “Tịch diệt giả danh vi nhất tâm, nhất tâm giả danh vi Như Lai Tạng (寂滅者名爲一心、一心者名爲如來藏, vắng lặng gọi là nhất tâm, nhất tâm gọi là Như Lai Tạng).” Trong Hoa Nghiêm Kinh Hạnh Nguyện Phẩm Sớ Sao (華嚴經行願品疏鈔, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 5, No. 229) quyển 2, Tông Mật (宗密, 780-841) lấy nhất tâm phối với 5 trường phái để giải thích: (1) Giả Thuyết Nhất Tâm (假說一心), hành giả Phật Giáo Nguyên Thủy thừa nhận rằng ngoài tâm ra còn tồn tại một ngoại cảnh khác, cho nên tâm có danh mà không thật. (2) Sự Nhất Tâm (事一心), chính là A Lại Da Thức (s: ālaya-vijñāna, p: ālaya-viññāṇa, 阿賴耶識) dị thục do Đại Thừa Quyền Giáo (大乘權敎) đề cập đến. (3) Nhất tâm sự lý vô ngại, tức là Tàng Thức (藏識) của Như Lai Tạng do Đại Thừa Thật Giáo (大乘實敎) đề cập đến. (4) Nhất tâm tuyệt đối, là cảnh giới siêu việt cả ô nhiễm lẫn trong sạch được đề xướng trong Đại Thừa Đốn Giáo (大乘頓敎). (5) Nhất tâm bao hàm cả vạn hữu; là cảnh giới xả tận vạn hữu của Biệt Giáo Nhất Thừa (別敎一乘); nên gọi nhất tâm là Nhất Chơn Pháp Giới (一眞法界) hay Nhất Tâm Pháp Giới (一心法界), nghĩa là nhất tâm không ngoài bản thể vũ trụ. Trong khi đó, Thiên Thai Tông thì đưa ra thuyết Nhất Tâm Tam Quán (一心三觀), Nhất Niệm Tam Thiên (一念三千). Duy Thức Tông lấy Căn Bản Thức (s: mūla-vijñāna, 根本識) duy nhất là nhất tâm, chỉ cho tâm năng biến của vạn hữu, tức là A Lại Da Thức. Ngoài ra, Chuyên chú vào một đối tượng nào đó, không sanh khởi vọng niệm, được gọi là nhất tâm. Cho nên, chuyên tâm niệm Phật cũng được gọi là nhất tâm chuyên niệm. Theo thuyết của Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360), nhất tâm có đủ 3 yếu tố chính là chí tâm (至心, một lòng, dốc hết lòng), tín nhạo (信樂, tin tưởng và vui vẻ) và dục sanh ngã quốc (欲生我國, muốn sanh về nước ta). Bên cạnh đó, Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh (佛說觀無量壽佛經, Taishō Vol. 12, No. 365) thì cho rằng nhất tâm có 3 loại là chí thành tâm (至誠心), thâm tâm (深心), hồi hướng phát nguyện tâm (迴向發願心); đồng nghĩa với “nhất tâm bất loạn (一心不亂)” trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh (佛說阿彌陀經, Taishō Vol. 12, No. 366). Trong Kim Cang Tam Muội Kinh Luận (金剛三昧經論, Taishō Vol. 34, No. 1730) do Sa Môn Nguyên Hiểu (元曉, 617-?), học tăng của Hoa Nghiêm Tông, người Tân La (新羅, Triều Tiên) trước thuật, giải thích rằng: “Phù nhất tâm chi nguyên ly hữu vô nhi độc tịnh, Tam Không chi hải dung chơn tục nhi trạm nhiên (夫一心之源離有無而獨淨、三空之海融眞俗而湛然, phàm nguồn của nhất tâm lìa có không mà thuần sạch, biển của Ba Không dung chứa cả chân lẫn tục mà lắng trong).” Trong Tây Quy Hành Nghi (西歸行儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1468), phần Vãng Sanh Tịnh Độ Thập Niệm Pháp Môn (往生淨土十念法門), có đoạn: “Nhất tâm quy mạng, Cực Lạc thế giới, A Di Đà Phật, nguyện dĩ tịnh quang chiếu ngã, từ thệ nhiếp ngã, ngã kim chánh niệm, xưng Như Lai danh, vị Bồ Đề đạo, cầu sanh Tịnh Độ (一心歸命、極樂世界、阿彌陀佛、願以淨光照我、慈誓攝我、我今正念、稱如來名、經十念頃、爲菩提道、求生淨土, một lòng quy mạng, Cực Lạc thế giới, A Di Đà Phật, nguyện lấy hào quang chiếu con, từ bi nhận con, con nay chánh niệm, gọi tên Như Lai, vì đạo Bồ Đề, cầu sanh Tịnh Độ).”
; 一心; C: yīxīn; J: ishin; P: ekāgattā; S: svacitta-mātra, eka-agra, eka-citta, dhyāna.|Tâm. 1. Là nền tảng căn bản nhất. Là chân như của mọi hiện hữu. »Nhất« nghĩa thông thường là đồng nhất với tuyệt đối. ›Tâm‹ có nghĩa là ›chắc thật‹. Cũng vậy, nhất tâm là căn bản của toàn thể hữu tình. Là thực tại tuyệt đối căn bản của mọi hịên tượng trong vũ trụ. Đây là tư tưởng trung tâm của Đại thừa khởi tín luận (起信論), trong đó, Nhất tâm được xem là đồng nhất với Pháp thân (法身; s: dharmakāya) và Pháp giới (法界; s: dharmadhātu); 1. Hợp nhất tâm, do vậy, nên gọi ›hợp nhất tinh thần‹ hay là sự tập trung tâm ý. Tâm an trú vào đức Phật A-di-đà khi quán tưởng đến ngài; 3. Tập trung toàn tâm toàn ý một cách nhiệt thành, không để cho tán loạn.
nhất tâm
Ekāgattā (P), Ekāgra, Ekāgratā (S), Ekaggatā (P), Ekagga (P), Eka-citta (S), One-pointed mind, One-mindednessTịnh, Tâm chuyên chú vào một việc nào đó mà không khởi vọng niệm.
; With whole mind or heart; one mind or heart; also the whole of thing; the universe as one mind, or a spiritual unity.
; Citta-nupassana (p)—Contempaltion of mind. 1) Bằng tất cả tâm trí: Unanimous (Unanimity)—In agreement—In chorus—With the whole mind or heart—The bhutatathata. 2) See Nguyên Tâm and Sâm La Vạn Tượng Chi Tâm.
; (一心) Phạm: Eka-citta. Chỉ cho Chân như, Tâm như lai tạng. I. Nhất Tâm. Nguyên lí căn bản của vũ trụ vạn hữu, tức là tâm tính tuyệt đối không hai. Kinh Nhập lăng già quyển 1 (Đại 16, 919 thượng) nói: Tịch diệt gọi là Nhất tâm, Nhất tâm gọi là Như lai tạng. Trong Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm sớ sao quyển 2, ngài Tông mật phối hợp Nhất tâm với 5 giáo để thuyết minh như sau: 1. Giả thuyết nhất tâm: Tiểu thừa giáo thừa nhận ngoài tâm còn có một ngoại cảnh tồn tại, vì thế tâm chỉ có cái tên chứ không có thực. 2. Sự nhất tâm: Tức là thức A lại da dị thục của Đại thừa quyền giáo. 3. Lí sự vô ngại nhất tâm: Tức là Tạng thức Như lai tạng của Đại thừa thực giáo. 4. Tuyệt đối nhất tâm: Chỉ cho tâm siêu việt nhiễm tịnh của Đại thừa Đốn giáo. 5. Tổng cai vạn hữu nhất tâm: Tức là Nhất chân pháp giới hoặc Nhất tâm pháp giới của Biệt giáo đã xả bỏ hết thảy vạn hữu, cũng tức là ý Nhất tâm không ngoài bản thể vũ trụ. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Tông kính lục Q.37]. II. Nhất Tâm. Tông Duy thức lấy thức căn bản duy nhất làm Nhất tâm, là tâm biến hiện ra vạn hữu, tức là thức A lại da. Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 10 hạ) nói: Do tự tâm chấp trước, tâm tựa hồ bị cảnh ngoài chuyển, chỗ thấy kia chẳng phải có, vì thế nói là duy tâm, bởi vậy khắp mọi nơi đều nói là nhất tâm. [X. luận Thành duy thức Q.7; Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần cuối]. III. Nhất Tâm. Chỉ cho tâm chuyên chú vào 1 đối tượng nào đó mà không khởi vọng niệm. Cho nên chuyên tâm niệm Phật gọi là Nhất tâm niệm Phật. Tông Tịnh độ đặc biệt xem trọng việc chuyên tâm trì niệm danh hiệu Phật A di đà. Cứ theo kinh Vô lượng thọ nói, thì nhất tâm có 3 niềm tin là: Chí tâm (dốc 1 lòng), Tín nhạo (tin ưa) và Dục sinh ngã quốc (muốn sinh về cõi nước của đức Phật A di đà). Còn kinh Quán vô lượng thọ thì cho rằng, nhất tâm bao gồm 3 tâm là: Chí thành tâm, Thâm tâm và Hồi hướng phát nguyện tâm, đồng nghĩa với Nhất tâm bất loạn được nói trong kinh A di đà. [X. Quán kinh sớ Q.4; Vãng sinh luận chú Q.hạ].
nhất tâm bao trùm bốn cõi
This single mind encompasses the four kinds of lands in their totality: 1) Phàm Thánh đồng cư độ: Cõi phàm Thánh cùng ở chung với nhau—The land of common residence of beings and saints. 2) Phương tiện hữu dư độ: Cõi của phương tiện—The land of expediency. 3) Thật báo vô chướng ngại độ: Cõi của thực báo không còn chướng ngại—The land of true reward. 4) Thường tịch quang độ: Cõi của ánh sáng tịch tịnh miên viễn—The land of eternally tranquil light.
nhất tâm bất loạn
Aviksipta-citta (S).
; Một tâm không loạn động—One mind unconfused.
; (一心不亂) Phạm: Avikwipta-citta. I. Nhất Tâm Bất Loạn. Chuyên chú vào 1 việc, khiến tâm không tán loạn, dao động. Kinh Hoa nghiêm quyển 39 (Đại 10, 842 thượng) nói: Các ông nên xa lìa các nghi hoặc, phải 1 lòng chuyên chú (nhất tâm bất loạn) lắng nghe. II. Nhất Tâm Bất Loạn. Khi tu pháp môn niệm Phật, đem lòng tin chí thành mà trì niệm danh hiệu Phật A di đà, khiến tâm không tán loạn. Tức là xả bỏ cái ta mà hợp nhất với tiếng xưng niệm Nam mô A di đà Phật. Kinh A di đà (Đại 12, 347 trung) nói: Nếu có người được nghe nói về đức Phật A di đà, rồi chấp trì danh hiệu của Ngài trong 1 ngày, 2 ngày (...) hoặc 7 ngày, 1 lòng không rối loạn (nhất tâm bất loạn), thì lúc người ấy lâm chung, Phật A di đà và các Thánh chúng sẽ hiện ở trước mặt.
nhất tâm bất sinh vạn pháp vô cữu
(一心不生萬法無咎) Một tâm niệm chẳng nảy sinh thì muôn pháp không có lỗi. Nghĩa là, nếu người ta không khởi tâm phân biệt như: lấy, bỏ, thích, ghét... thì muôn vật sẽ hiển hiện chân tướng của chúng. Tín tâm minh (Đại 48, 376 hạ) nói: Hai là do một mà có, nếu một cũng không thì tâm chẳng sinh. Tâm đã chẳng sinh thì muôn pháp không có lỗi.
nhất tâm chi
(一心支) Tâm và định hợp nhất, 1 trong 5 chi công đức của thiền định ở cõi Sơ thiền. Khi hành giả mới chứng được thiền định, thì tâm nương theo pháp giác quán hỉ lạc (cảm thấy vui mừng)nên tâm có sự tán loạn nhỏ nhiệm; nếu chấm dứt được trạng thái ấy thì tâm tự nhiên hợp với định làm một, vì thế gọi là Nhất tâm chi. [X. Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng, phần cuối].
nhất tâm chuyên niệm
(一心專念) Một lòng chuyên nhớ nghĩ đến Phật. Luận Vãng sinh (Đại 26, 131 trung) nói: Tâm thường phát nguyện, một lòng chuyên niệm, cuối cùng được sinh về cõi nước An lạc.Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ quyển 4 (Đại 37, 272 thượng) nói: Một lòng chuyên niệm danh hiệu Phật A di đà, chắc chắn sẽ được vãng sinh, không còn nghi ngại gì nữa.
nhất tâm chân kiến đạo
(一心真見道) Cũng gọi Chân kiến đạo, Nhất tâm kiến đạo.Chỉ cho giai vị hiển bày chân lí thực chứng Sinh không, Pháp không và thực đoạn Sở tri chướng, Phiền não chướng. Tông Duy thức chia Kiến đạo làm 2 loại: Chân kiến đạo và Tướng kiến đạo. Chân kiến đạo thì chứng lí Duy thức, có thể dẫn sinh trí căn bản vô phân biệt, chứng ngộ lí Chân như, dứt trừ phiền não chướng và sở tri chướng, gọi là Nhất tâm chân kiến đạo. Luận Thành duy thức quyển 9 (Đại 31, 50 thượng) nói: Chân kiến đạo nghĩa là trí vô phân biệt đã thực chứng Sinh không, Pháp không, thực đoạn Phiền não chướng và Sở tri chướng mà hiển bày chân lí. Tuy phải trải qua nhiều sát na mới đạt đến chỗ rốt ráo, nhưng vì đồng như nhau nên gọi chung là Nhất tâm chân kiến đạo. (xt. Kiến Đạo).
nhất tâm chính niệm
One-minded right mindfulness.
; (一心正念) Một lòng chính niệm. Nghĩa là chuyên tâm nhất ý chính niệm mà niệm Phật. Quán kinh sớ quyển 4 của Đại sư Thiện đạo (Đại 37, 273 thượng) nói: Trên bờ Tây có người gọi lớn tiếng rằng: Ông hãy nhất tâm chính niệm đi, ta sẽ giúp ông.
nhất tâm chế ý
(一心制意) Khi một lòng chuyên chú thì có thể chế phục những ý nghĩ nảy sinh phiền não. Nghĩa là khi chuyên tâm nhất ý thì sẽ chế ngự được 3 phiền não của ý: Tham muốn, tức giận và ngu si; chế ngự được 4 phiền não của miệng: Nói dối, nói thêu dệt, nói 2 lưỡi và nói ác.; chế ngự được 3 phiền não của thân: Giết hại, trộm cắp và gian dâm. Nếu người xa lìa được 10 điều xấu ác nói trên, giữ tâm hạnh ngay thẳng, thì chẳng những chính mình được lợi ích giải thoát, mà còn mang lại hạnh phúc, yên vui cho mọi người xung quanh, nói rộng ra là cho toàn xã hội.
nhất tâm hoa văn
(一心華文) Dùng lời văn hoa mĩ để hiển bày nghĩa Nhất tâm. Đây là ý khen ngợi câu nói Nhất tâm thệ nguyện vãng sinh trong luận Tịnh độ của bồ tát Thiên thân. Luận Tịnh độ (Đại 26, 230 hạ) nói: Bạch Thế tôn! Con một lòng qui mệnh hết thảy các đức Như lai Vô ngại quang trong 10 phương, nguyện sinh về cõi nước An lạc. Từ ngữ Nhất tâm hoa văn có xuất xứ từ bài tựa Hiển tịnh độ chân thực tín văn loại trong Giáo hành tín chứng quyển 3 của sư Thân loan, người Nhật bản. Bài tựa nói (Đại 83, 600 hạ): Tin theo lời nói chân thực của chư Phật Như lai, mở xem tông nghĩa của các nhà nghị luận, các nhà chú thích, nhờ sự soi sáng của 3 kinh, đặc biệt mở xem nhất tâm hoa văn để còn điều gì ngờ vực thì làm cho sáng tỏ.
nhất tâm hợp chưởng
With one mind I join my palms.
; (一心合掌) Chắp 2 tay, tâm chuyên chú vào một chỗ. Chắp tay là để biểu thị 1 lòng tôn kính. Vì 2 bàn tay hợp làm 1 là biểu thị nghĩa chuyên chú nhất tâm. [X. Quan âm nghĩa sớ Q.thượng].
nhất tâm kim cang bảo giới
See Nhứt Tâm Kim Cang Bảo Giới, Kim Cang Bảo Giới, and Bốn Mươi Tám Giới Khinh.
nhất tâm kính lễ
With one mind I respecfully bow to...
; (一心敬禮) Một lòng kính lạy. Nghĩa là nhất tâm chuyên chú, kính lễ Tam bảo. Pháp hoa sám văn (Đại 77, 265 thượng) nói:Nhất tâm kính lễ hết thảy chư Phật thường trụ khắp 10 phương (...) Nhất tâm kính lễ Đại thừa diệu pháp liên hoa kinh, hết thảy tôn kính 10 phương, 12 bộ kinh Pháp bảo chân tịnh (...). Nhất tâm kính lễ tất cả Thánh chúng, phàm chúng trong pháp hội Pháp hoa.
nhất tâm ngũ hành
(一心五行) Cũng gọi Như lai hạnh, Bất thứ đệ hạnh, Viên ngũ hạnh. Trong 1 tâm có đầy đủ công đức của 5 hạnh do tông Thiên thai chủ trương. Ngũ hạnh gồm: Thánh hạnh, Phạm hạnh, Anh nhi hạnh, Bệnh hạnh, Thiên hạnh. Nếu phối hợp Ngũ hạnh với Tam đế tam muội, thì Thánh hạnh tức là Chân đế tam muội, Phạm hạnh, Anh nhi hạnh và Bệnh hạnh là Tục đế tam muội. Còn Thiên hạnh là Trung đạo vương tam muội. Về tâm tính thì cũng tức không, tức giả, tức trung và đầy đủ 5 hạnh không thiếu 1 hạnh nào, nên gọi là Nhất tâm ngũ hạnh. Đây là hạnh tu tính chẳng 2, nhân quả dung tức, 1 tức 5, 5 tức 1, chẳng tức chẳng li chẳng thể nghĩ bàn. [X. kinh Niết bàn Q.11 (bản Bắc); Pháp hoa huyền nghĩa Q.4, phần cuối].(xt. Ngũ Hạnh).
nhất tâm nhất thiết pháp
(一心一切法) Một tâm tất cả pháp. Nghĩa là hết thảy muôn pháp đều do tâm hiển hiện, ngoài tâm ra không có tất cả pháp; mà ngoài tất cả pháp thì cũng chẳng có tâm nào đáng nói.Đức Phật xưa dạy rằng: Nhất tâm nhất thiết pháp, nhất thiết pháp nhất tâm; tâm tức nhất thiết pháp, nhất thiết pháp tức tâm,(Một tâm là hết thảy pháp, hết thảy pháp là tâm; tâm tức là hết thảy pháp, hết thảy pháp là tâm). [X. thiên Đô cơ trong Chính pháp nhãn tạng].
nhất tâm nhị môn
(一心二門) Nhất tâm tức là tâm chúng sinh, nhị môn tức là Chân như môn và Sinh diệt môn. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 576 thượng) nói: Nương vào 1 tâm pháp mà có 2 môn. Những gì là 2? Một là tâm Chân như môn, 2 là tâm Sinh diệt môn. Hai tâm này bao gồm hết thảy pháp. Hệ thống chân thường duy tâm luận của Phật giáo gọi bản thể của vũ trụ vạn hữu là Nhất tâm, chủ trương chúng sinh và Phật đều có tâm này. Nhưng tâm này lại có phần giác và phần bất giác, vì thế chia ra làm 2 môn thì Giác gọi là tâm Chân như môn, còn Bất giác thì gọi là tâm Sinh diệt môn. Đứng về phương diện bản thể của nhất tâm này (có đủ các tính chất bất sinh, bất diệt, bất tăng, bất giảm... tuyệt đối không có tướng sai biệt) mà nói thì gọi là tâm Chân như môn; còn đứng về phương diện động tướng của nhất tâm này (có đủ các tính chất sinh, diệt, tăng, giảm... là tướng sai biệt) mà nói thì gọi là tâm Sinh diệt môn. Tâm Chân như môn là tính giác của vũ trụ bản thể, tâm Sinh diệt môn là tính bất giác của vũ trụ hiện tượng. Mối quan hệ giữa cái 1 thể 2 mặt này gọi là Nhất tâm nhị môn. Nhưng Nhị môn rốt ráo chẳng 1 chẳng 2, giống như nước và sóng, khi gió thổi làm dậy sóng, nhưng bản tính của nước và sóng thì không thay đổi, vì thế nước và sóng không khác nhau, chẳng phải là hai. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung].
nhất tâm niệm phật
With one mind I recite the name of Buddha.
nhất tâm qui mệnh (mạng)
With one mind I take refuge in...
nhất tâm quy mệnh
(一心歸命) Một lòng chuyên chú hướng về giáo pháp của đức Phật. Luận Tịnh độ của bồ tát Thiên thân (Đại 26, 230 hạ) nói: Bạch đức Thế tôn! Con nhất tâm qui mệnh đức Vô ngại quang Như lai ở khắp 10 phương, nguyện được sinh về cõi nước An lạc.
nhất tâm tam hoặc
One mind with three doubts kiến tư, trần sa, vô minh.
; Đồng thể tam hoặc—Theo trường phái Thiên Thai thì tâm của vị Bồ Tát có ba mối nghi hoặc làm nẩy sanh kiến tư, trần sa và vô minh—The T'ien T'ai “three doubts” in the mind of a Bodhisattva which produce: 1) Kiến tư: Sợ bị ảo tưởng—Fear of illusion. 2) Trần sa: Rối loạn vì trách vụ tư bề—Confusion through multiplicity of duties. 3) Vô minh: Sợ vì vô minh—Ignorance.
; (一心三惑) Cũng gọi Đồng thể tam hoặc. Ba hoặc (phiền não) cùng hiện hữu trong 1 tâm, mang cùng 1 thể tính. Tam hoặc (cũng gọi là Tam chướng) gồm: Kiến tư hoặc, Trần sa hoặc và Vô minh hoặc, do tông Thiên thai thành lập để phân biệt các loại phiền não, mặc dù 3 thứ chướng này có thô tế khác nhau, nhưng thể tính của chúng thì chỉ là một. 1. Kiến tư hoặc: Gồm Kiến hoặc là mê lí và Tư hoặc là mê sự. Vì Kiến tư hoặc có năng lực mang lại quả báo sinh tử trong 3 cõi, cho nên nó thuộc về lậu hoặc giới nội. Lại vì nó là loại hoặc mà hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát cùng phải đoạn trừ, nên cũng gọi là Thông hoặc. 2. Trần sa hoặc: Ví dụ hoặc chướng của người ta nhiều như cát bụi, nên gọi là Trần sa hoặc. Hàng Bồ tát biết rằng chúng sinh trong 10 pháp giới có vô biên chướng hoặc và có vô lượng pháp môn để đối trị. Nhưng vì Bồ tát dùng Không quán để phá trừ Kiến tư hoặc nên dễ chấp trước lí Không, đến nỗi không thể tiến thêm 1 bước để biết rõ tướng sai biệt của vô biên chúng sinh, vì thế Trần sa hoặc còn được gọi là Trước không hoặc. Lại vì Trần sa hoặc chỉ là chướng hoặc riêng của hàng Bồ tát có tâm niệm cứu độ chúng sinh, nên cũng được gọi là Biệt hoặc. Chướng hoặc này bao gồm cả phạm vi giới nội và giới ngoại. 3. Vô minh hoặc: Phiền não phát khởi từ chỗ không nhận rõ nguyên lí Vạn hữu tức pháp giới, nó là chướng hoặc thuộc phạm vi giới ngoại. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6].
nhất tâm tam quán
One mind with three insights không, giả, trung.
; See Nhứt Tâm Tam Quán.
; (一心三觀) Cũng gọi Viên dung tam quán, Bất khả tư nghị tam quán, Bất thứ đệ tam quán. Pháp quán do tông Thiên thai thành lập, là 1 trong những giáo nghĩa cơ bản của tông này. Nhất tâm chỉ cho tâm năng quán, tam quán tức là Không quán, Giả quán và Trung quán. Biết rõ 1 tâm niệm vốn bất khả đắc, bất khả thuyết, rồi trong 1 tâm niệm ấy tu cả Không quán, Giả quán và Trung quán gọi là Nhất tâm tam quán. Đây là pháp quán của Viên giáo, không theo thứ lớp mà là viên dung. Ma ha chỉ quán quyển 5, phần đầu, nói: Nếu 1 pháp là tất cả pháp, thì pháp ấy là do nhân duyên sinh, đó là giả danh, Giả quán; nếu tất cả pháp tức là 1 pháp, thì pháp ấy là không, đó là Không quán; nếu chẳng phải 1 pháp chẳng phải tất cả pháp, thì đó tức là Trung quán. Một không tất cả không, giả, trung cũng đều không, đó là Tổng không quán; 1 giả tất cả giả, không, trung đều là giả, đó là Tổng giả quán; 1 trung tất cả trung, không, giả đều là trung, đó là Tổng trung quán. Đây chính là điều mà Trung luận gọi là Nhất tâm tam quán bất khả tư nghị. Trong đó, 1 pháp tức tất cả pháp là chỉ cho Chân như tùy duyên mà hình thành hết thảy hiện tượng, không phải thực tại, nên là giả. Quán xét về phương diện này, gọi là Giả quán. Tất cả pháp tức 1 pháp, là chỉ cho hết thảy hiện tượng đều do Chân như hiển hiện, chúng không có thực thể độc lập, cho nên là không. Quán xét về phương diện này, gọi là Không quán. Hết thảy hiện tượng chẳng phải 1 chẳng phải tất cả, đồng thời có đủ 2 tính chất không, giả, đó là trung đạo. Quán xét về phương diện này, gọi là Trung quán. Khi tu Không quán thì giả, trung cũng không, vì cả 3 pháp quán đều phá chấp. Khi tu Giả quán thì không, trung cũng giả, vì 3 quán đều có nghĩa lập pháp. Khi tu Trung quán thì không, giả cũng trung, vì chính ngay 3 quán đã là tuyệt đối. Vì trong 3 pháp quán này, mỗi 1 pháp đều gồm đủ cả 3 nên gọi là Nhất tâm tam quán. Nhưng vì pháp quán này rất sâu xa mầu nhiệm, không thể nghĩ bàn, cửa trí tuệ của nó khó hiểu, khó vào, nên chỉ có hàng Bồ tát Biệt giáo lợi căn mới tu tập được pháp quán này.Theo Duy ma kinh huyền sớ quyển 2 (Đại 38, 528 hạ) thì Nhất tâm tam quán có 3 ý: 1. Cảnh sở quán không thể nghĩ bàn: Tức 1 niệm tâm vô minh là nhân duyên sinh ra 10 pháp giới. 2. Pháp năng quán không thể nghĩ bàn: Nếu quán được 1 tâm niệm vô minh này chẳng phải không chẳng phải giả, tất cả pháp cũng chẳng phải không chẳng phải giả, mà biết được tâm không, giả thì tức là quán chiếu tất cả pháp không, giả. Thế nên chỉ cần nhất tâm tam quán, soi rọi suốt lí Tam đế, chứ chẳng cần dụng tâm đoạn trừ si ái, mà vẫn có thể chứng được minh trí và giải thoát, hệt như nước lắng trong thì trăng liền hiện. 3. Thành tựu không thể nghĩ bàn: Nếu chứng được Nhất tâm tam quán thì liền thành tựu được Nhất tâm tam trí ngũ nhẫn. Tóm lại, bất luận cảnh đối tượng nào cũng đều có thể là Nhất cảnh tam đế, nếu nương vào đó mà tu tập quán chiếu thì có thể thành tựu Tam quán viên dung. [X. luận Đại trí độ Q.27; Duy ma kinh lược sớ Q.7; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3].
nhất tâm tam trí
One mind and three aspects of knowledge.
; See Nhứt Tâm Tam Trí.
; (一心三智) Cũng gọi Tam trí nhất tâm, Bất tư nghị tam trí. Trong 1 tâm cùng lúc chứng được 3 loại trí: Nhất thiết trí, Đạo chủng trí và Nhất thiết chủng trí. Tông Thiên thai chủ trương tu tập Không quán, Giả quán và Trung quán thì có thể chứng được 3 trí. Nếu nương vào 3 quán thứ lớp của Biệt giáo mà tu tập thì theo thứ tự có thể được 3 trí: Nhất thiết trí, Đạo chủng trí và Nhất thiết chủng trí. Nhưng nếu tu tập theo 3 quán không thứ lớp của Viên giáo thì có thể trong 1 tâm đồng thời được cả 3 trí, gọi là Nhất tâm tam trí. Ma ha chỉ quán quyển 5, thượng (Đại 46, 55 trung) nói: Nếu nói tất cả pháp đều do nhân duyên sinh, thì đó là cách nói phương tiện theo tình của Đạo chủng trí. Nếu nói tất cả pháp là 1 pháp thì đó là cách nói theo trí của Nhất thiết trí. Còn nếu nói chẳng phải 1 chẳng phải tất cả, cũng gọi Trung đạo nghĩa, thì đó là cách nói chẳng phải quyền chẳng phải thực của Nhất thiết chủng trí. Như trên nói: Một quyền thì tất cả quyền, 1 thực thì tất cả thực và tất cả chẳng phải quyền chẳng phải thực dàn trải ra khắp tất cả, đó chính là 3 trí không thể nghĩ bàn vậy. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 260 trung) nói: Trong 1 tâm được Nhất thiết trí, Nhất thiết chủng trí, dứt tất cả tập khí phiền não. Ngày xưa, ngài Tuệ văn ở Bắc Tề đọc đến câu này liền hoát nhiên đại ngộ, sau đó truyền cho ngài Tuệ tư, ngài Tuệ tư lại truyền cho ngài Trí khải. Ngài Trí khải bèn tu tập theo đó mà chứng được lí viên dung của Nhất tâm tam quán, Nhất cảnh tam đế. Và 2 pháp này đã trở thành giáo nghĩa nòng cốt của tông Thiên thai. [X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.6].
nhất tâm thấy phật
Muốn thấy Phật, hành giả phải trước tiên loại trừ hay bỏ những lôi cuốn qua một bên như lo âu, sở hữu, tài sản, con cái, gia đình, vân vân—To see the Buddha, cultivators should first eliminate or put all distractions aside such as worry, possessions, properties, children, family, etc.
nhất tâm tu phật
See A true and single-minded devotion towards the Buddha.
nhất tâm tức nhất thiết tâm
See Nhứt Tâm Tức Nhứt Thiết Tâm.
nhất tâm xưng danh
With undivided mind to call on the name (of Buddha).
; Nhất tâm trì niệm hồng danh Phật A Di Đà hay Bồ Tát Quán Thế Âm—With undivided mind to call on the name of a Buddha, either Amitabha or Kuan Shi Yin.
; (一心稱名) Một lòng chuyên chú xưng niệm danh hiệu Phật và Bồ tát. Phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 56 hạ) nói: Nghe nói đến bồ tát Quán thế âm mà 1 lòng chăm chú xưng niệm danh hiệu của Ngài thì tức khắc Ngài nghe thấy âm thanh của người ấy và giúp họ được giải thoát.
nhất tâm đỉnh lễ
With one mind I bow to....
; (一心頂禮) Một lòng kính lạy. Đính ở đây được hiểu là trán chứ không phải đỉnh đầu. Đính lễ là cách lễ bái trong đó trán của người lễ chạm sát đất hoặc đưa tay sờ vào chân của người được lễ bái, để tỏ lòng rất tôn kính.
nhất tâm ước giáo hữu dị
(一心約教有異) Một tâm ước giáo có khác. Nghĩa là một tâm được phối với 5 phần phán giáo khác nhau. Giáo tuy có 5, nhưng cũng không ngoài 1 tâm, nên gọi là Nhất tâm ước giáo hữu dị. Theo tông Hiền thủ thì 5 giáo gồm: 1. Tiểu thừa nương vào pháp Tứ đế mà tu tập, tâm được khai ngộ. 2. Thủy giáo nương vào thức thứ 8 rõ biết tất cả pháp do nhân duyên sinh đều là không, đều không có tự tính mà chịu quả dị thục.3. Chung giáo chủ trương trong tâm Như lai tạng có đầy đủ hằng sa các tính công đức vi diệu. 4. Đốn giáo nương vào tâm 1 niệm chẳng sinh mà hiển bày lí tính 1 cách mau lẹ. 5. Viên giáo chủ trương chủ bạn viên dung, pháp pháp vô ngại, 1 tức tất cả, tất cả tức 1, buông bắt tự tại, bao trùm vạn hữu.[X. Hoa nghiêm nhất thừa giáo nghĩa phần tề chương Q.2].
nhất tính
(一性) Chỉ cho Chính nhân Phật tính. Hết thảy chúng sinh đều có tính này, nhưng vì trái với tính giác, hợp với trần lao, nên mới bị các phiền não che lấp, ngăn ngại. Nếu thuận theo giác tính mà tu hành, thì sẽ vượt thoát sinh tử, ngộ nhập Niết bàn, đồng với chư Phật không 2 không khác. [X. kinh Niết bàn Q.10 (bản Bắc); kinh Hoa nghiêm Q.51 (bản dịch mới); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2].
nhất tính ngũ tính dị
(一性五性異) Sự sai khác giữa Nhất tính và Ngũ tính. Đây là 1 trong những quan điểm dị biệt về tông nghĩa giữa tông Pháp tính và tông Pháp tướng. Theo tông Pháp tướng thì Ngũ tính các biệt(Năm tính đều khác nhau, nghĩa là có hạng chúng sinh không thành Phật)là liễu nghĩa; còn Nhất tính giai thành(Một tính đều thành, nghĩa là tất cả chúng sinh đều có tính Phật, đều có thể thành Phật)là phương tiện. Trái lại, tông Pháp tính thì chủ trương Ngũ tính các biệt là phương tiện và Nhất tính giai thành là liễu nghĩa.
nhất tông
(一宗) I. Nhất Tông. Một tông chỉ. Những giáo thuyết của Đại thừa trong các kinh tuy có khác nhau, nhưng đều cùng qui về 1 lí, lấy 1 tông chỉ làm chỗ qui hướng. II. Nhất Tông. Một nhà, một dòng họ. Thiền uyển thanh qui quyển 7 (Vạn 111, 457 thượng) nói: Bộ phận trực tuế phụ trách việc khiêng khám, chuẩn bị củi đóm trước đàn, các vị chức sự trong cùng 1 tông đều đứng làm chủ tang.
nhất tông cấu
(一宗構) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Phật giáo Nhật bản ở thời đại Giang hộ, khi trục xuất 1 vị tăng ra khỏi tông môn của mình, gọi là Nhất tông cấu. Nếu trục xuất vị tăng ra khỏi 1 phái nào đó trực thuộc tông môn, thì gọi là Nhất phái cấu.
nhất túc giác
Overnight Enlightenment—Một ngày nọ sư Huyền Giác đi thăm Lục Tổ Huệ Năng. Lần đầu tiên gặp Tổ, sư tay cầm tích trượng vai mang bình bát đi nhiễu Tổ ba vòng, đoạn đứng thẳng. Tổ thấy thế bèn nói, “Phàm sa môn có đủ ba ngàn uy nghi tám muôn tế hạnh. Đại Đức người phương nào đến mà sanh đại ngã mạn như vậy?” Huyền Giác thưa, “Sanh tử là việc lớn, vô thường qua nhanh quá.” Tổ bảo, “Sao không ngay nơi đó thể nhận lấy vô sanh, liễu chẳng mau ư?” Huyền Giác thưa: “Thể tức vô sanh, liễu vốn không mau.” Tổ khen, “Đúng thế! Đúng thế!” Lúc đó đại chúng nghe nói đều ngạc nhiên. Sư bèn đầy đủ oai nghi lễ tạ tổ. Chốc lát sau sư xin cáo từ. Tổ bảo, “Trở về quá nhanh!” Huyền Giác thưa, “Vốn tự không động thì đâu có nhanh.” Tổ bảo, “cái gì biết không động?” Huyền Giác thưa, “Ngài tự phân biệt.” Tổ bảo, “Ngươi được ý vô sanh rất sâu.” Huyền Giác thưa, “Vô sanh mà có ý sao?” Tổ bảo, “Không ý, cái gì biết phân biệt?” Huyền Giác thưa, “Phân biệt cũng không phải ý.” Tổ khen, “Lành thay! Lành thay!” Sư ở lại Tào Khê một đêm để hỏi thêm đạo lý. Sáng hôm sau sư trở về Ôn Giang, nơi mà chúng đệ tử đang chờ ông để học đạo. Thời nhơn từ đó gọi sư là “Nhất Túc Giác” hay một đêm giác ngộ—One day Hsuan-Chieh went to Cao-Xi to visit the Sixth Patriarch. Upon his first meeting with Hui Neng, Hsuan-Chieh struck his staff on the ground and circled the Sixth Patriarch three times, then stood there upright. The Sixth Patriarch said, “This monk possesses the three thousand noble characteristics and the eighty thousand fine attributes. Oh monk! Where have you come from? How have you attained such self-possession?” Hsuan-Chieh replied, “The great matter of birth and death does not tarry.” The Sixth Patriarch said, “Then why not embody what is not born and attain what is not hurried?” Hsuan-Chieh said, “What is embodied is not subject to birth. What is attained is fundamentally unmoving.” The Sixth Patriarch said, “Just so! Just so!” Upon hearing these words, everyone among the congregation of monks was astounded. Hsuan-Chieh then formally paid his respect to the Sixth Patriarch. He then advised that he was immediately departing. The Sixth Patriarch said, “Don't go so quickly!” Hsuan-Chieh said, “Fundamentally there is nothing moving. So how can something be too quick?” The Sixth Patriarch said, “How can one knows there's no movement?” Hsuan-Chieh said, “The distinction is completely of the master's own making.” The Sixth Patriarch said, “You have fully attained the meaning of what is unborn.” Hsuan-Chieh said, “So, does what is unborn have a meaning?” The Sixth Patriarch said, “Who makes a distinction about whether there is a meaning or not?” Hsuan-Chieh said, “Distinctions are meaningless.” The Sixth Patriarch shouted, “Excellent! Excellent! Now, just stay here a single night!” Thus people referred to Hsuan-Chieh as the “Overnight Guest.” The next day Hsuan-Chieh descended the mountainand returned to Wen-Chou, where Zen students gathered to study with him.
; (一宿覺) Giác ngộ trong 1 đêm. Thiền sư Vĩnh gia Huyền giác đời Đường, tham yết ngài Lục tổ Tuệ năng, chỉ trong 1 đêm hỏi đạo mà đại ngộ và được truyền tâm ấn. Sau, Thiền lâm truyền tụng giai thoại đêm ấy là Nhất túc giác. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.5].
nhất tăng nhất giảm
Kiếp tăng từ 10 lên đến 80.000 năm, rồi lại giảm xuống còn 10—A kalpa during which a human lifetime increases from ten years to 80.000 years and then decreases back to ten.
; (一增一减) Một lần thêm, 1 lần bớt. Chỉ cho tuổi thọ của con người 1 lần thêm, 1 lần bớt trong 1 kiếp. Đây là cách tính toán về số kiếp. Chẳng hạn như từ ban đầu, con người thọ 8 vạn 4 nghìn tuổi, cứ mỗi trăm năm giảm đi 1 tuổi, cho đến khi chỉ còn 10 tuổi, đó là 1 lần giảm. Lại bắt đầu từ 10 tuổi, cứ mỗi trăm năm tăng lên 1 tuổi, cho đến 8 vạn 4 nghìn tuổi, đó là 1 lần tăng. Một lần giảm, 1 lần tăng như thế, theo ngài Cưu ma la thập, là 1 Tiểu kiếp; theo ngài Pháp ý là 1 Trung kiếp.[X. luận Lập thế a tì đàm Q.9; luận Đại tì bà sa Q.135; luận Câu xá Q.12; Phật tổ thống kỉ Q.30]. (xt. Kiếp).
Nhất tướng
一相; C: yīxiāng; J: issō; S: eka-lakṣaṇa.|»Nhất thể«; tính chất không thay đổi, đồng dạng. Tuyệt đối bình đẳng, không phân biệt cũng chẳng đối lập. Thể của Chân như.
nhất tướng
Laksana (S). One aspect, form, or side. Ekatva (S). Unity as contrasted with diversity; monism; the one mind in all things. Nhất tướng tam muội: a state of samàdhi in which are repressed hate and love, accepting and rejecting etc, and in which the mind reaches an undivided state, being anchored in calm and quiet. Nhất tướng trí: the wisdom that all is bhùtatathatà and a unity. Nhất tướng vô tướng: oneness means noness; in ultimate unity, or the unity of the absolute.
; Laksana (skt)—One aspect—The unique form—The one mind in all things—Common mind in all beings.
; (一相) Phạm: Eka-lakwaịa. I. Nhất Tướng. Chỉ cho tướng chân như bình đẳng vô sai biệt. Tông Thiên thai giải thích Nhất tướng này nghĩa là Một thừa không 2, cùng 1 giải thoát. Phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 19 trung) nói: Như lai thuyết pháp 1 tướng, 1 vị, nghĩa là tướng giải thoát, tướng viễn li, tướng tịch diệt, rốt ráo đến nhất thiết chủng trí. Trên đây là nghĩa Khai tam hiển nhất, nhưng tông Hoa nghiêm thì cho rằng giới hạn giữa Nhất tướng và Đồng giáo nhất thừa, chỉ mới nói rõ về phương tiện của Nhất tướng, chưa đạt đến pháp Chủ bạn cụ túc vô tận. [X. kinh Ma ha bát nhã ba la mật Q.hạ; Pháp hoa kinh văn cú Q.7, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. II. Nhất Tướng. Đối lại: Dị tướng. Ngoại đạo cho rằng hết thảy các pháp đều sinh ra từ Nhất nguyên. Để đả phá quan niệm sai lầm này, Phật giáo đề xướng thuyết Chân như tự tính phi nhất tướng. [X. luận Đại thừa khởi tín].
nhất tướng nhất tịch
(一相一寂) Một tướng 1 tịch. Chỉ cho 1 sự 1 lí. Tướng tức sự tướng; Tịch tức lí thể tịch lặng.[X. Hoa nghiêm nhất thừa giáo nghĩa phân tề chương Q.thượng].
nhất tướng pháp môn
The unitary or monistic method where all is seen as a unity.
; (一相法門) Pháp môn đưa các pháp về 1 tướng, không phân biệt, không chấp trước. Trong kinh Văn thù công đức trang nghiêm quyển hạ có chép các loại Nhất tướng pháp môn do hơn 10 vị Bồ tát tuyên thuyết.
nhất tướng tam muội
Nơi tất cả tướng mà chẳng trụ tướng, chẳng sanh tâm yêu ghét, lấy bỏ; chẳng nghĩ sự lợi hại, thành hoại, vô trụ vô y, gọi là Nhất tướng tam muội.
nhất tướng tam muội (chân như tam muội)
A sammadhi for realizing that the nature of all Buddhas is the same.
nhất tướng tam muội nhất hạnh tam muội
The Samadhi of One Mark and the Samadhi of One Conduct—Theo Kinh Pháp Bảo Đàn, Phẩm thứ Mười, Lục Tổ nhắn với tứ chúng rằng—According to the Dharma Jewel Platform Sutra, Chapter Tenth, the Sixth Patriarch told the assembly: “Các thiện tri thức! Các ông mỗi người nên tịnh tâm lắng nghe tôi nói pháp, nếu muốn thành tựu chủng trí phải đạt được nhất tướng tam muội và nhất hạnh tam muội. Nếu ở tất cả chỗ mà không trụ tướng, ở trong tướng kia, không sanh yêu ghét, cũng không thủ xả, chẳng nghĩ các việc lợi ích thành hoại, vân vân, an nhàn điềm tịnh, hư dung đạm bạc, đây gọi là nhất tướng tam muội. Nếu ở tất cả chỗ đi đứng nằm ngồi thuần một trực tâm, không động đạo tràng, chơn thành Tịnh độ, đây gọi là nhất hạnh tam muội. Nếu người đủ hai tam muội nầy như đất đã có chứa hạt giống, nuôi dưỡng lớn lên, thành thục được hạt kia, nhất tướng nhất hạnh cũng lại như thế. Nay tôi nói pháp ví như khi mưa ướt khắp cả quả đất, Phật tánh của các ông ví như hạt giống gặp được sự thấm ướt nầy thảy đều phát sanh, nương lời chỉ dạy của tôi, quyết định được Bồ Đề, y theo hạnh của tôi, quyết định chứng được diệu quả, hãy nghe tôi nói kệ: “Đất tâm chứa hạt giống, Mưa rưới thảy nẩy mầm, Đốn ngộ hoa tình rồi, Quả Bồ Đề tự thành.” The Master added, “All of you Good Knowing Advisors should purify your minds and listen to my explanation of the Dharma. If you wish to realize all knowledge, you must understand the Samadhi of one Mark and the Samadhi of One Conduct. If you do not dwell in marks anywhere and do not give rise to hate and love, do not grasp or reject and do not calculate advantage or disadvantage, production and destruction while in the midst of marks, but instead, remain tranquil, calm and yielding, then you will have achieved the Samadhi of One Mark. In all places, whether walking, standing, sitting or lying down, to maintain a straight and uniform mind, to attain the unmoving Bodhimandala and the true realization of the Pure Land. That is called the Samadhi of One Conduct. One who perfects the two samadhis is like earth in which seeds are planted; buried in the ground, they are nourished and grow, ripening and bearing fruit. The One Mark and One Conduct are just like that. Now, I speak the Dharma, which is like the falling of the timely rain, moistening the great earth. Your Buddha-nature is like the seeds, which receiving moisture, will sprout and grow. Those who receive my teaching will surely obtain Bodhi and those who practice my conduct certainly certify to the wonderful fruit. Listen to my verse" The mind-ground contains every seeds; Under the universal rain they all sprout Flower and feeling-Sudden Enlightenment The Bodhi-fruit accomplishes itself.”
nhất tướng trí
The wisdom that all is bhutatathata and a unity.
; (一相智) Trí tuệ chứng ngộ thực tướng các pháp. Luận Đại trí độ quyển 6 (Đại 25, 107 trung) nói: Tướng của các pháp đều là thực tướng, không hề chướng ngại. Dùng phương tiện ấy giáo hóa các đệ tử để thâm nhập Nhất tướng trí.
nhất tướng vô tướng
One-ness means none-ness (there is no diversity).
; (一相無相) Một tướng không tướng. Pháp chân như thực tướng tịch lặng, bình đẳng nên gọi là Nhất tướng; nhưng Nhất tướng cũng bất khả đắc nên gọi là Vô tướng. Mỗi 1 pháp gồm thu tất cả pháp, các pháp bao trùm lẫn nhau không có giới hạn; đương thể của các pháp là thực tướng vắng lặng, bình đẳng, xưa nay vốn lìa tướng ngôn thuyết, tướng danh tự, tướng tâm duyên, cho nên gọi là Nhất tướng vô tướng.
nhất tạng
(一藏) Chỉ cho Pháp luân tạng thu tóm hết thảy giáo pháp. [X. luận Thích ma ha diễn Q.1].
nhất tạt tạt đảo liễu
(一拶拶倒了) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nhất tạt có nghĩa là lời nói thúc ép, dồn người học đến đường cùng. Thiền sư dùng cách này để khám nghiệm chỗ ngộ của đệ tử. Tắc 35 trong Bích nham lục (Đại 48, 173 hạ) nói: Lúc ấy liền hét 1 tiếng, thúc ép người học đến đường cùng (Nhất tạt tạt đảo liễu dã).
nhất tầm
(一尋) Một sải, là đơn vị đo chiều dài của thời xưa, khoảng 8 thước Tàu.
nhất tế
(一際) Bên này, bên kia không phân biệt. Luận Đại trí độ quyển 19 (Đại 25, 198 thượng) nói: Niết bàn chẳng khác thế gian, thế gian chẳng khác Niết bàn; Niết bàn và thế gian chỉ là 1 (nhất tế)không sai khác. Tông kính lục quyển 22 (Đại 48, 535 thượng) nói: Pháp thân, Báo thân và Hóa thân tuy chia 3, nhưng thực ra chỉ là một (nhất tế).
nhất tề
Together like one.
nhất tọa thực
One meal a day taken before noon and without rising from the seat.
; Mỗi ngày chỉ ăn một buổi trước ngọ—One meal a day, taken before noon.
nhất tồn nhất quyết
(一存一闕) Một còn 1 thiếu. Chỉ cho 2 bản dịch của kinh Vô lượng thọ, 1 bản thì còn, 1 bản đã thất lạc. Cứ theo Khai nguyên thích giáo lục quyển 12, 14 của ngài Trí thăng đời Đường, thì Nhất tồn(bản hiện còn)là bản do ngài Cương lương da xá dịch trong năm Nguyên gia (424-453) đời Lưu Tống; còn Nhất khuyết (bản đã thất lạc) thì do ngài Đàm ma mật đa dịch cũng trong khoảng năm Nguyên gia nói trên. Lại nữa, thuyết Nhất tồn nhất khuyết của ngài Lương trung nói trong Quán kinh sớ truyền thông kí, là căn cứ vào thuyết trên, rồi thêm vào 1 bản (được dịch vào đời Hậu Hán)mất tên người dịch nói trong Lịch đại tam bảo kỉ. Bản mất tên người dịch này là căn cứ vào Xuất tam tạng kí tập của ngài Tăng hựu, nhưng Xuất tam tạng kí tập lại không nêu bản dịch của ngài Cương lương da xá, mà chỉ nói có 1 bản mất tên người dịch thế thôi. Như vậy, e rằng bản mất tên người dịch này chính là bản của ngài Cương lương da xá. Cho nên, rốt cục, chỉ có 1 thuyết Nhất tồn nhất khuyết mà thôi.
nhất tứ cú kệ
A four-character line of a gàthà.
nhất tức
Một hơi thở—A breath (inspiration-expiration).
nhất tức bán bộ
Một hơi thở đi nửa bước—Half a step at a breathing on arising from meditation.
; (一息半步) Một bước đi 1 hơi thở. Đây là phương pháp bước đi (kinh hành) 1 cách khoan thai, chậm rãi của người tu Thiền. Tức trong 1 khoảng hơi thở, nhấc chân phải đến đầu chân trái; ở hơi thở kế tiếp, nhấc chân trái đến đầu chân phải. Cứ như thế chân phải, chân trái bước đi phối hợp với hơi thở thì có thể khoan thai tiến lên phía trước. Ngoài ra, còn 1 cách khác, trước hết, trong khoảng 1 hơi thở, nhấc chân trái đến nửa chân phải, khoảng hơi thở kế tiếp, nhấc chân phải và chân trái ngang nhau. Kế đó thì bắt đầu từ chân trái, đi 10 bước cho đến 20 bước, chuyển sang chân phải rồi trở về chỗ cũ.
nhất tức lục
(一即六) Một tức sáu. Nghĩa là trong 6 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, hễ bất cứ 1 căn nào trở về chân tính, thì 5 căn còn lại cũng được giải thoát. Kinh Lăng nghiêm quyển 6 (Đại 19, 131 thượng) nói: Một căn đã về nguồn Sáu căn thành giải thoát (...) Sáu căn cũng như thế Vốn nương một tinh minh Chia thành sáu hòa hợp Một chỗ nếu dừng lại Sáu dụng đều không thành.
nhất tức nhất thiết
One is all.
nhất tức nhất thiết nhất thiết tức nhất
(一即一切一切即一) Cũng gọi Nhất tức thập thập tức nhất, Nhất tức đa đa tức nhất. Một tức tất cả, tất cả tức một. Nghĩa là thể dụng của 1 và tất cả dung hợp nhau không 2, tức 1 và nhiều có thể ngang bằng nhau; nghĩa này nhằm nói rõ sự quan hệ giữa các hiện tượng trong pháp giới duyên khởi. Đây là nguyên lí cùng tột của sự viên dung vô ngại do Viên giáo của tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm thành lập.Phẩm Sơ phát tâm bồ tát công đức trong kinh Hoa nghiêm cho rằng trong tất cả biết 1, trong 1 biết tất cả. Hoa nghiêm nhất thừa giáo nghĩa phân tề chương thì luận chứng bằng 2 phương diện:1. Về phương diện quan hệ khác thể của các hiện tượng, thì 10 đối đãi với 10, 1 là số nền tảng của 10, 10 do 10 số 1 tạo thành, không có 1 thì không có 10; đã thành được 10, cho nên biết 1 tức 10, cũng cùng nguyên lí ấy, có thể luận chứng rằng 10 tức 1. 2. Về phương diện quan hệ cùng thể của các hiện tượng, thì tự thể của mỗi con số 1 trong 10, tức là con số 1 thứ nhất. Như vậy, tự thể của số 10 là không (không có tự tính độc lập), cho nên nói 10 tức là 1. Cũng thế, coi 10 là tự thể, 1 là nhân tố cấu tạo thành 10, tự thể cũng là tính không, cho nên nói 1 tức là 10. Tóm lại, nguyên lí 1 tức tất cả, tất cả tức 1 nhằm thuyết minh toàn thể và bộ phận, phổ quát và cá biệt đều là quan hệ tương tức. Cho nên, 1 hạt bụi và hết thảy cõi Phật là tương tức; 1 niệm với vô lượng thời gian cũng tương tức. Tông Hoa nghiêm vận dụng phương pháp nhận thức này trong các vấn đề lí luận và thực tiễn của Phật giáo, hoặc coi tất cả nghĩa lí và thực tiễn trong Phật giáo là 1 toàn thể mà gọi là Nhất(một), còn đối với các chi phần và các pháp môn thì gọi là Đa(nhiều); hoặc gọi tâm sinh ra vạn hữu là Nhất, còn vạn hữu do tâm sinh ra ấy là Đa. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.3, phần cuối; Ma ha chỉ quán Q.5, phần đầu; Thiên thai tứ giáo nghi tập giải Q. hạ].
nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất
One is all and all is one.
; Một là tất cả, tất cả là một—One is all and all is one (the essential unity of all things).
nhất tức thập
(一即十) Một tức 10. Một là duy nhất, đơn nhất, cá biệt; 10 là số nhiều, số chẵn, toàn thể. Nhất tức thập có hàm ý 1 tức là nhiều, 1 và nhiều tương tức. Đây là chủ trương của tông Hoa nghiêm. Nếu lấy 1 làm số gốc thì lìa 1 không có 2... cho đến 10, bởi thế 1 tức 2 cho đến 10. Số 2 cho đến 10, lấy số 1 làm gốc mà được thành tựu, ngoài 1 ra không có tự thể riêng, vì thế 1 và 10 tương tức. Ứng dụng nguyên tắc lí luận này vào việc thuyết minh các pháp, thì trong 1 hạt bụi có hết thảy cõi Phật, 1 lỗ chân lông hàm chứa nước của 4 đại dương. Lại như vầng trăng giữa hư không, soi bóng trên vạn dòng sông, mặt trăng chỉ có 1 mà bóng thì nhiều, 1 và nhiều không ngăn ngại lẫn nhau, tương tức tương dung.
nhất tử xuất gia cửu tộc sinh thiên
(一子出家九族生天) Một người con xuất gia chín họ được sinh lên cõi trời. Cửu tộc (9 đời trong dòng họ) gồm: Cao tổ phụ (ông Tổ cao nhất), tằng tổ phụ (ông cố), tổ phụ (ông nội), phụ mẫu (cha mẹ), kỉ (mình), tử (con), tôn (cháu), tằng tôn (chắt) và huyền tôn (chút)... Quân châu Động sơn Ngộ bản thiền sư ngữ lục (Đại 47, 516 trung) chép: ... Cho nên kinh nói: Một người xuất gia 9 họ được sinh thiên. Lương giới dù bỏ thân mệnh đời này, nguyện không về nhà, đem căn trần nhiều kiếp đốn ngộ bát nhã. Từ đó, câu Một người xuất gia 9 họ sinh cõi trời đã trở thành dụng ngữ phổ biến trong Phật giáo.
Nhất tử địa
xem Cực ái nhất tử.
nhất tử địa
(一子地) Gọi đủ: Cực ái nhất tử địa. Giai vị Bồ tát chứng được quả hóa tha. Bồ tát ở giai vị này, đem tâm từ bi, bình đẳng thương xót tất cả chúng sinh cũng như thương con mình, thấy con an ổn, tu thiện thì sinh tâm vui mừng; thấy con phiền não, bệnh khổ thì tâm sinh lo buồn. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 16 (Đại 12, 459 thượng) nói: Thấy các chúng sinh pháp thân chưa tăng, hoặc thân, khẩu, ý tạo nghiệp bất thiện, Bồ tát dùng tay trí tuệ cứu vớt, không để chúng sinh trôi giạt trong dòng sinh tử, chịu mọi khổ não (...). Thấy Nhất xiển đề rơi vào địa ngục, Bồ tát cũng nguyện cùng họ sinh trong địa ngục. Vì sao? Vì nếu khi Nhất xiển đề chịu khổ mà sinh tâm ăn năn hối cải, thì Bồ tát tức thời dùng mọi cách thuyết pháp khiến họ sinh 1 niệm thiện căn, cho nên Bồ tát ở địa vị này cũng gọi là Nhất tử. Nghĩa là Bồ tát trụ ở Nhất tử địa, tâm luôn nghĩ đến chúng sinh, tìm mọi cách để cứu giúp, không nỡ rời bỏ.[X. Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.38; Niết bàn kinh nghĩa kí Q.5, hạ].
nhất tự
One word.
; (一字) I. Nhất Tự. Một chữ, tức chữ A trong Mật giáo được dùng để tượng trưng cho nguồn gốc của muôn vật. II. Nhất Tự. Chữ nhất. Chương Ngũ tổ Hoằng nhẫn trong Lăng già sư tư kí (Đại 85, 1289 hạ) nói: Khi ông ngồi thì thân thể phải ngay thẳng, mặt trầm lặng, buông thân tâm vào tận cõi hư không,rồi khán chữ nhất (..), từ đó sẽ có thứ lớp.
Nhất tự bất thuyết
一字不說; J: ichiji-fusetsu;|Nghĩa là »một chữ cũng chưa hề thuyết«; một danh từ thường được dùng trong Thiền tông để nhấn mạnh rằng Phật và các vị Tổ chưa bao giờ đá động đến Chân lí tuyệt đối trong những bài thuyết pháp của chư vị bởi vì cái tuyệt đối này không thể nào diễn bày được (Bất khả thuyết). Vì thế nên đức Phật ban đầu không muốn rời Giác Thành (bodhga-yā), không muốn trở về thế tục để giáo hoá chúng sinh. Nhưng, vì quá thương chúng sinh đang trôi nổi trong Vòng sinh tử nên Ngài quyết định rời chỗ toạ thiền đi hoằng hoá. Nói theo các vị Thiền sư là »để rơi mình vào cỏ mà nói chuyện« (落草譚; lạc thảo đàm) – tức là rời tâm thức sung sướng an lạc tuyệt đối để bước vào tâm thức của một phàm phu để chỉ đường chúng sinh đến bờ Giác ngộ.|Vì lí do trên mà Thiền tông quan niệm rằng, tất cả những bài Kinh (s: sūtra) của đức Phật và Ngữ lục của chư vị Thiền sư đều chỉ là »Ngón tay chỉ mặt trăng – nhưng không phải chính là mặt trăng.« Chân lí tuyệt đối chỉ có thể – nếu có thể! – được »truyền« bằng một phương pháp bí mặt, siêu việt mà Thiền tông gọi là »Dĩ tâm truyền tâm.«|Thiền tông tự nêu tông chỉ của mình là »Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật« – thay vì dựa vào lời của Phật thuyết trong các kinh sách, bởi vì ngôn ngữ trên giấy mỗi người đều hiểu một cách riêng biệt – tuỳ theo trình độ và khả năng của người đang xem nó. Thiền tông không quan niệm rằng, tất cả kinh sách đều vô dụng, nhưng chúng không thể biểu lộ hết tất cả. Chúng thật sự vô dụng trong việc miêu tả cái tuyệt đối, Chân như.
nhất tự bất thuyết
Ichiji-Fusetsu (J).
; (一字不說) Không nói 1 chữ. Nghĩa là đạo mà chư Phật tự chứng được không thể dùng văn tự ngôn ngữ để diễn đạt, chỉ có Phật với Phật mới thấu suốt mà thôi. Cũng như dùng ngón tay để chỉ mặt trăng, thì ngón tay vốn chẳng phải mặt trăng. Cũng thế, tất cả ngôn ngữ văn tự hoàn toàn không phải là nội dung chứng ngộ của chư Phật. Về ý nghĩa này, tông Hoa nghiêm chủ trương Quả phần bất khả thuyết, Thiền tông chủ trương Bất lập văn tự, tông Thiên thai thì có Tứ bất khả thuyết... [X. kinh Đại bát nhã quyển 425; kinh Niết bàn Q.20 (bản Bắc)].
nhất tự bố thân đức
(一字布身德) Một chữ A bày ra khắp toàn thân. Kinh Đại nhật quyển 3 (Đại 18, 22 thượng) nói: Đài hoa môn chữ A Vòng lửa rất đẹp đẽ Ánh sáng chiếu khắp hết Soi đến mọi chúng sinh. Nghĩa là chân ngôn chữ A được chư Phật ở 10 phương dùng pháp thân cùng gia trì. Người tu chân ngôn này có thể làm được các Phật sự, cho đến hiện sắc thân ở khắp nơi, mở bày trí tuệ Phật cho hết thảy chúng sinh. Phàm những việc mà chư Phật làm thì chữ A này cũng làm được như thế; cho nên nhờ tu chân ngôn chữ A này mà thành tựu được mọi công đức. Đại nhật kinh sớ diễn áo sao quyển 44 (Đại 59, 448 hạ) nói: Tất cả chữ A nghĩa là lấy 1 chữ A bày ra khắp toàn thân để làm 1 mạn đồ la. [X. Đại nhật kinh sớ Q.12].
nhất tự chú
(一字咒) Một chữ đứng trước chân ngôn. Hành giả Mật giáo khi trì tụng Chân ngôn, dùng chữ chủng tử làm Chân ngôn để trì tụng, hoặc ở trước chữ chủng tử thêm vào từ Qui mệnh mà thành Chân ngôn, gọi là Nhất tự chú. Chủng tử ấy là (bhrùô). Do các phái hoặc pháp tu khác nhau, mà 1 chữ chủng tử này hoặc được thêm chữ Án (oô, qui mệnh), hoặc được thêm Nam mô tam mạn đa bột đà nam (Nama samanta buddhanàn, qui mệnh khắp cả chư Phật) để trì tụng.
nhất tự kim luân
(一字金輪) Phạm: Ekàkwara-uwịìwacakra. Hán âm: Ế ca ngật sa la bột đà ô sắt ni sa chước ngật la. Cũng gọi Nhất tự kim luân Phật đính vương, Đại kim luân minh vương. Chân ngôn do đức Đại nhật Như lai tuyên thuyết khi Ngài ở trong định Tối thắng, tức là nhân cách hóa của 1 chữ chủng tử (bhrùô –bột rô án), cũng là 1 trong 5 Phật đính tôn. Nhất tự đính luân vương du già nhất thiết thời xứ niệm tụng thành Phật nghi quĩ (Đại 19, 320 trung) nói kệ rằng: Đại kim luân minh vương Uy sáng hơn mặt trời Bảy báu vây chung quanh Đứng đầu hết thảy Phật Luân vương của Luân vương Vừa hiện thân kì đặc Thánh chúng đều ẩn mất Hiển thắng tuyệt không chung Chỉ có một thể Phật. Nội dung bài kệ trên cho rằng công đức của chư Phật và Bồ tát đều qui về 1 vị tôn Nhất tự kim luân này. Lại đỉnh đầu là bộ phận cao nhất trên thân thể con người, nên dùng Phật đính để ví dụ vị tôn này là bậc tôn quí nhất trong chư Phật. Lại nữa, Luân vương mà Phật giáo thường gọi có 4 loại: Kim luân vương, Ngân luân vương, Đồng luân vương và Thiết luân vương (tức vàng, bạc, đồng và sắt) thì Kim luân (bánh xe bằng vàng) được dùng để biểu thị nghĩa tối thắng của vị tôn này. Khi tu pháp mà tụng chân ngôn Nhất tự kim luân thì sẽ có được sức thần uy đức rực rỡ. [X. kinh hất tự kì đặc Phật đính; kinh Đại đà la ni mạt pháp trung nhất tự tâm chú; hất tự đính luân vương du già quán hành nghi quĩ].
nhất tự kim luân pháp
(一字金輪法) Cũng gọi Nhất tự kim luân Phật đính pháp. Tên pháp tu Nhất tự kim luân. Phật đính tôn trong các vị tôn của Mật giáo lấy chữ (bhrùô, bột rô án) làm Chân ngôn, là bậc tôn thắng trong các Phật đính, ví như các vị Chuyển luân Thánh vương ở thế gian thì Kim luân là thù thắng nhất, nên gọi là Nhất tự kim luân hay Kim luân Phật đính.Thân của Nhất tự kim luân màu vàng ròng hoặc màu trắng, ngồi trên hoa sen trắng 8 cánh, tay kết ấn Trí quyền, tượng trưng cho trí của Phật. Pháp tu lấy vị tôn này làm Bản tôn để cầu nhất thiết tất địa(thành tựu) và tiêu trừ tai nạn, gọi là Nhất tự kim luân pháp. Nếu tu pháp Du già này thì dù trong đời hiện tại tạo nhiều tội chướng sâu nặng, cũng có thể vượt khỏi các đường ác, mau chứng quả giác ngộ. [X. kinh Bồ đề đạo tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương; Nhất tự đính luân vương niệm tụng nghi quĩ; Nhất tự đính luân vương du già quán hành nghi quĩ]. (xt. Nhất Tự Kim Luân).
nhất tự kim luân phật đảnh pháp
See Nhất Tự Kim Luân Đảnh Pháp.
nhất tự kim luân đảnh pháp
The one word golden wheel magical method (Chân ngôn).
Nhất tự kinh
一字經; C: yīzì jīng; J: ichijikyō;|Kinh, xem Nhất tự Phật đỉnh luân vương kinh (一字佛頂輪王經).
Nhất tự kì đặc Phật đỉnh kinh
一字奇特佛頂經; C: yīzì qítè fódǐng jīng; J: ichiji kidoku bucchō kyō; S: uṣṇīṣacakravarti-tantra.|Kinh, 3 quyển, Bất Không (不空) dịch.
nhất tự nghiệp
(一字業) Pháp tu lấy kinh Bồ đề đạo tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương làm chủ yếu, do ngài Viên trân thuộc tông Thiên thai Nhật bản lập ra. Là 1 trong 5 nghiệp của Thai Mật(Mật giáo do tông Thiên thai của Phật giáo Nhật bản truyền).
nhất tự nhiếp đa
(一字攝多) Đối lại: Đa tự nhiếp nhất. Một chữ bao nhiếp nhiều nghĩa, là 1 trong 16 huyền môn do Mật giáo lập. Khi giải thích văn kinh và tướng chữ, Mật giáo thường dùng 1 chữ của tiếng Phạm để thu gom nghĩa lí của tất cả, gọi là Nhất tự nhiếp đa. Chẳng hạn như chữ A vốn chẳng sinh, hàm chứa nghĩa Tác nghiệp bất khả đắc của chữ Ca và nghĩa Không bất khả đắc của chữ Kha... Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 38, 656 hạ) nói: Lại nữa, trong tất cả danh ngôn, hễ có tiếng chữ Ca thì đều vào Ca tự môn; cho đến có tiếng chữ Ha thì đều vào Ha tự môn. Vì thế nên biết trong 1 Tự môn có vô lượng nghĩa. [X. Phạm tự chân ngôn thập lục huyền môn nghĩa; Pháp hoa kinh thích].
nhất tự phá đa
(一字破多) Đối lại: Đa tự phá nhất. Một chữ phá nhiều nghĩa, là 1 trong 16 huyền môn do Mật giáo thành lập. Khi giải thích văn kinh và tướng chữ, Mật giáo thường dùng 1 chữ trong tiếng Phạm để đả phá sự mê chấp đối với nghĩa lí của tất cả chữ, gọi là Nhất tự phá đa. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 656 trung) nói: Thế nào là 1 chữ phá tất cả chữ? Như người chấp có tạo tác, thì phải phá họ bằng cách này: Nếu đã thành lập nghĩa các pháp vốn không có sinh mà ông nói có tạo tác, thì không đúng. Cho nên người chấp có nhân (..) thì cũng phá bằng cách tương tự: Nếu đã thành lập nghĩa các pháp vốn chẳng sinh mà ông chủ trương có nhân, thì không đúng... [X. Phạm tự chân ngôn thập lục huyền môn nghĩa; Pháp hoa kinh thích; Hồng tự nghĩa toàn đà la ni môn thích].
nhất tự phật đảnh luân vương kinh
Ekakasara-buddhosnisacakra-rāja sŪtra (S).
nhất tự phật đỉnh chân ngôn dữ phật nhãn chân ngôn
(一字佛頂真言與佛眼真言) Tên của Chân ngôn Phật đính và Phật nhãn. Đáp lời thỉnh cầu của bồ tát Kim cương mật tích chủ, đức Phật vào Đại tam ma địa tuyên thuyết chân ngôn Nhất tự Phật đính: Na mạc (qui mệnh) thiện mạn đà bột đà nẫm (phổ biến chư giác giả) bột lâm hồng (chủng tử). Chân ngôn này có thần lực và uy đức rất lớn. Nếu có người thụ trì chân ngôn này, thì trong phạm vi 500 do thiện na quanh chỗ ở của người ấy, không có 1 thần chú nào của thế gian hay xuất thế gian có thể thành tựu được. Cho đến hàng Bồ tát Thập địa cũng phải khiếp sợ thần lực và uy đức của chân ngôn này. Rồi sau đó trì tụng chân ngôn Phật nhãn, vì tác dụng của chân ngôn Phật nhãn là do Phật mẫu của 3 bộ sinh ra, nên cũng có uy đức rất lớn. Bởi thế, nhờ trì tụng 2 chân ngôn này mà hành giả luôn được an ổn, không bị các phiền não quấy nhiễu. [X. kinh Nhất tự Phật đính luân vương Q.1; Chân ngôn tu hành sao Q.2].
nhất tự phật đỉnh luân vương kinh
(一字佛頂輪王經) Phạm: Ekàkwara-buddhowịìwa-cakraràja-sùtra. Gọi tắt: Ngũ Phật đính kinh. Kinh, 5 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời Đường, được đưa vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật Thích ca ở đạo tràng Kim cương dưới gốc cây Bồ đề, nước Ma kiệt đà, đáp lời thỉnh cầu của bồ tát Kim cương mật tích chủ, vào Đại thiền định, hiện tướng Đại Chuyển luân vương, tuyên thuyết thần chú Nhất tự đính luân vương. Bấy giờ, cả đại thiên thế giới rúng động, bồ tát Quan âm và bồ tát Kim cương chủ nằm bất tỉnh trên đất. Đức Phật lại nói chân ngôn Nhất thiết Phật nhãn Phật mẫu, 2 vị Bồ tát liền tỉnh dậy. Đức Phật lại nói tiếp những thần chú Luân vương khác như: Bạch tản cái, Quang tụ, Cao đính... để giảng rõ về 54 loại ấn pháp trong phẩm Ấn thành tựu và 9 loại ấn pháp trong phẩm Thế thành tựu.Kinh này gồm có 13 phẩm: Phẩm Tựa, phẩm Họa tượng pháp, phẩm Phân biệt thành pháp, phẩm Phân biệt mật nghi, phẩm Phân biệt bí tướng, phẩm Thành tượng pháp, phẩm Ấn thành tựu, phẩm Đại pháp đàn, phẩm Cúng dường thành tựu, phẩm Thế thành tựu, phẩm Hộ pháp, phẩm Chứng học pháp và phẩm Hộ ma đàn.Kinh này còn có 1 bản dịch khác với tựa đề là: Kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương, do ngài Tam tạng Bất không dịch. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9].
Nhất tự quan
一字關; J: ichiji-kan; |Tức là »ải của một chữ«; một chữ bao hàm tất cả ý nghĩa giảng dạy. Danh từ này thường dùng cho những Thoại đầu một chữ. Nổi danh về cách sử dụng nhất tự quan để dạy môn đệ là Thiền sư Vân Môn Văn Yển.|Nhất tự quan nổi tiếng nhất là »Vô« của Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm (Vô môn quan, công án thứ nhất), »Quan« của Vân Môn (Bích nham lục, Công án 8).
nhất tự quan
Ichiji-kan (J).
Nhất tự tam lễ
一字三禮; C: yīzì sānlǐ; J: ichiji sanrai;| Nhất đao tam lễ.
nhất tự tam lễ
Mỗi chữ viết về Phật pháp đều phải lễ bái Tam Bảo—In writing Buddhist scriptures, at each writing thrice to pay homage to the Triratna.
; (一字三禮) Một chữ 3 lễ. Với lòng kính tin đức Phật, khi chép kinh, cứ viết xong 1 chữ thì lạy 3 lạy. Ngoài ra, khi khắc chạm tượng Phật, đưa 1 đường dao thì lễ 3 lần, gọi là Nhất đao tam lễ.
nhất tự thiền
A cryptic single-word reply to a question, requiring meditation for its apprehension. It is Zen or Ch'an method.
; (一字禪) Cũng gọi Nhất tự quan. Thiền một chữ. Chỉ dùng 1 chữ duy nhất để biểu hiện tông chỉ của Thiền. Đây là tông phong đặc thù của Thiền sư Vân môn Văn yển.Tắc 8 trong Bích nham lục (Đại 48, 148 trung) chép: Cuối hạ, ngài Thúy nham nói với đại chúng rằng: Suốt từ đầu hạ đến nay, tôi đã giảng nói cho các anh em, hãy xem lông mày của Thúy nham có còn không? Ngài Vân môn trả lời: Quan! Ngoài ra, khi các Thiền sư dùng 1 chữ để trả lời những nghi vấn của người học, cũng đều gọi là Nhất tự thiền.
nhất tự thành đa
(一字成多) Đối lại: Đa tự thành nhất. Một chữ thành nhiều, 1 trong 16 huyền môn do Mật tông thành lập. Khi giải thích văn kinh và tướng chữ, Mật tông thường dùng 1 chữ trong tiếng Phạm để thành lập nghĩa của tất cả chữ, gọi là Nhất tự thành đa. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 656 thượng) nói: Một chữ thành tất cả chữ là thế nào? Nghĩa là tất cả pháp không tạo tác, vì chúng vốn chẳng sinh. Cho đến tất cả pháp không có nhân, vì chúng vốn chẳng sinh. Trên đây là từ nghĩa của chữ A (vốn chẳng sinh) mà giải thích nghĩa của các chữ Ca (không tạo tác) và chữ Ha (không nhân)...
nhất tự thích đa
(一字釋多) Đối lại: Đa tự thích nhất. Một chữ giải thích nhiều chữ, 1 trong 16 huyền môn do Mật tông thành lập. Khi giải thích văn kinh và tướng chữ. Mật tông thường dùng 1 chữ trong tiếng Phạm để giải thích nghĩa lí của nhiều chữ, gọi là Nhất tự thích đa. Chẳng hạn như dùng nghĩa vốn chẳng sinh của chữ A để giải thích nghĩa tác nghiệp bất khả đắc của chữ Ca, nghĩa không bất khả đắc của Kha... Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 656 thượng) nói: Một chữ giải thích tất cả chữ là thế nào? Như khi giải thích chữ Ca, chỉ cần quán xét các thứ nhân duyên vốn không sinh, thì liền thấy nghĩa không tạo tác. Cho đến khi giải thích chữ Ha, chỉ cần quán xét các thứ nhân duyên vốn không sinh, thì liền thấy nghĩa không nhân. [X. Phạm tự chân ngôn thập lục huyền môn nghĩa; Pháp hoa kinh thích].
Nhất tự tâm chú kinh
一字心呪經; C: yīzì xīnzhòu jīng; J: ichiji shinju kyō;|Đại đà-la-ni mạt pháp trung nhất tự tâm chú kinh (大陀羅尼末法中一字心呪經).
nhất tự văn thù
The single-word Manjusri.
; (一字文殊) Cũng gọi Nhất kế Văn thù. Chỉ cho bồ tát Văn thù trên đầu tết 1 búi tóc. Trong Mật giáo, bồ tát Văn thù được biểu hiện bằng nhiều hình tượng khác nhau như: Nhất tự Văn thù, Ngũ tự Văn thù, Lục tự Văn thù, Bát tự Văn thù... Chủng tử của Nhất tự Văn thù là: (zrì), hình Tam muội da là trên hoa sen xanh có bảo châu như ý. Tượng là hình đồng tử, thân màu vàng ròng, ngồi bán già trên hoa sen trắng nghìn cánh, tay trái cầm hoa sen xanh, trên hoa có viên bảo châu như ý. Tay phải hướng ra ngoài, 5 ngón duỗi xuống, kết ấn Mãn nguyện, nét mặt vui vẻ mỉm cười. Vì tóc trên đầu Ngài tết có 1 búi nên cũng gọi là Nhất kế Văn thù. [X. kinh Mạn thù thất lợi bồ tát chú tạng trung nhất tự chú vương; Đại thánh mạn thù thất lợi đồng tử ngũ tự du già pháp].
nhất tự văn thù pháp
(一字文殊法) Pháp tu của Mật giáo thờ bồ tát Nhất tự Văn thù làm bản tôn, lấy chữ (Zrhyiô, xỉ lâm) hoặc chữ (Trhyìô, thể li hi lâm) làm chân ngôn. Cứ theo kinh Văn thù sư lợi căn bản nhất tự đà la ni, thần chú này có công năng diệt trừ tất cả tà ma quỉ mị, là pháp tốt lành của hết thảy chư Phật, cũng có sức thành tựu tất cả thần chú. Người thụ trì thần chú này, có thể khiến chúng sinh khởi tâm đại từ đại bi, những chướng ngại đều bị tiêu trừ, mọi nguyện vọng đều được thỏa mãn. Ngoài ra, Đà la ni này cũng giúp chúng sinh sống trong đời hiện tại được an ổn, các đức Như lai và chúng Đại bồ tát thường làm quyến thuộc, tất cả mọi mong cầu đều thành tựu. [X. kinh Mạn thù thất lợi bồ tát chú tạng trung nhất tự chú vương; Đại thánh mạn thù thất lợi đồng tử ngũ tự du già pháp].(xt. Nhất Tự Văn Thù).
Nhất tự đỉnh luân vương kinh
一字頂輪王經; C: yīzìdǐng lúnwáng jīng; J: ichijichō rin'ō kyō;|Bồ-đề trường sở thuyết nhất tự đỉnh luân vương kinh (菩提場所説一字頂輪王經).
nhất tự đỉnh luân vương kinh
(一字頂輪王經) Cũng gọi Nhất tự kinh, Bồ đề đạo tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương kinh, Bồ đề tràng kinh. Kinh, 5 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Kinh này có hình thái đặc biệt nhất trong Mật giáo tạp bộ, đứng vào địa vị thứ nhất trong Phật đính bộ, nội dung bao gồm cả 5 Phật đính; tất cả có 13 phẩm, mở đầu bằng phẩm Tựa và kết thúc với phẩm Hộ ma.Các bản dịch khác của kinh này là: Nhất tự Phật đính luân vương kinh và Ngũ Phật đính tam muội đà la ni, đều do ngài Bồ đề lưu chí dịch.
nhất vi trần
The smallest particle—An atom—A microcosm of the universe.
; (一微塵) Gọi tắt: Nhất trần. Một mảy bụi. Trong Phật giáo, từ ngữ này được dùng để chỉ cho 1 đơn vị vật chất nhỏ nhất (cực vi). Ma ha chỉ quán quyển 1, phần cuối (Đại 46, 9 thượng) nói: Trong một mảy bụi có hàng đại thiên thế giới kinh tạng; trong tâm có đầy đủ tất cả Phật pháp, như địa chủng như hương hoàn.
Nhất Viên
一圓; J: ichien;|Vô Trụ Ðạo Hiểu
nhất viên
Ichien (J)Tên một vị sư.
nhất viên thật
(一圓實) Chỉ cho Viên giáo trong 4 giáo hóa pháp do tông Thiên thai thành lập. Theo sự phán giáo của tông Thiên thai, 4 giáo hóa pháp được chia làm 2 loại là Quyền (tạm thời) và Thực (chân thực), trong đó Tạng, Thông, Biệt đều thuộc về Quyền, chỉ có Viên giáo thuộc về Thực. Đây là Quyền, Thực đối lại với Thiên, Viên. Ba giáo Tạng, Thông, Biệt vẫn chưa được viên mãn, vì còn thiên lệch, nên gọi là Quyền giáo (giáo pháp quyền biến lâm thời), chỉ có Viên giáo mới hoàn toàn viên mãn, nên gọi là Thực giáo (giáo pháp chân thực vĩnh viễn).
Nhất vãng
一往; C: yīwăng; J: ichiō;|1. Duy nhất, chỉ, chỉ là; 2. Thông thường, tóm tắt, đại thể (theo Nhị chướng nghĩa 二障義); 3. Một lần, một vòng.
nhất vãng
See Nhứt vãng.
Nhất vãng lai
hay Nhất lai, nghĩa là chỉ còn một lần tái sanh, tức quả vị Tư-đà-hàm. Xem bốn quả thánh.
nhất vãng tái vãng
(一往再往) Tìm cầu nghĩa lí 1 lần nữa. Nhất vãng là tìm cầu lần thứ nhất, mới chỉ hiểu 1 cách hời hợt trên mặt chữ. Tái vãng là suy tìm lần nữa, tiến xa hơn mà phát huy được nghĩa lí sâu kín, nhờ đó có thể thấu suốt huyền chỉ ở ngoài ngôn ngữ, văn tự, tức là cái mà Trang tử gọi là Ý tại ngôn ngoại vậy. Nhị đế nghĩa quyển thượng (Đại 45, 87 hạ) nói: Các pháp thế gian chỉ có chữ mà không có nghĩa, nhất vãng đã thế rồi, tái vãng lại càng không. Vì sao? Vì chữ vốn để giải thích nghĩa, mà đã không có nghĩa thì chữ giải thích cái gì?.
nhất vô ngại đạo
Meditation on the one way without barrier (the end of reincarnations in nirvana).
; (一無礙道) Một con đường không ngăn ngại. Chỉ cho sự ngộ đạo sau khi đã thể nhận được Sinh tử tức Niết bàn, thì có thể dung hòa 2 cặp đối đãi này 1 cách vô ngại. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ].
nhất võng đả tựu
(一網打就) Tiếng dùng trong Thiền lâm Tung 1 mẻ lưới là bủa vây hết, ví dụ 1 câu nói của Thiền sư có thể diễn tả hết ý nghĩa cốt tủy của Phật pháp. Tắc 52 trong Bích nham lục (Đại 48, 187 thượng) nói: Độ lừa độ ngựa (1 mẻ lưới bủa vây hết, tất cả mọi người trên mặt đất không còn chỗ để thở, hễ chết là chết luôn, không sống lại).
nhất vũ
A rain, e.g. a lesson from the Buddha, or his teaching.
; A rain—A lesson or teaching from the Buddha.
; (一雨) Một trận mưa. Ví dụ Phật pháp như 1 trận mưa rào thấm nhuần khắp tất cả chúng sinh.Đức Phật nói pháp Nhất thừa, chỉ bày rõ lí Nhất thực tướng, vốn không có 2, 3; cũng giống như 1 trận mưa rào rơi xuống thì tất cả cỏ cây được thấm nhuần tươi tốt. Tuy mưa chỉ là 1 nhưng cây cỏ tùy loại lớn nhỏ, cao thấp mà được lợi ích khác nhau. Cũng thế, pháp do Phật nói tuy là đồng nhất, nhưng căn cơ của người nghe và tiếp nhận thì thiên sai vạn biệt, nên được lợi ích không giống nhau.
nhất vấn tấn
(一問訊) Gọi đủ: Tiếp nhập nhất vấn tấn. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cùng thăm hỏi 1 lượt, là 1 trong những cách thức lễ bái thăm hỏi của Thiền tông. Nghĩa là khi vị Trụ trì đến gặp đại chúng, thì đại chúng đồng loạt lễ bái thăm hỏi, chứ không lễ bái từng người một.
nhất vật bất tương lai (zen)
Empty-handed—Nothingness—Not a thing to bring or carry away.
nhất vật bất tướng lai
(一物不將來) Tên công án trong Thiền tông. Một vật không đem đến, tức chỉ cho bản lai diện mục. Tắc 57 trong Thung dung lục (Đại 48, 263 thượng) chép: Tôn giả Nghiêm dương hỏi ngài Triệu châu: - Khi một vật không đem đến thì thế nào?Ngài Triệu châu đáp: - Bỏ nó xuống. Tôn giả Nghiêm dương lại hỏi: - Một vật đã không đem đến thì bỏ cái gì xuống? Ngài Triệu châu nói: - Thì vác nó lên mà đưa đi!.
nhất vật trường niên
(一物長年) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một vật năm dài. Một vật chỉ cho tâm tính linh diệu, Thiền tông gọi là Chủ nhân ông. Trường niên chỉ cho những năm tháng lâu dài. Nghĩa là tâm tính linh diệu là cái mà Phật Phật Tổ Tổ đã truyền cho nhau từ xưa đến nay và mãi cho đến nhiều kiếp trong vị lai. Phổ tế lục quyển thượng (Đại 82, 499 trung) nói: Kết hạ thuyết pháp, đại chúng từ 10 phương cùng về tụ họp, một vật năm dài chưa hề đụng đến, cũng chẳng theo duyên.
Nhất vị
(一味): có hai nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho loại mùi vị. Như trong Trung Luận (中論), chương Trị Học (治學) của Từ Cán (徐幹, 170-217) nhà Hán có câu: “Gia thiện chi hòa, phi thủ hồ nhất vị (嘉膳之和、非取乎一味, khen mâm cỗ hài hòa, không phải chỉ lấy một vị mà khen).” (2) Chỉ cho giáo pháp của Như Lai, giống như Cam Lộ. Như trong Phẩm Dược Thảo Dụ (藥草喻品) của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 3 có câu: “Như Lai thuyết pháp, nhất tướng nhất vị (如來說法、一相一味, đức Như Lai thuyết pháp, một tướng một vị).” Hay trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 5 lại có câu: “Hựu giải thoát giả, danh vi nhất vị (又解脫者、名爲一味, lại nữa, giải thoát được gọi là một vị).” Hoặc trong Đại Thừa Khởi Tín Luận Nghĩa Ký (大乘起信論義記, Taishō Vol. 44, No. 1846) quyển Trung lại có đoạn rằng: “Phi sanh phi diệt, bất động bất chuyển, bình đẳng nhất vị, tánh vô sai biệt, chúng sanh tức Niết Bàn (非生非滅、不動不轉、平等一味、性無差別、眾生卽涅槃, chẳng sanh chẳng diệt, không động không chuyển, bình đẳng một vị, tánh không sai khác, chúng sanh là Niết Bàn).”
; 一味; C: yīwèi; J: ichimi; S: eka-rasa.|»Chỉ có một (mùi) vị duy nhất,« sự đồng nhất của tất cả những hiện hữu. Thuật ngữ này xuất xứ từ ẩn dụ đại dương, tất cả các biển chỉ có một vị mặn duy nhất.
nhất vị
One, or the same, flavour, kind or character.
; One flavour—The same flavour.
; (一味) Phạm: Eka-rasa, hoặc Vimukty-ekarasatà. Một mùi vị. Chỉ cho tất cả sự(các hiện tượng)và lí (bản thể) đều bình đẳng không sai khác. Thông thường chỉ cho giáo pháp của đức Phật. Luận Bảo tính quyển 3 (Đại 31, 835 hạ) nói: Đối với pháp thân Như lai ở trong thế giới vô lậu, thì 1 vị 1 nghĩa cũng không cách rời nhau.
nhất vị nhất thiết vị
(一位一切位) Đồng nghĩa: Nhất môn phổ môn. Một vị tất cả vị. Bậc thượng căn khi chứng được 1 giai vị thì đồng thời đầy đủ công đức của tất cả giai vị. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1 (Đại 35, 115 hạ) ghi: Viên giáo nói rõ 1 vị tức là tất cả vị, tất cả vị tức là 1 vị.
nhất vị thiền
(一味禪) Thiền 1 mùi vị. Chỉ cho thiền tối thượng thừa thuần nhất, không pha tạp. Cũng tức là thiền đốn ngộ. Thiền tông chính mạch quyển 2 (Vạn tục 146, 27 hạ) chép: Vị tăng bái biệt ra đi, sư hỏi: - Đi đâu? - Đi các nơi để học Ngũ vị thiền. - Các nơi có Ngũ vị thiền, còn ở đây ta chỉ có Nhất vị thiền. - Nhất vị thiền là thế nào? Sư liền đánh, vị tăng nói: - Hiểu rồi! Hiểu rồi! Sư giục: - Nói! Nói! Vị tăng toan mở miệng, sư lại đánh. Sau đó, vị tăng đến chỗ ngài Hoàng bá thuật lại chuyện này. Ngài Hoàng bá lên Pháp đường tuyên bố: Mã đại sư có 84 vị thiện tri thức, tất cả đều đốn ngộ, được tự do tự tại. [X. Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.11; Tông môn thống yếu tục tập Q.4].
Nhất vị uẩn
一味蘊; C: yī wèi yùn; J: ichimiun; S: eka-rasa-skandha.|Một nguyên tắc được Nhất thiết hữu bộ thiết thuyết, xem như là chủ thể trải qua những biến chuyển, là cái được tái sinh, là tâm thức vi tế nhất bắt đầu từ vô thuỷ vô minh.
nhất vị uẩn
Xem Căn biên uẩn.
; (一味蘊) Phạm: Eka rasa skandha. Uẩn 1 vị. Uẩn chỉ cho thụ, tưởng, hành và thức. Nhất vị uẩn là 4 uẩn này đắp đổi, hòa hợp với nhau thành 1 vị duy nhất, tức là ý thức nhỏ nhiệm liên tục từ vô thủy đến nay, không hề gián đoạn. Theo quan điểm của Kinh lượng bộ của Phật giáo Tiểu thừa, thì Nhất vị uẩn này là chủ thể của sự luân hồi. [X. luận Dị bộ tông luân; Dị bộ tông luân luận thuật kí mục luận Q.5].
nhất vọng
(一妄) Một niệm mê vọng không thực. Tông Kính lục quyển 1 (Đại 48, 419 hạ) nói: Một khi mắt vương bệnh Hoa đốm đầy hư không Một niệm vọng trong tâm Hằng sa sinh diệt khởi.
nhất xan
(一餐) Một bữa ăn. Trong kinh Pháp hoa quyển 2 có câu Không mong ăn được 1 bữa (Nhi vô hi thủ nhất xan), ý nói thấy thức ăn mà không ăn được. Ở đây nói về hàng Thanh văn tự cho mình là Tiểu thừa, nên đối với pháp Đại thừa không sinh tâm ưa thích, ví như thấy thức ăn mà không ăn được.
nhất xiển đề
Iccantika (S), Xem Điên ca, Xem Nhứt điên ca.
; Icchantika (S). One without desire for Buddha-enlightenment; an unbeliever; shameless, an enemy of the good; full of desires.
; Icchantika or Atyantika (skt)—Đoạn thiện căn giả, người không có ý hướng giác ngộ Phật, kẻ thù của thiện pháp. Người cắt đứt mọi thiện căn. Nhất Xiển Đề là hạng người cùng hung cực ác, mất hết tất cả các căn lành, không thể nào giáo hóa khiến cho họ tu hành chi được hết. Tuy nhiên, Nhất Xiển Đề cũng áp dụng cho Bồ Tát nguyện không thành Phật cho đến khi nào tất cả chúng sanh đều được cứu độ. Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật nhắc Mahamati: “Này Mahamati, vị Bồ Tát nhất xiển đề biết rằng tất cả sự vật đều ở trong Niết Bàn từ lúc khởi thỉ, nên vẫn giữ mãi không nhập Niết Bàn—One without desire for Buddha-enlightenment, or unable to become Buddha—An unbeliever (unbelief or abandoned character)—An enemy of the good—One who cuts off his roots of goodness. The Atyantika are people who are extremely evil and wicked, having lost all senses of goodness. It is impossible to change, transform, or influence them to take a cultivated path. However, this also applied to a Bodhisattva who has made his vow not to become a Buddha until all beings are saved. In the Lankavatara Sutra, he Buddha reminded Mahamati: “Oh Mahamati, the Bodhisattva-icchantika knowing that all things are in Nirvana from the beginning refrains forever from entering into Nirvana.” ** For more information, please see Vô Chủng Xiển Đề.
; (一闡提) Phạm: Icchantika, hoặc Ecchantika. Cũng gọi Nhất xiển để ca, Nhất điên ca, Nhất xiển đề kha, Xiển đề, A điên để ca, A xiển đề, A xiển để ca. Hán dịch: Đoạn thiện căn, Tín bất cụ túc, Cực dục, Đại tham, Vô chủng tính, Thiêu chủng. Người dứt hết căn lành, không có cơ hội thành Phật. Kinh Nhập lăng già quyển 2 chia Xiển đề làm 2 loại: 1. Đoạn thiện xiển đề: Người dứt hết thiện căn, vốn không có nhân giải thoát. 2. Đại bi xiển đề, cũng gọi Bồ tát xiển đề. Tức Bồ tát vốn mang tâm nguyện đại bi cứu vớt hết thảy chúng sinh, nên cố ý không vào Niết bàn. Đại trang nghiêm kinh luận cũng nêu 2 thuyết về Xiển đề: 1. Hữu tính xiển đề: Nhờ sức hộ trì của Phật, cuối cùng có thể thành Phật. 2. Vô tính xiển đề: Vĩnh viễn không có đìều kiện thành Phật. Ngoài ra, Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu quyển thượng thành lập thuyết 3 loại Xiển đề là: Đoạn thiện xiển đề, Đại bi xiển đề và Vô tính xiển đề. Trong đó, Đoạn thiện xiển đề thuộc loại Hữu tính xiển đề. Nhất xiển đề phát tâm rất khó, giống như người mù bẩm sinh rất khó chữa lành, nên được dùng để ví dụ với Xiển đề mà gọi là Sinh manh xiển đề(Xiển đề mù bẩm sinh). Thời xưa, tại Trung quốc, ngài Đạo sinh chủ trương thuyết Xiển đề thành Phật, bị giới tăng đồ thủ cựu công kích kịch liệt, mãi đến khi kinh Đại bát niết bàn do ngài Đàm vô sấm dịch xuất hiện, thì thuyết Xiển đề thành Phật của ngài Đạo sinh mới dần dần được đón nhận. Tuy nhiên, tông Pháp tướng vẫn chủ trương có những chúng sinh không có khả năng thành Phật; còn các tông Đại thừa khác như Thiên thai, Hoa nghiêm... thì cho rằng tất cả chúng sinh đều có thể thành Phật. Cho nên, Nhất xiển đề có được thành Phật hay không, vẫn còn là 1 vấn đề gây tranh luận trong giới Phật giáo. [X. kinh Niết bàn Q.9 (bản Bắc); luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.5; Hoa nghiêm kinh sớ Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].
nhất xoa
(一杈) Cũng gọi Thụ xoa. Cái nạng cây. Tại núi Ngũ đài ở Trung quốc, có Hòa thượng Bí ma ẩn tu trong hang Bí ma, mỗi khi tiếp hóa người học, thường dùng 1 cái nạng cây ấn vào cổ người hỏi đạo và nói (Đại 51, 280 trung): Con ma trời nào xui mi xuất gia? Đồ quỉ sứ nào bảo mi hành cước? Nói được ta cũng dí cho chết, nói không được ta cũng dí cho chết. Nói mau!. [X. tắc 19 trong Bích nham lục; Cảnh đức truyền đăng lục Q.10].
Nhất Xoa Cưu Vương
(s: Ikṣuvāku, Ikṣvāku, p: Okkāka, 一叉鳩王) [nhân]: ý dịch là Cam Giá (甘蔗), Cam Giá Vương (甘蔗王). Huệ Lâm Âm Nghĩa (慧琳音義) 26 giải thích rằng: “Hựu danh Nhật Chủng Thiện Sanh, Thích Ca tộc chi tổ tiên dã, tại Ấn Độ hà lưu vực chi Phù Đà Lạc Thành (又名日種善生、釋迦族之祖先也、在印度河流域之浮陀落城, nó còn có tên là Nhật Chủng Thiện Sanh, tổ tiên của dòng họ Thích Ca, sống tại Thành Phù Đà Lạc [浮陀落, tức Bao Đa Na, s: Potala, 褒多那] thuộc lưu vực sông Ấn Độ).”
nhất xoa cưu vương
(一叉鳩王) Phạm: Ikwvàku. Pàli: Okkàka. Hán dịch: Cam giá thị. Họ Cam giá, tức là tổ tiên của dòng họ Thích ca, sống ở thành Phù đà lạc thuộc lưu vực sông Ấn độ (Indus).
nhất xà thủ vĩ
(一蛇首尾) Đầu rắn đuôi rắn. Ví dụ chúng sinh ngu si, thường tranh giành nhân ngã mà bị rơi vào 3 đường ác. Cứ theo kinh Tạp thí dụ, ngày xưa có 1 con rắn, đầu và đuôi thường tranh cãi nhau và đều cho mình là lớn. Cái đầu nói: Ta có tai để nghe, có mắt để thấy, có miệng để ăn; lúc đi ta ở đàng trước, bởi thế ta phải là lớn. Cái đuôi thì nói: Khi ta cho mi đi thì mi mới đi được, nếu ta không đi thì mi không thể đi được, bởi vậy ta là lớn. Nói xong, cái đuôi liền quấn vào thân cây 3 vòng, luôn 3 ngày không buông ra, đói khát gần chết. Bấy giờ, cái đầu mới bảo cái đuôi:Thôi, mi hãy buông ta ra, ta chấp nhận cho mi là lớn. Cái đuôi nghe nói liền buông ra. Sau đó, cái đầu nói với cái đuôi: Cho mi đi trước. Cái đuôi liền đi trước, nhưng chưa được mấy bước thì rơi xuống hố thẳm mà chết.
nhất âm
(一音) Chỉ cho âm thanh của đức Phật. Vì cơ duyên của chúng sinh có sâu, cạn, căn tính có nhanh, chậm khác nhau, cho nên cùng 1 pháp âm của đức Phật nói ra, mà mỗi người nghe cũng khác nhau. Nếu là căn cơ người thì nghe đức Phật nói pháp Ngũ giới; nếu là căn cơ trời thì nghe đức Phật nói pháp Thập thiện; nếu là căn cơ Thanh văn thì nghe đức Phật nói pháp Tứ đế; nếu là căn cơ Duyên giác thì nghe đức Phật nói pháp Thập nhị nhân duyên; nếu là căn cơ Bồ tát thì nghe đức Phật nói pháp Lục độ... Kinh Duy ma cho rằng đức Phật dùng 1 âm diễn nói chính pháp, chúng sinh tùy căn cơ và chủng loại mà đều được hiểu. [X. phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.79].
Nhất âm giáo
一音教; C: yīyīnjiāo; J: ittonkyō;|Còn gọi là: Nhất viên giáo (一圓教). Giáo lí của chư Phật là nhất như. Tư tưởng nầy do Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支; s: bodhiruci) lập ra khi sư đến Trường An vào khoảng 502 sau CN. Sở dĩ có nhiều giáo lí như Tiểu thừa-Đại thừa, Không-Hữu là do căn cơ và tính tình của chúng sinh.
nhất âm giáo
Học thuyết được sáng lập bởi Cưu Ma La Thập và Bồ Đề Lưu Chi—The one-sound teaching which was founded by Kumarajiva and Bodhiruci—The totality of Buddha's doctrine
; (一音教) Cũng gọi Nhất viên âm giáo, Nhất âm thuyết pháp, Nhất âm dị giải. Nghĩa là đức Phật chỉ dùng 1 thứ ngôn ngữ diễn nói tất cả pháp, chúng sinh tùy theo căn tính bất đồng mà hiểu khác nhau, giáo nghĩa do đó cũng chia thành Đại Tiểu, Không Hữu, Đốn Tiệm... khác nhau. Luận Đại tì bà sa quyển 79 (Đại 27, 410 thượng) nói: Phật dùng nhất âm diễn nói pháp nghĩa, chúng sinh tùy theo căn cơ và chủng loại đều được hiểu. Đại chúng bộ trong thời Phật giáo bộ phái chấp nhận thuyết này. Phật giáo Trung quốc cũng lấy thuyết này làm căn cứ cho việc phán giáo. Chẳng hạn như ngài Bồ đề lưu chi đời Hậu Ngụy cho rằng trong Nhất âm giáo của đức Phật bao hàm các giáo pháp Đại thừa và Tiểu thừa; còn ngài Cưu ma la thập đời Diêu Tần thì cho rằng khi chúng sinh nghe Phật pháp vì trình độ hiểu biết của họ có sâu, cạn khác nhau, do đó mà có Đại thừa, Tiểu thừa. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1 (Đại 33, 801 trung) nói: Các Thiền sư ở miền Bắc bác bỏ các giáo nghĩa Tứ tông, Ngũ tông, Lục tông, Bán giáo, Mãn giáo, chỉ có một Phật thừa mà thôi. Nhất âm thuyết pháp, nhưng chúng sinh tùy theo căn cơ mà hiểu khác nhau. Do đó, chư Phật thường hành Nhất thừa mà chúng sinh thấy Tam thừa, kì thực chỉ có Nhất thừa mà thôi. [X. phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma Q.thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Pháp hoa huyền nghĩa Q.10, thượng].
nhất âm tự
(一音寺) Cũng gọi Ngọc tuyền tự. Chùa ở cạnh núi Ngọc tuyền, huyện Đương dương, tỉnh Hồ bắc, Trung quốc, do Đại sư Trí khải tông Thiên thai sáng lập vào năm Khai hoàng 13 (593), đời Tùy, để đáp đền ơn nghĩa nơi đã sinh ra ngài. Vua sắc ban biển ngạch là Nhất âm.
nhất đa tương dung bất đồng môn
(一多相容不同門) Môn một và nhiều khác nhau nhưng dung hòa nhau, là 1 trong 10 Huyền môn của tông Hoa nghiêm. Môn này căn cứ vào Dụng mà thuyết minh, tức là dựa vào mối quan hệ tương nhập của các pháp để phá trừ cái nghi chấp của chúng sinh cho rằng tất cả các pháp không thể dung nhiếp lẫn nhau, hòa nhập vào nhau. Trong nhiều sự vật khác nhau, đưa ra 1 sự vật nào đó thì sự vật ấy là 1 (nhất), vô số sự vật còn lại là nhiều (đa). Nếu khi 1 biến khắp nhiều, thì nhiều dung chứa 1; khi nhiều biến khắp 1, thì 1 dung chứa nhiều. Mặc dù dung chứa lẫn nhau, nhưng 1 và nhiều vẫn rõ ràng khác nhau, nên gọi là Bất đồng. Như 1 ngọn đèn và nhiều ngọn đèn cùng chiếu sáng trong 1 căn phòng, dù 1 ngọn đèn và nhiều ngọn đèn được đặt ở các vị trí khác nhau, nhưng ánh sáng của chúng vẫn giao xen với nhau, hòa nhập vào nhau, không có gì ngăn ngại. Cũng như 1 cõi Phật và tất cả cõi Phật trong 10 phương dung nạp lẫn nhau mà không làm mất đi cái tướng 1 và nhiều. [X. kinh Hoa nghiêm Q.8 (bản dịch mới); phẩm Lô xá na Phật trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Thập Huyền Môn).
nhất đao lưỡng đoạn
(一刀兩段) Chặt 1 nhát đứt làm 2 khúc. Ý nói 1 nhát dao trí tuệ chặt đứt kiến giải chấp có, chấp không. Ví dụ thái độ cương quyết, dứt khoát không để bị tình cảm lôi quấn, cám dổ. Cũng ví dụ sử dụng Thiền cơ 1 cách linh hoạt. Mục Chung sơn Thiết ngưu Ấn thiền sư thị đồng hành pháp hối trong Truy môn cảnh huấn quyển 10 (Đại 48, 1094 hạ) nói: Nếu là bậc Đại trượng phu thì phải quyết liệt ngăn chặn những việc làm sai trái, từ gót chân, chặt 1 nhát đứt làm 2 khúc(nhất đao lưỡng đoạn), vượt ra ngoài Phật và Tổ, vừa nhìn qua thì liền thấu suốt, thân tâm đều rõ, cũng không phải là việc khó. (xt. Nam Tuyền Trảm Miêu).
Nhất đao tam lễ
(一刀三禮): đối với người có lòng tín ngưỡng chí thành, khi điêu khắc tượng Phật, mỗi lần vị ấy hạ một nhát đao xuống, lễ bái Tam Bảo ba lần, để biểu thị sự tôn kính. Vẽ tượng, viết kinh văn gọi đó là nhất bút tam lễ (一筆三禮, một nét bút ba lạy) hay nhất tự tam lễ (一字三禮, một chữ ba lạy).
; 一刀三禮; C: yīdāo sānlǐ; J: ittō sanrai;|Nghĩa là một nhát đao hạ xuống thực hiện ba lễ. Khi tạc hình tượng Phật, đều phải đảnh lễ Tam bảo ba lần trước khi thực hiện mỗi nét chạm khắc. Tương tự cũng có thành ngữ Nhất bút tam lễ (一筆三禮) và Nhất tự tam tạng (一字三蔵) biểu thị cùng một quy tắc cho giới hoạ sĩ và văn sĩ.
nhất đao tam lễ
Mỗi một nhát dao chạm trổ hình tượng Phật đều phải lễ bái Tam Bảo—In carving an statue (image) of Buddha, at each cut thrice to pay homage to the Triratna.
; (一刀三禮) Một nét khắc lạy ba lạy. Khi tạo tượng Phật, để bày tỏ lòng tin chân thật, thành kính, cứ mỗi nét khắc, người thợ tạo tượng lại lạy Phật 3 lạy, gọi là Nhất đao tam lễ. Cũng tương tự như trên, khi chép kinh thì gọi là Nhất tự tam lễ (một chữ ba lễ), khi vẽ tượng Phật gọi là Nhất bút tam lễ (một nét vẽ ba lễ).
Nhất Điều Kiêm Lương
(一條兼良, Ichijō Kanera, 1402-1481): vị đình thần, học giả, công khanh, Nhiếp Chính Quan Bạch, sống vào cuối thời đại Thất Đinh, con của Nhất Điều Kinh Tự (一條經嗣, Ichijō Tsunetsugu); thông xưng là Đào Hoa Tẩu (桃華叟), Tam Quan Lão Nhân (三關老人), Hậu Thành Ân Tự (後成恩寺), v.v. Năm 1429 (Chánh Trường [正長] 2), ông làm chức Tả Đại Thần (左大臣); nhưng thật quyền lại rơi vào tay của người thân tộc Nhị Điều Trì Cơ (二條持基, Nijō Mochimoto). Đến năm 1432 (Vĩnh Hưởng [永享] 4), ông làm Nhiếp Chính (攝政), nhưng rồi lại từ chức. Tuy nhiên, với tư cách là học giả lỗi lạc, ông thường tham gia ca đàn của nhà Tướng Quân. Ông đã từng làm chức Quan Bạch Thái Chính Đại Thần, bác học đa tài, thông cả cổ điển lẫn Phật Giáo, rất sở trường về Hòa Ca. Vào khoảng năm 1455 (Hưởng Đức [享德] 4), ông trước tác bộ Nhật Bản Thư Kỷ Toản Sớ (日本書紀纂疏). Ông qua đời ở độ tuổi 80, được xem như là người “năm trăm năm nay tài học đó chẳng có ai”. Trước tác của ông có khá nhiều như Xích Tố Vãng Lai (尺素往來), Công Sự Căn Nguyên (公事根源), Hoa Điểu Dư Tình (花鳥余情), Tiều Đàm Trị Yếu (樵談治要), Văn Minh Nhất Thống Ký (文明一統記), Nhật Bản Thư Kỷ Toản Sớ (日本書紀纂疏), v.v.
Nhất Điều Thiên Hoàng
(一條天皇, Ichijō Tennō, tại vị 986-1011): vị Thiên Hoàng sống vào giữa thời Bình An, Hoàng Tử thứ nhất của Viên Dung Thiên Hoàng (圓融天皇, Enyū Tennō, tại vị 969-984), tên là Hoài Nhân (懷仁, Yasuhito).
nhất điều trụ trượng lưỡng nhân phù
(一條拄杖兩人扶) Tiếng dùng trong Thiền Lâm. Một cây gậy do vị thầy cầm có thể làm chỗ dựa cho 2 người học. Ý nói đệ tử Phật cùng chứng cùng ngộ. Phù nghĩa là chống đỡ, nương tựa. Tắc 24 trong Bích nham lục (Đại 48, 165 trung) chép: Tin tức gì thế? Một cây gậy 2 người chống(Nhất điều trụ trượng lưỡng nhân phù), gọi nhau cùng đến cùng đi.
nhất điểm trụ
Theo Tỳ Kheo Piyananda trong Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo, nhất điểm trụ là trạng thái sau đây—According to Bhikkhu Piyananda in The Gems of Buddhism Wisdom. 1) Nhất điểm trụ là trạng thái tập trung mà tất cả những khả năng và sức mạnh tinh thần đều nhắm vào và điều khiển bởi sức mạnh ý chí hướng về một điểm hay một đối tượng. Nhất điểm tâm là một tâm được tập trung và hợp nhất. Nhất điểm tâm là sự đối nghịch của tâm buông lung hay tán loạn. Bình thường trạng thái tinh thần của chúng ta chạy đi mọi hướng, nhưng nếu sự tập trung được dồn vào một đối tượng, bạn bắt đầu biết bản chất thực sự của đối tượng ấy. Tiến trình của sự tập trung lần lần thay đổi trạng thái tinh thần cho đến khi toàn bộ năng lượng tinh thần đồng quy vào một điểm: One-pointedness is a concentrated state in which all the faculties and mental powers are focussed and governed by the will-power and directed towards one point or one object. A one-pointed mind is the opposite of a distracted or scattered mind. Ordinarily our mental states are scattered in all directions but if the concentration is fixed on one object, then you begin to know the true nature of that object. The process of concentration gradually modifies the mental states until the whole mental energy converges towards one point. 2) Nếu bạn huấn luyện tâm vào “nhất điểm,” bạn sẽ mang lại bình tĩnh và sự tĩnh lặng cho tâm, và bạn có thể gom sự chú ý vào một điểm, cũng như có thể ngưng những vọng tưởng của tâm và những phí phạm năng lượng hữu dụng. Tuy nhiên, tâm tĩnh lặng không phải là mục đích tối hậu. Sự tĩnh lặng nầy chỉ là cần thiết để phát triển tuệ giác. Nói một cách khác, tâm tĩnh lặng cần thiết nếu bạn muốn có một cái nhìn sâu vào chính mình, và có được sự hiểu biết sâu xa về chính mình và thế giới: If you train your mind in one-pointedness, you will be able to bring calmness and tranquility to the mind and you will be able to gather your attention to one point, so as to stop the mind from frittering away and wasting its useful energy. A calm mind is not an end in itself. Calmness of mind is only a necessary condition to develop “Insight.” In other words, a calm mind is necessary if you want to have a deep look into yourself and to have a deep understanding of yourself and the world. 3) Thiền Tam Ma Địa huấn luyện tâm với nhiều giai đoạn khác nhau của sự tập trung tinh thần. Ở giai đoạn cao của sự tập trung tinh thần, tức là đắc thiền hay jnana, sức mạnh tâm linh được phát triển. Tuy nhiên, giai đoạn cao về sự tập trung không cần thiết hay thực tiển cho hầu hết mọi người sống trong nhịp độ cuồng nhiệt của đời sống hiện đại. Với hầu hết mọi người, tâm nhẩy từ quá khứ tới hiện tại vị lai, và từ chỗ nầy đến chỗ khác không ngừng nghỉ. Những người như vậy phí phạm một khối lượng năng lực tinh thần to lớn. Nếu bạn có thể huấn luyện tâm bạn duy trì đủ sự tập trung chú ý đến mỗi nhiệm vụ từng chập một thì quá thừa đủ! Khi bạn đọc sách, đi tản bộ, nghỉ ngơi, trò chuyện, hay bất cứ thứ gì mà bạn làm trong cuộc sống hằng ngày, hãy hoạt động với một tâm tĩnh lặng, đó là chú tâm vào mỗi nhiệm vụ: Samatha meditation trains the mind to various stages of mental concentration. At very high stages of mental concentration, known as jnana, psychic powers can be developed. However, such high stages of concentration are not necessary or practical for most people who have to live in the hectic pace of modern life. For most people, the mind is jumping from past to present to future and from place to place. Such people waste an enormous amount of mental energy. If you can train your mind to maintain enough concentration to pay attention to each task from moment to moment, this is more than enough! When you are reading, walking, resting, talking, whatever you do in your daily life, act with a mind that is calm and that is paying attention to each and every action. Learn to focus the mind on each task.
nhất điểm tâm
Ekaggata (p)—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), Phạn ngữ “Ekaggata” có nghĩa là một điểm duy nhất hay là trạng thái gom tâm an trụ vào một điểm duy nhất. Đây là tâm sở nằm trong các tầng thiền (jhanas). Nhất điểm tâm tạm thời khắc phục triền cái tham dục, một điều kiện tất yếu để đạt được thiền định. “Ekaggata” thực tập quán tưởng thật sát vào đề mục; tuy nhiên, “Ekaggata” không thể nào đạt được riêng lẽ, mà nó cần đến những yếu tố khác như “Tầm,” “Sát,” “Phỉ,” và “Lạc.”—According to the Abhidharma, Pali term “Ekaggata” means a one pointed state. This mental factor is the primary component in all jhanas. One-pointedness temporarily inhibits sensual desire, a necessary condition for any meditative attainment. “Ekaggata” exercises the function of closely contemplating the object; however, it cannot perform this function alone. It requires the joint action of the other jhanas such as “Vitaka” (applying the associated state on the object), “Vicara” (sustaining them there), “Piti” (bringing delight in the object, “Sukha” (experiencing happiness in the jhana).
nhất đoàn thực
(一揣食) Cũng gọi Nhất đoàn thực, Tiết lượng thực. Một nắm cơm. Các tăng sĩ Phật giáo mỗi bữa ăn chỉ tiếp nhận 1 nắm cơm cúng dường. Đây là 1 trong 12 hạnh đầu đà. (xt. Đầu Đà).
nhất đoàn tâm thức
(一團心識) Chỉ cho nhục đoàn tâm (trái tim) trong quán pháp của Mật giáo. Mật giáo cho rằng quả tim trong thân thể còn có hình giống như hoa sen, là nơi tồn tại của ý thức, vì thế dùng nhất đoàn tâm thức làm đối tượng để quán tưởng.
nhất đoạn nhất thiết đoạn
(一斷一切斷) Cũng gọi Nhất đoạn tất thành. Một dứt thì tất cả đều dứt. Tông Hoa nghiêm lấy 2 môn Pháp tính dung thông và Duyên khởi tương do làm giáo nghĩa căn bản, từ đó thuyết minh lí Nhất tức nhất thiết và tính duyên khởi trùng trùng vô tận của các pháp. Trong đó, Pháp tính dung thông nói rõ về lí và sự vô ngại, còn Duyên khởi tương do thì nói rõ về sự sự vô ngại. Mối quan hệ giữa 2 môn là trong 1 sự bao nhiếp toàn lí, vì thế, trong 1 sự hiển hiện nhiều sự; đó tức là lí và sự vô ngại, cho nên sự sự cũng vô ngại. Hai môn này được dùng để thuyết minh tất cả pháp, bởi vậy, tất cả pháp đều bao hàm trong lí Nhất tức nhất thiết (Một tức tất cả). Trong đó, căn cứ vào nghĩa đoạn hoặc tu chứng mà lập các thuyết như: Nhất chướng nhất thiết chướng, Nhất đoạn nhất thiết đoạn, Nhất hành nhất thiết hành, Nhất vị nhất thiết vị, Nhất tu nhất thiết tu, Nhất thành nhất thiết thành, Nhất chứng nhất thiết chứng... Những câu nói này chẳng phải lí luận suông, mà là việc thực tu thực chứng, nên gọi là Nhất đoạn nhất thiết đoạn.
nhất đoạn sự
Tiến trình đồng nhứt, liên tục và không đứt đoạn của thiên nhiên (vạn hữu chỉ là một tiến trình liên tục)—The unity or continuity in the unbroken processes of nature (all being is but one continuous process).
; (一段事) Một việc trọng đại, ví dụ chỉ cho tướng của bản thể. Từ trước khi trời đất chưa thành, cho đến sau khi băng hoại, tướng của bản thể vẫn liên tục tồn tại, không đầu không cuối, không được không mất. Trong Thiền lâm, Nhất đoạn sự được sử dụng để chỉ cho việc trước mắt, việc ngộ đạo, việc trọng yếu. Tắc 21, trong Bích nham lục (Đại 48, 162 thượng) chép: Lúc cha mẹ chưa sinh ra ta thì thế nào? Ngài Vân môn nói: Từ xưa đến nay chỉ có một việc trọng yếu (Nhất đoạn sự), không có đúng không có sai, không có được không có mất, không có sinh và chưa sinh.
nhất đàn chỉ
(一彈指) Đàn chỉ, Phạm: Acchaỉà. Cũng gọi Nhất đàn chỉ khoảnh. Một cái khảy móng tay. Lấy ngón tay cái và ngón giữa đè lên đầu ngón trỏ, rồi búng ngón cái ra ngoài thật mạnh.Đây là 1 phong tục thịnh hành ở Ấn độ đời xưa để bày tỏ lòng cung kính, sự đồng ý hay cảnh cáo. Trong Phật giáo, Nhất đàn chỉ được dùng chỉ cho 1 khoảng thời gian rất ngắn. Tuy nhiên, về khoảng thời gian rất ngắn ấy, trong các kinh luận cũng có chỗ khác nhau. - Theo luận Câu xá quyển 15, 1 cái khảy móng tay có 65 sát na. - Theo luận Đại trí độ quyển 83, thì 1 cái khảy móng tay có 60 niệm. - Kinh Xứ xứthì bảo trong khoảng 1 cái khảy móng tay có 960 niệm sinh diệt. - Kinh Đại an ban thủ ý (bài Tựa) thì cho rằng 1 cái khảy móng tay, tâm có 960 lần chuyển biến. - Giới sớ quyển 2, nói rằng 20 niệm là 1 chớp mắt, 20 cái chớp mắt là 1 cái khảy móng tay. - Luật Ma ha tăng kì quyển 17 cho rằng 400 niệm là 1 cái khảy móng tay, 1 vạn 2 nghìn cái khảy móng tay là 1 ngày đêm... Kinh Phật mẫu xuất sinh tam pháp tạng bát nhã ba la mật đa quyển 21 (Đại 8, 659 hạ) nói: Nếu lại có người tu tập Bát nhã ba la mật đa này trong khoảng 1 cái khảy móng tay thì phúc báo hơn trước gấp bội. (xt. Đàn Chỉ).
nhất đàn cấu
(一壇構) I. Nhất Đàn Cấu. Đối lại: Lưỡng đàn cấu. Lập một đàn. Trong Mật giáo, khi truyền trao pháp Quán đính, Mạn đồ la của Kim cương giới và Thai tạng giới thường kiến lập thành 2 đàn cho trang nghiêm; nhưng trong trường hợp đạo tràng chật hẹp thì lập 1 đàn cũng được, gọi là Nhất đàn cấu. II. Nhất Đàn Cấu. Pháp hội chỉ kiến lập 1 đàn lớn, chứ không lập đàn Biểu bạch hay đàn Hộ ma. Lại nữa, khi lập đàn Hộ ma thì pháp Cúng dường và Cúng hộ ma đều được tu chung trong 1 đàn, cũng gọi là Nhất đàn cấu.
nhất đăng
(一燈) Một ngọn đèn. Đèn phá tan bóng tối, ví dụ tâm bồ đề có năng lực diệt trừ bóng tối phiền não. Kinh Hoa nghiêm nói: Ví như để một ngọn đèn trong phòng tối, thì dù bóng tối ấy đã có từ trăm nghìn năm, cũng tan biến liền. Đèn tâm bồ đề cũng vậy, một khi đã vào trong nhà tâm chúng sinh, thì bao nhiêu nghiệp phiền não ám chướng, cho dù đã được chứa góp trong trăm nghìn muôn ức bất khả thuyết kiếp, đều tan biến hết, vì thế gọi là Nhất đăng. [X. kinh Hoa nghiêm Q.78; kinh Đại tập Q.1].
Nhất đại
一代; C: yīdài; J: ichidai;|Nghĩa là một thời đại, có liên hệ đến bậc giáo chủ của thời đại này là Phật Thích-ca Nâu-ni.
nhất đại
Một đời—A human life.
nhất đại giáo
Toàn bộ giáo pháp của Phật từ lúc mới đạt được đại giác đến lúc nhập Niết bàn (bao gồm cả Tiểu lẫn Đại thừa)—The whole of the Buddha's teaching from his enlightenment to his nirvana (including both Hinayan and Mahayana).
nhất đại kiếp
(一大劫) Một đại kiếp. Tổng quát 4 kiếp: Thành, Trụ, Hoại, Không gọi là Nhất đại kiếp. Đó là hết 1 chu kì sinh thành hoại diệt của thế giới.Luận Du già sư địa quyển 2 (Đại 30, 285 hạ) nói: Hai mươi Trung kiếp Hoại rồi đến kiếp Không; 20 kiếp Thành rồi đến kiếp Trụ. Tức hết 80 Trung kiếp là 1 Đại kiếp, tổng cộng là : 2.760.000.000 năm. [X. luận Đại tì bà sa Q.135; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.6]. (xt. Trung Kiếp).
nhất đại ngũ thời phật giáo
Năm thời thuyết pháp—The five periods of Buddha's teachings (Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa và Niết Bàn).
Nhất đại sự
(一大事) [thuật]: việc vô cùng quan trọng, sự nghiệp khai bày diệu lý thật tướng, sự nghiệp khai thị tri kiến của Phật. Nhất đại nghĩa là diệu lý của thật tướng, tức tri kiến của Phật, pháp mầu của Pháp Hoa. Trong Phẩm Phương Tiện của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Chư Phật Thế Tôn duy dĩ nhất đại sự nhân duyên cố xuất hiện ư thế (諸佛世尊唯以一大事因緣故出現於世, các đức Phật Thế Tôn vì chỉ một đại sự nhân duyên lớn mà xuất hiện trên đời này)”. Văn Cú (文句) 4, quyển thượng, có đoạn rằng: “Nhất tắc nhất thật tướng dã, phi ngũ phi tam, phi thất phi cửu, cố ngôn nhất dã, kỳ tánh quảng bác, bác ngũ tam thất cửu, cố danh vi đại, chư Phật xuất thế chi nghi thức, cố danh vi sự (一則一實相也、非五非三、非七非九、故言一也、其性廣博、博五三七九、故名爲大、諸佛出世之儀式、故名爲事, một là một thật tướng, chẳng phải năm, chẳng phải ba, chẳng phải bảy, chẳng phải chín, cho nên gọi là một. Tánh của nó rộng lớn, rộng khắp cả năm, ba, bảy, chín; cho nên gọi là lớn; nghi thức ra đời của các đức Phật được gọi là sự)”. Chỉ Quán (止觀) 1, quyển hạ, có đoạn rằng: “Vân hà vi nhất ? Nhất thật bất hư cố, nhất đạo thanh tịnh cố, nhất thiết vô ngại nhân, nhất đạo xuất sanh tử cố. Vân hà vi đại ? Kỳ tánh quảng bác, đa sở hàm dung. Sự giả thập phương tam thế Phật chi nghi thức, dĩ thử tự thành Phật đạo, dĩ thử hóa độ chúng sanh, cố danh vi sự (云何爲一、一實不虚故、一道清淨故、一切無礙人、一道出生死故、云何爲大、其性廣博、多所含容、事者十方三世佛之儀式、以此自成佛道、以此化度眾生、故名爲事, thế nào là một ? Vì một không dối, vì một đạo thanh tịnh, hết thảy những người không bị chướng ngại ra khỏi vòng sanh tử nhờ có một đạo này. Thế nào là lớn ? Tánh của nó rộng lớn, có thể dung chứa nhiều. Sự là nghi thức thành đạo của mười phương ba đời các đức Phật, các ngài lấy nó để thành Phật đạo, lấy nó để hóa độ chúng sanh, cho nên gọi là sự)”. Bên cạnh đó, việc sống chết của con người cũng được xem là việc lớn. Ngài Thiện Đạo (善導, 613-681), người sáng lập ra Tịnh Độ Giáo của Trung Quốc, khi lâm chung có dạy rằng: “Thế chi đại sự, mạc việt sanh tử, nhất tức bất lai, nãi thuộc hậu sanh, nhất niệm nhược thác, tiện tùy luân hồi (世之大事、莫越生死、一息不來、乃屬後生、一念若錯、便隨輪迴, việc lớn trên đời là không vượt qua sống chết, một hơi thở không trở lại đã thuộc về đời sau, một niệm nếu sai bèn theo luân hồi)”. Hơn nữa, đối với Thiền Tông, nó có nghĩa là chuyện vô cùng trọng yếu của việc tham Thiền biện đạo, tu hành tuyệt đối, tức là tọa Thiền.
nhất đại sự
The one great work of the Buddha, universal enlightenment and release; also a life, or lifetime.
; Một việc trọng đại của Đức Phật là làm cho chư chúng sanh giác ngộ và giải thoát—The one great work of a Buddha, universal enlighenment and release.
nhất đại sự hậu sinh
(一大事後生) Một việc lớn ở đời sau. Hậu sinh là đời sau. Hiểu rõ cảnh giới mê ngộ thăng trầm ở đời sau là việc trọng đại nhất của kiếp người, nên gọi là Nhất đại sự hậu sinh.
Nhất đại sự nhân duyên
(一大事) [thuật]: nhân duyên trọng đại, mục đích duy nhất mà đức Phật xuất hiện trên đời này để khai mở tướng chân thật của con người. Văn Cú (文句) 4, quyển thượng, có đoạn rằng: “Chúng sanh hữu thử cơ, cảm Phật danh nhân, Phật thừa cơ nhi ứng, cố danh vi duyên, thị vi xuất thế bản ý (眾生有此機、感佛名因、佛乘機而應、故名爲緣、是爲出世本意, chúng sanh có căn cơ này, nhân cảm được danh hiệu Phật, đức Phật theo căn cơ mà ứng, nên gọi là duyên; đó là bản ý ra đời của quý ngài)”. Tỷ dụ như nhân duyên quan trọng nhất mà đức Thích Tôn cũng như chư Phật khác xuất hiện trên cõi đời này là lấy sứ mạng một đời để thành Phật đắc đạo hay hóa độ chúng sanh.
nhất đại sự nhân duyên
(一大事因緣) Nhân duyên của 1 việc lớn. Tức là lí do khiến đức Phật xuất hiện nơi thế gian. Theo phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa, mục đích đức Phật xuất hiện nơi thế gian là khiến cho chúng sinh mở tỏ để ngộ vào tri kiến Phật. Trong Pháp hoa kinh luận quyển hạ, ngài Thế thân đã giải thích rõ yếu nghĩa của sự ngộ vào tri kiến Phật và trình bày 4 lí do Phật xuất hiện nơi đời như sau: 1. Như lai có đầy đủ Nhất thiết trí, rõ biết nghĩa sâu xa của các pháp đúng như thực; đức Như lai muốn đem trí kiến của Ngài mở bày cho chúng sinh, khiến cho họ hiểu được nghĩa sâu xa của các pháp, nên mới xuất hiện nơi thế gian. 2. Về phương diện Pháp thân thì Nhị thừa và Phật là bình đẳng, không có sai khác. Vì muốn hiển bày nghĩa ấy nên đức Như lai xuất hiện nơi thế gian. 3. Hàng Nhị thừa không hiểu rõ được nghĩa chân thực Nhất Phật thừa rốt ráo. Vì muốn làm cho hàng Nhị thừa liễu ngộ nghĩa ấy nên đức Như lai xuất hiện nơi đời. 4. Vì muốn làm cho hàng Nhị thừa chứng vào địa vị Bất thoái chuyển, được vô lượng trí nghiệp, nên đức Như lai xuất hiện nơi thế gian. [X. Pháp hoa văn cú Q.4, phần đầu; Pháp hoa huyền luận Q.5].
Nhất đại tam thiên thế giới
(一大三千世界) [thuật]: ba ngàn thế giới lớn. Ở giữa một thế giới có núi Tu Di (s: Sumeru, 須彌山), trong biển lớn ở bốn phương thế giới ấy có 4 châu lớn, ngoài biển lớn ấy có núi Thiết Vi (s: Cakravāḍa-parvata, p: Cakkavāḷa-pabbata, 鐵圍山) bao bọc chung quanh, đó gọi là một thế giới nhỏ. Kết hợp 1.000 thế giới nhỏ ấy ta có thế giới vừa, kết hợp 1.000 thế giới vừa ta có một thế giới lớn. Như vậy một thế giới lớn bằng 1.000.000.000 thế giới nhỏ. Sự thành lập cũng như hoại diệt của chúng có khác nhau. Thế giới lớn còn gọi là quốc độ lãnh hữu của chư Phật. Trong một ngàn thế giới lớn có ba loại ngàn nhỏ, ngàn vừa và ngàn lớn, cho nên ba ngàn thế giới lớn có tên gọi là tam thiên đại thiên thế giới.
nhất đại tam thiên thế giới
A great chiliocosmos or universe of the three kinds of thousands of worlds.
; Nhất đại thiên—Tam thiên đại thiên thế giới—A great chiliocosmos or universe of the three kinds of thousands of worlds.
Nhất đại tam đoạn
一代三段; C: yīdài sānduàn; J: ichidai-sandan;|Chỉ ba thời đoạn giáo hoá của đức Phật, được hiểu là thời gian đầu, những pháp hội chính và thời gian trước khi ngài nhập Niết-bàn.
nhất đại tam đoạn
See Nhứt Đại Tam Đoạn.
; (一代三段) Một đời ba đoạn. Ngài Nhật liên, Tổ khai sáng tông Nhật liên, Nhật bản, căn cứ vào giáo phán 5 thời của tông Thiên thai, đem chia giáo pháp do đức Phật nói trong 1 đời làm 3 giai đoạn, giống như 1 quyển kinh được phân làm 3 phần: 1. Phần Tựa: Như các kinh Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã và các kinh trước kinh Pháp hoa. 2. Phần Chính tông: Như các kinh Vô lượng nghĩa, kinh Pháp hoa và kinh Phổ hiền quán. 3. Phần lưu thông: Như kinh Niết bàn.
nhất đại thời giáo
(一代時教) Cũng gọi Nhất đại giáo, Nhất đại chư giáo, Nhất đại giáo môn. Giáo pháp do đức Phật Thích ca nói ra trong 1 đời từ khi thành đạo đến khi nhập diệt. Tức là 3 tạng, 12 thể tài kinh, 8 vạn 4 nghìn pháp môn...
Nhất đại trạch
(一大宅) [thí]: lấy nhà lớn của vị trưởng giả mà ví cho nhà lửa của Ba Cõi. Trong Phẩm Thí Dụ của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Thí như trưởng giả hữu nhất đại trạch (譬如長者有一大宅, ví như vị trưởng giả có một ngôi nhà lớn)”.
nhất đại trạch
The great house.
; Căn nhà lớn, nhà lửa đang cháy được Phật thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa—A great house, the burning house in the Lotus Sutra—For more information, please see Hỏa Trạch in Vietnamese-English Section.
Nhất đại tạng giáo
一大藏教; C: yīdàcángjiāo; J: ichidaizōkyō;|Toàn bộ giáo lí nhà Phật được chứa trong Ðại tạng, trong Tam tạng.|Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần trình bày như sau trong Bích Nham lục, lời thuỳ thị của Công án thứ hai: Ngay cả chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai — chư vị cũng chỉ tự biết. Các vị Tổ sư từ đời này sang đời khác — họ cũng không thể trình bày toàn vẹn. Nhất đại tạng giáo và những bài chú giải cũng không thể nào diễn bày hết tất cả. Và cũng có nạp tăng tự cho mình có mắt sáng — họ không biết tự cứu như thế nào (設使三世諸佛只可自知,暦代祖師全提不起,一大藏教詮注不及,明眼衲僧自救不了).
nhất đại tạng giáo
(一大藏教) Một Đại tạng giáo, chỉ cho 3 tạng giáo điển Kinh, Luật, Luận của Phật giáo. Đây là toàn bộ giáo pháp Phật giáo nên gọi là Nhất đại tạng giáo. Tắc 2 trong Bích nham lục (Đại 48, 141 trung) nói: Giả sử chư Phật 3 đời chỉ có thể tự biết, Tổ sư các đời đều không nói ra, Nhất đại tạng giáo giải thích không tới, thì vị tăng mắt sáng tự cứu mình cũng chẳng xong.
Nhất đại xa
(一大車) [thí]: lấy cỗ xe lớn mà ví cho pháp mầu của Pháp Hoa, còn gọi đại bạch ngưu xa (大白牛車, xe trâu trắng lớn). Trong Phẩm Thí Dụ của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Thị thời trưởng giả kiến chư tử đẳng an ổn đắc xuất, giai ư tứ cù đạo trung lộ địa nhi tọa, vô phục chướng ngại, kỳ tâm thái nhiên, hoan hỷ dũng dược, thời chư tử đẳng, các bạch phụ ngôn: 'Phụ tiên sở hứa ngoạn hảo chi bối, dương xa lộc xa ngưu xa, nguyện thời tứ dữ Xá Lợi Phất'. Nhĩ thời trưởng giả các tứ chư tử đẳng nhất đại xa (是時長者見諸子等安隱得出、皆於四衢道中露地而座、無復障礙、其心泰然、歡喜踊躍、時諸子等、各曰父言、父先所許玩好之貝、羊車鹿車牛車、願時賜與舍利弗、爾時長者各賜諸子等一大車, lúc ấy trưởng giả thấy các con mình đều yên ổn được ra ngoài, mọi người đều ngồi trên đất trống ở bốn ngã đường, cũng chẳng có chướng ngại, tâm chúng nhẹ nhõm, vui vẻ nhảy nhót. Lúc ấy các người con, mỗi người thưa với cha rằng: 'Trước kia cha có hứa cho chúng con đồ chơi tốt, xe dê, xe nai, xe trâu, nay xin ban cho Xá Lợi Phất.' Lúc bấy giờ trưởng giả đều ban cho các người con một cỗ xe lớn)”.
nhất đại xa
The one great salvation vehicle of the Lotus sùtra.
; (一大車) Một cỗ xe lớn. Ví dụ diệu pháp Đại thừa trong kinh Pháp hoa. Theo phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa, có 1 vị trưởng giả, nhà đang bị cháy, để cứu các con ra, ông bảo chúng rằng ở ngoài cửa có nhiều đồ chơi quí báu. Các con nghe nói liền tranh nhau chạy ra khỏi nhà. Bấy giờ, trưởng giả đều cho mỗi người con 1 cỗ xe lớn, xe ấy do 1 con trâu trắng to lớn kéo.Theo tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm thì một cỗ xe lớn là ví dụ cho Đại thừa vô thượng diệu pháp của kinh Pháp hoa, có công năng cứu độ chúng sinh ra khỏi nhà lửa 3 cõi. (xt. Tam Xa Tứ Xa).
nhất đạo
One way, the one way; the way of deliverance from mortality.
; Đại Thừa—The one way of deliverance from mortality (Mahayana).
; (一道) Đồng nghĩa: Nhất thừa. Con đường duy nhất dẫn tới quả Phật. Phẩm Minh nan trong kinh Hoa nghiêm (60 quyển) quyển 5 (Đại 9, 429 trung) nói: Tất cả bậc vô ngại, chỉ có một con đường ra khỏi sinh tử. Đại nhật kinh sớ quyển 17 (Đại 39, 758 trung) nói: Nhất đạo chính là con đường nhờ đó mà tất cả bậc vô ngại vượt thoát sinh tử, thẳng đến đạo tràng.
Nhất đạo nghĩa
一道義; C: yīdàoyì; J: ichidougi;|Luận nói về giáo lí Nhất thừa của Nguyên Hiểu (元曉; k: wǒnhyo).
nhất đạo pháp môn
(一道法門) Đạo Nhất thực. Thông thường Hiển giáo gọi là pháp Nhất thừa; còn Mật giáo thì đặc biệt chỉ cho pháp môn chữ A. Vì theo Mật giáo thì tất cả pháp đều bắt nguồn từ chữ A, cho nên gọi là Nhất đạo. Đại nhật kinh sớ quyển 17 (Đại 39, 758 trung) nói: Tất cả pháp không ngoài chữ A, tức là Nhất đạo. Đạo nghĩa là nương theo pháp này mà đến được quả Phật (...) Đây chính là đạo như như, là pháp giới duy nhất, vì thế gọi là Nhất.
nhất đạo thần quang
Nội quang hay trí trực giác—Inner light—Intuitive wisdom.
; (一道神光) Một luồng ánh sáng thần diệu, tức là ánh sáng sẵn có của chính mình, là tâm sáng suốt mầu nhiệm. Tắc 31 trong Thung dung lục (Đại 48, 248 thượng) nói: Một luồng ánh sáng thần diệu (Nhất đạo thần quang) lúc ban đầu không bị che khuất tức chỉ cho cảnh giới ấy.
nhất đạo vô vi tâm
Mind apart from all ideas of activity or inactivity.
; (一道無爲心) Cũng gọi Như thực nhất đạo tâm, Như thực tri tự tâm, Không tính vô cảnh tâm, Nhất như bản tịnh tâm. Tâm một đạo thanh tịnh vô vi. Tức là tâm thanh tịnh xa lìa các thứ tạo tác, các chấp trước hữu vi, vô vi mà an trụ nơi lí Nhất đạo. Trong giáo nghĩa của Mật giáo, tâm Nhất đạo vô vi là tâm thứ 8, trong 10 Trụ tâm. Nghĩa là dùng quán trí nhất thực trung đạo mà thấu suốt Lí, trí 1 thể; cảnh, giới không 2 rồi thể chứng sự lí tương tức của tất cả các pháp. Hành giả Mật giáo trong quá trình vượt qua 3 kiếp, ở kiếp thứ 2 tuy đã rõ suốt muôn pháp duy 1 tâm, ngoài tâm không pháp khác, nhưng còn sợ chìm trong chân như vô vi, thế nên biết ở Trụ tâm thứ 8 này không lìa nhân duyên mà chứng lí pháp giới. Đồng thời, tâm cũng chẳng động pháp giới mà vẫn tùy duyên hiển hiện 1 cách tự tại để tạo thành vạn hữu. Nghĩa là hành giả Mật giáo đã thấu suốt lí nhân duyên sinh diệt tức là pháp giới sinh diệt, pháp giới bất sinh diệt tức là nhân duyên bất sinh diệt mà xa lìa những kiến chấp hữu vi, vô vi. Phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 3 trung) nói: Tính Khônglìa căn và cảnh, không có tướng, không cảnh giới, vượt ngoài các lí luận, đồng đẳng với hư không vô biên, tất cả Phật pháp đều nương vào tính Không ấy mà tiếp tục sinh tồn, xa lìa cõi hữu vi, vô vi, không còn tạo tác, lìa khỏi mắt tai mũi lưỡi thân ý... Ngoài ra, giáo nghĩa của tông Thiên thai cho rằng Các pháp là thực tướng, duy sắc tức duy tâm. Tức là nói thể của sắc pháp và tâm pháp không 2, chính báo và y báo đều cùng 1 lí, căn và cảnh ở cả trong tâm, trong nhất như bặt hết trí và cảnh, cho nên giáo thuyết của tông Thiên thai có thể phối với Trụ tâm thứ 8 của Mật giáo. Nhưng có khác nhau ở tông Thiên thai cho giáo thuyết này là cùng tột, còn hành giả Mật giáo thì không chịu dừng lại ở đó. [X. Ma ha chỉ quán Q.1; Bí tạng bảo thược Q.thượng; luận Thập trụ tâm Q.8].
nhất đảm thiền
(一擔禪) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một gánh thiền. Chỉ cho loại thiền được hiểu biết nửa vời, tựa hồ như thông mà kì thực chẳng thông. Đảm nghĩa là gánh vác hành lí. Chân ý của thiền là vô cùng vô cực, còn thiền nửa vời thì ví như người gánh vác hành lí. Tắc 98 trong Bích nham lục (Đại 48, 221 hạ) nói: Gánh 1 gánh thiền (đảm nhất đảm thiền) dạo khắp thiên hạ.
nhất đắc nhất thất
(一得一失) Đồng nghĩa: Niêm đắc tị khổng thất khước khẩu. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một được một mất. Nghĩa là có được lợi ích chắc chắn sẽ có tổn thất. Chương Pháp nhãn Văn ích trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 24 (Đại 51, 399 hạ) chép: Nhân có vị tăng lên tham vấn trước giờ thụ trai, ngài Pháp nhãn đưa tay chỉ bức mành mành. Lúc ấy, có 2 vị tăng cùng đến cuốn mành, sư nói: Một được một mất.
nhất đẳng
Equal, all equal; first class, first quality, first degree.
; 1) Tất cả đều bình đẳng: All equal. 2) Đệ nhất: First degree.
; (一等) Đồng nghĩa: Vô biệt, Vô dị. Như nhau, bằng nhau, tâm không sai khác.Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 271 thượng) nói: Cho đến trăm nghìn do tuần, ngang dọc, sâu cạn, tất cả đều như nhau (nhất đẳng).
nhất địa
The one ground; the same ground; the Buddha-nature of all beings.
; The one ground—Phật tánh của chúng sanh mọi loài, như các loại cây được trồng trên một mảnh đất, tất cả những bản chất và sự việc thiện lành đều được trưởng dưỡng từ cái Phật tánh ấy—The Buddha-nature of all living beings as all the plants grow out of the one ground, so all good character and works grow from the one Buddha-nature.
nhất định
1) Decidedly—Surely. 2) To decide—To determine—To make up one's mind.
nhất định thiền sư
Zen Master Nhất Định (1784-1847)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Quảng Trị. Khi hãy còn rất trẻ, ngài đã xuất gia làm đệ tử của Hòa Thượng Phổ Tịnh tại chùa Thiên Thọ. Sau đó ngài thọ cụ túc giới với Hòa Thượng Mật Hoằng tại chùa Quốc Ân. Sau khi thọ giới, ngài về trụ trì tại chùa Thiên Thọ. Rồi vâng mệnh vua Tự Đức đến trụ trì chùa Linh Hựu. Đến năm 1843, ngài trở thành một du Tăng rài đây mai đó. Trên đường hoằng hóa, ngài ghé lại Hương Thủy cất “Dưỡng Am” để phụng dưỡng mẹ già và trụ lại đây để hoằng trì Phật Giáo cho đến khi ngài viên tịch. Người ta nói Hòa Thượng Nhất Định xây dựng “Dưỡng Am” để phụng dưỡng mẹ già đang đau yếu bệnh hoạn. Lúc ấy thầy thuốc khuyên bà nên ăn cá hay thịt cho lợi sức. Mỗi sáng Hòa Thượng Nhất Định tự mình ra chợ mua cá về nấu cho mẹ ăn. Vì thế nên có tiếng dị nghị xấu. Tuy nhiên, vua Tự Đức rất thán phục sự hiếu hạnh của ngài nên ban tặng cho chùa tấm bảng đề “Sắc Tứ Từ Hiếu Tự.”—A Vietnamese monk from Quảng Trị. When he was very young, he left home and became a disciple of Zen Master Phổ Tịnh at Thiên Thọ Temple. Later he received complete precepts with Most Venerable Mật Hoằng at Quốc Ân Temple. He stayed at Thiên Thọ Temple. Then obeyed an order from King Tự Đức, he went to Linh Hựu temple. In 8143 he became a wandering monk. He stopped by Hương Thủy and built Dưỡng Am to serve his mother and stayed there to expand Buddhism until he passed away in 1874. It is said that “Dưỡng Am” was first built by Most Venerable Nhất Định as a thatch hut to serve his old mother. At one time, his mother was too sick so she was advised by the doctors to eat fish and meat for health recuperation. Every morning the Most Venerable went to the market place to get some fish and meat by himself to feed his ill mother. Therefore, he received a lot of bad comments from the local people. However, King Tự Đức appreciated him as a dutiful son so he gave the temple an escutcheon named Từ Hiếu (Filial Piety).
nhất ấn
Một ấn—A seal—Sign—Symbol.
; (一印) I. Nhất Ấn. Chỉ cho 1 loại ấn tướng, ấn khế hay thủ ấn. (xt. Thủ Ấn, Ấn Tướng). II. Nhất Ấn. Gọi đủ: Nhất pháp ấn. Chỉ cho thực tướng của các pháp theo chủ trương của Phật giáo Đại thừa.
nhất ấn hội
(一印會) Chỉ cho hội thứ 6 trong 9 hội Mạn đồ la của Kim cương giới, Mật giáo. Hội này nằm ở phía trên trung ương, khiến cho thực nghĩa Bốn mạn không lìa nhau của hội Tứ ấn càng sáng tỏ hơn, vì thế trụ nơi Trí quyền ấn (thể của chư Phật), của Pháp thân Đại nhật Như lai duy nhất để thống nhiếp toàn thể chư tôn của các hội khác. Ở 4 góc của hội này đều có đặt cái bình để tượng trưng cho 4 trí. Tay phải (nắm tay) của Trí quyền ấn biểu thị Phật giới, tay trái biểu thị Chúng sinh giới. Ngón trỏ (gió) của tay trái biểu thị sự dứt bặt gió chúng sinh; ngón cái (không) của tay phải biểu thị cái đại không của chư Phật. Hai tay chắp lại thì biểu thị Phật và chúng sinh là đồng nhất. [X. kinh Giáo vương Q.5, 8 (bản 30 quyển)]. (xt. Kim Giới Mạn Đồ La).
nhất ấn nhất minh
(一印一明) Một ấn và một chân ngôn (thần chú) của Mật giáo. Ấn là ấn tướng, tượng trưng cho thệ nguyện của Phật, Bồ tát. Minh là đà la ni, là câu thần chú, có năng lực phá trừ sự tối tăm của vô minh, phiền não. Vì đà la ni được nói ra từ kim khẩu của đức Phật, cũng như ánh sáng từ kim thân của Ngài phóng ra, cho nên được gọi là Minh. Chẳng hạn như tụng đà la ni Ngũ tự minh trong khi kết ấn Vô sở bất chí. Ngoài ra, Nhất ấn nhất minh cũng biểu thị ý nghĩa Bất nhị. [X. Đại nhật kinh sớ Q.12].
nhất ấn nhị minh
(一印二明) Một ấn hai chân ngôn của Mật giáo. Hành giả Mật giáo, khi kết ấn và tụng chân ngôn thì tay kết 1 ấn, miệng tụng 2 chân ngôn, gọi là Nhất ấn nhị minh. Chẳng hạn như kết ấn Vô sở bất chí, tụng 2 chân ngôn (minh) Ngũ A và Ngũ Trí. Ngoài ra, Như lai ấn của Kim cương giới và Thai tạng giới, về bản chất tuy cùng là 1 ấn, nhưng chân ngôn của 2 giới lại khác nhau. Chân ngôn của Kim cương giới là Vam, còn chân ngôn của Thai tạng giới là A tì la hồng khiếm. Bởi thế, khi kết ấn Như lai thì phải tụng 2 chân ngôn Vam và A tì la hồng khiếm, gọi là Nhất ấn nhị minh, biểu thị ý nghĩa chẳng hai mà hai. (xt. Nhất Ấn Nhất Minh).
nhất ấn đốn thành
(一印頓成) Một ấn thành ngay. Chỉ cho giáo nghĩa của Mật giáo. Vì Mật giáo chủ trương kết 1 thủ ấn, tụng 1 đà la ni có thể chứng được Bồ đề tức khắc, nên gọi là Nhất ấn đốn thành.
nhất ế tại nhãn không hoa loạn truỵ
(一翳在眼空華亂墜) Mắt bị bệnh thấy những hoa đốm giữa hư không. Trong Phật giáo, nhóm từ này thường được dùng để ví dụ cho tâm mê vọng không thể nhận thức được tướng như thực của sự vật. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 10 (Đại 51, 280 hạ) chép: Lần đầu tiên Thiền sư Linh huấn đến tham yết ngài Qui tông, hỏi:- Thế nào là Phật? Ngài Qui tông hỏi lại: - Nếu tôi nói thì ông có tin không? Thiền sư Linh huấn trả lời: - Hòa thượng dạy lời chân thực, con đâu dám không tin. Ngài Qui tông bảo: - Chính là ông đấy! Thiền sư Linh huấn thưa: - Làm sao giữ được? Ngài Qui tông bảo: - Mắt bệnh thấy toàn hoa đốm rơi.
Nhất-xiển-đề
一闡提; C: yīchăntí; J: issendai; S: icchantika.|Dịch âm từ tiếng Phạn »icchantika«; cũng được dịch ý là »Đoạn thiện căn« (斷善根), là người phá bỏ mọi căn lành của mình, hoặc Tín bất cụ túc (信不具足), là người không có đủ niềm tin vào Phật pháp. Người đã tiệt đoạn những căn lành và vì vậy, khó được cứu độ. Dù họ có tu tập tinh cần đến mức nào, họ cung không thể nào đạt giải thoát.|Thuật ngữ »icchan« nguyên đề cập đến người thường có tâm trạng ham muốn dục lạc. Ở Ấn Độ, từ nầy đề cập đến những người theo chủ nghĩa hưởng lạc hoặc là những kẻ ham muốn đời sống thế tục. Trong Phật pháp, từ nầy nói đến những người thiếu những nhân duyên tu tập căn bản để thành Phật. Giáo lí này do Du-già hành tông chủ trương. Các tông phái Phật giáo khác như Thiên Thai, Hoa Nghiêm phản bác thuyết này, cho rằng tất cả mọi chúng sinh đều có thể thành Phật. Thuyết nầy trở thành đầu mối của những cuộc tranh luận trong giới Phật học Á Đông sau này, được thảo luận rất kĩ trong tác phẩm Phật tính luận (佛性論).
nhất-xiển-đề
phiên âm từ Phạn ngữ là icchantika, chỉ người hoàn toàn không có lòng tin nơi Phật pháp, nên cũng dịch nghĩa là đoạn thiện căn hay tín bất cụ túc. Vì hạng người này không có đức tin nên không thể tiếp nhận bất cứ giáo pháp nào.
nhẫm ma
(恁麽) Ngữ trợ từ được dùng trong thể xác định hay nghi vấn với nghĩa vậy thì, như thế nào. Từ ngữ này được sử dụng từ đời Tống và thường được thấy trong các bộ Ngữ lục của Thiền tông. Các dụng ngữ tương tự có: Dữ ma, Thập ma, Tập ma, Thậm ma, Chẩm ma, Nhập ma, Tác ma...
Nhẫn
忍; S: kṣānti; P: khanti;|Một trong mười hạnh Ba-la-mật-đa (Lục độ). Nhẫn nhục có nghĩa kiên trì chịu đựng sự căm ghét hay phỉ báng của kẻ khác, chịu sự khổ ải mà không mất đạo tâm tinh tiến.
nhẫn
Khanti (P), Kṣānti (S), Patience, Endurance, Sàn đề, An nhẫnNhẫn có 3 bậc: - sanh nhẫn (hữu tình nhẫn): không có lòng giận cho dù đối với một loài chúng sanh nhỏ nhất. - pháp nhẫn: không giận, không than đối với cảnh vô tình khi nghịch ý mình (như mưa, nắng...) - vô sanh pháp nhẫn: đức nhẫn tự nhiên không cần tu tập mà cũng thành (nhẫn của Bồ tát). Bồ Tát nhẫn có bốn: - Người chưởi mắng mà không chưởi mắng lại - Người đánh mà không đánh trả lại - Người làm khổ mình mà mình không làm khổ lại. - Người giận mình mà mình không giận lại.
; Ksànti (S). Patience, endurance, forbearance.
; Endurance—Patience—Perseverance. (A) Nghĩa của Nhẫn—The meanings of “Nhẫn” (endurance): 1) Chiếc nhẫn: Ring. 2) Tàn Nhẫn: Bitter. 3) Kiên nhẫn: Ksanti (skt)—Nhẫn nại chịu đựng. Nhẫn là một đức tánh quan trọng đặc biệt trong Phật giáo. Đức Phật thường dạy tứ chúng rằng: “Nếu các ông chà xác hai mảnh cây vào nhau để lấy lửa, nhưng trước khi có lửa, các ông đã ngừng để làm việc khác, sau đó dù có cọ tiếp rồi lại ngừng giữa chừng thì cũng hoài công phí sức. Người tu cũng vậy, nếu chỉ tu vào những ngày an cư kiết hạ hay những ngày cuối tuần, còn những ngày khác thì không tu, chẳng bao giờ có thể đạt được kết quả lâu dài—Patience—Repression—Constancy—Perseverence—Endurance is an especially important quality in Buddhism. The Buddha always teaches his disciples: “If you try to rub two pieces of wood together to get fire, but before fire is produced, you stop to do something else, only to resume later, you would never obtain fire. Likewise, a person who cultivates sporadically, e.g., during retreats or on weekends, but neglects daily practice, can never achieve lasting results. 4) Theo Lục Độ Ba La Mật—According to the Six Paramitas: a) Kshanti thường được dịch là “sự kiên nhẫn,” hay “sự cam chịu,” hay “sự khiêm tốn,” khi nó là một trong lục độ ba la mật—Kshanti generally translated “patience,” or “resignation,” or “humility,” when it is one of the six Paramitas. b) Nhưng khi nó xuất hiện trong sự nối kết với pháp bất sinh thì nên dịch là “sự chấp nhận,” hay “sự nhận chịu,” hay “sự quy phục.”—But when it occurs in connection with the dharma that is unborn, it would be rather translated “acceptance,” or “recognition,” or “submission.” 5) Trong A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận, Kshanti có nghĩa ngược với Jnana. Kshanti không phải là cái biết chắc chắn như Jnana, vì trong Kshanti sự nghi ngờ chưa được hoàn toàn nhổ bật gốc rễ—In the Abhidharmakosa, Kshanti is used in a way contrasted to Jnana. Kshanti is not knowledge of certainty which Jnana is, for in Kshanti doubt has not yet been entirely uprooted. (B) Loại Nhẫn—Categories of “Nhẫn” (Endurance): 1) Nhị Nhẫn: Two kinds of endurance—See Nhị Nhẫn. 2) Tam Nhẫn: Three kinds of endurance—See Tam Nhẫn. 3) Ngũ Nhẫn: Five kinds of endurance—See Ngũ Nhẫn. 4) Lục Nhẫn: Six kinds of endurance—See Lục Nhẫn.
; (忍) Chỉ chung cho sự nhẫn nhục, nhẫn nại, kham nhẫn (gắng chịu đựng), nhẫn hứa (gắng ưng thuận), nhẫn khả (chịu được), an nhẫn... Tức bị người làm nhục, bức hại mà không sinh tâm tức giận, hoặc tự mình bị khổ mà không động tâm, khi chứng ngộ chân lí, tâm được an trụ. Trong các kinh luận, Nhẫn được chia làm nhiều loại như: Nhị nhẫn, Tam nhẫn, Tứ nhẫn, Ngũ nhẫn, Lục nhẫn, Thập nhẫn... (xt. Nhị Nhẫn, Tam Nhẫn, Tứ Nhẫn, Ngũ Nhẫn, Lục Nhẫn, Thập Nhẫn).
nhẫn ba la mật
Ksànti-pàramità (S). Cardinal patience. Also nhẫn độ.
; The patience paramita—See Nhẫn Nhục Ba La Mật.
nhẫn ba la mật bồ tát
Ārya-kṣānti-pāramitā (S)Tên một vị Bồ tát.
; (忍波羅蜜菩薩) Nhẫn ba la mật, Phạm: Àrya-Ksànti- Pàramità. Cũng gọi Nhẫn nhục ba la mật bồ tát. Hán âm: A lị dã khất xoa để ba la mật đa. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 3 phía trái ở giữa viện Hư không tạng trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Một trong 10 vị bồ tát Ba la mật, mật hiệu là Đế sát kim cương(có thuyết nói Đế lợi kim cương). Về hình tượng, vị tôn này thân màu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, mặc áo yết ma, ngón giữa, ngón vô danh và ngón út của tay phải hơi co lại, bàn tay dựng thẳng, lòng bàn tay hướng vào thân, tay trái cầm cái mâm vàng hướng vào tim. Chủng tử là (kwaô) hoặc (vaô); hình Tam muội da là cái mâm vàng, tấm gương. Theo kinh Kim cương đính du già thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ quyển hạ thì ấn tướng của vị Bồ tát này là: Hai tay kết nội phược quyền, 2 ngón trỏ duỗi thẳng và sáp vào nhau, 2 ngón cái dựng đứng. Chân ngôn là: Phạ bà nga phạ để khất sản để đà lí ni hồng phấn tra. Nếu kết ấn này và tụng chân ngôn 3 biến thì diệt được hạt giống của nghiệp tức giận trong vô lượng kiếp, đạt được công đức của 3 nhẫn: Hại oán nại nhẫn (chịu đựng được sự oán hại), An thụ khổ nhẫn (chịu những nỗi khổ mà vẫn vui) và Đế sát pháp nhẫn (quán xét kĩ các pháp); dung mạo nghiêm trang, xinh đẹp, ai cũng muốn nhìn, không ai ghen ghét, mọi người đều thích gần gũi, tròn đầy hạnh nhẫn nhục ba la mật. [X. phẩm Xuất thế giải thoát trong kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.15; Thánh hạ dã hột lí phạ đại uy nộ vương lập thành đại thần nghiệm cúng dường niệm tụng nghi quĩ pháp phẩm Q.hạ; Huyền pháp tự nghi quĩ Q.hạ; Thanh long tự nghi quĩ Q.trung; Thai tạng giới thất tập Q.trung].
nhẫn bất tùy ác thú
Nhẫn nhục bảo đảm không bị rơi vào những đường dữ—The stage of patience ensures that there will be no falling into the lower paths of transmigration.
nhẫn cưới
Wedding (marriage)—Ring.
nhẫn gia hạnh
The discipline of patience.
; Sự nhẫn nhục trong việc trì giới, một trong tứ gia hạnh của Tiểu và Đại Thừa—The discipline of patience, one of the four disciplines of both Hinayana and Mahayana.
nhẫn giới
Saha or Sahloka or Sahalokadhatu (skt). 1) Sự nhẫn nhục ảnh hưởng đến luân hồi—The universe of persons subject to transmigration. 2) Thế giới Ta Bà hay thế gới của sự kham nhẫn: The universe of endurance.
nhẫn giới, cõi ta bà
Saha (S). The universe of persons subject to transmigration, the universe of endurance.
nhẫn lực
Khantibala (P), Patience strength.
nhẫn nhục
Ksanti—Patience under provocation. Tinh tấn: Virya—Zeal. Thiền định: Dhyana—Meditation.
; (忍辱) Phạm: Kwànti. Pàli: Khanti. Tạng: Bzod-pa. Hán âm: Sằn đề, Sằn để, Khất xoa để.Hán dịch: An nhẫn, Nhẫn. Dù bị người hủy nhục, bức hại, hoặc gặp những khổ đau do hoàn cảnh bên ngoài đem đến, thì thân tâm vẫn an tịnh và chịu đựng được hết. Là 1 trong 6 Ba la mật, 1 trong 10 Ba la mật. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 57, Nhẫn nhục bao hàm 3 hành tướng: Không tức giận, Không kết oán, Tâm không mang ý ác. Phật giáo đặc biệt coi trọng nhẫn nhục, nhất là Phật giáo Đại thừa, lấy Nhẫn nhục làm 1 trong 6 Ba la mật, là đức mục mà Bồ tát phải tu hành. Cứ theo phẩm Sằn đề ba la mật trong kinh Ưu bà tắc giới quyển 7, thì Nhẫn nhục mà Thanh văn, Duyên giác thực hành chỉ là nhẫn nhục, chứ chẳng phải Ba la mật; chỉ có nhẫn nhục do Bồ tát tu hành mới đặc biệt được gọi là Nhẫn nhục ba la mật (Kwànti-pàramità, Hán dịch: Nhẫn độ). Phẩm An nhẫn ba la mật đa trong kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa quyển 6 cũng cho rằng chỉ có sự an nhẫn thực hành pháp quán hết thảy pháp đều không mới được gọi là An nhẫn ba la mật, còn ngoài ra tất cả chỉ gọi là An nhẫn. Phẩm Địa ba la mật đa trong kinh Giải thâm mật quyển 4 cho rằng Nhẫn nhục ba la mật bao gồm 3 loại: Nại oán hại nhẫn, An thụ khổ nhẫn và Đế sát pháp nhẫn. Ngoài ra, trong 10 hạnh lành có hạnh nhẫn nhục, tức chỉ cho hạnh tu chịu đựng những sự nhục mạ, não hại do người ta mang lại cho mình mà không hề khởi tâm sân hận. [X. phẩm Chiến đấu trong kinh Trường a hàm Q.21; phẩm Thập bất thiện trong kinh Tăng nhất a hàm Q.44; phẩm Phúc điền tướng trong kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.9; luật Thập tụng Q.57; Nhiếp đại thừa luận bản Q.trung; Nhiếp đại thừa luận thích Q.7 (bản dịch đời Đường); Đại thừa ngũ chương Q.12]. (xt. Lục Ba La Mật, Ba La Mật).
nhẫn nhục ba la mật
Xem Kiên nhẫn Ba la mật.
; Kshànti-paramita (S).
; Ksanti-paramita (skt). 1) Nhẫn nhục Ba la mật là Ba La Mật thứ ba trong Lục Ba La Mật. Nhẫn nhục Ba La Mật là nhẫn nhục những gì khó nhẫn, nhẫn sự mạ lỵ mà không hề oán hận—Nhẫn nhục Ba la mật còn là cửa ngõ đi vào hào quang chư pháp, vì nhờ đó mà chúng ta có thể xa rời được sân hận, ngã mạn cống cao, nịnh hót, và ngu xuẫn, và cũng nhờ nhẫn nhục Ba la mật mà chúng ta có thể dạy dỗ và hướng chúng sanh với những tật xấu kể trên—Endurance-paramita, or forebearance paramita, patience paramita, or ksanti-paramita is the third of the six paramitas. It means to bear insult and distress without resentment, It is also a gate of Dharma-illumination; for with it, we abandon all anger, arrogance, flattery, and foolery, and we teach and guide living beings who have such vices. 2) Vị Bồ Tát thứ ba bên trái trong Hư Không Thai Tạng Giới, một trong mười vị Bồ Tát trong Thai Tạng Giới: Its guardian bodhisattva is the third on the left in the hall of space in the Garbhadhatu. ** For more information, please see Lục Độ Ba La Mật in Vietnamese-English Section.
nhẫn nhục ba la mật bồ tát
Kṣānti-pāramitā-bodhisattva (S)Tên một vị Bồ tát.
nhẫn nhục khải
Patience as armour, protecting against evils.
nhẫn nhục lục chủng công đức lực
(忍辱六種功德力) Sáu năng lực đạt được do tu hạnh nhẫn nhục. Cứ theo kinh Pháp tập quyển 3, Bồ tát tu hạnh Nhẫn nhục ba la mật, đạt được 6 thứ năng lực là: 1. Tâm vẫn thản nhiên trước những lời mắng chửi: Bồ tát được Trí lực bình đẳng như tiếng vang, tuy bị người ta chửi mắng mà vẫn an nhiên chịu đựng, không hề đáp lại. Như tiếng vang nghĩa là tiếng dội lại trong hang núi. Bồ tát nghe tiếng mắng chửi cũng như thế, vì không thật có. 2. Tâm vẫn thản nhiên khi bị người đánh đập: Bồ tát được Trí lực bình đẳng bóng trong gương, dù bị người ta đánh đập mà vẫn an nhiên chịu đựng, không đáp lại. Bóng trong gương nghĩa là hệt như những hình bóng hiện ra trong tấm gương, đều là giả, không phải thật. 3. Tâm vẫn thản nhiên trước sự bị bức não: Bồ tát được Trí lực bình đẳng như huyễn, dù bị người não hại mà tâm vẫn an nhiên chịu đựng, không đáp lại. Như huyễn nghĩa là như trò ảo thuật, không phải có thật. 4. Tâm vẫn thản nhiên trước sự tức giận: Bồ tát được Trí lực bình đẳng thanh tịnh bên trong, dù bị người tức giận quát mắng mà vẫn an nhiên chịu đựng, không đáp lại. 5. Tâm vẫn thản nhiên đối trước 8 pháp: Bồ tát được Trí lực bình đẳng thế pháp thanh tịnh, cho nên không bị 8 pháp của thế gian: Lợi, suy, khen, chê, tâng bốc, dèm pha, khổ và vui làm động tâm. 6. Phiền não không nhuốm: Bồ tát được Trí lực bình đẳng tập nhân duyên, cho nên tất cả phiền não đều không thể làm cho Bồ tát ô nhiễm.
nhẫn nhục thiên
Xem Sàn Đề Đề Bà..
nhẫn nhục thái tử
Vị thái tử của thành Varanasi, Ba La Nại, người đã cắt thịt mình để chữa lành bệnh cho mẹ cha mà không tỏ chút giận hờn khó chịu—The patient prince, of Varanasi (Benares), who gave a piece of his flesh to heal his sick parents, which was efficacious because he had never given way to anger.
; (忍辱太子) Vị Thái tử con vua nước Ba la nại ở Ấn độ trong thời tượng pháp ở quá khứ, sau khi đức Phật Tì bà thi nhập diệt. Đây là 1 trong những truyện tiền thân của đức Thế tôn Thích ca. Cứ theo kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 3, thủa xưa, vào thời đức Phật Tì bà thi, ở nước Ba la nại có vị vua thông minh nhân từ, thường trị nước theo chính pháp, vua có 1 Thái tử, tính tình hiền hậu, không bao giờ giận hờn, vì thế được gọi là Nhẫn nhục. Một ngày kia, vua bị bệnh nặng, gian thần vì muốn giết Thái tử để mưu đồ cướp ngôi vua sau này, nên nói với Thái tử rằng chỉ có mắt và tủy của người không bao giờ tức giận để dùng làm thuốc thì mới có thể chữa bệnh cho vua được. Thái tử nghe vậy liền móc 2 mắt và chẻ xương lấy tủy làm thuốc chữa bệnh cho vua cha. Thái tử thời bấy giờ tức là tiền thân của đức Thích tôn. [X. kinh Luật dị tướng Q.31]. (xt. Nhẫn Nhục Tiên).
nhẫn nhục thân tâm
Patience of the Body and the mind—Chúng ta chỉ có thể đo lường đạo lực và sự nhẫn nhục thân tâm khi chúng ta bị khinh hủy, chưởi mắng, vu oan giá họa, cũng như mọi chướng ngại khác—We can only measure our level of attainment and patience of the body and mind when we are contempted, slandered, under calamities, under injustice and all other obstacles.
nhẫn nhục thảo
(忍辱草) Gọi tắt: Nhẫn nhục. Cỏ nhẫn nhục. Một loại cỏ mọc trên núi Tuyết sơn (Hi mã lạp sơn) ở Ấn độ. Bò ăn cỏ này thì sữa của nó có thể được biến chế thành vị đề hồ ngon nhất ở thế gian. Nhẫn nhục thảo cũng còn được dùng để ví dụ công đức thù thắng của việc niệm Phật sinh thiện. [X. kinh Niết bàn Q.27 (bản Bắc)]. (xt. Đề Hồ).
nhẫn nhục tiên
Ksàntyrsi (S). The rsi who patiently suffered insult.
; Ksantyrsi (skt)—Vị tiên nhẫn nhục trước mọi lăng nhục mạ lỵ, như Đức Thích Ca Mâu Ni trong tiền kiếp, thời ngài còn là một vị tiên tu hạnh nhẫn nhục, từng nhẫn nhục trước sự lóc thịt xẻ da bởi vua Ca Lợi mà không sanh lòng oán hận—The rsi who patiently suffers insult, i.e. Sakyamuni, in a former life, suffering mutilation to convert Kaliraja.
; (忍辱仙) Phạm: Kwàti-vàdi-fwì. Pàli: Khanti-vàdi-tàpasa. Cũng gọi Sằn đề ba lê (Phạm: Kwàntipàla), Sằn đề hòa (Phạm:Kwàntì-vàdin). Hán dịch: Thuyết nhẫn, Nhẫn ngữ. Vị tiên nhân tu hạnh nhẫn nhục ở nước Ba la nại, Ấn độ, vào thời quá khứ, là tiền thân của đức Phật Thích ca, khi Ngài còn ở giai vị tu nhân. Cứ theo phẩm Sằn đề ba lê trong kinh Hiền ngu quyển 2, vào thủa xa xưa trong quá khứ, ở nước Ba la nại, Ấn độ, dưới thời vua Ca lê (Phạm:Kàli), có vị tiên nhân tên là Sằn đề ba lê cùng với 500 đệ tử ở ẩn trong rừng, tu hạnh nhẫn nhục. Một hôm, vua cùng đoàn tùy tùng, có các cung nữ, vào rừng du ngoạn. Những cung nữ thấy tiên nhân Sằn đề, khởi tâm cung kính, liền đến nơi lễ bái cúng dường. Nhà vua thấy thế sinh lòng ghen tức, bèn chặt đứt chân tay, cắt tai, xẻo mũi của Sằn đề, nhưng Sằn đề an nhiên chịu đựng, không hề oán than và lại nguyện rằng sau này thành Phật sẽ dùng dao trí tuệ chặt đứt 3 độc tham, sân, si của vua. Lúc ấy nhà vua chợt ân hận, liền xin sám hối và cúng dường Sằn đề tiên nhân. Tiên nhân thời bấy giờ là tiền thân của đức Thích tôn, còn vua và 4 vị đại thần là 5 vị tỉ khưu Kiêu trần như... sau này. Truyền thuyết này rất nổi tiếng, trong Bản sinh đàm bằng tiếng Pàli (Khantivàdijàtaka), phẩm Nê hoàn trong kinh Xuất diệu quyển 23, Lục độ tập kinh quyển 5, kinh Kim cương bát nhã ba la mật v.v... đều có chép sự tích bản sinh này. Nhưng trong bản sinh tiếng Pàli và kinh Xuất diệu, tên vua lại là Ca lam phù (Phạm: Kalàbu) chứ không là Ca lê (Phạm: Kàli). Ngoài ra, theo điều Ô trượng na quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 3, thì việc này đã xảy ra ở nước Ô trượng na; phía đông đô thành Mông yết li có ngôi tháp thờ tiên Nhẫn nhục. Đó chính là nơi vị tiên này thủa xưa đã bị vua Ca lê chặt đứt chân tay. Thời gian gần đây, nhà Khảo cổ học người Đức là ông Grünwedel đã sưu tầm được 1 số bức bích họa tại các chùa hoang phế ở nước Kizil (Cưu tư), trong đó có bức vẽ ông vua tay phải cầm gươm và 1 vị tiên 2 tay đã bị chặt đứt (xem ảnh). Có lẽ bức họa này miêu tả truyện tích của tiên Nhẫn nhục chăng? [X. phẩm Chuyển pháp luân trong kinh Bản khởi Q.thượng; kinh Bồ tát bản hạnh Q.hạ; kinh Tăng già la sát sở tập Q.thượng; luận Tì bà sa Q.9; luận Đại trí độ Q.14, 26; On Yuan Chwang, vol. I, by T. Watters; Altkutscha, by A. Grünwedel]. (xt. Nhẫn Nhục Thái Tử).
nhẫn nhục y
The robe of patience, a patient heart which, like a garment, wards off all outward sin.
; Enduring-humiliation robe—Chiếc áo nhẫn nhục, cái tâm nhẫn nhục, gạt bỏ mọi tội lỗi bên ngoài. Tên gọi chung cho áo cà sa của chư Tăng Ni—The robe of patience, a patient heart which, like a garment, wards off all outward sin. A general name for the kasaya, or monk's robe.
; (忍辱衣) Áo nhịn nhục. I. Nhẫn Nhục Y. Chỉ cho tâm nhịn nhục, vì tâm nhịn nhục có thể ngăn dứt tất cả chướng ngại bên ngoài, giống như chiếc áo che kín thân thể, nên gọi là Nhẫn nhục y. [X. phẩm Pháp sư trong kinh Pháp hoa]. II. Nhẫn Nhục Y. Chỉ cho áo ca sa, vì áo ca sa có công năng làm cho người mặc áo sinh tâm nhu hòa nhẫn nhục, nên có tên như thế. [X. Thích thị yếu lãm Q.thượng]. (xt. Ca Sa).
nhẫn nhục địa
The stage of patience.
; Địa vị nhẫn nhục. Có hai loại—The stage of patience. Two kinds are distinguished. 1) Sinh Nhẫn: Chịu đựng mọi lăng nhục như tức giận, chửi bới, đánh đập của loài hữu tình—Insult originating from men such as abuse or hatred. 2) Pháp Nhẫn: Chịu đựng những họa hại không do loài hữu tình gây ra cho mình, như chịu đựng sự nóng lạnh, mưa gió, đói khát, già bệnh, vân vân—Distress arising from natural causes such as heat, cold, age, sickness, etc.
; (忍辱地) Chỉ cho Sinh nhẫn và Pháp nhẫn. Sinh nhẫn là tâm vẫn bình thản nhận chịu sự giận dữ, chửi mắng, đánh đập hoặc đãi ngộ do hữu tình đối với mình; còn Pháp nhẫn là tâm vẫn vui vẻ đón nhận những tai họa vô tình ập đến như: Nóng rét, gió mưa, đói khát, già bệnh... Người tu hành trong 2 loại Nhẫn này tâm vẫn an nhiên chẳng lay động, giống như cõi đất nên gọi là Nhẫn nhục địa. Phẩm An lạc hạnh trong kinh Pháp hoa quyển 5 (Đại 9, 171 trung) nói: Bậc đại Bồ tát trụ nơi Nhẫn nhục địa, nhu hòa khéo thuận, tâm không thô bạo, cũng không kinh hãi. (xt. Nhị Nhẫn, Pháp Nhẫn).
Nhẫn nhục độ
xem bờ bên kia.
Nhẫn pháp
là pháp nhẫn nhục, pháp thứ ba của Thanh văn thừa, sau Đỉnh pháp. Người đạt được pháp này có sự nhẫn chịu đối với mọi pháp nên có thể tu tập Tứ đế để đạt tới giải thoát.
nhẫn pháp
The method of patience.
; (忍法) Cũng gọi Nhẫn vị. Chỉ cho giai vị tu hành trước Kiến đạo, đạt được khi thành tựu viên mãn Đính thiện căn, 1 trong 7 Hiền vị, 1 trong 4 Thiện căn vị. Hành giả đến giai vị này đã hiểu rõ lí Tứ đế, thiện căn đã đầy đủ và vững chắc, không còn dao động, không rơi vào đường ác, vì thế gọi là Nhẫn pháp. Có thể được chia làm 3 phẩm: - Hạ phẩm: Giống như Đính vị quán cảnh Tứ đế trong 3 cõi, tu đủ cả 16 hành tướng. - Trung phẩm: Giảm bớt dần hành tướng và sở duyên, cho đến cuối cùng chỉ còn 1 hành tướng của cõi Dục và tu quán trong 2 sát na. - Thượng phẩm: Chỉ còn 1 hành tướng Khổ đế của cõi Dục quán xét trong 1 sát na.[X. luận Câu xá Q.23]. (xt. Thất Hiền, Tứ Thiện Căn Vị).
nhẫn pháp vị
See Nhẫn Vị.
nhẫn thiện
The patient and good; patient in doing good.
; 1) Sự nhẫn nhục và thiện nghiệp: The patience and good. 2) Sự nhẫn nhục trong khi hành thiện nghiệp: The patience in doing good.
nhẫn thủy
Patience in its depth and expanse compared to water.
; Nhẫn sâu và rộng như nước—Patience in its depth and expanse compared to water.
nhẫn tiên
1) Vị Tiên nhẫn nhục: The patient sri—See Nhẫn Nhục Tiên. 2) Đức Phật: Immortal of patience, i.e. the Buddha.
nhẫn trí
mức độ tu chứng đạt được cả nhẫn và trí. Theo Đại thừa thì nhẫn và trí chỉ là một đức, bắt đầu tu pháp quán gọi là nhẫn, quán xét thành tựu gọi là trí.
; Patience and wisdom.
; Nhẫn nhục và trí tuệ—Patience and wisdom. 1) Theo Tiểu Thừa Hữu Bộ thì “nhẫn” là nhân, còn “trí” là quả: In the Hinayana, patience is cause, wisdom effect. 2) Theo Đại Thừa thì “nhẫn” và “trí” không khác nhau, dù nhẫn có trước trí (tuệ tâm an trụ ở pháp gọi là nhẫn, đối cảnh quyết đoán gọi là trí; hay nhẫn là không chướng ngại, còn trí là giải thoát): In Mahayana, the two are merged, though patience precedes wisdom.
; (忍智) Từ gọi chung Nhẫn và Trí. Nhẫn là tâm an định, có khả năng chịu đựng sự nhục mạ, não hại. Trí là quyết đoán, hiểu thấu sự lí 1 cách rõ ràng. Hữu bộ của Tiểu thừa cho rằng Nhẫn là trí quán của đạo Vô gián, thuộcvề nhân; còn Trí là trí quán của đạo Giải thoát, thuộc về quả. Luận Thành thực và Đại thừa thì chủ trương Nhẫn và Trí thông nhau. Nếu theo nghĩa mà phân biệt thì bắt đầu tu quán là Nhẫn, cuối cùng thành tựu gọi là Trí. [X. luận Câu xá Q.23; Đại thừa nghĩa chương Q.9]. (xt. Nhẫn, Trí).
Nhẫn Tánh
(忍性, Ninshō, 1217-1303): tự là Lương Quán (良觀, Ryōkan), xuất thân vùng Đại Hòa (大和, Yamato, thuộc Nara-ken [奈良縣]). Ông theo Duệ Tôn (叡尊 hay 睿尊, Eison) của Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji) học giới luật và Mật Giáo. Ông rất thâm tín nơi đức Bồ Tát Văn Thù và thường hay cứu giúp những người nghèo khổ cũng như bệnh hoạn. Lúc 36 tuổi, ông xuống vùng Quan Đông (關東, Kantō), nhờ sự hỗ trợ của Tướng Quân Bắc Điều Trùng Thời (北條重時, Hōjō Shigetoki), ông đã phục hưng giới luật, lấy Cực Lạc Tự (極樂寺, Gokuraku-ji) vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) làm trung tâm. Ngoài ra, để truy niệm Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi), ông đã thiết lập bệnh viện, làm cứu tế xã hội. Ông còn dùng Cực Lạc Tự để làm đạo tràng của Quang Minh Chơn Ngôn, tạo nhiều công lao trong việc xây dựng chùa chiền và ấn loát kinh sách, tận tâm làm cho dòng phái Tây Đại Tự được phát triển. Đệ tử của ông có Vinh Chơn (榮眞, Eishin), Thuận Nhẫn (順忍, Junnin). Ông được ban thụy hiệu là Nhẫn Tánh Bồ Tát.
nhẫn tâm
Gataghṛṇa (S), Pitilessness.
; To be merciless (heartless) —To be cruel.
nhẫn vị
The stage of patience.
; Thời kỳ nhẫn nhục, ý nói các bậc đã chứng ngộ chân lý, bậc thứ sáu trong bảy bậc hiền, hay vị thứ ba trong tứ thiện căn—The method or stage of patience, the sixth of the seven stages of the Hinayana in the attainment of Arahanship or sainthood, or the third of the four roots of goodness.
nhẫn điều
Patiently to harmonize, i.e. the patient heart tempers and subdues anger and hatred.
; Lấy cái tâm nhẫn (kiên nhẫn, kiên trì, nhẫn nhục) để điều khiển hay chế ngự sự tức giận—Patiently to harmonize, i.e. the patient heart tempers and subdues anger and hatred.
nhẫn địa
The stage of patience.
; Bậc đã giác ngộ vô sinh pháp nhẫn—The stage of patience—The stage of enlightenment separating from transmigration.
Nhẫn độ
xem Sằn-đề ba-la-mật.
nhẫn độ
Xem Ta bà.
; Ksànti-pramta. The place of patience or endurance, this world.
; Nơi mà chúng sanh có thể kham nhẫn hay thế giới Ta Bà—The place of patience or endurance—This world.
Nhậm (nhiệm)
任; C: rèn; J: nin;|Có các nghĩa sau: 1. Từ chức, giao lại; 2. Đảm nhận một công việc hoặc vai trò; 3. Nhường vị trí của mình cho một người khác. Đảm nhận một vai trò và trách nhiệm trong đời sống. »Sự đảm đương«; 4. Gọi tắt của từ Nhậm vận (任運), nghĩa là sự việc được phát khởi một cách ngẫu nhiên, không do bởi sự tạo tác của tâm thức phân biệt hiện tại (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
nhậm bà thụ
(紝婆樹) Nhẫm bá, Phạm, Pàli: Nimba.Cũng gọi Nhẫm bà, Nhậm bà. Tên khoa học: Azadirachta indica. Một loại cây mọc ở Ấn độ, giống như cây xoan (tên khoa học: Picrasma quassioides) ở Trung quốc. Loại cây này thân cao, mùa xuân nở hoa nhỏ màu trắng, có mùi thơm, lá giống lá cây chiên na, vỏ cây, cành, lá, hoa, quả... đều có vị đắng, có thể dùng làm thuốc. Người Ấn độ lấy cành nhỏ của cây này làm tăm xỉa răng và khi cử hành lễ chôn cất người chết thì dùng nó để nhai. Ấn độ giáo thì dùng gỗ cây nhâm bà để tạc tượng thần.[X. kinh Đà la ni tập Q.10; Hữu bộ tì nại da dược sự Q.1; luận Câu xá Q.18; Huyền ứng âm nghĩa Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26].
Nhậm bệnh
任病; C: rènbìng; J: ninbyō;|Bệnh »để mặc«. Một trong 10 kiến chấp sai lầm được trình bày trong chương thứ 10 của kinh Viên Giác.
nhậm ma
Nghĩa là cái này cái kia.
Nhậm trì
任持; C: rénchí; J: ninji; S: ādhāna, dhāraṇa, dhṛti.|Giữ gìn, duy trì, bảo tồn, hộ trì.
nhậm trần sam pha
(任陳杉坡) Tạng: Rin-chen bzaí-po. Danh tăng Tây tạng, người vùng Cát lợi (Tạng: Mía#-ris) miền Tây Tây tạng. Sư thuộc phái Trung quán, nổi tiếng là nhà cải cách và phiên dịch kinh điển của Phật giáo Đát đặc la. Những tác phẩm Đát đặc la do sư phiên dịch được gọi là Tân bí mật chân ngôn, đây là nguyên nhân làm cho việc truyền bá Mật giáo thời kì sau ở Tây tạng được thịnh hành. Những kinh luận do sư dịch có tới 150 loại, đệ tử của sư rất đông, trong đó có nhiều vị tăng phiên dịch ưu tú, nổi tiếng hơn cả là sư Tứ tinh Thần tử. [X. Tây tạng vương thống kí; Pag Sam Jon Zang by Chandra Das; The Blue Annals, 2 vols. by G. N. Roerich; Historyof Buddhism (Bu-ston), 2 vols. by E. Obermiller].
Nhậm vận
任運; C: rènyùn; J: nin'un;|Có các nghĩa sau: 1. Cam chịu số phận; 2. Tự nhiên, vốn đã như vậy. Hiện hữu một cách tự nhiên. (Pháp nhĩ 法爾). Không gắng sức, không dụng công; 3. Bẩm sinh, sinh ra đã…; cùng nương với nhau mà sinh khởi, đồng nghĩa với Câu (倶).
nhậm vận
Mặc kệ bản tánh của mọi sự mọi vật vận động tự nhiên, chẳng dính dáng đến sự tạo tác của tâm thức, gọi là nhậm vận.
; (任運) Đồng nghĩa: Vô công dụng. Không cần dụng công tạo tác để thành tựu sự nghiệp, cứ thuận theo sự tự nhiên của các pháp mà vận hành. Thông thường, từ Thất địa trở về trước thì phải dụng công tu tập, còn từ Bát địa trở lên thì không cần dụng công nữa, mà chỉ thuận theo pháp tính tự nhiên. Vãng sinh lễ tán (Đại 47, 439 thượng) nói: Tự nhiên nhậm vận, tự lợi, lợi tha, không hạnh nào chẳng đầy đủ. Đây là hiển bày cái đức nhậm vận tự nhiên của Tịnh độ cực lạc, đầy đủ các hạnh lợi mình và lợi người. [X. Ma ha chỉ quán Q.5].
Nhậm vận khởi
任運起; C: rényùnqǐ; J: ninunki;|Sinh khởi trên cơ sở tự tính; (phiền não) vốn đã sinh khởi; phiền não câu sinh. Câu sinh khởi (倶生起, theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Nhậm vận phiền não
任運煩惱; C: rényùnfánnăo; J: nin'un bonnō;|Đồng nghĩa với: 1. Câu sinh phiền não. Phiền não có sẵn, có từ đời sống trước, khác hẳn với phiền não mới phát sinh do tâm phân biệt hiện hành. Phiền não nầy phát sinh đồng thời với thức thứ bảy (mạt-na thức, theo Nhị chướng nghĩa 二障義); 2. Không nhất thiết phân biệt như trong mục 1, nhưng đặc biệt được định nghĩa như là Ngã với ba thứ kiến chấp của nó, Tát-cada kiến (薩迦耶見), Ngã mạn (我慢), và Ngã ái (我愛). Được nói là Câu sinh phiền não được giải trừ ở giai vị Tu đạo (修道, vì quá vi tế, không thể giải trừ ở giai vị Kiến đạo 見道; theo Du-già luận).
Nhậm vận sở khởi
任運所起; C: rényùn suǒqǐ; J: ninnun sho-ki;|Sự việc được phát sinh một cách tự nhiên (ngẫu nhiên, bẩm sinh). Đồng nghĩa với Câu sinh khởi (倶生起).
nhậm đạo lâm
(任道林) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Bắc Tề. Năm Kiến đức thứ 6 (577), Vũ đế nhà Bắc Chu diệt Bắc Tề, thi hành chính sách phế Phật, sư tâu lên vua Vũ đế xin phục hưng Phật giáo. Vũ đế biết sư là bậc tài trí, liền khuyên sư vào Thông đạo quan ở Trường an chuyên việc nghiên cứu Phật học. Tháng 5 năm Kiến đức thứ 6 (578), sư đến Trường an, tháng 6 vua Vũ đế băng, Tuyên đế lên nối ngôi, sư nhắc lại việc sư tâu xin phục hưng Phật giáo.
nhận
1) Nhận: To receive—To obtain. 2) Nhận hạt: To set—To enchase (diamond). 3) Nhận ngón tay: To press (a finger on something). 4) Thừa nhận: To recognize.
nhận biết
To recognize.
nhận biết và phân biệt
Sự nhận biết tiến hành bằng “thức,” trong khi sự phân biệt về những gì bày ra như một thế giới bên ngoài được thực hiện bởi năm thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý)—Cognition goes on by Vijnana, whereas the discrimination of what is presented as an external world is done by the five Vijnanas.
nhận chìm
To engulf.
nhận chắc
To affirm.
nhận diện
To identify.
nhận dạng
Identification.
nhận lầm
To recognize by mistake
nhận lỗi
To acknowledge one's mistake
nhận nhiều phước báo
To receive good blessed rewards—To collect good fruits.
nhận nhầm
To recognize by mistake.
nhận ra
To identify.
nhận ra rõ ràng
Vabodha or Sakshatkarana (skt)—Realization. Tự chứng ngộ: Self-realization—To becom aware. Tự mở mắt tâm, để biết rõ bản tánh và do đó biết rõ bản tánh của cuộc sinh tồn: Opening the Mind's eye—Awakening to one's True-nature and hence of the nature of all existence. See Enlightenment in English-Vietnamese Section.
nhận ra điều gì mình đã quên
Pratyabhijanati or Pratyabhijna (skt)—To recognize—To recover consciousness—Regaining knowledge or recognition.
nhận thấy
To perceive—To notice.
nhận thức
To recognize—To know—To perceive—To conceive—To ackowledge.
; (認識) Sự nhận biết. Đây là nói theo sự quan hệ giữa chủ quan nhận thức và khách quan (đối tượng) bị nhận thức. Phật giáo gọi chủ quan là thức, khách quan là cảnh rồi nói rõ mối quan hệ giữa thức và cảnh mà phát triển thành hệ thống Nhận thức luận, tức là Duy thức học. (xt. Duy Thức).
nhận thức nội tại
Pratyàtmàgatijnàna (S). Self perception, internal perception.
nhận thức thiện hữu ác hữu
Nhận ra bạn tốt và bạn xấu—To recognize good and bad friends.
nhận tặc vi tử
(認賊爲子) Cũng gọi Dĩ tặc vi tử. Nhận giặc làm con. Ví dụ sự nhận lầm vọng tâm cho là chân tâm. Kinh Viên giác (Đại 17, 919 hạ) nói: Cho tất cả ngã là Niết bàn, có chứng có ngộ, mà gọi là thành tựu, đó là nhận lầm. Ví như có người nhận giặc làm con, thì của cải, gia nghiệp của người ấy quyết không thể nào thành tựu được. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 28 (Đại 51, 438 hạ) nói: Chân tâm, vọng tâm, trí Phật, trí thế gian, tên gọi giống nhau, nhưng thể thì khác. Nếu nhận lầm vọng tâm là chân tâm thì tức là nhận giặc làm con. Có người cho trí thế gian là trí Phật, khác nào mắt cá mà nhận là minh châu?.
nhận tội
To confess a crime—To admit one's guilt or sin.
nhận xét
To judge.
nhận định
Consideration—Remark
nhập
Ayana (S). To enter, entry, entrance; come, bring or take in; at home; awaken to the truth; begin to understand; to relate the mind to reality and thus evolve knowledge.
; Chứng hội hay hiểu biết sự vật—To enter—Entrance—Bring or take in—Entry—Awaken to the truth—Begin to understand—To relate the mind to reality and thus evolve knowledge.
; (入) I. Nhập. Chứng nhập chân lí. Đại thừa nghĩa chương quyển 1 (Đại 44, 481 hạ) nói: Chứng ngộ gọi là nhập. II. Nhập. Hiểu biết sự vật. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 trung) nói: Hiểu biết các ngôn ngữ, khai hóa cho tất cả. III. Nhập. Phạm, Pàli: Àyatana. Dịch cũ: Nhập. Dịch mới: Xứ. Tức căn (chủ thể) và cảnh (đối tượng) tiếp xúc nhau sinh ra thức, gọi là Nhập; như Thập nhị nhập, dịch mới là Thập nhị xứ. [X. Duy thức nhị thập luận]. (xt. Thập Nhị Xứ, Xứ). IV. Nhập. Căn cứ hoặc đầu mối của tâm hay tác dụng của tâm. Kinh Duy ma quyển thượng (Đại 14, 539 trung) nói: Thân này như rắn độc, như oán giặc, như nhà trống, do các ấm, giới, nhập hợp thành. Kinh Duy ma quyển trung (Đại 14, 546 thượng) nói: Người cầu pháp, chẳng phải cầu sắc, thụ, tưởng, hành, thức, chẳng phải cầu giới, nhập. V. Nhập. Tiến vào 1 cảnh giới nào đó. Luận Câu xá quyển 17 (Đại 29, 273 trung) nói: Người tu quán pháp nhẫn được nhập vào chính định.
nhập a tì đạt ma luận
(入阿毗達磨論) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Tắc kiến đà la soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 28. Bộ luận này là sách nhập môn cần phải có cho việc nghiên cứu luận Câu xá. Nhưng luận này hơi khác với luận Câu xá ở chỗ luận Câu xá phân loại các pháp thành 75 pháp, còn luận này lại thêm vào 2 tâm sở Hân và Yếm mà thành 77 pháp. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.11].
nhập a tỳ đạt ma luận
Abhidharmāvatāra (S)Tên một bộ luận kinh.
Nhập A-tì-đạt-ma luận
入阿毘達磨論; C: rù āpídámó lùn; J: nyū abidatsuma ron; S: abhidharma-āvatārapraka-raṇa;|2 quyển; của Tắc-kiến Đà-la (塞建陀羅; s: skandhila); Huyền Trang dịch năm 658. Luận giải được cho là bản giới thiệu về Câu-xá luận (倶舍論; s: abhidharmakośa-bhāṣya), đặc biệt tập trung vào khuôn khổ cấu trúc của 75 pháp (七十五法). Theo Nakamura, những đoạn trong bản được tìm thấy tại Tocharian và bản Tây Tạng cho biết Huyền Trang đã dịch chưa hoàn chỉnh luận nầy. Đã có bản dịch Pháp văn của Van Velthem căn cứ vào bản tiếng Hán và Tây Tạng.
nhập bình
(入瓶) Sự tích vị sa di chui vào chiếc bình. Theo A dục vương truyện quyển 7, một hôm, vua A dục thấy có vị sa di 7 tuổi đang đến 1 nơi vắng vẻ, nhà vua lễ vị sa di rồi dặn (Đại 50, 128 hạ): Chớ nói với ai là ta lễ ông nhé!. Lúc ấy, vị sa di thấy có chiếc bình đựng nước ở phía trước, liền vận dụng sức thần thông chui vào bình, rồi lại từ trong bình chui ra, nói với vua rằng (Đại 50, 129 thượng): Vua cẩn thận, chớ nói với ai là sa di chui vào bình nước để tắm rồi lại trở ra nhé!. Nhưng nhà vua bảo: Ta sẽ nói ngay với mọi người, không giấu được đâu!. Truyền thuyết này ngụ ý rằng: Sa di tuy nhỏ nhưng có thể độ người, con vua tuy nhỏ nhưng cũng có thể giết người, rồng con tuy nhỏ nhưng có thể nổi mây làm mưa, vì thế đừng nên xem thường người nhỏ, vật nhỏ.
nhập bất nhị môn
Lý thể vô nhị hay lý và thể không sai khác—To enter the school of monism (One great reality is universal and absolute without differentiation).
nhập bất nhị pháp môn
(入不二法門) Gọi tắt: Nhập bất nhị môn. Vượt ra ngoài thế giới hiện tượng sai biệt tương đối mà tiến vào cảnh giới bình đẳng tuyệt đối. Trong phẩm Nhập bất nhị pháp môn của kinh Duy ma, quyển trung, có ghi lại cuộc đàm luận về Nhập bất nhị pháp môn giữa bồ tát Văn thù sư lợi cùng với 32 vị Bồ tát và cư sĩ Duy ma cật. Trong cuộc đàm luận này, đối với nguyên lí tương đãi như sinh diệt, thiện ác... các vị Bồ tát đều đưa ra giải đáp tuyệt đãi, vượt ra ngoài vòng đối đãi và cho đó là pháp môn Bất nhị. Ngài Văn thù sư lợi thì cho rằng không nói, không bàn, không chỉ dạy, không biết là pháp môn Bất nhị. Còn cư sĩ Duy ma cật thì im lặng, không nói (Mặc bất nhị)để hiển bày pháp môn Bất nhị. Có nhiều nhận xét khác nhau về ý nghĩa nội dung của cuộc đàm luận trên. Ngài Tăng triệu cho rằng cảnh giới của cư sĩ Duy ma cật là cao hơn cả. Ngài Tuệ viễn cho rằng pháp môn tuy khác, nhưng diệu chỉ thì dung thông, tất cả chỉ là 1 nghĩa được thu tóm trong 2 môn Khiển tướng và Dung tướng mà thôi. 1. Môn khiển tướng: Quan điểm của các vị Bồ tát là xả bỏ tương đối để biểu thị tuyệt đối. 2. Môn dung tướng: Quan điểm của ngài Văn thù và Duy ma cật là không xả bỏ gì cả, vì tương đối và tuyệt đối là cùng 1 thể. [X. Duy ma kinh nghĩa kí Q.3, phần cuối; Chú Duy ma cật kinh Q.8].
nhập bồ đề hành luận
(入菩提行論) Phạm: Bodhicaryàvatàra. Tác phẩm, 4 quyển, do Luận sư Tịch thiên (Phạm: Zàntideva) thuộc phái Trung quán ở Ấn độ biên soạn vào khoảng thế kỉ VII, VIII. Sách này là 1 trong số lớn nguyên điển tiếng Phạm được ông B.H. Hodgson (1800- 1894), nhà học giả Đông phương học người Anh, tìm thấy ở Nepal. Toàn sách gồm 917 kệ tụng, chia làm 10 chương: 1. Tán thán tâm bồ đề. 2. Qui y Tam bảo và sám hối. 3. Thệ phát tâm bồ đề. 4. Tu đạo. 5. Giữ gìn chính tri. 6. Nhẫn nhục. 7. Tinh tiến. 8. Thiền định. 9. Trí tuệ (Bát nhã) và Ba la mật. 10. Khen ngợi chư Phật, Bồ tát. Nguyên văn tiếng Phạm sách này dùng toàn kệ tụng đầy thi vị để diễn đạt lòng từ bi tông giáo. Đây là tác phẩm kiệt xuất của nền văn học Phật giáo hậu kì ở Ấn độ. Sách này ban đầu chỉ có bản dịch Tây tạng và Hán dịch, nhưng sau khi nguyên văn tiếng Phạm được xuất bản, thì có các bản dịch tiếng Mông cổ, Pháp, Đức, Nhật lần lượt được ấn hành. Trong đó, bản dịch Tây tạng là Byaí-chub-sems-dpaispyodpa-la jug-pa (Nhập Bồ tát hạnh); Hán dịch là Bồ đề hành kinh, dịch giả là ngài Thiên tức tai. Sách này từ xưa vẫn được xem là do Tổ Long thụ của học phái Trung quán Ấn độ trứ tác. Nhưng nếu đem tư tưởng của ngài Tịch thiên trong 1 tác phẩm khác của ngài là Đại thừa tập Bồ tát học luận cùng với Kinh tập của Tổ Long thụ để đối chiếu, so sánh với sách này, thì có thể xác định rằng sách này không phải do Tổ Long thụ làm ra. Không những thế, ngay trong nguyên văn tiếng Phạm, bản dịch Tây tạng và trong Ấn độ Phật giáo của Đa la na tha cũng đều thừa nhận rằng ngài Tịch thiên là tác giả của sách này. (xt. Bồ Đề Hành Kinh).
nhập bồ đề hạnh luận
Xem Bồ đề hạnh Kinh.
Nhập bồ-đề hành luận
入菩提行論; S: bodhicaryāvatāra; cũng thường được gọi ngắn là Bồ-đề hành luận hoặc Nhập Bồ Tát hạnh luận (s: bodhisattvacaryāva-tāra);|Một tác phẩm của Tịch Thiên (s: śāntideva) rất được coi trọng trong Phật giáo Tây Tạng. Tác phẩm này nêu lên những nét tiêu biểu nhất của Ðại thừa. Bộ sách này được chia thành mười chương và đặc biệt chương thứ 9 nói về lập trường của Trung quán tông (cũng được gọi là Không tông; s: śūnyatāvāda). Văn tự của tác phẩm này rất dễ tiếp thu và có sức truyền cảm sâu đậm mặc dù nó bao hàm rất nhiều lí thuyết khó diễn bày. Có lẽ vì vậy nên Nhập bồ-đề hành luận được lưu truyền và tụng niệm hằng ngày ở Tây Tạng, Mông Cổ, Miến Ðiện, Nepāl. Ðạt-lại Lạt-ma thứ 14 cũng rất nhiều lần diễn thuyết và bình luận tác phẩm này trong những dịp sang châu Âu, Mĩ.|Tịch Thiên miêu tả rất rõ ràng nếp sống của một Bồ Tát, từ lúc phát Bồ-đề tâm thực hành Lục độ cho đến khi đạt trí huệ Bát-nhã. Ðặc biệt là Sư rất đề cao việc phát Bồ-đề tâm, cứu độ tất cả chúng sinh (ba trong mười chương đầu). Ðiều đó cho thấy, Sư không chủ ý viết một quyển sách lí thuyết khô khan. Nhập bồ-đề hành luận là một bài hướng dẫn hành động cụ thể mà ai cũng có thể thực hiện được.
nhập chúng
To enter the assembly (of monks).
; Người gia nhập Tăng đoàn phải tuân phục năm quy luật—To enter the assembly of monks—Entrant must respect five rules: 1) Tuân phục: Submission. 2) Nhân từ: Kindness. 3) Tôn trọng: Respect. 4) Tôn ti trật tự: Recognition of rank or order. 5) Chỉ nói chuyện đạo: None but religious conversation.
; (入衆) I. Nhập Chúng. Cũng gọi Nhập trận. Sau khi kết thúc cuộc vấn đáp với vị thầy, trở về trong đại chúng, gọi là Nhập chúng. [X. môn Tham thỉnh trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Xuất Trận). II. Nhập Chúng. Bắt đầu ở trong tùng lâm sau khi được độ, hoặc gia nhập hàng ngũ đại chúng trong tùng lâm. III. Nhập Chúng. Cùng tu hành với đại chúng. Phần Tiểu tham trong Thiền uyển thanh qui quyển 2 (Vạn tục 111, 444 thượng) nói: Huống là xuất gia hành cước, nhập chúng tham thiền (...) nên theo phép tắc trong chúng. (xt. Nhập Chúng Ngũ Pháp).
nhập chúng ngũ pháp
Năm quy luật nhập chúng—Five rules for the entrant (submision, kindness, respect, recognition of rank or order, and non but religious conversation)—See Nhập chúng.
; (入衆五法) Nhập chúng, cũng gọi Giao chúng. Có 5 việc mà người học mới vào tùng lâm cần phải biết, gọi là Nhập chúng ngũ pháp. 1. Hạ ý: Lời nói cần phải nhỏ nhẹ, 2. Từ tâm: Đem lòng từ bi đối với mọi người khác. 3. Cung kính: Phải tôn trọng bậc Thượng tọa. 4. Biết thứ tự: Cần biết thứ tự của sự vật.5. Chẳng nói việc khác: Không bàn luận những việc khác ngoài việc tu hành. [X. luật Ngũ phần Q.19].
nhập chúng nhật dụng
(入衆日用) Cũng gọi Vô lượng thọ thiền sư nhật dụng tiểu thanh qui, Nhật dụng thanh qui, Nhập chúng nhật dụng tiểu thanh qui, Nhật dụng tiểu thanh qui. Luật, 1 quyển, do ngài Tông thọ soạn vào năm Gia định thứ 2 (1209) đời Nam Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 111. Ngài Tông thọ trụ ở núi Thiên qui thuộc tỉnh Giang tây, lấy bộ Bách trượng thanh qui làm tiêu chuẩn, giảng dạy về qui củ phải giữ gìn trong 1 ngày ở Thiền lâm người học nhập chúng phải ngày đêm tuân thủ. Nội dung sách này gồm các phép tắc: Thức dậy, rửa mặt, mặc ca sa, thụ trai, vào nhà xí, vào nhà tắm, cách nằm, xem kinh cho đến cách đi lại...
nhập chúng tu tri
(入衆須知) Luật, 1 quyển, không rõ soạn giả, được thu vào Vạn tục tạng tập 111. Nội dung gồm hơn 50 hạng mục như: Tọa thiền, nhập thất, nhân duyên thỉnh ích, huấn đồng hành, khuyến đàn tín, sa di giới văn... tất cả đều là những phép tắc qui củ hàng ngày mà người mới vào tùng lâm cần phải biết để giữ gìn. Ở hạng mục Niệm tụng có đoạn nói (Vạn tục 111, 479 hạ): Bạch đại chúng! Đức Như lai nhập Niết bàn đến nay là năm Cảnh định thứ 4 (1263), như vậy đã được 2213 năm.... Căn cứ vào đó mà suy đoán thì sách này đã được soạn thành vào khoảng những năm vua Lí tông nhà Nam Tống tại vị.
nhập cốt
Để cốt vào tháp hay mộ huyệt—To inter the bones into a stupa or grave.
Nhập diệt
入滅; C: rùmiè; J: nyūmetsu;|Có hai nghĩa: 1. Thể nhập vào cõi vắng lặng, sự tịch diệt hoàn toàn thân tâm trong cảnh giới trí huệ tột cùng. Cũng như Nhập tịch (入寂; s: parinirvṛta); 2. Sự tịch diệt của một vị cao tăng Phật giáo.
nhập diệt
Parinirvati (S), Parinibbati (P).
; To die, to enter into nirvana.
; Đi vào cõi Niết Bàn—To enter into rest (nirvana)—To die—See Nhập Tịch.
; (入滅) Phạm: Pariịirvàti hoặc Pariịirvàyati. Pàli: ParinibbàtihoặcParinibbàyati. Gọi đủ: Nhập diệt độ, Nhập tịch diệt. Hán dịch: Nhập diệt hoặc Nhập Niết bàn, Thủ diệt độ, Thị tịch... I. Nhập Diệt. Theo chữ gốc có 2 nghĩa: 1. Diệt hết phiền não chấp trước của thế gian mà vào vô lậu giải thoát. 2. Vào cõi vô dư y Niết bàn, tức là người đã trừ sạch các lậu, xả bỏ nhục thân mà vào cõi Vô dư y. Nghĩa thứ 2 này được sử dụng nhiều hơn. Danh từ này không những chỉ sự nhập diệt của đức Phật mà về sau các vị cao tăng viên tịch cũng gọi là Nhập diệt. II. Nhập Diệt. Là 1 trong 8 tướng của đức Phật Thích ca. (xt. Bát Tướng).
nhập diệu
To get the mastery of a science or an art.
nhập gia tùy tục
When in Rome, do as the Romans do.
nhập hạ
Xem Hạ an cư.
; Varsà, Varsàna (S). Retreat season of monks.
nhập không
(入空) Ngộ nhập lí không. Về vấn đề này, giữa Đại thừa và Tiểu thừa có khác nhau: Cả 2 tuy đều từ Giả quán mà vào Không quán nhưng Tiểu thừa là do phân tích các pháp mới hiểu được lí Không (Tích sắc nhập không),còn Đại thừa thì do đã hiểu rõ lí duyên sinh của các pháp, nên ngay từ bản tính đã thấy được lí Không của mọi hiện tượng (Thể sắc nhập không).
nhập kiến
Penetrative insight
nhập liệm
To coffin a body.
nhập lăng già kinh
Xem Lăng già kinh.
nhập lăng già tâm huyền nghĩa
(入楞伽心玄義) Cũng gọi Nhập lăng già kinh tâm huyền nghĩa. Kinh sớ, 1 quyển, do ngài Pháp tạng (643-712) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 39. Đây là bộ sách chú thích kinh Nhập lăng già, nội dung chia làm 10 môn: 1. Giáo khởi sở nhân. 2. Tạng bộ sở nhiếp. 3. Hiển giáo sai biệt. 4. Giáo sở bị cơ. 5. Năng thuyên giáo thể. 6. Sở thuyên tông thú. 7. Thích kinh đề mục. 8. Bộ loại truyền dịch. 9. Nghĩa lí phân tề. 10. Tùy văn giải thích. Đồng thời, tác giả cũng lập giáo phán 4 tông: Hữu tướng tông, Vô tướng tông, Pháp tướng tông và Thực tướng tông, mục đích để phân biệt sự khác nhau giữa Pháp tướng và Thực tướng.
Nhập Lăng-già kinh
入楞伽經; C: rù lèngqié jīng; J: nyū ryōga kyō; S: laṅkāvatāra-sūtra;|Một bộ kinh Ðại thừa, đặc biệt nhấn mạnh đến tính giác ngộ nội tại, qua đó mọi hiện tượng nhị nguyên đều biến mất, đạt tâm vô phân biệt. Ðó là tâm thức đã chứng được Như Lai tạng (s: tathāgata-garbha) vốn hằng có trong mọi loài. Kinh này chỉ rõ văn tự không đóng vai trò quan trọng gì trong việc trao truyền giáo pháp.|Kinh này có ba bản dịch Hán ngữ: 1. Bản dịch của Cầu-na Bạt-đà-la (s: guṇabhadra) dưới tên Lăng-già A-bạt-đa-la bảo kinh (楞伽阿跋佗羅寶經) 4 quyển; 2. Bản của Bồ-đề Lưu-chi (s: bodhiruci) với tên Nhập Lăng-già kinh (入楞伽經), 10 quyển; 3. Ðại thừa nhập Lăng-già kinh (大乘入楞伽經) của Thật-xoa Nan-đà (śikṣānanda), 7 quyển.|Những thuyết trong kinh này rất gần với quan điểm của Thiền tông. Cùng với kinh Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa và Ðại thừa khởi tín luận (s: mahāyānaśraddhotpāda-śāstra), kinh Nhập Lăng-già là một trong những bộ kinh Ðại thừa có ảnh hưởng lớn đến Thiền tông Trung Quốc. Người ta cho rằng bộ kinh này do Bồ-đề Ðạt-ma (bodhi-dharma), Sơ tổ thiền Trung Quốc chính tay truyền cho Nhị tổ Huệ Khả. Ngay cả giáo pháp tiệm ngộ (giác ngộ từng bậc) của Thần Tú cũng bắt nguồn từ kinh Nhập Lăng-già này. |Kinh bao gồm 9 chương văn xuôi trộn lẫn với các câu kệ và một chương chỉ toàn văn vần. Kinh này lần đầu được dịch ra Hán văn trong thế kỉ thứ 5. Kinh Nhập Lăng-già được Phật thuyết tại Tích Lan, theo lời mời của một nhà vua xứ này, trong đó Phật trả lời những câu hỏi của Bồ Tát Ðại Huệ (mahāmati). Giáo pháp trong kinh này là nền tảng của Duy thức tông (s: yogācāra, vijñānavāda).
Nhập Lăng-già tâm huyền nghĩa
入楞伽心玄義; C: rùlèngqiéxīn xuányì; J: nyūryōgashin gengi;|Luận giải về kinh Lăng-già (s: laṅkāvatāra-sūtra) của Pháp Tạng (法藏), 1 quyển.
Nhập lưu
xem Bốn quả thánh.
nhập lưu
Stage of a Stream-Winner, Stream-enterer.
; Srota-àpanna (S). Enter into the stream.
; Dự Lưu—Srota-apanna (skt)—Stream-entering—See Srota-apanna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Tứ Thánh Quả in Vietnamese-English Section.
nhập lưu quả
Xem Tu đà hườn.
nhập môn
To enter a school; to adhere to a doctrine; introduction to...
; To enter a sect (school).
; (入門) Được thầy tổ chấp nhận, cạo tóc thành người xuất gia, tiến vào cửa Phật tu hành học đạo, gọi là Nhập môn. Hoặc người mới bắt đầu vào cửa của 1 học thuyết, 1 hệ thống triết học hay 1 ngành nào đó, cũng gọi là Nhập môn.
nhập ngã ngã nhập
Như Lai nhập vào ta và ta nhập vào Như Lai—He in me and I in him (the indwelling of the Buddha).
; (入我我入) Pháp quán tưởng của Mật giáo. Chỉ cho pháp quán mà tam mật và tam nghiệp tương ứng, tướng nhập, bình đẳng không hai. Nghĩa là khi tu pháp quán này thì nhờ vào sức gia trì của đức Phật bản tôn, làm cho thân, miệng, ý, (tam mật) của Như lai tác dụng vào thân, miệng, ý (tam nghiệp) của chính mình, khiến cho mình cùng Như lai thành một thể.
nhập niết bàn
Parinirvāṇa (S), Parinibbāna (P), yongs su mya ngan las 'das pa (T), Complete Nirvana Bát niết bàn, Bát nê hoàn.
; To pass (enter) into Nirvana.
nhập pháp giới
Dharmadhātu-praveṣa (S).
; Gandavyùha (S). Entering the Dharma realm.
; Trong Kinh Hoa Nghiêm, nhập pháp giới có nghĩa là một pháp dù nhỏ như một vi trần vẫn chứa đựng cái lớn nhất và ngược lại. Tâm chúng sanh, vũ trụ và Phật không sai khác. Kỳ thật, tâm, chúng sanh và Phật là một—Interpenetration—Basic teaching of Avatamsaka Sutra (Kinh Hoa Nghiêm) which reveals the Interpenetration of all dharmas, the smallest dharma contains the largest and vise versa—The human mind is the universe itself and is identical with the Buddha, indeed, that Buddha, mind and all sentient beings and things are one and the same.
; (入法界) Chứng vào lí pháp giới. Kinh Hoa nghiêm gọi là pháp giới, kinh Pháp hoa gọi là Thực tướng, cả 2 cùng thể mà khác tên, là lí bản chân của các pháp, là cảnh giới mà chư Phật đã chứng ngộ. Tông Hoa nghiêm lập 3 bậc nhập pháp giới: 1. Bồ tát thượng căn ở Sơ trụ phá vô minh, chứng lí pháp giới. 2. Bồ tát trung căn ở giai vị Thập hồi hướng chứng nhập pháp giới. 3. Bồ tát hạ căn ở giai vị Sơ địa nhập pháp giới. [X. Hoa nghiêm Đại sớ sao Q.7].
nhập pháp lễ
(入法禮) Phạm: Upanayana. Nghi thức cử hành lễ tiến nhập Bà la môn giáo của Tái sinh tộc ở Ấn độ. Pháp là chỉ cho pháp qui của Bà la môn giáo. Sau khi cử hành Nhập pháp lễ thì chính thức trở thành giáo đồ của Bà la môn giáo. Nhưng hạn tuổi nhập pháp của các tộc Tái sinh có khác nhau: Bà la môn từ 8 đến 16 tuổi, Sát đế lợi từ 11 đến 22 tuổi, Phệ xá từ 12 đến 24 tuổi. Nếu quá kì hạn này thì mất đặc quyền của Tái sinh tộc.
nhập phật
Rước tượng Phật—The bringing in of an image of a Buddha.
nhập phật bình đẳng giới
Với Phật giáo, mọi chúng sanh đều có thể đạt thành Phật quả—The Buddha-law by which all may attain to Buddhahood.
; (入佛平等戒) Tức Nhập Phật tam muội da, 1 trong 3 loại Tam muội da của Thai tạng giới Mật giáo. Nghĩa là đem hạt giống tâm Phật gieo vào ruộng tâm của chúng sinh, để tượng trưng nghĩa gá Thánh thai. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 9, lúc đức Thế tôn nhập Tam muội pháp giới thai tạng, Ngài thấy tất cả chúng sinh đều có hạt giống bồ đề đồng với chư Phật, nên Ngài thuyết chân ngôn Nhập Phật tam muội da. Người trì chân ngôn này được nhập vào Phật bình đẳng giới.
nhập phật cung dưỡng
(入佛供養) Cũng gọi Nhập Phật thức. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho nghi thức an vị tượng Phật tại các chùa viện mới được xây dựng. Lễ an vị tượng Phật, Bồ tát trong các chùa viện gồm có các nghi thức: Nhập Phật thức (an vị tượng Phật), Nhập tòa thức (an vị tượng Bồ tát, Tổ sư), Thiên Phật thức (nghi thức dời tượng Phật) và Thiên tòa thức (nghi thức dời tượng Bồ tát, Tổ sư).
nhập phật cúng dường
Lễ thỉnh tượng Phật—The ceremony of bringing in a Buddha's image.
nhập quan
Đưa thi hài vào quan tài—Encoffining a dead monk—To coffin a dead body.
Nhập quán
入觀; C: rùguān; J: nyūkan;|An trú trong thiền định. Ngược với Xuất quán (出觀, theo Kim Cương tam-muội luận 金剛三昧論).
nhập quán
Đi vào thiền quán để tự tâm tịch tịnh và tự quán chiếu lý (complete stillness of the mind and thought for enlightenment)—To enter into meditation—Thought and study for enlightenment in regard to truth—See Nhập Định.
nhập sơn
To enter the Church.
nhập sơn học đạo
(入山學道) Vào núi rừng tu đạo cầu giải thoát, 1 trong 8 tướng thành đạo của đức Phật. Theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng, đức Thích tôn lúc còn là Thái tử, vì thấy các cảnh già, bệnh, chết mà ngộ được thế gian vô thường, nên bỏ địa vị, tài sản, quốc gia, vào núi học đạo; bỏ ngựa trắng đang cỡi, bỏ mũ báu, chuỗi ngọc mà mặc áo pháp, cạo râu tóc, ngồi dưới gốc cây, tu khổ hạnh 6 năm. Tại chùa Thê hà ở núi Nhiếp sơn thuộc tỉnh Giang tô có bức khắc nổi Vào núi tu đạo ở mặt đông nam của nền tháp Xá lợi. (xt. Bát Tướng).
Nhập thai
入胎; C: rùtāi; J: nyūtai;|Vào thai mẹ (s: garbha-avakrānti). Nhập thai tướng (入胎相).
Nhập thai tướng
入胎相; C: rùtāixiāng; J: nyūtaisō;|Một trong 8 giai đoạn (Bát tướng 八相) của cuộc đời Phật Thích-ca Mâu-ni. Ngài từ cung trời Đâu-suất nhập vào thai mẹ là Hoàng hậu Ma-da (s: māya). Cũng gọi là Thác thai (托胎).
nhập thánh
To be of the orthodox faith.
; Trở thành một vị A-La-Hán—To become an Arahant.
; (入聖) Vào chính định tụ, chứng quả Thánh. Người chứng lí Tứ đế, xả bỏ dị sinh tính (tính phàm phu), tiến vào địa vị Thánh nhân, gọi là Nhập thánh. Luận Câu xá quyển 18 (Đại 29, 94 trung) nói: Tăng đã bị phá, cho tới khi chưa hòa hợp lại, thì tất cả thế gian, việc nhập Thánh đắc quả, lìa nhiễm dứt lậu, đều bị ngăn ngại. Vãng sinh thập nhân (Đại 48, 98 thượng) nói: Từ Tán vị vào Định vị là phương tiện của hành giả Tam thừa nhập Thánh. [X. A tì đạt ma câu xá thích luận Q.13; Đại thừa nghĩa chương Q.17].
nhập tháp
To inter the bones or body ođ a monk in a dagoba.
; Để xương cốt hay thi thể của một vị sư vào tháp—To enter the bones of body of a monk in a pagoda.
Nhập thất
(入室, nyūshitsu): thông thường từ này có nghĩa là vào trong thất hay căn phòng, nhưng đối với Thiền Tông thì có nghĩa là người đệ tử đã tham học lâu năm mới được phép vào trong thất riêng của Thầy để thọ nhận những lời giáo chỉ, huấn thị ân cần, hay để hỏi đạo. Cho nên người mới đến tham học thì không được vào thất Thầy. Ngày xưa không có quy chế rõ rệt nào đối với việc nhập thất, vì tùy theo cơ duyên, thời tiết, căn cơ mà cho đệ tử nhập thất. Nhưng từ sau thời Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一, 709-788), Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海, 749-814) trở đi, bắt đầu có quy định rõ ràng, có ngày nhất định để tiến hành nhập thất. Ngoài đời cho rằng đắc được pháp của Thầy tức là đệ tử nhập thất; tuy nhiên nếu bảo là người nhập thất thì người đó chưa hẳn đã đắc được pháp của Thầy. Tổ Đình Sự Uyển (祖庭事苑) quyển 8 có đoạn rằng: “Tổ Sư truyện vân: 'Ngũ Tổ Đại Sư chí dạ, mật lịnh thị giả ư Đối Phường chiêu Lô hành giả nhập thất, toại truyền y pháp.' (祖師傳云、五祖大師至夜、密令侍者於碓坊召盧行者入室、遂傳衣法, Tổ Sư truyện kể rằng: 'Đến đêm Ngũ Tổ Đại Sư lén ra lịnh cho thị giả đến Đối Phường mời Lô hành giả nhập thất, bèn truyền cho y pháp').” Trong Kinh Pháp Hoa cũng có câu: “Trước Như Lai y, nhập Như Lai thất (著如來衣、入如來室, mặc y của Như Lai, vào thất của Như Lai).” Lại trong A Hàm Kinh (阿含經) cũng có dạy rằng: “Phật cáo Bí Sô, ngô lưỡng nguyệt dục yến tọa, những đẳng bất tu tham vấn, duy trừ tống thực cập sái địa thời khả chí ư thử; ưng tri Phật Tổ đương thời hữu nhập thất chi nghi dã (佛告苾芻、吾兩月欲宴坐、汝等不須參問、唯除送食及灑地時可至於此、應知佛祖當時有入室參問之儀也, Phật bảo các Tỳ Kheo, ta muốn ở yên trong hai tháng, các người không nên đến tham vấn, chỉ trừ khi cúng dường thức ăn và rưới nước trên đất thì có thể đến nơi đây; vậy nên biết rằng đương thời Phật Tổ đã có nghi nhập thất tham vấn rồi).” Trong phần Nhập Thất (入室) của Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (敕修清規) có giải thích rằng: “Nhập thất giả, sư gia khám biện học tử, sách kỳ vị chí, đảo kỳ hư kháng, công kỳ thiên trọng (入室者、師家勘辯學子、策其未至、擣其虛亢、攻其偏重, người nhập thất là học trò được vị Thầy xem xét, làm rõ, giúp hoàn thành điều trò chưa đạt đến, lấp lổ hỏng của trò, phá tan chỗ thiên chấp của trò).” Trong Hưng Thiền Hộ Quốc Luận (興禪護國論, Gōzengokokuron), Minh Am Vinh Tây (明庵榮西, Myōan Eisai, 1141-1215), vị tổ sư khai sáng Lâm Tế Tông Nhật Bản, có dạy rằng: “Nhập thất vị ngộ Hòa Thượng gian hà chi nhật kiến lập chi, thử Tông nhất đại sự dã (入室謂遇和尚間暇之日建立之、此宗一大事也, nhập thất là gặp ngày Hòa Thượng rảnh rang mà lập nên, là việc trọng đại của Tông này).” Riêng đối với Mật Giáo, có thất riêng dùng làm cho lễ Quán Đảnh; cho nên nhập thất có nghĩa là vào trong thất thọ nhận phép Quán Đảnh.
nhập thất
Kyol Che (K), Tight dharma Xem Ẩn cư.
; To enter the master's study for examination or instruction; to enter the status of a disciple; to receive consecration.
; 1) Vào buồng thầy để hỏi đạo hay được sự chỉ dẫn: To enter the master's study for examination or instruction. 2) Cử hành lễ quán đảnh để trở thành Nhập thất đệ tử, nhưng chỉ dành cho những đệ tử cao cấp—To enter the status of a disciple, but strictly of an advanced disciple—To receive consecration. 3) Nhập thất và tự bế môn trong phòng để tự thanh tịnh và tăng trưởng định lực—To enter and shut off oneself up in the room to purify and strengthen one's concentration power.
; (入室) I. Nhập Thất. Cũng gọi Khai thất. Đệ tử tiến vào thất của thầy để tiếp nhận pháp môn mà kế thừa dòng phái hoặc tham học, hỏi đạo. II. Nhập Thất. Vua chúa vào chùa viện cũng gọi Nhập thất.III. Nhập Thất. Trong tông Chân ngôn, Mật giáo, người vào thất Quán đính để tiếp nhận pháp Quán đính được gọi là Nhập thất đệ tử.
nhập thất bardo
Bardo retreat.
nhập thế
Genso (J), Returning.
; Đi vào đời—To enter the world.
nhập thế gian thù thắng trí môn
Đi vào trí tuệ thù thắng nhất của thế gian—To enter into the highest knowledge in the world.
nhập thời luận
Kālacakravatāra (S)Do Abhayakaragupta biên soạn vào đầu thế kỷ XII.
nhập trung luận
Mādhyamakavatāra (S)Tên một bộ luận kinh.
; (入中論) Phạm: Madhyamakàvatàra. Tạng: Dbu-ma-la jug-pa. Hán dịch: Nhập trung luận, Nhập trung quán luận. Tác phẩm, do ngài Nguyệt xứng (Phạm: Candrakìrti, 560-640) thuộc phái Cụ duyên tông Trung quán soạn, ngài Pháp tôn dịch.Nội dung sách này gồm 329 bài tụng, trình bày đại cương giáo nghĩa của phái Cụ duyên tông Trung quán, giải thích luận Trung quán của bồ tát Long thụ; phần kết cấu căn cứ theo kinh Thập địa. Luận này là 1 trong những sách giáo khoa của chư tăng thuộc phái Cách lỗ trong Phật giáo Tây tạng. [X. Nhập Trung luận tụng giảng kí (Diễn bồi)].
nhập trung luận thích
Mādhyamakāvatāra-bhāṣya (S)Do ngài Nguyệt Xứng biên soạn.
Nhập trú
入住; C: rùzhù; J: nyūjū;|Có hai nghĩa: 1. Thể nhập vào và an trụ; giai vị Nhập trú (theo Câu-xá luận 倶舎論); 2. Thể nhập giai vị Thập trú (theo kinh Hoa Nghiêm).
nhập trúc
(入竺) Cũng gọi Độ thiên. Vào Thiên trúc (Ấn độ) để cầu pháp, kinh điển hoặc tượng Phật. Các vị tăng sang Ấn độ cầu pháp gọi là Nhập trúc tăng. Hai chữ Thiên trúc đầu tiên được thấy trong Tây vực truyện thuộc Hậu Hán thư quyển 18, từ đời Ngụy Tấn về sau trong sách Phật giáo phần nhiều cũng sử dụng từ ngữ này. (xt. Phật Giáo Nhập Truyền, Thủ Kinh).
nhập trọng (trùng) huyền môn
1) Bồ Tát đi vào cửa sanh tử, ngay cả địa ngục để cứu độ chúng sanh đau khổ: Bodhisatvas enter again through the dark gate into mortality, even into the hells, to save suffering beings. 2) Sự trở lại đời của một vị Bồ Tát để tiến thêm trên đường đại giác cũng như cứu độ chúng sanh: The return of a Bodhisattva to common life for further enlightenment or salvation of others.
nhập trọng huyền môn
(入重玄門) Chỉ cho việc bồ tát Đẳng giác trước khi thành Phật, trở lại nhân gian tu tập các việc đã làm từ khi còn là phàm phu cho đến bây giờ, khiến cho tất cả đều phù hợp với chân lí. Tông Thiên thai cho rằng bồ tát Biệt giáo ở giai vị Đẳng giác rất khó dứt trừ nguyên phẩm vô minh, cho nên phải trở lại phàm phu, giao tiếp với tất cả chúng sinh mà vào trùng huyền môn, rồi dùng hạnh lực này để đoạn trừ nguyên phẩm vô minh (trùng huyền của giáo đạo). Còn bồ tát Viên giáo thì hiện thân khắp cả thế giới mà vào trùng huyền môn(trùng huyền của chứng đạo). [X. Chư pháp vô tránh tam muội pháp môn Q.thượng; Duy ma lược sớ Q.1].
nhập trụ xuất tam tâm
1) Ba tâm nhập, trụ và xuất—Enter, stay and exit. 2) Trong mỗi địa của Thập Địa Bồ Tát, hành giả phải kinh qua ba tâm nhập, trụ, và xuất trước khi tiến lên địa kế tiếp—In each stage of the ten stages of Bodhisattva, one must experience three minds of entrance, staying and exiting before advancing to the next stage.
nhập tâm
To take, or lay, something at heart; to learn by heart.
; Giai đoạn đầu trong ba giai đoạn “nhập, trụ và xuất” của mỗi địa Bồ Tát—To enter the heart or the mind—To fix in the memory—The first stage in the three stages of “Entrance, stay and exit” in each stage of Bodhisattva.
nhập tín
Tin tưởng—To enter into belief—To believe.
nhập tạng
(入藏) I. Nhập Tạng. Loại sách biên tập tất cả kinh điển Hán dịch và soạn thuật của các nhà tập pháp Trung quốc và Nhật bản, gọi là Nhập tạng. Bắt đầu vào cuối đời Đông Tấn, ngài Đạo an đã chỉnh lí tất cả kinh điển đang được lưu hành lúc bấy giờ, biên thành bộ Tông lí chúng kinh mục lục.Đến đời Nam Tề, ngài Tăng hựu soạn Xuất tam tạng kí tập, biên tập Mục lục các kinh được dịch vào các đời Đông Tấn, Lưu Tống và Nam Tề. Hai sách trên chỉ là các bộ Mục lục có trước Đại tạng kinh, vẫn chưa phân biệt Đại thừa, Tiểu thừa hoặc Kinh, Luật, Luận. Việc các triều vua qui định Đại tạng kinh bắt đầu từ năm Thiên giám 17 (518) đời Lương, ngài Bảo xướng ở chùa Trang nghiêm, vâng sắc chỉ soạn Lương thế chúng kinh mục lục, 4 quyển. Trong năm Vĩnh hi (532-533) đời Ngụy, cư sĩ Lí khuếch soạn Ngụy thế chúng kinh mục lục, 1 quyển. Trong năm Vũ bình (570-575) đời Cao Tề, ngài Pháp thượng soạn Tề thế chúng kinh mục lục, 1 quyển. Đến đây thì đại khái kinh điển đã được phân loại: - Lương thế chúng kinh mục lục gồm có kinh Đại thừa 262 bộ, 674 quyển; kinh Tiểu thừa 285 bộ, 400 quyển, được chia làm 12 loại: Những bản dịch các kinh đã có từ trước,Thiền kinh, Giới luật, Nghi kinh, Chú kinh, Số luận, Nghĩa kí, Tùy sự biệt danh, Tùy sự cộng danh, Thí dụ, Phật danh và Thần chú... tất cả có 1433 bộ, 3741 quyển. - Nguyên Ngụy chúng kinh mục lục chia thành 10 loại: Đại thừa kinh, Đại thừa luận, Đại thừa kinh tử chú, Kinh luận Đại thừa chưa dịch, Tiểu thừa kinh, Tiểu thừa luận, Có tên mà chưa thấy bản kinh, không phải kinh thật, không phải luận thật, kinh do người đời giả tạo... tất cả 427 bộ, 2053 quyển. - Tề thế chúng kinh mục lụcchia làm 8 loại: Tạp tạng, Tu đa la, Tì ni, A tì đàm, Biệt, Chúng kinh sao, Chúng, Nhân tác, gồm có 787 bộ, 2334 quyển. Ngoài ra, cứ theo Quảng hoằng minh tập quyển 22, vào năm Bảo định thứ 3 (563) đời Bắc Chu, có Đại tạng kinh được biên tập do triều đình qui định. Đến năm Khai hoàng 14 (594) đời Tùy, ngài Pháp kinh vâng sắc xét định kinh mục, biên thành Chúng kinh mục lục. Năm Khai hoàng 17 (597), cư sĩ Phí trường phòng biên soạn Lịch đại tam bảo kỉ, 15 quyển, trong đó, Đại lục 9 quyển, Nhập tạng lục 2 quyển, tương đương với biên soạn Kinh mục lục trong Tạng kinh. Năm Nhân thọ thứ 2 (602) đời Tùy, ngài Ngạn tông phụng chiếu biên soạn Chúng kinh mục lục. Từ đây về sau, qua các triều đại, tiếp tục có những bộ Kinh lục lần lượt xuất hiện như: Đời Đường, năm Khai nguyên 18 (730), ngài Trí thăng soạn Khai nguyên thích giáo lục, 20 quyển. Năm Trinh nguyên thứ 10 (794), ngài Viên chiếu vâng sắc biên soạn Đại đường trinh nguyên tục Khai nguyên thích giáo lục, 3 quyển. Năm Bảo đại thứ 3 (945) đời Nam Đường, ngài Hằng an vâng sắc biên soạn Tục trinh nguyên thích giáo lục, 1 quyển. Đây là bản Kinh lục viết tay cuối cùng. Nghĩa là từ cuối đời Lục triều đến cuối đời Ngũ đại, kinh điển Phật chỉ viết tay để lưu truyền. Đến đời Triệu Tống, sau khi kĩ thuật ấn loát được phát minh thì từ đó kinh sách mới được khắc in. Bản khâm định (do nhà vua qui định) Đại tạng được khắc in đầu tiên là bản đời Bắc Tống, cũng gọi Thục bản, in xong vào năm Thái bình hưng quốc thứ 8 (983). Về sau, các bản Đại tạng kinh đều căn cứ vào bản in này mà được biên tập và ấn hành. Đời Nam Tống có các bản Đại tạng kinh chùa Pháp bảo Tư phúc tại Tư khê, Đại tạng kinh Viên giác Thiền viện tại Tư khê, Đại tạng kinh Thích sa Diên thánh viện... Đời Nguyên có khâm định Đại tạng kinh bản chùa Hoằng pháp, bản tư nhân thì Đại tạng kinh bản chùa Đại phổ ninh ở Hàng châu (bản này hiện được Nhật bản bảo tồn). Đến đời Minh, khâm định Đại tạng kinh tuy có chia ra Nam tạng và Bắc tạng, nhưng ngoại trừ sự tổ chức biên tập khác nhau, còn nội dung thì chỉ xê dịch chút ít. Đến đời Thanh thì vào năm Càn long thứ 3 (1738), vua Cao tông hoàn thành khâm định Đại tạng kinh. Đây là bản Đại tạng kinh cuối cùng do triều đình ấn hành. Về phía Nhật bản thì vào thời đại Đức xuyên (1603-1867), Đại tạng kinh đầu tiên do ngài Thiên hải căn cứ vào bản đời Tống, Trung quốc, mà khắc in; sau lại có Đại tạng kinh do ngài Thiết nhãn ấn hành dựa theo bản đời Minh. Đến thời Minh trị (1868- 1911), có Đại Nhật bản hiệu đính súc khắc Đại tạng kinh (gọi tắt: Súc khắc tạng kinh: Đại tạng rút gọn), Đại Nhật bản hiệu đính tạng kinh (Tạng kinh chữ Vạn..) được ấn hành. Thời Đại chính (1912-1925) thì có Đại chính tân tu Đại tạng kinh (Đại chính tạng kinh). [X. Xuất tam tạng kí tập; Lịch đại tam bảo kỉ; Nhân thọ chúng kinh mục lục; Khai nguyên thích giáo lục; chương 4, bộ 3 trong Phật thư giải thuyết đại từ điển Phật điển tổng luận (Tiểu dã Huyền diệu)]. (xt. Đại Tạng Kinh, Trung Văn Đại Tạng Kinh). II. Nhập Tạng. Tức là người đi vào nước Tây tạng hoặc đồ vật được vận chuyển vào xứ này. Như sự kiện Công chúa Văn thành nhà Đường được gả cho vua Khí tông lộng tán (Tạng: Sroíbtsan sgam-po) là việc nhập Tạng đầu tiên được ghi chép rõ ràng trong lịch sử. Từ đó, văn hóa Trung quốc và Ấn độ cũng nối nhau nhập Tạng và người nhập Tạng theo đó cũng nhiều. (xt. Tây Tạng Phật Giáo).
Nhập tịch
入寂; C: rùjí; J: nyūjaku;|Thể nhập vào cõi vắng lặng, niết-bàn (涅槃). Có hai nghĩa: 1. Mục đích tu tập của hàng Nhị thừa, rốt ráo là thân tâm tịch diệt không còn dấu vết; 2. Sự tịch diệt của một vị cao tăng đồng nghĩa với Nhập diệt (入滅).
nhập tịch
Đi vào cõi Niết Bàn—To enter into rest or nirvana.
nhập tức xuất tức niệm
Anàprànasmrti (S), Anàpànasati (P). Mindfulness on the in and out breathing. Also quán niệm hơi thở, sổ tức quán.
nhập tự
(入寺) I. Nhập Tự. Đồng nghĩa: Nhập viện, Tấn sơn. Vào trụ trì một chùa viện. II. Nhập Tự. Vào chùa viện tạm trú. Phần Trang bao trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 439 thượng) nói: Khi vào chùa, phải bỏ nón xuống để ở ngoài cửa Tam quan. III. Nhập Tự. Cũng gọi Nhập tự quải tích. Tăng sinh của tông Tịnh độ Nhật bản, mới vào Đàm lâm (Phật học viện) nhập học, gọi là Nhập tự. IV. Nhập Tự. Một cấp bậc trong Xã tăng làm các Phật sự trong chùa Thần cung tại Nhật bản.
nhập văn giải thích
Phương pháp giải thích Kinh văn bằng cách cho biết đại ý trước khi đi vào chi tiết—The method in expounding scriptures of giving the main idea before proceeding to detail exposition.
nhập vương cung tụ lạc y
Y của chư Tăng, mặc một cách bình đẳng khi vào cung vua hay khi đi khất thực trong thôn xóm—The monk's robe, worn equally for a palace or for begging in town or hamlet.
nhập xuất công đức
(入出功德) Năm niệm môn nói trong luận Tịnh độ. Môn nghĩa là nhập, xuất (vào, ra). Vì 4 niệm trước là công đức của cửa vào Tịnh độ an lạc, 1 niệm, sau là công đức của cửa ra giáo hóa lợi tha, cho nên gọi là Xuất nhập công đức. (xt. Ngũ Niệm Môn).
nhập xuất nhị môn
Hai cửa vào ra—Vào cửa tự thanh tịnh và ra cửa cứu độ chúng sanh—The two doors of ingress and egress—Enter the gate of self-purification and then go forth to benefit and save others.
nhập đàn
Đi đến đàn tràng để nhận lễ quán đảnh—To go to the altar for Baptism.
; (入壇) I. Nhập Đàn. Tiến vào đàn tràng để nhận lãnh pháp quán đính, là 1 trong những pháp tu của Mật giáo. Đàn (Phạm: Maịđala, Hán âm: Mạn đồ la, Hán dịch: Đàn) là nơi mà các vị tôn của 2 bộ Kim cương giới và Thai tạng giới tập họp. Hành giả Chân ngôn tiến vào đàn tràng này để tiếp nhận pháp Quán đính, gọi là Nhập đàn. Pháp Quán đính được cử hành vào lúc này, gọi là Nhập đàn quán đính. Phó pháp tạng quyển 2 nói: ... Liền cho nhập đàn truyền trao pháp phát Bồ đề tâm giới. II. Nhập Đàn. Cũng gọi Đăng đàn. Vào giới đàn tiếp nhận giới pháp. (xt. Đăng Đàn Thụ Giới).
nhập đường
See Nhập Chúng.
nhập đường bát gia
Tám vị sư Nhật Bản đến trung Hoa vào thời nhà Đường để tu học Mật Giáo—The eight Japanese monks who came to China in the T'ang dynasty and study the esoteric doctrine.
; (入唐八家) Cũng gọi Bát gia chân ngôn, Chân ngôn bát gia tổ sư.Tám vị cao tăng Nhật bản, ở vào đầu thời đại Bình an, đến Trung quốc du học vào đời Đường. Khi về nước, các vị có mang theo nhiều kinh điển Mật giáo về truyền bá tại Nhật. Pháp danh của 8 vị cùng số kinh điển và thời gian được thỉnh về liệt kê như sau: 1. Ngài Tối trừng, tông Thiên thai, khoảng 804-805, thỉnh về 230 bộ, 460 quyển. 2. Ngài Không hải, tông Chân ngôn, khoảng năn 804-806, thỉnh về 216 bộ, 454 quyển. 3. Ngài Viên hạnh, tông Chân ngôn, khoảng năm 838-839, thỉnh về 69 bộ, 123 quyển. 4. Ngài Thường hiểu, tông Chân ngôn, khoảng năm 838-839, thỉnh về 31 bộ, 613 quyển. 5. Ngài Viên nhân, tông Thiên thai, khoảng năm 838-847, thỉnh về 584 bộ, 802 quyển. 6. Ngài Tuệ vận, tông Chân ngôn, khoảng năm 842-847, thỉnh về 170 quyển. 7. Ngài Viên trân, tông Thiên thai, khoảng năm 853-858, thỉnh về 441 bộ, 1.000 quyển. 8. Ngài Tông duệ, tông Chân ngôn, khoảng năm 862-865, thỉnh về 134 bộ, 143 quyển.
nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí
(入唐求法巡禮行記) Cũng gọi Nhập đường cầu pháp tuần lễ kí, Nhập đường tuần lễ kí, Ngũ đài sơn tuần lễ kí. Gọi tắt: Tuần lễ kí. Truyện kí, 4 quyển, do ngài Viên nhân vị tăng Nhật bản soạn. Ngài Viên nhân đến Trung quốc du học từ năm 838 đến năm 847 trở về nước. Trong sách này, ngài đã ghi lại những điều mắt thấy tai nghe trong thời gian 9 năm ở Trung quốc, từ cuộc hành trình trên biển đầy gian khổ, vào chùa Khai nguyên ở Dương châu thụ học, chiêm bái núi Ngũ đài, đến Trường an thụ pháp, rồi gặp pháp nạn Hội xương (844) vào đời Vũ tông nhà Đường, bị cưỡng bách hoàn tục, trải qua muôn nghìn cay đắng mới quay về Nhật. Nội dung bộ sách rất sinh động, ngoài phần giáo nghĩa Phật giáo ra, nó còn là tư liệu quí báu cho việc nghiên cứu giao thông và phong tục xã hội phương đông nói chung. Sách này hiện được cất giữ ở chùa Giáo vương Hộ quốc tại Kyoto và được coi là quốc bảo của Nhật bản, nhưng chưa được thu vào Đại tạng kinh.
Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Hành Ký
(入唐求法巡禮行記, Nittōguhōjunreikōki): 4 quyển, là ký lục khi sang nhà Đường cầu pháp của Viên Nhân (圓仁, Ennin), hiện tồn hai tả bản cổ của Quan Âm Viện (觀音院) ở Đông Tự (東寺, Tō-ji) và của Tân Kim Tự (津金寺) ở Trường Dã (長野, Nagano). Cách phát âm xưa về thuật ngữ Phật Giáo của tác phẩm này là Nittōguhōjunraikyōki. Là đệ tử của Tối Trừng (最澄, Saichō), năm 814 (niên hiệu Hoằng Nhân [弘仁] thứ 5), Viên Nhân được thọ giới, đến năm 838 (niên hiệu Thừa Hòa [承和] thứ 5) thì sang nhà Đường với tư cách là Hoàn Học Sinh (還學生). Sau khi đến Dương Châu (揚州), ông muốn lên Thiên Thai Sơn (天台山) tham bái, nhưng vì tư cách là Hoàn Học Sinh, nên không được phép đến đó. Từ Ngũ Đài Sơn (五台山), ông đến Trường An (長安), gặp phải nạn Phế Phật của vua Võ Tông, và đến năm 847 (niên hiệu Thừa Hòa thứ 14) thì trở về nước. Thành quả ông học được là pháp môn Niệm Phật trên Ngũ Đài Sơn và Mật Giáo ở Trường An. Tác phẩm này gồm 4 quyển, ký thuật rất rõ ràng quá trình ông sang nhà Đường như thế nào. Quyển 1 ghi lại chặng đường từ khi ông lên thuyền, đến Dương Châu (揚州), Sở Châu (楚州), Đăng Châu (登州). Quyển 2 là từ Xích Sơn Phố (赤山浦) cho đến Ngũ Đài Sơn. Quyển 3 từ Ngũ Đài Sơn cho đến Trường An ngay trước khi xảy ra pháp nạn. Quyển 4 tường thuật vụ Pháp Nạn Phế Phật Hội Xương, cái chết của đệ tử Duy Hiểu (惟曉), thoát nạn khỏi Trường An, từ Xích Sơn Phố cho đến sau khi trở về nước. Tất nhiên, đây là ký lục về cuộc hành trình đầy khổ nạn của bản thân Viên Nhân trong vòng 10 năm trường; nhưng cũng là ký lục rất rộng rãi về mọi phương diện như chế độ, phong tục, cảnh quan, địa lý cũng như kinh tế đương thời của Trung Quốc, về trạng huống của tăng ni, Phật sự, kinh nghiệm về sự kiện lịch sử Pháp Nạn Phế Phật Hội Xương, v.v. Bản trực bút của Viên Nhân hiện không còn nữa, nhưng nếu so sánh với các tả bản cổ, chúng vẫn thể hiện nguyên hình.
nhập đường pháp
(入堂法) Phép tắc vào Thiền đường. Đại chúng khi vào Thiền đường, bước chân trái vào trước, đi dọc theo hàng cột phía tây, mặt hướng về chính diện, chắp tay, cúi đầu, đứng thành 2 hàng 2 bên đông tây, trước hết chắp tay kính lễ Phật, rồi vái chào người đối diện. Vị trụ trì từ trung ương, bước chân phải vào trước, đến chỗ của mình, đứng ngay ngắn xướng hòa nam, bấy giờ, đại chúng đều cùng chắp tay, cúi đầu. Theo điều Phó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1, lúc vào cửa trước phải vào từ phía nam (mặt hướng vào Tăng đường, chỗ cột bên trái cửa trước), bước chân phải vào trước, chứ không được vào từ cửa phía bắc, vì tôn kính vị Trụ trì. Lúc vào cửa nam, thì người ngồi ở gian trên vào từ phía bắc, bước chân trái vào trước, còn người ngồi ở gian dưới thì từ phía nam, bước chân phải vào trước. Khi đã vào, chắp tay kính lễ Thánh tăng rồi mới ngồi.
Nhập đại thừa luận
入大乘論; C: rù dàshéng lùn; J: nyū daijō ron;|Luận; gồm 2 quyển; do Kiên Ý (堅意) soạn; Đạo Thái (道泰) cùng nhiều vị khác soạn dịch.
nhập đại thừa luận
(入大乘論) Tác phẩm, 2 quyển, do bồ tát Kiên ý ở Ấn độ soạn, ngài Đạo thái dịch vào thời Bắc Lương, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung sách này bàn về giáo nghĩa Đại thừa, gồm 3 phẩm: 1. Phẩm Nghĩa: Trước hết nói về lỗi phỉ báng Đại thừa, kế đến nói rõ Đại thừa mà Bồ tát tu học là đủ cả 5 thừa, là Tam tạng chân thực. Rồi lại y theo 10 thứ hành pháp, khuyến phát dẫn vào quả Phật. 2. Phẩm Cơ luận không: Bàn về thứ bậc của Bồ tát Thập địa. 3. Phẩm Thuận tu chư hạnh: Bàn về 3 thân của quả Phật. Ngài Kiên ý gặp lúc Đại thừa đang hưng thịnh, người đời có nhiều ý kiến, kẻ khen, người chê, nên ngài kế thừa các bồ tát Long thụ, Đề bà biên soạn sách này để minh xác rằng Đại thừa là do đức Phật nói ra, không nên ngờ vực, dị nghị.
nhập đạo
To enter a religion; to become a monk.
; Xuất gia đi vào giáo đoàn để trở thành Tăng sĩ—To enter into a religion—To become a monk—To leave home and enter the Way.
; (入道) I. Nhập Đạo. Chứng vào Thánh đạo vô lậu. II. Nhập Đạo. Gọi đủ: Nhập đạo nhân, Nhập đạo giả. Chỉ cho người bỏ đời sống thế tục, xuất gia vào Phật đạo. Tại Nhật bản, các vị Thiên hoàng và công khanh về già xuống tóc, qui y cửa Phật, cũng được kính xưng là Nhập đạo. Còn những vị thân vương xuất gia thì gọi là Nhập đạo thân vương.
nhập đạo an tâm yếu phương tiện pháp môn
(入道安心要方便法門) Tác phẩm, do ngài Đạo tín (580-651), Tổ thứ 4 của Thiền tông Trung quốc soạn. Trong sách này, Tổ Đạo tín chủ trương lấy việc ngồi thiền quán tâm làm chính, đề ra 5 điểm trọng yếu: Biết rõ thể tính của tâm, biết rõ dụng lực của tâm, thường xuyên tỉnh thức, quán thân rỗng lặng, giữ nhất tâm chẳng dời đổi. Nguyên bản đã bị thất lạc, chỉ nhờ vào điều Đạo tín trong quyển Lăng già sư tư kí mà biết được là ngài Đạo tín đã soạn sách này.
nhập địa
Đi vào một giai đoạn đặc biệt của một trong ba giai đoạn “nhập, trụ và xuất.”—To enter the state or a particular stage of one of the three stages of “entrance, stay and exit.”
nhập định
To be plunged in meditation, to be immersed in deep thought, to enter into contemplate state.
; Nhập định bằng thanh tịnh thân, khẩu và ý—To meditate—To enter into meditation by tranquilizing the body, mouth and mind—A complete stillness of the mind—To enter dhyana—To enter into samadhi (utmost concentration)—See Nhập Quán.
; (入定) I. Nhập Định. Vào thiền định, tức thu nhiếp tâm loạn động, rong ruổi mà tiến vào trạng thái tinh thần an định bất động. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 343 trung ) nói: Xuất định, nhập định hằng nghe diệu pháp. Luận Đại trí độ quyển 4 (Đại 25, 87 hạ) nói: Đức Phật Phất sa ngồi trong hang báu, nhập hỏa định phóng ra ánh sáng. II. Nhập Định. Chỉ cho bậc cao tăng thị tịch, như ngài Ca diếp nhập định trong núi Kê túc. Trong Đại đường tây vực kí cũng có thuyết Luận sư Thanh biện nhập định đợi Phật Từ thị (Di lặc)ra đời. (xt. Định).
nhập định phật
(入定佛) Cũng gọi Nhục thân Phật, Tức thân Phật. Gọi tắt: Nhục thân, Chân thân. Nhục thân không hư nát của các bậc Thánh tăng đắc đạo.Cứ theo kinh Di lặc hạ sinh, thì trong vị lai đức Phật Di lặc sẽ giáng sinh ở thế giới Sabà, cứu độ tất cả chúng sinh mà đức Phật Thích ca Mâu ni chưa độ hết được. Căn cứ vào tín ngưỡng này, những vị cao tăng đắc đạo giữ gìn thân không mục nát để đợi đức Phật Di lặc ra đời, chính là nguồn gốc của Nhập định Phật vậy. Cứ theo Đại đường tây vực kí, vào thế kỉ VII, trong hang núi ở phía bắc cao nguyên Parmir có thờ Nhập định Phật. Vào đầu thời Lục triều, có nhiều Nhập định Phật của các vị tăng Tây vực. Còn Nhập định Phật ở Trung quốc thì có các vị như: Ca la kiệt (người Dương phàn), Đơn đạo khai đời Tấn (thế kỉ IV), ngài Trí khải đời Tùy; các vị Tăng triệt, Pháp thuận, Thiện vô úy... đời Đường; nhục thân của ngài Tuệ năng ở chùa Nam hoa, huyện Khúc giang, tỉnh Quảng đông là Nhập định Phật xưa nhất hiện còn, toàn thân mặc áo tô sơn. Ở Đài loan, ngài Từ hàng(người Phúc kiến) nhập định ở nội viện Di lặc tại Từ hàng đường, thuộc huyện Tịch chỉ, là Nhập định Phật nổi tiếng ở hiện đại.
nhập định ấn
(入定印) Ấn tướng được kết khi vào Thiền định. Ba bộ của Mật giáo đều có ấn nhập định khác nhau, như Phật bộ dùng Pháp giới định ấn, Liên hoa bộ dùng Diệu quan sát trí định ấn(Di đà định ấn) và Kim cương bộ thì dùng Ngoại phược định ấn. [X. Thai tạng mạn đà la đại sao Q.1]. (xt. Định Ấn).
nhật
Xem mặt trời.
; 1) Ngày: Surya (skt)—The sun—Day. 2) Nước Nhật: Japan.
Nhật Anh
(日英, Nichiei, 1346-1423): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, húy là Nhật Anh (日英), hiệu Diệu Thân Viện (妙親院). Ông theo tu học với Nhật Trinh (日貞) ở Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) thuộc vùng Trung Sơn (中山, Nakayama), Hạ Tổng (下總, Shimōsa); rồi sau khi thầy ông qua đời, ông theo hầu hạ Nhật Tôn (日尊), vị Tổ đời thứ 4 của chùa này. Đến năm 1390, ông được mời đến làm Tổ khai sơn Diệu Tuyên Tự (妙宣寺) vốn do anh ông là Thực Cốc Trùng Kế (埴谷重繼) tạo dựng nên. Trong khi tiến hành lễ khánh thành chùa này, xảy ra vấn đề tranh luận về pháp phục với Cửu Viễn Tự (久遠寺, Kuon-ji); nên sinh ra việc kiện tụng lên người quản lãnh vùng Quan Đông (關東, Kantō), và kết quả tại pháp đình thì Cửu Viễn Tự thắng kiện. Từ đó về sau, ông lấy mối quan hệ huyết thống với dòng họ Thiên Diệp (千葉, Chiba), tín đồ trung thành của Pháp Hoa Kinh Tự, làm cơ sở để mở ra những trung tâm hoằng pháp ở vùng Thượng Tổng (上總, Kazusa) cũng như Hạ Tổng (下總, Shimōsa), và phát triển Môn Phái Trung Sơn. Môn hạ của ông có Nhật Thân (日親), Nhật Quốc (日國), v.v. Trước tác của ông có Mạt Tự Giảng Diễn Chức Đẳng Sự (末寺講演職等事) 1 quyển, Nhượng Trạng (讓狀).
Nhật Bạch Tàn Mộng
(日白殘夢, Nichihaku Zammu, 1438-1576): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Chiến Quốc, húy là Tàn Mộng (殘夢), đạo hiệu Nhật Bạch (日白), hiệu Bảo Sơn (寶山), Đại Phong Đạo Nhân (大風道人); thụy hiệu là Đào Lâm Khế Ngộ Thiền Sư (桃林契悟禪師). Trong khoảng niên hiệu Vĩnh Hưởng (永享, 1558-1570), ông đi hành cước ở các địa phương Đông Quốc, rồi làm trú trì đời thứ 16 của Phước Tuyền Tự (福泉寺, Fukusen-ji) ở Thường Lục (常陸, Hitachi), cũng như trú trì đời thứ 22 của Thật Tướng Tự (實相寺, Jissō-ji) vùng Hội Tân (會津, Aizu), Lục Áo (陸奥, Michinoku). Tương truyền rằng Thiên Hải (天海, Tenkai), vị tăng của Thiên Thai Tông, khi còn trẻ đã từng đến tham vấn Thiền yếu với Tàn Mộng và đạt được thuật trường sinh bất tử.
nhật bài
(日牌) Đối lại: Nguyệt bài. Bài vị được thiết lập để hàng ngày tụng kinh cúng dường hồi hướng, nguyện cầu cho người chết được siêu thoát.
nhật bản
Nước Nhật, nơi mà Phật giáo đã được truyền sang từ Cao Ly vào thế kỷ thứ sáu, và từ Trung Hoa vào thế kỷ thứ bảy—Japan. Buddhism was introduced there from Korea in the sixth century, and in the seventh century from China.
nhật bản cao tăng truyện yếu văn sao
(日本高僧傳要文抄) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Tông tính ở chùa Đông đại, Nhật bản, soạn thành vào khoảng năm 1249-1251. Nội dung ghi chép tiểu sử của 42 vị từ Bà la môn Tăng chính trở xuống. Đây là bộ truyện kí đầu tiên về các vị cao tăng ở Nhật bản. Diên lịch tăng lục(đã thất lạc) cũng từng dẫn dụng sách này.
nhật bản cận đại phật học nghiên cứu
(日本近代佛學研究) Sự nghiên cứu về Phật học ở Nhật bản vào thời cận đại. Phật giáo được truyền vào Nhật bản từ năm Thiên hoàng Khâm minh 13 (522) nhưng mãi đến năm Minh trị thứ 10 (1877) thì việc nghiên cứu Phật học theo phương pháp mới mới được bắt đầu. Những người có ảnh hưởng lớn nhất trong thời kì này là các ông: Nam điều Văn hùng, Thôn thượng Chuyên tinh và Cao nam Thuận thứ lang. Các Đại học Phật giáo được thiết lập để làm những trung tâm nghiên cứu Phật học. Các học giả đến các nước Tây vực, Ấn độ để sưu tầm tư liệu, nguyên điển tiếng Phạm... Đến những năm Đại chính (1912- 1925), các ông Mộc thôn Thái hiền, Tùng bản Văn tam lang và Tá tá mộc Nguyệt tiêu đã mang lại nhiều sắc thái mới lạ cho việc nghiên cứu Phật học. Thời kì này tuy vẫn giữ khuynh hướng coi trọng việc nghiên cứu các nguyên điển của thời Minh trị, nhưng không chỉ thỏa mãn với sự học hiểu 3 tạng kinh điển Tiểu thừa và những nguyên điển Đại thừa còn rất giới hạn, mà có ý mở rộng phạm vi nghiên cứu để làm thế nào nắm bắt được bản chất của Phật giáo, cho nên các loại văn hiến Phật giáo của Trung quốc và Nhật bản rất được coi trọng, đồng thời, bắt đầu tiến hành việc biên tập Đại Chính Tạng Tân Tu Đại Tạng Kinh. Từ những năm 1926-1944, Đại tạng kinh Hán văn và Tam tạng Pàli lần lượt được phiên dịch và ấn hành. Ngoài ra, việc nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Trung quốc và Nhật bản –chủ yếu là lịch sử Phật giáo Trung quốc– cũng rất phát triển. Sau chiến tranh và cho đến gần đây, giới học giả Phật giáo Nhật bản, đại khái chuyên phiên dịch và chú giải những nguyên điển của Phật giáo mà từ trước đến giờ chưa được phiên dịch. Nổi tiếng nhất trong lĩnh vực này có các ông: Trung thôn nguyên, Trường vĩ Nhã nhân, Sơn điền Long thành, Tiền điền Huệ học... Hiện nay có rất nhiều tạp chí Phật học ở Nhật bản, tiêu biểu nhất thì có: Ấn độ học Phật giáo học nghiên cứu, Nhật bản Phật giáo học hội niên báo, Linh mộc học thuật tài đoàn nghiên cứu niên báo... [X. Cận đại Nhật bản Phật học nghiên cứu đích phát triển (Lâm truyền phương)].
nhật bản linh di kí
(日本靈异記) Gọi đủ: Nhật bản hiện báo thiện ác linh dị kí.Gọi tắt: Linh dị kí. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Cảnh giới người Nhật soạn xong vào năm 822. Đây là tập truyện cổ Phật giáo xưa nhất ở Nhật bản, gồm 112 thiên, trong đó, quyển thượng 31 thiên, quyển trung 42 thiên và quyển hạ 39 thiên. Sách này không những phổ cập trong dân gian lúc bấy giờ, mà còn ảnh hưởng đến văn học thế tục đời sau, là tư liệu quan trọng để hiểu rõ tư tưởng của Phật giáo Nhật bản.
nhật bản phật giáo
(日本佛教) Phật giáo Nhật bản. Phật giáo được truyền đến Nhật bản vào giữa thế kỉ thứ VI, dưới triều đại Thiên hoàng Khâm minh. Lúc đó, triều đình chia làm 2 phái: Phái tôn Phật do Tô ngã đứng đầu và phái bài Phật do Vật bộ lãnh đạo. Về sau, phái tôn Phật thắng lợi, bèn sáng lập chùa Hướng nguyên, là ngôi chùa Phật đầu tiên ở Nhật bản. Đến thời đại Thái tử Thánh đức (593-622), nền tảng của Phật giáo đã được thiết lập 1 cách vững chắc. Từ đó, Phật giáo dung hòa với tư tưởng văn hóa sẵn có của người Nhật mà tạo thành nét đặc thù của Phật giáo Nhật bản. Phật giáo Nhật bản ở thời kì du nhập, lấy Phật Thích ca, Phật Dược sư, bồ tát Quan âm, bồ tát Di lặc, Tứ thiên vương v.v...làm đối tượng tín ngưỡng, mục đích của sự sùng bái là mong đạt được những lợi ích thế gian như sống lâu, giầu có v.v... Đến thời Thái tử Thánh đức thì Phật giáo được tôn làm quốc giáo và địa vị này của Phật giáo kéo dài mãi đến thời đại Minh trị Duy tân, nghĩa là suốt từ cuối thế kỉ VI đến cuối thế kỉ XIX. Đây là 1 trong những đặc sắc của Phật giáo Nhật bản. Từ thời Thiên hoàng Suy cổ (593-627) về sau, các tông phái dần dần phát triển, đứng đầu là tông Tam luận, rồi lần lượt đến các tông Pháp tướng, Luật, Hoa nghiêm, Câu xá và Thành thực, gọi chung là Nam đô lục tong (6 tông ở Nam đô). Trong đó, tông Tam luận chủ trương thuyết Thành Phật, coi trọng căn cơ lợi độn; tông Pháp tướng giảng cứu thuyết Tính tướng tương đãi, Sự lí sai biệt và chủ trương Ngũ tính các biệt, được giới trí thức đón nhận nên đều hưng thịnh 1 thời. Đến thời Bình an, ngài Không hải (774- 835) đến Trung quốc học Mật giáo và đem về truyền bá tại Nhật bản, thành lập Mật tông. Ngài chủ trương Hiển giáo là do đức Phật nói, mà cảnh giới trang nghiêm bí mật là pháp do Phật chứng, nên đem tư tưởng Tâm này là Phật chuyển thành luận thuyết Thân này là Phật mà thành Ngay nơi sự là chân. Giáo nghĩa này rất thích hợp với nhân tâm đương thời. Còn ngài Tối trừng (767-822) thì lấy Thiên thai làm Kinh tông, Pháp tướng làm Luận tông; Kinh tông là gốc, Luận tông là ngọn. Về việc truyền trao pháp giới thì thiết lập giới đàn Đại thừa. Giáo thuyết Nhất thừa của tông Thiên thai truyền đến ngài An nhiên (cuối thế kỉ IX) thì lại đề xướng thuyết Hiện thế thành Phật, Tức thân tác Phật, hiện thực hóa lí tưởng tông giáo; đồng thời, đạo tràng tu dưỡng 4 loại Tam muội cũng được hình thức hóa mà thành đạo tràng Pháp hội. Vào cuối thời kì này, sự tướng Mật giáo cực thịnh; núi Tỉ duệ hoàn toàn được Mật giáo hóa và chia thành 2 phái Đông mật và Thai mật. Đến thời đại Liêm thương, Thất đinh là thời kì Tịnh độ, Thiền và tông Nhật liên được chấn hưng, cũng là thời kì rực rỡ và hoạt bát nhất trong lịch sử Phật giáo Nhật bản. Vào cuối thời kì Bình an, lấy tư tưởng mạt pháp làm bối cảnh, ngài Pháp nhiên (1133-1212) chủ trương chuyên xưng danh niệm Phật, lấy đó làm bản nguyện vãng sinh. Ngài Thân loan (1173-1262) thì lấy tín tâm làm điều kiện tiên quyết vãng sinh Cực lạc, 1 niệm tịnh tín tuyệt đối là thực tướng của vũ trụ. Chủ trương này của tông Tịnh độ tương đối dễ làm, dễ tu nên dần dần đã phổ cập khắp trong dân gian. Vì thế các tông Pháp tướng, Chân ngôn, Thiên thai, Hoa nghiêm... cũng tự giản dị hóa, dân chúng hóa giáo nghĩa của mình để thích ứng với nhu cầu của thời thế. Tông Nhật liên thì chủ trương niệm Na mô Diệu pháp liên hoa kinh có thể thành Phật ngay trong đời hiện tại... Đến thời đại Giang hộ(giữa thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XIX), Mạc phủ qui định sự quan hệ giữa những chùa gốc và chùa ngọn của các tông phái, chùa ngọn phải phục tùng và chịu sự chi phối của chùa gốc, sự phân hóa trong nội bộ các tông phái nhờ đó được chấm dứt. Thời gian này, ngài Ẩn nguyên (1592-1673) từ Trung quốc sang Nhật bản, khai sáng tông Hoàng bá, ngang hàng với các tông Lâm tế và Tào động của Nhật bản. Thực ra, tông phong của tông Hoàng bá cũng giống với tông phong tông Lâm tế, chỉ khác là đọc tụng kinh điển bằng lối phát âm theo người Trung quốc. Thời kì này học vấn rất được xem trọng, các tông phái đều mở mang các cơ sở giáo dục Phật giáo, do đó, các học giả của các tông lũ lượt xuất hiện. Đến thời đại Minh trị Duy tân (từ hậu bán thế kỉ XIX), phong trào nghiên cứu Phật học tự do được phát triển rộng rãi, về phương diện nguyên điển của Phật giáo có các học giả Nam điều Văn hùng, Địch nguyên Vân lai, Cao nam Thuận thứ lang chuyên về tiếng Phạm; Hà khẩu Tuệ hải, Tự bản Uyển nhã... chuyên về tiếng Tây tạng, Trường tỉnh Chân cầm, Cao nam... chuyên về Pàli. Về phương diện lịch sử Phật giáo, thì có các học giả Thôn thượng Chuyên tinh, Cảnh dã Hoàng dương... Đồng thời, các Đại học Phật giáo cũng lần lượt được thiết lập như: Đại học Long cốc của phái Bản nguyện tự thuộc tông Chân ngôn, Đại học Đại cốc của phái Đại cốc, Đại học Lập chính của tông Nhật liên, Đại học Cao dã sơn của tông Chân ngôn, Đại học Câu trạch của tông Tào động... Các kinh điển được chỉnh lí như: Súc loát Đại tạng kinh, Vạn tự chính tạng, Tục tạng kinh, Đại chính tân tu Đại tạng kinh... cũng lần lượt được ấn hành. Rồi đến sự biên tập các loại từ điển như: Nhật bản Phật gia nhân danh từ điển (Thứu vĩ thuận), Phật giáo Đại từ vựng (Long cốc), Phật giáo Đại từ điển (Vọng nguyệt), Phật thư giải thuyết đại từ điển... đã giúp cho nội dung của nền Phật học hiện đại Nhật bản càng thêm phong phú. Về phương diện tín ngưỡng, do ảnh hưởng của Cơ đốc giáo và triết học phương Tây, nên hình thái và quan niệm của Phật giáo Trung quốc cũng dần dần được trút bỏ, chỉ cái gì phổ cập đến dân gian mới được phát triển; đồng thời với sự bành trướng của tư tưởng dân chủ, giới tăng sĩ cũng được quyền tham chính. Về phương diện văn hóa, ngoài những tác phẩm Phật giáo chuyên môn ra, còn có tới hơn 400 loại tạp chí như: Đại pháp luân, Thế giới Phật giáo, Nữ tính Phật giáo, Đông phương Phật giáo đồ (bằng Anh văn) v.v... Phật giáo bắt nguồn từ Ấn độ, được truyền qua Trung quốc, Triều tiên rồi đến Nhật bản. Do vì thích ứng với tư tưởng, văn hóa và nếp sinh hoạt của dân tộc Nhật bản để phát triển, nên kết quả Phật giáo Nhật bản đã có những đặc điểm sau đây: 1. Phật giáo Nhật bản được xem là tông giáo trấn hộ quốc gia, nên Phật giáo đã có mối quan hệ mật thiết với Hoàng tộc. 2. Vì là trấn hộ quốc gia, nên Phật giáo Nhật bản đặc biệt quí trọng chú thuật kì đảo của Mật giáo, bởi thế chú thuật kì đảo đã thấm sâu vào đời sống của dân chúng Nhật bản mà trở thành thứ tông giáo truy cầu lợi ích trần thế. 3. Phật giáo Nhật bản ở thời kì mới du nhập, những tăng sĩ không tham dự lễ tống táng người chết. Đến thời trung cổ, sau khi Thiền tông Trung quốc được truyền vào, mang theo nghi thức tang lễ của Trung quốc, bấy giờ tăng sĩ Phật giáo Nhật bản mới đảm trách tang lễ cho người chết. Về sau, do tín ngưỡng Tịnh độ phổ cập, nên nghi thức tang lễ trở thành 1 sự vụ trọng yếu của giới tăng sĩ. 4. Chế độ đàn gia ở thời đại Giang hộ đã làm cho Phật giáo trở thành thứ tông giáo gia đình, nên phương diện tín ngưỡng cá nhân không được quan tâm đúng mức. 5. Vì sự dung hợp, đồng hóa với tư tưởng Thần đạo cố hữu của Nhật bản, nên Phật giáo Nhật bản đã sản sinh tư tưởng Bản địa thùy tích và rất đậm đà sắc thái Thần Phật hỗn hợp (Syncretism), mà chỉ có với Phật giáo Nhật bản thôi. Nếu so sánh Phật giáo Nhật bản với Phật giáo các nước khác, thì Phật giáo Nhật bản có mấy đặc điểm sau đây: 1. Phật giáo Nhật bản đã thực hiện rất nhiều các công tác cứu tế xã hội và từ thiện phúc lợi. 2. Phật giáo Nhật bản theo đuổi công việc giáo hóa dân chúng một cách kiên trì và liên tục không ngừng. 3. Về phương diện tư tưởng, Phật giáo Nhật bản có khuynh hướng thuần túy hóa, nhất là đến thời trung cổ, khuynh hướng này càng rõ rệt. Đặc sắc này của Phật giáo Nhật bản không thể bỏ qua. Tóm lại, đặc chất của Phật giáo Nhật bản là quốc gia hóa, xã hội hóa, tín ngưỡng hóa, gia đình hóa và hiện đại học thuật hóa. Ngoài ra, đối với Phật giáo các nước khác, tuy cũng có thể nêu ra những đặc sắc tương tự, nhưng chỉ có ở Phật giáo Nhật bản người ta mới thấy sự liên kết gắn bó giữa quốc dân và Phật giáo. [X. Nhật Hàn Phật giáo nghiên cứu (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san, 82); Trung Nhật Phật giáo quan hệ nghiên cứu (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san, 81); Nhật bản Phật giáo sử thượng thế biên;Đông phương nhân chi tư duy phương pháp (Trung thôn nguyên)].
Nhật Bản Thư Kỷ
(日本書紀, Nihonshoki): còn gọi là Nhật Bản Kỷ (日本紀, Nihongi), một trong những bộ sử ký quan trọng của Nhật Bản, một trong Lục Quốc Sử (六國史, Ritsukokushi), cuốn chánh sử tối cổ được hoàn thành vào thời đại Nại Lương (奈良, Nara). Đây là bộ sử thư gồm 30 quyển và hệ đồ 1 quyển, mang tính biên niên, bằng Hán văn với rất nhiều hình thức tu sức về thần thoại, truyền thuyết, ký lục được lưu truyền trong triều nội kể từ thời kỳ thần thoại cho đến đời Trì Thống Thiên Hoàng (持統天皇, Jitō Tennō, tại vị 690-697), được nhóm Thân Vương Xá Nhân (舍人, Tonuri) soạn vào năm thứ 4 (720) niên hiệu Dưỡng Lão (養老). Ngoài các thư tịch như Đế Kỷ (帝紀), Cựu Từ (舊辭), những ký lục xưa của Triều Tiên, ký lục của các tự viện cũng như cá nhân, truyền ký của những thị tộc, v.v., được dùng làm tài liệu để biên tập nên bộ này.
Nhật Bản Vãng Sanh Cực Lạc Ký
(日本徃生極樂記, Nihonōjōgokurakuki): truyền ký về những người có dị tướng vãng sanh, được biên tập vào giữa thời đại Bình An, do Khánh Tư Bảo Dận (慶滋保胤, Yoshishige-no-Yasutane, 931-1002) trước tác, 1 quyển; còn gọi là Nhật Bản Vãng Sanh Truyện (日本徃生傳). Từ việc ký thuật câu chuyện của Thiên Quán (千觀) qua đời năm 983 (Vĩnh Quán [永觀] nguyên niên), tác phẩm này được xem như thành lập trong khoảng thời gian từ năm đó cho đến năm 986 (Khoan Hòa [寛和] thứ 2), khi Bảo Dận xuất gia. Rồi sau đó, ông còn ghi thêm truyện của Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi), Hành Cơ (行基, Gyōki) cũng như của 5, 6 người vãng sanh khác. Tác phẩm này bắt chước theo Tịnh Độ Luận (淨土論) của Ca Tài (迦才) nhà Đường, Vãng Sanh Tây Phương Tịnh Độ Thoại Ứng San Truyện (徃生西方淨土瑞應删傳) của Văn Thẩm (文諗), Thiếu Khang (少康), thâu lục các biệt truyện của mọi người, hay hạnh nghiệp của người vãng sanh từ những truyền văn xa xưa. Ký lục về những người vãng sanh có 45 trường hợp, bao hàm cả nam nữ, tăng tục, người tu hạnh Niệm Phật, tụng Kinh Pháp Hoa hay hành trì Chơn Ngôn, v.v. Thư tịch này được thâu lục vào trong phần Truyện Bộ của Quần Thư Loại Đồ (群書類圖), Tục Tịnh Độ Tông Toàn Thư (續淨土宗全書) 17, Đại Nhật Bản Phật Giáo Toàn Thư (大日本佛敎全書), Nhật Bản Vãng Sanh Toàn Truyện (日本徃生全傳), Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ (日本思想大系) 7.
Nhật Bản Ðạt-ma tông
日本達磨宗; J: nihon (nippon) daruma-shū;|Một trường phái thiền nhỏ của Nhật Bản được Thiền sư Ðại Nhật Năng Nhẫn (j: dai-nichi nōnin) sáng lập. Tông này được thành lập dựa vào tông Lâm Tế của Trung Quốc và nổi danh là một tông với phương pháp tu tập chân chính.|Tông này không tồn tại được bao lâu vì sau khi thiền đường của họ bị thiêu huỷ (1928) sau một sự tranh chấp với các vị tăng chùa Hưng Phúc (kōfukuji) và sau khi Thiền sư Cô Vân Hoài Trang (j: koun ejō) đến Ðạo Nguyên Hi Huyền (dōgen kigen) tham học. Một thời gian sau, các vị đệ tử quan trọng của Giác Yển (kakuan) – vị kế thừa thứ hai của tông này – như Triệt Thông Nghĩa Giới (tettsū gikai), Nghĩa Diễn (義演; gi'en), Hàn Nham Nghĩa Doãn (寒巖義尹; kangan gi'-in),… đều đến gia nhập dòng thiền Tào Ðộng của Ðạo Nguyên.|Tông này chủ trương »Kiến tính thành phật« (見性成佛; kenshō jōbutsu) và »Kiến tính linh tri« (見性靈知; kenshō reichi), rất chú tâm đến hai bộ kinh Viên giác (engakkyō) và Thủ-lăng-nghiêm (shuryōgongyō). Thiền sư Giác Yển thường trích những phần trong hai bộ kinh này làm tài liệu giảng dạy. Một đặc điểm của tông này nữa là sự tu tập thiền thuần tuý, tránh không pha trộn với những khuynh hướng tu tập thịnh hành khác thời bấy giờ như niệm danh Phật A-di-đà, thực hành các nghi lễ theo Chân ngôn tông (shingon-shū). Tuy vậy, họ cũng không tránh được các ảnh hưởng của các tông giáo khác biệt này và chính sự pha trộn giáo lí của Thiền sư Triệt Thông Nghĩa Giới (tettsū gikai) sau này tại Vĩnh Bình tự (eihei-ji) – Thiền Tào Ðộng của Ðạo Nguyên và Mật giáo – là nguyên do chính của sự chia rẽ của tông Tào Ðộng thế hệ thứ ba sau này.
nhật bản đạt ma tông
Nihon daruma-shŪn (J).
nhật bản động thượng liên đăng lục
(日本洞上聯燈錄) Tác phẩm, 12 quyển, do ngài Lĩnh nam Tú thứ tông Tào động Nhật bản soạn vào khoảng năm 1716-1735. Bộ sách này được hoàn thành sau 30 năm nghiên cứu và tham khảo các tư liệu như: Nguyên hanh thích thư, Phù tang tăng bảo truyện, Diên bảo truyền đăng lục, Động thượng chư tổ truyện, Tục động thượng chư tổ truyện. Nội dung ghi chép các truyện kí của hơn 700 vị, đây là sử liệu trọng yếu của tông Tào động Nhật bản.
Nhật Cao
(日高, Nikkō, 1257-1314): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Liêm Thương, húy là Nhật Cao (日高), thông xưng là Y Hạ Công (伊賀公), Soái A Xà Lê (帥阿闍梨); tự là Tối Bạch (最白); xuất thân vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]); con của Đại Điền Thừa Minh (大田乘明). Ông đã từng theo tu học với Nhật Liên ở Thân Diên Sơn (身延山). rồi sau khi Nhật Liên qua đời, ông là người thường xuyên canh giữ ngôi tháp của thầy. Năm 1299, ông được bổ nhiệm làm trú trì đời thứ 2 của Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺). Tiếp theo, ông khai sáng Bổn Diệu Tự (本妙寺) trên tư dinh của Đại Điền Thừa Minh, và bắt đầu chế ra quy định một người chủ quyền cả hai chùa Bổn Diệu và Pháp Hoa. Hơn nữa, nhờ sự ủng hộ đắc lực của dòng họ Thiên Diệp (千葉, Chiba), ông đã xác lập được thể chế giáo đoàn và cơ sở kinh tế vững chắc. Về sau, ông nhường chức trú trì lại cho Nhật Hựu (日祐), con nuôi của Thiên Diệp Dận Trinh (千葉胤貞). Trước tác của ông để lại có Nhật Cao Trí Văn (日高置文) 1 quyển, Nhật Cao Thân Trạng (日高申狀), Nhật Cao Nhượng Trạng (日高讓狀), v.v.
Nhật Chiêu
(日昭, Nisshō, 1221-1323): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và cuối thời Liêm Thương, một trong Lục Lão Tăng (六老僧); Tổ của Dòng Phái Nhật Chiêu (日昭門流); húy là Nhật Chiêu (日昭), thông xưng là Biện A Xà Lê (辨阿闍梨); tự là Thành Biện (成辨), hiệu Thường Bất Khinh Viện (常不輕院); xuất thân vùng Năng Hộ (能戸), Hạ Tổng (下總, Shimōsa); con của Ấn Đông Thứ Lang Tả Vệ Môn Úy Hựu Chiêu (印東四郎左衛門尉祐昭). Năm 1249, ông xuất gia, học giáo lý Thiên Thai trên Tỷ Duệ Sơn, và rất nổi tiếng với tư cách là học tăng của Thiên Thai Tông. Năm 1253, ông cảm đắc giáo thuyết của Nhật Liên và trở thành đệ tử cuối cùng của vị này. Đến năm 1271, khi Nhật Liên bị lưu đày đến địa phương Tá Độ (佐渡, Sado) trong vụ Pháp Nạn Long Khẩu (龍口法難), ông ở lại để lãnh đạo chúng môn đệ và tín đồ. Năm 1282, khi Nhật Liên qua đời, ông chuyên trách việc tống táng ân sư, và quy định ra việc canh giữ ngôi tháp của thầy. Chính ông đã từng cùng với nhóm Nhật Lãng (日朗) chịu đựng biết bao nhiêu cuộc đàn áp từ phía chính quyền Mạc Phủ cũng như các tông phái khác. Năm 1284, ông khai sáng Pháp Hoa Tự (法華寺, Hokke-ji) ở vùng Liêm Thương, rồi đến năm 1306 là Diệu Pháp Tự (妙法寺, Myōhō-ji) và nỗ lực duy trì giáo đoàn tồn tại. Trước tác của ông có Kinh Thích Bí Sao Yếu Văn (經釋秘抄要文), Pháp Hoa Bổn Môn Viên Đốn Giới Tương Thừa Huyết Mạch Phổ (法華本門圓頓戒相承血脈譜), v.v.
nhật chiếu
(日照) Phạm: Divàkara. Hán âm: Địa bà ha la. Cao tăng người Trung Ấn độ, đến Trung quốc vào đầu năm Nghi phụng (676- 678) đời vua Cao tông nhà Đường. Sư thông suốt Tam tạng, giỏi Ngũ minh. Sư đã giới thiệu về học thuyết mới của học phái Trung quán Ấn độ. Đến khoảng năm Thùy củng đời Vũ hậu, sư dịch chung với các vị khác những kinh như: Phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm, kinh Phật đính tối thắng đà la ni, kinh Đại thừa hiển thức... gồm 18 bộ, 34 quyển. Sư thị tịch ở chùa Thái nguyên vào năm 687, thọ 75 tuổi. [X. Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.9].
nhật chiếu tứ châu
(日照四洲) Mặt trời chiếu khắp 4 châu. Cứ theo kinh Khởi thế nhân bản quyển 1 chép, lúc kiếp sơ, cõi thế gian đang còn tối đen thì bỗng nhiên mặt trời, mặt trăng và các tinh tú xuất hiện, từ đó bắt đầu có ngày đêm, năm tháng và thời tiết. Mặt trời mọc ở hướng đông, di chuyển quanh lưng chừng núi Tu di, soi xuống 4 châu mà có ngày đêm khác nhau. Bốn châu là: Đông phất bà đề (Thắng thân châu), Nam diêm phù đề (Thắng kim châu, Thiệm bộ châu), Tây cù da ni (Tây ngưu hóa châu) và Bắc uất đơn việt (Thắng xứ, Câu lô châu). Theo Pháp uyển châu lâm quyển 4, mặt trời đi quanh núi Tu di và chiếu xuống 4 châu tạo ra 4 tình hình khác nhau về ngày đêm như sau: 1. Ở Nam diêm phù đề lúc giữa trưa, thì ở Đông châu mặt trời lặn, ở Tây châu mặt trời mọc và ở Bắc châu thì đúng nửa đêm. 2. Ở Tây cù da ni lúc giữa trưa, thì ở Nam châu mặt trời lặn, ở Bắc châu mặt trời mọc và ở Đông châu thì đúng nửa đêm. 3. Ở Đông phất đề bà lúc giữa trưa, thì ở Bắc châu mặt trời lặn, ở Nam châu mặt trời mọc và ở Tây châu đúng nửa đêm. 4. Ở Bắc uất đơn việt lúc giữa trưa, thì ở Tây châu mặt trời lặn, ở Đông châu mặt trời mọc và ở Nam châu thì đúng nửa đêm.
Nhật Chân
(日禛, Nisshin, 1561-1617): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, húy là Nhật Chân (日禛), tự Tôn Giác (尊覺), hiệu Cứu Cánh Viện (究竟院); con của quan Quyền Đại Nạp Ngôn Quảng Kiều Quốc Quang (權大納言廣橋國康). Năm 1574, ông xuất gia với Nhật Thê (日栖) ở Bổn Quốc Tự (本圀寺) thuộc kinh đô Kyoto; và đến năm 1578 thì kế thừa trú trì chùa này. Vào năm 1583, ông mở ra Học Viện Cầu Pháp tại chùa để chấn hưng học thuật; hơn nữa, chị của Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) là Ni Nhật Tú (日秀) phát tâm quy y theo ông; nhờ vậy ông mới có thể xây dựng thêm một số kiến trúc khác tại chùa này. Thêm vào đó, cũng nhờ sự hỗ trợ đắc lực của Gia Đằng Thanh Chánh (加藤清正, Katō Kiyomasa), ông đã mở rộng thế lực của mình ở địa phương Cửu Châu (九州). Trong lễ hội cúng dường 1.000 vị tăng ở Phương Quảng Tự (方廣寺), ông cùng với Nhật Áo (日奥) chủ trương chính sách Không Nhận Không Cho; nhưng đến năm 1599 thì ông phải nhượng bộ với Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu), và giáo đoàn dần dần bị thuộc dưới quyền cai quản của chính quyền Mạc Phủ.
Nhật Chúc
(日祝, Nisshū, 1426-1513): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng hai thời đại Thất Đinh và Chiến Quốc, húy là Nhật Chúc (日祝); hiệu Diệu Quốc Viện (妙國院), Nguyệt Tàng Phòng (月藏房); xuất thân vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]). Ông theo tu học với Nhật Tát (日薩) ở Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) thuộc vùng Trung Sơn (中山, Nakayama). Đến năm 1473, ông lên kinh đô, khai sáng nên Đảnh Diệu Tự (頂妙寺, Chōmyō-ji) nhờ sự hộ trì của Tế Xuyên Thắng Ích (細川勝益). Ông được vị Quan Bạch Cận Vệ Chính Gia quy y theo, rồi giáo hóa các tầng lớp nông dân, võ gia cho đến hoàng tộc nhờ tài thuyết pháp của ông. Trước tác của ông có Mạt Pháp Yếu Hành Ký (末法要行記) 1 quyển, Ngự Điều Mục (御條目) 1 quyển, Đương Môn Trọng Bảo Ký (當門重寶記) 1 quyển.
nhật chủng
SŪryaramsa (S)Dòng giống mặt trời.
; Surya-Vamsa (skt)—Một trong năm họ của dòng Thích Ca. Tương truyền tổ tiên của dòng họ Thích Ca được sanh ra bởi mặt trời từ trong cây mía hai nhánh—One of the five surnames of Sakyamuni, sun-seed or lineage, his first ancestors having been produced by the sun from “two stalks of sugar-cane.”
; (日種) Phạm: Sùryavaôza. Họ của đức Thích tôn. Vị tị tổ của đức Thích tôn là Cam giá vương. Tương truyền Cam giá vương không ở trong thai, nhưng do mặt trời chiếu mà sinh ra, thế nên gọi là Nhật chủng (dòng giống mặt trời), là 1 trong 5 dòng họ Thích. (xt. Cam Giá Vương, Cù Đàm).
nhật chủng thiện sanh
Suryavamsa (skt)—An ancient king of Potala and ancestor of the Sakya line—Vị vua thời cổ của Potala và là tổ tiên của dòng Thích Ca.
nhật cung
Cung điện mặt trời, nơi trú ngụ của Nhật Thiên Tử—The sun-palace, the abode of the sun ruler.
; (日宮) Cung điện của Nhật thiên tử. Cứ theo phẩm Nhật nguyệt hành trong luận Lập thế a tì đàm, thì điện này tên là Tu dã, ở độ cao 40.000 do tuần tính từ cõi Diêm phù đề trở lên, rộng 51 do tuần, chu vi 153 do tuần, làm toàn bằng pha lê, phía trên được che phủ bằng vàng ròng.
nhật diện phật
Nhật Diện Phật với thọ mạng là 1.800 năm, ngược lại với Nguyệt Diện Phật mà thọ mạng chỉ có một ngày một đêm—The “Sun-Face” Buddha, whose life is 1.800 years, in contrast with the “Moon-Face” Buddha, whose life is only a day and a night.
nhật diện phật nguyệt diện phật
(日面佛月面佛) Cũng gọi Mã đại sư bất an, Mã tổ Nhật diện Phật Nguyệt diện Phật. Tên công án trong Thiền tông. Tắc 3 trong Bích nham lục (Đại 48, 142 hạ) nói: Mã Đại sư không được khỏe, Viện chủ hỏi: Hòa thượng gần đây có khỏe không? Đại sư đáp: Nhật diện Phật, Nguyệt diện Phật Cứ theo kinh Phật danh quyển 7, đức Phật Nhật diện sống đến 1.800 tuổi, còn đức Phật Nguyệt diện thì chỉ sống có 1 ngày 1 đêm. Trong công án trên, Thiền sư Mã tổ Đạo nhất đã mượn câu Nhật diện Phật, Nguyệt diện Phật nhằm nói rõ sự dứt bặt cái tướng thọ mệnh dài ngắn và sinh diệt đến đi, để khế hợp với tính Phật vốn có sẵn. [X. Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.9; Mã tổ Đạo nhất thiền sư quảng lục; Ngũ đăng hội nguyên Q.3].
Nhật Diệu
(日耀): tức Nhật Quang (s: Sūryaprabha, 日光), Nhật Quang Biến Chiếu (日光遍照), một trong hai vị Bồ Tát thường theo hầu bên cạnh đức Phật Dược Sư. Thân Bồ Tát có màu đỏ hồng, tay trái cầm vòng tròn mặt trời, tay phải cầm Mạn Thù Xích Hoa (蔓殊赤花). Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, CBETA No. 1244) quyển 2 có đoạn: “Cẩn phát thành tâm, tề tụng Đông Phương Lưu Ly Thế Giới, Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát thánh hiệu, dụng thân cứu hộ (謹發誠心、齊誦東方琉璃世界、日光遍照菩薩聖號、用伸救護, đem hết tâm thành, cùng tụng Thánh hiệu Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát ở Đông Phương Lưu Ly Thế Giới, cầu xin cứu giúp).”
; (日妙, Nichimyō, ?-1502): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng hai thời đại Thất Đinh và Chiến Quốc, húy là Nhật Diệu (日妙); hiệu Pháp Tịnh Viện (法淨院); xuất thân vùng Yamanashi-ken (山梨縣). Năm lên 18 tuổi, ông theo xuất gia với Nhật Triêu (日朝), vị Tổ đời thứ 11 của Cửu Viễn Tự (久遠寺, Kuon-ji). Ông vốn có chí muốn truyền bá Kinh Pháp Hoa, nên giữa đường lên kinh đô thì sáng lập ra Pháp Liên Tự (法蓮寺) ở vùng Vĩ Trương (尾張, Owari).
nhật diệu
Mặt trời, một trong cửu diệu, thuộc đoàn tùy tùng của Nhật Thiên, đông độ của Thai Tạng Giới—The sun, one of the nine luminaries; one of the retinue of the sun ruler shown in the Eastern part of Garbhadhatu group driving three horses—See Cửu Diệu.
; (日曜) Phạm: Sùrya. Cũng gọi Nhật thiên diệu, Nhật tinh, Thái dương mật nhật tinh. Quyến thuộc hoặc là đồng thể với Nhật thiên trong Mật giáo, 1 trong Thất diệu, 1 trong Cửu diệu. Trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới, hình tượng Nhật thiên mình mặc áo trời, cỡi 3 con ngựa trắng, tay phải cầm mặt trời, bàn tay trái úp vào cạnh sườn. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì mặt trời ví dụ tâm bồ đề vốn thanh tịnh, chính là tự thể của đức Tì lô giá na. [X. Tú diệu nghi quĩ; Bắc đẩu hộ ma pháp].
Nhật Duệ
(日叡, Nichiei, 1334-1397): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Nam Bắc Triều; húy Nhật Duệ (日叡), hiệu là Lăng Nghiêm Phòng (楞嚴房), Diệu Pháp Phòng (妙法房). Ông từng che giấu thân phận của mình để đến tham bái mộ phần của cha, người trước kia đối kháng với Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji), rồi bị ông này giết chết; và sau đó, ông đến vùng Liêm Thương, theo làm đệ tử của Nhật Tĩnh (日靜) ở Bổn Quốc Tự (本國寺). Sau khi Bổn Quốc Tự được dời về kinh đô Kyoto, ông ở lại Liêm Thương, rồi xây dựng nên Diệu Pháp Tự (妙法寺) trên nền đất cũ của Bổn Quốc Tự, và suốt đời chuyên tâm cầu nguyện cho thân phụ được siêu độ.
nhật dịch phật điển
(日譯佛典) Chỉ cho những kinh sách Phật giáo được dịch ra tiếng Nhật bản. Từ thời đại Bình an trở đi, đối với kinh điển Phật bằng chữ Hán, để tiện cho người Nhật đọc tụng, bên cạnh chữ Hán có thêm những Huấn điểm (ở phía bên phải chữ Hán thêm giả danh và tiêu điểm) hoặc những Phản điểm (ở phía bên trái câu văn chữ Hán thêm những phù hiệu như V... hoặc nhất, nhị, tam, tứ, thượng, trung, hạ, giáp, ất, bính... để biểu thị thứ tự của cách đọc tụng), hoặc viết thành hình thức diên thư (tương tự như trực thư nhưng không có tiêu đề) như các kinh A di đà, Vô lượng thọ, Pháp hoa... Lại như Kim tích vật ngữ là bộ sách tiếng Nhật được dịch từ những truyện cổ trong kinh điển Phật bằng chữ Hán. Rồi từ thời đại Liêm thương về sau thì có những diên thư được soạn thuật bằng Hán văn như: Vãng sinh yếu tập, Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập...Trong loại diên thứ có những pho sách lớn như: Quốc dịch Đại tạng kinh, 30 quyển (được dịch từ năm 1917 đến 1928, do Hội Văn khố quốc dân Nhật bản ấn hành), Chiêu hòa tân soạn quốc dịch Đại tạng kinh, 48 quyển (Thư viện Đông phương), Quốc dịch nhất thiết kinh, 156 quyển (nhà xuất bản Đại đông ở Nhật bản ấn hành), Quốc dịch thiền học đại thành, 25 quyển (Nhị tùng đường), Quốc dịch Mật giáo, 16 quyển, Quốc dịch bí mật nghi quĩ, 33 quyển (Hội ấn hành sách quí Phật giáo)... Từ những năm cuối thời Minh trị trở đi, những kinh điển Phật bằng các thứ tiếng Phạm,Pàli, Tây tạng, Cổ ngữ Thổ nhĩ kì... đều được dịch ra tiếng Nhật. Nam truyền Đại tạng kinh (do Hội Kỉ niệm công đức của Tiến sĩ Cao nam)chính là bản dịch toàn bộ Đại tạng kinh tiếng Pàli. [X. Phật giáo Thánh điển khái thuyết; Đại đường tây vực kí chi Hòa dịch bản (Thốc thị Hựu tường, Tông giáo nghiên cứu 8)].
nhật dụ bồ tát thập chủng thiện pháp
(日喻菩薩十種善法) Dùng mặt trời để ví dụ 10 thứ pháp lành của Bồ tát. Cứ theo kinh Bảo vũ quyển 5 thì 10 thứ pháp lành của Bồ tát là: 1. Phá bóng tối vô minh: Bồ tát hiện ra nơi thế gian, dùng ánh sáng trí tuệ phá trừ vô minh tối tăm cho tất cả loài hữu tình; giống như mặt trời vận hành trong hư không, tỏa ra ánh sáng rực rỡ, làm cho tất cả chỗ tối tăm ở thế gian đều được sáng tỏ. 2. Giác ngộ cho loài hữu tình: Bồ tát hiện ra ở thế gian, dùng phương tiện trí tuệ mở đường dẫn dắt loài hữu tình, khiến cho họ tỉnh ngộ; giống như mặt trời vận hành trong hư không, chan hòa ánh sáng, làm cho tất cả hoa sen trong các ao hồ đều nở rộ. 3. Soi sáng 10 phương: Bồ tát hiện ra nơi đời, dùng ánh sáng trí tuệ soi rọi khắp các thế giới trong 10 phương, giúp cho hết thảy chúng sinh đều được lợi ích; giống như mặt trời vận hành trong hư không, tỏa ánh sáng khắp 10 phương, hết thảy muôn vật đều được soi rọi. 4. Hiện ra pháp lành: Bồ tát sinh ra ở thế gian, dùng sức trí tuệ mở bày pháp lành, dắt dẫn chúng sinh lên bờ Chính giác; giống như mặt trời vận hành trong hư không, đem ánh sáng chiếu soi tất cả, các loài hữu tình đều nhờ đó mà được sinh trưởng. 5. Các phiền não lậu hoặc diệt sạch: Bồ tát hiện ra ở đời, dùng sức trí tuệ làm cho tất cả phiền não lậu hoặc đều bị diệt hết, vĩnh viễn dứt trừ sinh tử; giống như mặt trời lúc lặn, ánh sáng ẩn mất thì mọi sinh vật đều nghỉ ngơi. 6. Có năng lực phóng ra ánh sáng: Bồ tát xuất hiện nơi thế gian, phóng ra ánh sáng trí tuệ, nói các pháp yếu để phá trừ ngu si ám chướng của tất cả hữu tình; giống như mặt trời đi trong hư không, tỏa ra ánh sáng lớn, chiếu phá hết thảy mọi nơi tối tăm, soi rọi tới muôn vật. 7. Che khuất ngoại đạo: Bồ tát xuất hiện ở đời, giảng nói các pháp nhằm hướng dẫn chúng sinh bỏ tà theo chính, có khả năng che khuất những tà thuyết dị luận của ngoại đạo; giống như mặt trời vận hành trong hư không, chiếu ánh sáng rực rỡ xuống, làm cho tất cả ánh sáng của loài đom đóm bị che át hết. 8. Giáo hóa bình đẳng: Bồ tát hiện ra ở đời, đối với chúng sinh, dù thiện dù ác đều được nhiếp thụ, khiến họ sinh tâm khát ngưỡng và đem chính pháp giáo hóa 1 cách bình đẳng; giống như mặt trời vận hành trong hư không, chiếu xuống muôn vật, hoặc cao hoặc thấp đều được soi tới. 9. Phát khởi nghiệp thiện: Bồ tát xuất hiện nơi thế gian, phương tiện mở bày khiến tất cả loài hữu tình phát khởi tâm thiện, tu tập nghiệp lành; giống như mặt trời mới mọc làm cho mọi người đều hăng hái làm việc. 10. Người lành ưa mến: Bồ tát sinh ra ở đời, tất cả những người có trí sáng suốt đều biết có lợi ích, do đó sinh tâm ưa mến, niệm niệm hướng về; nhưng những kẻ ngu si vô trí và các tà ma ngoại đạo thấy Bồ tát xuất hiện thì sinh lòng ghen ghét; giống như mặt trời vận hành giữa hư không, rong ngoài đều sáng, tất cả người lành ai cũng ưa thích, nhưng bọn trộm cướp thì cảm thấy tức giận.
nhật dụng
Daily use—Daily expenses.
nhật giới đàn
The altar of the law.
nhật hoàng tổng bạc
(日黃總簿) Chỉ cho cuốn sổ dùng để ghi chép các việc hàng ngày trong các chùa viện Thiền tông. Nhật là hàng ngày; Hoàng là chỉ cho cây hoàng bá thuộc họ Vân hương, lá và vỏ cây có mùi rất thơm, có thể dùng làm thuốc, cũng có tác dụng trừ mối mọt. Thiền gia thường lấy lá cây hoàng bá đặt vào những tờ giấy trong cuốn Tổng bạ để phòng ngừa mối mọt, vì thế nên gọi Nhật hoàng tổng bạ. Môn Bạ khoán trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Ngày xưa, cuốn sổ của Thường trụ dùng loại giấy có tẩm lá của cây hoàng bá để phòng ngừa mối mọt, nên gọi Hoàng bạ. [X. điều Phó tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4].
Nhật Huy
(日輝, Nichiki, 1800-1859): học Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng cuối thời đại Giang Hộ, húy là Nhật Huy (日輝), Giác Thiện (覺善); tự Nghiêu Sơn (堯山), hiệu là Ưu Đà Na Viện (優陀那院), xuất thân vùng Kim Trạch (金澤, Kanazawa, thuộc Ishikawa-ken [石川縣]). Ông xuất gia năm lên 9 tuổi, rồi đã từng đến học các trường Đàn Lâm. Ông rất ghét học phong vốn coi trọng giáo lý Thiên Thai, sau được Nhật Lâm (日臨), Nhật Trí (日智) chỉ dẫn cho, ông có chí muốn xác lập Tông phong thích hợp với thời đại, nên mới thiết lập trường tư thục trong khuôn viên Lập Tượng Tự (立像寺) ở Kim Trạch. Chính ông đã hình thành nên hệ thống giáo học của Nhật Liên Tông thời Cận Đại vốn dựa trên cơ sở Tam Học Kiêm Tu, Quán Tâm Trọng Thị và Chủ Nghĩa Nhiếp Thọ. Về sau, ông tận lực chỉ đạo đàn hậu tấn, và nuôi dưỡng những nhân vật quan trongj sau này nắm vai trò lãnh đạo giáo đoàn Nhật Liên Tông như Nhật Tát (日薩), Nhật Giám (日鑑), Nhật Tu (日修), v.v. Trước tác của ông có Nhất Niệm Tam Thiên Luận (一念三千論) 6 quyển, Bổn Tích Quy Tông Luận (本迹歸宗論) 1 quyển, Diệu Kinh Tông Nghĩa Sao (妙經宗義抄) 17 quyển, Tổ Thư Cương Yếu Chánh Nghĩa (祖書綱要正義) 2 quyển, Sung Trị Viên Toàn Tập (充治園全集) 5 quyển, v.v.
nhật hành ngũ phong
(日行五風) Chỉ cho 5 thứ gió duy trì và di chuyển cung điện của Nhật thiên. Cứ theo phẩm Tối thắng trong kinh Khởi thế nhân bản quyển 10, cung điện của Nhật thiên chu vi 51 do tuần, 4 phương và trên dưới đều bằng nhau, tường vách lan can đều được làm bằng vàng bạc và lưu li; cung điện hình vuông, nhưng nhìn từ đàng xa thì giống như hình tròn. Bên trong có 5 thứ gió di chuyển cung điện nên gọi là Nhật hành ngũ phong. Đó là: 1. Trì: Cung điện mặt trời nhờ sức gió nắm giữ, nâng đỡ nên có thể di chuyển trong hư không mà không rơi xuống. 2. Trụ: Cung điện mặt trời nhờ sức gió nắm giữ mà đứng vững được trong hư không. 3. Tùy thuận chuyển: Cung điện mặt trời nhờ được sức gió thổi đưa, nên tùy thuận chiều gió mà di chuyển trong hư không. 4. Nhiếp trì (Ba la ha ca): Cung điện mặt trời nhờ sức nắm giữ và nâng đỡ của gió mà di chuyển được trong hư không. 5. Tương hành: Cung điện mặt trời nhờ sức gió giúp đỡ mà có thể di chuyển nhanh chóng trong hư không.
Nhật Hưng
(日興, Nikkō, 1246-1333): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Liêm Thương, vị Tổ đời thứ 2 của Đại Thạch Tự (大石寺), Tổ của Dòng Phái Phú Sĩ (富士門流); Tổ của Nhật Liên Chánh Tông (日蓮正宗), Nhật Liên Bổn Tông (日蓮本宗); một trong Lục Lão Tăng (六老僧); húy là Nhật Hưng (日興), thông xưng là Bạch Liên A Xà Lê (白蓮阿闍梨), hiệu là Bá Kì Phòng (伯耆房), Thường Tại Viện (常在院); xuất thân vùng Thu Trạch (鰍澤, Kajikazawa), Giáp Phỉ (甲斐, Kai, thuộc Yamanashi-ken [山梨縣]); con của Đại Tỉnh Quất Lục (大井橘六). Trước kia, ông từng tu học ở Tứ Thập Cửu Viện (四十九院) của Thiên Thai Tông ở vùng Tuấn Hà (駿河, Suruga); đến năm 1265 thì quy y theo Nhật Liên; và đã từng theo hầu hạ khi thầy bị lưu đày đến vùng Tá Độ (佐渡, Sado). Sau khi được tha tội, ông quy y khá nhiều tín đồ thuộc tầng lớp nông dân, võ sĩ cũng như tu sĩ của Thiên Thai Tông ở Tuấn Hà, Giáp Phỉ, Y Đậu (伊豆, Izu); và vào năm 1279, đệ tử cùng tín đồ của ông bị chính quyền Mạc Phủ đàn áp trong vụ Pháp Nạn Nhiệt Nguyên (熱原の法難, Atsuhara-no-Hōnan). Năm 1282, Nhật Liên tuyên bố Nhật Hưng là một trong 6 đệ tử chân truyền. Sau khi thầy qua đời, ông chuyên lo phụng thờ tôn tạo ngôi miếu của Nhật Liên ở vùng Thân Diên (身延, Minobu). Sau đó, ông lại đối lập với Ba Mộc Tỉnh Thật Trường (波木井實長) và Nhật Hướng (日向) ở vùng này; nên vào năm 1288, ông rút lui về địa phương Tuấn Hà, và sáng lập Đại Thạch Tự ở Phú Sĩ (富士, Fuji) vào năm 1290, rồi Bổn Môn Tự (本門寺) ở vùng Trọng Tu (重須, Omosu). Trước tác của ông có Bổn Tôn Phần Dữ Trương (本尊分與帳), An Quốc Luận Vấn Đáp (安國論問答) 1 quyển, Tam Thời Hoằng Kinh Thứ Đệ (三時弘經次第) 1 quyển, Thần Thiên Thượng Khám Văn (神天上勘文) 1 quyển, v.v.
Nhật Hướng
(日向, Nikō, 1253-1314): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương, một trong Lục Lão Tăng (六老僧); Tổ đời thứ 2 của Cửu Viện Tự (久遠寺, Kuon-ji), Tổ của Dòng Phái Thân Diên (身延門流); húy là Nhật Hướng (日向), tục danh là Đằng Tam Lang Thật Trường (藤三郎實長?); thông xưng là Tá Độ Công (佐渡公), Tá Độ A Xà Lê (佐渡阿闍梨), Dân Bộ A Xà Lê (民部阿闍梨); xuất thân vùng Tảo Nguyên (藻原, Mobara), Thượng Tổng (上總, Kazusa); con của Tiểu Lâm Dân Bộ Thật Tín (小林民部實信?). Ông xuất gia với Nhật Liên, thường theo hầu thầy và chuyên tâm tu học. Sau khi Nhật Liên đến sống ẩn cư ở vùng Thân Diên (身延, Minobu), ông thường làm sứ giả đi khắp nơi hoạt động giáo hóa. Sau khi thầy qua đời, ông lấy Diệu Quang Tự (妙光寺) ở vùng Thượng Tổng làm cứ điểm để mở rộng phạm vi giáo hóa. Ông đã từng lên Thân Diên Sơn (身延山) quy y cho lãnh chúa Ba Mộc Tỉnh Thật Trường (波木井實長), rồi sau khi phế bỏ quy chế luân phiên canh giữ ngôi tháp của Nhật Liên, ông trở về làm trú trì đời thứ 2 của Cửu Viện Tự, và xây dưng cơ cở vững chắc cho chùa này. Dòng phái của ông được gọi là Dòng Phái Nhật Hướng. Trước tác của ông có Kim Cang Tập (金剛集) 10 quyển.
Nhật Hộ
(日護, Nichigo, 1580-1649): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng đầu thời đại Giang Hộ, húy là Nhật Hộ (日護), tự Thuận Tánh (順性), hiệu Trung Chánh Viện (中正院); xuất thân vùng Kyoto, con của Thị Thôn Quang Trùng (市村光重). Năm lên 15 tuổi, ông xuất gia, rồi theo học pháp với Nhật Trùng (日重) ở Bổn Mãn Tự (本滿寺) thuộc Kyoto và Nhật Viễn (日遠) ở Phạn Cao Đàn Lâm (飯高檀林) thuộc vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]). Sau khi tham học ở các vùng Nam Đô cũng như Tỷ Duệ Sơn, ông đi tuần hóa khắp các nơi và quy tụ rất nhiều tín đồ. Năm 1629, nhờ sự hỗ trợ của nhóm Kim Xuất Xuyên Kinh Quý (今出川經季), ông khai sáng Tam Bảo Tự (三寶寺) ở vùng Minh Lang (明瀧), Sơn Thành (山城, Yamashiro). Thông qua việc sao chép Kinh Pháp Hoa cũng như tạc tượng Phật, ông đã nổ lực giáo hóa các tầng lớp đạo tục, và cuối cùng hình thành ra Học Phái Minh Lang. Về sau, ông kế thừa trú trì thứ 2 Dưỡng Châu Tự (養珠寺) ở vùng Kỷ Y (紀伊, Kii). Trước tác của ông có Minh Lang Tam Bảo Tự Pháp Độ (明瀧三寶寺法度) 1 quyển. Ngoài ra, tác phẩm của ông có tượng gỗ ngồi Thích Ca Như Lai ở Tam Bảo Tự, và 1 pho tượng Thích Ca Như Lai khác ở Thoại Quang Tự (瑞光寺), v.v.
Nhật Hợp
(日合, Nichigo, ?-1293): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa và cuối thời đại Liêm Thương; húy là Nhật Hợp (日合), thường được gọi là Trúc Tiền A Xà Lê (筑前阿闍梨). Nhờ sự hỗ trợ của người trưởng nam của vị thí chủ Tằng Cốc Giáo Tín (曾谷敎信), ông làm Tổ khai sơn Diệu Hưng Tự (妙興寺) ở vùng Dã Lữ (野呂), Hạ Tổng (下總, Shimōsa). Ông lấy chùa này làm cứ điểm để mở rộng hoạt động truyền đạo, và khuyến dụ dân chúng vùng Dã Lữ cải hóa theo Nhật Liên Tông.
Nhật Hựu
(日祐, Nichiyū, 1298-1374): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương và đầu thời đại Nam Bắc Triều, húy là Nhật Hựu (日祐); hiệu Tịnh Hành Viện (淨行院), thông xưng là Đại Phụ Công (大輔公); xuất thân vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa), thuộc dòng họ Thiên Diệp (千葉, Chiba). Ông là con nuôi của Thiên Diệp Dận Trinh (千葉胤貞), đến nhập môn xuất gia với Nhật Cao (日高) của Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) ở Trung Sơn (中山), Hạ Tổng. Vào năm 1314, sau khi Nhật Cao qua đời, ông làm trú trì đời thứ 3 của chùa này. Ông xây dựng cơ sở làm cho giáo đoàn phát triển nhờ sự hỗ trợ về mặt kinh tế của dòng họ Thiên Diệp, và mở rộng những hoạt động tôn giáo như chú thích cũng như sao chép Kinh Pháp Hoa, kiến lập các ngôi đường vũ, tham bái Thân Diên Sơn, v.v. Thêm vào đó, ông còn có công lao rất lớn trong việc thâu tập và bảo tồn những di văn của Nhật Liên. Trước tác của ông có Bổn Tôn Thánh Giáo Lục (本尊聖敎錄), Nhất Kỳ Sở Tu Thiện Căn Lý Lục (一期所修善根記錄), Vấn Đáp Can Yếu Sao (問答肝要抄), An Quốc Luận Kiến Văn (安國論見聞), Tông Thể Quyết Nghi Sao (宗体決疑抄).
nhật khoá niệm phật
(日課念佛) Lấy việc xưng danh niệm Phật làm công khóa hàng ngày. Nhật khóa niệm Phật bắt nguồn từ câu Niệm danh hiệu Phật từ 1 ngày cho đến 7 ngày nói trong kinh A di đà và câu Biệt thời niệm Phật nói trong kinh Bát chu tam muội (Hành phẩm). Tông Thiên thai dùng tác pháp Phật lập tam muội và Trường thời niệm Phật nói trong kinh Bát chu làm 1 khóa để tu Thường hành tam muội. Các hành giả tông Tịnh độ vốn lấy Nhật khóa niệm Phật làm hạnh tu chính yếu của mình, như ngài Đạo xước mỗi ngày niệm 7 vạn danh hiệu Phật; ngài Thiện đạo, trong thời gian soạn thuật Quán kinh sớ, mỗi ngày tụng 3 biến kinh A di đà và niệm danh hiệu Phật 3 vạn biến.
Nhật Kinh
(日經, Nichikyō, 1551-1620): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, vị Tổ đời thứ 27 của Diệu Mãn Tự (妙滿寺), húy là Nhật Kinh (日經); tự Thiện Hải (善海), hiệu là Thường Lạc Viện (常樂院), Thường Đàm Nghĩa Viện (常談義院); xuất thân vùng Thượng Tổng (上總, Kazusa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]). Ông từng tham học ở Thượng Tổng, có tài hùng biện và đi truyền đạo khắp nơi trong nước. Năm 1600, ông làm trú trì đời thứ 27 của Diệu Mãn Tự. Đến năm 1608, ông có luận tranh Tông nghĩa với Quách Sơn (廓山, Kakuzan) của Tịnh Độ Tông ở Thành Giang Hộ (江戸城, Edo-jō); nhưng do vì sự đàn áp có kế hoạch của Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu), nên ông bại luận. Ông bị bắt buộc phải gởi thư đến các ngôi chùa trung tâm của Nhật Liên Tông để chứng minh về việc ông phản đối cho rằng niệm Phật là đọa Địa Ngục, và nhóm nhật kinh đã bị xử hình hay đuổi ra khỏi tông môn. Trước tác của ông có Tịnh Độ Nhật Liên Tông Luận Ký Lục (淨土日蓮宗論記錄) 1 quyển, Tịnh Độ Tông Nan Cật Nhị Thập Tam Điều (淨土宗難詰二十三條) 1 quyển, Bổn Tích Thắng Liệt Hiện Văn Sự (本迹勝劣現文事) 1 quyển, v.v.
nhật ký
Journal—Diary.
Nhật Liên
(日蓮, Nichiren, 1222-1282): vị tăng sống vào đầu thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), vị tổ khai sáng Nhật Liên Tông Nhật Bản, người vùng An Phòng Quốc Tiểu Thấu (安房國小湊). Ban đầu ông theo học về Thiên Thai Tông, rồi tu hành trên Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan), kế đến Nam Đô, sau đó tìm ra được cốt tủy của Phật pháp ở trong Kinh Pháp Hoa (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經), và đến năm 1253 (năm thứ 5 niên hiệu Kiến Trường [建長]), ông khai sáng Nhật Liên Tông ở Thanh Trừng Sơn (清澄山). Từ đó ông bắt đầu thuyết pháp đả kích các tông phái khác, và do ông viết cuốn Lập Chánh An Quốc Luận (立正安國論), nên bị lưu đày đến vùng Y Đậu (伊豆, Izu). Sau khi được tha tội, ông vẫn không thay đổi những lời nói cũng như việc làm của mình, nên một lần nữa bị đày đến vùng Tá Độ (佐渡, Sado). Vào năm 1274 (năm thứ 11 niên hiệu Văn Vĩnh [文永]), ông được xá tội. Ông trở về lại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), khai sáng ra Thân Diên Sơn (身延山), sau đó qua đời ở vùng Trì Thượng (池上, Ikegami) thuộc tiểu quốc Võ Tàng (武藏, Musashi). Các trước tác của ông để lại có Quán Tâm Bổn Tôn Sao (觀心本尊抄), Khai Mục Sao (開目抄).
; 日蓮; C: rìlián J: nichiren; 1222-1282;|Cao tăng Nhật Bản, Khai tổ tông Nhật Liên. Theo quan niệm của Sư, biểu hiện cao quý tuyệt đỉnh của Phật pháp chính là Diệu pháp liên hoa kinh và chỉ bộ kinh này mới có thể cứu độ chúng sinh. Sư còn cho rằng, tinh hoa của Phật giáo đã trọn vẹn cô đọng lại trong tên của kinh này và vì vậy, phương pháp tu hành chính của tông này là niệm câu »Nam-mô diệu pháp liên hoa kinh« (j: namu myōhō reng-kyō). |Nhật Liên là người chỉ trích mọi trường phái khác của Phật giáo, muốn đưa Nhật Liên tông làm quốc giáo. Sư chỉ trích cả chính quyền đương thời và cuối cùng bị lên án tử hình nhưng được cứu thoát trong một trường hợp lạ lùng, sau đó bị lưu đày trên một hòn đảo. Nhật Liên trở về Liêm Thương (kama-kura) năm 1274 và tám năm sau thì mất.|Sư là con một ngư phủ nghèo tại miền Nam nước Nhật, xuất gia thụ giới năm 15 tuổi tại chùa Thanh Trừng ở quê. Trên đường tìm đạo, Sư đến Liêm Thương (kamakura) và sau đó lên núi Tỉ Duệ (hieizan), trung tâm của Thiên Thai tông Nhật Bản. Sư nhận thấy Thiên Thai tông với giáo pháp theo Diệu pháp liên hoa kinh rất gần với tư tưởng của mình. Năm 1253, Sư trở về chùa cũ vì thấy kinh Diệu pháp liên hoa không còn đóng vai trò quan trọng nữa trong Thiên Thai tông. Sư tự lập ra môn phái mới và cho rằng chỉ có Diệu pháp liên hoa mới cứu độ con người, là con đường duy nhất dẫn đến giải thoát. Quan điểm của Sư rất cực đoan, cho rằng chỉ cần tụng đọc tên bộ kinh này là đủ. Vì thế mà Sư bị trục xuất ra khỏi chùa. Sau đó Sư truyền bá giáo pháp của mình ngay ngoài đường ngoài chợ và công kích mãnh liệt các tông phái khác. Sư tuyên truyền rằng Tịnh độ tông (jōdō-shū) chỉ dẫn người ta xuống địa ngục, Pháp Nhiên (hōnen, người sáng lập Tịnh độ tông) là »kẻ thù của chư Phật«, chịu trách nhiệm về tình trạng lụn bại tại Nhật. Thiền tông (zen-shū) chỉ là tông phái của ma quỷ, Chân ngôn tông (shingon-shū) là sự khánh kiệt và Luật tông (ritsu-shū) là sự phản bội. Sư cho rằng, muốn cứu nước Nhật cần thống nhất các môn phái dưới giáo pháp của kinh Diệu pháp liên hoa. Cuối cùng Sư bị lưu đày trên đảo Tá Ðộ (sado). Nơi đây, Sư viết một số tác phẩm và tự xem mình là tái sinh của hai vị Bồ Tát có trách nhiệm cứu quốc và truyền bá kinh Diệu pháp liên hoa. Sư coi trọng đại nguyện phải truyền bá giáo pháp này trong thời mạt pháp và chịu đựng mọi gian khổ.|Tác phẩm chính của sư gồm Quán tâm bản tôn sao (觀心本尊抄, j: kanjin honzon shō), Tuyển thời sao (撰時抄, j: senji shō), và Thủ hộ quốc gia luận (守護國家論, j: shugo kokka ron).
nhật liên
Nichiren (J)Nhật Liên tông Nhật Liên Đại sư, giáo tổ Nhật Liên tông.
; Nichiren (J)
; Nichiren (Jap)—Còn gọi là Tân Liên Hoa Tông, một tông phái của Phật Giáo Nhật Bản do ngài Nhật Liên sáng lập. Các tín đồ phái Nhật Liên sùng mộ tụng “Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” hòa nhịp với tiếng trống mạnh mẽ của họ—Also called New Lotus School, a branch of Japanese Buddhism founded by Nichiren (1222-1282). Nichiren believers devotedly recite “Namo Wonderful Dharma Lotus Sutra” to the vigorous accompaniment of their own drum-beating. 1) Sư Tổ của phái Nhật Liên vào khoảng năm 1222 sau Tây Lịch. Nhật Liên là con của một ngư phủ ở Kominato, Awa, miền nam duyên hải Nhật Bản. Năm 15 tuổi, sư xuất gia và được gởi đến Thanh Từng, một ngôi già lam gần nhà để làm tiểu. Thắc mắc sớm nhất của sư là: “Thế nào là sự thật mà Đức Phật đã giảng dạy?” Tuy nhiên, không được giải thích thỏa đáng ở đây, sư đến Kiếm Thương và sau đó đến học đạo tại núi Tỷ Duệ. Mười năm tu tập tại núi nầy đã gây cho sư một niềm xác tín rằng chỉ có sự phục hoạt của triết lý Thiên Thai mới là con đường ngắn nhất bước tới Đạo. Tuy nhiên, sau đó vì bất đồng quan điểm với với các sư Từ Giác và Trí Chứng về tín ngưỡng Di Đà, nên năm 1253 sư bỏ trở về chùa cũ ở Kiyozumi. Ở đây sư đề xướng học thuyết mới, Nhật Liên Tông, cho rằng chỉ có Pháp Hoa mới duy nhất cứu độ chúng sanh khỏi thời đại suy đồi thời bấy giờ. Nhật Liên tin rằng thực chất học thuyết của Phật đã được chứa đựng trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nên chỉ có luật chứa đựng trong kinh ấy mới có thể dẫn đến sự giải thoát. Điều chủ yếu của thông điệp nầy, theo Nhật Liên, đã được tóm gọn trong nhan đề của Kinh. Do đó ông bày ra cách niệm nhhan đề của kinh nầy. Pháp thức chủ yếu là đọc tụng “Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.” Đó là niệm Pháp (Dharma-smrti) chứ không phải niệm Phật (Buddha-smrti) như là trong tụng niệm của Di Đà Giáo. Pháp là lý tưởng được thể hiện bởi Đức Phật bản hữu. Tất cả chúng sanh đều được cứu độ do xưng tụng nơi Diệu Pháp Liên Hoa, và ông tuyên bố chỉ có Pháp Hoa là thông điệp duy nhất sau cùng chân thật của Đức Phật mà thôi—The Japanese founder of the Nichiren Sect. Nichiren was born in around 1222 A.D., the son of a fisherman of Kominato, Awa, the southeastern coast of Japan. He left home at fifteen and was sent to Kiyozumi, a hill near his home, to live as a novice in a monastery. His early problem, “What was the Truth taught by the Buddha?” was not solved there. He proceeded to Kamakura and later passed to Mount Hiei in search of the Truth. His study of ten years on the mountain (1243-1253) convinced him that a revival of T'ien-T'ai philosophy alone was the nearest approach to the Truth. However, later, he disagreed with the two masters Jikaku and Chisho on the mystic rituals, he returned to his old monastery in 1253 at Kiyozumi where he proclaimed his new doctrine that the Lotus alone could save the people of the depraved age. For Nichiren, the teaching of Buddha found its highest expression in the Lotus Sutra. It was his conviction that the teaching found there alone could lead mankind to liberation. In his view the essence of the sutra's message was to be found in its title. Thus the practice that he instituted consisted in the recitation of the title of the sutra. The essential formula being “Homage to the Text of the Lotus of the True Ideal” (Veneration to the Sutra of the Lotus of the Good Law). It is thought on Dharma (Dharma-smrti) and not Buddha-smrti. Dharma is the ideal realized by the original Buddha. All beings are saved through homage to the Lotus of Truth, and this alone, he declared, is the true final message of the Buddha —See Nhật Liên Tông. 2) Nhật Liên tự coi mình như người cứu tinh của dân tộc. Ông hy vọng đem lại hòa bình cho Nhật Bản theo gương của Kinh Pháp Hoa. Ông trách cứ các quân vương đã ủng hộ các trào lưu Phật giáo “tà thuyết. Theo ông, đó là nguyên nhân của những khó khăn mà làm cho đất nước lâm nguy thời bấy giờ. Về sau ông đả kích các tông phái hiện thời một cách mãnh liệt. Ông cho rằng Tịnh Độ tông là địa ngục, Thiền tông là yêu ma, Chân ngôn tông là diệt vong quốc gia, luật tông là phản bội, và Di Đà giáo là kẻ thù của chư Phật, phải chịu trách nhiệm về những tệ hại và suy đồi trong và ngoài nước—Nichiren saw himself as the savior of his nation. He wanted to bring about peace in Japan by causing its people to live in accordance with the teachings of the Lotus Sutra. He accused the rulers of supporting “heretical” schools of Buddhism and regarded this as the reason for the difficulties in which the country found itself at the time. Later, he attacked the religious schools violently. He formulated his views as follows: the Pure Land is hell, Meditative Intuitionism is devil, Shingon or mysticism is national ruin and Vinaya sect is traitorous, and Amitabha-pietism is enemy of all Buddha, chiefly responsible for the evils and calamities within and without the nation. 3) Những cuộc công kích các tông phái của Nhật Liên ngày càng trở nên vô cùng mãnh liệt hơn trước. Ông bị xua đuổi khỏi Izu năm 1261. Ông trở về quê Kamakura. Nhân dịp sứ thần Mông Cổ sang Nhật đòi cống vật, sư kháng cáo triều đình phải đàn áp các tông phái khác và nhìn nhận Pháp Hoa là đường lối duy nhất đưa quốc gia ra khỏi họa hoạn. Năm 1271, ông bị bắt và bị kết án tử hình. Nhưng với một phép lạ, ông thoát khỏi cuộc xử tử và bị đày ra hoang đảo Tá Độ vào cuối năm đó. Sau ba năm ông trở về Kamakura. Do quan điểm khác thường của ông mà suốt cuộc đời ông liên tục bị nhà cầm quyền ngược đãi, đày đọa. Tuy nhiên, tinh thần ái quốc nồng nhiệt qua các bài thuyết pháp của ông đã tạo được nhiều thiện cảm và sùng mộ trong lòng người dân Nhật Bản. Tông phái do ông lập ra mang tên Nhật Liên, dựa theo tên ông, và ông được tín đồ Nhật Liên xem như một Đại Bồ Tát đã cứu độ quốc gia. Năm 1274, sư lui về ở ẩn trên núi Thân Diên, phía tây Phú Sĩ và sống an bình ở đây. Ông thị tịch tại Ikegami, gần Tokyo, năm 1282—Nichiren's attacks against other schools became more and more violent. In 1261, he was mobbed, attacked and banished to Izu. He returned to Kamakura. Upon the arrival of the Mongolian envoys demanding tribute, he again remonstrated the regime to suppress and adopt the Lotus doctrine as the only way out of national calamities. In 1271, he was arrested, tried and sentenced to death. In a miraculous way, he escaped the execution and was banished to the remote island of Sado at the end of the same year. After three years, he was allowed to return to Kamakura. Because of his unusual views, his life was a succession of persecutions by the government. Nevertheless, the burning patriotism he preached in his sermons as well as his simple doctrine gained for him much sympathy and devotion among Japanese people. The sect founded by him was called the Nichiren sect after him. He was looked upon by the followers of the Nichiren sect as a Mahabodhisattva who saved the nation. In 1274, he retired to Minobu, west of Mount Fuji, and lived peacefully. He died at Ikegami, near Tokyo, in 1282.
; (日蓮) Cao tăng Nhật bản, tổ khai sáng tông Nhật liên, tự Liên trưởng, người Viễn giang (huyện Tĩnh cương). Năm 12 tuổi, sư xuất gia ở chùa Thanh trừng. Sư vốn tu theo các pháp môn Thai mật và niệm Phật, nhưng sau sinh tâm nghi ngờ, bèn cầu nguyện trước bồ tát Hư không tạng, muốn trở thành bậc trí tuệ đệ nhất ở Nhật bản. Sau, sư lên núi Tỉ duệ, tu học trong 11 năm, rồi lại đến núi Cao dã, chùa Tứ thiên vương... ngộ được kinh Pháp hoa là tinh tủy của Thánh giáo mà đức Phật đã nói trong suốt đời Ngài. Sau khi trở về quê, sư đề xướng niệm 5 chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, đổi tên là Nhật liên và sáng lập tông Nhật liên. Sau, sư đến Liêm thương bài bác học thuyết của các tông Tịnh độ, Thiền, Luật... đồng thời, soạn luận Lập chính an quốc, dâng trình lên Bắc điều Thời lại, nhưng không được tin dùng. Niên hiệu Hoằng trường năm đầu (1261), sư bị đày đến Y đậu y đông. Đến năm Hoằng trường thứ 3 (1263) sư được đặc xá, lại trở về Liêm thương và tiếp tục phỉ báng các tông phái khác mạnh mẽ hơn nữa, đến nỗi gây ra pháp nạn Tiểu tùng nguyên. Tháng 9 năm Văn vĩnh thứ 8 (1271), sư bị án tử hình ở Lũng khẩu, nhưng vì bệnh nên thoát chết và bị đày đi Tá độ. Ba năm sau được ân xá, sư trở về Liêm thương, kết thảo am trên núi Thân diên, phát huy tông phong. Năm Hoằng an thứ 5 (1282) sư tịch ở Trì thượng tại Vũ tạng, thọ 61 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Quán tâm bản tôn sao, Khai mục sao, luận Lập chính an quốc, Báo ân sao, Soạn thời sao. [X. Tam quốc cao tăng lược truyện Q.hạ; Bản hóa biệt đầu Phật tổ thống kỉ Q.3, 8].
Nhật Liên Tông
(日蓮宗, Nichirenshū): xem Pháp Hoa Tông bên dưới.
Nhật Liên tông
日蓮宗; C: rìliánzōng; J: nichiren-shū;|Một tông phái Phật giáo Nhật Bản, lấy tên của vị tổ sáng lập là Nhật Liên. Giáo pháp của tông phái này đặt nền tảng trên bộ Diệu pháp liên hoa kinh và danh hiệu phải niệm hàng ngày chính là tên của bộ kinh đó. Tông này có tính chất quốc gia cực đoan, muốn xây dựng một nền Phật giáo Nhật Bản rồi bành trướng ra ngoài. Qua thế kỉ 20, một khuynh hướng của Nhật Liên tông mới (Nhật liên chân tông, j: nichiren-shō-shū) ra đời với Nikko, xem Nhật Liên là »đức Phật thời mạt pháp« Nhật Liên tông có nhiều ảnh hưởng đến các tôn giáo quần chúng tại Nhật.|Giáo lí chủ yếu của tông nầy là Ngũ thời phán giáo và Tam đại bí pháp (三大祕法). Thứ nhất là Man-đa-la do Nhật Liên sáng tạo, trình bày giáo pháp Diệu pháp liên hoa. Ở giữa Man-đa-la này là hình một ngôi chùa, ngôi chùa tượng trưng cho Như Lai (s: tathāgata). Ngôi chùa này cũng diễn tả năm âm của tên kinh Diệu pháp liên hoa. Chung quanh tên này người ta thấy tên các vị Bồ Tát hoặc thiên nhân bảo hộ kinh. Di bảo thứ hai chỉ là đơn thuần tên kinh Diệu pháp liên hoa. Tụng đọc danh hiệu kinh này, hành giả sẽ thanh lọc Thân, khẩu, ý và thay thế luôn cho việc quy y Tam bảo. Di bảo thứ ba là một Khai đàn. Khai đàn mới đầu chỉ là một bục dùng để mở lễ truyền pháp quán đỉnh trong thiền viện nhưng được Nhật Liên đưa lên thành vật tượng trưng. Bản thân nước Nhật cũng là một Khai đàn. Quan điểm này cuối cùng tượng trưng cho đầu óc quốc gia cực đoan của giáo phái.
nhật liên tông
Nichiren-shŪ (J) Xem Nhật Liên.
; Nichiren-shu (J)
; Nichiren (jap)—New Lotus or Lotus-pietism (Mahayanistic)—Tông phái nầy mang tên của người sáng lập—This sect is called after its founder, Nichiren (see Nhật Liên). (A) Cương yếu về Nhật Liên tông—The preliminary of the Nichiren School: 1) Nhật Liên Tông còn có tên là Pháp Hoa Tông, được Ngài Nhật Liên, một Tăng sĩ Nhật bản sáng lập năm 1252 sau Tây Lịch, mà giáo thuyết dựa vào Tam Đại Bí Pháp. Môn đồ của phái Nhật Liên Tông thường niệm “Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.” —Nichiren sect, which is also known as the Lotus Sect (Pháp Hoa Tông), founded by Nichiren, a Japanese founder in 1252 AD. Nichiren believers devotedly recite “Namo Wonderful Law of the Lotus Sutra” (I trust in the sutra of the Lotus of the Wonderful Law). 2) Muốn tìm hiểu Nhật Liên tông, trước hết chúng ta tìm hiểu Kinh Pháp Hoa. Kinh nầy gồm 21 chương, nhưng sau đó do thêm thắt và phân chia mà thành ra 28 chương. Bản Hán dịch sớm nhất do ngài Pháp Hộ dịch năm 286 sau Tây Lịch; bản thứ hai do Cưu Ma La Thập dịch vào khoảng năm 406; và bản thứ ba đầy đủ nhất do Xà Na Quật Đa và Đạt Ma Cấp Đa dịch năm 601. Trong mấy bản nầy thì bản dịch của Cưu Ma La Thập là có văn chương hay nhất. Bản kinh 28 chương nầy được Trí Khải và Nhật Liên dùng: To know Nichiren School we must first know the Lotus text on which all his ideas and arguments are founded. Originally, the Lotus sutra consisted of twenty-one sections and was later enlarged into twenty-eight sections by additional revision. The earliest translation was by Dharmaraksa in 286 A.D., and the second by Kumarajiva in 406 A.D., and the third and complete translation by Jnanagupta and Dharmagupta in 601 A.D.. Among them, the second was the best in Chinese composition. The text of twenty-eight sections was used by Chih-I and Nichiren. (B) Giáo thuyết chính—Main doctrines of the Nichiren School: Sau nhiều năm nghiên cứu, Nhật Liên tuyên bố rằng bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa chính là sự phát triển chân lý cuối cùng. Ông đưa ra lời tán tụng kinh Diệu Pháp Liên Hoa, có lẽ là để hóa giải ảnh hưởng của việc niệm Phật suông của phái Tịnh Độ. Theo ông thì Đức Thích Ca Mâu Ni là Đức Phật vĩnh hằng và tuyệt đối, đọc kinh Diệu Pháp Liên Hoa hay chỉ cần đọc tên bộ kinh là cách tốt nhất để đạt đến giác ngộ. Giáo thuyết chính của Nhật Liên tông gồm tam mật—After many years of study, Nichiren declared the Lotus of the Good Law (Saddharma-pundarika) to be the final revelation of the truth. He introduced the formula 'homage to the sutra of the Lotus of the Good Law, perhaps to counteract the influence of the Pure Land sect (Jodo). According to him, the Sakyamuni Buddha is the eternal, absolute Buddha, and the recitation of the Saddharma-pundikara-sutra or even its title is the best way of attaining enlightenment. Its chief tenets are the three great mysteries, representing the Tripitaka: 1) Bổn Tôn: Hình tượng thờ phượng chính là mười phương vũ trụ Mạn đà la hay hóa thân của Phật—Chief object of worship being the great mandala of the worlds of the ten directions, or universe, such as the body or nirmanakaya of Buddha. 2) Đề Mục (Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh): Kinh Pháp Hoa, bắt đầu bằng chữ Nam-Mô hay sự tôn kính Bổn Kinh Pháp Hoa, vì đây chính là thân tinh thần của Phật—The title of the Lotus Sutra (Namo Wonderful Dharma Lotus Sutra or Homage to the Lotus of Truth), preceded by Namo, or Adoration to the scripture of the Lotus of the wonderful law, for it is Buddha's spiritual body. 3) Giới Đàn: Giới luật cũng dựa vào Kinh Pháp Hoa; một khi tín đồ tin tưởng, liền được vãng sanh về cõi Tịch Quang Tịnh Độ—The altar of the law, which is also the title of the Lotus Sutra; the believer, wherever he is, dwells in the Pure Land of calm light, the sambhogakaya. ** For more information, please see Nhật Liên.
; (日蓮宗) Cũng gọi Pháp hoa tông, Phật lập tông, Nhật liên pháp hoa tông. Tông Nhật liên do ngài Nhật liên sáng lập, 1 trong 13 tông của Nhật bản. Tông này lấy kinh Pháp hoa làm tông chỉ, hoằng dương tam đại bí pháp, cầu diệu ngộ Tức thân thành Phật. Giáo phán của tông này có Ngũ cương phán giáo là: Giáo, Cơ, Thời, Quốc và Tự. Còn tông chỉ của tông này là Tam đại bí pháp: 1. Bản tôn: Lấy 5 chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh do chính tay ngài Nhật liên viết và Mạn đồ la vẽ các vị tôn của Thiên bộ làm Bản tôn. 2. Đề mục: Tức 5 chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. 3. Giới đàn: Lấy đề mục làm giới thể, miệng xướng đề mục chính là giới Viên đốn. Tổng bản sơn của tông này là chùa Cửu viễn ở núi Thân diên, pháp hệ tông này truyền bá rất rộng. Ngài Nhật liên có rất nhiều đệ tử, trong đó có 6 vị ưu tú là: Nhật chiêu, Nhật lãng, Nhật hưng, Nhật hướng, Nhật đính và Nhật trì, gọi là Lục lão tăng. Nhật chiêu đứng đầu Lục lão, mở ra dòng Tân môn; đệ tử Nhật chiêu là Nhật hựu khai sáng dòng Ngọc trạch môn; đệ tử của Nhật lãng gồm 9 vị, đứng đầu là Nhật tượng, Nhật luân... người đương thời gọi là Lãng môn cửu phụng (9 con phượng dưới cửa Lãng). Sư Nhật tượng bắt đầu truyền giáo ở Kyoto vào năm Vĩnh nhân thứ 2 (1294), sáng lập chùa Diệu hiển, là 1 trong 21 bản sơn của tông Nhật liên ở vùng Lạc trung, pháp hệ của sư gọi là dòng Vương thành; pháp hệ của sư Nhật hưng gọi là dòng Phú sĩ môn. Đây là lần chia dòng phái đầu tiên của tông Nhật liên. Ngoài ra, còn có Nhật liên chính tông, Bản môn tông, Pháp hoa tông, Pháp hoa tông chính môn lưu, Bản môn pháp hoa tông, Pháp hoa tông bản môn lưu, Bản diệu pháp lưu tông, Pháp hoa tông châu môn lưu, Hiển bản pháp hoa tông,...
nhật liên tông toàn thư
(日蓮宗全書) Tác phẩm, 26 tập (bản Hòa trang 29 tập), do hội Xuất bản Nhật liên tông toàn thư biên soạn, do nhà sách Tu nguyên ốc ở Đông kinh ấn hành từ năm 1910 đến năm 1916. Đây là bộ tùng thư thu chép các tác phẩm nổi tiếng của tông Nhật liên, Nhật bản. Nội dung chia làm 4 bộ: Bản điển bộ, Chú sớ bộ, Sử truyện bộ và Luận thuật bộ.
Nhật Long
(日隆, Nichiryū, 1385-1464): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, vị Tổ khai sơn của Bổn Hưng Tự (本興寺) và Bổn Năng Tự (本能寺), vị Tổ đời thứ 7 của Diệu Liên Tự (妙蓮寺), vị Tổ của Phái Bát Phẩm (八品派, tức Dòng Bổn Môn Pháp Hoa Tông [法華宗本門流]); húy là Nhật Long (日隆), Nhật Lập (日立); tự là Thâm Viên (深圓), hiệu Tinh Tấn Viện (精進院), Quế Lâm Phòng (桂林房); xuất thân vùng Việt Trung (越中, Ecchū, thuộc Toyama-ken [富山縣]). Ông xuất gia ở Viễn Thành Tự (遠成寺) vùng Việt Trung, rồi theo hầu Nhật Tễ (日霽) ở Diệu Bổn Tự (妙本寺, tức Diệu Hiển Tự [妙顯寺]) ở kinh đô Kyoto. Sau khi Nhật Tễ qua đời, ông đối lập với Nguyệt Minh (月明), người kế thừa ngôi chùa này; rồi ông cùng với bác là Nhật Tồn (日存) rời khỏi chùa, chuyển đến sống ở Tượng Sư Đường (像師堂, tức Diệu Liên Tự). Ông đã từng kiến lập các chùa như Bổn Hưng Tự ở vùng Nhiếp Tân (攝津), Bổn Ứng Tự (本應寺, tức Bổn Năng Tự) ở kinh đô, v.v., và mở riêng một dòng phái khác. Trước tác của ông có rất nhiều như Tứ Thiếp Sao (四帖抄) 4 quyển, Bổn Môn Hoằng Kinh Sao (本門弘經抄) 113 quyển, Ngự Thư Văn Đoạn Tập (御書文段集) 5 quyển, Thập Tam Vấn Đáp Sao (十三問答抄) 2 quyển, Khai Tích Hiển Bổn Tông Yếu Tập (開迹顯本宗要集) 66 quyển, Tam Đại Bộ Lược Đại Ý (三大部略大意) 17 quyển, v.v.
Nhật Luân
(日輪, Nichirin, 1263-1333): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương và đầu thời đại Nam Bắc Triều, húy là Nhật Luân (日輪), tên lúc nhỏ là Quy Vương Ma Lữ (龜王麻呂), thông xưng là Đại Kinh A Xà Lê (大經阿闍梨), Trị Bộ Công (治部公); xuất thân vùng Bình Hạ (平賀, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), Hạ Tổng (下總, Shimōsa); con của Bình Hạ Trung Tình (平賀忠晴). Năm 1284, ông được Nhật Tượng (日像)—đệ tử của Nhật Lãng (日朗)—cảm hóa và xuất gia với Nhật Lãng. Sau đó, ông được Nhật Truyền hướng dẫn tu tập, và đến năm 1318 thì được nhường chức Quán Thủ của hai chùa Diệu Bổn Tự (妙本寺) ở Tỷ Xí Cốc (比企谷, Hikigayatsu) và Bổn Môn Tự (本門寺) ở Trì Thượng (池上, Ikegami). Sau khi Nhật Lãng qua đời, ông trở thành người kế thừa, tận lực giáo hóa đồ chúng và duy trì giáo đoàn. Ông là một trong 9 vị lão tăng thuộc môn hạ của Nhật Lãng.
nhật luân
Ngoại viện mặt trời—The sun disc, which is the exterior of the sun palace of the sun ruler.
; (日輪) I. Nhật Luân. Chỉ cho mặt trời, là cung điện của Nhật thiên tử nhìn từ bên ngoài. Quán tưởng mặt trời gọi là Nhật luân quán, là pháp quán đầu tiên trong 16 pháp quán ghi trong kinh Quán vô lượng thọ. Mật giáo thì dùng Nhật luân để biểu thị lí của Thai tạng giới và dùng Nguyệt luân (mặt trăng) để biểu thị trí của Kim cương giới, vì thế, hành giả Chân ngôn quán tưởng nhật nguyệt luân ở trái tim trong lồng ngực. [X. luận Bồ đề tâm; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.3; luận Câu xá 11] II. Nhật Luân. Sự chứng minh của kinh luận. Giáo pháp do đức Phật nói ra được ghi trong các kinh luận, có công năng diệt trừ vô minh phiền não của chúng sinh, cũng như mặt trời phá tan bóng tối, vì thế, kinh luận được ví như nhật luân. Luận Biện Hiển Mật nhị giáo quyển thượng (Đại 77, 375 trung) nói: Ta sẽ vì ngươi tung mặt trời (nhật luân) xua tan tăm tối, vung kim cương phá dẹp mê mờ.
nhật luân tam muội
Nhật Tuyền Tam Muội—Suryavarta-samadhi (skt)—Một trong mười sáu phép tam muội được kể trong Kinh Pháp Hoa—One of the sixteen samadhi mentioned in the Lotus Sutra.
Nhật Lãng
(日朗, Nichirō, 1245-1320): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương, một trong Lục Lão Tăng (六老僧); Tổ của Dòng Phái Nhật Lãng (日朗門流); húy là Nhật Lãng (日朗), tên lúc nhỏ là Cát Tường Ma Lữ (吉祥麻呂); thông xưng là Đại Quốc A Xà Lê (大國阿闍梨), tự là Đại Quốc (大國); hiệu Chánh Pháp Viện (正法院), Trúc Hậu Phòng (筑後房); xuất thân vùng Năng Thủ (能手), Hạ Tổng (下總, Shimōsa); con của Ấn Đông Thứ Lang Tả Vệ Môn Úy Hữu Quốc (印東次郎左衛門尉有國). Ông theo học giáo lý với người chú là Nhật Chiêu (日昭), rồi sau đó xuất gia theo Nhật Liên. Năm 1271, khi chính quyền Mạc Phủ cũng như các tông phái khác đàn áp Nhật Liên Tông, ông bị bắt giam tại Liêm Thương, rồi sau đó ông ở lại đây để lãnh đạo giáo đoàn và truyền đạo. Năm 1282, khi Nhật Liên sắp lâm chung, ông được chọn làm một trong 6 đệ tử chân truyền. Rồi sau khi thầy qua đời, ông lấy hai chùa Bổn Môn Tự (本門寺) ở vùng Trì Thượng (池上, Ikegami) và Diệu Bổn Tự (妙本寺) ở Liêm Thương làm cứ điểm để phát triển giáo đoàn. Ông đào tạo ra nhóm đệ tử Nhật Tượng (日像), Nhật Luân (日輪), Nhật Điển (日典), và tạo thành một phái riêng gọi là Dòng Phái Nhật Lãng. Trước tác của ông có Bổn Tích Kiến Văn Sao (本迹見聞抄) 1 quyển, Bổn Tích Vi Mục (本迹違目) 1 quyển, Như Thiên Cam Lồ Sao (如天甘露抄) 1 quyển, Bổn Tôn Minh Kính Sao (本尊明鏡抄) 1 quyển, v.v.
Nhật Môn
(日門, Nichimon, ?-1579): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Chiến Quốc, húy là Nhật Môn (日門); hiệu Phổ Truyền Viện (普傳院); xuất thân vùng Phì Tiền (肥前, Hizen, thuộc Saga-ken [佐賀縣]). Năm 1567, ông xuống miền Bắc để truyền bá Nhật Liên Tông và lấy Bổn Hành Tự (本行寺) ở vùng Thượng Tổng (上總, Kazusa) làm cứ điểm hành đạo. Sau đó, ông lên kinh đô, sáng lập ra Bổn Diệu Tự (本妙寺) ở vùng Bát Phan (八幡), Cận Giang (近江, Ōmi), và mở rộng truyền đạo hàng phục các phái khác dưới Thành An Thổ (安土城, Azuchi-jō). Đến năm 1579, thể theo mệnh lệnh của Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga), ông làm Chấp Sự trong cuộc Luận Tranh Tông Nghĩa An Thổ, và ông bị giết chết trong kế hoạch đàn áp Nhật Liên Tông.
nhật một
(日沒) Mặt trời lặn. Chỉ cho khoảng thời gian từ giờ Mùi đến giờ Dậu, tức là từ 14 giờ đến 18 giờ chiều, 1 trong 6 thời. (xt. Tam Thời).
Nhật Mục
(日目, Nichimoku, 1260-1333): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Liêm Thương, vị Tổ đời thứ 3 của Đại Thạch Tự (大石寺), húy là Nhật Mục (日目), thông xưng là Tân Điền Hương A Xà Lê (新田郷阿闍梨), Hương Công (郷公); hiệu là Liên Tạng Phòng (蓮藏房); xuất thân vùng Y Đậu (伊豆, Izu); con trai thứ 5 của Tân Điền Trùng Cương (新田重綱). Lúc lên 15 tuổi, ông đến làm đệ tử của Nhật Hưng (日興, Nikkō) và theo hầu hạ Nhật Liên ở Thân Diên Sơn (身延山). Sau khi Nhật Liên qua đời, ông đến bố giáo ở vùng Lục Áo (陸奥, Michinoku) và sáng lập ra các chùa như Bổn Nguyện Tự (本願寺), Thượng Hành Tự (上行寺), v.v. Sau ông đi theo Nhật Hưng chuyển đến vùng Phú Sĩ (富士, Fuji), Tuấn Hà (駿河, Suruga), kế thừa Đại Thạch Tự và hoạt động tích cực trong việc truyền bá giáo lý Tông môn.
nhật ngung trung
Giờ Tỵ, 10 giờ sáng. Tông Thiên Thai cho rằng giờ nầy là giờ của trí huệ Bát Nhã—10 AM styled by the T'ien-T'ai the hour of wisdom.
Nhật Nguyên
(日源, Nichigen, ?-1609): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại An Thổ Đào Sơn, húy là Nhật Nguyên (日源); xuất thân vùng Việt Tiền (越前, Echizen, thuộc Fukui-ken [福井縣]). Sau khi xuất gia, ông đi vân du khắp các tiểu quốc; rồi trong khoảng thời gian niên hiệu Văn Lộc (文祿, 1592-1596), ông dừng chân trú tại Phước Vương Tự (福王寺) ở vùng Câu Khẩu (溝口), thuộc Trúc Hậu (筑後, Chikugo). Chính ông đã chỉ bầy cho người dân trong vùng cách làm giấy, lấy tên là Giấy Câu Khẩu và đem đi bán khắp nơi trong nước.
nhật nguyệt
Sun and moon.
nhật nguyệt luân
(日月輪) Trong Mật giáo, Nhật luân biểu thị lí của Thai tạng giới, Nguyệt luân biểu thị trí của Kim cương giới; vì thế chư Phật dùng trí phương tiện thiện xảo khiến hành giả quán tưởng Nhật nguyệt luân(mặt trời, mặt trăng) ở trong tâm mình, làm cho tâm trở nên trong sáng.[X. luận Bồ đề tâm; Bồ đề tâm nghĩa Q.1, phần cuối].
nhật nguyệt tịnh minh đức
Candra-vimala-surya-prabhasa-sri—Vị Phật mà pháp giới cũng giống như An Dưỡng Quốc của Phật A Di Đà—A Buddha whose realm resembles Sukhavati of Amitabha Buddha. ** For more information, please see Sukhavati.
Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật
日月燈明佛; C: rìyuèdēngmíng fó; J: nichigatsutōmyō butsu;|Đức Phật có hào quang sáng chói của mặt trời, mặt trăng và đèn (s: candra-sūrya-pradīpa-buddha). Đức Phật được đề cập trong kinh Pháp Hoa, vị Phật thường giảng thuyết cùng một bài pháp vô lượng kiếp trong quá khứ.
nhật nguyệt đăng minh phật
Candra-suryapradīpa Buddha (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Cand-surya-pradīpa (S)Đăng Minh PhậtTên một vị Phật hay Như Lai.
; Candra-Surya-Pradipa—Kandrarkadipa (skt)—Theo Phẩm Tự của Kinh Pháp Hoa, đời quá khứ có hai vạn vị Phật có cùng tên là Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật, đã kế tiếp nhau xuất hiện nơi đời mà thuyết Kinh Pháp Hoa—According to the Lotus Sutra, the is the title of 20,000 Buddhas in the past kalpas, who succeeded each other preaching the Lotus Sutra.
; (日月燈明佛) Nhật nguyệt đăng minh, Phạm: Candrasùrya-pradìpa. Cũng gọi Đăng minh Phật. Danh hiệu của đức Phật nói kinh Pháp hoa ở thời quá khứ. Ánh sáng của Ngài sáng như mặt trời, mặt trăng và như các ngọn đèn ở thế gian, nên Ngài có tên là Nhật nguyệt đăng minh. Cứ theo phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa quyển 1, vào thời quá khứ có 2 vạn đức Phật hiệu là Nhật nguyệt đăng minh nối tiếp nhau ra đời, đều tuyên thuyết kinh Pháp hoa. Kinh Ngũ thiên ngũ bách Phật danh thần chú trừ chướng diệt tội, cũng có nêu danh hiệu của đức Phật Nhật nguyệt đăng minh và nói rằng những người nào trì niệm danh hiệu của Ngài thì sẽ không bị rơi vào các đường ác. Còn kinh Phật bản hạnh tập quyển 1 thì nói, sáu vạn đức Phật đều cùng hiệu Đăng minh Như lai. Ngoài ra, kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 5 thì cho biết, trong đời quá khứ, bồ tát Di lặc đã từng theo đức Phật Nhật nguyệt đăng minh xuất gia học đạo. [X. kinh Phật danh Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1, phần đầu; Pháp hoa kinh văn cú Q.2, phần cuối; Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.4].
nhật nguyệt đăng phật
Sun Moon Lamp Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai.
nhật ngụ trung
(日禺中) Ngu trung là 10 giờ sáng, tức giờ Tị. Tông Thiên thai phối hợp giờ này với thời thứ 4 trong 5 thời phán giáo, tức là thời kì 22 năm đức Phật nói các bộ kinh Bát nhã.
Nhật Nhân
(日仁, Nichinin, ?-1416): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, vị Tổ đời thứ 3 của Diệu Mãn Tự (妙滿寺); húy là Nhật Nhân (日仁); thông xưng là Tể Tướng A Xà Lê (宰相阿闍梨); hiệu Thiện Như Phòng (善如房), Bổn Giác Phòng (本覺房). Ông được Nhật Thập (日什) giao lại cho Diệu Pháp Tự (妙法寺) ở vùng Lục Áo (陸奥, Michinoku, thuộc Fukushima-ken [福島縣]); rồi sau đó thì được bổ nhiệm làm trú trì đời thứ 3 của Diệu Mãn Tự ở kinh đô Kyoto. Ông tiếp tục kế thừa phong trào dâng lời can gián của Nhật Thập; và năm 1398 đã cùng với Nhật Thật (日實) tố cáo Túc Lợi Nghĩa Mãn (足利義滿). Nhân đó, Nghĩa Mãn nổi giận, bắt ông đem khảo tra, nhưng ông vẫn không hề khuất phục. Ông là một trong 6 đệ tử chân truyền của Nhật Thập.
nhật nhật thị hảo nhật
(日日是好日) Cũng gọi Vân môn nhật nhật thị hảo nhật.Tên công án trong Thiền tông. Ngày nào cũng là ngày tốt. Tắc 6 trong Bích nham lục (Đại 48, 145 hạ) chép: Ngài Vân môn bảo 1 vị tăng: 15 ngày trở về trước không hỏi ông, 15 ngày về sau đây ông hãy nói 1 câu xem! Rồi ngài tự nói thay: Ngày nào cũng là ngày tốt.
Nhật Niệm
(日念, Nichinen, 1634-1707): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng đầu thời đại Giang Hộ, húy là Nhật Niệm (日念), tự Hiếu Tồn (孝存), hiệu Giác Thành Viện (覺成院); xuất thân vùng Điểu Vũ (鳥羽), Sơn Thành (山城, Yamashiro). Ông xuất gia lúc còn nhỏ ở Đảnh Diệu Tự (頂妙寺), Kyoto; rồi sau trở thành môn hạ của Nhật Thẩm (日審). Sau đó, ông tham gia khóa học tại Trung Thôn Đàn Lâm (中村檀林) ở vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), và làm trú trì đời thứ 3 của Tịnh Tâm Tự (淨心寺) ở Giang Hộ.
Nhật Quang
(日珖, Nichikō, 1532-1598): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, húy là Nhật Quang (日珖); hiệu Long Vân Viện (龍雲院), Phật Tâm Viện (佛心院); xuất thân vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi, thuộc Osaka). Ban đầu, ông theo hầu Nhật Triêm (日沾) ở Trường Nguyên Tự (長源寺) thuộc vùng Hòa Tuyền; đến năm 17 tuổi thì đến tham học ở Viên Thành Tự (園城寺) cũng như Tỷ Duệ Sơn. Sau đó, ông đi bố giáo khắp các nơi, rồi đến năm 1568 thì sáng lập ra Diệu Quốc Tự (妙國寺), và cùng với Nhật Thuyên (日詮), Nhật Đế (日諦) thuyết giảng về 3 bộ kinh của Thiên Thai. Ông đã nuôi dưỡng khá nhiều học đồ, xây dựng cơ sở trường học Đàn Lâm dưới thời Giang Hộ. Vào năm 1579, với tư cách là thành viên đại biểu cho Nhật Liên Tông, ông có tham gia vào cuộc tranh luận Tông nghĩa ở An Thổ (安土), và bị đàn áp theo kế hoạch của Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga). Về sau, ông đến sống ở Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) thuộc vùng Trung Sơn (中山, Nakayama), Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]) và chuyên tâm lãnh đạo giáo đoàn. Trước tác của ông có Văn Cú Vô Tư (文句無私) 25 quyển, Kỷ Hành Ký (己行記) 1 quyển, Thần Đạo Đồng Nhất Hàm Vị Sao (神道同一鹹味抄) 6 quyển, An Thổ Vấn Đáp Ký Lục (安土問答記錄) 1 quyển, v.v.
nhật quang
Sunlight, sunbesm.
; Sunlight.
Nhật Quang Biến Chiếu
(日光遍照): xem Nhật Diệu (日耀) bên trên.
nhật quang bồ tát
SŪrya-Prabhā (S)Vị Bồ tát hầu bên trái Dược Sư Như Lai.
; Surya-prabhasana—Một trong hai Bồ Tát hầu cạnh Phật Dược Sư. Vị Bồ Tát nầy ở ngôi vị thứ chín trong Viện Địa Tạng của Thai Tạng Giới—Sunlight Bodhisattva, one of the two Bodhisattvas who are assistants of the Master of Healing (Dược Sư). Sunlight Bodhisattva is the ninth in the Ti-Tsang Court of the Garbhadhatu group. ** For more information, please see Nguyệt Quang Bồ Tát.
; (日光菩薩) I. Nhật Quang Bồ Tát. Nhật quang, Phạm: Sùrya-prabha. Cũng gọi Nhật diệu bồ tát, Nhật quang biến chiếu bồ tát. Một trong 2 vị Bồ tát đứng hầu 2 bên đức Dược sư Như lai. Hình tượng vị Bồ tát này mình màu đỏ, tay trái cầm Nhật luân (mặt trời), tay phải cầm vòng hoa màu đỏ thắm. [X. kinh Dược sư Như lai bản nguyện; kinh Quán đính Q.12; kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyện công đức]. II. Nhật Quang Bồ Tát. Nhật quang, Phạm:Sùrya-prabhàsana. Cũng gọi Nhật quang minh bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở đầu cực tây (hàng dưới cùng) trong viện Trừ cái chướng trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo.Kinh Đại nhật không ghi chép về vị Bồ tát này, nhưng trong Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2 và Thanh long tự nghi quĩ quyển trung, Ngài được xếp trong viện Địa tạng.Hình tượng vị tôn này mình màu da người, co khuỷu tay phải, bàn tay dựng đứng và hướng ra ngoài, ngón tay giữa, ngón vô danh và ngón út co lại; tay trái nắm lại thành quyền, để ở chỗ rốn, tay cầm hoa sen, trên hoa có hạt châu. Mật hiệu là Uy đức kim cương, hình Tam muội da là vật báu màu đỏ. [X. Bí tạng kí; Thai tạng giới thất tập Q.trung].
nhật quang minh bồ tát
SŪrya-Prabhāsana (S)Tên một vị Bồ tát thuộc Viện Trừ Cái Chướng.
Nhật Quán Tử Ôn
(日觀子溫, Nikkan Shion, ?-1293): vị tăng họa sĩ dưới thời nhà Tống và đầu nhà Nguyên, xuất thân Hoa Đình (華亭, Tùng Giang, Tỉnh Giang Tô), tự Trọng Ngôn (仲言), hiệu Nhật Quán (日觀), Tri Phi Tử (知非子, hay Tri Quy Tử [知歸子]), còn gọi là Ôn Nhật Quán (溫日觀). Ông xuất gia lúc còn nhỏ, trú tại Mã Não Tự (瑪瑙寺) vùng Cát Lãnh (吉嶺, phía Bắc Tây Hồ, Hàng Châu), đặc biệt có năng khiếu viết chữ thảo, chuyên vẽ tranh bồ đào (nho), cho nên người đời gọi ông là Ôn Bồ Đào (溫葡萄). Tính ông thích uống rượu, mặc áo cụt, bước chân cao chân thấp say trong chợ, người ta chẳng biết là phàm hay thánh. Tương truyền Dương Tổng Thống (楊總統) mời ông uống rượu ngon, nhưng ông chẳng đụng đến một giọt nào mà chửi họ Dương là “tên giặc đào đất.”
nhật sanh phật
Sun Birth Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai.
nhật thiên
Adithya (S)Tên một vị trời.
; (日天) Phạm: Àditya. Hán âm: A nê để da. Cũng gọi Nhật thiên tử, Nhật thần. Tên của đấng Tạo hóa trong thần thoại Ấn độ, cũng là tên khác của thần Mặt trời (Phạm: Sùrya, Hán âm: Tô lợi da). Sau khi được đưa vào Mật giáo, Nhật thiên trở thành 1 trong 12 vị trời, tức là Đại nhật Như lai trụ trong Phật nhật tam muội, vì lợi ích của chúng sinh mà tùy duyên xuất hiện nơi đời, khi phá các tối tăm thì tâm bồ đề tự nhiên hiển bày, giống như mặt trời chiếu soi hết thảy chúng sinh, cho nên gọi là Nhật thiên. Trong viện Ngoại kim cương bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới, hình tượng vị tôn này ngồi trên cỗ xe 5 ngựa màu đỏ, 2 tay đều cầm hoa sen, có 2 bà phi là: Thệ da (Phạm: Jayà) và Vi thệ da hạm: Vijaya). Nếu là trong bức tranh vẽ 12 vị trời, thì trên bông sen bên tay phải của Nhật thiên còn để Nhật luân, trong Nhật luân có con quạ 3 chân. (X. Thanh long nghi quĩ; Đại nhật kinh sớ Q.5, 10; Bí tạng kí].
nhật thiên chúng
Đoàn tùy tùng của Trời Đế Thích trong cung điện Mặt Trời của ngài—The retinue of Indra in his palace of the sun.
nhật thiên tử
Supra (skt)—Tô Lợi Da—Tu Lợi—Tu Dã Thiên Tử—Tu ý Thiên Tử—Bảo Quang Thiên Tử hay Bảo Ý Thiên Tử, là biến hóa thân của Quán Âm Bồ Tát, trụ ở trong mặt trời—The sun-ruler, one of the metamorphoses of Kuan-Yin, dwelling in the sun as palace, driving a quadriga.
Nhật Thái
(日泰, Nittai, 1432-1506): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Thất Đinh và Chiến Quốc, vị Tổ đời thứ 16 của Diệu Mãn Tự (妙滿寺); húy là Nhật Thái (日泰), hiệu Tâm Liễu Viện (心了院); xuất thân vùng Kyoto. Ông theo hầu Nhật Tuân (日遵) ở Diệu Mãn Tự thuộc kinh đô Kyoto. Sau khi đi tham học ở các vùng Nam Đô, Tỷ Duệ Sơn, Cao Dã Sơn, ông đến truyền đạo vùng Quan Đông (關東, Kantō). Ông lấy Bổn Quang Tự (本光寺) ở vùng Phẩm Xuyên (品川, Shinagawa), Võ Tàng (武藏, Musashi, thuộc Tokyo) làm cứ điểm hành đạo, rồi tái kiến Bổn Hành Tự (本行寺) ở vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]) nhờ sự hỗ trợ đắc lực của vị Thành Chủ Tửu Tỉnh Định Long (酒井定隆). Hơn nữa, ông còn khai sáng Bổn Thọ Tự (本壽寺) ở vùng Thượng Tổng (上總, Kazusa, cũng thuộc Chiba-ken [千葉縣]) và làm cho những người dân địa phương nơi đây chuyển sang Nhật Liên Tông.
Nhật Thân
(日親, Nisshin, 1407-1488): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, húy là Nhật Thân (日親); hiệu Cửu Viễn Thành Viện (久遠成院); xuất thân vùng Thực Cốc (埴谷), Thượng Tổng (上總, Kazusa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]). Ban đầu, ông theo xuất gia với Nhật Anh (日英) ở Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) thuộc vùng Trung Sơn (中山, Nakayama), Hạ Tổng (下總, Shimōsa); rồi tu học với Nhật Tát (日薩), Nhật Xiêm (日暹). Với tư cách là Tổng Đạo Sư vùng Cửu Châu (九州, Kyūshū), ông chỉ đạo giáo đoàn ở Quang Thắng Tự (光勝寺) vùng Phì Tiền (肥前, Hizen, thuộc Saga-ken [佐賀縣]); nhưng vì ông quán triệt được tín ngưỡng Pháp Hoa nên bị loại trừ ra khỏi Môn Phái Trung Sơn. Về sau, ông lên kinh đô dâng lời can gián lên Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Giáo (足利義敎, Ashikaga Yoshinori), rồi viết ra cuốn Lập Chánh Trị Quốc Luận (立正治國論) và trình lên cho vị này. Sau khi ông bị bắt giam vào ngục thất và chịu hình phạt nặng, nhưng rồi được tha tội và ông đến ở tại Bổn Pháp Tự (本法寺) chuyên tâm bố giáo rất tích cực. Tương truyền trong khi bị tra tấn, ông phải chịu hình phạt đội nồi, nên từ đó người ta vẫn thường gọi ông là Nhật Thân Đội Nồi. Truớc tác của ông có Lập Chánh Trị Quốc Luận (立正治國論) 1 quyển, Chiết Phục Chánh Nghĩa Sao (折伏正義抄) 1 quyển, Thực Cốc Sao (埴谷抄) 1 quyển, Truyền Đăng Sao (傳燈抄) 1 quyển, Bổn Pháp Tự Duyên Khởi (本法寺緣起) 1 quyển, v.v.
Nhật Thông
(日通, Nittsū, 1551-1608): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, húy là Nhật Thông (日通); hiệu Công Đức Viện (功德院), xuất thân vùng Osaka; con của Du Ốc Thường Kim (油屋常金). Ông theo hầu Nhật Quang (日珖) ở Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) thuộc vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]); rồi đến năm 1588 thì làm trú trì đời thứ 10 của Bổn Pháp Tự (本法寺) ở kinh đô Kyoto. Nhờ có nhà họ Bổn A Di (本阿彌) cũng như Trường Cốc Xuyên Đẳng Bá(長谷川等伯) quy y theo, vào năm 1590, ông dời chùa này đến vùng khác và xây dựng các ngôi đường vũ của chùa sáng lạn hơn. Đến năm 1601, ông kiêm làm trú trì đời thứ 14 của Pháp Hoa Kinh Tự. Chính ông đã tiến hành sao chép lại một cách trung thành bản Quán Tâm Bổn Tôn Sao (觀心本尊抄) cũng như các di văn khác của nhật liên, rồi đem an trí tại Bổn Pháp Tự. Trước tác của ông có Văn Nghĩa Đồng Loại Tập (文義同類集) 30 quyển.
Nhật Thẩm
(日審, Nisshin, 1599-1666): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng đầu và giữa thời đại Giang Hộ, húy là Nhật Thẩm (日審), tự Văn Gia (文嘉); hiệu Linh Thứu Viện (靈鷲院); xuất thân vùng Kyoto, con trai thứ 3 của Giang Thôn Cửu Mậu (川村久茂). Lúc lên 8 tuổi, ông theo xuất gia với Nhật Huyền (日玄) ở Huệ Quang Tự (慧光寺) thuộc Kyoto. Từ năm 17 tuổi trở đi, ông theo học các khoa học tại những trường Đàn Lâm. Đến năm 1629, ông làm trú trì đời thứ 12 của Trường Nguyên Tự (長源寺) vùng Nhược Hiệp (若狹, Wakasa, thuộc Fukui-ken [福井縣]), rồi đi bố giáo ở địa phương Cửu Châu (九州, Kyūshū) cho đến năm 1640. Năm sau, ông làm Hóa Chủ cho Lục Điều Đàn Lâm (六條檀林, tức Bổn Quốc Tự [本圀寺]); đến năm 1647 thì làm trú trì đời thứ 20 của Lập Bổn Tự (立本寺) tại kinh đô Kyoto. Ông đã từng đi khắp toàn quốc mà thuyết giáo Kinh Pháp Hoa và rất nổi tiếng với tư cách là Tăng sĩ bố giáo thời Cận Đại. Trước tác của ông có Pháp Hoa Khẩu Diễn Sao (法華口演抄) 4 quyển, Pháp Hoa Tọa Đàm Nghĩa (法華坐談義) 1 quyển, Viên Đốn Giả Giảng Thảo (圓頓者講草) 1 quyển.
Nhật Thập
(日什, Nichijū, 1314-1392): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng thời đại Nam Bắc Triều, vị Tổ khai sơn Diệu Mãn Tự (妙滿寺, Myōman-ji), Tổ của Phái Diệu Mãn Tự (妙滿寺派, tức Hiển Bổn Pháp Hoa Tông [顯本法華宗]); húy là Nhật Thập, thông xưng là Huyền Diệu A Xà Lê (玄妙阿闍梨); xuất thân vùng Hội Tân (會津, Aizu, thuộc Fukushima-ken [福島縣]), họ Thạch Trũng (石塚). Trước kia, ông đã từng theo hầu Từ Biến (慈遍) ở Thượng Trí Viện (上智院) trên Tỷ Duệ Sơn, tu học giáo lý Thiên Thai và nỗ lực giáo hóa đồ chúng ở Đông Quang Tự (東光寺) vùng Hội Tân. Sau đó, ông ngộ được lý trong bộ Khai Mục Sao (開目抄) của Nhật Liên và cải tông theo Nhật Liên Tông. Ông chủ trương trực tiếp được trao truyền từ Nhật Liên và truyền thừa quyển kinh này. Từ năm 1381 trở đi, ông thỉnh thoảng hay lên kinh đô để dâng sớ can gián nhóm Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Mãn (足利義滿, Ashikaga Yoshimitsu), rồi đến năm 1389 thì khai sáng Diệu Mãn Tự ở kinh đô; tách riêng khỏi phái của Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) ở Trung Sơn (中山, Nakayama), Hạ Tổng (下總, Shimōsa). Trước tác của ông có Phúng Tụng Văn (諷誦文) 1 quyển, Chơn Gián Quy Phục Trạng (眞間歸伏狀) 1 quyển.
Nhật Thật
(日實, Nichijitsu, ?-1458): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, húy là Nhật Thật (日實); tự Huyền Võ (玄武), hiệu Long Hoa Viện (龍華院). Năm 1427, ông được Bổn Ứng Tự (本應寺, tức Lập Bổn Tự [立本寺]) thỉnh đến làm trú trì đời thứ 5 của chùa.
nhật thực
Solar eclipse.
nhật tinh ma ni
Tên một loại châu ngọc, người mù mà chạm vào ngọc nầy thời được sáng mắt—A pearl (mani), crystal clear as the sun, which gives sight to the blind.
; (日精摩尼) Chỉ cho hỏa châu. Trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm thì tay thứ 8 bên phải cầm Nhật tinh ma ni. Cứ theo Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni, nếu mắt của người mù được chạm vào Nhật tinh ma ni thì sẽ thấy ánh sáng trở lại. [X. phẩm Uất đơn việt trong kinh Trường a hàm Q.10; kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp].
nhật tinh tú
Naksatratara-raja-ditya (skt)—Mức độ thiền định, chẳng hạn như nhắm vào mặt trời, tinh tú hay chòm sao mà định—A degree of meditation, such as the sun, stars and constellations samadhi.
nhật toàn tam muội
(日旋三昧) Cũng gọi Nhật luân tam muội. Một trong 16 tam muội nói trong phẩm Diệu âm kinh Pháp hoa. Trong Pháp hoa nghĩa sớ quyển 12 (Đại 34, 622 trung), ngài Gia tường nói: Nhật toàn tam muội giống như Nhật thiên ngồi trên cung điện mặt trời, chiếu rọi các chúng sinh, xoay hết vòng thì trở lại từ đầu. Tức dùng ánh sáng mặt trời chiếu xuống muôn vật để ví dụ ánh sáng bình đẳng của bồ tát Diệu âm soi rọi hết thảy chúng sinh không phân biệt. (xt. Thập Lục Tam Muội).
Nhật Triêu
(日朝, Nicchō, 1422-1500): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Thất Đinh và Chiến Quốc, húy là Nhật Triêu (日朝); thông xưng là Gia Hạ A Xà Lê (加賀阿闍梨); tự là Kính Trừng (鏡澄), hiệu Bảo Tụ Viện (寶聚院), Hành Học Viện (行學院); xuất thân vùng Shizuoka-ken (靜岡縣). Năm lên 8 tuổi, ông theo xuất gia với Nhật Xuất (日出) khi vị này đang trên đường giáo hóa ở địa phương Y Đậu (伊豆, Izu). Sau ông đến tu học ở Vô Lượng Thọ Tự (無量壽寺, tức Hỷ Đa Viện [喜多院]) của Thiên Thai Tông. Đến năm 1462, ông kế thừa làm trú trì đời thứ 11 của Cửu Viễn Tự (久遠寺), rồi dời chùa về vị trí hiện tại và chỉnh đốn chùa hoàn bị. Hơn nữa, ông còn thâu tập những di văn của Nhật Liên, rồi chú giải, mở ra những hội thuyết giảng hỏi đáp, và tận lực chấn hưng giáo học Tông môn. Trước tác của ông có rất nhiều như Ngự Thư Kiến Văn (御書見聞) 44 quyển, Nguyên Tổ Hóa Đạo Ký (元祖化道記) 2 quyển, Bổ Thí Tập (補施集) 112 quyển, Hoằng Kinh Dụng Tâm Ký (弘經用心記) 5 quyển, v.v.
Nhật Trung
(日中, Nicchū, 1630-1701): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng đầu và giữa thời đại Giang Hộ, húy là Nhật Trung (日中); tự Tỉnh Kỷ (省己), hiệu Chánh Trú Viện (正住院), Đồng Quảng (同廣). Ông là người học rộng hiểu nhiều, có tài về văn chương cũng như Hán Thi; có mối thâm giao với Nguyên Chính (元政) ở Thoại Quang Tự (瑞光寺) vùng Thâm Thảo (深草, Fukakusa), Sơn Thành (山城, Yamashiro). Trong khoảng thời gian niên hiệu Nguyên Lộc (元祿, 1688-1704), ông sáng lập ra Khê Thiệt Luật Viện (溪舌律院) ở Thân Diên Sơn (身延山) và chuyên hành trì luật Pháp Hoa. đến cuối đời ông trở về Diệu Pháp Tự (妙法寺).
; (日忠, Nicchū, 1438-1503): ): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, húy là Nhật Trung (日忠); hiệu Thập Thừa Phòng (十乘房), Thường Trú Viện (常住院). Ông vốn là tăng sĩ của Thiên Thai Tông, sau mến mộ học phong của Nhật Long (日隆) cũng như Nhật Khánh (日慶), nên cải hóa sang Nhật Liên Tông. Vào năm 1473, khi Nhật Khánh sáng lập Đạo Luân Học Thất ở Diệu Liên Tự (妙蓮寺) vùng Kyoto, ông là người quản lý cơ sở này và làm cho giáo học Tông môn hưng thịnh. Hơn nữa, ông còn tận lực làm cho nối kết lại mối bất hòa giữa môn phái của ông với Bổn Năng Tự (本能寺) thuộc Môn Phái Nhật Long vốn đã đoạn tuyệt giao hảo từ lâu. Ông được truy tặng trú trì đời thứ 6 của Diệu Liên Tự. Trước tác của ông có Quán Tâm Bổn Tôn Sao Kiến Văn (觀心本尊抄見聞) 2 quyển, Khai Tích Hiển Bổn Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Trực Đàm Sao (開迹顯本妙法蓮華經直談抄) 1 quyển, Huyền Nghĩa Lược Đại Cương (玄義略大綱) 2 quyển, v.v.
nhật trung
(日中) Một trong 6 thời, chỉ cho khoảng thời gian từ giờ Tị đến giờ Mùi, tức 10 giờ đến 14 giờ. (xt. Tam Thời).
nhật trung bảo thạch
(日中寶石) Đá quí để dưới ánh sáng mặt trời lúc giữa trưa, hiện ra đủ các màu sắc xanh vàng đỏ trắng, không có màu nào nhất định; ví dụ cảnh giới tự do tự tại, không bị kẹt dính vào 1 chỗ nào. Ví dụ này có xuất xứ từ kinh Đại bát niết bàn quyển 22 (bản Nam). Tắc 18 trong Thung dung lục (Đại 48, 238 trung) nói: Đá quí để dưới ánh sáng mặt trời lúc giữa trưa (nhật trung bảo thạch) hiện ra màu sắc không nhất định.
nhật trung nhất thực
(日中一食) Giữa ngày ăn 1 bữa, là 1 trong 12 hạnh đầu đà. Giới luật qui định, người xuất gia tu đạo, mỗi ngày chỉ được ăn 1 bữa vào giờ Ngọ, ngoài thời gian ấy ra không được ăn. [X. kinh Thập nhị đầu đà]. (xt. Trì Ngọ).
Nhật Truyền
(日傳, Nichiden, 1482-1548): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa thời đại Chiến Quốc, vị Tổ đời thứ 13 của Cửu Viễn Tự (久遠寺), húy là Nhật Truyền (日傳); tự Thừa Hải (承海), hiệu Bảo Tụ Viện (寶聚院). Ông từng theo hầu Nhật Triêu (日朝) cũng như Nhật Ý (日意) ở Cửu Viễn Tự; rồi đến năm 1519 thì làm Tổ đời thứ 13 của chùa này. Trong khoảng thời gian 25 năm làm trú trì, ông đã kế thừa sự nghiệp tái hưng chùa của Nhật Triêu và Nhật Ý, tái kiến Tổ Sư Đường, và xây dựng một số kiến trúc khác. Nhờ vị quan Thủ Hộ vùng Giáp Phỉ (甲斐, Kai) là Võ Đa Tín Hổ (武田信虎) quy y theo, ông đã biến ngôi Diệu Thắng Tự (妙勝寺) ở vùng Vĩ Trương (尾張, Owari) thành ngôi chùa trung tâm lớn; cho đệ tử Nhật Nghiệm (日驗) đến vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi) để xây dựng Thành Tựu Viện (成就院), và tận lực mở rộng phạm vi giáo hóa của Môn Phái Lục Điều. Trước tác của ông có Bổn Tích Vấn Đáp Cao Quảng Nghĩa (本迹問答高廣義) 1 quyển.
Nhật Trì
(日持, Nichiji, 1250-?): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và cuối thời Liêm Thương, một trong Lục Lão Tăng (六老僧); húy là Nhật Trì (日持), tên lúc nhỏ là Tùng Thiên Đại (松千代), thông xưng là Giáp Phỉ Công (甲斐公), Liên Hoa A Xà Lê (蓮華阿闍梨); hiệu là Bổn Ứng Viện (本應院); xuất thân vùng Tùng Dã (松野), Tuấn Hà (駿河, Suruga, thuộc Shizuoka-ken [靜岡縣]); con trai thứ 2 của Tùng Dã Lục Lang Tả Vệ Môn (松野六郎左衛門). Trước kia ông có tu học về giáo lý Thiên Thai ở Thật Tướng Tự (實相寺) vùng Tuấn Hà; sau đó, nghe theo lời khuyên của Nhật Hưng (日興), ông đến làm đệ tử của Nhật Liên, và thường theo hầu hạ thầy ở Tá Độ (佐渡, Sado) cũng như Thân Diên Sơn (身延山). Về sau, ông khai sáng ra Liên Vĩnh Tự (蓮永寺) ở vùng Tùng Dã, Tuấn Hà. Đến năm 1288, ông tạo lập tôn tượng của Nhật Liên trong dịp húy kỵ lần thứ 7, và đem an trí tại Bổn Môn Tự (本門寺) ở vùng Trì Thượng (池上, Ikegami), Võ Tàng (武藏, Musashi). Vào năm 1295, nhân dịp Nguyên Đán, thể theo nguyện ước xưa kia của Nhật Liên, ông lên đường truyền đạo ở nước ngoài. Tương truyền ông đã vượt qua vùng Lục Áo (陸奥, Michinoku), Hà Di (蝦夷, Emishi, Ebisu, Ezo), rồi đến Đại Lục Trung Hoa.
Nhật Trùng
(日重, Nichijū, 1549-1623): học Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, vị Tổ đời thứ 20 của Cửu Viễn Tự (久遠寺); húy là Nhật Trùng (日重), hiệu Nhất Như Viện (一如院); xuất thân Nhược Hiệp (若狹, Wakasa, thuộc Fukui-ken [福井縣]). Ông đã từng học pháp ở Diệu Quốc Tự (妙國寺) vùng Hòa Tuyền (和泉), rồi làm trú trì đời thứ 12 của Bổn Mãn Tự (本滿寺) ở kinh đô Kyoto, cũng như làm Giảng Sư cho Lục Điều Đàn Lâm (六條檀林). Năm 1595, ông tham gia vào lễ hội cúng dường cho ngàn vị tăng do Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) tổ chức tại Phương Quảng Tự (方廣寺) thuộc kinh đô Kyoto. Sau đó, ông được cung thỉnh làm trú trì Cửu Viễn Tự, nhưng ông cố khước từ, mà tiến cử hai đệ tử là Nhật Viễn (日遠) và Nhật Càn (日乾). Ông đã tận lực nuôi dưỡng đồ chúng và phục hưng giáo học. Ông cùng với Nhật Càn, Nhật Viễn được xem như là ba vị Tổ thời Trung Hưng của Tông môn. Trước tác của ông có rất nhiều như Kiến Văn Ngu Án Ký (見聞愚案記) 23 quyển, Phù Trợ Sao Nghĩa (扶助抄義) 6 quyển, Côn Ngọc Tập (崑玉集) 10 quyển, Diệu Kinh Trùng Đàm Sao (妙經重談抄) 8 quyển, v.v.
Nhật Trú
(日住, Nichijū, 1406-1486): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, húy là Nhật Trú (日住), hiệu Chơn Như Viện (眞如院), xuất thân vùng Kyoto. Ban đầu ông theo hầu hạ Nhật Diên (日延) ở Diệu Giác Tự (妙覺寺) thuộc kinh đô Kyoto; rồi sau đó cũng đã từng lên tu học trên Tỷ Duệ Sơn, làm trú trì các chùa Bổn Giác Tự (本覺寺) cũng như Diệu Giác Tự. Thỉnh thoảng ông có dâng sớ can gián, rồi mấy lần xuống vùng Quan Đông để giảng hòa cuộc đối lập giữa hai phe Cửu Viễn Tự (久遠寺) ở Thân Diên Sơn (身延山) và Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) ở Trung Sơn (中山); trở thành nhân vật trung tâm của giáo đoàn qua những hoạt động truyền giáo của ông. Ông đã tận lực trong việc nghiên cứu giáo học Tông phái và giáo dục giáo đoàn. Trước tác của ông có Diệu Pháp Trị Thế Tập (妙法治世集) 1 quyển, Diệu Pháp Trị Thế Tập Thỉ Mạt Ký (妙法治世集始末記) 1 quyển, Dữ Trung Sơn Tịnh Quang Viện Thư (與中山淨光院書) 1 quyển, Bổn Tôn Sao Kiến Văn (本尊抄見聞) 1 quyển, v.v.
Nhật Trợ
(日助, Nichijo, 1495-1553): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Chiến Quốc, húy là Nhật Trợ (日助); hiệu Liên Quang Viện (蓮光院). Ông vốn là con nuôi của quan Thái Chính Đại Thần Hoa Sơn Viện Chính Trường (花山院政長), được bổ nhiệm làm chức Đại Tăng Đô, và làm trú trì đời thứ 14 của Bổn Quốc Tự (本圀寺) ở kinh đô Kyoto. Làm trú trì được 33 năm thì gặp phải cuộc tấn công dữ dội của đồ chúng Tỷ Duệ Sơn, nên các đường tháp của chùa bị đốt cháy tan tành và ông phải chạy đi lánh nạn ở vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi). Đến năm 1542, ông trở về kinh đô, tái kiến lại ngôi già lam như cũ ở vùng Lục Điều Quật Xuyên (六條堀川).
Nhật Trừng
(日澄, Nicchō, 1441-1510): học Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Thất Đinh và Chiến Quốc, húy là Nhật Trừng (日澄); thông xưng là Nhất Như Phòng (一如房), tự Khải Vận (啟運); hiệu là Viên Minh Viện (圓明院). Ông xuất gia theo Nhật Viên (日圓) ở Bổn Quốc Tự (本國寺) thuộc kinh đô Kyoto; rồi đến năm 39 tuổi thì sáng lập ra Viên Minh Tự (圓明寺) ở vùng Y Đậu (伊豆, Izu). Sau ông đến ẩn cư ở Diệu Pháp Tự (妙法寺) vùng Liêm Thương, thiết lập lớp học trong chùa này, và chuyên tâm trước tác cũng như giảng nghĩa Kinh Pháp Hoa. Ông đã từng viết bộ Pháp Hoa Khải Vận Sao (法華啟運抄), chủ xướng Tín Tâm Làm Gốc, và chủ trương tông học theo kiểu của giáo tổ. Hơn nữa, bộ Nhật Liên Thánh Nhân Chú Họa Tán (日蓮上人註畫讚) của ông đã gây ảnh hưởng rất lớn cho hậu thế. Trước tác của ông có Pháp Hoa Khải Vận Sao (法華啟運抄) 55 quyển, Bổn Tích Quyết Nghi Sao (本迹決疑抄) 2 quyển, Nhật Xuất Đài Ẩn Ký (日出台隱記) 2 quyển, Trợ Hiển Xướng Đạo Văn Tập (助顯唱道文集) 7 quyển, Nhật Liên Thánh Nhân Chú Họa Tán (日蓮上人註畫讚) 5 quyển.
nhật tuyền tam muội
See Nhật Luân Tam Muội.
nhật tàng hoa nhãn thị
Năm đặc tính lấy ra từ tên của năm vị Phật trong Kim Cang Giới (Đại Nhật, Bảo Tàng, Hoa Khai Phu, Liên Hoa Nhãn, Thiên Thị Lôi Âm)—Five characters taken from the names of, representing five Buddhas in the Vajradhatu.
Nhật Tú
(日秀, Nisshū, 1383-1450): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, húy là Nhật Tú (日秀); tự Quán Tùy (觀隨), hiệu Ngọc Động Diệu Viện (玉洞妙院). Ông xuất gia năm lên 13 tuổi, rồi theo hầu Nhật Truyền (日傳) ở Bổn Quốc Tự (本圀寺) thuộc kinh đô Kyoto. Năm 1410, ông sáng lập ra Bổn Nguyện Mãn Túc Tự (本願滿足寺, tức Bổn Mãn Tự [本滿寺]) tại biệt trang của cha ông.
Nhật Tĩnh
(日靜, Nichijō, 1298-1369): vị Tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương và đầu thời đại Nam Bắc Triều, húy là Nhật Tĩnh (日靜), tự Phong Long (豐龍), hiệu Diệu Long Viện (妙龍院); xuất thân vùng Hạ Đảo (賀島), Tuấn Hà (駿河, Suruga, thuộc Shizuoka-ken [靜岡縣]), con của Thượng Sam Lại Trọng (上杉賴重). Ông xuất gia với Nhật Vị (日位) ở Bổn Giác Tự (本覺寺) vùng Tuấn Hà; sau khi vị này qua đời thì ông đến làm đệ tử của Nhật Ấn (日印) ở Bổn Thắng Tự (本勝寺) vùng Liêm Thương. Về sau, ông lên kinh đô, sáng lập nên Bổn Quốc Tự (本國寺) ở vùng Lục Điều Quật Xuyên (六條堀川). Ông được Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji) quy y theo, nhờ vậy mà phát triển chùa này to lớn ngang hàng với Diệu Hiển Tự (妙顯寺), và sáng lập Dòng Phái Lục Điều (六條門流). Trước tác của ông có Liêm Thương Điện Trung Vấn Đáp Ký (鎌倉殿中問答記) 1 quyển, Thử Kinh Nan Trì Thập Tam Khẩu Quyết (此經難持十三口決), Lục Điều Yếu Văn (六條要文).
nhật tưởng quán
Quán tưởng mặt trời lặn, quán tưởng đầu tiên trong 16 phép quán tưởng trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ—Meditation on, and observing of the setting sun, the first of the sixteen meditations in the Contemplations of the Infinite Life Sutra.
; (日想觀) Cũng gọi Nhật luân quán, Nhật tưởng, Nhật quán. Pháp quán thứ 1 trong 16 quán được nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Pháp quán này được thực hành vào lúc mặt trời lặn, hành giả ngồi ngay thẳng, mặt xoay về hướng tây, chăm chú nhìn mặt trời, giữ tâm kiến cố, không di động, thì có thể thấy rõ ràng Tịnh độ cực lạc. Pháp quán này cũng để quán tưởng tướng ánh sáng của cõi Tịnh độ cực lạc. [X. Quán kinh sớ định thiện nghĩa; Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ]. (xt. Thập Lục Quán).
Nhật Tượng
(日像, Nichizō, 1269-1342): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương và đầu thời đại Nam Bắc Triều, húy là Nhật Tượng (日像), tên lúc nhỏ là Kinh Nhất Hoàn (經一丸); hiệu là Phì Hậu A Xà Lê (肥後阿闍梨), Nhật Tượng Bồ Tát (日像菩薩), Phì Hậu Phòng (肥後房), Long Hoa Thọ Viện (龍華樹院); xuất thân vùng Bình Hạ (平賀, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), Hạ Tổng (下總, Shimōsa); con trai của Bình Hạ Trung Tình (平賀忠晴), em cùng mẹ khác cha của Nhật Lãng (日朗). Năm 1275, ông đầu sư với Nhật Lãng, rồi theo Nhật Liên tu hành, rồi khi Nhật Liên lâm chung thì ông được phó chúc truyền bá Kinh Pháp Hoa ở kinh đô Kyoto. Đến năm 1293, ông quyết tâm đến khai giáo ở kinh đô, và sau khi truyền đạo xong ở vùng Bắc Lục (北陸, Hokuriku) thì ông đến kinh đô. Nơi đây ông chuyên tâm truyền bá Kinh Pháp Hoa và được sự ủng hộ của tầng lớp thương nhân; nhưng bị phía các tông phái khác đả kích; nên ông đã 3 lần bị đuổi ra khỏi kinh đô. Vào năm 1326, ông được Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō) ban sắc chỉ hứa khả cho sáng lập Diệu Hiển Tự (妙顯寺) ở kinh đô. Ông có rất nhiều tín đồ thuộc tầng lớp võ gia chính quyền, nên đã xác lập được cơ sở vững chắc cho giáo đoàn Nhật Liên Tông ở vùng Tây Quốc (西國, Saigoku). Trước tác của ông có Pháp Hoa Tông Chỉ Vấn Đáp Sao (法華宗旨問答抄) 1 quyển, Bổn Tôn Tương Thừa (本尊相承) 1 quyển, Pháp Hoa Tông Hoằng Thông Sao (法華宗弘通抄) 1 quyển, Kỳ Đảo Kinh Chi Sự (祈禱經之事) 1 quyển, v.v.
Nhật Tấn
(日進, Nisshin, 1271-1346): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương và đầu thời đại Nam Bắc Triều, húy là Nhật Tâm (日心), Nhật Chân (日眞), Nhật Tấn (日進); thông xưng là Đại Tấn Công (大進公), Tam Vị Công (三位公), Đại Tấn A Xà Lê (大進阿闍梨); hiệu là Đại Tấn Viện (大進院); xuất thân vùng Cát Sức (葛飾, Katsushika), Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), con thứ 2 của Tằng Cốc Thứ Lang Vệ Binh Úy Giáo Tín (曾谷次郎衛兵尉敎信, tức Nhật Lễ [日禮]). Ông là một trong 18 vị lão tăng. Năm 1313, ông nhận lời phó chúc của Nhật Hướng (日向), trở thành vị tổ thứ 3 của Cửu Viễn Tự (久遠寺, Kuon-ji) ở Thân Diên Sơn (身延山). Đến năm 1320, ông lên kinh đô chuyên sao chép các thư tịch Thánh giáo. Ông rất thâm giao với Nhật Hựu (日祐) ở Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) thuộc vùng Trung Sơn (中山, Nakayama), Hạ Tổng; và mở rộng giáo tuyến khắp các vùng Thượng Tổng, Hạ Tổng thông qua những lần đi tuần hóa của ông. Trước tác của ông để lại có Tam Quốc Phật Pháp Thạnh Suy Chi Sự (三國佛法盛衰之事) 1 quyển, Phá Tịnh Độ Nghĩa Luận Pháp Hoa Chánh Nghĩa (破淨土義論法華正義) 1 quyển, Nhật Liên Thánh Nhân Ngự Hoằng Thông Thứ Đệ (日蓮上人御弘通次第), v.v.
Nhật Tễ
(日霽, Nissei): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh; húy là Thông Nguyên (通源), Nhật Tễ (日霽), hiệu là Long Hoa Viện (龍華院); xuất thân vùng Liêm Thương (鎌倉). Năm lên 12 tuổi, ông theo xuất gia với Diệu Thật (妙實) ở Diệu Hiển Tự (妙顯寺) tại kinh đô Kyoto. Đến năm 30 tuổi, ông làm trú trì đời thứ 4 của chùa này. Ông rất tích cực trong việc giao tiếp với hàng công khanh để mở rộng thế lực của chùa mình; nhưng một mặt thì chúng đồ lại xa lánh ông, rồi mặt khác lại bị đồ chúng trên Tỷ Duệ Sơn phản bác; nên vào năm 1387, ông đã bỏ chùa này mà đi lánh nạn. Bảy năm sau, ông trở về kinh đô, được Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Mãn (足利義滿, Ashikaga Yoshimitsu) cúng đất cho xây chùa, nên ông đổi tên Diệu Hiển Tự thành Diệu Bổn Tự (妙本寺) và trùng tu lại chùa này. Trước tác của ông có Hiển Để Sao Kiến Văn (顯底抄見聞), Kỳ Đảo Kinh Áo Thư (祈禱經奥書).
Nhật Tồn
(日存, Nichizon, 1369-1421): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa thời đại Thất Đinh, vị Tổ đời thứ 5 của Diệu Liên Tự (妙蓮寺); húy là Nhật Tồn (日存), Nhật Soạn (日選), hiệu là Tinh Tấn Viện (精進院), Hảo Học Viện (好學院). Ông cùng với người bác của Nhật Long (日隆), em trai ông là Nhật Thuần (日純) theo xuất gia tu học với Nhật Tể (日霽) ở Diệu Bổn Tự (妙本寺). Sau khi thầy qua đời, ông phê phán giáo nghĩa của vị trú trì đời thứ 7 của chùa là Nguyệt Minh (月明), và rời khỏi chùa này. Ông chuyên nghiên cứu về giáo nghĩa Bổn Tích Thắng Liệt, có chí muốn phục hưng giáo nghĩa của Nhật Tượng (日像), và nổ lực tái hưng Diệu Liên Tự ở kinh đô Kyoto. Trước tác của ông có Khởi Thỉnh Văn (起請文) 1 quyển.
nhật tụng
Breviary. Daily recitation.
Nhật Viễn
(日遠, Nichion, 1572-1642): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, vị Tổ đời thứ 22 của Cửu Viễn Tự (久遠寺, Kuon-ji); húy là Nhật Viễn (日遠), Nhật Trân (日珍); tự Nghiêu Thuận (堯順) hay Nghiêu Nhuận (堯潤); hiệu là Tâm Tánh Viện (心性院); xuất thân kinh đô Kyoto. Năm lên 6 tuổi, ông theo làm đệ tử của Nhật Trùng (日重) ở Bổn Mãn Tự (本滿寺). Đến năm 28 tuổi, ông thay thế Nhật Trùng đến giảng ở Phạn Cao Đàn Lâm (飯高檀林); rồi đến năm 1604 thì kế thừa anh ông là Nhật Càn (日乾) làm trú trì Cửu Viễn Tự ở Thân Diên Sơn. Sau đó, ông có xây dựng trường học Đàn Lâm tại chùa này. Năm 1608, nhân cuộc luận tranh Tông nghĩa của nhóm Nhật Kinh (日經), ông đến ẩn cư ở vùng Đại Dã (大野, Ōno) và sáng lập ra Bổn Viễn Tự (本遠寺). Vào năm 1615, theo mệnh của chính quyền Mạc Phủ, ông trở về sống ở Cửu Viễn Tự; rồi đến năm sau thì nhường chức trú trì lại cho đệ tử Nhật Yếu (日要). Đến năm 1630, ông dàn trận thế luận tranh Tông nghĩa ở Thành Giang Hộ (江戸城, Edo-jō), rồi Phái Không Nhận Không Cho thắng lợi, nên đã tạo được cơ sở vững chắc cho Nhật Liên Tông vốn lấy Cửu Viễn Tự làm trung tâm. Sau đó, ông đến sống ở Bổn Môn Tự (本門寺) ở vùng Trì Thượng (池上, Ikegami), Võ Tàng (武藏, Musashi); và ông cùng với Nhật Trùng, Nhật Càn được gọi là ba vị tổ thời Trung Hưng của Nhật Liên Tông. Trước tác của ông có rất nhiều như Thiên Thai Tam Đại Bộ Tùy Văn Ký (天台三大部隨聞記) 37 quyển, An Quốc Luận Tư Ký (安國論私記) 2 quyển, Bổn Tôn Sao Tư Ký (本尊抄私記) 1 quyển, Đương Gia Bổn Tôn Luận Nghĩa Lạc Cư (當家本尊論義樂居) 1 quyển, Pháp Hoa Kinh Tùy Âm Cú (法華經隨音句) 2 quyển, v.v.
nhật vực
(日域) I. Nhật Vực. Khu vực mặt trời chiếu đến. II. Nhật Vực. Người Nhật bản tự gọi nước họ là Nhật vực.III. Nhật Vực. Chỉ cho nước Triều tiên.
Nhật Xiêm
(日暹, Nissen, 1586-1648): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng đầu thời đại Giang Hộ, húy là Nhật Xiêm (暹), Nhật Tốn (日遜); tự Long Nhứ (隆恕), hiệu Trí Kiến Viện (智見院). Ban đầu, ông theo hầu Nhật Viễn (日遠) ở Cửu Viễn Tự (久遠寺), Thân Diên Sơn (身延山), và rất giỏi về biện luận. Sau ông làm Hóa Chủ cho Tiểu Tây Đàn Lâm (小西檀林) và trú trì đời thứ 11 của Bổn Mãn Tự (本滿寺) ở kinh đô Kyoto. Sau đó, ông lại làm trú trì đời thứ 26 của Cửu Viễn Tự. Đến năm 1629, ông tố cáo lên chính quyền Mạc Phủ về việc tung hoành của nhóm Nhật Áo (日奥), Nhật Thọ (日樹) thuộc Phái Không Nhận Không Cho. Đến năm sau, được sự ủng hộ của Nhật Càn (日乾), Nhật Viễn (日遠), ông làm đại biểu cho phía Thân Diên tham gia cuộc đối luận với phái trên tại Thành Giang Hộ. Sau khi giành được thắng lợi, ông chuyên tâm lãnh đạo giáo đoàn. Trước tác của ông có Tây Cốc Danh Mục Tiêu Điều (西谷名目標條) 4 quyển, Nghĩa Khoa Luận Nghĩa (義科論義) 70 quyển, Bất Thọ Bất Thí Luận (不受不施論) 1 quyển, v.v.
Nhật Xuất
(日出, Nisshutsu, 1381-1459): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, húy là Chánh Tín (正信), Nhật Xuất (日出); tự là Thị Sanh (是生), hiệu Nhất Thừa Phòng (一乘房); xuất thân vùng Võ Tàng (武藏, Musashi). Trước kia ông vốn là tăng sĩ của Thiên Thai Tông, nhưng sau khi được anh ông là Nhật Học (日學) ở Cửu Viễn Tự (久遠寺, Kuon-ji) giáo hóa, ông chuyển sang Nhật Liên Tông. Ông sáng lập ra Bổn Giác Tự (本覺寺) ở vùng Tam Đảo (三島, Mishima), Y Đậu (伊豆, Izu). Về sau, ông luận tranh về Tông nghĩa với Tâm Hải (心海) ở Bảo Giới Tự (寶戒寺) thuộc Thiên Thai Tông và thắng thế; rồi được vị quản lãnh vùng Quan Đông (關東, Kantō) là Túc Lợi Trì Thị (足利持氏, Ashikaga Mochiuji) cúng dường đất đai để kiến lập nên một ngôi Bổn Giác Tự khác, và mở rộng phạm vi giáo hóa của ông đến các địa phương như Giáp Phỉ (甲斐, Kai), Y Đậu (伊豆, Izu) và Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Trước tác của ông có Vĩnh Hưởng Vấn Đáp Ký (永享問答記) 1 quyển.
nhật xuất luận giả
Nhật Xuất Luận Giả là tên của vị sáng lập ra Kinh Bộ Tông, vào khoảng đầu kỷ nguyên Thiên Chúa—The sunrise exponents, a title of the founder of the Sutra Sect before the Christian Era—See Thí Dụ Luận Sư.
; (日出論者) Từ tôn xưng ngài Cưu ma la đa, 1 vị Đại luận sư của Phật giáo Ấn độ, là Tổ của tông Kinh bộ. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 2, phần đầu, khoảng 100 năm sau đức Phật nhập diệt, ở nước Đát xoa sí la thuộc Bắc Ấn độ, có ngài Cưu ma la đa (Phạm: Kumàralàta, Hán dịch là Đồng thụ, Đồng thủ) trứ tác 900 bộ luận, ngài được ví dụ như mặt trời mọc chiếu sáng khắp thế gian, cho nên tôn xưng ngài là Nhật xuất luận giả, Nhật xuất luận sư. Các nhà Đại thừa tôn 4 ngài: Cưu ma la đa, Mã minh, Long thụ và Đề bà là Tứ nhật luận sư. Có thuyết cho rằng Nhật xuất luận giả là thầy của ngài Ha lê bạt ma (Phạm: Harivarman), tác giả luận Thành thực, thuộc Tát bà đa bộ. [X. điều Đát xoa thủy la quốc trong Đại đường tây vực kí Q.3; Tam luận huyền nghĩa]. (xt. Cưu Ma La Đa).
nhật xưng
(日稱) Cao tăng người Trung Thiên trúc, được vua ban hiệu Tuyên Phạm Đại Sư. Vào năm Khánh lịch thứ 6 (1046) đời vua Nhân tông nhà Tống, sư đến Biện kinh, vâng chiếu chỉ tham gia việc dịch kinh. Khoảng năm Chí hòa (1054-1055) sư cùng các vị Pháp hộ, Phạm tài, Tuyên bí... cùng dịch luận Đại thừa tập bồ tát học 25 quyển. Năm Gia hựu thứ 8 (1063) sư dịch kinh Thập bất thiện nghiệp đạo 1 quyển. Niên hiệu Trị bình năm đầu (1064), sư dịch kinh Chư pháp tập yếu 10 quyển. Sau, sư lại lần lượt dịch các kinh điển như: Kinh Phụ tử hợp tập 20 quyển, kinh Phúc cái chính hạnh tập 12 quyển, Sự sư pháp ngũ thập tụng, kinh Lục thú luân hồi 1 quyển... Năm Hi ninh thứ 5 (1072), sư Thành tầm –người Nhật bản– đến Trung quốc, kết tình thân giao với sư. Tháng 3 năm sau (1073), sư Thành tầm đến thăm sư ở viện Truyền pháp tại chùa Thái bình hưng quốc và thảo luận với sư việc đưa những bộ kinh do sư mới dịch xong về Nhật bản, lúc ấy sư được 57 tuổi. Sự tích của sư từ đó về sau không được rõ. [X. Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.4, 9, 10; San bổ tham Thiên thai Ngũ đài sơn kí Q.4, 6-8].
Nhật Áo
(日奥, Nichiō, 1565-1630): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, Tổ của Phái Không Nhận Không Cho thuộc Nhật Liên Tông, húy là Nhật Áo (日奥), Nhật Chân (日甄); tự là Giáo Anh (敎英); hiệu Phật Tánh Viện (佛性院), An Quốc Viện (安國院); xuất thân vùng Kyoto. Lúc còn nhỏ, ông đã theo hầu Nhật Điển (日典) ở Diệu Giác Tự (妙覺寺) trên kinh đô Kyoto; rồi đến năm 28 tuổi thì làm trú trì đời thứ 19 của chùa này. Vào năm 1595, trong dịp Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) tổ chức lễ cúng dường cho ngàn vị tăng ở ngay tại Chánh Điện của Phương Quảng Tự (方廣寺), ông chủ trương chính sách Không Nhận Không Cho và không đến tham dự lễ cúng dường này. Chính ông đã đối lập với nhóm Nhật Trùng (日重) ở Bổn Mãn Tự (本滿寺) chung quanh việc nhận và không nhận; rồi đến năm 1599, trong cuộc đối luận ở Thành Đại Phản (大阪城, Ōsaka-jō), ông bị xử tội cho ngựa kéo. Vào năm 1612, sau khi được tha tội, ông lại luận tranh với Nhật Càn (日乾) ở Thân Diên Sơn (身延山). Đến năm 1630, trong cuộc luận tranh ở Thân Trì (身池), Phái Không Nhận Không Cho bị đại bại. Sau khi Nhật Áo qua đời, tương truyền rằng thi hài của ông vẫn bị đem ra tra tấn vì tội luận tranh này. Trước tác của ông có Tông Nghĩa Chế Pháp Luận (宗義制法論) 3 quyển, Thủ Hộ Chánh Nghĩa Luận (守護正義論) 1 quyển, Cấm Đoán Báng Thí Luận (禁斷謗施論) 1 quyển, Gián Hiểu Thần Minh Ký (諫曉神明記) 1 quyển.
Nhật Ý
(日意, Nichii, 1421-1473): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, húy là Nhật Ý (日意); thông xưng là Thiền Ty A Xà Lê (禪司阿闍梨), tự Tông Kính (宗鏡, hay Tú Kính [秀鏡]); hiệu là Diệu Quang Viện (妙光院), Lâm Tuyền Phòng (林泉房); xuất thân Chiba-ken (千葉縣). Lúc nhỏ, ông theo hầu Nhật Phước (日福) ở Bổn Thổ Tự (本土寺) thuộc vùng Bình Hạ (平賀, Hiraga), Hạ Tổng (下總, Shimōsa); rồi học giáo học Thiên Thai ở Hỷ Đa Viện (喜多院), và đã từng tham học trên Tỷ Duệ Sơn. Vào năm 1448, ông làm trú trì đời thứ 9 của Bổn Thổ Tự. Năm sau, chùa này bị hỏa tai nên các ngôi đường vũ của chùa bị cháy rụi; nhưng nhờ sự hỗ trợ của tín đồ, ông đã xây dựng lại chùa như cũ. Đến năm 1458, ông còn khai sáng Chánh Pháp Tự (正法寺) ở vùng Thượng Tổng (上總, Kazusa), và tính ra ông đã xây dựng được 9 ngôi chùa. Trước tác của ông có Bổn Tôn Sao Kiến Văn (本尊抄見聞) 1 quyển, Ngự Bổn Tôn Khẩu Truyền (御本尊口傳) 1 quyển.
Nhật Đạo
(日導, Nichidō, 1724-1789): học Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa thời đại Giang Hộ, húy là Nhật Đạo (日導), Vinh Nhã (榮雅), Nhật Thâm (日深); thông xưng là Cương Yếu Đạo Sư (綱要導師), tự Trí Khê (智溪), hiệu Nhất Diệu Viện (一妙院), xuất thân Kumamoto-ken (熊本縣). Ông theo học trường Trung Thôn Đàn Lâm (中村檀林) ở Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), rồi phê phán chương trình học của trường có tính thiên nặng về Thiên Thai Học. Ông cùng với nhóm bạn Nhật Long (日龍), Nhật Đáo (日到), Nhật Nghĩa (日義), Nhật Phương (日芳) cùng thệ ước với nhau sẽ phục hưng giáo học tông môn. Sau đó, ông làm trú trì đời thứ 10 của Huệ Quang Tự (慧光寺) ở Giang Hộ. Vào năm 1785, ông lấy bộ Quán Tâm Bổn Tôn Sao (觀心本尊抄) của Nhật Liên làm cơ sở để viết nên bộ Tổ Thư Cương Yếu (祖書綱要). Năm sau, ông làm trú trì đời thứ 21 của Bổn Diệu Tự (本妙寺) ở Hùng Bổn (熊本, Kumamoto), Phì Hậu (肥後, Higo). Trước tác của ông có khá nhiều như Tổ Thư Cương Yếu (祖書綱要) 23 quyển, Pháp Hoa Tức Thân Thành Phật Nghĩa (法華卽身成佛義) 1 quyển, Thảo Mộc Thành Phật Ký (草木成佛記) 1 quyển, Tứ Chủng Tam Đoạn Sao (四種三段抄) 1 quyển, Tài Đoạn Cảm Thuyết (裁斷感說) 1 quyển, v.v.
Nhật Đảnh
(日頂, Nicchō, 1252-1317 hay 1328?): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Liêm Thương, húy là Nhật Đảnh (日頂), thường được gọi là Y Do A Xà Lê (伊予阿闍梨), hiệu là Y Do Phòng (伊予房); xuất thân vùng Trọng Tu (重須, Omosu), Tuấn Hà (駿河, Suruga, thuộc Shizuoka [靜岡]); con trai của Định Thời (定時), Trưởng Quan Kami vùng Y Do (伊予, Iyo). Ông xuất gia tại Hoằng Pháp Tự (弘法寺, Gubō-ji) của Thiên Thai Tông ở vùng Chơn Gian (眞間, Mama), Hạ Tổng (下總, Shimōsa); sau đến làm môn hạ của Nhật Liên. Năm 1271, khi Nhật Liên bị lưu đày đến vùng Tá Độ (佐渡, Sado), ông tùy tùng theo, rồi đến 1274, ông cũng theo thầy về Thân Diên Sơn (身延山) tu học. Ông cải đổi Hoằng Pháp Tự thành chùa của Nhật Liên Tông, rồi cùng với nghĩa phụ Phú Mộc Thường Nhẫn (富木常忍), lấy chùa này làm cứ điểm mở rộng hoạt động truyền giáo. Tuy nhiên, sau ông bất hòa với Thường Nhẫn, nên lui về ẩn cư ở quê nhà vùng Trọng Tu. Trước tác của ông có Lương Thật Trạng Ngự Phản Sự (良實狀御返事) 1 quyển, Bổn Tôn Đắc Ý Sao Phó Thư (本尊得意抄副書) 1 quyển.
Nhật Ấn
(日印, Nichiin, 1264-1328): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương, húy là Nhật Ấn (日印), hiệu Ma Ha Nhất A Xà Lê (摩訶一阿闍梨), xuất thân vùng Việt Hậu (越後, Echigo, thuộc Niigata [新潟]), con của Triêu Thương An Cao (朝倉安高). Ông vốn là vị tăng của Thiên Thai Tông, đến năm 1294, nhân nghe Nhật Lãng (日朗) của Nhật Liên Tông thuyết giảng về Ma Ha Chỉ Quán, ông cải tông theo tông phái này. Sau ông đến truyền đạo ở vùng Việt Hậu, sáng lập các chùa như Thanh Liên Hoa Tự (青蓮華寺, tức Bổn Thành Tự [本成寺]), Diệu Quang Tự (妙光寺), Pháp Phước Tự (法福寺), v.v., và mở rộng phạm vi thuyết giáo của ông. Sau khi Nhật Lãng qua đời, ông còn khai sáng ra Bổn Thắng Tự (本勝寺) ở vùng Liêm Thương; rồi đến năm 1321, ông thâu tập được các di thư của Nhật Lãng và tách thành một giáo phái riêng. Trước tác của ông có Bổn Thành Tự Trí Văn (本成寺置文) 1 quyển, v.v.
Nhật Ứng
(日應, Nichiō, 1433-1508): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa thời đại Thất Đinh, vị Tổ khai sơn của Diệu Liên Tự (妙蓮寺), húy là Nhật Ứng (日應). Ông tách ra khỏi Diệu Hiển Tự (妙顯寺) ở kinh đô, rồi nhờ Nhật Khánh (日慶) mà được cung thỉnh làm sơ Tổ tái hưng lại Diệu Pháp Liên Hoa Tự (妙法蓮華寺, tức Diệu Liên Tự). Sau ông được bổ nhiệm làm Tăng Chánh và làm cho chùa mình hưng thạnh lên.
nhậu
To drink wine.
nhắc nhở thế gian
To remind the mankind.
nhắm
To shut—To close (eyes).
nhắm nghiền
To close tightly.
nhắm trúng đích
To take a true (an accurate) aim.
nhắn
To send words through someone.
nhằm
To fall on.
nhằm lúc
At the very moment.
nhẵn
Completely—Totally.
nhẵn bóng
Smooth and shining.
nhẹ bổng
Very light.
nhẹ giọng
Kala (S), Soft tone.
nhẹm
Ém nhẹm—Secret.
Nhị
二; C: èr; J: ni;|Có hai nghĩa: 1. Hai, thứ hai; 2. Nhị nguyên; sự phân hai; »ta và người«.
nhị
Dvà, dvau (S). Two.
; Dva or Dvi (skt)—Hai—Two—Dvitiya—Second.
nhị ban
See Tri Sự Đầu Thủ.
nhị biên
The two sides, extremes.
; Dharmadvaya (skt)—Duality—Two sides—Two extreme views—Two dualistic views expressly rejected in Buddhism: (A) 1) Đoạn kiến: Nihilism (skt)—Hoại diệt—Đoạn biên kiến, coi mọi vật không hiện hữu, ngay cả những ảo giác hiện lên, hay bất cứ thứ gì tiếp tục sau khi chết. Tà kiến nầy phủ nhận thuyết tái sanh—Annihilation—Considering that things do not exist in any sense, even the delusory manifestations of the world, nor anything continue after death—Denial of the doctrine of reincarnation. 2) Biên kiến: Eternalism (skt) Vĩnh cửu—Thường biên kiến, tin rằng có sự hiện hữu thật của sự vật, và có những thứ hiện hữu đời đời—Immortality—Believing that there is true existence of real being in objects, or that there is some entity that exists forever. (B) 1) Hữu biên: Tin có sự hiện hữu—Those who believe that things exist. 2) Vô biên: Tin rằng không có cái gì có thể tự hiện hữu—Those who believe that nothing is self-existent or thins cannot be said to exist. (C) 1) Tăng ích biên: The plus side—Những người tin rằng không có một linh hồn hay sự thường hằng; vạn pháp vốn không có tự tánh—Those who believe in a soul or permanence; all things are unreal and have no-self. 2) Tổn giảm biên: The minus side—Những người tin rằng không có cái gì hiện hữu ngay cả nghiệp báo—Those who believe that nothing exists even of karma.
; (二邊) Hai bên, tức 2 cực đoan lìa Trung đạo. Về thuyết này, trong các luận có nhiều cách giải thích khác nhau: - Luận Trung quán quyển 4: Nhị biên chỉ cho có, không hoặc thường, vô thường. - Luận Thuận trung quyển hạ: Nhị biên chỉ cho thường, đoạn. - Luận Nhiếp đại thừa do ngài Thế thân chú thích quyển 1, ngài Huyền trang dịch: Nhị biên chỉ cho tăng ích, tổn giảm. - Chỉ quán phụ hành quyển 3: Nhị biên chỉ cho không, giả.
nhị biến
(二變) Hai biến, tức là Nhân duyên biến và Phân biệt biến. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, thức biến hữu lậu có thể chia làm 2: 1. Nhân duyên biến: Theo thế lực của nhân và duyên mà biến. 2. Phân biệt biến: Theo thế lực của sự phân biệt mà biến. Nhân duyên biến thì có dụng, còn Phân biệt biến chỉ là cảnh. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần đầu]. (xt. Phân Biệt Biến, Nhân Duyên Biến).
nhị biểu nghiệp
Hai loại biểu nghiệp của thân khẩu ý—Two kinds of activities of the body, mouth and mind: 1) Hữu Biểu Nghiệp: Manifested activities—See Hữu Biểu Nghiệp. 2) Vô Biểu Nghiệp: Unmanifested activities—See Vô Biểu Nghiệp.
nhị bách ngũ thập giới
The 250 commandments, precepts, which are obligatory on monks or nuns.
; Cụ Túc Giới—Hai trăm năm chục giới cụ túc của Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni—The 250 commandments (precepts) or the perfect or complete commandments which are obligatory on monks and nuns. I. Tỳ Kheo 250 Giới—250 Commandments for Bhikkhus: (A) (4) Tứ Ba La Di hay Tứ Căn Bản Cực Ác: Parajika (skt)—Bốn trọng tội không thể tha thứ được. Một vị Tỳ Kheo phạm phải một trong bốn trọng tội nầy sẽ bị trục xuất khỏi giáo đoàn—The four unpardonable offenses. A monk who commits one of these offenses is expelled from the Order. 1) Sát: Sát sanh—Kiling. 2) Đạo: Trộm cắp—Stealing or theft. 3) Dâm: Sexual intercourse. 4) Vọng: Vọng ngữ, đặc biệt tự khoa trương là mình đã phát huệ trong khi mình chẳng có gì—Lying, particularly, claiming to have attained insight or understanding that one does not in fact possess. (B) (13) Thập Tam Tăng Tàn: Sanghavasesa (skt)—13 trọng giới Tăng Tàn. Một vị Tỳ Kheo phạm phải một trong 13 giới nầy sẽ tạm thời bị trục xuất ra khỏi giáo đoàn một thời gian, cách ly để sám hối (gồm lậu thất, ma xúc, thô ngữ, thán thân, môi nhân, vô chủ phòng, hữu chủ phòng, vô căn báng, giả căn báng, phá Tăng, trợ phá Tăng, ô gia tấn, cự Tăng gián)—Thirteen major prohibitions. A monk who violates these are divested of membership in the Order for a certain period of time. (C) (2) Nhị Bất Định Pháp: Aniyata (skt)—Hai trọng tội Bất Định Pháp, như một mình ở cùng nơi với người nữ, dù có ai thấy, hay không thấy. Gọi là nhóm tội bất định vì hình phạt thay đổi tùy theo tội trạng—Two major offenses such as being alone with a woman, either in a place where one cannot see, or in a place where one can see. These rules are called the indeterminate or aniyata group because the punishment for going against them varies according to their circumstances. 1) Bình xứ bất định: Prohibition relating to offenses which are committed in a place where one cannot be seen. 2) Lộ xứ bất định: Giới cấm liên hệ tới việc phạm giới tại một nơi không ai thấy—Prohibition relating to offenses which are committed in a place where one can be seen. (D) (30) Tam Thập Xả Đọa: Naihisargika-prayaschittika (skt)—Ba mươi giới xả đọa gồm những giới về y, bát, và vật dụng chung, vân vân. Người phạm phải một trong ba mươi giới nầy sẽ bị rơi vào ba đường dữ—Thirty standards whose violation is said to cause one to fall into the three evil paths. (E) (90) Cửu Thập Ba Dật Đề: Shuddha-Prayaschittika (skt)—Chín mươi tội Ba Dật Đề, hay ứng đối trị, gồm những tội linh tinh. Người phạm phải những giới nầy phải phát lồ sám hối trước chúng—Ninety standards, violation of which requires public confession. (F) (4) Đề Xá Ni: Pratiddesaniya (skt)—Bốn tội Đề Xá Ni, hay ưng phát lồ. Người phạm phải những tội nầy chỉ phát lồ sám hối khi có người biết được tội của mình (Tùng phi thân ni thủ thực, thực ni chỉ thọ thực, học gia thọ thực, lan nhã thọ thực)—Four lesser standards, the breaking of which requires confession when one becomes aware of his error. (G) (100) Bách Chúng Học: Siksakaraniya or Shaiksha-dharma (skt)—Một trăm tội nhẹ, rất dễ phạm phải. Người phạm phải những tội nầy nên nhớ trong lòng để tiến tu—One hundred very minor standards, which are easily broken but which should be borne in mind for one's self-development. (H) (7) Thất Diệt Tranh: Adhikarana-shamatha (skt)—Bảy quy luật để dàn xếp những tranh cãi trong giáo đoàn—Seven kinds of Vinaya for ending or settling disputes within the Order—See Thất Diệt Tranh Pháp. II. 348 Giới Tỳ Kheo Ni—348 Commandments for Bhikkhunis. ** Giống như của Tỳ Kheo, cộng thêm bốn giới Ba La Di, 80 giới Ba Dật Đề, 4 giới Đề Xá Ni, và mười giới Tăng Tàn—The same as commandments for Bhikkhus, plus another four Parajika, another 80 Prayascittikah, another four Pratidesaniya, and another ten Sanghavasesa.
; (二百五十戒) Cũng gọi Cụ túc giới. Hai trăm năm mươi giới, tức là giới luật do đức Phật chế định mà các vị tỉ khưu phải tuân thủ. Hai trăm năm mươi giới gồm: 4 điều Ba la di, 13 điều Tăng tàn, 2 điều Bất định, 30 điều Xả đọa, 90 điều Đơn đọa, 4 điều Đề xá ni, 100 điều Chúng học và 7 điều Diệt tránh. Nhưng theo tạng Luật do các bộ phái truyền trì có bất đồng, nên số giới điều của mỗi bộ phái cũng có hơi khác nhau. Tuy nhiên, trên đại thể thì đều lấy 250 giới làm con số cơ bản.
nhị bách nhất thập ức phật độ
(二百一十億佛土) Hai trăm mười ức cõi Phật được dự kiến để cho bồ tát Pháp tạng (tiền thân của đức Phật A di đà khi còn ở địa vị tu nhân) lập nguyện lựa chọn. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 267 trung) nói: Lúc bấy giờ, đức Phật Thế tự tại vương biết bồ tát Pháp tạng là bậc cao minh, chí nguyện sâu rộng (...) bèn nói rộng 210 ức cõi nước của chư Phật, trời người thiện ác, đất nước xấu đẹp ứng theo tâm nguyện của Bồ tát đều hiện ra hết. Khi ấy, bồ tát Pháp tạng nghe các cõi nước trang nghiêm thanh tịnh do đức Phật Thế tự tại vương nói đều được thấy tất cả, liền phát khởi nguyện thù thắng vô thượng.
Nhị báo
二報; C: èrbào; J: nihō;|Có hai nghĩa: 1. Hai dạng nghiệp báo: Chính báo (正報, nghiệp báo trực tiếp) và Y báo (衣報, không trực tiếp, tuỳ theo điều kiện xung quanh); 2. Tổng báo (總報) và Biệt báo (別報).
nhị báo
The dual reward: (1) y báo, the material environment on which a person depends, resulting from former karma; (2) chính báo, his direct reward.
; Hai loại quả báo—The dual reward: 1) Y báo: Y quả—Hoàn cảnh vật chất mà một người phải tùy thuộc vào do kết quả của nghiệp đời trước—The material environment on which a person depends, resulting from former karma. 2) Chánh báo: Chánh quả—Direct reward, body or person.
nhị bát
Mười sáu phép quán sát hay thiền định—The sixteen meditations.
; (二八) Hai lần 8 thành 16, tức chỉ cho 16 pháp quán tưởng được nói trong kinh Vô lượng thọ.Lời tựa trong luận Tịnh độ của ngài Ca tài nói (Đại 47, 83 trung): Mười sáu pháp quán tưởng được mở rộng và thịnh hành ở cõi Tịnh độ phương Tây(Nhị bát hoằng qui, thịnh hồ Tây độ).
nhị bát nhã
Hai loại bát nhã hay trí huệ—Two kinds of prajna or wisdom: (A) 1) Thế gian Bát nhã: Temporal wisdom. 2) Xuất thế gian Bát nhã: Supernatural wisdom. (B) 1) Thực tướng Bát nhã: Phần đầu của Bát Nhã Ba La Mật hay trí tuệ gốc—The first part of the Prajnaparamita—Original Wisdom. 2) Quán chiếu Bát nhã: Phần thứ nhì của Bát Nhã Ba La Mật hay trí tuệ đạt được qua tu tập—The second part of the Prajnaparamita—Wisdom acquired from cultivation or contemplation. (C) 1) Cộng Bát nhã: Bát Nhã của ba giai đoạn Thanh văn, Duyên giác và Bồ Tát—Prajna of the three stages of Sravaka and Pratyeka-buddha and the imperfect bodhisattva sect. 2) Bất cộng Bát nhã: Bát Nhã của học thuyết toàn thiện Bồ Tát—Prajna of the perfect bodhisattva teaching.
; (二般若) I. Nhị Bát Nhã. Chỉ cho Cộng bát nhã và Bất cộng bát nhã.1. Cộng bát nhã: Tức là Thông giáo của tông Thiên thai, chung cho Tam thừa: Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát cùng chung tu chứng. 2. Bất cộng bát nhã: Tức là Biệt giáo và Viên giáo của tông Thiên thai, chỉ nói cho riêng hàng Bồ tát của Biệt giáo và Viên giáo chứ không chung cho Nhị thừa Thanh văn và Duyên giác. II. Nhị Bát Nhã. Chỉ cho 2 loại Bát nhã của Bồ tát, tức Bát nhã thế gian và Bát nhã xuất thế gian.1. Bát nhã thế gian: Loại Bát nhã này không thực hành tĩnh lặng chân thực, mà thường thực hành Bát nhã có kiến giải, có hình tướng, có chấp trước. Loại Bát nhã này chung cho Nhị thừa Thanh văn và Duyên giác.2. Bát nhã xuất thế gian: Loại Bát nhã này không còn chấp trước, bình đẳng vắng lặng, lìa các danh tướng; loại Bát nhã này vượt hơn tất cả Thanh văn, Duyên giác, nên gọi là Bồ tát xuất thế bát nhã đại giáp trụ luân.[X. kinh Địa tạng thập luân Q.10]. III. Nhị Bát Nhã. Chỉ cho Thực tướng bát nhã và Quán chiếu bát nhã. [X. Hoa nghiêm đại sớ sao Q.1].
nhị bất định
Aniyada (S)Có 2 giới. Một đoạn trong 8 đoạn của 250 giới tỳ kheo.
nhị bất định pháp
xem hai pháp không xác định.
nhị bần
Hai loại nghèo—Two kinds of poverty: 1) Tài bần: Nghèo vật chất—Poverty of goods. 2) Pháp bần: Nghèo tâm linh—Poverty of faith or religion.
; (二貧) Chỉ cho 2 cái nghèo, tức là nghèo của và nghèo pháp. 1. Nghèo của: Thiếu thốn tiền của và vật dụng cho đời sống hằng ngày. 2. Nghèo pháp: Tà kiến không tin chính pháp. [X. luận Đại trí độ Q.98].
nhị bật sô
(二苾芻) Bật sô tức là tỉ khưu. Có 2 loại: 1. Bật sô thế tục: Tức là tỉ khưu phàm phu.2. Bật sô thắng nghĩa: Tức là tỉ khưu đã chứng quả Thánh. [X. Câu xá luận quang kí Q.15].
nhị bố thí
Hai loại bố thí—Two kinds of dana or charity: (A) 1) Tài thí: Bố thí bằng của cải—Giving of goods. 2) Pháp thí: Thuyết giảng những lời Phật dạy để độ người—Giving the Buddha's truth to save sentient beings. (B) 1) Tịnh thí: Bố thí thanh tịnh chẳng cần báo đáp—Pure or unsullied charity, which looks for no reward here but only hereafter (expecting no return). 2) Bất tịnh thí: Bố thí mong cầu phước báo—Impure or sullied charity whose object is personal benefit (expecting something in return).
nhị bộ
Hai bộ được thành lập ngay khi Phật nhập diệt—Two divisions that took place immediately after the Buddha's death: 1) Thượng Tọa bộ: The elder monks or intimate disciples. 2) Đại Chúng bộ: The general body of disciples.
nhị bộ giới bản
(二部戒本) Hai bộ giới bản, tức chỉ cho giới bản của tỉ khưu và tỉ khưu ni, là bản kinh nói rõ về giới luật của tăng và ni. [X. thiên Thuyết giới chính nghi trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao].
nhị bộ ngũ bộ
The two divisions and the five divisions. (A) Nhị Bộ: The two divisions—See Nhị Bộ. (B) Ngũ Bộ: Người ta nói rằng Ngũ Bộ được thành hình một thế kỷ sau khi Phật nhập diệt—The five divisions, which are said to have occurred a century later: 1) Đàm Vô Đức bộ: Dharma-guptah (skt). 2) Tát Bà Đa bộ: Mulasarvastivadah (skt). 3) Di Sa Tắc bộ: Mahisasakah (skt). 4) Ca Diếp Di bộ: Kasyapiyah (skt). 5) Bà Thô Phú Na bộ: Vatsiputriyah (skt).
; (二部五部) Hai bộ 5 bộ. Hai bộ chỉ Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Còn 5 bộ thì chỉ cho Đàm vô đức bộ, Tát bà đa bộ, Di sa tắc bộ, Ca diếp di bộ và Bà thô phú la bộ. [X. Tam luận huyền nghĩa; chương 4, 6 trong Ấn độ chi Phật giáo (Ấn thuận)].
Nhị chuyển
二轉; C: èrzhuăn; J: niten;|Hai sự chuyển hoá. Chuyển phiền não chướng (煩惱障) và Sở tri chướng (所知障) thành Đại giác ngộ và Niết-bàn.
nhị chuyển diệu quả
(二轉妙果) Cũng gọi Nhị chuyển y quả, Nhị thắng quả.Gọi tắt: Nhị chuyển y, Nhị chuyển. Dứt hết 2 thứ chướng phiền não và sở tri mà chuyển thành 2 thứ quả thù thắng vi diệu.Luận Thành duy thức quyển 1 (Đại 31, 51 thượng) nói: Nhờ chuyển phiền não chướng mà được Đại niết bàn; nhờ chuyển sở tri chướng mà chứng Vô thượng giác. Hễ loài hữu tình chứng được quả Nhị chuyển y ấy tức là ý nghĩa Duy thức được thành lập, hoặc Y chính là Chân như duy thức vậy. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu; Bát tông cương yếu Q.hạ].
Nhị chân như
二眞如; C: èr zhēnrú; J: ni shinnyo;|Hai loại Chân như (s: tathatā): 1. Theo giáo lí Du-già hành tông thì đó là An lập chân như (安立眞如), được biểu hiện qua ngôn ngữ văn tự và Phi an lập chân như (非安立眞如), siêu việt mọi phân biệt đối đãi. Dạng thứ nhất tương quan với sự chứng ngộ của hàng Nhị thừa (二乘); dạng thứ hai tương quan với sự chứng ngộ của hàng Bồ Tát; 2. Theo Đại thừa khởi tín luận, Vô cấu, Siêu việt chân như, và Chân như là cội nguồn của mọi hiện tượng.
nhị chân như
Theo Phật Giáo, có hai loại Chân Như—According to Buddhism, there are two aspects of the bhutatathata, or two truths: (A) 1) Bất biến chân như (vạn pháp tức chân như): An lập chân như—Tùy theo duyên vô minh mà khởi lên trong thế giới hiện tượng mà chân tính bất biến—The changeless essence or substance. 2) Tùy duyên chân như (chân như tức vạn pháp): Phi an lập chân như—Tùy theo duyên vô minh mà dấy lên như trong thế giới hiện tượng—Its conditioned or ever-changing forms, as in the phenomenal world. (B) 1) Ly ngôn chân như: Thể tướng của chân như vốn xa lìa tướng ngôn ngữ, tướng tâm niệm—The inexpressible absolute, only mentally conceivable. 2) Y ngôn chân như: Dựa vào ngôn ngữ lời nói giả danh để hiện rõ chân tướng—Aspects expressed in words. (C) 1) Không chân như: Lìa hết thảy các pháp nhiễm lây, dường như hư không hay tấm gương sáng, không có gì trong đó—The absolute as the void (space, the sky, the clear mirror). 2) Bất không chân như: Chơn như đủ hết thảy các pháp tịnh, như gương sáng hiện lên muôn vẻ—The absolute in manifestation or phenomenal (images in the mirror)—The womb of the universe in which are all potentialities. (D) 1) Tại triền chân như: Còn gọi là Hữu Cấu Chân Như, tức là chân như ở trong ràng buộc—The Buddha nature in bonds. 2) Xuất triền chân như: Còn gọi là Vô Cấu Chân Như, tức là chân như ra khỏi ràng buộc—The Buddha nature set free by the manifestation of the Buddha and Bodhisattvas. (E) 1) Hữu cấu chân như: Chân như có bợn nhơ, như trong trường hợp chúng sanh là những người chưa giác ngộ (lục bình bám rễ trong bùn)—The Buddha-nature defiled, as unenlightened man (water lily with its roots in the mud). 2) Vô cấu chân như: Chân như không bợn nhơ, như nơi chư Phật hiển hiện Phật tánh thanh tịnh và trong sáng như trăng rằm—The pure Buddha-nature, purified or bright as the full moon. (F) 1) An lập Chân như: See Bất biến Chân như. 2) Phi An lập Chân như: See Tùy duyên Chân như. (G) 1) Tương đãi chân như: Chơn như trong thế giới hiện tượng, y theo lời nói giả danh mà hiển hiện ra, bất biến mà tùy duyên—Relative or conventional, everyday truth of the mundane world subject to delusion and dichotomies. a) Chơn như tương đối trong thế giới hiện tượng, y theo lời nói giả danh mà hiện ra, bất biến mà tùy duyên—The relative truth, or the truth of the unreal, manifests 'stillness but is always illuminating,' which means that it is immanent in everything. b) Những nhà tư tưởng của trường phái Tịnh Độ chấp nhận dùng tương đãi chân như để diễn tả tuyệt đãi chân như, hay dùng tương đãi chân như như là cỗ xe phương tiện đưa chúng ta đến tuyệt đãi chân như. Phương thức giúp hành giả Tịnh Độ dựa trên sắc tướng để đạt đến Phật tánh là cái vô tướng—Pure Land thinkers accepted the legitimacy of conventional truth as an expression of ultimate truth and as a vehicle to reach Ultimate Truth. This method of basing on form helps cultivators reach the Buddhahood, which is formless. 2) Tuyệt đãi chân như: Chơn như tuyệt đối, siêu việt, hay chân không tuyệt đối, đây là những gì chư Phật đã dạy, tùy duyên mà bất biến—The ultimate or absolute Truth, transcending dichotomies, as taught by the Buddhas. The absolute truth, or the truth of the void, manifests'illumination but is always still,' and this isn absolutely inexplicable. ** For more information, please see Chân Như (C).
; (二真如) Hai loại chân như. Có 5 loại Nhị chân như:1. Li ngôn chân như và Y ngôn chân như: Tức là nương vào Li ngôn thuyên và Y ngôn thuyên mà chia diệu lí chân như làm Li ngôn và Y ngôn. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.5]. 2. Không chân như và Bất không chân như: Không chân như rốt ráo hiển thực, Bất không chân như có tự thể, đầy đủ công đức của tính vô lậu. 3. Bất biến chân như và Tùy duyên chân như: Bất biến chân như tùy thuận muôn pháp sai biệt, nhưng không đánh mất tự tính chân như; còn Tùy duyên chân như thì không bị hạn cuộc trong tự tính mà tùy theo duyên nhiễm, tịnh mà sinh ra pháp nhiễm, tịnh. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.5; luận Thích ma ha diễn Q.3]. 4. Hữu cấu chân như và Vô cấu chân như: Cấu chỉ cho phiền não cấu nhiễm, hễ có phiền não cấu nhiễm thì gọi là Hữu cấu chân như; còn nếu không có phiền não cấu nhiễm thì gọi là Vô cấu chân như. [X. Đại thừa chỉ quán pháp môn Q.2]. 5. Sinh không chân như và Pháp không chân như, cũng gọi Nhị không chân như, Nhị không chân lí. Chân lí từ ngã không mà hiển hiện, thì gọi là Pháp không chân như.[X. luận Thành duy thức Q.10]. (xt. Chân Như).
nhị chính
(二正) Chỉ cho thể chính và dụng chính. Tam luận huyền nghĩa (Đại 45, 7 trung) nói: Đối với pháp không có danh tướng gượng nói danh tướng, khiến cho người theo học nhờ đó mà được ngộ, cho nên lập ra Nhị chính: Một là thể chính, hai là dụng chính. Thể chính thì chẳng phải chân, chẳng phải tục, còn dụng chính thì là chân và tục. Sở dĩ như thế là vì thực tướng các pháp dứt bặt nói năng suy nghĩ, không hề có chân tục, cho nên gọi là thể. Không có thiên lệch, đó là chính, cho nên gọi là Chính thể. Còn nói về dụng chính thì thể của nó dứt hết danh ngôn, không do đâu mà ngộ được, tuy chẳng phải hữu vô mà gượng nói có chân tục, nên gọi là dụng. Chân và tục này cũng không thiên lệch, đó là chính, vì thế gọi là Dụng chính. Vì pháp thể là thực tướng và lí Bát nhã chứng được vốn không 2, xa lìa thiên lệch tà vạy, nhưng gượng gọi là chính, nên nói là Chính thể. Còn thể của vô ngôn là cái lìa danh tướng, nhưng nếu không nói thì không làm được lợi ích gì cho chúng sinh, bởi thế dùng trí lực Bát nhã để khởi lên cái dụng phương tiện hóa tha, gượng đặt ra ngôn giáo chân đế, tục đế, dùng để thuyết pháp giáo hóa. Tuy nhiên, cái dụng phát khởi từ thể chính bất nhị, không rơi vào thiên lệch, dụng của 2 đế chân tục cũng chính, cho nên gọi là Dụng chính. [X. Tam luận huyền nghĩa kiểm u tập Q.5; Tam luận huyền nghĩa giảng thuật Q.trung (Hiểu ngộ)].
nhị chúng
Hai chúng Phật giáo—Two groups of Buddhist followers: 1) Chúng Xuất gia: Tu sĩ xuất gia là những vị đã giữ từ mười giới trở lên—The monks or clergy who observe at least ten commandments. 2) Chúng tại gia: Cư sĩ tại gia là các vị chỉ giữ từ năm đến tám giới—The laity who observe the five and the eight commandments.
; (二衆) I. Nhị Chúng. Đạo chúng và tục chúng. 1. Đạo chúng: Những người xuất gia tu đạo, thụ 10 giới, giới Cụ túc. 2. Tục chúng: Những người tại gia qui y Tam bảo, thụ 5 giới, 8 giới. II. Nhị Chúng. Chỉ cho tỉ khưu và tỉ khưu ni. III. Nhị Chúng. Chỉ cho ưu bà tắc và ưu bà di (nam, nữ Phật tử).
Nhị chướng
二障; C: èrzhàng; J: nishō;|I. Hai loại chướng ngại Phân biệt chướng (分別障) và Câu sinh chướng (倶生障) theo giáo lí của Duy thức tông; II. Phiền não chướng (煩惱障), là chướng ngại đầu tiên trong 7 chuyển thức (轉識), có thể được trừ diệt qua pháp tu tiệm thứ của hàng Thanh văn và Bích-chi Phật; Sở tri chướng (所知障), là loại phiền não vi tế nhất xuất phát từ căn bản thức (A-lại-da thức 阿頼耶識) chỉ có thể được chuyển hoá bởi Bồ Tát đã trực chứng Tính không (s: āvaraṇa-dvaya). Theo kinh Viên Giác, hai loại nầy được gọi là Sự chướng (事障) và Lí chướng (理障), tương ứng với các tên gọi đã nêu trên. Xem thêm Nhị chướng nghĩa (二障義) để biết chi tiết về các loại chướng ngại nầy.
nhị chướng
Obscurations, two drippa nyi (T), drippa nyi (T).
; The two hindrances.
; (二障) Cũng gọi Nhị ngại. I. Nhị Chướng. Chỉ cho Phiền não chướng và Sở tri chướng do phái Du già hành và tông Pháp tướng phân loại. 1. Phiền não chướng: Do chấp ngã mà sinh ra, vì tất cả các hoặc tham, sân, si... phát nghiệp nhuận sinh, phiền nhiễu thân tâm loài hữu tình, khiến phải sinh tử mãi trong 3 cõi, 5 đường, gây chướng ngại cho quả Niết bàn, nên gọi là Phiền não chướng. 2. Sở tri chướng, cũng gọi Trí chướng. Do chấp pháp mà sinh ra, vì các hoặc tham, sân, si... khiến loài hữu tình trở nên ngu si, mê muội, ngăn trở diệu trí bồ đề, làm cho chúng sinh không thấy rõ được sự tướng và thực tính của các pháp, vì thế gọi là Sở tri chướng. [X. luận Thành duy thức Q.9]. II. Nhị Chướng. Chỉ cho Phiền não chướng và Giải thoát chướng. 1. Phiền não chướng: Do chấp ngã mà làm chướng ngại sự phát sinh của trí tuệ vô lậu.2. Giải thoát chướng, cũng gọi Bất nhiễm vô tri định chướng, Định chướng, Câu giải thoát chướng. Giải thoát là tên khác của định Diệt tận. Vì pháp này gây trở ngại cho bậc Thánh vào định Diệt tận, cho nên gọi là Giải thoát chướng, thể của nó là Bất nhiễm ô vô tri. [X. luận Câu xá Q.25; Câu xá luận quang kí Q.25; Câu xá luận tụng sớ Q.12]. III. Nhị Chướng. Chỉ cho Lí chướng và Sự chướng. 1. Lí chướng: Các hoặc tà kiến... mê lầm về lí làm chướng ngại chính tri kiến, tương đương với Sở tri chướng. 2. Sự chướng: Các hoặc tham, sân, si... mê lầm về sự, làm cho sinh tử nối tiếp, gây chướng ngại cho Niết bàn, tương đương với Phiền não chướng. [X. kinh Viên giác Q.hạ]. IV. Nhị Chướng. Chỉ cho Nội chướng và Ngoại chướng. 1. Nội chướng: Ba độc làm chướng ngại khiến trong tâm chúng sinh khởi lên phiền não. 2. Ngoại chướng: Bảy nạn là những chướng ngại do các cảnh bên ngoài thêm vào.[X. A sa phược sao Q.187].
Nhị chướng nghĩa
二障義; C: èrzhàng yì; J: nishōgi; K: ijang'ǔi|Giáo lí về hai loại chướng ngại. Một luận giải chi tiết đề cập nhiều lí thuyết khác nhau về giáo lí hai chướng ngại của Du-già hành phái (瑜伽行派) của Nguyên Hiểu (元曉; k: wǒnhyo). Luận giải nầy khảo sát và so sánh những giải thích khác nhau về hai thứ chướng ngại được trình bày trong các kinh văn của Du-già hành tông, nổi tiếng nhất là Du-già sư địa luận (瑜伽師地論; s: yogācārabhūmi-śāstra), kinh Giải thâm mật (解深密經; s: saṃdhinirmocana-sūtra), Đối pháp luận (對法論; s: mahāyānābhi-dharma-samuccaya-vyākhyā), kinh Thắng Man (勝鬘經; s: śrīmālādevī-simhanāda-sūtra), và Hiển dương luận (顯揚論; s: prakaranāryavāca-śāstra). Đầu tiên, Nguyên Hiểu định nghĩa những đặc điểm của các loại chướng ngại rất sâu rộng theo thuật ngữ của Hiển giáo lẫn Mật giáo. Sau đó, sư giải thích cách giải trừ chúng theo thuật ngữ của nhiều bản kinh văn khác nhau của Du-già hành tông, cách chuyển hoá phiền não đã được thủ đắc bởi nhiều tầng lớp hành giả khác nhau. Vì thế nên luận văn này là một tài liệu giáo khoa thích hợp nhất để tìm hiểu các ý niệm về phiền não, nhiễm ô trong Phật học và những chướng ngại cho tiến trình giải thoát gây ra bởi tâm phân biệt của con người.
nhị chấp
The two (erronous) tenets, or attachements: (1) ngã chấp, nhân chấp, that of the reality of the ego, permanent personality; (2) pháp chấp, that of the reality of dharma, things or phenomena.
; (A) Hai tà chấp hay luyến ái—Two erroneous tenets or attachments—Illusions—Do ngã pháp chấp, ảo vọng phát khởi—All illusion arises from holding to the reality of the ego and of things: 1) Ngã chấp: Nhân chấp hay chấp cái ngã có thật—Attachment of the reality of the ego, permanent personality, the atman, soul or self. 2) Pháp chấp: Chấp rằng vạn pháp có thật—Attachment of the reality of dharma, things or phenomena. (B) Hai thuyết chấp về luân hồi—Two theories on reicarnation: Hai thuyết nầy đều không đúng với luật “Luân Hồi” của đạo Phật. Theo giáo lý nhà Phật thì chúng sanh lăn lộn trong luân hồi sanh tử, vòng luân hồi xoay chuyển chúng sanh trong lục đạo. Phật tử không tin nơi đoạn diệt, vì đoạn diệt căn cứ trên sự hiểu biết không toàn hảo về chân như thực tánh; mà cũng không tin nơi thường hằng vì Phật tử không tin thế giới nầy hay thế giới nào khác lại có sự trường cửu không thay đổi—Both theories do not conform to the Buddhist law of causality. In Buddhist view, men are tied to the cycle of birth and death, the cycle of reincarnation. This cycle turns around and around, compelling men to reincarnate in one of the six realms. Buddhists believe that Nihilism is false because it is based on incomplete understanding of reality. Eternalism is also wrong, because Buddhists cannot accept that there is anything either in this world or any other world that is eternal or unchangeable. 1) Chấp Đoạn Kiến—Attachment on Nihilism: Thuyết nầy tin rằng loài người cũng như vật, chết là mất là mất hẳn, không còn gì sau đó, là cát bụi con người trở về với cát bụi. Các khoa học gia cho rằng mỗi cá nhân vào đời lúc được thọ thai do tinh cha trứng mẹ, sống cuộc đời của mình và chết, chấm dứt hiện hữu—This theory believes in nihilism, claims that after death there is nothing left. Man born from dust will return to dust. This is what scientists believe. They say every person conceived by the fusion of a sperm and egg, will live his life and will die, thus terminating his existence on earth. 2) Chấp Thường Kiến—Attachment on Eternalism: Thuyết nầy tin rằng trước khi là người, con người không có hiện hữu, rồi được tạo nên, con người được sanh vào đời do ý chí của một vị thần linh. Người ấy sống đời mình, rồi tùy theo những gì mình tin tưởng hay những hành động của mình trong đời, sẽ được về vĩnh viễn trên cõi thiên đàng hoặc bị đày vĩnh viễn nơi địa ngục—This theory believes in eternalism, believes that man was created by the will of some Deity. He will live his life and act according to his beliefs in order to return to Heaven or to be condemned forever in Hell.
; (二執) I. Nhị Chấp. Ngã chấp và pháp chấp. Cũng gọi Ngã pháp nhị chấp, Nhân pháp nhị chấp, Sinh pháp nhị chấp. 1. Ngã chấp, cũng gọi Nhân chấp. Nghĩa là vì không biết thân người là do 5 uẩn giả hòa hợp,nên cố chấp trong 5 uẩn có cái ta thường nhất và chủ tể. 2. Pháp chấp: Vì không rõ các pháp là do nhân duyên sinh ra, như huyễn như hóa, nên cố chấp các pháp có thực tính. Hai cái chấp trên đây là chỗ chấp của Tát ca da kiến (ngã kiến),1 trong 5 kiến; khởi lên ngã chấp thì sinh ra phiền não chướng,còn khởi lên pháp chấp thì sinh ra sở tri chướng. [X. chương Nhị chấp trong Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.4] (xt. Nhân Ngã Pháp Ngã). II. Nhị Chấp. Chỉ cho Tăng chấp và Giảm chấp. 1. Tăng chấp: Chấp trước các pháp là thực có, là tình chấp thiên về bên có. 2. Giảm chấp: Chấp trước các pháp là không, là tình chấp thiên về bên không. [X. luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1].
nhị chủng
Two kinds or classes.
; Hai loại—Two kinds or classes.
; (二種) Hai giống, tức giống phàm và giống thánh. 1. Giống phàm: Chỉ cho hàng phàm phu không có khả năng liễu ngộ, theo nghiệp chịu báo, luân hồi sinh tử, nối tiếp không dứt. 2. Giống thánh: Chỉ cho những người nhờ sự giúp đỡ của thiện tri thức, được nghe chính pháp, hiểu rõ tất cả các pháp đều do vọng niệm mà sinh; quán xét vọng tâm ấy giống như hư không nên không chấp trước các pháp, có khả năng làm hạt giống cho quả Thánh.
nhị chủng bát nhã
See Nhị Bát nhã.
nhị chủng bạch pháp
(二種白法) Hai thứ pháp trắng sạch, tức là thẹn thùng và hổ ngươi. Vì 2 pháp này có công năng làm cho tất cả hạnh kiểm và hành vi được trong sáng, trắng sạch nên gọi là Bạch pháp. (xt. Bạch Pháp).
nhị chủng bản giác
(二種本覺) Hai thứ bản giác, tức là Tùy nhiễm bản giác và Tính định bản giác. 1. Tùy nhiễm bản giác: Nương vào tính ô uế của vọng nhiễm mà hiển bày thể tướng của bản giác, được chia làm 2 loại là Trí tịnh tướng và Bất tư nghị nghiệp tướng. a) Trí tịnh tướng bản giác: Tướng bản giác theo nhiễm trở về tịnh, tức là nương vào sức xông ướp (huân tập) của chân như bên trong và sức giúp đỡ của giáo pháp Như lai bên ngoài mà như thực tu hành, dùng phương tiện đầy đủ, cho nên phá trừ vọng tâm để hiển hiện pháp thân, làm cho trí thuần tịnh của thủy giác hợp nhất với bản giác. b) Bất tư nghị nghiệp tướng của bản giác: Tức là tướng nghiệp dụng của bản giác trở lại thanh tịnh, là vì nhờ vào tướng trí tịnh nên tướng vô lượng công đức thường không dứt mất, căn cứ theo các tướng tự nhiên ứng hợp nhau mà thực hiện nhiều việc lợi ích. Vì thế nên biết tướng trí tịnh là ương vào nhiễm duyên của chính mình mà thành, còn tướng nghiệp bất tư nghị là nương vào nhiễm duyên của người khác mà thành, cả 2 tướng đều không lìa nhiễm duyên, nên gọi là Tùy nhiễm bản giác. 2. Tính tịnh bản giác: Chân như của bản giác xa lìa tất cả các pháp ô nhiễm, đầy đủ hết thảy tính đức, thể đại và tướng đại là nhân huân tập bên trong, dụng đại là duyên giúp đỡ bên ngoài, gọi là Tính tịnh bản giác. Nếu dùng tấm gương sáng để ví dụ, thì Tính tịnh bản giác có 4 nghĩa: Gương như thực không, gương nhân huân tập, gương pháp xuất li và gương duyên huân tập. [X. Thích ma ha diễn luận Q.3]. (xt. Bản Giác).
nhị chủng bản tôn
(二種本尊) Hai loại Bản tôn. Bản tôn nghĩa là bậc tôn quí nhất vốn có từ xưa, xuất hiện ra thế gian.Theo phẩm Bản tôn tam muội trong kinh Đại nhật thì 3 thứ: Chữ, Ấn và Hình của Bản tôn, mỗi thứ được chia làm 2 loại: 1. Hai loại Chữ: a) Quán nghĩa chữ A: Chữ A là tâm bồ đề, cho nên hướng về chữ A mà quán xét tâm bồ đề của tự tính thanh tịnh. b) Xướng tiếng chữ A: Xướng tiếng này như rung chuông không ngừng, dùng nó để điều hòa hơi thở ra vào. 2. Hai loại hình Ấn: a) Hữu hình: Hình nghĩa là các màu xanh, vàng, đỏ, trắng..., các hình vuông, tròn..., các loại cong, thẳng, ngồi, đứng... Ấn là ấn được cầm, như loại chày kim cương. Tức người mới tu quán, trước quán tưởng tượng vẽ của Bản tôn có hình tướng ở ngoài tâm, nhờ đó dần dần đi vào quán tưởng Bản tôn không hình tướng trong tâm. b) Vô hình: Sau, quán tưởng dần dần nhuần nhuyễn, lại được nhờ sức gia trì, Bản tôn tự nhiên hiện trong tâm, ứng hợp với tâm, nên tâm không còn duyên theo bất cứ đối tượng nào ngoài tâm. 3. Hai loại hình Bản tôn: a) Phi thanh tịnh: Chẳng phải thanh tịnh. Nghĩa là người mới tu quán, trước hết quán tưởng Bản tôn có hình tướng, nhờ đó dần dần tiến vào chỗ thanh tịnh không hình tướng, nhưng vì Bản tôn là tôn vị có hình tướng, nên gọi là Phi thanh tịnh. b) Thanh tịnh: Trong sạch. Tức là từ chỗ có hình tướng tiến vào nơi thanh tịnh không hình tướng, hoàn toàn vắng bặt, vô tướng: Đó là thanh tịnh. [X. Đại nhật kinh sớ Q.20].
nhị chủng bệnh
(二種病) I. Nhị Chủng Bệnh. Chỉ cho 2 thứ bệnh là thân bệnh và tâm bệnh. 1. Thân bệnh: Bệnh khổ phát sinh do thân tứ đại mất quân bình. 2. Tâm bệnh: Tâm không thăng bằng, hoặc mừng vui thái quá, hoặc do sợ hãi lo âu, hoặc do tinh thần bấn loạn... mà sinh ra các chứng bệnh. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc)]. II. Nhị Chủng Bệnh. Hai thứ bệnh, tức bệnh do nghiệp nhân đời trước và bệnh do đời này mất sự điều hòa.1. Bệnh do nghiệp nhân đời trước: Đời trước ưa đánh đập người khác, làm nhiều việc ác não hại chúng sinh, do đó mà đời này bị nhiều chứng bệnh. 2. Bệnh do đời này mất sự điều hòa: Do 4 đại không điều hòa mà sinh ra bệnh. [X. luận Đại trí độ Q.8].
nhị chủng bịnh
Hai loại bịnh—Two kinds of sickness: 1) Thân bịnh: Physical sickness. 2) Tâm bịnh: Mental or spiritual sickness.
nhị chủng bố thí
Hai loại bố thí—Two kinds of dana or charity—See Nhị Bố Thí.
; (二種布施) I. Nhị Chủng Bố Thí. Hai thứ bố thí là tài thí và pháp thí. 1. Tài thí: Đem tiền của, thức ăn uống, áo quần, ruộng vườn, nhà cửa... mà ban phát cho người, gọi là Tài thí. 2. Pháp thí: Nói pháp cho người nghe, gọi là Pháp thí. Tài thí có hạn mà pháp thí thì vô cùng. Tài thí chỉ được quả báo thế gian, rốt cuộc thì cũng sẽ mất đi, còn pháp thí thì được quả Niết bàn, không bao giờ lui sụt. [X. kinh Đại bát nhã Q.569; kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.3; luận Đại trí độ Q.33; Pháp giới thứ đệ Q.hạ]. II. Nhị Chủng Bố Thí. Chỉ cho 2 thứ bố thí là Tịnh thí và Bất tịnh thí. 1. Tịnh thí: Bố thí với tấm lòng trong sạch, không vì mong cầu quả báo ở thế gian như tiếng tăm, lợi lộc, mà chỉ vì nuôi lớn thiện căn xuất thế và nhân Niết bàn. 2. Bất tịnh thí: Bố thí với vọng tâm mong cầu phúc báo, danh lợi... [X. luận Đại trí độ Q.33].
nhị chủng bồ tát
Hai loại Bồ Tát—Two kinds of Bodhisattvas: (A) 1) Tại gia Bồ Tát: Lay Bodhisattvas. 2) Xuất gia Bồ Tát: Monastic Bodhisattvas. (B) Chư Phật và chư Bồ Tát lấy đại bi làm sự nghiệp. Vậy người đã phát tâm Bồ Đề, nếu muốn cứu độ chúng sanh, chỉ nên nguyện sanh trong ba cõi, ở nơi đời ngũ trược, vào ba đường ác mà cứu khổ cho chúng hữu tình. Nếu đã phát tâm tu theo Phật mà lại xa rời chúng sanh, tự sống riêng một cuộc đời an ổn, e rằng thiếu lòng từ bi, chuyên lo tự lợi và trái với đạo Bồ Đề. Theo Đại Sư Trí Giả và Thiên Như trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, có hai hạng Bồ Tát—Great Compassion is the life calling of Buddhas and Bodhisattvas. Thus, those who have developed the Bodhi Mind, wishing to rescue and ferry other sentient beings across, should simply vow to be reborn in the Triple Realm, among the five turbidities and the three evil paths. If we abandon sentient beings to lead a selfish life of tranquility, we lack compassion. A preoccupation with egoistic needs contrary to the path of enlightenment. According to Masters Chih-I and T'ien-Ju in The Pure Land Buddhism, there are two types of Bodhisattvas. 1) Bậc tu Bồ Tát đạo đã lâu, đã chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn—Those who have followed the Bodhisattva path for a long time and attained the Tolerance of Non-Birth or insight into the non-origination of phenomena: Bậc nầy có thể nguyện sanh trong đời ác để cứu độ chúng sanh mà không sợ cùng chúng sanh đắm chìm trong biển sanh tử luân hồi. Luận Đại Trí Độ dạy: “Bậc Bồ Tát đã chứng Vô Sanh Nhẫn cũng ví như người có thân nhân bị nước lôi cuốn, mà có đủ đầy khả năng và phương tiện, người ấy tỉnh sáng lấy thuyền bơi ra cứu, nên cả hai đều không bị nạn trầm nịch.”—These Bodhisattvas can vow to be reborn in this evil realm to rescue sentient beings without fear of being drown in the sea of Birth and Death with sentient beings. The Perfection of Wisdom Treatise states: “Take the case of the person who watches a relative drowning in the river, a person, more intelligent and resourceful, hurries off to fetch a boat and sails to rescue his relative. Thus both persons escape drowning. This is similar to the case of a Bodhisattva who has attained Tolerance of Non-Birth, has adequate skills and means to save sentient beings.” 2) Bậc chưa chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn và hàng phàm phu mới phát tâm Bồ Tát—Bodhisattvas who have not attained the Tolerance of Non-Birth, as well as ordinary people who have just developed the Bodhi Mind: Những vị nầy cần phải thường không rời Phật mới có cơ thành tựu được nhẫn lực và có thể ở trong ba cõi, vào nơi đời ác để cứu độ chúng sanh. Cho nên Đại trí Độ Luận nói: “Hạng phàm phu còn đủ mọi sự ràng buộc, dù có lòng đại bi, nhưng vội muốn sanh trong đời ác để cứu độ chúng hữu tình khổ não, đó là điều không hợp lý. Tại sao thế? Vì trong cõi đời ác trược, nghiệp phiền não mạnh mẽ. Khi ấy mình đã không có nhẫn lực, tức tâm sẽ tùy cảnh mà chuyển, rồi bị sắc, thanh, danh, lợi trói buộc, sanh ra đủ nghiệp tham, sân, si. Chừng đó tự cứu đã không xong, nói chi là cứu độ chúng sanh? Giả sử được sanh trong cõi người thì cảnh xấu ác, kẻ tà ngoại dẫy đầy, nguời chánh chơn khó gặp, cho nên Phật pháp không dễ gì được nghe, Thánh đạo không dễ gì chứng được. Nếu là người do nhân bố thí, trì giới hay tu phước mà được làm bậc quyền quý, mấy ai không mê đắm cảnh giàu sang, buông lung trong trường dục lạc? Lúc đó dù có bậc thiện tri thức khuyên bảo, họ cũng không chịu tin làm theo, lại vì muốn thỏa mãn lòng tham dục của mình, nương quyền cậy thế sẳn có, gây ra thêm nhiều tội nghiệp. Đến khi chết rồi, bị đọa vào tam đồ trải qua vô lượng kiếp, khi khỏi tam đồ dầu có sanh được làm người cũng phải thọ thân bần tiện; nếu không gặp thiện tri thức lại mê lầm gây thêm tội ác thì lại bị đọa nữa. Từ trước đến nay chúng sanh luân hồi đều ở trong tình trạng ấy. Vì thế mà Kinh Duy Ma nói: “Chính bịnh của mình còn không tự cứu được, đâu có thể cứu được bịnh cho kẻ khác.” Luận Đại Trí Độ cũng nói: “Ví như hai người, mỗi kẻ đều có thân nhân bị nước lôi cuốn, một người tánh gấp nhảy ngay xuống nước để cứu vớt, nhưng vì thiếu khả năng và phương tiện nên cả hai đều bị đắm chìm.” Bậc Bồ Tát mới phát tâm vì chưa đủ nhẫn lực nên chẳng những không cứu được chúng sanh, mà còn hại đến chính bản thân mình. Thế nên Đại Trí Độ Luận dạy tiếp: “Bồ Tát sơ tâm như trẻ thơ không nên rời mẹ, nếu rời mẹ thì hoặc rơi vào hầm giếng, té xuống sông đầm, hoặc đói khát mà chết. Lại như chim non chưa đủ lông cánh, chỉ có thể nhảy chuyền theo cành cây; đợi chừng nào lông cánh đầy đủ, mới có thể bay xa, thong thả vô ngại. Phàm phu không nhẫn lực; chỉ nên chuyên niệm Phật A Di Đà cho được nhất tâm, đợi khi tịnh nghiệp thành tựu, lúc lâm chung sẽ được Phật tiếp dẫn vãng sanh, quyết định không nghi. Khi thấy Đức Phật A Di Đà và chứng quả Vô Sanh rồi, chừng ấy sẽ cỡi thuyền Pháp Nhẫn vào biển luân hồi cứu vớt chúng sanh, mặc ý làm vô biên Phật sự”—If these Bodhisattvas aspire to perfect that Tolerance and enter the evil life of the Triple Realm to save sentient beings, they should always remain close to the Buddhas and Good Advisors. The Perfection of Wisdom Treatise states: “It is unwise for human beings who are still bound by all kinds of afflictions, even if they possess a great compassionate Mind, to seek a premature rebirth in this evil realm to rescue sentient beings. Why is this so? It is because this evil, defiled world, afflictions are powerful and widespread. Those who lack the power of Tolerance of Non-Birth are bound to be swayed by external circumstances. They then become slaves to form and sound, fame and fortune, with the resulting karma of greed, anger and delusion. Once this occurs, they cannot even save themselves, how can they save others?” If, for example, they are born in the human realm, in this evil environment full of non-believers and externalists, it is difficult to encounter genuine sages. Therefore, it is not easy to hear the Buddha Dharma nor achieve the goals of the sages. Of those who planted the seeds of generosity, morality and blessings in previous lives and are thus now enjoying power and fame, how many are not infatuated with a life of wealth and honor, allowing in endless greed and lust? Therefore, even when they are counselled by enlightened teachers, they do not believe them nor act accordingly. Moreover, to satisfy their passions, they take advantage of their existing power and influence, creating a great deal of bad karma. Thus, when their present life comes to an end, they descend upon the three evil paths for countless eons. After that, they are reborn as humans of low social and economic status. If they do not then meet good spiritual advisors, they will continue to be deluded , creating more bad karma and descending once again into the lower more realms. From time immemorial, sentient beings caught in the cycles of Birth and Death have been in this predicament. The Vimalakirti Sutra also states: “If you cannot even cure your own illness, how can you cure the illnesses of others?” The Perfection of Wisdom Treatise further states: “Take the case of two persons, each of whom watches a relative drowning in the river. The first person, acting on impulse, hastily jumps into the water. However, because he lacks capabilities and the necessary means, in the end, both of them drown.” Thus newly aspiring Bodhisattvas are like the first individual, who still lacks the power of Tolerance of Non-Birth and cannot save sentient beings. The Perfection of Wisdom Treatise further teaches: “This is not unlike a young child he should not leave his mother, lest he fall into a well, drown in the river or die of starvation; or a young bird whose wings are not fully developed. It must bide its time, hopping from branch to branch, until it can fly afar, leisurely and unimpeded. In the same manner, ordinary people who lack the Tolerance of Non-Birth should limit themselves to Buddha Recitation, to achieve one-pointedness of Mind. Once that goal is reached, at the time of death, they will certainly be reborn in the Pure Land. Having seen Amitabha Buddha and reached the Tolerance of Non-Birth, they can steer the boat of that Tolerance into the sea of Birth and Death, to ferry sentient beings across and accomplish countless Buddha deeds at will.”
; (二種菩薩) Chỉ cho 2 loại Bồ tát là Thành tựu đại lực bồ tát và Tân phát ý bồ tát. 1. Thành tựu đại lực bồ tát: Vì cứu độ chúng sinh mà Bồ tát này không ngần ngại sinh vào những nơi biên địa, hoặc vào các nhà tà kiến để hoàn thành chí nguyện của mình. 2. Tân phát ý bồ tát: Bồ tát này mới phát tâm, chưa có đạo lực; nếu sinh vào nơi biên địa, hoặc vào nhà tà kiến, thì không những chẳng độ được người, mà còn tự làm cho thiện căn của mình bại hoại. Cho nên Bồ tát mới phát tâm không sinh vào nơi biên địa hoặc nhà tà kiến. [X. luận Đại trí độ Q.92].
nhị chủng bồ tát thân
Hai loại thân Bồ Tát—Two kinds of Bodhisattva's body: 1) Nhục thân Bồ Tát: Thân sống chết của Bồ Tát—Bodhisattva's mortal body. 2) Kim thân bất hoại Bồ Tát: Bodhisattva's immortal body.
; (二種菩薩身) Chỉ cho 2 thứ thân của Bồ tát là Sinh tử nhục thân và Pháp tính sinh thân. 1. Sinh tử nhục thân: Thân phàm phu sống chết. Nghĩa là Bồ tát ở địa vị Tam hiền, chưa chứng pháp tính, còn bị hoặc nghiệp chi phối, chịu thân Phần đoạn sinh tử trong 3 cõi. 2. Pháp tính sinh thân: Thân pháp tính sống. Nghĩa là Bồ tát đã chứng được pháp tính vô sinh, xả bỏ thân phàm phu sống chết trong 3 cõi mà thụ thân Biến dịch bất sinh bất tử, bất khả tư nghị ngoài 3 cõi. Phần nhiều kinh luận cho rằng Pháp tính sinh thân là từ Sơ địa hoặc từ Bát địa trở lên.Luận Đại trí độ quyển 74 (Đại 25, 580 thượng) nói: Bồ tát có 2 loại thân: Sinh tử nhục thân và Pháp tính sinh thân. Bồ tát được Vô sinh nhẫn, dứt các phiền não, sau khi xả bỏ thân này được Pháp tính sinh thân. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 840 thượng) nói: Bình đẳng pháp thân từ Bát địa trở lên là Bồ tát Pháp tính sinh thân.
nhị chủng bồ đề tâm
Two kinds of Bodhi-mind. 1) Duyên Sự Bồ Đề Tâm: See Duyên Sự Bồ Đề Tâm, and Tứ Hoằng Thệ Nguyện. 2) Duyên Lý Bồ Đề Tâm: See Duyên Lý Bồ Đề Tâm.
; (二種菩提心) Chỉ cho 2 loại bồ đề tâm là Duyên sự bồ đề tâm và Duyên lí bồ đề tâm. 1. Duyên sự bồ đề tâm: Lấy 4 thệ nguyện rộng lớn làm thể. a) Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ: Tức là nhân của Ứng thân bồ đề, là giới Nhiêu ích hữu tình, là tâm ân đức và là duyên nhân Phật tính. b) Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn: Tức là nhân của Pháp thân bồ đề, là giới Nhiếp luật nghi, là tâm đoạn đức, là chính nhân Phật tính. c) Pháp môn vô lượng thệ nguyện học: Tức là nhân của Báo thân bồ đề, là giới Nhiếp thiện pháp, là tâm trí đức, là liễu nhân Phật tính.d) Vô thượng Phật đạo thệ nguyện thành: Nhờ thành tựu đầy đủ 3 hạnh nguyện trước mà chứng được 3 thân bồ đề viên mãn, lại làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh. 2. Duyên lí bồ đề tâm: Tất cả các pháp xưa nay vốn vắng lặng, an trụ trong thực tướng trung đạo ấy mà thành tựu hạnh nguyện trên cầu đạo giác ngộ, dưới hóa độ chúng sinh. Đó là tâm bồ đề tối thượng. [X. Lục tổ Pháp bảo đàn kinh; Vãng sinh yếu tập Q.thượng, phần cuối].
nhị chủng chúng sinh
(二種衆生) Chỉ cho 2 loại chúng sinh, đó là: 1. Tập ái chúng sinh: Tập là thói quen; ái là tham ái, yêu thích. Nghĩa là đối với 5 cảnh dục lạc ở thế gian như sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm... tất cả chúng sinh đều đã có thói quen yêu thích, đắm đuối, không thể dứt ra được, cho nên gọi là Tập ái chúng sinh. 2. Tập kiến chúng sinh: Kiến là cái thấy phân biệt, chấp trước. Nghĩa là đối với tất cả sự vật, chúng sinh đã tập quen phân biệt, chấp trước như có, không, thường, đoạn... vì thế gọi là Tập kiến chúng sinh. [X. luận Đại trí độ Q.31].
nhị chủng chấp trì
Theo Tịnh Độ tông, chấp trì có nghĩa là luôn luôn tụng niệm, niệm nào cũng phải nhớ lấy danh hiệu của Đức Phật A Di Đà. Vì thế cho nên chấp trì còn được gọi là “Trí Tuệ Suy Nghĩ.” Theo Kinh A Di Đà Yếu Nghĩa, Hán dịch bởi Ngài Cưu Ma La Thập, ngài Trí Húc giải thích, và cư sĩ Tư Nhuận Việt dịch, có hai loại “Chấp Trì”—According to the Pure Land Sect, reciting the Buddha-name is a matter of being mindful of the Buddha-name from moment to moment, thus it is the “wisdom that comes from reflecting.” According to the Amitabha Sutra (translated into Chinese by Kumarajiva, explained by Bhikshu Trí Húc, and translated into Vietnamese by lay person Tuệ Nhuận), there are two levels of practice in reciting the Buddha-name. 1) Sự Trì: Reciting the Buddha-name at the phenomenal level—Người “sự trì” là người tin có Phật A Di Đà ở cõi tây Phương Tịnh Độ, nhưng chưa thông hiểu thế nào là “Tâm mình tạo tác ra Phật, Tâm mình chính là Phật.” Nghĩa là người ấy chỉ có cái tâm quyết chí phát nguyện cầu vãng sanh Tịnh Độ, như lúc nào cũng như con thơ nhớ mẹ chẳng bao giờ quên—Reciting the Buddha-name at the level of phenomenal level means believing that Amitabha Buddha exists in His Pure Land in the West, but not yet comprehending that he is a Buddha created by the Mind, and that this Mind is Buddha. It means you resolve to make vows and to seek birth in the Pure Land, like a child longing for its mother, and never forgetting her for a moment. 2) Lý Trì: Reciting the Buddha-name at the level of inner truth—Người “lý trì” là người tin rằng Phật A Di Đà ở Tây Phương là Phật đã có sẳn trong tâm mình, là Phật do Tâm mình tạo ra, mình lấy ngay cái danh hiệu Phật lớn lao và có sẳn trong Tâm mình đó mà buộc Tâm mình vào, khiến cho nó chớ tạm quên—Reciting the Buddha-name at the level of inner truth or noumenon means believing that Amitabha Buddha and His Pure Land in the West are inherent features of our own pure Minds, the creation of our own pure Minds. It means using the great name of Amitabha Buddha, which is inherent in our Minds and the creation of our Minds, as a focal point to concentrate our minds on, so that we never forget it for a moment.
nhị chủng chủng tử
Two kinds of seed: (1) bản hữu chủng tử, the seed, or latent undivided (moral) force immanent in the highest of the 8 consciousness (2) tân huân chủng tử, the newly influenced, or active seed when acted upon by the sven other consciousness, thus becoming productive.
nhị chủng chứng
(二種證) I. Nhị Chủng Chứng. Hai quá trình chứng quả A la hán khi tu pháp môn Tiểu thừa. 1. Thứ đệ chứng, cũng gọi Thứ đệ đoạn. Chứng quả theo thứ lớp. Nghĩa là từ quả Tu đà hoàn đầu tiên, theo thứ tự từng bước đoạn hoặc để dần dần chứng đến quả A la hán. 2. Siêu việt chứng, cũng gọi Siêu việt đoạn. Chứng quả vượt bậc. Nghĩa là vị Thanh văn có căn tính bén nhạy, có thể trong 1 lúc dứt hết các hoặc, bỏ qua luôn các quả thứ 1, 2, 3 mà chứng ngay quả A la hán.II. Nhị Chủng Chứng. Hai loại chứng là Sự chứng và Lí chứng. 1. Sự chứng: Người tu giới. 2. Lí chứng: Người tu định, tuệ. [X. Nam sơn giới bản sớ Q.1].
nhị chủng cung dưỡng
(二種供養) Hai cách cúng dường Phật và Bồ tát. Đó là: 1. Sự cúng dường và Lí cúng dường: Dâng hương hoa, đèn nến, thức ăn uống, vật quí báu... để cúng dường là Sự cúng dường; còn cúng dường về tinh thần như lòng tin... là Lí cúng dường. 2. Tài cúng dường và Pháp cúng dường: Dâng các tài vật như hoa hương, của báu... để cúng dường là Tài cúng dường. Còn cúng dường bằng cách tu hạnh Bồ tát, làm lợi ích chúng sinh... là Pháp cúng dường. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.1; Di giáo kinh luận]. (xt. Cúng Dường).
nhị chủng cúng dường
The two forms of service, or offering: (1) tài cúng dường, offerings of goods; (2) pháp cúng dường, offerings of Buddha-truth.
; See Nhị Cúng Dường in Vietnamese-English Section.
nhị chủng căn bản
(二種根本) Chỉ cho 2 loại căn bản, đó là: 1. Vô thủy căn bản sinh tử: Từ vô thủy đến nay, chúng sinh đã trải qua vô lượng kiếp, trôi lăn trong biển khổ sinh tử, vì đã mê mất bản tính, không biết bắt đầu từ bao giờ, cho nên gọi là Vô thủy (không có bắt đầu). Căn bản sinh tử chỉ cho tâm phan duyên, tức lấy tâm phan duyên làm tự tính. 2. Vô thủy bồ đề Niết bàn nguyên thanh tịnh thể: Lí thể tính tịnh rỗng rang vắng lặng, không dời không đổi, không đầu không cuối, nên gọi là Vô thủy bồ đề Niết bàn; vì nó không tiêm nhiễm phiền não, không rơi vào sinh tử, cho nên gọi là Nguyên thanh tịnh thể, tức là căn bản của bồ đề Niết bàn thanh tịnh. [X. kinh Lăng nghiêm Q.1].
nhị chủng cơ hiềm
(二種譏嫌) Chỉ cho 2 thứ cơ hiềm (chê hiềm) là Danh cơ hiềm và Thể cơ hiềm. Luận Tịnh độ của bồ tát Thiên thân cho rằng, Thể cơ hiềm có 3 thứ: Nhị thừa, nữ nhân và người không đủ các căn. Ba loại người này khiến người tu hành Phật đạo không ưa. Vì chúng hay sinh nhiều chuyện hiềm nghi và chê bai, nên gọi là Thể cơ hiềm, tên của nó gọi là Danh cơ hiềm.
nhị chủng diệt
(二種滅) Hai thứ diệt của đức Như lai. Cứ theo luận Hiển dương thánh giáo quyển 8, đức Như lai có 2 thứ diệt: 1. Tạm thời diệt: Như lai ra đời, tùy cơ giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, hàng Tiểu thừa và Đại thừa đều được giải thoát. Khi cơ duyên đã hết, Như lai liền nhập diệt, nhưng thể pháp thân của Ngài thì như như bất động, thực chưa từng diệt, cho nên gọi là Tạm thời diệt.2. Cứu cánh diệt: Diệu giác của Như lai tròn sáng, dứt sạch hết thảy phiền não, không còn mảy may, không bao giờ sinh trở lại nữa, vì thế gọi là Cứu cánh diệt.
Nhị chủng duyên sinh
二種縁生; C: èrzhǒngyuànshēng; J: nishu enshō;|Hai loại duyên sinh được trình bày trong Nhiếp Đại thừa luận (攝大乘論), đó là Biệt tự tính (別自性) duyên sinh và Phân biệt ái phi ái (分別愛非愛) duyên sinh.
nhị chủng dâm báo
(二種淫報) Hai thứ quả báo về tà dâm. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 70, do đời trước làm hạnh tà dâm, nên đời này chịu 2 thứ quả báo: 1. Vợ không trinh tiết: Do nhân đời trước xâm phạm thê thiếp người khác, nên chiêu cảm quả báo đời này vợ không thủy chung trinh tiết. 2. Gặp quyến thuộc không vừa ý: Do đời trước tà dâm, cướp vợ yêu của người khiến họ buồn khổ, nên quả báo đời này gặp quyến thuộc trái ý.
nhị chủng gia trì
(二種加持) Hai loại gia trì là Nhất thiết Như lai gia trì và Tứ Phật gia trì. (xt. Gia Trì).
nhị chủng giới
(二種戒) I. Nhị Chủng Giới. Chỉ trì giới và Tác trì giới. 1. Chỉ trì giới: Ngăn ngừa các việc ác của thân và miệng, như giết hại, trộm cướp, nói láo... 2. Tác trì giới: Tích cực làm các việc thiện như phóng sinh, bố thí... [X. Tứ phần luật san phồn bồ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 4] II. Nhị Chủng Giới. Tại gia giới và Xuất gia giới. 1. Tại gia giới: Như 5 giới, 8 giới của ưu bà tắc và ưu bà di thụ trì. 2. Xuất gia giới: Như 10 giới của sa di và Cụ túc giới của tỉ khưu. [X. luận Tì ni mẫu Q.1, 3]. III. Nhị Chủng Giới. Chỉ cho Tính giới và Già giới. 1. Tính giới: Như giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối. Bốn giới này tự tính của chúng đã là giới rồi, chứ không đợi Phật chế định mới thành giới, cho nên gọi là Tính giới. Nếu người giữ được thì được phúc, mà vi phạm thì phải chịu tội. 2. Già giới: Như giới uống rượu. Tính của rượu vốn không phải tội, nhưng nó có thể làm cho người uống bị say mà vi phạm các điều giới khác, cho nên đức Phật đặc biệt ngăn cấm, không cho uống rượu, vì thế gọi là Già giới. [X. luận Câu xá Q.18]. IV. Nhị Chủng Giới. Chỉ cho Tính trọng giới và Tức thế cơ hiềm giới. 1. Tính trọng giới: Những giới mà bản tính của chúng là tội rất nặng, như 4 giới: Giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối, nên gọi là Tính trọng giới. 2. Tức thế cơ hiềm giới: Ngăn ngừa sự chê cười của người đời. Nghĩa là những giới điều mà vì tâm đại từ đức Phật đặc biệt chế định cho chúng tăng giữ gìn, như giới uống rượu chẳng hạn, để ngăn ngừa và chấm dứt sự chê cười của người đời, vì thế gọi là Tức thế cơ hiềm giới. [X. kinh Niết bàn Q.11 (bản Bắc)]. V. Nhị Chủng Giới. Đạo cộng giới và Định cộng giới. Đây là 2 thứ luật nghi. 1. Đạo cộng giới, cũng gọi Vô lậu luật nghi. Khi bậc Thánh Tam thừa vào định vô lậu ở cõi Sắc, thì định vô lậu kết hợp với trí vô lậu mà tự phát ra giới thể ngăn ngừa tội lỗi ở trong thân, đó là Đạo cộng giới. Luật nghi này và đạo vô lậu cùng sinh, cho nên gọi là Đạo cộng giới. 2. Định cộng giới, cũng gọi Tĩnh lự sinh luật nghi. Khi hành giả vào các thiền định như Sơ thiền, Nhị thiền... thì giới thể ngăn ngừa tội lỗi tự nhiên sinh ra cùng với thiền định, gọi là Định cộng giới. Luật nghi này nương vào tĩnh lự mà sinh ra, nên cũng gọi là Tĩnh lự sinh luật nghi. VI. Nhị Chủng Giới. Tùy tướng giới và Li tướng giới. 1. Tùy tướng giới: Thuận theo lời dạy của đức Như lai thực hành việc nhuộm áo, xuất gia, khất thực tự sống, gọi là Tùy tướng giới.2. Li tướng giới: Người giữ giới, tâm không chấp trước, tất cả giới cũng như hư không, thấy rõ không có tướng giữ giới hay phạm giới nên gọi là Li tướng giới (giới lìa tướng). [X. Hoa nghiêm đại sớ Q.5].
nhị chủng hiển thị
(二種顯示) Chỉ cho Ngôn hiển thị và Sử tu hành hiển thị. Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1, bản tính của chúng sinh vốn có đủ các pháp nhân, quả, lí, sự... nhưng vì tướng thay đổi nên thể sai khác, tình sinh khởi thì trí cách ngăn, không thể hiển phát. Bởi thế, đức Phật nói kinh Hoa nghiêm khiến cho chúng sinh biết tâm hợp thể, trí hiển thì tình mất, cho nên có 2 cách hiển thị. Đó là: 1. Ngôn hiển thị, hiển bày bằng lời nói: Đức Phật dùng lời nói hiển bày, làm cho chúng sinh biết rằng họ đều có sẵn đức tướng trí tuệ Như lai. 2. Sử tu hành hiển thị, hiển bày bằng cách khiến chúng sinh tu hành: Đức Phật đã chỉ cho các chúng sinh biết họ có đủ đức tướng Như lai rồi, bây giờ, Phật bảo họ phải tu hành để ngộ nhập và hiển hiện đức tướng ấy.
nhị chủng huân
(二種熏) Huân tập và Tư huân. 1. Huân tập: Huân là huân phát; Tập là tập tành luôn. Nghĩa là thường huân tập duyên nhiễm tịnh, huân phát tâm thể mà thành những việc nhiễm tịnh, tức huân tập theo thói quen của mình. 2. Tư huân: Tư là giúp đỡ. Nghĩa là tâm đối với các trần cảnh hiện tiền mà khởi động và các hoặc giúp đỡ nhau, rồi huân phát mà thành các việc nhiễm tịnh. Tức giúp đỡ nhau mà huân tập. [X. luận Đại thừa khởi tín; Đại tạng pháp số Q.4].
nhị chủng huân tập
(二種熏習) Tướng phần huân và Kiến phần huân. 1. Tướng phần huân: Khi mỗi thức trong 7 chuyển thức duyên theo đối tượng bên ngoài, thì nương vào tự thể của thức ấy mà huân tập tướng phần của đối tượng kia cùng với chủng tử sẵn có trong thức thứ 8, gọi là Tướng phần huân. 2. Kiến phần huân: Huân tập kiến phần năng duyên và chủng tử của tự chứng phần, chứng tự chứng phần trong thức thứ 8, gọi là Kiến phần huân.
nhị chủng huýnh hướng
(二種迥向) Hai thứ hồi hướng do tông Tịnh độ thành lập, đó là: I. Vãng tướng hồi hướng và Hoàn tướng hồi hướng. 1. Vãng tướng hồi hướng: Đem công đức của mình hồi hướng cho tất cả chúng sinh, nguyện cùng vãng sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà. 2. Hoàn tướng hồi hướng: Mình đã sinh về Tịnh độ rồi, thành tựu tất cả công đức, nguyện trở lại cõi sinh tử, giáo hóa hết thảy chúng sinh, làm cho họ hướng về Tịnh độ. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ]. II. Chúng sinh hồi hướng và Phật quả hồi hướng. 1. Chúng sinh hồi hướng: Đem công đức thiện căn của mình hồi hướng cho hết thảy chúng sinh. 2. Phật quả hồi hướng: Đem công đức của mình cầu cho mình và mọi người đều thành đạt quả Phật. III. Chính hồi hướng và Tà hồi hướng. 1. Chính hồi hướng: Đem những công đức mà mình đã tạo được, hồi hướng cho chúng sinh, hồi hướng về Phật quả. 2. Tà hồi hướng: Đem công đức của mình hồi hướng để cầu mong được làm quỉ thần trong vị lai.
nhị chủng hộ trì sự
(二種護持事) Chỉ cho 2 thứ hộ trì: Hộ trì Phật chủng và Hộ trì chính pháp. 1. Hộ trì Phật chủng, giữ gìn hạt giống Phật: Chư Phật, Bồ tát dùng tâm đại bi bảo tồn và phát triển hạt giống Phật, khiến cho chúng sinh xa lìa thế tục, cạo tóc, mặc áo nhuộm, xuất gia, tu hành Thánh đạo, nối tiếp không để dứt mất. 2. Hộ trì chính pháp, giữ gìn và bảo vệ chính pháp: Chư Phật, Bồ tát dùng tâm đại bi giữ gìn và bảo vệ chính pháp của Như lai, làm cho tất cả tà ma ngoại đạo không thể phá hoại được, khiến chúng sinh chính tín và ưa thích Phật pháp, lưu hành rộng rãi, lợi ích vô cùng. [X. kinh Địa tạng thập luân Q.5].
nhị chủng hữu
Theo Thanh Tịnh Đạo, có hai loại Hữu—According to the Path of Purification, there are two kinds of becoming. 1) Nghiệp Hữu: Karma-process becoming—Chính tiến trình nghiệp là hữu, thì gọi là nghiệp hữu. Nghiệp cần được hiểu là hữu vì nó đem lại hữu hay sự tái sanh. Trước hết, nghiệp hữu nói vắn tắt là hành và các pháp tham dục, vân vân, tương ưng với hành cũng được xem là nghiệp. Nghiệp hữu bao gồm phước hành, phi phước hành, bất động hành, ở bình diện nhỏ (hữu hạn) hay bình diện lớn (đại hành). Tất cả những nghiệp đưa đến sự tái sanh đều là nghiệp hữu—The karma-process itself is karma-process becoming. The karma should be understood as becoming. The karma-process becoming in brief is both volition also and the states covetousness, etc., associated with the volition and reckoned as karma too. Karma-process becoming consists of the formation of merit, the formation of demerit, the formation of the imperturbable, either with a small (limited) plane or with a large plane. All karmas that lead to becoming are called karma-process becoming. 2) Sinh Hữu: Rebirth-process becoming. a) Chính tiến trình tái sanh là hữu thì gọi là sanh hữu. Tái sanh là hữu vì nó hiện hữu. Sanh hữu nói vắn tắt là các uẩn do nghiệp sanh—Rebirth is becoming since it becomes. Rebirth-process becoming briefly is aggregates generated by karma. b) Sanh hữu gồm chín loại: It is of nine kinds: • Dục hữu: Loại hữu có dục vọng—Sense-desire becoming, the kind of becoming possessed of sense-desires. • Sắc hữu: Loại hữu có sắc—Fine-material becoming, the kind of becoming possessed of fine material. • Vô sắc hữu: Loại hữu vô sắc—Immaterial becoming, the kind of becoming possessed of immaterial. • Tưởng hữu: Loại hữu có tưởng—Percipient becoming, the kind of becoming possessed of perception. • Vô tưởng hữu: Loại hữu không có tưởng—Non-percipient becoming, the kind of becoming possessed of non-perception. • Phi tưởng phi phi tưởng hữu: Loại hữu không có tưởng mà cũng không có không tưởng—Neither-percipient-nor-non-percipient becoming, the kind of becoming possessed of neither perception nor non-perception. • Hữu nhất uẩn: Loại hữu có một uẩn—One-constituent becoming, the kind of becoming possessed of one constituent. • Hữu tứ uẩn: Loại hữu có bốn uẩn—Four-constituent becoming, the kind of becoming possessed of four constituents. • Hữu ngũ uẩn: Loại hữu có năm uẩn—Five-constituent becoming, the kind of becoming possessed of five constituents.
; (二種有) Chỉ cho 2 loại hữu là Thực vật hữu và Thi thiết hữu. 1. Thực vật hữu: Các pháp 5 uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) hòa hợp tạo thành thân người là những vật có thật, nên gọi là Thực vật hữu. 2. Thi thiết hữu: Thi thiết nghĩa là bày đặt. Tức là tất cả người ở thế gian đều theo nghiệp chịu báo, nhờ di thể của cha mẹ bày đặt, mà có thân người, nên gọi là Thi thiết hữu.
nhị chủng hữu tri thức
Two kinds of advisor. 1) Thiện Hữu Tri Thức: Good advisor—See Thiện Hữu Tri Thức. 2) Ác Hữu Tri Thức: Bad advisor—See Ác Tri Thức.
nhị chủng khuyến thỉnh
(二種勸請) Khuyến thỉnh chuyển pháp luân và Khuyến thỉnh trụ thế. 1. Khuyến thỉnh chuyển pháp luân: Lúc đức Phật mới thành đạo, Bồ tát khuyến thỉnh đức Thế tôn chuyển pháp luân(thuyết pháp)để độ thoát tất cả chúng sinh. 2. Khuyến thỉnh trụ thế: Lúc đức Phật sắp vào Niết bàn, Bồ tát cầu thỉnh đức Thế tôn trụ lại ở thế gian vô số kiếp nữa để cứu độ hết thảy chúng sinh. [X. luận Đại trí độ Q.7].
nhị chủng khước ma pháp
(二種却魔法) Chỉ cho 2 pháp: Tu chỉ khước ma và Tu quán khước ma. 1. Tu chỉ khước ma: Người ngồi thiền lúc tu định, thấy tất cả cảnh tượng dễ mến như cha mẹ, anh em, hình tượng chư Phật... làm cho tâm sinh đắm trước; hoặc thấy những cảnh đáng sợ như hùm, sói, la sát... làm cho tâm sinh sợ hãi, thì phải biết rõ đó là các tướng hoặc loạn của các ma, đều thuộc về hư dối, không ham thích, không khiếp sợ, chỉ nên lắng tâm tĩnh lặng thì các cảnh tướng ma ấy sẽ tự nhiên tiêu diệt. 2. Tu quán khước ma: Người ngồi thiền lúc tu định, tu Chỉ để loại trừ ma mà cảnh ma không dứt, thì nên tu Quán trở lại, quán xét cái tâm hay thấy ấy không có nơi chỗ thì ma nương vào đâu mà não loạn? Khi quán như thế thì ma liền tiêu diệt. Nếu ma còn nấn ná không đi, thì chỉ nên chính tâm, không mừng không sợ, thì chính định hiện tiền, các cảnh ma ấy sẽ tự tàn tạ.
nhị chủng khất sĩ
Hai loại khất sĩ—Two kinds of mendicant: 1) Nội Khất: Người có khả năng tự kềm chế nội tâm—Those who are able to self-control his or her internal mental or spiritual methods. 2) Ngoại Khất: Người có khả năng tự kềm chế những hình thức bên ngoài—Those who are able to self-control his or her externals such as strict diet.
nhị chủng kiến
(二種見) Chỉ cho Tưởng kiến và Chính thụ kiến. 1. Tưởng kiến, cũng gọi Tư duy kiến. Tu hạnh quán xét mà vẫn còn sự thấy biết của giác tri. 2. Chính thụ kiến: Do còn giác tri nên dù thấy cảnh thanh tịnh, cũng không được rõ ràng lắm. Diệt hết giác tri, dứt mọi cái thấy của niệm tĩnh lự, thì vào được tam muội chính thụ, tâm cảnh hợp nhất. [X. phần Định thiện nghĩa trong Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.3].
nhị chủng kiện nhi
(二種健兒) Hai hạng người có sức mạnh: Người tự mình không làm ác và người đã làm ác mà biết sám hối, không làm lại nữa. 1. Tự mình không làm ác: Người mà 3 nghiệp thân, miệng, ý thường thanh tịnh, mãi không có lỗi xấu ác. 2. Làm ác rồi mà biết sám hối: Người trước đã làm ác, sau biết hối cải, không dám làm nữa. [X. kinh Niết bàn Q.19 (bản Bắc)].
nhị chủng kết giới
(二種結界) Hai loại kết giới là Tự nhiên giới và Tác pháp giới. 1. Tự nhiên giới: Khu vực được kết giới theo giới hạn tự nhiên, lớn đến 1 tỉnh, hoặc nhỏ bằng 1 huyện, 1 xã, gọi là Tự nhiên giới. 2. Tác pháp giới: Làm pháp yết ma để hạn định sự lớn nhỏ của khu vực chúng tăng, khu vực lìa áo, cho đến khu vực giới tràng, gọi là Tác pháp giới. Trong Tự nhiên giới, chỉ làm 1 pháp kết giới đầu tiên, còn các pháp yết ma khác thì phải được thực hành trong Tác pháp giới. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 1].
nhị chủng kệ
(二種偈) Chỉ cho 2 loại kệ là Thông kệ và Biệt kệ. 1. Thông kệ, cũng gọi Thủ lô kệ. Bất luận văn xuôi hay văn vần trong kinh điển, hễ đủ 32 chữ thì gọi là Kệ. 2. Biệt kệ: Kệ 4 câu, hoặc 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ. [X. Bách luận sớ Q.thượng].
nhị chủng luân thân
(二種輪身) Chỉ cho 2 loại thân: Chính pháp luân thân và Giáo lệnh luân thân. 1. Chính pháp luân thân: Như bồ tát Bát nhã hiện thân Bồ tát, trụ nơi tâm nhiếp thủ, nói chính pháp của Như lai, nên gọi là Chính pháp luân thân. 2. Giáo lệnh luân thân: Như Minh vương Bất động, hiện tướng Minh vương phẫn nộ. Vì muốn cứu độ những chúng sinh ương ngạnh, khó giáo hóa, không chịu nghe theo chính pháp, nên vị Bồ tát này trụ nơi tâm chiết phục, hiện hình phẫn nộ, khiến họ tuân theo lời dạy của đức Phật, nên gọi là Giáo lệnh luân thân. [X. Bí tạng kí sao Q.2; Thai tạng giới mạn đà la đại sao Q.3]. (xt. Giáo Lệnh Luân Thân).
nhị chủng luận
(二種論) Chỉ cho 2 thứ luận: Kinh tông luận và Thích kinh luận. 1. Kinh tông luận: Chỉ cho loại luận y cứ vào giáo lí của các kinh Đại thừa, Tiểu thừa mà được soạn thuật, như luận Duy thức... 2. Thích kinh luận: Chỉ cho loại luận được soạn thuật với mục đích giải thích nghĩa lí của các kinh Đại thừa và Tiểu thừa, như luận Đại trí độ...
nhị chủng luật nghi
Two kinds of rules or customs. 1) Ác Luật Nghi: Bad, or evil rules and customs. 2) Thiện Luật Nghi: Good rules and customs.
nhị chủng lưỡng thiệt báo
(二種兩舌報) Hai thứ quả báo do tội nói 2 lưỡi (lưỡng thiệt) mang lại. 1. Gặp phải quyến thuộc tệ bạc, xấu xa. 2. Gặp phải quyến thuộc oán hận, bất hòa.[X. Pháp uyển châu lâm Q.70].
nhị chủng lập đề
(二種立題) Hai cách đặt tên kinh: Đề kinh do Phật tự đặt và đề kinh do các nhà kết tập đặt sau này.1. Đề kinh do Phật tự đặt: Như kinh Kim cương (Đại 8, 750 thượng) nói: Kinh này tên là Kim cương bát nhã ba la mật, các ông nên phụng trì theo danh tự này. 2. Đề kinh do các nhà kết tập đặt: Tức là tên kinh được đặt khi kết tập sau đức Phật nhập diệt, như kinh Diệu pháp liên hoa.[X. Pháp hoa văn cú Q.1].
nhị chủng lợi hạnh
(二種利行) Chỉ cho hạnh tự lợi và hạnh lợi tha. 1. Hạnh tự lợi: Chỉ cho các pháp tu Lục độ, Thất bồ đề phần... 2. Hạnh lợi tha: Chỉ cho các pháp Tứ nhiếp, Tứ vô lượng tâm... [X. luận Thành duy thức Q.9; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối].
nhị chủng lực
Two kinds of power—Hàng phàm phu nghiệp ác sâu dầy, đầy đủ tất cả phiền não, dù có ít nhiều công đức tu hành, hoặc chướng vẫn chưa vơi, được trong muôn một. Cõi Cực Lạc rất trang nghiêm thanh tịnh, còn siêu việt hơn tam giới, thế thì hạng phàm phu làm sao được vãng sanh? Theo Trí Giả và Thiên Như Đại Sư trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, có hai loại lực—Ordinary people are entirely enmeshed in heavy evil karma and are full of all kinds of afflictions. Even though they may have some virtues as a result of cultivation, they find it difficult to sever even a fraction of their defilements and hindrances. The Land of Ultimate Bliss, on the other hand, is extremely purely adorned, transcending the Triple Realm. How can such depraved common mortals hope to be reborn there? According to Masters Chih-I and T'ien-Ju in the Pure Land Buddhism, there are two kinds of power. 1) Tự Lực—Self-power: Về tự lực, hàng cụ phược phàm phu ở thế giới nầy tuy có đôi chút tu hành, thật ra chưa có thể sanh về Tịnh Độ và chưa xứng đáng được ở Tịnh Độ. Kinh Anh Lạc nói: “Từ địa vị cụ phược phàm phu chưa biết Tam Bảo và nhân quả thiện ác, trước tiên mới phát tâm Bồ Đề phải lấy tín làm gốc, đến khi vào đạo Phật lại lấy giới làm nền tảng. Hạng phàm phu nầy khi mới thọ Bồ Tát giới, nếu mỗi đời cứ tiếp tục giữ giới như thế không cho khuyết phạm, trải qua ba kiếp mới đến địa vị sơ phát tâm trụ. Lại cứ như thế mà tu thập tín, thập ba la mật cùng vô lượng hạnh nguyện, nối nhau không gián đoạn, mãn một vạn kiếp mới đến ngôi đệ lục Chánh Tâm trụ. Khi tiến lên đệ thất Bất Thối trụ tức là đã vào chủng tánh vị, nhưng địa vị nầy cũng chưa được sanh về Tịnh Độ—As far as self-power is concerned, while the ordinary beings of this world, totally bound by their attachments and afflictions, may have some level of cultivation, in reality, they still cannot be reborn in the Pure Land nor deserve to reside there. The Peace and Bliss Collections states: “Those who first develop the Bodhi Mind, starting from the level of completely fettered ordinary people ignorant of the Three Treasures and the Law of cause and Effect, should base themselves initially on faith. Next, when they have embarked upon the Bodhi path, the precepts should serve as their foundation. If these ordinary people accept the Bodhisattva precepts and continue to uphold them unfailingly and without interruption for three kalpas, they will reach the First Abode of Bodhisattvahood. If they pursue their cultivation in this manner through the Ten Paramitas as well as countless vows and practices, one after another without interruption, at the end of ten thousand kalpas they will reach the Sixth Abode of Bodhisattvahood. Should they continue still further, they will reach the Seventh Abode or Non-Retrogression. They will then have entered the stage of the 'Seed of Buddhahood,' i.e., they are assured of eventual Buddhahood. However, even then, they still cannot achieve rebirth in the Pure Land. 2) Tha Lực—Other-power: Về tha lực, nếu kẻ nào tin nơi nguyện lực đại bi nhiếp lấy chúng sanh niệm Phật của Đức Phật A Di Đà, rồi phát lòng Bồ Đề tu môn Niệm Phật Tam Muội, chán thân hữu lậu trong ba cõi, thực hành bố thí, trì giới, cùng các phước nghiệp, mỗi hạnh đều hồi hướng nguyện sanh Tây Phương Cực Lạc thì cơ cảm hợp nhau, nương nhờ Phật lực liền được vãng sanh—With regard to other-power, if anyone believes in the power of Amitabha Buddha's compassionate vow to rescue sentient beings and then develops the Bodhi-Mind, cultivates the Buddha Remembrance (Recitation) Samadhi, grows weary of his temporal, impure body in the Triple Realm, practices charity, upholds the precepts and performs other meritorious deeds, dedicating all the merits and virtues to rebirth in the Western Pure Land, his aspirations and the Buddha's response will be in accord. Relying thus on the Buddha's power, he will immediately achieve rebirth.
nhị chủng nghiệp
Hai loại nghiệp—There are two kinds of karma: (A) 1) Nghiệp cố ý sẽ phải mang nghiệp quả nặng nề: Intentional karma which bears much heavier karma vipaka (phala). 2) Nghiệp không cố ý, nghiệp quả nhẹ hơn: Unintentional karma which bears lighter karma vipaka. (B) 1) Thiện nghiệp như bố thí, ái ngữ và lợi tha: Wholesome (good) karma such as giving charity, kind speech, helping others, etc. 2) Bất thiện nghiệp như sát sanh, trộm cắp, nói dối, vọng ngữ: Unwholesome (bad) karma such as killing, stealing, lying and slandering. (C) Có hai loại nghiệp theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—There are two kinds of action and action-influence according to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy: 1) Hai loại hành động—Two kinds of action: a) Dẫn Nghiệp: Drawing action—Dẫn nghiệp đưa một sinh vật thác sinh làm người, làm trời hay làm thú; không thế lực nào khác có thể đưa một sinh vật đến một hình thái đặc biệt nào đó của đời sống—Drawing action causes a being to be born as a man, as a deva, or as an animal; no other force can draw a living being into a particular form of life. ii) Mãn Nghiệp: Fulfilling action—Sau khi mỗi đời sống đã được quyết định, mãn nghiệp sẽ kiện toàn tính chất hữu hình của sinh vật để nó trở thành một chủng loại hoàn hảo—After the kind of life has been determined, the fulfilling action completes the formal quality of the living being so that it will be a thorough specimen of the kind. 2) Hai ảnh hưởng của hành động—Two kinds of action-influence: i) Biệt Nghiệp: Individual action-influence—Biệt nghiệp tạo ra cá biệt thể—Individual action-influence creates the individual being. ii) Cộng Nghiệp: Common-action-influence—Cộng nghiệp tạo ra vũ trụ—Common action-influence creates the universe itself.
nhị chủng nguyện
(二種願) Chỉ cho 2 thứ nguyện: Khả đắc nguyện và Bất khả đắc nguyện. 1. Khả đắc nguyện: Nguyện vọng có thể đạt được. Nghĩa là tu phúc thì có thể được sinh vào cõi người, cõi trời; còn tu giới, định, tuệ thì có thể chứng được quả A la hán, cho đến quả Phật. 2. Bất khả đắc nguyện: Nguyện vọng không thể đạt được. Như người cậy vào trí lực của mình, mà muốn đo lường hết hư không, thì không thể nào thực hiện được. [X. luận Đại trí độ Q.30].
nhị chủng ngữ
(二種語) Chỉ cho Thế ngữ và Xuất thế ngữ. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 14 (bản Bắc), đức Như lai vì hàng Nhị thừa và Bồ tát mà nói pháp khác nhau như: - Thế ngữ: Nói pháp thế gian hữu vi cho Thanh văn và Duyên giác nghe. - Xuất thế ngữ: Nói pháp xuất thế gian vô vi cho Bồ tát nghe.
nhị chủng nhân
Two groups of good and evil people. (A) 1) Người Lành (kiết nhơn, thiện nhơn)—Good people (virtuous, kind, wholesome): a) Người lành thuộc hàng thượng phẩm—Good people who are at the highest level: Hạng người nầy từ khi mới sanh ra cho đến khi khôn lớn, già chết, không cần ai dạy bảo cả mà người ấy vẫn luôn làm lành. Đây là những bậc Thánh Nhân—The people at this level, from the time of their birth until the time they are mature, and old age and death, do not need anyone to teach them, yet they always know instinctively to practice goodness. These people are Saintly Beings. b) Người lành thuộc hàng trung phẩm—Good people who are at the intermediate level: Hạng người nầy, trước cần được người nuôi dạy rồi sau đó mới biết làm lành. Hạng người nầy gọi là bậc Hiền Nhân—The people in this level, first need to be taught to live wholesomely before they know how to live a life of goodness and virtues. These people are Good Beings. 2) Người thuộc hàng hạ phẩm—People who are at the lowest level: Hạng người nầy, tuy là có được người dạy dỗ cẩn thận, mà cũng chẳng chịu làm việc thiện lành. Đây là hạng Ác Ngu—The people in this level, despite having being taught carefully, yet refuse to practice goodness, unable to love an ethical life. These people are Wicked and Ignorant Beings. (B) 1) Hạng người học rộng nghe nhiều, mà lại không bao giờ biết y theo các điều đã nghe học đó mà tu sửa và thực hành: Those who have high education, but they are never willing to practice and cultivate the knowledge they gained. a) Nếu người học rộng nghe nhiều mà trong tâm không có đạo, tất nhiên kiến văn quảng bác do đó mà sanh khởi ra tánh tự cao, xem thường những kẻ khác có sự hiểu biết chẳng bằng mình. Dần dần kết thành cái tội khinh mạn, và đưa đến việc bài bác tất cả mọi lý luận trái ngược với sở kiến của mình. Chính vì thế mà sanh ra tâm “Tăng Thượng Mạn,” nghĩa là mình không hay mà cho rằng mình hay, không giỏi mà cứ cho là giỏi, không chứng mà cho là chứng; từ đó không chịu tu sửa gì cả. Hơn nữa, nếu chỉ muốn nghiên cứu Phật pháp với mục đích biết để chơi hay biết để đem sự hiểu biết của mình đi chất vấn Thầy bạn, làm cho người chưa học tới cảm thấy lúng túng, không thể trả lời được, để từ đó cảm thấy tự mãn rồi cười chê, nhạo báng và tự cho mình là tài giỏi thì chẳng nên: If those who have a broad education and vast knowledge, and who are well-read, but their minds lack faith in religion, naturally, tis will often give rise to conceit, looking down on others as not being their equal in knowledge and understanding. Gradually, this becomes the offense of “arrogance,” which leads them to reject any other thoughts and philosophies that oppose what they believe. This then gives rise to the mind of “Highest Egotism,” meaning they are talented, not cultivating for change but claim to others they cultivate for change, not attaining enlightenment, but claim to have attained, etc. Furthermore, if you are interested only in examining the Buddhist teachings with the intention of knowing it for fun, or use that knowledge and understanding to cause harm to others, causing people who have not well-learned to feel confused, unable to answer questions you raise to them in order for you to laugh and ridicule with arrogance, assuming you are a man of great knowledge, then please do not do this. b) Nếu người có kiến thức rộng rãi về Phật pháp, lại tiếp tục nghiên cứu giáo lý của đạo Phật với mục đích học hỏi để hướng thượng và hồi tâm tu hành theo Phật, nguyện có ngày xa lìa được bể khổ sông mê, để bước lên bờ giác, thí quý hóa vô cùng, vì trong tương lai chúng ta sẽ có thêm một vị Phật: If those who have vast knowledge, and continue to study and examine the philosophical teachings of Buddhism with the intention of learning to strive for the highest peak and to gather their mind to cultivate the Buddha Dharma, and vow one day to escape the sea of suffering and the river of ignorance to cross over to the shore of enlightenment, then that would be excellent because in the future, we will have another “Future Buddha.” 2) Hạng người ngu dốt tối tăm, nhưng luôn xét mình là một kẻ phàm phu đầy tham sân si, cùng với vô số tội lỗi chất chồng trong quá khứ, hiện tại và vị lai, từ đó sanh lòng tàm quí, rồi phát nguyện tu tâm sửa tánh, sám hối, ăn năn, y theo lời Phật Tổ đã dạy mà hành trì, tu tập, như là tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền, vân vân, cầu cho nghiệp chướng chóng được tiêu trừ, mau bước lên bờ giác trong một tương lai rất gần: Ordinary people who always examine themselves and realize they are just unenlightened mortal filled with greed, hatred and ignorance, as well as an accumulation of infinite other transgressions in the past, present and future. From realizing this, they develop a sense of shame and then vow to change their way, be remorseful, repent, and give their best to cultivate with vigor such as chanting sutra, reciting the Buddha's name, or sitting meditation, seeking to quickly end karmic obstructions and to attain enlightenment in a very near future.
nhị chủng nhân chú thuật bất năng gia
(二種人咒術不能加) Hai hạng người mà chú thuật không thể gia hại được. Cứ theo kinh Ma đăng già, nàng Ma đăng già say đắm ngài A nan, xin mẹ mình dùng chú thuật đưa ngài A nan đến, mẹ nàng bảo rằng: Thế gian có 2 hạng người mà chú thuật không thể làm hại được. Đó là: 1. Người đoạn dục: Nghĩa là người đã đoạn dục thì chắc hẳn sẽ tự giữ giới, chính niệm kiên định, lập hạnh ngay thẳng, được các thần che chở, yêu tà không nhiễu hại được, cho nên chú thuật không có công hiệu gì đối với họ. 2. Người chết: Nghĩa là người đã chết thì theo nghiệp mà chuyển, tùy chỗ thụ sinh; hơn nữa, thọ yểu có hạn, chết rồi không sống lại, vì thế chú thuật không có tác dụng gì đối với họ.
nhị chủng nhân quả
Hai loại nhân quả—Two aspects of cause and effect: 1) Nhân quả thế gian: Cause and effect in the present life (khổ đế là quả: the effect or fruit; tập đế là nhân: the cause). 2) Nhân quả xuất thế gian: Cause and effect in the future (diệt đế là quả: mortality or extinction is the effect or fruit; đạo đế là nhân: the path is the cause).
; (二種因果) Chỉ cho 2 loại nhân quả trong pháp Tứ đế: Nhân quả thế gian và Nhân quả xuất thế gian. Nhân quả thế gian lấy Khổ đế làm quả, Tập đế làm nhân; Nhân quả xuất thế gian thì lấy Diệt đế làm quả, Đạo đế làm nhân.
nhị chủng như lai
(二種如來) Chỉ cho Xuất triền Như lai và Tại triền Như lai. 1. Xuất triền Như lai: Từ ngữ dùng để gọi tất cả các đức Phật đã ra khỏi mọi chướng ngại, trói buộc mà ở địa vị giải thoát tròn sáng. 2. Tại triền Như lai: Từ ngữ chỉ cho tất cả hữu tình, tuy có Phật tính, nhưng còn bị phiền não ô nhiễm ràng buộc, chưa thoát ra được. [X. Bí tạng kí sao Q.1].
nhị chủng như như
(二種如如) Chỉ cho 2 thứ như như: Như như trí và Như như cảnh. 1. Như như trí: Trí chân như mầu nhiệm xưa nay vốn thanh tịnh, không bị vô minh che lấp, cũng không bị phiền não làm cho nhiễm ô; chiếu rõ các pháp bình đẳng không hai. 2. Như như cảnh: Cảnh chân như mầu nhiệm, 1 tướng thường trụ, giống như hư không, không dời đổi, không sinh không diệt.
nhị chủng nhất tâm
Trong Kinh A Di Đà, Đức Phật dạy rằng “Nhất Tâm Bất Loạn” có thể đạt được trong khoảng thời gian từ một đến bảy ngày. Người lợi căn có thể niệm trong một ngày là được nhất tâm bất loạn; kẻ độn căn phải cần đến bảy ngày mới được nhất tâm bất loạn; còn người trung căn thì không nhất định, có thể hai ngày, hoặc 3, 4, 5, 6 ngày mới được nhất tâm bất loạn.” Nhất Tâm Bất Loạn có hai thứ—According to the Amitabha Sutra, the Buddha taught: “One Mind Without Disturb can be achieved from one to seven days. Those with sharp faculties will be able to reach complete undisturbed Buddha-remembrance after just one day of invoking the Buddha-name. Those with dull faculties will only be able to reach complete undisturbed Buddha-remembrance after seven days of invoking the Buddha-name. Those of middle faculties may take from two to six days to reach complete undisturbed Buddha-remembrance.” There are two categories for One Mind or Singleminded Practice: 1) Sự Nhất Tâm: One Mind at the Phenomenal Level—Bất luận là người “Sự Trì” hay “Lý Trì,” hễ trì đến ngày phục trừ hết mọi phiền não tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, cho đến ngày diệt hết hẳn cả kiến hoặc và tư hoặc, thì cả hai đều là “Sự Nhất Tâm.” Sự nhất tâm thì không còn bị kiến hoặc và tư hoặc làm rối loạn nữa. Khi tâm mình không còn bị kiến hoặc và tư hoặc làm rối loạn lúc lâm chung, cũng là lúc mình cảm thấy thân biến hóa của chư Phật và Thánh chúng hiện ra trước mắt, khi ấy tâm mình chẳng còn biến khởi ra ba cảnh vật điên đảo, tức là cảnh “Dục giới,” “Sắc giới,” và “Vô sắc giới” ở trong thế giới Ta bà Nầy nữa, mà mình được đi sinh sống hoặc ở cõi đồng cư, hay cõi phương tiện ở bên Thế Giới Cực Lạc—Regardless of whether you recite the Buddha-name at the phenomenal level or the inner truth level, if you invoke the name of Amitabha until you subdue all afflictions of anger, greed, ignorance, doubt, wrong views, and put an end to illusions of views and thoughts, this is the One Mind at the Phenomenal Level, which is not tainted by delusions of views and thoughts anymore. If you recite the Buddha-name until you are not deluded by delusions of views and thoughts at the moment of you death, the response you get is that Amitabha Buddha in his Emanation Body along with his whole retinue of holy ones will appear before you. Your mind will no longer create the delusions of desire, form, and formlessness characteristic of this mundane world “Endurance,” and you will go to be reborn in either the Pure Land where Saints and Ordinary beings dwell together, or the Pure Land of Expedient Liberation. 2) Lý Nhất Tâm: One Mind at the Level of Inner Truth—Bất luận là người “Sự Trì” hay người “Lý Trì,” hễ trì đến ngày Tâm mình mở ra, mình thấy được Phật của Tâm tính mình, cả hai đều là Lý Nhất Tâm. Lý Nhất Tâm không còn bị rối loạn bởi tà thuyết nhị biên như nội dung hình thức, niết bàn sanh tử, Phật và chúng sanh, vân vân. Đây chính là trí tuệ có được do sự tu hành. Lúc lâm chung mà tâm mình chẳng bị tà thuyết nhị biên làm rối loạn, thì mình sẽ cảm thấy thân Thụ Dụng của Phật cùng các vị Thánh chúng hiện ra trước mắt. Lúc ấy tâm mình chẳng còn biến khởi ra hai cảnh vật điên đảo tà kiến là những cảnh sinh lão bệnh tử của cõi Ta Bà và cảnh trầm không của cõi Niết Bàn, mà ngược lại mình được sinh sống ở cõi thực báo trang nghiêm, hoặc cõi thường tịch quang của Thế Giới Cực Lạc—Regardless of whether you recite the Buddha-name at the phenomenal level or the inner truth level, if you invoke the name of Amitabha Buddha until your mind opens and you see inherent Buddhahood, this is the One Mind at the level of inner truth. The One Mind at the inner truth level is not deluded by the supposed dualisms of essence and form, nirvana and samsara, Buddhas and sentient beings, etc. This is the wisdom that comes from cultivating practice. At the time of your death, if you are not deluded by dualisms, the response you get is that Amitabha Buddha will appear before you in his Reward Body, along with his whole retinue of holy ones. Your mind will no longer create the delusions of Samsara and Nirvana, and you will go to be reborn in either the Pure Land of Real Reward, or the Pure Land of Eternally Quiescent Light.
nhị chủng nhất xiển đề
Icchantika (skt)—Hai loại Nhất Xiển Đề—Two kinds of icchantika: 1) Nghiệp báo Nhất xiển đề: Loại người cực ác, đoạn tuyệt thiện căn vì nghiệp tiền kiến, nên không bao giờ thành Phật—The utterly depraved, abandoned, and Blasphemers of Buddha-truth owing to the previous karma. 2) Hạnh nguyện Nhất xiển đề: Vì đại nguyện mà các vị Bồ tát quyết định chưa thành Phật để tiếp tục cứu độ chúng sanh—Owing to the good vow, bodhisattvas refuse to enter upon their Buddhahood in order to continue to save all beings.
Nhị chủng nhẫn nhục
二種忍辱; C: èrzhǒng rěnrù; J: nishunin-niku;|Hai loại nhẫn nhục: 1. Chịu đựng những khắc nghiệt từ thiên nhiên như nóng, lạnh, tuyết, mưa, v.v…2. Nhẫn chịu những sự bức hại, lăng nhục do con người gây ra.
nhị chủng nhẫn nhục
Hai loại nhẫn nhục—Two kinds of patience or endurance: 1) Chúng sanh nhẫn: Patience or endurance of human assaults and insults. 2) Pháp nhẫn: Patience or endurance of the assaults of nature, heat, cold, etc.
; (二種忍辱) Chỉ cho 2 thứ nhẫn nhục: Chúng sinh nhẫn nhục và Phi chúng sinh nhẫn nhục. 1. Chúng sinh nhẫn nhục: Chịu đựng sự bách hại do chúng sinh hữu tình gây ra, như đánh giết, nhục mạ... 2. Phi chúng sinh nhẫn nhục: Chịu đựng sự bức bách do những hiện tượng vô tình gây ra, như gió mưa, lạnh nóng... [X. luận Đại trí độ Q.14].
nhị chủng niết bàn
Two Nirvanas: 1) Hữu dư Niết bàn: Hữu dư y Niết bàn, Niết bàn mà nhân đã ngừng hẳn, nhưng quả vẫn còn dư lại, như vậy một vị Thánh có thể nhập Niết bàn, nhưng phải sống trong thế giới sanh tử cho đến thân chết—Incomplete Nirvana where causes of reincarnation are ended—Nirvana in which all causes have been annihilated, but the remnant of the effect still remains, so that a saint may enter this nirvana during life, but may have to continue to live in this mortal realm till the death of his body. 2) Vô dư Niết bàn: Vô dư y Niết bàn, Niết bàn cuối cùng, nơi không còn nhân quả, không còn liên hệ với luân hồi sanh tử, vị Thánh nhập Vô dư Niết bàn khi thân chết—Final Nirvana, where all effects are ended—Remnantless nirvana, without cause and effect, the connection with the chain of mortal life being ended, so that the saint enters upon perfect nirvana on the death of his body.
; (二種涅槃) Chỉ cho 2 loại Niết bàn: Hữu dư y và Vô dư y.1. Hữu dư y Niết bàn: Phiền não đã dứt hết, nhân sinh tử đã đoạn hẳn, nhưng vẫn còn nương vào sắc thân hữu lậu, nên gọi là Hữu dư y Niết bàn. 2. Vô dư y Niết bàn: Niết bàn này không còn nương vào thân tâm hữu lậu nữa, nên gọi là Vô dư y Niết bàn. Hai loại Niết bàn này cùng 1 thể tính, nhưng Vô dư y Niết bàn chỉ hiện tiền khi mệnh chung. [X. luận Đại trí độ Q.31; Thắng man bảo quật Q.hạ, phần đầu].
nhị chủng niệm phật
Hai loại niệm Phật—Two kinds of intonation or calling on the Buddhas: 1) See Thông Niệm Phật. 2) See Biệt Niệm Phật.
nhị chủng phi khí
(二種非器) Chỉ cho 2 loại căn cơ không có khả năng nghe kinh Hoa nghiêm. Đó là: 1. Nhị thừa phi khí: Chỉ cho hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác có căn khí hẹp hòi, yếu kém, không nghe nổi kinh này, cho nên tuy ngồi trong pháp hội mà như điếc, như mù. 2. Chúng sinh phi khí: Chỉ cho tất cả chúng sinh tà kiến, không có lòng tin, tuy nghe kinh này mà sinh tâm phỉ báng, nên rơi vào ác đạo. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.3].
nhị chủng phá giới nhân
(二種破戒人) Chỉ cho 2 loại người phá giới. 1. Người không đầy đủ điều kiện phá giới: Như nghèo cùng túng quẫn, thiếu ăn thiếu mặc mà sinh tâm trộm cắp. 2. Người đầy đủ điều kiện phá giới: Như ăn mặc đầy đủ, nhưng vì thói quen xấu xa, nên thích làm việc ác. [X. luận Đại trí độ Q.91].
nhị chủng phá trước
(二種破著) Chỉ cho 2 thứ phá trước là Phá dục trước và Phá kiến trước. 1. Phá dục trước: Người đối với sắc đẹp thường sinh lòng ham muốn, nếu quán xét sắc là vô thường, nhớp nhúa, thì không sinh tâm đắm trước, được giải thoát an lạc. 2. Phá kiến trước: Người tuy quán xét sắc là vô thường, nhớp nhúa, nhưng còn vấn vương mà sinh ra kiến chấp. Nếu thấu suốt được sắc tướng vốn không, thì không khởi kiến chấp phân biệt. [X. luận Đại trí độ Q.43].
nhị chủng pháp thân
Two kinds of dharmakaya—See Nhị Pháp Thân.
; (二種法身) Hai loại pháp thân. Trong các kinh luận, về chủng loại và tên gọi của 2 loại pháp thân này có khác nhau. 1. Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 10 vàkinh Kim quang minh, thì 2 loại pháp thân là: a) Lí pháp thân: Lí tức là tính đức; nghĩa là lí tính của bản giác xưa nay vốn trong sáng, lìa niệm, giống như hư không, bao trùm tất cả, chư Phật và chúng sinh đều cùng 1 tướng, nhưng ở chúng sinh thì bị vô minh che lấp, còn ở chư Phật thì được thủy giác hiển bày, gọi là Lí pháp thân. b) Trí pháp thân: Trí tức là tu đức; nghĩa là trí thủy giác rốt ráo phù hợp với trí bản giác thanh tịnh, lí và trí dung hòa, sắc tâm không 2, trí được hiển hiện, gọi là Trí pháp thân.2. Cứ theo luận Kim cương bát nhã quyển thượng, thì 2 loại pháp thân là: a) Ngôn thuyết pháp thân: Pháp thân vốn không có hình tướng, xa lìa nói năng; tuy xa lìa nói năng, nhưng nếu không nhờ nói năng thì không được hiển bày, nên gọi là Ngôn thuyết pháp thân. b) Chứng đắc pháp thân: Thể pháp thân trùm khắp, chúng sinh đều có đủ, nhưng vì mê muội nên thể pháp thân không hiển lộ ra được, bởi thế đem trí của thủy giác khế hợp với lí của bản giác, thủy giác và bản giác không 2, tức là cứu cánh giác, cho nên gọi là Chứng đắc pháp thân. 3. Theo luận Kim cương bát nhã quyển thượng của ngài Vô trước, thì 2 loại pháp thân là: a) Trí tướng pháp thân: Chỉ cho tướng có đầy đủ trí tuệ, khéo diễn nói các pháp, do tướng trí tuệ này mà đến được trụ xứ của pháp thân, vì thế nên gọi là Trí tướng pháp thân.b) Phúc tướng pháp thân: Chỉ cho phúc tướng thụ trì, diễn nói giáo pháp còn hơn cả bố thí bảy thứ báu; nhờ phúc tướng này mà đến được trụ xứ của pháp thân, vì thế nên gọi là Phúc tướng pháp thân. 4. Theo Vãng sinh luận chúquyển hạ, 2 loại pháp thân là: a) Pháp tính pháp thân: Chân thân của Phật chứng được lí thể tính pháp hàm nhiếp trong pháp thân và báo thân. b) Phương tiện pháp thân: Ứng hóa thân của Phật từ pháp tính pháp thân thị hiện phương tiện giáo hóa làm lợi ích chúng sinh. 5. Theo kinh Bồ tát anh lạc quyển thượng, 2 loại pháp thân là: a) Pháp tính thân: Chỉ cho thực trí sinh ra từ pháp tính. b) Ứng hóa pháp thân: Chỉ cho tất cả thân do pháp tính thân ứng hiện. 6. Theo kinh Bồ tát anh lạcquyển hạ, 2 loại pháp thân là: a) Quả cực pháp thân: Tức là pháp tính pháp thân. b) Ứng hóa pháp thân: Tức là phương tiện pháp thân. Ứng hóa pháp thân như bóng theo hình, vì quả thân là thường, nên Ứng thân cũng là thường. 7. Theo luận Báo tínhquyển 4, 2 loại pháp thân là: a) Tịch tĩnh pháp thân. b) Nhân thân đắc tịch tĩnh pháp thân. 8. Ngài Nguyên chiếulập 2 loại pháp thân là: a) Lí pháp thân: Chân lí do đức Như lai chứng được. b) Sự pháp thân: Pháp công đức của 5 phần: Giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 1, tiết 3].
nhị chủng pháp thí
(二種法施) Chỉ cho 2 loại pháp thí là Thế gian pháp thí và Xuất thế gian pháp thí. 1. Thế gian pháp thí: Bồ tát tuy vì các loài hữu tình mà giảng nói tất cả các pháp như 5 thần thông..., nhưng các pháp ấy chưa thể giúp cho chúng sinh ra khỏi thế gian, cho nên gọi là Thế gian pháp thí. 2. Xuất thế gian pháp thí: Bồ tát vì các loài hữu tình diễn nói, mở bày tất cả Thánh pháp như 3 môn giải thoát..., chúng sinh nhờ tu theo các pháp ấy mà được ra khỏi thế gian, cho nên gọi là Xuất thế gian pháp thí.
nhị chủng pháp tính
(二種法性) Chỉ cho 2 loại pháp tính là Thực pháp tính và Sự pháp tính. 1. Thực pháp tính: Tức lí nhất thực, lìa tướng hư vọng, tính vốn bình đẳng, không có thay đổi. Hết thảy chư Phật đều nhờ tu pháp tính này mà thành Chính giác. 2. Sự pháp tính: Tất cả các pháp trong thế gian đều nương vào lí mà được thi thiết kiến lập, như đất, nước, lửa, gió, 5 ấm... tùy theo chỗ thấy biết của thế tục, tuy thuộc về sự, nhưng không ngoài lí pháp tính.
nhị chủng phân biệt
Theo Kinh Lăng Già, có hai loại phân biệt, tổng phân biệt và biến phân biệt; tuy nhiên, nghĩa của chúng gần như không sai khác—According to the Lankavatara Sutra, there are two kinds of discrimination: samkalpa or general discrimination, and parikalpa; however, their meanings are almost the same.
nhị chủng phân biệt chân nguỵ thiền tướng
(二種分別真僞禪相) Phân biệt 2 thứ tướng chân và ngụy trong lúc tu thiền. 1. Biện tà ngụy thiền phát tướng: Người tu thiền trong khi thiền định, hoặc có cảm giác như thân mình bị trói, bị đè, hoặc có lúc thấy thân nhẹ bỗng muốn bay, hoặc vui mừng rộn rã, hoặc buồn thảm lo sầu, các tướng tà ngụy này phát sinh trong lúc thiền quán, nếu tâm đắm trước vào đó thì liền tương ứng với quỉ pháp, đưa đến loạn tâm điên khùng, cho nên người tu thiền định phải nhất tâm tĩnh lặng, phân biệt tà ngụy, biết các tướng ấy là hư dối, không để tâm dính mắc thì chúng tự nhiên tiêu diệt. 2. Biện chân chính thiền phát tướng: Người tu thiền, trong lúc thiền định, nhất tâm chính niệm, không hôn trầm tán loạn, cảm biết thân tâm an ổn, thanh thoát lâng lâng, vô vi tịch lặng, tương ứng với chính định nên không thấy các tướng tà ngụy như đã nói trên. [X. Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu].
nhị chủng phật cảnh
The two Buddha-domains: (1) chứng cảnh, his domain or state of absolute enlightenment; (2) hóa cảnh, the domain that he is transforming.
; Hai cảnh giới Phật—Two Buddha domains: 1) Chứng cảnh: Cảnh giới mà chư Phật chứng được—Lý Chân Như pháp tánh—The domain or state of absolute enlightenment. 2) Hóa cảnh: Cảnh giới mà chư Phật biến hóa ra hay là Tây phương quốc độ—The domain that the Buddhas are transforming or the Pure Land.
; (二種佛境) Chỉ cho Chứng cảnh và Hóa cảnh. Chứng cảnh là cảnh giới do chư Phật chứng được, như lí chân như pháp tính. Còn Hóa cảnh là cảnh giới do chư Phật biến hóa ra, như các cõi nước trong 10 phương.
nhị chủng phật độ
(二種佛土) Chỉ cho Chân độ và Ứng độ. 1. Chân độ, cũng gọi Chân phật độ. Là trụ xứ của Pháp thân Phật: 2. Ứng độ, cũng gọi là Phương tiện độ. Là trụ xứ của Ứng thân Phật.
nhị chủng quang minh
Hai loại ánh sáng—See Nhị Quang Minh.
; (二種光明) Chỉ cho 2 loại quang minh. 1. Sắc quang và Tâm quang. a) Sắc quang: Ánh sáng từ thân Phật phóng ra, mắt nhìn thấy được. b) Tâm quang: Ánh sáng từ trí tuệ Phật phát ra, có năng lực phá trừ vô minh tăm tối, cho nên cũng gọi là Trí tuệ quang. [X. luận Đại trí độ Q.47; Lục yếu sao Q.3, phần cuối]. 2. Thường quang và Hiện khởi quang. a) Thường quang: Ánh sáng thường hiện có ở thân Phật, phàm thánh đều nhìn thấy. b) Hiện khởi quang: Ánh sáng mà Phật tùy theo cơ duyên, dùng sức thần thông đặc biệt phóng ra. [X. A di đà kinh nghĩa sớ (Nguyên chiếu)]. 3. Ma quang và Phật quang. a) Ma quang: Ánh sáng của loài ma làm cho tâm người hoảng hốt, tán loạn. b) Phật quang: Ánh sáng của Phật làm cho tâm người lắng trong, sáng láng. [X. luận Bảo vương].
nhị chủng quán
(二種觀) Chỉ cho 2 pháp quán tưởng mà người tu hành luyện tập để ngăn dứt tâm tham đắm. Đó là: 1. Tử thi xú lạn bất tịnh quán: Người tu hành ở nơi vắng vẻ, định tâm quán tưởng xác chết rữa nát, hôi thối, nhớp nhúa, sinh tâm nhàm chán. Từ đó quán biết thân mình cũng nhớp nhúa như thế, nhờ vậy mà ngăn dứt được tâm tham đắm. 2. Văn pháp ức tưởng phân biệt quán: Người tu hành nhờ nghe pháp mà nhớ tưởng thân mình là do các thứ như: Xương, thịt, lông, tóc, răng, móng, da, gân máu... tụ hợp lại mà thành, không có gì chắc thật, nhờ quán xét như thế mà diệt trừ được tâm tham muốn. [X. kinh Thiền yếu ha dục].
nhị chủng quán pháp
(二種觀法) Chỉ cho 2 pháp quán là Duy tâm thức quán và Chân như thực quán. 1. Duy tâm thức quán: Quán xét những việc do 3 nghiệp thân, miệng, ý tạo tác và tất cả cái sai khác bên ngoài như dài ngắn, thiện ác... đều do tâm tạo, không phải ngoài tâm.2. Chân như thực quán: Quán xét tâm tính không sinh không diệt, lìa tất cả vọng tưởng phân biệt. Người tu hành có lợi căn và độn căn, người lợi căn tu chân như thực quán, còn người độn căn thì tu duy tâm thức quán. Tông Thiên thai gọi đó là Sự quán và Lí quán. [X. kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo Q.hạ; Đại minh tam tạng pháp số Q.6]. (xt. Sự Quán Lí Quán).
nhị chủng quán đảnh
Hai loại quán đảnh—Two forms of esoteric baptism—See Quán Đảnh in Vietnamese-English Section.
nhị chủng quán đỉnh
Two forms of esoteric baptism.
; (二種灌頂) Chỉ cho 2 pháp tu trong Mật giáo, đó là: 1. Truyền giáo quán đính, cũng gọi Truyền pháp quán đính, Thụ chức quán đính. Đối với những người đã chính thức tu hành đúng như pháp, thì truyền trao bí pháp và chức vụ A xà lê, gọi là Truyền giáo quán đính. 2. Kết duyên quán đính: Đối với những người chưa chính thức tu hành, thì dẫn họ vào đàn Quán đính để họ tung hoa, rồi trao cho ấn khế và chân ngôn của Bản tôn để họ kết duyên với Phật, chứ không truyền bí pháp, gọi là Kết duyên quán đính. [X. Diễn sao Q.4]. (xt. Quán Đính).
nhị chủng quảng lợi
(二種廣利) Chỉ cho 2 thứ lợi ích rộng lớn. Theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1, 2 thứ lợi ích là: 1. Lợi ích ở hiện tại: Lúc đức Phật còn tại thế, chúng đương cơ nghe pháp ngộ đạo, được lợi ích lớn. 2. Lợi ích ở tương lai: Sau khi đức Phật nhập diệt, tất cả chúng sinh cũng nghe kinh thụ pháp, tu hành đắc đạo, được lợi ích lớn.
nhị chủng sai biệt
(二種差別) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho Hữu pháp sai biệt và Pháp sai biệt. Sai biệt nghĩa là lời trình bày và ý chấp nhận hoàn toàn không ăn khớp với nhau. Sai biệt do danh từ trước (tiền trần) phát sinh, gọi là Hữu pháp sai biệt; sai biệt do danh từ sau (hậu trần) phát sinh, gọi là Pháp sai biệt. Chẳng hạn như người tin có ma chủ trương sau khi người ta chết, linh hồn sống dưới âm phủ; còn người không tin thì bảo sau khi chết chỉ còn xác không hồn. Khi người tin có ma đối với người không tin mà lập luận thức, nếu dùng chữ ma thì chỉ mình chấp nhận mà đối phương không chấp nhận thì Tông thể không thành lập được. Cho nên người lập luận bèn dùng từ ngữ hàm hồ, bóng gió như cái còn lại sau khi chết để thay thế chữ ma hòng lừa đối phương mà tránh lỗi Tông y bất cực hành. Từ ngữ cái còn lại sau khi chết được người lập luận sử dụng bao hàm 2 thứ sai biệt: Ma và Xác chết. Trong đó, đối phương chỉ chấp nhận xác chết chứ không chấp nhận ma. Lỗi sai biệt ở đây là trong nhóm từ cái còn lại sau khi chết có hàm ý ma. Tức là, trong trường hợp này, người lập luận đã dùng 1 danh từ cực thành để che giấu ý nghĩa bất cực thành, với hi vọng lừa được đối phương chấp nhận luận thức của mình. [X. Nhân minh đại sớ lê trắc; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích].
nhị chủng sanh tử
Hai loại sanh tử—Two kinds of life and death: 1) Phân Đoạn Sanh Tử: Quả báo trong tam đồ lục đạo của các nghiệp thiện ác, thân được tạo thành do quả báo nầy có từng phần từng đoạn (chỉ hết thảy phàm phu có đủ kiến tư hoặc)—The various karmic transmigrations. 2) Bất Tư Nghì Biến Dịch Sanh Tử: Quả báo Tịnh độ giới của nghiệp vô lậu. Đây là sự sanh tử của các bậc Thánh đã đoạn hết kiến tư hoặc—The inconceivable transformation life in the Pure Land, the transformation of the arhats and other saints.
nhị chủng sinh diệt
(二種生滅) Chỉ cho Thô sinh diệt và Tế sinh diệt. Hai loại sinh diệt này được căn cứ vào sự thô to rõ ràng và sự nhỏ nhiệm khó thấy của cái tướng sinh diệt mà có tên như trên. Trong 6 tâm ô nhiễm thì 3 thứ Tương ứng nhiễm là Thô sinh diệt, còn 3 thứ Bất tương ứng nhiễm là Tế sinh diệt. [X. kinh Lăng già a bạt đa la bảo Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ, phần đầu]. (xt. Lục Nhiễm Tâm).
Nhị chủng sinh tử
二種生死; C: èrzhǒng shēngsǐ; J: nishu-shōji;|»Hai dạng luân hồi«: Phần đoạn sinh tử (分段生死; hạng phàm phu chưa giác ngộ phải trải qua) và Biến dịch sinh tử (變易生死; những người đã giác ngộ thị hiện).
nhị chủng siêu việt tam muội
(二種超越三昧) Chỉ cho Siêu nhập tam muội (định) và Siêu xuất tam muội. 1. Siêu nhập tam muội: Tam muội từ tán tâm lần lượt tiến vào định Diệt tận. 2. Siêu xuất tam muội: Tam muội từ tán tâm vào thẳng định Diệt tận, hoặc ngược lại, từ định Diệt tận trực tiếp ra tán tâm mà không cần theo thứ tự. Nghĩa là hàng Thanh văn khi xuất nhập thiền định đều phải theo thứ tự từ cạn đến sâu, tức trước hết nhập từ Sơ thiền, rồi lần lượt qua Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, Tứ vô sắc cho đến cuối cùng là định Diệt tận. Khi xuất định thì ngược lại thứ tự trên, nghĩa là bắt đầu xuất từ định Diệt tận, cho đến cuối cùng là Sơ thiền. Nhưng, đối với chư Phật và Bồ tát thì vì định lực của các Ngài đã thành thục, nên không cần theo thứ tự trên, mà các Ngài xuất nhập thiền định 1 cách tự tại.[X. luận Đại trí độ Q.81].
nhị chủng sám hối
(二種懺悔) Chỉ cho Lí sám hối và Sự sám hối. 1. Lí sám: Quán xét lí thực tướng các pháp là muôn vật đều không, các tội ác là do vọng tâm tạo tác, mà vọng tâm thì không có thực thể, nên tội ác là không, do đó diệt trừ mọi tội. 2. Sự sám: Nhờ các sự tướng như lễ Phật tụng kinh để bày tỏ lòng ăn năn sám hối tội lỗi.[X. kinh Tâm địa quán Q.3; Ma ha chỉ quán Q.2].
nhị chủng sát sinh báo
(二種殺生報) Hai thứ quả báo của việc sát sinh. 1. Đoản mệnh: Mệnh sống ngắn ngủi. Do nhân nghiệp đời trước làm tổn hại sinh mệnh người khác, khiến họ không được tận hưởng tuổi thọ, cho nên đời này phải chịu quả báo chết non. 2. Đa bệnh: Bị nhiều bệnh tật. Do nhân nghiệp đời trước làm thương tổn, não hại chúng sinh, cho nên đời này phải chịu quả báo nhiều bệnh tật. [X. Pháp uyển châu lâm Q.70].
nhị chủng sân báo
(二種嗔報) Chỉ cho 2 thứ quả báo do đời trước nhiều sân hận. 1. Thường bị người khác bới lông tìm vết: Do nhân đời trước không bao dung người khác, động 1 tí là nổi nóng, gây ra oán hận, cho nên đời này cảm quả báo thường bị người khác tìm tòi những khuyết điểm của mình. 2. Thường bị mọi người não hại: Do nhân đời trước sách nhiễu mọi người, luôn làm cho họ rơi vào trạng thái bất an, cho nên đời này cảm quả báo bị mọi người làm não hại. [X. Pháp uyển châu lâm Q.70].
nhị chủng sắc
(二種色) I. Nhị Chủng Sắc. Nội sắc và Ngoại sắc. 1. Nội sắc: Sắc bên trong. Tức là 6 thức và 6 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thuộc trong thân, nên gọi là Nội sắc. 2. Ngoại sắc: Sắc bên ngoài. Tức là 5 căn: Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân và 5 trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, đều thuộc cảnh bên ngoài, nên gọi là Ngoại sắc. [X. Tông kính lục Q.58]. II. Nhị Chủng Sắc. Hiển sắc và Hình sắc. 1. Hiển sắc: Chỉ cho các màu sắc rõ ràng như: Xanh, vàng, đỏ, trắng... và mây, khói, bụi, mù... đều là những thứ mắt có thể thấy được. 2. Hình sắc: Chỉ cho các hình tướng có thể thấy được như: Dài, ngắn, vuông, tròn, to, nhỏ, cao, thấp... [X. Tông kính lục Q.58]. III. Nhị Chủng Sắc. Tịnh sắc và Bất tịnh sắc. 1. Tịnh sắc: Chỉ cho các màu sắc thanh tịnh, tươi đẹp. Màu sắc này hay làm cho người ta nổi lòng tham muốn, tổn hoại đạo nghiệp, vì thế người tu đạo nên lánh xa thứ màu sắc này. 2. Bất tịnh sắc: Chỉ cho các màu sắc xấu ác, bất tịnh. Loại màu sắc này thường làm cho người sinh tâm chán ghét, ngăn trở đạo nghiệp, cho nên người tu đạo cũng cần xa lánh. [X. luận Đại trí độ Q.21].
nhị chủng sắc thân
(二種色身) Chỉ cho Thực sắc thân và Hóa sắc thân của các đức Phật, cũng tức là Báo thân và Ứng thân. 1. Thực sắc thân: Chỉ cho thân vô lượng tướng hảo trang nghiêm của chư Phật, do tu vô lượng công đức mà cảm được. 2. Hóa sắc thân: Chỉ cho các loại thân hình mà chư Phật, vì nguyện lực đại bi, biến hóa ra để tế độ chúng sinh. [X. Phật địa kinh luận Q.7].
nhị chủng số
(二種數) Chỉ cho 2 loại số: Số lượng số và Sắc tâm hữu vi số. 1. Số lượng số: Chỉ số lượng 1 hay nhiều. Do số 1 hay nhiều mà an lập tất cả pháp. 2. Sắc tâm hữu vi số: Sắc là sắc thân, tâm là tâm sinh khởi, cả 2 đều có sinh diệt nên gọi là hữu vi. Phân biệt 2 pháp sắc và tâm này thì có các số mục không giống nhau như 5 ấm, 12 nhập, 18 giới... vì thế mà gọi là Sắc tâm hữu vi số.
nhị chủng tam quán
(二種三觀) Chỉ cho Thứ đệ tam quán và Nhất tâm tam quán. 1. Thứ đệ tam quán, cũng gọi Biệt tướng tam quán, là pháp quán của Biệt giáo. 2. Nhất tâm tam quán, cũng gọi Bất thứ đệ tam quán, là pháp quán của Viên giáo. [X. Ma ha chỉ quán Q.3, 5; Duy ma kinh lược sớ Q.7; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3, 5]. (xt. Tam Quán).
nhị chủng tam tâm
(二種三心) Chỉ cho Tam tâm tự lợi và Tam tín lợi tha, do Tịnh độ chân tông của Nhật bản thành lập. 1. Tam tâm tự lợi: Ba tâm lợi mình. Tức là Chí thành tâm, Thâm tâm và Hồi hướng phát nguyện tâm. Những việc do 3 nghiệp tạo tác, làm cho thân, khẩu, ý được điều hòa, đó là Chí thành tâm. Tin sâu giáo lí, tu thiện vãng sinh, không hoài nghi, đó là Thâm tâm. Đem những hạnh nghiệp mà mình đã tu được để hồi hướng cầu vãng sinh, đó là Hồi hướng phát nguyện tâm.2. Tam tín lợi tha: Ba tín lợi người. Tức là Chí tâm, Tín nhạo và Dục sinh. Đây là 3 tín của hành giả Tịnh độ, tin vào hoằng nguyện tha lực của đức Phật A di đà để cầu vãng sinh. [X. kinh Quán vô lượng thọ; Ngu thốc sao].
nhị chủng tham báo
(二種貪報) Chỉ cho 2 thứ quả báo do tham. 1. Đa dục: Nhiều ham muốn. Do đời trước buông lung tham dục, tâm không dừng nghỉ, cảm đến đời này, thói quen không quên, lại càng tăng thêm gấp bội nên sinh tham đắm. 2. Vô yếm: Không biết chán. Do đời trước tham cầu không thôi, ngược xuôi rong ruổi, cảm đến đời này nghiệp tập chẳng quên, nên tham càng mạnh, cầu không biết chán. [X. Pháp uyển châu lâm Q.70].
nhị chủng thanh tịnh
Theo kinh Hoa Nghiêm, có hai loại thanh tịnh—According to the Flower Ornament Scripture, there are two kinds of purity: 1) Tự tính thanh tịnh: Chân như thanh tịnh—The natural purity. 2) Ly cấu thanh tịnh: Đạt được tâm thể thanh tịnh bằng cách xa lìa mọi ô nhiễm—Acquired purity through avoiding pollution.
; (二種清淨) I. Nhị Chủng Thanh Tịnh. Tự tính thanh tịnh và Li cấu thanh tịnh. 1. Tự tính thanh tịnh: Tâm thể chân như của chúng sinh xưa nay vốn trong sạch, không hề ô nhiễm. 2. Li cấu thanh tịnh: Tâm thể tự tính trong sạch này xa lìa tất cả phiền não cấu nhiễm. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.6] II. Nhị Chủng Thanh Tịnh. Ngữ thanh tịnh và Nghĩa thanh tịnh. 1. Ngữ thanh tịnh: Lời nói thanh tịnh vì không mắc lầm lỗi. 2. Nghĩa thanh tịnh: Nghĩa lí thanh tịnh vì được diễn giải chính xác và đầy đủ, không sai lầm, thiếu sót. [X. luận Thành thực Q.1]. III. Nhị Chủng Thanh Tịnh. Chúng sinh thế gian thanh tịnh và Khí thế gian thanh tịnh. 1. Chúng sinh thế gian thanh tịnh: Tức chính báo của cõi Tịnh độ cực lạc. 2. Khí thế gian thanh tịnh: Tức là y báo của cõi Tịnh độ cực lạc. Trong 29 thứ trang nghiêm ở Tịnh độ cực lạc phương Tây, thì 8 thứ của Phật và 4 thứ của Bồ tát thuộc về Chúng sinh thế gian thanh tịnh; còn 17 thứ của quốc độ thì thuộc về Khí thế gian thanh tịnh. [X. luận Tịnh độ của ngài Thiên thân].
nhị chủng thanh văn
(二種聲聞) Hai loại Thanh văn: Ngu pháp thanh văn và Bất ngu pháp thanh văn. 1. Ngu pháp thanh văn: Thanh văn học pháp Tiểu thừa, mê chấp pháp của mình mà chẳng hiểu biết gì về diệu lí pháp không của Đại thừa. 2. Bất ngu pháp thanh văn: Thanh văn này tuy thuộc về tiểu quả, nhưng hiểu lí của Đại thừa và xoay tâm hướng về Đại thừa. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.17, phần cuối].
nhị chủng thiền
Two kinds of contemplation. 1) Sự Thiền: The dhyana of or concentration on phenomena—See Sự Thiền. 2) Lý Thiền: The dhyana of or concentration on the absolute truth—See Lý Thiền.
nhị chủng thiện cơ
(二種善機) Chỉ cho 2 thứ căn cơ tu thiện. 1. Định cơ: Căn cơ định thiện, tu tập ngăn dứt các vọng niệm. 2. Tán cơ: Căn cơ tán thiện, thường tu 3 phúc. [X. Ngu ngốc sao Q.thượng].
nhị chủng thoái
(二種退) Chỉ cho Cứu cánh thoái và Bất cứu cánh thoái. Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 1, có 2 hạng người tu hành thoái chuyển đạo tâm khác nhau:1. Cứu cánh thoái: Hạng người có tín căn cạn mỏng, mới đầu thì siêng năng tu hành, sau gặp duyên khác chướng ngại, đạo tâm liền lui sụt, cuối cùng không phát khởi được tâm bồ đề. 2. Bất cứu cánh thoái: Hạng người lúc mới tu hành gắng sức tinh tiến, nhưng nửa chừng thì sinh ra biếng nhác trễ nải, thoái thất tâm đạo; sau gặp thiện tri thức ân cần khuyên bảo, có thể phát tâm bồ đề trở lại.
nhị chủng thoát tục
Hai loại thoát tục—Two kinds of seclusion: 1) Thân thoát tục: Bodily withdrawal into seclusion. 2) Tâm thoát tục: Spiritual withdrawal from all evil, and into meditation.
Nhị chủng thuyết
thuyết dạy hai nghĩa khác nhau, như một nghĩa là hữu tánh, một nghĩa là vô tánh. Phật vì chúng sanh mà thuyết pháp tánh, lại vì các bậc hiền thánh mà thuyết là không có pháp tánh. Vì thế nên gọi là nhị chủng thuyết.
nhị chủng thuyết pháp
(二種說法) Chỉ cho 2 cách nói pháp. Đức Như lai vì Bồ tát và các chúng sinh nói pháp có tế, thô khác nhau. 1. Tế: Như lai vì các Bồ tát diễn nói pháp sâu xa mầu nhiệm (tức là diệu lí xuất thế gian mà Như lai đã chứng được). Vì Như lai nương theo đệ nhất nghĩa mà diễn nói nên gọi là Tế (vi tế). 2. Thô: Như lai nương theo tất cả pháp thế gian, vì chúng sinh mà nói các pháp văn tự chương cú sai biệt, nên gọi là Thô (thô thiển).
nhị chủng thánh
Hai loại Thánh—Two classes of saints or preachers: 1) Hữu ngôn Thánh: Those who preach with words (Pháp sư). 2) Vô ngôn Thánh: Những vị Thánh nêu gương bằng những phẩm hạnh cao tuyệt chứ không nói một lời—Those who preach without words, but examplify themselves with good morality.
nhị chủng thâm tín
(二種深信) Chỉ cho 2 thứ niềm tin sâu xa. 1. Tín cơ: Tin sâu nơi căn cơ của mình. 2. Tín pháp: Tin sâu nơi giáo pháp của Phật.Cứ theo phần Tán thiện nghĩa trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ quyển 4 của ngài Thiện đạo, thì hành giả Tịnh độ phải tin rằng tội nghiệp của mình rất nặng, trong thế giới luân hồi, sinh tử không ngừng (tín cơ). Đồng thời tin rằng phải nương nhờ vào bản nguyện của đức Phật A di đà mới có thể được cứu vớt (tin pháp). Tịnh độ chân tông của Nhật bản nhận định rằng 2 thứ thâm tín trên đây thực ra chỉ là 1. Tức là tin vào bản nguyện của Phật là tin chắc rằng tội nghiệp sâu nặng của mình sẽ được Phật cứu. Tín tâm và tha lực tuy có 2 mặt, nhưng thực ra chỉ là 1 thể.
nhị chủng thân hành thí
(二種身行施) Chỉ cho Sinh thân hành thí và Pháp thân hành thí. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 12, Bồ tát dùng 2 loại thân để làm việc bố thí, đó là: 1. Sinh thân hành thí: Bồ tát dùng thân do cha mẹ sinh ra, đem tất cả của báu, cho đến thân mệnh của mình để bố thí, tâm không hề sẻn tiếc. 2. Pháp thân hành thí: Bồ tát khi đã bỏ sinh thân được pháp thân, thì có thể đem các vật quí báu, y phục, thức ăn uống... cấp phát cho hết thảy chúng sinh trong thế giới ở 10 phương. Rồi trong 1 lúc, Bồ tát có khả năng tùy theo âm thanh của chúng sinh mà nói pháp cho tất cả.
nhị chủng thân độ
(二種身土) Thân là sắc thân nương ở (năng y), Độ là cõi nước để nương ở (sở y). Cứ theo Phật địa kinh luận quyển 1, Nhị chủng thân độ là: 1. Tự thụ dụng thân độ: Chỉ cho thân và độ do nhân tu hành của chính mình mà cảm được, xứng với tính mà được thụ các thứ pháp lạc 1 cách tự tại vô ngại, cho nên thân được gọi là Tự thụ dụng thân, cũng gọi là Viên mãn báo thân; độ được gọi là Tự thụ dụng độ, cũng gọi là Thực báo trang nghiêm độ. Tự thụ dụng thân độ này là quả báo của chư Phật Như lai chiêu cảm được, các vị đại Bồ tát tuy có nghe biết, nhưng không thấy được. 2. Tha thụ dụng thân độ: Chỉ cho thân và độ mà các căn cơ khác cảm thấy được, là do chư Phật Như lai vì muốn cho các chúng Bồ tát được đại pháp lạc, tiến tu thắng hạnh, nên tùy nghi hóa hiện ra, hoặc hơn hoặc kém, hoặc lớn hoặc nhỏ, chuyển biến không định, khiến các Bồ tát ấy thụ dụng.
nhị chủng thâu đạo báo
(二種偷盜報) Hai thứ quả báo ở đời này do nhân trộm cướp ở đời trước mang lại. 1. Bần cùng: Do nhân đời trước lấy tài vật của người khác, khiến họ phải chịu cảnh túng thiếu, nên đời này chính mình cũng bị quả báo nghèo cùng. 2. Không được tự tại: Do nhân đời trước cướp giật tài vật của người khác, cho nên đời này tuy có của cải nhưng lại thuộc về 5 nhà: Nước cuốn đi, lửa thiêu mất, giặc cướp lấy, con phá tán và quan tham ô, không được tự do thụ hưởng. [X. Pháp uyển châu lâm Q.70].
nhị chủng thí
Two kinds of charity: (1) tài thí, goods; (2) pháp thí, the saving truth.
; See nhị bố thí.
nhị chủng thông tướng
(二種通相) Hai thứ thông tướng: Tông thông tướng và Thuyết thông tướng. 1. Tông thông tướng: Tông là trung tâm, yếu chỉ; Thông là dung thông vô ngại; Tướng là tướng thù thắng do tự tâm có được. Tông thông tướng có nghĩa là nương theo lời dạy, suy nghĩ tu tập, được ý rồi thì phải quên lời, tiến vào lĩnh vực tự giác, giác trí tròn sáng, dung thông vô ngại. 2. Thuyết thông tướng: Thuyết là thuyết pháp; Thông là biện thuyết vô ngại; Tướng chỉ cho tướng khởi dụng giáo hóa người khác. Thuyết thông tướng có nghĩa là dùng phương tiện, tùy theo căn cơ cạn sâu của chúng sinh mà nói pháp cho họ nghe, không bị chướng ngại.
nhị chủng thường trụ
(二種常住) Chỉ cho 2 thứ thường trụ: Thường trụ có hoại diệt và Thường trụ không hoại diệt. 1. Thường trụ có hoại diệt: Các vị Bồ tát trụ thế 1 trăm nghìn vạn ức năm, hoặc 1 kiếp cho đến 8 vạn kiếp rồi nhập diệt, gọi là Thường trụ có hoại diệt. Vì thường ở đây không phải là chân thường, bất biến, mà chỉ có nghĩa trụ thế lâu dài mà thôi. 2. Thường trụ không hoại diệt: Khi các Bồ tát đã diệt sạch phiền não hoặc nghiệp thì lí chân thường mới hiển hiện. Lí chân thường này không sinh không diệt, không biến không hoại, nên gọi là Thường trụ không hoại diệt. [X. luận Đại trí độ Q.43].
nhị chủng thần lực
(二種神力) I. Nhị Chủng Thần Lực. Hai thứ thần lực. 1. Thần lực khiến chúng sinh từ những nơi xa xôi đều nghe thấy được: Đức Phật có thần lực tuy ở 1 chỗ thuyết pháp, nhưng có thể làm cho chúng sinh ở nhiều phương khác đều nghe thấy được. 2. Thần lực khiến mọi chúng sinh đều thấy Phật: Đức Phật có thần lực làm cho mỗi chúng sinh đều tự thấy Phật đang nói pháp. [X. luận Đại trí độ Q.9]. II. Nhị Chủng Thần Lực. Chỉ cho 2 thứ thần lực. 1. Thần lực hiện thân nói pháp: Bồ tát Sơ địa trụ nơi thần lực của Phật, vào tam muội Đại thừa chiếu minh, lúc ấy, tất cả chư Phật ở các thế giới trong 10 phương, dùng sức thần thông hiện tất cả thân đối diện thuyết pháp. 2. Thần lực dùng tay rưới nước lên đỉnh đầu: Bồ tát Sơ địa được thần lực tam muội, ở trong nghìn kiếp tích tập thiện căn thành tựu, lần lượt vào Hoan hỉ địa cho đến Pháp vân địa, trụ ở điện Đại liên hoa vi diệu, ngồi trên tòa sư tử báu Đại liên hoa. Lúc bấy giờ, tất cả các đức Như lai từ 10 phương đến, ở trên tòa cung điện Đại liên hoa, dùng tay rưới nước cam lộ lên đỉnh đầu vị Bồ tát ấy. [X. kinh Lăng già Q.2].
nhị chủng thậm thâm
(二種甚深) Chỉ cho Chứng thậm thâm và A hàm thậm thâm. 1. Chứng thậm thâm: Chỉ cho trí tuệ của chư Phật sâu xa khó lường. 2. A hàm thậm thâm: Chỉ cho môn trí tuệ của chư Phật thậm thâm vô lượng. Chứng thậm thâm là lí sở thuyên(lí được trình bày)rất sâu xa, còn A hàm thậm thâm là giáo năng thuyên(giáo trình bày) rất sâu xa. Chứng thậm thâm được chia làm 5 thứ: Nghĩa thậm thâm, Thực thể thậm thâm, Nội chứng thậm thâm, Y chỉ thậm thâm và Vô thượng thậm thâm. A hàm thậm thâm cũng được chia làm 8 thứ: Thụ trì đọc tụng thậm thâm, Tu hành thậm thâm, Quả hạnh thậm thâm, Tăng trưởng công đức tâm thậm thâm, Khoái diệu sự tâm thậm thâm, Vô thượng thậm thâm, Nhập thậm thâm và Bất cộng Thanh văn Bích chi phật sở tác trụ trì thậm thâm. [X. Pháp hoa kinh luận Q.thượng; Pháp hoa huyền tán Q.3].
nhị chủng thắng
(二種勝) Chỉ cho Nhân thắng và Quả thắng. Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 1, Bồ tát mới phát tâm kiên cố có 2 việc: Phát tâm thành đạo thu nhiếp thiện pháp và phát tâm vượt hơn tất cả để bao gồm các thiện, cho nên có 2 thứ nhân quả hơn hẳn Nhị thừa. Đó là: 1. Nhân thắng: Nhân trội hơn. Nghĩa là Bồ tát tu thiện pháp xuất thế, đều lấy bồ đề làm nhân, hơn hẳn Nhị thừa, nên gọi là Nhân thắng. 2. Quả thắng: Quả trội hơn. Nghĩa là Bồ tát tu hành đã lấy bồ đề làm nhân thì tất nhiên cuối cùng sẽ chứng quả bồ đề, hơn hẳn Nhị thừa, nên gọi là Quả thắng.
nhị chủng thắng hạnh
(二種勝行) Chỉ cho 2 thứ Phúc thắng hạnh và Trí thắng hạnh. Bồ tát tu 2 hạnh phúc, trí, nếu nói theo tướng chung, thì tất cả đều là phúc hạnh, tất cả đều là trí hạnh. Nhưng, nếu nói theo tướng riêng, thì như trong Lục độ, 5 độ trước là phúc, độ thứ 6 là trí, đây là bàn về phương diện khắc tính xuất thể, tức nếu thể ấy là tuệ thì thuộc Trí thắng hạnh; nếu không phải tuệ thì thuộc Phúc thắng hạnh. Nhưng, cũng có thuyết cho rằng 3 độ trước (bố thí, trì giới, nhẫn nhục) là phúc, độ sau cùng (trí tuệ) là trí, còn 2 độ ở khoảng giữa (tinh tiến, thiền định) thì chung cho cả phúc và trí. Đây là nói về phương diện Lân cận xuất thể, tức là dùng 2 độ ở khoảng giữa gần kề tuệ mà phát khởi tuệ, cho nên cũng thuộc về trí. [X. luận Thành duy thức Q.9; Thành duy thức luận thuật kí Q.9].
nhị chủng thế giới
Two kinds of world. 1) Hữu Tình Thế Giới: Thế giới của loài hữu tình có thân thể—The world of the living, who are receiving their correct recompense. 2) Khí Thế Giới: Thế giới vật lý hay địa phương nơi loài hữu tình cư trú (các loài hữu tình, theo luận điểm vật chất hay tinh thần, được chia thành ba cõi—The world of the material, or that on which karma depends for expression. The world of material is divided into three realms. a) Dục Giới: Kamadhatu (skt)—See Dục Giới (B) and (C). b) Sắc Giới: Rupadhatu (skt)—See Sắc Giới, and Tứ Thiền Thiên. c) Vô Sắc Giới: Arupadhatu (skt)—See Vô Sắc Giới, and Tứ Không Xứ.
nhị chủng thọ ký
Hai loại thọ ký—Two classes of Buddha's predictions of a disciple's destiny: 1) Hữu dư thọ ký: Đức Phật nói vào thời nào trong tương lai thì vị Phật nào sẽ thọ ký cho chúng sanh—Partial or incomplete prediction—The Buddha predicted what Buddha would make a prediction for sentient being in certain periods of time in the future. 2) Vô dư thọ ký: Đức Phật thọ ký về sự thành Phật của một chúng sanh—Prediction in finality, or complete detail of becoming Buddha of a sentient being.
nhị chủng thọ mệnh
(二種壽命) Chỉ cho 2 thứ mệnh chúng sinh là Mệnh căn và Trí tuệ mệnh. Luận Đại trí độ quyển 78 (Đại 25, 610 trung) nói: Chúng sinh có 2 thứ mệnh (...) trong thọ mệnh, người được trí tuệ mệnh là hơn hết. (xt. Mệnh Căn).
nhị chủng thụ cụ giới pháp
(二種受具戒法) Thụ trì 2 loại giới pháp. Giới là nguồn gốc của muôn điều thiện. Cứ theo kinh Đại bảo tích quyển 104, nếu người nào thụ trì chính giới thì sẽ được tăng trưởng tất cả thiện pháp, trái lại thì sẽ bị mắc vào tà kiến, rơi vào ngoại đạo, cho nên giới có 2 loại khác nhau là: 1. Thụ chính bình đẳng giới: Người tu hành thụ trì chính giới của Như lai, tất cả bình đẳng, không sinh kiến giải phân biệt sai khác, dứt bặt tâm tà tư vọng tưởng, giới thể tròn sáng và được giải thoát, cuối cùng đạt đến vô thượng bồ đề, không còn trở lui. 2. Thụ tà bất đẳng giới: Người tà kiến chạy theo ác tri thức, đem tâm phân biệt thụ trì tà giới, rơi vào những tà kiến sai biệt như: Nhân ngã, đoạn thường, kiêu mạn, tham dục, sân khuể, ngu si v.v... không biết được con đường giải thoát.
nhị chủng thụ kí
(二種授記) Chỉ cho Vô dư thụ kí và Hữu dư thụ kí. 1. Vô dư kí: Phật hiện tiền thụ kí cho chúng sinh tên gì đó, ở trong kiếp nào đó sẽ thành Phật, hiệu... Như lai, có quốc độ và quyến thuộc. 2. Hữu dư kí: Nói chúng sinh nào đó ở đời vị lai vào thời đức Phật nào đó sẽ hết tội này.
nhị chủng tinh tấn
Theo Đại Trí Độ Luận, có hai loại tinh tấn—According to the Maha-Paramita-Sastra, there are two kinds of virya: 1) Thân Tinh Tấn: Như vẫn sinh hoạt mang đến của cải, nhưng lại dùng vào việc bố thí—The fortitude in body, i.e. use earned properties in almsgiving—See Bát Chánh Đạo (4) (5) (6). 2) Tâm Tinh Tấn: Dứt bỏ tham dục, ác tâm, cũng như tà kiến—The vigour in mind, i.e. cut off all passions, evil mind, and wrong views—See Bát Chánh Đạo (1) (2) (6).
nhị chủng trang nghiêm
Two kinds of adornment—See Nhị Trang Nghiêm.
nhị chủng trí
Two kinds of wisdom: 1) Tướng Trí: Hữu lậu trí hay trí nương vào sự tướng thế gian và hãy còn quan hệ với phiền não—Knowledge derived from phenomena, associated with afflictions. 2) Phật Trí: Vô lậu trí, cắt đứt liên hệ với phiền não—Buddha wisdom, no longer associated with afflictions. ** For more information, please see Nhị Trí.
nhị chủng tu đạo
Two paths of cultivation—See Hai Lối Tu Hành.
nhị chủng tà kiến
Hai loại tà kiến—The two false views: (A) 1) Thường kiến: Những người theo chủ nghĩa vật chất duy trì cuộc sống đạo đức vì lợi ích của tự thân, tìm cầu hạnh phúc trần tục, và không nắm bắt được Niết bàn—Materialistics who maintained the moral life in the interests of self, sought earthly happiness, and failed to apprehend nirvana. 2) Đoạn kiến: Người theo chủ nghĩa đoạn kiến phủ nhận hạnh phúc trần tục tùy thuộc vào cuộc sống đạo đức—Nihilistics who denied that earthly happiness is dependent on a moral life. (B) 1) Phá thế gian lạc tà kiến: Những người duy trì lối sống vì lợi ích vị kỷ—Those who maintain the moral life in the interests of self. 2) Phá Niết Bàn đạo tà kiến: Những người chủ trương theo đuổi phước báo nhơn thiên mà chẳng được Niết Bàn—Those who seek earthly happiness, and fail to apprehend Nirvana.
; (二種邪見) Chỉ cho 2 thứ Phá thế gian lạc tà kiến và Phá Niết bàn đạo tà kiến. 1. Phá thế gian lạc tà kiến: Phá tà kiến làm mất cái vui của thế gian. Nghĩa là loại tà kiến không thấy lí nhân quả, không làm việc thiện mà làm việc ác, cho rằng không tội không phúc, không có các bậc Thánh hiền... Nếu khởi tà kiến như thế thì sẽ rơi vào đường khổ não, mất đi niềm vui thế gian.2. Phá Niết bàn đạo tà kiến: Phá tà kiến làm chướng ngại Niết bàn. Nghĩa là tà kiến tham đắm cái Ta. Nhờ tu thiện nên được thú vui thế gian, nhưng vì phân biệt hữu vô nên không được Niết bàn.[X. Trung luận Q.4].
nhị chủng tà kiến báo
(二種邪見報) Hai thứ báo do nhân tà kiến ở đời trước mà phải chịu quả ở đời này. 1. Sinh vào nhà tà kiến: Vì đời trước tâm bị tà kiến che lấp, khởi lên những cái thấy sai lầm, nên đời này chiêu cảm quả báo không có tâm chính tín, phải sinh vào nhà tà kiến. 2. Tâm nịnh hót quanh co: Vì nhân đời trước tà kiến, tâm không ngay thẳng, nên đời này cảm quả tâm thường nịnh hót quanh co. [X. Pháp uyển châu lâm Q.70].
nhị chủng tâm
(二種心) Chỉ cho An ổn tâm và Khoái lạc tâm. Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 1, Bồ tát mới phát tâm kiên cố, đối với chúng sinh, khởi lên 2 tâm chân tịnh là: 1. An ổn tâm: Tức chúng sinh chịu khổ sinh tử bức bách, chìm đắm trong đường ác, Bồ tát liền phương tiện mở đường đưa họ đến những nơi tốt lành, khiến tâm họ được an ổn. 2. Khoái lạc tâm: Tức chúng sinh chịu khổ nghèo cùng túng quẫn, không nơi nương tựa, Bồ tát liền khởi tâm đại từ, thu nhận cứu giúp, mang lại no ấm cho mọi người, khiến tâm họ được vui sướng.
nhị chủng tâm tướng
Hai loại tâm tướng—Two kinds of mind: 1) Nội tâm tướng: Bản tâm thanh tịnh bình đẳng bên trong—The mind in its inner character and influence. 2) Ngoại tâm tướng: Theo duyên mà hiện ra các đối cảnh—The in its outer manifestations.
; (二種心相) Chỉ cho tướng bên trong và tướng bên ngoài của tâm. 1. Tướng bên trong của tâm: Tướng bản tính thanh tịnh bình đẳng. 2. Tướng bên ngoài của tâm: Tướng tâm theo các duyên mà sinh ra các cảnh.
nhị chủng tín
Two forms of faith—See Nhị Tín.
nhị chủng tính
Hai loại tính—Two kinds of seed-nature (the character of the alaya seed and its development): (A) 1) Tính chủng tử: Bản tính thiện từ vô thủy –The original good seed-nature. 2) Tập chủng tử: Chủng tính thiện do tu tập mà phát triển—The seed-nature in practice or development. (B) 1) Bổn tính trụ chủng tính: Bản tính tự nhiên từ vô thủy—The immanent abiding original good seed-nature. 2) Tập sở thành chủng tính: Chủng tính mới được huân tập—The seed productive according to its ground. (C) 1) Thánh chủng tính: Hạt giống chứng quả Niết Bàn của bậc Thánh tam thừa—The seed-nature of the saints, by which they attain nirvana. 2) Phàm phu chủng tính: Ngu phu chủng tính, hay chủng tính phàm phu ngu muội cố bám giữ lấy chư pháp (hạt giống nầy có khả năng sinh sản, còn tính là do rèn tập mà có chứ không phải là tính của lý tính)—The seed-nature in the foolish and ignorant.
nhị chủng tăng
(二種僧) I. Nhị Chủng Tăng. Hai hạng tăng. 1. Thanh văn tăng: Hình tướng sa môn xuất gia, tu tập tam học giới, định, tuệ của Tiểu thừa. 2. Bồ tát tăng: Hình tướng cư sĩ tại gia, tu tập tam học giới, định, tuệ của Đại thừa. [X. luận Đại trí độ Q.34]. II. Nhị Chủng Tăng. Chỉ cho Ứng cúng tăng và Tam qui tăng. 1. Ứng cúng tăng: Chỉ cho các vị từ đức Phật trở xuống đến sa di phàm phu, vì đều nhận lãnh sự cúng dường của đàn việt. 2. Tam qui tăng: Chỉ cho các vị đã được Tứ hướng Tứ quả trong hàng Thanh văn. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.10].
nhị chủng tăng vật
(二種僧物) I. Nhị Chủng Tăng Vật. Hiện tiền tăng vật và Tứ phương tăng vật.1. Hiện tiền tăng vật: Các vật của chúng tăng hiện tại thuộc cùng 1 phạm vi kết giới, như y phục và thức ăn cúng dường mỗi vị tăng hiện tiền. 2. Tứ phương tăng vật: Các vật thuộc về chúng tăng 4 phương, như lúa gạo và phòng xá trong chùa. Cũng gọi Thập phương tăng vật, Tăng kì vật. II. Nhị Chủng Tăng Vật. Hai thứ vật kiện của chúng tăng được phân biệt theo tính chất. 1. Trọng vật: Vật nặng. Như phòng xá, ruộng vườn... 2. Khinh vật: Vật nhẹ. Gồm 18 thứ vật dụng như 3 tấm áo, bát, tích trượng... Việc phân biệt các vật khinh, trọng này là cách đánh giá di sản của vị tăng mới qua đời để lại.
nhị chủng tư lương
Theo Kinh Bảo Tích, có hai loại trang nghiêm—According to The Ratna-rasi or Ratna-kuta sutra (Gem-Heap sutra), there are two kinds spiritual provender: 1) Phúc đức tư lương: Bố thí công đức thiện căn để trì giới, nhẫn nhục, và tinh tấn—Charity, the first four paramitas in the six paramitas. 2) Trí đức tư lương: Tu tập thiền quán và tinh chuyên tìm cầu Diệu Giác, hay là ba Ba La Mật sau cùng—Wisdom, the last three paramitas.
nhị chủng tất cánh
(二種畢竟) Chỉ cho Trang nghiêm tất cánh và Cứu cánh tất cánh. 1. Trang nghiêm tất cánh: Tất cánh nghĩa là quyết định. Tức tất cả chúng sinh đều có chính tính Nhất thừa, nhưng cần phải tu Lục độ để trang nghiêm, nếu không tu thì không được chính tính. 2. Cứu cánh tất cánh: Cứu cánh nghĩa là tột cùng. Tức là tính Nhất thừa mà tất cả chúng sinh đều có thể có. Nếu có được tính Nhất thừa này, thì chắc chắn sẽ đạt được đến địa vị cùng tột. [X. kinh Đại niết bàn Q.27].
nhị chủng tịch tịnh
Hai loại tịch tịnh—Two kinds of seclusion or retirement from the world: 1) Thân tịch tịnh: Tự thân lìa bỏ gia đình để sống đời thanh thản yên tĩnh—Bodily withdrawal into seclusion. 2) Tâm tịch tịnh: Nhờ tu thiền định mà tâm đoạn lìa tất cả những điều ác—Spiritual withdrawal from all evil and into meditation.
nhị chủng tử
Hai loại chủng tử—Two kinds of seeds: (A) 1) Danh ngôn chủng tử (Bổn hữu chủng tử): Chủng tử là nhân tạo ra tất cả mọi pháp thiện ác—Seed which causes moral action—Good or evil seeds produce good or evil deeds. 2) Nghiệp chủng tử: Chủng tử gây ra bởi nghiệp tạo tác thiện ác nơi tâm sở rồi huân tập nơi thức thứ tám—Karma seed, the sixth (mind consciousness) acting with the eighth (Alaya consciousness). (B) 1) Bổn hữu chủng tử: The seed or latent undivided moral force immanent in the highest of the Alaya consciousness. 2) Thân huân chủng tử: The newly influenced or active seed when acted upon by the seven other consciousness, thus becoming productive. (C) Two kinds of death: 1) Mệnh tận tử: Natural death. 2) Ngoại duyên tử: Violent death or death caused by external causes.
nhị chủng tỳ kheo
Hai loại Tỳ Kheo—Two classes of monks: 1) Đa văn tỳ kheo: Monks who hear and repeat many sutras, but are not devoted doers. 2) Quả thiển tỳ kheo: Those who read and repeat few sutras, but are devoted in their lives.
nhị chủng viễn li
(二種遠離) Chỉ cho Thân viễn li và Tâm viễn li. 1. Thân viễn li: Thân xa lánh. Nghĩa là khi tu hành Phật đạo, đối với ngoại giới, để cho thân được thanh tịnh, phải chấm dứt sự giao du với bạn ác, gọi Thân viễn li. 2. Tâm viễn li: Tâm xa lìa. Nghĩa là người tu hành, đối với nội tâm, phải hướng dẫn tư duy tránh xa những mê hoặc bất thiện, gọi là Tâm viễn li.
nhị chủng vô lượng
(二種無量) Chỉ cho 2 thứ vô lượng: 1. Thực vô lượng: Lí Phật tính Niết bàn giống như hư không, thực không có hạn lượng, tất cả Bồ tát đều không tính lường được. 2. Bất tri vi vô lượng: Không biết được vô lượng. Nghĩa là chỉ có Phật và Bồ tát mới biết được số cân lạng của núi Tu di và số giọt nước của biển cả, chứ người và trời, trí lực cạn cợt, hẹp hòi, không thể biết được. [X. luận Đại trí độ Q.20].
nhị chủng vô lậu nhân quả
(二種無漏因果) Chỉ cho Vô lậu nhân và Vô lậu quả. 1. Vô lậu nhân: Hàng Nhị thừa do tu nhân giới, định, tuệ mà dứt được quả khổ sinh tử trong 3 cõi, nên tam học giới, định, tuệ được gọi là Nhân vô lậu, tức là Đạo đế. 2. Vô lậu quả: Hàng nhị thừa đã dứt được nỗi khổ sinh tử bức bách trong 3 cõi, chứng được niềm vui chân không niết bàn vắng lặng; chân không niết bàn này được gọi là Vô lậu quả, tức là Diệt đế. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc)].
nhị chủng vô nghĩa ngữ báo
(二種無義語報) Hai thứ quả báo do đời trước nói năng vô nghĩa mà đời nay phải chịu. 1. Không ai tin nhận: Do nhân đời trước nói năng vô nghĩa, tức là hư dối, nên đời nay chiêu cảm quả báo tuy có nói năng nhưng không ai tín nhiệm. 2. Nói không rõ ràng: Do nhân đời trước nói năng vô nghĩa, đều là mờ ám, nên đời nay chiêu cảm quả báo những điều nói ra cũng không rõ ràng. [X. Pháp uyển châu lâm Q.70].
nhị chủng vô ngại
(二種無礙) Chỉ cho Trí tuệ ư cảnh vô ngại và Thần thông tác dụng vô ngại. 1. Trí tuệ ư cảnh vô ngại: Cảnh là lí của pháp giới. Nghĩa là Bồ tát dùng trí bình đẳng mà chứng lí pháp giới, lí sự dung thông, không có chướng ngại. 2. Thần thông tác dụng vô ngại: Tác dụng của thần thông không có chướng ngại. Nghĩa là Bồ tát đã chứng lí pháp giới trong nội tâm, dùng thần thông ứng hiện ở khắp 10 phương thế giới, tùy cơ hóa độ đều không chướng ngại. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.52].
nhị chủng vô tâm ước giáo
(二種無心約教) Chỉ cho 2 thứ vô tâm do y theo (y ước) giáo pháp mà có được. 1. Trừng trạm linh vô: Lắng lặng vô tâm. Nghĩa là chúng sinh thường thu nhiếp các niệm khiến cho tâm an định, lắng thần tĩnh lự, làm cho định thể lặng trong, không bị vọng trần khuấy động, thế gọi là Trừng trạm linh vô. 2. Đương thể thị vô: Ngay cái đương thể là vô tâm. Nghĩa là chúng sinh rõ ngay nguồn tâm vốn vắng lặng, pháp cũng vô sinh, biết được ngay chỗ niệm khởi là bất khả đắc, thế nên gọi là Đương thể thị vô. [X. Tông kính lục Q.45].
nhị chủng vọng kiến
Two kinds of upside-down discriminating false views—Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Nhì, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về hai loại vọng kiến như sau: “Ông A Nan! Tất cả chúng sanh bị trôi lăn trong vòng luân hồi sanh tử ở thế gian, là do bởi hai thứ vọng kiến. Hai thứ nhìn sai lầm đó làm cho chúng sanh thấy có cảnh giới, và bị lôi cuốn trong vòng nghiệp. Hai thứ vọng kiến đó là vọng kiến biệt nghiệp của chúng sanh và vọng kiến đồng phận của chúng sanh.”—In the Surangama Sutra, the Buddha reminded Ananda about two kinds of upside-down discriminating false views as follows: “Ananda! All living beings turn on the wheel in this world because of two upside-down discriminating false views. Wherever these views arise, there is revolution through the cycle of appropriate karma. What are the two views? The first consists of the false view based on living beings' individual karma. The second consists of the false view based on living beings' collective karma.” 1) Vọng Kiến Biệt Nghiệp là gì? Ông A Nan! Như người bị đau mắt, ban đêm nhìn vào ngọn đèn, thấy có năm màu sắc tròn chung quanh ngọn lửa sáng—What is meant by false views based on individual karma? Ananda! It is like a man in the world who has red cataracts on his eyes so that at night he alone sees around the lamp a circular reflection composed of layers of five colors. a) Ông nghĩ thế nào? Cái ảnh tròn năm màu sắc đó là màu sắc của đèn hay màu sắc của cái thấy? What do you think? Is the circle of light that appears around the lamp at night the lamp's color, or is it the seeing's colors? • Ông A Nan! Nếu là màu sắc của đèn, sao chỉ một mình người đau mắt thấy. Nếu là màu sắc của tính thấy, thì tính thấy đã thành màu sắc, còn cái thấy của người mắt đau gọi là gì?—Ananda! If it is the lamp's colors, why is it that someone without the disease does not see the same thing, and only the one who is diseased sees the circular reflection? If it is the seeing's colors, then the seeing has already become colored; what, then, is the circular reflection the diseased man sees to be called? • Lại nữa, ông A Nan, nếu cái ảnh tròn kia, rời đèn mà riêng có, thì khi nhìn bình phong, trướng, ghế, bàn, cũng phải có ảnh tròn hiện ra chứ—Moreover, Ananda, if the circular reflection is in itself a thing apart from the lamp, then it would be seen around the folding screen, the curtain, the table, and the mats. • Nếu rời tính thấy mà riêng có, thì mắt có thể không thấy. Nay mắt thấy thì biết không rời được—If it has nothing to do with the seeing, it should not be seen by the eyes. Why is it that the man with cataracts sees the circular reflections with his eyes? b) Vậy nên biết rằng—Therefore, you should know that: • Màu sắc thật ở nơi đèn. Cái thấy bệnh nhìn lầm ra ảnh năm sắc. Cái ảnh và cái thấy đều là bệnh. Nhưng cái thấy biết là bệnh đó, không phải là bệnh. Đừng nên nói là đèn, là thấy, và chẳng phải đèn, chẳng phải thấy—In fact the colors come from the lamp, and the diseased seeing bring about the reflection. Both the circular reflection and the faulty seeing are the result of the cataract. But that which sees the diseased film is not sick. Thus you should not say that it is the lamp or the seeing or that it is neither the lamp nor the seeing. • Ví dụ mặt trăng thứ hai, vì dụi mắt mà thấy, vậy không phải là mặt trăng, hay là bóng của trăng. Cái ảnh năm sắc cũng vậy, vì mắt bệnh mà thành, không nên nói là tại đèn hay tại thấy—It is like a second moon often seen when one presses on one's eye while looking up into the sky. It is neither substantial nor a reflection because it is an illusory vision caused by the pressure exerted on one's eye. Hence, a wise person should not say that the second moon is a form or not a form. Nor is it correct to say that the illusory second moon is apart from the seeing or not apart from the seeing. It is the same with the illusion created by the diseased eyes. You cannot say it is from the lamp or from the seeing: even less can it be said not to be from the lamp or the seeing. 2) Vọng Kiến Đồng Phận—False View of the collecting share: a) Ông A Nan! Trong cõi Diêm Phù Đề, trừ phần nước nơi các biển lớn, phần đất bằng ở giữa có đến ba ngàn châu. Châu lớn chính giữa bao trùm cả Đông Tây—What is meant by the false view of the collective share? Ananda! In Jambudvipa, besides the waters of the great seas, there is level land that forms some three thousand continents. East and West, throughout the entire expanse of the great continent. • Có độ hai ngàn ba trăm nước lớn. Các châu nhỏ ở giữa biển, hoặc vài trăm nước, hoặc một, hoặc hai nước, cho đến ba mươi, bốn mươi năm mươi nước—There are twenty-three hundred large countries. In other, small or perhaps one or two, or perhaps thirty, forty, or fifty. • Ông A Nan! Trong đám đó có một châu nhỏ, chỉ có hai nước. Người trong một nước cùng cảm với ác duyên, chúng sanh trong nước ấy thấy những cảnh giới không lành, hoặc thấy hai mặt trời, hoặc thấy hai mặt trăng. Họ lại thấy những ác tướng như: các quầng chung quanh mặt trời, mặt trăng; nguyệt thực, nhật thực, những vết đen trên mặt trời, mặt trăng, sao chổi, sao phướn, sao băng, nhiều sao băng thành chùm, các thứ mống, vân vân. Chỉ nước ấy thấy. Còn chúng sanh ở nước bên kia không hề thấy hay nghe những thứ trên—Ananda! Suppose that among them there is one small continent where there are only two countries. The people of just one of the countries together experience evil conditions. On that small continent, all the people of that country see all kinds of inauspicious things: perhaps they see two suns, perhaps they see two moons with circles, or a dark haze, or girdle-ornaments around them; or comets, shooting stars, 'ears' on the sun or moon, eainbows, secondary rainbows, and various other evil signs. Only the people in that country see them. The living beings in the other country from the first do not see or hear anything unusual. b) Ông A Nan! Nay tôi vì ông lấy hai thứ vọng kiến trên giải thích cho rõ—Ananda! I will now go back and forth comparing these two matters for you, to make both of them clear: • Như người đau mắt thấy cái ảnh tròn năm sắc ở đèn sáng. Đó là do lỗi bệnh mắt, chứ không phải do lỗi ở tính thấy, cũng không phải sắc đèn tạo ra—Ananda! In the case of the living being's false view of individual karma by which he sees the appearance of a circular reflection around the lamp, the appearance seems to be a state, but in the end, what is seen comes into being because of the cataracts on the eyes. The cataracts are the results of the weariness of the seeing rather than the products of form. However, the essence of seeing which perceives the cataracts is free from all diseases and defects. • Lấy đó mà so sánh, nay ông và chúng sanh thấy núi sông, cảnh vật, đều là từ vô thủy, cái thấy bệnh thấy như thế. Cái vọng kiến và cảnh vật dều là hư vọng, tùy duyên hiện tiền. Còn cái giác minh biết vọng cảnh, vọng kiến là bệnh, thì không phải bệnh hay mê lầm, mà lúc nào cũng sáng suốt. Chân kiến thấy rõ vọng kiến là bệnh, thì nó không bị bệnh, mà vẫn sáng suốt. Vậy câu lúc trước ông bảo 'kiến văn giác tri,' chỉ là vọng kiến mà thôi. Vậy nay ông thấy tôi, ông và chúng sanh đều là cái thấy bệnh. Còn cái 'kiến chân tinh tính' không phải bệnh nên không gọi là thấy—For example, you now use your eyes to look at the mountains, the rivers, the countries, and all the living beings: and they are all brought about by the disease of your seeing contracted since time without beginning. Seeing and the conditions of seeing seem to manifest what is before you. Originally my enlightenment is bright. The seeing and conditions arise from the cataracts. Realize that the seeing arise from the cataracts: the enlightened condition of the basically enlightened bright mind has no cataracts. That which is aware of the faulty awareness is not diseased. It is the true perception of seeing. How can you continue to speak of feeling, hearing, knowing, and seeing? Therefore, you now see me and yourself and the world and all the ten kinds of living beings because of a disease in the seeing. What is aware of the disease is not diseased. The true essential seeing by nature has no disease. Therefore, it is not called seeing. c) Ông A Nan! Có thể lấy cái vọng kiến đồng phận của chúng sanh đã nói trên, so sánh với cái vọng kiến biệt nghiệp của một người. Cái ảnh tròn của một người thấy do đau mắt, và những cảnh lạ do chúng sanh một nước thấy, đều là cái hư vọng kiến sinh ra từ vô thủy. Khắp cả mười phương thế giới chúng sanh đều thuộc phạm vi vọng. Các duyên hòa hợp sinh ra, các duyên hòa hợp mất. Nếu đứng về cảnh giới Phật, đều thấy đó là hư vọng. Nếu có thể xa lìa các 'hòa hợp duyên' và 'không hòa hợp duyên,' thì đã diệt trừ các nhân sinh tử, chứng được chân lý, tức cảnh giới Phật—Ananda! Let us compare the false views of those living beings' collective share with the false views of the indicidual karma of one person. The individual man with the diseased eyes is the same as the people of that country. He sees circular reflections erroneously brought about by a disease of the seeing. The beings with a collective share see inauspicious things. In the midst of their karma of identical views arise pestilence and evils. Both are produced from a beginningless falsity in the seeing. It is the same in the three thousand continents of Jambudvipa, throughout the four great seas and in the Saha World and throughout the ten directions. All countries that have outflows and all living beings are the enlightened bright wonderful mind without outflows. Because of the false, diseased conditions that are seen, heard, felt, and known, they mix and unite in false birth, mix and unite in false death. If you cane leave far behind all conditions which mix and unite and those which do not mix and unite, then you can also extinguish and cast out the causes of birth and death, and obtain perfect Bodhi, the nature which is neither produced nor extinguished. It is the pure clear basic mind, the everlasting fundamental enlightenment.
; (二種妄見) Chỉ cho 2 thứ vọng kiến: Biệt nghiệp vọng kiến và Đồng phận vọng kiến. 1. Biệt nghiệp vọng kiến: Chỉ cho các chúng sinh mê mất chân tính, tự khởi vọng kiến, thấy có tất cả cảnh giới hư dối, hoặc khổ hoặc vui, còn người không quên mất chân tính thì không thấy những cảnh giới ấy. Như người đau mắt, ban đêm nhìn đèn, thấy có quầng sáng; hoặc như người nhặm mắt, thấy có 2 ngọn đèn. Nhưng với những người không bị đau mắt hoặc không nhặm mắt thì không thấy những hiện tượng ấy. 2. Đồng phận vọng kiến: Chỉ cho những chúng sinh mê mất chân tính, cũng thấy tất cả cảnh giới hư vọng, cùng chịu khổ vui, đồng nghiệp cảm được. Như người trong 1 nước cùng thấy những việc xấu ác bất tường. [X. kinh Lăng nghiêm Q.2].
nhị chủng vọng ngữ báo
(二種妄語報) Hai thứ quả báo đời nay phải chịu do đời trước nói dối. 1. Thường bị phỉ báng: Vì nhân đời trước không giữ chữ tín, không có lòng thành thực, hay nói dối đối với mọi người, cho nên chiêu cảm quả báo đời nay, thường bị người ta phỉ báng. 2. Bị người lừa gạt: Vì nhân đời trước chuyên nói dối để gạt gẫm người, cho nên chiêu cảm quả báo đời nay bị người lừa gạt. [X. Pháp uyển châu lâm Q.70].
nhị chủng xiển đề
(二種闡提) Gọi đủ: Nhị chủng Nhất xiển đề. Chỉ cho 2 loại Xiển đề. 1. Xả thiện căn xiển đề: Sinh khởi đại tà kiến, dứt hết tất cả thiện căn, là hạng người cực ác, không thể thành Phật. 2. Phương tiện xiển đề: Bồ tát vì hóa độ chúng sinh nên dùng phương tiện giả làm xiển đề. Tức Bồ tát phương tiện thệ nguyện: Nếu chúng sinh không vào Niết bàn thì ta cũng không vào Niết bàn, do đó Bồ tát trở thành Phương tiện xiển đề để cứu giúp chúng sinh. [X. kinh Lăng già Q.1; kinh Nhập lăng già Q.2].
nhị chủng xuất gia
(二種出家) Chỉ cho 2 loại xuất gia. 1. Thân xuất gia: Chỉ cho hình thể ra khỏi sự sinh hoạt của người tại gia. 2. Tâm xuất gia: Tuy sống ở nhà thế tục nhưng tâm không tham nhiễm các cảnh, như các Bồ tát cư sĩ Đại thừa: Duy ma, Hiền hộ. Chương Ưu bà cúc đa trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 1 (Đại 51, 207 trung) chép: Tôn giả hỏi rằng: Ông thân xuất gia hay tâm xuất gia?.
nhị chủng xá lợi
Two kinds of relics.
; (二種舍利) I. Nhị Chủng Xá Lợi. Chỉ cho Toàn thân xá lợi và Toái thân xá lợi. 1. Toàn thân xá lợi: Xá lợi còn nguyên vẹn cả thân thể, chứ không thiêu ra tro. 2. Toái thân xá lợi: Di thể đã được thiêu ra tro. Cứ theo phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa quyển 4 và phẩm Thường vô thường trong kinh Bồ tát xử thai quyển 3, xá lợi của đức Phật Đa bảo là Toàn thân xá lợi, còn xá lợi của đức Phật Thích ca là Toái thân xá lợi. II. Nhị Chủng Xá Lợi. Chỉ cho Thân cốt xá lợi và Pháp tụng xá lợi.1. Thân cốt xá lợi: Chỉ cho di cốt của đức Phật. 2. Pháp tụng xá lợi: Chỉ cho pháp thân bất diệt của Phật, tức chỉ cho di pháp của đức Phật. Về sau, Pháp tụng xá lợi được chuyển thành lời kính xưng đối với tất cả kinh Đại thừa và kinh Tiểu thừa. [X. kinh Dục Phật công đức]. (xt. Xá Lợi).
nhị chủng y
(二種醫) Chỉ cho 2 loại thầy thuốc: Tiểu y và Đại y. 1. Tiểu y: Y sĩ bình thường, chỉ biết chứng bệnh, nguyên nhân bệnh và thuốc chữa bệnh, chứ không biết tất cả bệnh, tất cả nguyên nhân bệnh và tất cả thuốc chữa bệnh. Ví dụ như hàng Thanh văn không thể biết tất cả thuốc và bệnh nên gọi là Tiểu y. 2. Đại y: Y sĩ giỏi, chỉ cho người thầy thuốc biết tất cả các chứng bệnh, biết tất cả nguyên nhân của bệnh và thông thạo tất cả thứ thuốc trị bệnh, vì thế chữa bệnh cho tất cả chúng sinh. Ví như Bồ tát không bệnh nào mà không biết, không loại thuốc nào không hiểu, cho nên gọi là Đại y. [X. luận Đại trí độ Q.24].
nhị chủng yết ma
(二種羯磨) I. Nhị Chủng Yết Ma. Chỉ cho 2 loại yết ma. 1. Trị tội yết ma: Nếu có các tỉ khưu phạm tội thì đại chúng làm pháp yết ma để định tội của họ. 2. Thành thiện yết ma: Nếu các tỉ khưu mắc tội phạm giới thì đối trước chúng tăng bày tỏ sám hối, nhờ đó mà tội lỗi bị diệt trừ và thiện căn được thành tựu. [X. thiên Sám lục tụ pháp trong luật Tứ phần]. II. Nhị Chủng Yết Ma. Chỉ cho Vĩnh sấn yết ma và Điều phục yết ma. 1. Vĩnh sấn yết ma: Lúc đức Phật còn tại thế, nếu có tỉ khưu phạm tội mà không thấy lỗi của mình, lại có tính ngang bướng, cứng đầu, không chịu hối cải, thì chúng tăng làm pháp yết ma trục xuất, trọn đời không được trở lại dự vào các việc của chúng tăng. 2. Điều phục yết ma: Các tỉ khưu phạm pháp mà chưa từng sám hối, thì đối với các việc của chúng tăng như ăn uống, ngồi đứng, nói năng đều không được tham dự chung với chúng tăng. Cách xử phạt này cốt để nhiếp phục kẻ phạm tội, khiến họ biết lỗi, cầu tăng sám hối để không tái phạm nữa. [X. luận Tì ni mẫu Q.2].
nhị chủng ác mạ báo
(二種惡駡報) Hai thứ quả báo mà đời này phải chịu là do đời trước miệng hay chưởi mắng bằng những lời thô bỉ xấu ác. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 70, 2 thứ quả báo xấu ác ấy là: 1. Thường nghe tiếng xấu ác: Do nhân đời trước không giữ mồm giữ miệng, hay thốt ra những lời thô ác, làm cho những người nghe khó chịu nổi, nên chiêu cảm quả báo là đời này thường phải nghe những âm thanh nhơ nhớp, xấu xa. 2. Thường tranh tụng: Do nhân đời trước cậy có thế mạnh, ưa tranh cãi kiện cáo, ác nghịch vô đạo, nên cảm được quả báo là đời này thường bị vướng vào những vụ kiện tụng bất hòa.
nhị chủng ác sự
(二種惡事) Hai thứ ác sự, tức là chúng sinh ác sự và thổ địa ác sự. 1. Chúng sinh ác sự: Chúng sinh tham dục, sân hận, ngu si, không theo lời dạy bảo của cha mẹ, sư trưởng làm các điều ác. 2. Thổ địa ác sự: Chỉ cho những nơi mà nạn mất mùa, đói kém, dịch bệnh và khí độc thường xảy ra.
nhị chủng ái
(二種愛) Hai thứ yêu mến, tức là yêu mến có ô nhiễm và yêu mến không ô nhiễm. 1. Có ô nhiễm: Tham ái, tham đắm cảnh 5 dục lạc, không dứt ra được, như yêu mến vợ, con... Tham và ái tên tuy khác nhau nhưng cùng là 1 thể. 2. Không ô nhiễm: Tức tín ái, như kính yêu cha mẹ và sư trưởng. [X. luận Đại trí độ Q.4; luận Đại tì bà sa Q.29].
nhị chủng ái ngữ
(二種愛語) Hai thứ ái ngữ, tức là Tùy ý ái ngữ và Tùy sở ái pháp vị thuyết. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 66, Bồ tát dùng 2 thứ ái ngữ để nói pháp cho chúng sinh. Đó là: 1. Tùy ý ái ngữ: Bồ tát vì thương xót chúng sinh nên thuận theo ý của chúng sinh mà nói pháp. 2. Tùy sở ái pháp vị thuyết: Bồ tát tùy thuận pháp chúng sinh ưa thích mà nói cho họ nghe. Như đối với người giàu có mà tâm cao ngạo thì khen ngợi việc bố thí, vì người ấy thích danh tiếng và phúc đức nên sẽ sinh tâm vui mừng.
nhị chủng điên đảo
Two conditions for being upside down—Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Bảy, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về hai loại điên đảo như sau: “Ông A Nan! Ông muốn tu chân tam ma địa, thẳng đến đại Niết Bàn của Như Lai, trước hết phải biết hai thứ điên đảo là chúng sanh và thế giới. Nếu điên đảo không sinh, đó là chân tam ma địa của Như Lai.”—According to the Surangama Sutra, book Seven, the Buddha reminded Ananda about the two conditions for being upside down as follows: “Ananda! You now wish to cultivate true samadhi and arrive directly at the Thus Come One' Parinirvana, first, you should recognize the two upside-down causes of living beings and the world. If this upside-down state is not produced, then there is the Thus Come One's true samadhi.” 1) Chúng Sanh Điên Đảo: Upside-down state of living beings—Ông A Nan! Thế nào gọi là chúng sanh điên đảo? Ông A Nan! Do tính minh tâm, cái tính sáng suốt viên mãn. Nhân cái vọnh minh phát ra vọng tính. Cái tính hư vọng sinh ra cái tri kiến hư vọng. Từ rốt ráo không sinh rốt ráo có. Do cái năng hữu ấy, mới có những cái sở hữu. Chẳng phải nhân thành sở nhân. Rồi có cái tướng trụ và sở trụ. Trọn không căn bản. Gốc không có chỗ y trụ, gây dựng ra thế giới và chúng sanh. Mê cái tính bản nguyên minh, mới sinh ra hư vọng. Vọng tính không có tự thể, chẳng phải là có chỗ sở y. Toan muốn trở lại chân. Cái muốn chân đó chẳng phải thật là chân như tính. Chẳng phải chân mà cầu trở lại chân, hóa ra thành hư vọng tướng. Chẳng phải: “sinh, trụ, tâm, pháp,” lần lữa phát sinh, sinh lực tăng tiến mãi, huân tập thành nghiệp. Đồng nghiệp cảm nhau. Nhân có cảm nghiệp, diệt nhau sinh nhau. Do đó nên có chúng sanh điên đảo—Ananda! What is meant by the upside-down state of living beings? Ananda! The reason that the nature of the mind is bright is that the nature itself is the perfection of brightness. By adding brightness, another nature arises, and rom that false nature, views are produced, so that from absolute nothingness comes ultimate existence. All that exists comes from this; every cause in fact has no cause. Subjective reliance on objective appearances is basically groundless. Thus, upon what is fundamentally unreliable, one set up the world and living beings. Confusion about one's basic, perfect understanding results in the arising of falseness. The nature of falseness is devoid of substance; it is not something which can be relied upon. One may wish to return to the truth, but that wish for truth is already a falseness. The real nature of true suchness is not a truth that one can seek to return to. By doing so one misses the mark. What basically is not produced, what basically does not dwell, what basically is not the mind, and what basically are not dharmas arise through interaction. As they arise more and more strongly, they form the propensity to create karma. Similar karma sets up a mutual stimulus. Because of the karma thus generated, there is mutual production and mutual extinction. That is the reason for the upside-down state of living beings. 2) Thế Giới Điên Đảo: Upside-down state of the world—Ông A Nan! Thế nào gọi là thế giới điên đảo? Cái có và cái bị có ấy, nhân hư vọng sinh, nhân đó giới lập. Chẳng phải nhân, sở nhân, không trụ và sở trụ, thiên lưu chẳng dừng. Nhân đó thế lập. Ba đời bốn phương hòa hợp xen nhau, biến hóa chúng sanh thành 12 loại (see Thập Nhị Loại Chúng Sanh). Bởi đó thế giới nhân động có tiếng, nhân tiếng có sắc, nhân sắc có hương, nhân hương có xúc, nhân xúc có vị, nhân vị biết pháp. Sáu thứ vọng tưởng nhiễu loạn thành nghiệp tính. Mười hai thứ phân ra khác. Do đó lưu chuyển, nên ở thế gian “tiếng, hương, vị, xúc,” cùng 12 biến hóa xoay vần thành một vòng lẩn quẩn. Nhân các tướng điên đảo luân chuyển ấy, mới có thế giới: các loài noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, loài có sắc, loài không sắc, loài có tưởng, loài không tưởng, loài chẳng phải có sắc, loài chẳng phải không sắc, loài chẳng phải có tưởng, loài chẳng phải không tưởng. Ông A Nan! Chúng sanh trong mỗi loại đều đủ 12 thứ điên đảo. Ví như lấy tay ấn vào con mắt, thấy hoa đốm phát sinh. Hư vọng loạn tưởng điên đảo và chân tịnh minh tâm cũng như thế.”—Ananda! What is meant by the upside-down state of the world? All that exists comes from this; the world is set up because of the false arising of sections and shares. Every cause in fact has no cause; everything that is dependent has nothing on which it is dependent, and so it shifts and slides and is unreliable. Because of this, the world of the three periods of time and four directions comes into being. Their union and interaction bring about changes which result in the twelve categories of living beings. That is why, in this world, movement brings about sounds, sounds bring about forms, forms bring about smells, smells bring about contact, contact brings about tastes, and tastes bring about awareness of dharmas. The random false thinking resulting from these six creates karma, and this continuous revolving becomes the cause of twelve different categories. And so, in the world, sounds, smells, tastes, contact, and the like, are each transformed throughout the twelve categories to make one complete cycle. The appearance of being upside down is based on this continuous process. Therefore, in the world, there are those born from eggs, those born from womb, those born from moisture, , those born by transformation, those with form, those without form, those with thought, those without thought, those not totally endowed with form, those not totally lacking form, those not totally endowed with thought, and those not totally lacking thought. Ananda! Each of these categories of beings is replete with all twelve kinds of upside-down states, just as pressing on one's eye produces a variety of flower-like images. With the inversion of wonderful perfection, the truly pure, bright mind becomes glutted with false and random thoughts. *** For more information, please see Thập Nhị Loại Chúng Sanh.
; (二種顛倒) Chỉ cho 2 thứ điên đảo là Chúng sinh điên đảo và Thế giới điên đảo. 1. Chúng sinh điên đảo: Chúng sinh không thấy rõ được tự tính, chạy theo vọng tưởng, mê mất chân tâm, tùy thuận vọng hoặc mà tạo tác vọng nghiệp, do vọng nghiệp này đắp đổi tương sinh, nên chúng sinh xoay vòng trong 3 cõi, không thể nào quay lưng với vọng để trở về với chân, vì thế gọi là Chúng sinh điên đảo. 2. Thế giới điên đảo: Quá khứ, hiện tại, vị lai trôi chảy là Thế, 4 phương đông, tây, nam, bắc là Giới. Thời gian và không gian tương quan nên gọi là Thế giới. Điên đảo là chỉ cho chúng sinh mê mất chân tính, niệm niệm đổi dời, trụ ở trong cảnh giới mê vọng, khởi lên những cái thấy đảo điên, cho nên gọi là Thế giới điên đảo. [X. kinh Lăng nghiêm Q.7].
nhị chủng đại thừa
(二種大乘) Hữu tướng Đại thừa và Vô tướng Đại thừa. Đây là giáo phán của 1 Thiền sư thời Nam Bắc triều. 1. Hữu tướng Đại thừa: Như kinh Hoa nghiêm, kinh Anh lạc, kinh Đại phẩm... nói về các giai đoạn, công đức và hành tướng của sự tu hành. 2. Vô tướng Đại thừa: Như kinh Lăng già, kinh Tư ích... không giải thích về chân pháp, mà lấy lí hết thảy chúng sinh thành Niết bàn tức khắc làm giáo nghĩa. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.10, phần đầu].
nhị chủng định
Hai loại định—There are two kinds of samadhi: 1) Tán Định: Thiền định tổng quát hay tản mạn của Dục Giới—Scattered or general meditation in the world of desire. 2) Thiền Định: Thiền định trong cõi Sắc giới hay Vô Sắc giới—Abstract meditation in the realms of form and beyond form.
nhị chủng độc giác
(二種獨覺) Chỉ cho 2 loại Độc giác là Bộ hành độc giác và Lân dụ độc giác. Vị Độc giác ra đời lúc không có Phật xuất hiện, tự mình quán xét ngoại vật vô thường, nội tâm sinh diệt mà giác ngộ, nên gọi là Độc giác. Cứ theo Tích huyền kí thì Độc giác có 2 loại:1. Bộ hành: Bộ là bộ loại. Vị Độc giác này hơi có tâm vì người, ví như con nai đang chạy mà đầu còn ngoái lại nhìn đàn nai phía sau, nên gọi là Bộ hành . 2. Lân dụ: Lân là con kì lân. Vị Độc giác này chỉ muốn độ mình, ít có tâm vì người khác, ví như con kì lân chỉ có 1 sừng, cho nên gọi là Lân dụ.
nhị chứng
(二證) I. Nhị Chứng. Chỉ cho Sự chứng và Lí chứng. Trong Tam học, người tu giới, giữ giới, gọi là Sự chứng; người tu định và tuệ thì gọi là Lí chứng. [X. Nam sơn giới bản sớ Q.1, phần đầu]. II. Nhị Chứng. Chỉ cho Lí chứng và Giáo chứng. Hai cách chứng đắc này là tiêu chuẩn để quyết định 1 loại học thuyết nào đó có đúng là Phật pháp không. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.1].
nhị cát la
(二吉羅) Hai tội Đột cát la: Ác tác và Ác ngôn. Ác tác là những hành vi, cử chỉ trái với giới luật; còn Ác ngôn là những lời nói không đúng sự thật. (xt. Đột Cát La).
nhị câu phạm quá
Cả hai đều phạm lỗi—Một từ ngữ nói về những chỉ trích của Thiên Thai về Hoa Nghiêm, dù cho Thiên Thai là Viên giáo, nhưng nó vẫn còn có những chỗ thô chỗ dở của Biệt giáo so với giáo pháp thực sự hoàn hảo thời Pháp Hoa—Both have mistakes—A term applied by T'ien-T'ai in criticism of Hua-Yen, which while it is a perfect or complete doctrine, yet has the “crudities” of the Avatamsaka or Lotus sects (Biệt Giáo) and comes short of the really perfect Lotus doctrine.
nhị cú
(二句) Chỉ cho Văn cú và Nghĩa cú. 1. Văn cú: Văn là chữ. Nghĩa là tất cả khế kinh đều lấy văn làm thân, văn thành lời là câu, muốn giải diễn rõ ý nghĩa, cần phải nhờ văn, đó là văn cú. 2. Nghĩa cú: Nghĩa là nghĩa lí. Nghĩa là tất cả khế kinh đều hiển bày nghĩa lí, nhưng nghĩa phải nương vào văn mới được làm cho sáng tỏ, văn cũng phải nhờ nghĩa mới thành, muốn phân tích câu văn phải căn cứ vào nghĩa, đó là nghĩa cú. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5].
nhị căn
The two "roots" or natural powers: (1) lợi căn, keen, able (in the religion); (2) độn căn, dull.
; Hai loại căn—Two roots: (A) 1) Lợi căn: Keen (able) root. 2) Độn căn: Dull root. (B) 1) Chính căn: Thắng nghĩa căn—Khả năng sử dụng các căn để nhận thức rõ về chân lý, chứ không phải là sở kiến phàm phu—The power or ability which uses the sense organs to discern the truth. 2) Phù căn: Phù Trần căn—Năm căn hay y xứ của năm căn trên thân thể—The sense organs as aids. (C) 1) Nam căn: Male organ. 2) Nữ căn: female organ.
; (二根) I. Nhị Căn. Chỉ cho lợi căn và độn căn. 1. Lợi căn, cũng gọi Thượng căn. Nghĩa là người có căn tính bén nhạy, mau chứng được diệu quả. 2. Độn căn, cũng gọi Hạ căn. Nghĩa là người có căn tính chậm lụt, khó khai ngộ được. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ]. II. Nhị Căn. Chỉ cho chính căn và phù căn. 1. Chính căn, cũng gọi Thắng nghĩa căn. Là bản thể của 5 căn (mắt tai mũi lưỡi thân), là sắc pháp thanh tịnh do 4 đại tạo thành, hàng phàm phu và Nhị thừa không thể thấy được, hiện lượng không thể biết được, nhưng có tác dụng sinh ra thức thu lấy cảnh. 2. Phù căn, cũng gọi Phù trần căn. Là 5 khí quan bên ngoài như: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân mà người ta có thể trông thấy được. Các căn này chỉ là chỗ nương tựa của Chính căn, hư giả chẳng thật và không có tác dụng sinh ra thức thu lấy cảnh. III. Nhị Căn. Chỉ cho nam căn và nữ căn, tức sinh thực khí của con trai và con gái. [X. kinh Lăng nghiêm Q.9; luận Câu xá Q.3; luận Du già sư địa Q.57].
nhị cảnh
Two realms—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, trên đường tu không tinh tấn thì thôi, nếu dụng công tinh tấn, nhứt định có cảnh giới. Cảnh giới nầy có hai loại trong và ngoài khác nhau—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, if we are not diligent and do not exert efforts along the path of cultivation, nothing usually happens; however, if we are diligent and exert a great deal of effort, we will definitely witness different realms. These two realms either come from within the mind or are caused by outside sources. 1) Nội Cảnh—Internal Realms: a) Nội cảnh giới cũng gọi là tự tâm cảnh giới, vì cảnh giới nầy không phải từ bên ngoài vào, mà chính do nơi công dụng trong tâm phát hiện. Những người không hiểu rõ lý “Vạn pháp duy tâm” cho rằng tất cả cảnh giới đều từ bên ngoài đến, là lối nhận định sai lầm. Bởi khi hành giả dụng công đến mức tương ưng, dứt tuyệt ngoại duyên, thì chủng tử của các pháp tiềm tàng trong tạng thức liền phát ra hiện hạnh. Với người niệm Phật trì chú, thì công năng của Phật hiệu và mật cú đi sâu vào nội tâm, tất gặp sự phản ứng của hạt giống thiện ác trong tạng thức, cảnh giới phát hiện rất là phức tạp. Các cảnh ấy thường hiện ra trong giấc mơ, hoặc ngay trong khi tỉnh thức lúc đang dụng công niệm Phật. Nhà Phật gọi trạng thái nầy là “A Lại Da Biến Tướng.”—Internal realms are also called “realms of the Self-Mind” because they do not come from outside, but develop from the mind. Those who do not clearly understand the truth that “the ten thousand dharmas are created by the mind,” think that all realms come from the outside. This is wrong. When the practitioner reaches the stage of mutual interpenetration of mind and realms, completely severing external conditions, the seeds of latent dharmas in the Alaya consciousness suddenly manifest themselves. For the Buddha Recitation or mantra-chanting practitioner, the power of the Buddha's name or the mantra penetrates deep into the mind, eliciting a reaction from the wholesome or evil seeds in the Alaya consciousness. The realms that result are very complex and usually appear in dreams, or even when the practitioner is awake and striving to recite the Buddha's name. In Buddhism, this condition is called “Changing manifestations of the Alaya consciousness.” • Trong giấc mơ, nếu do chủng tử ác phát hiện, hành giả hoặc thấy các loài sâu trong mình bò ra, hoặc thấy nơi thân có loại nhiều chân giống như bò cạp, rết, mỗi đêm mình gở ra năm bảy con; hoặc thấy các loài thú ma quái, cảnh tượng rất nhiều không tả xiết được! Đại khái người nhiều nghiệp tham nhiễm, bỏn xẻn, hiểm độc, thường thấy tướng nam nữ, rắn rết, hoặc dị loại sắc trắng. Người nhiều nghiệp sân hận, thường thấy cọp beo, hoặc dị loại sắc đỏ. Người nhiều nghiệp si mê, thường thấy loài súc vật, sò ốc, hoặc dị loại sắc đen. Tuy nhiên, đây chỉ là ước lược, không phải tất cả đều nhứt định như thế: In the dreaming scenes, if the events or scenes result from evil seeds, the practitioner may see various species of worms crawling out of his body, or witness himself, night after night, removing from his body six or seven loathsome creatures with many limbs, such as scorpions or centipedes. Or else, he may see various species of wild animals and or spirits or ghosts. Such realms are innumerable and cannot al be described. In genral, individuals greatly afflicted with greed, who are miserly and wicked, usually see marks of men and women, snakes and serpents and odd species with white features and forms. Those harboring a great deal of anger and resentment usually see tigers and leopards or strange species with red forms and features. Those who are heavily deluded usually see domestic animals, clams, oysters, snails or different species with black forms and features. The above, however, is merely indicative; it does not mean that everything will be exactly as described. • Nếu do chủng tử lành phát hiện, hành giả thấy cây cao hoa lạ, thắng cảnh tươi tốt trang nghiêm, mành lưới châu ngọc; hoặc thấy mình ăn các thứ thơm ngon, mặc đồ trân phục, ở cung điện báu, hay nhẹ nhàng bay lướt trên hư không. Tóm lại, trong tâm của chúng sanh có đủ chủng tử mười pháp giới; chủng tử lành hiện thì thấy cảnh Phật, Bồ Tát, Nhơn, Thiên; chủng tử ác hiện thì thấy cảnh tam đồ tội khổ. Như người kiếp trước có tu theo ngoại đạo, thường thấy mình phóng ra luồng điển, hoặc xuất hồn đi dạo chơi, tiếp xúc với các phần âm nói về chuyện thạnh suy, quốc sự. Hoặc có khi tâm thanh tịnh, trong giấc mơ thấy rõ việc xãy ra đôi ba ngày sau, hay năm bảy tháng sẽ đến. Đại khái người đời trước có tu, khi niệm Phật liền thấy cảnh giới lành. Còn kẻ nghiệp nhiều kém phước đức, khi mới niệm Phật thường thấy cảnh giới dữ; trì niệm lâu ngày ác tướng mới tiêu tan, lần lượt sẽ thấy điềm tốt lành: If the scenes in his dream come from good wholesome seeds, the practitioner sees tall trees and exotic flowers, beautiful scenery, bright adorned with nets of pearls. Or else, he sees himself eating succulent, fragrant food, wearing ethereal garments, dwelling in palaces of diamonds and other precious substances, or flying high in open space. Thus, in summary, all the seeds of the ten Dharma Realms are found in the minds of sentient beings. If wholesome seeds manifest themselves, practitioners view the realms of Buddhas, Bodhisattvas, human, and celestial beings; if evil karma is manifested, they witness scenes from the wretched three Evil Paths. If the cultivator has followed externalist ways in past lives, he usually sees his body emitting electric waves, or his soul leaving the body to roam, meeting demons, ghosts and the like, to discuss politics and the rise and fall of countries and empires. On the other hand, when the practitioner's mind is pure, he will know in his dreams about events that will occur three or fours days, or seven or eight months, hence. In general, those who have cultivated in previous lives will immediately see auspicious realms when reciting the Buddha's name. Those with heavy karma, lacking merit and virtue, will usually see evil realms when they begin Buddha Recitation. In time, these evil omens will disappear and gradually be replaced with auspicious omens. • Về cảnh trong khi thức, nếu hành giả dụng công đến mức thuần thục, có lúc vọng tình thoạt nhiên tạm ngưng, thân ý tự tại. Có lúc niệm Phật đến bốn năm giờ, nhưng tự thấy thời gian rất ngắn như khoảng chừng đôi ba phút. Có lúc đang trì niệm, các tướng tốt lạ hiện ra. Có lúc vô ý, tinh thần bỗng nhiên được đại khoái lạc. Có lúc một động một tịnh, thấy tất cả tâm và cảnh đều không. Có lúc một phen thấy nghe, liền cảm ngộ lý khổ, không, vô thường, vô ngã, dứt tuyệt tướng ta và người. Những tướng trạng như thế nhiều không thể tả xiết!: If the practitioner's efforts have reached a high level, there are times during his walking hours when all deluded feelings suddenly cease for a while, body and mind being at ease and free. At other times, the practitioner may recite for four or five hours but feel that the time was very short, perhaps two or three minutes. Or else, at times during recitation, wholesome omens will appear. At other times, unconsciously, his mind experiences great contentment and bliss. Sometimes, he realizes for a split second that mind and realm are both empty. At other times, just by hearing or seeing something once, he becomes awakened to the truth of suffering, emptiness, impermanence and No-Self, completely severing the marks of self and others. These occurrences are too numerous to be fully described! • Có một Phật tử đang khi thức ngồi trong đêm tối niệm Phật, thoạt thấy dưới đất khắp nền nhà mọc lên hai loại hoa đỏ trắng cao tới thành giường, trên hư không hoa rơi xuống như mưa. Có vị đang khi quỳ niệm Phật, bỗng thấy trước bàn Phật hiện ra đóa hao sen đỏ, từ búp lần lần nở tròn, độ mười lăm phút sau liền tan biến: A layman was once reciting the Buddha's name while seated in the dark. Suddenly he saw two types of flowers, red ones and white ones, springing up all over the floor, reaching as high as the edge of his bed; meanwhile, other flowers were dropping like rain from the sky. Another layman, while kneeling down to recite the Buddha's name, suddenly saw a red lotus flower appear before the altar, its bud gradually opening up and disappearing after a few minutes. • Có một Phật tử đang khi niệm Phật, cảnh giới xung quanh bỗng ẩn mất, trước mắt hiện ra biển nước mênh mông, êm tịnh không sóng gió, trên mặt biển mọc lên vô số hoa sen nhiều màu, đóa nào cũng to lớn; kế đó tướng biển ẩn mất, hiện ra cảnh núi non cỏ hoa tươi tốt, cổ thụ sum suê, có một ngôi chùa nguy nga tráng lệ; tiếp theo tướng chùa núi lại ẩn mất, hiện ra cảnh lưới châu, kết lại rồi đứt, đứt rồi kết lại. Đại loại có rất nhiều cảnh tướng như thế: There was yet another layman who, during recitation, would suddenly see everything around him disappear. In front of his eyes would appear the scene of an immense ocean, calm and still, with no wind or waves whatsoever; countless huge, multicolored lotus blossoms would spring up on the ocean surface. Afterward, the ocean scene would disappear, to be replaced by scenes of mountains, with verdant herbs and flowers, luxuriant century-old trees, and, by and by, a temple complex, sumptuous and magmificent. Then the temple and mountains would disappear, to be replaced by scenes of jewelled nets coming together then drawing apart, drawing apart then coming together again. There are, in general, many such scenes. b) Những cảnh tướng như thế gọi là nội cảnh giới hay tự tâm cảnh giới, do một niệm khinh an hiện ra, hoặc do chủng tử lành của công đức niệm Phật trì chú biến hiện. Những cảnh nầy thoạt hiện liền mất, hành giả không nên chấp cho là thật có rồi để tâm lưu luyến. Nếu sanh niệm luyến tiếc, nghĩ rằng cảnh giới ấy sao mà nhẹ nhàng an vui, sao mà trang nghiêm tốt đẹp, rồi mơ tưởng khó quên, mong cho lần sau lại được thấy nữa, đó là điểm sai lầm rất lớn. Cổ nhân đã chỉ trích tâm niệm nầy là “gải trước chờ ngứa.” Bởi những cảnh tướng ấy do sự dụng công đắc lực tạm hiện mà thôi, chớ không có thật. Nên biết khi người tu dụng công đến trình độ nào tự nhiên cảnh giới ấy sẽ hiện ra: Visionary scenes such as the above, called “internal realms” or “realms of the Self-Mind,” have their origin in a thought of peace and stillness, or are caused by wholesome seeds generated by Buddha or Mantra Recitation. They appear suddenly and are lost immediately. The practitioner should not be attached to them, thinking that they are real, nor should he remember them fondly. It is an extreme mistake to develop nostalgia for them, thinking how ethereal, calm and peaceful, beautiful and well-adorned they were, they day-dream about them, unable to forget them, longing for their reappearance. The ancients have criticized such thoughts as “scratching in advance and waiting for the itch.” This is because these scenes have their origin in diligent exertion and appear temporarily. They have no true existence. We should realize that when the practitioner exerts a certain level of efforts, the scenes and features particular to that level will appear naturally. • Ví như người lữ hành mỗi khi đi qua một đoạn đường, tất lại có một đoạn cảnh vật sai khác hiển lộ. Nếu như kẻ lữ hành chưa đến nhà, mà tham luyến cảnh bên đường không chịu rời bước, tất có sự trở ngại đến cuộc hành trình, và bị bơ vơ giữa đường chẳng biết chừng nào mới về đến nhà an nghỉ. Người tu cũng như thế, nếu tham luyến cảnh giới tạm, thì không làm sao chứng được cảnh giới thật. Thảng như mơ tưởng đến độ cuồng vọng, tất sẽ bị ma phá, làm hư hại cả một đời tu: Take the example of a traveller who views different scenery as he passes along various stretches of the road. If he has not reached home, yet develops such an attachment and fondness for a particular scene along the road that he refuses to proceed, his travel will be impeded. He will then be helplessly lost in the midst of his journey, not knowing when he will finally return home to rest. The practitioner is like that traveller; if he becomes attached to and fond of temporary realms and scenes, he will never attain the true realms. Were he to dream of them to the point of insanity, he would be destroyed by demons and waste an entire lifetime of practice! • Kinh Kim Cang nói: “Phàm có những tướng đều là hư vọng; nếu thấy các tướng chẳng phải tướng, tức thấy Như Lai.” (phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng; nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai). “Có những tướng” không phải “những tướng có” thuộc về pháp hữu vi sanh diệt, bởi các tướng ấy chẳng tự bảo rằng mình có hay không, thật hay giả, chỉ do kẻ chưa ngộ đạo lý động niệm phân biệt, chấp cho là có, không, thật, giả, nên mới thành ra hư vọng. Đến như bậc tham thiền khi nhập định, thấy định cảnh mênh mang rỗng không trong suốt, tự tại an nhàn, rồi sanh niệm ưa thích; hay khi tỏ ngộ được một đạo lý cao siêu, rồi vui mừng chấp giữ lấy, cũng đều thuộc về “có tướng.” Và đã “có tướng” tức là có hư vọng. “Thấy các tướng” là thấy những tướng lành, dữ, đẹp, xấu, dơ, sạch, có, không, Phật, chúng sanh, cho đến cảnh ăm ấm, sáu trần, vân vân, “chẳng phải tướng,” nghĩa là thấy mà đừng chấp trước cũng đừng phủ nhận, cứ để cho nó tự nhiên. Tại sao không nên phủ nhận? Bởi các tướng tuy hư huyễn, nhưng cũng chẳng phải là không; ví như bóng trăng đáy nước, tuy không phải thật có, nhưng chẳng phải không có tướng hư huyễn của bóng trăng. Cho nên trong khi tu, nếu thấy các tướng hiện, đừng lưu ý, cứ tiếp tục dụng công; ví như người lữ hành, tuy thấy cảnh bên đường, nhưng vẫn tiến bước để mau về đến nhà. “Tức thấy Như Lai” là thấy bản tánh Phật, hay thấy được đạo vậy: The Diamond Sutra states: “Everything in this world that has marks is illusory; to see marks as not marks is to see the Tathagata.” Everything that has marks refers here to compounded, conditioned dharmas. Tose marks canot be said either to exist or not to exist, or to be true or false. Delusion arise precisely because unenlightened sentient beings discriminate, become attached and think that these marks exist or do not exist are real or are false. Even the fondness which some Zen practitioners develop for samadhi, upon entering concentration and experiencing this immense, empty, still, transparent, peaceful and free realm, falls into the category of “having marks.” The same is true when these practitioners, once awakened to a certain lofty, transcendental principle, joyfully grasp at it. Once there are marks, there is delusion. “To see marks” means to see such marks as auspicious or evil, good or bad, dirty or clean, existent or non-existent, Buddha or sentient beings, even the realms of the Five Skandas or the Six Dusts, etc. “As not marks” means seeing but neither becoming attached to nor rejecting them, just letting everything be. Why should we not reject them? It is because makrs, while illusory, are not non-existent. This is not unlike the reflection of the moon in the water. Although the reflected moon is not real, this does not mean that there is no illusory mark of moonlight. Therefore, if we see marks appear while we are cultivating, we should disregard them and redouble our efforts, just like the traveller, who views varied scenery en route but must push forward to reach home quickly. “To see the Tathagata” is to see the original Buddha Nature, to see the Way. • Tóm lại, từ các tướng đã kể trên, cho đến sự nhứt tâm, lý nhứt tâm, đều là nội cảnh giới. Cảnh giới nầy có hai phương diện là Tương Tự và Phần Chứng. Cảnh tương tự là tạm thấy rồi liền mất. Cảnh phần chứng là một khi được tất được vĩnh viễn, vì đã chứng ngộ được một phần chân như. Không luận nội cảnh hay ngoại cảnh, nếu là tương tự đều không phải là chân cảnh giới, mà gọi là thấu tiêu tức, nghĩa là không thấu được một phần tin tức của chân tâm. Người thật phát lòng cầu giải thoát, chớ nên đem tướng thấu tiêu tức nhận làm chân cảnh giới. Thấu tiêu tức ví như cảnh trời âm u râm tối, hốt nhiên có trận gió thổi làm mây đem tạm tan, hé ra một chút ánh thái dương, kế đó mây đen lại che khuất. Lại như người xưa cọ cây lấy lửa, trước khi lửa bật lên, tất có tướng khói phát hiện. Chân cảnh giới ví như ánh thái dương sáng suốt giữa trời trong tạnh, và như lúc cọ cây đã lấy được lửa. Tuy nhiên, cũng đừng xem thường thấu tiêu tức, vì có được tướng nầy, mới chứng minh xác thực có chân cảnh giới. Nên từ đó gia công tinh tấn, thì chân cảnh giới mới không xa: In summary, all states of mind, from those described above to the state of one-pointedness of mind, belong to the category of “internal realms.” These realms have two aspects: “Attainment-like” and “Partial attainment.” “Attainment-like” realms appear temporarily and disappear immediately. “Partial attainment” realms are those that once achieved, we have forever, because we have actually attained a part of True Thusness. Regardless of whether it is internal or external, if it is “attainment-like” it is not a True Realm; it is merely a full understanding of some of the manifestations of the True Mind. Practitioners who truly seek liberation should not confuse these aspects, taking attainment-like marks for the True Realm. Attainment-like marks are like a dark, leaden sky which suddenly clears, thanks to the winds which temporarily push away the dark clouds, letting a few rays of sunlight through before the sky becomes overcast again. They also resemble the “mark” of smoke just before the fire, that people used to get when they rubbed two pieces of wood together. The True Realm can be likened to the bright sunlight in a clear and calm sky. It is like rubbing pieces of wood together and already having fire. However, we should not underestimate attainment-like marks, as they demonstrate the genuine existence of the True Realm. If, from that level, we diligently redouble our efforts, the True Realm is not that far away after all. 2) Ngoại Cảnh—External Realms: a) Ngoại cảnh giới là cảnh không phải do nội tâm hiện ra, mà từ bên ngoài đến. Hoặc có hành giả thấy Phật, Bồ Tát hiện thân thuyết pháp, khuyến tấn khen ngợi. Hoặc có hành giả đang khi niệm Phật, thoạt nhiên tâm khai, thấy ngay cõi Cực Lạc. Hoặc có hành giả đang tịnh niệm thấy chư thần tiên đến, chắp tay vi nhiễu xung quanh tỏ ý kính trọng, hoặc mời đi dạo chơi. Hoặc có hành giả thấy các vong đến cầu xin quy-y. Hoặc có hành giả khi mức tu cao, bị ngoại ma đến thử thách khuấy nhiễu: External realms are realms which are not created by the mind, but come from the outside. For example, some practitioners might see Buddhas and Bodhisattvas appearing before them, preaching the Dharma, exhorting and praising them. Others, while reciting the Buddha's name, suddenly experience an awakening and immediately see the Land of Ultimate Bliss. Some practitioners, in the midst of their pure recitation, see deities and Immortals arrive, join hands and circumambulate them respectfully, or invite them for a leisurely stroll. Still other practitioners see “wandering souls of the dead” arrive, seeking to take refuge with them. Yet others, having reached a high level in their practice, have to endure challenges and harassment from external demons. b) Như khi xưa có một Phật tử căn tánh ngu tối, song thường kính niệm Đức Quán Thế Âm. Một đêm nằm mơ thấy Bồ Tát đến bảo nên thường tham cứu bài kệ sau đây, lâu ngày sẽ được khai ngộ: “Đại trí phát nơi tâm Nơi tâm chỗ nào tìm? Thành tựu tất cả nghĩa Không cổ cũng không kim!” For example, there was once a layman of rather dull capacities who constantly woeshipped Avalokitesvara Bodhisattva. During a dream one night, he saw the Bodhisattva urging him to meditate on the following stanza, and in time he would experience a Great Awakening: “Great wisdom develops from the mind Where in the Mind can it be found? To realize all meanings, Is to have neither past nor present.” c) Những tướng trạng kể trên đều gọi là ngoại cảnh giới. Có người hỏi: “Thấy Phật thấy hoa sen, có phải là cảnh ma chăng? Kỳ thật, nếu nhân quả phù hợp, thì quyết không phải là cảnh ma. Bởi tông Tịnh Độ thuộc về “Hữu Môn,” người niệm Phật khi mới phát tâm, từ nơi tướng có mà đi vào, cầu được thấy Thánh cảnh. Đến khi thấy hảo tướng, đó là do quả đến đáp nhân, nhân và quả hợp nhau, quyết không phải là cảnh ma. Trái lại, như Thiền tông, từ nơi “Không Môn” đi vào, khi phát tâm tu liền quét sạch tất cả tướng, cho đến tướng Phật tướng Pháp đều bị phá trừ. Bậc thiền sĩ không cầu thấy Phật hoặc hoa sen, mà tướng Phật và hoa sen hiện ra, đó là nhân quả không phù hợp. Quả không có nhân mà phát hiện, đó mới chính là cảnh ma. Cho nên người tu thiền luôn luôn đưa cao gươm huệ, ma đến giết ma, Phật đến giết Phật, đi vào cảnh chân không, chẳng dung nạp một tướng nào cả: The realms and manifestations summarized above are called “External realms.” Some might ask, “To see Buddhas and lotus blossoms is it not to see demonic apparitions?” If cause and effect coincide, these are not “demonic realms.” This is because the Pure Land method belongs to the Dharma Door of Existence; when Pure Land practitioners first develop the Bodhi Mind, they enter the Way through forms and marks and seek to view the celestial scenes of the Western Pure Land. When they actually witness these auspicious scenes, it is only a matter of effects corresponding to causes. If cause and effect are in accord, how can these be “demonic realms?” In the Zen School, on the other hand, the practitioner enters the Way through the Dharma Door of Emptiness. Right from the beginning of his cultivation, he wipes out all marks, even the marks of the Buddhas or the Dharma are destroyed. The Zen practitioner does not seek to view the Buddhas or the lotus blossoms, yet the marks of the Buddhas or the lotus blossoms appear to him. Therefore, cause and effect do not correspond. For something to appear without a corresponding cause is indeed the realm of the demons. Thus, the Zen practitioner always holds the sword of wisdom aloft. If the demons come, he kills the demons; if the Buddha comes, he kills the Buddha, to enter the realm of True Emptiness is not to tolerate a single mark.
nhị cầu
Hai loại mong cầu—Two kinds of seeking: 1) Đắc cầu: Cầu được những điều khoái lạc sung sướng—Seeking to get something of enjoyment and happiness. 2) Mệnh cầu: Cầu được sống lâu mãi mãi—Seeking long life.
nhị cửu ngũ bộ
(二九五部) Nhị cửu: Hai lần 9 thành 18, chỉ cho 18 bộ Tiểu thừa. Ngũ bộ: Năm bộ, chỉ cho 5 bộ của Luật tông.
Nhị diệt
二滅; C: èrmiè; J: nimetsu;|Hai pháp tịch diệt, đó là: 1. Trạch diệt (pháp tịch diệt nhờ vào công phu giản trạch qua thiền định); 2. Phi trạch diệt (pháp tịch diệt tùy thuận thể tính thanh tịnh của chân như, không nhờ công phu giản trạch qua thiền định).
nhị diệt
(二滅) Chỉ cho Trạch diệt vô vi và Phi trạch diệt vô vi. 1. Trạch diệt vô vi: Pháp vô vi dùng sức chọn lựa của trí tuệ để đoạn diệt phiền não, gọi là Trạch diệt vô vi, cũng chính là Niết bàn.2. Phi trạch diệt vô vi: Pháp vô vi không nhờ sức chọn lựa mà được tịch diệt. Nghĩa là vì thiếu các duyên nên phiền não không sinh, mà tự tịch diệt, gọi Phi trạch diệt vô vi.
Nhị duyên
二縁; C: èryuàn; J: nien;|Hai loại duyên: Nội duyên (内縁) và Ngoại duyên (外縁).
nhị duyên
(二緣) Chỉ cho Nội duyên và Ngoại duyên. 1. Nội duyên: Thân của chúng sinh do các duyên vô minh, ái, nghiệp... sinh ra ấm, giới, nhập (tức 5 ấm, 18 giới, 12 nhập), gọi là Nội duyên. 2. Ngoại duyên: Cái thế giới mà chúng sinh nương ở là do các duyên vọng tưởng sinh ra, gọi là Ngoại duyên. [X. kinh Lăng già Q.2].
nhị dư
(二餘) Chỉ cho 2 cái thừa còn sót lại, tức là cái khổ và phiền não của thân chúng sinh. Nhưng, những người được sinh về thế giới Cực lạc, đều đã sạch hết 2 thứ tàn dư này. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (12, 274 thượng) nói: Sinh thân và phiền não, hai cái tàn dư đều đã hết.
nhị dực
(二翼) Hai cánh chim. Ví dụ các pháp hỗ tương, giúp đỡ nhau mà thành tựu, như Chỉ quán, Chân tục, Phúc trí...
nhị gia
(二加) Chỉ cho 2 loại gia bị. 1. Hiển gia: Gia bị rõ ràng. Nghĩa là đức Phật dùng tâm đại từ bình đẳng, tùy theo căn cơ chúng sinh, nếu ai có thiện căn ở đời trước đã thành thục thì Ngài dùng thần lực gia bị cho họ để họ thuyết pháp, bằng cách xoa đỉnh đầu của người ấy để tăng thêm uy lực cho họ và dùng lời nói khuyên dạy để thêm sức biện tài cho họ. Sự gia bị này hiển nhiên ai cũng thấy được, cho nên gọi là Hiển gia. 2. Minh gia: Gia bị âm thầm. Nghĩa là đức Phật dùng thần lực ý nghiệp gia bị cho Bồ tát để tăng thêm trí tuệ cho vị ấy, hầu thuyết pháp giữa đại chúng mà không sợ hãi. Sự gia bị này ngấm ngầm khó thấy, cho nên gọi là Minh gia . [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1].
nhị giác
(二覺) I. Nhị Giác. Chỉ cho Bản giác và Thủy giác. 1. Bản giác: Tính giác trong thức A lại da vốn xa lìa vọng niệm, đó là Pháp thân bình đẳng của Như lai, gọi là Bản giác.2. Thủy giác: Tính giác bị vô minh huân tập, mê mờ trong nhiều kiếp, nên giác mà chẳng giác, sau nhờ công tu hành mới dần dần giác ngộ. II. Nhị Giác. Chỉ cho Độc giác và Đại giác. 1. Độc giác, cũng gọi Duyên giác, Bích chi phật. Người quán xét sự vô thường của các pháp, như hoa tàn lá rụng, thấu suốt lí 12 nhân duyên, không thầy chỉ dạy mà tự giác ngộ. 2. Đại giác: Danh xưng khác của đức Phật.[X. luận Câu xá Q.25]. III. Nhị Giác. Chỉ cho Đẳng giác và Diệu giác. Hai giác trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát Đại thừa. 1. Đẳng giác: Giai vị thứ 51. 2. Diệu giác: Quả vị thứ 52. [X. Giáo thừa pháp số Q.2]. IV. Nhị Giác. Chỉ cho Tự giác và Giác tha. 1. Tự giác: Tự mình giác ngộ thực tướng các pháp. 2. Giác tha: Đem công đức tự giác của mình làm cho khắp tất cả chúng sinh đều giác ngộ. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.4]. V. Nhị Giác. Chỉ cho Chân giác và Vọng giác. 1. Chân giác (Quán sát giác): Trí quán xét thể tướng của hết thảy pháp chẳng phải 1 cũng chẳng phải khác mà giác ngộ. 2. Vọng giác (Vọng tưởng tương nhiếp thụ kế trước kiến lập giác): Giác trí dùng vọng tưởng tính lường phân biệt tướng của 4 đại (đất, nước, lửa, gió)rồi nắm giữ lấy mà kiến lập vọng pháp. [X. kinh Lăng già a bạt đa la bảo Q.2].
nhị giáo
(二教) Hai loại giáo pháp. Sự phân loại này được căn cứ vào sự sai khác về ý nghĩa nội dung, phương pháp thực hành, hình thức thuyết pháp, người thuyết giáo (tức giáo chủ) và đối tượng thụ giáo. Sự phân loại đó như sau: 1. Tiểu thừa giáo và Đại thừa giáo: Tiểu thừa giáo chỉ cho giáo pháp nhân không (ngã không), tự lợi... đưa hàng Thanh văn, Duyên giác đến Tiểu quả Khôi diệt (tức khôi thân diệt trí–thân tro, trí diệt); còn Đại thừa giáo thì chỉ cho giáo pháp nhị không (ngã không, pháp không), nhị lợi(tự lợi, lợi tha), đưa hàng Bồ tát đến đại quả Niết bàn. 2. Bán tự giáo và Mãn tự giáo: Bán tự giáo chỉ cho Thanh văn tạng, nghĩa lí chưa rộng khắp; còn Mãn tự giáo chỉ cho Bồ tát tạng, nghĩa lí đã đầy đủ. Thuyết này do ngài Đàm vô sám thành lập. 3. Sinh không giáo và Pháp không giáo: Sinh không giáo chỉ cho giáo pháp nói về lí nhân vô ngã; còn Pháp không giáo là giáo pháp nói về lí pháp vô ngã. 4. Đốn giáo và Tiệm giáo: Đốn giáo chỉ cho giáo pháp đối với hàng đại cơ thượng trí, trong nhất thời tuyên thuyết ngay Đại thừa; còn Tiệm giáo là giáo pháp tùy theo căn cơ tiệm ngộ, theo thứ lớp giảng nói từ A hàm cho đến Niết bàn, lần lượt trải qua 5 thời, 7 bậc... Thuyết này là chủ trương của các vị Lưu cầu đời Tề và Tuệ đản đầu đời Đường... 5. Tam thừa giáo và Nhất thừa giáo: Tam thừa giáo chỉ cho giáo pháp khu biệt Tam thừa: Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát; hoặc mới đầu tu tập Tiểu thừa, sau hướng tới Đại thừa; còn Nhất thừa giáo chỉ cho pháp môn Hoa nghiêm Nhất Phật thừa, hoặc chỉ cho giáo pháp trực chỉ. Thuyết này do ngài Tín hành thành lập vào đời Tùy. 6. Quyền giáo và Thực giáo: Quyền giáo chỉ cho giáo pháp quyền biến phương tiện chưa liễu nghĩa; còn Thực giáo là giáo pháp chân thực rốt ráo liễu nghĩa. 7. Xứng tính bản giáo và Trục cơ mạt giáo: Xứng tính bản giáo chỉ cho pháp môn Biệt giáo nhất thừa của Hoa nghiêm; còn Trục cơ mạt giáo là giáo pháp từ Biệt giáo nhất thừa lưu xuất ra, tức chỉ cho Tam thừa và Tiểu thừa. 8. Hữu tướng Đại thừa giáo và Vô tướng Đại thừa giáo: Hữu tướng Đại thừa giáo chỉ cho kinh Hoa nghiêm, kinh Anh lạc, kinh Đại phẩm bát nhã... là các kinh nói về công đức và hành tướng của bồ tát Thập địa; còn Vô tướng Đại thừa chỉ cho kinh Lăng già, kinh Tư ích... là các kinh nói tất cả chúng sinh tức là tướng Niết bàn.9. Hóa giáo và Chế giáo: Hóa giáo chỉ cho pháp môn định tuệ được giải thích rõ trong kinh luận, tức chỉ cho các kinh luận Đại, Tiểu thừa; còn Chế giáo là pháp môn giới học được giải thích trong luật giáo, tức chỉ cho luật Tứ phần... 10. Giáo và Thiền: Giáo chỉ cho các kinh luận, còn Thiền thì không lập văn tự. 11. Hiển giáo và Mật giáo: Hiển giáo chỉ cho giáo pháp hiển lộ rõ ràng, còn Mật giáo là giáo pháp bí mật kín đáo. Tông Chân ngôn tự nhận là Mật giáo mà cho các tông khác là Hiển giáo. 12. Khuất khúc giáo và Bình đạo giáo, cũng gọi Ấn giáo và Sư giáo: Khuất khúc giáo chỉ cho kinh do đức Phật Thích ca nói, phương tiện uyển chuyển, là giáo pháp thuận theo tính chất năng lực của chúng sinh, như kinh Niết bàn...; còn Bình đạo giáo thì chỉ cho kinh do đức Phật Tì lô giá na tuyên thuyết, là giáo pháp tùy thuận pháp tính, tự tại nói ra, cũng tức là nói lí pháp tính bình đẳng, như kinh Hoa nghiêm... Thuyết này do Ấn pháp sư thành lập vào đầu đời Đường. 13. Thích ca kinh và Lô giá na kinh: Thích ca kinh chỉ cho các kinh điển Khuất khúc giáo do đức Thích tôn tuyên thuyết, như kinh Niết bàn...; còn Lô giá na kinh là các kinh điển Bình đẳng đạo giáo do đức Phật Tì lô giá na nói ra, như kinh Hoa nghiêm... Thuyết này do Mẫn pháp sư ở Giang nam lập ra. 14. Đồng giáo nhất thừa và Biệt giáo nhất thừa: Đồng giáo nhất thừa chỉ cho nghĩa chung của cả Tam thừa và Nhất thừa, còn Biệt giáo nhất thừa là tư tưởng đặc biệt của Hoa nghiêm nhất thừa hoàn toàn khác với giáo nghĩa Tam thừa. Đây là giáo phán của tông Hoa nghiêm. 15. Thích ca giáo và Di đà giáo, cũng gọi Nhị tôn giáo: Thích ca giáo chỉ cho yếu môn, còn Di đà giáo là chỉ cho hoằng nguyện. Thuyết này có xuất xứ từ Quán kinh sớ huyền nghĩa phần của Đại sư Thiện đạo, về sau trở thành 1 trong các giáo nghĩa quan trọng của tông Tịnh độ Nhật bản. 16. Yếu môn giáo và Hoằng nguyện giáo: Yếu môn giáo chỉ cho giáo pháp định tán tự lực, còn Hoằng nguyện giáo thì chỉ cho giáo pháp niệm Phật tha lực. Thuyết này do Tịnh độ chân tông của Nhật bản thành lập. 17. Tướng đốn giáo và Tính đốn giáo: Do phái Trấn tây thuộc tông Tịnh độ thành lập. Ngoài ra, Nhị giáo cũng có khi được chỉ cho Phật giáo và Đạo giáo. [X. chương Tổng liệu giản trong Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1; Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 1; Hoa nghiêm huyền đàm Q.4; Pháp hoa huyền nghĩa Q.10; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1].
nhị giáo luận
(二教論) I. Nhị Giáo Luận. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đạo an soạn vào đời Bắc Chu, được thu vào Quảng hoằng minh tập quyển 8. Sách này gồm 12 thiên, được viết theo thể vấn đáp, nội dung trình bày yếu chỉ và so sánh sự hơn kém giữa Phật giáo và Nho giáo.[X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Tục cao tăng truyện Q.23]. II. Nhị Giáo Luận. Gọi đủ: Biện hiển mật nhị giáo luận. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Không hải –vị tăng người Nhật– soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 77. Luận này thuộc về Hoành giáo trong giáo phán của tông Chân ngôn, nội dung bàn về sự hơn kém, sâu cạn của Hiển giáo và Mật giáo, chủ trương rằng những điều được nói trong Mật giáo là cảnh giới mà đức Phật đã chứng ngộ, là giáo pháp chân thực.
nhị giáo lục lí
(二教六理) Hai thứ giáo chứng và 6 thứ lí luận mà tông Pháp tướng sử dụng để chứng minh sự tồn tại của thức Mạt na. Nhị giáo: Tức là viện dẫn kinh Nhập lăng già và kinh Giải thoát để chứng minh. Lục lí: Tức là nêu ra 6 lí do để chứng minh. Đó là: 1. Bất cộng vô minh. 2. Lục nhị duyên. 3. Ý danh. 4. Định sai biệt. 5. Vô tướng hứa hữu nhiễm. 6. Hữu tình ngã bất thành. [X. luận Thành duy thức Q.5; Thành duy thức luận thuật kí Q.5, phần cuối].(xt. Mạt Na Thức).
nhị giả
(二假) I. Nhị Giả. Chỉ cho Vô thể tùy tình giả và Hữu thể thi thiết giả. 1. Vô thể tùy tình giả: Người thế gian chấp cảnh ở ngoài tâm là thực ngã, thực pháp, thể của các pháp này chỉ là vọng tình, thuộc tính Biến kế sở chấp, chứ không có thực thể, nhưng người đời theo vọng tình mà chấp ngã pháp hư giả là thực có, nên gọi là Vô thể tùy tình giả. 2. Hữu thể thi thiết giả: Nương theo tính Y tha khởi mà giả bày đặt ra ngã pháp, tức là kiến phần và tướng phần do thức bên trong biến hiện là pháp Y tha, từ chủng tử thực mà sinh ra, có thể dụng thực, căn cứ vào thể dụng này mà giả đặt cho cái tên ngã pháp, cho nên gọi là Hữu thể thi thiết giả. Đây là danh từ ngã pháp mà Phật giáo thường dùng. [X. luận Thành duy thức Q.1; Tông kính lục Q.67]. II. Nhị Giả. Chỉ cho Sinh tử giả và Kiến lập giả(Thuật ngữ của tông Thiên thai). 1. Sinh tử giả, cũng gọi Vọng giả. Nghĩa là chúng sinh vì mê vọng, chẳng biết lí không và bình đẳng của các pháp, nên mới cho các pháp là có thật. 2. Kiến lập giả, cũng gọi Thi thiết giả. Nghĩa là bậc Thánh biết rõ lí không và bình đẳng của các pháp, dùng mắt xuất thế gian, quán chiếu sinh tử giả tức là lí không mà cho các pháp là có giả. [X. Kim quang minh huyền nghĩa thập di kí Q.5].
nhị giải thoát
(二解脫) Hai thứ giải thoát. Giải thoát là gỡ bỏ sự trói buộc của nghiệp chướng mà được tự tại. Có nhiều thuyết về Nhị giải thoát như sau: I. Hữu vi giải thoát và Vô vi giải thoát. 1. Hữu vi giải thoát: Chân trí vô lậu của bậc A la hán. 2. Vô vi giải thoát: Tất cả phiền não đã bị trừ diệt, tức cũng là Niết bàn. [X. luận Câu xá Q. 25]. II. Tính tịnh giải thoát và Chướng tận giải thoát. 1. Tính tịnh giải thoát: Tự tính của chúng sinh vốn thanh tịnh, không có tướng ràng buộc ô nhiễm. 2. Chướng tận giải thoát: Dứt hết hoặc chướng mà được giải thoát, tự tại. III. Tuệ giải thoát và Câu giải thoát. 1. Tuệ giải thoát: Người có khả năng dùng trí tuệ để xa lìa tất cả phiền não chướng, nhưng chưa được định Diệt tận, tức dùng sức trí tuệ diệt trừ phiền não mà được giải thoát. 2. Câu giải thoát: Dùng trí tuệ kết hợp với năng lực của định Diệt tận mà được giải thoát. [X. luận Câu xá Q.25]. IV. Nhất thời giải thoát và Bất thời giải thoát. 1. Nhất thời giải thoát: Bậc A la hán độn căn đợi thời cơ thích hợp mới nhập định để thoát khỏi sự ràng buộc của phiền não. 2. Bất thời giải thoát: Bậc A la hán lợi căn không cần chờ thời, mà có thể nhập định bất cứ lúc nào để trút bỏ sự trói buộc của phiền não. [X. luận Câu xá Q.25]. V. Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát. 1. Tâm giải thoát: Tâm đã xa lìa tất cả hệ lụy của tham ái... 2. Tuệ giải thoát: Tuệ đã gột sạch mọi phiền não vô minh. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; Đại thừa nghĩa chương Q.18].
nhị giới
(二戒) Căn cứ vào những điều kiện khác nhau mà giới luật có thể được chia làm những loại Nhị giới như sau: 1. Tính giới và Gia giới: Tính giới là Tính tội, Gia giới là Gia tội. Còn có các tên gọi khác như: Tân giới và Cựu giới, Chủ giới và Khách giới, Tính trọng giới và Tức thế cơ hiềm giới, Tính trọng giới và Li ác giới, Tính giới và Li giới. [X. kinh Niết bàn Q.11 (bản Nam); kinh Chính pháp niệm xứ Q.59; Ma ha chỉ quán Q.4].2. Định cộng giới và Đạo cộng giới: Dịch mới là Tĩnh lự luật nghi và Vô lậu luật nghi (Đạo sinh luật nghi). a) Định cộng giới: Giới thể ngăn sai trái, ngừa tội lỗi mà bậc Thánh Tam thừa tự nhiên phát được khi vào định cõi Sắc. b) Đạo cộng giới: Bậc Thánh Tam thừa khi phát được đạo Vô lậu thì tự nhiên khế hợp với luật nghi bỏ ác tu thiện. 3. Chỉ trì giới và Tác trì giới: Chỉ cho 2 loại Chỉ ác, Tu thiện của giới luật. (xt. Nhị Trì). 4. Thiện giới và Ác giới, cũng gọi Chính giới và Tà giới. a) Thiện giới: Tùy thuận pháp thế gian, luật Phật chế, đối với thân, khẩu, ý ngăn ngừa sai quấy, tội lỗi. b) Ác giới: Chỉ cho các giới của ngoại đạo tà kiến như giới bò, giới chó... [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Nam); Hoa nghiêm huyền đàm Q.4]. 5. Thế gian giới và Xuất thế gian giới, cũng gọi Tại gia giới và Xuất gia giới: a) Tại gia giới: 5 giới, 8 giới. b) Xuất gia giới: 10 giới, 6 pháp, giới Cụ túc của người xuất gia thụ trì. 6. Thanh văn giới và Bồ tát giới, cũng gọi Tiểu thừa giới và Đại thừa giới, Tiểu giới và Đại giới. a) Thanh văn giới: Giới luật do các bậc Thánh Tiểu thừa thụ trì, như: 5 giới, 8 giới, 10 giới, Cụ túc giới. b) Bồ tát giới: Giới pháp do các bậc Bồ tát Đại thừa thụ trì, như: 10 giới trọng, 48 giới khinh. [X. kinh Niết bàn Q.26 (bản Nam)]. 7. Tác giới và Vô tác giới, cũng gọi Biểu giới và Vô biểu giới, Giáo giới và Vô giáo giới.a) Tác giới: Nương theo các thứ biểu nghiệp mà thụ giới. b) Vô tác giới: Do đã thụ giới mà thân được giới thể. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Nam); Đại thừa nghĩa chương Q.10]. 8. Quyền giới và Thực giới, cũng gọi Thô giới và Diệu giới. a) Quyền giới: Giới luật của Quyền giáo, tức các giới Tiểu thừa như: 5 giới, 8 giới, 10 giới, Cụ túc giới và các giới Đại thừa như: Du già, Thiện giới... đều là thô giới của Tam thừa cùng chung thụ trì và là thô giới cạn hẹp của Tạng giáo và Thông giáo trong giới nội (3 cõi). b) Thực giới: Giới luật của Thực giáo, như 10 giới trọng, 48 giới khinh nói trong kinh Phạm võng, là diệu giới của Biệt giáo, Viên giáo và Bồ tát giới ngoại (ngoài 3 cõi) thụ trì. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.4]. 9. Sự giới và Lí giới, cũng gọi Tùy tướng giới và Li tướng giới. a) Sự giới: Thụ trì những giới luật về sự tướng như 3 nghiệp, 4 uy nghi và các giới Đại thừa, Tiểu thừa như Tứ phần, Du già, Phạm võng...đều thuộc về Sự giới. b) Lí giới: Giới mà không thấy giới tướng, chỉ lấy tâm an trụ nơi 3 quán Không, Giả, Trung làm giới luật, như Viên đốn đại giới. [X. Ma ha chỉ quán Q.4, phần 1]. 10. Uy nghi giới và Tòng giới. a) Uy nghi giới: Tuy có thụ giới, nhưng bề ngoài hiện tướng uy nghi chỉ vì danh lợi và muốn được mọi người tôn kính, chứ không thực tâm giữ giới. b) Tòng giới: Thuận theo giới luật Phật chế, 3 nghiệp thanh tịnh, trong ngoài giống nhau, giữ gìn giới hạnh đúng như thực. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Nam)]. 11. Cầu giới và Xả giới. a) Cầu giới: Cầu mong được quả báo trong 3 cõi mà thụ giới. b) Xả giới: Xả bỏ quả báo trong 3 cõi, chân thực thụ trì giới pháp. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Nam)].
nhị hiếp sĩ
(二脅士) Cũng gọi Nhị hiệp sĩ. Hai vị Bồ tát đứng hầu hai bên đức Trung tôn. Như 2 bồ tát Quan âm và Thế chí đứng 2 bên đức Di đà Như lai, 2 bồ tát Nhật quang và Nguyệt quang ở 2 bên đức Dược sư Như lai và 2 bồ tát Văn thù, Phổ hiền ở hai bên đức Thích ca Như lai..
nhị hiện
(二現) Chỉ cho 2 loại thân tướng tốt đẹp đặc biệt tôn quí của đức Phật, 1 loại cần ứng hiện, 1 loại không cần ứng hiện. 1. Cần hiện: Ứng hiện trượng sáu mà đức Phật thị hiện để giáo hóa những người chưa khai phát mắt tuệ trung đạo, là thân tướng rộng lớn vô biên. 2. Không cần hiện: Với những người đã khai phát mắt tuệ trung đạo, thườngquán tưởng thân Phật trượng sáu là thân mầu nhiệm trùm khắp pháp giới, cho nên Phật không cần ứng hiện nữa. [X. Quán kinh diệu tông sao Q.hạ].
nhị hoa
(二花) Chỉ cho Thảo mộc hoa và Nghiêm thân hoa.1. Thảo mộc hoa: Tất cả hoa cỏ cây đều mang nghĩa nở hoa kết trái, dùng để ví dụ nhân của muôn hạnh tu, tức có khả năng thành tựu quả Phật. 2. Nghiêm thân hoa: Các loại hoa bằng vàng, ngọc... ở thế gian đều dùng để làm đẹp thân thể, ví dụ thần thông, tướng hảo, có thể trang nghiêm Pháp thân. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.3].
nhị hoà
(二和) Chỉ cho 2 loại hòa hợp là Lí hòa và Sự hòa của chúng tăng. 1. Lí hòa: Tức bậc Thánh Nhị thừa, cùng phá trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, cùng chứng lí Vô vi. 2. Sự hòa: Tức chúng tăng cùng ở trong 1 khu vực kết giới, 3 nghiệp thân khẩu ý không chống trái. Sự hòa có 6 thứ gọi là Lục hòa:- Giới hòa cùng tu. - Kiến hòa cùng hiểu. - Thân hòa cùng ở. - Lợi hòa cùng chia đều. - Khẩu hòa không tranh cãi. - Ý hòa cùng vui. [X. Phiên dịch danh nghĩa Q.1].
Nhị hoặc
二惑; C: èrhuò; J: niwaku;|Hai thứ phiền não: 1. Kiến tu hoặc (見修惑): Kiến hoặc được đoạn trừ ở giai vị Kiến đạo và Tu hoặc được đoạn trừ ở giai vị Tu đạo; 2. Hai loại phiền não lớn và nhỏ (Đại tiểu nhị hoặc 大小二惑).
nhị hoặc
The two aspects of illusion: (1) kiến hoặc, perplexities or illusions and temptations arise from false views or theories; (2) tư hoặc, ditto from thoughts arising from contact with the world, or by habit.
; (二惑) I. Nhị Hoặc. Chỉ cho Kiến hoặc và Tu hoặc. 1. Kiến hoặc: Phiền não mê lầm nổi lên vì suy tính so đo 1 cách tà vạy, như ngã kiến, biên kiến... Các phiền não này được đoạn trừ ở giai vị Kiến đạo. 2. Tu hoặc, cũng gọi Tư hoặc. Những phiền não sinh khởi do suy tư về những sự vật thế gian, như tham, sân, si... Những phiền não này được dứt trừ ở giai vị Tu đạo.[X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Kiến Hoặc, Tu Hoặc). II. Nhị Hoặc. Chỉ cho Lí hoặc và Sự hoặc. Tạng giáo và Thông giáo cho Kiến hoặc là mê lí Tứ đế như vô thường, vô ngã... nên gọi là Lí hoặc. Còn Tu hoặc là mê nơi sự tướng thế gian như sắc, thanh... đó là Sự hoặc. Biệt giáo và Viên giáo chủ trương Căn bản vô minh che lấp lí trung đạo, đó là Lí hoặc. Còn Trần sa hoặc hay làm chướng ngại Bồ đề, ngăn che pháp tục đế; Kiến - Tư hoặc thì hay chướng ngại Niết bàn, ngăn che pháp chân đế, cả 2 đều là Sự hoặc. Ngoài ra, nói theo Phiền não chướng và Sở tri chướng do tông Pháp tướng lập ra, thì Phiền não chướng mê lí Niết bàn, nên là Lí hoặc, còn Sở tri chướng thì mê về sự tướng tục đế, đó là Sự hoặc. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.7; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.6].
Nhị huệ
二慧 (惠); C: èrhuì; J: nie;|Hai loại trí tuệ, Văn tư 聞思.
nhị hà bạch đạo
(二河白道) Một đường sáng giữa 2 dòng sông nước và lửa. Ví dụ này được thấy trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện đạo thuộc tông Tịnh độ. Hai dòng sông nước và lửa ví dụ cho tâm tham dục và sân hận của chúng sinh, khoảng chính giữa 2 dòng sông có 1 con đường sáng là ví dụ tâm thanh tịnh nguyện vãng sinh. Sự gian nguy của đạo tâm giống như người đi trên con đường hiểm trở, một bên là nước sâu, một bên là lửa mạnh, ngã xuống bên nào cũng mất mạng. Dựa theo ý nghĩa này mà vẽ thành bức tranh gọi là Nhị hà bạch đạo đồ. [X. luận Đại trí độ Q.37; phần Tán thiện nghĩa trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.4].
nhị hành
(二行) I. Nhị Hành. Chỉ cho sự hiện hành của Phiền não chướng và Sở tri chướng. Kinh Hoa nghiêm quyển 12 (Đại 10, 57 hạ) nói: Diệu ngộ đầy đủ, nhị hành dứt bặt.II. Nhị Hành. Chỉ cho 2 thứ tâm hành. 1. Kiến hành: Tức là Kiến hoặc. 2. Ái hành: Tức là Ái hoặc.
nhị hình
(二形) Phạm: Ubhayavyaĩjanaka. Hán dịch: Nhị tướng giả, Nhị căn giả. Người có cả 2 bộ phận sinh thực khí nam và nữ, sinh lí khác thường. Chiếu theo giới luật của Phật, hạng người này không được xuất gia, thụ giới. [X. luật Ma ha tăng kì Q.23; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.8; luận Du già sư địa Q.53]. (xt. Thập Tam Nạn Thập Già).
Nhị hạnh
二行; C: èrxíng; J: nigyō;|Có các nghĩa: 1. Kiến hành (見行) và Ái hành (愛行); 2. Hai loại hiện hành Phiền não chướng (煩惱障) và Sở tri chướng (所知障); 3. Chính hạnh (正行) và Tạp hạnh (雜行); 4. Ngã hạnh (我行) và Ngã sở nghiệp (我所業).
nhị hạnh
(二行) I. Nhị Hạnh. Chỉ cho Tự lợi hạnh và Lợi tha hạnh. 1. Tự lợi hạnh: Tu hành lợi ích cho chính mình. 2. Lợi tha hạnh: Tu hành làm lợi ích cho người khác. II. Nhị Hạnh. Chỉ cho Chính hạnh và Tạp hạnh. 1. Chính hạnh: Chỉ chuyên tâm niệm Phật cầu vãng sinh. 2. Tạp hạnh: Ngoài việc niệm Phật còn làm các điều phúc thiện khác. (xt. Ngũ Chính Hạnh, Ngũ Tạp Hạnh).
nhị hạnh phế lập
(二行廢立) Hai hành bỏ 1, lập 1. Đối với các hành nghiệp vãng sinh, tông Tịnh độ so sánh sự hơn kém giữa 2 hạnh niệm Phật và làm các việc phúc thiện, cho rằng các việc phúc thiện là kém nên bỏ, còn niệm Phật là hơn nên giữ lại. Ngài Đạo xước dùng Các việc thiện là vạn hạnh, niệm Phật là nhất hạnh làm tiêu chuẩn để quyết định hạnh nào nên bỏ, hạnh nào nên tu. An lạc tập quyển hạ (Đại 47, 15 thượng) nói: Nếu tu vạn hạnh mà hồi hướng phát nguyện thì đều được vãng sinh, nhưng niệm Phật nhất hạnh mới là con đường chính yếu.
nhị học
(二學) I. Nhị Học. Chỉ cho Đọc tụng và Thiền tư. 1. Đọc tụng: Đọc tụng kinh do Phật nói và ngữ lục của các vị Tổ sư. 2. Thiền tư: Ngồi thiền tu quán hạnh. [X. Thích thị yếu lãm Q.trung). II. Nhị Học. Chỉ cho Định học và Tuệ học. (xt. Giới Định Tuệ).
nhị hồi hướng tứ nguyện
(二回向四願) Hai thứ hồi hướng và 4 thứ nguyện. Cứ theo bộ sách Giáo hành tín chứng, Tịnh độ chân tông của Nhật bản nêu ra 2 thứ hồi hướng: Một là Vãng tướng hồi hướng, hai là Hoàn tướng hồi hướng. Đây chính là nhân quả (4 pháp: Giáo, Hành, Tín, Chứng) vãng sinh Cực lạc của chúng sinh (Vãng tướng) và năng lực trở lại thế giới Sa bà (Hoàn tướng) sau khi vãng sinh để cứu độ chúng sinh khác. Tất cả điều đó đều nhờ nguyện lực của đức Phật A di đà mà có, gọi là Nhị hồi hướng. Trong đó, Vãng tướng hồi hướng là căn cứ vào các lời nguyện thứ 17 (hành), 18 (tín) và 11 (chứng) của đức Phật A di đà mà được thành lập. Còn Hoàn tướng hồi hướng thì căn cứ vào lời nguyện thứ 22 mà được lập ra, vì thế gọi là Nhị hồi hướng tứ nguyện. (xt. Tứ Pháp Tam Nguyện, Bản Nguyện).
nhị hộ
(二護) Nội hộ và Ngoại hộ. 1. Nội hộ: Giữ gìn giới luật do đức Phật chế định, khiến cho thân tâm xa lìa những lỗi lầm của 3 nghiệp, chóng thành quả Bồ đề, gọi là Nội hộ. 2. Ngoại hộ: Phàm người tu hành, những nhu cầu hằng ngày đều do tín đồ hoặc họ hàng thân tộc cung cấp, nhờ thế mà thân tâm được an ổn để hoàn thành đạo nghiệp. Những sự hộ trì từ bên ngoài như vậy, gọi là Ngoại hộ. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.32 (bản Bắc)].
Nhị không
二空; C: èrkōng; J: nikū;|Hai loại tính không. Có nhiều thuyết: 1. Các yếu tố cấu thành sự hiện hữu (pháp) cũng như chủ thể nhận thức về hiện hữu ấy (ngã) đều là không. 2. Người biết và vật được nhận biết đều không; 3. Đãn không và Bất đãn không; 4. Tính không và Tướng không.
nhị không
The two voids, unrealities, or immaterialities.
; (二空) Hai thứ không. Về tên gọi cũng như cách giải thích trong các kinh luận có khác nhau. I. Nhân không và Pháp không, gọi chung là Nhân pháp nhị không, Sinh pháp nhị không. Nhân không cũng gọi Ngã không, Sinh không, tức là chân lí nhân ngã không vô. Người phàm phu vọng chấp 5 uẩn(sắc thụ tưởng hành thức)là ngã, cho ngã là chủ tể, sinh ra phiền não, tạo ra các nghiệp. Để phá trừ cái vọng chấp ấy nên đức Phật nói lí 5 uẩn vô ngã, cho rằng ngã chỉ là sự hòa hợp giả tạm của 5 uẩn, hoàn toàn không có chủ tể thường nhất. Hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác nghe lời Phật dạy mà vào được lí vô ngã, gọi là Nhân không. Pháp không, tức là chân lí các pháp không vô. Hàng Nhị thừa khi chưa đạt được lí pháp không thì vẫn còn chấp 5 uẩn là thực có, vì phá trừ vọng chấp này nên Phật nói Bát nhã thâm tuệ, khiến họ thấy suốt tự tính 5 uẩn đều không. Hàng Bồ tát nghe lời dạy ấy của Phật mà vào được lí các pháp đều không, gọi là Pháp không. [X. luận Đại trí độ Q.93; luận Thành duy thức Q.1]. II. Đãn không và Bất đãn không. Có 2 nghĩa: a) Trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên thì Tạng giáo và Thông giáo không thấu rõ 3 đế Không, Giả, Trung, mà quán xét tất cả pháp thảy đều hư ảo, cứ theo lí không ấy mà dẫn đến lí tột bực là chỉ thấy không chứ chẳng thấy bất không, cho nên gọi là Đãn không. Còn cái không của Biệt giáo và Viên giáo là cái không của 3 đế tương tức, chẳng những chỉ thấy không mà còn thấy cả bất không, bất không tức trung đạo, cho nên gọi là Bất đãn không. b) Đứng về phương diện Tạng giáo và Thông giáo mà nói, thì Tích không quán của Tạng giáo là Đãn không, còn Thể không quán của Thông giáo là Bất đãn không. Đó là vì trong Thể không có bao hàm lí trung đạo.[X. Ma ha chỉ quán Q.3; Thất thiếp kiến văn Q.2, phần cuối]. III. Tính không và Tướng không, gọi chung là Tính tướng nhị không. Các pháp không có thực tính, gọi là Tính không; các pháp đã không có thực tính, mà chỉ có cái tướng giả danh, nhưng tướng này cũng chẳng phải thực có, nên gọi là Tướng không. [X. Ma ha chỉ quán Q.5]. IV. Như thực không và Như thực bất không: Trong thể chân như không có tất cả vọng nhiễm, nhưng hiển bày cái thực 1 cách hoàn toàn, vì thế gọi là Như thực không. Tuy nhiên, trong thể chân như có đầy đủ tất cả công đức vô lậu, cho nên gọi là Như thực bất không. [X. luận Đại thừa khởi tín]. V. Quyền không và Thực không, gọi chung là Quyền thực nhị không. Nghĩa là lí Sinh không mà hàng Nhị thừa ngộ nhập là Quyền không; còn lí Sinh pháp nhị không mà hàng Bồ tát ngộ nhập là Thực không. [X. luận Bảo tính; luận Biện trung biên Q.thượng; Đại thừa huyền luận Q.4]. Ngoài ra, trong Mật giáo, khi kết ấn khế, dùng 5 ngón tay phối hợp với 5 luân mà gọi đất là ngón út, nước là ngón vô danh, lửa là ngón giữa, gió là ngón trỏ và không là ngón cái, bởi thế, khi nói Nhị không tức là chỉ cho 2 ngón tay cái vậy.
nhị không chân như
(二空真如) Cũng gọi Nhị không chân lí. Chỉ cho Nhân không chân như và Pháp không chân như. Nhân không chân như là chân như được hiển bày khi không còn nhân ngã; Pháp không chân như là chân như được hiển bày khi không còn pháp ngã. (xt. Chân Như).
nhị không quán
Two kinds of meditation on the void, or unreality.
; (二空觀) Pháp quán xét về 2 cái không. 1. Quán xét nhân không và pháp không để đoạn trừ phiền não chướng và sở tri chướng. 2. Vô sinh quán và Vô tướng quán: a) Vô sinh quán: Các pháp không có tự tính, do nhân duyên sinh ra, tuy sinh nhưng chẳng phải thực có, nên là không; tính tự chẳng sinh nên gọi Vô sinh. Pháp quán này tương đương với Tính không quán trong Nam sơn tam quán. b) Vô tướng quán: Thể tính của pháp hư giả không vô, phàm phu vọng chấp tướng các pháp, như thấy hoa đốm giữa hư không mà cho là có thực; nếu xa lìa vọng tình thì có thể thấy tướng các pháp là không. Pháp quán này tương đương với Tướng không quán trong Nam sơn tam quán. [X. Du tâm pháp giới kí Q.thượng]. (xt. Nam Sơn Tam Quán).
nhị khổ
Two kinds of sufferings: within, e.g. sickness, sorrow; from without, e.g. calamities.
; (二苦) Chỉ cho 2 thứ khổ là Nội khổ và Ngoại khổ.1. Nội khổ: Khổ bên trong, như 404 thứ bệnh của thân và những nỗi khổ về tâm như lo sầu, ganh ghét... 2. Ngoại khổ: Khổ bên ngoài, như bị giặc cướp, hổ lang làm hại, hoặc những thiên tai như gió, mưa, nóng, lạnh... [X. luận Đại trí độ Q.19].
Nhị kiến
二見; C: èrjiàn; J: niken;|Hai quan niệm, hai kiến giải. Có nhiều nghĩa: 1. Thường kiến (常見) và Đoạn kiến (斷見), còn được gọi là Hữu kiến (有見) và Vô kiến (無見); 2. Tỉ lượng (比量) và Hiện lượng (現量); 3. Thân kiến (身見) và Biên kiến (邊見), gồm hai loại đầu trong Thập hoặc (十惑).
nhị kiến
Two wrong views.
; Chấp thật kiến giải tương đối, như: hữu vô, đoạn thường, thủy chung, sanh diệt… đều gọi là nhị tướng.
; (二見) Hai loại kiến. I. Đoạn kiến và Thường kiến, cũng gọi Hữu kiến và Vô kiến. 1. Đoạn kiến, cũng gọi Vô kiến: Vọng kiến cố chấp cho rằng thân tâm người ra đoạn diệt (chết) rồi không tiếp tục sinh ra nữa.2. Thường kiến, cũng gọi Hữu kiến: Vọng kiến cố chấp cho rằng thân tâm người ta thường trụ không gián đoạn. [X. luận Đại trí độ Q.7]. (xt. Thường Kiến, Đoạn Kiến). II. Tướng mạo kiến và Liễu liễu kiến. 1. Tướng mạo kiến: Không thực sự thấy vật mà chỉ thấy tướng dáng của nó rồi suy đoán ra. Như từ đàng xa trông thấy khói bèn cho là có lửa. 2. Liễu liễu kiến: Trực tiếp thấy rõ sự vật, như thấy quả Am ma lặc trong lòng bàn tay. Hai cái thấy trên tương đương với tỉ lượng và hiện lượng. Khi Bồ tát thấy bồ đề Niết bàn là Liễu liễu kiến (thấy rõ mồn một).[X. kinh Niết bàn Q.15 (bản Nam)]. III. Nhãn kiến và Văn kiến. 1. Nhãn kiến: Mắt trực tiếp thấy vật. 2. Văn kiến: Do nghe mà biết vật. [X. kinh Niết bàn Q.25 (bản Nam)]. IV. Trụ địa phần kiến và Cứu cánh vô kiến.1. Trụ địa phần kiến: Bồ tát Thập trụ từ cạn đến sâu, phá 1 phẩm phiền não vô minh, hiển bày 1 phần của 3 đức, gọi là Trụ địa phần kiến. 2. Cứu cánh vô kiến: Bồ tát Đẳng giác đã dứt phẩm phiền não vô minh nhỏ nhiệm cuối cùng, bước lên quả vị Phật Diệu giác, tính đức vốn có hoàn toàn hiển hiện, hết sạch các kiến, gọi là Cứu cánh vô kiến. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.6].
nhị loại chủng tử
(二類種子) Chỉ cho 2 loại chủng tử là Bản hữu chủng tử và Tân huân chủng tử. 1. Bản hữu chủng tử: Chủng tử từ vô thủy đến nay đã có sẵn trong thức dị thục, có công năng sinh ra tất cả pháp hữu vi – hữu lậu, vô lậu. 2. Tân huân chủng tử, cũng gọi Thủy khởi chủng sinh(chủng tử mới sinh khởi). Tức những chủng tử do 7 thức trước hiện hành, tùy theo những tập khí sai khác của sắc tâm, đều gieo vào thức thứ 8 để lại thành công năng sinh ra quả. [X. luận Thành duy thức Q.2].
nhị loại các sinh
(二類各生) Hai loại đều sinh. Theo nghĩa của tông Tịnh độ, không chỉ giới hạn ở những người niệm Phật mới được sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà, mà hành giả tu các pháp môn khác ngoài việc niệm Phật cũng được vãng sinh. Tông nghĩa này được gọi là Nhị loại các sinh. Bởi vì bản nguyện của đức Phật A di đà, trong nguyện thứ 18 tuy chỉ thề cứu giúp những người niệm Phật, nhưng trong các nguyện 19, 20 cũng thệ nguyện khiến những người tu hành các pháp môn khác cũng được vãng sinh.
nhị luân
(二輪) Chỉ cho Thực luân và Pháp luân. Thực luân nghĩa là trai luân, Pháp luân nghĩa là thuyết pháp. Trong Đại hội ắt có nói pháp, nói pháp tức là Chuyển pháp luân; cũng lại có thụ trai, gọi là Thực luân. Hai luân này phải tùy thuộc nhau mà xoay chuyển, giống như 2 cái bánh của chiếc xe, vì thế gọi là Nhị luân.
nhị lĩnh
(二領) Chỉ cho 2 thứ lãnh giải (hiểu rõ) là Thám lãnh và Tề lãnh. Cứ theo phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa, 4 vị Đại Thanh văn trình bày sự hiểu biết của chính mình, sự hiểu biết ấy được chia làm 2 loại: 1. Thám lãnh: Lãnh giải được ý của đức Như lai khi Ngài chưa xuất thế, còn ở địa vị Pháp thân, đã chiếu soi tới căn cơ của Thanh văn; cũng tức là đã dò xét(thám) ý sâu xa của đức Phật mà có được sự hiểu rõ (lãnh). 2. Tề lãnh, cũng gọi Tề giáo lãnh. Nghĩa là dùng thân Thanh văn thụ giáo nơi thân hiện tại của Như lai mà được hiểu biết, cho nên gọi là Tề giáo lãnh. [X. Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.17].
nhị lưu
(二流) Chỉ cho Thuận lưu và Nghịch lưu, tức xuôi dòng và ngược dòng. Thuận lưu là xuôi dòng sinh tử: Chúng sinh trong 6 đường, khởi hoặc tạo nghiệp, xuôi dòng sinh tử, trái đường Niết bàn, đó là nhân quả lưu chuyển. Nghịch lưu là ngược dòng sinh tử: Tức là Sơ quả Tu đà hoàn dứt phiền não trong 3 cõi; nên dần dần ngược dòng sinh tử, hướng về đường Niết bàn, đó là nhân quả hoàn diệt. [X. kinh Niết bàn Q.36 (bản Bắc)].
nhị lượng
(二量) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho Hiện lượng và Tỉ lượng. 1. Hiện lượng: Dùng 5 thức trước nhận biết sự vật chung quanh, không qua ý thức phân biệt, như mắt thấy sắc, tai nghe tiếng là biết ngay, không cần suy xét, gọi là Hiện lượng. 2. Tỉ lượng: Tỉ là so sánh. Tỉ lượng là sự nhận biết bằng sự phân biệt, suy diễn của ý thức. Chẳng hạn như khi mắt thấy bông hoa thì chỉ biết đó là hoa(tức hiện lượng)chứ chưa biết là hoa gì. Sau đó, ý thức phân biệt, biết là hoa hồng, không phải hoa mai... thì là Tỉ lượng. Hoặc từ đàng xa trông thấy khói mà suy diễn ở đó có lửa... là Tỉ lượng. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần đầu; Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.1, phần đầu].
nhị lậu
(二漏) Hữu lậu và Vô lậu. 1. Hữu lậu: Chỉ cho pháp có phiền não, hoặc pháp làm tăng thêm duyên phiền não. 2. Vô lậu: Chỉ cho pháp thanh tịnh lìa phiền não, hoặc là pháp không làm cho duyên phiền não khác tăng trưởng.
nhị lợi
The dual benefits, or profits: benefiting or developing oneself and others. Tự lợi và lợi tha.
; (二利) Chỉ cho Tự lợi và Lợi tha. Lợi mình và lợi người. Trên cầu đạo giác ngộ là lợi mình, dưới hóa độ chúng sinh là lợi người. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Tán A di đà Phật kệ].
nhị lợi chân thật
(二利真實) Chỉ cho Tự lợi chân thực và Lợi tha chân thực.Trong phần Tán thiện nghĩa của Quán kinh sớ, ngài Thiện đạo có giải thích về Chí thành tâm, cho rằng chí là chân, thành là thực. Chân thực có 2 thứ: Tự lợi và lợi tha. Tự lợi chân thực lại chia làm 2: 1. Trong tâm chân thực ngăn ngừa, xả bỏ các việc xấu ác của mình và người, đi đứng ngồi nằm lúc nào cũng nghĩ rằng mình đang làm giống như tất cả các vị Bồ tát đang làm. 2. Trong tâm chân thực siêng tu các điều thiện cho mình, cho người. Về điểm này, 3 nghiệp thân, khẩu, ý có 6 điều trọng yếu là: a) Khẩu nghiệp: Trong tâm chân thực, khen ngợi đức Phật A di đà và y báo, chính báo của Ngài. b) Khẩu nghiệp: Trong tâm chân thực, nhàm chán những nỗi khổ đau, xấu xa thuộc về y báo, chính báo của mình và người trong 3 cõi, 6 đường. c) Thân nghiệp: Trong tâm chân thực, thường chắp tay, kính lễ, cúng dường đức Phật A di đà và y báo, chính báo của Ngài. d) Thân nghiệp: Trong tâm chân thực, xả bỏ y báo, chính báo của mình và người trong 3 cõi sinh tử này. e) Ý nghiệp: Trong tâm chân thực, quán xét, nhớ tưởng đức Phật A di đà và y báo, chính báo của Ngài như đang hiện ở trước mắt.g) Ý nghiệp: Trong tâm chân thực, nhàm chán, vứt bỏ y báo, chính báo của mình và người trong 3 cõi sinh tử này. Trong tâm chân thực cần phải loại trừ 3 nghiệp bất thiện, nếu 3 nghiệp thiện phát khởi thì phải thực hành, bất luận trong, ngoài, sáng, tối đều phải chân thực, cho nên gọi là Chí thành tâm. Nhưng điều đáng tiếc là trong sách có nêu ra Nhị lợi chân thực, mà ngài Thiện đạo chỉ giải thích phần Tự lợi chân thực chứ không thấy giải thích phần Lợi tha chân thực, cho nên đã nảy sinh nhiều cách giải thích khác nhau về vấn đề này. Trong Tán thiện nghĩa truyền thông kí và Lược sao, ngài Lương trung của Nhật bản có nói rõ về điều này, cho rằng ngài Thiện đạo nêu ra Nhị lợi mà chỉ giải nghĩa phần Tự lợi, chứ không nói đến Lợi tha, là vì, theo ngài, nếu đã biết nghĩa tự lợi thì nghĩa lợi tha tự nhiên cũng rõ, cho nên không cần nói lại.
Nhị lợi hạnh
二利行; C: èrlì xíng; J: nirigyō;|Pháp tu đạt đến hai lợi ích: Tự lợi và lợi tha (自利利他).
nhị lục chi duyên
(二六之緣) Nhị lục là 2 lần 6 thành 12. Nhị lục chi duyên tức là 12 nhân duyên. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên).
nhị lục chi nguyện
(二六之願) Chỉ cho 12 thệ nguyện của đức Dược sư Như lai. 1. Nguyện thân mình và người có ánh sáng rực rỡ. 2. Nguyện uy đức vòi vòi mở đường ánh sáng cho chúng sinh. 3. Nguyện chúng sinh được thỏa mãn những điều mong cầu, không bị nghèo khổ. 4. Nguyện hết thảy chúng sinh an trụ trong Đại thừa. 5. Nguyện tất cả chúng sinh thường tu phạm hạnh, đầy đủ 3 tụ tịnh giới. 6. Nguyện tất cả chúng sinh đều được đầy đủ các căn. 7. Nguyện trừ diệt các bệnh cho hết thảy chúng sinh, làm cho thân tâm họ được yên vui, mau chứng Vô thượng bồ đề. 8. Nguyện chuyển nữ thành nam. 9. Nguyện các loài hữu tình thoát khỏi sự ràng buộc của thiên ma, ngoại đạo, ra khỏi rừng rậm tà tư, ác kiến, đưa họ về chính kiến.10. Nguyện cho chúng sinh thoát khỏi nạn bạo chúa, giặc cướp... 11. Nguyện cho chúng sinh đều được no đủ.12. Nguyện cho những người nghèo túng không y phục được y phục tốt đẹp. [X. kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyện công đức].
nhị lục thời trung
(二六時中) Mười hai thời trong 1 ngày 1 đêm. Lịch pháp Ấn độ chia 1 ngày đêm là 6 thời, hoặc 8 thời. [X. Hư đường hòa thượng ngữ lục].
nhị lực
(二力) I. Nhị Lực. Chỉ cho Tư trạch lực và Tu tập lực. 1. Tư trạch lực: Sức tư duy chọn lựa giáo lí chân chính để đối trị các nghiệp chướng. 2. Tu tập lực: Sức tu tập tất cả các hạnh lành để làm cho sự tu tập ấy nhất định được bền vững. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.8]. II. Nhị Lực. Chỉ cho Tự lực và Tha lực. 1. Tự lực: Dùng sức của chính mình tu tập 3 học giới, định, tuệ để đạt được giác ngộ, giải thoát. 2. Tha lực: Nương vào sức bản nguyện của đức Phật A di đà, chuyên tâm xưng danh niệm Phật để cầu vãng sinh Tịnh độ. [X. Lược luận an lạc tịnh độ nghĩa]. III. Nhị Lực. Chỉ cho Hữu lực và Vô lực. Theo thuyết của tông Hoa nghiêm thì muôn pháp đều nhờ sự hỗ tương nhiếp nhập của 2 lực này mà tồn tại. Nghĩa là vật này có toàn lực nên có khả năng thu nhiếp vật kia; trái lại, vật kia hoàn toàn vô lực nên có thể nương vào vật này... [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.trung].
nhị môn
Two doors, entrances, schools etc.
; (二門) Cách chia giáo nghĩa trong các kinh điển thành 2 môn, như nội dung kinh Pháp hoa được chia làm Bản môn và Tích môn; định tuệ thì chia làm Định môn và Tuệ môn; Tiểu thừa, Đại thừa thì chia làm Tiểu môn và Diễn môn; Hữu giáo, Không giáo thì chia làm Hữu môn và Không môn; Như lai tạng nhất tâm chia làm Chân như môn và Sinh diệt môn; Tịnh độ tông thì chia toàn bộ giáo pháp của Phật làm Thánh đạo môn và Tịnh độ môn...
nhị mĩ
(二美) Hai nét đẹp: Chỉ cho Định trang nghiêm và Tuệ trang nghiêm. Hồng tự nghĩa của ngài Không hải (Đại 77, 407 thượng) nói: Nhị mĩ đầy đủ, tứ biện lắng trong, chính là thực nghĩa của viên đức.
nhị mật
(二密) Chỉ cho Lí mật và Sự mật. 1. Lí mật: Nói về lí viên dung bất li. 2. Sự mật: Nói về sự bí mật của thân, khẩu, ý của đức Như lai. Tông Thai mật Nhật bản cho các kinh Pháp hoa và Niết bàn là Lí mật, còn các kinh Chân ngôn là giáo pháp sự lí đều bí mật.
nhị mộc
(二木) Chỉ cho Đại thụ (cây lớn) và Tiểu thụ (cây nhỏ). 1. Đại thụ: Ví dụ cho Bồ tát Biệt giáo. Trong hội Pháp hoa, hàng Bồ tát Biệt giáo nghe nói pháp Nhất thừa, được thụ kí thành Phật, hóa độ khắp tất cả chúng sinh, như cây lớn nhờ thấm nhuần nước mưa mà được tăng trưởng, tươi tốt sum xuê, tỏa bóng mát che cho tất cả, nên gọi là Đại thụ. 2. Tiểu thụ: Ví dụ Bồ tát Thông giáo. Trong hội Pháp hoa, hàng Bồ tát Thông giáo cũng nghe nói pháp Nhất thừa, được thụ kí thành Phật, nhưng căn khí và công dụng giáo hóa của Bồ tát Thông giáo không bằng Bồ tát Biệt giáo, cho nên gọi là Tiểu thụ. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.7, thượng].
nhị nan hoá
(二難化) Hai nơi khó giáo hóa là cõi Dục và cõi Sắc. Các trời ở cõi Dục vì đắm sâu trong 5 món dục lạc thượng diệu nên khó giáo hóa; còn các trời cõi Sắc thì lại bám dính vào niềm vui thiền định thế gian, vì vậy cũng khó giáo hóa.
Nhị Nghi
(二儀): hay còn gọi là Lưỡng Nghi (兩儀), gồm trời và đất, hay âm và dương. Trong bài Thiên Địa Phú (天地賦) của Thành Công Tuy (成公綏) có câu: “Hà âm dương chi nan trắc, vĩ Nhị Nghi chi xa khoát (何陰陽之難測、偉二儀之奢闊, Sao âm dương thật khó xét, lớn đất trời quả bao la).” Trong bài thơ Thu Hồ Hành (秋胡行) của Tào Tháo (曹操, 155-220) cũng có đoạn rằng: “Minh minh nhật nguyệt quang, hà sở bất quang chiêu, minh minh nhật nguyệt quang, hà sở bất quang chiêu, Nhị Nghi hợp thánh hóa, quý giả độc nhân phủ (明明日月光、何所不光昭、明明日月光、何所不光昭、二儀合聖化、貴者獨人不, rực rỡ ánh trời trăng, nơi nào không chiếu sáng, rực rỡ ánh trời trăng, nơi nào không chiếu sáng, đất trời hợp hóa thánh, người quý một mình chăng ?).”
nhị nghiêm
The dual adornment, that of trí tuệ wisdom and that of phúc đức good deeds.
; (二嚴) I. Nhị Nghiêm. Chỉ cho 2 thứ trang nghiêm: 1. Trí tuệ trang nghiêm: Tu luyện trí tuệ để trang nghiêm thân mình. 2. Phúc đức trang nghiêm: Chứa góp phúc đức để trang nghiêm thân mình. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 27 (Đại 12, 523 thượng) nói: Hai thứ trang nghiêm: Một là trí tuệ, hai là phúc đức. Nếu Bồ tát nào có đủ cả 2 thứ trang nghiêm ấy thì biết được Phật tính. II. Nhị Nghiêm. Chỉ cho Hình tướng trang nghiêm và Đệ nhất nghĩa trang nghiêm. 1. Hình tướng trang nghiêm: Nếu người nào phân biệt cõi Phật là hình tướng hữu vi rồi tự cho mình đã thành tựu cảnh giới ấy, thì người đó đã chấp trước vào cảnh sắc, thanh..., chẳng phải trang nghiêm chân thực, nên gọi là Hình tướng trang nghiêm. 2. Đệ nhất nghĩa trang nghiêm: Tâm thanh tịnh không dính mắc, trí tuệ chân thực, thấu suốt cõi tự tính duy tâm hiển hiện, đó là thành tựu cõi Phật bằng chính trí, gọi là Đệ nhất nghĩa trang nghiêm.
Nhị nghiệp
二業; C: èryè; J: nigō;|Hai loại nghiệp báo: 1. Mãn nghiệp (滿業) và Dẫn nghiệp (引業); 2. Thiện nghiệp (引業) và Ác nghiệp (惡業).
nhị nghiệp
Two classes of karma:(a) (1) dẫn nghiệp, leads to the, i.e. the award as to the species into which one is to be born, e.g. men, gods etc. (2) mãn nghiệp, the fulfilment in detail. (b) (1) thiện nghiệp, good karma; (2) ác nghiệp, bad karma.
; Two kinds of karma—Có hai loại nghiệp hoặc tốt hoặc xấu, hoặc cố ý hoặc không cố ý—There are two kinds of karma: One is good and the other is bad karma or intentional and unintentional karma—See Nhị Chủng Nghiệp. Tam Nghiệp: Three kinds of karma—Có nhiều loại nghiệp, nhưng đại để có ba loại: thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp—Three types of karmas: body karma, speech karma, and mental karma—See Tam Nghiệp, and Tam Báo. Tứ Nghiệp: Four kinds of karma—See Bốn Loại Nghiệp. Lục Nghiệp: Six kinds of karma—See Lục Đạo. Thập Nghiệp: Thập ác và thập thiện—Ten evil actions and/or ten paths of good action—See Thập Ác, and Thập Thiện Nghiệp in Vietnamese-English Section.
; (二業) I. Nhị Nghiệp. Chỉ cho 2 loại Nghị nghiệp: 1. Dẫn nghiệp và Mãn nghiệp: Trong 6 đường đều có 2 loại quả báo là Tổng báo (quả báo chung) và Biệt báo(quả báo riêng), như trong cõi người thì tất cả mọi người đều thuộc cõi người, đó là Tổng báo. Nhưng trong Tổng báo lại có các Biệt báo, như cùng là loài người trong cõi người mà có người thông minh, kẻ ngu đần, người mạnh khỏe, kẻ ốm yếu, người đẹp đẽ, kẻ xấu xí v.v... và v.v..., đó là do Biệt báo của mỗi cá nhân. Nghiệp nhân dẫn đến Tổng báo gọi là Dẫn nghiệp, còn nghiệp nhân hoàn thành các Biệt báo thì gọi là Mãn nghiệp. 2. Thiện nghiệp và Ác nghiệp: Thiện nghiệp là những việc làm trong đường tốt lành, như 5 giới, 10 điều thiện... có năng lực mang lại quả vui trong thiện đạo. Ác nghiệp là những hành động tội ác, như 5 tội nghịch, 10 điều ác... có năng lực đưa đến quả khổ trong ác đạo. II. Nhị Nghiệp. Chỉ cho Trợ nghiệp và Chính nghiệp. 1. Trợ nghiệp: Nghiệp có khả năng giúp đỡ thêm cho việc vãng sinh Tịnh độ. Như trong 5 hạnh tu tập chính yếu là: Đọc tụng, Quán sát, Lễ bái, Xưng danh và Tán thán cúng dường thì Đọc tụng, Quán sát, Lễ bái và Tán thán cúng dường là Trợ nghiệp. 2. Chính nghiệp: Nghiệp nhân chính yếu của việc vãng sinh, đó là hạnh Xưng danh trong 5 chính hạnh nói ở trên. [X. phần Tán thiện nghĩa trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.4].
nhị nghĩa
The two meanings or teachings, partial and complete.
nhị ngu
(二愚) Chỉ cho 2 thứ mê hoặc của hàng Bồ tát Thập địa: 1. Mê hoặc chấp trước ngã pháp: Chủ thể và khách thể xưa nay vốn không có tự tính, nhưng lại cho là chúng có thực thể mà sinh ra chấp trước. 2. Mê hoặc chấp trước ác thú, tạp nhiễm: Chấp trước ác đạo, tạp nhiễm luống công làm nhơ nhớp tâm mình mà chiêu cảm quả khổ. Lâm gian lục quyển hạ (Vạn tục 148, 323 thượng) nói: Đến bậc Thập địa vẫn còn nhị ngu). [X. Bách pháp vấn đáp sao Q.7].
nhị nguyên
Dvaya (S). Duality.
nhị nguyên thần giáo
(二元神教) Tông giáo chủ trương có 2 vị thần thiện và ác tồn tại đối lập nhau và chỉ lấy thiện thần làm đối tượng sùng bái. Như Tỏa la á tư đức giáo (cũng gọi Thiên giáo, Bái hỏa giáo). Nặc tư thế giáo, Ma ni giáo... đều thuộc về Nhị nguyên thần giáo.
nhị nguyên tính
Dvaita (S), Duality.
nhị ngã chấp
(二我執) Chỉ cho Câu sinh ngã chấp và Phân biệt ngã chấp. 1. Câu sinh ngã chấp: Đối với thân do 5 uẩn giả hòa hợp, vọng chấp là thực ngã, ngã chấp này sinh ra cùng 1 lúc với thân, nên gọi là Câu sinh ngã chấp. 2. Phân biệt ngã chấp: Do chấp trước thực ngã, nên phân biệt rằng ta có khả năng làm các việc thiện, việc ác... từ đó khởi chấp trước, tức nương vào sức phân biệt của chính mình mà sinh ra chấp trước, gọi là Phân biệt ngã chấp. (xt. Ngã Chấp).
Nhị ngã kiến
二我見; C: èrwǒ jiàn; J: nigaken;|Hai quan niệm về Tự ngã. Tin rằng có sự hiện hữu của cái ta chủ thể (ngã 我) và khách thể (pháp 法).
nhị ngã kiến
The two erronous views of individualism: (1) nhân ngã kiến, the erronous view that there is an independant human personality; (2) pháp ngã kiến, the erronous view that anything exists with an independant nature.
; (二我見) Chỉ cho 2 thứ vọng kiến là Nhân ngã kiến và Pháp ngã kiến. 1. Nhân ngã kiến: Tất cả phàm phu không hiểu được rằng thân người là do 5 uẩn giả hợp, rồi cho là có chủ tể mà chấp ta là con người có ngã thể thường nhất, gọi là Nhân ngã kiến. 2. Pháp ngã kiến: Hàng Nhị thừa không liễu ngộ được tính không của các pháp, nên chấp tất cả pháp đều có thể tính, dù được trí nhân vô ngã, nhưng còn sợ sinh tử, vọng chấp pháp Niết bàn, đối với các pháp còn có kiến chấp, cho nên gọi là Pháp ngã kiến. [X. luận Đại thừa khởi tín Q.hạ].
nhị ngũ thực
(二五食) Chỉ cho 2 loại thức ăn: Bồ thiện ni thực và Kha đãn ni thực. Mỗi loại đều có 5 món thức ăn: 1. Ngũ bồ thiện ni thực (Phạm: Paĩcabhojanìya), cũng gọi Ngũ bồ xà ni thực. Tức là 5 thức ăn chính, gồm: Cơm, xôi, miến, thịt và bánh. Ăn đủ 5 món này gọi là Túc thực (ăn đủ). 2. Ngũ kha đãn ni thực (Phạm: Paĩcakhadanìya), cũng gọi Ngũ khư xà ni thực. Tức là 5 loại thức ăn phụ, gồm: Củ, cọng, lá, hoa và quả. Nếu chỉ ăn 5 món phụ này thôi thì không thành Túc thực. Cứ theo Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da quyển 36, nếu trước dùng 5 món ăn phụ thì sau đó được ăn thêm 5 món ăn chính; ngược lại, nếu trước dùng 5 món ăn chính rồi thì sau đó không được ăn thêm 5 món phụ nữa, nếu ăn thêm thì phạm giới. [X. luật Tứ phần Q.59]. (xt. Thực).
Nhị ngộ
二悟; C: èrwù; J: nigo;|Hai dạng giác ngộ: Đốn ngộ (頓悟) và Tiệm ngộ (漸悟).
nhị ngộ
The two awakenings: (1) đốn, immediate; (2) tiệm, gradual.
; (二悟) I. Nhị Ngộ. Chỉ cho Đốn ngộ và Tiệm ngộ. Đốn ngộ là trực tiếp ngộ ngay vào chân lí tột cùng, còn Tiệm ngộ là giác ngộ dần dần theo thứ lớp. Tông Pháp tướng cho rằng Bồ tát có định tính không cần phải trải qua quá trình Thanh văn, Duyên giác mà tiến thẳng lên địa vị Bồ tát, gọi là Đốn ngộ bồ tát. Còn những người có chủng tính bất định phải trải qua quá trình Thanh văn, Duyên giác mới vào được đạo Bồ tát, thì gọi là Tiệm ngộ bồ tát. II. Nhị Ngộ. Chỉ cho Ngộ tha (Phạm: Paràrtha) và Tự ngộ (Phạm: Svàrtha). Tiếng dùng trong Nhân minh. Ngộ tha là làm cho người khác hiểu rõ, cũng tức là làm cho người khác có được chính trí. Còn Tự ngộ là làm cho chính mình liễu ngộ, cũng tức là làm cho chính mình có được chính trí. Người lập luận dùng ngôn ngữ làm cho người vấn nạn và người chứng nghĩa(trọng tài)hiểu rõ chính lí, gọi là Ngộ tha. Còn người lập luận thì trước hết cần phải tự ngộ rồi sau mới ngộ tha được. Vì Nhị ngộ có 2 điều lợi ích là Tự ngộ và Ngộ tha, cho nên cũng gọi là Nhị ích. Tự ngộ và Ngộ tha mỗi bên đều có 4 môn, gọi chung là Nhân minh bát môn (Tám môn Nhân minh). [X. Nhân minh nhập chính lí luận Ngộ tha môn thiển thích]. (xt. Nhân Minh Bát Môn).
nhị nhiếp
(二攝) Chỉ cho Tự nhiếp và Tha nhiếp. Nhiếp là bắt lấy, thu nhiếp lại. Tất cả các pháp đều có tự lực, tha lực, tự nhiếp, tha nhiếp. 1. Tự nhiếp: Người dùng sức mình mà tự thu nhiếp lấy. 2. Tha nhiếp: Người dùng sức người khác rồi bị người khác nhiếp thủ. (xt. Tha Nhiếp, Tự Nhiếp).
nhị nhân
(二因) I. Nhị Nhân. Chỉ cho Sinh nhân và Liễu nhân. 1. Sinh nhân: Nhân vốn đủ lí pháp tính, có năng lực sinh ra tất cả thiện pháp, như các loại hạt giống có năng lực nảy mầm. 2. Liễu nhân: Nhân trí tuệ chiếu soi lí pháp tính, giúp cho việc sinh thành vạn vật, như đèn soi rọi các vật khiến cho được thấy rõ ràng. Hai nhân trên đồng nghĩa với Chính nhân và Duyên nhân. [X. kinh Niết bàn Q.28 (bản Bắc)]. II. Nhị Nhân. Chỉ cho Năng sinh nhân và Phương tiện nhân. 1. Năng sinh nhân: Thức thứ 8 có công năng sinh ra các thứ mắt, tai... là nhân của tất cả thiện, ác, như các loại hạt giống có khả năng nảy mầm. 2. Phương tiện nhân: Các thức tai, mắt... có thể là phương tiện dẫn phát hạt giống thiện ác của thức thứ 8, cũng như đất, nước, ánh sáng... có khả năng làm cho các loại hạt giống nảy mầm. [X. luận Du già sư địa Q.38; Tông kính lục Q.71]. III. Nhị Nhân. Chỉ cho Tập nhân và Báo nhân. 1. Tập nhân, cũng gọi là Đồng nhân. Tức là quả khởi lên sau, lại tiếp tục tập quen nhân trước mà tăng trưởng, như tập quen tham dục thì tham dục càng tăng. 2. Báo nhân, cũng gọi Dị thục nhân. Tức quả báo đời sau là do nhân nghiệp đời trước đưa đến, như đời trước gieo nhân thiện thì đời này được quả vui, đời trước gây nhân ác thì đời này chịu quả khổ. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung; Pháp hoa văn cú Q.18]. IV. Nhị Nhân. Chỉ cho Cận nhân và Viễn nhân. 1. Cận nhân: Nhân gần. Nghĩa là nhân trực tiếp dẫn sinh ra quả, như phàm phu tu hạnh bố thí thì đời sau đó sẽ được quả báo tốt đẹp. 2. Viễn nhân: Nhân xa. Nghĩa là nhân gián tiếp dẫn sinh ra quả, như tu thiền định của thế gian sẽ gián tiếp đưa đến quả báo sinh ra ở các tầng trời thuộc cõi Sắc. [X. luận Đại trí độ Q.96]. V. Nhị Nhân. Chỉ cho Khiên dẫn nhân và Sinh khởi nhân. 1. Khiên nhẫn nhân: Nhân dắt dẫn. Nghĩa là nhân chưa đủ điều kiện đã gián tiếp đưa đến quả khổ sinh tử. 2. Sinh khởi nhân: Nhân đã đủ điều kiện, trực tiếp sinh ra quả khổ sinh tử. Như vô minh, hành, thức, danh, sắc, lục xứ, xúc, thụ trong 12 nhân duyên, thuộc về Khiên nhẫn nhân, còn ái, thủ và hữu thì thuộc về Sinh khởi nhân. [X. luận Du già sư địa Q.31].
nhị nhân câu phạm
(二人俱犯) Cũng gọi Nhị câu phạm quá. Cả 2 người đều có lỗi. Trong 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên do tông Thiên thai thành lập thì những người thuộc 3 giáo: Tạng, Thông, Biệt gọi là Thô nhân; còn những người thuộc Viên giáo thì gọi là Tế nhân. Nhưng theo quan điểm của tông Thiên thai thì cả 2 hạng Thô nhân và Tế nhân trước thời Pháp hoa vẫn chỉ là Thô nhân (Nhị nhân câu phạm), nghĩa là Viên giáo trước thời Pháp hoa vẫn không bằng Viên giáo của thời Pháp hoa.[X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1].
nhị nhân xuất phật thân huyết
(二人出佛身血) Một người dùng tâm ác và 1 người dùng tâm thiện làm cho thân Phật chảy máu.1. Đề bà đạt đa xô đá bị tội: Đề bà đạt đa sinh tâm cực ác, từ trên núi xô đá xuống định cho đè lên thân Phật, nhưng đá chỉ trúng chân khiến chân Ngài chảy máu, vì thế nên phải chịu tội báo. 2. Kì vực châm kim được phúc: Kì vực là vị thầy thuốc giỏi, vì chữa bệnh cho Phật nên dùng kim châm chích làm cho thân Phật chảy máu, Phật liền khỏi bệnh, nhờ đó mà được phúc. [X. luận Đại trí độ Q.14].
nhị như
(二如) Hai loại chân như. Có các thuyết sau đây: I. Nhị Như. Chỉ cho Tùy duyên chân như và Bất biến chân như. 1. Tùy duyên chân như: Chân như không giữ tự tính, nếu theo duyên nhơ thì sinh ra pháp nhơ; nếu theo duyên sạch thì sinh ra pháp sạch. 2. Bất biến chân như: Chân như giữ tự tính, mặc dù theo duyên mà thành các pháp thiên sai vạn biệt nhưng không mất tính chân như. Tùy duyên chân như có năng lực sinh ra tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, đó là An lập chân như; còn Bất biến chân như thì vốn vắng lặng vô vi, xa lìa các tướng, đó là Phi an lập chân như. Tùy duyên chân như như sóng, Bất biến chân như như nước, nước bất biến mà nổi lên sóng, còn sóng tùy duyên mà không mất tính nước. Vì chân như tùy duyên nên chân như tức vạn pháp; vì chân như bất biến nên vạn pháp tức chân như. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. II. Nhị Như. Chỉ cho Li ngôn chân như và Y ngôn chân như. 1. Li ngôn chân như: Bản thể của chân như là cảnh của trí quán, lìa tất cả ngôn thuyết. 2. Y ngôn chân như: Tướng trạng của chân như có thể dựa vào ngôn thuyết để phân biệt. [X. luận Đại thừa khởi tín]. II. Nhị Như. Chỉ cho Nhất không chân như và Bất không chân như. 1. Nhất không chân như: Tự thể chân như rỗng sáng, lìa tất cả vọng nhiễm, như cái không của hư không. 2. Bất không chân như: Tự thể chân như có đầy đủ tất cả tính công đức, cũng như hư không bao hàm hết thảy muôn tượng. [X. luận Đại thừa khởi tín]. IV. Nhị Như. Chỉ cho Tại triền chân như và Xuất triền chân như. 1. Tại triền chân như: Thực tính chân như của phàm phu còn bị vô lượng phiền não trói buộc (tại triền) nên không hiển hiện được. 2. Xuất triền chân như: Thực tính chân như của chư Phật, Bồ tát đã ra khỏi sự ràng buộc (xuất triền) của phiền não. Tại triền chân như gọi là Như lai tạng, Xuất triển chân như gọi là Pháp thân. [X. kinh Thắng man; Lí thú phần thuận tán Q.hạ]. V. Nhị Như. Chỉ cho Hữu cấu chân như và Vô cấu chân như. 1. Hữu cấu chân như, cũng gọi Tự tính chân như, Tại triền chân như. Tức thể của chân như tuy bị phiền não che lấp, nhưng xưa nay vốn thanh tịnh, giống như hoa sen mọc từ trong bùn nhưng không nhiễm mùi bùn. 2. Vô cấu chân như, cũng gọi Thanh tịnh chân như, Xuất triền chân như. Tức lí thể chân như được hiển bày khi chứng quả Phật, không còn bị phiền não che lấp, như vầng trăng rằm trong sáng tròn đầy. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.5 (Chân đế)]. (xt. Chân Như).
nhị như lai tạng
(二如來藏) Chỉ cho Không như lai tạng và Bất không như lai tạng. Như lai tức là Như lai lí tính; tạng nghĩa là cất chứa. Trong tâm phiền não của tất cả chúng sinh, có đầy đủ vô lượng nghiệp thanh tịnh vô lậu bất khả tư nghị, gọi là Như lai tạng.Cứ theo Đại thừa chỉ quán pháp môn quyển 1, Như lai tạng có 2 loại: 1. Không như lai tạng: Tâm tính này tuy theo duyên nhiễm tịnh mà kiến lập các pháp sinh tử Niết bàn, nhưng tâm thể bình đẳng, xa lìa tính tướng, pháp nhiễm tịnh sở khởi và tâm năng khởi đều không, nên gọi là Không như lai tạng. 2. Bất không như lai tạng: Tâm tính này đầy đủ công đức thanh tịnh vô lậu và các nhiễm pháp hoặc nghiệp hữu lậu, tất cả đều bao hàm, không đức nào chẳng đủ, không pháp nào chẳng hiện, nên gọi là Bất không như lai tạng.
nhị nhẫn
The two patiences or endurances: (1) chúng sinh nhẫn, patience forwards all under all circumstances; (2) vô sinh pháp nhẫn, calm rest, as a Bodhisattva, in the assurance of no rebirth.
; (二忍) Hai pháp nhẫn của Bồ tát tu hành. I. Nhị Nhẫn. Chỉ cho Sinh nhẫn và Pháp nhẫn. 1. Sinh nhẫn, cũng gọi Chúng sinh nhẫn. Nghĩa là Bồ tát đối với tất cả chúng sinh không giận không bực, như mẹ hiền thương con. Cho dù chúng sinh có âm mưu hãm hại Bồ tát thì Bồ tát vẫn chịu đựng, không hề sinh tâm tức giận, ghét bỏ; hay được chúng sinh cung kính cúng dường mấy chăng nữa thì cũng không vì thế mà sinh tâm cống cao chấp trước. 2. Pháp nhẫn, cũng gọi Vô sinh pháp nhẫn. Nhẫn nghĩa là an nhẫn. Vô sinh pháp vốn chỉ cho pháp bất sinh bất diệt, ở đây chỉ nói về nghĩa bất sinh nên gọi là Vô sinh. Đối với pháp vô sinh, Bồ tát chấp nhận, an vui, không động không lui, gọi là Pháp nhẫn. [X. luận Đại trí độ Q.6]. II. Nhị Nhẫn. Chỉ cho An thụ khổ nhẫn và Quán sát pháp nhẫn. 1. An thụ khổ nhẫn: An nhiên chịu đựng các nỗi khổ như bệnh tật, nước lửa, dao gậy... mà không động tâm. 2. Quán sát pháp nhẫn: Quán xét các pháp, thể tính hư huyễn, vốn không sinh diệt, tin hiểu chân thực, tâm không vọng động, an nhiên chấp nhận. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.5]. III. Nhị Nhẫn. Chỉ cho Thế gian nhẫn và Xuất thế gian nhẫn. 1. Thế gian nhẫn: Sự an nhẫn hữu lậu, hữu tướng mà Bồ tát sơ tâm phát khởi tùy theo các quả báo, phúc nghiệp... khi duyên theo chúng sinh hữu tướng hữu thủ, thản nhiên chịu đựng các việc khổ vui, thuận nghịch của thế gian, cho nên gọi là Thế gian nhẫn. 2. Xuất thế gian nhẫn: Sự an nhẫn vô lậu, vô tướng mà Bồ tát phát khởi vì lòng đại bi lợi tha bình đẳng, khế hợp với vô vi tịch diệt, tâm không nhiễm trước, nhậm vận tự nhiên mà thực hiện các việc, chịu đựng tất cả cảnh khổ vui, thuận nghịch mà không thấy tướng các pháp sinh diệt, cho nên gọi là Xuất thế gian nhẫn. [X. kinh Đại thừa địa tạng thập luân Q.9] (xt. Nhẫn).
Nhị nhập
二入; C: èrrù; J: ninyū;|Hai lối thể nhập đạo giác ngộ xuất xứ từ giáo pháp của Bồ-đề Đạt-ma và trong kinh Kim Cương tam-muội (s: 金剛三昧經; s: vajrasamādhi-sūtra), đó là Lí nhập (理入) và Hạnh nhập (行入), gồm có 4 hạnh.
nhị nhập
The two ways of entering the truth. Lý nhập: by conviction intellectually. Hành nhập: by practice.
nhị nhập tứ hành
(二入四行) Nhị nhập: Hai yếu chỉ vào đạo; Tứ hạnh: Bốn hạnh. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 30, Tổ Bồ đề đạt ma có nói lược về yếu chỉ vào đạo của Đại thừa và yếu chỉ đó hông ngoài 2 đường Lí nhập và Hạnh nhập. 1. Lí nhập: Nhờ giáo pháp mà ngộ được tông chỉ, vững tin rằng mọi loài đều cùng 1 chân tính, chỉ vì khách trần vọng tưởng che khuất nên không hiểu rõ, nếu bỏ vọng về chân, ngồi yên suy nghĩ, thì không thấy có mình có người, thánh phàm là 1, trụ vững không dời, cũng không theo văn chữ. Đây tức là thầm hợp với lí, không có phân biệt, lặng lẽ vô vi, gọi là Lí nhập. 2. Hạnh nhập: gồm 4 hạnh: a) Báo oán hạnh: Người tu đạo, nếu khi chịu khổ thì nên nghĩ rằng: Đây là do đời trước ta đã tạo nghiệp ác, nay quả chín mùi, nên cam tâm nhẫn chịu, không nên oán than. Khi sinh tâm như vậy thì ứng hợp với lí mà hóa giải được oan nghiệp và vững tiến trên đường đạo. b) Tùy duyên hạnh: Chúng sinh vô ngã, đều do nghiệp chuyển, khổ vui cùng chịu, đều từ duyên sinh; nếu được quả báo thù thắng, vinh dự... thì đều do nhân đời trước mang lại, khi duyên hết thì hoàn không. Được mất tùy duyên, tâm không thêm bớt, gió vui chẳng động, ngầm thuận với đạo. c) Vô sở cầu hạnh: Người đời mê đắm, luôn luôn tham trước, gọi là Cầu; người trí hiểu lí chân thực, an tâm vô vi, vạn hữu đều không, nên chẳng mong cầu, đó là chân chính vô cầu, cứ thuận theo đạo mà làm. d) Xứng pháp hạnh: Lí tính thanh tịnh gọi là Pháp. Lí này không có các tướng, không nhiễm không dính, chẳng đây chẳng kia. Người trí tin hiểu lí này nên thực hành đúng (xứng) pháp, pháp thể không xan lận, đem cả thân, mệnh, tài bảo thực hành xả thí, tâm không luyến tiếc, thấu suốt ba không (không người cho, không người nhận, không vật cho), lợi mình lợi người, trang nghiêm đạo giác ngộ; vì trừ vọng tưởng nên tu hạnh lục độ mà không thấy mình làm gì. Cứ theo lời tựa Bồ đề đạt ma lược biện Đại thừa nhập đạo tứ hạnh do ngài Đàm lâm –đệ tử của Tổ Bồ đề đạt ma– soạn, thì Tổ Đạt ma cảm động trước sự tinh thành của 2 vị đệ tử là Đạo dục và Tuệ khả nên Tổ dạy đạo chân thực cho 2 vị rằng (Đại 51, 458 trung): Khiến an tâm như thế, phát hạnh như thế, thuận vật như thế, phương tiện như thế, đó là pháp an tâm của Đại thừa khiến không lầm lẫn. An tâm như thế là thiền định, phát hạnh như thế là 4 hạnh, thuận vật như thế là ngăn ngừa sự cơ hiềm, phương tiện như thế là trừ bỏ sự dính mắc. Vì thế nên biết Nhị nhập tứ hạnh là tương đương với An tâm (Lí nhập) và Phát hạnh (Hạnh nhập). Thuyết Nhị nhập rất giống với thuyết trong phẩm Nhập thực tế của kinh Kim cương tam muội, còn thuyết Tứ hạnh thì tương tự như thuyết Thập hạnh trong kinh Hoa nghiêm quyển 11 (bản dịch cũ) cho nên có người suy ra đó là xuất xứ của thuyết Nhị nhập tứ hạnh. Trong Truyền pháp chính tông kí quyển 5, ngài Khế tung đời Tống ngờ rằng Tứ hạnh không phải do Tổ Đạt ma nói, nhưng phổ thông người ta vẫn tin chắc đó là thuyết của Tổ Đạt ma. [X. chương 19 trong Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo sử (Thang dụng đồng); Bồ đề đạt ma đích Nhị nhập tứ hạnh thuyết dữ Kim cương tam muội kinh (Thủy dã Hoằng nguyên soạn, Đạt hòa dịch, Phật quang học báo số 4)].
Nhị Nhập Tứ Hành Luận
(二入四行論, Ninyūshigyōron): 1 quyển, tác phẩm được xem như là của Đàm Lâm (曇琳, ?-?), đệ tử của Đạt Ma, ghi lại những giáo thuyết và ngôn hạnh của thầy mình cũng như các nhân vật thời kỳ đầu của Thiền Tông. Nó được trích dẫn trong Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳) của Đạo Tuyên (道宣) và các bản của Đôn Hoàng cũng như Triều Tiên rất nổi tiếng. Bản Đôn Hoàng có S2715, S3375, S7159, P2923, P3018, P4634, P4795. Ngoài ra còn có Bồ Đề Đạt Ma Tứ Hành Luận (菩提達摩四行論) được thâu tập vào trong Thiền Môn Toát Yếu (禪門撮要). Bên cạnh đó, Nhị Nhập Tứ Hành Thuyết còn được thâu lục trong Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳) 16, Lăng Già Sư Tư Ký (楞伽師資記), Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) 30, Thiếu Thất Lục Môn (少室六門). Nội dung của nó giới thiệu tổng quát con đường dẫn đến giác ngộ thông qua Lý Nhập (理入, lý luận) và Hành Nhập (行入, thật tiễn). Hành Nhập được chia giải thích làm 4 loại, cho nên Lý Nhập là niềm tin cho rằng “thông qua phép quán [bích quán], nếu trừ bỏ được lớp bụi làm che mờ chân tánh vốn sẵn có trong con người thì chân tánh ấy sẽ hiển hiện”. Bốn loại Hành Nhập gồm Báo Oán Hành (報怨行, chấp nhận cái khổ của đời này là kết quả của nghiệp quá khứ), Tùy Duyên Hành (隨緣行, sự vui sướng cũng là nhân duyên quá khứ, không đặt thành vấn đề), Vô Sở Cầu Hành (無所求行, dứt hết mọi chấp trước, không mong cầu được gì cả) và Xưng Pháp Hành (稱法行, thực hành pháp Ba La Mật thanh tịnh). Rõ ràng tư tưởng này cũng chẳng giống gì với Thiền đời sau này, thế nhưng chúng ta có thể công nhận rằng thái độ tôn trọng tư tưởng Như Lai Tạng và tính thật tiễn cũng cọng thông với tư tưởng này.
nhị nhập tứ hành luận
(二入四行論) Tác phẩm, 1 quyển, ngữ lục của Sơ tổ Bồ đề đạt ma. Sách này mới được tìm thấy thời gần đây, chưa có bản nhất định. Hiện có các nguyên bản như: 1. Bản Triều tiên mang tên: Bồ đề đạt ma tứ hạnh luận, gồm 2 loại bản khắc in, 1 vào năm Thiên thuận thứ 8 (1464) và 1 vào năm Long hi thứ 2 (1908). Bản in năm 1908 được thu vào Thiền môn toát yếu. 2. Bản chép tay phát hiện ở Đôn hoàng được cất giữ tại thư viện Bắc kinh. 3. Bản chép tay Đôn hoàng mang các số hiệu: A. Stein 2715 và 3375 được thu giữ tại Bảo tàng viện Luân đôn. 4. Bản chép tay Đôn hoàng mang các số hiệu: P. Pelliot 3018 và 4634 được tàng trữ ở Thư viện quốc gia tại Paris. Phần đầu quyển của 2 bản Đôn hoàng trên đây đều bị rách, cho nên không biết đích xác tên sách là gì. Còn trong Lăng già sư tư kí và Cảnh đức truyền đăng lục thì đều đề là: Bồ đề đạt ma lược biện Đại thừa nhập đạo tứ hạnh, đệ tử Đàm lâm tự. Nhưng, trước thời bản chép tay được tìm thấy ở động Đôn hoàng thì sách này bị ngờ là không phải do Tổ Đạt ma nói; mãi sau khi bài khảo luận Bồ đề đạt ma đích Nhị nhập tứ hạnh thuyết dữ Kim cương tam muội kinh của ông Thủy dã Hoằng nguyên –học giả Nhật bản– xuất hiện, thì giá trị của sách này mới được công nhận, đồng thời cũng được xem là tư liệu chính của Đạt ma truyện, Tuệ khả truyện trong Tục cao tăng truyện do ngài Đạo tuyên soạn. Những bản chép tay ở Đôn hoàng bao gồm Tạp lục bộ, gọi chung là Nhị nhập tứ hạnh luận, nay trở thành 1 bộ duy nhất là Đạt ma ngữ lục. [X. Đạt ma chi ngữ lục (Liễu điền Thánh sơ); Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ); Đạt ma chi nghiên cứu (Quan khẩu Chân đại); Tứ hạnh luận trường quyển tử dữ Bồ đề đạt ma luận (Điền trung Lương chiêu)]. (xt. Nhị Nhập Tứ Hạnh).
nhị nhị hợp duyên
(二二合緣) Kết hợp 2 pháp lại để quán tưởng. Nghĩa là khi ở giai vị Biệt tướng niệm trụ, hành giả quán tưởng 4 thứ: Thân, Thụ, Tâm, Pháp, thì đem Pháp kết hợp với 3 thứ kia để quán tưởng, gọi là Nhị nhị hợp duyên. Tức là kết hợp Pháp với Thân, với Thụ và với Tâm mà quán tưởng. (xt. Tứ Niệm Trụ).
nhị nữ
(二女) Chỉ cho Công đức thiên nữ và Hắc ám nữ. Công đức thiên nữ có năng lực làm cho tài bảo của người ta dồi dào, còn Hắc ám nữ thì lại hay khiến người ta hao tiền tốn của. Công đức thiên nữ là chị, Hắc ám nữ là em. Hai chị em thường không rời nhau, hễ Công đức thiên nữ ở đâu thì Hắc ám nữ cũng có mặt ở đó. [X. kinh Niết bàn Q.12 (bản Bắc)].
Nhị phiền não
二煩惱; C: èr fánnăo; J: nibonnō;|Hai dạng phiền não. Theo kinh Thắng Man (勝鬘經; s: śrīmālā-sūtra) thì đây là Trú (住) phiền não và Khởi (起) phiền não. Có 4 Trú phiền não và có vô số Khởi phiền não.
nhị phiền não
Kleśadvaya (S), Two kinds of defilement.
; Klesadvaya (S). Two kinds of affliction.
; (二煩惱) Chỉ cho 2 loại phiền não và có các thuyết khác nhau. I. Nhị Phiền Não. Căn bản phiền não và Tùy phiền não. 1. Căn bản phiền não: Chỉ cho hoặc Vô minh. Loại hoặc này là gốc rễ sinh ra tất cả phiền não nên gọi là Căn bản phiền não.2. Tùy phiền não: Chỉ cho Kiến hoặc và Tư hoặc. Hai loại hoặc này thường xuyên đi theo tất cả cảnh nghịch thuận mà khởi lên các phiền não tham, sân, si... nên gọi là Tùy phiền não. [X. luận Du già sư địa Q.55]. II. Nhị Phiền Não. Nội trước phiền não và Ngoại trước phiền não.1. Nội trước phiền não: Chỉ cho các phiền não vì không biết rõ trong tâm mình mà khởi lên chấp trước như: Thân kiến, biên kiến... 2. Ngoại trước phiền não: Chỉ cho các phiền não vì không biết rõ cảnh ở ngoài mình mà khởi lên chấp trước như: Tham, sân, si... [X. luận Đại trí độ Q.7] III. Nhị Phiền Não. Tùy miên phiền não và Hiện hành phiền não.1. Tùy miên phiền não: Chỉ cho các chủng tử vô minh phiền não tiềm phục trong thức A lại da, có năng lực sinh ra tất cả vọng hoặc.2. Hiện hành phiền não: Chỉ cho các phiền não tham, sân, si... do 6 căn đối trước 6 trần cảnh mà hiện khởi. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.8].
nhị phàm
(二凡) Chỉ cho Nội phàm và Ngoại phàm. Trước giai vị Kiến đạo, hành giả Tam thừa còn là địa vị phàm phu, gọi là Phàm vị. Phàm vị được chia làm 2 là Ngoại phàm và Nội phàm. 1. Ngoại phàm: Chỉ cho những người chỉ nghe giáo pháp mà phát tâm tin, như bậc Tam hiền Tiểu thừa hay giai vị Thập tín của Đại thừa. 2. Nội phàm: Chỉ cho những người không những chỉ nghe và tin, mà chân chính tu hành giáo pháp và gần với Thánh vị, như bậc Tứ thiện căn của Tiểu thừa và giai vị Thập trụ trở lên của Đại thừa. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.3].
Nhị phàm phu
二凡夫; C: èrfánfū; J: nibonbu;|Hai loại phàm phu: 1. Nội phàm (内凡): người đã đạt được phần nào sự chứng ngộ chân lí đạo Phật. 2. Ngoại phàm (外凡): những người đang còn bị vướng mắc trong vô minh (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
nhị pháp
(二法) I. Nhị Pháp. Hai pháp. Chỉ cho 10 cặp Nhị pháp tóm thu hết thảy các pháp. Đó là: Chân tục, Giáo hành, Tín pháp, Thừa giới, Phúc tuệ, Quyền thực, Trí đoạn, Định huệ, Bi trí và Chính trợ. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6, phần 2]. II. Nhị Pháp. Hai loại pháp. Các pháp được chia làm 2 loại như: Sắc-tâm, nhiễm-tịnh, hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi...
nhị pháp chấp
(二法執) Hai pháp chấp: Câu sinh pháp chấp và Phân biệt pháp chấp. 1. Câu sinh pháp chấp: Từ vô thủy đến giờ, do sức huân tập thành thói quen, nên đối với tất cả pháp thường vọng sinh chấp trước. Loại pháp chấp này sinh ra cùng một lượt với thân, cho nên gọi là Câu sinh pháp chấp và phải đến giai vị Tu đạo mới đoạn trừ hết được. 2. Phân biệt ngã chấp: Đối với các pháp do tà sư, tà giáo nói ra, phân biệt, suy tính rồi chấp là thực pháp, gọi là Phân biệt pháp chấp. Loại pháp chấp này khi hành giả đến giai vị Kiến đạo thì dứt hết. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.4].
nhị pháp tướng vi
(二法相違) Chỉ cho 2 pháp trái ngược nhau: Phiền não và Niết bàn. 1. Phiền não: Chỉ cho các hoặc vô minh, tham ái. Chúng sinh thuận theo phiền não trôi lăn trong dòng sinh tử nên trái với con đường Niết bàn. 2. Niết bàn: Chúng sinh nhàm chán nỗi khổ sinh tử, tu tập hạnh thanh tịnh, đoạn trừ các phiền não chứng đại Niết bàn, cho nên trái với các hoặc vô minh. [X. luận Du già sư địa Q.92].
nhị phúc
(二福) Chỉ cho Phạm phúc và Thánh phúc. Phạm phúc là phúc đức của Đại phạm thiên vương, còn Thánh phúc là phúc đức của quả Thánh Tam thừa. [X. Pháp hoa văn cú Q.10].
nhị phúc điền
(二福田) Chỉ cho 2 thứ ruộng phúc và có các thuyết khác nhau. I. Nhị Phúc Điền. Học nhân điền và Vô học nhân điền. 1. Học nhân điền: Chỉ cho bậc Thánh tu học Thánh đạo từ giai vị Kiến đế trở về sau. Ở đây căn cứ theo Thánh vị khác nhau mà có 18 bậc, gọi là Thập bát hữu học. 2. Vô học nhân điền: Chỉ cho bậc Thánh đã chứng được quả cùng tột, không còn gì để tu học. Tùy theo căn tính khác nhau mà có 9 bậc Thánh Vô học, gọi là Cửu A la hán. Cứ theo kinh Phúc điền trong Trung a hàm quyển 30, các bậc Hữu học và Vô học đều là bậc Thánh chân chính đáng tôn kính. Các Ngài là ruộng phúc của người đời, nếu cúng dường các Ngài thì sẽ được phúc. II. Nhị Phúc Điền. Bi điền và Kính điền. 1. Bi điền: Những người nghèo cùng khốn khổ là ruộng phúc đáng được giúp đỡ với lòng từ bi(tức nếu có lòng thương giúp đỡ những người này thì được phúc). 2. Kính điền: Tức Tam bảo là ruộng phúc đáng được cúng dường với tâm cung kính.[X. Trí giả đại sư biệt truyện]. III. Nhị Phúc Điền. Hữu tác phúc điền và Vô tác phúc điền. 1. Hữu tác phúc điền: Vì muốn được phúc báo mà tu hành. 2. Vô tác phúc điền: Chỉ vì khởi tâm cung kính mà tu hành, chứ không có ý niệm muốn được phúc báo. [X. kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.5].IV. Nhị Phúc Điền. Kính điền và Ân điền. 1. Kính điền: Cung kính cúng dường Tam bảo sẽ được vô lượng phúc đức. 2. Ân điền: Cha mẹ có ơn sinh thành và nuôi nấng, thầy tổ có ơn dạy dỗ nên người, cung kính cúng dường các bậc này thì không những để báo ân mà còn được phúc đức. [X. kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.3].
nhị phương tiện
(二方便) I. Nhị Phương Tiện. Chỉ cho Thế gian thiện xảo phương tiện và Xuất thế gian thiện xảo phương tiện. 1. Thế gian thiện xảo phương tiện, gọi tắt: Thế gian phương tiện. Nghĩa là những phương tiện khéo léo, vì muốn mang lại lợi ích cho mình và cho người, mà Bồ tát tạm đặt ra. Bởi phương tiện này còn có sở đắc, có chấp trước, nên gọi là Thế gian thiện xảo phương tiện. 2. Xuất thế gian thiện xảo phương tiện, gọi tắt: Xuất thế gian phương tiện. Nghĩa là những phương tiện thiện xảo, chỉ vì muốn làm lợi cho người, mà Bồ tát thị hiện ra. Bởi phương tiện này không còn sở đắc, không chấp trước, nên gọi là Xuất thế gian thiện xảo phương tiện. [X. kinh Đại thừa đại tập Địa tạng thập luân Q.10; Đại minh tam tạng pháp số Q.6]. II. Nhị Phương Tiện. Chỉ cho Tế tác phương tiện và Bất niệm phương tiện. Mục đích của 2 Phương tiện này là nhằm phá trừ sự chấp trước của chúng sinh đối với ảnh tượng của sắc thân. 1. Tế tác phương tiện: Phương tiện khéo léo phân tích 3 nghìn đại thiên thế giới thành những hạt bụi nhỏ để chỉ rõ sắc thân này vốn là giả hợp. 2. Bất niệm phương tiện: Các kinh nói bụi nhỏ chẳng là bụi nhỏ mới chính là bụi nhỏ, dùng phương tiện hiểu được như vậy mới không sinh niệm tưởng, xa lìa sự chấp trước đối với các tướng của sắc thân. [X. Kim cương bát nhã ba la mật kinh luận Q.trung; Đại minh tam tạng pháp số Q.6].III. Nhị Phương Tiện. Chỉ cho Thể nội phương tiện và Thể ngoại phương tiện, do tông Thiên thai thành lập.1. Thể nội phương tiện: Phương tiện dùng để hiển bày pháp chân thực, mở phương tiện tức chân thực. Đây là loại phương tiện được nói trong kinh Pháp hoa. 2. Thể ngoại phương tiện: Phương tiện này đối lại với chân thực, tức là Phương tiện ngoài chân thực. Đây là loại phương tiện được nói trong các kinh khác. [X. Pháp hoa văn cú Q.3; Thùy dụ kí Q.2].
nhị phạm
(二犯) Cũng gọi Chỉ tác nhị phạm. Đối lại: Nhị trì. Chỉ cho 2 hình thức phạm giới: Chỉ phạm và Tác phạm. 1. Chỉ phạm: Nhàm chán các hành nghiệp thù thắng mà không tu học, vì không làm các thiện pháp nên phạm giới thể. 2. Tác phạm: Làm những việc trái với giới luật đã thụ, vì làm các pháp ác mà phạm giới thể. Trong Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, ngài Đạo tuyên giải thích về Nhị phạm như sau: a) Tác phạm: Tác là cổ động thân, khẩu trái với lí Chí cảnh; Phạm là làm những điều trái với giới luật đã thụ, phạm do tác mà sinh nên gọi là Tác phạm. b) Chỉ phạm: Chỉ là tâm si mê biếng nhác, trái với giới luật đã thụ, nhàm chán những thắng nghiệp, không tu tập, thế là chỉ (ngưng chỉ, đình chỉ); vì chỉ trái với giới luật đã thụ nên gọi là Chỉ phạm. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung].
nhị phần gia
(二分家) Chỉ cho thuyết Hai phần do Luận sư Nan đà thành lập. Thuyết này chủ trương Tâm thức nhị phần, tức là khi tâm thức khởi tác dụng nhận biết thì sanh ra Tướng phần và Kiến phần khác nhau. Ngoài ra còn có Nhất phần thuyết của ngài An tuệ, Tam phần thuyết của ngài Trần na và Tứ phần thuyết của ngài Hộ pháp. (xt. Tứ Phần).
nhị phật tinh toạ
(二佛幷坐) Hai đức Phật cùng ngồi chung 1 tòa. Chỉ cho đức Phật Đa bảo và Phật Thích ca cùng ngồi trong tháp báu trên núi Linh thứu khi đức Phật Thích ca tuyên thuyết kinh Pháp hoa. Phật Đa bảo biểu thị Pháp thân Phật và Định, Phật Thích ca biểu thị Báo thân Phật và Tuệ. Nhị Phật tịnh tọa biểu thị cho Pháp Báo bất nhị, Định Tuệ nhất như.
nhị phật trung gian
(二佛中間) Khoảng giữa 2 đức Phật. Tức chỉ cho khoảng thời gian từ khi đức Phật Thích ca nhập diệt đến lúc Phật Di lặc ra đời. Trong thời gian này không có Phật trụ thế, nên người đời không được trực tiếp nghe Phật nói pháp.
nhị phật tính
(二佛性) Chỉ cho 2 loại Phật tính: Lí Phật tính và Hạnh Phật tính. 1. Lí Phật tính: Tức là Phật tính mà tất cả chúng sinh đều có sẵn. 2. Hạnh Phật tính: Chỉ cho những chủng tử vô lậu trong thức A lại da. Lí Phật tính thì hết thảy chúng sinh đều có, tuy nhiên, nếu chúng sinh không có Hạnh Phật tính thì mãi mãi không thể thành Phật.[X. Phật địa kinh luận Q.2; Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng, phần đầu]. (xt. Phật Tính).
Nhị phọc
二縛; C: èrfú; J: nibaku;|Hai loại ràng buộc: Tương ưng phọc và Sở duyên phọc. Từ điển Phật Quang còn liệt kê ba cặp khác của Nhị phọc (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
nhị phọc
(二縛) Chỉ cho 2 sự ràng buộc. I. Nhị Phược. Tương ứng phược và Sở duyên phược. 1. Tương ứng phược: Sự ràng buộc của Kiến hoặc, Tu hoặc, như 10 Tùy miên (ngũ kiến, tham, sân, mạn, nghi, vô minh) của Khổ đế ở cõi Dục, làm cho Tâm, Tâm sở tương ứng cùng khởi không được tự do duyên theo các cảnh sở duyên. 2. Sở duyên phược: Phiền não duyên cảnh có thế lực mạnh, ràng buộc cảnh sở duyên khiến không được tự tại, như 10 Tùy miên của Khổ đế ở cõi Dục ràng buộc lẫn nhau mà trở thành Sở duyên phược đồng bộ; rồi phiền não Biến hành của Tập đế ràng buộc pháp của Khổ đế mà trở thành Sở duyên phược dị bộ... [X. luận Đại tì bà sa Q.86; Câu xá luận quang kí Q.1]. (xt. Sở Duyên Phược). II. Nhị Phược. Tướng phược và Thô trọng phược. 1. Tướng phược: Tướng phần của sở duyên gây trở ngại cho tâm của Kiến phần năng duyên, làm mất tự do, không thấy rõ được cảnh tướng như huyễn. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 5, phần đầu, cho rằng Tướng phược có 3 loại là: Tất cả tướng phần đều là Tướng phược, hoặc chỉ có tướng phần hữu lậu là Tướng phược, hoặc khi tu Lục độ chấp tướng Tam luân là Tướng phược. 2. Thô trọng phược: Tính không dịu dàng nhỏ nhẹ nên gọi là Thô trọng, tức là tính rất cứng rắn, hay trói buộc thân tâm chúng sinh trong sinh tử, hoặc khiến chúng sinh không thấy rõ các pháp như huyễn. Về thể tính của Tướng phược và Thô trọng phược tuy có nhiều thuyết, nhưng tựu trung đều cho rằng chủng tử của Phiền não chướng và Sở tri chướng là thể tính của Tướng phược và Thô trọng phược. III. Nhị Phược. Năng duyên phược và Sở duyên phược. 1. Năng duyên phược: Cảnh sở duyên (đối tượng khách quan) bị tâm năng duyên (chủ thể chủ quan) trói buộc. 2. Sở duyên phược: Tâm năng duyên bị cảnh sở duyên gây trở ngại. [X. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.5, phần đầu]. IV. Nhị Phược. Chỉ cho Tử phược và Quả phược. 1. Tử phược: Kiến hoặc và Tư hoặc là chủng tử (nhân) khiến chúng sinh thụ sinh trong 3 cõi, nên gọi là tử; vì đó mà không thể ra khỏi 3 cõi, nên gọi là phược (trói buộc). 2. Quả phược: Vì nghiệp đời trước chiêu cảm mà có thân 5 uẩn, nên gọi là Quả. Thân này bị trói buộc trong 3 cõi nên gọi là phược. Trong Tứ đế, Tập đế là Tử phược, Khổ đế là Quả phược. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3, thượng, cho rằng nếu không dứt được 2 phược này thì không thể chứng được quả Thanh văn. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu].
nhị quang
(二光) Hai thứ ánh sáng từ nơi các đức Phật phát ra. I. Nhị Quang. Chỉ cho Sắc quang và Tâm quang. 1. Sắc quang, cũng gọi Thân quang: Ánh sáng phát ra từ thân đức Phật, mắt thường có thể trông thấy. 2. Tâm quang, cũng gọi Trí tuệ quang: Ánh sáng từ trí tuệ của Phật phóng ra, có năng lực che chở cho chúng sinh. [X. Lục yếu sao Q.3, phần cuối]. II. Nhị Quang. Chỉ cho Thường quang và Thần thông quang. 1. Thường quang: Ánh sáng phát ra từ thân chư Phật, như ánh sáng rộng 1 tầm của đức Thích ca và ánh sáng vô lượng của Phật A di đà. 2. Thần thông quang: Ánh sáng do chư Phật dùng thần lực phóng ra cho chúng sinh đặc thù nào đó.
nhị quy giới
(二歸戒) Hai qui giới. Chỉ cho qui y Phật và qui y Pháp. Nghĩa là lúc đức Phật mới thành đạo chưa có Tăng bảo, cho nên chỉ lãnh thụ có 2 qui y. [X. Thích thị yếu lãm Q.thượng]. (xt. Tam Qui Y).
nhị quyết định nghĩa
(二决定義) Hai nghĩa quyết định: Thẩm nhân tâm quả giác và Thẩm phiền não căn bản. A nan không biết rằng nhân tâm mà chúng sinh vốn có tức là quả giác...... mà Như lai đã chứng, rằng quả giác mà Như lai đã chứng chính là nhân tâm sẵn có của chúng sinh, vì thế đức Như lai bảo tôn giả A nan quán xét cho thật kĩ để biết chắc rằng nhân tâm và quả giác xưa nay vốn không khác. Nếu có thể lấy ngay cái tâm không khác này làm căn bản để tiến tu thì quả Giác ngộ vô thượng quyết định sẽ thành tựu. 2. Thẩm phiền não căn bản: Xét rõ gốc rễ phiền não. Vì tôn giả A nan không biết rõ gốc rễ của phiền não, cứ tùy theo nghiệp đã tạo mà chịu sinh tử, không biết bao giờ được giải thoát, cho nên đức Phật bảo tôn giả phải quán xét cho thật kĩ, để thấy rõ 1 cách quyết định rằng, thể tính phiền não và nghiệp đã tạo tác, cũng như quả báo phải chịu, xưa nay vốn hư giả không thật. Nếu có thể thấy suốt đến tận đáy nguồn của sự điên đảo này thì chính hạnh chắc chắn được thành lập và quyết định sẽ chứng đắc vô thượng Niết bàn.
nhị quán hạnh
(二觀行) Cũng gọi Duy thức quán. Chỉ cho 2 pháp quán: Tầm tứ và Chân như.1. Tầm tứ: Tìm kiếm, dò xét. Tầm là tác dụng tinh thần tìm cầu của tâm thô mạnh; Tứ là tác dụng tinh thần phân biệt của tâm vi tế. Nghĩa là tâm do căn trần đối nhau mà khởi lên 1 niệm, tức là dùng 3 pháp quán Không, Giả, Trung để quán xét. 2. Chân như: Chân là không hư dối, Như là không sai khác. Tức là dùng diệu quán mà quán xét lí chân như vốn có đủ trong tâm tính khiến cho nó hiển phát.
Nhị quả
二果; C: èrguǒ; J: nika;|Có hai nghĩa: 1. Nhất lai, quả vị thứ hai trong bốn quả vị (Tứ quả 四果) của Tiểu thừa; 2. Hai quả vị đầu trong bốn quả vị của Tiểu thừa: Dự lưu (預流) và Nhất lai (一來).
nhị quả
Xem nhất lai, tư đà hàm.
; (二果) I. Nhị Quả. Chỉ cho Tập khí quả và Báo quả. 1. Tập khí quả, cũng gọi Sở y quả. Tương đương với Đẳng lưu quả. Do khí phần huân tập thiện ác ở đời trước mà chiêu cảm quả báo ở đời này, gọi là Tập khí quả. Như đời trước làm thiện thì đời này có tâm thiện; đời trước tạo ác thì đời này mang tâm ác. 2. Báo quả: Tương đương với Dị thục quả. Do đời trước gieo nhân thiện ác mà đời này cảm quả báo khổ vui, gọi là Báo quả. Như đời trước gieo nhân lành thì đời này được quả vui sướng, giầu có; đời trước gây nhân ác thì đời này cảm quả khổ đau, nghèo khó... [X. Câu xá thích luận Q.3, 5; Đại minh tam tạng pháp số Q.6]. II. Nhị Quả. Chỉ cho Tăng thượng quả và Dị thục quả. 1. Tăng thượng quả: Năm căn là chỗ nương của thức, căn hàm ý là thêm lên, cho nên gọi là Tăng thượng quả. Lại như ý thức hay dẫn sinh ra niệm trước làm chỗ nương cho niệm sau của 5 thức trước và thức thứ 7 (Phân biệt thức), thức thứ 8(Tàng thức)làm chỗ nương cho thức thứ 7, cho nên đều gọi là Tăng thượng quả. 2. Dị thục quả: Quả báo chín mùi ở thời gian khác. Có thể chia ra 2: a) Chân dị thục: Thức thứ 8 có năng lực chứa đựng tất cả chủng tử của các pháp để thành thục quả của các căn thức. Đây là nghiệp báo chung của đời trước đối với quả báo của đời này. b) Dị thục sinh: Từ chủng tử trong thức thứ 8 sinh ra các căn thức tức là nghiệp báo riêng của đời trước đối với quả báo ở đời này.[X. Đại minh tam tạng pháp số Q.6]. III. Nhị Quả. Phạm: Sakfdàgamin. Quả thứ 2 trong 4 quả Thanh văn, tức là quả Nhất lai; dịch âm là Tư đà hàm. (xt. Tư Đà Hàm).
nhị quả nhị nghĩa
(二果二義) Hai nghĩa của quả vị Tư đà hàm: 1. Nhất vãng thiên thượng(Một lần sinh lên cõi trời): Bậc Thánh Tư đà hàm(Nhị quả) vẫn còn 3 phẩm hoặc ở cõi Dục, còn phải sinh ra 1 lần nữa để đoạn trừ hết. Nếu được Nhị quả ở cõi người, thì phải 1 lần sinh lên cõi trời và 1 lần sinh xuống nhân gian nữa mới chứng được Tam quả(A na hàm), gọi là Nhất vãng thiên thượng. 2. Nhất vãng nhân gian(Một lần sinh xuống nhân gian): Nếu bậc Thánh được Nhị quả ở trên cõi trời, thì phải 1 lần sinh xuống nhân gian và 1 lần sinh lên cõi trời nữa mới chứng Tam quả, gọi là Nhất vãng nhân gian.[X. luận Câu xá Q.24].
nhị song tứ trọng
(二雙四重) Hai đôi bốn lớp: Thụ xuất và Hoành xuất; Thụ siêu và Hoành siêu. Thụ xuất, Hoành xuất gọi là Nhị xuất; Thụ siêu, Hoành siêu gọi là Nhị siêu. Đây là giáo phán của Tịnh độ chân tông Nhật bản, do Sơ tổ Thân loan thành lập. Cứ theo Ngu thốc sao quyển thượng, giáo pháp do đức Phật nói trong 1 đời được chia làm Thánh đạo giáo và Tịnh độ giáo, trong đó, có Đại thừa và Tiểu thừa khác nhau. Trong Đại thừa lại chia thành Đốn giáo và Tiệm giáo, lại Đốn, Tiệm mỗi giáo đều lập Nan hành đạo và Dị hành đạo. Trong Tiệm giáo, Nan hành đạo Thánh đạo quyền giáo gọi là Thụ xuất, phối hợp với giáo pháp tu hành trải qua nhiều kiếp của tông Pháp tướng; còn gọi Dị hành đạo Tịnh độ yếu môn thì gọi là Hoành xuất, phối hợp các pháp định tán, tam phúc, biên địa vãng sinh nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Trong Đốn giáo, Nan hành đạo Thánh đạo thực giáo gọi là Thụ siêu, phối hợp với giáo pháp Tức thân thành Phật của Thiền, Chân ngôn, Thiên thai, Hoa nghiêm...; còn Dị hành đạo Tịnh độ bản nguyện chân thực thì gọi là Hoành siêu, phối hợp với giáo pháp Tuyển trạch bản nguyện chân thực báo độ tức đắc vãng sinh được nói trong kinh Vô lượng thọ. Trong đó, Tiệm giáo là xuất, Đốn giáo là siêu, Tự lực Thánh đạo là thụ, Tha lực Tịnh độ là hoành. Ngoài ra, từ ngữ Hoành siêu có nguồn gốc từ nhóm từ Hoành tiệt ngũ ác thú(cắt ngang 5 đường ác)trong kinh Vô lượng thọ quyển thượng và Hoành siêu đoạn tứ lưu (vượt ngang dứt 4 dòng – dục, tham, tà kiến, vô minh), trong Huyền nghĩa phần Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ quyển 1 của ngài Thiện đạo. Từ ngữ Thụ siêu là đối lại với 2 nhóm từ trên mà được lập ra. Còn các từ Thụ xuất và Hoành xuất thì có nguồn gốc từ thuyết Hoành thụ nhị xuất trong Lạc bang văn loại quyển 4 của ngài Tông hiểu (1151-1214) đời Tống.
nhị sư
(二師) I. Nhị Sư. Chỉ cho 2 bậc Đại đạo sư: Đức Thích ca Như lai và đức Đa bảo Như lai. II. Nhị Sư. Chỉ cho Thánh sư và Phàm sư. Thánh sư là những bậc có đủ 3 năng lực: Mắt tuệ, mắt pháp, dẫn đường. Còn các vị phàm sư thì không có 3 năng lực nói trên. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, phần 2].
nhị tam
(二三) Hai lần 3 là 6. Chỉ cho Lục sư ngoại đạo. Nhị tam có xuất xứ từ nhóm từ Nhị tam tà đồ trong Tam luận đại nghĩa sao quyển 1 của ngài Huyền duệ –người Nhật bản– nói về 6 phái ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa.(xt. Lục Sư Ngoại Đạo).
nhị thiên
(二天) I. Nhị Thiên. Chỉ cho Nhật thiên và Nguyệt thiên. II. Nhị Thiên. Chỉ cho 2 vị trời Đồng sinh và Đồng danh. Hai vị trời này sinh đồng thời với người, cùng tên với người, thường theo làm bạn với người. Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 60 (Đại 10, 324 thượng) nói: Như người sau khi sinh, có 2 vị trời thường đi theo, 1 là Đồng sinh, 2 là Đồng danh. Trời thường thấy người, người thường thấy trời. III. Nhị Thiên. Chỉ cho Phạm thiên và Đế thích thiên. IV. Nhị thiên. Chỉ cho 2 vị Vương tôn, tức là tượng của 2 vị Lực sĩ Kim cương bảo vệ già lam đứng ở 2 bên cổng chùa. (xt. Nhị Vương Tôn).
nhị thiên phổ hiền hành pháp
(二千普賢行法) Gọi tắt: Nhị thiên hành pháp. Chỉ cho 2.000 hành pháp do bồ tát Phổ hiền trả lời 200 câu hỏi của bồ tát Phổ tuệ, mỗi câu hỏi có 10 câu trả lời, được chỉ bày bằng quá trình thực hành 6 giai vị: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và Diệu giác được nói trong phẩm Li thế gian của kinh Hoa nghiêm quyển 13 (bản dịch mới). Hai trăm câu hỏi được sắp xếp như sau: 20 câu hỏi về sự tu hành Thập tín, 20 câu hỏi về sự tu hành Thập trụ, 30 câu hỏi về sự tu hành Thập hạnh, 29 câu hỏi về sự tu hành Thập hồi hướng, 50 câu hỏi về việc tu hành Thập địa và 51 câu sau cùng hỏi về việc tu hành trong giai vị cứu cánh nhân viên quả mãn. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 17 của ngài Pháp tạng chia 2.000 hành pháp Phổ hiền này thành 5 môn: Nhân quả, Hành vị, Phổ biệt, Hỗ nhiếp và Hành tướng. [X. Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.4, phần cuối].
nhị thiên tam tiên
(二天三仙) Từ gọi chung 2 vị trời và 3 vị tiên. - Nhị thiên: Đại tự tại thiên (Phạm: Mahezvara) và Tì nữu thiên (Phạm: Viwịu), là 2 vị thần cao nhất trong Ấn độ giáo.- Tam tiên: Chỉ cho 3 vị tiên nhân hoặc 3 vị triết nhân: Ca tì la (Phạm:Kapila), Tổ của học phái Số luận, Ưu lâu tăng khư (Phạm:Ulùka), Tổ của học phái Thắng luận và Lặc sa bà (Phạm:Fwadha), Tổ của phái Ni kiền tử. Nói theo lập trường của Phật giáo thì 2 vị trời và 3 vị tiên này đều thuộc về ngoại đạo chấp trước vọng kiến. [X. Trung luận Q.1; Bách luận Q.1; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.10].
nhị thiền
Dvitiya-dhyāna (S), Second dhyana Dutiya-jhāna (P), Dvitiyadhyāna (S)Gồm 4 đức: Nội đẳng tịnh, Hỷ, Lạc, Tâm nhất cảnh trí.
; (二禪) I. Chỉ thiện và Hành thiện: 1. Chỉ thiện: Cái thiện tránh làm điều ác, không phạm tội lỗi. 2. Hành thiện: Cái thiện tu tạo thiện căn, tích cực làm các việc lành. [X. Bồ tát giới kinh nghĩa sớ Q.thượng; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng]. II. Định thiện và Tán thiện: 1. Định thiện: Tâm tĩnh lặng, dứt niệm lự, quán xét y báo chính báo Tịnh độ, gọi là Định thiện, tức dùng tâm thiền định tu tập thiện nghiệp. 2. Tán thiện: Điều hòa thân, khẩu, ý để bỏ ác tu thiện, gọi là Tán thiện, tức thiện nghiệp được tu tập bằng tâm tán loạn. Đại sư Thiện đạo đời Đường giải thích 16 pháp quán tưởng trong kinh Quán vô lượng thọ cho rằng 13 pháp quán trước là Định thiện, 3 pháp quán sau là Tán thiện. [X. phần Huyền nghĩa trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.1]. III. Vị sinh thiện và Dĩ sinh thiện: 1. Vị sinh thiện: Chưa từng tu tập thiện pháp như giới, định, tuệ... 2. Dĩ sinh thiện: Đã từng tu tập các thiện pháp. [X. luận Đại trí độ Q.48] IV. Sự thiện và Líthiện: 1. Sự thiện: Cái thiện thông thường như không làm việc ác. 2. Lí thiện: Cái thiện sâu xa, như diệt trừ những điều mê lầm về lí. Tạng giáo là Sự thiện của giới nội, Thông giáo là Lí thiện của giới nội; Biệt giáo là Sự thiện của giới ngoại; Viên giáo là Lí thiện của giới ngoại. Đây đều dựa theo sự cạn, sâu đối đãi mà chia ra Sự và Lí. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, phần đầu].
nhị thiền thiên
Trời Nhị thiền có 3 tầng trời: - Thiểu quang thiên - Vô lượng quang thiên - Quang âm thiên.
; (二禪天) Cũng gọi Nhị tĩnh lự. Cõi trời của những người tu Nhị thiền thành tựu sinh lên, là tầng trời thứ 2 trong cõi Sắc. Tầng này lại được chia làm 3 cõi trời là: Trời Thiểu quang, trời Vô lượng quang và trời Quang âm. Người ở cõi Nhị thiền tuy đã lìa 2 tâm sở tầm và tứ thô động của Sơ thiền, có thể tránh khỏi đại hỏa tai của kiếp mạt, nhưng vì vẫn còn có niệm hỉ, lạc nên không tránh khỏi đại thủy tai của kiếp mạt. [X. luận Câu xá Q.12].
nhị thiện
(二善) Phạm:Dvitìva-dhyàna. Chỉ cho Thiền định thứ 2 trong 4 thiền định ở cõi Sắc. Người chứng Nhị thiền tâm định trong sáng, không còn các tâm sở tầm, tứ và cảm nhận 2 thụ hỉ, lạc trong 3 thụ, vì thế nên Nhị thiền còn được gọi là Định sinh hỉ lạc.[X. luận Câu xá Q.28]. (xt. Tứ Thiền).
nhị thiện tam phúc
(二善三福) Hai thiện ba phúc. Tức các thiện căn nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Nhị thiện: Định thiện và Tán thiện. Tam phúc: Thế phúc, Giới phúc và Hành phúc. (xt. Nhị Thiện, Tam Phúc).
nhị thuyên
(二詮) Chỉ cho 2 phương thức giải thích rõ ý nghĩa của các sự vật. Đó là: 1. Già thuyên: Dùng phương thức phủ định để hiển bày 1 ý nghĩa nào đó. 2. Biểu thuyên: Dùng phương thức khẳng định để thuyết minh. (xt. Già Thuyên Biểu Thuyên).
nhị thuỷ
(二始) Hai sự khởi đầu. Chỉ cho sự khởi đầu của Tiểu thừa và Đại thừa. Đây là thuyết của tông Thiên thai. 1. Đức Phật nói kinh A hàm ở vườn Lộc dã, đó là khởi đầu của Tiểu thừa giáo. 2. Đức Phật nói kinh Hoa nghiêm ở đạo tràng Tịch diệt, đó là khởi đầu của Đại thừa giáo.
nhị thân
(二親) I. Nhị Thân. Chỉ cho 2 loại Phật thân. 1. Sinh thân và Hóa thân: a) Sinh thân: Thân Phật giáng sinh trong cung vua, xuất gia tu hành thành đạo. b) Hóa thân: Các loại thân như trời, người, rồng, quỉ... do Phật dùng sức thần thông biến hóa ra để độ sinh. 2. Sinh thân và Pháp thân: a) Sinh thân: Theo thuyết Tiểu thừa là thân giáng sinh trong cung vua, còn theo thuyết Đại thừa thì là thân ứng hóa tùy cơ hiện sinh. b) Pháp thân: Theo thuyết Tiểu thừa là công đức giới, định, tuệ; còn theo Đại thừa thì là chân thân lí và trí thầm hợp. Tức trong 3 thân thì Pháp thân và Báo thân hợp chung lại làm Pháp thân, còn Ứng thân là Sinh thân.[X. kinh Đại niết bàn Q.34 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.9; Đại thừa nghĩa chương Q.19]. 3. Pháp thân và Giải thoát thân: a) Pháp thân: Thân có vô lượng công đức thù thắng. b) Giải thoát thân: Thân xa lìa sự trói buộc của các phiền não. [X. kinh Giải thâm mật Q.5; luận Du già sư địa Q.78]. 4. Pháp tính thân và Ứng hóa pháp thân, cũng gọi Nhị chủng pháp thân. a) Pháp tính thân: Thực trí từ pháp tính lưu xuất. b) Ứng hóa pháp thân: Tất cả thân từ pháp tính ứng hiện. Hai loại thân này chung cho cả Phật và hàng Bồ tát Thập địa. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng]. 5. Tịch tĩnh pháp giới thân và Nhân thân. 6. Pháp tính thân và Phụ mẫu sinh thân, cũng gọi Pháp tính sinh thân và Tùy thế gian thân, Pháp tính sinh thân Phật và Tùy chúng sinh ưu liệt hiện hóa Phật, Chân thân và Hóa thân. a) Pháp tính thân: Thân tướng hảo trang nghiêm, có vô lượng ánh sáng và âm thanh. b) Phụ mẫu sinh thân: Thân vì chúng sinh mà chịu các tội báo. [X. luận Đại trí độ Q.9]. 7. Ngôn thuyết pháp thân và Chứng đắc pháp thân: a) Ngôn thuyết pháp thân: Pháp thân vốn vô tướng, lìa các ngôn thuyết, nhưng nếu không nhờ ngôn thuyết thì không hiển bày, vì thế nên gọi là Ngôn thuyết pháp thân. b) Chứng đắc pháp thân: Pháp thân vốn đầy đủ, nhưng vì các phiền não vô minh che lấp nên không hiển hiện, nhờ có tu hành mới chứng được, nên gọi là Chứng đắc pháp thân.[X. Kim cương bát nhã kinh luận Q.thượng]. 8. Chân Phật và Phi chân Phật: Chỉ cho Pháp thân và Ứng hóa thân. Pháp thân là Phật gốc, Ứng hóa thân là Phật ngọn, vì thế chia ra Chân và Phi chân. [X. Kim cương bát nhã kinh luận Q.thượng]. 9. Như lưu tinh thân và Như nhật thân: a) Như lưu tinh thân: Thân như sao băng, đi đến thế giới ở các phương khác. b) Như nhật thân: Thân như mặt trời ở giữa hư không, đồng thời chiếu sáng khắp tất cả mọi nơi. [X. Thập địa kinh luận Q.1]. 10. Pháp tính pháp thân và Phương tiện pháp thân: a) Pháp tính pháp thân: Thân từ Phương tiện pháp thân sinh ra. b) Phương tiện pháp thân: Thân từ Pháp tính pháp thân sinh ra. [X. Vãng sinh luận chú]. 11. Thực tướng thân và Vị vật thân: a) Thực tướng thân: Thân do đức Phật tự chứng. b) Vị vật thân: Thân vì hóa độ chúng sinh mà thị hiện. [X. Vãng sinh luận chú]. (xt. Thực Tướng Thân Vị Vật Thân). 12. Chân thân và Ứng thân: a) Chân thân: Trí đức của chính mình, tức là Pháp thân. b) Ứng thân, cũng gọi Cộng thế gian thân: Thân vì độ thoát chúng sinh mà hóa hiện.[X. Đại thừa nghĩa chương Q.19; Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.3]. 13. Lí pháp thân và Trí pháp thân: a) Lí pháp thân: Lí là tính đức, tức thể tính trong sáng xưa nay vốn lìa niệm, cũng như hư không, chư Phật và chúng sinh đều cùng 1 tướng, gọi là Lí pháp thân. b) Trí pháp thân: Trí là tu đức, tức trí thủy giác cứu cánh khế hợp với lí của bản giác thanh tịnh, lí và trí dung hòa, sắc và tâm chẳng hai, nên gọi là Trí pháp thân. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.4]. II. Nhị Thân. Chỉ cho Phần đoạn thân và Biến dịch thân.Phần đoạn thân là thân phần đoạn sinh tử; Biến dịch thân là thân biến dịch sinh tử. (xt. Sinh Tử).
nhị thí
(二施) I. Nhị Thí. Chỉ cho Tài thí và Pháp thí: Cho của và cho pháp. Phẩm Pháp tính trong kinh Đại bát nhã quyển 569 so sánh sự hơn kém giữa 2 thứ bố thí này như sau (Đại 7, 942 thượng): Cho của thì có lúc hết, cho pháp thì vô cùng. Vì sao? Vì cho của chỉ được quả báo thế gian. Quả vui cõi người, cõi trời được đó, mất đó, nay tuy tạm được nhưng mai này chắc chắn sẽ mất, còn nếu cho pháp thì được cái chưa từng được. II. Nhị Thí. Chỉ cho Thực thí và Pháp thí: Cho ăn và cho pháp. Kinh Tiến học (Đại 17, 744 trung) nói: Lại có nhị thí: Thức ăn uống ngon ngọt để nuôi thân mệnh; giảng diễn kinh điển, mở bày chỗ sâu kín, vui vẻ lắng nghe. Ăn nuôi sống thân thể, pháp thăng hoa tinh thần, 2 việc tuy đều lợi lạc nhưng pháp là hơn.
nhị thù thắng
(二殊勝) Hai điều thù thắng, đặc biệt hơn hết. Đó là: 1. Trên hợp với giác tâm mầu nhiệm của chư Phật: Giác tâm vốn nhiệm mầu, tức là chân tâm bản nhiên trong sáng rõ suốt của chư Phật. Bồ tát cực chứng tịch diệt, 10 phương tròn sáng, thể đồng với chư Phật, cho nên có năng lực phát khởi đồng thể đại từ ban niềm vui cho hết thảy chúng sinh, hiện thân khắp 10 phương thuyết pháp độ cả thánh phàm, có nguyện thì được như ý, nên gọi là Thù thắng. 2. Dưới hợp với chúng sinh cùng 1 tâm thương xót: Lí viên thông mà Bồ tát chứng được và tâm bản hữu của chúng sinh tuy có mê ngộ khác nhau, nhưng thể tính thì vẫn là 1, cho nên Bồ tát có năng lực phát khởi tâm đồng thể đại bi diệt trừ khổ não cho chúng sinh, thầm ứng hiện khắp 10 phương, bố thí vô úy cho hết thảy, nếu ai có mong cầu điều gì thì đều được toại nguyện, nên gọi là Thù thắng. [X. kinh Lăng nghiêm Q.6].
nhị thất mạn đồ la
(二七曼荼羅) Chỉ cho Mạn đồ la Ngũ luân cửu tự do ngài Giác tông, người Nhật truyền. Ngũ tự luân và cửu tự minh hợp thành 14 luân nên gọi là Nhị thất. Ngũ luân cửu tự minh bí mật thích (Đại 79, 11 thượng) nói: Nhị thất Mạn đồ la là pháp nội chứng của Đế vương Đại nhật, là tâm của đức Di đà Thế tôn, là phổ môn của bậc Đại giác đời hiện tại, là con đường vãng sinh xuôi thuận. Cửu tự minh tức là chân ngôn của đức Phật A di đà: Án A mật lí đa đế tế ha la hồng.
nhị thập bát bộ chúng
(二十八部衆) Gọi đủ: Thiên thủ Quan âm nhị thập bát bộ chúng. Chỉ cho 28 bộ chúng quyến thuộc của đức Thiên thủ Quan âm, gồm Thiện thần, Long vương, Thần mẫu nữ... mỗi vị đều có 500 quyến thuộc. Do các nghi quĩ khác nhau nên tên gọi của 28 bộ chúng được liệt kê cũng khác nhau. Cứ theo kinh Thiên thủ đà la ni (bản dịch của ngài Già phạm đạt ma) thì 28 bộ chúng ấy là: 1. Mật tích kim cương sĩ ô sô quân đồ ương câu thi. 2. Bát bộ lực sĩ thưởng ca la. 3. Ma hê na la diên. 4. Kim cương la đà ca tì la. 5. Bà cấp sa lâu na. 6. Mãn thiện xa bát chân đà la. 7. Tát già ma hòa la. 8. Cưu lan đơn tra bán kì la. 9. Tất bà già la vương. 10. Ứng đức tì đa tát hòa la. 11. Phạm ma tam bát la. 12. Ngũ bộ tịnh cư viêm ma la. 13. Thích vương. 14. Đại biện công đức sa đát na. 15. Đề đầu lại tra vương. 16. Thần mẫu nữ đẳng đại lực chúng. 17. Tì lâu lặc xoa vương. 18. Tì lâu bác xoa tì sa môn. 19. Kim sắc khổng tước vương. 20. Nhị thập bát bộ đại tiên chúng. 21. Ma ni bạt đà la. 22. Tán chi đại tướng phất la bà. 23. Nan đà bạt nan đà. 24. Bà già la long y bát la. 25. Tu la càn thát bà. 26. Ca lâu khẩn na ma hầu la. 27. Thủy hỏa lôi điện thần. 28. Cưu bàn đồ vương tì xá na.
nhị thập bát chủng căn bản đạo đức
MŪlaguṇa (S)Căn bản công đức chánh hạnhMột phẩm trong Căn bản chánh hạnh luận (Mulacara).
Nhị thập bát thiên
二十八天; C: èrshíbā tiān; J: nijūhatten;|Hai mươi tám tầng trời. Sáu tầng trời cõi Dục (Lục dục thiên 六欲天), mười tám tầng trời cõi Sắc (Sắc giới 色界), và bốn cõi trời Vô sắc (Vô sắc giới 無色界).
nhị thập bát thiên
(二十八天) Chỉ cho 28 tầng trời: Sáu tầng trời cõi Dục, 18 tầng trời cõi Sắc và 4 tầng trời cõi Vô sắc. Sáu tầng trời cõi Dục gồm: Trời Tứ vương, trời Đao lợi, trời Dạ ma, trời Đâu suất, trời Lạc biến hóa và trời Tha hóa tự tại. Mười tám tầng trời cõi Sắc gồm: Trời Phạm chúng, trời Phạm phụ, trời Đại phạm, trời Thiểu quang, trời Vô lượng quang, trời Quang âm, trời Thiểu tịnh, trời Vô lượng tịnh, trời Biến tịnh, trời Vô vân, trời Phúc sinh, trời Quảng quả, trời Vô tưởng, trời Vô phiền, trời Vô nhiệt, trời Thiện kiến, trời Thiện hiện và trời Sắc cứu cánh. Bốn tầng trời cõi Vô sắc gồm: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Trong 28 tầng trời nêu trên, thì 18 tầng trời là do Thượng tọa bộ thành lập. Tát bà đa bộ thì lập có 16 tầng, Kinh bộ lập 17 tầng. Còn Đại thừa thì cũng theo Thượng tọa bộ mà lập 18 tầng. [X. Thiên thai tông tứ giáo nghi tập chú Q.trung].
Nhị Thập Bát Tú
(s: aṣṭāviṃśati nakṣatrāṇi, 二十八宿): 28 ngôi sao vận hành trong 1 tháng, thuyết 28 ngôi sao này vốn xuất phát từ Ấn Độ. Hơn nữa, trong kinh điển Phật Giáo cũng có đề cập đến như Ma Đăng Già Kinh (摩登伽經) quyển thượng, Đại Tập Kinh (大集經) quyển 41, Tú Diệu Kinh (宿曜經), v.v. Kinh Ma Đăng Già (s: Śārdūlakarṇāvadāna, 摩登伽經, Hán dịch khoảng thế kỷ thứ 3) liệt kê 28 ngôi sao như sau (theo thứ tự tên tiếng Phạn, tên Hán dịch, số ngôi sao, hình tướng): (1) Kṛttikā: Mão (昴), 6, đao cắt. (2) Rohiṇī: Tất (畢), 5, cỗ xe. (3) Mṛgaśiras: Tuy (觜), 3, đầu nai. (4) Ārdrā: Sâm (參), 1, hạt châu trên đầu. (5) Punarvasu: Tỉnh (井), 2, chân người. (6) Puṣya: Quỷ (鬼), 3, cái bình. (7) Āśleṣā: Liễu (柳), 5, lưỡi câu cong hay đầu rắn. (8) Maghā: Tinh (星), 6, khúc cong con sông. (9) Pūrva Phalgunī: Trương (張), 2, chân người. (10) Uttara Phalgunī: Dực (翼), 2, chân người. (11) Hasta: Chẩn (軫), 5, bàn tay. (12) Citrā: Giác (角), 1, hạt châu trên đầu. (13) Svāti: Cang (亢), 1, hạt châu trên đầu. (14) Viśākhā: Đê (氐), 4, sừng trâu. (15) Anurādhā: Phòng (房), 4, vòng châu. (16) Jyeṣṭhā: Tâm (心), 3, lúa mạch. (17) Mūlā: Vĩ (尾), 9, con bò cạp. (18) P. Āṣāḍhā: Ky (箕), 4, bước chân trâu. (19) U. Āṣāḍhā: Đẩu (斗), 4, chân voi. (20) Abhijit: Ngưu (牛), 3, đầu bò. (21) Śravaṣa: Nữ (女), 3, lúa mạch. (22) Dhaniṣṭhā: Hư (虛), 4, chim bay. (23) Śatabhiṣā: Nguy (危), 1, hạt châu trên đầu.(24) P. Bhādrapadā: Thất (室), 2, chân người. (25) U. Bhādrapadā: Bích (壁), 2, chân người. (26) Revati: Khuê (奎), 1, hạt châu trên đầu. (27) Aśvinī: Lâu (婁), 2, đầu ngựa. (28) Bharaṇī: Vị (胃), 3, cái đỉnh. Tuy nhiên, 28 ngôi sao của Ấn Độ và Trung Quốc không có mối quan hệ về mặt ngôn ngữ, mỗi bên tự phát triển theo cách của mình. Về phương diện chiêm tinh và lịch pháp, 12 cung đóng vai trò quan trọng nhất. Sau khi Mật Giáo phát triển, tín đồ Phật Giáo đã kết hợp 12 cung và 28 ngôi sao lại với nhau. Như trong Tú Diệu Kinh có đề cập sự cấu thành pháp chiêm tinh của Mật Giáo, và tên tiếng Phạn của chúng phần lớn được dịch trực tiếp từ Thiên Văn Học Tây phương, hay có ảnh hưởng du nhập trực tiếp từ Thiên Văn Học ấy.
nhị thập bát tú
(二十八宿) Phạm:Awỉàviôzati nakwatràni. Chỉ cho 28 ngôi sao trong thiên văn xưa của Ấn độ và Trung quốc. Thuyết Nhị thập bát tú đã có rất sớm ở Ấn độ. Trong các kinh Phật như kinh Ma đăng già quyển thượng, kinh Đại tập quyển 41, kinh Tú diệu... đều có ghi chép, được dùng để tính về số ngày, tháng, năm, hoặc để phối với giờ sinh của mỗi người mà xem lành dữ họa phúc... Trong Mật giáo, những vì sao này được vẽ thành hình tượng đặt ở 4 phía của Ngoại Kim cương bộ thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới. Thuyết Nhị thập bát tú của Trung quốc tuy tương tự như thuyết của Ấn độ, nhưng có rất nhiều điểm khác nhau. Tên Hán và Phạm của Nhị thập bát tú như sau: 1. Mão:Kftikà. 2. Tất:Rohiịì. 3. Tuy: Mfgaziras. 4. Sâm:Àrdrà. 5. Tỉnh: Punarvasu. 6. Quỉ:Puwya. 7. Liễu:Àzlewà. 8. Tinh: Maghà. 9. Trương: Pùrva-phalgunì. 10. Dực: Uttara-phalgunì. 11. Chẩn: Hasta. 12. Dốc:Citrà. 13. Cang:Svàtì. 14. Đê:Vizàkhà. 15. Phòng:Anuràdhà. 16. Tâm: Jyewỉha. 17. Vĩ:Mùlà. 18. Ki:Purva-àwàđhà. 19. Đẩu:Uttara-àwàđhà. 20. Ngưu: Abhijit. 21. Nữ:Zravaịà. 22. Hư: Dhaniwỉhà. 23. Nguy: Zatabhiwak. 24. Thất:Pùrva-bhàdrapadà. 25. Bích:Uttara-bhàdrapadà. 26. Khuê: Revati. 27. Lâu:Azvinì. 28. Vị: Bharaịì. (xt. Lịch).
nhị thập bát tổ
The twenty eight Buddhist patriarchs.
; (二十八祖) Gọi đủ: Tây thiên nhị thập bát tổ. Chỉ cho 28 vị Tổ sư Thiền tông Ấn độ. Đó là: 1. Ma ha Ca diếp. 2. A nan tôn giả. 3. Thương na hòa tu. 4. Ưu bà cúc đa. 5. Đề đa ca. 6. Di già ca. 7. Bà tu mật. 8. Phật đà nan đề. 9. Phục đà mật đa. 10. Hiếp tôn giả. 11. Phú na da xá. 12. Mã minh đại sĩ. 13. Ca tì ma la. 14. Long thụ đại sĩ. 15. Ca na đề bà. 16. La hầu la đa. 17. Tăng già nan đề. 18. Già da xá đa. 19. Cưu ma la đa. 20. Xà dạ đa. 21. Bà tu bàn đa. 22. Ma noa la. 23. Hạc lặc na. 24. Sư tử tôn giả. 25. Bà xá tư đa. 26. Bất như mật đa. 27. Bát nhã đa la. 28. Bồ đề đạt ma(kiêm Sơ tổ Đông độ). Bản liệt kê này được thấy trong Truyền pháp chính tông của ngài Khế tung đời Tống. Trong Phó pháp tạng nhân duyên truyện không có ghi ngài Bà tu mật, từ ngài Ma ha ca diếp đến tôn giả Sư tử chỉ có 23 đời mà thôi. Ngài Khế tung thêm tổ Bà tu mật vào vị trí thứ 7 và sau tôn giả Sư tử thêm 4 vị: Bà xá tư đa, Bất như mật đa, Bát nhã đa la và Bồ đề đạt ma vào nữa mà thành là 28 vị Tổ. Ngoài ra, tên các vị Tổ Tây vực được liệt kê trong kinh Đạt ma đa la thiền cũng rất khác với bản liệt kê trong Chính tông kí. Cảnh đức truyền đăng lục ghi tên 28 vị Tổ hoàn toàn giống với Chính tông kí. Nhưng có thuyết cho rằng đó là do người sau sửa đổi chứ không phải nguyên bản.
nhị thập chư thiên
(二十諸天) Hai mươi vị trời và thần được thờ cúng trong các chùa viện thuộc tông Thiên thai. Cứ theo Chư thiên truyện do ngài Hành đình soạn vào đời Nam Tống, thì trong các chùa của tông Thiên thai từ xưa có thờ tượng 16 vị trời, về sau thêm 4 vị nữa là Nhật thiên, Nguyệt thiên, Sa kiệt la long vương và Diêm ma la vương, tổng cộng là 20 vị trời. Đó là: 1. Phạm thiên vương: Vị trời thống lĩnh Phạm chúng, làm chủ đại thiên thế giới. 2. Đế thích thiên chủ: Vị trời ở trên chóp núi Tu di, tức là Đao lợi thiên chủ. 3. Tì sa môn thiên vương: Vị vua trời ở phương Bắc, tức là trời Đa văn. 4. Đề đầu lại tra thiên vương: Vua trời ở phương Đông, tức là trời Trì quốc. 5. Tì lưu lặc xoa thiên vương: Vua trời ở phương Nam, tức là trời Tăng trưởng. 6. Tì lưu bác xoa thiên vương: Vua trời ở phương Tây, tức là trời Quảng mục. 7. Kim cương mật tích thiên: Vị trời này tay cầm chày báu kim cương, biết rõ tất cả sự tích bí mật của đức Như lai. 8. Ma hê thủ la thiên: Vị thiên chủ rất được tôn quí trong 3 cõi. 9. Tán chi đại tướng: Con thứ của Quỉ tử mẫu, thường hộ trì chính pháp, tiêu diệt các điều xấu ác. 10. Đại biện thiên: Vị trời có đủ biện tài vô ngại, giúp đời lợi người, lưu thông Phật pháp. 11. Công đức thiên: Vị trời hay giúp chúng sinh thành tựu phúc đức, thường ở trong vườn Kim chàng tối thắng. 12. Vi đà thiên tướng quân: Một trong 8 tướng quân của vua trời phương Nam, ngoại hộ Phật pháp, thống lĩnh và hộ trì 3 châu.13. Kiên cố địa thần: Vị thần làm chủ đại địa. 14. Bồ đề thụ thần: Vị thần giữ gìn cây Bồ đề, nơi đức Như lai thành đạo. 15. Quỉ tử mẫu thiên: Mẹ của tất cả quỉ, ban con cái cho người cầu con. 16. Ma lợi chi thiên: Vị trời thường đi dạo trước mặt trời, mặt trăng, cứu hộ nạn binh đao chiến loạn. 17. Nhật cung thiên tử: Vị trời phá trừ sự tối tăm, thành thục vạn vật. 18. Nguyệt cung thiên tử: Vị trời ban đêm phát ra ánh sáng, nhưng không sáng bằng Nhật cung thiên tử. 19. Sa kiệt la: Vị Long vương thứ 7 trong 177 Long vương ở biển mặn, là bậc Bồ tát đại quyền. 20. Diêm ma la vương: Vua đứng đầu địa ngục.
nhị thập chủng hộ ma pháp
(二十種護摩法) Chỉ cho 20 pháp Hộ ma, gồm có: 4 pháp Phiến để ca, 9 pháp Bố sắt trí ca, 7 pháp A tì già la ca, cộng chung thành 20 pháp Hộ ma. Nói rộng ra thì có tới 110 loại Hỏa pháp, nhưng bí mật, không dịch. [X. Kim cương đính kinh nghĩa quyết].
nhị thập chủng ngoại đạo
(二十種外道) Cũng gọi Nhị thập chủng Tiểu thừa ngoại đạo niết bàn. Hai mươi loại Niết bàn mà Tiểu thừa và ngoại đạo ở Ấn độ chấp trước do Luận sư Đề bà phân loại. Đó là: 1. Tiểu thừa ngoại đạo: Ngoại đạo chủ trương Các thụ ấm hết, như đèn tắt, gió dừng là Niết bàn. 2. Phương luận sư ngoại đạo: Chủ trương Đầu tiên sinh ra các phương, từ các phương sinh ra người thế gian, từ người sinh ra trời đất. Khi trời đất diệt mất, trở lại chỗ ban đầu là Niết bàn. 3. Phong tiên luận sư ngoại đạo: Chủ trương Gió sinh trưởng các vật có mệnh sống, cũng chính gió giết hại các vật có mệnh sống. Gió tạo ra muôn vật, rồi phá hoại tiêu diệt hết muôn vật là Niết bàn. 4. Vi đà luận sư ngoại đạo: Chủ trương Từ trong rốn của trời Na la diên sinh ra hoa sen lớn, từ hoa sen sinh ra Phạm thiên, tất cả vật có mệnh sống và không có mệnh sống đều từ trong miệng Phạm thiên sinh ra. Khắp cả đại địa là giới tràng tu phúc đức. Nếu giết hại hết thảy loài hoa cỏ và muông thú như lợn, dê, lừa, ngựa... khắp trên đại địa để cúng dường Phạm thiên thì sau khi chết được sinh về cõi Phạm thiên là Niết bàn. 5. Y xa na luận sư ngoại đạo: Chủ trương Không thể thấy hình tướng của tôn giả luận sư Y xa na dù ngài có mặt ở khắp mọi nơi. Vì không có hình tướng nên ngài có năng lực sinh ra hết thảy muôn vật có mệnh sống và không có mệnh sống là Niết bàn.6. Lõa hình ngoại đạo: Chủ trương Thấy rõ các loại hình tướng khác nhau là Niết bàn. 7. Tì thế sư, tức Thắng luận sư ngoại đạo: Chủ trương Đất, nước, lửa, gió, hư không, bụi bặm... hòa lẫn với nhau mà sinh ra hết thảy muôn vật có trí biết và không trí biết ở thế gian; khi các yếu tố trên lìa tan là Niết bàn. 8. Khổ hạnh ngoại đạo: Chủ trương Thân thể diệt, phúc đức hết là Niết bàn. 9. Nữ nhân quyến thuộc ngoại đạo: Chủ trương Trời Ma hê thủ la là thân người nữ, sinh ra các trời, người và muôn vật là Niết bàn. 10. Hành khổ hạnh luận sư ngoại đạo: Chủ trương Khi tội phúc, công đức hết sạch là Niết bàn. 11. Tịnh nhãn luận sư ngoại đạo: Chủ trương Hết phiền não, nương theo trí là Niết bàn. 12. Ma đà la luận sư ngoại đạo: Chủ trương Trời Na la diên là cha đẻ của hết thảy muôn vật, là bậc tối thắng trong tất cả chúng sinh. Muôn vật từ ngài sinh ra, sau khi diệt lại trở về với ngài là Niết bàn.13. Ni kiền tử ngoại đạo: Chủ trương Đầu tiên sinh ra 1 người nam, 1 người nữ, sau đó nam nữ hòa hợp sinh ra hết thảy muôn vật có mệnh sống và không có mệnh sống. Khi li tán, lại trở về nguyên trạng là Niết bàn. 14. Tăng khư luận sư ngoại đạo(tức là Số luận sư): Chủ trương Tự tính của 25 đế là nguyên nhân tạo ra hết thảy chúng sinh là Niết bàn. 15. Ma hê thủ la luận sư ngoại đạo: Chủ trương Quả do Na la diên tạo, Phạm thiên là nhân; Phạm thiên, Na la diên, cho đến Tự tại thiên là nhân sinh diệt, tất cả từ Phạm thiên sinh ra, rồi lại từ Phạm thiên mà diệt là Niết bàn. 16. Vô nhân luận sư ngoại đạo: Chủ trương Không nhân không duyên sinh ra tất cả vật. Chẳng có nhân dơ, cũng không có nhân sạch, cho đến gai nhọn, màu sắc chim công, chẳng do ai làm ra, đều tự nhiên mà có, không nhân không duyên là Niết bàn.17. Thời luận sư ngoại đạo: Chủ trương Thời thành thục tất cả các yếu tố, thời tạo ra mọi vật, thời phân tán tất cả vật là Niết bàn.18. Phục thủy luận sư ngoại đạo: Chủ trương Nước là gốc của muôn vật, nước sinh ra trời đất, sinh ra hết thảy vật có mệnh sống và không mệnh sống, cho đến nước hủy diệt tất cả vật là Niết bàn. 19. Khẩu lực luận sư ngoại đạo: Chủ trương Hư không là nhân của muôn vật, tối sơ sinh ra hư không, hư không sinh ra gió, gió sinh ra lửa, lửa sinh ra sức nóng, sức nóng sinh ra nước, nước đóng băng cứng tạo thành đất, từ đất sinh ra các loại cây cỏ và ngũ cốc, từ ngũ cốc sinh ra mệnh sống. Sau khi ăn tiêu mất, lại trở về hư không là Niết bàn. 20. Bản sinh an đồ luận sư ngoại đạo: Chủ trương Vốn không có mặt trời, mặt trăng, tinh tú, hư không và đất, chỉ có nước lớn. Khi Đại an đồ sinh ra, giống như trứng gà, màu vàng bao quanh, đúng thời vỡ làm 2 nửa, nửa trên làm trời, nửa dưới làm đất. Ở giữa sinh ra Phạm thiên, là ông Tổ của hết thảy chúng sinh, sinh ra tất cả vật có mệnh sống và không mệnh sống, sau khi hủy diệt mất hết, trở về nguyên trạng là Niết bàn. [X. luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn; Đại minh tam tạng pháp số Q.46].
nhị thập chủng phiền não hiện hành
(二十種煩惱現行) Hai mươi thứ phiền não hiện hành. 1. Tùy sở dục triền hiện hành: Người tại gia chưa lìa các dục vọng, đối trước những cảnh ưa thích khởi lên các thứ nghiệp trói buộc(triền), liên tục không chịu buông bỏ. 2. Bất tùy sở dục triền hiện hành: Những người xuất gia không chạy theo các cảnh vui thích của thế gian, trái lại, sinh tâm nhàm chán, xa lìa mãi mãi. 3. Vô sở liễu tri hiện hành: Người không phân biệt được các pháp thiện và ác, không biết rõ ràng tất cả cảnh giới nên thường nói ác, tâm ngu si mê hoặc này tiếp tục không dứt.4. Hữu sở liễu tri hiện hành: Người phân biệt được tất cả các pháp, tâm hướng theo pháp thiện và bỏ pháp ác, biết rõ ràng như thế nên thường nói pháp lành và tâm này liên tục không bỏ. 5. Thô phiền não hiện hành: Các phiền não tham, sân, si đều tăng thêm tính thô trọng(thô to và sâu nặng); nếu là cảnh thuận thì tham ái thô trọng, nếu là cảnh nghịch thì sân hận thô trọng... 6. Đẳng phiền não hiện hành: Các phiền não tham, sân, si cùng nổi lên 1 loạt với nhau, không phân biệt nặng nhẹ. 7. Vi phiền não hiện hành: Người tu hành mong cầu ra khỏi cõi Dục, tuy chưa thành quả nhưng ít phiền não. 8. Nội môn phiền não hiện hành: Người tu hành mong thoát li cõi Dục, tuy không tham đắm những cảnh thanh, sắc bên ngoài, nhưng tập khí trong nội tâm vẫn còn liên tục sinh khởi. 9. Ngoại môn phiền não hiện hành: Người chưa lìa cõi Dục, tâm duyên theo các trần cảnh bên ngoài mà hiện khởi các thứ phiền não không dứt. 10. Thất niệm phiền não hiện hành: Người đã thấy Thánh đạo, đắc quả, bỗng gặp duyên khác, nghe pháp bất chính, tập khí nổi lên mà mất chính niệm. 11. Mãnh lợi phiền não hiện hành: Người chưa được đạo quả, tuy siêng năng tinh tiến, nhưng khi tác ý bất chính thì phiền não nổi lên mãnh liệt. 12. Phân biệt sở khởi phiền não hiện hành: Người không tin chính pháp, khởi lên các tà kiến phân biệt, vọng sinh chấp trước, liên tục không bỏ. 13. Nhậm vận sở khởi phiền não hiện hành: Người sinh tâm lười biếng, không tu chính hạnh, đối với các cảnh 5 dục lạc, tự nhiên sinh khởi phiền não. 14. Tầm tư phiền não hiện hành: Người tu quán pháp thiền định, thường tự suy nghĩ tìm tòi, vọng sinh phân biệt, liên tục không bỏ. 15. Bất tự tại phiền não hiện hành: Người trong giấc ngủ, ý thức rong ruổi theo cảnh mộng tán loạn liên tục không bỏ. 16. Tự tại phiền não hiện hành: Người sau khi tỉnh mộng, tà niệm khởi lên, duyên theo khắp các cảnh, liên tục không bỏ. 17. Phi sở y vị phiền não hiện hành: Người như trẻ con, đối với tất cả các cảnh, không biết tốt xấu, phóng túng buông thả, liên tục không bỏ. 18. Sở y vị phiền não hiện hành: Người tu hành căn cơ đã nhuần nhuyễn, nương nơi vị chính hạnh mà đoạn trừ các phiền não, tâm năng đoạn liên tục không ngừng. 19. Khả cứu liệu phiền não hiện hành: Người siêng tu đạo hạnh, dứt hoặc nghiệp sinh tử, như cứu chữa các bệnh; tâm chỉ biết chữa bệnh sinh tử, chứ không biết đắm vui Niết bàn. 20. Bất khả cứu liệu phiền não hiện hành: Người không biết tu các chính hạnh để cứu chữa những bệnh hoặc nghiệp sinh tử, cho nên các phiền não cứ tiếp nối không dứt.[X. luận Du già sư địa Q.59]
nhị thập chủng phiền não tuỳ miên
(二十種煩惱隨眠) Hai mươi loại phiền não tùy miên. Phiền não là chỉ cho các pháp tối tăm, phiền muộn như: Kiến, tư, vô minh... làm não loạn tâm thần. Tùy miên là những phiền não ấy đeo đuổi chúng sinh, ngủ ngầm trong thức thứ 8, khi đủ nhân duyên thì hiện khởi. Hai mươi loại phiền não tùy miên là: 1. Bất định địa tùy miên: Phiền não ở cõi Dục. Bất định địa chỉ cho cõi Dục, là cõi tán loạn. Nghĩa là người ở cõi Dục vì không tu thiền định nên bị phiền não của các căn theo đuổi không bỏ. 2. Định địa tùy miên: Định địa chỉ cho cõi Sắc và cõi Vô sắc. Nghĩa là người ở 2 cõi này tuy tu thiền định, xa lìa các khổ của cõi Dục, nhưng vẫn còn bị các phiền não: Tham, si, ái và mạn theo đuổi, không bỏ. 3. Tùy trục tự cảnh tùy miên: Phiền não theo đuổi tự cảnh. Trong 3 cõi, mỗi cõi đều có cảnh sở nhiếp riêng, tùy theo các căn khởi diệt mà sinh ra các phiền não kiến chấp, đeo đuổi liên tục không ngừng. 4. Tùy trục tha cảnh tùy miên: Phiền não theo đuổi cảnh khác. Nghĩa là ở cõi Sắc mà khởi phiền não cõi Dục, hoặc ở cõi Vô sắc mà khởi phiền não cõi Sắc, hoặc ở cõi Dục mà ưa thích thiền định của 2 cõi trên, sinh ra đắm trước, không biết xa lìa. 5. Bị tổn tùy miên: Bị phiền não làm tổn hại. Nghĩa là chúng sinh luôn luôn bị các phiền não của cõi Dục làm tổn hại, vì các phiền não ấy thường ngấm ngầm theo đuổi không thôi. 6. Bất bị tổn tùy miên: Không bị phiền não làm tổn hại. Nghĩa là người đã sinh lên cõi Sắc nên không còn bị phiền não của cõi Dục làm tổn hại; hoặc chưa lìa cõi Dục, tuy phiền não thường ngấm ngầm đeo đuổi nhưng không gây tổn hại. 7. Tùy tăng tùy miên: Phiền não thêm lên. Nghĩa là chúng sinh trong 3 cõi đều khởi phiền não ở nơi cảnh của mình, tùy thời mà các phiền não ấy tăng trưởng, đeo đuổi ngầm không thôi. 8. Bất tùy tăng tùy miên: Phiền não không tăng thêm. Nghĩa là người trong thiền định ở cõi Sắc và cõi Vô sắc, không theo cảnh khác nên phiền não không tăng thêm, nhưng vì phiền não chưa bị đoạn trừ nên vẫn ngầm đeo đuổi, không rời bỏ. 9. Cụ phần tùy miên: Phiền não đầy đủ. Nghĩa là chúng sinh đối với tất cả trần cảnh khởi lên đủ các phiền não tham, sân, si... không thiếu 1 phần nào. 10. Bất cụ phần tùy miên: Phiền não không đầy đủ. Nghĩa là bậc Thánh Sơ quả Thanh văn(quả Tu đà hoàn) tuy đã dứt hết Kiến hoặc trong 3 cõi, nhưng còn Tư hoặc thì chưa dứt được toàn phần, nên gọi là Bất cụ phần tùy miên. 11. Khả hại tùy miên: Phiền não có thể gây hại. Nghĩa là bậc Thanh văn tu đạo phẩm (37 đạo phẩm), tuy đã dứt hết Kiến hoặc và Tư hoặc mà chứng Niết bàn, nhưng tập khí vô minh vẫn còn đeo đuổi ngầm, không rời, nên có thể gây tổn hại. 12. Bất khả hại tùy miên: Phiền não không thể bị hại. Nghĩa là chúng sinh phàm phu không tu 37 đạo phẩm, không đoạn trừ phiền não hoặc nghiệp, cho nên phiền não theo đuổi không thôi. 13. Tăng thượng tùy miên: Phiền não thêm lên. Nghĩa là các phiền não tham, sân, si... dần dần tăng thêm lên, theo đuổi không rời.14. Bình đẳng tùy miên: Phiền não bình đẳng. Nghĩa là các phiền não tham, sân, si... cùng khởi lên 1 lúc, theo đuổi không ngừng. 15. Hạ liệt tùy miên: Phiền não thấp kém. Nghĩa là người tu hành cầu ra khỏi cõi Dục, tâm niệm đối với các trần cảnh yếu kém, nên gọi là Hạ liệt tùy miên. 16. Giác ngộ tùy miên: Phiền não được giác ngộ. Nghĩa là người có khả năng biết tất cả phiền não và nghiệp quả đồng thời trôi lăn, tuy biết như thế nhưng chưa thể đoạn trừ được, cho nên gọi là Giác ngộ tùy miên. 17. Bất giác ngộ tùy miên: Phiền não không được giác ngộ. Nghĩa là hết thảy phiền não trói buộc, đeo đuổi căn thức, không lìa bỏ nhau, vậy mà con người không hề hay biết nên gọi là Bất giác ngộ tùy miên. 18. Năng sinh đa khổ tùy miên: Phiền não hay sinh nhiều khổ. Nghĩa là các phiền não tham, sân... của cõi Dục hay sinh ra nhiều đau khổ. 19. Năng sinh thiểu khổ tùy miên: Phiền não hay sinh ít khổ. Nghĩa là người ở trong thiền định của cõi Sắc và cõi Vô sắc tuy không có các khổ của cõi Dục, nhưng vẫn còn tâm ưa thích cõi trên, nhàm chán cõi dưới, đó cũng là phiền não, cho nên gọi là Năng sinh thiểu khổ tùy miên. 20. Bất năng sinh khổ tùy miên: Phiền não không hay sinh khổ. Nghĩa là hàng Bồ tát tuy đã lìa các khổ, nhưng vẫn còn tâm tự hành lợi tha và đó cũng là phiền não.
nhị thập chủng tuỳ phiền não
(二十種隨煩惱) Hai mươi loại Tùy phiền não. Luận Câu xá của Tiểu thừa gọi tất cả phiền não là Tùy phiền não, hoặc gọi các phiền não ngoài 6 phiền não Tùy miên căn bản là Tùy phiền não. Còn các nhà Duy thức Đại thừa thì cho rằng 20 pháp ngoài các phiền não căn bản là Tùy phiền não. Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 40, thì 20 loại Tùy phiền não là: 1. Phẫn tùy phiền não: Phẫn là cáu giận. Đối với tất cả cảnh trái ý trước mắt, sinh ra cáu giận, làm não loạn tâm tính. 2. Hận tùy phiền não: Hận là oán giận. Do cáu bực mãi kết thành oán giận, làm não loạn tâm tính. 3. Phú tùy phiền não: Phú là che giấu. Mình phạm tội lỗi, không chịu ăn năn hối cải, cố tình che giấu, lúc nào cũng nơm nớp sợ người khác biết, làm não loạn tâm tính. 4. Não tùy phiền não: Não là buồn bực. Bên ngoài gặp cảnh trái ý, trong lòng buồn bực, tấm tức không yên, làm não loạn tâm tính.5. Tật tùy phiền não: Tật là ghen ghét. Gặp cảnh bất bình, thường ôm lòng ghen tức, làm não loạn tâm tính. 6. Xan tùy phiền não: Xan là keo kiệt. Đối với tất cả của cải tài bảo, tham cầu chứa chất, không chịu bố thí, thường sợ mất mát, làm não loạn tâm tính. 7. Cuống tùy phiền não: Cuống là nói dối. Luôn lo mưu tính kế để lừa gạt người, tâm thường bất an, sinh ra não loạn. 8. Siểm tùy phiền não: Siểm là nịnh nọt a dua. Tâm thường nghĩ cách bợ đỡ, khiến không an ổn, làm cho não loạn. 9. Hại tùy phiền não: Thường muốn hãm hại người để thỏa lòng mình, luôn sợ việc không thành, làm não loạn tâm tính. 10. Kiêu tùy phiền não: Kiêu là trọng mình khinh người. Không có lòng nhún nhường, chỉ muốn tranh hơn, tự cao tự đại, làm não loạn tâm tính. 11. Vô tàm tùy phiền não: Vô tàm là không biết tự thẹn. Ở chỗ vắng vẻ làm những việc phi pháp mà không tự hối cải, làm não loạn tâm tính. 12. Vô quí tùy phiền não: Vô quí là không biết hổ với người. Trong chỗ kín đáo làm những điều xấu xa, người khác trông thấy mà không biết xấu hổ, không tự ăn năn, làm não loạn tâm tính. 13. Điệu cử tùy phiền não: Điệu cử là thô tháo, lỗ mãng. Nghĩa là đối với cảnh rối loạn, thân tâm thô lỗ, cục cằn, không biết tự chế, làm cho não loạn. 14. Hôn trầm tùy phiền não: Hôn trầm là mờ tối chìm mê. Nghĩa là đối với mọi việc, tinh thần mờ mịt, khiến cho tâm não loạn.15. Bất tín tùy phiền não: Bất tín là không tin. Do tà kiến đa nghi nên không tin chính pháp, làm cho tâm tính não loạn. 16. Giải đãi tùy phiền não: Giải đãi là biếng nhác. Nghĩa là bởi tính trây lười, không chịu tinh tiến tu tập đạo nghiệp, do đó mà tâm bị não loạn. 17. Phóng dật tùy phiền não: Phóng dật là buông lung. Nghĩa là phóng túng buông thả, đam mê cảnh dục, không biết kiềm chế, làm não loạn tâm tính. 18. Thất niệm tùy phiền não: Thất niệm là mất cảnh giác. Nghĩa là mải miết chạy theo tà vọng mà đánh mất chính niệm, đến nỗi chìm đắm, khiến cho tâm tính bị não loạn.19. Tán loạn tùy phiền não: Tán loạn là tâm thường rong ruổi. Nghĩa là vì đắm theo các cảnh nên tâm thường tán loạn, không thể tập trung, không được tĩnh lặng, do đó mà bị não loạn. 20. Bất chính tri tùy phiền não: Bất chính tri là không biết 1 cách chân chính. Nghĩa là hiểu sai chính pháp, xa lìa chánh đạo, trái giác hợp trần, lấy vọng làm chân não loạn tâm tính.
nhị thập cửu chủng trang nghiêm
(二十九種莊嚴) Hai mươi chín thứ làm đẹp cõi Tịnh độ cực lạc. Theo luận Tịnh độ của ngài Thiên thân thì 29 thứ trang nghiêm Tịnh độ cực lạc đều do tâm nguyện của đức Phật A di đà mà có. Trong đó gồm: 1. Y báo tịnh độ(tức là Khí thế gian thanh tịnh), có 17 thứ công đức làm đẹp đất nước, đó là: Thanh tịnh công đức, Lượng công đức, Tính công đức, Hình tướng công đức, Chủng chủng sự công đức, Diệu sắc công đức, Xúc công đức, Tam chủng công đức, Vũ công đức, Quang minh công đức, Diệu thanh công đức, Chủ công đức, Quyến thuộc công đức, Thụ dụng công đức, Vô chư nạn công đức, Đại nghĩa môn công đức và Nhất thiết sở cầu mãn túc công đức. 2. Chính báo tịnh độ(tức là Chúng sinh thế gian thanh tịnh)có 12 thứ, gồm 8 thứ công đức trang nghiêm Phật và 4 thứ công đức trang nghiêm Bồ tát. a) Tám thứ công đức trang nghiêm của Phật là: Tòa công đức, Thân nghiệp công đức, Khẩu nghiệp công đức, Tâm nghiệp công đức, Đại lạc công đức, Thượng thủ công đức, Chủ công đức và Bất hư tác trụ trì công đức.b) Bốn thứ công đức trang nghiêm của Bồ tát là: Bất động bản xứ biến chí thập phương cúng dường hóa sinh trang nghiêm (Trang nghiêm ở yên tại chổ cũ mà hóa sinh đến khắp 10 phương để cúng dường), Nhất niệm nhất thời biến chí Phật hội lợi ích quần sinh trang nghiêm(Trang nghiêm trong 1 niệm cùng lúc đến khắp các Phật hội làm lợi ích quần sinh), Nhất thiết thế giới tán thán chư Phật trang nghiêm(Trang nghiêm khen ngợi chư Phật ở tất cả thế giới)và Vô tam bảo xứ thị pháp trang nghiêm(Trang nghiêm nơi không có Tam bảo hiển bày chính pháp). Thuyết này rất giống với thuyết của ngài Vô trước trong luận Nhiếp đại thừa quyển hạ và với thuyết của ngài Thiên thân trong Nhiếp đại thừa luận thích quyển 15 nói về 18 thứ viên tịch của Báo độ.
nhị thập cửu phẩm
(二十九品) Chỉ cho 5 vòng nhân quả trong kinh Hoa nghiêm là: Sở tín nhân quả, Sai biệt nhân quả, Bình đẳng nhân quả, Thành hạnh nhân quả và Chứng nhập nhân quả. Năm vòng nhân quả này phối hợp với kinh Hoa nghiêm từ quyển 12 đến quyển 48 nói về pháp môn Nhân quả sai biệt và chia làm 29 phẩm là: Như lai danh hiệu, Tứ thánh đế, Quang minh giác, Bồ tát vấn minh, Tịnh hạnh, Hiền thủ, Thăng Tu di sơn đính, Tu di sơn đính thượng kệ tán, Thập trụ, Phạm hạnh, Sơ phát tâm công đức, Minh pháp, Thăng Dạ ma thiên cung, Dạ ma cung trung kệ tán, Thập hạnh, Thập vô tận tạng, Thăng Đâu suất thiên cung, Đâu suất cung trung kệ tán, Thập hồi hướng, Thập địa, Thập định, Thập thông, Thập nhẫn, A tăng kì, Như lai thọ lượng, Chư Bồ tát trụ xứ, Phật bất tư nghị pháp, Như lai thập thân tướng hải và Như lai tùy hảo quang minh công đức.
Nhị thập duy thức luận
二十唯識論; C: èrshí wéishì lùn; J: nijūyuishikiron; S: vimśatikā-śāstra;|Hai mươi luận tụng về Duy thức do Thế Thân (世親; s: vasubandhu) trứ tác, Huyền Trang (玄奘) và Chân Đế (眞諦; c: paramārtha) dịch sang Hán văn. Nội dung gồm hai mươi bài kệ bảo vệ giáo thuyết của Du-già hành tông đối với các sự phê phán. Còn được gọi là Duy thức nhị thập luận (唯識二十論).
nhị thập duy thức luận
Visamtika śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
nhị thập không
(二十空) Hai mươi thứ không. Phẩm Học quán trong kinh Đại bát nhã quyển 3 nêu lên 20 thứ không là: 1. Nội không: Sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thuộc pháp bên trong vô thường, vô ngã, là Không. 2. Ngoại không: Sáu cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thuộc pháp bên ngoài vô thường, vô ngã, là Không. 3. Nội ngoại không: Sáu căn, 6 cảnh đều không. 4. Không không: Cái không cũng lại là không, tức không chấp trước tất cả pháp trong ngoài là không, chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tính tự nhiên như thế.5. Đại không: Mười phương đông, tây, nam, bắc, 4 góc, trên, dưới đều không. 6. Thắng nghĩa không: Niết bàn thắng nghĩa cũng là không. 7. Hữu vi không: Cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc hữu vi đều không. 8. Vô vi không: Vô vi không sinh, trụ, dị, diệt là không, nhưng cái không ấy cũng là không nên không chấp trước. 9. Tất cánh không: Không chấp trước các pháp rốt ráo không thực có. 10. Vô tế không: Quá khứ, hiện tại, vị lai không thực có, thời gian qua lại cũng không thực có, cũng không chấp trước cái không ấy. 11. Tán không: Các pháp phóng tán khí xả cũng là không. 12. Vô biến dị không: Các pháp không phóng tán khí xả, không biến dị, cái không biến dị ấy cũng là không, không thật có. 13. Bản tính không: Bản tính của tất cả pháp dù hữu vi hay vô vi, đều chẳng phải do Thanh văn, Độc giác tạo ra, mà bản tính ấy xưa nay vốn là không. 14. Tự tướng không: Tự tướng của tất cả pháp như tự tướng của sắc biến ngại, thụ, tưởng, hành, thức... đều là không. 15. Cộng tướng không: Cộng tướng của tất cả pháp, như khổ là cộng tướng của pháp hữu lậu, vô thường là cộng tướng của pháp hữu vi, không, vô ngã là cộng tướng của tất cả pháp... đều là không, không thực có. 16. Nhất thiết pháp không: 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, hữu sắc vô sắc, hữu lậu vô lậu, hữu kiến vô kiến, hữu đối vô đối, hữu vi vô vi... hết thảy các pháp đều là không, mà cũng chẳng chấp trước cái không ấy. 17. Bất khả đắc không: Tất cả pháp Hữu trong 3 đời đều không thực có nên không chấp trước. 18. Vô tính không: Không 1 chút tính nào có thể duyên theo được nên là vô tính; cái vô tính ấy cũng không thể nào tưởng tượng được nên là không. 19. Tự tính không: Tự tính của các pháp hòa hợp không có thực thể, cho nên là không. 20. Vô tính tự tính không: Vô tính và tự tính đều là không. [X. phẩm Biện đại thừa trong kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.51; phẩm Quán chiếu kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.403] (xt. Không).
nhị thập kiền độ
(二十犍度) Hai mươi kiền độ, sự phân loại về môn Tác trì của giới luật. Kiền độ (Phạm:Skandha) nghĩa là biên tập thành các thiên, chương khác nhau. Theo luật Tứ phần thì 20 kiền độ là: 1. Thụ giới kiền độ, cũng gọi Thụ Cụ túc giới pháp, Đại kiền độ. Nói về pháp thụ giới.2. Thuyết giới kiền độ, cũng gọi Bố tát pháp, Bố tát kiền độ. Nói về pháp sám hối thuyết giới hàng tháng. 3. An cư kiền độ: Nói về pháp kết chế an cư vào tháng 5, 6 hàng năm. 4. Tự tứ kiền độ: Nói về việc vào ngày kết thúc hạ an cư, các vị tỉ khưu tự do nói ra những lỗi lầm của mình đã phạm trong 3 tháng an cư. 5. Bì cách kiền độ: Nói về pháp được sử dụng da thuộc hay không. 6. Y kiền độ: Nói về pháp 3 áo của tỉ khưu. 7. Dược kiền độ, cũng gọi Y dược pháp. Nói về 4 loại thuốc. 8. Ca hi na y kiền độ: Nói về việc người tự tin được nhận áo Ca hi na(áo công đức) trong vòng 5 tháng sau an cư. 9. Câu thiểm di kiền độ, cũng gọi Câu xá di pháp. Nói về việc các tỉ khưu dèm chê lẫn nhau diễn ra ở nước Câu thiểm di. 10. Chiêm ba kiền độ: Nói về việc chúng tăng tranh cãi xảy ra ở nước Chiêm ba. 11. Ha trách kiền độ, cũng gọi Yết ma kiền độ. Nói về pháp trị phạt các tỉ khưu xấu ác. 12. Nhân kiền độ, cũng gọi Tăng tàn hối pháp, Biệt trụ pháp, Biệt trụ kiền độ. Nói về phép dạy bảo các tỉ khưu phạm tội mà không che giấu. 13. Phú tàng kiền độ, cũng gọi Tụ tập kiền độ. Nói về pháp trị phạt những tỉ khưu phạm tội mà cố tình che giấu. 14. Già kiền độ, cũng gọi Già bố tát pháp. Nói về pháp ngăn chặn các tỉ khưu phạm pháp, không cho tham dự Bố tát khi chúng tăng thuyết giới. 15. Phá tăng kiền độ, cũng gọi Điều đạt sự. Nói về việc phá Pháp luân tăng, phá Yết ma tăng. 16. Diệt tránh kiền độ, cũng gọi Tránh sự pháp. Nói về 7 pháp dứt sự tranh luận. 17. Tỉ khưu ni kiền độ: Nói về pháp đặc thù của tỉ khưu ni. 18. Pháp kiền độ, cũng gọi Uy nghi pháp. Nói về những uy nghi của tỉ khưu như ngồi, làm, nói, im... đúng phép tắc. 19. Phòng xá kiền độ, cũng gọi Ngọa cụ pháp. Nói về phòng xá hoặc đồ dùng của các tỉ khưu. 20. Tạp kiền độ: Nói về những việc linh tinh khác ngoài 19 kiền độ nêu trên. [X. luật Tứ phần Q.31-53; luật Ngũ phần Q.15-26; luật Thập tụng Q.21-40].
nhị thập lực
(二十力) Chỉ cho 20 thứ lực dụng của Bồ tát. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ nêu ra 20 thứ lực dụng của Bồ tát ở cõi Tịnh độ cực lạc như sau: - Nhân lực: Sức thiện căn ở đời quá khứ.- Duyên lực: Thiện tri thức ở hiện tại. - Ý lực: Sức tư duy. - Nguyện lực: Do tư duy mà sinh khởi tâm bồ đề. - Phương tiện lực: Phương tiện gia hạnh. - Thường lực: Phương tiện gia hạnh và vô gián tu. - Thiện lực: Tu hành thiện pháp. - Định lực và tuệ lực: Từ gia hạnh hướng tới Chỉ quán song tu của Chính tu. - Đa văn lực: Sức hiểu rộng nghe nhiều về kinh pháp. - Thí lực, Giới lực, Nhẫn nhục lực, Tinh tiến lực, Thiền định lực, Trí tuệ lực: Do sức hiểu rộng nghe nhiều mà khởi tâm tu hành Lục độ. - Chính niệm lực: Niệm xả bỏ chấp tướng. - Chính quán lực: Trừ tạp loạn chứng thuần chân. - Chư thông minh lực: Lực dụng của lục thông, tam minh. - Như pháp điều phục chư chúng sinh lực: Có đại dụng của hạnh hóa tha. [X. Quán vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật tán văn (Cảnh hưng)].
nhị thập nan
(二十難) Hai mươi việc khó thực hiện. Cứ theo kinh Tứ thập nhị chương thì 20 việc ấy là: 1. Nghèo túng mà bố thí được là khó. 2. Giàu sang mà biết học đạo là khó. 3. Bỏ mình vì đạo hoặc vì 1 lí tưởng cao cả là khó. 4. Được thấy kinh Phật là khó(như người ở chốn rừng sâu hoặc nơi biên địa). 5. Gặp được Phật ra đời là khó. 6. Xa lìa được sắc dục là khó. 7. Thấy danh lợi mà không màng là khó.8. Có quyền thế mà chuộng nhân nghĩa là khó. 9. Bị người làm nhục mà không oán hận là khó. 10. Gặp việc mà tâm không đắm nhiễm là khó. 11. Học rộng hiểu nhiều là khó. 12. Không khinh người thua kém mình là khó. 13. Bỏ tính kiêu căng ngạo mạn là khó. 14. Gặp được thiện tri thức(bạn hiền)là khó.15. Thấy tính học đạo là khó. 16. Đối cảnh không động tâm là khó. 17. Khéo hiểu phương tiện là khó. 18. Tùy cơ duyên hóa độ người là khó. 19. Không phân biệt oán thân là khó. 20. Không nói chuyện thị phi là khó. [X. Tam tạng pháp số Q.47].
nhị thập ngũ bồ tát
(二十五菩薩) Hai mươi lăm vị Bồ tát. Cứ theo kinh Thập vãng sinh (do Vãng sinh yếu tập dẫn dụng)thì có 25 vị Bồ tát theo đức Phật A di đà khi Ngài đi tiếp dẫn những người được sinh về Tịnh độ cực lạc. Đó là các Bồ tát: Quan thế âm, Đại thế chí, Dược vương, Dược thượng, Phổ hiền, Pháp tự tại vương, Sư tử hống, Đà la ni, Hư không tạng, Bảo tạng, Đức tạng, Kim tạng, Kim cương tạng, Sơn hải tuệ, Quang minh vương, Hoa nghiêm, Chúng bảo vương, Nguyệt quang vương, Nhật chiếu vương, Tam muội vương, Định tự tại vương, Đại tự tại vương, Bạch tượng vương, Đại uy đức vương và Vô biên thân.
nhị thập ngũ bộ
(二十五部) Hai mươi lăm bộ. Mật giáo chia 5 trí của Kim cương giới làm 5 bộ, mỗi bộ lại đều có 5 trí nên cộng thành 25 bộ. Bí tạng kí quyển hạ (Đại 86, 9 thượng) nói: Kiến lập nhị thập ngũ bộ như thế nào? Năm bộ tức 5 trí, mỗi trí lại có đủ 5 trí, cho nên thành 25 bộ, cứ như thế mở rộng ra thành vô lượng bộ.
nhị thập ngũ chúng
(二十五衆) Hai mươi lăm chúng. Đây là cơ quan hóa đạo của Phật giáo được tổ chức vào đời Tùy ở Trung quốc. Năm Khai hoàng 12 (592), vua Văn đế nhà Tùy tuyển chọn 25 vị cao tăng để tổ chức thành 25 chúng. Nhà vua muốn dùng Phật giáo như 1 quốc sách để phát huy văn hóa. Lúc bấy giờ ngài Tăng xán là vị Đệ nhất Ma ha diễn trong 25 chúng, ngài có soạn bộ luận Thập chủng Đại thừa. Ngài Tăng côn giữ chức Độc kinh pháp chủ, có soạn bộ Luận tràng; ngài Tuệ ảnh giữ chức Nhị thập ngũ chúng chủ, có soạn bộ luận Thương học... [X. Tục cao tăng truyện Q.7, 9, 15; Lịch đại tam bảo kỉ Q.12].
nhị thập ngũ chủng thanh tịnh định luân
(二十五種清淨定輪) Hai mươi lăm bánh xe Thiền định thanh tịnh.Tất cả các vị Bồ tát muốn chứng viên giác đều phải tu Thiền định. Bởi vì trí tuệ thanh tịnh vô ngại đều nương nơi Thiền định mà sinh. Thiền định có 3 thứ: Xa ma tha(tĩnh lặng), Tam ma bát để(như huyễn) và Thiền na(dứt bặt). Ba loại thiền này gồm 25 phương pháp tu, gọi là Nhị thập ngũ chủng thanh tịnh định luân. Chư Phật trong 10 phương, 3 đời đều nhờ tu pháp này mà chứng được Vô lượng chính đẳng chính giác. [X. kinh Viên giác].
Nhị Thập Ngũ Hữu
(二十五有): tức 25 cảnh giới trong đó chúng sanh tồn tại, gồm Tứ Thú (四趣) là Địa Ngục (s, p: naraka, 地獄), Ngạ Quỷ (s: preta, p: peta, 餓鬼), Súc Sanh (s: tiryagyoni, p: tiracchānayoni, 畜生), A Tu La (s: asura, 阿修羅); Tứ Châu (s: catvāro dvīpāḥ, p: cattāro dīpā, 四洲) là Đông Thắng Thân Châu (s: Pūrva-videha, 東勝身洲, tức Đông Phất Bà Đề [東弗婆提]), Nam Thiệm Bộ Châu (s: Jampudīpa, 南贍部洲, tức Nam Diêm Phù Đề [南閻浮提]), Tây Ngưu Hóa Châu (s: Apara-godhānīya, 西牛貨洲, tức Tây Cù Da Ni [西瞿耶尼]), Bắc Cu Lô Châu (s: Uttara-kuru, 北倶盧洲, tức Bắc Uất Đơn Việt [北鬱單越]); Tứ Thiên Vương Thiên (s: Cāturṁahārājakāyika, 四天王天), Tam Thập Tam Thiên (s: Trayastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 三十三天), Diệm Ma Thiên (s: Yāma, 焰摩天), Tha Hóa Tự Tại Thiên (s: Paranirmita-vaśa-vartin, 他化自在天), Sơ Thiền Thiên (初禪天), Đại Phạm Thiên (s: Mahābrahmā, 大梵天), Nhị Thiền Thiên (二禪天), Tam Thiền Thiên (三禪天), Tứ Thiền Thiên (四禪天), Vô Tưởng Thiên (s: Avṛha, 無想天), A Na Hàm Thiên (阿那含天), và 4 cõi Không Xứ Thiên (空處天).
Nhị thập ngũ hữu
二十五有; C: èrshíwǔ yǒu; J: nijūgōu;|1. Hai mươi lăm cõi hiện hữu của chúng sinh. Đó là sự phân chia ba cõi chúng sinh đang luân hồi thành hai mươi lăm thành phần. Trong cõi Dục có 14 cách hiện hữu, trong cõi Sắc có 7, trong cõi Vô Sắc có 4. Hai mươi lăm cõi hiện hữu này được sắp xếp thành: Tứ ác đạo (四惡道), Tứ châu (四洲), Lục dục thiên (六欲天), Tứ thiền thiên (四禪天), Ngũ tịnh cư thiên (五淨居天), và Tứ không xứ thiên (四空處天); 2. Cũng là thuật ngữ thường được chỉ cho »Tam giới« (三界) hoặc là »tất cả chúng sinh«.
nhị thập ngũ hữu
xem hai mươi lăm cảnh giới hiện hữu.
; The twenty five forms of existence or birth.
; (二十五有) Thế giới mê vọng luân hồi sinh tử được chia thành 25 Hữu(có), vì có nhân ắt có quả, nhân quả không mất nên gọi là Hữu. Hai mươi lăm hữu tức là 25 quả thể dị thục của các loài hữu tình trong 3 cõi. Đó là: 1. Địa ngục hữu. 2. Súc sinh hữu. 3. Ngã quỉ hữu. 4. A tu la hữu. 5. Phất bà đề hữu. 6. Cù da ni hữu. 7. Uất đơn việt hữu. 8. Diêm phù đề hữu. 9. Tứ thiên xứ hữu. 10. Tam thập tam thiên xứ hữu. 11. Diệm ma thiên hữu. 12. Đâu suất thiên hữu. 13. Hóa lạc thiên hữu. 14. Tha hóa tự tại thiên hữu.15. Sơ thiền hữu. 16. Đại phạm thiên hữu. 17. Nhị thiền hữu. 18. Tam thiền hữu. 19. Tứ thiền hữu. 20. Vô tưởng hữu. 21. Tịnh cư a na hàm hữu. 22. Không xứ hữu. 23. Thức xứ hữu. 24. Bất dụng xứ hữu. 25. Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu. Trong đường trời, 6 cõi Dục, 4 Thiền và 4 Vô sắc, mỗi cõi là 1 Hữu; mở riêng cõi Đại phạm thuộc Sơ thiền, cõi Vô tưởng và Tịnh cư thuộc Tứ thiền, mỗi cõi là 1 Hữu. Tổng kết, cõi Dục 14 hữu, cõi Sắc 7 Hữu và cõi Vô sắc 4 Hữu. Phương pháp phá 25 hữu này chính là 25 Tam muội.[X. kinh Đại bát niết bàn Q.14 (bản Bắc); phẩm Pháp môn trong kinh Nhập lăng già Q.7, phần 5]. (xt. Nhị Thập Ngũ Tam Muội).
nhị thập ngũ phương tiện
(二十五方便) Hai mươi lăm phương tiện. Pháp tu quán tâm của tông Thiên thai được chia làm 2 loại là Phương tiện và Chính tu. Riêng về phương tiện thì có 25 thứ được chia ra 5 khoa. Đó là: 1. Cụ ngũ duyên: Đầy đủ 5 duyên. Tức là: Giữ giới thanh tịnh, ăn mặc đầy đủ, ở nơi vắng vẻ, dứt mọi công việc, gần thiện tri thức.2. Ha ngũ dục: Quở trách 5 dục. Tức là không tham đắm 5 trần cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc. 3. Khí ngũ cái: Bỏ 5 phiền não gây chướng ngại. Tức là tham muốn, giận hờn, ngủ gục, thô tháo, hoài nghi. 4. Điều ngũ sự: Điều hòa 5 việc. Tức là giữ cho thân, tâm, hơi thở, ăn, ngủ được điều độ, đúng mức, không thái quá, không bất cập. 5. Hành ngũ pháp: Làm 5 pháp. Tức thực hành 5 pháp: Dục, tinh tiến, niệm, xảo tuệ và nhất tâm... Ma ha chỉ quán quyển 4 phần cuối (Đại 46, 48 hạ) nói: Hai mươi lăm pháp này đều là phương tiện để tu trí tuệ và thiền định, vì các pháp quán bất đồng nên phương tiện cũng khác nhau. [X. Thiên thai tứ giáo nghi; Ma ha chỉ quán Q.4, phần đầu].
Nhị Thập Ngũ Tam Muội
(二十五三昧): 25 cảnh giới Tam Muội (, Định) dùng để phá tan 25 hình thức tồn tại (Nhị Thập Ngũ Hữu [二十五有]) được thuyết trong các kinh điển như Nam Bản Niết Bàn Kinh (南本涅槃經) quyển 13, Pháp Hoa Kinh Huyền Nghĩa (法華經玄義) quyển 4, Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Thiêm (法華玄義釋籤) quyển 4, v.v., và cũng được Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-397) nhấn mạnh trong Thiên Thai Tông. Nhị Thập Ngũ Tam Muội gồm: (1) Vô Cấu Tam Muội (無垢三昧) để phá tan sự tồn tại của Địa Ngục (s, p: naraka, 地獄); (2) Bất Thối Tam Muội (不退三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Súc Sanh (s: tiryagyoni, p: tiracchānayoni, 畜生); (3) Tâm Lạc Tam Muội (心樂三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Ngạ Quỷ (s: preta, p: peta, 餓鬼); (4) Hoan Hỷ Tam Muội (歡喜三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi A Tu La (s: asura, 阿修羅); (5) Nhật Quang Tam Muội (日光三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Đông Phất Bà Đề (東弗婆提, tức Đông Thắng Thân Châu [s: Pūrva-videha, 東勝身洲]); (6) Nguyệt Quang Tam Muội (月光三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Tây Cù Da Ni (西瞿耶尼, tức Tây Ngưu Hóa Châu [s: Apara-godhānīya, 西牛貨洲]); (7) Nhiệt Diệm Tam Muội (熱燄三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Bắc Uất Đơn Việt (北鬱單越, tức Bắc Cu Lô Châu[s: Uttara-kuru, 北倶盧洲]); (8) Như Huyễn Tam Muội (如幻三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Nam Diêm Phù Đề (南閻浮提, tức Nam Thiệm Bộ Châu [s: Jampudīpa, 南贍部洲]); (9) Bất Động Tam Muội (不動三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Tứ Thiên Vương Thiên (s: Cāturṁahārājakāyika, 四天王天); (10) Nan Phục Tam Muội (難伏三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Tam Thập Tam Thiên (三十三天, cõi trời thứ 33, tức cõi trời Đao Lợi [s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利]); (11) Duyệt Ý Tam Muội (悅意三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Diệm Ma Thiên (s: Yāma, 焰摩天); (12) Thanh Sắc Tam Muội (青色三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Đâu Suất Thiên (s: Tuṣita, p: Tusita, 兜率天); (13) Huỳnh Sắc Tam Muội (黃色三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Hóa Lạc Thiên (s: Nirmāṇa-rati,化樂天); (14) Xích Sắc Tam Muội (赤色三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên (s: Paranirmita-vaśa-vartin, 他化自在天); (15) Bạch Sắc Tam Muội (白色三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Sơ Thiền (初禪); (16) Chủng Chủng Tam Muội (種種三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Đại Phạm Thiên (s: Mahābrahmā, 大梵天); (17) Song Tam Muội (雙三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Nhị Thiền (二禪); (18) Lôi Âm Tam Muội (雷音三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Tam Thiền (三禪); (19) Chú Vũ Tam Muội (注雨三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Tứ Thiền (四禪); (20) Như Hư Không Tam Muội (如虛空三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Vô Tưởng Thiên (s: Avṛha, 無想天); (21) Chiếu Kính Tam Muội (照鏡三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Tịnh Cư A Na Hàm Thiên (淨居阿那含天); (22) Vô Ngại Tam Muội (無礙三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Không Vô Biên Xứ (s: Akāśānantyāyatana, 空無邊處); (23) Thường Tam Muội (常三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Thức Vô Biên Xứ (s: Vijñānānantyāyatana, 識無邊處); (24) Lạc Tam Muội (樂三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Vô Sở Hữu Xứ (s: Ākiñcanyāyatana, 無所有處); và (25) Ngã Tam Muội (我三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (s: Naivasaṁjñānāsaṁjñāyatana, 非想非非想處).
nhị thập ngũ tam muội
(二十五三昧) Cũng gọi Tam muội chi vương. Hai mươi lăm loại Tam muội để phá trừ 25 hữu trong 3 cõi. Đó là: 1. Dùng tam muội Vô cấu phá địa ngục hữu.2. Dùng tam muội Bất thoái phá súc sinh hữu.3. Dùng tam muội Tâm lạc phá ngã quỉ hữu.4. Dùng tam muội Hoan hỉ phá A tu la hữu.5. Dùng tam muội Nhật quang phá Đông phất bà đề hữu. 6. Dùng tam muội Nguyệt quang diệt Tây cù da ni hữu. 7. Dùng tam muội Nhiệt diệm phá Bắc ất đơn việt hữu. 8. Dùng tam muội Như huyễn diệt Nam diêm phù đề hữu. 9. Dùng tam muội Bất động phá Tứ thiên vương xứ hữu. 10. Dùng tam muội Nan phục phá Tam thập tam thiên xứ hữu. 11. Dùng tam muội Duyệt ý phá Diệm ma thiên xứ hữu. 12. Dùng tam muội Thanh sắc phá Đâu suất thiên xứ hữu. 13. Dùng tam muội Hoàng sắc phá Hóa lạc thiên xứ hữu. 14. Dùng tam muội Xích sắc diệt Tha hóa tự tại thiên hữu. 15. Dùng tam muội Bạch sắc diệt Sơ thiền hữu. 16. Dùng tam muội Chủng chủng phá Đại phạm thiên hữu. 17. Dùng tam muội Song phá Nhị thiền hữu.18. Dùng tam muội Lôi âm phá Tam thiền hữu. 19. Dùng tam muội Chú vũ phá Tứ thiền hữu.20. Dùng tam muội Như hư không phá Vô tưởng hữu. 21. Dùng tam muội Chiếu kính phá Tịnh cư a na hàm hữu. 22. Dùng tam muội Vô ngại phá Không xứ hữu. 23. Dùng tam muội Thường phá Thức xứ hữu. 24. Dùng tam muội Lạc phá Bất dụng xứ hữu. 25. Dùng tam muội Ngã phá Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu. [X. kinh Niết bàn Q.13 (bản Nam); Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, phần đầu; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.4, phần đầu].
nhị thập ngũ thần
(二十五神) Hai mươi lăm vị thiện thần che chở, bảo vệ những người thụ trì 5 giới, được chia ra như sau: 1. Năm vị thần bảo vệ người giữ giới không giết hại: - Thái sô tì dũ tha ni. - Du đa lợi du đà ni. - Tì lâu già na ba. - A đà long ma để. - Bà la hoàn ni hòa ba. 2. Năm vị thần bảo vệ người giữ giới không trộm cướp: - Để ma a tì bà đà. - A tu luân bà la đà. - Bà la ma thiện hùng thư - Bà la môn địa tì đa. - Na ma ha đa da xá. 3. Năm vị thần bảo vệ người giữ giới không gian dâm: - Phật đà tiên đà lâu đa. - Tì xa da tẩu đa sa. - Niết để hê đà da da. - A la đa lại đô da. - Ba la na phật đàm. 4. Năm vị thần bảo vệ người giữ giới không nói dối: - A đề phạm giả san da. - Nhân đài la nhân đài la. - A già lam thi bà đa. - Phật đàm di ma đa đa. - Đa lại xoa tam sát đà. 5. Năm vị thần bảo vệ người giữ giới không uống rượu: - A ma la tư đâu hi. - Na la môn xà đâu đế. - Tát tì ni càn na ba. - Đồ tì xà tì xá la. - Già ma tì na xà ni khư. [X. kinh Quán đính Q.1; Pháp uyển châu lâm Q.88].
nhị thập ngũ tắc phụ thi quỷ cố sự tập
(二十五則附尸鬼故事集) Phạm:Vetàlapaĩcaviôzatikà. Tác phẩm văn học cổ điển của Ấn độ được viết bằng tiếng Phạm, nhưng niên đại của tác giả và tác phẩm được hoàn thành vào khi nào thì đều không rõ. Nội dung sách này do 1 con quỉ nhập vào xác chết kể lại 25 câu truyện cổ mà thành. Cốt truyện như sau: Một kẻ ác đội lốt tu hành muốn giết hại nhà vua, lập mưu tính kế bằng cách bảo vua hàng đêm đến nghĩa địa vác 1 xác chết trên lưng. Bấy giờ có 1 con quỉ biết rõ âm mưu của kẻ tu hành độc ác, bèn nhập vào xác chết và mỗi đêm kể chuyện cho vua nghe. Cứ mỗi lần hết 1 câu chuyện, con quỉ lại thêm 1 câu đố để vua đoán thử. Đến đêm thứ 25, rốt cuộc nhà vua không đoán được câu đố nào, quỉ bèn hiện nguyên hình ra khỏi xác chết nói thật cho vua biết và giết chết kẻ ác đội lốt nhà tu, đồng thời giúp nhà vua được sức thần thông. Tập truyện cổ này được dịch ra bằng nhiều ngôn ngữ địa phương ở Ấn độ, bản được lưu truyền rộng rãi hơn cả là bản dịch tiếng Hindi dưới tựa đềBaitàl Pachìsì. Trung quốc thì có bản Quỉ thoại liên thiên tập(do Mi văn khai dịch). Ngoài ra còn có các bản dịch tiếng Tây tạng, Mông cổ và các nước khác trên thế giới. Cho đến các loại sách thuộc truyện cổ dân gian, văn học đồng thoại, ngụ ngôn của các nước như truyện Bốn anh em, truyện Sáu người con trai của nước Đức(Cách lâm đồng thoại), truyện Cười tỉnh ngủ của Nhật bản... đều chịu ảnh hưởng của sách này.
nhị thập ngũ viên thông
(二十五圓通) Hai mươi lăm phương pháp chứng ngộ của hàng Bồ tát và Thanh văn. Viên thông nghĩa là tròn đầy trùm khắp, dung thông vô ngại. Vì cơ duyên của chúng sinh khác nhau nên pháp tu để chứng được viên thông cũng bất đồng. Con số 25 bao gồm 6 trần, 6 căn, 6 thức và 7 đại, đó là: 1. Âm thanh: Viên thông về thanh trần của các ngài Kiêu trần na... 2. Sắc nhân: Viên thông về sắc trần của tỉ khưu Ưu ba ni sa đà. 3. Hương nhân: Viên thông về hương trần của đồng tử Hương nghiêm. 4. Vị nhân: Viên thông về vị trần của 2 vị Pháp vương tử: Dược vương, Dược thượng. 5. Xúc nhân: Viên thông về xúc trần của các ngài Bạt đà la... 6. Pháp nhân: Viên thông về pháp trần của các ngài Ma ha ca diếp. 7. Kiến nguyên: Viên thông về nhãn căn của ngài A na luật đà. 8. Tức không: Viên thông về tị căn của ngài Chu lợi bàn đặc ca. 9. Vị tri: Viên thông về thiệt căn của ngài Kiều phạm bát đề. 10. Thân giác: Viên thông về thân căn của ngài Tất lăng già bà ta 11. Pháp không: Viên thông về ý căn của ngài Tu bồ đề. 12. Tâm kiến: Viên thông về nhãn thức của ngài Xá lợi phất. 13. Tâm văn: Viên thông về nhĩ thức của bồ tát Phổ hiền. 14. Tị tức: Viên thông về tị thức của ngài Tôn đà la nan đà. 15. Pháp âm: Viên thông về thiệt thức của ngài Phú lâu na. 16. Thân giới: Viên thông về thân thức của ngài Ưu ba di. 17. Tâm đạt: Viên thông về ý thức của ngài Đại mục kiền liên. 18. Hỏa tính: Viên thông về hỏa đại của ngài Ô sô sắt ma. 19. Địa tính: Viên thông về địa đại của bồ tát Địa trì. 20. Thủy tính: Viên thông về thủy đại của đồng tử Nguyệt quang. 21. Phong tính: Viên thông về phong đại của Pháp vương tử Lưu li quang. 22. Không tính: Viên thông về không đại của bồ tát Hư không tạng. 23. Thức tính: Viên thông về thức đại của bồ tát Di lặc. 24. Tịnh niệm: Viên thông về căn đại của bồ tát Đại thế chí. 25. Nhĩ căn: Viên thông về nhĩ căn của bồ tát Quan âm. [X. Lăng nghiêm kinh viên thông sớ Q.5, 6; Thủ lăng nghiêm nghĩa sớ chú kinh Q.5, 6; Lăng nghiêm kinh tập chú Q.5, 6].
nhị thập ngũ điều
The monk's twenty-five-patch garment.
; (二十五條) Tấm ca sa 25 nẹp, thuộc loại ca sa thượng thượng phẩm. Hai mươi lăm nẹp này được khâu theo chiều ngang, mỗi nẹp được khâu bằng 4 miếng vải dài, 1 miếng vải ngắn, gọi là Tứ thường nhất đoản. Ca sa 25 nẹp chỉ được mặc khi vào cung vua, thăng tòa thuyết pháp, đi khất thực và hàng phục ngoại đạo... [X. Tì ni nhật dụng thiết yếu; Pháp phục cách chính; Điều diệp thứ đệ phân Q.5].
nhị thập ngũ điểm
(二十五點) Hai mươi lăm điểm. Đây là cách khu biệt thời gian trong Thiền viện. Khoảng từ chập tối đến gần sáng được chia làm 5 canh, mỗi canh lại chia làm 5 điểm, cộng thành 25 điểm. Khi báo canh thì đánh trống, báo điểm thì đánh bảng. [X. Tăng đường thanh qui Q.1].
nhị thập ngũ đàn biệt tôn pháp
(二十五壇別尊法) Pháp Hộ ma của Mật giáo được tu để cúng dường 25 vị tôn 1 cách riêng rẽ nhằm phá trừ 25 Hữu. (xt. Hữu).
nhị thập ngũ đế
(二十五諦) Hai mươi lăm nguyên lí chân thực. Phái Triết học Số luận của Ấn độ chủ trương Nhị nguyên, cho rằng vũ trụ vạn hữu được hình thành bởi Thần ngã (Phạm: Puruwa–nguyên lí tinh thần) và Tự tính (Phạm:Prakfti–nguyên lí vật chất) rồi chia quá trình chuyển biến của thế giới làm 25 thứ, cho đó là lí chân thực nên gọi là Nhị thập ngũ đế. Quá trình chuyển biến đó là: Từ tự tính sinh ra giác(cũng gọi là đại, là quan năng giác tri tồn tại trong thể, tức trí quyết đoán); từ giác lại sinh ra ngã mạn của ý thức tự ngã(ngã chấp); rồi lại từ ngã mạn sinh ra 5 yếu tố(ngũ đại): Đất, nước, lửa, gió, không. Tám thứ nêu trên là cội gốc sinh ra muôn vật, cho nên được gọi là Căn bản tự tính. Rồi lại từ 5 yếu tố sinh ra 5 duy: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, 5 tri căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân (da),5 tác căn: Lời nói, tay, chân, sinh thực khí, bài tiết khí, cho đến sinh ra tâm căn (16 thứ nói trên đây đều từ vật khác sinh ra, cho nên gọi là Thập lục biến dị – 16 thứ đổi khác). Như vậy là từ tự tính sâu kín hiển hiện ra 23 thứ như giác, ngã mạn... cộng thêm 2 thứ Tự tính và Thần ngã thành 25 đế. Trên đây là thuyết xưa, ngoài ra còn có nhiều thuyết khác nữa. Tự tính vốn do 3 yếu tố(3 đức): Thuần chất (Hỉ, Phạm:Sattva, Hán âm: Tát đỏa –mừng), Kích chất (Phạm:Rajas, Hán âm: La xà –lo) và Ế chất (Phạm: Tamas, Hán âm: Đa ma –tối tăm) cấu tạo thành. Nếu trạng thái thăng bằng của 3 yếu tố ấy bị phá vỡ, thì phải xét đến mối quan hệ giữa Thần ngã và Tự tính, để làm cho nội trí được hoàn toàn quân bình, thì Thần ngã có thể thoát ra khỏi sự trói buộc của vật chất, mà đạt đến giải thoát để trở lại trạng thái thuần tịnh lúc ban đầu. [X. luận Kim thất thập Q.thượng]. (xt. Ngã Mạn Đế, Số Luận Học Phái).
Nhị thập nhất chủng lễ tán kinh
二十一種禮讃經; C: èrshíyīzhǒng lǐzàn jīng; J: nijūisshu raisan kyō;|Tên gọi tắt của Thánh giáo độ Phật mẫu nhị thập nhất chủng lễ tán kinh (聖救度佛母二十一種禮讃經).
Nhị thập nhị chủng ngu si
二十二種愚癡; C: èrshíèrzhǒng yúchī; J: nijūnishu guchi;|Hai mươi hai thứ ngu si phải được chuyển hoá ở hai giai vị Bồ Tát thập nhất địa (十一地; gồm Bồ Tát thập địa và Phật địa). Thêm vào mỗi một cặp nầy là tiến trình diễn biến và phiền não thô trọng (麁重) dính mắc với nhau: 1. Chấp trước bổ-đặc-già-la cập pháp ngu si (執著補特伽羅及法愚癡) và Ác thú tạp nhiễm ngu si (惡趣雜染愚癡); 2. Vi tế ngộ phạm ngu si (微細誤犯愚癡) và Chủng chủng nghiệp thú ngu si (種種業趣愚癡); 3. Dục tham ngu si (欲貪愚癡) và Viên mãn văn trì đà-la-ni ngu si (圓滿聞持陀羅尼愚癡); 4. Đẳng chí ái ngu si (等至愛愚癡) và Pháp ái ngu si (法愛愚癡); 5. Nhất hướng tác ý khí bội sinh tử ngu si (一向作意棄背生死愚癡) và Nhất hướng tác ý thú hướng niết-bàn ngu si (一向作意趣向涅槃愚癡); 6. Hiện tiền quán sát chư hành lưu chuyển ngu si (者現前觀察諸行流轉愚癡) và Tướng đa hiện hành ngu si (相多現行愚癡); 7. Vi tế tướng hiện hành ngu si (微細相現行愚癡) và Nhất hướng vô tướng tác ý phương tiện ngu si (一向無相作意方便愚癡); 8. Ư vô tướng tác công dụng ngu si (於無相作功用愚癡) và Ư tướng tự tại ngu si (於相自在愚癡); 9. Ư vô lượng thuyết pháp vô lượng pháp cú văn tự hậu hậu huệ biện đà-la-ni tự tại ngu si (於無量説法無量法句文字後後慧辯陀羅尼自在愚癡) và Biện tài tự tại ngu si (辯才自在愚癡); 10. Đại thần thông ngu si (大神通愚癡) và Ngộ nhập vi tế bí mật ngu si (悟入微細祕密愚癡); 11. Ư nhất thiết sở tri cảnh giới cực vi tế trước ngu si (於一切所知境界極微細著愚癡) và Cực vi tế ngu si (極微細愚癡).
nhị thập nhị chủng ngu si
(二十二種愚痴) Gọi tắt: Nhị thập nhị ngu. Hai mươi hai thứ ngu si mà bồ tát Thập địa và Phật địa đối trị. 1. Ngu si chấp trước ngã và pháp. 2. Ngu si đối với các tạp nhiễm trong đường ác. 3. Ngu si về việc trái phạm những lỗi lầm nhỏ nhiệm. 4. Ngu si trong việc tạo các nghiệp dẫn đến các ngả ác. 5. Ngu si đối với tâm tham muốn. 6. Ngu si về việc thụ trì Đà la ni 1 cách viên mãn. 7. Ngu si đối với việc tham đắm các thiền định.8. Ngu si đối với việc tham đắm giáo pháp. 9. Ngu si chỉ chấp trước 1 ý hướng lìa bỏ sinh tử. 10. Ngu si chỉ chấp trước 1 ý hướng đạt đến Niết bàn. 11. Ngu si trong việc quán xét những hành lưu chuyển hiện tiền. 12. Ngu si đối với các tướng thô trọng hiện hành. 13. Ngu si đối với các tướng vi tế hiện hành. 14. Ngu si đối với phương tiện chỉ chấp vô tướng. 15. Ngu si chấp trước công dụng của vô tướng. 16. Ngu si tự tại đối với các tướng. 17. Ngu si không có trí tuệ biện giải đối với vô lượng pháp, vô lượng chương cú, danh tự đà la ni. 18. Ngu si không có biện tài tự tại. 19. Ngu si đối với đại thần thông. 20. Ngu si đối với việc ngộ nhập lí bí mật vi tế. 21. Ngu si chấp trước đối với tất cả cảnh giới cực vi tế đã được ngộ nhập. 22. Ngu si đối với những chướng ngại rất nhỏ nhiệm. [X. luận Thành duy thức Q.9; luận Du già sư địa Q.78] (xt. Thập Trọng Chướng).
Nhị thập nhị căn
二十二根; C: èrshíèrgēn; J: nijūnikon;|Hai mươi hai căn (pháp tăng thượng đặc biệt về sự tướng). Gồm 6 căn: mắt (nhãn 眼), tai (nhĩ 耳), mũi (tĩ 鼻), lưỡi (thiệt 舌), thân (身), ý (意); 3 căn nam (男), nữ (女) và mệnh (命); 5 thọ căn: hỉ (喜), khổ (苦), lạc (樂), ưu (憂), và xả (捨); 5 thiện căn: tín (信), cần (勤), niệm (念), định (定), và huệ (慧); 3 vô lậu căn là: vị tri đương tri căn (未知當知), dĩ tri căn (已知) và cụ tri căn (具知).
nhị thập nhị căn
(二十二根) Phạm:Dvàviôsatìndriyàịi. Hai mươi hai pháp tăng thượng đặc biệt đối với sự. Đó là: Sáu căn(nhãn căn, nhĩ căn, tị căn, thiệt căn, thân căn, ý căn), nam căn, nữ căn, mệnh căn, 5 thụ căn(khổ, vui, mừng, lo, không khổ không vui), 5 thiện căn(tín, cần, niệm, định, tuệ)và 3 căn vô lậu(vị tri đương tri căn, dĩ tri căn, cụ tri căn). Căn có nghĩa tăng thượng (thêm lên). Năm căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, mỗi căn đều làm 4 việc tăng thượng: Làm đẹp thân, nuôi dưỡng thân, sinh ra thức và chức năng riêng, vì thế gọi là Căn. Nam căn và nữ căn có chức năng làm tăng thượng sự phân biệt về giới tính, hình tướng, giọng nói... của loài hữu tình. Đối với Chúng đồng phận thì mệnh căn có ý nghĩa tăng thượng cho sự duy trì sự sống liên tục; ý căn đối với 2 việc là duy trì thân hậu hữu và tùy hành tự tại, có tác dụng tăng thượng; 5 thụ căn tùy theo sự tăng gia của các phiền não như tham, sân... thì có ý nghĩa tăng thượng đối với nhiễm ô; còn 5 thiện căn và 3 căn vô lậu thì tăng trưởng các pháp thanh tịnh, cho nên gọi là Căn. Nếu đứng về mặt thể của 22 căn mà nói, thì nam căn và nữ căn vì là 1 bộ phận của thân căn nên hoàn toàn không có thể riêng biệt. Còn 3 căn vô lậu thì lấy 9 căn: Ý căn, 3 thụ căn(khổ, vui, không khổ không vui)và 5 thiện căn làm thể, chứ không có thể riêng; vì vậy, số thể của căn thực sự chỉ có 17. [X. luận Câu xá Q.3; luận Đại tì bà sa Q.142].
nhị thập nhị môn
(二十二門) I. Nhị Thập Nhị Môn. Chỉ cho 22 môn phân biệt 18 giới nói trong phẩm Phân biệt của luận Câu xá. Đó là: Hữu kiến vô kiến, Hữu đối vô đối, Ba tính(thiện, ác, vô kí), Ba cõi(Dục, Sắc, Vô sắc), Hữu lậu vô lậu, Hữu tầm hữu tứ, Vô tầm vô tứ, Hữu sở duyên vô sở duyên, Hữu chấp thụ vô chấp thụ, Đại chủng sở tạo, Tích tụ phi tích tụ, Năng chước sở chước, Năng thiêu sở thiêu, Năng xưng sở xưng, Ngũ loại phân biệt, Đắc thành tựu, Nội ngoại, Đồng phận pháp đồng phận, Tam đoạn, Kiến phi kiến, Lục thức nội kỉ thức sở kiến, Thường vô thường, Căn phi căn. II. Nhị Thập Nhị Môn. Chư Phật muốn nương vào sức tam muội tự tại để an tâm tất cả chúng sinh nên dùng vô lượng phương tiện của hết thảy công đức đã tu hành mà sinh ra tam muội thù thắng tự tại để độ họ, tức là từ tam muội này sinh ra 22 môn là: Môn cúng dường Như lai, môn bố thí hết thảy, môn trì giới đầy đủ, môn nhịn nhục vô lượng, môn khổ hạnh tinh tiến vô lượng, môn tam muội thiền định tĩnh lặng, môn trí tuệ đại biện vô lượng, môn thực hành hết thảy phương tiện, môn thần thông 4 vô lượng, môn 4 nhiếp đại từ đại bi, môn trí tuệ vô lượng công đức, môn giải thoát hết thảy duyên khởi, môn đạo pháp căn lực thanh tịnh, môn Thanh văn tiểu thừa, môn Duyên giác trung thừa, môn Đại thừa vô thượng, môn các khổ vô thường, môn chúng sinh vô ngã, môn lìa dục bất tịnh, môn tam muội diệt định vắng lặng, môn tùy các chúng sinh khởi bệnh và môn đối trị tất cả pháp.
Nhị thập nhị ngu
二十二愚; C: èrshíèr yú; J: nijūni gu;|Nhị thập nhị chủng ngu si (二十二種愚癡).
Nhị thập nhị ngu si
二十二愚癡; C: èrshíèr yúchī; J: nijūni guchi;|Nhị thập nhị chủng ngu si (二十二種愚癡).
nhị thập nhị phẩm
(二十二品) Chỉ cho 22 phẩm. Đó là: 4 niệm xứ, 4 chính cần, 4 như ý túc, 5 căn, 5 lực, gồm 22 thứ trước giai vị Kiến đạo trong 37 phẩm trợ đạo, được gọi chung là Nhị thập nhị phẩm. Khi hành giả bắt đầu tu tập thì tâm rong ruổi theo nhiều cảnh, để chế ngự tâm ấy, trước hết phải tu Niệm trụ, cho nên Niệm trụ được xếp vào hàng ưu tiên. Kế đến là 4 chính cần, tức nhờ chế ngự được tâm mà sức siêng năng tăng trưởng; lại do siêng năng chăm chỉ mà tâm yên vui để tu thắng định, cho nên Như ý túc được đặt vào hàng thứ 3: Lấy thắng định làm chỗ dựa, Tín, Tiến, Niệm... là duyên tăng thượng của pháp xuất thế, cho nên 5 căn được xếp vào hàng thứ 4. Nghĩa căn đã được lập, có khả năng chế phục sự hiện hành của phiền não tạp nhiễm, sinh ra Thánh pháp, cho nên 5 lực được đặt vào hàng chót. [X. luận Câu xá Q.25; luận Tạp a tì đàm tâm Q.8; luận Đại trí độ Q.19]. (xt. Ngũ Lực, Ngũ Căn, Tứ Chính Cần, Tứ Niệm Trụ, Tứ Thần Túc).
nhị thập nhị vô giảm
(二十二無减) Hai mươi hai pháp không giảm. Nghĩa là 22 tâm phẩm định tương ứng với 4 trí của Như lai, được gọi là Nhị thập nhị vô giảm. Hai mươi hai tâm ấy là: Tác ý, xúc, thụ, tưởng, tư, dục, thắng giải, niệm, định, tuệ, tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, tinh tiến, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại và tâm vương. Trong đó, 5 pháp đầu tiên là 5 biến hành trong các tâm sở; 5 pháp kế tiếp là 5 biệt cảnh trong các tâm sở và 11 pháp, kế nữa là 11 thiện pháp trong các tâm sở. [X. luận Thành duy thức Q.10].
nhị thập thiên
(二十天) I. Nhị Thập Thiên. Hai mươi vị thiên thần đẩy lui ác ma, giữ gìn thiện pháp, đó là: Phạm thiên, Đế thích thiên, Tì sa môn thiên, Trì quốc, Tăng trưởng, Quảng mục, Kim cương mật tích, Ma hê thủ la, Tán chi đại tướng, Đại biện tài, Đại công đức, Vi đà thiên tướng quân, Kiên lao địa thần, Bồ đề thụ thần, Quỉ tử mẫu thần, Ma lợi chi thiên, Nhật cung thiên tử, Nguyệt cung thiên tử, Sa kiệt la long vương và Diêm ma vương. (xt. Nhị Thập Chư Thiên). II. Nhị Thập Thiên. Chỉ cho 20 vị trời trong viện Ngoại kim cương bộ thuộc Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo. (xt. Ngoại Kim Cương Nhị Thập Thiên).
nhị thập thất hiền thánh
(二十七賢聖) Hai mươi bảy bậc Hiền Thánh. Tức là 18 bậc Hữu học của 4 hướng 3 quả trước và 9 bậc Vô học A la hán được gọi chung là Nhị thập thất Hiền Thánh. Cứ theo luận Thành thực thì 27 bậc Hiền Thánh là: Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Vô tướng hành, Dự lưu quả, Nhất lai hướng, Nhất lai quả, Bất hoàn hướng, Trung ban, Sinh ban, Hữu hành ban, Vô hành ban, Lạc tuệ, Lạc định, Chuyển thế, Hiện ban, Tín giải, Kiến đắc, Thân chứng, Thoái pháp tướng, Thủ hộ tướng, Tử tướng, Trụ tướng, Khả tiến tướng, Bất hoại tướng, Tuệ giải thoát tướng, Câu giải thoát tướng và Bất thoái tướng. Còn theo kinh Phúc điền trong Trung a hàm, thì 27 bậc ấy là: Tín hành, Pháp hành, Tín giải, Kiến đáo, Thân chứng, Gia gia, Nhất chủng, Hướng Tu đà hoàn, Đắc Tu đà hoàn, Hướng Tư đà hàm, Đắc Tư đà hàm, Hướng A na hàm, Đắc A na hàm, Trung bát niết bàn, Sinh bát niết bàn, Hành bát niết bàn, Vô hành bát niết bàn, Thượng lưu sắc cứu cánh, Tư pháp, Thăng tiến pháp, Bất động pháp, Thoái pháp, Bất thoái pháp, Hộ pháp, Thực trụ pháp, Tuệ giải thoát và Câu giải thoát. [X. phẩm Hiền thánh trong luận Thành thực; Tứ giáo nghĩa Q.3].
nhị thập trí
(二十智) Chỉ cho 20 thứ trí do tông Thiên thai dựa theo 4 giáo để thuyết minh. Như: Tạng giáo có 7 trí: Thế trí, Ngoại phàm trí, Nội phàm trí, Tứ quả trí, Bích chi phật trí, Bồ tát trí và Phật trí. Thông giáo có 5 trí: Tứ quả trí, Bích chi phật trí, Bồ tát nhập không quán trí, Bồ tát xuất giả quán trí và Phật trí. Biệt giáo có 4 trí: Thập tín trí, Tam hiền trí(Trụ, Hành, Hướng trí), Thập địa đẳng giác trí và Phật trí. Viên giáo có 4 trí: Ngũ phẩm trí, Lục căn trí, Trụ Hành Hướng Địa trí và Phật trí. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng thuyết Q.3, phần 3].
nhị thập trọng hoa tạng trang nghiêm thế giới hải
(二十重華藏莊嚴世界海) Chỉ cho 20 lớp thế giới hải Hoa tạng đẹp đẽ. Thế giới này trụ trên hoa sen trong biển Hương thủy, được trang nghiêm bằng các thứ quí báu vi diệu, hàm chứa hết thảy thế giới, sâu rộng vô cùng tận. Cứ theo phẩm Hoa tạng thế giới trong kinh Hoa nghiêm quyển 8 (bản dịch mới) thì thế giới Hoa tạng là cõi thanh tịnh trang nghiêm do đức Tì lô giá na Như lai đã tạo ra từ thủa xa xưa khi Ngài còn tu hạnh Bồ tát, cách nay vô số kiếp nhiều như bụi nhỏ trong các thế giới hải, gần gũi vô số các đức Phật nhiều như số vi trần, ở chỗ mỗi đức Phật, tịnh tu các đại nguyện nhiều như số bụi nhỏ trong các thế giới hải. Thế giới hải này có các lớp phong luân nhiều như số bụi nhỏ của núi Tu di giữ gìn, lớp phong luân trên cùng nâng đỡ biển Hương thủy, biển Hương thủy này có hoa sen lớn tên là Chủng chủng quang minh nhụy hương chàng, thế giới hải Hoa tạng trang nghiêm trụ ở trong hoa sen này, có núi Kim cương luân bao bọc chung quanh. Tất cả đất đai trong núi Kim cương luân đều do kim cương tạo thành. Trong đất đai này lại có vô số biển Hương thủy nhiều như bụi nhỏ của các cõi Phật, chung quanh mỗi biển Hương thủy có vô số 4 thiên hạ nhiều như nước của các biển Hương thủy. Trong mỗi một biển Hương thủy cũng có vô số thế giới chủng nhiều như vi trần của các cõi Phật, mỗi mỗi thế giới chủng lại có vô số thế giới nhiều như bụi nhỏ của các cõi Phật. Biển Hương thủy ở ngay chính giữa có tên là Vô biên diệu hoa quang, mọc 1 hoa sen lớn, trên hoa sen có thế giới chủng gọi là Phổ chiếu thập phương xí nhiên bảo quang minh, 20 lớp thế giới trang nghiêm đều ở trong thế giới này, được sắp xếp có lớp lang, mỗi thế giới đều có vô số thế giới nhiều như bụi nhỏ của các cõi Phật bao bọc chung quanh, mỗi thế giới đều có Phật xuất hiện, giáo hóa chúng sinh. Nhị thập trùng thế giới cũng gọi Nhị thập trùng Phật sát, từ dưới lên trên là: 1. Thế giới Hoa tạng Tối thắng quang biến chiếu, nương vào hoa Chúng bảo ma ni mà an trụ, Phật hiệu là Li cấu đăng. 2. Thế giới Hoa tạng Chủng chủng hương liên hoa diệu trang nghiêm, nương vào lưới Bảo liên hoa mà an trụ, Phật hiệu là Sư tử quang thắng chiếu. 3. Thế giới Hoa tạng Nhất thiết bảo trang nghiêm phổ chiếu quang, nương vào các thứ ngọc báu mà an trụ, Phật hiệu là Tịnh quang trí thắng chàng. 4. Thế giới Hoa tạng Chủng chủng quang minh hoa trang nghiêm, nương vào biển Chúng sắc kim cương thi la chàng mà an trụ, Phật hiệu là Kim cương quang minh vô lượng tinh tiến lực thiện xuất hiện. 5. Thế giới Hoa tạng Phổ phóng diệu hoa quang, nương vào biển Nhất thiết thụ trang nghiêm bảo luân võng mà an trụ, Phật hiệu là Hương quang hỉ lực hải. 6. Thế giới Hoa tạng Tịnh diệu quang minh, nương vào biển Kim cương cung điện mà an trụ, Phật hiệu là Phổ quang tự tại. 7. Thế giới Hoa tạng Chúng hoa diệm trang nghiêm, nương vào biển Nhất thiết bảo sắc diệm mà an trụ, Phật hiệu là Hoan hỉ hải công đức danh xưng tự tại quang. 8. Thế giới Hoa tạng Xuất sinh uy lực địa, nương vào biển Chủng chủng bảo sắc liên hoa tọa hư không mà an trụ, Phật hiệu là Quảng đại danh xưng trí hải chàng. 9. Thế giới Hoa tạng Xuất diệu âm thanh, nương vào biển Hằng xuất nhất thiết diệu âm thanh trang nghiêm vân ma ni vương mà an trụ, Phật hiệu là Thanh tịnh nguyệt quang tướng vô năng tồi phục. 10. Thế giới Hoa tạng Kim cương chàng, nương vào biển Nhất thiết trang nghiêm bảo sư tử tòa ma ni mà an trụ, Phật hiệu là Nhất thiết pháp hải tối thắng vương. 11. Thế giới Hoa tạng Hằng xuất hiện đế quang bảo quang minh, nương vào biển Chủng chủng thù diệu hoa mà an trụ, Phật hiệu là Vô lượng công đức hải. 12. Thế giới Hoa tạng Quang minh chiếu diệu, nương vào biển Hoa toàn hương thủy mà an trụ, Phật hiệu là Siêu thích phạm. 13. Thế giới Hoa tạng Sa bà, nương vào lưới hoa sen được nâng đỡ bởi phong luân nhiều màu sắc mà an trụ, Phật hiệu là Tì lô giá na Như lai Thế tôn. 14. Thế giới Hoa tạng Tịch tĩnh li trần quang, nương vào biển Chủng chủng bảo y mà an trụ, Phật hiệu là Biến pháp giới thắng âm. 15. Thế giới Hoa tạng Chúng diệu quang minh đăng, nương vào biển Tịnh hoa võng mà an trụ, Phật hiệu là Bất khả tồi phục lực phổ chiếu chàng. 16. Thế giới Hoa tạng Thanh tịnh quang biến chiếu, nương vào biển Chủng chủng hương diệm mà an trụ, Phật hiệu là Thanh tịnh nhật công đức nhãn. 17. Thế giới Hoa tạng Bảo trang nghiêm, nương vào biển Quang minh tạng ma ni tàng mà an trụ, Phật hiệu là Vô ngại trí quang minh biến chiếu thập phương. 18. Thế giới Hoa tạng Li trần, nương vào biển Chúng diệu hoa sư tử tòa mà an trụ, Phật hiệu là Vô lượng phương tiện tối thắng chàng. 19. Thế giới Hoa tạng Thanh tịnh quang phổ chiếu, nương vào biển Vô lượng sắc hương diệm tu di sơn mà an trụ, Phật hiệu là Phổ chiếu pháp giới hư không quang. 20. Thế giới Hoa tạng Diệu bảo diệm, nương vào biển Nhất thiết chư thiên hình ma ni vương mà an trụ, Phật hiệu là Phúc đức tướng quang minh.
nhị thập tụng luận
Vimsatikàkàrikà (S). Treatise of the twenty verses.
nhị thập tứ bất tương ưng pháp
(二十四不相應法) Hai mươi bốn pháp Bất tương ứng hành của tông Duy thức, dùng để giả lập phần vị của Sắc, Tâm, Tâm sở. Đó là: Đắc, Mệnh căn, Chúng đồng phận, Dị sinh tính, Vô tưởng định, Diệt tận định, Vô tưởng sự, Danh thân, Cú thân, Văn thân, Sinh, Lão, Trụ, Vô thường, Lưu chuyển, Định dị, Tương ứng, Thế tốc, Thứ đệ, Phương, Thời, Số, Hòa hợp tính và Bất hòa hợp tính. Tông Câu xá thì lập có 14 pháp Bất tương ứng.(xt. Tâm Bất Tương Ứng Hành).
nhị thập tứ duyên
(二十四緣) Duyên, Phạm: Pratyaya. Pàli: Paccaya. Chỉ cho 24 duyên. Duyên nghĩa là giúp đỡ cho việc sinh khởi của các pháp được thành tựu viên mãn. Hai mươi bốn duyên này là danh số đặc biệt của Phân biệt Thượng tọa bộ ở Tích lan, từPàlithất luận đến luận Phát thú mới được thành lập. Đó là: 1. Nhân duyên. 2. Sở duyên duyên. 3. Tăng thượng duyên. 4. Vô gián duyên. 5. Đẳng vô gián duyên. 6. Câu sinh duyên. 7. Tương hỗ duyên. 8. Sở y duyên. 9. Y chỉ duyên. 10. Tiền sinh duyên. 11. Hậu sinh duyên. 12. Tu tập duyên. 13. Nghiệp duyên. 14. Dị thục duyên. 15. Thực duyên. 16. Căn duyên. 17. Đạo duyên. 18. Tĩnh lự duyên. 19. Tương ứng duyên. 20. Bất tương ứng duyên. 21. Hữu duyên. 22. Phi hữu duyên. 23. Khứ duyên. 24. Bất khứ duyên.
nhị thập tứ nguyện
(二十四願) Chỉ cho 24 nguyện khác của đức Phật A di đà. Đứng về phương diện hình thức mà nhận xét thì có hơi khác với 48 nguyện của Ngài nói trong kinh Vô lượng thọ, nhưng về nội dung thì giống nhau. Hai mươi bốn nguyện là: 1. Không có 3 đường ác. 2. Không có người nữ: Người nữ vãng sinh đều là hóa sinh. 3. Đất bằng 7 báu, vật dụng tự nhiên. 4. Chư Phật khen ngợi, nghe danh hiệu được vãng sinh. 5. Chuyên tâm định sinh. 6. Trung bối vãng sinh. 7. Đến đón tiếp dẫn, trụ nơi chính định. 8. Không trở lại đường ác lần nữa. 9. Đều là màu vàng ròng, không có đẹp xấu.10. Đọc được tâm ý người khác. 11. Thường tu phạm hạnh, không có tham, sân, si. 12. Từ tâm không làm hại. 13. Cúng dường chư Phật, vật cúng dường như ý. 14. Ăn uống tự nhiên. 15. Đủ 32 tướng tốt đẹp. 16. Nói Nhất thiết trí. 17. Thần thông thù thắng. 18. Nói kinh thù thắng. 19. Tuổi thọ vô lượng. 20. Vô số Bồ tát và Thanh văn. 21. Người, trời sống lâu. 22. Có trí thần thông biết việc đời trước, thấy và nghe khắp 10 phương. 23. Quyến thuộc sáng suốt. 24. Vô lượng ánh sáng, khi tiếp xúc với ánh sáng này thì cảm thấy êm dịu. [X. kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác Q.1]. (xt. Tứ Thập Bát Nguyện).
nhị thập ức nhĩ
(二十億耳) Phạm: Zroịakotiviôza, hoặc Zrotraviôzatikotì. Hán âm: Thất lũ đa tần thiết để câu chi. Cũng gọi Ức nhĩ la hán, Văn nhị bách ức. Tên vị A la hán, con của 1 trưởng giả ở nước Y lạn noa bát phạt đa thuộc Trung Ấn độ. Sau khi được đức Phật giáo hóa, Ngài xuất gia ở nước Xá vệ, 1 mình yên tĩnh, siêng năng tu tập ngày đêm không nghỉ. Vì không dứt hết được các phiền não nên Ngài bỏ tu và trở về nhà. Sau đó, đức Phật biết tin liền cho gọi Ngài đến hỏi: Khi còn ở thế tục, ông ưa thích những gì?. Đáp: Bạch đức Thế tôn! Con thích gảy đàn. Bấy giờ đức Phật mới dạy Ức nhĩ rằng: Nếu để dây đàn căng quá thì tiếng nghe không êm tai, nếu chùn quá thì không thành tiếng; chỉ khi nào dây đàn không căng, không chùn thì tiếng đàn phát ra mới êm hòa dễ nghe. Cũng thế, người tu hành nếu tinh tiến thái quá sẽ làm cho tâm bị nhiễu loạn, mất sự điều hòa, còn nếu không tinh tiến thì tâm sẽ trở nên lười biếng. Sau khi nghe đức Phật chỉ dạy, ngài Ức nhĩ liền lập chí trở lại, tâm không buông thả, tu hành đúng mức, chứng được quả A la hán. Về sau, Ngài du hóa đến Nam Ấn độ và tịch ở nước Cung kiến na bổ la. Ngài có tướng lạ là lông chân dài 2 tấc, chân không đạp đất. Ngài là vị tinh tiến bậc nhất trong hàng đệ tử của đức Phật. [X. kinh Tạp a hàm Q.9; luận Đại trí độ Q.22]
nhị thế
(二世) Chỉ cho 2 đời: Đời này và đời sau. Như nói Nhị thế an lạc(2 đời yên vui), Nhị thế tất địa(2 đời thành tựu). Nhị thế cũng được dùng để chỉ cho 2 loại thế giới Thần và Người. [X. phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa Q.3].
nhị thế gian
(二世間) Hai thế gian: Chỉ cho Hữu tình thế gian và Khí thế gian. 1. Hữu tình thế gian: Do 5 uẩn giả hòa hợp mà có tình thức, như các loài quỉ, súc sinh, người và trời... 2. Khí thế gian: Do 4 đại tích tụ mà thành núi, sông, đất đai, cõi nước, nhà cửa... để dung nạp hữu tình. Hữu tình thế gian là Chính báo và Khí thế gian là Y báo của các hữu tình. [X. phẩm Thế gian trong luận Câu xá Q.11].
nhị thế tôn
(二世尊) Cũng gọi Pháp hoa nhị thánh. Chỉ cho đức Thích ca Như lai và đức Đa bảo Như lai trong tháp Đa bảo. [X. phẩm Bảo tháp trong kinh Pháp hoa Q.4]
nhị thỉnh
(二請) Ngôn thỉnh và Niệm thỉnh. 1. Ngôn thỉnh: Dùng lời nói mà thưa hỏi. Như trong phẩm Tam muội của hội thứ 1 kinh Hoa nghiêm, bồ tát Phổ hiền dùng lời thưa hỏi 3 phẩm kế tiếp(phẩm Thế giới thành tựu, phẩm Thế giới Hoa tạng và phẩm Tì lô giá na). 2. Niệm thỉnh: Không dùng lời nói, chỉ dùng niệm tưởng mà thưa hỏi. Như trong phẩm Như lai thọ lượng của hội thứ 2 kinh Hoa nghiêm, đức Thế tôn biết tâm niệm của các vị Bồ tát liền hiện thần thông. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1]
nhị thị
(二氏) Hai họ. Chỉ cho đức Thích ca và ngài Lão tử, tức Phật gia và Đạo gia.
nhị thọ hành
(二壽行) Chỉ cho Lưu đa thọ hành và Xả đa thọ hành. 1. Lưu đa thọ hành: Pháp xả bỏ phúc, thêm tuổi thọ của vị A la hán để mang lại lợi ích giúp chúng sinh và làm cho giáo pháp được tồn tại lâu dài. Vị A la hán hoặc đối với tăng chúng, hoặc đối với người khác, bố thí các vật như áo, bát... Bố thí xong thì phát nguyện, rồi vào Thiền định thứ 4, tâm nghĩ miệng nói: Nếu ta chiêu cảm được nghiệp quả báo giàu có, nguyện đều chuyển thành quả báo sống lâu. Lúc đó, nếu chiêu cảm quả báo giàu có thì liền chuyển thành quả báo sống lâu đúng như nguyện. 2. Xả đa thọ hành: Pháp giảm thọ tăng phúc của vị A la hán phạm hạnh đã thành tựu, để không bị các nỗi khổ như bệnh hoạn bức não thân thể. Trong trường hợp này, vị A la hán cũng bố thí chúng tăng như trường hợp trước, bố thí xong thì phát nguyện, rồi vào Thiền định thứ 4, tâm nghĩ miệng nói: Nếu ta chiêu cảm được nghiệp quả báo sống lâu, nguyện đều chuyển thành quả báo giàu có. Lúc đó, quả báo sống lâu chiêu cảm được liền chuyển thành quả báo giàu có đúng như nguyện. [X. luận Câu xá Q.3]. (xt. Lưu Xả Thọ Hành).
nhị thời
(二時) I. Nhị Thời. Chỉ cho Ca la thời và Tam ma da thời. 1. Ca la thời(Phạm,Pàli: Kàla, Hán dịch: Thực thời): Chỉ cho thời gian có thể dùng số lượng để tính toán đo lường. Đây là thời gian nói trong giới luật như thực thời(giờ ăn), phi thực thời(không phải giờ ăn).2. Tam ma da thời (Phạm, Pàli: Samaya, Hán dịch: Giả thời): Chỉ cho 1 khoảng thời gian nào đó, như kinh nói: Nhất thời Phật tại Xá vệ quốc (Một thời nọ đức Phật ở nước Xá vệ...). Thời được nói ở đây là thời giả. [X. luận Đại trí độ Q.1]. II. Nhị Thời. Chỉ cho 2 thời sớm và tối.
nhị thụ
(二受) Thân thụ và Tâm thụ. 1. Thân thụ: Thụ là cảm nhận. Thân thụ là sự cảm nhận không phân biệt ở nơi thân, tức là 3 cảm giác khổ, vui, không khổ không vui(xả)của 5 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. 2. Tâm thụ: Sự cảm nhận ở nơi tâm và khởi lên phân biệt, tức là 2 cảm giác lo và mừng của ý thức. [X. luận Câu xá Q.2, 9].
nhị thụ nghiệp
(二受業) Chỉ cho Tâm thụ nghiệp và Thân thụ nghiệp. 1. Tâm thụ nghiệp: Chỉ lấy thụ tương ứng với thức thứ 6 chiêu cảm quả dị thục làm nghiệp, tức chỉ cho thiện nghiệp ở cõi trời Trung gian trở lên đến cõi trời Hữu đính. Ở các tầng trời này không có tầm, tứ nên không có thụ tương ứng với 5 thức trước, chỉ chiêu cảm Tâm thụ mà thôi. 2. Thân thụ nghiệp: Lấy thụ tương ứng với 5 thức trước chiêu cảm quả dị thục làm nghiệp, tức chỉ cho các loại nghiệp bất thiện. Địa ngục cũng có ưu thụ tương ứng với thức thứ 6, nhưng đó không phải do quả dị thục chiêu cảm, cho nên chỉ thuộc về Thân thụ. Cũng như nghiệp ở cõi trời Sơ thiền, tuy là thiện nhưng cũng là Thân thụ nên không thuộc trong Nhị thụ. [X. luận Câu xá Q.15].
nhị thủ
(二取) Chỉ cho Kiến thủ và Giới thủ. 1. Kiến thủ: Thành kiến cố chấp lệch lạc hẹp hòi, đối với pháp chẳng phải là thù thắng sinh ý tưởng quyết định thù thắng, hoặc đối với việc chẳng thực sinh tâm quyết định cho đó là sự thực, ngoài ra đều cho là dối láo. 2. Giới thủ: Thành kiến sai lầm đối với các giới điều cho rằng không cần hành trì theo trí tuệ, mà chỉ cần tắm gội mong được thanh tịnh. [X. luận Thành thực Q.10].
nhị thủ hộ
(二守護) Gọi đủ: Môn môn nhị thủ hộ. Chỉ cho 2 vị thần thủ hộ ở viện Văn thù trong Mạn đồ la Thai tạng giới và ở cửa phía tây của viện Ngoại kim cương bộ. Vị thứ 1 là Bất khả việt thủ hộ môn, vị thứ 2 là Tương hướng thủ hộ môn. Vị thứ 1 được an trí ở bên phải của cửa trong, vị thứ 2 được an trí ở bên trái. Hai vị này vâng lãnh giáo sắc của đức Như lai bảo vệ pháp môn. [X. phẩm Tất địa xuất hiện trong kinh Đại nhật Q.3].
Nhị thức
二識; C: èrshì; J: nishiki;|Có hai nghĩa: I. Hai loại thức theo Đại thừa khởi tín luận: 1. A-lại-da thức (阿頼耶識), được diễn tả như là sự chứa đựng cả Như Lai tạng và vô minh bao gồm tất cả chủng tử của các pháp; 2. Phân biệt sự thức (分別事識, còn được gọi là Ý thức 意識) nương A-lại-da thức mà sinh khởi, và nhận biết, phân biệt sáu cảnh; II. Chỉ hai thức căn bản là Mạt-na thức (末那識) và A-lại-da thức (阿頼耶識).
nhị thức
(二識) Hai thức. Chỉ cho A lại da thức và Phân biệt sự thức. 1. A lại da thức (Phạm: Àlaya-vijĩàna, Hán dịch: Vô một thức): Như lai tạng và vô minh hòa hợp thành A lại da thức, trong đó, chủng tử của hết thảy các pháp được cất chứa không để mất mát và thường biết rõ cảnh của tự thức hiện ra. 2. Phân biệt sự thức (Phạm: Manovijĩàna), cũng gọi Ý thức. Thức này nương vào thức A lại da mà sinh ra, tức chỉ cho 6 thức: Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý phân biệt 6 cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. [X. luận Đại thừa khởi tín].
Nhị thừa
xem Ba thừa.
nhị thừa
Dviyāna (S), Two Vehicles Thanh Văn - Duyên Giác thừa.
; Duyên giác thừa với Thanh văn thừa hoặc gọi là Trung thừa, Tiểu thừa, nói chung là Nhị thừa.
; (二乘) Hai cỗ xe. Ví dụ giáo pháp của đức Phật có công năng vận chuyển chúng sinh đến quả vị giác ngộ giải thoát. Giáo pháp có 2 loại nên gọi là Nhị thừa. I. Đại thừa và Tiểu thừa. Giáo pháp đức Phật nói trong 1 đời được chia thành Đại thừa và Tiểu thừa khác nhau. Tiểu thừa là giáo pháp Phật nói cho hàng Thanh văn, Duyên giác, còn Đại thừa là giáo pháp Phật nói cho hàng Bồ tát. [X. phẩm Thánh hạnh trong kinh Đại bát niết bàn Q.14 (bản Bắc); luận Nhiếp đại thừa Q.thượng (bản dịch đời Lương)]. II. Thanh văn thừa và Duyên giác thừa. 1. Thanh văn thừa: Trực tiếp nghe đức Phật nói pháp, nương vào lí Tứ đế mà giác ngộ.2. Duyên giác thừa: Không trực tiếp nghe đức Phật nói pháp, chỉ tự mình quán xét lí 12 nhân duyên mà được giác ngộ. [X. kinh Đại bảo tích Q.28; kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. III. Nhất thừa và Tam thừa. 1. Tam thừa: Trước thời Pháp hoa, sự chứng ngộ của Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát có khác nhau. 2. Nhất thừa: Trong thời Pháp hoa, đức Phật tuyên dương pháp Nhất Phật thừa để qui cả 3 thừa về 1 thừa.
Nhị thừa (thặng)
二乘; C: èrshèng; J: nijō;|Chỉ Thanh Văn (聲聞; s: śrāvaka) và Bích-chi Phật (辟支佛; s: pratyekabuddha). Hai pháp tu nầy thường được giới thiệu trong kinh văn Đại thừa, trong đó, hai thừa nầy bị xem nhẹ như là một đại biểu được gọi là truyền thống »Tiểu thừa« (小乘; s: hīnayāna), với hệ thống giáo lí tương phản với lí tưởng thực hành Bồ Tát đạo. Họ được xem như những người tu tập theo tinh thần chỉ mong đạt đến sự chứng ngộ với quả vị A-la-hán chứ không thể thành Phật. Có nghĩa là họ có khả năng cắt đứt vô lượng phiền não phát sinh bởi ba món độc (Tam độc 三毒; e: three poisons). Nhưng họ không thể tiến xa hơn nữa trên con đường tu đạo theo lí tưởng của hàng Bồ Tát vì họ thiếu sự phát huy lòng Từ bi (慈悲), thương yêu chúng sinh cũng như thiếu sự liễu ngộ về Tính không của các pháp. Một trong các bản kinh văn Đại thừa đầu tiên trình bày chi tiết về sự khác nhau trong pháp tu tập của hàng Nhị thừa và Bồ Tát là kinh Thắng Man (勝鬘經; s: śrīmālā-sūtra).
nhị thừa (thặng)
Dviyàna (S). The two vehicles conveying to the final goal.
nhị thừa dị đồng
(二乘異同) Những chỗ giống và khác trong việc tu hành của 2 thừa Thanh văn, Duyên giác. Cứ theo Pháp hoa huyền tán quyển 5, thì giữa Thanh văn và Duyên giác có 3 điểm giống nhau và 7 điểm khác nhau. Ba điểm giống nhau là: 1. Cùng đoạn trừ phiền não chướng. 2. Cùng giác ngộ lí sinh không. 3. Cùng được trạch diệt vô vi giả tạm. Còn 7 điểm khác nhau là: 1. Thanh văn căn tính chậm lụt, Duyên giác căn tính nhạy bén. 2. Thanh văn nương nhờ Phật được giải thoát, Duyên giác tự giác ngộ mà được giải thoát. 3. Thanh văn nhờ lời nói pháp, Duyên giác quán xét lí của pháp. 4. Thanh văn quán xét 4 đế, Duyên giác quán xét 12 nhân duyên. 5. Thanh văn chia làm 4 quả, Duyên giác chỉ có 1 quả duy nhất. 6. Thanh văn luyện căn(hàm ý là mài luyện, tu hành)từ 3 đời cho đến 60 kiếp, còn Duyên giác thì luyện căn từ 4 đời đến 100 kiếp.7. Thanh văn thì nói pháp, Duyên giác hiện thần thông. Ngoài ra, Đại thừa nghĩa chương quyển 17, phần cuối, nêu 5 điểm giống và 6 điểm khác; Pháp hoa kinh sớ quyển 8 của ngài Gia tường nêu 7 điểm giống, 17 điểm khác; còn Pháp hoa văn cú quyển 7 thì nêu 6 điểm giống và 10 điểm khác.
nhị thừa thành phật
(二乘成佛) Hai thừa(Thanh văn, Duyên giác) đều được thành Phật. Khi đức Phật nói kinh A hàm thì hàng Nhị thừa như các ngài Xá lợi phất... chứng được quả Nhị thừa cùng tột(A la hán), trong thời gian ấy, ngài Xá lợi phất vẫn duyên theo các kinh Đại thừa. Đến khi Phật nói kinh Pháp hoa thì Ngài bỏ tâm Tiểu thừa mà phát tâm Đại bồ đề, được Phật thụ kí thành Phật trong đời vị lai. Nhưng, về vấn đề Nhị thừa thành Phật thì giữa các tông Pháp tướng và Pháp tính có những quan điểm bất đồng. Chẳng hạn như: 1. Tông Pháp tướng chủ trương 5 chủng tính khác nhau, cho rằng hàng Nhị thừa định tính không bao giờ được thành Phật, cho nên coi việc ngài Xá lợi phất được thụ kí trong kinh Pháp hoa chỉ là phương tiện thị hiện của đức Phật. 2. Tông Pháp tính như Hoa nghiêm, Thiên thai... thì chủ trương tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật, cho dù người chỉ được tiểu quả, hoặc thân họ đã chết, vào Niết bàn vô dư đi nữa, thì cũng có thể hồi Tiểu hướng Đại, thành tựu vạn hạnh, chứng được quả Phật, bởi thế, các tông này coi việc thụ kí trong kinh Pháp hoa là chân thực chứ chẳng phải là phương tiện. (xt. Nhị Thừa Tác Phật).
nhị thừa tác phật
(二乘作佛) Hai thừa thành Phật. Tức Thanh văn và Duyên giác được thành Phật. Đây là tư tưởng nòng cốt của 14 phẩm trước trong kinh Pháp hoa. Trước thời Pháp hoa, vì phương tiện mà đức Phật nói rằng chỉ có Bồ tát mới được thành Phật. Mãi đến thời Pháp hoa, Niết bàn Phật mới nói rằng nếu nương theo Nhất thừa diệu pháp thì Nhị thừa cũng đều được thành Phật. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6].
nhị thử giảo đằng
(二鼠嚙藤) Hai con chuột cắn dây leo, ví dụ mệnh người vô thường. Hai con chuột ví dụ ngày đêm(thời gian), dây leo ví dụ sinh mệnh. Ngày đêm nối nhau, năm tháng trôi chảy, sống chết chỉ trong nháy mắt, ví như 2 con chuột đen, trắng tranh nhau cắn sợi dây leo. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5].
nhị thực
(二食) I. Nhị Thực. Chỉ cho Pháp hỉ thực và Thiền duyệt thực.1. Pháp hỉ thực: Thức ăn bằng niềm vui chính pháp. Nghe pháp hoan hỉ, nhờ đó mà thiện căn tăng trưởng, bổ ích cho tuệ mệnh, giống như người thế gian ăn để nuôi lớn các căn, duy trì sự sống. 2. Thiền duyệt thực: Ăn bằng niềm vui thiền định. Khi vào thiền định thì an vui tĩnh lặng, nhờ đó tăng trưởng thiện căn, giúp ích cho tuệ mệnh. [X. phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trong kinh Pháp hoa]. II. Nhị Thực. Chỉ cho Chính mệnh thực và Tà mệnh thực.1. Chính mệnh thực: Nuôi thân chân chính. Các vị tỉ khưu đi khất thực để nuôi sắc thân, sống cuộc đời thanh tịnh, không kinh doanh, buôn bán, xem bói, xem tướng... 2. Tà mệnh thực: Mưu sinh bằng cách bất chính. Tỉ khưu làm các nghề trái với giới luật qui định, như chăn nuôi, thương mãi, xem tướng số, đoán lành dữ... [X. luận Đại trí độ Q.3].
nhị trung
(二中) Chỉ cho Thế đế trung và Chân đế trung của tông Tam luận. Trung nghĩa là không lệch về bên nào. Nhị trung tức là căn cứ vào 2 đế để biện minh lí Trung đạo, nghĩa là Thế đế không thiên về bên Hữu và Chân đế chẳng thiên về bên Không, cho nên gọi là Trung (chính giữa). [X. Tam luận huyền nghĩa].
nhị trì
(二持) Cũng gọi Chỉ tác nhị trì, Chỉ tác. Tức Chỉ trì và Tác trì, 2 khía cạnh của giới luật. 1. Chỉ trì: Chỉ là ngăn chặn, tức là ngăn chặn thân và miệng không làm và nói các điều xấu ác. Nương vào Chỉ để giữ gìn giới thể, gọi là Chỉ trì. Chỉ trì giới dạy người chớ làm các việc ác, tức chỉ cho các điều mục của 2 bộ giới tỉ khưu và tỉ khưu ni trong Quảng luật, hoặc chỉ cho 250 giới của tỉ khưu và 348 giới của tỉ khưu ni trong luật Tứ phần. 2. Tác trì: Tác là tạo tác, tức là khích lệ thân, khẩu, ý tạo tác các nghiệp thiện. Nương vào Tác để giữ gìn giới thể, gọi là Tác trì. Tác trì giới dạy người vâng làm các việc thiện, tức chỉ cho phần Kiền độ được liệt kê sau Bản luật, hoặc chỉ cho 20 Kiền độ thụ giới, thuyết giới... trong luật Tứ phần. [X. điều Trì phạm phương quĩ trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 4; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ tự; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 4; Tứ phần luật sớ Q.1, 2]. (xt. Chỉ Ác Tu Thiện).
Nhị trí
二智; C: èrzhì; J: nichi;|Hai dạng trí huệ: 1. Tận trí (盡智, trí huệ diệt tất cả phiền não) và Vô sinh trí (無生智); 2. Căn bản trí (根本智) và Hậu đắc trí (後得智), cũng gọi là Như lí trí (如理智) và Như lượng trí (如量智); 3. Quyền trí (權智) và Thật trí (實智).
nhị trọng mạn đồ la
(二重曼荼羅) Hai lớp Mạn đồ la. Chỉ cho Mạn đồ la của Thai tạng bộ và Kim cương bộ Mật giáo, mỗi bộ đều có 2 lớp Thiển lược mạn đồ la và Bí mật mạn đồ la. 1. Thai tạng giới: a) Thiển lược mạn đồ la: Theo phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật thì đây là cảnh giới gia trì do đức Đại nhật trụ trong Tam ma địa của Phật A di đà mà hiện ra, là Mạn đồ la của Liên hoa bộ trong 3 bộ. b) Bí mật mạn đồ la: Theo phẩm Bí mật trong kinh Đại nhật thì đây là cảnh giới bản địa của đức Phật Tì lô giá na, là Mạn đồ la của Phật bộ trong 3 bộ. 2. Kim cương giới: a) Thiển lược mạn đồ la: Theo kinh Giáo vương và kinh Lược xuất thì đức Đại nhật trụ trong Tam ma địa của Phật A súc, tụng chữ Hồng mà thành Phật A súc của hội Thành thân, là Mạn đồ là của Kim cương bộ trong 3 bộ. b) Bí mật mạn đồ la: Theo phẩm Tựa trong kinh Du kì thì đức Đại nhật Như lai trụ trong Tam ma địa sẵn có của chúng sinh, là cảnh giới do tự tính vô tác sẵn có hiện ra mà thành 37 vị tôn, là Mạn đồ la thuộc Phật bộ trong 3 bộ. Tóm lại, Thiển lược mạn đồ la là Mạn đồ la do sức tu hành gia trì mà phát sinh, còn Bí mật mạn đồ la là Mạn đồ la vốn có của bản địa. Lí Phật của Thai tạng bản hữu thì trụ ở Liên hoa bộ phương tây mà gia trì Hiện mạn đồ la, còn Trí Phật của Kim cương bản hữu thì trụ ở Kim cương bộ hương đông mà hiển bày Tu sinh mạn đồ la. Do đó, 2 bộ Bí mật được kiến lập trong Phật bộ và 2 bộ Thiển lược thì lấy Liên hoa bộ và Kim cương bộ làm thể. [X. Bí tạng kí; Bí tạng sao Q.1].
nhị trọng trung đạo
(二重中道) Cũng gọi Nhị chủng trung đạo. Chỉ cho Tam tính đối vọng trung đạo và Nhất pháp trung đạo. 1. Tam tính đối vọng trung đạo, cũng gọi Ngôn thuyên trung đạo. Trong 3 tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực, thì tính Biến kế sở chấp là phi hữu (chẳng phải có), còn tính Y tha khởi và tính Viên thành thực là phi vô(chẳng phải không), căn cứ vào đó mà thành lập nghĩa rung đạo phi hữu phi vô. 2. Nhất pháp trung đạo, cũng gọi là Li ngôn trung đạo. Căn cứ vào 1 pháp duyên sinh để thuyết minh nghĩa Trung đạo phi hữu phi vô. [X. Quán tâm giác mộng sao Q.trung, hạ; Duy thức luận đồng học sao Q.7, phần 3; Bách pháp vấn đáp sao Q.8].
nhị tu
(二修) Chỉ cho Chuyên tu và Tạp tu. Chuyên niệm danh hiệu đức Phật A di đà để cầu sinh về Tịnh độ cực lạc, gọi là Chuyên tu, còn tu theo các pháp môn khác thì gọi là Tạp tu. Hắc cốc thượng nhân ngữ đăng lục của ngài Nguyên không, người Nhật, nói (Đại 83, 112 thượng): Nếu bỏ tạp tu mà chuyên tu thì trăm người tu trăm người vãng sinh. (...) Nếu bỏ chuyên tu mà tạp tu thì trong nghìn người tu không có được một người vãng sinh.
Nhị tâm
二心; C: èr xīn; J: nishin;|Có ba nghĩa sau: 1. Hai dạng tâm: Chân tâm (tâm không phân biệt) và Vọng tâm (tâm phân biệt); 2. Định tâm và tán tâm; 3. Tâm luôn luôn nghi ngờ.
nhị tâm
The two minds: (1) chân tâm, the original, simple, pure, natural mind of all creatures, the Buddha-mind; (2) vọng tâm, the illusion mind. Also định tâm the meditative mind and tán tâm the scattered, inattentive mind.
; (二心) I. Nhị Tâm. Hai tâm: Chân tâm và Vọng tâm. - Chân tâm: Tâm chân thực, xa lìa hư vọng. - Vọng tâm: Tâm vọng tưởng phân biệt. Kinh Lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 106 hạ) nói: Từ vô thủy đến nay, sống chết nối tiếp đều do không biết chân tâm thường trụ, thể tính trong sáng, cứ theo các vọng tưởng nên bị trôi lăn trong dòng sinh tử. II. Nhị Tâm. Chỉ cho Định tâm và Tán tâm. - Định tâm: Ngăn dứt các vọng niệm lăng xăng, tạp nhạp, tâm trụ 1 cảnh. - Tán tâm: Tâm rong ruổi theo 6 trần. Phần Huyền nghĩa trong Quán kinh sớ quyển 1 của ngài Thiện đạo (Đại 37, 246 trung) nói: Định là ngừng suy nghĩ để lắng tâm, Tán là bỏ ác để tu thiện.
nhị tính
(二性) I. Nhị Tính. Chỉ cho Chủng tính và Biệt tính. 1. Chủng tính: Những pháp có bản tính rỗng lặng, thông tất cả pháp, như các pháp: Vô sinh, vô diệt, vô lai, vô khứ... 2. Biệt tính: Các pháp đều có tính riêng biệt của chúng, như lửa có tính nóng, nước có tính ướt... [X. luận Đại trí độ Q.31] II. Nhị Tính. Chỉ cho Hữu tính và Vô tính. 1. Hữu tính: Các pháp được bày đặt giả danh, giả có tự tính. Đây là căn bản của tất cả ức tưởng hư vọng mà thế gian chấp trước, như sắc, thụ, tưởng, hành, thức, nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý cho đến Niết bàn... 2. Vô tính: Vì là bày đặt giả danh nên các pháp không có tự tính, đương thể tức không, cho nên gọi là Vô tính.
nhị tôn
(二尊) Chỉ cho 2 đức Phật: Thích ca và A di đà. Huyền nghĩa phần trong Quán vô lượng thọ kinh sớ quyển 1, Đại sư Thiên đạo đời Đường có nêu ra Yếu môn và Hoằng nguyện. Yếu môn là giáo thuyết của đức Phật Thích ca, còn Hoằng nguyện thì là giáo thuyết của đức Phật A di đà, được gọi chung là Nhị tôn giáo.
nhị tôn giáo
(二尊教) Chỉ cho giáo thuyết của 2 đức Phật Thích ca và A di đà. Tông Tịnh độ chủ trương trong kinh Vô lượng thọ và kinh Quán vô lượng thọ đều có bao hàm giáo nghĩa của cả 2 đức Phật. Về vấn đề này, ngài Thiện đạo đời Đường đã từng nói rõ. Ngài cho rằng từ xưa, các bậc Đại đức như Tuệ viễn, Trí khải, Cát tạng... chỉ đứng trên lập trường Nhất tôn giáo(giáo nghĩa của 1 đức Phật)để giải thích kinh Quán vô lượng thọ, cho nên bây giờ ngài(Thiện đạo)đặc biệt đứng trên quan điểm Nhị tôn giáo(giáo nghĩa của cả 2 đức Phật) mà hiển bày ý nghĩa sâu xa trong giáo thuyết của Nhị tôn để đặt định lại giáo nghĩa xưa nay. Phần huyền nghĩa trong Quán vô lượng thọ kinh sớ quyển 1, ngài Thiện đạo nói (Đại 37, 246 thượng): Nay nương Nhị tôn giáo, mở bày môn Tịnh độ. [X. phần Tán thiện nghĩa trong Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.4; Hán ngữ đăng lục Q.1]
Nhị Tôn Viện
(二尊院, Nison-in); ngôi chùa của Thiên Thai Tông, hiện tọa lạc ở Saganisonin (嵯峨二尊院), Sakyō-ku (右京區), Kyōto-to (京都市), Kyōto-fu (京都府), hiệu là Tiểu Thương Sơn Nhị Tôn Giáo Viện Hoa Đài Tự (小倉山二尊敎院華台寺), là nơi linh nghiệm thứ 17 của Viên Quang Đại Sư (圓光大師, tức Pháp Nhiên), và là nơi kiêm tu học cả bốn Tông Thiên Thai, Luật, Pháp Tướng và Tịnh Độ; hiệu núi là Tiểu Thương Sơn (小倉山). Tượng thờ chính của chùa là Thích Ca Như Lai và A Di Đà Như Lai. Tên gọi Nhị Tôn Viện là vốn xuất phát từ khi Từ Giác Đại Sư Viên Nhân (慈覺大師圓仁) phụng sắc mệnh của Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō) kiến lập chùa, rồi an trí hai pho tượng Thích Ca và Di Đà. Pháp Nhiên (法然, Hōnen), vị Tổ khai sáng ra Tịnh Độ Tông, rất thích khung cảnh nhàn tịch thanh vắng của chùa, nên mới đến đây mà sống nhàn cư; từ đó chùa trở nên hưng thạnh lên. Sau vụ Loạn Ứng Nhân (應仁), chùa bị suy thối; nhưng lại được tái kiến vào khoảng niên hiệu Hưởng Lộc (享祿, 1528-1532), và duy trì cho đến ngày nay. Trong khuôn viên chùa có nhiều ngôi mộ dòng họ của hàng công gia như Nhị Điều (二條, Nijō), Tam Điều (三條, Sanjō), Tứ Điều (四條, Shijō), Tam Điều Tây (三條西, Sanjōnishi), Ưng Ty (鷹司, Takatsukasa). Hơn nữa, còn có mộ phần của các nhân vật nổi tiếng đương thời như cha con Y Đằng Nhân Trai (伊藤仁齋, Itō Jinsai, 1627-1705) và Y Đằng Đông Nhai (伊藤東涯, Itō Tōgai, 1670-1736); của cha con Giác Thương Liễu Dĩ (角倉了以, Suminokura Ryōi, 1554-1614) và Giác Thương Tố Am (角倉素庵, Suminokura Soan, 1571-1632), v.v.
Nhị tông
二宗; C: èrzōng; J: nishū;|Hai tông phái Phật giáo. Lưỡng tông (兩宗).
nhị tông thích đề
(二宗釋題) Hai tông Thiên thai và Hiền thủ (Hoa nghiêm)giải thích đề kinh có thông và biệt, năng và sở khác nhau. 1. Tông Thiên thai dùng nghĩa Thông và nghĩa Biệt để giải thích đề kinh, như trong 5 chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh thì 4 chữ trước là tên gọi riêng của kinh này nên là Biệt, còn chữ Kinh thì là Thông, vì tất cả kinh đều gọi là Kinh. 2. Tông Hiền thủ giải thích đề kinh thì dùng văn năng thuyên và nghĩa sở thuyên để phán thích. Như trong 7 chữ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinhthì 6 chữ trước là Sở thuyên, còn chữ Kinh là Năng thuyên, các kinh khác cũng thế. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.3].
nhị túc
A man's two legs, compared to phúc, goodness and trí, wisdom.
nhị túc nhân lực
(二宿因力) Hai sức của nhân đời trước. Chỉ cho Đại nguyện lực và Tích hạnh lực.1. Đại nguyện lực: Khi còn ở địa vị tu nhân , đức Phật đã phát đại thệ nguyện muốn cứu độ chúng sinh, ngày nay Ngài thành Phật rồi, nương theo sức đại nguyện ấy, thị hiện trong các thế giới ở 10 phương, thuyết pháp độ sinh. 2. Tích hạnh lực: Trong vô lượng kiếp ở quá khứ xa xưa, đức Phật đã nương nguyện mà khởi hạnh, hạnh thành nên được quả, nhờ thế mới có năng lực diễn nói các pháp. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1].
nhị túc tôn
The honoured one among men.
; (二足尊) Tôn hiệu của đức Phật, bậc tôn quí nhất trong loài người. Nhị túc(đủ cả 2)ví dụ phúc và trí. Phật là bậc đầy đủ cả phúc lẫn trí nên gọi là Nhị túc tôn. Sa di thụ giới văn trong Thiền uyển thanh qui quyển 9 (Vạn 111, 463 thượng) nói: Qui y Phật, lưỡng(nhị)túc tôn, qui y pháp, li dục tôn, qui y tăng, chúng trung tôn. [X. phẩm Thụ kí trong kinh Pháp hoa]. (xt. Nhị Túc).
Nhị tư lương
二資糧 (粮); C: èrzīliáng; J: nishiryō;|Hai loại lương thực thiết yếu cho con đường đến giác ngộ, phải được tích tập sớm qua các công hạnh Phúc đức (福徳) và Trí huệ (智慧). Còn được gọi tắt là Phúc trí (福智).
nhị tướng
(二相) I. Nhị Tướng. Chỉ cho Tịnh trí tướng và Bất tư nghị nghiệp tướng. 1. Tịnh trí tướng: Trí này là kết quả của việc tu hành đúng như thực do sức pháp huân tập mà có. 2. Bất tư nghị nghiệp tướng: Nhờ Tịnh trí tướng mà hiển hiện tướng của tất cả cảnh giới và công đức thắng diệu không thể nghĩ bàn. [X. luận Đại thừa khởi tín Q. thượng]. II. Nhị Tướng. Chỉ cho Đồng tướng và Dị tướng. 1. Đồng tướng: Tất cả nghiệp chủng, dù thiện hay ác, dù vô minh hay vô lậu, đều là tính tướng của chân như. 2. Dị tướng: Lí chân như bình đẳng, tùy theo các duyên nhơ hay sạch mà hiển hiện tất cả các tướng khác nhau. [X. luận Đại thừa khởi tín Q.thượng]. III. Nhị Tướng. Chỉ cho Tổng tướng và Biệt tướng. 1. Tổng tướng: Tướng chung. Như vô thường là tướng chung của hết thảy muôn vật, nên gọi là Tổng tướng. 2. Biệt tướng: Tướng riêng. Như đất có tướng cứng, nước có tướng ướt là những tướng riêng của mỗi vật nên gọi là Biệt tướng.
nhị tướng biệt
(二相別) Chỉ cho Tự tướng biệt và Cộng tướng biệt.1.Tự tướng biệt: Tự tưng khác nhau. Nghĩa là tướng riêng biệt của mỗi pháp khác nhau. Như trong 4 niệm xứ thì Thân có năng tạo, sở tạo, căn và trần khác nhau, cho nên là tướng trạng riêng của thân. Còn lại như Thụ, Tâm, Pháp cũng như thế, tức cũng có tướng riêng biệt của Thụ, Tâm, Pháp... Lại như khi quán xét về Thân thì lấy bất tịnh làm Tự tướng, quán Thụ thì lấy khổ làm Tự tướng, quán Tâm thì lấy vô thường làm Tự tướng, quánPháp thì lấy vô ngã làm Tự tướng, vì thế nên gọi là Tự tướng biệt. 2. Cộng tướng biệt: Cộng tướng khác nhau. Nghĩa là tướng chung của các pháp đều khác nhau. Chẳng hạn, khi nói chung về 4 hành tướng: Khổ, không, vô thường, vô ngã thì Thân, Thụ, Tâm, Pháp đều có, gọi là Cộng tướng. Nhưng khi nói riêng, như khi quán Thân là khổ, thì không thể quán không, vô thường, vô ngã cho đến khi quán Thân là vô ngã, thì không thể quán khổ, không, vô thường, quán các hình tướng: Thụ, Tâm, Pháp cũng lại như thế, cho nên gọi là Cộng tướng biệt.
nhị tạng
(二藏) Chỉ cho Thanh văn tạng và Bồ tát tạng. [X. phẩm Kiến lập trong kinh Bồ tát địa trì Q.10; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng].
Nhị tế
二際; C: èrjì; J: nisai;|Hai dạng hiện hữu; hai dạng hiện thật; hai thái cực. Quan niệm phân đôi về phương thức hiện hữu của vạn vật, như quan niệm vạn vật tồn tại (hữu) hay không tồn tại (vô). Thuật ngữ được dùng liên quan đế́n hai thật thể nầy là Niết-bàn (涅槃; s: nirvāṇa) và luân hồi sinh tử (生死; s: saṃsāra), các ý niệm nầy được phân biệt thành hai trong Phật giáo Tiểu thừa, nhưng Phật giáo Đại thừa xem là một (theo Hoa Nghiêm kinh 華嚴經).
nhị tế
(二際) Hai bờ. Chỉ cho 2 bên bờ đối lập nhau, như: Có và không, khổ và vui, Niết bàn và sinh tử... Tiểu thừa cho rằng 2 bên bờ khác nhau, nhưng Đại thừa thì chủ trương sinh tử tức Niết bàn, phiền não tức bồ đề... [X. Bài Tựa của ngài Tăng duệ trong Trung luận].
nhị tổ am
(二祖庵) Am của Nhị tổ ở trên ngọn Bát vu, núi Thiếu thất, cách chùa Thiếu lâm về phía tây nam 4 cây số, thuộc huyện Đăng phong, tỉnh Hà nam. Cứ theo truyền thuyết, Nhị tổ Tuệ khả chặt tay để tỏ lòng chí thành cầu pháp với Sơ tổ Bồ đề đạt ma. Sau khi được Sơ tổ truyền pháp và áo, bát, ngài đến nơi này để điều trị vết thương. Đồ chúng của ngài liền cất am để lưu niệm. Trong am có 3 gian đại điện, 1 số bia đá. Trước điện có 4 cái giếng, tuy ở gần nhau nhưng mùi vị nước của mỗi giếng đều khác; tương truyền mấy cái giếng này do ngài Tuệ khả đào khi ngài trụ ở đây. Phía ngoài am có 3 ngôi tháp, trong đó, ngôi được xây vào niên hiệu Vạn tuế đăng phong năm đầu (696) đời Chu (Đường Vũ hậu)là cao và đẹp hơn cả. Cách am về phía nam chừng 1 dặm có Mịch tâm đài, cũng gọi Luyện ma đài, là nơi Nhị tổ kinh hành.
nhị tổ đoạn tí
(二祖斷臂) Nhị tổ chặt tay cầu pháp. Tương truyền, Nhị tổ Tuệ khả đến ngọn Thiếu thất, núi Tung sơn cầu pháp nơi Tổ Đạt ma, đứng trong tuyết cầm dao chặt đứt tay trái để tỏ bày quyết tâm cầu đạo. Tổ Đạt ma thấy ý chí của ngài Tuệ khả kiên định như vậy liền chấp nhận thu làm đệ tử, đời sau gọi ngài là Đoạn tí Tuệ khả. [X. điều Bồ đề đạt ma trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.3].
nhị tội
(二罪) Hai tội. Chỉ cho Tính tội và Già tội. 1. Tính tội: Bốn giới nặng: Giết hại, ăn trộm, dâm dục, nói dối. Vì tính của 4 giới này đã là ác, nên không cần đợi Phật chế định, hễ phạm phải thì mắc tội. 2. Già tội: Chỉ cho giới uống rượu. Sự uống rượu tự nó không phải là 1 tội ác, nhưng vì nó mà đưa đến việc vi phạm các giới điều khác, cho nên Phật cấm. Nếu vi phạm thì phải tội.
Nhị tử
二死; C: èrsǐ; J: nishi;|Hai dạng chết: Chết vì phần đoạn sinh tử trong vòng luân hồi và cái chết mầu nhiệm (còn gọi là thị tịch) của người chứng ngộ.
nhị tử
1. Là phần đoạn sanh tử của phàm phu: từ thân này chuyển qua thân kia, như từ thân người chuyển qua thân thú. 2. Là biến dịch sanh tử của bậc thánh, như: từ La hán biến Bích chi, từ Bích chi biến Sơ địa Bồ tát, từ Sơ địa biến Nhị địa… gọi chung là Nhị tử.
nhị tự
(二字) I. Nhị Tự. Chỉ cho Bán tự và Mãn tự. Chương Tất đàm là gốc sinh ra các chữ, nhưng văn tự không đầy đủ nên gọi là Bán tự(có nửa chữ), còn văn tự của các chương khác thì đều đầy đủ nên gọi là Mãn tự(chữ đầy đủ). II. Nhị Tự. Chỉ cho pháp danh của mỗi vị tăng, vì thông thường ở Trung quốc, Nhật bản cũng như Việt nam, pháp danh của chư tăng trong Phật giáo có 2 chữ nên gọi là Nhị tự. Nhưng đời sau, vì tôn kính chư tăng nên thường tách riêng 2 chữ mà gọi Thượng mỗ... hạ mỗ. Ví dụ như Trí khải thì gọi Thượng Trí Hạ Khải.
nhị viên
(二圓) Hai thứ Viên giáo. Đây là thuyết của tông Thiên thai. 1. Viên giáo: Chỉ cho giáo lí Viên giáo đức Phật nói trước thời Pháp hoa, như Hoa nghiêm, Phương đẳng, Bát nhã... 2. Viên giáo: Chỉ cho giáo lí Viên giáo Phật nói trong thời Pháp hoa(Hội tam qui nhất = Đưa 3 thừa về 1 Phật thừa).
nhị vãng
(二往) Cũng gọi Tái vãng. Giải thích lại nghĩa lí một lần nữa. Ma ha chỉ quán quyển 7, phần đầu (Đại 46, 87 hạ) nói: Giải thích lần đầu thì như thế, giải thích lần thứ 2(nhị vãng)thì không như thế.
nhị vãng sinh
(二往生) Tông Tịnh độ chia hành thể và tướng trạng của sự vãng sinh Tịnh độ làm 2 phần trong 4 mục như sau: 1. Niệm Phật vãng sinh và Chư hạnh vãng sinh. - Niệm Phật vãng sinh: Do hồi hướng về nguyện lực đại bi của đức Phật A di đà, phát đại tín tâm, vào Tam muội niệm Phật mà vãng sinh Tịnh độ. Hoặc 1 lòng chí thành xưng niệm danh hiệu của Phật A di đà, hoặc hồi hướng định thiện, tán thiện mà được vãng sinh, nhưng đều lấy việc niệm Phật làm gốc.- Chư hạnh vãng sinh: Do tu các hạnh vạn thiện, như hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ thầy tổ, bố thí, nhẫn nhục... mà hồi hướng vãng sinh. 2. Tức tiện vãng sinh và Đương đắc vãng sinh. - Tức tiện vãng sinh: Vãng sinh liền. Nghĩa là lúc bình sinh phát được 3 thứ tâm (Thâm tâm, Chí thành tâm, Hồi hướng phát nguyện tâm)thì ở ngay nơi thân ô uế và đất nước này đã thầm được lợi ích là mau chóng chứng thân vô sinh, đồng thời đã được liệt vào hàng các Thánh chúng trang nghiêm cõi Tịnh độ. - Đương đắc vãng sinh: Sẽ được vãng sinh. Nghĩa là lúc lâm chung được đài hoa đến đón, vãng sinh về cõi Báo độ chân thực của đức Phật A di đà. 3. Tức vãng sinh và Tiện vãng sinh. - Tức vãng sinh: Vãng sinh ngay. Nghĩa là nhờ cơ duyên của nguyện thứ 18 mà vãng sinh ngay về cõi Báo độ chân thực của đức A di đà. - Tiện vãng sinh: Vãng sinh liền. Nghĩa là nhờ cơ duyên của các điều nguyện thứ 19 và thứ 20 mà vãng sinh liền về cõi Hóa độ của đức Phật A di đà. 4. Thể thất vãng sinh và Bất thể thất vãng sinh. - Thể thất vãng sinh: Thể mất vãng sinh. Nghĩa là khi uế thân này mất rồi mới được vãng sinh. - Bất thể thất vãng sinh: Không mất thể vãng sinh. Nghĩa là lúc còn sống, được nghe danh hiệu của Phật, dốc lòng tín niệm thì tức đã thành tựu sự nghiệp, được lợi ích vãng sinh rồi, chứ không phải chờ đến lúc mất uế thân này mới được vãng sinh. [X. kinh Quán vô lượng thọ; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập Q.thượng; Giáo hành tín chứng hóa độ quyển, phần đầu].
Nhị vô kí
二無記; C: èr wújì; J: ni muki;|Hai dạng hành vi đạo đức trung tính làm trở ngại đến tiến trình giải thoát: Hữu phú vô kí (有覆無記) và Vô phú vô kí (無覆無記).
nhị vô kí
(二無記) Chỉ cho 2 loại tính Vô kí chẳng thiện chẳng ác, tức là Hữu phú vô kí và Vô phú vô kí. 1. Hữu phú vô kí, cũng gọi Nhiễm vô kí. Chỉ cho những hoặc chướng rất nhỏ nhiệm, như ngã chấp và pháp chấp câu sinh khởi của thức thứ 7, thể tính của chúng tuy yếu kém, nhưng là vọng hoặc tự tính, có năng lực ngăn che Thánh đạo, cho nên gọi là Hữu phú(có ngăn che); lại vì chúng không phải là tính ác chiêu cảm quả khổ nên gọi là Vô kí(không thiện không ác). 2. Vô phú vô kí, cũng gọi Tịnh vô kí. Chỉ cho pháp vô kí lìa các hoặc chướng, như tự thể của thức A lại da, 5 căn bên trong và núi sông, cây cỏ bên ngoài... Vì chúng không phải là vọng hoặc tự tính nên gọi là Vô phú. [X. luận Thành duy thức Q.3; Bách pháp vấn đáp sao Q.3; Thất thiếp kiến văn Q.3, phần cuối].
nhị vô ngã
Gồm: - nhân vô ngã - pháp vô ngã.
; Dvayanairàtmya (S). Two kinds of emptiness (person and things).
; (二無我) Cũng gọi Nhân không Pháp không, Ngã pháp nhị không. Chỉ cho Nhân vô ngã và Pháp vô ngã. 1. Nhân vô ngã: Rõ biết thân người là do 5 uẩn giả hòa hợp, không có ngã thể chân thực. Đây là pháp quán của Tiểu thừa để diệt trừ phiền não chướng, được Niết bàn.2. Pháp vô ngã: Rõ biết các pháp do nhân duyên sinh ra, không có tự tính chân thực. Đó là pháp quán của Đại thừa để đoạn trừ sở tri chướng, chứng quả vị Bồ tát. [X. kinh Lăng già Q.1].
nhị vô thường
(二無常) Chỉ cho Niệm niệm vô thường và Tương tục vô thường. 1. Niệm niệm vô thường, cũng gọi Sát na vô thường. Nghĩa là hết thảy các pháp hữu vi sinh diệt biến hóa trong từng sát na không ngừng. 2. Tương tục vô thường, cũng gọi Nhất kì vô thường. Nghĩa là trong 1 kì hạn nào đó, rốt cuộc các pháp tương tục cũng phải hoại diệt, như mệnh người cuối cùng cũng chấm dứt, ngọn đèn cháy lâu rồi cũng tắt. [X. luận Đại trí độ Q.43].
nhị vô tri
(二無知) Hai thứ vô tri: Nhiễm ô vô tri và Bất nhiễm ô vô tri do Hữu bộ của Tiểu thừa thành lập. 1. Nhiễm ô vô tri: Chỉ cho tất cả phiền não, tức là Kiến hoặc và Tư hoặc theo thuyết của tông Thiên thai. Vì vô tri này lấy vô minh làm thể, vô minh chấp trước sự lí, tính của nó không trong sạch nên gọi là Nhiễm ô; thể của nó thì mờ tối, không biết đến chân lí Tứ đế nên gọi là Vô tri. Vô minh này cùng khởi lên 1 lượt với tất cả các hoặc khác, cho nên chỉ đơn cử vô minh là bao hàm hết thảy phiền não. 2. Bất nhiễm ô vô tri: Tức là Trần sa hoặc theo thuyết của tông Thiên thai. Vô tri này lấy trí tuệ kém cỏi làm thể, tính của nó tối tăm, không rõ lí của sự vật, nghĩa của pháp môn. Loại vô tri này không chấp trước tính nhơ nhớp của sự vật nên gọi là Bất nhiễm ô; vì nó không biết sự lí nên gọi là Vô tri. Vô tri này không ngăn ngại việc tự hành như ngộ lí Tứ đế, thoát li sinh tử, mà chỉ ngăn ngại việc hóa tha như biết rõ tất cả pháp, thành bậc Nhất thiết trí, giáo hóa khắp mọi người, vì thế Vô tri này cũng được gọi là Hóa đạo chướng hoặc. [X. Câu xá luận quang kí Q.1; Câu xá luận tụng sớ Q.1].
nhị vô tâm định
(二無心定) Cũng gọi Nhị định. Chỉ cho Vô tưởng định và Diệt tận định. 1. Vô tưởng định (Phạm: Asaôjĩisamàpatti): Loại thiền định diệt tất cả tâm tưởng. Thiền định này thuộc về Tứ thiền. Ngoại đạo tu tập thiền định này mong được quả báo sinh lên cõi trời Vô tưởng. 2. Diệt tận định (Phạm: Nirodhasamàpatti): Loại thiền định này diệt hết tâm, tâm sở của 6 thức, không cho sinh khởi. Định này còn gọi là Diệt thụ tưởng định, do các bậc Thánh từ quả Bất hoàn trở lên tu tập. [X. luận Câu xá Q.5; Đại thừa nghĩa chương Q.2, 9]. (xt. Tâm Bất Tương Ứng Hành).
nhị vương tôn
(二王尊) Cũng gọi Nhân vương, Nhị thiên vương, Nhị thiên. Chỉ cho tượng của 2 vị Kim cương lực sĩ đứng 2 bên cổng chùa, bảo vệ già lam. Cả 2 vị đều quấn tấm áo nhẹ quanh eo, gân cốt nổi lên, tóc búi, mắt trợn. Vị bên trái há to miệng, tay phải cầm chày, bàn tay trái giương ra phía trước. Vị bên phải ngậm miệng, tay trái cầm gậy, cánh tay phải giơ cao.Từ xưa, Ấn độ đã có phong tục đặt tượng chư thiên và thần Dược xoa ở cửa chùa để bảo vệ già lam. Cứ theo Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 17, đức Phật dạy trưởng giả Cấp cô độc nên tạo tượng Dược xoa cầm gậy đứng ở 2 bên cửa.Tại Ấn độ hiện nay người ta còn thấy nhiều di tích khắc tượng thần Dược xoa và Kim c ư ơ n g mật tích đứng hầu 2 bên đức Phật, như ở Bharhùt, Loriyàn Tangai... [X. hội Mật tích kim cương lực sĩ trong kinh Đại bảo tích Q.9; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4; Thai tạng kim cương bồ đề tâm nghĩa lược vấn đáp sao Q.2, phần cuối].
nhị vạn ngũ thiên chú
Pacavimśātī-sahaśrīkabhisamayalamkaraloka (S).
nhị xan
(二慳) Chỉ cho Tài xan và Pháp xan. Xan nghĩa là bỏn sẻn, keo kiệt. 1. Tài xan: Sẻn tiếc tài vật, không có lòng thương xót, thấy những người nghèo khó khốn khổ, không ưa bố thí, gọi là tài xan(bỏn sẻn tiếc của). 2. Pháp xan: Sẻn tiếc Phật pháp, ôm lòng ghen ghét, hiếu thắng, chỉ sợ người khác hơn mình, nên chẳng chịu dạy bảo ai, gọi là Pháp xan.[X. kinh Địa trì Q.4].
nhị xứ tam hội
(二處三會) Hai nơi ba hội. Tức là đức Phật đã nói 3 hội Pháp hoa ở 2 nơi. Nhị xứ chỉ cho Linh sơn và Hư không. Tam hội là hội Linh sơn, hội Hư không và hội Linh sơn lần thứ 2. 1. Hội Linh sơn: Từ lúc bắt đầu thuyết kinh Pháp hoa đến nửa phẩm Bảo tháp, Phật nói trên núi Linh sơn. 2. Hội Hư không: Từ lúc Phật dùng âm thanh lớn bảo khắp 4 chúng cho đến hết phẩm Như lai thần lực, Phật ngồi trong tháp Đa bảo trụ trên hư không, dùng thần lực làm cho đại chúng cũng ở trên hư không. 3. Hội Linh sơn lần thứ 2: Từ phẩm Chúc lụy trở đi, đức Phật ra khỏi tháp và trở về chỗ ngồi cũ nói kinh tiếp.
Nhị y
二依; C: èryī; J: nie;|Hai dạng cấu nhiễm: 1. Dạng cấu nhiễm tiềm ẩn trong thân như máu, tinh dịch, đờm dãi…; 2. Dạng cấu nhiễm xuất hiện trên thân như da bị phỏng, phồng rộp, bị thối… (theo Du-già luận 瑜伽論).
nhị y
(二衣) Chỉ cho Chế y và Thính y. Cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ, phần 1, thì các vật dụng của tỉ khưu gồm có 2 loại: 1. Chế y: Chỉ cho 3 áo của tỉ khưu và 5 áo của tỉ khưu ni. Loại áo này do đức Phật chế định, nếu không thụ trì sẽ phạm tội. 2. Thính y: Ngoài 3 áo, đức Phật chế giới cho phép các tỉ khưu được cất giữ áo dư và 101 vật dụng. Loại áo và vật dụng này được tùy ý cất giữ hoặc không, không bắt buộc. [X. Thích thị yếu lãm Q.thượng].
Nhị y xứ
二依處; C: èryīchù; J: niesho;|Hai phương diện để y cứ được đề cập trong Du-già sư địa luận (s: yogācārabhūmi-śāstra): 1. Nhận thức đúng đắn về chân lí bao trùm pháp giới; 2. Sự hiểu biết và niềm tin vào năng lực tinh thần của một hữu thể (s: pudgala; theo Du-già luận 瑜伽論)
nhị ác
(二惡) Chỉ cho 2 điều ác là phiền não Kiến tư và phiền não Vô minh. Ngoài ra cũng chỉ cho những việc ác chưa làm và những ác đã thực hiện.
nhị ái
The two kinds of love: (1) dục ái, ordinary human love springing from desire; (2) pháp ái, religious love.
; Hai loại ái—Two kinds of love: 1) Dục ái: Ordinary human love springing from desire—See Dục Ái. 2) Pháp ái: Bodhisattva or religious love springing from the vow to save all creatures—See Pháp Ái.
; (二愛) Dục ái và Pháp ái. 1. Dục ái: Phàm phu yêu thương nhớ nhung vợ con, tham đắm 5 dục lạc, nên gọi là Dục ái. 2. Pháp ái: Bồ tát ưa thích chính pháp, muốn dắt dẫn tất cả chúng sinh đến Phật đạo, nên gọi là Pháp ái. [X. luận Đại trí độ Q.72].
nhị ích
(二益) Chỉ cho Hiện ích và Đương ích. Hiện ích là những lợi ích có được trong đời này, còn Đương ích là những lợi ích có được ở đời sau.
nhị điểu
(二鳥) Chỉ cho 2 con chim trống và mái thuộc loại Ca lân đề hay Uyên ương. Loài chim này thường sống có đôi, không bao giờ rời nhau, nên chúng được dùng để ví dụ 2 pháp sự lí như thường và vô thường, khổ và vui, không và bất không... theo nhau chẳng rời. Phẩm Điểu dụ trong kinh Niết bàn (bản Nam) (Đại 12, 655 trung) nói: Có 2 loài chim, một là Ca lân đề, hai là Uyên ương, khi bay khi đậu đều có đôi, không bao giờ xa lìa nhau. Các pháp khổ, vô thường, vô ngã... cũng lại như thế, không tách rời nhau.
nhị đoạn
(二斷) I. Nhị Đoạn. Hai loại đoạn hoặc. 1. Tự tính đoạn: Tính chất của các phiền não vốn ô nhiễm, nếu làm cho tự thể ô nhiễm ấy không sinh khởi lại được nữa, thì phiền não tự nhiên đoạn trừ. Tức dùng trí vô lậu dứt trừ ngay tự thể của phiền não mà chứng trạch diệt thì phiền não không sinh khởi lại nữa, gọi là Tự tính đoạn. 2. Duyên phược đoạn, cũng gọi Sở duyên đoạn. Nghĩa là dứt trừ sự trói buộc của Sở duyên, nhưng không phải đoạn diệt tự tính của vật ấy, mà chỉ là đoạn trừ phiền não của Sở duyên, như đắc, tứ tướng của tất cả sắc hữu lậu, thiện hữu lậu, tâm và tâm sở vô kí... Đoạn trừ các phiền não năng duyên, năng phược thì có thể chứng được trạch diệt trên các pháp sở duyên của chúng. Tuy nhiên, vì tự thể của phiền não chưa bị đoạn trừ, cho nên chúng vẫn có khả năng sinh khởi lại nữa. Tự tính đoạn thì thông cả Kiến đạo đoạn và Tu đạo đoạn, còn Duyên phược đoạn thì chỉ hạn cuộc ở Tu đạo đoạn mà thôi. [X. luận Câu xá Q.16; luận Hiển tông Q.4; luận Thuận chính lí Q.6; Câu xá bảo sớ Q.1; Câu xá luận tụng sớ Q.16]. II. Nhị Đoạn. Hai cách đoạn trừ phiền não của Thanh văn và Duyên giác: 1. Tử phược đoạn: Đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc. 2. Quả phược đoạn: Đoạn diệt thân quả báo trong 1 thời kì. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.3].
nhị đàn
(二檀) Chỉ cho 2 loại bố thí: Thế gian đàn và Xuất thế gian đàn. 1. Thế gian đàn: Phàm phu bố thí mà tâm còn phiền não (hữu lậu). 2. Xuất thế gian đàn: Bậc thánh bố thí tâm không phiền não (vô lậu). [X. luận Đại trí độ Q.1].
nhị đáp
Two kinds of reply, one by words, the other by signs.
; (二答) Hai cách trả lời. 1. Ngôn đáp: Dùng ngôn ngữ để trả lời.2. Thị tướng đáp: Dùng các tướng để bày tỏ.
nhị đạo
(二道) I. Nhị Đạo. Hai đạo. Chỉ cho Vô gián đạo và Giải thoát đạo. Tức là trí tuệ đoạn hoặc, chứng lí. 1. Vô gián đạo, dịch cũ: Vô ngại đạo: Trí tuệ chính đoạn hoặc (phiền não).Trí này không bị hoặc làm gián cách nên gọi là Vô gián.2. Giải thoát đạo: Trí tuệ chính chứng lí. Trí này lìa sự trói buộc của hoặc, tự tại chứng lí, nên gọi là Giải thoát. Phàm đoạn tất cả hoặc đều phải dùng 2 đạo (trí tuệ) này. Vô gián đạo là nhân của niệm trước, Giải thoát đạo là quả của niệm sau.[X. luận Câu xá Q.25]. II. Nhị Đạo. Hai đạo. Chỉ cho Nan hành đạo và Dị hành đạo. Đây là thuyết phán giáo của tông Tịnh độ, do bồ tát Long thụ lập ra. 1. Nan hành đạo: Đạo khó thực hành. Chỉ cho các giáo thuyết ngoài tông Tịnh độ. Như ở thế giới Sa bà mà tu pháp (đạo) Lục độ vạn hạnh để chứng nhập quả Thánh, là pháp rất khó thực hành, nên gọi là Nan hành đạo.2. Dị hành đạo: Đạo dễ thực hành. Chỉ cho giáo thuyết của tông Tịnh độ, tức như pháp niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh độ, rồi từ đó mà thành Phật. Pháp này dễ thực hành, cho nên gọi là Dị hành đạo. [X. phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa; Giáo hành tín chứng Q.6, phần đầu].III. Nhị Đạo. Hai đạo. Chỉ cho Hữu lậu đạo và Vô lậu đạo.1. Hữu lậu đạo: Tất cả các pháp tu tập của hành giả Tam thừa từ giai vị Kiến đạo trở về trước. 2. Vô lậu đạo: Pháp tu tập thuận theo đế lí, từ giai vị Kiến đạo trở về sau. Lậu nghĩa là phiền não. Từ Kiến đạo trở về trước, chưa dứt được mảy may phiền não nào, cho nên gọi là Hữu lậu. Từ Kiến đạo trở lên đã dứt được 1 phần phiền não, lìa phiền não cấu nhiễm, cho nên gọi là Vô lậu. [X. luận Câu xá Q.23, 24]. IV. Nhị Đạo. Hai đạo. Chỉ cho Giáo đạo và Chứng đạo.1. Giáo đạo: Giáo pháp do đức Như lai phương tiện chỉ dạy. 2. Chứng đạo: Thực lí mà chư Phật đã chứng được. [X. Thập địa kinh luận Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.9]. V. Nhị Đạo. Hai đạo. Chỉ cho đường đại tiện và tiểu tiện.Phật tổ thống kỉ quyển 30 (Đại 49, 298 hạ) nói: Những thứ tàn dư nhơ nhớp trong thân, vì muốn tẩy trừ nên thành 2 đường nam căn và nữ căn. [X. luật Tứ phần Q.3; Phật sở hành tán Q.3].
nhị đẳng
(二等) Chỉ cho Đoạn đẳng và Đắc đẳng. 1. Đoạn đẳng: Lúc đạo cực giải thoát của Phật mới bừng lên, thì tất cả hoặc vô minh của các chúng sinh đều 1 loạt tan biến hết. Đó là vì khi đức Như lai nhìn về thế giới chúng sinh thì tất cả đều thanh tịnh. 2. Đắc đẳng: Lúc đức Phật vừa mới thành đạo, trí thủy giác của Ngài được viên mãn, thì khi ấy trí thủy giác của tất cả chúng sinh cũng đều được đầy đủ. Đây là vì khi chúng sinh nhìn về đức Phật Thế tôn thì hết thảy hoặc vô minh đều thanh tịnh, không còn gì chướng ngại.
Nhị Đế
(二諦): chỉ cho Chơn Đế và Tục Đế. Đế (諦) là lý chân thật bất hư. Chơn Đế (s: paramārtha-satya, p: paramattha-sacca, 眞諦), còn gọi là Thắng Nghĩa Đế (勝義諦), là chân lý của xuất thế gian. Tục Đế (s: saṃvṛti-satya, p: sammuti-sacca, 俗諦), còn gọi là Thế Tục Đế (世俗諦), Thế Đế (世諦); tức là chân lý thế gian. Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện (南海寄歸內法傳, Taishō Vol. 54, No. 2125) quyển 4 cho rằng việc thế tục che trùm chân lý thế gian, nên Tục Đế được dịch là Phú Tục Đế (覆俗諦). Ý nghĩa của Nhị Đế được thuyết trong các kinh điển không thống nhất với nhau. Tùy theo kinh điển mà tên gọi của Nhị Đế cũng khác nhau. Như Niết Bàn Kinh (涅槃經), Nhân Vương Bát Nhã Kinh (仁王般若經), Đại Trí Độ Luận (大智度論), Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章), v.v., thì gọi là Thế Đế và Đệ Nhất Nghĩa Đế (第一義諦). Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh Phá Thủ Trước Bất Hoại Giả Danh Luận (金剛般若波羅蜜經破取著不壞假名論), Thành Thật Luận (成實論) thì gọi là Chơn Đế và Tục Đế. Trong khi đó, Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (大般若波羅蜜多經), Du Già Luận (瑜伽論), Duy Thức Luận (唯識論) thì gọi là Tục Đế và Thắng Nghĩa Đế. Trong đó, từ Chơn Đế và Tục Đế là thịnh hành nhất. Pháp của Nhị Đế cũng được diễn đạt khác nhau tùy theo các tông phái. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa (妙法蓮華經玄義, Taishō Vol. 33, No. 1716) quyển 2 cho rằng: “Phù Nhị Đế giả, danh xuất chúng kinh, nhi kỳ lý nan hiểu, thế gian phân vân, do lai thạc tranh (夫二諦者、名出眾經、而其理難曉、世間紛紜、由來碩諍, phàm Nhị Đế, tên có khắp trong các kinh, nhưng lý của nó khó hiểu, thế gian phân vân, tranh luận sôi nỗi xuất xứ của nó).” Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集, Taishō Vol. 52, No. 2103) quyển 24 của phái Nam Sơn lại liệt Nhị Đế thuộc vào dị thuyết của xưa nay. Trong khi đó, qua Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章, Taishō Vol. 44, No. 1851) 1, Pháp Sư Tịnh Ảnh Huệ Viễn (淨影慧遠, 523-592) thì giải thích rằng: “Đệ tứ tông trung, phân vi Nhị Đế, thể vi Chơn Đế, dụng vi Tục Đế (第四宗中、分爲二諦、體爲眞諦、用爲世諦, trong tông thứ tư, chia thành Hai Đế, thể là Chơn Đế, dụng là Tục Đế).” Đại Thừa Tứ Luận Huyền Nghĩa (大乘四論玄義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 46, No. 784) quyển 5 định nghĩa Nhị Đế là: “Cái thị Pháp Tánh chi chỉ quy, nhất chơn Bất Nhị chi cực lý dã (蓋是法性之旨歸、一眞不二之極理也, vốn là yếu chỉ quy nguyên của Pháp Tánh, là lý tột cùng của nguồn chơn Không Hai).” Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48, No. 2016) quyển 82 cho rằng: “Đắc nhập Trung Đạo, song chiếu Nhị Đế, tâm tâm tịch diệt, tự nhiên lưu nhập Tát Bà Nhã hải, danh Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế quán (得入中道、雙照二諦、心心寂滅、自然流入薩婆若海、名中道第一義諦觀, vào được Trung Đạo, song chiếu Nhị Đế, tâm tâm vắng lặng, tự nhiên trôi nhập vào biển hết thảy chủng trí, ấy gọi là quán Nghĩa Đế Thứ Nhất của Trung Đạo).” Hay trong Lạc Dương Già Lam Ký (洛陽伽藍記, Taishō Vol. 51, No. 2092) quyển 1 lại ghi rằng: “Chí ư Nhất Thừa Nhị Đế chi nguyên, Tam Minh Lục Thông chi chỉ, Tây Vức bị tường, Đông Độ mĩ ký (至於一乘二諦之原、三明六通之旨、西域僃詳、東土靡記, cho đến nguồn gốc của Một Thừa, Hai Đế; ý chỉ của Ba Trí, Sáu Thần Thông, Tây Vức [Ấn Độ] thì giải thích đầy đủ, còn Đông Độ [Trung Hoa] thì không ghi gì cả).” Trong Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi (瑜伽集要焰口施食儀, Taishō Vol. 21, No. 1320) hay Lễ Xá Lợi Tháp Nghi Thức (禮舍利塔儀式, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1491) có đoạn: “Nguyện tương dĩ thử thắng công đức, hồi hướng vô thượng chơn Pháp Giới, tánh tướng Phật pháp cập Tăng Già, Nhị Đế dung thông Tam Muội Ấn, như thị vô lượng công đức hải, ngã kim giai tất tận hồi hướng (願將以此勝功德、迴向無上眞法界、性相佛法及僧伽、二諦融通三昧印、如是無量功德海、我今皆悉盡迴向, nguyện lấy công đức thù thắng này, hối hướng vô thượng chơn Pháp Giới, tánh tướng Phật pháp và Tăng Già, Hai Đế dung thông Tam Muội Ấn, như vậy vô lượng công đức biển, con nay đều xin hồi hướng thảy).”
Nhị đế
xem Hai chân lý.
; 二諦; C: èrdì; J: nitai;|›Sự thật hai mặt‹. Sự thật tuyệt đối và sự thật quy ước. Sự thật tuyệt đối, Thắng nghĩa đế (勝義諦), là cái nhìn về thật tại qua thân chứng của người đã giác ngộ. Vì sự thật nầy siêu việt ý niệm nhị nguyên nên không thể diễn đạt chính xác qua cơ cấu ngôn ngữ được. Còn sự thật quy ước, là chân lí tương đối, Thế tục đế (世俗諦), là thật tại được diễn đạt bởi người chưa giác ngộ, và được biểu hiện đễ dàng qua cơ cấu ngôn ngữ nhị nguyên.
nhị đế
Gồm: - Thế tục đế: sự tướng thế gian do mê tình thấy - Thắng nghĩa đế: tính chân thật do thánh trí thấy.
; Two forms of statement: (1) tục đế, common or ordinary statement; (2) chân đế, correct dogma or averment of the enlightened.
; (二諦) Cũng gọi Chân tục nhị đế. Chỉ cho Chân đế và Tục đế. - Chân đế(Phạm: Paramàrtha-satya, Pàli: Paramattha-sacca), cũng gọi Thắng nghĩa đế, Đệ nhất nghĩa đế. Chỉ cho chân lí xuất thế gian. - Tục đế (Phạm:Saôvfti-satya, Pàli: Sammuti-sacca), cũng gọi Thế tục đế, Thế đế. Chỉ cho chân lí thế gian. Về ý nghĩa của Nhị đế thì các kinh luận Đại thừa và Tiểu thừa nói không giống nhau, nay nêu ra mấy điểm chính như sau: I. Thuyết của Tiểu thừa. 1. Trong các kinh điển của Phật giáo nguyên thủy, như kinh A hàm nói khá nhiều về Tứ đế (khổ, tập, diệt, đạo) nhưng rất ít bàn đến Nhị đế, chỉ có kinh Phân biệt thánh đế trong Trung a hàm quyển 7 nêu ra từ Chân đế, nhưng chưa dùng chung với Tục đế. Rồi trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 3 có nói đến từ Nhị đế nhưng tiếc là nội dung không rõ ràng. 2. Luận Câu xá quyển 22 không những chỉ nêu lên danh từ Chân đế, Tục đế, mà còn trưng ra ví dụ nói rõ ý nghĩa của những từ này. Chẳng hạn các vật như cái bình, cái áo... 1 khi đã bị hủy hoại thì không thể gọi là cái bình, cái áo được nữa. Lại như nước, lửa... nếu dùng trí tuệ siêu đẳng mà phân tích thì thành các yếu tố sắc, hương, vị... nên cũng không thể gọi là nước, lửa được nữa. Đại khái những vật được đặt cho cái tên giả (có giả) như trên là những điều mà kiến thức thông thường ở thế gian đều công nhận thì gọi là Thế tục đế. Trái lại, sắc, hương, vị... là những yếu tố cấu thành sự tồn tại của muôn vật, cho dù hình thái của chúng có bị nghiền nát đến cực nhỏ nhiệm (cực vi) đi nữa, hoặc dùng trí tuệ siêu đẳng mà phân tích đi nữa, thì bản chất của chúng vẫn hằng tồn tại không thay đổi, thì gọi là Thắng nghĩa đế, là chân lí xuất thế gian.3. Phẩm Lập giả danh trong luận Thành thực quyển 1cho rằng các pháp sắc, hương, vị... và Niết bàn đều là Chân đế; trái lại, như cái bình, nước... do các yếu tố cơ bản sắc, hương... tạo thành, vì là nhân duyên hòa hợp, chỉ có cái tên giả chứ không có thực thể, cho nên gọi là Tục đế. Chẳng hạn như người là do 5 uẩn hòa hợp mà thành nên cũng thuộc về Tục đế. 4. Kinh bộ chủ trương các pháp do trí vô lậu xuất thế gian và chính trí thế gian hậu đắc công nhận, gọi là Thắng nghĩa đế; trái lại, các pháp do trí hữu lậu công nhận, gọi là Thế tục đế. 5. Theo thuyết của luận Đại tì bà sa quyển 77, những sự vật dùng kiến thức thông thường của thế gian mà hiểu biết được thì gọi là Thế tục đế; còn đạo lí chân thực do Thánh trí vô lậu thấu suốt, thì gọi là Thắng nghĩa đế. II. Thuyết của Đại thừa. 1. Cứ theo phẩm Thánh hạnh trong kinh Niết bàn quyển 13 (bản Bắc), thì điều mà mọi người thế gian đều hiểu, gọi là Thế đế; còn cái mà người xuất thế chứng biết, gọi là Đệ nhất nghĩa đế. Lại nữa, cái có tên có thực là Đệ nhất nghĩa đế, cái có tên không thực là Tục đế. Như lí của Tứ đế là Đệ nhất nghĩa đế; vòng lửa, dợn nắng, thành Càn thát bà, lông rùa, sừng thỏ... là Thế tục đế. 2. Theo phẩm Quán tứ đế trong Trung luận quyển 4, tất cả sự vật không có tính cố định bất biến (tức thực thể, tự tính),mà chúng là cái không, không sinh không diệt, biết rõ cái lí không này là Đệ nhất nghĩa đế. Còn cái tác dụng bảo trì tính không ấy lại phải dựa trên những sự vật giả hiện để hiển bày và do mối quan hệ hỗ tương đối đãi mà sinh ra tác dụng nhận thức; rõ biết được pháp giả danh ấy, gọi là Thế tục đế. Thế tục đế tuy không phải là pháp cùng tột, nhưng có thể nhờ đó mà tìm hiểu để tiếp cận với Thắng nghĩa đế. Chẳng hạn như ngôn ngữ, tư tưởng, quan niệm... của người ta đều thuộc Thế tục đế, nhưng không nhờ những thứ đó thì cũng không có cách nào tìm hiểu được Đệ nhất nghĩa đế. Mà đã không hiểu rõ Đệ nhất nghĩa đế thì cũng không thể chứng được Niết bàn. 3. Phẩm Nhị đế trong kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng lại tiến thêm bước nữa mà nêu ra thuyết Nhị đế tương tức, Chân tục bất nhị. Tức là nếu đứng về phương diện đế lí mà nhận xét, thì có Chân đế và Tục đế khác nhau, nhưng nếu dùng trí tuệ chân thực mà quán chiếu thì 2 đế chỉ là 1, lí ấy rất rõ ràng. Ngoài ra, còn có thuyết Tứ trùng nhị đế (4 lớp nhị đế) của Tì đàm, Thành thực và Đại thừa được thuyết minh như sau: a) Lớp thứ 1 chủ trương có là Tục đế, không là Chân đế, đây là thuyết của các nhà Tì đàm. b) Lớp thứ 2 cho rằng có, không là Tục đế, chẳng phải có chẳng phải không là Chân đế, đây là thuyết của các nhà Thành thực.c) Lớp thứ 3 chủ trương có không, chẳng có chẳng không là 2, chẳng 2, là Tục đế, cho chẳng có chẳng không, chẳng phải chẳng có, chẳng phải chẳng không, là chẳng 2, chẳng phải chẳng 2, là Chân đế (thuyết của Đại thừa). d) Lớp thứ 4 cho 3 lớp trước là Tục đế, còn lớp thứ 4 này là cảnh giới tuyệt đối, dứt bặt nói năng, suy nghĩ, là Chân đế (thuyết của Đại thừa). [X. kinh Bồ tát bản nghiệp anh lạc Q.thượng; luận Du già sư địa Q.55; luận Biện trung biên Q.trung; luận Hiển dương thánh giáo Q.6; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.2; phẩm Vô tướng luận Thành thực Q.2; phẩm Kiến nhất đế luận Thành thực Q.15; luận Tạp a tì đàm tâm Q.10].
nhị đế chương
(二諦章) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, được thu vào Vạn tục tạng tập 97. Nội dung trình bày về nghĩa chủ yếu của Chân đế và Tục đế trong giáo nghĩa của Tam luận(Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận). Toàn sách chia làm 7 khoa: Đại ý, Thích danh, Tương tức nghĩa, Vật thể, Tuyệt danh, Nhiếp pháp và Đồng dị. Năm Nguyên lộc thứ 10 (1697) Nhật bản, ngài Thực dưỡng ở chùa Long bảo tại Tiên đài, tìm được 2 quyển Nhị đế chương thượng và hạ, hiệu đính ấn hành. Đến năm Bảo vĩnh thứ 7 (1710), ngài Tuệ húc Tịch công lại căn cứ vào bản cũ sửa chữa những chỗ sai lầm, rồi bổ sung toàn văn của quyển trung và hơn 20 tờ văn bị mất trong quyển thượng mà hoàn thành trọn bộ 3 quyển, khắc in lưu hành.
nhị đế quán
(二諦觀) Tên khác của Không quán, 1 trong 3 pháp quán của tông Thiên thai. Khi Không quán thành tựu thì chẳng những thành tựu được Không đế mà Tục đế cũng hiển hiện rõ ràng, nên gọi là Nhị đế quán.
nhị đốn
(二頓) Hai loại Đốn giáo. Tông Hoa nghiêm chia Đốn giáo làm 2 loại là Tiệm đốn và Đốn đốn; chia Viên giáo thành 2 loại Tiệm viên và Đốn viên mà chủ trương kinh Hoa nghiêm là giáo pháp Đốn đốn và Đốn viên, còn kinh Pháp hoa là giáo pháp Tiệm đốn và Tiệm viên.
nhị độ
(二土) Hai loại quốc độ. 1. Tịnh độ và Uế độ. a) Tịnh độ: Cõi nước được trang nghiêm bằng các thứ vật báu, thanh tịnh, an lạc. b) Uế độ: Cõi nước có đầy dẫy điều xấu ác, nhơ nhớp, khổ não. [X. kinh Tâm địa quán Q.4; phẩm Bảo tháp kinh Pháp hoa]. 2. Sự độ và Lí độ. a) Sự độ: Cõi Sự tướng, chỗ ở của Ứng thân Phật. b) Lí độ: Cõi Thực tướng, nơi ở của Chân thân Phật. [X. Duy ma kinh văn sớ Q.1]. 3. Báo độ và Hóa độ. a) Báo độ: Cõi nước được thành tựu do nguyện lực lúc tu nhân. b) Hóa độ: Cõi nước được hóa hiện ra vì mục đích cứu độ chúng sinh. [X. An lạc tập Q.thượng]. 4. Báo độ và Ứng độ. a) Báo độ: Cõi nước do chúng sinh nhờ vào sự tu hành của mình mà có. b) Ứng độ: Cõi nước do đức Phật tùy thuận chúng sinh mà hiện ra để cứu vớt. [X. Duy ma kinh lược sớ Q.1]. 5. Thực trí độ và Biến hóa độ. a) Thực trí độ: Cõi của Căn bản trí trụ nơi Hậu đắc trí. b) Biến hóa độ: Cõi biến hóa, tịnh uế trải qua các kiếp số. [X. Hoa nghiêm kinh sớ sao Q.7].
nhị độ hoằng kinh
(二土弘經) Sự hoằng dương kinh Pháp hoa của Bồ tát ở 2 cõi Phương tiện và Thực báo. Theo tông Thiên thai thì sinh thân (thân do cha mẹ sinh ra) của Bồ tát tuy đã đạt được Nhẫn vị, dứt hết vô minh, chứng đắc Trung đạo, nhưng vẫn chưa thành tựu thân Pháp tính, còn phải mang nhục thân ràng buộc do cha mẹ sinh ra. Bởi thế, dù có ở khắp 2 cõi Phương tiện và Thực báo cũng không hoằng kinh được. Nghĩa là tuy trí Trung đạo tăng tiến, sinh tử biến dịch giảm dần, nhưng vẫn chưa thể phát khởi Ứng thân, nên chưa thể nhập vào cõi Phương tiện hữu dư để làm lợi ích cho chúng sinh. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm giảng nghĩa Q.7; Thai tông nhị bách đề Q.5].
Nhị đức
二德; C: èrdé; J: nitoku;|Hai đức hạnh. Có ba nghĩa: 1. Trí (智) và Đoạn (斷) đức của hàng A-la-hán; 2. Trí đức và Bi đức; 3. Tính đức và Tu đức.
nhị đức
(二德) I. Nhị Đức. Trí đức và Đoạn đức. 1. Trí đức: Chỉ cho trí tuệ có năng lực chiếu rọi tất cả sự lí. Đây là Liễu nhân mà hết thảy chúng sinh vốn có sẵn. 2. Đoạn đức: Trí lực đoạn trừ tất cả vọng hoặc. Đây là Duyên nhân mà hết thảy chúng sinh vốn có sẵn. Trí đức là Bồ đề, Đoạn đức là Niết bàn. [X. Quan âm huyền nghĩa Q.thượng]. II. Nhị Đức. Chỉ cho Bi đức và Trí đức. 1. Bi đức: Đức lợi tha của chư Phật và Bồ tát. 2. Trí đức: Đức tự lợi của chư Phật và Bồ tát. III. Nhị Đức. Chỉ cho Tính đức và Tu đức. 1. Tính đức: Chỉ cho Pháp thân, tức là Chính nhân Phật tính sẵn có trong hết thảy chúng sinh. 2. Tu đức: Chỉ cho Bát nhã và Giải thoát, tức là Liễu nhân và Duyên nhân do công tu hành mà thành tựu được. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ].
nhị ấn
(二印) Chỉ cho Vô tướng tam muội ấn và Hữu tướng tam muội ấn. 1. Vô tướng tam muội ấn: Bồ tát mới nhập vào địa vị thứ 8, trên không thấy có Phật để cầu, dưới không thấy có chúng sinh để độ, cho nên chìm vào pháp Không trong thời gian dài, đây gọi là Vô tướng tam muội ấn. 2. Hữu tướng tam muội ấn: Lúc bấy giờ, chư Phật khuyên Bồ tát ấy bước ra khỏi hiện trạng trầm không, dùng Tam muội như huyễn làm các việc lợi ích cho chúng sinh, đây gọi là Hữu tướng tam muội ấn. [X. Thập địa kinh luận Q.hạ; Diễn mật sao Q.6].
nhị ứng thân
(二應身) Chỉ cho 2 loại Ứng thân: Liệt ứng thân và Thắng ứng thân theo thuyết của tông Thiên thai. 1. Liệt ứng thân: Ứng thân kém. Nghĩa là thân Phật ứng hiện để giáo hóa hàng phàm phu và Nhị thừa từ giai vị Thập địa trở về trước. 2. Thắng ứng thân: Ứng thân hơn. Nghĩa là Báo thân của Phật thị hiện để giáo hóa hàng Bồ tát từ giai vị Thập địa trở lên.
nhỏ nhẹ
Kalabhāshaṇa (S), In low voice.
nhổ gai nhọn trong không trung
chỉ việc không cần làm, vì thật ra cũng không thể làm vì sự việc không thật có; hoặc một vấn đề không cần đặt ra vì vốn là không thể có, và do đó là không thể thực hiện.
nhục
Màmsa (S). Flesh.
nhục ca sa
(肉袈裟) Sự tích 1 con voi chúa xuất gia tu đạo. Cứ theo kinh Na tiên tỉ khưu quyển thượng, thời đức Phật còn tại thế, có 1 con voi chúa, nhờ nhân duyên nghe tụng kinh và hầu Phật, nên sau khi chết được sinh vào nhà 1 Bà la môn. Khi lớn lên, không được nghe kinh Phật, cũng không thấy các vị sa môn, người này bèn bỏ nhà vào núi sâu học theo đạo khác, giao du với 1 đạo sĩ Bà la môn.Về sau, người này tự nghĩ (Đại 32, 694 trung): Ta không thể để cho sự buồn khổ già bệnh ở thế gian ràng buộc, sau khi chết phải rơi vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, nghèo cùng, vì thế, ta muốn cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca sa, muốn cầu đạo Niết bàn La hán. Sau khi mệnh chung, người này lại sinh vào nước Thiên trúc. Khi mới sinh ra, người này có cuống rốn quấn trên đầu và vai, giống như vị tăng mặc ca sa, cho nên gọi là Nhục ca sa (ca sa bằng thịt).
nhục chi
Tukhāra (S)Tên một vương quốc khoảng thế kỳ I ở Ấn.
nhục kế
Uṇhīsa (P).
; Usnisa (S). A protuberance on the skull of the Buddha.
nhục kế tướng
(肉髻相) Phạm:Uwịìwa-ziraskatà. Pàli: Uịhìsa-sìso. Hán âm: Ôn sắt ni sa, Ô sắt nị sa, Uất sắt ni sa, Uất ni sa. Gọi tắt: Ô sa. Hán dịch: Kế(búi tóc), Đính kế(búi tóc trên đỉnh đầu), Phật đính. Cũng gọi: Đính tướng nhục kế, Đính tướng kế, Đính nhục kế tướng, Đính nhục kế thành tướng, Nhục kế viên hảo cao thắng tướng, Đính nhục cốt thành tướng, Đính phát nhục cốt thành tướng, Đính thượng nhục kế cao quảng bình hảo tướng, Đính thượng hiện ô sắt nị sa tướng. Trên đỉnh đầu của Phật và Bồ tát có cục thịt xương nổi cao lên giống như búi tóc (kế), cho nên gọi là Nhục kế, là 1 trong 32 tướng hảo của đức Phật. Cứ theo kinh Phật bản hạnh tập quyển 9 thì nhục kế trên đỉnh đầu của Phật cao rộng, bằng phẳng, đẹp đẽ. Theo kinh Tam thập nhị tướng trong Trung a hàm quyển 11 thì trên đỉnh đầu của bậc Đại nhân có tướng nhục kế tròn đầy, gọi là Phát loa hữu toàn(tóc xoắn xoay về bên phải), đây là tướng của bậc Đại nhân. Còn kinh Đại bát nhã quyển 381 thì nói rằng, tướng Ô sắt ni sa trên đỉnh đầu đức Thế tôn cao và rộng như vòm trời. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 344 thượng) nói: ... Kế đến, quán tưởng nhục kế trên đỉnh đầu của bồ tát Đại thế chí giống như hoa Bát đầu ma, trên nhục kế có 1 chiếc bình báu đựng các thứ ánh sáng hiện tất cả Phật sự. Tướng nhục kế này chư Phật và Bồ tát đều có, nhưng tướng của chư Phật rất thù thắng, còn tướng của Bồ tát thì hơi kém hơn. Cứ theo kinh Quán vô lượng thọ thì trong các tướng sắc thân của bồ tát Quan thế âm thì chỉ có nhục kế trên đỉnh đầu và tướng Vô kiến đính là không bằng đức Thế tôn. Sự thành tựu tướng nhục kế có liên quan với nghiệp nhân. Cứ theo kinh Bảo nữ sở vấn quyển 4 thì nhục kế trên đỉnh đầu của đức Như lai tự nhiên hiện bày tướng Đại nhân, là tướng tu được nhờ ở đời trước biết kính thờ Hiền Thánh và bậc tôn trưởng. Theo phẩm Như lai công đức trong kinh Vô thượng y quyển hạ, thì ngoài việc tự tu 10 điều thiện, nếu Bồ tát đồng thời giáo hóa, chỉ dẫn chúng sinh tu hành và thấy họ tu hành liền vui mừng khen ngợi, lại đem lòng thương xót vô lượng, phát nguyện rộng lớn, dắt dẫn chúng sinh đưa về chính đạo thì nhờ những nhân duyên ấy, Bồ tát sẽ được 2 thứ tướng hảo, 1 trong 2 tướng đó là xương Ô ni sa trên đỉnh đầu nổi cao lên, tự nhiên thành búi tóc. Các kinh khác có nói nhờ nhân duyên trì giới, bố thí... cũng được tướng hảo này. Trong các đồ tướng do người đời sau tạo lập, phần nhiều ở phía trước phần mềm của nhục kế có nhấn 1 viên đá quí màu hồng, hoặc tô màu hồng ở chỗ không có tóc phía trước đỉnh đầu mà gọi là tướng nhục kế. Đó là làm theo câu nói trong kinh Quán Phật tam muội hải quyển 1 (Đại 15, 648 hạ): Xương đỉnh đầu của Như lai tròn đầy, giống như nắm tay, màu trắng, nếu thấy da mỏng thì là màu hồng, hoặc thấy da dày thì màu kim cương. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.thượng; kinh Quán Phật tam muội hải Q.4; kinh Ưu bà di tịnh hạnh pháp môn Q.hạ; luận Thập trụ tì bà sa Q.8; luận Đại tì bà sa Q.177; luận Đại trí độ Q.4]. (xt. Tam Thập Nhị Tướng, Vô Kiến Đính Tướng).
nhục nhãn
xem mắt thịt.
; Māṃsa-cakṣu (S), Mamsa-cakkhu (P), Physical eye.
; Màmsacaksus (S). Eye of flesh, physical eye.
; (肉眼) Phạm: Màôsa-cakwus. Pàli: Maôsa-cakkhu. Chỉ cho con mắt thịt của người ta, là 1 trong 5 loại mắt. Phàm phu nhờ con mắt thịt này mà thấy được cảnh sắc 1 cách rõ ràng.Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 thượng) nói: Nhục nhãn trong suốt, tất cả đều thấy rõ ràng. Tuy nhiên, nhục nhãn có nhiều chướng ngại. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 33 thì nhục nhãn có thể thấy cảnh vật ở gần 1 cách rõ ràng, nhưng cảnh vật cách xa thì không thấy được; lại khi nhìn thấy cảnh vật ở trước mắt thì không thể nào cùng lúc nhìn thấy cảnh vật ở phía sau lưng; mắt thấy được những vật bên ngoài, nhưng không thể thấy những gì bên trong thân; ban ngày thì thấy vật nhưng đêm tối thì không. Trái lại, nhờ công đức tu hành, mắt của Phật và Bồ tát có năng lực nhìn thấy tất cả pháp và chân tướng của chúng. [X. luận Đại trí độ Q.39; luận Du già sư địa Q.54; Tông kính lục Q.55]. (xt. Ngũ Nhãn).
nhục sơn
(肉山) I. Nhục Sơn. Nghĩa là người xuất gia giả dối, lừa gạt tín đồ, ăn cắp của tăng, sau khi chết sẽ rơi vào địa ngục, làm núi thịt lớn, chịu nỗi khổ thiêu đốt. Cứ theo kinh Tăng hộ thì vào thời đức Phật Ca diếp ở quá khứ, có vị tăng giữ chức Điển tọa(trông nom việc ăn uống của chúng tăng), không đủ 5 đức, lấy trộm vật của chúng tăng. Do nhân duyên ấy, sau khi chết bị đọa vào địa ngục, thành 1 núi thịt lớn, suốt kiếp chịu khổ thiêu đốt. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 1, phần 5 (Đại 46, 178 thượng) nói: Nếu không có đức mà nhận của bố thí, như trong luận nói luống thụ tín thí, thì sau làm núi thịt. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.8]. II. Nhục Sơn. Đối lại: Cốt sơn. Chỉ cho dãy núi có đất đai mầu mỡ, cây cối um tùm, lúa mạ xanh tốt. Theo thuật bói toán thì Nhục sơn chỉ cho dãy núi có phúc đức. Chúng tăng mà ở trong ngọn núi có phúc đức thì việc tham thiền tu đạ, hoằng pháp độ sinh, đều thuận lợi. Chương Qui sơn Linh hựu trong Cảnh đức huyền đăng lục (Đại 51, 264 trung) nói: Qui sơn thật tuyệt vời, có thể nhóm họp 1500 chúng, nhưng chẳng phải chỗ ở của Hòa thượng. (...) Hòa thượng là người xương (cốt nhân), mà nơi ấy(Qui sơn)là núi thịt (Nhục sơn), giả sử có ở thì đồ chúng không tới 1 nghìn. Tại Nhật bản, Nhục sơn chỉ cho ngôi chùa viện có khả năng kinh tế phong phú, đặc biệt tông Tào động hay dùng từ ngữ này.(xt. Cốt Sơn).
nhục thân bồ tát
One who becomes a Bodhisattva in the physical body.
; Phàm phu chứng quả Bồ tát là nhục thân Bồ tát, còn Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm… là Pháp thân Bồ tát.
; (肉身菩薩) Chỉ cho sinh thân bồ tát. Tức là thân do cha mẹ sinh ra, tu hành đạt đến địa vị Bồ tát cao thâm. Cứ theo kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 8, nếu người thanh tịnh chuyên tâm tu tập tam ma địa, thì ngay nhục thân do cha mẹ sinh ra này, không cần có thiên nhãn mà vẫn tự nhiên thấy được các thế giới trong 10 phương. Đời này đã có các vị Bồ tát nhục thân xuất hiện như: Bồ tát Long thụ, bồ tát Thế thân, Phó đại sĩ, bồ tát Hành cơ... Còn ngài Tam tạng Cầu na bạt đà la đời Lưu Tống thì huyền kí(đoán trước)Lục tổ là Bồ tát Nhục thân. Đàn kinh Đại sư sự lược (Đại 48, 362 hạ) nói: Đàn giới ấy là do Tam tạng Cầu na bạt đà la triều Tống sáng lập, dựng bia ghi rằng: Về sau sẽ có Bồ tát Nhục thân truyền giới ở đây.
nhục thực
Màmsa-bhaksana (S). Meat-eating.
nhục thực thê đới
(肉食妻帶) Cũng gọi Trì thê thực nhục, Trì thê đạm nhục, Súc thê đạm nhục. Chỉ cho tỉ khưu xuất gia có vợ, ăn thịt. Có vợ, ăn thịt vốn là việc của người tại gia, người xuất gia mà lấy vợ, ăn thịt (thịt ngoài tịnh nhục) là điều giới luật không cho phép. Xưa nay, đức Phật nghiêm cấm người xuất gia hành dâm, trong kinh điển nhiều chỗ nói vào thời mạt pháp trong vị lai sẽ xuất hiện loại tỉ khưu Nhục thực thê đới, như phẩm Ba bà li trong kinh Hiền ngu quyển 12 chép: Vào đời mạt thế, Chính pháp diệt hết, có hạng chính sử tỉ khưu dắt vợ bế con. Kinh Ma ha ma da quyển hạ thì nói: Vào thời mạt pháp, các tỉ khưu giống như người thế tục, cũng làm việc mai mối, cưới gả. Còn phẩm Lễ bái trong kinh Đại bi quyển 3 thì ghi: Trong đời vị lai, khi Chính pháp diệt hết, các tỉ khưu và tỉ khưu ni tay dắt con cùng nhau đi dạo, thường lui tới nơi quán rượu! Trong kinh luận Đại thừa thì nói Bồ tát tại gia được phép có vợ con. Theo phẩm Phụng bát trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 1, thì Bồ tát tại gia, sau khi sống cuộc đời ngũ dục là vì sức phương tiện, khi xuất gia sẽ được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Phẩm Thập hồi hướng trong kinh Hoa nghiêm quyển 15 (bản dịch cũ) thì nói: Đại bồ tát tại gia tuy có vợ con, nhưng chưa từng tạm rời tâm bồ đề. Luận Đại trí độ quyển 35 thì dẫn lời trong kinh Bất khả tư nghị nói rằng: Vợ của bồ tát Tu ma đề tên là Tu la sa nữ; vợ của bồ tát Diệu quang tên là Hỉ đức nữ... Trên đây là những trường hợp Bồ tát tại gia được phép có vợ, nhưng đối với các Bồ tát xuất gia thì tuyệt đối ngăn cấm làm hạnh bất tịnh. Còn về vấn đề ăn thịt thì các bộ phái Tiểu thừa chủ trương được dùng 9 loại thịt như sau: Không thấy giết(không thấy con vật khi bị giết), không nghe giết(không nghe tiếng con vật kêu khi bị giết), không nghi iết(không nghi ngờ con vật bị giết là vì mình), tự chết(con vật tự chết), chim ăn còn dư(con vật tự chết chim ăn không hết), thịt con vật không phải vì mình mà bị giết, thịt con vật bị chết đã khô, thịt không hẹn trước(gặp tình cờ) và thịt con vật đã bị giết trước (không phải lúc mình đến mới giết để đãi mình). Chín loại thịt trên được gọi là Tịnh nhục (thịt trong sạch) đều được phép ăn. Nhưng Đại thừa thì cho rằng ăn thịt là dứt mất hạt giống Phật đại bi, cho nên ngăn cấm hết. Tại Trung quốc, từ xưa đã có các vị tăng phá giới, thường bị dư luận chê cười, như Lí hoặc luận của Mâu tử ghi: Sa môn đương thời phần nhiều uống rượu, có vợ, thậm chí lừa dối, gạt gẫm để vơ vét tài vật của người, thật là bọn giặc hại đời!. Ở Nhật bản, trước thời đại Minh trị, nói chung, chư tăng đều bị cấm chỉ lấy vợ, ăn thịt. Nhưng từ thời Bình an về sau đã có 1 số tăng lữ có vợ, ăn thịt và việc này đã gây ra nhiều cuộc tranh luận. Đến thời sư Thân loan –Tổ khai sáng của Tịnh độ chân tông– xóa bỏ truyền thống xuất gia, áp dụng sinh hoạt tại gia thì đã hình thành tông phông ăn thịt, lấy vợ. Từ đời Minh trị trở đi thì tất cả các tông phái Phật giáo Nhật bản cũng đều cho phép ăn thịt, có vợ, chủ trương hiện đại hóa và đại chúng hóa Phật giáo.
nhục tâm
Physical body Xem Tâm.
nhục đoàn tâm
Hri daya (S)Chân thật tâm, Càn đà la, Hãn lật đàQuả tim thịt của chúng sanh, tự tánh chân thật của chúng sanhXem Nhất tâm.
; Hrdaya (S). The physical heart.
; (肉團心) Phạm: Hfdaya, Hfd. Pàli: Hadaya. Hán âm: Hột lợi đà da, Hãn lật đà. Gọi tắt: Nhục tâm. Quả tim trong ngũ tạng của nhục thân phàm phu, là chỗ nương gá của ý căn và là khối thịt có 8 lá. Cứ theo Du già luận kí quyển 1, phần đầu, lúc thức A lại da mới thụ sinh thì chỗ nương gá của nó chính là nhục tâm, nếu thức A lại da lìa bỏ nhục tâm thì thân người liền chết. Mật tông quán tưởng nhục đoàn tâm này là đóa hoa sen 8 cánh, thành tựu thân Tì lô giá na, bởi thế, nhục đoàn tâm được giải thích là tâm tự tính chân thực của chúng sinh. [X. Đại nhật kinh sớ Q.4, 17; Bồ đề tâm nghĩa; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.16]. (xt. Hãn Lật Đà).
nhục đăng
To cremate oneself alive as a lamp for Buddha.
nhứ thiết kinh
Xem Tam tạng.
Nhứ tố
(茹素) hay nhứ thái (茹菜): ăn rau, ăn chay. Như trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, CBETA No. 1204) quyển 4 có câu: “Nhĩ phụ nhứ tố hữu niên, phả hữu thiện căn, tích tịnh nghiệp vị tu, trần duyên nan thoát (爾父茹素有年、頗有善根、惜淨業未修、塵緣難脫, cha ngươi ăn chay có năm, lại có thiện căn, tiếc rằng tịnh nghiệp chưa tu, duyên trần khó thoát).”
nhứt
Eka- (S), Ekam- Một.
nhứt lai
Xem Tư đà hàm.
nhứt nguyên luận
Monism Tên một bộ luận kinh.
nhứt sanh bổ xứ bồ tát
Eka-jati-pratibuddha (S)Tên một vị Bồ tát.
nhứt soa cưu vương
Ikṣvāku (S).
nhứt thiết chúng sanh
Xem Nhứt thiết hữu tình.
nhứt thiết chúng sanh hỷ kiến bồ tát
Sarvasattvapriya-darśana (S)Nhứt thiết chúng sanh Hỷ kiến Như laiPhật hiệu mà đức Thích ca đã thọ ký cho bà Ba xà ba đề, thứ mẫu đức Phật, sau khi bà thờ phụng sáu vạn tám ngàn ức Phật, bà sẽ thành Bồ tát Ma ha tát hộ trì Pháp Phật, sau khi hành đủ hạnh Bồ tát, bà sẽ thành Phật có Phật hiệu này.
nhứt thiết chúng sanh hỷ kiến như lai
Xem Nhứt thiết chúng sanh hỷ kiến Bồ tát.
nhứt thiết chủng trí tuệ
Xem Toàn tri.
nhứt thiết hữu bộ tông
Hetavadinaḥ (P), Sarvastivadaḥ (P), Sarvastivada School Tên một tông pháiXem Hữu bộ tông.
nhứt thiết hữu căn bổn bộ
MŪlasarvā-stivādaḥ (S), MŪlasarvāstivāda-vinya (P)Căn bản Hữu bộMột bộ phái đạo Phật.
nhứt thiết hữu tình
Sarvasattva (S), All sentient beings, Sabbasatta (P), Sarva-bhuta (S)Tát bà tát đỏa, Nhứt thiết chúng sanhTất cả các loài có tình thức.
nhứt thiết nghĩa thành
Xem Tất đạt đa.
nhứt thiết trí
Xem Toàn tri.
nhứt thần giáo
Monotheism.
nhứt thời
Ekamsamayam (S)Một thuở nọ,...Ở đầu các kinh đều có câu: "Như thị ngã văn, nhứt thời..." nghĩa là "Tôi nghe như vầy, một thuở nọ...".
nhứt thừa
Ekayana (skt)—One Vehicle or Vehicle of Oneness. 1) Nhứt Phật thừa: Đại Thừa và Nhất Thừa được dùng đồng nghĩa với nhau trong tất cả kinh điển Đại Thừa. Cái ý niệm xem giáo lý của Đức Phật là một phương tiện chuyên chở đã nảy ra từ ý niệm vượt thoát qua dòng luân hồi sanh tử để đạt đến bến bờ Niết Bàn bên kia. Trong Kinh Lăng Già, khi Mahamati hỏi Đức Phật tại sao Ngài lại thuyết giảng Nhất Thừa, Đức Phật nói: “Không có cái chân lý đại tịch diệt nào được đạt bởi hàng Thanh Văn hay Duyên Giác do tự chính họ; do đó, Ta không thuyết giảng cho họ về Thừa của nhất thể. Sự giải thoát của họ chỉ có thể được hình thành nhờ sự dẫn dắt, khai thị, dạy dỗ và điều khiển của Như Lai; sự giải thoát ấy không xãy ra do một mình họ. Họ chưa thể tự làm cho họ thoát khỏi sự trở ngại của tri thức và sự vận hành của tập khí; họ chưa thể chứng cái chân lý rằng không có tự tính trong mọi sự vật, cũng chưa đạt đến cái chết biến hóa không thể quan niệm được (bất khả tư nghì biến dị tử). Vì lý do nầy nên Ta chỉ thuyết giảng Nhất Thừa cho hàng Thanh Văn, khi cái tập khí tệ hại của họ được tẩy sạch, khi họ thấy suốt bản chất của tất cả các sự vật vốn không có tự tính, và khi họ giác tính khỏi cái kết quả gây mê đắm của tam ma địa phát xuất từ tập khí tệ hại, thì họ vượt khỏi trạng thái của các vô lậu. Kho họ tỉnh giác như thế, họ sẽ tự cung cấp cho mình những thức ăn tinh thần trên cùng một bình diện vượt khỏi trạng thái của các vô lậu mà bấy lâu nay họ vẫn trụ ở đấy.”—One Yana—The Vehicle of oneness—The one Buddha-Yana—The One Vehicle. Mahayana and Ekayana are used synonymously in all the Mahayana texts. The idea of considering the Buddha's teaching as an instrument of conveyance was doubtless suggested by that of crossing the stream of Samsara and reaching the other side of Nirvana. In the Lankavatara Sutra, when Mahamati asked the Buddha the reason why He did not speak of the Vehicle of Oneness, the Buddha said: “There is no truth of Parinirvana to be realized by the Sravakas and Pratyeka-buddhas all by themselves; therefore, I do not preach them the Vehicle of Oneness. Their emancipation is made possible only by means of the Tathagata's guidance, discretion, discipline, and direction; it does not take place by them alone. They have not yet made themselves free from the hindrance of knowledge (jneyavarana) and the working of memory; they have not yet realized the truth that there is no self-substance in anything, nor have they attained the inconceivable transformation-death (acintyaparinamacyuti). For these reasons I do not preach the Vehicle of Oneness. I will only preach the Ekayana to the Sravakas when their evil habit of memory is all purgated, when they have an insight into the nature of all things that have no self-substance, and when they are awakened from the intoxicating result of Samadhi which comes from the evil habit of memory, they rise from the state of non-outflowings. When they are thus awakened, they will supply themselves with al the moral provisions on a plane which surpasses the state of non-outflowings where they have hitherto remained.” 2) Đức Phật thường được so sánh với một đại lương y có thể chữa lành mọi thứ bệnh bằng cách chữa trị tinh diệu. Theo y học, cũng cùng một nguyên tắc độc nhất, nhưng ở trong tay của một bác sĩ giàu kinh nghiệm thì có nhiềusự áp dụng khác nhau. Giáo lý của Đức Phật không thay đổi theo thời gian và không gian, có một sự ứng dụng phổ quát; nhưng vì người thọ nhận khác nhau về tâm tính, học tập và di truyền nên họ hiểu giáo lý theo những cách khác nhau và nhờ đó mà mỗi người được chữa lành căn bệnh tinh thần riêng của mình. Đây là một nguyên lý có thể áp dụng một cách phổ quát và vô cùng, được gọi là “Nhất Thừa,” hay “Đại Thừa.” Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Giáo lý của Ta không bị phân chia, nó vẫn luôn luôn là một và vẫn là nó, nhưng do bởi các ham muốn và khả năng của chúng sanh vốn khác nhau đến vô cùng, nên cũng có thể biến đổi đến vô cùng. Chỉ có một Thừa mà thôi, và Bát Chánh Đạo luôn nhắc nhở.”—The Buddha is often compared to a great physician who can cure every sort of illness by skilful treatment. As far as the science of medicine goes, there is just one principle which, however, in the hands of an experienced doctor finds a variety of applications. The Teaching of the Buddha does not vary in time and space, it has a universal application; but as its recipients differ in disposition and training and heredity they variously understand it and are thereby cured each of his own spiritual illness. This one principle universally and infinitely applicable is known as “One Vehicle” or “Great Vehicle.” In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “My teaching is not divided, it remains always one and the same, but because of the desires and faculties of beings that are infinitely varied, it is capable also of infinite variation. There is One Vehicle only, and refreshing is the Eightfold Path of Righteousness.” 3) Ngoài Nhất Thừa, Nhị Thừa, các kinh điển Đại Thừa còn nói đến Tam Thừa, gồm Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng Nhất Thừa kỳ thật chẳng dính dáng gì đến số “Thừa,” vì “Eka” có nghĩa là “một,” và trong trường hợp nầy nó có nghĩa là “Nhất Thể,” và “Ekayana” chỉ cái học thuyết dạy về sự nhất thể của các sự vật, qua đó tất cả chúng sanh kể cả Tiểu Thừa hay Đại Thừa đều được cứu khỏi sự ràng buộc của hiện hữu—Besides this Ekayana and Dviyana, the Mahayana sutras genrally speaks of Triyana, which consists of the Sravakayana, Pratyeka-buddha-yana, and Bodhisattvayana. But we must remember that the Ekayana has really nothing to do with the number of yanas though “eka” means “one.” Eka in this case rather means “oneness,” and “Ekayana” is the designation of the doctrine teaching the transcendental oneness of things, by which all beings including the Hinayanists and Mahayanists are saved from the bondage of existence. 4) Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật nói: “Ta thuyết giảng Tam Thừa, Nhị Thừa, Nhất Thừa và Vô Thừa, nhưng tất cả các thừa ấy đều nhằm cho phàm phu, kẻ sơ trí, và cho những kẻ mê đắm trong sự thọ hưởng sự tịch tịnh. Cánh cửa của chân lý tối hậu thì vượt khỏi cái nhị biên của tri thức. Hễ khi nào tâm còn sinh khởi thì những thừa nầy không thể nào bỏ đi được. Khi tâm kinh nghiệm sự đột biến thì sẽ không có xe mà cũng không có người lái xe.”—In the Lankavatara Sutra, the Buddha said: “I preach the Triple Vehicle, the One Vehicle, and No-Vehicle, but they are all meant for the ignorant, the little witted, and for the wise who are addicted to the enjoyment of quietude. The gate of the ultimate truth is beyond the dualism of cognition. As long as mind evolves, these vehicles canot be done away with; when it experiences a revulsion (paravritti), there is neither vehicle nor driver. 5) Cách để thể chứng con đường của Nhất Thừa là hiểu rằng quá trình của nhận thức là do bởi phân biệt; khi sự phân biệt nầy không còn xãy ra nữa, và khi người ta trú trong cái như như của các sự vật thì có sự thể chứng cái Nhất Thừa của Nhất Thể. Thừa nầy chưa được ai thể chứng bao giờ, chưa được thể chứng bởi hàng Thanh Văn, Duyên Giác, hay Bà La Môn, ngoại trừ chính Đức Phật—The way to realize the path of the Ekayana is to understand that the process of perception is due to discrimination; when this discrimination no longer takes place, and when one abides in the suchness of things, there is the realization of the Vehicle of Oneness. This Vehicle has never been realized by anybody, not by the Sravakas, not by the Pratyeka-buddhas, nor by the Brahmans, except by the Buddha himself.
nhứt tâm
Singleness of mind.
nhứt vãng lai quả
Xem Nhứt lai quả.
nhứt xiển đế
Xem Nhứt điên ca.
nhứt xoa cưu vương
Ikṣaku (S)Cam giá thị, Nhựt Chủng Thiện Sanh.
nhứt điên ca
Ātyantika (S), Endless Nhất xiển đề, Nhứt xiển đế, A xiển để ca, A xiển đề, Xiển đề, A điên ca, Vô phá1- Kẻ tiêu diệt chủng tử Phật nơi mình 2- Khôg phá nỗi vô minh, phiền não để đến cõi giải thoát. 3- Kẻ bất tín triệt để, kẻ ác tâm, kẻ không tin luân hồi nhân quả, kẻ chẳng gần thiện hữu, kẻ mà Phật tánh bị vô lượng tội bao bọc không thể hiển lộ được.
Nhữ
汝; C: rŭ; J: nyo;|1. Anh, mày. Từ để xưng hô của người lớn đối với kẻ nhỏ hày đồng vai vế (s: mārsa); 2. Tên một con sông ở Trung Hoa.
Nhữ đẳng
汝等; C: rǔděng; J: nyotō; S: mārsa|Các anh, chúng mày.
những cảnh giới thấp
chỉ ba cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.
những lời phật dạy về “nói nhiều” trong kinh pháp cú—the buddha's teachings on “talkative” in the dharmapada sutra
1. Chẳng phải cậy nhiều lời mà cho là người có trí, nhưng an tịnh không cừu oán, không sợ hãi mới là người có trí—A man is not called a learned man because he talks much. He who is peaceful, without hatred and fearless, is called learned and wise (Dharmapada 258). 2. Chẳng phải cậy nhiều lời mà cho là người hộ trì Chánh pháp, nhưng tuy ít học mà do thân thực thấy Chánh pháp, không buông lung, mới là người hộ trì Chánh pháp—A man is not called a guardian of the Dharma because he talks much. He who hears little and sees Dharma mentally, acts the Dharma well, and does not neglect the Dharma, is indeed, a follower in the Dharma (Dharmapada 259).
nhựt chủng thiện sanh
Xem Nhứt xoa cưu Vương.
nhựt liên bồ tát
Nitchiren (J)Giáo tổ Nhựt Liên Tông ở Nhật, sanh năm 1222, mất năm 1282.
nhựt liên tông
Nitchiren-shŪ (J)Do Nhựt Liên Bồ tát sáng lập, cũng gọi là Pháp hoa tông.
nhựt nguyệt tịnh minh đức như lai
Tchandra-vimala-surrya-prabhā-saśrī (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
nhựt nguyệt đăng minh như lai
Tchandra-surya-pradīpa-buddha (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
nhựt sanh phật
Ādityasambhāva Buddha (S), From-Sun Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai.
nhựt triền tam muội
SŪryavarta (S), SŪryavarta-samādhi (S)Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.
ni
To stop; a nun; near.
; bhiksuni (skt)—Tỳ Khưu Ni—Nun—A female bhiksu.
ni ba la
Nepala (skt)—Nepal, xưa kia cũng là phần đất Nepal bây giờ, nằm về phía Đông của tỉnh Kathmandu—Nepal, anciently corresponding to that part of Nepal which lies east of Kathmandu.
ni bách giới chúng học
See Bách Giới Chúng Học Ni.
ni bạc nhĩ
(尼泊爾) Cũng gọi: Ni ba la quốc, Nê bà la quốc, Niết ni lạt quốc, Ni bát lạt quốc. Tên cũ của nước Nepal hiện nay. Nước này nằm ở Trung nam á, phía nam Tây tạng, núi Hi mã lạp nhã (Malaya) chiếm hết 90% đất đai, thủ đô là Katmandu. Dân cư khoảng hơn 4 triệu người và hầu hết sống bằng nghề nông, tương đối còn nghèo đói, lạc hậu. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 7, nước Ni bạc nhĩ chu vi hơn 4 nghìn dặm, dân cư tin cả tà lẫn chính, tu học cả Đại thừa và Tiểu thừa. Quốc vương thuộc dòng dõi Sát đế lợi và rất kính tin Phật pháp. Đây là ghi chép về tình hình nước Nepal vào thế kỉ VII. Trong khi Phật giáo suy tàn ở Ấn độ thì tại Ni bạc nhĩ Phật giáo vẫn hưng thịnh. Phật giáo được truyền đến đây vào thời vua A dục, hiện nay ở gần Katmandu vẫn còn 1 ngôi chùa Phật được xây dựng vào thời đó. Khi ngài Huyền trang đến Ấn độ, chúng tăng nước này có khoảng hơn 2 nghìn vị. Từ đó về sau, Phật giáo dần dần hòa nhập với tín ngưỡng Thấp bà giáo mà hình thành Phật giáo Đát đặc la. Từ thế kỉ XVIII trở về trước, nước Ni bạc nhĩ lần lượt bị Ấn độ, Tây tạng và các dân tộc du mục ở vùng Trung á khống chế, cho mãi đến năm 1768, Quốc vương Prithwi Narayan Shah thuộc tộc Gurkhas ở miền Tây nổi dậy, thống nhất đất nước, dời đô về Katmandu, đó là vị Thủy tổ của vương triều Ni bạc nhĩ. Phật giáo thời đó rất hưng thịnh, sau suy dần, cho đến nay ở Katmandu, Rhatgon, Patan... vẫn còn có hơn 2 nghìn 7 trăm ngôi chùa viện. Trong nước Ni bạc nhĩ có vườn Lam tì ni, nơi đức Phật giáng sinh và các di tích cổ của thành Ca tì la vệ. Hiện nay, nước Ni bạc nhĩ có các tín ngưỡng tông giáo như: Ấn độ giáo(quốc giáo), Lạt ma giáo, Phật giáo, Hồi giáo... Trong đó, tín đồ Phật giáo chiếm 10% dân số toàn quốc, tập trung ở Katmandu và vùng biên giới phía bắc. Ni bạc nhĩ có nhiều kinh điển Phật giáo bằng tiếng Phạm. Từ đầu thế kỉ XIX, các nhà học giả như: B. H. Hodgson, D. Wright, Bendall người Anh, S. Lévi người Pháp và Hà khẩu Tuệ hải, Thần lượng Tam lang, Cao nam Thuận thứ lang... người Nhật đã nối tiếp nhau đến Ni bạc nhĩ để sưu tầm và đã phát hiện 1 lượng lớn kinh sách Phật giáo bằng tiếng Phạm. Những kinh sách này đã giúp ích rất nhiều cho công trình nghiên cứu Phật giáo cận đại. Theo sự khảo chứng của các học giả thì Ni bạc nhĩ là nơi bắt nguồn của Phật giáo Tây tạng. Các kinh thuộc Mật bộ trong tạng kinh Tây tạng phần lớn đã được dịch ra ở Ni bạc nhĩ. [X. Pháp uyển châu lâm Q.16; Cựu đường thư Tây nhung liệt truyện thứ 148; History ofNepàlby D. Wright; Le Népal par Lévi; On Yuan Chwang vol. II by T. Watters]. (xt. Ni Bạc Nhĩ Phật Giáo).
ni bạc nhĩ phật giáo
(尼泊爾佛教) Phật giáo ở nước Ni bạc nhĩ. Mối quan hệ giữa Phật giáo và nước Ni bạc nhĩ phải kể từ thời đức Phật, bởi vì thành Ca tì la vệ, nơi thủa xưa đức Phật sinh ra, chính là phần đất thuộc miền Tây của Ni bạc nhĩ gần biên giới Ấn độ. Tương truyền, vào thế kỉ thứ III trước Tây lịch, lúc đi chiêm bái các nơi Phật tích, vua A dục đã từng xây 5 ngôi tháp ở nước này và nay là những di tích xưa nhất hiện còn tại Ni bạc nhĩ. Cứ theo Đại đường tây vực kí của ngài Huyền trang thì khi ngài đến đây vào thế kỉ thứ VII, Phật giáo và Ấn độ giáo ở Ni bạc nhĩ vẫn thịnh hành như ở thời đức Phật vậy. Còn theo Đại đường cầu pháp cao tăng truyện quyển thượng của ngài Nghĩa tịnh, thì Ni bạc nhĩ có ngôi chùa Thiên vương rất lớn, chư tăng trong chùa này rất giỏi về Phạm ngữ và Phạm thư. Người con nuôi của bà công chúa Văn thành xuất gia cũng trụ ở chùa này. Từ thế kỉ VII đến thế kỉ IX, Ni bạc nhĩ bị lệ thuộc Tây tạng, về sau được độc lập. Vào đầu thế kỉ XIII, Phật giáo Ấn độ bị quân Hồi giáo bách hại, rất nhiều tăng sĩ lánh nạn đến Ni bạc nhĩ, đồng thời mang theo nhiều kinh điển, gây nên 1 thời kì toàn thịnh của Phật giáo ở Ni bạc nhĩ. Rất tiếc là những kinh điển ấy không được bảo quản chu đáo, nên đã bị mối mọt hủy hoại. Mãi đến thế kỉ XIX, học giả người Anh là ông B. H. Hodgson mớiphát hiện kinh điển Phật bằng tiếng Phạm. Sau khi ông Hodgson công bố tin này (năm 1826), giới học thuật rất kinh ngạc. Đương thời, các học giả sưu tập được 381 bộ kinh Phật chép tay bằng tiếng Phạm và phân phối đến các Đại học: Calcutta, Oxford, London, Paris... để được nghiên cứu. Ông E. Burnouf người Pháp nhân đó mà trứ tác cuốn Introduction à l’histoire du Bouddhisme indien (Ấn độ Phật giáo sử tự thuyết) và dịch bộ kinh Pháp hoa ra tiếng Pháp dưới tựa đề: Le Lotus de la Bonne Loi, từ nguyên bản Phạm ngữ. Từ năm 1873 đến năm 1876, Đại học Cambridge của nước Anh cũng sưu tầm được 325 bộ kinh Phật tiếng Phạm. Rồi đến các học giả người Nhật bản là các ông: Hà khẩu Tuệ hải, Cao nam Thuận thứ lang, Thần lượng Tam lang... cũng có được 1 số lớn kinh tiếng Phạm chép tay và cất giữ tại các Đại học Tokyo, Kyoto... Từ thế kỉ VIII đến nay, Phật giáo Ni bạc nhĩ đã trải qua nhiều thăng trầm biến đổi, trong 1 thời gian dài đã rơi vào tình trạng suy đồi. Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, có chính phủ giúp đỡ nên Phật giáo mới dần dần được khôi phục. Năm 1956, Đại hội Phật giáo thế giới được tổ chức tại đây.Trong số các kiến trúc hiện còn tại Ni bạc nhĩ thì có chùaSvayambhù-nàtha ở Katmandu là nổi tiếng nhất, chùa tháp Buddha-nàtha là nơi mà người Tây tạng sống ở Ni bạc nhĩ rất tôn kính, tháp Changu Narayan khá đẹp, được xây dựng vào năm 1703. Những chùa tháp cổ này vì đã qua nhiều lần sửa chữa, nên không còn giữ được phong cách kiến trúc của thế kỉ XV trở về trước nữa. Ngoài ra, người Ni bạc nhĩ tôn thờ lốt chân của đức Phật và bồ tát Văn thù, sùng bái chày Kim cương (Phạm: Vajra), Linh (Phạm: Liíga). Chày Kim cương tượng trưng đức Phật, Linh tượng trưng Bát nhã (trí tuệ). Chày Kim cương và Linh cũng còn tượng trưng cho Mạn đồ la Kim cương giới và Thai tạng giới Mật giáo. [X. Đại đường tây vực kí Q.6, 7; Ni bạc nhĩ quốc chi Phật giáo (Lai duy, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 83); History of Nepal by D. Wright, Cambridge 1877; Encyclopaedia Britanica vol. 16 Nepal; Unknown Nepal by R. N. W. Bishop, London 1952].
ni ca la
Niskala (skt). 1) Cây Ni Ca La: The name of a tree. 2) Không hột hay trơ trọi: Seedless or barren.
ni chính
(尼正) Cũng gọi Ni tăng chính. Chức vụ vị Ni do nhà nước thời Nam triều, Trung quốc, đặt ra để thống lĩnh ni chúng. Cứ theo Tỉ khưu ni truyện quyển 2, vào năm Thái thủy thứ 2 (466) đời Tống thuộc Nam triều, vua Minh đế sắc lệnh Ni sư Bảo hiền làm Đô ấp Tăng chính thống lĩnh ni chúng. Ngoài ra, Phật tổ thống kỉ quyển 36, 51, Đại tống tăng sử lược quyển trung, trong điều Ni chính, cũng đều có ghi chép việc này, chỉ khác về niên đại mà thôi.
ni chúng
Assembly of nuns.
ni chúng chủ
The Mistress of the nuns (Gautami—Mahaprajapati, the foster-mother of Sakyamuni).
ni càn đà nhã đề tử
Nirgrantha-jātaputra (S)Xem Đại Hùng.
; (尼乾陀若提子) Phạm: Nigrantha-jĩàtaputra. Pàli: Nigaịỉha-nàtaputta. Cũng gọi: Phiệt đà ma na (Phạm: Vardhamàna) Ni kiền đà xà đề phất đala, Ni yết lạn đà thận nhã đê tử, Ni yên nhã đề tử, Ni kiền thân tử. Gọi tắt: Nhã đề tử, Ni kiền tử. Hán dịch: Li hệ thân tử. Tổ khai sáng của Kì na giáo, 1 trong các ngoại đạo Ni kiền tử, 1 trong 6 nhà ngoại đạo ở Ấn độ. Theo truyền thuyết, trước Ni kiền đà nhã đề tử, Kì na giáo còn có 23 vị Tổ sư, cho nên đời sau cũng cho Ni kiền đà nhã đề tử là Tổ thứ 24, hoặc tôn ngài là tổ Trung hưng của Kì na giáo. Thân mẫu ngài là Nhã đề (Phạm:Jĩàta) nên ngài được gọi là Nhã đề tử(con của bà Nhã đề). Ngài là người cùng thời với đức Phật, sinh ở 1 thôn xã ngoài thành Tì xá li tại Trung Ấn độ. Ngài vốn là người tại gia có vợ con. Năm 30 tuổi, cha mẹ ngài nhịn ăn mà qua đời, ngài chợt tỉnh ngộ, bèn xuất gia học giáo pháp của Ba xa bà(ngờ là Lặc sa bà)để cầu đạo giải thoát. Sau 12 năm tu luyện khổ hạnh thì ngài đại ngộ và suốt 30 năm sau đó, ngài được nhà vua giúp đỡ truyền bá đạo pháp ở các nước: Tì xá li, Ma yết đà, Ương già ... thuộc Trung Ấn độ và được tín đồ tôn xưng là Kì na (Phạm: Jina, người thắng), Đại hùng (Phạm: Mahàvìra), Hoàn toàn giả (Phạm: Kevalin,người hoàn toàn) hoặc là Phật đà. Nhưng Phật giáo thì cho rằng Kì na là tà mệnh, vì chủ trương tội phúc, khổ vui đều do nhân đời trước quyết định, chẳng phải hành đạo có thể diệt được, tất cả chúng sinh trải qua 8 vạn kiếp sẽ tự nhiên được giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử, dù có tội hay không tội. Như nước 4 sông lớn đều chảy về biển cả, không có sai biệt, tất cả chúng sinh cũng như thế, khi đã được giải thoát thì đều không khác nhau. Năm 72 tuổi, Kì na nhập tịch ở thành Ba bà (Phạm:Pàvà – vào khoảng năm 467, hoặc năm 480 trước Tây lịch). Kì na có 11 đệ tử ưu tú nhưng phần nhiều đã tuyệt thực mà chết, sau khi Kì na nhập diệt chỉ còn lại 2 người truyền bá học thuyết ngài. Cứ theo truyền thuyết, tín đồ của ngài ở thời bấy giờ có tới 480 vạn người. [X. kinh Ni kiền trong Trung a hàm Q.4; kinh Sa môn quả trong Trường a hàm Q.17; kinh Nghĩa túc Q.thượng; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.33; Phiên Phạm ngữ Q.5]. (xt. Kì Na Giáo).
ni càn đà nhược đề tử
Nirgrantha-jnatiputra (skt)—Một người chống đối Đức Phật khi Ngài còn tại thế, chủ thuyết của ông ta là thuyết “định mệnh,” mọi thứ đều có sẳn định mệnh, và không có sự tu hành nào có thể cải đổi được định mệnh của con người—An opponent of Sakyamuni. His doctrines were determinist, everything being fated, and no religious practices could change one's lot.
ni cán tử ngoại đạo
(尼幹子外道) Ni kiền tử, Phạm: Nirgrantha-putra, gọi đủ: Nirgrantha-jĩàputra. Pàli: Nigaịỉha-putta. Cũng gọi Ni kiền đà tử ngoại đạo, Ni kiền tử ngoại đạo, Ni kiền đà phất trớ la ngoại đạo, Ni kiền phất đà đát la ngoại đạo, Ni kiền tử luận sư. Một trong Lục sư ngoại đạo, 1 trong Tứ chấp ngoại đạo, 1 trong 16 tông ngoại đạo, 1 trong 20 thứ ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Vì ngoại đạo này chủ trương tu khổ hạnh để không bị vấn đề cơm áo ở thế gian gò bó, hầu xa lìa sự bức bách của phiền não và sự ràng buộc trong 3 cõi, cho nên tên tiếng Phạm của ngoại đạo này được dịch là Li hệ (lìa trói buộc), Bất hệ, Vô kế, Vô kết. Lại vì ngoại đạo này không mặc quần áo chi cả và cũng không lấy thế làm hổ thẹn, cho nên bị người đời cười chê mà gọi là Vô tàm ngoại đạo(ngoại đạo không hổ thẹn), Lõa hình ngoại đạo(ngoại đạo ở truồng). Ông tổ khai sáng đạo này là Lặc sa bà (Phạm: Fwadha), đến Ni kiền đà nhã đề tử là tổ Trung hưng. Đời sau, ngoại đạo này được gọi là Kì na giáo (Phạm: Jaina). Những người xuất gia tu tập khổ hạnh và thực hành giáo lí của phái này thì gọi chung là Ni kiền đà. Sau khi Ni kiền đà nhã đề tử thị tịch, ngoại đạo Ni kiền tử bị chia làm 2 phái: Phái Không y (Phạm: Digambara ) và phái Bạch y ( Phạm: Zvetàmbara). Phái Không y chủ trương không mặc quần áo mà ở truồng, thông thường gọi là Lõa hình ngoại đạo, Lộ hình ngoại đạo. Còn phái Bạch y thì lưu hành ở miền Bắc Ấn độ, vì khí hậu lạnh nên mặc áo trắng(bạch y)để chống rét và có lẽ đây là nguyên nhân đưa đến việc chia rẽ thành 2 phái. Đại đường tây vực kí quyển 3 (Đại 51, 855) nói: Những pháp do Bản sư của phái này giảng nói, phần nhiều là trộm nghĩa trong kinh Phật, tùy theo loại mà thiết lập pháp, bắt chước đặt ra phép tắc; người lớn gọi là bật sô, người nhỏ gọi là sa di, uy nghi luật hạnh rất giống với pháp của chúng tăng, chỉ khác với chư tăng là người của phái này để lại một ít tóc và ở truồng, hoặc có mặc áo thì dùng màu trắng để cho khác 1 chút. Tượng Thiên sư của phái này cũng bắt chước giống như tượng đức Phật, đầy đủ tướng hảo, nhưng y phục thì khác. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 10, thì ngoại đạo này cạo tóc, lõa thể, không cất chứa vật gì, dùng tay khất thực chứ không có bát, hễ được vật gì thì bỏ vào bát tay và ăn liền. Vì có rất nhiều điểm giống với Phật giáo, cho nên đã có thời các học giả Âu tây cận đại cho rằng Kì na giáo đã thoát thai từ Phật giáo mà ra, nhưng sau khi nghiên cứu 2 tông giáo này 1 cách sâu sát mới biết lúc đầu giữa 2 tông giáo này có những điểm khác xa nhau. Như Kì na giáo phủ nhận giáo quyền Phệ đà, cấm chỉ cúng tế, không cho giết hại..., những điểm này giống với Phật giáo; còn như khuyến khích khổ hạnh, phân biệt 4 chủng tính, thì giống với Bà la môn mà khác xa với Phật giáo. [X. kinh Tạp a hàm Q.5, 21; kinh Ni kiền trong Trung a hàm Q.4; kinh Tát già ni kiền tử sở thuyết Q.1-10; Chú Duy ma kinh Q.3; Bách luận sớ Q.thượng; Câu xá luận quang kí Q.15; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối]. (xt. Ni Kiền Đà Nhã Đề Tử).
ni câu luật thụ
(尼拘律樹) Ni câu luật, Phạm: Nyagrodha. Pàli: Nigrodha. Hán dịch: Vô tiết, Tung quảng, Đa căn. Cũng gọi Ni câu đà thụ, Ni câu lũ đà thụ, Ni câu ni đà thụ,Ni câu loại thụ, Ni câu lư đà thụ, Nặc cù đà thụ. Tên khoa học: Ficus indica. Tên 1 loại cây thuộc họ dâu, hình dáng giống cây dong, mọc ở Ấn độ, Tích lan..., cao từ 10m đến 15m, lá hình tròn mà dài, đầu lá nhọn. Từ nhánh sinh ra rễ rủ xuống, khi tới đất lại thành gốc, cành lá sum xuê tỏa ra 4 phía. Hạt của loại cây này rất nhỏ, nên trong kinh Phật, nó thường được dùng để ví dụ gieo nhân nhỏ mà được quả lớn. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 15 giải thích như sau (Đại 54, 402 thượng): Thân cây Ni câu luật tròn trịa thẳng tắp, không có lóng đốt, cách mặt đất hơn 3 trượng mới có cành lá. Hạt của nó nhỏ như hạt cây liễu. Ở Trung quốc không có loại cây này, người ta gọi nó là cây liễu, nhưng không đúng. [X. kinh Tạp a hàm Q.33; kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.8; kinh Đại bản trong Trường a hàm Q.1; luận Đại trí độ Q.8; luận Câu xá Q.6].
ni câu luật uyển
(尼拘律苑) Phạm: Nyagrodhàràma. Pàli: Nigrodhàràma. Cũng gọi Ni câu luật viên, Ni câu luật thụ viên. Hán dịch: Vô tiết viên, Tung quảng viên. Khu vườn nằm về phía nam thành Ca tì la vệ, Trung Ấn độ, là nơi mà, sau khi thành đạo, đức Phật đã về để nói pháp cho phụ vương nghe. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 6, thì vua A dục đã từng xây chùa và dựng tháp tại khu vườn này. Ở gần đó có tòa tháp đánh dấu nơi đức Phật đã tiếp nhận áo ca sa kim lan do di mẫu của Ngài cúng dường.
ni câu luật đà
Tên một loại cây. Xem ni câu đà.
ni câu đà
Nyag-rodha (skt). 1) Một loại cây giống như cây đa, tàng rộng, lá giống như lá hồng, trái gọi là “đa lặt” được dùng để làm thuốc ho—The down growing tree, Ficus Indica, or banyan; high and wide spreading, leaves like persimmon leaves, fruit called “to-lo” used as a cough-medicine. 2) Cũng được diễn dịch như là cây liễu, có lẽ do tính chất rũ xuống của tàng cây—Also interpreted as the willow, probably from the drooping characteristic.
ni câu đà phạm chí
Nyagrodha (S)Vô tiết, cây vã, cây ni câu luật đà, vườn Ni cư đà, Ni-câu-đà1- Hột trái này ép lấy dầu trị bệnh lạnh. 2- Vườn thượng uyển của vua Tịnh Phạn, lúc thành đạo trở về đức Thích Ca cũng ngự ở vườn này mà thuyết pháp. 3- Tên một Phạm chí.
; (尼拘陀梵志) Ni câu đà, Phạm: Nyagrodha. Pàli:Nigrodha. Hán dịch: Vô khuể, Bất sân. Cũng gọi Ni câu luật đà phạm chí. Tên của 1 phạm chí ngoại đạo ở thời đức Phật, sau được Phật giáo hóa và qui y làm đệ tử của Ngài. Phạm chí Ni câu đà lúc đầu là ngoại đạo tại gia thờ Phạm thiên, thường cùng với 500 Phạm chí tụ họp ở rừng cây Ưu đàm bà la (Phạm:Udumbarikà), gần thành Vương xá để thảo luận việc nước. Bấy giờ có 1 đệ tử tại gia qui y đức Phật tên là Tán đà na (Pàli: Sandhàna) đi qua chỗ rừng này, 500 Phạm chí trông thấy Tán đà na đều im lặng nhìn nhau. Lúc đó Ni câu đà đối với Tán đà na dùng lời chê bai đức Phật, phê bình đệ tử Phật cứ ở 1 chỗ tu hành, giống như bò mù ăn cỏ. Bấy giờ đức Phật đang ở trong hang cây Thất diệp tại núi Tì ha la, nghe biết việc này liền đến hóa độ 500 Phạm chí, khiến họ từ bỏ pháp nhơ nhớp mà nhận lãnh pháp thanh tịnh. Năm trăm Phạm chí nhờ đó mà được đoan tâm chính ý, lắng nghe lời dạy bảo của đức Phật. [X. kinh Ưu đàm bà la trong Trung a hàm Q.26; kinh Ni câu đà phạm chí].
ni câu đà tịnh xá
Nyagrodharama (S), Nigrodharama (P), Ni câu đà viênTinh xá gần thành Ca tỳ la vệ, quê hương dưúc Phật. Một trong 6 tịnh xá nổi tiếng thời đức Phật.
ni câu đà viên
Xem Ni câu đà Tinh xá.
ni cô
Bhikṣunī (S), Bikuni (J), A fully ordained nun Nữ tỳ kheo, tỳ kheo niXem thêm Bhiksu. Dì của đức Phậ, bà MahaPrjapati là người nữ đầu tiên được nhận vào tăng đoàn do lời cầu xin của Ngài A Nan.
; A nun.
; A nun—A young Buddhist Nun—See Tỳ Kheo Ni.
ni cư đà
Vườn Ni cư đà. Xem ni câu đà.
ni di lưu đà
Nirodha (S). Cessation, extinction. Also diệt, chấm dứt.
; Nirodha (skt). 1) Diệt: Extinction—Annihilation. 2) Diệt Đế hay Diệu Đế thứ ba trong Tứ Diệu Đế. Một khi dây nghiệp bị bứt đứt thì sẽ không còn dính mắc vào sanh tử luân hồi nữa: The third of the four noble truths. With the breaking of the chain of karma there is no further bond to reincarnation.
; (尼彌留陀) Phạm: Nirudha. Hán dịch: Diệt Chỉ cho Diệt đế, 1 trong 4 đế. Đại thừa nghĩa chương quyển 1, (Đại 44, 467 hạ) nói: Tiếng Phạm Tì ni, Hán dịch là Diệt. Diệt có 3 thứ: Niết bàn, Ni di lưu đà (nghĩa là Diệt đế trong 4 đế) và Tì ni. (xt. Tứ Đế).
ni diên để
(尼延底) Phạm: Nyanti. Hán dịch: Thâm nhập, Thú nhập, Chấp thủ, Trầm trệ. Cũng gọi Ni cận để. Tên khác của Tham, là lòng tham muốn của cải,danh vọng, quyền lực, nam nữ, ăn uống... là tác dụng tâm đắm đuối, bám níu không chịu buông bỏ. Câu xá luận kí quyển 16 (Đại 41, 260 hạ) nói: Ngươi có vì cảnh sắc này mà nổi lòng dục, tham, thân, ái, a lại da, ni diên để và đắm trước không? Bảy thứ dục vọng này đều là tên gọi khác của Tham (...). Ni diên để Hán dịch là chấp thủ, hoặc thú nhập, hoặc trầm trệ. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.25]. (xt. Tham).
ni dân đà la
Nimindhara (skt)—Nemimdhara (skt)—Ni Dân Đạt La. 1) Ni Dân Đạt La là tên của ngọn núi ở ngoài cùng của bảy vòng núi kim sơn—Nimindhara maintaining the circle, i.e. the outermost ring of the seven concentric ranges of the world, the mountain that holds the land. 2) Ni Dân Đạt La còn là tên của một loại cá có cái đầu được coi như giống núi Ni Dân Đạt La vậy—The name of a sea fish whose head is supposed to resemble this mountain.
ni dân đà la sơn
(尼民陀羅山) Ni dân đà la, Phạm: Nimiôdhara. Pàli: Nemindhara. Cũng gọi Ni dân đạt la sơn, Ni di đa la sơn.Hán dịch: Địa trì sơn, Trì biên sơn. Tên lớp núi ngoài cùng thuộc 7 lớp núi vàng.Theo thế giới quan Phật giáo, núi Tu di nằm ở giữa thế giới, phía ngoài có núi Thiết vi bao bọc. Ở khoảng giữa núi Tu di và núi Thiết vi là Thất kim sơn, tức 7 lớp núi được tạo thành bằng vàng, lớp ngoài cùng là núi Ni dân đà la, cao khoảng 625 do tuần. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 24, thì Ni dân đạt la vốn là tên của 1 loài cá biển, vì ngọn núi này trông giống như cái đầu của loại cá ấy nên gọi là núi Ni dân đạt la. [X. luận Đại tì bà sa Q.133; luận Du già sư điạ Q.2; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ]. (xt. Thất Kim Sơn).
ni dân đà la sơn vương
Nemindhara(-girirāja) (S)Trì Biên Sơn vươngTên một vị thiên.
ni dạ da học phái
(尼夜耶學派) Ni dạ da, Phạm: Nyàyika. Hán dịch: Chính lí, Nhân luận, Nhân minh, Nhân minh xứ. Cũng gọi Na da tu ma phái, Nhã da tu ma phái (Phạm: Ĩàya-suma). Học phái Chính lí, là 1 trong 6 phái Triết học của Ấn độ, do Kiều đáp ma (Phạm: Gautama,tứcTúc mục) sáng lập vào khoảng từ thế kỉ I, II(hoặc có thuyết nói khoảng thế kỉ III, IV). Phái này lấy kinh Chính lí (Phạm: Nyàya-sùtra,tương truyền do Kiều đáp ma soạn) làm Thánh điển căn bản. Học thuyết của kinh này lấy triết học tự nhiên và Luận lí học (Phạm:Hetu-vidyà,Nhân minh, nay gọi là logic) làm nội dung chủ yếu. Về triết học tự nhiên thì kinh này hoàn toàn kế thừa nền triết học tự nhiên của học phái Thắng luận vốn đã thành lập trước đó. Còn về Luận lí học thì trực tiếp chịu ảnh hưởng của Cáp lạp ca bản tập ( Phạm: Carakasaôhità )và gián tiếp chịu ảnh hưởng Luận lí học của luận Phương tiện tâm mà ra. Như vậy, có thể nói mà không sợ sai lầm rằng, kinh Chính lí đã tập đại thành tư tưởng Luận lí học của 2 tác phẩm nêu ở trên. Trong đó, Luận lí học của phái này đặc biệt được coi là dòng chính yếu lâu dài trong lịch sử triết học Ấn độ. Sau thế kỉ X, phái này được gọi là phái Ni dạ da Thắng luận (Phạm:Nyàyavaizewika) và vì đã hoàn toàn dung hợp với học thuyết Thắng luận nên khó có thể phân biệt được mối quan hệ giữa 2 phái này. Về Luận lí học của kinh Chính lí có các sách chú thích: Bà thố da na (Phạm: Vàtsyàyana), Ưu để hữu đạt ca la (Phạm: Uddyotakara), Bà già tư bạt để di tu la (Phạm:Vàcaspati-mizra), Ưu điền diên na (Phạm: Udayana) và Chính lí từ điển (Phạm: Nyàya koza) của Tỉ ma a xà lê (Phạm:Bhìmacàrya), Cứu lí tập yếu (Phạm: Tarka saígraha) của A na bạt đạt (Phạm: Annabhatta)... Nhờ các tư liệu trên đây mà sự nghiên cứu về học phái Chính lí càng được phát triển thêm. Luận lí học của phái này đã chiếm 1 địa vị rất quan trọng trong lịch sử tư tưởng Ấn độ, nó không những chỉ có ảnh hưởng ở đương thời, mà còn mãi về sau. Luận lí học này được xây dựng trên nền tảng 4 lượng: Hiện lượng, Tỉ lượng, Thí dụ lượng và Thanh lượng. Còn hình thức biện luận thì được tổ chức bằng tác pháp 5 chi: Tông, Nhân, Dụ, Hợp và Kết. Cuối thế kỉ XII, có Càn cát sa (Phạm:Gaígeza) viết sách giải thích kinh Ni dạ da, sau hình thành học phái Tân ni dạ da. Sau thế kỉ XV, lại có phái Nô đề a (Phạm: Nadea) xuất hiện, ngày càng hưng thịnh. [X. luận Thuận trung Q.thượng; Nhiếp đại thừa luận thích Q.2; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.1 (Khuy cơ); Ấn độ lục phái triết học cương yếu (Lí thế kiệt)].
ni dạ da kinh
Nyāya sŪtra (S)Tên một bộ kinh. Thánh điển của học phái Ni dạ da.
; (尼夜耶經) Phạm: Nyàya-sùtra. Cũng gọi Chính lí kinh. Thánh điển của học phái Ni dạ da, 1 trong 6 phái Triết học của Ấn độ, tương truyền do Kiều đáp ma (Phạm: Gautama) trứ tác, đến khoảng thế kỉ III, IV mới được chỉnh lí hoàn thành. Toàn bộ kinh có 5 thiên, gồm 528 bài kệ và 8.385 lời, đem học thuyết Chính lí qui nạp thành 16 đế và 814 chủ đề; cho rằng nếu hiểu thấu 16 đế 1 cách đúng đắn thì có thể đạt được giải thoát. Nội dung kinh này gồm: 1. Bàn khái quát về 16 đế. 2. Thảo luận về Hiện lượng, Tỉ lượng, Thanh lượng, Thí dụ lượng và Vô thể lượng. 3. Tri thức luận của Lượng và Sở lượng. 4. Thế giới quan và phạm trù của triết học thực tiễn. 5. Giải thích rõ những sai lầm về Luận lí học.Sách này còn nêu ra 4 chủ trương như sau: 1. Giữa ngôn ngữ và ý nghĩa được diễn đạt chỉ là 1 sự quan hệ có tính cách phương tiện tạm thời mà thôi. 2. Tri thức và quan niệm hoàn toàn do kinh nghiệm mà có. 3. Âm thanh là vô thường. 4. Phệ đà tuy có đầy đủ uy quyền, nhưng chẳng phải uy quyền tuyệt đối. Các sách chú thích kinh này gồm có: - Ni dạ da chú (Phạm:Nyàya bhàsya) của Bà thố da na (Phạm:Vàtsyàyana). - Ni da bình thích (Phạm: Nyàya Vàrttika) của Ưu để hữu đạt ca la (Phạm: Uddyotakara). [X. A History of Indian Logic by Vidyabhùwana; Ấn độ triết học nghiên cứu của Vũ tỉnh Bá thọ].
ni dạ ma
Niyama (skt). 1) Nguyện: Restraint—Vow—Determination—Resolve. 2) Bất Thối Bồ tát: A degree of Bodhisattva progress, never turning back.
; (尼夜摩) I. Ni Dạ Ma. Phạm: Niyàma, Niyama. Cũng gọi Ni dã ma. Hán dịch: Quyết định. Du già sư địa luận lược toản quyển 13 (Đại 43, 168 hạ) nói: Ni dã ma nghĩa là quyết định. Theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 19, vị Ni dạ ma là chỉ cho giai vị Bồ tát bất thoái chuyển. II. Ni Dạ Ma. Phạm: Niyama. Chỉ cho sự khuyên răn. Đây là pháp do các giáo phái Du già, Số luận, Kì na... lập ra. Luận Kim thất thập quyển thượng, (Đại 54, 250 hạ) nói: Ni dạ ma cũng có 5 giới: Không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối và không nịnh hót.
ni dần đà la
Xem Trì biên.
ni giảng
(尼講) Chỉ cho vị sư ni giảng thuyết kinh điển. Theo điều Ni giảng trong Đại Tống tăng sử lược quyển thượng, vào năm Thái hòa thứ 3 (368) đời Đông Tấn, vị sư ni ở chùa Đông tại Lạc dương, pháp hiệu là Đạo hinh, lúc còn là sa di ni đã tụng thông 2 bộ kinh Pháp hoa và Duy ma. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư nghiên cứu giáo lí càng sâu sắc và giảng đạo rất lưu loát. Đó là vị ni sư giảng thuyết đầu tiên của Phật giáo Trung quốc. Còn theo điều tăng giảng trong Đại Tống tăng sử lược thì ngài Chu sĩ hành là vị tăng giảng thuyết đầu tiên. [X. Truyện ni Đạo hinh trong Tỉ khưu ni truyện Q.1].
ni giới
The rules for nun, numbering 341, to which seven more were added making 348, commonly called ngũ bách giới, 500 rules.
; Rules for nuns (348).
; (尼戒) Đối lại: Tăng giới. Chỉ cho giới Cụ túc của tỉ khưu ni. Theo luật Tứ phần, giới Cụ túc của tỉ khưu ni là 341 giới, Luật sư Nam sơn lại thêm 7 pháp Diệt tranh nữa mà thành là 348 giới. (xt. Tỉ Khưu Ni Luật Nghi, Cụ Túc Giới).
ni kha da
(尼柯耶) Phạm, Pàli: Nikàya. Cũng gọi Ni ca da. Hán dịch: Hội chúng, Bộ phái, Bộ, Loại. Chỉ cho những bộ kinhPàli, như 5 bộ: Trường bộ, Trung bộ, Tương ứng bộ, Tăng chi bộ và Tiểu bộ, có thể gọi là Ngũ ni kha da. Nếu gọiriêng từng bộ thì là: Trường ni kha da (Pàli:Dìgha-nikàya), Trung ni kha da (Pàli: Majjhima-nikàya)... Ngoài ra, những bộ phái Phật giáo như phái Xiêm la ở Tích lan, phái Thượng Miến điện..., nếu nói theo âm của từnikàya thì có thể gọi là Xiêm la ni kha da (Pàli: Siamnikàya), Thượng Miến điện ni kha da (Pàli: Amarapura-nikàya).
ni kiền
Nirgrantha (skt)—Ni Kiện—Ni Càn Đà. 1) Vô hệ, vô kết hay không bị trói buộc bởi những hệ phược của tam giới: Freed from all ties. 2) Một loại xuất gia ngoại đạo tu theo lối khổ hạnh cởi truồng bôi tro—A naked heretic mendicant or devotee who is free from all ties, wanders naked, and covers himself with ashes.
ni kiền tử
Xem Ly hệ giả.
ni kiền tử, nhạ đệ tử
Xem Ni kiền đà.
ni kiền đà
Xem Ni kiền Đề.
; Nirgrantha (S). Freed from all ties, a naked mendicant.
ni kiền đề
Nirgrantha-jātiputra (S), Niraṇṭha-nātaputta (P)Nhạ Đề TửKhai tổ Kỳ na giáo vào thế kỷ VI BCXem Ly hệ giả.
ni kiền độ
Bhiksunì-skandhaka (S). Chapter of the moral rules of nuns.
; (尼犍度) Phạm: Bhikwuịì-khaịđa. Là 1 trong 20 kiền độ của luật Tứ phần. Nội dung của Kiền độ này nói về những qui định thụ trì giới luật của tỉ khưu ni, như tỉ khưu ni phải giữ pháp Bát kính mới được phép xuất gia thụ giới; về tác pháp thụ giới Cụ túc của tỉ khưu ni và về các qui định sinh hoạt hằng ngày... [X. luật Tứ phần Q.31-53; Tứ phần luật sớ Q.7-10]. (xt. Nhị Thập Kiền Độ).
ni kiều đà nhã đề tử
Nigantha-nataputta (S)Giáo tổ Kỳ na giáo, đồng thời với đức Phật.
ni kiện tha ca
Một loại quỷ Dạ Xoa không có cần cổ—A kind of throatless yaksa.
ni kiện đà phất đát la
Nirgrantha-putra (skt)—See Ni Kiền.
ni kiện độ
Bhiksu-khanda (skt)—Một phần trong Tứ Phần Luật nói về luật của Tỳ Kheo Ni—A division of Vinaya, containing the rules for nuns.
ni la
Nila (skt)—Màu xanh da trời đậm hay màu xanh lá cây—Dark blue or green.
ni la bà đà la
Nilavajra (skt)—Ni Lam Bà—Kim Cang chùy màu lam—The blue vajra or thunderbolt.
ni la phù đà
Nirarbuda (skt)—See Ni Lạt Bộ Đà.
ni la phù đà địa ngục
Ninanbuda (S).
ni la tế đồ
Nilapita (skt)—Những chiếu chỉ và báo cáo hàng năm được kể đến trong Tây Du Ký—“The blue collection” of annals and royal edicts, mentioned in the record of the Voyage to the West.
ni la âu bát la
Nilotpala (skt)—Bông sen xanh—The blue lotus.
ni la ô bát la
See Ni La Âu Bát La.
ni la ô bát la hoa
(尼羅烏鉢羅華) Ni la ô bát la, Phạm: Nìlotpala. Pàli: Nìla-uppala. Cũng gọi Nê lô bát la hoa. Gọi tắt: Ưu bát la hoa. Hán dịch: Thanh liên hoa. Tên 1 loại hoa sen, cánh hoa màu xanh, lá hẹp và dài. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển thượng, thì lá loại sen này ở gần chỗ cuống hơi tròn và nhọn dần lên phía trên. Vì mắt đức Phật giống hình lá sen này, nên trong các kinh nó thường được dùng để ví dụ mắt Phật. [X. kinh Du hành trong Trường a hàm Q.4; phẩm Địa ngục trong Trường a hàm Q.19; Đại nhật kinh sớ Q.15]. (xt. Ưu Bát La Hoa).
ni la ưu đàm bát la
Nila-udumbara (skt)—Loại hoa Ưu Đàm Bát La có hoa màu xanh đậm—An udumbara with dark blue coloured flowers.
ni lam bà la đà la
(尼藍婆羅陀羅) Phạm: Nìlavajra-dhara#. Cũng gọi Ni la bà đà la. Tên vị thần Chấp kim cương trong Mật giáo.Kinh Đà la ni tập quyển 4 (Đại 18, 815 thượng) nói: Ni lam bà la đà la, Hán dịch là Thanh kim cương (Kim cương xanh). Ni lam nghĩa là Thanh, Đà la nghĩa là chấp trì (nắm giữ), vì thế nên còn gọi là Thanh chấp kim cương, Thanh kim cương. [X. phẩm Bí mật kinh Đại nhật].
ni liên thiền
Nairajanā (S), Nerajarā (P), Golden River, Sông Ni liên thiền chảy gần núi Tượng đầu (Gajasirsa) ở nước Ma kiệt đà, con sông Phật tắm lúc sắp thành đạo. Ngày nay có tên là Nilajana.
; Nairanjanà (S). The Nilajan river that flows past Gàya. Also Ni liên hà, Liên hà.
; Nairanjana (skt)—Neranjara (p)—Ni Liên Thiền Na—Tên của con sông Ni Liên Thiền, một phụ lưu về hướng Đông của sông Phalgu. Bây giờ dân Ấn Độ gọi là sông Lilajana với nước trong xanh, tinh khiết và mát mẻ. Dòng sông phát xuất gần vùng Simeria, trong quận Hazaribad, miền trung tiểu bang Bihar, thuộc vùng đông bắc Ấn Độ. Nơi mà nhà tu khổ hạnh Sĩ Đạt Đa đã thăm viếng và tắm sau khi Ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh. Trên bờ sông Ni Liên có khu rừng Sa La, nơi Đức Phật đã nghỉ ngơi vào buổi chiều trước khi Ngài lên ngồi thiền định 49 ngày dưới cội Bồ Đề và thành đạo tại Bồ Đề Đạo Tràng, cách một khoảng ngắn về phía tây sông Ni Liên—The name of a river Nairanjana (Nilajan) that flows past Gaya, an eastern tributary of the Phalgu, during the Buddha's time. It is now called by Indian people the Phalgu or Lilajana river with its clear, blue, pure and cold water. The river has its source near the Simeria region in the district of Hazaribad in the central Bihar state of the northeast India. This river was visited and bathed by Siddarttha after he gave up his ascetic practices. There was a Sala grove on the banks where the Buddha spent the afternoon before the night of his enlightenment after sitting meditation forty-nine days under the Bodhi-Tree, located in the present-day Buddha-Gaya village which is situated at a short distance to the west of this river.
ni liên thiền hà
(尼連禪河) Ni liên thiền, Phạm: Nairaĩjanà. Pàli: Neraĩjarà, Niraĩjarà. Cũng gọi Hi liên thiền hà, Ni liên thiền na hà, Ni liên nhiên hà, Nê liên hà, Hi liên hà, Ni liên thiền giang, Ni liên giang thủy, Ni liên thủy. Hán dịch: Bất lạc trước hà. Sông Ni liên thiền, 1 nhánh của sông Hằng, nằm về phía đông thành Già da, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, từ phía nam chảy theo hướng bắc. Cứ theo kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 3, 4, thì sau khi xuất gia, đức Thích tôn ngồi tĩnh tọa tư duy, tu khổ hạnh 6 năm bên bờ sông Ni liên thiền. Về sau, Ngài bỏ lối tu khổ hạnh và xuống tắm gội trong sông này. Tắm xong, Ngài tiếp nhận bát sữa do cô gái chăn bò tên là Nan đà ba la dâng cúng, rồi đến bờ bên kia của con sông này, ngồi dưới gốc cây Tất bát la(tức cây Bồ đề)phát nguyện mà thành đạo. Do đó, ven bờ sông này hiện còn rất nhiều di tích thành đạo của đức Phật. Sông Ni liên thiền bắt nguồn từ Simeria thuộc vùng Hazaribagh của Tiểu bang Bengal, chảy đến phía bắc của Buddha Gayà, hội nhập với sôngMohanà rồi chảy về phía đông Patna mà vào sông Hằng. [X. kinh Tạp a hàm Q.39; kinh Du hành trong Trường a hàm Q.4; điều Ma yết đà quốc trong Đại đường tây vực kí]. (xt. Già Da Thành).
ni lâu đà
Nirodha (skt)—See Ni Di Lưu Đà.
ni lạt bộ đà
Nirarbuda (skt)—Ni La Phù Đà—tên gọi của địa ngục thứ hai trong tám địa ngục lạnh—Bursting tumours, the second naraka of the eight cold hells.
ni lạt bộ đà địa ngục
(尼剌部陀地獄) Ni lạt bộ đà, Phạm: Nirarbuda. Pàli:Nirabbuda. Cũng gọi Ni la phù đà địa ngục, Ni lại phù đà địa ngục, Niết phù đà địa ngục, Ni la phù địa ngục. Hán dịch: Pháo liệt, Bất tốt khởi, Vô khổng, Vô vân, Bách ức. Tên 1 địa ngục trong 8 địa ngục lạnh. Ni lạt bộ đà nghĩa là vật chương sình nứt nẻ rữa nát. Vì địa ngục này quá lạnh nên toàn thân tội nhân trong địa ngục nổi mụn nước(pháo), phồng lên và nứt nẻ, đến khi vỡ ra thì chảy nước vàng. Câu xá luận kí quyển 11 (Đại 41, 187 thượng) nói: Ni lạt bộ đà, Hán dịch là pháo liệt, nghĩa là cái lạnh như dao cắt, thân thể nổi mụn, nứt nẻ lở loét. [X. kinh Trường a hàm Q.19; kinh Đại bát niết bàn Q.11 (bản Bắc); phẩm Tình thế giới trong luận Chương sở tri Q.thượng; Kinh luật dị tướng Q.49; Pháp uyển châu lâm Q.7].
ni lộc da luận
Nirakta (S)Tên một bộ luận Vệ đà.
ni ma la
Nirmanarati (skt)—Ni Ma La Thiên—Hóa Lạc Thiên—Lạc Biến Hóa Thiên—Tu Mật Đà Thiên—Cõi trời hóa lạc, cõi trời thứ năm trong sáu cõi trời dục giới, nơi thọ mệnh lâu đến 8.000 năm—Devas who delight in transformations, the fifth of the six devalokas of desire, where life lasts for 8,000 years.
Ni Nhật Tú
(日秀, Nisshū, 1533-1625): vị Ni của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, húy là Nhật Tú (日秀); tục danh là Trí Tử (智子); tự Diệu Huệ (妙慧), hiệu Thoại Long Viện (瑞龍院). Năm 1608, bà cùng với nhóm Nhật Kinh (日經) ngồi bàn luận về Tông nghĩa với Tịnh Độ Tông, rồi thay thế Nhật Viễn (日遠) làm Hóa Chủ đời thứ 2 của Tây Cốc Đàn Lâm (西谷檀林); và đến năm 1614 thì làm trú trì nơi này. Trước tác của bà có Tây Cốc Đàn Lâm Pháp Tắc (西谷檀林法則) 2 quyển.
ni pháp sư
A nun teacher—Effeminate.
ni sư
An abbess.
ni sư đàn
Nisidana (S). A thing to sit or lie on, a mat. Also tọa cụ.
; Nisidana (skt)—A thing to sit or lie on, a mat.
ni trưởng
Master of the nuns.
ni tát kì ba dật đề
Naihsargika-pràyascittika (S). The 30th of 250 rules of bhiksus. Also Xả đọa.
; (尼薩耆波逸提) Phạm: Naisargika-pràyazcittika. Pàli: Nissaggiya pàcittiya. Cũng gọi Nê tát kì ba dật để ca, Ni tát kì ba dạ đề, Ni tát kì bối dật đề. Gọi tắt: Ni tát kì. Hán dịch: Tận xả đọa, Xả đọa, Khí đọa. Đối lại: Đơn đọa. Ni tát kì nghĩa là bỏ hết; Ba dật đề nghĩa là rơi xuống. Tức là tội đọa nên xả bỏ hết tài vật, là 1 trong giới Cụ túc của tỉ khưu và tỉ khưu ni, 1 trong 5 thiên tội, là đoạn thứ 4 trong 8 đoạn Tăng giới, tất cả gồm 30 giới điều, gọi là Tam thập xả đọa. Giới này có tác dụng răn ngừa lòng tham cất chứa những vật thừa vô dụng, chỉ giúp cho nghiệp sinh tử lớn mạnh, khiến phải đọa vào 3 đường, cho nên xả bỏ hết những tài vật ấy cùng với lòng tham và tội nghiệp, gọi là Xả đọa(bỏ rơi xuống). Nghĩa là nếu phạm tội này sẽ bị rơi vào 3 đường ác nên gọi là Đọa. Còn pháp sám hối để trừ diệt tội này thì trước phải xả bỏ hết tài vật, cho nên gọi là Xả. Khi sám hối phải đưa hết những tài vật dư thừa ấy xả bỏ trước chúng tăng để sám hối, gọi là Tận xả. Nếu không sám hối thì bị kết tội đọa ác, gọi là Đọa. Theo luật Tứ phần và Tứ phần luật hành sự sao, thì Ni tát kì ba dật đề (Xả đọa) gồm có 30 giới điều như sau: 1. Trướng y quá hạn giới (Phạm: Dhàraịaô,giữ), cũng gọi Trướng y giới, Trướng giới. Trướng nghĩa là vật dư thừa vô dụng. Ngoài 3 áo ra, tỉ khưu không được phép cất giữ áo thừa quá 10 ngày. 2. Li tam y túc giới (Phạm:Vipravàsà#, lìa), cũng gọi Li y túc giới. Tỉ khưu không được lìa 3 hoặc 1 áo mà ngủ đêm ở chỗ khác. 3. Nguyệt vọng y giới (Phạm: Nikwepa#,cất chứa), cũng gọi Nhất nguyệt y giới. Khi 3 áo đã rách, tỉ khưu được phép nhận vải để may áo mới, nếu thừa vải thì không được cất giữ quá 1 tháng. 4. Phi thân ni giới (Phạm: Pratigraha#,lấy), cũng gọi Thủ ni y giới, Thủ thân lí ni y giới, Thủ phi thân ni y giới. Tỉ khưu không được nhận áo do tỉ khưu ni không phải trong thân tộc cúng dường. Nhưng nếu tỉ khưu nhận lầm áo của tỉ khưu ni, hay ngược lại, thì được phép trao đổi. 5. Sử phi thân ni cán cố y giới(Phạm: Dhàvanaô,giặt), cũng gọi Sử ni cán cố y giới, Sử ni cán y giới. Cấm tỉ khưu không được nhờ tỉ khưu ni không phải thân thích giặt hoặc nhuộm lại áo cho mình. 6. Tòng phi thân tộc nhân khất y giới (Phạm:Yàcĩà,xin), cũng gọi Tòng phi thân lí cư sĩ khất y giới, Khất y giới. Tỉ khưu không được hỏi các nam nữ cư sĩ không phải là họ hàng để xin áo. Nhưng trong trường hợp gặp tai nạn áo bị cướp, bị cháy hoặc bị trôi mất thì được phép hỏi những người đó để xin áo. 7. Quá phần thủ y giới (Phạm: Sàtarottaraô, đủ cả), cũng gọi Quá tri túc thụ y giới, Quá túc thụ y giới. Nếu tỉ khưu gặp nạn bị mất áo, được các nam nữ cư sĩ cho nhiều áo, thì chỉ được nhận đủ 3 áo mà thôi, không được nhận quá số đó. 8. Khuyến tăng y giá giới (Phạm: Caitanakàni,giá), cũng gọi Khuyến tán nhất cư sĩ tăng y giá giới, Khuyến nhất cư sĩ tăng giá giới, Khuyến nhất cư sĩ giới. Khi tỉ khưu được các cư sĩ dâng cúng áo, không được khuyên bảo họ dâng cúng loại áo đắt tiền. 9. Khuyến nhị gia tăng y giá giới(Phạm: Pratyekaô, riêng), cũng gọi Khuyến nhị cư sĩ tăng giá giới, Khuyến nhị cư sĩ giới. Khi có 2 cư sĩ lần lượt dâng áo cho tỉ khưu, cấm tỉ khưu không được khuyên riêng từng người dâng áo giá cao mới nhận. 10. Quá phần hốt thiết sách y giá giới (Phạm: Prewaịaô,sai khiến), cũng gọi Tam phản lục mặc hốt thiết sách y giới, Quá hạn sách y giới, Hốt thiết giới. Thí chủ nhờ người chấp sự(tịnh chủ)may áo dâng tỉ khưu, rồi báo cho tỉ khưu biết đến đó nhận áo. Nếu tỉ khưu đến đó 2, 3 lần mà chưa được, thì được đến lần thứ 6 mà không được áo thì thôi không đến đòi nữa. 11. Khất tàm miên tác ca sa giới (Phạm: Kauzeyaô,tơ tằm), cũng gọi Tạp dã tàm miên tác ngọa cụ giới, Dã tàm miên ngọa cụ giới, Khất miên tàm giới. Tỉ khưu không được dùng tơ tằm để may đồ nằm (chăn, mền)và ca sa mới. 12. Hắc mao ngọa cụ giới (Phạm: Zuddhakàlakànàô, thuần đen), cũng gọi Hắc dương mao tác ngọa cụ giới, Hắc mao giới. Tỉ khưu không được dùng lông dê đen tuyền để may đồ nằm mới. 13. Bạch mao tam y giới (Phạm: Dvibhaga#,2 phần), cũng gọi Bạch dương mao ngọa cụ giới, Bạch mao ngọa cụ giới, Bạch mao giới. Khi may đồ nằm, tỉ khưu phải dùng 2 phần lông dê đen tuyền, 3 phần lông trắng, 4 phần lông lốm đốm, không được dùng toàn lông trắng. 14. Giảm lục niên tác tam y giới( Phạm: Wađvarwàni,6 năm), cũng gọi Giảm lục niên tác ngọa cụ giới, Giảm lục niên ngọa cụ giới, Lục niên giới. Đồ nằm may chưa đầy 6 năm, tỉ khưu không được may đồ nằm mới. 15. Bất thiếp tọa cụ giới (Phạm: Vitasti#,1gang tay), cũng gọi Bất điệp ni sư đàn giới. Khi tỉ khưu may tọa cụ(đồ để ngồi, nệm)mới, phải lấy 1 miếng tọa cụ cũ vuông vức mỗi bề 1 gang tay mà đính vào tọa cụ mới, không được làm trái với qui định. 16. Trì dương mao quá hạn giới(Phạm: Adhvorịođhi#,gánh lông dê đi đường), cũng gọi Đảm dương mao quá tam do tuần giới, Đảm mao quá tam do tuần giới, Đảm mao giới. Nếu trên đường đi có người cho lông dê, mà không có ai mang hộ, thì tỉ khưu được phép tự mang, nhưng không được đi quá giới hạn 3 do tuần. 17. Sử phi thân ni cán nhiễm mao giới (Phạm: Ùrịàparikarmaịa#,giặt lông dê), cũng gọi Sử ni cán phách dương mao giới, Sử phi thân lí ni cán nhiễm phách dương mao giới, Sử ni cán mao giới. Tỉ khưu không được nhờ 1 tỉ khưu ni không phải thân thích giặt hay nhuộm lông dê. 18. Súc tiền bảo giới(Phạm:Jàtarùpa= rajatasparzanaô,giữ vàng bạc), cũng gọi Súc bảo giới. Tỉ khưu không được nhận vàng bạc tiền của, cũng không được sai người nhận. 19. Mậu bảo giới (Phạm:Rùpikavya= vahàra#,đổi tiền), cũng gọi Mậu tiền bảo giới. Tỉ khưu không được dùng tiền của vàng bạc trao đổi với người. 20. Phiến mại giới (Phạm:Krayavi= kraya#,mua bán), cũng gọi Mại mãi giới. Tỉ khưu không được mua các vật phẩm để đổi lấy thức ăn uống. 21. Súc trướng bát quá hạn giới (Phạm: Pàtradhàraịaô, chứa cất bát), cũng gọi Súc trướng bát giới, Trướng bát giới. Tỉ khưu không được cất giữ bát dư quá 10 ngày. 22. Khất bát giới(Phạm:Pàtrapari= wỉi#,xin bát): Bát tuy đã nứt nhưng chưa chảy nước, thì không được xin bát mới. 23. Tự khất lũ sử phi thân chức giới (Phạm:Vàyanaô,sai dệt), cũng gọi Khất lũ sử phi thân chức giới, Tự khất lũ sử phi thân lí ni chức y giới, Khất lũ. Tỉ khưu không được tự xin tơ sợi rồi mang đến người thợ dệt nhờ dệt thành vải để may áo. 24. Khuyến chức sư tăng y lũ giới (Phạm: Uyamànavardhanaô, sai dệt thêm), cũng gọi Khuyến tán chức sư tăng chức giới, Bình khuyến chức sư tăng lũ chức giới, Khuyến chức giới. Khi tỉ khưu biết rõ các nam nữ cư sĩ đã đặt giá cho người thợ dệt dệt vải để may áo cho mình, thì không được lén đến nhà người thợ dệt thay đổi giá cả để được sợi vải tốt hơn. 25. Đoạt y giới (Phạm: Dattvàdànaô, cho rồi cướp lấy), cũng gọi Tiên dữ tha y cưỡng đoạt giới. Cấm tỉ khưu đã đem áo cho tỉ khưu khác không được lấy áo lại vì bất cứ lí do gì, cũng không được sai người khác cướp lấy. 26. Súc thất nhật dược quá hạn giới (Phạm: Sannidhikàra#, chứa góp), cũng gọi Súc dược quá thất nhật giới, Thất nhật dược giới, Súc nạp giới. Khi tỉ khưu bị bệnh, được phép cất giữ các thứ như thuốc, dầu, thạch mật... dùng trong vòng 7 ngày, không được giữ quá hạn định ấy. 27. Quá tiền cầu vũ y quá tiền dụnggiới (Phạm: Varwàzàỉyakalaparìwỉidhà= raịaô, hoặc xin hoặc giữ áo tắm mưa trái thời), cũng gọi Vũ dục y giới. Áo tắm mưa phải xin vào ngày 16 tháng 3 hàng năm và bắt đầu được sử dụng từ ngày mồng 1 tháng 4, cấm tỉ khưu xin và dùng áo tắm mưa trước ngày qui định. 28. Quá tiền thụ cấp thí y quá hậu súc giới (Phạm: Karttikàtyayikaô,quá cuối thu), cũng gọi Cấp thí y giới. Nếu vì 1 lí do đặc thù nào đó mà được cho áo, thì khoảng 10 ngày cuối cùng của hạ an cư, tỉ khưu được nhận, được sử dụng và cất giữ đúng thời gian qui định, không được trái phạm. 29. Hữu nạn lan nhã li y giới (Phạm: Saptaràtravipravàsa#,được rời 7 ngày), cũng gọi Li y lục túc giới, Lan nhã li y lục túc giới, Lục dạ giới. Sau hạ an cư, hết tháng Ca đề(tức tháng 8 theo lịch Ấn độ, tương đương với khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 8 đến ngày 15 tháng 9 âm lịch), tỉ khưu ở tại A lan nhã, nếu sợ nạn trộm cướp thì được phép để lại 1 áo ở A lan nhã mà đi ngủ ở nơi khác, nhưng không được quá 6 đêm. 30. Hồi tăng vật nhập kỉ giới (Phạm: Pariịàmanaô,xoay về), cũng gọi Hồi tăng vật giới, Hồi tăng giới. Khi tỉ khưu đã biết vật ấy thuộc của tăng, không được xin làm của mình. Về thứ tự trước sau của 30 giới Xả đọa thì trong các bộ luật được sắp xếp có khác nhau đôi chút. Như luật Ngũ phần và luật Thập tụng xếp giới thứ 3 làm giới 26, giới 28 là giới 27, giới 27 là giới 28, giới 26 là giới 29 và giới 29 là giới 30. [X. luật Ngũ phần Q.4, 5, 12; Di sa tắc ngũ phần giới bản; luật Ma ha tăng kì Q.8- 11, 37; Ma ha tăng kì đại tỉ khưu giới bản; luật Tứ phần Q.6-10, 23, 24; Tứ phần luật tỉ khưu giới bản; luật Thập tụng Q.5-8, 43, 44; Thập tụng tỉ khưu ba la đề mộc xoa giới bản; Tứ phần luật tỉ khưu hàm chú giới bản Q.thượng; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 2, 3; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 2, 3].
ni tát kỳ
Xem Ni tát kỳ ba dật đề pháp.
ni tát kỳ ba dật đề
Naiḥsargika-prāyaścittika (S)Một đoạn trong 8 đoạn của 250 giới tỳ kheo.
; Naihsargika-prayascittika (skt)—Xả Đọa, một trong ngũ thiên tội: 1) Ni Tát Kỳ (Xả): Tội được xả bỏ vì người phạm biết thú tội và sám hối—The sin is being forgiven on confession and restoration being made. 2) Ba Dật Đề (Đọa): Tội phải bị đọa vì người phạm không chịu thú nhận và sám hối—The sin is not being forgiven because of refusal to confess and restore.
ni tát kỳ ba dật đề pháp
Nissaggiyā-pācittiya (P), Naiḥsargika-pātayantika Ni tát kỳTỳ kheo và Tỳ kheo ni có 30 điều trong 227 điều của giới bản Tỳ kheo trong Kinh phân biệt (Sutta-Vibhanga).
ni tát đàm
Nguyên tử, thành phần vật chất nhỏ nhất—An atom, the smallest possible particle.
ni tư phật
Sugatacetana (skt)—Một vị đệ tử, người đã khinh thị Đức Thích Ca Mâu Ni Phật trong tiền kiếp khi Ngài còn là Thường Bất Khinh Bồ Tát, nhưng về sau nầy nhờ Phật Thích ca thọ ký mà thành Phật Ni Tư—A disciple who slighted Sakyamuni in his former incarnation of Never-Despite, but who afterwards attained through him to Buddhahood.
ni tự
A nunnery, or convent.
; A nunery or convent.
; (尼寺) Cũng gọi Ni am, Tỉ khưu ni tự. Chỉ cho chùa do vị sư ni trụ trì. Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện (Đại 50, 190 trung), nói: Ở nước A du xà có 3 loại chùa: Chùa của tỉ khưu ni, chùa của Tát bà đa bộ và chùa của Đại thừa. Như vậy đủ biết tại Ấn độ chùa của ni chúng đã được thiết lập rất sớm. Trong năm Kiến hưng (313-317), đời Đông Tấn, Ni sư Tịnh kiểm xây chùa Trúc lâm ở phía tây thành Lạc dương: Đó là ngôi chùa ni đầu tiên tại Trung quốc. Ở Nhật bản, chùa ni cũng gọi là Ni ốc, Ni gia, và chùa Anh tỉnh được xây dựng vào năm Mẫn đạt Thiên hoàng 12 (583) là ngôi chùa ni đầu tiên tại Nhật bản. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.50; Tỉ khưu ni truyện Q.1; Nhật bản thư kỉ Q.20].
ni tỳ khưu
Tỳ Khưu Ni—A female bhiksu (bhiksuni)—A nun.
ni viện
Ni tự—Nunnery—Ni viện đầu tiên được thành lập tại Trung Hoa dưới triều đại nhà Hán—The first nunery in China is said to have been established in the Han dynasty.
ni đà na
Xem nhânXem Nhân duyên.
; Nidàna (S). A band, bond, link, primary cause. Xem Thập nhị nhân duyên.
; Nidana (skt). 1) The twelve causes or links in the chain of existence—See Thập Nhị Nhân Duyên. 2) Trong các kinh thường có bài “Tự” như lời tựa nêu lên lý do vì sao Đức Phật lại thuyết pháp—Applied to the purpose and occasion of writing sutras, Nidana means: a) Biệt Tự: Có người hỏi nên thuyết sự đó—Those written because of a request or query. b) Thông Tự: Nidana (skt)—Vì nhân duyên mà thuyết sự hay nói về một biến cố đặc biệt—Those written because of certain events.
; (尼陀那) Phạm, Pàli: Nidàna. Hán dịch: Nhân duyên, Duyên khởi. Nghĩa là nguyên do, nguồn gốc, là 1 trong 12 thể tài của kinh Phật. Tức là phần nói rõ về nguyên nhân, duyên khởi trong kinh điển do đó mà đức Phật nói ra giáo pháp và chế định giới luật. Theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 2, thì Ni đà na có 3 nghĩa: 1. Ứng thỉnh thuyết giáo: Theo lời thỉnh cầu mà dạy bảo. 2. Nhân phạm chế giới: Vì có sự phạm tội nên mới chế giới. 3. Nhân sự thuyết pháp: Nhân có việc mà nói pháp. Luận Đại trí độ quyển 33 (Đại 25, 307 trung) nói: Ni đà na nói về nguyên nhân đức Phật thuyết pháp, như vì lí do nào mà đức Phật đã nói việc này? Trong Tu đa la (kinh), có người hỏi nên Phật mới nói việc ấy. Trong Tì ni(luật), có người phạm tội ấy nên Phật mới chế giới ấy... Tất cả nguyên do khiến Phật nói pháp đều gọi là Ni đà na. [X. kinh Tạp a hàm Q.8; luận Đại tì bà sa Q.126; phẩm Thập nhị bộ kinh trong luận Thành thực Q.1; luận Du già sư địa Q.81; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].
ni đà na mục đắc ca
Xem Căn bản Thuyết Nhất thiết hữu bộ Ni đà na Mục đác ca.
; Nidana-matrka (skt)—Hai trong mười hai bộ Kinh Phật—Two of the twelve divisions of the sutras: 1) Ni Đà Na: Nidana (skt)—Kinh Nhân Duyên—Dealing with nidanas. 2) Mục Đắc Ca: Matrka (skt)—Kinh Bổn Sự—Dealing with previous incarnations.
; (尼陀那目得迦) Phạm:Nidànamàtfkà. Gọi đủ: Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ ni đà na mục đắc ca. Cũng gọi Căn bản hữu bộ ni đà na, Căn bản hữu bộ mục đắc ca, Hữu bộ mục đắc ca, Hữu bộ ni đà na. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Đây là bộ sách được kết hợp giữa Ni đà na (5 quyển) và Mục đắc ca (5 quyển) mà gọi chung là Ni đà na mục đắc ca (10 quyển). Ni đà na (Phạm: Nidàna) nghĩa là Nhân duyên chế giới; Mục đắc ca (Phạm: Màtfkà) nghĩa là Quảng giải(giải thích rộng). Sách này do thu tập những việc lặt vặt còn thiếu sót về phần Nhân duyên và Quảng giải trong Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da cập chư sự, tạp sự mà thành. Nếu đối chiếu với luật Thập tụng thì sách này tương đương với phẩm Nhân duyên và Tì ni hành pháp trong luật Thập tụng. Mục ( ) đắc ca là viết lầm từ Viết ( ) đắc ca. Viết đắc ca, Phạm ngữ là Itivfttaka(Hán âm: Y đế viết đa ca, Hán dịch: Bản sự). Nếu căn cứ vào nội dung mà nói, chữMàtfkàmà phiên âm là Ma đắc lặc già và dịch ý là Hành mẫu, Quảng giải thì tương đối là chính xác. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13].
ni đàn
The nun's altar; a convent or nunnery.
; The nun's altar—A convent or nunery.
; (尼壇) Đàn giới của Ni. Cứ theo Tống triều hội yếu, thì 2 chúng xuất gia thụ giới, lúc đầu tăng ni cùng thụ chung 1 đàn, nhưng đến đời Bắc Tống, vào năm Khai bảo thứ 5 (972), tháng 2, vua Thái tổ cho lập đàn giới dành riêng cho ni chúng. Đại Tống tăng sử lược quyển thượng (Đại 54, 238 hạ) nói: Trong các triều trước, ni chúng ở Giang bắc đều đến chùa tăng thụ giới. Nhưng gần đây, vua Thái tổ ban lệnh lập đàn giới dành riêng cho ni, từ đó, ni chúng không còn phải đến chùa tăng thụ giới nữa.
ni đại sư
An abbess.
; An abbess.
; (尼大師) Từ tôn xưng tỉ khưu ni. Trung quốc thường dùng cách xưng hô này, nhưng không phải cùng gọi chung 3 chữ cho tất cả tỉ khưu ni, mà chỉ dùng 2 chữ Đại sư để tôn xưng 1 vị sư ni nào đó. Như trong Gia thái phổ đăng lục có chép các Ni sư sau đây: - Diệu trạm ni Từ giám đại sư Văn chiếu, ở phủ Bình giang, là pháp tự của Thiền sư Cam lộ Trọng tuyên. - Diệu tuệ ni Tịnh trí đại sư Tuệ quang ở Đông kinh, là pháp tự của Thiền sư Khô mộc thành. - Hương sơn ni Phật thông đại sư ở phủ Toại ninh, là pháp tự của Thiền sư Thạch môn dị... [X. điều Xưng hô, môn Ni đại sư, trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.5].
ni để
Nidhi (skt)—Pranidhana (skt)—Nghi hoặc—To be doubtful.
Ni-a-na Ti-lô-ka
P: nyanātiloka; nghĩa là Tam thế trí giả, »Trí giả thông ba thời«, 1878-1957;|Cao tăng người Ðức kiêm dịch giả lừng danh. Sư tên thật là Walter Florus Gueth, sinh trưởng trong một gia đình Thiên chúa giáo, học ngành âm nhạc và trở thành một tay chơi đàn violon xuất sắc. Trong một chuyến viếng thăm Tích Lan, Sư bỗng mộ đạo Phật và sau đó đến Miến Ðiện gia nhập giáo hội. Sư là một trong những học giả quan trọng nhất trong lĩnh vực kinh sách văn hệ Pā-li, đã dịch các tác phẩm sau đây sang Ðức và Anh ngữ: Di-lan-đà vấn đạo (p: milindapañha, 1919-1924), Tăng-nhất bộ kinh (aṅguttara-nikāya, 1922), Thanh tịnh đạo (visuddhi-magga, 1952). Những bản dịch của Sư rất hay và chính xác, đặc biệt là tác phẩm Thanh tịnh đạo của Ðại sư Phật Âm (p: buddhagosa). Ngoài ra, Sư cũng biên soạn nhiều sách giáo khoa và một quyển từ điển đạo Phật.
ni-câu-đà
Xem Ni câu đà phạm chí.
Ni-kiền
hay Ni-kiền-đà, phiên âm từ Phạn ngữ là Nirgrantha, là một trong 6 phái ngoại đạo đồng thời với đức Phật. Ni-kiền dịch nghĩa là ly hệ giả (lìa sự ràng buộc). Người tu theo phái Ni-kiền không mặc quần áo (lõa thể), vì họ cho rằng quần áo là các món ràng buộc. Xem Ni-kiền-đà Nhã-đề tử.
Ni-kiền-đà Nhã-đề tử
phiên âm từ Phạn ngữ Nirgranthajđtiputra, cũng gọi tắt là Ni-kiền, Hán dịch là Ly Hệ hoặc Bất Hệ, là một trong 6 vị thầy ngoại đạo (lục sư) thời đức Phật.
Ni-tát-kỳ ba-dật-đề
phiên âm từ Phạn ngữ là Naihsargik-ptayantika. Ni-tát-kỳ, Hán dịch là Tận xả, nghĩa là từ bỏ hết tất cả; ba-dật-đề, Hán dịch là đọa, nghĩa là rơi vào chỗ xấu ác. Người phạm tội này phải đọa vào địa ngục. Để sám hối trừ tội, trước hết phải mang tất cả tài vật liên quan đến trước chúng tăng mà xả bỏ hết, sau đó mới chân thành sám hối trước chúng tăng. Vì vậy, phép sám hối này cũng gọi là Xả đọa. Có ba mươi pháp được gọi là Tam thập xả đọa.
Ni-đà-na
(Nidna), dịch nghĩa là ‘nhân duyên’, là những kinh Phật thuyết giảng về lý nhân duyên, nhân quả. Xem Mười hai bộ kinh.
ninh
Thà là—Better than—Rather.
ninh an
Dễ chịu—At ease—Reposeful.
ninh mã phái
(寧瑪派) Tạng: Rĩin-ma-pa. Một trong những biệt phái của Phật giáo Tây tạng. Vào thế kỉ XI, XII, những tăng sĩ Tây tạng được gọi chung là Tam sách nhĩ: Sách nhĩ ba thả thích ca sinh, Sách nhĩ quýnh hỉ nhiêu trát ba, Sách nhĩ quýnh trác bồ ba và Nhung khước cát tang ba. Phái này thờ ngài Liên hoa sinh làm tổ khai sáng, nương vào mật chú và sự tu tập mà Ngài truyền vào Tây tạng để thành lập phái này. Lúc đầu, không có tên phái, nhưng từ hậu kì của Phật giáo Tây tạng, có những giáo phái khác phát sinh, mà phái này vẫn tu theo mật chú cựu dịch của tiền kì, vì thế, để phân biệt với các giáo phái mới phát sinh tu theo kinh điển tân dịch của hậu kì, nên phái này tự gọi là phái Ninh mã. Tiếng Tây tạng Rĩin-ma, Hán dịch là Cựu, Cổ cựu(xưa, cũ), cho nên phái Ninh mã hàm ý là phái Cựu, hoặc phái Cổ cựu; cũng tức là phái lấy kinh điển cựu dịch làm căn bản, là Mật giáo được truyền vào thời kì đầu. Lại vì tăng sĩ của phái này đội mũ màu đỏ, nên có biệt danh là Hồng giáo.Phái này thờ ngài Phổ hiền làm Phật bản sơ, mật điển căn bản là 18 bộ Đát đắc la trong Bí mật bộ của Đại tạng kinh Tây tạng, nhưng thông thường chỉ có 8 bộ được hành trì là: Văn thù thân, Liên hoa ngữ, Chân thực ý, Cam lộ công đức, Quyết sự nghiệp(5 bộ này được gọi là Ngũ bộ xuất thế pháp), Sai khiển phi nhân, Mãnh chú chú trở và Thế gian cúng tán(3 bộ này thuộc về thế gian pháp). Giáo pháp của phái này lấy Đại viên mãn pháp làm chính truyền. Ngoài ra, mật pháp thuộc Huyễn biến mật tạng và Tâm bộ do ngài Vô cấu hữu hoằng truyền; Kim cương quyết pháp, Mã đầu minh vương pháp và Chư thần hộ pháp do ngài Liên hoa sinh hoằng truyền; Văn thù pháp do ngài Tĩnh tạng hoằng truyền; Chân thực loại pháp do ngài Hồng ca la hoằng truyền vàmật pháp thuộc Vô thượng du già bộ do ngài Mặc na lakhất đahoằng truyền...đều là những Mậtpháp đặc biệt của phái này. Giáo nghĩa của phái này chia giáo pháp của đức Phật nói trong 1 đời làm 3 bộ, 9 thừa như sau: 1. Thanh văn thừa. 2. Độc giác thừa. 3. Bồ tát thừa. 4. Tác du già thừa (Sự bộ). 5. Phương tiện du già thừa(Hành bộ). 6. Du già thừa. 7. Đại du già thừa(Sinh khởi đại du già). 8. Tùy du già thừa(Giáo a nậu du già). 9. Vô thượng du già thừa(Đại viên mãn a để du già). Trong đó, 1, 2, 3 là bộ thứ nhất, thuộc về Hiển giáo, do Hóa thân Phật Thích ca mâu ni tuyên thuyết, gọi là Cộng tam thừa; 4, 5, 6 là bộ thứ 2, thuộc về Mật giáo, do Báo thân Phật Kim cương tát đỏa và Đại nhật Như lai tuyên thuyết, gọi là Mật chú ngoại Tam thừa hoặc Ngoại mật thừa; 7, 8, 9 là bộ thứ 3, do Pháp thân Phật Phổ hiền tuyên thuyết, gọi là Vô thượng nội Tam thừa hoặc Nội mật thừa, là Mật pháp đặc biệt của phái Ninh mã. Nương vào 9 thừa Hiển, Mật trên đây mà tu tập theo thứ lớp, lấy pháp Hỉ kim cương trong Vô thượng du già làm chỗ rốt ráo nhất, hành trì theo thế tục, không giữ luật nghi, lấy đó làm tu quán để tự hiển hiện trí thanh tịnh, khế chứng lí không mà được giải thoát. Đến thế kỉ XVI, XVII, phái này mới có các chùa viện tương đối qui mô, từ sau thời Đạt lai Lạt ma đời thứ 5 trở đi thì phát triển rất mạnh. Các chi phái nổi tiếng thuộc giáo phái này thì có: Phái Lạp tôn (Tạng: Lhlatsun-pa), phái Cát nhĩ thác (Tạng: Kartok-pa), phái Na đạt (Tạng: Na-dakpa), phái Mẫn châu lâm (Tạng: Mindollinpa), phái Đa cổ trát (Tạng:Dorjetakpa) v.v... Trong đó, 2 phái trước đặt tên phái theo tên người sáng lập, 2 phái sau đặt tên phái theo tên chùa viện. Các chùa nổi tiếng của phái này, ngoài chùa Đa cổ trát và chùa Mẫn châu lâm ra, còn có các chùa Trúc tinh và Cát thỏa ở Tây bộ tỉnh Tứ xuyên của Trung quốc. [X. Đông á Phật giáo sử (Kim sơn Chính bảo); The Buddhism of Tibet by L.A.Waddell; Die Religionen Tibets by H. Hoffmann]. (xt. Tây Tạng Phật Giáo).
Ninh-mã phái
T: nyingmapa [rñyiṅg-ma-pa]; cũng được gọi là Cựu phái vì được sáng lập từ lần đầu Phật giáo truyền qua Tây Tạng, hoặc Hồng giáo, vì các tu sĩ phái này thường mang y phục màu hồng (hoặc mũ màu hồng);|Một trong bốn tông phái chính của Phật giáo Tây Tạng. Tông này thống nhất truyền thống của Ðại sư Liên Hoa Sinh (padmasambhava) và của các cao tăng Tì-ma-la Mật-đa (hoặc Tịnh Hữu; s: vimalamitra), Biến Chiếu (s: vairocana) từ Ấn Ðộ truyền qua trong thế kỉ thứ 8. Từ thế kỉ 15 trở đi, giáo lí của tông này được xắp xếp theo hệ thống nhưng không được thu nhận vào Ðại tạng (Cam-châu-nhĩ/Ðan-châu-nhĩ) của Tây Tạng. Giáo pháp này lấy Ðại cứu kính (t: dzogchen) làm cơ sở và dựa trên luận giải của Long-chen-pa.|Phái Ninh-mã nguyên thuỷ gồm có cả tăng sĩ lẫn cư sĩ và giữ được truyền thống của mình qua thời kì Phật giáo bị Lãng-đạt-ma (t: langdarma) bức hại (836-842). Qua thế kỉ thứ 11, phái này bắt đầu phát triển và trong nội bộ chia làm ba dòng chính: dòng »lịch sử«, dòng »trực tiếp« và dòng »kiến chứng.«|Dòng lịch sử hay tuyên giáo (t: kama) dựa trên hiển giáo xuất phát Phổ Hiền, trong đó có các giáo pháp quan trọng của Ba thừa chỉ được tìm thấy trong dòng Ninh-mã như Ma-ha du-già (s: mahāyoga), A-nậu du-già (anuyoga) và A-tì du-già (atiyoga).|Dòng trực tiếp hay Ter-ma dựa trên các bí lục do Liên Hoa Sinh truyền lại. Ví dụ như Tử thư (t: bardo thodol) là một tác phẩm Terma.|Dòng kiến chứng dựa trên sư tiếp xúc trực tiếp với Báo thân của các vị Ðạo sư (đã nhập diệt) trong lúc nhập định, theo lời khai thị của các vị đó để tuyên giáo các giáo pháp cụ thể trong những thời kì nhất định. Qua cách truyền giáo này mà Long-chen-pa được xem là trực tiếp nhận những lời khai thị của Liên Hoa Sinh.
nitha
Nitha (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili.
niêm bát phương châu ngọc tập
(拈八方珠玉集) Gọi đủ: Phật giám Phật quả chính giác Phật hải niêm bát phương châu ngọc tập. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Tổ khánh biên tập lại, được ấn hành vào năm Bảo hựu thứ 5 (1267) đời Tống, thu vào Vạn tục tạng tập 119. Nội dung sách này là niêm đề 319 cổ tắc, công án trong Thiền môn bát phương châu ngọc tập do các ngài Phật giám Thái bình Tuệ cần, Phật quả Viên ngộ Khắc cần, Chính giác Phương am Tông hiển và Phật hải Thạch khê Tâm nguyệt làm, nhằm chỉ bày cho người học phương pháp tham cứu chỗ huyền diệu để mở con mắt tuệ. Thiền môn bát phương châu ngọc tập hiện nay đã bị thất lạc.
Niêm Cổ
(拈古, Nenko): niêm đề các Cổ Tắc Công Án. Cổ tức là Cổ Tắc (古則), Niêm nghĩa là niêm đề (拈提), niêm lộng (拈弄), là phê bình và giải thích các công án của người xưa. Từ lập trường của mình, ngưòi ta thêm vào lời phê bình và giải thích cho các Cổ Tắc Công Án và nêu lên đại cương của công án ấy.
niêm cổ
Niêm Đề—Nêu lên những nguyên tắc thời xưa—To refer to ancient examples.
Niêm hoa
(拈花、拈華): đưa cành hoa lên. Từ này thường đi theo cụm từ niêm hoa vi tiếu (拈花微笑, đưa cành hoa và mĩm miệng cười); như trong Liên Đăng Hội Yếu (聯燈會要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1557) quyển 1 có ghi rõ điển tích rằng: “Thế Tôn tại Linh Sơn Hội thượng, niêm hoa thị chúng, chúng giai mặc nhiên, duy Ca Diếp phá nhan vi tiếu. Thế Tôn vân: 'Ngô hữu Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, phú chúc Ma Ha Ca Diếp' (世尊在靈山會上、拈華示眾、眾皆默然、唯迦葉破顏微笑、世尊云、吾有正法眼藏、涅槃妙心、實相無相、微妙法門、不立文字、敎外別傳、付囑摩訶迦葉, đức Thế Tôn trên Hội Linh Sơn, đưa hoa ra dạy chúng, đại chúng đều im lặng, chỉ có Ca Diếp chuyển mặt mĩm cười. Thế Tôn bảo rằng: 'Ta có Chánh Pháp Nhãn Tạng, tâm vi diệu Niết Bàn, thật tướng không tướng, pháp môn vi diệu, chẳng lập cước trên chữ nghĩa, truyền riêng ngoài giáo lệ, nay phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp').” Gọi cho đủ là niêm hoa thuấn mục phá nhan vi tiếu (拈華瞬目破顏微笑, đưa hoa ra, trong chớp mắt thì chuyển mặt mĩm cười). Từ thời nhà Tống trở đi, trong Thiền Tông rất thịnh hành câu chuyện này, vốn căn cứ vào Phẩm Phạm Vương Quyết Nghi (梵王決疑品) thứ 2 của Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi Kinh (大梵天王問佛決疑經, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 1, No. 26), cũng như nương vào thuyết cho rằng Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉) là sơ Tổ của Thiền Tông Tây Trúc. Tuy nhiên, thuyết niêm hoa vi tiếu này vẫn còn nhiều vấn đề khả nghi, chưa giải quyết rõ. Còn sự kiện Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp thọ nhận phó chúc chánh pháp thì được nêu rõ trong Bắc Bản Niết Bàn Kinh (北本涅槃經) quyển 2. Trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 6 có câu rằng: “Niêm hoa ngã Phật tại Linh Sơn, Ca Diếp Đầu Đà hốt phá nhan, kim khẩu mật ngôn thân phú chúc, bất duy thiên thượng dữ nhân gian (拈花我佛在靈山、迦葉頭陀忽破顏、金口密言親付囑、不唯天上與人間, đưa hoa đức Phật tại Linh Sơn, Đầu Đà Ca Diếp chợt hiểu ràng, lời vàng mật ngôn nay phú chúc, đâu chỉ trên Trời với nhân gian).” Hay trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 2 lại có câu: “Thế Tôn phi thử nhãn, bất năng biện Ca Diếp chi nhất tiếu; Ca Diếp phi thử nhãn, bất năng khế Thế Tôn chi niêm hoa (世尊非此眼、不能辨迦葉之一笑、迦葉非此眼、不能契世尊之拈花, Thế Tôn không có con mắt này, chẳng thể nào hiểu được nụ cười của Ca Diếp; Ca Diếp không có con mắt này, chẳng thể nào lãnh hội được Thế Tôn đưa hoa ra).” Trong Thiền Môn có bài Tán Tổ Sư rằng: “Niêm hoa ngộ chỉ, Tổ đạo sơ hưng, miên diên tứ thất diễn chơn thừa, lục đại viễn truyền đăng, dịch diệp tương thừa, chánh pháp vĩnh xương minh (拈花悟旨、祖道初興、緜延四七演眞乘、六代遠傳燈、奕葉相承、正法永昌明, đưa hoa ngộ ý, Tổ đạo hưng long, dài lâu hai tám diễn chơn thừa, sáu đời xa truyền đăng, nối dõi kế thừa, chánh pháp mãi rạng ngời).”
Niêm hoa vi tiếu
拈花微笑; J: nenge-mishō; nghĩa là »cầm hoa mỉm cười«;|Một câu nói thường được dùng trong Thiền tông để chỉ việc truyền pháp nằm ngoài ngôn ngữ của Phật Thích-ca Mâu-ni cho Tổ thứ nhất là Ma-ha Ca-diếp (s: mahākāśyapa). Cách »Dĩ tâm truyền tâm« này là sự bắt đầu của »Giáo ngoại biệt truyền«, một danh hiệu mà chư vị Thiền sư tự đặt cho trường phái của mình.|Câu chuyện Niêm hoa vi tiếu trên được thuật lại trong một bộ Kinh với tên Ðại phạm thiên vương vấn Phật quyết nghi kinh (j: daibontennō-mombutsu-ketsugi-kyō). Tương truyền rằng, Phạm thiên vương (s: brahmā) một hôm viếng thăm một hội thuyết pháp của đức Phật trên đỉnh Linh Thứu. Ông cúng dâng đức Phật một cành hoa (có thuyết nói là hoa Sen, một thuyết khác là hoa Ưu-đàm) và thỉnh Phật vì chúng thuyết Pháp. Thay vì thuyết pháp thì Phật chỉ cầm một nhành hoa, se giữa những ngón tay và im lặng mỉm cười. Chẳng ai trong chúng hiểu được thâm ý ngoài Ma-ha Ca-diếp với một nụ cười trả lời. Theo Vô môn quan, Công án thứ 6 – một cách trình bày ngắn gọn của sự kiện này – thì Phật bảo rằng: »Ta có Chính pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, thật tướng không tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, nay trao lại cho Ma-ha Ca-diếp.«|Ma-ha Ca-diếp vì vậy mà được xem là Tổ thứ nhất của Thiền tông.
niêm hoa vi tiếu
Sự việc nầy không xuất hiện cho mãi đến năm 800 sau Tây Lịch (vì không được các bậc tông sư đời Tùy và Đường nói đến. Đến đời Tống thì Vương An Thạch lại nói đến sự việc nầy), nhưng lại được coi như là điểm khởi đầu của Thiền Tông (theo Kinh Đại Phạm Thiên Vương vấn Phật thì Phạm Vương nhân đến núi Linh Thứu, đã dâng Phật một cành hoa Ba La vàng rồi xả thân làm sàng tọa thỉnh Phật thuyết pháp. Đức Thế Tôn đăng tọa, giơ cành hoa lên cho đại chúng xem, nhưng không ai hiểu Thế Tôn muốn nhắn nhủ gì, duy chỉ một mình Ca Diếp mỉm cười. Nhân đó Đức Thế Tôn lại nói: “Ta có chính pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng trao lại cho Ma Ha Ca Diếp.”)—“Buddha held up a flower and Kasyapa smiled.” This incident does not appear till about 800 A.D., but is regarded as the beginning of the tradition on which the Ch'an or Intuitional sect based its existence.
; (拈華微笑) Gọi đủ: Niêm hoa thuấn mục phá nhan vi tiếu. Đưa hoa mỉm cười. Nói về sự tích đức Phật đưa cành hoa sen lên trước đại chúng, tôn giả Ca diếp nhân đó tỏ ngộ và mỉm cười. Cứ theo Liên đăng hội yếu quyển 1, trên núi Linh thứu, đức Thế tôn thăng tòa, đưa cành hoa lên im lặng, lúc đó đại chúng đều không hiểu được ý của Ngài, chỉ có tôn giả Ma ha Ca diếp mỉm cười, đức Thế tôn liền tuyên bố trước đại chúng (Vạn tục 136, 221 thượng): Ta có chính pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, không lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo, nay phó chúc cho Ma ha Ca diếp. Từ đời Tống trở đi, câu chuyện trên được truyền bá rất rộng trong Thiền lâm và cho rằng đã bắt nguồn từ kinh Đại phạm thiên vương vấn Phật quyết nghi, đồng thời, căn cứ vào đó mà suy tôn ngài Ca diếp làm Sơ tổ Thiền tông Thiên trúc. Nhưng kinh Đại phạm thiên vương vấn Phật quyết nghi chưa thấy được ghi trong các bộ Kinh lục và cũng không được đưa vào Đại tạng, mà bản hiện còn thì bị coi là kinh giả tạo, cho nên thuyết Niêm hoa vi tiếu có chỗ rất đáng ngờ. Bởi vì sự kiện ngài Ma ha Ca diếp được phó chúc Chính pháp ghi trong kinh Niết bàn quyển 2 (bản Bắc) như sau: Phật bảo các tỉ khưu, ta có Chính pháp vô thượng phó chúc cho Ma ha Ca diếp, Ca diếp sẽ là chỗ nương tựa cho các tỉ khưu, cũng giống như Như lai là nơi nương tựa cho tất cả chúng sinh. Đại để có thể suy đoán thuyết Niêm hoa vi tiếu đã do người đời sau căn cứ vào sự kiện trên mà phu diễn ra. [X. Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh tự; Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục Q.1; Truyền pháp chính tông kí Q.1; Ngũ đăng hội nguyên Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.5; Thích thị kê cổ lược Q.4].
Niêm hương
(拈香): nghĩa là trước tượng Phật, Bồ Tát cũng như chư vị Tổ sư tiến hành đốt hương, dâng hương; còn gọi là niệm hương (捻香). Vào ngày Khai Đường, niêm hương chúc thiên tử, được gọi là Chúc Thánh Niêm Hương (祝聖拈香). Vào lúc mới nhậm chức Trú Trì, hay lần đầu tiên khai đường thuyết pháp, vị thầy của chính mình niêm hương để thể hiện sự truyền thừa giữa thầy với trò và cảm niệm tình nghĩa ân sư, đó được gọi là Từ Pháp Niêm Hương (嗣法拈香). Vì chư Phật, Bồ Tát, Đàn Na tín thí mà niêm hương, rồi tuyên thuyết Pháp Ngữ, được gọi là Niêm Hương Phật Sự (拈香佛事). Trong đó, Từ Pháp Niêm Hương là do vị Trú Trì đích thân cắm hương vào lò. Về nghi thức tác pháp niêm hương, Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1245) quyển 5, phần Đường Đầu Tiên Điểm (堂頭煎點), cho biết rằng người đốt hương ở phía Đông của đài hương, hướng về vị Trú Trì hỏi han xong, hai tay nâng cao hộp hương; dùng tay phải cầm hộp bỏ vào trong tay trái, tiếp theo dùng tay phải càm nắp hộp đặt trên đài hương; tay phải đưa hương lên, hướng về đối tượng dâng cúng mà thắp. Sau đó, tay phải lấy nắp hộp đậy vào hộp, dùng hai tay nâng hộp hương đặt lên trên đài hương, rồi bắt đầu dâng hương chúc nguyện. Như trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 7, phần Trú Kim Lăng Thiên Giới Thiền Tự Ngữ Lục (住金陵天界禪寺語錄), có đoạn: “Thiên Vương Điện niêm hương, tùng lai nguyện lực triển từ uy, thước phá hư không hào tướng huy, Y Chánh báo trung thùy biện đắc, sơn đầu đa kiến tử vân phi (天王殿拈香、從來願力展慈威、爍破虛空毫相輝、依正報中誰辯得、山頭多見紫雲飛, niêm hương nơi Thiên Vương Điện, lâu nay nguyện lực mở từ oai, phá rạng hư không tướng rạng ngời, trong Y Chánh báo ai hiểu được, đầu non thường gặp mây tía bay).” Hay trong Ngu Am Trí Cập Thiền Sư Ngữ Lục (愚菴智及禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1421) quyển 5 cũng có đoạn: “Đạt Ma kỵ, niêm hương: 'Vạn lí Tây lai, cửu niên diện bích, tiền vô Thích Ca, hậu vô Di Lặc' (達磨忌、拈香、萬里西來、九年面壁、前無釋迦、後無彌勒, vào ngày kỵ của Tổ Đạt Ma, sư niêm hương rằng: 'Muôn dặm Tây đến, chín năm nhìn vách, trước không Thích Ca, sau không Di Lặc').”
niêm hương
Dâng hương cúng Phật—To take and offer incense.
; (拈香) Cũng gọi Niệp hương. Đốt hương, dâng hương trước tượng chư Phật, Bồ tát và Tổ sư. Theo điều Đường đầu tiễn điểm trong Thiền uyển thanh qui quyển 5, người đốt hương đứng ở phía đông đài hương, sau khi thăm hỏi vị Trụ trì xong, 2 tay bưng hộp đựng hương, dùng tay phải cầm hộp hương để trong bàn tay trái, rồi tay phải lấy nắp đậy hộp hương ra đặt trên đài hương, tay phải dâng hương, đốt hương trước tượng mà mình kính hiến, sau đó, tay phải cầm nắp hộp đậy hộp hương lại và 2 tay bưng hộp hương đặt lên đài hương, cúi đầu chúc nguyện. Điều Niêm hương trong Tổ đình sự uyển quyển 8 (Vạn tục 113, 118 hạ) nói: Các Phật sự của người Thích tử đều lấy việc niêm hương làm đầu, vì dâng hương là biểu hiện lòng kính tín của mình.
niêm ngữ
Pháp Ngữ Lục, một từ ngữ đặc biệt trong nhà Thiền—To take up and pass on a verbal tradition, a Zen term.
niêm y
Thâu nhặt quần áo—To gather up the garment.
; (拈衣) Cũng gọi Đề y. Nhận lấy ca sa để mặc. Trong Thiền lâm, khi vị Trụ trì mới nhập tự, tiếp nhận áo pháp từ tay vị Thầy, mặc vào mình, đây là phép tắc khi nối pháp. Điều Khai đường chúc thọ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3 (Đại 48, 1126 thượng), nói: Lúc thụ thỉnh mà không niêm y thì nên cử pháp ngữ.
niêm đề
(拈提) Cũng gọi Niêm cổ, Niêm tắc. Những câu hay bài thơ kệ bình giải những cổ tắc, công án trong Thiền tông. Tông chỉ của Thiền tông là truyền riêng ngoài giáo, không lập văn tự, không nương theo kinh luận. Nhưng, để giúp người học thể ngộ được chân lí tuyệt đối vượt ngoài ngôn ngữ, nên dùng niêm đề cổ tắc công án để nêu bày yếu chỉ của tông môn. Ngoài ra, các cổ tắc, công án, cơ duyên ngữ cú... do các bậc tông sư nêu bày được gọi là Niêm ngữ. [X. Niêm bát phương châu ngọc tập tự; Hoành trí thiền sư quảng lục Q.2, 3; tắc 21 trong Thung dung lục].
niên
A year.
niên giám
Yearbook.
niên giới
Số năm thụ giới—The number of years since receiving the commandments.
niên kị
(年忌) Cũng gọi Niên hồi. Ngày giỗ được cử hành hàng năm để truy tiến cầu siêu cho người chết. Cứ theo Thứ tự danh số truy kị trong Chư hồi hướng thanh qui thức quyển 4, thì truy kị được chia làm 2 loại: Lũy thất (trai thất) và Niên kị. Lũy thất gồm 7 thất(7 ngày tổ chức 1 lần): 1. Sơ thất: Cũng gọi Sơ nguyện kị, Sở nguyện kị, Thủy thiện kị, Khốc thiêm kị. Tổ chức vào 7 ngày đầu tiên sau khi người chết.2. Nhị thất: Cũng gọi Dĩ phương kị, Dĩ phỏng kị, Đáo bỉ kị, Tổng phân kị. 3. Tam thất: Cũng gọi Sái thủy kị, Hiếulực kị, Quang hỉ kị. 4. Tứ thất: Cũng gọi A huống kị, A kinh kị, Tương đẳng kị, Diên phương kị, Viễn phương kị. Khoảng thời gian từ Sơ thất đếnTứ thất, gọi là Lương ám thời(rất tối). 5. Ngũ thất: Cũng gọi Tiểu luyện kị, Tiểu liễm kị, Tiểu phạn kị, Li diên kị, Kim li kị, Trọng khổ kị. 6. Lục thất: Cũng gọi Đàn hoằng kị, Tiền chí kị. 7. Thất thất(Đoạn thất): Cũng gọi Đại luyện kị, Đại liễm kị, Thoát quang kị, Hưu tân kị. Niên kị có thể được chia ra như sau: 1. Bách nhật: Cũng gọi Tốt khốc kị, Xuất khổ kị, U hồi kị. 2. Nhất chu: Cũng gọi Tiểu tường kị, Biên khốc kị. 3. Nhị niên: Cũng gọi Đại tường kị, Hưu an kị. 4. Thất niên: Cũng gọi Viễn ba kị, Hưu quảng kị. 5. Thập tam niên: Cũng gọi Viễn phương kị, Tịch ngữ kị. 6. Tam thập tam niên: Cũng gọi Lãnh chiếu kị, A viên kị, Bản nhiên thanh tịnh kị. 7. Bách niên: Cũng gọi Nhất hội kị. Thông thường, cúng tế người chết phần nhiều lấy Thất thất nhật(7 lần 7, tức 49 ngày)làm chính, Trung quốc gọi là Lũy thất trai, Thất thất trai. Còn Bách nhật kị và Nhất chu kị, Nhị niên kị... là theo tang chế của nhà Nho. Như Tiểu tường nói trong sách Lễ kí, tức tổ chức vào tháng thứ 13, tương đương với Nhất chu kị; còn Đại tường thì tổ chức cúng tế vào tháng thứ 25, tương đương với Nhị niên kị. Nhà Phật cũng y theo đó mà khuyên làm thiện để truy tiến người chết. [X. Thích môn chính thống Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.33].
niên kỵ
Ngày giỗ (kỵ)—Anniversary of a death and the ceremonies associated with it.
niên lạp
Cuối năm—The end of a year.
niên mãn thọ cụ
Nhận cụ túc giới, thí dụ như thọ cụ túc giới vào tuổi 20—To receive full commandments, i.e. be fully ordained at the regulation age of 20.
niên phần độ giả
(年分度者) Cũng gọi Niên liệu độ giả, Niên phần học sinh, Niên phần giả, Niên phần. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ số người nhất định được độ cho xuất gia do nhà nước chấp nhận. Nguồn gốc của chế độ này bắt đầu từ bao giờ thì không được rõ, nhưng ở Nhật bản, vào thời Nại lương (Nara) đã có rồi. Các tông phái, các chùa lớn lúc bấy giờ, tổ chức các cuộc thi tuyển, số thí sinh do nhà nước ấn định, người trúng tuyển được độ cho làm sa di; sau khi thụ giới, trong khoảng 6 đến 12 năm, phải học các bộ kinh luận đã được chỉ định, tất cả phí tổn đều do nhà nước chi cấp. Sau, theo tờ biểu của ngài Tối trừng dâng trình vào niên hiệu Đại đồng năm đầu (806), vua chế định Niên phần độ giả cho các tông là: Tông Thiên thai, tông Hoa nghiêm, tông Luật, mỗi tông 2 người; tông Tam luận và tông Pháp tướng, mỗi tông 3 người. Về sau, số Niên phần độ giả dần dần tăng gia thì mỗi chùa đều có chế độ này. Đến cuối thế kỉ X, chế độ này dần dần suy thoái ở Nhật bản. Tại Trung quốc, thời xưa cũng có chế độ tương tự như Niên phần độ giả của Nhật bản. Cứ theo Ngụy thư Thích lão chí, vua Văn thành nhà Bắc Ngụy từng hạ lệnh cho các châu, quận, huyện xây cất chùa tháp, đồng thời cho phép những người tính hạnh chân thật, thuần hậu muốn trở thành sa môn, thì bất luận lớn bé đều được xuất gia. Về số người xuất gia thì qui định: Châu lớn 50 người, châu nhỏ 40 người, những nơi xa xôi thì mỗi nơi 10 người. Đến năm Thái hòa 16 (492), vua Hiếu văn đế ban chiếu cho châu lớn 100 người, châu vừa 50 người, châu nhỏ 20 người xuất gia làm sa môn. Ngoài ra, Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện cũng có nói sơ lược về chế độ này.
niên thiếu tịnh hạnh
Người tịnh hạnh trẻ—A young brahman.
niên tinh
The year-star of an individual.
; (年星) Cũng gọi Đương niên tinh. Chỉ cho ngôi sao có ảnh hưởng đến vận mệnh của mỗi người trong 1 năm. Căn cứ vào năm sinh của mỗi người để tính toán mà biết được người ấy thuộc ảnh hưởng của sao gì trong năm. Loại sao này có 9 ngôi gọi là Cửu diệu, đó là: La hầu, Thổ tinh, Thủy tinh, Kim tinh, Nhật diệu, Hỏa tinh, Kế đô, Nguyệt diệu và Mộc tinh. Cứ theo kinh Tú diệu do ngài Bất không dịch vào đời Đường, nếu khi sao Đương niên và sao Bản mệnh của 1 người bị xâm phạm thì chắc chắn người ấy sẽ gặp tai họa, vì thế đức Như lai nói Đà la ni Đại bi để diệt trừ tai họa cho mọi người. Trong Mật giáo có pháp cúng dường sao Đương niên và sao Bản mệnh để cầu tiêu tai tăng thọ, gọi là Tinh tế, Tinh cúng. Pháp tu cúng dường sao Đương niên gọi là Thuộc tinh cúng, cũng gọi Đương niên tinh cúng; pháp tu cúng dường sao Bản mệnh thì gọi là Bản mệnh tinh cúng. [X. kinh Bắc đẩu thất tinh diên mệnh]. (xt. Tinh Cúng).
niên trai
(年齋) Vào dịp tết Nguyên đán, trong Thiền lâm, vị Giám viện dùng của riêng sắm trai soạn cúng dường đại chúng. Nếu không đủ khả năng, vị Giám viện có thể mời những người khác tham gia tổ chức, gọi là Niên trai. [X. điều Giám viện trong Thiền uyển thanh qui Q.3].
Niết
涅; C: niè; J: ne;|Phiên âm chữ nir từ tiếng Phạn. Xem mục từ kế tiếp.
niết
1) Bùn đen trong đáy ao: Black mud at the bottom of a pool. 2) Bùn lầy: Muddy. 3) Nhuộm đen: To blacken. 4) Uế nhiễm: To defile.
Niết Bàn
(s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃): âm dịch là Nê Hoàn (泥洹), Niết Bàn Na (涅槃那), Niết Lệ Bàn Na (涅隷槃那); ý dịch là Diệt (滅), Diệt Độ (滅度), Tịch (寂), Tịch Diệt (寂滅). Theo nguyên ngữ tiếng Sanskrit nirvāṇa, nó có nghĩa là thổi tiêu đi, cho nên nó nói lên trạng thái thổi tiêu tan lửa phiền não của Ba Độc tham sân si. Về định nghĩa của từ này, trong các Kinh A Hàm (p: Āgama, 阿含) thì có câu định hình là diệt tận tham dục, sân nhuế và ngu si. Tỷ dụ như trong Kinh Tạp A Hàm 19 (雜阿含經) có đoạn rằng: "Vân hà vi Niết Bàn ? Xá Lợi Phất ngôn: Niết Bàn giả, tham dục vĩnh tận, sân nhuế vĩnh tận, ngu si vĩnh tận, nhất thiết chư phiền não vĩnh tận, thị danh Niết Bàn (云何爲涅槃、舍利弗言、涅槃者、 貪欲永盡、瞋恚永盡、愚癡永盡、一切諸煩惱永盡、是名涅槃, Thế nào gọi là Niết Bàn ? Xá Lợi Phất bảo rằng: Niết Bàn là hết sạch tham dục, hết sạch sân nhuế, hết sạch ngu si. Đó gọi là Niết Bàn)". Đến thời kỳ bộ phái Phật Giáo thì Niết Bàn được chia thành 2 loại là Hữu Dư Niết Bàn (有餘涅槃, hay Hữu Dư Y Niết Bàn) và Vô Dư Niết Bàn (無餘涅槃, hay Vô Dư Y Niết Bàn). Hữu Dư Niết Bàn là trạng thái mà người giác ngộ đã diệt tận phiền não nhưng nhục thân vẫn còn sống. Vô Dư Niết Bàn là trạng thái mà người giác ngộ đã diệt tận luôn nhục thân của mình sau khi chết. Từ quan niệm đó, sự qua đời của đức Phật được gọi là Niết Bàn hay nhập Niết Bàn, viên tịch, v.v.; cho nên kinh điển mà đức Phật thuyết trước khi nhập Niết Bàn thì được gọi là Niết Bàn Kinh (涅槃經) hay Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經). Trong Thành Duy Thức Luận 10 (成唯識論) lại chia Niết Bàn thành 4 loại là Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn (自性清淨涅槃), Hữu Dư Y Niết Bàn (有餘依涅 槃), Vô Dư Y Niết Bàn (無餘依涅槃) và Vô Trú Xứ Niết Bàn (無住處涅槃). Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn là chỉ về trạng thái mà tâm tánh của hết thảy chúng sanh xưa nay vốn thanh tịnh. Vô Trú Xứ Niết Bàn là cõi Niết Bàn lý tưởng của Đại Thừa, chỉ về trạng thái của chư Phật cũng như Bồ Tát chẳng trú vào sanh tử, cũng chẳng nương vào Niết Bàn, mà cho rằng sanh tử chính là Niết Bàn, với từ bi và trí tuệ đầy đủ, sống tùy duyên tự tại, nhậm vận vô tác. Tuệ Trung Thượng Sĩ (慧中上士, 1230-1291) của Việt Nam có câu: “Niết Bàn tâm tịch tịch, sanh tử hải trùng trùng, bất sinh hoàn bất diệt, vô thỉ diệc vô chung (涅槃心寂寂、生死海重重、不生還不滅、無始亦無終, Niết Bàn tâm vắng lặng, sanh tử biển trùng trùng, chẳng sanh lại chẳng diệt, không trước lại không sau).”
niết bàn
Nehan (J), Hyakujo Isei (J), Nieh-pan (C), Hyakujo Isei, Nehan (J), Nibbānam (P), Parinibbāna (P), Parinirvāṇa (S), Nibbāna (P), nyangde (T), Heaven Nê hoàn, niết bàn na, tịch diệt, bất sanh, vô vi, an lạc, giải thoát, diệt độ(Nir: ra khỏi, vana: rừng) Trạng thái chấm dứt hoàn toàn sự hiện hữu một cá thể, ngừng tái sanh và hưởng phúc lạc vô biên. Diệt độ có 2 thời kỳ: - thời kỳ thành đạo, đắc niết bàn mà còn tại thế, gọi là Hữu dư Niết bàn. - thời kỳ tịch diệt, lìa bỏ thể xác, gọi là Vô dư Niết bàn.
; Nirvàna (S), Nibbana (P). Blown out, gone out, put out, extinguished,"liberated from existence", "dead, deceased, defunct". Liberation, eternal bliss; absolute extinction or annihilation; complete extinction of individual existence.
; Bản thể của tự tánh đầy khắp thời gian, bất sanh bất diệt, chẳng quá khứ, hiện tại, vị lai, vô thủy vô chung (Hán văn dịch là viên tịch, chẳng phải chết).
; Nirvana (skt)—Nibbana (p)—Bát Nê Hoàn—Bát Niết Bàn—Bát Niết Bàn Na—Nê Viết—Nê Hoàn—Nê Bạn—Niết Bàn Na. (I) Nghĩa của Niết Bàn—The meanings of Nirvana: Nirvana gồm 'Nir' có nghĩa là ra khỏi, và 'vana' có nghĩa là khát ái. Nirvana có nghĩa lá thoát khỏi luân hồi sanh tử, chấm dứt khổ đau, và hoàn toàn tịch diệt, không còn ham muốn hay khổ đau nữa (Tịch diệt hay diệt độ). Niết Bàn là giai đoạn cuối cùng cho những ai đã dứt trừ khát ái và chấm dứt khổ đau. Nói cách khác, Niết Bàn là chấm dứt vô minh và ham muốn để đạt đến sự bình an và tự do nội tại. Niết Bàn với chữ “n” thường đối lại với sanh tử. Niết bàn còn dùng để chỉ trạng thái giải thoát qua toàn giác. Niết Bàn cũng được dùng theo nghĩa trở về với tánh thanh tịnh xưa nay của Phật tánh sau khi thân xác tiêu tan, tức là trở về với sự tự do hoàn toàn của trạng thái vô ngại. Trạng thái tối hậu là vô trụ Niết Bàn, nghĩa là sự thành tựu tự do hoàn toàn, không còn bị ràng buộc ở nơi nào nữa. Niết Bàn là danh từ chung cho cả Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa. Theo Kinh Lăng Già, Đức Phật bảo Mahamati: “Nầy Mahamati, Niết Bàn nghĩa là thấy suốt vào trú xứ của thực tính trong ý nghĩa chân thật của nó. Trú xứ của thực tính là nơi mà một sự vật tự nó trú. Trú trong chính cái chỗ của mình nghĩa là không xao động, tức là mãi mãi tĩnh lặng. Nhìn thấy suốt vào trú xứ của thực tính đúng như nó nghĩa là thông hiểu rằng chỉ có cái được nhìn từ chính tâm mình, chứ không có thể giới nào bên ngoài như thế cả.” Sau khi Đức Phật vắng bóng, hầu hết các thảo luận suy luận siêu hình tập trung quanh đề tài Niết Bàn. Kinh Đại Bát Niết Bàn, những đoạn văn bằng tiếng Bắc Phạn vừa được phát kiến mới đây, một ở Trung Á và đoạn khác ở Cao Dã Sơn cho thấy một thảo luận sống động về các vấn đề như Phật tánh, Chân như, Pháp giới, Pháp thân, và sự khác nhau giữa các ý tưởng Tiểu Thừa và Đại Thừa. Tất cả những chủ điểm đó liên quan đến vấn đề Niết Bàn, và cho thấy mối bận tâm lớn của suy luận được đặt trên vấn đề vô cùng quan trọng nầy—Nirvana consists of 'nir' meaning exit, and 'vana' meaning craving. Nirvana means the extinguishing or liberating from existence by ending all suffering. So Nirvana is the total extinction of desires and sufferings, or release (giải thoát). It is the final stage of those who have put an end to suffering by the removal of craving from their mind (Tranquil extinction: Tịch diệt—Extinction or extinguish: Diệt)—Inaction or without effort: Vô vi—No rebirth: Bất sanh—Calm joy: An lạc—Transmigration to extinction: Diệt độ). In other word, Nirvana means extinction of ignorance and craving and awakening to inner Peace and Freedom. Nirvana with a small “n” stands against samsara or birth and death. Nirvana also refers to the state of liberation through full enlightenment. Nirvana is also used in the sense of a return to the original purity of the Buddha-nature after the disolution of the physical body, that is to the perfect freedom of the unconditioned state. The supreme goal of Buddhist endeavor—An attainable state in this life by right aspiration, purity of life, and the elimination of egoism—The Buddha speaks of Nirvana as “Unborn, unoriginated, uncreated, and unformed,” contrasting with the born, originated, created and formed phenomenal world. The ultimate state is the Nirvana of No Abode (Apratisthita-nirvana), that is to say, the attainment of perfect freedom, not being bound to one place. Nirvana is used in both Hinayana and Mahayana Buddhist schools. In the Lankavatara Sutra, the Buddha told Mahamati: “Oh Mahamati, Nirvana means seeing into the abode of reality in its true significance. The abode of reality is where a thing stands by itself. To abide in one's self-station means not to be astir, i.e., to be eternally quiescent. By seeing into the abode of reality as it is means to understand that there is only what is seen of one's own mind, and no external world as such.” After the Buddha's departure, most of the metaphysical discussions and speculations centered around the subject of Nirvana. The Mahaparinirvana Sutra, the Sanskrit fragments of which were discovered recently, one in Central Asia and another in Koyasan, indicates a vivid discussion on the questions as to what is 'Buddha-nature,' 'Thusness,' 'the Realm of Principle,' 'Dharma-body' and the distinction between the Hinayana and Mahayana ideas. All of these topics relate to the problem of Nirvana, and indicate the great amount of speculationundertaken on this most important question. (II) Đặc tánh của Niết Bàn—The characteristics of Nirvana (A) Đặc tính tổng quát của Niết Bàn—General characteristics of Nirvana: 1) Thường Trụ: Permanent. 2) Tịch Diệt: Tranquil extinguish. 3) Bất Lão: No Aging. 4) Bất Tử: No Death. 5) Thanh Tịnh: Purity. 6) Giải Thoát: Release—Liberated from existence. 7) Vô Vi: Inaction—Without effort—Passiveness. 8) Bất Sanh: No rebirth. 9) An lạc: Calm joy. 10) Diệt Độ: Transmigration to extinction a) Diệt Sanh Tử: Cessation of rebirth—Extinction or end of all return to reincarnation. b) Diệt Tham Dục: Extinction of passion. c) Chấm dứt hết thảy khổ đau để đi vào an lạc: Extinction of all misery and entry into bliss. (B) Đặc Tính riêng của Niết Bàn—Special characteristics of Nirvana: 1) Niết Bàn có thể được vui hưởng ngay trong kiếp nầy như là một trạng thái có thể đạt được: Nirvana may be enjoyed in the present life as an attainable state. 2) Theo Kinh Niết Bàn thì Niết Bàn có đầy đủ những bản chất của cõi siêu việt sau đây—According to the Nirvana Sutra, Nirvana has all of the followings in the transcendental realm: a) Thường (không cón bị chi phối bởi vô thường): Permanence (permanence versus impermanence). b) Lạc: Bliss (Bliss versus suffering). c) Ngã: Personality (Supreme self versus personal ego). d) Tịnh: Purity (Equanimity versus anxiety). 3) Niết Bàn có đầy đủ những bản chất sau—Nirvana has all of the following characteristics—See Niết Bàn Bát Vị. 4) Theo Bồ Tát Long Thọ trong Triết Học Trung Quán, Niết Bàn hoặc thực tại tuyệt đối không thể là hữu (vật tồn tại), bởi vì nếu nó là hữu, nó sẽ bị kềm chế ở nơi sanh, hoại, diệt, vì không có sự tồn tại nào của kinh nghiệm có thể tránh khỏi bị hoại diệt. Nếu Niết Bàn không thể là hữu, thì nó càng không thể là vô, hay vật phi tồn tại, bởi vì phi tồn tại chỉ là một khái niệm tương đối, tùy thuộc vào khái niệm hữu mà thôi. Nếu chính 'hữu' được chứng minh là không thể áp dụng cho thực tại, thì vô lại càng không thể chịu nổi sự soi xét chi li, bởi vì 'vô' chỉ là sự tan biến của 'hữu' mà thôi.' Như vậy khái niệm 'hữu' và 'vô' không thể áp dụng đối với thực tại tuyệt đối, lại càng không thể nghĩ tới chuyện áp dụng những khái niệm nào khác, bởi vì mọi khái niệm khác đều tùy thuộc vào hai khái niệm nầy. Nói tóm lại, tuyệt đối là siêu việt đối với tư tưởng, và vì nó siêu việt đối với tư tưởng nên nó không thể được biểu đạt bằng tư tưởng, những gì không phải là đối tượng của tư tưởng thì chắc chắn không thể là đối tượng của ngôn từ—According to Nagarjuna Bodhisattva in the Madhyamaka Philosophy, the absolute is transcendent to both thought and speech. Neither the concept of 'bhava' not 'abhava' is applicable to it. Nirvana or the Absolute Reality cannot be a 'bhava' or empirical existence, for in that case it would be subject to origination, decay, and death; there is no empirical existence which is free from decay and death. If it cannot be 'bhava' or existence, far less can it be 'abhava' or non-existence, for non-existence is only the concept of absence of existence (abhava). When 'bhava' itself is proved to be inapplicable to Reality, 'abhava' cannot stand scrutiny, for abhava is known only as the disappearance of 'bhava.' When the concept of 'bhava' or empirical existence, and 'abhava' or the negation of bhava cannot be applied to the Abslute, the question of applying any other concept to it does not arise, for all other concepts depend upon the above two. In summary, the absolute is transcendent to thought, and because it is transcendent to thought, it is inexpressible. What cannot be an object of thought cannot be an object of speech. (III) Phân loại Niết Bàn—Categories of Nirvana: Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, có hai loại Niết Bàn—According to Keith in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, there are two kinds of Nirvana: 1) Hữu Dư Niết Bàn: Saupadisesa-nibbana (p)—Hữu Dư Y—Những vị đã đắc quả Niết Bàn, cái nhân sanh tử luân hồi đã hết, nhưng quả khổ ngũ uẩn vẫn chưa hoàn toàn dứt hẳn. Vị Thánh nầy có thể nhập Niết Bàn ngay trong kiếp nầy, nhưng phải đợi đến lúc thân ngũ uẩn chết đi thì quả khổ mới thật sự chấm dứt—Nirvana with a remnant—Nirvana with remainder—Nirvana with residue—Nirvana reached by those enlightened beings who have not yet completely rid themselves of their samsaric burden of skandhas—The cause has been annihilated, but the remnant of effect still remains. A saint may enter into this nirvana during life, but has continue to live in this mortal realm (has not yet eliminated the five aggregates) till the death of his body—See Hữu Dư Niết Bàn. 2) Vô Dư Niết Bàn: Anupadisesa-nibbana or Khandha-parinibbana (p)—Vô Dư Y—Nơi không còn nhân quả, không còn luân hồi sanh tử—Remnantless Nirvana or nirvana without residue—Where there are no more cause and effect, the connection with the chain of mortal life being ended. A saint enters this perfect nirvana upon the death of his body (the aggregates have been eliminated)—Final nirvana—Nothing remaining—No further mortal suffering—See Vô Dư Niết Bàn. (IV) Những vấn đề liên quan đến Niết Bàn—Problems concerning Nirvana: 1) Theo Kinh Pháp Cú, mỗi khi có người hỏi Phật còn tồn tại sau khi chết hay không, hay Ngài đi vào thế giới nào sau khi Niết Bàn, luôn luôn Ngài im lặng. Khi Phật im lặng trước một câu hỏi cần trả lời là “phải” hay “không,” thì sự im lặng của Ngài thường có nghĩa là thừa nhận. Nhưng sự im lặng của Ngài trước câu hỏi về Niết Bàn là bởi vì thính giả của Ngài không thể hiểu nổi cái triết lý sâu xa nằm trong đó: In the Dharmapada Sutra, whenever the Buddha was asked by a questioner whether he was to live after death or what sort of world he was to enter after Nirvana, he always remained silent. When the When the Buddha remained silent to a question requiring an answer of 'yes' or 'no,' his silence usually meant assent. Ut his silence on the question concerning Nirvana was due to the fact that his listeners could not understand the profound philosophy involved. 2) Vấn đề then chốt của đạo Phật, dù chủ trương hình thức hay chủ trương duy tâm, đều quy vào sự tận diệt phiền não; bởi vì trạng thái méo mó đó của tâm được coi như là cội nguồn của tất cả mọi tội lỗi trong đời sống con người. Phiền não có thể bị diệt tận ngay trong hiện thế. Do đó, giải thoát sự méo mó như thế của tâm là đối tượng chính của tu trì trong Phật giáo. Niết Bàn hay sự tận diệt của phiền não, của dục vọng, của giác năng, của tâm trí, và ngay cả diệt tận ý thức cá biệt của con người: The main problem of Buddhism either formalistic or idealistic, was concerning the extinction of human passion, because this distorted state of mind is considered to be the source of all evils of human life. Human passion can be extinguished even during one's lifetime. Therefore liberation from such disorder of mind is the chief object of Buddhist culture. Nirvana means the extinction of passion, of desire, of sense, of mind, and even of individual consciousness. 3) Trong tâm của người theo đạo Phật, Niết Bàn không chứa bất cứ ý tưởng thần thánh hóa nào về Đức Phật. Nó đơn giản chỉ cho sự liên tục vĩnh cửu của nhân cách của Ngài trong ý nghĩa cao nhất của chữ nầy. Nó chỉ cho việc trở về Phật tánh bản hữu của Ngài, là thân Chánh Pháp của Ngài chứ không phải là thân kinh điển như một số lầm tưởng. Pháp có nghĩa là lý thể mà Phật đã nhận được trong giác ngộ viên mãn. Niết bàn là thân lý thể không bị hạn cuộc trong ngôn ngữ nào cả: To Buddhist mind, Nirvana did not contain any idea of deification of the Buddha. It simply meant the eternal continuation of his personality in the highest sense of the word. It meant returning to his original state of Buddha-nature, which is his Dharma-body, but not his scripture-body as misunderstood by people. Dharma means the 'i'eal' 'tself which the Buddha conceived in his perfect Enlightenment. Nirvana is this ideal body which is without any restricting conditions. 4) Các nhà chủ trương hình thức chủ trương kinh điển là sự biểu dương trọn vẹn cho lý thể của Phật. Do đó họ quan niệm Phật vĩnh viễn tồn tại trong thân giáo pháp, còn Niết Bàn là diệt tận vô dư của Ngài: The formalists, on the other hand, hold that the scripture is the perfect representation of the ideal of the Buddha. Hence their opinion that the Buddha lives forever in the scripture-body, Nirvana being his entire annihilation and extinction otherwise. 5) Nguyên lý Niết Bàn hay trạng thái tắt lửa trong ánh sáng của thời gian và không gian. Đối với các triết gia, nhất là triết gia Ấn Độ, nếu tin rằng không gian và thời gian là vô hạn, thì đó là một ảo tưởng: The principle of Nirvana or the state of a fire blown out in the light of space and time. It was an illusion on the part of philosophers, especially some of the Indian philosophers, to believe that space and time were infinite. 6) Tuy nhiên, đạo Phật chưa từng nói không gian và thời gian là vô hạn, vì đạo Phật coi chúng là những chất thể vật lý. Lý thuyết không gian xoắn ốc do các nhà vật lý học hiện đại đề ra, khá đả thông thuyết Niết Bàn. Vũ trụ hay pháp giới nói theo thuật ngữ là khu vực được chiếm cứ bởi không gian và thời gian, và trong khu vực đó chúng kiểm soát những ngọn sóng của hiện hữu. Vậy trên thực tiễn, thế giới thời-không là đại dương của những làn sóng sinh tử. Nó là môi trường của chu kỳ sinh tử, thế giới của sáng tạo, của năng lực, của nhân duyên, của ý thể, của tự tạo, và của biến hành. Nó là môi trường của dục, của sắc và tâm: Buddhism, however, has never treated space and time as infinite, for Buddhism takes them to be physical matters. The theory that space is curved, set forth by modern physicists, has considerably facilitated the elucidation of the doctrine of Nirvana. The universe, or the Realm of Principle (Dharmadhatu) as it is technically called, is the region which is occupied by space and time and in which they control all the waves of existence. So in practice, the space-time world is the ocean of the waves of life and death. It is the sphere of the flowing cycles of life or samsara, the world of creation, of energy, of action, of causation and ideation, of self-creation and of dynamic becoming. It is the sphere of desire, matter (form) and mind. a) Không gian được coi như là một trong ngũ đại hay năm hành chất, và đôi khi nó được trình bày là có hình dáng tròn: Space is considered one of the five elements (earth, water, fire, air, and space), and it is sometimes represented to be of round shape. b) Một số trường phái coi thời gian là thực hữu, một số khác nói nó bất thực. Nhưng cần ghi nhận đặc biệt rằng thời gian chưa hề được coi như hiện hữu tách biệt không gian . Thế có nghĩa là, mọi loài và mọi vật đều có thời gian của riêng nó. Không gian và thời gian luôn luôn nương nhau. Loài người có trường độ sống trung bình, hay tuổi thọ khoảng trăm năm. Nhưng có người nói loài hạc lại sống cả ngàn năm , rùa sống tới vạn tuổi. Với các loài trời, người ta nói một ngày một đêm của chúng dài bằng cả 50 năm của người trần gian. Trái lại, ruồi nhặng chỉ sống ngắn ngủi trong một ngày:Time is treated as real in some schools while in other schools it is treated as unreal. But it is to be particularly noted that time has never been considered to exist separately from space. That is to say, every being or thing has time of its own. Space and time are always correlative. Men have an average lifetime of one hundred years. But a crane is said to live for a thousand years, and a tortoise even ten thousand years. And with the heavenly beings, their one day and night is said to be as long as the whole fifty years of the earthly men. A day-fly, on the other hand, live a short wave-length of only one day. (V) Lời Phật dạy về Niết Bàn trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teaching on Nirvana in the Dharmapada Sutra: Một số sinh ra từ bào thai, kẻ ác thì đọa vào địa ngục, người chính trực thì sinh lên chư thiên, nhưng cõi Niết bàn chỉ dành riêng cho những ai đã diệt sạch nghiệp sanh tử—Some are born in a womb; evil-doers are reborn in hells; the righteous people go to blissful states; the undefiled ones pass away into Nirvana (Dharmapada 126). Niết Bàn An Lạc Vĩnh Cửu: Eternal peace-Nirvana.
; (涅槃) Phạm: Nirvàịa. Pàli: Nibbàna. Cũng gọi: Nê hoàn, Nê viết, Niết bàn na, Niết lệ bàn na, Nê phạ nam, Nặc phạ nam.Hán dịch: Diệt, Tịnh diệt, Diệt độ, Tịch, Vô sinh. Đồng nghĩa: Trạch diệt, Li hệ, Giải thoát. Hoặc gọi là Bát niết bàn (Bát, dịch âm của tiếng Phạm Pari, nghĩa là hoàn toàn, dịch ý là Viên tịch), Đại bát niết bàn (Đại nghĩa là thù thắng, cũng gọi Đại viên tịch). Niết bàn nguyên nghĩa chỉ cho sự thổi tắt, hoặc biểu thị trạng thái thổi tắt, về sau được chuyển dụng để chỉ lửa phiền não thiêu đốt đã bị dập tắt, là cảnh giới hoàn toàn giác ngộ. Cảnh giới này vượt ngoài sinh tử(mê giới), cũng là mục đích thực tiễn cuối cùng của Phật giáo, cho nên được xếp vào 1 trong những pháp ấn, gọi là Niết bàn tịch tĩnh. Về Niết bàn, Đại thừa và Tiểu thừa giải thích có khác nhau: 1. Theo Tiểu thừa(Phật giáo bộ phái): Niết bàn là trạng thái diệt hết phiền não. Trong đó lại chia ra Hữu dư y Niết bàn(gọi tắt: Hữu dư Niết bàn)và Vô dư y Niết bàn (gọi tắt: Vô dư Niết bàn). Hữu dư y Niết bàn nghĩa là phiền não tuy đã bị diệt hết, nhưng nhục thể(tức y thân)tàn dư còn lại; Vô dư y Niết bàn nghĩa là phiền não đã hết mà y thân cũng không còn, tức là trạng thái khôi thân diệt trí. Hữu bộ chủ trương Niết bàn là 1 thực thể tồn tại, nhưng Kinh lượng bộ thì cho rằng Niết bàn chỉ là giả danh của cái trạng thái đã diệt hết phiền não, chứ tự nó không có thực thể. 2. Theo Đại thừa: - Trung luận chủ trương Thực tướng là Niết bàn, Thực tướng cũng tức là tính không, là pháp do nhân duyên sinh ra, bởi thế Niết bàn và sinh tử thế gian không có sai khác. - Kinh Niết bàn quyển 3 (bản Nam) cho rằng Niết bàn có 8 vị: Thường, hằng, an, thanh tịnh, bất lão, bất tử, vô cấu và khoái lạc. Nếu đem 8 vị này phối với 4 đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của Niết bàn thì thường và hằng làThường, an và khoái lạc làLạc, bất lão và bất tử làNgã, thanh tịnh và vô cấu làTịnh. - Tông Duy thức chủ trương Niết bàn có 4 loại: Bản lai tự tính thanh tịnh Niết bàn, Hữu dư y Niết bàn, Vô dư y Niết bàn và Vô trụ xứ Niết bàn. Trong đó, Bản lai tự tính thanh tịnh Niết bàn(gọi tắt: Bản lai thanh tịnh Niết bàn, Tính tịnh Niết bàn)là chỉ cho Chân như, nghĩa là tướng của hết thảy sự vật xưa nay vốn là lí thể của Chân như vắng lặng. Vô trụ xứ Niết bàn là nương vào trí tuệ mà xa lìa phiền não chướng và sở tri chướng, không bị vướng mắc trong cõi mê sinh tử. Lại vì lòng đại bi nên hoạt động trong cõi mê để cứu giúp chúng sinh mà không bị kẹt nơi cảnh giới Niết bàn. Đây là 1 đặc sắc về Niết bàn của Phật giáo Đại thừa. - Tông Địa luận và tông Nhiếp luận chia Niết bàn làm 2 loại là: Tịnh tính Niết bàn và Phương tiện tịnh Niết bàn. - Tông Thiên thai thì chia Niết bàn làm 3 loại là: Tịnh tính Niết bàn, Viên tịnh Niết bàn và Phương tiện tịnh Niết bàn (cũng gọi Ứng hóa Niết bàn – đức Phật vì cứu độ chúng sinh nên thị hiện thân giả huyễn, khi nhân uyên độ sinh đã hết thì vào Niết bàn). - Tông Tịnh độ gọi thế giới Cực lạc của đức Phật A di đà là thành Niết bàn, cũng gọi là Vô vi Niết bàn giới. - Hàng Thanh văn, Duyên giác vào Vô dư Niết bàn, sau đó lại hồi tâm chuyển hướng Đại thừa giáo, gọi là Vô dư hoàn sinh. Đồng thời, Niết bàn là xa lìa tướng trạng sai biệt của hết thảy các pháp, nên cũng gọi là Li tướng. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; kinh Niết bàn Q.33 (bản Bắc); phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Kim quang minh tối thắng vương; luận Đại tì bà sa Q. 28, 33, 34; luận Câu xá Q.6].
niết bàn bát vị
Tám pháp vị của niết bàn: thường trụ, tịch diệt, bất lão, bất tử, thanh tịnh, hư thông, bất động, khoái lạc.
; The eight rasa, i.e. flavours, or characteristics of nirvàna: thường trụ permanence, tịch diệt peace, bất lão no growing old, bất tử no death, thanh tịnh purity, hư thông transcendence, bất động unperturbedness, khoái lạc joy.
; Tám loại pháp vị đầy đủ của Niết Bàn—The eight rasa, i.e. flavours or characteristics of nirvana. 1) Thường Trụ: Permanence. 2) Tịch Diệt: Peace. 3) Bất Lão: No growing old. 4) Bất Tử: No death. 5) Thanh Tịnh: Purity. 6) Hư Không Siêu Việt: Transcendence. 7) Bất Động: Unperturbedness. 8) Khoái Lạc: Joy.
; (涅槃八味) Tám loại pháp vị của Niết bàn. Cứ theo kinh Phương đẳng bát nê hoàn quyển 2, thì Niết bàn có nghĩa là Đại diệt độ. Đại là pháp thân, Diệt là giải thoát, Độ là bát nhã. Ba đức này là lí tạng bí mật của Như lai, khi thành Phật không thêm, còn là chúng sinh cũng không bớt, có đấy đủ 8 pháp vị: 1. Thường trụ: Lí của Niết bàn thông suốt 3 đời, trùm khắp 10 phương mà vẫn thường tồn tại. 2. Tịch diệt: Lí của Niết bàn vắng lặng vô vi, dứt bặt sinh tử. 3. Bất lão: Lí của Niết bàn không đổi dời, không thêm bớt. 4. Bất tử: Lí của Niết bàn vốn không sinh, cũng không diệt. 5. Thanh tịnh: Lí của Niết bàn an trụ trong lắng, các chướng đều đã thanh tịnh. 6. Hư không: Lí của Niết bàn rỗng suốt, linh hoạt, viên dung vô ngại. 7. Bất động: Lí của Niết bàn lặng yên chẳng động, dứt bặt vô vi. 8. Khoái lạc: Lí của Niết bàn không bị cái khổ sinh tử bức bách, chỉ có niềm vui chân thường tịch diệt.
niết bàn bất sinh
Anutpado-nirvanam (skt)—Nirvana means no-birth (anything that is subject to birth-and-death is not Nirvana).
niết bàn bộ
(涅槃部) Bộ thứ 5 trong 5 bộ kinh lớn của Đại thừa.Khai nguyên thích giáo lục quyển 11 gọi 6 bộ kinh gồm 58 quyển sau đây là Niết bàn bộ: 1. Kinh Đại bát niết bàn, 40 quyển, do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương.2. Kinh Đại bát niết bàn hậu dịch Đồ tì phần, 2 quyển, do các ngài Nhã na bạt đà la và Hội minh cùng dịch vào đời Đường. 3. Kinh Đại bát nê hoàn, 6 quyển, do các ngài Pháp hiển và Giác hiền cùng dịch vào đời Đông Tấn. 4. Kinh Phương đẳng bát nê hoàn, 2 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 5. Kinh Tứ đồng tử tam muội, 3 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy. 6. Kinh Đại bi, 5 quyển, do các ngài Na liên đề da xá và Pháp trí cùng dịch vào đời Cao Tề. Duyệt tạng tri tân quyển 25, thì ngoài 6 bộ của Khai nguyên thích giáo lục đã ghi ở trên, còn thêm 10 bộ 63 quyển kinh sau đây:1. Kinh Đại bát niết bàn, 36 quyển, do ngài Tuệ nghiêm sửa lại vào đời Lưu Tống. 2. Kinh Đại thừa phương quảng tổng trì, 1 quyển, do ngài Tì ni đa lưu chi dịch vào đời Tùy. 3. Kinh Tế chư phương đẳng học, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 4. Kinh Tập nhất thiết phúc đức tam muội, 3 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần. 5. Kinh Đẳng tập chúng đức tam muội, 3 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 6. Kinh Ma ha ma da, 2 quyển, do ngài Đàm cảnh dịch vào đời Tiêu Tề. 7. Kinh Đại phương đẳng vô tưởng, 6 quyển, do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương. 8. Kinh Bồ tát xử thai, 7 quyển, do ngài Trúc phật niệm dịch vào đời Diêu Tần. 9. Kinh Trung ấm, 2 quyển, do ngài Trúc phật niệm dịch vào đời Diêu Tần. 10. Kinh Liên hoa diện, 2 quyển, do ngài Na liên đề da xá dịch vào đời Tùy. Đại chính Tân tu Đại tạng kinh thì trừ 2 bộ kinh Đại thừa phương quảng tổng trì và Tế chư phương đẳng học ghi trên ra, rồi thêm 9 bộ kinh sau: 1. Kinh Đại vân vô tưởng, quyển 9, do ngài Trúc phật niệm dịch vào đời Diêu Tần. 2. Kinh Phật thùy bát niết bàn lược thuyết giáo giới, 1 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần. 3. Kinh Phật lâm niết bàn kí pháp trụ, 1 quyển, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. 4. Kinh Bát nê hoàn hậu quán lạp, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 5. Kinh Phật diệt độ hậu quan liệm táng tống, 1 quyển, mất tên người dịch. 6. Kinh Ca diếp phó Phật bát niết bàn, 1 quyển, do ngài Trúc đàm vô lan dịch vào đời Đông Tấn. 7. Kinh Phật nhập niết bàn Mật tích kim cương lực sĩ ai luyến, 1 quyển, mất tên người dịch. 8. Kinh Đương lai biến, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 9. Kinh Pháp diệt tận, 1 quyển, mất tên người dịch. Như vậy, Niết bàn bộ tổng cộng gồm 23 bộ kinh, 127 quyển. [X. Đại tạng kim cương mục chỉ yếu lục Q.3; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.21].
niết bàn châu
Nirvàna-island, i.e. in the stream of mortality, from which stream the Buddha saves men with his eight-oar boat of truth bát chính đạo.
; Niết Bàn Châu hay dòng sanh tử, nơi mà Đức Phật cứu vớt chúng sanh bằng thuyền Bát Chánh—Nirvana-island, i.e. the stream of mortality, from which stream the Buddha save men with his eight-oar boat of truth. ** For more information, please see Bát Chánh Đạo.
; (涅槃洲) Bờ Niết bàn. Chúng sinh đang chìm ngụp trong dòng xoáy sinh tử, đức Phật dùng thuyền Bát chính đạo đưa vào con đường Niết bàn, giống như vớt người rơi xuống nước đưa lên bờ, vì thế dùng bờ đất liền để ví dụ Niết bàn. [X. luận Đại trí độ Q.71].
niết bàn cung
The nirvàna palace of the saints.
; Cung điện Niết Bàn của các bậc Thánh—The nirvana palace of the saints.
; (涅槃宮) Cung điện Niết bàn. Cảnh giới Niết bàn là chỗ ở của các bậc Thánh, cho nên dùng cung điện để ví dụ. [X. luận Câu xá Q.30; Câu xá luận quang kí Q.30].
niết bàn cực lạc
Nirvanic Bliss.
niết bàn giới
Nirvàna-dhàtu (S). The realm of nirvàna, or bliss, where all virtues are stored and whence all good cones, one of the tam vô vi pháp.
; Nirvana-dhatu (skt)—Niết Bàn có thể tàng giữ muôn đức vô vi, nơi sanh ra các việc lợi lạc thế gian và xuất thế gian, một trong tam pháp vô vi—The realm of nirvana (the abode of Nirvana), or bliss, where all virtues are stored and whence all good comes, one of the three dharmas of inaction—See Tam Vô Vi Pháp.
; (涅槃界) Giới Niết bàn. Giới có 3 nghĩa: 1. Hàm tàng: Niết bàn có thể chứa góp muôn đức vô vi. 2. Nhân: Niết bàn có thể làm nhân sinh ra mọi việc lợi lạc ở thế gian và xuất thế gian. 3. Bờ cõi: Niết bàn tuy không có bờ cõi, nhưng đối lại với cõi sinh tử mà gọi Niết bàn là cõi Niết bàn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12; luận Thành duy thức Q.hạ].
niết bàn hội
The Nirvàna assembly, 2nd moon, 15th day on the anniversary of Buddha's death.
; Lễ kỷ niệm ngày Đức Phật nhập diệt, ngày rằm tháng hai (có nơi cho là ngày 8 tháng 2, ngày 8 tháng 8, ngày rằm tháng ba, hay ngày 8 tháng chín) —The Nirvana assembly, second moon 15th day, on the anniversary of the Buddha's death (some countries believe on different dates, 8th of 2nd moon, 8th of 8th moon, 15th of 3rd moon, or 8th of 9th moon).
; (涅槃會) Cũng gọi Thường lạc hội, Niết bàn kị, Phật kị. Pháp hội được cử hành hàng năm vào ngày đức Phật nhập Niết bàn. Về ngày đức Phật nhập Niết bàn, các nước theo Phật giáo Đại thừa như Trung quốc, Hàn quốc, Nhật bản... đều cho rằng đức Phật nhập diệt vào ngày 15 tháng 2 âm lịch(riêng Nhật bản gần đây đổi dùng dương lịch)và gọi là ngày lễ Niết bàn. Cho nên hàng năm đến ngày này các chùa đều cử hành pháp hội, treo bức tranh đức Phật niết bàn và tụng kinh Niết bàn, kinh Di giáo để tưởng niệm Ngài. Tại Trung quốc, tư liệu ghi chép về hội Niết bàn sớm nhất là Phật tổ thống kỉ quyển 33. Sách này (Đại 49, 319 trung) nói: Đức Như lai nhập diệt vào ngày 15 tháng 2 năm Chu Mục vương 53, tại các già lam đều có thiết lễ cúng dường, gọi là Phật kị. Tại Nhật bản, hội Niết bàn thông thường có thêm 4 pháp hội nữa là: Niết bàn giảng, La hán giảng, Di tích giảng và Xá lợi giảng. Đơn giản nhất cũng phải tổ chức 1 trong 4 giảng này. [X. điều Phạm diễn na quốc trong Đại đường tây vực kí Q.1; Quảng hoằng minh tập Q.28; Thích thị yếu lãm Q.hạ; điều Phật thành đạo Niết bàn trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên].
niết bàn hữu dư
Nirvana with remainder—See Niết Bàn (C) (1), and Hữu Dư Niết Bàn.
niết bàn kinh
Nirvàna-sùtra (S). There are two versions, one the Hìnayàna, the other the Mahàyàna.
; Nirvana Sutra—Có hai bộ—There are two versions: 1) Tiểu Thừa—Hinayana: a) Phật Bát Nê Hoàn Kinh, do Bạch Pháp Tổ đời Tây Tấn dịch—The Mahaparinirvana Sutra, translated into Chinese by Po-Fa-Tsu from 290 to 306 A.D. of the Western Chin dynasty. b) Đại Bát Niết Bàn Kinh, do ngài Pháp Hiển dịch năm 118—The Mahaparinirvana Sutra, translated by Fa-Hsien around 118. c) Bát Nê Hoàn Kinh, dịch giả vô danh—The Mahaparinirvana Sutra, translator unknown. d) Tiểu Thừa Niết Bàn Kinh trong Kinh Trung Bộ—The Hinayana Nirvana Sutra in the Middle Length Discourses of the Buddha. 2) Đại Thừa—Mahayana: a) Phật huyết Phương Đẳng Bát Nê Hoàn Kinh, do ngài Pháp Hộ Đàm Ma La Sát đời Tây Tấn dịch sang Hoa ngữ khoảng những năm 256 đến 316 sau Tây Lịch—Caturdaraka-samadhi-sutra, translated into Chinese by Dharmaraksa of the Western Chin 256-316 A.D. b) Đại Bát Nê Hoàn Kinh, do ngài Pháp Hiển cùng với ngài Giác Hiền Phật Đà Bạt Đà La đời Đông Tấn dịch sang Hoa ngữ khoảng những năm 317 đến 420 sau Tây Lịch—Mahaparinirvana sutra, translated into Chinese by Fa-Hsien, together with Buddhabhadra of the Eastern Chin around 317-420 A.D. c) Tứ Đồng Tử Tam Muội Kinh: Do Xà Na Quật Đa đời Tùy dịch sang Hoa ngữ, khoảng những năm 589 đến 618 sau Tây Lịch—Caturdaraka-samadhi-sutra, translated into Chinese by Jnana-gupta of the Sui dynasty, around 589-618 A.D. d) Đại Bát Niết Bàn Kinh Bắc Bổn (đầy đủ) do Đàm Vô Sấm dịch sang Hoa ngữ vào khoảng những năm 423 sau Tây Lịch—The complete translation of the Mahaparinirvana Sutra, northern book, translated by Dharmaraksa, around 423 A.D. e) Đại Bát Niết Bàn Kinh Nam Bổn do hai nhà sư Trung Hoa là các ngài Tuệ Viễn và Tuệ Quân dịch sang Hoa ngữ—The Mahaparinirvana-sutra, produced in Chien-Yeh, the modern Nan-King, by two Chinese monks, Hui-Yen and Hui-Kuan, and a literary man, Hsieh Ling-Yun. ** For more information, please see Kinh Đại Bát Niết Bàn.
niết bàn kinh du ý
(涅槃經游意) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 38. Nội dung sách này lấy giáo nghĩa tông Tam luận làm chính để trình bày về đại cương của kinh Niết bàn. Toàn bộ chia làm 6 môn: Đại ý, Tông chỉ, Thích danh, Biện thể, Minh dụng và Liệu giản.
niết bàn kinh nghĩa kí
(涅槃經義記) Kinh sớ, 20 quyển, do ngài Tuệ viễn(chùa Tịnh ảnh) soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 55, 56. Nội dung sách này là giải thích bộ kinh Niết bàn (bản Bắc), trước hết nêu lên Thanh văn, Bồ tát và giáo lí Đốn, Tiệm để nói rõ về lập trường của soạn giả, kế đến giải thích đề kinh và sau cùng lần lượt theo văn kinh mà giải nghĩa.
niết bàn kinh nghĩa sớ
(涅槃經義疏) Kinh sớ, 15 quyển, do ngài Đàm diên (516-588) soạn vào đời Tùy. Theo ngài Đạo tuyên (596-667) đời Đường thì nội dung bộ sách này hay hơn bản Niết bàn kinh nghĩa kí của ngài Tuệ viễn (chùa Tịnh ảnh), nhưng rất tiếc là sách này đã bị thất lạc từ lâu. [X. Tục cao tăng truyện Q.18; Quảng hoằng minh tập Q.25].
niết bàn kỵ
Niết Bàn Hội—Lễ truy điệu Đức Phật nhập diệt vào ngày rằm tháng hai (treo tượng Niết Bàn, tụng Kinh Di Giáo)—The nirvana assembly, 2nd moon 15th day, on the anniversary of the Budha's death.
niết bàn lạc
Nirvàna-joy, or bliss.
; Cảnh vui sướng ở Niết Bàn, một trong ba niềm an lạc—Nirvana-joy or bliss, one of the three kinds of joy. ** For more information, please see Tam Lạc.
; (涅槃樂) Cảnh giới đã thoát li sinh tử, rốt ráo an vui, 1 trong Tam lạc. Phẩm Dược thảo dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 20 thượng) nói: Khiến cho chúng sinh lìa hết các khổ, đều được sự an vui của thế gian và an vui của Niết bàn.
niết bàn môn
The gate or door into nirvàna; also the northern gate of a cemetery.
; 1) Cửa vào Niết Bàn: The gate or door into Nirvana. 2) Cửa bắc nghĩa địa: The northern gate of a cemetery.
; (涅槃門) I. Niết Bàn Môn. Chỉ cho Tịnh độ cực lạc, là chỗ chứng được diệu quả Niết bàn. II. Niết Bàn Môn. Chỉ cho hạnh niệm Phật và lòng tin đối với bản nguyện của đức Phật A di đà. Tông Tịnh độ chủ trương hạnh niệm Phật và lòng tin có khả năng chứng được quả Niết bàn, cho nên gọi là Niết bàn môn. III. Niết Bàn Môn. Chỉ cho cửa ở phương Bắc của Mạn đồ la Kim cương giới và Thai tạng giới Mật giáo.Trong Lưỡng giới Mạn đồ la đều có 4 cửa ở 4 phương, trong đó, cửa phương Bắc là Niết bàn môn, được phối với Thành sở tác trí trong 4 trí(Đại viên, Bình đẳng, Diệu quán, Thành sở)với Tịnh trong 4 đức (Thường, Lạc, Ngã, Tịnh), với Nhập trong 4 tri kiến Phật(Khai, Thị, Ngộ, Nhập)và với mùa Đông trong 4 mùa.
niết bàn na
Xem niết bàn.
niết bàn nguyên lý
The Principle of Nirvana or Perfect Freedom. 1) Để hiểu đạo Phật một cách chính xác, chúng ta phải bắt đầu ở cứu cánh công hạnh của Phật. Năm 486 trước Tây Lịch, hay vào khoảng đó, là năm đã chứng kiến thành kết hoạt động của Đức Phật vói tư cách một đạo sư tại Ấn Độ. Cái chết của Đức Phật, như mọi người đều rõ, được gọi là Niết Bàn, hay tình trạng một ngọn lửa đã tắt. Khi một ngọn lửa đã tắt, không thấy còn lưu lại một chút gì. Cũng vậy, người ta nói Phật đã đi vào cảnh giới vô hình không sao miêu tả được bằng lời hay bằng cách nào khác: To understand Buddhism properly we must begin at the end of the Buddha's career. The year 486 B.C. or thereabouts saw the conclusion of theBuddha's activity as a teacher in India. The death of the Buddha is called, as is well known, 'Nirvana,' or 'the state of the fire blown out.' When a fire is blown out, nothing remain to be seen. So the Buddha was considered to have enetered into an invisible state which can in no way be depicted in word or in form. 2) Trước khi Ngài chứng nhập Niết Bàn, trong rừng Ta La song thọ trong thành Câu Thi Na, Ngài đã nói những lời di giáo nầy cho các đệ tử: “Đừng than khóc rằng Đức đạo sư của chúng ta đã đi mất, và chúng ta không có ai để tuân theo. Những gì ta đã dạy, Pháp cùng với Luật, sẽ là đạo sư của các ngươi sau khi ta vắng bóng. Nếu các người tuân hành Pháp và Luật không hề gián đoạn, há chẳng khác Pháp thân (Dharmakaya) của Ta vẫn còn ở đây mãi mãi: Just prior to his attaining Nirvana, in the Sala grove of Kusinagara, the Buddha spoke to His disciples to the following effect: “Do not wail saying 'Our Teacher has pased away, and we have no one to follow.' What I have taught, the Dharma (ideal) with the disciplinary (Vinaya) rules, will be your teacher after my departure. If you adhere to them and practice them uninterruptedly, is it not the same as if my Dharma-body (Dharmakaya) remained here forever?” 3) Dù có những lời giáo huấn ý nhị đó, một số đệ tử của Ngài đã nẩy ra một ý kiến dị nghị ngay trước khi lễ táng của Ngài. Do đó đương nhiên các bậc trưởng lão phải nghĩ đến việc triệu tập một đại hội trưởng lão để bảo trì giáo pháp chính thống của Phật. Họ khuyến cáo vua A Xà Thế lập tức ra lệnh cho 18 Tăng viện chung quanh thủ đô phải trang bị phòng xá cho các hội viên của Đại Hội Vương Xá: In spite of these thoughtful instructions some of his disciples were expressing a dissenting idea even before his funeral. It was natural, therefore, for the mindful elders to think of calling a council of elders in order to preserve the orthodox teaching of the Buddha. They consulted King Ajatasatru who at once ordered the eighteen monasteries around his capital to be repaired for housing the members of the coming Council of Rajagriha 4) Khi thời gian đã tới, năm trăm trưởng lão được chọn lựa cùng hợp nhau lại. Ông A Nan đọc lại kinh pháp (Dharma) và Upali đọc lại luật nghi (Vinaya). Thật ra không cần đọc lại các Luật, vì chúng đã được Phật soạn tập khi Ngài còn tại thế. Hội nghị đã kết tập tinh tấn về Pháp và Luật: When the time arrived five hundred selected elders met together. Ananda rehearsed the Dharmas (sutras) while Upali explained the origin of each of the Vinaya rules. There was no necessity of rehearsing the Vinaya rules themselves since they had been compiled during the Buddha's lifetime for weekly convocation for confessions. At the council a fine collection of the Dharma and the Vinaya was made, the number of Sutras was decided, and the history of the disciplinary rules was compiled. 5) Kết quả hoạt động của các trưởng lão được thừa nhận như là có thẩm quyền do những người có khuynh hướng chủ trương hình thức và thực tại luận. Tuy nhiên, có một số quan điểm dị biệt, Phú Lâu Na là một thí dụ, vị nầy sau bị giết chết lúc đang giảng pháp. Phú Lâu Na ở trong một khu rừng tre gần thành Vương Xá suốt thời đại hội, và được một cư sĩ đến hỏi, Ngài trả lời: “Đại hội có thể tạo ra một kết tập tinh tế. Nhưng tôi sẽ giữ những gì đã tự mình nghe từ Đức Đạo Sư của tôi.” Vậy chúng ta có thể cho rằng đã có một số người có các khuynh hướng duy tâm và tự do tư tưởng: The result of the elders' activity was acknowledged as an authority by those who had a formalistic and realistic tendency. There were , however, some who differed from them in their opinion. Purana, for instance, was skilled in preaching. Purana was in a bamboo grove near Rajagriha during the council, and, being asked by some layman, is said to have answered: “The council may produce a fine collection. But I will keep to what I heard from my teacher myself. So we may presume that there were some who had idealistic and free-thinking tendencies.
niết bàn nguyệt nhật
Ngày tháng Đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, có nhiều thuyết, ngày rằm hay mồng 8 tháng hai; ngày mồng 8 tháng tám; ngày rằm tháng ba; ngày 8 tháng chín—The date of the Buddha's death, variously stated as 2nd moon 15th or 8th day; 8th moon 8th day; 3rd moon 15th day; and 9th moon 8th day.
niết bàn phong
The nirvàna-wind which wafts the believer into bodhi.
; Gió Niết Bàn đưa tín hữu vào nẻo Bồ Đề—The nirvana-wind which wafts the believers into bodhi.
; (涅槃風) Lí mầu nhiệm của Niết bàn có thể thổi đưa người đến đạo quả Bồ đề, giống như thuyền đi thuận gió, cho nên Niết bàn được ví như gió (phong). Kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 9 (Đại 12, 662 thượng) nói: Lúc ấy, bỗng gặp gió Niết bàn Đại thừa thuận chiều thổi thẳng vào Vô thượng chính đẳng chính giác.
niết bàn phược
Hệ phược của niết bàn hay niềm vui bám víu vào niết bàn mà không chịu vào Bồ tát địa để làm lợi cho chúng sanh—The fetter of nirvana, i.e. the desire for nirvana, which hinders entry upon the Bodhisattva life of saving others.
niết bàn phần
Một phần của Niết Bàn—The part or lot of nirvana.
; (涅槃分) Chỉ cho phần vị của Niết bàn, cũng tức là nhân của Niết bàn. Phần là nói đối lại với Toàn và Mãn. Vãng sinh luận chú quyển hạ của ngài Đàm loan cho rằng, người phàm phu tuy có phiền não, nhưng cũng được vãng sinh, nghiệp trói buộc trong 3 cõi không thể lôi kéo được. Tức là không dứt phiền não mà vẫn được Niết bàn phần. Niết bàn phần có 3 nghĩa: 1. Do nghĩa chưa tròn đủ nên chỉ chứng được 1 phần Niết bàn. 2. Do nghĩa Nhân...mà được Niết bàn, tức là Nhân phần Niết bàn. 3. Do nghĩa tròn đủ vô ngại mà chứng Niết bàn, cũng tức là toàn phần vô ngại. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.5; Thành duy thức luận Qui kính tự].
niết bàn phật
The nirvàna-form of Buddha; also Niết bàn tượng, the "sleeping Buddha", i.e. the Buddha entering nirvàna.
; 1) Hình thức Niết Bàn của Phật (Ứng thân giáo hóa của Phật đã xong, lại thị hiện diệt độ)—The Nirvana-form of Buddha. 2) Niết Bàn Tượng: The sleping Buddha, i.e. the Buddha entering nirvana—See Niết Bàn Tượng. 3) See Câu Thi Na.
; (涅槃佛) Cũng gọi Niết bàn tượng. Tướng thị hiện diệt độ của Ứng thân Phật khi duyên hóa độ đã mãn, 1 trong 10 tướng Phật trong kinh Hoa nghiêm.
niết bàn phọc
(涅槃縛) Tham đắm cảnh Niết bàn an vui mà bỏ qua hạnh nguyện lợi ích chúng sinh. Đây là cảnh giới Niết bàn của Tiểu thừa. [X. kinh Kim cương tam muội]. (xt. Niết Bàn).
niết bàn phọc (phược)
The fetter of nirvàna, i.e. the desire for it, which hinders entry upon the Bodhisattva's life of saving others.
niết bàn sơn
Núi Niết Bàn vững chắc, đối lại với sự đổi thay của dòng luân hồi sanh tử—The steadfast mountain of nirvana in contrast with the changing stream of mortality.
; (涅槃山) I. Niết Bàn Sơn. Núi Niết bàn. Trong kinh Phật, núi thường được dùng để ví dụ Niết bàn và sông ví dụ sinh tử, vì thế có từ Sông sinh tử, Núi Niết bàn. Kinh Thiên thủ (Đại 20, 106 hạ) nói: Kính lạy đức Đại bi Quan thế âm, con nguyện sớm lên núi Niết bàn. II. Niết Bàn Sơn. Núi Niết bàn. Đức Phật nhập Niết bàn, giống như mặt trời khuất sau núi, cho nên núi được dùng để ví dụ Niết bàn. Đại nhật kinh sớ quyển 20 (Đại 39, 788 trung) nói: Củi duyên của chúng sinh đã hết, thì lửa phương tiện của Như lai cũng tắt, cho nên nhập Niết bàn. Mặt trời Phật đã ẩn sau núi Niết bàn, vì vậy thế gian tối đen.
niết bàn sắc
Nirvàna-colour, i.e. black, representing the north.
; Màu sắc niết bàn, như màu đen tượng trưng cho hướng bắc—Nirvana-colour, i.e. black representing north.
; (涅槃色) Màu Niết bàn, tức màu đen. Mật giáo đem quá trình tu hành từ nhân đến quả chia làm 5 vị, 5 vị theo thứ tự mà chuyển, Niết bàn sẽ là hắc vị ở phương bắc (phương bắc thuộc màu đen), cho nên gọi màu đen là màu Niết bàn. (xt. Ngũ Chuyển).
niết bàn thành
The nirvàna-city, the abode of the saints.
; Thành Niết Bàn, là nơi ở của các vị Thánh—The Nirvana city, the abode of the saints.
; (涅槃城) Thành Niết bàn. Theo các kinh luận, từ Niết bàn thành có 2 nghĩa: 1. Dùng thành để ví dụ Niết bàn: Niết bàn là nơi mà bậc Thánh đã chứng bất sinh bất diệt, đạt đến giải thoát an lạc cư trú, cho nên dùng thành để ví dụ. Luận Đại trí độ quyển 20 (Đại 25, 206 thượng) nói: Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là con đường dẫn tới Niết bàn; đi hết con đường ấy là đến được thành Niết bàn. Theo ý nghĩa trong đoạn văn trích trên đây, thì thành Niết bàn là cảnh giới sau khi chứng ngộ. 2. Chỉ cho thế giới Cực lạc: Vì Cực lạc là cõi Niết bàn vô vi, cho nên là đô thành của diệu quả Niết bàn tịch tĩnh. Như trong kinh thường nói Mệnh hết, vào thẳng thành Niết bàn, tức là sau khi mạng chung, sinh về thế giới Cực lạc. [X. kinh Trường a hàm Q.4; kinh Lăng nghiêm Q.10].
niết bàn thánh
Tên thường gọi của ngài Đạo Sinh đời Tần tìm thấy bộ Niết Bàn Kinh Lược Bản, phát minh ra nghĩa Phật thân thường trụ—AKA of T'ao-Shêng, pupil of Kumarajiva, who translated part of the Nirvana sutra, asserted the eternity of Buddha.
; (涅槃聖) Chỉ cho Pháp sư Đạo sinh. Ngài Đạo sinh nghiên cứu kinh Phật thuyết đại niết bàn (bản 6 quyển) do ngài Pháp hiển dịch, rồi nêu ra thuyết Xiển đề thành Phật. Lúc đầu, người nghe không tin lời ngài nói, vả lại, bị các học giả chê trách. Nhưng về sau, bộ kinh Đại bát niết bàn do ngài Đàm vô sấm dịch được phổ biến, mọi người mới biết thuyết Xiển đề thành Phật của ngài phù hợp với thuyết trong kinh, lúc đó mới thán phục và ca ngợi ngài Đạo sinh là Thánh Niết bàn. [X. Niết bàn huyền nghĩa Q.thượng].
niết bàn thực
Thực phẩm Niết Bàn, lấy dục vọng làm củi đốt, lấy trí huệ làm lửa, hai thứ chuẩn bị nấu thực phẩm Niết Bàn—Nirvana food; the passions are faggots, wisdom is fire, the two prepare nirvana as food.
; (涅槃食) Cũng gọi Niết bàn phạn. Dùng cơm để ví dụ Niết bàn. Kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 4 (Đại 12, 625 hạ) nói: Phiền não là củi, trí tuệ là lửa, dùng củi và lửa để nấu thành cơm Niết bàn.
Niết Bàn Tông
(涅槃宗, Nehan-shū): tên gọi của một trong 13 tông phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc, học phái dựa trên cơ sở của Niết Bàn Kinh (s: Mahāparinirvāṇasūtra, 涅槃經) của ĐạiThừa để chuyên nghiên cứu vàtuyên dương giáo nghĩa gọi là Nhất Thiết Chúng Sanh Tất Hữu Phật Tánh (一切眾生悉有佛性, hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh) và Phật Thân Thường Trụ (佛身常住) của kinh này. Trong phẩm Kim Cang Thân (金剛身) của kinh này có đọan rằng: "Thân Như Lai là thân thường trụ, bất sanh bất diệt, là thân kim cang vĩnh viễn bất hoại, tức đây là Pháp Thân." Lại nữa, trong phẩm Sư Tử Hống Bồ Tát (師子吼菩薩) cũng có đoạn ghi rõ rằng: "Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh như nhau, chính hạng Nhất Xiển Đề cũng có Phật tánh và có thể thành Phật." Kinh Đại Niết Bàn của Đại Thừa có 2 bản là Bắc bản và Nam bản. Đàm Vô Sấm (曇無讖, 385-433) dịch bộ Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經) gồm 40 quyển xong vào năm 421 ở Bắc Kinh, và nó được truyền đến Giang Nam vào năm 430. Sau đó Huệ Quán (慧觀), Huệ Nghiêm (慧嚴, 363-433) và Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) mới lấy bộ này đối chiếu với bộ Đại Bát Nê Hoàn Kinh (大般泥洹經) gồm 6 quyển do Pháp Hiển (法顯, 340?-?) dịch, và tu sửa rồi gom lại thành 36 quyển. Cho nên bộ do Đàm Vô Sấm dịch gồm 40 quyển thì được gọi là Bắc Bản Niết Bàn Kinh, và bộ sau do ba người kia hiệu đính và biên tập lại thành 36 quyển thì được gọi là Nam Bản Niết Bàn Kinh. Bắc Bản được truyền sang Giang Nam vàđược Đạo Sanh (道生) đón nhận, nên việc nghiên cứu về Niết Bàn Kinh trở nên thịnh hành và Niết Bàn Học Phái của phương Nam ra đời. Đến thời nhà Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần của Nam Bắc Triều thì phong trào nghiên cứu Niết Bàn Kinh đã lên đến thời kỳ hưng thạnh tột đỉnh; nhưng đến thời đầu nhà Đường thì do vì Tam Luận Tông, Pháp Tướng Tông và Hoa Nghiêm Tông hưng thạnh, nên tông này bước vào thời kỳ suy vong của nó. Tông này cũng được truyền vào Nhật dưới thời Nại Lương ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji) và Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Có ký lục cho biết rằng tông này được gọi là Thường Tu Đa La Tông (常修多羅宗), nhưng không được chấp nhận như là một tông phái chính thống độc lập như các tông phái khác.
niết bàn tông
The school based on the Đại Bát Niết Bàn Kinh, Mahàparinirvàna-sùtra. This school became merged in the Thiên Thai sect.
; Tông phái dựa vào Kinh Niết Bàn (một trong 13 tông phái Phật giáo Trung Quốc). Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, dù việc nghiên cứu kinh Niết Bàn phát khởi ở cả hai miền Nam và Bắc, nhưng Niết Bàn tông lại được thành lập ở phương Nam, vì đa số học giả có tài năng đều quy tụ ở phương Nam. Về sau nầy khi tông Thiên Thai được thành lập thì Tông Niết Bàn được sáp nhập vào tông Thiên Thai—The school based on the Mahaparanirvana Sutra, one of the thirteen sects in China (Đại Bát Niết Bàn Kinh). According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, although the study of the Nirvana text started and continued in the South and in the North, the Nirvana School was founded in the South where most of the able scholars lived. When the T'ien-T'ai School appeared, the Southern branch of the Nirvana Sect merged in the T'ien-T'ai Sect.
; (涅槃宗) Cũng gọi Thường tu đa la tông, Niết bàn học phái. Tên tông phái y cứ vào kinh Niết bàn mà được thành lập, tổ khai sáng là ngài Đàm vô sấm, 1 trong 13 tông phái ở Trung quốc; hoằng truyền giáo chỉ Hết thảy chúng sinh đều có Phật tính và Như lai thường trụ, không có biến đổi. Trước hết, Pháp sư Đạo sinh, học trò của ngài Cưu ma la thập, nghiên cứu 6 quyển kinh Đại bát niết bàn do các ngài Pháp hiển và Phật đà bạt đà la cùng dịch vào đời Đông Tấn, nêu ra luận thuyết Xiển đề thành Phật, bị các học giả bài bác kịch liệt, sư phải lánh xuống miền Nam, sáng lập chùa Long quang tại Kiến khang, sau lại dời đến Lô sơn. Ba năm sau, tức là vào năm Vĩnh sơ thứ 2 (421) đời Vũ đế nhà Lưu Tống, ngài Đàm vô sấm ở Lương châu dịch kinh Đại bátniết bàn 40 quyển, trong đó nêu rõ thuyết Xiển đề thành Phật, bấy giờ các học giả mới thán phục thuyết của Pháp sư Đạo sinh và học theo luận thuyết của ngài. Trong Pháp hoa kinh sớ quyển thượng của mình, ngài Đạo sinh lập thuyết Tứ chủng pháp luân, xiển dương diệu lí thường trụ trong kinh Niết bàn và gọi đó là Đệ tứ vô dư pháp luân. Ngài Đàm vô sấm thì chẳng những theo đuổi sự nghiệp phiên dịch, mà còn hết lòng hoằng truyền, giảng thuyết để đẩy mạnh việc nghiên cứu kinh Niết bàn. Các ngài Đạo lãng, Sùng trí v.v... cũng ra sức giúp đỡ ngài Đàm vô sấm trong sự nghiệp này. Trong Đại thừa huyền luận quyển 3, ngài Cát tạng có đề cập đến Niết bàn nghĩa sớ do ngài Đạo lãng soạn, giải thích về bản dịch kinh Niết bàn của ngài Đàm vô sấm và đề xướng thuyết Trung đạo là Phật tính. Ngoài ra, ở miền Nam có ngài Tuệ quán ở chùa Đạo tràng, tiếp nối chí nguyện của ngài Đàm vô sấm, muốn tìm kiếm kinh Niết bàn bản tiếng Phạm, sau đó, có các ngài Đạo phổ... đi Tây trúc tìm cầu, nhưng không đạt được mục đích. Bấy giờ, các ngài Tuệ quán, Tuệ nghiêm và cư sĩ Tạ linh vận cùng vâng sắc của vua Văn đế nhà Lưu Tống, tham cứu kinh Đại bát nê hoàn do các ngài Pháp hiển và Phật đà bạt đà la cùng dịch, kinh Đại bát niết bàn do ngài Đàm vô sấm dịch, châm chước, sửa chữa, nhuận sắc và sắp xếp lại các phẩm mục mà thành kinh Nam bản Niết bàn gồm 36 quyển, đối lại với kinh Bắc bản Niết bàn do ngài Đàm vô sấm dịch. Từ đó, miền Bắc dùng bản Bắc, miền Nam dùng bản Nam. Trong khoảng các đời Tống, Tề, Lương, Trần, Tùy có nhiều học giả nối gót nhau nghiên cứu, chú giải, giảng thuyết kinh Niết bàn, tạo thành nền học vấn rực rỡ 1 thời. Lương Vũ đế đặc biệt tôn sùng kinh Niết bàn. Nhà vua thường tuyên giảng kinh này ở chùa Đồng thái và tu Sám pháp Niết bàn. Năm Thiên giám thứ 8 (509), vua sắc lệnh ngài Bảo lượng soạn bộ Niết bàn kinh nghĩa sớ hơn 10 vạn lời. Sang đời Tùy thì có các ngài Đàm diên, Tuệ viễn, Đạo xước, Pháp lệ... Rồi đến đời Đường thì có các ngài Linh nhuận, Đạo hồng, Đạo tuyên, Pháp bảo... tiếp tục giảng thuyết và truyền bá rộng rãi kinh Niết bàn. Những chú sớ về kinh Niết bàn của các học giả thời ấy được ngài Bảo lượng thu tập thành bộ Đại bát niết bàn kinh tập giải, 71 quyển, còn được truyền đến ngày nay, nhờ đó mà biết được học thuyết thành lập tông Niết bàn của các học giả đương thời.Về phán giáo của tông Niết bàn, đầu tiên có ngài Tuệ quán chủ trương kinh Niết bàn là giáo pháp tột bậc của đức Phật, đề xướng Ngũ thời phán giáo, đây là lập theo thuyết Ngũ vị(nhũ, lạc, sinh tô, thục tô, đề hồ)trong kinh Niết bàn. Niết bàn kinh tập giải quyển 35, dựa theo thuyết của ngài Tăng lượng, cho rằng Phật giáo phát khởi từ Tiểu thừa, nên dùng Nhũ ví dụ cho Tam tạng; Lạc ví dụ cho tạp thuyết của Tam thừa; Sinh tô ví dụ cho Phương đẳng; Thục tô ví dụ cho Bát nhã; Đề hồ ví dụ cho kinh Niết bàn. Như vậy, Ngũ thời gồm có: Tiểu thừa, Tam thừa, Phương đẳng, Bát nhã và Niết bàn. Ngài Tăng tông thì đem chia giáo pháp do đức Phật nói trong 1 đời làm 5 thời: Tiểu thừa, Tam thừa thông giáo, Tư ích duy ma, Pháp hoa và Niết bàn. Ngài Bảo lượng thì đem Ngũ thời: Tiểu thừa, Thông giáo, Duy ma tư ích, Pháp hoa, Niết bàn phối hợp với Ngũ vị: Nhũ, Lạc, Sinh tô, Thục tô, Đề hồ giải thích tỉ mỉ, rõ ràng. Tóm lại, thứ tự phán giáo 5 thời của tông này tức là thứ tự về giá trị và cho đó là giáo pháp chân thực tột cùng, là bản hoài xuất thế của đức Phật. Và các thuyết như: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính; Xiển đề đều được thành Phật; Phật có 4 đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh và Như lai tạng... là những giáo pháp chủ yếu của tông Niết bàn. Đến khi tông Thiên thai hưng khởi, ngài Trí khải dùng giáo quán của chính mình làm chuẩn và dùng kinh Niết bàn bổ trợ thêm cho kinh Pháp hoa, chỉ xem kinh Niết bàn là giáo pháp lượm lặt(nghĩa là giáo pháp chỉ cứu độ những người mà kinh Pháp hoa còn bỏ sót). Từ đó về sau, những người thuyết giảng và truyền bá kinh Niết bàn 1 cách độc lập mỗi ngày một ít đi, cuối cùng thì hết hẳn. Hiện nay chỉ có Hàn quốc và Nhật bản vẫn còn truyền thừa kinh này, nhưng chỉ truyền tông chỉ giáo lí và tôn thờ như 1 tín ngưỡng phổ thông vậy thôi, chứ không có nét gì đặc biệt của 1 tông phái.[X. Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện; Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.8, 12; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10, phần đầu; Quảng hoằng minh tập Q.28]. (xt. Ngũ Thời Giáo, Niết Bàn).
niết bàn tăng
Nivasana (skt)—Nê Hoàn Tăng—Nê Phược Ta Na—Quyết Tu La—Nội y của chư Tăng Ni—An inner garment of monks and nuns.
; (涅槃僧) Phạm: Nivàsana. Hán âm: Nê phạ ta na, Nê hoàn tăng. Hán dịch: Quần. Cái quần, 1 trong 13 vật dụng về y phục của chư tăng. Cứ theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 2, cách mặc quần của các bộ phái có khác nhau: Nhất thiết hữu bộ xấp đôi quần và 2 bên hướng ra ngoài; Đại chúng bộ thì nắm bên phải vắt qua bên trái, rồi luồn vào bên trong để khỏi rơi. Thượng tọa và Chính lượng bộ cũng mặc giống như Đại chúng bộ, chỉ khác là lật đường thẳng ra ngoài và vắt sang bên, cạp quần cũng khác. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 1; Đại đường tây vực kí Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.82].
niết bàn tướng
The 8th sign of the Buddha, his entry into nirvàna, i.e. his death, after delivering "in one day and night" the Đại bát Niết bàn kinh, Mahàparinirvàna-sùtra.
; Tướng nhập diệt hóa thân thứ tám của Đức Phật, tức là tướng nhập diệt của Đức Thế Tôn (Đức Phật giáo hóa chúng sanh đến năm 80 tuổi thì hóa duyên hết, ngài liền đến giữa hai cây Ta La bên bờ sông Bạt Đề, tại thành Câu Thi Na, vùng trung Ấn Độ, thuyết giảng xong Kinh Niết Bàn rồi nhập diệt)—The 8th sign of the Buddha, his entry into nirvana, i.e. his death, after delivering “in one day and night” the Parinirvana Sutra.
; (涅槃相) Chỉ cho tướng nhập diệt của đức Thế tôn, 1 trong 8 tướng thành đạo của Phật. Sau 45 năm thuyết pháp hóa độ chúng sinh, nhân duyên hóa độ đã mãn, đức Phật đến khu rừng cây Sa la bên bờ sông Bạt đề, gần thành Câu thi na, nước Trung thiên trúc, nói kinh Đại bát niết bàn trong 1 ngày đêm. Sau đó, đức Phật nằm nghiêng bên hông phải, đầu quay hướng bắc, mặt xoay về hướng tây, vào Tứ thiền rồi xuất định mà nhập diệt. Bấy giờ các cây Sa la ở 4 bên nở toàn hoa màu trắng, giống như đàn chim bạch hạc đang đậu trên cây. Bấy giờ, tôn giả Đại Ca diếp và 500 vị đệ tử Phật đang ở trong núi Kì xà quật, gần thành Vương xá, biết tin đức Phật nhập diệt, liền đến đính lễ Ngài lần cuối cùng. Bảy ngày sau, các lực sĩ thuộc chủng tộc Mạt la (Phạm, Pàli: Malla) ở thành Câu thi na, rước kim quan của Phật đến nơi đồ tì, chất củi chiên đàn để thiêu, 7 ngày mới cháy hết. Vua chúa các nước đến chia nhau lấy xá lợi, đưa về xây tháp cúng dường. [X. kinh Trường a hàm Q.4; Tứ giáo nghĩa Q.7].
niết bàn tượng
Ứng thân giáo hóa của Phật đã xong, lại thị hiện diệt độ. Chỉ còn lại tượng Niết Bàn (lúc ngài nhập diệt an nhiên tự tại giống như lúc ngài nằm ngủ)—The sleeping Buddha, i.e. the Buddha entering nirvana.
; (涅槃像) Cũng gọi Niết bàn đồ, Ngọa Phật tượng, Thụy Phật tượng, Tẩm Thích ca. Tượng Niết bàn, thông thường vẽ hoặc khắc hình đức Thế tôn nằm ghiêng bên phải trên bảo đài, giữa 4 cây Sa la, đầu đặt trên gối quay về hướng bắc, dáng như nằm ngủ, bên cạnh có các Bồ tát, đệ tử Phật, quốc vương, đại thần, Thiên bộ, ưu bà tắc, quỉ thần, các loài súc sinh gồm 52 chúng và có cả thân mẫu đức Phật là phu nhân Ma da ở trong số đó. Tượng Niết bàn có thể dùng làm hội Niết bàn. Tại Ấn độ, di phẩm tượng Niết bàn xưa nhất hiện còn là pho tượng Phật nằm bằng đá, chiều dài khoảng hơn 6 mét, được tôn trí ở nhà Niết bàn thuộc Liên tỉnh Kasia về phía tây nam(cũng là nơi đức Phật nhập diệt). Theo bài minh khắc trên tượng cho biết, thì pho tượng này được tạc vào khoảng thế kỉ V. Lại theo điều Phạm diễn na quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 1, cách đô thành nước Phạm diễn na 23 dặm về phía đông, có 1 ngôi già lam, trong có thờ pho tượng Phật nhập Niết bàn, chiều dài hơn nghìn thước (Tàu), vua nước này thường cử hành đại hội Vô già trước tượng Niết bàn. Tượng Niết bàn lớn hơn nghìn thước như vậy, xưa nay thực ít thấy. Ngoài ra, ở động 26 tạiAjantàcũng có pho tượng Phật Niết bàn nổi tiếng, là di phẩm được điêu khắc vào thời đại Cấp da. Tại Trung quốc, tư liệu ghi chép về việc kiến tạo tượng Niết bàn sớm nhất là Pháp uyển tạp duyên nguyên thủy tập mục lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 12, trong đó có nói: Trần Thái phi của Minh đế nhà Tống tạo tượng Niết bàn ở chùa Pháp luân và Tuyên phác. Nhưng, các tượng ấy hiện nay không còn. Các pho tượng Niết bàn tương đối nổi tiếng ở Trung quốc hiện nay là tượng ở bức vách phía đông của hang thứ 6 trong động Vân cương tại Đại đồng và tượng ở hang thứ 19 của động Thiên Phật tại Đôn hoàng(tượng này được tạo lập vào đời Đường và được xem là kiệt xuất trong các tượng Niết bàn), hang thứ 120 và hang thứ 135... [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.38, Quảng hoằng minh tập Q.17; Đại đường tây vực kí Q.6; Thích ca phương chí Q.thượng].
niết bàn tượng mạn đà la
(涅槃像曼陀羅) Mạn đồ la dựa theo sự miêu tả trong các kinh mà vẽ các cảnh tượng lúc đức Phật nhập Niết bàn như sau: 1. Đức Phật nằm nghiêng trên giường báu, 52 chúng buồn thương đứng vây chung quanh. 2. Trong đám mây giữa hư không có tôn giả A na luật cầm tích trượng đứng ở trước, có vô số người trời theo sau tôn giả đang di xuống.(Theo kinh Ma ha Ma da quyển hạ, sau khi đức Như lai vào Niết bàn, tôn giả A na luật lên cung trời Đao lợi báo tin cho phu nhân Ma da biết, phu nhân nghe xong buồn rầu tưởng nhớ và bay xuống rừng cây Sa la). 3. Đức Phật nằm quay đầu về hướng bắc dưới cây Sa la, trên cành cây Sa la treo cái túi bát và tích trượng của đức Phật. Túi bát và tích trượng này đã được giao cho tôn giả A nan trước khi đức Phật nhập diệt. 4. Dưới chân đức Phật có 2 người già ôm chân Phật mà khóc, họ tủi thân vì nghèo khó không thể cúng dường đức Phật. 5. Trước đức Phật có 1 vị tỉ khưu nằm bất tỉnh, đó là tôn giả A nan vì quá buồn đau thương nhớ nên đã ngã lăn mê man trước đức Thế tôn, chúng tăng và tôn giả A na luật đang an úy Ngài. 6. Đại lực sĩ thương khóc chết ngất. Đó là lực sĩ Kim cương thường theo hầu đức Phật.[X. kinh Bồ tát xử thai Q.1; kinh Đại niết bàn Q.hạ; kinh Phật nhập Niết bàn Mật tích kim cương lực sĩ ai luyến].
niết bàn tế
Vùng hay khu vực niết bàn, đối lại với vùng của luân hồi sanh tử—The region of nirvana in contrast with the region with mortality or samsara (luân hồi sanh tử).
niết bàn tịch tĩnh ấn
1) Pháp ấn Niết Bàn tịch tĩnh, một trong ba pháp ấn là vô thường, vô ngã và niết bàn—The seal or teaching of nirvana (one of the three proofs that the sutra was uttered by the Buddha, its teaching of impermanence, non-ego, and nirvana). 2) Ấn khế bảo chứng để được chứng quả niết bàn: The witness within to the attainment of nirvana.
niết bàn tịnh xaù
Tên của một tịnh xá nổi tiếng trong thị xã Vũng Tàu. Tịnh xá được xây dựng vào năm 1969 trên triền núi Nhỏ ở Vũng Tàu và hoàn tất năm 1974. Tịnh xá gồm bốn tầng lầu, diện tích 1.000 mét vuông. Ở cổng vào tịnh xá có bức phù điêu long mã cao 4 mét, rộng 2 mét, làm bằng nhiều mảnh sứ tráng men bể ghép lại. Đối diện là cây trụ phướn cao 21 mét, có 42 tầng, cũng ốp bằng những mảnh sứ tráng men bể có màu vàng đỏ, phía trên đầu chia thành hình ba nhánh sen. Ở chánh điện có tượng Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, dài 12 mét, màu nâu hồng. Trên tầng ba có thuyền Bát Nhã đầu rồng, làm bằng xi măng đắp gạch men đủ màu, dài 12 mét. Tịnh xá còn giữ chiếc lư chạm hình tứ linh vật, đắp bằng các mảnh sứ bể rất công phu và khéo léo. Tịnh xá còn có một đại hồng chung cao 3 mét 8, nặng 3 tấn 5—Name of a famous monastery, located in Vũng Tàu City. The monastery was built in 1969 on a slope of Mount Nhỏ and completed in 1974. The monastery consists of four floors built on an area of 1,000 square meters. At the gateway, there is a bas-relief of a horse-dragon, 4 meters high, 2 meters wide, made of pieces of broken China earthernware. Across the bas-relief is a pennon pillar, 21 meters high, , with 42 stairs with yellow and red enamelled tiles. On the upper part of the pilar emerge three branches of lotus. The statue of Buddha at His Parinirvana, 12 meters in height and pinkish brown in colour, is worshipped in the Main Hall. A dragon-deaded boat named Prajna, 12 meters long, is made of cement covered by multicoloured enamelled tiles and placed on the third floor. The monastery has still kept an incense burner having the shape of the four sacred animals. It was cast painstakingly by pieces of broken China earthernware. A great bell of 3.8 meters in height, 3.8 meters in circumference and 3.5 tons in weight is also placed in the monastery.
niết bàn tịnh độ
Nirvanic Pure Land.
niết bàn tứ chủng đại lạc
(涅槃四種大樂) Bốn niềm vui lớn của Niết bàn. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 23 (bản Bắc) thì Niết bàn có 4 cái vui lớn là: 1. Vô khổ lạc: Không có khổ, vui, cái vui của thế gian chính là nguyên nhân của khổ, Niết bàn không có khổ, vui; vì đã dứt được khổ và vui của thế gian. 2. Đại tịch tĩnh lạc: Cái vui tịch lặng. Nghĩa là tính của Niết bàn xa lìa tất cả các pháp ồn ào, náo loạn. 3. Đại tri lạc: Cái vui hiểu biết rộng lớn. Nghĩa là chư Phật, Như lai có trí tuệ rộng lớn, thấy biết tất cả các pháp. 4. Bất năng hủy hoại: Cái vui không bị hủy hoại. Nghĩa là thân của Như lai giống như kim cương, không thể hủy hoại được, chứ không phải là thân của phiền não vô thường. Vì thân bất hoại nên là vui lớn.
niết bàn vô dư
Nirvana without remainder—See Niết Bàn (C)(2), and Vô Dư Niết Bàn.
niết bàn điểm
(涅槃點) Dấu 2 chấm (:) thêm vào bên phải của chữ Tất đàm. Hai cái chấm này không có chữ riêng, nên sau khi được thêm vào bên phải của chữ (a) thì thường được gọi là (a#, ác). Chữ này trong Ngũ chuyển biểu thị cho đức Nhập Niết bàn, thế nên 2 cái chấm (:) thêm vào được gọi là Niết bàn điểm (chấm Niết bàn). Lại vì lửa Niết bàn có công năng đốt cháy sinh tử, cho nên cũng gọi là Viêm điểm(chấm lửa). Theo Đại nhật kinh sớ quyển 14, thì 8 chữ: (ya), (ra), (la), (va), (za), (wa), (sa), (ha), khi thêm 2 cái chấm vào bên cạnh thì chúng biểu thị nghĩa trừ bỏ và những cái chấm ấy đều được gọi là Niết bàn điểm. Còn âm của 8 chữ trên thì gọi là Niết bàn thanh(tiếng Niết bàn).
niết bàn đài
(涅槃台) Cũng gọi Hóa đàn. Cái nền cao dùng để đặt di hài của vị tăng quá cố lúc hỏa táng. Điều Đồ tì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3 (Đại 48, 1128 hạ) nói: Lễ táng đưa đến đài Niết bàn.
niết bàn đường
The nirvàna-hall, or dying-place of a monk in a monastery.
; Diên Thọ Đường—Tĩnh Hành Đường—Vô Thường Viện—Nơi đưa chư Tăng đau nặng đến để nhập diệt, về hướng mặt trời lặn, góc tây bắc của tự viện—The nirvana hall, or dying place of a monk in a monastery, in the direction of the sunset at the north-west corner.
; (涅槃堂) Cũng gọi Diên thọ đường, Diên thọ viện, Diên thọ liêu, Trọng bệnh các, Tỉnh hành đường, Vô thường viện, Tương tức liêu.Nơi dưỡng bệnh trong tùng lâm. Thời xưa, trong các tùng lâm, những vị tăng cao tuổi được đưa đến nhà An dưỡng, những vị bệnh tăng thì được đưa vào nhà dưỡng bệnh để được chăm sóc. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.30; Thiền lâm tượng khí tiên Q.2].
niết bàn đầu
(涅槃頭) Cũng gọi Diên thọ đường chủ. Chức vụ trông coi nhà Niết bàn, nơi dưỡng bệnh của các vị bệnh tăng ở trong chùa. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
niết bàn ấn
The seal, or teaching of nivàna, one of the three proofs that a sùtra was uttered by the Buddha, i.e. its teaching of impermanence, non-ego, nirvàna; also the witness within to the attainment of nirvàna.
; See Niết Bàn Tịch Tĩnh Ấn.
; (涅槃印) I. Niết Bàn Ấn. Gọi đủ: Niết bàn tịch tĩnh ấn. Một trong 3 pháp ấn. Hết thảy chúng sinh khởi lên phiền não, tạo tác các nghiệp, bị trôi lăn trong 3 cõi, chịu khổ sinh tử, vì thế đức Phật quyết định nói lí Niết bàn tịch tĩnh, khiến chúng sinh lìa khổ sinh tử phiền não, diệt hết tất cả các nghiệp, đạt đến cảnh giới tịch lặng vô vi. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.8]. II. Niết Bàn Ấn. Ấn khế chứng minh đã đạt được quả Niết bàn.Kinh Đại tập quyển 53 (Đại 13, 354 thượng) nói: Nếu có chúng sinh theo ta xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca sa, dù chẳng giữ giới cũng được ấn chứng Niết bàn.
niết ca la
Niskala (skt). 1) Tuyệt chủng tử: Không hột—Seedless. 2) Bất khả phân: Indivisible. 3) Sống trong giây phút ngắn ngủi: A short time to live. 4) Một thời gian ngắn: A short time. 5) Tạm thời: Temporary.
; (涅迦羅) Phạm: Niskàla. Hán dịch: Tam thời. Thành duy thức luận xu yếu quyển thượng, phần đầu (Đại 43, 610 hạ) ghi: Phạm: Niết ca la a ba lợi nặc phạ nam đạt ma. Niết là tạm, ca la là thời, a là vô, ba lợi là viên, nặc phạ nam là tịch, đạt ma là pháp, nghĩa là tạm thời không có pháp viên tịch.
niết già đa
(涅伽多) Phạm: Nirghàta. Hán dịch: Thiên cẩu. Chỉ cho cuồng phong, bão táp, sấm vang, sét đánh làm cho long trời lở đất. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 634 trung) nói: Quyến thuộc Nhật thiên phân bố các Chấp diệu ở các nơi (...); còn ở phía nam của Nam vĩ tuyến thì đặt Niết già đa, tức là Thiên cẩu. Từ ngữ Thiên cẩu(chó trời) có nghĩa là sét đánh thình lình, cũng giải thích là sao băng, tức là sao Tích lịch trong quyến thuộc của Nhật thiên được vẽ trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Trong Cựu đồ dạng thì vẽ hình thần Sấm, thần Sét.
niết lí để vương
(涅哩底王) Niết lí để, Phạm: Nirfti. Cũng gọi Nê lí để vương, Nễ lí để vương. I. Niết Lí Để Vương. Tên vị nữ thần trong thần thoại Ấn độ cổ đại, tượng trưng cho những sự phá hoại, tai họa, bất hạnh... nên thường được coi như nữ tử thần Phạm:Mftyu). Ngoài ra, nữ thần này còn bị coi là thần Ba da (Phạm: Bhaya), chủ về tật bệnh, nguy hiểm, khủng bố, hoặc là mẹ của địa ngục. Niết lí để vương có uy lực rất lớn, thậm chí còn khủng khiếp hơn cả tai họa và trở thành người chi phối địa phủ. II. Niết Lí Để Vương. Trong Mật giáo, Niết lí để vương được chuyển làm nam thần, gọi là La sát thiên, tên 1 quỉ vương, tay cầm dao nhọn, hình tướng trông rất đáng sợ. (xt. La Sát Thiên).
niết lý để
Nirrti (skt). 1) Sự hoại diệt: Destruction. 2) Vị Nữ Thần của tử thần và sự hoại diệt, cai quản phía tây nam (Thần Niết Lý): The goddess of death and corruption, regent of the south-west.
niết lý để phương
Hướng tây nam—The south-west quarter.
niết lị để
Nirrta (S). King of Ràksasas. Also Nê lí để.
niết mạt
Nimat or Calmadana (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Niết Mạt là một vương quốc và thành phố cổ, nằm về phía đông nam biên giới sa mạc Gobi—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Calmadana is an ancient kingdom and city at the south-east borders of the desert of Gobi.
niết rị đồ địa dã xá dã
Xem Kiên Cố ý Bồ tát.
Niết-bàn
phiên âm từ Phạn ngữ là Nirvṇa (Pli: Nibbna), tạm dịch nghĩa là tịch diệt, an lạc, giải thoát. Đây là mục đích cuối cùng của người tu học Phật. Mỗi tông phái trong đạo Phật hiểu Niết-bàn theo một cách không hoàn toàn giống nhau, nhưng nói chung đều nhìn nhận đây là kết quả cao nhất của việc tu tập. Không nên hiểu Niết-bàn theo nghĩa hư vô, trống rỗng như nhiều người vẫn thường lầm tưởng. Cũng không nên hiểu đây chỉ là từ đơn giản thay cho các từ khác như chết, viên tịch... Thật ra, Niết-bàn là một cảnh giới rốt ráo được Phật miêu tả trong rất nhiều kinh điển Đại thừa, qua đó có thể hiểu là cảnh giới giải thoát tuyệt đối, dứt sạch mọi triền phược và hòa nhập vào thể tánh thường tồn của vạn hữu.
; 涅槃; S: nirvāṇa; P: nibbāna; C: nièpán; J: nehan; dịch nghĩa là Diệt (滅), Diệt tận (滅盡), Diệt độ (滅度), Tịch diệt (寂滅), Bất sinh (不生), Viên tịch (圓寂), Giải thoát (解脫), Vô vi (無爲), An lạc (安樂);|Tiếng phiên âm tương đương với chữ nibban thuộc hệ ngôn ngữ Ấn âu thông dụng; 1. Tình trạng ngọn lửa phiền não; đã bị dập tắt; 2. Là động từ, có nghĩa là nhập niết-bàn; 3. Vô vi.|Niết-bàn mục đích tu hành của mọi trường phái Phật giáo. Trong đạo Phật nguyên thuỷ, Niết-bàn được xem là đoạn triệt Luân hồi (saṃsāra) và đi vào một thể tồn tại khác. Ðó là sự tận diệt gốc rễ của ba nghiệp Bất thiện (s: akuśala) là tham, sân và si. Ðồng thời Niết-bàn có nghĩa là không còn chịu sự tác động của Nghiệp (s: karma), không còn chịu quy luật nhân duyên, Vô vi (s: asaṃkṛta), đặc tính của nó là thiếu vắng sự sinh, thành, hoại, diệt.|Với sự xuất hiện của Ðại thừa (s: mahāyā-na), người ta có một quan điểm mở rộng của Niết-bàn dựa trên khái niệm Bồ Tát (s: bo-dhisattva) và trên tính nhất thể của vạn vật. Niết-bàn được xem là sự thống nhất với cái Nhất thể tuyệt đối (sự bình đẳng của chúng sinh; s: sattvasamatā) đó, sự thống nhất của luân hồi với »dạng chuyển hoá« của nó. Ở đây Niết-bàn được xem như sự lưu trú trong tính tuyệt đối, sự an lạc khi thấy mình cùng một thể với tuyệt đối, khi thấy mình giải thoát khỏi mọi ảo giác, mọi biến tướng, mọi tham ái.|Nhiều người hiểu Niết-bàn chỉ là một cõi hư vô tịch diệt. Ngay Phật giáo nguyên thuỷ đã bác bỏ quan niệm đó. Trong nhiều kinh sách, người ta mô tả Niết-bàn như một »ngọn lửa đã tắt«: Phật giáo quan niệm ngọn lửa tắt không có nghĩa là nó hoại diệt, nó đi vào Hư không (s: ākāśa), trở thành vô hình, thì như thế, Niết-bàn không phải là sự hoại diệt, đó là tình trạng đi vào một sự tồn tại khác. Như lửa phát sinh từ hư không và trở về với hư không, thì Niết-bàn là một tình trạng của tâm thức trở về với một cõi xứ không chịu sự sinh diệt. Ðó là một tình trạng không có một vị trí địa lí, mà là một dạng siêu việt, Xuất thế (出世; s: lokottara) và chỉ có những hành giả đã đạt mới biết được. Vì vậy, trong đạo Phật nguyên thuỷ, Niết-bàn hầu như được hiểu xa cách thế gian, giải thoát khỏi phiền não.|Trong một số kinh sách khác, Niết-bàn được hiểu là sự »an lạc« nhưng phần lớn được hiểu là sự giải thoát khỏi cái Khổ (s: duḥkha). Vì không có ngôn ngữ để diễn tả Niết-bàn, đó là phạm vi nằm ngoài ngôn ngữ và lí luận, nên có nhiều người hiểu Niết-bàn theo quan niệm hư vô. Cách thế dễ tiếp cận nhất về Niết-bàn là hiểu sự tồn tại là một tình trạng đầy dẫy khổ đau và Niết-bàn là dạng tồn tại thiếu vắng sự khổ đau đó. Ðối với hành giả Phật giáo thì định nghĩa liệu Niết-bàn là một dạng tồn tại thật sự hay chỉ là cõi tịch diệt không hề quan trọng. Vì lí do này mà Phật Thích-ca từ chối mọi mô tả về Niết-bàn.|Trong Tiểu thừa (s: hīnayāna), người ta phân biệt hai loại Niết-bàn:|1. Hữu dư niết-bàn (有餘涅槃; s: sopadhi-śeṣa-nirvāṇa; p: savupadisesa-nibbāna): Niết-bàn còn tàn dư, Niết-bàn trước khi tịch diệt. Niết-bàn này là trạng thái của các bậc thánh nhân đã dứt bỏ mọi Phiền não, không còn tái sinh. Các vị này còn sống trên đời nên vẫn còn Ngũ uẩn, còn có nhân trạng nên gọi »hữu dư«. Trong Hữu dư niết-bàn hành giả còn khổ vì còn chịu nghiệp cũ. Có lúc hành giả thoát được cái khổ đó một cách tạm thời trong một số tình trạng thiền định nhất định. Từ quan điểm Hữu dư Niết-bàn này của Tiểu thừa mà phát sinh khái niệm Niết-bàn vô trụ (s: apratiṣṭhita-nirvāṇa) của Ðại thừa.|2. Vô dư niết-bàn (無餘涅槃; s: nirupadhi-śeṣa-nirvāṇa; p: anupadisesa-nibbāna): là Niết-bàn không còn Ngũ uẩn (s: pañca-skan-dha), Mười hai xứ (s, p: āyatana), mười tám Giới (s, p: dhātu) và các Căn (indriya). Niết-bàn vô dư đến với một vị A-la-hán sau khi chết, không còn tái sinh. Loại Niết-bàn này cũng được gọi là Niết-bàn toàn phần hay Bát-niết-bàn (般涅槃; s: parinirvāṇa).|Ngay trong Tiểu thừa thì quan điểm của mỗi phái cũng khác nhau. Nhất thiết hữu bộ (s: sar-vāstivāda) luận về Niết-bàn với khái niệm khả quan, cho rằng Niết-bàn là thể không sinh thành hoạt diệt, có thể dần dần đạt đến bằng cách loại trừ khổ. Cứ diệt một loại khổ thì đạt được một cảnh giới của Niết-bàn. Vì thế mà có nhiều loại Niết-bàn và hầu như Niết-bàn là một cảnh giới cụ thể. Ðối với Kinh lượng bộ (sautrāntika) thì Niết-bàn chỉ là dạng chấm dứt khổ, nhưng không phải là một cảnh giới vĩnh hằng. Ðộc Tử bộ (s: vātsīputrīya) cho rằng có một cá nhân (s: pudgala) thường còn, hiểu Niết-bàn là cõi mà cá nhân đó tiếp tục tồn tại. Ðối với Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) – được xem là tiền thân của phái Ðại thừa – thì khái niệm Niết-bàn vô dư không còn quan trọng nữa. Từ đây các bộ phái sau bắt đầu phát triển và sử dụng danh từ Vô trụ niết-bàn (s: apratiṣṭhita-nirvāṇa). Ðó là trạng thái Niết-bàn của các vị Phật đã thoát khỏi ràng buộc của thế gian nhưng chưa muốn hoàn toàn tịch diệt.|Trong Ðại thừa, người ta nhấn mạnh đến tính chất Bồ Tát nhiều hơn và vì thế khái niệm Niết-bàn không được đề cao nhưng vẫn là mục đích cao nhất trên đường giải thoát. Không có tông phái Ðại thừa nào xem Bồ Tát là mức cuối cùng của Phật đạo; đối với Bồ Tát, việc »nhập Niết-bàn« chỉ được »hoãn lại« sau khi toàn thể chúng sinh đều được giải thoát. Theo quan điểm Ðại thừa, Niết-bàn là sự thống nhất với cái tuyệt đối, không phải chỉ mỗi một cá nhân mà với mọi hiện tượng và vì vậy, Ðại thừa không thấy sự khác biệt giữa Niết-bàn và sinh tử. Ở đây, người ta phân biệt hai loại Niết-bàn: Vô trụ niết-bàn (s: apratiṣṭhitanirvāṇa) và Thường trụ niết-bàn (s: pratiṣṭhita-nirvāṇa; »thường trụ« ở đây với ý nghĩa cố định, bất động).|Trong các phái Ðại thừa, quan niệm về Niết-bàn cũng khác nhau: phái Trung quán (s: mādhyamika) cho rằng, Niết-bàn nằm trong tính Không (s: śūn-yatā), đó là sự »chấm dứt cái thiên hình vạn trạng«, cái chấm dứt đó là sự vắng bóng của mọi ràng buộc thế gian. Niết-bàn là sự thống nhất với Chân như (s: tathatā) không diễn tả được, là cái luôn luôn hiện hữu, nhưng không được nhận biết. Niết-bàn và sinh tử không hề khác nhau, đứng trên phương diện lí tính tuyệt đối mà nói. Chính cái Thức vô minh của chúng ta ngăn cản không cho nhận ra cái lí tính tuyệt đối đó.|Duy thức tông cũng cho rằng Niết-bàn và luân hồi không khác, mọi hiện tượng đều không tồn tại, không thật có. Ðối với tông này thì Niết-bàn xuất hiện khi mọi phân biệt chấm dứt. Duy thức tông cho rằng có hai dạng Niết-bàn: Niết-bàn của A-la-hán, đó là người khi chết chỉ còn Chân như tuyệt đối là tồn tại. Ðó là người »đã yên nghỉ.« Dạng Niết-bàn đó tuy nhiên không ưu việt bằng Niết-bàn của Phật, là dạng chủ động »dập tắt ngọn lửa đời sống« nhưng cũng chủ động ban phát lòng từ bi. Ðây là dạng thống nhất của Chân như với mọi chúng sinh, trong đó mỗi cá nhân vẫn còn tồn tại trong nghĩa quy ước.|Trong Thiền tông, Niết-bàn cũng không hề tách rời với thế giới này mà chính là sự trực ngộ được thể tính của Tâm, là thể tính của con người, thể tính của Phật. Thực hiện Niết-bàn phải thông qua trí huệ và vì vậy, có khi Niết-bàn được xem là đồng nghĩa với Trí huệ Bát-nhã. Niết-bàn và Trí huệ chỉ là hai mặt của một cái duy nhất. Niết-bàn là trạng thái của một người đã đạt trí huệ Bát-nhã, đã đạt tri kiến về Tâm và ngược lại Bát-nhã là trí huệ của một người đã thực hiện Niết-bàn.
Niết-bàn của Tiểu thừa
xem Bốn quả thánh.
Niết-bàn hội
涅槃會; C: nièpán huì; J: nehan'e;|Pháp hội cử hành vào ngày 15 tháng 2, ngày Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nhập niết-bàn. Pháp hội nầy có ở các quốc gia Phật giáo Á Đông.
Niết-bàn kinh
涅槃經; C: nièpán jīng; J: nehangyō;|Một trong các kinh văn chính của Phật giáo Đại thừa Á Đông, có 3 bản dịch:|1. Đại bát Niết-bàn kinh (大般涅槃經; s: mahāparinirvāna-sūtra); 40 quyển, do Đàm Vô Sấm dịch vào thời Bắc Lương.|2. Cùng nhan đề trên; gồm 36 cuốn; Huệ Nghiêm (慧嚴; s: jñānabhadra) và Hui-ning dịch vào đời Tống.|3. Phật thuyết Đại bát Niết-bàn kinh (佛説大般泥洹經), 6 quyển; Phật-đà-bạt-đà-la (s: buddhabhadra) và Pháp Hiển (法顯) dịch vào đời Tây Tấn năm 416-418.|Kinh nầy được cho là bài pháp cuối cùng của Đức Phật trước khi ngài nhập niết-bàn, nhấn mạnh rằng tất cả các loài hữu tình đều có Phật tính; và tất cả chúng sinh, kể cả Nhất-xiển-đề, đều sẽ thành Phật. Bản kinh đầu tiên có lẽ đã được truyền bá dần vào lúc Đàm Vô Sấm dịch xong, do vì bản kinh mà Pháp Hiển mang về Trung Hoa chỉ là một phần của bộ 6 quyển, trong khi bản dịch sau nầy của Đàm Vô Sấm (s: dharmakṣema) lên đến 40 quyển. Mãi về sau, Huệ Quán (慧觀), Huệ Nghiễm (慧嚴; 363-443); Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) và một số người khác vào đời Lưu Tống (420-479), đã hợp nhất và cải thiện bản dịch của Phật-đà-bạt-đà-la và Pháp Hiển thành bản dịch riêng gồm 36 quyển. Bản dịch nầy gọi là Nam bản Đại bát Niết-bàn kinh, và bản của Đàm Vô Sấm dịch được gọi là Bắc bản.
Niết-bàn tông
涅槃宗; C: nièpán zōng; J: nehanshū;|Một trong 13 tông phái Phật giáo Trung Hoa. Tông nầy, tập trung vào giáo lí trong kinh Niết-bàn, tán thành những học thuyết như sự thường tại của Pháp thân, và sự hiện hữu của Phật tính trong toàn thể chúng sinh. Khi bản Bắc của kinh Niết-bàn lưu truyền đến Hồ Nam, thì Đạo Sinh (道生), người bị phê phán do học thuyết báo trước Nhất-xiển-đề có Phật tính, mới được minh oan. Việc nghiên cứu kinh nầy trở nên thịnh hành, bản Bắc của kinh Niết-bàn được lưu truyền đến ngày nay. Huệ Quán đưa ra phán giáo Ngũ thời đốn tiệm (頓漸五時), cho rằng nội dung kinh Niết-bàn phản ánh trọn vẹn ý chỉ của Đức Phật nhất. Đỉnh cao của việc truyền bá kinh Niết-bàn là vào thời đại Nam Bắc triều (439-589). Sau thời nhà Tuỳ, nhiều luận giải về kinh nầy được viết do những cao tăng như Huệ Viễn (慧遠), Cát Tạng (吉蔵), Quán Đỉnh (灌頂), nhưng nó bắt đầu bị lu mờ dần như là một tồn tại riêng lẻ khi có sự ra đời của Nhiếp luận tông (攝論宗) và Thiên Thai tông (天台宗). Hoàn toàn biến mất vào thời nhà Đường, đặc biệt sau sự ra đời của Tam luận tông (三論宗), Pháp tướng tông (法相宗), và Hoa Nghiêm tông (華嚴宗), nhưng học thuyết căn bản của nó vẫn có ảnh hưởng sâu sắc đến những tông phái kế thừa. Tông Niết-bàn còn được truyền bá sang Hàn Quốc và Nhật Bản, nơi nó có ảnh hưởng rất đáng kể.|Như các trường phái khác của Phật giáo Trung Quốc, Niết-bàn tông cũng chia nhiều »thời giáo«, các thời kì giáo hoá của Phật. Kinh Ðại bát-niết-bàn được xem là giáo lí sau cùng của đức Phật.
Niết-bàn tông yếu
涅槃宗要; C: nièpán zōngyào; J: nehan shūyō;|Tác phẩm của Nguyên Hiểu (元曉), iảng giải nội dung kinh Niết-bàn, qua phương diện Niết-bàn và Phật tính, cũng như thảo luận về phần yếu chỉ của kinh nầy.
Niết-bàn tịch tĩnh
涅槃寂靜; C: nièpán jíjìng; J: nehan jakujō;|Niết-bàn là hoàn toàn vắng lặng (s: śāntaṃ nirvāṇam). Là một trong Tam pháp ấn trong giáo lí Phật pháp.
Niết-bàn đường
涅槃堂; J: nehandō;|Tên gọi của nhà dưỡng bệnh trong một Thiền viện. Những tên gọi khác của Niết-bàn đường là An Lạc đường (j: anrakudō) hoặc Diên Thọ đường (j: enjudō).
niềm an lạc sâu xa
A profound peace
niềm nở
Warm—To welcome someone with a warm reception.
niềm thương
Affection.
niềm tin
Belief—Faith—Saddhâ (s).
niềm tin mù quáng
Blind acceptance.
niển ngại
(碾磑) Cối đá, đặc biệt chỉ cho loại cối đá sử dụng sức nước. Vào đời Đường, trong trang trại của các nhà quí tộc và lãnh địa của các chùa viện lớn ở Trung quốc đều có đặt cối đá để xây thóc, xay bột. Loại cối đá này phải dùng sức nước. Vì phải giữ nước cho ruộng lúa, nên đã có thời cối bị cấm sử dụng. Mãi đến cuối đời Đường lệnh này mới được bãi bỏ.
Niệm
念; S: smṛti; P: sati; nghĩa là »nhớ, nghĩ«; |Trong đạo Phật, niệm chỉ sự chú tâm hay tỉnh giác. Ðó là lúc hành giả chú tâm lên các hoạt động của thân thể và tư duy. Ðó chính là chính niệm, yếu tố thứ bảy của Bát chính đạo, một trong Bảy giác chi (s: bodhyaṅga) và một trong Năm lực (s: pañcabala). Tâm thức đó được gọi là »đúng đắn« vì nó giúp hành giả giác ngộ. Nhờ chính niệm, người ta phát khởi tri kiến về vô thường, vô ngã và khổ của sự vật. Niệm là phép tu căn bản trong Bốn niệm xứ (s: smṛtyupasthāna; p: satipaṭṭhāna).
niệm
chỉ một khoảng thời gian rất ngắn, tương tự như nhiều nơi khác trong kinh dùng sát-na. Cách dùng chữ niệm để chỉ thời gian xuất phát từ khái niệm về “niệm tưởng” trong Phật giáo, vì Phật giáo cho rằng dòng tư tưởng của chúng ta thật ra là do vô số những “niệm tưởng” nối tiếp nhau tạo thành, mỗi một niệm tưởng chỉ tồn tại trong thời gian cực kỳ ngắn ngủi.
; Sati (P), Smṛti (S), Nen (J), Mindfulness, Tát ĐếNghĩa là nhớ, tưởng các cảnh duyên; một tư tưởng, một lúc nhớ tưởng. 1- Có 6 pháp niệm (=niệm cụ túc): - niệm Phật - niệm Pháp - niệm Tăng - niệm giới - niệm thiên - niệm xá. Có 3 cách niệm Phật: - xưng danh niệm Phật: chuyên niệm danh hiệu - quán tưởng niệm Phật: tưởng cho thấy hình ảnh trước mắt - Tham cứu niệm Phật: niệm trong tâm. 2- niệm lực nơi bản thân. Một trong thất bồ đề phần: ý, phân biệt, tinh tấn, khả, y, định, hộ. 3- Một trong 10 đại địa pháp. Tác dụng ghi nhớ không quên. 4- Một trong ngũ căn, ngũ lực Xem sát na. 1- Xem Smrti. Xem Ksana. 2- Tát Đế: Tên vị thần ở Ấn độ
; Smrti (S), Sati (P). Recollection, memory; to think on, reflect; repeat, intone; a thought; a moment. Mindfulness. Wakefulness of mind.
; Smrti (skt)—Sati (p). 1) Ký ức không quên đối với cảnh: Recollection—Mindfulness—Memory—Wrath—Idea—Thought—To think on—Remembrance—Thinking of or upon—Calling to mind—Reflect—To remember. 2) Niệm Kinh: To read—To recite—To say. 3) Niệm bao gồm những nghĩa sau đây—“Sati” has the following meanings: • Sự chăm chú: Attentiveness. • Sự chú tâm mạnh mẽ vào vấn đề gì: Fixing the mind strongly on any subject. • Sự chú tâm vào một điểm: Mindfulness. • Sự hồi tưởng: Remembrance. • Ký ức (sự nhớ): Memory. • Sự lưu tâm: Attentiveness. • Sự ngẫm nghĩ: Reflection. • Sự tưởng nhớ: Recollection. • Ý thức: Consciousness. • Tất cả những gì khởi lên từ trong tâm: All that arise from our mind.
; (念) I. Niệm. Phạm: Smfti, Smriti. Pàli: Sati. Ghi nhớ, tên của 1 tâm sở(tác dụng của tâm). Tâm sở này ghi nhớ những đối tượng mà nó duyên theo 1 cách rõ ràng không để quên mất. Trong tông Câu xá, Niệm được kể làm 1 trong 10 Đại địa pháp; còn trong tông Duy thức thì nó được xếp vào 1 trong 5 Biệt cảnh. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.5; luận Đại tì bà sa Q.42; luận Du già sư địa Q.55]. II. Niệm. Chỉ cho quán niệm, khẩu niệm, tâm niệm. Quán niệm là quán tưởng Phật thân, Phật pháp; khẩu niệm là dùng miệng xưng danh hiệu của Phật; tâm niệm là dùng tâm tưởng nhớ Phật và Bồ tát. [X. luận Câu xá Q.4; luận Đại thừa quảng ngũ uẩn]. (xt. Thập Niệm). III. Niệm. Một trong Hành ngũ pháp. Nhớ nghĩ thế gian là hư dối không thực, không nên quyến luyến, mà nên xem việc tu hành thiền định và trí tuệ là quí báu. (xt. Hành Ngũ Pháp). IV. Niệm. Tên giai vị tu hành của Bồ tát, tức là giai vị thứ 2 trong Thập tín vị. (xt. Thập Tín). V. Niệm. Chỉ cho khoảng thời gian rất ngắn. Theo các kinh luận thì 1 niệm bằng 1 sát na, 60 sát na hay 90 sát na. [X. luận Đại trí độ Q.15, 60; Ma ha chỉ quán Q.3, phần 3]. (xt. Nhất Niệm, Sát Na).
niệm biết
• Biết theo trí phân biệt của phàm phu: Smriti-vijnanana (skt)—Knowing in accordance with ordinary people's knowledge—A thought of knowing—Discerning thought. • Niệm tỉnh thức: Smriti-buddhi or Smriti-jnanin (skt)—A thought of awareness
niệm bất thoái
(念不退) Không chuyển lui mất chính niệm Trung đạo, thuộc về giai vị Thánh chủng tính, là 1 trong 3 Bất thoái. (xt. Tam Bất Thoái).
niệm chuỗi
See Niệm châu.
niệm châu
To tell beads.
; Niệm chuỗi—To tell beads.
; (念珠) Cũng gọi Sổ châu, Châu sổ, Tụng châu, Chú châu, Phật châu. Chuỗi tràng hạt dùng lúc niệm Phật để ghi số danh hiệu đã xưng niệm. Niệm châu, trong nguyên văn tiếng Phạm gồm có 4 nghĩa: 1. Pàsaka-màlà, Hán âm: Bát tắc mạc, nghĩa là đếm xâu chuỗi(Sổ châu). 2. Akwa-màlà, Hán âm: A xoa ma la, nghĩa là tràng hạt châu. 3. Japa-màlà: Niệm tụng tràng hạt. 4. Akwa-sùtra: Sợi chỉ xâu tràng hạt. Tiếng Phạm Màlà (hoặc Màlya) có nghĩa là tràng, chuỗi. Người Ấn độ đời xưa có tập tục đeo chuỗi anh lạc, từ đó diễn biến thành niệm châu, như phái Tì thấp nô trong Bà la môn giáo cổ đại đã có thói quen đeo niệm châu rất sớm. Gần đây, ở vùng Tây bắc Ấn độ, 1 số tượng điêu khắc Long vương qui Phật, trong đó có 1 pho tượng Bà la môn đầu mang niệm châu. Tượng khắc này được suy định là tác phẩm ở khoảng thế kỉ II, như vậy đủ biết thời đó niệm châu đã rất phổ biến trong giới Bà la môn. Nhưng thời đại niệm châu được sử dụng trong Phật giáo có lẽ đã muộn hơn, tức phải từ sau thế kỉ II trở đi. Trong các kinh điển Phật giáo nói về nguồn gốc của niệm châu, thì phần nhiều lấy thuyết của kinh Mộc hoạn tử trong đó đức Phật chỉ dạy cách dùng niệm châu cho vua Ba lưu li làm tiêu biểu chung. Kinh Mộc hoạn tử (Đại 17, 726 thượng) ghi: Phật bảo vua rằng: Nếu muốn diệt trừ phiền não chướng, báo chướng, thì nên xâu 108 hạt mộc hoạn, thường mang theo bên mình, khi đi, đứng, ngồi, nằm, phải chuyên tâm nhất ý, xưng niệm Phật, Pháp, Tăng, khi niệm xong 1 câu thì lần 1 hạt mộc hoạn, cứ như thế dần dần lần đến 10, 20, 30, 100, 1.000, cho đến trăm nghìn vạn hạt. Ngoài ra, cũng có thuyết cho rằng nguồn gốc niệm châu bắt đầu từ việc các vị tỉ khưu dùng 30 hạt châu màu đen trắng để tính số ngày Bố tát mà có. Về con số hạt của niệm châu, các kinh nói cũng không giống nhau. Ở đây nêu 1 cách sơ lược về phép dùng thường thấy để so sánh như sau: 1. Kinh Mộc hoạn tửqui định 108 hạt. 2. Phẩm Tác sổ châu pháp tướng trong Đà la ni tập quyển 2nêu 4 loại niệm châu: Loại 108 hạt, loại 50 hạt, loại 42 hạt và loại 21 hạt. 3. Kinh Sổ châu công đức cũng nêu 4 loại: Loại 108 hạt, loại 50 hạt, loại 27 hạt và loại 14 hạt. 4. Kinh Kim cương đính du già niệm châulấy 1.080 hạt làm thượng phẩm, 108 hạt làm tối thắng, 54 hạt làm trung phẩm và 27 hạt làm hạ phẩm. 5. Phẩm Sổ châu nghi tắc trong kinh Văn thù nghi quĩcho tối thượng phẩm là 1080 hạt, thượng phẩm là 108 hạt, trung phẩm 54 hạt và hạ phẩm 27 hạt. Ngoài ra cũng có loại 36 hạt, 18 hạt. Trong các loại niệm châu nói trên, loại 108 hạt được dùng phổ biến hơn cả. Vì số hạt được dùng khác nhau nên ý nghĩa tiêu biểu cũng bất đồng: 1. 108 hạt: Biểu thị cầu chứng 108 Tam muội, dứt trừ 108 phiền não. 2. 54 hạt: Biểu thị 54 giai vị trong quá trình tu hành của Bồ tát: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và Tứ thiện căn nhân địa. 3. 42 hạt: Biểu thị 42 giai vị trong quá trình tu hành của Bồ tát: Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa,Đẳng giác và Diệu giác. 4. 27 hạt: Biểu thị 27 Hiền vị thuộc 4 hướng, 4 quả của Tiểu thừa, tức là 18 vị Hữu học của 4 hướng 3 quả trước và 9 vị Vô học của quả A la hán. 5. 21 hạt: Biểu thị 21 giai vị: Thập địa, Thập ba la mật và Phật quả. 6. 14 hạt: Biểu thị 14 thứ vô úy của bồ tát Quan âm. 7. 1.080 hạt: Biểu thị 10 cõi, mỗi cõi đều có 108 hạt nên cộng lại là 1.080 hạt. 8. Ý nghĩa của 36 hạt và 18 hạt: Thông thường cho rằng giống với 108 hạt, nhưng để tiện mang theo nên chia 108 làm 3 là 36 hạt hay chia làm 6 là 18 hạt, chứ không có ý nghĩa riêng. Nhưng sự sai khác về số hạt cũng như ý nghĩa tượng trưng ghi trên chỉ là do Tổ sư các đời vì sự nghiệp giáo hóa mà phương tiện phối hợp, chứ không phải từ nguyên văn kinh điển nêu ra. Về nguyên liệu của niệm châu thì các kinh ghi chép như sau: 1. Kinh Đà la ni tập quyển 2: Hạt niệm châu có thể làm bằng: Vàng, bạc, đồng đỏ, thủy tinh, hạt mộc hoạn, hạt bồ đề, hạt sen... 2. Kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni quyển 9 nêu: Hạt bồ đề, hạt kim cương, chân châu, hạt hoa sen, vàng, bạc... 3. Kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực quyển hạ nêu: Hương mộc, thâu thạch (1 thứ đá quí), đồng, sắt, thủy tinh, chân châu, hạt hoa sen, hạt kim cương, hạt bồ đề và các thứ kim loại hỗn hợp. Niệm châu thường phụ thêm Mẫu châu, Sổ thủ, Kí tử, Kí tử lưu; nếu niệm châu được xâu bằng 108 hạt, thêm 1 hạt Mẫu châu và 2 loại hạt nữa thì Mẫu châu được gọi là Đạt ma châu. Sổ thủ cũng gọi là Tứ thiên châu, là 4 hạt châu nhỏ thêm vào khoảng giữa 108 hạt. Niệm châu của Mật giáo, thông thường ở hạt thứ 7(bắt đầu tính từ Mẫu châu)và sau hạt thứ 21 thì xâu thêm hạt Sổ thủ vào. Kí tử cũng gọi là Đệ tử châu, thông thường có 10 hạt, 20 hạt, hoặc 40 hạt, xâu vào 1 dây nhỏ riêng ở đầu Mẫu châu, gồm 10 hạt, tượng trưng 10 Ba la mật, khi lần tràng niệm Phật đủ 108 biến thì đẩy 1 Kí tử để tính số. Nếu ở phần trên của Kí tử có thêm 1 hạt châu nhỏ trong suốt (thường là thủy tinh), thì gọi là Trợ minh, Tịnh minh, Duy ma, Bổ xứ bồ tát. Kí tử lưu là hạt châu được thêm vào ở đầu cuối của mỗi xâu Kí tử. Cứ theo kinh Kim cương đính du già niệm châu thì các hạt châu tượng trưng Quan âm, Mẫu châu tượng trưng Vô lượng thọ hay tu hành thành tựu quả Phật, cho nên, khi lần tràng lúc đến hạt Mẫu châu thì không được vượt qua mà phải quay ngược trở lại, nếu không sẽ phạm tội Việt pháp. Lần tràng hạt mà tụng chú và niệm Phật thì thường sinh ra công đức. Cứ theo kinh Mộc hoạn tử, nếu niệm danh hiệu Phật, Pháp, Tăng, đủ 20 vạn biến mà thân tâm không loạn, không có các tà vạy, thì sau khi chết được sinh lên cõi trời Diệm ma thứ 3, ăn mặc tự nhiên có, thường yên vui. Còn theo phẩm Tác sổ châu pháp tướng trong kinh Đà la ni tập quyển 2, nếu dùng các thứ bảo vật như vàng, bạc, đồng đỏ, thủy tinh... để làm tràng hạt, thì khi lần tràng tụng kinh, niệm Phật sẽ được đầy đủ công đức của 10 Ba la mật, hiện thân chứng được quả Phật Vô thượng chính đẳng chính giác.Trong Mật giáo, tùy theo các bộ(3 bộ Thai tạng giới và 5 bộ Kim cương giới) mà niệm châu được sử dụng có khác nhau: Nói về 3 bộ: Cứ theo kinh Tô tất địa yết la thì Phật bộ dùng niệm châu hạt bồ đề, Quan âm bộ (Liên hoa bộ)dùng niệm châu hạt hoa sen và Kim cương bộ thì dùng niệm châu hạt Rô na la xoa. Về 5 bộ: Cứ theo kinh Thủ hộ và kinh Du già niệm châu thì Phật bộ dùng niệm châu hạt bồ đề, Kim cương bộ dùng niệm châu hạt kim cương, Bảo bộ dùng niệm châu bằng các thứ báu như vàng, bạc, lưu li v.v..., Liên hoa bộ dùng niệm châu hạt hoa sen, còn Yết ma bộ thì dùng niệm châu bằng các nguyên liệu hỗn hợp. Và trong tất cả các bộ, khi trì niệm xong, hành giả phải cất niệm châu trên 1 cái mâm bằng bạc, chứ không được để lung tung, lẫn lộn với các vật khác. Ngoài ra, lần niệm châu bằng ngón tay nào thì kinh điển Mật giáo cũng nói rất rõ. Về 5 bộ: Cứ theo kinh Nhiếp chân thực thì Phật bộ phải dùng ngón cái và ngón trỏ của tay phải để lần niệm châu; Kim cương bộ thì dùng ngón cái và ngón giữa của tay phải; Bảo bộ thì dùng ngón cái và ngón áp út của tay phải; Liên hoa bộ thì dùng ngón cái và ngón út của tay phải; Yết ma bộ thì dùng cả 5 ngón của tay phải. Về 3 bộ: Cứ theo kinh Tô tất địa thì Phật bộ dùng ngón cái và đầu ngón áp út của tay phải bấm vào nhau, ngón giữa và ngón út dựng thẳng, ngón trỏ hơi co và áp sát vào lóng giữa của ngón giữa mà lần niệm châu; Liên hoa bộ thì đầu ngón cái và ngón giữa bấm vào nhau, 3 ngón kia thì duỗi thẳng; Kim cương bộ thì đầu ngón cái và ngón trỏ bấm vào nhau, 3 ngón còn lại thì duỗi thẳng. Các vị tôn trong Mật giáo có rất nhiều vị tay cầm niệm châu, như Hỏa thiên, Phật mẫu Chuẩn đề, Quan âm Thiên thủ... của Ngoại kim cương bộ thuộc Thai tạng giới, đều cầm niệm châu, trong đó, 1 tay bên phải của bồ tát Quan âm Thiên thủ cầm niệm châu, gọi là tay Sổ châu. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1; kinh Nhất tự Phật đính luân vương Q.4; phẩm Sổ châu nghi tắc trong kinh Đại phương quảng bồ tát tạng Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ Q.11; Thích thị yếu lãm Q.trung; Khai nguyên thích giáo lục Q.3; truyện Đạo xước trong Tục cao tăng truyện Q.20; Loại tụ danh vật khảo Q.255].
niệm chướng
Sân hận hay giận dữ là một chướng ngại cho chánh niệm—Anger is a bar to remembrance. Định Chướng: Thù hận là một chướng ngại cho thiền định: Hatred is a bar to meditation. Tuệ Chướng: Oán ghét là một chướng ngại cho việc phát sanh trí tuệ—The discontent is a bar to wisdom. Theo Kinh Đại Nhật, có năm chướng ngại—According to the Vairocana Sutra, there are five hindrances: Phiền Não Chướng: The hindrances of passion-nature (original sin).
Niệm căn
xem năm căn lành.
niệm căn
Smṛtindriya (S)Một trong 5 căn vô lậu (Tín, tấn, niệm, định, huệ).
; Smrtìndriya (S). The root or organ of memory, one of the five indriya, ngũ căn.
; Smrtindriya (skt)—Một trong năm căn—The root or organ of memory, one of the five indriya. ** For more information, please see Ngũ Căn.
niệm căn tương ứng với sắc vàng, có nghĩa là đạt đến chánh niệm để có định tuệ
Mindfulness corresponds to Yellow colour, signifies that cultivators try to reach right memory so that they can obtain both Concentration and Wisdom. Định Căn tương ứng với sắc Xanh, có nghĩa là Đại Không Tam Muội: Concentration corresponds to Blue colour, signifies Great Empty samadhi. Huệ Căn tương ứng với sắc Đen, có nghĩa là sắc cứu cánh của Như Lai: Wisdom corresponds to Black colour, signifies the supreme colour of the Tathagata.
niệm cụ túc
Là 6 pháp niệm: - niệm Phật - niệm Pháp - niệm Tăng - niệm giới - niệm thiên - niệm xá.
niệm giác chi
Ṣātīsambojjhaṅga (S), Recollection, Sṃṛṭi-bodhyaṅga (S)Một trong Thất giác chi.
; Holding in memory continually, one of the Sapta bodhyanga, thất giác chi.
; Một trong bảy giác chi—Holding the memory continually, one of the Sapta bodhyanga. ** See Thất Bồ Đề Phần.
; (念覺支) Phạm: Smfti-saôbodhyaíga. Pàli: Sati-sambojjhaíga. Cũng gọi Niệm giác phần, Niệm giác ý, Niệm đẳng giác chi. Một trong 7 giác chi, 1 trong 37 phẩm trợ đạo. Giai đoạn tu đạo mà hành giả, trong quá trình chứng ngộ, phải ghi nhớ rõ các giáo pháp như Tam học, Tứ thánh đế, Bát chính đạo, không để quên mất. Ở giai đoạn này, tâm hành giả lấy Niệm làm thể tính, thường chính niệm chính tri, biết rõ sự bất tịnh, khổ, vô thường, vô ngã của thân thụ tâm pháp. (xt. Thất Giác Chi, Tam Thập Thất Đạo Phẩm).
niệm giới
Śīlamusmṛti (S).
; (念戒) Phạm: Zìlànusmfti. Pafli: Zìlànussati. Ghi nhớ công đức của giới hạnh, 1 trong Thập niệm, 1 trong Bát niệm, 1 trong Lục niệm. Nghĩa là thường ghi nhớ giới pháp thì hay ngăn dứt các điều ác, thành tựu Phật đạo.[X. kinh Tạp a hàm Q.20; kinh Tăng nhất a hàm Q.2]. (xt. Niệm).
niệm huệ
Sati-paa (P).
niệm hương buổi sáng
Incense Praise at morning recitation.
niệm kinh
To repeat the sùtras, or other books; to intone them. Dvedhàvitakka-sutta (P) Song tâm kinh, Niệm kinh.
; Đọc kinh hay tụng kinh—To read prayers—To repeat the sutras.
niệm kiếp dung tức
(念劫融即) Cũng gọi Niệm kiếp viên dung. Một niệm tức là vô lượng kiếp, vô lượng kiếp tức là 1 niệm, niệm và kiếp tương tức, tương dung. Cứ theo phẩm Sơ phát tâm công đức hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm quyển 9 (bản dịch cũ) và phẩm Thập địa quyển 27, thì vô lượng kiếp tức là 1 niệm, 1 niệm tức là vô lượng kiếp, 1 niệm thu nhiếp kiếp, kiếp thu nhiếp 1 niệm. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 5 giải thích: Tích niệm thành kiếp, chứ thực ra không có thể riêng của kiếp. Trên phương diện thời gian, thấy lí một tức hết thảy mà nói niệm và kiếp tương tức tương nhập, viên dung vô ngại, bởi vì thời gian không có thể tính.Các nhà Hoa nghiêm dựa theo nghĩa niệm kiếp dung tức để giải thích rõ về thuyết thời của kinh Hoa nghiêm và thời phần tu hành của bồ tát Viên giáo. Đồng thời trong Thập huyền duyên khởi y cứ vào lí niệm kiếp dung tức mà lập ra Thập thế cách pháp dị thành môn. [X. kinh Hoa nghiêm Q.2, 3 (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q.39, 41 (bản dịch mới; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1, 19].
niệm lậu
The leakages, or stream of delusive memory.
; Dòng trí nhớ của ảo tưởng—The leakages or stream of delusive memory.
niệm lục tự di đà
See Recite Amitabha Buddha.
niệm lực
Smṛti-bālani (S), Smṛti-bala (S), Sati-bāla (S).
; Smrtibala (S). One of the five bala or powers, that of memory. Also one of the seven bodhyanga thất bồ đề phần. Force of the mindfulness.
; Smrtibala (skt)—Một trong ngũ lực hay một trong thất bồ đề phần, sức chuyên niệm có thể diệt trừ được ảo tưởng giả tạo—Power of memory or thought (mindfulness) which destroys falsity, one of the five powers or bala, or one of the seven bodhyanga.
; (念力) Phạm: Zmfti-balàni. Pàli: Sati-balàni. Sức nhớ nghĩ. Chỉ cho việc siêng tu giữ cho ý nghĩ trụ ở cảnh sở duyên, để có thể chống lại sự chướng ngại đến từ bên ngoài mà đạt đến vô niệm, là 1 trong 5 lực. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 7, phần 1 (Đại 46, 364 thượng) nói: Niệm lực vững chắc, diệt trừ biên kiến, tà tưởng, không để bị 3 hoặc(Kiến tư, Trần sa, Vô minh)phá hoại. Kinh Di giáo nói: Nếu niệm lực vững chắc thì dù có vào trong đám giặc 5 dục, cũng không bị hại. [X. kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp]. (xt. Ngũ Lực).
niệm ngôn
(As) the mind remembers, (so) the mouth speaks; also the words of memory.
; Tâm niệm thế nào thì miệng nói ra thế ấy—As the mind remember, so the mouth speaks; also the words of memory.
; (念言) Tâm nghĩ miệng nói, cũng tức là đem ý nghĩ trong tâm phát ra lời nói, hoặc tự nói thầm với chính mình ở trong lòng. Phẩm Tín giải kinh Pháp hoa (Đại 9, 18 thượng) ghi: Tự nói thầm rằng: Nếu ta nán lại lâu, có thể bị bức bách.
niệm niệm
Kṣaṇa-kṣaṇa (S), Khaṇa-khaṇa (P)Từ giây phút này tới giây phút khác, từ niệm này tới niệm khác.
; Ksana of a ksana (S). A ksana, sát na, is the ninetieth part of the duration of a thought; an instant; thought after thought. Perpetual and simultaneous transformations of thought.
; Ksana of a ksana (skt)—Khoảng cách giữa hai niệm quá ngắn, không thể xen tạp bởi bất cứ thứ gì—A ksana is the ninetieth part of the duration of a thought—An instant—Thought after thought.
; (念念) Từng giây từng lát, chỉ cho khoảng thời gian cực ngắn. Trong các kinh điển, từ ngữ niệm niệm thường được dùng để hình dung trạng thái sinh, trụ, dị, diệt, biến hóa đổi dời của thế giới hiện tượng. Phẩm Phương tiện kinh Duy ma (Đại 14, 539 trung) nói: Thân như dòng điện, niệm niệm chẳng dừng. [X. kinh Bảo tích Q.96; kinh Vô lượng nghĩa]. (xt. Nhất Niệm).
niệm niệm hoại diệt vô thường
xem ba loại vô thường.
niệm niệm tương tục
Unbroken continuity; continuing instant in unbroken thought or meditation on a subject; also unceasing invocation of a Buddha's name.
; 1) Sự tương tục không ngừng nghỉ: Unbroken continuity. 2) Sự tương tục của niệm niệm hay thiền quán vào một vật thể: Continuing instant in unbroken thought or meditation on a subject. 3) Niệm Phật tương tục không ngừng: Unceasing intonation (invocation) of a Buddha's name.
; (念念相續) Chỉ cho hành giả niệm Phật tâm không tán loạn, tức là niệm sau tiếp theo niệm trước, niệm niệm nối nhau không dứt, không xen lẫn niệm nào khác. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 48, 56 trung) nói: Hoặc cúi đầu, giơ tay, hoặc lễ bái xưng danh, dung nghi bề ngoài tuy khác, nhưng tâm niệm thường còn, niệm niệm nối nhau, thức ngủ không quên. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; Quán niệm pháp môn].
niệm niệm vô thường
Instant after instant, no permanence, i.e. the impermanence of all phenomena; unceasing change.
; Hết thảy các pháp hữu vi sinh diệt không dừng trụ trong từng sát na—No-permanence of Instant after instant, i.e. the impermanence of all phenomena—Unceasing change.
; (念念無常) Tất cả pháp hữu vi sinh diệt trong từng sát na. Luận Kim thất thập quyển thượng (Đại 54, 1247 thượng) nói: Vô thường có 2 thứ, 1 là tạm trụ vô thường, 2 là niệm niệm vô thường. [X. luận Đại trí độ Q.43]. (xt. Vô Thường, Tạm Trụ Vô Trụ).
niệm pháp
Mindfulness of mental states, Dharmanusmṛti (S).
; Dharmànusmrti (S). Contemplation on the Dharma.
; To pray to the Dharma—Mindfulness of the Dharma.
; (念法) Phạm: Dharmànusmfti. Pàli: Dhammànussati. Nhớ nghĩ về thắng, lợi, diệu, đức của Phật pháp, tức là nhớ nghĩ về pháp thanh tịnh, lìa 2 bên, diệt phiền não, dứt ái dục, khiến không nhơ nhớp, không chướng ngại, gọi là Niệm pháp, 1 trong 10 niệm, 1 trong 8 niệm, 1 trong 6 niệm. [X. kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.1]. (xt. Bát Niệm, Niệm).
Niệm Phật
念佛; J: nembutsu;|Là tụng niệm danh hiệu Phật; trong một nghĩa hẹp thì Niệm Phật là phương pháp tu tập chính của tông Tịnh độ và Phật ở đây chính là Phật A-di-đà. Nếu ai niệm danh hiệu Phật A-di-đà với tất cả niềm tin và hi vọng thì có thể thác sinh vào cõi Cực lạc của Ngài.|Sau đây là một vài cách niệm Phật, Bồ Tát thường gặp:|南無阿彌陀佛。Nam-mô A-di-đà Phật; Nhật ngữ: Namu Amida Butsu; Phạn ngữ: Namu Ami-tābha Buddha;|南無本師釋迦牟尼佛。 Nam-mô Bản sư Thích-ca Mâu-ni Phật; Phạn ngữ: Namu Upādh-yāya Śākyamuni Buddha;|南無大悲觀世音菩薩。 Nam-mô Ðại bi Quán Thế Âm Bồ Tát; Namu Mahākaruṇā Avaloki-teśvara Bodhisattva.
niệm phật
Nembutsu (J), Buddhanusmṛti (S), Buddha recitation, Mindfulness of the Buddha, Buddha Recitation.
; To repeat the name of a Buddha, audibly or unaudibly.
; (I) Ý nghĩa của Niệm Phật—The meanings of Buddha Recitation: 1) Niệm hồng danh Phật ra tiếng hay không ra tiếng (gọi tên Phật bằng lời), hay quán tưởng về tướng tốt của Phật—To repeat the name of a Buddha audibly or inaudibly, or visualization of the Buddha's auspicious marks. (II) Mục đích của niệm Phật—The purpose of Buddha Recitation: 1) Mục đích trước mắt của việc niệm Phật là đạt được nhất tâm, từ nhất tâm người ta có thể từ từ thấy tánh để rồi đạt được mục đích tối hậu là Phật quả—To pray to Buddha—To repeat the name of a Buddha (audibly or inaudibly)—Mindfulness of the Buddha—The intermediate goal of Buddha Recitation is to achieve one-pointed mind; from one-pointed mind gradually one can see one's own nature or to achieve the ultimate goal of Buddhahood—See Recite Amitabha Buddha. 2) Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Đức Thích Tôn có lời huyền ký như sau: “Đời tương lai, kinh đạo diệt hết, ta dùng lòng từ bi thương xót, riêng lưu trụ kinh Vô Lượng Thọ trong khoảng một trăm năm. Nếu chúng sanh nào gặp kinh nầy, tùy ý sở nguyện, đều được đắc độ.”—In the Long Amitabha Sutra, Sakyamuni Buddha made the following prediction: “In the days to come, the paths of the sutras will come to extinction. I, with compassion and mercy, will purposely make this sutra survive for a hundred years. Anybody who encounters this sutra will, according to his wish, surely attain Enlightenment.” 3) Trong Kinh Đại Tập, Đức Thế Tôn đã bảo: “Trong thời mạt pháp, ức ức người tu hành, ít có kẻ nào đắc đạo, chỉ nương theo Pháp môn Niệm Phật mà thoát luân hồi.”—In the Great Heap Sutra, Sakyamuni Buddha predicted: “In the Dharma-Ending Age, among multitude of practitioners, very few will attain the Way. The most they can expect is to rely on the Pure Land method to escape Birth and Death. 4) Ngài Thiên Như Thiền Sư, sau khi đắc đạo, cũng đã khuyên dạy: “Mạt pháp về sau, các kinh diệt hết, chỉ còn lưu bốn chữ A Di Đà Phật để cứu độ chúng sanh. Nếu kẻ nào không tin, tất sẽ bị đọa địa ngục.” Bởi đời mạt pháp về sau, khi các kinh đều diệt hết, chúng sanh căn cơ đã yếu kém, ngoài câu niệm Phật, lại không biết pháp môn nào khác để tu trì. Nếu không tin câu niệm Phật mà tu hành, tất phải bị luân hồi. Và trong nẻo luân hồi, việc lành khó tạo, điều ác dễ làm, nên sớm muộn gì cũng sẽ bị đọa địa ngục—Elder Zen Master T'ien-Ju, having attained the Way, also admonished: “In the Dharma-Ending Age, all sutras will disappear, and only the words”Amitabha Buddha” will remain to bring liberation to sentient beings.” This is because, in the distant future, deep in the Degenerate Age, when all sutras have disappeared and people's capacities are at a low level, they will not be aware of any method other than Buddha Recitation. If they do not believe in and practice Pure Land, they will certainly remain mired in the cycle of Birth and Death. Within that cycle, good actions are difficult to perform while bad deeds are easy to commit. Thus sooner or later they are bound to sink into the hellish realms. 5) Theo Ấn Quang pháp sư, một bậc cao Tăng thời cận đại ở Trung Hoa, cũng đã bảo: “Sự cao siêu nhiệm mầu của pháp môn niệm Phật, chỉ có Phật với Phật mới hiểu biết hết được. Những kẻ khinh chê pháp môn niệm Phật, không phải chỉ khinh chê hạng ông già bà cả tu Tịnh Độ, mà chính là khinh chê luôn cả chư Phật và các bậc đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, và Long Thọ. Thời mạt pháp đời nay, chúng sanh nghiệp nặng tâm tạp. Nếu ngoài môn Niệm Phật mà tu các môn khác, nơi phần gieo trí huệ phước đức căn lành thì có, nơi phần liễu sanh thoát tử trong hiện thế thì không. Tuy có một vài vị cao đức hiện những kỳ tích phi thường, song đó đều là những bậc Bồ Tát nương theo bản nguyện để dạy dỗ chúng sanh đời mạt pháp, như trong Kinh Lăng Nghiêm đã nói. Nhưng các vị ấy cũng chỉ vừa theo trình độ của chúng sanh mà thị hiện ngộ đạo chớ không phải chứng đạo. Chỉ riêng pháp môn Tịnh Độ, tuy ít người tu chứng được niệm Phật tam muội như khi xưa, nhưng có thể nương theo nguyện lực của mình và bản nguyện của Phật A Di Đà, mà đới nghiệp vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc. Khi về cõi ấy rồi thì không còn luân hồi, không bị thối chuyển, lần lần tu tập cho đến lúc chứng quả vô sanh.”—The Patriarch Yin Kuang, a Chinese Pure Land Master of recent times, also said: “The magnificence and extraordinary nature of the Buddha Recitation dharma can only be fully understood among the Buddhas. For those who look down on this dharma door of Buddha Recitation, not only will they belittle the 'old men and elderly women' who are practicing Pureland, they will also belittle the Buddhas and the Maha-Bodhisattvas such as Manjusri, Samantabhadra, Asvaghosha, and Nagarjuna. In the current Dharma-Ending Age, sentient beings bear heavy karma and their minds are deluded. If they practice other methods rather than Buddha Recitation, they can expect to sow the seeds of merit, virtue and wisdom but not to escape the cycle of Birth and Death in their present lifetimes. Although there are a few instances of great monks exhibiting extraordinary achievement, they are in reality transformation Bodhisattvas. In accordance with their vows, they act as examples for sentient beings in the Dharma-Ending Age, as is taught in the Surangama Sutra (a key Zen text). Even then, these Bodhisattvas, adapting themselves to people's 'apacities, can only take the expedient appearance of having awakened to theWay, but not having attained Enlightenment. In the specific case of Pure Land, very few sentient beings can achieve the Buddha Recitation Samadhi these days, compared to earlier times. However, through Buddha Recitation, they can take their residual karma along with them to the Pure Land by relying on their own vows and those of Amitabha Buddha. Once there, they have escaped Birth and Death, achieved non-retrogression, and can progress in cultivation until they reach the stage of Non-Birth.” (III) Tịnh Độ và Thiền—The Pure Land and Zen—Nhiều đại thiền sư Trung Quốc đã ngộ bên Thiền vẫn âm thầm hành trì và hoằng hóa pháp môn niệm Phật. Trong số các vị nầy, có những vị đã đạt được đại ngộ như Thiền sư Vĩnh Minh, Thiên Y Hoài, Viên Chiếu Bản, và Tử Tân, vân vân. Đến như ngài Bách Trượng Hoài Hải, đệ tử kế thừa pháp của Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất ở Giang Tây, người mà những tòng lâm trong thiên hạ đều phải theo cách thức kiến lập thanh quy pháp chế. Từ xưa đến nay chưa có ai dám có lời thị phi hay trái với pháp chế nầy. Theo thanh quy của ngài, thì nghi thức tụng cầu cho những vị Tăng bệnh nặng có lời văn như sau: “Phải nhóm chúng lại, tất cả đồng tụng bài kệ tán Phật A Di Đà, rồi cao tiếng niệm Nam Mô A Di Đà Phật, hoặc trăm câu, hoặc ngàn câu. Khi niệm xong, hồi hướng phục nguyện rằng 'Nếu các duyên chưa mãn, sớm được an lành. Như hạn lớn đến kỳ, nguyện sanh về An Dưỡng Địa.' Đây rõ ràng là bằng chứng chỉ quy Tịnh Độ vậy. Lại trong nghi thức đưa những vị Tăng đã tịch có đoạn nói: “Đại chúng đồng niệm A Di Đà Phật hồi hướng phục nguyện rằng: Thần siêu cõi Tịnh, nghiệp dứt đường trần, thượng phẩm sen nở hiện kim thân, nhứt sanh Phật trao phần quả ký.” Đến như lúc trà tỳ, trong thanh quy lại dạy: “Vị Duy Na chỉ dẫn khánh niệm 'Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật' mười lần, đại chúng đồng xướng họa theo. Khi xướng xong lại hồi hướng rằng 'Trước đây xưng dương mười niệm, phụ giúp vãng sanh.'” Tất cả những thanh quy nhà Thiền vừa kể trên trong các thiền gia, chứng minh rõ ràng sự quy hướng Tịnh Độ của các ngài—Many great Zen masters in China, already achieved great enlightenment in Zen, quietly practiced and propagated Pure Land Teachings. Among them are found many Elder Masters of high achievement, including Masters Yung Ming, T'ien-I-Huai, Yuan-Chao-Pen, and Tzu-Shen, etc. Even Zen Master Pai-Chang-Huai-Hai, direct successor to the great Zen Master Ma-Tsu-Tao-I in Chiang-His. Zen communities throughout the world are established on his model and have adopted the “Pure Rules” for monasteries which he instituted. Since ancient times, no one has dared to criticize or violate this set of rules. According to these rules, prayers for the benefit of seriously ill monks and nuns include the following passage: “The fourfold assembly should gather together , and all shall recite verses of praise to Amitabha Buddha and chant his name from one hundred to one thousand times. At the end, the following words of transference should be read 'If conditions have not yet come to an end, let him quickly recover. If the time of death has arrived, we pray that he will be reborn in the Pure Land.' This is clearly pointing the way back to the Pure Land.” Moreover, the liturgy for sending off deceased monks includes this passage: “The great assembly should all recite the name of Amitabha Buddha in unison, transfering the merits and making the following vows: Let his soul be reborn in the Pure Land, his karma in the world of dust severed; let him be rborn in the upper lotus grade, with a golden body. May he also receive a prediction of Buddhahood in one lifetime.” Furthermore, at the time of burial or cremation, the Pure Rules stipulate: “The monk in charge of the service should lead the way, striking the small bell, and recite the name of Amitabha Buddha ten times, with the great assembly following the unison. After recitation, the following words of transference should be read 'We have just intoned the Buddha's name ten times to assist in rebirth.” All of the above mentioned Pure Rules clearly pointing the way back to the Pure Land. (IV) Phân loại Niệm Phật—Categories of Recitation of Buddha-name: Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, có hai loại niệm Phật—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Treatise on the Ten Doubts, question number three, there are two kinds of Recitation of Buddha-name: 1) Duyên Tưởng Niệm Phật: Niệm Phật là duyên tưởng theo ba mươi hai tướng tốt của Phật, làm sao cho khi mở mắt hay nhắm mắt cũng đều thấy Phật—One method of Buddha Recitation is to focus on or visualize the thirty-two auspicious signs of the Buddha, concentrating the Mind so that, asleep or awake, you always see the Buddha. 2) Chuyên Xưng Danh Hiệu: Một phương pháp khác thông dụng hơn là chuyên xưng danh hiệu, chấp trì không tán loạn, cứ bền giữ như thế, trong đời nầy cũng được thấy Phật. Phép xưng danh cần phải lắng lòng không cho tán loạn, mỗi niệm nối tiếp nhau, buộc tâm nơi hiệu Phật. Khi miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật, tâm phải soi theo mỗi câu mỗi chữ cho rành rẽ rõ ràng. Khi xưng danh hiệu Phật, không luận ít hay nhiều, đều phải một lòng một ý tâm tâm nối nhau. Niệm như thế mới có thể diệt được tám triệu kiếp tội nặng nơi đường sanh tử. Nếu chẳng vậy thì tội chướng khó tiêu trừ—Another, more common employed method is to concentrate exclusively on reciting the Buddha's name, holding fast singlemindedly and without interruption. In this way, the practitioner will see the Buddha in this very life. This method requires that the Mind be calm, still and undisturbed, each recitation follows one before, the Mind focus on the Buddha name. While the mouth recites the Buddha's name, the Mind should clearly contemplate each and every utterance, so that each and every word is clear and distinct. During recitation, regardless of the number of utterances, Mind and thought should be utterly sincere and focussed. Only with such singleminded practice can each utterance erase 'eight million eons of heavy transgressions.' Otherwise, karmic obstructions are difficult to eradicate. 3) Lý Sự Niệm Phật—Theoretical and Practical Buddha Recitation: Niệm Phật đều có lý và sự—Reciting Buddha has theory and practice. a) Lý Niệm Phật—Theoretical Buddha Recitation: Lý là lẽ phải là điều suy luận. Đây là cảnh giới giải ngộ thuộc về phần chơn tánh—Theories are truths, are the matter of thoughts and reflections. This is the realm of being able to penetrate deeply into the True Nature. b) Sự Niệm Phật—Practical Buddha Recitation: Sự là phương tiện, là công hạnh hành trì tu tập, là hình thức. Đây là cảnh giới thuộc về phần tướng—Practice is a skillful method or means toward an end, the effort put forth in cultivation and application of theory. This is regarded as the ralm of Form-Characteristic. c) Tuy nhiên, nếu luận đến chỗ cùng cực thì lý là sự và sự là lý, tánh là tướng, tướng là tánh. Lý tức sự, sự tức lý; lý sự đều viên dung lẫn nhau mà Kinh Hoa Nghiêm gọi là lý sự vô ngại, sự sự vô ngại. Trên đường tu tập, lý sự làm trong ngoài cho nhau, phối hợp cùng giúp đỡ lẫn nhau cho được thành tựu. Có lý thì việc làm mới có giềng mối cương lãnh, có sự mới chứng minh và thực hiện được điều suy luận để đi đến mục tiêu và thâu đoạt kết quả vãng sanh hay giác ngộ. Lý như đôi mắt sáng để nhìn đường; sự như đôi chân khỏe để tiến bước. Nếu không có mắt hoặc có mà lờ lạc, tất dễ lạc đường. Nếu không có chân, thì dù cho mắt có sáng tỏ bao nhiêu cũng chẳng làm sao đi đến nơi đến chốn được. Nếu như có lý mà không có sự, thì cũng như người có họa đồ, biết rõ đường lối mà chẳng chịu đi. Ví bằng có sự mà không có lý, thì cũng như kẻ tuy có đi nhưng mờ mịt đường đi, không người hướng đạo. Có lý lại thêm có sự, thì cũng như người đã thông suốt đường lối rồi, vừa cất bước hành trình, tất sẽ về đến nơi bảo sở. Cho nên trên đường tu hành nếu có sự mà chẳng có lý thì chẳng đi đến đâu, đôi khi còn bị lầm đường. Tuy nhiên, đáng sợ nhất là những kẻ hiểu lý mà không hành sự, tức là không thực hành, chỉ ngồi nói suông, thì dù cho có nhàn đàm hý luận cả đời cũng chẳng tiến được chút nào. Vì vậy Phật pháp có thể độ hạng người ngu dốt chẳng thông một chữ, chớ vô phương độ những kẻ thế trí biện thông mà không chịu hành trì—However, if this discussion is taken to the ultimate level, then theory is practice, practice is theory. True nature is form characteristic, and form characteristic is true nature. Theory and practice are perfectly harmonious which the Avatamsaka Sutra called 'Theory and practice are without limitation, practice-practice without limitation.' On the path of cultivation, theory and practice are the inside and outside of each other, respectively combining to help each other achieve completeness or enlightenment. Theory is necessary to provide purpose and direction; practice gives validation and proof for reasons and deductions of theory to reach goals and achive results of gaining rebirth or enlightenment. Theory is like two shining eyes to look on the path of enlightenment; practice is like a pair of strong healthy legs making strides. If eyes are missing or blind, or are working insufficiently, it is easy to get lost on the path. If legs are missing, then no matter how sufficient the eyes are, it is impossible to reach the aimed destination. Moreover, knowing theory but not practice is similar to a person who has a map, and clearly knows the path to enlightenment, but refusing to travel. Having practice but not knowing theory is similar to a person who despite traveling finds the progress is slow, often gets lost, without anyone to rely on for guidance. Having both theory and practice is similar to a person who knows clearly the path and once the travel begins knows the proper destination will be reached. Therefore, on the cultivated path, having practice but missing theoretical understanding will not be of any help. However, the most disturbing thing is those who understand theory but refuse to practice, instead always speak hollowly, and not practice what they speak. Even though they are able to debate, discuss, and analyze theory in the most magnificent manner throughout their entire lives, they will never make any progress in their whole life. Therefore, the Buddha Dharma can help those who are ignorant and completely uneducated but have no means to help those with 'worldly intelligence' who lack practice and application of their knowledge. (V) Chơn Niệm Phật—Truthfully and genuinely recite Buddha: Theo Đại Sư Ấn Quang—According to Great Master Yin-Kuang: 1) Mỗi câu tràng hạt Phật là Tâm, 2) Phật đã là Tâm chạy uổng tìm. 3) Bể Phật dung hòa Tâm với Cảnh. 4) Trời Tâm bình đẳng Phật cùng sanh. 5) Bỏ Tâm theo Phật còn mơ mộng. 6) Chấp Phật là Tâm chẳng trọn lành. 7) Tâm Phật nguyên lai đều huyễn giả. 8) Phật Tâm đồng diệt đến viên thành. 1) Each recitation overfilled with Buddha as the Mind, 2) Buddha is Mind, do not waste time searching. 3) Buddhahood is Mind and Environment in harmony. 4) Equality of Mind is the birth of a Buddha. 5) Abandon the True Mind but wish to fllow Buddha is a delusional dream. 6) Attach to Mind is Buddha will not lead to goodness. 7) Mind, Buddha is inherently artificial and ilusory. 8) Buddha, Mind both eliminated, attains Perfection.” Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ đã chú giải—Most Venerable explained in the Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism: 1) Mỗi câu tràng hạt Phật là Tâm—Khi lần chuỗi niệm Phật, thì tâm phải thanh tịnh, nghĩa là miệng niệm, tai nghe rõ tiếng niệm Phật, và ý không suy nghĩ vu vơ, nói cách khác, chớ nên khởi sanh vọng tưởng, thì ngay đó mỗi câu niệm đều được cảm ứng đạo giao hay tương ưng với chư Phật. Đây chính là “Sự Tướng Hành Trì” là pháp thức niệm Phật của hàng liên hữu hiện nay: Each recitation overfilled with Buddha as the Mind—When Pureland cultivators count beads reciting Buddha, the Mind needs to be pure and quiescent; mouth recites Buddha, ear listens clearly to the sounds of Buddha Recitation, Mind does not wander and think about any thing else, in other words, do not let any delusional thought arise. If this is accomplished, in that very moment, each recitation will be harmonious, establishing the “miraculous connections” with Buddha. This is presently the “form-Practice,” which is the dharma practice of Buddha Recitation Lotus cultivators. 2) Phật đã là Tâm uổng chạy tìm—Phải biết Phật không phải từ bên ngoài đến, mà chính thật là do từ Tâm của mình mà thành. Vì cái tâm ấy nó bao hàm hết khắp cả mười phương pháp giới (see Tâm I-H). Một tâm mà hay sanh ra tất cả. Nếu hành giả nhất quyết cầu Phật ở ngoài Tâm mình thì kẻ đó chưa rõ pháp môn “Lý Tánh Duy Tâm.” Cổ đức dạy: “Phật tại Tây Phương vốn chẳng xa. Tây phương ngay ở tại lòng ta.” Lại nữa, tam đồ ác đạo vốn không xa, tam đồ ngay ở tại lòng ta. Cho nên hành giả luôn bình tâm kiểm điểm xem trong Tâm mình có Phật hay chỉ có Tam Đồ—Buddha is Mind, do not waste time searching—It is important to understand Buddha does not come from the outside, but is attained from within the cultivator's Mind. For the Mind encompasses all the ten directions of dharma realms (see Tâm I-H). One Mind can give rise to everything. If anyone who cultivates but is determined to find Buddha outside of his or her Mind, then such a person is one who is not clear about the dharma door of “Theory Nature Is Within The Mind” or everything comes from the Mind. Old saints taught: “The Buddha in the West is inherently not far, Western direction truly exists within our nature.” Moreover, it is necessary to know that the three domains, evil paths are inherently not far, three domains truly exist from within our nature. Therefore, sincere cultivators just calmly and peacefully re-examine our Minds to see if Buddha exists or the three domains and unwholesome paths exist. 3) Bể Phật dung hòa Tâm với Cảnh—Muốn được thành đạo giải thoát, chứng quả vị Đại Bồ Đề của Phật, hành giả phải dung hòa cả hai phần Sự và Lý. Phải biết Tâm là Lý vì nó vô hình vô tướng. Còn Sự là Cảnh vì nó có hình có tướng—Buddhahood is Mind and Environment in harmony—If anyone wishes to attain the Emancipation and the fruit of Ultimate Enlightenment of Buddhahood, it is necessary to harmonize both Practice and Theory. It is important to understand that Mind is Theory because it is formless, and Practice is Environment because it has form. 4) Trời Tâm bình đẳng Phật cùng sanh—Hễ Tâm bình đẳng thì chính là Tâm Phật, vì các pháp đều bình đẳng, đều có đủ ba môn giải thoát là Không, Vô Tướng, và Vô Nguyện như nhau cả. Phật được gọi là đấng Bình Đẳng, vì đối với tất cả các loài chúng sanh, Ngài đều dùng lòng từ bi, thương xót và hóa độ giống y như nhau. Tổ muốn nhắc chúng ta trong tu hành cho được thành đạo phải dứt bỏ cái tâm phân biệt—Equality of Mind is the birth of Buddha—If the Equality of Mind exists then that is the Buddha's Mind for all dharmas are equal, fair, non-biased, and are complete with the following three doors of emancipation and enlightenment of Emptiness, Non-Form, and Non-Vow. The Buddha is known as the “Equality One” because in associating with all sentient beings, He uses compassion, mercy, and empathy to transform and aid them regardless of their forms whether they are heavenly beings or are hell dwellers. The Patriarch wanted to remind all of us on the cultivated path, if anyone wishes to attain enlightenment, it is necessary to eliminate the “Discriminatory Mind.” 5) Bỏ Tâm theo Phật còn mơ mộng—Như có kẻ nào tu hành mà cứ để cho cái Tâm của mình cứ luôn luôn chạy theo vọng tưởng, tức là phan duyên, quên mất cái Chân Tâm của mình đi, tu như thế mà muốn được thành đạo hay được Phật rước về chốn Tây Phương Cựu Lạc, thì kẻ đó chỉ là người mơ mộng mà thôi, quyết sẽ chẳng bao giờ thành Phật được. Phật tử chơn thuần phải để cho Tâm của mình luôn thanh tịnh thì mới hợp với Tâm của Phật và mới thấy được Phật—Abandon True Mind but wish to follow Buddha is a delusional dream—Anyone who cultivates for enlightenment but always continue to allow the Mind to follow delusional thoughts or distractions, allowing for the Mind to pull and dictate one's being, and to forget about one's True Mind or Buddha Nature. If cultivated in this way but wishes to attain the enlightened path, or have Buddha delivered to the Western Ultimate Bliss World, then such a person is only a delusional dreamer, such an individual is certain never see the Buddha. Sincere cultivators should always allow their minds to be pure and quiescent in order to accord with the Mind of the Buddha, and once this happens they will see the Buddha. 6) Chấp Phật là Tâm chẳng trọn lành—Người tu hành nào mà cứ luôn miệng nói lý rằng tâm tôi đã là Phật, cần chi phải tu hành, cần chi phải lạy Phật hay niệm Phật, cần chi phải tụnh kinh, xuất gia, thọ giới, cần chi phải đi chùa nghe pháp, vân vân. Vì thế nên không chịu tu theo cách Hành Trì Sự Tướng, không chịu Y Giáo Phụng Hành. Ngược lại, Tâm chứa đầy những cống cao, ngã mạn, kẻ đó ắt chẳng được trọn lành. Khi lành chẳng được trọn, ắt phải là trọn ác. Tổ muốn nhắc chúng ta chớ nên nói lý suông “Phật là Tâm” trên đầu môi chót lưỡi, mà bỏ đi sự thực hành—Attach to Mind is Buddha then will not attain goodness—For cultivators who often speak hollowly and only in Theory, such as my Mind is already Buddha, then what is the need for a cultivated path? What is the need for prostrating to Buddha, or reciting Buddha's name? What is the need to chant sutra, leave home, or taking precepts? What is the need for going to temples to listen to the Dharma? Etc. Thus, they refuse to cultivate, refuse to apply the teaching to practice, and their minds are filled with egotism and conceit. Such people will never attain goodness. If they never attain goodness, then clearly they will attain wickedness. The Patriarch would like to remind all of us that do not speak hollowly by saying 'Buddha is Mind' and then abandon all 'form practices and applications' because to say and to do so one is guaranteed to 'not attain goodness' on the cultivated path. 7) Tâm Phật nguyên lai đều giả huyễn—Trong cái Chơn Như Pháp Tánh Giới ấy, thì Tâm cũng không có, nghĩa là Tâm bất khả đắc, Phật cũng bất khả đắc. Nếu người tu hành nào mà còn thấy có Phật có Tâm thì còn bị dính mắc vào trong các sự chấp trước, ắt sẽ không bao giờ giải thoát được. Tổ muốn khai thị cho chúng ta về Đệ Nhất Nghĩa Không là cảnh giới đại triệt, đại ngộ của các bậc Thánh nhân giải thoát, chứ không phải là cảnh giới của hàng phàm phu bạt địa chúng ta. Vì chúng ta là phàm phu chưa chứng đắc một chút gì cả nên cần phải chấp vào nơi sự tướng để mà tu. Nghĩa là thấy có vọng tâm cần dứt trừ, hay thấy có Phật để cầu tiếp dẫn—Mind, Buddha is inherently artificial and ilusory—In the True Dharma Realm Characteristic, the Mind does not existthe Buddha does not exist either. Thus, if any cultivator still sees or discriminates there is Buddha, there is Mind, that cultivator is still trapped and stucked in 'attaching to forms and discriminations' and will never attain liberation and enlightenment. The Patriarch wanted to open our Minds to follow the Highest and Most Deeply Penetrating Doctrine belonging in the realm of the 'Great Enlightenment' of the Saintly Beings who have attained liberation and does not belong to the realm of the unenlightened mortals such as ourselves. Because we are ordinary mortals who have not attained enlightenment, it is necessary for us to be attached to the practice and form characteristics in order to cultivate, in other words, we need the dharma as means for us to attain enlightenment. This means we see the existence of the delusional mind needing to be eliminated, and we see the existence of Buddha in order to pray for deliverance. 8) Phật Tâm đồng diệt đến viên thành—Nếu như ai mà tu chứng đắc đến được cảnh giới không còn thấy có Tâm nữa như ngài Huệ Khả trả lời đức Đạt Ma Tổ Sư 'Tôi tìm Tâm không được,' hay không thấy có Phật, thì các bậc ấy đã chứng đạo và trở về được cái thể Nhứt Chơn rồi vậy. Bát Nhã Tâm Kinh gọi là 'Ngũ uẩn giai không' tức là phủi chân bước lên bờ giải thoát—Buddha, Mind both eliminated: Attain Perfection—If anyone is able to penetrate fully the state where the mind no longer exists or no longer seen, as the way the Second Patriarch said to Bodhidharma 'I cannot find the Mind,' or do not see the existence of Buddha; then such a person has attained enlightenment and has returned to Oneness of emptiness and Nirvana. The Heart Sutra refers to the Mind as the 'Five Skandhas Emptiness.” If this is achieved, one has crossed over and landed on the shore of enlightenment.
; (念佛) Phạm: Buddhànusmfti. Pàli:Buddhànussati. Trong tâm nhớ nghĩ về Pháp thân của Phật(lí niệm Phật), quán tưởng thân tướng cụ thể của Phật, hoặc quán tưởng công đức của Phật, cho đến miệng xưng niệm danh hiệu của Phật... đều gọi là niệm Phật, là 1 trong những phương pháp tu hành cơ bản của Phật giáo. Trong đó, niệm Phật theo lí pháp, gọi là Pháp thân niệm Phật; trong tâm nhờ nghĩ về công đức và thân tướng của Phật, gọi là Quán tưởng niệm Phật; còn miệng xưng niệm danh hiệu Phật thì gọi là Xưng danh niệm Phật. Tiểu thừa chỉ niệm Phật Thích ca mâu ni, Đại thừa thì chủ trương trong 10 phương 3 đời có vô số Phật, cho nên danh hiệu Phật được niệm cũng rất nhiều. Nhưng thông thường thì niệm Phật A súc, Phật Dược sư,Phật Di lặc, Đại nhật Như lai, Phật A di đà v.v...Trong đó, đối tượng chính là Phật A di đà, cho nên niệm Phật A di đà được xem như niệm tất cả chư Phật. Trong các kinh A hàm, niệm Phật tức là bày tỏ lòng qui kính, lễ bái, tán thán, nhớ nghĩ đối với đức Phật Thích ca mâu ni. Nhờ công đức niệm Phật mà diệt trừ tham sân si, được sinh lên cõi trời, được chứng nhập Niết bàn. Trong các kinh Đại thừa như: Bát chu tam muội, Đại A di đà quyển hạ, phẩm Hiền thủ trong kinh Hoa nghiêm quyển 7 (bản dịch cũ)... đều có lập pháp môn Niệm Phật Tam Muội, tức buộc tâm vào danh hiệu của 1 đức Phật, quán tưởng 32 tướng hảo của Phật, cứ như thế niệm niệm nối nhau không dứt, thì có thể ở trong định thấy được Phật, cũng được sinh về cõi Phật. Tại Trung quốc, đối với việc niệm Phật, các sư nêu ra nhiều thuyết: 1. Trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 7, ngài Hoài cảm nêu ra 2 loại Niệm Phật tam muội là Hữu tướng niệm Phật tam muội và Vô tướng niệm Phật Tam muội, cho rằng: Nếu muốn được Vô tướng niệm Phật tam muội thì phải niệm Pháp thân Phật, còn muốn được Hữu tướng niệm Phật tam muội thì niệm Báo thân Phật và Hóa thân Phật. 2. Trong Ngũ phương tiện niệm Phật môn, ngài Trí khải nêu ra 5 loại niệm Phật pháp môn: a) Xưng danh vãng sinh niệm Phật tam muội môn: Lúc hành giả niệm Phật thì phải khởi tâm muốn sinh về Tịnh độ. b) Quán tướng diệt tội niệm Phật tam muội môn: Nhất tâm quán tưởng tướng hảo của Phật phóng ra ánh sáng, ánh sáng ấy chiếu soi tất cả tội chướng, khiến đều tiêu diệt. c) Chư cảnh duy tâm niệm Phật tam muội môn: Đức Phật mà hành giả quán tưởng là từ nơi tự tâm hành giả mà ra, chứ không có cảnh giới nào khác. d) Tâm cảnh câu li niệm Phật tam muội môn: Chính cái tâm quán tưởng của hành giả cũng là không, chẳng có tự tướng. e) Tính khởi viên thông niệm Phật tam muội môn: Hành giả tiến vào thiền định sâu xa, lặng bặt, buông bỏ tất cả tâm thức, ý thức, được chư Phật 10 phương gia bị, hộ niệm, nhờ đó, cửa trí tuệ mở ra, tự tại vô ngại, thành tựu công đức viên mãn. 3. Trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 56, ngài Trừng quán cũng nêu ra 5 loại niệm Phật pháp môn: a) Duyên cảnh niệm Phật môn: Duyên theo cảnh mà niệm Phật. b) Nhiếp cảnh duy tâm niệm Phật môn: Thu nhiếp cảnh vào tâm... c) Tâm cảnh câu mẫn niệm Phật môn: Tâm và cảnh đều bặt... d) Tâm cảnh vô ngại niệm Phật môn: Tâm và cảnh không ngăn ngại nhau. e) Trùng trùng vô tận niệm Phật môn: Lớp này lớp khác, lớp lớp vô tận. 4. Trong Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm biệt hành sớ sao quyển 4, ngài Tông mật nêu ra 4 loại niệm Phật: a) Xưng danh niệm: Chuyên tâm xưng niệm danh hiệu của Phật. b) Quán tượng niệm: Quán niệm tượng Phật. c) Quán tưởng niệm: Quán tưởng thân tướng tốt đẹp của Phật. d) Thực tướng niệm: Quán xét tướng chân thực của mình và tất cả các pháp. 5. Trong luận Niệm Phật tam muội bảo vương, ngài Phi tích nêu ra 3 pháp niệm Phật: a) Niệm hiện tại Phật: Chuyên chú vào 1 cảnh mà viên thông 3 đời. b) Niệm quá khứ Phật: Biết Phật và chúng sinh mê ngộ khác nhau, nhưng nhân quả của Phật và chúng sinh thì giống nhau. c) Niệm vị lai Phật: Nghĩ tất cả chúng sinh đều bình đẳng, đều là Phật vị lai. Ngoài ra, Đại Phật đính thủ lăng nghiêm kinh Viên thông sớ quyển 5 của ngài Truyền đăng và Ngẫu ích tông luận quyển 7 của ngài Trí húc, nêu ra 3 loại Niệm Phật: a) Niệm tha Phật: Niệm cảnh công đức trang nghiêm của Phật A di đà, hoặc niệm tướng hảo của Ngài, hoặc niệm pháp môn, thực tướng của Ngài. Đây là pháp môn tu hành của ngài Tuệ viễn và các sư ở Lô sơn. b) Niệm tự Phật: Quán xét cái tâm 1 niệm hiện tiền không có thể tính, lìa các lỗi lầm, đầy đủ trăm giới và mọi tính tướng, cùng với chư Phật 3 đời bình đẳng không 2, nếu quán xét rõ ràng đến được nhất tâm bất loạn, thì Tam muội liền thành, hoát nhiên phá trừ vô minh, vào cảnh minh tâm kiến tính. Đây là pháp môn tu hành của các sư thuộc Thiền tông và tông Thiên thai. c) Tự tha câu niệm: Tâm quán xét cùng với Phật và chúng sinh cả 3 không sai khác; biết rõ chúng sinh là chúng sinh trong tâm của chư Phật, mà chư Phật tức là chư Phật trong tâm của chúng sinh, cả 2 cảm ứng đạo giao, tự tha không cách nhau. Đây là pháp môn tu trì của các ngài Vĩnh minh, Diên thọ và Sở thạch Phạm kì. Vãng sinh yếu tập quyển hạ, phần cuối của ngài Nguyên tín, người Nhật, thì chia pháp môn niệm Phật làm 3 loại: a) Tầm thường niệm Phật: Niệm Phật hằng ngày. b) Biệt thời niệm Phật: Niệm Phật có thời gian và nơi chốn nhất định. c) Lâm chung niệm Phật: Niệm Phật lúc hấp hối mong được Phật đến đón. Ngoài ra, nhiều người kết đoàn với nhau cùng tu pháp môn niệm Phật, gọi là Niệm Phật hội, Niệm Phật giảng, Kết xã niệm Phật. Ngôi nhà dùng làm nơi tu hành niệm Phật, gọi là Niệm Phật đường. Niệm Phật liên tục gọi là Bất đoạn niệm Phật, Thường niệm Phật; tĩnh tâm niệm Phật gọi là Định tâm niệm Phật; thời khóa niệm Phật hằng ngày gọi là Nhật khóa niệm Phật... Còn có các pháp môn niệm Phật như: Nhiếp tâm niệm Phật, Sổ tức niệm Phật, Tham cứu niệm Phật, Khán thoại niệm Phật, Thích ca niệm Phật, Quan âm niệm Phật, Dược sư niệm Phật, Di lặc niệm Phật v.v... Tóm lại, ý nghĩa đích thực của việc niệm Phật là từ nơi miệng niệm Phật tiến vào niệm Phật trong tâm, niệm niệm không quên, cũng tức niệm này là Phật, thì niệm niệm thành Phật. [X. kinh Tạp a hàm Q.33; kinh Trì trai trong Trung a hàm Q.55; kinh Xà ni sa trong Trường a hàm Q.5; kinh Na tiên tỉ khưu; phẩm Niệm Phật trong kinh Phật tạng Q.thượng; luận Đại trí độ Q.21; luận Nhiếp đại thừa Q.hạ; phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa Q.5; phẩm Niệm Phật Q.9; luận Phân biệt công đức Q.2; Quán niệm pháp môn; Tư duy lược yếu pháp]. (xt. Ngũ Hội Niệm Phật, Thiên Thai Tông, Tịnh Độ Tông, Thiền Tông).
Niệm Phật Che Giấu
(隱し念佛, Kakushinembutsu): tên gọi một loại tín ngưỡng dân gian rất thịnh hành ở Đông bộ địa phương Đông Bắc, trung lâm là Iwate-ken (岩手縣). Mặc dầu tín ngưỡng này được tiến hành trùng lặp với Pháp Môn Bí Sự của Chơn Tông, nhưng về thể chất của nó thì thuộc hệ thống của Chơn Ngôn Niệm Phật, khác biệt với pháp môn trung tên của Chơn Tông. Chính Liễu Điền Quốc Nam (柳田國男, Yanagita Kunio) cũng như Tá Tá Mộc Hỷ Thiện (佐佐木喜善, Sasaki Kizen) đã khẳng định rõ rằng tín ngưỡng Niệm Phật Che Giấu ở địa phương Đông Bắc này thuộc hệ Chơn Ngôn; nhưng Cao Kiều Phạn Tiên (高橋梵仙, Takahashi Bonsen) đã tiến hành điều tra, báo cáo rõ ràng về nguồn gốc và thực trạng của loại tín ngưỡng này, và chứng minh cho chúng ta thấy rõ rằng nó khác với Pháp Môn Bí Sự. Theo điều tra nghiên cứu của Cao Kiều, trong các kinh điển được dùng làm truyền thừa áo nghĩa, có bản Ngũ Luân Cửu Tự Minh Bí Mật Thích (五輪九字明秘密釋) của Giác Noan (覺鑁); có việc các phái tương truyền các tượng của Hoằng Pháp Đại Sư (弘法大師), Hưng Giáo Đại Sư (興敎大師), Thân Loan Thánh Nhân (親鸞聖人); hay có nghi thức nhập môn gọi là “đan kết các ngón tay (指を組む, yubi wo kumu)”, có nghĩa là bắt ấn quyết; cho nên, đó là bản chất của Chơn Ngôn, là hình thức niệm Phật theo kiểu Chơn Ngôn. Nguyên lưu của tín ngưỡng Niệm Phật Che Giấu ở địa phương Đông Bắc này vốn phát xuất từ sự việc vào năm 1753 (Bảo Lịch [寶曆] 3) một nhóm 4 người lên kinh đô Kyoto, được Ngũ Binh Vệ Thiện Hưu (五兵衛善休), người đang tá túc tại Xương Tạng Viện (昌藏院) của Phật Quang Tự (佛光寺) của Chơn Tông, truyền trao cho pháp môn này; nên họ quay trở về và bắt đầu truyền bá; nhưng bị chính quyền của Phiên bắt giữ, xem như là tà pháp và bị xử hình kéo phanh thây vào ngày 25 tháng 5 năm 1754. Hệ thống của Ngũ Binh Vệ dần dần phân phái và phát triển qua các thời Minh Trị (明治, Meiji, 1868-1911), Đại Chánh (大正, Taishō, 1912-1926), Chiêu Hòa (昭和, Shōwa, 1926-1989). Mặt khác, phân phái của Pháp Môn Bí Sự (Thân Loan, Thiện Loan, Như Tín) thuộc hệ thống của Thường Thoại Tự (常瑞寺) ở Đại Cương (大綱, Ōzuna), Bạch Hà (白河, Shirakawa, thuộc Fukushima-ken [福島縣]), cũng rất phổ biến ở địa phương này. Nghi thức của tín ngưỡng Niệm Phật Che Giấu cũng giống như Pháp Môn Bí Sự, được tiến hành trong bóng tối với vài ngọn đèn leo lét, theo sự hướng dẫn của vị thiện tri thức thế tục, được người phụ tá trợ giúp, nhất tâm niệm Phật, xướng to rằng “cứu tôi với (助けたまえ, tasuketamae)” và vị thiện tri thức cho biết rằng khi đạt đến trạng thái gọi là phóng tâm (放心) thì quyết định vãng sanh. Người nào mới vào đạo thì phải giữ bí mật tín ngưỡng này. Khi vào đạo cũng có trường hợp người tuổi thành nhân (20 trở lên); nhưng tại địa phương này, trường hợp các em nhỏ trước khi vào tiểu học lại rất nhiều. Trong các thôn xóm, 9/10 là tín đồ của pháp môn này và ngay như trong cuộc sống thường nhật của họ cũng được các thiện tri thức giúp đỡ. Cho nên, tín ngưỡng này hoàn toàn khác với Pháp Môn Bí Sự của Chơn Tông.
niệm phật chúng sinh nhiếp thủ bất xá
(念佛衆生攝取不舍) Hào quang của đức Phật A di đà chiếu khắp tất cả các thế giới trong 10 phương, cứu độ những người xưng niệm danh hiệu Phật, không bỏ sót người nào. [X. kinh Quán vô lượng thọ].
niệm phật giả
One who repeats the name of a Buddha, especially of Amitàbha.
; Hành giả tu hành bằng cách niệm Phật, đặc biệt là Phật A Di Đà, với hy vọng được vãng sanh Cực Lạc—One who repeats the name of a Buddha, especially Amitabha, with the hope of entering the Pure Land.
niệm phật hành giả
(念佛行者) Chỉ cho người tu pháp môn niệm Phật, hoặc chỉ chung hành giả Tịnh độ.
niệm phật hồi hướng
(念佛回向) I. Niệm Phật Hồi Hướng. Đem công đức mình niệm Phật hồi hướng về Tịnh độ, hoặc hồi hướng cho những người khác còn sống hay đã chết. (xt. Hồi Hướng). II. Niệm Phật Hồi Hướng. Chỉ cho văn hồi hướng đọc sau khi niệm Phật.(xt. Hồi Hướng Văn).
niệm phật kính
(念佛鏡) Gọi đủ: Cầu sinh Tây phương tịnh độ niệm Phật kính. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Đạo kính và Thiện đạo soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Tác phẩm này đem môn niệm Phật so sánh với các pháp môn khác nhằm cổ xúy cho hạnh niệm Phật. Niệm Phật kính có nghĩa là tấm gương soi sáng người tu hạnh niệm Phật, giúp họ tăng thêm lòng tin và dứt trừ ngờ vực. Nội dung sách này chia làm 11 môn, giải thích rõ danh nghĩa và thể đức của việc niệm Phật. Thứ tự các môn là: Khuyến tiến niệm Phật môn, Tự lực tha lực môn, Niệm Phật đắc ích môn, Dĩ đắc vãng sinh môn, Hiệu lượng công đức môn, Hiệu lượng trai phúc môn, Nghi báng đắc tội môn, Thệ nguyện chứng giáo môn, Quảng nhiếp chư giáo môn, Thích chúng nghi hoặc môn và Niệm Phật xuất tam giới môn. [X. Tịnh độ y bằng kinh luận chương sớ mục lục].
niệm phật môn, tông
The sect which repeats only the name of Amitàbha-Buddha.
niệm phật pháp tăng giới
Anuasśātī (S).
Niệm Phật Phòng
(念佛房, Nembutsubō, 1088-?): nhân vật tùy tùng theo Nhất Biến (一遍, Ippen), hiệu là Niệm Phật Phòng (念佛房). Vào tháng 2 năm 1274, khi Nhất Biến lên đường du hành hóa đạo, thì ông cũng đi theo dưới hình thức vị Tăng, và ông được xem như là người thường hậu hạ cho Nhất Biến. Vào tháng 6 cùng năm này, ông chia tay với Nhất Biến.
niệm phật quán
(念佛觀) Phạm: Buddhànusmfti. Pháp quán niệm Ứng thân, Báo thân và Pháp thân của Phật để đối trị lại các nghiệp chướng như: Hôn trầm che lấp, ác niệm tư duy và cảnh giới bức bách. Theo Ngũ môn thiền kinh yếu dụng pháp thì Niệm Phật quán cùng với Bất tịnh quán, Từ bi quán, Duyên khởi quán và Sổ tức quán, gọi chung là Ngũ môn thiền. (xt. Ngũ Đình Tâm Quán).
niệm phật tam muội
Nembutsu Samādhi (J).
; The samàdhi in which the individual whole-heartedly thinks of the appearance of the Buddha, or of the Dharmakàya, or repeats the Buddha-name.
; Buddha Recitation Samadhi. (A) Khi niệm Phật, hành giả phải chú tâm nghĩ tưởng đến pháp thân Phật. Trong khi niệm Phật, hành giả nên thở ra vô đều đặn thế nào mà mình cảm thấy thoải mái nhất, chứ đừng gượng ép thở dài thở ngắn; vì gượng ép sẽ có nguy cơ bịnh đường hô hấp. Người làm công quả giúp việc nhà bếp dốt nát, mặt mày lem luốc, nhưng chuyên trì niệm hồng danh Phật sẽ thành tựu vãng sanh Cực lạc; ngược lại người thông minh đĩnh ngộ mà chỉ nhàn đàm hý luận, thì chuyện vào địa ngục là không thể nghĩ bàn—During repeating the Buddha's name, the individual whole-heartedly thinks of the appearance of the Buddha or of the Dharmakaya. During reciting the Buddha's name, one should inhale and exhale regularly and confortably; try not to lengthen or shorten your normal breath span because by trying to lengthen or shorten your breath, you may develop a respiratory problem. A person who come to the temple to help in the kitchen, dull-witted, and face is covered with soot, but diligently practises Buddha recitation will surely achieve the Pure Land rebirth; in contrast, an intelligent person spends all time in gossiping, rebirth in hells is inconceivable. There are two kinds of samadhi: 1) Định Khẩu Tam Muội: A fixed mouth samadhi. 2) Định Tâm Tam Muội: A fixed mind samadhi. (B) Theo Đại Sư Huệ Viễn trong Liên Tông Thập Tam Tổ, niệm Phật Tam Muội là nhớ chuyên và tưởng lặng—According to Great Master Hui-Yuan in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Buddha Recitation Samadhi means “often remembering” and “having quiescence.” 1) Nhớ Chuyên—Often Remembering: Tâm trí lúc nào cũng chuyên nghĩ nhớ đến Đức Phật A Di Đà, chớ không bị chia chẻ nhiều lối, do đó mà được vào trong cảnh “chí một, tâm đồng.”—Often remembering means always to think and remember Amitabha Buddha and if this is the case, the mind will not be split into infinite directions; therefore, the cultivator is able to penetrate the state of “single mind of complete equality.” a) Chí một—One mind: Đây là tâm chỉ có duy nhất một chí quyết, ấy là “cầu vãng sanh Cực Lạc.”—The mind that has only “one determination,” that is “to gain rebirth in the Ultimate Bliss World.” b) Tâm Đồng—Complete Equality: Tâm giống y hệt như tâm của chư Phật, tức là tâm hoàn toàn lặng lẽ, thanh tịnh—This mind is similar to the Mind of Buddhas, which is a mind of complete purity and quiescence. 2) Tưởng Lặng—Having Quiescence: Tất cả các tư tưởng phù phiếm của chúng sanh đều bị lặng chìm hết cả. Làm được như vậy là được vào trong cảnh “khí thanh, thần sáng.” Hai điều nầy tự nhiên thầm hợp, nương về mà phát sanh ra diệu dụng—It is to have all our sentient beings' delusional thoughts, filled with afflictions, become completely tranquil and quiet. If this is achieved, the cultivator will be able to enter the state of “pure mind and enlightened spirit.” These two states will naturally and spontaneously combine to depend on each other to give rise to an unfathomable connection with the Budhas and Bodhisattvas. a) Khí Thanh—Pure Mind: Khi khí thanh thì trí huệ phát sanh. Trí nầy có khả năng soi ngộ đến tất cả các đạo lý nhiệm mầu—When pure mind exists, it will give rise to Wisdom. This wisdom shines through and penetrates all of the most profound and magnificient Dharma teachings. b) Thần Sáng—Enlightened Spirit: Thần sáng có nghĩa là tinh thần chiếu suốt các nơi tăm tối, không chỗ tối tăm nào mà chẳng được soi tới—Enlightened spirit means the spirit will shine to all darkness, there is no area of ignorance does not reach it.
; (念佛三昧) Tam muội quán niệm đức của Phật hoặc xưng niệm danh hiệu Phật, tức là loại thiền định lấy niệm Phật làm nội dung quán tưởng. Niệm Phật tam muội được chia làm 2 loại: 1. Nhân hành niệm Phật tam muội: Nhất tâm quán tưởng tướng hảo của Phật, hoặc nhất tâm quán tưởng thực tướng của Pháp thân Phật, cả 2 đều là quán tưởng niệm Phật. Trái lại, nhất tâm xưng niệm danh hiệu của Phật thì gọi là Xưng danh niệm Phật. 2. Quả thành niệm Phật tam muội: Ba loại nhân hành nói trên được thành tựu, như trong thiền định được thấy thân Phật hiện tiền. Nhân hành niệm Phật tam muội là tu, Quả thành niệm Phật tam muội là phát được. Kinh Quán vô lượng thọ Phật (Đại 12, 343 trung) nói: ... Lại quán tưởng thân tướng sáng chói của Phật Vô lượng thọ (...), tướng hảo sáng rỡ của Ngài cùng với hóa Phật không thể nói hết. Chỉ nên nhớ tưởng khiến tâm thấy rõ. Người thấy việc ấy tức thấy hết thảy chư Phật trong 10 phương, vì thấy chư Phật nên gọi là Niệm Phật tam muội. Luận Đại trí độ quyển 7 cũng nói: Niệm Phật tam muội có năng lực diệt trừ hết mọi thứ phiền não và các tội đời trước. Về tướng trạng và công năng của loại Tam muội này tuy đều gọi là Niệm Phật tam muội, nhưng chư Phật có 3 đời, 10 phương khác nhau và 3 thân sai biệt, cho nên niệm Phật, quán Phật và xưng danh hiệu Phật cũng bất đồng. Cứ theo Lược luận an lạc tịnh độ nghĩa của ngài Đàm loan và An lạc tập của ngài Đạo xước, thì chuyên chú và liên tục nhớ nghĩ đến tướng trạng của Niệm Phật tam muội, hoặc đến thần lực, trí tuệ, hào tướng, tướng hảo, bản nguyện, danh hiệu... của Phật đều gọi là Niệm Phật tam muội. [X. phẩm Vấn thừa trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; kinh Bồ tát niệm Phật tam muội Q.7; phần Bồ tát niệm Phật tam muội trong kinh Đại phương đẳng đại tập; Lạc bang văn loại Q.2].
niệm phật tam muội bảo vương luận
(念佛三昧寶王論) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Phi tích soạn vào niên hiệu Thiên bảo năm đầu (742) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng 47. Ngài Phi tích lấy Niệm Phật tam muội làm Bảo vương(vua báu) trong các thiền tam muội, đề xướng thuyết Vạn thiện đồng qui, 3 đời đều tu niệm Phật. Nội dung sách này chia làm 3 môn: Niệm Phật vị lai, Niệm Phật hiện tại và Niệm Phật trong suốt 3 đời đều là Phật; sau đó lại chia nhỏ làm 20 môn: Trì giới phá giới đãn sinh Phật tưởng môn, Vô thiện khả trạch vô ác khả khí môn, Thị tâm thị Phật thị tâm tác Phật môn, Vô tâm niệm Phật lí sự song tu môn v.v... Những kinh luận được trích dẫn trong sách này gồm có: Kinh Quán vô lượng thọ, kinh Pháp hoa, kinh Đại phẩm bát nhã, kinh Đại bảo tích, kinh Đại tập, luận Thập trụ tì bà sa, luận Đại thừa khởi tín, An lạc tập v.v... Năm Vạn lịch 36 (1608) đời Minh, ngài Trí húc đem sách này xếp vào bộ Tịnh độ thập yếu quyển 5. [X. Lạc bang văn loại Q.2, 4; Phật Tổ thống kỉ Q.22].
niệm phật tam muội pháp ngữ
(念佛三昧法語) Cũng gọi Ngự bản hoài pháp ngữ. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Chân thịnh người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 77. Nội dung sách này chỉ có 213 chữ, chia làm 3 đoạn: 1. Đoạn thứ 1 nói rõ vào Niệm Phật tam muội thì Cực lạc hiển hiện, có cả chư Phật 3 đời và các thần hiện tới. 2. Đoạn thứ 2 nhấn mạnh bản chất của Niệm Phật tam muội là lòng tin; phàm phu đời mạt thế cần phải xét lại thực trạng bất tín của mình. 3. Đoạn thứ 3 thì nói tất cả chúng sinh phải thệ nguyện trở thành người có đại tín tâm và dốc 1 lòng niệm danh hiệu đức Phật A di đà. [X. Tam pháp ngữ lược giải; Xưng danh am tạp khí; Thiên thai Chân thịnh tông tông học phiếm luận].
niệm phật thiền
(念佛禪) Niệm Phật trong lúc ngồi thiền. Niệm Phật có 4 phương pháp: Quán tượng niệm Phật, Quán tưởng niệm Phật, Thực tướng niệm Phật và Xưng danh niệm Phật. Trong đó, pháp Quán tưởng niệm Phật được truyền từ Ấn độ, như ngài Phật đà bạt đà la lấy pháp Quán tưởng niệm Phật làm chính để tu tập Quán Phật tam muội và Bát chu tam muội. Tại Trung quốc, các Thiền sư tu pháp Niệm Phật thiền thì như môn đệ của Ngũ tổ Hoằng nhẫn đời Đường có các ngài Pháp trì, Trí tân, Tuyên thập và các vị đệ tử thuộc hệ thống ngài Trí tân như: Xử tịch, Vô tướng, Vô trụ, Thừa viễn... Đến đời Tống, Thiền sư Vĩnh minh Diên thọ thuộc tông Pháp nhãn đề xướng Niệm Phật thiền của dòng Từ mẫn và, trong tác phẩm Vạn thiện đồng qui tập, nêu ra thuyết Thiền Tịnh nhất trí. Ngô Việt vương Trung ý thì xây điện Tây phương Hương nghiêm ở chùa Vĩnh minh làm đạo tràng niệm Phật. Thiền sư Thiên y Nghĩa hoài thuộc tông Vân môn và các đệ tử Dương kiệt, Tuệ lâm Tông bản... cũng đều chủ trương Thiền Tịnh song tu. Thiền sư Trường lô Tông di cũng chủ trương Thiền Tịnh song tu, trong Thiền uyển thanh qui do ngài soạn có qui định pháp A di đà Phật thập niệm để siêu tiến vong linh vãng sinh Tịnh độ. Ngoài ra, các Thiền sư Trung phong Minh bản, Thiên như Duy tắc, Bắc giản Cư giản, Sở thạch Phạm kì v.v... ở đời Nguyên, cũng là những người đề xướng Niệm Phật thiền. Đời Minh thì có các ngài Vân thê Châu hoành, Hàm sơn Đức thanh là những nhân tài lỗi lạc trong số những người chủ trương Niệm Phật thiền. Vì vậy, có thể nói, Niệm Phật thiền hầu như đã chiếm trọn địa vị trong Thiền giới Trung quốc. Tông Hoàng bá của Nhật bản cũng truyền thừa Niệm Phật thiền của Trung quốc.
niệm phật thập chủng tâm
(念佛十種心) Mười thứ tâm niệm Phật. Cứ theo hội Phát thắng chí lạc trong kinh Đại bảo tích quyển 92, nếu có chúng sinh phát 10 thứ tâm chuyên chú niệm Phật A di đà, thì lúc lâm chung sẽ được sinh về thế giới cực lạc. Mười thứ tâm ấy là: 1. Tâm không tổn hại: Người niệm Phật đối với chúng sinh thường khởi từ tâm rộng lớn, không gây tổn hại khiến cho họ được yên vui. 2. Tâm không bức não: Người niệm Phật thân tâm an tĩnh, đối với chúng sinh thường khởi tâm đại bi thương xót, làm cho họ được thoát khổ. 3. Tâm ưa giữ gìn: Người niệm Phật đối với chính pháp, hết lòng giữ gìn, không tiếc thân mệnh. 4. Tâm không chấp trước: Người niệm Phật thường dùng trí tuệ quán xét, đối với tất cả pháp, tâm không đắm trước. 5. Tâm khởi ý thanh tịnh: Người niệm Phật không những có khả năng xa lìa các pháp tạp nhiễm thế gian, mà đối với lợi dưỡng cũng thường sinh tâm biết đủ. 6. Tâm không quên mất: Người niệm Phật cầu sinh Tịnh độ, thành chủng trí Phật, trong tất cả thời, niệm niệm không buông bỏ tâm ấy. 7. Tâm không hạ liệt: Người niệm Phật thường có tâm bình đẳng, đối với chúng sinh tôn trọng cung kính, không sinh tâm khinh mạn.8. Tâm sinh quyết định: Người niệm Phật không chấp trước ngôn luận thế gian, đối với đạo Bồ đề vô thượng, sinh tâm chính tín, dứt khoát không ngờ vực. 9. Tâm không tạp nhiễm: Người niệm Phật tu tập công hạnh, bồi đắp gốc lành, tâm luôn xa lìa tất cả phiền não tạp nhiễm. 10. Tâm khởi tùy niệm: Người niệm Phật tuy quán tưởng tướng hảo của Như lai, nhưng không sinh tâm ái trước, thường niệm Phật A di đà ở trong vô niệm.
niệm phật tán loạn
To recite the Buddha's name in a disturbed and agitated way—Phật tử chân thuần không nên niệm Phật tán loạn—Devoted practitioner should never recite the Buddha's name in a disturbed and agitated way.
Niệm Phật Tông
(念佛宗, Nembutsu-shū): tông phái thuyết về việc vãng sanh Tịnh Độ nhờ Xưng Danh Niệm Phật, đặc biệt là niệm danh hiệu A Di Đà. Từ này nói một cách trực tiếp thì muốn ám chỉ đến Tịnh Độ Tông (淨土宗, Jōdo-shū) do Pháp Nhiên (法然, Hōnen, 1133-1212) sáng lập nên, nhưng nó vẫn còn được dùng như là tên gọi chung của cả Tịnh Độ Chơn Tông, Thời Tông và Dung Thông Niệm Phật Tông của Nhật.
niệm phật tông
Tông phái lấy việc xưng tụng hồng danh Đức Phật A Di Đà với chủ đích cầu nguyện vãng sanh Cực Lạc làm tôn chỉ, được sáng lập bởi các ngài Đạo Xước, Thiện Đạo và các vị khác vào thời nhà Đường—The sect which repeats only the name of Amitabha with the intention to go to (be reborn) the Western Paradise after death, founded in the T'ang dynasty by Tao-Ch'o, Shan-Tao, and others.
; (念佛宗) Cũng gọi Tịnh độ tông. Chỉ cho tông phái quán tưởng và xưng niệm danh hiệu đức Phật A di đà nguyện cầu vãng sinh Cực lạc. Ngài Long thụ y cứ vào pháp Vãng sinh Tịnh độ nói trong kinh Vô lượng thọ mà lập thành Nan hành đạo (đạo khó thực hành) và Dị hành đạo(đạo dễ thực hành). Đến các ngài Đạo xước, Thiện đạo ở đời Đường, Trung quốc, tiếp nối thuyết minh ý này, lấy pháp Thử độ nhập Thánh ( ............) (thành Thánh cõi này) làm tự lực thánh đạo(dựa vào sức tu hành của chính mình), lấy Tịnh độ vãng sinh ( .) (sinh sang Tịnh độ) làm tha lực dị hành(nhờ sức gia bị của Phật). Những tông phái vâng theo giáo chỉ này gọi chung là Tịnh độ tông, hoặc Niệm Phật tông. Nhật bản thì gọi là Tịnh độ chân tông. (xt. Tịnh Độ Tông).
niệm phật vi bổn
Phật A Di Đà sẽ rước người về Tây phương Cực Lạc dù người ấy chỉ niệm hồng danh Ngài---Amitabha Buddha will revert or receive the one who merely repeat his name.
niệm phật vi tông
(念佛爲宗) Tông phái lấy niệm Phật làm pháp môn chủ yếu, tức xưng niệm danh hiệu Phật làm pháp môn tu trì, đồng thời, lấy Niệm Phật tam muội nói trong kinh Quán vô lượng thọ làm tông chỉ. Đây là phán giáo của ngài Thiện đạo đời Đường. (xt. Niệm Quán Lưỡng Tông).
niệm phật và lục ba la mật
Theo ngài Ngẫu Ích Đại Sư, Tổ thứ Chín của Trung Quốc Liên Tông Thập Tam Tổ, niệm Phật và hành trì Lục Độ không sai khác—According to Great Master Ou-I, the Ninth Patriarch of the Chinese Thirteen Patriarchs of the Pureland Buddhism, there are no differences between practicing Buddha Recitation and practicing the Six Paramitas: 1) Niệm Phật mà buông bỏ được thân tâm và thế giới ấy là Đại Bố Thí: Reciting the Buddha's name without being attached to mind and body is the practice of “Great Giving.” 2) Niệm Phật mà không khởi tham sân si ấy là Đại Trì Giới: Reciting the Buddha's name without having greed, hatred, and ignorance, is the practice of “Great Maintaining Precepts.” 3) Niệm Phật mà không màng đến các điều nhơn ngã hay các lời thị phi, ấy là Đại Nhẫn Nhục: Reciting the Buddha's name without attachments to self, others, right, wrong, better, worse or any similar gossip is the practice of “Great Tolerance.” 4) Niệm Phật không gián đoạn, không tạp vọng, ấy là Đại Tinh Tấn: Reciting the Buddha's name without interruptions and distractions is the practice of “Great Vigor.” 5) Niệm Phật không còn tưởng nghĩ đến các việc trần tục, dù lớn hay dù nhỏ, ấy là Đại Thiền Định: Reciting the Buddha's name without delusional and chaotic thoughts is the practice of “Great Meditation.” 6) Niệm Phật mà không bị các pháp khác lôi kéo mê hoặc, ấy là Đại Trí Huệ: Reciting the Buddha's name without being allured and attracted by other cultivated paths or Dharma doors is the practice of “Great Wisdom.”
niệm phật vãng sanh
Một người chỉ cần niệm Phật, thì dù trong quá khứ người ấy có phạm phải lỗi lầm, vẫn được phước đức của Phật A Di Đà và được nhận về Tây phương Cực Lạc—If a person merely repeat the name of Amitabha, no matter how evil his life may have been in the past, will acquire the merits of Amitabha and be received into Western Paradise.
niệm phật vãng sanh nguyện
The eighteenth vow of the forty-eight vows of Amitabha—See Tứ Thập Bát Nguyện.
niệm phật vãng sinh
The one who enters the Niệm Phật Tam muội, or merely repeats the name of Amitàbha, however how evil his life may have been, will acquire the merits of Amitàbha and be received in the Pure Land.
niệm phật vãng sinh nguyện
(念佛往生願) Cũng gọi Nhiếp thủ chí tâm dục sinh nguyện, Chư duyên tín nhạo thập niệm vãng sinh nguyện, Văn danh tín nhạo thập niệm định sinh nguyện, Thập niệm vãng sinh nguyện, Xưng danh vãng sinh nguyện, Chí tâm tín nhạo nguyện, Đệ thập bát nguyện. Thệ nguyện thu nhiếp lấy những người niệm Phật sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà, là nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của Phật A di đà... Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng) nói: Nếu tôi thành Phật, chúng sinh ở 10 phương, dốc lòng tin ưa, muốn được sinh về cõi nước của tôi, cho đến niệm 10 niệm mà không được sinh thì tôi không thành chính giác, chỉ trừ những người tạo tội ngũ nghịch và hủy báng chính pháp. Vì thệ nguyện của Phật A di đà sâu nặng như thế, cho nên phàm những người xưng niệm danh hiệu Phật, có đầy đủ tâm chí thành, tâm sâu xa và tâm hồi hướng phát nguyện, cầu vãng sinh, thì chắc chắn sẽ được Phật tiếp dẫn. Cứ theo Vãng sinh lễ tán của ngài Thiện đạo thì từ ngữ cho đến 10 niệm trong văn nguyện, có hàm ý là cho đến 10 tiếng, tức chỉ niệm 10 lần câu Na mô A di đà Phật cũng được sinh về Tịnh độ. Vì đức Phật A di đà đã thành Phật rồi và hiện đang ở cõi Tịnh độ, nên lời thệ nguyện của Ngài không hề hư dối. Về từ ngữ cho đến 10 niệm có nhiều thuyết. Ngài Đàm loan chủ trương cho đến 10 niệm là niệm liên tục không giá đoạn; các ngài Nguyên hiểu, Pháp vị, Huyền nhất... thì cho đó là 10 pháp 10 niệm: Từ, bi, hộ, pháp... nói trong kinh Di lặc phát vấn. Ngài Nghĩa tịch thì cho niệm tức hàm ý thời gian, xưng niệm 6 chữ danh hiệu 1 lần là 1 niệm, 10 lần tức thành 10 niệm, trong mỗi niệm ấy tự nhiên đầy đủ 10 pháp 10 niệm từ, bi v.v... Trong Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, ngài Nguyên không, người Nhật bản, cho rằng giữ giới, tụng kinh, thực hành 6 độ, công đức tuy rất lớn, có thể hồi hướng vãng sinh, nhưng đều không thù thắng bằng công đức xưng danh niệm Phật, cho nên chỉ lấy 1 hạnh niệm Phật làm bản nguyện vãng sinh mà thôi. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn); Quán niệm pháp môn]. (Xt. Tứ Thập Bát Nguyện).
niệm quán lưỡng tông
(念觀兩宗) Chỉ cho tông phái lấy Niệm Phật tam muội và Quán Phật tam muội của kinh Quán Vô lượng thọ làm tông chỉ. Đây là phán giáo Nhất kinh lưỡng tông do ngài Thiện đạo thuộc tông Tịnh độ Trung quốc lập ra; tức lấy kinh Quán Vô lượng thọ làm y cứ căn bản rồi chia ra 2 tông: Niệm Phật và Quán Phật. Tông Niệm Phật là hiển nghĩa(nghĩa rõ ràng)của kinh QuánVô lượng thọ, do đức Phật Thích ca chỉ dạy hồi hướng nguyện cầu mong được vãng sinh về Hóa độ.Tông Quán Phật là ẩn nghĩa (nghĩa kín đáo)của kinh Quán Vô lượng thọ, do đức Phật A di đà chỉ dạy hồi hướng nguyện sinh, mong được vãng sinh về Báo độ. [X. phần Huyền nghĩa trong Quán Vô lượng thọ kinh sớ (Thiện đạo)].
niệm thiên
Devanusmṛti (S)Tên một vị sư.
; One of the six devalokas, that of recollection and desire.
; Niệm dục giới Thiên hay niệm Tam Giới Thiên, một trong sáu loại Dục Thiên (Tiểu Thừa nói niệm Dục giới Thiên, Đại Thừa nói niệm Tam Giới Thiên)—One of the six devalokas, that of recollection and desire.
; (念天) Phạm: Devànusmfti. Pàli: Devànussati. Thường nghĩ đến sự vui sướng và đầy đủ của các trời, đồng thời, tu các thiện nghiệp như bố thí, trì giới... làm cho thân tâm được thanh tịnh, không tạo các nghiệp ác để cảm được quả báo thân tướng tốt đẹp của cõi trời. Phẩm Quảng diễn trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 2 (Đại 2, 555 hạ) nói: Đức Thế tôn dạy rằng: Nếu có tỉ khưu chính thân chính ý ngồi kết già, buộc niệm ở trước, không nghĩ việc khác, chuyên chú niệm thiên, miệng ý thanh tịnh, không tạo nghiệp ác, giữ giới thành thân, phóng ra ánh sáng chiếu khắp mọi nơi (...). Thường xuyên tư duy không lìa thiên niệm, liền được các công đức thù thắng. [X. kinh Tạp a hàm Q.33; kinh Tăng nhất a hàm Q.1; luận Đại trí độ Q.22]. (xt. Niệm).
niệm thuần
(念純) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Minh, người Thái hòa, tỉnh Giang tây, họ Quách, húy Trí nhất. Thân mẫu nằm mộng thấy hoa sen trắng mà mang thai sư, lúc sinh ra sư, ánh sáng soi khắp nhà. Ngay từ nhỏ sư không chịu ăn cá thịt. Lên 10 tuổi sư đã thông suốt nội điển, 18 tuổi đậu Tiến sĩ, từng làm quan đến chức Đô ngự sử, Tuần phủ Quí châu và Quảng đông. Năm 25 tuổi, gặp nạn quyền thần thao túng, sư bỏ quan và theo Thiền sư Đơn hà Đại tố xuất gia, y vào Đại sư Vân thê Liên trì thụ giới. Trong khoảng 10 năm sư đi tham học khắp nơi, Thiền Tịnh song tu, cuối cùng sư đại ngộ và được các ngài Tử bá, Hàm sơn ấn khả. Năm Thiên khải thứ 6 (1626), sư lập am Liên xã, chuyên tu Tịnh độ, mỗi ngày niệm 10 vạn danh hiệu Phật A di đà, lại cất chùa Ngao sơn, am Thanh liên, Chiên đàn lâm... Các nơi xa gần ngưỡng mộ đạo phong của sư tranh nhau đến học rất đông và nhiều người đắc độ. Tháng 7 năm Thuận trị 16 đời Thanh sư tịch, hưởng thọ 73 tuổi, 48 tuổi hạ. Sư mất được 100 ngày mà sắc mặt vẫn như sống, hương thơm không tan. Quan Tri châu là La công và tín chúng lưu giữ nhục thân của sư ở am Liên xã để cúng dường, đến nay đã hơn 300 năm mà không hư hoại. Sư có các tác phẩm: Quan châm thanh loa tập, Thiền tịnh song tu tập, Tịnh độ thi. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.4 (Hư vân)].
niệm thân
Mindfulness of the body.
; Kàyagatàsnrti (S). Mindfulness with regard to the body.
niệm thân kinh
Kàyagatàsmrti-sùtra (S).
niệm thí
Tyagamusmṛti (S)Niệm xả.
; (念施) Phạm: Tyàgànusmftì. Pàli: Càgànussati. Cũng gọi Niệm bố thí, Niệm xả. Thường xuyên nghĩ đến việc bố thí không quên, 1 trong 10 niệm, 1 trong 8 niệm, 1 trong 6 niệm. Pháp uyển châu lâm quyển 34 (Đại 53, 549 thượng) nói: Niệm thí nghĩa là thường nghĩ đến việc bố thí, đối với những tài vật đã đem bố thí, không bao giờ sinh tâm hối tiếc, không mong được báo đền, mau được thiện lợi. Nếu bị người chửi mắng, dùng dao gậy đánh chém, nên khởi lòng từ, không nên tức giận. Khi ta bố thí, ý bố thí không dứt thì trừ được các loạn tưởng, tự đến Niết bàn, không lìa niệm thí, liền được công đức. [X. Tăng nhất a hàm Q.2; Chư kinh yếu tập Q.3]. (xt. Niệm).
niệm thọ
Mindfulness of feelings.
niệm thực
(念食) Thức ăn bằng sức nhớ nghĩ, 1 trong 9 cách ăn. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 41 nêu ra 4 loại ăn thế gian và 5 loại ăn xuất thế gian, Niệm thực thuộc về loại ăn xuất thế gian. Nghĩa là nếu hành giả luôn nhớ nghĩ thiện pháp và giữ gìn không quên, thì chắc chắn sẽ nuôi lớn gốc lành, bổ ích tuệ mệnh, như thức ăn của thế gian nuôi lớn và bổ ích cho sắc thân vậy. (xt. Thực).
niệm trì
To apprehend and hold in memory.
; Duy trì trí nhớ không gián đoạn—To apprehend and to hold in memory.
; (念持) Nhớ nghĩ thụ trì không chút gián đoạn. Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 405 hạ) nói: Niệm trì trí tuệ, giữ các duyên không để tán loạn, cho nên gọi là Niệm xứ.[X. kinh Hoa nghiêm Q.1 (bản 80)].
niệm trì phật
(念持佛) Cũng gọi Chẩm mộc tôn. Gọi tắt: Trì Phật. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho tượng Phật được đặt ở phòng riêng hay mang theo bên mình. Cứ theo Tứ phần luật Tỉ khưu giới bản và điều Ngọa tức phương pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3, thì Ấn độ đã có phong tập an trí tượng Phật trong phòng tăng để lễ kính hàng ngày rất sớm. Ở Nhật bản, các tượng Phật cỡ nhỏ rất được nhiều người ưa thích. Những kiệt tác trước thời Thiên bình, như Niệm trì Phật của Quật phu nhân, phần nhiều được đặt trong khám thờ trong Trì Phật đường, hoặc thờ riêng 1 gian trong nhà. Nhưng, về sau, phong tục Trì Phật đường rất thịnh hành. [X. Thập di vãng sinh truyện Q.thượng; Loại tụ danh vật khảo Q.26].
niệm trước
Through perverted memory to cling to illusion.
; Từ loạn niệm dẫn đến chấp trước vào ảo tưởng—Through perverted memory to cling to illusion.
niệm tâm
Mindfulness of the mind.
niệm tăng
Mindfulness of the Sangha.
niệm tụng
Japa (S)Tâm niệm, miệng tụng danh hiệu Phật.
; To recite, repeat, intone, e.g. the name of a Buddha; to recite a dhàranì, or spell.
; 1) Niệm hồng danh một vị Phật: To recite, repeat, intone the name of a Buddha. 2) Niệm Đà La Ni hay niệm chú: To recite a dharani or spell.
; (念誦) Phạm: Jàpa. Tâm niệm, miệng tụng danh hiệu Phật, thần chú hoặc văn kinh. Có thể chia 2: I. Pháp Niệm Tụng Của Mật Giáo. Mật giáo quán tụng chân ngôn của bản tôn mục đích cầu mong bản tôn và tam mật thân, khẩu, ý của hành giả trở thành 1 thể, cho đến thành Phật. Niệm tụng có Chính niệm tụng và Tán niệm tụng. Chính niệm tụng cũng gọi Niệm tụng, Thứ đệ niệm tụng, là chỉ cho việc tụng niệm chân ngôn của bản tôn 1 cách chính xác. Tán niệm tụng cũng gọi là Tùy ý niệm tụng, Chư tạp niệm tụng, thì không chỉ giới hạn ở việc tụng niệm chân ngôn của bản tôn, mà còn tụng chân ngôn của các vị tôn khác có liên quan với hành giả. Chính niệm tụng là đốt hương xông hạt châu, dùng chân ngôn Tịnh châu để gia trì, kế đến tụng Thiên chuyển minh (chân ngôn Toàn chuyển môn); sau hết, quán tưởng chân ngôn bí mật(quán chữ Luân) trong vòng tròn Tâm nguyệt(trái tim)của hành giả và bản tôn, rồi tụng Đà la ni. Ba giai đoạn tu pháp ghi trên nối nhau không gián cách, xa lìa được nghiệp nhơ nhớp mà tương ứng với Tam mật của bản tôn, thành tựu tất địa. Còn Tán niệm tụng thì trước tiên tụng chân ngôn Phật nhãn và cuối cùng tụng chân ngôn Nhất tự luân. Ngoài ra, vì pháp tu khác nhau nên có nhiều cách niệm tụng: 1. Tâm tưởng, Tiên trì tụng, Cụ chi, Tác thành tựu. 2. Âm thanh, Kim cương, Tam ma địa, Chân thực. 3. Tam ma địa, Ngôn âm, Kim cương, Hàng ma. 4. Trừ tai, Hàng phục chư ma, Tăng ích, Nhiếp triệu. [X. phẩm Trì tụng pháp tắc trong kinh Đại nhật Q.7; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1, 4; Niệm tụng kết hộ pháp phổ thông chư bộ; Đại nhật kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ Q.hạ]. II. Pháp Niệm Tụng Của Thiền Tông. Thiền tông lấy danh hiệu của 10 đức Phật làm pháp niệm tụng. Cứ theo môn Phúng xướng trong Thiền lâm tượng khí tiên thì pháp này do ngài Đạo an đặt ra vào đời Đông Tấn. Mười đức Phật là: 1. Thanh tịnh pháp thân Tì lô giá na Phật. 2. Viên mãn báo thân Lô xá na Phật. 3. Thiên bách ức hóa thân Thích ca mâu ni Phật. 4. Đương lai hạ sinh Di lặc tôn Phật. 5. Thập phương tam thế nhất thiết chư Phật. 6. Đại thánh Văn thù sư lợi bồ tát. 7. Đại hạnh Phổ hiền bồ tát. 8. Đại bi Quán thế âm bồ tát. 9. Chư tôn Bồ tát ma ha tát. 10. Ma ha Bát nhã ba la mật. Pháp niệm tụng trên đây được chia làm 2 loại: 1. Tam bát niệm tụng: Pháp niệm tụng ở Tăng đường. Trước hết, treo bảng niệm tụng, quét dọn Tăng đường, tới giờ bày biện hương đèn, thỉnh chuông tập chúng, đại chúng lần lượt đi vòng quanh Tăng đường xưng niệm danh hiệu 10 đức Phật. Cũng được chia làm 2 loại: a) Tam niệm tụng: Niệm tụng vào các ngày 3, 13, 23 trong mỗi tháng. b) Bát niệm tụng: Niệm tụng vào các ngày 8, 18, 28 trong mỗi tháng. 2. Tứ tiết niệm tụng: Niệm tụng vào 4 ngày lễ lớn: Kết hạ, giải hạ, đông chí và đầu năm. Thứ tự của nghi thức đại khái giống với Tam bát niệm tụng, chỉ khác câu văn mà thôi. Ngoài ra còn có pháp niệm tụng vong tăng hoặc vong linh người thế tục. 1. Nhập khám niệm tụng: Niệm tụng lúc đưa thi thể vào quan tài. 2. Tỏa khám niệm tụng: Niệm tụng lúc đậy nắp quan tài. 3. Khám tiền niệm tụng: Niệm tụng ở trước khám. 4. Cử khám niệm tụng: Niệm tụng lúc di quan. 5. Sơn đầu niệm tụng: Niệm tụng lúc hạ huyệt. [X. Thiền uyển thanh qui Q.2; Nhập chúng tu tri; Tùng lâm hiệu định thanh qui Q.hạ; điều Trụ trì nhật dụng, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng].
niệm tụng kị thập ngũ địa
(念誦忌十五地) Khi lập đàn niệm tụng để cầu phúc, trừ họa, nên tránh 15 chỗ. Cứ theo kinh Nhất tự Phật đính luân vương quyển 2, nếu chúng sinh muốn cầu phúc đức, tiêu trừ tai họa, thì nên chọn nơi yên tĩnh vắng vẻ, kết giới lập đàn, 3 nghiệp(thân, khẩu, ý) trong sạch, cúng dường Thánh tượng, tụng niệm thần chú Phật đính luân vương để gia trì, thì được thành tựu. Nhưng nếu tác pháp lập đàn ở những nơi Dược xoa, La sát thường lui tới thì quỉ thần tiện dịp đến quấy nhiễu, khiến việc làm khó thành tựu, bởi thế nên tránh 15 chỗ như sau: 1. Chỗ thần long giữ gìn. 2. Chỗ Dược xoa la sát thường tụ họp. 3. Nơi rừng lạnh (nghĩa địa) thu chứa xác chết.4. Nơi không có Phật pháp, thiện thần không đến thủ hộ. 5. Nơi có hổ báo, chó sói. 6. Chỗ có nhiều rắn rết, muỗi mòng. 7. Nơi không mưa, các nguồn nước khô cạn. 8. Nơi nhiều gió, lạnh lẽo, heo hút. 9. Nơi có giặc giã, không yên ổn. 10. Chỗ có lò sát sinh. 11. Nơi bán rượu say sưa. 12. Nơi mua bán kinh điển, tượng Phật. 13. Nơi buôn bán vũ khí, dụng cụ đánh bắt chim muông. 14. Nơi có nhà chứa bán dâm. 15. Nơi nhiều nạn, nước, lửa, đao binh...
niệm tử
Māraṇa-smṛti (S).
; (念死) Phạm: Maraịasmfti. Pàli: Maraịa-sati. Cũng gọi Niệm đương chung vong. Lúc nào cũng nên nhớ rằng thân này cuối cùng sẽ phải chết, là 1 trong 8 niệm, 1 trong 10 niệm. Theo luận Đại trí độ quyển 22 thì người tu hành thường phải nhớ nghĩ, thân này nếu không bị giết thì tự nó cũng sẽ phải chết, bởi thế thân này có thể chết bất cứ lúc nào chứ không đợi đến già. Ngoài ra, chuyên niệm mệnh căn dứt tuyệt, không hình không tiếng, không tướng mạo, không có nghĩ tưởng nào khác, cũng gọi là Niệm tử. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.34]. (xt. Niệm).
niệm vô thường
Instant after instant, always think about “no permanence.”
niệm xả
cũng là niệm bố thí hay niệm thí, vì tu tập bố thí tức là buông xả, không bám giữ vật sở hữu.
; Xem Niệm thí.
niệm xứ
Smṛti-upasṭhāna (S), Satipaṭṭhāna (P),
; Smrtyupasthàna (S). The presence in the mind of all memories, or the region which is contemplated by memory. Tứ niệm xứ, four foundations of mindfulness.
; Smrtyupasthana (skt)—Dùng trí để quán sát cảnh—The presence in the mind of all memories, or the region which is contemplated by memory—Objects on which memory or the thought should dwell. ** For more information, please see Tứ Niệm Xứ.
; (念處) Phạm: Smfty-upasthàna. Cũng gọi Niệm trụ. Niệm là trí quán xét; Xứ là chỗ bị quán xét. Nghĩa là dùng trí tuệ quán xét đối tượng và dừng ý niệm lại ở chỗ đối tượng đó, là 1 khoa mục trong 37 pháp bồ đề phần. Niệm xứ có 4: Thân, thụ, tâm, pháp. Quán xét tự tướng, cộng tướng của mỗi xứ để đối trị 4 thứ điên đảo: Tịnh, lạc, thường, ngã. Ngoài ra, Tam niệm trụ(Tam niệm xứ) cũng gọi Tam ý chỉ, 1 trong 18 pháp bất cộng của đức Phật, chỉ cho công đức thù thắng đặc biệt chỉ đức Phật mới có. Đó là: 1. Đệ nhất niệm trụ: Đệ tử sốt sắng nghe pháp, tu hành đúng chính pháp, Như lai không vì thế mà mừng thầm, làm mất tâm tĩnh lặng của mình. 2. Đệ nhị niệm trụ: Đệ tử nếu không sốt sắng nghe pháp, không làm theo chính pháp, Như lai cũng không vì thế mà lo buồn, làm mất tâm tĩnh lặng của mình. 3. Đệ tam niệm trụ: Đệ tử hoặc sốt sắng nghe pháp, tu hành đúng chính pháp, hoặc không sốt sắng nghe pháp, không tu hành đúng chính pháp, Như lai đều không vì thế mà vui mừng hay lo buồn, làm mất tâm tĩnh lặng của mình. (xt. Tứ Niệm Trụ).
niệm xứ giác phần tam muội
Smṛti-saptabodhyaṅga-samādhi (S)Một trong Thất giác phần Tam muội. (Xem Saptabodhyanga-Samadhi).
niệm định
Correct memory and correct samàdhi.
; Chánh niệm và chánh định—Correct memory and correct samadhi.
Niệt-gu-na-pa
S: nirguṇapa; »Kẻ vô dụng giác ngộ«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (siddha) Ấn Ðộ, có lẽ là đệ tử của Kan-ha-pa (s: kāṇhapa), sống trong thế kỉ thứ 10.|Niệt-gu-na-pa sinh trong một gia đình thuộc giai cấp thấp kém tại Pu-va-đê-sa (s: pūrvadeśa). Khi ông sinh ra cha mẹ rất vui mừng, nhưng chẳng bao lâu gia đình rất thất vọng vì ông là người ngớ ngẩn, không làm được gì cả. Ngày nọ, buồn quá, ông kiếm chỗ vắng vẻ ngoài chơi và tình cờ có một Du-già sư đi qua.Vị này khuyên ông tu tập, nhưng ông chỉ chịu thực hiện nếu phép tu này cho phép ông vừa nằm vừa tu! Thế mà vị Du-già sư vui lòng cho ông nhập môn và dạy phép quán Sắc với Không không hề rời nhau:|Người biết, vật được biết,|cả hai đều hư vọng.|Kẻ không biết điều này,|chỉ chuốc lấy khổ đau,|đáng thương thay cho họ.|Thế nhưng ngay khổ đau,|lại cũng chẳng có thật.|Khi tâm thức trở thành,|nguồn ánh sáng thanh tịnh.|Khi hiện tượng, tính Không,|không bao giờ lìa tách,|thì ngươi đạt tự tại,|vào xóm chợ thị thành,|như thánh nhân điên khùng.|Niệt-gu-na-pa nghe lời khai thị, lên đường khất thực, tu tập quán tưởng đến khi ông nhận thấy nhất thể của Sắc và Không chỉ là ánh sáng và đạt thánh quả. Mọi người hỏi ông là ai, ông nhìn thẳng vào mắt họ và khóc vì thương xót, họ nhìn thấy lòng từ bi trong mắt ông và cũng khóc theo. Còn những kẻ có căn cơ được ông nhận làm đệ tử. Thành đạo ca của ông như sau:|Lời dạy của Ðạo sư,|chỉ thẳng vào Trung đạo.|Lời dạy của Ðạo sư,|làm yên lành cảm thụ,|đang vùng vẫy trong tâm,|làm yên lành tư tưởng,|đang chồng chéo lẫn nhau.|Phép quán tưởng thiền định,|làm dịu mọi mâu thuẫn,|ta trở nên tỉnh giác,|hoá giải chúng dễ dàng.
niệu sàng quỷ tử
Loài quỷ luôn đi tiểu vô cùng hôi thúi—A urinating ghost.
; (尿床鬼子) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Con quỉ đái dầm. Trong Thiền tông, từ ngữ này được sử dụng để mắng trách nhưng sa di hoặc những vị tăng nhỏ tuổi hay nghịch ngợm. Cũng như người đời dùng Tiểu quỉ, Xú tiểu quỉ (đồ quỉ hôi hám)vậy, chứ thực ra không có quỉ đái dầm. Lâm tế Nghĩa huyền thiền sư ngữ lục (Đại 47, 504 hạ) ghi: Đại ngu nắm chặt lấy Lâm tế, nói: Con quỉ đái dầm này! Vừa mới nói có lỗi không lỗi, bây giờ lại bảo Phật pháp của Hoàng bá chẳng có bao nhiêu.
no chẳng đói
Cũng gọi là bảo tham (bảo là no đủ). Sau khi triệt ngộ, gốc nghi dứt hẳn chẳng còn nghi hoặc nào nữa, nên nói no chẳng đói.
no ấm
To be in comfort.
nom
To look—To visit—To see.
non
1) Non trẻ: Young. 2) Núi non: Mountain.
non choẹt
Too young.
non gan
Chicken-hearted.
noãn
Warm.
; Ấm—Warm—To warm.
noãn liêm
(暖簾) Bức rèm bằng vải treo ở cửa trước và cửa sau của nhà Tăng trong tùng lâm, để chắn gió lạnh lúc giao mùa thu đông, gọi là Noãn liêm(rèm ấm). [X. điều Duy ma trong Thiền uyển thanh qui Q.3].
noãn liêu
Còn gọi là Noãn Động, Noãn Tịch, hay Noãn Tự. Người mới vào tự viện được cúng dường hay được sắm sửa cho những thứ như trà, quả, vân vân. Cũng chỉ người mới vào phải mua sắm những thứ nầy để mời những người đã trụ tại đây từ trước—Presents of tea, fruit, etc., brought to a monastery, or offered to a new arrival.
; (暖寮) Cũng gọi Noãn tịch. Làm cho người ở trong phòng liêu được ấm áp trong lòng. Trong Thiền tông, người mới vào nhà Tăng phải sắm sửa trà nước, trái cây để đãi những người đã ở đó trước, gọi là Noãn liêu. Món tiền chi tiêu cho việc chiêu đãi này thì gọi là Noãn tịch tiền. Ngoài ra, khi mượn phòng ốc của chùa viện khác để tổ chức pháp hội, phải nạp tiền và khoản tiền này cũng được gọi là Noãn tịch tiền. Môn Tùng quĩ loại thứ 9 trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Người nhập liêu mua sắm trà quả chiêu đãi người ở trước, gọi là Noãn liêu. Chùa Đại đức gọi là Noãn liêu, nhưng chùa Diệu tâm thì gọi là Noãn tịch. Môn Tiền tài loại 29 trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Khi thuê phòng xá của chùa viện khác để mở hội, hoặc thiết trai cúng dường, thì nạp Noãn tịch tiền cho chùa viện ấy.
Noãn pháp
Phạn ngữ là Uṣmagata, cũng gọi là Noãn vị, là một trong bốn pháp mà người tu tập theo Thanh văn thừa lần lượt chứng đắc, bao gồm: Noãn pháp, Đỉnh pháp, Nhẫn pháp và Thế đệ nhất pháp. Noãn pháp là pháp đầu tiên, giúp người ta có thêm trí lực và tinh tấn trên đường tu học. Noãn pháp là địa vị đầu tiên trong bốn thiện căn, tương đương với ngôi vị thứ nhất trong Tứ gia hành (Noãn gia hành). Hành giả khi đạt được pháp này bắt đầu có khả năng trừ diệt các kiến giải mê lầm, như Thánh trí thiêu đốt mọi tà kiến. Như lửa trước khi bốc cháy bắt đầu có hơi nóng, địa vị tu tập này bắt đầu có được hơi nóng của Thánh trí nên gọi là Noãn pháp.
noãn pháp
The first of the tứ gia hạnh vị, the stage in which dialectic processes are left behind and the mind dwells only on the four noble truths and the sixteen disciplines.
; Pháp đầu tiên trong tứ gia hạnh; trong giai đoạn nầy hành giả chỉ trụ tâm nơi tứ diệu đế—The first of the four good roots; the stage in which dialetic processes are left behind and the mind dwells only on the four dogmas and sixteen disciplines.
; (煗法) Giai vị đầu tiên của Tứ thiện căn. Ở giai vị này, hành giả chuyên tâm quán xét Tứ đế bằng 16 hành tướng, trí vô lậu của Kiến đạo sắp phát sinh, trước hết sinh kiến giải tương tự, cũng như lửa sắp phát thì trước có khí ấm, vì thế gọi là Noãn pháp. Câu xá luận tụng sớ quyển 23 (Đại 41, 943 hạ) nói: Pháp này giống như khí ấm (noãn), nên có tên là Noãn pháp; Thánh đạo như lửa, có năng lực đốt cháy củi phiền não, là tướng đầu tiên của lửa Thánh đạo nên gọi là Noãn.
noãn phật tiết
(暖佛節) Ngày lễ của Phật giáo Miến điện được cử hành vào ngày trăng tròn, tháng 2 Tây lịch hàng năm. Vào ngày này, tín đồ Phật giáo trên toàn quốc tụ họp tại Thánh địa của Phật giáo Mandalay, đốt gỗ thơm ở trước Phật để sưởi ấm(noãn) tay Phật. Tương truyền, lúc đức Phật còn tại thế, Ngài từng hơ tay trên lửa để sưởi ấm thân thể, vì thế mà có lễ hội này.
noãn sanh
Aṇḍaja (S), Egg-born, Jarāyuja (J).
; Những loài từ trứng mà sanh ra, một trong tứ sanh—Form of oviparous birth., as with birds, one of the four ways of coming into existence. ** For more information, please see Tứ Sanh.
noãn sinh
Andaja (S). Oviparous birth.
; (卵生) Phạm, Pàli: Aịđa-ja. Chỉ cho các loài sinh ra từ trong trứng (noãn), như gà, vịt, ngan, ngỗng... 1 trong Tứ sinh. Nhưng trong kinh Phật chép cũng có trường hợp người sinh ra từ trứng. Như luận Câu xá quyển 8 ghi, anh em Thế la (Phạm:Zila) và Ô ba thế la (Phạm: Upazila); 32 người con của Lộc mẫu (Phạm: Mfgàra-màtf,phu nhân Tì xá khư, con gái của trưởng giả Di già); 500 người con của vua Ban già la (Phạm:Paĩcàlaràja) v.v... đều sinh ra từ trứng. [X. kinh Trường a hàm Q.19; luận Dị môn túc Q.9; luận Thuận chính lí Q.22; luận Đại tì bà sa Q.120; luận Tạp a tì đàm tâm Q.8; luận Câu xá Q.9]. (xt. Tứ Sinh).
noãn tháp
(卵塔) Cũng gọi Vô phùng tháp. Một loại tháp thân không có góc, cạnh, không tầng, bậc, có hình dáng tròn giống quả trứng. Tức dùng 1 tảng đá làm thành tháp có hình tròn như cái trứng chim để làm bia mộ của chúng tăng, như mộ tháp(tức tháp trứng) của Thiền sư Hoành trí Chính giác, đời Tống, ở am Đông cốc, chùa Thiên đồng, huyện Ngân, tỉnh Chiết giang, Trung quốc. [X. Lâm gian lục Q.thượng; môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Tháp).
noãn đáp thế
(暖答世) Nghi thức tiếp nhận Phật giới của các Hoàng đế Trung hoa qua các đời. Cứ theo điều Thụ Phật giới trong Xuất canh lục đời Minh, thì Hoàng đế của các triều đại, trước phải thụ Phật giới 9 lần mới chính thức trở thành Đại bảo và những nhân viên hầu cận phải có 9 người hoặc 7 người, đó là phong tục của quốc gia đương thời.
nung
1) Mủ: Pus. 2) Nấu nướng: To burn—To bake.
nung huyết địa ngục
Địa ngục đầy mủ máu của tội nhân—The hell of pus and blood.
nung đúc
To form.
nuôi
To nourish.
nuôi dưỡng
To rear—To bring up.
nuôi sống bằng thức
(thức thực): chúng sanh ở Vô sắc giới và địa ngục chỉ dùng thức để duy trì sự sống nên gọi là thức thực. Xem tứ thực.
nuốt
To swallow.
nuốt lệ
To control one's tears.
nuốt lời
To swallow (break) one's words.
nuốt nhục
To swallow an insult.
nuốt sống
To swallow something raw (uncooked).
nuốt trọng
To swallow without chewing.
nuột
Não nuột—Agonizing.
nài
To insist.
nài nỉ
To beg—To request earnestly.
nào
Which.
này
Here.
nâng cao
To raise.
nâng đỡ
To support—To help.
nâu sồng
Monk's clothes—Clothes which have been dyed in brown.
nã
1) Giựt lấy: To take—To lay hold of. 2) Loài quỷ chuyên làm người ghê sợ: Damara (skt)—Demons that affright sentient beings.
nãi chí
(乃至) Từ ngữ được dùng trong các kinh, để biểu thị giới hạn tối thiểu hoặc lược bớt những câu ở khoảng giữa, gồm có 2 nghĩa: 1. Nếu được dùng trong trường hợp lược bớt thì có nghĩa là cho đến (Phạm: yàvat, Pàli: yavant), tương đương với liên từ as far as trong tiếng Anh. Kinh Tạp a hàm quyển 29 (Đại 2, 204 thượng) nói: Sao gọi là tà? Là tà kiếncho đếntà định (tức là lược bớt tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mệnh, tà tinh tiến, tà niệm). Sao gọi là chính? Là chính kiến cho đến chính định. 2. Nếu dùng trong trường hợp biểu thị giới hạn tối thiểu, thì có nghĩa làdù chỉ đến mức (Phạm: antazas), tương đương với từ at least trong Anh ngữ. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng) nói: Mười phương chúng sinh, dốc lòng tin ưa, nguyện được sinh về đất nước ta,dù chỉ 10 niệm, nếu chẳng được sinh, thì ta không lên ngôi Chính giác. (xt. Nãi Chí Nhất Niệm, Nãi Chí Thập Niệm).
nãi chí nhất niệm
(乃至一念) Cho đến một niệm, chỉ cho số niệm ít nhất khi niệm danh hiệu Phật; hoặc chỉ cho thời gian, tâm niệm, quán niệm... Nguyện Thành tựu thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 272 trung) nói: Được nghe danh hiệu của Phật, lòng tin vui mừng, cho đến một niệm... Kinh Ma ha bát nhã ba la mật quyển 20 (Đại 8, 365 hạ) nói: Ở trong hoàn cảnh ấy, Bồ tát không sinh tâm sân hận, dù chỉ một niệm. Kinh Tô bà hô đồng tử vấn quyển thượng (Đại 18, 722 hạ) nói: Nếu khởi lên ý nghĩ bất thiện, thì lập tức phải xa lìa, dù chỉ một niệm, cũng không giữ lại trong tâm.
Nãi chí quảng thuyết
乃至廣説; C: năizhì guăngshuō; J: naishi kō-setsu;|Và vân vân…, và vân vân… Thường ở vị trí cuối cùng của một đoạn trích dẫn.
nãi chí thập niệm
(乃至十念) Dù chỉ mười niệm, biểu thị giới hạn số xưng niệm danh hiệu đức Phật A di đà, cầu vãng sinh Tịnh độ. Nói 10 niệm, tức trên nhiếp nhiều niệm, dưới đến chỉ 1 niệm. Về từ ngữ Nãi chí thập niệm có nhiều giải thích khác nhau. Ngài Đàm loan cho đó là ý niệm tương tục không gián đoạn. Các ngài Nguyên hiểu, Pháp vị, Huyền nhất v.v... thì cho rằng Thập niệm tức là Thập niệm, Thập pháp như từ bi, hộ pháp nói trong kinh Di lặc phát vấn. Còn ngài Nghĩa tịch thì cho rằng niệm hàm ý thời gian, tức là khoảng thời gian 1 lần xưng niệm 6 chữ danh hiệu Nam mô A di đà Phật là 1 niệm, xưng niệm 10 lần là Thập niệm, trong mỗi niệm đều có đủ 10 pháp, 10 niệm từ bi, hộ pháp. Riêng ngài Thiện đạo thì đề xướng thuyết không nhất định giới hạn trong 10 niệm. (xt. Thập Niệm).
nãi vãng
(乃往) Đã qua rồi. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 hạ) nói: Phật bảo ngài A nan: Từ quá khứ lâu xa đến nay đã qua (nãi vãng) vô lượng số kiếp không thể tính đếm được.
não
Pradaśa (S), Paḷāsa (S), Paḷāsa (P), ḥtshig pa (T), Envious rivalry Một trong 10 tiểu tùy phiền não.
; Trouble, vexation, annoyance. Mua não chuốc sầu: to come to grief.
; 1) Não phiền: Rage—Irritation—Annoyance—Vexation. 2) Óc: Brain.
; (惱) Phạm: Pradàza. Hán âm: Ba la đà xá. Chỉ cho sự buồn phiền bức não, tên gọi 1 tâm sở, là 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức, cùng với sầu, thương, khổ, lo... biểu thị hiện tượng khổ của cõi mê. Cứ theo sự giải thích của tông Câu xá thì Não nghĩa là tuy tự biết tội lỗi của mình, nhưng vẫn không chịu nghe lời khuyên bảo của người khác, thành ra tâm thần luôn áo não phiền muộn. Tông Câu xá xem tâm sở này là 1 trong các pháp Tiểu phiền não, 1 trong 6 cấu thuộc cõi Dục, tương ứng với Ưu căn trong 5 thụ, là đẳng lưu của Kiến thủ kiến, có thể tính riêng biệt, đến giai vị Tu đạo mới đoạn được Tiểu phiền não này. Còn theo sự giải thích của tông Duy thức thì Não là tác dụng tinh thần khiến tâm nổi lên giận dữ, thường nhớ tưởng những việc làm quá khứ hoặc những việc không vui ở hiện tại, làm cho trong lòng buồn bực. Vì nó là 1 trong 20 Tùy phiền não, nên nếu lìa Sân ra thì Não không có thể tính cũng như tác dụng riêng biệt; bởi vậy, Não là 1 phần của Sân, tương ứng với Xả căn trong 5 thụ. [X. luận Đại tì bà sa Q.42; luận Câu xá Q.21; luận Thành duy thức Q.6; phẩm Sân khuể trong luận Thành thực Q.10; luận Tạp a tì đàm tâm Q.4; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Du già sư địa Q.55; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Đại thừa quảng ngũ uẩn; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1].
não chúng
To annoy everybody.
não hại
Upayāna (S)Giận, tức giận, xao xuyếnXem sân
; To annoy and harm.
não hận
To hate and detest.
não loạn
To annoy and trouble.
não lòng
Heart-rending.
não nuột
Agonized crying.
não nùng
Sorrowful—Sad.
não nề
Agonizing—Thrilling.
nãy
Hồi nãy—Just now.
né
To evade.
ném
To cast—To fling---To throw.
nén
To restrain—To control.
nén giận
To control one's anger.
nén lòng
To control oneself.
néo
To tighten.
nép vào
To draw back.
nét
1) Appearance. 2) Line—Stroke.
nê
Bùn.
nê dung giác
(泥融覺) Chạm đúng căn cơ thì giác ngộ ngay tức khắc. Đây là sự tích của 1 vị tăng đời Tống tên Vô nhiễm, khi du ngoạn núi Lô sơn, vì trượt chân ngã mà ngộ đạo. Cứ theo điều Nê dung giác, chương Thích tộc trong Thanh dị lục, thì tỉ khưu Vô nhiễm lúc dạo núi Lô sơn, vì mưa xuân làm đường trơn, sư trượt chân ngã trên đá, ngay lúc ấy sư tỏ ngộ, do đó người đời gọi sư là Nê dung giác.
nê hoàn
Xem niết bàn.
nê lê
Xem Địa ngục.
; (泥犁) Phạm: Niraya. Hán âm: Nê ra da. Chữ Niraya là lược dịch từ chữ Naraka (Hán âm: Nại lạc ca). Chỉ cho địa ngục, là nơi không có 1 chút phúc đức, nơi hoàn toàn không được yên vui, là cảnh giới thấp kém nhất trong 10 cõi. (xt. Địa Ngục).
nê lí đế
Nirrta, nirrti (S). King, queen of Ràksasas. Also Niết lị để.
nê lý để
Nirrti (skt)—Một trong các vua La Sát—One of the raksa-kings.
nê ngưu nhập hải
(泥牛入海) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trâu đất xuống biển. Ví dụ tuyệt dấu vết, bặt tin tức, hàm ý một đi không trở lại. Trâu đất ở đây ví dụ cho tác dụng suy tư phân biệt. Trâu đất xuống biển là ví dụ Chính và Thiên, Bình đẳng và Sai biệt giao hòa vào nhau, không còn phân biệt. Ngoài ra, trâu đất xuống biển thì hoàn toàn tan rã, không còn hình dạng, cho nên cũng dùng để ví dụ người và vật một đi không trở lại. Chương Long sơn hòa thượng trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 (Đại 51, 263 thượng) ghi: Ngài Động sơn hỏi Hòa thượng Long sơn: Thấy đạo lí gì mà ở núi này? Sư đáp: Tôi thấy 2 con trâu đất đua nhau xuống biển, cho mãi đến nay vẫn không thấy tin tức gì.
nê nhân
Kẻ tội đồ trong chốn địa ngục—A sufferer in niraya, or hell.
; (泥人) Chỉ cho người ở địa ngục. Thích môn chính thống quyển 4 (Vạn tục 130, 408 thượng) nói: Người nằm mộng thấy một nơi có nhiều người đã chết, mới hỏi về việc ông Phó dịch hủy báng Phật pháp. Đáp: Đã đày ông về Việt châu làm Nê nhân. (xt. Địa Ngục).
nê thuyền độ hà
(泥船渡河) Thuyền đất qua sông. Sự nguy hiểm ở thế gian cũng giống như ngồi thuyền bằng đất để qua sông; lại ví dụ sự yếu ớt, dễ tan hoại của thân người, không chịu được lâu. Kinh Tam tuệ (Đại 17, 703 hạ) nói: Thân người ở thế gian giống như ngồi thuyền làm bằng đất mà qua sông, thuyền vừa lênh đênh vừa hư hoại, thân người ta cũng như thuyền bằng đất, không thể sống lâu được, nên tu đạo cho mau.
nê tháp
Theo tục Ấn Độ, nghiền hương thành bột, trộn đặc lại như bùn, để làm tháp nhỏ cao chừng năm sáu tấc, để kinh điển bên trong mà cúng dường. Mật Giáo dùng pháp cúng dường “Nê Tháp” nầy để cầu kéo dài tuổi thọ và dứt bỏ mọi tỗi lỗi khổ đau—Paste pagoda; a mediaeval Indian custom was to make a small pagoda five or six inches high of incense, place scriptures in and make offerings to it. The esoterics adopted the custom, and worshipped for the purpose of prolonging life and ridding themselves of sins, or sufferings.
nê tháp cung tác pháp
(泥塔供作法) Cũng gọi Nê tháp cúng, Nê pháp tác pháp, Nê pháp cúng dường. Phép làm tháp nhỏ bằng đất để cúng dường, cầu được sống lâu và thành tựu những điều mong ước trong pháp tu của Mật giáo. Trước hết, làm 2 cái khuôn, lấy đất sạch, đổ nước thơm vào nhào cho nhiễn, rồi để vào khuôn, dùng 1 mẩu giấy vuông chừng 1 tấc, viết chữ (chủng tử của Đại nhật Như lai ở Thai tạng giới) trên mẩu giấy ấy rồi đặt ở dưới tháp. Tùy theo khuôn mà có các kiểu tháp khác nhau như: Ngũ luân, Đa bảo, Tam trùng, Ngũ trùng, chữ Ngật lí v.v...Quán tưởng những tháp này, đều là Tam muội da của Pháp thân thường trụ Đại nhật Như lai, đầy đủ công đức trong hằng sa pháp giới, để cầu diệt tội sống lâu, thành tựu nguyện vọng. Về công đức làm tháp, cứ theo kinh Tạo tháp diên mệnh công đức, Tác pháp tập, Bí sao tác pháp bộ, Trạch sao quyển 9 v.v... thì nhờ vào năng lực gia trì của Phật và sức công đức của chân ngôn mà những tháp đất nhỏ bé ấy sẽ biến thành các tòa tháp to lớn vi diệu và Pháp thân lí trí của chư tôn Thánh chúng đều tùy duyên trụ ở trong những tháp ấy. Nhờ quán tưởng như thế mà tiêu trừ sự bức não, thọ mệnh lâu dài, điều mong ước được thành tựu, lợi ích viên mãn. [X. kinh Vô cấu tịch quang đại đà la ni; Chư tôn yếu sao Q.5].
nê tố mộc điêu
Những bức tượng (bằng đất thì nắn, bằng gỗ thì chạm trổ)—Modelled clay and carved wood, images.
nê vi trần
Mritparamanu (skt)—Bụi đất—Clay-atom—Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Một khối đất sét thì không khác, cũng không phải không khác với các hạt bụi hay nguyên tử của nó—In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “A lump of clay is neither different nor not-different from its atoms.”
nê đa phật đại
(泥多佛大) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Bùn nhiều Phật lớn. Bùn ví dụ người học, chúng sinh; Phật ví dụ tác dụng cơ trí của thầy và thiện tri thức. Ý nói người giúp ich càng đông thì thành tựu càng to lớn. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để chỉ cho cơ trí và thủ đoạn của bậc thầy, tùy theo căn cơ của người học và chúng sinh mà tiếp hóa một cách tự tại. Nhóm từ này thường được dùng song song với từ ngữ Thủy trường thuyền cao(sông dài thuyền cao). Bích nham lục, tắc 29, (Đại 48, 169 thượng) chép: Đại tùy nói: Mặc nó! Mũi tên trước còn nhẹ, mũi tên sau sâu hơn, chỉ cái ấy thôi mà bao nhiêu người mò tìm không ra. Sông dài thuyền cao, bùn nhiều Phật lớn (Nê đa Phật đại).
Nê đoàn
泥團; C: nítuán; J: nidan;|Bùn; lớp bùn dày (s: mrt-pinda).
nê đoàn
(泥團) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ cho hình dáng 1 khối bùn. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho người tu Thiền không đủ pháp nhãn tròn sáng, mà chỉ có vọng chấp phiền não. Bích nham lục, tắc 82 (Đại 48, 208 hạ) nói: Đừng đập vỡ, chỉ tăng thêm tì vết (khuấy đất bùn làm gì? Càng thấy anh chàng ấy tội lỗi đầy trời).
nê đắc
(泥得) Chỉ cho thí chủ thường cúng dường thức ăn riêng cho 1 vị tăng. Phần chú thích trong Bách nhất yết ma quyển 1 (Đại 24, 458 trung) nói: Tiếng Phạm là Nê đắc, Hán dịch là thường thí. Có một thí chủ thường cúng dường chúng tăng tiền bạc, vật thực rất nhiều. Mỗi ngày theo thứ tự làm thức ăn ngon cúng dường một vị, cứ tiếp tục như thế cho đến bất cứ ngày tháng nào.
Nê-hoàn
泥洹; C: ní huan; J: naion;|Phiên âm chữ nirvāṇa từ tiếng Phạn. Là sự chấm dứt mọi phiền não. Thường phiên âm là Niết-bàn (涅槃).
Nê-lê
泥黎; C: nílí; J: nairi;|Phiên âm chữ niraya từ tiếng Phạn, có nghĩa là nơi tối tăm cực khổ hay là nơi chịu cực hình để chuộc tội, thường dịch sang tiếng Hán là Địa ngục (地獄).
nên
To ought to—Would rather—Had better.
nên chi
Therefore.
nêu
1) To raise—To bring up a subject. 2) A pole set up in front of the house during seven first days of the year.
ních
Chật ních—Crowded.
nín
To be silent—To hold one's tongue.
nín bặt
To stop suddenly.
nín cười
To refrain from laughing
nín hơi
To hold one's breath
níu
To grab—To catch—To cling.
nòi
Race.
nói
Vatti (p)—Vakti (skt)—To speak—To say—To tell.
nói chuyện vô ích
Idle talk.
nói dông dài
To talk at length.
nói dối
Mrsàvàca (S). To lie; falshood. Also vọng ngữ.
; Lying. (A) Nghĩa của nói dối—The meanings of lying—See Ngũ Giới (4), Bất Vọng Ngữ, Bất Ỷ Ngữ, and Vọng Ngữ. (B) Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, có bốn điều kiện cần thiết để tạo nên nghiệp nói dối—According to The Buddha and His Teachings, there are four conditions that are necessary to complete the evil of lying: 1) Có sự giả dối không chân thật: An untruth. 2) Ý muốn người khác hiểu sai lạc sự thật: Deceiving intention. 3) Thốt ra lời giả dối: Utterance. 4) Tạo sự hiểu biết sai lạc cho người khác: Actual deception. (C) Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, có những hậu quả không tránh khỏi của sự nói dối—According to The Buddha and His Teachings, written by Most Venerable Narada, there are some inevitable consequences of lying as follow: 1) Bị mắng chưởi nhục mạ: Being subject to abusive speech. 2) Tánh tình đê tiện: Vilification. 3) Không ai tín nhiệm: Untrustworthiness. 4) Miệng mồm hôi thúi: Stinking mouth.
nói gièm
To hint.
nói gạt
To mislead someone by lying.
nói gở
To talk of bad omen.
nói huyên thuyên
Vacala or Vagvana (skt)—To talk too much—Chattering.
nói hành
To backbite—To speak ill of someone.
nói hớt
To interrupt (intrude) in a conversation.
nói khe khẽ
To speak in a low voice.
nói khoác
To boast about—To brag.
nói khác làm khác
Talking is one thing, but doing is another.
nói khích
To give someone encouragement.
nói leo
To interrupt adult.
nói liều
To speak thoughtlessly.
nói lén
To talk secretly
nói lép nhép
Vacata (skt)—Talkative.
nói lưu loát
To speak fluently
nói lưỡng lự
To speak hesitatingly.
nói lảng
To divert by speaking on another subject.
nói lầm bầm
Japati (p & skt)—See Nói Thầm.
nói lẩy
To talk in an aggressive tone.
nói lắp bắp
To stutter—To gabble.
nói lịu
To repeat like a parrot.
nói lớn tiếng
To talk loud.
nói lời hung ác
Harsh spech.
nói lời nhảm nhí
Samphappalapa (p)—Nói lời nhảm nhí vô ích—Frivolous talk. (A) Theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, có hai điều kiện cần thiết để thành lập nghiệp nói lời nhảm nhí vô ích—According to Most Venerable in The Buddha and His Teachings, there are two conditions that are necessary to complete the evil of frivolous talk: 1) Ý muốn nói chuyện nhảm nhí: The inclination towards frivolous talk. 2) Thốt ra lời nói nhảm nhí vô ích: Its narration. (B) Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, đây là những hậu quả không tránh khỏi của việc nói lời nhảm nhí—According to The Buddha and His Teachings, written by Most Venerable Narada, these are the inevitable consequences of frivolous talk: 1) Các bộ phận trong cơ thể bị khuyết tật: Defective bodily organs. 2) Lời nói không minh bạch rõ ràng (làm cho người ta nghi ngờ): Incredible speech.
nói lời nhảm nhí vô ích
Samphappalapa (p)—Frivolous talk. Ba hành động bất thiện biểu hiện nơi ý—Three evil actions committed by mind: Tham lam: Abhijjha (p)—Covetousness. Sân hận: Vyapada (p)—Ill-will. Tà kiến: Micchaditthi (p)—False views. Hành động thiện, tạo quả lành trổ sanh trong dục giới: Kusala (p)—Good actions which may ripen in the sense-sphere. Hành động thiện, tạo quả lành trổ sanh trong sắc giới: Good actions which may ripen in the realms of form (rupaloka). Hành động thiện, tạo quả lành trong vô sắc giới: Good actions which may ripen in the formless realms (arupaloka).
nói lời thô lỗ
Pharusavaca (p)—Lời nói thô lỗ cộc cằn—Harsh speech. (A) Theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, có ba điều kiện cần thiết để thành lập nghiệp nói lời thô lỗ—According to The Buddha and His Teaching, written by Most Venerable Narada, there are three conditions that are necessary to complete the evil of harsh speech: 1) Một người khác để cho ta nói lời thô lỗ: A person to be abused. 2) Tư tưởng sân hận: Angry thought. 3) Thốt ra lời thô lỗ: The actual abuse. (B) Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, đây là những hậu quả không tránh khỏi của sự nói lời thô lỗ cộc cằn—According to The Buddha and His Teachings, written by Most Venerable Narada, these are inevitable consequences of harsh speech: 1) Không làm gì hại ai cũng bị họ ghét bỏ: Being detested by others though absolutely harmless. 2) Tiếng nói khàn khàn, chứ không trong trẻo: Having a harsh voice.
nói lời thô lỗ cộc cằn
Pharusavaca (p)—Harsh speech.
nói lời đâm thọc
Pisunavaca (p). (A) Nghĩa của nói lời đâm thọc—The meaning of “slander” or pisunavaca: Nói lời đâm thọc là có nói không, không nói có để gây chia rẽ—To slander means to twist stories. (B) Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, có bốn điều kiện cần thiết để thành lập nghiệp nói lời đâm thọc—According to The Buddha and His Teachings, written by Most Venerable Narada, there are four conditions that are necessary to complete the evil of slandering: 1) Những người là nạn nhân của sự chia rẽ: Persons that are to be divided. 2) Ý muốn phân ly những người ấy hay ý muốn lấy lòng một người: The intention to separate them or the desire to endear oneself to another. 3) Cố gắng để thực hiện sự phân ly: Corresponding effort. 4) Thốt ra lời nói đâm thọc: The communication. (C) Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, đây hậu quả không tránh khỏi của sự nói lời đâm thọc—According to The Buddha and His Teachings, there is one inevitable consequences of slandering: Bị chia rẽ với bạn bè—The dissolution of friendship without any sufficient cause.
nói một lời
Ghosha (S), Uttering a word Cồ sa.
nói một mình
To speak (talk) to oneself.
nói một đường làm một nẻo
To talk in one way and act in another way
nói nghiêm trang
To speak in earnest
nói ngập ngừng
To speak in a hesitating way.
nói nhiều
Talkative.
nói nhây
To be everlastingly repeating the same story.
nói như vẹt
To speak like a parrot.
nói nhảm
Samphappalāpa (P), Nonsense speech.
nói phách
To brag—To boast.
nói phớt qua
To scratch the surface of the subject.
nói quanh
To beat about the bush.
nói quàng xiêng
Talk nonsense.
nói rồ dại
Samphappalàpa (P). Nonsense speech. Also nói nhảm nhí.
nói suồng sã
To use familiar terms with a superior person or a stranger.
nói sảng
To rave.
nói thâm độc
Pisunavàca (P). Malicious speech. Also nói ác.
nói thô lỗ
Parusavàca (S). Rough speech. Also nói cộc cằn.
nói thầm
1) Nói thầm: Japati (p & skt)—Nói lầm bầm—To murmur—To mutter—To speak to oneself—To whisper. 2) Đang nói thầm: Japanam (p)—Japa (skt)—Muttering—Whispering.
nói thật
To tell (speak) the truth.
nói thẳng
To speak openly.
nói toạc ra
To speak openly.
nói trái lại
To contracdict.
nói trôi chảy
See Nói Lưu Loát.
nói trước
To speak first.
nói tỉ mỉ
To tell all the details.
nói tốt
To speak well of someone.
nói tục tĩu
To use obsene language.
nói uổng tiếng
To waste one's words.
nói vắn tắt
To speak briefly.
nói xéo
To talk at someone.
nói xía
To take part in the conversation.
nói xấu
Back biting.
nói xỏ
To talk sarcastically.
nói đúng
To speak accurately.
nói ấp úng
To speak indistinctly.
nói ứng khẩu
To speak impromptu—To speak off-hand.
nóng bức
Very hot.
nóng lòng
Impatient—Anxious.
nóng nảy
Hot-headed—Impatient.
nóng ruột
See Nóng Lòng.
nóng tính
Quick-tempered—Hot headed—Furious—Angry
nô bộc
A slave.
nô bộc tam muội
(奴僕三昧) Tam muội của các sứ giả theo hầu chư Phật, Bồ tát, Minh vương... thành tựu mọi việc. Như 18 đồng tử của bồ tát Văn thù, 36 đồng tử của Ngũ phụng giáo giả và Bất động Minh vương... Sứ giả của các vị tôn, Phụng giáo giả, Đồng tử và các Minh vương... đều trụ trong Tam muội này. Trong đó, Tam muội của Bất động Minh vương là thù thắng hơn cả; bởi vì Minh vương Bất động tự mình đã là Minh vương rồi mà còn hiện hình tướng nô bộc, làm sứ giả của Như lai để thành tựu mọi việc. Tóc của vị Minh vương này tết thành 7 lọn biểu thị đã phụng sự 7 đời chư Phật, hoa sen trên đỉnh đầu biểu thị nghĩa chuyên chở hành giả đến bờ giác. Xưa nay hoa sen trên đỉnh đầu là biểu thị cho Tam muội sâu xa của Minh vương Bất động.
nô dữu
(帑庾) Kho cất chứa của cải, hóa vật, gạo thóc... trong Thiền lâm. Tại Trung quốc, từ xưa đến nay, nơi tồn trữ tiền tệ gọi là Nô tàng; cái vựa chứa ngũ cốc gọi là Dữu, Thiền lâm cũng theo đó mà dùng từ Nô dữu. Chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1130 hạ) nói: Đến như ti Nô dữu, Lịch thứ vụ, các pháp thế gian và xuất thế gian, không cái gì mà không học tập.
nô hóa
To enslave.
nô lệ
Slaves.
nô tì
(奴婢) Chỉ cho đầy tớ trai và đầy tớ gái. Tại Ấn độ đời xưa, những kẻ chinh phục thường bắt dân bản xứ làm nô dịch và bị coi như đồ vật có thể dùng tiền để trao đổi, mua bán. Trong kinh Phật thường có từ ngữ Nô tì tiền tài. Kinh Bồ tát bản duyên quyển trung (Đại 3, 58 thượng) nói: Nếu các ông cần đến vàng, bạc, lưu li, các thứ xe cộ, nô tì... thì ta đều có khả năng cấp cho.
nông
1) Cạn: Shallow—Not deep. 2) Nhà nông: Farmer—Agriculture—Farming. 3) Thủ đà la: Giai cấp thấp nhứt ở Ấn Độ trong thời Đức Phật còn tại thế—Sudra caste, the lowest class in India at the time of the Buddha.
nõn nà
White and soft.
núi
Giri (S), Mountain.
; Mountain.
núi bao bọc
Giriṇaddha (S), Enclosed with mountains.
núi kỳ xà quật
Mount Grdhrakuta.
Núi Quật
tức núi Kỳ-xà-quật, tên Phạn ngữ là Gṛdhrakṭa.
núi rừng
Mountains and forests.
núi tu di
Xem Tu di.
; Dịch là Diệu Cao Sơn, là núi lớn nhất trong vũ trụ.
; Mount Sumeru.
núi đao
Mountain of swords and knives—Quả núi toàn bằng đao kiếm; những kẻ có tội bị nghiệp lực mang lên tận đỉnh, kế đến gió lạnh thổi làm cho tê cóngchân cẳng. Khi họ bị té thì thân thể bị đao kiếm phanh ra từng miếng nhỏ. Núi đao dành cho những kẻ trên dương thế có tội sát sanh hay người làm nghề đồ tể—A mountain which is composed entirely of swords and knives; those with offenses will be brought to the top by their karmic power. The cold wind gusts freeze the prisoners' feet. As they fall and tumble down the mountain, their bodies are maimed to little pieces. This mountain is reserved for those who often murder sentient beings as well as those who work as butchers.
núm
To seize.
núp
To hide—To take cover or shelter.
năm
Paca- (S), Pan-.
; 1) Five. 2) Year.
năm bộ của kim cang giới
The five groups of Vajradhatu Mandala—See Kim Cang Giới Ngũ Bộ.
Năm bộ Tăng
(Ngũ bộ Tăng): chỉ Tăng-già bao gồm Sa-di, Sa-di-ni, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni và Bồ Tát Tăng.
năm canh hay năm thời trong đêm
The five night watches. Canh thứ năm trong đêm: The fifth period or watch of the night.
Năm chướng ngại
S, P: nīvaraṇa; năm triền cái, ngũ chướng; |Năm tính chất của tâm làm tâm thức trì trệ, không đạt được Ðịnh (s, p: samādhi). Ðó là: 1. Tham (s: abhidyā), 2. Sân hận (s: pra-dośa), 3. Buồn ngủ, mệt mỏi (s: middha, styā-na), 4. Hối tiếc khó chịu (s: kaukrītya, anu-ddhatya), 5. Nghi ngờ (s: vicikitsā). Hành giả cần trừ năm uế nhiễm này mới đạt được Tứ thiền đầu tiên trong tám giai đoạn thiền định (Tứ thiền bát định).
năm chướng ngại mà phật nói tới trong kinh pháp hoa—the five hindrances which the buddha mentioned in the lotus sutra
Tín Chướng: Khi dễ hay lừa dối là một chướng ngại cho niềm tin—Deception is a bar to faith. Tiến Chướng: Lười biếng là một chướng ngại cho tinh cần tu tập—Sloth or laziness is a bar to zeal of cultivation.
Năm cõi tịnh cư
(Ngũ tịnh cư thiên– 五淨居天, Phạn ngữ: Śuddhvsa): tức năm cõi trời thanh tịnh, là nơi thọ sanh của hàng A-na-hàm, nên cũng gọi là Ngũ Na-hàm thiên hay Ngũ Bất hoàn thiên. Năm cõi trời này gồm có: 1. Vô phiền thiên (無煩天- Phạn ngữ: Avṛha), 2. Vô nhiệt thiên (無熱天- Phạn ngữ: Atapa), 3. Thiện hiện thiên (善現天- Phạn ngữ: Sudṛśa), 4. Thiện kiến thiên (善見天- Phạn ngữ: Sudarśana), 5. Sắc cứu cánh thiên (色究竟天- Phạn ngữ: Akaniṣṭha).
năm căn khác—five more faculties
Lạc Căn: Sukha (p)—Pleasant bodily feeling. Khổ Căn: Dukkha (p)—Pain. Hỷ Căn: Somanassa (p)—Gladness. Ưu Căn: Domanassa (p)—sadness. Xả Căn: Upekha (p)—Indifferent feeling.
năm căn khác—five more faculties—the five positive agents—the five roots that give rise to other wholesome dharmas
Tín Căn: Sraddhendriya (skt)—Saddha (p)—Tin tưởng vững chắc nơi Tam Bảo và Tứ Diệu Đế—Faith or virtue of belief—Sense of belief in the Triple Gem and the Four Noble Truths. Tấn Căn: Viryendriya (skt)—Tinh tấn tu tập thiện pháp—Energy (vigor) or virtue of active vigor—Sense of endeavor or vigor to cultivate good deeds.
năm căn lành
(ngũ căn): năm pháp căn bản, được xem là cội gốc, điều kiện để sanh khởi các pháp tu khác, cũng gọi là Ngũ thù thắng căn, bao gồm: 1. Tín căn (信根- lòng tin, đức tin sâu vững vào Tam bảo, vào giáo pháp giải thoát do Phật chỉ dạy, chẳng hạn như Tứ thánh đế...), 2. Cần căn (勤根) hay Tinh tấn căn (精進根), cũng gọi là Nguyện căn (tinh tấn, chuyên cần và phát nguyện dũng mãnh trong việc tu tập thiện pháp, hướng đến giải thoát), 3. Niệm căn (念根- luôn nghĩ nhớ, niệm tưởng đến Chánh pháp), 4. Định căn (定根- tu tập định lực, nhiếp tâm không tán loạn), 5. Tuệ căn (慧根- trí tuệ sáng suốt, phân biệt rõ chân lý và những điều hư dối, Chánh pháp và tà pháp). Vì các pháp này là cội nguồn sanh ra tất cả các pháp lành nên gọi chúng là căn (根), nghĩa là cội gốc.
Năm cảnh giới
(Ngũ đạo, có khi cũng gọi là Ngũ thú): chỉ năm cảnh giới mà loài hữu tình tùy nghiệp lực thọ sanh đến (nên gọi là ngũ thú), đó là cõi trời, cõi người, cõi địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Khi nói lục đạo là thêm vào cảnh giới a-tu-la.
năm dục
(ngũ dục): năm sự vui sướng, khoái lạc có được khi năm giác quan tiếp xúc với những đối tượng ưa thích, như mắt được ngắm những hình sắc thích ý, tai được nghe những âm thanh êm dịu, mũi được ngửi mùi hương ưa thích... Năm dục cũng là năm sự ham muốn được hưởng thụ những sự khoái lạc này, nên bao gồm: 1. Sắc dục: Ham muốn sắc đẹp. 2. Thanh dục: Ham muốn âm thanh êm dịu, thích tai. 3. Hương dục: Ham muốn mùi thơm. 4. Vị dục: Ham muốn vị ngon ngọt. 5. Xúc dục: Ham muốn sự đụng chạm êm ái.
Năm giới
(Ngũ giới): Năm giới của người Phật tử tại gia, bao gồm: 1. không giết hại, 2. không trộm cắp, 3. không tà dâm, 4. không nói dối và 5. không uống rượu.
; S: pañcaśīla; P: pañcasīla; Hán Việt: Ngũ giới (五戒);|Năm giới, là một trong những tụ tịnh giới nhỏ nhất mà hàng cư sĩ Phật tử phải thực hành. Đó là: 1. Bất sát sinh (不殺生), không được sát sinh; 2. Bất thâu đạo (不偸盗), không trộm cắp; 3. Bất tà dâm (不邪婬); 4. Bất vọng ngữ (不妄語), không được nói xằng bậy; 5. Bất ẩm tửu (不飲酒), không uống rượu.
năm giới căn bản của phật giáo
The Five Basic Precepts of Buddhism (no killing, no stealing, no lying, no sexual misconduct, no use of drugs or alcohol). Vùng phụ cận: Environment.
năm huyền nghĩa
Five wonderful meanings or terms—See Ngũ Huyền Nghĩa Tam Luận Tông.
năm hạnh
năm hạnh được đức Phật giảng thuyết trong kinh này là: 1. Thánh hạnh, 2. Phạm hạnh, 3. Thiên hạnh (dẫn chú xem kinh Hoa nghiêm), 4. Anh nhi hạnh, 5. Bệnh hạnh.
năm khi mười họa
Rarely
năm kiến chấp
ngũ kiến hay ngũ ác kiến, là những nhận thức sai lầm thường gặp ở kẻ phàm phu, gồm có: 1. Thân kiến còn gọi là ngã kiến, là nhận thức sai lầm cho rằng có một bản ngã riêng biệt tồn tại trong thực tại, làm chủ sở hữu các đối tượng trong vũ trụ. 2. Biên kiến là nhận thức sai lầm thiên lệch về một bên, hoặc chấp rằng đời sống là thường tồn (thường kiến), hoặc chấp rằng đời sống không tồn tại sau khi chết (đoạn kiến). 3. Tà kiến là nhận thức sai lầm về sự vật, không biết có nhân quả, nhân duyên. 4. Giới cấm thủ kiến là nhận thức sai lầm cố chấp vào các điều luật, giới luật của ngoại đạo, chẳng hạn như tu hành khổ hạnh, cho rằng bám chặt theo đó có thể dẫn đến giải thoát. 5. Kiến thủ kiến, là nhận thức sai lầm không biết tiếp nhận chân lý, cố chấp vào một quan điểm sai lầm nào đó rồi lấy đó làm nền tảng để xây dựng các quan điểm khác, vì thế chắc chắn phải dẫn đến tất cả đều sai lầm.
năm loại giác—the five states of bodhi or states of enlightenment
Bổn giác: Trí huệ hay sự hiểu biết tuyệt đối bên trong hay Bồ Đề vốn sẳn có trong mỗi người—Absolute eternal wisdom, or bodhi which possessed by everyone. Thủy giác: Thể giác hay trí huệ Bồ Đề trong giai đoạn cuối cùng, dựa vào công phu tu hành mà có—Bodhi in its initial stages or in action, arising from right observances. Tương tự giác: Bồ Tát ở ngôi Thập Tín được giác thể tương tự như Thủy Giác—Bodhisattva-attainment of bodhi in action of the ten faiths. Tùy phần giác: Bồ Tát ở ngôi Thập Trụ, Thập Hành và Thập Hồi Hướng, từng phần được thủy giác—Further Bodhisattva-enlightenment in action of the ten grounds, ten necessary activities and ten kinds of dedications, according to their capacity, attain Bodhi in its final stages. Cứu cánh giác: Diệu Giác—Thành tựu viên mãn bổn giác—To reach the final or complete enlightenment—To reach the perfect quiescent stage of orginal bodhi.
Năm loại mắt
S: pañcacakṣuṃṣi; Hán Việt: Ngũ nhãn (五眼)|Bao gồm: 1. Nhục nhãn (肉眼; s: mā-ṃsacakṣus), là con mắt thịt, con mắt của một phàm phu; 2. Thiên nhãn (天眼; s: divyacakṣus), con mắt của chư Thiên, có thể nhìn thấy được những hiện tượng siêu nhiên, quá khứ, vị lai, địa ngục …; 3. Pháp nhãn (法眼; s: dharmacakṣus), là con mắt pháp, thấy được sự đa dạng của các pháp hiện hữu; 4. Huệ nhãn (慧眼; s: prajñācakṣus), là con mắt trí huệ, nhìn thấu suốt được tính Không (s: śūnyatā) của các pháp; 5. Phật nhãn (佛眼; s: buddhacakṣus), là con mắt của một bậc giác ngộ, nhìn thấu suốt thể tính của vạn sự.
năm loại ngôn ngữ
Five courses of speech—Theo Kinh Ví Dụ Cái Cưa trong Trung Bộ, Đức Phật dạy: “Chư Tỳ Kheo, có năm loại ngôn ngữ mà các người có thể dùng khi nói với các người khác.” Đó là—According to the Kakacupama Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha, the Buddha taught: “Bhikkhus! There are five courses of speech that others may use when they address you.” They are: 1) Đúng thời hay phi thời: Their speech may be timely or untimely. 2) Chân thật hay không chân thật: True or untrue. 3) Như nhuyễn hay thô bạo: Gentle or harsh. 4) Có lợi ích hay không lợi ích: Connected with good or with harm. 5) Với từ tâm hay với sân tâm: Spoken with a mind of loving-kindness or with inner hate.
Năm lực
S, P: pañca-bala; Hán Việt: Ngũ lực (五力);|Năm sức mạnh tinh thần hay năm khả năng xuất phát từ năm Căn (s, p: indriya) và giúp đạt giác ngộ. Năm lực đó là:|1. Tín lực (信力; s: śraddhābala), là tâm loại bỏ các loại tin tưởng sai lầm;|2. Tinh tiến lực (精進力; s: vīryabala) là năng lực tu trì Bốn tinh tiến (s: saṃyak-pra-hanani, cũng được gọi là chính cần) để diệt trừ bất thiện pháp;|3. Niệm lực (念力; s: smṛtibala), sức mạnh do tu trì Bốn niệm xứ (s: smṛtyupasṭhāna) đem lại;|4. Ðịnh lực (定力; s: samādhibala), sức mạnh do Thiền định (s: dhyāna) mang lại nhằm loại bỏ mọi tham ái;|5. Huệ lực (慧力; s: prajñābala) là sức mạnh nhờ phát khởi tri kiến Tứ diệu đế.|Năm lực là một phần của 37 giác chi (yếu tố giác ngộ, Bồ-đề phần; s: bodhipākṣika-dharma).
năm món cay
(ngũ vị tân): 1. tỏi (đại toán), 2. hành (cách thông), 3. hẹ (từ thông), 4. kiệu (lan thông), 5. nén (hưng cừ). Năm món này có vị cay nồng, kích thích sự ham muốn nhục dục, nên người xuất gia không nên ăn.
năm món chế biến từ sữa
(ngũ chủng ngưu vị): gồm sữa, kem sữa, bơ sống, bơ chín, đề-hồ (nhũ, lạc, sanh tô, thục tô, đề-hồ) là các món ăn được chế biến ra từ sữa bò, trong đó đề-hồ là món tinh khiết nhất, ngon, quý nhất.
năm món ngăn che
Five hindrances or covers—See Ngũ Ác, Ngũ Cái, and Ngũ Triền Cái.
năm mươi hai chúng
xem ngũ thập nhị chúng
năm mươi hai tâm sở
Theo Luận Vi Diệu Pháp (A Tỳ Đạt Ma), có 52 tâm sở—According to the Abhidharma, there are fifty-two mental states: (A) Tâm Sở Phổ Thông—Universal Mental Factors: 1) Xúc: Phasso (p)—Contact. 2) Thọ: Vedana (p)—Feeling. 3) Tưởng: Sanna (p)—Perception. 4) Tác Ý (Hành): Cetana (p)—Volition. 5) Nhất Điểm: Ekagagta (p)—One-pointedness. 6) Mạng Căn: Jivitindriyam (p)—Life faculty. 7) Chú Ý: Manasikaro (p)—Attention. (B) Tâm Sở Riêng Biệt—Occasional Mental Factors: 8) Tầm: Vitakko (p)—Initial application. 9) Sát: Vicaro (p)—Sustained application. 10) Xác Định: Adhimokkho (p)—Decision. 11) Tinh Tấn: Viriyam (p)—Energy. 12) Phỉ: Piti (p)—Zest. 13) Dục: Chando (p)—Desire. (C) Tâm Sở Bất Thiện—Unwholesome Mental Factors: a) Tâm Sở Bất Thiện Phổ Thông—Unwholesome Universal Mental Factors: 14) Si: Moho (p)—Delusion. 15) Vô Tàm: Ahirikam (p)—Shamelessness. 16) Vô Quý: Anottappam (p)—Fearlessness of wrong-doing. 17) Phóng Dật: Uddhaccam (p)—Restlessness. b) Tâm Sở Bất Thiện Riêng Biệt—Unwholesome Occasional Mental Factors: 18) Tham: Lobho (p)—Greed. 19) Tà Kiến: Ditthi (p)—Wrong views. 20) Ngã Mạn: Mano (p)—Conceit. 21) Sân: Doso (p)—Hatred. 22) Ganh Tỵ: Issa (p)—Envy. 23) Xan Tham: Macchariyam (p)—Avarice. 24) Lo Âu: Kukkuc-cam (p)—Worry. 25) Hôn Trầm: Thinam (p)—Sloth. 26) Thụy Miên: Middham (p)—Torpor. 27) Hoài Nghi: Vicikiccha (p)—Doubt. ** For more information, please see Mười Bốn Tâm Sở Bất Thiện. (D) Tâm Sở Đẹp—Beautiful Mental Factors: 28) Tín: Saddha (p)—Faith. 29) Niệm: Sati (p)—Mindfulness. 30) Tàm: Hiri (p)—Shame. 31) Quý: Ottappam (p)—Fear of wrong-doing. 32) Không Tham: Alobho (p)—Non-greed. 33) Không Sân: Adoso (p)—Non-hatred. 34) Xả: Tatramjjhattata (p)—Neutrality of mind. 35) Tâm Sở Vắng Lặng: Kayapassadhi (p)—Tranquility of mental body. 36) Tâm Vắng Lặng: Cittapassadhi (p)—Tranquility of consciousness. 37) Tâm Sở Khinh An: Kayalahuta (p)—Lightness of mental body. 38) Tâm Khinh An: Cittalahuta (p)—Lightness of consciousness. 39) Tâm Sở Nhu Thuận: Kayamuduta (p)—Malleability of mental body. 40) Tâm Nhu Thuận: Cittamuduta (p)—Malleability of consciousness. 41) Tâm Sở Thích Ứng: Kayakammannata (p)—Wieldiness of mental body. 42) Tâm Thích Ứng: Citta-kammannata (p)—Wieldiness of consciousness. 43) Tâm Sở Tinh Luyện: Kayapagunnata (p)—Proficiency of mental body. 44) Tâm Tinh Luyện: Citta-pagunnata (p)—Proficiency of consciousness. 45) Tâm Sở Chánh Trực: Kayujjukata (p)—Rectitude of mental body. 46) Tâm Chánh Trực: Cittujjukata (p)—Rectitude of consciousness. (E) Tâm Sở Tiết Chế—Abstinences: 47) Chánh Ngữ: Sammavaca (p)—Right speech. 48) Chánh Nghiệp: Sammakammanto (p)—Right action. 49) Chánh Mạng: Samma-ajivo (p)—Right livelihood. (F) Tâm Sở Vô Lượng—Illimitables: 50) Bi: Karuna (p)—Compassion. 51) Hỷ: Mudita pana (p)—Appreciative joy. (G) Tâm Sở Tuệ Căn—Non-Delusion: 52) Tuệ Căn: Pannindriya (p)—Wisdom faculty. ** For more information, please see Năm Mươi Mốt Tâm Sở.
năm mươi mốt tâm sở
Theo Đại Thừa, có 51 tâm sở—According to the Mahayana, there are fifty-one Dharmas interactive with the Mind: (A) Năm tâm sở biến hành: Sarvatraga (skt)—Five universally interactive. 1) Tác ý: Manaskara (skt)—Chú tâm vào việc gì—Attention—Pay attention on something. 2) Xúc: Sparsha (skt)—Sau khi chú tâm vào việc gì, người ta có khuynh hướng tiếp xúc với nó—Contact—After paying attention on something, one has a tendency to want to come in contact with it. 3) Thọ: Vedana (skt)—Một khi “tiếp xúc” đã thành lập, thọ liền khởi lên—Feeling—Once contact is established, feeling arises. 4) Tưởng: Samjna (skt)—Khi “thọ” đã khởi lên thì tưởng liền xảy ra—Conceptualization—Once feeling arises, conceptualization occurs. 5) Tư: Cetana (skt)—Một khi đã có “tưởng” là “Tư” hay sự suy nghĩ liền theo sau—Deliberation—Once there is “conceptualization,” then “deliberation” sets in. (B) Năm tâm sở biệt cảnh: Viniyata (skt) Five particular states. 6) Dục: Chanda (skt)—Dục là mong muốn cái gì đó—Desire—Desire means to want for something. 7) Thắng giải: Adhimoksha (skt)—Hiểu biết rõ ràng, không còn nghi ngờ gì cả—Resolution—Supreme understanding. There is no doubt at all. 8) Niệm: Smriti (skt)—Nhớ rõ ràng—Recollection—Remembering clearly. 9) Định: Samadhi (skt)—Chuyên chú tâm tập trung tư tưởng vào một cái gì đó—Concentration—Exclusively pay attention to something. 10) Tuệ (Hue)ä: Prajna (skt)—Khả năng phán đoán mà một người bình thường cũng có—Judgment—Ability to judge which average person possesses. (C) Mười một thiện tâm: Eleven wholesome: Kushala (skt)—Eleven Wholesome. 11) Tín: Shraddha (skt)—Tin tưởng—Có niềm tin hay có thái độ tin—Faith—To have a sense of belief or an attitude of faith. 12) Tấn: Virya (skt)—Một khi đã có niềm tin, chúng ta phải biến niềm tin thành hành động với sự tinh cần—Vigor—Once one has faith, one should put it into action with vigor. 13) Tàm: Hri (skt)—Còn có nghĩa là “tự xấu hổ hối hận”—Shame—Also means “Repentance.” 14) Quí: Apatraya (skt)—Cảm thấy thẹn với người—Remorse—Embarrassment. 15) Vô tham (không tham): Alobha (skt)—Absence of greed. 16) Vô sân (không sân): Advesha (skt)—Absence of anger. 17) Vô si (không si): Amoha (skt)—Absence of ignorance. 18) Khinh an: Prashraddhi (skt)—Nhẹ nhàng thơ thới—Người tu thiền thường trải qua giai đoạn “khinh an” trước khi tiến vào “định”—Light ease, an initial expedient in the cultivation of Zen. Before samadhi is actually achieved, one experiences “light-ease.” 19) Bất phóng dật: Apramada (skt)—Không buông lung mà theo đúng luật lệ—Non-laxness—To follow the rules. 20) Hành xả: Upeksha (skt)—Làm rồi không chấp trước mà ngược lại xả bỏ tất cả những hoạt động ngũ uẩn—Renunciation—Not to grasp on the past, but to renounce everything within the activity skhandha which is not in accord with the rules. 21) Bất hại: Ahimsa (skt)—Không làm tổn hại sinh vật—Non-harming—Not harming any living beings. (D) Sáu phiền não căn bản: Klesha (skt)—Six fundamental afflictions. 22) Tham: Raga (skt)—Tham tài, sắc, danh, thực, thùy hay sắc, thinh, hương, vị, xúc—Greed—Greed for wealth, sex, fame, food, sleep or greed for forms, sounds, smells, tastes, and objects of touch. 23) Sân: Pratigha (skt)—Không đạt được cái mình ham muốn sẽ đưa đến sân hận—Anger—Not obtaining what one is greedy for leads to anger. 24) Si: Moha (skt)—Khi giận dữ đã khởi lên thì con người sẽ không còn gì ngoài “si mê”—Ignorance—Once anger arises, one has nothing but “ignorance.” 25) Mạn: Mana (skt)—Ngã mạn Tự cao tự phụ làm cho chúng ta khinh thường người khác—Arrogance—Arrogance means pride and conceit which causes one to look down on others. 26) Nghi: vicikitsa (skt)—Không tin hay không quyết định được—Doubt—Cannot believe or make up one's mind on something. 27) Ác kiến: Drishti (skt)—Improper views—See Ngũ kiến và Tà kiến. (E) Hai mươi tùy phiền não: Upaklesha (skt)—Twenty derivative afflictions. a) Mười Tiểu Tùy phiền não—Ten Minor Grade Afflictions: 28) Phẫn: Krodha (skt)—Phẫn tới bất thình lình và là sự phối hợp của giận hờn—Wrath which comes sudenly and is a combination of anger and hatred. 29) Hận: Upanaha (skt)—Hận xãy ra khi chúng ta đè nén sự cảm xúc giận vào sâu bên trong—Hatred—Hatred happens when one represses the emotional feelings deep inside. 30) Não: Pradasa (skt)—Não là phản ứng tình cảm nặng nề hơn “hận”—Rage, of which the emotional reaction is much more severe than hatred. 31) Phú: Mraksha (skt)—Che dấu—Covering or hiding something inside. 32) Cuống: Maya (skt)—Sự dối gạt—Deceit—False kindness or phone intention. 33) Siểm: Shathya (skt)—Nịnh bợ—Flattery. 34) Kiêu: Mada (skt)—Conceit—Think high of self and low of others. 35) Hại: Vihimsa (skt)—Muốn làm tổn hại ai—Harming—To want to harm other people. 36) Tật (Đố kỵ ganh ghét): Irshya (skt)—Bằng cách nầy hay cách khác, ganh ghét đố kỵ với người hơn mình—Jealousy—To become envious of the who surpass us in one way or other. 37) Xan (Bỏn xẻn): Matsarya (skt)—Người bỏn xẻn tự gói chặt tài sản, chứ không muốn chia xẻ với ai—Stinginess—One is tight about one's wealth, not wishing to share it with others. b) Hai Trung Tùy Phiền Não—Two Intermediate Grade Afflictions: 38) Vô tàm: Ahrikya (skt)—Làm sai mà tưởng mình đúng nên không biết xấu hổ—Lack of shame—To do wrong, but always feel self-righteous. 39) Vô quí: Anapatrapya (skt)—Vô quí có nghĩa là không biết thẹn, không tự xét coi mình có theo đúng tiêu chuẩn với người hay không—Lack of remorse—Never examine to see if one is up to the standards of others. c) Tám Đại Tùy Phiền Não—Eight Major Grade Afflictions: 40) Bất tín: Ashraddhya (skt)—Không tín nhiệm hay tin tưởng ai, không tin chánh pháp—Lack of faith—Not trust or believe in anyone, not to believe in the truth. 41) Giải đãi (Biếng nhác trễ nải): Kausidya (skt)—Không lo đoạn ác tích thiện—Laziness—Not to try to eliminate unwholesome deeds and to perform good deeds. 42) Phóng dật: Pramada (skt)—Làm bất cứ cái gì mình thích chứ không thúc liễm thân tâm theo nguyên tắc—Laxiness—Not to let the body and mind to follow the rules but does whatever one pleases. 43) Hôn trầm: Styana (skt)—Mờ tối hay ngủ gục trong tiến trình tu tập—Torpor—To feel obscure in mind or to fall asleep in the process. 44) Trạo cử: Auddhatya (skt)—Người luôn nhúc nhích không yên—Restlessness—One is agitated and cannot keep still. 45) Thất niệm: Mushitasmriti (skt)—Không giữ được chánh niệm—Distraction—To lose proper mindfulness. 46) Bất chánh tri: Asamprajanya (skt)—Biết không chơn chánh, tâm tánh bị uế nhiễm ám ảnh—Improper knowledge—One become obssesses with defilement. 47) Bất Định (Tán loạn): Wikshepa (skt)—Tâm rối loạn—Scatteredness. (F) Bốn bất định: Aniyata (skt)—Four unfixed. 48) Thụy miên: Middha (skt)—Buồn ngũ làm mờ mịt tâm trí—To fall asleep to obscure the mind. 49) Hối: Kaudritya (skt)—Ăn năn việc làm ác trong quá khứ—Regret or repent for wrong doings in the past. 50) Tầm: Vitarka (skt)—Tìm cầu sự việc làm cho tâm tánh bất ổn—Investigation (to cause the mind unstable). 51) Tư: Vicara (skt)—Cứu xét chính chắn làm cho tâm tánh yên ổn—Correct Examination (to pacify the mind).
năm ngoái
Last (year).
năm nhuần
Leap year.
năm nhân duyên khiến cho người vãng sanh tịnh độ không thối chuyển
Five reasons why those who are reborn in the Pure Land achieve non-retrogression—Kinh Vô Lượng Thọ dạy rằng những kẻ vãng sanh Tịnh Độ đều trụ nơi chánh định, và đều là các bậc A Bệ Bạt Trí, tức là bậc Bất Thối Chuyển. Cổ Đức đã dạy: “Không nguyện vãng sanh Tịnh Độ thì khó lòng vãng sanh; tuy nhiên, một khi đã thực nguyện thì tất cả đều được vãng sanh. Không sanh Tịnh Độ thì khó thành tựu Bất Thối Chuyển; tuy nhiên, khi đã vãng sanh Tịnh Độ thì tất cả đều được bất thối chuyển.” Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, có năm nhân duyên khiến cho người vãng sanh Tịnh Độ không còn bị thối chuyển nữa—The Infinite Sutra confirms that those who achieve rebirth in the Pure Land always dwell in correct samadhi, and are all at the stage of “Avaivartika” or non-retrogression. The ancients have said: “Without a vow to be reborn, rebirth cannot be achieved; however, with a sincere vow, all achieve rebirth. Without rebirth in the Pure Land, the stage of non-retrogression cannot easily be reached; however, with rebirth, all achieve non-retrogression. According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in the Treatise on The Ten Doubts, question number 19, there are five reasons why those who are reborn in the Pure Land achieve non-retrogression: 1) Do nguyện lực đại bi của Phật nhiếp trì: The power of the Buddha's great, compassionate vow embraces and protects them. 2) Ánh sáng hay trí huệ Phật thường soi đến thân, nên lòng Bồ Đề của chư thiện nhân luôn luôn tăng tiến: The Buddha's light or wisdom always shines upon them, and, therefore, the Bodhi Mind of these superior people will always progress. 3) Nơi cõi Tây Phương Tịnh Độ, chim, nước, rừng cây, gió, âm nhạc thường phát ra tiếng pháp 'khổ, không, vô thường và vô ngã;' hành giả nghe rồi sanh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng: In the Western Pure Land, the birds, water, forests, trees, wind and music all preach the Dharma of 'suffering, emptiness, impermanence and no-self.' Upon hearing this, practitioners begin to focus on the Buddha, the Dharma and the Sangha. 4) Chúng sanh được sanh về Cực Lạc, thì bạn lành toàn là các bậc Bồ Tát thượng thiện, tuyệt tất cả các chướng nạn, ác duyên, lại không có ngoại đạo tà ma, nên tâm thường an tịnh: Those who are reborn in the Pure Land have the highest level Bodhisattvas as their companions and are free from all obstacles, calamities and evil conditions. Moreover there are no externalists or evil demons , so their Minds are always calm and still. 5) Đã được sanh về Tịnh Độ thì thọ lượng vô cùng, đồng với chư Phật và chư Bồ Tát, an nhiên tu tập trải qua vô biên a tăng kỳ kiếp: Once they are reborn in the Pure Land, their life span is inexhaustible, equal to that of the Buddhas and Bodhisattvas. Thus they can peacefully cultivate the Dharma for countless eons.
năm phiền trược chưa được đoạn tận
Đức Phật dạy trong Trung Bộ Kinh, kinh Tâm Hoang Vu, có năm phiền trược chưa được đoạn tận—In the Middle Length Discourses of the Buddha, the Wilderness in the Heart Sutra, the Buddha confirmed: “There are five shackles in the heart.” 1) Phiền trược thứ nhất chưa được đoạn tận—The first shackle in the heart that he has not severed: Ở đây vị Tỳ Kheo đối với những dục, không phải không tham ái, không phải không dục cầu, không phải không ái luyến, không phải không khao khát, không phải không nhiệt tình, không phải không khát ái, thì tâm của vị Tỳ Kheo đó không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn—Here a bhikkhu is not free from lust, desire, affection, thirst, fever, and craving for sensual pleasures, and thus his mind does not incline to ardour, devotion, perseverance, and striving. As his mind does not incline to ardour, devotion, perserverance, and striving. 2) Phiền trược thứ hai chưa được đoạn tận—The second shackle in the heart that he has not severed: Vị Tỳ Kheo nào đối với tự thân không phải không tham ái, không phải không dục cầu, không phải không ái luyến, không phải không khao khát, không phải không nhiệt tình, không phải không khát ái, thì tâm của vị Tỳ Kheo đó không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn—A bhikkhu is not free from lust, desire, affection, thirst, fever, and craving for the body (the rest remains the same as in the last part of 1). 3) Phiền trược thứ ba chưa được đoạn tận—The third shackle in the heart that he has not severed: Vị Tỳ Kheo nào đối với các sắc pháp không phải không tham ái, không phải không dục cầu, không phải không ái luyến, không phải không nhiệt tình, không phải không khát ái, thì tâm của vị Tỳ Kheo đó không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn—A bhikkhu is not free from lust, desire, affection, thirst, fever, and craving for form (the rest remains the same as the last part of 1). 4) Phiền trược thứ tư chưa được đoạn tận—The fourth shackle in the heart that that he has not severed: Vị Tỳ Kheo nào ăn cho đến thỏa thê, cho đến bụng chứa đầy, sống thiên nặng về khoái lạc, về sàng tọa, khoái lạc về ngủ nghỉ, khoái lạc về thụy miên—A bhikkhu eats as much as he likes until his belly is full and indulges in the pleasures of sleeping, lolling, and drowsing… As his mind does not inclined to ardour, devotion, perserverance, and striving. 5) Phiền trược thứ năm chưa được đoạn tận: Tỳ Kheo nào sống phạm hạnh với mong cầu được sanh thiên giới với ý nghĩ: “Ta với giới nầy, với hạnh nầy, với khổ hạnh nầy hay với phạm hạnh nầy sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác.”—A bhikkhu lives a holy life aspiring to some order of gods thus: “By this virtue or observance or asceticism or holy life, I shall become a great god or some lesser god,” and thus his mind does not inclined to ardour, devotion, perserverance, and striving.
năm phiền trược đã được (một vị tỳ kheo) đoạn tận
Five shackles in the heart that he has severed—See Năm Phiền Trược Chưa Được Đoạn Tận (opposite meaning).
năm pháp ngăn che
(ngũ cái): năm loại phiền não ngăn che sự sáng suốt của tâm thức, gồm có: 1. Tham dục, 2. Sân khuể, 3. Thụy miên (biếng nhác, mê ngủ), 4. Trạo hối (xao động bất an), 5. Nghi ngờ Chánh pháp.
năm pháp nội tâm một vị tỳ kheo cần phải có nếu muốn chỉ trích một vị khác
Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm pháp nội tâm một vị Tỳ Kheo cần phải có nếu muốn chỉ trích một vị khác—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five points to be borne in mind by a monk wishing to rebuke another: 1) Tôi nói đúng thời, không phải phi thời: I will speak at the right time, not at the wrong time. 2) Tôi nói đúng sự thật, không sai sự thật: I will speak (state) the truth, not what is false. 3) Tôi nói một cách từ tốn, không nói lời ác khẩu: I will speak gently, not roughly. 4) Tôi nói lời có lợi ích, không nói lời không lợi ích: I will speak for his good, not for his harm. 5) Tôi nói lời có lòng từ, không phải lời sân hận: I will speak with love in my heart, not with enmity.
năm phép cung kính của chồng đối với vợ
Theo Kinh Toát Yếu Đạo Lý Cho Người Cư Sĩ, Đức Phật đã ban hành năm phép cung kính của người chồng đối với người vợ như sau—In the Sigalovada Sutta, the Buddha laid down the five ways for a husband to show compassion and respect for his wife as follows: 1) Luôn lễ độ và thanh tao nhã nhặn với vợ: He should always minister to her by courtesy. 2) Không tỏ ý khinh thường vợ: Not to despise her. 3) Trung thành với vợ: To be faithful to her. 4) Trao quyền hành quản lý trong nhà cho vợ: To delegate authority in the household to her. 5) Mua sắm nữ trang cho vợ: To provide her with ornaments.
năm phép cung kính của vợ đối với chồng
Theo Kinh Toát Yếu Đạo Lý Cho Người Cư Sĩ, Đức Phật đã ban hành năm phép cung kính yêu thương của người vợ đối với chồng như sau—In the Sigalovada Sutta, the Buddha laid down the guidelines of five ways for a wife to show compassion and respect to her husband as follows: 1) Làm tròn bổn phận của mình: To perform her duties well. 2) Ân cần tiếp đón thân bằng quyến thuộc bên chồng: To be hospitable to her husband's relatives and friends. 3) Trung thành với chồng: To be faithful to her husband. 4) Cẩn thận giữ gìn tiền bạc của cải mà chồng kiếm được: To protect what he brings home. 5) Luôn khéo léo, siêng năng cần mẫn trong công việc: Be always skilled and industrious in discharging her duties.
năm suy tướng
Five signs of decay—See Ngũ Suy. 1)
Năm sức
(Ngũ lực): Năm nguồn sức mạnh giúp người tu tập vượt qua mọi khó khăn, chướng ngại. Năm sức mạnh đó là: 1. Tín lực (sức mạnh của đức tin), 2. Nguyện lực (sức mạnh của tâm nguyện, quyết thực hiện điều đã phát nguyện), 3. Niệm lực (sức mạnh nghĩ nhớ, niệm tưởng đến Chánh pháp, phá được tất cả mọi tà niệm, tạp niệm), 4. Định lực (sức mạnh của sự định tâm, nhiếp tâm); 5. Tuệ lực (sức mạnh của trí tuệ sáng suốt).
năm sự bố thí
(ngũ sự thí): 1. Dùng vật chất bố thí (thí sắc); 2. Dùng công sức bố thí (thí lực); 3. Dùng sự an ổn bố thí, tức là bảo vệ người khác (thí an); 4. Dùng mạng sống để bố thí (thí mạng); 5. Dùng tài biện luận bố thí, nghĩa là dùng khả năng biện luận để giúp người được lợi lạc (thí biện).
năm sự uế trược
(ngũ trược): là năm tính chất xấu xa, ô nhiễm của một thế giới uế tạp như thế giới Ta-bà này, bao gồm kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược và mạng trược.
năm thiện nghiệp tạo quả được hưởng trong sắc giới
Five kinds of kusala kamma which may ripen in the realms of form—See Mười Lăm Tâm Thiện Thuộc Sắc Giới (A).
năm thiện nghiệp tạo quả được hưởng trong vô sắc giới
Five kinds of kusala kamma which may ripen in the formless realms—See Tứ Không Xứ (B).
năm thế hệ
Five generations.
năm thời kỳ phát triển của thai nhi
The five evolutions of the embryo in the womb: 1) Thai tụ: Kalalam (skt)—Embryo-initiation. 2) Sau 27 ngày: Arbudam (skt)—After 27 days. 3) Sau 37 ngày: Pesi (skt)—After 37 days. 4) Sau 47 ngày: Ghana (skt)—After 47 days. 5) Sau 57 ngày khi tất cả các căn hình thành đầy đủ: Prasakha (skt)—After 57 days when all form and organs all complete.
năm thứ chi tiêu
Trong Kinh Pattakamma, Đức Phật nhắc nhở một người nên chi tiêu của cải của mình theo năm chỗ sau đây—In the Pattakamma Sutta, the Buddha reminded a person should spend his wealth in five areas: 1) Chi tiêu về thực phẩm, quần áo và các nhu cầu khác: Expenditure on food and clothing and other needs. 2) Nuôi cha mẹ, vợ con và người làm: Maintain of parents, wife and children and servants. 3) Chi tiêu về thuốc thang và những trường hợp khẩn cấp khác: For illness and other emergencies. 4) Chi tiêu về mục đích từ thiện: For charitable purposes. 5) Chi tiêu vào những việc sau đây—Expenditures on the followings: • Đối xử với thân quyến—Treating one's relatives. • Đối xử với khách—Treating one's visitors. • Cúng dường để tưởng nhớ đến những người đã khuất—Offering alms in memory of the departed. • Dâng lễ cúng dường chư Thiên—Offering merit to the deities. • Dâng lễ cúng dường chư Tăng Ni—Offerings to monks and nuns. • Trả thuế và lệ phí nhà nước đúng kỳ hạn—Payment of state taxes and dues in time.
Năm thứ mắt
(Ngũ nhãn): 1. Nhục nhãn: mắt thịt, chỉ mắt của người thường, chỉ thấy được trong giới hạn nhất định của mắt, 2. Thiên nhãn, 3. Huệ nhãn: là khả năng nhìn thấy do sự khai mở trí huệ, nên sáng suốt và không bị giới hạn như mắt thường, 4. Pháp nhãn, 5. Phật nhãn: là khả năng nhìn thấy sau khi chứng quả Vô thượng Bồ-đề, thành Phật, nghĩa là chỉ có chư Phật Thế Tôn mới có mà thôi. Bậc giác ngộ hoàn toàn sẽ có đủ năm thứ mắt này. Chúng sanh phàm tục chỉ có nhục nhãn. Người tu hành tùy theo mức độ chứng đắc mà lần lượt được thêm các loại mắt khác, cho đến Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn mới có Phật nhãn.
năm thứ tà mạng
1. Giả hiện kỳ lạ mua chuộc tín ngưỡng, như tịch cốc, thần thông… 2. Tự khoe công đức, tài học; 3. Coi bói, tướng số; 4. Hùng biện hô to, nhấn mạnh oai thế; 5. Khoe được nhiều cúng dường để lấy lòng người. Đây là năm thứ để cầu lợi, nuôi sống nên gọi là tà mạng.
năm tiểu suy tướng của chư thiên khi sắp mạng chung
Theo Kinh Đại Bát Niết Bàn, chư Thiên nào khi sắp mạng chung có năm tướng suy hiện ra. Năm suy tướng nầy gọi là năm tướng “tiểu suy”—According to the Parinirvana Sutra, heavenly beings who are nearing death will have the following five deterioration signs and characteristics. These characteristics are known as the five “minor deterioration” characteristics: 1) Y phục và các đồ trang nghiêm nơi thân như vòng xuyến và chuỗi anh lạc kêu vang ra những tiếng không được thanh tao êm dịu như lúc bình thường: Clothing and other adorning items on the body such as arm gem bracelets and jewel necklaces will no longer produce soothing and enchanting sounds as they usually did. 2) Ánh quang minh nơi thân bỗng nhiên mờ yếu: The auras around their bodies will become dim. 3) Sau khi tắm gội xong các giọt nước dính đọng nơi mình chớ không khô đi như lúc trước: After bathing the water droplets will remain on their bodies and will not dry spontaneously as they usually did. 4) Tánh tình bình thường thong dong, phóng khoáng nay bị trì trệ lại một chỗ: Their personality ordinarily delightful and cheerful, today they seem uneasy and uncomfortable. 5) Mắt luôn máy động không được trong lặng như mọi khi: The eyes will twitch constantly and will not be as clear as they used to be.
năm triều đại thời cổ trung quốc
The five dynasties of Ancient China.
Năm trí
S: pañcajñāna; Hán Việt: Ngũ trí (五智);|Năm loại trí được trình bày theo Mật giáo. Năm trí này miêu tả tất cả những khía cạnh của Tuyệt đối, của Chân như (s: tathatā) mà con người có thể thực hiện được khi đã chuyển hoá thân tâm. Thân tâm gọi cụ thể ở đây là năm nhóm, Ngũ uẩn với năm cấu uế, phiền não (s: pañcakleśa) phụ thuộc là tham dục (s: rāga), sân (s: dveṣa), si (s: moha, hoặc vô minh, s: avidyā), mạn (s: māna) và ganh ghét (s: īrṣyā). Năm trí bao gồm:|1. Pháp giới (thể tính) trí (法界 [體性] 智; dhamadhātu-jñāna): trí siêu việt của Pháp giới (dharmadhātu), trí tột cùng. Căn cơ của trí này là Sắc uẩn (rūpaskandha) cùng với Vô minh (avidyā), và thuộc về Thân (kāya) trong ba động cơ tạo nghiệp là Thân, khẩu, ý (citta-vāk-kāya). Trong Man-đa-la thì Pháp giới trí thuộc về Ðại Nhật Phật (vairocana), nằm ở trung tâm.|2. Ðại viên kính trí (大圓鏡智; ādarśa-jñā-na): trí như một tấm gương lớn, trí giúp người nhìn vạn vật với một tâm thức Vô ngã (anātman), không muốn chiếm đoạt, phân biệt đúng sai, chấp nhận vạn vật với mỗi sắc thể riêng của nó. Trí này được ví như một tấm gương vì một hạt bụi nó cũng không bỏ qua nhưng nếu hạt bụi này bay đi, gương không lưu lại dấu vết gì. Nguồn gốc của trí này là Thức uẩn (vijñānaskandha) cùng với tâm trạng Sân hận (dveṣa), thuộc về ý (citta) trong ba cửa tạo nghiệp. Trong Man-đa-la thì trí này thuộc về Phật Bất Ðộng (akṣobhya), nằm ở phương Ðông.|3. Bình đẳng tính trí (平等性智; s: samatā-jñāna): trí giúp con người thấy rõ sự bình đẳng giữa mình và chúng sinh. Tinh thần Từ bi (maitrī-karuṇā) của đạo Phật cũng xuất phát từ trí này chứ không phải xuất phát từ ý nghĩ »tội nghiệp, đáng thương« – cách nhìn của một người »trên cơ« nhìn xuống. Người Phật tử phát triển Bồ-đề tâm, phát triển lòng từ bi vì đã nhận ra chính mình trong tất cả hoàn cảnh, tất cả chúng sinh. Nguồn gốc của trí này là Thụ uẩn (ve-danāskandha) cùng với tâm trạng Kiêu mạn (māna). Trong Man-đa-la thì trí này thuộc về Phật Bảo Sinh (ratnasambhava), vị trí ở phương Nam.|4. Diệu quan sát trí (妙觀察智; pratyave-kṣaṇa-jñāna): trí giúp người ta biến chuyển khả năng phân biệt, thị phi bằng trí thức bình thường thành trí huệ siêu việt (Bát-nhã), tuỳ cơ ứng biến, làm việc đúng thời điểm và địa điểm, không cần »dụng công.« Nguồn gốc của trí này là Tưởng uẩn (saṃjñā-skandha) cùng với tâm trạng Tham dục (rāga). Trong Man-đa-la thì trí này thuộc về Phật A-di-đà (amitābha), giáo chủ phương Tây.|5. Thành sở tác trí (成所作智; kṛtyānuṣ-ṭhāna-jñāna), cũng được gọi là Thành sự trí (成事智): trí giúp người hoàn thành tất cả mọi việc mà không tạo Nghiệp (karma), đó là hành động Vô vi, xuất phát từ một tâm đã chứng ngộ được Vô ngã của chính bản thân và các Pháp Hữu vi. Nguồn gốc của trí này là Hành uẩn (saṃskāraskandha) cùng với tâm trạng ganh ghét (Hán dịch là »tật« 嫉; s: īrṣyā). Trong Man-đa-la thì trí này thuộc về Phật Bất Không Thành Tựu (amoghasiddhi), giáo chủ phương Bắc.|Cách trình bày như trên thuộc về truyền thống của Kim cương thừa (vajrayāna) Tây Tạng. Truyền thống Mật giáo tại Ấn Ðộ theo Bí mật tập hội tan-tra (guhyasamāja-tantra) thì có những điểm khác, cụ thể là: Bất Ðộng Như Lai trụ trì ở trung tâm Man-đa-la với những thuộc tính là Thức (vijñāna), Sân (dveṣa), Tâm (trong ba ải tạo nghiệp) và Pháp giới thể tính trí. Ðại Nhật Như Lai trụ trì ở hướng Ðông với thuộc tính Sắc (rūpa) trong ngũ uẩn, Vô minh (avidyā), Thân trong ba ải và Ðại viên kính trí. Trong Duy thức tông (vijñānavāda) hoặc Pháp tướng tông (Hiển giáo) người ta chỉ phân biệt bốn loại trí, không nhắc đến Pháp giới trí (xem thêm dưới Pháp tướng tông).
năm trường hợp đi chùa bất đắc dĩ
Five reluctant situations the majority of people go to temple—Theo Thượng Tọa Thích Hải Quang trong Thư Gửi Người Học Phật, ít thấy có người vì thực tình muốn thoát nẻo luân hồi, xa lìa sanh tử, cầu vãng sanh Tịnh Độ mà đến chùa tu hành. Có năm trường hợp đi chùa bất đắc dĩ. Dù thế nào đi nữa, việc tu hành như thế cũng gieo được nhân lành và phước đức về sau, còn tốt hơn là không tu hành hay không có tín tâm gì cả—According to Venerable Thích Hải Quang in the Letters to Buddhist Followers, there are very few people who honestly wish to escape the cycle of rebirths, be liberated from birth and death, to seek rebirth to the Pureland to come to temple to cultivate. There are five reasons that Buddhists reluctantly go to temple. No matter what reasons, such cultivation is still producing some wholesome deeds, is still better than no cultivation or having no faith. 1) Có người vì bệnh nặng mà đi chùa vái van cho mau qua chóng khỏi: Some people go to the temple to pray to quickly overcome their sickness or ailment. 2) Vì muốn cầu siêu trả hiếu cho cha mẹ mà đi chùa tụng kinh niệm Phật: Some people go to the temple to chant sutras and practice Buddha Recitation with the purpose to pray for their deceased parents as a way to repay their parents' kindness. 3) Vì cầu cho nhà cửa, sự nghiệp vững bền mà đến chùa lạy Phật, cúng dường: Some people come to the temple to prostrate to Buddha and make offerings with the purpose to pray for their homes and daily subsistence to remain prosperous. 4) Vì sợ tai nạn mà đến chùa vái nguyện ăn chay niệm Phật: Some people are afraid of calamities and disasters so they come to the temple to vow to become vegetarians. 5) Vì muốn trả cho rồi các lời vái van đã lỡ phát nguyện khi trước: Some people come to the temple because they wish to repay something they vowed before when they experienced hardships.
năm trường hợp để phân biệt cảnh ma hay cảnh thật
See Five circumstances (criteria) that can help us to determine which events are real and which belong to the demonic realms in English-Vietnamese Section.
năm tâm hoang vu
Ceto-khila (p)—Five mental blockages—Theo Kinh Phúng Tụng trong trường Bộ Kinh, có năm tâm hoang vu—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five mental blockages: 1) Ở đây vị Tỳ Kheo nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị Đạo Sư. Thế nên vị ấy không nỗ lực đúng hướng, không hăng hái, không kiên trì và tinh tấn: Here a monk who has doubts and hesitations about the teacher, is dissatisfied and cannot settle his mind. Thus his mind is not inclined towards ardour, devotion, persistence and effort. 2) Ở đây vị Tỳ Kheo nghi ngờ đối với Pháp, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với Pháp. Thế nên vị ấy không nỗ lực đúng hướng, không hăng hái, không kiên trì và tinh tấn: Here a monk who has doubts and hesitations about the Dhamma, is dissatisfied and cannot settle his mind. Thus his mind is not inclined towards ardour, devotion, persistence and effort. 3) Ở đây vị Tỳ Kheo nghi ngờ đối với Tăng, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với Tăng. Thế nên vị ấy không nỗ lực đúng hướng, không hăng hái, không kiên trì và tinh tấn: Here a monk who has doubts and hesitations about the Sangha, is dissatisfied and cannot settle his mind. Thus his mind is not inclined towards ardour, devotion, persistence and effort. 4) Ở đây vị Tỳ Kheo nghi ngờ đối với Học Pháp, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với Học Pháp. Thế nên vị ấy không nỗ lực đúng hướng, không hăng hái, không kiên trì và tinh tấn: Here a monk who has doubts and hesitations about the training, is dissatisfied and cannot settle his mind. Thus his mind is not inclined towards ardour, devotion, persistence and effort. 5) Ở đây vị Tỳ Kheo tức giận đối với các vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu. Vì thế vị ấy không nỗ lực đúng hướng, không hăng hái, không kiên trì và tinh tấn: Here a monk who is angry and displeased with his fellows in the holy life, he feels depressed and negative towards them. Thus his mind is not inclined towards ardour, devotion, persistence and effort.
năm tâm hoang vu đã được đoạn tận
Five Wilderness in the heart have been completely abandoned (please see Năm Tâm Hoang Vu, just reversing the meaning, or place a “no” in front of each rule).
năm tâm hành sắc giới
Five kinds of Fine-Material-Sphere Functional Consciousness—See Tâm Sắc Giới (II) (C).
năm tâm quả sắc giới
Five kinds of Fine-Material-Sphere Resultant Consciousness—See Tâm Sắc Giới (II) (B).
năm tâm thiện sắc giới
Five kinds of Fine-Sphere-Material-Wholesome-Consciousness—See Tâm Sắc Giới (II) (A).
năm tướng suy
(ngũ suy tướng): năm tướng hiện ra khi chư thiên ở các cõi trời đã hưởng hết phước đức, sắp phải xả thân để sanh về một cảnh giới khác. Năm tướng suy đó là: 1. Quần áo thường dơ bẩn; 2. Đầu tóc rối bời, hoa trên đầu tàn tạ; 3. Thân thể hôi hám và nhơ nhớp; 4. Dưới nách thường ra mồ hôi; 5. Không thấy ưa thích ngai vị, chỗ ngồi của mình.
Năm tỉ-khâu
Hán Việt: Ngũ tỉ-khâu (五比丘);|Là năm vị Sa-môn (s: śramaṇa) được nghe Phật thuyết pháp đầu tiên tại Lộc uyển. Năm vị Sa-môn này trở thành năm vị đệ tử đầu tiên gia nhập Tăng-già của đức Phật. Năm vị này là: A-nhã Kiều-trần-như (s: ājñāta kauṇḍinya; p: koṇḍañña), Bà-sa-ba (s: bāṣpa; p: vappa), Bạt-đề (s: bhadriya; p: bhaddiya), Ma-ha Na-ma (s, p: mahānāma) và Át-bệ hoặc A-thuyết-thị (s: aśvajit; p: assaji).
Năm tội lớn
S: pañcanantaryakarmāṇi; Hán Việt: Ngũ nghịch (五逆), Ngũ vô gián nghiệp (五無間業);|Năm trọng tội bị đoạ Ðịa ngục (s: naraka): 1. Giết cha (sát phu 殺父; s: pitṛghāta); 2. Giết mẹ (sát mẫu 殺母; s: mātṛghāta); 3. Giết một vị A-la-hán (sát A-la-hán 殺阿羅漢; s: arhadvadha); 4. Làm tổn thương đổ máu Phật (xuất Phật thân huyết 出佛身血; s: tathāgatasyāntike duṣṭacittarudhirotpada-na) và 5. Chia rẽ Tăng-già (Phá hoà hợp tăng 破和合僧; s: saṅghabheda).
năm tội lớn
Xem Ngũ vô gián nghiệp.
Năm tội nghịch
(ngũ nghịch tội): Tiếng Phạn là pađcanantaryakarmṇi, Hán dịch là Ngũ nghịch tội hay Ngũ vô gián nghiệp, nghĩa là năm tội nghịch, khi phạm vào phải đọa địa ngục Vô gián, chịu sự khổ sở không gián đoạn. Đây là năm tội nặng nhất đối với mọi chúng sanh. Vì đối với người có ân nhưng thay vì phụng thờ cung kính lại ngổ nghịch làm hại nên gọi là tội nghịch. Theo Tiểu thừa thì năm tội nghịch là: 1. Giết cha, 2. Giết mẹ, 3. Giết A-la-hán, 4. Phá hòa hợp tăng, 5. Làm thân Phật chảy máu. Tuy nhiên, theo Đại thừa thì khái niệm năm tội nghịch rộng hơn, do đó cũng có nhiều chúng sanh dễ phạm vào hơn. Chúng tôi nghiêng về việc hiểu khái niệm năm tội nghịch ở đây theo Đại thừa, bao gồm: 1. Phá hoại tháp Phật, tôn tượng, chùa, tinh xá... hoặc trộm, cướp tài vật của Tam bảo, hoặc tự mình làm, hoặc bảo người khác làm, hoặc thấy người khác làm như vậy mà sanh tâm vui mừng. 2. Phỉ báng, khinh chê giáo pháp của Phật, bao gồm cả giáo pháp Tiểu thừa và Đại thừa. 3. Cưỡng bức, ép buộc tỳ-kheo hoàn tục, hoặc giết hại tỳ-kheo. 4. Phạm vào một trong 5 tội nghịch của Tiểu thừa như vừa kể trên. 5. Khinh chê nhân quả, cho rằng không có nghiệp thiện, nghiệp ác, thường làm 10 nghiệp bất thiện, không sợ quả báo đời sau, thường tự làm hoặc bảo người khác làm 10 nghiệp ác. Theo cách hiểu này thì hầu hết chúng sanh tà kiến đều rất dễ dàng phạm vào năm tội nghịch nếu không biết tin nhận và học theo Chánh pháp. Trong Bồ Tát giới kinh lại có ghi chép bảy thứ tội nghịch (Thất nghịch tội) là: 1. Làm cho thân Phật ra máu, như, chém đánh; ném đá...; 2. Giết cha; 3. Giết mẹ; 4. Giết hòa thượng; 5. Giết A-xà-lê; 6. Phá yết-ma chuyển Pháp luân tăng; 7. Giết thánh nhân.
năm uẩn
xem năm ấm; xem thêm ấm, nhập, giới.
năm vóc
(ngũ thể): năm phần của thân thể, bao gồm: đầu, hai tay và hai chân.
năm xuất ly giới
Nissaraniya-dhatuyo (p)—The five elements making for deliverance—See Ngũ Xuất Ly Giới.
năm điều kiện cần thiết để thành công của người tu thiền
Five conditions to be successful for a Pure Land practitioner—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, nếu luận xét trên đường hành đạo, khi chưa được sanh về Cực Lạc, thì tu Tịnh Độ cũng có thể bị ma chướng. Song phần nhiều là do hành giả không hiểu giáo lý, chẳng khéo trị tâm, để nội ma phát khởi khiến chiêu cảm ngoại ma đến phá hoại. Nếu giữ được tâm bình tĩnh, thì với oai lực công đức của câu hồng danh, ngoại ma không làm chi được, và phiền não cũng lần lần bị tiêu trừ. Vì thế người tu Tịnh Độ, ma cảnh nếu có cũng là phần ít. Trái lại người tu Thiền, ma cảnh hiện nhiều, bởi chỉ nương vào tự lực. Bậc Thiền sĩ phải đủ năm điều kiện sau đây. Nếu vị tu thiền nào không hội đủ năm điều kiện trên rất dễ bị ma chướng làm tổn hại—While treading the Way but not yet reborn in the Pure Land, the practitioner of Buddha Recitation may also encounter demonic obstacles. However, in most cases, this is because he does not understand the Dharma and is not skillful at reining in his mind, letting internal demons or afflictions spring up, which, in turn, attract external demons. If he can keep his mind empty and still and recite the Buddha's name, external demons will be powerless and afflictions will gradually disappear. Thus, for the Pure Land practitioner, even if demonic obstacles do appear, they are few in number. Advanced Zen practitioners, on the other hand, face many demonic occurrences because they rely only on their own strength and self-power. A Zen follower should fulfill the following five conditions to be successful. If a Zen practitioner does not meet these five conditions, he is very easily subject to get harm from demons: 1) Giới hạnh tinh nghiêm: He should keep the precepts strictly. 2) Căn tánh lẹ làng sáng suốt: His nature and roots should be quick and enlightened. 3) Phải hiểu rõ đạo lý, khéo phân biệt tướng chánh tà, chân, vọng: He should have a clear understanding of the Dharma, skillfully distinguishing the correct from the deviant, the true from the false. 4) Ý chí mạnh mẽ vững bền: He should be firm and stable in his determination. 5) Phải nương nơi bậc thiện tri thức thông kinh điển, , đã có kinh nghiệm tu thiền nhiều năm để nhờ sự hướng dẫn: He should be guided by a good advisor, who has a thorough understanding of the sutras and many years experience in meditation.
năm điều kiện cần thiết để tạo nên nghiệp sát sanh
Five necessary conditions to complete the evil of killing—See Sát Sinh (B).
năm điều lợi ích của người giữ đủ giới
Theo Kinh Đại Bát Niết Bàn và Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm điều lợi ích cho người đủ giới—According to the Mahaparinibbana Sutta and the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five advantages to one of good morality and of success in morality: 1) Người giữ giới nhờ không phóng túng nên được tài sản sung túc: Through careful attention to his affairs, he gains much wealth. 2) Người giữ giới tiếng tốt đồn khắp: He gets a good reputation for morality and good conduct. 3) Người giữ giới, khi vào hội chúng nào, Sát Đế Lợi, Bà La Môn, Sa Môn hay cư sĩ, vị ấy vào một cách đường hoàng, không dao động: Whatever assembly he approaches, whether of Khattiyas, Brahmins, Ascetics, or Householders, he does so with confidence and assurance. 4) Người giữ giới khi mệnh chung sẽ chết một cách không sợ sệt, không dao động: At the end of his life, he dies unconfused. 5) Người giữ giới, sau khi thân hoại mệnh chung được sanh lên thiện thú hay Thiên giới: After death, at breaking up of the body, he arises in a good place, a heavenly world.
năm điều nguy hiểm của người ác phá giới
Sampada—Five dangers to the immoral through lapsing from morality—Theo Kinh Đại Bát Niết Bàn và Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm điều nguy hiểm của người ác giới—According to the Mahaparinibbana Sutta and the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five dangers to the immoral through lapsing from morality (bad morality or failure in morality): 1) Người ác giới vì phạm giới luật do phóng dật thiệt hại nhiều tài sản: He suffers great loss of property through neglecting his affairs. 2) Người ác giới, tiếng xấu đồn khắp: He gets bad reputation for immorality and misconduct. 3) Người ác giới, khi vào hội chúng sát Đế Lợi, Bà La Môn, Sa Môn hay cư sĩ, đều vào một cách sợ sệt và dao động: Whatever assembly he approaches, whether of Khattiyas, Bramins, Ascetics, or Householders, he does so differently and shyly. 4) Người ác giới, chết một cách mê loạn khi mệnh chung: At the end of his life, he dies confused. 5) Người ác giới, khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục: After death, at the breaking up of the body, he arises in an evil state, a bad fate, in suffering and hell. ** For more information, please see Năm Điều Lợi Ích Của Người Đủ Giới.
năm điểm phải biết tự xét lấy mình của người tu tịnh độ
Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, để tránh bị ma chướng trên đường tu, có năm điểm mà người tu Tịnh Độ phải tự xét lấy mình—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, to prevent demonic obstructions on the cultivating path, there are five points any Pureland practitioner should know how to reflect on one's self. 1) Muốn sanh về Tây Phương Cực Lạc, không phải chỉ dùng chút ít phước lành hay đôi chút công hạnh lơ là mà được: If wishing to gain rebirth in the Western Pureland of Ultimate Bliss, it takes much more than a few good meritorious and virtuous deeds. 2) Muốn thoát được sự thống khổ luân hồi trong vạn kiếp, không phải chỉ dùng tâm dần dà, chờ hẹn hay biếng trễ mà được: If wishing to find liberation from the eternal suffering in tens and thousands of reincarnations of the cycle of rebirths, it cannot be accomplished by procastinating and being lazy. 3) Phải nghĩ rằng cơn vô thường mau chóng, mới sáng sớm đó đã lại đến xế chiều. Đâu nên không siêng năng, lo dự bị trước hay sao?: It is necessary to think that the impermanence of life is sudden, time truly flies, the morning had just come but night has arrived. Why not be diligent and prepare in anticipation. 4) Nên nhớ rằng sức chí nguyện không thắng nổi sức tình ái được: Remember the “wheel power” is unable to overcome the “powerful forces of love, lust and desires.” 5) Lại cũng nên nhớ rằng tâm niệm Phật không hơn nổi tâm dục trần được: Also remember that the Buddha Recitation Mind is not stronger than the the mind of worldly desires.
năm đướng ác
Xem Ngũ thú.
năm đại hay năm yếu tố lớn—the five elements
Đất: Earth.
năm đại suy tướng của chư thiên lúc sắp mạng chung
Five major deterioration characteristics of heavenly beings who are nearing death—See Ngũ Suy.
năm đại tội
Five grave offenses—Five deadly sins (killing one's father or one's mother or an arahant, causing dissension within the Sangha, causing the Tathagata to bleed)—See Ngũ Nghịch.
năm đạo sĩ
The five learned monks—See Năm Đệ Tử Đầu Tiên Của Đức Phật.
năm đẳng cấp chúng sanh
Theo Kinh Lăng Già, về quan điểm tôn giáo, có năm đẳng cấp chúng sanh—According to The Lankavatara Sutra, from the religious point of view, there are five orders of beings. 1) Những chúng sanh thuộc hàng Thanh Văn—Those who belong to the Sravaka order: Các chúng sanh thuộc hàng Thanh Văn được chứng ngộ khi nghe được những học thuyết về các Uẩn, Giới, Xứ, nhưng lại không đặc biệt lưu tâm đến lý nhân quả; các ngài đã giải thoát đuợc sự trói buộc của các phiền não nhưng vẫn chưa đoạn diệt được tập khí của mình. Họ đạt được sự thể chứng Niết Bàn, và an trú trong trạng thái ấy, họ tuyên bố rằng họ đã chấm dứt sự hiện hữu, đạt được đời sống phạm hạnh, tất cả những gì cần phải làm đã được làm, họ sẽ không còn tái sinh nữa. Những vị nầy đã đạt được tuệ kiến về sự phi hiện hữu của “ngã thể” trong một con người, nhưng vẫn chưa thấy được sự phi hiện hữu trong các sự vật. Những nhà lãnh đạo triết học nào tin vào một đấng sáng tạo hay tin vào “linh hồn” cũng có thể được xếp vào đẳng cấp nầy—Those belong to the Sravaka order who are delighted at listening to such doctrines as concern the Skandhas, Dhatus, or Ayatanas, but take no special interest in the theory of causation, who have cut themselves loose from the bondage of evil passions but have not yet destroyed their habit-energy. They have attained the realization of Nirvana, abiding in which state they would declare that they have put an end to existence, their life of morality is now attained, all that is to be done is done, they would not be reborn. These have gained an insight into the non-existence of an ego-substance in a person but not yet into that in objects. These philosophical leaders who believe in a creator or in the ego-soul may also be classified under this order. 2) Những chúng sanh thuộc hàng Bích Chi Phật—Those of the Partyekabuddha order: Đẳng cấp Bích Chi Phật bao gồm những vị hết sức lưu tâm đến những gì dẫn họ đến sự thể chứng quả vị Bích Chi Phật. Họ lui vào sống độc cư và không dính dáng gì đến các sự việc trên dời nầy. Khi họ nghe nói rằng Đức Phật hiện thân ra thành nhiều hình tướng khác nhau, khi thì nhiều thân, khi thì một thân, thi triển thần thông thì họ nghĩ rằng đấy là dành cho đẳng cấp của chính họ nên họ vô cùng ưa thích những thứ ấy mà đi theo và chấp nhận chúng—The Pratyekabuddha order comprises those who are intensely interested in anything that leads them to the realization of Pratyekabuddhahood. They would retire into solitude and have no attachment to worldly things. When they hear that the Buddha manifests himself in a variety of forms, sometimes in group, sometimes singly, exhibiting miraculous powers, they think these are meant for their own order, and immensely delighted in them they would follow and accept them. 3) Những chúng sanh thuộc hàng Như Lai—Those of the Tathagata order: Chư vị có thể nghe thuyết giảng về những chủ đề như những biểu hiện của tâm hay cảnh giới siêu việt của A Lại Da mà từ đấy khởi sinh thế giới của những đặc thù nầy, nhưng chư vị lại có thể không cảm thấy chút nào ngạc nhiên hay sợ hãi. Những chúng sanh trong đẳng cấp Như Lai có thể được chia làm ba loại—Those who may listen to discourse on such subjects as manifestations of mind, or transcendental realm of the Alaya, from which starts this world of particulars, and yet they may not at all feel astonished or frightened. The Tathagata order may be again divided into three. a) Những vị đã đạt được tuệ kiến thấu suốt chân lý rằng không có một thực thể đặc thù nào đằng sau những gì mà người ta nhận thức: Those who gain an insight into the truth that there is no individual reality behind one perceives. b) Những vị biết rằng có một nhận thức tức thời về chân lý trong tâm thức sâu kín nhất của con người: Those who know that there is an immediate perception of the truth in one's inmost consciousness. c) Những vị nhận thức rằng ngoài thế giới này còn có vô số Phật độ rộng lớn bao la: Those who perceive that besides this world there are a great number of Buddha-lands wide and far-extending. 4) Những chúng sanh không thuộc đẳng cấp rõ ràng nào—Those who belong to no definite order: Những chúng sanh có bản chất bất định, vì những chúng sanh nào thuộc đẳng cấp nầy có thể nhập vào một trong ba đẳng cấp vừa kể trên tùy theo hoàn cảnh của mình—Those who are of the indeterminate nature. For those who belong to it may take to either one of the above three orders according to their opportunities. 5) Những chúng sanh vượt ra ngoài các đẳng cấp trên—Those who are altogether outside these order: Hãy còn một đẳng cấp khác nữa của những chúng sanh không thể được bao gồm trong bất cứ đẳng cấp nào trong bốn đẳng cấp vừa kể trên; vì họ không hề mong muốn cái gì để giải thoát, và vì không có mong muốn ấy nên không có giáo lý nào có thể nhập vào lòng họ được. Tuy nhiên, có hai nhóm phụ thuộc nhóm nầy và cả hai nhóm nầy đều được gọi là Nhất Xiển Đề (see Nhất Xiển Đề and Vô Chủng Xiển Đề)—There is still another class of beings which cannot be comprised under any of the four already mentiond; for they have no desire whatever for emancipation, and without this desire no religious teaching can enter into any heart. They belong to the Icchantika order. Two sub-classes, however, may be distinguished here. a) Những người đã từ bỏ tất cả các thiện căn Those who have forsaken all roots of merit: Những người phỉ báng các học thuyết dành cho chư Bồ Tát mà bảo rằng các học thuyết ấy không phù hợp với kinh luật cũng như học thuyết giải thoát. Vì sự phỉ báng nầy, họ tự cắt đứt mọi thiện căn và không thể nào vào được Niết Bàn—Those who vilify the doctrines meant for the Bodhisattvas, saying that they are not in accordance with the sacred texts, rules of morality, and the doctrine of emancipation. Because of this vilification they forsake all the roots of merit and do not enter into Nirvana. b) Những người lúc đã nguyện độ tận chúng sanh ngay từ lúc mới khởi đầu cuộc tu hành của họ—Those who have vowed at the beginning to save all beings: Họ gồm những vị Bồ Tát mong muốn đưa tất cả chúng sanh đến Niết Bàn mà tự mình thì từ chối cái hạnh phúc ấy. Từ lúc khởi sự đạo nghiệp của mình, các ngài đã nguyện rằng cho đến khi mọi đồng chúng sanh của họ được đưa đến an hưởng hạnh phúc vĩnh cửu của Niết Bàn, họ sẽ không rời cuộc đời khổ đau nầy, mà phải hành động một cách kiên trì với mọi phương tiện có thể được để hoàn tất sứ mạng của mình. Nhưng vì vũ trụ còn tiếp tục hiện hữu thì sẽ không có sự chấm dứt cuộc sống, cho nên các vị nầy có thể không bao giờ có cơ hội để hoàn tất công việc mà tịnh trú trong Niết Bàn tĩnh lặng. Cơ may cũng đến cho cả những người phỉ báng Bồ tát thừa khi nhờ lực trí gia hộ của chư Phật, mà cuối cùng họ theo Đại thừa và do tích tập thiện nghiệp mà nhập Niết Bàn, vì chư Phật luôn luôn hành động vì lợi ích của tất cả mọi chúng sanh dù chúng sanh có thế nào đi nữa. Nhưng đối với các vị Bồ Tát, không bao giờ nhập Niết Bàn vì các ngài có tuệ giác sâu xa, nhìn suốt bản chất của các sự vật là những thứ dù đang như thế, vốn vẫn ở ngay trong Niết Bàn. Như vậy chúng ta biết đâu là vị trí của chư vị Bồ tát trong công việc vô tận của các ngài là dẫn dắt hết thảy chúng sanh đến trú xứ tối hậu—They are Bodhisattvas who wish to lead all beings to Nirvana. Deny themselves of this bliss. They vowed in the beginning of their religious career that until everyone of their fellow-beings is led to enjoy the eternal happiness of Nirvana, they themselves would not leave this world of pain and suffering, but must strenuously and with every possible means work toward the completion of their mission. But as there will be no termination of life as long as the universe continues to exist, Bodhisattvas may have no chance for ever to rest themselves quietly with their work finished in the serenity of Nirvana. The time will come even to those who speak evil of the Bodhisattvayana when through the power of the Buddhas they finally embrace the Mahayana and by amassing stock of merit enter into Nirvana, for the Buddhas are always working for the benefit of all beings no matter what they are. But as for Bodhisattvas they never enter into Nirvana as they have a deep insight into the nature of things which are already in Nirvana even as they are. Thus, we know where Bodhisattvas stand in their never-ending task of leading all beings into the final abode of rest.
năm đặc tính của công án
Thiền chẳng phải là tâm lý học hay triết học, mà là một kinh nghiệm mang đầy ý nghĩa sâu xa và chứa đầy những nội dung sống động và siêu thoát. Trong Thiền, kinh nghiệm là chung quyết, là quyền năng của chính nó. Nó là chân lý cứu cánh, không do từ tri kiến thế gian mà ra; nó thỏa mãn mọi khát vọng của con người. Mỗi người phải thực hiện ngay trong chính mình, chứ không dựa vào những quyền năng từ bên ngoài. Ngay cả giáo lý của Phật Thích Ca, hay thuyết của chư Tổ, dù có thâm sâu và chân chính đi nữa, chẳng dính gì đến ai cả nếu như người ta không tiêu hóa chúng thành sinh mệnh của chính mình; ấy là nói rằng chúng phải xuất phát ngay từ những kinh nghiệm riêng tư của mình. Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập II, sự thể hiện kinh nghiệm vừa kể trên gọi là 'ngộ.' Tất cả mọi công án là những phát ngôn của 'ngộ' không qua trung gian trí thức. Có năm đặc tính của việc thực tập công án—Zen is neither psychology nor philosophy, but it is an experience charged with deep meaning and laden with living, exalting contents. The experience is final and its own authority. It is the ultimate truth, not born of relative knowledge, that gives full satisfaction to all human wants. It must be realized directly within oneself: no outside authorities are to be relied upon. Even the Buddha's teaching and the master's discourses, however deep and true they are, do not belong to one so long as they have not been assimilated into his being, which means that they are to be made to grow directly out of one's own living experience. According to Zen Master D.T. Suzuki in the Essays of Zen Buddhism, Book II, the above mentioned realization of experience is called 'satori.' All koans are the utterances od satori with no intellectual meditations. There are five characteristics concerning the koan exercise. 1) Công án được đề ra cho người học là để dẫn tới tâm trạng căng thẳng cực độ: The koan is given to the student first of all to bring about a highly wrought-up state of consciousness. 2) Khả năng biện biệt được gác lại, tức là đình chỉ hoạt động phù phiếm hơn của tâm trí hầu cho những phần chính yếu và sâu xa hơn, thường thường vùi sâu, có thể được khai phát và thành tựu những bổn phận của chúng: The reasoning faculty is kept in abeyance, that is, the more superficial activity of the mind is set at rest so that its more central and profounder parts which are found generally deeply buried can be brought out and exercised to perform their native functions. 3) Những trung tâm hành xử, vốn dĩ là những căn cơ của một cá tính, được vận dụng đến mức tối đa để giải quyết công án. Đây là điều mà Thiền sư nói đến khi ông nhắc đến tin lớn và nghi lớn như hai thế lực cốt yếu nhất cần có để quy định phẩm tính của một môn đệ Thiền có khả năng. Còn như việc tất cả người xưa quyết ý dâng hết thân tâm của mình cho sự thành thục của Thiền, thì điều đó cho thấy cái vĩ đại của lòng tin tưởng của họ nơi chân lý tối hậu, và cũng chứng tỏ sức mạnh của tinh thần tham sách của họ, gọi là 'khổ cần;' cái tinh thần ấy không từng xao lãng hoạt động cho đến lúc đạt được mục đích, nghĩa là cho đến lúc hiện chứng được Phật tính: The effective and conative centres which are really the foundations of one's personal character are chargd to do their utmost solution of the koan. This is what the Zen master means when he refers to ''reat faith''and ''reat spirit of inquiry''as the two most essential powers needed in the qualification of a successful Zen devotee. The fact that all great masters have been willing to give themselves up, body and soul, to the mastery of Zen, proves the greatness of their faith in ultimate reality, and also the strength of their spirit of inquiry known as 'seeking and contriving,' which never suspends its activity until it attains its end, that is, until it has come into the very presence of Buddhata itself. 4) Khi sự viên mãn của tinh thần tới tột độ như thế ở đây nổi bật là một trạng thái trung tính của tâm thức mà các nhà tâm lý học khảo cứu về ý thức tôn giáo gọi nhầm là 'xuất thần.' Trạng thái tâm thức thhiền nầy khác hẳn xuất thần vì rằng xuất thần là đình chỉ những thế lực tâm lý trong khi tinh thần thì đắm chìm torng việc chiêm ngưỡng một cách thụ động; trái lại, trạng thái tâm thức của thiền là một trạng thái đã được thúc đẩy bởi sự thực tập vô cùng tích cực của tất cả những khả năng cốt yếu tạo thành một nhân cách. Ở đây chúng được tập trung hẳn vào một sở tri độc nhất, gọi là trạng thái 'nhất tâm.' Nó cũng được coi như là một trạng thái đại nghi. Đây là lúc tâm thức thường nghiệm với tất cả nội dung vừa hữu thức vừa vô thức, đang vượt qua ranh giới của nó, và bằng trí năng, bắt liên lạc với cái bất khả tri, siêu việt, vô thức. Trong trạng thái xuất thần, không có sự xé rào vượt qua như thế, bởi vì nó là một thứ cứu cánh tĩnh, không cho phép tiến xa thêm nữa. Trong trạng thái xuất thần, chẳng có tương đương nào với hành vi 'nhảy xuống vực thẳm' hay 'buông tay': When the mental integration thus reaches its highest mark there obtains a neutral state of consciousness which is erroneously designated as 'ecstasy' by the psychological student of the religious consciousness. This Zen state of consciousness essentially differs from ecstasy in this: Ecstasy is the suspension of the mental powers while the mind is passively engaged in contemplation; the Zen state of consciousness on the other hand, is the one that has been brought about by the most intensely active exercise of all the fundamental faculties constituting one's 'ersonality. They are here positively concentrated on a single object of thought, which is called a state of oneness (ekagra). It is also known as a state of fixation. This is the point where the empirical consciousness with all its contents both conscious and unconscious is about to tip over its border-line, and get noetically related to the Unknown, the Beyond, the Unconscious. In ecstasy there is no such tipping or transition, for it is a static finality not permitting further unfoldment. There is nothing in ecstasy that corresponds to 'throwing oneself down the precipice,' or 'letting go the hold.' 5) Sau hết, cái thoạt tiên có vẻ như đình chỉ tạm thời tất cả mọi khả năng của tâm thần nay bỗng được chất đầy những tinh lực mới mẻ chưa từng mơ tưởng đến. Sự biến đổi đột nhiên nầy diễn ra thường thường là do tác động của một âm thanh, một ảnh tượng hay một hình thức của hoạt động tính điều động. Một cái nhìn thấu suốt được phát sinh từ những vùng sâu thẳm ngay giữa lòng tâm thức, khi một nguồn suối của một đời sống mới đã tuôn trào, và cùng lúc, công án vén mở những bí mật của nó: Finally, what at first appears to be a temporary suspense of all psychic faculties suddenly becomes charged with nre energies hitherto undreamed of. This abrupt transformation has taken place quite frequently by the intrusion of a sound, or a vision, or a form of motor activity. A penetrating insight is born of the inner depths of consciousness, as the source of a new life has been tapped, and with it the koan yields up its secrets.
năm đề nghị của đức phật ích lợi thực tiễn cho hành giả
Five practical suggestions given by the Buddha will be beneficial to all. 1) Cố tạo những tư tưởng tốt , trái nghịch với loại tư tưởng trở ngại, như khi bị lòng sân hận làm trở ngại thì nên tạo tâm từ: Harbouring a good thought opposite to the encroaching one, e.g., loving-kindness in the case of hatred. 2) Suy niệm về những hậu quả xấu có thể xảy ra, như nghĩ rằng sân hận có thể đưa đến tội lỗi, sát nhân, vân vân…: Reflecting upon possible evil consequences, e.g., anger sometimes results in murder. 3) Không để ý, cố quên lãng những tư tưởng xấu xa ấy: Simple neglect or becoming wholly inattentive to them. 4) Đi ngược dòng tư tưởng, phăng lần lên, tìm hiểu do đâu tư tưởng ô nhiễm ấy phát sanh, và như vậy, trong tiến trình ngược chiều ấy, hành giả quên dần điều xấu: Tracing the cause which led to the arising of the unwholesome thoughts and thus forgetting them in the retrospective process. 5) Gián tiếp vận dụng năng lực vật chất: Direct physical force.
năm đệ tử đầu tiên của đức phật
Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, năm vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật là những vị Kiều Trần Như, Bạt Đề (Bhaddiya), Thập Lực Ca Diếp (Dasabala-Kasyapa), Ma Nam Câu Lợi (Mahanama), và Át Bệ (Assaji). Kiều Trần Như là vị trẻ tuổi nhất trong tám vị Bà La Môn được vua Tịnh Phạn thỉnh đến dự lễ quán đảnh Thái Tử sơ sanh. Bốn người kia là con của bốn trong bảy vị Bà La Môn lớn tuổi kia. Tất cả năm anh em đều cùng nhau vào rừng tu học. Ngay khi hay tin Thái Tử Tất Đạt Đa rời bỏ cung điện, cả năm anh em cùng đi tìm đạo sĩ Cồ Đàm để phục vụ Ngài. Nhưng đến khi Thái Tử chấm dứt cuộc tu khổ hạnh ép xác, các vị ấy thất vọng, bỏ Ngài đi Isipatana. Chẳng bao lâu sau khi các vị nầy rời bỏ Thái tử thì Ngài đắc quả thành Phật. Ngay sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài cất bước đi về hướng vườn Lộc Uyển của xứ Ba La Nại. Thấy Phật từ xa đến, năm vị đạo sĩ (anh em Kiều Trần Như) bàn tính quyết định không đảnh lễ Ngài với lòng tôn kính như xưa. Các vị ấy hiểu lầm thái độ của Ngài trong cuộc chiến đấu để thành đạo quả, vì Ngài đã từ bỏ lối tu khổ hạnh cứng nhắc và chứng tỏ là tuyệt đối vô ích đó. Năm vị đạo sĩ nầy nói chuyện với nhau: “Nầy các đạo hữu, đạo sĩ Cồ Đàm đang đi đến ta. Đạo sĩ ấy xa hoa, không bền chí cố gắng và đã trở lại với đời sống lợi dưỡng. Đạo sĩ ấy không đáng cho ta niềm nở tiếp đón và cung kính phục vụ. Ta không nên rước y bát cho đạo sĩ ấy. Nhưng dầu sao chúng ta cũng nên dọn sẵn một chỗ ngồi. Nếu đạo sĩ Cồ Đàm muốn ngồi với chúng ta thì cứ ngồi.” Tuy nhiên, trong khi Đức Phật bước gần đến, với cung cách oai nghi, Ngài đã cảm hóa được năm vị đạo sĩ, và không ai bảo ai, năm người cùng đến đảnh lễ Ngài, sau đó người thì rước y bát, người dọn chỗ ngồi, người đi lấy nước cho Ngài rửa chân, vân vân. Mặc dầu vậy, họ vẫn gọi Ngài bằng danh hiệu “đạo hữu,” một hình thức xưng hô của những người ngang nhau, hoặc để người trên xưng hô với kẻ dưới. Khi đó Đức Phật mới nói: “Nầy các đạo sĩ, không nên gọi Như Lai bằng tên hay bằng danh từ “đạo hữu.” Như Lai là Đức Thế Tôn, là Đấng Toàn Giác. Nghe đây, các đạo sĩ, Như Lai thành đạt đạo quả Vô Sanh Bất Diệt và sẽ giảng dạy giáo pháp. Nếu hành đúng theo lời giáo huấn của Như Lai, các thầy cũng sẽ sớm chứng ngộ, do nhờ trí tuệ trực giác, và trong kiếp sống nầy, các thầy sẽ hưởng một đời sống cùng tột thiêng liêng trong sạch. Cũng vì muốn đi tìm đời sống cao thượng ấy nhiều người con trong các gia tộc quý phái đã rời bỏ gia đình, sự nghiệp, để trở thành người không nhà không cửa.” Năm vị đạo sĩ bèn trả lời: “Nầy đạo sĩ Cồ Đàm, trước kia, với bao nhiêu cố gắng để nghiêm trì kỷ luật mà đạo hữu không thành đạt trí tuệ siêu phàm, cũng không chứng ngộ được gì xứng đáng với chư Phật. Bây giờ đạo hữu sống xa hoa và từ bỏ mọi cố gắng, đạo hữu đã trở lại đời sống lợi dưỡng thì làm sao mà có thể thành đạt được trí huệ siêu phàm và chứng ngộ đạo quả ngang hàng với chư Phật?” Sau đó Đức Phật giải thích thêm: “Này các đạo sĩ, Như Lai không xa hoa, không hề ngừng cố gắng, và không trở về đời sống lợi dưỡng. Như Lai là Đức Thế Tôn, là Đấng Toàn Giác. Nghe nầy các đạo sĩ! Như Lai đã thành đạt đạo quả Vô Sanh Bất Diệt và sẽ giảng dạy Giáo Pháp. Nếu hành đúng theo lời giáo huấn của Như Lai, các thầy cũng sẽ sớm chứng ngộ, do nhờ trí tuệ trực giác, và trong kiếp sống nầy các thầy sẽ hưởng một đời sống cùng tột thiêng liêng trong sạch. Cũng vì muốn đi tìm đời sống cao thượng ấy mà nhiều người con trong các gia tộc quý phái sẽ rời bỏ gia đình sự nghiệp, để trở thành người không nhà cửa.” Lần thứ nhì năm đạo sĩ vẫn giữ nguyên thành kiến và tỏ ý thất vọng. Đến lần thứ ba, sau khi được Đức Phật lập lại lời xác nhận, năm đạo sĩ vẫn giữ vững lập trường, tỏ ý hoài nghi. Đức Phật hỏi lại: “Nầy các đạo sĩ! Các thầy có biết một lần nào trước đây Như Lai đã nói với các thầy như thế không?” Quả thật không. Đức Phật lập lại lần thứ ba rằng Ngài đã là Đấng Toàn Giác và chính năm đạo sĩ cũng có thể chứng ngộ nếu chịu hành động đúng lời giáo huấn. Đó là những lời nói chân thật do chính Đức Phật thốt ra. Năm vị đạo sĩ là bậc thiện trí, mặc dầu đã có thành kiến không tốt, nhưng khi nghe như vậy đã nhận định chắc chắn rằng Đức Phật đã thành tựu đạo quả vô thượng và có đầy đủ khả năng để hướng dẫn mình. Năm thầy bấy giờ mới tin lời Đức Phật và ngồi xuống yên lặng nghe Giáo Pháp Cao Quý. Trong khi Đức Phật thuyết pháp cho ba vị nghe thì hai vị kia đi khất thực, và sáu vị cùng độ với những thực vật mà hai vị đem về. Qua hôm sau hai vị nầy nghe pháp thì ba vị kia đi khất thực. Sau khi được Đức Phật giảng dạy, tất cả năm vị đều nhận định thực tướng của đời sống. Vốn là chúng sanh, còn phải chịu sanh, lão, bệnh, tử, và ái dục, các vị tìm thoát ra vòng đau khổ ấy để đến chỗ không sanh, không lão, không, bệnh, không tử, không phiền não, không ái dục, cảnh vắng lặng tột bực vô song, niết bàn, cảnh chân toàn tuyệt đối, nơi không còn sanh lão bệnh tử, phiền não và ái dục. Trí huệ phát sanh, năm vị thấu hiểu rằng sự giải thoát của các vị rất là vững chắc, không thể lay chuyển, và đây là lần sanh cuối cùng. Các vị không bao giờ còn tái sanh nữa. Đức Phật đã giảng Kinh Chuyển Pháp Luân, đề cập đến Tứ Diệu Đế, là bài pháp đầu tiên mà Đức Phật giảng cho năm vị. Khi nghe xong, Kiều Trần Như, niên trưởng trong năm vị, đắc quả Tu Đà Hườn, tầng đầu tiên trong bốn tầng Thánh. Về sau bốn vị kia cũng đạt được quả vị nầy. Đến khi nghe Đức Phật giảng kinh Anattalakkhana Sutta, đề cập đến pháp vô ngã thì tất cả năm vị đều đắc quả A La Hán—According to The Buddha and His Teaching, written by Most Venerable Narada, the first five disciples of the Buddha were Kondanna, Bhaddiya, Dasabala-Kasyapa, Mahanama, and Assaji. They were of the Brahmin clan. Kondanna was the youngest and cleverest of the eight brahmins who were summoned by King Suddhodana to name the infant prince. The other four were the sons of those older brahmins. All these five retired to the forest as ascetics in anticipation of the Bodhisattva while he was endeavouring to attain Buddhahood. When he gave up his useless penances and severe austerities and began to nourish the body sparingly to regain his lost strength, these favourite followers, disappointed at his change of method, deserted him and went to Isipatana. Soon after their departure the Bodhisattva attained Buddhahood. Right after his enlightenment, the Buddha started out to the Deer Park in Benares. The five ascetics saw him coming from afar decided not to pay him due respect as they miscontrued his discontinuance of rigid ascetic practices which proved absolutely futile during his struggle for enlightenment. They convinced one another as follow: “Friends, this ascetic Gotama is coming. He is luxurious. He has given up striving and has turned into a life of abundance. He should not be greeted and waited upon. His bowl and robe should not be taken. Nevertheless a seat should be prepared in case he wished to sit down with us.” However, when the Buddha continued to draw near, his august personality was such solemnly that they were compelled to receive him with due honour. One came forward and took his bowl and robe, another prepared a seat, and yet another prepared water for his washing of feet. Nevertheless, they addressed him by name and called him friend (avuso), a form of address applied generally to juniors and equals. At this time, the Buddha addressed them thus: “Do not, Bhikkhus, addressed the Tathagata by name, or by title “friend.” An Exalted One, O Bhikkhus, is the Tathagata. A fully enlightened one is he. Give ear, O Bhikkhus! Deathlessness has been attained. I shall instruct and teach the Dharma. If you act according to my instructions, you will before long realize, by your own intuitive wisdom, and live, attaining in this life itself, that supreme consummation of the holy life, for the sake of which sons of noble families rightly leave the household for homelessness.” Thereupon the five ascetics replied: “By that demeaner of yours, avuso Gotama, by that discipline, by those painful austerities, you did not attain to any superhuman specific knowledge and insight worthy of an Ariya. How will you, when you have become luxurious, have given up striving, and have turned into a life of abundance, gain nay such superhuman specific knowledge and insight worthy of an Ariya?” In further explanation, the Buddha said: “The Tathagata, O Bhikkhus, is not not luxurious, has not given up striving, and has not turned into a life of abundance. An exalted one is the Tathagata. A fully enlightened one is he. Give ear, O Bhikkhus! Deathlessness has been attained. I shall instruct and teach the Dharma. If you act according to my instructions, you will before long realize, by your own intuitive wisdom, and live, attaining in this life itself, that supreme consummation of the holy life, for the sake of which sons of noble families rightly leave the household for homelessness." For the second time the prejudiced ascetics expressed their disappointment in the same manner. For the second time the Buddha reassured theom of his attainment to enlightenment. When the adamant ascetics refusing to believe him, expressed their view for the third time, the Buddha questioned them thus: “Do you know, O Bhikkhus, of an occasion when I ever spoke to you thus before?” The five ascetics replied: “Nay, indeed Lord!” The Buddha then repeated for the third time that he had gained enlightenment and that they also could realize the truth if they would act according to his instructions. It was indeeda frank utterance, issuing from the sacred lips of the Buddha. The cultured ascetics, though adamant in their views, were then fully convinced of the great achievements of the Buddha and of his competence to act as their moral guide and teacher. They believed his words and sat in silence to listen to his noble teaching. Three of the ascetics the Buddha instructed, while three went out for alms. With what the two ascetics brought from their almsround the six maintained themselves. The next day, two of the ascetics he instructed, while the other three ascetics went out for alms. With what the three brought back, six sustained themselves. And those five ascetics thus admonished and instructed by the Buddha, being themselves subject to birth, decay, death, sorrow, and passions, realized the real nature of life and, seeking out the birthless, decayless, diseaseless, deathless, sorrowless, passionless, incomparable supreme peace, Nirvana, attained the incomparable security, Nirvana, which is free from birth, decay, disease, death, sorrow, and passions. The knowledge arose in them that their deliverance was unshakable, that it was their last birth and that there would be no more of this state again. The Dhammacakkappavattana Sutta, which deals with the Four Noble Truths, was the first discourses delivered by the Buddha to them. heAring it, Kondanna, the eldest, attained the first stage of sainthood. After receiving further instructions, the other four attained Sotapatti later. On hearing the Anattalakkhana Sutta, which deals with soullessness, all the five attained Arahantship, the final stage of sainthood.
năm định luật thiên nhiên
Paca-niyama (S), Five natural orders Dharma-niyama Gồm: Định luật vật lý, Định luật sinh lý, Định luật tác nghiệp, Định luật tâm lý, Định luật vạn pháp.
năm đức tính căn bản của người tu thiền
Five basic characteristics of any Zen cultivators: 1) Giới hạnh tinh nghiêm: Strictly keep the precepts. 2) Căn tánh nhanh nhẹn sáng suốt: Nature and roots should be active (swift) and enlightened. 3) Thấu triệt chân lý và khéo phân biệt chánh tà chân ngụy: Understand clearly the Buddha teachings and skillfully distinguish right from wrong, as well as true from false. 4) Ý chí kiên định: Firm and stable determination. 5) Luôn nương theo chư thiện hữu tri thức, những người làu thông kinh điển, tinh chuyên tu hành để được hướng dẫn đúng đắn: Should always cultivate with good advisors, who have a thourough knowledge of the sutras and who zealously practise meditation to obtain the right guidance.
năm ấm
Gồm có: 1. Sắc ấm (色陰– Phạn ngữ: Rpa): Năm căn, năm trần và những vật hữu hình; 2. Thọ ấm (受陰– Phạn ngữ: vedan): Đối cảnh sanh cảm thọ vui sướng, buồn khổ hoặc không vui không khổ; 3. Tưởng ấm (想陰– Phạn ngữ: saṃjđ Pli: sađđ): Đối cảnh nhận ra sự đen, trắng, nhỏ, to, dài, ngắn, đàn ông, đàn bà.v.v...; 4. Hành ấm (行陰– Phạn ngữ: Saṃskra Pli: saṅkhra): Đối cảnh sanh lòng ham muốn hoặc ghét giận; 5. Thức ấm (識陰– Phạn ngữ: vijđna, Pli: viđđṇa): Đối cảnh liền nhận biết, phân biệt. Năm ấm cũng được gọi là năm uẩn (Ngũ uẩn –– 五蘊). Xem thêm ấm, nhập, giới.
năn nỉ
To insist.
năng
Sak (S). Able to, can; capability, power.
; 1) Khả năng: Sak (skt)—Able—Can—Capability—Power. 2) Thường xuyên: Năng lui tới—Frequent—Often.
năng an nhẫn
(能安忍) Cũng gọi An nhẫn thành tựu, An nhẫn cường nhuyến tặc. An nhẫn cường nhuyến lưỡng tặc. Pháp quán có năng lực thản nhiên chịu đựng, không để các duyên thuận, nghịch làm loạn động mà thành tựu đạo nghiệp, là 1 trong 10 thừa quán pháp do tông Thiên thai lập ra. Nếu người tu hành đã biết ngôi thứ rõ ràng mà bị các duyên trong, ngoài làm động loạn, hao tổn nhiều nội đức thì phải tu hành theo pháp này để ngăn ngừa chướng duyên. Nhưng, chẳng những nghịch duyên gây chướng ngại, mà ngay cả thuận duyên cũng cản trở bước tiến tu của hành giả. Trong trường hợp hành giả nhờ vào công phu tu quán, mới vào được giai vị Ngoại phàm, chuyển được chướng ngại, khai mở trí tuệ, tiếng tăm dần dần lan rộng thì dễ bị danh lợi bên ngoài cám dỗ, nghiệp chướng đời trước khuấy động bên trong, đến nỗi làm hỏng công phu của mình, thì nay phải tu pháp an nhẫn bất động này để tiến vào giai vị Nội phàm. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.8; Thiên thai tứ giáo nghi]. (xt. Thập Thừa Quán Pháp).
năng biến
(能變) Chỉ cho 8 thức. Tông Duy thức cho rằng tất cả muôn pháp đều do thức biến hiện, cho nên gọi 8 thức là Năng biến. Tiểu thừa chỉ lập có 6 thức, nhưng Đại thừa Duy thức thì lập 8 thức và chia làm 3 loại: Sơ năng biến (thức thứ 8), Đệ nhị năng biến (thức thứ 7) và Đệ tam năng biến (6 thức trước), gọi là Tam năng biến. (xt. Tam Năng Biến, Duy Thức).
năng biến kế
(能遍計) Đối lại: Sở biến kế. Thức thứ 6 và thức thứ 7 so đo tính toán khắp các pháp rồi vọng chấp có thực ngã, thực pháp, gọi là Năng biến kế. Trong 3 tính duy thức thì tự tính của Biến kế sở chấp là do Năng biến kế và Sở biến kế cùng hình thành. Cứ theo Nhiếp đại thừa luận bản quyển trung thì Ý thức chính là Năng biến kế, bởi vì Ý thức tự nó thường huân tập danh ngôn làm chủng tử, lại sinh khởi tác dụng phân biệt các hành tướng, cho nên đối với hết thảy muôn pháp cũng sinh ra tác dụng phân biệt so đo rộng khắp. Trong các thức, ngài An tuệ chủ trương 8 thức hữu lậu đều là Năng biến kế; còn ngài Hộ pháp thì cho rằng 5 thức trước và thức thứ 8 không có chấp trước, vì vậy chỉ có 2 thức thứ 6 và thứ 7 mới thuộc Năng biến kế. [X. luận Du già sư địa Q.74; luận Thành duy thức Q.8; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu]. (xt. Mạt Na Thức, Ý Thức).
năng biệt
(能別) Đối lại: Sở biệt. Cũng gọi Hậu trần. Tiếng dùng trong Nhân Minh. Trong luận thức Nhân minh, tiền trần (chủ từ) của Tông (mệnh đề)là cái bị hậu trần phân biệt; vì hậu trần có năng lực hay phân biệt tiền trần, cho nên gọi tiền trần là Sở biệt, hậu trần là Năng biệt. Ví dụ như Tông: Âm thanh là vô thường thì âm thanh (tiền trần, danh từ trước) là Sở biệt; vô thường (hậu trần, danh từ sau) là Năng biệt. [X. Nhân minh nhập chính lí luận Q.thượng]. (xt. Thể).
năng biệt bất cực thành quá
(能別不極成過) Năng biệt bất cực thành, Phạm: Aprasiddha-vizewaịa. Gọi tắt: Năng biệt bất thành. Tiếng dùng trong Nhân minh. Hậu trần (danh từ sau) không được thừa nhận. Đây là lỗi thứ 6 trong 9 lỗi về Tông của 33 lỗi trong luận thức Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, khi lập Tông thì tiền trần (danh từ trước)và hậu trần phải được cả 2 bên công nhận mới thành Tông. Nếu 1 trong 2 danh từ không được đối phương thừa nhận thì bị lỗi Bất cực thành. Như tín đồ Thiên chúa giáo lập luận với tín đồ Phật giáo: Tông: Vạn vật do đức Chúa trời sáng tạo. Vạn vật là tiền trần (Sở biệt). Chúa trời là hậu trần (Năng biệt). Phật giáo đồ thừa nhận vạn vật, nhưng không công nhận có 1 vị chúa tể sáng tạo ra vạn vật. Trong luận thức này, hậu trần (Năng biệt) bị phủ nhận, vì thế phạm lỗi Năng biệt bất cực thành. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận đại sớ Q.trung; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.4; Đông phương luận lí học (Nhất hạnh)]. (xt. Nhân Minh).
năng bị pháp
(能被法) Đối lại: Sở bị cơ. Chỉ cho giáo pháp cứu giúp, che chở chúng sinh.
năng duyên
Xem Phan duyên.
; The conditioning power in contrast with the conditioned sở duyên, e.g. the power of seeing and hearing in contrast with that which is seen and heard.
; Năng duyên đối lại với sở duyên, như tâm thức của nhãn nhĩ là năng duyên vì chúng phải nương vào ngoại cảnh sắc thanh (sở duyên)—The conditioning power in contrast with the conditioned, e.g. the power of seeing and hearing in contrast with that which is seen and heard.
; (能緣) Đối lại: Sở duyên. Chủ thể có đủ tác dụng nhận thức là năng duyên, còn khách thể (đối tượng) bị nhận thức là sở duyên. Duyên nghĩa là nương nhờ, nương tựa, vin theo, tức biểu thị tâm thức không thể tự sinh khởi mà phải vin theo cảnh bên ngoài (khách thể, đối tượng) mới có thể sinh ra tác dụng. Nhà Duy thức còn gọi Năng duyên là Kiến phần và Sở duyên là Tướng phần, rồi đem pháp Năng duyên chia làm 3 phần là Kiến phần, Chứng phần và Chứng tự chứng phần. Khi Năng duyên sinh ra tác dụng thì Kiến phần duyên theo Tướng phần, Tự chứng phần duyên theo Kiến phần và Chứng tự chứng phần, còn Chứng tự chứng phần thì duyên theo Tự chứng phần. Ngoài ra, luận Chuyển thức cũng chia Năng duyên làm 3 thứ là Quả báo thức (thức A lại da), Chấp thức (thức A đà na)và Trần thức (6 thức). [X. luận Thành duy thức Q.2; luận Câu xá Q.7; phẩm Lập vô số trong luận Thành thực Q.5].
năng duyên phọc
(能緣縛) Đối lại: Sở duyên phược. Cảnh sở duyên bị tâm năng duyên trói buộc, gọi là Năng duyên phược; trái lại, tâm năng duyên bị cảnh sở duyên trói buộc thì gọi là Sở duyên phược. [X. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.5 phần đầu].
năng duyên đoạn
(能緣斷) Đoạn trừ các phiền não của Năng duyên. Khi các phiền não của Năng duyên đã bị đoạn trừ thì các phiền não của Sở duyên cũng tự tiêu diệt. Đây là 1 trong 4 nhân (..) đoạn trừ phiền não. Bốn đế khổ, tập, diệt, đạo trong Kiến hoặc đều có Hoặc sở đoạn (phiền não bị đoạn trừ); trong 4 đế ấy, mỗi đế đều có 2 loại, chẳng hạn như 2 đế khổ, tập đều có Tự giới duyên hoặc và Tha giới duyên hoặc; Tha giới duyên hoặc là Sở duyên của Tự giới duyên hoặc. Bởi thế, nếu đoạn trừ được phần Tự giới duyên hoặc của Năng duyên thì Tha giới duyên hoặc cũng tự nhiên đoạn diệt. [X. luận Đại tì bà sa Q.22; luận Câu xá Q.21; luận Hiển dương thánh giáo Q.3]. (xt. Đoạn Hoặc).
năng dẫn chi
(能引支) Chỉ cho 2 chi Vô minh và Hành trong 12 nhân duyên, vì 2 chi này có khả năng dẫn phát 5 thứ quả: Thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thụ, cho nên gọi là Năng dẫn chi.
năng già
Xem Dà la ni.
năng hiển giải thoát đạo luận
(能顯解脫道論) Gọi đủ: Thích lượng tụng vô điên đảo hiển thị giải thoát đạo luận. Tác phẩm, do ngài Giả tào kiệt đạt mã nhân khâm soạn, là trứ tác Nhân minh học của Phật giáo Tây tạng. Sách này chú giải tường tận bộ Thích lượng luận tụng. Đặc điểm là thông qua lí luận mà tìm tòi để tiến đến con đường giải thoát. Đây là bộ sách căn bản cho việc tu học của phái Cách lỗ.
năng hiển trung biên huệ nhật luận
(能顯中邊慧日論) Gọi tắt: Tuệ nhật luận. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Tuệ chiểu soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này căn cứ vào tông chỉ của Pháp tướng Duy thức để nói rõ thực nghĩa Nhất thừa, Tam thừa, Chủng tính, Phật tính v.v..., bài xích Nhất thừa Phật tính cứu cánh luận do ngài Pháp bảo, môn nhân của Đại sư Huyền trang lập ra. Luận này gồm 3 chương. Trước hết, nói về chỉ thú của luận, sau đó, lược thuật 3 chương: 1. Chương Viện chân phá chấp: Gồm 7 môn như: Khai phá định thời nhân, Phá định giáo thời v.v... 2. Chương Dẫn giám trừ mậu: Gồm 11 môn như: Khai tiêu chương ngũ tính mậu, Chủng tính bất đồng mậu v.v... 3. Chương Y văn hiển chính: Gồm 7 môn như: Khai minh Phật tính bất đồng, Hữu vô sai biệt v.v...
năng hoá
(能化) Đối lại: Sở hóa. Chỉ cho người có khả năng giáo hóa người khác. Phật và Bồ tát hay giáo hóa tất cả chúng sinh, gọi là Năng hóa; còn tất cả chúng sinh đều chịu sự giáo hóa ấy thì gọi là Sở hóa. (xt. Năng Sở).
năng huân
(能薰) Đối lại: Sở huân. Hay huân tập. Như 7 chuyển thức và những tâm sở của chúng, gọi là Năng huân; thức thứ 8 là Sở huân. Tất cả chủng tử trong thức thứ 8 là do 7 chuyển thức và những tâm sở của chúng huân tập mà nảy nở. (xt. Huân Tập).
năng huân tứ nghĩa
(能熏四義) Bốn nghĩa Năng huân. Theo tông Pháp tướng thì khi huân tập, Năng huân phải có 4 điều kiện, đó là: 1. Có sinh diệt: Pháp năng huân phải hiển bày hiện tượng sinh diệt, do sự sinh diệt này mà có tác dụng biến hóa, nếu chẳng sinh diệt thì tất nhiên không có tác dụng biến hóa, cũng như hạt giống có tác dụng sinh diệt mới có thể đơm bông kết trái. 2. Có thắng dụng: Pháp năng huân phải có lực dụng năng duyên và thắng dụng mạnh mẽ; đầy đủ 2 yếu tố này mới có thể huân được, vì nó có khả năng dẫn phát tập khí. Như sắc pháp (thân nghiệp, ngữ nghiệp) có lực dụng mạnh mẽ nhưng không có thắng dụng năng duyên; còn tâm dị thục thì có lực dụng năng duyên nhưng lại không có thắng dụng mạnh mẽ, pháp Bất tương ứng thì đều không có cả 2 dụng trên nên không phải là Năng huân. 3. Có tăng giảm: Tăng là trải qua sự huân tập mà càng thêm sáng láng, bén nhạy; giảm là trong định Vô tưởng và Diệt tận là 2 định Vô tâm, hành giả chán lìa tâm huân tập thô trọng mà dần dần tiến vào giai vị tâm nhỏ nhiệm, khi ấy sự huân tập cũng sẽ diệt. Trái lại, khi Phật quả hiện hành viên mãn thì lìa tăng giảm và cũng không có tác dụng huân tập. 4.Cùng sở huân hòa hợp chuyển (gọi tắt: Hòa hợp chuyển): Tức Năng huân đối với chỗ Sở huân (thức thứ 8) hiển hiện pháp đồng thân đồng thời thì ngay nơi sự huân tập, năng sở hòa hợp, đồng thời đồng xứ, bất tức bất li. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu]. (xt. Sở Huân Tứ Nghĩa, Huân Tập).
năng hàng phục
Xem Di Già.
năng hành
(能行) Đối lại: Sở hành. Khả năng chủ động trong việc làm. Đứng về phương diện niệm Phật mà nói, thì ý chí, năng lực chủ quan của chúng sinh xưng niệm danh hiệu của Phật, gọi là Năng hành, còn danh hiệu Phật thì gọi là Sở hành. (xt. Sở Hành).
năng hành giả
(能行者) Chỉ cho Lục tổ Tuệ năng, vì khi mới đến Hoàng mai hầu Ngũ tổ, Tuệ năng còn là 1 hành giả (cư sĩ) nên được gọi là Năng hành giả. (xt. Tuệ Năng).
Năng Hóa
(能化, Nōke): tiếng kính xưng cũng như chức vụ đối với chư vị sư phạm, thầy dạy học, người chỉ đạo, hướng dẫn. Từ này còn chỉ cho chư Phật, Bồ Tát giáo hóa chúng sanh. Trong Tịnh Độ Chơn Tông, chức này được dùng để chỉ cho quý vị cao đức hướng dẫn, dạy dỗ chúng tăng ở các Học Lâm của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji). Chuẩn Huyền (准玄) là người đầu tiên được bổ nhiệm chức Năng Hóa ở Học Lâm của Tây Bổn Nguyện Tự vào năm 1639 (Khoan Vĩnh [寛永] 16), và trãi qua 7 đời, đến Trí Động (智洞) thì chấm dứt. Lịch đại chư vị đảm nhiệm chức này như sau: (1) Chuẩn Huyền (准玄, 1639-1647, tại chức 9 năm), (2) Tây Ngâm (西吟, 1647-1664, tại chức 18 năm), (3) Tri Không (知空, 1664-1718, tại chức 55 năm), (4) Nhã Lâm (若霖, 1718-1735, tại chức 18 năm), (5) Pháp Lâm (法霖, 1735-1741, tại chức 7 năm), (6) Nghĩa Giáo (義敎, 1755-1768, tại chức 14 năm), (7) Công Tồn (功存, 1769-1796, tại chức 28 năm), và (8) Trí Động (智洞, 1797-1801, tại chức 5 năm). Trong đó, người tại chức lâu nhất là Tri Không và ngắn nhất là Trí Động.
Năng Hóa Công Tồn
(能化功存, Nōke Kōzon, 1720-1796): xem Công Tồn (功存) bên trên.
năng kiến tâm bất tương ưng nhiễm
(能見心不相應染) Do sự khởi động của Vô minh căn bản mà thành tướng Năng kiến, là 1 trong 6 tâm ô nhiễm. Khi đạt đến địa vị tâm tự tại (địa vị thứ 9) thì đối với tha tâm được tự tại, mà tự tâm cũng được trí vô ngại. Nếu tướng Năng duyên không dấy lên nữa thì có thể xa lìa tâm ô nhiễm này. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng, phần hạ; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ]. (xt. Tam Tế Lục Thô, Lục Nhiễm Tâm).
năng kiến tướng
(能見相) Cũng gọi Chuyển tướng, Kiến tướng. Tướng Năng kiến do nghiệp thức chuyển thành, là 1 trong 3 tế, 1 trong 9 tướng. Tướng này một mặt có động tác, mặt khác, cũng có tướng năng kiến; nhưng cảnh giới của giai vị này rất nhỏ nhiệm, không thể phân biệt được, cho nên gọi là tế. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng, phần hạ].
năng lượng
Energy.
năng lập
Xem Thành tựu pháp.
; A proposition in logic that can be established or postulated.
; Phương pháp của nhân minh luận, có đầy đủ chính nhân và chính dụ để thành lập tôn pháp gọi là năng lập—A proposition in logic that can be established, or postulated.
; (能立) Phạm: Sàdhana. Tiếng dùng trong Nhân minh. Phương thức lập luận dựa vào sự suy lí để chứng minh, chia làm 2 loại là Chân năng lập và Tự năng lập. 1. Chân năng lập: Lập luận chính xác. Một luận thức chính xác cần phải đầy đủ những điều kiện sau: a) Ba phần Tông, Nhân, Dụ đều không có lỗi lầm, nghĩa là tránh được 9 lỗi về Tông, 14 lỗi về Nhân và 18 lỗi về Dụ. b) Ở phần Nhân phải đầy đủ 3 tướng: -Phải hoàn toàn quan hệ với tính chất của Tông. -Phải có tính cách của đồng phẩm. -Tuyệt đối không được có tính cách của dị phẩm. Do đó, Chân năng lập là 1 luận thức không có lỗi lầm, có thể đạt đến mục đích lợi tha, nghĩa là làm cho người hiểu. 2. Tự năng lập: Lập luận sai. Đây là 1 luận thức được kiến lập một cách sai lầm, khác hẳn với luận thức Chân năng lập. Luận thức này không đủ làm cho rõ ý nghĩa mình chủ trương, không thể khiến cho đối phương tin phục và hiểu được ý của mình. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề); Đông phương luận lí học (Nhất hạnh)]. (xt. Nhân Minh, Tự Năng Lập, Chân Năng Lập).
năng lập bất khiển quá
(能立不遣過) Phạm: Sàdhanàvyàvftta. Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi Dị dụ không trái hẳn với Nhân (Năng lập), là lỗi thứ 2 trong 5 lỗi Tự dị pháp dụ, 1 trong 33 lỗi của luận thức Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, khi dùng Li tác pháp để luận chứng, nếu trong Dị dụ thiếu Nhân dị phẩm thì chỉ có thể loại bỏ Tông (mệnh đề) sở lập, chứ không thể loại bỏ được Nhân (lí do) năng lập, trong trường hợp này tức phạm lỗi Năng lập bất khiển. Chẳng hạn như luận thức: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì là không chất ngại. Dụ: Những gì vô thường đều là chất ngại, như nghiệp lực. Nghiệp lực là không chất ngại. Nghiệp lực tuy là vô thường, đầy đủ Dị phẩm của Tông, nhưng không phải là chất ngại nên không đủ Dị phẩm của Nhân, bởi vậy phạm lỗi Năng lập bất khiển. [X. Nhân minh nhập chính lí luận; Nhân minh nhập chính lí luận đại sớ Q.hạ; Đông phương luận lí học (Nhất hạnh)].
năng lập pháp bất thành quá
(能立法不成過) Năng lập pháp bất thành, Phạm: Sàdhana-dharmàsiddha. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, khi dùng : Hợp tác pháp để luận chứng mà trong Đồng dụ lại thiếu Nhân đồng phẩm, nên Nhân năng lập không thành lập được, cho nên phạm lỗi Năng lập pháp bất thành, là 1 trong 33 lỗi của Nhân minh. Như trong luận thức: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì là không chất ngại. Dụ: Những gì không chất ngại đều là thường còn, như cực vi. Cực vi tuy là thường còn nhưng không phải không chất ngại, cho nên không phải là đồng phẩm của Nhân, bởi vậy phạm lỗi này. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận đại sớ Q.hạ].
năng lập sở lập
(能立所立) Cũng gọi Năng thành lập sở thành lập. Tiếng dùng trong Nhân minh. Từ ngữ gọi chung Năng lập và Sở lập. Năng lập, tiếng Phạm là Sàdhana; Sở lập, tiếng Phạm là Sàdhya. Theo luận thức Nhân minh, nghĩa lí được trình bày rõ trong luận thức, gọi là Sở lập, ngôn từ giải thích rõ nghĩa lí ấy thành lập luận thức, gọi là Năng lập. Bàn về Năng lập, Sở lập có nhiều thuyết khác nhau. Ngài Di lặc và Vô trước chủ trương thuyết Hai sở lập và Tám năng lập, còn ngài Thế thân thì chủ trương thuyết Ba năng lập. A. Hai sở lập: 1. Tự tính: Có lập là có, không lập là không. 2. Sai biệt: Hữu thượng lập vô thượng, thường lập vô thường, hữu sắc lập vô sắc, hữu kiến lập vô kiến v.v... môn sai biệt nhiều vô lượng. B.Tám năng lập: 1. Lập tông (mệnh đề): Trọng điểm tranh luận giữa người lập luận và người vấn nạn, đứng về mặt nghĩa lí, người lập luận nêu rõ tông của mình, chẳng hạn khi tranh luận về âm thanh là thường hay vô thường, có thể lập Tông: Âm thanh là vô thường. 2. Biện nhân (lí do): Vì muốn thành tựu tông nghĩa của việc thành lập Tông nên phải biện minh lí do của nó. 3. Dẫn dụ (thí dụ): Để giúp cho tông nghĩa được thành tựu, người lập luận dẫn dụ các sự kiện mà từ trước đã được mọi người thừa nhận để minh chứng rằng lí do lập luận của mình là đúng đắn. 4. Đồng loại: Khi dẫn dụ, luận giả nêu lên các pháp đồng loại tương tự. 5. Dị loại: Khi dẫn dụ, luận giả nêu ra các pháp dị loại bất đồng. 6. Hiện lượng: Dùng ngũ quan nhận thức sự vật chung quanh, như mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi v.v... là biết ngay không cần suy nghĩ, là cái nhận biết bằng trực giác. 7. Tỉ lượng: Hiểu biết bằng suy xét, so sánh, tức là tầng trên của hiện lượng. Hiện lượng chỉ mới là cảm nhận thấy, nghe, chứ chưa phân biệt gì cả, còn tỉ lượng là tác dụng phân biệt, so sánh cái này, cái kia để tìm ra 1 sự thực. 8. Chính giáo lượng: Viện dẫn những lời dạy của bậc Nhất thiết trí để chứng minh thêm cho lập luận của mình. Trong 8 năng lập nói trên, 5 hạng mục trước gọi là Ngũ chi tác pháp, hoặc Ngũ phần tác pháp (luận thức 5 phần: Tông, Nhân, Dụ, Hợp, Kết), còn 3 hạng mục sau gọi là Tam lượng. Ngoài ra, cũng có thuyết chủ trương Tứ năng lập, tức là: Lập tông, Biện nhân, Đồng loại (đồng dụ) và Dị loại (dị dụ) trong 8 năng lập kể trên. Còn Tam năng lập là 3 chi: Tông, Nhân, Dụ; đây cũng là pháp thức của các nhà Tân nhân minh như ngài Trần na và ngài Thương yết la chủ v.v... Lại cũng có thuyết lấy Tông làm Sở lập, Nhân, Dụ làm Năng lập: lấy Tông làm Sở lập, Nhân làm Năng lập, Dụ là Trợ năng lập. [X. Nhân minh chính lí môn luận bản; luận Hiển dương thánh giáo Q.11; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng phần đầu; Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.1 phần cuối].
năng lực
Power.
năng lực cứu độ tha nhân
Đạt tới khả năng cứu độ tha nhân—Attainment of power to aid others according to need. Đạt thành quả vị Niết bàn: Attainment of Nirvana.
năng lực trí năng
Jnasaki (skt)—Intellectual faculty.
năng lực tâm linh
Spiritual power.
năng lực tâm vật lý
Psycho-physical energy.
năng mãng
Xem Thích ca mâu ni.
năng môn
(能門) Môn năng nhập. Trong tín ngưỡng Phật giáo, lí là pháp sở nhập, còn giáo là môn năng nhập. Pháp hoa văn cú quyển 5 thượng (Đại 34, 64 trung) nói: Chấp chặt một lí sở nhập thì sẽ nghi ngờ năng môn 3 giáo.
Năng Nhân
(能仁): dịch nghĩa của Thích Ca Mâu Ni (s: Śākya-muni, 釋迦牟尼), là người có đức nhân từ, bậc hiền nhân, cũng là tên gọi khác của đức Phật Thích Ca. Trong Phạm Võng Kinh Thuật Ký (梵綱經述記) quyển thượng có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni, Đại Đường phiên vân Năng Tịch, cựu diệc vân Năng Mãn, diệc vân Năng Nhân (釋迦牟尼、大唐翻云能寂、舊亦云能滿、亦云能仁, Thích Ca Mâu Ni, nhà Đường [Trung Hoa] dịch là Năng Tịch; xưa kia cũng dịch là Năng Mãn hay Năng Nhân).”
năng nhân
An able man, i.e. Buddha as the all powerful man able to transform the world.
; 1) Có lòng nhân: Mighty in loving-kindness—Able in generosity, indicating Sakyamuni's character. 2) Người có khả năng: An able man. 3) Phật Thích Ca: Sakyamuni Buddha. 4) Một vị vua thời cổ, có lẽ do tưởng tượng, trị vì 16 xứ ở Ấn Độ, người mà Đức Phật đã đọc lại cho nghe Kinh Nhân Vương—An ancient king, probably imaginary, of the “sixteen countries” of India, for whom the Buddha is said to have dictated the Mighty in Loving-kindness Sutra.
; (能人) Phạm: Zàkya. Hán âm: Thích ca. Thích ca là tên 1 dòng họ ở Ấn độ, đức Thích tôn là bậc hiền xuất thân từ dòng họ Thích ca nên được tôn là Thích ca Mâu ni (Phạm:Zàkya-muni). Muni nghĩa là lặng lẽ, là bậc hiền. Từ Năng nhân (dịch ngữ của chữ zàkya) cũng thường được dùng để xưng gọi đức Thích tôn. Kinh Tu hành bản khởi (Đại 3, 462 trung) nói: Ông sau này sẽ được thành Phật hiệu là Thích ca văn (Hán dịch: Năng nhân).
năng nhơn
Xem Thích ca mâu ni.
năng nhẫn
Xem Ta bà.
; (能忍) Biệt hiệu của đức Phật. Đức Thích tôn xuất hiện ở thế giới Sa bà, mà Sa bà tiếng Phạm làSahà, nghĩa là nhẫn; vì đức Thích tôn có khả năng chịu đựng, sinh vào cõi đời 5 trọc ác mà thực hiện được những việc rất khó làm, đó là thành Phật, độ chúng sinh, vì thế gọi là Năng nhẫn.
năng phá
(能破) Tiếng dùng trong Nhân minh. Phá luận thức của đối phương. Trong đối luận Nhân minh, người lập luận tổ chức luận thức để phá ngôn luận chủ trương của người vấn nạn, gọi là Năng phá. Năng phá lại có thể chia làm 2 loại là Chân năng phá và Tự năng phá. 1. Chân năng phá (gọi tắt: Năng phá), nghĩa là phá ngôn luận chủ trương của đối phương một cách chính xác, đúng đắn. Chân năng phá lại có 2 trường hợp: a) Lập lượng phá: Tổ chức luận thức chính xác để phá lập luận của đối phương. b) Hiển quá phá: Không tổ chức luận thức mà chỉ tìm những điểm sai lầm trong luận thức của đối phương để chỉ trích và bác bỏ luận thức ấy mà thôi. Tuy nhiên, Lập lượng phá đồng thời cũng là Hiển quá phá, vì lập luận của mình được tổ chức để một mặt công phá đối phương, mặt khác, đồng thời vạch ra những lỗi sai lầm của đối phương. Còn Hiển quá phá thì có khi không phải là Lập lượng phá, vì lúc đó mình không tổ chức luận thức. Cũng vì thế mà Chân năng phá mới được chia làm 2 trường hợp như trên. 2. Tự năng phá: Phá ngôn luận chủ trương của đối phương một cách sai lầm, cũng có 2 trường hợp. a) Tự lập lượng phá: Tự mình lập luận phá nhưng lập sai. b) Tự hiển quá phá: Chỉ trích, bài bác luận thức của đối phương một cách sai quấy. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.1; Đông phương luận lí học (Nhất hạnh)].
năng sanh nhất thiết chư phật kinh
Sarva-buddha-gati sŪtra (S)Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa.
năng sinh chi
(能生支) Chỉ cho 3 chi Ái, Thủ, Hữu trong 12 nhân duyên, vì 3 chi này hay sinh ra quả sinh, lão tử trong tương lai, nên gọi là Năng sinh chi.
năng sở
These two terms indicate active and passive ideas, e.g. ability to transform or transformable and the object that is transformed.
; Pháp tự động là năng, pháp bị động là sở, như khả năng chuyển hóa là “năng hóa,” và vật được chuyển hóa là “sở hóa” (năng duyên, sở duyên; năng kiến, sở kiến; lục thức và lục căn có khả năng phát khởi mối cảm gọi là năng, lục trần có sức thu lấy mối cảm gọi là sở)—Active and passive ideas , e.g. ability to transform or transformable and the object that is transformed.
; (能所) Từ gọi chung Năng và Sở. Chủ thể của 1 động tác gọi là Năng; khách thể (đối tượng) của động tác ấy gọi là Sở. Chẳng hạn như mắt hay thấy vật, gọi là Năng kiến, còn vật do mắt thấy thì gọi là Sở kiến. Cũng thế, người bị nương tựa gọi là Sở y, người nương tựa vào kẻ khác gọi là Năng y. Người tu hành gọi là Năng hành, pháp môn được tu hành gọi là Sở hành. Người qui y gọi là Năng qui, chỗ qui y gọi là Sở qui; người giáo hóa gọi là Năng hóa, người được giáo hóa gọi làSở hóa; chủ thể nhận thức gọi là Năng duyên, đối tượng bị nhận thức gọi là Sở duyên. Ngôn ngữ, văn chương, giáo pháp... biểu thị ý nghĩa, gọi là Năng thuyên, ý nghĩa được biểu thị gọi là Sở thuyên v.v... Tóm lại, Năng và Sở có đủ mối quan hệ tương tức không tách rời nhau giữa thể và dụng, nhân và quả, vì thế gọi là Năng sở nhất thể. [X. luận Tam vô tính Q.thượng; luận Phật tính Q.1; Pháp hoa văn cú Q.1 thượng].
năng thiên chủ
Xem Thích Đề hoàn Nhân.
; Able to be lord.
năng thiên đế
Sakra Devànàm Indra (S). King of Gods, Also Đế thích.
năng thuyên
(能詮) Đối lại: Sở thuyên. Thuyên là những câu văn giải thích kinh điển, vì chúng có khả năng giải thích rõ ràng nghĩa lí bao hàm trong kinh điển, nên gọi là Năng thuyên; còn nghĩa lí được giải thích thì gọi là Sở thuyên. [X. Tứ giáo nghĩa Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.23]. (xt. Năng Sở).
năng thuyết
Able speak.
năng thí thái tử
Prince "Giver", a former incarnation of Sàkyamuni.
; The great princely almsgiver—See Đại Thí Thái Tử and Đại Ý.
; (能施太子) Cũng gọi Đại thí thái tử, Phổ thí thái tử. Tiền thân của đức Phật, khi tu hạnh Bồ tát ở nhân vị. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 12 thì vào thời quá khứ vô lượng a tăng kì kiếp, có 1 vị Đại y vương muốn chữa bệnh cho tất cả mọi người, nhưng bệnh nhân lại quá nhiều mà sức mình thì có hạn, nên Ngài lo buồn quá mà chết và được sinh lên cung trời Đao lợi. Ngài tự suy nghĩ: Nay ta ở cõi trời, tuy hưởng nhiều phúc báo, nhưng chẳng có ích lợi gì cho mọi người. Nghĩ rồi, Ngài liền dùng phương tiện bỏ tuổi thọ ở cõi trời, sinh vào trong cung long vương Sa già đà, làm Thái tử của Long vương. Lớn lên, lại dùng phương tiện chết đi, rồi sinh vào cõi Diêm phù đề, làm Thái tử của 1 Đại quốc vương và được đặt tên là Năng thí. Khi trưởng thành, Ngài đem bố thí hết những vật sở hữu rồi thưa với cha mẹ rằng: Trên đầu Long vương có 1 hạt ngọc báu như ý có thể sinh ra tất cả của cải, con muốn được hạt ngọc ấy để bố thí cho hết thảy những người nghèo khổ. Được cha mẹ cho phép Thái tử liền xuống biển lớn, đến chỗ Long vương. Long vương có sức thần thông, biết ngay đó là con mình, Thái tử cũng nhớ lại kiếp trước và nhận ra cha mẹ. Long vương rất mừng, chiều theo ý muốn của con. Thái tử được ngọc báu như ý liền quay về Diêm phù đề, ngọc báu sinh ra tất cả tài vật, Thái tử bố thí cho hết thảy nhân dân, mọi người đều được đầy đủ thức ăn, quần áo và của báu. [X. kinh Hiền ngu Q.8; Kinh luật dị tướng Q.32; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1].
năng thọ tất địa bồ tát
Xem Kim Cang Ngữ Bồ tát.
năng thủ
Grahaka or Grahana (skt). • Sự nắm lấy hay sự nhận thức: Seizing or perceiving. • Người nắm chấp hay nhận thức: One who seizes or perceives.
năng thủ sở thủ
(能取所取) Phạm: Gràhya-gràhaka. Năng thủ (Phạm: Gràhaka) là hay nắm bắt; Sở thủ (Phạm:Gràhya) là bị nắm bắt. Năng thủ là chủ thể nhận biết, Sở thủ là đối tượng bị nhận biết. Tức tâm thức nhận biết, gọi là Năng thủ, cảnh vật bị nhận biết, gọi là Sở thủ. Luận Hiển dương thánh giáo quyển 5 (Đại 31, 502 trung) nói: Năng thủ là tâm, ý thức và các tâm pháp; Sở thủ là ngoại cảnh sắc, thanh, hương v.v.... [X. Duy thức nhị thập luận; Trung biên phân biệt luận Q.thượng; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.2].
năng trì
Xem đà la ni.
; Dhàrani (S). Magical formulas, protective spells. Also mật chú, tổng trì. Ability to maintain, e.g. to keep the precepts.
; Có khả năng trì giữ giới luật (theo pháp thọ giới trong Kinh Phạm Võng, Giới Hòa Thượng hướng về người thọ giới mà nói rõ từng giới tướng trong thập giới trọng cấm rồi hỏi: “Ông có thể giữ được giới đó không?” Người thọ giới trả lời: “Năng Trì hay có thể giữ được.” Sau lời đáp “năng trì” là coi như đã thọ giới đó)—Ability to keep or maintain the commandments.
; (能持) I. Năng Trì. Giữ gìn không để quên mất. Khi lên đàn truyền trao giới pháp, sau khi nói rõ từng giới một, vị Hòa thượng truyền giới hỏi các giới tử: Các ngươi có giữ được giới này không (Nhữ năng trì phủ)? Các giới tử đáp: Con giữ được (năng trì). [X. kinh Phạm võng]. II. Năng Trì. Phạm: Dhàraịì. Cũng gọi: Tổng trì. Tức là sức trí tuệ giúp cho người tu hành nhớ tất cả những lí nghĩa đã lĩnh hội, không bao giờ quên mất. (xt. Đà La Ni).
năng tác nhân
Karaṇa-hetu (S)Sờ tác nhân.
; (能作因) Phạm: Kàraịahetu. Cũng gọi Sở tác nhân, Vô chướng nhân, Tùy tạo nhân. Một trong 6 nhân sinh khởi ra các pháp do Tiểu thừa thành lập. Khi 1 pháp sinh khởi, ngoại trừ tự thể của pháp ấy, tất cả các pháp khác không gây chướng ngại cho sự sinh khởi của nó, nghĩa là tất cả pháp là thể của nhân Năng tác. Các nhân khác đối với quả đều có nhân Năng tác, cho nên chúng là nhân Năng tác, nhưng vì chúng mỗi mỗi đều có tên riêng, nên chỉ dùng Năng tác nhân này để gọi chung. Theo luận Câu xá quyển 6, tất cả pháp hữu vi trừ tự thể của chúng ra, còn tất cả các pháp khác đều là Năng tác nhân của chúng. Năng tác nhân có 2 nghĩa: 1. Bất chướng ngại: Không ngăn trở sự sinh khởi của các pháp, thuộc về Năng tác nhân vô lực. 2. Hữu sở biện: Chẳng những không ngăn trở, mà còn giúp thêm sức cho các pháp để thành tựu sự sinh khởi, thuộc về Năng tác nhân hữu lực. [X. luận Đại tì bà sa Q.21; luận Câu xá Q.7]. (xt. Lục Nhân).
năng tín
Can believe, or can be believed, contrasted with sở tín that which is believed.
; Năng tín là có thể tin được, đối lại với sở tín hay cái được tin—Can believe, or can be believed, contrasted with that which is believed.
; (能信) Đối lại: Sở tín. Chỉ cho tín đồ tin theo Phật pháp. Tín đồ là Năng tín, còn Phật pháp là Sở tín.
năng tĩnh quan âm
(能靜觀音) Danh hiệu của 1 trong 33 thân ứng hóa của bồ tát Quan thế âm. Năng tĩnh nghĩa là vị Bồ tát này có năng lực đem lại sự an ổn cho những người gặp tai nạn hiểm nghèo. Phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa (Đại 9, 56 hạ) nói: Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sinh, vì tìm cầu các thứ báu vật như: Vàng, bạc, lưu li, xà cừ, mã não, san hô, hổ phách, chân châu v.v... mà vào nơi biển cả, giả sử thuyền bè của họ bị gió bão thổi trôi dạt, tấp vào nước quỉ La sát; trong đó nếu có người nào xưng niệm danh hiệu của bồ tát Quan thế âm, thì tất cả mọi người đều thoát khỏi nạn La sát. Hình tượng của vị Bồ tát này ngồi kết già trên mỏm đá kề bên dòng nước, 2 tay Ngài đặt trên đầu mỏm đá, hiện tướng tĩnh lặng.
năng tạo sở tạo
(能造所造) Từ gọi chung Năng tạo và Sở tạo. Bốn yếu tố lớn: Đất, nước, lửa, gió có đầy đủ 5 nhân (sinh nhân, y nhân, lập nhân, trì nhân, dưỡng nhân), có khả năng tạo các pháp (vật chất), vì thế gọi là Năng tạo (Tứ đại năng tạo); còn tất cả các sắc pháp do 4 yếu tố lớn ấy tạo ra thì gọi là Sở tạo (Tứ đại sở tạo). Theo Thuyết nhất thiết hữu bộ thì 4 yếu tố lớn là Năng tạo, còn 11 sắc pháp(5 căn, 5 cảnh và vô biểu sắc) là Sở tạo. Còn theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 3 phần đầu, thì Đại chúng bộ cho 4 yếu tố là Năng tạo, 4 trần (sắc, hương, vị, xúc) là Sở tạo. Ngoài ra, luận Thành thực thì cho rằng 4 trần là Năng tạo, 5 căn là Sở tạo, còn 4 yếu tố thì vừa là Năng tạo vừa là Sở tạo. [X. luận Đại tì bà sa Q.127; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; luận Hiển dương thánh giáo Q.5].
năng tịch
Xem Thích ca mâu ni.
; (能寂) Gọi đủ: Năng nhân tịch mặc. Chỉ cho đức Phật Thích ca Mâu ni. Chữ Thích ca (Phạm: Zàkya) Hán dịch là Năng nhân (người hay làm điều nhân từ); Mâu ni (Phạm:Muni) Hán dịch là Tịch mặc (nghĩa là người ưa thích sự vắng lặng). (xt. Thích Ca Mâu Ni).
năng y
Dependent on, that which relies on something else, e.g. vegetation on land. Sở y is that on which it relies.
; Tùy thuộc vào, từ dùng để đối lại với sở y, như cây cỏ trên đất đai; cây cỏ là “năng y” và đất đai là “sở y.”—Dependent on, that which relies on something else, e.g. vegetation on land; land is that which vegetation relies on—See Sở Y.
; (能依) Đối lại: Sở y. Khi 2 pháp đối đãi nhau, pháp chủ động gọi Năng, pháp bị động gọi là Sở. Vật hay nương vào vật khác mà sinh khởi tác dụng gọi là Năng y. Như cỏ cây nương nhờ vào đất mà sinh trưởng, thì cỏ cây là Năng y, còn đất là Sở y.
năng điều bồ tát
Xem Minh Võng Bồ tát.
năng đoạn kim cang kinh
Vajracchedika-sutra (skt)—Kinh Kim Cang, tóm lược của Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, được ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ—The Diamond Sutra, translated by Hsuan-Tsang, an extract from the Prajnaparamita-sutra.
năng đoạn kim cương bát nhã ba la mật đa kinh
Diamond sùtra.
năng đại sư
The sixth patriarch.
; Còn gọi là Năng Hành Giả, hay Lục Tổ Huệ Năng của Thiền Tông Trung Hoa—The sixth patriarch, Hui-Neng of the Chinese Ch'an School—See Huệ Năng in Vietnamese-English Section, and Hui-Neng in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (能大師) Tức Đại sư Tuệ năng, Tổ thứ 6 của Thiền tông Trung quốc. (xt. Tuệ Năng).
năng động
To be dynamic.
Năng-đề Ca-diếp
曩提迦葉; C: năngtí jiāshě; J: nōdai kashō; |Là một trong những phiên âm tên của Nadī-Kāśyapa; Na-đề Ca-diếp (那提迦葉).
nơi khác
Elsewhere.
nơi nương tựa
Sarana (S). Protection, refuge.
nơi sinh
Birthplace.
nơm nớp
Fearful.
nơï
To owe.
nương
Lady—Wife—Mother—Aunt.
; (娘) Chỉ cho chữ (ĩa) trong 50 chữ cái Tất đàm. Cũng gọi Nhã, Nhương, Nhưỡng, Như, Xã.Vì tiếng Phạmjĩànanghĩa là trí tuệ, có chữ Nương (ĩa)ở đầu, cho nên phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính và kinh Niết bàn quyển 8 (bản Bắc) đều cho chữ Nương nghĩa là tuệ.Ngoài ra, phẩm Thị thư trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4, giải thích nghĩa chữ Nương là tiếng giác ngộ hết thảy chúng sinh (Phạm: Jĩàpanazabda). Phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng giải nghĩa chữ Nương là an trụ. Còn phẩm Học tập kĩ nghệ trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 11 thì giải nghĩa chữ Nương là 4 chúng đều y giáo phụng hành. Lại nữa, để phân biệt với các chữ: Nhã (ja), Xã (jha), chữ này được gọi là chữ Nhã (ĩa) trí tuệ. (xt. Tất Đàm Ngũ Thập Tự Môn).
nương củ trá trùng
(娘矩咤蟲) Phạm: Nyaíkuỉa, Nyaỉkuỉa. Cũng gọi Nương cưu đa. Hán dịch: Phẩn niệu trùng, Châm khẩu trùng. Chỉ cho loại trùng ở trong đống phân của những tội nhân ở địa ngục Du tăng thứ 16. Miệng của loài trùng này bén nhọn như kim, mình trắng đầu đen, có thể xoi thủng da thịt tội nhận để vào đục xương hút tủy bên trong. [X. luận Câu xá Q.11, luận Du già sư địa Q.4; Huyền ứng âm nghĩa Q.22; Tuệ lâm âm nghĩa Q.48].
nương nhờ
To depend on.
nương náu
To take refuge in.
nương tay
To handle with care.
nương tựa vào chính mình
To rely on oneself.
nương vào phật pháp mà hóa giải trở ngại
To base on the dharma to resolve hindrnaces.
nước
Āpo (S), Apas (S), Jala (S), Water Trong tứ đại: - đất (prithin) - nước (apas) - gió (vayu) - lửa (teja).
; Jala (S). Water. Also thủy.
; Water.
nước hình tròn
Water round. Lửa hình chữ nhật: Fire triangular. Gió hình bán nguyệt: Wind half moon. Hư không bao gồm tất cả các hình trên: Space is the combination of the other four.
nước phép
Xem Cam lồ.
nước sông hằng
Gaṅgājala (S), Water of the Ganges.
nước thánh
Nectar.
; Holy water.
nước thơm
Gandhajala (S), Fragrant water.
; Arghya (S). Fragrant liquid. Also át già.
nước tro
Xem tháo đậu.
nước tám công đức
(bát công đức thủy): Nước có đủ tám công đức, tức là có tám tính chất như sau: 1. Trừng tịnh: lắng gạn trong sạch; 2. Thanh lãnh: trong trẻo mát lạnh; 3. Cam mỹ: mùi vị ngon ngọt; 4. Khinh nhuyễn: nhẹ nhàng mềm mại; 5. Nhuận trạch: thấm nhuần tươi mát; 6. An hòa: yên ổn hòa nhã; 7. Trừ được đói khát và vô số khổ não; 8. Trưởng dưỡng thân tứ đại, tăng trưởng các thiện căn.
nước đổ lá môn
To preach to deaf ears—To water off a duck's back
nướng
To grill—To roast—To bake.
nườm nượp
Crowded—Flocked.
nại
1) Đè xuống: To press down. 2) Nhẫn nại—To endure—To bear. 3) Quả na: berries or musk. 4) Quả xoài: Amra (skt)—A mango.
nại hà
The inevitable river in purgatory to be crossed by all souls.
; Con sông trong địa ngục mà mọi chúng sanh (linh hồn) phải vượt qua không thể tránh được—The inevitable river in purgatory to be crossed by all souls.
nại hà cầu (kiều)
Chiếc cầu trong địa ngục, mọi tội nhân đều phải qua và rơi xuống—The bridge in one of the hells, from which certain sinners always fall.
nại hà tân
(奈河津) Cũng gọi Tam đồ hà. Dòng sông ở địa ngục có 3 đoạn khác nhau. Trong kinh Địa tạng bồ tát phát tâm nhân duyên thập vương có thuyết Tam đồ hà, nghĩa là sau khi chết, tội nhân phải đi qua dòng sông Tam đồ ở địa ngục mới đến cõi u minh. Dòng sông này có 3 đoạn: Đoạn sơn thủy, đoạn vực sâu và đoạn có cầu bắc qua, tùy theo nghiệp đã tạo tác lúc còn sống mà tội nhân phải đi qua mỗi đoạn khác nhau. (xt. Tam Đồ Chi Xuyên).
nại lương thời
Nara period Ngoài hai thời đại quan trọng là thời đại Nara và Heian còn một thời đại khá quan trọng trong Phật giáo Nhật là Kamakura (thời đại Kiếm Thương).
nại lương đại phật
(奈良大佛) Cũng gọi Đông đại tự đại Phật. Chỉ cho pho tượng Phật Tì lô giá na rất lớn thờ ở Kim đường chùa Đông đại ở Nại lương (Nara) tại Nhật bản. Pho tượng này bắt đầu được đúc vào năm Thiên bình 19 (747), đến niên hiệu Thiên bình thắng bảo năm đầu (749) mới hoàn thành. Đây là pho tượng đồng lớn nhất của Nhật bản hiện nay. Tượng Đại Phật được tạo trong tư thế ngồi, cao 14,9 mét, nếu tính từ đài tòa trở lên thì cao khoảng 17 mét. Trên đài có tòa hoa sen nghìn cánh, mỗi cánh có khắc tượng Phật Thích ca, biểu hiện hình ảnh thế giới Hoa tạng. Tượng Đại Phật tuy đã được trùng tu nhiều lần, nhưng vẫn giữ được nét cổ kính thời Nại lương. [X. Đông đại tự yếu lục Q.1, 3; Đông đại tự tạo lập cúng dường kí].
nại lạc ca
Xem Địa ngục.
; Naraka (skt). 1) Địa ngục: Hell—The hells. 2) Nơi chịu khổ: The place of torment.
; (捺落迦) Phạm: Naraka. Hán âm: Na lạc, Na lạc ca, Na la kha, Nại lạc. Hán dịch: Khổ khí, khổ cụ. Chỉ cho địa ngục (Phạm: Niraya), bao hàm ý tối tăm, không ưa thích. Theo Câu xá luận quang kí quyển 8, thì Nại lạc dịch là người; Ca dịch là ác. Nghĩa là người tạo nhiều nghiệp ác, rơi vào địa ngục, cho nên gọi là Nại lạc ca. Hoặc có chỗ cho rằng Ca là tên khác của chữ nhạo (ưa thích); Nại là không, Lạc là với nhau, cùng nhau, cho nên Nại lạc ca tức là không ưa thích nhau, không thể cứu giúp nhau v.v... (xt. Địa Ngục).
nại lợi
Niraya (skt)—Địa ngục—Hell.
nại mạt đà
Narmada (skt)—Con sông mà bây giờ có tên là Nerbudda—The modern Nerbudda river.
nại nữ
Amradarika or Amrapali (skt)—Người đàn bà sanh ra trên cây xoài, người đã hiến “Nại Uyển” cho Đức Phật—A woman who is said to have been born on a mango tree, and to have given the Plum-garden to the Buddha.
nại oán hại nhẫn
Sự nhẫn nhục trước những oán hận và gây tổn hại cho chính mình—The patience which endures enmity and injury.
nại thị
(柰氏) Phạm: Àmra. Hán âm: Am la. Cũng gọi Am bà nữ, Am thụ nữ. Am la là tên cây, tức là Am la nữ, người con gái sinh ra từ cây Am la, được Phạm chí nước Duy vệ nuôi dưỡng vào thời đức Phật còn tại thế. (xt. Am Bà La Bà Lợi).
nại thị viên
Xem Am một la.
nại trọng
(耐重) Hình quỉ được khắc trên những đầu cột hoặc dưới các xà ngang, trong tư thế đứng xoạc chân, gồng người, đầu và 2 bàn tay nâng đỡ lấy mái chùa, gọi là Nại trọng (chịu đựng sức nặng). Nhân thiên nhãn mục quyển 1 (Đại 48, 305 trung) chép: Phần dương nói: Hãy ở ngoài cửa, Nại trọng đánh với Kim cương. [X. môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên].
nại viên
Xem Am một la.
nại địa ca diếp ba
Nadi-Kasyapa (skt)—Còn gọi là Na Đề, em ruột của ngài Ma Ha Ca Diếp, sau nầy sẽ thành Phật hiệu là Phổ Minh Như Lai—A brother of Maha-Kasyapa, to be reborn as Buddha Samanta-Prabhasa.
nạn
Danger, disaster, calamity; catastrophe; misfortune; accident.
; (難) I. Nạn. Chướng ngại, đặc biệt chỉ cho sự chướng ngại người tu hành đạo Phật. Kinh Trường a hàm quyển 19 nêu ra 8 loại nạn xứ làm chướng ngại người tu hành thanh tịnh hướng tới giác ngộ, gọi là Bát nạn, Bát nạn xứ, Bát nạn giải pháp, Bát vô hạ, Bát bất nhàn, Bát phi thời, Bát ác, Bát bất văn thời tiết. Đó là: 1. Nạn ở địa ngục. 2. Nạn ở ngã quỉ. 3. Nạn ở súc sinh. Chúng sinh ở trong 3 đường này, khó gặp được bậc Thánh, chịu khổ bức bách, nung nấu triền miên, không sao tu hành được. 4. Nạn ở Trường thọ thiên, người cõi trời này sống rất lâu nên khó được gặp Phật pháp. 5. Nạn ở biên địa, là nơi hẻo lánh, xa xôi, không có Phật pháp lưu hành, cho nên chúng sinh ở vùng này không được nghe Phật pháp; hoặc chỉ cho chư thiên cõi Sắc, cõi Vô sắc và người ở châu Bắc câu lô (thế giới ở phía bắc núi Tu di), chỉ đam mê hưởng lạc, không cầu Phật pháp. 6. Nạn mù điếc câm ngọng; những người mù, điếc, câm, ngọng dù có sinh vào nơi văn minh, văn hóa, cũng không được thấy nghe Phật pháp. 7. Nạn thông minh biện bác theo trí thế gian, tuy có trí tuệ nhưng chấp tà kiến nên không cầu chính pháp. 8. Nạn sinh trước Phật hoặc sau Phật, vì sinh trong khoảng thời gian này không có Phật ra đời thuyết pháp, cho nên không được nghe Phật pháp. [X. kinh Xuất diệu Q.8; kinh Ngũ khổ chương cú; kinh Phạm võng Q.hạ; phẩm Tứ pháp trong luận Thành thực Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.28]. II. Nạn. Lời gạn hỏi, như nói nạn vấn, luận nạn, tức hỏi vặn, hỏi những nghĩa khó, bàn cãi đưa ra những điều khó hiểu, mâu thuẫn nhau, dồn đối phương vào chỗ bí tắc để tranh thắng. Như trong các kinh luận thường thấy ghi chép các cuộc tranh luận về pháp nghĩa trong nội bộ các phái Phật giáo với nhau, hoặc các cuộc nạn vấn của Phật giáo đối với ngoại đạo...
nạn nạn
Chala (S)Một trong Thập lục đế của phái Chánh lý ở Ấn.
nạp
Priestly garments.
; 1) Bá nạp: Nạp những mảnh vải rách lại với nhau—To patch rags together. 2) Dâng nạp—To offer—To pay. 3) Nạp Y: Áo của chư Tăng Ni được đùm vá bằng những mảnh vải rách: A monk's or nun's garment, supposed to be made of rags. 4) Thu nạp: To receive—To take.
; (衲) I. Nạp. Cũng gọi Nạp ca sa, Tệ nạp y, Hoại nạp. Chỉ cho áo mặc của chúng tăng, 1 trong các loại áo pháp. (xt. NạpY, Phẩn Tảo Y). II. Nạp. Cũng gọi Nạp tử, Nạp tăng. Tiếng xưng hô của chúng tăng, vì mặc áo chắp nối mà có tên gọi này. Ngoài ra, do đức tính khiêm tốn mà tự xưng như: Lão nạp, Hàn nạp, Chuyết nạp.
nạp a cát tắc nạp
Xem Na Tiên Tỳ kheo.
nạp bá
Loại áo trùm vai, được chư Tăng mặc khi thuyết pháp—A stole worn during teaching.
; (衲播) Loại áo vị tăng mặc khi giảng kinh, như áo thụng (áo lễ) của chư tăng ngày nay. Cứ theo Nam hải kí qui nội pháp truyện thì ngoài 3 áo ra còn có Nạp bá, nạp bá là áo của vị giảng sư mặc khi giảng kinh thuyết pháp.
nạp chúng
Priests in an assembly.
; Các vị Tăng chúng mặc y áo bá nạp—Monks who wear patched robes.
; (衲衆) Chỉ cho đại chúng mặc áo nạp tham dự pháp hội, hoặc theo nghĩa rộng, Nạp chúng là danh từ gọi chung chúng tăng xuất gia.
nạp cốt
Thu lấy xương cốt đem chôn—To bury bones, or a skeleton.
; (納骨) Cũng gọi Nhập cốt, Nhập tháp. Đặt di cốt của người tại gia vào mộ sau khi hỏa táng xong, gọi là Nạp cốt. Còn di cốt của người xuất gia thì được đưa vào tháp, gọi là Nhập tháp, cũng có khi dùng tóc còn lại để thay cho di cốt. [X. môn Tang tiến trong Thiền lâm tượng khí tiên].
nạp cụ
Thọ nhận cụ túc giới nơi thân mình—To accept all the commandments, or rules.
; (納具) Nhận lãnh giới Cụ túc.
nạp già lê
Tăng già lê. Samghati (S). 9 to 25 patches-garment.
; Sanghati (skt)—Còn gọi là Nạp Già Lê, là loại áo Tăng Già Lê trong bộ Nạp Y, từ 9 đến 25 mảnh vá lại với nhau—The sanghati or coat of patches varying from 9 to 25 (patched of seven pieces and upwards).
nạp giới
Thụ giới hay là thụ nhận giới thể nơi thân mình—To receive or accept the commandments.
nạp kinh
(納經) Cũng gọi Lục thập lục bộ nạp kinh, Lục bộ nạp kinh, Hồi quốc nạp kinh. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chép tay 66 bộ kinh Pháp hoa, đem cúng dường 66 đạo tràng ở Nhật để hồi hướng công đức cho người chết. Từ xưa ở Nhật bản đã thịnh hành phong tục chôn kinh điển dưới đất gọi là Mai kinh. Về sau, phong tục này dần dần đã biến thành việc đem dâng nạp Đại tạng kinh vào trong Thần xã hoặc chùa Phật. Những kinh được dâng nạp phần nhiều là kinh Pháp hoa, kinh Di đà, kinh Di lặc và Bát nhã tâm kinh. Phong tục này được truyền đến đời sau, thì không những dâng nạp tạng kinh mà cả việc cúng dường tiền gạo vào đền chùa, hoặc đích thân đến đạo tràng tham bái, cũng đều được gọi là Nạp kinh.
nạp mạo
Chiếc nón được làm bằng những vật liệu vải do đàn na bố thí—A cap made of bits of given material.
; (衲帽) Chiếc mũ của tỉ khưu may bằng các miếng vải vụn xấu chắp nối lại. [X. truyện Cảnh oanh trong Tục cao tăng truyện].
nạp mộ
Namah (skt)—See Nam Mô.
nạp phùng tố ca
(納逢素迦) Phạm: Napuôsaka. Cũng gọi Nại bản sa ca. Hán dịch: Yêm nhân, Hoạn quan. Từ ngữ chỉ cho trung tính, tức chẳng phải nam, chẳng phải nữ. Trong 3 thanh của chữ Tất đàm, từ ngữ này được sử dụng để biểu thị cho thanh trung tính.
nạp phược ba
Nạp Phược Ba, tên của một thành phố cổ mà người ta đã lấy tên ngài Huyền Trang để đặt cho nó. Thành phố nầy nằm gần khu vực Y Tuần, đế đô của nhà Hán, sau nầy được biết như là Nob hay Lop trong truyện ký của Marco Polo. Bây giờ là thành phố Charkhlik—Na-Fu-Po, Hsuan-Tsang's name for a city on the ancient site of I-Hsun, capital of Shan-Shan in the Former Han dynasty, afterwards known as Nob or Lop in Marco Polo. It corresponds to the modern Charkhlik.
nạp phược tăng già lam
Navasangharama (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Nạp Phược Tăng Già lam là ngôi tự viện cổ gần thành Baktra, nổi tiếng với ba thứ xá lợi của Đức Phật, răng Phật, bồn nước nhỏ, và cây tích trượng của Phật—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Navasangharama, an ancient monastery near Baktra, famous for three relics of Sakyamuni, a tooth, a basin, and a staff.
nạp phược đề bà củ la
Navadevakula (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Nạp Phược Đề Bà Củ La, một thành phố cổ chỉ cách Kanyakubdja có vài dậm về phía đông nam, bên bờ đông sông Hằng, bây giờ là thành phố Nobatgang—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Navadevakula, an ancient city, a few miles south-east of Kanyakubdja, on the eastern bank of the Ganges. The present Nobatgang.
nạp sở
(納所) Nơi dành cho việc thu chi tiền bạc, thóc gạo trong tự viện thuộc Thiền tông, do vị dịch tăng trông coi. Nếu người thế tục đảm nhiệm chức vụ này thì nơi đó được gọi là Tục nạp sở. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
nạp thể
(納體) Nhận lãnh giới thể. Giới thể phát ra từ trong tâm của hành giả thụ giới, có công năng ngăn ngừa việc sai quấy. [X. Hoằng giới pháp nghi].
nạp thụ
(納受) Có 2 nghĩa: 1. Nhận lãnh quà tặng của người khác. 2. Phật, Bồ tát tiếp nhận nguyện vọng của người cầu nguyện để giúp đỡ họ. [X. phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.7].
nạp tăng hành cước sự
(衲僧行脚事) Đồng nghĩa: Nạp y hạ sự, Nạp tăng bản phận sự. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tức là việc vân du hành cước, tìm thầy học đạo để giải quyết vấn đề sinh tử của nạp tăng.
nạp tăng tị khổng
(衲僧鼻孔) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho cái lỗ mũi của nạp tăng. Trong Thiền tông, nhóm từ này được sử dụng để biểu thị cho vật rất quan trọng, tức là căn bản của Phật pháp. Cùng nghĩa với dụng ngữ này còn có Nạp tăng đính môn (đỉnh đầu của nạp tăng), Nạp tăng nhãn tình (con mắt của nạp tăng).
nạp tức
(納息) Phạm: Varga. Pàli:Vagga. Có hàm ý là phân chia, tập hợp, tức chỉ các loại từ như: Phẩm, thiên, chương, bộ, loại. Luận Đại tì bà sa bản dịch cũ dịch là Bạt cừ, còn bản dịch mới dịch là Nạp tức. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.15].
Nạp tử
(衲子, nossu): nói về vị Thiền tăng, vị tăng mặc y Bá Nạp (百衲, trăm mảnh vải ghép lại), còn gọi là nạp tăng (衲僧). Như trong phần Tào Khê Bảo Lâm Thiền Đường Thập Phương Thường Trú Thanh Quy (曹溪寶林禪堂十方常住清規) của Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, CBETA No. 1456) quyển 52 có câu: “Duy ngã Lục Tổ Đại Sư, thuyết pháp Tào Khê, thiên hạ nạp tử quy chi (惟我六祖大師。說法曹溪。天下衲子歸之, cúi mong Lục Tổ Đại Sư ta, thuyết pháp Tào Khê, cho Thiền tăng khắp thiên hạ quay về).”
nạp tử
Còn gọi là Nạp Tăng, tên gọi khác của Thiền Tăng (Thiền Tăng thường mặc áo nạp y đi chu du đó đây; tuy nhiên, nạp tăng dùng chung cho tất cả Tỳ Kheo chứ không riêng Thiền Tăng)—A monk, especially a peripatetic monk.
nạp xà ư đồng
Bỏ rắn vào ống, ví với việc thiền định cột tâm—To put a snake into a tube, i.e. meditation able to confine unruly thoughts.
nạp y
áo do nhiều miếng vải vụn nhỏ kết lại với nhau, nên gọi là nạp y. Người tu hành không cầu ăn mặc đẹp, nên nhặt lấy những mảnh vải vụn đã bỏ đi của người đời mà chắp vá lại thành áo mặc, cũng gọi là áo bá nạp (trăm mảnh vụn) hay phấn tảo y.
; Patched garment.
; Phấn Tảo Y—Nhặt lấy những mảnh vải rách mà người ta vứt đi để kết lại làm áo cho Tăng Ni (bất kể vải rách ấy là của người hốt phân hay của hạng thủ đà la)—A monk's robe, garments made of castaway rags, the patch-robe of a monk.
; (衲衣) Cũng gọi là Phẩn tảo y, Tệ nạp y, Ngũ nạp y, Bách nạp y. Tấm áo pháp của vị tỉ khưu mặc, do những mảnh vải vụn được nối kết lại mà thành. Chính vì nghĩa này mà các vị tăng thường tự xưng là Lão nạp, Bố nạp, Nạp tăng, Nạp tử, Tiểu nạp v.v... [X. luật Thập tụng Q.39; điều Đầu đà nghĩa lưỡng môn phân biệt trong Đại thừa nghĩa chương Q.15; Tuệ lâm âm nghĩa Q.11]. (xt. Bách Nạp Y).
nạp y thập lợi
(衲衣十利) Mười điều lợi của việc mặc nạp y (áo chắp vá). Theo luật Thập tụng thì 10 điều lợi ấy là: 1. Thuộc về số áo thô xấu. 2. Ít phải tìm kiếm. 3. Tùy ý muốn ngồi chỗ nào cũng được. 4. Muốn nằm chỗ nào cũng được. 5. Dễ giặt giũ. 6. Ít bị côn trùng làm hư hoại. 7. Dễ nhuộm. 8. Khó rách nát. 9. Không phải kiếm áo khác. 10. Không ảnh hưởng đến việc cầu đạo. Còn theo luận Thập trụ tì bà sa thì 10 điều lợi ấy như sau: 1. Hổ thẹn. 2. Ngăn lạnh nóng trùng độc. 3. Biểu thị uy nghi phép tắc của sa môn. 4. Tất cả trời người thấy áo pháp đều tôn kính như tháp. 5. Người có tâm nhàm chán khi nhuộm áo chẳng ham đẹp. 6. Tùy thuận tịch diệt, không bị phiền não nhiễu loạn. 7. Nhờ mặc áo pháp, dễ thấy cái ác. 8. Không cần vật trang nghiêm nào khác. 9. Thuận theo Bát chính đạo. 10. Thường tinh tiến tu tập, không khởi tâm ô nhiễm dù trong khoảnh khắc.
nạp đậu
(納豆) Một loại thực phẩm được sử dụng trong các chùa viện. Phương pháp chế biến nạp đậu như sau: Vào tháng 6 nấu đậu cho chín, vớt ra, trộn lẫn với 1 ít bắp rang và men rượu rồi đem phơi nắng 3 ngày, sau đó, bỏ vào nước ấm có hòa muối, rửa sạch, gạn hết cặn cấu, rồi lại rắc thêm men rượu vào đậu và bắp, chứa vào thùng, lấy đá đè lên để ép. Sau, lấy đá ra, dùng giấy dày bịt kín miệng thùng lại; đến khoảng tiết Đông chí, dùng gừng và lá tía tô trộn lẫn để dùng. Món ăn này được dùng trước khi ngồi thiền, giúp cho việc hút nước trong cơ thể để giảm thiểu việc tiểu tiện. Các Thiền viện ở Trung quốc, xưa rất coi trọng việc dùng món nạp đậu này, về sau được truyền đến Nhật bản và cho đến nay vẫn được thịnh hành trong các tự viện. (xt. Tọa Thiền Đậu).
nạp đắc
(納得) Nhận lãnh được giới thể. Giới thể phát sinh từ trong tâm của người thụ giới, có công năng ngăn ngừa việc làm sai quấy.
nảo
Draft.
nảy
To bounce.
nảy chồi
To shoot—To sprout
nảy nở
To increase—To grow.
nảy đom đóm
To see stars.
nấp
1) To hide. 2) Lid—Cover.
nấp bóng
To be under someone's protection
nấu cát làm cơm
1) Cooking sands for food. 2) Something which is impossible to achieve.
nẩy lên
To bounce.
nắm
To grasp—To embrace.
nắm chặt
To hold tightly.
nắm cơ hội
To embrace an opportunity.
nắn nót
To write carefully.
nắng chang chang
Burning sun.
nắng gắt
See Nắng Chang Chang.
nằm
To lie down.
nằm mộng
To dream.
nằm nghiêng
To lie on one's side
nằm ngủ
To lie dormant.
nằm ngửa
To lie on one's back.
nằm đất
To lie on the ground.
nằng nằng
To insist stubbornly
nẵng
(曩) Cũng gọi Na, Noa. Chữ Tất đàn (na), là 1 trong 50 hoặc 42 chữ cái. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính cho rằng, chữ Nẵng nghĩa là tên của tất cả pháp đều bất khả đắc. Phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng và phẩm Thị thư trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 thì nói rằng, khi xướng chữ Nẵng là phát ra âm thanh biết khắp các danh sắc.Những nghĩa (tên, danh) trên đây đều là từ chữ đầu trong tiếng Phạm Nàma-rùpa mà ra, vì thế giải thích chữ Nẵng nghĩa là tên (nàma). Còn phẩm Quảng thừa trong luận Đại trí độ quyển 48 thì nói rằng, khi nghe chữ Nẵng tức là biết tất cả pháp chẳng đến, chẳng đi, là bất khả đắc. Đây là giải thích theo nghĩa chữ Phạm Na(không, tiếp đầu ngữ phủ định). [X. phẩm Biện đại thừa trong kinh Đại bát nhã Q.53; phẩm Văn tự trong kinh Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc); phẩm Quán trong kinh Quang tán bát nhã Q.7; kinh Hoa nghiêm Q.76 (bản dịch mới); Tứ thập nhị tứ quán môn, phẩm Nhập pháp giới trong kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm; phẩm Đà la ni trong kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.3].
Nẵng-nga
曩誐; C: năngé; J: nōga; S: nāga;|Một loại rồng. Một trong 8 loại thiện thần hộ pháp xuất hiện trong kinh luận Đại thừa. Xem Long (龍).
nặc
Lời hứa hẹn—A promise—To promise.
nặc cù đà
Nyagrodha (skt)—Cây vả (sung) Ấn Độ—The Indian fig-tree.
nặc cù đà thụ
(諾瞿陀樹) Phạm: Nyagrodha. Pàli: Nigrodha, Nigoha. Cũng gọi Ni câu luật thụ, Ni câu loại đà thụ, Ni câu đà thụ. Tên khoa học: Ficus indica. Loại cây giống như cây si, thuộc họ cây dâu, mọc ở Ấn độ, Tích lan. Thân cây cao to thẳng đứng, tán rộng, có rễ từ trên thân rủ xuống, khi chạm đất thì rễ ấy lại mọc lan ra tứ phía. Đức Phật thứ 6 trong 7 đức Phật quá khứ là Ca diếp Như lai đã ngồi dưới cây này để thuyết pháp độ sinh. [X. kinh Đại bản trong Trường a hàm Q.1; kinh Tạp a hàm Q.33; luận Câu xá Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.12, 15].
nặc củ la
(諾矩羅) Phạm: Nakula. Cũng gọi Nặc củ na. Vị La hán thứ 5 trong 16 vị La hán. Cứ theo truyền thuyết thì Nặc củ la tức là Trưởng giả Nặc cổ la nói trong kinh A la hán cụ đức; vị Trưởng giả này cùng 800 vị A la hán quyến thuộc trụ ở châu Nam thiệm bộ, hộ trì chính pháp, làm lợi ích cho loài hữu tình. Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu đời Đường, vẽ tượng Ngài ngồi trên phiến đá, 2 tay cầm cây như ý giống hình đứa bé, đặt trên vai, dáng như đang gãi lưng. Trên vách hang thứ 76 của động Thiên Phật tại Đôn hoàng có vẽ hình tượng Ngài ngồi kết già trên phiến đá, tay phải nắm lại để trước ngực, tay trái cầm phất trần đặt trên gối. Nay tên của vị A la hán này không thấy có trong Phật giáo Tây tạng. [X. Đại A la hán Nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập].
nặc cự la
Nakula (S)Nhạ cự laMột trong 16 vị A la hán vâng lời Phật dạy trụ ở thế gian giữ gìn chánh pháp.
; Nakula (skt)—Một trong 16 vị La Hán—One of the sixteen arhats.
nặc già nặc
Nagna (skt). 1) Trần truồng—Naked. 2) Đạo sĩ lõa thể: A naked mendicant. 3) Tên của Thần Siva: A name of Siva. 4) Kim Cang vương: A Vajra-king.
nặc kiện na
Xem Đại lộ thần.
; (諾健那) Phạm: Mahà-nagna. Gọi đủ: Ma ha nặc kiện na. Cũng gọi Đồ kiện na, Nặc già na. Hán dịch: Lộ hình thân, Lộ hình thần, Lộ thân. Tên 1 vị thần có sức mạnh, mình trần. Theo luận Đại tì bà sa quyển 30 thì sức của 10 con voi bằng với sức của 1 con hương tượng, sức 10 con hương tượng bằng với sức Ma ha nặc kiện na. [X. luận Câu xá Q.11, 27; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.24].
nặc môn hãn
(諾們罕) Danh hiệu của vị Đại lạt ma trong Lạt ma giáo ở Mông cổ, Tây tạng. Danh hiệu này nghĩa là Pháp vương, ngôi vị chỉ đứng sau vị Hô đồ khắc đồ (Phật sống).
nặc ngôn
See Nặc.
nặn óc
To puzzle one's brain.
nặng
Heavy.
nặng gánh
Heavy load.
nặng nghiệp
Heavy karma.
nặng nhọc
Hard work.
nặng tai
To be hard of hearing.
nặng trĩu
Overloaded—Overburdened.
nặng trịch
Very heavy.
nặng đầu
To have a bad headache.
nẻ
Cracked.
nẻo
Way—Direction.
nếm
To taste.
nếp sống
Life.
nết
Conduct—Behavior—Morals.
nếu có thể
If possible.
nếu cần
If necessary.
nếu không
If not.
nếu thế
If so—If that is the case.
nền móng
Foundation.
nền tảng dục vọng
Base passion.
nền tảng phật pháp
Basic Buddhist Teaching.
nể
To respect.
nễ khán giả hạt hán
(你看者瞎漢) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nhóm từ này hàm nghĩa châm biếm. Ý nói: Các ngươi có thấy gã không hiểu tông chỉ này không? Nễ chỉ cho đại chúng trong pháp hội; giả cùng nghĩa với chữ giá (này); hạt hán chỉ cho kẻ không rõ tông chỉ.
nễ la nan xoa vương
Xem Thanh Trượng vương.
Nỉ Nghi
(禰宜, Negi): một trong những danh xưng của Thần Chức. Hiện tại, ở các đền thờ Thần Xã, chức này được đặt dưới Cung Ty (宮司), trên Quyền Nỉ Nghi (權禰宜), trở thành chức quan bổ tá cho Cung Ty. Nguyên ngữ của từ “Nỉ Nghi (禰宜)”, có ngữ có nghĩa là “làm cho hòa hợp”, tức là “hòa hợp tâm của Thần và cầu nguyện sự gia hộ”. Vào thời cổ đại, Nỉ Nghi chỉ cho người hành lễ cầu thỉnh lên chư Thần, hay người chuyên trách việc tế tự. Theo quy chế cổ, chức này được đặt dưới Thần Chủ (神主, Kannushi), hay từ tổng xưng của các Thần Chức. Tại Gia Mậu Thần Xã (賀茂神社, Kamo Jinja), Bình Dã Thần Xã (平野神社, Hirano Jinja), Nhật Cát Thần Xã (日吉神社, Hie Jinja), v.v., chức Nỉ Nghi được xem như là lớn nhất trong các Thần Chức. Trong khi đó, tại Lộc Đảo Thần Cung (鹿島神宮, Kashima Jingū), v.v., trên chức này có thêm Đại Nỉ Nghi (大禰宜). Từ cuối thời Minh Trị trở đi, chức Nỉ Nghi được đặt ở Y Thế Thần Cung (伊勢神宮, Ise Jingū) cũng như Quan Quốc Tệ Xã (官國弊社, Kankokuheisha). Sau Đệ Nhị Thế Chiến, toàn bộ các đền thờ Thần Xã đều có chức quan này. Đặc biệt, tại Y Thế Thần Cung, chức này đứng kế vị Thiếu Cung Ty (少宮司), trên Cung Chưởng (宮掌). Vị này nhận mệnh của Cung Ty mà phục vụ cho việc tế tự và quản lý việc của Thần Xã.
nịnh
To flatter.
nối duyên
To marry again—To remarry.
nối dòng
To carry on the lineage.
nối nghiệp
To succeed—To take over.
nổ bùng
To break out---To explode.
nổi bật
Prominent.
nổi danh
Famous—Celebrated—Well-known—Eminent—Distinguished
nổi giận
To get angry.
nổi loạn
Atrocities.
nổi lênh đênh
Floating.
nổi tiếng
Well-known—Celebrated.
nổi tiếng nhờ các bài hát
Gāthaśravas (S), Famous through songs.
nổi điên
To get mad.
nỗ lực
To strive—To endeavour.
; (努力) Gắng sức không ngừng, quyết chí thực hiện được mục đích. Con đường giác ngộ diệt trừ khổ não mà đức Phật chỉ dạy có 8 thứ gọi là Bát chính đạo, trong đó Chính tinh tiến tức là nỗ lực vậy. Lại nữa, Phật giáo Đại thừa lập ra 6 Ba la mật(cũng gọi Lục độ)là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định và trí tuệ là những đức mục thực tiễn cao nhất của Phật giáo, trong đó tinh tiến (Phạm:Vìrya) tức là nỗ lực, hoặc cũng có nghĩa là siêng năng, có thể thành tựu các thiện hạnh, diệt trừ ác pháp.
nỗ lực của chính mình
Own efforts.
nỗ lực giác ngộ
To struggle for enlightenment.
nỗ lực thành tựu quả vị phật
To strive to gain Buddhahood.
nỗ nhị mi minh phi
Dombi (S)Một trong 8 minh phi ở 8 hướng quanh ngài Hô Kim Cang, minh phi này ngự ở tây nam cung.
nỗ đạt la sái
Durdharsa (skt). 1) Hộ pháp trong nội viên Mạn Đà La của Đức Tỳ Lô Giá Na: Guardian of the inner gate in Vairocana's mandala. 2) Khó để ý: Hard to behold. 3) Khó nắm giữ: Hard to hold. 4) Khó vượt qua: Hard to overcome.
nỗi buồn
Feeling of sadness.
nỗi lòng
Feelings.
nội
Abhyātma- (S), Internal Tiếp đầu ngữ.
; Within, inner.
; Antar, Antah, Pratyag, or Pratyak (skt)—Bên trong—Within—Inner—Internal—Inside—Interior—Inward.
nội ba-la-mật
tức là các pháp Trì giới Ba-la-mật, Nhẫn nhục Ba-la-mật, Tinh tấn Ba-la-mật, Thiền định Ba-la-mật và Trí tuệ Ba-la-mật. Vì năm pháp Ba-la-mật này thuộc về sự hành trì nội tâm nên gọi là nội (bên trong).
nội bí
The inner mystic mind of the Bodhisattva, though externally he may appear to be a sràvaka.
; Tâm sâu kín bí mật bên trong của Bồ Tát, mặc dù bên ngoài có dáng vẻ của Thanh Văn—The inner mystic mind of the bodhisattva, though externally he may appears to be a sravaka (hearer—Thanh văn).
; (內秘) Ẩn kín ở bên trong. Nghĩa là Bồ tát giấu kín hạnh tự lợi, lợi tha bên trong, mà bên ngoài thì hiện tướng tự lợi của Thanh văn. Đó là vì Bồ tát biết chúng sinh sợ đại trí mà thích nghe tiểu pháp, cho nên hiện làm Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác, dùng phương tiện giáo hóa chúng sinh, như trường hợp các vị tỉ khưu Phú lâu na, Xá lợi phất... đều thuộc về nội bí. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6 (Đại 33, 756 trung) nói: Các vị Thanh văn đều là nội bí ngoại hiện. [X. phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trong kinh Pháp hoa].
nội chúng
The inner company, i.e. the monks in contrast with ngoại tục the laity.
; Chỉ Tăng chúng, để phân biệt với chúng tại gia hay là ngoại chúng—The inner company, i.e. the monks, in contrast with the laity (Ngọai tục).
; (內衆) Chỉ cho chúng tăng. Đối lại với ngoại tục nên gọi là nội chúng. Đại tống tăng sử lược quyển thượng (Đại 54, 237 hạ) nói: Phật chế Tì ni khiến cho nội chúng sống trong khuôn phép.
nội chướng
Internal, or mental hindrances, or obstacles.
; Những chướng ngại xuất phát từ bên trong—The internal or mental hindrances or obstacles.
; (內障) Chỉ cho chướng ngại trong nội tâm, tức là các phiền não như tham dục, sân khuể, ngu si... Vãng sinh yếu tập quyển thượng (Đại 84, 37 trung) nói: Hoặc có loài quỉ do nội chướng nên ăn không được, nghĩa là miệng nhỏ như lỗ kim, bụng to như núi, dẫu có gặp thức uống ăn cũng không cách nào ăn được.
nội chế
Niyama (S)Gồm các pháp Thanh tịnh, khổ hạnh và tu học. Một trong 8 pháp thật tu có đề cập trong Du già kinh.
nội chủng
The seed contained in the eighth consciousness, i.e. àlaya-vijnàna,the basis of all phenomena.
; Chủng tử được chứa đựng trong thức thứ tám, là căn bản của muôn ngàn hiện tượng—The seed contained in the eighth vijnana (Alaya-vijnana), the basis of all phenomena.
; (內種) Đối lại: Ngoại chủng. Tông Pháp tướng cho tất cả chủng tử hữu lậu, vô lậu được chứa trong thức A lại da là nội chủng. Những chủng tử này thường sinh ra hiện hành, tức chủng tử làm nguồn gốc sinh ra các pháp sắc, tâm, sum la muôn tượng.
nội chứng
Pratyātmādhigama (S), Internal realization Tự nội chứng, Tự chứng nội chứng.
; The witness or realization within; one's own assurance of the truth.
; Pratyak-sakshatkara or Antar-sakshatkriya (skt). 1) Nội Chứng: Inner assurance—Inner-realization—Inner experience—Inner witness. 2) Chân lý mà mình chứng được từ trong tâm: The witness of realization within—One's own assurance of the truth.
; (內證) Phạm: Pratyàtmàdhigama. Cũng gọi Tự nội chứng. Chân lí mà mình thể ngộ, chứng được trong nội tâm. Cứ theo các kinh điển Đại thừa như Lăng già... thì những hoạt động lấy nội chứng làm cơ sở mà biểu hiện ra bề ngoài, gọi là Ngoại dụng. Nội chứng là cái do chính mình riêng chứng được, nên cũng gọi là Kỉ chứng. Pháp được chỉ bày từ kiến giải của riêng mình chứng được này gọi là Kỉ chứng pháp môn. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 3, phần 2 (Đại 46, 225 hạ) nói: Năm trăm tỉ khưu đều là chính thuyết, mỗi vị nói về kỉ chứng, gọi là Tùy tự ý. Luận Thành thực quyển 1 (Đại 32, 244 trung) nói: Phật pháp có thể tự mình chứng biết, nhưng không thể đem cái tự mình chứng biết ấy truyền cho người khác. [X. luận Câu xá Q.6; luận Thành duy thức Q.10; Nhiếp đại thừa luận thích Q.9 (bản dịch đời Đường); Đại nhật kinh sớ Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, phần đầu].
Nội Chứng Phật Pháp Tương Thừa Huyết Mạch Phổ
(內証佛法相承血脉譜, Naishōpuppōsōjōkechimyakufu): tác phẩm của Tối Trừng (最澄, Saichō), 1 quyển, hình thành vào năm 819 (niên hiệu Hoằng Nhân [弘仁] thứ 10). Vào năm 818 (niên hiệu Hoằng Nhân thứ 9), Tối Trừng thành lập ra chế độ thọ giới riêng biệt ở Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) với sự định muốn độc lập Thiên Thai Tông; nhưng ông đã gặp phải cự phản đối kịch liệt của các tông phái vùng Nại Lương (奈良, Nara). Để phản luận lại, ông viết cuốn Hiển Giới Luận (顯戒論, Genkairon) và tác phẩm này. Đây là thư tịch luận về chủ trương của Tối Trừng liên quan đến tính chính thống của Phật Giáo do chính bản thân ông đã truyền thừa trong thời gian vừa qua. Kết hợp tư tưởng của các thư tịch khác như Huyết Mạch (血脉), Đạt Ma Đại Sư Phú Pháp Tương Thừa Sư Sư Huyết Mạch Phổ (達摩大師付法相承師師血脈譜), Thiên Thai Pháp Hoa Tông Tương Thừa Sư Sư Huyết Mạch Phổ (天台法華宗相承師師血脈譜), Thiên Thai Viên Giáo Bồ Tát Giới Tương Thừa Sư Sư Huyết Mạch Phổ (天台圓敎菩薩戒相承師師血脈譜), Thai Tạng Kim Cang Lưỡng Mạn Trà La Tương Thừa Sư Sư Huyết Mạch Phổ (胎藏金剛兩界曼茶羅相承師師血脈譜), Tạp Mạn Trà La Tương Thừa Sư Sư Huyết Mạch Phổ (雜曼茶羅相承師師血脈譜), v.v., ông hình thành nên tác phẩm có giá trị này.
nội chứng trí
(內證智) Chỉ cho trí tuệ của đức Phật chứng ngộ chân lí trong nội tâm. Kinh Đại thừa nhập lăng già quyển 5 (Đại 16, 616 hạ) nói: Niết bàn là thấy chỗ như thực, lìa bỏ tâm và tâm sở phân biệt mà được Thánh trí nội chứng của Như lai, ta nói đó là Niết bàn tịch diệt.
nội chử
Cooked food in a monastic bedroom becoming thereby one of the "unclean" foods.
; (內煮) Nấu nướng bên trong. Chỉ cho thức ăn mà tỉ khưu nấu nướng trong phòng tăng, là 1 trong những thức ăn không thanh tịnh. Giới luật cấm tỉ khưu không được dùng thức ăn này.
nội chữ
Các món ăn nấu trong Tăng phòng là một trong những món bất tịnh, do đó Tỳ Kheo không được ăn—Cooked food in a monastic bedroom, becoming thereby one of the unclean foods—See Nội túc thực.
Nội cung
(內宮): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ chung cho Lục Cung của thiên tử. Như trong Chu Lễ (周禮), chương Thiên Quan (天官), Nội Tể (內宰) có câu: “Hội nội cung chi tài dụng (會內宮之財用, tập trung lại tài dụng của sáu cung).” Trịnh Huyền (鄭玄, 127-200) nhà Hán giải thích rằng: “Kế phu nhân dĩ hạ sở dụng tài (計夫人以下所用財, tính từ phu nhân trở xuống đã dùng tài vật).” (2) Chỉ cho hậu cung. Như trong Pháp Hoa Kinh Chỉ Chưởng Sớ Sự Nghĩa (法華經指掌疏事義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 33, No. 632), phần Tăng Hựu Luật Sư (僧祐律師), có đoạn: “Niên suy cước tật, sắc thừa dư nhập nội cung, vi Lục Cung thọ giới, Lương Lâm Xuyên Vương, Nam Bình Vương đẳng, tinh sùng kỳ giới phạm (年衰腳疾、勅乘輿入內宮、爲六宮受戒、梁臨川王、南平王等、幷崇其戒範, Luật Sư năm tháng suy yếu, chân bị đau, vua ban sắc chỉ cho ngồi xe vào cung nội, vì Lục Cung mà truyền giới, Lương Lâm Xuyên Vương, Nam Bình Vương, v.v., đều tôn sùng giới pháp của sư).” (3) Chỉ cho tử cung của người nữ.
nội cung phụng
Nội Cúng—Vị Tăng phụ trách bàn thờ trong đại nội (cung vua)—A title for the monk who served at the altar in the imperial palace.
; (內供奉) Cũng gọi Nội cúng, Cúng phụng. Chức vụ của vị tăng cung phụng trong Nội đạo tràng(đạo tràng trong cung vua), phụ trách việc giảng diễn, đọc tụng kinh điển. Chức danh này bắt đầu được đặt ra vào niên hiệu Chí đức năm đầu (756) đời vua Túc tông nhà Đường. Bấy giờ ngài Nguyên kiểu được bổ nhiệm giữ chức Nội cúng. Tại Nhật bản, chức vụ này từ xưa do 10 vị Thiền sư đảm nhiệm, vì thế cũng gọi là Nội cúng phụng thập thiền sư. [X. Đại tống tăng sử lược Q.hạ; Loại tụ danh vật khảo Q.3].
nội công
Nei-kung (C), Inner exercise.
nội cúng
See Nội Cung Phụng.
Nội căn
内根; C: nèigēn; J: naikon;|Cảnh giới bên trong, cảnh giới của tâm.
nội diệt
Extinction of affliction in the mind.
nội duyên
The condition of perception arising from the five senses; also immediate, conditional, or environment causes, in contrast with the more remote.
; Ý thức trong tâm phân biệt các pháp khởi lên từ năm thức—The condition of perception arising from the five senses—Immediate, conditional or environmental causes, in contrast with the more remote.
; (內緣) Đối lại: Ngoại duyên. I. Nội Duyên. Duyên trong. Chỉ cho ý thức phân biệt các pháp trong nội tâm. II. Nội Duyên. Chỉ cho nguyên nhân gần.
nội giám lãnh nhiên
(內鑒冷然) Cũng gọi: Nội giám lãnh nhiên, ngoại thích thời nghi. Nghĩa là cảnh giới giác ngộ trong tâm giống như tấm gương sáng; nhưng khi hướng ra ngoài thuyết pháp dẫn dắt mọi người, vì phải đáp ứng với thời cơ, đặt ra những phương pháp thích hợp, cho nên sự hiển bày có sai khác. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 5, phần đầu, của ngài Trí khải, luận Thập trụ tâm quyển 8 của ngài Không hải, sự nội chứng của ngài Long thụ, Thiên thân... đều đã đạt đến nghĩa chân thực của Phật pháp, nhưng vì phương tiện giáo hóa dẫn đạo chúng sinh, nên có lúc nói Không, hoặc khi nói Hữu để thích ứng với thời nghi bên ngoài.
nội giáo
Buddhism.
; Phật giáo, đối lại với ngoại tông—Buddhism, in contrast with other cults.
; (內教) Giáo trong. Phật giáo tự cho giáo pháp, kinh điển, sách vở của mình là Nội giáo, mà cho các giáo pháp, sách vở khác là Ngoại giáo.[X. Phật tổ thống kỉ Q.39].
nội giới
The realm of mind, as contrasted with ngoại giới, that of the body; also the realm of cognition as contrasted with externals, e.g. the five elements.
; Tâm ý—The realm of mind as contrast with that of the body (Ngoại giới).
; (內界) Đối lại: Ngoại giới. Thân tâm của chúng sinh chia ra nội giới và ngoại giới, tâm ý vô hình là nội giới, thân thể hữu hình là ngoại giới. Trong Lục giới thì đất, nước, lửa, gió và không là ngoại giới; còn thức giới thứ 6 là nội giới.
nội hoả tam muội
Tumo (T), Inner Heat Meditation, gTum-mo (T), Caṇda (S), Caṇḍalī (S), gTum-mo (T), Caṇda (S) Nội nhiệt.
nội huân
Inner censing; primal ignorance, or unenlightenment; perfuming, censing. or acting upon original intelligence causes the common uncontrolled mind to resent the miseries of mortality and to seek nirvàna.
; Inner censing—Primal ignorance or unenlightenment—Còn gọi là Minh Huân. Theo Khởi Tín Luận thì “nội huân” là bản giác huân tập vô minh trong tâm chúng sanh, nhân đó mà khiến vọng tâm chán nỗi khổ sinh tử, để cầu cảnh vui sướng của Niết Bàn—According to The Awakening of faith, inner censing acts upon original intelligence causes the common uncontrolled mind to resent the miseries of mortality and to seek nirvana—See Minh Huân.
; (內熏) Đối lại: Ngoại huân. Xông ướp ở bên trong. Trong tâm chúng sinh có chân như bản giác, nhưng từ vô thủy đến nay bị vô minh xông ướp, làm cho tâm chúng sinh mê vọng, nên phải chịu luân hồi sinh tử. Nay biết nhàm chán cái khổ sinh tử ấy, nên dùng chân như bản giác xông ướp lại vô minh để cầu giải thoát sinh tử, được cái vui Niết bàn, gọi là Nội huân. Trái lại, dùng giáo pháp của Phật và sự tu hành của chính mình để xông ướp mà cầu giải thoát, thì gọi là Ngoại huân.
nội học
The inner learning, i.e. Buddhism.
; Học Phật pháp—The inner learning (Buddhism).
nội học niên san
(內學年刊) Tập san nghiên cứu Phật giáo của viện Nội học Chi na, bắt đầu xuất bản vào năm Dân quốc 13 (1924), đến năm Dân quốc 17 (1928) thì đình bản. Những năm gần đây, ở Đài loan có bản lưu thông, đóng 4 tập thành 1 quyển, lấy tên là Nội học. Những người viết bài cho tập san này đều là các vị Giáo sư của viện Nội học, cũng là những nhà Phật học nổi tiếng như Âu dương tiệm, Lữ trừng, Thang dụng đồng, Nhiếp ngẫu canh, Vương ân dương, Hùng thập lực v.v... cho nên những văn phẩm của họ rất có chất lượng và được giới học thuật coi trọng.
nội hộ
(內護) Đối lại: Ngoại hộ. Chúng tăng tuân theo giới pháp mà đức Phật chế định để giữ gìn thân tâm, khiến cho 3 nghiệp thân, khẩu, ý được thanh tịnh, gọi là Nội hộ. Còn các thân tộc và tín đồ cung cấp y phục và thức ăn uống để chúng tăng yên tâm tu đạo, thì gọi là Ngoại hộ. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Bắc)].
nội hộ ma
(內護摩) Hộ ma, Phạm: Homa. Hán dịch: Hỏa tế, Phần thiêu. Pháp cúng tế lửa bằng cách bỏ những vật cúng vào lửa để đốt, là 1 trong các pháp tu của Mật giáo. Mật giáo chia pháp Hộ ma thành Nội hộ ma và Ngoại hộ ma. Nội hộ ma là hành giả quán tưởng lửa trí tuệ, đem bản tôn, lò(tức lò dùng để đốt vật cúng) và hành giả hợp làm 1, tức là hợp nhất 3 nghiệp thân, khẩu, ý, quán tưởng Đại nhật Như lai trụ ở trong mình, dùng lửa trítuệ thiêu đốt tất cả vô minh, chứng được tâm Bồ đề. Vì tác pháp được quán tưởng ở trong tâm của hành giả, nên gọi là Nội hộ ma. Lại vì quán về lí của pháp Hộ ma nên cũng gọi là Lí hộ ma. (xt. Ngoại Hộ Ma, Hộ Ma).
nội không
Adhyātma-śŪnyatā (S)6 nội xứ (căn trong thân) không có ngã, ngã sở và các pháp.
; Empty within, i.e. no soul or self within.
; Empty within (no soul or self within).
; (內空) Phạm: Adhyàtma-zùnyatà. Một trong 18 cái không. Nội, chỉ cho 6 nội xứ: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Vì trong 6 chỗ này, không có ta, của ta, mà cũng chẳng có mắt, tai, v.v... [X. phẩm Tựa trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; luận Đại trí độ Q.31]. (xt. Thập Bát Không).
nội khất
The bhiksu monk who seeks control from within himself, i.e, by mental processes, as compared with the ngoại khất the one ăho aims at control by physical discipline, e.g. fasting etc.
; The bhiksu monk who seeks control from within himself (mental process, as compared with Ngoại Khất the one who aims at control by physical discipline such as observing moral disciplines, fasting, etc).
nội ký
Người biên chép sổ sách hay sớ trong tự viện—The clerk or the writer of petitions, or prayer in a monastery.
nội lục nhập
Xem Lục căn.
Nội lục xứ
内六處; C: nèiliùchù; J: nairokusho;|Sáu chỗ bên trong, đó là 6 giác quan (căn) và thức (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
nội ma ngoại ma
Internal demons and external demons. Nếu chúng ta để nội ma khởi dậy thì lập tức ngoại ma sẽ kéo đến phá nát công trình tu tập ngàn đời của ta—If we allow internal demons arise or spring up, external demons will immediately come to infiltrate to destroy our thousand years (lives after lives) of cultivation.
nội minh
Adhyātmatidya (S), Adhyatmavidya (S), Abhyātmavidyā (S)Chuyên tâm học hỏi giáo lý Phật. Một trong Ngũ minh của Vệ đà kinh: Thanh minh, Công xảo minh, Y phương minh, Nhân minh, Nội minh.
; Adhyàtma vidyà (S). A treatise on the inner meaning (of Buddhism), one of the ngũ minh.
; Adhyatma-vidya (skt)—Một trong ngũ minh, nói về nội giáo của Phật pháp—A treatise on the inner meaning of Buddhism.
; (內明) Phạm: Adhyàtmavidyà. Cũng gọi Nội thuật, Nội minh xứ. Một trong Ngũ minh. Chuyên tâm tư duy về giáo lí mầu nhiệm cao siêu của đức Phật, tức chỉ cho cái học thuộc về hình nhi thượng. Nhưng tín đồ Bà la môn giáo và các ngoại đạo ở Ấn độ, cũng đều gọi giáo pháp mà họ tu học là Nội minh. [X. kinh Bồ tát thiện giới Q.3; luận Du già sư địa Q.14; Đại đường tây vực kí Q.2. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.14; Đại minh tam tạng pháp số Q.24; Đại thừa pháp tướng tông danh mục Q.2]. (xt. Ngũ Minh).
nội môn chuyển
Tâm thức duyên vào pháp mà chuyển, chỉ hai thức bảy và tám trong bát thức—The psychological elements in the seventh and eighth consciousnesses (categories).
; (內門轉) Đối lại: Ngoại môn chuyển. Chuyển hóa bên trong. Nghĩa là tâm thức duyên theo pháp và lí tính trong nội tâm, có công năng nội tỉnh tự chứng, gọi là Nội môn chuyển. Trái lại, tâm thức duyên theo đối tượng bên ngoài mà khởi tác dụng, thì gọi là Ngoại môn chuyển. Trong 8 thức, thức Mạt na và thức A lại da thuộc về Nội môn chuyển, còn 5 thức trước thì chỉ duyên theo cảnh hiện tại, do đối tượng bên ngoài mà khởi tác dụng thì là Ngoại môn chuyển. Riêng ý thức thì thông cả Nội môn chuyển và Ngoại môn chuyển. [X. luận Thành duy thức Q.7].
nội ngoại
Internal and external; subjective and objective.
; Internal and external—Subjective and objective.
nội ngoại bất nhị môn
(內外不二門) Nội tâm và ngoại cảnh chẳng phải hai. Là 1 trong 10 Bất nhị môn do ngài Kinh khê Trạm nhiên thuộc tông Thiên thai thành lập. Ngài Trạm nhiên dựa vào nghĩa trí diệu và hành diệu mà bàn về lí bất nhị của nội cảnh và ngoại cảnh: Ngoại cảnh chỉ cho chúng sinh, chư Phật và y báo; Nội cảnh chỉ cho tâm của chính mình. Quán xét tướng của nội cảnh và ngoại cảnh dung hợp nhau mà chứng nhập lí Bất nhị, gọi là Nội ngoại bất nhị môn. Tức là nương vào y báo, chính báo và sắc tâm của ngoại cảnh mà quán xét tức không, tức giả, tức trung, biết rõ tất cả sắc tâm của ngoại cảnh chỉ có 1 thực tính của tâm, Phật và chúng sinh, chứ không có tính nào khác. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.14]. (xt. Thập Bất Nhị Môn).
nội ngoại không
Abhyātma-bahirdha-śŪnyatā (S), Internal-external emptiness Quán 6 căn trong, 6 cảnh ngoài, đều không có ngã cùng ngã sởLục căn trong thân và lục cảnh ngoài thân không có ngã, ngã sở và các pháp.
; Internal organ and external object are both unreal, or not material.
; 1) Khoảng không bên trong và bên ngoài. 2) Căn bên trong và trần bên ngoài đều không thật—The space inside and outside—Internal organ and external object are both unreal, or not material.
; (內外空) Phạm: Adhyaftma-bahirdhàsùnyatà. Cũng gọi Thân không, Tự thân không. Quán xét 6 căn bên trong và 6 cảnh bên ngoài đều không có cái ta và cái của ta, cũng không có pháp trong và pháp ngoài. Là 1 trong 18 thứ không. (xt. Thập Bát Không).
nội ngoại kiêm minh
Nội ngoại đều sáng. Trong ngũ minh thì bốn minh đầu là ngoại minh, minh thứ năm là nội minh—Inner and outer both “bright,” the first four of the Pancavidya are “outer” and the fifth “inner.” **For more information, please see Ngũ Minh.
; (內外兼明) Thông hiểu cả Nội minh và Ngoại minh. Trong Ngũ minh, 4 minh trước (Thanh minh, Công xảo minh, Y phương minh, Nhân minh)là Ngoại minh, minh thứ 5 là Nội minh. Trong Phật giáo, 3 tạng kinh điển là Nội minh; Bà la môn giáo thì lấy 4 luận Phệ đà làm Nội minh. [X. Đại đường tây vực kí Q.2]. (xt. Ngũ Minh).
nội ngoại mạn đồ la
(內外曼荼羅) Nội tâm mạn đồ la và Ngoại tướng mạn đồ la. Nội tâm mạn đồ la cũng gọi là Tâm trung mạn đồ la, Nội đàn, Tâm đàn. Ngoại tướng mạn đồ la cũng gọi là Tâm ngoại mạn đồ la, Ngoại đàn. Nội tâm mạn đồ la là Mạn đồ la bản địa do Đại nhật Như lai trụ ở cảnh giới tự chứng trong tâm mà nói ra; Ngoại tướng mạn đồ la là Mạn đồ la gia trì ngoài tâm do Như lai trụ ở Tam muội Đẳng chí mà thị hiện ra. Ngoài ra, vị A xà lê tu hành đã đến trình độ thâm sâu, dùng sức quán tưởng mà vẽ ra Mạn đồ la bí mật của chư Phật và Thánh chúng ở trong tâm, gọi là Nội tâm mạn đồ la. Còn vị A xà lê với trình độ tu hành nông cạn, dùng tác pháp tạo lập Mạn đồ la sự nghiệp trong 7 ngày ở ngoài tâm, thì gọi là Ngoại tướng mạn đồ la. [X. phẩm Nhập bí mật mạn đồ la vị trong kinh Đại nhật Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.16; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.54, phần cuối].
nội ngoại pháp
Bahyamdhyamaka (skt)—Các pháp bên trong và bên ngoài—External and internal dharmas. 1) Nội Pháp: Thế giới bên trong—Internal Dharmas or internal world. 2) Ngoại Pháp: Bahyabhava (skt)—Thế giới bên ngoài—External world—Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Phật tử muốn được thanh tịnh, phải tu tập bằng cách không chấp vào sự hiện hữu hay phi hiện hữu của ngoại pháp.”—In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “Buddhists who want to be purified, must not cling to the existence or non-existence of an external world.”
nội ngoại tam giáo
(內外三教) Nội tam giáo và Ngoại tam giáo. Chỉ cho Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo ở Trung quốc. Chỉ cho Thần giáo, Nho giáo và Phật giáo tại Nhật bản.
nội ngoại xá
(內外舍) Nội xả và Ngoại xả(bỏ trong, bỏ ngoài). Nội là thân thể, Ngoại chỉ cho tài sản và danh vọng. Cả 2 thứ này đều có thể đem cho người khác, nên gọi là Nội ngoại xả. Tức Nội ngoại thí trong Thập thí mà Bồ tát thực hành. (xt. Thập Thí).
nội ngoại đạo
Within and without the religion; Buddhists and non-Buddhists; also heretics within the religion.
; 1) Nội giáo và ngoại giáo: Within and without the religion—Buddhists and non-Buddhists. 2) Ngoại đạo trong nội đạo: Heretics within the religion.
; (內外道) I. Nội Ngoại Đạo. Nội đạo và Ngoại đạo. Chỉ cho Phật giáo và tất cả giáo thuyết khác ngoài Phật giáo. II. Nội Ngoại Đạo. Chỉ cho ngoại đạo trong Phật giáo, như Độc tử bộ của Tiểu thừa và Phương quảng đạo nhân của Đại thừa. Cứ theo Tịnh danh huyền luận quyển 1 và Duy ma kinh nghĩa sớ quyển 1, thì Độc tử bộ tuy chủ trương 5 uẩn do 4 đại hòa hợp mà thành, nhưng chưa thể thâm nhập pháp quán Không vô ngã, mà còn chấp có ngã, có pháp. Và Phương quảng đạo nhân thì cho rằng tất cả pháp không sinh không diệt, không có chi hết; đây là 1 loại ác thủ không, hiểu lầm ý nghĩa chân thực của Không mà rơi vào Đoạn kiến. Tông nghĩa của 2 thứ ngoại đạo này tuy đều xuất phát từ Phật pháp nhưng đều có chỗ vọng chấp(1 chấp có, 1 chấp không) nên bị coi là Phụ Phật pháp ngoại đạo(Ngoại đạo bám vào Phật pháp). Duy ma kinh lược sớ thùy dụ kí quyển 9 (Đại 38, 826 thượng) nói: Trong Đại thừa thường nêu ra 4 nhà: Một là Tì đàm, hai là Độc tử, ba là Thành thực, bốn là Phương quảng đạo nhân, trong đó, Độc tử và Phương quảng là Phụ Phật pháp ngoại đạo, tự dùng trí thông minh, đọc kinh sách Phật mà sinh kiến chấp. [X. luận Đại trí độ Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.2].
nội ngã
The antaràtman or ego within, one's own soul or self, in contrast with bahiràtman ngoại ngã, an external soul, or personal, divine ruler.
; Chấp thân tâm của mình bảo đó là thường hằng, ngược lại với ngoại ngã là chấp tự tại thiên ngoài thân, coi đó là vị chúa tể—The antaratman or ego within—One's own soul or self, in contrast with bahiratman (ngoại ngã/an external soul or personal or divine ruler).
; (內我) Đối lại: Ngoại ngã. Chỉ cho tự ngã, tức là cái chủ tể thường nhất, bất biến tồn tại trong thân tâm của chính mình và có công năng vận chuyển thân này. Phật giáo chủ trương các pháp vô ngã, cho nên phủ nhận sự tồn tại của Nội ngã và cho rằng kẻ chấp trước lí này là Nội ngã ngoại đạo, 1 trong 30 loại ngoại đạo.[X. Đại nhật kinh sớ Q.7]. (xt. Tam Thập Chủng Ngoại Đạo, Ngoại Ngã).
nội ngũ cổ ấn
(內五股印) Đối lại: Ngoại ngũ cổ ấn. Gọi đủ: Nội phược ngũ cổ ấn. Cũng gọi: Kim cương ấn. Ấn khế căn bản của bồ tát Kim cương thủ, vị chủ tôn của viện Kim cương thủ, trong Mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Ấn tướng là Hư tâm hợp chưởng(chắp 2 tay để rỗng ở giữa), 2 ngón áp út của tay trái và tay phải tréo vào nhau trong lòng bàn tay, 2 ngón cái, 2 ngón giữa, 2 ngón út đều dựng đứng và sát vào nhau, 2 ngón trỏ hơi co lại để ở lưng 2 ngón giữa và tách rời nhau. [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật Q.4, phẩm Cúng dường nghi thức kinh Đại nhật Q.7; Đại nhật kinh sớ Q.13] (xt. Ngũ Cổ Ấn).
nội ngũ pháp
(內五法) Cũng gọi Nội ngũ sự. Năm pháp phát sinh từ trong nội tâm. Theo kinh Nan đề thích thì 5 pháp ấy là: 1. Bỏ ý không tin: Đối với giáo pháp của Như lai, đệ tử Phật phải thường giữ ý chính tín, thì có thể từ đó mà vào vô lượng pháp môn; nếu có ý không tin nảy sinh thì phải trừ diệt ngay. 2. Bỏ hạnh nhơ nhớp: Đệ tử Phật phải giữ gìn giới pháp của Như lai, thường làm cho 3 nghiệp thân, khẩu, ý trong sạch, thì tất cả phiền não không làm nhiễm ô được, nếu có hành vi nhơ nhớp thì phải xả bỏ ngay.3. Bỏ tâm keo tham: Đệ tử Phật phải đem của cải và giáo pháp ban bố rộng rãi cho mọi người, thì có thể làm lợi ích cho tất cả; nếu có tâm keo tham thì phải diệt trừ ngay. 4. Bỏ tâm ngu si: Đệ tử Phật dùng tâm trítuệ để soi tỏ các pháp, thông suốt vô ngại, không để bị phiền não và nghiệp ác che lấp; nếu có tâm ngu si thì phải trừ diệt ngay.5. Phải học rộng nghe nhiều: Đệ tử Phật thường phải gần gũi bạn tốt, đối với các pháp phải học rộng nghe nhiều, thấu suốt nghĩa lí; nếu xa rời thiện tri thức, thì học vấn không được mở rộng, nghe hiểu ít ỏi, không có chỗ khai ngộ, đối với các hạnh không thể tiến tu.
Nội nhiệt
內熱; hay Nội hoả; T: tumo [gtum-mo]; S: caṇḍa, caṇḍalī;|Một trong sáu phép tu của Na-rô-pa (t: nāropa), được gọi là Na-rô lục pháp (t: nāro chodrug) tại Tây Tạng. Nhờ kiểm soát hơi thở, chú tâm vào các Trung khu (s: cakra) và tập trung vào linh ảnh của một số âm ngữ như RAṂ hoặc RAṂ (Man-tra), hành giả có thể nâng thân nhiệt lên tới mức hầu như »ngồi trong lửa.« |Phương pháp này thật ra xuất phát từ Du-già (yoga) Ấn Ðộ nhưng được phổ biến mạnh tại Tây Tạng vì, một phần nhằm đạt giác ngộ, phần khác nhằm chống lạnh.
nội nhiệt
Xem Nội hoả Tam muội.
nội nhân ngoại duyên
(內因外緣) Cũng gọi Thân nhân sơ duyên. Nhân trong duyên ngoài. Phàm là nguyên nhân bên trong trực tiếp sinh ra kết quả, gọi là Nội nhân; những nguyên nhân bên ngoài gián tiếp giúp đỡ để hình thành kết quả, thì gọi là Ngoại duyên. Như khi thụ sinh, lấy nghiệp thức của chính mình làm nội nhân và lấy tinh huyết của cha mẹ làm ngoại duyên. Còn trong môn Tịnh độ, nói 1 cách tương đối thì lấy bản nguyện của Phật làm ngoại duyên và lấy 2 hạnh định, tán hoặc tín tâm chân thực làm nội nhân vãng sinh. [X. luận Nhập a tì đạt ma Q.hạ; luận Thành duy thức Q.8; Tự phần nghĩa Quán kinh sớ; Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.3]. (xt. Nhân Quả, Nhân Duyên).
Nội phàm
内凡; C: nèifán; J: naibon;|Giai vị cao của hàng đệ tử phàm (chưa xuất gia); ngược lại, người bên ngoài chưa ngộ chính lí gọi là Ngoại phàm (外凡). Theo Tiểu thừa, giai vị nầy được gọi là Tứ thiện căn vị (四善根位). Đại thừa gọi là Tam hiền vị (三賢位).
nội phàm
The inner or higher ranks of ordinary disciples, as contrasted with the ngoại phàm lower grades; those who are on the road to liberation;
; See Phàm Phu (2) (a).
; (內凡) Đối lại: Ngoại phàm. Một trong những giai vị dưới Kiến đạo. Người tu hành Phật đạo, đối với chính lí đã phát được trí hiểu biết tương tự, gọi là Ấn Nội Ngũ Cổ Nội phàm; người chưa phát được trí hiểu biết tương tự thì gọi là Ngoại phàm. Tiểu thừa lấy giai vị Tam hiền (Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm xứ, Tổng tướng niệm xứ)làm Ngoại phàm, còn lấy giai vị Tứ thiện căn (Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp) làm Nội phàm. Đại thừa lấy giai vị Thập tín phục nhẫn làmNgoại phàm và lấy giai vị Tam hiền(Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng)làm Nội phàm. Tông Thiên thai đem 4 giáo phối hợp với các giai vị, mỗi giáo đều khác nhau. Tạng giáo được phối hợp với giai vị Tứ thiện căn: Noãn, Đính, Nhẫn và Thế đệ nhất pháp; Thông giáo được phối với Tính địa trong Đại phẩm thập địa; Biệt giáo được phối với 30 giai vị: Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng trong 52 giai vị; Viên giáo được phối với Tương tự tức trong Lục tức.[X. phẩm Trí tướng trong luận Thành thực Q.15; Đại thừa nghĩa chương Q.17, 18; Tứ giáo nghĩa Q.2, 4, 5; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1, phần 5; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng, hạ].
nội pháp
Buddhism, as contrasted with other religions.
; Buddhism, in contrast with other religions (Ngoại pháp).
; (內法) Cũng gọi Nội giáo, Nội đạo, Nội học, Nội minh. Chỉ cho Phật pháp.
nội phật
(內佛) Cũng gọi Trì Phật. Tức thờ đức Phật bản tôn ở chính giữa bàn Phật, còn 2 bên hoặc ở dưới thờ bài vị của tổ tiên nhiều đời của gia đình.
nội phọc quyền
(內縛拳) Cũng gọi Nhị thủ quyền, Nội chưởng quyền. Quyền ấn thứ 4 trong 6 quyền ấn. Tướng ấn là: Nắm 2 tay, 10 ngón giao nhau trong lòng bàn tay. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13]. (xt. Lục Chủng Quyền Ấn).
nội quyến thuộc
(內眷屬) Đối lại: Đại quyến thuộc, Ngoại quyến thuộc. Quyến thuộc bên trong. Tức là những vị thường theo hầu bên cạnh chư Phật. Trái lại, những vị giúp đỡ việc giáo hóa lớn lao bên ngoài thì gọi là Đại quyến thuộc. Như khi đức Thích ca tu khổ hạnh thì có 5 người theo hầu, khi đắc đạo thì Di hỉ, La đà, Tu na sát đa la, A nan, lực sĩ Mật tích... là những Nội quyến thuộc của Ngài; còn các bậc Thánh như Xá lợi phất, Mục kiền liên, Ma ha Ca diếp, Tu bồ đề, Văn thù sư lợi, Di lặc... thì là những vị Đại quyến thuộc. Ngoài ra, trong Mật giáo, đức Đại nhật Như lai lấy 19 vị Chấp kim cương như Hư không vô cấu Chấp kim cương... làm Nội quyến thuộc, lấy 4 vị Bồ tát như Văn thù, Phổ hiền... làm Đại quyến thuộc của Ngài. Còn ngài Thiện đạo thì lấy hàng xuất gia làm Nội quyến thuộc, hàng tại gia làm Ngoại quyến thuộc; lấy đệ tử Phật làm Nội quyến thuộc và lấy chú, bác của đức Phật làm Ngoại quyến thuộc. [X. phẩm Tựa trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; luận Đại trí độ Q.33; Đại nhật kinh sớ Q.1; Tự phần nghĩa trong Quán Vô lượng thọ kinh sớ].
nội quán
Xem minh sát tuệ.
; (內觀) Phạm: Vipazyanà. Hán âm: Tì bà xá na, Tì bà già na. Sự quán xét không hướng ra bên ngoài để tìm cầu mà lắng sâu và tỉnh thức từ bên trong, khiến cho nội tâm hướng tới chân lí. Đây là sự tu hành thực tiễn và phổ thông trong Phật giáo. Nội quán cùng với các từ ngữ như tu quán, quán tâm, quán niệm, quán tưởng, quán hành... đại khái giống nhau, nhưng thực chất thì có điểm khác nhau. Quán nguyên ý là buộc tâm vào 1 đối tượng duy nhất, dùng trí tuệ quán xét đối tượng ấy hầu đạt đến khai ngộ. Theo kinh Đại bát niết bàn quyển 30 (bản Bắc) thì Tì bà xá na (nội quán) được gọi là Chính kiến, Liễu kiến, Năng kiến, Biến kiến, Thứ đệ kiến, Biệt tướng kiến, tức chỉ cho tuệ. [X. luận Đại thừa khởi tín; luận Tịnh độ Q.hạ; Tịnh độ luận chú Q.hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.10].
nội quán thiền
Xem minh sát tuệ.
nội sứ
The clerk or writer of petitions.
nội thai
The inner garbadhàtu, i.e. the eight objects in the eight leaves in the central group of the mandala.
; Bên trong thai tạng giới hay là tám vật trong tám cánh hoa ở trung tâm của mạn đà la—The inner Garbhadhatu or the eight objects in the eight leaves in the central group of the mandala.
; (內胎) Chỉ cho viện Trung đài bát diệp ở chính giữa Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Đại nhật kinh sớ quyển 14 (Đại 39, 727 thượng) nói: Đầu là Nội thai, từ tim trở lên là viện thứ nhất, từ rốn trở lên là viện thứ hai và từ rốn trở xuống là viện thứ ba.
nội thức
Internal perception, idem tâm thức.
; Tâm thức đối với ngoại cảnh—Internal perception.
nội trai
(內齋) Trai soạn được thiết trí trong cung vua. Tại Trung quốc, vào ngày sinh nhật của Hoàng đế, các bậc cao tăng được triệu thỉnh vào nội điện thụ trai để cầu phúc thọ cho vua. Phong tục này khởi đầu từ đời Hậu Ngụy. [X. Đại tống tăng sử lược].
nội triền
Inner tangle (network of craving).
nội trần
The inner, or sixth trần guna associated with mind, in contrast with the other five gunas, qualities or attributes of the visible, audible, etc,
; Sắc, thanh, hương, vị, xúc đối với ngũ căn là ngoại trần, còn pháp sanh diệt đối với ý căn là nội trần, cũng gọi là pháp trần.
; Antar-guna or Antar-alambana (skt)—Inner mental objects—Nội trần là những pháp sở duyên với ý thức (mind consciousness), còn pháp sở duyên với năm thức là ngoại trần—The inner six gunas (the inner dusts), associated with mind, in contrast with the other five gunas, qualities or attributes of the visible, audible, etc.
; (內塵) Đối lại: Ngoại trần. Trần (bụi) bên trong. Trong 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)thì 5 trần trước là đối tượng của 5 thức trước (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) duyên theo, gọi là Ngoại trần(bụi bặm bên ngoài), còn Pháp trần là đối tượng của ý thức duyên theo; vì duyên theo ở bên trong, nên gọi là Nội trần.
nội trận
Phần trước bàn thờ nơi chư Tăng ngồi làm lễ—The inner ranks, the part of the altar where the monks sit.
; (內陣) Cũng gọi Nội trần. Đối lại: Ngoại trận. Chỉ cho chỗ chính giữa của Phật đường hoặc của bức tranh biến tướng, nơi đặt tượng bản tôn. Bên ngoài nơi này trở ra gọi là Ngoại trận. Lại nữa, chỗ ngồi của chúng tăng ở trong điện Phật cũng chia ra nội và ngoại, phía trong là Nội trận, phía ngoài là Ngoại trận. (xt. Ngoại Trận).
Nội trị
(內治): có mấy nghĩa. (1) Xưa kia chỉ cho việc tiến hành giáo dục đối với phụ nữ. (2) Chính trị trong nước. Như trong Quản Tử (管子), phần Bát Quán (八觀), có đoạn: “Hào kiệt thôn nhân, bất vụ kiệt năng, tắc nội trị bất biệt hỉ (豪桀材人、不務竭能、則內治不別矣, người hào kiệt trong thôn, không siêng năng tận hết năng lực, thì chính trị trong nước chẳng gì khác lạ cả).” (3) Chỉ việc nhà. Như trong bài Tiên Du Huyện Thái Quân La Thị Mộ Chí Minh (仙游縣太君羅氏墓志銘) của Vương An Thạch (王安石, 1021-1086) nhà Tống có câu: “Kinh kỷ nội trị, năng cần bất giải (經紀內治、能勤不懈, chăm lo việc nhà, siêng năng không biếng).” (4) Tu thân, hứa hẹn sửa đổi tự thân. Như trong Liệt Nữ Truyện (列女傳), phần Hữu Ngu Nhị Phi (有虞二妃), của Lưu Hướng (劉向, 77-6 ttl.) nhà Hán có đoạn: “Mẫu tằng Thuấn nhi ái Tượng, Thuấn do nội trị, mĩ hữu gian ý (母憎舜而愛象、舜猶內治、靡有姦意, mẹ ghét Thuấn mà thương Tượng, Thuấn còn biết tu thân, không có ý gian xảo).”
nội tâm
The mind or heart within.
; Insight—The mind or heart within.
; (內心) Tâm bên trong. Vì đối lại với ngoại hình nên gọi là Nội tâm. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 2 (Đại 17, 7 hạ) nói: Nội tâm suy nghĩ thuận theo chính pháp.
nội tâm mạn đà la
The central heart mandala of the Đại nhật kinh, or the central throne in the diamond-realm lotus to which it refers.
; Bí Mật Mạn Đà La—Mạn Đà La trung tâm trong kinh Đại Nhựt hay là Trung Tòa trong Kim Cang Liên Hoa Giới—The central heart madala of the Vairocana Sutra, or the central throne in the diamond realm lotus.
nội tâm đại liên hoa
The red lotus used in the Đại nhật kinh as its emblem.
nội tình
Hoàn cảnh hay tình hình bên trong—Internal situation.
nội túc thực
Food that has been kept overnight in a monastic bedroom and is therefore one of the "unclean" food.
; Thực phẩm dành cho các vị Tỳ Kheo, để qua một đêm trong phòng thì gọi là nội túc thực, do đó là một trong những món ăn bất tịnh, Tỳ Kheo không được ăn—Food that has been kept overnight in a monastic bedroom and is therefore one of the unclean foods.
; (內宿食) Chỉ cho thức ăn để trong phòng của tỉ khưu qua 1 đêm, là vật bất tịnh, tỉ khưu không được ăn.
nội tề
See Nội Tự.
nội tứ cung dưỡng
(內四供養) Cũng gọi: Nội tứ cúng, Nội cúng dường, Nội cúng. Đối lại: Ngoại tứ cúng dường. Bốn cúng dường ở viện trong. Tức chỉ cho 4 bồ tát Hí, Man, Ca, Vũ ở 4 góc của viện Kim cương luân trong Mạn đồ la Kim cương giới, Mật giáo. Bốn vị Bồ tát này là từ trong tâm của đức Đại nhật Như lai ở trung ương lưu xuất để cúng dường 4 đức Phật. Theo Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu, thì bồ tát Kim cương Hí cúng dường đức Phật A súc (Bất động)ở phương đông; bồ tát Kim cương Man cúng dường đức Phật Bảo sinh ở phương nam; bồ tát Kim cương Ca cúng dường đức Phật A di đà ở phương tây; bồ tát Kim cương Vũ cúng dường đức Phật Bất không thành tựu ở phương bắc. Bốn vị Bồ tát này ở trong nguyệt luân bên trái Mạn đồ la của 4 đức Phật. Theo Bí tạng kí thì bồ tát Kim cương Hí mình màu đen; bồ tát Kim cương Man thân màu vàng lợt; bồ tát Kim cương Ca màu da người và bồ tát Kim cương Vũ màu xanh. Đây là pháp tắc chung của hình tượng 4 bồ tát Cúng dường trong Hiện đồ Mạn đồ la. Nhưng Mạn đồ la của hội Lí thú thì theo thuyết của kinh Tối thượng căn bản đại lạc kim cương bất không tam muội đại giáo vương quyển 3 mà đặt Nội tứ cúng ở Ngoại viện.[X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2]. (xt. Ngoại Tứ Cúng Dường).
nội tự
Nội Đạo Tràng—Tháp Phật hay tự viện trong cung, nơi chư Tăng tề tựu về hành lễ trong ngày sanh nhật của nhà vua—The Buddhist shrines or temples in the palace where Buddhist ceremonies in the palace on the emperor's birthday.
nội viện
The inner court - of the Tusita heaven, where Maitreya dwells and preaches; also thiện pháp đường.
; Thiện pháp đường hay nội đường của cung Trời Đâu Suất, nơi Phật Di Lặc ngồi thuyết giảng—The inner court of the Tusita heaven, where Maitreya dwells and preaches.
; (內院) Viện trong, 1 trong 2 viện ở trên cung trời Đâu suất. Trời Đâu suất là tầng trời thứ 4 trong 6 tầng trời của cõi Dục; tầng trời này có Nội viện và Ngoại viện. Nội viện gọi là Thiện pháp đường, do thần Lao độ bạt đề kiến tạo, là nơi ở của bồ tát Bổ xứ Di lặc, chư Thiên thường đến đây nghe Bồ tát thuyết pháp. [X. kinh Quán Di lặc thướng sinh Đâu suất thiên; kinh Phổ diệu Q.1]. (xt. Đâu Suất Thiên).
nội vô vi
Inner quiescence, of the six diệu môn.
; Inner quiescence.
nội xá
(內舍) Bỏ bên trong, tức xả bỏ nhục thân của mình để bố thí cho người. Là Nội thí trong Thập thí của Bồ tát. Quán Vô lượng thọ kinh sớ quyển 4 (Đại 37, 273 hạ) nói: Lại nghĩ về giới của chư Phật, nghĩ về chư Phật quá khứ, các Bồ tát ở hiện tại... thường làm những việc khó làm, bỏ được những cái khó bỏ, bỏ trong, bỏ ngoài, trong ngoài đều bỏ. Các vị Bồ tát ấy, chỉ nghĩ đến pháp, chứ không tiếc thân mệnh và tài sản. (xt. Thập Thí).
nội y
xem ba tấm pháp y.
; Antaravāsaka (S), Inner garment (S, P)An đà hội, Xem An đà hội.
; Antaravàsaka (S). One of the three regulation garments of a monk, the inner garment.
; Antaravasaka (skt)—Một trong ba loại y mà chư Tăng Ni thường mặc bên trong—One of the three regulation garments of a monk—The inner garment.
nội đan
Nei-tan (C), Inner Alchemy.
nội điển
Buddhist scripture; cf. ngoại điển non-Buddhist scripture. There are also divisions of internal and external in Buddhist scripture.
; Giáo điển của Phật—Buddhist scriptures.
; (內典) Cũng gọi Nội kinh, Nội giáo. Chỉ cho kinh luật luận và các sách vở của Phật giáo. Trái lại, các sách vở ngoài Phật giáo thì gọi là Ngoại điển. Luận Nhị giáo của ngài Đạo an (Đại 52, 136 hạ) nói: Giáo pháp cứu hình gọi là Ngoại giáo, kinh điển tế thần thì gọi là Nội điển. Từ Nội điển được dùng làm tên sách thì có: Nội điển bác yếu của Ngu hiếu kính đời Lương thuộc Nam triều; Đại đường nội điển lục của ngài Đạo tuyên đời Đường... [X. Bách luận sớ Q.trung, phần cuối; Quảng hoằng minh tập Q.19, 22; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.14; Hoa nghiêm nguyên nhân luận giải Q.thượng].
nội điển lục
(內典錄) Gọi đủ: Đại đường nội điển lục. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 55. (xt. Đại Đường Nội Điển Lục).
nội điển trần lộ chương
(內典塵露章) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Ngưng nhiên, người Nhật bản soạn, được thu vào Đại Nhật bản Phật giáo toàn thư quyển 3. Nội dung sách này nói đại khái về giáo nghĩa của 10 tông phái Phật giáo Nhật bản (6 tông Nam đô và 4 tông Thiên thai, Chân ngôn, Tịnh độ và Thiền). Sách này và Bát tông cương yếu đều là các sách nhập môn quan trọng của Phật giáo.
nội đạo
(內道) Đối lại: Ngoại đạo. Để đối lại với các giáo môn khác, Phật giáo gọi giáo pháp của mình là Nội đạo. Về vấn đề phân biệt Nội đạo và Ngoại đạo có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 17 (bản Bắc) thì đạo có 2 loại là Thường và Vô thường. Đạo của Nội đạo gọi là Thường, đạo của Ngoại đạo gọi là Vô thường. Cũng kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 35 nói rằng Phật tính tức là Nội đạo, vì Bồ tát dù tu tập ngoại đạo trong vô lượng kiếp, nhưng nếu lìa nội đạo thì không thể thành Vô thượng chính đẳng chính giác. Lại theo luận Nhị giáo của ngài Đạo an thì giáo pháp cứu thân hình gọi là Ngoại, giáo pháp cứu tinh thần gọi là Nội; Phật giáo là Nội, Nho giáo là Ngoại. Thông thường, Phật giáo dùng 3 pháp ấn các hành vô thường, các pháp vô ngã, Niết bàn tịch tĩnh để phân biệt Nội đạo và Ngoại đạo. Tuy nhiên, Đại thừa vô tướng thì không hạn cuộc ở trong thuyết này, như Thập nhị môn luận sớ cho rằng đạo không nội, ngoại, tùy theo đạo của người thực hành mà phân biệt nội, ngoại; tức đứng trên lập trường Trung đạo thì không chấp trước tướng sai biệt nội ngoại, nhất dị.
nội đạo tràng
See Nội Tự.
nội đạo trường
A place for Buddhist worship in the palace.
; (內道場) Cũng gọi Nội tự. Chỉ cho đạo tràng của Đại nội, tức là nơi tu hành Phật đạo được thiết lập trong cung vua. Về niên đại loại đạo tràng này bắt đầu được thiết lập thì có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo điều Đế kỉ thứ 9 trong Tấn thư, vào năm Thái nguyên thứ 6 (381) đời Hiếu vũ đế nhà Đông Tấn, vua xây cất tinh xá trong cung, thỉnh các vị sa môn vào làm các Phật sự. Theo điều Lương thiên giám thập lục niên (517) trong Phật tổ thống kỉ quyển 37, Lương vũ đế sắc lệnh sa môn Tuệ siêu làm Thọ quang điện học sĩ, triệu chúng tăng vào ở trong cung cấm giảng luận Pháp tập, giải thích kinh văn (dưới điều này ghi chú rằng: Đây là Nội đạo tràng đầu tiên). Còn theo Đại Tống tăng sử lược quyển trung thì Nội đạo tràng bắt đầu từ đời Hậu Ngụy, đến thời Dượng đế nhà Tùy mới có tên là Nội đạo tràng. Đại Tống tăng sử lược quyển trung cũng cho rằng, Vũ tắc thiên nhà Đường từng thiết lập Nội đạo tràng trong cung ở Lạc dương, đến các Hoàng đế Trung tông, Duệ tông vẫn giữ nguyên. Thời Đại tông thường triệu hơn trăm vị tăng vào cung thiết trí bàn thờ Phật để tụng niệm kinh điển và gọi là Nội đạo tràng. Tóm lại, Nội đạo tràng bắt đầu được thiết lập từ đời Đông Tấn trải qua các đời Tùy, Đường, Bắc Tống, đến đời Nam Tống thì được đặt dưới sự quản chưởng của viện Truyền pháp. [X. điều Bắc Tề thiên thống nguyên niên trong Phật tổ lịch đại thông tải Q.11; truyện Nghĩa tịnh trong Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Phật tổ thống kỉ Q.43; Tục cao tăng truyện Q.12; Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q.thượng; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Đường thư liệt truyện 70].
nội đẳng tịnh
(內等淨) Gọi tắt: Nội tịnh. Chỉ cho chi thứ nhất trong 4 chi thuộc Đệ nhị tĩnh lự. Chi này lấy Tín căn làm thể. Luận Câu xá quyển 28 nêu ra 2 thuyết về Nội đẳng tịnh: 1. Thuyết của các dị sư thuộc Hữu bộ: Đệ nhị tĩnh lự xa lìa sự khởi động của Tầm, Tứ, biến chuyển liên tục và thanh tịnh. Trái lại, nếu có Tầm, Tứ khởi động thì chuyển biến liên tục và không thanh tịnh, như trong sông có sóng thì dòng nước không tĩnh lặng. 2. Thuyết của các sư chính thống thuộc Hữu bộ: Nội đẳng tịnh lấy Tín căn làm thể, chứng được Đệ nhị tĩnh lự thì xa lìa sự ô nhiễm của Sơ định mà phát sinh niềm tin đối với định địa, xa lìa sự thô động bên ngoài, chuyển biến bên trong, niệm trước niệm sau nối nhau liên tục. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.19; luận A tì đạt ma tập Q.9; Pháp giới thứ đệ Q.thượng].
nới
To loosen.
nới rộng
To broaden.
nợ lút đầu
Deep in debt—Sunk in debt.
nợ nhà
Duty towards one's family
nợ nước
Duty towards one's country
nợ nần
Dents.
nợ đời
Debt of nature.
nức danh
Very famous.
nức lòng
Enthusiastic.
nứt
A crack.
nửa
Half.
nửa chín nửa sống
Half-cooked.
nửa thức nửa ngủ
Drowsy
nửa tỉnh nửa mê
Semi-consciousness
nửa tối nửa sáng
Half-light
nửa đùa nửa thật
Half in jest, half in earnest
nửa đường
Half way.
nữ
Women, female, girl, maid.
; Woman—Female.
nữ bịnh
1) Người nữ như một căn bệnh: Woman as a disease. 2) Bệnh của người nữ: Bệnh đàn bà—Feminine disease.
nữ căn
bộ phận sanh dục nữ.
; Yoni (S). The female sex-organ.
; Yoni (skt)—Bộ phận sinh dục của người nữ—The female sex-organ.
; (女根) Phạm: Strìndriya#. Chỉ cho cơ quan sinh dục của phái nữ, 1 trong 22 căn, 1 trong Ngũ tác căn. Cứ theo luận Du già sư địa thì trong 3 cõi, chỉ người cõi Dục mới có căn này, còn người cõi Sắc và cõi Vô sắc thì đều không có. (xt. Nhị Thập Nhị Căn).
nữ cư sĩ
Xem Ưu bà di.
; Upàsaki (S) Lay woman who devotes herself to Buddhism; lay adherent.
; Upasika (skt)—Nữ Phật tử tại gia phụng sự Phật giáo mà không trở thành ni cô—Laywomen—A lay woman who devotes herself to Buddhism at home without becoming a nun.
nữ giới
The fair, female sex; woman's world.
nữ huấn
Woman's education.
nữ hạnh
Feminine virtues; feminine behaviour.
; Feminine virtue.
nữ kiệt
Heroine.
Nữ Ngự
(女御, Nyogo): (1) Tên gọi của vị nữ quan có chức vị quan nhất trong số những người hầu tại tẩm cung của Thiên Hoàng; từ thời Bình An trở đi, cũng có trường hợp vị Nữ Ngự này được lập lên làm Hoàng Hậu. (2) Vợ của Thượng Hoàng hay Hoàng Thái Tử.
nữ nhân
Woman, described in the Nirvàna sùtra, Niết bàn kinh 9 as "the abode of all evil".
; 1) Người nữ: Woman. 2) Theo Kinh Niết Bàn thì Phật nói đó là nơi cư trú của chư ác: According to the Nirvana Sutra, the Buddha described Woman as the “abode of all evil.”
nữ nhân bái
Lối chào của người nữ—A woman's salutation, greeting, or obeisance: 1) Đứng vái: performed by standing. 2) Nhún gối: Bending the knees. 3) Để hai tay trước ngực và hơi cúi mình: Putting hands together before the breast and bending the body.
; (女人拜) Cách lễ bái của người nữ. Tại Trung quốc từ xưa đến nay, cách lễ bái của người nữ phần nhiều là đứng mà vái, hoặc 2 tay để trước ngực, hơi cúi mình, hoặc 2 đầu gối quì trên đất mà không cúi đầu. Chương Nam Tuyền Phổ nguyện trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 (Đại 51, 258 thượng) ghi: Sư và các ngài Qui tông, Ma cốc cùng đi tham lễ Quốc sư Nam dương, sư vẽ 1 vòng tròn trên đường rồi bảo: Hễ nói được thì đi!. Ngài Qui tông liền vào ngồi ở giữa vòng tròn, còn ngài Ma cốc thì đứng vái như người nữ(Nữ nhân bái). Sư nói: Vậy thì không đi nữa!.
nữ nhân bát dục
Tám loại mà người nữ ưa thích—The eight feminine attractions: 1) Sáu dục đầu cũng giống như trong Nữ Nhân Lục Dục—See Nữ Nhân Lục Dục—From one to six are the same to that of the Six Feminine Attractions. 7) Tế hoạt dục: Attraction to Refinement. 8) Nhân tướng dục: attraction to Appearance.
nữ nhân cấm chế
Tại một vài nơi thờ phượng có bảng cấm Phụ nữ đến—“Women forbidden to approach,” a sign placed on certain altars.
; (女人禁制) Điều qui định ngăn cấm người nữ đi vào đạo tràng. Vì đối với sự tu hành của chúng tăng, nữ tính thường hay làm chướng ngại nên cấm người nữ vào đạo tràng. Trong các kinh rất nhiều chỗ ghi người nữ có các chướng ngại bất lợi cho việc tu hành, vì thế qui định chư tăng không được gần gũi nữ giới. Ở Trung quốc và Nhật bản đều có qui định cấm phụ nữ không được vào phòng của chúng tăng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.27; kinh Siêu nhật minh tam muội Q.hạ; kinh Nguyệt đăng tam muội Q.7; luận Đại trí độ Q.14].
nữ nhân lục dục
The six feminine attractions; eight are given, but the sixth and eighth are considered to be included in the others: colour, looks, style, carriage, talk, voice, refinement, and appearance.
; Sáu loại dục mà người nữ ưa thích—The six feminine attractions: 1) Sắc dục: Attraction to Colour. 2) Hình mạo dục: Attraction to Looks. 3) Uy nghi dục: Attraction to Style. 4) Ngôn ngữ dục: Attraction to Talk. 5) Âm thanh dục: Attraction to Voice. 6) Hình thái dục: Attraction to Carriage.
nữ nhân quyến thuộc luận sư
Một trong 20 phái ngoại đạo cho rằng Ma Hê Thủ La Thiên tạo ra người nữ đầu tiên, rồi vị nầy sanh ra hết thảy chúng sanh—One of the twenty heretical sects, who held that Mahesvara created the first woman, who begot all creatures.
; (女人眷屬論師) Một trong 20 loại ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa.Ngoại đạo này cho rằng 8 người con gái do trời Ma hê thủ la sinh ra là thực tại thường trụ và là những người sáng tạo ra vũ trụ vạn hữu. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 8 thì ngoại đạo Đại tự tại thiên chủ trương, từ nơi tâm của Đại phạm thiên vương sinh ra 8 người con, rồi lại từ 8 người con ấy mà sinh ra trời đất, muôn vật. Những ngoại đạonày cho rằng Phạm thiên, Na la diên và Ma hê thủ la là 3 phần 1 thể, cho nên từPhạm thiên sinh ra 8 con, từ Ma hê thủ la sinh ra 8 con gái. Tám người con gái này là: A đề trí (Phạm:Aditi); Đề trí (Phạm: Diti); Tô la sa (Phạm: Surasà); Tì na đa (Phạm:Vinatà), Ca tì la (Phạm: Kapilà), Ma nâu (Phạm:Manu); I la (Phạm:Ila) và Ca đầu Phạm:Kadrù). Lại theo thứ tự sinh ra các trời, a tu la, rồng, chim, loài 4 chân, người, ngũ cốc, rắn, rết, muỗi, mòng và các loài côn trùng... Thuyết này là dựa trên cơ sở của thuyết Thiên địa sáng tạo trong 2 tác phẩm Sử thi lớn của Ấn độ cổ đại là Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata) và La ma da na (Phạm: Ràmàyaịa). Ngoài ra, theo luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn, thì các Luận sư Ma hê thủ la vọng chấp rằng hư không là đầu của Ma hê thủ la, đất là mình, nước là nước tiểu, núi là phân, tất cả chúng sinh là sâu bọ trong bụng... của Ma hê thủ la! [X. luận Đại trí độ Q.2, Epic Mythology by E.W. Hopkins].
nữ nhân vãng sanh nguyện
Lời nguyện thứ 35 trong 48 lời nguyện của Phật A Di Đà—The thirty-fifth vow of Amitabha Buddha—See Tứ Thập Bát Nguyện (35).
nữ nhân vãng sinh
(女人往生) Cũng gọi Nữ nhân thành Phật. Chỉ cho người nữ vãng sinh Tịnh độ hoặc chuyển thân nam mà thành Phật. Địa vị người nữ ở Ấn độ đời xưa rất thấp, bị cho là có 5 chướng không được làm Phạm thiên vương, Đế thích, Ma vương, Chuyển luân vương và Phật. Quan niệm này trái ngược với tư tưởng của Phật giáo Đại thừa chủ trương hết thảy chúng sinh đều có khả năng thành Phật, cho nên trong kinh mới có thuyết người nữ có thể chuyển thân nam mà thành Phật. Như con gái vua A xà thế là A thuật đạt, phát nguyện Bồ đề, chuyển thân nam mà được thụ kí thành Phật trong vị lai. Lại như con gái của trưởng giả Ưu ca nước La duyệt kì là nàng Tu ma đề, chuyển thân nữ làm sa di, được thụ kí thành Phật. Trong kinh Pháp hoa cũng có ghi chuyện Long nữ thành Phật. Về thuyết Nữ nhân vãng sinh thì trong kinh Vô lượng thọ có đề cập đến nguyện thứ 35 của đức Phật A di đà nói rằng: Nếu người nữ nghe danh hiệu Di đà mà vui mừng, tin nhận và phát nguyện vãng sinh Tịnh độ, thì có thể chuyển thành thân nam. Đây chính là căn cứ của thuyết Nữ nhân vãng sinh vậy. Lại kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn quyển 30 cũng có nói: Nếu tỉ khưu, tỉ khưu ni, tộc tính nam, tộc tính nữ... trì niệm chân ngôn tùy tâm cúng dường thì đều có thể sinh về Tịnh độ ở phương tây. Ngoài ra, trong kinh Quán Vô lượng thọ, phu nhân Vi đề hi là đối tượng chính được chỉ dạy về pháp môn Niệm Phật vãng sinh. [X. kinh Pháp hoa Q.5; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Pháp hoa văn cú Q.23]. (xt. Long Nữ Thành Phật).
nữ nhân vãng sinh nguyện
The thirty-fifth vow of Amitàbha that he will refuse to enter into his final joy until every woman who calls on his name rejoyces in enlightenment and who, hating her woman's body, has ceased to be reborn as a woman.
; (女人往生願) Chỉ cho nguyện thứ 35 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Kinh Vô lượng thọ (Đại 12, 268 hạ) nói: Nếu tôi thành Phật, trong vô lượng bất khả tư nghị thế giới của chư Phật ở 10 phương, người nữ nào nghe danh hiệu của tôi mà vui mừng, tin ưa, phát tâm bồ đề, nhàm chán thân nữ, sau khi mệnh chung, lại làm thân nữ, thì tôi không ở ngôi chính giác.
nữ oa
Nu-kua (C)Vợ vua Phục Hy. Xem Phục Hy.
nữ phạm
The woman offence—Sexual immortality on the part of a monk.
; (女犯) Chỉ cho vị tăng phạm giới với người nữ. Ngự truyện sao quyển thượng (Đại 83, 750 hạ) nói: Nếu như hành giả vì quả báo đời trước mà phạm giới dâm (nữ phạm) thì tôi thành thân ngọc nữ bị phạm, suốt đời trong trắng trang nghiêm, khi lâm chung dắt dẫn hành giả sinh về Cực lạc.
nữ quốc
Vương quốc Nữ nơi chánh quyền Mẫu Hệ chiếm ưu thế—The woman-kingdom, where matriarchal government is said to have prevailed.
nữ sắc
Female beauty; venery, lust.
; Woman beauty. 1) Đức Phật dạy nữ sắc là một chuỗi phiền não, một tai ương phiền muộn.”—The Buddha said: “Woman beauty is a chain of serious delusion, a grievous calamity.” 2) Theo Trí Độ Luận, thà dùng sắt nóng đốt cháy đôi mắt còn hơn là ngắm nhìn người nữ với trái tim rung động—According to the sastra on the Prajna-Paramita-Sutra, it is better to burn out the eyes with a red-hot iron than behold woman with unsteady heart.
nữ thiên
Xem Thiên nữ.
; Devi (S). Female devas in the desire-realm. In and above the Brahmalokas sắc giới they do not exist.
; Thiên nhân nữ tính trong Dục giới; tuy nhiên, không có nữ thiên trong cõi sắc và vô sắc—Female devas in the desire realm; however, there are no female devas in the realms of form and formlessness.
nữ thần
Devakanyā (S), Goddess Devi (S)Nữ thần. Nam thần gọi là Deva.
; Goddess.
nữ thần bình minh
Usa (S).
nữ thủy thần
Xem Thủy thiên hậu.
nữ toả
(女鎖) Tỏa là cái khóa. Nữ tỏa chỉ cho nữ sắc. Vì nhan sắc của người nữ giống như gông cùm, xiềng xích, trói buộc con người, khiến họ say đắm khó gỡ ra được. Luận Đại trí độ quyển 14 (Đại 25, 166 thượng) nói: Xiềng xích người nữ trói buộc, gốc nhiễm bền chắc sâu đậm; kẻ không có trí chìm đắm, khó có thể thoát ra được.
nữ tình
Sexual desire.
nữ tính
Femaleness.
nữ tăng
A nun, or tỳ khưu ni bhiksunì, which is abbreviated to ni.
; Ni Cô hay Ni Sư—A Nun or Bhiksuni.
nữ tướng
Feminine appearance.
nữ tặc
Woman the robber, as the cause of sexual passion, stealing away the riches of religion.
; According to the Sastra on the Prajna-Paramita Sutra, woman as a robber, the cause of sexual passion, stealing away the riches of religion.
; (女賊) Giặc đàn bà. Người nữ là nguồn gốc của ái chấp, hay cướp pháp tài, chướng ngại tâm người cầu đạo, cho nên dùng giặc để ví dụ. Luận Đại trí độ quyển 14 (Đại 25, 166 thượng) nói: Cầm gươm đánh địch, có thể chiến thắng; giặc nữ hại người, không thể chống cự.
nữ tỏa
Woman as chain, or lock, the binding power of sex.
nữ tử lục dục
(女子六欲) Chỉ cho 6 thứ dục vọng mà người nữ mong cầu. Đó là: Sắc dục, Hình mạo dục, Uy nghi dục, Tư thái dục, Ngôn ngữ dục và Tế hoạt dục. [X. luận Đại trí độ Q.22; Ma ha chỉ quán Q.6, phần 1].
nữ tử ngũ chướng
(女子五障) Năm điều chướng ngại của người nữ. Theo kinh Pháp hoa quyển 4 thì 5 chướng ấy là: 1. Không được làm Phạm thiên vương: Phạm thiên ở nhân vị (giai vị tu nhân)tu trì thiện giới, được quả báo thù thắng mà làm Thiên vương, nếu thân người nữ đắm nhiễm dục ái thì không được làm Thiên vương. 2. Không được làm Đế thích: Trời Đế thích dũng mãnh, ít tham muốn, giữ gìn thiện giới, được quả báo làm Thiên chủ. Nếu người nữ tạp nhiễm, đa dục, thì không làm được Đế thích. 3. Không được làm Ma vương: Ma vương ở nhân vị đầy đủ 10 điều thiện, tôn kính Tam bảo, hiếu dưỡng cha mẹ, được quả báo sinh lên cõi trời Tha hóa tự tại làm Ma vương. Nếu người nữ kiêu mạn ghen ghét, không theo chính hạnh, thì không được làm Ma vương. 4. Không được làm Chuyển luân thánh vương: Chuyển luân thánh vương ở nhân vị tu hành Thập thiện, thương xót chúng sinh, được phúc báo làm Luân vương. Nếu người nữ không có hạnh từ bi thanh tịnh thì không được làm Luân vương. 5. Không được làm Phật: Như lai tu đạo Bồ tát, thương xót tất cả, tâm không nhiễm trước, nên được thành Phật. Nếu thân khẩu ý của người nữ bị dục tình trói buộc, thì không được làm Phật.
nữ tử xuất định
The story of a woman named Ly Ý who was so deeply in samàdhi before the Buddha that Manjusri could not arouse her; she could only be aroused by a bodhisattva who has sloughed off the skandhas and attained enlightenment.
; Chuyện nàng Ly-Ý nhập định Tam Muội ở gần tòa Phật mà ngài Văn Thù không thể đánh thức dậy được; người nầy chỉ có thể bị đánh thức dậy bởi một vị Bồ tát đã lột bỏ được ngũ uẩn và thành đạt giác ngộ Bồ Đề mà thôi—The story of a woman named Li-I who was so deeply in samadhi before the Buddha that Manjusri could not arouse her; she could only be aroused by a bodhisattva who has sloughed off the skandhas and attained enlightenment.
; (女子出定) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cứ theo kinh Chư Phật yếu tập quyển hạ, thủa xưa, nàng Li ý nữ vào thiền định trước đức Thế tôn, bồ tát Văn thù tuy là thầy của 7 đức Phật quá khứ, nhưng không thể ngồi gần đức Phật. Ngài Văn thù dùng thần lực khiến Li ý nữ xuất định để hỏi, nhưng không được. Còn bồ tát Võng minh (bồ tát Khí chư ấm cái) thì chỉ là bồ tát Sơ địa (Hoan hỉ địa) nhưng vừa khảy móng tay là Li ý nữ xuất định ngay. Thiền tông bèn dùng câu chuyện này làm công án tham cứu. Vì ngài Văn thù dùng kiến giải nam nữ sai khác muốn Li ý nữ xuất định nên không được; còn bồ tát Võng minh thì đứng trên cảnh Thiên địa nhất thể, khuếch nhiên vô thánh, cho nên chỉ khảy móng tay mà Li ý nữ đã xuất định. [X. kinh Chư Phật yếu tập Q.hạ, Ngũ đăng hội nguyên Q.1; Vô môn quan tắc 42].
nữ tỳ kheo
Xem Ni cô.
nữ đức
A woman of virtue, i.e. a nun or bhiksuni.
; A woman of virtue—Vua Tống Huy Tông đời nhà Tống (1102-1126 sau Tây Lịch) đã đổi danh từ “Ni” hay “Tỳ Kheo Ni” ra “Nữ Đức”—The emperor Hui-Tsung of the Sung dyansty (1101-1126 A.D.) changed the term “Nun” or “Bhiksuni” to “A woman of virtue.”
nữa
More.
nữu mạn
(紐曼) Neumann, Karl Eugen, 1865-1915 Nhà Ấn độ học và Phật học người Áo. Ông nghiên cứu tiếng Pàli rất sâu. Ông từng xuất bản tạng kinh tiếngPàli (Sutta Piỉaka) đã được dịch sang tiếng Đức như: Trường bộ, Trung bộ, Kinh tập (Die Reden des Gotamo Nonnen Gotamo Buddhos, 1899) và kinh Pháp cú (Der Wahrhcitspfad, 1893).
nực mùi
To exhale odour.
nựng nịu
To caress.
oa
1) Cái nồi: A pan. 2) Đôi vớ hay bí tất—Socks or stockings.
oa tạng
(oa tạng) Chỉ cho Đại tạng kinh của chùa Khoan vĩnh tại Đông kinh, in bằng hoạt tự bản (sắp từng chữ lại với nhau để in) vào thời Giang hộ, Nhật bản. Bản Đại tạng kinh này do ngài Thiên hải (giữ chức Tăng chính) phát nguyện hoàn thành, bắt đầu vào năm Khoan vĩnh 14 (1637) đến niên hiệu Khánh an năm đầu (1648) thì in xong, gồm 665 hòm, 6.323 quyển. Lối ấn loát hoạt tự bản từ Triều tiên truyền vào Nhật bản, cho nên trong thời gian các năm Khánh trường, Nguyên hòa và Khoan vĩnh đã có rất nhiều sách vở được in bằng hoạt tử bản, Đại tạng kinh cũng là 1 trong số đó. Tương truyền, Oa tạng lấy Đại tạng bản đời Tống được cất giữ ở viện Pháp kim cương tại Hoa viên Kinh đô (Kyoto) làm bản thảo, nhưng văn tự bị sai lầm rất nhiều. Năm Thiên hòa thứ 3 (1683), Mục lục Đại tạng kinh đời Minh lấy Oa tạng làm gốc để ấn hành, có ghi chú thêm về sự sai khác giữa số các hòm. Trong phần Duyên khởi khắc in của Đại tạng kinh bản Hoàng bá, cho rằng Nhật bản chưa từng ấn hành Đại tạng kinh, đó là điều sai lầm. Bởi vì các chùa gốc thuộc phai Bản nguyện tự, Bản quốc tự tại Kinh đô đều có cất giữ bản hoàn chỉnh của Oa tạng.
oa tử
(鍋子) Cái nồi dùng để nấu thức ăn, vật dụng rất cần thiết trong sinh hoạt hàng ngày. Thiền lâm thì dùng Oa tử để ví dụ sự vật cực kì quan trọng. Tắc 7 trong Bích nham lục (Đại 48, 199 trung) ghi: Ngài Bách trượng hỏi ngài Qui sơn: - Cổ họng và môi mép đều bỏ thì làm sao nói? Ngài Qui sơn thưa: - Thỉnh Hòa thượng nói đi! Ngài Bách trượng bảo: - Ta không từ chối nói với ông, chỉ sợ về sau làm hại con cháu của ta. Tuy ngài Bách trượng nói như thế, nhưng cái nồi (oa tử) đã bị kẻ khác cướp đi rồi.
oa đầu
Vị Tăng lo việc nấu nướng trong tự viện—The one who attends to the cooking-stove, etc., in a monastery.
; (鍋頭) Tên 1 chức vụ trong Thiền lâm, dưới chức Điển tọa, trông coi về các dụng cụ bếp núc như nồi niêu xoong chảo v.v... Môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên có chép bài kệ nhan đề: Đông sơn ngoại tập tống Oa đầu như sau: Bạch vân sinh xứ sơ sơn tự, Vô thủy vô sài thế đắc tri; Nhược vấn đạo nhân kim nhật sự, Mộc xà toản phá thiết oa nhi. Nghĩa đen: Chùa ở trên núi rất sơ sài, chỉ thấy mây trắng; củi nước đều không có. Nếu hỏi đạo nhân việc hôm nay, thì chỉ có con rắn gỗ đục thủng cái nồi sắt.
oai danh
Authority and fame.
oai linh
Awfulness.
oai lực của chú
Aciṇtya-shakti (P), Devine force in mantra, Aciṇtya-Sakti (S).
oai nghi
Irya-patha (S), Bodily postures, Caturi-riyāpatha (P).
; Respect-inspiring deportment; dignity, i.e. in walking, standing, sitting, lying.
; Đi, đứng, nằm, ngồi, mặc áo, ăn uống cho đến đi tiêu đi tiểu, đều giữ hình dáng an nhàn trang nghiêm, gọi là oai nghi.
; Majestic or demeanors—See Ba Ngàn Oai Nghi, and Tứ Chủng Oai Nghi.
oai nghi giới
(威儀戒): dùng phân biệt với tùng giới giới. Từ điển Phật Quang giải thích về hai danh xưng này như sau: 威儀戒,雖受戒,唯外現威儀,但為名利,欲受人尊敬。從戒戒,順從佛制,清淨三業,內外相稱,如實受持戒行。。 (Oai nghi giới, tuy thọ giới, tuy ngoại hiện oai nghi, đãn vị danh lợi, dục thọ nhân tôn kính. Tùng giới giới, thuận tùng Phật chế, thanh tịnh tam nghiệp, nội ngoại tương xứng, như thật thọ trì giới hạnh.) Nghĩa là: Giới oai nghi, tuy thọ giới, bên ngoài hiện tướng oai nghi, chỉ là vì danh lợi, muốn được người khác tôn kính. Giới vâng làm, thuận theo sự chế định của Phật, làm thanh tịnh ba nghiệp, trong ngoài đều tương xứng, thọ trì giới hạnh đúng thật.
oai như vương
Kumbhīraba (S)Kim Tỳ La Đá Ca Tỳ La, Kim Tỳ La ĐàVị thần thân hình sắc trắng hồng, tay trái cầm bửu cung, tay mặt cầm bửu tiển.
oai nộ
Awe-inspiring; wrathful majesty. Oai nộ vương, the wrathful Mahàraja guardians of Buddhism.
oai quang thiên
Xem Ma dị chi Bồ tát.
oai quyền
Power—Authority.
oai thần
Satagiri (S)Sa đa kỳ lýMột trong Dạ xoa bát đại tướng: Bảo Hiền, Mãn Hiền, Mật Chủ, Oai Thần, Ứng Niệm, Đại Mãn, Vô tỷ lực, Mật Nghiêm.
; The awe-inspiring gods, or spirits.
oai âm vương
Bhisma-garjita-ghosa-svara-ràja (S). The king with the awe-inspiring voice, the name of countless Buddhas successively appearing during the Ly suy kiếp; cf. Lotus sùtra. Tác oai tác quái, to misuse one's authority; to oppress, down tread people.
oai âm vương phật
Bhisma-gardjita-gochasvaradja Buddha (S), Bhisma-garjitasvara-rāja (S)Đức Phật thời quá khứ kỳ kiếp của Ngài tên là Ly suy, cõi của Ngài là Đại thành.
; Bhichmagardjita-gochas-vararadja (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
oai đức
Tedjas (S)Oai thế và đức hạnh.
; Of respect-inspiring virtue; dignified. Authority and virtue.
oai, uy
Prabhàva (S). Awe-inspiring majesty; stateliness, augustness; noble bearing, martial bearing, imposing exterior; also oai lực, thần lực.
oan
To oppress—Wrong—Enmity.
Oan gia
(冤[寃]家): kẻ cừu thù. Như trong tác phẩm Triều Dã Thiêm Tải (朝野僉載) của Trương Trạc (張鷟, khoảng 660-741) nhà Đường có đoạn: “Lương Giản Văn Vương chi sanh, Chí Công vị Võ Đế viết: 'Thử tử dữ oan gia đồng niên sanh' (梁簡文王之生、誌公謂武帝曰、此子與冤家同年生, khi Lương Giản Văn Vương [tại vị 549-551] sanh ra, Chí Công nói với Võ Đế rằng: 'Đứa bé này sanh cùng năm với kẻ thù').” Hay trong Diệu Pháp Thánh Niệm Xứ Kinh (妙法聖念處經, Taishō Vol. 17, No. 722) lại có đoạn: “Nhược nhân thiểu trí, hư vọng tạo tội, do thử luân chuyển, oan gia tụ hội, thọ Địa Ngục khổ (若人少智、虛妄造罪、由此輪轉、冤家聚會、受地獄苦, nếu người ít trí, hư dối tạo tội, do đây luân chuyển, thọ khổ Địa Ngục).” Hoặc trong Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toản Yếu Nghi Quỹ (瑜伽燄口註集纂要儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1084) quyển Hạ cũng có đoạn khác: “Vãng tích trái chủ dĩ tương phùng, câu mông giải thoát; tích kiếp oan gia nhi cọng hội, các toại tiêu diêu (往昔債主以相逢、俱蒙解脫、積劫冤家而共會、各遂逍遙, xưa kia chủ nợ từng gặp nhau, đều được giải thoát; muôn kiếp oan gia mà cùng gặp, thảy đều tiêu diêu).” Trong Đoạn Trường Tân Thanh cũng có câu rằng: “Làm chi tội báo oan gia, thiệt mình mà hại đến ta hay gì.”
oan thân
Sự thù hằn và thân hữu—Enmity and friendship.
oan thân bình đẳng tâm
Tâm bình đẳng không phân biệt thù bạn—A mind that knows neither enmity nor friendship, no discrimination of persons.
oan uổng
Injustice.
oan ức
Being the object of injustice.
oang oang
To speak loudly
om mani padme hum
Án ma ni bát di hồng, một nghi thức trì niệm của trường phái Lạt Ma. Mỗi chữ trong sáu chữ có uy lực cứu rỗi những chúng sanh trong các đường dữ—A formula of Lamaistic branch. Each of the six syllables having its own mystic power of salvation the lower paths of transmigration.
om sòm
Noisy.
oán
Resentment, grievance, hatred.
; Resentment—Grievance—Hatred.
oán gia
Satru (S)Người kết oán với ta.
; An enemy.
; See Oán Địch.
Oán gia 怨家
[ja] オンケ onke ||| (1) A person who has anger towards the first person; an enemy. (2) A household that engages in vengeful acts. (3) A synonym for "foe-destroyer" (arhat) 阿羅漢. => 1. Người có mối giận với một người khác, như là kẻ thù địch. 2. Một gia đình tiến hành những hành động báo thù. 3. Đồng nghĩa với 'sát tặc; A-la-hán' (阿羅漢s: arhat).
oán hận
Hatred.
oán kết
The knot of hatred.
; The knot of hatred.
oán linh
An avenging spirit or ghost.
; An avenging spirit or ghost.
; (怨靈) Cũng gọi Tử linh, Ác linh Vong linh ôm lòng oán hận và muốn trả thù. Người lúc còn sống mà ôm lòng oán hận và muốn trả thù, thì gọi là Sinh linh; người sau khi chết mà hiển hiện cái trạng huống ấy thì gọi là Tử linh. Như Dạ xoa, ác quỉ... thường hiện ra các tướng trạng làm cho người ta sợ hãi. Xưa người ta thường nhờ sự gia trì, cầu đảo để xua đuổi oán linh; tư tưởng này bắt đầu từ thời đại Ngụy Tấn. (xt. Ác Linh).
oán thân
Hate and affection.
; Sự oán ghét và sự yêu thương là hai thái cực đối nghịch nhau—Hate and affection.
oán thân bình đẳng
(怨親平等) Cũng gọi Oan thân bình đẳng. Lấy đại từ bi làm gốc, đối với kẻ oán địch, tâm không ghét giận; với những cái mình ưa thích thì cũng không tham đắm; đem tâm bình đẳng đối đãi với mọi người, kẻ oán cũng như người thân. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 chép, thì sau khi đức Lục tổ Tuệ năng nhập tịch, có kẻ trộm muốn lấy đầu Tổ đưa về cúng dường, sau khi nhân viên của quan phủ điều tra bắt được. Trước khi gia hình, quan phủ cho người đến Tào khê hỏi đệ tử của Lục tổ là ngài Linh thao nên xử trí như thế nào. Ngài Linh thao đáp (Đại 51, 236 hạ): Nếu nói theo phép nước thì lí đáng phải tru di; nhưng vì Phật giáo từ bi, oán thân bình đẳng; huống nữa, kẻ trộm ấy lấy đầu Tổ là để cúng dường, nên tội ấy có thể tha thứ!. [X. Phật sở hành tán Q.1; luận Đại trí độ Q.20].
oán tăng hội khổ
(怨憎會苦) Phạm: Apriya-saôprayoga-du#kha. Cũng gọi Phi ái hội khổ, Oán tăng ố khổ, Bất tương ai tương phùng hội khổ. Khi gặp gỡ người mà mình oán ghét là khổ, 1 trong 8 cái khổ, 1 trong 5 khổ. Cứ theo kinh Phân biệt thánh đế trong Trung a hàm Q.7, khi thân tâm chúng sinh tiếp xúc với những trần cảnh mà mình không ưa thích thì sẽ dẫn đến khổ đau. Còn theo Đại thừa nghĩa chương quyển 3 thì có 2 loại Oán tăng hội khổ là nội và ngoại. Nội oán tăng hội khổ là quả báo trong 3 đường ác; ngoại oán tăng hội khổ là các duyên như dao, gậy... [X. kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc); kinh Tứ đế; luận Đại tì bà sa Q.78].
oán tắng hội khổ
Apriyasamparayoyga (P)Kẻ thù thường hay gặp. Một trong bát khổ.
; To have to meet the hateful.
; Một trong bát khổ, khổ vì phải luôn gặp gỡ người mình không thích hay người không thích mình—One of the eight sufferings, suffering of contact with those whom we dislike or those who dislike us, or meeting with the uncongenial (to have to meet the hateful).
Oán tắng hội khổ 怨憎會苦
[ja] オンゾウエク onzōeku ||| The suffering experienced when we are forced to associate with people and things that we disklike (apriya-saṃprayoga-duḥkha). This is one of the "four and eight kinds of suffering" (四苦八苦) taught by Śākyamuni in his exposition of the Four Noble Truths 四諦. 〔瑜伽論T 1579.30.289b〕 => Khổ phải chịu khi mình bắt buộc phải kết hợp với người hay những điều mình không thích (s: apriya-saṃprayoga-duḥkha). Đây là một trong Tứ khổ bát khổ (四苦八苦) do Đức Phật Thích-ca Mâu-ni giảng dạy khi giải thích về Tứ diệu đế.
Oán tắng hội 怨憎會
[ja] オンゾウエ onzōe ||| To be associated with persons and things that one dislikes. => Phải kết hợp với người hay những điều mình không thích.
oán tặc
The robber hatred, hurtful to life and goods.
; Vicious thieves—The robber hatred, hurtfull to life and good.
oán địch
Oán gia—An enemy.
Oán địch tương vi 怨敵相違
[ja] オンテキソウイ ontekisōi ||| The conflict caused by enmity. One of the six kinds of conflicts/contradictions taught in the Yogācārabhūmi-śāstra. The kind of conflict that exists in the confrontation between enemies, such as the natural enemies seen in the animal kingdom.〔瑜伽論T 1579.30.501b〕 => Xung đột do kẻ thù oán gây nên. Là một trong 6 mối xung khắc được nêu trong Du-già sư địa luận. Là loại xung khắc xảy ra khi đương đầu với kẻ thù, như bản chất thù địch được thấy trong vương quốc loài vật.
Oán địch 怨敵
[ja] オンテキ onteki ||| An enemy (toward whom one holds resentment). (dviṣ) 〔瑜伽論T 1579.30.501b〕 => s: dviṣ. Kẻ thù (về phía người bị người khác giận).
Oán 怨
[ja] オン en, on ||| (1) Bitterness, enmity, resentment, grudge, hatred, malice. To be murmured against. (2) To bear a grudge; show resentment. To criticize; denounce. => 1. Sự gay gắt, sự thù hằn, sự oán giận, mối ác cảm, sự căm ghét, ác tâm. Lời than phiền chống đối. 2. Chịu đựng mối ác cảm, biểu lộ sự oán giận.
oánh sơn thanh quy
(瑩山清規) Cũng gọi Oánh sơn hòa thượng thanh qui, Động cốc thanh qui. Thanh qui, 2 quyển, do vị tăng người Nhật bản là ngài Oánh sơn Thiệu cẩn biên soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 82. Bộ Thanh qui được soạn dựa theo các bộ thanh qui từ trước nay, là tập đại thánh của các bộ thanh qui tùng lâm thuộc tông Tào động. Nội dung nói rõ các việc được làm hàng ngày, hàng tháng và trong năm. Đây là bộ thanh qui mà ngài Thiệu cẩn đã thực hành ở Xương thụ lâm và Động cốc. Những chỗ thái quá và bất cập trong giới qui của Phật tổ đều được điều chỉnh 1 cách chiết trung cho thích hợp, đồng thời, có phụ lục Tọa thiền dụng tâm kí và Tam căn tọa thiền thuyết do ngài Thiệu cẩn soạn. OÁNH SƠN THIỆU CẨN (1268-1325) Thiền sư Nhật bản thuộc tông Tào động, người Việt tiền (huyện Phúc tỉnh), họ Đằng nguyên, pháp danh Thiệu cẩn. Năm 13 tuổi, sư lễ ngài Cô vân Hoài trang thuộc đời thứ 2 chùa Vĩnh bình xin xuất gia. Sau khi ngài Hoài trang thị tịch, sư lại đến chùa Đại thừa thờ ngài Triệt thông Nghĩa giới làm thầy. Năm 18 tuổi, sư bắt đầu du phương hành cước, tham yết các ngài Tịch viên, Bảo giác, Tuệ hiểu... rồi lên núi Tỉ duệ học tập giáo pháp Thiên thai. Năm Chính ứng thứ 2 (1289), sư trở về chùa Đại thừa hầu ngài Nghĩa giới và được nối pháp của ngài. Sau đó, sư xiển dương
Oánh Sơn Thiệu Cẩn
(瑩山紹瑾, Keizan Shōkin, 1268-1325): vị Thái Tổ của Tào Động Tông Nhật Bản, cháu đời thứ 4 của Cao Tổ Đạo Nguyên (道元), hiệu là Oánh Sơn (瑩山). Ông sinh ra vào ngày mồng 8 tháng 10 năm 1268 nơi Quan Âm Đường ở vùng Việt Tiền (越前, Echizen, thuộc Fukui-ken [福井縣]), tên lúc nhỏ là Hạnh Sanh (行生). Mẹ ông được cảm hóa nhờ đức tin vào Quan Âm Bồ Tát. Năm lên 8 tuổi, ông lên Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji) ở Việt Tiền, tham vấn Triệt Thông Nghĩa Giới (徹通義介). Đến năm 13 tuổi, ông đắc độ thọ giới với Cô Vân Hoài Trang (孤雲懷奘), vị Tổ đời thứ 2 của chùa này. Vào ngày 24 tháng 8 năm 1280, khi Hoài Trang qua đời thì ông theo hầu Nghĩa Giới và chuyên tâm tu hành tọa Thiền. Đến năm lên 18 tuổi, ông phát nguyện đi hành cước khắp các tiểu quốc, và đến tham vấn Tịch Viên (寂圓) ở Bảo Khánh Tự (寶慶寺). Tiếp theo, ông lên kinh đô Kyoto, học về Thiền phong mang tính Mật Giáo của Phái Thánh Nhất (聖一派) thuộc Lâm Tế Tông với Đông Sơn Trạm Chiếu (東山湛照), Bạch Vân Huệ Kiểu (白雲慧皎); thêm vào đó ông còn tiếp xúc với giáo học Thiên Thai trên Tỷ Duệ Sơn. Kế đến ông đến tham học với Vô Bổn Giác Tâm (無本覺心) ở Hưng Quốc Tự (興國寺) thuộc vùng Kỷ Y (紀伊, Kii, thuộc Wakayama-ken [和歌山縣] ngày nay), và sau đó ông lại đến tham yết Tịch Viên ở Bảo Khánh Tự lần nữa. Năm lên 22 tuổi, ông phản tỉnh khi đọc được câu kệ trong Phẩm Pháp Sư Công Đức (法師功德) của Kinh Pháp Hoa rằng “phụ mẫu sở sanh nhãn tất kiến tam thiên giới (父母所生眼悉見三千界, con mắt do cha mẹ mình sanh ra tất thấy được ba ngàn thế giới)”, rồi đến năm 25 tuổi thì ông phát thệ nguyện rộng lớn. Năm lên 28 tuổi, ông được cung thỉnh đến làm Tổ khai sơn ngôi Thành Mãn Tự (城滿寺) của dòng họ Phú Kiên (富樫) ở vùng A Ba (阿波, Awa, thuộc Tokushima-ken [德島縣]). Năm sau, lúc 29 tuổi, ông lên Vĩnh Bình Tự, sao chép tập Phật Tổ Chánh Truyền Bồ Tát Giới Tác Pháp (佛祖正傳菩薩戒作法), rồi được vị trú trì chùa này là Nghĩa Diễn (義演) trao truyền Bồ Tát Giới cho. Cũng vào mùa đông năm này, lần đầu tiên ông khai đường thuyết pháp ở Thành Mãn Tự, và truyền trao giới pháp cho nhóm 5 người Nhãn Khả Thiết Kính (眼可鐵鏡). Sau đó, ông đến tham yết Hàn Nham Nghĩa Duẫn (寒巖義尹) ở Đại Từ Tự (大慈寺, Daiji-ji) thuộc vùng Phì Hậu (肥後, Higo, thuộc Kumamoto-ken [熊本縣]), rồi đến kết thảo am ở gần nơi Đông Cung Ngự Sở tại Kyoto, và tương truyền tại đây ông hội ngộ với Nga Sơn Thiệu Thạc (峨山紹碩). Cho đến năm 31 tuổi, ông khai mở giới pháp ở Thành Mãn Tự, độ cho hơn 70 người, và tận lực trong việc giáo hóa dân chúng. Đến năm 32 tuổi, ông kế thừa dòng pháp của Nghĩa Giới, được trao truyền pháp y, làm vị Thủ Tọa đầu tiên của Đại Thừa Tự, và đến năm 35 tuổi thì làm vị Tổ đời thứ 2 của chùa này. Từ ngày 11 tháng giêng năm 1300, ông bắt đầu khai thị bộ Phật Quang Lục (佛光錄). Rồi vào tháng 8 cũng như tháng 11 năm 1306, trải qua hai lần ông được Nghĩa Giới trao truyền cho bí pháp. Cho đến năm 1311, ông chuyên tâm vào việc bổ sung quy cũ ở Đại Thừa Tự, tiếp độ đồ chúng, và trước tác Tọa Thiền Dụng Tâm Ký (坐禪用心記), Tam Căn Tọa Thiền Thuyết (三根坐禪說), Tín Tâm Minh Niêm Đề (信心銘拈提), v.v. Hơn nữa, ông còn khai sáng Tịnh Trú Tự (淨住寺) ở vùng Gia Hạ (加賀, Kaga). Rồi vào năm 1317, ông còn sáng lập ra Vĩnh Quang Tự (永光寺) ở Động Cốc Sơn (洞谷山). Sau đó thể theo lời thỉnh cầu của vị quan Địa Đầu vùng Vũ Trách (羽咋, Hakui) ở Năng Đăng (能登, Noto), ông đến khai sơn Quang Hiếu Tự (光孝寺). Kế đến ông lại khai sáng thêm Phóng Sanh Tự (放生寺) ở vùng Năng Đăng này. Chính trong khoảng thời gian này, thanh danh của Oánh Sơn rất nổi bật, nên được Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇) ban sắc phong cho. Năm sau, nhờ sự cúng dường của đàn na thí chủ, ông xây dựng Điện Phật, rồi Khai Sơn Đường, Pháp Đường, và chỉnh trang toàn bộ ngôi già lam Vĩnh Quang Tự. Từ đó, vào năm đầu niên hiệu Nguyên Hanh (元亨), ông cảm ứng điềm báo mộng khai đường Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji), rồi thể theo lời thỉnh cầu của vị Viện Chủ Chư Nhạc Tự (諸嶽寺) thuộc Chơn Ngôn Luật Tông (có thuyết cho là Thiên Thai Tông) ở Quận Phụng Khí Chí (鳳氣至郡), Năng Đăng, ông đến vùng đất này, và vào ngày mồng 8 tháng 6 cùng năm, ông khai sáng ra Tổng Trì Tự tại đây. Đến ngày 22 tháng 7 thì được cúng dường đất đai của chùa, rồi đến ngày 14 tháng 9 thì nhận được sắc phong chùa, và vào ngày 28 tháng 8 năm sau thì được công nhận là ngôi chùa của Tào Động Tông. Đây là ngôi chùa trung tâm thứ hai của phái Tào Động Nhật Bản. Sau đó, chùa được dòng họ Trường Cốc Bộ (長谷部) chuyên tâm ủng hộ. Vào ngày mòng 8 tháng 8 năm 1325, ông cử Minh Phong Tố Triết (明峯素哲) làm chức Tăng Lục 8 ngôi chùa gồm Vĩnh Quang Tự (永光寺), Viên Thông Viện (圓通院), Quang Hiếu Tự (光孝寺), Tổng Trì Tự (總持寺), Bảo Ứng Tự (寶應寺), Phóng Sanh Tự (放生寺), Đại Thừa Tự (大乘寺); rồi nhường ngôi Tọa Chủ cho vị này và lui về ẩn cư. Đến nữa đêm ngày 15 tháng 8, ông thuyết pháp lần cuối cùng, để lại di kệ và thị tịch, hưởng thọ 58 tuổi đời (có thuyết cho là 62 tuổi). Xá lợi của ông được phân phối ra tôn trí tại 4 ngôi chùa Đại Thừa Tự, Vĩnh Quang Tự, Tịnh Trú Tự và Tổng Trì Tự. Môn nhân đắc độ của ông ngoài Minh Phong Tố Triết (明峰素哲), Vô Nhai Trí Hồng (無涯智洪), Nga Sơn Thiệu Thạc (峨山紹碩), Hồ Am Chí Giản (壺庵至簡), còn có Cô Phong Giác Minh (孤峰覺明), Trân Sơn Nguyên Chiếu (珍山源照) là những nhân vật xuất chúng. Đệ tử Ni của ông có Mặc Phổ Tổ Nhẫn (默譜祖忍), Nhẫn Giới (忍戒), Kim Đăng Huệ Cầu (金燈惠球), Minh Chiếu (明照), v.v. Hậu Thôn Thượng Thiên Hoàng (後村上天皇) ban tặng cho ông thụy hiệu là Phật Từ Thiền Sư (佛慈禪師); Hậu Đào Viên Thiên Hoàng (後桃園天皇) thì ban thụy hiệu là Hoằng Đức Viên Minh Quốc Sư (弘德圓明國師), và Minh Trị Thiên Hoàng (明治天皇) là Thường Tế Đại Sư (常濟大師). Trước tác của ông để lại có Truyền Quang Lục (傳光錄) 2 quyển, Oánh Sơn Hòa Thượng Thanh Quy (瑩山和尚清規) 2 quyển, Tọa Thiền Dụng Tâm Ký (坐禪用心記) 1 quyển, Tam Căn Tọa Thiền Thuyết (三根坐禪説) 1 quyển, v.v.
; 瑩山紹瑾; J: keizan jōkin; 1268-1325;|Thiền sư Nhật Bản, Tổ thứ tư của tông Tào Ðộng (j: sōtō) sau Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen). Sư nối pháp Thiền sư Triệt Thông Nghĩa Giới (tettsū gikai, 1219-1309), thành lập Tổng Trì tự (sōji-ji), một trong hai ngôi chùa quan trọng nhất của dòng Tào Ðộng song song với Vĩnh Bình tự (eihei-ji). Sư trứ tác Truyền quang lục (denkōroku), một tác phẩm được tất cả các dòng thiền Nhật Bản ưa chuộng và sử dụng cho đến ngày nay. Sư được các đệ tử trong tông môn Tào Ðộng cung kính gọi là Ðại Tổ (大祖; daiso), Ðạo Nguyên được gọi là Cao Tổ (高祖; kōso).|Sư quê tại Echizen, sớm được bà mẹ sùng tín gửi đến Vĩnh Bình tự để tu học. Sư thụ giới lần đầu (1280) nơi Thiền sư Cô Vân Hoài Trang (koun ejō, 1198-1280) – vị Tổ thứ hai của tông Tào Ðộng. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Hoài Trang quy tịch và Sư lưu lại tu học với Thiền sư Nghĩa Giới đến năm 17 tuổi. Sau đó, Sư bắt đầu một cuộc Hành cước kéo dài bốn năm (1285-1288), thu thập kiến thức cho cuộc đời hoằng hoá vinh quang của mình. Sư yết kiến nhiều vị cao tăng của nhiều tông phái khác nhau, tu tập Thiền theo Thiền sư Tịch Viên (寂圓; jakuen, 1207-1299, bạn đồng học với Ðạo Nguyên nơi Thiên Ðồng Như Tịnh) tại Bảo Khánh tự (hákyō-ji). Tại Kinh Ðô (kyōto), Sư tu tập Thiền theo tông Lâm Tế dưới sự hướng dẫn của hai vị Ðông Sơn Trạm Chiếu (東山湛照; tōzan tanshō, 1231-1291) và Bạch Vân Huệ Hiểu (白雲慧曉; hakuun egyō, 1228-1297), cả hai đều là môn đệ của Viên Nhĩ Biện Viên (enni ben' nen, 1202-1280). Một cuộc viếng thăm núi Tỉ Duệ (hieizan) được Sư sử dụng để nghiên cứu giáo lí của Thiên Thai tông (tendai-shū). Sư cũng đến tham vấn Thiền sư Tâm Ðịa Giác Tâm (shinchi kakushin, 1207-1298) – người đã đem tập Công án quan trọng Vô môn quan sang Nhật.|Khi trở về học với Nghĩa Giới – lúc bấy giờ trụ trì chùa Ðại Thừa (daijō-ji) – Sư đại ngộ (1294) khi Nghĩa Giới trao cho môn đệ công án thứ 17 của Vô môn quan để tham cứu. Trong cuộc vấn đáp trong công án này, Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện trả lời sư Triệu Châu Tòng Thẩm: »Tâm bình thường là Ðạo« (Bình thường tâm thị đạo). Khi Sư suy nghĩ trình Nghĩa Giới ›Bình thường tâm‹, Nghĩa Giới liền đánh ngay vào miệng Sư. Ngay lúc này, mắt tâm Sư liền mở sáng. Không bao lâu sau, Nghĩa Giới phó chúc Sư là người nối dõi tông đường và từ đây, Sư bắt đầu cuộc đời giáo hoá của mình.|Sau khi thừa kế Nghĩa Giới trụ trì chùa Ðại Thừa (1303), học chúng từ khắp nơi đến tham học và ngôi chùa này trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng của các miền Ðông bắc Nhật Bản. Nơi đây, Sư hoàn tất hai tác phẩm quan trọng của mình là Truyền quang lục (dentōroku) và Toạ thiền dụng tâm kí (坐禪用心記; zazenyōjinki). Trong Toạ thiền dụng tâm kí, Sư khuyên mọi người chú tâm đến việc Toạ thiền (zazen) và đặc biệt nhấn mạnh sự quan trọng của tư tưởng người đang toạ thiền. Tập này bắt đầu bằng những câu:|»Toạ thiền giúp con người khai sáng tâm lực và an trụ nơi cội nguồn. Ðó chính là sự thấy rõ Bản lai diện mục, là sự phát minh tâm địa. Thân tâm đều biến mất, không còn vướng mắc vào những hành động như ngồi, nằm. Vì thế nên hành giả không nên nghĩ thiện, ác, vượt hẳn ngôn ngữ như phàm, thánh, Vô minh, Giác ngộ, rời bỏ cõi của chúng sinh và Phật.«|Dựa trên các giáo lí nền tảng, Sư hướng dẫn rất tỉ mỉ về việc thực hành toạ thiền:|»Các buổi lễ long trọng và những ngôi chùa vĩ đại thờ Phật đều rất có ý nghĩa, nhưng nếu ai muốn toạ thiền rốt ráo, người ấy không được tham gia tổ chức các lễ này… Không nên toạ thiền ở nơi nào quá sáng hoặc quá tối, quá nóng hoặc quá lạnh, cũng không nên toạ thiền gần những người say đắm vào việc vui chơi hoặc kĩ nữ! Thiền đường, bên cạnh một vị thầy uy tín, cao vút trên núi hoặc tận sâu dưới thung lũng là những nơi thích hợp. Bên cạnh suối xanh, trên đỉnh núi cao là những nơi thuận tiện để kinh hành… Hành giả không được quên việc quán tất cả các Pháp đều Vô thường vì việc ấy giúp trau dồi tâm kiên cường… Lúc nào cũng giữ lòng Từ bi và chuyển tất cả những phúc đức thu thập được đến tất cả chúng sinh! Không được phát tâm kiêu mạn, không được khinh thường Phật pháp! Những phong cách này chính là phong cách của phàm phu, ngoại đạo. Nếu lúc nào cũng chú tâm đến lời nguyện đoạn tất cả phiền não để đạt Giác ngộ thì phải toạ thiền và vô tác (không làm). Ðây là quy luật quan trọng của việc toạ thiền.«|Một trong những thành công lớn của Sư là việc thành lập hai ngôi chùa lớn của tông Tào Ðộng, đó là Vĩnh Quang tự (yōkō-ji) và Tổng Trì tự (sōji-ji, 1322). Hậu Ðề Hồ (go-daigo) Thiên hoàng nâng cấp Tổng Trì tự ngang hàng với Vĩnh Bình tự (eihei-ji) và gọi là Ðại bản sơn (daihonzan) của tông Tào Ðộng.|Trong khoảng thời gian cuối đời, Sư lui về Vĩnh Quang tự và giao phó việc quản lí chùa Tổng Trì cho vị đại đệ tử là Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki, 1275-1365). Trước khi tịch, Sư còn soạn tập Oánh Sơn thanh quy (keizan shingi). Hài cốt của Sư được chia ra và thờ cúng tại bốn ngôi chùa: Ðại Thừa, Vĩnh Quang, Tổng Trì và Tịnh Trụ (jōjū-ji).
oánh sơn thiệu cẩn
Keizan Jōkin (J)Tên một vị sư.
OṂ
S: OṂ (ॐ); có khi được viết là AUM, phát âm theo Việt ngữ là Ôm, kéo dài âm Ô;|Là biểu tượng âm thanh cao quý và trọn vẹn nhất trong Ấn Ðộ giáo, được một vài trường phái Phật giáo, nhất là Kim cương thừa xem như một Man-tra.||H 45: OṂ|OṂ được xem là tượng trưng của cả hai, sắc và âm. OṂ là âm thanh tượng trưng sức mạnh của tâm thức nội tại, của Phật tính trong thế giới giả tạm, trong Ảo ảnh (s: māyā) này. OṂ được biểu diễn bằng ba vòng cung và một chấm nhỏ. Ba vòng cung biểu diễn sắc thể, ý thức và vô ý thức và chấm nhỏ nằm ngoài ba vòng đó biểu hiện trí huệ cao nhất dung chứa cả ba. Hình dạng của OṂ là một biểu hiện cụ thể của Chân như. Không có khái niệm hay vật thể nào trong vũ trụ có thể tồn tại độc lập. Tất cả đều là biến thể một một Chân tâm duy nhất, có liên hệ với Chân tâm đó và vì vậy chúng liên hệ lẫn nhau.|OṂ gồm có ba đường cong, một hình bán nguyệt và một dấu chấm. Các dạng này được xem nằm trong một thể thống nhất. Ba đường cong được nối với nhau, diễn tả ba tâm trạng (s: avasthā): tỉnh (s: jāgrat, vaiśvānara), mộng (s: svapna) và say ngủ (s: suṣupti). Dấu chấm và hình bán nguyệt, đứng rời, diễn tả Chân tâm là trạng thái »Thứ tư« (s: turīya), đứng trên và là nền tảng của ba trạng thái đó. Vòng bán nguyệt chỉ sự vô cùng và dấu chấm riêng lẽ chỉ óc suy luận (vòng bán nguyệt) không thể tiếp cận được Chân tâm.|Vòng tròn lớn (số 1) diễn tả tâm trạng thông thường, đó là hoạt động tiếp xúc ngoại cảnh. Vòng số 2 diễn tả giấc mộng, đó là tâm thức nội tại, do quá trình suy luận hình thành, không phụ thuộc vào ngoại cảnh và được xem là gạch nối giữa vòng 1 và 3. Vòng cao nhất (số 3) diễn tả tầng tiềm thức, đó là tâm trạng khi con người say ngủ. Vòng số 3 cũng chỉ là giai đoạn tiếp nối, nó là cấp gần với tâm trạng tuyệt đối nhất. Tâm trạng đó chính là dấu chấm, nó chiếu rọi và chế ngự ba tầng tâm thức kia, được gọi đơn giản là »Thể thứ tư« (s: turīya). »Thể thứ tư« là nguồn gốc của tất cả. Chỉ những người tu hành đã vượt ba tâm thức thô thiển trước mới tiếp cận được với thể thứ tư này.
OṂ MA-ṆI PAD-ME HŪṂ ॐमणिपद्मेहूं
S: OṂ MA-ṆI PAD-ME HŪṂ; có thể dịch là » OṂ, ngọc quý trong hoa sen, HŪṂ.« Câu này được dịch âm Hán Việt là »Án ma-ni bát-mê hồng«;|Một Man-tra Phạn ngữ (sanskrit), được xem là Man-tra cầu đức Quán Thế Âm và là Man-tra quan trọng và lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng. Thông thường người ta không giảng nghĩa Man-tra, nhưng ở đây cần nói thêm là, »ngọc quý« biểu hiện cho Bồ-đề tâm (s: bodhicitta), »hoa sen« chỉ tâm thức con người, ý nghĩa là tâm Bồ-đề nở trong lòng người. Tuy nhiên Man-tra có những âm thanh riêng biệt và những tác dụng bí ẩn theo cách trình bày của Kim cương thừa. Ðối với Phật giáo Tây tạng thì OṂ MA-ṆI PAD-ME HŪṂ chính là lòng từ bi rộng lớn, muốn đạt Niết-bàn vì lợi ích của chúng sinh. Vì vậy sáu âm của thần chú này cũng được xem là tương ưng với sáu cõi tái sinh của dục giới (Vòng sinh tử, Ba thế giới).
oản
Moi móc—To scoop out.
oản đăng
Xẻ thân móc mở làm dầu đốt đèn, đó là nói về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong một tiền kiếp, vì muốn bố thí ánh sáng nên đã móc thân làm đèn—To scoop out one's body and turn it into a lamp, attributed to Sakyamuni in a former incarnation.
; (剜燈) Khoét thịt trên mình để làm đèn đốt cúng Phật, 1 trong những truyện tích tiền thân của Phật Thích ca. Trong 1 kiếp ở quá khứ, đức Thế tôn là vua Kiền xà ni lê, vì muốn nghe pháp của người Bà la môn tên Lao độ sai, mà khoét mình làm đèn đốt để bày tỏ lòng chí thành. [X. kinh Hiền ngu Q.1; Ma ha chỉ quán Q.7].
Pa-cha-ri-pa
S: pacaripa; »Người bán bánh mì«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời nào.|Ông là người bán bánh mì cho chủ trong thành Cham-pa (s: campā). Ngày nọ ông không bán được chiếc nào cả, sẵn lúc đói bụng ông đành phải ăn một chiếc. Ngay lúc này một Ðạo sư xuất hiện. Vị ấy chính là một hoá thân của Quán Thế Âm. Ông tỏ lòng kính trọng và cúng dường phần bánh còn lại. Sau đó vị này cho ông Quy y Tam bảo, thụ Giới Bồ Tát và đọc Man-tra của Quán Thế Âm. Ông kiên trì tu học và sống bằng khất thực. Ngày nọ, ông gặp lại chủ bánh mì và người này đòi tiền bánh. Vì không có tiền trả nên mọi người xúm nhau đánh ông. Ông đành kêu to: »Không phải mình ta ăn bánh, cả thầy lẫn trò đều ăn.« Tiếng kêu ông cứ vang dội mãi một cách kì lạ làm chủ bánh mì sợ hãi. Sau đó ông đến tượng Quán Thế Âm cầu khẩn xin tiền, quả nhiên tượng cho ba mươi đồng tiền vàng, ông đem trả nợ. Lúc đó ông mới biết thầy mình là Quán Thế Âm. Sau đó ông định đến trú xứ của Quán Thế Âm là Pô-ta-la (s: potala) để tạ ơn nhưng giữa đường ông đạp gai nhọn. Ðau quá ông gọi tên thầy thì Quán Thế Âm hiện ra khuyên ông nên về lại Cham-pa mà giáo hoá cho người đời. Pa-cha-ri-pa mừng quá bay bỗng lên không, người đời thán phục và xin học giáo pháp. Chứng đạo ca của ông như sau:|Chẳng phải nhìn đâu xa,|hãy nhìn đúng trung tâm,|Lạc, xả, đầy hạnh phúc!|Tu tập phép Tan-tra,|Du-già sư đạt định.
Pa-li
pāli;|Một thổ ngữ Ấn Ðộ, xuất phát từ Phạn ngữ (sanskrit) và được Thượng toạ bộ dùng để viết các bộ kinh điển của mình. |Về nguồn gốc của Pā-li, các học giả có nhiều ý kiến khác nhau. Giáo sư Rhys-Davids thì cho rằng, Pā-li là ngôn ngữ của xứ Kiêu-tát-la (s: kośala) trong vùng Ðông bắc Ấn Ðộ. Max Walleser, một nhà Ấn Ðộ học người Ðức cho rằng Pā-li là ngôn ngữ của kinh đô Hoa Thị thành (pāṭaliputra) của xứ Ma-kiệt-đà (magadha). Nhiều học giả cho rằng Pā-li chính là ngôn ngữ của đức Phật khi Ngài thuyết pháp và của giới thượng lưu tại Ma-kiệt-đà. Tuy nhiên, nhiều tài liệu khảo cổ cho thấy có sự khác nhau rõ rệt giữa tiếng Ma-kiệt-đà và Pā-li. Etienne Lamotte – một học giả người Pháp – cho rằng, Pā-li là một thổ ngữ của miền Trung Ấn Ðộ và thuộc họ ngôn ngữ Prakṛta.
pabbata
Pabbata (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
padumuttara
Padumuttara (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
pali ngữ
Pàlibhàsà, Pàli (S,P). Pali language.
Pan-ka-ja-pa
S: paṅkajapa; »Liên hoa sinh Bà-la-môn«; |Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. Ông là đệ tử của Sa-ra-ha (s: saraha), sống khoảng đầu thế kỉ thứ 9.|Tương truyền ông là một Liên Hoa tử, là người sinh ra trong một đoá sen. Gần nơi ông sinh có một bàn thờ, thờ tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, nhưng ông không biết, cứ tưởng đó là tượng của Ðại Thiên (s: mahādeva) và ngày nào ông cũng mang hoa đến cúng dường. Lần nọ vị Ma-ha Tất-đạt Long Thụ (nāgārjuna) đi qua đền thờ, mang theo một cánh hoa cúng thì Quán Thế Âm hiện ra, ban phép lành cho Long Thụ bằng cách đặt lại một cánh hoa trên đầu. Pan-ka-ja-pa lấy làm giận hỏi Long Thụ tại sao ông dâng cúng suốt 12 năm mà thần không hiện ra còn với Long Thụ thì chỉ cần một lần duy nhất. Long Thụ nói tâm ông chưa thanh tịnh, ông liền xin thụ pháp. Long Thụ giảng:|Nhờ tu tập từ bi,|mà dục lạc thế gian,|cùng tâm thức vô thuỷ,|trở về thành một mối.|Vì trong chính tri kiến,|không hề có phân biệt,|đó là Quán Thế Âm.|Ông nghe lời dạy lĩnh hội ngay và chỉ sau bảy ngày, ông đạt thánh quả. Sau khi giáo hoá được nhiều người, ông biến mất vào cõi của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī).
panga
Panga (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
paramartha
Xem chân đế.
passi
Passi (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
Patañjali
: âm dịch là Ba Đơn Xà Khế (巴丹闍契), Ba Đơn Xà Lê (巴丹闍梨), soạn giả Du Già Kinh (s: Yogasūtra, 瑜伽經)—tác phẩm chính chứa đựng một số cách ngôn về những khía cạnh triết lý của tâm và thức. Ông còn là tác giả của một luận thư quan trọng (Mahābhāṣya) về Ashtadhyayi của Pāṇini; mặc dầu một vài học giả không cho rằng hai tác phẩm này do tác giả cùng tên viết. Ông viết Du Già Kinh từ tri thức Phệ Đà về Ấn Độ Giáo. Trong mấy thập niên gần đây, kinh này đã trở nên phổ biến trên khắp thế giới về các giới điều liên quan đến việc thực hành Raja Yoga và cơ sở triết học của các động tác Yoga dùng cho sức khỏe cũng như làm cho hài hòa thân tâm. Vì muốn dạy Yoga cho cuộc đời, tương truyền ông từ trên trời rơi (pat-) vào lòng bàn tay (-añjali) của một phụ nữ, cho nên ông có tên như vậy. Ai cũng cho rằng ông là hóa thân của Ādi S'esha—hiện thân ngã thể đầu tiên của thần Vishnu, Sankarshana. Sankarshana là hiện thân của năng lực cũng như tính phong phú ban sơ của thần Vishnu. Như vậy, Patañjali có thể được xem như là một hóa thân của Chúa để bảo vệ ngã tính của yoga. Rõ ràng ông là tư tưởng gia nguyên thủy, chứ không phải là nhà biên soạn trí tuệ yoga. Tuy nhiên, ông đã diễn dịch và làm sáng tỏ những gì người ta luận về yoga để không có sự mâu thuẩn nào. Thiên tài của ông đã đem lại nhiều hướng lý luận về triết lý yoga.
pha lê
Sphatika (S), Phatika (P)Thủy tinh.
; Crystal
; 1) Phả Lê—Đá trong như pha lê, một trong bảy của báu: Sphatika (skt)—Rock crystal, or a green indestructible gem, one of the seven precious things—See Thất Bảo. 2) Tên một ngọn núi gần Varanasi: Name of a mountain near Varanasi.
pha lẫn
To mingle—To mix.
pha trò
To jest—To joke—To speak in jest.
pha đà kiếp
Xem Hiền kiếp.
phai mờ
To fade.
Phan
(幡[旛]): một loại cờ dài, hẹp, treo rũ thẳng xuống, có ghi nội dung tùy theo mục đích của buổi lễ; còn gọi là lá phướn. Như trong Sử Ký (史記) quyển 117, truyện Tư Mã Tương Như (司馬相如) có đoạn: “Thùy giáng phan chi tố nghê hề, tải vân khí nhi thượng phù (垂絳幡之素蜺兮、載雲氣而上浮, cầu vồng trắng phan đỏ chừ, chở khí mây mà nổi lên). Trong Phật Giáo, loại này thường được dùng với nhiều ý nghĩa, mục đích và tên gọi khác nhau: (1) Bạch Phan (白幡) hay Dẫn Lộ Phan (引路幡) là loại lá phướn dài, hẹp, màu trắng, được dùng bài trí trước linh cữu trong khi đám tang; với ý nghĩa là để dẫn dắt linh hồn người quá cố; trên đó ghi tên họ, quê quán, pháp danh, v.v., những thông tin liên quan đến người quá cố. Tại Việt Nam, loại này thường có màu đỏ, được gọi là lá Triệu. (2) Tràng Phan (幢幡) được xem như là một loại pháp khí, rất thông dụng trong các pháp đàn của Phật Giáo lẫn Đạo Giáo, dùng để cáo Trời đất, mời gọi chư Thần linh. Tràng (幢) khác với Phan ở điểm là trên đầu của lá Tràng thường có lọng che, cầm với cây cán; còn Phan thì không có lọng che, cầm trực tiếp bằng tay. Như trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經) quyển 1, Phẩm Tựa (序品) thứ nhất có câu: “Nhất nhất tháp miếu, các thiên tràng phan (一一塔廟、各千幢幡, mỗi một tháp miếu, có ngàn tràng phan).” (3) Bạch Hổ Phan (白虎幡) là loại lá phướn trên có trang trí hình con hổ trắng, dùng để truyền tin chiếu lệnh. Như trong Tống Thư (宋書) quyển 40, phần Bách Quan Chí (百官志) có đoạn: “Triêu hội yến hưởng, tắc Tướng Quân nhung phục, trực thị tả hữu, dạ khai thành chư môn, tắc chấp Bạch Hổ Phan giám chi (朝會宴饗、則將軍戎服、直侍左右、夜開城諸門、則執白虎幡監之, sáng gặp yến tiệc, tất Tướng Quân mặc nhung phục, hai bên có người hầu hạ, đêm về mở các cửa thành, thì cầm Phan Bạch Hổ đi giám sát). (4) Phan Cái (幡蓋) là một loại tràng phan trên có lọng che, dùng để trang trí tại các nơi tôn nghiêm như đền thờ, chùa chiền, v.v. Như trong bài thơ Đăng Thiên Phước Tự Sở Kim Thiền Sư Pháp Hoa Viện Đa Bảo Tháp (登千福寺楚金禪師法華院多寶塔) của Sầm Tham (岑參, khoảng 715-770) có câu: “Phần hương như vân đồn, phan cái san san thùy (焚香如雲屯、幡蓋珊珊垂, hương xông như mây tụ, phan cái rũ leng keng).” Trong Công Văn Đàn Tràng, thường có các loại Phan như Trùng Tang Phan (重喪旛), Thập Nhị Thần Sát Phan (十二神煞旛), Chiêu Linh Phan (召靈旛), Thiên Lôi Phan (天雷旛), Thất Như Lai Phan (七如來旛), v.v.
; (s: patākā, 旛、幡): âm dịch là Ba Đa Ca (波哆迦); hoặc có Phạn ngữ là ketu, âm dịch là Kế Đô (計都); là từ gọi chung của các cờ phan, là vật trang nghiêm để cúng dường chư Phật, Bồ Tát; thường đi chung với tràng phan (幢幡). Xưa kia tại Ấn Độ, phan có nhiều sắc thái khác nhau; nhưng tại Trung Quốc, dưới thời nhà Tùy (隋, 581-618), phan đã được sử dụng rất thịnh hành. Trong Tuyển Tập Bách Duyên Kinh (撰集百緣經, Taishō Vol. 4, No. 200) quyển 7, phần Bố Thị Phật Phan Duyên (布施佛幡緣); Phật Thuyết Quán Đảnh Kinh (佛說灌頂經, Taishō Vol. 21, No. 1331) quyển 11, v.v., đều có đề cập đến công đức tạp lập phan như hàng phục được ma, tăng tuổi thọ, xa lìa nạn khổ, v.v. Về chủng loại, phan có rất nhiều loại khác nhau, tỷ dụ như Quán Đảnh Phan (灌頂旛), Mật Giáo dùng loại này để chạm lên đầu, với ý nghĩa trước hết thọ phép Quán Đảnh của Luân Vương, sau mới thọ phép Quán Đảnh quả vị Phật; Tục Mạng Thần Phan (續命神旛), hay Thọ Mạng Phan (壽命旛), là thần phan cầu thêm tuổi thọ và bảo vệ tánh mạng; Tiến Vong Phan (薦亡旛), hay Mạng Quá Phan (命過旛), có thể khiến cho người chết có được phước đức nơi Thân Trung Ấm để vãng sanh; Tín Phan (信旛) là loại phan dùng để truyền tín hiệu; Đình Phan (庭旛) là loại phan được sử dụng trong các nghi thức cầu mưa, v.v., tại đình miếu. Ngoài ra, tùy theo hình tượng trên lá phan mà có 5 loại khác nhau như: Sư Tử Phan (獅子旛), Mạc Yết La Phan (莫羯羅旛), Long Phan (龍旛), Yết Lộ Trà Phan (揭路荼旛), Ngưu Vương Phan (牛王旛). Về màu sắc, phan có 5 màu là xanh, vàng, đỏ, trắng và đen. Về chất liệu, cũng có nhiều loại phan khác nhau như loại bằng tơ lụa, vải, kim thuộc, ngọc thạch, v.v. Trong bài thơ Tây Tái Sơn Hoài Cổ (西塞山懷古) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường có câu: “Thiên tầm thiết tỏa trầm giang để, nhất phiến hàng phan xuất thạch đầu (千尋鐵鎖沉江底、一片降旛出石頭, ngàn thước vòng sắt chìm sông đáy, một mảnh hàng phan lộ đá đầu).”
phan
Xem phướng.
; Banner
; 1) Cờ phướn: Pataka (skt)—Ba Đa Ca—Lá cờ hay phướn treo tại chùa trong các ngày lễ (vật trang nghiêm biểu tượng cho uy đức của Đức Phật)—Flag—Banner—Streamer—Pennant. 2) Leo lên: To climb. 3) Nắm lấy: To grasp—To detain.
; (幡) Phạm: Patàkà. Hán âm: Ba đa ca. Phạm: Ketu. Hán âm: Kế đô. Pàli: Paỉàkà. Danh từ chỉ chung các loại cờ xí. Vốn là vật được các viên tướng sử dụng để thống lãnh các binh chủng và nêu cao uy thế của quân đội trên chiến trường. Còn trong Phật giáo thì phan được dùng để hiển bày uy đức hàng ma của Phật và các Bồ tát, đồng thời là vật dùng để trang nghiêm điện Phật, cho nên làm phan cúng dường Phật và Bồ tát được rất nhiều phúc đức. Cứ theo điều Bố thí Phật phan duyên trong kinh Soạn tập bách duyên quyển 7, ở đời quá khứ, tỉ khưu Ba đa ca làm lá phan dài để cúng dường đức Phật Tì bà thi, được quả báo trong 91 kiếp không bị đọa vào các đường ác, được sinh trong cõi người, cõi trời, hưởng mọi phúc lạc. Kinh Quán đính quyển 11 cũng nói rằng, người làm phan được phúc báo lìa 8 nạn khổ, sinh về Tịnh độ của chư Phật trong 10 phương. Kinh Quán đính quyển 12 thì cho rằng tạo phan 5 sắc sẽ thoát khỏi các nạn khổ và mạng sống lâu dài. Tại Trung quốc, vào đời Tùy, phan được sử dụng để cúng dường trong mọi Phật sự. Hình dáng lá phan là: Đầu phan làm hình tam giác, thân phan hình dài liên tiếp, dưới đầu và 2 bên thân phan có những tua rủ xuống, gọi là tay phan, còn phần dưới thân phan cũng có những tua rủ xuống, gọi là chân phan. Về nguyên liệu để làm phan thì có nhiều loại như: Gấm, lụa, là, đồng đàn mỏng, ngọc báu, gỗ v.v... Về màu sắc thì có: Trắng, đỏ, vàng, xanh, vàng lợt, hồng... đó là loại phan chỉ có 1 màu duy nhất. Nhưng Mật giáo thì thường dùng phan 5 màu: Xanh, vàng, đỏ, trắng, đen. Năm màu biểu thị 5 hành, lần lượt tượng trưng cho 5 tạng trong thân thể. Dùng phan 5 màu để thờ Phật tức là mong bồi dưỡng 5 tạng để được sống lâu, thế nên khi tu pháp cầu sống lâu thường sử dụng phan 5 màu. Ngoài, ra còn có phan 8 màu, phan 9 màu, phan nhiều màu lẫn lộn... Về kích thước thì được chia làm 2 loại là phan lớn, phan nhỏ, đều có khuôn khổ nhất định. Lại tùy theo nơi treo phan mà phan có các tên gọi khác nhau như Kim đường phan (Trung đường phan, Phật điện phan), Giảng đường phan, Di lặc đường phan(các loại trên đây được gọi chung là Đường phan). Các Đường phan phần nhiều được may bằng gấm và lụa. Loại phan dùng trong pháp cầu mưa, gọi là Đình phan, phần nhiều được làm bằng ngọc, tơ và dùng màu xanh. Phan treo trên tòa của Đạo sư và Giảng sư, gọi là Cao tòa phan; phan treo ở 4 góc của Thiên cái (tàn lọng lớn) gọi là Thiên cái phan... Lại tùy theo cách sử dụng mà chia ra các loại: Quán đính phan, Tục mệnh phan, Thọ mệnh phan, Tiến vong phan, Mệnh quá phan(dùng trong lễ cầu siêu cho người chết); Tống táng phan, cũng gọi Tứ bản phan(dùng trong nghi lễ đưa ma), Thí ngã quỉ phan(dùng trong lễ cúng thí quỉ đói – chủ yếu dùng phan làm bằng giấy)... Sau hết, căn cứ vào hình vẽ mà chia làm 4 loại phan: 1. Hội phan: Phan vẽ các hình tượng Phật, Bồ tát, Minh vương, chư thiên. 2. Chủng tử phan: Phan viết các chữ chủng tử của Phật, Bồ tát để thay thế cho hình tượng vẽ. 3. Tam muội da hình phan: Cũng gọi Phật pháp phan. Phan vẽ hình Tam muội da của Phật và Bồ tát. 4. Chàng phan: Phan có hình 6 góc hoặc 8 góc. Trong các kinh điển còn nói về nhiều loại phan, như Long tử phan nói trong phẩm Bồ tát giới của kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng, Sư tử phan, Mạc yết la phan, Long phan, Yết lộ đồ phan, Ngưu vương phan v.v... được nói trong Hữu bộ ni đà na mục đắc ca quyển 5. [X. kinh Tạp a hàm Q.25; kinh Đà la ni tập Q.3; kinh Đại bát niết bàn Q.trung (bản 3 quyển); Kinh luật dị tướng Q.6; A dục vương tạo bát vạn tứ thiên tháp kí trong Thích ca phổ Q.5; Mật giáo pháp cụ tiện lãm].
phan duyên
nương theo, vịn theo các duyên. Ví như nhân một chuyện này mà nghĩ đến các chuyện khác, lại đến các chuyện khác nữa, như sợi dây leo bò mãi đến không cùng, gọi là phan duyên. Tâm ý nương theo sáu trần làm duyên, nảy sanh những ý tưởng suy xét, mưu tính mãi mãi không dừng, gọi là phan duyên.
; Ālambana (S), Ālambana (P), Ārammaṇa (P)Sở duyên, Năng duyên, Phan duyênTâm không tự khởi lên, cần có cảnh sở đối rồi nương vịn vào đó mà khởiXem Phan duyên.
; Alambana (S). Foundation, support.
; Duyên—Tâm nương vịn vào cảnh sở mà khởi lên, giống như người già vịn vào cây gậy mà đứng lên (tâm thay đổi lúc thế nầy lúc thế khác, tùy theo sự vật của thế giới bên ngoài, giống như con vượn chuyền cây, hay con ngựa vô cương)—Something to lay hold of, a reality, cause, basis, similar to an old man relies on his cane (the mind likea monkey, the thought like a horse). ** For more information, please see Duyên in Vietnamese-English Section.
; (攀緣) ... Phạm: Àlambana. Phan là kéo lại, leo trèo, vin theo. Phan duyên có nghĩa là tâm bám dính vào 1 đối tượng nào đó(cảnh sở duyên). Chúng sinh khởi các vọng tưởng, tâm vọng vin theo các pháp. Vọng tưởng đã có chỗ vin theo thì thiện ác đã rõ; thiện ác đã rõ thì yêu ghét nổi lên. Do đó mà trong thì kết thành các phiền não, ngoài thì sinh muôn tật bệnh. Đây đều do tác dụng của tâm phan duyên mà ra. [X. phẩm Vấn tật trong kinh Duy ma Q.trung; kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.1; Ma ha chỉ quán Q.5, thượng].
Phan duyên 攀縁
[ja] ハンエン han'en ||| (1) To climb up, clamber up; scale. (2) The arising of consciousness due to its contact with the external world. The mental function of cognizing objects. (3) The cognized objects. => 1. Leo lên, trèo lên; Leo trèo (bằng thang). 2. Sự sinh khởi của thức do tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Tâm hành nhận biết đối tượng. 3. Đối tượng được nhận biết.
phan giác
Nắêm lấy và hiểu biết những cái cạn cợt bên ngoài, như con vượn chuyền hết cành nầy qua cành khác—Seizing and perceiving, like a monkey jumping from branch to branch, i.e. attracted by external unstable.
; (攀覺) Chỉ cho tâm tán loạn chạy theo cái biết đối với ngoại cảnh. Ma ha chỉ quán quyển 5, thượng (Đại 46, 57 hạ) nói: Tâm phan giác rong ruổi, Đều từ vọng tưởng sinh. Hệt như xoay vòng lửa, Ngừng tay vòng lửa dứt; Như sóng lớn cuồng nộ, Gió lặng thì sóng yên. (xt. Phan Duyên).
Phan Đỉnh Khuê
(潘鼎珪, ?-?): tự là Tử Đăng (子登), người vùng An Khê (安溪), Phúc Kiến (福建); sống ở Tấn Giang (晉江); tánh thích ngâm vịnh, lại có sở trường về Cổ Thi, thường dạo chơi đất Giao Chỉ (交趾). Trước tác của ông có An Nam Ký (安南紀). Trong khoảng cuối thời vua Khang Hy (康熙, tại vị 1662-1722) và đầu thời vua Ung Chánh (雍正, tại vị 1722-1735) nhà Thanh, ông sang sống tại Đài Loan (臺灣); đến cuối đời thì trở về Tuyền Châu (泉州) và qua đời ở tuổi 80. Ông có để lại hơn 20 tập thơ văn.
phanh phui
To speak out the truth.
phanh phật hạ tổ
(烹佛煆祖) Đồng nghĩa: Sát Phật sát tổ, Siêu Phật việt tổ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nấu Phật nướng tổ, biểu thị cơ pháp linh hoạt của bậc thầy. Nghĩa là lĩnh hội được ý nghĩa chân thực của Phật pháp mà không dính mắc vào các hình tượng Phật và tổ. Lời tựa của ngài Phổ chiếu trong Bích nham lục (Đại 48, 139 thượng) nói: Cầm kiền chùy nấu Phật nướng tổ, tụng ra cái mũi hướng thượng của nạp tăng.
phao khước hoàng kim phụng lục chuyên
(拋却黃金捧碌磚) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vứt bỏ vàng thoi lượm lấy ngói vỡ. Hoàng kim là vật quí trọng, ví dụ Phật tính mà mọi người đều sẵn có; còn Lục chuyên, tức gạch ngói, là những vật hèn mọn tầm thường, ví dụ sự mê chấp của vọng tưởng phân biệt. Nghĩa là vứt bỏ tính Phật sẵn có mà giữ lấy vọng tưởng phân biệt, đó là cái ngu si khờ dại của chúng sinh.Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 3 (Đại 47, 1005 trung) chép: Vị tăng hỏi: Khi cây đổ dây khô thì ngôn cú (nói năng) qui về chỗ nào? Sư nói: Vứt bỏ vàng thoi lượm lấy ngói vỡ (Phao khước hoàng kim phủng lục chuyên).
phao ngôn
To spread a rumour.
phao vu
To slander—To calumniate.
Pháp Diễn
(法演, Hōen, ?-1104): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Miên Châu (綿州, thuộc Tỉnh Tứ Xuyên ngày nay), họ là Đặng (鄧). Năm 35 tuổi, ông xuất gia thọ Cụ Túc giới, sau lên Thành Đô học về Duy Thức, rồi đi về phương Nam tham yết Viên Chiếu Tông Bổn (圓照宗本), kế đến tham vấn Phù Sơn Pháp Viễn (浮山法遠), cuối cùng theo học với Bạch Vân Thủ Đoan (白雲守端) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Từ đó, ông đến trú tại Tứ Diện Sơn (四面山) vùng An Khánh (安慶, thuộc Tỉnh An Huy ngày nay), sau chuyển đến Thái Bình Tự (太平寺), rồi Bạch Vân Sơn Hải Hội Thiền Viện (白雲山海會禪院) ở Thư Châu (舒州). Đến cuối đời, ông chuyển đến trú tại Ngũ Tổ Sơn (五祖山) ở Kì Châu (蘄州), cử xướng tông phong của Phái Dương Kì một cách mạnh mẽ. Chính ông đã đào tạo khá nhiều bậc long tượng như Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤), Thái Bình Huệ Cần (太平慧懃), Phật Nhãn Thanh Viễn (佛眼清遠), Khai Phước Đạo Ninh (開福道寧), Đại Tùy Nguyên Tĩnh (大隨元靜), v.v. Vào tháng 6 năm thứ 3 (1104) niên hiệu Sùng Ninh (崇寧) nhà Tống, ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi. Trước tác của ông có Ngũ Tổ Pháp Diễn Thiền Sư Ngữ Lục (五祖法演禪師語錄) 4 quyển.
phi
Not; un-; without, apart from; wrong.
; 1) Bay: To fly. 2) Không phải—Chẳng phải—sai—Not—Without—Apart from—Wrong. 3) Thê thiếp của vua: An imperial concubine.
phi an lập
The unestablished, or undetermined; that which is beyond terminology.
; Không sai biệt không thiết lập bởi từ ngữ—The unestablished or undetermined; which is beyond terminology.
; (非安立) Đối lại: An lập. Không bày đặt thiết lập. Dùng ngôn ngữ, danh tướng... bày đặt ra các pháp sai khác, gọi là An lập; trái lại các pháp chân như bình đẳng, không có sai khác, chẳng phải những pháp thiết lập nên, bày đặt ra, thì gọi là Phi an lập. Phi an lập tuy chủ yếu chỉ cho Nhất chân pháp giới lìa ngôn ngữ, danh tướng (Phế thuyên đàm chỉ), nhưng cũng gọi là Nhị không chân như nhờ lời nói mà được hiển bày (Y thuyên đàm chỉ), đây tức là Phi an lập giả danh. Thành duy thức luận thuật kí quyển 9 phần cuối (Đại 43, 568 thượng) nói: Cái có danh tướng, ngữ ngôn sai biệt gọi là an lập; cái không sai biệt, lìa mọi danh tướng, ngữ ngôn gọi là Phi an lập. An lập nghĩa là bày đặt ra. [X. luận Du già sư địa Q.64; Thành duy thức luận thuật kí Q.9].(xt. An Lập).
phi an lập chân như
the zbhùtatathatà, the absolute as it exist in itself.
phi an lập đế
Phi An Lập Chân Như hay cái lý của chân như thành thực, đối lại với chân như được diễn tả bằng lời nói và tư tưởng, phân biệt trong Duy Thức Học—The doctrine of the bhutatathata, the absolute as it exists in itself, i.e. indefinable, contrasted with the absolute as expressible in words and thought, a distinction made by the Sastra of Consciousness Only.
; (非安立諦) Cũng gọi Phi an lập chân như. Thể tính của chân như lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên, tịch diệt vô vi, gọi là Phi an lập đế, 1 trong 2 chân như nói trong luận Duy thức. Thành duy thức luận thuật kí quyển 1 phần đầu (Đại 42, 244 thượng) nói: Giả danh phi an lập đế, nghĩa là lí nhị không nưong nơi giả không môn nói là chân tính, nhờ chân tính ấy mà bên trong chứng trí cảnh vô ngôn. Gọi Nhị không như chỉ là bày đặt. [X. luận Du già sư địa Q.72; luận Hiển dươngThánh giáo Q.6].
phi bật sô
(非苾芻) Chẳng phải Bật sô. Chỉ cho tỉ khưu phạm 4 tội nặng: Giết hại, trộm cướp, dâm dục và nói dối. Vấn đề này, Kinh bộ và Hữu bộ của Tiểu thừa giải thích khác nhau. Trong kinh bộ, theo văn luật, người phạm 4 tội nặng đã xả bỏ giới thể, cho nên gọi là Phi bật sô. Còn trong Hữu bộ, theo văn kinh, thì người phạm 4 tội năng gọi là Ô đạo sa môn (sa môn làm ô danh đạo), tức là vẫn còn cái tên gọi Sa môn. Cho nên biết người vẫn giữ giới mà gọi là Phi bật sô là chỉ cho Phi thắng nghĩa bật sô. Thắng nghĩa bật sô là chỉ cho các bậc Thánh nhân. Nhưng vì tỉ khưu phạm 4 tội nặng, không thành quả Thánh, cho nên gọi là Phi bật sô chứ không phải chỉ cho việc xả bỏ giới thể. [X. luận Câu xá Q.15; Câu xá luận sớ Q.15].
phi bồ tát
Not Bodhisattvas, those who have not inclined their heart to Màhayàna.
; Không phải Bồ Tát, chỉ những người tu hành mà chưa phát nguyện Đại Thừa—Not Bodhisattvas—Those who have not yet inclined their heart to Mahayana.
phi căn
(非根) Chẳng phải căn. Năm trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc và một phần pháp giới thuộc về phi căn. (xt. Nhị Thập Nhị Căn, Thập Bát Giới).
phi diệp y quan âm
Pālasambari (S)Tên một vị Bồ tát.
phi diệt
The Buddha's "extinction" or death, not considered as real.
; Sự nhập diệt của Thế Tôn không phải là sự diệt mất—The Buddha's extinction or death is not considered as real.
phi dụ
An imaginary and not factual metaphore, one of the eight forms of comparison bát dụ.
; Một thí dụ tưởng tượng chứ không phải là những yếu tố cụ thể, một trong tám loại so sánh—An imaginary and not factual metaphor, one of the eight forms of comparision.
; (非喻) Một loại thí dụ. Như trong kinh nói đức Phật dùng 4 núi lớn từ 4 phương ập đến muốn làm hại chúng sinh để ví dụ 4 cái khổ sinh, già, bệnh, chết làm tổn hại chúng sinh. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.29 (bản Bắc)]. (xt. Thí Dụ).
phi hoa lạc diệp
(飛花落葉) Hoa bay lá rụng. Hàng Độc giác thừa 1 mình vào trong rừng, trông thấy hoa bay lá rụng mà cảm nhận được lẽ vô thường của cuộc đời, nhân đó mà khai ngộ.
phi hành
Có khả năng bay đến bất cứ nơi nào tùy ý—Flying anywhere at will.
; (飛行) Bay đi trong hư không một cách tự do, tự tại, tức là người đã chứng được Nhưý thông, 1 trong 6 thần thông. [X. luận A tì đàm cam lộ vị Q.hạ].
phi hành dạ xoa
Mội loại quỷ biết bay—Flying yaksas, or demons.
; (飛行夜叉) Dạ xoa, Phạm: Yakwa. Hán dịch: Uy đức, Từ tế, Tiệp tật. Loại quỉ trụ ở cõi trời Đao lợi, lệ thuộc trời Tì sa môn. Luận Thuận chính lí quyển 31 (Đại 29, 517 hạ) nói: Loài quỉ có uy thế lớn là các Dược xoa, La sát sa, Cung bạn đồ... thụ hưởng giàu sang vui sướng ngang với các trời. Loài quỉ này hoặc ở trong rừng cây, hoặc ở nơi linh miếu, hoặc ở trong núi, hoặc ở nơi cung điện trong hư không. Luận Đại trí độ quyển 12 thì nêu ra 3 loại Phi hành dạ xoa là Địa hành, Hư không và Cung điện. Trong đó, Địa hành dạ xoa được hưởng các thú vui âm nhạc, thức ăn uống...; Hư không dạ xoa có thế lực lớn, đi, đến như gió, Cung điện dạ xoa thì có rất nhiều thứ tiện nghi vui chơi. Sự hưởng thụ của các Dạ xoa này đều do quả báo của họ ở quá khứ mà có khác nhau. Theo chú Duy ma kinh quyển 1 thì Dạ xoa cũng có 3 loại: 1. Địa dạ xoa. 2. Hư không dạ xoa. 3. Thiên dạ xoa. Địa dạ xoavìbố thí tiền của nên không thể bay trong hư không; còn Thiên dạ xoa thì vì bố thí xe, ngựa nên không thể bay đi. Ngoài ra, trong các kinh thường thấy nói đến các thần Dạ xoa bay đi trong hư không.
phi hành hoàng đế
Vị Chuyển Luân Thánh Vương cưỡi xe đi trong không trung—Flying ruler, synonym for a sovereign.
phi hành phi toạ tam muội
(非行非坐三昧) Cũng gọi Giác ý tam muội, Tùy tự ý tam muội. Tam muội không đi không ngồi, 1 trong 4 thứ Tam muội do tông Thiên thai lập ra. Tuy gọi là Phi hành phi tọa nhưng thực ra thì thông cả hành, trụ, tọa, ngọa và tất cả các việc, tùy ý khởi động mà tu thiền định, cho nên cũng gọi là Tùy tự ý tam muội, Giác ý tam muội. Tức trong tất cả thời, trên tất cả việc, hễ niệm khởi liền hết, ý khởi liền tu tam muội. (xt. Tứ Chủng Tam Muội).
phi hành tiên
Vị Tiên có thể phi thân từ nơi nầy đến nơi khác—Flying genii.
; (飛行仙) Loại tiên bay đi trong hư không, 1 trong 10 loại tiên nói trong kinh Lăng nghiêm. Kinh Lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 145 hạ) nói: Kiên quyếtdùng cỏ cây mà không dừng nghỉ, khi luyện thuốc được thành tựu, gọi là Phi hành tiên. (xt. Thập Hành Tiên).
phi hóa
Bay đi và thay đổi—Flying and changing.
phi hắc phi bạch nghiệp
Neither black nor white karma, karma which does not affect metempsychosis either for evil or good; negative or indifferent karma.
; Nghiệp Vô Lậu—Tính của nghiệp vô lậu là không nhiễm ô nên gọi là phi hắc, không đem lại cái thiện quả của hữu lậu nên gọi là phi bạch—Neither black nor white karma—Karma which does not affect metempsychosis either for evil or good.
; (非黑非白業) Nghiệp chẳng đen chẳng trắng. Chỉ cho nghiệp vô lậu, 1 trong 4 thứ nghiệp. Tính của nghiệp vô lậu không ô nhiễm, nên gọi Phi hắc; cũng không mang lại quả thiện hữu lậu, nên gọi Phi bạch. (xt. Tứ Nghiệp)
phi học giả
Those who do not learn Buddha-truth.
; Những người không học Phật Pháp—Those who do not learn Buddha-truth.
phi học thế giả
Thế giới của những người không tu học Phật pháp—A world of those who do not learn Buddha-truth.
phi hữu
(S), non-existence Xem Vô hữu.
; Abhàva (S). Non existent, not real.
; Abhava (skt)—Không hiện hữu, không có thật—Non-existence—Not real—Non-reality.
phi hữu phi không
Neither existing nor empty; neither material nor immaterial; the characterization of the bhùtatathatà (in the Duy thức luận), i.e. the ontological reality underlying all phenomena. In the light of this, though the phenomenal has no reality in itself phi hữu, the noumenal is not void phi không.
; Trung đạo mà Duy Thức Luận trình bày tất cả các pháp đều chẳng phải hiện hữu mà cũng chẳng phải không hiện hữu; chẳng phải vật chất mà cũng chẳng phải phi vật chất (đây là bản chất của Chân Như). Dù sự là phi hữu, lý cũng chẳng phải là phi không—Neither existing nor empty—Neither material nor immaterial (The characteristics of bhutatathata). In the light of this, though the phenomenal has no reality in itself, the noumenal is not void.
; (非有非空) Chẳng có chẳng không. Tất cả các pháp đều có 3 tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực. Trong đó, Biến kế (vọng chấp) là không chứ chẳng phải có, Y tha (duyên khởi), Viên thành (chân lí) là có chứ chẳng phải không. Cũng tức là pháp ngoài tâm (Biến kế) chẳng phải có, pháp trong tâm (Y tha, Viên thành) chẳng phải không. Chẳng có chẳng không tức là Trung đạo. Đây là nghĩa Trung đạo nói trong luận Duy thức. (xt. Tam Tính).
phi hữu tình số
(非有情數) Phạm: A-sattvàkhyà, hoặc Asattvasaôkhyà. Cũng gọi Vô tình số. Đối lại: Hữu tình số. Chỉ cho tất cả số loại phi hữu tình như núi sông cây cỏ v.v... Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 172, về ngục tốt ở địa ngục có 2 thuyết: Một cho địa ngục tốt thuộc Hữu tình số, một chủ trương Phi hữu tình số. Thuyết cho ngục tốt thuộc Phi hữu tình, nhưng vì sức nghiệp của các tội nhân mà họ thấy ngục tốt giống như loài hữu tình đang dùng những khí cụ tra tấn, tàn hại thân thể họ. Nhưng thực ra thì ngục tốt không phải hữu tình số mà là Phi hữu tình số. [X. luận Đại tì bà sa Q.13; luận Câu xá Q.5]. (xt. Hữu Tình Số).
phi hữu tưởng phi vô tưởng luận
(非有想非無想論) Cũng gọi Bát chủng phi hữu tưởng phi vô tưởng luận, Bát phi hữu tưởng phi vô tưởng. Kiến giải chấp trước chẳng phải có tưởng chẳng phải không có tưởng và cho rằng sau khi người ta chết cũng như thế. Đây là 1 loại thường kiến sinh khởi do chấp trước đời vị lai, là 1 trong 62 kiến chấp của ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa, chia ra 2 loại Tứ cú: 1. Tứ cú đối nhau giữa sắc và vô sắc. a) Hữu sắc phi hữu tưởng phi vô tưởng (Có sắc, chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng), cũng gọi: Ngã hữu sắc tử hậu phi hữu tưởng phi vô tưởng (Ta có sắc, sau khi chết chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng). b) Vô sắc phi hữu tưởng phi vô tưởng, cũng gọi Ngã vô sắc tử hậu phi hữu tưởng phi vô tưởng. c) Diệc hữu sắc diệc vô sắc phi hữu tưởng phi vô tưởng (Cũng có sắc cũng không sắc chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng), cũng gọi Ngã diệc hữu sắc diệc vô sắc tử hậu phi hữu tưởng phi vô tưởng. d) Phi hữu sắc phi vô sắc phi hữu tưởng phi vô tưởng, cũng gọi Ngã phi hữu sắc phi vô sắc tử hậu phi hữu tưởng phi vô tưởng. Đây là sự nhiễm trước của người đã xa lìa cõi Vô sở hữu, họ chấp trước các uẩn vô sắc của cõi Phi tưởng phi phi tưởng làm ta, hoặc ta và sắc hòa hợp mà chấp trước ta là hữu sắc. Vì định tưởng mà họ đang ở trong không rõ ràng, nên chấp trước như ta hiện tại đang ở trong phi hữu tưởng vô tưởng thì sau khi ta chết cũng như thế. 2. Tứ cú đối nhau giữa biên và vô biên. a) Hữu biên phi hữu tưởng phi vô tưởng, cũng gọi Ngã hữu biên phi hữu tử hậu phi hữu tưởng phi vô tưởng. b) Vô biên phi hữu tưởng phi vô tưởng, cũng gọi Ngã vô biên tử hậu phi hữu tưởng phi vô tưởng. c) Diệc hữu biên diệc vô biên phi hữu tưởng phi vô tưởng, cũng gọi Ngã diệc hữu biên diệc vô biên tử hậu phi hữu tưởng phi vô tưởng. d) Phi hữu biên phi vô biên phi hữu tưởng phi vô tưởng, cũng gọi Ngã phi hữu biên phi vô biên tử hậu phi hữu tưởng phi vô tưởng. Đây là sự nhiễm trước của người đã được định ở cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, họ chấp trước uẩn vô sắc là ta, thời gian nhập định rất ngắn mà lấy 1 uẩn làm đối tượng duyên theo, gọi là Hữu biên; thời gian nhập định lâu dài mà lấy 4 uẩn làm đối tượng duyên theo, gọi là Vô biên. Định tưởng mà họ vào không rõ ràng, nên chấp trước như ta hiện tại ở phi hữu tưởng phi vô tưởng thì sau khi chết cũng như thế. [X. kinh Phạm động trong Trường a hàm Q.14; luận Đại tì bà sa Q.199; luận Du già sư địa Q.6]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến).
phi hữu tưởng phi vô tưởng thiên
Naiva-saṃjānā-nāsaṃjā-āyatana (S), Realm of neither-perception nor non-perception Phi tưởng phi phi tưởng xứTầng thứ 4 cõi vô sắc giới. Luận trí độ gọi là Phi hữu tưởng Phi vô tưởng thiên, Luận câu xá gọi là Phi tưởng Phi Phi tưởng. Gọi tắt là Phi Phi tưởng thiên hay Phi Phi tưởng xứ.
; Naisvasamjnànasamjnàyatana (S) The heaven or place where there is neither thinking nor not thinking; it is beyond thinking; the fourth of tứ không thiên, four immaterial heavens, known also as the hữu đỉnh thiên.
; Naivasamjnanasamjnayatana (skt)—See Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên and Tứ Không Xứ.
phi khí
A vessel unfit for Buddha or Buddhism, e.g. a woman body, which is unclean.
; Theo Phẩm Đề Bà trong Kinh Pháp Hoa, “Phi Khí” là cái căn khí không đủ sức thọ trì Phật pháp, như thân của người nữ, không thanh tịnh—According to Chapter 12 (Deva) in the Lotus Sutra, a vessel unfit for Buddha or Budhism, i.e. a woman's body, which is unclean.
; (非器) Không phải căn cơ, pháp khí có khả năng gánh vác được Phật pháp. Phẩm Đề bà trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 35 hạ) nói: Thân người nữ dơ bẩn, không phải là pháp khí. Trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 3, ngài Trừng quán nêu 5 hạng người không có tư cách thụ trì kinh Hoa nghiêm, gọi là Phi khí. Đó là: Vô tin, Vi chân, Quai thực, Hiệp liệt và Thủ quyền. 1. Vô tín phi khí: Người vì nghe kinh Hoa nghiêm mà sinh phỉ báng nên phải rơi vào trong đường ác. 2. Vi chân phi khí: Nương theo sự phỉ báng của kinh này (tức kinh Hoa nghiêm), để cầu danh lợi, thuyết pháp bất tịnh, nên tập thànhtà thiện. 3. Quai thực phi khí: Dựa vào lời mà chấp văn, hoặc theo tiếng mà chấp nghĩa, nên lí sâu xa mầu nhiệm không thể nhập thần được. 4. Hiệp liệt phi khí: Chỉ chung cho hàng Nhị thừa, ở giữa pháp hội nghe giảng, mà thực giống như người điếc, người đui, chẳng nghe chẳng thấy gì. 5. Thủ quyền phi khí: Chỉ chung cho hàng Bồ tát Tam thừa cộng giáo... Giả sử bậc Bồ tát tu hành lục độ mà chưa nghe kinh này, hoặc nghe rồi mà không tin, không hiểu, không thuận, thì cũng không vào được pháp cụ đức viên dung này, vì thế không gọi được là Bồ tát chân thật. [X. kinh Đại bảo tích Q.38; kinh Hoa nghiêm Q.4 (bản dịch cũ)].
phi khô phi vinh
(非枯非榮) Chẳng héo chẳng tươi. Cứ theo phẩm Ứng tận hoàn nguyên trong kinh Đại bát niết bàn hậu phần quyển thượng và Đại bát niết bàn kinh sớ quyển 1, bên bờ sông Hi liên phía ngoài thành Câu thi na kiệt la, lúc sắp nhập diệt, đức Thế tôn nằm trên giường, 4 chung quanh có 8 cây Sa la (Phạm: Zàla), mỗi phía có 2 cây, dưới đất rễ liền nhau, trên cây cành giao nhau, giống như cây liền cành. Một cây trong 2 cây ở 4 bên, buồn thương vì đức Thế tôn nhập diệt nên biến thành màu trắng thảm đạm, dần dần khô héo, nên có Tứ khô (4 cây khô); 4 cây còn lại thì vẫn tươi, nên có Tứ vinh(cây tươi), vì lí do ấy mà gọi là Phi khô phi vinh hoặc Tứ khô tứ vinh. (xt. Sa La Thụ).
phi không
Asunyatà (S). Emptilessness
; Asunya (skt)—Non-empty.
phi kị tướng quân nhập lỗ đình
(飛騎將軍入虜庭) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tướng cỡi ngựa bị giặc bắt sống. Theo điển cố Trung quốc, Lí quảng đời Hán có lần lâm trận, bị giặc Hung nô bắt sống, ông bèn giả chết để gạt tướng Phiên, về sau ông lại rình cơ hội cướp ngựa trốn thoát. Trong Thiền lâm, cụm từ này được dùng để chỉ cho người đang trong cảnh ngộ táng thân mất mạng mà vẫn có thể mạo hiểm để tự tìm cơ hội sống còn. Bích nham lục tắc 4 (Đại 48, 144 trung) nói: Tướng cỡi ngựa bị bắt sống rồi (Phi kị tướng quân nhập lỗ đình!). (Ôi! Tướng thua trận là kẻ bỏ mạng, chém làm gì nữa cho nhọc!).
phi lai
Tên một ngôi chùa tọa lạc trong xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh Châu Đốc, cách biên giới Việt Miên khoảng 4 dậm. Chùa được xây dựng năm 1877. Trong phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam vào thập niên 1920, chùa là một trong các trường Phật học ở miền Nam đã đào tạo nhiều vị Tăng lỗi lạc. Hòa Thượng Chí Thiền, vị trụ trì chùa, cũng là người sáng lập ra Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học—Name of a temple located in Ba Chúc village, Tri Tôn district, Châu Đốc province, about 4 miles from Vietnamese Cambodian border. It was built in 1877. During the movement of Buddhist development in Vietnam in the 1920s, the temple was one of the Buddhist schools in Southern Vietnam which formed many talented monks. Most Venerable Chí Thiền, Head of the temple, was the founder of the South Vietnam Buddhist Research Association.
phi lai phong
(飛來峰) Cũng gọi Linh thứu sơn. Núi ở tỉnh Chiết giang, Trung quốc. Ngọn núi không cao quá 160 mét, hoặc 200 mét, nhưng toàn bằng các loại đá và hang động kì lạ hơn các núi khác ở Vũ lâm. Khắp nơi trong ngọn Phi lai đều là hang sâu thăm thẳm bằng đá kì quái, thế núi như treo lơ lửng, hình dáng kì lạ, muôn vẻ, không cái nào giống cái nào, dây sắn, dây bìm chằng chịt, quấn quanh các cây cổ thụ xanh rờn. Tương truyền, khoảng năm Hàm hòa đời Tấn, sư Tuệ lí từng lên núi này, thấy hình thế ngọn núi trông giống với đỉnh núi nhỏ của núi Linh thứu bên nước Trung thiên trúc, ngờ rằng núi này đã từ Thiên trúc bay đến đây nên đặt tên núi là Phi lai phong (ngọn núi bay đến). Chùa Linh ẩn ở phía trước núi cũng do sư Tuệ lí xây dựng. Ở chân ngọn núi Phi lai có vài mươi hang động, có khắc hơn 300 pho tượng Phật bằng đá để thờ trong khám từ đời Ngũ đại đến đời Nguyên, trong đó, động Quan âm là 4319 nổi tiếng nhất, trên vách động khắc đầy tượng Phật lớn nhỏ, tượng Đa bảo thiên vương, tượng Di lặc, tượng La hán, tượng Phật Tam bảo... nổi tiếng khắp nơi. Trong động Kim quang của núi Phi lai còn có vô số tượng đá khắc rất tinh xảo, mĩ lệ, như 11 pho tượng Phật Lô xá na khắc nổi trên vách đá của cửa động là những tác phẩm của niên hiệu Càn hưng năm đầu (1022) đời vua Chân tông nhà Tống. Pho tượng Bồ tát có 3 mặt, 8 tay khắc trên sườn núi Phi lai là tác phẩm được thực hiện vào khoảng đời Nguyên. Ngoài ra, trên vách còn khắc 18 pho tượng La hán và tượng Hòa thượng Bố đại, tương truyền là những tác phẩm của vị tăng đời Nguyên tên là Dương liễn Chân già.
phi luật nghi
Bất Thiện Luật Nghi—Unwholesome rules and ceremonies.
phi luật nghi phi bất luật nghi
(非律儀非不律儀) Cũng gọi Xử trung. Một trong 3 loại Vô biểu sắc. Luật nghi (Phạm: Saôvara), cũng gọi Đẳng hộ, Phòng hộ, Cấm giới, là giới điều ngăn dứt lỗi lầm, có tác dụng ngăn ngừa 3 lỗi thân, khẩu, ý, giữ gìn 6 căn.Trái lại thì là Bất luật nghi. Phi luật nghi phi bất luật nghi không phải là cực thiện của luật nghi mà cũng chẳng phải là cực ác của bất luật nghi, mà là thiện ác tùy duyên và ứng thời mà sinh khởi; tức là thiện của Xử trung và ác của Xử trung, lực dụng của thiện ác này rất yếu ớt, cho nên được gọi là thiện, ác của xử trung, cũng tức là thiện và ác của Phi giới luật, thể của chúng chẳng sinh ra thiện hoặc bất thiện. Luận Câu xá quyển 14 (Đại 29, 72 trung) nói: Trong đây, tóm lại, Vô biểu sắc có 3 loại: Luật nghi, Bất luật nghi và Phi nhị (Phi luật nghi phi bất luật nghi). Luận Đại thừa tì đạt ma tạp tập quyển 8 (Đại 31, 730 hạ) nói: Các nghiệp thiện như bố thí, ái ngữ...và các nghiệp bất thiện như đánh nhau... không nhiếp vào luật nghi và bất luật nghi, vì thế nên gọi là Phi luật nghi phi bất luật nghi. [X. luận Du già sư địa Q.53; Pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần cuối]. (xt. Vô Biểu Sắc).
phi lý
Irrational—Illogical—Extravagant.
phi lượng
Tất cả tri kiến chấp thật, sai trái với hiện lượng, tỷ lượng.
; (非量) Cũng gọi Tự lượng. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho Tự hiện lượng và Tự tỉ lượng, 1 trong 3 lượng. Tự¦ nghĩa là tựa hồ như đúng nhưng thực ra là sai; Hiện lượng tức là cái biết thuộc về trực giác; Tỉ lượng tức là cái biết thuộc về suy luận. Tự hiện lượng (gọi tắt: Tự hiện): Sự nhận biết sai lầm về đối tượng trước mắt, như trong bóng tối lờ mờ, thấy sợi dây tưởng lầm là con rắn. Tự tỉ lượng (gọi tắt: Tự tỉ): Sự nhận biết sai lầm về đối tượng suy luận, như từ xa thấy sương mù mà tưởng là khói rồi suy luận sai lầm rằng ở nơi đó có lửa. Tự hiện lượng và Tự tỉ lượng chỉ ang áng như Chân hiện lượng và Chân tỉ lượng, chứ thật ra không phải là Chân hiện lượng, Chân tỉ lượng, vì thế gọi là Phi lượng. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, hạ; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.1, 8]. (xt. Tam Lượng, Nhân Minh).
phi lạc tu
(非樂修) Không tu vui, 1 trong 3 pháp tu kém cỏi.Chỉ cho hàng Thanh văn không biết rằng trong các pháp tự có cái vui của Niết bàn tịch diệt, mà cứ một mực quán tưởng tất cả các pháp đều là khổ, gọi là Phi lạc tu. (xt. Tam Tu).
phi lậu phi vô lậu nghiệp
Karma of neither ordinary rebirth, nor Hinayana nirvana—Neither of both—Mahayana nirvana.
phi lễ
Rude—Impolite—Uncivil—Discourteous.
phi lục sinh
Không phải phát sanh do thức thứ sáu, mà do các thức khác—Not arising directly from the mind, which is the sixth sense, but from other senses.
phi nghiệp
Death by accident said not to be determined by previous karma.
; Cái chết vì tai nạn bất ngờ không phải do nghiệp nhân của đời trước mà do tai họa của hiện đời. Đây là cái chết hoạnh tử—Death by accident said not to be determined by previous karma—A sudden, unnatural accidental death.
; (非業) Cũng gọi Hoạnh tử. Chết non. Nghĩa là theo nghiệp đời trước thì thọ mệnh chưa hết, nhưng vì gặp tai nạn bất ngờ ở hiện tại (như tai nạn xe cộ) đến nỗi phải chết, gọi là Phi nghiệp tử. Ngoài ra, tuổi thọ của người đời thường được gọi là Định mệnh, nếu người chưa đến định mệnh(chưa hết số) mà chết yểu thì gọi là Phi nghiệp tử, đây cũng do quả báo của nghiệp ác đời trước; nếu chuyển hóa được nghiệp ác này thì có thể bảo toàn được tuổi thọ. Kinh Kim cương thọ mệnh đà la ni (Đại 12, 578 thượng) nói:Tôi dùng tất cả sức uy thần của Như lai khiến cho hết thảy chúng sinh chuyển hóa nghiệp phi mệnh mà tăng thêm tuổi thọ.
phi nghĩa
Ill-gotten.
phi ngã
Anātman (S), Anattā (P)Một trong 4 hành tướng của Khổ đế: Vô thường, Khổ, Không, Phi ngã.
phi nhân
hạng chúng sanh không phải người, không có thể xác như loài người. Tuy có thể biến hóa ra hình người nhưng không phải người nên gọi là phi nhân.
; Amanusya (S), Amanussa (P), Analaya (S), Non-people Một loại chúng sanh.
; Not-men, not of the human race, i.e. devas, nagas, raksas etc.
; 1) Không phải người, ngoài loài người ra còn có những chúng sanh phi nhân như loài Trời, Rồng, Ma, và Dạ Xoa, cũng như tất cả các loài trong bóng tối (mắt thường không thể thấy được): Not men, not of the human race, i.e. devas, kinnaras, nagas, maras, raksas, and all beings of darkness. 2) Thỉnh thoảng còn được dùng ám chỉ một vị Tăng đã cắt ái ly gia làm du Tăng khất sĩ, sống khác với người thường: Sometimes applied to monks who have secluded themselves from the world and to beggars, i.e. not like ordinary men.
; (非人) Phạm: Amanuwya. Pàli: Amanussa. Chẳng phải loài người. Chỉ chung cho các loài: Trời, rồng, Dạ xoa, Ác quỉ, Tu la, địa ngục... Tỉ khưu lục vật đồ tư sao quyển hạ ghi: Trong luật điển nói có 3 cõi là: Cõi người, cõi phi nhân và cõi súc sinh. Trong đó, cõi phi nhân chỉ cho 4 cõi: Trời, Tu la, địa ngục và ngã quỉ. Bậc sa môn xuất gia lánh tục cũng khiêm tốn tự xưng là Phi nhân. Ngoài ra, từ ngữ Phi nhân còn được dùng để chê bai người nghèo túng, xin ăn. [X. kinh Chủng đức trong Trường a hàm Q.15; phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa; luận Đại tì bà sa Q.126; luận Câu xá Q.12].
phi nhơn
Non-humans—Not men—Not of the human race—See Phi Nhân.
phi nhị tụ
(非二聚) Chỉ cho loại tụ phi sắc phi tâm pháp, 1 trong 3 tụ. Tất cả các pháp hữu vi được chia làm 3 loại tụ lớn: 1. Hữu vi tụ: Chỉ cho các pháp do nhân duyên mà li hợp, sinh diệt. 2. Vô vi tụ: Chỉ cho các pháp không do nhân duyên hòa hợp, không sinh diệt. 3. Phi nhị tụ: Chỉ cho tất cả các pháp không thuộc 2 loại tụ trên. (xt. Tam Tụ, Phi Sắc Phi Tâm).
phi nhị tựu
Đứng riêng khỏi hai thứ thân và tâm—Apart from the two categories of matter and mind—See Phi Sắc Phi Tâm.
phi phi tưởng thiên
The heaven where there is neither thinking nor not-thinking.
; Non-No-Thought Heaven—See Tứ Thiền Thiên.
phi phong phi phan
(非風非幡) Cũng gọi Lục tổ phong phan tâm động, Lục tổ tâm động, Phong phan động. Tên công án trong Thiền tông. Chẳng phải gió chẳng phải phan (lá phướn). Sau khi đắc pháp ở Hoàng mai, ngài Lục tổ Tuệ năng, vào niên hiệu Nghi phụng năm đầu (676), đến chùa Pháp tính ở Quảng châu, nhân gặp lúc 2 vị tăng đang tranh luận về gió và phan nên Ngài đã chỉ dạy công án này. Phẩm Hành do trong Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh (Đại 48, 349 hạ) ghi: Lúc ấy gió thổi phan động, 1 vị tăng nói gió động, 1 vị tăng nói phan động, 2 người cứ tranh cãi mãi không thôi. Ngài Tuệ năng liền đến nói: Chẳng phải gió động, cũng chẳng phải phan động, mà chính là tâm của 2 vị động! Nghe Ngài nói mọi người đều kinh ngạc. [X. Vô môn quan tắc 19; Cảnh đức truyền đăng lục Q.5; Ngũ đăng hội nguyên Q.1].
phi phàm
Extraordinary—Out of the ordinary.
phi pháp
Adharma (S), Misconduct, Adhamma (P)Pháp sai lệch.
; Adharma (S). Misconduct, false doctrine.
; Illegal—Unlawful.
phi phước nghiệp
Apunn'abhisaṇkhāra (S), Apuṇya-karma (S).
phi phạm hành
(非梵行) Phạm: A-brahma-carya. Pàli: A-brahma-cariya. Cũng gọi Bất tịnh hạnh. Chỉ cho việc hành dâm. Phạm hạnh là hạnh thanh tịnh, mà hành dâm là hạnh ô nhiễm nên gọi là Phi phạm hạnh(chẳng phải, hoặc trái với hạnh thanh tịnh). Tỉ khưu, tỉ khưu ni vi phạm hạnh này thì bị tăng đoàn trục xuất, vì là 1 trong 4 tội Ba la di. [X. Thiền giới thiên]. (xt. Tứ Ba La Di).
phi phạm hạnh
Abrahma-caryā (S), Impure conduct Bất tịnh hạnh.
; See Bất Tịnh Hạnh.
phi sanh phi diệt
The doctrine that the Buddha was not really born and did not really die for he is eternal—See Phi Sinh Phi Diệt.
phi sinh phi diệt
The doctrine that the Buddha was not really born and did not really die, for he is eternal.
; 1) Giáo pháp của Đức Phật là bất sanh bất diệt, vì đó là chân lý tuyệt đối thường hằng: The doctrine of the Buddha as not really born and did not really die for it is eternal, or the absolute truth. 2) Đức Phật là bất sanh bất diệt vì pháp thân của Ngài là vĩnh hằng: The Buddha as not really born and did not really die, for he is eternal (his dharmakaya is eternal).
; (非生非滅) Chẳng phải sinh, chẳng phải diệt. Sự xuất sinh và diệt độ của đức Thích ca Như lai đều không phải thực sinh thực diệt. Thọ lượng củaNgài vốn là vô biên, chỉ vì muốn giáo hóa làm lợi ích cho chúng sinh nên chẳng phải sinh mà thị hiện sinh, chẳng phải diệt mà thị hiện diệt. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 2 (Đại 33, 828 hạ) nói: Chẳng phải sinh mà hiện sinh, chẳng phải diệt mà hiện diệt, mỗi thứ đều có 2 sự lợi ích: Hình thanh và Quyền thực. Sinh diệt là Thùy tích, chẳng phải sinh chẳng phải diệt là Bản địa vậy. [X. phẩm Thọ lượng kinh Pháp hoa; Pháp hoa văn cú Q.9]. (xt. Bản Tích Nhị Môn).
phi sơ phi trung hậu tiền trung hậu thủ
(非初非中後前中後取) Khi bàn về sự đoạn hoặc không phải ở 3 thời: Sơ, trung, hậu gọi là Phi sơ phi trung hậu; còn khi nói về 3 thời: Tiền, trung, hậu thì gọi là Tiền trung hậu thủ. Trong Chung giáo thuộc 5 giáo (Tiểu, Thủy, Chung, Đốn, Viên), ngài Pháp tạng của tông Hoa nghiêm đã sử dụng nhóm từ này để nói rõ cái tướng đoạn hoặc, trong đó Phi sơ phi trung hậu có xuất xứ từ phẩm Thập địa kinh Hoa nghiêm, còn Tiền trung hậu thủ thì xuất xứ từ Thập địa kinh luận quyển 2. Tuy nhiên, ý nghĩa của Phi sơ phi trung hậu trong kinh Hoa nghiêm và ý nghĩa của Tiền trung hậu thủ trong Thập địa kinh luận có vẻ mâu thuẫn nhau. Do đó mới có sự giải thích chung của các nhà để đả thông, như Thập địa kinh luận của ngài Tuệ viễn thuộc tông Tam luận cho rằng chỉ có 1 niệm đầu (sơ), hoặc 1 niệm giữa (trung) hoặc 1 niệm sau (hậu), đều không rốt ráo, mà phải thông suốt cả 3 thời mới là rốt ráo. Ngài Trừng quán phê bình thuyết của ngài Tuệ viễn, bảo rằng thuyết này chỉ biết có nghĩa đoạn hoặc, chứ không biết nghĩa đoạn mà chẳng phải đoạn, chẳng phải đoạn mà đoạn. Trong Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí quyển 3, phần đầu, thì Ngài Trí nghiễm cho rằng tính duyên khởi là nghĩa duyên sinh vô tính, tức là chân không diệu hữu. Từ nghĩa chân không vô tính mà nói Phi sơ phi trung hậu, nhưng vì vô tính tức là duyên sinh diệu hữu nên trong luận mới nói Tiền trung hậu thủ. Ngài Pháp tạng kế thừa ý này mà định nghĩa đoạn hoặc trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 10 như sau (Đại 35, 296 hạ): Tướng đoạn hoặc thứ 2 Luận và kinh gọi là Phi sơ phi trung hậu, nghĩa là trong 3 thời đều không có nghĩa đoạn mới là đoạn vậy. Đây chính là nghĩa duyên sinh vô tính. Lại đem nghĩa này chia ra 2 môn Tương phiên, Tương tục mà bàn giải rộng ra. Bởi thế những nghĩa nói trong kinh và luận chẳng phải mâu thuẩn nhau. Trong Hoa nghiêm kinh sớ sao, ngài Trừng quán cũng hoàn toàn kế thừa thuyết của 2 môn này, đồng thời giải thích rõ ràng chi tiết hơn. Mà thuyết đoạn hoặc của 2 môn Tương phiên và Tương tục chính là bàn nói nghĩa Phi sơ phi trung hậu của kinh Hoa nghiêm và giải thích nghĩa Tiền trung hậu thủ của Thập địa kinh luận, tức là nói rõ tướng đoạn hoặc của Chung giáo trong 5 giáo. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3; Hoa nghiêm ngũ giáo chương thính sao Q.hạ; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí nam kỉ lục Q.10].
phi sắc
Aruùpa (S). Non-form, formless, immaterial.
; Arupa (skt)—Những thứ không có hình tướng hay hình thể, không được thành lập bởi tứ đại (những thứ do tứ đại sinh ra và hình thành thì gọi là sắc)—Formless—Without rupa, form or shape—Not composed of the four elements.
; (非色) Chẳng phải sắc. Nghĩa là pháp không do 4 đại tạo thành. Các pháp được tạo thành và được sinh ra bởi 4 đại đất, nước, lửa, gió, gọi là Sắc; còn các pháp không do 4 đại tạo thành thì gọi là Phi sắc(phi vật chất). Trong 5 uẩn, ngoài sắc uẩn, 4 uẩn còn lại(thụ, tưởng, hành, thức) đều gọi là Phi sắc.
phi sắc phi tâm
Neither matter nor mind; neither phenomenal nor noumenal.
; Chẳng phải sắc mà cũng chẳng phải tâm (đứng riêng khỏi hai thứ thân và tâm)—Entities neither of matter nor mind—Neither phenomenal nor noumenal—Apart from the two categories of matter and mind.
; (非色非心) Không phải sắc không phải tâm. A tì đạt ma Tiểu thừa chia tất cả pháp hữu vi làm 3 nhóm: Sắc pháp, Tâm pháp và Phi sắc phi tâm pháp.Trong đó, những pháp không phải do 4 đại tạo thành (phi sắc) mà cũng chẳng tương ứng với tâm pháp (phi tâm), gọi là Phi sắc phi tâm pháp.Trong 75 pháp do tông Câu xá lập ra thì 14 pháp Bất tương ứng hành tức là các pháp Phi sắc phi tâm. còn luận Thành thực thì lấy Vô tác sắc(tông Câu xá gọi là Vô biểu sắc) làm Phi sắc phi tâm. (xt. Vô Biểu Sắc).
phi sắc tứ uẩn
Ngoại trừ sắc uẩn ra, bốn uẩn còn lại được gọi là “phi sắc tứ uẩn”—The four skandhas, excluding rupa or form.
Phi sổ diệt vô vi
xem Ba pháp vô vi.
phi sở phan duyên
Nirālambana (S).
; Niràlambana (S)
phi sở đoạn
Aheya (S), Aheya-heya (S)Người đã chứng quà A la hán, không còn lậu hoặc nào để đoạn.
; Not to be cut off, i.e. active or passive nirvàna (discipline); one of the tam sở đoạn.
; Pháp vô lậu của hữu vô vi (pháp hữu lậu của kiến hoặc là kiến sở đoạn)—Not to be cut off, i.e. active or passive nirvana (discipline).
; (非所斷) Phạm: A-heya. Cũng gọi Phi đoạn, Bất đoạn, Vô đoạn. Không có gì để đoạn trừ. Chỉ cho các pháp hữu vi, vô vi thuộc vô lậu xuất thế, thể tính của chúng thanh tịnh, không bị ràng buộc nên gọi là Phi sở đoạn, là 1 trong 3 đoạn. Như 3 giới sau trong 18 giới, Tầm, Tứ trong Đại địa pháp, Cần trong Đại thiện địa pháp, Đắc và 4 tướng (sinh, trụ, dị, diệt) trong Bất tương ứng hành pháp, 5 căn(tín, tiến, niệm, định,tuệ) trong 22 căn, 4 căn Ý Hỉ Lạc Xả và 3 căn Vô lậu thuộc tông Câu xá, đều thuộc Phi sở đoạn. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 66 thì Phi sở đoạn có 2 nghĩa: 1. Tự tính các pháp xưa nay vốn thanh tịnh, không có gì để đoạn. 2. Phiền não đã bị dứt hết, không có gì để đoạn. [X. luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; luận Phẩm loại túc Q.6]. (xt. Tam Đoạn).
phi tam phi nhất
Neither three nor one; a Thiên Thai phrase, that the không giả trung, or noumenon, phenomenon, and madhya or mean, are three aspect of absolute truth, but are not merely three nor merely one
; Không phải ba mà cũng không phải một, một từ của Tông Thiên Thai dùng để chỉ ba khía cạnh không, giả và trung, không phải ba mà cũng không phải một; tương tự ba thứ pháp thân, trí huệ và niết bàn không phải ba mà cũng chẳng phải một—Neither three nor one, a T'ien-T'ai phrase that noumenon, phenomenon, and madhya or mean, are three aspects of absolute truth, but are not merely three nor merely one; similarly, three powers of dharmakaya, wisdom, and nirvana are neither three nor one.
; (非三非一) Chẳng phải ba chẳng phải một. Theo Viên giáo thì 3 đức (Pháp thân, Bát nhã, Giải thoát)và 3 đế(Không, Giả, Trung), nghĩa lí cũng như đức dụng đều khác nhau, nhưng sự viên dung tương tức thì không lìa 1 vị. Một tức là 3 cho nên 3 mà chẳng phải 3; 3 tức 1 cho nên 1mà chẳng phải 1. Đó chính là phi tam phi nhất, là nghĩa lí tột cùng của Viên giáo.
phi tang
To destroy evidence.
phi thiên
Apsara (S)Nhạc Thiên. Xem A tu la.
; Not devas. i.e. asuras a tu la.
; A Tu La—Không phải là chư Thiên, mà phải chịu quả báo giống như chư Thiên, thí dụ như A Tu La—Not devas, i.e. asuras.
; (飛天) Những người trời bay trong hư không, dùng hương hoa, ca múa... cúng dường chư Phật, Bồ tát. Ở Ấn độ từ xưa truyền thuyết Phi thiên đã rất thịnh hành, cho nên trong những di tích quan trọng của Phật giáo, có khá nhiều các bức bích họa hoặc điêu khắc Phi thiên. Như viện Bảo tàng ở vườn Lộc dã và Mạt thố la có cất giữ pho tượng đức Thích ca thuyết pháp tạc bằng đá, trên vòng hào quang của tượng có khắc 2 vị Phi thiên. Ngoài ra, trong vòng hào quang hình chiếc thuyền ở phía sau 3 pho tượng trong điện Ngọc Phật chùa Pháp vũ, núi Phổ đà lạc, tỉnh Chiết giang, Trung quốc, cũng có khắc vài pho tượng Phi thiên, áo trời phấp phới tung bay trong gió, trông như ánh sáng của ngọn lửa.
phi thiện giới
Bất Thiện Giới—Unwholesome commandments.
phi thuyết phá
(飛說破) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lời nói phá đối phương nhanh như bay. Trong Thiền lâm,giữa lúc Thủ tọa và đại chúng đang đối đáp qua lại, đột nhiên có những câu pháp cơ yếu sắc bén được phóng ra như bay để khiêu chiến, gọi là Phi thuyết phá.
phi thường
Xem Vô thường.
; Xem vô thường.
; 1) Vô thường, bằng chứng bởi tuổi già, bệnh tật, và chết chóc—Anitya (skt)—Illusory—Impermanent—Transient—Illusory, as evidenced by old age, disease, and death—See Vô Thường. 2) Extraordinary—Exceptional—Abnormal.
phi thường khổ không phi ngã
See Vô Thường, Khổ, Không, Vô Ngã.
phi thế
(披剃) Cạo tóc, mặc áo tu sĩ, chỉ cho tăng ni của Phật giáo mới xuất gia. Theo giới luật qui định, người xuất gia tu đạo phải cạo bỏ râu tóc, mặc áo tu sĩ. Cứ theo điều Giới sa di trong Thiền uyển thanh qui quyển 8 thì trước khi phi thế, phải chuẩn bị các vật như áo pháp 5 điều, y phục thường ngày, bát ăn cơm, giầy dép...; kế đến, trước thụ 5 giới, sau thụ 10 giới. [X. Khí vật môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].
phi thời
Akaliko (J).
; Untimely; not the proper or regulation time (for meals).
; Không đúng lúc (sau giờ ngọ)—Untimely—Not at the proper or regulation time (from dawn to noon) for meals (after-noon).
; (非時) Không phải thời, trái thời. Giới luật Phật giáo qui định từ sáng sớm (Minh tướng khi ngửa bàn tay ra mà trông rõ những đường chỉ trong lòng bàn tay, gọi là Minh tướng) đến mặt trời đứng bóng (chính ngọ) gọi là Thời. Từ mặt trời đứng bóng đến Minh tướng ngày hôm sau gọi là Phi thời. (xt. Phi Thời Thực, TraiGiới).
phi thời dược
(非時藥) Cũng gọi Canh dược. Thuốc không phải thời (trái giờ qui định). Chỉ cho nước trái cây, hoặc nước pha với bột gạo mà tỉ khưu, tỉ khưu ni vì trị bệnh được phép dùng trong giờ Phi thời thực.Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển 2, phần cuối (Đại 40, 117 hạ) nói: Phi thời dược là các thứ nước mà người bệnh được phép uống ngoài giờ ăn chính. (xt. Tứ Dược).
phi thời thực
To eat out of hours, i.e. after noon.
; Ăn sau giờ ngọ—To eat out of regulation hours (after-noon).
; (非時食) Phạm, Pàli: Vikàlabhojana. Ăn không phải thời (ngoài giờ qui định). Cũng gọi Phi thời thực học xứ. Từ sau giữa ngày (chính ngọ) đến Minh tướng ngày hôm sau chưa xuất hiện mà các tỉ khưu ăn uống đều gọi là Phi thời thực. Trong luật điển, điều này đã được qui định thành giới pháp. GiớiPhi thời thực cũng gọi là giới Bất quá trung thực (không ăn quá giữa ngày), giới Bất quá thời thực, Li thực phi thời thực (Phạm: Vikàlabhojana-virati). Trong các loại giới pháp như: Tám giới Quan trai của Phật tử tại gia, 10 giới của sa di và sa di ni, 6 pháp của Thức xoa ma na (Chính học nữ), 250 giới của tỉ khưu và 348 giới của tỉ khưu ni đều có giới Phi thời thực. Tuy nhiên, theo kinh Sa di thập giới nghi tắc, nếu tỉ khưu bị bệnh, thầy thuốc bảo ăn mới chữa trị được thì, trong trường hợp này, tỉ khưu được phép ăn phi thời. [X. luật Thập tụng Q.21,53; luật Ma ha tăng kì Q.30; Tứ phần tỉ khưu ni giới bản; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 3]. (xt. Phi Thời).
phi thời tương
(非時漿) Loại nước được dùng ngoài giờ qui định, 1 trong 4 thứ phi thời dược. Giới luật qui định tỉ khưu không được ăn phi thời, nhưng, nếu vì chữa bệnh thì được phép uống các loại nước như: Nước pha với bột đậu, bột gạo, với mật, đường phèn, hoặc nước trái cây...trong giờ phi thời. [X. luật Ngũ phần Q.5; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.2, phần cuối]. (xt. Tứ Dược).
phi thực
See Phi Thời Thực.
phi tiền hậu câu đắc
(非前後俱得) Sự chứng đắc không còn bị lệ thuộc vào thời gian, là 1 trong 4 thứĐắc. Chỉ cho sự chứng đắc các pháp Trạch diệt vô vi và Phi trạch diệt vô vi. Hai pháp vô vi này không sinh không diệt, không bị ba đời: Quá khứ, hiện tại, vị lai ràng buộc, vì thế đã chứng đắc 2 pháp vô vi này thì không còn dính dáng gì với thời gian nữa: Chẳng trước, chẳng sau, hoặc trước, sau cùng lúc, cho nên gọi là Phi tiền hậu câu đắc. (xt. Đắc).
Phi trí duyên diệt
pháp thứ ba trong Ba vô vi (Tam vô vi). Xem Ba pháp vô vi.
Phi trí duyên diệt vô vi
xem Ba pháp vô vi.
Phi trạch diệt
非擇滅; S: apratisaṃkhyā-nirodha;|Là diệt độ không cần sự cố gắng, vô tình, không phụ thuộc, không dựa trên Bát-nhã (s: prajñā), không phân biệt, phân tích (phi trạch). Ðây là một trong những Pháp (s: dharma) không phụ thuộc (Vô vi) trong học thuyết của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivā-da) và Duy thức tông (s: yogācāra).
phi trạch diệt
Apratisamkhyànirodha (S). The extinction due to lack of a productive caus.
Phi trạch diệt vô vi
xem Ba pháp vô vi.
phi trạch diệt vô vi
Apratisaṃkhyā-nirodha (S)Pháp tịch diệt chẳng phải nhờ năng lực chọn lựa của chánh trí, chỉ nhờ thiếu sanh duyên mà hiện.
; (非擇滅無爲) Phạm: Apratisaôkhỳa-nirodhà= saôskfta. Dịch cũ: Phi số diệt vô vi. Gọi tắt: Phi trạch diệt. Pháp vô vi không do sức giản trạch, 1 trong 3 vô vi của Thuyết nhất thiết hữu bộ, 1 trong 6 vô vi của tông Pháp tướng. Phi trạch diệt cũng gọi là Phi số diệt, Phi trí duyên diệt, là 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Theo Thuyết nhất thiết hữu bộ, các pháp đều do nhân duyên hòa hợp, từ vị vị lai chuyển đến vị hiện tại, ở trong khoảng sát na sinh ra liền diệt ngay, trở thành phần vị quá khứ. Nếu khi sinh duyên (điều kiện để sinh ra) bị thiếu thì phi trạch diệt làm trở ngại sự sinh khởi của pháp ấy và pháp ấy vĩnh viễn sẽ ngưng lại ở phần vị vị lai, tuyệt đối không sinh ra nữa, gọi là Duyên khuyết bất sinh (thiếu duyên nên không sinh). Lúc đó, pháp ấy được Phi trạch diệt vô vi, trở thành pháp rốt ráo không sinh. Cho nên hễ pháp vô vi nào không do sức giản trạch, vì thiếu sinh duyên của pháp hữu vi mà hiển bày pháp vô vi tịch diệt bất sinh thì gọi là Phi trạch diệt vô vi. Nói tóm lại, Trạch diệt là cái mà thánh đạo chứng được, còn Phi trạch diệt là cái do thiếu duyên mà chứng được. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 39, 1 hạ) nói: Vĩnh viễn làm trở ngại sự sinh khởi của pháp vị lai mà được diệt, gọi là Phi trạch diệt, được không nhờ trạch diệt mà chỉ vì thiếu duyên. Tông Pháp tướng chủ yếu chỉ do chân như không cần đợi trí tuệ giản trạch của hành giả mà tự tính đã thanh tịnh, gọi là Phi trạch diệt vô vi. Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 6 hạ) nói: Không nhờ sức giản trạch mà tự tính vốn thanh tịnh; hoặc do thiếu duyên mà hiển bày, gọi là Phi trạch diệt. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Câu xá luận quang kí Q.1; Bát tông cương yếu Q.thượng]. (xt. Trạch diệt).
phi trọc
(非濁) (?-1063) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Liêu, người Phạm dương (huyện Trúc, tỉnh Hà bắc), họ Trương, tự Trinh chiếu. Đầu năm Trùng hi đời vua Hưng tông nhà Liêu, sư lễ quốc sư Viên dung làm thầy, không bao lâu bị bệnh, sư bèn ẩn ở núi Bàn sơn tu pháp Bạch tản cái, trong lúc sư ngồi yên lặng tụng trì thường có thần núi cung kính đứng hầu, ít lâu bệnh khỏi. Năm Trùng hi thứ 8 (1040), sư được vua ban cho áo đỏ, năm Trùng hi 18 (1050), vua trao cho sư chức Thượng kinh quản nội đô tăng lục, về sau, sư chuyển sang giữ chức Yên kinh quản nội tả nhai tăng lục. Đến khi vua Đạo tông lên ngôi lại ban cho sư chức Sùng lộc Đại phu kiểm hiệu thái bảo. Năm Thanh ninh thứ 2 (1056), sư tiến nhậm Kiểm hiệu thái phó thái úy, vua ban hiệu Thuần Tuệ Đại Sư. Mùa xuân năm Thanh ninh thứ 6 (1060), vua Đạo tông đến Yên kinh, thỉnh sư làm Yên kinh quản nội sám hối chủ Bồ tát giới sư để truyền giới cho vua. Năm Thanh ninh thứ 9 (1063), sư thị tịch ở chùa Trúc lâm. Sư để lại cáctác phẩm: Tùy nguyện vãng sinh tập, 20 quyển, Tam bảo cảm thông lục, 3 quyển. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Liêu sử nghệ văn chí bổ chứng; Tân tục cao tăng truyện Q.3].
phi tâm
Acittā (S), Mindless.
; Apart from mind, without mind, beyond mentation.
; Acitta (skt)—Phi tâm hay vượt khỏi ngoài tâm thức. Các thuật ngữ trừu tượng như thế nầy thường được gặp trong các kinh thuộc loại Bát Nhã Ba La Mật trong văn học Đại Thừa—Apart form mind—Without mind—No-mind or beyond mentation. Such abstract terms as these are frequently met with in the sutras belonging to the Prajnaparamita class of Mahayana literature.
phi tâm phi phật
Apart from mind there is no Buddha.
; Ngoài tâm ra không có Phật—Apart from mind there is no Buddha (Thị tâm thị Phật—This mind is Buddha)—No mind no Buddha.
; (非心非佛) Tên công án trong Thiền tông. Chẳng phải tâm chẳng phải Phật. Công án của Thiền sư Mã tổ Đạo nhất đời Đường chỉ dạy người học trừ bỏ chấp trước Tức tâm tức Phật mà trực nhận lấy tâm. Chương Mã tổ Đạo nhất trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 3 (Vạn tục 138, 43 hạ) chép: Tăng hỏi hòa thượng: Tại sao nói tức tâm tức Phật? Sư đáp: Để ngăn con nít khóc. Tăng lại hỏi: Khi thôi khóc rồi thì sao? Sư đáp: Phi tâm phi Phật! [X. Vô môn quan tắc 33].
phi tâm trạng
Acittata (S), Mindlessness.
phi tình
Non-sentient objects such as grass, wood, earth, stone.
; Các loại không có tình thức như cỏ cây, đá—Non-sentient objects such as grass, wood, or stone—See Vô Tình Chúng Sanh.
; (非情) Cũng gọi Phi hữu tình, Vô tình. Đối lại: Hữu tình. Chỉ cho các loài không có tình thức như cỏ cây, sông núi, đất đá... Vì núi sông, đất đai là do nghiệp chung của loài hữu tình chiêu cảm và tất cả hữu tình đều được thụ dụng. Cũng tức núi sông, đất đai chẳng phải do nghiệp riêng của mỗi hữu tình chiêu cảm, mà cũng không phải như quả báo của loài hữu tình, vì thế núi sông, đất đai... không được gọi là Dị thục sinh.Luận Thuận chính lí quyển 18 (Đại 29, 436 trung) nói: Nếu quả phi tình không do nghiệp chung chiêu cảm, thì lẽ ra phải theo dị thục mà khởi hết cùng một lúc. Hơn nữa, ở đời khi thấy vị quốc vương chết thì đất nước của quốc vương ấy vẫn còn, nếu đất nước chỉ do nghiệp của vị quốc vương chiêu cảm, chứ không phải nghiệpbchung của các hữu tình khác cùng chiêu cảm, thì đáng lẽ các hữu tình khác không thể thụ dụng trong đó. Lại nữa, nếu núi sông, đất đai là do nghiệp riêng chiêu cảm, thì lẽ ra tất cả nhà cửa, vườn rừng, ao hồ, thành quách, núi sông... mà thân của mỗi hữu tình đang ở đều phải riêng khác. Nhưng thực tế không phải vậy. Bởi thế biết rằng mỗi một vật đều do nghiệp của vô lượng hữu tình cùng chiêu cảm. [X. luận Câu xá Q.6; luận Thuận chính lí Q.21; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.16]. (xt. Hữu Tình).
phi tình thành phật
Học thuyết của Viên Giáo lập ra cái nghĩa các loại cỏ cây đều trở thành Phật (Viên Giáo cho rằng Phật tính trung đạo có ở khắp pháp giới bất kể hữu tình hay phi tình, nhưng do mê muội mà thấy hai pháp phân biệt, nhưng sắc tâm chỉ là một đại giác)—The insentient becomes Buddha, a tenet of the Complete Teaching, i.e. the doctrine of pan-Buddha.
; (非情成佛) Nghĩa là các loài vô tình như cỏ cây, đất đá... đều có tính Phật, đều có khả năng thành Phật. (xt. Thảo Mộc Quốc Độ Tất Giai Thành Phật).
Phi tích
(飛錫): nguyên nghĩa là vị tăng đi tuần du khắp các nơi để tham Thiền học đạo. Tích trượng (s: khakkhara, 錫杖) là vật dụng cần thiết của vị tăng. Bên cạnh đó, nó còn có nghĩa là chống tích trượng bay đi, vốn phát xuất từ câu chuyện của vị cao tăng Ẩn Phong (隱峰, ?-?). Trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覧), quyển hai có đoạn rằng: “Kim tăng du hành gia xưng phi tích, thử nhân cao tăng Ẩn Phong du Ngũ Đài, xuất Chuẩn Tây trịch tích phi không nhi vãng dã; nhược Tây Thiên đắc đạo tăng, vãng lai đa thị phi tích (今僧遊行嘉稱飛錫、此因高僧隱峰遊五臺、出准西擲錫飛空而徃也、若西天得道僧、徃來多是飛錫, ngày nay chư tăng đi du hành gọi là phi tích, việc này phát xuất từ chuyện vị cao tăng Ẩn Phong đến chơi Ngũ Đài Sơn, đến khi ra Chuẩn Tây thì chống tích trượng bay lên không mà đi, cũng như các vị tăng đắc đạo của Ấn Độ, đến đi phần nhiều đều dùng tích trượng mà bay đi)”.
phi tích
Du Tăng—Flying staff, synonym for a travelling monk.
; (飛錫) I. Phi Tích. Gậy tích bay. Nghĩa là các vị tăng đi hành cước và du hóa các nơi. Tích tức là Tích trượng, 1 trong 18 vật dụng của tỉ khưu, khi đi đâu thì mang theo. Ngoài Phi tích ra, những tiếng dùng cùng loại còn có: Tuần tích , Chú tích... v.v... II. Phi Tích (?-?). Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường. Sư thần khí vòi vọi, kiến thức cao xa, thông hiểuNho, Mặc, giỏi văn chương. Sư từng nghiên cứu luật nghi, về sau tu theo Mật giáo và được khai ngộ. Niên hiệu Vĩnh thái năm đầu (765), vua Đại tông ban sắc thỉnh sư tham dự đạo tràng dịch kinh của ngài Bất không trong cung Đại minh, dịch các kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã, 2 quyển, kinh Mật nghiêm, 3 quyển... Sư rất được mọi người kính trọng. Ngoài ra, sư còn các tác phẩm: Luận Niệm Phật tam muội bảo vương, 3 quyển, Vô lượng thâm diệu Thiền môn truyền tập pháp bảo, 1 quyển, Thệ vãng sinh tịnh độ văn, 1 quyển. [X. Trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q.trung; Tuệ trung truyện trong Tống cao tăng truyện Q.3, 8].
phi tư lượng
(非思量) Chỉ cho sự suy nghĩ phân biệt không liên quan gi đến tốt xấu, phải trái, vượt ngoài cảnh giới suy tư của tình thức. Thiền tông chủ trương suy nghĩ về cái không suy nghĩ, phương pháp ấy gọi là Phi tư lương. Đó là chỗ cùng tột của sự tọa thiền. Chương Dược sơn Duy nghiễm trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14 (Đại 51, 311 hạ) chép: Tăng hỏi: Sư đang đau đáu suy nghĩ về cái gì? Sư đáp: Suy nghĩ về cái chẳng suy nghĩ. Tăng lại hỏi: Cái chẳng suy nghĩ thì suy nghĩ thế nào? Sư đáp: Phi tư lương!. [X. kinh Văn thù sư lợi sở thuyết bất tư nghị cảnh giới Q.thượng; Tín tâm minh].
phi tư lượng để
1) Theo chính thống giáo, “Phi Tư Lượng Để” có nghĩa là không phân biệt lý luận: According to the Orthodox or teaching sects, not to discriminate, or reason out. 2) Theo Thiền Tông, “Phi Tư Lượng Để” có nghĩa là dẹp bỏ tà kiến (giải phóng tâm thoát khỏi chư hành): According to the Ch'an sect, to get rid of wrong thoughts (by freeing the mind from active operation).
phi tương phi phi tưởng xứ
Xem Phi hữu tưởng Phi vô tưởng Thiên.
phi tưởng
Vượt ra ngoài vòng suy nghĩ hay không suy nghĩ—Beyond the condition of thinking or not thinking, of active consciousness or unconsciousnes. ** For more information, please see Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên.
phi tưởng phi phi tưởng
Beyond the condition of thinking or not-thinking, of active consciousness or unconsciousness.
phi tưởng phi phi tưởng thiên
Naivasamjnanasamjnayatana (skt)—Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng Thiên—Hữu Đỉnh Thiên—Trời Tứ Không Thiên hay trời vô sắc thứ tư (tầng cao nhất trong tam giới), nơi không còn suy nghĩ hay không suy nghĩ nhờ đi vào thiền định cực kỳ tĩnh diệu. Mức độ thiền định của Phi Tưởng Phi Phi Tưởng xứ dẫn đến tái sanh vào cõi Trời vô sắc, vẫn chưa hoàn toàn giải thoát khỏi bát khổ—The heaven or place where is neither thinking nor not-thinking. It is beyond thinking, the fourth of the four Immaterial Heavens (Tứ Không Thiên). The samadhi or degree of meditation of this leads to rebirth in the rupa heaven; which is not entirely free from eight forms of distress.
Phi tưởng phi phi tưởng xứ
(Naiva-saṃjđnsaṃjđ-yatana): tên một cõi trời, cũng gọi là Hữu đỉnh thiên, là cõi trời cao nhất trong cõi Vô sắc giới (Arpya-dhtu), cũng là cao nhất trong Ba cõi. Người tu hành đạt đến mức định Phi tưởng phi phi tưởng thì thần thức có thể đến được cảnh giới Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Chư thiên cư trú ở cõi trời này có tâm thức không phải tưởng cũng chẳng phải không tưởng. Xem thêm A-ca-ni-trá.
phi tưởng phi phi tưởng xứ
Thức tính bất động, diệt hẳn sự suy nghĩ hay không suy nghĩ—The state of neither thinking nor not thinking. ** For more information, please see Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên.
phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên
(非想非非想處天) Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Phạm: Naiva-saôjĩànàsaôjĩàyatana, Pàli: Nevasaĩĩànàsaĩĩàyatana. Cũng gọi Phi phi tưởng thiên, Vô tư tưởng diệc vô vô tưởng thiên, Hữu tưởng vô tưởng trí thiên, Phitưởngphi phi tưởng thiên, Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ thiên. Tầng trời thứ 4 trong cõi Vô sắc, là tầng trời tột đỉnh trong 3 cõi nên cũng gọi là Hữu đính thiên. Phi tưởng phi phi tưởng xứ là căn cứ vào Thiền định của cõi trời này mà gọi. Tâm định ở cõi trời này cực kì tĩnh lặng, không còn thô tưởng, cho nên gọi là Phi tưởng (không phải tưởng), nhưng vẫn còn tưởng vi tế, cho nên gọi là Phi phi tưởng (chẳng phải không có tưởng). Tên gọi của trời này có 3 cách giải thích như sau: 1. Tướng suy tưởng ở cõi trời này không rõ ràng như tướng suy tưởng ở 4 thiền định thuộc cõi Sắc và 3 cõi trước thuộc cõi Vô sắc, cho nên gọi là Phi tưởng; không giống như Vô tưởng và Diệt định nên gọi là Phi phi tưởng. Vì tướng suy tưởng ở cõi này mờ tối, không rõ ràng, không quyết định, cho nên gọi là Phi tưởng phi phi tưởng. 2. Giống như tầng trời thứ 2 của cõi Vô sắc, không duyên theo Thức xứ nên gọi là Phi tưởng, giống như tầng trời thứ 3 của cõi Vô sắc, khôngduyên theo Vô sở hữu, nên gọi là Phi phi tưởng. 3. Trong Vô sở hữu xứ của cõi Vô sắc, đã trừ được tưởng của Thức xứ, nay lại trừ được Vô tưởng; vì xả bỏ được cả tưởng và vô tưởng, nên gọi là Phi tưởng phi phi tưởng. Căn cứ vào 3 cách giải thuyết trên đây, ta có thể thấy qua được tướng trạng của cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng như thế nào. Kinh Lăng nghiêm quyển 9 (Đại 19, 146 hạ) nói: Tính thức chẳng động, vì diệt cùng suốt, ở nơi vô tận, tuyên bày hết tính, như có như không, như hết chẳng hết, bởi vậy cõi trời này được gọi là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Còn về thọ lượng của cõi trời này thì kinh Trường a hàm quyển 20 cho rằng sống lâu 8 vạn 4 nghìn kiếp, luận Lập thế a tì đàm quyển 7 thì chia ra 3 phẩm: Hạ phẩm thọ 7 vạn đại kiếp; Trung phẩm thọ 7 vạn 5 nghìn đại kiếp; Thượng phẩm thọ 8 vạn đại kiếp, cònluận Đại tì bà sa quyển 84 thì bảo thọ 8 vạn kiếp. [X. kinh Đại nhân trong Trung a hàm Q.24; luận Lập thế a tì đàm Q.6; luận Câu xá Q.28; luận Đại tì bà sa Q.185]. (xt. Vô Sắc Giới).
phi tưởng phi phi tưởng xứ định
Degree of meditation of this name leads to rebirth in the immaterial (arùpa) heavens.
phi tưởng thiên bát khổ
Eight forms of distress in this heaven, age, disease and death.
Phi vân
(披雲): vén mây. Thuật ngữ thường được dùng khá phổ biến trong các Ngữ Lục Thiền để diển tả tâm cảnh tự tại vô ngại, giải thoát của Thiền giả. Như trong Thiền Tông Tạp Độc Hải (禪宗雜毒海, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 2, phần Tặng Biệt (贈別), có đoạn của Lý Cao (李翱, ?-?) rằng: “Tuyển đắc u cư khiếp dã tình, chung niên vô tống diệc vô nghênh, hữu thời trực thướng cô phong đảnh, nguyệt hạ phi vân tiếu nhất thanh (選得幽居愜野情、終年無送亦無迎、有時直上孤峰頂、月下披雲笑一聲, chọn chốn thâm u thỏa thích lòng, trọn năm không tiễn cũng chẳng nghinh, có lúc lên thẳng non cao đỉnh, dưới nguyệt vén mây cười vọng vang).” Hay trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 37, có bài Ký Sào Pháp Sư (寄巢法師) rằng: “Phi vân đới nguyệt bão phong sương, thanh dạ điều điều hạc mộng trường, độc bãi Lăng Già hương triện tế, tri quân vô vật khả tư lường (披雲帶月飽風霜、清夜迢迢鶴夢長、讀罷楞伽香篆細、知君無物可思量, vén mây đeo nguyệt no gió sương, đêm vắng xa xăm hạc mộng trường, đọc hết Lăng Già còn ngút, biết người chẳng vật thể nghĩ lường).” Hoặc trong Liễu Am Thanh Dục Thiền Sư Ngữ Lục (了菴清欲禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1414), bài Chỉ Đường Tặng Vận Thị Giả (止堂贈運侍者), lại có câu: “Hà nhân phi vân phát trường khiếu, nhất thanh bình lạc thiên lâm gian (何人披雲發長嘯、一聲逬落千林間, ai người vén mây cười sang sảng, một tiếng rơi xa ngàn dặm rừng).”
phi y
(緋衣) Áo đỏ thắm (màu đào). Cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ, phần 1, 5, đỏ thắm thắm, đỏ phớt, đỏ tươi, xanh lục và xanh biếc đều là những màu không đúng pháp, không được dùng để nhuộm áo ca sa. Nhưng theo kinh Đà la ni tập quyển 6 và Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển hạ thì được biết ở Ấn độ đã có trường hợp các tỉ khưu mặc áo ca sa màu đỏ thắm mà không bị xem là trái phép. Còn ở Trung quốc thì từ các đời Đường, Tống về sau, triều đình thường ban cho các bậc Cao tăng áo ca sa màu đỏ tươi và đỏ thắm. Chẳng hạn như Đại tống tăng sử lược quyển hạ có ghi, thời vua Đường huyền tông có sa môn Sùng hiến tinh thông y học, chữa bệnh rất giỏi, vua hài lòng và ban cho ngài áo bào màu đỏ thắm. Bởi vì áo màu đỏ thắm ở Trung quốc vốn là 1 loại áo của các quan mặc. Về sau, loại áo này cũng được dùng để ban cho các bậc Cao tăng trong Phật giáo. Đứng trên lập trường của Phật giáo mà nhận xét, các sư nhận và mặc áo màu đỏ thắm do vua ban cũng là tùy thuận lễ nghi thế gian mà thôi. [X. luật Thập tụng Q.13; điều Phạm diễn na quốc trong Đại đường tây vực kí Q.1; Ngũ tạp trở Q.12]. (xt. Pháp Y, Ca Sa).
phi đan
(飛單) Cũng gọi Nhật đơn. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Tùng lâm, vị phó tự hoặc khố đầu mỗi ngày phải kiểm toán thu chi toàn chùa rồi trình lên vị Trụ trì (Phương trượng), gọi là Nhật đơn. Vì những điều mục được ghi trong mỗi ngày không nhiều, đếm những tờ giấy qua lại nhanh như bay nên gọi là Phi đơn. Ngoài ra, nhật đơn mỗi tháng kết toán 1 lần, gọi là Nguyệt đơn; 10 ngày kết toán 1 lần, gọi là Tuần đơn.[X. điều Phó tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; Thiền lâm tượng khí tiên Q.16].
phi điểu chi tích
(飛鳥之迹) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chim bay không để lại dấu vết. Nghĩa là chim bay trong hư không chẳng để lại dấu tích gì, Thiền tông dùng từ ngữ này để ví dụ vạn vật không có thể tính chân thực.
phi đạo
Wrong way, heterodox views, or doctrines.
; Tà Đạo—Wrong ways—Heterodox views or doctrines.
; (非道) I. Phi Đạo. Đối lại: Đạo. Không phải là đạo Phật, tức các đạo ngoài Phật giáo. (xt. Đạo). II. Phi Đạo. Chỉ cho ác thú hoặc địa ngục. Phẩm Vân hà trong luận Lập thế a tì đàm quyển 6 (Đại 32, 197 hạ) nói: Tại sao địa ngục được gọi là Nê lê? Vì nơi ấy không có trò vui, không có ham thích, không có đường ra, không có phúc đức. Vì tội nghiệp nặng nên phải sinh vào nơi đó. Lại nữa, nơi ấy là chỗ thấp nhất trong cõi Dục nên gọi là Phi đạo. III. Phi Đạo. Trái với đạo lí. IV. Phi Đạo. Chỉ cho Trung đạo phi hữu phi vô. V. Phi Đạo. (xt. Phi Đạo Hành Dâm).
phi đạo hành dâm
(非道行淫) Chỉ cho việc hành dâm không chính đáng, có 2 nghĩa: 1. Trừ vợ chồng hợp pháp, hễ hành dâm với bất cứ đối tượng nào khác, kể cả với súc sinh, đều là Phi đạo hành dâm. 2. Tuy là vợ chồng nhưng nếu hành dâm không phải chỗ (phi xứ) cũng là Phi đạo hành dâm. Không phải chỗ nghĩa là hành dâm nơi miệng, nơi đại tiện... Hoặc nếu người vợ đã có thai mà hành dâm cũng là phi đạo hành dâm. Ngoài ra, gặp những ngày kỉ niệm Phật, Bồ tát, 6 ngày trai hằng tháng, ngày sinh của cha mẹ, ngày giỗ tổ tiên thân thuộc... cũng đều không được hành dâm.
phi đản
(披袒) Phi là mặc áo ca sa phủ kín cả 2 vai để hiển tướng phúc điền; còn Đản là để trần vai bên phải để tiện lúc làm việc. Cứ theo kinh Xá lợi phất vấn và Thích thị yếu lãm quyển thượng thì khi tu cúng dường, phải để trần vai bên phải để tiện làm việc, còn khi làm tướng phúc điền thì phải trùm kín cả 2 vai. Tu cúng dường chỉ cho các việc lễ Phật, vấn an sư trưởng, lúc đó phải tùy việc mà làm như lau bụi trên giường, quét nhà, gấp áo, sửa lại chiếu ngồi cho ngay ngắn... Làm tướng ruộng phúc là chỉ cho những việc đi khất thực, tọa thiền, tụng kinh, đi kinh hành dưới cây... lúc ấy phải phủ kín 2 vai để mọi người thấy tướng đoan nghiêm. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2].
phi đắc
Aprapti (S)Các pháp lìa thân.
; (非得) Phạm: Apràpti. Đối lại: Đắc. Không làm cho pháp thành tựu gọi là Phi đắc, là 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Phi đắc có 3 loại: 1. Pháp tiền phi đắc: Pháp tuy ở vị lai nhưng chưa được, chính ở hiện tại đang sinh khởi. Chẳng hạn nói về trí vô lậu của phàm phu, thì trí ấy tuy ở vị lai nhưng nay đột nhiên xa lìa, Phi đắc liền hiện khởi. 2. Pháp hậu phi đắc: Pháp đã lui vào quá khứ, không còn sinh khởi ở hiện tại. Chẳng hạn nói về phiền não của bậc Thánh thì phiền não ấy đã bị đoạn trừ, cho nên phiền não ấy đã lùi vào quá khứ, Phi đắc liền hiện khởi. 3. Phi tiền hậu phi đắc: Đây là phi đắc trên pháp vô vi. Pháp phi đắc nhất định không hiện khởi cùng lúc với bất cứ pháp nào. Bởi vì nếu 1 pháp hiện tiền sinh khởi thì ắt dẫn thêm pháp năng đắc của nó cũng hiện tiền sinh khởi. Nếu lúc này có Phi đắc hiện khởi thì cũng giống hệt như sáng và tối đồng thời tồn tại là điều không hợp lí. [X. luận Câu xá Q.4; 21; luận Nhập a tì đạt ma Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.158, 159; phẩm Biện ngũ sự luận Phẩm loại túc Q.1]. (xt. Đắc).
phi ưng tác phi bất ưng tác nghiệp
Nayogā-vihita-karma (S).
Phi 妃
[ja] ヒ hi ||| Queen or princess (rājñī). In esoteric Buddhism, another name for samādhi 三昧, or dhāraṇī 陀羅尼. => Hoàng hậu hoặc công chúa (s: rājñī). Trong Phật giáo Mật tông, đó là tên gọi khác của Tam muội (s: samādhi 三昧), hay đà-la-ni (s: dhāraṇī 陀羅尼).
phi...
Na (S) Naiv-, Naiva-, Nais-, Naisa-Thành lập một danh từ ghép với hai lần phủ định: phi... phi.... e.g. -- Saiksa: Hữu học - Asaiksa: Vô học - Nasaiksa: Phi vô học - Naivasaiksa-nasaiksa: Phi học phi vô học.
phiên
1) Man di: Babarian. 2) Ngoại quốc: Foreign. 3) Phiên: Turn. 4) Phiên dịch: To translate—To interpret. 5) Phướn: Pataka (skt)—A flag—Streamer.
phiên ba thức
(翻波式) Phương thức khắc tượng gỗ ở Nhật bản vào đầu thời đại Bình an. Đặc trưng của phương thức này là ở chỗ các nếp gấp của y phục, nhìn từ bề mặt thấy nổi bật những đường cong như gợn sóng(phiên ba),rất gợi cảm. Đây là 1 trong những nghệ thuật chạm trổ tượng gỗ của Nhật bản.
phiên chuyển
Xem Lưu chuyển.
Phiên Cương Sơn
(岡山藩, Okayama-han): tên gọi một Phiên lãnh hữu toàn bộ tiểu quốc Bị Tiền (僃前, Bizen) và một phần của Bị Trung (僃中, Bicchū). Cơ sở hành chính của Phiên là Thành Cương Sơn (岡山城, Okayama-jō), phần lớn thời gian đều do dòng họ Trì Điền (池田, Ikeda) quản trị. Người từng phục vụ cho Phong Thần Ngũ Đại Lão (豐臣五大老) là dòng họ Vũ Hỷ Đa (宇喜田, Ukita). Tuy nhiên, vào năm 1600 (Khánh Trường [慶長] 5), trong trận chiến Sekigahara (關ヶ原), Vũ Hỷ Đa Tú Gia (宇喜田秀家, Ukita Hideie), chủ lực của quân phía Tây, lại bị thay đổi người; nên Tiểu Tảo Xuyên Tú Thu (早小川秀秋, Kobayakawa Hideaki) tiến vào, chiếm lãnh 51 vạn thạch ở Bị Tiền và Mỹ Tác (美作, Mimasaka). Thế nhưng, vào năm 1602 (Khánh Trường 7), Tú Thu và chẳng có con nối dõi; nên dòng họ Tiểu Tảo Xuyên (早小川, Kobayakawa) xem như bị tuyệt tự. Năm sau, 1603, người con thứ 2 của Trì Điền Huy Chính (池田輝政, Ikeda Terumasa) là Trì Điền Trung Kế (池田忠繼, Ikeda Tadatsugu) đến lãnh hữu vùng Cương Sơn (岡山, Okayama) với 28 vạn thạch, và tại đây dòng họ Trì Điền bắt đầu trị thế với tư cách là nhà Đại Danh thời kỳ Giang Hộ. Vào năm 1613 (Khánh Trường 18), Phiên nhận thêm khoảng 10 vạn thạch, trở thành 38 vạn thạch. Đến năm 1615 (Nguyên Hòa [元和] nguyên niên), Trung Kế qua đời và cũng chẳng có con nối nghiệp; nên người em Trì Điền Trung Hùng (池田忠雄, Ikeda Tadakatsu) lên thay thế với 31 vạn 5 ngàn thạch. Năm 1632 (Khoan Vĩnh [寛永] 9), Trung Hùng qua đời; thay vào đó, người anh em họ là Trì Điền Quang Chính (池田光政, Ikeda Mitsumasa) lên thay thế với 31 vạn 5 ngàn thạch. Từ đó trở về sau, gia hệ của Quang Chính thay nhau thống trị Phiên Cương Sơn. Quang Chính cùng với Đức Xuyên Quang Quốc (德川光圀, Tokugawa Mitsukuni), Phiên chủ Phiên Thủy Hộ (水戸藩, Mito-han) và Bảo Khoa Chánh Chi (保科正之), phiên chủ Phiên Hội Tân (會津藩, Aizu-han), cả ba được gọi là Tam Danh Quân (三名君) vào đầu thời Giang Hộ. Quang Chính trọng dụng Hùng Trạch Phiên Sơn (熊澤蕃山, Kumazawa Banzan), nhà Dương Minh Học, vào năm 1669 (Khoan Văn [寛文] 9), ông tiên phong mở Cương Sơn Học Hiệu (岡山學校), trường Quốc Học đầu tiên. Năm sau, 1670, ông còn khai giảng Nhàn Cốc Học Hiệu (閑居學校, hiện tại Giảng Đuờng của trường được xếp hạng quốc bảo), trường học cho hàng thứ dân cổ nhất của Nhật Bản. Sau này, vào năm 1700 (Nguyên Lộc [元祿] 3), Trì Điền Cương Chính (池田綱政, Ikeda Tsunamasa), con của Quang Chính, đã dốc sức cho hoàn thành 3 đình viên nổi tiếng nhất của Nhật Bản, gồm: Giai Lạc Viên (偕樂園, Kairakuen, Mito-shi [水戸市]), Kiêm Lục Viên (兼六園, Kenrokuen, Kanazawa-shi [金澤市]) và Hậu Lạc Viên (後樂園, Kōrakuen, Tōkyō-to [東京都]). Lịch đại chư vị Phiên chủ của Phiên này có 12 đời, gồm: (1) Trì Điền Trung Kế (池田忠繼, Ikeda Tadatsugu); (2) Trì Điền Trung Hùng (池田忠雄, Ikeda Tadakatsu); (3) Trì Điền Quang Chính (池田光政, Ikeda Mitsumasa); (4) Trì Điền Cương Chính (池田綱政, Ikeda Tsunamasa); (5) Trì Điền Kế Chính (池田繼政, Ikeda Tsugumasa); (6) Trì Điền Tông Chính (池田宗政, Ikeda Munemasa); (7) Trì Điền Trị Chính (池田治政, Ikeda Harumasa); (8) Trì Điền Tề Chính (池田齊政, Ikeda Narimasa); (9) Trì Điền Tề Mẫn (池田齊敏, Ikeda Naritoshi); (10) Trì Điền Khánh Chính (池田慶政, Ikeda Yoshimasa); (11) Trì Điền Mậu Chính (池田茂政, Ikeda Mochimasa); và (12) Trì Điền Chương Chính (池田章政, Ikeda Akimasa). Các Phiên chi nhánh của Phiên Cương Sơn có Phiên Áp Phương (鴨方藩, Kamogata-han, 2 vạn 5 ngàn thạch) và Phiên Sanh Phản (生坂藩, Ikusaka-han, 1 vạn 5 ngàn thạch).
phiên dịch
To translate—To interpret.
; (翻譯) Dịch tiếng nước này sang tiếng nước khác. Phật giáo bắt nguồn ở Ấn độ, sau theo đà giáo nghĩa được truyền bá rộng và số tín đồ mỗi ngày một đông nên đã vượt ra ngoài phạm vi chủng tộc, truyền bá đến các dân tộc khác, do đó, kinh điển của Phật giáo cũng theo đà ấy mà được dịch ra nhiều thứ ngôn ngữ. Sau khi thành đạo, đức Phật chỉ dùng những lời nôm na dễ hiểu của các địa phương để nói pháp, mục đích nhằm truyền bá giáo pháp một cách phổ cập, chứ Ngài không dùng những lời văn chương cao nhã (Chandas). Sau khi đức Phật nhập diệt, kinh điển được kết tập tại Ấn độ, chủ yếu dùng tiếng Phạm vàPàli. Về sau, kinh điển Phật được phiên dịch ra các thứ quốc ngữ. Hiện nay có các Đại tạng kinh được phiên dịch từ tiếng Phạm như: Đại tạng Hán dịch, Đại tạng Tây tạng, Đại tạng Mông cổ, Đại tạng Mãn châu, Đại tạng Cao li, Đại tạng Nhật bản. VềPàli thì có: Đại tạng Tích lan, Đại tạng Miến điện, Đại tạng Thái lan, Đại tạng Kampochia, Đại tạng Lào quốc, Đại tạng Anh ngữ và Nhật bản cũng đã dịch thành Nam truyền đại tạng kinh. Ngoài ra, còn có các Đại tạng của các nước Tây vực vùng Trung á và các nơi khác. [X. Phật tổ thống kỉQ.43, 53; Tống cao tăng truyện Q.1, 3; Pháp uyển châu lâm Q.100; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1; Tùy thư kinh tịch chí]. (xt. Dịch Kinh).
phiên dịch danh nghĩa tập
Bộ Từ Điển xếp loại theo ngôn ngữ dùng trong kinh điển theo cách gọi và duyên cách của các từ do Sư Pháp Vân đời Tống soạn vào khoảng năm 1150—A Dictionary of Buddhist Technical Terms compiled by Fa-Yun around 1150 A.D. during the Sung dynasty
; (翻譯名義集) Từ điển Phật học Phạm Hán, 7 quyển, do ngài Pháp vân biên soạn vào đời Nam Tống, suốt 20 năm mới hoàn thành, được thu vào Đại chính tạng tập 54. Nội dung sách này chia loại nhỏ hơn 2.040 từ tiếng Phạm quan trọng trong các kinh điển Phật giáo, phân ra 64 thiên để giải thích. Mở đầu mỗi thiên đều có tổng luận, trình bày đại ý, kế đến nêu ra những từ Phạm được dịch âm và mỗi từ đều có cho biết cách dịch khác, chỉ ra xuất xứ và giải thích. Về tư liệu y cứ thì ngoài kinh luận ra còn dẫn dụng âm nghĩa, chú sớ, hoặc các trứ thuật Phật giáo của các tác giả khác như Tông kính lục... Ngoài ra, còn trích dụng hơn 400 thư tịch kinh sử của hơn 100 tác giả, cũng như các học thuyết khác. Sách này cũng giải thích những từ tiếng Phạm và âm nghĩa phổ thông để nói rõ nghĩa dịch còn có giới hạn bất đồng; đối chiếu so sánh những danh tướng quan trọng thì lấy sự giải thích của tông Thiên thai làm nền tảng, rồi bàn giải rõ ràng thêm. Đối với các nhà phiên dịch trọng yếu của các thời đại cũng có ghi chép trong 1 thiên riêng. Sách này còn giữ lại 1 số ý kiến liên quan đến vấn đề phiên dịch như ở đầu quyển nêu lên 5 trường hợp không phiên dịch do ngài Huyền trang chủ xướng. Đó là (Đại 54, 1055 thượng): 1. Vì bí mật (nên không phiên dịch): Như Đà la ni. 2. Vì bao hàm nhiều nghĩa: Như Bạc già phạm có 6 nghĩa. 3. Vì ở nước Trung quốc không có: Như cây Diêm tịnh. 4. Vì thuận theo đời xưa: Như A nậu bồ đề. 5. Vì sinhthiện:Như bát nhã tôn quí, trí tuệ nông cạn. Những danh tướng và âm dịch trong các kinh luận dịch mới của ngài Huyền trang và Nghĩa tịnh phần nhiều khác với các kinh luận dịch cũ của cácnhà phiên dịch đời trước mà nhiều người cho rằng dịch cũ là sai lầm, sơ suất. Nhưng sách này (tức Phiên dịch danh nghĩa tập) thì chủ trương sở dĩ dịch cũ, dịch mới bất đồng, chỉ là vì thời gian, không gian sai khác, phương ngôn, thành ngữ dị biệt mà thôi. Sách này cùng với Thích thị yếu lãm và Giáo thừa pháp số được gọi chung là Phật học tam thư, là những sách cần thiết cho những người mới học Phật. Ngoài ra, sách này còn có bản 20 quyển được thu vào Đại tạng đờiMinh. [X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.43; Tăng bổ chư tông chương sớ lục]. (xt. Ngũ Chủng Bất Phiên).
phiên dịch danh nghĩa đại tập
(翻譯名義大集) Phạm: Mahāvyutpatti. Tạng: Lo-paṇmaṅ-pos mdsad-paḥi bye-brag-tu rtogs-parbyed-pa chen-po (gọi tắt:Bye-brag-tu rtogs che). Từ điển gồm 4 thứ ngôn ngữ: Phạm, Tây tạng, Hán, Mông cổ đối chiếu, thu chép những thuật ngữ và danh từ chuyên môn thường dùng trong giáo điển Phật giáo, rồi phân loại, nêu thí dụ và giải thích các thuật ngữ này. Khoảng thế kỉ IX, các học giả từ Ấn độ đến Tây tạng phần nhiều dùng tự vựng Phạm Tạng đối dịch làm tiêu chuẩn để dịch kinh. Ban đầu chỉ có Phạm, Tạng, sau mới thêm Hán và Mông cổ, nhưng được thêm vào thời đại nào thì không rõ. Về bộ phận Hán dịch, trong văn tự được sử dụng để dịch âm hay dịch ý đều không thấy có trong các kinh được dịch vào các đời Đường, Tống, cứ đó suy ra thì có thể biết phần Hán dịch trong Phiên dịch danh nghĩa đại tập được thực hiện vào khoảng thời đại từ Nguyên đến Thanh. Năm 1822, nhà thám hiểm người Hungary là ông Csoma de Kôrôss A. đến Tây tạng nghiên cứu văn học và tông giáo, năm 1831 ông mới phát hiện bản Phạm Tạng của sách này. Năm 1853, đội thám hiểm Đông dương của nước Nga tìm được bản viết đối dịch bằng 4 thứ tiếng Phạm, Tạng, Hán, Mông cổ ở Bắc kinh, Trung quốc và đưa về cất giữ tại thư viện Đại học Đế quốc ở Saint Petersburg. Năm 1856-1857, học giả Đông phương học người Pháp là các ông E. Foucaux, S. Julien, đem giới thiệu sách này với châu Âu, ông E. Foucaux phụ trách phần Phạm, Tây tạng, còn ông S. Julien thì phụ trách phần Hán, Mông cổ. Đến năm 1887, học giả Đông phương học người Nga là ông I.P. Minayeff khảo xét lại phần Phạm Tạng rồi đem công bố. Về sau, các ông Nam điều Văn hùng, Lạp nguyên Nghiên thọ, người Nhật bản, chép tay bản Phạm Hán ở Paris. Sau đó, lại có các ông Địch nguyên Vân lai và Thần lượng Tam lang nghiên cứu, rồi lần lượt xuất bản Phạm Hán Đối Dịch Phật Giáo TừĐiển(Phiên dịch danh nghĩa đại tập) và Phạm Tạng Hán Hòa Tứ Đối Dịch Giáo Phiên Dịch Danh Nghĩa Đại Tập vào các năm Đại chính tứ 4 và thứ 5 (1915- 1916).
phiên dịch gia
(翻譯家) Cũng gọi: Dịch sư, Dịch kinh gia. Chỉ cho các nhà phiên dịch kinh điển Phật giáo. Như vào thế kỉ V, ngài Phật âm (Phạm: Buddhaghowa) đã biên dịch các sách chú thích Tam tạng bằng tiếng Tích lan sang tiếng Pàli, đó là nhà phiên dịch nổi tiếng. Về phương diện dịch kinh Phật ra chữ Hán thì có các nhà phiên dịch quan trọng sau đây: Ngài An thế cao (người An tức) đời Hậu Hán, ngài Chi khiêm (người Nguyệt chi) đời Ngô thời Tam quốc, ngài Trúc pháp hộ (người Đôn hoàng) đời Tây Tấn, ngài Cưu ma la thập (người Cưu tư) đời Hậu Tần, ngài Cầu na bạt đà la (người Trung Ấn độ) đời Lưu Tống, ngài Chân đế (người Tây bắc Ấn độ) đời Lương + Trần, ngài Bồ đề lưu chi (người Bắc Ấn độ) đời Bắc Ngụy, ngài Xà na quật đa (người Bắc Ấn độ) đời Trần + Tùy, ngài Huyền trang (người Trung quốc) đời Đường, ngài Địa bà ha la (người Trung Ấn độ) đời Đường, ngài Thực xoa nan đà (người Vu điền) đời Đường, ngài Nghĩa tịnh (người Trung quốc) đời Đường, ngài Kim cương trí (người Nam Ấn độ) đời Đường, ngài Thiện vô úy (người Trung Ấn độ) đời Đường, ngài Bất không (người Bắc Ấn độ) đời Đường, ngài Pháp thiên (người Trung Ấn độ) đời Bắc Tống, ngài Thiên tức tai (tức Pháp hiền, người Ca thấp di la) đời Bắc Tống, ngài Thí hộ (người Ô điền nẵng) đời Bắc Tống. Những vị này đều là các bậc thông hiểu 3 tạng kinh điển, cho nên cũng được gọi là Dịch kinh tam tạng, Tam tạng pháp sư. Về kinh điển được dịch sang tiếng Tây tạng thì có các nhà phiên dịch nổi tiếng sau đây: Thon-mi-sambhoỉa (Đoan mĩ tam bồ đề) thế kỉ VII;Jinamitra (Thắng hữu – người Ấn độ) thế kỉ IX,Zìlendrabodhi (Giới đế giác – người Ấn độ) thế kỉ IX, Surendrabodhi (Cát tường đế giác – người Ấn độ) thế kỉ IX, Ye-zes-sdethế kỉ IX, Bloldan zes-rab thế kỉ XI, Mar-pa thế kỉ XIV, Zes rab rin-chen, Cho-skyoí-bzaí-po và Chos rgyal thế kỉ XV.
phiên dịch tứ lệ
(翻譯四例) Bốn nguyên tắc phiên dịch kinh điển Phật giáo. Theo thiên Đường Phạm tự thể trong Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 6 thì 4 nguyên tắc ấy là: 1. Phiên tự bất phiên âm: Dịch chữ mà không phiên âm (chữ là chữ Hán, âm là âm Phạm) như lời các thần chú trong các kinh. 2. Phiên âm bất phiên tự: Dịch âm mà không dịch chữ, như chữ ...trong kinh Hoa nghiêm; chữ là thể chữ Phạm, âm thì dùng chữ vạn của tiếng Hán để phiên, nên đọc là Vạn. 3. Âm tự câu phiên: Âm và chữ đều dịch cả, như âm và chữ trong văn kinh đều dùng âm Hán, chữ Hán để phiên dịch. 4. Âm tự câu bất phiên: Âm và chữ đều không dịch, như những bản kinh tiếng Phạm từ Ấn độ truyền đến Trung quốc, cả âm và chữ đều chưa được phiên dịch.
Phiên Hội Tân
(會津藩, Aizu-han): tên của một Phiên thống trị phần Tây bộ Fukushima-ken (福島縣) hiện tại, thuộc Quận Hội Tân (會津郡, Aizu-gun), tiểu quốc Lục Áo (陸奥, Mutsu) ngày xưa. Cơ sở hành chính của Phiên là Thành Nhược Tùng (若松城, Wakamatsu-jō, thuộc Wakamatsu-shi [若松市], Aizu [會津]). Dưới thời đại Chiến Quốc, địa phương Hội Tân vốn do Chiến Quốc Đại Danh lấy vùng Hắc Xuyên (黑川, Kurokawa), sau này là Nhược Tùng (若松, Wakamatsu), Hội Tân, làm bản cứ; là tiểu quốc lãnh hữu của dòng họ Lô Danh (蘆名, Ashina). Vào năm 1589 (Thiên Chánh [天正] 17), Y Đạt Chính Tông (伊達政宗, Date Masamune) tiêu diệt dòng họ này, chiếm cứ Hắc Xuyên. Năm sau, 1590, nhân vị xử lý ở Áo Châu (奥州, Ōshū) của Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), địa phương Hội Tân cũng như các vùng lân cận đều bị Chính Tông thâu tóm, và ban cho Bồ Sanh Thị Hương (蒲生氏郷, Gamō Ujisato) với 42 vạn thạch, sau là 92 vạn. Thị Hương đổi tên Hắc Xuyên thành Nhược Tùng và đã đóng góp công lao lớn trong việc làm cho kinh tế lãnh quốc phát triển. Sau khi Thị Hương qua đời, vào năm 1598 (Khánh Trường [慶長] 3), con trai ông là Bồ Sanh Tú Hành (蒲生秀行, Gamō Hideyuki) bị chuyển về Vũ Đô Cung (宇都宮); thay vào đó là Thượng Sam Cảnh Thắng (上杉景勝, Uesugi Kagekatsu) từ Việt Hậu (越後, Echigo) đến với 120 vạn thạch. Trong trận chiến Sekigahara (關ヶ原), vì Cảnh Thắng đứng về phía của Thạch Điền (石田, Ishida), nên vào năm 1601 (Khánh Trường 6), thì bị chuyển về vùng Mễ Trạch (米澤), còn lại 30 vạn thạch. Người lên thay thế Cảnh Thắng là Bồ Sanh Trung Hương (蒲生忠郷, Gamō Tadasato); nhưng vào năm 1627 (Khoan Vĩnh [寛永] 4), ông mất sớm khi còn trẻ, nhưng lại không có con nối dõi. Cùng năm này, Gia Đằng Gia Minh (加藤嘉明, Katō Yoshiaki) đến kế thế với 40 vạn thạch. Người kế vị đời thứ 2 của dòng họ Gia Đằng là Minh Thành (明成, Akinari). Sau đó, nhân việc Minh Thành bị tước mất chức quyền vào năm 1643 (Khoan Vĩnh 20), Bảo Khoa Chánh Chi (保科正之, Hoshina Masayuki), con của Tướng Quân Đức Xuyên Tú Trung (德川秀忠, Tokugawa Hidetada), đến nắm quyền với 23 vạn thạch. Đến đời thứ 3 chấp quyền của dòng họ Bảo Khoa (保科, Hoshina) là Chánh Dung (正容, Masakata, con của Chánh Chi) thì đổi thành họ Tùng Bình (松平, Matsudaira), và được công nhận tên tuổi với tư cách là danh môn thân tộc của dòng họ Tướng Quân Đức Xuyên. Từ đó về sau, dòng họ Tùng Bình bắt đầu quản lãnh vùng Hội Tân. Vị Phiên chủ cuối cùng là Dung Bảo (容保, Katamori). Cuối cùng, vào năm 1876 (Minh Trị [明治] 9), Phiên này được sát nhập vào Fukushima-ken cho đến ngày nay. Lịch đại chư vị Phiên chủ của Phiên Hội Tân có 16 người, gồm: (1) Bồ Sanh Thị Hương (蒲生氏郷, Gamō Ujisato, tại nhiệm 1590-1595); (2) Bồ Sanh Tú Hành (蒲生秀行, Gamō Hideyuki, tại nhiệm 1595-1598); (3) Thượng Sam Cảnh Thắng (上杉景勝, Uesugi Kagekatsu, tại nhiệm 1598-1601); (4) Bồ Sanh Tú Hành (蒲生秀行, Gamō Hideyuki, tại nhiệm 1601-1612); (5) Bồ Sanh Trung Hương (蒲生忠郷, Gamō Tadasato, 1612-1627); (6) Gia Đằng Gia Minh (加藤嘉明, Katō Yoshiaki, tại nhiệm 1627-1631); (7) Gia Đằng Minh Thành (加藤明成, Katō Akinari, tại nhiệm 1631-1643); (8) Bảo Khoa Chánh Chi (保科正之, Hoshina Masayuki, tại nhiệm 1643-1669); (9) Bảo Khoa Chánh Kinh (保科正經, Hoshina Masatsune, tại nhiệm 1669-1681); (10) Bảo Khoa Chánh Dung (保科正容, Hoshina Masakata, tại nhiệm 1681-1731); (11) Tùng Bình Dung Trinh (松平容貞頌, Matsudaira Katasada, tại nhiệm 1731-750); (12) Tùng Bình Dung Tụng (松平容頌, Matsudaira Katanobu, tại nhiệm 1750-1805); (13) Tùng Bình Dung Trú (松平容住, Matsudaira Kataoki, tại nhiệm 1805); (14) Tùng Bình Dung Chúng (松平容眾, Matsudaira Katahiro, tại nhiệm 1806-1822); (15) Tùng Bình Dung Kính (松平容敬, Matsudaira Katataka, tại nhiệm 1822-1852); và (16) Tùng Bình Dung Bảo (松平容保, Matsudaira Katamori, tại nhiệm 1852-1868). Phiên chi nhánh của Phiên Hội Tân là Đẩu Nam (斗南, Tonami).
phiên kinh
Dịch Kinh (từ Phạn ngữ)—To translate the scriptures.
Phiên kinh danh nghĩa tập 翻譯名義集
[ja] ホンヤクミョウギシュウ Honyaku myōgishū ||| The Fanyi mingyi ji; T 2131.54.1056a-1185b ed. Fayun 法雲. => Pŏnyŏk myŏngŭijip (k); Honyaku myōgishū (j); Fanyi mingyi ji (c); Của Pháp Vân (c: Fayun 法雲).
phiên kinh thai
(翻經台) Đài dịch kinh. Do lòng kính ngưỡng và khâm phục ngài Tuệ viễn ở Lô sơn, nên thi sĩ Tạ linh vận đời Lưu Tống thời Nam Bắc triều, xây đài dịch kinh Niết bàn trong chùa, lại đào ao và trồng sen trắng trong ao, gọi đài này là Phiên kinh đài. Đến đời sau, đình Bạch liên được xây cất trên nền cũ của đài này. [X. Phật tổ thống kỉ Q.26; Lô sơn kí Q.1].
Phiên kinh viện 翻經院
[ja] ホンキョウイン hongyōin ||| A translation center, usually established in connection with a monastery in ancient China, where scriptures were translated from Indic languages into Chinese. => Trung tâm phiên dịch kinh Phật, gắn liền với một ngôi chùa Trung Hoa thời xưa, nơi kinh điển được phiên dịch từ tiếng Ấn Độ sang tiếng Hán.
Phiên kinh 翻經
[ja] ホンギョウ hongyō ||| To translate the Buddhist scriptures (into Chinese). Same as 譯經. => Dịch kinh Phật sang tiếng Hán, đồng nghĩa với Dịch kinh 譯經.
Phiên Lộc Nhi Đảo
(鹿兒島藩, Kagoshima-han): tên gọi chính thức của Phiên Tát Ma (薩摩藩, Satsuma-han); là một Phiên lãnh hữu 2 tiểu quốc Tát Ma (薩摩, Satsuma), Đại Ngung (大隅, Ōsumi), cọng thêm đại bộ phận các quận huyện của tiểu quốc Nhật Hướng (日向, Hyūga), các đảo ở Tây Nam. Hiện tại Phiên này thuộc toàn bộ Kagoshima-ken (鹿兒島縣) và tây nam bộ Miyazaki-ken (宮崎縣), cọng thêm đại bộ phận Okinawa-ken (沖繩縣). Trung tâm hành chính của Phiên là Thành Lộc Nhi Đảo (鹿兒島城, tại Kagoshima-shi [鹿兒島市]). Thành chủ là dòng họ Đảo Tân (島津, Shimazu), hình thành nên một Phiên to lớn với số lượng cao nhất 90 vạn thạch. Từ khi dòng họ này được bổ nhiệm làm chức Thủ Hộ 3 tiểu quốc Tát Ma, Đại Ngung và Nhật Hướng, các nhà Thủ Hộ Đại Danh, Chiến Quốc Đại Danh đã lấy địa phương này làm căn cứ địa vững chắc cho họ. Vào năm 1587 (Thiên Chánh [天正] 15), nhân cuộc chinh phục Cửu Châu (九州, Kyūshū) của Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), một bộ phận của 3 tiểu quốc trên mới được chính thức công nhận là sở lãnh của dòng họ Đảo Tân. Năm 1600 (Khánh Trường [慶長] 5), sau trận chiến Sekigahara (關ヶ原), con của Đảo Tân Nghĩa Hoằng (島津義弘, Shimazu Yoshihiro) là Đảo Tân Gia Cửu (島津家久, Shimazu Iehisa) được công nhận là chủ lãnh của Phiên Tát Ma. Vào năm 1609 (Khánh Trường 14), Gia Cửu xuất binh đánh Lưu Cầu (琉球, Ryūkyū) và làm cho vương quốc này phải thần phục; vì vậy, bên cạnh việc hằng năm Lưu Cầu dâng cống nạp, còn là cơ hội lớn để giao lưu mậu dịch với Trung Quốc; từ số lượng 56 lên đến 72 vạn thạch. Mãi cho đến đời Phiên chủ thứ 8 là Đảo Tân Trùng Hào (島津重豪, Shimazu Shigehide) bắt đầu cải cách chính trị của Phiên, cho thiết lập các trường Phiên Hiệu Tạo Sĩ Quán (藩校造士館), Diễn Võ Quán (演武館), Y Học Viện (醫學院), v.v. Ông cho con gái thứ 3 là Mậu Cơ (茂姫) đến làm dâu nhà Tướng Quân Đức Xuyên Gia Tề (德川家齊, Tokugawa Ienari); vì vậy đã tạo ảnh hưởng to lớn cho nền chính trị của Phiên Tát Ma; nhưng ngược lại thì cũng làm gia tăng sự khốn cùng cho Phiên. Năm 1851 (Gia Vĩnh [嘉永] 4), dưới thời của vị Phiên chủ đời thứ 11 là Đảo Tân Tề Bân (島津齊彬, Shimazu Nariakira), ông tiến hành thiết lập các thiết bị quận sự của phương Tây cũng như công trường kinh doanh; hơn nữa, ông còn người con gái nuôi là Đốc Cơ (篤姫) làm vợ kế nhà Tướng Quân đời thứ 13 là Đức Xuyên Gia Định (德川家定, Tokugawa Iesada). Vào năm 1871 (Minh Trị [明治] 4), trừ các đảo Lưu Cầu, lãnh địa của Phiên Tát Ma bị phế bỏ và sát nhập vào Kagoshima-ken. Lịch đại chư vị Phiên chủ của Phiên Tát Ma có 12 người, gồm: (1) Đảo Tân Gia Cửu (島津家久, Shimazu Iehisa); (2) Đảo Tân Quang Cửu (島津光久, Shimazu Mitsuhisa); (3) Đảo Tân Cương Quý (島津綱貴, Shimazu Tsunataka); (4) Đảo Tân Cát Quý (島津吉貴, Shimazu Yoshitaka); (5) Đảo Tân Kế Phong (島津繼豐, Shimazu Tsugutoyo); (6) Đảo Tân Tông Tín (島津宗信, Shimazu Munenobu); (7) Đảo Tân Trùng Niên (島津宗信, Shimazu Shigetoshi); (8) Đảo Tân Trùng Hào (島津重豪, Shimazu Shigehide); (9) Đảo Tân Tề Tuyên (島津齊宣, Shimazu Narinobu); (10) Đảo Tân Tề Hưng (島津齊興, Shimazu Narioki); (11) Đảo Tân Tề Bân (島津齊彬, Shimazu Nariakira); và (12) Đảo Tân Tề Bân (島津忠義, Shimazu Tadayoshi). Chi nhánh của Phiên này là Phiên Tá Thổ Nguyên (佐土原藩, Sadowara-han).
phiên phạm ngữ
(翻梵語) Từ điển tiếng Phạm, 10 quyển (không rõ soạn giả), được thu vào Đại chính tạng tập 54. Từ điển này giải thích ngắn gọn ý nghĩa các chữ Phạm trong các kinh Hán dịch và trong các sách do người Trung quốc soạn thuật có chua thêm tiếng Phạm. Nội dung chia làm 73 điều, thu tập khoảng 5.000 ngữ vựng, dưới mỗi ngữ vựng đều có nêu rõ ngữ nghĩa, dị dịch và điển cứ. Lời dịch cũng như các kinh Phật mà sách này trích dẫn đều thuộc đời Lương Nam Bắc triều trở về trước, rồi bộ Kinh luật dị tướng do ngài Bảo xướng biên tập vào đời Lương cũng được trích dẫn khá nhiều. Căn cứ vào những dữ kiện đó mà suy đoán, người ta có thể ngờ sách này là tác phẩm của ngài Bảo xướng.
phiên phạn
Dịch từ Phạn ngữ—To translate from Sanskrit.
Phiên Thủy Hộ
(水戸藩, Mito-han): tên một Phiên thống trị vùng Trung Bộ, Bắc Bộ Ibaraki-ken (茨城縣) hiện tại, thuộc tiểu quốc Thường Lục (常陸, Hitachi) ngày xưa. Cơ sở hành chính của Phiên là Thành Thủy Hộ (水戸城, Mito-jō, thuộc Mito-shi [水戸市]). Phiên chủ là mấy đời của dòng họ Đức Xuyên (德川, Tokugawa); chiếm khoảng 35 vạn thạch (đơn vị biểu hiện vị trí cao thấp và thế lực của hàng Đại Danh, Võ Sĩ, v.v.). Dòng họ Tá Trúc (佐竹, Satake) thuộc Chiến Quốc Đại Danh được Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) công nhận là người quản lãnh tiểu quốc Thường Lục; nhưng trong cuộc chiến Sekigahara (關ヶ原), vì Tá Trúc Nghĩa Tuyên (佐竹義宣), người có 54 vạn thạch, không trợ lực cho dòng họ Đức Xuyên; nên vào năm 1602 (Khánh Trường [慶長] 7), thì bị giảm xuống, chuyển về phiên Cửu Bảo Điền (久保田藩, Kubota-han) với 21 vạn thạch ở Thu Điền (秋田, Akita), Xuất Vũ (出羽, Dewa). Sau thời dòng họ Tá Trúc, ở Thủy Hộ có Võ Điền Tín Cát (武田信吉, Takeda Nobuyoshi, 15 vạn thạch), con trai thứ 5 của Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu), lên thay thế. Năm sau, 1603, Tín Cát qua đời đột ngột và Đức Xuyên Lại Tuyên (德川賴宣, Tokugawa Yorinobu, 25 vạn thạch) kế vị. Tiếp theo Lại Tuyên là Đức Xuyên Lại Phòng (德川賴房, Tokugawa Yorifusa), được tăng lên đến 28 vạn thạch. Đến thời đại Nguyên Lộc (元祿), Phiên Thủy Hộ có 35 vạn thạch. Sau này, theo sự tình diễn tiến, Lại Phòng nhường chức lại cho người con thứ ba là Đức Xuyên Quang Quốc (德川光圀, Tokugawa Mitsukuni), rồi giao cho người trưởng nam là Tùng Bình Lại Trùng (松平賴重) làm Phiên chủ của Phiên Cao Tùng (高松藩, Takamatsu-han) có 12 vạn thạch. Bản thân Quang Quốc rất chuộng học vấn, từng biên tập bộ Đại Nhật Bản Sử (大日本史), gieo khí phong Tôn Vương (尊王) đến cho Phiên Thủy Hộ. Vốn ra đời ở Phiên này, Thủy Hộ Học đã đem lại ảnh hưởng mạnh cho cuộc Vận Động Tôn Hoàng Nhương Di (尊皇攘夷運動). Vị Phiên chủ đời thứ 9 là Đức Xuyên Tề Chiêu (德川齊昭, Tokugawa Nariaki), cũng có chí tham gia vào việc cải cách chính trị của Phiên, nhưng vì khuynh hướng Tôn Vương Nhương Di quá mạnh, nên ông phải từ chức và lui về ẩn cư. Đến cuối thời Mạc Phủ, trong Phiên nảy sinh những cuộc kháng tranh giữa Phái Bảo Thủ và Phái Cách Tân, nên mất đi sự thống chế, từ đó kéo theo bao vụ biến loạn như vụ Loạn Đảng Thiên Cẩu (天狗黨の亂), Chiến Tranh Hoằng Đạo Quán (弘道館戰爭), v.v. Lịch đại chư vị Phiên chủ có 13 đời, gồm: (1) Võ Điền Tín Cát (武田信吉, Takeda Nobuyoshi, tại nhiệm 1602-1603); (2) Đức Xuyên Lại Tuyên (德川賴宣, Tokugawa Yorinobu, tại nhiệm 1603-1609); (3) Đức Xuyên Lại Phòng (德川賴房, Tokugawa Yorifusa, tại nhiệm 1609-1661); (4) Đức Xuyên Quang Quốc (德川光圀, Tokugawa Mitsukuni, tại nhiệm 1661-1690); (5) Đức Xuyên Cương Điều (德川綱條, Tokugawa Tsunaeda, tại nhiệm 1690-1718); (6) Đức Xuyên Tông Nghiêu (德川宗堯, Tokugawa Munetaka, tại nhiệm 1718-1730); (7) Đức Xuyên Tông Hàn (德川宗翰, Tokugawa Munemoto, tại nhiệm 1730-1766); (8) Đức Xuyên Trị Bảo (德川治保, Tokugawa Harumori, tại nhiệm 1766-1805); (9) Đức Xuyên Trị Kỷ (德川治紀, Tokugawa Harutoshi, tại nhiệm 1805-1816); (10) Đức Xuyên Tề Tu (德川齊脩, Tokugawa Narinobu, tại nhiệm 1816-1829); (11) Đức Xuyên Tề Chiêu (德川齊昭, Tokugawa Nariaki, tại nhiệm 1829-1844); (12) Đức Xuyên Khánh Đốc (德川慶篤, Tokugawa Yoshiatsu, tại nhiệm 1844-1868); và (13) Đức Xuyên Chiêu Võ (德川昭武, Tokugawa Yoshiatsu, tại nhiệm 1868-1869).
Phiên Tân Hòa Dã
(津和野藩, Tsuwano-han): tên của một Phiên cai trị vùng Tân Hòa Dã (津和野, Tsuwano) thuộc tiểu quốc Thạch Kiến (石見, Iwami) dưới thời Giang Hộ. Cơ quan hành chính của Phiên là Thành Tân Hòa Dã (津和野城, Tsuwano-jō). Dưới thời đại Chiến Quốc, dòng họ Cát Kiến (吉見, Yoshimi), nhà hào tộc từng phục vụ cho hai dòng họ Đại Nội (大內, Ōuchi) và Mao Lợi (毛利, Mōri), quản lãnh địa phương này. Cho nên, trước khi xảy ra cuộc chiến ở Sekigahara (關ヶ原), vùng đất này là sở hữu của dòng họ Mao Lợi. Vào ngày 15 tháng 10 năm 1600 (Khánh Trường [慶長] 5), trong trận chiến Sekigahara, Phản Khi Trực Thạnh (坂崎直盛, Sakazaki Naomori), người anh em họ của Hỷ Vũ Đa Tú Gia (喜宇多秀家), lập chiến công lớn và hình thành một Phiên mới với 3 vạn thạch. Sau đó, trong trận chiến ở Đại Phản (大阪, Ōsaka), ông xông trận cứu thoát công chúa Thiên Cơ (千姫), nên được ban cho 1 vạn 3468 thạch vào ngày 20 tháng 7 năm 1617 (Nguyên Hòa [元和] 3). Tuy nhiên, ngày 11 tháng 9 cùng năm, do những dư âm về sự kiện công chúa Thiên Cơ, Trực Thạnh bị gia thần sát hại và dòng họ Phản Khi coi như đoạn diệt. Thay vào đó, ngày 20 tháng 7 năm 1618 (Nguyên Hòa 3), Quy Tỉnh Chính Củ (龜井政矩, Kamei Masanori) của Phiên Nhân Phan Lộc Dã (因幡鹿野藩) đến nhậm chức với 4 vạn 3000 thạch. Kể từ đó cho đến thời Minh Trị, dòng họ Quy Tỉnh (龜井, Kamei) thống lãnh toàn Phiên. Chính Củ được chính quyền Mạc Phủ tín nhiệm sâu sắc, nhưng lại chế đột ngột vào năm 1619 (Nguyên Hòa 5). Quy Tỉnh Tư Chính (龜井茲政, Kamei Koremasa), người kế thế đời thứ hai của dòng họ này, lại quá nhỏ, nên tạo ra những xáo động trong Phiên; nhưng may nhờ trung thần Đa Hồ Chơn Thanh (多胡眞清) chủ đạo, khống chế phân tranh nội bộ và dốc lực xác lập nền chính trị của Phiên được ổn định. Đến thời của Quy Tỉnh Củ Hiền (龜井矩賢, Kamei Norikata), Phiên chủ đời thứ 8, sáng lập ra trường học Dưỡng Lão Quán (養老館) và mãi cho đến nay trường này vẫn còn. Vị Phiên chủ đời cuối cùng là Quy Tỉnh Tư Giám (龜井茲監, Kamei Koremi) thực hành cải cách và trọng dụng nhân tài có năng lực. Hơn nữa, ông còn tin thờ Thần Đạo và dốc toàn lực phát triển quốc học. Vào năm 1867 (Khánh Ứng [慶應] 3), ngay trước khi chuyển qua thời Minh Trị, nhân cuộc đàn áp tín đồ Thiên Chúa Giáo của chính phủ mới, các tín đồ bị lưu đày ở các địa phương. Ngay như 158 người tín đồ của tôn giáo này cũng bị lưu đày và khảo vấn khốc liệt ở Phiên Tân Hòa Dã; cho nên Phiên này chuyển vào thời kỳ u ám nhất. Đến tháng 7 năm 1871 (Minh Trị [明治] 4), Phiên bị phế bỏ và chuyển nhập vào Shimane-ken (島根縣). Lịch đại chư vị Phiên chủ của Phiên Tát Ma có 12 người, gồm: (1) Phản Khi Trực Thạnh (坂崎直盛, Sakazaki Naomori); (2) Quy Tỉnh Chính Củ (龜井政矩, Kamei Masanori); (3) Quy Tỉnh Tư Chính (龜井茲政, Kamei Koremasa); (4) Quy Tỉnh Tư Thân (龜井茲親, Kamei Korechika); (5) Quy Tỉnh Tư Mãn (龜井茲滿, Kamei Koremitsu); (6) Quy Tỉnh Tư Diên (龜井茲延, Kamei Korenobu); (7) Quy Tỉnh Tư Dận (龜井茲胤, Kamei Koretane); (8) Quy Tỉnh Củ Trinh (龜井矩貞, Kamei Norisada); (9) Quy Tỉnh Củ Hiền (龜井矩賢, Kamei Norikata); (10) Quy Tỉnh Tư Thượng (龜井茲尚, Kamei Korenao); (11) Quy Tỉnh Tư Phương (龜井茲方, Kamei Korekata); và (12) Quy Tỉnh Tư Giám (龜井茲監, Kamei Koremi).
phiên tăng
1) Vị Tăng ngoại quốc, đặc biệt từ Thiên Trúc hay Tây Vực: A foreign monk, especially from India or the West. 2) Vị Tăng có nhiệm vụ canh gác tự viện: A temple warden, or watchman.
Phiên vương kinh 幡王經
[ja] ホンオウキョウ Ban'ō kyō ||| The Fanwang jing; see Wunengsheng fanwang rulai zhuangyan tuoluoni jing 無能勝幡王如來莊嚴陀羅尼經 => (c: Fanwang jing); Xem Vô năng thắng phiên vương Như Lai trang nghiêm Đà-la-ni kinh (c: Wunengsheng fanwang rulai zhuangyan tuoluoni jing 無能勝幡王如來莊嚴陀羅尼經).
Phiên đại bi thần chú 番大悲神呪
[ja] バンダイヒジンジュ Ban daihi jinju ||| T 1063.20.114-115. One version of the Qianshou qianyan guanshiyin pusa dabei xintuoluoni 千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼 => Tên một bản dịch của Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát đại bi tâm đà-la-ni (c: Qianshou qianyan guanshiyin pusa dabei xintuoluoni 千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼).
Phiên 翻
[ja] ホン hon ||| (1) Opposite, opposing, (viparyāya, viparyayat). (2) To contradict; contradictory. (3) To differ, be different from. (4) Paradoxically. => 1. Phản lại, ngược với, đối lập (viparyāya, viparyayat). 2. Mâu thuẫn với, sự mâu thuẫn. 3. Khác với, khác biệt với. 4. Nghịch lý.
phiêu bạt
To wander from place to place—To have no fixed home.
phiêu diêu
Lightly.
phiếm thần giáo
Pantheism Vạn hữu thân giáo.
phiếm đàm
To talk idly.
phiến
1) Cây quạt: A fan. 2) Một miếng mỏng—A slice—A slip—A card.
; (扇) Cái quạt. Một dụng cụ dùng để quạt mát, hoặc dùng trong nghi lễ. Lúc đức Phật còn tại thế các đệ tử thường cầm quạt để quạt cho Ngài, điều này được thấy rải rác trong các kinh A hàm. Khi ngài Ưu ba li kết tập tạng Luật, vua Ba tư nặc có ban cho ngài1 cây quạt bằng ngà voi để ngài cầm khi tụng Luật. Còn ở Trung quốc, vua Dượng đế nhà Tùy ban cho Cao tăng Kính thoát cây quạt trúc rộng 96 cm để vào cung giảng kinh. Trên đây đều là loại quạt hình tròn ở đời sau, chứ không phải loại quạt xếp. Ngoài ra, khi có pháp sự, vị tăng cầm quạt đứng hầu trước Phật, biểu trưng nghi lễ, giống như các triều thần cầm cái hốt trước vua khi lâm triều.
phiến cung
(片供) Cúng một nửa. Theo nghi thức Quán đính của Mật giáo, những vật cúng được cúng ở đàn nhỏ chia làm 2 phần, 3 vật cúng trước, 3 vật cúng sau. Khi cúng, nếu chỉ dùng phần cúng trước để cúng dường thì gọi là Phiến cúng. Nghi thức này có xuất xứ từ kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng quyển 4, phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1 và kinh Bất không quyên sách quyển 15. Ngoài ra, Tam muội da giới dùng nghi thức cúng trước, còn Kim cương giới và Thai tạng giới thì dùng cả cúng trước và cúng sau. Cúng trước là cúng dường Phật mới(A xà lê mới), cúng sau là cúng dường Phật cũ(Phật xưa). Các vật cúng được sắp bày theo thứ tự. Ở trước mâm Kim cương (trên mâm có đặt cây chày Kim cương) đặt lò hộ ma chữ...(Vạn), rồi phía trước phía sau lò lần lượt đặt nước át già, hươngthoa, tràng hoa...
phiến diện
Unilateral.
phiến diện tả kinh
(扇面寫經) Cũng gọi Phiến diện cổ tả kinh. Phương thức viết kinh trên mặt chiếc quạt lưu hành vào cuối thời kì Đằng nguyên ở Nhật bản. Mặt quạt được tô nhiều màu, hoặc quét 1 lớp kim nhũ rồi mới viết văn kinh lên trên. Hiện nay, loại quạt này vẫn còn được các chùa cũng như tư nhân cất giữ, đều là những di phẩm có giá trị về phương diện lịch sử. [X. Phật giáo chi mĩ thuật cập lịch sử; Thế giới ấn loát thông sử Q.1].
phiến quắc
Sandhaka (skt)—See Phiến Quắc Bán Trạch Ca.
phiến quắc bán trạch ca
Sandhaka (skt)—Dịch là Hoàng Môn, một trong ngũ chủng bất nam, người nam căn không đầy đủ—One of the five kinds of impotent males or eunuchs, a eunuch, sexually impotent—See Ngũ Chủng Bất Nam.
phiến quắc bán để ca
Sandhaka (skt)—See Phiến Quắc Bán Trạch Ca.
phiến sai
(扇搋) Phạm: ṣaṇḍha. Hán dịch: Hoàng môn. Chỉ cho những người đàn ông không có bộ phận sinh dục. Phiến đà có 2 loại: Tiên thiên (Bản tính phiến đà) và Hậu thiên (Tổn hoại phiến đà). Hai loại này tương đương với Sinh bất năng nam (người nam sinh ra không có bộ phận sinh dục) và Bệnh bất năng nam (vì bệnh tật mà hư hoại hoặc bị cắt bỏ bộ phận sinh dục) trong 5 loại Bất năng nam. [X. luận Câu xá Q.3]. (Ngũ Chủng Bất Năng Nam).
phiến thiền
Một cuộc hành thiền ngắn—A brief samadhi or meditation.
phiến đa la
Sandhila (skt)—See Đề La.
phiến để ca
Santika (skt)—Còn gọi là Sán Để, một trong những phép Hộ Ma của Mật giáo, dịch là Tức Tái Pháp, một nghi thức cầu nguyện tiêu tai của Mật giáo—One of several different kinds of homa, propitiatory, or producing ease or quiet; a ceremony for causing calamities to cease—See Hộ Ma.
phiến để ca đồng tử
Xem Chế tra ca đồng tử.
phiết
Liếc mắt—A glance.
phiết địa
Một tít tắc hay nháy mắt—An instant—Quickly.
phiếu mạo
(縹帽) Cũng gọi Phiếu mạo tử, Khỏa đầu. Cái mũ hoặc chiếc khăn bằng lụa bịt kín đầu của người Ấn độ. Thời đức Phật còn tại thế, vì miền Bắc Ấn độ trời lạnh nên Phật cho phép các tỉ khưu ở đó được dùng khăn lông thú để trùm đầu. Ở Trung quốc, tương truyền, lúc Tùy dượng đế còn là Tấn vương, có lần thỉnh Đại sư Thiên thai Trí khải truyền giới Bồ tát, lúc đó trời quá lạnh nên Tấn vương phải dùng áo của mình trùm lên đầu ngài Trí khải, đó là nguồn gốc của Phiếu mạo ở Trung quốc. Tại Nhật bản, Phiếu mạo bắt đầu từ ngài Tối trừng, hoặc ngài Không hải. Đến đời sau, Phiếu mạo diễn biến thành 1 trong Kinh Pháp hoa viết trên quạt những cách trang phục của các tông Thiên thai, Chân ngôn... và người ta phải có 1 tư cách nhất định mới được sử dụng loại khăn này. Phiếu mạo ở Nhật bản ngày nay phần nhiều thuần màu trắng, không dùng để trùm trên đầu mà để quàng quanh cổ, đầu dưới của khăn rủ xuống trước ngực. Phiếu mạo may kép (2 mặt đều dùng được) gọi là Bản mạo tử, may đơn(chỉ dùng được mặt phải) thì gọi là Bán mạo tử. [X. kinh Phạm chí A nhiếp hòa trong Trung a hàm Q.37; kinh Bô lợi đa trong Trung a hàm Q.55; điều Khỏa đầu trong Hiển Mật uy nghi tiện lãm Q.hạ; Thánh đạo y liệu biên Q.hạ].
phiền
Trouble, annoyance, perplexity.
; Trouble—Annoyance—Perplexity—To bother—To annoy—To disturb—To trouble.
phiền hà
To bother.
Phiền lao 煩勞
[ja] ボンロウ bonrō ||| Affliction, difficulty, suffering. 〔二障義、 HPC 1.789c〕 => Phiền não, khó khăn, đau khổ.
Phiền loạn 煩亂
[ja] ボンラン bonran ||| To cause confusion, disorder, affliction, trouble. 〔二障義、 HPC 1.789c〕 => Khiến cho rối loạn, không ổn định, phiền não, rắc rối.
phiền lung
Dục vọng được ví như cái lồng nhốt kẻ hay đi gây phiền chuốc não—The basket of the troublers, i.e. the passions.
phiền lòng
Bored—Annoyed.
phiền lụy
Upaddava (P).
phiền muộn
Sorrowful—Sad—Grieved
phiền nhiễu
To disturb—To importune.
Phiền não
(s: kleśa, p: kilesa, 煩惱): từ chỉ về tác dụng, tính chất và trạng thái của các loại tâm làm não loạn thân tâm, không được yên tĩnh, vắng lặng.
; 煩惱; S: kleśa; P: kilesa; J: bonnō;|Ðặc tính của tâm thức chuyên sinh ra các pháp Bất thiện (s: akuśala; p: akusala) và làm con người bị vướng mãi trong Luân hồi (s, p: saṃsāra). Khi dứt bỏ tất cả phiền não, hành giả xem như đạt thánh quả A-la-hán (s: arhat).|Có nhiều cách phân loại phiền não. Trong luận Thanh tịnh đạo, Ðại sư Phật Âm chia phiền não ra làm 10 loại: tham, sân (giận dữ), si (mê mờ), Mạn (kiêu mạn), Kiến (kiến giải sai lầm, tà kiến), Nghi (nghi ngờ), hôn trầm (buồn ngủ mệt mỏi), trạo cử (lăng xăng vọng động), vô tàm (không biết tự thẹn), vô quý (không biết thẹn với người).|Người ta thường gặp tại Trung Quốc, Nhật và Việt Nam cách phân chia phiền não ra bốn loại: 1. Ngã si (我癡), 2. Ngã kiến (我見), 3. Ngã mạn (我慢) và 4. Ngã ái (我愛).|Có khi người ta cũng chia phiền não ra hai nhóm, Căn bản phiền não (根本煩惱; s: mūlakleśa) và phiền não phụ thuộc, cấu uế trong tâm, được gọi là Tuỳ phiền não (隨煩惱; s: upakleśa). Căn bản phiền não gồm có tham, sân, si, mạn, nghi, Ðảo kiến (tin có tự ngã, tin nơi sự thường hằng, tin nơi sự huỷ diệt, phủ nhận nghiệp, chấp chặt vào tri kiến sai lầm, cho rằng giáo pháp sai lầm có thể cứu độ). Tuỳ phiền não là các tâm bất thiện đi liền với các Căn bản phiền não. Ðôi lúc phiền não cũng được hiểu là Năm chướng ngại (s, p: nīvaraṇa). Nếu đảo kiến tương đối dễ đối trị thì các phiền não khác không thuộc suy luận mà thuộc về cảm giác thụ tưởng nên rất khó khắc phục. Muốn đối trị chúng, hành giả phải chuyên tu tập thiền định.
phiền não
Kleśa (S), Kilesa (P), nyn mong (T), nyn yid (T), Śoka (S), Soka (P), Bonnō (J), Affliction, DefilementBất tịnh, Ô nhiễmKiến hoặc, tư hoặc (kiến giải và tư tưởng sai lầm), lo buồn, sầu khổ, nhiễu loạn sự yên tịnh của thân tâm chúng sanh. Một trong 5 loại Ma vươngXem Triền cái, Xem Khát vọng.
; Klesa (S). Distress, worry, trouble, affliction.
; Kiến hoặc, tư hoặc, kiến giải và tư tưởng sai lầm nhiễu loạn sự yên tịnh của thân tâm.
; Klesa or Sam-klesa (skt)—Affliction—Delusion—Distress or moral faults—Pain—Passions—Suffering—Wrong belief—Con đường của cám dỗ và dục vọng sanh ra ác nghiệp (đây chính là khổ đau và ảo tưởng của cuộc sống), là nhân cho chúng sanh lăn trôi trong luân hồi sanh tử, cũng như ngăn trở giác ngộ—The way of temptation or passion which produces bad karma (life's distress and delusion), cause one to wander in the samsara and hinder one from reaching enlightenment. There are two kinds of delusions: 1) Căn bổn phiền não: Delusions arising from the six senses. 2) Tùy phiền não: Consequent delusions.
; (煩惱) Phạm: Kleza. Pàli:Kilesa. Hán âm: Cát lệ xá. Cũng gọi Hoặc. Gọi chung những tác dụng tinh thần làm cho tâm hữu tình bấn loạn, buồn sầu, khổ não. Để đạt mục đích tham muốn, thỏa mãn những dục vọng của cái ta mà con người có ý thức hoặc vô ý thức thường đắm chìm trong cảnh buồn vui nên bị phiền não trói buộc. Trong tất cả các loại tác dụng tâm, giác ngộ là mục đích cao nhất trong Phật giáo, cho nên bất luận tác dụng tinh thần nào làm trở ngại sự thực hiện giác ngộ đều được gọi là phiền não. Phiền não tùy theo tính chất có nhiều tên gọi như: Tùy miên (Phạm: Anuzaya), Triền (Phạm:Paryavasthàna), Cái (Phạm: Nivaraịa), Kết (Phạm:Saôyojana), Phược (Phạm: Bandhana), Lậu (Phạm: Àsrava), Thủ (Phạm: Upàdàna), Hệ (Phạm: Grantha), Sử, Cấu, Bạo lưu, Ách, Trần cấu, Khách trần... Nếu phân loại thêm nữa thì rất phức tạp, nhưng thông thường cho Tham, Sân, Si là nguồn gốc của tất cả phiền não và chia làm 2 loại là Căn bản phiền não (phiền não gốc) và Chi mạt phiền não ( phiền não ngọn). Căn bản phiền não có 6: Tham, Sân, Si (Vô minh),Mạn, Nghi và Kiến (Ác kiến); trong đó, Kiến lại được chia làm 5 thứ: Thân kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến và Giới cấm thủ kiến, gọi chung là Thập phiền não (Thập sử). Chi mạt phiền não thì tùy thuộc vào Căn bản phiền não mà sinh khởi, theo luận Câu xá thì có 19 thứ gồm: Phóng dật, giải đãi..., còn theo luận Duy thức thì có 20 thứ gồm: Thất niệm, tán loạn, bất chính tri... Ngoài ra còn có các phương pháp phân loại như: Tam lậu, Tam kết, Tứ bạo lưu, Tứ thủ, Ngũ cái, Ngũ kết, Lục cấu, Thất lưu, Thập triền..., hoặc gọi là Bát bách phiền não (108 phiền não), hoặc vì cách tính toán khác nhau, nên có các thuyết bất đồng như Bát vạn tứ thiên phiền não (84.000 phiền não). [X. luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.43, 46, 60; luận Câu xá Q.20, 21; luận Phật tính Q.3; luận Thành duy thức Q.6].
phiền não băng
The ice of moral affliction.
; Băng giá phiền não hay phiền não như băng giá đóng trên bồ đề—The ice of moral affliction, i.e. its congealing, chilling influence on bodhi.
; (煩惱冰) Phiền não và băng giá. Chỉ cho phiền não tức bồ đề, là chỗ tột cùng của Phật giáo Đại thừa. Ý nói phiền não và bồ đề không phải là hai, giống như băng giá và nước không bao giờ rời nhau. Ở đây, bồ đề được ví dụ như nước, phiền não như băng giá, do đó mà có tên gọi Phiền não băng. Ma ha chỉ quán quyển 5 phần đầu (Đại 46, 56 trung) nói: Vô minh phiền não vốn là pháp tính, vì mê hoặc nên pháp tính biến thành vô minh, rồi điên đảo khởi lên các thiện và bất thiện, giống như vì lạnh mà nước đóng thành băng, như người ngủ say tâm biến thành mộng vậy.
phiền não bệnh
The disease of moral affliction.
phiền não bịnh (bệnh)
The disease of moral affliction.
phiền não chướng
Kleśāvaraṇa (S), Afflictive obstruction, Kilesavaraṇa (P)Tất cả phiền não do 7 thứ tình cảm (mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, ham thích) và 6 thứ dục vọng (của lục căn) sanh khởi đều là chướng ngại sự giải thoát cái khổ sanh tử, nên gọi là phiền não chướng.
; Klesavarana (S). The barrier of temptation, passion, or defilement. Hindrance of impurity. Hindrance on spiritual progress.
; Tất cả phiền não do bảy thứ tình cảm (mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, ham thích) và sáu thứ dục vọng (của lục căn) sanh khởi đều làm chướng ngại sự giải thoát cái khổ sanh tử.
; Klesavarana (skt)—Affliction obstacles. 1) Những dục vọng và ảo ảnh tiếp sức cho tái sanh và làm chướng ngại Niết bàn. Phiền não chướng còn có nghĩa là những trở ngại của phiền não. Phiền não được chia làm hai nhóm, phiền não chính và phụ. Phiền não chính gồm những thúc đẩy xấu vốn nằm trong nền tảng của mọi tư tưởng và ước muốn gây đau khổ—The passions and delusion which aid rebirth and hinder entrance into nirvana. 2) Những rào cản của dục vọng và uế trược làm trở ngại sự thành đạt Niết bàn—The barrier of temptation, passion or defilement, which obstructs the attainment of the nirvana. Klesa is also means hindrance of the afflictions. Klesa is generally divided into two groups, primary and secondary. The primary comprises of such evil impulses that lie at the foundation of every tormenting thought and desire. ** For more information, please see Lục Chủng Phiền Não.
; (煩惱障) Phạm: Khezàvaraịa. Cũng gọi Hoặc chướng. Chỉ cho phiền não ngăn ngại đạo Bồ đề, làm cho chúng sinh không chứng được Niết bàn, 1 trong 2 chướng, 1 trong 3 chướng. 1. Theo luận Câu xá quyển 17, 25, phiền não thường hiện hành làm trở ngại việc phát sinh của trí tuệ vô lậu, đồng thời, làm cho không chứng được trí tuệ giải thoát, gọi là Phiền não chướng. Đến khi lìa phiền não chướng được tuệ giải thoát và định Diệt tận, nhưng lại bị chướng ngại làm cho không chứng được Câu giải thoát, thì gọi là Giải thoát chướng (Định chướng). Phiền não chướng lấy nhiễm ô vô tri làm thể, Giải thoát chướng lấy Bất nhiễm ô vô tri làm thể. 2. Theo luận Thành duy thức quyển 9, tất cả phiền não làm cho thân tâm chúng sinh bị nhiễu loạn, ngăn trở con đường đến Niết bàn, gọi là Phiền não chướng. Còn tất cả phiền não tuy không khiến khởi nghiệp để phải sinh trong 3 cõi (cõi mê), nhưng có khả năng che lấp cảnh giới sở tri(bị biết) mà ngăn ngại việc phát sinh chính trí, thì gọi là Sở tri chướng (Trí chướng). Phiền não chướng và Sở tri chướng đều thuộc Tát ca da kiến và lấy 128 phiền não căn bản làm thể. Trong đó, Phiền não chướng lấy Ngã chấp làm căn bản; Sở tri chướng thì lấy Pháp chấp làm căn bản. Nếu nói về tác dụng thì Phiền não chướng trở ngại Niết bàn, còn Sở tri chướng thì trở ngại Bồ đề. Cho nên Phiền não chướng là động lực chính làm chướng ngại Niết bàn, còn Sở tri chướng chỉ đóng vai trò phụ trợ, chứ không đủ năng lực làm trở ngại Niết bàn. Lấy phiền não chướng làm trợ duyên, có thể thụ thân Phần đoạn sinh tử; còn lấy sở tri chướng làm trợ duyên thì có thể thụ thân Biến dịch sinh tử. Bởi thế, hàng Nhị thừa lấy quả vị đoạn trừ phiền não chướng làm lí tưởng tối cao, nhưng hàng Bồ tát thì lấy đoạn từ cả 2 chướng để đạt quả vị Phật làm cứu cánh. Đối với Bồ tát mà nói, thì Sở tri chướng không có khả năng dẫn đến quả báo trong 3 cõi, nhưng có thể giúp đỡ nghiệp vô lậu để thụ thân Biến dịch sinh tử ngoài 3 cõi. Còn về các giai đoạn áp phục và đoạn trừ Phiền não chướng và Sở tri chướng của Bồ tát thì được biểu đồ như sau: 3. Đại thừa nghĩa chương quyển 5 cho rằng, trong 5 Trụ địa, hoặc của 4 Trụ trước thuộc Phiền não chướng, còn hoặc sau cùng là Vô minh trụ địa thì thuộc Trí chướng. 4. Theo Kim cương bát nhã ba la mật kinh luận quyển thượng của ngài Thế thân thì Kiến hoặc và Tư hoặc là Phiền não chướng, còn Vô tránh tam muội do chấp trước vào sự đoạn trừ Phiền não chướng mà được thì gọi là Tam muội chướng. 5. Phiền não chướng, Nghiệp chướng và Báo chướng gọi chung là Tam chướng. Các phiền não tham, sân, si luôn luôn hiện khởi, gây chướng ngại cho Thánh đạo, vì thế gọi là Phiền não chướng. [X. luận Phát trí Q.11; luận Đại tì bà sa Q.47, 115, 141; luận Thuận chính kí Q.43]. (xt. Phiền Não).
phiền não chướng cập sở tri chướng
Klesavarana and jneyavarana (skt)—Những chướng ngại gây nên bởi phiền não và tri thức—Hindrances caused by evil passions and by intellection.
Phiền não chướng 煩惱障
[ja] ボンノウショウ bonnōshō ||| The 'afflictive hindrances', 'hindrances due to affliction.' The destructive passions of ignorance, anger, greed that impede one's attainment of nirvāna. These hindrances are considered by Mahāyāna schools such as Yogācāra 瑜伽行派 to be a more coarse, and can be, for the most part, removed by the moral and meditative practices of arhats and pratyekabuddhas (kleśa-āvaraṇa). The hindrances due to defilement are named in contrast to the noetic hindrances (所知障), which together, comprise the two hindrances 二障. The seeds of the afflictive hindrances are contained in the first seven "transforming consciousnesses" 轉識 and not in the base consciousness 阿頼耶識. 〔二障義HPC 1.810b〕 => 'Chướng ngại do phiền não', những đam mê tiêu cực phát xuất từ vô minh, sân hận, tham lam làm trở ngại sự thành tựu niết-bàn. Những phiền não nầy được các tông phái Đại thừa như Du-già hành tông xem là phiền não thô trọng, phần lớn được xem là có thể được giải trừ qua sự tu tập giới luật và thiền định của hàng A-la-hán và Bích chi Phật. Những phiền não nhiễm ô đối lại là Sở tri chướng (所知障), hợp lại thành nhị chướng二障. Những chủng tử của phiền não chướng bao gồm trong bảy thức đầu 'chuyển thức'轉識 và không thuộc A-lại-da thức阿頼耶識. .
Phiền não cấu 煩惱垢
[ja] ボンノウク bonnōku ||| The stain of afflictions. Pollution by defilements. 〔十地毘婆娑論 T 1521.26.108b28〕 => Sự nhiễm ô của phiền não. Sự nhiễm ô do phiền não.
phiền não gây ra bởi ngã mạn và ái kỷ
Affliction of pride and self-love.
phiền não gây ra bởi si mê
Afflictions of delusion.
phiền não hoặc
MŪlakleśa (S)Căn bản hoặc, Bản hoặc, Căn bản phiền não.
phiền não hà
The river of moral affliction.
; Phiền não có thể làm trôi dạt người và trời trong ba cõi—The river of moral affliction which overwhelms all beings in the three realms.
phiền não hải
The ocean of moral affliction.
; Phiền não của chúng sanh sâu rộng như biển cả—The ocean of moral affliction which engulfs all beings.
phiền não khách trần
(khách trần phiền não): Phiền não ví như những bụi bặm từ bên ngoài bám vào (khách trần), thật không phải là yếu tố sẵn có ở nơi mình. Phiền não là từ bên ngoài đến (khách), chỉ vì người mê lầm nên ngỡ khách là chủ, luôn chạy theo sự sai sử của nó. Nếu quay về quán xét tự tâm thì sẽ biết được chính cái tâm trong sạch sẵn có mới là chủ, sẽ không còn chịu sự tác động của ngoại duyên nữa.
phiền não lâm
The forest of moral affliction.
; Rừng phiền não—The forest of moral affliction.
phiền não ma
The màra of the passions who troubles mind and body.
; Một trong tứ ma, có thể làm rối loạn thân tâm, chướng ngại bồ đề—Demonic afflictions—The mara or the tempter of the passions who troubles mind and body, obstructs the entrance to bodhi, one of the four kinds of mara. ** For more information, please see Tứ Ma and Bát Ma.
phiền não nghiệp khổ
The suffering arising out of the working of the passions, which produce good or evil karma.
; Hoặc Nghiệp Khổ—Do phiền não tham sân si mà tạo ra nghiệp thiện ác. Vì đã có các nghiệp thiện ác mà phải cảm nhận các quả khổ vui của ba cõi, rồi thân phải chịu cái khổ quả đó tiếp tục tạo ra nghiệp phiền não—The suffering arising out of the working of the passions, which produce good or evil karma, which in turns results in a happy or suffering lot in one of the three realms, and again from the lot of suffering (or mortality) arises the karma of the passions. ** For more information, please see Nghiệp, Khổ, Tam Đạo, and Hoặc Nghiệp Khổ.
phiền não ngại
The obstruction of temptation, or defilement, to entrance into nirvàna peace by perturbing the mind.
; Một trong hai trở ngại. Phiền não kiến tư làm rối loạn thân tâm, trở ngại che lấp đường vào niết bàn—The obstruction of temptation or defilement to entrance into nirvana peace by perturbing the mind, one of the two obstructions. ** For more information, please see Nhị Chướng.
phiền não ngại trí ngại
(煩惱礙智礙) Cũng gọi Nhị ngại. Chỉ cho Phiền não ngại và Trí ngại. Theo luận Đại thừa khởi tín, Phiền não ngại (Hoặc chướng) là 6 tâm nhiễm ô thuộc vô minh chi mạt làm trở ngại trí căn bản; còn Trí ngại là 6 tâm ô nhiễm thuộc vô minh căn bản làm chướng ngại trí hậu đắc. Sở dĩ phiền não ngại ngăn trở trí chân như căn bản là vì nó nương nơi tâm ô nhiễm mà thường thấy thường hiện, rồi vọng chấp các cảnh giới, nên trái với tính bình đẳng. Còn trí ngại ngăn trở trí hậu đắc là vì tất cả pháp thường tĩnh lặng, không khởi tướng, nhưng do vô minh bất giác mà vọng trái vớipháp tướng, nên không thể tùy thuận với chủng trí của tất cả cảnh giới thế gian.
Phiền não ngại 煩惱礙
[ja] ボンノウゲ bonnōge ||| See fannaozhang 煩惱障. => Xem Phiền não chướng煩惱障.
phiền não nhân
Cause of the affiction.
phiền não nê
The soil or mud of moral affliction.
; Phiền não như bùn, từ nơi đó những cánh sen giác ngộ vươn lên—The soil or mud of moral affliction, out of which grows the lotus of enlightenment.
Phiền não phẩm 煩惱品
[ja] ボンノウボン bonnōbon ||| The category of defilement; same as 染品. 〔瑜伽論T 1579.30.284c〕 => Phạm trù phiền não; Đồng nghĩa với Nhiễm phẩm染品.
phiền não quân
The army of temptations, tempters or allurements.
phiền não rộn ràng
Full of afflictions and disturbances.
phiền não thức
Klesha consciousness, nyn yid (T).
phiền não trược
Kleśa-kaṣāyaḥ (S), Living-being turbidity, Affliction turbidity Một trong Ngũ trược.
phiền não trận
The army of temptations, tempters, or allurements.
; Đạo quân phiền não và cám dỗ—The army of temptations, tempters, or allurements.
phiền não trọc (trược)
Stain.
phiền não tân
Củi phiền não, bị lửa trí tuệ đốt sạch—The faggots of passion, which are burnt up by the fire of wisdom.
phiền não tạng
Chứa nhóm phiền não uế nhiễm—The store of moral affliction or defilement. ** For more information, please see Ngũ Trụ Địa and Ngũ Trược.
phiền não tập
The habit or influence of the passions after they have been cut off.
; Tập khí của phiền não, dù đã đoạn tận phiền não nhưng tập khí của nó vẫn còn—The habit or influence of the passions after they have been cut off.
; (煩惱習) Cũng gọi Dư tập, Tập khí, Tàn khí. Tập khí còn rớt lại do phiền não thường hiện khởi xông ướp(huân tập). Các bậc hiền thánh tuy đã dứt hết Phân biệt khởi Câu sinh khởi Hiện hành Chủng tử, Tập khí Hiện hành Chủng tử Tập khí Hiện hành Chủng tử, Tập khí Hiện hành Chủng tử, Tập khí Địa tiền phục Kiến đạo đoạn Địa 7 phục hết Định Kim cương dứt liền Đoạn trừ ở mỗi địa Địa tiền phục Kiến đạo đoạn Mỗi địa phục dần Mỗi địa đoạn trừ Phân biệt khởi Câu sinh khởi Phiền Não Chướng Sở Tri Chướng phiền não nhưng thói quen (tập khí) của nhiều kiếp vẫn còn sót lại. Như ngài Nan đà tuy đã chứng A la hán, nhưng vẫn còn tập khí dâm dục, nên khi nói pháp giữa thính chúng nam nữ, mắt thường nhìn về phía những người nữ và giọng nói rất hay. Cũng như ngài Xá lợi phất vì còn tập khí sân nên khi nghe đức Phật nói: Xá lợi phất ăn thức ăn bất tịnh liền nhả thức ăn ra và không nhận lời thỉnh thụ thực nữa. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 260 hạ) nói: Phiền não tập nghĩa là cái thói quen phiền não còn sót lại, như nghiệp thân, nghiệp khẩu không theo trí tuệ thì do phiền não mà sinh khởi. (xt. Tập Khí).
phiền não tặc
Temptation, or passion, as a thief injuring the spiritual nature.
; Giặc phiền não làm tổn hại túc mệnh, làm tổn thương pháp thân—Temptation or passion, as a thief injuring the spiritual nature.
; (煩惱賊) Giặc phiền não. Phiền não làm thương tổn pháp thân, tuệ mệnh nên gọi là giặc. Kinh Đại bát niết bàn quyển hạ (Đại 1, 205 thượng) nói: Chúng con đã xa rời đấng Pháp vương vô thượng, nên bị giặc phiền não xâm hại hằng ngày. Phẩm Bồ tát hạnh kinh Duy ma (Đại 14, 554 trung) nói: Dùng gươm trí tuệ, phá giặc phiền não. Kinh Quán Vô lượng thọ (Đại12, 341 hạ) nói: Tất cả chúng sinh đời vị lai bị giặc phiền não làm hại.
phiền não tức bồ đề
The passions, or moral afflictions, are bodhi.
; Afflictions are bodhi—Theo Phật giáo Đại thừa, đặc biệt là tông Thiên Thai, phiền não và bồ đề là hai mặt của đồng tiền, không thể tách rời cái nầy ra khỏi cái kia. Khi chúng ta nhận biết rằng phiền não không có tự tánh, chúng ta sẽ không vướng mắc vào bất cứ thứ gì và ngay tức khắc, phiền não đã biến thành Bồ đề (khi biết vô minh trần lao tức là bồ đề, thì không còn có tập để mà đoạn; sinh tử tức niết bàn, như thế không có diệt để mà chứng)—The passion or moral afflictions are bodhi. The one is included in the other. According to the Mahayana teaching, especially the T'ien-T'ai sect, afflictions are inseparable from Buddhahood. Affliction and Buddhahood are considered to be two sides of the same coin. When we realize that afflictions in themselves can have no real and independent existence, therefore, we don't want to cling to anything, at that very moment, afflictions are bodhi without any difference.
; (煩惱即菩提) Phiền não và Bồ đề không phải là hai mà cái này tức là cái kia. Thông thường, phiền não là chỉ cho tất cả tác dụng tinh thần làm trở ngại sự giác ngộ; còn Bồ đề là trí tuệ dứt hết phiền não thế gian mà thành tựu Niết bàn. Tuy nhiên, cái đương thể của các phiền não tham, sân, si chính là Bồ đề, ngoài pháp tính Bồ đề này ra thì không có 1 pháp nào khác, vì thế ở ngay nơi tính của phiền não mà lập tên gọi Bồ đề. Đây chính là ý Phiền não tức Bồ đề. Theo Nhập lăng già tâm huyền nghĩa của ngài Pháp tạng thì phiền não là tính phân biệt, cho nên thể của nó là Không. Khi thể của phiền nãođãlà Không thì cũng chẳng cần đoạn trừ phiền não mà vẫn chứng nhập chân như, cho nên nói Phiền não tức bồ đề. Ngoài ra, từ ngữ Phiền não tức bồ đề thường được dùng song song với từ ngữ Sinh tử tức niết bàn để biểu thị ý nghĩa tột cùng của Phật giáo Đại thừa. [X. luận Đại trí độ Q.6; phẩm Tùy tu trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.6; Nhiếp đại thừa luận thích Q.14 (bản dịch đời Lương)].
phiền não đạo
The way of temptation, or passion, in producing bad karma.
; Con đường của dục vọng đưa đến ác nghiệp—The path of misery, illusion, mortality—The way of temptation or passion in producing bad karma.
phiền não độc
The impurity, or defiling nature of the passions.
; Bản chất ô nhiễm bất tịnh của phiền não, một trong năm độc—The impurity or defiling nature of the passions, one of the five kinds of impurity. ** For more information, please see Ngũ Độc.
Phiền não 煩惱
[ja] ボンノウ bonnō ||| (Skt. kleśa; Tib. non moṅs pa) (1) Defilement(s), afflictions. Evil passion, carnal desire. All of the thoughts, words, actions and emotions which arise and cease based on ignorance and desire which keep human beings trapped in the cycle of birth and death, and which result in suffering. (2) In the Yogācāra system 瑜伽行派, affliction comprises one of the groups of elemental constructs 法. In this case, the term refers specifically to the six "primary" afflictions of greed (貪), anger (瞋), ignorance (癡), pride (慢), doubt (疑), and wrong views (惡見). From these fundamental six afflictions are derived the more numerous secondary afflictions 隨煩惱. See also 煩惱障. => (s: kleśa; t: non moṅs pa) Sự nhiễm ô, sự ưu phiền. Những đam mê có hại, những ham muốn trần tục. Những tư tưởng, lời nói, hành vi và cảm xúc sinh khởi và hoại diệt xuất phát từ vô minh và tham dục khiến cho con người bị mắc vào trong vòng luân hồi sinh tử, và kết quả là chịu khổ. Theo hệ thống giáo lý Du-già hành phái, phiền não là một trong các nhóm tâm sở pháp. Trong trường hợp nầy, thuật ngữ trên có nghĩa đặc biệt là sáu phiền não “căn bản” gồm: tham, sân, si, mạn, nghi, và ác kiến. Từ sáu phiền não “căn bản” nầy, được phân ra thành vô số Tuỳ phiền não. Xem Phiền não chướng煩惱障.
phiền phức
Compound—Complicated.
phiền toái
Complicated.
phiền trược
To be entangled in a tangle.
phiềàn não dư
Những não phiền còn xót lại trong tam giới—The remnants of illusion after it has been cut off in the realm of desire, form and formlessness—See Nhị chướng.
phiển não
Disturbing emotion kleśa, nyn mong (T).
phiệt
Chiếc bè—A raft.
Phiệt duyệt
(閥閱、伐閱): phiệt (閥) nghĩa là công lao, công tích; duyệt (閱) là duyệt lịch, xem xét, xem qua. Trong phần (功臣年表) của Sử Ký (史記) có đoạn: “Minh kỳ đẳng viết phiệt, tích nhật viết duyệt (明其等曰閥、積日曰閱, nêu rõ thứ bực gọi là phiệt, tích chứa số ngày gọi là duyệt).” Cho nên, các gia đình quyền thế có công trạng lớn được gọi là phiệt duyệt hay thế duyệt (世閱).
phiệt dụ
Thí dụ về chiếc bè. Pháp của Phật như chiếc bè, sang sông rồi thì bè nên bỏ, đến bờ của Niết Bàn thì chánh pháp còn nên bỏ hà huống phi pháp. Cho nên nói tất cả các pháp được nói ra đều gọi là phiệt dụ, chỉ là phương tiện giúp đáo bỉ ngạn mà thôi—Raft parable. Buddha's teaching is like a raft, a means of crossing the river, the raft being left when the crossing has been made.
; (筏 喻) Ví dụ cái bè qua sông. Giáo pháp của đức Phật ví như cái bè, một khi đã đến được bờ Niết bàn bên kia rồi thì chính pháp cũng nên xả bỏ. Cho nên tất cả các pháp do đức Phật nói được ví dụ như cái bè, không nên cố chấp vào đó mà bị trói buộc. Cũng như qua sông rồi thì phải bỏ bè lại, chứ nếu tiếc nó mà vác lên vai để đi tiếp thì lập tức mất tự do, giải thoát. Kinh Kim cương (Đại 8, 749 trung) nói: Này các tỉ khưu! Như lai nói pháp ví như chiếc bè, pháp còn nên bỏ, huống chi là phi pháp?. [X. kinh Đại phẩm a lê tra trong Trung a hàm Q.45].
Phiệt dụ 筏喩
[ja] バツユ batsuyu ||| The parable of the raft. The Buddha's teaching is like a raft, which should be abandoned once the river is crossed. => Dụ ngôn về chiếc bè. Giáo lý của chư Phật cũng giống như chiếc bè, người tu phải bỏ chiếc bè pháp này đi một khi đã qua sông.
phiệt ta tử
Vatsiputra (skt)—Sơ tổ của Mâu Tử Bộ—Founder of the Vatsiputra sect.
phiệt tô bàn đầu
See Vasubandhu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
phiệt tô chỉ
Vasuki (skt)—Còn gọi là Hòa Tu Chỉ, hay Long Vương—Lord of snakes, or nagas.
phiệt tô mật đát la
Vasumitra (skt)—Còn gọi là Bà Tu Mật Đa, Bà Tu Mật Đa La, Hòa Tu Mật Đa, tên tiếng Phạn là Thế Hữu hay Thiên Hữu Bồ Tát. Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Phiệt Tô Mật Đát La được mô tả như là một Tăng sĩ thuộc phái Đại Chúng Bộ, người bắc Thiên Trúc. Trước kia theo ngoại đạo Micchaka sống đời phóng đãng, nhưng về sau quy-y Phật và trở thành vị Thượng Thủ trong lần kết tập kinh điển lần thứ tư dưới triều vua Kaniska, là tổ thứ bảy tại Ấn Độ—According to Eitel in the Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Vasumitra is described as a native of northern India, converted from riotous living by Micchaka, was a follower of the Sarvastivadah school, became president of the last synod for the revision of the Canon under Kaniska, was seventh patriarch, and wrote the Abhidharma-prakarana-pada sastra.
Phiệt-tô-mật-đát-la 筏蘇蜜呾羅
[ja]バッソミッタラ Bassomittara ||| Transcription of the name of Vasumitra, which is translated into Chinese as 世友 => Vasumitra (s); Pŏlsomildalla (k); Bassomittara (j); Phiên âm tên của ngài Thế Hữu (世友) từ tiếng Phạn Vasumitra.
phong
Vāya (S), Wind Phong Thiên, Gió.
; Vàyu (S). Wind, air; rumour, repute; custom; temper, lust.
; 1) Gió: Vayu (skt)—Wind—Air. 2) Mũi nhọn của vũ khí: The point of a weapon or sword. 3) Niêm phong: To seal—To close (a letter). 4) Phong phú (nhiều): Abundant. 5) Phong thư: A letter. 6) Phong tục: Custom.
; (風) I. Phong. Gió, 1 trong 4 đại chủng: Đất, nước, lửa, gió. II. Phong. Gió nói chung. Chẳng hạn như trong các thứ trang nghiêm ở cõi Cực lạc có loại gió mát tự nhiên từ 8 hướng thổi đến, hoặc chỉ cho thứ gió có tính chất thù thắng. III. Phong. Chỉ cho hơi thở và gió vô hình vận động trong thân thể người. IV. Phong. Chỉ cho 8 cảnh thế gian làm lay động lòng người gọi là 8 thứ gió, đó là: Lợi, suy, khen, chê, tâng bốc, dèm pha, buồn và vui.(xt. Bát Phong).
Phong Can
豐干; C: fēnggān; J: bukan; tk. 7;|Thiền sư Trung Quốc đời Ðường. Sư là người trụ trì chùa Quốc Thanh trên núi Thiên Thai. Ngoài ra người ta không biết gì hơn ngoài vài sự tích được ghi lại trong Hàn Sơn thi. Tương truyền cũng có một vài bài thơ của Sư trong tập thơ này (xem thêm Hàn Sơn).
phong can
Bukan (J).
phong chúc
See Phong Đăng.
phong cán
(豐千) Thiền sư thi sĩ Trung quốc, sống vào đời Đường. Lúc đầu, sư ở chùa Quốc thanh núi Thiên thai, ban ngày giã gạo, đêm thì ngâm vịnh, nói năng không đầu không cuối, phần nhiều giống như những lời sấm kí. Nếu có ai hỏi điều gì thì sư chỉ trả lời bằng 2 chữ Tùy thời chứ không nói chi khác. Có lần sư cỡi hổ(cọp), miệng hát đạo ca, đi thẳng vào chùa, làm cho chúng tăng kinh sợ, từ đó được mọi người tôn kính. Khoảng năm Tiên thiên (712-713), sư hành hóa ở Kinh triệu (Trường an), chữa bệnh cho quan Thái thú Lư khâu dận. Cảnh đức truyền đăng lục, quyển 27 và Thiền uyển mông cầu, quyển hạ, đều có ghi việc ông Lư khâu dận nhờ sự chỉ dẫn của sư mà tìm được Hàn sơn và Thập đắc. Do đó trong tùng lâm mới có câu chuyện thú vị Phong can nhiêu thiệt(Phong can lắm lời). Cảnh đức truyền đăng lục quyển 27 (Đại 51, 433 hạ) nói: Ông Lư khâu lên núi tìm, thấy Hàn sơn và Thập đắc đang nói cười quanh cái lò sưởi, Lư khâu bất giác đến lạy, Hàn sơn và Thập đắc liền quát mắng, chúng tăng trong chùa kinh ngạc nói: Sao Đại quan lại lạy 2 gã điên điên khùng khùng ấy? Hàn sơn lại cầm tay Lư khâu cười và nói: Phong can lắm chuyện(Phong can nhiêu thiệt)! hồi lâu mới buông ra. Từ đó 2 người dắt tay nhau đi ra khỏi chùa và không trở lại nữa. Hiện nay còn bài Phong can thi và 1 quyển Phong can Thập đắc thi, được chép trong Hàn sơn tử thi tập và xếp trong Tứ bộ tùng san tập 604. Sư cùng với 2 vị Hàn sơn và Thập đắc được gọi chung là Quốc Thanh Tự Tam Ẩn(Ba ẩn sĩ chùa Quốc thanh). [X. Liên đăng hội yếu Q.29; Ngũ đăng hội nguyên Q.2; Tống cao tăng truyện Q.19].
phong cảnh
Landscape—Scenery.
phong cốc thạch kinh
(風峪石經) Những cột đá có khắc kinh để ở phía tây huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Vùng thung lũng giữa Long sơn và Mông sơn có 1 ngôi miếu tên là Phong động, trong miếu có cất chứa những cột đá có khắc kinh Hoa nghiêm. Cột đá cao 1,4m rộng khoảng 0,6m, 4 mặt khắc chữ, gồm 126 cột(có thuyết nói 124 cột). Về niên đại chế tạo, cứ theo Bộc thư đình tập và Kim thạch tụy biên thì những cột kinh này được khắc vào khoảng năm Thiên bảo (550-559) đời Bắc Tề, nhưng thể chữ thì đại khái là chữ mới thuộc Vũ chu; hơn nữa, kinh Hoa nghiêm được dịch vào đời Đường, như vậy, Phong dục thạch kinh phải là tác phẩm được hoàn thành từ đời Đường về sau.
phong giới
Cõi gió là một trong bốn cõi, có tính chuyển động (địa thủy hỏa phong có thể giữ lẫn nhau mà tạo ra sắc)—The realm of wind, or air, with motion as its principle, one of the four elements.
; (風界) Phạm, Pàli:Vàyu-dhàtu. Cũng gọi Phong đại. Gió, 1 trong 4 nguyên tố tạo thành tất cả vật chất. Giới hàm có các nghĩa tự tính, năng trì, sai biệt... Gió có khả năng duy trì tự tính và tạo ra các sắc mà không thay đổi, cho nên gọi là Phong giới. Gió lấy sự chuyển động làm tính và lấy việc giúp vạn vật tăng trưởng làm nghiệp. [X. luận Câu xá Q.1]. (xt. Tứ Đại).
phong hoả vị tán
(風火未散) Cũng gọi Hỏa phong vị tán. Gió và lửa chưa phân tán, nghĩa là sinh mệnh vẫn còn tiếp tục. Phong hỏa là từ gọi chung 4 đại đất, nước, lửa, gió. Bốn đại là nền tảng cấu thành tất cả vật chất, do sự hòa hợp của nhân duyên mà có tụ có tán, bởi thế phong hỏa chưa phân tán thì con người vẫn chưa chết. Chương Trường sa Cảnh sầm trong Cảnh đức truyền đăng lục (Đại 51, 275 hạ): Có vị tăng hỏi: Con giun bị chặt làm 2 khúc, 2 đầu cùng ngọ ngoạy, chẳng hay tính Phật ở đầu nào? Sư nói: Vọng tưởng làm gì? Vị tăng lại hỏi: Sao còn ngọ ngoạy? Sư nói: Ngươi há không biết hỏa phong vị tán sao?.
Phong Huyệt Diên Chiểu
(風穴延沼, Fuketsu Enshō, 896-973): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Dư Hàng (餘杭, thuộc Tỉnh Triết Giang), họ là Lưu (劉). Ban đầu ông học về Nho học và đỗ đến Tiến Sĩ, nhưng chẳng làm được gì nên ông xuất gia. Ông theo học pháp với Kính Thanh Đạo Phó (鏡清道怤) ở Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang), rồi với vị thị giả của Nam Viện (南院) là Thủ Quách (守廓) ở Hoa Nghiêm Viện (華嚴院) vùng Nhượng Châu (襄州, Tỉnh Hồ Bắc), và cuối cùng đạt được huyền chỉ của Nam Viện Huệ Ngung (南院慧顒). Sau ông đến trú tại Phong Huyệt Sơn (風穴山) vùng Nhữ Châu (汝州, thuộc Tỉnh Hà Nam). Đến khi xảy ra loạn lạc, ông cùng với môn đệ chạy đến lánh nạn ở vùng Dĩnh Châu (郢州, thuộc Tỉnh Hà Nam). Sau ông xây dựng một ngôi chùa tại tư gia của Thái Sư Tống Hầu (太師宋候) và đến sống tại đây. Rồi ông lại quay trở về Dĩnh Châu sống nơi ngôi chùa mới khác, và đến năm 951 thì ngôi chùa này được ban sắc ngạch với tên gọi là Quảng Huệ Tự (廣惠寺). Ông đã từng sống nơi đây hơn 20 năm và đại chúng thường lên đến cả ngàn người. Tương truyền ông có để lại Phong Huyệt Chúng Khổng Tập (風穴眾吼集), còn Phong Huyệt Thiền Sư Ngữ Lục (風穴禪師語錄, 1 quyển) thì được thâu tập vào trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄). Vào ngày 15 tháng 8 năm thứ 6 niên hiệu Khai Bảo (開寳), ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi đời và 59 hạ lạp.
; 風穴延沼; C: fēngxué yànzhǎo; J: fuketsu enshō; 896-973;|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, nối dòng của Nam Viện Huệ Ngung. Sư là thầy của Thủ Sơn Tỉnh Niệm, được xem là một trong những Ðại Thiền sư trong môn phong Lâm Tế – như lời tiên đoán của Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch. Bích nham lục có ghi lại pháp ngữ của Sư trong Công án 38 và 61.|Sư họ Lưu, quê ở Dư Hàn, lúc nhỏ đã có chí hơn người. Vì thi làm quan lần đầu không thành, Sư quyết chí xuất gia, học kinh luật nghiêm túc, và sau đó Hành cước. Ðến các vị Tôn túc như Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Thuỵ Nham Sư Ngạn, Kính Thanh Ðạo Phó, Sư đều trổ tài hùng biện của mình, ai ai cũng chấp nhận mặc dù Sư chưa phát minh đại sự. Nhân nghe thị giả Khoách của Nam Viện thuật lại, Sư ước mong đến đây đọ sức.|Ðến Thiền sư Nam Viện, Sư vào cửa chẳng lễ bái. Nam Viện bảo: »Vào cửa cần biện chủ.« Sư thưa: »Quả nhiên mời thầy phân.« Nam Viện lấy tay trái vỗ gối một cái, Sư hét. Nam Viện lấy tay mặt vỗ gối một cái, Sư cũng hét. Nam Viện bảo: »Vỗ bên trái gác lại, vỗ bên mặt là sao?«Sư đáp: »Mù.« Nam Viện liền chỉ cây gậy. Sư hỏi: »Làm gì? Con đoạt cây gậy đập Hoà thượng, chớ bảo không nói.« Nam Viện liền ném cây gậy nói: »Ba mươi năm trụ trì, hôm nay bị gã Chiết mặt vàng vào cửa hãm hại.« Sư thưa: »Hoà thượng giống như người mang bát không được, dối nói chẳng đói.« Nam Viện hỏi: »Xà-lê từng đến đây chăng?« Sư thưa: »Là lời gì?« Nam Viện bảo: »Khéo khéo hỏi lấy.« Sư thưa: »Cũng chẳng cần bỏ qua.« Nam Viện bảo: »Hãy ngồi uống trà.«|Nam Viện cũng chưa biết được mức độ ngộ nhập của Sư sau cuộc vấn đáp hào hứng này. Vài hôm sau, Nam Viện chỉ hỏi đơn giản: »Hạ này ở chỗ nào?« Sư thưa: »Ở Lộc Môn cùng thị giả Khoách đồng qua hạ.« Nam Viện bảo: »Vốn là thân kiến tác gia đến.« và hỏi thêm: »Người kia nói với ông cái gì?« Sư thưa: »Trước sau chỉ dạy con một bề làm chủ.« Nam Viện nghe vậy hiểu ngay mọi việc, đánh đuổi Sư ra khỏi phương trượng, nói: »Kẻ này là loại thua trận, dùng làm gì!«|Sư từ đây đành chịu thua, ở lại nhận chức Tri viên. Một hôm, Nam Viện vào vườn hỏi: »Phương Nam một gậy làm sao thương lượng?« Sư thưa: »Thương lượng rất kì đặc«, và hỏi lại: »Hoà thượng nơi đây một gậy thương lượng như thế nào?« Nam Viện cầm cây gậy lên bảo: »Dưới gậy vô sinh nhẫn, gặp cơ chẳng nhượng thầy.« Sư nhân đây triệt ngộ, ở lại Nam Viện sáu năm và được Nam Viện Ấn khả.|Niên hiệu Trường Hưng năm thứ ha (931), Sư sang Nhữ Thuỷ nơi chùa Phong Huyệt, một ngôi chùa đang bị hư hoại. Sư dừng lại đây, ban ngày lượm trái rụng ăn, tối đốt dầu thông, suốt bảy năm như vậy. Dần dần, đồ chúng hay tin góp sức xây dựng chùa mới và Sư bắt đầu giáo hoá.|Sư thượng đường bảo chúng: »Phàm con mắt người tham học gặp cơ liền phải đại dụng hiện tiền, chớ tự ràng buộc nơi tiết nhỏ. Giả sử lời nói trước tiến được, vẫn còn kẹt vỏ dính niệm, dù là dưới câu liền được tinh thông, chưa khỏi phạm đến lại là thấy cuồng. Xem thấy tất cả các ông đều là nhằm đến nương người tìm hiểu, sáng tối hai lối vì các ông một chút quét sạch, dạy thẳng mỗi người các ông như sư tử con gầm gừ rống lên một tiếng, đứng thẳng như vách cao ngàn nhẫn, ai dám để mắt nhìn đến, nhìn đến là mù mắt y.«|Sư thượng đường, có vị tăng bước ra hỏi: »Thầy xướng gia khúc tông phong ai, nối pháp người nào?« Sư đáp: »Siêu nhiên vượt khỏi ngoài Uy Âm, kiễng chân luống nhọc khen đất cát«. Tăng hỏi: »Hát xưa không âm vận, thế nào hoà được bằng?« Sư đáp: »Gà gỗ gáy nửa đêm, chó rơm sủa hừng sáng.«|Ðời Tống, niên hiệu Khai Bảo, năm thứ sáu, ngày rằm tháng tám, Sư lên toà ngồi kết già viên tịch, thọ 78 tuổi, 59 tuổi hạ. Trước khi tịch, Sư để lại bài kệ sau:|Ðạo tại thừa thời tu tế vật|Viễn phương lai mộ tự đằng đằng|Tha niên hữu tẩu tình tương tự|Nhật nhật hương yên dạ dạ đăng.|*Phải thời truyền đạo lợi quần sinh|Chẳng quản phương xa tự vươn lên|Năm khác có người dòng giống đó|Ngày ngày hương khói đêm đêm đèn.
phong huyệt diên chiểu
Fuketsu Ensh (J)Tên một vị sư.
phong huyệt nhất trần
(風穴一塵) Cũng gọi Phong huyệt gia quốc hương thịnh, Phong huyệt nhược lập nhất trần. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này là lời dạy của Thiền sư Phong huyệt Diên chiểu ở Nhữ châu. Bích nham lục tắc 61 (Đại 48, 193 trung) ghi: Thiền sư Phong huyệt dạy rằng: Nếu lập một mảy bụi(nhất trần) thì nước nhà hưng thịnh, nếu không lập một mảy bụi thì nước mất nhà tan. Ngài Tuyết đậu giơ gậy lên nói: Có nạp tăng nào cùng sống cùng chết không?. [X. Tông môn thống yếu tục tập Q.11; Liên đăng hội yếu Q.11].
phong huyệt thiết ngưu cơ
(風穴鐵牛機) Cũng gọi Phong huyệt thiết ngưu. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này là cơ pháp tiếp hóa đệ tử của Thiền sư Phong huyệt Diên chiểu. Bích nham lục tắc 38 (Đại 48, 175 hạ) ghi: Ngài Phong huyệt ở nha môn Dĩnh châu thướng đường nói: Tâmấn Tổ sư giống như then máy của Thiết ngưu(trâu sắt), đi thì ấn trụ, đứng thì ấn phá. Vậy nếu không đi không đứng thì ấn là đúng hay không ấn là đúng? Lúc ấy, Trưởng gia Lư pha bước ra nói: Lư pha này có then máy của Thiết ngưu, xin thầy đừng nhấc ấn. Ngài Phong huyệt nói: Những tưởng được cá kình nơi biển lớn, nào ngờ ếch nhái chỗ bùn lầy. Lư pha suy nghĩ. Ngài Phong huyệt hét: Sao Trưởng lão không nói? Lư pha toan nói, ngài Phong huyệt đánh cho 1 phất trần rồi hỏi: Có nhớ câu thoại đầu không? Hãy nói thử xem! Lư pha toan mở miệng thì ngài Phong huyệt lại đánh thêm 1 phất trần nữa. Quan Tri châu nói: Phật pháp và vương pháp giống nhau. Ngài Phong huyệt hỏi Quan châu: Thấy đạo lí gì? Quan châu nói: Đáng đoạn mà không đoạn thì sẽ tự chuốc lấy cái loạn. Ngài Phong huyệt liền bước xuống tòa. Thiết ngưu là vị thần trấn giữ sông Hoàng hà, hình con trâu mộng to lớn, được làm bằng sắt(thiết),vì bằng sắt, nên không bị nước lớn làm lay động và vì là thần nên giữ gìn được sông nước, cho nên được dùng để biểu thị tâm ấn của Tổ sư.
phong hàng
(風航) Thuyền vượt biển thuận buồm xuôi gió, ví dụ pháp môn Tịnh độ dễ tu hành. Vãng sinh luận chú quyển thượng (Đại 40, 826 trung) nói: Vô lượng thọ kinh ưu bà đề xá này, trên thì diễn bày đến chỗ rốt ráo, như phong hàng(thuyền vượt biển xuôi gió) không bao giờ trở lui.
phong hậu tiên sinh
(風後先生) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Phong hậu là 1 người thời thượng cổ, vua Hoàng đế của Trung quốc thời ấy thường nằm mộng thấy ông, bèn cho người đi tìm ông về phong làm Tể tướng. Trong Thiền lâm, cụm từ này được chuyển dụng để chỉ cho vị Thiền tăng có căn cơ sắc bén, có khả năng ngộ đạo. [X. Bích nham lục tắc 73].
phong kiến
Feudal.
phong luân
Vayu-maṇdala (S)Một trong tam luân, 3 lớp vật chất, cấu tạo thành thế giới.
; The wheel, or circle, of wind below the circle of water and metal on which the earth rests
; Một trong tứ luân, phong luân khởi lên từ bên trên không luân, thủy luân sanh ra trên phong luân, và kim luân sanh ra trên thủy luân, và địa luân dựa trên kim luân—One of the four wheels, the wheel, or circle, of wind below the circle of water and metal on which the earth rests; the circle of wind rests on space—See Ngũ Luân (C).
; (風輪) Phạm: Vàyu-maịđala. Tầng dưới cùng của thế giới, 1 trong 4 luân của đại địa. Gọi là luân bởi vì hình thể của các tầng tròn như bánh xe và thể tính rất cứng chắc. [X. luận Câu xá Q.11, 12]. (xt. Đại Địa Tứ Luân).
phong luân tam muội
Một trong ngũ luân tam muội hay ngũ luân quán, quán về trí tuệ như sự chuyển động của gió làm di chuyển và phá sạch sự vật, cũng như vậy trí tuệ thổi đến đâu phiền não tức thời bị phá sạch đến đó—The samadhi of the wind-circle, one of the five kinds of contemplation of the five elemens, the contemplation of the wind or air.
; (風輪三昧) Chỉ cho trí tuệ của người phạm hạnh tu thiền định mà phát được, 1 trong Ngũ luân tam muội. Loại trí tuệ này viên dung vô ngại, có năng lực phá dẹp tất cả phiền não, giống như gió đi trong hư không, hoàn toàn tự do, tự tại không bị ngăn ngại, cho nên gọi là Phong luân tam muội.
phong luân tế
Giới hạn vòng ngoài hay biên tế của phong luân—The region of the wind-circle.
phong luân đàn
(風輪壇) Cũng gọi Phong luân mạn đồ la, Phong đàn, Bán nguyệt đàn. Đàn hình bán nguyệt, màu đen sẫm, được dùng trong pháp tu Tăng ích hoặc Hàng phục của Mật giáo. Phong luân có hình bán nguyệt nên gọi là đàn Bán nguyệt; còn Mạn đồ la là phiên âm của tiếng Phạm Maịđala, nghĩa là đàn. [X. phẩm Tất địa xuất hiện trong kinh Đại nhật Q.3; Đại nhật kinh sớ Q.16].
phong mẫu
Vāyavi (S).
Phong mộc hưng hoài
(風木興懷): gió cây thương tiếc, như trong Nghênh Xuân Dạ Thoại (迎春夜話) của Hứa Vân Tiều (許雲樵) có câu: “Phong mộc hưng hoài thế tự liên, Lục Nga tam phục hận chung thiên (風木興懷涕自漣、蓼莪三復恨終天, cây gió tiếc thương lệ trào tuôn, song thân quá vãng hận triền miên).”
Phong nghi
(豐儀、丰儀): thể hiện phong độ uy nghi. Như trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 55, bài Đại Minh Lô Sơn Ngũ Nhũ Phong Pháp Vân Thiền Tự Tiền Trung Hưng Tào Khê Từ Pháp Hám Sơn Đại Sư Tháp Minh (大明廬山五乳峰法雲禪寺前中興曹溪嗣法憨山大師塔銘), có đoạn: “Phục như Tào Khê, đương niên chi thất thập hữu bát, lạp chi lục thập, thị vi Thiên Khải Quý Hợi, tiên ư huyền hồ giả nhất nhật nhi thị tịch yên, sư phong nghi từ mãn, thần tình ngưng định, vọng chi tợ A La Hán (復如曹溪、當年之七十有八、臘之六十、是為天啟癸亥、先於懸弧者一日而示寂焉、師丰儀慈滿、神情凝定、望之似阿羅漢, lại như Tào Khê, năm ấy là bảy mươi tám tuổi, Hạ Lạp sáu mươi, nhằm vào năm Quý Hợi [1623] niên hiệu Thiên Khải [đời vua Hy Tông nhà Minh], trước ngày nhà vua sanh con trai thì thị tịch vậy; sư có phong thái từ bi, thần tình định tĩnh, nhìn vào giống như A La Hán).”
phong nhã
FŪga (J).
; Elegant—Courteous.
phong nhập
(峰入) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Vào núi. Chỉ cho việc hành giả Tu nghiệm đạo Nhật bản vào núi Đại phong ở Đại hòa chiêm bái di tích của vị Tổ khai sáng ra phái này là ngài Dịch tiểu giác. Hàng năm, từ khoảng tháng 4 đến tháng 9, những hành giả Tu nghiệm đạo phải lên núi 3 lần, thời gian đó phải tinh tiến, giữ trai giới thanh tịnh để hoàn thành sự nghiệp tu đạo và phải do vị Tiên đặt hướng dẫn.Căn cứ vào số lần lên núi nhiều hay ít mà có danh hiệu Tiên đạt, Đại tiên đạt.
phong phan thoại
(風幡話) Tên công án trong Thiền tông. Câu chuyện gió và phướn, tức chuyện 2 vị tăng tranh luận với nhau về gió động hay phướn động. Sau khi được Ngũ tổ Hoằng nhẫn truyền pháp cho, Lục tổ Tuệ năng về ở tạm tại chùa Pháp tính thuộc Quảng châu. Vào một buổi chiều, thấy gió thổi lay động lá phướn của chùa, một vị tăng bảo gió động, 1 vị khác bảo phướn động, ngài Lục tổ nghe được cuộc tranh luận liền nói rằng (Đại 48, 394 hạ): Không phải gió động, cũng chẳng phải phướn động mà chính là tâm của 2 vị động!. [X. Lục tổ đàn kinh].
phong phanh
To hear indirectly.
phong phú
Richness
phong phương
(風方) Tên gọi khác của phương Tây bắc. Phật giáo cho rằng Phong thiên là vị trời hộ trì phương Tây bắc, cho nên gọi Phong phương là phương Tây bắc.
phong phấn tấn tam muội
See Phong Tam Muội.
phong quang
Beautiful landscape.
phong quang khả ái
(風光可愛) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Sáng sủa dễ ưa. Từ ngữ dùng để miêu tả phong thái rạng rỡ, dung nghi đĩnh đặc của Thiền sư, hoặc chỉ cho cơ dụng tự do, tự tại đáng mừng. Bích nham lục tắc 4 (Đại 48, 143 trung) nói: Ngài Đức sơn quay lưng rời khỏi Pháp đường, xỏ chân vào đôi giầy cỏ rồi đi liền.(Phong quang khả ái, công án chưa được trọn vẹn, đội được nón lá trên đầu, đánh mất đôi giầy dưới chân, đã là táng thân mất mạng rồi).
phong sắc
Lấy màu của gió để ví với những việc không thể xãy ra được, vì làm gì có màu sắc của gió, cũng giống như sừng thỏ lông rùa, hay mùi thơm của muối vậy—Wind colour, i.e. non-existent, like a rabbit's horns, tortoise-hair, or scent of salt.
; (風色) Màu sắc của gió. Gió vốn không có màu sắc, nên dùng màu sắc của gió để ví dụ vật không bao giờ có, cũng như nói lông rùa, sừng thỏ... đều là những thứ không bao giờ có ở thế gian. [X. luận Thành thực Q.2].
phong tai
xem ba tai kiếp lớn.
; The calamity of destruction by wind.
; Một trong ba tai nạn lớn vào cuối thời kỳ thứ ba của hoại kiếp—The calamity of destruction by wind at the end of the third period of destruction of a world.
phong tam muội
A samàdhi in which the whole body is conceived of as scattered
; Còn gọi là Phong Phấn Tấn Tam Muội, chỉ thiền định nổi lên gió lớn làm phân hóa sắc thân ra tứ phương. Ngài A Nan thường nhập vào “phong tam muội” nầy—A samadhi in which the whole body is conceived of as scattered. Ananda used to enter such samadhi.
; (風三昧) Gọi đủ: Phong phấn tấn tam muội. Loại thiền định có năng lực phát khởi gió mạnh, làm phân tán các bộ phận trong thân thể, vì thế gọi là Phong tam muội (Thiền định gió). Ma ha chỉ quán quyển 1 (Đại 46, 1 thượng) nói: Ngài A nan nhập Phong tam muội khi đang ở trên sông, chia thân thể ra làm 4 phần.
phong thiên
Tên một vị trời. Xem Diệt.
; Phong Thiên là một trong tứ chấp Kim Cương—The wind deva, one of the four Vajra-rulers—See Tứ Chấp Kim Cương.
; (風天) Phạm, Pàli:Vàyu. Hám âm: Phạ dữu, Phạ du, Bà dữu, Bà dũ, Phạt do. Cũng gọi: Phong thần, Phong đại thần. Vị thần giữ gìn phương Tây bắc, 1 trong 12 vị trời của Mật giáo, 1 trong 8 vị trời hộ thế ở 8 phương. Phong thiên vốn là vị thần gió trong thần thoại Ấn độ, cùng với Nhật thiên, Hỏa thiên được gọi chung là Phệ đà tam thần (3 vị thần thời đại Phệ đà), là vị thần mang lại danh dự, phúc đức, con cháu và tuổi thọ cho mọi người.Kinh Hoa nghiêm quyển 1 (bản dịch mới) có nêu tên của 10 vị Phong thần: 1. Vô ngại quang minh chủ phong thần. 2. Phổ hiện dũng nghiệp chủ phong thần. 3. Phiêu kích vân chàng chủ phong thần. 4. Tịnh quang trang nghiêm chủ phong thần. 5.Lực năng kiệt thủy chủ phong thần.6. Đại thanh biến hống chủ phong thần. 7. Thụ diểu thùy kế chủ phong thần. 8. Sở hành vô ngại chủ phong thần. 9. Chủng chủng cung điện chủ phong thần.10. Đại quang phổ chiếu chủ phong thần. Mười vị Phong thần này đều có giải thoát môn, đều có năng lực làm cho chúng sinh mê lầm bị trói buộc đều được giải thoát, nên xuất hiện ở thế gian. Trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, Phong thiên được bài trí ở góc tây bắc của viện Ngoại kim cương. Vị thần này thường xuất hiện trong tư thái người già, râu trắng, mình màu đỏ sậm, đội mũ, mặc giáp trụ, tay phải cầm cờ phướn, tay trái chống nạnh nơi eo, có khi cưỡi con hoãng. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.12; Cúng dường thập nhị đại uy đức thiên báo ân phẩm; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2].
Phong Thiền
(峰禪, Hōzen, 854-925): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, Tọa Chủ đời thứ 3 của Cao Dã Sơn, húy là Phong Thiền (峰禪). Ông theo Chơn Nhiên (眞然) xuất gia, rồi đến năm 902 thì thọ phép Quán Đảnh với Thánh Bảo (聖寶), sau đó được bổ nhiệm làm Nội Cúng Phụng Thập Thiền Sư (內供奉十禪師), Truyền Đăng Đại Pháp Sư (傳燈大法師) và đến trú tại Đại An Tự (大安寺, Daian-ji) vùng Đại Hòa (大和, Yamato). Đến năm 916, ông được bổ nhiệm làm Tọa Chủ của Cao Dã Sơn, và đến năm 919 thì từ chức.
phong thánh
To canonize.
phong thần
Vāyava (S), God of Air.
phong thần lôi thần
(風神雷神) Phạm: Vàyu Garjita. Thần Gió và thần Sấm, là 2 vị thần quyến thuộc của bồ tát Thiên thủ Quan âm, được xếp vào 28 bộ chúng. Hình tượng của Phong thần thì trên lưng mang 1 cái đãy, làm như dáng đang phát ra gió; còn Lôi thần thì tay cầm trống, có dáng như đi giữa hư không nổi lên tiếng sấm.
Phong Thần Tú Cát
(豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi, 1537-1598, có thuyết cho là 1536-1598): vị võ tướng dưới thời đại Chiến Quốc và An Thổ Đào Sơn, xuất thân vùng Vĩ Trương (尾張, Owari), con của Mộc Hạ Di Hữu Vệ Môn (木下彌右衛門); lúc nhỏ tên là Nhật Cát Hoàn (日吉丸), khi lớn có tên là Đằng Cát Lang (藤原郎). Ông đã từng làm việc cho Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga), rồi được đặt cho tên là Vũ Sài Tú Cát (羽柴秀吉). Trong cuộc chính biến ở Bổn Năng Tự (本能寺, Honnō-ji), ông tiêu diệt Minh Trí Quang Tú (明智光秀), bình định các vùng Tây Quốc (西國, Saigoku), Bắc Quốc (北國, Hokkoku), Cửu Châu (九州, Kyūshū), Quan Đông (關東, Kantō) và Áo Vũ (奥羽, Ōu), rồi thống nhất thiên hạ. Trong khoảng thời gian này, ông được ban cho các chức như Quan Bạch vào năm 1585, rồi năm sau thì được tặng cho tên Phong Thần và Thái Chính Đại Thần. Nhưng đến năm 1591, ông nhường chức Quan Bạch lại cho người con nuôi Tú Thứ (秀次) và tự xưng là Thái Các (太閤). Ông có ý định chinh phục nhà Minh, sau đem quân sang đánh Triều Tiên, nhưng bị chết trong trận chiến.
Phong Thần Tú Lại
(豐臣秀賴, Toyotomi Hideyori, 1593-1615): vị Võ Tướng sống dưới thời đại An Thổ Đào Sơn (安土桃山), con của Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi). Năm lên 5 tuổi, ông đã kế thừa gia tộc, rồi lấy con gái của Tú Trung (秀忠, Hidetada) làm vợ. Trong trận chiến ở Osaka, do bị hãm thành, ông đã tự vẫn cùng với mẹ.
phong thể
To seal up a god or Buddha in a body by secret methods.
phong tiên luận sư
(風仙論師) Cũng gọi Phong luận sư. Ngoại đạo chủ trương gió là động lực sinh thành và phá hoại muôn vật, là nhân của Niết bàn và giải thoát. Là 1 trong 30 thứ ngoại đạo của Ấn độ xưa. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 1, phái ngoại đạo Địa đẳng biến hóa thứ 2 trong 30 thứ ngoại đạo chấp trước 5 đại(đất, nước, lửa, gió, không) là chân thực, là nhân sinh ra muôn vật, nếu cúng dường phụng sự 5 đại thì được giải thoát. Trong đó, phái chấp trước phong đại có lẽ là Phong tiên luận sư. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật Q.1; luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn].
phong tiết
(風屑) Mạt vụn bay trong gió, ở đây chỉ cho gàu trên đầu. Điều Phó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 441 hạ) nói: Không được gãi đầu làm cho phong tiết(gàu)rơi vào bát cơm.
phong trung đăng
"As a lamp in the wind", such is the evanescence of the world and men.
phong trào
Movement.
phong trần
Wind and dust—Hardships of life
phong tài
Wealthy.
phong tài bồ tát
Bhogavati (S)Tự Tài Chủ Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; (豐財菩薩) Phong tài, Phạm: Bhogavatì. Cũng gọi Tư tài chủ bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 3, hàng thứ 3 trong viện Quan âm thuộc Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo, tức là vị Bồ tát được an trí ở phía tây của bồ tát Bạch thân Quán tự tại. Vì phúc đức, trí tuệ và của cải của vị Bồ tát này rất dồi dào, có thể bố thí cho những người mong cầu như ý muốn mà không bao giờ hết, nên gọi là Phong tài bồ tát. Mật hiệu là Như ý kim cương, chủng tử là (sa), hình Tam muội da là 2 bông sen. Về hình tượng của vị tôn này thì thân màu trắng, tay trái cầm 2 hoa sen, trong đó 1 hoa đã nở, còn 1 hoa chưa; tay phải co lại đưa lên ngang vai, bàn tay ngửa ra, co ngón vô danh và ngón út, ngồi kết già trên hoa sen đỏ. Chân ngôn là: Án (oô) a lợi nhã (àrya – thánh) đà la a lợi (dharàri– trì chủ) sa hạ (svàhà); hoặc là: Án a lợi dã bổ già phạ để sa hạ. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.6, 16; Bí tạng kí; Thai tạng giới mạn đồ latôn vị hiện đồ sao tư Q.2].
phong tâm
(風心) Tâm gió, tức là tâm tán loạn không ngừng, luôn xao động như gió. Một trong 60 thứ vọng tâm nói trong kinh Đại nhật. Phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật (Đại 18, 3 thượng) nói: Tại sao gọi là Phong tâm? Vì tính của tâm này như gió phát khởi ở khắp mọi nơi. [X. Đại nhật kinh sớ Q.2].
phong tính thường trụ
(風性常住) Tên công án trong Thiền tông. Tính gió thường còn. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Ma cốc Bảo triệt và 1 vị tăng. Có lần, Thiền sư Ma cốc Bảo triệt đang quạt, vị tăng hỏi: -Tính gió thường trụ ở khắp mọi nơi, tại sao Hòa thượng phải quạt? Ngài Ma cốc đáp: -Ông chỉ biết tính gió thường trụ, chứ không biết cùng khắp mọi nơi!. [X. chương Ma cốc Bảo triệt trong Ngũ đăng hội nguyên Q.3; Liên đăng hội yếu Q.4].
phong tế
(風際) Chỉ cho bờ mé dưới cùng của Phong luân. Phong luân là tầng dưới chót của thế giới. Một thế giới được hình thành trước hết phải đứng trên hư không, tức Không luân. Nương vào Không luân mà sinh ra Phong luân, Thủy luân, Kim luân... dần dần tiến tới sinh ra núi Tu di và 4 châu. (xt. Phong Luân).
phong tỏa
To blockade.
phong đao
The wind knife, i.e. the approach of death and its agonies.
; Cây đao gió, hay gió như đao cắt, ý nói cuộc sống của con người là sự tiến gần đến cái chết và những khổ đau như dao cắt trong thân làm tan hoại thân nầy (một ngày ta sống là một ngày ta chết, là một ngày ta đi gần đến nhà mồ; để rồi lúc mệnh chung, gió trong cơ thể dao động mạnh như dao cắt, phân giải thân thể, nỗi khổ này nào khác chi đao cắt)—The wind knife, i.e. approach of death and its agonies.
; (風刀) Cũng gọi Đao phong. Dao gió. Nghĩa là khi người ta sắp chết gió trong mình dao động mạnh, thân thể đau nhức tựa như lấy dao sắc mà đâm vào, cho nên gọi là Phong đao. Theo luận Hiển tông, nếu làm người mà thích nói lời thô tục, xấu ác, dèm pha châm chọc người khác, dù thật hay đùa, làm cho lòng người se thắt, thì sẽ chiêu cảm cái khổ phong đao. [X. Ma ha chỉ quán Q.4; Thích thị yếu lãm Q.hạ].
phong điên
(風顛) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Thanh, người Thiểm tây, họ Lí. Năm 14 tuổi, sư kết hôn. Năm 18 tuổi, 1 đêm kia đang ngủ, sư bỗng giật mình, cảm ngộ vạn vật là vô thường, 3 cõi như nhà lửa, nên thuận miệng nói: Mười bốn tuổi kết duyên chồng vợ Nực cười thay đêm ngủ với ma! Bốn ân vô nghĩa nay tỉnh ngộ Chẳng rơi vào hầm lửa nữa đâu. Nói xong liền chạy đến chùa Tây sơn xin xuất gia làm tăng. Sư gắng sức tham thiền, khổ cực sáu năm, một đêm nghe tiếng gió hú trong hang mà đại ngộ. Có soạn ngữ lục hơn 6 vạn lời. Sau, sư tịch ở động Phong điên tại góc tây nam thành Tây an. Trong động hiện còn chân thântọa hóa của sư.
Phong Đô
(酆都): chỉ cho nơi trú ngụ ở quỷ thần. Như trong Tây Dương Tạp Trở (酉陽雜俎), phần Ngọc Cách (玉格), của Đoàn Thành Thức (段成式, 803?-863) nhà Đường, giải thích rằng: “Hữu La Phong Sơn, tại Bắc phương Quý địa, chu hồi tam vạn lí, cao nhị thiên lục bách lí, động thiên lục cung, chu nhất vạn lí, cao nhị thiên lục bách lí, thị vi Lục Thiên quỷ thần chi cung … tử nhân giai chí kỳ trung (有羅酆山、在北方癸地、周迴三萬里、高二千六百里、洞天六宮、周一萬里、高二千六百里、是爲六天鬼神之宮…人死皆至其中, có La Phong Sơn, tại phương Bắc đất Bắc, chu vi ba vạn dặm, cao hai ngàn sáu trăm dặm, động trời sáu cung, chu vi một vạn dặm, cao hai ngàn sáu trăm dặm, chính là sáu cung quỷ thần, … người chết đều đến các cung này).” Nguyên lai, từ Phong Đô được dùng để chỉ cho La Phong Sơn, nơi ngự trị của quỷ thần; nhưng về sau được dùng để ám chỉ Huyện Phong Đô (豐都縣) ở Tỉnh Tứ Xuyên (四川省). Trong tác phẩm Trà Hương Thất Tùng Sao (茶香室叢鈔), phần Phong Đô Âm Quân (酆都陰君), của Du Việt (兪樾, 1821-1907) nhà Thanh, còn cho biết rằng: “Phong Đô Huyện Bình Đô Sơn vi Đạo thư thấp thập nhị phước địa chi nhất, nghi vi thần tiên quật trạch, nhi thế nãi truyền vi quỷ bá sở cư, thù bất khả giải (酆都縣平都山爲道書七十二福地之一、宜爲神仙窟宅、而世乃傳爲鬼伯所居、殊不可解, Bình Đô Sơn ở Huyện Phong Đô là một trong 72 vùng đất phước của Đạo Giáo, có lẽ là nhà cửa hang động của thần tiên, mà thế gian tương truyền là nơi quỷ thần cư trú, thật lạ không hiểu được).” Trong Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú (地藏本願經科註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 384) quyển 4 có liệt kê tên một số quan viên dưới Địa Ngục như: “Đông Nhạc Phủ Hữu Thái Bảo, Truy Nhiếp Sinh Hồn Ngạc Nguyên Soái, Truy Nhiếp Tử Hồn Mạnh Nguyên Soái, Phong Đô Cửu Khúc Truy Hồn Trảm Quỷ Vi Nguyên Soái (東嶽府有太保、追攝生魂鄂元帥、追攝死魂孟元帥、酆都九曲追魂斬鬼韋元帥).” Hay trong Huyễn Trú Am Thanh Quy (幻住庵清規, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1248) có đoạn rằng: “Phong Đô giới nội Minh Phủ Thập Điện Từ Vương, Tam Đồ Lục Thú Bát Nạn Tứ Sanh chư hữu tình chúng, thống Tam Giới nhược u nhược hiển, biến thập phương nãi thánh nãi phàm (酆都界內冥府十殿慈王、三塗六趣八難四生諸有情眾、統三界若幽若顯、遍十方乃聖乃凡, trong cõi Phong Đô Minh Phủ Thập Điện Từ Vương, Ba Đường Sáu Nẻo Tám Nạn Bốn Loài các chúng hữu tình, thống lãnh Ba Cõi hoặc ẩn hoặc hiện, biến khắp mười phương ấy thánh ấy phàm).”
phong đăng
Sự phù du của thế giới và con người ví như ngọn đèn trước gió—As a lamp or candle in the wind, such is evanescence of the world and man.
phong đại
Vāyo-dhātu (S), Vayu-dhātuh (S), Air element, Wind-element Một trong tứ đại.
; Vàyo-dhàtu (P). Wind or air as one of the four elements.
; Gió là một trong tứ đại (có tính động)—Wind or air as one of the four elements—See Tứ Đại.
phong độ
Good appearance or manner.
phu
1) Người phu lao động: A laborer. 2) Người (nói chung): A man. 3) Trượng phu: A sage officer. 4) Phu quân (chồng): A husband. 5) Phổ biến: To spread—To diffuse—To promulgate—To announce. 6) See Phu Tọa.
phu bến tàu
Docker.
phu công dao đầu
(孚公搖頭) Tên công án trong Thiền tông. Phu công lắc đầu: Phu công tức là đệ tử nối pháp của Thiền sư Tuyết phong Nghĩa tồn ở cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại. Người đời gọi sư là Thái nguyên Phu thượng tọa. Nội dung công án này thuật lại cơ duyên vấn đáp giữa ngài Phu công và Thiền sư Tuyết phong Nghĩa tồn. Chương Thái nguyên Phu thượng tọa (Vạn tục 138, 135 thượng) ghi: Một hôm, ngài Tuyết phong gặp sư liền đưa tay chỉ mặt trời, sư xua tay đi ra. Ngài Tuyết phong nói: Ngươi không chấp nhận ta sao?Sư nói: Hòa thượng lắc đầu thì con vẫy đuôi, chỗ nào là không chấp nhận? Ngài Tuyết phong nói: Đến chỗ khác cũng nên kiêng cữ không nói tới.
phu cụ
1) Áo cà sa: The monk's robe. 2) Chiếc đệm trải ra trước bàn thờ Phật: The displayed, or promulgating article in front of the altar of the Buddha.
Phu diễn 敷演
[ja] フエン fuen ||| To lay out; to set forth. To explain extensively; explain in detail. 〔法華經 T 262.9.4c15〕 => Trình bày, đề ra. Giải thích sâu rộng; giảng giải chi tiết.
phu khuân vác
Porter.
phu lục lộ
Roadmender.
phu mạn đà la
Để tấm vải Mạn Đà La dưới đất—To spread a magic cloth, or mandala, on the ground.
phu mỏ
Miner.
phu nhân
Mistress—Wife.
Phu nhân kinh夫人經
[ja] フニンキョウ Fujin kyō ||| Fu-jen ching; Another name for the Śrīmālā-sūtra 勝鬘經 (T 353.12.217a-223b). The K'ai-yuan lu also lists several other texts that contain this as part of its title: 貧女爲國王夫人經一卷 西晉三藏竺法護 譯 韋提希子月夜問夫人經一卷 國王癡夫人經一卷 抄貧女爲國 王夫人經一卷 爲國王夫人經凡三十六部經 賢首經一卷一名賢首夫人經 三紙 => (c: Fu-jen ching); Tên gọi khác của kinh Thắng Man (s: Śrīmālā-sūtra 勝鬘經) K'ai-yuan lu còn liệt kê các bản kinh khác có chứa đề mục nầy như một phần tên kinh. - Bần nữ vi quốc vương phu nhân kinh貧女爲國王夫人經, một quyển, Tam tạng Trúc Pháp Hộ dịch đời Tây Tấn. - Vi-đề-hy tử nguyệt dạ vấn phu nhân kinh韋提希子月夜問夫人經, một quyển. - Quốc vương si phu nhân kinh國王癡夫人經, một quyển. - Sao bần nữ vi quốc vương phu nhân kinh抄貧女爲國 王夫人, một quyển. - Vi quốc vương phu nhân kinh phàm tam thập lục bộ kinh 爲國王夫人經凡三十六部經. - Hiền Thủ kinh nhất quyển nhất danh Hiền thủ phu nhân kinh賢首經一卷一名賢首夫人經, ba bản.
Phu nhân 夫人
[ja] ブニン bunin ||| (1) A queen (devi). The queen Śrīmālā. (2) Madame. (3) That person. => 1. Hoàng hậu (s:devi). Thắng Man phu nhân (s: Śrīmālā). 2. Danh hiệu chỉ phụ nữ lớn tuổi. 3. Người ấy, người kia.
phu phụ
Husband and wife.
phu quân
Ayyaputtaka (P).
; My husband.
phu quét đường
Street sweeper.
phu thê
See Phu Phụ.
phu tọa
Cách ngồi đặt bàn chân nầy lên đùi chân kia (có hai cách, một là kiết già, hai là bán già)—To sit cross-legged. ** For more information, please see Kiết Già, and Bán Già Phu Tọa.
phu đổ rác
Garbage collector.
Phu 膚
[ja] フ fu ||| Surface, edge, outer layer (phalgu-gata). 〔二障義 HPC 1.810b〕 => Bề mặt, ngoài rìa, lớp bên ngoài (s: phalgu-gata).
phun lửa
To spit fire.
phung phí
To waste.
Phur-bu
T: phurbu;|Chỉ một loại đao trừ ma quỷ do Liên Hoa Sinh (padmasambhava) áp dụng trong các cuộc hành lễ của Phật giáo Tây Tạng. Phur-bu cũng là biểu tượng trong các phép quán tưởng, tương truyền do Ye-she Tsog-yel (t: yeshe tsogyel) bày ra, nhằm hoá giải các tà lực.|Trong các cuộc hành lễ của các Lạt-ma, ngày nay vẫn còn phép trừ tà bằng đao Phur-bu. Nơi đây, ma quỷ thường được biểu diễn bằng một hình nộm và Pháp sư dùng Phur-bu đâm vào tim. Quan niệm của Kim cương thừa cho rằng, đây là một hành động từ bi, vì ma quỷ bị Phur-bu đâm chết sẽ được giải thoát.|Phur-bu có liên hệ mật thiết với một phép Tan-tra đặc biệt, tương truyền do Liên Hoa Sinh áp dụng lúc bắt đầu lên đường đi Tây Tạng. Phur-bu là một vị Hộ thần (t: yidam) và có vai trò quan trọng trong phái Tát-ca (t: sakyapa) và Ninh-mã (t: nyingma-pa).
phuï
1) Cha: Tỷ Đa—Father. 2) Đàn bà: A woman. 3) Phụ Trợ: Subsequent—To aid—To assist. 4) Phụ Cận: Adjoin—Near. 5) Phụ Lục: Appendix—Attached to. 6) Theo giáo điển nhà Phật, không có thứ gì nguy hiểm cho cuộc sống tịnh xá hơn đàn bà. Đàn bà là cội rễ khổ đau, là chướng ngại, là sự hủy diệt, là vướng mắc, sầu khổ, hận thù và mù quáng, vân vân—A woman—According to Buddhist teaching, nothing is so dangerous to monastic chastity as woman. She is the root of all misery, hindrance, destruction, bondage, sorrow, hatred, blindness, etc. 7) Phụ phàng: To turn the back on someone. 8) Tiền phúng điếu: Pecuniary aid for funerals. 9) Vác mang trên vai hay lưng: To bear on the shoulder or back. 10) Vợ: A wife.
phuớc thành
Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa do bà Nguyễn thị Ngọc Cầu, một thứ phi của chúa Võ Vương Nguyễn Phước Hoạt, xây dựng vào cuối thế kỷ thứ 18. Nguyên thủy, chùa đã được xây dựng kiên cố, theo kiểu kiến trúc đương thời với kiểu chánh điện vuông hai chái. Đến năm 1832, chùa được trùng tu, chỉ là một nhà từ đường của người sáng lập ra chùa. Từ đó trở đi không rõ tiến trình trùng tu. Đến thời vua Khải Định, chùa được xử dụng như là một nhà Tăng cho chư Tăng lưu trú mỗi khi đến hành lễ tế tự trong hoàng cung. Đến năm Bảo Đại thứ 3 (1928), con cháu thuộc hệ thứ 9 của bà đã đúc một tiểu hồng chung nặng 120 cân với bài minh họa do Hiệp Tá Đại Học Sĩ Tôn Thất Tế chấp bút, hiện nay vẫn còn tại chùa. Năm 1987, vì vật liệu cũ đã quá hư hỏng không thể trùng tu được, nên chùa đã phải tái thiết theo kiểu kiến trúc mới. Chính điện được chuyển dựng ra phía trước, lấy nền cũ làm sân trong. Tiền đường được đút bằng bê tông cốt sắt và mái lợp ngói—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple was built in the late eighteenth century by a concubine of Võ Vương Nguyễn Phước Hoạt named Nguyễn Thị Ngọc Cầu. Formerly the temple was built with a solid structure of the style popular at that time, a square main hall with two-side rooms. In 1832, the temple was rebuilt, merely as a worship house to its founder. No records of reconstruction of the temple were known. During king Khải Định's reign, the temple was used as lodging place for monks who came to participate in the religious ceremonies held in the royal palace. In the third year of king Bảo Đại's reign (1928), the descendants if the founder of the temple dedicated a small-sized bell, 120 pounds to the temple with a eulogy written by Hiệp Tá Đại Học Sĩ Tôn Thất Tế, the bell still remains at the temple. In 1987, because the ancient construction materials had deteriorated so badly that no more reconstruction could be made. As a result, the temple was wholly rebuilt in a new design. Now the main hall stands in front, its old ground became a courtyard, and a tiled roof antechambre built of concrete.
phà
1) Chiếc phà: Ferry-boat. 2) Phà khói: To puff out (exhale) smoke.
Phàm
凡; C: fán; J: bon; S: pṛthagjana;|Có các nghĩa sau: 1. Tất cả, chung, tổng quát, mỗi; 2. Con người, thế tục, trần gian; 3. Ngu đần, đần độn (s: bala); 4. Người thế tục, kẻ phàm phu, phản nghĩa với Thánh; 5. Tất cả, hoàn toàn, tổng quát, toàn thể; 6. Theo thói quen, theo lệ thường; khoảng chừng.
phàm
Prthagjana (S) Earthly, wordly; common, vulgar, profane, ordinary. Người phàm: mortal being; uninitiated person. Người phàm mắt tục: the vulgar narrow mindedness. Ăn phàm nói tục: to be vulgar of manner and speech
; Common—Ordinary—Everybody.
phàm chủng
Common seed, ordinary people.
; Common seed—Ordinary people.
phàm dân
Common people.
phàm lệ
Foreword.
phàm lự
The anxieties of common or unconverted men.
Phàm ngu
凡愚; C: fányú; J: bongu;|Người chưa giác ngộ (s: bāla; theo Hiển dương luận 顯揚論).
phàm ngu
Common, ignorant, or unconverted men.
; Common, ignorant, or unconverted men.
Phàm ngu 凡愚
[ja] ボング bongu ||| Foolish, unenlightened people (bāla). 〔, T 1602.31.480c〕 => Người chưa giác ngộ (s: bāla). Theo Hiển Dương Luận顯揚論.
phàm nhân
Xem Phàm phu.
; Prthagjana (S). Common wordling, ordinary man.
Phàm phu
凡夫; C: fánfū; J: bonbu;|Có các nghĩa sau: 1. Người ngu, người dốt nát. Người không sáng suốt, người không thông hiểu giáo lí Phật pháp (s: bāla, p: bāla); 2. Huyền Trang dùng từ nầy để dịch chữ pṛthag-jana, thay thế cho từ Dị sinh (異生), nghĩa là hàng thế tục chưa được giác ngộ, là người không thông hiểu ý nghĩa Tứ thánh đế. Trong các kinh văn của Du-già hành tông, thuật ngữ nầy chỉ cho hành giả chưa nhập giai vị Kiến đạo (見道). Nhị phàm phu (二凡夫).
phàm phu
Bālapṛthagjana (S), Pṛthagjana (S), Puthujjana (P), Bompu (J), Bonpu (J), Worldling, Foolish common people Phàm nhân, Ngu nhơn, Ngu phu; Dị sanh, Ngu dị sanh1- Kẻ tầm thường, kẻ không tin đạo đức và ưa nhạo báng. 2- Người còn ở tại thế, còn lăn lộn trong phiền não. 3- Tăng chẳng ham tu học, hay phá giới (gọi là phàm phu hay phàm tăng). 4- Bậc chưa tu học, chưa đắc thành quả nào trong lục thông.
; Common people. Everyman, the wordly man, the sinner.
; (I) Nghĩa của Phàm Phu—The meanings of ordinary people: 1) Người phàm hay người thường: Sinner—A sane man—Ordinary man—Worldly man—The sinner—Secular people—Common people—The unenlightened—A common fellow. 2) Đệ tử Phàm phu: Đệ tử chưa chứng ngộ—Unenlightened disciples—There are two kinds of ordinary disciples: a) Nội Phàm: Đang trên đường giải thoát—The inner or higher ranks of ordinary disciples who are on the road of liberation. b) Ngoại Phàm: Chưa được tự tại—Lower grades who are not on the road of liberation yet. (II) Những lời Phật dạy về Phàm Phu trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on ordinary people in the Dharmapada Sutra: 1) Đêm rất dài với những kẻ mất ngủ, đường rất xa với kẻ lữ hành mỏi mệt. Cũng thế, vòng luân hồi sẽ tiếp nối vô tận với kẻ ngu si không minh đạt chánh pháp—Long is the night to the wakeful; long is the road to him who is tired; long is samsara to the foolish who do not know true Law (Dharmapada 60). 2) Không được kết bạn với kẻ hơn mình, không được kết bạn với kẻ ngang mình, thà quyết chí ở một mình tốt hơn kết bạn với người ngu muội—If a traveler does not meet a companion who is better or at least equal, let him firmly pursue his solitary career, rather than being in fellowship with the foolish (Dharmapada 61). 3) “Đây là con ta, đây là tài sản ta,” kẻ phàm phu thường lo nghĩ như thế, nhưng chẳng biết chính ta còn không thiệt có, huống là con ta hay tài sản ta?—These are my sons; this is my wealth; with such thought a fool is tormented. Verily, he is not even the owner of himself. Whence sons? Whence wealth? (Dharmapada 62). 4) Ngu mà tự biết ngu, tức là trí, ngu mà tự xưng rằng trí, chính đó mới thật là ngu—A foolish man who knows that he is a fool, for that very reason a wise man; the fool who think himself wise, he is indeed a real fool (Dharmapada 63). 5) Người ngu suốt đời gần gũi người trí vẫn chẳng hiểu gì Chánh pháp, ví như cái muỗng múc canh luôn mà chẳng bao giờ biết được mùi vị của canh—If a fool associates with a wise man even all his life, he will understand the Dharma as litle as a spoon tastes the flavour of soup (Dharmapada 64). 6) Người trí dù chỉ gần gủi người trí trong khoảnh khắc cũng hiểu ngay được Chánh pháp, chẳng khác gì cái lưỡi dù mới tiếp xúc với canh trong khoảnh khắc, đã biết ngay được mùi vị của canh—An intelligent person associates with a wise man, even for a moment, he will quickly understand the Dharma, as the tongue tastes the flavour of soup (Dharmapada 65). 7) Kẻ phàm phu không giác ngộ nên đi chung với cừu địch một đường. Cũng thế, những người tạo ác nghiệp nhất định phải cùng ác nghiệp đi đến khổ báo—A fool with little wit, goes through life with the very self as his own greatest enemy. In the same manner, evil doers do evil deeds, the fruit of which is bitter (Dharmapada 66). 8) Những người gây điều bất thiện, làm xong ăn năn khóc lóc, nhỏ lệ dầm dề, vì biết mình sẽ phải thọ lấy quả báo tương lai—The deed is not well done of which a man must repent, and the reward of which he receives, weeping, with tearful face; one reaps the fruit thereof (Dharmapada 67). 9) Những người tạo các thiện nghiệp, làm xong chẳng chút ăn năn, còn vui mừng hớn hở, vì biết mình sẽ thọ lấy quả báo tương lai—The deed is well done when, after having done it, one repents not, and when, with joy and pleasure, one reaps the fruit thereof (Dharmapada 68). 10) Khi ác nghiệp chưa thành thục, người ngu tưởng như đường mật, nhưng khi ác nghiệp đã thành thục, họ nhứt định phải chịu khổ đắng cay—As long as the evil deed done does not bear fruit, the fool thinks it is as sweet as honey; but when it ripens, then he comes to grief (Dharmapada 69). 11) Từ tháng này qua tháng khác, với món ăn bằng đầu ngọn cỏ Cô-sa (cỏ thơm), người ngu có thể lấy để nuôi sống, nhưng việc làm ấy không có giá trị bằng một phần mười sáu của người tư duy Chánh pháp—Let a fool, month after month, eats only as much food as can be picked up on the tip of a kusa blade; but he is not worth a sixteenth part of them who have comprehended the truth (Dharmapada 70). 12) Người cất sửa bò, không phải chỉ sáng chiều đã thành ra vị đề hồ được. Cũng thế, kẻ phàm phu tạo ác nghiệp tuy chẳng cảm thụ quả ác liền, nhưng nghiệp lực vẫn âm thầm theo họ như lửa ngún giữa tro than—An evil deed committed may not immediately bear fruit, just as newl drawn milk does not turn sour at once. In the same manner, smouldering, it follows the fool like fire covered with ashes (Dharmapada 71). 13) Kẻ phàm phu, lòng thì muốn cầu được trí thức mà hành động lại dẫn tới diệt vong, nên hạnh phúc bị tổn hại mà trí tuệ cũng tiêu tan—The knowledge and fame that the fool gains , so far from benefiting; they destroy his bright lot and cleave his head (Dharmapada 72). 14) Kẻ ngu xuẫn thường hay muốn danh tiếng mà mình không xứng: chỗ ngồi cao trong Tăng chúng, oai quyền trong Tăng lữ, danh vọng giữa các gia tộc khác—The fool always desire for an undue reputation or undeserved honour, precedence among the monks, authority in the monasteries, honour among other families (Dharmapada 73). 15) Hãy để cho người Tăng kẻ tục nghĩ rằng “sự nầy do ta làm, trong mọi việc lớn hay nhỏ đều do nơi ta cả.” Kẻ phàm phu cứ tưởng lầm như thế, nên lòng tham lam ngạo mạn tăng hoài—Let both monks and laymen think, “by myself was this done; in every work, great or small, let them refer to me.” Such is the ambition of the fool; his desires and pride increase (Dharmapada 74). 16) Một đàng đưa tới thế gian, một đàng đưa tới Niết bàn, hàng Tỳ kheo đệ tửø Phật, hãy biết rõ như thế, chớ nên tham đắm lợi lạc thế gian để chuyên chú vào đạo giải thoát—One is the path that leads to worldly gain, and another is the path leads to nirvana. Once understand this, the monks and the lay disciples of the Buddha, should not rejoice in the praise and worldly favours, but cultivate detachment (Dharmapada 75).
; (凡夫) Phạm: Pfthag-jana. Hán âm: Tất lật thác ngật na. Hán dịch: Dị sinh. Gọi tắt: Phàm. Chỉ cho người tầm thường. Nói theo giai vị tu hành thì những người có kiến thức nông cạn, chưa thấy lí Tứ đế, đều gọi phàm phu. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 1, phàm phu vì vô minh nên tùy theo nghiệp mà chịu quả báo, không được tự tại, rơi vào các ngả và sinh làm các loài khác nhau, bởi thế, đúng ra từ ngữ Pfthag-jana phải được dịch là Dị sinh (sinh làm các loài khác nhau). Nhưng các ngài Bồ đề Lưu chi, Chân đế, Cấp đa... thì đều dịch là Mao đạo phàm phu, Anh nhi phàm phu, Tiểu nhi phàm phu. Anh nhi phàm phu và Tiểu nhi phàm phu đều bắt nguồn từ tiếng PhạmBàla-pfthag-jana (Hán âm: Bà la tất lật thác ngật na),Bàla có nghĩa là ngu. Ngoài ra, đối với các bậc thánh Tứ hướng, Tứ quả mà nói thì những người chưa kiến đạo(tức chưa thấy được lí Tứ đế)đều gọi là phàm phu. Trong đó, tông Câu xá cho Tứ thiện căn là Nội phàm, Tam hiền là Ngoại phàm. Tam hiền trở xuống là Để hạ phàm phu(phàm phu dưới giai vị Thập tín, là hàng phàm phu thấp nhất). Đại thừa thì cho trước Sơ địa là phàm phu, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng (Tam hiền) là Nội phàm. Thập tín là Ngoại phàm. Ngoại phàm trở xuống gọi là phàm phu. Còn đối với Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Phật(Tứ thánh)mà nói thì những người sống chết trôi lăn trong 6 đường đều gọi là Lục phàm, tức bao gồm hữu tình ở địa ngục cho đến chúng sinh các cõi trời. Ý nghĩa nội hàm của danh từ Phàm phu, gọi là Phàm phu tính, Dị sinh tính, gọi tắt là Phàm tính. Độc tử bộ cho rằng thể của Phàm phu là Kiến hoặc ở cõi Dục; Kinh bộ không lập thể của Phàm phu nhưng cho rằng phàm phu là phần vị sai biệt tương tục của Thánh pháp; tông Duy thức thì cho rằng phàm phu là 1 trong 24 pháp Bất tương ứng hành, là tác dụng giả lập của chủng tử do phân biệt mà sinh khởi Phiền não chướng và Sở tri chướng. [X. phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2; kinh Đại bát niết bàn Q.17 (bản Bắc); kinh Phạm võng Q.thượng; luận Phật tính Q.3]. (xt. Dị Sinh).
phàm phu kiêu ngạo
Boastful secular people.
phàm phu thiền
Bonpu zen (J).
; (凡夫禪) Loại thiền định tu hành với mục đích làm cho tinh thần sảng khoái, mong cầu hạnh phúc. Trong Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng, phần 1, ngài Tông mật cho rằng người tu loại thiền định này tuy có tâm chính tín nhân quả, nhưng vì niệm tưởng ưa cõi trên, chán cõi dưới mà tu, cho nên gọi là Phàm phu thiền.
phàm phu thập trọng vọng
(凡夫十重妄) Mười lớp mê vọng bất giác trong thức A lại da của phàm phu. Trong Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển hạ, phần 2, ngài Tông mật chia sự bất giác này làm 10 lớp và mỗi lớp đều dùng giấc mộng để ví dụ. Đó là: 1. Lớp thứ nhất: Hết thảy chúng sinh đều có chân tâm bản giác; như 1 người giàu sang, đẹp đẽ và thông minh ở ngay trong nhà của mình. 2. Lớp thứ hai: Nếu chân tâm bản giác chưa được sự mở bày của thiện tri thức thì pháp tính xưa nay là bất giác; như người ngủ trong nhà không tự biết. 3. Lớp thứ ba: Vì là bất giác nên liền khởi vọng niệm; như trong giấc ngủ thấy có cảnh mộng. 4. Lớp thứ tư: Vì sinh khởi vọng niệm nên có tướng năng kiến; như các niệm tưởng trong mộng. 5. Lớp thứ năm: Vì sinh ra tướng năng kiến(tướng hay thấy)nên căn, thân, thế giới theo đó mà vọng hiện; như trong mộng lại thấy có thân chịu khổ ở nơi khác và thấy các cảnh tượng tốt, xấu. 6. Lớp thứ sáu: Thấy các cảnh tượng nhưng không biết đó là huyễn cảnh từ vọng niệm của mình sinh khởi, lại chấp là có thật, gọi là Phá chấp; như trong chiêm bao thấy những cảnh vật mình thấy là có thật, đó là vì bất giác. 7. Lớp thứ bảy: Đã chấp pháp là có thật thì liền thấy mình và người khác nhau, gọi là Ngã chấp; như trong giấc mộng tự nhận thân chịu khổ ở nơi khác là thân của chính mình. 8. Lớp thứ tám: Chấp 4 đại giả hòa hợp làm Ngã, cho nên tham đắm những cảnh thuận ý mình muốn, làm lợi ích cho Ngã, mà giận ghét những cảnh trái với ý mình muốn, sợ chúng làm tổn hại đến Ngã, vì tình ngu si này mà sinh ra các thứ so đo tính toán; như trong giấc mộng ở các chỗ khác, đối với những cảnh thuận, nghịch mà mình thấy, cũng theo đó mà sinh tâm tham, sân. 9. Lớp thứ chín: Vì khởi tâm tham, sân nên tạo các nghiệp thiện, ác; như trong chiêm bao hoặc đánh đập, cướp giật, mắng chửi lẫn nhau, hoặc ban ân bố đức cho nhau. 10. Lớp thứ mười: Nghiệp lực thiện, ác như bóng theo hình, cho nên bị nghiệp trói buộc trong 6 đường và hiện ra các cảnh khổ, vui; như trong mộng mơ vì trộm, cướp, đánh đập, chửi mắng mà bị xử phạt gông cùm, hoặc do thi ân bố đức mà được quả báo tiến cử làm quan. Mười lớp mê vọng trình bày ở trên là gốc ngọn của phàm phu, nhưng sau khi tỉnh ngộ, siêng năng tu chứng thì lại có 10 lớp phản vọng qui chân.
phàm phu tánh
Xem Dị sanh tánh.
; The common underlying nature of all men.
Phàm phu tâm thức
凡夫心識; J: bonpu-(no)-jōshiki;|Nghĩa là tâm thức của một kẻ phàm, của một người tầm thường; tâm thức này đối nghịch lại với tâm thức của một người đã Kiến tính, ngộ đạo. Ðặc tính của phàm phu tâm thức là Vô minh (s: avidyā), sự tự nhận diện với một cái »ta« không có thật (huyễn Ngã), độc lập với thế giới »bên ngoài«, với kết quả là sự ô nhiễm với ba độc tham, sân và Si. Theo đạo Phật thì phàm phu tâm thức là tâm trạng bị bệnh và nếu ôm ấp nó – hoặc nói cách khác – bị nó vây phủ, người ta không thể nhận được cái bản tính thanh tịnh sẵn có (Tự tính thanh tịnh tâm), tức là Phật tính và cứ trầm luân trong biển khổ, bị trói buộc trong Vòng sinh tử, Luân hồi cho đến khi tâm thức này được đoạn diệt bởi kinh nghiệm kiến tính, giác ngộ.|Nếu cho rằng, tu tập thiền là một phương pháp hướng dẫn con người đi từ vô minh đến giác ngộ thì sự phân biệt giữa phàm phu và giác ngộ tâm thức có thể chấp nhận được. Nhưng nhìn từ lập trường tuyệt đối thì phàm phu tâm thức và giác ngộ tâm thức không phải là hai. Bản tính của phàm phu và giác ngộ tâm thức, Niết-bàn và Sinh tử là một. Sự khác biệt duy nhất ở đây là phàm phu không tự nhận được cái bản tính thanh tịnh sẵn có trong khi một bậc giác ngộ lúc nào cũng tự biết, tự chủ được việc này và lúc nào cũng tìm được vị an lạc nơi đó.
Phàm phu 凡夫
[ja] ボンブ bonbu ||| (1) A fool, an ignorant person. An unenlightened person; someone who has no grasp of the Buddhist doctrine (Skt. bāla, Pali bāla). Often translated into English as "worldling."(2) Xuanzang used this term as a translation for pṛthag-jana, an alternative for 異生, referring to an ordinary unenlightened person who has not yet grasped the significance of the Four Noble Truths. It is also seen used in Yogācāra texts to indicate a practitioner who has not yet entered the Path of Seeing 見道. See also 二凡夫. => Có các nghĩa sau: 1. Người ngu, người dốt nát. Người không sáng suốt, người không thông hiểu giáo lý Phật pháp (s: bāla, p: bāla). Thường được dịch sang Anh ngữ là "worldling–người thế tục." 2. Huyền Trang dùng từ nầy để dịch chữ Pṛthag-jana, thay thế cho từ Dị sinh 異生, nghĩa là hàng thế tục chưa được giác ngộ, là người không thông hiểu ý nghĩa Tứ diệu đế. Trong các kinh văn của Du-già hành tông, thuật ngữ nầy chỉ cho hành giả chưa thể nhập giai vị Kiến đạo. Xem Nhị phàm phu二凡夫.
phàm phúc
Phước báo nhơn thiên—The ordinary blessedness of devas and men as compared with that of the converted.
; (凡福) Phạm: Bràhma-puịyatva. Phúc đức của Đại Phạm thiên. Người muốn có được phúc đức như Đại Phạm thiên, phải tu các hạnh thù thắng sau đây: 1. Xây tháp cúng dường xá lợi Phật. 2. Làm chùa, bố thí vườn rừng, cúng dường chư tăng 4 phương. 3. Tạo cơ hội cho các đệ tử Phật đã phá hòa hợp được hòa hợp trở lại. 4. Đối với hết thảy hữu tình phải tu 4 tâm vô lượng (từ, bi, hỉ, xả). 5. Xả bỏ thân mình để cứu mệnh sống của cha mẹ, mệnh sống của Như lai. 6. Xuất gia trong Chính pháp. 7. Độ cho người khác xuất gia. 8. Thỉnh Pháp sư đến thuyết pháp ở các nơi chưa có ai thuyết pháp. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.21].
phàm phước
The ordinary blessedness of devas and men.
phàm sư
Ordinary, or wordly teachers, unenlightened by Buddhist truth.
; Vị sư chưa giác ngộ chân lý mà Phật đã giảng dạy—Ordinary or worldly teachers who are unenlightened by Buddhist truth.
phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến như lai
Theo Kinh Kim Cang, Đức Phật dạy: “Bất cứ vật gì hễ có hình tướng đều là giả dối. Nếu thấy các tướng không phải hình tướng, như thế mới tạm gọi là thấy được Như Lai.”—In the Diamond Sutra, the Buddha taught: “All forms and phenomena are illusive. If one can see beyond forms, one sees the Tathagata.”
Phàm thánh
凡聖; C: fánshèng; J: bonshō;|Hàng phàm phu và bậc Thánh. Theo truyền thống Tiểu thừa, từ Sơ quả (初果) trở lên được xem là bậc Thánh. Theo tinh thần Đại thừa, từ Sơ địa của Thập địa trở lên được xem là bậc Thánh. Dưới các bậc nầy, được xem là người mê, hàng phàm phu, hay người thế tục.
phàm thánh
Sinners and saints. Phàm thánh nhất như, phàm thánh bất nhị: sinners and saints are of the same fundamental nature. Phàm thánh đồng cư độ: this world where sinners and saints dwell together.
; Sinners and Saints.
; (凡聖) Phàm phu và Thánh giả. Thánh giả cũng gọi là Thánh nhân, tức chỉ cho những người từ giai vị Kiến đạo trở lên. Tiểu thừa chỉ cho người từ Dự lưu hướng trở lên, Đại thừa chỉ cho người từ Sơ địa trở lên; còn người từ Kiến đạo trở xuống thì gọi là Phàm phu.Về phương diện bản chất, Phàm phu và Thánh giả hoàn toàn bình đẳng, không có gì khác nhau, cho nên nói Phàm Thánh nhất như, Phàm Thánh bất nhị. Trong 10 cõi mà Phật giáo Đại thừa chủ trương, thì cõi: Địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, a tu la, người và trời, gọi là Lục phàm; còn Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật, gọi là Tứ thánh; gọi chung lại là Lục phàm tứ thánh. Lục phàm là quả báo hữu vi; Tứ thánh là quả thánh vô vi. (xt. Phàm Phu, Thánh Nhân).
Phàm thánh bát nhị 凡聖不二
[ja] ボンショウフニ bonshōfuni ||| The worldling and sage are the same in essence--both possess the buddha nature 佛性. => Kẻ phàm và bậc thánh đồng nhất với nhau về phương diện bản thể, đều có Phật tính.
Phàm thánh bất nhị
凡聖不二; C: fánshèngbùèr; J: bonshōfuni;|Kẻ phàm và bậc thánh đồng nhất với nhau về phương diện bản thể, đều có Phật tính.
phàm thánh bất nhị
Phàm Thánh đều cùng có bổn tánh như nhau: Phật tánh—Sinners and saints are of the same fundamental nature: Buddha-nature.
Phàm thánh nhất như
凡聖一如; C: fánshèng yīrú; J: bonshō ichi-nyo;|Kẻ phàm và bậc thánh đồng nhất với nhau trên cơ sở Phật tính (佛性).
phàm thánh nhất như
(凡聖一如) Cũng gọi Phật phàm nhất thể, Phàm thánh bất nhị. Chỉ cho bản tính của phàm phu và thánh nhân là bình đẳng, đồng nhất; chỉ do hoạt động của ý thức có mê hoặc hay không mà làm cho phàm và thánh khác nhau mà thôi. Tức có mê hoặc là phàm phu, không mê hoặc là thánh nhân. [X. Chú duy ma kinh Q.4; Ma ha chỉ quán Q.5, phần đầu]. (xt. Phàm Thánh).
Phàm thánh nhất như 凡聖一如
[ja] ボンショウイチニョ bonshō ichinyo ||| The worldling and sentient being are the same in their basic buddha-nature 佛性. => Kẻ phàm và bậc thánh đồng nhất với nhau trên cơ sở Phật tính.
phàm thánh nhứt như
Phàm Thánh bất nhị—Sinners and Saints are of the same fundamental nature—See Phàm Thánh Bất Nhị and Sinh Phật Nhứt Như.
Phàm thánh y chính
凡聖依正; C: fánshèng yīzhèng; J: bonshō-ishō;|»Sự khác nhau giữa phàm và thánh nằm trong sự chính trực.« (Một câu văn được Hàm Hư 涵虚 lặp lại nhiều lần trong tác phẩm Viên Giác kinh thuyết nghị 圓覺經説誼 của mình).
phàm thánh đồng cư địa
Thế giới nầy nơi mà Thánh phàm đồng cư—This world, where saints and sinners dwell together.
Phàm thánh 凡聖
[ja] ボンショウ bonshō ||| 'Ordinary man and sage.' In the Hīnayāna tradition, the 'first fruit' 初果 and above is considered as sage, in Mahāyāna the first of the ten bhūmis and above is considered as sage. The below this, deluded people, are called 'regular people' or 'worldlings.' => Hàng phàm phu và bậc Thánh. Theo truyền thống Tiểu thừa, từ Sơ quả trở lên được xem là bậc Thánh. Theo tinh thần Đại thừa, từ Sơ địa của Thập địa trở lên được xem là bậc Thánh. Dưới các bậc nầy, được xem là người mê, hàng phàm phu, hay người thế tục.
phàm thân
The common mortal body, the ordinary individual.
; The common mortal body—The ordinary individual.
phàm thức
Ordinary knowledge, wordly knowledge.
; Ordinary knowledge.
phàm tiểu
(凡小) Có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho phàm phu. Phàm phu tức là tiểu nhân, nên gọi là Phàm tiểu. 2. Chỉ cho phàm phu và Tiểu thừa, gọi chung là Phàm tiểu. Quán Vô lượng thọ kinh sớ quyển 1 (Đại 37, 250 thượng) nói: Nay đã có Thánh giáo này để làm minh chứng, chẳng biết tất cả hành giả thời nay hiểu ý như thế nào mà đối với những lời bàn của kẻ phàm tiểu lại sinh tâm tin nhận như vậy?
phàm tiểu bát đảo
(凡小八倒) Chỉ cho 8 thứ kiến chấp điên đảo của phàm phu và Tiểu thừa. 1. Chẳng phải thường chấp là thường. 2. Chẳng phải vui chấp là vui. 3. Chẳng phải ta chấp là ta. 4. Chẳng phải sạch chấp là sạch. 5. Thường chấp là chẳng phải thường. 6. Vui chấp là chẳng phải vui. 7. Ta thì chấp chẳng phải ta. 8. Sạch thì chấp chẳng phải sạch. (xt. Bát Điên Đảo).
phàm tánh
The common underlying nature of all men
; Common nature of all men.
phàm tâm
Xem Tâm thế gian.
phàm tình
Desires or passions of the unconverted.
phàm tính
(凡性) Cũng gọi Phàm phu tính, Dị sinh tính. Chỉ cho tính của phàm phu còn vọng kiến mê lầm, chưa thấy lí Tứ đế. Là 1 trong 24 pháp Bất tương ứng hành của tông Pháp tướng. (xt. Dị Sinh Tính).
Phàm Túc Vạn Lí
(帆足萬里, Hoashi Banri, 1778-1852): Nho gia, và là nhà Lý học sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; thông xưng là Lí Cát (里吉); tự Bằng Khanh (鵬卿); hiệu là Ngu Đình (愚亭); thân phụ là quan Gia Lão (家老) của Phiên Nhật Xuất (日出藩, Hiji-han) thuộc Phong Hậu (豐後, Bungo). Ông theo học với Hiếp Ngu Sơn (脇愚山), môn nhân của Tam Phố Mai Viên (三浦梅園); rồi sau đó làm Giáo Thọ cho trường học của Phiên này. Vào năm 1832 (Thiên Bảo [天保] 3), ông làm chức quan Gia Lão và dốc sức cải cách nền chính trị của Phiên. Ông đã từng giao du với nhóm Trung Tỉnh Trúc Sơn (中井竹山, Nakai Chikuzan), Quy Tỉnh Nam Minh (龜井南冥, Kamei Nammei), Quảng Lại Đạm Song (廣瀨淡窻, Hirose Tansō); và tư tưởng cơ bản của ông là Nho học. Ông từng lấy tư tưởng Lý Học (Vật Lý) của Tam Phố Mai Viên làm cơ sở, có chí muốn truy cho tận cùng áo nghĩa ấy và nghiên cứu các sách vở khoa học của Hòa Lan. Từ khoảng 50 tuổi, ông bắt đầu học về khoa học tự nhiên của phương Tây, và viết các tác phẩm Cùng Lí Thông (窮理通), Y Học Khải Mông (醫學啟蒙), v.v. Các trước tác khác có Đông Tiềm Phu Luận (東潛夫論), Nhập Học Tân Luận (入學新論), v.v.
phàm tăng
The ordinary practising monk as contrasted with the holy monk.
; Phàm Tăng ngược lại với Thánh Tăng (những vị Tăng đã có công đức sâu dầy, đạo cao đức trọng)—The ordinary practicing monk, as contrasted with the holy monk (Thánh Tăng) who has achieved higher merit.
; (凡僧) I. Phàm Tăng. Cũng gọi: Ngu phàm tăng. Đối lại: Thánh tăng. Chỉ cho hàng tăng chúng bình phàm, chưa chứng Thánh quả. Lương cao tăng truyện quyển 3 (Đại 50, 339 hạ) nói: Nghiêm (Trí nghiêm) tuy giới hạnh thanh cao nhưng tu hành chưa được rốt ráo. Khi ngài tịch, lúc đầu, đưa thi hài của ngài về phía nghĩa địa Phàm tăng thì nặng trĩu không nhấc lên được. Sau chuyển hướng đưa về phía nghĩa địa Thánh tăng thì trở nên nhẹ nhàng như muốn lướt đi. II. Phàm Tăng. Chỉ cho vị tăng đảm nhiệm chức Pháp sư mà chưa giữ chức Tăng cương. Đây là chức vụ tăng chúng của Phật giáo Nhật bản.
phàm tập
The practices, good and evil, of common or unconverted men.
; (凡習) Chỉ cho những hành động phải trái, thiện ác mà phàm phu tập quen. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển hạ, phần 1 (Đại 48, 407 trung) nói: Dần dần trừ bỏ phàm tập, từng bước hiển bày Thánh đức, như gió thổi mạnh, biển dậy sóng thì hình bóng không thể hiện được, nếu gió dứt thì sóng lặng, hình bóng dần dần hiện rõ.
phàm tục
Thói thường tốt hay xấu của phàm nhân—Mundane—Earthly—Ordinary—Common—The practices, good or evil, of common or unconverted men.
Phàm 凡
[ja] ボン bon ||| (1) All, common, general, every. (2) Mortal, secular, earthly. [Buddhism] (3) Dull, foolish (bala). (4) Deluded, secular; 'regular person' or 'worldling,' as opposed to a sage. (5) All, completely, in general, entirely. (6) As a rule; approximately. => Có các nghĩa sau: 1. Tất cả, chung, tổng quát, mỗi. 2. Con người, thế tục, trần gian. 3. Ngu đần, đần độn (s: bala). 4. Người thế tục, kẻ phàm phu, phản nghĩa với Thánh. 5. Tất cả, hoàn toàn, tổng quát, toàn thể. 6. Theo thói quen, theo lệ thường; khoảng chừng.
phàn nàn
To blame—To complain.
Phàn Trạch Đạt
(樊澤達, ?-?): tự là Côn Lai (昆來), người vùng Nghi Tân (宜賓). Năm Ất Sửu (1685) đời vua Khang Hy (康熙, tại vị 1662-1722), ông đỗ Tiến Sĩ, từng làm quan chức Thị Độc (侍讀), chuyên biên tập sử sách. trước tác của ông có Kính Nghiệp Đường Tập (敬業堂集).
phá
To break, disrupt, destroy, cause schism; solve, disprove, refute, negate.
; 1) Đả phá: To disprove—To refute—To negate—To cause schism. 2) Phá đám: To break—To disrupt. 3) Phá hoại: Phá hủy—To destroy—To demolish.
; (破) Tiếng dùng trong Nhân minh. Người vấn nạn (địch nhân) dựa vào 3 phần luận thức của người lập luận mà vạch ra những lỗi lầm để bác bỏ chủ trương của đối phương, gọi là Phá. Ngôn luận mà mình dùng để bác bỏ chủ trương của đối phương, có đủ sức thuyết phục và chính xác, có thể đánh đổ lập luận của địch, thì gọi là Năng phá. Vì Năng phá là vạch ra những lỗi lầm của người khác để đánh đổ chủ trương lập luận của họ, cho nên Năng phá tức là phá tà. Và để phân biệt với Tự năng phá(phá luận sai) nên Năng phá cũng được gọi là Chân năng phá (phá luận đúng). Năng phá giúp đối phương thấy rõ được chỗ sai lầm của mình, cho nên nó có tác dụng ngộ tha (làm cho người khác hiểu). [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích]. (xt. Tự Năng Phá, Chân Năng Phá).
Phá Am Tổ Tiên
(破庵[菴]祖先, Haan Sosen, 1136-1211): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Phá Am (破庵), người Quảng An (廣安, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Vương (王). Ông theo xuất gia với Đức Tường (德祥) ở La Hán Viện (羅漢院), rồi đi tham học các nơi, sau đến tham vấn Mật Am Hàm Kiệt (密庵咸傑) ở Ô Cự Sơn (烏巨山) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông theo Mật Am chuyển đến Tương Sơn (蔣山), rồi từ giã thầy mà quay về đất Thục. Thể theo lời thỉnh cầu của Thượng Thư Dương Công (楊公), ông đến trú trì Hàm Bình Thiền Viện (咸平禪院) ở Ngọa Long Sơn (臥龍山) thuộc Quỳ Châu (夔州, Tỉnh Tứ Xuyên). Sau đó, ông sống qua một số nơi khác như Tú Phong Thiền Viện (秀峰禪院) ở Phủ Bình Giang (平江府, Tỉnh Giang Tô), Quảng Thọ Huệ Vân Thiền Viện (廣壽慧雲禪院) ở Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang), Phước Trăn Thiền Viện (福臻禪院) ở Phủ Bình Giang, Phụng Sơn Tư Phước Thiền Tự (鳳山資福禪寺) ở Hồ Châu (湖州, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày mồng 9 tháng 6 năm thứ 4 niên hiệu Gia Định (嘉定), ông thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi đời và 49 hạ lạp. Trước tác để lại của ông có Phá Am Hòa Thượng Ngữ Lục (破菴和尚語錄) 1 quyển, Phá Am Tiên Thiền Sư Ngữ Yếu (破菴先禪師語要) 1 quyển.
phá bồ đề
Upasanti (skt)—Calm—Tranquility.
phá chánh
Phá bỏ chân lý—To deny the truth, e.g. heresy.
phá chánh hiển tà
To deny the truth and support the evil.
phá chánh mệnh
Cuộc sống không theo đúng theo chánh mệnh—An incorrect or wrong form of livelihood—See Bát Chánh Đạo (5).
phá chính
That which denies the truth, e.g. heresy.
phá chính mệnh
An incorrect or wrong form of livelihood.
; (破正命) Chỉ cho tà mệnh, nghĩa là mưu sinh trái với chính pháp của Phật và với luân lí đạo đức thế gian. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 2]. (xt. Tà Mệnh).
phá chấp
To refute (false) tenets.
; 1) Phá bỏ hay phản bác những mê chấp tà kiến: To refute tenets. 2) Phản bác niềm tin nơi thực ngã hay thực pháp, nghĩa là sự có thật của một cái ngã và chư pháp: To refute the belief in the reality of the ego and things.
phá chấp nhị biên
To sever dualistic attachments.
phá gia
To ruin one's family.
phá giới
Duhśīla (S)Phạm giới.
; To break a commandment; (of monk) to give up the frock.
; 1) Người đã thọ giới lại tự mình hay do sự xúi dục mà phá giới: Theo sách Thập Luân, vị Tỳ Kheo phá giới, tuy đã chết nhưng dư lực của giới ấy vẫn còn bảo đường cho nhân thiên, ví như hương của ngưu hoàng xạ. Phật do đó mà thuyết bài kệ: “Thiệm bạc hoa tuy ny, thắng ư nhứt thiết hoa, phá giới chư Tỳ Kheo, do thắng chư ngoại đạo,” nghĩa là hoa thiệm bạc tuy héo vẫn thơm hơn các thứ hoa khác, các Tỳ Kheo tuy phá giới nhưng vẫn còn hơn hết thảy ngoại đạo)—To violate (break) religious commandments. 2) Trong Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới 48 giới khinh điều thứ 36, Đức Phật dạy: “Thà rót nước đồng sôi vào miệng, nguyện không để miệng nầy phá giới khi hãy còn thọ dụng của cúng dường của đàn na tín thí. Thà dùng lưới sắt quấn thân nầy, nguyện không để thân phá giới nầy tiếp tục thọ nhận những y phục của tín tâm đàn việt.”—The Buddha taught in the thirty-sixth of the forty-eight secondary precepts in the Brahma-Net Sutra: "I vow that I would rather pour boiling metal in my mouth than allow such a mouth ever to break the precepts and still partake the food and drink offered by followers. I would rather wrap my body in a red hot metal net than allow such a body to break the precepts and still wear the clothing offered by the followers.” 3) Những lời Phật dạy về Phá Giới trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Breaking Precepts” in the Dharmapada Sutra: a) Sự phá giới làm hại mình như dây mang-la bao quanh cây Ta-la làm cho cây nầy khô héo. Người phá giới chỉ là người làm điều mà kẻ thù muốn làm cho mình—Breaking commandments is so harmful as a creeper is strangling a sala tree. A man who breaks commandments does to himself what an enemy would wish for him (Dharmapada 162). b) Phá giới chẳng tu hành, thà nuốt hườn sắt nóng hừng hực lửa đốt thân còn hơn thọ lãnh của tín thí—It is better to swallow a red-hot iron ball than to be an immoral and uncontrolled monk feeding on the alms offered by good people (Dharmapada 308). c) Buông lung theo tà dục, sẽ chịu bốn việc bất an: mắc tội vô phước, ngủ không yên, bị chê là vô luân, đọa địa ngục—Four misfortunes occur to a careless man who commits adultery: acquisition of demerit, restlessness, moral blame and downward path (Dharmapada 309). d) Vô phước đọa ác thú bị khủng bố, ít vui, quốc vương kết trọng tội: đó là kết quả của tà dâm. Vậy chớ nên phạm đến—There is acquisition of demerit as well as evil destiny. No joy of the frightened man. The king imposes a heavy punishment. Therefore, man should never commit adultery (Dharmapada 310). e) Cũng như vụng nắm cỏ cô-sa (cỏ thơm) thì bị đứt tay, làm sa-môn mà theo tà hạnh thì bị đọa địa ngục—Just as kusa grass cuts the hand of those who wrongly grasped. Even so the monk who wrongly practised ascetism leads to a woeful state (Dharmapada 311). f) Những người giải đãi, nhiễm ô và hoài nghi việc tu phạm hạnh, sẽ không làm sao chứng thành quả lớn—An act carelessly performed, a broken vow, and a wavering obedience to religious discipline, no reward can come from such a life (Dharmapada 312). g) Việc đáng làm hãy làm cho hết sức! Phóng đãng và rong chơi chỉ tăng thêm trần dục mà thôi—Thing should be done, let's strive to do it vigorously, or do it with all your heart. A debauched ascetic only scatters the dust more widely (Dharmapada 313). h) Không tạo ác nghiệp là hơn, vì làm ác nhứt định thọ khổ; làm các thiện nghiệp là hơn, vì làm lành nhứt định thọ vui—An evil deed is better not done, a misdeed will bring future suffering. A good deed is better done now, for after doing it one does not grieve (Dharmapada 314). i) Như thành quách được phòng hộ thế nào, tự thân các ngươi cũng phải nên phòng hộ như thế. Một giây lát cũng chớ buông lung. Hễ một giây lát buông lung là một giây lát sa đọa địa ngục—Like a frontier fortress is well guarded, so guard yourself, inside and outside. Do not let a second slip away, for each wasted second makes the downward path (Dharmapada 315).
; (破戒) Phạm:Du#zìla. Cũng gọi: Phạm giới. Đối lại: Trì giới. Hủy phá giới luật đã nhận giữ. Luận Đại trí độ quyển 91 nêu ra 2 loại phá giới: 1. Nhân duyên bất cụ túc giới: Nhân duyên không đầy đủ mà phá giới. Như người nghèo cùng, cơm áo thiếu thốn, sinh tâm trộm cắp mà phá giới. 2. Nhân duyên cụ túc giới: Nhân duyên đầy đủ mà phá giới. Như người tuy cơm áo đầy đủ nhưng vì tâm thích thói xấu, ưa làm việc ác nên hủy phạm giới cấm. Kinh Tì ni mẫu quyển 3 (Đại 24, 812 trung) nói: Phạm giới có 7 thứ: Ba la di, Tăng già bà thi sa, Ni tát kì ba dật đề, Ba dật đề, Thâu lan gia, Ba la đề xá ni và Đột cát la. [X. luật Ma ha tăng kì Q.33; luật Thập tụng Q.33].
phá giới ngũ quá
(破戒五過) Năm cái hại mà người phá hoại giới luật phải chuốc lấy là: 1. Tự hại mình. 2. Bị kẻ trí chê cười. 3. Tiếng xấu đồn xa. 4. Lúc sắp chết sinh hối hận. 5. Sau khi mệnh chung rơi vào địa ngục.
phá hoà hợp tăng
(破和合僧) Gọi tắt: Phá tăng. Phá hoại sự đoàn kết của chúng tăng, 1 trong 5 tội nghịch. Có 2 loại: 1. Phá pháp luân tăng: Lập ra tà pháp để phá hoại chúng tăng đang cùng nhau nghe pháp của đức Phật. 2. Phá yết ma tăng: Cùng ở trong 1 khu vực kết giới mà lập yết ma riêng để phá hoại sự hòa hợp của chúng tăng. [X. luật Tứ phần Q.46; luật Ngũ phần Q.25; luật Thập tụng Q.36].
phá hoại
To destroy. Phá hoại thiện Destroyer of good, a name for Màra.
; To sabotage—To destroy.
phá hoại thiện
1) Hủy hoại thiện nghiệp: To destroy good. 2) Tên của một loài ma vương: Name of a Mara.
phá hoại thiện ma vương
Mara who destroys of good.
Phá hoại 破壞
[ja] ハカイ hakai ||| To break down, tear down, destroy, demolish (vināśa, vināśaka, abhedya). To refute an opponent's argument. 〔二障義 HPC 1.812c〕 => Làm cho huỷ hoại, phả huỷ, huỷ hoại, đánh đổ (vināśa, vināśaka, abhedya). Bác bẻ lại quan điểm của đối phương.
phá hòa hợp tăng
Sanghabheda (S). To disrupt the harmony of the community of monks, to cause schism, e.g. by heretical opinions.
; Sanghabheda—Phá vỡ sự hòa hợp trong cộng đồng Tăng Ni và gây ra xáo trộn bởi những ý kiến tà vạy—To disrupt the harmony of the community of monks to cause schism by heretical opinions.
phá hư
To disable.
phá hạ
To neglect the summer retreat.
; Phá hoại an cư kiết hạ, nghĩa là không tuân thủ theo những cấm túc của ba tháng an cư—To neglect the summer retreat.
; (破夏) I. Phá Hạ. Cũng gọi Phá an cư. Hạ an cư chưa kết thúc mà nửa chừng bỏ dở. Trong 9 tuần (90 ngày), chúng tăng không được ra ngoài khu vực đã được kết giới. Nếu nửa chừng mà bỏ thì không thể đạt thành viên mãn, nên gọi là Phá hạ. II. Phá Hạ. Chỉ cho việc an cư đã qua được nửa mùa hạ. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 4; môn Thời tiết trong Thiền lâm tượng khí tiên].
phá hại
To ruin—To ravage.
phá hủy
To destroy—To demolish.
phá hữu
To refute the belief in the reality of things; to break the power of transmigration as does the Buddha.
; 1) Phá bỏ sự tin tưởng cho rằng vạn hữu là có thật: To refute the belief in the reality of things. 2) Đức Như Lai thị hiện để phá bỏ sự sinh tử trong ba cõi: To break the power of transmigration as does the Buddha.
; (破有) Phá vòng luân hồi sinh tử trong 3 cõi. Hữu chỉ cho Tam hữu hoặc Nhị thập ngũ hữu. Phá hữu là phá sự sống chết trong Tam hữu hoặc Nhị thập ngũ hữu(tức 3 cõi). Như lai vì mục đích phá vòng sinh tử trong 3 cõi mà ra đời, nên Ngài cũng được tôn xưng là Phá hữu Pháp vương. [X. phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa; kinh Tâm địa quán Q.1].
phá hữu pháp vương
(破有法王) Chỉ cho đức Phật. Đức Phật dùng phương tiện thiện xảo của trí vô ngại để phá sự chấp trước của chúng sinh cho muôn vật là thực có, khiến họ trút bỏ sinh tử mà ra khỏi 3 cõi, vì thế Phật được tôn xưng là Phá hữu Pháp vương. [X. phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa; kinh Tâm địa quán Q.1]. (xt. Phá Hữu).
Phá hữu pháp vương 破有法王
[ja] ハウホウオウ hau hōō ||| The king of the dharma who destroy the bonds of existence in the three realms of existence--saṃsāra. 〔法華經 T 262.9.19c10〕 => Vị vua pháp chuyên phá trừ sự ràng buộc của sự hiện hữu trong tam giới– luân hồi.
Phá hữu 破有
[ja] ハウ hau ||| To destroy the bonds of existence--saṃsāra. This is something done by the king of the dharma--the Buddha. 〔法華經 T 262.9.19c10〕 => Phá huỷ sự trói buộc trong cõi luân hồi – saṃsāra. Đây là việc làm của Đấng pháp vương–Đức Phật.
phá kiến
(破見) Dùng tà kiến phá hoại chính kiến. Ngoại đạo dùng 62 thứ tà kiến để phá hoại chính kiến của đức Phật. Phá kiến cũng tức là hủy báng Phật pháp. Trong Phật pháp, Phá kiến là tội rất nặng.
phá kỷ lục
To break (beat) the record.
phá lạc tăng
(破落僧) Chỉ cho vị tăng phá hoại giới luật bị đọa lạc, vì đã mất hết tự giác, giống như cửa nẻo bị hư hỏng nên mất hết gia sản.
phá lập
Refuting and establishing; by refuting to prove, or to establish, i.e.in refuting the particular to prove the universal, and vice versa.
; Còn gọi là Già Chiếu, nghĩa là phá bỏ cái lý đặc thù để hiển hiện cái lý phổ quát, hay ngược lại. Phá vạn pháp để hiển hiện cái lý chân không gọi là phá; bàn về lẽ duyên khởi của vạn pháp để hiển hiện cái nghĩa của diệu hữu gọi là lập (Phá Lập là học thuyết của hai phái “Không Môn tông Tam Luận” và “Hữu Môn tông Pháp Tướng.” Tông Tam Luận dựa vào Không Môn mà phá chư pháp, tông Pháp Tướng dựa vào Hữu Môn mà lập chư pháp)—Refuting and establishing; by refuting to prove, or to establish, i.e. in refuting the particular to prove the universal, and vice versa.
; (破立) Cũng gọi Già chiếu. Phá vạn pháp để hiển bày lí chân không, gọi là Phá; bàn về duyên khởi của vạn pháp để làm rõ nghĩa diệu hữu, gọi là Lập. Đây tức là Không môn và Hữu môn. Như tông Tam luận y theo Không môn mà phá các pháp, tông Pháp tướng y theo Hữu môn mà lập các pháp, cả 2 đều thuộc Phá lập. [X. Tông kính lục Q.8].
phá ma
To overcome the màra, exorcise demons.
; Phá diệt ác ma—To overcome the maras or exorcise demons.
; (破魔) Phạm: Màra (-sainya)-pramardana; Màra-pramathana. Đồng nghĩa: Hàng ma. Đánh dẹp quân ma. Khi đức Thích ca ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ đề, thành bậc Chính giác, thì thường có ma Ba tuần đến quấy nhiễu, nhưng sau bị đức Thế tôn hàng phục và phải rút lui. Đây là 1 trong 8 tướng thành đạo của Phật. Trong luận Phật tính, 8 tướng thành đạo được chia ra làm 14 việc, trong đó, việc thứ 11 là nói về phá quân ma. Từ Phá ma ở đây tương đương với từ Hàng phục chư ma chúng trong phẩm Chuyển thân thanh tịnh thành bồ đề của luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 4. Ma ở đây ví dụ cho phiền não, thế nên diệt trừ phiền não cũng gọi là Phá ma. [X. Ma ha chỉ quán Q.8, phần cuối].
phá môn
To withdraw from a school; to renegade from one's school; leave a sect.
; Rời bỏ tông môn—To leave a sect, to break the door.
; (破門) Phá cửa. Chỉ cho vị tăng bị đuổi ra khỏi giáo đoàn hoặc tông phái. Đây là hình phạt rất nặng, tương đương với hình phạt tội Ba la di. Lại trường hợp thầy trục xuất đệ tử ra khỏi cổng chùa, cắt đứt quan hệ thầy trò, cũng gọi là Phá môn.
phá ngu
To dispel the darkness of ignorance.
phá ngục
To break, smash, open a prison.
; To break open a prison.
phá nhan vi tiếu
To break into a smile, the mark of Kàsyapa's enlightenment, when Buddha announced on Vulture Peak that he had a teaching which was propagated from mind to mind, a speech taken as authoritative by the Intuitional School.
; Phá lên cười, tướng giác ngộ của Ngài Ca Diếp, khi Đức Phật tuyên bố rằng pháp của Ngài là tâm truyền tâm. Đây chính là chỉ giáo của Thiền Tông—To break into a smile, the mark of Kasyapa's enlightenment when Buddha announced on Vulture Peak that he had a teaching which was propagated from mind to mind, a speech taken as authoritative by the Intuitional School.
; (破顔微笑) Nụ cười mỉm. Trong hội Linh sơn, đức Phật cầm cành hoa Kim ba la đưa cao lên để dạy đại chúng, không ai hiểu được ý Phật muốn nói gì, chỉ có tôn giả Ma ha Ca diếp mỉm cười, vì thế đức Thế tôn đem Chính pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm truyền cho ngài Ma ha Ca diếp. (xt. Niêm Hoa Vi Tiếu).
phá nát
To destroy completely.
phá phàm phu
(破凡夫) Chỉ cho kẻ phàm phu căn tính ngu độn, kém cỏi. Trong Thiền lâm, mỗi khi bậc thầy dùng từ ngữ trên để mắng trách người học 1 cách thống thiết, chính là mong cho họ 1 ngày kia sẽ trở thành người có tài năng. Vân môn lục quyển trung (Đại 47, 555 hạ) chép: Sư cầm gậy chỉ vào cái lồng đèn nói: Có thấy không? Nếu nói thấy thì đó là phá phàm phu, còn nếu nói không thấy thì 2 con mắt ở đâu? Ông hiểu thế nào?
phá pháp
To break the (Buddha-) law, e.g. by adoption of heresy.
; Hủy bỏ chánh pháp bằng cách dùng tà kiến để phá bỏ chánh pháp của Như Lai (chẳng tu theo kinh luật, chẳng nghe lời khuyên bảo của các bậc tôn túc, mà ngược lại đui tu mù luyện theo thói của tà kiến ngoại đạo, để đi đến phạm giới và thích theo thế tục)—To break the Buddha law, e.g. by the adoption of heresy.
; (破法) Đồng nghĩa: Báng pháp. Chúng sinh dùng tà kiến phá hủy chính pháp của Như lai. [X. phẩm Dũng xuất trong kinh Pháp hoa Q.5]. (xt. Dị Đoan).
phá pháp biến
(破法遍) Cũng gọi Phá chư pháp biến, Năng phá pháp biến, Phá biến. Phá hết pháp chấp. Dùng 3 pháp quán Không Giả Trung để phá trừ hết các pháp chấp. Đây là pháp thứ 4 trong Thập thừa quán pháp do tông Thiên thai thành lập. Tâm đã an trụ nơi lí của pháp giới, nhưng vì còn chấp trước nên chưa thể ngộ nhập, nay phải phá hết các chấp trước ấy. Tuy gọi là phá pháp, nhưng chỉ trừ cái bệnh chấp trước, chứ không phải phá trừ pháp ấy. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, phần cuối]. (xt. Thập Thừa Quán Pháp).
phá pháp luân tăng
(破法輪僧) Lập ra tà pháp để chia rẽ chúng tăng đang sống với nhau 1 cách hòa hợp, đoàn kết, 1 trong 2 loại Phá hòa hợp tăng. Chỉ cho việc Đề bà đạt đa lập ra 5 thứ tà pháp để li gián chúng tăng đang cùng nhau nghe, học giáo pháp của đức Phật. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 3]. (xt. Phá Hòa Hợp Tăng).
Phá pháp 破法
[ja] ハホウ hahō ||| To attack, violate, or slander the dharma (dharma-vyasana). 〔法華經 T 262.9.9c15〕 => Công kích, xâm phạm, hay huỷ báng giáo pháp (s: dharma-vyasana).
phá quấy
To disturb.
phá quỷ
To overcome all the maras.
phá sản
To go bankrupt.
phá sập
To pull down.
phá tam muội da
(破三昧耶) Tội báng pháp, 1 trong 3 loại tội nặng do Mật tông chế định. Theo Mật giáo, hành giả đã thụ giới pháp rồi mà sinh tâm nghi ngờ hoặc sinh tà kiến đối với Mật tạng, thì phạm tội phá Tam muội da. [X. Đại nhật minh sớ Q.9].
phá thai
Abortion—Terminating life of a fetus—According to Buddhist scriptures, abortion is a grave offence.
phá thân
(破申) Cũng gọi Thân phá. Phá nghĩa là phá tà; Thân nghĩa là tỏ rõ, tức là phá tà hiển chính. Tam luận huyền nghĩa lập ra 3 nghĩa để giải thích: 1. Tương vi thích: Phá bệnh mê giáo của người ngoài, nên gọi là Phá; làm sáng tỏ giáo môn nhị đế (chân đế và tục đế) của đức Phật, nên gọi là Thân. 2. Trì nghiệp thích: Làm sáng tỏ chính giáo của đức Phật thì tà mê tự phá, nên gọi là Thân phá. 3. Y chủ thích: Luận chủ làm sáng tỏ Phật pháp nên gọi là Thân phá. (xt. Phá Tà Hiển Chính).
phá trai
To break the monastic rule of the regulation food.
; Ngã mặn—Phá luật trai giới của tịnh xá, hoặc ăn sái giờ, hình phạt cho sự phá giới nầy là địa ngục hoặc trở thành ngạ quỷ, những con ngạ quỷ cổ nhỏ như cây kim, bụng ỏng như cái trống chầu, hoặc có thể tái sanh làm súc sanh (Phật tử tại gia không bắt buộc trường chay; tuy nhiên, khi đã thọ bát quan trai giới trong một ngày một đêm thì phải trì giữ cho tròn. Nếu đã thọ mà phạm thì phải tội cũng như trên)—To break the monastic rule of the regulation food, or time for meals, for which the punishment is hell, or to become a hungry ghost like with throats small as needles and distended bellies, or become an animal.
; (破齋) Phá hủy giới Trai. Trong 8 giới Trai thì giới không ăn quá ngọ là chính, nếu người đã thụ giới này mà vi phạm thì gọi là Phá trai. Tội phá trai chắc chắn sẽ rơi vào địa ngục, hoặc phải đọa làm loài rồng. Cứ theo Vu lan bồn kinh sớ kí quyển hạ, thì loài quỉ có cổ họng nhỏ như lỗ kim, còn bụng lại to bằng quả núi là do phá trai ăn đêm và ăn cắp thức ăn của chúng tăng mà bị quả báo bụng to, họng nhỏ như vậy.
phá tà hiển chánh
Phá bỏ tà chấp tà kiến tức là làm rõ chánh đạo chánh kiến—To break or disprove the false and make manifest the right—Theo Tam Luận Tông, học thuyết Tam Luận Tông có ba khía cạnh chính, khía cạnh đầu tiên là 'phá tà hiển chánh.' Phá tà là cần thiết để cứu độ chúng sanh đang đắm chìm trong biển chấp trước, còn hiển chánh cũng là cần thiết vì để xiển dương Phật pháp—According to the Madhyamika School, the doctrine of the school has three main aspects, the first aspect is the “refutation itself of a wrong view, at the same time, the elusidation of a right view.” Refutation is necessary to save all sentient beings who are drowned in the sea of attachment while elucidation is also important in order to propagate the teaching of the Buddha. 1) Phá Tà—Refutation of all wrong views: Phá tà là phủ nhận tất cả những quan điểm y cứ trên sự chấp trước. Như thế những quan điểm như thuyết về 'Ngã' của các triết gia Bà La Môn, thuyết 'Đa Nguyên Luận' của các luận sư A Tỳ Đàm và Câu Xá, cũng như những nguyên tắc độc đoán của các luận sư Đại Thừa, không bao giờ được thông qua mà không bị bài bác chi ly. 'Hữu' hay tất cả đều có, cũng như 'không' hay tất cả đều không đều bị chỉ trích—Refutation means to refute all views based on attachment. Also views such as the 'self' or atman, the theory of Brahmanic philosophers. The pluralistic doctrines of the Buddhist Abhidharma schools (Vaibhasika, Kosa, etc) and the dogmatic principles of Mahayana teachers are never passed without a detailed refutation. The Realistic or all exists, and the Nihilistic or nothing exists are equally condemned. 2) Hiển Chánh—Elucidation of a right view—Theo Giáo Sư Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Tam Luận Tông luận rằng chân lý chỉ có thể đạt được bằng cách phủ định hay bài bác các tà kiến bên trong và bên ngoài Phật giáo, cũng như những sai lầm của Đại thừa và Tiểu thừa. Khi ôm giữ tà kiến sai lầm, con người sẽ mù quáng trong phán đoán. Làm sao mà một người mù có thể có được cái thấy đúng, và nếu không có nó thì không bao giờ tránh được hai cực đoan. Cứu cánh vọng ngôn tuyệt lự là buổi bình minh của trung đạo. Phá tà và chỉ có phá tà mới dẫn đến cứu cánh chân lý. Con đường giữa hay con đường xa lìa danh và tướng là con đường hiển chánh—According to Prof. Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the Madhyamika School strongly believed that the truth can be attained only by negation or refutation of wrong views within and without Buddhism, and of errors of both the Great and Small Vehicles. When retaining wrong views or error, one will be blind to reason. How can a blind man get a right view without which the two extremes can never be avoided? The end of verbal refutation is the dawn of the Middle Path. Refutation and refutation only, can lead to the ultimate truth. The Middel Path, which is devoid of name and character is really the way of elucidation of a right view.
phá tà hiển chính
To break, or disprove the false and make manifest the right.
; (破邪顯正) Cũng gọi Phá tà thân chính, Tồi tà hiển chính, Phá hiển, Phá thân. Phá dẹp tà đạo, nêu rõ chính lí. Trong vũ trụ bao la, có vô lượng vô biên các pháp, nhưng thâu tóm lại thì không ngoài 2 thứ Tà và Chính. Người bị vướng mắc vào đường tà thì trôi lăn trong thế giới tối tăm; người thấy rõ con đường chính thì tiêu dao trong cõi sáng sủa. Bởi thế, các bậc Thánh hiền ngày trước đã đem lòng từ bi lân mẫn phá dẹp tà thuyết, hiển bày chính lí để hoàn thành đại sự chuyển mê khai ngộ. Các tông phái Phật giáo đều lấy phá tà hiển chính làm mục đích chủ yếu, đặc biệt tông Tam luận rất coi trọng việc này. Thuyết Phá tà hiển chính của tông Tam luận có khác với các tông khác. Thông thường, các tông cho rằng phá tà hiển chính là đối với tà đạo cần phải bài xích, bác bỏ; đối với chính lí phải làm cho sáng tỏ; thế nên, ngoài việc phá tà cần phải hiển chính. Nhưng tông Tam luận thì chủ trương lập và phá đồng thời, nghĩa là khi phá tà tức là đã hiển chính rồi, ngoài phá tà ra không cần có hiển chính. Khi các pháp tà như tà đạo, tà kiến, tà chấp đã bị phá bỏ, thì chính lí Trung đạo, Thực tướng các pháp tự nhiên hiển bày. Tông Tam luận còn cho rằng các tông khác chủ trương ngoài việc phá tà, còn có hiển chính riêng, thì hiển chính ấy lại trở thành thiên chấp; như vậy, phá tà của người khác, nhưng mình lại rơi vào tà thì không thể gọi là phá tà chân chính được. Trong Tam luận huyền nghĩa, Đại sư Gia tường thuộc tông Tam luận, chia Phá tà hiển chính làm 4 loại để thuyết minh là: Phá chẳng thu, Thu chẳng phá, Cũng phá cũng thu và Chẳng phá chẳng thu. Loại thứ 4 là phương pháp Phá tà hiển chính chân thực. [X. Đại thừa huyền luận Q.5; Trung quán luận sớ Q.1, 3, 10; Bách luận sớ Q.thượng, trung; Tam luận du ý nghĩa].
phá tà luận
(破邪論) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Pháp luân soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 52. Đầu quyển có bài tựa Tương đương Pháp lâm pháp sư tập của ông Ngu thế nam. Nội dung sách này phê bình, bác bỏ tà thuyết của Đạo giáo. Năm Vũ đức thứ 4 (621) đời Đường, quan Thái sử là Phó dịch dâng sớ tâu vua Cao tổ rằng chùa, tháp, tăng, ni nhiều chỉ có hại cho đất nước. Ông nêu ra 11 điều, trong đó, ông cực lực bài bác Phật giáo, chủ trương phế bỏ Phật giáo và buộc sa môn hoàn tục. Bấy giờ, ngài Pháp lâm vâng sắc chỉ soạn sách này bác bỏ luận điệu của Phó dịch và tà thuyết của Đạo giáo.
phá tà tức hiển chánh
See Phá Tà Hiển Chánh.
Phá tà 破邪
[ja] ハジャ haja ||| To refute error. One of the two kinds of reasoning 比量, the opposite of 立正. 〔二障義HPC 1.812c〕 => Phá dẹp tà kiến. Là một trong 2 loại Tỷ lượng比量, đối lại là Lập chính 立正.
Phá Táo Ðoạ
破灶墮; C: pozàoduò; tk. 7-8;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Huệ An Quốc sư. Huệ An là môn đệ đắc pháp của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn.|Sư ẩn cư trong núi Tung Nhạc, không để ai biết tên họ của mình và có những lời nói và hành động rất kì đặc.|Trong núi có một cái miếu rất linh, dân chúng xa gần mang tài vật và giết hại rất nhiều sinh mệnh để cúng tế miếu này. Ðặc biệt là trong miếu chỉ thờ một cái bếp. Một hôm, Sư cùng thị giả vào miếu, lấy gậy gõ vào bếp ba cái và quở: »Ngươi vốn là bùn đất hợp thành, Thánh từ đâu đến, linh từ chỗ nào lại!« Nói xong Sư đập cho ba gậy, bếp liền lật đổ. Giây lát, có một người mặc áo xanh, đầu đội mão đến làm lễ trước mặt Sư. Sư hỏi: »Ngươi là ai?« Người lạ đáp: »Con vốn là thần miếu ở đây. Từ lâu chịu nghiệp báo, hôm nay nhờ Thầy nói pháp vô sinh nên con được thoát kiếp. Con riêng đến nơi để tạ ơn Thầy.« Sư bảo: »Ấy là tính sẵn có của ngươi, chẳng phải ta cưỡng nói.« Táo thần làm lễ một lần nữa rồi biến mất. Thị giả thấy vậy thưa: »Từ lâu con ở bên cạnh Hoà thượng, chưa từng được chỉ dạy. Táo thần có sở đắc gì mà được thoát kiếp?« Sư bảo: »Ta không có đạo lí gì khác để dạy y, chỉ nói với y rằng: › Ngươi vốn là bùn đất hợp thành, Thánh từ đâu đến, linh từ chỗ nào lại!‹« Thị giả đứng lặng yên. Sư hỏi: »Hiểu chăng?« Thị giả thưa: »Chẳng hiểu.« Sư hỏi: »Tính sẵn có vì sao chẳng hiểu?« Thị giả liền lễ bái Sư. Sư nói: »Bể rồi! Ðổ rồi!«|Vì tích này mà Huệ An Quốc sư gọi Sư là Phá Táo Ðọa (theo Vườn thiền rừng ngọc, bản dịch của Thông Thiền).
phá táo đoạ
(破
phá táo đọa
Po tsao to (C).
; Theo Thiền Luận, Tập II của Thiền sư D.T. Suzuki, Phá Táo Đọa là cái tên mà Thiền sư Huệ An đặt cho một đệ tử của mình ở Tung Nhạc. Nghĩa đen là bếp hư đổ, chỉ cho biến cố trong đời sống của một Thiền sư không tên tuổi, nhờ đấy mà được chú ý—The P'o-Tsao-To is the name given by Zen master Hui-An to one of his disciples at Tsung-Yueh. It literally means, 'a broken range falen to pieces,' which illustrates an incident in the life of a nameless Zen master, whereby he became famous. • Tại một làng vùng núi Tung Nhạc, có một cái miếu bên trong điện có để một bếp lửa. Dân ở gần xa đến tế tự bếp lửa nầy không ngớt, họ luộc rất nhiều thú vật để cúng. Một hôm có nhà sư vô danh dẫn các Tăng hầu vào miếu. Sư lấy gậy gõ vào bếp ba lần, và bảo: “Chặc! Bếp ơi là bếp! Mi há không phải chỉ là bùn gạch hiệp thành sao? Thánh linh đâu nơi mi vậy? Sao mi đòi luộc nhiều mạng thú vật để cúng như thế?” Nói xong, ông lại gõ vào bếp ba lần nữa. Bếp liền nghiêng đổ xuống đất vỡ ra từng mảnh—There was a shrine in one of the Tsung-Yueh villages where a lonely range was kept. This was the object of worship for the country people far and near, who here roasted alive many animals for sacrifice. One day a nameless monk appeared in the shrine accompanied by his attendants. He struck the range three times with his staff, and said: “Tut! O you an old range, are you not a mere composite of brick and clay? Whence your holiness? Whence your spirituality? And yet you demand so many animals roasted alive for sacrifice!” So saying, the master struck the range for another three times. The range then tipped by itself, and falling on the ground broke in pieces. • Chốc lát, có một người đến gần sư cúi đầu lạy. Sư hỏi ông là ai. Y đáp: “Tôi là Táo thần của miếu nầy. Tôi ở đây rất lâu do nghiệp báo đời trước của mình. Nay nhờ nghe 'pháp vô sinh' của thầy mà thoát khỏi ràng buộc và được thác sinh lên trời. Nay tôi đến đây để bái tạ Thầy.” Sư bảo: “Vô sinh là bản tánh của ngươi, chẳng phải nhờ ta thuyết pháp.” Thần bếp lạy và biến mất—After a while there suddenly appeared a man, and approaching the master bowed reverentially to him. The master asked wo he was, and he answered: “I am the spirit of the range enshrined here. I have been here for a long time owing to my previous karma. But listening to your sermon on the doctrine of no-birth, I am now released from the bondage and born in the heavens. To offer my special thanks to you I have come.” Said the master: “No-birth is the original nature of your being. No sermonizing of mine was needed.” The heavenly being bowed again and vanished. • Sau đó, các Tăng hầu và các người khác hỏi sư: “Chúng con theo hầu thầy rất lâu, nhưng chưa hề được nghe chính ngài giảng pháp. Táo thần được ngài dạy cho pháp gì mà có thể thác sinh ngay trên trời?”—Later on the attendant-monks and others asked the master: “We have been with you for ever so ong, but we have never been permitted to listen to your personal discourses on the Dharma. What effective teaching did the range-spirit get from you which enabled him to be born immediately in the heavens?” • Sư nói: “Ta chỉ bảo nó là nó, do bùn gạch hiệp thành, chứ chẳng có đạo lý gì khác dạy riêng cho nó.”—The master said: “What I told him was simply that he was a composite of brick and clay; I had no further teaching specially meant for him.” • Các tăng hầu và những người khác đứng im không nói. Sư lên tiếng: “Hiểu không?”—The attendant-monks and others stood quietly without a saying a word. The master remarked, “Do you understand?” • Vị chủ sự thưa: “Bẩm, chúng con không hiểu.”—The chief secretary of the monastery said: “No, we do not.” • Sư tiếp lời: “Tánh bản hữu của hết thảy các pháp. Tại sao các ông không hiểu?”—The master continued: “The original nature of all beings, why do you not understand it?” • Các thầy Tăng bèn lạy, sư liền bảo: “Đổ rồi! Đổ rồi! Vỡ rồi! Vỡ rồi!”—The monks all made bows to the master, whereupon exclaimed the master: “It's fallen, it's fallen. It's broken to pieces, it's broken to pieces!” Năm và nơi sư thị tịch không ai rõ—His whereabout and when he passed away were unknown.
phá tình
(破情) Đồng nghĩa: Phá tà. Nghĩa là muốn biết bản tính của sự lí, thì trước hết phải phá cái tình cảm mê chấp đối với sự lí ấy.
phá tích hiển bản
(破迹顯本) Phá thùy tích ở Già da để hiển bày bản địa từ lâu xa, 1 trong 10 thứ Hiển bản. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.9].
phá tăng
To disrupt a monk's meditation, or preaching.
; 1) Phá Pháp Luân Tăng: Phá rối sự thiền định của vị Tăng, hay đưa ra một pháp để đối lập với Phật pháp (như trường hợp Đề Bà Đạt Đa)—To break, destroy or disrupt a monk's meditation or preaching, as in the case of Devadatta. 2) Phá Yết Ma Tăng: Sanghabheda (skt)—Phá hòa hợp Tăng, cùng trong một giới mà đưa ra ý kiến ngoại đạo hay lập ra loại yết ma khác để phá vở sự hòa hợp của yết ma Tăng—Disrupt the harmony of the community of monks, to cause schism, e.g. by heretical opinions.
phá tăng kiền độ
(破僧犍度) Pàli: Saígha-bheda-khandaka. Cũng gọi Điều đạt sự. Kiền độ phá hòa hợp tăng, là kiền độ thứ 5 trong 20 kiền độ. Nội dung kiền độ này thuật lại việc Đề bà đạt đa (Điều đạt) đặt ra 5 việc phi pháp đối lập với giáo pháp của đức Phật để phá hoại sự hòa hợp của chúng tăng và lập tăng đoàn riêng ở núi Già da. (xt. Nhị Thập Kiền Độ).
Phá tướng giáo 破相教
[ja]ハソウキョウ hasō kyō ||| The teaching that refutes phenomenal appearances, which is the fourth in the fivefold analysis of the Buddhist teachings made by Zongmi 宗密. This teaching shows the emptiness of both the projecting consciousness and projected objects. => Giáo lý bác bỏ mọi hiện tượng, đó là điều thứ tư trong Ngũ trùng phán giáo của Tông Mật (Zongmi 宗密). Giáo lý nầy chỉ bày Tính không trong cả 2 phương diện thức quán chiếu và vật được phản ánh.
phá tướng tam muội
(破相三昧) Cũng gọi Vô tướng tam muội. Tam muội quán xét hết thảy các pháp đều vô tướng, đều như mộng huyễn, không Thể nắm bắt, không thể chấp trước, là 1 trong 108 Tam muội. [X. luậnĐại trí độ Q.47].
phá tướng tông
The sects established by Vĩnh Minh, Tịnh Ảnh, Tuệ Viễn which held the unreality of all things.
; Tông phái phá bỏ sự chấp tướng—The sect held the unreality of all things. 1) Tông phái Phá Tướng đầu tiên sáng lập bởi ngài Vĩnh Minh, phá bỏ sự chấp tướng: The first sect founded by Yung Ming (Vĩnh Minh) which held the unreality of all things. 2) Tông Phá Tướng thứ hai do ngài Tịnh Ảnh sáng lập: The second sect founded by Ching-Ying. 3) Tông Phá Tướng thứ ba do ngài Huệ Viễn sáng lập: The third sect founded by Hui-Yuan.
phá tặc quán tự tại
(破賊觀自在) Cũng gọi Kích sao Quan âm. Một trong 40 ứng thân của Bồ tát Quan âm. Hình tượng vị Bồ tát này tay trái giơ lên, cầm cái bao đựng cây kích, dài bằng chiếu cao của thân, tay phải xòe ra, để ở eo bên phải.Theo kinh Thiên quang nhãn bí mật pháp, nếu muốn thu phục tất cả nghịch tặc thì nên tu pháp Kích sao (...). Ấn tướng của vị tôn này là: Tay trái kết ấn 3 chĩa, giơ lên; tay phải nắm lại thành quyền, đặt ở cạnh sườn.
phá yết ma tăng
(破羯摩僧) Cùng ở chung 1 khu vực kết giới mà tự ý làm pháp yết ma Bố tát thuyết giới riêng biệt, phá hoại sự hòa hợp của chúng tăng. Đây là 1 trong 2 thứ phá hòa hợp tăng và là 1 trong 5 tội nghịch.
phá ác nghiệp đà la ni
(破惡業陀羅尼) Thần chú phá trừ các nghiệp ác, 1 trong 3 loại Đà la ni. Khi tụng trì chú này thì tất cả sự sợ hãi, độc hại, ác quỉ, hùm sói... đều không làm hại được. Người phá phạm hạnh, làm 10 nghiệp ác, mà được nghe thần chú này thì trừ sạch nhớp nhúa, trở lại thanh tịnh. Ngoài ra, nếu người nghiệp ác sâu nặng, xưng niệm danh hiệu bồ tát Quan thế âm và tụng trì chú này thì tiêu trừ được nghiệp chướng và thấy Phật hiện tiền. Toàn văn thần chú Phá ác nghiệp đà la ni là (Đại 20, 35 thượng): Na mô Phật đà, Na mô Đạt ma, Na mô Tăng già, Na mô Quán thế âm bồ đề tát đỏa ma ha tát đỏa, Đại từ đại bi duy nguyện mẫn ngã cứu hộ khổ não diệc cứu nhất thiết bố úy chúng sinh linh đắc đại hộ, đa điệt tha, đà hô nị, diêm bà nị đam bà nị a bà hi, mô hô ni, an trà lê, ban trà lê, du tì đế, ban trà la bà tư nị hưu hưu lâu lâu, an trà lê đâu đâu lâu lâu, ban trà lê, chu chu lâu lâu, nị lê trà lê, đậu đậu phú phú, ban trà la bà tư nị thẩn trì, niễn trì, nị niễn trì, tát bà a da yết đa tát bà niết bà bà đà già, a bà da, tì li đà, bế điện sa ha. [X. kinh Thỉnh Quan thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú; Ma ha chỉ quán Q.2].
phá ám mãn nguyện
Phá tan vô minh tối ám và làm tròn lời nguyện, như Đức Phật A Di Đà—To destroy darkness or ignorance and fulfil the Buddha's vow, i.e. that of Amitabha.
; (破暗滿願) Năng lực phá tối tăm, đáp ứng đầy đủ các nguyện vọng. Là tính chất của danh hiệu đức Phật A di đà, có năng lực phá tan vô minh và đáp ứng đầy đủ nguyện vọng của chúng sinh. [X. luận Vãng sinh Q.hạ].
phá đàn tác pháp
(破壇作法) Cũng gọi Phá đàn pháp. Cách thức phá bỏ đàn tu pháp trong Mật giáo, sau khi tu xong pháp và đã thực hành pháp Kết nguyện. Cách thức ấy là: Khi thực hành pháp Kết nguyện xong, miệng tụng kệ Pháp thân, tay cầm chày 1 chĩa hoặc cầm đũa gắp lửa chọc thủng pháp đàn, quán tưởng chữ (haô) phong luân thổi bay chữ (a) địa luân để biểu thị rằng địa luân đã bị phá tan. Những vật cúng trên đàn sẽ được thả xuống sông, hoặc bố thí cho những người nghèo khó, nhờ đó mà những điều mong cầu sẽ được như nguyện. [X. kinh Văn thù sư lợi bảo tạng đà la ni; luận Đại trí độ Q.18; Bí tạng kí].
phá địa ngục
To break open the gates of hell, by chants and incantations, fo the release of a departed spirit.
; Phá vỡ cửa địa ngục bằng cách tụng đọc kinh kệ giải thoát cho người quá vãng—To break open the gates of hells by chants or incantations for the release of a departed spirit.
; (破地獄) Nhờ vào Phật lực và pháp lực mà thoát khỏi được cái khổ địa ngục, gọi là Phá địa ngục. Lời văn xướng tụng phá địa ngục, gọi là Phá địa ngục văn. Người thâm tín Tam bảo thì được sinh vào đường thiện; người không những không tin mà còn phỉ báng, phá hoại Phật pháp thì rơi vào đường ác; thuyết phá địa ngục chính đã xuất phát từ quan niệm ấy. Trong các loại kinh Bản sinh và kinh Thí dụ thường nói rằng: Khi bị sa vào thành ngục La sát hoặc vào địa ngục, nếu dốc lòng xưng niệm Na mô Phật thì liền thoát nạn. [X. Từ đồng nữ duyên trong kinh Tạp bảo tạng Q.1; phẩm Dạ ma thiên cung trong kinh Hoa nghiêm Q.19 (bản dịch mới); Phật tổ thống kỉ Q.33].
phá địa ngục pháp
(破地獄法) ... Pháp môn tu trì nhờ vào công năng bản thệ, ấn khế, chân ngôn, Đà la ni... của Phật và Bồ tát để cứu giúp người chết thoát khỏi các khổ địa ngục.Theo các kinh và nghi quĩ thì các pháp môn ấy gồm có: Quang minh chân ngôn phá địa ngục pháp, Phật đính tôn thắng đà la ni phá địa ngục pháp, Bảo khiếp ấn đà la ni phá địa ngục pháp, Đại tùy cầu đà la ni phá địa ngục pháp, Địa tạng bồ tát phá địa ngục pháp v.v...
phá địa ngục văn
(破地獄文) Chỉ cho những bài văn đọc tụng nương vào pháp lực nguyện cầu thoát khỏi khổ nạn địa ngục. Những bài văn này chủ yếu được rút ra từ các kinh như: 1. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 19 (Đại 10, 102 thượng): Nhược nhân dục liễu tri Tam thế nhất thiết Phật Ưng quán pháp giới tính Nhất thiết duy tâm tạo. (Nếu người muốn biết rõ Tất cả Phật ba đời Nên quán tính pháp giới Hết thảy do tâm tạo). 2. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 thượng): Kì Phật bản nguyện lực Văn danh dục vãng sinh Giai tất đáo bỉ quốc Tự trí bất thoái chuyển. (Sức bản nguyện Phật kia Nghe tên muốn vãng sinh Đều được đến nước Phật Từ đó không trở lui). 3. Kinh Quán Vô lượng thọ nói: Người xưng niệm Nam mô A di đà Phật, diệt trừ được các tội, thoát khỏi khổ địa ngục. 4. Chân ngôn quang minh: Án a mô già vĩ lự tả nẵng... Ai nghe thần chú này từ 2 đến 7 biến thì tất cả tội chướng đều được diệt trừ. Nếu có người rơi vào đường ác, hành giả dùng chân ngôn này gia trì trên cát 108 biến, rồi đem cát ấy rắc lên thi thể người chết, hoặc rải trên mộ, thì người chết nhờ sức gia trì ấy liền được ánh sáng chiếu rọi vào mình, trừ diệt các tội báo, lìa bỏ thân khổ đau mà sinh về Tịnh độ cực lạc phương Tây, hóa sinh trong hoa sen, cho đến khi thành Phật không còn bị đọa lạc nữa. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.28].
phá địa ngục ấn
(破地獄印) Cũng gọi Đa la bồ tát phá địa ngục ấn. Chỉ cho ấn khế có năng lực mở toang cửa địa ngục và khiến chúng sinh chịu khổ được giải thoát. Theo kinh Quán tự tại bồ tát tùy tâm chú, khi kết ấn này, 2 ngón giữa và 2 ngón áp út co lại để trong lòng bàn tay, dựng đứng 2 ngón cái, 2 ngón trỏ, 2 ngón út, cách nhau khoảng nửa tấc và đối diện nhau. Do tâm đại từ đại bi của bồ tát Quan thế âm thương xót chúng sinh, nên khi kết ấn này thì cửa địa ngục mở toang, tất cả chúng sinh chịu khổ đều được giải thoát và vua Diêm la cũng sinh tâm vui mừng. [X. kinh Giáo vương Q.thượng (bản 2 quyển); Từ vân toàn tập Q.16].
Phá 破
[ja] ハ ha ||| (1) To refute, disprove, negate, solve. (2) To break, disrupt, destroy (pratibhādati, vyutsarga). (3) A trouble-making, or dispute-causing monk. => 1. Bác lại, bác bỏ, phủ nhận, tháo gỡ. 2. Bẻ gãy, phá vỡ, phá huỷ (pratibhādati, vyutsarga). 3. Người phá rối, vị tăng gây bất hoà.
phác họa
To outline—To sketch.
phách
1) Rọc ra hay tách ra: To split—To tear—To rend. 2) Vuông khăn—Kerchief—Veil. 3) Vỗ: To clap (hands).
phách chưởng
Phách Thủ, lệ vỗ tay lúc bắt đầu và lúc chấm dứt cuộc lễ của phái Chân Ngôn—Clapping of hands at the beginning and end of worship, a Shingon custom.
; (拍掌) Cũng gọi Kim cương phách, Phách thủ. Vỗ tay phát ra tiếng. Đây là cách làm cho Thánh chúng vui vẻ, đẹp lòng khi tu pháp trong Mật giáo. Hai tay vỗ đều vào nhau, gọi là Tề chỉ phách chưởng, Bình đẳng phách chưởng. Các ngón tay phải vỗ vào bàn tay trái, gọi là Sâm si phách chưởng. Phách chưởng có các nghĩa: Trừ chướng, đánh thức, vui vẻ... Vỗ tay trước khi tu pháp, biểu lộ sự vui mừng khi bản tôn giáng lâm; vỗ tay sau khi tu pháp biểu thị việc tu pháp đã đầy đủ trọn vẹn. Tông Chân ngôn của Nhật bản thường cử hành pháp tu này.
phách lối
To be haughty
phách tiễn cấp
Nhanh như tên lướt gió hay chẻ gió—Rapid as an arrow cleaving the air.
Phái
派; C: pài; J: ha;|1. Sự phân chia, phân nhánh, một phần, phân lớp; 2. Một nhóm, bè cánh, truyền thống, trường phái; 3. Sai khiến đi.
phái
1) Đề cử: To delegate—To detach. 2) Môn phái: School—Sect (môn phái).
Phái Diệu Tâm Tự
(妙心寺派, Myōshinji-ha): tên gọi của một tông phái trong 14 phái của Lâm Tế Tông vốn lấy Chánh Pháp Sơn Diệu Tâm Tự (正法山妙心寺) làm ngôi chùa trung tâm. Theo sắc nguyện của Hoa Viên Thượng Hoàng (花園上皇), ngôi chùa này được xây dựng trên nền tòa Ly Cung của Thượng Hoàng, và Quan Sơn Huệ Huyền (關山慧玄), pháp hệ của Đại Đăng Quốc Sư (大燈國師), là vị Tổ khai sơn chùa cũng như Tổ của dòng phái này. Thời kỳ khai sáng của chùa này cũng chưa rõ lắm, nhưng được xem như là trước năm 1342. Trong vụ Loạn Ứng Nhân, Diệu Tâm Tự bị cháy tan tành, sau được Tuyết Giang Tông Thâm (雪江宗深) phục hưng lại, và nhờ có sự quy sùng của mấy vị Võ Tướng thời Chiến Quốc mà 4 người đệ tử thuộc pháp từ của ông mới có thể phát triển phái mình về các địa phương. Đến khoảng thời đại An Thổ Đào Sơn, từ phái này xuất hiện Bạch Ẩn Huệ Hạc (白隱慧鶴), và chính vị này đã làm cho Tông phong của mình phát triển cực độ. Từ đó, trong Lâm Tế Tông, hết thảy đều bị dòng pháp hệ của Bạch Ẩn chiếm lãnh cả. Đến năm 1872, trải qua sự hợp nhất của 3 phái trong Lâm Tế Tông, rồi sau đó đến 9 phái phân lập, khi ấy Diệu Tâm Tự độc lập thành một phái riêng, và đến năm 1952 thì được chính thức công nhận là một tông phái rõ ràng. Hiện phái này là phái lớn nhất của Lâm Tế Tông, trên toàn quốc có đến hơn 3400 ngôi chùa con trực thuộc, chia thành 27 giáo khu, và có luôn cả trường Đại Học Hoa Viên (花園大學, Hanazono Daigaku).
Phái Huyễn Trú
(幻住派, Genjū-ha): tên gọi chung của những người kế thừa pháp hệ của Trung Phong Minh Bổn (中峰明本) thuộc Phái Phá Am của Lâm Tế Tông. Viễn Khê Tổ Hùng (遠溪祖雄), Phục Am Tông Dĩ (復菴宗已), Cổ Tiên Ấn Nguyên (古先印元), Vô Ẩn Nguyên Hối (無隱元晦), Nghiệp Hải Bổn Tịnh (業海本淨), Minh Tẩu Tề Triết (明叟齊哲), Đại Chuyết Tổ Năng (大拙祖能), v.v., là những nhân vật thuộc phái này. Người cháu đời thứ 4 của Cổ Tiên là Nguyệt Chu Thọ Quế (月舟壽桂) ở Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji). Đặc sắc của phái này là có tính cách ẩn dật của vị khai Tổ Trung Phong, kế thừa tư tưởng Thiền Tịnh Nhất Trí. Ban đầu phái này tách lìa với Phái Ngũ Sơn mà hoạt động giáo hóa ở các địa phương, nhưng đến dòng pháp hệ của Viễn Khê thì có Nhất Hoa Thạc Điền (一華碩田) xuất hiện, làm cho Phái Huyễn Trú có thể tiến về thâm nhập vào năm ngôi chùa lớn ở kinh đô; cho nên, tại các chùa như Tam Thánh (三聖), Kiến Nhân (建仁), Nam Thiền (南禪), Kiến Trường (建長), Viên Giác (圓覺), v.v., đều có chân của phái này, và cho đến thời kỳ Giang Hộ thì phái này đã phát triển rất rực rỡ.
Phái Không Nhận Không Cho
(不受不施派, Fujufuse-ha): tên gọi một giáo phái của Nhật Liên Tông, vị Tổ của phái này là Phật Tánh Viện Nhật Áo (佛性院日奥) ở Diệu Giác Tự (妙覺寺). Không Nhận (不受, bất thọ) ở đây có nghĩa là không thọ nhận sự cúng dường của những người chưa tin vào Pháp Hoa hay báng bổ giáo pháp. Không Cho (不施, bất thí) là không cúng dường cho chư tăng của các tông phái khác vốn khinh báng Nhật Liên Tông. Từ thời Nhật Liên trở về sau, trong giáo đoàn Nhật Liên Tông thời trung đại có chia ra hai lập trường rõ rệt, nghĩa là quán triệt toàn bộ không thọ nhận và thọ nhận với trường hợp riêng đối với sự cúng dường của những nhà có quyền lực thuộc tầng lớp Võ Gia hay Vương Hầu. Với hai lập trường như vậy, ban đầu xảy ra sự đối lập trong giáo đoàn là nhân cuộc lễ tổ chức cúng dường cho ngàn vị tăng do Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) tổ chức tại Phương Quảng Tự (方廣寺) thuộc kinh đô Kyoto. Nhật Áo thì giữ vững lập trường của mình, không đến tham dự và rời khỏi Diệu Giác Tự. Mặt khác, nhóm Nhật Trùng (日重), Nhật Càn (日乾) thì không nhận ngoài trường hợp cúng dường của các nhà công tướng, nên đã đến dự. Vào năm 1599, Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) cho tổ chức cuộc đối luận giữa hai Phái Thọ Nhận của Nhật Thiệu (日紹) thuộc Diệu Hiển Tự (妙顯寺) và Phái Không Nhận của Nhật Áo tại Thành Đại Phản (大阪城, Ōsaka-jō), và ngay chính tại đây, Nhật Áo bị xử tội cho ngựa kéo phanh thây. Từ tiền lệ này, vào năm 1630, tại Thành Giang Hộ (江戸城, Edo-jō) cũng diễn ra cuộc đối luận giữa hai Phái Thân Diên (身延派) thuộc Phái Thọ Nhận và Phái Trì Thượng (池上派) thuộc Phái Không Thọ Nhận; và nhóm Nhật Thọ (日樹) của phái sau đã bị xử tội đày ải đi xứ xa. Sự phân liệt giữa hai phái này ở các vùng Quan Tây (關西, Kansai) và Quan Đông (關東, Kantō) cũng tượng tợ như sự phân liệt thành hai phe đông và tây của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji) bên Tịnh Độ Tông vậy. Vào năm 1655, Chính Quyền Mạc Phủ Giang Hộ giao phó dấu ấn đỏ quy định lãnh vức của chùa; nên càng gây khó khăn nhiều trong việc cúng dường. Vào tháng 4 bốn năm sau, Chính Quyền Mạc Phủ lại ra lệnh cấm Phái Không Nhận Không Cho xây dựng chùa. Chính nhóm Nhật Giảng (日講) và Nhật Thuật (日述) phản đối điều này, nên bị đày ải. Mãi đến năm 1941, hai phái mới hợp nhất lại với nhau, lấy tên là Bổn Hóa Chánh Tông (本化正宗); nhưng 5 năm sau thì lại phân ly, Phái Không Nhận Không Cho thì đổi tên thành Diệu Pháp Hoa Tông (妙法華宗), rồi 6 năm sau thì lấy lại tên cũ.
phái mũ đỏ
Dugpas (T).
Phái Ngũ Sơn
(五山派, Gozan-ha): trong Thiền Tông dưới thời đại Liêm Thương có các tông phái mà do những người đến triều đình Nhật mang vào từ Trung Hoa Đại Lục, và có những tông phái mà do những người đến Nhật truyền thừa vào. Những tông phái được mang vào do nhóm người đến triều đình Nhật gồm các phái của Lâm Tế Tông như Phái Đại Giác (大覺派) do Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) làm tổ, Phái Phật Quang (佛光派) do Vô Học Tổ Nguyên (無學祖元) làm tổ, Phái Phật Nguyên (佛源派) do Đại Hưu Chánh Niệm (大休正念) làm tổ, Phái Nhất Sơn (一山) do Nhất Sơn Nhất Ninh (一山一寧) làm tổ, Phái Đại Giám (大鑑派) do Thanh Chuyết Chánh Trừng (清拙正澄) làm tổ, và Phái Cổ Lâm (古林派) do Trúc Tiên Phạn Tiên (竺仙梵僊) làm tổ, v.v.; cọng thêm đó còn có Phái Tông Hoằng (宗宏派) của Tào Động Tông do Đông Minh Huệ Nhật (東明慧日) làm tổ. Mặt khác, những tông phái do nhóm người sang đến Nhật truyền vào gồm các phái của Lâm Tế Tông như Phái Hoàng Long (黃龍派) do Minh Am Vinh Tây (明菴榮西) làm tổ, Phái Thánh Nhất (聖一派) của Viên Nhĩ Biện Viên (圓爾辨圓), Phái Pháp Đăng (法燈派) của Vô Bổn Giác Tâm (無本覺心), Phái Đại Ứng (大應派) của Nam Phố Thiệu Minh , v.v.; và phái của Tào Động Tông do Đạo Nguyên (道元) sáng lập. Đến thời đại Thất Đinh, trong số các phái như đã trình bày ở trên, trừ phái của Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji) thuộc Tào Động Tông và Phái Đại Ứng của Lâm Tế Tông ra, các phái Thiền Tông được sự bảo hộ và thống chế của chính quyền Mạc Phủ Thất Đinh, lấy những ngôi chùa quan làm cứ điểm hành đạo, phát triển rộng khắp toàn quốc, và cuối thời đại Thất Đinh thì trở thành chủ lưu của Thiền mà phồn vinh cực độ. Phái Ngũ Sơn là tiếng gọi tổng xưng của các phái Thiền Tông, hay còn gọi là Ngũ Sơn Tùng Lâm (五山叢林).
phái trung quán
dbu ma pa (T)Tên một tông phái.
Phái Tùng Nguyên
(松源派, Shōgen-ba): tên một phái kết hợp dòng Thiền của Phái Dương Kì (楊岐派) thuộc Tông Lâm Tế Trung Quốc, trực thuộc pháp hệ của Hổ Kheo Thiệu Long (虎丘紹隆). Tùng Nguyên Sùng Nhạc (松源崇岳), người kế thừa dòng pháp của Mật Am Hàm Kiệt (密庵咸傑), là vị Tổ khai sáng phái này. Môn hạ của Sùng Nhạc có hai vị Tăng kiệt xuất là Vô Minh Huệ Tánh (無明慧性), Vận Am Phổ Nham (運庵普巖); thêm vào đó, còn có Diệt Ông Văn Lễ (滅翁文禮), Tuyết Đậu Trọng Khiêm (雪竇仲謙), Yểm Am Thiện Khai (掩庵善開), v.v. Hơn nữa, sau này môn hạ của Huệ Tánh lại có Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆), rồi môn hạ của Phổ Nham có Hư Đường Trí Ngu (虛堂智愚) xuất hiện. Hư Đường là người dẩn đầu để tạo ra những nhân vật quan trọng của Lâm Tế Tông Nhật Bản như Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明), Tông Phong Diệu Siêu (宗峰妙超), Quan Sơn Huệ Huyền (關山慧玄), v.v. Và những Thiền Tăng nổi tiếng như Đại Hưu Chánh Niệm (大休正念), Vô Tượng Tĩnh Chiếu (無象靜照), Tây Giản Tử Đàm (西礀子曇), Nguyệt Lâm Đạo Kiểu (月林道皎), Thạch Thất Thiện Cửu (石室善玖), Trúc Tiên Phạn Tiên (竺仙梵僊), Minh Cực Sở Tuấn (明極楚俊), Ngu Trung Châu Cập (愚中周及), v.v., đều xuất thân từ phái này cả.
phái đoàn
Delegation—Mission.
phái đại toàn thiện
Adi Yogā (S).
Phái 派
[ja] ハ ha ||| (1) Division, branch, offshoot, stream. (2) A group, faction, tradition, school. (3) To cause to go. => 1. Sự phân chia, phân nhánh, một phần, phân lớp. 2. Một nhóm, bè cánh, truyền thống, trường phái. 3. Sai phái, sai khiến.
Phán
判; C: pàn; J: han, pan;|Có các nghĩa sau: 1. Chia, phân, cắt ra.|2. Phân biệt, nhận ra, nhận rõ sự khác nhau giữa các pháp; 3. Đánh giá, phân xử việc gì; 4. Quyết định, xác định.
phán
1) Phán lệnh: To order. 2) Phán Quyết: To judge—To try. 3) Phán định: To decide. 4) Phán xét: To examine and judge.
; (判) .. Phân biệt, so sánh giữa cái này với cái kia để làm sáng tỏ nghĩa lí. Bởi thế, trong các sách chú giải kinh Phật mới có các danh từ như Khoa phán, Phán giáo...
phán bằng thức
(判憑式) Chứng minh thư do nhà nước chứng nhận và cấp phát cho tăng sĩ. Như Độ điệp là giấy Chứng minh do Chính phủ cấp phát cho vị tăng để chứng nhận vị ấy đã xuất gia được độ. Còn Miễn đinh do(cũng gọi Miễn đinh sao) là Chứng minh thư do chính quyền địa phương cấp phát cho những người đã nộp tiền miễn đinh và phê chuẩn cho được miễn trừ quân dịch. [X. điều Thánh tiết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; điều Quải đáp trong Thiền uyển thanh qui Q.1]. (xt. Độ Điệp).
Phán giáo
判教; C: pànjiāo; J: hankyō;|Phân định giáo lí theo chủ đề, thời gian… Sự Phân định giáo lí là một khía cạnh chủ yếu của việc nghiên cứu nguồn gốc kinh điển của nhiều Tăng sĩ Phật giáo từ thế kỉ thứ 5-8 trong các tông phái Phật giáo Trung Hoa như Pháp tướng, Thiên Thai, Hoa Nghiêm. Một số nhà phán giáo nổi bật là Huệ Viễn (慧遠), Trí Khải (智顗), Pháp Tạng (法藏), và Tông Mật (宗密). Tứ giáo (四教), Ngũ giáo (五教).
phán giáo
Phân chia hay phân tích giáo pháp hay giáo tướng một đời của Đức Phật—Division of the Buddha's teaching. 1) Phán Giáo Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo: Division of T'ien-T'ai, into the five periods and eight teachings—See Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo. 2) Phán Giáo Hoa nghiêm Ngũ Giáo: Division of Hua-Yen into five teachings—See Hoa nghiêm Thời and Ngũ Giáo.
Phán giáo 判教
[ja] ハンキョウ hankyō ||| To classify the teachings according to theme, time period, etc. Teaching classification was a major aspect of the textual studies of many 5-8th century monks from the scholarly schools of Chinese Buddhism, such as Faxiang 法相, Tiantai 天台 and Huayan 華嚴. Some of the more famous doctrinal classifiers were Huiyuan, Zhiyi 智顗, Fazang 法藏 and Zongmi . See sijiao 四教 and wujiao 五教. => Phân định giáo lý theo chủ đề, thời gian...Sự Phân định giáo lý là một khía cạnh chủ yếu của việc nghiên cứu nguồn gốc kinh điển của nhiều Tăng sĩ Phật giáo từ thế kỷ thứ 5-8 trong các tông phái Phật giáo Trung Hoa như Pháp tướng, Thiên thai, Hoa Nghiêm ,. Một số nhà phán giáo nổi bật là Huệ Viễn, Trí Khải 智顗, Pháp Tạng 法藏và Tông Mật 宗密. Xem Tứ giáo 四教và Ngũ giáo五教.
phán lự tư
Phân biệt tư tưởng—Discriminating thought.
Phán Quan
(判官): còn gọi Quỷ Phán Quan (鬼判官). Trong Thập Điện Diêm La (十殿閻羅), ở hai bên của vua Diêm La tại mỗi điện đều có một vị Phán Quan phụ tá xử lý phiên tra công việc các vong hồn và chịu trách nhiệm thẩm tra các u hồn được dẫn đến Minh Phủ. Phán Quan có thể phân làm 4 loại: Thưởng Thiện Ty (賞善司), Phạt Ác Ty (罰惡司), Tra Sát Ty (查察司) và Thôi Phán Quan (崔判官). Ba tên đầu là chức danh, chỉ có chức cuối cùng thì thấy xuất hiện nhiều trong các thư tịch. Như trong Tây Du Ký (西遊記) cũng như truyền thuyết của các địa phương thường hay có tên vị này. Tương truyền Thôi Phán Quan tên là Giác (玨), người sống dưới thời Tùy Đường. Vào năm 633 (niên hiệu Trinh Quán [貞觀] thứ 7) nhà Đường, ông ra làm quan Huyện Lịnh Trường Tử (長子), Lộ Châu (潞州). Có thuyết cho rằng ông “ban ngày quản lý việc dương gian, tối xét xử các oan hồn dưới Âm Phủ, sai khiến người và quỷ, có năng lực như thần minh.” Trong dân gian có nhiều truyền thuyết về việc xử án của Thôi Giác (崔玨); trong đó có vụ án làm sáng tỏ con hổ làm thương tổn người được lưu truyền rộng rãi nhất. Truyền thuyết kể rằng nơi giáp giới phía tây nam Huyện Trường Tử và sông Thấm (沁) có một dãy núi lớn, tên là Điêu Hoàng Lãnh (雕黃嶺); xưa kia nơi đó thường có thú dữ xuất hiện. Một hôm, có chàng tiều phu lên núi đốn củi, không may bị con mãnh hổ ăn thịt. Người mẹ góa chồng hay tin đau lòng không muốn sống nữa, bèn lên Huyện đường kêu oan. Thôi Giác tức khắc phát lịnh bài, sai lính dịch Mạnh Hiến (孟憲) cầm điệp phù lên núi bắt cọp. Hiến lấy điệp phù ra đọc tụng trước Miếu Sơn Thần và dâng cúng trước án thần; khi ấy có một con cọp từ sau miếu lủi trốn ra. Hiến bèn dùng linh phù bắt con cọp dẫn về Huyện đường. Thôi Giác tức thì thăng đường, liệt kê tội phạm do con hổ gây ra từ trước đến nay; khi nghe mỗi tội như vậy, con hổ đều cúi đầu nhận chịu. Cuối cùng, ông phán quyết rằng: “Ăn thịt mạng người, tội không thể tha.” Con hổ nghe vậy đập đầu vào bậc cấp mà chết. Sau khi Thôi Giác qua đời, bá tánh đều lập miếu thờ ông ở khắp nơi. Tuy nhiên, cũng có thuyết nêu lên tên 4 vị phán quan có tên gọi hơi khác là: Chưởng Hình Phán Quán (掌刑判官, coi về hình phạt), Chưởng Thiện Bộ Phán Quan (掌善簿判官, coi về hồ sơ việc thiện), Chưởng Ác Bộ Phán Quan (掌惡簿判官, coi về hồ sơ việc ác) và Chưởng Sanh Tử Bộ Phán Quan (掌生死簿判官, coi về hồ sơ sống chết); trong đó vị cuối cùng là thủ lãnh tất cả. Tương truyền vị danh thần nhà Tống là Bao Thanh Thiên (包青天) cũng đã từng làm việc dưới Âm Phủ, có tên là Trương Bảo (張保), chuyên giám sát những người vượt ngục, trông coi hồ sơ sanh tử của con người và tuyên phạt những cực hình. Hình tượng các vị Phán Quan thường được tạc có đội mũ mềm trên đầu, mang cân đai, chân mang đôi hài mũi đen, trừng con mắt sáng quắt, tay trái cầm sổ thiệc ác, tay phải cầm cây bút sanh tử. Như vậy Quỷ Phán Quan là vị Phán Quan cõi Âm Phủ vốn có trong truyền thống văn hóa của Trung Quốc. Vì vậy, thế gian vẫn thường xưng tụng ông rằng: “Quân mạo tranh nanh, quân tâm công chánh, thanh lâm hắc tắc, duy quân sở mạng (君貌猙獰、君心公正、青林黑塞、唯君所命, Tướng người hung tợn, tâm người công chánh, rừng xanh chốn tối, chỉ người quản hạt).”
phán quyết
Determination—Decision.
phán thích
Phán đoán ý chỉ của kinh luận, và giải thích ý nghĩa của nó. Phê phán phân tích giáo lý mà Đức Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng—To divide and explain sutras; to arrange in order, analyse the Buddha's teaching.
phán đoán
Phán quyết—To judge.
Phán 判
[ja] ハン han, pan ||| (1) To divide, separate; cut away from. (2) To distinguish, understand, discriminate. (3) Judge; pass judgement on. (4) To decide, determine. => Có các nghĩa sau: 1. Chia, phân, cắt ra. 2. Phân biệt, nhận ra, nhận rõ sự khác nhau giữa các pháp. 3. Đánh giá, phân xử việc gì. 4. Quyết định, xác định.
Pháp
法; C: fă; J: hō; S: dharma; P: dhamma; cũng đươc dịch theo âm Hán Việt là Ðạt-ma, Ðàm-ma; |Chữ dharma vốn xuất phát từ tiếng Ấn Độ, ngữ căn dhr, có nghĩa là »nắm giữ«, đặc biệt là nắm giữ tính năng hoạt động của con người. Thuật ngữ nầy có nhiều nghĩa:|1. Tập quán, thói quen, tiêu chuẩn của phép cư xử; 2. Điều phải làm; nghề nghiệp, bổn phận, nghĩa vụ; 3. Trật tự xã hội; quy củ trong xã hội; 4. Điều lành, việc thiện, đức hạnh; 5. Sự thật, thật tại, chân lí, luật tắc (s: satya); 6. Nền tảng của thế gian và các cõi giới; 7. Tín ngưỡng tôn giáo; 8. Tiêu chuẩn để nhận thức về chân lí, về luật tắc; 9. Giáo lí, sự giải thích; 10. Bản thể, bản tính; 11. Thuộc tính, phẩm chất, đặc tính, cấu trúc cơ bản. Ý nghĩa nầy của thuật ngữ thường được dùng trong các luận giải của Du-già hành tông, liệt kê tất cả kinh nghiệm thế gian thành 100 pháp hoặc 100 cấu trúc cơ bản. Thực tế các pháp không tồn tại trên cơ sở tự tính nầy hàng Nhị thừa không thể nào nhận thức được, nhưng là một đối tượng quán sát đặc biệt của hàng Bồ Tát. Không nhận thức được tính không của các cấu trúc cơ bản là điều rất quan trọng cho sở tri chướng. Xem Bách pháp; 12. Trong Luận lí học, là tiền đề hay là đối tượng của một động từ. |Tổng quát lại, người ta có thể hiểu pháp là »tất cả những gì có đặc tính của nó – không khiến ta lầm với cái khác – có những khuôn khổ riêng của nó để nó làm phát sinh trong đầu óc ta một khái niệm về nó« (theo Phật học đại từ điển của Ðinh Phúc Bảo, lời dịch của Thích Nhất Hạnh).
pháp
Dhamma (P), Dharma (S), Dharma (S), Hassu (J)Đàm ma, Đàm mô1- Bất kỳ vật hay việc gì, dú lớn hay nhỏ, hữu hình hay vô hình, tốt hay xấu, hữu vi hay vô vi, chơn thật hay hư vọng, những nguyên tắc hay luật chung của tôn giáo hay vũ trụ, đều gọi chung là pháp. 2- Còn dùng chỉ riêng đạo lý của đạo Phật. Pháp có 3 thời kỳ: - Thời Chánh pháp: lúc Phật nhập diệt cho đến 500 năm sau, nhờ ảnh hưởng thần lực của Phật nên người tu dễ đắc đạo. - Thời Tượng pháp: kéo dài 1000 năm kễ từ sau 500 sau khi Phật nhập diệt. Pháp còn tương tợ chứ không phải là chánh, dù khó nhưng cũng có nhiều người đắc đạo. - Thời Mạt Pháp: từ 1500 năm sau khi Phật nhập diệt trở về sau, thời kỳ này kéo dài 1000 năm. Người tu sanh giaỉi đãi, sa ngã, ít người tinh tấn, ít người thành đạo. Pháp có 5 thứ: - giáo pháp (pháp để dạy) - hạnh pháp (pháp để hành) - - chứng pháp (pháp tu đắc) - nhiếp pháp (pháp giữ lấy) - thọ pháp (pháp lãnh thọ).
; Dharma (S) - Dhamma (P). Law, truth, religion, thing, anything Buddhist.
; Tất cả sự vật hữu hình gọi là sắc pháp, vô hình gọi là tâm pháp, có thể tánh gọi là hữu pháp, không thể tánh gọi là vô pháp. Các pháp sắc, tâm, hữu, vô, gọi chung là Pháp giới.
; Dhamma (p)—Dharma (skt)—Doctrine—Law—Method—Phenomena—Thing—Truth—Pháp là một danh từ rắc rối, khó xử dụng cho đúng nghĩa; tuy vậy, pháp là một trong những thuật ngữ quan trọng và thiết yếu nhất trong Phật Giáo. Pháp có nhiều nghĩa—Dharma is a very troublesome word to handle properly and yet at the same timeit is one of the most important and essential technical terms in Buddhism. Dharma has many meanings: 1) Luật lệ: Rule—Law. 2) Theo Phạn ngữ, chữ “Pháp” phát xuất từ căn ngữ “Dhri” có nghĩa là cầm nắm, mang, hiện hữu, hình như luôn luôn có một cái gì đó thuộc ý tưởng “tồn tại” đi kèm với nó—Etymologically, it comes from the Sanskrit root “Dhri” means to hold, to bear, or to exist; there seems always to be something of the idea of enduring also going along with it. a) Ý nghĩa thông thường và quan trọng nhất của “Pháp” trong Phật giáo là chân lý—The most common and most important meaning of “Dharma” in Buddhism is “truth,” “law,” or “religion.” b) Thứ hai, pháp được dùng với nghĩa “hiện hữu,” hay “hữu thể,” “đối tượng,” hay “sự vật.”Secondly, it is used in the sense of “existence,” “being,” “object,” or “thing.” c) Thứ ba, pháp đồng nghĩa với “đức hạnh,” “công chánh,” “chuẩn tắc,” về cả đạo đức và tri thức—Thirdly, it is synonymous with “virtue,” “righteousness,” or “norm,” not only in the ethical sense, but in the intellectual one also. d) Thứ tư, có khi pháp được dùng theo cách bao hàm nhất, gồm tất cả những nghĩa lý vừa kể, nên chúng ta không thể dịch ra được. Trong trường hợp nầy cách tốt nhất là cứ để nguyên gốc chứ không dịch ra ngoại ngữ—Fourthly, it is occasionally used in a most comprehaensive way, including all the senses mentioned above. In this case, we'd better leave the original untranslated rather than to seek for an equivalent in a foreign language. 3) Luật vũ trụ hay trật tự mà thế giới chúng ta phải phục tòng. Theo đạo Phật, đây là luật “Luân Hồi Nhân Quả”—The cosmic law which is underlying our world. According to Buddhism, this is the law of karmically determined rebirth. 4) Hiện Tượng: Phenomenon—Mọi hiện tượng, sự vật và biểu hiện của hiện thực. Mọi hiện tượng đều chịu chung luật nhân quả, bao gồm cả cốt tủy giáo pháp Phật giáo—All phenomena, things and manifestation of reality. All phenomena are subject to the law of causation, and this fundamental truth comprises the core of the Buddha's teaching. 5) Chân Lý: Ultimate truth. 6) Dharma (skt)—Đạt Ma—Đàm Ma—Đàm Vô—Giáo pháp của Phật hay những lời Phật dạy—Con đường hiểu và thương mà Đức Phật đã dạy—Phật dạy: “Những ai thấy được pháp là thấy được Phật.” Vạn vật được chia làm hai loại: vật chất và tinh thần; chất liệu là vật chất, không phải vật chất là tinh thần, là tâm—The teaching of the Buddha (Understanding and Loving)—Law—Doctrine—Things—Events—Phenomena—The way of understanding and love taught by the Buddha—The Buddha says: “He who sees the Dharma sees me.”. All things are divided into two classes: physical and mental; that which has substance and resistance is physical, that which is devoid of these is mental (the root of all phenomena is mind). 7) Toàn bộ giáo thuyết Phật giáo, các quy tắc đạo đức bao gồm kinh, luật, giới: The doctrines of Buddhism, norms of behavior and ethical rules including pitaka, vinaya and sila. 8) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, chữ Dharma có năm nghĩa như sau—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the word “Dharma” has five meanings: a) Dharma là cái được nắm giữ hay lý tưởng nếu chúng ta giới hạn ý nghĩa của nó trong những tác vụ tâm lý mà thôi. Trình độ của lý tưởng nầy sẽ sai biệt tùy theo sự tiếp nhận của mỗi cá thể khác nhau. Ở Đức Phật, nó là sự toàn giác hay viên mãn trí (Bodhi): Dharma would mean 'that which is held to,' or 'the ideal' if we limit its meaning to mental affairs only. This ideal will be different in scope as conceived by different individuals. In the case of the Buddha it will be Perfect Enlightenment or Perfect Wisdom (Bodhi). b) Thứ đến, lý tưởng diễn tả trong ngôn từ sẽ là giáo thuyết, giáo lý, hay giáo pháp của Ngài: Secondly, the ideal as expressed in words will be his Sermon, Dialogue, Teaching, Doctrine. c) Thứ ba, lý tưởng đề ra cho các đệ tử của Ngài là luật nghi, giới cấm, giới điều, đức lý: Thirdly, the ideal as set forth for his pupils is the Rule, Discipline, Precept, Morality. d) Thứ tư, lý tưởng là để chứng ngộ sẽ là nguyên lý, thuyết lý, chân lý, lý tính, bản tính, luật tắc, điều kiện: Fourthly, the ideal to be realized will be the Principle, Theory, Truth, Reason, Nature, Law, Condition. e) Thứ năm, lý tưởng thể hiện trong một ý nghĩa tổng quát sẽ là thực tại, sự kiện, sự thể, yếu tố (bị tạo hay không bị tạo), tâm và vật, ý thể và hiện tượng: Fifthly, the ideal as realized in a general sense will be Reality, Fact, Thing, Element (created and not created), Mind-and-Matter, Idea-and-Phenomenon. 9) Những phản ánh của các hiện tượng vào tâm con người, nội dung tâm thần, ý tưởng: Reflection of a thing in the human mind, mental content, object of thought or idea. 10) Những nhân tố tồn tại mà trường phái Tiểu thừa cho đó là nền tảng của nhân cách kinh nghiệm: Factors of existence which the Hinayana considers as bases of the empirical personality. 11) Theo phái Trung Quán, chữ Pháp trong Phật Giáo có nhiều ý nghĩa. Nghĩa rộng nhất thì nó là năng lực tinh thần, phi nhân cách bên trong và đằng sau tất cả mọi sự vật. Trong đạo Phật và triết học Phật giáo, chữ Pháp gồm có bốn nghĩa—According to the Madhyamakas, Dharma is a protean word in Buddhism. In the broadest sense it means an impersonal spiritual energy behind and in everything. There are four important senses in which this word has been used in Buddhist philosophy and religion: a) Pháp có nghĩa là thực tại tối hậu. Nó vừa siêu việt vừa ở bên trong thế giới, và cũng là luật chi phối thế giới: Dharma in the sense of one ultimate Reality. It is both transcendent and immanent to the world, and also the governing law within it. b) Pháp theo ý nghĩa kinh điển, giáo nghĩa, tôn giáo pháp, như Phật Pháp: Dharma in the sense of scripture, doctrine, religion, as the Buddhist Dharma. c) Pháp có nghĩa là sự ngay thẳng, đức hạnh, lòng thành khẩn: Dharma in the sense of righteousness, virtue, and piety. d) Pháp có nghĩa là thành tố của sự sinh tồn. Khi dùng theo nghĩa nầy thì thường được dùng cho số nhiều: Dharma in the sense of 'elements of existence.' In this sense, it is generally used in plural.
; (法) Phạm: Dharma Pàli: Dhamma. Hán âm: Đạt ma, Đà ma, Đàm ma, Đàm vô, Đàm. I. Pháp. Trong kinh điển Phật giáo, danh từ Pháp được sử dụng trong rất nhiều trường hợp và ý nghĩa cũng không đồng nhất. Nói 1 cách tổng quát thì Pháp có 2 định nghĩa là nhậm trì tự tính, quĩ sinh vật giải.1. Nhậm trì tự tính: Tất cả sự vật, hiện tượng luôn giữ gìn bản tính riêng của chúng, không thay đổi. 2. Quĩ sinh vật giải: Tất cả sự vật đều duy trì tự tính riêng biệt của chúng, như những khuôn mẫu khiến người ta dựa vào đó làm căn cứ mà hiểu 1 hiện tượng nhất định. Nói theo nghĩa Nhậm trì tự tính thì Pháp là chỉ cho tất cả cái tồn tại có đầy đủ tự tính, bản chất riêng biệt; nói theo nghĩa Quĩ sinh vật giải thì Pháp chỉ cho những tiêu chuẩn của sự nhận thức, như qui phạm, pháp tắc, đạo lí, giáo lí, giáo thuyết, chân lí, thiện hành v.v... Tóm lại, Pháp chỉ chung cho hết thảy mọi sự vật, mọi hiện tượng–cụ thể hay trừu tượng–có tự tính, bản chất riêng biệt làm căn cứ, khuôn mẫu khiến người ta nhìn vào là có thể nhận thức và lí giải được. [X. kinh Tạp a hàm Q.31; kinh Chư pháp bản trong Trung a hàm Q.28; phẩm Cú nghĩa trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.4; phẩm Sát na trong kinh Đại thừa lăng già Q.5; kinh Đại bảo tích Q.52; luận Đại trí độ Q.48]. II. Pháp. Chỉ cho cảnh sở duyên(đối tượng phân biệt) của thức thứ 6(ý thức), cũng gọi Pháp xứ (Phạm: Dharmàyatana) hoặc Pháp giới (Phạm: Dharma-dhàtu). [X. luận Đại tì bà sa Q.73; luận Câu xá Q.1; phẩm Xứ trong luận Pháp uẩn túc Q.10]. III. Pháp. Tiếng dùng trong Nhân minh. Hàm ý tính chất, thuộc tính. Trong Nhân minh, danh từ sau (hậu trần) của Tông (mệnh đề) gọi là Pháp (thuộc tính); danh từ trước(tiền trần)của Tông gọi là Hữu pháp (có thuộc tính). Như lập Tông: Âm thanh là vô thường, thì vô thường (Pháp) là thuộc tính của âm thanh (Hữu pháp). [X. Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.2, phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.2]. (xt. Tà Chính, Thể).
pháp - luật
Dhamma-vinaya (P)Giáo pháp và Luật nghi. Đức Phật đã đặt tên này cho giáo pháp của Ngài.
pháp a dục
Dharmāśoka (S)Hiệu của vua A dục.
; Dharmasoka (skt)—Pháp danh vua A Dục trong ngày vị vua này qui-y Phật—Name given to Asoka on his conversion. ** For more information, please see A Dục Vương in Vietnamese-English Section and Asoka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
pháp ba la mật
Dịch là phương pháp để đi đến bờ bên kia. Bờ bên kia dụ cho quốc độ tự do tự tại. Pháp Ba La Mật có sáu thứ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ; cũng gọi là Lục độ.
; Một trong bốn vị Bồ Tát Ba La Mật trong Kim Cương Giới—One of the four Paramita Bodhisattvas in the Diamond realm.
pháp ba la mật bồ tát
(法波羅蜜菩薩) Phạm: Dharma-vajrì. Hán âm: Đạt ma phạ nhật li. Hán dịch: Pháp kim cương. Vị Bồ tát an vị ở phía tây đức Đại nhật Như lai, trong nguyệt luân ở chính giữa, thuộc hội Thành thân, trên Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo, là 1 trong 4 bồ tát Ba la mật, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Thanh tịnh kim cương, Liên hoa kim cương. Chủng tử là (hrì#), hình Tam muội da là chày 1 chĩa hoặc hoa sen đỏ. Hình tượng là hình tướng thiên nữ, toàn thân màu da người, mặc áo yết ma, 2 tay kết Di đà định ấn để ở dưới rốn, trên tay ấn dựng 1 cọng hoa sen, trên hoa có hộp đựng kinh tiếng Phạm. Chân ngôn là: Án đạt ma phạ nhật lí ngật lí. Trong các hội Vi tế, Cúng dường, Hàng tam thế yết ma v.v... thì hình Tam muội da, hình tượng, chân ngôn... đều khác nhau. Vị Bồ tát này dùng Nhất thiết pháp trí của tự tính thanh tịnh, quan sát khắp thế giới hữu tình, dứt trừ phiền não tham nhiễm, hiển bày tâm thanh tịnh vô cấu. [X. kinh Đại giáo vương Q.2 (bản 3 quyển); Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2]. (xt. Tứ Ba La Mật Bồ Tát).
pháp báo hóa tam thân
The trikaya (skt)—See Tam Thân Phật.
pháp bình
(法瓶) Chỉ cho chiếc bình dùng để đựng nước thơm trong pháp hội Bố tát. [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].
pháp bình đẳng
Dharmasamatà (S). The sameness ođ truth as taught by all Buddhas.
; Dharmasamata (skt). 1) Sự bình đẳng về chân lý đã được chư Phật dạy, một trong tứ bình đẳng—The sameness of truth as taught by all the Buddhas, one of the fourfold sameness—See Tứ Bình Đẳng (4). 2) Theo Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Đệ Tử, khi Đức Phật bảo Tu Bồ Đề đi đến thăm bệnh ông Duy Ma Cật dùm Ngài. Tu Bồ Đề bèn bạch Phật như sau—According to The Vimalakirti Sutra, Chapter Three, the Disciples, when the Buddha asked Subhuti to go to visit Vimalakirti on his behalf, Subhuti said to the Buddha as follows: • Tu Bồ Đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh đến thăm bệnh ông. Vì sao? Nhớ lại thuở trước, con vào khất thực nơi nhà ông, lúc đó trưởng giả Duy Ma Cật lấy cái bát của con đựng đầy cơm rồi nói với con rằng 'Thưa ngài Tu Bồ Đề! Đối với cơm bình đẳng, thì các Pháp cũng bình đẳng, các Pháp bình đẳng thì cơm cũng bình đẳng, đi khất thực như thế mới nên lãnh món ăn. Như Tu Bồ Đề không trừ dâm nộ si, cũng không chung cùng với nó, không hoại thân mà theo một hình tướng, không dứt si ái sanh ra giải thoát, ở tướng ngũ nghịch mà đặng giải thoát, không mở cũng không buộc, không thấy tứ đế cũng không phải không đắc quả, không phải phàm phu cũng không phải rời phàm phu, không phải Thánh nhơn, không phải không Thánh nhơn, tuy làm nên tất cả các Pháp mà rời tướng các Pháp, thế mới nên lấy món ăn. Như Tu Bồ Đề không thấy Phật, không nghe Pháp, bọn lục sư ngoại đạo kia như Phú Lan Na Ca Diếp, Mạc Dà Lê Câu Xa Lê Tử, San Xà Dạ Tỳ La Chi Tử, A Kỳ Đa Xý Xá Khâm Ba La, Ca La Cưu Đà Ca Chiên Diên, Ni Kiền Đà Nhã Đề Tử là thầy của ngài. Ngài theo bọn kia xuất gia, bọn lục sư kia đọa, ngài cũng đọa theo, mới nên lấy món ăn. Tu Bồ Đề! Nếu ngài vào nơi tà kiến, không đến bờ giác, ở nơi tám nạn, đồng với phiền não, lìa Pháp thanh tịnh, ngài được vô tránh tam muội, tất cả chúng sanh cũng được tam muội ấy, những người thí cho ngài chẳng gọi phước điền, những kẻ cúng dường cho ngài đọa vào ba đường ác, ngài cùng với ma nắm tay nhau làm bạn lữ, ngài cùng với các ma và các trần lao như nhau không khác, đối với tất cả chúng sanh mà có lòng oán hận, khinh báng Phật, chê bai Pháp, không vào số chúng Tăng, hoàn toàn không được diệt độ, nếu ngài được như thế mới nên lấy món ăn—Subhuti said: “World Honoured One, I am not qualified to call on him and enquire after his health. The reason is that once when I went to his house begging for food, he took my bowl and filled it with rice, saying: 'Subhuti, if your mind set on eating is in the same state as when confronting all (other) things, and if this uniformity as regards all things equally applies to (the act of) eating, you can then beg for food and eat it. Subhuti, if without cutting off carnality, anger and stupidity you can keep from these (three) evils: if you do not wait for the death of your body to achieve the oneness of all things; if you do not wipe out stupidity and love in your quest of enlightenment and liberation; if you can look into (the underlying nature of) the five deadly sins to win liberation, with at the same time no idea of either bondage or freedom; if you give rise to neither the four noble truths nor their opposites; if you do not hold both the concept of winning and not winning the holy fruit; if you do not regard yourself as a worldly or unworldly man, as a saint or not as a saint; if you perfect all Dharmas while keeping away from the concept of Dharmas, then can you receive and eat the food. Subhuti, if you neither see the Buddha nor hear the Dharma; if the six heterodox teachers, Purana-kasyapa, Maskari-gosaliputra, Yanjaya-vairatiputra, Ajita-kesakambala, Kakuda-katyayana and Nirgrantha-jnatiputra are regarded impartially as your own teachers and if, when they induce leavers of home into heterodoxy, you also fall with the latter; then you can take away the food and eat it. If you are (unprejudiced about) falling into heresy and regard yourself as not reaching the other shore (of enlightenment); if you (are unprejudiced about) the eight sad conditions and regard yourself as not free from them; if you (are unprejudiced about) defilements and relinquish the concept of pure living; if when you realize samadhi in which there is absence of debate or disputation, all living beings also achieve it; if your donors of food are not regarded (with partiality) as (cultivating) the field of blessedness; if those making offerings to you (are partially looked on as also) falling into the three evil realms of existence; if you (impartially regard demons as your companions without differentiating between them as well as between other forms of defilement; if you are discontented with all living beings, defame the Buddha, break the law (Dharma), do not attain the holy rank, and fail to win liberation; then you can take away the food and eat it. • Bạch Thế Tôn! Lúc đó con nghe những lời ấy rồi mờ mịt không biết là nói gì, cũng không biết lấy lời chi đáp, con liền để bát lại muốn ra khỏi nhà ông. Ông Duy Ma Cật nói 'Thưa ngài Tu Bồ Đề! Ngài lấy bát chớ sợ! Ý ngài nghĩ sao? Như Phật biến ra một ngàn người huyễn hóa và nếu người huyễn hóa đó đem việc nầy hỏi Ngài, chừng ấy Ngài có sợ chăng?' Con đáp: “Không sợ!” Trưởng giả Duy Ma Cật lại nói: “Tất cả các Pháp như tướng huyễn hóa, ngài không nên có tâm sợ sệt. Vì sao? Vì tất cả lời nói năng không lìa tướng huyễn hóa, chí như người trí không chấp vào văn tự, nên không sợ. Vì sao thế? Tánh văn tự vốn ly, không có văn tự đó là giải thoát. Tướng giải thoát đó là các Pháp vậy—“World Honoured One, I was dumbfounded when I heard his words which were beyond my reach and to which I found no answer. Then I left the bowl of rice and intended to leave his house but Vimalakirti said: 'Hey, Subhuti, take the bowl of rice without fear. Are you frightened when the Tathagata makes an illusory man ask you questions? I replied: 'No.' He then continued: 'All things are illusory and you should not fear anything. Why? Because words and speech are illusory. So all wise men do not cling to words and speech, and this is why they fear nothing. Why? Because words and speech have no independent nature of their own, and when they are no more, you are liberated. This liberation will free you from all bondage.'
pháp bích
Similes or illustrations of the dharma.
Pháp bản
法本; C: făběn; J: hōbon; |»Nguồn gốc pháp«. Thuật ngữ Phạn chỉ cho kinh điển. Được gọi là Pháp bản vì pháp siêu việt mọi đức hạnh là nguồn gốc của lời Phật dạy.
pháp bản
Bhùtatathatà (S). The root or essence of all things.
Pháp bản 法本
[ja] ホウボン hōbon ||| "Dharma-source." A term for the Sanskrit sūtra. It is called dharma-source because the transmundane virtuous dharma is the source of the Buddha's verbal teachings. => 'Nguồn pháp'. Thuật ngữ Sanskrit chỉ cho kinh điển. Được gọi là Pháp bản vì pháp siêu việt mọi đức hạnh là nguồn gốc lời dạy của chư Phật.
pháp bảo
Dharma-ratna (S)Trong Tam bảoXem Đàm Vô Đế.
; Dharma-ratna (S). (1) Dharma-treasure; (2) The personal articles of a monk or nun - robe, almsbowl etc.
; Dharmaratna (skt). 1) Kho tàng Phật Pháp hay diệu pháp mà Đức Phật đã thuyết giáo, được trân quý như của báu của người thế tục, ngôi hai trong Tam Bảo—Dharma-treasure—The Law or Buddha-truth, the second personification in the Triratna. 2) Những vật cá nhân của một vị Tăng hay Ni như Y Bát, vân vân: The personal articles of a monk or nun, i.e. robe, almsbowl, etc. ** For more information, please see Tam Bảo.
; (法寶) I. Pháp Bảo. Chỉ cho tất cả giáo pháp do đức Phật nói được ghi chép trong 3 tạng kinh điển, 1 trong Tam bảo. (xt. Tam Bảo). II. Pháp Bảo (?-?). Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, là đệ tử của Đại sư Huyền trang. Năm Vĩnh huy thứ 5 (654) đời vua Cao tông, ngài Huyền trang dịch luận Câu xá, sư soạn sớ 30 quyển để giải thích rõ nghĩa của luận ấy. Sư và sư Phổ quang là 2 môn đệ ưu tú của ngài Huyền trang. Sau, sư và sư Thắng trang đến ở chùa Phúc tiên tại Đông đô và chùa Tây minh tại Tây kinh đảm nhiệm chức chứng nghĩa trong trường dịch kinh của ngài Nghĩa tịnh. Sư có các tác phẩm: Luận Nhất thừa Phật tính 6 quyển, Đại bát niết bàn kinh sớ 2 quyển (hoặc 1 quyển), Thích thiền thứ đệ pháp môn, Hội không hữu luận, Câu xá luận bảo sớ 30 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Lục học tăng truyện Q.23; Khai nguyên thích giáo lục Q.9].
pháp bảo tạng
Xem pháp tạng.
; Nơi tồn trữ kinh điển Phật Pháp—The storehouse of all law and truth, i.e. the sutras.
Pháp bảo đàn kinh
法寶壇經; C: fǎbǎo tánjīng; J: hōbōdan-gyō; trọn tên là Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh; |Một quyển sách căn bản của Thiền tông, nói về cuộc đời và pháp ngữ của Lục tổ Huệ Năng, được môn đệ của Tổ là Thiền sư Pháp Hải ghi chép lại. Ðây là quyển sách duy nhất trong các tác phẩm Phật giáo được hoàn thành tại Trung Quốc được gọi là »Kinh« (經), mặc dù danh từ này chỉ được sử dụng cho những bài thuyết pháp của đức Phật.
pháp bảo đàn kinh
Fa-pao-t'an ching (C), Hobodan-gyo (J), Sutra of the High Seat of the Dharma Treasure Fabaotanjing (C), Hobodan-gyo (J)Kinh điển ghi tiểu sử, lời giảng và những câu nói cũa ngài Huệ Năng Tên một bộ kinh.
; The sùtra of the Platform, of the Sixth Patriarch.
; The Platform Sutra—See Kinh Pháp Bảo Đàn.
pháp bị
(法被) Chỉ cho bức màn treo ở phía trước điện Phật. Ngoài ra, tấm vải dùng để phủ bàn ghế trong nhà Thiền cũng gọi là Pháp bị. [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].
pháp bố thí
The almsgiving of the Buddha-truth—See Pháp Thí and Tam Bố Thí.
Pháp bổn
xem Tu-đa-la.
pháp bổn
Bhutatatthata (skt)—Chân như hay tinh yếu của vạn pháp—The root or essence of al things.
Pháp chiến
法戰; J: hossen;|Chỉ các cuộc tranh luận quyết liệt về Phật Pháp. Ðó là phương pháp đặc trưng của Thiền tông, trong đó thiền giả dùng mọi cách không khoan nhượng để bày tỏ sự thật. Pháp chiến gồm có đấu khẩu, Vấn đáp, cử động, ra dấu… giữa các Thiền sư. Trong rất nhiều Công án, người ta kể lại các cử chỉ quái dị hoặc các câu trả lời lạ lùng của các Thiền sư. Người ta hay nhắc đến Phất tử, tiếng hét (Hát), cây gậy và những hành động bất ngờ của các vị Thiền sư.|Danh từ »pháp chiến« có thể gây hiểu lầm, thật ra đây không phải là ai tìm cách thuyết phục hoặc đánh bại ai. Trong các trận chiến này, mỗi thiền giả bày tỏ kinh nghiệm giác ngộ của mình và tìm nơi người đối thoại một kinh nghiệm sâu xa hơn, hầu như không có cảm giác ta-người thông thường.
pháp chiến
Hossen (J), Dharma dueling.
; (法戰) Trong Thiền lâm, các Thiền sư thường dùng những câu hỏi, đáp rất sắc bén về pháp nghĩa để xét nghiệm lẫn nhau, giống như thế gian tranh chiến với nhau, nên gọi là Pháp chiến. Ngoài ra, khi bắt đầu kết chế(hạ an cư), 5 vị Trụ trì, Thủ tọa, Thư kí, Phó tự và Tri khách, mỗi vị đều nêu ra 1 công án, giao cho chúng tăng thảo luận, cũng gọi là Pháp chiến hoặc Pháp vấn.Trong Thiền lâm, Pháp chiến và Vấn đáp rất khó phân biệt. Nhưng nói 1 cách đại thể thì Pháp chiến phần nhiều do 2 vị Thiền sư đã ngộ đạo dùng cơ phong hỏi, đáp thiết tha để chứng nghiệm cho nhau; còn Vấn đáp là phương pháp trọng yếu của bậc thầy sử dụng để dẫn dắt người học.[X. điều Niên phần hành sự trong Hành trì quĩ phạm Q.1]. (xt. Vấn Đáp).
Pháp Chiếu
(法照, Hosshō, ?-?): vị tăng của Tịnh Độ Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, còn gọi là Ngũ Hội Pháp Sư (五會法師), không rõ xuất thân ở đâu. Trong khoảng thời gian niên hiệu Vĩnh Thái (永泰) đời vua Đại Tông, ông thường ngao du Đông Ngô, nhân mến mộ di phong của Huệ Viễn (慧遠) mà vào Lô Sơn (廬山), tu pháp môn Niệm Phật Tam Muội. Có hôm nọ trong lúc đang nhập định, ông được Phật khai thị cho, bèn đến Nam Nhạc (南嶽) hầu hạ Thừa Viễn (承遠). Vào năm đầu (766) niên hiệu Đại Lịch (大曆), ông đến Di Đà Đài phát nguyện mỗi mùa hạ chuyên tu Ban Chu Tam Muội, và cùng năm đó thọ pháp tụng kinh Ngũ Hội Niệm Phật (五會念佛). Trong suốt 2 năm dừng chân trú tại Vân Phong Tự (雲峯寺) ở Hành Châu (衡州), ông chuyên tâm tu niệm không hề giải đãi. Có hôm nọ bỗng trong bát cháo hiện ra đám mây lành năm sắc màu và trong đám mây có Đại Thánh Trúc Lâm Tự (大聖竹林寺). Hôm khác ông lại thấy trong bát hiện ra các chùa ở Ngũ Đài Sơn (五臺山) và các tướng lành cõi Tịnh Độ. Vào mùa hạ năm thứ tư cùng niên hiệu trên, ông đến Hồ Đông Tự (湖東寺, có thuyết cho là Tương Đông Tự [湘東寺]) và tu pháp Ngũ Hội Niệm Phật trên đài cao của chùa. Ông lại cảm ứng thấy được Phật A Di Đà, Văn Thù, Phổ Hiền và các thánh chúng. Đến tháng 4 năm sau, ông đến Phật Quang Tự (佛光寺) ở Ngũ Đài Sơn, chợt có 2 đồng tử dẫn đường, lại thấy cảnh vật y như đã từng thấy trong bát cháo và hai Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền cùng thọ pháp môn niệm Phật, cho nên ông dựng bia nơi chốn ấy ghi lại sự việc trên để cho người thấy nghe mà phát bồ đề tâm, được lợi lạc. Ông là người sáng lập ra Ngũ Hội Niệm Phật và trong khoảng thời gian qua lại Ngũ Đài Sơn, Trường An, ông đã tận lực tập trung vào sự nghiệp hoằng pháp. Từ trong cung nội ra ngoài xã hội bình thường, ông đều truyền bá rộng khắp pháp môn niệm Phật. Sau khi thị tịch, ông được ban cho thụy hiệu là Đại Ngộ Hòa Thượng (大悟和尚). Có người cho rằng ông là hậu thân của Thiện Đạo (善導), được tôn sùng là vị tổ thứ 4 của Liên Tông. Trước tác của ông có Ngũ Hội Niệm Phật Tụng Kinh Quán Hành Nghi (五會念佛誦經觀行儀) 3 quyển, Tịnh Độ Ngũ Hội Niệm Phật Lược Pháp Sự Nghi Tán (淨土五會念佛略法事儀讚) 1 quyển.
pháp chiếu
Sự chiếu sáng của Phật pháp—Dharma-shinning.
; (法照) Cũng gọi Ngũ hội pháp sư. Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Tịnh độ, sống vào đời Đường. Trong năm Vĩnh thái đời vua Đại tông nhà Đường, sư từng đến Đông Ngô, vì mến mộ phong cách thanh cao của ngài Tuệ viễn nên sư vào Lô sơn tu Tam muội niệm Phật. Trong lúc thiền định, sư được Phật khai thị, sư bèn đến Nam nhạc thờ ngài Thừa viễn làm thầy. Niên hiệu Đại lịch năm đầu (766), sư đến Di đà đài phát nguyện mỗi năm 3 tháng hạ siêng tu pháp môn Tam muội Bát chu, cùng năm ấy sư còn thụ pháp Ngũ hội niệm Phật tụng kinh. Năm Đại lịch thứ 2 (767), sư ở tại chùa Vân phong thuộc Hành châu, siêng năng tu tập. Một hôm, trong bát cháo bỗng hiện rõ đám mây lành 5 sắc, trong mây hiện ra chùa Đại thánh trúc lâm. Một ngày khác, trong bát cháo lại cảm được tướng thù thắng của Tịnh độ và các chùa trên núi Ngũ đài. Mùa hạ năm Đại lịch thứ 4 (769), sư vào chùa Hồ đông(có chỗ gọi chùa Tương đông), tu Ngũ hội niệm Phật ở trên lầu cao trong chùa, lại cảm được đức Phật A di đà và chúng thánh Văn thù, Phổ hiền... Tháng 4 năm Đại lịch thứ 5 (770), sư đến chùa Phật quang trên núi Ngũ đài, bỗng có 2 đồng tử dẫn đi đến chỗ cảnh vật đã thấy hiện trong bát cháo trước kia, 2 vị bồ tát Văn thù, Phổ hiền đều trao pháp môn niệm Phật cốt yếu cho sư, sư liền dựng bia tại chỗ đó để ghi lại việc này, khiến những người nghe biết đều phát tâm bồ đề.Sư sáng lập Ngũ hội niệm Phật, dốc sức vào sự nghiệp hoằng pháp, nhờ đó, từ trong cung đình đến ngoài xã hội đều thực hành pháp môn niệm Phật. Sau khi sư tịch, vua ban thụy hiệu cho sư là Đại Ngộ Hòa Thượng. Có thuyết cho rằng sư là hậu thân của ngài Thiện đạo và tôn sư làm Tổ thứ 4 của Liên tông.Sư để lại các tác phẩm: Tịnh độ ngũ hội niệm Phật tụng kinh quán hành nghi, 3 quyển, Tịnh độ ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán, 1 quyển. [X. truyện Pháp chiếu trong Tống cao tăng truyện Q.21; truyện Trí quân trong Tống cao tăng truyện Q.27; Tịnh độ vãng sinh truyện Q.hạ; Tân tu vãng sinh truyện Q.hạ; Tân biên cổ kim vãng sinh Tịnh độ bảo châu tập Q.1; Lạc bang văn loại Q.3].
pháp chiếu đại sư
Tên của vị Tổ thứ tư của Liên Tông, vào đời nhà Đường, khoảng năm 767 sau Tây Lịch. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Quê ngài ở Lô Sơn, một hôm nhập định, thần thức dạo chơi nơi miền Cực Lạc, lễ cẩn Đức Phật A Di Đà, thì thấy đứng kề bên Đức Phật có một vị Tăng mặc áo rách nát đứng hầu. Đức Phật A Di Đà chỉ vị Tăng ấy mà bảo rằng: “Ngươi có biết chăng, người nầy là Sa Môn Thừa Viễn ở Hoành Sơn đấy!” Sau khi xuất định Pháp Chiếu liền đến Hoành Sơn để tìm, lúc gặp Thừa Viễn, nhìn kỹ thì quả đúng là vị Tăng mà ngài đã thấy, liền cúi lạy xin theo làm đệ tử. Chưa ai rõ ngài Pháp Chiếu là người bậc như thế nào. Trong năm Đại Lịch thứ hai đời nhà Đường, hàng đạo tục mới được biết đến ngài khi ngài ở chùa Vân Phong tại đất Hoành Châu, ngày đêm chuyên cần tu tập. Tương truyền vào một buổi sáng, vào lúc thanh trai nơi Tăng đường, ngài thấy trong bát cháo hiện ra bóng mây ngũ sắc, trong mây ấy hiện rõ một cảnh sơn tự, phía đông bắc của sơn tự ấy có một dãy núi, dưới chân núi có khe suối, phía bắc khe suối ấy có một cửa ngõ bằng đá, trong cửa ngõ ấy lại có một ngôi chùa to, biển treo trước chùa đề tên “Đại Thánh Trúc Lâm Tự.” Mấy hôm sau, ngài lại thấy nơi bát cháo hiện ra cảnh chùa lớn ấy. Trong chùa gồm có vườn cây, ao nước, lâu đài tráng lệ nguy nga. Chùa lại có một vạn vị Bồ Tát đang ở trong đó. Thấy thế, ngài bèn đem cảnh tượng ấy hỏi nơi các bậc tri thức. Có một vị cao Tăng bảo rằng: “Sự biến hiện của chư Thánh khó có thể nghĩ bàn, nhưng nếu luận riêng về địa thế, non sông, thì đây đích thực là cảnh Ngũ Đài Sơn vậy.” Sau khi nghe lời ấy, ngài có ý muốn đến viếng cảnh Ngũ Đài để thử xem sự thật như thế nào? Hai năm sau, đại sư mở “Đạo Tràng Niệm Phật” tại chùa Hồ Đông. Ngày khai mở hội cảm được mây ngũ sắc giăng che trên chốn đạo tràng, trong mây hiện ra cung điện, lầu các, Phật A Di Đà cùng hai vị Quán Âm, Thế Chí hiện thân vàng sáng chói khắp cả hư không. Tại thành Hoành Châu, bá tánh trông thấy, thảy đều đặt bàn hương án, đốt nhang đảnh lễ. Do điềm lành nầy mà có vô số người phát tâm tinh tấn niệm Phật. Đạo tràng khai mở liên tiếp được năm hội. Một hôm, đại sư gặp một cụ già đến bảo rằng: “Ông đã từng có ý niệm muốn đến Kim Sắc Thế Giới tại Ngũ Đài Sơn để đảnh lễ Đức Bồ Tát Văn Thù, vì sao đến nay mà vẫn chưa chịu thực hành ý nguyện?” Nói xong liền biến mất. Biết là thần nhân nhắc nhở nên ngài sửa soạn hành trang, cùng thêm với mấy pháp hữu nữa, đồng nhau đến viếng cảnh núi Đài Sơn. Năm Đại Lịch thứ năm, vào ngày mồng 6 tháng 4, đại sư cùng đồng bạn mới đến được chùa Phật Quang ở huyện Ngũ Đài. Đêm ấy vào khoảng canh tư, ngài thấy có ánh sáng lạ từ xa chiếu đến thân mình, ngài liền nhắm chừng theo tia sáng ấy mà theo dõi. Đi được 50 dặm thì đến một dãy núi, dưới chân núi có khe suối, phía bắc khe suối có cửa bằng đá, nơi cửa có hai vị đồng tử đứng đón chờ, một vị xưng là Nan Đà, một vị tự xưng là Thiện Tài. Ngài theo chân hai vị đồng tử dẫn đường đến một ngôi chùa cực kỳ nguy nga lộng lẫy, có biển đề “Đại Thánh Trúc Lâm Tự.” Nơi đây đất vàng, cây báu, ao sen, lầu các thảy đều kỳ diễm, trang nghiêm. Cảnh giới quả đúng như ảnh tượng mà ngài đã thấy trong bát cháo khi trước. Ngài vào chùa, lên giảng đường, thấy Đức Văn Thù Bồ Tát ở phía bên Tây, Đức Phổ Hiền Bồ Tát ở phía bên Đông. Hai vị đều ngồi trên tòa sư tử báu cao đẹp, đang thuyết pháp cho một vạn vị Bồ Tát ngồi phía dưới lặng lẽ lắng nghe. Đại sư Pháp Chiếu bước đến chí thành đảnh lễ, rồi quỳ xuống thưa rằng: “Kính bạch Đại Thánh, hàng phàm phu đời mạt pháp, cách Phật đã xa, lại thêm bị chướng nghiệp nặng sâu, trí thức kém cõi. Tuy là có Phật tánh mà không biết làm sao hiển lộ, giáo pháp của Phật thì quá rộng rãi mênh mông. Chưa rõ pháp môn nào thiết yếu để tu hành cho mau được giải thoát?” Đức Văn Thù Bồ Tát bảo: “Thời kỳ nầy chính là đúng vào lúc các ngươi nên niệm Phật. Trong tất cả các hành môn thì không chi hơn là niệm Phật và gồm tu phước huệ. Thuở đời quá khứ, ta nhờ quán Phật, niệm Phật, cúng dường Tam Bảo mà chứng được Nhất Thiết Chủng Trí. Tất cả các pháp như Bát Nhã Ba La Mật, những môn Thiền Định rộng sâu, cho đến chư Phật cũng từ nơi niệm Phật mà sanh. Vì thế nên biết Niệm Phật là Vua trong các Pháp Môn.” Ngài Pháp Chiếu lại hỏi rằng: “Kính bạch Đại Thánh, nên niệm như thế nào?” Đức Văn Thù Bồ Tát dạy: “Về phương Tây của thế giới nầy có Phật A Di Đà là giáo chủ cõi nước Cực Lạc, Đức Thế Tôn ấy có nguyện lực lớn không thể nghĩ bàn. Ngươi nên chuyên niệm danh hiệu của ngài nối tiếp nhau không gián đoạn, khi mạng chung quyết định được vãng sanh, chẳng còn bị thối chuyển nữa.” Nói xong hai vị Bồ Tát đồng đưa tay vàng xoa đầu ngài Pháp Chiếu và bảo rằng: “Do nơi ngươi niệm Phật nên không bao lâu nữa sẽ chứng được quả Vô Thượng Bồ Đề. Nếu có thiện nam tín nữ nào muốn được thành Phật, thì không còn chi hơn là niệm Phật. Kẻ ấy nhứt định sẽ mau lên ngôi Chánh Đẳng Chánh Giác.” Được hai vị Đại Thánh thọ ký xong, ngài Pháp Chiếu vui mừng đảnh lễ rồi từ tạ lui ra. Hai đồng tử khi nãy theo sau đưa tiển. Vừa ra khỏi cổng chùa, quay nhìn lại thì cả người và cảnh đều biến mất. Ngài liền dựng đá đánh dấu chỗ ấy rồi trở về chùa Phật Quang. Đến ngày 13 tháng 4, Đại sư Pháp Chiếu cùng hơn 50 vị Tăng nữa đồng đến hang Kim Cang, thành tâm đảnh lễ hồng danh 35 Đức Phật. Vừa lạy được 10 lượt, ngài bỗng thấy hang Kim Cang hiện ra, rộng lớn, thanh tịnh trang nghiêm, hai vị Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền đều đồng ngự ở trong đó. Hôm khác, ngài lại một mình đi riêng đến hang Kim Cang, gieo mình đảnh lễ, nguyện thấy Đại Thánh. Đang khi cúi lạy xuống và vừa ngước lên, đại sư bỗng thấy có một vị Phạm Tăng tự xưng tên là Phật Đà Ba Lỵ. Vị nầy đưa ngài vào trong một đại điện trang nghiêm, biển đề tên “Kim Cang Bát Nhã Tự.” Toàn diện do nhiều thứ báu lạ, đẹp, sắc màu trang nghiêm, ánh sáng lấp lánh chiếu tỏa cùng khắp. Dù đã nhiều lần thấy được các sự linh dị như thế, nhưng đại sư vẫn chưa tường thuật lại với một ai hết cả. Thánh chạp năm ấy, ngài nhập đạo tràng niệm Phật nơi chùa Hoa Nghiêm, định kỳ tuyệt thực, tu hành nguyện được vãng sanh về Cực Lạc Tịnh Độ. Đến đầu hôm của ngày thứ bảy, đang lúc niệm Phật, đại sư bỗng thấy có một vị Phạm Tăng bước vào bảo: “Ông đã từng thấy cảnh giới Ngũ Đài Sơn, sao không truyền thuật lại cho người đời cùng biết?” Nói xong vị ấy liền ẩn mất. Hôm sau, trong lúc niệm Phật vị Tăng ấy lại hiện ra, bảo y như hôm trước. Ngài đáp rằng: “Không phải tôi dám dấu kín Thánh tích, nhưng chỉ sợ nói ra người đời không tin rồi sanh ra sự chê bai mà thôi.” Phạm Tăng bảo: “Chính Đức Đại Thánh Văn Thù hiện tại ở núi nầy mà còn bị người đời hủy báng, thì ông còn lo ngại làm chi. Hãy đem những cảnh giới mà ông đã được thấy truyền thuật lại cho chúng sanh, hầu làm duyên cho các kẻ nghe biết để họ phát khởi tâm Vô Thượng Bồ Đề.” Ngài tuân lời, nhớ kỹ lại những sự việc đã thấy rồi ghi chép ra truyền lại cho mọi người. Năm sau có sư Huệ Tùy ở Giang Đông cùng với chư Tăng chùa Hoa Nghiêm theo đại sư Pháp Chiếu đến hang Kim Cang lễ Phật. Kế đó lại đến chỗ dựng bia đá lúc trước để chiêm ngưỡng Thánh tích. Trong lúc đại chúng còn đang ngậm ngùi ngưỡng vọng, bỗng nghe tiếng hồng chung từ trong vách đá vang ra, giọng chuông thanh thoát ngân nga, nhặt khoan rành rẽ. Ai nấy thảy đều kinh lạ, đồng công nhận những lời của Pháp Chiếu đại sư tường thuật là đúng sự thật. Vì muốn cho mọi người viếng cảnh đều được phát khởi đạo tâm, nên Tăng chúng nhân cơ duyên ấy, cho khắc lại những sự việc của ngài nghe thấy vào trong vách đá để lưu truyền cho các đời mai hậu. Về sau, ngay ở tại nơi đó, một cảnh chùa trang nghiêm được xây dựng lên, cũng lấy hiệu là “Trúc Lâm Tự” để lưu niệm. Triều vua Đường Đức Tông, đại sư Pháp Chiếu mở đạo tràng niệm Phật tại miền Tinh Châu, cũng liên tiếp được năm hội. Mỗi đêm vua và các người trong hoàng cung đều nghe có tiếng niệm Phật rất thanh thoát từ xa đưa vẳng lại. Sau cho người dò tìm, được biết đó là tiếng niệm Phật ở đạo tràng Tịnh Độ tại Tinh Châu. Vua liền phái sứ giả mang lễ vật đến thỉnh ngài vào triều. Ngài mở đạo tràng niệm Phật tại hoàng cung, cũng gồm đủ năm hội. Vì thế người đương thời gọi ngài là Ngũ Hội Pháp Sư. Từ đó đại sư tinh tấn tu hành, ngày đêm không biếng trễ. Một hôm, ngài thấy vị Phạm Tăng khi trước là Phật Đà Ba Lỵ hiện đến bảo rằng: “Hoa sen công đức của ông nơi ao thất bảo ở cõi Cực Lạc đã được thành tựu. Ba năm sau là đúng thời kỳ hoa nở. Ông nên chuẩn bị” Đến kỳ hạn, đại sư cho gọi Tăng chúng đến căn dặn rằng: “Ta nay về Cực Lạc, mọi người ở lại phải cố gắng tinh tu.” Nói xong, ngài ngồi ngay ngắn, chắp tay lặng yên mà thoát hóa—Name of the fourth patriarch of the Chinese Lotus Sect or Pureland Buddhism, during the T'ang dynasty, around 767 A.D. According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Great Master Fa-Chao, a native of Mount Lu region. One day while entering samadhi, his spirit came to the Ultimate Bliss World. As he prostrated to Amitabha Buddha, he saw a Bhikshu wearing a completely worn out robe attending the Buddha. Amitabha Buddha pointed at that Bhikshu and told Fa-Chao the following: “Do you know him? This good man is Sheng-Yien Bhikshu living in the region of Hung-Shan.” After coming out of the samadhi, Great Master Fa-Chao immediately went to Hung-Shan Mount to seek out the Bhikshu he had seen in his spiritual vision. Upon meeting and observing carefully the Great Venerable Sheng-Yien, he realized the Great Master was the Bhikshu he had seen in the Ultimate World. He immediately prostrated himself to the Great Master and asked to become a disciple. The Great Venerable Master Fa-Chao's true identity remains unclear. In the second year of the Đại Lịch reign period of the T'ang Dynasty, Buddhists began hearing about him. He lived at Wind Cloud Temple at Hoành Châu region, day and night always cultivating and practicing the Way. One morning, during breakfast at the Bhiksu during area, he saw in his bowl of rice soup a cloud of five colors. In this cloud clearly emerged a scene of a mountainous temple; on the Northeast side of the temple was a mountain range. Toward the bottom of the mountain lay a creek and in the North of that creek was a stone door. Inside the small door was another large temple. The sign in front of the temple read: “Great Saints Bamboo Grove Temple.” Several days later, once again, he saw the great temple appearing in his bowl of rice-soup. In this temple were a garden, a pond, large and magnificent castles and palaces, which were occupied by ten thousand Bodhisattvas at that time. After having these visions, the Great Master inquired about them to some of the great knowledgeable advisors. A highly virtuous master told him: “The appearance and transformation of the Enlightened Saints are difficult to imagine, but if we are just referring to the landscape and general region, then what you saw has to be the Wu-Tai-Shan Mountains. Taking the advice he received, the Great Master wanted to visit Wu-Tai-Shan to seek the truth. Two years later, he opened a “Buddha Recitation Congregation” at Hu-Tung Temple in Hung-Chou. His opening of the congregation caused the cloud of five colors to appear and cover the area. Within the cloud appeared many castles and palaces, the Amitabha Buddha as well as Avalokitesvara and Mahasthamaprapta Maha-Bodhisattvas' golden bodies shone and illuminated the entire sky. In the Hung-Chou City, witnessing this miracle, the people made shrines to light incense and prostrated themselves to this sighting. This miraculous appearance remained for several minutes before disappearing. Because of this magnificently virtuous event, countless people developed faith to practice Buddha Recitation diligently. In turn, the Great Master opened five congregations to practice Pureland Recitation. One day, he encountered an elderly woman who told him: “You have had the thought of going to the Golden World at the Wu-Tai-Shan Mountains to pay homage to the Manjusri Maha-Bodhisattva, but up to this time, why have you not carried out your intentions?” After speaking, the elderly woman immediately vanished. Knowing this was a reminder by a guardian angel, or Dharma protector, the Great Master made preparations to travel with several fellow Dharma friends to visit Wu-Tai-Shan Mountain. It was not until June 4th of the fifth year of the Tai-Li reign period before the Great Master and his fellow cultivators reached the Buddha's Light Temple of the Wu-Tai-Shan region. That night, approximately at four in the morning, the Great Master saw a mysterious light from afar shining toward him; he immediately followed the light to investigate. After traveling about fifty miles, he came to a mountain range. At the bottom of the mountain, there was a creek and in the North of the creek was a stone gate, at the gate, there were two young children who awaited his arrival. One of them introduced himself as Nanda and the other as Tien-Tsai. The Grat Master followed the two children to a marvelously enchanting temple; the sign read “Great Saints Bamboo Grove Temple.” In this land, the ground was made of gold. The trees were made of jewels; the lotus pond, palaces, and castles were all extremely beautiful and enchanting. This world was the exact duplicate of the vision he had seen years ago in his rice-soup. As the Great Master entered the temple and came to the large hall where the Dharma was taught, he saw Manjusri Maha-Bodhisattva in the West (represents Wisdom) and Samantabhadra Maha-Bodhisattva in the East (represents wholesome conducts). Both Maha-Bodhisattvas were sitting on beautiful precious thrones high above, preaching the Dharma to ten thousand Bodhisattvas as they sat silently below to listen. Great Master Fa-Chao stepped forward to prostrate himself sincerely to the Maha-Bodhisattvas. He then knelt down and asked the following: “Dear the Great Saints, all unenlightened beings and I of this Dharma Ending Age have been separated from the Buddha for a long time now, we are bound by heavy and deep-rooted karma as well as lacking wisdom; thus even though having the Buddha Nature within us, we do not know how to reveal it. The Buddha Dharma is too vast and great making it very difficult to be certain which Dharma Door is essential to cultivate to gain enlightenment quickly?” Manjusri Maha-Bodhisattva told him: “This period is truly the proper time for you to practice Buddha Recitation . In all the Ways or Dharma Doors of cultivation, nothing surpasses the practice of Buddha Recitation to accumulate merits and wisdom. In the past, relying on the practice of envisioning Buddha, reciting Buddha, and making offerings to the Triple Jewels, I was able to achieve the Great Perfect Wisdom or Maha-Prajna Wisdom. All the other Dharmas such as Maha-Prajna Paramita, the various deep and vast doors of Zen Meditation, including all the Buddhas themselves originated and came about by reciting Buddha. Therefore, you must know 'Buddha Recitation is the King of all Dharma Doors.'” Great Maste Fa-Chao continued to ask: “Dear the Great saint, how should I recite?” Manjusri Maha-Bodhisattva taught: “To the West of this world, there exists a Buddha named Amitabha who rules over the Ultimate Bliss World. That Lokanatha has an unimaginably great vow power. You should often and diligently recite His Name continuously without interruption; once death arrives, you are guaranteed to gain rebirth and will no longer regress from attaining Buddhahood.” After speaking, the two Maha-Bodhisattvas simultaneously used their golden hands to rub the Great Master Fa-Chao's head, saying: “Through your practice of Buddha Recitation, it will not be much longer before you will attain the Ultimate Enlightenment of Buddhahood. If any good man or faithful woman wishes to become a Buddha, there is nothing that surpasses cultivating Buddha Recitation. Such an individual is guaranteed to achieve the state of 'Ultimate and Perfect Enlightenment of Buddhahood.'” After receiving this prophecy from the two Great Saints, Great Master Fa-Chao felt contented. He then prostrated himself to them and then withdrew slowly from the assembly. The two young people from before followed behind to escort him out. As soon as he stepped outside the temple gate, when he turned around, both people and the landscape had vanished completely. He quickly assembled a rock to make a reference of the area and then returned to the Buddha's Light Temple. On April thirteenth, he and over fifty other Bhiksus came to the “Diamond Cave” to”prostrate sincerely the virtuous names of thirty-five past Buddhas. They had just completed ten prostrations when suddenly they saw the Diamond Cave transformed into its full appearance. The cave was large, tranquil, and enchantingl in it were Manjusri and Samantabhadra Maha-Bodhisattvas. On another occasion, he came to the Diamond Cave alone, prostrated himself to the ground as he prayed to witness the Great Saints. As he lifted his head from the ground after a prostration, he suddenly saw a Brahman Monk who introduced himself as Buddhabhallika. This Buddhist Master escorted the Great Master into a great and anchanting temple; the sign read: “Vajra Prajna Temple.” The inside was formed entirely of various rare, precious gems and jewels. The light reflecting from these priceless treasures reflected on one another and brilliantly radiated throughout. Despite many times witnessing these miraculous and metaphysical worlds, he did not once mention it to anyone. In December of that year, at the Avatamsaka Temple, he retreated and went on a fast for a pre-determined period in order to practice Buddha Recitation vowing to gain rebirth to the Ultimate Bliss Pureland. In the morning of the seventh day, deeply engaged in Buddha Recitation, suddenly he saw a Brahman Monk who said as he came in: “You have seen the greatly enlightened world within Wu-Tai-Shan Mountain, why have you not recounted what you saw so others will also know of it?” After speaking, the Brahman Monk disappeared. The next day, while reciting Buddha's name, the same Saintly Master once again made his appearance saying exactly what he had said previously. Great Master Fa-Chao replied: “It is not that I dare to hide the living areas of the enlightened saints, but I am just afraid if I tell of it, people will not believe but criticize and ridicule me.” The Brahman Monk said: “Even the Great Saint Manjusri currently living in this mountain is often degraded by people, what reason do you have to worry? You should recount the worlds you have witnessed to sentient beings so they will lay a foundation for those who hear and know of these worlds; perhaps it will help them develop their minds to want to attain the Ultimate Enlightenment of Buddhahood.” Great Master Fa-Chao followed these instructions as he tried to remember carefully all the details of what he had seen and then wrote them down to pass out to everyone to read. In the next year, a Buddhist Master named Hui-Tsuy of Jiang-Tung region as well as the Sangha of the Avatamsaka Temple followed Great Master Fa-Chao to the Diamond Cave to prostrate to the Buddha. Thereafter, they came to the rock formation the Great Master had built earlier to admire the sight. They prayed for a miracle, but felt sad because nothing happened. But then suddenly they heard sounds of bells resonating from the mountain walls. The ringing sounds were peaceful, enchanting, and harmonious. Everyone was overwhelmed with joy and all accepted what the Great Master Fa-Chao had said before was true. Because they wanted for everyone who visited this sight to develop a faithful mind, they used this opportunity to inscribe on the mountain wall the events the Great Master had seen and heard to pass down to future generations. Eventually, a beautiful temple was built at this site as a memorial, also using the title “Bamboo Grove Temple.” During the reign of Emperor T'ang-Te-Tsung, Great Master Fa-Chao opened five consecutive Budha Recitation Congregations at the Tinh-Chou region. For this reason, people of the day called him “Five Buddha Recitations Dharma Master.” From then on, the Great Master cultivated with vigor, day and night he was never lazy or late in getting to his practice. Then one day, he once again saw the Brahman Monk, as Buddhabhallika Master appeared to tell him: “Your lotus flower of virtues and merits in the lake of seven jewels of the Ultimate Bliss World is now complete. Three years from now your flower will blossom, prepare yourself." ”When that time arrived, Great Master Fa-Chao gathered his disciples as he advised and instructed them: “I will now go to the Ultimate Bliss World, those remaining behind must be diligent in their cultivation.” After speaking, the great master sat up perfectly, put his palms together, and peacefully entered Nirvana.
pháp chu
(法舟) Thuyền pháp, tức dùng thuyền bè ví dụ Phật pháp có công năng đưa chúng sinh qua biển sinh tử, nên gọi là Pháp chu.
pháp chung cùng
(cộng pháp) và pháp không chung cùng (bất cộng pháp). Pháp chung cùng là chỉ sự chung cùng với hàng Nhị thừa, tức là những pháp mà Bồ Tát và các vị Thanh văn, Duyên giác cùng tu tập. Pháp không chung cùng là những pháp mà chỉ có hàng Bồ Tát tu tập, còn Thanh văn, Duyên giác thì hoàn toàn không có được. Xem Mười tám pháp không chung cùng với hai thừa.
pháp chánh
Xem Trúc Pháp Hộ.
pháp châu
The barque of Buddha-truth.
; Thuyền Phật pháp có thể chở người ta ra khỏi biển sanh tử luân hồi để đến cõi Niết Bàn—The barque of the Buddha-truth which ferries men out from the sea of mortality and reincarnation to nirvana.
pháp chính
Xem Đàm vô đức.
pháp chúng
The Buddhist monkhood; an assembly of monks or nuns.
; Tăng lữ Phật Giáo hay một chúng hội Tăng hoặc Ni—The Buddhist monkhood; an assembly of monks or nuns.
; (法衆) I. Pháp Chúng. Từ ngữ gọi chung 5 chúng xuất gia. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 (Đại 54, 205 thượng) nói: Nếu vì những người tại gia thì chỉ nói sơ lược về 5 giới cấm, còn đối với hàng Pháp chúng thì nói rộng về 7 thiên. II. Pháp Chúng (?-?) Tên vị tăng dịch kinh người nước Cao xương ở thời đại Đông Tấn. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 2, thì vào thời vua An đế (ở ngôi 397-417) nhà Đông Tấn, sư từng dịch kinh Phương đẳng đàn đặc đà la ni 4 quyển.
pháp chúng học
Sekhiya (S)75 điều trong 227 điều của giới bản Tỳ kheo trong Kinh phân biệt (Sutta-Vibhanga).
Pháp chấp
法執; C: făzhí; J: hōshū; |1. »Chấp trước vào (thực tại của) các pháp (s: dharma-grāha)«. Tin rằng dù Ngã (我) là giả hợp của ngũ uẩn, nhưng sự hiện hữu của các pháp (法) lại là một hiện thật có tự tính. Các kinh luận của Du-già hành tông chủ trương rằng hành giả pháp tu Nhị thừa có thể giải trừ chấp trước vào ý niệm về một cái ngã thường hằng và có sẵn, nhưng họ không thể nhận thức được sự chấp trước (một cách vô ý của chính họ) vào sự hiện hữu các pháp (法). Hàng Bồ Tát, nhận thức được thực tế các pháp (法) không có tự tính thường hằng, nên thoát khỏi sở tri chướng (所知障). Còn được gọi là pháp ngã chấp(法我執).|2. Chấp trước vào giáo lí. Bám chắc vào Phật pháp (s: dharma-grāha). Đồng nghĩa với Pháp phọc (法縛).
pháp chấp
Holding to things as realities.
; Tất cả sự vật trong vũ trụ do cảm giác tư duy của bộ óc nhận thức được đều chấp là pháp thật, gọi là pháp chấp.
; Chấp vào ý niệm chư pháp hay hiện tượng là có thật. Đây là một ảo tưởng—Holding (bonding) on the concept that of the reality of dharma, things or phenomena (holding to things as realities or false tenet that things are real). This holding is an illusion.
; (法執) Cũng gọi: Pháp ngã chấp, Pháp ngã kiến. Gọi tắt: Pháp ngã, Giả danh ngã. Đối lại: Ngã chấp. Chấp trước các pháp tồn tại có thực thể cố định bất biến. Còn chấp trước con người có bản chất tồn tại, có thực thể cố định bất biến, thì gọi là Ngã chấp. Hai thứ kiến giải trên đều thuộc mê vọng. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương con người chẳng phải có thực, chỉ có pháp là thực có, đó gọi là Pháp ngã chấp. Còn Đại thừa thì cho rằng các pháp đều do nhân duyên sinh, không thực có tự tính, chủ trương có ngã pháp chỉ là tà chấp, do đó, Đại thừa đề xướng Pháp vô ngã, Pháp không. Luận Thành duy thức quyển 2 chia Pháp chấp làm 2 loại: 1. Câu sinh pháp chấp: Do nhân hư vọng huân tập ở bên trong từ vô thủy đến nay, nên Pháp chấp có cùng 1 lúc với thân (câu sinh), chứ không phải đợi tà giáo và tà phân biệt mới có. Câu sinh ngã chấp lại chia làm 2 thứ là Thường tương tục và Hữu gián đoạn: a) Thường tương tục: Thức Mạt na thứ 7 duyên theo thức A lại da thứ 8 mà khởi tướng tự tâm, rồi chấp là thực pháp. b) Hữu gián đoạn: Thức thứ 6 duyên theo uẩn, xứ, giới do thức biến hiện mà khởi tướng tự tâm, rồi chấp là thực pháp. 2. Phân biệt pháp chấp: Do những duyên hiện tại ở bên ngoài như tà giáo và tà phân biệt mà khởi lên pháp chấp. Phân biệt pháp chấp cũng có 2 thứ: a. Duyên theo tướng của uẩn, xứ, giới do tà giáo nói mà khởi lên tướng của tự tâm, rồi phân biệt, tính toán, so đo mà chấp làm thực pháp. b. Duyên theo tướng của tự tính: Do tà giáo nói mà khởi lên tướng của tự tâm, rồi phân biệt, tính toán, so đo mà chấp làm thực pháp. Trong 2 loại Pháp chấp nói trên, thì Câu sinh pháp chấp đến giai vị Tu đạo mới diệt trừ được; còn Phân biệt pháp chấp thì đến giai vị Kiến đạo mới đoạn trừ được. Ngoài ra, ngài Hộ pháp cho rằng Pháp chấp chỉ có ở 2 thức thứ 6 và thứ 7, nhưng ngài An tuệ thì chủ trương chỉ có thức thứ 7 là không có Pháp chấp, còn 7 thức kia (tức 5 thức trước, thức thứ 6 và thức thứ 8) thì đều có Pháp chấp. [X. luận Đại tì bà sa Q.9; luận Thành duy thức Q.5; luận Nhiếp đại thừa Q.7 (bản dịch đời Lương); luận Du già sư địa Q.74;Thành duy thức luận thuật kí Q.1, 2, phần cuối]. (xt. Nhị Chấp, Ngã Chấp).
Pháp chấp 法執
[ja] ホウシュウ hōshū ||| 'Attachment to (the reality of) elemental constructs (dharma-grāha).' The belief that although the self (我) is an illusory conglomerate of the five skandhas, the compositional elements (法) of existence are inherently real. Yogācāra texts teach that the practitioners of the two vehicles are capable of eliminating attachment to the notion of an inherent, perduring self, but are not aware of their unconscious attachment to the reality of elemental constructs. The bodhisattvas, seeing elemental constructs to be empty of an enduring nature, eliminate the noetic hindrances 所知障. Also expressed as 法我執. (2) 'Attachment to the teachings.' To hold rigidly to the teachings of Buddhism. (dharma-grāha). Same as 法縛. => 1. 'Chấp trước vào (thực tại của) các cấu trúc cơ bản (s: dharma-grāha)'. Tin rằng dù Ngã (self 我) là giả hợp của ngũ uẩn, nhưng sự hiện hữu của các cấu trúc cơ bản (pháp 法) là thực sự không có tự tính. Các kinh luận của Du-già hành tông chủ trương rằng hành giả pháp tu Nhị thừa có thể giải trừ chấp trước vào ý niệm về một cái ngã thường hằng và có sẵn, nhưng họ không thể nhận thức được sự chấp trước vào thực tế các cấu trúc cơ bản (pháp 法). Hàng Bồ-tát, nhận thức được thực tế các cấu trúc cơ bản (pháp 法) là không có tự tính thường hằng, nên thoát khỏi sở tri chướng. Còn được gọi là pháp ngã chấp. 2. Chấp trước vào giáo lý. Bám chắc vào Phật pháp (s: dharma-grāha). Đồng nghĩa với Pháp phược 法縛.
pháp chế
Law.
pháp chỉ
The Buddha's commandement.
pháp chủ
Samgharàja (S). Dharma-lord, Buddha. Chief of the Buddhist clergy in a country.
; Buddha—Dharma-lord.
; (法主) I. Pháp Chủ. Người đứng đầu trong Phật pháp. Vốn là danh từ tôn xưng đức Phật, về sau được chuyển dụng để chỉ cho người đứng đầu trong pháp hội nói pháp. Kinh Đại không trong Trung a hàm quyển 49 (Đại 1, 739 trung) nói: Thế tôn là Pháp bản (gốc của pháp), Thế tôn là Pháp chủ. Pháp là do đức Thế tôn mà có. Tại Nhật bản, thời cận đại, những vị đứng đầu trong các tông phái Phật giáo đều được gọi là Pháp chủ (hoặc Quản trưởng, Môn chủ). [X. kinh Tạp a hàm Q.1; Thắng man bảo quật Q.trung, phần cuối]. II. Pháp Chủ. Một chức Tăng quan ở thời đại Nam Bắc triều, Trung quốc. Chức Pháp chủ ở đây chỉ trông nom công việc của 1 ngôi chùa. Như vua Vũ đế nhà Tống thỉnh sa môn Đạo du vào thuyết pháp trong nội cung, rồi ban sắc cho làm Pháp chủ của chùa Tân an. Đồng thời, ban sắc cho ngài Pháp viện làm Pháp chủ chùa Tương cung. [X. truyện Đạo du trong Lương cao tăng truyện Q.7; truyện Pháp viện trong Lương cao tăng truyện Q.8; Phật tổ thống kỉ Q.36]. III. Pháp Chủ. Chỉ cho người chủ trì trong Pháp hội.
pháp cung dưỡng
(法供養) I. Pháp Cúng Dường. Cũng gọi Pháp cúng. Một trong 3 thứ cúng dường. Đức Phật nói pháp, chúng sinh tùy theo căn cơ nghe rồi tin hiểu, tu hành thực tiễn, nuôi lớn các thiện căn, giữ gìn chính pháp và nói lại cho mọi người nghe, gọi là Pháp cúng dường. Phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm quyển 40 (Đại 10, 845 thượng) nói: Thiện nam tử! Trong các thứ cúng dường, cúng dường pháp là hơn hết. II. Pháp Cúng Dường. Cúng dường pháp là cúng dường Pháp bảo trong Tam bảo, tức là cúng dường giáo lí do đức Phật nói, hoặc cúng dường kinh điển.
pháp cách sùng bái
(法格崇拜) Phạm: Dharma Ràja Pùjà. Chỉ cho 1 dòng Phật giáo ở Ấn độ sùng bái pháp Không của Bát nhã. Vào đầu thời đại Vương triều Ba la (Phạm: Pàla), từ thế kỉ IX đến thế kỉ XII, Phật giáo Ấn độ chia thành 2 dòng Quí tộc và Bình dân. Dòng Quí tộc lấy tư tưởng Bát nhã làm trung tâm, còn dòng Bình dân thì nghiêng về các pháp tu Mật giáo như Kim cương thừa (Phạm: Vajra-yàna), Thời luân thừa (Phạm: Kàlacakra-yàna), Dị hành thừa (Phạm: Sahaja-yàna) Tu nghiệm đạo v.v... Nhưng vua Pháp hộ (Phạm: Dharmapàla, ở ngôi 780-815) thì cực lực bài xích Mật giáo tả đạo và chủ trương hoằng dương tư tưởng Bát nhã, đồng thời, dốc sức vào việc phổ biến hóa Phật giáo. Cứ theo tác phẩm Không phú lan na (Phạm:Zùnya Pràịa) của ngài Ramai cho biết, thì Pháp cách sùng bái phát sinh sau thời vua Pháp hộ vào khoảng thế kỉ X. Nhưng, vào thế kỉ VIII, người Hồi giáo từng xâm lăng Ấn độ, rồi đến đầu thế kỉ XII lại xâm lăng 1 lần nữa, lần này họ tiêu diệt vương triều Ba la, cực lực bài trừ Phật giáo, giết hại tăng ni, phá hoại các chùa viện ở vườn Lộc dã, ở Phật đà già da và Na lan đà. Trong hoàn cảnh bi đát ấy, để bảo tồn tín ngưỡng của mình, những người theo Pháp cách sùng bái phải thay hình đổi dạng thành những tín đồ của tông giáo Kì đặc giống như Ấn độ giáo. Qua những ngôn ngữ đượm sắc thái tư tưởng không của Bát nhã thấy rải rác trong tác phẩm Không phú lan na, mà người ta biết được rằng đây chính là 1 phái Phật giáo, không sai, mặc dầu trong ngôn ngữ chưa biểu hiện rõ họ là những tín đồ Phật giáo.Pháp cách sùng bái hiện nay vẫn còn tồn tại trong hạ tầng xã hội ở vùng tây nam Bengal. Những tín điều của họ được ghi chép bằng tiếng Phạm và tiếng Bengal. Bản tôn mà họ thờ cúng cũng là thần tượng kì lạ, hoặc là phiến đá, hoặc là 1 bình nước đầy, thường được đặt trong chùa, tháp, dưới gốc cây hay ở những chỗ đồng hoang. Khi lễ bái, trước hết, họ tẩy rửa tượng thần sạch sẽ, dâng đèn, hoa, hương, quả... Nghi thức cúng bái này cũng giống với nghi thức của Ấn độ giáo. Điểm về hướng đông. Ngoài ra, Pháp cách sùng bái mỗi năm tổ chức đại lễ 1 lần, họ tấu nhạc và ca múa rất tưng bừng trong suốt 12 ngày. [X. Ghanàrama s Dharma-Maígala; Manikganguli’s Dharma-Maígala; Ramai-Paịđita’s Dharma pùjàvidhàna; Ramacarita by H.P. Zàstrì; History of Bengalì Language and Literature by D.C. Sen].
pháp cái
(法蓋) Cũng gọi Thiên cái. Chỉ cho cái lọng dùng trong các pháp hội. Ở Trung quốc, lọng được làm bằng lụa, ở Nhật bản thì Pháp cái được làm bằng giấy dầu. Trong Thiền lâm, khi vị Tân trụ trì nhập viện, thị giả cầm lọng che trên đầu vị Tân trụ trì trên đường vào viện. Ngoài ra, khi pháp hội được cử hành ngoài trời, Pháp cái được dùng để che đầu của Đạo sư. [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].
pháp công
Signior of the Law, a courtesy title of any monk.
pháp cú
Dharmapada (skt)—See Kinh Pháp Cú.
Pháp cú kinh
法句經; C: făjù jīng; J: hokkukyō; S: dharma-pada; P: dhammapada;|Một phần kinh quan trọng thuộc Tiểu bộ kinh, gồm 423 bài kệ do Phật thuyết giảng. Kinh này được nhiều người hâm mộ, thuyết tụng, nhất là ở những nước theo Nam tông Phật pháp. Tại Tích Lan, tất cả những Tỉ-khâu đều thuộc lòng tất cả 423 bài kệ bằng tiếng Pā-li của kinh này.|Hai bài kệ đầu của kinh này đã gây ấn tượng cho không ít Phật tử:|*Tâm dẫn đầu các pháp,|Tâm là chủ tạo tác.|Nếu nói hay hành động|Với tâm niệm bất tịnh|Khổ não liền theo sau|Như xe theo bò vậy.|*Tâm dẫn đầu các pháp,|Tâm là chủ tạo tác.|Nếu nói hay hành động|Với tâm niệm thanh tịnh|An lạc liền theo sau|Như bóng chẳng rời hình.|(Bản dịch và thi hoá của Tịnh Minh)
pháp cú kinh
Dharmapada (S), Dhammapada (P). Stanzas of the Dharma.
; Dharmapada (skt)—See Kinh Pháp Cú.
; (法句經) Pàli: Dhamma-pada. Cũng gọi Pháp cú tập kinh, Pháp cú tập, Pháp cú lục, Đàm bát kinh, Đàm bát kệ. Kinh, 2 quyển, 39 phẩm, 752 bài tụng (nay có 758 bài tụng), do ngài Pháp cứu, người Ấn độ soạn, ngài Duy kì nan, người nước Ngô dịch vào thời Tam quốc (có thuyết cho rằng do các ngài Chi khiêm và Trúc tướng diệm dịch vào năm 224), được thu vào Đại chính tạng tập 4. Nội dung thu chép những bài kệ do đức Phật nói trong các kinh mà biên tập thành. Nguyên bản của kinh này có nhiều loại: Loại 1.000 bài tụng, 900 bài tụng, 700 bài tụng, 500 bài tụng v.v... Năm Hòa vũ thứ 3 (224) đời vua Tôn quyền nước Ngô, ngài Duy kì nan đem về 26 phẩm, 500 bài tụng, sau lại thêm vào 13 phẩm, thành 39 phẩm, 752 bài tụng. Kinh này hiện còn 4 bản khác là: -Kinh Pháp cú (Pàli: Dhamma-pada). -Phẩm Ưu đà na (Phạm:Udàna-varga, cũng gọi Ô đà nam phẩm). -Ched-du brjod-pa#i tshoms (bản dịch Tây tạng). -Kinh Pháp tập yếu tụng, 4 quyển, do ngài Thiên tức tai dịch vào đời Tống (thuộc hệ tiếng Phạm, được thu vào Đại chính tạng tập 4). Trong các bản trên, bản Pàli gồm 26 phẩm, 423 bài tụng (1 bài trùng lắp), rất giống với bản do ngài Duy kì nan thỉnh về Trung quốc. Về kinh Pháp cú viết bằng tiếng Phạm, theo Câu xá luận quang kí quyển 1, thì Ấn độ lưu hành bản Ưu đà nam do ngài Pháp cứu sưu tập. Năm 1892, ông F.Grenard đã phát hiện 1 phần bản tiếng Phạm ở vùng Hòa điền tại Tân cương viết trên vỏ cây hoa bằng chữ Khư lô sắt tra. Theo sự nghiên cứu của học giả người Pháp là ông É.Senart, thì sách này có thể đã được viết từ thế kỉ II trở về trước, được xem là bản kinh Phật viết tay xưa nhất hiện còn. Về sau, những đoạn kinh Phật bằng tiếng Phạm cũng liên tục được tìm thấy ở các vùng Khố xa, Đôn hoàng... Những đoạn kinh này được ông N.P.Chakravarti biên tập thành sách, đề là L’Udanavarga Sanskrit (Phẩm Ưu đà na tiếng Phạm) ấn hành 21 phẩm trước vào năm 1930. Bản dịch Tây tạng và kinh Pháp tập yếu tụng giống nhau, đều có 33 phẩm. Hai bản này chỉ có hơn 200 bài kệ giống với bảnPàli mà thôi. Ngoài ra, vào thời Tây Tấn, ngài Pháp cự và Pháp lập cùng dịch kinh Pháp cú thí dụ 4 quyển (thuộc hệ Pàli, được thu vào Đại chính tạng tập 4). Kinh này cũng gọi: Pháp dụ kinh, Pháp cú dụ kinh, Pháp cú bản mạt kinh, cũng chia làm 39 phẩm. Tích truyện Thí dụ của mỗi phẩm nêu ra 1 số kệ tụng trong kinh này để giải thích nhân duyên của tích truyện, tất cả có 68 loại thí dụ. Ngài Phật âm (Pàli: Buddha-ghosa) soạn Pháp cú kinh chú (Pàli: Dhammapadaỉỉhakathà) để giải thích nghĩa của 422 bài tụng trong kinh Pháp cú bằng tiếngPàli, đồng thời nói rõ nhân duyên của kinh này, tổng cộng có 299 loại thí dụ. Còn Ưu đà na phẩm chú giải (Tạng: Ched-du-brjod-pa#i tshoms-kyi rnampar#grel-pa) được thu vào A tì đạt ma bộ (Tạng: Míon-pa) trong Đan châu nhĩ (Tạng: Bstan-#gyur) của Đại tạng kinh Tây tạng và bản Hán dịch kinh Xuất diệu 30 quyển (thuộc hệ tiếng Phạm, được thu vào Đại chính tạng tập 4) đều là sách giải thích về nhân duyên thí dụ của phẩm Ưu đà na. Kinh Pháp cú là tác phẩm phản ánh sự thể nghiệm sâu sắc, đầy đủ về đời sống thực tiễn của con người, là cuốn sách nhập môn hay nhất của Phật giáo. Năm 1855, nhà học giả Đan mạch là ông V. Fausbôll đã xuất bản nguyên vănPàli và phụ thêm bản dịch. Đây là lần đầu tiên Phật giáo được giới thiệu với phương Tây, sau đó, được dịch sang các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức. Rồi đến ông W. Rockhill dịch phẩm Ưu đà na tiếng Tây tạng sang tiếng Anh, ông Herman Beckh thì ấn hành nguyên văn Tây tạng, S.Beal dịch kinh Pháp cú thí dụ ra Anh văn. Tại Nhật bản thì năm 1915, phòng Nghiên cứu Triết học Ấn độ thuộc Văn khoa của trường Đại học Đế quốc ở Đông kinh ấn hành kinh Pháp cú đối chiếuPàli-Hán. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; luận Đại tì bà sa Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.7; truyện Duy kì nan trong Lương cao tăng truyện Q.1, Khai nguyên thích giáo lục Q.2; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9, 10; A History ofPàli Literature by B.C. Law; Le Manuscrit kharowỉhì du Dhammapada (Journal asiatique 1898) par E. Senart; Bemerkungen zu dem Kharowỉhì- Manuskript des Dhammapada, par H. Lüders; Zum Manuskript Dutreme de Rhins (Zeitsch. Morgenl. Gesell; LX. 3. 1906) par O.Franke].
pháp cú kinh chú
Dhammapadatthakatha (P).
pháp cú kinh luận
Dharmapadarthakathà (S). The commentary of Dharmapada.
Pháp cú kinh 法句經
[ja] ホックキョウ Hokkukyō ||| Faju jing (1) Dharma-phrase sutra (Skt. Dharmapada, Pali. Dhammapada). 2 fasc., by Dharmatrāta 法救. Translated by Wei-ch'i-nan 維祇難 et.al. A collection of phrases comprising the basic teachings of Buddhist morality. The Chinese version contains 758 verses. T 210.4.559-574. (2) 1 fasc., T 2901.85.1432b-1435c => (c: Faju jing). Có hai bản dịch: (s: Dharmapada, p: Dhammapada; e: Dharma-phrase sutra). 2 quyển, của Pháp Cứu (s: Dharmatrāta 法救); do Duy Kỳ Nan 維祇難 và 1 số vị khác dịch. Là một tập hợp các câu văn chứa đựng giáo lý căn bản của đạo đức Phật giáo. Bản tiếng Hán gồm 758 câu kệ. Bản dịch 1 quyển. Đại Tạng kinh Taishō. Số hiệu T 2901.85.1432b-1435c
pháp cú thí dụ kinh
Dharmapadvadana sŪtra (S)Pháp dụ KinhTên một bộ kinh.
; Dharmapadàvadana-sùtra (S).
; (法句譬喻經) Phạm: Dharmapadàvadàna-sùtra. Cũng gọi Pháp cú bản mạt kinh, Pháp cú dụ kinh, Pháp dụ kinh, Pháp cú thí kinh. Kinh, 4 quyển, do các ngài Pháp cự, Pháp lập cùng dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 4. Kinh này do gom chép khoảng 2 phần 3 số bài kệ của kinh Pháp cú rồi thêm vào những tích truyện thí dụ mà được tạo thành. Nội dung từ phẩm Vô thường đến phẩm Cát tường có tất cả 39 phẩm, mỗi phẩm ghi chép từ 1 đến 5 hoặc 6 truyện Thí dụ, đồng thời, nêu lên 1 số kệ tụng của kinh Pháp cú để giải thích nhân duyên của các truyện Thí dụ ấy. (xt. Pháp Cú Kinh).
pháp cúng dường
Dharmapùjà. Serving the Dharma. Offerings of or to the Dharma.
; Dharmapuja (skt). 1) Pháp cúng dường bằng cách tin pháp, giảng pháp, bảo vệ pháp, tu tập tinh thần và hộ trì Phật giáo—Serving the dharma by believing it, explaining it, obeying it, keeping it, protecting it, cultivating the spiritual nature and assisting the Buddhism. 2) Theo kinh Duy Ma Cật, chương mười ba, phẩm Pháp Cúng Dường, do oai thần của Phật, một vị trời từ trên hư không nói với chúng Bồ Tát: “Nầy thiện nam tử! Pháp cúng dường là hơn hết trong các việc cúng dường.”—According to the Vimalakirti Sutra, chapter thirteen, the Offering of Dharma, under the influence of the Buddha's transcendental power a deva in the sky said to the Bodhisattvas: “Virtuous man, the offering of Dharma surpasses all other forms of offering.” • Nguyệt Cái liền hỏi: “Sao gọi là Pháp cúng dường?”—Lunar Canopy asked: 'What is this offering of Dharma?' • Vị trời đáp: “Ông đến hỏi Đức Dược Vương Như Lai, Ngài sẽ nói rõ thế nào là Pháp cúng dường.”—The deva replied: 'Go to the Tathagata Bhaisajya who will explain it fully.' • Tức thì Nguyệt Cái vương tử đến chỗ Dược Vương Như Lai cúi đầu lễ dưới chân Phật, rồi đứng qua một bên bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Trong việc cúng dường, pháp cúng dường là hơn hết. Thế nào gọi là Pháp cúng dường?”—Thereupon, Lunar Canopy came to the Tathagata Bhaisajya, bowed his head at his feet and stood at his side, asking: 'World Honoured One, (I have heard that) the offering of Dharma surpasses all other forms of offering; what is the offering of Dharma?' • Phật dạy rằng: “Thiện nam tử! Pháp cúng dường là kinh thâm diệu của chư Phật nói ra, tất cả trong đời khó tin khó nhận, nhiệm mầu khó thấy, thanh tịnh không nhiễm, không phải lấy suy nghĩ phân biệt mà biết được. Kinh nầy nhiếp về pháp tạng của Bồ Tát, ấn đà la ni, ấn đó cho đến bất thối chuyển, thành tựu lục độ, khéo phân biệt các nghĩa, thuận pháp Bồ Đề, trên hết các kinh, vào các đại từ bi, lìa các việc ma và các tà kiến, thuận pháp nhân duyên, không ngã, không nhơn, không chúng sanh, không thọ mạng, không vô tướng, vô tác, vô khởi, làm cho chúng sanh ngồi nơi đạo tràng mà chuyển pháp luân, chư Thiên, Long thần, Càn thát bà thảy đều ngợi khen, đưa chúng sanh vào pháp tạng của Phật, nhiếp tất cả trí tuệ của Hiền Thánh, diễn nói cách tu hành của Bồ Tát, nương theo nghĩa thực tướng của các pháp, tuyên bày các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã, tịch diệt, cứu độ chúng sanh hủy phá giới cấm, làm cho tà ma ngoại đạo và người tham lam chấp trước đều sợ sệt, chư Phật, Hiền, Thánh đều ngợi khen, trái cái khổ sanh tử, chỉ cái vui Niết Bàn, chư Phật ba đời ở trong mười phương đều nói ra, nếu người nghe những kinh như thế mà tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, dùng sức phương tiện phân biệt giải nói, chỉ bày rành rẽ cho chúng sanh, giữ gìn chánh pháp, đó gọi là Pháp cúng dường.”—“The Tathagata replied: 'Virtuous one, the offering of Dharma is preached by all Buddhas in profound sutras but it is hard for worldly men to believe and accept it as its meaning is subtle and not easily detected, for it is spotless in its purity and cleanness. It is beyond the reach of thinking and discriminating; it contains the treasury of the Bodhi-sattva's Dharma store and is sealed by the Dharani-symbol; it never backslides for it achieves the six perfections (paramitas), discerns the difference between various meanings, is in line with the bodhi Dharma, is at the top of all sutras, helps people to enter upon great kindness and great compassion, to keep from demons and perverse views, and to conform with the law of causality and the teaching on the unreality of an ego, a man, a living being and life and on voidness, formlessness, non-creating and non-uprising. It enables living beings to sit in a bodhimandala to turn the wheel of the law. It is praised and honoured by heavenly dragons, gandharvas, etc. It can help living beings to reach the Buddha's Dharma store and gather all knowledge (sarvajna realized by) saints and sages, preach the path followed by all Bodhisattvas, rely on the reality underlying all things, proclaim the (doctrine of) impermanence, suffering, voidness and absence of ego and nirvana. It can save all living beings who have broken the precepts and keep in awe all demons, heretics and greedy people. It is praised by the Buddhas, saints and sages for it wipes out suffering from birth and death, proclaims the joy in nirvana as preached by past, future and present Buddhas in the ten directions. “If a listener after hearing about this sutra, believes, understands, receives, upholds, reads and recites it and uses appropriate methods (upaya) to preach it clearly to others, this upholding of the Dharma is called the offering of Dharma. • Lại theo các pháp đúng như lời nói tu hành, tùy thuận 12 nhơn duyên, lìa tà kiến, được vô sanh nhẫn, quyết định không có ngã, không có chúng sanh, mà đối với quả báo nhơn duyên không trái không cãi, lìa các ngã sở, y theo nghĩa không y theo lời, y theo trí không y theo thức, y theo kinh liễu nghĩa không y theo kinh không liễu nghĩa, y theo pháp không y theo người, thuận theo pháp tướng, không chỗ vào, không chỗ về, vô minh diệt hết thời hành cũng diệt hết, cho đến sanh diệt hết thời lão tử cũng diệt hết, quán như thế thì 12 nhơn duyên không có tướng diệt, không có tướng khởi, đó gọi là Pháp cúng dường hơn hết.”—“Further, the practice of all Dharmas as preached, to keep in line with the doctrine of the twelve links in the chain of existence, to wipe out all heterodox views, to achieve the patient endurance of the uncreate (anutpatti-dharma-ksanti) (as beyond creation), to settle once for all the unreality of the ego and the non-existence of living beings, and to forsake all dualities of ego and its objects without deviation from and contradiction to the law of causality and retribution for good and evil; by trusting to the meaning rather than the letter, to wisdom rather than consciousness, to sutras revealing the whole truth rather than those of partial revelation; and to the Dharma instead of the man (i.e. the preacher); to conform with the twelve links in the chain of existence (nidanas) that have neither whence to come nor wither to go, beginning from ignorance (avidya) which is fundamentally non-existent, and conception (samskara) which is also basically unreal, down to birth (jati) which is fundamentally non-existent and old age and death (jaramarana) which are equally unreal. Thus contemplated, the twelve links in the chain of existence are inexhaustible, thereby putting an end to the (wrong) view of annihilation. This is the unsurpassed offering of Dharma.”
pháp cảnh
(法境) Cũng gọi Pháp xứ, Pháp giới. Đối tượng của các giác quan, 1 trong 6 cảnh. Thông thường chỉ cho tất cả pháp, tức toàn thể 6 cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, hoặc đặc biệt chỉ cho đối tượng của ý thức. (xt. Lục Cảnh).
pháp cổ
The drum of the Law.
; Tiếng trống thúc quân được đem ví với tiếng Phật thuyết pháp khuyên răn đại chúng tiến lên làm việc công đức—The drum of the law which stiring all to advance in virtue.
; (法鼓) I. Pháp Cổ. Trống pháp. Ví dụ Phật pháp có năng lực khuyên bảo chúng sinh làm các việc thiện, giống như tiếng trống trong quân ngũ có công năng thôi thúc binh lính tiến lên, cho nên gọi là Pháp cổ. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 3 hạ) nói: Thổi pháp loa lớn, đánh pháp cổ lớn. [X. kinh Đại tập Q.56; kinh Vô lượng thọ Q.thượng]. II. Pháp Cổ. Chỉ cho quả trống lớn được sử dụng trong các chùa viện Thiền tông. Tại Pháp đường đặt 2 trống, trống ở góc đông bắc gọi là Pháp cổ; trống ở góc tây bắc gọi là Trà cổ. Pháp cổ dùng để thông báo cho đại chúng biết trước khi pháp hội được cử hành, hoặc thông báo giờ vị Trụ trì thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, nhập thất v.v... [X. môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên].
pháp cụ
(法具) Cũng gọi Đạo cụ, Phật cụ, Tăng cụ. Chỉ cho những vật dụng cần thiết cho việc tu học Phật đạo, tức như 3 áo, 6 vật của tỉ khưu cho đến kiền chùy, thẻ, tích trượng, bình, tràng hạt, phất trần, quạt v.v... Ngoài ra, Pháp cụ cũng chỉ chung cho những vật được dùng trong các pháp tu của Mật giáo, như lò hương, cây đèn, tràng hạt, tràng hoa, phan, phướn, chuông, khánh v.v... [X. Cổ sự loại uyển tông giáo bộ]. (xt. Pháp Khí).
pháp của phật a di đà
Amitābha-dharma (S).
Pháp Cứu
法救; C: făjiù; J: hokku; S: dharmatrāta.|Phiên âm là Đạt-ma-đa-la (達摩多羅). Sơ Tổ của Nhất thiết hữu bộ Ấn Độ, có lẽ đã sống vào khoảng thế kỉ thứ 2. Sư cho rằng chúng sinh trong 3 cõi đều thật sự hiện hữu và đều khác biệt lẫn nhau.|Có sự lẫn lộn với một vị tên Dharmatrāta khác, sống vào khoảng thế kỉ thứ tư, và cũng thuộc Nhất thiết hữu bộ. Sư được xem là tác giả của Tạp A-tì-đàm tâm luận (雜阿毘曇心論).
pháp cứu
Darmatrata (S)Đạt ma đa laTên một vị sư.
pháp cứu luận sư
Dharmatrāta (S)Một trong tứ Luận sư.
pháp cứu tôn giả
Dharmatata (S). Name. Also Đạt ma đa la.
Pháp Cứu 法救
[ja] ホック Hokku ||| (1) Dharmatrāta. Transliterated as Damoduoluo 達摩多羅. The first patriarch of the Sarvāstivāda school in India, who probably lived around the second century CE. He taught that all things in the three worlds were truly existent and distinct from each other. (2) There is sometimes confusion with another Dharmatrāta, who apparently lived in India around the fourth century AD, also a Sarvāstivādin. He is the putative author of the Zaepitan xinlun 雜阿毘曇心論. => 1. s: Dharmatrāta. Phiên âm là Đạt-ma-đa-la (c: Damoduoluo 達摩多羅). Sơ tổ của Nhất thiết hữu bộ Ấn Độ, có lẽ đã sống vào khoảng thế kỷ thứ 2. Sư cho rằng chúng sinh trong ba cõi đều thực sự hiện hữu và đều khác biệt lẫn nhau. 2. Có sự lẫn lộn với một vị tên Dharmatrāta khác, sống vào khoảng thế kỷ thứ tư, và cũng thuộc Nhất thiết hữu bộ. Sư được xem là tác giả của Tạp A-tỳ-đàm tâm luận (c: Zaepitan xinlun 雜阿毘曇心論).
pháp cự
Đuốc pháp—The torch of Buddhism.
; (法炬) Cao tăng Trung quốc, sống vào cuối đời Tây Tấn. Năm Vĩnh gia thứ 2 (308), khi ngài Trúc pháp hộ dịch kinh Phổ diệu thì sư làm Bút thụ để ghi chép. Ngoài ra, sư còn dịch kinh Lâu thán, kinh Đại phương đẳng Như lai tạng và cùng dịch với sư Pháp lập kinh Pháp cú thí dụ và kinh Phúc điền. Những bộ Kinh lục sau Lịch đại tam bảo kỉ như: Khai nguyên thích giáo lục, Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục... đều cho rằng, sau khi ngài Pháp lập thị tịch, một mình sư dịch hơn 130 bộ kinh điển, nhưng trong Xuất tam tạng kí tập thì không thấy ghi việc này.
Pháp Danh
(法名): tên gọi do người Phật tử thọ trì sau khi quy y Phật Giáo, còn gọi là Pháp Hiệu (法號), Pháp Húy (法諱), Giới Danh (戒名). Đối với tăng lữ, đây là tên gọi do vị thầy ban cho sau khi cử hành lễ xuất gia. Đối với người Phật tử tại gia, đây là tên gọi được ban cho sau khi quy y, thọ giới, hay khi tiến hành tang lễ. Pháp Danh còn là biểu tượng thiêng liêng đánh dấu bước thay đổi cuộc sống tâm linh của người Phật tử khi thật sự bước chân vào Đạo. Đối với thế tục, khi con người mới sinh ra được cha mẹ đặt cho cái tên, đó là Tục Danh (俗名); khi vị ấy chuyển hóa tâm thức, quyết định quy y theo Phật Giáo, có nghĩa là được sanh ra lần thứ hai; tên gọi lúc này là Pháp Danh. Nó thể hiện việc xuất gia hay quy y trở thành đệ tử của đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Śākyamuni, p: Sakyamuni,釋迦牟尼); cho nên đối với người xuất gia, thường có chữ “Thích (釋)” đi theo với Pháp Danh như Thích Từ Thiện (釋慈善), v.v. Về phía Phật tử tại gia, do có khác nhau về giới tính, tuổi tác; vì vậy sau Pháp Danh thường có thêm các danh hiệu khác như Cư Sĩ (居士), Tín Sĩ (信士), Đại Tỷ (大姉), Tín Nữ (信女), Đồng Tử (童子), Đồng Nữ (童女), v.v.; như Thanh Liên Cư Sĩ (青蓮居士), Chân Tâm Tín Nữ (眞心信女), v.v. Đối với truyền thống đang hiện hành của Việt Nam, Pháp Danh có 2 chữ; chư Tăng xuất gia thường có chữ “Thích” trước Pháp Danh, như Thích Huệ Học (釋惠學), v.v.; chư Ni xuất gia thường có chữ “Thích Nữ (釋女)” trước Pháp Danh, như Thích Nữ Huệ Học (釋女惠學), v.v. Cách đặt Pháp Danh được tuân theo thứ tự của các chữ trong các bài kệ do chư vị tổ đức thuộc dòng phái đặt ra. Như Môn Phái Thập Tháp Di Đà ở Bình Định dùng bài kệ của Thiền Sư Vạn Phong Thời Ủy: “Tổ đạo giới định tông, phương quảng chứng viên thông, hành siêu minh thật tế, liễu đạt ngộ chơn không, như nhật quang thường chiếu, phổ châu lợi nhân thiên, tín hương sanh phước tuệ, tương kế chấn từ phong (祖道戒定宗、方廣證圓通、行超明寔際、了達悟眞空、如日光常照、普周利人天、信香生福慧、相繼振慈風).” Trong khi đó, Môn Phái Liễu Quán tại Huế thì đặt Pháp Danh theo bài kệ của Tổ Sư Thật Diệu Liễu Quán (實妙了觀, 1670-1742): “Thật tế đại đạo, tánh hải thanh trừng, tâm nguyên quảng nhuận, đức bổn từ phong, giới định phước tuệ, thể dụng viên thông, vĩnh siêu trí quả, mật khế thành công, truyền trì diệu lý, diễn sướng chánh tông, hành giải tương ưng, đạt ngộ chơn không (實際大道、性海清澄、心源廣潤、德本慈風、戒定福慧、體用圓通、永超智果、密契成功、傳持妙里、演暢正宗、行解相應、達悟眞空).” Môn Phái Quốc Ân có bài kệ của Tổ Đạo Mân rằng: “Đạo bổn nguyên thành Phật tổ tiên, minh như hồng nhật lệ trung thiên, linh nguyên quảng nhuận từ phong phổ, chiếu thế chơn đăng vạn cổ huyền (道本原成佛祖先、明如紅日麗中天、靈源廣潤慈風溥、照世眞燈萬古懸).” Tại Quảng Nam, Dòng Chúc Thánh thì dùng bài kệ truyền thừa pháp phái của Tổ Minh Hải Pháp Bảo: “Minh thật pháp toàn chương, ấn chơn như thị đồng, chúc thánh thọ thiên cữu, kỳ quốc tộ địa trường, đắc chánh luật vi tuyên, tổ đạo hành giải thông, giác hoa Bồ Ðề thọ, sung mãn nhân thiên trung (明寔法全章、印眞如是同、祝聖壽天久、祈國祚地長、得正律爲宣、祖道行解通、覺花菩提樹、充滿人天中).” Ngoài ra, còn một số bài kệ khác như bài của ngài Minh Hành Tại Toại ở miền Bắc: “Minh chân như bảo hải, kim tường phổ chiếu thông, chí đạo thành chánh quả, giác ngộ chứng chơn không (明眞如寶海、金祥普照通、至道成正果、覺悟證眞空).” Hay bài kệ của ngài Tri Giáo Nhất Cú: “Tịnh trí viên thông tông từ tánh, khoan giác đạo sanh thị chánh tâm, mật hạnh nhân đức xưng lương tuệ, đăng phổ chiếu hoằng pháp vĩnh trường (淨智圓通宗慈性、寬覺道生是正心、密行仁德稱良慧、燈普照宏法永長)”, v.v. Đặc biệt, việc đặt Pháp Danh ở Nhật Bản có nét đặc trưng hoàn toàn khác với các nước Phật Giáo Đại Thừa. Tùy theo tông phái khác nhau mà Pháp Danh cũng được đặt dưới nhiều hình thức khác nhau, dưới tên gọi là Giới Danh (戒名, kaimyō). Nhìn chung, Giới Danh của Nhật Bản được kết cấu bởi ít nhất 3 yếu tố: Viện Hiệu (院號, ingō) hay Viện Điện Hiệu (院殿號, indonogō), Đạo Hiệu (道號, dōgō) và Vị Hiệu (位號, igō). Viện Hiệu được dùng cho những người trong lúc sanh tiền có cống hiến to lớn đối với tự viện, Phật Giáo, xã hội. Tỷ dụ như lịch đại chư vị Tướng Quân dưới thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi, 1392~1573) và Giang Hộ (江戸, Edo, 1600~1867) đều được đặt cho Viện Hiệu hay Viện Điện Hiệu; như trường hợp Tướng Quân Chức Điền Tín Tú (織田信秀, Oda Nobuhide, 1510-1551) có Giới Danh là Vạn Tùng Tự Đào Nham Đạo Kiến (萬松寺桃巖道見); Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Tình (足利義晴, Ashikaga Yoshiharu, 1511-1550) là Vạn Tùng Viện Hoa Sơn Đạo Chiếu (萬松院曄山道照), hay Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga, 1534-1582) có Giới Danh đặc biệt là Tổng Kiến Viện Điện Tặng Đại Tướng Quốc Nhất Phẩm Thái Nham Tôn Nghi (總見院殿贈大相國一品泰巖尊儀), v.v. Vốn phát xuất từ Trung Quốc, được chư vị Thiền tăng truyền vào Nhật, Đạo Hiệu là một tên khác được đặt trước Pháp Danh; như Nhất Hưu Tông Thuần (一休宗純, Ikkyū Sōjun, 1394-1481) có Đạo Hiệu là Nhất Hưu. Trừ Luật Tông, Tịnh Độ Chơn Tông ra, các tông phái như Chơn Ngôn Tông, Thiên Thai Tông, Tịnh Độ Tông, Lâm Tế Tông, Tào Động Tông, Nhật Liên Tông đều dùng đến Đạo Hiệu này. Vị Hiệu là tên gọi được đặt sau cùng của Giới Danh để phân biệt về giới tính, tuổi tác, v.v. Đối với trường hợp thành nhân (người lớn), một số Vị Hiệu được dùng như Tín Sĩ (信士), Tín Nữ (信女), Thanh Tín Sĩ (清信士), Thanh Tín Nữ (清信女), Cư Sĩ (居士), Đại Tỷ (大姉), Đại Cư Sĩ (大居士), Thanh Đại Tỷ (清大姉), Thiền Định Môn (禪定門, dành cho chư Tăng), Thiền Định Ni (禪定尼, dành cho chư Ni). Đối với trường hợp các em nhỏ thì có Thủy Tử (水子, dùng cho các thai nhi bị lưu sản, sút sảo tảo sa); Anh Nhi (嬰兒) Anh Tử (嬰子), Anh Nữ (嬰女) dùng cho các trẻ nhỏ đang còn bú mẹ; Hài Tử (孩子), Hài Nữ (孩女) dùng cho các em nhỏ khoảng 2-3 tuổi; Đồng Tử (童子), Đồng Nữ (童女) dùng cho các em từ 4-14 tuổi, v.v.
pháp danh
Buddhist name.
; 1) Pháp Danh: Tên trong đạo hay tên mà vị thầy đặt cho—Religious name—Buddha name which named by the master on the ordination. 2) Giới Danh: Từ được dùng bởi Chân Tông—The term chiefly used by the Shin Sect.
; (法名) Cũng gọi Pháp hiệu, Pháp húy, Giới danh. Tên trong Phật pháp. Chư tăng sau khi cử hành nghi thức cạo tóc xuất gia thì được sư phụ đặt cho tên riêng, khác với tên người thế tục (tục danh). Còn người tại gia thì lúc qui y thụ giới hoặc lúc làm lễ chôn cất cũng được chư tăng trao cho Pháp danh. Người được trao cho Pháp danh trong Phật giáo là chứng tỏ rằng người ấy đã là đệ tử xuất gia hoặc tại gia của đức Phật, sống theo nếp sống đạo hạnh, đúng với lời dạy của đức Phật, có như thế mới có lợi ích cho bản thân và làm rạng rỡ cho Phật pháp. [X. Quảng hoằng minh tập Q.27; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.9; Phật tổ lịch đại thông tải Q.10; Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí Q.2; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].
pháp dao
(法瑤) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Lưu Tống, người Hà đông, họ Dương. Thủa nhỏ sư rất ham học, đi muôn dặm tìm thầy, thông suốt các kinh và các sách vở khác. Khoảng năm Cảnh bình (423- 424), đời Lưu Tống, sư đi về Duyện dự ở miền Nam, rồi đến chùa Tiểu sơn tại Ngô hưng trụ trong 19 năm, nếu không vì Phật sự thì không ra khỏi cổng chùa. Mỗi năm, sư mở pháp hội giảng kinh 1 lần, người các nơi về tham học rất đông, sư Đàm bân là bậc học vấn nổi tiếng đương thời cũng theo sư nghiên cứu các kinh Nê hoàn, Thắng man... Năm Đại minh thứ 6 (462), sư vào Kinh đô, dừng nghỉ ở chùa Tân an. Tuy tuổi đã cao, nhưng sư vẫn sống đạm bạc, giới hạnh thanh bạch, chuyên cần thuyết giảng. Sư chủ trương Tiệm ngộ đối kháng với học thuyết đề xướng Đốn ngộ của ngài Trúc đạo sinh đương thời. Sư từng vâng sắc chỉ đến Kinh đô để cùng với sư Đạo du, đệ tử của ngài Đạo sinh, trình bày về nghĩa đốn tiệm.Khoảng năm Nguyên huy, sư thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi. Sư có các tác phẩm: Niết bàn nghĩa sớ, Pháp hoa nghĩa sớ, Đại phẩm bát nhã nghĩa sớ, Thắng man nghĩa sớ.
pháp diên
(法筵) Chỉ cho nơi ngồi thuyết pháp. Kinh Lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 106 trung) nói: Khi ấy, đức Như lai trải tòa ngồi, giảng nói pháp nghĩa sâu xa, đại chúng thanh tịnh trong pháp diên được nghe những điều chưa từng nghe. [X. điều Tôn túc nhập viện trong Thiền viện thanh qui Q.7].
pháp diễn
Fa-yen (C)Tên một vị sư.
; (法演) (?-1104) Thiền sư Trung quốc, thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế, sống vào đời Bắc Tống, người Ba tây, Miên châu (nay là huyện Miên dương, tỉnh Tứ xuyên), họ Đặng. Năm 35 tuổi sư mới xuất gia thụ giới Cụ túc. Sau đó, sư đến Thành đô cầu học, sư học các luận Bách pháp, Duy thức và nghiên cứu nghĩa sâu xa của các bộ luận này. Một hôm, sư sinh ngờ vực đối với giáo môn, muốn thân chứng thể ngộ, nên vượt sông Hoài, sông Chiết xuống miền Nam, tham vấn khắp các bậc tôn túc về mối ngờ của mình, nhưng cuối cùng vẫn không phá vỡ được. Sư lại đến tham yết ngài Viên chiếu Tông bản, hỏi về những cổ tắc công án xưa nay, rồi lại tham vấn ngài Pháp viễn ở núi Phù sơn, sau đó, sư theo Thiền sư Bạch vân Thủ đoan, miệt mài tham cứu, bỗng nhiên triệt ngộ, được ấn khả. Sư vâng lời phân tòa, mở bày cho những người đến học. Mới đầu, sư trụ ở núi Tứ diện, sau dời đến núi Bạch vân. Về già, sư trụ ở núi Thái bình, sau lại dời đến chùa Đông thiền ở núi Ngũ tổ tại Kì châu. Ngày 25 tháng 6 năm Sùng ninh thứ 3 (1104), sư thướng đường từ biệt đồ chúng, cạo tóc, tắm gội sạch sẽ rồi thị tịch, thọ hơn 80 tuổi, người đời gọi sư là Ngũ Tổ Pháp Diễn. Sư có rất nhiều đệ tử nối pháp, nổi tiếng hơn là các vị: Phật nhãn Thanh viễn, Thái bình Tuệ cần và Viên ngộ Khắc cần, được gọi là Pháp Diễn Hạ Tam Phật(3 vị Phật dưới tòa Pháp diễn). [X. Pháp diễn thiền sư ngữ lục tự; Ngũ đăng hội nguyên Q.19; Liên đăng hội yếu Q.16; Thích thị kê cổ lược Q.4; Thiền học tư tưởng sử Q.hạ].
pháp diễn ngũ tổ
Fayen Wutsu (C), Hoyen Goso (J)Tên một vị sư.
pháp diễn thiền sư
Fa-Yan (1024-1104)—Thiền Sư Pháp Diễn ở Ngũ Tổ sanh năm 1024, đệ tử của Thiền Sư Bạch Vân Thủ Đoan. Khởi đầu sư học triết lý Bách Pháp Luận của phái Duy Thức, ông đọc thấy câu nầy 'Khi Bồ Tát vào chỗ thấy đạo thì trí hay ý thức suy luận và lý hay tâm thể trực giác ngầm hợp nhau, cảnh hay ngoại giới và thần hay nội tâm gặp nhau, không còn phân biệt có chủ thể hay năng chứng và khách thể hay sở chứng nữa. Giới ngoại đạo Ấn Độ từng vấn nạn phái Duy Thức rằng đã không phân biệt năng chứng sở chứng thì làm sao có chứng. Các nhà Duy Thức không đáp được lời công kích ấy. Pháp sư Tam Tạng Huyền Trang lúc ấy đang ở Ấn Độ, đến cứu nguy phái Duy Thức bằng câu nói 'Như người uống nước, nóng lạnh tự biết.' Đọc câu ấy Pháp Diễn tự hỏi 'Nóng lạnh có thể biết được, vậy cái gì khiến ta tự biết.' Sư mang nỗi thắc mắc ấy đến hỏi các pháp sư thông thái của phái Duy Thức, nhưng không ai đáp được. Có người đáp: “Ông muốn rõ ý ấy hãy sang phương nam gõ cửa phái Thiền truyền Tâm ấn Phật.” Thế là rốt cùng Pháp Diễn đi đến với Thiền tông—Zen master was born in 1024, was a disciple of Bai-Yun-Shou-T'uan. He first studied the Yogacara school of Buddhist philosophy and came across the following passage, 'When the Bodhisattva enters on the path of knowledge, he finds that the discriminating intellect is identified with Reason, and that the objective world is fused with Intelligence, and there is no distinction to be made between the knowing and the known.' The anti-Yogacarians refuted this statement, saying that if the knowing is not distinguishing from the known, how is knowledge at all possible? The Yogacarians could not answer this criticism, when Hsuan-chang, who was at the time in India, interposed and saved his fellow-monks in the Yogacara. His answer was: “It is like drinking water; one knows by oneself whether it is cold or not.” When Fa-Yan read this answer, he questioned himself 'What is this that makes one know thus by oneself.' This was the way he started on his Zen tour, for his Yogacara friends, being philosophers, could not enlighten him, and he finally came to a Zen master for instruction. • Khi gặp Bạch Vân, Pháp Diễn hỏi Thủ Đoan về câu chuyện của Thiền Sư Nam Tuyền và Châu Ma Ni. Khi vừa dứt câu hỏi thì sư Bạch Vân Thủ Đoan liền nạt, ngang đây sư lãnh ngộ, bèn dâng bài kệ lên thầy “Sơn tiền nhất phiến nhàn điền địa Xoa thủ đinh ninh vân tổ tông Kỷ độ mãi lai hoàn tự mại Vị lân tùng trúc dẫn thanh phong.” (Trước núi một mảnh đất thong dong Tay chấp tận tình hỏi tổ tông Mấy thuở bán ra rồi mua lại Vui thay tùng trúc quyện thanh phong). —Upon meeting Bai-Yun, Fa-Yan inquired to him about a story concerning Nan-Xan and the Mani Jewel. Just when he finished asking this question, Bai-Yun-Shou-T'uan shouted at Fa-Yan, causing him to instantly attain enlightenment. Fa-Yan then thanked Bai-Yun-Shou-T''an by offering the following verse: “Before the mountain quietly lies a patch of farm. Repeatedly, with folded hands before my chest, I asked the elders. How often have you sold it and bought it back by yourself? I like the pines and bamboos that bring forth the cloudless wind. • Theo Pháp Diễn, Thiền là hành chứ không phải là lý luận hay nói. Do đó, ngài ít khi nói về Thiền trong các bài giảng của ngài. Một hôm sau khi nghe Viên Ngộ thuyết về Thiền, Pháp Diễn bèn quở nhẹ đệ tử là Phật Quả Viên Ngộ. Pháp Diễn nói: “Được lắm, nhưng có chút chưa ổn.” Viên Ngộ gạn hỏi hai ba lần về chút ấy là chút gì, rốt cùng Pháp Diễn mới nói: “Ông nói đến Thiền nhiều quá.” Viên Ngộ phản ứng lại: “Sao vậy? Học Thiền thì tự nhiên phải nói Thiền, sư phụ ghét là sao?” Ngũ Tổ Pháp Diễn nói: “Nếu ông nói như một cuộc nói chuyện thường ngày vậy là tốt hơn.” Một vị Tăng có mặt lúc ấy hỏi: “Tại sao Hòa Thượng lại ghét người ta nói đến Thiền chứ?” Pháp Diễn trả lời: “Vì nó làm cho ta bợn dạ.”—According to Fa-Yan, Zen is practical, not reasoning or talking. Thus, in all his preaching, he seldom talked about Zen. One day, after hearing Yuan-Wu, one of his disciples, taught about Zen, he told Yuan Wu: “You are all right, but you have a little fault.” Yuan-Wu asked two or three times what that fault was. The master said: “You have altogether too much of Zen.” Yuan-Wu protested: “If one is studying Zen at all, don't you think it the most natural thing for one to be talking of it? Why do you dislike it?” Fa-Yan replied: “When it is like an ordinary everyday conversation, it is somewhat better.” A monk happened to be there with them, asked: “Why do you specially hate talking about Zen?” Fa-Yan said: “Because it turns one's stomach.” • Ngày 25 tháng 6 năm 1104, sư thượng đường nói lời từ biệt với Tăng chúng: “Hòa Thượng Triệu Châu có lời cuối, các ông có nhớ không? Nói thử xem!” Khi không có ai trả lời, sư bèn nói: “Giàu hiềm ngàn miệng ít Nghèo hận một thân nhiều.” Nói xong sư nhắn mọi người: “Trân trọng!” Tối đêm đó sư thị tịch ---On the twenty-fifth day of the sixth month of 1104, Fa-Yan entered the hal and bade the monks farewell, saying: “Zhao-Chou had some final words. Do you remember them? Let's see if you can recite them!” When no one responded, Fa-Yan then recited Zhao-Chou's words: “Fortune few among the thousand But one has countless pains and sorrows.” Fa-Yan then said: “Take care!” Later that night Fa-Yan died.
pháp diễn thiền sư ngữ lục
(法演禪師語錄) Cũng gọi Ngũ tổ Pháp diễn thiền sư ngữ lục, Ngũ tổ lục. Ngữ lục, 3 quyển, do ngài Pháp diễn (?- 1104) soạn vào đời Bắc Tống, các vị Tài lương... biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này gồm các phần: Sơ trụ tứ diện sơn ngữ lục do ngài Tài lương biên tập, Thứ trụ Thái bình ngữ lục do ngài Thanh viễn biên tập, Thứ trụ Hải hội ngữ lục do ngài Cảnh thuần biên tập, Hoàng mai Đông sơn Diễn hòa thượng ngữ lục do ngài Duy khánh biên tập, kệ tụng, tán...Căn cứ vào bài tựa phụ lục mà biết được bộ Ngữ lục này được biên tập khoảng 10 năm trước khi ngài Pháp diễn thị tịch.
pháp diễn tứ giới
(法演四戒) Chỉ cho 4 đức mục lớn: Thế, Phúc, Qui củ và Hảo ngữ do Thiền sư Ngũ tổ Pháp diễn (?-1104) thuộc tông Lâm tế đề xướng. Đó là: Có thế lực không nên ỷ hết, có phúc không nên hưởng hết, có phép tắc không nên thi hành hết và có lời hay không nên nói hết. [X. Thiền uyển mông cầu Q.hạ].
pháp diệt
The extinction of the Law. or Buddhism.
; Sự tận diệt của Phật pháp, sau thời kỳ thứ ba của ba thời kỳ Chánh Tượng Mạt—The extinction of the Law, or Buddhism, after the third of the three stages. ** For more information, please Chánh Pháp, Tượng Pháp, and Mạt Pháp.
; (法滅) I. Pháp Diệt. Đồng nghĩa: Tam bảo diệt, Kinh đạo diệt tận, Bạch pháp ẩn trệ. Chỉ cho sự diệt vong của Phật pháp. Tức là sau khi đức Như lai nhập diệt, giáo pháp của Ngài tồn tại trải qua 3 thời kì: Chính pháp, Tượng pháp và Mạt pháp, sau đó dần dần diệt hết. (xt. Chính Tượng Mạt). II. Pháp Diệt. Chỉ cho quá trình hoại diệt của các pháp hữu vi. Hữu bộ của Tiểu thừa cho rằng, pháp thể của pháp hữu từ vị lai sinh đến hiện tại, rồi hoại diệt trong khoảng sát na để trở về quá khứ, quá trình pháp thể hoại diệt ấy gọi là Pháp diệt. Khi pháp thể sinh ra liền diệt ngay trong sát na ấy, thì gọi là Sát na diệt. Sát na diệt của pháp chẳng phải do bất cứ nguyên nhân nào, mà do chính bản chất của pháp xưa nay vốn là sát na diệt, đây gọi là Pháp diệt bất đãi nhân(Pháp diệt chẳng đợi nguyên nhân). Chỉ trừ Kinh lượng bộ, còn Tiểu thừa, Đại thừa đều chủ trương thuyết Sát na diệt này.
Pháp Dung
法融; C: fǎróng; J: hōyū; 594-657;|Thiền sư Trung Quốc, người sáng lập thiền phái Ngưu Ðầu. Sư là môn đệ của Tứ tổ Ðạo Tín.|Thuở nhỏ Sư theo học Nho giáo và năm 19 tuổi đã thông kinh sử. Vì không hài lòng với những gì đạt được, Sư chuyển qua tham học Phật pháp và đến núi Ngưu Ðầu ở trong hang đá gần chùa U Thê, ngày đêm tu tập thiền định. Ðạo hạnh của Sư cảm hoá được cả thú rừng nên chúng đem hoa quả đến cúng dường. Tổ Ðạo Tín nhân lúc qua đây xem khí tượng biết trên núi có bậc dị nhân, đích thân lên núi tìm Sư. Sư ngồi thiền không để ý đến ai. Tổ thấy thế bèn hỏi: »Ở đây làm gì?« Sư đáp: »Quán tâm.« Tổ hỏi: »Ai quán, tâm là vật gì?« Sư nghe không đáp được bèn đứng dậy làm lễ, hỏi và biết được Tổ là Thiền sư Ðạo Tín. Sư chỉ Tổ vào hang phía sau tạm nghỉ. Thấy thú dữ lăng xăng, Tổ ra vẻ sợ, Sư hỏi: »Ngài vẫn còn cái đó sao?« Tổ hỏi lại: »Cái đó là cái gì?« Sư không đáp được. Một lát sau, Tổ viết lên bàn toạ của Sư chữ »Phật« (佛). Sư trông thấy giật mình, Tổ hỏi: »Vẫn còn cái đó sao?« Sư nghe không hội bèn làm lễ cầu xin chỉ dạy. Tổ bèn dạy: »Phàm trăm ngàn pháp môn đồng về một tấc vuông. Diệu đức như hà sa thảy ở nơi nguồn tâm. Tất cả môn giới, định, huệ, thần thông biến hoá, cả thảy đều ở tâm ngươi… Không có tam giới có thể ra, không có Bồ-đề có thể cầu… Chỉ tâm ngươi tự tại, chớ khởi tham sân, chớ ôm lòng lo buồn, rỗng rang không ngại, mặc tính tung hoành, chẳng làm việc thiện, chẳng làm việc ác, đi đứng ngồi nằm, mắt thấy gặp duyên thảy đều là diệu dụng của Phật. Vì vui vẻ không lo buồn nên gọi là Phật.« Sư hỏi: »Tâm đã đầy đủ, cái gì là Phật? Cái gì là tâm?« Tổ đáp: »Chẳng phải tâm thì không hỏi Phật, hỏi Phật thì chính là tâm.« Sư hỏi: »Ðã không khởi quán hạnh, khi gặp cảnh khởi tâm làm sao đối trị?« Tổ đáp: »Cảnh duyên không tốt xấu, tốt xấu khởi nơi tâm, nếu tâm chẳng theo danh, vọng tình từ đâu khởi? Vọng tình đã chẳng khởi, chân tâm mặc tình biết khắp. Ngươi chỉ tuỳ tâm tự tại, chẳng cầu đối trị, tức gọi là Pháp thân thường trụ, không đổi thay.« Sư nhân đây đốn ngộ.|Sư trụ trì tại Ngưu Ðầu sơn, học chúng đến rất đông. Sau có vị quan thỉnh Sư đến chùa Kiến Sơ hoằng hoá. Sư nhận lời cầu thỉnh đến chùa Kiến Sơ nhưng chỉ một năm sau (657), ngày 23 tháng giêng, Sư viên tịch tại đây, thọ 64 tuổi, 41 tuổi hạ.
pháp dung
Fa-jung (C), Farong (C), HōyŪ (J)(594-657), còn được gọi là Ngưu đầu, học trò của Đạo Tín.
; (法融) (594-657) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, là Tổ khai sáng tông Ngưu đầu, người Diên lăng, Nhuận châu (nay là huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô), họ Vi. Năm 19 tuổi, sư thông suốt kinh, sử, tình cờ xem kinh Bát nhã, liền qui tín Phật pháp, rồi vào núi Mao sơn lễ Pháp sư Cảnh xin xuất gia. Trong 20 năm, sư chuyên cần tu tập, không hề trễ nải, thâm nhập được pháp môn vi diệu. Năm Trinh quán 17 (643), sư lập riêng 1 Thiền thất ở Nham hạ, phía bắc chùa U thê, núi Ngưu đầu, ẩn tu thiền quán, tăng chúng các nơi đến tham học có hơn trăm người. Tổ Đạo tín nghe tiếng sư, bèn đến trao cho sư pháp môn Đốn giáo do tổ Tăng xán truyền lại. Về sau, sư dùng núi này làm trung tâm của pháp hệ, gọi là tông Ngưu đầu, truyền đến ngài Tuệ trung thì ngưng, được tất cả 6 đời, gọi là Ngưu đầu lục tổ, cực thịnh 1 thời, đến đời Tống về sau thì suy dần. Năm Trinh quán 21 (647), sư giảng kinh Pháp hoa ở Nham hạ, cảm được trời mưa hoa báu. Năm Vĩnh huy thứ 3 (652), Ấp tể thỉnh sư đến chùa Kiếnsơ giảng kinh Đại phẩm bát nhã, mặt đất bỗng nhiên rúng động. Giảng xong, sư trở về núi. Tháng giêng năm Hiển khánh thứ 2 (657), sư thị tịch, thọ 64 tuổi. Đệ tử nối pháp là sư Trí nham. [X. Tục cao tăng truyện Q.26; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.39; Phật tổ lịch đại thông tải Q.12].
pháp dung thiền sư
Zen Master Pháp Dung. 1) Một trong những thiền sư sớm nhất của Trung Quốc, còn được gọi là Ngưu Đầu, lấy tên từ ngọn núi nơi ông sống. Pháp Dung là đệ tử của Tứ Tổ Đạo Tín; tuy nhiên, ông không được kế thừa Pháp. Do đó phái của ông không được thừa nhận—Fa-Yung (594-657), one of the earliest Chinese Zen masters. Fa-Yung is also called Niu-T'ou, named after the mountain on which he lived, founded the Niu-T'ou school. He was a student of T'ao-Hsin, the fourth patriarch of Chinese Ch'an; however, he was not confirmed as a dharma successor. Thus Niu-T'ou school was not among the acknowledged Ch'an schools. • Thời niên thiếu, Pháp Dung là một nhà Khổng học uyên bác, nhưng ông bị Phật giáo lôi cuốn và tập luyện thiền định. Cuối cùng ông lui về ngụ trong động trên núi Ngưu Đầu—In his younger years, he was a Confucian scholar. Nevertheless, he was attracted to Buddhism, and underwent Buddhist meditative training. Eventually he withdrew into a cave on Mount Niu-T'ou. • Theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Đạo Tín linh cảm thấy một vị Thánh có sức mạnh tâm linh đang ngụ trên núi Ngưu Đầu, ngày ngày muôn chim đều mang hoa đến cúng dường, bèn quyết định đến thăm. Sau mấy hôm tìm kiếm, Đạo Tín tìm thấy Pháp Dung đang ngồi thiền định trên một tảng đá. Sau khi tự giới thiệu, Đạo Tín bỗng giựt mình khi nghe tiếng hổ gầm ở sườn núi. “Ta xem người vẫn chưa được giải thoát,” Pháp Dung nói, cố để cho Đạo Tín biết rằng mình vẫn còn những dấu vết ràng buộc với cái tôi. Một lát sau, khi Pháp Dung đứng lên từ chỗ tảng đá, Đạo Tín bèn viết chữ “Phật.” Khi Pháp Dung trở lại chỗ ngồi ấy, ông lùi lại chớ không dám ngồi lên chữ “Phật” nầy. Đạo Tín vừa nói vừa mỉm cười, “Ta xem người vẫn chưa được giải thoát.” Pháp Dung phản ứng một cách bối rối vì vướng phải những quan niệm Phật giáo chính thống. Ngài bèn yêu cầu Đạo Tín chỉ dạy cho mình, và Đạo Tín đã làm điều đó—According to the Ching-Te-Ch'uan-Teng-Lu, T'ao-Hsin sensed that there was a holy man of great power living on Mount Niu-T'ou, and birds brought all kinds of flowers to offer to him, so Tao-Hsin decided to go there to look for him. After searching for a few days, he found Fa-Yung on a cliff absorbed in meditation. Then suddenly T'ao-Hsin seemed to hear the roaring of a tiger reverberating from the cliff face, which startled him. “I see you're not rid of it yet.” Fa-Yung remarked, by which he certainly meant that T'ao-Hsin still showed traces of ego. A moment later, when Fa-Yung got up from his meditation, T'ao-Hsin inscribed the Chinese character for “Buddha” on the spot where he had been sitting. When Fa-Yung came back to take his place again, he in his turn was startled and unwilling to sit down on the sacred name. “I see you're not rid of it yet,” said T'ao-Hsin, smiling. Fa-Yung, who as shown by his reaction was still caught in orthodox Buddhist conceptions and did not understand this comment on the part of the fourth patriarch, asked him to instruct him in its deep meaning, which T'ao Hsin then did. • Người ta nói khi Đạo Tín đi khỏi đó, thì chim không còn mang hoa về cho Pháp Dung nữa, đó là dấu hiệu chứng tỏ ngài đã đạt tới đại giác sâu đến mức không còn để lại một dấu vết nào nữa—It is said that after T'ao-Hsin left Fa-Yung, no more birds brought (offered) flowers to Fa-Yung, a sign that his enlightenment now left no “traces.” • Về sau các môn đồ tụ tập lại quanh Pháp Dung, ông trình bày cho họ nghe về Phật Pháp theo lối hiểu của mình, do đó tạo thành trường phái Ngưu Đầu. Một nhà sư Nhật Bản tên Saichô đã đưa học thuyết nầy về Nhật, nhưng phái Ngưu Đầu không phát triển cả tại Trung Quốc lẫn Nhật Bản. Sau đó vài thế hệ thì tàn lụi—Later, disciples gathered around Fa-Yung and he taught them the Buddha-dharma in his style, thus founded the Niu-T'ou school of Ch'an. The teachings of this school were brought to Japan by the Japanese monk named Saichô. However, these teachings never became of major importance for the development of the Ch'an tradition either in China or Japan and died out after a few generations. 2) Zen Master Pháp Dung (?-1174)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Bối Lý, Bắc Việt. Ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Khánh Hỷ. Sau khi trở thành pháp tử đời thứ 15 của dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, ngài làm du Tăng đi hoằng hóa. Sau đó ngài trụ lại tại chùa Khai Giác trên núi Thứu Phong, rồi dời về núi Ma Ni ở Thanh Hóa khai sơn chùa Hương Nghiêm và trụ tại đây để hoằng pháp cho đến khi ngài thị tịch vào năm 1174—A Vietnamese Zen master from Bối Lý, North Vietnam. He left home and became a disciple of Zen master Khánh Hỷ. After becoming the dharma heir of the fifteenth generation of the Vinitaruci Zen Sect, he became a wandering monk to travel along the country to expand Buddhism. Later he stayed at Khai Giác Temple on Mount Thứu Phong, then moved to Mount Ma Ni in Thanh Hóa to build Hương Nghiêm temple and stayed there to revive and expand Buddhism until he passed away in 1174.
Pháp duyên
法縁; C: făyuàn; J: hōen; |1. Nhân duyên theo cách trình bày trong Phật pháp; 2. Nhân duyên xuất sinh các pháp, như từ bi và trí huệ.
pháp duyên
Dharma-cause.
; 1) Nhân duyên trở thành một Phật tử: To become a Buddhist. 2) Từ Bi Pháp Duyên: Bi mẫn bố thí vì hiểu rõ pháp duyên (nhân tướng và ngã tướng)—Dharma-caused, i.e. the sense of universal altruism giving to pity and mercy.
; (法緣) I. Pháp Duyên. Nhân duyên sinh khởi hết thảy pháp. Kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) quyển 14 (Đại 12, 694 hạ) nói: Không thấy cha mẹ, vợ con, thân thuộc, thấy hết thảy pháp đều từ nhân duyên sinh, đó gọi là Pháp duyên. [X. luận Đại trí độ Q.20]. II. Pháp Duyên. Kết duyên với Phật pháp, như qui y Tam bảo...III. Pháp Duyên. Đồng nghĩa: Pháp quyến. Chỉ cho anh em, con cháu thuộc cùng 1 pháp hệ. (xt. Pháp Quyến).
pháp duyên khởi
Dharmadhatu—Duyên khởi của mọi hiện tượng—Mọi vật đều tùy thuộc vào vật khác, do đó một trong tất cả và tất cả trong một—The environmental cause of all phenomena—Everthing is being dependent on everything else; therefore, one is in all and all is in one.
Pháp duyên 法縁
[ja] ホウエン hōen ||| (1) Causes and conditions that accord with the buddhadharma. (2) Causes and conditions that bring about dharma, such as compassion and wisdom. 〔瑜伽論 T 1579.30.535c15〕 => 1. Nhân duyên tương ứng với Phật pháp. 2. Nhân duyên xuất sinh các pháp, như từ bi và trí huệ.
pháp duyệt
Joy from hearing and meditating on the Law.
; Pháp hỷ hay sự vui mừng khi nghe được pháp hay tự mình tư duy về pháp—Joy from hearing and meditating on the Law.
; (法悅) Đồng nghĩa: Pháp hỉ. Chỉ cho sự vui thích do lắng nghe hoặc tư duy về Phật pháp mà phát sinh. Kinh Quán Vô lượng thọ (Đại 12, 341 thượng) nói: Vì vua ăn miến mật và được nghe pháp, nên nét mặt tươi tắn, vui vẻ.
pháp dĩnh
(法穎) (416-482) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Nam Tề, người Đôn hoàng, họ Sách. Năm 13 tuổi, sư y vào ngài Pháp hương xuất gia ở chùa Công phủ tại Lương châu, gắng sức học luật và các kinh luận. Cuối năm Nguyên gia, sư đến chùa Tân đình ở Kim lăng, vua Hiếu vũ nhà Tống cử sư giữ chức Đô ấp Tăng chính. Sau, sư từ chức rồi về chùa Đa bảo. Sau khi lên ngôi, vua Cao đế nhà Tề lại ban sắc cử sư làm Tăng chủ. Năm 482 sư tịch, hưởng thọ 67 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Thập tụng tỉ khưu ni giới bản, Thập tụng luật yết ma tạp sự. [X. Lương cao tăng truyện Q.11].
pháp dũng
(法勇) Cũng gọi Đàm vô kiệt. Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Lưu Tống, người nước Hoàng long, U châu (nay là huyện Triêu dương, tỉnh Nhiệt hà), họ Lí. Sư xuất gia từ nhỏ, tu hành khổ hạnh, giữ giới, tụng kinh; sư thường nghe việc các ngài Pháp hiển, Bảo vân đi đến nước Phật nên lập thệ nguyện quên mình vì Phật pháp. Khoảng năm Vĩnh sơ (420-422), sư chiêu tập 25 vị đồng chí với mình là các ngài Tăng mãnh, Đàm lãng v.v... sắm các pháp cụ như phan, phướn để cúng dường, rồi phát xuất từ miền Bắc Trung quốc đi về hướng tây. Tại nước Kế tân, sư tìm được kinh Quan thế âm thụ kí bằng tiếng Phạm, sau khi về nước, sư dịch kinh này ở Dương châu. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 10 thì sư đi Tây vực hơn 20 năm. Khoảng cuối năm Nguyên gia (424-453), sư đến Giang tả theo việc dịch kinh. Đồng thời, sư thuật lại các việc ở Tây vực mà soạn thành sách Ngoại quốc truyện 5 quyển. [X. Lương cao tăng truyện Q.3; Pháp uyển châu lâm Q.14, 65; Pháp kinh lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.5].
pháp dược
The medicine of the Law.
; Diệu pháp có thể chữa lành phiền não cho chúng sanh—The medicine of the law (capable of healing all misery).
; (法藥) Thuốc pháp, vì Phật pháp có năng lực cứu chữa các bệnh khổ của chúng sinh nên gọi là Pháp dược. Kinh Quán đính quyển 12 (Đại 21, 532 hạ) nói: Nếu các thế giới trong 10 phương ở đời vị lai, có những người bị các khổ não bức bách mà không ai cứu hộ, thì ta sẽ ban cho pháp dược, khiến các tật bệnh được chữa lành, không còn lo khổ, đến được Phật đạo. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 48, 63 thượng) nói: Phật như thầy thuốc giỏi, pháp như phương thuốc hay (...). Nhưng nếu uống Pháp dược mà không giữ giới cấm, thì cũng chẳng có cách nào chữa khỏi được các bệnh khổ phiền não. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Đại bát niết bàn Q.4 (bản Bắc)].
Pháp dụ
法喩; C: făyú; J: hōyu; |Dùng để so sánh sự giống nhau trong giáo lí, đạo lí được truyền dạy (pháp 法) và ẩn dụ để diễn tả pháp ấy (dụ 喩, s: upamā-upameya).
pháp dụ kinh
Xem Pháp Cú Thí dụ kinh.
Pháp dụ 法喩
[ja] ホウユ hōyu ||| In the usage of comparison and analogy for teaching, the principle being taught 法 and the metaphor used to describe it 喩 (upamā-upameya). 〔大乘掌珍論 T 1578.30.269c03〕 => Dùng để so sánh sự giống nhau trong giáo lý, đạo lý được truyền dạy (pháp 法) và ẩn dụ để diễn tả pháp ấy (dụ ; 喩 s: upamā-upameya).
pháp gia
Buddhism—See Pháp Môn.
Pháp giá
(法駕): tên một loại cỗ xe của thiên tử; tùy theo vị trí cao thấp của thiên tử mà có 3 loại: đại giá (大駕), pháp giá (法駕), tiểu giá (小駕); và cũng khác nhau về nghi thức hộ vệ, v.v. Như trong Sử Ký (史記), chương Lữ Thái Hậu Bổn Kỷ (呂太后本紀) có câu: “Nãi phụng thiên tử pháp giá, nghênh đại vương ư để (乃奉天子法駕、迎代王於邸, bèn vâng xa giá của thiên tử, đón đức vua ở tư gia).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 2, phần Phổ Biến Văn (普變文), cũng có câu: “Nghênh thỉnh thiên hiền vạn thánh, quy y Ngũ Nhãn Lục Thông, vọng pháp giá dĩ quang lâm, nhạ hương xa nhi hạ giáng (迎請千賢萬聖、歸依五眼六通、望法駕以光臨、迓香車而下降, đón thỉnh ngàn hiền vạn thánh, quy y Năm Nhãn Sáu Thông, mong xe pháp hãy quang lâm, rước xe hương mà giáng xuống).” Hoặc như trong Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1245) quyển 2, phần Tuần Liêu (巡寮), lại có câu: “Phục mông Hòa Thượng pháp giá phỏng lâm, hạ tình bất nhậm cảm kích chi chí (伏蒙和尚法駕訪臨、下情不任感激之至, cúi mong Hòa Thượng xe pháp đến thăm, chúng hạ tình thật cảm kích vô tận).”
pháp giáo
The religion of Buddha.
; Buddhism—See Phật Giáo in Vietnamese-English Section and Buddhism in English-Vietnamese Section.
pháp giả
(法假) Nghĩa là các pháp do nhân duyên hòa hợp mà sinh, chỉ có cái tên giả chứ không có thực thể. (xt. Tam Giả Thi Thiết, Giả).
Pháp giới
(s: dharma-dhātu, p: dhamma-dhātu, 法界): chỉ cho sự vật vốn có của đối tượng duyên vào ý thức, là một trong 18 giới. A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 1 cho rằng Ba Uẩn Thọ (s, p: vedanā, 受), Tưởng (s: sañjā, p: saññā, 想), Hành (s: saṁkhāra, p: saṅkhāra, 行) cùng với Vô Biểu Sắc (s: avijñapti-rūpa, 無表色), Vô Vi Pháp (無爲法) được gọi là Pháp Giới; trong 12 Xứ thì gọi là Pháp Xứ (法處). Tuy nhiên trong 18 Giới, ngoài Pháp Giới ra, 17 giới kia được gọi là pháp; nên về nghĩa rộng thì Pháp Giới chỉ cho hết thảy các pháp Hữu Vi và Vô Vi. Về ngữ nghĩa mà nói, giới (界) có nghĩa là “chủng tộc sanh gốc”; tỷ dụ như trong núi tàng chứa các loại khoáng sản như vàng, bạc, v.v.; trong thân con người có đầy đủ các pháp mắt, tai, mũi, v.v., mỗi thứ đều tự tương tục mà sanh khởi. Hay giới còn có nghĩa là “chủng loại khác nhau”; tức là tự tánh của các pháp đều khác nhau. Trong Hoa Nghiêm Tông, Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký (華嚴經探玄記, Taishō Vol. 35, No. 1733) quyển 18 có nêu ra 3 nghĩa của Pháp Giới: (1) Là nhân sanh ra Thánh pháp, (2) Là thể tánh chân thật của các pháp, (3) Các pháp đều giữ sự phân chia đồng nhau, có thể phân biệt tướng trạng. Đồng thời, nương theo hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền mà nhập vào Pháp Giới, có 5 loại là Hữu Vi Pháp Giới (有爲法界), Vô Vi Pháp Giới (無爲法界), Pháp Giới vừa là Hữu Vi vừa là Vô Vi, Pháp Giới chẳng phải là Hữu Vi và cũng chẳng phải Vô Vi, và Vô Chướng Ngại Pháp Giới (無障礙法界, Pháp Giới không chướng ngại); và lập ra 5 loại sai biệt là Pháp Pháp Giới (法法界), Nhân Pháp Giới (人法界), Nhân Pháp Câu Dung Pháp Giới (人法俱融法界, Pháp Giới dung nhiếp của người và pháp), Nhân Pháp Câu Mẫn Pháp Giới (人法俱泯法界, Pháp Giới không có người và pháp), Vô Chướng Ngại Pháp Giới. Nếu quán từ hiện tượng và bản thể, có thể chia ra làm 4 nghĩa: gọi là Tứ Pháp Giới (四法界): (1) Pháp chỉ cho vạn pháp, giới là phân giới; các pháp đều vốn có tự thể mà phân giới bất đồng, bèn cấu thành trăm ngàn sai khác hiện tượng giới; đó gọi là Sự Pháp Giới (事法界). (2) Hiện tượng của các pháp tuy rất nhiều, nhưng thể tánh chân thật của nó thì thường trụ bất biến, bình đẳng nhất như, vượt qua cả ngôn ngữ, văn tự, là cảnh giới của Thánh trí vắng lặng; đó gọi là Lý Pháp Giới (理法界). (3) Hiện tượng giới và bản thế giới có mối quan hệ nhất thể không hai; mỗi một pháp của chúng, tương tức tương nhập, một với nhiều không ngăn ngại, tự nhiên viên dung; đó gọi là Lý Sự Vô Ngại Pháp Giới (理事無礙法界). (4) Hết thảy hiện tượng giới có tác dụng hỗ tương lẫn nhau, một là tất cả, tất cả là một, trùng trùng vô tận, sự sự vô ngại; đó gọi là Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới (事事無礙法界). Ngoài ra, do vì duyên khởi trùng trùng vô tận, nên gọi là Pháp Giới Duyên Khởi (法界緣起). Mật Giáo lấy 6 Đại đất, nước, lửa, gió, không, thức làm thể tánh của Pháp Giới; cho đó là Tam Ma Da Thân (三摩耶身) của Đại Nhật Như Lai (s: Vairocana, 大日如來). Cung điện của Ngài gọi là Pháp Giới Cung (法界宮), định của Ngài là Pháp Giới Định (法界定), ấn quyết là Pháp Giới Định Ấn (法界定印), năng lực gia trì là Pháp Giới Gia Trì (法界加持). Mật Giáo còn thuyết về Ngũ Trí Ngũ Phật (法界體性智), lấy đức Đại Nhật Như Lai biểu thị cho Pháp Giới Thể Tánh Trí (五智五佛). Thiên Thai Tông thì lấy 10 Giới Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, A Tu La, Người, Trời, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật gọi chung là Thập Pháp Giới (十法界). Trong Bồ Tát Anh Lạc Bổn Nghiệp Kinh (菩薩瓔珞本業經, Taishō Vol. 24, No. 1485) quyển Thượng có đoạn rằng: “Ư nhất Pháp Giới trung, hữu Tam Giới báo, nhất thiết hữu vi pháp, nhược phàm nhược thánh, nhược kiến trước, nhược nhân quả pháp, bất xuất Pháp Giới; duy Phật nhất nhân, tại Pháp Giới ngoại (於一法界中、有三界報、一切有爲法、若凡若聖、若見著、若因果法、不出法界、唯佛一人、在法界外, trong một Pháp Giới, có Ba Cõi báo, hết thảy pháp hữu vi, là phàm là thánh, là thấy chấp, là pháp nhân quả, không ra khỏi Pháp Giới; chỉ có một mình Phật, ở ngoài Pháp Giới).” Hay trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 6, Như Lai Hiện Tướng Phẩm (如來現相品) thứ 2, lại có đoạn: “Phật thân sung mãn ư Pháp Giới, phổ hiện nhất thiết chúng sanh tiền, tùy duyên phó cảm mị bất châu, nhi hằng xử thử Bồ Đề tọa (佛身充滿於法界、普現一切眾生前、隨緣赴感靡不周、而恆處此菩提座, thân Phật tròn đầy nơi Pháp Giới, hiện khắp trước mặt các chúng sanh, tùy duyên cảm ứng cùng nơi chốn, vẫn luôn an trụ Bồ Đề tòa).”
; 法界; C: făjiè; J: hokkai; S: dharmadhātu; P: dhammadhātu; nghĩa là »Cảnh giới của các Pháp«;|Pháp (法) xuất phát từ tiếng Phạn với ngữ căn dhr, có nghĩa giữ gìn, duy trì, đặc biệt duy trì hành vi của con người. Giới (界, s: dhātu) xuất phát từ danh từ giống đực với ngữ căn dha trong tiếng Phạn, có nghĩa là »phần tử, yếu tố«, nhưng sau khi thành thuật ngữ Phật học, nó bắt đầu có nghĩa là »tính«. Trong thuật ngữ nầy, Pháp có nghĩa là các cấu trúc cơ bản (chư pháp 諸法) và giới có nghĩa là »đánh dấu phạm vi« của các pháp.|1. Là 1 trong 18 pháp giới (Thập bát giới 十八界), là đối tượng của mạt-na thức. Nơi mà các pháp được nhận biết, do vậy nghĩa nầy tương đương với »pháp xứ« (法處); 2. Phạm vi, ranh giới; 3. Đặc biệt trong giáo lí Đại thừa, pháp giới đề cập đến nền tảng ý thức hoặc nguyên lí – nguồn gốc của các hiện tượng. Trong hình thái giáo lí nầy, khi toàn thể vũ trụ hiển bày như là thế giới hiện tượng thì các hiện tượng ấy được xem như là biểu hiện cuả chân như. Do vậy, Pháp giới nầy, hiện hữu chân thật như chúng đang là, tương đương với Pháp thân (法身) Phật; 4. được xem như là 1 trong 18 giới theo giáo lí của Du-già hành tông, gồm 82 pháp được xếp vào trong các phạm trù: bất khả tư nghì pháp, sắc pháp, tâm pháp, tâm bất tương ưng hành pháp, vô vi pháp; 5. Giáo lí Hoa Nghiêm chủ trương 4 pháp giới: Sự pháp giới, Lí pháp giới, Lí sự vô ngại pháp giới, Sự sự vô ngại pháp giới; 6. Trong luận Đại thừa khởi tín, Pháp giới được đồng nhất với nghĩa Nhất tâm (一心).
pháp giới
Dhamma-dhātu (P), Realm of Dharma, ch ying (T), Chos kyi dbyungs (T), Dharmadhātu (S).
; Dharmadhàtu (S). Dharma-element,-factor, or -realm.
; Tất cả sự vật trong vũ trụ hoặc ẩn hoặc hiển, hoặc có hoặc không, hoặc đã biết hoặc chưa biết, đều gọi là pháp, tổng danh là pháp giới.
; Dharmadhatu or Dharmaksetra (skt)—Đạt Ma Đà Đô—Pháp Tính—Thực Tướng—Dharma realm—Dharma factor—Dharma element—Cosmos—Billion-world universe—Universe. 1) Tên của sự vật khi nói chung cả lý lẫn sự: A name for “things” in general, noumenal or phenomenal; for physical universe, or any portion or phase of it. 2) Chân lý tuyệt đối hay chân như pháp tính là nhân, nương dựa vào đó mà vạn pháp sanh ra. Đây là một trong 18 pháp giới—The unifying underlying spiritual reality regarded as the ground or cause of all things, the absolute from which all proceeds. It is one of the eighteen dhatus. 3) Pháp Giới trong Mật giáo bao gồm Thai Tạng Giới (vật chất) và Kim Cang Giới (bất hoại): In the Tantric school, Dharmadhatu includes Garbhadhatu (material) and Vajradhatu (indestructible). 4) Pháp giới còn có nghĩa là xá lợi Phật: A relic of the Buddha. 5) Trong pháp giới hay thế giới hiện tượng, có ba thế giới là dục, sắc và tâm. Hết thảy các loài tạo vật, cả Thánh lẫn phàm, nhân và quả, đều ở trong pháp giới đó. Chỉ có Phật là ở ngoài pháp giới: In the phenomenal world (dharmadhatu), there are three worlds of desire, form and mind. All created things or beings, both noble and ignoble, both cause and effect, are within the dharmadhatu. The idea in this text is practically identical with the diagram given above. 6) Pháp Giới có đến hai nghĩa—The Realm of Principle (Dharma-dhatu) has a double meaning: a) Vũ trụ hiện thực: The actual universe. b) Thế giới không hạn định hay Niết Bàn. Nó chính là Chân Như của Phật. Niết Bàn tịch diệt vừa có nghĩa là sự diệt vọng của thể xác con người (theo nghĩa tiêu cực), và vừa là sự diệt tận của các điều kiện sinh tử (theo nghĩa tích cực): The indeterminate world or Nirvana. It is identical with the Thusness of the Buddha. Nirvana or flamelessness means, on the one hand, the death of a human body and, on the other hand, the total extinction of life conditions (negatively) or the perfect freedom of will and action (positively). 7) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, pháp giới trong ý nghĩa là cảnh giới của lý tắc và vừa là sự tướng của tất cả sự tướng, đồng nghĩa với Như Lai Tạng và cũng đồng nghĩa với vũ trụ hay thế giới hiện thực, nghĩa là cảnh giới của tất cả sự tướng—According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, Dharmadhatu, in its double meaning as Realm of Principle and Element of all Elements, is a synonym with Matrix of the Thus-come (Tathagata-garbha) and also with the universe or the actual world, i.e., the realm of all elements—See Lý Tắc Duyên Khởi. 8) Theo triết học Trung Quán, Pháp Giới cũng có nghĩa là Chân Như hoặc Thực Tại hay Niết Bàn. Ở đây chữ 'Giới' có nghĩa là bản chất thâm sâu nhất, hay bản chất tối hậu. Pháp Giới và Chân Như đều là siêu việt và nội tồn. Nó là siêu việt như Thực Tại tối hậu, nhưng nó hiện hữu trong mỗi người như là cơ sở và bản chất thâm sâu nhất của họ—According to the Madhyamaka philosophy, the word 'Dharmadhatu' is also called 'Tathata' or Reality, or Nirvana. Here the word 'Dhatu' means the inmost nature, the ultimate essence. Dharmadhatu or Tathata is both transcendent and immanent. It is transcendent as ultimate Reality, but it is present in every one as his inmost ground and essence. ** For more information, please see Ngũ Pháp Giới, Thập Pháp Giới, Thập Bát Giới, and Bốn Cách Nhìn Về Pháp Giới.
; (法界) Phạm: Dharma-dhàtu. Pàli: Dhamma-dhàtu. Hán âm: Đạt ma đà đô. Chỉ cho tất cả đối tượng(cảnh sở duyên) của ý thức, 1 trong 18 giới. Cứ theo luận Câu xá quyển 1 thì 3 uẩn: Thụ, tưởng, hành, cùng với vô biểu sắc và vô vi pháp, gọi là Pháp giới. Trong 12 xứ thì Pháp giới được gọi là Pháp xứ. Còn trong 18 giới thì 17 giới kia cũng được gọi là Pháp. Bởi vậy, theo nghĩa rộng thì Pháp giới là chỉ cho tất cả các pháp hữu vi và vô vi. Theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 thì Pháp giới có 3 nghĩa: 1. Nhân sinh ra các thánh pháp. 2. Thể tính chân thực của các pháp. 3. Các pháp đều có phần hạn của chúng, do đó mà phân biệt được tướng trạng của mỗi pháp. Pháp giới cũng chỉ cho chân như hoặc chỉ cho tất cả các pháp. Theo Phổ hiền hành nguyện thì Pháp giới có 5 môn: Pháp giới hữu vi, pháp giới vô vi, pháp giới vừa hữu vi vừa vô vi, pháp giới chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi và pháp giới vô chướng ngại, do đó mà lập ra 5 lớp Pháp giới khác nhau là: Pháp giới pháp, pháp giới nhân, pháp giới nhân pháp dung hợp, pháp giới nhân pháp đều vắng bặt và pháp giới không chướng ngại. Chủng loại của pháp giới tuy nhiều nhưng tất cả đều qui về Nhất chân pháp giới, đây chính là tâm thanh tịnh nguyên sơ của chư Phật và chúng sinh, cũng gọi là Nhất tâm pháp giới, Nhất chân vô ngại pháp giới. Nếu đứng về phương diện hiện tượng và bản thể mà nhận xét, thì Pháp giới có thể được chia làm 4 nghĩa, gọi là Tứ pháp giới. Đó là: 1. Sự pháp giới: Hiện tượng giới bao gồm muôn pháp thiên sai vạn biệt, mỗi pháp đều có tự thể riêng và phần hạn khác nhau. 2. Lí pháp giới: Hiện tượng các pháp tuy nhiều, nhưng thể tính chân thực của chúng thì thường trụ bất biến, bình đẳng nhất như, là cảnh giới tuyệt đối. 3. Lí sự vô ngại pháp giới: Giữa hiện tượng và bản thể có sự quan hệ nhất thể bất nhị, mỗi mỗi pháp tương tức tương nhập, viên dung vô ngại. 4. Sự sự vô ngại pháp giới: Tất cả mọi hiện tượng đều tác dụng hỗ tương, một tức tất cả, tất cả tức một, trùng trùng vô tận, sự sự vô ngại. Mật giáo lấy 6 yếu tố (6 đại): Đất, nước, lửa, gió, không, thức làm thể tính của pháp giới; 6 yếu tố này là thân Tam ma da của đức Đại nhật Như lai. Cung điện của Ngài là Pháp giới cung; định vị của Ngài là Pháp giới định, ấn khế của Ngài là Pháp giới định ấn, năng lực gia trì của Ngài gọi là Pháp giới gia trì. Trong 5 trí thì Đại nhật Như lai biểu thị Pháp giới thể tính trí. Ngoài ra, tông Thiên thai gọi chung 10 giới: Địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, A tu la, người, trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật là Thập pháp giới. Đây là nói theo nghĩa phần hạn sai biệt của các tướng pháp giới. Lại nữa, Pháp giới cũng là 1 trong 12 tên của Thực tướng. Mười hai tên là: Chân như, Pháp giới, Pháp tính, Bất hư vọng tính, Bất biến dị tính, Bình đẳng tính, Li sinh tính, Pháp định, Pháp trụ, Thực tế, Hư không và Bất tư nghị giới. [X. kinh Tạp a hàm Q.16; hội Bị giáp trang nghiêm trong kinh Đại bảo tích Q.23; kinh Đại bát nhã Q.360; kinh Hoa nghiêm Q.1, 3 (bản dịch cũ); luận Đại tì bà sa Q.71; luận Đại thừa khởi tín; luận Biện trung biên Q.thượng; luận Bồ đề tâm].
pháp giới an lập đồ
(法界安立圖) Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Nhân triều biên chép vào năm Vạn lịch 12 (1584), đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 150. Nội dung trình bày về thứ tự kiến lập thế giới, gồm 115 tắc, chia làm 7 chương: Lược minh Nam châu, Quảng bộ đại địa, Biến quán tam giới, Đại thiên kiếp lượng,Du chư Phật sát, Nghiên cùng pháp giới và Pháp giới tổng luận.
pháp giới cung
Kim Cương Pháp Giới Cung hay cung điện của Đức Đại Nhật Như Lai trong Thai tạng Giới—Dharmadhatu palace, i.e. the shrine of Vairocana in the Garbhadhatu.
pháp giới duy tâm
The universe is mind only.
; Theo Kinh Lăng Già và Kinh Hoa Nghiêm thì vạn hữu trong vũ trụ chỉ do tâm tạo—According to the Lankavatara Sutra and the Hua-Yen sutra, the universe is mind only.
; (法界唯心) Tất cả muôn pháp trong pháp giới đều do tâm biến tạo. Kinh Hoa nghiêm quyển 19 (Đại 10, 102 thượng) nói: Nhược nhân dục liễu tri Tam thế nhất thiết Phật Ưng quán pháp giới tính Nhất thiết duy tâm tạo. (Nếu người muốn biết rõ Hết thảy Phật ba đời Nên xét tính Pháp giới Tất cả do tâm tạo).
pháp giới duyên khởi
The Dharmadhàtu as the environment cause of all phenomena.
; The Principle of Universal Causation. 1) Từ ngữ “Pháp giới” (Dharmadhatu) đôi khi được dùng đồng nghĩa với chân lý. Việt ngữ dịch là “Pháp thể của Vạn Pháp.” Tuy nhiên, đôi lúc nó lại có nghĩa là “Vũ trụ,” hay “cảnh giới của tất cả các pháp.” Cả hai nghĩa vũ trụ và nguyên lý phổ biến, luôn luôn phải được in sâu trong tâm trí chúng ta mỗi khi từ ngữ nầy được dùng đến. Nghĩa nào cũng dùng được cho danh hiệu của thuyết “Duyên Khởi.”—The term “Dharmadhatu” is sometimes used as a synonym of the ultimate truth. Therefore, the translation “the Element of the Element” is quite fitting. But at other times it means the universe, “the Realm of All Elements.” The double meaning, the universe and the universal principle must always be borne in mind whenever we use the term. Either meaning will serve as the name of the causation theory. 2) Trong pháp giới duyên khởi, mọi hiện tượng đều tùy thuộc lẫn nhau, cái nầy tùy thuộc cái kia, do đó một trong tất cả và tất cả trong một—The Dharmadhatu as the environmental cause of all phenomena (everything is being dependent on everything else, therefore one is in all and all is in one). 3) Theo nguyên lý pháp giới duyên khởi nầy, không một sự hữu nào hiện hữu bởi chính nó và hiện hữu cho cái khác, nhưng toàn thể thế giới sẽ vận động và hành sự trong nhất trí, cơ hồ toàn thể được đặt dưới tổ chức tổng quát. Một thế giới lý tưởng như thế được gọi là “Nhất chân pháp giới” hay “Liên Hoa tạng.”—According to the principle of universal causation, no one being will exist by itself and for itself, but the whole world will move and act in unison as if the whole were under general organization. Such an idea world is called 'the World One-and-True' or 'the Lotus-store.' 4) Nguyên lý nầy căn cứ trên pháp giới duyên khởi của cảnh vực lý tánh (Dharmadhatu) mà chúng ta có thể coi như là sự tự tạo của chính vũ trụ. Đừng quên rằng đó chỉ là duyên khởi do cộng nghiệp của tất cả mọi loài, và nguyên lý nầy cũng dựa trên thuyết vô ngã. Trong thuật ngữ Phật giáo, nguyên lý viên dung được gọi là “Hoa Nghiêm” (Avatamsaka): The principle of universal causation is based upon the universal causation of the Realm of Principle (Dharmadhatu) which we may regard as the self-creation of the universe itself. One should not forget that it is nothing but a causation byt the common action-influence of all brings, and that the principle is also based on the theory of selflessness. In the Buddhist terminology, the principle of totality is called 'the Avatamsaka' (Wreath). ** For more information, please see Duyên Khởi (III) (4) and Tứ Duyên Sanh, Tứ Chủng Vũ Trụ, and Tứ Pháp Giới.
; (法界緣起) Cũng gọi Pháp giới vô tận duyên khởi, Thập thập vô tận duyên khởi, Thập huyền duyên khởi, Vô tận duyên khởi, Nhất thừa duyên khởi. Duyên khởi quan của giáo nghĩa Hoa nghiêm, nội dung của pháp giới Sự sự vô ngại trong 4 pháp giới. Tông Hoa nghiêm chủ trương hiện tượng giới tuy có muôn nghìn sai khác, nhưng pháp tính (Phạm: Dharmatà) là thực thể, tức tất cả pháp duyên khởi đều là thực thể, ngoài hiện tượng không có thực thể và ngoài thực thể không có hiện tượng, đây chính là Thực tướng của Pháp giới (Phạm: Dharma-dhàtu). Sự hình thành của Pháp giới là từ 1 pháp mà thành tất cả pháp, từ tất cả pháp sinh khởi 1 pháp, cho nên 1 là tất cả(nhất tức nhất thiết), tất cả là 1(nhất thiết tức nhất), tương nhập tương tức, viên dung vô ngại, lớp này lớp khác đan dệt vào nhau, không cùng không tận: Đó là pháp giới duyên khởi. Pháp giới duyên khởi có thể được thuyết minh theo 2 phương diện Nhiễm (ô nhiễm) và Tịnh (thanh tịnh). Nhiễm pháp duyên khởi là thuyết minh duyên khởi trong thế giới mê, tức trạng thái vô minh. Còn Tịnh pháp duyên khởi thì thuyết minh duyên khởi trong thế giới ngộ, tức trạng thái chân như. Giáo nghĩa Hoa nghiêm lại tiến thêm bước nữa mà phát huy pháp Duyên khởi rất tỉ mỉ, rõ ràng, như nói rõ yếu chỉ của Tam tính nhất tế, Nhân môn lục nghĩa, Lục tướng viên dung, Tứ chủng pháp giới... Ngoài ra, đứng trên phương diện bản thể mà luận về duyên khởi là thuyết Nhất niệm tam thiên của tông Thiên thai; còn đứng trên phương diện hiện tượng mà luận về tương tức tương nhập là Pháp giới duyên khởi luận của tông Hoa nghiêm. Đây là Duyên khởi luận của Thực Đại thừa được hoàn thành trên cơ sở kế thừa Nghiệp cảm duyên khởi luận của Phật giáo Tiểu thừa và A lại da thức duyên khởi luận của Quyền Đại thừa. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.3, phần cuối; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1, 4, 13]. (xt. Pháp Giới, Duyên Khởi Luận).
pháp giới gia trì
Chúng sanh gia trì lẫn nhau hay sự tùy thuộc và giúp đở lẫn nhau của vạn hữu trong vũ trụ—Mutual dependence and aid of all beings in a universe.
; (法界加持) Chỉ cho thực tướng của chư Phật, của chân ngôn và của chúng sinh gia trì lẫn nhau. Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao quyển 2 (Vạn tục 37, 17 thượng) nói: Tì phú la nghĩa là rộng lớn, tức là vô cùng sâu rộng, không thể lường được; tự thể các pháp rộng lớn như thế gọi là Tì phú la pháp giới. Chư Phật thực tướng, chân ngôn thực tướng và chúng sinh thực tướng đều là Tì phú la pháp giới, vì những thực tướng này lại gia trì lẫn nhau, nên gọi là Pháp giới gia trì vậy. [X. Đại nhật kinh sớ Q.9].
Pháp giới hải huệ
法界海慧; C: făjiè hăihuì; J: hokkai kaie; |Trí huệ rộng lớn và thanh tịnh quán sát Pháp giới.
Pháp giới hải huệ 法界海慧
[ja] ホッカイカイエ hokkai kaie ||| The equanimous, vast wisdom that observes the reality-realm. => Pháp giới của trí huệ rộng lớn và thanh tịnh.
pháp giới nhất tướng
Nhất tướng nhất vị hay sự vô ngại Pháp giới—The essential unit of the phenomenal ealm.
pháp giới phật
The Dharmadhatu Buddha (skt)—Pháp Giới Phật hay Phổ Phật, chỉ những bậc đã thành Phật, đã chứng được tuệ nhất chân pháp giới đại trí, có đại quang minh phổ chiếu chúng sanh—The universal Buddha—The Buddha of a Buddha-realm, i.e. the dharmakaya.
pháp giới quán
Meditation on the Dharmadhàtu.
; (法界觀) Chỉ cho pháp quán nhằm ngộ nhập chân lí của pháp giới do ngài Đỗ thuận –Sơ tổ tông Hoa nghiêm– lập ra. Pháp quán này có 3 lớp: 1. Chân không quán: Quán xét tất cả các pháp vốn không có thực tính, sắc tức là không, không tức là sắc, không và sắc không trở ngại lẫn nhau và vắng bặt không dấu vết. Pháp quán này tương đương với Lí pháp giới trong 4 pháp giới. 2. Lí sự vô ngại quán: Quán xét sự pháp sai biệt và lí tính bình đẳng hiển nhiên tồn tại, cả 2 tương tức, tương nhập, viên dung vô ngại. Pháp quán này tương đương với Lí sự vô ngại pháp giới. 3. Chu biến hàm dung quán: Quán xét mọi sự mọi vật lớn nhỏ dung nhau, một nhiều tương tức, hòa nhập vào nhau, giao thoa lẫn nhau 1 cách vô ngại tự tại. Pháp quán này tương đương với Sự sự vô ngại pháp giới. [X. Hoa nghiêm pháp giới quán môn]. (xt. Pháp Giới Tam Quán).
pháp giới quán môn
(法界觀門) Cũng gọi Tu đại phương quảng Phật Hoa nghiêm pháp giới quán môn, Hoa nghiêm pháp giới quán môn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đỗ thuận (557-640) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này nói về 3 pháp quán: 1. Chân không quán: Bao gồm: Hội sắc qui không quán, Minh không tức sắc quán, Không sắc vô ngại quán, Mẫn tuyệt vô kí quán. 2. Lí sự vô ngại quán: Bao gồm: Lí biến ư sự môn, Sự biến ư lí môn, Y lí thành sự môn, Sự năng hiển lí môn, Dĩ lí đoạt sự môn, Sự năng ẩn lí môn, Chân lí tức sự môn, Sự pháp tức lí môn, Chân lí phi sự môn, Sự pháp phi lí môn. 3. Chu biến hàm dung quán: Bao gồm: Lí như sự môn, Sự như lí môn, Sự hàm lí sự môn, Thông cục vô ngại môn, Quảng hiệp vô ngại môn, Biến dung vô ngại môn, Nhiếp nhập vô ngại môn, Giao thiệp vô ngại môn, Tương tại vô ngại môn, Phổ dung vô ngại môn. Tác phẩm này không phải lưu thông riêng biệt mà được thu chép vào trong các sách khác, hoặc được chép phụ trong các sách chú thích. Chẳng hạn như trong Phát bồ đề tâm chương của ngài Pháp tạng, Pháp giới huyền kính của ngài Trừng quán, Chú Hoa nghiêm pháp giới quán môn của ngài Tông mật v.v... đều có chép phụ thêm sách này. Còn về tác giả của sách này thì xưa nay cũng có nghi vấn. Theo nhà học giả Nhật bản là ông Cảnh dã Hoàng dương thì tác giả của sách này có lẽ không phải ngài Đỗ thuận mà có thể do ngài Trí chính soạn thuật, hoặc do 1 đệ tử nào khác. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục 1; Hoa nghiêm tông kinh luận chương sớ mục lục, Chư tông chương sớ lục Q.1, 2].
pháp giới sở duyên
Dhammarammāna (P).
pháp giới tam quán
(法界三觀) Cũng gọi Tam trùng pháp giới, Tam trùng pháp giới quán, Tam trùng quán môn, Tam trùng pháp giới quán môn. Gọi tắt: Tam trùng quán. Chỉ cho 3 pháp quán: Chân không quán, Lí sự vô ngại quán và Chu biến hàm dung quán của tông Hoa nghiêm. 1. Chân không quán: Quán xét bản tính của các pháp tức là không. Nhưng cái Không của Chân không quán chẳng phải là Không đoạn diệt, cũng chẳng phải cái không lìa sắc, mà quán sắc chẳng phải thực sắc, tất cả sắc là chân không; quán không chẳng phải đoạn không, mà tất cả không là huyễn sắc, để đạt đến cảnh giới Khôngsắc chẳng ngăn ngại nhau. Đây là quán Lí pháp giới. 2. Lí sự vô ngại quán: Nếu chỉ quán về sự thì sẽ khởi tâm thế tục, mà tham đắm cảnh hưởng lạc, nếu chỉ quán về lí thì khởi tâm xuất thế, mà ưa thích cảnh tiểu quả vô lậu. Cho nên, nếu quán sự và lí song song thì có thể đạt đến cảnh giới viên dung vô ngại, tâm không thiên chấp, bi và trí bổ trợ cho nhau, thành tựu hạnh vô trụ mà chứng vô trụ xứ. Đây là quán Lí sự vô ngại pháp giới. 3. Chu biến hàm dung quán: Dùng sự nhìn sự để quán lí toàn là sự, dùng lí nhìn sự để quán sự toàn là lí, lí có thể dung chứa sự, 1 và nhiều không trở ngại nhau, lớn và nhỏ dung nhau, mầu nhiệm không thể lường được. Đây là quán Sự sự vô ngại pháp giới. [X. Hoa nghiêm pháp giới quán môn; Chú Hoa nghiêm pháp giới quán môn tự]. (xt. Tam Trùng Quán Môn, Chân Không Quán, Lí Sự Vô Ngại Quán).
pháp giới thân
Dahrmakaya (skt)—Pháp giới là Pháp thân của Phật. Pháp thân của Phật là Phật thân cảm ứng với hết thảy chúng sanh ở khắp pháp giới—The Dharmakaya which manifests itself in all beings—The Dharmadhatu as the Buddhakaya, all things being Buddha.
; (法界身) Chỉ cho pháp thân của Phật. Pháp giới tức là chúng sinh giới; Thân tức là thân của chư Phật. Thân chư Phật giáo hóa làm lợi ích cho chúng sinh giới, gọi là Pháp giới thân. Kinh Quán Vô lượng thọ Phật (Đại 12, 334 thượng) nói: Chư Phật Như lai là Pháp giới thân, nhập vào trong tâm tưởng của hết thảy chúng sinh. [X. phần Định thiện nghĩa trong Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.3].
pháp giới thật tướng
Dharmadhàtu-reality
pháp giới thể tánh trí
Thánh Trí siêu việt (vô cùng vô tận) của Đức Đại Nhật Như Lai (trí thông minh như là tánh chất căn bản của vũ trụ), một trong năm trí của chư Phật được dùng bởi Mật giáo—Vairocana's immeasurable cosmic energy and wisdom interpenetrating all elements of the universe—Intelligence as the fundamental nature of the universe, one of the five kinds of wisdom of the Buddha used by the esoteric sects. ** For more information, please see Ngũ Trí.
pháp giới thể tính tam muội quán
(法界體性三昧觀) Cũng gọi Tự luân quán, Nhập pháp giới quán. Chỉ cho pháp quán trong Mật giáo lấy chủng tử hoặc các chữ chân ngôn của Bản tôn làm đối tượng để quán tưởng. Tam ma địa nghi quĩ (Đại 18, 331 thượng) nói: Kết ấn Tam ma địa, vào Pháp giới thể tính tam muội, tu tập 5 chữ Toàn đà la ni (...) cứ quán tưởng trở đi trở lại cho đến khi thấy được chỗ chân thực của mỗi Chữ. Chỗ thấy tuy trước sau có khác nhau, nhưng chỗ chứng thì đều về một. (xt. Tự Luân Quán).
pháp giới thể tính trí
(法界體性智) Phạm: Dharma-dhàtu-svabhàvajĩàna. Các pháp vô tận gọi là Pháp giới; chỗ nương của các pháp gọi là Thể; tính tự nhiên của các pháp không hoại diệt, gọi là Tính; trí có khả năng quyết đoán các pháp vô tận 1 cách rõ ràng, gọi là Pháp giới thể tính trí, là 1 trong 5 trí do Mật giáo thành lập. Nếu đem năm trí phối hợp với 5 bộ và 5 đức Phật thì trí này được phối với Đại nhật Như lai trong 5 Phật của Phật bộ. [X. Bí tạng kí]. (xt. Ngũ Trí).
pháp giới thứ đệ sơ môn
(法界次第初門) Gọi tắt: Pháp giới thứ đệ. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Trí khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung sách này trình bày giáo nghĩa A tì đàm và danh mục của các pháp, đồng thời, nói rõ về thứ lớp sâu cạn của các giáo học để làm thềm bậc cho những người tu tập Tam quán. Từ Sơ môn Danh sắc đến Tam niệm xứ tổng cộng gồm 60 môn.
pháp giới thực tướng
Pháp giới và thực tướng, cùng một thể mà khác tên. Thực tướng là lý của Biệt giáo, pháp giới là lý của Viên giáo—Dharmadhatu reality, or Dharmadhatu is reality, different names but one idea. The “Reality” is used for noumenon by the Different Teaching, while “Dharmadhatu” is used for noumenon by the Perfect Teaching.
Pháp giới trí
法界智; S: dharmadhātu-jñāna;|Một trong Năm trí theo Kim cương thừa.
pháp giới tán
Dharmadhātustava (S).
pháp giới tánh
Nature of the Dharmadhàtu.
Pháp giới tính
法界性; C: făjiè xìng; J: hokkaishō; |Bản tính của pháp giới. Thuật ngữ diễn tả sự hợp nhất của hai khái niệm »pháp giới« và »chân tính«.
pháp giới tính
See Pháp Giới.
Pháp giới tính 法界性
[ja] ホッカイショウ hokkaishō ||| The original nature of the reality-realm. A term expressing the union of the concepts of 'reality realm' and 'reality-nature.' => Bản tính của pháp giới. Thuật ngữ diễn tả sự hợp nhất của ý niệm 'pháp giới' và 'chân tính'.
pháp giới tông
(法界宗) Chỉ cho tông Hoa nghiêm, hoặc chỉ cho 1 trong 5 tông do ngài Tự quĩ ở chùa Hộ thân thành lập vào đời Bắc Tề. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1 (Đại 45, 480 hạ) nói: Pháp sư Hộ thân lập 5 loại giáo: (...); loại thứ 5 gọi là Pháp giới tông, tức chỉ cho Pháp giới tự tại vô ngại được thuyết minh trong kinh Hoa nghiêm. (xt. Hoa Nghiêm Tông).
pháp giới tạng
Pháp giới tạng là nơi trữ chứa mọi hiện tượng hay chân lý—The treasury or storehouse or source of all phenomena or truth.
pháp giới viên dung
Các pháp thuộc pháp giới, mỗi sự việc đều đan bện và thâm nhập vào nhau (đây là thuyết “vô ngại” của tông Hoa Nghiêm và là thuyết “tính cụ” của tông Thiên Thai)—The perfect intercommunion or blending of all things in the Dharmadhatu (this is the doctrine of without obstacles (apratihata) of the Hua-Yen sect and T'ien-T'ai sect).
; (法界圓融) Chỉ cho sự tồn tại của pháp giới chân như tròn đầy và dung hợp thành 1 thể. Đây là pháp quán Sự sự vô ngại pháp giới được nói trong Thập huyền lục tướng của tông Hoa nghiêm. [X. Quan âm huyền nghĩa Q.thượng; Quan âm huyền nghĩa kí Q.1].
pháp giới vô biên trí
The unlimited knowledge of a Buddha in regard to all beings and things in his realm.
; Trí hiểu biết vô biên về Phật pháp giới. Đây là trí vô biên và siêu việt của chư Phật về pháp giới—Unlimited or infinite understanding of the whole Buddha realm—Unimpeded or unlimited knowledge or omniscience of a Buddha in regard to all beings and things in his realm.
pháp giới vô duyên
(法界無緣) Chỉ cho chúng sinh trong pháp giới không có duyên với Phật pháp; hoặc chỉ cho công hạnh của Phật khởi Đại bi vô duyên rộng khắp pháp giới.
Pháp giới vô lượng
法界無量; C: făjiè wúliàng; J: hokkai muryō; |Giai vị thứ 10 trong Thập hồi hướng của hàng Bồ Tát. Giai vị mà hàng Bồ Tát chứng thực rằng mọi hiện hữu đều là trung đạo, không có tự tính riêng biệt.
Pháp giới vô lượng 法界無量
[ja] ホッカイムリョウ hokkai muryō ||| The tenth of the 'ten dedications of merit' (十廻向) of the path of the bodhisattva. The stage where the bodhisattva witnesses that all existences are the middle path, lacking characteristics. => Giai vị thứ 10 trong Thập hồi hướng của hàng Bồ-tát. Giai vị mà hàng Bồ-tát chứng thực rằng mọi hiện hữu đều là trung đạo, không có tự tính riêng biệt.
pháp giới vô ngại
Vạn hữu đan bện thẩm thấu hay pha trộn vào nhau trong pháp giới—The perfect intercommunion or blending of all things in the Dharmadhatu.
pháp giới vô ngại trí
The unimpedes knowledge of a Buddha in regard to all beings and things in his realm.
; Trí tuệ chứng ngộ được pháp giới vô ngại lý (thấu triệt toàn thể Phật Giới)—Unimpeded understanding of the whole Buddha-realm. ** For more information, please see Pháp Giới Vô Biên Trí.
pháp giới vô sai biệt luận sớ
(法界無差別論疏) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp tạng (643-712) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 44. Trang trong sách này đề là: Đại thừa pháp giới vô sai biệt luận sớ tinh tự, thông thường gọi là Đại thừa pháp giới vô sai biệt luận sớ. Đây là sách chú thích bộ Đại thừa pháp giới vô sai biệt luận, do ngài Đề vân bát nhã dịch. Về niên đại soạn thuật, có lẽ bộ sách này đã được viết vào năm Thiên thụ thứ 2 (691), lúc đó ngài Pháp tạng 49 tuổi. Lại có thuyết cho rằng sách này được soạn tiếp theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí và sau Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí, khi ấy ngài Pháp tạng đã 54 tuổi. Nội dung sách này chia làm 2 phần: Huyền đàm và Tùy văn giải nghĩa. Phần Huyền đàm lại chia ra 10 môn: Giáo khởi sở nhân, Minh tạng sở nhiếp, Hiển giáo phân tề, Giáo sở bị cơ, Năng thuyên giáo thể, Sở thuyên tông thú, Thích luận đề mục, Tạo luận duyên khởi, Truyền dịch do trí và Tùy văn giải thích.
pháp giới đẳng lưu
Phật Pháp—The universe outflow of the spiritual body of the Buddha (Buddha's teaching).
; (法界等流) Cũng gọi Pháp giới truyền lưu. Chỉ cho giáo pháp của đức Phật lưu xuất từ thể tính chân như bình đẳng của pháp giới.Luận Thủ trượng (Đại 32, 506 hạ) nói: Sự huân tập của tính nghe này rất thanh tịnh, vì nó là thể tính của pháp giới đẳng lưu. Pháp giới tức là pháp thân của Như lai.
pháp giới định
Hai bộ Đại Nhật đều lấy lục đại pháp giới (đất, nước, lửa, gió, hư không, thức) làm đề mục quán chiếu Thiền định—Dharmadhatu meditation (earth, water, fire, air, space, consciousness), a term for Vairocana in both mandalas.
pháp giới định ấn
(法界定印) Cũng gọi Đại nhật định ấn. Chỉ cho ấn khế của đức Đại nhật Như lai trong Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo.Ấn tướng là bàn tay phải ngửa lên, đặt ở trên bàn tay trái, đầu 2 ngón cái chạm nhau. Trong đó, 5 ngón tay phải biểu thị 5 đại của Phật giới, 5 ngón tay trái biểu thị 5 đại của chúng sinh giới; 2 tay chồng lên nhau tượng trưng cho nghĩa chúng sinh và Phật chẳng phải là 2, đầu của 2 ngón cái (ngón không)chạm vào nhau biểu thị nghĩa Không đại dung thông vô ngại, vì tướng ấy vắng lặng không lay động nên gọi là Pháp giới định ấn. Phẩm Đà la ni trong kinh Thủ hộ cho rằng ấn này là ấn Tam muội thù thắng bậc nhất; còn phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4 và phẩm Mật ấn trong kinh Nhất tự đính luân vương thì cho rằng ấn này là Đại bát ấn và Như lai bát ấn của đức Phật Thích ca mâu ni. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13, 20; Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.11]. (xt. Định Ấn).
Pháp giới đồ kí tòng tuỷ lục
法界圖記叢髄録; C: făjiè tújì cóngsuǐ lù; J: hokkai zuki sōzui roku; |4 quyển.
Pháp giới đồ ký tòng tuỷ lục 法界圖記叢髄録
[ja] ホッカイズキソウズイロク Hokkai zuki sōzui roku ||| Pŏpkye toji ch'ongsu-rok 4 fasc., T 1887B.45.716a-767b. => (k: Pŏpkye toji ch'ongsu-rok); 4 quyển.
Pháp giới 法界
[ja] ホッカイ hokkai ||| (Dharmadhātu); 'dharma-realm, reality-realm,' 'object-realm,' 'realm of thought.' Originally dharma (法) is derived from the Sanskrit root dhr, with the meaning of that which preserves or maintains, especially that which maintains human activity. Dhātu (界 is derived from the masculine nominal root dha, which originally had the meaning of 'element', but after becoming a Buddhist term, it began to take on the meaning of 'nature' (性). In this term, 法 refers to the various elemental constructs (諸法), and 界 refers to "marking the limits" of something. (1) One of the 'eighteen realms' (十八界), the objects of the mano-consciousness. Where things are thought of, therefore the meaning is equivalent to that of 'locus of mental objects' (法處). (2) Limit, border. (3) Especially in Mahāyāna teaching, dharma-dhātu refers to a religious basis or principle--the origin of all things. In this kind of teaching, where the whole universe is taken as phenomena, it is understood as the manifestation of true thusness. Accordingly, this reality-realm, being true existence as-it-is, is equated to the reality-body (dharma-body) 法身 of the Buddha. (4) Taken as one of the eighteen elements in Yogācāra theory, it includes 82 elemental constructs from the categories of imperceivable material elemental constructs, mental function elemental constructs, elemental constructs not concomitant with mind and unconditioned elemental constructs. (5) Huayan Buddhism teaches the existence of four realms of reality 四法界: the realm of phenomena 事, realm of principle 理, realm of non-obstruction between principle and phenomena 理事無礙, and realm of non-obstruction between phenomena 事事無礙. (6) In the Awakening of Faith 起信論, the dharmadhātu is identified with the one mind 一心. => (s: Dharmadhātu; e: dharma-realm, reality-realm, object-realm; realm of thought). Pháp (法) xuất phát từ tiếng Sanskrit với ngữ căn dhr, có nghĩa giữ gìn, duy trì, đặc biệt duy trì hành vi của con người. Giới (界 s: Dhātu) xuất phát từ danh từ giống đực với ngữ căn dha trong tiếng Sanskrit, có nghĩa là 'phần tử, yéu tố', nhưng sau khi thành thuật ngữ Phật học, nó bắt đầu có nghĩa là 'tính'. Trong thuật ngữ nầy, Pháp có nghĩa là các cấu trúc cơ bản (chư pháp 諸法) và giới có nghĩa là 'đánh dấu phạm vi' của các pháp. 1. Là 1 trong 18 pháp giới (Thập bát giới 十八界), là đối tượng của mạt-na thức. Nơi mà các pháp được nhận biết, do vậy nghĩa nầy tương đương với 'pháp xứ'(法處). 2. Phạm vi, ranh giới. 3. Đặc biệt trong giáo lý Đại thừa, pháp giới đề cập đến nền tảng ý thức hoặc nguyên lý – nguồn gốc của các hiện tượng. Trong hình thái giáo lý nầy, khi toàn thể vũ trụ hiển bày như là thế giới hiện tượng, thì các hiện tượng ấy được xem như là biểu hiện cuả chân như. Do vậy, Pháp giới nầy, hiện hữu chân thực như chúng đang là, tương đương với pháp thân Phật (e: dharma-body 法身). 4. Xem như là một trong 18 giới theo giáo lý của Du-già hành tông, gồm 82 pháp được xếp vào trong các phạm trù: bất khả tư nghì pháp , sắc pháp, tâm pháp, tâm bất tương ưng hành pháp, vô vi pháp. 5. Giáo lý Hoa Nghiêm chủ trương 4 pháp giới: Sự pháp giới, Lý pháp giới, Lí sự vô ngại pháp giới, Sự sự vô ngại pháp giới. 6. Trong luận Đại thừa khởi tín, Pháp giới được đồng nhất với nghĩa Nhất tâm一心.
pháp hiến
(法獻) (423-497) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nam triều, người Diên thủy, tỉnh Tây hải, họ Từ.Sư xuất gia ở Lương châu, vào thời Lưu Tống, sư đến trụ ở chùa Thượng định lâm tại Kiến khang. Sư thông suốt các kinh luật. Năm Nguyên huy thứ 3 (475), sư đi đến Tây thục, rồi đến Vu điền, muốn vượt qua dãy núi Thông lãnh để sang Ấn độ, nhưng vì đường xá quá khó khăn nên sư đành trở lại. Sư thỉnh về được 1 chiếc răng và 15 viên xá lợi của Phật, 1 quyển kinh Quan thế âm sám hối trừ tội chú (bản tiếng Hồ) và 1 pho tượng bằng đồng của nước Cưu tư. Ngoài ra, sư còn thỉnh được phẩm Đề bà đạt đa của kinh Diệu pháp liên hoa tại quận Cao xương, rồi trở về kinh thành, lúc đó sư đã 55 tuổi. Năm Vĩnh minh thứ 8 (490) đời Nam Tề, sư cùng với sư Thiền phóng Pháp ý ở chùa Ngõa quan cùng dịch kinh Quan thế âm sám hối trừ tội chú 1 quyển. Sau, sư lại dịch Diệu pháp liên hoa kinh Đề bà đạt đa phẩm (Bản dịch này sau được ngài Cưu ma la thập đưa vào kinh Diệu pháp liên hoa do ngài dịch). Trong năm Vĩnh minh, vua ban sắc cho sư làm chức Tăng chủ. Cuối năm Kiến vũ (497), sư thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi. Sư có tác phẩm: Tây vực hành kí. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11].
Pháp Hiền
法賢; ?-626|Thiền sư Việt Nam thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi, đắc pháp của Tổ Tì-ni-đa Lưu-chi.|Sư họ Ðỗ, quê ở Chu Diên (Sơn Tây), thân hình cao lớn, chững chạc. Ban đầu Sư xuất gia thụ giới cụ túc với sư Quán Duyên tại chùa Pháp Vân (chùa Dâu), hằng ngày cùng các tăng hữu nghe các Ðại sư truyền giảng yếu chỉ Thiền tông.|Gặp lúc Thiền sư Tì-ni-đa Lưu-chi từ Quảng Châu đến chùa này. Thấy Sư, Tổ nhìn kĩ rồi hỏi: »Ngươi họ chi?« Sư không đáp, hỏi lại: »Hoà thượng họ gì?« Tổ bảo: »Ngươi không có họ ư?« Sư thưa: »Họ không phải không có, nhưng Hoà thượng cần gì phải biết?« Tổ quát: »Biết để làm gì?« Sư ngay đây tỉnh ngộ liền sụp lạy.|Sau khi Tổ viên tịch, Sư đến núi Thiên Phúc tu tập thiền định, quên cả vật lẫn bản thân mình. Chim rừng đến vây quanh, dã thú đến đùa giỡn. Nhiều người nghe tin đua nhau đến học với Sư. Nhân đây, Sư kiến lập chùa Chúng Thiện tuyển dạy môn đệ. Thứ sử nhà Tuỳ là Lưu Phương về trình lại với triều đình. Tuỳ Cao Tổ bèn sai sứ đem Xá-lị của Phật đến Việt Nam để Sư xây tháp cúng dường.|Sư tịch năm Bính Tuất, niên hiệu Ðường Vũ Ðức thứ 9 (626).
pháp hiền
Dharmabhadrā (S)An Pháp Hiền, Phật đà bạt đà laTên một vị sư.
; Fa-Hsien (?-626)—Sư quê ở Chu Diên tỉnh Sơn Tây. Khi mới xuất gia, sư theo học thiền và thọ giới với Đại Sư Quán Duyên ở chùa Pháp Vân. Đến lúc Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi sang Việt Nam, sư theo Tổ học thiền và tôn Tổ làm Thầy. Khi Tổ thị tịch, sư vào núi tiếp tục tu thiền định. Sau đó người đến tu học với sư ngày càng đông. Sau đó ít lâu sư mới lập chùa và nhận đồ đệ. Sư thị tịch năm 626 sau Tây Lịch—He was a native of Sơn Tây Province. When he left home, he studied meditation and received precepts with Great Master Quán Duyên at Pháp Vân Temple. When Patriarch Vinituraci came to Vietname, he joined Vinituraci Zen Sect and honored Vinitaruci as his master. When the Patriarch passed away, he went to the montain to continue to practice meditation. Later his reputation spread and more and more people came to study meditation with him. Sometime later, he built temple and received disciples. He passed away in 626 AD.
; (法賢) I. Pháp Hiền (?-626). Thiền sư Việt nam, thuộc Thiền phái Tì ni đa lưu chi, nguyên quán huyện Châu diên, tỉnh Sơn tây, họ Đỗ. Ban đầu, sư lễ ngài Quán duyên, trụ trì chùa Pháp vân, xin xuất gia và thụ giới Cụ túc. Sau, gặp lúc Thiền sư Tì ni đa lưu chi, người Ấn độ, từ Trung quốc đến Việt nam, sư được ngài khai thị, liền trở thành đệ tử của ngài và được truyền tâm ấn. Về sau, sư vào chùa Từ sơn hoằng dương Thiền pháp, làm cho Thiền tông Việt nam từ đó trở nên hưng thịnh. Sư thị tịch vào năm 626. [X. Việt nam Phật giáo lược sử (Bồ đề thụ số 248)]. II. Pháp Hiền(?-1000). Danh tăng người Trung Ấn độ ở chùa Na lan đà. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 33 thì lúc đầu sư có tên là Pháp thiên, đến Trung quốc vào năm Khai bảo thứ 6 (973). Sư dâng lên vua bản dịch Thánh vô lượng thọ kinh thất Phật tán mà sư dịch chung với ngài Pháp tiến (người Ấn độ) ở chùa Khai nguyên tại phủ Hà trung, được vua triệu vào cung ban cho sư áo đỏ. sư nhận lời mời của ngài Pháp tiến vào phủ Hà trung dịch kinh. Năm sau, sư dời đến chùa Long hưng tại Phu châu, dịch kinh Vô lượng thọ quyết định quang minh vương. Năm Thái bình hưng quốc thứ 7 (982), sư lại được vua ban hiệu Truyền Giáo Đại Sư. Và sư lại dâng vua bản dịch kinh Cát tường trì thế do chính sư mang đến Trung quốc. Vua từng viết bài tựa Tam tạng Thánh giáo được in ở đầu các kinh do sư dịch. Năm Hàm bình thứ 4 (1000) sư thị tịch, vua ban thụy hiệu là Huyền Giác Đại Sư. Kinh điển do sư dịch gồm 120 bộ. Cũng có thuyết cho rằng sư và ngài Pháp thiên là 2 người khác nhau.
Pháp Hiển
(法顯, Hokken, 577-653): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Giang Lăng (江陵, Hồ Bắc), họ Đinh (丁). Năm 12 tuổi, ông xuất gia, theo Bảo Minh (寳冥) ở Tứ Tằng Tự (四層寺) học kinh luận, rồi tham học với Thiên Thai Trí Khải (智顗), Minh Trí (明智), Thành Ngạn (成彥), Tập Hạo (習皓), v.v. Về sau ông lui ẩn cư mãi cho đến năm cuối niên hiệu Trinh Quán (貞觀, 627-649) mới xuất hiện lại. Đến năm thứ 4 niên hiệu Vĩnh Huy (永徽), ông thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi.
; (法顯, Hōken, 340?-?): vị tăng sống dưới thời Đông Tấn, xuất thân vùng Võ Dương (武陽), Bình Dương (平陽), họ là Cung (龔). Có thuyết cho rằng ông sanh vào năm thứ 6 (340) niên hiệu Hàm Khang (咸康) nhà Đông Tấn. Năm lên 3 tuổi, ông xuất gia, đến 20 tuổi thì thọ Cụ Túc giới. Sau đó, nhân đau xót vì sự mất mác về thanh quy và hành trì kinh luật trong tăng đoàn, nên vào năm thứ 3 (399) niên hiệu Long An (隆安), ông cùng với các bạn đồng học Huệ Cảnh (慧景), Đạo Chỉnh (道整), Huệ Ứng (慧應), Huệ Ngôi (慧嵬) rời Trường An đi về hướng Tây, qua vùng Thông Lãnh (葱嶺), đến Thiên Trúc (天竺), lúc đó khoảng 60 tuổi. Trước sau hơn 10 năm, ông đã đi qua hơn 30 nước, mang về rất nhiều kinh điển Phật Giáo bằng tiếng Phạn. Lộ trình ông đi qua Trường An, Đôn Hoàng (敦煌), Vu Chấn (于闐) rồi đến miền trung Ấn Độ, tham bái các thánh tích Phật Giáo, sau đó lưu học 3 năm tại Hoa Thị Thành (華氏城), 2 năm học ở vùng phụ cận Gia Nhĩ Các Đáp (加爾各答) thuộc hạ lưu sông Hằng, rồi lưu trú tại Tích Lan (錫蘭, Sri Lanka) trong vòng 2 năm, đi qua địa phương Tô Môn Đáp Lạp (蘇門答臘) và đến năm thứ 9 (413) niên hiệu Nghĩa Hy (義熙) thì trở về nước. Trong thời gian ấy, ông đã học được Luật, Trường A Hàm, Tạp A Hàm, Kinh Niết Bàn, v.v. Sau khi trở về nước, ông cùng với Phật Đà Bạt Đà La (s: Buddhabhadra, 佛駄跋陀羅, 359-429) dịch bộ Ma Ha Tăng Kỳ Luật (摩訶僧祇律), Đại Bát Nê Hoàn Kinh (大般泥洹經), Tạp Tạng Kinh (雜藏經), Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận (雜阿毘曇心論). Bên cạnh đó, ông còn lấy những ký lục trong chuyến lữ hành của mình viết thành sách với tựa đề Phật Quốc Ký (佛國記), miêu tả những tình huống của Ấn Độ và Trung Á đương thời, cho nên tác phẩm này có ý nghĩa rất quan trọng về mặt tư liệu. Sau đó ông thị tịch tại Kinh Châu Tân Tự (荆州新寺). Niên đại thị tịch của ông được xác định trong khoảng từ năm thứ 14 (418) niên hiệu Nghĩa Hy (義熙) cho đến năm đầu (423) niên hiệu Cảnh Bình (景平). Cùng với Huyền Trang (玄奘, 602-664), Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713) vào khoảng thế kỷ thứ 7, ông được xem như là một trong những danh tăng từng chiêm bái Ấn Độ.
; 法顯; C: fǎxiăn; J: hōken, 320?-420?|Cao tăng Trung Quốc. Năm 399, Sư đi Ấn Ðộ và học hỏi kinh điển đạo Phật, nhất là Luật tạng (s: vinaya-piṭaka). Sư về lại Trung Quốc bằng đường biển năm 414 và cùng với Giác Hiền (s: buddhabhadra) dịch bộ Ðại bát-niết-bàn kinh (s: mahāparinirvāṇa-sūtra) và Luật tạng của Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) ra chữ Hán. Sư cũng thuật lại trong Phật quốc kí chuyến du hành Ấn Ðộ (Phật quốc kí), là một tư liệu quý báu về lịch sử, văn hoá và tình trạng Phật giáo của thế kỉ thứ 4-5.|Pháp Hiển là tăng sĩ đầu tiên của một phong trào học Phật của Trung Quốc. Sư là người đầu tiên thật sự đến Ấn Ðộ, thu thập kinh sách, học hỏi giáo pháp với các tăng sĩ tại đó và lại trở về Trung Quốc. Chuyến du hành của Sư bắt đầu từ Trường An đến các trung tâm Ấn Ðộ như Benares, Càn-đà-la (gandhāra), Giác Thành (bodhgayā), Ma-kiệt-đà (magadha), Patna. Sư cũng ở Tích Lan hai năm, sau đó đi Su-ma-tra và Ja-va (Nam Dương). Tổng cộng, Sư thăm 30 nước khác nhau. Tại Hoa Thị thành (pāṭaliputra) Sư tìm được Luận tạng của Ðại chúng bộ và Nhất thiết hữu bộ cũng như một văn bản của Ðại bát-niết-bàn kinh. Sau đó Sư cũng tìm thấy Luận tạng của Hoá địa bộ và mang tất cả về Trung Quốc.
pháp hiển
Fa-hsien (C)(337-422) Nhà sư Trung quốc người đầu tiên đã sang Tây vực qua ngã Đôn hoàng, Tuyết sơn rồi về Trung quốc bằng đường biển.
; Fa-Hsien 337-422—Pháp Hiển, một nhà sư và nhà hành hương nổi tiếng người Trung Hoa. Năm 399 sau Tây Lịch, sư Pháp Hiển cùng một số bạn đồng tu rời Trường An, đi đường bộ qua Ấn Độ bằng ngả Đôn Hoàng, Khotan, và Hy Mã Lạp Sơn. Ngài lưu lại Ấn Độ sáu năm học giới luật. Sau đó năm 414, sư theo đường biển trở về Trung Quốc. Ngài đã viết quyển Phật Quốc Ký và dịch bộ Tăng Chi Luật. Pháp Hiển mở ra một phương thức mà sau đó nhiều người hành hương Trung Quốc đã noi theo. Tầm quan trọng đặc biệt của ông đối với Phật giáo là ở chỗ ông là người đầu tiên thật sự đến Ấn Độ, sưu tầm các văn bản, nghiên cứu những thuyết giảng từ những vị thầy khác nhau, rồi mới trở về Trung Quốc. Cùng với bốn nhà sư khác, ông đi từ Tràng An tới những trung tâm lớn của Phật giáo Ấn Độ bao gồm Ba La Nại, Kiện Đà La, Bồ Đề Đạo Tràng, Ma Kiệt Đà, và Patna, bằng con đường phía nam, rồi tới Tích Lan, Sumatra và Java. Ông đã viếng thăm trên 30 nước khác nhau. Khi ở Pataliputra, ông đã phát hiện và mang về Trung Quốc bộ Luật Tạng của phái Đại Chúng Bộ, cũng như một bản in của Kinh Đại Bát Niết Bàn— Fa-Hsien, the famous Chinese monk and pilgrim who with fellow-monks left Ch'ang-An 399 A.D., overland for India, via Tun-Huang, Khotan, and Himalayas, finally reached it, remained alone for six years, and spent three years on the return journey, arriving by sea in 414. In India he gathered Buddhist scriptures, particularly various versions of the Vinaya-pitaka. His records of the Buddhist Kingdoms were made, on his information, by Buddhabhadra, an Indian monk in China. His own chief translation is the work on monastic discipline. Fa-Hsien set a precedent that many other Chinese pilgrims were to follow. His particular importance lies in the facts that he was the first actually to reach India, to collect scriptures, to study the teaching under various masters, and returned to China. His journey, begun together with four other monks, led him from Ch'ang-An by the southern route to the centers of India Buddhism, including Benares, Gandhara, Bodhigaya, Magadha, and Patna, to Ceylon, where he spent two years; and finally to Sumatra and Java. Altogether he visited thirty different countries. In Pataliputra, he found and brought back to China the Vinaya-pitaka of the mahasanghikas and the Sarvastivadas as well as an edition of the Mahaparinirvana-sutra. • Theo Giáo sư P.V. Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, Pháp Hiển là người đầu tiên trong ba vị khách Trung Hoa đến Ấn Độ. Pháp Hiển đã ghi chép lại các chuyến đi của mình. Pháp Hiển đã cùng bốn vị sư khác khởi hành từ Trường An và qua nhiều chặn đường, họ đã đến Đôn Hoàng. Quan cai trị ở đây cấp cho họ mọi thứ cần thiết để họ có thể vượt qua sa mạc Gô Bi. Ông gần như đi bộ trong suốt đoạn đường từ miền trung Trung Hoa băng ngang sa mạc Gô Bi, vượt qua dãy núi Hindu Kush, băng qua miền Bắc Ấn để đến hải cảng Tamralipti ở Bengal. Đến đây, ông lên thuyền đi Tích Lan rồi trở về Trung Quốc bằng đường biển sau một cuộc hành trình đầy phiêu lưu. Ông đã mang về Trung Quốc những gì mà ông đã qua Ấn Độ để tìm kiếm: các kinh sách Phật giáo cùng những tượng Phật. Khi băng qua sa mạc Gô Bi, Pháp Hiển đã ghi lại như sau: “Trong sa mạc nầy có rất nhiều ma quái và gió nóng, sức người không chịu nổi. Trên trời chẳng có chim, dưới đất chẳng có thú. Đưa mắt nhìn thật xa, mọi hướng để tìm một dấu vết đường đi, nhưng chẳng thấy gì ngoài mấy bộ xương khô của những khách bộ hành xấu số, nhờ đó mà biết đường đi.” Ông ghi nhận ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Ấn Độ tại những nước ông đến ở miền Trung Á. Những nước ông đi qua đều học kinh sách Ấn Độ và ngôn ngữ được dùng tại Ấn Độ. Pháp Hiển đã viết về Kashgar như sau: “Nước nầy có một cái ống nhổ của Đức Phật, ống nhổ nầy làm bằng đá và có cùng màu với bát khất thực của Ngài. Tại đây người ta xây lên một ngôi tháp để thờ xá lợi những chiếc răng của Phật.” Đáng chú ý nhất là đoạn đường cực kỳ nguy hiểm dọc theo dãy núi Bolor-Tagh và việc vượt qua sông Ấn Hà, trong đó ông mô tả như sau: “Bám theo dãy núi, đoàn chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình về hướng Tây Nam trong mười lăm ngày trên một con đường gay go dốc đứng và hiểm nghèo, vì sườn núi giống như một bức tường đá cao hơn mười ngàn bộ. Khi lên đến gần sống núi thì mắt đã mờ và khi muốn bước tới thì cũng không có chỗ để đặt bàn chân nữa. Dưới kia là con sông Ấn Hà. Những người đến trước đục đá làm đường đi và phải đặt thang vào sườn đá. Tất cả có đến mấy trăm bậc đá. Khi đã vượt qua hết những bậc đá và những cây thang nầy thì chúng tôi phải qua sông bằng cầu treo làm bằng dây thừng. Hai bên bờ sông cách xa nhau gần tám mươi bước.” Sau khi trải qua mùa hè tại Udyana, khi ấy là một trung tâm Phật giáo phồn thịnh, Pháp Hiển đi bộ theo hướng Nam để đến Gandhara và Taksasila, nơi mà Đức Phật đã tiên đoán vua Ca Ni Sắc Ca sẽ cho xây một ngôi chùa ở Peshawar. Pháp Hiển đã viết: “Trong số các đền chùa mà đoàn hành hương được thấy thì không nơi nào có thể sánh được với chùa nầy về mặt vĩ đại và uy nghi, truyền thuyết cũng nói rằng trong số các ngôi chùa trên thế giới thì ngôi chùa nầy được xếp vào hạng nhất.” Từ Peshawar, Pháp Hiển một mình đi đến Nagarahara (Hadda) vì những người cùng đi đã rời bỏ ông. Thành phố nầy có một đền thờ, trong có thờ xương sọ của Phật. Xá lợi nầy được niêm phong hằng đêm bằng tám con dấu, mỗi con dấu do một nhân vật lãnh đạo thành phố trông coi. Mỗi buổi sáng, nhà vua đều đến dâng lễ vật và cúng xá lợi. Cách một nửa do tuần (khoảng 10 km) về phía Nam thành phố, Pháp Hiển nhìn thấy hang mà Đức Phật đã lưu lại dấu vết. Ông nói rõ: “Vua các nước láng giềng xung quanh đã phái nhiều nghệ sĩ tài giỏi đến để vẽ lại hang nầy mà họ không làm nổi.” Tại A Phú Hãn, nơi Pháp Hiển đến được sau khi băng qua Safed Koh, có ba ngàn tu sĩ Đại Thừa và Tiểu Thừa. Ở Bannu cũng có số tu sĩ đông như vậy, nhưng tất cả đều thuộc về Tiểu Thừa. Băng qua Punjab, Pháp Hiển đến nước Mathura sau khi đi qua nhiều tu viện với số tu sĩ lên đến mười ngàn người. Ở vùng Mathura có rất nhiều người theo đạo Phật, các tu sĩ ở đây rất được dân chúng và triều thần tôn vinh. Sau đó Pháp Hiển đến vương quốc Trung Bộ, trái tim của đế quốc Gupta. Ông đã mô tả như sau: “Nước nầy có khí hậu ôn hòa, không có sương hay tuyết. Dân cư sung túc và an lạc, không phải đăng ký gì cả, cũng không có những hạn chế của chính quyền. Chỉ những người cày đất của vua là phải trả phần lợi tức thu hoạch khá nặng. Ai muốn bỏ đi thì bỏ đi, ai muốn ở lại thì ở. Trong việc cai trị, nhà vua không dùng đến cực hình. Người phạm tội chỉ bị phạt tiền tùy theo mức độ nặng nhẹ. Cả đến tội phản loạn lần thứ hai cũng chỉ bị chặt một bàn tay phải. Những người cận vệ của vua được trả lương cố định. Cả nước chẳng có một ai giết hại mạng sống, cũng không ai uống rượu. Trong nước nầy, người ta không nuôi heo hay gà, không có chuyện buôn bán gia súc, không có lò mổ hay tiệm rượu ngoài chợ. Các tu sĩ thường trú hay lưu trú được cấp giường, nệm, thực phẩm, y áo một cách chu đáo.”—According to Prof. P.V. Bapat in The Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, Fa-Hsienwas the first of the three Chinese pilgrims, has recorded his own travels. Together with four other monks, Fa-Hsien started from Chang-An and travelled stage by stage. They first reached Tun-Huang; the governor there gave them all that was required to enable them to cross the Gobi desert. He practically walked all the way from Central China across the Gobi desert, over the Hindu Kush and across Northern India to the seaport of Tamralipti in Bengal. There he embarked for Ceylon and returned to China by sea after an adventurous voyage. He brought back with him what he had gone to seek in India: sacred books of Buddhism and images of Buddhist deities. In his accounts, he recorded: “There are a great many evil spirits and also hot winds that men cannot stand. There are neither birds above nor beasts below. Gazing on all sides as far as eye can reach in order to mark the track, no guidance is to be obtained, except the rotting bones of death travellers, which point the way.” He notices the prevalence of Indian culture in the States he visited in Central Asia. They study Indian books and the Indian spoken language. Fa-Hsien says of Kashgar as follows: “This country has a spittoon which belonged to the Buddha; it is made of stone and is of the same color as his alms bowl. There is also a relic of the Buddha's teeth, for which people raised a pagoda to worship.” A significantly dangerous section of his route along the Bolor-Tagh range and the first crossing of the Indus as described by Fa-Hsien are worth relating: “Keeping to the range, the party journeyed on in a south-western direction for fifteen days over a difficult and dangerous road, the side of the mountain being like a stone wall ten thousand feet high. On nearing the edge, the eye becomes confused; and wishing to advance, the foot finds no resting place. Below, there is a river named Indus. The men of former times had cut away the rock to make a way down, and had placed ladders on the side of the rock. There are several hundred rock-steps in all; and after passing all the ladders and rock-steps, the river is crossed by a suspension bridge of ropes. The two banks of the river are somewhat less than eighty paces apart. After spending the summer in retreat in Udyana, then a flourishing center of Buddhism, Fa-Hsien marched South to Gandhara and Taksasila, where the Buddha prophesied that king Kaniska would raise a pagoda in Peshawar. Fa-Hsien writes: “Of all the pagodas and temples seen by the pilgrims, not one could compare with this in grandeur and dignity, and tradition says that of the various pagodas in the inhabited world this one takes the highest rank.” From Peshawar, Fa-Hsien proceeded alone to Nagarahara (Hadda) for his companions had already left him. That city had a shrine containing the Buddha's skull bone. It was sealed with eight seals every night for safety, each in the custody of one of the leading men in the city. Fa-Hsien records: “Every morning the king makes offerings and worships the relic.” Half a yojana to the south of the city, Fa-Hsien notes the the cave inside which the Buddha left his shadow: “The kings of the various countries around have sent artists to sketch it, but they have not ben able to do so.” In Afghanistan, which he entered after crossing the Safed Koh, there were three thousand monks belonging to both the Greater and Lesser Vehicles. There were the same number in Bannu, but all belonging to the Lesser Vehicle. Crossing the Punjab, he reached the Mathura country after passing many monasteries where there were nearly ten thousand monks. Buddhism was very popular in the Mathura region and its monks were honored by the people and the officials of the Court. Then Fa-Hsien reached the Middle Kingdom, the heart of the Gupta Empire. He noted: “The Mathura country has a temperate climate, without frost or snow; and the people are prosperous and happy, without registration or official restrictions. Only those who till the king's land have to pay so much on the profit they make. Those who want to go away may go; those who want to stay may stay. The king and his administration has no corporal punishments; criminals are merely fined according to the gravity of their offences. Even for a second attempt at rebellion the punishment is only the loss of the right hand. The men of the king's body-guard have all fixed salaries. Throughout the country, no one kills any living thing, nor drinks wine. In this country, they do not raise pigs or fowls; there are no dealings in cattle, no butchers' shops or distilleries in their market place. In this country, Buddhist monks are venerated and well respected. Rooms with beds and matresses, food and clothes are provided for resident and travelling monks without fail, and this is the same in all places.” • Sau đó, Pháp Hiển lần lượt đến thăm Sankasya (Kapitha), Kanyakubja (Kanauj) hay thành phố của những thiếu nữ lưng gù Shaki, Saketa hoặc Ayodhya, Xá Vệ với vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên, Ca Tỳ La Vệ, thành phố của vua Tịnh Phạn, phụ vương của Đức Phật, lúc đó như một vùng hoang dã ngoại trừ một số tu sĩ và vài chục gia đình, thành Tỳ Xá Ly, nước Ma Kiệt Đà với Hoa Thị thành (Pataliputra), tại đây ông được thấy cung điện tuyệt vời của vua A Dục. Ông đã hết lời ca ngợi Ma Kiệt Đà như sau: “Trong tất cả các nước vùng Trung Ấn, thì Ma Kiệt Đà có những đô thị, thành phố rộng lớn nhất. Dân chúng giàu có, thịnh vượng và đua nhau làm việc thiện, giúp đỡ láng giềng.” Ông cũng nói đến các bệnh viện miễn phí ở các thành phố với vẻ rất khâm phục. Từ đây ông đi đến Na Lan Đà, Vương Xá, và Bồ Đề Đạo Tràng. Ông nói: “Một cảnh hoang dã hoàn toàn bên trong những bức tường,” nhưng chung quanh là những dấu tích thiêng liêng, tất cả đều được Pháp Hiển ghi nhận đầy đủ, kể cả Ba La Nại, vườn Nai ở Sarnath, nơi Đức Phật có bài thuyết pháp đầu tiên, và cuối cùng là Kausambi với khu vường Ghociranava, ngày nay mới được tìm thấy với tên Ghositarama. Tại nơi đây, ông đã ghi lại những gì ông được nghe nói về tu viện Paravata ở Deccan. Từ Ba La Nại, Pháp Hiển quay trở lại Hoa Thị thành. Những gì ông ghi lại về các nỗ lực của mình để có được các bản viết tay về kinh điển Phật giáo khá lý thú. Thường thì các kinh sách nầy chỉ được truyền miệng từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, và chỉ ở điện Kỳ Viên trong một tu viện Đại Thừa ông mới kiếm được một bản sao phù hợp với kinh sách đã được Nghị Hội lần thứ nhất chấp nhận và đã được các vị sư khắp nơi hành trì trong khi Đức Phật còn tại thế—Fa-Hsien then visited in succession Sankasya (Kapitha); Kanyakubja (Kanauj), the city of hump-back maidens; Shaki, Saketa or Ayodhya; Sravasti with its shrine of the Garden of Gold; Kapilavastu, the city of Suddhodana, the Buddha's father, then just like a wilderness, except for monks and some tens of families; Vaisali (Beshar); and the country of Magadha and the city of Pataliputra where he saw the marvelous palace of Asoka. He has high praise for Magadha: “Of all the countries of Central India, this has the largest cities and towns. Its people are rich and thriving to practise charity to their neighbor.” He also mentioned the free hospitals in the cities with much admiration. From there he went to Nalanda (Bargaon), Rajagrha and Gaya, then a complete waste within its walls, but surrounded by many hallowed spots, all duly noted by Fa-Hsien. Banares, including the Deer Park at Sarnath where the Buddha preached his first sermon, and lastly Kausambi with its garden of Ghociravana, the Ghositarama of recent discovery. AT this point he records what he heard of the Paravata monastery in the Deccan. From Banares, Fa-Hsien returned to Pataliputra. What he records of his efforts to gain written texts of Buddhism is interesting. Usually, they were transmitted orally from generation to generation, and only at the shrine of the Garden of Gold in Sravasti in a monastery of the Greater Vehicle he obtained a copy according to the text accepted at the First Council and practised by monks generally while the Buddha was still alive. • Sau đó ông đến Tích Lan trên đường trở về Trung Hoa. Tại Tích Lan, ông dành ra hai năm để thu thập và sao chép các kinh sách bằng tiếng Phạn chưa từng có tại Trung Hoa. Từ Tích Lan, Pháp Hiển lên một thương thuyền lớn đi Java. Pháp Hiển lưu lại Java năm tháng. Tại đây, ông thấy đạo Bà La Môn phát triển mạnh, trong khi niềm tin đạo Phật rất yếu ớt. Từ Java Pháp Hiển đáp tàu về Quảng Châu. Ông lưu lại Quảng Châu trong mùa đông trước khi lên đường về Nam Kinh. Khi đến Nam Kinh, ông trao lại cho Giáo Hội tất cả những Kinh Luật mà ông đã thu thập được—He then arrived in Ceylon on his way back to China. In Ceylon, he spent two years to collect and copy Sanskrit texts unknown in China. From Ceylon, Fa-Hsien sailed in a big merchant vessel to Java. He stayed in Java for five months. There he found Brahmanism flourishing while the faith of the Buddha was very weak. From Java, Fa-Hsien sailed in another merchant vessel to Kuang-Chou. He spent a winter in Kuang-Chou before going south to the capital, Nan-Ching, where he handed over to the Order all the Sutras and the Disciplines he had collected. • Phần kết của tập ký sự ông viết rất xúc động: “Pháp Hiển đã mất sáu năm để đi từ Trường An đến Trung Ấn, ở lại đây sáu năm, và mất thêm ba năm nữa mới về Quảng Châu. Bần đạo đã đi qua tất cả gần 30 nước. Trong cuộc hành trình dài với biết bao khó khăn nguy hiểm, Pháp Hiển chẳng nghĩ gì đến thân mạng tự nghĩ là không quan trọng của mình. Rất may là nhờ có sự hộ trì che chở của Tam Bảo, bần đạo đã bình an trở về được đến quê nhà. Thế nên, Pháp Hiển đã ghi lại trên các thẻ tre và bản lụa câu chuyện chuyến đi để mong chia sẻ cùng các độc giả tại Trung Quốc về những điều ít ai được biết đến nầy.”—The conclusion of his account is very touching, he says: “Fa-Hsien spent six years in travelling from Ch'ang-An to Central India; he stayed there for six years, and it took him three more years to get back to Kuang-Chou. He passed through thirty countries from the sandy desert westwards all the way to India. In the long journey with tremendous difficulties and dangers, Fa-Hsien had given no thought to his own unimportant life. Happily, owing to the protection of the Precious Trinity, he returned home safely. Therefore, he wrote down on bamboo tablets and silk accounts of what he had been through, desiring to share with the readers in China this rare information.”
; (法顯) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đông Tấn, người Vũ dương, Bình dương (tỉnh Sơn tây), họ Cung, có thuyết cho rằng sư sinh vào năm Hàm khang thứ 6 (340) đời Đông Tấn.Sư xuất gia năm 3 tuổi, 20 tuổi thụ giới Cụ túc. Năm Long an thứ 3 (399), sư cùng các bạn đồng học là Tuệ cảnh, Đạo chỉnh, Tuệ ứng, Tuệ ngôi v.v... rời thành Trường an, băng qua vùng sa mạc, vượt dãy núi Thông lãnh đến Thiên trúc cầu pháp. Lúc bấy giờ sư đã 60 tuổi. Sau khi chiêm bái các nơi Phật tích, sư ở lại thành Hoa thị (Phạm:Pàỉaliputra, nay là thành phố Patna, thuộc tiểu bang Bihar) học 3 năm, 2 năm học ở vùng hạ du sông Hằng gần Calcutta, sau đến Tích lan học 2 năm, rồi qua Sumatra. Sư đã học luật, Trường a hàm, Tạp a hàm, kinh Niết bàn v.v... Năm Nghĩa hi thứ 9 (413), sư trở về nước sau hơn 10 năm du học. Sư mang về rất nhiều kinh điển bằng tiếng Phạm. Rồi ở chùa Đạo tràng, sư cùng với ngài Phật đà bạt đà la hợp lực cùng dịch các kinh luật luận như sau: Luật Ma ha tăng kì, kinh Đại bát nê hoàn, kinh Tạp tạng, luận Tạp a tì đàm tâm... Ngoài ra, sư còn soạn bộ Phật quốc kí(cũng gọi Cao tăng Pháp hiển truyện) ghi lại những điều mắt thấy tai nghe trong cuộc hành trình cầu pháp từ các nước vùng Trung á đến Ấn độ đương thời. Đây là tác phẩm có ý nghĩa quan trọng về mặt văn hiến. Sau, sư thị tịch ở Tân tự tại Kinh châu, khoảng năm Nghĩa hi 14 đến niên hiệu Cảnh bình năm đầu (418-423), thọ 86 tuổi, có thuyết nói thọ 82 tuổi. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 3, 8; Lương cao tăng truyện Q.3; Ngụy thư thích lão chí Q.20; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7].
pháp hiển thiền sư
Fa-Hien (C)Tên một vị cao tăng Trung Quốc thời xưa.
pháp hiển truyện
(法顯傳) Cũng gọi Cao tăng Pháp hiển truyện, Phật quốc kí, Lịch du Thiên trúc kí truyện, Cao tăng truyện. Truyện kí, 1 quyển, do ngài Pháp hiển soạn vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sách này ghi lại quá trình ngài Pháp hiển đi qua các nước Tây vực đến Ấn độ cầu pháp. Đây là bộ sách xưa nhất trong các bộ du kí của những vị cao tăng Trung quốc sang Ấn độ cầu pháp hiện còn. Bộ sách này cùng với các bộ: Đại đường tây vực kí của ngài Huyền trang và bộ Nam hải kí qui nội pháp truyện của ngài Nghĩa tịnh đều là những tư liệu quan trọng về lịch sử, địa lí của thời Trung cổ. Vào thế kỉ XIX, sách này rất được các học giả Âu tây coi trọng và đã được dịch ra các thứ tiếng sau đây: -Foekoue Ki ou Relation des royaumes bouddhiques Paris, 1836 par A. Rémusat. -Travels of Fa-hian and Sung yun, Buddhist Pilgrims from China to India London, 1869, by S. Beal. -Record of the Buddhistic Kingdoms, London, 1877, by H.A. Giles. -A Record of the Buddhistic Kingdoms, being an Account by the Chinese Monk Fa-hsien Oxford, 1886, by J.Legge. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.15; Cao tăng truyện Q.3; Đại đường nội điển lục Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.30].
Pháp Hiển 法顯
[ja] ホウケン Hōken ||| Faxian (320?-420?) Famous Buddhist pilgrim and translator. Traveled to India from 399 to 414. On his return, he translated the six-fascicle version of the Mahāparinirvāna-sūtra 涅槃經 and some forty fascicles of vinaya materials. Also wrote a text called The "Record of Buddhist Kingdoms" and the 法句經. => c: Faxian (320?-420?) Nhà chiêm bái và dịch thuật Phật giáo. Sư đã đến Ấn Độ từ năm 399 đến 414. Khi trở về Trung Hoa, sư đã dịch bộ kinh Niết-bàn gồm 6 quyển, và dịch chừng 40 bộ luật quan trọng. Sư còn viết các tác phẩm 'Ghi chép về vương quốc Phật giáo' (e: Record of Buddhist Kingdoms) và Pháp cú kinh 法句經.
pháp hiện hành chẳng tương ưng
Chẳng phải vô hình như Tâm vương, Tâm sở, chẳng phải có hình như sắc pháp, với ba thứ pháp này chẳng tương ưng mà lại biến hóa ảo tượng trong vũ trụ, nên gọi là pháp hiện hành chẳng tương ưng, cũng như sanh, trụ, dị, diệt, mạng căn, đắc, phi đắc… Tất cả mười bốn thứ.
pháp hiệu
The name received by a monk on ordination; also his/her posthumous title.
; Tên đạo của một vị sư khi được làm lễ thọ giới—The name received by a monk on ordination.
; (法號) I. Pháp Hiệu. Cũng gọi Giới danh, Pháp húy, Pháp danh. Tên do thầy đặt cho sau khi xuất gia thụ giới.(xt. Pháp Danh). II. Pháp Hiệu. Chỉ cho thụy hiệu của các sư sau khi tịch.
pháp hoa
1) Kinh Diệu Pháp Liên Hoa—The Dharma-flower, i.e. the Lotus Sutra. 2) Tên của một ngôi chùa nổi tiếng tọa lạc trong quận Phú Nhuận, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Đạo Thanh xây năm 1928 và trùng tu năm 1932. Trong Chánh điện có tượng Phật tạc 150 năm về trước từ nguyên khối đá cẩm thạch của núi Ngũ Hành Sơn Đà Nẳng. Trên tường bên hông Chánh điện có bản “Công Cứ Niệm Phật” bằng gỗ, được Hòa Thượng Khánh Anh khắc năm 1920. Giữa là một bao lam khắc Tam Thánh, Cửu Phẩm Liên Hoa và Thánh chúng bên dưới—Name of a famous pagoda located in Phú Nhuận district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built in 1928 and rebuilt in 1932. In the Main Hall, the statue of Sakyamuni Buddha is worshipped. The statue is made of a block of marble stone, and was cast 150 years ago from Mount Ngũ Hành in Đà Nẳng province. On the wall of the Main Hall, there is the “Công Cứ Niệm Phật” board, carved in wood by Most Venerable Khánh Anh in 1920. In the middle of the board is the bas-relief of the Three Amitabha Noble Ones, the Lotus of Nine Stages and Sages are placed at the bottom.
pháp hoa (kinh)
Saddharma-pundarika-sutra (S), Hokkyô (J). Lotus sutr
pháp hoa bát diệp
(法華八葉) Tám cánh hoa của diệu pháp. Theo Mật giáo thì hoa sen của diệu pháp tượng trưng cho nhục đoàn tâm (trái tim) của chúng sinh. Bởi vậy, giống như nhục đoàn tâm có 8 múi, hoa sen của diệu pháp cũng có 8 cánh, gọi là Pháp hoa bát diệp.[X. Pháp hoa bí lược yếu sao Q.1].
pháp hoa bát giảng
(法華八講) Cũng gọi Ngự bát giảng hội, Ngự bát giảng. Gọi tắt: Bát giảng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho pháp hội giảng diễn cúng dường kinh Pháp hoa. Bộ kinh Pháp hoa có 8 quyển, được chia ra 8 tòa giảng thuyết, mỗi tòa giảng thuyết một quyển, vì thế gọi là Pháp hoa bát giảng. Loại pháp hội này có nguồn gốc tại Trung quốc, sau thịnh hành ở Nhật bản. Cứ theo truyện Tuệ minh đời Đường trong Pháp hoa truyện kí quyển 3 (Đại 51, 58 trung) ghi: Người trời nói: Tôi muốn trở về cõi trời gấp, xin sư hãy chia bộ kinh ra giảng làm 8 lần. Ngài Tuệ minh nói: Trì tụng 7 quyển thì chia làm 7 tòa giảng, cần gì phải chia làm tám? Người trời đáp: Đức Phật nói kinh Pháp hoa trong 8 năm, nếu giảng 8 năm thì lâu quá. Tôi muốn mở 8 tòa giảng coi như là nói 8 năm, như vậy có thể tóm lược ý chỉ của Phật. Ngài Tuệ minh chấp nhận, bèn chia 7 quyển kinh làm 8 hội giảng. Đó là nguồn gốc của việc chia kinh Pháp hoa làm 8 hội để giảng. Ngoài ra, tại Nhật bản, có nơi thêm kinh Vô lượng nghĩa vào phần mở đầu và kinh Quán phổ hiền vào phần kết thúc của 8 quyển kinh Pháp hoa mà chia làm 10 tòa để giảng thuyết, gọi là Pháp hoa thập giảng. Cũng có khi thêm kinh Vô lượng nghĩa và kinh Quán phổ hiền vào 28 phẩm kinh Pháp hoa, rồi mỗi ngày giảng 1 phẩm thành 30 hội giảng, gọi là Pháp hoa tam thập giảng; hoặc cũng có ngày giảng 2 phẩm. Những pháp hội này đều gọi là Pháp hoa hội, Pháp hoa vấn đáp giảng. [X. Duệ sơn đại sư truyện, Nhật bản kỉ lược hậu thiên Q.13, Phù tang lược kí Q.23, 26, 29; Nguyên hanh thích thư Q.2; Thất đại tự niên biểu].
pháp hoa huyền luận
(法華玄論) Cũng gọi Pháp hoa kinh huyền luận. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Cát tạng (549-623) soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Sách này dựa theo giáo chỉ Tam luận để giải thích rõ yếu nghĩa của kinh Pháp hoa. Nội dung bao gồm: 1. Hoằng kinh phương pháp: Nói về cách thức hoằng truyền kinh Pháp hoa. 2. Đại ý: Nói về 16 nguyên do đức Phật tuyên thuyết kinh Pháp hoa. 3. Thích danh: Giải thích ý nghĩa đề kinh Diệu pháp liên hoa. 4. Lập tông: Nói rõ về tông chỉ của kinh Pháp hoa. 5. Quyết nghi: Bàn về điểm giống nhau và khác nhau giữa 3 bộ kinh Bát nhã, Tịnh danh và Pháp hoa. 6. Tùy văn thích nghĩa: Lần lượt giải thích đại cương của 28 phẩm kinh Pháp hoa.Trong sách này, tác giả có trưng dẫn các thuyết của nhiều nhà như: Tăng duệ, Tuệ quán, Đạo lãng, Lưu cầu, Cưu ma la thập, Tăng triệu,Cầu na bạt ma, Đạo sinh, Tuệ viễn, Bồ đề lưu chi v.v... [X. Pháp hoa luận sớ Q.thượng; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Tam luận tông chương sớ].
Pháp Hoa huyền luận 法華玄論
[ja] ホッケゲンロン Hokke genron ||| The Fahua xuan lun; T 1720.34.361a-450c. => (j: Hokke genron; c: Fahua xuan lun).
Pháp Hoa Huyền Nghĩa
(法華玄義, Hokkegengi): thường gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Hoa Kinh Huyền Nghĩa (妙法蓮華經玄義), gọi tắt là Huyền Nghĩa (玄義), 10 quyển, là một trong 3 bộ luận lớn của Thiên Thai Tông, do Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-597) giảng thuật trong mùa an cư năm 594 tại Ngọc Tuyền Tự (玉泉寺), Kinh Châu (荆州) vào năm 593 (niên hiệu Khai Hoàng [開皇] thứ 13 của nhà Tùy); sau đó Chương An Quán Đảnh (章安灌頂) chấp bút chỉnh lý và thêm lời tựa cho bộ này. Từ 5 phương diện Thích Danh (釋名), Biện Thể (辨体), Minh Tông (明宗), Luận Dụng (論用) và Phán Giáo (判敎), bộ này nói lên đặc sắc của 5 phương diện này về đề Kinh Pháp Hoa. Đây được gọi là Ngũ Trùng Huyền Nghĩa (五重玄義) và trở thành truyền thống của phương pháp giải thích Kinh Pháp Hoa trong Thiên Thai Tông. Luận thư này khái quát về chữ pháp (法) thông qua 3 pháp là Tâm (心), Phật (佛), Chúng Sanh (眾生); giải thích chữ diệu (妙) là Tương Đãi (相待), Tuyệt Đãi (絕待); lại giải thích thêm bằng Thập Diệu (十妙) của Tích Môn (迹門) và Bản Môn (本門). Có thể nói đây là thư tịch khái luận Phật Giáo, lấy giáo phán độc đáo của Thiên Thai để thống nhiếp toàn bộ Phật Giáo.
pháp hoa huyền nghĩa
(法華玄義) Gọi đủ: Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa. Gọi tắt: Pháp hoa kinh huyền nghĩa, Huyền nghĩa, Diệu huyền. Tác phẩm, 10 quyển (hoặc 20 quyển) do Đại sư Trí khải tông Thiên thai giảng vào năm Khai hoàng 13 (593) đời Tùy ở chùa Ngọc tuyền, Kinh châu, ngài Quán đính ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 33. Sách này giải thích đề kinh Diệu pháp liên hoa và nói rõ nghĩa lí sâu xa mầu nhiệm của kinh Pháp hoa. Nội dung chia làm 2 phần: Thất phiên cộng giải và Ngũ trùng các thuyết, tức Ngũ trùng huyền nghĩa (Thích danh, Biện thể, Minh tông, Luận dụng, Phán giáo) được chia làm 2 môn Thông và Biệt để giải thích. -Thông thích: Lập 7 khoa: Tiêu chương, Dẫn chứng, Sinh khởi, Khai hợp, Liệu giản, Quán tâm và Hội dị để giải thích chung về đại cương của bộ kinh, gọi là Thất phiên cộng giải (7 lược giải chung). -Biệt giải: Căn cứ vào Ngũ trùng huyền nghĩa (5 lớp nghĩa sâu kín)nói trên mà giải thích riêng từng lớp một, gọi là Ngũ trùng các thuyết, gồm có 5 chương: 1. Thích danh: Giải thích rõ về 5 chữ đề kinh Diệu pháp liên hoa kinh, trong đó bao hàm 2 diệu nghĩa Đãi và Tuyệt, Tích môn và Bản môn. 2. Biện thể: Nói rõ thực tướng các pháp là thể của kinh này. 3. Minh tông: Nhấn mạnh Nhất thừa chân thực, lấy nhân quả của Phật thừa làm tông chỉ của kinh này. 4. Luận dụng: Lấy đoạn nghi sinh tín, tăng đạo tổn sinh là tác dụng của kinh này. 5. Phán giáo: Lập thuyết 5 thời 8 giáo, nhận kinh này là giáo pháp đề hồ, thuần viên độc diệu. Nội dung Thất phiên cộng giải (7 lượt giải chung) và Ngũ trùng các thuyết (5 lớp nói riêng) được đồ biểu như sau (thiếu biểu đồ). 2. Biệt thích Thông thích (Thất phiên cộng giải) 1. Tiêu chương 2. Dẫn chứng 3. Sinh khởi 4. Khai hợp 5. Liệu giản 6. Quán tâm 7. Hội dị Biệt thích (Ngũ trùng các thuyết) 1. Thích danh 2. Biện thể 3. Minh tông 4. Luận dụng 5. Phán giáo 1. Lược thị 2. Chính thích 1. Pháp (Tam pháp diệu) Tích môn 1. Cảnh diệu 2. Trí diệu 3. Hành diệu 4. Vị diệu 5. Tam pháp diệu 6. Cảm ứng diệu 7. Thần thông diệu 8. Thuyết pháp diệu 9. Quyến thuộc diệu 10. Lợi ích diệu Bản môn 1. Bản tích 2. Thập diệu 2. Diệu Diệu pháp 1. Phán thông biệt 2. Định tiền hậu 3. Xuất cựu 4. Chính giải Liên hoa 1. Định pháp thí 2. Dẫn cựu giải 3. Xuất kinh luận 4. Chính giải Kinh 1. Thông thích (Đãi Tuyệt nhị diệu)
pháp hoa huyền nghĩa thích thiêm
(法華玄義釋簽) Cũng gọi Thiên thai Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm, Pháp hoa thích tiêm, Huyền nghĩa thích tiêm, Huyền tiêm, Thích tiêm, Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa thích tiêm. Tác phẩm, 20 quyển (hoặc 10 quyển), do ngài Trạm nhiên (711-782) soạn vào năm Quảng đức thứ 2 (764) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 33. Đây là tác phẩm giải thích bộ Pháp hoa huyến nghĩa của ngài Trí khải. Trước hết chia toàn văn của bộ Pháp hoa huyền nghĩa thành những tiết, rồi sau đó giải thích ý văn và nghĩa chữ, những điểm quan trọng có diễn giải bổ sung thêm. Trong sách này có nhiều chỗ phê bình và bác xích thuyết của các ngài Cát tạng tông Tam luận, Khuy cơ tông Pháp tướng, Pháp tạng, Tuệ uyển, Trừng quán... tông Hoa nghiêm, trong khi nỗ lực làm sáng tỏ chân ý của tông Thiên thai. Đời sau, những người nghiên cứu nghĩa sâu xa của kinh Pháp hoa, phần nhiều dùng sách này làm kim chỉ nam. [X. Thiên thai tông chương sớ; Đông vực truyền đăng mục lục Q.thượng; Phật tổ thống kỉ Q.10, 25, 47; Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.39].
Pháp Hoa huyền tán
法華玄贊; C: făhuā xuánzàn; J: hokke gensan; |20 quyển, Khuy Cơ biên soạn. Nhan đề đầy đủ là Pháp liên hoa kinh huyền tán (法蓮華經玄贊). Đó là giải thích về kinh Pháp Hoa theo quan điểm của Pháp tướng tông. Bao gồm trích dẫn luận giải của Thế Thân về kinh Pháp Hoa, cũng như trích dẫn luận giải của vài học giả nổi tiếng khác về Duy thức.
pháp hoa huyền tán
(法華玄贊) Cũng gọi Diệu pháp liên hoa kinh huyền tán, Pháp hoa kinh huyền tán, Huyền tán. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Từ ân Khuy cơ (623-682) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Sách này theo lập trường Duy thức học của tông Pháp tướng để giải thích kinh Pháp hoa, y cứ vào chủ trương Nhất thừa phương tiện, Tam thừa chân thực của luận Nhiếp đại thừa mà phê phán thuyết của các tông Thiên thai, Hoa nghiêm... Trong sách có dẫn dụng luận Pháp hoa của ngài Thế thân, Chú pháp hoa kinh của ngài Lưu cầu, Chú vô lượng nghĩa kinh của ngài Tuệ biểu v.v... Nội dung sách này trước hết nói về nguyên nhânhưng khởi của kinh Pháp hoa, kế đến nói rõ về tông chỉ kinh Pháp hoa, giải thích lí do đặt tên và thứ tự của các phẩm kinh, cuối cùng là giải thích văn kinh. Sách này có bản dịch Tây tạng đề là Diệu pháp liên hoa chú, được thu vào Đại tạng kinh Tây tạng. Về các sách chú thích Pháp hoa huyền tán thì có: Pháp hoa huyền tán nghĩa quyết 1 quyển, Pháp hoa huyền tán nhiếp thích 4 quyển, Pháp hoa huyền tán quyết trạch kí 8 quyển. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Pháp tướng tông chương sớ].
Pháp Hoa huyền tán 法華玄贊
[ja] ホッケゲンサン Hokke gensan ||| Fahua xuanzan; 20 fasc., compiled by Kuiji 窺基. T 1723.34.651-854. Its full title is Falianhuajing xuanzan 法蓮華經玄贊. It is an explanation of the Lotus Sutra 法華經 from the perspective of the Faxiang 法相 school. Contained within are quotations from Vasubandhu's 世親 treatise on the Lotus Sutra, as well as citations from several other prominent Consciousness-only thinkers. (j: Hokke gensan ;c: Fahua xuanzan); 20 quyển, Khuy Cơ biên soạn. Nhan đề đầy đủ là => Pháp liên hoa kinh huyền tán (c: Falianhuajing xuanzan 法蓮華經玄贊). Đó là giải thích về kinh Pháp Hoa theo quan điểm của Pháp tướng tông. Bao gồm trích dẫn luận giải của Thế Thân về kinh Pháp Hoa, cũng như trích dẫn luận giải của vài học giả nổi tiếng khác về Duy thức.
Pháp Hoa kinh
法華經; C: făhuā jīng; J: hokkekyō; |Có 2 bản dịch: 1. Diệu pháp liên hoa kinh (妙法蓮華經), Cưu-ma-la-thập dịch; 2. Chính Pháp Hoa kinh (正法華經), Trúc Pháp Hộ (s: dharmarakṣa) dịch.
pháp hoa kinh
Lotus sŪtra (P), Lotus of Wonderful Dharma Sutra, Garland sŪtra, Myoho Renge Kyo (J), Saddharma-puṇḍarīka-sŪtra (S), Hoke-kyō (J)Tên một bộ kinh.
; Saddharma-pundarika-sutra (skt)—The Lotus Sutra. ** For more information, please see Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
pháp hoa kinh an lạc hành nghĩa
(法華經安樂行義) Cũng gọi An lạc hạnh nghĩa, Pháp hoa an lạc hạnh. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuệ tư (515- 577) soạn vào đời Trần thuộc Nam triều, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Sách này y cứ vào hạnh Tam muội được chỉ bày trong phẩm An lạc hạnh của kinh Pháp hoa mà nói rõ về việc thực hành Pháp hoa tam muội gồm có 2 loại: Hữu tướng hạnh và Vô tướng hạnh. 1. Hữu tướng hạnh: Dựa vào phẩm Phổ hiền khuyến phát trong kinh Pháp hoa mà nói về hạnh quán tưởng Phổ hiền, nhấn mạnh việc tinh tiến đọc tụng kinh Pháp hoa.2. Vô tướng hạnh: Chuyên tu thiền định, thể nhập tam muội trong hết thảy các pháp tâm tướng vắng lặng, rốt ráo chẳng sinh. Ngài Tuệ tư suốt đời thực hành nghĩa không của Bát nhã mà đạt được ý chỉ sâu xa của Phật pháp. Vì muốn cho mọi người tu hành đều được sự lợi ích của chính pháp, nên ngài đem sự thể nghiệm của bản thân trình bày thành sách này. Kết quả không những phát huy tu thiền và niệm Phật, mà còn là nhân tố khai sinh ra giáo quán Thiên thai. Đối với lịch sử giáo lí của Phật giáo Trung quốc, tác phẩm này đã ảnh hưởng rất lớn.
pháp hoa kinh nghĩa kí
(法華經義記) Cũng gọi Pháp hoa nghĩa kí, Pháp hoa nghĩa sớ, Pháp hoa kinh sớ, Pháp hoa sớ, Diệu pháp liên hoa kinh nghĩa kí, Diệu pháp liên hoa kinh nghĩa sớ, Pháp hoa kinh nghĩa sớ, Pháp hoa quang trạch sớ. Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Pháp vân (467-520) soạn vào đời Lương, được thu vào Đại chính tạng tập 33. Đây là sách chú thích kinh Diệu pháp liên hoa, trước hết, giải thích đề kinh, kế đến, bàn về tông chỉ của kinh, đem chia văn kinh thành 3 phần: Phần Tựa, phần Chính tông và phần Lưu tông, rồi giải thích nghĩa văn của 27 phẩm, từ phẩm Tựa trở xuống đến phẩm Phổ hiền khuyến phát. Dưới mỗi phẩm đều có lập khoa để nói rõ về trình tự đức Phật thuyết kinh Pháp hoa. Đặc biệt sách này giải thích rõ ràng thêm về ý nghĩa của 2 trí Quyền và Thực trong phẩm Phương tiện và nghĩa 3 xe (xe bò, xe nai và xe dê) trong phẩm Thí dụ. Nhưng không giải thích về phẩm Đề bà đạt đa và phần Trùng tụng trong phẩm Phổ môn, bởi vì, thời bấy giờ kinh Pháp hoa vẫn chưa có phẩm Đề bà đạt đa. Còn phần 16 vương tử nói kệ trong phẩm Hóa thành dụ cũng bị lược bớt. Chỉ trừ bộ Pháp hoa kinh sớ (bản xưa) của ngài Trúc đạo sinh, bộ Pháp hoa kinh nghĩa kí này là xưa nhất so với các bộ chú giải kinh Pháp hoa hiện còn ở Trung quốc. Ngoài ra, bộ Pháp hoa kinh nghĩa sớ của Thái tử Thánh đức, Nhật bản và các bộ Pháp hoa sớ của ngài Trí khải, ngài Cát tạng v.v... không nhiều thì ít đều có chịu ảnh hưởng của tác phẩm này. [X. Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.13].
pháp hoa kinh sớ
(法華經疏) I. Pháp Hoa Kinh Sớ. Cũng gọi Pháp hoa kinh lược sớ, Pháp hoa nghĩa sớ, Diệu pháp hoa kinh lược sớ, Diệu pháp liên hoa kinh sớ, Diệu pháp liên hoa kinh lược sớ. Kinh sớ, 2 quyển, do ngài Trúc đạo sinh soạn vào đời Lưu Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 150. Sách này được hoàn thành ở tinh xá Đông lâm tại Lô sơn vào năm Nguyên gia thứ 9 (432), trong đó, ngài Trúc đạo sinh chỉnh lí các bài giảng của thầy là Đại sư Cưu ma la thập, rồi thêm phần kiến giải của riêng mình để nói rõ về chân nghĩa Nhất thừa của kinh Pháp hoa và chia văn kinh làm 3 đoạn: Nhân, Quả vàNgười để thuyết minh về nhân quả Nhất thừa. Đây là sách chú thích còn giữ được nguyên hình bản dịch kinh Pháp hoa của ngài Cưu ma la thập. Chẳng hạn, trong sách này không có phẩm Đề bà đạt đa, nên chỉ là hình thái kinh Pháp hoa 27 phẩm và trong phẩm Phổ môn cũng không có phần kệ trùng tụng... đây đều là giữ được hình thái xưa nhất của kinh Pháp hoa. Rồi đến sự giải thích về Diệu pháp, Tam nhất khai hiển, Cửu viễn hiển bản... đều giống với chủ trương của môn hạ ngài La thập. Ngoài ra, sách này tuy có bàn về Viên lí, Trung đạo nhưng chưa được rõ ràng như Thiên thai, Hoa nghiêm... Nhưng vấn đề Thiên thai, Hoa nghiêm... kế thừa tư tưởng của sách này thì không còn nghi ngờ gì nữa. Trong những tác phẩm của ngài Trúc đạo sinh, sách này là bản duy nhất hiện còn và cũng là sách chú thích kinh Pháp hoa xưa nhất còn lại ở Trung quốc. Lời văn lưu loát, trong sáng và ý tưởng phong phú; tác giả cũng còn dùng những tự cú của các kinh sách khác như kinh Dịch... 1 cách rất khéo léo, khiến cho phần giải thích giáo nghĩa thêm linh hoạt, mới mẻ. Phong cách ưu việt của tác phẩm này đã trở thành khuôn mẫu cho những sách chú thích kinh điển ở đời sau. Có thuyết cho rằng sách này không phải do ngài Trúc đạo sinh soạn, mà là do người khác ngụy tạo; nhưng theo truyện Đạo sinh trong Xuất tam tạng kí tập quyển 15, thì ngài Đạo sinh có soạn các bộ nghĩa sớ của các kinh như: Kinh Duy ma, Pháp hoa, Nê hoàn, Tiểu phẩm bát nhã v.v... Hơn nữa, ở đầu quyển và cuối quyển của Pháp hoa kinh nghĩa kí đều ghi 4 chữ: Trúc Đạo Sinh Soạn. Điều này chứng tỏ thuyết trên đã không có cơ sở chính xác. Ngoài ra, sách này còn có 3 loại bản dịch đào được ở hang động Đôn hoàng, đều được thu vào Đại chính tạng tập 85. II. Pháp Hoa Kinh Sớ. Cũng gọi pháp hoa kinh nghĩa kí, Pháp hoa quang trạch sớ, Pháp hoa sớ, Pháp hoa nghĩa sớ. Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Pháp vân, chùa Quang trạch, soạn vào đời Lương, được thu vào Đại chính tạng tập 33. (xt. Pháp Hoa Kinh Nghĩa Kí).
pháp hoa kinh thập thất danh
(法華經十七名) Mười bảy tên của kinh Pháp hoa. Trong tác phẩm Pháp hoa kinh luận của mình, ngài Thế thân có nêu ra 17 tên gọi khác nhau của kinh Pháp hoa để hiển bày ý nghĩa sâu xa mầu nhiệm không thể nghĩ bàn của kinh này. Đó là: 1. Vô lượng nghĩa kinh (Phạm: Mahànirdeza): Đức Phật muốn nói về lí Nhất thực tướng của Pháp hoa, nên trước hết Ngài nói Vô lượng nghĩa xứ, đem vô lượng nghĩa này qui về lí Nhất thực tướng. 2. Tối thắng tu đa la (Phạm:Sùtrànta): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, là diệu pháp hơn hết trong Tam tạng, không có kinh nào sánh bằng. 3. Đại phương quảng kinh (Phạm: Mahà-vaipulya): Kinh Pháp hoa chỉ bàn về lí Nhất thừa thực tướng, đầy đủ 3 nghĩa: Đại (rộng lớn), Phương (chính lí) và Quảng (trùm khắp). 4. Giáo bồ tát pháp (Phạm: Bodhisattvàvavàda): Kinh Pháp hoa chỉ bàn về lí Nhất thừa thực tướng mà đức Như lai dùng để giáo hóa tất cả Bồ tát đã thành tựu thiện căn, tùy thuận pháp khí, khiến chứng được quả vị Phật. 5. Nhất thiết chư Phật sở hộ niệm (Phạm: Sarva-buddha-parigraha): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng mà đức Phật đã tự chứng đắc và được hết thảy chư Phật hộ niệm. Tuy muốn mở bày cho chúng sinh, nhưng vì căn cơ của họ còn thấp kém, nên Ngài tạm thời im lặng không vội nói ra. 6. Nhất thiết chư Phật bí mật pháp (Phạm: Sarva-buddha-rahasya): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, pháp này rất sâu xa, huyền nhiệm, là pháp bí mật của hết thảy chư Phật và chỉ có chư Phật chứng biết được. 7. Nhất thiết chư Phật chi tạng(Phạm: Sarva-buddha-nigùđha): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, công đức Tam muội của tất cả các đức Như lai đều bao hàm trong kinh này. 8. Nhất thiết chư Phật bí mật xứ (Phạm: Sarva-buddha-guhya-sthàna): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, đó là tạng bí mật của hết thảy chư Phật. Vì thiện căn của chúng sinh chưa chín mùi, chưa đủ khả năng để lãnh nhận diệu pháp, nên đức Phật không vội diễn nói cho họ. 9. Năng sinh nhất thiết chư Phật kinh (Phạm: Sarva-buddha-jàti): Kinh Pháp hoa chỉ bàn về lí Nhất thừa thực tướng, chư Phật trong 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) đều nhờ pháp này mà thành tựu đạo quả Đại bồ đề. 10. Nhất thiết chư Phật chi đạo tràng (Phạm: Sarva-buddha-bodhi-maịđa): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, đó là đạo tràng của tất cả chư Phật; người nghe pháp này thì có thể thành tựu được đạo quả Bồ đề. 11. Nhất thiết chư Phật sở chuyển pháp luân (Phạm: Sarva-buddhadharma-cakra-pravartana): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, chư Phật ra đời đều dùng pháp môn này để quay bánh xe pháp diệt trừ phiền não chướng cho hết thảy chúng sinh, làm cho họ được giải thoát. 12. Nhất thiết chư Phật kiên cố xá lợi (Phạm: Sarva-buddhaika-ghana-zarìra): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, đó là xá lợi của Pháp thân Phật mà từ xa xưa đến nay không đổi dời, không hư hoại.13. Nhất thiết chư Phật đại xảo phương tiện kinh (Phạm: Sarvopàyakauzalya): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, chư Phật nhờ pháp môn này mà đã thành tựu Đại bồ đề, trở lại dùng phương tiện thiện xảo rộng lớn diễn nói pháp Nhân, Thiên, Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát khiến chúng sinh ngộ nhập cảnh giới Phật. 14. Thuyết nhất thừa kinh (Phạm: Ekayàna-nirdeza) Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, hiển bày thể tính bồ đề rốt ráo của chư Phật, chẳng phải là chỗ mà hàng Thanh văn, Duyên giác có thể chứng được. 15. Đệ nhất nghĩa trụ (Phạm: Paramàrtha-nirhàra-nirdeza): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, đó là chỗ an trụ tột cùng của Pháp thân Như lai. 16. Diệu pháp liên hoa kinh (Phạm: Saddharma-puịđarìka): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng. Kinh này dùng hoa sen làm thí dụ, bởi vì Diệu pháp tức là quyền thực nhất thể, mà hoa sen thì hoa quả đồng thời. 17. Tối thượng pháp môn (Phạm: Dharma-paryàya): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, vô lượng pháp nghĩa được hiển bày trong các kinh đều chứa đựng trong kinh này, vì thế kinh này là thù thắng hơn hết trong các kinh.
Pháp Hoa kinh truyện ký 法華經傳記
[ja] ホッケキョウデンキ Hokkekyō denki ||| The Fahua jing chuan ji; T 2068.51.48b-97a. => (j: Hokkekyō denki ;c: Fahua jing chuan ji).
pháp hoa kinh tán
Saddharma-puṇḍarīka-stava (S)Tên một bộ luận kinh.
Pháp Hoa kinh 法華經
[ja] ホッケキョウ Hokkekyō ||| The Fahua jing; the Lotus Sutra, of which there are two translations: (1) the Miaofa lianhua jing 妙法蓮華經 (T 262.9.1c-62b) by Kumārajīva, and (2) Zheng fahua jing 正法華經 (T 283.9.63-133) by Dharmarakṣa. => (j: Hokkekyō; c: Fahua jing; c: Lotus Sutra) Có 2 bản dịch: Diệu pháp liên hoa kinh (c: Miaofa lianhua jing 妙法蓮華經), của Cưu-ma-la-thập. Chính Pháp Hoa kinh (c: Zheng fahua jing 正法華經) của Trúc Pháp Hộ dịch.
pháp hoa linh nghiệm truyện
(法華靈驗傳) Cũng gọi Pháp hoa kinh linh nghiệm truyện. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Liễu viên (Liễu nhân), người Cao li soạn, được thu vào Vạn tục tạng tập 134. Nội dung sách này tường thuật 107 sự tích linh nghiệm có liên quan đến kinh Pháp hoa từ xưa đến nay, tức là sao chép những sự tích lạ lùng nhất trong 3 bộ sách: Hoằng tán Pháp hoa truyện, do ngài Tuệ tường soạn vào đời Đường, Pháp hoa kinh hiển ứng lục, do ngài Tông hiểu soạn vào đời Nam Tống và Hải đông truyền hoằng lục, do ngài Chân tịnh người Cao li soạn. [X. Đông vực truyền đăng mục lục Q.thượng].
Pháp Hoa luận
法華論; C: fă huá lùn; J: hokkeron; |Diệu Pháp Liên Hoa kinh ưu-ba-đề-xá (妙法蓮華經憂波提舎).
pháp hoa luận sớ
(法華論疏) Tác phẩm, 3 quyển (hoặc 2 quyển), do ngài Cát tạng (549-623) soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 40. Đây là sách chú giải bộ luận Pháp hoa của ngài Thế thân. Ngài Cát tạng soạn rất nhiều sách chú thích kinh Pháp hoa và trong những tác phẩm ấy của ngài, người ta nhận thấy ảnh hưởng của bộ luận Pháp hoa khá sâu đậm, sách này là 1 trong những tác phẩm ấy. Nội dung sách này nhằm chỉ ra sự sai lầm của những giáo phán Tứ tông, Ngũ thời... ở thời đại Nam Bắc triều, như đã hiểu sai ý chỉ mà hạ thấp kinh Pháp hoa là Vô thường giáo hoặc Phú tướng thường trụ giáo. Bởi thế, ngài Cát tạng đã đứng trên lập trường của tông Tam luận để làm sáng tỏ ý chỉ Nhất thừa thực tướng trong kinh Pháp hoa. Sách này đã có ảnh hưởng rất lớn đối với lịch sử giáo lí của Phật giáo. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Chư tông chương sớ lục Q.1; Đông vực truyền đăng mục lục Q.hạ].
Pháp Hoa luận 法華論
[ja] ホッケロン Hokkeron ||| Fahua lun; see 妙法蓮華經憂波提舎. => (j: Hokkeron; c: Fahua lun); xem Diệu Pháp Liên Hoa kinh ưu-ba-đề-xá (妙法蓮華經憂波提舎).
pháp hoa mạn trà la oai nghi hình thức pháp kinh
Fa-hua man-t'o-lo wei-i hsing-se fa ching (C)Tên một bộ kinh.
pháp hoa mạn đồ la
(法華曼荼羅) Cũng gọi Pháp hoa kinh mạn đồ la, Pháp hoa biến tướng. Bức Mạn đồ la khắc hoặc vẽ về những cảnh tượng được miêu tả trong kinh Pháp hoa.Tại Trung quốc, từ xưa, tín ngưỡng kinh Pháp hoa đã rất thịnh hành, cho nên có không ít những bức tranh vẽ hoặc chạm trổ về những cảnh tượng được miêu tả trong kinh Pháp hoa, như trong các hang động Vân cương và Long môn ở huyện Đại đồng, tỉnh Hà nam, có tháp Đa bảo được khắc vào thời đại Lục triều, trong tháp có đức Phật Thích ca và đức Phật Đa bảo cùng ngồi; trong động Thiên Phật ở huyện Đôn hoàng tỉnh Cam túc cũng có những bức bích họa Pháp hoa biến tướng được vẽ vào thời đại Đường, Tống. Trong đó, bức bích họa ở hang thứ 8 trong động Thiên Phật tại Đôn hoàng là tranh biến tướng của phẩm Tựa kinh Pháp hoa; rồi đến các bức bích họa trong các hang 74, 81, 102, 117, 120F, 168 v.v... đều là tranh vẽ biến tướng của các phẩm Pháp hoa. Trong các hang 97, 111, 135C... thì có các bức tranh vẽ và điêu khắc tháp Đa bảo. Trong Mật giáo, khi tu pháp kinh Pháp hoa thì dùng Mạn đồ la Pháp hoa, trong đó, vẽ đức Phật Thích ca và Phật Đa bảo làm Bản tôn. Theo Quán trí nghi quĩ thì Mạn đồ la Pháp hoa có 3 lớp: Lớp trong cùng (nội viện) vẽ hoa sen 8 cánh, trên đài sen có vẽ ngôi tháp, trong tháp vẽ đức Phật Thích ca và đức Phật Đa bảo cùng ngồi 1 tòa, trên mỗi cánh sen trong 8 cánh an trí 1 vị Bồ tát, ở mỗi góc trong 4 góc của lớp trong (nội viện)cũng đều an trí 1 vị Bồ tát. Ở lớp thứ 2 an trí 12 vị Bồ tát và 4 bồ tát Cúng dường. Lớp thứ 3 vẽ Tứ thiên vương, Long vương v.v... Ở 4 góc của Mạn đồ la vẽ 4 vị Đại minh vương. [X. Pháp hoa kinh truyện kí Q.6; Chư A xà lê chân ngôn Mật giáo bộ loại vật lục Q.hạ; Les Grottes du Touen Houang. 1, 3, 4, 6, par P. Pelliot].
Pháp Hoa nghĩa sớ
法華義疏; C: făhuā yìshū; J: hokke gisho; |Tác phẩm của Cát Tạng (吉藏).
pháp hoa nghĩa sớ
(法華義疏) Cũng gọi Pháp hoa kinh nghĩa sớ, Pháp hoa kinh sớ, Diệu pháp liên hoa kinh nghĩa sớ. Tác phẩm, 12 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Trong sách này, ngài Cát tạng đứng trên lập trường tông Tam luận để giải thích kinh Pháp hoa, ngài cũng trích dẫn nhiều kinh luật luận để chú thích thêm. Toàn sách lập thành 3 nghĩa: Bộ loại bất đồng, Phẩm thứ sai biệt và Khoa kinh phân tề để nói về đại cương kinh Pháp hoa, sau đó, lần lượt giải thích kinh văn từ phẩm Tựa đến phẩm 28. 1. Bộ loại bất đồng: Nêu 7 trường hợp để chỉ rõ bộ loại các kinh, lấy bản kinh 28 phẩm làm bản đầy đủ. 2. Phẩm thứ sai biệt: Lập thành -Nói về nguyên do sinh khởi của các phẩm. -Nói rõ về nghĩa nhiều hay ít. -Bàn về thứ tự trước sau của các phẩm. - Nói rõ về lí do các phẩm có hay không. - Giải thích riêng về phẩm Tựa. 3. Khoa kinh phân tề: Nêu lên các thuyết khác và kiến giải của mình về sự phân khoa của các kinh.Kế đó, giải thích 28 phẩm của kinh. - Quyển 1 đến quyển 6, giải thích 3 phẩm, từ phẩm Tựa trở xuống. - Quyển 7, giải thích phẩm Tín giải. - Quyển 8, giải thích 3 phẩm, từ phẩm Dược thảo dụ trở xuống. - Quyển 9, giải thích 6 phẩm, từ phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trở xuống. - Quyển 10, giải thích 6 phẩm, từ phẩm An lạc hạnh trở xuống. - Quyển 11, giải thích 6 phẩm, từ phẩm Tùy hỉ công đức trở xuống. - Quyển 12, giải thích 5 phẩm còn lại. Trong đó, chỉ thiếu có phần kệ trùng tụng của phẩm Phổ môn. Đây là bộ sách sớ giải rất có giá trị đối với việc nghiên cứu kinh Pháp hoa. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Tam luận tông chương sớ]. II. Pháp Hoa Nghĩa Sớ. Cũng gọi Thượng quan Pháp hoa sớ. Tác phẩm, 4 quyển, do Thái tử Thánh đức người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 56. Nội dung sách này giải thích văn nghĩa của kinh Pháp hoa. Trước hết trình bày đại ý của toàn kinh, kế đến giải thích đề kinh, nêu 3 phân khoa, sau cùng, giải thích 27 phẩm của kinh. Về cách chia khoa và giải thích ý kinh, sách này chủ yếu lấy bộ Pháp hoa nghĩa kí của ngài Pháp vân, chùa Quang trạch đời Lương làm căn cứ. III. Pháp Hoa Nghĩa Sớ. Tác phẩm, 8 quyển, là tên khác của Pháp hoa kinh nghĩa kí.
Pháp Hoa nghĩa sớ 法華義疏
[ja] ホッケギソ Hokke gisho ||| The Fahua yishou by Jicang 吉藏; T 1721.34.451a-633b. => (j: Hokke gisho ;c: Fahua yishou), của Cát Tạng (Jicang 吉藏).
pháp hoa ngũ bách vấn luận
(法華五百問論) Cũng gọi Pháp hoa kinh ngũ bách vấn luận, Ngũ bách vấn luận, Thích nghi. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Trạm nhiên (711-782) soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 100. Đây là sách chú thích kinh Pháp hoa vào thời Trung đường, tác giả đứng trên lập trường của tông Thiên thai để bác xích và vấn nạn thuyết của ngài Từ ân thuộc tông Pháp tướng trong tác phẩm Pháp hoa huyền tán. Toàn sách được viết theo hình thức vấn đáp, tổng số có khoảng 500 câu, vì thế gọi là Ngũ bách vấn luận. Nội dung sách này là sự tranh luận giữa 2 nhà Thiên thai Nhất thừa và Pháp tướng Ngũ tính. Những vấn đề cốt lõi trong cuộc tranh luận này là: Nhị thừa định tính có thành Phật hay không; Quyền Thực của Nhất thừa, Tam thừa; luận về Tam xa, Tứ xá; về 4 loại Thanh văn của Pháp hoa; về 4 ý thú của luận Nhiếp đại thừa; về phần Chính tông, lưu thông của phẩm thọ lượng trong kinh Pháp hoa v.v...Ngoài ra, sách này cũng thảo luận thêm về những kiến giải bất đồng giữa 2 nhà Từ ân và Thiên thai đối với các vấn đề quan trọng khác.
pháp hoa ngũ trọng huyền nghĩa
(法華五重玄義) Năm lớp nghĩa huyền diệu của kinh Pháp hoa do ngài Trí khải tông Thiên thai thành lập. Ngũ trùng là: Thích danh, Biện thể, Minh tông, Luận dụng và Phán giáo. Ngũ trùng này được ngài Trí khải sử dụng để giải thích tất cả các kinh. 1. Thích danh: Dùng pháp và dụ để đặt tên. Pháp là diệu pháp, dụ là liên hoa. Nghĩa là pháp quyền, thực, thập giới, thập như, rất vi diệu không thể nghĩ bàn, cho nên phải tạm mượn thí dụ để làm cho sáng tỏ, đem diệu pháp để dụ cho quyền thực nhất thể, dùng hoa sen để dụ cho hoa quả đồng thời. Đó là dùng pháp và dụ để đặt tên, nên gọi là Diệu pháp liên hoa kinh. 2. Biện thể: Lấy thực tướng làm thể. Nghĩa là thực tướng Trung đạo là cái thể mầu nhiệm(diệu thể)được kinh Pháp hoa giải bày, vì thế nên nói Thực tướng là thể. 3. Minh tông: Lấy nhân quả Nhất thừa làm tông. Nhất thừa là Nhất thực tướng; Tông là nghĩa cốt yếu. Nghĩa là tu hạnh thực tướng là nhân, chứng lí thực tướng là quả, vì thế nói nhân quả Nhất thừa là Tông. 4. Luận dụng: Lấy dứt ngờ sinh tin làm dụng. Dụng là lực dụng, nghĩa là dùng diệu pháp Đại thừa để mở bày căn cơ viên mãn; đối với Tích môn khiến cho dứt trừ mối ngờ quyền giả mà sinh lòng tin chân thực; đối với Bản môn thì dứt mối ngờ gần(Phật mới thành gần đây) mà sinh lòng tin xa(Phật đã thành từ lâu), vì thế nên nói dứt ngờ sinh tin là dụng. 5. Phán giáo: Lấy Đề hồ vô thượng làm giáo tướng. Lời dạy của bậc Thánh gọi là Giáo, phân biệt giống nhau hay khác nhau gọi là Tướng. Nghĩa là kinh Pháp hoa thuần là Viên giáo và rất mầu nhiệm, khác hẳn với các giáo Tiểu thừa thiên chấp, cũng như Đề hồ thượng vị khác hẳn với các vị: Nhũ, lạc, sinh tô và thục tô, vì thế nên nói Đề hồ vô thượng là giáo tướng. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1]. (xt. Ngũ Trùng Huyền Nghĩa, Bản Tích Nhị Môn).
Pháp Hoa nhất thừa
法華一乘; C: făhuā yīshèng; J: hōkke ichijō; |Giáo lí Nhất thừa được dạy trong kinh Pháp Hoa.
pháp hoa nhất thừa
(法華一乘) Chỉ cho giáo pháp Nhất thừa chân thực nói trong kinh Pháp hoa. Cứ theo sự phán giáo của tông Thiên thai thì chỉ có Nhất thừa giáo của kinh Pháp hoa mới là giáo pháp rốt ráo, còn Tam thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát chỉ là giáo pháp phương tiện giả lập tạm thời, nhằm mục đích làm nổi bật giáo lí Nhất thừa chân thực mà thôi. Do đó, tông Thiên thai chủ trương chỉ sau khi nghe kinh Pháp hoa mới biết được là Tam thừa hòa nhập với Nhất thừa.Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 8 thượng) nói: Chỉ có pháp Nhất thừa, không hai cũng không ba.
Pháp Hoa nhất thừa 法華一乘
[ja] ホウケイチジョウ hōkke ichijō ||| The doctrine of the single vehicle taught in the Lotus Sutra 法華經. => Giáo lý nhất thừa được dạy trong kinh Pháp Hoa.
pháp hoa nhị diệu
(法華二妙) Cũng gọi Đãi tuyệt nhị diệu. Chỉ cho Tương đãi diệu và Tuyệt đãi diệu. Đây là dụng ngữ phán giáo của tông Thiên thai. Tức là: 1. Tương đãi diệu: Cái này và cái kia đối đãi nhau, gọi là Tương đãi; đối lại với Thô, gọi là Diệu. Nghĩa là những giáo pháp đã nói trong 4 thời (Hoa nghiêm, Lộc uyển, Phương đẳng, Bát nhã), 3 giáo (Tạng, Thông, Biệt) là Thô, còn giáo pháp được nói trong kinh Pháp hoa là Diệu. Tức là cái Thô của 4 thời, 3 giáo được dùng để làm cho cái Diệu của Pháp hoa nổi bật hẳn lên, cho nên gọi là Tương đãi diệu. 2. Tuyệt đãi diệu: Pháp hoa xóa bỏ Tam thừa quyền giả để nêu tỏ Nhất thừa chân thực, nhưng Tam thừa tức Nhất thừa (Phật thừa), cả hai vốn chỉ là một. Thực tức là quyền, quyền tức là thực, dứt các tướng thô, không còn tướng đối đãi, cho nên gọi là Tuyệt đãi diệu. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2 thượng đến Q.6 thượng; Ma ha chỉ quán Q.3 thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.4, 5; Chỉ quán nghĩa lệ Q.hạ; Tứ minh giáo hành lục Q.3; Pháp hoa huyền nghĩa tư kí Q.2; Pháp hoa huyền nghĩa giảng nghĩa Q.2]. (xt. Tương Đãi Diệu).
pháp hoa nhứt thực
Toàn Thừa Pháp Hoa—The one perfect Vehicle of the Lotus Sutra.
pháp hoa niết bàn kỳ
Saddharma-puṇḍarīkam-nirvāṇa (S)Thời kỳ thứ năm trong 5 thời kỳ thuyết giáo.
pháp hoa niết bàn thời
(法華涅槃時) Chỉ cho thời thứ 5 trong 5 thời phán giáo của tông Thiên thai. Tông Thiên thai căn cứ vào thứ tự thuyết pháp trước sau của đức Phật mà phân loại các kinh điển của Phật giáo làm 5 thời: Hoa nghiêm, Lộc uyển, Phương đẳng, Bát nhã và Pháp hoa Niết bàn. Sau khi đức Thế tôn thành đạo hơn 40 năm, Ngài nhận thấy căn cơ của chúng sinh đã thuần thục, nên Ngài mới nói kinh Pháp hoa trong 8 năm trên núi Linh thứu, khép lại Quyền môn phương tiện mà mở ra pháp Nhất thừa chân thực, đồng thời, thụ kí cho hàng Nhị thừa thành Phật, đó là thời Pháp hoa. Rồi khi sắp nhập diệt, trong khoảng 1 ngày 1 đêm, đức Phật lại giảng kinh Niết bàn cho hàng đệ tử hiện tiền và chúng sinh đời mạt pháp nghe. Trong thời pháp cuối cùng này, đức Phật tuyên dương chân lí: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, Như lai thường trụ không biến đổi, đó là thời Niết bàn. Vì kinh Pháp hoa và Niết bàn đều nói về giáo lí Đại thừa, lại cùng được phối hợp với vị đề hồ, cho nên mới gộp chung làm 1 thời mà gọi là thời PháphoaNiết bàn.(xt. Ngũ Thời Bát Giáo).
pháp hoa sám pháp
(法華懺法) Chỉ cho nghi thức đọc tụng kinh Pháp hoa để sám hối tội chướng, đây là tu pháp quan trọng của tông Thiên thai. Khi thực hành pháp sám này, trước hết phải giữ cho thân thể thanh khiết, trang nghiêm đạo tràng, kế đến, lễ bái khuyến thỉnh chư Phật, sám hối tội lỗi của 6 căn (mắt tai mũi lưỡi thân ý), rồi tụng kinh Pháp hoa, thực hành quán tưởng v.v... trong vòng 21 ngày. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 37 thì ngay từ năm Thiên gia thứ 4 (563) thời Nam triều, vua Văn đế nhà Trần đã tu pháp sám này ở điện Thái cực trong nội cung. Đến đời Tùy, ngài Trí khải dựa theo kinh Quán phổ hiền và kinh Pháp hoa mà soạn thành Pháp hoa tam muội sám nghi 1 quyển. Về sau, có Pháp hoa sám pháp(cũng gọi Pháp hoa tam muội, Pháp hoa sám) được rút ra từ tác phẩm Pháp hoa tam muội sám nghi trên đây mà lưu hành riêng. (xt. Pháp Hoa Tam Muội).
pháp hoa sơn
(法華山) I. Pháp Hoa Sơn. Núi ở cách huyện Hàng tỉnh Chiết giang về mạn tây bắc 17 km. Trong núi này có linh tích của vị tăng Pháp hoa ở đời Tấn và suối Pháp hoa. Dưới chân núi có chùa Pháp hoa, nhà điện cực kì nguy nga, tráng lệ. Về mùa thu, khách thập phương về lễ bái rất đông. II. Pháp Hoa Sơn. Cũng gọi Bạch tước sơn. Núi ở cách huyện Ngô hưng tỉnh Chiết giang 16 km về phía tây bắc. Đời Lương, có vị tỉ khưu ni tên Đạo tích tụng kinh Pháp hoa ở núi này, vì có đàn chim sẻ vây quanh nên sáng lập chùa Bạch tước, do đó, núi cũng được đặt tên là Bạch tước sơn. Tại đây, có 10 thắng cảnh như đường tùng, suối hổ v.v...
Pháp Hoa tam bộ kinh
法華三部經; C: făhuā sānbù jīng; J: hokke sanbu kyō; |Ba bộ kinh căn bản của tông Thiên Thai và Nhật Liên (日蓮). Đó là Vô lượng nghĩa kinh (無量義經), là phần giới thiệu về kinh Pháp Hoa, kinh Pháp Hoa, là phần kinh văn chính, và Phổ Hiền quán kinh (普賢觀經), xem như là phần kết giáo lí trong kinh.
pháp hoa tam bộ kinh
The Threefold Lotus Sutra.
; (法華三部經) Chỉ cho 3 bộ kinh: Vô lượng nghĩa, Diệu pháp liên hoa và Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp. 1. Kinh Vô lượng nghĩa: 1 quyển, do ngài Đàm ma già đà da xá dịch vào đời Tiêu Tề. Ý chỉ của kinh này nói về pháp Thực tướng. Các ngài Tuệ cơ và Trí khải đều cho rằng kinh này là Vô lượng nghĩa giáo bồ tát pháp được biểu thị trong kinh Pháp hoa. Trong tác phẩm Pháp hoa nghĩa sớ quyển 2 của mình, ngài Cát tạng cũng đã dựa vào 5 nghĩa: Xứ đồng, chúng số đại đồng, thời tiết đồng, nghĩa đồng và lời nói của người dịch kinh, mà cho rằng kinh này chính là kinh đã được biểu thị trong Pháp hoa. Xưa nay, kinh này vốn được xem là kinh mở đầu của kinh Pháp hoa. 2. Kinh Diệu pháp liên hoa: 7 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần. Bộ kinh này được lưu truyền rất rộng, ngài Trí khải đã nương vào kinh này mà sáng lập tông Thiên thai. 3. Kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp: Gọi tắt: Kinh Quán Phổ hiền, 1 quyển, do ngài Đàm ma mật đa dịch vào đời Lưu Tống. Kinh này nương theo phẩm Phổ hiền bồ tát khuyến phát–phẩm cuối cùng của kinh Pháp hoa– mà nói về phương pháp và công đức quán tưởng bồ tát Phổ hiền, được coi là kinh kết thúc của kinh Pháp hoa.
Pháp Hoa tam bộ kinh 法華三部經
[ja] ホッケサンブキョウ hokke sanbu kyō ||| The 'three parts of the Lotus Sutra;' The three principal sutras of the Tiantai 天台 and Nichiren 日蓮 sects. They are the Wuliangyi jing 無量義經 (T 276), which serves as an introduction to the Lotus Sutra, the Lotus Sutra (Fahua jing) 法華經 itself (T 262), which is the main discourse of the teaching; and the Puxianguan jing 普賢觀經 (T 277), which serves as the conclusion to the teaching. => Ba bộ kinh căn bản của tông Thiên Thai và tông Nhật Liên (j: Nichiren 日蓮). Đó là Vô lượng nghĩa kinh (c: Wuliangyi jing 無量義經), là phần giới thiệu về kinh Pháp Hoa, Kinh Pháp Hoa, là phần kinh văn chính, và Phổ Hiền quán kinh (c: Puxianguan jing 普賢觀經), xem như là phần kết giáo lý trong kinh.
pháp hoa tam giáo
Theo Kinh Pháp Hoa thì Phật pháp chia làm ba phương pháp—The three modes of Sakyamuni's teaching according to the Lotus Sutra: 1) Đốn giáo: Giáo pháp chỉ thẳng và tức thì khai ngộ hành giả—Direct, or sudden, or immediate teaching, by which the learner is taught the whole truth at once. 2) Tiệm giáo: Giáo pháp khai ngộ từ từ—The gradual teaching. 3) Viên giáo: Giáo pháp khai ngộ hoàn toàn—The perfect teaching.
pháp hoa tam muội
Saddharma-puṇḍarīka-samādhi (S), Fahua sanmei (C), Hokke zammai (J)Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.
; Saddharma-pundarika-samàdhi (S).The samàdhi which sees into the three dogmas of unreality không, dependent realiity giả and transcendence trung.
; Saddharma-pundarika-samadhi (skt)—Pháp nhất thực của lý tam đế viên dung, ví như một bông sen (thâu hết các phép mà quy về thực tướng)—The contemplation of the Lotus, the samadhi which sees into the three dogmas. 1) Không Đế: Lý “Không tướng”—The dogma of unreality or the noumenal. 2) Giả Đế: Lý “Giả tướng”—The dogma of dependent reality or phenomenal. 3) Trung Đế: Lý “Thực tướng”—The dogma of transcendence or the absolute which unites both noumenal and phenomenal.
; (法華三昧) Phạm: Saddharma-puịđarìkasamàdhi. Cũng gọi Pháp hoa sám pháp, Pháp hoa sám.Chỉ cho Tam muội được chia ra từ Bán hành bán tọa tam muội trong 4 loại Tam muội do tông Thiên thai thành lập. Pháp tu Tam muội này y cứ vào kinh Pháp hoa và kinh Quán Phổ hiền, lấy 21 ngày làm 1 thời hạn, hành đạo tụng kinh, hoặc đi hoặc đứng hoặc ngồi, lúc nào cũng tư duy quán xét lí thực tướng Trung đạo.Pháp tu này lấy sám hối diệt trừ tội chướng làm chính, cho nên ngày đêm 6 thời (sáng sớm, giữa trưa, chiều tối, canh 1, canh 3, canh 5) cần phải tu tập Ngũ hối (sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, hồi hướng và phát nguyện). Có 3 phương pháp tu tập: 1. Thân khai già: Nên đi và ngồi (khai), không nên đứng và nằm (già). 2. Khẩu thuyết mặc (nói năng và im lặng): Miệng tụng kinh điển Đại thừa, không xen lẫn các việc khác. 3. Ý chỉ quán: Chia làm 2 thứ: Hữu tướng hành và Vô tướng hành. a) Hữu hành tướng: Y cứ vào phẩm Khuyến phát, dùng tán tâm trì tụng kinh Pháp hoa, không nhập thiền định, bất luận là ngồi, đứng hay đi đều phải nhất tâm tụng niệm kinh Pháp hoa, ngày đêm 6 thời sám hối tội chướng của 6 căn. b) Vô hành tướng: Y cứ vào phẩm An lạc hành, nhập thiền định sâu xa, quán chiếu 6 căn để thấu suốt thực tướng Trung đạo của 3 đế (Không, Giả, Trung). Cứ theo Pháp hoa tam muội sám nghi và Ma ha chỉ quán quyển 2, thượng, của ngài Trí khải, bất cứ ai muốn thấy sắc thân của bồ tát Phổ hiền, đức Phật Thích ca và phân thân của chư Phật, cho đến muốn diệt trừ hết thảy tội chướng và muốn ngay đời này được vào ngôi vị Bồ tát, thì đều phải tinh cần tu tập Pháp hoa tam muội. [X. Pháp hoa văn cú kí Q.2, phần cuối; Pháp hoa nghĩa sớ Q.12 (Cát tạng); Pháp hoa kinh huyền tán Q.10, phần cuối; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2, phần 2; Pháp hoa truyện kí Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.6; Tùy Thiên thai trí giả đại sư biệt truyện; Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.2].
pháp hoa tam muội kinh
(法華三昧經) I. Pháp Hoa Tam Muội Kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trí nghiêm dịch vào năm Nguyên gia thứ 4 (427) đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật nói phương pháp tu hành tam muội Pháp hoa cho công chúa Lợi hành nghe. Một hôm, đức Phật đang trụ ở núi Kì xà quật, gần thành La duyệt kì, Quốc vương La duyệt là Biện thông, cùng với công chúa Lợi hành và những người phụ nữ khác, đến thỉnh giáo đức Phật. Đức Phật liền tuyên thuyết hành pháp tam muội Pháp hoa cho vua và công chúa nghe. Sau khi nghe pháp, công chúa đắc đạo, rồi cùng với nhà vua và đoàn tùy tùng đều phát tâm xuất gia và được đức Phật thụ kí. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.10; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.5]. II. Pháp Hoa Tam Muội Kinh. Kinh, 6 quyển, là bản đầu tiên trong 6 bản dịch kinh Pháp hoa. Về bản dịch kinh này có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 5 thì kinh này do ngài Chi cương lương tiếp dịch tại Giao châu (Bắc Việt nam) vào niên hiệu Cam lộ năm đầu (265) đời Tam quốc. Nhưng kinh này đã bị thất lạc.[X. Xuất tam tạng kí tập Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.14].
pháp hoa tam muội sám nghi
(法華三昧懺儀) Cũng gọi Pháp hoa tam muội hành pháp, Pháp hoa tam muội nghi, Pháp hoa kinh tam muội nghi. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Dưới tên sách có phụ đề Pháp hoa tam muội hành sự vận tưởng bổ trợ nghi lễ Pháp hoa kinh nghi thức. Nội dung sách này, ngài Trí khải kế thừa tinh thần tam muội Pháp hoa của ngài Tuệ tư, rút lấy những nghĩa lí tinh túy trong các kinh điển Đại thừa như kinh Pháp hoa, kinh Quán phổ hiền... mà soạn thành nghi thức phương tiện tu hành tam muội Pháp hoa. Đồng thời, giải thích rõ pháp môn đầy đủ công đức của chư Phật mà nhập vào chính vị của Bồ tát, bao gồm lễ bái, sám hối, hành đạo, tụng kinh, tọa thiền... trong khoảng 21 ngày. [X. Tùy Thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện; Duyệt tạng tri tân Q.42; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].
pháp hoa tam muội đường
(法華三昧堂) Cũng gọi Sám pháp đường, Bán hành bán tọa tam muội đường, Pháp hoa đường, Tam muội đường. Chỉ cho tòa nhà thờ bồ tát Phổ hiền để tu Pháp hoa tam muội. Trong các chùa viện thuộc tông Thiên thai, Pháp hoa tam muội đường phần nhiều được thiết lập song song với Thường hành đường (nơi tu Thường hành tam muội), hoặc có hành lang liên kết nhau, thường được gọi là Đảm đường. Lối kiến trúc này thịnh hành ở Trung quốc. Tại Nhật bản, viện Pháp hoa tam muội đầu tiên được thiết trí ở Đông tháp trên núi Tỉ duệ, về sau trở nên phổ biến và được kiến lập ở khắp nơi.
pháp hoa tam đại bộ bổ chú
(法華三大部補注) Cũng gọi Thiên thai tam đại bộ bổ chú, Tam đại bộ bổ chú, Đại bộ bổ chú. Tác phẩm, 14 quyển, do ngài Tòng nghĩa soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 43, 44. Sách này chú thích bù vào những chỗ còn thiếu sót trong 3 bộ sớ giải kinh Pháp hoa (Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa, Diệu pháp liên hoa kinh văn cú và Ma ha chỉ quán) của Đại sư Trí khải và giải thích rõ thêm những chỗ nói còn sơ lược trong 3 bộ Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm, Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết v.v... của ngài Kinh khê Trạm nhiên. Nội dung 3 quyển đầu là chú thích phần Huyền nghĩa và Thích tiêm, gồm hơn 550 hạng mục. Từ quyển thứ 4 đến quyển thứ 10, chú thích kinh Pháp hoa, Pháp hoa văn cú và Pháp hoa văn cú kí, gồm hơn 1.500 hạng mục. Từ quyển 11 đến quyển 14 là chú thích Ma ha chỉ quán và Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết, gồm hơn 850 hạng mục. [X. Phật tổ thống kỉ Q.21; Pháp hoa sớ tư kí Q.1; Chỉ quán tư kí Q.1, phần đầu].
pháp hoa thất dụ
(法華七喻) Chỉ cho 7 loại thí dụ được sử dụng trong kinh Pháp hoa: 1. Hỏa trạch dụ: Ví dụ nhà lửa. Lửa ví dụ 5 trược ác, 8 khổ não... Nhà ví dụ 3 cõi (Dục, Sắc, Vô sắc). Nghĩa là chúng sinh ở trong 3 cõi bị 5 trược, 8 khổ bức bách, không được an ổn, giống như ngôi nhà lớn đang bị lửa thiêu đốt, người trong nhà không thể nào ở yên được. Đây là ví dụ trong phẩm Thí dụ. 2. Cùng tử dụ: Ví dụ đứa con nghèo cùng. Nghĩa là hàng Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác), không có công đức và pháp tài (6 độ, muôn hạnh) của Đại thừa để trang nghiêm; giống như đứa con nghèo cùng, sống cuộc đời lây lất, cơm không đủ no bụng, áo chẳng đủ che thân. Đây là ví dụ trong phẩm Tín giải. 3. Dược thảo dụ (cũng gọi Vân vũ dụ): Ví dụ cỏ thuốc. Cỏ thuốc ví dụ căn tính của chúng sinh Tam thừa. Cỏ có 3 loại: Cỏ nhỏ, cỏ vừa, cỏ lớn, theo thứ tự ví dụ cho người trời, Thanh văn Duyên giác, bồ tát Tạng giáo. Cỏ thuốc tuy có nhỏ, vừa và lớn khác nhau, nhưng nếu được mưa tưới tẩm thì đều phát triển tốt tươi, chữa khỏi các bệnh; ví dụ người Tam thừa tuy căn tính có cao thấp khác nhau, nhưng nếu được những trận mưa pháp của Như lai thấm nhuần thì thành bậc Đại y vương, cứu độ tất cả chúng sinh. Đây là ví dụ trong phẩm Dược thảo dụ. 4. Hóa thành dụ: Ví dụ thành biến hóa. Có người muốn đến Bảo sở(Niết bàn, Cực lạc), nhưng giữa đường cảm thấy mỏi mệt muốn trở về, có 1 người dẫn đường sáng suốt, phương tiện hóa ra 1 tòa thành trì để họ tạm nghỉ ngơi, nhiên hậu đưa họ tiếp tục đi đến Bảo sở; ví dụ hàng Nhị thừa mới được nghe giáo pháp Đại thừa, nhưng nửa chừng bỗng quên mất, do đó phải trôi lăn trong dòng sinh tử. Vì thế, đức Phật mới tạm đặt phương tiện, giúp họ dứt trừ Kiến, Tư hoặc trước để tạm thời chứng Niết bàn chân không, làm nơi nghỉ ngơi trong chốc lát để cuối cùng đến được Bảo sở cứu cánh(ví dụ lí thực tướng, tức chỉ cho Đại niết bàn rốt ráo). Đây là ví dụ trong phẩm Hóa thành dụ. 5. Y châu dụ: Ví dụ hạt châu trong chéo áo. Cũng gọi Hệ châu dụ. Có người đến nhà bạn uống rượu say, nằm ngủ, người bạn tốt lấy hạt châu báu để vào trong chéo áo của người ấy, nhưng người ấy không hay biết gì, cam chịu nghèo khổ. Sau được người bạn mách bảo mới biết trong áo mình có hạt châu báu, từ đó trở nên rất giầu có và sung sướng suốt đời; ví dụ hàng Nhị thừa thủa xưa ở nơi đức Phật Đại thông, từng gieo nhân Đại thừa, nhưng bị vô minh che lấp, nên không tự tỏ ngộ được. Sau nhờ đức Như lai dùng phương tiện mở bày mới chứng quả Đại thừa, lợi lạc vô cùng. Đây là ví dụ trong phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí. 6. Kế châu dụ, cũng gọi Đính châu dụ: Ví dụ hạt châu trong búi tóc. Kế châu chỉ cho hạt châu ở trong búi tóc của Luân vương. Luân vương ví dụ đức Như lai; búi tóc (kế) ví dụ giáo pháp phương tiện tạm thời (Quyền giáo) của hàng Nhị thừa; hạt châu ví dụ thực lí Nhất thừa. Hạt châu ở trong búi tóc cũng như thực lí ẩn trong Quyền giáo; ví dụ trong hội Pháp hoa, đức Như lai xóa bỏ Quyền giáo, nêu tỏ Thực lí, thụ kí cho hàng Nhị thừa được thành Phật, cũng giống như Luân vương lấy hạt châu trong búi tóc ra để ban cho công thần. Đây là ví dụ trong phẩm An lạc hạnh. 7. Y tử dụ, cũng gọi Y sư dụ: Ví dụ thuốc và người con. Thuốc ví dụ đức Như lai; người con ví dụ hàng Tam thừa. Nghĩa là các con không biết, uống nhằm thuốc độc, tâm thần điên loạn, người cha dùng phương tiện cho các con uống thuốc tốt để chữa lành bệnh; ví dụ hàng Tam thừa tin nhận Quyền giáo, không được chính đạo, đức Như lai bày các phương tiện, khiến họ dùng thuốc pháp Đại thừa, mau đoạn diệt phiền não, trừ hết bệnh khổ. Đây là ví dụ trong phẩm Như lai thọ lượng. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.28]. (xt. Thí Dụ).
pháp hoa truyện kí
(法華傳記) Cũng gọi Đường pháp hoa truyện, Pháp hoa kinh truyện kí, Pháp hoa kinh truyện. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Tăng tường soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sách này trình bày về nguyên do, việc truyền dịch và sự linh nghiệm của kinh Pháp hoa, gồm 12 khoa: Bộ loại tăng giảm, Ẩn hiển thời dị, Truyền dịch niên đại, Chi phái biệt hành, Luận thích bất đồng, Chư sư tự tập, Giảng giải cảm ứng, Phúng tụng thắng lợi, Chuyển độc diệt tội, Thư tả cứu khổ, Thính văn lợi ích và Y chính cúng dường. Các sách được trích dẫn trong tác phẩm này gồm hơn 20 loại như: Luận Đại trí độ, Pháp hoa nghĩa sớ (Đạo sinh), Tây vực truyện v.v...
pháp hoa tôn giả
(法華尊者) (?-680) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, vị Tổ thứ 6 của tông Thiên thai, người Tấn vân, Xử châu (Chiết giang), họ Tưởng. Năm 18 tuổi, được gặp 1 vị tăng người Ấn độ nên sư lập chí xuất gia, sau đó, sư đến chùa Quốc thanh trên núi Thiên thai thờ ngài Quán đính làm thầy. Sư bẩm tính thông minh, rất có tài văn chương, thi phú. Sau khi thụ giới Cụ túc, được đặt pháp danh là Trí uy, sư tu học và tham cứu nhiều năm, định tuệ trọn đủ và được lãnh nhận tâm yếu. Niên hiệu Thượng nguyên năm đầu (674), sư vào núi Thương lãnh, Phổ thông, nhưng vì nới đây chật hẹp nên sư lại dời đến núi Luyện đan ở Hiên viên, phát sạch gai gốc, gọi chỗ này là Pháp hoa. Người học tụ về khoảng 300 người tu tập Thiền định, hơn 760 người nghe giảng. Niên hiệu Vĩnh long năm đầu (680) sư thị tịch. Người đời gọi là Pháp hoa tôn giả.[X. Tống cao tăng truyện Q.6; Phật tổ thống kí Q.7]. (xt.Trí Uy). PHÁP HOA TÔNG I. Pháp Hoa Tông. Chỉ cho tông Thiên thai, vì tông này lấy kinh Pháp hoa làm tông chỉ nên cũng gọi là tông Pháp hoa. (xt. Thiên Thai Tông). II. Pháp Hoa Tông. Chỉ cho tông Nhật liên của Nhật bản, vì tông này lấy kinh Pháp hoa làm kinh y cứ chủ yếu, nên cũng gọi là tông Pháp hoa. (xt. Nhật Liên Tông).
Pháp Hoa Tông
(法華宗, Hokkeshū) tức Nhật Liên Tông (日蓮宗, Nichirenshū): theo pháp chế hiện tại thì đây là đoàn thể tôn giáo lấy Cửu Viễn Tự (久遠寺, Kuon-ji) ở vùng Thân Diên (身延, Minobu) làm Đại Bản Sơn; nhưng nếu xét về mặt lịch sử thì đây là tên gọi chung của tập đoàn tôn giáo vốn kế thừa và thực hiện giáo lý của Nhật Liên dưới thời đại Liêm Thương. Với ý nghĩa đó, Pháp Hoa Tông là tên gọi do các tông phái khác gọi về Nhật Liên Tông, hay cũng là tiếng tự xưng, và phần nhiều cách gọi này được dùng phổ biến hơn. Năm 1282, Nhật Liên (日蓮, Nichiren) chỉ danh 6 người đệ tử chân truyền của ông là Nhật Chiêu (日昭, Nisshō, 1221-1323), Nhật Lãng (日朗, Nichirō, 1245-1320), Nhật Hưng (日興, Nikkō, 1246-1333), Nhật Hướng (日向, Nikō, 1253-1314), Nhật Đảnh (日頂, Nicchō, 1252-1317 hay 1328?) và Nhật Trì (日持, Nichiji, 1250-?), với tên gọi là Lục Lão Tăng (六老僧). Sau đó, các môn phái được hình thành Dòng Phái Nhật Chiêu (日昭門流, tức Dòng Phái Banh [浜門流]), Dòng Phái Nhật Lãng (日朗門流, tức Dòng Phái Tỷ Xí Cốc [比企谷門流]), Dòng Phái Nhật Hưng (日興門流, tức Dòng Phái Phú Sĩ [富士門流]), Dòng Phái Nhật Hướng (日向門流, Dòng Phái Thân Diên [身延門流]). Sau khi Nhật Liên qua đời, xuất hiện thêm Dòng Phái Nhật Hưng (日興門流, tức Dòng Phái Trung Sơn [中山門流]). Thật thể của Nhật Liên Tông thời Trung Đại chính là những môn phái vừa nêu trên. Các môn phái mở rộng vùng giáo tuyến của mình ở vùng Đông Quốc, rồi sau đó dần dần tiến về phía kinh đô Kyoto làm cứ điểm hoạt động giáo hóa cho giáo đoàn. Những nhân vật có công trong việc này là Nhật Tượng (日像, Nichizo, 1269-1342) thuộc Dòng Phái Tứ Điều (四條門流) vốn lấy Diệu Hiển Tự (妙顯寺, Myōken-ji) làm trung tâm; Nhật Tĩnh (日靜, Nichijō, 1298-1369) của Dòng Phái Lục Điều (六條門流), lấy Bổn Quốc Tự (本國寺 hay 本圀寺, Honkoku-ji) làm trung tâm. Kế thừa dòng phái này có Nhật Tôn (日尊, Nisson, ?-1603) của Dòng Phái Phú Sĩ; rồi Nhật Thân (日親, Nisshin, 1407-1488) và Nhật Chúc (日祝, Nisshū, 1437-1513) của Dòng Phái Trung Sơn. Họ không những tiếp cận hàng công gia khanh tướng, mà còn lấy tầng lớp thương gia, công nhân và nông dân làm môn đồ; nhờ vậy đã tạo dựng được rất nhiều tự viện khắp nơi. Bên cạnh đó, những cuộc luận tranh về lập trường Tích Môn hay Bổn Môn của Kinh Pháp Hoa, cũng như điểm hay dở trong kinh bắt đầu được triển khai. Về phía Dòng Phái Lục Điều, Nhật Trận (日陣, Nichijin, 1339-1419) sáng lập ra Bổn Thiền Tự (本禪寺, Honzen-ji), rồi hình thành nên Dòng Phái Nhật Trận (日陣門流, tức Dòng Phái Bổn Thành Tự [本成寺, Honjō-ji]). Còn về phía Dòng Phái Tứ Điều, hai chùa Diệu Giác Tự (妙覺寺, Myōkaku-ji) và Diệu Liên Tự (妙蓮寺, Myōren-ji) chia rẽ nhau; Nhật Long (日隆, Nichiryū, 1385-1464) thì chủ trương tính hay dở của kinh, lấy Bổn Hưng Tự (本興寺) ở vùng Ni Khi (尼崎, Amazaki) và Bổn Năng Tự (本能寺, Honnō-ji) ở kinh đô Kyoto làm cứ điểm hoạt động truyền đạo, rồi hình thành nên Dòng Phái Nhật Hưng (日興門流, tức Dòng Phái Bát Phẩm [八品門流]). Trường hợp Nhật Thập (日什, Nichijū, 1314-1392) thì khai cơ Diệu Mãn Tự (妙滿寺, Myōman-ji) và sáng lập ra Dòng Phái Nhật Thập (日什門流, tức Dòng Phái Diệu Mãn Tự [妙滿寺門流]). Nhật Thân sáng lập Bổn Pháp Tự (本法寺, Hompō-ji), còn Nhật Chúc thì có Đảnh Diệu Tự (頂妙寺, Chōmyō-ji), và hình thành Dòng Phái Quan Tây Trung Sơn (關西中山門流). Những ngôi già lam này mở rộng phạm vi hoạt dộng ở vùng Tây Quốc, còn ở kinh đô Kyoto thì có được 21 ngôi chùa. Dưới thời đại Chiến Quốc, Nhật Liên Tông đã cùng với với dân chúng trong thôn xóm hình thành đội tự vệ. Trước uy lực mạnh mẽ như thế này, các giáo đoàn của những tông phái khác tập trung lại với nhau tại Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji), hợp với các nhà Đại Danh có thế lực, dòng võ lực đàn áp Nhật Liên Tông. Từ đó, xảy ra vụ Loạn Thiên Văn Pháp Hoa (天文法華の亂) vào năm thứ 5 (1536) niên hiệu Thiên Văn (天文). Khi ấy, các chùa ở kinh đô đều phải lánh nạn đi nơi khác, và sau mới được phép cho trở về. Đến thời Trung Đại, chủ trương gọi là “Bất Thọ Bất Thí (不授不施, Không Nhận Không Cho)” của Nhật Liên Tông bị những nhà lãnh đạo chính quyền đương thời như Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga), Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) chống đối kịch liệt. Cho nên xảy ra các vụ pháp nạn lớn, nhiều tăng lữ cũng như tín đồ phải hy sinh trong mấy lần pháp nạn này. Đến thời Cận Đại, tổ chức giáo dục chư tăng được thiết lập. Về mặt xuất bản cũng rất thịnh hành, các bức di văn của Nhật Liên từ đó được lưu hành rộng rãi. Truyện Nhật Liên cũng được lưu bố khắp nơi, cho nên xuất hiện các tác phẩm như Nhật Liên Thánh Nhân Chú Họa Tán (日蓮上人註畫讚), Nhật Liên Đại Thánh Nhân Ngự Truyền Ký (日蓮大上人御傳記), v.v. Đặc sắc lớn của Nhật Liên Tông thời Cận Đại là triển khai cuộc vận động Phật Giáo tại gia, trong đó cuộc vận động Quốc Trụ Hội (國柱會) của Điền Trung Trí Học (田中智學) là đối ứng với sự hưng thịnh của quốc gia Minh Trị (明治, Meiji); rồi Bổn Đa Nhật Sanh (本多日生) tổ chức thành Thiên Tình Hội (天晴會), thâu nạp toàn tầng lớp trí thức và quân nhân. Trong khi đó, nhóm Sơn Điền Tam Lương (山田三良) thì thành lập Pháp Hoa Hội (法華會). Vào thời kỳ Đại Chánh (大正, Taishō), Chiêu Hòa (昭和, Shōwa), tôn giáo tân hưng thuộc hệ Nhật Liên Tông bắt đầu triển khai. Sau thời chiến, một số hội khác ra đời như Linh Hữu Hội (靈友會, Reiyūkai), Lập Chánh Giao Thành Hội (立正佼成會, Risshōkōseikai), Sáng Giá Học Hội (創価學会, Sōkagakkai), v.v., và Nhật Liên Tông trở thành tôn giáo đại chúng. Căn cứ vào tài liệu Nhật Bản Sử Từ Điển (日本史辭典, Nihonshijiten) của Triêu Vĩ Trực Hoằng (朝尾直弘, Asao Naohiro), Vũ Dã Tuấn Nhất (宇野俊一, Uno Shunichi), Điền Trung Trác (田中琢, Tanaka Migaku), nhà xuất bản Giác Xuyên Thư Điếm (角川書店, 1996) cho biết rằng hiện tại Nhật Liên Tông có một số dòng phái chính (theo thứ tự tên dòng phái, chùa trung tâm) như: (1) Môn Lưu Banh (浜門流), Diệu Pháp Tự (妙法寺, Myōhō-ji, Kamakura); (2) Môn Lưu Lãng (朗門流), Diệu Bổn Tự (妙本寺, Myōhon-ji, Kamakura), Bổn Môn Tự (本門寺, Honmon-ji, Musashi); (3) ; (4) Môn Lưu Tảo Nguyên (藻原門流), Diệu Quang Tự (妙光寺, Myōkō-ji, Kamifusa); (5) Môn Lưu Lục Điều (六條門流), Bổn Quốc Tự (本國寺, Honkoku-ji, Kyōto); (6) Môn Lưu Trung Sơn (中山門流), Bổn Diệu Pháp Hoa Kinh Tự (本妙法華經寺, Honmyōhokkekyō-ji, Shimofusa); (7) Môn Lưu Tứ Điều (四條門流), Diệu Hiển Tự (妙顯寺, Myōken-ji, Kyoto); (8) Phái Bất Thọ Bất Thí (不受不施派), Diệu Giác Tự (妙覺寺, Myōkaku-ji, Bizen); (9) Môn Phái Bất Thọ Bất Thí Giảng (不受不施派講門派), Diệu Giác Tự (妙覺寺, Myōkaku-ji, Bizen); (10) Môn Lưu Phú Sĩ (富士門流), Đại Thạch Tự (大石寺, Daiseki-ji, Suruga); (11) Phái Bổn Thành Tự (本成寺派), Bổn Thành Tự (本成寺, Honjō-ji, Echigo); (12) Phái Diệu Mãn Tự (妙滿寺派), Diệu Mãn Tự (妙滿寺, Myōman-ji, Kyoto); (13) Phái Bát Phẩm (八品派), Bổn Hưng Tự (本興寺, Honkō-ji, Settsu), Bổn Năng Tự (本能寺, Honnō-ji, Kyoto); (14) Phái Bổn Long Tự (本隆寺派), Bổn Long Tự (本隆寺, Honryū-ji, Kyoto).
Pháp Hoa tông
法華宗; C: făhuāzōng; J: hokkeshū; |Tên gọi khác của tông Nhật Liên (日蓮宗).
pháp hoa tông
Fa-hoa-tsoung (C)Ban đầu người ta gọi là Pháp hoa Tông vì tông này lấy Kinh Pháp hoa làm kinh căn bản.Về sau, Thiên Thai Trí giả (531 - 579) có công lớn trong việc truyền kinh Pháp hoa nên các nhà tu học gọi là Thiên Thai Tông. Ở Nhật, Pháp hoa Tông khác với Thiên Thai Tông. Pháp Hoa Tông ở Nhật còn gọi là Nhựt Liên Tông vỉ Nhựt Liên Bồ tát dạy giáo lý và sự tu hành theo một cách riêng.
; Lotus sect.
; Pháp Hoa Tông nguyên là tên gọi của tông Thiên Thai vì tông nầy lấy Kinh Pháp Hoa làm kinh căn bản—The Lotus sect, i.e. that of T'ien-T'ai, which had this sutra for its basis. There are many treatises with this as part of the title.
Pháp Hoa tông yếu
法華宗要; C: făhuā zōngyào; J: hokke shūyou; |Giáo lí thiết yếu về kinh Niết-bàn. 1 quyển, của Nguyên Hiểu (元曉).
Pháp Hoa tông yếu 法華宗要
[ja] ホッケシュウヨウ Hokke shūyou ||| Pŏphwa chong'yo ; Doctrinal Essentials of the Nirvana Sutra. 1 fasc., by Wŏnhyo 元曉. T 1725.34.870c-875c. (k: Pŏphwa chong'yo) => Giáo lý thiết yếu về Kinh Niết-bàn.1 quyển, của Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo 元曉).
Pháp Hoa tông 法華宗
[ja] ホウケシュウ Hokkeshū ||| Hokkeshū; the Lotus Sutra School. Another name for the Nichiren School 日蓮宗. => (j: Hokkeshū) Tên gọi khác của tông Nhật Liên (j: Nichiren 日蓮).
Pháp Hoa Tú Cú
(法華秀句, Hokkeshūku): tác phẩm của Tối Trừng viết vào năm 821, gồm 3 quyển, là tác phẩm lớn cuối cùng của đời ông, xoay quanh những vấn đề luận tranh với Đức Nhất (德一, Tokuitsu) của Pháp Tướng Tông về Tam Thừa, Nhất Thừa Quyền Thật. Bộ này nhằm mục đích nêu cao Pháp Hoa Thập Thắng như là vị trí trên hết của Thiên Thai Pháp Hoa Tông, và nói rõ lý do vì sao tông này lại ưu việt hơn hẳn các tông phái khác như Duy Thức, Tam Luận, Hoa Nghiêm, Chơn Ngôn, v.v. Nó cũng là tác phẩm tiêu biểu nhất của Tối Trừng vào cuối đời ông.
Pháp Hoa tự
(法華寺, Hokke-ji): ngôi chùa Ni của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, tọa lạc tại Hokkeji-machi (法華町), Nara-shi (奈良市); còn gọi là Băng Thất Ngự Sở (冰室御所, Himurogosho), tương đương với Pháp Hoa Diệt Tội Chi Tự (法華滅罪之寺) ở tiểu quốc Đại Hòa (大和, Yamato), được xây dựng vào năm 741 theo chiếu chỉ của Thiên triều. Có thuyết cho rằng tượng thờ chính thập nhất diện quan âm vốn được khắc theo dung mạo của Hoàng Hậu Quang Minh (光明, Kōmyō). Cho đến nay vẫn chưa xác định rõ chùa được thành lập như thế nào, nhưng trong bản tuyên chỉ của Xưng Đức Thiên Hoàng (稱德天皇, Shōtoku Tennō, tại vị 764-770) có cho biết rằng nguyên xưa kia chùa là cựu sở của Đằng Nguyên Bất Tỷ Đẳng (藤原不比等, Fujiwara-no-Fuhito, 659-720). Chánh điện hiện tại là kiến trúc cuối thời đại Thất Đinh, được Phong Thần Tú Lại (豐臣秀賴, Toyotomi Hideyori, 1593-1615) trùng tu vào năm 1601.
Pháp Hoa Văn Cú
(法華文句, Hokkebunku): thường gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Hoa Kinh Văn Cú (妙法蓮華經文句), gọi tắt là Văn Cú (文句), Diệu Cú (妙句), 10 quyển, là một trong 3 bộ luận lớn của Thiên Thai Tông. Đây là thư tịch chỉnh lý trong vòng 40 năm những ghi chép về các bài giảng của Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-597) tại Quang Trạch Tự (光宅寺), Kim Lăng (金陵) vào năm 587 (niên hiệu Trinh Minh [禎明] nguyên niên của nhà Trần), và được hoàn thành vào năm 629. Bộ Pháp Hoa Huyền Nghĩa (法華玄義) thì luận chung về yếu chỉ của kinh, còn bộ này giải thích từng câu văn trong kinh, nên có tên gọi như vậy; tuy nhiên, về bản chất thì cả hai đều đồng nhất thể. Đặc sắc của bộ này nêu rõ điểm giáo thuyết cho rằng hết thảy căn cơ của chúng sanh đều có Phật tánh, thông qua sự phân tích về Bổn Môn (本門), Tích Môn (迹門), sự giải thích về 4 loại Nhân Duyên (因緣), Ước Giáo (約敎), Bản Tích (本迹) và Quán Tâm (觀心).
pháp hoa văn cú
(法華文句) Gọi đủ: Diệu pháp liên hoa kinh văn cú. Gọi tắt: Pháp hoa kinh văn cú, Văn cú, Diệu cú. Tác phẩm, 10 quyển (hoặc 20 quyển), do Đại sư Thiên thai Trí khải thuyết giảng ở chùa Quang trạch tại Kim lăng, vào niên hiệu Trinh minh năm đầu (587) đời Trần thuộc Nam triều, ngài Quán đính ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Nội dung sách này giải thích từng câu của kinh Pháp hoa. Trong sách phần nhiều vận dụng phương pháp chú thích riêng do tông Thiên thai sáng tạo, gọi là Thiên thai tứ thích (4 cách chú thích của tông Thiên thai) để giải thích: 1. Nhân duyên thích: Căn cứ vào nhân duyên đức Phật nói pháp và chúng sinh nghe pháp để giải thích văn kinh. 2. Ước giáo thích: Dùng 5 vị, 8 giáo để giải thích các giáo pháp Thiên, Viên, Đại, Tiểu. 3. Bản tích thích: Chia kinh Pháp hoa làm Bản môn và Tích môn để giải thích nghĩa lí khác nhau của kinh. 4. Quán tâm thích: Đem mỗi sự kiện được nói trong kinh thu nhiếp vào tâm mình để quán xét về lí thực tướng. Trong sách này có nhiều lí luận công kích luận thuyết của các sư khác, như căn cứ vào sự phân khoa trong phẩm Tựa để luận phá thuyết của ngài Đạo bằng và 6 vị khác; căn cứ vào Thuyết vô lượng nghĩa mà luận phá thuyết của ngài Đạo sinh và 4 vị khác. Căn cứ vào Thập như thực tướng trong phẩm Phương tiện mà vấn nạn thuyết của ngài Quang trạch và 3 vị khác. Căn cứ vào Thị chân thực tướng trong phẩm Pháp sư mà luận phá thuyết của ngài Đạo sinh và 10 vị khác. Nhất là thuyết của ngài Pháp vân ở chùa Quang trạch bị nạn vấn ở nhiều điểm. Về chú sớ của sách này thì có Pháp hoa văn cú kí, 30 quyển, do ngài Trạm nhiên soạn vào đời Đường. [X. Tục cao tăng truyện Q.17; Tống cao tăng truyện Q.6; Phật tổ thống kỉ Q.7, 10, 25, 45, 47].
pháp hoa văn cú kí
(法華文句記) I. Pháp Hoa Văn Cú Kí. Cũng gọi Pháp hoa kinh văn cú kí, Diệu pháp liên hoa kinh văn cú kí, Văn cú kí, Pháp hoa văn cú sớ, Diệu pháp liên hoa kinh văn cú sớ kí, Diệu pháp liên hoa kinh văn cú sớ, Thiên thai pháp hoa sớ kí, Diệu lạc kí. Tác phẩm, 30 quyển (hoặc 10, 20 quyển), do ngài Trạm nhiên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Đây là sách chú thích bộ Pháp hoa văn cú của ngài Trí khải, tổ khai sáng tông Thiên thai. Trong nguyên bản Pháp hoa văn cú, ngài Trí khải chỉ chia khoa kinh Pháp hoa 1 cách sơ lược, ngài Trạm nhiên lại chia thêm thành các đoạn nhỏ, đồng thời, giải thích thêm những chỗ mà ngài Trí khải giải thích chưa được rõ ràng. Ngoài ra, sách này còn nhấn mạnh chủ trương của tông Thiên thai mà bác bỏ luận thuyết của ngài Cát tạng của tông Tam luận, Pháp tạng, Trừng quán của tông Hoa nghiêm, Khuy cơ của tông Pháp tướng v.v..., lại bài xích việc đặt phẩm Chúc lụy của kinh Pháp hoa ở cuối bộ kinh mà chủ trương nên đặt ở trước kinh và đề ra thuyết Bát bất khả. Theo truyện Hàm quang trong Tống cao tăng truyện quyển 27 và lời Bạt ở cuối sách này, thì tác giả có đến núi Ngũ đài để hội kiến ngài Hàm quang, cứ đó mà suy đoán thì có lẽ sách này đã được hoàn thành vào khoảng năm Đại lịch thứ 9, 10 (774-775). Còn theo tư liệu của các sư Đạo thúy và Hạnh mãn –môn đệ của ngài Trạm nhiên– ghi thì các vị này từng nghe ngài Trạm nhiên giảng bộ Pháp hoa văn cú ở Tì lăng. Như vậy, sách này chính là bản mà ngài Trạm nhiên đã giảng ở chùa Diệu lạc tại Tấn lăng, cho nên đời sau mới gọi sách này là Diệu lạc kí. Nguyên bản của sách này trong Đại tạng ở chùa Khai nguyên là 10 quyển. Trong năm Vạn lịch (1573-1619) đời Minh, để tiện cho việc học tập, nghiên cứu, ngài Thiệu giác đem cả 3 bộ: Kinh Pháp hoa, Pháp hoa văn cú và Pháp hoa văn cú kí hợp lại làm một, chính là bộ Pháp hoa văn cú hội bản 30 quyển lưu hành hiện nay. II. Pháp Hoa Văn Cú Kí. Cũng gọi Pháp hoa kinh nghĩa toản, Pháp hoa kinh sớ nghĩa toản, Pháp hoa sớ nghĩa toản, Pháp hoa văn cú nghĩa quyết, Pháp hoa văn cú đông xuân, Thiên thai pháp hoa sớ nghĩa toản. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Trí độ soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 45. Đây cũng là sách chú thích bộ Pháp hoa văn cú của ngài Trí khải. Soạn giả Trí độ là môn nhân của ngài Trạm nhiên, tinh thông Thiên thai, Câu xá, Duy thức... Nội dung sách này trước hết nói tổng quát về Thích danh, Biện thể, Minh tông, Minh dụng và Phán giáo trong Pháp hoa huyền nghĩa, kế đến theo chính văn chú thích kinh Pháp hoa. Đồng thời bình luận về Pháp hoa văn cú của Đại sư Trí khải và Pháp hoa văn cú kí của ngài Trạm nhiên. Đây là điển tịch cơ bản để nghiên cứu Pháp hoa tam đại bộ.
pháp hoà
(法和) ... Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Tiền Tần, người Huỳnh dương (Hà nam). Lúc nhỏ, sư cùng học với ngài Đạo an, thờ ngài Phật đồ trừng làm thầy. Nhân lánh nạn chiến tranh, sư vào đất Thục, sau sư vào Quan trung trụ ở chùa Dương bình, tham dự công việc dịch kinh tại Trường an do ngài Đạo an chủ trì. Rồi tại Lạc dương, sư cùng với ngài Tăng già đề bà nhuận sắc văn dịch các bộ luận A tì đàm tâm, Tì bà sa a tì đàm... Sau, nhận lời thỉnh của Tấn vương Diệu tự đời Tiền Tần, sư đến trụ ở Bồ phản (Sơn tây) để giảng thuyết. Sư tịch năm 80 tuổi. [X. Lương cao tăng truyện Q.1, 5].
Pháp Hoàng
(法皇, Hōō): hay Thái Thượng Pháp Hoàng (太上法皇, Dajōhōō), từ dùng để gọi vị Thái Thượng Hoàng sau khi xuất gia, đồng nghĩa với Pháp Vương (法王, Hōō). Tuy nhiên, Thượng Hoàng (上皇, Jōkō, tức Thái Thượng Thiên Hoàng không xuất gia) với Pháp Hoàng không khác gì nhau về thân phận cả. Vũ Đa Thiên Hoàng (後宇多天皇, Gouda Tennō, tại vị 1274-1287) dưới thời đại Bình An được xem như là người đầu tiên dùng xưng hiệu này; thế nhưng, trong Tục Nhật Bản Kỷ (續日本紀, Shokunihongi) có ghi rằng Thánh Võ Thiên Hoàng (聖武天皇, Shōmu Tennō, tại vị 724-749) nhường ngôi vị, tự xưng là Pháp Hoàng, rồi đến tham bái Lễ Khai Nhãn Cúng Dường Tượng Đại Phật ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji); cho nên ở đây có vấn đề cần xét lại. Dưới thời đại Bình An, Bạch Hà Pháp Hoàng (白河法皇), Điểu Vũ Pháp Hoàng (鳥羽法皇), Hậu Bạch Hà Pháp Hoàng (後白河法皇), v.v., tiến hành chế độ Viện Chính (院政). Linh Nguyên Pháp Hoàng (靈元法皇) dưới thời đại Giang Hộ là vị Pháp Hoàng cuối cùng.
pháp hoàng
(法皇) Cũng gọi Thái thượng pháp hoàng, Thiền định pháp hoàng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho các vị Thiên hoàng Nhật bản cạo tóc xuất gia vào cửa Phật. Bắt đầu từ năm 749, Thiên hoàng Thánh vũ nhường ngôi đến xin ngài Hành cơ thụ giới Bồ tát, đến Thiên hoàng Linh nguyên năm 1713, tính ra có 40 người. Còn các Thân vương xuất gia thì gọi là Nhập đạo Thân vương. Thân vương sau khi xuất gia, gọi là Pháp thân vương; ngôi chùa mà Pháp hoàng và Pháp thân vương ở, gọi là Cung môn tích. Ngoài ra, Nội thân vương(chị em gái hoặc công chúa của Thiên hoàng)xuất gia thi gọi là Ni cung; ngôi chùa họ ở, gọi là Tỉ khưu ni ngự sở. [X. Đế vương biên niên kí Q.14, 15].
pháp huynh
(法兄) Cũng gọi Huynh đệ tử, Sư huynh. Sư anh. Tức chỉ cho người cùng một pháp hệ, cùng một trang lứa nhưng xuất gia trước mình. Môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Người cùng theo học một thầynhưng xuất gia trước mình, gọi là Pháp huynh. (xt. Pháp Quyến).
Pháp huý
法諱; C: făhuì; J: hōki; |Tên được đặt khi xuất gia. Pháp danh được trao cho khi thụ giới.
Pháp huý 法諱
[ja] ホウキ hōki ||| The name one receives when he/she enters the Buddhist order. One's Buddhist name that he/she assumes on receiving the precepts. => Tên được đặt khi xuất gia. Pháp danh được trao cho khi thọ giới.
pháp hà
Chân lý Phật pháp như sông sâu, có khả năng rữa sạch mọi uế nhiễm của phiền não—Buddha-truth likened to a deep river able to wash away the stains of ilusion.
pháp hành
Hành động xãy ra do sự hiểu biết và thực tập Phật pháp—Dharma action—Action resulting from direct apprehension of the doctrine (for those of mentally acute ability)—Practice based on the teaching of Dharma.
pháp hóa
Transformation by Buddha-truth; teaching in or by it. Buddhist education.
; Chuyển hóa bằng Phật pháp (sự giáo hóa của chánh pháp)—Transformation by Buddha-truth (teaching in or by it).
pháp hóa sinh thân
The nirmanakaya or corporeal manifestation of the spiritual Buddha.
Pháp Hưng Tự
(法興寺, Hōkō-ji) hay Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji): theo Nhật Bản Thư Kỷ (日本書紀, Nihonshoki), vào năm 588 Tô Ngã Mã Tử (蘇我馬子, Soga-no-Umako, ?-626) có phát nguyện tạo dựng một ngôi chùa ở vùng đất Chơn Thần Nguyên (眞神原, Makami-no-Hara) thuộc Phi Điểu (飛鳥, Asuka) và khoảng trong vòng 6 năm cho đến năm 596 thì hoàn thành. Nó được gọi là Phi Điểu Tự (飛鳥寺, Asuka-dera) hay Pháp Hưng Tự (法興寺, Hōkō-ji). Đến cuộc Cải Tân Đại Hóa (大化改新, Taika-no-kaishin) thì chùa này trở thành chùa quan và đến thời Đằng Nguyên Kinh Thời (藤原京時) thì được liệt vào trong bốn ngôi chùa lớn. Vào năm 710, khi kinh đô được dời về Bình An thì chỉ có Thiền Viện của chùa được dời theo và trở thành ngôi Thiền Viện độc lập. Đến năm 718, toàn bộ kiến trúc chùa đều được dời về vị trí hiện tại ở thành phố Nại Lương và được đổi tên thành Nguyên Hưng Tự.
pháp hạ
Dharma-summers, the years or age of a monk.
; Số năm tuổi của Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni tính từ sau khi thọ cụ túc giới—Dharma summer—The year or age of a monk or a nun after ordination.
; (法夏) Cũng gọi Pháp lạp, Giới lạp, Pháp tuế, Hạ lạp. Gọi tắt: Lạp. Chỉ cho số năm sau khi tỉ khưu hoặc tỉ khưu ni thụ giới Cụ túc. Tỉ khưu là người xa lìa thế tục, không dùng năm tháng của thế tục để tính tuổi. Theo qui chế hạ an cư, ngày 16 tháng 7 âm lịch là ngày đầu năm mới, ngày cuối cùng của hạ an cư (ngày 15 tháng 7) là ngày cuối năm, gọi là Phật lạp nhật. Từ sau ngày thụ giới Cụ túc trở đi, căn cứ vào số Pháp hạ nhiều hay ít mà chia ra Thượng lạp, Trung lạp và Hạ lạp.Thời xưa căn cứ vào đây mà qui định vị thứ của tỉ khưu, gọi là Lạp thứ, đó là cơ sở để phân biệt cấp bậc lớn nhỏ. Nếu trong trường hợp số Pháp hạ của 2 người bằng nhau, thì xét theo ngày tháng thụ giới Cụ túc; nếu ngày tháng cũng bằng nhau, thì xét theo giờ khắc để quyết định. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.24; chương Tiết lạp trong Sắc tu bách trượng thanh qui Q.hạ; Thích thị yếu lãm Q.hạ; môn Bạ khoán trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Pháp hạnh
法行; C: făxíng; J: hōgyō; S: dharma-carana. |1. Hành vi, công hạnh tương ứng với thực tại. Theo kinh Viên Giác, Pháp hạnh là công năng tu tập, chỉ cho sự tuỳ thuận với chứng ngộ của chư Phật, ngược với phương pháp tiệm tiến. Nên gọi là »chân như hạnh«; 2. Tuỳ thuận theo; 3. Làm cho suy nghĩ của mình xứng hợp với giáo lí; 4. Người quay bánh xe pháp, truyền bá chính pháp (s: dharmacārin).
pháp hạnh
Fa-hsing (C)Tên một vị sư.
Pháp hạnh 法行
[ja] ホウギョウ hōgyō ||| (dharma-carana). (1) Action, practice, according to reality. In the Sutra of Perfect Enlightenment (圓覺經) 法行, as religious practice, refers to the direct practice 隨順 of the Buddha's enlightenment, as opposed to methods of gradual advancement. Thus "reality-practice." (2) To depend upon. (3) Making one's own thinking accord with the teaching. (4) A "wheel-turner" (dharmacārin). => (s: dharma-carana). 1. Hành vi, công hạnh tương ứng với thực tại chân như. Theo kinh Viên Giác, Pháp hạnh là công năng tu tập, chỉ cho sự tuỳ thuận với chứng ngộ của chư Phật, ngược với phương pháp tiệm tiến. Nên gọi là 'chân như hạnh'. 2. Tuỳ thuận theo. 3. Làm cho suy nghĩ của mình xứng hợp với giáo lý. 4. Người truyền bá chính pháp.
pháp hải
Dharma-sea, the all embracing law of the Buddha.
; Chân lý Phật pháp như biển cả sâu rộng, có khả năng rữa sạch mọi uế nhiễm của phiền não—Buddha-truth likened to a vast deep ocean able to wash away the stains of illusion.
; (法海) I. Pháp Hải. Biển pháp. Nghĩa là Phật pháp rộng lớn, sâu thẳm, mông mênh như biển cả. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma cật (Đại 14, 519 hạ) nói: Tam bảo xuất hiện nơi thế gian, Như lai thuyết pháp độ chúng sinh; Cuối cùng chẳng cầu thường vắng lặng, Thượng trí cứu vớt lão tử khổ, Kính lễ Pháp hải đức vô biên. II. Pháp Hải(?-?). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người huyện Khúc giang, tỉnh Quảng đông. Lần đầu tiên, sư tham kiến Lục tổ, hỏi về nghĩa Tức tâm tức Phật và ngay nơi đó sư đại ngộ. Sau, sư thu chép những lời nói pháp của Lục tổ ở chùa Đại phạm tại Thiều châu thành kinh Pháp bảo đàn. Những ngữ yếu, nhân duyên xuất thế của Lục tổ mà sư ghi chép có lí thú rất sâu xa, sau trở thành tông kinh của Thiền tông và được lưu hành rất rộng rãi.
Pháp hỉ
法喜; C: fă xĭ; J: hōki; |Niềm vui trong Phật pháp; niềm hân hoan khi được tiếp nhận Phật pháp (s: prītijanana).
pháp hỉ
Dharmànanda (S). Joy in the Law, the joy of learning or tasting dharma.
pháp hỉ chí
(法喜志) Gọi đủ: Danh công pháp hỷ chí. Tác phẩm, 4 quyển, do ông Hạ thụ phương soạn vào đời Minh, ông Phùng định kiểm xét lại, được thu vào Vạn tục tạng tập 150. Trong tập truyện kí này, tác giả thu chép tiểu sử của 208 vị danh sĩ các thời đại, từ Đông phương sóc đời Tây Hán đến Dương duy trinh đầu đời Nguyên. Theo Tứ khố toàn thư tổng mục thì sách này có 3 quyển, đầu quyển có lời tựa của các ông Trúc quan hành, Trâu do quang, Cố hiến thành, Ngô lượng... và bài tựa của tác giả. Nội dung lấy việc tham thiền làm chủ yếu. Theo bài tựa của chính tác giả thì tập truyện kí Vật ngoại anh hào lục do Ngọc phàm sơn soạn nói về những người tham thiền là sai lầm, không nên đọc, vì thế tác giả phát tâm soạn sách này, gom góp những ngôn hành, lịch sử thư, văn tập, tăng sử, ngữ lục... của các bậc danh sĩ nhiều đời để biên soạn thành. Các truyện trong sách này đều rất ngắn, lại không ghi xuất xứ, chỉ nói sơ qua về thân thế và sự nghiệp của các nhân vật rồi phụ thêm một vài lời có liên quan đến Phật giáo. Những nhân vật được ghi chép trong sách này chiếm quá nửa số danh sĩ của các đời, nhưng không bao gồm các Hoàng đế và Vương thất hữu quan, từ thời Trung đường trở về sau, Thiền tông hưng thịnh, rất nhiều nhân sĩ qua lại với các Thiền sư, cho nên chủ đích của việc biên soạn sách này là ghi lại những người tham thiền học đạo. Tuy nhiên, tác giả không giới hạn những nhân vật trước đời Đường, bởi vậy, ngoài những người tham thiền học đạo ra, sách này cũng ghi chép cả những nhân vật chẳng có liên hệ gì với Phật giáo. Tâm học Dương minh ở đời Minh từng lưu hành 1 thời, lúc bấy giờ có rất nhiều cư sĩ tham thiền, tác giả sách này cũng là 1 trong số đó, nhưng người ta không được biết nhiều về thân thế của ông. Ngoài sách này ra, họ Hạ còn có các trứ tác: Thê chân chí, 4 quyển, Trà đổng, 2 quyển và Kì tính thông, 14 quyển. [X. Tứ khố toàn thư tổng mục Q.145; Trung quốc Phật giáo sử tịch khái luận (Trần viên)].
pháp hỉ thực
(法喜食) Phạm: Dharma-prìty-àhàra. Chỉ cho Phật pháp. Người tu hành nhờ nghePhật pháp mà sinh tâm hoan hỉ, tăng trưởng thiện căn, bổ ích tuệ mệnh, giống như thực phẩm của thế gian, nuôi lớn thân tâm. Là 1 trong Nhị thực, 1 trong Cửu thực.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.41; kinh Pháp hoa Q.4]. (xt. Nhị Thực, Thực).
Pháp Hộ
(法護, Hōgo, ?-?): vị tăng dịch kinh nổi tiếng dưới thời nhà Tấn, gốc người Nguyệt Chi (月支), sống ở Đôn Hoàng (敦煌). Vào năm đầu niên hiệu Thái Thỉ (泰始) đời vua Võ Đế (武帝), ông sang Trung Hoa, dịch rất nhiều bộ kinh và giảng kinh không hề ngừng nghỉ, cho nên người đời gọi ông là Trúc Pháp Hộ (竺法護), hay còn gọi là Bồ Tát Đôn Hoàng (敦煌菩薩).
; 法護; C: făhù; J: hōgo; S: dharmarakṣa.|1. Dharmarakṣa thuộc đời Đông Tấn Trúc Pháp Hộ (竺法護); 2. Tăng sĩ Ấn Độ (?-1058), đến Trung Hoa vào đời Tống năm 1004, là một nhà dịch kinh đã lưu lại rất nhiều nơi.
pháp hộ
Dharmapala (S), ch chong (T), Dharma protector
; See Dhammapala in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (法護) I. Pháp Hộ (?-?). Phạm: Dharmarakwa. Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Tây Tấn. Sư vốn là người nước Nguyệt chi, nhưng tổ tiên sống ở Đôn hoàng. Niên hiệu Thái thủy năm đầu (265) đời Vũ đế, sư đến Trung quốc, dịch nhiều bộ kinh và giảng kinh không biết mỏi mệt, người đời gọi sư là Trúc pháp hộ, cũng gọi là Đôn hoàng bồ tát. (xt. Trúc Pháp Hộ). II. Pháp Hộ (?-?). Pàli: Dhammapàla. Học giả Phật giáo Ấn độ đời xưa. Năm sinh và năm mất của ngài muộn hơn so với ngài Phật âm (Phạm: Buddhaghowa) là người sống vào thế kỉ V. Ngài trụ ở chùa Ba đa la để đà (Pàli:Padaratittha) ở miền duyên hải phía đông nam Ấn độ và 1 ngôi chùa được xây dựng vào thời vua A dục ở vùng Na già ba đặc na (Phạm: Nagapatthana). Ngài chú thích kinh Tự thuyết, kinh Như thị ngữ, kinh Thiên cung sự, kinh Ngã quỉ sự, Trưởng lão kệ, Trưởng lão ni kệ và Nhã dụng tạng, gồm 7 bộ, gọi chung là Viên mãn thích luận. Ngoài ra, ngài còn soạn bộ Viên mãn không luận, trong đó, ngài giải thích Thanh tịnh đạo luận của ngài Phật âm và Giải thoát đạo luận của ngài Ưu ba để sa (Pàli: Upatissa) để luận phá kiến giải của phái Vô úy sơn tự ở Tích lan, đồng thời, cung cấp tư liệu Phật giáo đương thời ở Nam Ấn độ và Tích lan. III. Pháp Hộ (936-1058). Phạm: Dharma-pàla. Cao tăng Ấn độ, người nước Ca thấp di la, họ Kiều thi ca, dòng dõi Bà la môn. Thủa nhỏ, sư học kinh điển 4 Phệ đà và các sách khác. Sau, sư xuất gia ở chùa Kiên cố khải cung (Phạm: Vikramazìla) tại nước Ma già đà, Trung Ấn độ. Sư từng theo các ngài Hi hữu thừa, Diệu ý tôn, Bố thí khải... học các môn Tì ni, Thanh minh, Tam thừa... Sau, sư cầu các danh sư học kinh luận Đại thừa. Niên hiệu Cảnh đức năm đầu (1004) đời vua Tống Chân tông, sư cùng Pháp huynh là Giác cát tường trí đến Biện kinh, Trung quốc, dâng hiến xá lợi Phật và kinh tiếng Phạm viết trên lá bối, được vua ban cho áo đỏ và vâng sắc dịch kinh. Năm Cảnh đức thứ 4, vua lại ban hiệu Truyền Phạm Đại Sư. Niên hiệu Thiên thánh năm đầu (1023) đời vua Nhân tông, sư vâng sắc dịch kinh Kim diệp thiên trúc do sứ thần Nam hải tiến cống. Năm Cảnh hựu thứ 2 (1035), sư và ngài Duy tịnh soạn chung Thiên trúc tự nguyên 7 quyển. Niên hiệu Chí hòa năm đầu (1054), sư được ban hiệu Phổ Minh Từ Giác Truyền Phạm Đại Sư. Năm Gia hựu thứ 3 (1058) sư tịch, thọ 96 tuổi, được ban thụy hiệu là Diễn Giáo Tam Tạng. Từng được liệt vào chức Ngân Thanh Quang Lộc Đại Phu Thí Quang Lộc Khanh. Sư dịch được 35 bộ 270 quyển kinh luận như: Luận Đại thừa tập bồ tát học, Kinh Đại thừa bồ tát tạng chính pháp, kinh Như lai bất tư nghị bí mật đại thừa, kinh Đại thừa đại phương quảng Phật quan v.v... [X. Phật Tổ thống kỉ Q.44, 45; Tống cao tăng truyện Q.3; Đại trung tường phù pháp bảo lục Q.15; Tống hội yếu cảo Q.200].
Pháp Hộ 法護
[ja] ホウゴ Hōgo ||| Dharmarakṣa. (1) Dharmarakṣa of the Eastern Jin. See 竺法護. (2) (?-1058) An Indian monk who came to the Song in 1004 CE, and worked as a translator in various locations. => (s: Dharmarakṣa). Dharmarakṣa thuộc đời Đông Tấn (e: Eastern Jin). Xem Trúc Pháp Hộ (竺法護). Tăng sĩ Ấn Độ (?-1058), đến Trung Hoa vào đời Tống năm 1004, là một nhà dịch kinh đã ở rất nhiều nơi.
Pháp hội
法會; C: făhuì; J: hōe; |1. Một buổi lễ, tập hợp với mục đích đọc tụng kinh điển; 2. Phật sự, tích cực hoạt động cứu độ chúng sinh. Tập trung lại để cùng làm các việc cúng dường chư Phật và chúng sinh, giảng pháp, v.v… tại một pháp hội.
pháp hội
An assembly for worship or preaching.
; 1) Cuộc đại hội để hành lễ hay nghe thuyết pháp—An assembly for worship or preaching. 2) Tên của một ngôi chùa nổi tiếng nằm trong quận 10, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa do Hòa Thượng Đạt Bình, dòng Thiền Thiên Thai, khởi công xây dựng từ năm 1945. Chùa được trùng tu năm 1960. Từ năm 1954, chùa được chọn làm Phật Học Đường của Giáo Hội Tăng Già Việt Nam, mỗi năm đều mở hai khóa Hạ và Đông để đào tạo Tăng tài. Chùa có nhiều pho tượng bằng gỗ được tạc vào khoảng thập niên 60, như tượng của Phật A Di Đà, tượng Phật Thích Ca Đản Sanh, tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, tượng Diệm Ma Vương, tượng Hộ Pháp—Name of a famous pagoda located in the tenth district, Saigon City, South Vietnam. It was built in 1945 by Most Venerable Đạt Bình from the T'ien-T'ai Meditation Sect. It was rebuilt in 1960. Since 1954, the pagoda has been chosen as the School of Buddhist Studies of Vietnam Buddhist Sangha Association. The course has been opened per annum in Summer and Winter to train monks and nuns as Heads as well as Buddhist Dharma propagators. The pagoda has kept lots of wooden statues of Amitabha Buddha, Lord Buddha's Holy Birth, Avalokitesvara Bodhisattva, Mahasthama Bodhisattva, Yama of Hell, and Dharma Guardians. All of these statues were created in the 1960s.
; (法會) Cũng gọi Pháp sự, Phật sự, Trai hội, Pháp Chỉ cho các Pháp hội được cử hành vào những ngày lễ của Phật giáo. Vào những ngày này, chư tăng và tín đồ hội họp ở 1 nơi nhất định, trang nghiêm đạo tràng, tụng niệm lễ bái, thiết trai cúng dường, thí thực, giảng kinh, thuyết pháp, tán thán công đức của Phật và Bồ tát... Có rất nhiều loại pháp hội, nhưng chính thức và tiêu biểu nhất trong 1 năm là những pháp hội sau đây: -Ngày mồng 1 tháng giêng là pháp hội Thánh đản đức Phật Di lặc. -Ngày mồng 9 tháng giêng là pháp hội cúng Phật trai thiên. -Ngày 19 tháng 2 là pháp hội Thánh đản bồ tát Quán thế âm. -Ngày 15 tháng 4 (ngày mồng 8 tháng 4) là pháp hội Thánh đản đức Phật Thích ca. -Ngày 19 tháng 6 là pháp hội kỉ niệm bồ tát Quán thế âm thành đạo. -Ngày 15 tháng 7 là pháp hội Vu lan bồn. -Ngày 29 tháng 7 là pháp hội Thánh đản bồ tát Địa tạng. -Ngày 19 tháng 9 là pháp hội kỉ niệm bồ tát Quán thế âm xuất gia. -Ngày 29 tháng 9 là pháp hội Thánh đản đức Phật Dược sư. -Ngày 17 tháng 11 là pháp hội Thánh đản đức Phật A di đà. -Ngày mồng 8 tháng 12 là pháp hội kỉ niệm đức Phật Thích ca thành đạo.[X. luật Ma ha tăng kì Q.3, 27; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.24, 33, 40; Hữu bộ mục đắc ca Q.8, 10; Phật tổ thống kỉ Q.33].
pháp hội xã
Tự viện—A monastery.
Pháp hội 法會
[ja] ホウエ hōe ||| (1) A Buddhist service, an assembly for the purpose of reading the scriptures. (2) "Buddha-work:" the activity of saving sentient beings. Feeding buddhas and sentient beings, explaining the dharma, etc. at a gathering. => 1, Một buổi lễ, tập hợp với mục đích đọc tụng kinh điển. 2. Phật sự, tích cực hoạt động cứu độ chúng sinh. Tập trung lại để cùng làm các việc cúng dường chư Phật và chúng sinh, giảng pháp, v.v..
pháp hữu
The false view that things or the elements of which they are made of are real.
; Tà kiến Tiểu Thừa cho rằng vạn hữu, hay những yếu tố tạo thành vạn hữu là có thật—The false view of Hinayana that things, or elements of which they are made, are real.
pháp hữu lậu
Lậu là rò rỉ, tên riêng chỉ sự phiền não. Sự vật hàm tàng phiền nảo gọi là hữu lậu. Hết thảy sự thể trong thế gian đều là pháp hữu lậu.
; Pháp còn nằm trong phạm trù điều kiện, làm cho ý chí và nghị lực chúng ta hướng ngoại cầu hình thay vì hướng nội cầu lấy tâm Phật—Outflows—Conditioned dharmas—Leaking—Anything which serves to divert beings away from inherent Budha-nature. Outflows are so called because they are turning of energy and attention outward rather than inward.
pháp hữu ngã vô tông
Phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ chủ trương pháp thì có, nhưng cái ta thì không (thể của các pháp do nhân duyên sinh ra có thực thể, còn cái ta là do sự hòa hợp của giả tạm của các pháp, là hư vọng)—The Sarvastivadins who while disclaiming the reality of personality claimed the reality of things.
; (法有我無宗) Tông phái chủ trương thuyết Hết thảy pháp đều có thực trong 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai), pháp thể hằng có, nhưng hoàn toàn không có cái Ta chủ quan. Đây là tông thứ 2 trong 10 tông theo sự phán giáo của tông Hoa nghiêm. Các bộ phái của Tiểu thừa như: Tát bà đa bộ, Tuyết sơn bộ, Đa văn bộ, Hóa địa bộ... đều thuộc tông này. Tông này chia các pháp làm 5 vị, 75 pháp, cho rằng 3 đời thực có, pháp thể hằng có, nhưng Ngã chỉ là cái tên của các pháp giả hòa hợp. Do lập trường chỉ thừa nhận có pháp chứ không thừa nhận có ngã, cho nên tông này được gọi là Pháp hữu ngã vô tông. [X. Hoa nghiêm Nhất thừa giáo nghĩa phân tề chương Q.1]. (xt. Thập Tông). PHÁP HỶ I. Pháp Hỷ. Cũng gọi Pháp duyệt. Khi nghe giáo pháp của đức Phật, vì khởi tâm tin mà sinh lòng vui mừng. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 2 (Đại 9, 403 trung) nói: Âm thanh của đức Phật có năng lực làm cho người nghe sinh lòng vui mừng, khiến mọi người được pháp hỷ. [X. Tán A di đà kệ]. II. Pháp Hỷ (?-?). Phạm: Dharmanandi. Hán âm: Đàm ma nan đề. Hán dịch: Pháp hỷ. Cao tăng người nước Đâu khư lặc, đến Trung quốc vào khoảng năm Kiến nguyên (365-370) đời Phù Tần, tham dự công việc dịch kinh. (xt. Đàm Ma Nan Đề).
pháp hữu vi
Saṇkhata dhamma (P), Saṁkṛta-dharma (S)Sự vật do nhân duyên tạo tác.
; Những pháp có hình tướng, số lượng, có thể suy lường và dùng lời nói văn tự diễn tả được, đều gọi là pháp hữu vi.
pháp hỷ
Fa Hi (S), Dharmanendin (S)Tên một vị sư. Xem Đàm ma nan đề.
; 1) Vui mừng khi nghe hay nếm được vị pháp—Joy of the Law—The joy of hearing or tasting dharma. 2) Tên của vị Tỳ Kheo Pháp Hỷ: A monk with the name of Dharmanandi. 3) Theo Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Bồ Tát, Ma Vương giả làm Trời Đế Thích, đem hiến một muôn hai ngàn thiên nữ cho Bồ Tát Trì Thế—According to the Vimalakirti Sutra, Chapter Bodhisattvas, a demon pretended to be Indra, offered twelve thousand goddesses (devakanya) to the Bodhisattva Ruler of the World. • Ma vương nói với Trì Thế: “Thưa Chánh sĩ! Xin ngài nhận một muôn hai ngàn Thiên nữ nầy để dùng hầu hạ quét tước.”—The demon said to the Ruler of the World Bodhisattva: “Bodhisattva, please take these twelve thousand goddesses who will serve you.” • Trì Thế nói rằng: “Nầy Kiều Thi Ca! Ông đừng cho vật phi pháp nầy, tôi là kẻ Sa Môn Thích tử, việc ấy không phải việc của tôi.”—The Ruler of the World Bodhisattva replied: “Sakra, please do not make to a monk this unclean offering which does not suit me.” • Nói chưa dứt lời, bỗng ông Duy Ma Cật đến nói với Trì Thế: “Đây chẳng phải là Đế Thích, mà là Ma đến khuấy nhiễu ông đấy!” Ông lại bảo ma rằng: “Các vị Thiên nữ nầy nên đem cho ta, như ta đây mới nên thọ “Even before the Ruler of the World Bodhisattva had finished speaking, Vimalakirti came and said: “He is not Sakra; he is a demon who comes to disturb you.” He then said to the demon: 'You can give me these girls and I will keep them.” • Ma sợ hãi nghĩ rằng: “Có lẽ ông Duy Ma Cật đến khuấy rối ta chăng?” Ma muốn ẩn hình mà không thể ẩn, rán hết thần lực, cũng không đi được. Liền nghe giữa hư không có tiếng rằng: “Nầy Ba Tuần! Hãy đem Thiên nữ cho ông Duy Ma Cật thì mới đi được. Ma vì sợ hãi, nên miễn cưởng cho—The demon was frightened, and being afraid that Vimalakirti might give him trouble, he tried to make himself invisible but failed, and in spite of his use of supernatural powers he could not go away. Suddenly a voice was heard in the air, saying: 'Demon, give him the girls and then you can go.' Being scared, he gave the girls.' • Khi ấy ông Duy Ma Cật bảo các Thiên nữ rằng: “Ma đã đem các ngươi cho ta rồi, nay các ngươi đều phải phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Rồi ông theo căn cơ của Thiên nữ mà nói Pháp để cho phát ý đạo, và bảo rằng các ngươi đã phát ý đạo, có Pháp vui để tự vui chớ nên vui theo ngũ dục nữa.”—At that time, Vimalakirti said to them: “The demon has given you to me. You can now develop a mind set on the quest of supreme enlightenment.” Vimalakirti then expounded the Dharma to them urging them to seek the truth. He declared: “You have now set your minds on the quest for the truth and can experience joy in the Dharma instead of in the five worldly pleasures (arising from the objects of the five senses).” • Thiên nữ hỏi: “Thế nào là Pháp vui?”— The goddesses asked him: 'What is this joy in the Dharma?” • Ông đáp: “Vui thường tin Phật; vui muốn nghe pháp; vui cúng dường Tăng; vui lìa ngũ dục; vui quán ngũ ấm như oán tặc; vui quán thân tứ đại như rắn độc; vui quán nội nhập (sáu căn) như không; vui gìn giữ đạo ý; vui lợi ích chúng sanh; vui cung kính cúng dường bực sư trưởng; vui nhẫn nhục nhu hòa; vui siêng nhóm căn lành; vui thiền định chẳng loạn; vui rời cấu nhiễm đặng trí tuệ sáng suốt; vui mở rộng tâm Bồ Đề; vui hàng phục các ma; vui đoạn phiền não; vui thanh tịnh cõi nước Phật; vui thành tựu các tướng tốt mà tu các công đức; vui trang nghiêm đạo tràng; vui nghe pháp thâm diệu mà không sợ; vui ba môn giải thoát mà không vui phi thời; vui gần bạn đồng học; vui ở chung với người không phải đồng học mà lòng thương không chướng ngại; vui giúp đỡ ác tri thức; vui gần thiện tri thức; vui tâm hoan hỷ thanh tịnh; vui tu vô lượng Pháp đạo phẩm. Đó là Pháp vui của Bồ Tát”—He replied: “Joy in having faith in the Buddha, joy in listening to the Dharma, joy in making offerings to the Sangha, and joy in forsaking the five worldly pleasures; joy in finding out that the five aggregates are like deadly enemies, that the four elements (that make the body) are like poisonous snakes, and that the sense organs and their objects are empty like space; joy in following and upholding the truth; joy in being beneficial to living beings; joy in revering and making offerings to your masters; joy in spreading the practice of charity (dana); joy in firmly keeping the rules of discipline (sila); joy in forbearance (ksanti); joy in unflinching zeal (virya) to sow all excellent roots; joy in unperturbed serenity (dhyana); joy in wiping out all defilement that screens clear wisdom (prajna); joy in expanding the enlightened (bodhi) mind; joy in overcoming all demons; joy in eradicating all troubles (klesa); joy in purifying the Buddha land; joy in winning merits from excellent physical marks; joy in embellishing the bodhimandala (the holy site); joy in fearlessness to hear (and understand ) the profound Dharma; joy in the three perfect doors to nirvana (i.e. voidness, formlessness and inactivity) as contrasted with their incomplete counterparts (which still cling to the notion of objective realization); joy of being with those studying the same Dharma and joy in the freedom from hindrance when amongst those who do not study it; joy to guide and convert evil men and to be with men of good counsel; joy in thestat of purity and cleanness; joy in the practice of countless conditions contributory to enlightenment. All this is the Bodhisattva joy in the Dharma.”
pháp hỷ thực
Lấy pháp hỷ làm thức ăn—The food of joy in the Law.
Pháp hỷ 法喜
[ja] ホウキ hōki ||| The bliss of the dharma; the joy one experiences on receiving the dharma (prītijanana). => Niềm vui trong Phật pháp; niềm hân hoan khi được thấm nhuần Phật pháp (s: prītijanana).
Pháp khí
法器; C: făqì; J: hōki; |1. Người sẵn sàng đúng lúc để tin nhận giáo lí Phật pháp; 2. Trong Thiền tông, người có năng lực để được giao phó Chính pháp nhãn tạng, niết-bàn diệu tâm (正法眼藏涅槃妙心); 3. Những khí cụ được dùng trong lễ nghi tôn giáo.
pháp khí
căn khí của người làm chấn hưng đạo Phật, nhận lấy kho tàng Chánh pháp để truyền bá cho đời, ví như cái bát (khí) đựng cơm của vị tỳ-kheo. Bậc pháp khí là người đủ sức thọ nhận các pháp môn của Phật.
; Implements used in worship; a vessel of the Law.
; Những nhân tài có thể đào tạo thành người đủ đại đại cơ đại dụng để nối tiếp huệ mạng của Phật, hoằng dương chánh pháp gọi là Pháp khí.
; 1) Những nhạc khí dùng trong thờ phượng: Implements used in worship. 2) Những người có thể tu hành theo đạo Phật: One who obeys the Buddha.
; (法器) I. Pháp Khí. Người có khả năng tu hành Phật đạo. Phẩm Đề ba đạt đa trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 35 hạ) nói: Thân người nữ ô uế, không phải là pháp khí.Trong Sơn đường tứ khảo cũng chép: Nhị tổ Tuệ khả hầu ngài Đạt ma đã lâu nhưng không được nghe ngài dạy bảo, sư liền chặt tay mình để cầu pháp, ngài Đạt ma biết đó là bậc pháp khí, nên đem áo bát truyền cho. [X. kinh Đại bảo tích Q.38; kinh Đại tập Q.10; Thích thị yếu lãm Q.hạ]. II. Pháp Khí. Cũng gọi Phật khí, Phật cụ, Đạo cụ. Nói theo nghĩa rộng thì tất cả những dụng cụ dùng cho các loại Phật sự như trang hoàng Phật đàn, pháp hội, tu pháp, cầu nguyện, cúng dường, hoặc đem theo bên mình như tràng hạt, tích trượng v.v... đều được gọi chung là Pháp khí. Nói theo nghĩa hẹp thì Pháp khí đặc biệt được chỉ cho những dụng cụ đặt ở bàn thờ Phật, nhất là những khí cụ được dùng trong các tu pháp của Mật giáo; có rất nhiều loại, về cách dùng, cỡ lớn nhỏ và hình dáng đều khác nhau. Tức cùng có tên là Pháp khí nhưng tùy theo nguyên liệu, phương pháp chế tạo, hoặc do tông phái, thời đại khác nhau, mà hình thức của các Pháp khí cũng rất khác nhau. Thông thường, mĩ thuật Phật giáo lấy Pháp khí làm tiêu chuẩn. Nếu phân loại theo cách sử dụng thì Pháp khí có thể được chia làm 8 loại: 1. Trang nghiêm cụ: Những thứ dùng để trang hoàng điện Phật, đạo tràng như: Phan, phướn, lọng, màn che, tràng hoa, khám thờ Phật, bình cắm hoa, lò hương v.v... 2. Cúng Phật khí: Những khí cụ cúng Phật như: Hương hoa, lò hương, chân đèn, lồng đèn, bát đựng cơm cúng, bình trà, bình nước (tịnh bình, quân trì) lẵng hoa, mâm, bàn v.v...3. Báo thời khí: Dụng cụ thông báo giờ giấc,cử hành các pháp sự cúng dường như: Chuông lớn, trống, khánh, chiêng, thanh la, não bạt, chuông lắc, mõ, mộc bản v.v... Những Pháp khí này được chế tạo rất đẹp, đặc biệt có giá trị mĩ thuật cao. Ngoài nghệ thuật chế tạo, còn khắc tên, niên đại, văn khắc, về mặt sử liệu, có ý nghĩa rất phong phú. 4. Dung trí khí: Những khí vật để cất chứa hoặc trang trí các đạo cụ như: Bình đựng xá lợi, hòm(rương) chứa kinh, hòm đựng ca sa, hộp để giới điệp... 5. Huề hành khí: Những khí vật tăng sĩ mang theo mình như: Tràng hạt (xâu chuỗi), bát, tích trượng, như ý(vật dùng để gãi ngứa ở những chỗ tay không với tới), phất trần v.v... 6. Mật giáo pháp cụ: Cũng gọi Đại đàn cụ, dùng trong các pháp tu của Mật giáo như: Luân bảo (bánh xe báu), Yết ma kim cương, Kim cương chử (chày kim cương), Kim cương linh (chuông kim cương), Kim cương bàn (mâm kim cương), Lục khí (6 thứ: Lò hương, bát đựng nước thơm, hộp đựng hương, lẵng đựng hoa, chân đèn và bát đựng cơm cúng) cùng 4 cây cọc dùng để kết giới... Về cách sử dụng, hình dáng, chủng loại của các pháp cụ Mật giáo đều do giáo nghĩa trong nghi quĩ của Mật giáo qui định. Thông thường, so với Pháp khí của Hiển giáo, thì các pháp cụ của Mật giáo mang đậm tính cách thần bí và tượng trưng. Chẳng hạn như cây chày 1 chĩa là tượng trưng cho Nhất chân như, chày 3 chĩa tượng trưng cho Tam mật (thân mật, ngữ mật, ý mật), hoặc tượng trưng cho Tam thân(Pháp thân, Báo thân, Hóa thân), hoặc biểu thị Tam bộ (Phật bộ, Kim cương bộ, Liên hoa bộ); chày 5 chĩa tượng trưng cho Ngũ trí (Đại viên kinh trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí, Pháp giới thể tính trí), Ngũ Phật (thuộc Kim cương giới: Tì lô giá na Như lai, A súc Như lai, Bảo sinh Như lai, A di đà Như lai; thuộc Thai tạng giới: Đại nhật Như lai, Bảo chàng Như lai, Khai phu hoa vương Như lai, Vô lượng thọ Như lai, Thiên cổ lôi âm Như lai). Những loại pháp cụ này của Mật giáo phần nhiều được đúc bằng đồng, có mạ vàng, rất tinh vi, đẹp đẽ và, dĩ nhiên, giá trị nghệ thuật rất cao.
Pháp khí 法器
[ja] ホウキ hōki ||| "Dharma-vessel." (1) Someone who is suitably prepared to believe and understand the teachings of Buddhism. (2) In the Chan tradition, one who is capable of being entrusted with the 正法眼藏涅槃妙心. (3) A ritual vessel used in Buddhist ceremonies. => Người sẵn sàng đúng lúc để tin nhận giáo lý Phật pháp. Trong Thiền tông, người có năng lực đê được giao phó Chính pháp nhãn tạng, niết-bàn diệu tâm 正法眼藏涅槃妙心. Những khí cụ được dùng trong lễ nghi tôn giáo.
Pháp không
法空; C: făkōng; J: hōkū; |Tính không của các pháp, Tính không của các đối thể. Đồng nghĩa với Pháp vô ngã (法無我). Quan điểm có ảnh hưởng mạnh của Đại thừa cho rằng không chỉ những chúng sinh cá biệt không có một bản ngã (我空) mà các hợp thể cơ cấu các pháp cũng là không, trống không (pháp không 法空, s: dharma-śūnyatā). Quan điểm nầy được các nhà Đại thừa xem như là mức độ nội chứng để phân biệt với hàng Nhị thừa, vì họ vốn chỉ nhận thức được Ngã không. Theo thuật ngữ Nhị chướng (二障) trong Du-già hành tông Phật giáo thì thực chứng được pháp không là điều rất quan trọng để giải trừ Sở tri chướng (所知障).
pháp không
Dharmasùnyatà (S). The emptiness or unreality of things.
; Tánh không hay sự không thật của chư pháp. Mọi vật đều tùy thuộc lẫn nhau, chứ không có cá nhân hiện hữu, tách rời khỏi vật khác—The emptiness or unreality of all things—Everything is being dependent on something else and having no individual existence apart from other things; hence the illusory nature of all things as being composed of elements and not possessing reality—The non-reality of things—Things are unreal. ** For more information, please see Nhị Không and Tam Không.
; (法空) Cũng gọi Pháp vô ngã (Phạm: Dharmanairàtmya). Chỉ cho tự tính của các pháp là không, 1 trong Nhị không, 1 trong Tam không. Pháp không có 2 nghĩa: Hết thảy pháp đều vô ngã; hết thảy pháp đều do nhân duyên giả hòa hợp. Luận Đại tì bà sa quyển 9 (Đại 27, 45 trung) ghi: Tôn giả Thế hữu nói: Tôi không định nói các pháp đều không, mà định nói hết thảy các pháp đều vô ngã. Bởi vì, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương pháp thể là hằng có, cho nên không nói các pháp đều không, mà là quán tất cả pháp vô ngã để đối trị ngã kiến. Nhưng, phẩm Diệt pháp tâm trong luận Thành thực quyển 12 và luận Du già sư địa quyển 93 thì cho rằng các pháp 5 uẩn không có tự tính thực tại bất kiến, cho nên là không. Còn Đại thừa nghĩa chương quyển 1 thì căn cứ vào 4 tông mà phân biệt nghĩa không như sau: 1. Tông Tì đàm lập tính: Chỉ nói về sinh không, chứ không nói đến pháp không. 2. Tông thành thực phá tính: Nói rõ cả sinh không và pháp không, cho rằng khổ, không, vô thường... tập thành các pháp, gọi là Pháp hòa hợp. Trong các pháp hòa hợp, Không chẳng có tính nhất định, cho nên là Pháp không. 3. Tông Bát nhã phá tướng: Cũng nói sinh không và pháp không, cho rằng không cần phải đợi đến khi khổ, không, vô thường... lìa tan hoại diệt mới là không mà các pháp giả hợp ngay trước mắt chính là không. 4. Tông Hiển thực: Cũng nói sinh không và pháp không, chia làm 2 môn: a) Y trì môn: Pháp vọng tưởng vốn không, gọi là Chúng sinh không; chỗ nương chân thật vắng lặng, gọi là Pháp không. b) Duyên khởi môn: Thể chân như tịch diệt, gọi là Pháp không; Duyên dụng vắng lặng, gọi là Chúng sinh không. Trên đây, cái không của tông Phá tính là Tích không; cái không của tông Phá tướng là Thể không; còn về tông Hiển thực thì Sinh không và Pháp không của môn Y trì là Tam tính tam vô tính, Pháp không và Sinh không của môn Duyên khởi là Thể dụng của Chân như. [X. luận Đại trí độ Q.6, 31; luận Du già sư địa Q.90; luận Hiển dương thánh giáo Q.16]. (xt. Nhị Không, Không, Vô Ngã).
pháp không chung cùng
xem pháp chung cùng.
pháp không chân như
Chân như được hiểu như vô ngã và vô tướng của vạn hữu—The Bhutatathata as understood when this non-individuality or unreality of things is perceived.
Pháp không quán
法空觀; C: făkōngguān; J: hōkūkan; |Pháp thực hành thiền trong đó hành giả quán sát hợp thể cơ cấu của các pháp không có ngã tính. Xem mục Pháp không (法空) ở trên. Pháp thiền quán nầy vượt xa pháp thiền quán sát Nhân vô ngã hay Nhân không quán (人空觀).
pháp không quán
Một trong hai Nhị Không Quán; quan niệm cho rằng các pháp sắc tâm đều do nhân duyên sinh ra, chứ không có tự tánh hay thực thể—Meditative insight into the unreality of all things, one of the two kinds of meditative insight. ** For more information, please see Nhị Không (C).
; (法空觀) Pháp quán xét muôn vật đều do nhân duyên, điều kiện giả hòa hợp, không có thực thể, là 1 trong Nhị không quán. Đây là pháp quán của Bồ tát Đại thừa. (xt. Không).
Pháp không 法空
[ja] ホウクウ hōkū ||| The emptiness of elemental constructs; emptiness of objective entities. Synonymous with 法無我. the seminal Mahāyāna Buddhist position that says that not only do individual beings lack inherent selfhood (我空), but the compositional elements of the world from which beings are comprised also lack inherent selfhood. (dharma-śūnyatā). This is considered by Mahayanists to be a level of insight that distinguishes from the practitioners of the two vehicles, who are only able to perceive the emptiness of person 我空. In terms of the two hindrances 二障 in Yogācāra Buddhism, the insight of emptiness of elemental constructs is important for the removal of noetic hindrances 所知障. 〔二障義HPC 1.792c〕 => Tính không của các pháp, Tính không của các đối thể. Đồng nghĩa với Pháp vô ngã. Quan điểm có ảnh hưởng mạnh của Đại thừa cho rằng không chỉ là Ngã không đối với các thực thể cá biệt (nhân vô ngã) mà đối với hợp thể cơ cấu của các pháp cũng là không (pháp vô ngã; dharma-śūnyatā). Quan điểm nầy được các nhà Đại thừa xem như là mức độ nội chứng để phân biệt với hàng Nhị thừa, vốn họ chỉ nhận thức được Ngã không. Theo thuật ngữ Nhị chướng trong Du-già hành tông Phật giáo, thì thực chứng được pháp không là điều rất quan trọng để giải trừ Sở tri chướng.
pháp khản
(法侃) (551-623) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Tùy, người Huỳnh dương (thuộc tỉnh Hà nam), họ Trịnh. Ban đầu, sư tu hành ở chùa Linh nham, núi Thái sơn, sau sư theo Pháp sư Uyên học tập các bộ luận Thập địa, Địa trì... Về sau, sư đến Kiến khang, theo cư sĩ Tào tì– đệ tử tại gia của ngài Chân đế– nghiên cứu luận Nhiếp đại thừa. Năm Nhân thọ thứ 2 (602), đời Tùy, sư vâng sắc chỉ của vua Văn đế đưa xá lợi đến Tuyên châu (huyện Tuyên thành, tỉnh An huy) và Lê châu (thuộc tỉnh Hà nam), cảm được điềm lạ. Vua Dạng đế từng xây cất chùa Nhật nghiêm ở Trường an, thỉnh các bậc cao tăng trong nước về luận đạo, sư cũng vâng sắc về tuyên giảng Duy thức. Đến đầu đời Đường, sư được lập làm 1 trong Mười vị Đại đức lãnh đạo giới Phật giáo. Cuối đời, sư dời đến ở chùa Đại hưng thiện, tận lực hoằng dương luận Nhiếp đại thừa. Năm Vũ đức thứ 6 (623), sư thị tịch, hưởng thọ 73 tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.11].
pháp khởi bồ tát
Dharmodgata (S)Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa.
; (法起菩薩) Pháp khởi; Phạm: Dharmodgata. Cũng gọi Pháp hỉ bồ tát, Pháp cơ bồ tát, Bảo cơ bồ tát, Pháp thượng bồ tát, Pháp dũng bồ tát, Đàm vô kiệt bồ tát. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 45 (bản dịch mới) thì bồ tát Pháp khởi trụ ở núi Kim cương, tương đương với thuyết bồ tát Văn thù trụ ở núi Ngũ đài thịnh hành tại Trung quốc từ đời Đường đến nay. Có thuyết cho rằng núi Kim cương tức là Kim cương sơn ở tỉnh Giang nguyên, Hàn quốc hiện nay. Hình tượng bồ tát Pháp khởi có 3 mặt 8 tay, mỗi mặt đều hiện vẻ giận dữ, sau lưng có những ngọn lửa, tay thứ 1 bên trái, tay thứ 1 bên phải bắt ấn Mã đầu, tay thứ 2 bên trái và tay thứ 2 bên phải cầm búa và cầm gậy. Pho tượng này hiện được thờ ở chùa Tịnh lưu li tại Sơn thành, Nhật bản. (xt. Kim Cương Sơn)
pháp kim cang
Dharmaraja (skt)—See Kim Cang.
Pháp Kinh
法經; C: făjīng; J: hōkyō; tk 6. |Người sưu tập mục lục kinh điển Phật giáo. Năm 549, sư cùng một nhóm 20 vị đã hoàn thành Chúng kinh mục lục (衆經目録).
pháp kinh
Dhammdasa (P), Dharma sŪtra (S)Tên một bộ kinh. Kinh Bà la môn, ghi chú pháp qui các thời cúng tế long trọng.
; (法京) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Lương thời Nam Bắc triều, người đất Thái nguyên, họ Tôn, trụ ở chùa Trường sa, Kinh châu.Sư xuất gia năm lên 7 tuổi, năm 13 tuổi cùng với bạn đồng học là sư Trí uyên lên tòa cao thuyết pháp mà không sợ. Sư mở mang ngôi chùa Trường sa rất to lớn, có khoảng 1.500 gian lớn nhỏ, chúng tăng trên 1000 vị. Hai đời vua triều Hậu Lương đều tôn sư giữ chức Tăng chính lãnh đạo giáo đoàn. Sư thị tịch ở chùa này, thọ 76 tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.16].
Pháp Kinh lục
法經録; C: făjīnglù; J: hōkyōroku; |Tên gọi tắt thông dụng của Chúng kinh mục lục (衆經目録).
Pháp kinh lục 法經録
[ja] ホウキョウロク Hōkyōroku ||| The Fajing lu ("Fajing's catalogue"), popular short title for the Zhongjing mulu 衆經目録 (Catalog of Scriptures). (c: Fajing lu; e: Fajing's catalogue) => Tên gọi tắt thông dụng của Chúng kinh mục lục 衆經目録.
Pháp Kinh 法經
[ja] ホウキョウ Hōkyō ||| Fajing (d.u.); a major compiler of lists of Buddhist canonical works. In 594, he and the team of twenty scholars that he led completed the Zhongjing mulu (衆經目録; Catalog of Scriptures). => (c: Fajing). Người sưu tập mục lục kinh điển Phật giáo. Năm 549, sư cùng một nhóm 20 vị đã hoàn thành Chúng kinh mục lục 衆經目録.
pháp kiên na la vương
Druma (skt)—Vua Kiên Na La—King of the Kinnaras.
pháp kiếm
The sword of Buddha-truth, able to cut off the functioning of illusion.
; Lưỡi kiếm chân lý chặt đứt hết sự hoạt động của phiền não—The sword of Buddha-truth, which is able to cut off the functioning of illusion.
; (法劍) Thanh kiếm pháp. Phật pháp được ví dụ như thanh kiếm. Kiếm vốn là thứ vũ khí chế ngự kẻ địch; cũng thế, Phật pháp có năng lực dẹp tan ma quân phiền não của chúng sinh, cho nên gọi là Pháp kiếm. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 thượng) nói: Thổi loa pháp, cầm kiếm pháp. Bát chu tán (47, 448 hạ) nói: Pháp kiếm tức danh hiệu Di đà, Xưng niệm một lần trừ hết tội.
pháp kiến
Maintaining one tenet and and considering others wrong; narrow-minded, bigoted.
; Đầu óc thô thiển hẹp hòi hay mê chấp vào một pháp; cho pháp đó là đúng, còn các pháp khác là sai—Maintaining one tenet and considering others wrong; narrow-minded; bigoted.
Pháp kiều
法橋; J: hōkyō;|Một danh từ chỉ đạo Phật, ví Phật pháp như một cái cầu độ chúng sinh bước qua bể khổ Luân hồi.
pháp kiều
The bridge of Buddha-truth.
; 1) Dân Pháp: The French people. 2) Cầu Chân Lý Phật Pháp có khả năng giúp cho chúng sanh đáo bỉ ngạn niết bàn: The bridge of Buddha-truth, which is able to carry all across to nirvana.
; (法橋) I. Pháp Kiều. Cây cầu pháp. Ví dụ Phật pháp có năng lực đưa chúng sinh qua sông sinh tử, giống như chiếc cầu đưa người sang bờ bên kia. Kinh Trường a hàm quyển 2 (Đại 1, 12 hạ) nói: Phật là Thuyền trưởng đưa người vượt biển, pháp là cây cầu giúp người qua sông, theo con đường Đại thừa độ tất cả trời, người. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 13 (Đại 10, 65 hạ) nói: Chúng sinh ngu si không thấy tính, mờ mịt điên cuồng trong nguy hiểm, đức Phật thương xót dựng pháp kiều. II. Pháp Kiều. Gọi đủ: Pháp kiều thượng nhân vị. Một ngôi vị tăng ở Nhật bản, giữ chức luật sư, có trách nhiệm lãnh đạo tăng ni. Chức vụ này bắt đầu được đặt ra từ năm 864. Bấy giờ, có các ngài Tuyên giáo đại sư: Tối giáo, Nguyệt hiểu, Minh triết, Quang thiện... đã từng giữ chức Pháp kiều thượng nhân vị luật sư. Còn các ngài Tuệ duệ, Chân tuệ, Chính tiến, Đạo xương, Đạo thuyên, Hưng chiếu, Thường hiểu... thì giữ chức Pháp kiều thượng nhân vị quyền luật sư. [X. Tam đại thực lục Q.8, 48; Phù tang lược kí Q.20, 23].
pháp kính
tấm gương pháp.
; Xem Gương chánh pháp.
; The Dharma-mirror.
; Pháp kính phản chiếu trí huệ Phật—The Dharma mirror, reflecting the Buddha-wisdom.
Pháp Kế
法繼; C: făjì; J: hōkei; |Tăng sĩ đời Bắc Nguỵ, Trung Hoa, thành viên của Bắc phái Địa luận tông, đệ tử của Đạo Sủng (道寵).
Pháp Kế 法繼
[ja] ホウケイ Hōkei ||| Faji (d.u.), a Northern Wei monk who was a member of the northern branch of the Dilun school 地論宗, and who was a disciple of Daochong 道寵. (c: Faji ) => Tăng sĩ đời Bắc Nguỵ, Trung Hoa, thành viên của Bắc phái Địa luận tông.
pháp lan
Dharma-aranya (S)Sư Ấn độ được vua Minh đế thỉnh sang Tàu đời Hậu Hán (25 - 250) vào thế kỷ thứ nhất để dịch kinh, vào khoảng năm 65 hay 66, cùng với sư Ca Diếp Ma Đằng, trụ tại Bạch mã tự. Ca Diếp Ma Đằng tịch năm 67, Ngài Pháp Lan tịch năm 70. Xem Ming-ti.
; Gobharana (skt)—Pháp Lan cùng Sư Matanga là những vị Tỳ Kheo Ấn Độ đầu tiên tới Trung Quốc, vào khoảng giữa thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch—Gobharana, companion of Matanga, being the first Indian monk said to have come to China, in the middle of the first centurey A.D.
pháp linh
Dharma-bell; the pleasing sound of intoning the sùtras.
; Chuông pháp hay âm thanh thanh thoát dễ chịu khi trì tụng kinh điển—The dharma-bell; the pleasing sound of intoning the sutras.
Pháp liên hoa kinh huyền tán
法蓮華經玄贊; C: fă liánhuá jīng xuán zàn; J: hōrengekyō gensan; |Pháp hoa huyền tán (法華玄贊) ở trên.
Pháp liên hoa kinh huyền tán 法蓮華經玄贊
[ja] ホウレンゲキョウゲンサン Hōrengekyō gensan ||| See Fa-hua hsüan-tsan 法華玄贊 above. => Xem Pháp hoa huyền tán (c: Fa-hua hsüan-tsan 法華玄贊) ở trên.
Pháp Loa
法螺; 1284-1330|Thiền sư Việt Nam thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Sư là môn đệ của Trần Nhân Tông, là Tổ thứ hai của dòng thiền này. Sư là người ấn hành Ðại tạng kinh tại Việt Nam khoảng năm 1329. Kinh này đã bị Trương Phụ thời nhà Minh phá huỷ, ngày nay không còn. Sư để lại nhiều tác phẩm Thiền học và luận thuyết về các kinh Nhập Lăng-già, Diệu pháp liên hoa, Bát-nhã ba-la-mật-đa. Sư có nhiều đệ tử đắc pháp mà người để lại tên tuổi đến ngày nay trong thiền học và thi ca là Huyền Quang. Sư mất sớm, lúc mới 46 tuổi.|Sư tên tục là Ðồng Kiên Cương, quê ở làng Cửu La, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Cha tên là Ðồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu. Tháng 8 năm Quý Mùi (1283), mẹ Sư đêm nằm mộng thấy dị nhân trao cho kiếm thần và sau đó sinh ra Sư. Sư còn nhỏ đã có chí khác thường, không nói lời ác, không thích ăn thịt cá.|Năm 1304, Ðiều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đi khắp nơi trong nước, có ý tìm người kế thừa. Khi xa giá vừa đến thôn, Sư đỉnh lễ xin xuất gia, Trần Nhân Tông bảo ngay: »Ðứa bé này có đạo nhãn, sau này hẳn là pháp khí« và cho theo về thụ giới Sa-di. Ðiều Ngự lại bảo Sư đến Quỳnh Quán học nơi Hoà thượng Tính Giác. Khi đã có sở đắc, Sư từ tạ trở về với Ðiều Ngự.|Một hôm, Sư dâng ba bài tụng nhưng cả ba đều bị chê. Ðiều Ngự khuyên Sư phải tự tham. Sư vào phòng đầu óc nặng trĩu, thức đến quá nửa đêm, nhìn thấy bông đèn tàn rụng xuống bỗng nhiên đại ngộ. Ðiều Ngự thầm ấn khả cho Sư. Từ đây, Sư tu theo 12 hạnh Ðầu-đà.|Năm sau, Ðiều Ngự đích thân truyền Giới Thanh văn và Bồ Tát cho Sư. Năm 1306, Ðiều Ngự cử Sư làm chủ giảng tại chùa Báo Ân. Tại đây Sư gặp Huyền Quang lần đầu tiên, lúc đó Sư mới 23 tuổi. Hai năm sau, Ðiều Ngự mất, Sư phụng mệnh đưa Xá-lị về kinh đô và sau khi trở về núi, Sư soạn lại những bài tụng của Ðiều Ngự lúc ở Thạch thất và biên tập lại dưới tên Thạch thất mị ngữ.|Tháng 12 năm 1319, Sư kêu gọi Tăng chúng và cư sĩ chích máu in Ðại tạng kinh hơn 5000 quyển. Vua Trần Anh Tông cũng tự chích máu mình viết Ðại tạng kinh cỡ nhỏ. Sư chuyên giảng kinh Hoa nghiêm, mỗi lần giảng cả ngàn người nghe.|Năm 1330, Sư lâm bệnh nặng, đệ tử xin bài kệ, Sư viết:|萬緣裁斷一身閒。四十餘年夢幻間|珍重諸人休借問。那邊風月更邇寬|Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn|Tứ thập dư niên mộng huyễn gian|Trân trọng chư nhân hưu tá vấn|Na biên phong nguyệt cánh nhĩ khoan.|*Muôn duyên cắt đứt, tấm thân nhàn,|Hơn bốn mươi năm cõi mộng tàn.|Giã biệt! Xin đừng theo hỏi nữa,|Bên kia trăng gió mặc thênh thang.|Viết xong, Sư ném bút an nhiên viên tịch, thọ 47 tuổi. Nhục thân Sư được đệ tử nhập tháp tại Thanh Mai Sơn.|Các tác phẩm của Sư còn được lưu truyền: 1. Ðoạn sách lục; 2. Tham thiền chỉ yếu; 3. Kim cương đạo trường đà-la-ni kinh; 4. Tán Pháp hoa kinh khoa sớ; 5. Bát-nhã tâm kinh khoa; và một vài bài kệ trước lúc tịch.
pháp loa
Dharmśaṅkha (S)Tên một vị sư.
; Dharmasankhasabda (S). Conch of the Law.
; Dharma-sankha (skt)—Loa Phật Pháp, ý ám chỉ tiếng Đức Phật thuyết pháp như tiếng loa thổi của vỏ ốc vang rất xa (thế tục dùng tù và để thổi ra hiệu ba quân, tiếng thuyết pháp của Đức Phật có sức mạnh hàng phục ma quỷ)—Conch of the Law, a symbol of the universality, power, or command of the Buddha's teaching.
; (法螺) Phạm: Dharma-zaíkha. Zaíkha (loa), Hán âm: Thương khư. Hán dịch: Kha, Bối, Lễ bối. Chỉ cho cái tù và (cũng là 1 loại nhạc khí) ở Ấn độ, làm bằng vỏ ốc, thổi để triệu tập quần chúng hoặc khi ra trận. Loa khi được thổi, tiếng vang đi rất xa và mạnh mẽ, dùng để ví dụ âm thanh đức Phật nói pháp, khắp đại chúng đều nghe rõ, hơn nữa, âm thanh ấy còn có năng lực hàng phục quân ma, cho nên gọi là Pháp loa. Trong Mật giáo, loa là vật cầm tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm. Loa cũng được dùng trong các pháp hội. Ngoài ra, đối với những nhà Tu nghiệm đạo ở Nhật bản, loa là 1 pháp khí rất quan trọng. Lúc tu đạo ở trong núi rừng, thổi Pháp loa để khỏi bị thú dữ đuổi theo. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.18; phẩm Mật ấn kinh Đại nhật Q.4; luật Ngũ phần Q.18].
Pháp Long Tự
(法隆寺, Hōryū-ji): ngôi chùa trung tâm của Thánh Đức Tông (聖德宗), hiện tọa lạc tại Ikaruka-cho (斑鳩町), Ikoma-gun (生駒郡), Nara-ken (奈良縣), là một trong 7 ngôi chùa lớn vùng Nam Đô. Nguyên gốc chùa này thuộc về Pháp Tướng Tông, nhưng vào năm 607 Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi) khai cơ sáng tạo, nên chùa thuộc vào Thánh Đức Tông. Xưa kia, chùa có các tên gọi khác như Pháp Long Học Vấn Tự (法隆學問寺), Ban Cưu Tự (斑鳩寺, Ikaruka-dera), Giác Tự (鵤寺, Ikaruka-dera). Vào năm 670 (năm thứ 9 đời Thiên Trí Thiên Hoàng [天智天皇, Tenchi Tennō]) chùa bị cháy tiêu tan, và cho đến đầu thế kỷ thứ 8 chùa chỉ được tái kiến tạm thời mà thôi. Được phối trí theo dạng thức Pháp Long Tự, chùa có kiến trúc bằng gỗ tối cổ nhất thế giới, bao gồm Tây Viện, lấy Kim Đường (金堂), Ngũ Trùng Tháp (五重塔) của mô dạng thời đại Phi Điểu (飛鳥, Asuka) làm trung tâm; Đông Viện lấy Mộng Điện (夢殿) của mô dạng thời Thiên Bình (天平, Tempyō) làm trung tâm. Tượng thờ chính tại Kim Đường là Thích Ca Tam Tôn thuộc dạng thức của Phật Giáo hậu kỳ thời Bắc Ngụy (北魏, 386-534). Tương truyền khi Thánh Đức Thái Tử qua đời, vào năm 623 (năm thứ 31 đời Suy Cổ Thiên Hoàng [推古天皇, Suiko Tennō]), nhóm quý tộc đã phát nguyện và ra lệnh cho An Tác Chỉ Lợi (鞍作止利, Karatsukuri-no-Tori, còn gọi là Chỉ Lợi Phật Sư [止利佛師]) đúc tượng này. Ngoài ra, tại Kim Đường còn có một pho tượng Dược Sư Như Lai; tương truyền khi Dụng Minh Thiên Hoàng (用明天皇, ) lâm trọng bệnh, Thánh Đức Thái Tử đã phát nguyện đúc pho tượng này để cầu nguyện cho Thiên Hoàng lành bệnh và đến năm 607 (năm thứ 15 đời Suy Cổ Thiên Hoàng) mới hoàn thành. Pho tượng Dược Sư Như Lai hiện tồn được xem như là mới hơn pho Thích Ca Tam Tôn. Tây Viện Già Lam hiện tồn có Kim Đường (金堂), Ngũ Trùng Tháp (五重塔), Trung Môn (中門), Hành Lang, là những kiến trúc lúc mới thành lập chùa (cuối thế kỷ thứ 7); bên cạnh đó, ngoài Kho Kinh (經藏), Đông Thất (東室), Thực Đường (食堂), Đông Đại Môn (東大門) thuộc thời đại Thiên Bình, còn có Đại Giảng Đường (大講堂, năm 990), Lầu Chuông (金樓, khoảng năm 990), Tây Viên Đường (西圓堂, năm 1250), Nam Đại Môn (南大門, năm 1438), v.v. Quần thể này thể hiện toàn bộ bóng dáng kiến trúc già lam cổ đại. Về mỹ thuật Phật Giáo, ngôi cổ tự này hiện đang tàng trữ tại rất nhiểu bảo vật vô giá như tượng Thích Ca Tam Tôn, Dược Sư Như Lai, Bách Tế Quan Âm (百濟觀音), Mộng Vi Quan Âm (夢違觀音), Ngọc Trùng Trù Tử (玉虫厨子), Quất Phu Nhân Trù Tử (橘夫人厨子), v.v. Vào năm 1949, trong nội bộ và những tranh vẽ trên tường bị cháy tiêu, nhưng sau đó đã được phục nguyên lại toàn bộ. Đến năm 1993, chùa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.
Pháp Long tự
法隆寺; C: fălóng sì:; J: hōryūji;|Chùa toạ lạc gần vùng nay là An Dương, phía Bắc tỉnh Hồ Nam, được biết đó là nơi có tấm bia ghi công hạnh ngài Tín Hành (信行), người đã sáng lập Tam giai giáo; 2. Đại bản sơn của phái Thánh Đức ở Nại Lương (j: nara), do Thái tử Thánh Đức (j: shōtoku) sáng lập năm 607. Nay còn nhiều di sản văn hoá được lưu trữ ở đây.
pháp long tự
Horyuji (J)Tên một ngôi chùa. Tên một ngôi chùa ở Nhật.
; (法隆寺) Cũng gọi Pháp long học vấn tự, Ban cưu tự. Chùa ở xã Ban cưu, quận Sinh câu, huyện Nại lương, Nhật bản, là 1 trong 7 ngôi chùa lớn ở Nam đô, do Thái tử Thánh đức sáng lập, thuộc tông Thánh đức của Phật giáo Nhật bản. Chùa này qua các thời đại đều được bảo trì. Đến giữa thời Nại lương, chùa được kiến trúc thêm rất qui mô và trở thành trung tâm giáo học Duy thức, Tam luận. Hiện nay chùa này là Đại bản sơn của tông Pháp tướng. Chùa được chia làm Đông viện và Tây viện. Tây viện hiện có các kiến trúc như: Kim đường, tháp 5 tầng, trung môn, hành lang v.v... là những kiến trúc của thời Phi điểu, là 1 trong những kiến trúc bằng gỗ củaPhật giáo xưa nhất tại Nhật bản. Cách bố cục, kết cấu, hình thức... của chùa đều chịu ảnh hưởng lối kiến trúc của thời Nam Bắc triều ở Trung quốc.
Pháp Long tự 法隆寺
[ja] ホウリュウジ Hōryūji ||| (1) Falong si; temple near modern Anyang in northern Honan province; reported site of stele erected for Sanjie jiao founder Xinxing 信行. (2) The Hōryūji, which is the head temple of the Shōtoku sect in Nara, founded by Prince Shōtoku 聖徳 in 607. Many valuable cultural properties are stored here at present. => 1. (c: Falong si) Chùa toạ lạc gần vùng nay là Anyang, về phía Bắc tỉnh Hồ Nam (c: Honan), được biết đó là nơi có tấm bia ghi công hạnh ngài Tín Hành 信行, người đã sáng lập Tam giai giáo. 2. (j: Hōryūji), đại bản sơn của Thánh Đức tông ở Nại Lương (Nara), do Thái tử Thánh Đức sáng lập năm 607. Nay còn nhiều di sản văn hoá được lưu trữ ở đây.
Pháp luân
(s: dharmacakra, p: dhammacakka, 法輪): bánh xe pháp, tỷ dụ cho Phật pháp, có ba nghĩa chính. (1) Phá tan, vì Phật pháp có thể phá tan tội ác của chúng sanh, giống như bánh xe báu của Chuyển Luân Thánh Vương có thể nghiền nát vụn những tảng đá lớn nhỏ; nên gọi là pháp luân. (2) Quay lăn mãi, vì giáo pháp của đức Phật không dừng lại ở bất cứ một người nào hay nơi nào, giống như bánh xe lăn mãi trên đường không dừng lại, nên gọi là pháp luân. (3) Tròn đầy, vì giáo pháp của đức Phật tròn đầy, không khuyết, nên lấy sự tròn đầy của bánh xe mà thí dụ. Như trong Hoa Nghiêm Đạo Tràng Khởi Chỉ Đại Lược (華嚴道塲起止大略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1474) có đoạn: “Sơ thành chánh giác, hiện thần biến ư Bồ Đề Tràng trung, tái chuyển pháp luân, chấn viên âm ư Phổ Quang Minh Điện, biến Thất Xứ nhi hằng diễn, lịch Cửu Hội dĩ đồng tuyên, phu vạn hạnh chi nhân hoa, nghiêm Nhất Thừa chi đạo quả (初成正覺、現神變於菩提塲中、再轉法輪、震圓音於普光明殿、遍七處而恆演、歷九會以同宣、敷萬行之因華、嚴一乘之道果, mới thành chánh giác, hiện thần biến nơi Bồ Đề Đạo Tràng, tái chuyển xe pháp, chấn viên âm nơi Phổ Quang Minh Điện, khắp Bảy Chốn mà hằng diễn, trãi chín hội vốn cùng tuyên, rãi muôn hạnh ấy nhân hoa, nghiêm Nhất Thừa ấy đạo quả).” Hay trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 9, phần Đông Kinh Đại Tướng Quốc Tự Huệ Lâm Thiền Viện Viên Chiếu Thiền Sư (東京大相國寺慧林禪院圓照禪師), cũng có đoạn: “Tích nhật Linh Sơn thắng tập, tùy cơ đại chuyển pháp luân, kim triêu Tuyển Phật Trường khai, thùy thủ nguyện dương Phật sự (昔日靈山勝集、隨機大轉法輪、今朝選佛場開、垂手願揚佛事, xưa kia Linh Sơn tập hội, tùy cơ đại chuyển pháp luân, sáng nay Tuyển Phật Trường bày, buông tay nguyện làm Phật sự).” Pháp luân còn gọi là phạm luân (梵輪). Như trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 8 giải thích rằng: “Phật chuyển pháp luân, hoặc danh pháp luân, hoặc danh phạm luân (佛轉法輪、或名法輪、或名梵輪, đức Phật chuyển bánh xe pháp, hoặc gọi là pháp luân, hoặc gọi là phạm luân).” Về tự tánh của pháp luân, các bộ phái đều có những thuyết khác nhau. Trong đó, 10 bộ như Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (s: Sarvāstivādin, 說一切有部), Đa Văn Bộ (s: Bāhuśrutīya, Bāhulika, p: Bahussutaka, Bāhulika, 多聞部), Kinh Lượng Bộ (s: Sautrāntika, 經量部), v.v., chủ trương lấy Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道) làm thể của pháp luân. Còn 10 bộ khác như Đại Chúng Bộ (s, p: Mahāsāṅghika, 大衆部), Pháp Tạng Bộ (s: Dharmaguptaka, 法藏部), Ẩm Quang Bộ (s: Kāśyapīya, 飲光部), v.v., thì lấy ngôn từ của đức Phật làm pháp luân.
; 法輪; C: fămén; J: hōmon; S: dharmacakra; P: dhammacakka; nghĩa là bánh xe pháp;|Bánh xe pháp; Thuật ngữ »bánh xe« xuất phát từ chữ cakra trong tiếng Phạn, là một loại vũ khí của Ấn Độ thời cổ đại. Do vậy, Pháp luân là vũ khí để hàng phục mọi tà kiến ngoại đạo – là giáo lí của Đức Phật.|Trong đạo Phật, pháp luân tượng trưng cho giáo pháp của đức Phật, gồm Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Trung đạo. Pháp luân thường được vẽ như một bánh xe tám nhánh, tượng trưng cho Bát chính đạo (xem Tám báu vật).|Truyền thuyết cho rằng, pháp luân được chuyển ba lần: 1. Phật giảng pháp lần đầu sau khi đạt chính quả tại Lộc uyển; 2. Lúc thành hình giáo pháp Ðại thừa; 3. Lúc thành hình giáo pháp Kim cương thừa (s: vajrayāna).||H 46: Pháp luân. Hai con nai là biểu hiện của Lộc uyển (vườn nai; s: mṛgadāva), nơi đức Phật chuyển pháp luân lần đầu.
pháp luân
Dhammacakka (P), Dhammacakkaṃ (P), Dharmacakra (S), Dhamma wheel Xem Dharmacakra.
; Dharmacakra (S), the Wheel of the Law. Chuyển pháp luân: to set in motion the Wheel of the Law.
; Dharma-cakra (skt)—The wheel of law—Bánh xe pháp hay chân lý Phật pháp có khả năng nghiền nát những ác quấy, đối lập và ảo vọng. Lời thuyết pháp của Đức phật phá vỡ mọi não phiền nghiệp hoặc, lời ấy không ngừng nghỉ ở một người nào, một chỗ nào, mà nó xoay chuyển mãi từ thế hệ nầy qua thế hệ khác—The Wheel of Law, or Buddha truth which is able to crush all evil and all opposition—The preaching of a Buddha—Dharma wheel is likened a wheel because it crushed all illusions, evil and on opposition, like Indra's wheel, which rolls from man to man, place to place, age to age.
; (法輪) Phạm: Dharmacakra. Pàli: Dhammacakka. Bánh xe pháp, ví dụ giáo pháp của đức Phật, có 3 nghĩa: 1. Tồi phá: Vì Phật pháp có công năng phá trừ tội ác của chúng sinh, giống như bánh xe báu của Chuyển luân Thánh vương có thể nghiền nát núi non nham thạch, cho nên ví dụ là Pháp luân. 2. Triển chuyển: Vì đức Phật nói pháp không dừng ở 1 người nào, cũng không vướng mắc ở 1 chỗ nào, giống như bánh xe quay mãi không dừng, cho nên gọi là Pháp luân. 3. Viên mãn: Vì giáo pháp do đức Phật nói đầy đủ không thiếu, giống như bánh xe tròn trịa, nên gọi là Pháp luân. Luận Đại trí độ quyển 25 (Đại 25, 245 thượng) nói: Đức Phật quay bánh xe pháp, tất cả trời và người trong thế gian không bị trở ngại, không bị ngăn che (...) gặp được Pháp luân của Phật thì tất cả phiền não, tà kiến, nghi hối, độc hại thảy đều tiêu diệt. Pháp luân cũng gọi là Phạm luân, trong các kinh luận có nêu ra nhiều ý nghĩa khác nhau về từ ngữ này: 1. Phạm nghĩa là thanh tịnh, mà pháp của đức Phật nói cũng thanh tịnh, nên gọi Phạm luân. 2. Phật là đấng Đại phạm, Phật dùng Phạm âm để nói pháp, nên gọi Phạm luân. 3. Lúc đức Phật vừa mới thành đạo, Phạm thiên đến khuyến thỉnh Ngài chuyển pháp luân, vì thế gọi là Phạm luân. 4. Đức Phật dùng 4 tâm Phạm hạnh (4 tâm vô lượng): Từ, bi, hỉ, xả để tuyên thuyết đại pháp, cho nên gọi là Phạm luân. 5. Người Ấn độ thời xưa rất tôn quí Phạm thiên, vì tùy thuận thế gian, nên gọi là Phạm luân.Nhưng cũng có thuyết cho rằng giữa 2 từ Pháp luân và Phạm luân có ý nghĩa khác nhau: -Phạm luân chỉ dạy pháp Tứ vô lượng tâm và pháp Tứ thiền định của Thánh đạo thiền định. -Pháp luân chỉ dạy pháp Tứ thánh đế và 37 phẩm trợ đạo của Thánh đạo trí tuệ. Lại về tự tính của Pháp luân thì các bộ nói cũng đều khác nhau. Trong đó, 10 bộ như: Thuyết nhất thiết hữu bộ, Đa văn bộ, Kinh lượng bộ... chủ trương lấy Bát chính đạo làm thể của Pháp luân. Còn 10 bộ như: Đại chúng bộ, Pháp tạng bộ, Ẩm quang bộ... thì chủ trương lấy lời Phật nói làm thể của Pháp luân. Thuyết này được thấy trong luận Đại tì bà sa quyển 182, 183, luận Câu xá quyển 24, chương Tổng liệu giản trong Đại thừa nghĩa chương quyển 1, phần đầu và kinh Đại bát niết bàn quyển 14 (bản Bắc). Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 3 thì lại dựa vào sự cạn sâu của thuyết Ngũ giáo mà bàn về thể tính bất đồng của Pháp luân, nghĩa là Tiểu thừa giáo lấy Bát chính đạo làm thể của Pháp luân; Thủy giáo lấy trí vô phân biệt làm thể của Pháp luân; Chung giáo lấy chân lí làm thể của Pháp luân; Đốn giáo lấy chỗ lí và trí đều bặt, lời và ý đều dứt làm thể của Pháp luân; còn Viên giáo thì lấy Vô tận pháp môn làm thể của Pháp luân. [X. luận Đại trí độ Q.8; luận Tạp a tì đàm tâm Q.10]. (xt. Tượng Trưng, Chuyển Pháp Luân).
Pháp luân Thánh vương
xem Pháp vương.
pháp luân tăng
(法輪僧) Phạm: Dharmacakra-saôgha. Nói theo nghĩa rộng, Pháp luân tăng là chỉ cho vị tăng vâng theo giáo pháp của Phật dạy mà tu hành; còn nói theo nghĩa hẹp thì Pháp luân tăng là chỉ cho sa môn ở giai vị Kiến đạo. Thuyết nhất thiết hữu bộ đặc biệt gọi vị tăng vào giai vị Kiến đạo là Pháp luân tăng, vì Pháp luân có đủ 5 tướng của cái bánh xe ở thế gian sau đây: 1. Tật tốc nhi hành: Đi rất nhanh chóng. Giai vị Kiến đạo có 15 tâm, mỗi tâm là 1 sát na, giống như chiếc bánh xe của Chuyển luân Thánh vương quay rất nhanh. 2. Hữu thủ xả: Có lấy và bỏ. Kiến đạo bỏ cảnh Khổ đế, lấy cảnh Tập đế; không hẳn cùng 1 lúc thấy được lí Tứ đế; giống như Chuyển luân Thánh vương lấy bánh xe trước mà bỏ bánh xe sau. 3. Hàng vị phục: Hàng mà chưa phục. Người ở giai vị Kiến đạo thấy cái chưa thấy, đoạn cái chưa đoạn. 4. Trấn dĩ phục: Trấn áp đã phục. Bậc Kiến đạo khi đã đoạn được phiền não thì không bị lui mất. 5. Chuyển thượng hạ: Chuyển trên dưới. Giai vị Kiến đạo trước quán xét Khổ đế ở cõi dưới, sau quán xét Khổ đế ở cõi trên. Vì 5 tướng trên nên sa môn ở giai vị Kiến đạo được gọi là Pháp luân tăng. Nhưng, Kinh bộ thì cho rằng cả 3 giai vị Kiến đạo, Tu đạo và Vô học đạo đều gọi là Pháp luân, nghĩa là pháp môn Tam chuyển thập nhị hành tướng đều là Pháp luân. Ngoài ra, Đề bà đạt đa vọng thuyết Ngũ pháp, lập giáo đoàn riêng, gọi là Phá pháp luân tăng, hợp chung với Phá yết ma tăng, gọi là Nhị chủng phá hòa hợp tăng. [X. luận Câu xá Q.18, 24; luận Thuận chính lí Q.43; Câu xá luận quang kí Q.18]. (xt. Kiến Đạo).
Pháp luân vương
xem Pháp vương.
pháp luân vương
King of the Wheel of the law, Buddha.
Pháp luân 法輪
[ja] ホウリン hōrin ||| The wheel of the dharma; the wheel of the law. The term translated as "wheel"--cakra, was a kind of weapon in ancient India. Therefore, the dharma-cakra is a weapon that overcomes the mistaken belief of non-Buddhists--the teachings of the Buddha. 〔法華經、T 262.9.41b〕 => Bánh xe pháp; Thuật ngữ 'bánh xe' xuất phát từ chữ cakra trong tiếng Sanskrit, là một loại vũ khí của Ấn Độ thời cổ đại. Do vậy, Pháp luân là vũ khí để hàng phục mọi tà kiến ngoại đạo--là giáo lý của Đức Phật.
pháp luận mục lục
(法論目錄) Tên đầy đủ: Tống minh đế sắc Trung thư thị lang Lục trừng soạn Pháp luận mục lục. Mục lục, 16 pho, 103 quyển (hoặc 93 quyển), do quan Trung thư thị lang Lục trừng soạn vào thời vua Minh đế (ở ngôi 465-472) nhà Tống, Trung quốc. Bộ sách này đã mất, chỉ còn bài Tựa được thu chép trong bộ Xuất tam tạng kí tập quyển 12 của ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương, nhờ đó mà được biết trong Pháp luận mục lục có nhiều vấn đề liên quan đến Phật giáo. Nội dung sách bao gồm: 1. Pháp tính tập 15 quyển. 2. Giác tính tập 7 quyển. 3. Bát nhã tập 6 quyển. 4. Pháp thân tập 4 quyển. 5. Giải thoát tập 1 quyển. 6. Giáo môn tập 12 quyển. 7. Giới tạng tập 8 quyển. 8. Định tạng tập 4 quyển. 9. Tuệ tạng tập 7 quyển. 10. Tạp hành tập 10 quyển. 11. Nghiệp báo tập 6 quyển. 12. Sắc tâm tập 9 quyển. 13. Vật lí tập 3 quyển. 14. Lục tự tập 2 quyển. 15. Tạp luận tập 6 quyển và 16. Tà luận tập 3 quyển. Tất cả hơn 250 thiên. Những tác phẩm được thu vào bộ sách này, phần nhiều cũng được xếp vào Hoằng minh tập.
pháp luật
Laws or rules (of the Order)
; Giới luật và những nguyên tắc lễ nghi trong Phật giáo—Laws or rules.
; (法律) Chỉ cho những qui chế, giới luật và thanh qui trong nội bộ giáo đoàn Phật giáo, hoặc các qui định khác có liên quan. Tăng yết ma quyển hạ (Đại 40, 536 hạ) nói: Tìm tòi nghiên cứu pháp luật của Tu đa la tì ni và phải ứng dụng pháp luật ấy mà không được trái phạm.
pháp lâm
(法琳) (572-640) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Dĩnh xuyên (nay là huyện Hứa xương, tỉnh Hà nam), họ Trần. Theo Tục cao tăng truyện quyển 24 thì sư xuất gia từ nhỏ, sư học rộng, nghiên cứu cả Phật học, Nho học, tư tưởng của Bách gia, đặc biệt sư tinh thông Tam luận(Trung luận, Bách luận và Thập nhị môn luận). Niên hiệu Nhân thọ năm đầu (601) đời Tùy, sư đến Trường an học đạo thuật. Niên hiệu Nghĩa ninh năm đầu (617), sư đổi áo tăng sĩ mặc áo đạo sĩ và đến ở Đạo quán. Vì sư vốn thông hiểu tư tưởng Lão Trang, lời nói thanh cao kì lạ, nên đạo tục đều kính phục và theo sư rất đông. Niên hiệu Vũ đức năm đầu (618) đời vua Đường cao tổ, sư quay về với cửa Phật. Năm Vũ đức thứ 4 (621), sư trụ ở chùa Tế pháp tại Kinh đô, lúc đó, quan Thái sử Phó dịch tâu lên vua 11 điều kế sách xin bãi bỏ Phật pháp, sư bèn dâng thư nói rõ sự sai trái của Phó dịch, đồng thời, soạn luận Phá tà (1 quyển) để luận nạn, Phó dịch đuối lí không đối đáp được, vua tạm gác việc bãi bỏ Phật pháp. Sau, để chống lại luận điệu bài Phật của nhóm Lí trọng khanh, sư lại soạn luận Biện chính (8 quyển), bẻ gãy tà luận của họ. Sau đó, sư vâng sắc trụ trì chùa Long điền và giữ chức Bút thụ trong trường dịch kinh. Mùa đông năm Trinh quán 13 (639), do lời dèm pha của đạo sĩ Tần thế anh, sư bị hạ ngục, sau, vua ra lệnh đày sư đến chùa Ích bộ tăng, nhưng khi đi đến chùa Bồ đề ở Bách lao quan thì sư bị bệnh mà tịch, thọ 69 tuổi. Sư để lại các loại tác phẩm như thi phú, tán tụng, bi chí, kí truyện, Tam giáo hệ phổ và giáo pháp Đại thừa v.v... gồm hơn 30 quyển. [X. Quảng hoằng minh tập Q.11; Đường hộ pháp sa môn Pháp lâm biệt truyện Q.3; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8, 13; Cựu đường thư bản kỉ 1; Cựu đường thư liệt truyện 29].
Pháp Lãng
(法朗, Hōrō, 507-581): vị tăng sống dưới thời Nam Triều, người Quận Phái (沛郡), Từ Châu (徐州, nay thuộc phía Đông Huyện Phái, Giang Tô), họ Chu (周). Năm 21 tuổi, ông xuất gia, ban đầu theo Thiền Sư Bảo Chí (寳誌) tu Thiền, rồi lại theo Tăng Thuyên (僧詮) học về giáo học của Tam Luận và các kinh Hoa Nghiêm, Đại Phẩm, v.v. Vào tháng 11 năm thứ 2 (558) niên hiệu Vĩnh Định (永定) đời vua Võ Đế nhà Trần, ông vâng sắc chỉ vào kinh trú tại Hưng Hoàng Tự (興皇寺), tuyên giảng Hoa Nghiêm, Đại Phẩm, Trung Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận, v.v.; chúng hội đến nghe thường lên đến ngàn người. Đến năm thứ 13 niên hiệu Thái Kiến (太建) đời vua Tuyên Đế, ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi. Suốt đời ông tận lực hoằng dương Tam Luận Tông và xiển dương giáo nghĩa của Long Thọ (龍樹). Trước tác của ông có Trung Luận Huyền Nghĩa (中論玄義) 1 quyển, Tứ Tất Đàn Nghĩa (四悉檀義) 1 quyển. Môn hạ của ông có 25 vị hiền triết, trong đó nổi tiếng nhất là Cát Tạng (吉藏), La Vân (羅雲), Pháp An (法安), Huệ Triết (慧哲), Pháp Trừng (法澄), Đạo Trang (道莊), Trí Củ (智矩), Huệ Giác (慧覺), Chơn Cảm (眞感), Minh Pháp Sư (明法師), Khoáng Pháp Sư (曠法師), v.v.
; 法朗; C: fǎlǎng; J: hōrō; K: pŏmnang;|1. Cao tăng Trung Quốc (507-581), một trong trong những vị đại biểu xuất sắc của Tam luận tông. Sư gia nhập Tăng-già năm 21 tuổi và chăm chỉ tu học Thiền định và Luật tạng. Sau, Sư chuyển qua tu học kinh luận của Tam luận tông và năm 558, Sư đến Nam Kinh xiển dương giáo lí Tam luận. Tương truyền rằng, môn đệ theo học với Sư có đến hàng ngàn. Sau khi Sư tịch, đệ tử xuất sắc là Gia Tường Ðại sư Cát Tạng đã đưa giáo lí của tông này đến tuyệt đỉnh.|2. Nguyên là Thiền sư (và có lẽ là vị Thiền sư sớm nhất) của Hàn Quốc. Sư sang Trung Hoa để học Thiền dưới sự bảo trợ của Tổ sư thiền Trung Hoa Đạo Tín (道信, 580-651). Pháp Lãng được truyền thống công nhận là khởi nguyên của việc truyền thừa Thiền tông Hàn Quốc, và là người đồng khai sáng Hi Dương sơn (曦陽) với Trí Săn Đạo Hiến (智詵道憲, k: chisŏn tohŏn) thuộc Thiền tông Hàn Quốc.
pháp lãng
Fa-lang (C)(507-581), phái Tam luận, Trung quốc.
; Fa-Lang 507-581—Sư Pháp Lãng là một đại diện quan trọng của phái Tam Luận thuộc Phật giáo Trung Quốc. Ông gia nhập giáo đoàn năm 528. Trước tiên ông tu tập thiền định và nghiên cứu Luật Tạng. Sau đó ông sang qua nghiên cứu tu tập về những trước tác của phái Tam Luận. Năm 558, ông đến Nam Kinh (kinh đô Trung Quốc thời bấy giờ), nơi có hàng ngàn Tăng chúng tu tập quanh ông. Ông đã góp phần to lớn trong việc truyền bá Tam Luận. Một đệ tử của ông là Cát Tạng đã tiếp tục truyền thống Tam Luận sau khi ông thị tịch—Fa-Lang, an important representative of the San-Lun school of Chinese Buddhism. In 528, he entered the Buddhist order and devoted himself initially to the practice of meditation and the study of Vinaya texts. Later he occupied himself with the writings of the San-Lun school. In 558, he went to Nanking (capital of China at that time), where he gathered thousands of students around him, thus bringing the San-Lun school great popularity. After he passed away, Chi-Tsang, one of his disciples, carried on the tradition.
; (法朗) I. Pháp Lãng (?-?). Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Tấn. Sư đã từng đi Ấn độ cầu pháp, sau khi trở về nước, chuyên truyền giáo học Pháp tướng. (xt. Khang Pháp Lãng). II. Pháp Lãng (507-581). Cao tăng Trung quốc, sống vào thời Nam triều, người huyện Bái, Từ châu (nay là huyện Bái đông, tỉnh Giang tô), họ Chu, hiệu Hưng hoàng. Sư xuất gia năm 21 tuổi. Ban đầu, sư theo Thiền sư Đại minh Bảo chí tham thiền, rồi lại theo ngài Tăng thuyên học giáo học Tam luận, kinh Hoa nghiêm, kinh Đại phẩm v.v... Tháng 11 năm Vĩnh định thứ 2 (558), đời Trần, sư vâng sắc vua Vũ đế vào kinh đô trụ trì chùa Hưng hoàng, tuyên giảng các kinh luận như Hoa nghiêm, Đại phẩm, Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận... trong hơn 20 năm, đồ chúng theo học thường tới hơn nghìn người, nổi tiếng nhất có 25 vị được gọi là Nhị thập ngũ triết (25 nhà hiền triết) như: Cát tạng, La vân, Pháp an, Tuệ triết, Pháp trừng, Đạo trang, Trí củ, Tuệ giác, Chân cảm, Minh pháp sư, Tiểu minh pháp sư, Khoáng pháp sư v.v... Năm Thái kiến 13 (581) sư thị tịch, thọ 75 tuổi. Sư có các tác phẩm: Trung luận huyền nghĩa, 1 quyển, Tứ tất đàn nghĩa, 1 quyển. [X. Thắng man bảo quật Q.thượng, phần đầu; Trung luận tự sớ (Cát tạng); Tục cao tăng truyện Q.7; Tam luận tổ sư truyện tập Q.hạ]. III. Pháp Lãng (?-?). Cao tăng người Tân la (Triều tiên). Vào thời Nữ vương Thiện đức (ở ngôi 623-646), sư đến Trung quốc, tham học Thiền sư Đạo tín–vị Tổ thứ 4 của Thiền tông Trung quốc– và được tâm pháp của ngài. Sau khi về nước, sư tận lực xiển dương Thiền chỉ, là người đầu tiên truyền đạo Thiền ở Hải đông. Sau khi thị tịch, sư được đặtthụy hiệu Trí Chứng Đại Sư. [X. Hải đông kim thạch uyển Q.2; Triều tiên kim thạch tổng lãm thượng; Triều tiên Thiền giáo khảo].
Pháp Lãng 法朗
[ja] ホウロウ Hōrō ||| Pŏmnang; (fl. 632-646) An early (and perhaps the earliest) Sŏn monk of the Silla. Traveled to China to study Chan under the auspices of the Chinese master Daoxin (道信 580-651). Pŏmnang is traditionally credited as being responsible for the initial transmission of Sŏn into Korea, and as a co-founder, along with Chisŏn Tohŏn 智詵道憲 Hŭiyang san 曦陽山 Sŏn school of the Silla. (k: Pŏmnang); Nguyên là Thiền sư (và có lẽ là vị Thiền sư sớm nhất) của Cao Ly. Sư sang Trung Hoa để học Thiền dưới sự bảo trợ của Tổ sư thiền Trung Hoa Đạo Tín (c: Daoxin 道信; 580-651). Pháp Lãng được truyền thống công nhận là khởi nguyên của việc truyền thừa Thiền tông Cao Ly, và là người đồng khai sáng Hy Dương sơn (k: Hŭiyang san 曦陽) với Trí Săn Đạo Hiến (k: Chisŏn Tohŏn 智詵道憲) thuộc Thiền tông Cao Ly.
pháp lôi
The thunder of dharma.
; Tiếng sấm của pháp, làm thức tĩnh sự u mê nơi con người và làm tăng trưởng công đức—The thunder of dharma, awakening man from stupidity and stimulate the growth of virtue, the awful voice of buddha-truth.
; (法雷) Sấm pháp, ví dụ Phật pháp có năng lực phá trừ sự mê vọng của chúng sinh làm cho họ mở tỏ, giống như tiếng sấm khiến người ngủ say bừng tỉnh. Cũng ví dụ pháp âm của đức Phật mạnh mẽ vang rền như tiếng sấm. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 thượng) nói: Pháp lôi vang động, pháp điện sáng lòa. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển thượng (Đại 37, 96 hạ) nói: Trí pháp vô ngại, giáo hóa chúng sinh, sấm trời vang dậy, cây cỏ nảy mầm; nghe được pháp âm, ngộ đạo nhanh chóng.
pháp lĩnh
(法領) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Ngụy Tấn, là đệ tử của ngài Tuệ viễn. Vì nhận thấy kinh sách về Thiền và Luật còn thiếu, nên ngài Tuệ viễn sai đệ tử là các vị Pháp lĩnh, Pháp tịnh... sang Tây trúc cầu pháp. Vào năm Thái nguyên 17 (392) đời vua Hiếu đế nhà Đông Tấn, đoàn của sư Pháp lĩnh lên đường Tây du, 17 năm sau sư mới trở về. Những kinh điển sư mang về được dịch ở Trường an và Giang nam. Sư Tuệ biện– đệ tử của ngài Pháp lĩnh cũng phụ giúp việc phiên dịch luật Tứ phần ở Trường an. [X. bài Tựa luật Tứ phần; Tuệ viễn truyện trong Lương cao tăng truyện].
pháp lưu
(法流) Cũng gọi Pháp thủy. Dòng pháp, ví dụ sự truyền thừa chính pháp của đức Phật liên tục như dòng nước. Về sau, Pháp lưu được dùng để chỉ cho pháp hệ, dòng phái. Kinh Tạp a hàm quyển 25 (Đại 2, 179 trung) nói: Cầu pháp đã gãy nát, Dòng pháp không còn chảy; Biển pháp đã khô cạn, Núi pháp đã lở đổ. Trên đây là lời cảm thán của A la hán Tu la tha. Kinh Lăng già a bạt đa la bảo quyển 4 (Đại 16, 507 hạ) nói: Bác bỏ luận hữu nhân, Nêu rõ nghĩa vô minh; Nghĩa vô sinh sáng tỏ, Dòng pháp chảy không ngừng. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.8, bài tựa trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao].
pháp lượng
(法量) Chỉ cho chiều cao của các pho tượng Phật, Bồ tát được đo lường, phổ thông có tượng cao 1 trượng 6, có tượng cao nửa trượng 6... gọi chung là Pháp lượng. Kinh Quán Vô lượng thọ (Đại 12,344 hạ) nói: Phật A di đà, (...) biến hiện tự tại, hoặc hiện thân lớn đầy trong hư không, hoặc hiện thân nhỏ cao 1 trượng 6 thước. Sự biểu trưng về tôn thân của Phật và Bồ tát khác với thân thể của con người, cho nên phải có qui định về pháp lượng để làm mực thước cho việc tạo tượng. [X. kinh Đà la ni tập Q.4, 10; Hậu Hán tây vực truyện; Tạo tượng lượng đạc kinh giải].
Pháp lạc
法樂; C: fălè; J: hōraku; |1. Hưởng được niềm vui chân lí, giác ngộ giải thoát. Niềm vui có được do tu học Phật pháp; 2. Niềm vui do giải trừ chấp trước, nhờ tụng kinh, hoặc do bất kì mọi sự tu tập khác.
pháp lạc
Religious joy.
; Niềm vui tôn giáo—Vui khi nghe hay nếm đươc hương vị của pháp, khi thờ kính Phật tổ, khi tạo lập công đức, cúng dường hay tụng niệm (dùng mùi vị của pháp để làm cho tâm thần vui thú)---Religious joy—Joy of hearing or tasting the dharma, worshipping Buddha, laying up merit, making offerings, repeating sutras.
; (法樂) Niềm vui pháp. Nghe nhận Phật pháp để nuôi lớn tuệ mệnh của pháp thân mà sinh vui mừng, nên gọi là Pháp lạc. Ngoài ra, làm các việc thiện để chứa góp phúc đức, tự lấy đó làm niềm vui, cũng gọi Pháp lạc. Luận Duy thức quyển 10 (Đại 31, 57 hạ) nói: Tự thụ dụng (...) suốt khoảng vị lai, hằng tự thụ dụng pháp lạc rộng lớn. [X. phẩm Bồ tát kinh Duy ma; Nhiếp đại thừa luận thích Q.13 (bản dịch đời Lương].
Pháp lạc 法樂
[ja] ホウラク hōraku ||| (1) Enjoyment of the truth, of enlightenment. The joy induced by the study of the Buddhist teachings. (2) To enjoy detachment, recitation of the sutras, or any other religious practice. => 1. Hưởng được niềm vui chân lý, giác ngộ giải thoát. Niềm vui có được do tu học Phật pháp. 2. Niềm vui do giải trừ chấp trước, nhờ tụng kinh, hoặc do bất kỳ mọi sự tu tập khác.
Pháp Lạp
(法臘、法臈): chỉ số năm thọ An Cư mùa Hạ của tăng sĩ sau khi thọ giới Cụ Túc; còn gọi là Pháp Tuế (法歲), Hạ Lạp (夏臘), Pháp Hạ (法夏), Giới Lạp (戒臘), Tăng Lạp (僧臘), Tọa Lạp (坐臘), Tọa Hạ Pháp Lạp (坐夏法臘). Thông thường trong tòng lâm, hằng năm từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 15 tháng 7 Âm Lịch, có tổ chức cử hành An Cư Kiết Hạ, lấy ngày cuối cùng làm ngày chấm dứt 1 năm, tức là ngày nhận thêm 1 tuổi. Cho nên, vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, sau khi thọ giới, đều có bổn phận tham gia An Cư Kiết Hạ, và đến khi kết thúc kỳ hạn đó, mỗi người đều được tăng thêm 1 tuổi, gọi là Hạ Lạp hay Pháp Lạp, v.v. Căn cứ vào tuổi Hạ ít nhiều mà lập ra Thượng Lạp (上臈), Trung Lạp (中臈) và Hạ Lạp (下臈), để phân định thứ tự lớn nhỏ, cao thấp. Vị cao tuổi nhất gọi là Nhất Lạp (一臘), Cực Lạp (極臘) hay Lạp Mãn (臘滿). Trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển Hạ giải thích rõ rằng: “Hạ Lạp tức Thích thị pháp tuế dã; phàm tự trưởng ấu, tất vấn, Hạ Lạp đa giả vi trưởng (夏臘卽釋氏法歲也、凡序長幻、必問、夏臘多者爲長, Hạ Lạp là tuổi pháp của con dòng họ Thích [tu sĩ]; phàm muốn biết thứ tự lớn nhỏ, phải hỏi, người có Hạ Lạp nhiều là lớn hơn).” Trong Quảng Thanh Lương Truyện (廣清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2099) quyển Trung, phần Ngưu Vân Hòa Thượng Cầu Thông Minh (牛雲和尚求聰明) thứ 11, lại có đoạn: “Chí Đường Minh Hoàng Đế Khai Nguyên nhị thập tam niên, sư niên lục thập tam, Hạ Lạp tứ thập tứ, vô tật nhi chung (至唐明皇帝開元二十三年、師年六十三、夏臘四十四、無疾而終, đến năm thứ 23 [735] niên hiệu Khai Nguyên đời Minh Hoàng Đế nhà Đường, Hòa Thượng 63 tuổi, Hạ Lạp 44 năm, không tật bệnh gì mà ra đi).” Hay trong Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2061) quyển 16, phần Đường Cối Kê Khai Nguyên Tự Doãn Văn Truyện (唐會稽開元寺允文傳), cũng có đoạn: “Dĩ Trung Hòa nhị niên Nhâm Dần lục nguyệt nhị thập cửu nhật, vi tật tác nhi trường thệ, hưởng linh thất thập hữu bát, Pháp Lạp ngũ thập ngũ (以中和二年壬寅六月二十九日微疾作而長逝、享齡七十有八、法臘五十五, vào ngày 29 tháng 6 năm thứ 2 [882, đời vua Hy Tông nhà Đường] niên hiệu Trung Hòa, sư nhuốm bệnh nhẹ rồi ra đi luôn, hưởng thọ 78 tuổi, Pháp Lạp 55 năm).”
pháp lạp
Vassagga (P). The end of the monk's year after the summer retreat; a Buddhist year; the number of summer or discipline years. Seniority of a monk. Also giới lạp.
; 1) Một năm của Phật Giáo: A Buddhist year. 2) Cuối kỳ tu tập ba tháng an cư kiết hạ của một vị Tăng: The end of the monk's year after the summer retreat. 3) Số năm Tỳ Kheo đã an cư kiết hạ sau khi thọ giới hay tuổi hạ lạp của Tỳ Kheo: the number of summer retreat or discipline years indicating the years since a monk's ordination. ** For more information, please see Hạ Lạp.
; (法臘) Cũng gọi Pháp tuế, Hạ lạp, Pháp hạ, Giới lạp, Tăng lạp, Tọa lạp, Tọa hạ pháp lạp. Chỉ cho số tuổi hạ của chúng tăng từ sau khi thụ giới Cụ túc. Trong Thiền môn, hàng năm, từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 15 tháng 7 âm lịch, các chùa viện phần nhiều có tổ chức hạ an cư và lấy ngày sau chót của hạ an cư làm ngày cuối cùng của 1 năm, tức là ngày nhận tuổi hạ của chúng tăng. Từ ngày 16 tháng 7 âm lịch là bắt đầu năm mới, cho nên, tỉ khưu, tỉ khưu ni, tính từ sau khi thụ giới Cụ túc, mỗi năm đến ngày kếtthúchạ an cư là thêm được 1 tuổi đạo, gọi là Pháp lạp. Căn cứ vào số Pháp lạp nhiều hay ít mà lập Thượng lạp, Trung lạp và Hạ lạp khác nhau để định ngôi thứ lớn, nhỏ, gọi là Lạp thứ. Vị tăng có tuổi hạ cao nhất, gọi là Nhất lạp, Cực lạp hay Mãn lạp.
pháp lập
(法立) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Tấn. Khoảng thời gian vua Huệ đế và Hoài đế trị vì (290-311), sư và sư Pháp cự cùng dịch kinh Pháp cú dụ và kinh Phúc điền. Riêng sư có dịch các kinh nhỏ hơn trăm loại, nhưng phần lớn đã bị thất lạc trong loạn Vĩnh gia.
pháp lệ
(法礪) (569-635) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, Tổ của Tướng bộ tông, người Triệu châu (huyện Triệu, tỉnh Hà bắc), họ Lí. Sư y vào ngài Linh dụ chùa Diễn thông xuất gia năm 15 tuổi. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư theo Luật sư Tĩnh hồng học luật Tứ phần. Ít lâu sau, sư lại theo ngài Hồng uyên ở Hằng châu nghe giảng về Luật học. Hai năm sau, sư lại đi đến Giang nam học luật Thập tụng. Vào cuối đời Tùy, sư trở về miền Bắc. Nhân lúc loạn lạc, sư ở ẩn để nghiên cứu nghĩa sâu xa của Luật bộ. Trong năm Vũ đức đời Đường, sư mở lớp giảng ở Lâm chương, Kí châu, tuyên giảng luật Tứ phần, học tăng các nơi về nghe giảng rất đông, nhiều người thành đạt, nổi tiếng nhất là các vị: Minh đạo, Đàm quang... Năm Trinh quán thứ 9 (635), sư tịch ở chùa Nhật quang tại Lâm chương, thọ 67 tuổi.Sư có các tác phẩm: Tứ phần luật sớ, Yết ma sớ, Xả sám nghi khinh trọng tự. [X. Tục cao tăng truyện Q.22].
pháp lợi
The blessings, or benefits, of Buddhism.
; Phúc lợi mà Phật pháp mang lại cho chúng sanh—The blessing or benefits of Buddhism.
Pháp lữ
(法侶): bạn pháp, còn chỉ cho tăng lữ, tu sĩ; đồng nghĩa với đạo hữu (道友, bạn đạo). Như trong bài Kim Cang Bát Nhã Sám Văn (金剛般若懺文) của vua Lương Võ Đế (梁武帝, tại vị 502-549) thời Nam Triều có câu: “Hằng sa chúng sanh, giai vi pháp lữ (恆沙眾生、皆爲法侶, hằng sa chúng sanh, đều là bạn pháp).” Hay trong Truy Môn Cảnh Huấn (緇門警訓, Taishō Vol. 48, No. 2023), phần Quy Sơn Đại Viên Thiền Sư Cảnh Sách (潙山大圓禪師警策), lại có câu: “Nguyện bách kiếp thiên sanh đồng vi pháp lữ (願百劫千生處處同爲法侶, nguyện trăm kiếp ngàn đời cùng là bạn pháp).” Hoặc trong Hoàng Thái Tử Thanh Thành Sơn Tu Trai Từ (皇太子青城山修齋詞) của Đỗ Quang Đình (杜光庭, 850-933) nhà Tiền Thục cũng có câu: “Chiêu thập châu chi pháp lữ, ước tam động chi huyền khoa (召十洲之法侶、約三洞之玄科, mời mười châu bao bạn pháp, hẹn ba động ấy khoa nghi).”
pháp lữ
A companion of the Dharma, a disciple.
; Người tu hành—A companion of the Dharma—A disciple.
Pháp lực
(法力): năng lực, uy lực của Phật pháp. Như trong Tỳ Ni Nhật Dụng Lục (毗尼日用錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1114) có dẫn bài Kệ Xuất Sanh rằng: “Pháp lực bất tư nghì, đại bi vô chướng ngại, thất liệp biến thập phương, phổ thí châu sa giới. Án, độ lợi ích sa ha (法力不思議、大悲無障礙、七粒遍十方、普施周沙界、唵度利益莎訶, Pháp lực chẳng nghĩ bàn, đại bi không chướng ngại, bảy hột biến mười phương, ban cùng các cõi nước. Án, độ lợi ích sa ha).” Hay trong Đại Đường Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện (大唐大慈恩寺三藏法師傳, Taishō Vol. 50, No. 2053) quyển 8 lại có đoạn: “Phiếm Lục Độ ư ái hà, giá Tam Xa ư hỏa trạch, thị tri pháp vương pháp lực, siêu quần sanh nhi tự tại (泛六度於愛河、駕三車於火宅、是知法王法力、超群生而自在, chơi Sáu Độ nơi sông thương, cỡi Ba Xe nơi nhà lửa, mới biết năng lực pháp vương, vượt chúng sanh mà tự tại).” Hoặc trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1497) quyển 3 cũng có đoạn: “Duy nguyện Phật quang chiếu chúc, pháp lực đề huề, tài văn triệu thỉnh chi ngôn, tức nhiếp uy nghi nhi chí (惟願佛光照燭、法力提攜、纔聞召請之言、卽攝威儀而至, cúi mong hào quang chiếu tỏ, pháp lực dẫn đường, mới nghe triệu thỉnh lời văn, tức giữ oai nghi mà đến).”
pháp lực
Dharmabala (S). The power of Buddha-truth to do away with calamity and subdue evil.
; Năng lực của chân lý Phật pháp có khả năng loại bỏ họa hoạn và trấn áp tà vạy—The power of Buddha-truth—Able to do away with calamity and subdue evil.
pháp ma
Ảo tưởng nhìn thấy vạn hữu là có thật—The illusion that things are real and not merely seeming.
Pháp Minh
法明; C: fămíng; J: hōmyō; |Ánh sáng của pháp. 1. Ánh sáng vốn có là bản tính giác ngộ giải thoát của mọi hiện tượng; 2. Pháp Minh (k: pŏmmyŏng, thế kỉ thứ 13), Thiền sư thộc tông Tào Động Hàn Quốc. Sư xuất gia từ nhỏ, sang Trung Hoa học Phật pháp vào đời Tống. Năm 1247, sư đến Nhật Bản, bỏ qua nhiều năm hành cước qua các vùng Kansai, Kantō and Tohoku. Được biết sư có quen thân với Đạo Nguyên trước khi vị này viên tịch.
pháp minh
Dharmaprabhāsa (S)- Pháp Minh Như Lai: Ngài Phú la nâu (Purna) được Phật Thích Ca thọ ký vể vị lai sẽ thành Phật có hiệu này, cõi thế giới của Ngài là Thiện Tịnh, kỳ kiếp là Bảo Minh. - pháp minh: tức ánh sáng của trí huệ ở tâm thanh tịnh của chúng sanh, có thể chiếu thấu vô lượng pháp tánh và thấy suốt các môn hành đạo của chư Phật.
; Dharmaprabhàsa (S). Brightness of the Law.
; Dharmaprabhasa (skt)—Pháp Minh Như Lai, vị Phật sẽ xuất hiện trong vũ trụ của chúng ta trong Bảo Minh Kiếp trong thế giới Thiện Tịnh, khi ấy không còn sự khác biệt về giới tính, sự sanh sản chỉ bằng chuyển hóa—Brightness of the law, a Buddha who will appear in our universe in the Ratnavabhasa-kalpa in a realm called Suvisuddha, when there will be no sexual difference, birth taking place by transformation.
pháp minh môn
Giáo pháp tỏa ra ánh sáng trên vạn hữu, giúp cho chúng sanh có thể biện biệt và giải thích vạn hữu—The teaching which sheds light on everything, differentiating and explaining them.
pháp minh như lai
Xem Pháp minh.
pháp minh đạo
Tâm trí thanh tịnh soi sáng đường mà chư Phật đã tu hành—The wisdom of the pure heart which illumines the Way of all Buddhas.
Pháp Minh 法明
[ja] ホウミョウ hōmyō ||| Dharma radiance. (1) The inherent luminosity that is the fundamentally enlightened nature of all phenomena. (2) Pŏmmyŏng (13 c.) A monk of the Sōtō school 曹洞宗, originally from Koryŏ. He entered the priesthood at a young age, then traveled to study in Song China. In 1247 he went to Japan, and spent many years living and traveling throughout the Kansai, Kantō and Tohoku areas. It is said that he was able to be acquainted with Dōgen 道元 before the latter's passing away. => Ánh sáng vốn có là bản tính giác ngộ giải thoát của mọi hiện tượng. k: Pŏmmyŏng ( thế kỷ thứ 13). Thiền sư thộc tông Tào Động Cao Ly. Sư xuất gia từ nhỏ, sang Trung Hoa học Phật pháp vào đời Tống. Năm 1247, sư đến Nhật Bản, bỏ qua nhiều năm hành cước qua các vùng Kansai, Kantō and Tohoku. Được biết sư có quen thân với Đạo Nguyên trước khi Đạo Nguyên viên tịch.
Pháp môn
(s: dharmaparyāya, p: dhammaparyāya, 法門): nghĩa là cửa pháp, là cánh cửa thông nhập vào tín tâm để đạt được Thánh trí, là cửa thoát ly sanh tử, dẫn vào Niết Bàn. Như trong kinh dạy rằng pháp môn của Phật có bốn vạn tám ngàn loại khác nhau.
; 法門; C: fǎmén; J: hōmon;|Giáo lí Phật pháp; học thuyết; chính pháp. Giáo lí của Đức Phật. Cánh cửa chân lí. Cửa ngõ dẫn vào chân lí. Cánh cửa dẫn đến giải thoát giác ngộ (s: dharma-mukha). |Trong ý hẹp thì Pháp môn chỉ những bài Kinh của đức Phật, hoặc những phương pháp Phật dạy đưa đến Giác ngộ. Mỗi bài dạy này được ví như là một cửa (môn) để mọi người bước qua và giác ngộ. Trong Tứ hoằng thệ nguyện thì nguyện thứ ba là »Pháp môn vô số lượng, thệ nguyện đều tu học.«
pháp môn
Dharmaparyāya (S)Pháp là lời nói của Phật. Môn là chỗ chung cho thánh nhân và chúng nhân. Phật đã dạy đến 84.000 pháp môn.
; Dharmaparyàya (S) Gates of the Dharma, courses of the Law, doctrine, method, sect.
; Dharmaparyaya (skt)—Pháp trí của Phật là cửa ngõ giác ngộ—Giáo pháp của Phật hay Phật pháp được coi như là cửa ngõ (những lời nói nầy làm chuẩn tắc cho đời) vì qua đó chúng sanh đạt được giác ngộ. Chúng sanh có 8 vạn 4 ngàn phiền não, thì Đức Phật cũng đưa ra 8 vạn bốn ngàn pháp môn đối trị. Vì biết rằng căn tánh của chúng sanh hoàn toàn khác biệt nên Đức Phật chia ra nhiều pháp môn nhằm giúp họ tùy theo căn cơ của chính mình mà chọn lựa một pháp môn thích hợp để tu hành. Một người có thể tu nhiều pháp môn tùy theo khả năng sức khỏe và thời gian của mình. Tất cả các pháp môn đều có liên hệ mật thiết với nhau. Tu tập những giáo pháp của Phật đòi hỏi liên tục, thường xuyên, có lòng tin, có mục đích và sự cả quyết. Trây lười và vội vã là những dấu hiệu của thất bại. Con đường đi đến giác ngộ Bồ Đề chỉ có một không hai, nhưng vì con người khác nhau về sức khỏe, điều kiện vật chất, tính thông minh, bản chất và lòng tin, nên Đức Phật dạy về những quả vị Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát Đạo, cũng như những con đường của kẻ xuất gia hay người tại gia. Tất cả những con đường nầy đều là Phật đạo. Không ai có thể không đi mà đến. Đạo không thể nào không học, không hiểu, không hành mà có thể đạt được giác ngộ—The Dharma Door—The doctrine or wisdom of Buddha regarded as the door (method) to enlightenment—The teaching of the Buddha. The meaning is that the dharma is something like a gate, because through it sentient beings attain the enlightenment. As the living have 84,000 delusions, so the Buddha provides 84,000 methods of dealing with them. Knowing that the spiritual level of sentient beings is totally different from one another, the Buddha had allowed his disciples to choose any suitable Dharma they like to practice. A person can practice one or many dharmas, depending on his physical conditions, his free time, since all the dharmas are closely related. Practicing Buddhist Dharma requires continuity, regularity, faith, purpose and determination. Laziness and hurriedness are signs of failure. There is only one path leading to Enlightenment, but, since people differ greatly in terms of health, material conditions, intelligence, character and faith, the Buddha taught more than one path leading to different stages of attainment such as stage of Hearers, that of Pratyeka-buddhas, that of Bodhisattvas, that of laymen, and that of monks and nuns. All of these ways are ways to the Buddhahood. Nobody can reach final attainment without following a path, and no enlightenment can be reached without studying, understanding and practicing.
; (法門) Phạm: Dharma-paryàya. Chỉ cho Phật pháp, giáo pháp. Giáo pháp do đức Phật nói là khuôn phép cho thế gian, nên gọi là Pháp. Pháp này là cửa ngõ vào đạo của các bậc hiền thánh, nên gọi là môn. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển trung, phần đầu (Đại 44, 252 trung) nói: Pháp nghĩa là khuôn phép để hiểu sự vật; Môn nghĩa là cửa ngõ của Thánh trí. Ngoài ra, Pháp môn cũng hàm ý là vô lượng vô tận cá tính sai biệt, như thường nói, vì chúng sinh có 8 vạn 4 nghìn phiền não, nên đức Phật nói 8 vạn 4 nghìn pháp môn... [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.10; kinh Duy ma Q.8; phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa; Hoa nghiêm đại sớ Q.2; Ma ha chỉ quán Q.1].
Pháp Môn Bí Sự
(秘事法門, Hijihōmon): tên gọi của tập đoàn tín ngưỡng giả thác vào giáo nghĩa của Tịnh Độ Chơn Tông. Đó là Pháp Môn Che Giấu (御藏法門, Ngự Tàng Pháp Môn), Pháp Môn Che Giấu Trong Đất (土藏法門, Thổ Tàng Pháp Môn), Pháp Môn Trong Nhà Kho (庫裏法門, Khố Lí Pháp Môn), Pháp Môn Trong Đêm (夜中法門, Dạ Trung Pháp Môn), Pháp Môn Nội Pháp (內法法門, Nội Pháp Pháp Môn), Nội Chứng Giảng (內証講), Iwazu Giảng (いわず講), Pháp Môn Giờ Sửu (丑の時法門), v.v., vẫn tồn tại từ thời Trung Đại cho đến ngày nay. Khuynh hướng toàn thể có thể nói là tính bí mật, tính cưỡng ép, vốn có ảnh hưởng của Dòng Lập Xuyên (立川流) vốn cường điệu hóa cho rằng nam nữ hợp thể là Tức Thân Thành Phật (卽身成佛, thành Phật ngay chính nơi thân này), được thực hành từ khoảng đầu thời Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333). Người được xem như là Tổ của Pháp Môn Bí Sự có liên quan đến Chơn Tông là Thiện Loan (善鸞, Zenran), con của Thân Loan (親鸞, Shinran), đã bị phụ thân tuyệt tình vì chủ thuyết dị đoan. Tính chất bí mật trong tư tưởng của Thiện Loan như thế nào thì cũng không rõ lắm. Sau đó, trong điều thứ 18 của cuốn Cải Tà Sao (改邪鈔) do Giác Như (覺如, Kakunyo), Tổ đời thứ 13 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji) trước tác dưới thời Nam Bắc Triều, có ghi rằng tà nghĩa vào thời ấy có Pháp Môn Trong Đêm (夜中法門, Dạ Trung Pháp Môn), cũng có người của Thánh Đạo Môn vốn phản đối Chơn Tông, mà tuyên thuyết giống như “Di Đà tự thân, duy tâm Tịnh Độ”. Lại nữa, trong bản Phản Cố Lí Thư (反故裏書) do Hiển Thệ (顯誓), cháu của Liên Như (蓮如, Rennyo), viết vào năm 1568 (Vĩnh Lộc [永祿] 11), cũng có đề cập rằng Như Đạo (如道[導], Nyodō), môn hạ của Giác Như, ở Đại Đinh (大町, Ōmachi), Việt Tiền (越前, Echizen) chủ trương Pháp Môn Bí Sự nên bị đuổi đi; rồi Đạo Tánh (道性) ở Hoành Việt (橫越, Yokogoshi), Như Giác (如覺, Nyokaku, Thành Chiếu Tự [誠照寺, Jōshō-ji]) ở Chinh Ốc (鯖屋, Sabaya), Trung Dã Phường Chủ (中野坊主, tức Tịnh Nhất [淨一], Chuyên Chiếu Tự [專照寺, Senshō-ji]) cũng cổ xúy pháp môn này, được gọi là “Chúng Tam Môn Đồ không lễ bái (三門徒拝まずの眾)” và vẫn còn duy trì cho đến ngày nay. Dưới thời Trung Đại, thực tế Pháp Môn Bí Sự này được tiến hành như thế nào thì không rõ lắm. Đến thời Cận Đại, phần lớn pháp môn này bị chính quyền Mạc Phủ xử phạt, cấm đoán. Những vụ xét xử trứ danh nhất diễn ra ở kinh đô Kyoto, Nhiếp Tân (攝津, Settsu), Hà Nội (河內, Kawachi) vào năm 1757 (Bảo Lịch [寶曆] 7); ở Giang Hộ (江戸, Edo), Quan Đông (關東, Kantō), Áo Vũ (奥羽, Ōu) vào năm 1767 (Minh Hòa [明和] 4); ở Đại Phản (大阪, Ōsaka) vào năm 1788 (Thiên Minh [天明] 8); ở kinh đô Kyoto vào năm 1797 (Khoan Chính [寛政] 9), v.v. Mãi cho đến hiện tại, vẫn có những báo cáo về sự hiện hữu của Pháp Môn Bí Sự này; như trường hợp Nội Pháp Giáo Đoàn (內法敎團) ở địa phương Thủy Trạch Thị (水澤市, Mizusawa-shi) cũng như Đảm Trạch Quận (胆澤郡, Isawa-gun, thuộc Iwate-ken [岩手縣]); hay ở Mễ Nguyên Đinh (米原町, Maihara-chō, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]), v.v.
pháp môn bất nhị
Non-Dual Dharma—Theo Kinh Duy Ma Cật, phẩm thứ chín, Pháp Môn Không Hai, cư sĩ Duy Ma Cật họp bàn cùng các Bồ Tát về pháp môn Không Hai như sau—According to the Vimalakirti Sutra, chapter nine, Initiation into the Non-Dual Dharma, Upasaka Vimalakirti discussed with other Bodhisattvas about the Non-Dual Dharma as follows: Bấy giờ ông Duy Ma Cật bảo các vị Bồ Tát rằng: “Các nhân giả! Theo chỗ các ngài hiểu thì thế nào là Bồ Tát vào pháp môn không hai?”—At that time, Vimalakirti said to the Bodhisattvas present: “Virtuous Ones, each of you please say something about the non-dual Dharma as you understand it.” a) Trong Pháp hội có Bồ Tát tên là Pháp Tự Tại nói: “Các nhân giả! Sanh Diệt là hai. Pháp vốn không sanh, cũng không diệt, đặng vô sanh pháp nhẫn, đó là vào pháp môn không hai.”—In the meeting a Bodhisattva called “Comfort in the Dharma” said: “Virtuous Ones, birth and death are a duality but nothing is created and nothing is destroyed. Realization of this patient endurance leading to the uncreate is initiation into the non-dual Dharma.” b) Bồ Tát Đức Thủ nói: “Ngã và Ngã Sở là hai. Nhân có ngã mới có ngã sở, nếu không có ngã thời không có ngã sở, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva called “Guardian of the Three Virtues” said: “Subject and object are a duality for where there is ego there is also (its) object, but since fundamentally there is no ego, its object does not arise; this is initiation into the non-dual Dharma.” c) Bồ Tát Bất Thuấn nói: “Thọ và Không Thọ là hai. Nếu các pháp không thọ thời không có 'được,' vì không có 'được,' nên không thủ xả, không gây không làm đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Never Winking” said: “Responsiveness (vedana, the second aggregate) and unresponsiveness are a duality. If there is no response to phenomena, the latter cannot be found anywhere; hence there is neither accepting nor rejecting (of anything), and neither karmic activity nor discrimination; this is initiation into the non-dual Dharma.” d) Bồ Tát Đức Đảnh nói: “Nhơ và Sạch là hai. Thấy được tánh chân thật của nhơ, thời không có tướng sạch, thuận theo tướng diệt, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Highest virtue” said: “Impurity and purity are a duality. When the underlying nature of impurity is clearly perceived, even purity ceases to arise. Hence this cessation (of the idea of purity) is initiation into the non-dual Dharma.” e) Bồ Tát Thiện Túc nói: “Động và Niệm là hai. Không động thời không niệm, không niệm thời không phân biệt; thông suốt lý ấy là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Winner of Samadhi by Looking at the Star” said: “(External) disturbance and (inner) thinking are a duality; when disturbance subsides, thinking comes to an end and the absence of thought leads to non-dual Dharma.” f) Bồ Tát Thiện Nhãn nói: “Một Tướng và Không Tướng là hai. Nếu biết một tướng tức là không tướng, cũng không chấp không tướng mà vào bình đẳng, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Skilful Eye” said: “Monistic form and formlessness are a duality. If monistic form is realized as (fundamentally) formless, with relinquishment of formlessness in order to achieve impartiality, this is initiation into the non-dual Dharma.” g) Bồ Tát Diệu Tý nói: “Tâm Bồ Tát và Tâm Thanh Văn là hai. Quán tướng của tâm vốn không, như huyễn như hóa, thời không có tâm Bồ Tát cũng không có tâm Thanh Văn, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Wonderful Arm” said: “The Bodhisattva mind and the Sravaka mind are a duality. If the mind is looked into as void and illusory, there is neither Bodhisattva mind nor Sravaka mind; this is initiation into the non-dual Dharma.” h) Bồ Tát Phất Sa nói: “Thiện và Bất Thiện là hai. Nếu không khởi thiện và bất thiện, vào gốc không tướng mà thông suốt được, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva Pusya said: “Good and evil are a duality; if neither good nor evil arises so that formlessness is realized to attain Reality, this is initiation into the non-dual Dharma.” i) Bồ Tát Sư Tử nói: “Tội và Phước là hai. Nếu thông đạt được tánh của tội, thì tội cùng phước không khác, dùng tuệ kim cang quyết liễu tướng ấy, không buộc không mở, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva Simha (Lion) said: “Weal and woe are a duality; if the underlying nature of woe is understood, woe does not differ from weal. If the diamond (indestructible) wisdom is used to look into this with neither bondage nor liberation (coming into play), this is initiation into the non-dual Dharma.” j) Bồ Tát Sư Tử Ý nói: “Hữu Lậu và Vô Lậu là hai. Nếu chứng được các pháp bình đẳng thời không có tướng hữu lậu và vô lậu, không chấp có tướng cũng không chấp vô tướng, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Lion's Fearlessness” said: “The mundane and supra-mundane are a duality. If all things are looked into impartially, neither the mundane nor the supra-mundane will arise, with no differentiation between form and formlessness, this is initiation into the non-dual Dharma.” k) Bồ Tát Tịnh Giải nói: “Hữu Vi và Vô Vi là hai. Nếu lìa tất cả số thời tâm như hư không, dùng tuệ thanh tịnh không có chướng ngại, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Pure Interpretation” said: “Activity (ju wei) and non-activity (wu wei) are a duality, but if the mind is kept from all mental conditions it will be (void) like space and pure and clean wisdom will be free from all obstructions. This is initiation into the non-dual Dharma.” l) Bồ Tát Na La Diên nói: “Thế Gian và Xuất Thế Gian là hai. Tánh thế gian không tức là xuất thế gian, trong đó không vào không ra, không đầy không vơi, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva Narayana said: “The mundane and the supra-mundane are a duality but the underlying nature of the mundane is void (or immaterial) and is but the supra-mundane which can be neither entered nor left and neither overflows (like the stream of transmigration) nor scatters (like smoke). This is initiation into the non-dual Dharma.” m) Bồ Tát Thiện Ý nói: “Sanh Tử và Niết Bàn là hai. Nếu thấy được tánh sanh tử thời không có sanh tử, không buộc không mở, không sinh không diệt, hiểu như thế đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Skillful Mind” said: “Samsara and nirvana are a duality. If the underlying nature of samsara is perceived there exists neither birth nor death, neither bondage nor liberation, and neither rise nor fall. Such an understanding is initiation into the non-dual Dharma.” n) Bồ Tát Hiện Kiến nói: “Tận và Không Tận là hai. Pháp đến chỗ rốt ráo thời tận hoặc không tận đều là tướng Vô Tận tức là Không, không thời không có tướng tận và không tận, được như thế đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Direct Insight” said: “The exhaustible and the inexhaustible are a duality. If all things are looked into exhaustively, both the exhaustible and the inexhaustible cannot be exhausted; and the inexhaustible is identical with the void which is beyond both the exhaustible and the inexhaustible. Such an interpretation is initiation into the non-dual Dharma.” o) Bồ Tát Phổ Thủ nói: “Ngã và Vô Ngã là hai. Ngã còn không có, thời Phi Ngã đâu có được. Thấy được thực tánh của Ngã không còn có hai tướng, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Upholder of Universality” said: “The ego and non-ego are a duality. Since the ego cannot be found, where can the non-ego be found? He who perceives the real nature of the ego will not give rise to dualities; this is initiation into the non-dual Dharma.” p) Bồ Tát Điển Thiên nói: “Minh và Vô Minh là hai. Thực tánh của vô minh là minh, minh cũng không thể nhận lấy, lìa tất cả số, ở đó bình đẳng không hai, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Lightning Perception” said: “Enlightenment and unenlightenment are a duality, but the underlying nature of unenlightenment is enlightenment which should also be cast away; if all relativities are discarded and replaced by non-dual impartiality, this is initiation into the non-dual Dharma.” q) Bồ Tát Hỷ Kiến nói: “Sắc và Không là hai. Sắc tức là không, chẳng phải sắc diệt rồi mới không, tánh sắc tự không; thọ, tưởng, hành, thức cũng thế. Thức và Không là hai. Thức tức là không, chẳng phải thức diệt rồi mới không, tánh thức tự không. Thông hiểu lý đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva Priyadarsana said: “Form (rupa) and voidness are a duality, (but) form is identical with voidness, which does not mean that form wipes out voidness, for the underlying nature of form is void of itself. So are (the other four aggregates) reception (vedana), conception (sanjna), discrimination (samskara) and consciousness (vijnana- in relation to voidness). “Consciousness and voidness are a duality (yet) consciousness is identical with voidness, which does not mean that consciousness wipes out voidness for the underlying nature of voidness is void of itself. A thorough understanding of this is initiation into the non-dual Dharma.” r) Bồ Tát Minh Tướng nói: “Tứ Đại và Không Đại là hai. Tánh tứ đại tức là tánh không đại, như lớp trước lớp sau không, thời lớp giữa cũng không. Nếu biết được thực tánh các đại thời đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Understanding the Four Elements” said: “The four elements (earth, water, fire and air) and their voidness are a duality (but) the underlying nature of the four elements is identical with that of voidness. Like the past (before the four elements came into being) and the future (when they scatter away) which are both void, the present (when they appear) is also void. Identical understanding of the underlying nature of all four elements is initiation into the non-dual Dharma.” s) Bồ Tát Diệu Ý nói: “Con Mắt và Sắc Trần là hai. Nếu biết được tánh của mắt thời đối với sắc không tham, không sân, không si, tức là tịch diệt. Tai với tiếng, mũi với hương, lưỡi với vị, thân với xúc, ý với pháp cũng là hai. Nếu biết được tánh của ý thời đối với pháp không tham, không sân, không si, tức là tịch diệt. Nhận như thế đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Deep Thought” said: “Eyes and form are a duality (but) if the underlying nature of the eye is known with neither desire nor anger nor stupidity in relation to things seen, this is nirvana. “Likewise, the ear and sound, the nose and smell, the tongue and taste, the body and touch, and the mind and ideation are dualities (but) if the underlying nature of the mind is known with neither desire, anger and stupidity in relation to things (heard, smelt, tasted, touched and thought), this is nirvana. Resting in this state (of nirvana) is initiation into the non-dual Dharma.” t) Bồ Tát Vô Tận Ý nói: “Bố Thí và Hồi Hướng Nhứt Thiết Trí là hai. Tánh bố thí tức là tánh hồi hướng nhứt thiết trí. Trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ và hồi hướng nhứt thiết trí lại cũng là hai. Tánh trí tuệ tức là tánh hồi hướng nhứt thiết trí, ở trong đó vào một tướng là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Inexhaustible Mind” said: “Charity-perfection (dana-paramita) and the dedication (parinamana) of its merits towards realizing the all-knowledge (sarvajna) are a duality, (but) the underlying nature of charity is dedication towards the All-knowledge. “Likewise, discipline perfection (sila-paramita), patience-perfection, (ksanti-paramita), zeal-perfection (virya-paramita), meditation-perfection (dhyana-paramita) and wisdom-perfection (prajna-paramita), with dedication to the All-knowledge, are (five) dualities, but their underlying natures are but dedication to the All-knowledge, while realization of their oneness is initiation into the non-dual Dharma.” u) Bồ Tát Thâm Tuệ nói: “Không Vô Tướng và Vô Tác là hai. Không tức là vô tướng, vô tướng tức là vô tác. Nếu không vô tướng, vô tác thời không có tâm, ý thức. Một món giải thoát là ba món giải thoát, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Profound Wisdom” said: “Voidness, formlessness and non-activity are (three different gates to liberation, and when each is compared to the other two there are) three dualities, (but) voidness is formless and formlessness is non-active. For when voidness, formlessness and non-activity obtain, there is neither mind, nor intellect nor consciousness, and liberation through either one of these three gates is identical with liberation through all the three. This is initiation into the non-dual Dharma.” v) Bồ Tát Tịnh Căn nói: “Phật, Pháp, và chúng Tăng là hai. Phật tức là Pháp, Pháp tức là chúng Tăng. Ba ngôi báu ấy đều là tướng vô vi, cũng như hư không. Tất cả pháp cũng vậy, theo được hạnh ấy là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Unstirred Sense Organs” said: “Buddha, Dharma and Sangha are three different treasures and when each is compared to the other two there are three dualities (but) Buddha is identical with Dharma, and Dharma is identical with Sangha. For the three treasures are non-active (wu wei) and are equal to space, with the same equality for all things. The realization of this (equality) is initiation into the non-dual Dharma.” w) Bồ Tát Tâm Vô Ngại nói: “Thân và Thân Diệt là hai. Thân tức là thân diệt. Vì sao? Thấy thực tướng của thân thời không thấy thân và thân diệt. Thân và thân diệt không hai, không khác, theo đó chẳng kinh chẳng sợ là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Unimpeded Mind” said: “Body and its eradication (in nirvana) are a duality but body is identical with nirvana. Why? Because if the underlying nature of body is perceived, no conception of (existing) body and its nirvanic condition will arise, for both are fundamentally non-dual, not being two different things. The absence of alarm and dread when confronting this ultimate state is initiation into the non-dual Dharma.” x) Bồ Tát Thượng Thiện nói: “Thân Thiện, Khẩu Thiện và Ý Thiện là hai. Ba nghiệp này là tướng vô tác. Tướng vô tác của thân tức là tướng vô tác của khẩu, tướng vô tác của khẩu tức là tướng vô tác của ý. Tướng vô tác của ba nghiệp nầy tức là tướng vô tác của tất cả các pháp. Tùy thuận trí tuệ vô tác như thế là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Superior Virtue” said: “The three karmas (produced by) body, mouth and mind (are different when each is compared to the other two and make three) dualities (but) their underlying nature is non-active; so non-active body is identical with non-active mouth, which is identical with non-active mind. These three karmas being non-active, all things are also non-active. Likewise, if wisdom (prajna) is also non-active, this is initiation into the non-dual Dharma.” y) Bồ Tát Phước Điền nói: “Làm Phước, Làm Tội, Làm Bất Động là hai. Thực tánh của ba việc làm tức là Không, không thời không làm phước, không làm tội, không làm bất động. Ở ba việc nầy mà không khởi là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Field of Blessedness” said: “Good conduct, evil conduct and motionlessness are (different and when each is compared to the other two make three) dualities (but) the underlying nature of all three is voidness which is free from good, evil and motionlessness. The non-rising of these three is initiation into the non-dual Dharma.” z) Bồ Tát Hoa Nghiêm nói: “Do Ngã mà Khởi ra là hai. Thấy được thực tướng của ngã thời không khởi ra hai pháp. Nếu không trụ hai pháp thời không có thức. Không có thức là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Majestic Blossom” said: “The ego and its objective are a duality, (but) if the underlying nature of the ego is looked into, this duality vanishes. If duality is cast away there will be no consciousness, and freedom from consciousness is initiation into the non-dual Dharma.” aa) Bồ Tát Đức Tạng nói: “Có tướng Sở Đắc là hai. Nếu không có sở đắc thời không có lấy bỏ. Không lấy bỏ là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Treasure of Threefold Potency” said: “Realization implies subject and object which are a duality, but if nothing is regarded as realization, there will be neither grasping nor rejecting, and freedom from grasping and rejecting is initiation into the non-dual Dharma.” bb) Bồ Tát Nguyệt Thượng nói: “Tối và Sáng là hai. Không tối, không sáng thời không có hai. Vì sao? Như vào định diệt thọ tưởng thời không có tối, không có sáng. Tất cả pháp tướng cũng như thế; bình đẳng vào chỗ ấy là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Moon in Midheaven” said: “Darkness and light are a duality. Where there is neither darkness nor light, this duality is no more. Why? Because in the state of samadhi resulting from the complete extinction of sensation and thought there is neither darkness nor light, while all things disappear. A disinterested entry into this state is initiation into the non-dual Dharma.” cc) Bồ Tát Ấn Thủ nói: “Ưa Niết Bàn, Không Ưa Thế Gian là hai. Nếu không ưa Niết Bàn, không chán thế gian thời không có hai. Vì sao? Nếu có buộc thời có mở, nếu không có buộc thì nào có cầu mở. Không buộc, không mở, thời không ưa, không chán, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva Ratna Mudra( (Precious Symbol) said: Joy in nirvana and sadness in samsara are a duality which vanishes when there is no longer joy and sadness. Why? Because where there is bondage, there is also (desire for) liberation, but if fundamentally there is no bondage nor liberation, there will be neither joy nor sadness; this is initiation into the non-dual Dharma.” dd) Bồ Tát Châu Đảnh Vương nói: “Chánh Đạo và Tà Đạo là hai. Ở chánh đạo thời không phân biệt thế nào là tà, thế nào là chánh. Lìa hai món phân biệt đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Gem on the Head” said: “Orthodoxy and heterodoxy are a duality, (but) he who dwells in (i.e. realizes) orthodoxy does not discriminate between orthodoxy and heterodoxy. Keeping from these two extremes is initiation into the non-dual Dharma.” ee) Bồ Tát Nhạo Thật nói: “Thực và Không Thực là hai. Thực thấy còn không thấy thực, huống là không thực thấy. Vì sao? Không phải mắt thịt mà thấy được, chỉ có mắt tuệ mới thấy được. Nhưng mắt tuệ không thấy mà chỗ nào cũng thấy cả, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Joy in Reality” said: “Reality and unreality are a duality, (but) he who realizes reality does not even perceive it, still less unreality. Why? Because reality is invisible to the ordinary eyes and appears only to the eye of wisdom. Thus (realization of) the eye of wisdom, which is neither observant nor unobservant, is initiation into the non-dual Dharma.” ff) Các Bồ Tát nói như thế rồi, hỏi ngài Văn Thù Sư Lợi thế nào là Bồ Tát vào pháp môn không hai—After the Bodhisattva had spoken, they asked Manjusri for his opinion on the non-dual Dharma. gg) Ngài Văn Thù Sư Lợi nói: “Như ý tôi đối với tất cả các pháp không nói, không rằng, không chỉ, không biết, xa lìa các vấn đáp, đó là vào pháp môn không hai.”—Manjusri said: “In my opinion, when all things are no longer within the province of either word or speech, and of either indication or knowledge, and are beyond questions and answers, this is initiation into the non-dual Dharma.” hh) Khi đó ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng: “Chúng tôi ai ai cũng nói rồi, đến lượt nhân giả nói thế nào là Bồ Tát vào pháp môn không hai?”—At that time, Manjusri asked Vimalakirti: “All of us have spoken; please tell us what is the Bodhisattva's initiation into the non-dual Dharma.” ii) Ông Duy Ma Cật im lặng không nói một lời. Bấy giờ Ngài Văn Thù Sư Lợi khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Cho đến không có văn tự ngữ ngôn, đó mới thật là vào pháp môn không hai.”—Vimalakirti kept silent without saying a word. At that, Manjusri exclaimed: “Excellent, excellent; can there be true initiation into the non-dual Dharma until words and speech are no longer written or spoken? jj) Sau khi nói phẩm pháp môn không hai nầy, trong chúng có năm ngàn Bồ Tát đều vào pháp môn không hai, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn—After this initiation into the non-dual Dharma had been expounded, fie thousand Bodhisattvas at the meeting were initiated into it thereby realizing the patient endurance of the uncreate.
pháp môn hải
Pháp môn đối trị phiền não của Phật nhiều như biển cả—The ocean of Buddha's methods.
pháp môn không hai
Non-Dual Dharma—See Pháp Môn Bất Nhị.
pháp môn lợi ích cho tự ngã
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Veludvara, Đức Phật đã dạy về Pháp Môn Đưa Đến Bảy Điều Lợi Ích Cho Tự Ngã. Vị nào thành tựu bảy điều lợi ích này, nếu muốn có thể tuyên bố: “Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận khỏi sanh vào loại bàng sanh, đoạn tận cõi ngạ quỷ, đoạn tận các ác sanh, ác thú, đọa xứ, được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị điểm ố, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ. Vị nầy đã đạt quả “Dị Lưu—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Veludvara, the Buddha taught about the Dharma exposition applicable to oneself. Those who possess these below mentioned good qualities. (A) Thân Hành Thanh Tịnh—Purified bodily conduct: 1) Vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Ta muốn sống, không muốn chết; muốn lạc, không muốn khổ. Nếu có ai đến đoạt mạng sống của ta, một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, không muốn khổ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý đối với ta. Nhưng nếu ta đoạt mạng sống của một người muốn sống sống, không muốn chết, muốn lạc, không muốn khổ, như vậy cũng là một việc không khả ái, không khả ý đối với người ấy. Một pháp không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao lại đem cột pháp ấy cho một người khác? Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ sát sanh, khuyến khích người khác từ bỏ sát sanh, nói lời tán thán từ bỏ sát sanh. Như vậy về thân hành, vị ấy hoàn toàn thanh tịnh—A noble disciple reflects thus: “I am one who wishes to live, who does not wish to die; I desire happiness and am averse to suffering. Since I am one who wish to live, who do not wish to die; if someone were to take my life, that would not be pleasing and agreeable to me. Now if I were to take the life of another, of one who wishes to live, who does not wish to die, who desires happiness and is averse to suffering; that would not be pleasing and agreeable to the other either. What is displeasing and disagreeable to me is displeasing and disagreeable to other too. How can I inflict upon another what is displeasing and disagreeable to me?” Having reflected thus, he himself abstains from the destruction of life, exhorts others to abstain from the destruction of life, and speaks in praise of abstinence from destruction of life. Thus this bodily conduct of his is purified. 2) Vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai lấy của không cho của ta, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta lấy của không cho của người khác, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái và không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ lấy của không cho, khuyến khích người khác từ bỏ lấy của không cho, nói lời tán thán từ bỏ lấy của không cho. Như vậy về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh—A noble disciple reflects thus: “If someone were to take from me what I have not given, that is, to commit theft, that would not be pleasing and agreeable to me. Noe if I were to take from another what he has not given, that is, to commit theft, that would not be pleasing and agreeable to the other either. What is displeasing and disagreeable to me displeasing and disagreeable to me is displeasing and disagreeable to the other too. How can I inflict upon another what is displeasing and disagreable to me?” Having reflected thus, he imself abstains from taking what is not given, exhorts others to abstain from taking what is not given. Thus this bodily conduct of his is purified. 3) Vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nếu ai có tà hạnh với vợ của ta, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta có tà hạnh với vợ của người khác, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục, khuyến khích người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục, nói lời tán thán từ bỏ tà hạnh trong các dục. Như vậy về thân, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh—A noble disciple reflects thus: “If someone were to commit adultery with my wife, that would not be pleasing and agreeable to me. Now if I were to commit adultery with the wives of another, that would not be pleasing and agreeable to the other either. What is displeasing and disageable to me is displeasing and disagreeable to the other too. How can I inflict upon another what is displeasing and disagreeable to me?” Having reflected thus, he himself abstains from sexual misconduct, exhorts others to abstain from sexual misconduct. Thus this bodily conduct of his is purified. (B) Khẩu Hành Thanh Tịnh—Purified verbal conduct: 1) Vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nếu có ai làm tổn hại lợi ích của ta với lời nói láo, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng làm tổn hại lợi ích của người khác với lời nói láo, như vậy cũng là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình bỏ nói láo, khuyến khích người khác từ bỏ nói láo, nói lời tán thán từ bỏ nói láo. Như vậy về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh—A noble disciple reflects thus: “If someone were to damage my welfare with false speech, that would not be pleasing and agreeable to me. Now if I were to damage the welfare of another with false speech, that would not be pleasing and agreeable to the other either. What is displeasing and disagreeable to me is displeasing and disagreeable to the other too. How can I inflict upon another what is displeasing and disagreeable to me?” Having reflected thus, he himself abstains from false speech, exhorts others to abstain from false speech, and speaks in praise of abstinence from false speech. Thus this verbal conduct of his is purified. 2) Một vị Thánh đệ tử suy tư như vầy: “Nếu có ai chia rẽ bạn bè ta bằng lời nói hai lưỡi, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta chia rẽ bạn bè người khác bằng lời nói hai lưỡi, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy…” (phần còn lại giống như #4). Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ nói hai lưỡi, khuyến khích người khác từ bỏ nói hai lưỡi, nói lời tán thán từ bỏ nói hai lưỡi. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh—A noble disciple reflects thus: “If someone were to divide me from my friends by divisive speech, that would not be pleasing and agreeable to me. Now if I were to divide another from his friends by divisive speech, that would not be pleasing and agreeable to the other either…” (the rest remains the same as in #4). Thus this verbal conduct of his is purified. 3) Vị Thánh đệ tử suy nghĩ như vầy: “Nếu có ai đối xử với ta bằng thô ác ngữ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người khác bằng thô ác ngữ, như vậy cũng là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Và một pháp không khả ái… đem cột pháp ấy vào cho một người khác?” (phần còn lại cũng giống như phần còn lại của #4). Do suy tư như vậy, tự ấy tự mình từ bỏ thô ác ngữ, khuyến khích người khác từ bỏ thô ác ngữ, nói lời tán thán từ bỏ thô ác ngữ. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh—A noble disciple reflects thus: “If someone were to address me with some harsh speech, that would not be pleasing and agreeable to me. Now if I were to address another with harsh speech, that would not be pleasing and agreeable to the other either…” (the rest remains the same as in #4). Thus this verbal conduct is purified. 4) Vị Thánh đệ tử suy tư như vầy: “Nếu có ai đối xử với ta bằng lời tạp ngữ phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người khác lời tạp ngữ phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Và một pháp không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác… đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ lời nói phù phiếm, khuyến khích người khác từ bỏ lời nói phù phiếm, tán thán từ bỏ lời nói phù phiếm. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh—A noble disciple reflects thus: “If someone were to address me with frivolous speech and idle chatter, that would not be pleasing and agreeable to me. Now if I were to address another with frivolous speech and idle chatter, that would not be pleasing and agreeable to the other either. What is displeasing and disagreeable to me is displeasing and disagreeable to the other too. How can I inflict upon another what is displeasing and disagreeable to me?” Having reflected thus, he himself abstains from idle chatter, exhorts others to abstain from idle chatter, and speak in praise of abstinence from idle chatter. Thus this verbal conduct of his is purified.
pháp môn nhẫn nhục
Dharma gate of Patience—Trong sáu pháp Ba La Mật, nhẫn nhục vô cùng quan trọng. Nếu chúng ta tu tập toàn thiện pháp môn nhẫn nhục, chúng ta sẽ chắc chắn hoàn thành đạo quả—Dharma door of patience—Among the six paramitas, the Dharma door of patience is very important. If we cultivate the Dharma door of patience to perfection, we will surely reach an accomplishment—Thực tập pháp môn nhẫn nhục, chúng ta chẳng những không nóng tánh mà còn kham nhẫn mọi việc—To practice the Dharma door of patience, one must not only be hot tempered, but one should also endure everything.
pháp môn niệm phật
Dharma Door of Buddha Recitation—Dù pháp môn Niệm Phật giản dị, nhưng rất thâm sâu. Điều tối cần là phải niệm một cách chí thành tha thiết thì tư tưởng của mình mới giao cảm được với tư tưởng Phật, và từ đó lợi ích mới có được trong hiện đời. Nếu bạn trây lười lơ đểnh và không có nghị lực hăng hái, thì bạn có thể gieo nhân giải thoát, nhưng ác nghiệp khinh lờn Phật pháp là kết quả không thể nghĩ bàn. Tuy nhiên nhờ vào phước đức của sự niệm Phật, bạn có thể thoát khỏi tam đồ ác đạo mà sanh vào cõi người hay cõi trời, nhưng còn lâu lắm mới có đủ phước đức để câu hội Liên Trì—Although Buddha recitation is simple, it is very deep and encompassing. However, it is most important to be utterly sincere and earnest, for only then will your thoughts merge with those of Amitabha Buddha's and can you reap true benefits in this very life. If you are lazy and careless or lack of zealous energy, you may still sow the seeds of future liberation, but evil karma as a result of disrespect the Buddha teachings is inconceivable. However, thanks to the residual merits of reciting the name of Amitabha, you escape the three evil paths and are reborn in the human or celestial realms, but you will find it is very difficult to join the Ocean-Wide Lotus Assembly.
Pháp Môn Sừ Quĩ
(法門鋤宄, Hōmonjoki): 1 quyển, do Bạch Nham Tịnh Phù (白巖淨符) nhà Thanh biên soạn, san hành vào năm thứ 8 niên hiệu Khang Hy (康熙). Nó thâu tập những luận điểm trong lịch sử Thiền Tông liên quan đến vấn đề của Thiên Hoàng Đạo Ngộ (天皇道悟). Đối lập với một số thư tịch như Tuyết Phong Quảng Lục (雪峰廣錄), Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (頌古聯珠通集), Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統記), Huyền Yếu Quảng Tập (玄要廣集) cho rằng Thiên Hoàng Đạo Ngộ không phải là môn hạ của Thanh Nguyên (青原), tác phẩm này cho rằng nhân vật nêu trên là môn hạ của Thanh Nguyên. Bên cạnh đó, nó khẳng định rằng Thiên Hoàng Đạo Ngộ và Thiên Vương Đạo Ngộ (天王道悟) là một nhân vật chứ không phải hai. Ngoài ra, vấn đề hai tông phái Vân Môn (雲門) cũng như Pháp Nhãn (法眼) đều thuộc môn hạ của Thanh Nguyên cũng được đề cập nơi đây. Tại Nhật Bản, tác phẩm này được Đức Nham Dưỡng Tồn (德巖養存) san hành vào năm thứ 3 (1686) niên hiệu Trinh Hưởng (貞享); đến năm thứ 4 (1691) niên hiệu Nguyên Lộc (元祿), nó được kết hợp với bản Ngũ Phái Nhất Trích Đồ (五派一滴圖) và san hành với tựa đề là Pháp Môn Sừ Quĩ Tinh Ngũ Gia Biện Chánh (法門鋤宄並五家辨正).
pháp môn sừ quỹ
(法門鋤宄) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Bạch nham Tịnh phù thuộc tông Tào động soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 147. Nội dung sách này bàn về vấn đề các tông Vân môn, Pháp nhãn và pháp hệ của ngài Thiên hoàng Đạo ngộ trong lịch sử Thiền tông Trung quốc. Các tác phẩm: Tuyết phong quảng lục, Tụng cổ liên châu thông tập, Phật tổ thống kỉ, Huyền yếu quảng tập... đều cho rằng ngài Thiên hoàng Đạo ngộ không phải thuộc pháp hệ Thanh nguyên Hành tư. Nhưng tác giả Bạch nham Tịnh phù khảo chứng biên niên, suy xét tình lí, cho rằng ngài Thiênhoàng Đạo ngộ là môn nhân của Thiền sư Thạch đầu Hi thiên(người nối pháp ngài Thanh nguyên); hơn nữa, Thiên hoàng Đạo ngộ và Thiên vương Đạo ngộ chỉ là 1 người, rồi từ đó mà có tông Vân môn và tông Pháp nhãn.
pháp môn thanh thức nhị thập tứ điều
(法門清式二十四條) Chỉ cho bộ Tăng chế do ngài Thích đạo an soạn. Nội dung gồm 3 phần: 1. Qui định phép Hành hương, Định tọa, Thướng kinh, Thướng giảng. 2. Qui định việc hành đạo 6 thời trong ngày và việc ăn uống. 3. Qui định các pháp Bố tát, Sai sứ, Hối quá...
pháp môn thân
1) Tông Thiên Thai lập thuyết tam thân của thân Phật—A T'ien-T'ai definition of the Dharmakaya of the Trinity: a) Sắc Thân: The powers of the dharmakaya. b) Pháp Môn Thân: The methods of the Buddha. c) Thực Tướng Thân: The reality or real qualities of the Buddha. 2) Biểu thị vô số hình tượng chư Phật và chư Bồ Tát trong Mạn Đà La: The various representations of the perspective characteristics of Buddhas and Bodhisattvas in the mandalas.
pháp môn tâm địa
Tâm địa dụ cho tự tánh. Pháp môn tu hành để giác ngộ tự tánh, gọi là pháp môn tâm địa.
pháp môn tịnh độ bao quát mà thực hành quá giản dị
The Pure Land teaching is all-embracing, yet its practice is extremely simple.
pháp môn tịnh độ dễ dàng cho mọi căn cơ
The Pure Land method is easy for people of all capacities.
pháp môn tự
(法門寺) Chùa ở trấn Sùng chính, huyện Phù phong, tỉnh Thiểm tây, do bảo tồn xá lợi của đức Phật mà nổi tiếng, nhưng không rõ được sáng lập năm nào. Ban đầu, chùa được gọi là A dục vương tự. Từ thời Bắc Ngụy về sau, số tăng chúng tu học ở chùa này lên đến vài trăm vị. Vào thời Pháp nạn Chu vũ, chùa bị phá hoại, đến cuối năm Đại nghiệp đời Tùy lại bị chiến tranh tiêu hủy hoàn toàn. Năm Trinh quán thứ 5 (631) đời Đường, chùa được xây dựng lại, tìm được 2 tấm bia cổ và xá lợi trên nền cũ. Hàng ngày có tới vài vạn người ở các vùng lân cận đến lễ bái, chùa bỗng trở thành nổi tiếng ở đương thời. Đến năm Hiển khánh thứ 4 (659), người ta lại tìm được thêm 8 viên xá lợi nữa, từ đó, vua thường đến chùa này rước xá lợi vào cung để cúng dường, chiêm lễ. Năm Nguyên hòa 14 (819), vua lại rước xá lợi vào cung để cúng dường trong 3 ngày nhân dịp rằm tháng giêng. Bấy giờ, quan Hình bộ thị lang là Hàn dũ dâng Phật cốt biểu can ngăn vua, vua nổi giận, giáng chức làm Thứ sử Triều châu; tháng 3 cùng năm, Hàn lâm học sĩ Trương trọng tố vâng sắc soạn văn bia Phật cốt ở chùa này.[X. truyện Chí thông trong Tống cao tăng truyện Q.23; Phật tổ thống kỉ Q.41; Pháp uyển châu lâm Q.38; Tư trị thông giám Q.240].
pháp môn đại nghĩa
(法門大義) Cũng gọi Đại thừa đại nghĩa chương, Cưu ma la thập pháp sư đại nghĩa. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Cưu ma la thập soạn vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này, ngài Cưu ma la thập căn cứ vào ý nghĩa cao sâu trong các kinh Đại thừa mà soạn ra 18 điều mục để trả lời những câu hỏi của ngài Tuệ viễn ở Lô sơn. -Quyển thượng: Hỏi đáp về chân Pháp thân, các loại Pháp thân, thọ lượng của Pháp thân, tu tập 32 tướng và Thụ quyết. -Quyển trung: Hỏi đáp về Pháp thân cảm ứng, Pháp thân Phật dứt hết tập khí, tạo sắc pháp, La hán thụ quyết, niệm Phật tam muội, Tứ tướng và pháp tính. -Quyển hạ: Hỏi đáp về thực pháp hữu, phần phá không, hậu thức truy ức tiền thức, biến học và trụ thọ nghĩa. [X. Đại đường nội điển lục Q.3; điều Tuệ viễn trong Lịch đại tam bảo kỉ Q.7].
Pháp môn 法門
[ja] ホウモン hōmon ||| "dharma-gate." The Buddhist teaching; a doctrine. The true teaching. The Buddha's teaching. The gate of truth. The gate that enters into the truth. The gate to the enlightened state (dharma-mukha). => Giáo lý Phật pháp; học thuyết; chính pháp. Giáo lý của Đức Phật. Cánh cửa chân lý. Cửa ngõ dẫn vào chân lý. Cánh cửa dẫn đến giải thoát giác ngộ (s: dharma-mukha).
Pháp mạch
法脈; C: fămài; J: hōmyaku; |Dòng truyền thừa Phật pháp, sự truyền thừa Phật pháp.
pháp mạn đa la
Dharmamaṇdala (S).
pháp mạn đồ la
(法曼荼羅) Phạm: Dharma-maịđala. Hán âm: Đạt ma mạn đồ la. Cũng gọi Chủng tử mạn đồ la, Tự mạn đồ la. Gọi tắt: Pháp mạn. Một trong 4 loại Mạn đồ la của Mật giáo thiết lập. Phàm những Mạn đồ la có liên quan văn tự, ngôn ngữ, nghĩa lí trong các kinh luận và các chữ chân ngôn, chủng tử của chư Phật, Bồ tát, thì đều gọi là Pháp mạn đồ la. Hành giả Mật giáo, khi tu pháp, nếu không đủ khả năng lập Đại mạn đồ la, vẽ đầy đủ hình tượng của chư tôn, thì dùng Pháp mạn đồ la để tu. [X. Lí thú thích Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.6, 13; luận Thập trụ tâm Q.10]. (xt. Tự Mạn Đồ La, Mạn Đồ La).
pháp mẫn
(法敏) (579-645) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Đơn dương, họ Tôn. Sư xuất gia năm 8 tuổi, lúc đầu theo học Thiền sư Anh, sau, vào núi Mao sơn nghe Pháp sư Minh giảng Tam luận. Năm 23 tuổi, sư nghe ngài Thực công, người Cao li, thuyết giảng. Sau khi ngài Thực công thị tịch, gặp lúc loạn lạc ở cuối đời Tùy, nên sư ẩn tu. Ba năm sau, sư đến Chiết giang, trụ ở chùa Lương an, giảng kinh Pháp hoa và Tam luận. Niên hiệu Trinh quán năm đầu (627), sư trở về Đơn dương, giảng kinh Hoa nghiêm, kinh Niết bàn. Ít lâu sau, sư lại đến Cối kê trụ ở chùa Tĩnh lâm giảng kinh Hoa nghiêm. Cứ theo sự khảo chứng của ngài Đạo đình đời Tống, sư phân lập giáo thuyết của 1 đời đức Phật làm 2 giáo: 1. Thích ca kinh: Chỉ cho các kinh Pháp hoa, Niết bàn do ứng theo căn cơ mà thuyết giảng. 2. Lô xá na kinh: Chỉ cho kinh Hoa nghiêm, do thuận theo pháp tính mà thuyết giảng. Năm Trinh quán 19 (645), sư thị tịch ở chùa Nhất âm, hưởng thọ 67 tuổi. Sư có tác phẩm: Hoa nghiêm kinh sớ 7 quyển. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Tục cao tăng truyện Q.15]. (xt. Lô Xá Na Kinh).
pháp mật
Dharmagupta (skt)—Vị sáng lập tông phái Pháp Mật tại Tích Lan, một trong bảy phái của Nhất Thiết Hữu Bộ—Founder of the school of this name in Ceylon, one of the seven divisions of the Sarvastivadah. ** For more information, please see Sarvastivadah in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
pháp mật bộ
Xem Đàm vô Đức.
pháp mệnh
The wisdom-life of the Dharmakàya (Pháp thân tuệ mệnh). The age or lifetime of amonk.
; 1) Tuệ mệnh của Pháp thân: The wisdom-life of the Dharmakaya. 2) Tuổi thọ của một vị Tăng: The age or lifetime of a monk.
; (法命) I. Pháp Mệnh. Cũng gọi Pháp thân tuệ mệnh. Pháp chỉ cho lí thể, Tuệ chỉ cho trí dụng. Lí thể ví dụ cho thân thể; Trí dụng ví dụ cho thọ mệnh, cho nên gọi là Pháp thân tuệ mệnh, gọi tắt là Pháp mệnh. II. Pháp Mệnh. Thọ mệnh của Tăng già (giáo đoàn Phật giáo) cũng gọi là Pháp mệnh.
pháp nan
(法難) Cũng gọi Báng Phật, Báng pháp, Phá Phật, Vương nạn, Hủy pháp, Phế thích, Phế Phật, Diệt Phật. Chỉ cho những tai nạn trong đó Phật giáo bị những người làm chính trị hoặc tín đồ của các tôn giáo khác bức hại. Ở Ấn độ, sau khi đức Phật nhập diệt khoảng 300 năm, vua A dục lúc đầu không tin Phật pháp nên ra sức phá hoại, sau mới sám hối tội lỗi và phục hưng Phật giáo. Mấy trăm năm sau, vua nước Kim nhĩ thuộc miền Đông Ấn độ là Thiết thưởng ca cũng bức hại chúng tăng, phá hoại tháp Phật, chặt cây Bồ đề ở chỗ đức Phật thành đạo. Cuối thế kỉ II trước Tây lịch, vua Phất sa mật đa la nước Ma yết đà diệt Phật. Thế kỉ XI đến thế kỉ XII, Vương triều Du na (Phạm:Sena) kì thị Phật giáo. Đến khi Hồi giáo xâm lăng Ấn độ, sau khi tiêu diệt Vương triều Du na, họ tận diệt luôn cả Phật giáo. Vào những năm cuối thế kỉ XVI, vuaRàjasìhađệ I của Tích lan, làm cho khắp hòn đảo này không còn bóng 1 vị tỉ khưu. Ở Tây tạng, vào đầu thế kỉ X, vua Lãng đạt ma (Tạng:Glaí-dar-ma) cũng phá hoại Phật giáo 1 cách rất tàn bạo. Tại Trung quốc, lịch sử Phật giáo có ghi Tam Vũ nhất Tông pháp nạn, nghĩa là Pháp nạn do 3 ông vua Vũ và 1 ông Tông gây ra(tức Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy, Vũ đế nhà Bắc Chu, Vũ tông nhà Đường và Thế tông nhà Hậu Chu). Ba ông vua này đều trọng Đạo giáo mà bài xích Phật giáo. Cuối đời Thanh, Phật giáo cũng bị đàn áp. Sau tất cả các Pháp nạn trên đây, chỉ trong 1 thời gian ngắn, Phật giáo lại được phục hưng và tiếp tục phát triển. Nhưng Pháp nạn nặng nề và kéo dài nhất là Pháp nạn thời Mao trạch đông cộng sản gần đây. Bắt đầu bị đàn áp 1 cách có hệ thống và rất tinh vi từ năm 1949, cho đến nay, Phật giáo Trung quốc hầu như bị tuyệt diệt. Ở Triều tiên thì có vua Yên sơn nhà Lí phá hoại Phật giáo. Còn tại Nhật bản thì thời Minh trị Duy tân Phật giáo cũng bị hủy hoại rất kịch kiệt. Tóm lại, những Pháp nạn của Phật giáo phần nhiều do những người cầm quyền vì tin theo tông giáo hoặc 1 tín ngưỡng khác mà bức hại Phật giáo, hoặc do tín đồ của các tông giáo khác gây ra.
Pháp nghi
(法儀): lễ nghi theo đúng quy phạm, pháp tắc. Như trong Mặc Tử (墨子), phần Pháp Nghi (法儀), giải thích rõ rằng: “Thiên hạ tùng sự giả, bất khả dĩ vô pháp nghi; vô pháp nghi nhi kỳ sự năng thành giả, vô hữu (天下從事者、不可以無法儀、無法儀而其事能成者、無有, người làm việc trong thiên hạ, không thể nào không có pháp nghi được, không có pháp nghi mà việc ấy có thể thành thì không bao giờ có).” Hay trong Tục Phật Tổ Thống Kỷ (續佛祖統紀, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1515) quyển 2, phần Tuyệt Tông Kế Pháp Sư Pháp Từ (絕宗繼法師法嗣), Pháp Sư Như Kỷ (法師如玘), có đoạn: “Chiêu thiên hạ cao tăng tất tập Chung Sơn, thiết quảng tiến hội, pháp nghi thậm thạnh, đại giá thân lâm (召天下高僧畢集鐘山、設廣薦會、法儀甚盛、大駕親臨, mời chư vị cao tăng trong thiên hạ tập trung hết tại Chung Sơn, thiết bày hội cúng tiến lớn, pháp nghi rất đầy đủ, nhà vua cũng thân lâm đến dự).”
pháp nghiệm
(法驗) Pháp, gọi đủ là Bí pháp, Diệu pháp, Kì đảo pháp. Khi tu các pháp này đều có hiệu nghiệm thì gọi là Pháp nghiệm. Mục đích tu các pháp trên là cầu khỏi bệnh, cầu mưa, cầu được mùa, cầu quốc thái dân an, thế giới hòa bình v.v... [X. Tu nghiệm cố sự tiện lãm (Nhật vinh); Kì đảo cố sự lược chỉ (Nhật thuấn)].
Pháp Ngoạn
(法玩, Hōgan, 715-790): vị tăng của Bắc Tông Thiền, người đất Ngụy, họ Trương (張). Năm lên 18 tuổi, ông theo hầu Phổ Tịch (普寂) và đến năm 20 tuổi thọ Cụ Túc giới. Ông chuyên hóa đạo ở Lạc Dương (洛陽), Tung Sơn (嵩山). Môn nhân của ông có nhiều người, và đến ngày 13 tháng 8 năm thứ 6 niên hiệu Trinh Hòa (貞和), ông thị tịch tại Kính Ái Tự (敬愛寺), hưởng thọ 76 tuổi đời và 57 hạ lạp. Năm sau, tháp của ông được xây dựng tại Thiếu Lâm Tự (少林寺); Lý Sung (李充) soạn ra Đại Đường Đông Đô Kính Ái Tự Cố Khai Pháp Lâm Đàn Đại Đức Pháp Ngoạn Thiền Sư Tháp Minh (大唐東都敬愛寺故開法臨壇大德法玩禪師塔銘).
pháp nguyệt
(法月) (653-743) Phạm: Dharmacandra. Hán âm: Đạt ma chiến niết la. Cao tăng người Đông Ấn độ, có chỗ nói sư là người nước Ma đề. Sư từng du học ở Trung Ấn độ, thông hiểu Tam tạng và y học. Sau, sư đến nước Cưu tư dạy học. Do sự tiến cử của quan Tiết độ sứ An tây, năm Khai nguyên 20 (732), sư đến kinh đô Trường an, Trung quốc, cống hiến các bộ sách thuốc, phương thuật, y phương bằng tiếng Phạm và kinh Đại uy lực Ô xu sắt ma minh vương gồm 3 bộ, 4 quyển, do ngài A chất đạt tản (Vô năng thắng), người Bắc Ấn độ dịch ở An tây. Còn sư thì dịch Phương dược bản thảo và Phổ thông trí tạng Bát nhã ba la mật đa tâm kinh 1 bộ. Năm Khai nguyên 23 (735), sư biên soạn thành Ngự chú Kim cương bát nhã ba la mật đa kinh tuyên diễn 2 quyển. Về sau, gặp lúc loạn lạc, sư dời đến ở chùa Kim luân tại nước Vu điền. Năm Thiên bảo thứ 2 (743), sư thị tịch, thọ 91 tuổi. [X. Tục khai nguyên thích giáo lục Q.thượng; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14].
Pháp ngã
法我; C: făwǒ; J: hōga; |Tin rằng các pháp đều hiện hữu trên cở sở tự tính. Xem Pháp chấp (法執).
pháp ngã
A thing per se. The false notion of anything being a thing in itself, individual, independent.
; Pháp chấp hay khái niệm giả tạo cho rằng vạn hữu có tự tánh (các pháp sắc tâm thực có thể tính), cá nhân hay độc lập, chứ không phải được thành lập bởi nhiều yếu tố khác biệt nhau—The false notion of anything being a thing in itself, individual or independent, and not merely composed of elements to be disintegrated.
; (法我) Cũng gọi Pháp ngã chấp, Pháp ngã kiến, Pháp chấp. Chỉ cho sự vọng chấp các pháp huyễn hóa là có thực, tức là chấp trước các pháp sắc, tâm có thể tính chân thực. [X. luận Tam vô tính Q.hạ; Nhiếp đại thừa luận thích Q.10 (bản dịch đời Lương)]. (xt. Nhị Ngã Kiến, Pháp Chấp).
pháp ngã câu hữu tông
(法我俱有宗) Cũng gọi Ngã pháp câu hữu tông. Chỉ cho tông phái chủ trương Ngã và Pháp đều có thật, 1 trong 10 tông do tông Hoa nghiêm phân lập. Đó là các bộ phái: Độc tử bộ, Pháp thượng bộ, Hiền trụ bộ, Chính lượng bộ, Mật lâm sơn bộ, Kinh lượng bộ... trong 20 bộ phái Tiểu thừa. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1]. (xt. Thập Tông).
Pháp ngã kiến
法我見; C: făwǒ jiàn; J: hōga ken; |Quan niệm rằng các pháp (法) đều hiện hữu trên cở sở tự tính. Giáo lí Đại thừa, đặc biệt điển hình là tư tưởng Du-già hành tông, cho rằng Phật tử hàng Nhị thừa (tức bên ngoài Đại thừa) có khả năng xoá bỏ quan điểm chấp trước vào có một bản ngã tồn tại trên cở sở tự tính (nhân ngã kiến 人我見), nhưng chưa có khả năng cắt đứt quan điểm chấp trước vào các đối tượng khách quan như là tồn tại trên cở sở tự tính.
pháp ngã kiến
Tà kiến pháp chấp cho rằng sự vật hiện hữu với một bản chất độc lập—The erroneous (false) view that anything exists with an independent nature. **For more information, please see Pháp Ngã.
Pháp ngã kiến 法我見
[ja] ホウガケン hōga ken ||| The view that all elemental constructs 法 have inherent existence. Mahāyāna doctrine, especially as typified by Yogācāra thought, considers non-Mahāyāna Buddhist practitioners to be capable of ridding themselves of the view of attachment to an inherently existent self (人我見), but as not yet able to sever attachment to the view of the objective things as inherently existent. => Quan niệm rằng các cấu trúc cơ bản (pháp ; 法) đều hiện hữu trên cở sở tự tính. Giáo lý Đại thừa, đặc biệt điển hình là tư tưởng Du-già hành tông xem là ngoại đạo đối với những ai không thể xoá bỏ quan điểm chấp trước vào có một bản ngã tồn tại trên cở sở tự tính (nhân ngã kiến 人我見), cũng như chưa có khả năng cắt đứt quan điểm chấp trước vào các đối tượng khách quan như là tồn tại trên cở sở tự tính.
pháp ngã tướng
Dharmatmyalakshana (skt)—Sự tin rằng có một cái gì đó thuộc về bản chất đằng sau những gì hiện ra cho người ta thấy—The belief that there is something substantial behind what is presented to one's view.
Pháp ngã 法我
[ja] ホウガ hōga ||| The belief that all dharmas (objective elements) have inherent existence. See 法執. => Tin rằng các pháp đều hiện hữu trên cở sở tự tính. Xem Pháp chấp 法執.
Pháp ngữ
(法語): ngôn ngữ của chánh pháp, còn chỉ cho lời dạy của đức Phật. Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論) quyển 88 giải thích rằng đức Như Lai nương vào 4 loại đạo lý (Quán Đãi Đạo Lý [觀待道理], Tác Dụng Đạo Lý [作用道理], Nhân Thành Đạo Lý [因成道理] và Pháp Nhĩ Đạo Lý [法爾道理]) để tuyên thuyết chánh pháp, nên được gọi là “Người Nói Pháp Ngữ”. Vào thời nhà Đường, Tống bên Trung Hoa, có trường hợp dùng vận ngữ để diễn thuyết Phật pháp, được gọi là “kệ (偈).” Về sau, cũng từ đây mà diễn biến thành tán văn để cho khế hợp với pháp ngữ tu hành. Sau này, pháp ngữ được dùng chủ yếu chỉ cho những lời giáo thị của chư tổ hay lời khai thị của các Thiền sư. Câu “đa sanh pháp ngữ khai tâm, nghiệp chủng tiêu vong (多生法語開心、業種消亡)” có nghĩa là nhiều đời nhiều kiếp nhờ nghe pháp ngữ mà khai mở tâm trí, làm cho hạt giống nghiệp tiêu mất, không còn nữa.
; 法語; C: făyŭ; J: hōgo; |1. Giáo lí chân thực, giáo pháp khế hợp với thực tại; 2. Lời giảng về pháp tu tập giải thoát của một Thiền sư.
pháp ngữ
Hōgo (J).
; Dharma-words, religious discourses.
; 1) Lời Phật thuyết pháp—A word or a phrase of the Buddha's preaching. 2) Bài thuyết pháp (có thể là của một bậc thầy): Buddhist preaching—Dharma-words, religious discourses.
; (法語) Chỉ cho ngôn ngữ dùng để tuyên dương chính pháp, hoặc chỉ cho giáo thuyết của đức Phật. Luận Du già sư địa quyển 88 cho rằng, Như lai y theo Quan đãi đạo lí, Tác dụng đạo lí, Nhân thành đạo lí và Pháp nhĩ đạo lí để tuyên giảng chính pháp. Do đó, Như lai cũng được gọi là Pháp ngữ giả. Ở Trung quốc, vào thời Đường, Tống, những lời nói có vần được sử dụng để diễn nói Phật pháp mà hình thành thể văn gọi là Kệ. Đến đời sau, trong Thiền lâm, những lời khai thị của chư Tổ và các Thiền sư đều được gọi là Pháp ngữ. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.35 (bản Bắc); kinh Đại bảo tích Q.82; kinh Đại bát nhã Q.569; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.5, 6; luật Ma ha tăng kì Q.26; Khảo tín lục Q.4; Thiền quan sách tiến chư tổ pháp ngữ tiết yếu; môn Kinh lục trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Pháp ngữ 法語
[ja] ホウゴ hōgo ||| (1) True teachings; teachings in accord with reality. 〔長阿含經、 T〕 (2) A "dharma-talk." A lecture on practice and enlightenment delivered by a Chan teacher. => 1. Giáo lý chân thực, giáo pháp khế hợp với thực tại. 2. Lời giảng về pháp tu tập giải thoát của một Thiền sư.
pháp nha
The sprout or bud of Buddhism.
; Mầm non trong Phật Giáo—The sprout or bud of Buddhism.
Pháp Nhiên
(法然, Hōnen, 1133-1212): vị tổ sư khai sáng Tịnh Độ Tông Nhật Bản, húy là Nguyên Không (源空), người vùng Mỹ Tác (美作, Mimasaka). Ông theo lời di huấn của cha mà xuất gia, vào núi Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) theo hầu hạ Hoàng Viên (皇圓), Duệ Không (叡空). Đến năm 43 tuổi, ông quay về với pháp môn chuyên tu niệm Phật, và thuyết giảng về pháp môn Tịnh Độ ở vùng Đông Sơn Cát Thủy (東山吉水, Higashiyama Yoshimizu). Bên cạnh đó, ông đã cùng vời tăng đồ của Nam Đô Bắc Lãnh luận bàn về pháp môn này ở Đại Nguyên (大原, Ōhara). Vào năm 1207 (năm đầu niên hiệu Thừa Nguyên [承元]), do vì hai người đệ tử ông là Trú Liên (住蓮) và An Lạc (安樂) bị tử tội, nên ông bị lưu đày đến vùng Tán Kì (讚岐, Sanuki), nhưng vào cuối năm đó thì được tha tội. Ông có để lại nhiều tác phẩm, trong đó nổi tiếng nhất là Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập (選擇本願念佛集). Ông được ban cho thụy hiệu là Viên Quang Đại Sư (圓光大師), thông xưng là Hắc Cốc Thượng Nhân (黒谷上人) và Cát Thủy Thượng Nhân (吉水上人).
; 法燃; j: hōnen; 1133-1212;|Tịnh độ tông
pháp nhiên
Honen (J)Tên một vị sư. Tổ Tịnh độ tông ở Nhật.
; Luật lệ tự nhiên—According to the rule, naturally.
pháp nhiên thượng nhân
Honen Shonin (J)Tổ sư Tịnh Độ tông ở Nhật.
Pháp Nhãn
法眼; C: făyăn; J: hōgen; S: dharma-cakṣus. |1. »Con mắt pháp«, năng lực nhận ra các pháp một cách tường tận. Với Pháp nhãn này, Bồ Tát có thể cứu độ tất cả chúng sinh; 2. Dạng thứ 2 trong Ngũ nhãn (五眼); 3. Tên của một vị Thiền sư quan trọng (885-958) vào đời Đường Trung Hoa, thường được biết với thuỵ hiệu là Thanh Lương Quốc Sư (清涼國師). Còn được biết qua pháp danh Văn Ích (文益). Pháp Nhãn Văn Ích.
pháp nhãn
Dhammacakkhu (P), Eye of Dhamma.
; Dharma-caksu (S). Dharma-eye able to penetrate all things.
; 1) Pháp nhãn có thể thấu suốt vạn hữu, có thể thấy rõ sự thật—The (Bodhisattva) Dharma-eye which is able to penetrate all things—To see clearly or purely the truth. 2) Tên của Thiền sư Văn Ích (885-958), người sáng lập ra Pháp Nhãn Tông, một trong năm tông phái Thiền Trung Hoa—Name of Zen master Wen-Yi, the founder of the Fa-Yen sect, one of the five Zen (Ch'an) schools in China. ** For more information, please see Văn Ích Thiền Sư.
; (法眼) I. Pháp Nhãn. Phạm: Dharma-cakwu. Pàli: Dhamma-cakkhu. Chỉ cho mắt trí tuệ có khả năng thấy được thực tướng của tất cả các pháp và thấu suốt các pháp duyên sinh sai biệt 1 cách rõ ràng. Là 1 trong Ngũ nhãn. Bồ tát vì hóa độ chúng sinh, dùng Pháp nhãn thanh tịnh quan sát khắp các pháp, tu hành chứng đạo; lại biết rõ các pháp môn phương tiện thích hợp với mỗi chúng sinh, nên có thể giúp chúng sinh tu hành chứng đạo. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.2; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Đại trí độ Q.33; luận Du già sư địa Q.14]. (xt. Ngũ Nhãn). II. Pháp Nhãn. Gọi đủ: Pháp nhãn đại hòa thượng vị. Chỉ cho cấp bậc Tăng đô, Tăng quan ở Nhật bản. Chức vị này được đặt ra ở Nhật bản vào năm 864, đồng thời với các chức Pháp ấn, Pháp kiếu... Đến đời sau, các vị tăng điêu khắc tượng Phật cũng có thể được giữ chức này. III. Pháp Nhãn (885-958). Tức là Thiền sư Pháp nhãn Văn ích, Tổ của tông Pháp nhãn, sống vào thời Ngũ đại, Trung quốc, từng được vua nhà Nam Đường ban hiệu Tịnh Tuệ Đại Sư. Sau khi sư thị tịch, được đặt thụy hiệu Đại Pháp Nhãn. (xt. Văn Ích).
Pháp Nhãn Thiền Sư Tông Môn Thập Quy Luận
(法眼禪師宗門十規論, Hōgenzenjishūmonjukkiron): xem Tông Môn Thập Quy Luận (宗門十規論, Shūmonjukkiron) bên dưới.
Pháp Nhãn Tông
(法眼宗, Hōgen-shū): một trong Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗) của Trung Quốc, gồm những bậc Thiền tăng của Pháp Nhãn Tông, theo thứ tự từ Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存), Huyền Sa Sư Bị (玄沙師僃), La Hán Quế Sâm (羅漢桂琛), Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益). Sau khi đắc pháp, Pháp Nhãn đến trú tại Thanh Lương Viện (清涼院), được Ngô Việt Vương Tiền Thị (呉越王錢氏) quy y, và tận lực cổ xúy Thiền phong. Môn hạ của ông có Thiên Thai Đức Thiều (天台德韶), Bách Trượng Đạo Hằng (百丈道恆), Quy Tông Nghĩa Nhu (歸宗義柔), Báo Ân Pháp An (報恩法安), v.v., khá nhiều bậc Thiền kiệt xuất hiện, lấy địa phương Phúc Kiến (福建), Triết Giang (浙江) làm trung tâm để phát triển giáo tuyến. Bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄, 30 quyển) do Vĩnh An Đạo Nguyên (永安道原) biên tập là tác phẩm thâu lục rất nhiều Trước Ngữ đối với Cổ Tắc của các nhân vật trong Pháp Nhãn Tông, được xem như là một trong những đặc sắc của tông phái này. Hơn nữa, Thiên Thai Đức Thiều tiến hành dung hợp giáo học của Thiên Thai và Thiền. Riêng Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽) thì nhắm mục đích nhất trí giữa Thiền với tư tưởng Tịnh Độ, rồi trước tác bộ Tông Kính Lục (宗鏡錄, 100 quyển) và hệ thống hóa các tông phái. Vốn phát triển mạnh ở trung tâm Giang Nam (江南), đến thời Bắc Tống, Pháp Nhãn Tông đã dung hợp với Vân Môn Tông (雲門宗), rồi sớm điêu tàn và những đặc sắc của tông phái này dần dần được môn nhân của Vân Môn Tông cũng như Lâm Tế Tông kế thừa.
Pháp Nhãn tông
法眼宗; C: fǎyǎn-zōng; J: hōgen-shū;|Một trường phái của Thiền tông tại Trung Quốc, được xếp vào Ngũ gia thất tông. Tông này bắt nguồn từ Thiền sư Huyền Sa Sư Bị, nối pháp của Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn và ban đầu cũng được gọi là Huyền Sa tông. Sau, danh tiếng của Thiền sư Pháp Nhãn Ích – hai đời sau Huyền Sa – vang dội khắp nơi và vì thế, tông này được gọi là tông Pháp Nhãn. 63 pháp tự của sư Pháp Nhãn hoằng hoá khắp nơi, truyền tông này qua đến cả Triều Tiên. Tông này hưng thịnh ba đời nhưng tàn lụi sau đời thứ năm.
pháp nhãn tông
Fa-yen tsung (C), Fayangzong (C), Hōgen-shŪ (J)Tên một tông phái.
; Dòng Thiền được sáng lập bởi ngài Văn Ích Thiền Sư—The Fa-Yen Sect, established by Wen-Yi Zen Master—See Pháp Nhãn (2) and Văn Ích Thiền Sư.
; (法眼宗) Một trong Ngũ gia thất tông của Thiền tông Trung quốc, do Thiền sư Pháp nhãn Văn ích (885-958) sáng lập. Thiền sư Văn ích thuộc pháp hệ ngài Thanh nguyên Hành tư, tham yết ngài La hán Quế sâm và được tâm ấn vào năm Thanh thái thứ 2 (935) đời Hậu Đường, từ đó về sau, ngài lần lượt trụ ở các nơi như: Viện Sùng thọ, Thiền viện Báo ân, Đại đạo tràng thanh lương... xiển dương pháp Thiền. Ngài chủ trương Lí sự viên dung, không tìm cầu bên ngoài, tất cả đều do tâm tạo. Học chúng từ khắp nơi vân tập, phát triển dần thành 1 phái, lấy các vùng Chiết giang, Phúc kiến làm trung tâm giáo hóa. Đệ tử nối pháp có 63 vị, trong đó, nổi tiếng hơn cả là các sư: Thiên thai Đức thiều, Thanh lương Thái khâm, Linh ẩn Thanh tủng, Qui tông Nghĩa nhu, Bách trượng Đạo thường,Vĩnh minh Đạo tiềm, Báo ân Pháp an, Báo ân Tuệ minh, Báo từ Hành ngôn, Báo từ Văn toại, Tịnh đức Trí quân, Qui tông Sách chân v.v... Sư Đức thiều được Trung ý vương Ngô việt kính ngưỡng nên pháp Thiền rất thịnh. Sư Thái khâm truyền pháp cho Vân cư Đạo tề, dưới Đạo tề có Vân cư Khế hoàn, Linh ẩn Văn thắng, Thụy nham Nghĩa hải, Quảng tuệ Chí toàn, Đại mai Cư hi, Nam minh Duy túc... Sư Hành ngôn mở rộng tông môn, học chúng từ khắp nơi tụ về, thường đến hơn 2 nghìn người. Sư Trí quân lần lượt trụ ở chùa Thê hiền tại Lô sơn, đạo tràng Tịnh đức hoằng truyền pháp môn Bất nhị. Sư Sách chân thì chú tích chùa Qui tông ở Lô sơn, chùa Phụng tiên ở Kim lăng và Đạo tràng Báo ân, xiển dương pháp Thiền của Tông tổ. Tông phong Văn ích phồn thịnh 1 thời, đạo pháp lan truyền khắp nơi, nổi tiếng nhất là môn phái Thiên thai Đức thiều, đứng đầu là ngài Vĩnh minh Diên thọ, kế đến là các vị Trường thọ Minh ngạn, Ngũ vân Chí phùng, Báo ân Vĩnh an, Quang khánh Ngộ an, Tề vân Ngộ trăn... gồm hơn 100 bậc cao tăng thạc đức. Ngài Vĩnh minh Diên thọ lúc đầu tu Pháp hoa sám ở chùa Quốc thanh trên núi Thiên thai, sau dời về đạo tràng Vĩnh minh tiếp hóa đồ chúng. Ngài biên soạn Tông kính lục 100 quyển, Duy tâm quyết 1 quyển để trình bày rõ yếu quyết của Phật pháp. Rồi soạn tiếp tác phẩm Vạn thiện đồng qui, đề xướng Thiền Tịnh Song Tu, được người đời xem như đức Di lặc giáng sinh. Vua Quang tông nước Cao li cảm kích, từng viết thư đến ngài xin làm đệ tử. Chư tăng Cao li cũng đến theo học ngài rất đông, có 36 vị đắc pháp, nhờ đó mà Thiền phong Pháp nhãn được lưu truyền ở Hải đông (Cao li). Vào đầu đời Tống, tông Pháp nhãn cực thịnh, nhưng từ giữa đời Tống trở đi thì tông này suy vi dần, cho đến cuối cùng thì dứt hẳn. Tại Trung quốc, tông Pháp nhãn tồn tại không quá 100 năm, nhưng tại Cao li thì vẫn còn hưng thịnh. Về phương diện giáo học, đặc trưng lớn nhất của tông Pháp nhãn là sự dung hợp Thiền chỉ với tư tưởng Tịnh độ. Ngoài ra, các Thiền sư của tông này rất ưa niêm đề cổ tắc công án, trong các tác phẩm cá nhân thường có phụ thêm phần Trứ ngữ cho các cổ tắc, đây là 1 đặc sắc nữa của tông này. Như trong bộ Cảnh đức truyền đăng lục 30 quyển, do Thiền sư Vĩnh an Đạo nguyên biên soạn, có thu chép rất nhiều Trứ ngữ (lời bàn) về những cổ tắc của các Thiền sưtông Pháp nhãn. Còn đặc điểm tiếp hóa người học của các bậc thầy thuộc tông này là Tiên lợi tế, nghĩa là tùy thuận căn cơ của người học mà chân thành, khẩn thiết dìu đắt họ 1 cách tự tại, giúp họ được lợi ích mau chóng(tiên lợi tế). Như Tắc 7 trong Bích nham lục (Đại 48, 147 thượng) ghi: Tuệ siêu hỏi ngài Pháp nhãn Văn ích: Phật là thế nào? Ngài Văn ích đáp: Ông là Tuệ siêu! Ngay câu nói đó, Tuệ siêu đại ngộ. [X.Tống cao tăng truyện Q.13; Cảnh đức truyền đăng lục Q.24-26; Liên đăng hội yếu Q.26-28; Ngũ tông nguyên; Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.hạ; Ngũ gia tham tường yếu lộ môn Q.5].
pháp nhãn tịnh
Dharmacakṣuvyudha (S).
; Dharmacaksu-visuddha (S). Purity of the eye of Dharma.
; Thấy được chân đế một cách rõ ràng—To see clearly or purely the truth. 1) Pháp Nhãn Tịnh Tiểu Thừa: Sơ quả kiến “Tứ Đế” pháp (thấy được chân lý Tứ Diệu Đế)—In Hinayana, to see the truth of the four dogmas or four Noble Truths. 2) Pháp Nhãn Tịnh Đại Thừa: Sơ địa đắc chân vô sanh pháp (thấy chân lý giải thoát luân hồi sanh tử)—In Mahayana, to see the truth which releases from reincarnation.
; (法眼淨) Phạm: Dharmacakwu-vizuddha. Cũng gọi Tịnh pháp nhãn, Thanh tịnh pháp nhãn. Chỉ cho con mắt có khả năng thấy suốt chân lí các pháp mà không nghi ngờ, không bị chướng ngại. Cứ theo Duy ma kinh lược sớ quyển 4 của ngài Cát tạng, thì hàng Sơ quả Tiểu thừa thấy lí Tứ Thánh đế và bậc Sơ địa Đại thừa được pháp chân thực vô sinh, đều gọi là Pháp nhãn tịnh. Theo luận Đại tì bà sa quyển 66, trước giai vị Kiến đạo vẫn chưa hoàn toàn dứt hết vọng hoặc, những hành giả đoạn trừ 5 phẩm hoặc của cõi Dục mà vào giai vị Kiến đạo, sinh pháp nhãn thanh tịnh, thì được quả Dự lưu; các hành giả đoạn trừ các phẩm hoặc thứ 6, thứ 7, sinh pháp nhãn thanh tịnh, thì được quả Nhất lai. Còn những hành giả đã đoạn trừ cả 9 phẩm hoặc ở cõi Dục, cho đến đoạn trừ các vọng hoặc của cõi Vô sở hữu xứ, sinh pháp nhãn thanh tịnh, thì chứng quả Bất hoàn. Pháp nhãn nói ở đây khác với Pháp nhãn trong Ngũ nhãn. Pháp nhãn trong Ngũ nhãn tưong đương với Pháp nhãn tịnh của Đại thừa, chỉ Bồ tát mới có, chứ hàng Nhị thừa thì không. Vả lại, Pháp nhãn của Tiểu thừa thì hàng Sơ quả thấy lí Tứ Thánh đế, còn Pháp nhãn của Đại thừa thì phải là bậc Sơ địa đã được pháp vô sinh chân thực mới có. [X. kinh Pháp hoa Q.7; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luật Tứ phần Q.32; Chú Duy ma cật kinh Q.1].
pháp nhãn tứ cơ
(法眼四機) Chỉ cho 4 cơ pháp của tông Pháp nhãn được dùng để chỉ dẫn người học. 1. Tiễn phong tương trụ: Hai mũi tên chạm nhau. Nghĩa là sự tiếp hóa của sư gia khế hợp với từng loại căn cơ của người học, giống như 2 mũi tên từ 2 bên bắn ra chạm vào nhau. 2. Mẫn tuyệt hữu vô: Dứt bặt có và không. Nghĩa là cơ pháp của sư gia làm cho người học vượt thoát kiến giải phân biệt nhị nguyên có và không. 3. Tựu thân niêm xuất: Tùy theo đối tượng mà đưa ra cơ pháp để tiếp hóa. Nghĩa là chân như Phật tính vốn hiển hiện trong những hiện tượng thiên sai vạn biệt ở thế gian, bậc sư gia tùy theo tính Phật của mọi người hiện thành ở trước mắt mà đưa ra cơ pháp thích hợp, nhờ đó mà có thể tùy duyên điểm hóa cho tất cả. 4. Tùy lưu đắc diệu: Sư gia dựa theo (tùy lưu)căn khí của người học, vận dụng cơ pháp tiếp hóa 1 cách linh hoạt khéo léo, để giúp người học thể nhận được Phật tính vi diệu(đắc diệu). [X. Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.hạ].
pháp nhãn viên thông
Fa yun Yuan t'ung (C)Tên một vị sư.
Pháp Nhãn Văn Ích
(法眼文益, Hōgen Moneki, 885-958): vị tổ khai sáng Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, họ là Lô (魯), người vùng Dư Hàng (余杭, Tỉnh Triết Giang). Năm lên 7 tuổi, ông theo xuất gia với Toàn Vĩ (全尾) ở Tân Định Trí Thông Viện (新定智通院), rồi thọ Cụ Túc giới ở Khai Nguyên Tự (開元寺) vùng Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang). Sau ông du hành lên phương Nam, lưu lại nơi pháp hội của Trường Khánh Huệ Lăng (長慶慧稜) một thời gian. Rồi ông định đi về phía Tây Hồ Tương (湖湘), nhưng vì gió mưa dữ dội, nên phải tá túc tại Địa Tạng Viện (地藏院). Nhân đó ông tham yết La Hán Quế Sâm (羅漢桂琛) và được đại ngộ. Tiếp theo ông lại lưu lãng đây đó, đến vùng Lâm Xuyên (臨川, Tỉnh Giang Tây), rồi đến trú tại Sùng Thọ Viện (崇壽院). Tương truyền ngày khai đường có cả ngàn vị tăng đến xin tham học. Vị quốc chủ của Giang Nam (江南) vì mến mộ đạo phong của ông, nên thỉnh ông đến trú trì Báo Ân Thiền Viện (報恩禪院) vùng Kim Lăng (金陵, Tỉnh Giang Tô), và ban cho hiệu là Tịnh Huệ Thiền Sư (淨慧禪師). Sau ông trở về Thanh Lương Viện (清涼院), sáng tối chuyên tâm diễn xướng tông phong nơi ba đạo tràng ấy. Vào ngày mồng 5 tháng nhuận, ông cạo tóc, tắm rửa sạch sẽ, thông báo với đại chúng, rồi ngồi kiết già mà thị tịch, hưởng thọ 74 tuổi đời và 54 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Đại Pháp Nhãn Thiền Sư (大法眼禪師).
; 法眼文益; C: fǎyǎn wényì; J: hōgen buneki; 885-958; |Thiền sư Trung Quốc, khai sáng tông Pháp Nhãn, môn đệ nối pháp của Thiền sư La Hán Quế Sâm và là thầy của Quốc sư Thiên Thai Ðức Thiều. Sư là một trong những Thiền sư trội nhất của đời đó và vì vậy dòng Thiền của Sư sau được gọi là Pháp Nhãn tông mặc dù trước đó được gọi là Huyền Sa tông (Huyền Sa Sư Bị). Sư có 63 môn đệ ngộ huyền chỉ.|Sư xuất gia lúc 5 tuổi, thụ giới cụ túc năm 20. Tại pháp hội của Thiền sư Trường Khánh Huệ Lăng, mặc dù Sư chưa đốn ngộ nhưng học chúng rất kính nể. Sư cùng kết bạn với hai vị Thiệu Tu và Hồng Tiến, rủ nhau đi hành cước. Ðến viện Ðịa Tạng gặp trời trở tuyết, ba người xin ở lại đây. Thiền sư trụ trì đây là Quế Sâm hỏi: »Ði đây làm gì?« Sư đáp: »Ði hành cước.« Quế Sâm hỏi: »Thế nào là việc hành cước?« Sư trả lời: »Chẳng biết.« Quế Sâm nói: »Chẳng biết là rất thân thiết.« Sau, nhân lúc ba người ngồi sưởi ấm, bàn về Triệu luận, Quế Sâm lại hỏi: »Sơn hà đại địa cùng Thượng toạ là đồng nhất, là khác biệt?« Sư đáp: »Khác.« Quế Sâm đưa hai ngón tay lên. Sư nói: »Ðồng.« Quế Sâm cũng đưa hai ngón tay lên rồi đứng dậy đi.|Tuyết tan, cả ba đều rủ nhau đi tiếp. Quế Sâm tiễn chân ra cổng chỉ phiến đá hỏi: »Thường Thượng toạ nói ›Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức‹, như vậy thì phiến đá này là trong hay ngoài tâm?« Sư không đáp được bèn ở lại cầu học. Ở lại hơn một tháng mà mỗi lần Sư trình kiến giải nói đạo lí đều bị Quế Sâm gạt đi nói »Phật pháp không phải như vậy.« Sư thưa: »Con đã hết lời cùng lí rồi.« Quế Sâm bảo: »Nếu luận Phật pháp thì tất cả hiện thành.« Qua câu này, Sư Ðại ngộ triệt để.|Sư sau trụ ở đâu chúng cũng đến rất đông, tương truyền rằng lúc nào cũng không dưới ngàn người. Tông của Sư hưng thịnh ba đời nhưng tàn lụi sau đời thứ năm|Niên hiệu Hiền Ðức năm thứ năm nhà Châu, ngày mùng năm tháng bảy năm Mậu Ngọ, Sư từ giã chúng ngồi kết già viên tịch, thọ 74 tuổi, 54 tuổi hạ. Vua sắc phong là Ðại Pháp Nhãn Thiền sư, tháp hiệu Vô Tướng.
pháp nhãn văn ích
Dosen Bin'eki (J), Fayan Wenyi (C), Hōgen-Bun'eki (J), Fa-yen Wen-i (C)Tên một vị sư.
; Fa-yen Wen-i (C), Dosen Bin'eki (J), Fayan Wenyi (C)(885-958). Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của La hán Quế sâm, thầy của Thiên Thai Đức Thiền.
; Fa-Yen-Wen-Yi—See Văn Ích Thiền Sư.
pháp nhãn văn ích thiền sư ngữ lục
(法眼文益禪師語錄) Gọi đủ: Kim lăng thanh lương viện Văn ích thiền sư ngữ lục. Cũng gọi: Đại trí tạng đạo sư ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Pháp nhãn Văn ích soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này ghi chép các pháp ngữ: Thướng đường, thị chúng, vấn đáp, cơ duyên, cử cổ, đại cổ, kệ tụng... của Thiền sư Pháp nhãn Văn ích –Tổ khai sáng tông Pháp nhãn– khi ngài trụ ở viện Sùng thọ, Thiền viện Báo ân và Thiền viện Thanh lương. Theo Tổ đình sự uyển quyển 6 thì sách này được ghi chép vào đời Tống và được thu vào phần thứ 5 của bộ Ngũ gia ngữ lục do ngài Ngữ phong Viên tín và Quách ngưng chi biên soạn vào đời Minh.
Pháp Nhãn 法眼
[ja] ホウゲン hōgen ||| The "dharma-eye." (dharma-cakṣus) (1) The 'dharma-eye.' ability to see the dharma, or all dharmas perfectly. With this ability the bodhisattva can save all sentient beings. (2) The second of the five levels of vision wuyan 五眼. (3) (885-958) Fayan, the name of an important Tang period Chan monk, who is also commonly known by the posthumous title of "National Teacher Qingliang" 清涼 國師. Also known by his dharma name Wenyi 文益. He was known as a great exponent of the Huayan jing 華嚴經, and is regarded in the Chan histories to be the founder of a distinct lineage, called the Fayan lineage, which is said to have been spread through the efforts of his sixty-three disciples. His name often appears in the Chan gongan 公安 collections. He also left behind a teaching record, the Jinling Qingliangyuan Wenyi chanshi yulu 金陵清涼院文益禪師語録. (T 1991.47.588) => (s: dharma-cakṣus) 1. Con mắt pháp”, năng lực nhận ra các pháp một cách tường tận. Với Pháp nhãn nậy, Bồ-tát có thể cứu độ tất cả chúng sinh. 2. Dạng thứ 2 trong Ngũ nhãn 五眼). 3. Pháp Nhãn (885-958); tên của một vị Thiền sư quan trọng vào đời Đường Trung Hoa, thường được biết với thuỵ hiệu là Thanh Lương Quốc Sư ( 清涼 國師e: National Teacher Qingliang ). Còn được biết qua pháp danh Văn Ích (c: Wenyi 文益). Sư nổi tiếng là giảng sư lớn về kinh Hoa Nghiêm, và trong thiền sử được xem là vị đã lập nên một dòng thiền riêng biệt, gọi là dòng thiền Pháp Nhãn, được trải qua sự truyền thừa của 63 vị đệ tử. Tên sư thường được xuất hiện trong những tập công án. Sư cũng để lại một tập ngữ lục: Kim Lăng Thanh Lương viện Văn Ích Thiền sư ngữ lục (c: Jinling Qingliangyuan Wenyi chanshi yulu 金陵清涼院文益禪師語録).
Pháp nhĩ
法爾; C: făěr; J: hōni; |1. »Theo quy luật«. Tất nhiên, tự nhiên. Sự vận hành của quy luật vũ trụ (s: dharmatā); 2. Sự tất định (s, p: niyati); 3. Từ ban đầu, bẩm sinh.
pháp nhĩ
See Pháp Nhiên.
; (法爾) Cũng gọi Pháp nhiên, Tự nhiên, Thiên nhiên, Tự nhĩ, Pháp nhĩ tự nhiên, Tự nhiên pháp nhĩ. Chỉ cho trạng thái tự nhiên, thiên nhiên của các pháp(muôn vật), không trải qua bất kì sự tạo tác nào. Tức chỉ cho tướng trạng của sự vật xưa nay vốn như thế. Cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 3, thì nghĩa Pháp nhĩ có thể nhận xét về 2 phương diện: 1. Nhận xét về sự tồn tại của tất cả các pháp: Hết thảy các pháp đều do nhân duyên hòa hợp mà thành, dù nước chảy xuống thấp, lửa bốc lên cao, đều là việc tự nhiên như thế. 2. Nhận xét theo lí chân như của các pháp: Các pháp vốn tùy duyên mà sinh khởi, tính của các pháp xưa nay vốn bình đẳng thường nhiên. Theo luận Du già sư địa quyển 88, thì Pháp nhĩ là đạo lí thứ 4 trong 4 đạo lí, là đạo lí tự nhiên biểu trưng cái tướng vốn như thế của mỗi sự vật, như tính của lửa vốn nóng, tính của nước vốn ướt... Tịnh độ chân tông của Nhật bản cho rằng nhờ nguyện lực của đức Phật A di đà mà tự nhiên được vãng sinh Cực lạc, gọi là Pháp nhĩ vãng sinh. Pháp nhĩ trong trường hợp này có nghĩa là tự nhiên và tha lực. (xt. Tự Nhiên Pháp Nhĩ).
Pháp nhĩ 法爾
[ja] ホウニ hōni ||| (1) 'According to rule.' Naturally, spontaneously. Workings of the universal law (dharmatā). (2) The determination of fate (Skt. niyati; Pali niyati). (3) Originally, innately, fundamentally. => 1. 'Theo lệ thường'. Tất nhiên, tự nhiên. Sự vận hành của quy luật vũ trụ (s: dharmatā). 2. Sự tất định (s: niyati; s: niyati). 3. Từ ban đầu, bẩm sinh.
pháp nhĩ, pháp nhiên
According to rule, naturally.
Pháp nhũ
(法乳): sữa pháp; tức lấy hương vị của chánh pháp để nuôi dưỡng Pháp Thân của đệ tử, cũng giống như sữa mẹ có thể nuôi dưỡng con khôn lớn. Như trong Vận Am Phổ Nham Thiền Sư Ngữ Lục (運菴普巖禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1379) có đoạn: “Cúng dường tiền trú Lâm An Phủ Cảnh Đức Linh Ẩn Thiền Tự Tùng Nguyên Lão Sư Đại Hòa Thượng, dụng thù pháp nhũ chi ân (供養前住臨安府景德靈隱禪寺松源老師大和尚、用酬法乳之恩, cúng dường Đại Hòa Thượng Lão Sư Tùng Nguyên, trước kia trú tại Linh Ẩn Thiền Tự, Cảnh Đức, Phủ Lâm An, để báo đáp thâm ân pháp nhũ).” Hay trong Hoa Nghiêm Thanh Lương Quốc Sư Lễ Tán Văn (華嚴清涼國師禮讚文, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1471) cũng có đoạn: “Liêu tiến tảo tần chi cúng, bạc thù pháp nhũ, vi báo hồng ân (聊薦藻蘋之供、薄酬法乳、微報鴻恩, tạm dâng cỏ rong thức cúng, đáp đền pháp nhũ, báo chút hồng ân).”
; 法乳; C: fărǔ; J: hōnyū; |»Dòng sữa pháp«. Dụ cho giáo lí của bậc đạo sư. Lời dạy của đạo sư khiến cho đệ tử lớn mạnh tâm đạo cũng như sữa giúp cho sự tăng trưởng của trẻ em.
pháp nhũ
The milk of the dharma which nourishes the spiritual nature.
; (法乳) Sữa pháp. Ví dụ hương vị của chính pháp nuôi lớn pháp thân của người tu hành Phật đạo, cũng như sữa mẹ nuôi lớn con trẻ, nên gọi là Pháp nhũ. Oánh sơn thanh qui quyển hạ (Đại 82, 438 thượng) nói: Cung kính đức Thích ca mâu ni Như lai để đáp đền thâm ân pháp nhũ.
Pháp nhũ 法乳
[ja] ホウニュウ hōnyū ||| "Dharma-milk." A metaphor for the teachings of a great master. The master's teachings enable the student's development as milk aids in the growth of a baby. => 'Dòng sữa pháp'. Dụ cho giáo lý của bậc đạo sư. Lời dạy của đạo sư khiến cho đệ tử lớn mạnh tâm đạo cũng như sữa giúp cho sự tăng trưởng của trẻ em.
Pháp Như
(法如, Hōnyo, 638-689): vị tăng của Bắc Tông Thiền, sống dưới thời nhà Đường, người vùng Thượng Đảng (上黨, thuộc Trường Trị, Sơn Tây), họ Vương (王), lúc nhỏ theo hầu Thanh Bố Minh (青布明, tức Huệ Minh [惠明]) ở Dương Lễ (陽澧, Huyện Lễ, Hồ Nam). Năm lên 19 tuổi, ông xuất gia, theo hầu hạ Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (五祖弘忍) ở Song Phong Sơn (雙峰山) thuộc Huyện Hoàng Mai (黃梅縣), Kì Châu (蘄州) trong vòng 16 năm và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 5 (674) niên hiệu Hàm Hanh (咸亨), sau khi Hoằng Nhẫn thị tịch, ông ngao du lên miền Bắc đến Thiếu Lâm Tự (少林寺) ở Tung Sơn (嵩山), dừng chân trú ở đây 3 năm. Đến năm thứ 2 (686) niên hiệu Thùy Củng (垂拱), ông bắt đầu khai tòa thuyết giảng tại chùa này. Vào năm đầu niên hiệu Vĩnh Xương (永昌), ông thị tịch, hưởng thọ 52 tuổi. Người đời sau có soạn ra bản Đường Trung Nhạc Sa Môn Pháp Như Thiền Sư Hành Trạng (唐中岳沙門法如禪師行狀), trong đó có đề cập đến bản Đạt Ma Đa La Thiền Kinh (達摩多羅禪經) cũng như thuyết truyền thừa 6 đời tổ sư Đạt Ma (達摩), Huệ Khả (慧可), Tăng Xán (僧璨), Đạo Tín (道信), Hoằng Nhẫn (弘忍) và Pháp Như (法如). Đây là một tư liệu rất quý giá liên quan đến thuyết truyền thừa của hệ Bắc Tông Thiền.
pháp như
(法如) (638-689) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người Thượng đảng (huyện Trường trị, tỉnh Sơn tây), họ Vương. Thủa nhỏ sư thờ ngài Thanh bố minh (Huệ minh) ở Dương lễ (huyện Lễ, tỉnh Hồ nam) làm thầy. Năm 19 tuổi, sư xuất gia ở Kì châu, huyện Hoàng mai, núi Song phong, theo hầu Ngũ tổ Hoằng nhẫn suốt 16 năm và được nối pháp của ngài. Năm Hàm hanh thứ 5 (674), sau khi Ngũ tổ thị tịch, sư đi lên miền Bắc, đến chùa Thiếu lâm ở núi Tung sơn trụ lại 3 năm. Năm Thùy củng thứ 2 (686), sư mở tòa giảng pháp ở chùa Thiếu lâm. Niên hiệu Vĩnh xương năm đầu (689), sư thị tịch, hưởng dương 52 tuổi. Trong truyện kí Đường trung nhạc sa môn Pháp như thiền sư hành trạng, trong 6 đời truyền thừa của Thiền Bắc tông, ngài Pháp như được xếp vào đời thứ 6 sau chư Tổ: Bồ đề đạt ma, Tuệ khả, Tăng xán, Đạo tín và Hoằng nhẫn. Đây là tư liệu rất quí báu về thuyết truyền đăng của hệ thống Thiền Bắc tông, Trung quốc.
Pháp như như
法如如; C: fărúrú; J: hōnyonyo; |Tất cả các pháp tuyệt đối chân thật như chúng đang là.
Pháp như như 法如如
[ja] ホウニョニョ hōnyonyo ||| All things are absolute reality just as they are. => Tất cả các pháp tuyệt đối chân thực như chúng đang là.
pháp nhẫn
Patience attained through dharma, to the overcoming ođ illusion; also ability to bear patiently external hardships.
; Dharmakshanti (skt). 1) Pháp nhẫn là chấp nhận sự khẳng định rằng tất cả các sự vật là đúng như chính chúng, không phải chịu luật sinh diệt là luật chỉ được thù thắng trong thế giới hiện tượng tạo ra do phân biệt sai lầm: Dharmakshanti means acceptance of the statement that all things are as they are, not being subject to the law of birth and death, which prevails only in the phenomenal world created by our wrong discrimination. 2) Pháp Nhẫn là sự nhẫn nại đạt được qua tu tập Phật pháp có khả năng giúp ta vượt thoát ảo vọng. Cũng là khả năng kham nhẫn những khó khăn bên ngoài—Patience attained through dharma to overcome illusion. Also, ability to bear patiently external hardships.
; (法忍) Nhẫn là chỉ cho sự chịu đựng những cảnh trái ngược mà trong lòng không sinh khởi sân hận. Còn Pháp nhẫn là đối với các pháp nghĩa sâu xa, mầu nhiệm được nói trong các kinh, chẳng những không sợ hãi mà còn siêng năng học tập, đọc tụng. Là 1 trong Nhị nhẫn, 1 trong Tam nhẫn, 1 trong Lục nhẫn, 1 trong Thập nhẫn. Đại thừa nghĩa chương quyển 11 (Đại 44, 685 trung) nói: An trụ trong thực tướng các pháp gọi là Nhẫn. Pháp nhẫn thông thường được chia làm 2 loại: Khổ pháp nhẫn và Đạo pháp nhẫn, Khổ pháp nhẫn là chỉ cho sự tin chịu lí Khổ đế ở cõi Dục khi vào giai vị Kiến đạo. Còn Đạo pháp nhẫn là chỉ cho sự tin chịu lí Đạo đế ở cõi Dục khi tiến vào giai vị Kiến đạo. Ngoài ra, hàng Bồ tát Đại thừa ở giai vị Kiến đạo của Sơ địa tin chịu lí vô sinh, thì gọi là Vô sinh pháp nhẫn. (xt. Nhị Nhẫn, Thập Nhẫn, Tam Nhẫn, Lục Nhẫn, Nhẫn).
pháp nhập
Dharma-ayatna (S), Dharma receptor Sự sáp nhập tất cả các tư tưởng vào ý mà sanh ra cái thức biết. Có Thập nhị (12) nhập: - Nội lục nhập: 6 căn trong (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý), ví như nhà cửa xóm làng, nhập với 6 trần ngoài (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) ví như lục tặc, như bọn cướp. - Ngoại lục nhập: 6 trần ngoài nhập với 6 căn trong. Căn và 6 trần chỗ nào cũng có, nhưng nếu nhà cửa trống không, không tiền của thì lục tặc sẽ bỏ đi, làm gì có sầu khổ.
; Dharma-Ayatna (S) The sense-data of direct mental perception.
; Pháp Xứ—Cảnh giới mà ý thức nương vịnh hay duyên vào đó, một trong thập nhị nhập—The sense-data of direct mental perception, one of the twelve entrances or places (dvadasayatanani). ** For more information, please see Thập Nhị Nhập.
pháp ni
A nun.
; Tỳ Kheo Ni—A nun.
pháp niệm xứ
Dhammanupassana (P), Contemplation of mind, Dharma-smṛty-upasṭhāna (S).
; The position of insight into the truth that nothing has reality in itself.
; The position of insight into the truth that nothing has reality in itself. ** For more information, please see Tứ Niệm Xứ.
; (法念處) Phạm: Dharma-smfty-upasthàna. Pàli: Dhammesu dhammànupassì viharatì àtàpì sampajàno satimà. Cũng gọi Pháp niệm trụ. Chỉ cho pháp quán Vô ngã, 1 trong Tứ niệm xứ. Hết thảy các pháp đều do nhân duyên sinh, không có tự tính, nhưng chúng sinh điên đảo, đối với các pháp thiện, ác thường lầm chấp có Ngã, cho Ngã có khả năng làm thiện, làm ác. Nhưng trong pháp thiện, ác vốn không có Ngã, nếu pháp thiện là Ngã thì pháp ác lẽ ra phải là Vô ngã; nếu pháp ác là Ngã, thì lẽ ra pháp thiện phải là Vô ngã. Vì muốn cho chúng sinh biết lí nhân duyên tính không, nên đức Phật chỉ dạy họ pháp quán Vô ngã. [X. kinh Niệm xứ trong Trung a hàm Q.24; luận Câu xá Q.23; luận Đại trí độ Q.19]. (xt. Tứ Niệm Trụ).
Pháp Nạn Hội Xương
(會昌法難, Kaishō-no-hōnan, Eshō-no-hōnan): vụ pháp nạn do Võ Tông (武宗, tại vị 840-846) nhà Đường tiến hành đàn áp Phật Giáo từ năm thứ 3 (843) đến năm thứ 4 (844) niên hiệu Hội Xương (會昌). Ông ban hiệu lịnh đi khắp thiên hạ, phá hủy các tự viện và phế bỏ tăng ni buộc phải hoàn tục. Trong lịch sử Phật Giáo Trung Quốc, có các pháp nạn Tam Võ Nhất Tông (三武一宗), như Võ Đế của Bắc Ngụy, Võ Đế của Bắc Chu, Thế Tông của Hậu Chu; pháp nạn này được xem là có quy mô và triệt để nhất. Đây là lần tổng quyết toán hạn chế, đình chỉ toàn bộ tăng ni các tự viện; đối với Phật Giáo, vụ pháp nạn này đã giáng một đòn khốc liệt, bi thảm chưa từng có. Nguyên nhân là vì vấn đề kinh tế của quốc gia, sự hủ bại trụy lạc của tăng ni trong giáo đoàn, và sự hoành hành của chúng tăng ngụy lạm tự xuất gia cũng như thọ giới; cho nên triều đình đã tiến hành một cách triệt để đối với Phật Giáo, trừ Đạo Giáo ra. Sự kiện này được ghi rõ trong Cựu Đường Thư (舊唐書), cũng như điều khoản năm thứ 4 niên hiệu Hội Xương của Võ Đế Bổn Ký (武宗本記) 18; qua đó chúng ta có thể biết được rằng Võ Đế có tín ngưỡng đối với Đạo Giáo hơn. Ngoài ra, trong quyển 4 của bộ Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Hành Ký (入唐求法巡禮行記) của Từ Giác Đại Sư Viên Nhân (慈覺大師圓仁) cũng ký thuật chi tiết về vụ pháp nạn này.
pháp phi pháp
Dharmàdharma (S). Real and unreal; thing and nothing; being and non being etc.
; Dharmadharma (skt)—Real and unreal—Thing and nothing—Being and non-being.
Pháp Phong
法豐; C: fă fēng; J: hōbu; |Dịch nghĩa tên của Dharmakṣema. Đàm Vô Sấm (曇無讖).
pháp phong sa môn
Xem Pháp Hộ.
Pháp Phong 法豐
[ja] ホウブ Hōbu ||| The Chinese translation, according to the meaning, of the name of Dharmakṣema. See 曇無讖 . => Dịch nghĩa tên của Dharmakṣema. Xem Đàm Vô Sám 曇無讖 .
Pháp phái 法脈
[ja] ホウミャク hōmyaku ||| A dharma-lineage; dharma transmission. => Dòng truyền thừa Phật pháp, sự truyền thừa Phật pháp.
pháp pháp tánh phân biệt luận
Dharmadarmata-vibhaṅga (S)Tên một bộ luận kinh.
pháp pháp tính phân biệt luận
(法法性分別論) Phạm: Dharmadharmatà-vibhaíga, hoặc Dharmadharmatà-vibhàga. Tác phẩm, tương truyền do ngài Di lặc (Phạm: Maitreyanàtha), người Ấn độ soạn vào thế kỉ IV. Nguyên bản tiếng Phạm của luận này chỉ được tìm thấy 1 phần nhỏ, khoảng 1 phần 5 của toàn bộ, không có bản dịch Hán, chỉ có bản dịch Tây tạng. Cứ theo sự truyền thừa của Tây tạng thì luận này cùng với Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Trung biên phân biệt luận, Hiện quán trang nghiêm luận, Bảo tích luận... đều là 1 trong 5 bộ sách của ngài Di lặc, cho nên rất được coi trọng. Cách kết cấu của luận này rất ngắn gọn và trong sáng. Nội dung bàn về tư tưởng Duy thức và quan niệm về pháp, đại khái có thể chia làm 4 phần: 1. Pháp (Phạm: Dharma) và Pháp tính (Phạm:Dharmatà) bao hàm tất cả; sự biện biệt (Phạm: Vibhaíga) giữa Pháp và Pháp tính, bàn về định nghĩa và sự quan hệ giữa Pháp và Pháp tính. 2. Sự tự giác của Pháp. 3. Sự tự giác của Pháp tính. 4. Sự tự giác của chuyển y (từ lập trường Pháp chuyển đổi sang lập trường Pháp tính).
pháp phược
Xem pháp chấp.
; See Pháp Chấp.
Pháp phược 法縛
[ja] ホウバク hōbaku ||| Attachment to dharma; to be rigidly attached to the letter of the scripture and fail to perceive the real point of the Buddhist teachings. Synonymous with fazhi 法執. 〔圓覺經、 T 842.17.915a11〕 => Chấp trước vào pháp; chấp cứng vào văn tự kinh điển và không nhận ra được điểm chính trong Phật pháp. Đồng nghĩa với Pháp chấp 法執.
pháp phảng
(法舫) (1904-1951) Danh tăng Trung quốc thời hiện đại, người huyện Hình, tỉnh Hà bắc, họ Vương. Năm 18 tuổi (1921), sư theo Trưởng lão Thị ngạn ở núi Nam nhạc xuất gia, sau đến chùa Pháp nguyên y vào Pháp sư Đạo giai thụ giới Cụ túc. Năm 1922, sư đến học tại viện Phật học Vũ xương, được gần gũi Đại sư Thái hư. Sau khi tốt nghiệp, sư lần lượt làm giáo sư ở viện Phật học Vũ xương, viện giáo lí Bách lâm, viện giáo lí Hán Tạng, 3 lần làm chủ biên tạp chí Hải Triều Âm, chủ trì thư viện Phật học uyển thế giới, trợ giúp Đại sư Thái hư 1 cách đắc lực trong việc thiết lập bộ Nghiên cứu của viện Phật học thế giới. Năm 1943, sư cùng với 2 vị Đạt cư và Bạch tuệ du học Ấn độ, theo học tại trường Đại học Vishwa Bharati (International University). Ba năm sau, sư sang Tích lan, theo học ngài Kirwatatuduwe, Prasekene người Tích lan. Sư là vị tăng tài kiệt xuất trong hàng xuất gia, thông thạo các thứ tiếng Anh, Nhật, Phạm,Pàli... Sau, sư xúc tiến việc thiết lập viện Tam tạng Pàli ở Tây an và việc trao đổi học tăng giữa Tích lan và Trung quốc. Năm Dân quốc 36 (1947), sau khi Đại sư Thái hư thị tịch, sư kế thừa trụ trì chùa Tuyết đậu. Năm Dân quốc 38 (1949), sư nhận chức trụ trì chùa Đại qui sơn ở Hồ nam, sau đó, đến Vũ xương xây tháp thờ xá lợi của Đại sư Thái hư, dự định mở rộng thêm viện Phật học Vũ xương. Nhưng, cục diện chính trị và xã hội thay đổi, chiến sự gia tăng cường độ, cảm thấy dự án của sư không thể thực hiện được, nên cuối cùng, sư quyết định trở sang Tích lan để nhận chức Giáo sư Đại học Tích lan, chủ giảng về môn Phật học Trung quốc. Khi có dịp, sư cũng đến Mã lai á, Tân gia ba và Thái lan giảng diễn Phật pháp. Ngoài ra, sư còn dành thời gian biên soạn và ấn hành bộ Thái Hư Đại Sư Toàn Thư. Năm Dân quốc 40 (1951), sư lâm bệnh và tịch tại Tích lan, hưởng dương 48 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Duy thức sử quan cập kì triết học, Nam truyền A tì đạt ma nhiếp nghĩa luận.
Pháp phọc
法縛; C: făfú; J: hōbaku; |Chấp trước vào pháp; chấp cứng vào văn tự kinh điển và không nhận ra được điểm chính trong Phật pháp. Đồng nghĩa với Pháp chấp (法執).
Pháp Phục
(法服): (1) Nghĩa là phục sức quy định trong lễ pháp thời cổ đại. Như trong Hiếu Kinh (孝經), Chương Khanh Đại Phu (卿大夫章) có câu: “Phi tiên vương chi Pháp Phục bất cảm phục (非先王之法服不敢服, chẳng phải là Pháp Phục của tiên vương thì chẳng dám mặc).” Hay trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 35 có đoạn rằng: “Nhân hữu đạo tục chi dị, tại gia tắc y hồ ngoại giáo, phục tiên vương chi Pháp Phục, thuận tiên vương chi pháp ngôn (人有道俗之異、在家則依乎外敎、服先王之法服、順先王之法言, người có đạo tục khác nhau, hàng tại gia tất phải nương vào giáo thuyết khác, mặc Pháp Phục của tiên vương, vâng theo lời dạy của tiên vương).” (2) Trong Phật Giáo, còn gọi là Pháp Y (法衣), Tăng Phục (僧服), Tăng Y (僧衣); tức là y phục của Tăng Ni thường dùng; chỉ cho y phục do đức Phật chế ra, như Như Pháp Y (如法衣), Ứng Pháp Y (應法衣). Y phục do đức Phật chế có Tam Y, Ngũ Y, v.v. Trường hợp Trung Quốc, Nhật Bản có khí hậu khác với Ấn Độ, nên phạm vi của Pháp Y rộng hơn, hình thức đa dạng hơn. Phàm những y phục nào của Tăng Ni dung mà không vi phạm giới luật, đều được gọi là Pháp Y. Tại Ấn Độ, quy định vị Tỳ Kheo có 3 y là Tăng Già Lê (s, p: saṅgāṭī, 僧伽梨), Uất Đa La Tăng (s, p: uttarāsaṅga, 鬱多羅僧) và An Đà Hội (s: antarvāsa, p: antaravāsaka, 安陀會). Riêng Tỳ Kheo Ni, trừ 3 y nêu trên, còn có thêm 2 y khác là Tăng Kỳ Chi (s: saṃkakṣikā, 僧衹支) và Quyết Tu La (s: kusūla, 厥修羅). Ba Y là tiếng gọi chung của âm dịch tiếng Sanskrit Chi Phạt La (s: cīvara, 支伐羅). Hơn nữa, do vì có nhuộm sắc màu nên gọi là Ca Sa (s: kaṣāya; p: kāsāya, 袈裟, ý dịch là hoại sắc); hoặc gọi là Phước Điền Y (福田衣), Hàng Tà Y (降邪衣), Tràng Tướng Y (幢相衣), Gian Sắc Y (間色衣), Tạp Trần Phục (雜塵服), Vô Cấu Y (無垢衣), Vô Tướng Y (無相衣), Thắng Tràng Y (勝幢衣), Vô Thượng Y (無上衣), Giải Thoát Phục (解脫服), Đạo Phục (道服), Xuất Thế Phục (出世服), A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Y (阿耨多羅三藐三菩提衣), Từ Bi Phục (慈悲服), Nhẫn Nhục Khải (忍辱鎧), Nhẫn Khải Y (忍鎧衣), Công Đức Y (功德衣), Tiêu Sấu Y (消瘦衣), Liên Hoa Y (蓮華衣), Liên Hoa Phục (蓮華服), Điền Tướng Y (田相衣), v.v. Trong Ba Y, Tăng Già Lê còn gọi là Đại Y (大衣), Trọng Y (重衣), Tạp Toái Y (雜碎衣), Cao Thắng Y (高勝衣), Nhập Vương Cung Tụ Lạc Y (入王宮聚落衣), v.v. Uất Đa La Tăng có tên gọi khác là Thất Điều Ca Sa (七條袈裟), Thất Điều Y (七條衣), Thất Điều (七條), Thượng Y (上衣), Nhập Chúng Y (入衆衣), v.v.; được dùng khi lễ tụng, thính giảng, Bố Tát (s: upavasatha, p: uposatha, 布薩). An Đà Hội còn gọi là Ngũ Điều Y (五條衣), Nội Y (內衣), Trung Túc Y (中宿衣); là y mặc dùng vào lúc sinh hoạt hằng ngày, hay khi đi ngủ. Như trong Tuyển Tập Bách Duyên Kinh (撰集百緣經, Taishō Vol. 4, No. 200) quyển 7 có câu: “Phật tức cáo ngôn: 'Thiện lai Tỳ Kheo !' Tu phát tự lạc, Pháp Phục trước thân, tiện thành Sa Môn, tinh cần tu tập, đắc A La Hán quả, Tam Minh Lục Thông, cụ Bát Giải Thoát, chư thiên thế nhân, sở kiến kính ngưỡng (佛卽告言、善來比丘、鬚髮自落、法服著身、便成沙門、精懃修習、得阿羅漢果、三明六通、具八解脫、諸天世人、所見敬仰, Phật bèn nói rằng: 'Tỳ Kheo hãy khéo đến đây !' Râu tóc tự rơi rụng, Pháp Phục mang vào thân, bèn thành Sa Môn, siêng năng tu tập, chứng quả A La Hán, Ba Minh Sáu Thông, đầy đủ Tám Giải Thoát, Trời người trên đời, trông thấy kính ngưỡng).” Hay như trong Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Tripitaka Vol. 1, No. 1) quyển 17 lại có câu: “Bỉ ư hậu thời, thế trừ tu pháp, phục tam Pháp Y, xuất gia tu đạo, hành bình đẳng pháp (彼於後時、剃除鬚髮、服三法衣、出家修道、行平等法, vị ấy sau đó, cạo bỏ râu tóc, mặc ba Pháp Y, xuất gia tu đạo, hành pháp bình đẳng).” Trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 26 cũng có câu: “Triều đình tam khiển trọng thần giáng hương, tích hiệu Phật Huệ Viên Giám Phổ Tế Thiền Sư, tinh tứ Kim Lan Pháp Y (朝廷三遣重臣降香、錫號佛慧圓鑒普濟禪師、幷賜金襴法衣, triều đình ba lần cử sứ thần đến dâng hương, ban cho hiệu là Phật Huệ Viên Giám Phổ Tế Thiền Sư, và ban thưởng cho Pháp Y Kim Lan).” Trong Sa Di Ni Luật Nghi Yếu Lược (沙彌尼律儀要略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1122), phần Sự Sư Đệ Tam (事師第三, Hầu Thầy Thứ Ba) lại có đoạn: “Tảo khởi thời, đương tiên thanh tịnh trước Pháp Y, lễ Phật pháp, khước lễ sư (早起時、當先清淨著法衣、禮佛法、卻禮師, khi dậy sớm, trước phải thanh tịnh mang Pháp Y vào, lạy Phật pháp, rồi lạy thầy).”
; (法服): có hai nghĩa chính:(1) Nghĩa là phục sức quy định trong lễ pháp thời cổ đại. Như trong Hiếu Kinh (孝經), Chương Khanh Đại Phu (卿大夫章) có câu: “Phi tiên vương chi Pháp Phục bất cảm phục (非先王之法服不敢服, chẳng phải là Pháp Phục của tiên vương thì chẳng dám mặc).” Hay trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 35 có đoạn rằng: “Nhân hữu đạo tục chi dị, tại gia tắc y hồ ngoại giáo, phục tiên vương chi Pháp Phục, thuận tiên vương chi pháp ngôn (人有道俗之異、在家則依乎外敎、服先王之法服、順先王之法言, người có đạo tục khác nhau, hàng tại gia tất phải nương vào giáo thuyết khác, mặc Pháp Phục của tiên vương, vâng theo lời dạy của tiên vương).” (2) Trong Phật Giáo, còn gọi là Pháp Y (法衣), Tăng Phục (僧服), Tăng Y (僧衣); tức là y phục của Tăng Ni thường dùng; chỉ cho y phục do đức Phật chế ra, như Như Pháp Y (如法衣), Ứng Pháp Y (應法衣). Y phục do đức Phật chế có Tam Y, Ngũ Y, v.v. Trường hợp Trung Quốc, Nhật Bản có khí hậu khác với Ấn Độ, nên phạm vi của Pháp Y rộng hơn, hình thức đa dạng hơn. Phàm những y phục nào của Tăng Ni dùng mà không vi phạm giới luật, đều được gọi là Pháp Y. Tại Ấn Độ, quy định vị Tỳ Kheo có 3 y là Tăng Già Lê (s, p: saṅgāṭī, 僧伽梨), Uất Đa La Tăng (s, p: uttarāsaṅga, 鬱多羅僧) và An Đà Hội (s: antarvāsa, p: antaravāsaka, 安陀會). Riêng Tỳ Kheo Ni, trừ 3 y nêu trên, còn có thêm 2 y khác là Tăng Kỳ Chi (s: saṃkakṣikā, 僧衹支) và Quyết Tu La (s: kusūla, 厥修羅). Ba Y là tiếng gọi chung của âm dịch tiếng Sanskrit Chi Phạt La (s: cīvara, 支伐羅). Hơn nữa, do vì có nhuộm sắc màu nên gọi là Ca Sa (s: kaṣāya; p: kāsāya, 袈裟, ý dịch là hoại sắc); hoặc gọi là Phước Điền Y (福田衣), Hàng Tà Y (降邪衣), Tràng Tướng Y (幢相衣), Gian Sắc Y (間色衣), Tạp Trần Phục (雜塵服), Vô Cấu Y (無垢衣), Vô Tướng Y (無相衣), Thắng Tràng Y (勝幢衣), Vô Thượng Y (無上衣), Giải Thoát Phục (解脫服), Đạo Phục (道服), Xuất Thế Phục (出世服), A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Y (阿耨多羅三藐三菩提衣), Từ Bi Phục (慈悲服), Nhẫn Nhục Khải (忍辱鎧), Nhẫn Khải Y (忍鎧衣), Công Đức Y (功德衣), Tiêu Sấu Y (消瘦衣), Liên Hoa Y (蓮華衣), Liên Hoa Phục (蓮華服), Điền Tướng Y (田相衣), v.v. Trong Ba Y, Tăng Già Lê còn gọi là Đại Y (大衣), Trọng Y (重衣), Tạp Toái Y (雜碎衣), Cao Thắng Y (高勝衣), Nhập Vương Cung Tụ Lạc Y (入王宮聚落衣), v.v. Uất Đa La Tăng có tên gọi khác là Thất Điều Ca Sa (七條袈裟), Thất Điều Y (七條衣), Thất Điều (七條), Thượng Y (上衣), Nhập Chúng Y (入衆衣), v.v.; được dùng khi lễ tụng, thính giảng, Bố Tát (s: upavasatha, p: uposatha, 布薩). An Đà Hội còn gọi là Ngũ Điều Y (五條衣), Nội Y (內衣), Trung Túc Y (中宿衣); là y mặc dùng vào lúc sinh hoạt hằng ngày, hay khi đi ngủ. Như trong Tuyển Tập Bách Duyên Kinh (撰集百緣經, Taishō Vol. 4, No. 200) quyển 7 có câu: “Phật tức cáo ngôn: 'Thiện lai Tỳ Kheo !' Tu phát tự lạc, Pháp Phục trước thân, tiện thành Sa Môn, tinh cần tu tập, đắc A La Hán quả, Tam Minh Lục Thông, cụ Bát Giải Thoát, chư thiên thế nhân, sở kiến kính ngưỡng (佛卽告言、善來比丘、鬚髮自落、法服著身、便成沙門、精懃修習、得阿羅漢果、三明六通、具八解脫、諸天世人、所見敬仰, Phật bèn nói rằng: 'Tỳ Kheo hãy khéo đến đây !' Râu tóc tự rơi rụng, Pháp Phục mang vào thân, bèn thành Sa Môn, siêng năng tu tập, chứng quả A La Hán, Ba Minh Sáu Thông, đầy đủ Tám Giải Thoát, Trời người trên đời, trông thấy kính ngưỡng).” Hay như trong Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Tripitaka Vol. 1, No. 1) quyển 17 lại có câu: “Bỉ ư hậu thời, thế trừ tu pháp, phục tam Pháp Y, xuất gia tu đạo, hành bình đẳng pháp (彼於後時、剃除鬚髮、服三法衣、出家修道、行平等法, vị ấy sau đó, cạo bỏ râu tóc, mặc ba Pháp Y, xuất gia tu đạo, hành pháp bình đẳng).” Trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 26 cũng có câu: “Triều đình tam khiển trọng thần giáng hương, tích hiệu Phật Huệ Viên Giám Phổ Tế Thiền Sư, tinh tứ Kim Lan Pháp Y (朝廷三遣重臣降香、錫號佛慧圓鑒普濟禪師、幷賜金襴法衣, triều đình ba lần cử sứ thần đến dâng hương, ban cho hiệu là Phật Huệ Viên Giám Phổ Tế Thiền Sư, và ban thưởng cho Pháp Y Kim Lan).” Trong Sa Di Ni Luật Nghi Yếu Lược (沙彌尼律儀要略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1122), phần Sự Sư Đệ Tam (事師第三, Hầu Thầy Thứ Ba) lại có đoạn: “Tảo khởi thời, đương tiên thanh tịnh trước Pháp Y, lễ Phật pháp, khước lễ sư (早起時、當先清淨著法衣、禮佛法、卻禮師, khi dậy sớm, trước phải thanh tịnh mang Pháp Y vào, lạy Phật pháp, rồi lạy thầy).”
Pháp phục
法服; C: făfú; J: hōfuku; |Y phục của tăng ni.
pháp phục
y phục của người xuất gia, vì người xuất gia mặc y phục đúng theo lời Phật dạy nên gọi là pháp phục.
; Dharma garment, the robe.
; Kasaya (skt)—Pháp Y hay áo cà sa của Tăng Ni—Dharma garment, the robe—The religious dress, general name of monastic garments.
Pháp phục 法服
[ja] ホウフク hōfuku ||| A monk's or nun's clothes. => Y phục của tăng ni.
pháp quang định
Samàdhi of the light of Truth, that of the bodhisattva in the first stage.
; Đèn chân lý—Bồ Tát sơ địa chứng đắc phép nầy thì có thể phóng ra tuệ quang (pháp quang định)—Samadhi the light of Truth, that of the bodhisattva in the first stage.
pháp quyến
(法眷) Cũng gọi Đồng môn, Đồng tham, Pháp thuộc, Pháp thân, Pháp duyên, Đạo hữu, Đạo cựu. Chỉ chung cho những người cùng tu hành đạo Phật, chủ yếu chỉ cho huynh đệ, đệ tử cùng theo 1 thầy, cùng trong 1 tông phái hoặc cùng học 1 pháp môn. Cứ theo Truyền pháp đường bi trong Bạch thị trường khánh tập quyển 41 ghi, có người từng hỏi Thiền sư Duy khoan (755- 817) ở chùa Hưng thiền về sự quan hệ đạo thuộc. Ngài Duy khoan nói rằng: Từ Tứ tổ Đạo tín trở về sau, Chính pháp tuy có các đời truyền nối, nhưng vẫn có gia phong và chi phái khác nhau, giống như ngành trên, ngành dưới ở thế gian. Còn về mối quan hệ pháp quyến giữa các gia phong, chi phái thì cũng giống như quan hệ chú bác, anh em của thế tục. Từ đầu đời Đường trở đi, giữa các phái có sự tranh chấp về dòng chính, dòng phụ. Trong các tông môn, Thiền tông đặc biệt coi trọng mối quan hệ tương thừa giữa thầy và trò. Trong pháp quyến, những vị có tuổi tác, thành tích, chức vị cao, gọi là Thượng pháp quyến, còn những vị chỉ lớn hơn về tuổi tác thì gọi là Pháp huynh. Ngoài ra, khi có vị nhận lệnh trụ trì 1 chùa viện, hàng huynh đệ pháp quyến của vị Tân trụ trì làm 1 lá sớ chúc mừng chùa viện ấy, gọi là Pháp quyến sớ. Còn những dịp như ngày đầu năm mới, kết hạ, giải hạ... pháp quyến của vị Trụ trì đến lễ vị Trụ trì thì gọi là Pháp quyến nhân sự. [X. điều Tôn túc thiên hóa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3; Thiền uyển thanh qui Q.6; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên; môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Pháp quán kinh
法觀經; C: făguānjīng; J: hōkankyō; |Trúc Pháp Hộ (竺法護) dịch.
Pháp quán kinh 法觀經
[ja] ホウカンキョウ Hōkankyō ||| The Faguan jing; translated by Dharmarakṣa 竺法護. T 611.15.240b-242a. => (c: Faguan jing); Trúc Pháp Hộ (s: Dharmarakṣa 竺法護) dịch.
pháp quán Sáu hạnh
(Lục hạnh quán): pháp quán của trí hữu lậu dùng để đoạn trừ mê lầm. Theo phép quán này, Ba cõi có chín phần (cửu địa), được phân thành Hạ địa và Thượng địa. Hành giả quán những phần thuộc về Hạ địa là thô xấu, khổ não, chướng ngại nên sanh lòng chán lìa (yếm); quán những phần thuộc về Thượng địa là an tĩnh, mầu nhiệm, xa lìa, từ đó sanh lòng vui thích, ham muốn (hân). Do năng lực của sự chán lìa và vui thích được khởi lên trong phép quán này mà lần lượt dứt trừ được các mối mê lầm thuộc về Hạ địa. Vì thế cũng gọi phép quán này là yếm hân quán (厭欣觀).
pháp quán tưởng mặt trời
Method of concentration on visualizing the sun.
pháp quả
(法果) Cao tăng Trung quốc, sống vào thời Bắc Ngụy, người Triệu quận (huyện Triệu, tỉnh Hà bắc). Năm 40 tuổi sư mới xuất gia. Sư giữ giới hạnh rất tinh nghiêm, siêng giảng diễn kinh điển. Trong năm Hoàng thủy (396- 397), vua Thái tổ nhà Bắc Ngụy triệu thỉnh sư về kinh đô, sắc giữ chức Đạo nhân thống, lãnh đạo chúng tăng. Sư thường được bàn quốc sự vớivua, Thái tổ rất tâm đầu hợp ý và càng kính trọng sư. Đến vua Thái tông, lần lượt ban cho sư các tước hiệu Phụ Quốc Nghi Thành Tử, Trung Tín Hầu, An Thành Công, sư đều cố từ không nhận. Sư không những có công đóng góp vào việc hưng thịnh của Phật giáo ở thời Bắc Ngụy, mà còn có công cố vấn trong các kế hoạch phát triển đất nước, mang lại an lạc cho nhân dân của triều đình. Trong năm Thái thường (416-423), sư thị tịch, thọ hơn 80 tuổi. Hoàng đế đến viếng 3 lần và truy tặng thụy hiệu Lão Thọ Tướng Quân Triệu Hồ Linh Công. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.7; thiên Bắc Ngụy trong Chi na Phật giáo sử nghiên cứu].
pháp sa
Kashgar (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Tự Điển, Kashgar từng là một vương quốc cổ ở trung Á—According to The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, Kashgar was an ancient Buddhistic kingdom in Central Asia.
pháp sai biệt tướng vi quá
(法差別相違過) Cũng gọi Pháp sai biệt tương vi nhân (Phạm: Dharma-vizewa-viruddha-hetu). Tiếng dùng trong Nhân minh. Là lỗi trái với ý nghĩa của danh từ sau (hậu trần), 1 trong 14 lỗi thuộc về Nhân, 1 trong 33 lỗi của Nhân minh. Pháp chỉ cho hậu trần(danh từ sau)của Tông(mệnh đề), Sai biệt chỉ cho tân từ(hậu trần) của Tông; đối lại với tiền trần(danh từ trước), tự tính của Tông mà đặc biệt gọi hậu trần là sai biệt. Trong Nhân minh, về trường hợp này, nếu đem ý ngầm của mình mà trình bày 1 cách công khai trên luận thức thì sợ bị lỗi, cho nên người lập luận mới dùng những chữ mập mờ gián tiếp để bày tỏ, hòng lừa được đối phương (người địch luận), nhưng cuối cùng lại tự chuốc lấy lỗi về mình. Chẳng hạn như phái Số luận đối với đệ tử Phật lập luận: Tông: Mắt là bị một cái khác dùng. Nhân: Vì có tính cách chứa chất mà thành. Dụ: Ví như đồ nằm. Vì học phái Số luận thừa nhận bản ngã là 1 thực tại có thật, nhưng đệ tử Phật thì chủ trương Vô ngã, không thừa nhận bản ngã. Cho nên trong luận thức trên, người lập luận không dám dùng từ bản ngã 1 cách trực tiếp, sợ mắc lỗi, mà dùng một cái khác để thay thế. Mục đích của người lập luận ở đây là thành lập 1 bản ngã, nên cố ý dùng những chữ mập mờ, mong phù hợp với ba tướng của Nhân, nhưng chính vì sự mập mờ ấy trong hậu trần của Tông mà trái với 2 tướng sau của Nhân, cho nên gọi là lỗi Pháp sai biệttương vi. [X.Nhân minh nhập chính lí luận; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.hạ; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa đoán; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.6; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Tứ Tương Vi, Nhân Minh).
pháp siêu
(法超) (456-526) Cao tăng Trung quốc, sống vào thời Nam triều, người Vô tích, Tấn lăng (thuộc tỉnh Giang tô), họ Mạnh. Năm 11 tuổi, sư theo ngài Tăng hộ xuất gia ở chùa Linh căn, sau sư theo ngài Trí xứng ở chùa An lạc chuyên học luật Thập tụng. Sau khi ngài Trí xứng thị tịch, sư vâng sắc chỉ giữ chức Đô ấp Tăng chính. Năm Phổ thông thứ 6 (525), vua Lương vũ đế thỉnh sư tuyên giảng về Luật ở điện Bình đẳng, vua thân hành đến thụ học. Năm Phổ thông thứ 7 (526), sư thị tịch, thọ 71 tuổi. Vua Vũ đế ban sắc an táng sư ở chùa Khai thiện tại núi Chung sơn. Sư có tác phẩm: Xuất yếu luật nghi 14 quyển.
pháp sơn
Buddha-truth mountain.
; Núi chân lý Phật Pháp—Buddha-truth mountain, i.e. the exalted dharma.
Pháp sư
法師; C: făshī; J: hōshi, hosshi; |1. Thầy truyền dạy giáo pháp; vị tăng hay ni hành xử như một người dẫn đạo cho chúng sinh (s: dharma-kathika; t: chos smra ba); 2. Theo Thập địa kinh (十地經) thì Pháp sư là người chuyên chỉ dạy về Bồ Tát thập địa. Kinh Pháp Hoa có giới thiệu 5 loại Pháp sư; 3. Người thông đạt xuất sắc giáo lí Phật pháp; 4. Chỉ một vị tăng hay ni.
pháp sư
Dharmabhanaka (S), Master of Discourse.
; Dharmabhànaka (S). A Buddhist teacher, master of the Law; five kinds are given: a custodian (of the sùtras), reader, intoner, expounder and copier.
; Nam nữ tu sĩ xuất gia đã thông đạt Phật pháp, mà hay đem tinh nghĩa của Phật pháp, dùng ngôn ngữ văn tự, phương tiện để giảng dạy cho người khác nghe, gọi là Pháp sư.
; Dharma-bhanaka (skt)—Expounder of the Law. 1) Bậc tu hành tinh thông Phật pháp, xứng đáng làm thầy của người khác—A Buddhist teacher—Master of the Law—Teacher of the Law—Dharma teacher (master). 2) Nhà sư chuyên giảng pháp—Có năm loại: A Buddhist monk who preaches the Buddha-truth. There are five different kinds: i) Thụ Trì Pháp Sư: A custodian of the sutras. ii) Đọc Kinh Pháp Sư: Reader. iii) Tụng Kinh Pháp Sư: Intoner. iv) Giải Thuyết Pháp Sư: Expounder. v) Thư Tả Pháp Sư: Copier.
; (法師) Phạm: Dharma-bhàịaka. Pàli: Dhamma-kathika. Cũng gọi Thuyết pháp sư, Đại pháp sư. Chỉ cho những người thông hiểu Phật pháp và có khả năng dắt dẫn chúng sinh tu hành. Nói theo nghĩa rộng thì Pháp sư là chỉ chung cho đức Phật và các vị đệ tử của Ngài, còn nói theo nghĩa hẹp thì danh từ Pháp sư chuyên chỉ cho các bậc tu hành thông hiểu kinh hoặc luật, gọi là Kinh sư hoặc Luật sư. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 18 (bản Bắc), Phật, Bồ tát và các vị Đại đệ tử của Phật đều biết pháp sâu xa vi diệu, lại biết rõ cả căn cơ lợi độn của chúng sinh mà tùy nghi thuyết giảng cho họ nghe, nên gọi là Đại pháp sư. Liên quan đến vấn đề tư cách của Pháp sư thì, theo luận Du già sư địa quyển 81, luận Thập trụ tì bà sa quyển 7 và Hoa nghiêm kinh sớ quyển 43 của ngài Trừng quán, Pháp sư phải có những điều kiện sau đây: 1. Có đủ 10 đức: Thông hiểu pháp nghĩa, có khả năng diễn thuyết, ở trong chúng không e sợ, tài hùng biện thao thao, có phương tiện khéo léo, tu hành đúng như pháp, đầy đủ uy nghi, dũng mãnh tinh tiến, thân tâm không mỏi mệt, thành tựu sức nhịn nhục. 2. Thực hành 4 pháp: a) Học rộng nghe nhiều, có tài văn chương. b) Biết rõ tướng sinh diệt của các pháp thế gian, xuất thế gian. c) Được thiền định, trí tuệ; trong các loại kinh pháp, có thể tùy thuận. d) Lời nói và việc làm phải ăn khớp với nhau. Phẩm Pháp sư trong kinh Pháp hoa quyển 4 và phẩm Pháp sư công đức quyển 6, căn cứ vào khả năng chuyên môn và lĩnh vực hoằng pháp khác nhau mà chia Pháp sư làm 5 loại: Thụ trì, đọc kinh, tụng kinh, giảng diễn và biên chép. Ngoài ra, ở Trung quốc, các bậc đạo cao đức trọng, học vấn uyên thâm như các ngài Đạo an, Tuệ viễn... được gọi là Pháp sư. Nhưng, đối với các nhà phiên dịch kinh, luật, luận có những cống hiến lớn lao, vượt trội như các ngài Cưu ma la thập, Huyền trang... thì phần nhiều được gọi là Tam tạng pháp sư để phân biệt với cách xưng hô Thiền sư, Luật sư v.v... [X. kinh Tạp a hàm Q.1, 12; kinh Phạm võng Q.hạ; luật Ngũ phần Q.3; Thập địa kinh luận Q.11; luận Thuận chính lí Q.44; Pháp hoa văn cú Q.8, phần đầu; Thích thị yếu lãm Q.thượng]. (xt. Ngũ Chủng Pháp Sư).
pháp sư bồ tát
Dharmika (S)Tên một vị Bồ tát.
pháp sư thập đức
(法師十德) Mười đức của vị Pháp sư. Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 43 của ngài Trừng quán thì 10 đức của vị Pháp sư là:1. Thiện tri pháp nghĩa: Thông hiểu nghĩa của các pháp. Tức là Bồ tát dùng trí vô ngại, biết rõ yếu nghĩa của tất cả các pháp. 2. Năng quảng tuyên thuyết: Có khả năng thuyết giảng 1 cách rộng rãi. Tức là Bồ tát dùng trí tuệ biện tài, tuyên thuyết diệu pháp của đức Như lai cho chúng sinh nghe 1 cách rộng khắp. 3. Xử chúng vô úy: Đứng trước đại chúng không sợ hãi. Tức là Bồ tát ở giữa đại chúng khéo nói các pháp yếu, có khả năng giải đáp mọi vấn nạn, không hề sợ hãi.4. Vô đoạn biện tài: Tài biện luận thao thao. Tức Bồ tát có biện tài vô ngại, diễn nói tất cả các pháp, trải vô lượng kiếp, như dòng nước chảy, không gián đoạn. 5. Xảo phương tiện thuyết: Diễn nói khéo léo. Tức Bồ tát có phương pháp thích hợp, tùy theo các loại trình độ, giảng giải tất cả pháp, làm cho mọi người đều thông hiểu. 6. Pháp tùy pháp hành: Tu hành đúng như pháp. Tức Bồ tát nói pháp, khiến tất cả chúng sinh làm theo đúng như pháp, tùy thuận tu các hạnh thù thắng. 7. Uy nghi cụ túc: Đầy đủ uy nghi. Tức trong 4 uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm, Bồ tát đều cẩn trọng giữ gìn, không thiếu sót, trái phạm, khiến mọi người kính ngưỡng. 8. Dũng mãnh tinh tiến: Mạnh mẽ tiến lên. Tức Bồ tát phát tâm mạnh mẽ, tiến tu tất cả thiện pháp, dắt dẫn chúng sinh cùng tiến, không lui sụt. 9. Thân tâm vô quyện: Thân tâm không mỏi mệt. Tức thân tâm Bồ tát nghiêm trang, tu các hạnh thù thắng, thường khởi từ tâm tiếp dắt chúng sinh, không hề biếng nhác mỏi mệt. 10. Thành tựu nhẫn lực: Tức Bồ tát nhờ sức tu tập tất cả hạnh nhịn nhục mà thành tựu Vô sinh pháp nhẫn. (xt. Pháp Sư).
Pháp sư 法師
[ja] ホウシ ホッシ hōshi hosshi ||| (1) A teacher of the dharma; a monk or nun who acts as a guide to sentient beings (Skt. dharma-kathika; Tib. chos smra ba). (2) In the Shidijing 十地經, a teacher who specializes in the instruction of the ten bodhisattva stages. In the Lotus Sutra 法華經, five types of dharma-teachers are introduced. (3) A person who knows the Buddhist teachings well. (4) A monk or nun. => 1. Thầy truyền dạy giáo pháp; vị tăng hay ni hành xử như một người dẫn đạo cho chúng sinh (s: dharma-kathika; t: chos smra ba). 2. Trong Thập địa kinh, là người chuyên chỉ dạy cho hàng Bồ-tát thập địa. Trong kinh Pháp Hoa, có giới thiệu 5 loại Pháp sư. 3. Người thông đạt xuất sắc giáo lý Phật pháp. 4. Một vị tăng hay ni.
pháp số
The categories of Buddhism such as three realms, five skandhas, four noble truths, six spheres, etc.
; Phạm trù hay số của các pháp môn như tam giới, ngũ uẩn, ngũ vị, tứ đế, lục đạo, mười hai nhân duyên, ba mươi bảy phẩm trợ đạo, vân vân—The categories of Buddhism such as the three realms, five skandhas, five regions, four dogmas, six paths, twelve nidanas, and thirty-seven Aids to Enlightenment, etc.
; (法數) Cũng gọi Danh số, Sự số. Chỉ cho những danh từ trong Phật giáo có chữ chỉ số đứng trước. Như: Tam giới (3 cõi), Tứ đế(4 đế), Ngũ uẩn(5 uẩn), Lục độ (6 độ), Bát chính đạo(8 chính đạo), Thập nhị nhân duyên (12 nhân duyên), Ngũ vị thất thập ngũ pháp (5 vị 75 pháp) v.v... Thông thường các số này được ghi theo hình thức tăng 1 số từ 1 theo thứ tự đến 2, 3, 4 v.v... Kinh Tạp a hàm, kinh Bản sự... lấy pháp số làm trung tâm để giải thích các kinh nói về pháp số. Kinh Pháp tập danh số cũng là kinh điển liệt kê pháp số. Lí sư chính đời Đường biên soạn Pháp môn danh nghĩa tập, Nhất như đời Minh biên soạn Đại minh tam tạng pháp số... đều là các trứ tác sưu tập các pháp số. Ngoài ra, các sách đồng loại còn có: Đại tạng pháp số, Tạng thừa pháp số, Chư thừa pháp số... lưu hành rất rộng.
pháp số danh tập kinh dị bản
Dharmasaṃgraha (S)Tên một bộ luận kinh.
pháp sự
Religious affairs, eg assemblies and services; discipline and ritual.
; Phật Sự—Dharma work—Religious affairs.
; (法事) Cũng gọi Pháp yếu, Phật sự. Chỉ cho các việc làm có liên quan đến Phật pháp như tụng kinh, giảng kinh, trai hội... hoặc chỉ cho sự tu hành. Pháp trụ kí (Đại 49, 14 thượng) nói: Nay ở trong Chính pháp của đức Phật Thích ca mâu ni làm các pháp sự, để gieo trồng mầm lành. [X. kinh Lăng nghiêm Q.1]. (xt. Pháp Hội).
pháp sự tán
(法事贊) Cũng gọi Tịnh độ pháp sự tán. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thiện đạo soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này nói về cách thức đọc tụng kinh A di đà, là hình thức sám hối, cúng dường theo lối văn kinh có xen lẫn văn tán, phần nhiều được sử dụng trong tông Tịnh độ mỗi khi có pháp sự. -Quyển thượng: Trước hết, nêu kệ phụng thỉnh, khải bạch, triệu thỉnh, tam lễ, biểu bạch, tán văn...; kế đến, nói về thứ tự hành lễ như: Hành đạo tán Phạm kệ, tán văn, thất chu hành đạo(đi nhiễu 7 vòng), phi tâm sám hối(dãi bày sám hối), phát nguyện v.v... -Quyển hạ: Chia toàn văn kinh A di đà làm 17 đoạn, mỗi đoạn đều có văn tán, đồng thời nói về các nghi thức: Sám hối 10 điều ác, hậu tán, nhiễu 7 vòng, tán Phật chú nguyện, 7 lễ kính và tùy ý... Sách này dựa theo pháp Bát chu tam muội để nói rõ pháp tắc tụng kinh hành đạo. Trong sách cũng viện dẫn tướng địa ngục nói trong các kinh Hiền ngu, kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ), kinh Địa ngục, kinh Quán Phật tam muội...
pháp thanh tịnh
Dharmaviraja (skt)—Chân lý thanh tịnh—Truth immaculate.
Pháp Thiên
法天; S: dharmadeva;|Tên một vị tăng Ấn Ðộ đến Việt Nam rất sớm trong thế kỉ thứ 5. Tương truyền rằng Sư cùng Bồ-đề Ðạt-ma, Sơ tổ Thiền Trung Quốc đến Việt Nam (Giao Chỉ) trước rồi sau đó Bồ-đề Ðạt-ma mới đi Trung Quốc. Pháp Thiên đã giảng dạy về các phương pháp Thiền quán cho người Việt Nam. Học trò có tiếng của Sư là Huệ Thắng.
pháp thiên
Dharmadeva (skt)—Một vị Tăng tại tu viện Na Lan Đà, dưới tên Pháp Thiên ngài đã dịch 46 tác phẩm từ năm 973 đến năm 981, và dưới tên Pháp Hiền ngài đã dịch 72 tác phẩm từ năm 982 đến năm 1001—A monk from Nalanda-samgharama who translated forty-six works under this name from 973 to 981, and under the name of Dharmabhadra seventy-two works from 982-1001.
; (法天) (?-1001) Cao tăng, người nước Ma yết đà thuộc Trung Ấn độ. Sư vốn ở chùa Na lan đà. Vào năm Khai bảo thứ 6 (973), sư đến Trung quốc. Lúc đầu, sư ở Bồ tân, Lộc châu, dịch kinh Thánh vô lượng thọ, Thất Phật tán... do sa môn Pháp tiến ở phủ Hà trung nhuận văn.Năm Thái bình hưng quốc thứ 5 (980) đời vua Thái tông, do quan châu phủ dâng biểu tiến cử, vua rất mừng liền triệu sư vào kinh đô ban cho áo đỏ, đồng thời, vua ban sắc xây dựng viện Dịch kinh. Hai năm sau (982), sư cùng các vị Thiên tức tai, Thí hộ... được vua triệu vào ở trong viện Dịch kinh. Tại đây, các vị ấy cùng dịch các bản kinh tiếng Phạm do mình mang đến. Đến tháng 7 năm ấy sư dịch xong bộ kinh Đại thừa thánh cát tường trì thế đà la ni, được vua ban hiệu Truyền Giáo Đại Sư. Năm Hàm bình thư 4 (1001), sư thị tịch, vua ban thụy hiệu Huyền Giác Đại Sư. Các dịch phẩm của sư gồm 46 bộ, 71 quyển. Ngoài ra, Phật tổ thống kỉ quyển 33 cho rằng sư và ngài Pháp hiền –vị tăng dịch kinh cùng thời đại– chỉ là 1 người. [X. Tống cao tăng truyện Q.3; Đại trung tường phù pháp bảo lục Q.3-12].
pháp thiện
Dharmapriya (S), Fa chan (C)Đàm ma TyTên một vị Sa môn Ấn độ dịch kinh tại Kiến Khương năm 400 Tên một vị sư. Xem Dharmapriya.
pháp thiệt
Xem Đàm Đế.
pháp thoại
Dharma talk.
; (法話) Chỉ chung cho những lời nói, bàn luận có liên quan đến Phật giáo. Pháp thoại thường kể những câu chuyện cổ, dẫn chứng nhiều thí dụ làm cho mọi người vui, sau đó mới chỉ dạy giáo lí, khiến họ cảm nhận được niềm pháp lạc mà phát tâm bồ đề. [X. phẩm Tứ thiên vương trong kinh Kim quang minh Q.6; phẩm Quỉ thần trong kinh Kim quang minh Q.13].
pháp thuyền
The barque of Buddha-truth.
; Pháp Châu—Thuyền Bát Nhã (thuyền Phật pháp) đưa con người từ biển sanh tử luân hồi sang bờ giác ngộ Niết bàn—The barque of Buddha-truth which ferries men out from the sea of mortality and reincarnation to enlightenment and nirvana.
; (法船) I. Pháp Thuyền. Thuyền pháp. Phật pháp có năng lực cứu vớt chúng sinh đang chìm đắm trong biển sinh tử để đưa đến bờ Niết bàn giải thoát, giống như con thuyền có khả năng đưa người qua sông, vì thế ví dụ Phật pháp như chiếc thuyền, nên gọi là Pháp thuyền. Kinh Tâm địa quán quyển 1 (Đại 3, 295 thượng) nói: Đức Phật luôn là chiếc thuyền diệu pháp, có năng lực cắt đứt dòng ái dục mà vượt lên bờ giải thoát. II. Pháp Thuyền. Chỉ cho những cái thuyền làm bằng giấy mà các chùa dùng để đốt vào dịp lễ Vu lan, rằm tháng 7, nhằm tế độ vong linh của những người vô duyên, cầu cho họ được siêu thoát. Yên kinh tuế thời kỉ pháp thuyền nói: Trong ngày Trung nguyên, các chùa viện đều làm Pháp thuyền, có cái dài tới vài trượng, đem đốt vào buổi chiều.
Pháp Thuận
法順; 914-990|Thiền sư Việt Nam thuộc đời thứ 10 của dòng thiền Tì-ni-đa Lưu-chi.|Sư họ Ðỗ, xuất gia thụ giới từ nhỏ với Thiền sư Long Thụ. Trong thời nhà Tiền Lê mới dựng cơ nghiệp, Sư hay được vua Lê Ðại Hành mời vào triều luận bàn chính sự. Về sau Sư rút lui không nhận phong thưởng, vua Lê rất kính trọng, thường gọi là Ðỗ Pháp sư.|Năm 986 nhà Tống sai sứ là Lí Giác sang phong tước hiệu cho Lê Ðại Hành, vua sai Sư giả làm lái đò đón sứ. Trên sông, thấy hai con ngỗng bơi, Lí Giác ngâm:|鵝鵝兩鵝鵝。仰面向天涯|Nga nga lưỡng nga nga,|Ngưỡng diện hướng thiên nhai.|*Song song ngỗng một đôi,|Ngửa mặt ngó ven trời.|Sư liền ngâm tiếp (bản dịch của Thích Mật Thể):|白毛鋪綠水。紅掉擺青波|Bạch mao phô lục thuỷ|Hồng trạo bãi thanh ba.|*Lông trắng phơi dòng biếc,|Sóng xanh chân hồng bơi.|Ngày nọ vua Lê Ðại Hành hỏi vận nước thế nào, Sư đáp (bản dịch của Thích Thanh Từ):|國祚如藤絡。南天裏太平|無爲居殿閣。處處息刀兵|Quốc tộ như đằng lạc, nam thiên lí thái bình|Vô vi cư điện các, xứ xứ tức đao binh.|*Vận nước như dây cuốn,|Trời Nam sống thái bình|Rảnh rang trên điện các|Chốn chốn dứt đao binh.|Niên hiệu Hưng Thống thứ hai (990), Sư không bệnh, an nhiên tịch, thọ 76 tuổi. Tác phẩm quan trọng nhất của Sư là Bồ Tát hiệu sám hối văn.
; 法順|Ðế Tâm Ðỗ Thuận
pháp thuận
Fashun (C)Tên một vị sư.
; Thiền sư Pháp Thuận (914-990)—Zen Master Pháp Thuận (914-990)—Thiền sư Việt Nam, sanh năm 914 tại Bắc Việt. Sư xuất gia từ thuở còn rất nhỏ, sau thọ giới với Thiền sư Long Thọ Phù Trì và sau đó trở thành Pháp tử, đời thứ mười của dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Vua Lê thường mời sư vào triều bàn việc chánh trị và ngoại giao và xem sư như là Quốc Sư. Sư thị tịch năm 990, thọ 76 tuổi—Zen master Pháp Thuận, a Vietnamese Zen master, born in 914 in North Vietnam. He left home since he was very young. Later he received precepts from Zen Master Long Thọ Phù Trì and became the Dharma heir of the tenth lineage of the Vinitaruci Sect. He was always invited to the Royal Palace by King Lê to discuss the national political and foreign affairs. King Lê always considered him as the National Teacher. He passed away in 990 A.D. at the age of 76.
; (法順) (557-640) Cao tăng Trung quốc, Sơ tổ tông Hoa nghiêm, sống vào đời Đường, người Đôn hoàng (có thuyết cho là người Vạn niên, Ung châu, nay là Trường an, tỉnh Thiểm tây), họ Đỗ, cho nên người đời gọi là Đỗ thuận, cũng gọi Đế tâm tôn giả, Đôn hoàng bồ tát. Lúc nhỏ, sư thờ ngài Tăng trân ở chùa Nhân thánh làm thầy, tính tình thuần hậu, thông minh tuyệt vời, đặc biệt đối với giáo học Hoa nghiêm, sư đã đạt đến chỗ cao siêu vi diệu, vì thế sư được tôn xưng là Hoa Nghiêm Hòa Thượng. Ban đầu, sư giáo hóa ở vùng Lưỡng hà, nơi có rất nhiều linh tích. Cuối đời, sư trở về chùa Nhân thánh. Thời Thái tông, vua thường thỉnh sư vào cung để hỏi về giáo lí sâu xa. Hoàng gia và các triều thần đều rất cung kính sư. Năm Trinh quán 14 (640), sư thị tịch, thọ 84 tuổi. Sư có các tác phẩm: Hoa nghiêm pháp giới quán môn, Thập môn thực tướng quán, Hội chư tông biệt kiến tụng. [X. Tục cao tăng truyện Q.25; Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.3, 4; Chung nam sơn Đỗ thuận thiền sư duyên khởi; Phật tổ thống kỉ Q.29, 39, 53; Pháp giới tông ngũ tổ lược kí].
pháp thành
Dharma as a citadel against the false; the secure nirvana abode; the sùtras as the guardians ođ truth.
; Phật pháp là kinh thành ngăn giữ không cho tà ngụy xâm nhập; kinh điển là thành trì bảo hộ chân lý—Dharma as a citadel against the false; the secure nirvana abode—The sutras as the guardian of truth.
; (法成) Chính pháp có thể chặn đứng tà pháp, giống như thành trì có năng lực ngăn ngừa giặc ngoại xâm, cho nên gọi là Pháp thành. Do đó, tất cả kinh pháp cũng gọi là Pháp thành, vì kinh pháp có khả năng giữ gìn chính pháp. Lại nữa, diệu quả Niết bàn là nơi yên thân, nên cũng gọi là Pháp thành. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 366 thượng) nói: Giữ vững pháp thành, mở rộng pháp môn, rửa sạch ô uế, trong sáng thanh tịnh, Phật pháp rực rỡ, lưu bố chính pháp, hóa độ chúng sinh. [X. phẩm Phật quốc kinh Duy ma; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Tuệ viễn)].
pháp thành tựu
Siddhi (S). Ceremony successful.
; Siddhi (skt)—Sự thành tựu của giáo pháp là không thể nghĩ bàn—The success of the law is unconceivable.
pháp thái
(法泰) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Lương, Trần thuộc Nam triều, trụ ở chùa Định lâm tại Kiến khang (nay là Nam kinh, Giang tô), nổi tiếng ở đời Lương. Đến đời Trần, sư cùng với các vị Tuệ khải... đến chùa Chế chỉ ở Quảng châu tham gia công việc dịch kinh của ngài Chân đế với nhiệm vụ ghi chép và trình bày văn nghĩa, tất cả hơn 50 bộ kinh luận. Ngoài ra sư còn dịch chung với ngài Chân đế bộ Luật nhị thập nhị minh liễu luận (gọi tắt: Minh liễu luận) và Sớ 5 quyển. Năm Thái kiến thứ 3 (571) đời Trần, sư trở về Kiến khang giảng dạy luận Nhiếp đại thừa và luận Câu xá. Sau, sư lại lên miền Bắc để hoằng truyền học thuyết Nhiếp luận. [X. Tục cao tăng truyện Q.1].
Pháp Thân
(s: dharma-kāya, 法身): tên gọi một trong 3 thân của Phật, gồm Pháp Thân, Báo Thân (報身) và Ứng Thân (應身). Với ý nghĩa là thân thể của chân lý (pháp), Pháp Thân là đương thể chân lý vĩnh viễn bất biến, là đức Phật lý tánh không sắc không hình, đem lại ý nghĩa mang tính nhân cách cho lý thể của chân như, còn được gọi là Pháp Thân Phật, Pháp Tánh Thân, Tự Tánh Thân, Như Như Phật, Như Như Thân, Đệ Nhất Thân, v.v. Đây là nhân cách hóa Phật tánh, tượng trưng cho Phật pháp tuyệt đối, chân lý không nơi đâu mà không hiện hữu, bao hàm khắp tất cả mọi nơi. Đức Phật là đấng giác ngộ, nên Pháp Thân là Giác Tánh (覺性, tánh giác ngộ), Báo Thân là Giác Tướng (覺相, tướng giác ngộ) và Ứng Thân là Giác Dụng (覺用, sự diệu dụng của giác ngộ). Hơn nữa, Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) có lập ra Tam Pháp Thân (三法身, ba loại Pháp Thân), gồm Pháp Hóa Sanh Thân (法化生身), Ngũ Phần Pháp Thân (五分法身) và Thật Tướng Pháp Thân (實相法身). Pháp Hóa Sanh Thân là hóa thân Phật do pháp tánh hóa hiện; Ngũ Phần Pháp Thân là thân thể có 5 phần công đức như Giới, Định, Tuệ, Giải Thoát và Giải Thoát Tri Kiến. Thật Tướng Pháp Thân là thật tướng của các pháp vốn có tánh Không. Bên cạnh đó, cũng có Tam Pháp Thân do Thiên Thai Tông lập ra, gồm Không Pháp Thân (空法身, Pháp Thân của Tiểu Thừa), Tức Giả Pháp Thân (卽假法身, Pháp Thân của Đại Thừa Biệt Giáo) và Tức Trung Pháp Thân (卽中法身, Pháp Thân của Đại Thừa Viên Giáo). Như trong Niệm Phật Khởi Duyên Di Đà Quán Kệ Trực Giải (念佛起緣彌陀觀偈直解, CBETA No. 1195) có giải thích về Pháp Thân rằng: “Pháp Thân giả, tức Như Lai Tạng Đại Niết Bàn thể, sanh diệt tâm diệt, chơn như tâm hiện, tức danh Pháp Thân; thử thân vô dộ khả lai, vô độ khả khứ, bổn Pháp Giới Thân, châu biến nhất thiết (法身者、卽如來藏大涅槃體、生滅心滅、眞如心現、卽名法身、此身無土可來、無土可去、本法界身、周遍一切, Pháp Thân tức là thể của Như Lai Tạng Đại Niết Bàn, tâm sanh diệt mà diệt, thì tâm chơn như hiển hiện, tức gọi là Pháp Thân; thân này không quốc độ nào có thể đến, không quốc độ nào có thể đi, vốn là thân của Pháp Giới, biến khắp tất cả).”
Pháp thân
法身; C: făshēn; J: hōshin; S: dharmakāya|1. Theo giáo lí Hữu bộ là lời dạy chân thực của Đức Phật, hoặc là pháp vi diệu trong Thập lực. Kinh sách ghi lại giáo pháp; 2. theo giáo lí Đại thừa chung, Pháp thân là tên gọi chỉ cho sự hiện hữu tuyệt đối, sự biểu hiện của mọi thực thể tồn tại. Là chân thể của thực tại. Đức Phật như là nguyên lí vĩnh hằng. Thể tính của hiện hữu vốn thường thanh tịnh, không một tướng phân biệt, đồng đẳng với tính không; 3. Một trong Tam thân của Phật. Thân pháp giới của Phật – là chân thân vượt ngoài sắc tướng. Là căn bản của tất cả các pháp; 4. (Giáo) pháp như là thân Phật, khác với thân thể vật lí của Đức Phật; 5. Như Lai tạng (s: tathāgatagarbha); 6. Bốn loại Pháp thân (Tứ chủng Pháp thân 四種法身); 7. Theo luận Đại thừa khởi tín, Pháp thân được đồng nhất với Nhất tâm; 8. Theo Bạch Ẩn (白隱, j: hakuin), là 1 trong những loại công án. Pháp thâh công án là công án giúp sáng tỏ nguyên lí thực tại tuyệt đối (Phật tâm) để siêu việt mọi hiện hữu; 9. Theo giáo lí Duy thức, Pháp thân có đủ Pháp giới thanh tịnh, cũng như Đại viên kính trí. Xem Ba thân
pháp thân
Dharma-Body, Dharma-kāya (S), Sabbāvakāya (P), Hosshin (J), Dharmakāya (S), Svabhavikakāya (S), ch ku (T), Sabbāvakāya (P), Dharma-body Tự tính thân. Thể tâm linh cốt yếu của Phật, không có sanh diệt, không hình sắc cũng không có không hình sắc, ngoài ba dục giới, chỉ có chư Phật mới có thể nhìn thấy.
; Dharmakaya (S), Hosshimbutsu (J). Embodiment of Dharma, body of the Law, Cosmic body of the Buddha; the ultimate reality, the essence of all things.
; Tức là bản thể của tự tánh cùng khắp không gian thời gian, nó vô hình vô thanh, mà hay hiện hình hiện thanh, như như bất động mà cùng tột biến hóa, tất cả năng lực đều sẵn đầy đủ.
; Dharmakaya (skt). (A) Nghĩa của Pháp thân—The meanings of Dharmakaya: 1) Pháp thân là cái thân của Pháp, theo đó Dharma có nghĩa là phép tắc, tổ chức, cơ cấu, hoặc nguyên lý điều hành. Nhưng chữ Dharma còn có nhiều nghĩa sâu xa hơn, nhất là khi ghép với chữ Kaya thành Dharmakaya. Nó gợi lên một cá thể, một tánh cách người. Chân lý tối cao của đạo Phật không phải chỉ là một khái niệm trừu tượng như vậy, trái lại nó sống động với tất cả ý nghĩa, thông suốt, và minh mẫn, và nhất là với tình thương thuần túy, gột sạch tất cả bệnh tật và bợn nhơ của con người: Dharmakaya is usually rendered “Law-body” where Dharma is understood in the sense of of “law,” “organization,” “systematization,” or “regulative principle.” But really in Buddhism, Dharma has a very much more comprehensive meaning. Especially when Dharma is coupled with Kaya. Dharmakaya implies the notion of personality. The highest reality is not a mere abstraction, it is very much alive with sense and awareness and intelligence, and, above all, with love purged of human infirmities and defilements. 2) Pháp thân hay chân thân của Phật, thân thứ nhất trong tam thân Phật—Dharma body—Embodiment of truth and Law—The spiritual of true body—Nirmanakaya—The transformation Body of the Buddha—The Body-of-form of all Buddhas which is manifested for the sake of men who cannot yet approach the Dharmakaya—The formless true body of Buddhahood. The first of the Trikaya. 3) Pháp thân là một quan niệm hệ trọng trong giáo lý Phật giáo, chỉ vào thực tại của muôn vật hoặc pháp: Dharmakaya or the law body is an important conception in Buddhist doctrine of reality, or things. 4) Theo Thiền Sư D.T. Suzuki trong Cốt Tủy Đạo Phật, Pháp Thân không có trí và bi. Pháp thân tự nó là trí hoặc là bi, tùy lúc ta cần nhấn mạnh ở mặt nầy hay mặt khác. Nếu ta hình dung Pháp thân như hình ảnh hoặc phản ảnh của chính ta sẳn có về con người là chúng ta lầm. Pháp thân không hề có thứ thân nào mường tượng như vậy. Pháp Thân là Tâm, là miếng đất của hành động, tại đó bi và trí hòa đồng trong nhau, chuyển hóa cái nầy thành cái kia, và gây thành nguồn năng lực kích động thế giới giác quan và tri thức: According to Zen Master D.T. Suzuki in the Essence of Buddhism, the Dharmakaya is not the owner of wisdom and compassion, he is the Wisdom or the Compassion, as either phase of his being is emphasized for some special reason. We shall miss the point entirely if we take him as somewhat resembling or reflecting the human conception of man. He has no body in the sense we have a human body. He is spirit, he is the field of action, if we can use this form of expression, where wisdom and compassion are fused together, are transformed into each other, and become the principle of vitality in the world of sense-intellect. 5) Theo triết học Trung Quán, Pháp là bản chất của vật tồn hữu, là thực tại chung cực, là Tuyệt đối. Pháp thân là tánh chất căn bản của Đức Phật. Đức Phật dùng Pháp thân để thể nghiệm sự đồng nhất của Ngài với Pháp hoặc Tuyệt Đối, và thể nghiệm sự thống nhất của Ngài với tất cả chúng sanh. Pháp thân là một loại tồn hữu hiểu biết, từ bi, là đầu nguồn vô tận của tình yêu thương và lòng từ bi. Khi một đệ tử của Phật là Bát Ca La sắp tịch diệt, đã bày tỏ một cách nhiệt thành sự mong muốn được trông thấy Đức Phật tận mắt. Đức Phật bảo Bát Ca Lê rằng: “Nếu ngươi thấy Pháp thì đó chính là thấy ta, ngươi thấy Ta cũng chính là thấy Pháp.”—According to the Madhyamaka philosophy, Dharma is the essence of being, the ultimate Reality, the Absolute. The Dharmakaya is the esential nature of the Buddha. As Dharmakaya, the Buddha experiences his identity with Dharma or the Absolute and his unity with all beings. The Dharmakaya is a knowing and loving, an inexhaustible fountain head of love and compassion. When the Buddha's disciple, Vakkali, was on his death, he addressed his desire to see the Buddha in person. On that occasion, the Buddha remarked: “He who sees the Dharma sees Me. He who sees Me sees the Dharma.” (B) Phân loại Pháp Thân—Categories of Dharmakaya: 1) Hai loại Pháp Thân—Two kinds of Dharmakaya: a) Tổng Tướng Pháp Thân: The unity of dharmakaya. b) Biệt Tướng Pháp Thân: The diversity of dharmakaya. 2) Hai loại Pháp thân khác—Other two kinds of Dharmakaya: Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, có hai loại Pháp Thân là bản thân giáo pháp và bản thân lý thể—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, Dharmakaya has two senses: a) Bản thân giáo pháp: Scripture-body—Chỉ cho giáo điển tồn tại làm biểu tượng cho bản thân của Phật sau khi ngài khuất bóng—Scripture-body means that the teaching remains as representative of the body after the Buddha's demise. b) Bản thân lý thể: Ideal-body—Chỉ cho giác ngộ như là bản thân Vô tướng—The Ideal-body means the Enlightenment as a Formless-body. ** For more information, please see Nhị Pháp Thân, Tam Pháp Thân, and Tam Thân Phật.
; (法身) Phạm: Dharma-kàya. Pàli: Dhamma-kàya. Cũng gọi Pháp Phật, Lí Phật, Pháp thân Phật, Tự tính thân, Pháp tính thân, Như như Phật, Thực Phật, Đệ nhất thân. Chỉ cho chính pháp do Phật nói, pháp vô lậu Phật đã chứng và tự tính chân như Như lai tạng của Phật. Là 1 trong 2 thân, 1 trong 3 thân. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển thượng và Phật địa kinh luận quyển 7, thì các bộ phái Tiểu thừa cho rằng giáo pháp đức Phật đã nói, pháp bồ đề phần Ngài đã giảng và pháp vô lượng công đức Ngài đã chứng được đều là Pháp thân. Đại thừa thì ngoài những pháp trên ra, còn cho rằng Tự tính chân như tịnh pháp giới, vô lậu vô vi, vô sinh vô diệt... đều là Pháp thân. Trong Đại thừa cũng có nhiều thuyết về Pháp thân. 1. Nhà Duy thức chia Pháp thân làm 2 loại: Tổng tướng và Biệt tướng. Tổng tướng pháp thân là gọi chung cho 3 thân, tức là Nhất đại công đức pháp thân, lấy Ngũ pháp sự lí làm thể. Còn Biệt tướng pháp thân thì chỉ cho Tự tính thân trong 3 thân, lấy chân như pháp giới thanh tịnh làm thể. 2. Nhà Tam luận thì lấy chân không của chân như thực tướng bất khả đắc làm Pháp thân. 3. Luận Đại thừa khởi tín thì lấy Dụng đại của chân như làm ý nghĩa Pháp thân. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 579 trung) nói: Dứt hết vô minh, thấy được Pháp thân thì tự nhiên có cái dụng bất khả tư nghị của các nghiệp, tức cùng với chân như ở khắp các nơi, nhưng mà không có cái tướng dụng có thể nắm bắt được. Vì sao? Vì thân của chư Phật Như lai chỉ là cái tướng trí của Pháp thân, là Đệ nhất nghĩa đế, không có cảnh giới thế đế, lìa mọi sự tạo tác, chỉ tùy theo cơ duyên thấy nghe của chúng sinh mà làm cho được lợi ích, cho nên gọi là Dụng. Đây tức là lập Pháp thân lí trí bất nhị. Thân của chư Phật Như lai là Pháp thân trí tướng, vì Dụng đại của Pháp thân là bất khả tư nghị, cho nên tùy theo cơ duyên thấy nghe của chúng sinh khác nhau mà khiến cho được lợi ích của sự giáo hóa. Bởi thế, Dụng đại của chân như là dụng tức vô dụng, nhưng cái công dụng vi diệu của nó lại vô biên. Thuyết Pháp thân này chính là cơ sở lập thuyết của các nhà Nhất thừa Hoa nghiêm, Thiên thai... 4. Nhà Thiên thai chủ trương quan điểm Phật thân là 3 thân tương tức, vì thế cho rằng Pháp thân chẳng những chỉ là thân Như lai ở khắp mọi nơi, mà còn tức là Báo thân, Ứng thân và ngược lại. 5. Nhà Hoa nghiêm lấy Phân thân Phật Tì lô giá na đầy đủ 10 thân làm Giáo chủ, cho rằng 10 thân(thân Bồ đề, thân Nguyện, thân Hóa, thân Lực trì, thân Ý sinh, thân Tướng hảo, thân Uy thế, thân Phúc đức, thân Pháp và thân Trí) tương tức dung nhập với Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. 6. Nhà Chân ngôn lấy 6 đại: Địa, thủy, hỏa, phong, không, thức làm Pháp thân của Đại nhật Như lai, cũng gọi Pháp giới thân, Lục đại pháp thân. Pháp thân lục đại này là sắc tướng sẵn có, có thể dùng ngôn ngữ thuyết pháp. Ngoài ra, 4 thân: Tự tính, Thụ dụng, Biến hóa và Đẳng lưu đều gọi là Pháp thân, nếu thêm Lục đại pháp thân vào nữa, thì gọi là Ngũ chủng pháp thân. [X. kinh Vô thượng y Q.thượng; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng, hạ; luận Phật tính Q.4; luận Kim cương bát nhã Q.thượng; luận Thành duy thức Q.10; Chú duy ma kinh Q.3; Thắng man kinh bảo quật Q.3, phần cuối, Thanh lương huyền đàm Q.3; Biện hoặc chỉ nam Q.3; Pháp hoa huyền luận Q.9; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3]. (xt. Tự Tính Thân, Phật Thân, Tượng Trưng Chủ Nghĩa).
pháp thân bồ tát
See Pháp Thân Đại Sĩ.
; (法身菩薩) Cũng gọi Pháp thân đại sĩ. Chỉ cho Bồ tát từ Thập địa trở lên, nhờ công đức tu hành nhiều kiếp, đã dứt trừ được 1 phần vô minh, hiển hiện 1 phần pháp tính.Luận Đại trí độ quyển 38 (Đại 25, 342 thượng) nói: Pháp thân bồ tát đoạn trừ kết sử(phiền não), được 6 thứ thần thông, Sinh thân bồ tát không đoạn trừ kết sử, hoặc lìa dục, được 5 thứ thần thông.
pháp thân của pháp tánh
Dharmatā-dharmakāya (S), Dharma-body of Dharma-nature Hossho hosshin (C)Một trong hai loại pháp thân. Pháp thân này là pháp thân thật và cần yếu đối với chư Phật và chư Bồ tát.
pháp thân huệ mệnh
See Pháp mệnh.
pháp thân hóa sanh
The dharmakaya, or spiritual body, born or formed on a disciple's conversion.
pháp thân kí
(法身記) Đối lại: Ứng thân kí. Chỉ cho sự thụ kí của Pháp thân Phật. Theo phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa quyển 5, thì vô lượng Bồ tát khi nghe đức Phật nói về thọ mệnh lâu dài, liền tăng thêm trí Trung đạo và giảm bớt sinh tử biến dịch mà nhận được sự thụ kí Pháp thân Phật của quả Diệu giác tột cùng. Nhưng hàng Nhị thừa đã nhận Ứng thân kí ở Tích môn, tức là 8 tướng thành Phật, nếu khi được nghe đức Phật mở bày Bản môn thì sẽ lại được Pháp thân kí. Pháp hoa văn cú quyển 4, phần đầu, của ngài Trí khải (Đại 34, 47 hạ) nói: Tám tướng thành đạo là Ứng thân kí, đã được Ứng thân kí thì chắc chắn sẽ biết Bản môn. (...) Hàng nhị thừa này nếu lại nghe Thọ lượng, thì liền giảm sinh tử biến dịch mà được Pháp thân kí.
pháp thân kệ
Dharmakaya-gatha (skt)—See Duyên Khởi Kệ and Pháp Thân Xá Lợi.
; (法身偈) Cũng gọi Pháp xá lợi, Pháp tụng xá lợi, Pháp thân xá lợi kệ. Chỉ cho bài kệ Duyên sinh mà tỉ khưu Mã tinh (Mã thắng) đã đọc cho ngài Xá lợi phất nghe. Luận Đại trí độ quyển 18 (Đại 25, 192 trung) nói: Trong pháp Tứ đế, đức Phật hoặc nói 1 đế, hoặc nói 2, hoặc nói 3, như tỉ khưu Mã tinh nói cho ngài Xá lợi phất nghe bài kệ sau: Các pháp do duyên sinh, Pháp ấy từ duyên diệt; Thầy ta đại Thánh vương, Thường nói nghĩa như thế. Kệ này chỉ nói có Tam đế, nên biết Đạo đế đã có ở trong đó, vì không rời nhau; ví như 1 người phạm pháp thì cả nhà đều phải chịu tội. Do đó mà biết bài kệ trên đây là nói đến Tam đế(khổ, tập, diệt); lại lấy Các pháp do duyên sinh làm câu đầu, vì thế cũng gọi là Duyên sinh kệ, Duyên khởi kệ, Duyên khởi pháp tụng. Ngoài ra, kinh Phật thuyết tạo tháp công đức (Đại 16, 801 trung) chép: Bấy giờ đức Thế tôn nói kệ rằng: Các pháp từ duyên sinh, Ta nói là nhân duyên; Nhân duyên hết, pháp diệt, Ta thường nói như thế. Thiện nam tử! Nghĩa bài kệ ấy gọi là Phật pháp thân. (...) Tất cả nhân duyên và các pháp duyên sinh, tính không vắng lặng, cho nên ta gọi là Pháp thân. Vì thế, bài kệ trên cũng có thể được gọi là Pháp thân kệ. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.48; luận Đại trí độ Q.11].
pháp thân lưu chuyển
Chân Như là thể của pháp thân. Chân Như có hai nghĩa bất biến và tùy duyên. Theo nghĩa tùy duyên mà bị ràng buộc với các duyên nhiễm và tịnh để biến sanh ra y báo và chánh báo trong thập giới (pháp thân trôi chảy trong dòng chúng sanh)—Dharmakaya in its phenomenal character, conceived as becoming, as expressing itself in the stream of being.
pháp thân như lai
The Dharmakaya Tathagata (skt)—Pháp thân tuy không đến không đi, nhưng dựa vào ẩn mật của Như Lai Tạng mà hiển hiện làm pháp thân—The Buddha who reveals the spiritual body.
; (法身如來) Chỉ cho tự tính chân thân của Phật. Pháp thân tuy không đi lại, nhưng ẩn chứa trong Như lai tạng mà hiển hiện làm Pháp thân, cho nên gọi là Pháp thân Như lai. Luận Thích ma ha diễn quyển 2 (Đại 32, 609 thượng) nói: Tâm tự tính thanh tịnh tùy duyên hiển bày, khi tâm ấy còn bị chìm trong các pháp ô nhiễm, thì Pháp thân Như lai không hiển hiện. Ngoài ra, Pháp thân Như lai cũng chỉ cho Đại nhật Như lai của Mật giáo. [X. Bí mật an tâm].
pháp thân phật
Thể của pháp tính (có cái đức giác tri) gọi là Pháp Thân Phật—The Dharmakaya Buddha.
pháp thân quán
Meditation on (insight into) the Dharmakaya.
; (法身觀) Pháp quán xét Pháp thân. Trong Quán Phật tam muội, quán về thân Phật được chia làm 2 loại: Sinh thân quán và Pháp thân quán. Trong đó, quán xét trong Sinh thân(nhục thân)của đức Phật có đủ 10 lực, 4 vô sở úy, đại từ đại bi, vô lượng công đức... là pháp quán về Pháp thân, gọi là Pháp thân quán. Tư duy lược yếu pháp (Đại 15, 299 trung) nói: Pháp thân quán nghĩa là ở trong Không đã thấy Sinh thân Phật, rồi ngay nơi Sinh thân ấy mà quán Nội pháp thân. (...) Nếu pháp quán này thành tựu thì đoạn trừ hết kết phược(phiền não trói buộc), cho đến chứng được Vô sinh pháp nhẫn. Ngoài ra, các tông lập thuyết về Pháp thân có khác nhau, nên Pháp thân quán của mỗi tông cũng khác nhau.
pháp thân thanh tịnh
The pure dharmabody.
pháp thân thuyết pháp
(法身說法) Đối lại: Gia trì thân thuyết pháp. Chỉ cho giáo nghĩa của tông Chân ngôn Nhật bản. Vì tông này chủ trương Pháp thân của Đại nhật Như lai có đầy đủ đức ngôn ngữ nói pháp, nên gọi là Pháp thân thuyết pháp. Pháp thân, gọi đủ là Bản địa pháp thân hoặc Bản địa thân. Bản nghĩa là căn bản; Địa nghĩa là chỗ nương, giống như quả đất là chỗ nương ở của muôn vật, vì thế gọi là Địa. Pháp thân là thể tính nắm giữ vạn vật. Ngài Thiện vô úy gọi đó là Pháp thân vô tướng, còn ngài Không hải thì gọi là Pháp thân lục đại hoặc Pháp thân tự tính. [X. Đại sớ hựu khoái sao; Hồng tự nghĩa (Không hải); Đại nhật kinh sớ ngu thảo Q.25 (Lại du)].
pháp thân tháp
Tháp có đặt xá lợi Phật. Mật giáo lấy chữ “Tông” trong tiếng Phạn là Pháp Thân (vì chữ “Tông” là hạt giống pháp giới, hình dáng như tháp tròn)—The pagoda where abides a spiritual relic of Buddha; the esoteric sect uses the letter “Tsung” as such an abode of the dharmakaya.
; (法身塔) Tháp thờ Pháp thân. Trong Nê tháp cung tác pháp của Mật giáo, tháp thờ Pháp thân kệ (Duyên khởi pháp tụng), gọi là Pháp thân tháp. Còn trong Như pháp tôn thắng pháp, quán chủng tử (vaô) của Trí pháp thân Đại nhật Như lai, là Pháp thân tháp, vì chữ là chủng tử của pháp giới, có hình dạng giống như tòa tháp, cho nên gọi là Pháp thân tháp. Ngoài ra, ở Ấn độ từ xưa đến nay, việc lễ bái cúng dường tháp hương rất thịnh hành, tức người ta dùng bột hương trộn với nước như nhào bùn, rồi đắp thành ngôi tháp nhỏ, trong tháp thờ những bản kinh chép tay, vì kinh quyển được xem là xá lợi của Pháp thân Như lai, nên loại tháp này cũng được gọi là Pháp thân tháp. [X. phẩm Luật phần trong kinh Tô bà hô đồng tử thỉnh vấn Q.thượng; Huyền bí sao Q.2; Đại đường tây vực kí Q.9].
pháp thân thể tánh
Thể tánh của pháp thân—The embodiment or totality, or nature of the Dharmakaya. 1) Tiểu Thừa Pháp Thân Thể Tánh: Trong Tiểu Thừa, Phật tánh là cái gì tuyệt đối, không thể nghĩ bàn, không thể nói về lý tánh, mà chỉ nói về ngũ phần pháp thân hay ngũ phần công đức của giới, định, tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến—In Hinayana the Buddha-nature in its absolute side is described as not discussed, being synonymous with the five divisions of the commandments, meditation, wisdom, release, and doctrine. 2) Đại Thừa Pháp Thân Thể Tánh—In the Mahayana: a) Đại Thừa Tam Luận Tông của Ngài Long Thọ lấy thực tướng làm pháp thân. Thực tướng là lý không, là chân không, là vô tướng, mà chứa đựng tất cả các pháp. Đây là thể tính của pháp thân—The Madhyamika School of Nagarjuna defines the absolute or ultimate reality as the formless which contains all forms, the essence of being, the noumenon of the other two manifestations of the Triratna. b) Pháp Tướng Tông hay Duy Thức Tông định nghĩa pháp thân thể tính như sau—The Dharmalaksana School defines the nature of the dharmakaya as: • Pháp thân có đủ ba thân: The nature or essence of the whole Triratna. • Pháp thân trong ba thân: The particular form of the Dharma in that trinity. c) Nhất Thừa Tông của Hoa Nghiêm và Thiên Thai thì cho rằng “Pháp Thân” là chân như, là lý và trí bất khả phân—The One-Vehicle Schools represented by the Hua-Yen and T'ien-T'ai sects, consider the nature of the dharmakaya to be the Bhutatathata, noumenon and wisdom being one and undivided. d) Chân Ngôn Tông thì lấy lục đại làm Pháp Thân Thể Tính—The Shingon sect takes the six elements as the nature of dharmakaya: • Lý Pháp Thân: Lấy ngũ đại (đất, nước, lửa, gió, hư không) làm trí hay căn bản pháp thân—Takes the sixth elements (earth, water, fire, air, space) as noumenon or fundamental Dharmakaya. • Trí Pháp Thân: Lấy tâm làm Trí Pháp Thân—Takes mind (intelligence or knowledge) as the wisdom dharmakaya.
pháp thân trí
The wisdom or expression of the Dharmakaya.
pháp thân tuệ mệnh
The wisdom life of the dharmakaya.
pháp thân tạng
Pháp thân tạng là nơi tồn trữ pháp thân, là tinh yếu của Phật quả, bằng quán chiếu (thiền quán) mà bậc Thánh đạt được—The storehouse of the Dharmakaya—The essence of Buddhahood by contemplating which the holy man attains to it.
pháp thân xá lợi
Sarira (skt)—Pháp thân xá lợi của Đức Phật, gồm những kinh điển, những bài kệ, và lý trung đạo thực tướng bất biến mà Đức Phật từng thuyết giảng—The spiritual relics of the Buddha, his sutras, or verses, his doctrine and immutable law.
Pháp thân xá-lợi
xem xá-lợi Phật.
pháp thân đại sĩ
Pháp Thân Bồ Tát—Theo tông Thiên Thai, đây là bậc Bồ Tát mới lìa bỏ được một phần của vô minh mà hiển hiện được một phần pháp tính (Bồ Tát từ sơ địa trở lên)—According to the T'ien-T'ai sect, the Dharmakaya Mahasattva is one who has partially freed himself from illusion and partially attained the six spiritual powers (Lục thông). He is above the initial stage.
Pháp thân 法身
[ja] ホウシン hōshin ||| (dharmakāya). 'reality body', 'truth body.' (1) In Sarvāstivādin 有部 teaching, the correct teaching of the Buddha, or the meritorious dharma of the ten powers. A collection of dharmas. (2) In general Mahāyāna teaching, the 'reality-body' is a name for absolute existence, the manifestation of all existences. The true body of reality. Buddha as eternal principle. The body of essence that is pure, possesses no marks of distinction, and is the same as emptiness. (3) One of the three bodies 三身 of the Buddha. The Buddha's body of the universe-the body of truth that lacks form. The basis of all things. (4) The Dharma (teaching) as body, as opposed to the physical body of the Buddha. (5) The tathāgatagarbha. (6) Four kinds of Dharma-body (see 四種法身). (7) In the Awakening of Faith 起信論, the dharmakāya is identified with the one mind. (8) According to Hakuin 白隱, one of the categories of kōan. A "reality-body kōan" is one that makes clear the absolute reality-principle (Buddha-mind) that penetrates all existence. (9) In Yogācāra theory, the reality-body possesses the pure dharma-world, as well as the Great Perfect Mirror Wisdom. => (s: dharmakāya) 1. Theo giáo lý Hữu bộ, là lời dạy chân thực của Đức Phật, hoặc là pháp vi diệu trong Thập lực. Kinh sách ghi lại giáo pháp. 2. Nói chung theo giáo lý Đại thừa, Pháp thân là tên gọi chỉ cho sự hiện hữu tuyệt đối, sự biểu hiện của mọi thực thể tồn tại. Là chân thể của thực tại. Đức Phật như là nguyên lý vĩnh hằng. Thể tính của hiện hữu vốn thường thanh tịnh, không một tướng phân biệt, đồng đẳng với tính không. 3. Một trong Tam thân của Phật. Thân pháp giới của Phật- là chân thân vượt ngoài sắc tướng. Là căn bản của tất cả các pháp. 4. (Giáo) pháp như là thân Phật, khác với thân thể vật lý của Đức Phật. 5. Như Lai tạng. 6. Bốn loại Pháp thân ( Xem Tứ chủng Pháp thân 四種法身). 7. Theo luận Đại thừa khởi tín, Pháp thân được đồng nhất với Nhất tâm. 8. Theo Bạch Ẩn Huệ Hạc (j: Hakuin 白隱), là 1 trong những phạm trù công án. 'Công án Pháp thân' là công án giúp sáng tỏ nguyên lý thực tại tuyệt đối (Phật tâm) để siêu việt mọi hiện hữu. 9. Theo giáo lý Duy thức, Pháp thân có đủ Pháp giới thanh tịnh, cũng như Đại viên cảnh trí.
Pháp thí
(s: dharma-deśanā, p: dhamma-desanā, 法施): bố thí pháp, là một trong 2 hay 3 hình thức bố thí; tức tuyên thuyết giáo pháp, làm lợi ích chúng sanh; còn gọi là pháp cúng dường (法供養), thuyết giáo (說敎), thuyết pháp (說法), thuyết kinh (說經), đàm nghĩa (談義), khuyến hóa (勸化). Như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) quyển Thượng giải thích rằng: “Khấu pháp cổ, xuy pháp loa, chấp pháp kiếm, kiến pháp tràng, chấn pháp lôi, diệu pháp điện, chú pháp vũ, diễn pháp thí, thường dĩ pháp âm giác chư thế gian (扣法鼓、吹法螺、執法劍、建法幢、震法雷、曜法電、澍法雨、演法施、常以法音覺諸世間, đánh trống pháp, thổi ốc pháp, cầm kiếm pháp, lập cờ pháp, chấn sấm pháp, rực điện pháp, rưới mưa pháp, diễn pháp thí, thường lấy âm pháp để tỉnh thức các thế gian).” Hay trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1497) quyển 5 lại có đoạn: “Kim tắc đặc khai thắng hội, phổ độ mê lưu, nguyện nhân Phật nhật chi quang, lai phó đàn gia chi cúng, thân thừa pháp thí, hoát ngộ Tánh Không (今則特開勝會、普度迷流、願因佛日之光、來赴檀家之供、親承法施、豁悟性空, nay tất khai mở thắng hội, độ kẻ tầm mê, nguyện nhờ trời Phật hào quang, đến dự thí chủ dâng cúng, nương vào pháp thí, chợt ngộ Tánh Không).”
pháp thí
Dharma Dāna (S), Giving Dharma.
; Dharma-desanà (S). The almsgiving of the Dharma-truth.
; Thuyết pháp hay ban bố chân lý Phật pháp, là một trong những pháp cúng dường. Cúng dường pháp là pháp cúng dường cao tột vì nó giúp người nghe có cơ duyên vượt thoát luân hồi sanh tử để đạt tới Phật quả—Truth-giving—Offering of the Buddha-truth—Among the various offerings to the Buddhas, the offering of the Dharma is the highest because it enables the audience to transcend Birth and Death and ultimately attain Buddhahood—The almsgiving of the Buddha-truth. ** For more information, please see Tam Bố Thí.
; (法施) Phạm: Dharma-dezanà. Pàli: Dhamma-desanà. Cũng gọi Thuyết giáo, Thuyết pháp, Thuyết kinh, Đàm nghĩa, Khuyến hóa. Đồng nghĩa: Xướng đạo. Chỉ cho việc giảng nói giáo pháp, làm lợi ích chúng sinh, 1 trong 2 thí(Tài thí, Pháp thí), 1 trong 3 thí(Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí). [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.24; kinh Pháp hoa Q.7; luận Đại trí độ Q.1]. (xt. Bố Thí, Thuyết Pháp).
pháp thí cúng dường
See Pháp thí.
pháp thông thiện hỷ
Thiền Sư Pháp Thông Thiện Hỷ—Zen Master Pháp Thông Thiện Hỷ—Thiền Sư Việt Nam, quê tại Nam Việt. Ngài là Pháp tử đời thứ 36 dòng Thiền Tào Động. Ngài khai sơn ngôi chùa Long Ẩn trên núi Long Ẩn, tỉnh Phước Long, có lẽ vào năm 1733. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại Nam Việt. Sau khi ngài thị tịch, đệ tử xây tháp và thờ ngài ngay trước chùa—A Vietnamese Zen Master from South Vietnam. He was the Dharma heir of the thirty-sixth generation of the T'ao-T'ung Zen Sect. Probably in 1733, he built Long Ẩn Temple on Mount Long Ẩn, in Phước Long province. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in the South. After he passed away, to honor him, his disciples built his stupa at the right front of the Temple.
pháp thú đại luận
Patthana-mahāpakarana (S).
pháp thư
Dharma book.
Pháp Thường
法常|Ðại Mai Pháp Thường
pháp thường
(法常) (567-645) I. Pháp Thường - Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Bạch thủy, Nam dương (nay là Hà nam), họ Trương. Lúc nhỏ, sư theo Nho học, thường tránh xa những chỗ huyên náo. Năm 19 tuổi, sư y vào ngài Đàm diên xuất gia. Năm 22 tuổi, sư bắt đầu học luận Nhiếp đại thừa, 5 năm sau, sư đã thấu suốt nghĩa lí sâu xa của bộ luận này. Từ đó, sư lại nghiên cứu rộng rãi các kinh luận như: Hoa nghiêm,Thành thực, Tì đàm, Địa luận... đồng thời, khảo sát những điểm dị đồng giữa các kinh luận này. Sư từng được Tề vương triệu thỉnh để giảng pháp cho thính chúng. Đầu năm Đại nghiệp đời Tùy, sư vâng sắc trụ trì chùa Đại thiền định ở Trường an. Khoảng năm Trinh quán (627-649), sư tham dự công việc dịch kinh tại Dịch trường. Vua Thái tông xây chùa Phổ quang thỉnh sư trụ trì và truyền giới Bồ tát cho Thái tử. Ít lâu sau, sư lại vâng sắc giữ ngôi vị Thượng tọa của chùa Không quán. Tại đây, sư thường giảng các kinh luận như: Hoa nghiêm, Thành thực, Tì đàm, Nhiếp luận, Thập địa... Người từ khắp nơi về theo học rất đông. Vương tử nước Tân la (nay là Triều tiên) là Kim từ tạng cũng từ xa đến xin thụ giới Bồ tát. Năm Trinh quán 19 (645), sư thị tịch, thọ 79 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Nhiếp đại thừa luận nghĩa sớ 8 quyển, Quán Vô lượng thọ kinh sớ 1 quyển, Niết bàn kinh sớ, Duy ma kinh sớ, Thắng man kinh sớ...[X. Tục cao tăng truyện Q.15; Quảng hoằng minh tập Q.25; Khai nguyên thích giáo lục Q.8]. II. Pháp Thường (752-839). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người huyện Tương dương, tỉnh Hồ bắc, họ Trịnh. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, ở chùa Ngọc tuyền. Năm 20 tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở chùa Long hưng, sư dốc chí tu thiền và tham học nơi ngài Mã tổ. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 7, thì 1 hôm sư hỏi ngài Mã tổ (Đại 51, 245 hạ): Thế nào là Phật? Ngài Mã tổ đáp: Tức tâm là Phật, sư liền đại ngộ. Sau đó, sư về tĩnh tu ở núi Đại mai (huyện Ngân, tỉnh Chiết giang). Một hôm, có 1 vị tăng vâng lệnh ngài Mã tổ đến núi Đại mai nói với sư rằng: Gần đây, ngài Mã tổ lại nói chẳng phải tâm, chẳng phải Phật. Nghe xong, sư nói: Lão già này làm lòng người mê loạn mãi, chưa biết ngày nào mới chịu thôi! Mặc cho người chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, ta cứ tức tâm tức Phật. Ngài Mã tổ nghe tin ấy liền nói: Quả mai chín rồi!. Từ đó, tiếng tăm sư vang xa, người từ khắp nơi về tham học. Năm Khai thành thứ 4 (839), một ngày nọ, sư bỗng nói với đại chúng (Đại 51, 255 thượng): Đến chớ có ngăn cản, đi chớ có đuổi theo. Nói đến đây, chợt nghe có tiếng chuột khụt khịt, sư lại bảo: Tức là vật này, chẳng phải vật khác, các ông phải khéo giữ gìn lấy nó, bây giờ ta đi đây!. Nói xong, sư thị tịch, thọ 88 tuổi, 69 tuổi hạ. [X. Tống cao tăng truyện Q.hạ; Ngũ đăng hội nguyên Q.3].
pháp thường đại mai thiền sư
Zen master Fa-Chang-T'a-Mei—See Đại Mai Pháp Thường Thiền Sư.
Pháp Thượng
(法上, Hōjō, 495-580): vị tăng sống dưới thời Bắc Triều, xuất thân vùng Triều Ca (朝歌, thuộc Huyện Kì [淇縣], Hà Nam [河南]), họ Lưu (劉), lúc 9 tuổi đã đọc được Kinh Niết Bàn, sớm có chí xuất trần. Năm lên 12 tuổi, ông theo xuất gia với Thiền Sư Đạo Dược (道藥), chuyên tâm cầu đạo, thông hiểu kinh luận, người đời gọi là Thánh Sa Di. Sau ông nương Luật Sư Huệ Quang (慧光) thọ Cụ Túc giới, tinh thông nghĩa lý, tuyên giảng Thập Địa Kinh Luận (十地經論), Lăng Già Kinh (楞伽經), Niết Bàn Kinh (涅槃經), v.v., và soạn văn sớ cho các bộ kinh này. Năm 40 tuổi, ông vân du giáo hóa ở Hoài Châu (懷州), Vệ Châu (衛州). Nhân có vị đại tướng nhà Ngụy Cao Trừng (高澄) thỉnh cầu, ông vào kinh đô nhà Nghiệp nhậm chức Tăng Thống. Đến khi nhà Bắc Tề hưng thịnh, vua Văn Tuyên Đế (文宣帝, tại vị 550-559) tôn ông lên làm Quốc Sư, thường hầu hạ cung phụng như Phật. Suốt hai thời đại Ngụy và Tề, trong gần 40 năm ông đã quản lý hơn 40.000 ngôi chùa và khoảng 20 vạn tăng ni. Vị Thừa Tướng nước Cao Cú Lệ (高句麗) mến mộ danh tiếng của ông, cho chư tăng đến hỏi về ngày tháng đản sanh của đức Phật, Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc, v.v. Đến thời kỳ pháp nạn diệt Phật hủy Thích của vua Võ Đế thời Bắc Chu, ông phải ẩn náu dưới hình thức thế tục. Vào năm thứ 2 (580) niên hiệu Đại Tượng (大象), sau khi tụng kinh Duy Ma và Thắng Man xong, ông thị tịch, hưởng thọ 86 tuổi. Trước tác ông để lại cho hậu thế có Tăng Nhất Số Pháp (增一數法) 40 quyển, Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章) 6 quyển, Phật Tánh Luận (佛性論) 2 quyển, Chúng Kinh Luận (眾經論) 1 quyển, v.v. Môn đệ của ông có Huệ Viễn (慧遠), Pháp Tồn (法存), Đạo Thận (道愼), Linh Dụ (靈裕), Dung Trí (融智), v.v.
pháp thượng
Dharmottara (S)Tên một vị sư.
; (法上) (495-580) Cao tăng Trung quốc, sống vào thời Bắc triều, người Triều ca (huyện Kì, tỉnh Hà nam), họ Lưu. Năm lên 9 tuổi, sư tụng kinh Niết bàn, từ đó đã có chí xuất trần. Năm 12 tuổi, sư theo Thiền sư Đạo dược xuất gia, chuyên tâm tu tập, thần khí cao sáng, thông hiểu nghĩa lí các kinh luận, người đời gọi sư là Thánh sa di. Sau, sư y vào Luật sư Tuệ quang thụ giới Cụ túc, rồi nhận lời thỉnh cầu của thính chúng, sư giảng các kinh như kinh Lăng già, kinh Niết bàn, Thập địa kinh luận... đồng thời, soạn Sớ chú thích các bộ kinh này. Năm 40 tuổi, sư đi du hóa các châu Hoài, Vệ. Nhân lời tâu thỉnh của Đại tướng Cao trừng, sư bèn về Nghiệp đô nhận chức Tăng thống, quản chưởng ti Tăng lục, thống lãnh tăng ni. Đến khi nhà Bắc Tề nổi lên, vua Văn tuyên (ở ngôi 550-559) tôn sư làm Quốc sư, thờ kính như Phật. Trải qua 2 đời Ngụy, Tề, sư giữ chức Chiêu huyền tào tăng thống, đảm trách công việc lãnh đạo tăng ni gần 40 năm, cai quản hơn 4 vạn ngôi chùa và hơn 200 vạn tăng ni. Thừa tướng nước Cao cú li rất ngưỡng mộ sư, sai sứ đến thỉnh vấn sư về ngày tháng và năm đức Phật đản sinh, cùng lịch sử Phật giáo du nhập Trung quốc. Trong Pháp nạn Vũ đế nhà Bắc Chu diệt Phật, sư phải ẩn tu. Năm Đại tượng thứ 2 (580) sư trì tụng các kinh Duy ma cật và Thắng man, vừa xong thì sư thị tịch, thọ 86 tuổi. Đệ tử của sư có các vị: Tuệ viễn, Pháp tồn, Đạo thận, Linh dụ, Dung trí... Sư để lại các tác phẩm: Tăng nhất pháp số 40 quyển, Đại thừa nghĩa chương 6 quyển, Phật tính luận 2 quyển, Chúng kinh luận 1 quyển. [X. An lạc tập Q.hạ; Tục cao tăng truyện Q.8; Lịch đại tam bảo kỉ Q.12].
pháp thượng bộ
Dharmottarīyāh (S), Dhammu-tariya (P), Dharmottarīyā (S), Dharmottarah (S)Một trong 11 bộ phái trong Thượng tọa bộ.
; Dharmottariya (S). Name oF sect.
; (法上部) Phạm: Dharmottarìyà#. Pàli: Dhammuttariya, hoặc Dhammuttarika. Hán âm: Đàm ma úy đa lợi ca, Đạt mô đa lê dữ, Đạt ma uất đa lê. Cũng gọi Pháp thắng bộ, Pháp thịnh bộ. Một trong 20 bộ của Tiểu thừa, 1 trong các phái của Thượng tọa bộ. Theo luận Dị bộ tông luân thì bộ này từ Độc tử bộ phân phái ra khoảng 300 năm sau đức Phật nhập diệt; giáo nghĩa đại khái cũng giống như giáo nghĩa của Độc tử bộ. Pháp thượng là tên của Bộ chủ, lấy ý là Pháp đáng tôn kính, hoặc Pháp là cái ở trên mọi ngườitrong thế gian. Về nguyên nhân của sự phân phái là do bất đồng ý kiến đối với cách giải thích ý nghĩa bài kệ (Đại 49, 16 hạ): Dĩ giải thoát cánh đọa Đọa do tham phục hoàn Hoạch an hỉ sở lạc Tùy lạc hành chí lạc. (Dịch nghĩa đen: Giải thoát rồi lại đọa Đọa do tham trở lại Được yên mừng cái vui Theo vui đi đến vui). [X. Dị bộ tông luân luận thuật kí; Xuất tam tạng kí tập Q.3; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ, Độc Tử Bộ).
pháp thạnh
(法盛) Cao tăng Trung quốc, sống vào thời Bắc triều, người Lũng tây (tỉnh Cam túc). Lúc nhỏ, sư ở Cao xương, cùng với 29 vị đồng đạo đến Ấn độ lễ bái tượng đức Di lặc bằng gỗ ngưu đầu chiên đàn ở phía đông bắc nước Ưu trường, rồi đến chỗ Phật gieo thân cho hổ(cọp)ăn được ghi trong truyện Tiền thân. Sau, sư qua các nước như Ba la nại rồi trở về Cao xương. Sư có dịch phẩm: Bồ tát đầu thân tự ngã hổ khởi tháp nhân duyên kinh, 1 quyển. Tác phẩm: Lịch quốc truyện, 2 quyển. [X. Đàm vô sấm phụ truyện trong Lương cao tăng truyện Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.4; Tùy thư kinh tịch chí 28].
pháp thạnh thiền sư
Fa-chen (C)Tên một vị sư.
pháp thần
Phật là Pháp Vương, chư Bồ Tát là Pháp Thần hay bề tôi của Pháp Vương—Ministers of the Law, i.e. Bodhisattvas; the Buddha is King of the Law, these Bodhisattvas are his ministers.
; (法臣) Đồng nghĩa: Pháp tướng. Chỉ cho Bồ tát. Đức Phật được gọi là Pháp vương, Bồ tát giúp Pháp vương để hoằng truyền Phật pháp, vì thế được gọi là Pháp thần. An lạc tập quyển hạ (Đại 47, 15 thượng) nói: Phật là bậc Vô thượng Pháp vương, Bồ tát là Pháp thần, chỉ có đức Phật là bậc tôn trọng. (xt. Pháp Tướng).
pháp thắng
Dharmaśrī (S), Dharma-Sreathin (S)Luận sư phái Nhất Thiết Hữu Bộ.
; (法勝) Phạm: Dharma-zresthin. Hán âm: Đạt ma thi lê đế. Luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ, người nước Tukhara-balkh, tác giả của luận A tì đàm tâm. Về niên đại ngài ra đời có nhiều thuyết khác nhau: Tam luận huyền nghĩa của ngài Cát tạng cho rằng ngài là vị La hán ra đời khoảng hơn 700 năm sau đức Phật nhập diệt; Câu xá luận quang kí quyển 1 và Đại đường tây vực kí quyển 2 thì cho rằng ngài sống vào thời gian 500 sau đức Phật nhập Niết bàn. Còn bài tựa Tát bà đa bộ kí mục lục có nêu hệ thống Sư tư tương thừa (Thầy trò truyền nối nhau) của ngài, trong đó, ngài được liệt kê là vị La hán thứ 33 trước vị thứ 34 là ngài Long thụ, như vậy tức là ngài Pháp thắng ra đời trước ngài Long thụ (khoảng thế kỉ III Tây lịch). Ngoài ra, nhà chú thích luận A tì đàm tâm là ngài Ưu bà phiến đa (Phạm: Upazànta) thường được người đời sau cho là ngài Pháp thắng. [X. luận A tì đàm tâm Q.1, 11; luận Thuận chính lí Q.9, 45; Lịch đại tam bảo kỉ Q.3, 5].
pháp thể
Svabhāva (S), Self-nature, Sabbāva (P)Thực thể, Thể tánh, Tự tánh, Bản thểBản tánh của các phápXem Giới.
; Embodiment of the Law, or of all things.
; 1) Thể tính của chư pháp (hữu vi và vô vi)—Embodiment of the Law, or of things. a) Vi Diệu Pháp có 75 pháp thể: The Abhidharma has 75. b) Thành Thực Tông có 84: The Satyasiddhi-sastra has 84. c) Du Già hay Duy Thức Luận có 100: The Yogacara has 100. 2) Vị Tăng: A monk.
; (法體) I. Pháp Thể. Chỉ cho thể tính, bản chất của các pháp. Thể được dịch từ tiếng Phạm svabhàra hoặc dịch là Tự tính, Tự thể. Pháp thể chỉ cho bản thể tồn tại, như chủ trương cơ bản Ba đời thực có, pháp thể hằng có của Thuyết nhất thiết hữu bộ. II. Pháp Thể. Chỉ cho danh hiệu của đức Phật A di đà, theo chủ trương của Tịnh độ chân tông Nhật bản, hoặc lấy niệm Phật làm pháp thể. III. Pháp Thể. Chỉ cho hình tướng của người xuất gia mặc áo pháp. IV. Pháp Thể. Từ ngữ tôn xưng thân thể của bậc Sư trưởng, như Pháp thể khinh an, Pháp thể như ý...
pháp thể hằng hữu
(法體恒有) Pháp thể thường có. Nghĩa là thực thể của tất cả các pháp thường hằng tồn tại trong 3 thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương ba đời thực có, pháp thể hằng có, nghĩa là những yếu tố cấu tạo thành sự tồntại của các hiện tượng và mối quan hệ giữa chúng có thể được khảo sát qua 3 phương diện như sau: 1. Yếu tố(pháp) ở vị trí chưa khởi tác dụng(tức vị lai). 2. Yếu tố ở vị trí đang khởi tác dụng(tức hiện tại). 3. Yếu tố ở vị trí đã khởi tác dụng(tức quá khứ). Tóm lại, đây là chủ trương pháp thể thực có và hằng có trong cả 3 thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Nhưng Kinh lượng bộ thì cho rằng Hiện tại hữu thể, quá vị vô thể, nghĩa là pháp thể chỉ có thực ở hiện tại, còn trong quá khứ và vị lai thì pháp thể không tồn tại.
pháp thệ
Một lời thệ nguyện khi phát tâm tu hành—A religious vow.
pháp thời
Dharmacala (S)Đàm Ma ca laMột Sa môn Ấn độ dịch kinh tại Lạc dương, Hứa Xương năm 222 đến 250, đời Tam quốc, truyền trao giới luật, làm pháp yết ma. Đây là việc truyền giới độ tăng đầu tiên ở Trung quốc.
pháp thụ
The dharma-tree which bears nirvàna-fruit.
; Cây Pháp, hay Phật pháp có khả năng giúp người ta thu được quả vị Niết Bàn—The dharma-tree or Buddha-teaching which bears nirvana fruit.
Pháp thủy
(法水): nước pháp, có hai nghĩa chính. (1) Chỉ cho Phật pháp, vì Phật pháp có thể làm cho tiêu trừ phiền não, giống như nước có thể rửa sạch những cấu bẩn; nên có tên gọi như vậy. Như trong Vô Lượng Nghĩa Kinh (無量義經, Taishō Vol. 9, No. 276), Phẩm Thuyết Pháp (說法品) thứ 2 có giải thích rằng: “Pháp thí như thủy, năng tẩy cấu uế; nhược tỉnh, nhược trì, nhược giang, nhược hà, khê, cừ, đại hải, giai tất năng tẩy chư hữu cấu uế; kỳ pháp thủy giả, diệc phục như thị, năng tẩy chúng sanh chư phiền não cấu (法譬如水、能洗垢穢、若井、若池、若江、若河、溪、渠、大海、皆悉能洗諸有垢穢、其法水者、亦復如是、能洗眾生諸煩惱垢, pháp ví như nước, có thể rửa sạch dơ bẩn; như giếng, như hồ, như sông nhỏ, như sông lớn, khe, kênh, biển lớn, đều có thể rửa sạch các dơ bẩn; nước pháp này cũng giống như vậy, có thể rửa sạch các dơ bẩn phiền não của chúng sanh).” Hay trong bài thơ Ngọc Thạch Kệ (玉石偈) của Tô Thức (蘇軾, 1036-1101) nhà Tống có đoạn: “Nguyện dĩ pháp thủy tẩm Ma Ni, đương quán thử thạch như ngõa lịch (願以法水浸摩尼、當觀此石如瓦礫, nguyện lấy nước pháp ngâm Ma Ni, mới biết đá này như ngói sỏi).” (2) Là loại nước có thể trừ bệnh, xua đuổi tà ma của các Đạo sĩ, thầy pháp. Như trong hồi thứ 6 của Tây Du Bổ (西遊補), tiểu thuyết thần ma tiếp theo Tây Du Ký, của Đổng Thuyết (董說, 1620-1686) nhà Minh có đoạn: “Bị Đạo sĩ nhất khẩu pháp thủy, chỉ kiến địa lập cước bất định, kính vãng Tây Nam khứ liễu (被道士一口法水、只見他立腳不定、逕往西南去了, bị Đạo sĩ phun một bụm nước pháp, chỉ thấy chân không đứng vững trên đất, theo lối tắt đi về phía Tây Nam).” Trong bài Tịnh Tam Nghiệp Văn (淨三業文) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 2 có câu: “Thân tâm cấu tịnh bằng pháp thủy dĩ địch trừ, phẫn hận nghiệp tiêu trượng từ phong nhi đãng khứ (身心垢淨憑法水以滌除、忿恨業消仗慈風而蕩去, thân tâm nhớp sạch nhờ nước pháp để tẩy trừ, phẫn hận nghiệp tiêu nương gió từ mà quét sạch).” Hay trong Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 1 có đoạn: “Cố năng tinh luyện Ngũ Minh, diệu thông chư bộ, ý dục vận Tây Vức chi pháp thủy, nhuận Đông Hạ chi khát ngưỡng, phán thân hứa vu hiểm nạn, vụ tồn hoằng đạo chi tâm (故能精練五明、妙通諸部、意欲運西域之法水、潤東夏之渴仰、判身許于險難、務存弘道之心, nên có thể tinh luyện Năm Minh, thông suốt các bộ, ý muốn vận dòng nước pháp của Tây Vức [Ấn Độ], thấm nhuần sự khát mong của Đông Hạ [Trung Quốc], phân thân nơi chốn hiểm nạn, chuyên giữ hoằng đạo thâm tâm).”
pháp thủy
Buddha-truth likened to water able to wash away the stain of illusion.
; Chân Lý Phật Pháp giống như nước có khả năng rửa sạch mọi uế nhiễm phiền não—The Buddha-truth likened to water, able to wash away the stains of illusion.
Pháp thực
(法食): có mấy nghĩa. (1) Chỉ món ăn như pháp. Như trong Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao (四分律刪繁補闕行事鈔, Taishō Vol. 40, No. 1804) quyển Hạ có dẫn lời dạy của Kinh Tăng Nhất A Hàm rằng: “Như Lai sở trước y danh viết Ca Sa, sở thực giả danh vi pháp thực (如來所著衣名曰袈裟、所食者名爲法食, áo do Như Lai mặc gọi là Ca Sa, thức ăn Ngài dùng tên là pháp thực).” (2) Chỉ cho bữa ăn đúng ngay giữa trưa, trong khoảng giờ Ngọ (theo Âm Lịch là từ 11 giờ đến 1 giờ chiều). Ba đời các đức Như Lai đều lấy giờ Ngọ làm giờ ăn, nên gọi là pháp thực thời (法食時, thời gian ăn đúng pháp, như pháp); và quá ngọ thì gọi là phi thực thời (非食時, không phải thời gian ăn). Trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển 1 có dẫn lời của Tỳ La Tam Muội Kinh (毘羅三昧經) rằng: “Phật vị Pháp Huệ Bồ Tát thuyết tứ thực thời, nhất đán thời, vi thiên thực; nhị Ngọ thời, vi pháp thực (佛爲法慧菩薩說四食時、一旦時、爲天食、二午時、爲法食, đức Phật vì Bồ Tát Pháp Huệ thuyết bốn lúc ăn, một lúc sáng sớm là trời ăn, hai lúc giờ Ngọ là ăn đúng pháp).” (3) Chỉ việc lấy pháp làm thức ăn để nuôi lớn huệ mạng, để tu hành thành đạo. Như trong 5 điều quán tưởng trước khi thọ nhận món ăn, được đề cập trong Học Luật Phát Nhận (律學發軔, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1125) quyển 3, điều thứ 5 nhấn mạnh rằng: “Vị thành đạo cố, phương thọ thử thực (爲成道故、方受此食, vì thành đạo nên mới thọ nhận món ăn này).” (4) Chỉ cho thực vật dùng cho cúng tế. Như trong Bạch Thạch Thần Quân Bi (白石神君碑) của một tác giả vô danh nhà Hán có đoạn: “Huyện giới hữu lục danh sơn, Tam Công, Đối Long, Linh Sơn, tiên đắc pháp thực (縣界有六名山、三公、封龍、靈山、先得法食, trong phạm vi huyện có sáu danh sơn, Tam Công, Đối Long, Linh Sơn thì được thức ăn dâng cúng đầu tiên).”
pháp thực
Dharmàhàra (S). Truth as food. The food of the Truth.
; Dharmahara (skt). 1) Những thức ăn đúng theo quy định hay những thức ăn đúng theo phép tắc do Phật chế định—Diet in harmony with the rules in Buddhism. 2) Chân lý là pháp thực: Truth is dharma-food. 3) For more information, please see Dharmahara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (法食) Thức ăn pháp. Có 3 nghĩa: 1. Thức ăn đúng như pháp. Kinh Tăng nhất a hàm nói: Áo Như lai mặc, gọi là Ca sa, thức ăn Như lai dùng, gọi là Pháp thực. 2. Bữa ăn đúng giờ Ngọ. Kinh Tì la tam muội nói: Đức Phật nói về giờ dùng thức ăn cho bồ tát Pháp tuệ nghe: Chư thiên dùng bữa ăn vào sáng sớm, gọi là Thiên thực; chư Phật dùng vào giờ Ngọ, gọi là Pháp thực. 3. Chỉ cho việc dùng pháp làm thức ăn: Thức ăn để nuôi lớn sinh mệnh của trí tuệ cũng gọi là Pháp thực.
pháp thực nhị đồng xá
Xem chùa.
pháp thực thời
Quy định thời gian ăn uống, trước chứ không sau giờ ngọ—The regulation time for meals, at or before noon, not after.
pháp thực tướng
Immortal reality.
pháp thực đồng xá
Xem chùa.
pháp tiến
(法進) (709-778) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Tín dương, Thân châu (nay thuộc tỉnh Hà nam), họ Vương, có thuyết cho là người Minh châu (huyện Ngân, tỉnh Chiết giang) là vị Tổ thứ 2 của Luật tông Nhật bản. Sư xuất gia từ nhỏ, đi tham học khắp nơi, sau thờ ngài Giám chân làm thầy, sư tinh thông Tam tạng, nhất là Thiên thai và Luật học. Sư cũng giỏi cả Nho học. Đầu năm Thiên bảo, sư theo ngài Giám chân sang Nhật bản, giúp đỡ ngài xây cất viện Giới đàn ở chùa Đông đại. Sau khi ngài Giám chân dời đến chùa Chiêu đề thì sư thay ngài trông nom viện Giới đàn. Tại đây, sư giảng các bộ Sớ về Luật học như: Phạm võng kinh sớ, Giới bản sớ, Yết ma sớ, Hành sự sao, Tỉ khưu ni sao, Tì ni nghĩa sao, Tuệ quang lược sớ, Trí thủ quảng sớ, Pháp lệ trung sớ v.v... Năm Bảo qui thứ 9 (778), sư thị tịch, thọ 70 tuồi (có thuyết nói thọ 81 tuổi). Đệ tử của sư gồm các vị: Huệ sơn, Thánh nhất, Cảnh thâm, Pháp ấn... Sư để lại các trứ tác: Phạm võng kinh chú, Sa di kinh sao, Đông đại tự thụ giới phương quĩ, Giới đàn thức. [X. Đường đại hòa thượng đông chinh truyện; Nguyên hanh thích thư Q.13; Luật uyển tăng bảo truyện Q.10; Chiêu đề thiên tuế truyện kí Q.trung, phần 1].
pháp toà
Throne.
; (法座) Cũng gọi Pháp tọa. Chỉ cho tòa ngồi thuyết pháp của đức Phật. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 4 trung) nói: Liền ở trên Pháp tòa, ngồi kết già tam muội. Ngoài ra, cái tòa cao thường được dùng khi thuyết pháp cũng gọi là Pháp tòa, hoặc Tu di tòa. Về sau, Pháp tòa cũng đồng nghĩa với Pháp diên, Pháp tịch. [X. Thiền uyển thanh qui Q.2; tắc 44 trong Thung dung lục]. (xt. Tu Di Đàn).
pháp toàn
(法全) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường. Lúc đầu, sư đến chùa Thanh long theo ngài Nghĩa tháo tu học Mật thừa, sau vào chùa Huyền pháp hướng dẫn đồ chúng. Khoảng năm Hội xương đời vua Vũ tông, sư được tuyển chọn là Đại đức trì niệm điện Trường sinh, sau lại dời về chùa Thanh long. Sư có các tác phẩm: Đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh liên hoa Thai tạng bi sinh mạn đồ la quảng đại thành tựu nghi quĩ cúng dường phương tiện hội, 2 quyển(tức Huyền pháp tự nghi quĩ), Đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh liên hoa Thai tạng bồ đề chàng tiêu xí phổ thông chân ngôn quảng đại thành tựu du già, 3 quyển(tức Thanh long tự nghi quĩ). Các vị tăng Nhật bản đến Trung quốc học Mật giáo, phần nhiều đến theo học sư, như các vị: Tông duệ, Viên nhân, Viên tải, Viên trân, Biến minh... [X. A sa phược sao quyển 149 Minh tượng đẳng lược truyện thượng; Lưỡng bộ đại pháp tương thừa sư tư phó pháp kí (Hải vận)].
pháp trai nhật
Days of abstinence.
pháp trai nhựt
Ngày trì trai giữ giới thường vào mỗi nửa tháng. Và sáu ngày giữ tám giới khác trong tháng, tổng cộng là tám ngày Bát Quan Trai trong tháng. Trong những ngày nầy Phật tử thuần thành thường giữ Bát quan Trai giới—The day of abstinence observed at the end of each half month. Also the six abstinence days, in all making the eight days for keeping the eight commandments. On these days Good Buddhists always keep the eight commandments.
pháp truyền thống
Dhammanvaya (P).
pháp tràng
Dharmavaja (S)Tên một đức Phật Như lai ở hạ phương.
; (法幢) I. Pháp Tràng. Lá cờ. Các dũng tướng xung trận dựng cờ để tượng trưng sự chiến thắng, cho nên Pháp tràng được dùng để ví dụ giáo pháp của đức Phật có năng lực hàng phục ma quân phiền não của chúng sinh. II. Pháp Tràng. Cây nêu dựng trước đạo tràng thuyết pháp. Khi tuyên dương đại pháp, cờ phướn được dựng ở trước cửa đạo tràng, gọi là Pháp tràng, Pháp bái. Thiền tông dùng từ ngữ này để khai diễn pháp, gọi là Kiến pháp tràng(dựng cờ pháp). Ngày nay, các chùa tổ chức an cư kết chế, cũng gọi Kiến pháp tràng. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Thủ lăng nghiêm Q.1; Tổ đình sự uyển Q.7; Bích nham lục tắc 21].
pháp tràng phật
Dharma Curtain Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai.
pháp trân
(法珍) Vị tỉ khưu ni Trung quốc, sống vào đời Nguyên, người đất Thục, họ Thôi, tên Pháp trân, pháp danh Hoằng đạo. Vào cuối đời Nguyên, Ni sư sống ở Thành đô, nhận thấy kinh điển mất mát, lưu thông không được đầy đủ, vì thế Ni sư phát tâm khắc tạng Tích sa, liền chặt cánh tay mà đi khuyến hóa, Phật tử 4 phương thấy thế rất cảm động và nhiệt thành hưởng ứng đóng góp phần mình vào sự nghiệp khắc kinh. Công việc khuyến hóa của Ni sư ròng rã 30 năm mới viên mãn và việc khắc in Đại tạng Tích sa được hoàn thành. Nhưng, trong Trung quốc Đại tạng kinh điêu khắc sử thoại (Lịch sử khắc Đại tạng kinh của Trung quốc), ngài Đạo an cho rằng, Tạng kinh do Ni sư Pháp trân khắc in không phải là tạng Tích sa mà là Kim khắc Đại tạng kinh. Tức vào năm Đại định thứ18 (1178), bà Thôi pháp trân ở Lộ châu, tỉnh Sơn tây, khắc in lại Đại tạng kinh bản mới, dâng lên triều đình nhà Kim 1 bản, rồi đăng đàn thụ giới Tỉ khưu ni ở chùa Thánh an tại Yên kinh. Năm Đại định 23 (1193), được vua ban cho áo đỏ và tôn hiệu Hoằng Giáo Đại Sư.Còn căn cứ theo Nguyên nhất thống chí Thuận thiên phủ chí quyển 1 và Phật giáo đại từ điển tập 8 của Vọng nguyệt Tín hanh, thì bà Thôi pháp trân và Ni sư Hoằng đạo là 2 người khác nhau, cả 2 người đều có sự tích Đoạn tí mộ hóa (chặt cánh tay đi khuyến hóa). Nhưng Tạng do bà Thôi pháp trân khuyến hóa là Kim tạng, còn Tạng do Ni sư Hoằng đạo khuyến hóa là Tích sa tạng. Nguyên nhân đưa đến sự lầm lẫn cho 2 người là 1, là vì bà Thôi pháp trân vốn thụ giới ở chùa Thánh an tại Yên kinh; khoảng đầu năm Hoàng thống (1141-1148), vua Hi tông nhà Kim ban tên cho chùa Thánh an là Đại Diên Thánh Tự. Tên mới này của chùa Thánh an trùng với tên của viện Tích Sa Diên Thánh. Vả lại, sự tích của bà Thôi pháp trân và Ni sư Hoằng đạo cũng giống nhau, cho nên 2 người thường bị lầm là một. Ngoài ra, theo Duyên sơn tam đại tạng kinh duyên khởi của ngài Tùy thiên – người Nhật bản– thì sau khi 2 tạng kinh Nam Bắc ở đời Minh được hoàn thành, Bắc tạng được cất giữ ở trong cung vua, dân gian xin in rất khó, còn Nam tạng tuy có thể thỉnh in nhưng phí tổn khá lớn, nên việc lưu thông cũng không phải dễ. Trong tình hình ấy, có Ni sư Pháp trân phát tâm đi khuyến hóa khắc in Đại tạng kinh bản Phương sách (tức bản đóng thành sách, chứ không xếp hoặc cuốn những tờ giấy như trước). Để thực hiện công việc lớn lao và khó khăn này. Ni sư bèn tự chặt cánh tay để tỏ quyết tâm và ròng rã 30 năm sự nghiệp mới hoàn thành. Đây là bộ Đại tạng Phương sách đầu tiên trong lịch sử khắc kinh. [X. Kim sử kỉ sự bản mạt Q.30; Minh khắc Phương sách đại tạng Lục quang tổ tự, Phùng mộng trinh tự, Vương thế trinh tự; Pháp trân ni sư đoạn tí khắc tạng khảo (Niệm sinh)].
Pháp Trì
(法持, Hōji, 635-702): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, tổ của Ngưu Đầu Tông (牛頭宗) Trung Quốc, còn gọi là Kim Lăng Pháp Trì (金陵法持), xuất thân Giang Ninh (江寧), Nhuận Châu (潤州, Nam Kinh), họ Trương (張). Ông xuất gia lúc nhỏ tuổi, đến năm lên 13 thì nghe danh của Hoằng Nhẫn Đại Sư (弘忍大師) ở Hoàng Mai (黃梅), bèn đến tham lễ, cầu học pháp yếu. Sau ông đến tham vấn Thiền Sư Huệ Phương (慧方) của Ngưu Đầu Tông, đắc tâm ấn và kế thừa môn phong, làm tổ của tông phái này. Khi Hoằng Nhẫn thị tịch, có nói với đệ tử Huyền Trách (玄賾) rằng: “Sau này có thể truyền pháp ta có 10 người, Kim Lăng Pháp Trì là một trong số đó”. Từ đó tiếng tăm của ông vang khắp, ông đến sống ở Diên Tộ Tự (延祚寺) vùng Kim Lăng (金陵, Giang Ninh, Giang Tô) truyền bá Thiền của Ngưu Đầu Tông. Về sau ông truyền pháp lại cho Trí Uy (智威) và vào năm thứ 2 niên hiệu Trường An (長安) nhà Đường, ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi.
pháp trì
Dharmadhāra (S)Tên một vị Khẩn Na La vương.
Pháp trí
法智; C: făzhì; J: hōchi; |Trí huệ vô lậu trang nghiêm, thấy biết rõ 4 sự thật của các hiện tượng nhân duyên trong thế gian, vận hành để giải trừ phiền não (s: dharma-jñāna). Là một trong Tam trí và Thập trí.
pháp trí
Dharma-jāna (S).
; Dharma-jnàna (S). Knowledge of the Dharma.
; Dhamma-jnana (p)—Vô Lậu Trí hay sự hiểu biết của bậc giác ngộ—Enlightened understanding—Dharma-wisdom, which enables one to understand the law—The understanding of the law.
; (法智) I. Pháp Trí. Phạm: Dharma-jĩàna. Chỉ cho trí vô lậu duyên theo lí của 4 đế (khổ, tập, diệt, đạo) ở cõi Dục, mà đoạn trừ phiền não ở cõi này, là 1 trong 10 trí được liệt kê trong luận Câu xá quyển 26. (xt. Thập Trí). II. Pháp Trí (960-1028). Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Thiên thai, sống vào thời Bắc Tống, người Tứ minh (huyện Ngân, tỉnh Chiết giang) họ Kim, hiệu Tri lễ. Sư trọn đời chuyên tâm vào việc trứ tác, giảng thuật, hoằng truyền kinh Pháp hoa, kinh Kim quang minh... chủ trương Vọng tâm quán. Sư cùng với ngài Từ vân Tuân thức đều là những nhân vật đại biểu của phái Sơn gia tông Thiên thai đời Tống, được người đời sau tôn làm Tổ thứ 17 của tông Thiên thai. Năm Thiên hi thứ 4 (1020), sư được vua Chân tông ban hiệu Pháp Trí Đại Sư, vì thế, người đời sau còn gọi sư là Tứ minh Pháp trí. [X. Phật tổ thống kỉ Q.50]. (xt. Tri Lễ).
Pháp trí 法智
[ja] ホウチ hōchi ||| The dharma-wisdom. The undefiled sagely wisdom that, fully apprehending the four noble truths of the world of conditioned phenomena, works to counteract affliction (dharma-jñāna). One of the three wisdoms 三智 and ten wisdoms 十智. 〔阿毘曇毘婆沙論 T 1546.28〕 (2) The seventh consciousness 第七識. => Trí huệ vô lậu trang nghiêm, thấy biết rõ 4 sự thật của các hiện tượng nhân duyên trong thế gian, vận hành để giải trừ phiền não (s: dharma-jñāna). Là một trong Tam trí và Thập trí.
Pháp trú kí
法住記; C: făzhùjì; J: hōjūki; |Tên bản dịch cuốn Nandimitrāvadāna, được Huyền Trang dịch năm 654. Là tên gọi tắt của Đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la sở thuyết pháp trú kí (大阿羅漢難提蜜多羅所説法住記). Một quyển, của Nandimitra (phiên âm là Nan-đề-mật-đa-la 難提蜜多羅, Hán dịch là Khánh Hữu 慶友); còn có tên khác là Đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la sở thuyết pháp trú kệ (大阿羅漢難提蜜多羅所説法住偈), Đại A-la-hán Nan-đà-mật-đa-la sở thuyết pháp trú kí (大阿羅漢難陀蜜多羅法住記), và Kí pháp trú truyện (記法住傳). Đề tài tác phẩm nầy tập trung vào giải thích về khái niệm Thập lục La-hán còn lưu lại thế gian để hộ trì Phật pháp. Tác phẩm còn cho rằng sự hiện hữu của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni trên thế gian là có giới hạn, và chư tăng làm thế nào để thay ngài hoằng truyền Phật pháp.
Pháp trú ký 法住記
[ja] ホウジュウキ Hōjūki ||| The Fazhuji, which is a translation by Xuanzang (in 654) of the Nandimitrāvadāna (T 2030.49.12-15). This is an abbreviation of the full title Da aluohan nantimiduoluo suoshuo fazhuji 大阿羅漢難提蜜多羅所説法住記. One fascicle, by also known as the 大阿羅漢難提蜜多羅所説法住偈, the 大阿羅漢難陀蜜多羅法住記, and 記法住傳. The main focus of this text is to explain the notion of the sixteen arhats 十六羅漢 who remain in the world to protect the correct dharma. It also teaches that the stay of Śākyamuni in this world is finite, and how the members of the sangha are to continue the spread of the dharma in his stead. => (c: Fazhuji), Tên bản dịch cuốn Nandimitrāvadāna, do Huyền Trang dịch năm 654. Là tên gọi tắt của Đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la sở thuyết pháp trú ký (c: Da aluohan nantimiduoluo suoshuo fazhuji 大阿羅漢難提蜜多羅所説法住記). Một quyển, của Nandimitra (phiên âm là Nan-đề-mật-đa-la 難提蜜多羅, Hán dịch là Khánh Hữu 慶友); còn có tên khác là Đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la sở thuyết pháp trú kệ大阿羅漢難提蜜多羅所説法住偈, Đại A-la-hán Nan-đà-mật-đa-la sở thuyết pháp trú ký大阿羅漢難陀蜜多羅法住記, và Ký pháp trú truyện記法住傳. Đề tài tác phẩm nầy tập trung vào giải thích về khái niệm Thập lục La-hán còn lưu lại thế gian để hộ trì Phật pháp. Tác phẩm còn cho rằng sự hiện hữu của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni trên thế gian là có giới hạn, và chư tăng làm thế nào để thay Ngài hoằng truyền Phật pháp.
pháp trường
Any place set aside for religious practices, or purposes. Dharma-preaching ground.
; Nơi dành riêng cho việc tu tập trong tự viện—Any place set aside for religious practices, or purposes.
pháp trần
A mental object.
; Dhammarammana (p)—Dharma-alambana (skt)—Pháp là đối tượng của tâm hay của ý căn, hay những ý nghĩ tiến triển từ sự tiếp xúc với đối tượng cảm nhận được trong tâm—The mental objects—Object of the mind or of mind-sense, or thought that proceed from contact with sensible objects in the mind.
pháp trụ
Dharma-abode, ie. the omnipresent bhùtatathatà in all things.
; Dharmasthitita (skt) 1) Sự tương tục của hiện hữu: Continuity of existence. 2) Diệu lý của chân như dừng trụ trong hết thảy các pháp—Dharma abode, i.e., the omnipresent bhutatathata in all things. *For more information, please see Pháp Định.
; (法住) I. Pháp Trụ. Lí chân như mầu nhiệm trụ ở trong tất cả các pháp, là 1 trong 12 tên gọi của Pháp tính.[X. kinh Đại bát nhã Q.360]. (xt. Pháp Tính, Chân Như). II. Pháp Trụ (1723-1800). Cao tăng Nhật bản, người quận Đại hòa thạch thượng, tự Trí tràng, đời thứ 23 của chùa Trường cốc ở Đại hòa, thuộc tông Chân ngôn Tân nghĩa. Năm 16 tuổi, sư theo ngài Khoái phạm thượng nhân xuất gia, học luật nghi ở chùa Pháp long. Sau, sư lên núi Phong sơn theo học các ngài Vô đẳng, Khoái thân, rồi đi hoằng pháp các nơi. Sư có các tác phẩm: Đại nhật kinh sớ ngọc chấn sao 10 quyển, Nhiếp bát chuyển nghĩa 5 quyển, Bổ bát phạ nghĩa 1 quyển, Lược bát phạ nghĩa 1 quyển, Thập cú nghĩa kí 2 quyển. [X. Pháp trụ tăng chính truyện].
pháp trụ kí
(法住記) Phạm: Nandimitràvadàna. Tên đầy đủ: Đại A la hán nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí. Cũng gọi: Đại A la hán nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kệ; Đại A la hán nan đà mật đa la pháp trụ kí, Kí pháp trụ truyện. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nan đề mật đa la (Phạm: Nandimitra, Hán dịch: Khánh hữu) trứ tác, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 49. Nội dung sách này liệt kê 16 vị Đại A la hán hộ trì chính pháp của đức Phật Thích ca và nói về thời hạn mà chính pháp tồn tại ở thế gian. Tức là trình bày về việc sau khi đức Phật nhập diệt được 800 năm, thì ở nước Sư tử (Tích lan), nơi kinh đô của vua Thắng quân, có vị A la hán tên là Nan đề mật đa la, khi sắp nhập diệt, triệu tập các tỉ khưu, tỉ khưu ni, nói cho họ nghe về 16 vị Đại A la hán và chỗ ở cùng tên gọi của các quyến thuộc của 16 vị A la hán. Đồng thời, trả lời các câu hỏi của các vị tỉ khưu, tỉ khưu ni về thời hạn trụ thế của chính pháp. Sau khi sách này được dịch xong vào năm Vĩnh huy thứ 5 (654) đời Đường, thì sự sùng bái đối với 16 vị A la hán tại Trung quốc dần dần trở nên phổ biến; đồng thời căn cứ vào sự trình bày trong sách, các nghệ nhân đã đắp vẽ hoặc điêu khắc tượng của 16 vị A la hán. Sách này là sử liệu quí giá đối với việc nghiên cứu về Phật giáo Tích lan. Sách này có bản dịch Tây tạng, nhưng nội dung có nhiều chỗ khác với sách này. Năm 1916, các ông S.Lévi và E.Chavannes, người Pháp, dịch chung sách này ra tiếng Pháp, rồi ấn hành, có thêm lời bàn giải. Năm 1930, ông Phùng thừa quân phiên dịch sách này, đề là Pháp trụ kí cập sở thuyết A la hán khảo, do Thượng Chí Học Hội Tùng Thư ấn hành. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Đại Chu san định chúng kinh mục lục Q.10; Chí nguyện pháp bảo khám đồng tổng lục Q.10].
pháp trụ ký
Nandimitravadāna (S).
pháp trụ trí
(法住智) I. Pháp Trụ Trí. Chỉ cho cái trí thấy biết đúng như thực về 12 pháp duyên sinh: Vô minh, Hành, Thức... [X. kinh Tạp a hàm Q.14]. II. Pháp Trụ Trí. Trí nương theo lí pháp đức Phật đã dạy mà đặt ra các pháp môn để giải nói về lí pháp ấy. [X. phẩm Tâm ý thức tướng trong kinh Giải thâm mật Q.1]. III. Pháp Trụ Trí. Trí nương theo giáo pháp mà phát sinh, tức chỉ cho trí tuệ của phàm phu. [X. luận Du già sư địa Q.10].
pháp trụ tự
(法住寺) Cũng gọi Tục li tự, Tiểu kim cương. Chùa ở núi Tục li, quận Báo ân, tỉnh Trung thanh bắc, Hàn quốc, do Hòa thượng Nghĩa tín sáng lập vào năm 553, sau khi ngài từ Thiên trúc cầu pháp trở về. Đây là 1 trong 31 bản sơn của Phật giáo Hàn quốc và là 1 trong 5 ngôi chùa lớn nhất nước. Khi Phong thần Tú cát của Nhật bản đem quân xâm chiếm Hàn quốc (1592), chùa bị thiêu hủy hoàn toàn. Đến năm 1624 đời Lí, Đại sư Bích nham mới phỏng theo kiểu chùa cũ mà xây dựng lại. Hiện nay chùa có các kiến trúc như: Điện Đại hùng, điện Bát tướng, điện Năng nhân, điện Viên thông, gác Xá lợi, lầu Đại hương, lầu Ngưng hương, thất Niệm hoa...Ngoài ra, còn có pho tượng đức Phật Di lặc bằng đá cao lớn, rất nổi tiếng, đứng sừng sững trước vách đá núi Tục li, mới được hoàn thành vào năm 1964. Trong điện Đại hùng thờ tượng Pháp thân Phật Tì lô giá na, Báo thân Phật Lô xá na và Hóa thân Phật Thích ca mâu ni. Điện này cùng với điện Cực lạc chùa Vô lượng và điện Giác hoàng chùa Hoa nghiêm được gọi chung là Ba điện Phật lớn của Hàn quốc. Điện Bát tướng được sáng lập vào khoảng năm 536-575, hiện còn ngôi tháp 5 tầng bằng gỗ, là điển hình của lối kiến trúc cấu tạo nhiều tầng. Tháp này cùng với những cảnh trí của chùa như: Ao sen đá, đèn 2 con sư tử bằng đá, đèn 4 vị Thiên vương bằng đá và những pho tượng Phật được khắc trên vách núi ở phía bên trái chùa, đều là quốc bảo của Đại hàn.[X. Triều tiên tự sát sử liệu Q.thượng; Triều tiên kim thạch tổng lãm hạ; Cao li sử Q.40].
pháp tu bất nhị
Đa phần chúng ta hãy còn vướng mắc vào nhị nguyên nên không thể nhận rõ đâu là tinh túy, đâu là hình tướng bên ngoài, đâu là hiện hữu, đâu là không hiện hữu, danh sắc hay hiện tượng, vân vân. Chúng ta thường ôm lấy tinh túy và chối bỏ hình tướng bên ngoài, ôm lấy tánh không và chối bỏ sự hiện hữu, vân vân. Đây là loại tà kiến tạo ra nhiều tranh cãi và nghi nan. Thật ra có sự hổ tương giữa tâm linh và hiện tượng. Hành giả nên tự hòa giải với chính mình để loại những vướng mắc không cần thiết—Non-dual Method—Most of us are still attached to duality and have not reconciled essence and marks, existence and non-existence, noumenon and phenomena. We embrace essence and reject marks, we embrace non-existence (emptiness) and reject existence and so on. This kind of wrong view creates a lot of disputes, doubts and perplexity. In fact, there is mutual identity between noumenon and phenomena, phenomena are noumenon, noumenon is phenomena. Buddhist cultivators should reconcile all things and eliminate this unnecessary attachment.
pháp tuân thạch điền
Zen master Fa-Hsun-Shih-T'ien (1170-1244)—Thiền sư Trung Hoa, người đã quan ngại đến sự tồn vong của Thiền, nhưng qua bài thơ ngài lại cả quyết: “Con đường của Tổ tông nhà Thiền thật sâu và hiếm có ai đi được. Nó sâu thẳm mịt mù hơn cái hố sâu không đáy; khỏi cần phải đưa tay giúp đỡ những khách bộ hành, cứ để cho rong rêu trước sân mặc tình xanh lên.” (Tổ sư môn hạ tuyệt nhân hành, thâm hiểm quá ư vạn nhẫn khanh, thùy thủ bất năng không phí lực, Nhiệm giao đường thượng lục đài sanh). Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập II, thừa nhận rằng phong thái của Thiền là phải thế. Tuy nhiên, ngài cho rằng khi rong rêu nơi cửa Thiền chưa từng bị dẫm đạp bởi những bước chân của một chúng sanh nào, thì Thiền sẽ thành ra cái gì? Phải làm sao cho con đường khả dĩ đi được, ít ra trong mức độ nào đó; phải khám phá ra một vài phương tiện giả tạm hầu dễ lôi cuốn những tâm hồn một ngày nào đó trở thành truyền nhân đích thực của Thiền—A Chinese Zen master in the end of the twelfth century. He was so concerned about the destiny of Zen, but he was so determined that there was no other way to penetrate into it. Through a poem he said: “Very dew indeed there are who can walk the path of our Fathers! In depth and steepness an abysmal pit; uselessly I extend the hand to help the passengers; let the moss in my front court grow as green as it chooses.” According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book II, this view of Zen is what we must expect of course of a genuine Zen master. However, when the moss of the Zen courtyard is never disturbed by the footsteps of any human beings, what will become of Zen? The path must be made walkable, to a certain extent at least; some artificial means must be devised to attract some minds who may one day turn out to be true transmitters of Zen.
pháp tuớng bồ tát
Dharmaketu (S)Tên một vị Bồ tát.
pháp tài
The riches of the Law, or the Law as wealth.
; Là thần thông trí huệ, năng lực vô lượng vô biên của tự tánh vốn sẵn có.
; Pháp nầy cũng có thể đem lại lợi nhuận cho mọi người như tiền tài đem lai niềm vui hạnh phúc cho người thế tục—The riches of the Law, or the law as wealth.
; (法財) Đối lại: Thế tài. Chỉ cho Phật pháp, giáo pháp. Vì giáo pháp của đức Phật có năng lực nhuần thấm tinh thần và nuôi lớn tuệ mệnh của chúng sinh, giống như của báu(tài bảo) thế gian, nên ví dụ gọi là Pháp tài. Phẩm Phật quốc kinh Duy ma (Đại 14, 537 hạ) nói: Pháp vương pháp lực vượt quần sinh, thường đem pháp tài để bố thí.
pháp tài vương tử
(法才王子) Chỉ cho vị Vương tử vì gặp nhân duyên xấu ác mà lui mất Chính tâm trụ. Cứ theo phẩm Hiền thánh học quán trong kinh Bồ tát anh lạc quyển thượng, nếu trong 1 kiếp, 2 kiếp, cho đến 10 kiếp liên tiếp, mà không gặp thiện tri thức, thì ắt sẽ lui mất tâm bồ đề. Như trong hội đầu tiên của đức Phật Thích ca có 8 vạn người lui mất tâm này. Trong đó, 3 người là Tịnh mục thiên tử, Pháp tài vương tử và Xá lợi phất, vì gặp nhân duyên xấu ác nên lui vào con đường bất thiện của phàm phu. Kinh này cho rằng Pháp tài vương tử và Xá lợi phất là 2 người khác nhau, nhưng Khởi tín luận bản sớ thính tập kí quyển 15, phần đầu, thì cho rằng Pháp tài vương tử và Xá lợi phất là cùng 1 người, nghĩa là Pháp tài vương tử là tiền thân của ngài Xá lợi phất. [X. luận Đại trí độ Q.12; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ, phần cuối; Đại thừa tứ luận huyền nghĩa Q.2].
pháp tàng
Chân lý Phật Pháp là dấu hiệu tiêu biểu cho sức mạnh chế ngự ma quân—The standard of Buddha-truth as an emblem of power over the hosts of Mara.
Pháp Tánh
(法性, Hosshō, ?-1245): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa thời Liêm Thương, húy là Pháp Tánh (法性), tự Giác Viên (覺圓). Ông theo làm đệ tử của Minh Nhiệm (明任) ở Chánh Trí Viện (正智院) trên Cao Dã Sơn, rồi tu tập yếu chỉ của Mật Giáo với Giác Hải (覺海), và học về sự tướng của Dòng Báo Ân Viện (報恩院流) với Hiến Thâm (憲深) ở Tam Bảo Viện (三寶院). Về sau, ông kiến lập Pháp Tánh Viện (法性院, hay Bảo Tánh Viện [寶性院]) tại Cao Dã Sơn. Vào năm 1242, vì có liên can trong cuộc tranh giành ngôi Tọa Chủ của Kim Cang Phong Tự (金剛峰寺) và Đại Truyền Pháp Viện (大傳法院), ông bị lưu đày đến vùng Xuất Vân (出雲, Izumo) và qua đời tại đó. Ông được xem như là một trong Cao Dã Bát Kiệt (高野八傑, tám nhân vật kiệt xuất của Cao Dã Sơn). Trước tác của ông có Hiển Mật Vấn Đáp Sao (顯密問答抄) 2 quyển.
pháp tánh
Dharma-nature.
; Tathagata-garbha or Dharmata (skt)—Chơn tánh tuyệt đối của vạn hữu là bất biến, bất chuyển và vượt ra ngoài mọi khái niệm phân biệt—Dharma-nature—The nature underlying all things—Thusness—True Suchness—The absolute, the true nature of all things which is immutable, immovable and beyond all concepts and distinctions. Dharmata (pháp tánh) or Dharma-nature, or the nature underlying all things has numerous alternative forms: 1) Pháp định: Inherent dharma or Buddha-nature. 2) Pháp trụ: Abiding dharma-nature. 3) Pháp giới: Dharmaksetra—Realm of dharma. 4) Pháp thân: Dharmakaya—Embodiment of dharma. 5) Thực tế: Region of reality. 6) Thực tướng: Reality. 7) Không tánh: Nature of the Void—Immaterial nature. 8) Phật tánh: Buddha-nature. 9) Vô tướng: Appearance of nothingness--Immateriality. 10) Chân như: Bhutatathata. 11) Như Lai tạng: Tathagatagarbha. 12) Bình đẳng tánh: Universal nature. 13) Ly sanh tánh: Immortal nature. 14) Vô ngã tánh: Impersonal nature. 15) Hư định giới: Realm of abstraction. 16) Bất biến dị tánh: Immutable nature. 17) Bất tư nghì giới: Realm beyond thought. 18) Tự tánh thanh tịnh tâm: Mind of absolute purity, or unsulliedness.
pháp tánh chân như
Pháp tánh và chân như (khác tên nhưng tự thể giống nhau)—Dharma-nature and bhutatathata.
pháp tánh hải
Pháp tánh sâu rộng, không thể đo lường được, ví như biển cả bao la—The ocean of the dharma-nature, vast, unfathomable.
pháp tánh phật
Dharmatabuddha (skt)—Đức Phật của chính bản thể, từ Pháp Thân Phật trong khía cạnh tuyệt đối của nó—The Buddha as Essence itself, i.e., the Dharmakaya in its absolute aspect.
pháp tánh sơn
Pháp tánh như núi, cố định, không lay chuyển được—The dharma-nature as a mountain, i.e. fixed, immovable.
pháp tánh sở lưu phật
Dharmatanishyanda-buddha (skt)—Đức Phật được quan niệm như là phát xuất từ bản thể tối hậu của các sự vật, tức là, một hình tướng của tuyệt đối được hiện ra—The Buddha conceived as flowing out of the ultimate essence of things, that is, a manifested form of the Absolute.
pháp tánh tam muội
Samadhi as the Dharma-nature.
pháp tánh thân
See Pháp Thân.
pháp tánh thường lạc
Pháp tánh (một tên khác của niết bàn) nên có đầy đủ tứ tánh thường lạc ngã tịnh—The eternity and bliss of the dharma-nature.
pháp tánh thủy
Nước pháp cam lồ của Pháp Tánh (thanh tịnh)—The “sweet-dew” water of the dharma-nature (pure).
pháp tánh tông
BhŪtatatayāna (S)Tên một tông phái.
; Trường phái (Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Chân Ngôn) cho rằng vạn hữu đều xuất phát từ thật tánh chân như—Sects (Hua-Yen, T'ien-T'ai, Shingnon) which hold that all things proceed from the bhutatathata (all phenomena are of the same essence as the noumena).
pháp tánh tùy duyên
Pháp tánh tùy duyên hay chân như tùy duyên. Thể của pháp tánh tùy theo nhiễm duyên mà sanh ra, có thể là tĩnh hay động; khi động thì hoàn cảnh bên ngoài trở nên ô nhiễm, mà gây nên phiền não; khi tĩnh là không ô nhiễm hay niết bàn. Khi tĩnh như tánh của nước, khi động như tánh của sóng—The dharma-nature in the sphere of illusion. Dharma-nature, or bhutatathata, in its phenomenal character; the dharma-nature may be static or dynamic; when dynamic it may by environment either become sullied, producing the world of illusion, or remain unsullied, resulting in nirvana. Static, it is like a smooth sea; dynamic, to its waves.
pháp tánh tùy vọng
See Pháp Tánh Tùy Duyên.
Pháp Tánh Tự
(法性寺, Hosshō-ji): ngôi chùa hiện tọa lạc tại số 16 Chome (丁目), Hon-machi (本町), Higashiyama-ku (東山區), Kyōto-shi (京都市). Vào năm 925 (niên hiệu Diên Trường [延長] thứ 3), vị Tả Đại Thần Đằng Nguyên Trung Bình (藤原忠平, Fujiwara-no-Tadahira, 880-949) kiến lập nên chùa này, lấy tượng Lô Xá Na Phật (s: Vairocana, 盧舍那佛) làm tượng thờ chính. Đây là ngôi chùa của dòng họ Đằng Nguyên vốn có thế lực đương thời. Họ cung thỉnh vị Thiên Thai Tọa Chủ Pháp Tánh Phòng Tôn Ý (尊意, Soni, 966-940) làm tổ khai sơn của chùa. Từ đó về sau, nhờ sự trợ lực không ngừng của dòng họ này, chùa tiến hành xây dựng và tạc tượng Phật. Trong đó, công trình trứ danh đáng kể nhất là Ngũ Đại Đường (五大堂) được kiến lập vào năm 1006 (niên hiệu Khoan Hoằng [寛弘] thứ 3), nhân lễ Khánh Hạ 40 tuổi của Đằng Nguyên Đạo Trưởng (藤原道長, Fujiwara-no-Michinaga, 966-1027). Tượng thờ chính của ngôi viện này là tượng ngồi Bất Động Minh Vương (不動明王), hiện được an trí tại Đồng Tụ Viện (同聚院) của Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji). Vào năm 1239 (niên hiệu Diên Ứng [延應] thứ 1), Cửu Điều Đạo Gia (九條道家, Kujō Michiie, 1193-1252) cho xây dựng Đông Phước Tự ở vùng đất này, nên Pháp Tánh Tự bị phế bỏ, rồi lấy tượng đứng Thiên Thủ Quan Âm (千手觀音, tiền bán thế kỷ thứ 10) làm tượng thờ chính. Tương truyền tượng này là tượng Phật thường trì niệm của Tôn Ý, cho nên tên gọi Pháp Tánh Tự vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay.
pháp tánh độ
The ksetra (skt)—Tánh Độ hay cõi mà pháp tánh thân (chơn như) an trụ—Region of the dharma-nature, i.e. the bhutatathata.
Pháp Tánh, Pháp Tính
(s: dharmatā, p: dhammatā, 法性): còn gọi là Thật Tướng Chân Như (實相眞如), Chân Pháp Tánh (眞法性), Chân Tánh (眞性); là tên gọi khác của Chân Như (眞如), v.v.; tuy tên gọi khác mà đồng thể; là thể tánh chân thật của các pháp, cũng là bản tánh chân thật bất biến vốn có của hết thảy hiện tượng trong vũ trụ. Pháp Tánh là gốc của vạn pháp, nên còn gọi là Pháp Bổn (法本). Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 32 lấy tổng tướng và biệt tướng của các pháp cùng quy về Pháp Tánh; cho rằng các pháp có mỗi mỗi tướng (tướng sai biệt của hiện tượng) và thật tướng. Về cái gọi là mỗi mỗi tướng khác nhau, tỷ dụ như sáp ong đốt chảy thành nước, mất đi tướng ban đầu của nó, do vì không cố định, nên phân biệt tìm cầu không thể được; chính vì không thể được nên gọi là “không (空)” (tức không có tự tánh); vì vậy không chính là thật tướng của các pháp. Đối với hết thảy tướng sai biệt mà nói, do vì tự tánh của chúng là không, nên đều là đồng nhất, được gọi là “như (如).” Tất cả các tướng đều quy về không, vì vậy gọi không là Pháp Tánh. Lại nữa, như trong đá màu vàng có đủ tánh chất của vàng, trong tất cả các pháp trên thế gian đều có Pháp Tánh của Niết Bàn; vì vậy mới bảo rằng thật tánh bản nhiên của các pháp là Pháp Tánh. Điều này đồng nghĩa với ý nghĩa gọi là “chúng sanh, quốc độ đồng nhất Pháp Tánh (眾生、國土同一法性, chúng sanh, quốc độ cùng một Pháp Tánh)” trong Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, Taishō Vol. 17, No. 842). Trong Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經, Taishō Vol. 11, No. 310) quyển 52, đức Thích Tôn đã từng khai thị về nghĩa thật tánh của các pháp, dạy rằng Pháp Tánh không có đổi khác, không có tăng thêm, không tạo tác và chẳng có không tạo tác; Pháp Tánh không có phân biệt, không có sở duyên, đối với tất cả pháp có thể chứng đắc thể tướng cứu cánh. Cũng có thuyết cho rằng Như Lai Tạng (如來藏) đồng nghĩa với Pháp Tánh. Các luận sư giải thuyết về Pháp Tánh không giống nhau. Đại Sư Từ Ân (慈恩, tức Khuy Cơ [窺基, 632-682]) của Pháp Tướng Tông thì cho rằng Pháp Tánh là Viên Thành Thật Tánh (圓成實性) trong 3 tánh; Y Tha Khởi Tánh (依地起性) này là nơi nương tựa của hết thảy các pháp hữu vi. Trong khi đó, Gia Tường Đại Sư Cát Tạng (吉藏, 549-623) của Tam Luận Tông lại chủ trương rằng chân không là Pháp Tánh. Kế đến, Hiền Thủ (賢首, tức Pháp Tạng [法藏, 643-712]), vị Tổ thứ 3 của Hoa Nghiêm Tông, cho rằng chân như có hai nghĩa là bất biến và tùy duyên; nếu lấy nghĩa tùy duyên, biến tạo ra các pháp, tuy biến tạo mà vẫn giữ tánh chân như bất biến. Chân như tùy duyên biến tạo vạn pháp như vậy, nên gọi chân như là Pháp Tánh. Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-597) của Thiên Thai Tông luận rằng Pháp Tánh có đủ ô nhiễm, trong sạch, tức tánh thiện tánh ác; vì tánh có đủ thiện và ác, nên sanh ra các pháp ô nhiễm, trong sạch. Như trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 16, Phẩm Thăng Tu Di Sơn Đảnh (昇須彌山頂品) 13, có đoạn: “Pháp Tánh bổn không tịch, vô thủ diệc vô kiến, tánh không tức thị Phật, bất khả đắc tư lường (法性本空寂、無取亦無見、性空卽是佛、不可得思量, Pháp Tánh vốn không lặng, không cầm cũng không thấy, tánh không tức là Phật, suy lường chẳng thể được).” Trong bài tựa của Khởi Tín Luận Tục Sớ (起信論續疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 45, No. 764) quyển 1 giải thích rằng: “Pháp Tánh giả, vị chân như bất biến, tùy duyên nhi năng thành nhất thiết pháp (法性者、謂眞如不變、隨緣而能成一切法, Pháp Tánh nghĩa là chân như bất biến, tùy duyên mà có thể thành tất cả các pháp).” Hoặc trong Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48, No. 2016) quyển 87 cũng có đoạn: “Hựu chư pháp tức Pháp Tánh nhân duyên, nãi chí Đệ Nhất Nghĩa diệc thị nhân duyên (又諸法卽是法性因緣、乃至第一義亦是因緣, lại các pháp là nhân duyên của Pháp Tánh, cho đến Đệ Nhất Nghĩa cũng là nhân duyên).”
Pháp tính
法性; C: făxìng; J: hosshō; |1. Bản tính chân thực của các »pháp« (mọi hiện hữu, mọi hiện tượng). Bản thể của mọi hiện hữu; Thực tại của Phật pháp; Chân như, Pháp giới; 2. Thực tại như đã hoàn chỉnh trong chính nó; 3. Không, tính không.
pháp tính
Hosshō (J), Dharma nature, Dharmatā (S), Suchness, ch nyi (T), Bhuta-tathata (S)Chân như, Phật tính, Thực tướng, bản thể, thực thể;Bổn tánh mọi vật nhờ đó mà mọi vật phát sinh.
; Dharmatà (S). Dharma-nature.
; (法性) Phạm: Dharmatà. Pàli: Dhammatà. Cũng gọi Chân như pháp tính, Chân pháp tính, Chân tính, Pháp bản. Chỉ cho thể tính chân thực của các pháp, cũng tức là bản tính bất biến của hết thảy hiện tượng trong vũ trụ. Cũng là tên khác của Chân như. Theo luận Đại trí độ quyển 32 thì Tổng tướng vàBiệt tướng của tất cả các pháp đều qui về Pháp tính. Nghĩa là các pháp đều có tướng sai biệt và thực tướng; tướng sai biệt không cố định, là bất khả đắc. Vì bất khả đắc nên là không(vô tự tính), cho nên Không là thực tướng của các pháp. Tất cả các tướng sai biệt, vì tự tính của chúng là không, nên đều là đồng nhất, gọi đó là Như. Tất cả tướng đều qui về không, cho nên gọi không là Pháp tính. Trong kinh Đại bảo tích quyển 52, đức Phật chỉ dạy nghĩa thực tính của các pháp, cho rằng Pháp tính không có đổi khác, không có thêm lên, không có bớt đi, không tạo tác nhưng chẳng có gì mà không tạo tác. Pháp tính không có phân biệt, không có sở duyên, trong tất cả pháp, chứng đắc thực tướng cùng tột. Thông thường, có thuyết phân biệt giữa Pháp tính và Như lai tạng, cho rằng Pháp tính và Như lai tạng có khác nhau, nhưng cũng có thuyết chủ trương Pháp tính và Như lai tạng là đồng nghĩa. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.21; kinh Bồ tát địa trì Q.1; luận Thành duy thức Q.2; luận Đại trí độ Q.28; Đại thừa huyền luận Q.3]. (xt. Chân Như, Chân Lí).
Pháp tính bình đẳng
法性平等; C: fă xìng píngděng; J: hosshōbyōdō; |Sự bình đẳng trong thể tính của thực tại.
Pháp tính bình đẳng 法性平等
[ja] ホウショウビョウドウ hosshōbyōdō ||| The equality of the nature of reality. => Sự bình đẳng trong thể tính của thực tại.
pháp tính dung thông
(法性融通) Đối lại: Duyên khởi tương do. Nghĩa là lí pháp tính viên dung trong các hiện tượng. Pháp tính viên dung là nhằm nói rõ nghĩa lí sự vô ngại. Hoa nghiêm kinh chỉ qui (Đại 45, 595 trung) nói: Pháp tính dung thông có nghĩa là nếu chỉ nói đến sự tướng thì chướng ngại lẫn nhau, không thể dung nhập; nếu chỉ bàn về lí tính, thì là nhất vị rồi, không cần nói đến dung nhập. Ở đây nói lí sự dung thông mới là vô ngại. (...) Phẩm Bất tư nghị cũng nói, hết thảy chư Phật ở trong 1 vi trần thị hiện ra các cõi Phật trang nghiêm nhiều như bụi nhỏ trong tất cả thế giới (...) mà vi trần không lớn, thế giới không nhỏ, quyết định rõ biết pháp giới an trụ. Nghĩa là các việc lớn nhỏ ấy đều an trụ nơi lí pháp giới, nhờ đó nên chúng có thể nương vào sự pháp giới lớn nhỏ để cùng tồn tại mà không trở ngại lẫn nhau. (xt. Duyên Khởi Tương Do).
pháp tính hải
The ocean of dharma-nature.
pháp tính không
(法性空) Nghĩa là bản tính của các pháp vốn vắng lặng.Nhân vương kinh hợp sớ quyển trung (Vạn tục 40, 383 hạ) nói: Bản tính không có nghĩa là nếu bản tính chẳng phải là không thì chẳng thể làm cho nó là không. Vì bản tính tự nó là không, cho nên các pháp đều là không. [X. Pháp uyển châu lâm Q.57]. (xt. Pháp Tính).
pháp tính luận
(法性論) Tác phẩm, do ngài Tuệ viễn ở Lô sơn soạn vào đời Đông Tấn. Sách này hiện đã bị thất lạc, chỉ còn 1 phần được trích dẫn trong Tuệ viễn truyện của Lương cao tăng truyện quyển 6. Nội dung sách bàn về sự thường trụ bất biến của đức Phật, nhưng ở thời đại ngài Tuệ viễn, người ta vẫn chưa biết đến thuyết Niết bàn thường trụ, bởi thế, ngài Cưu ma la thập mới ca ngợi kiến thức siêu việt của luận này. Ngoài ra, qua luận này, người ta có thể thấy tư tưởng trong luận A tì đàm tâm, do đó, người ta suy đoán rằng luận này đã được biên soạn vào khoảng thời gian từ năm Thái nguyên thứ 6 đến năm Thái nguyên 16 (381-391), tức là từ lúc ngài Tuệ viễn vào Lô sơn đến khi luận A tì đàm tâm được phiên dịch xong.
pháp tính phật
Dharmatà-Buddha (S).
pháp tính sinh thân
(法性生身) Thân hóa sinh ngoài 3 cõi của Phật và các bậc Đại bồ tát, là 1 trong 5 loại Pháp thân của Như lai, 1 trong 2 thứ thân của Bồ tát. Sinh thân này thể chứng pháp tính, được vô sinh pháp nhẫn, khác với nhục thân ở trong bào thai hoặc do nghiệp chiêu cảm; thân Như lai chính đã sinh ra từ thân Pháp tính này. Nếu phối hợp với 3 thân thì thânnày tương đương với Báo thân Phật mà ngài Cát tạng đã nói. Pháp tính sinh thân của đức Phật có vô lượng vô số a tăng kì các vị bồ tát Nhất sinh bổ xứ theo hầu. Đó là vì trong vô lượng a tăng kì kiếp Phật đã chứa góp các công đức thiện căn, cho nên làm việc gì cũng thành tựu, nguyện nào cũng viên mãn. Còn Bồ tát, sau khi được Vô sinh pháp nhẫn, xả bỏ nhụcđể thụthân đời sau; vì Bồ tát thể nhập được sức vô sinh nhẫn, nên không còn các phiền não, đã chẳng chứng quả Nhị thừa, lại cũng chưa thành Phật, vì thế thân mà Bồ tát thụ trong khoảng đó cũng gọi là Pháp tính sinh thân. Pháp hoa huyền luận quyển 8 đem Nhục thân trong 2 loại thân của Bồ tát phối hợp với Phần đoạn sinh tử mà đem Pháp tính sinh thân phối hợp với Biến dịch sinh tử. Hàng nhị thừa và bồ tát Pháp thân tuy có Pháp tính sinh thân, nhưng đều tùy phần mà lãnh thụ; còn Pháp tính sinh thân của Phật thì có năng lực chiếu suốt pháp tính, cho nên Pháp tính sinh thân chân thực duy chỉ có Phật mới chứng được mà thôi. [X. luận Đại trí độ Q.28, 29; Pháp hoa huyền luận Q.9; Pháp hoa nghĩa sớ Q.7].
pháp tính tam muội
(法性三昧) Chỉ cho Tam muội thể nhập lí pháp tính, tức là những việc làm hằng ngày hoàn toàn phù hợp với lí pháp tính tuyệt đối. Mã tổ ngữ lục (Vạn tục 119, 406 hạ) nói: Hết thảy chúng sinh, từ vô lượng kiếp đến giờ, không ra ngoài Pháp tính tam muội; mặc áo, ăn cơm, nói năng, im lặng, vận dụng 6 căn, làm tất cả việc... đều là pháp tính.
pháp tính thân
Dharmakaya (S)
Pháp tính tông
法性宗; C: făxìngzōng; J: hōshōshū; K: pŏpsŏngjong.|Tên gọi có tính co giãn được dùng sau sự kiện một hệ thống nghiên cứu học thuật Hàn Quốc quan tâm đến đề tài Như Lai tạng (如來藏, s: tathāgatagarbha) và A-lại-da thức (阿頼耶識, s: ālayavijñāna), nhưng là những vấn đề được tiếp cận từ quan điểm »duyên khởi tính« hơn là phát xuất từ những đặc tính riêng. Do vậy, dạng nghiên cứu những vấn đề ngược lại những gì được gọi là »Pháp tướng« (法相, k: pŏpsang). Sự thành lập tông nầy thường được xem là ảnh hưởng của Nguyên Hiểu (元曉, k: wŏnhyo).
pháp tính tông
Dharma-nature sect.
; (法性宗) Cũng gọi Tính tông. Một trong 3 tông Đại thừa do ngài Tông mật –Tổ thứ 5 của tông Hoa nghiêm– phân lập. Tông này cho rằng tâm của tất cả chúng sinh hoàn toàn chẳng phải do dứt trừ phiền não mà được thanh tịnh, nhưng thực thì từ xưa đến nay nó đã vốn thanh tịnh, cho nên tâm của chúng sinh chính là pháp tính. Ngài Tông mật chia Đại thừa làm 3 tông: Pháp tướng, Phá tướng và Pháp tính. Tông Pháp tướng là chỉ cho tông Duy thức dùng 5 vị 100 pháp để kiến lập các pháp tướng; tông Phá tướng chỉ cho tông Tam luận dùng Tứ cú, Bách phi để phá hủy tất cả pháp tướng. Nói theo 5 giáo do tông Hoa nghiêm phân lập thì tông Duy thức tương đương với Tướng thủy giáo, tông Tam luận tương đương vớiKhông thủy giáo, còn tông Pháp tính thì tương đương với Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo, cũng bao gồm các tông Hoa nghiêm, Thiên thai... Ngài Tông mật cũng chủ trương so với 2 tông Pháp tướng và Phá tướng thì tông Pháp tính ưu việt hơn. Trong Tông kính lục quyển 5, ngài Vĩnh minh Diên thọ cho rằng Pháp tướng nói nhiều về sự tướng, như tông Pháp tướng, nếu rời thức A lại da thì không có các thức nhãn, nhĩ...; Pháp tính thì chỉ nói về lí tính, như tông Pháp tính, nếu rời Như lai tạng thì không có các thức. Thông thường, những nhà chủ trương chân như(pháp tính hoặc Phật tính) là nguồn gốc của thế giới thì thuộc tông Pháp tính, những nhà phân tích các pháp tướng, luận chứng vạn pháp duy thức biến thì thuộc tông Pháp tướng. Còn phái Trung quán Đại thừa và tông Tam luận của Trung quốc thì phần nhiều được gọi là tông Pháp tính, cũng có người gọi các tông: Hoa nghiêm, Thiên thai, Tam luận, Chân ngôn... là Pháp tính tông. [X. Viên giác kinh lược sớ Q.thượng, phần đầu]. (xt. Tính Tướng Nhị Tông).
Pháp tính tông 法性宗
[ja] ホウショウシュウ Hōshōshū ||| Dharma-nature school. A name loosely applied after the fact to a system of study in Korea which revolved around issues of tathāgatagarbha 如來藏 and ālayavijñāna 阿頼耶識, but which approached issues from the perspective of "nature arising" rather than arising based on characteristics. Thus, a form of study established in contrast to that of Pŏpsang 法相or "dharma-characteristic." The formation of this school is usually attributed to the influence of Wŏnhyo 元曉. => Tên gọi có tính co giãn được dùng sau sự kiện một hệ thống nghiên cứu học thuật Cao Ly quan tâm đến đề tài Như Lai tạng (s: tathāgatagarbha 如來藏) và A-lại-da thức (ālayavijñāna 阿頼耶識), nhưng là những vấn đề được tiếp cận từ quan điểm 'duyên khởi tính' hơn là phát xuất từ những đặc tính riêng. Do vậy, dạng nghiên cứu những vấn đề ngược lại gọi là Pháp tướng (法相k:Pŏpsang; e: dharma-characteristic). Sự thành lập tông nầy thường được xem là chịu ảnh hưởng của Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo 元曉).
pháp tính tự
(法性寺) Cũng gọi Chế chỉ tự, Chế chỉ đạo tràng. Chùa ở vùng tây bắc Quảng châu, do vị tăng người nước Kế tân sáng lập vào đời Đông Tấn, đặt tên là chùa Vương viên, hiện nay gọi là chùa Quang hiếu. Vào thời Nam triều, ngài Chân đế trụ ở chùa này để phiên dịch kinh điển, các sư Tuệ khải, Tăng tông... cũng theo nhau đến đây tham dự công việc phiên dịch của ngài Chân đế. Khoảng năm Trinh quán, chùa được gọi là Càn minh Pháp tính tự. Niên hiệu Nghi phụng năm đầu (676), Lục tổ Tuệ năng đến chùa này, gặp đúng lúc Pháp sư Ấn tông đang giảng kinh Niết bàn, lúc đó có 2 vị tăng đang tranh luận về vấn đề gió động hay phướn động, ngài Tuệ năng bảo chẳng phải gió động cũng chẳng phải phướn động, mà chính là tâm của 2 nhân giả động. Sau đó, Lục tổ y vào Pháp sư Ấn tông cạo tóc xuất gia, rồi ở dưới cội Bồ đề mở ra pháp môn Đông sơn. Vào đầu đời Bắc Tống, chùa được gọi là Càn minh Thiền viện. Khoảng năm Diên hựu đời Nguyên, chùa đúc 1 cái vạc lớn cúng trai tăng. Khoảng năm Hồng vũ đời Minh, chùa trở thành Tăng lộc sở và được vua ban Đại tạng kinh. Năm Thành hóa thứ 8 (1472), vua ban biển hiệu Quang Hiếu Thiền Tự. Năm Thuận trị 11 (1654) đời Thanh, chùa bị phá hủy trong chiến tranh, sau do Thiền sư Nguyên chí kiến thiết lại cho đến nay. (xt. Quang Hiếu Tự).
pháp tính độ
See Pháp Giới.
; (法性土) Cũng gọi Pháp thân độ, Pháp tính tịnh độ, Pháp độ. Chỉ cho cõi Chân như pháp tính nơi Pháp thân an trụ. Cũng tức là cõi thân Phật an trụ. Là 1 trong Tam độ, 1 trong Tứ độ, 1 trong Ngũ độ. Đại thừa nghĩa chương quyển 19 (Đại 44, 835 trung) nói: Pháp tính độ là bản tính của cõi nước mà các nghĩa đồng thể, rỗng không vô ngại, giống như tấm lưới của trời Đế thích, cũng như hư không, vô ngại bất động, không có 1 vật. (...) Thực tính của cõi ấy hiển hiện thành cái dụng của Ngã, gọi là Pháp tính độ. Ngoài ra, thể của Pháp tính độ và Pháp tính thân vốn tức là chân như, nhưng lấy pháp thể sở chứng làm Pháp tính độ và lấy giác tướng năng chứng làm Pháp tính thân, chứ chẳng phải ngoài Pháp tính thân còn có Pháp tính độ riêng. [X. phẩm Hiền thánh học quán trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; luận Thành duy thức Q.10; Thành duy thức luận thuật kí Q.10, phần cuối; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.1; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.1; Đại minh tam tạng pháp số Q.20]. (xt. Ngũ Độ, Tứ Độ, Phật Độ).
Pháp tính 法性
[ja] ホウショウ hosshō ||| The true, original nature of all "dharmas" (all existences/manifest phenomena). The original essence of all being; the Buddhist reality; Suchness, dharma-realm. (2) Reality as complete in itself. (3) Emptiness; the nature of emptiness. => 1. Bản tính chân thực của các 'pháp' (mọi hiện hữu, mọi hiện tượng). Bản thể của mọi hiện hữu; Thực tại của Phật pháp; Chân như, Pháp giới. 2. Thực tại như đã hoàn chỉnh trong chính nó. 3. Không, tính không.
Pháp tòa
(法座): có ba nghĩa khác nhau. (1) Tòa ngồi của chư Phật. (2) Tòa ngồi của vị tăng thuyết pháp. (3) Chỗ ngồi của hội chúng tập trung nghe thuyết pháp. Như trong Phật Thuyết Trừ Cái Chướng Bồ Tát Sở Vấn Kinh (佛說除蓋障菩薩所問經, Taishō Vol. 14, No. 489) quyển 14 có đoạn: “Thiện nam tử, thử nhất tọa giả thị vị nhất thiết trí tòa, diệc danh pháp tòa; thị cố Bồ Tát nhất đăng kỳ tòa nhi vĩnh bất động, thị tức danh vi nhất tọa chi pháp (善男子、此一坐者是謂一切智座、亦名法座、是故菩薩一登其座而永不動、是卽名爲一坐之法, Này thiện nam tử ! Tòa ngồi này là chỗ ngồi của tất cả trí tuệ, cũng gọi là pháp tòa; cho nên vị Bồ Tát một khi đã lên tòa này thì vĩnh viễn bất động, đó tức gọi là pháp một tòa ngồi).” Hay trong Hoa Nghiêm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Tu Chứng Nghi (華嚴普賢行願修證儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1472), phần Khải Thỉnh Thánh Hiền (啟請聖賢) thứ 7, cũng có đoạn: “Hành giả sơ nhập đạo tràng, xưng niệm Phổ Hiền Bồ Tát, toàn nhiễu nhất tráp, chí pháp tòa tiền, phu ni sư đàn, chánh thân hiệp chưởng trữ lập (行者初入道場、稱念普賢菩薩、旋遶一匝、至法座前、敷尼師壇、正身合掌佇立, hành giả ban đầu mới vào đạo tràng, xưng niệm Phổ Hiền Bồ Tát, đi nhiễu quanh một vòng, đến trước pháp tòa, trãi Tọa Cụ ra, thân ngay thẳng chấp tay đứng hồi lâu).”
pháp tôn
(法尊) I. Pháp Trần. Bụi pháp. Chỉ cho các pháp (đối tượng) mà ý thức duyên theo, 1 trong 6 trần. Trong các kinh, phiền não thường được ví dụ là bụi bặm, vì các phiền não thường làm cho tình thức ô nhiễm, cho nên gọi là Pháp trần. Kinh Lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 109 thượng) nói: Dù cho bên trong diệt hết tất cả kiến, văn, giác, tri (thấy, nghe, hiểu, biết), hoàn toàn vắng lặng, nhưng vẫn còn bóng dáng phân biệt của Pháp trần. Pháp trần cũng tương đương với Pháp xứ trong 12 xứ, với Pháp giới trong 18 giới; hoặc chỉ cho hiện tượng khiến người ta khởi tâm chấp trước. (xt. Lục Trần). II. Pháp Trần. Chỉ cho người tu hành đắm trước Phật pháp mà sinh khởi tâm mê vọng, Phật pháp này đối với người ấy cũng gọi là Pháp trần.Bích nham lục tắc 83 (Đại 48, 209 thượng) nói: Há chẳng biết lời nói của bậc Tông sư là dứt hết ý thức, tình lượng, sinh tử, pháp trần, nhập vào chính vị, không còn một pháp.
pháp tùy duyên
Giáo pháp của Phật mà mỗi người nghe hiểu và lợi lạc khác nhau—Indeterminate teaching—The teaching of the Buddha from which his listeners each knowing received a different benefit.
pháp tú
Fa Siou (C), Dharmamitra (S)Đàm ma mật đa, Vị Sa môn Afghanistan dịch kinh ở Tàu năm 424 - 442.
pháp tăng
Dharmavivardhana (S)Pháp danh của Thái tử Câu na la.
pháp tương ưng bộ
Dhamma-Yuttikanikāya (P).
; (法相應部) Pàli: Dhamma-yuttikanikàya. Một giáo phái riêng trong Phật giáo Thượng tọa bộ lưu hành ở Thái lan, Cao miên và Lào. Tại Thái lan, phái này do vua Mông cốt sáng lập vào năm 1864; tại Cao miên do 1 vị tăng tên là Phách tô tháp sáng lập vào hậu bán thế kỉ XIX; còn ở Lào thì phái này từ Thái lan truyền qua vào năm 1941. Tại Thái lan, bộ phái Pháp tương ứng chỉ giới hạn trong Hoàng gia và hàng quí tộc mà thôi. Chùa viện của phái này được gọi là chùa Hoàng gia. Chức vị Trụ trì do Quốc vương bổ nhiệm và chủ yếu do các Vương tử đảm nhiệm. Các tăng sĩ thuộc phái này giữ giới luật rất nghiêm, như không được nhận tiền bạc, không được xem nghe múa hát... Tổ chức tăng đoàn của phái này rất chặt chẽ, vị lãnh đạo tối cao gọi là Tăng trưởng (tại Thái lan, trên 2 vị Tăng trưởng của 2 phái còn có Tăng vương –vua Sãi– thường thì do vị Tăng trưởng của 1 trong 2 phái kiêm nhiệm), dưới đó có thiết lập các cơ cấu hành chính và Tăng trưởng các cấp. Ngoài ra, phái này cũng coi trọng kinh điển Phật giáo nguyên thủy và giáo dục Phật giáo, mở các trường học, trong đó có Đại học Ma ha chu lạp long công.
Pháp tướng
法相; C: făxiāng; J: hossō; |Pháp tướng tông (法相宗).
pháp tướng
tướng trạng, hình tướng của các pháp. Mỗi sự vật có hình tướng riêng biệt hiện ra bên ngoài và thể tánh không hình tướng. Người phàm tục chỉ thấy hình tướng mà không thấy thể tánh nên không thể thấy biết các hình tướng ấy đúng như chúng thật có. Bậc tu hành chứng ngộ thấu suốt cả hình tướng và thực tánh các pháp, nên mới có thể rõ biết các tướng của pháp đúng như thật có.
; Dharmalakṣaṇa (S).
; The aspects or characteristics of things - all things are of nomad nature but differ in form.
; 1) Pháp tướng được ví với một vị Tăng cao hạ, có đạo đức lãnh đạo Tăng đoàn: Dharma-generals, i.e. monks of high character and leadership. 2) Vẻ bề ngoài của vạn hữu: The aspects or characteristics of things—Things.
; (法將) Vị tướng trong Phật pháp. Bồ tát hoặc các vị Cao tăng, Đại đức đối với đệ tử ví như vị Đại tướng trong quân đội. Ngoài ra, các vị tăng tinh thông nghĩa lí của pháp môn, khi tranh luận với người khác đều dành được thắng lợi, cũng gọi là Pháp tướng, như Đại sư Huyền trang ở Ấn độ từng được tôn là Pháp tướng, vì ngài đã dành phần thắng trong nhiều cuộc tranh luận với các người Bà la môn. Luận Đại trí độ quyển 7 (Đại 25, 109 thượng) nói: Đức Phật là Pháp vương, Bồ tát là các Pháp tướng. [X. Thích thị yếu lãm Q.trung; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3; Đại đường tây vực kí Q.12].
; (法相) I. Pháp Tướng. Tướng trạng của các pháp. Chủ trương đặc biệt của tông Duy thức là phân tích hoặc phân loại và thuyết minh tướng trạng của các pháp, vì thế tông này cũng được gọi là tông Pháp tướng. [X. phẩm Nhất thiết pháp tướng trong kinh Giải thâm mật Q.2; luận Đại tì bà sa Q.129; phẩm Chúng pháp trong luận Thành thực Q.1 và phẩm Tứ pháp trong cùng luận Q.2]. II. Pháp Tướng. Chỉ cho phạm vi, sự khu biệt, cương yếu về mặt giáo nghĩa. III. Pháp Tướng. Chỉ cho Chân như, Thực tướng. Đồng nghĩa với Pháp tính. (xt. Pháp Tính).
Pháp tướng giáo
法相教; C: făxiāngjiāo; J: hossōkyō; |1. Giáo lí Pháp tướng tông, dạng Á Đông của Du-già hành phái Ấn Độ. Được miêu tả như một dạng giáo lí đặc biệt với sự phân loại nhiều hệ thống học thuyết, đặc biệt tương phản với giáo lí Bát-nhã về Tính không; 2. Theo 5 hệ thống giáo lí (五教) mà Tông Mật phân định thì Pháp tướng giáo là giáo lí về sự trình hiện của các pháp (hiện tượng giới của các pháp)
Pháp tướng giáo 法相教
[ja] ホッソウキョウ hossōkyō ||| (1) The teachings of the dharma-character (Faxiang) 法相 school--the East Asian version of Yogācāra 瑜伽行派. This is characterized as a special type of teaching with the various doctrinal classification schemes, especially as distinguished from the prajñāpāramitā teachings of emptiness. 〔二障義 HPC 1.814a〕( (2) In Zongmi's fivefold scheme 五教, the teaching of the phenomenal appearances of elemental constructs. => Giáo lý Pháp tướng tông. Phiên bản Á Đông của Du-già hành phái Ấn Độ. Đây là biểu thị đặc điểm như là một dạng đặc biệt của giáo lý với sự phân loại nhiều hệ thống học thuyết, đặc biệt là khác hẳn với giáo lý Bát-nhã về Tính không. Theo 5 hệ thống giáo lý mà Tông Mật phân định (Ngũ giáo 五教), đây là giáo lý về sự trình hiện của các cấu trúc cơ bản (hiện tượng giới của các pháp).
pháp tướng kinh
Mayini sŪtra (S)Ma da ni KinhTên một bộ kinh.
pháp tướng pháp
(法相法) Đối lại: Thắng nghĩa pháp. Chỉ cho giáo lí của Phật giáo. Pháp tướng pháp là bàn giải rõ nghĩa lí của các pháp môn, còn Thắng nghĩa pháp là Niết bàn, Trạch diệt chân thực không hư dối, không đổi dời. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 1 trung) nói: Thắng nghĩa pháp chỉ là Niết bàn, còn Pháp tướng pháp thì chỉ chung cho Tứ thánh đế. (xt. Thắng Nghĩa).
Pháp Tướng Tông
(法相宗, Hossō-shū): tên gọi học phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc và Nhật Bản, một trong 6 tông phái lớn vùng Nam Đô, lấy các bộ kinh luận như Giải Thâm Mật Kinh (解深蜜經), Thành Duy Thức Luận (成唯識論), v.v., làm điển cứ cho rằng hết thảy tồn tại là không thật, do tâm này tạo ra, cho nên ngoài A Lại Da Thức ra thì không có gì tồn tại cả. Vào năm 653 (năm thứ 4 niên hiệu Bạch Trỉ [白雉]), Đạo Chiêu (道昭, Dōshō) sang nhà Đường cầu pháp và được chân truyền trực tiếp từ Huyền Trang (玄奘, 602-664). Ông được xem như là người chân truyền thứ nhất. Tại Trung Quốc, tông phái này dần dần đi đến suy vong; nhưng lại hưng thịnh ở Triều Tiên và Nhật Bản. Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji), Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji) và Dược Sư Tự (藥師寺, Yakushi-ji) là những ngôi chùa trung tâm phát triển rực rỡ của tông này tại Nhật. Trong 6 tông phái của vùng Nam Đô, với chủ trương thuyết về Tam Thừa, Pháp Tướng Tông thường tiến hành những cuộc luận tranh về tông nghĩa với Tam Luận Tông cũng như Thiên Thai Tông vốn thuyết về Nhất Thừa.
Pháp tướng tông
法相宗; C: fǎxiàng-zōng; J: hossō-shū;|Hình thái Á Đông của Du-già hành phái Ấn Độ. Tông nầy do Huyền Trang lập nên, khi trở về Trung Hoa sau chuyến cầu học ở Ấn Độ, sư đã mang về rất nhiều những tác phẩm quan trọng của Duy thức tông. Với sự hỗ trợ của triều đình và nhiều người phụ tá, sư đã dịch những kinh văn nầy sang tiếng Hán. Giáo lí Pháp tướng tông đã được truyền sang Hàn Quốc (k: pŏpsang), Nhật Bản (j: hossō), nơi tông nầy đã có được những ảnh hưởng đáng kể. Mặc dù Pháp tướng tông chìm dần như một tông phái độc lập, nhưng giáo lí Duy thức vẫn tạo nên một ảnh hưởng lớn mà sau nầy giáo lí ấy phát triển trong những truyền thống Á Đông, đáng kể nhất là tông Thiên Thai, Hoa Nghiêm tông và Thiền tông. Peter Gregory nhận xét: »Pháp tướng tông liên hệ đặc biệt với tư tưởng của Huyền Trang và Khuy Cơ, không như những hình thái cổ điển của Du-già hành phái Trung Hoa, Pháp tướng tông khước từ ý niệm Như Lai tạng nên phủ nhận cảnh giới chứng ngộ mà có thể trực nhận được, từ lí do đó, nên tông này chỉ được xem như một hình thái sơ đẳng theo cách nhìn của Hoa Nghiêm tông Đại thừa. Thuật ngữ Pháp tướng tự nó được dùng đầu tiên bởi nhà tư tưởng Hoa Nghiêm tông là Pháp Tạng, để nhấn mạnh vị thế thứ yếu của giáo lí Pháp tướng, vốn chỉ đề cập đến »sự trình hiện của chư pháp« tương phản với giáo lí Hoa Nghiêm, đề cập đến hạ tằng của »tính« mà các trình hiện của chư pháp lấy làm nền tảng«. (Gregory-1995: 213). Xem Du-già hành phái (瑜伽行派) và Duy thức (唯識).|Tông này mang tên Pháp tướng vì họ chuyên nghiên cứu về »Tướng của các Pháp« (法相; s: dharmalakṣaṇa). Pháp tướng tông xem toàn bộ thế giới do 100 pháp tạo thành, được chia làm 5 nhóm: I. 8 Tâm pháp (心法; s: cittadharma), II. 51 Tâm sở hữu pháp (心所有法; s: caitasikadharma), III. 11 Sắc pháp (色法; s: rūpadharma), IV. 24 Tâm bất tương ưng hành pháp (心不相應行法; cittaviprayukta-saṃskāradharma); V. 6 Vô vi pháp (無爲法; asaṃskṛtadharma).|100 pháp của Pháp tướng tông bao gồm cụ thể:|I. 8 Tâm pháp (cittadharma): bao gồm tám thức Thức (vijñāna), là A-lại-da, ý thức (manas), Mạt-na thức (manovijñāna), và năm thức cảm giác khác;|II. 51 Tâm sở hữu pháp (caitasikadharma), bao gồm 51 Tâm sở (theo lối sắp xếp của Duy thức tông);|III. 11 Sắc pháp (rūpadharma), tức là các hiện tướng sinh lí, vật lí, bao gồm: 1. Nhãn căn: mắt, cơ quan giúp cho nhãn thức phát sinh; 2. Nhĩ căn: lỗ tai, cơ quan giúp nhĩ thức phát sinh; 3. Tỉ căn: mũi, cơ quan giúp tỉ thức phát sinh; 4. Thiệt căn: lưỡi, cơ quan giúp thiệt thức phát sinh; 5. Thân căn: da thịt, cơ quan giúp cho thân thức phát sinh; 6. Sắc trần: đối tượng của nhãn thức; 7. Thanh trần: âm thanh, đối tượng của nhĩ thức; 8. Hương trần: mùi hương, đối tượng của tỉ thức; 9. Vị trần: đối tượng của thiệt thức; 10. Xúc trần: đối tượng của thân thức; 11. Pháp xứ sở nhiếp sắc: chỉ các vật có hình, danh, sắc, tướng trong pháp giới.|IV. 24 Tâm bất tương ưng hành pháp (cittavi-prayukta-saṃskāradharma), chỉ các pháp độc lập với tâm, bao gồm: 1. Ðắc (prāpta): sự hình thành của các pháp; 2. Mệnh căn (prāṇa): sự sống của sinh mệnh; 3. Chúng đồng phận (nikāyasabhāga): sự giống nhau trong từng loại; 4. Dị sinh tính (visabhāga): sự khác biệt của từng loại; 5. Vô tưởng báo (āsaṃjñika): quả báo vô tưởng; 6. Vô tưởng định (asaṃjñāsamāpatti): sự tạm diệt của các tâm sở; 7. Diệt tận định (nirodhasamāpatti); 8. Danh thân (nāmakāya): sự cấu thành của các danh từ; 9. Cú thân (padakāya): sự cấu thành của từng câu; 10. Văn thân (vyañjaṇakāya): sự cấu thành của các mẫu tự và các vạch; 11. Sinh (jāti): sự phát sinh, hình thành của các pháp; 12. Trụ (sthitī): sự tồn tại nhất thời của các pháp; 13. Lão (jāra): sự suy tàn của các pháp; 14. Vô thường (anityā); 15. Lưu chuyển (pravṛtti): sự biến chuyển liên tục theo luận nhân quả; 16. Ðịnh dị (pratiniyama): sự sai khác của các hiện tượng nhân quả; 17. Tương ưng (yoga): sự liên hợp với nhau của các pháp; 18. Thế tốc (jāva): sự chuyển biến mau lẹ của các pháp; 19. Thứ đệ (anu-krama): trật tự trong sự chuyển biến của các pháp; 20. Phương (deśa): không gian; 21. Thời (kāla): thời gian; 22. Số (saṃkhyā): số lượng của các pháp; 23. Hoà hợp tính (sāmagrī): tính hoà hợp của các pháp; 24. Bất hoà hợp tính (anyathātva): tính bất hoà hợp của các pháp.|V. 6 Vô vi pháp (asaṃkṛtadharma), các pháp không tuỳ thuộc, Vô vi (asaṃkṛta), bao gồm: 1. Hư không vô vi; 2. Trạch diệt vô vi; 3. Phi trạch diệt vô vi; 4. Bất động diệt vô vi; 5. Tưởng thụ diệt vô vi; 6. Chân như vô vi;|Trong lúc các trường phái khác xem thức là một pháp thì Pháp tướng tông cho rằng có tám dạng của thức, gồm có: 1-5, năm thức của năm giác quan; 6. Ý thức (manovijñāna), là thức suy nghĩ, đánh giá đo lường các ấn tượng do năm thức kia mang lại; 7. Mạt-na (manas), thức tự ý thức về chính mình, thức »ô nhiễm«, là thức nghĩ rằng mình có một cái ta và 8. A-lại-da thức (ālayavijñāna), thức tàng chứa tất cả các kinh nghiệm của đời sống vô tận. A-lại-da thức được xem mênh mông như biển cả, bản thân nó không chủ động tạo tác. Nhưng một khi Mạt-na tác động lên A-lại-da thức thì những chủng tử nằm sẵn trong A-lại-da thức được khởi động và tạo tác những sự vật tưởng chừng như khách quan. Mạt-na là thức liền phân biệt khách thể chủ thể, tạo nên ý thức nhị nguyên, ý thức về một cái »ta« và »cái không phải ta«. Sáu giác quan (kể cả ý thức) là những kẻ báo cho Mạt-na các thông tin từ bên ngoài, không hề đánh giá tốt xấu. Và chính Mạt-na là kẻ đánh giá phải trái hay dở, ra lệnh cho sáu ý thức kia hoạt động và phản ứng. Ðồng thời, Mạt-na thức lại đưa các cảm giác hay Chủng tử (bīja) đó vào A-lại-da thức. Chủng tử này lại là kẻ ảnh hưởng và tạo tác lên thế giới bên ngoài và vòng tròn ấy tiếp tục vô cùng tận. Mạt-na được xem là gạch nối giữa sáu ý thức kia và A-lại-da thức, là kẻ tưởng mình có một cái ta, là kẻ gây »ô nhiễm« lên A-lại-da thức. Muốn tránh vòng tròn ô nhiễm vô tận đó, hành giả phải chấm dứt hoạt động đầy phân biệt của Mạt-na, biến thức này thành »Bình đẳng tính trí«, là thức đứng trên mọi tính chất nhị nguyên. Nhờ đó, hành giả đạt được tri kiến về tính chất huyễn hoặc của vạn sự.|Pháp tướng tông chia đặc tính xuất hiện của các pháp làm ba (s: trisvabhāva): 1. Huyễn giác hay Biến kế sở chấp (parikalpita), hiện tượng xuất hiện theo ý tưởng tượng của con người; 2. Y tha khởi (paratantra): Chân lí xuất hiện có tính thời gian, dựa lên nhau mà có; 3. Cấp Viên thành thật (pariniṣpanna): đây là cấp bậc của Chân như thường hằng, vượt trên mọi điều kiện và mọi tương đối. Tính chất của cấp này là bất nhị, đó là sự thật »như như« (如如; s: tathatā), trong đó mọi hiện tượng và tính chất riêng biệt đều được chuyển hoá. Ðó là Niết-bàn, là trạng thái đích thật của Chân như. Muốn đạt được cấp cuối cùng, hành giả phải vượt qua mọi tiến trình tu dưỡng và phát triển tâm, phải đạt Phật quả. Muốn thế, năm thức đầu tiên phải biến thành Thành sở tác trí, ý thức thành Diệu quan sát trí, Mạt-na thức thành Bình đẳng tính trí và A-lại-da thức thành Ðại viên kính trí (xem Năm trí).|So với các giáo phái Ðại thừa khác, Pháp tướng tông có chỗ khác biệt là không công nhận mỗi chúng sinh đều có Phật tính và có thể đắc quả Phật. Ví dụ như Nhất-xiển-đề (s: icchantika) là kẻ không bao giờ đạt Phật quả. Sau đời Ðường, Pháp tướng tông bị mất uy tín nhiều cũng vì quan điểm này.
pháp tướng tông
Dharmalakṣaṇa School, Fa-sieng-tsong (C), Fa-hsiang tsung (C), Faxiang-zong (C), Hossō-shŪ (J), Dharmala-kṣaṇayāna (S), Hosso school Tên một tông phái thuộc Duy thức tông được ngài Huyền trang và đệ tử ngài là Khuê Cơ hệ thống hóa giáo thuyết. Còn gọi là Duy thức tông, Tứ ân tông vì lấy bộ kinh Duy thức luận và Thành duy thức luận làm kinh căn bản. Ngài Từ Ân đại sư (Khuy cơ), đệ tử ngài Huyền Trang, có công lớn trong việc truyền bá.
; Dharma-laksana sect (S), Hossô-shu (J), Fa-hsiang (C)
; Dharmalaksana (skt). (A) Còn gọi là Du Già Tông, Nhiếp Luận Tông hay Duy Thức Tông—Also called Yogacara Sect, Samparigraha School, or Consciousness-Only School. 1) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong quyển “Cương Yếu Triết Học Phật Giáo,” Pháp Tướng có nghĩa là “những sự tướng biểu hiện của các pháp.” Pháp ở đây chỉ cho các sự thể thuộc vật chất và tinh thần (sắc và tâm), bởi vì đối tượng chính của tông phái nầy là truy cứu về bản chất và phẩm tính của mọi hiện hữu. Sơ Tổ của tông phái nầy là Ngài Vô Trước, anh ruột của ngài Thế Thân, tác giả của bộ Du Già Sư Địa Luận. Tại Ấn Độ, đầu tiên tông nầy được gọi là Du Già Tông, chỉ cho sự thực hành về phép quán tưởng. Sau khi trở về với Đại Thừa, Thế Thân đã tập đại thành các quan điểm triết học của Du Già Tông, đã quy định chủ điểm của tông nầy là “Duy Thức,” đặt sự hiện hữu của tất cả ngoại giới nơi thức. Nói tắt là chỉ có thức hiện hữu. Trên phương diện thể tánh luận, tông nầy đứng giữa các tông phái chấp “Hữu” và chấp “Vô.” Nó không chấp vào học thuyết tất cả mọi sự thể đều hiện hữu, vì quan niệm rằng không có gì ngoài tác động của tâm, cũng không chấp vào học thuyết chẳng có gì hiện hữu, vì quả quyết rằng có sự hiện hữu của các thức. Tông nầy hoàn toàn tán đồng học thuyết “Trung Đạo,” không bao giờ đi đến cực đoan của chủ trương “hữu luận” cũng như “vô luận.” Như vậy tông nầy có thể được mệnh danh là “Duy Tâm Thực Tại Luận” hay “Thức Tâm Luận.” Danh hiệu chính thức của nó là “Duy Thức,” hay Tánh Tướng Học, khảo cứu về bản tánh và sự tướng của các pháp—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, Dharma-laksana means “Characteristics of Dharma,” Dharma here denoting things substantial and mental, or matter and mind, for the chief object of this school is to investigate the nature and qualities of all existences. The first founder of the school was Asanga, an elder brother of Vasubandhu, who was the author of the text “Yogacara-bhumi.” In India the school was formerly called Yogacara, which means the practice of self-concentration. Vasubandhu, when he was converted to Mahayana by his brother and succeeded in the systematizing the philosophical views of the Yogacara School, designated the tenet of the school as Mere Ideation (Vijnaptimatra), attributing the existence of all the outer world to inner ideation. In short, holding that nothing but ideation exists. As to ontology this school stands between the realistic and nihilistic schools, given above. It adheres neither to the doctrine that all things exist, because it takes the view that nothing outside the mind (mental activity) exists, nor to the doctrine that nothing exists, because it asserts that ideations do exist. It firmly adheres to the doctrine of the mean, neither going to the extreme of the theory of existence nor to that of non-existence. This school can, therefore, be called the “ideal-realism” or “Ideation Theory.” The academic name of this school is “Mere Ideation,” or Vijnaptimatra (Ideation Only), a study of Nature and Characteristics of dharmas or elements. 2) Pháp Tướng tông tuy là duy thức, lại dùng khuôn mẫu của phương pháp phân tích dùng trong các tông phái thuộc Thực tại và Hư vô luận, và phân thế giới hiện hữu làm năm loại, gồm 100 pháp (see bách Pháp Pháp Tướng Tông). Một đặc điểm là tông nầy chia Tâm làm tám thức, mỗi thức là một thực tại biệt lập. Không có tông phái nào khác trong Phật Giáo có một học thuyết như thế. Thêm vào năm thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) còn có giác quan thứ sáu, ý thức; thức thứ bảy, tự ý thức; và thức thứ tám là tạng thức. Hai thức bảy và tám được gọi là mạt na và a lại da thức: The Dharmalaksana, though idealistic, takes the model of the analytical method used in the Realistic and Nihilistic Schools, and classifies the world of becoming into five categories which are subdivided into one hundred dharmas (see Bách Pháp Pháp Tướng Tông). A special of this school is that the mind is divided into eight consciousnesses, each being a separate reality. No other school of Buddhism has such a doctrine. In addition to the first five mental faculties (eye, ear, tongue, skin-sense or consciousnesses) there are the sixth, the sense-center, a general perceiving organ or conscious mind; the seventh, the thought-center or the self-conscious mind, and the eight, the store-center or store-consciousness. The last two are called Manas (thought) and Alaya (store-consciousness). a) Trong số tám thức nầy, năm phần đầu họp thành thức (vijnana): Among these eight consciousnesses the former five constitute the sense-consciousness (Vijnana). b) Thứ sáu là trung tâm giác quan tạo các khái niệm do những tri giác đạt được từ thế giới bên ngoài: The sixth, the sense-center, forms conceptions out of the perceptions obtained from the outside. c) Thứ bảy là ý (manas): The seventh is thought (Manas)—Mạt na thức là trung tâm tư tưởng, suy nghĩ, yêu cầu và suy luận dựa trên nền tảng ý thức—The seventh, the thought-center, thinks, wills and reasons on a self-centered basis. d) Thứ tám là tâm (citta): The eighth is mind (citta)—Thức thứ tám là A Lại Da thức, chứa giữ những chủng tử, nghĩa là giữ những hiệu quả hay năng lực của tất cả những hiện hành—The eighth, the store-center, store seeds, i.e., keeps efficiency or energy for all manifestations. e) Thức thứ sáu, bảy, và tám luôn luôn dựa vào nhau mà hoạt động, bởi vì thức thứ sáu là tâm điểm chung cho tri giác và tri nhận hướng nội; nó hoạt động hướng ngoại dựa trên mạt na thức, mà thức nầy lại dựa trên a lại da thức. Mạt na đáp ứng cho tự thức, tự quan tâm hay những xu huớng vị kỷ. Nhiệm vụ chủ thể của thức thứ tám được thức thứ bảy xem như là “Ngã” mặc dầu trong thực tế không có gì là “Ngã” cả. Ý tưởng về “Ngã giả ảo” nầy làm nhiễm ô tất cả những tư tưởng khiến khơi dậy ý tưởng về cá thể hay tự ngã: The sixth, the seventh and the eighth always act on one another, for The sixth is the general center of perception and cognition inwardly which acts outwardly on the basis of the thought-center which inturn acts on the basis of the all-storing center. The Manas is responsible for self-consciousness, self-interest, or selfish motives. The subjective function of the eighth is seen and regarded by the seventh as self (atman) thought in reality there is no such thing as self. This false idea pollutes all thoughts and gives rise to an idea of individual or personal ego or soul. 3) For more information, please see Tam Chủng Hiện Hữu. (B) Còn gọi là Đại Thừa Duy Thức Tông. Tông nầy chia giáo pháp của Phật ra làm ba thời kỳ—Mahayana Dharmalaksana school (Duy Thức Tông) which devides the Buddha's Teaching into three periods in which he taught: 1) A Hàm: The unreality of the ego. 2) Bát Nhã: The unreality of the djarmas. 3) Giải thâm mật: Sandhinirmocana-sutra—The middle or uniting way. (C) Nhiếp Luận Tông là tiền thân của Pháp Tướng Tông. Một tác phẩm tiêu biểu của Đại Thừa Duy Tâm Luận được gọi là Nhiếp Đại Thừa Luận, do Vô Trước viết vào thế kỷ thứ 5, và Thế Thân chú giải, được Phật Thủ dịch sang Hán văn vào năm 531, và Chân Đế dịch vào năm 563; lại được ngài Huyền Trang dịch lần nữa vào khoảng 648-649. Trong các bản dịch nầy, bản thứ hai của Chân Đế làm căn bản cho Nhiếp Luận Tông ở Trung Hoa. Chân Đế quê ở Ujjayini, có lẽ quan hệ đến đại học Valabhi, một trung tâm học Phật, ông đến Trung Hoa năm 548, và trong khoảng thời gian từ đó đến năm 557, ông đã dịch 32 tác phẩm. Người ta nói ông cũng viết trên 40 tác phẩm khoảng 200 quyển. Đối tượng chính của ông là truyền bá học thuyết A Tỳ Đạt Ma Câu Xá và Nhiếp Đại Thừa Luận. Hoạt động văn học và tôn giáo của ngài dường như đã có ảnh hưởng lớn trong tâm khảm của người Trung Hoa qua sự kiện ngài đã có những đệ tử tài ba sau nầy. Chân Đế là người đã thiết lập Câu Xá và Nhiếp Luận Tông. Hoạt động của ông được xếp ngang hàng với ngài Cưu Ma La Thập, người xuất hiện trước ngài, và Huyền Trang người sanh ra sau ngài—The Samparigraha (She-Lun) school, the forerunner of the Dharmalaksana School. A representative work of Mahayana idealism named the Acceptance of the Great Vehicle (Mahayana-samparigraha) was written by Asanga in the fifth century, annotated by Vasubandhu (420-500), and translated into Chinese in 531 by Buddhasanta, in 563 by Paramartha, and again by Hsuan-Tsang during 648-649). Of these, the second, Paramartha's translation, laid the foundation of the She-Lun School in China. Paramartha, a native of Ujjayini, probably connected with Valabhi University, a center of Buddhist learning, came to China in 548, and between that time and 557 translated thirty-two texts. He is also said to have written more than forty works, altogether amounting to two hundred Chinese volumes. His chief object was to propagate the doctrine of the Abhidharma-kosa and the Mahayana-samparigraha. His literary and religious activity seems to have greatly influenced the Chinese mind of the time as is testified by the fact that he had many able pupils under him. Paramartha founded the realistic Kosa School, as we have seen before, and the Samparigraha School. His activities can be compared only with Kumarajiva who came before him and Hsuan-Tsang who came after him. (D) Các dòng truyền thừa—Lines of transmission: Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, ở Ấn Độ, sau khi Thế Thân tịch diệt, dường như có đến ba dòng truyền thừa của Du Già Duy Tâm Luận—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, in India, after the death of Vasubandhu, there seem to have been three lines of transmission of Yogacara Idealism. 1) Dòng đầu tiên là vào thế kỷ thứ năm, truyền chi Trần Na (Dignaga), Vô Tánh (Agotra) và Hộ Pháp (Dharmapala); trung tâm dòng nầy là trường đại học Na Lan Đà. Giới Hiền gốc người Na Lan Đà và vị đệ tử là Huyền Trang cũng thuộc dòng nầy: The first was the line of Dignaga in the fifth century, Agotra, and Dharmapala whose center of transmission was Nalanda University. Silabhadra of Nalanda and his Chinese pupil Hsuan-Tsang belong to this line. 2) Dòng thứ hai là truyền chi Đức Tuệ (Gunamati) và An Huệ (Sthiramati) mà nơi truyền thừa dường như là ở đại học Valabhi; Chân Đế, sáng tổ Nhiếp Luận Tông ở Trung Hoa thuộc dòng nầy: The second was the line of Gunamati and Sthiramati whose center of transmission seems to have been Valabhi University; Paramartha, the founder of Shê-Lun School in China, belongs to this line. 3) Dòng thứ ba là truyền chi của Nan Đà (Nanda), người mà giáo nghĩa được Chân Đế theo đuổi, và Thắng Quân (Jayasena) người đã từng giảng dạy nhiều vấn đề cho Huyền Trang. Dòng truyền thừa chót nầy không phát triển mấy ở Ấn Độ và dường như sớm biến mất sau đó: The third was the line of Nanda, whose tenet was followed by Paramartha, and Jayasena, who instructed Hsuan-Tsang on certain questions. This last line of transmission did not flourish much in India and seemed to have soon disappeared. ** For more information, please see Du Già Tông, Nhiếp Luận Tông, and Duy Thức Tông.
; (法相宗) Cũng gọi Từ ân tông, Du già tông, Ứng lí viên thực tông, Phổ vị thừa giáo tông, Duy thức trung đạo tông, Duy thức tông, Hữu tướng tông, Tướng tông, Ngũ tính tông.Nói theo nghĩa rộng thì tông Pháp tướng chỉ chung cho tông Câu xá và tông Duy thức, nhưng phần nhiều là chỉ tông Duy thức, hoặc dùng để gọi thay cho tông Duy thức. Tông Pháp tướng chuyên phân biệt và phán định tính tướng của các pháp, là 1 trong 13 tông của Phật giáo Trung quốc và là 1 trong 8 tông của Phật giáo Nhật bản, chủ trương tất cả pháp đều do thức biến hiện. Tông này ý cứ vào 6 bộ kinh là: Kinh Hoa nghiêm, kinh Giải thâm mật, kinh Như lai xuất hiện công đức, kinh Đại thừa a tì đạt ma, kinh Nhập lăng già, kinh Hậu nghiêm và 11 bộ luận là: Luận Du già sư địa, luận Hiển dương thánh giáo, Đại thừa trang nghiêm kinh luận, luận Tập lượng, luận Nhiếp đại thừa, Thập địa kinh luận, luận Phân biệt du già, luận Quán sở duyên duyên, luận Duy thức nhị thập, luận Biện trung biên và luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập, để thành lập. Lại đặc biệt lấy kinh Giải thâm mật và luận Thành duy thức làm nền tảng của tông chỉ. Về hệ thống truyền thừa của tông này, bắt nguồn từ sau khi đức Phật nhập diệt 900 năm, ở Ấn độ có bồ tát Di lặc ra đời nói luận Du già sư địa; ngài Vô trước vâng theo ý chỉ của luận này mà soạn ra các bộ Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Nhiếp đại thừa luận và Hiển dương thánh giáo luận. Rồi ngài Thế thân thì soạn các bộ Nhiếp đại thừa luận thích, Thập địa kinh luận, Biện trung biên luận, Duy thức nhị thập luận, Duy thức tam thập tụng... để làm rõ nghĩa thêm. Không bao lâu, ngài Vô tính cũng làm luận để chú thích luận Nhiếp đại thừa; rồi 10 vị Đại luận sư là: Hộ pháp, Đức tuệ, An tuệ, Thân thắng, Nan đà, Tịnh nguyệt, Hỏa biện, Thắng hữu, Tối thắng tử và Trí nguyệt, cũng lần lượt soạn luận để chú thích tác phẩm Duy thức tam thập tụng của ngài Thế thân, từ đó, tông phong Du già phát triển ra toàn cõi Ấn độ. Vào đời Đường, ngài Huyền trang sang Ấn độ, theo học ngài Giới hiền –đệ tử của ngài Hộ pháp– lãnh hội được ý chỉ sâu xa của tông này. Sau khi trở về Trung quốc, ngài Huyền trang phiên dịch các kinh luận của tông này, tuyên dương huyền chỉ Pháp tướng duy thức, người theo học rất đông, nổi tiếng hơn cả là các ngài: Khuy cơ, Thần phưởng, Gia thượng, Phổ quang, Thần thái, Pháp bảo, Huyền ứng, Huyền phạm, Biện cơ, Ngạn tông, Viên trắc... Trong đó, ngài Thần phưởng soạn Duy thức văn nghĩa kí; ngài Huyền ứng soạn Duy thức khai phát, ngài Viên trắc viết Giải thâm mật kinh sớ, Thành duy thức luận sớ... Đệ tử ngài Viên trắc là Đạo chứng soạn Duy thức luận yếu tập, ngài Thái hiền –người Tân la– soạn Duy thức luận cổ tích kí, được người đời tôn làm Tổ của tông Du già ở Hải đông. Còn Khuy cơ –người thừa kế chính thống của Đại sư Huyền trang– trụ ở chùa Đại từ ân tại Trường an, hoằng truyền rộng rãi giáo nghĩa cương yếu của tông Duy thức, được người đời tôn xưng là Từ ân đại sư. Ngài có các tác phẩm: Du già sư địa luận lược toản, Thành duy thức luận kí, Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương... tập đại thành tông này. Đệ tử của Đại sư Từ ân Khuy cơ là ngài Tuệ chiểu soạn Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng để phá tà nghĩa của ngài Viên trắc. Môn nhân của ngài Tuệ chiểu là các sư Đạo ấp, Trí chu, Nghĩa trung... Sư Trí chu viết Thành duy thức luận diễn bí, phát huy ý chỉ sâu kín trong Thành duy thức luận thuật kí. Ngoài ra, 3 bộ Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu, Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng và Thành duy thức luận diễn bí được gọi chung là Duy thức tam sớ. Về sau, do Thiền tông và Hoa nghiêm tông phát triển mạnh nên tông Pháp tướng suy vi; từ đời Tống về sau hơi thấy dấu hiệu phục hưng. Đến đời Minh, ngài Trí húc soạn Thành duy thức luận tâm yếu, ngài Minh dục soạn Thành duy thức luận tục thuyên, ngài Thông nhuận soạn Thành duy thức luận tập giải và ngài Quảng thừa soạn Thành duy thức luận âm nghĩa... Từ thời Dân quốc về sau, cư sĩ Âu dương Cánh vô (1872-1944) phát triển tông này, sáng lập viện Chi na Nội học, Đại học Pháp tướng, chia tông này làm 2 ngành là Vô trước Pháp tướng học và Thế thân Duy thức học. Ngài Thái hư tranh luận nhiều nhất về vấn đề này. Ngoài ra, sau khi cư sĩ Hùng thập lực (1882-1968) cho ra cuốn Tân duy thức luận thì ngài Ấn thuận cũng có tranh luận. Còn về Nhật bản thì vào năm Bạch trĩ thứ 4 (653) đời Thiên hoàng Hiếu đức, sư Đạo chiêu đến Trung quốc (đời Đường), theo ngài Huyền trang học giáo nghĩa Pháp tướng. Sau khi về nước, sư Đạo chiêu lấy chùa Nguyên hưng làm trung tâm truyền pháp, gọi là Nam tự truyền. Đến năm Linh qui thứ 3 (717, có thuyết nói 716) đời Thiên hoàng Nguyên chính, sư Huyền phưởng đến Trung quốc (đời Đường), theo học ngài Trí chu; sau khi về nước, sư Huyền phưởng lấy chùa Hưng phúc làm trung tâm truyền pháp, gọi là Bắc tự truyền. Tông Pháp tướng ở Nhật bản là 1 trong những tông phái có thế lực nhất ở thời kì Nại lương (710-794) và thời kì Bình an (794-1192). Giáo nghĩa của tông Pháp tướng được chia ra các hạng mục và lược thuật như sau: 1. Vạn pháp duy thức: Tông này y cứ vào luận Duy thức để thuyết minh tất thảy vũ trụ vạn vật đều là bóng dáng do tâm thức xao động mà hiện ra, trong tâm, ngoài tâm, vật chất, không phải vật chất, tất cả đều do tâm thức biến hiện; thức năng biến chỉ có 8, mà vật sở biến thì là muôn tượng la liệt. 2. Ngũ vị bách pháp: Năm vị trăm pháp. Pháp có nghĩa là Nhậm trì tự tính và quĩ sinh vật giải. Nghĩa là tất cả vạn hữu đều giữ gìn tự tính của chúng, khiến người nhìn vào là có thể nhận biết được chúng. Luận Du già sư địa qui nạp tất cả các pháp làm 660 pháp, còn luận Bách pháp minh môn thì lập 100 pháp, chia làm5 vị (5 nhóm)là Tâm pháp, Tâm sở pháp, Sắc pháp, Bất tương ứng hành pháp và Vô vi pháp. Năm vị 100 pháp này không lìa thức, tức là đều do thức biến hiện. 3. Chủng tử hiện hành: Từ hạt giống hiện khởi. Trong 100 pháp, trừ 6 pháp vô vi ra, còn lại đều là các pháp hữu vi duyên sinh, đều từ chủng tử sinh khởi. Chủng tử ở trong thức A lại da thứ 8 có công năng sinh ra muôn nghìn Sắc pháp, Tâm pháp, giống như những hạt giống của cây cỏ. 4. A lại da duyên khởi: Sinh khởi từ thức A lại da. Vũ trụ vạn vật đều do thức biến hiện, những sắc, thanh, hương, vị, pháp lần lượt do nhãn, nhĩ, tị, thiệt, ý thức biến hiện ra. Cho đến thức Mạt na thường xuyên lấy thức A lại da làm đối tượng mà biến hiện ra bóng dáng của ngã thật, pháp thật. Lại sự chuyển biến của các thức có 2 loại là Nhân năng biến và Quả năng biến. Nhân năng biến chỉ ở nơi thức thứ 8, chính là dựa vào đây mà lập tên A lại da duyên khởi. 5. Tứ phần: Bốn phần. Đó là: a) Tướng phần: Chỉ cho tất cả cảnh sở duyên (đối tượng nhận thức). b) Kiến phần: Chỉ cho tác dụng năng duyên của các thức. c) Tự chứng phần: Chỉ cho tác dụng chứng biết Kiến phần. d) Chứng tự chứng phần: Chỉ cho tác dụng xác nhận lại Tự chứng phần. 6. Tam loại cảnh: Ba loại cảnh. Tức Tính cảnh, Độc ảnh cảnh và Đới chất cảnh. a) Tính cảnh: Khi tâm năng duyên đối trước cảnh sở duyên, chỉ dùng hiện lượng (các giác quan) để nhận biết tự tướng của cảnh ấy 1 cách đúng như nó, không xuyên tạc. b) Độc ảnh cảnh: Cảnh giới do tâm năng duyên vọng tưởng phân biệt mà biến hiện ra. c) Đới chất cảnh: Tâm chủ quan duyên theo cảnh khách quan, tuy có bản chất sở y, nhưng không phải là tự tướng của cảnh ấy. 7. Tam tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực. 8. Ngũ tính các biệt: Năm tính đều khác nhau. Tất cả hữu tình đều có 5 chủng tính: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Bất định và Vô tính. Tông này còn căn cứ vào phẩm Vô tự tính trong kinh Giải thâm mật mà lập 3 thời giáo là Hữu giáo, Không giáo và Trung đạo giáo. Hai thời trước là giáo phương tiện tạm thời, chưa thấu suốt nghĩa lí chân thực, chỉ thiên chấp về Hữu và Không. Còn thời thứ 3 là giáo pháp viên mãn rốt ráo, là Trung đạo chân thực, sâu xa mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn, vượt trên tất cả các giáo pháp khác. (xt. Tam Tính, Ngũ Tính, Duy Thức).
Pháp tướng tông 法相宗
[ja] ホッソウシュウ Hossōshū ||| The Faxiang zong, or "Dharma-character" school. An East Asian form of the Indian Yogācāra 瑜伽行派 tradition. This school was founded in China by Hsüan-tsang (玄奘), who, on his return from China, brought with him a wagonload of the most important Consciousness-only texts. These, with government support and many assistants, he translated into Chinese. His disciple Kuiji 窺基 wrote a number of important commentaries on the Consciousness-only texts and further developed the influence of the school in China. The Faxiang teachings were transmitted to Korea (Pŏpsang) and Japan (Hossō), where they made considerable impact. Although the Faxiang zong/Pŏpsang chong/Hossō shū tradition would all but die out as an independent sect, its Consciousness-only teachings made a major impact on the native East Asian traditions that would later develop, most notably Tiantai, Huayan and Chan Buddhism. Peter Gregory writes: "Faxiang is especially associated with the thought of Xuanzang and Kuiji, as unlike earlier forms of Yogācāra traditions in China, it rejected the idea of the tathāgatagarbha and so denied the universal accessibility of enlightenment, and for that reason was only regarded as an elementary form of Mahāyāna by the Huayan 華嚴 tradition. The term Faxiang itself was first applied to this tradition by the Huayan thinker Fazang 寶藏, who used it to emphasize the inferiority of Faxiang teachings, which only dealt with the 'phenomenal appearances of the dharmas' in contrast to Huayan, which dealt with the underlying 'nature' on which such phenomenal appearances were based." (Gregory-1995: 213). See also 瑜伽行派 and weishi 唯識. => (c: Faxiang zong) Hình thái Á Đông của Du-già hành phái Ấn Độ. Tông nầy do Huyền Trang lập nên, khi trở về Trung Hoa sau chuyến cầu học ở Ấn Độ, sư đã mang về rất nhiều những tác phẩm quan trọng của Duy thức tông. Với sự hỗ trợ của triều đình và nhiều người phụ tá, sư đã dịch những kinh văn nầy sang tiếng Hán. Giáo lý Pháp tướng tông đã được truyền sang Cao Ly (k: Pŏpsang), Nhật Bản (j: Hossō), nơi nmà tông nầy đã có được những ảnh hưởng đáng kể. Mặc dù Pháp tướng tông đấng lẽ ra bao trùm tất cả rồi chìm dần như một tông phái độc lập, nhưng giáo lý Duy thức vẫn tạo nên một ảnh hưởng lớn mà sau nầy giáo lý ấy phát triển trong những quốc gia Á Đông, đáng kể nhất là tông Thiên Thai, Hoa Nghiêm tông và Thiền tông. Peter Gregory nhận xét: “Pháp tướng tông liên hệ đặc biệt với tư tưởng của Huyền Trang và Khuy Cơ, không như những hình thái cổ điển của Du-già hành phái Trung Hoa, Pháp tướng tông khước từ ý niệm Như Lai tạng nên phủ nhận cảnh giới chứng ngộ mà có thể trực nhận được, từ lý do đó, nên tông này chỉ được xem như một hình thái sơ đẳng của theo truyền thống Hoa Nghiêm tông Đại thừa. Thuật ngữ Pháp tướng tự nó được dùng đầu tiên bởi nhà tư tưởng Hoa Nghiêm tông là Bảo Tạng 寶藏), để nhấn mạnh vị thế thứ yếu của giáo lý Pháp tướng, vốn chỉ đề cập đến 'sự trình hiện của các hiện tượng' tương phản với giáo lý Hoa Nghiêm, đề cập đến hạ tằng của 'tính' mà các trình hiện của các hiện tượng đặt nền tảng ”. (Gregory-1995: 213). Xem Du-già hành phái 瑜伽行派 and và Duy thức 唯識).
pháp tướng từ điển
(法相辭典) Bộ Từ điển gồm những danh từ liên quan đến luận A tì đạt ma của Tiểu thừa do ông Chu bái hoàng người Trung quốc biên tập từ năm 1934 đến năm 1937. Nội dung Từ điển này có 260 vạn lời, dùng các kinh luận do ngài Huyền trang dịch làm tài liệu, dưới các danh từ có lời giải thích, nhưng tất cả đều chép lại từ nguyên văn, chứ không thêm lời giải thích nào của soạn giả. Ngoài ra, soạn giả còn chỉ rõ số trang, số quyển xuất xứ của các danh từ được ghi chép. Cho nên, sách này có giá trị 1 bộ Từ điển nhập môn để nghiên cứu các kinh luận Đại, Tiểu thừa.
Pháp tướng 法相
[ja] ホッソウ hossō ||| See 法相宗. => Xem Pháp tướng tông法相宗.
pháp tượng
Một vị thầy có thể dùng chánh pháp để uốn nắn đệ tử—Dharma workman, a teacher able to mould his pupil.
; (法匠) Chỉ cho các bậc danh đức, thạc học, có khả năng tác thành cho đệ tử về giới học, định học và tuệ học, cũng như người thợ (tượng) giỏi, có tài nghệ làm nên những đồ dùng tốt đẹp, vì thế gọi là Pháp tượng. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 295 hạ) nói: Cao tăng nước Tề giảng kinh luận rất hay, được gọi là Pháp tượng. Diễn mật sao quyển 4 nói: Như người các đồ dùng, A xà lê pháp tượng thành tựu các pháp khí Tam thừa, Tam học.
Pháp Tạng
(法藏, Hōzō, 643-712): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, vị tổ thứ 3 của Hoa Nghiêm Tông Trung Quốc, tự Hiền Thủ (賢首), hiệu Quốc Nhất Pháp Sư (國一法師), còn gọi là Hương Tượng Đại Sư (香象大師), Khương Tạng Quốc Sư (康藏國師), họ Khương (康). Tổ tiên ông người nước Khương Cư (康居), nhưng đến đời cha ông thì dời sang Trung Quốc, sống tại Trường An (長安). Ban đầu ông theo hầu Trí Nghiễm (智儼), thính giảng Hoa Nghiêm và thâm nhập huyền chỉ kinh này. Sau khi thầy qua đời, ông theo thầy khác xuống tóc xuất gia, lúc ấy 28 tuổi. Do vì ông có thể thông hiểu ngôn ngữ các nước Tây Vức và kinh điển Phạn văn, nên phụng mạng cùng với Nghĩa Tịnh (義淨) tham gia phiên dịch một số kinh điển như Tân Hoa Nghiêm Kinh (新華嚴經), Đại Thừa Nhập Lăng Già Kinh (大乘入楞伽經), v.v., hơn 10 bộ. Ông thường giảng thâm nghĩa Kinh Hoa Nghiêm cho Võ Hậu nghe. Suốt đời ông chỉ chuyên giảng kinh này hơn 30 lần, tập trung toàn lực để hình thành hệ thống giáo học Hoa Nghiêm. Bên cạnh đó, ông còn chú thích các kinh luận khác như Lăng Già, Mật Nghiêm, Phạm Võng, Khởi Tín, v.v. Vào tháng 11 năm đầu niên hiệu Tiên Thiên (先天) đời vua Huyền Tông, ông thị tịch tại Đại Tiến Phước Tự (大薦福寺), hưởng thọ 70 tuổi. Trước tác của ông rất nhiều như Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký (華嚴經探玄記) 20 quyển, Hoa Nghiêm Khoa Giản (華嚴科簡), Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương (華嚴五敎章), Đại Thừa Mật Giáo Kinh Sớ (大乘密敎經疏) 4 quyển, Phạm Võng Kinh Sớ (梵綱經疏) 4 quyển, Đại Thừa Khởi Tín Luận Sớ (大乘起信論疏), Hoa Nghiêm Cương Mục (華嚴綱目), Hoa Nghiêm Huyền Nghĩa Chương (華嚴玄義章), v.v., hơn 20 bộ. Đệ tử của ông có Hoằng Quán (宏觀), Văn Siêu (文超), Trí Quang (智光), Tông Nhất (宗一), Huệ Uyển (慧苑), v.v.
; 法藏
Pháp tạng
法藏; C: făzàng; J: hōzō; |1. Kho tàng giáo pháp – thường đề cập đến kinh điển Phật giáo (s: dharma-kośa) để phân biệt với Luật tạng. Đây là phần kinh do ngài A-nan trùng tuyên trong kì kết tập lần thứ nhất (Đệ nhất kết tập 第一結集).|2. Phật pháp như là sự thật tối hậu trong ý nghĩa, tư tưởng triết học.|3. (643-712); Tăng sĩ học giả vào đầu đời Đường, do những đóng góp to lớn của Sư vào sự phát triển và củng cố tông Hoa Nghiêm, nên được xem là Tổ thứ 3 của tông nầy. Sau khi phát tâm tu tập ban đầu tại Thái Bạch sơn (太白山), sư trở thành đệ tử của vị Tổ thứ 2 tông Hoa Nghiêm là Trí Nghiễm (智儼). Sau khi Trí Nghiễm viên tịch vào năm 670, sư chính thức xuất gia tại chùa Thái Nguyên (太原寺). Sau đó sư lần lượt đi đến rất nhiều chùa để truyền bá giáo lí Hoa Nghiêm và hỗ trợ chương trình phiên dịch. Cuối cùng sư trở nên nổi tiếng trong giới quan chức triều đình nhà Đường. Sư là thầy của Hoàng hậu Vũ Tắc Thiên. Sư viết rất nhiều sách và luận giải, tác phẩm gồm có: 1. Hoa Nghiêm kinh thám huyền kí (華嚴經探玄記), 20 quyển; Hoa Nghiêm ngũ giáo chương (華嚴五教章), 3 hoặc 4 quyển; Khởi tín luận nghĩa kí (起信論義記), 5 quyển. Các đệ tử của sư gồm có Văn Siêu (文超) và Huệ Uyển (慧苑). Sư cũng là sư đệ của một đệ tử khác của ngài Trí Nghiễm – là Nghĩa Tương (義湘, k: ǔisang), người sáng lập tông Hoa Nghiêm tại Hàn Quốc. Sư kết giao thân mật với vị nầy và còn giữ liên lạc sau khi Nghĩa Tương trở về Tân La.|4. Tăng sĩ thuộc Tam giai giáo xuất thân từ chùa Tịnh Vực (淨域寺), sau được bổ nhiệm coi sóc Vô tận tạng (無盡藏) ở Phúc Quang tự (福先寺) và Hoá Độ tự (化度寺).
pháp tạng
Dharmakara (S), Fa-tsang (C)(643-712) Ngài là người chính thức thành lập Hoa Nghiêm tôngPháp bảo tạng, Đàm ma ca, Đàm ma ca lưu. Tiền thân của Phật A Di Đà.
; Dharma-store, the treasury of Buddha's teaching, Buddhist library.
; Dharmakara (skt)—Phật Pháp Tạng—Như Lai Tạng. 1) Lý của pháp tính hay pháp tính hàm chứa vô lượng đức tánh trong vũ trụ—Dharma-store which contains innumerable dharma-nature in the universe. 2) Chân lý tuyệt đối hàm chứa nơi vạn pháp trong vũ trụ, cũng là nguồn gốc căn bản của vạn pháp: The absolute, unitary storehouse of the universe, the primal source of all things. 3) Kho Pháp Bảo kinh điển, chứa những kim ngôn ngọc ngữ của Phật: The treasury of Buddha's teaching, the sutras, etc. 4) Thư viện Phật Giáo: Any Buddhist library. 5) Pháp Tạng Tỳ Kheo, một trong những tiền thân của Đức Phật A Di Đà: Dharmakara, mine of the Law; one of the incarnations of Amitabha. 6) Hiền Thủ Pháp Tạng, tên người sáng lập ra tông Hoa Nghiêm: Hsien-Shou-Fa-Tsang, name of the founder of the Hua-Yen Schol.
; (法藏) I. Pháp Tạng. Cũng gọi Phật pháp tạng, Như lai tạng. Pháp là pháp tính, Tạng là hàm chứa. Pháp tạng chỉ cho vô lượng diệu đức hàm chứa trong Như lai tạng. II. Pháp Tạng. Chỉ cho giáo pháp của đức Phật. Vì giáo pháp hàm chứa nhiều nghĩa, cho nên gọi là Pháp tạng(kho giáo pháp). Hoặc chỉ cho Thánh giáo, kinh điển chứa đựng những giáo pháp ấy. Vì kinh điển chứa đựng nhiều pháp môn, nên gọi Pháp tạng. III. Pháp Tạng. Cũng gọi Bảo tạng, Kinh tạng, Luân tạng, Kinh đường. Chỉ cho nơi cất chứa kinh điển. (xt. Kinh Tạng). IV. Pháp Tạng. Phạm: Dharmàkara. Hán âm: Đàm ma ca, Đàm ma ca lưu. Hán dịch: Pháp bảo xứ, Pháp xứ, Pháp tính, Tác pháp. Cũng gọi Pháp tạng tỉ khưu. Chỉ cho pháp danh của đức Phật A di đà khi chưa thành đạo. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng, đã nhiều kiếp lâu xa trong quá khứ, vào thời đức Thế tự tại vương Như lai, có 1 vị Quốc vương nghe đức Như lai nói pháp, liền phát tâm vô thượng bồ đề và bỏ ngôi vua xuất gia, hiệu là Pháp tạng. Chưa bao lâu, Ngài đã thấy được 2 trăm 10 ức cõi nước của chư Phật, nên phát 48 thệ nguyện lớn. Vì giáo pháp mà Ngài nghe từ đức Thế tự tại vương Như lai nói, Ngài giữ gìn không mất và tích tụ ngày càng nhiều, cho nên kinh Vô lượng thọ dịch là Pháp tạng (Phạm: Dharmàkara). Hội Vô lượng thọ Như lai trong kinh Đại bảo tích đời Đường dịch là Pháp xứ; kinh Đại thừa Vô lượng thọ trang nghiêm đời Tống dịch là Tác pháp; còn luận Đại trí độ thì dịch là Pháp tích. (xt. A Di Đà Phật). V. Pháp Tạng (546-629). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Bắc Chu và Tùy, Đường, người Dĩnh âm, Dĩnh xuyên, họ Tuân. Sư xuất gia năm 22 tuổi. Nhờ thông thạo ngôn ngữ của bộ tộc Tiên ti, nên được vua Vũ đế nhà Bắc Chu biết đến. Sau, sư vào ngọn Tử cái núi Chung nam cất am riêng tu thiền. Khoảng năm Kiến đức (572- ?), Vũ đế hủy diệt Phật pháp. Đến khi Tuyên đế lên ngôi, sư về kinh đô xin khôi phục Phật pháp, vua hạ lệnh cho sư để tóc, làm tăng Bồ tát và trụ trì chùa Trắc trĩ, sư phản đối kịch liệt. Từ đó, sư lại về núi ẩn tu. Đến đời Tùy, vua Văn đế phục hưng Phật pháp, sư mới lại xuất hiện, làm Thượng tọa ở chùa Thái bình cung. Năm Trinh quán thứ 3 (629) đời Đường, sư thị tịch, thọ 84 tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.19]. VI. Pháp Tạng (643-712). Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, là Tổ thứ 3 của tông Hoa nghiêm, tự là Hiền thủ, hiệu Quốc nhất Pháp sư, cũng gọi Hương tượng đại sư, Khang tạng quốc sư. Ngài họ Khang, tổ tiên gốc người Khang cư, đến đời ông nội cả họ mới dời đến Trung quốc, sinh sống tại Trường an. Thủa nhỏ, sư thờ ngài Trí nghiễm làm thầy, nghe giảng kinh Hoa nghiêm, thâm nhập được huyền chỉ của kinh. Sau khi ngài Trí nghiễm thị tịch, sư mới y vào ngài Bạc trần xuống tóc xuất gia lúc 28 tuổi. Sư thông thạo ngôn ngữ các nước Tây vực và kinh sách tiếng Phạm, nên sư vâng sắc chỉ tham dự trường dịch kinh của ngài Nghĩa tịnh. Sư lần lượt phiên dịch hơn 10 bộ kinh như Hoa nghiêm (bản dịch mới), Đại thừa nhập lăng già... Sư từng giảng nghĩa sâu xa của Hoa nghiêm thập huyền duyên khởi cho Hoàng hậu Vũ tắc thiên nghe, chỉ vào con sư tử bằng vàng trong nội điện làm ví dụ, Võ hậu nhờ đó hiểu rõ. Sau, sư cũng nhân sự kiện này mà soạn thành Kim sư tử chương. Sư cả đời tuyên giảng kinh Hoa nghiêm hơn 30 lượt, dốc sức vào việc tổ chức hoàn bị giáo học Hoa nghiêm. Ngoài ra, sư còn chú thích các kinh luận như: Lăng già, Mật nghiêm, Phạm võng, luận Đại thừa khởi tín... đồng thời sư phỏng theo pháp thức của tông Thiên thai, đem phân loại các hệ thống tư tưởng Phật giáo làm Ngũ giáo và Thập tông. Sư cho rằng tư tưởng Hoa nghiêm là cao nhất, triết học Hoa nghiêm là thực hiện thế giới lí tưởng ngay trong thế giới hiện thực. Tháng 11, niên hiệu Tiên thiên năm đầu (712), sư thị tịch ở chùa Đại tiến phúc, hưởng thọ 70 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Hoa nghiêm kinh thám huyền kí 20 quyển, Hoa nghiêm liệu giản, Hoa nghiêm ngũ giáo chương, Đại thừa mật giáo kinh sớ 4 quyển, Phạm võng kinh sớ, Đại thừa khởi tín luận sớ, Hoa nghiêm cương mục, Hoa nghiêm huyền nghĩa chương. Các vị đệ tử nổi tiếng của sư gồm có: Hoành quán, Văn siêu, Trí quang, Tông nhất, Tuệ uyển... [X. Hiền thủ đại sư bi truyện; Tống cao tăng truyện Q.5; Phật tổ thống kỉ Q.29; Phật tổ lịch đại thông tải Q.15]. VII. Pháp Tạng (1573-1635). Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Minh, người Lương khê (nay là huyện Vô tích, tỉnh Giang tô), họ Tô, hiệu Hán nguyệt, tự Ư mật. Sư xuất gia năm 15 tuổi, lớn lên, sư thích tu thiền, đọc Cao phong ngữ lục sinh ngờ, chuyên tâm tham cứu, trải hơn 10 năm. Một hôm, sư nghe tiếng tre gãy mà đại ngộ. Năm Thiên khải thứ 4 (1624), sư đến chùa Kim túc tham vấn ngài Mật vân Viên ngộ, được ngài truyền tâm ấn. Sau đó, sư giảng pháp ở Thiền viện Tam phong trong núi Ngu sơn tại Tô châu, người đời gọi sư là Tam phong Tạng công. Sư đã từng trụ ở các ngôi chùa nổi tiếng như chùa Đại từ Bắc thiền, chùa An ẩn ở Hàng châu, chùa Thánh ân ở Tô châu... Sư cực kì thông minh, học thông cả Nho và Phật, chuyên tâm tu thiền, tham cứu nhiều năm, nhưng kiến giải có khác, nên đề xướng thuyết mới. Sư biên soạn Ngũ tông nguyên ¤©v •½, chỉ trích tông Tào động đương thời và phê bình tông chỉ của Ngũ gia, chỉ truyền mỗi 1 sự kiện là Thích ca cầm hoa mà thôi. Thuyết này đã làm cho mọi người kinh ngạc và gây ra nhiều cuộc tranh luận. Ngài Mật vân Viên ngộ đã gửi thư răn bảo sư, nhưng không khiến được sư thay đổi ý kiến. Tháng 7 năm Sùng trinh thứ 8 (1635), sư thị tịch, thọ 62 tuổi. Đến đời Thanh, khoảng năm Ung chính (1723-1735), vua ra chính lệnh cho rằng thuyết mới của sư là ma nói, đồng thời, tiêu hủy hết sách của sư và đuổi hết đồ đệ, dòng Tam phong từ đó tuyệt tích.Sư có các tác phẩm: Quảng lục 30 quyển, Hoằng giới pháp nghi 3 quyển, Ngữ lục 30 quyển. [X. Ngũ đăng nghiêm thống Q.24; Ngũ đăng toàn thư Q.65].
Pháp Tạng Bộ
(s: Dharmaguptaka, p: Dhammaguttaka, 法藏部): một trong 20 bộ phái của Tiểu Thừa, âm dịch là Đàm Vô Đức (曇無德), Đàm Ma Cúc Đa (曇摩毱多), Đàm Ma Đức (曇摩德), Đàm Ma Khuất Đa Ca (曇摩屈多迦), Đạt Ma Cập Đa (達摩及多); ý dịch là Pháp Chánh (法正), Pháp Kính (法鏡), Pháp Hộ (法護), Pháp Mật (法密), Pháp Tạng (法藏). Bộ phái này có nguồn gốc từ Hóa Địa Bộ (s: Mahīśāsaka, p: Mahiṃsāsaka, 化地部), đóng vai trò chủ đạo ở Trung Á và Trung Quốc. Khi Ưu Bà Ly (s, p: Upāli, 優婆離) làm thủ chúng trong lần kiết tập Luật Tạng, ông chia làm 80 lần để tụng luật căn bản; từ đó có tên gọi là Bát Thập Tụng Luật (八十誦律). Sau này, Đàm Vô Đức (s: Dharmaguptaka, 曇無德) lấy Bát Thập Tụng Luật để hình thành một bộ phái riêng với tên gọi là Đàm Vô Đức Bộ (曇無德部) hay Pháp Tạng Bộ, truyền thừa Tứ Phần Luật (四分律)—một trong 5 bộ luật. Cho nên, Đàm Vô Đức là vị tổ khai sáng của bộ phái này; và về sau Đạo Tuyên (道宣, 596-667) nhà Đường của Trung Quốc là người hình thành hệ thống Đàm Vô Đức Luật Tông (曇無德律宗, hay Tứ Phần Luật Tông [四分律宗]). Trong lịch sử Phật Giáo Trung Quốc, khi nói về Luật Tông, phần nhiều ám chỉ Tứ Phần Luật Tông. Bên cạnh đó, vì Đạo Tuyên đã từng truyền bá Luật Tông ở Chung Nam Sơn (終南山), nên có tên gọi là Nam Sơn Luật Tông (南山律宗). Đây là kết quả phát triển của Pháp Tạng Bộ. Giáo lý của Pháp Tạng Bộ nhấn mạnh đến công đức cúng dường tháp (stupa), nơi ấy thường có miêu tả bằng tranh câu chuyện tiền thân của vị Bồ Tát (Jātaka). Vì vậy, họ xem con đường của Bồ Tát và con đường của Thanh Văn là riêng biệt. Tam Tạng của bộ phái này có hai hướng mới: Tam Tạng Bồ Tát (p: Bodhisattvatipiṭaka, 菩薩三藏) và Tam Tạng Tổng Trì (p: Dharaṇītipiṭaka, 總持三藏). Các văn bản Phật Giáo Gandhāra rõ ràng thuộc về chư vị đạo sư của Pháp Tạng Bộ. Họ muốn khẳng định sự hưng thịnh của bộ phái này ở vùng Tây Bắc Ấn vào khoẳng thế kỷ thứ nhất sau công nguyên; và điều này cũng giải thích ảnh hưởng về sau của Pháp Tạng Bộ ở Trung Á và Đông Bắc Á. Tuy nhiên, vào thế kỷ thứ 7, khi Huyền Trang (玄奘, 602-664) du lịch vùng Châu Á, ông tường thuật rằng Pháp Tạng Bộ đã hoàn toàn biến mất ở Ấn Độ và Trung Á. Ngày nay, Luật Tạng của bộ phái này vẫn được thực hành ở Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam cũng như một số tông phái ở Nhật Bản và Triều Tiên.
Pháp Tạng bộ
法藏部; C: făzàng bù; J: hōzōbu; S: dharma-guptaka;|Một bộ phái Phật giáo, xuất phát từ Trưởng lão bộ (s: sthavira) và Hoá địa bộ (s: mahīśasaka). Bộ phái này do Cao tăng Tích Lan tên là Pháp Tạng (dharmagupta) thành lập và lưu truyền rộng rãi tại Nam Ấn Ðộ. Pháp Tạng bộ có một quan niệm về Bố thí khác với các tông phái khác: họ cho rằng cúng dường Tăng không mang lại phúc đức bằng cúng dường Phật. Luật tạng (s: vinaya-piṭaka) của phái này gồm có bốn phần, được nhiều phái Phật giáo xem như hoàn chỉnh nhất. Bộ này được dịch ra Hán văn năm 105 sau Công nguyên, bao hàm 250 giới dành cho tăng và 348 giới dành cho ni.
pháp tạng bộ
Dharmaguptaka (S)Dham-magutta (P), Đàm Vô Đức1- Một trong 11 bộ phái của Thượng tọa bộ. 2- Đàm vô Đức, tên của vị khai tổ Pháp tạng bộ một trong Thượng toạ bộ.
; Dharmaguptaka (S). Name of a Buddhist sect. Also Đàm vô đức bộ.
; Dharmaguptikas (skt)—Pháp Tạng Bộ tách rời ra khỏi Hóa Địa Bộ do sự khác biệt về điểm nên cúng dường Phật hay cúng dường Tăng Bảo. Bộ phái nầy chú trọng việc cúng dường Phật và rất tôn kính các bảo tháp thờ Phật như được ghi rõ trong Luật Tạng của họ. Giống như Hóa Địa Bộ, họ tin là các A La Hán đã đoạn trừ hết dục vọng, và những người ngoại đạo không thể có được những quyền lực siêu nhiên. Trường phái nầy một thời phổ biến ở Trung Á và Trung Hoa. Họ có Kinh, Luật, và Luận Tạng riêng. Các tu viện ở Trung Hoa đều theo các cấm giới của họ—The Dharmaguptikas broke away from the Mahisasakas with whom they differed on points dealing with gifts to the Buddha or to the Sangha. This school believed in offering gifts to the Buddha and greatly revered the stupas of the Buddha as is clear from their rules (Vinaya). Like the Mahisasakas, they believed that an Arhat was free from passion and that heretics could not gain supernatural powers. This school was once popular in Central Asia and China. They had their own Sutra, Vinaya, and Abhidharma literature. The rules of their distinctive Pratimoksa were followed in the monasteries of China.
; (法藏部) Phạm: Dharmaguptaka. Pàli: Dhammaguttika. Cũng gọi Đàm vô khuất đa ca, Đàm ma quật đa, Đạt ma cập đa, Đàm vô đức bộ, Pháp hộ bộ, Pháp mật bộ, Pháp chính bộ, Pháp kính bộ. Tên của 1 phái thuộc Thượng tọa bộ, 1 trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Về nguồn gốc phát sinh ra bộ này, có nhiều thuyết khác nhau: Theo thuyết của luận Dị bộ tông luân thì trong khoảng 300 năm sau đức Phật nhập diệt, Pháp tạng bộ đã từ Hóa địa bộ phân phái ra (khoảng 184-84 trước Tây lịch kỉ nguyên), còn kinh Xá lợi phất vấn và Phật giáo sử Ấn độ (Tàranàtha) thì đều chủ trương bộ này phân phái ra từ Thuyết nhất thiết hữu bộ. Trong Giáo đoàn phân liệt tường thuyết(Nói rõ về sự chia rẽ của Giáo đoàn) do Luận sư Thanh biện (Phạm:Bhavya), người Nam Ấn độ, soạn vào thế kỉ VI Tây lịch, có nêu ra 3 thuyết, trong đó, thuyết thứ nhất cho rằng Pháp bộ tạng trực tiếp từ Thượng tọa bộ phân phái ra, còn thuyết thứ 2 và thứ 3 thì đều chủ trương từ Phân biệt thuyết bộ chia ra. Về nguồn gốc tên gọi của bộ này, theo chú thích trong kinh Văn thù sư lợi vấn quyển hạ, Bộ chấp dị luận sớ và Dị bộ tông luân luận thuật kí, thì bộ chủ của bộ này tên là Pháp tạng, vả lại, chữ Tạng hàm chứa ý nghĩa hộ trì Chính pháp, vì thế đặt tên là Pháp tạng bộ. Nhưng, kinh Xá lợi phất vấn thì cho rằng ngài Mục kiền la ưu bà đề xá là Tổ của phái này. Trên phương diện giáo nghĩa, Pháp tạng bộ lập thuyết 5 tạng và 4 tướng. -Năm tạng: Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng, Cấm chú tạng và Bồ tát tạng. -Bốn tướng: Sinh tướng, Trụ tướng, Dị tướng và Diệt tướng. Trong đó, Sinh, Trụ, Dị là hữu vi, còn Diệt thì thuộc Vô vi. Cứ theo luận Dị bộ tông luân thì tông nghĩa chủ yếu của bộ này gồm có: 1. Sự giải thoát của Phật và Nhị thừa tuy giống nhau, nhưng Thánh đạo thì có khác. 2. Các ngoại đạo không có khả năng chứng được 5 thần thông. 3. Thân của các bậc A la hán đều là vô lậu. 4. Đức Phật chú trọng ở Tăng đoàn, bởi thế, xây dựng tháp Phật được quả báo rất lớn. Còn những chủ trương khác của bộ này đại khái cũng giống với các chủ trương của Đại chúng bộ. Luật điển của Pháp tạng bộ là luật Tứ phần, chư tăng thuộc bộ này mặc ca sa màu đen, có thuyết cho rằng áo màu đỏ. Pháp tạng bộ đặc biệt xem trọng tạng Bồ tát và tạng Cấm chú, đây chính là nguồn gốc của Mật giáo Đại thừa sau này. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.22; kinh Tì ni mẫu Q.6; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.1, 3, 9; Tam luận huyền nghĩa; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Đại đường tây vực kí Q.12; Xuất tam tạng kí tập Q.3]. (xt. Thượng Tọa Bộ, Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).
Pháp tạng bộ 法藏部
[ja] ホウゾウブ Hōzōbu ||| The Dharmagupta sect. => Bộ phái Đạt-ma-cấp-đa (s: Dharmagupta).
pháp tạng toái kim lục
(法藏碎金錄) Tác phẩm, 10 quyển, do ông Triều quýnh (951-1032) soạn vào năm Thiên thánh thứ 5 (1027) đời Tống. Nội dung sách này lấy luân lí Nho giáo làm nòng cốt, rồi ghi chép những lời dạy của các bậc Thánh hiền trong Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo để giúp cho việc tu thân, dưỡng tâm. Lẽ ra sách này được thu vào Tạp lục bộ, nhưng Tứ khố đề yếu căn cứ vào Thư lục giải đề của ông Trần chấn tôn mà đem nó xếp vào Thích gia loại (loại sách nhà Phật). [X. Truyện Triều quýnh trong Tống sử Q.30; Trung quốc Phật giáo sử tịch khái luận (Trần viên)].
Pháp tạng 法藏
[ja] ホウゾウ Hōzō ||| (1) Dharma-store, dharma-treasure, treasury of the law--usually a reference to the scriptures of the Buddhist canon (dharma-kośa), as distinguished from the vinaya 戒律 collection. This is the portion of the Buddhist canon originally said to have been rendered by Ānanda at the First Council 第一結集. (2) The buddhadharma in the most profound philosophical sense as ultimate reality; the most unfathomable principle. 〔法華經 T 262.9.62b11〕(3) Fazang (643-712); an early Tang scholar-monk, who, because of his great contributions to the development and consolidation of the Huayan school, is considered to be its third patriarch. After his initial practices at Taibaishan 太白山, he became the disciple of the second Huayan patriarch, Zhiyan 智儼. After Zhiyan's death in 670, he formally entered the sangha at T'ai-yüan-ssu 太原寺. He subsequently moved around among the various temples, spreading the Huayan teaching and helping in translation projects. He eventually became well-known to the Tang rulership, and was a teacher to Empress Wu. He became a prolific writer and commentator, his works including the Hua-yen-ching-t'an hsüan-chi 華嚴經探玄記 (20 fascicles), the Hua-yen wu-chiao chang 華嚴五教章 (3 or 4 fasc.) and the Ch'i-hsin-lun i-chi 起信論義記 (5 fasc.). Among his disciples were Wen-ch'ao 文超 and Huiyuan 慧苑. He was also the junior to another famous disciple of Zhiyan--the founder of Huayan in Korea, Ŭisang 義湘, with whom he developed a deep friendship, such that they continued to correspond long after Ŭisang's return to Silla. (4) (637-714) A Sanjie jiao 三階教 monk originally of the Jingyu si 淨域寺; later appointed controller of the Wujinzang 無盡藏 at the Fuxian si 福先寺 and the Huadu si 化度寺. => 1. Kho tàng giáo pháp – thường chỉ cho kinh điển Phật giáo (s: dharma-kośa), để phân biệt với Luật tạng. Đây là phần kinh do ngài A-nan trùng tuyên trong kỳ kết tập lần thứ nhất (Đệ nhất kết tập 第一結集). 2. Phật pháp là tư tưởng triết học về thực tại tuyệt đối, là đạo lý bất khả tư nghì nhất. 3. Pháp Tạng (643-712); Tăng sĩ học giả vào đầu đời Đường, do những đóng góp to lớn của Sư vào sự phát triển và củng cố tông Hoa Nghiêm, nên được xem là Tổ thứ b của tông nầy. Sau khi phát tâm tu tập ban đầu tại Thái Bạch sơn 太白山), sư trở thành đệ tử của vị Tổ thứ hai tông Hoa Nghiêm là Trí Nghiễm 智儼. Sau khi ngài Trí Nghiễm viên tịch vào năm 670, sư chính thức xuất gia tại chùa Thái Nguyên (c: T'ai-yüan-ssu 太原寺). Sau đó sư lần lượt đi đến rất nhiều chùa để truyền bá giáo lý Hoa Nghiêm và hỗ trợ chương trình phiên dịch. Cuối cùng sư trở nên nổi tiếng trong giới quan chức triều đình nhà Đường. Sư là thầy của Hoàng hậu Vũ Tắc Thiên. Sư viết rất nhiều sách và luận giải, tác phẩm gồm có: -Hoa Nghiêm kinh thám huyền ký (Hua-yen-ching-t'an hsüan-chi 華嚴經探玄記); 20 quyển. -Hoa Nghiêm ngũ giáo chương (Hua-yen wu-chiao chang 華嚴五教章); 3 hoặc 4 quyển. -Khởi tín luận nghĩa ký (c: Ch'i-hsin-lun i-chi 起信論義記); 5 quyển. Các đệ tử của sư gồm có Văn Siêu 文超) và Huệ Uyển 慧苑). Sư cũng là sư đệ của một đệ tử khác của ngài Trí Nghiễm – là Nghĩa Tương (k: Ŭisang 義湘), người sáng lập tông Hoa Nghiêm Cao Ly, sư kết giao thân mật với vị nầy, và còn giữ liên lạc sau khi Nghĩa Tương trở về Tân La. 4.Pháp Tạng: Tăng sĩ Tam giai giáo xuất thân từ chùa Tịnh Vức 淨域寺, sau được bổ nhiệm coi sóc Vô tận tạng 無盡藏) ở Phước Quang tự 福先寺) và Hoá Độ tự 化度).
Pháp Tấn
(法進, Hōshin, 709-778): vị tăng của Luật Tông Trung Quốc, sang Nhật Bản dưới thời đại Nại Lương, húy là Pháp Tấn (法進), xuất thân La Sơn (羅山), Thân Châu (申州), họ Vương (王). Ông thọ Cụ Túc giới với Giám Chơn (鑑眞, Ganjin) ở Đại Minh Tự (大明寺), Dương Châu (揚州), đến trú tại Bạch Tháp Tự (白塔寺) và tinh thông về giới luật cũng như Thiên Thai Học. Năm 753, ông theo Giám Chơn sang Nhật, tận lực giúp thầy sáng lập Giới Đàn Viện ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Khi Giám Chơn chuyển sang Đường Chiêu Đề Tự (唐招提寺, Tōshōdai-ji), ông quản chưởng Giới Đàn Viện cũng như Đường Thiền Viện của chùa này. Vào năm 756, ông làm Luật Sư và đến năm 774 thì được thăng chức Tăng Đô. Ông nỗ lực thuyết giảng giới luật và khai sáng Phật Quốc Tự (佛國寺, Bukkoku-ji). Trước tác của ông có Đông Đại Tự Thọ Giới Pháp Quỹ (東大寺授戒法軌), Sa Di Thập Giới Tinh Uy Nghi Kinh Sớ (沙彌十戒并威儀經疏) 5 quyển, Chú Phạm Võng Kinh (註梵綱經) 6 quyển, v.v.
pháp tập
See Pháp Hội.
Pháp tập biệt hạnh lục tiết yếu tính nhập tư kí
法集別行録節要并入私記; C: făjíbié xínglù jiéyào bīngrùsījì; J: hōshūbetsugyō roku sechiyōhyōnyū shiki; K: pŏpchip pyŏrhaeng nok chŏryo pyŏngip sagi;|Tác phẩm của Tri Nột (知訥). Bản dịch tiếng Anh của Robert Buswell trong tác phẩm The Korean Approach to Zen.
Pháp tập biệt hạnh lục tiết yếu tính nhập tư ký 法集別行録節要并入私記
[ja] ホウシュウベツギョウロクセチヨウヒョウニュウシキ hōshūbetsugyōrokusechiyōhyōnyūshiki ||| The Pŏpchip Pyŏrhaeng Nok Chŏryo Pyŏngip Sagi; Excerpts from the Dharma Collection and Special Practice Record with Personal Notes, by Chinul 知訥. HPC 4.740-767. English translation by Robert Buswell in The Korean Approach to Zen. => (k: Pŏpchip Pyŏrhaeng Nok Chŏryo Pyŏngip Sagi). Trích từ tác phẩm Dharma Collection and Special Practice Record with Personal Notes, của Trí Nột (k: Chinul 知訥). Bản dịch tiếng Anh của Robert Buswell trong tác phẩm The Korean Approach to Zen.
pháp tập luận
Dhammasaṇgani (P)Pháp tụMột tập trong 7 tập của bộ Luận Tạng.
; (法集論) Pàli: Dhamma-saígaịi. Cũng gọi Pháp tăng già, Pháp tụ luận. Tác phẩm, 1 trong 7 bộ luận của Phân biệt thượng tọa bộ thuộc Phật giáo Tích lan. Nội dung sách này là phân loại và giải thích các pháp. Trước hết, liệt kê danh mục của các pháp thiện, pháp ác, pháp vô kí... gồm 122 môn của Luận bản mẫu (Pàli: Abhidhamma-màtikà) và các pháp hữu lậu, pháp vô lậu... gồm 42 môn của Kinh bản mẩu (Pàli: Suttanta-màtikà). Kế đến là phần chính văn, được chia làm 4 phẩm: Phẩm Tâm sinh khởi, phẩm Sắc, phẩm Tổng thuyết và phẩm Thích nghĩa. Bộ luận này chỉnh lí và định nghĩa các thuật ngữ thấy rải rác trong tạng Kinh, được xem là bộ luận căn bản, sánh ngang với bộ luận Phân biệt (Pàli: Vibhaíga-ppakaraịa) trong 7 bộ luậnPàli. Sách này đã được xuất bản bằng nguyên văn Pàli và bản dịch tiếng Anh nhan đề: A Buddhist Manual of Psychological Ethics, 1900, bản dịch tiếng Nhật (được thu vào Nam truyền Đại tạng kinh quyển 45). [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Nam phương Thượng tọa bộ luận thư giải thuyết; A History ofPàli Literature by B.C.Law].
Pháp tập yếu tụng kinh
法集要頌經; C: făjí yàosòng jīng; J: hōshū yōshō kyō; |Của Pháp Cứu (法救, s: dharmatrāta).
Pháp tập yếu tụng kinh 法集要頌經
[ja] ホウシュウヨウショウキョウ Hōshū yōshō kyō ||| The Faji yaosong jing by Dharmatrāta 法救; T 213.4.777a-799c. => (c: Faji yaosong jing) của Pháp Cứu (s: Dharmatrāta 法救).
pháp tỉ lượng
Inferring one thing from another, as from birth deducing death.
; (法比量) Phạm: Anumànaô dharmatas. Tiếng dùng trong Nhân minh. Một trong 5 loại Tỉ lượng. Tỉ nghĩa là so sánh; Lượng nghĩa là tính lường. Tỉ lượng có nghĩa là so sánh giữa vật này với vật kia, rồi suy ra mà biết được cái lí tương quan của vật ấy. Như thấy cái vô thường mà suy ra liền biết là khổ; thấy có sinh mà suy ra liền biết có già; thấy già suy ra biết có chết... [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.11; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu; Nhân minh nhập chính lí luận sớ tiền kí Q.thượng, hạ].
Pháp tịch
(法席): chỗ ngồi thuyết pháp. Như trong bài Quán Thế Âm Bồ Tát Ứng Hiện Ký (觀世音菩薩應現記) của Viên Anh Đại Sư Văn Tập (圓瑛大師文集) có đoạn: “Kim Phổ Đà đảnh sơn tự Văn Chất Lão Hòa Thượng trùng hưng dĩ lai, đại khai pháp tịch, nhi hưng tiền hậu tự thành đỉnh túc chi thế, đạo phong nhật chấn (今普陀頂山自文質老和尚重興以來、大開法席、而與前後寺成鼎足之勢、道風日振, hiện tại kể từ khi Văn Chất Lão Hòa Thượng trùng hưng đỉnh núi Phổ Đà đến nay, chùa mở pháp hội lớn, làm cho phát triển trước sau, chùa trở thành thế chân vạc, đạo phong của người ngày càng vang xa).” Hay trong bài Quy Sơn Đại Viên Thiền Sư Cảnh Sách (潙山大圓禪師警策) của Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐, 771-853) cũng có câu: “Tỳ ni pháp tịch, tằng vị thao bồi, liễu nghĩa thượng thừa, khởi năng chân biệt (毘尼法席、曾未叨陪、了義上乘、豈能甄別, pháp tịch giảng dạy Luật tạng, chưa từng học hỏi thực hành, giáo lý thượng thừa liễu nghĩa, làm sao phân biệt được).” Trong tác phẩm Bảo Khánh Ký (寳慶記, Hōkeiki) của Thiền Sư Đạo Nguyên (道元, Dōgen, 1200-1253) có đoạn rằng: “Đạo Nguyên con hồi còn nhỏ đã phát bồ đề tâm, đến tham vấn chư sư nơi bổn quốc, mới biết được chút do lai của nhân quả. Tuy nhiên, thế mà vẫn chưa xác định rõ việc quy y theo Phật Pháp Tăng, cứ mãi bị ràng buộc trong vòng danh tướng. Sau đến tham học Thiên Quang Thiền Sư, lần đầu tiên được nghe tông phong của Lâm Tế. Nay con theo hầu Toàn Pháp Sư sang nhà Tống nầy. Biển khơi vạn dặm, phó mặc huyễn thân nầy cho sóng cả nghìn trùng. Cuối cùng mới có thể đến được nhà Đại Tống, và dự vào pháp tịch của Hòa Thượng. Có lẽ đây là điều may mắn nhất trong đời. Ngưỡng mong Hòa Thượng đại từ đại bi, kẻ tiểu nhân nơi chốn xa nước ngoài đến đây, chỉ nguyện rằng chẳng kể thời quang trôi qua, không màng đầy đủ uy nghi, chỉ mong sao được thỉnh giáo ngu hoài lên phương trượng. Sống chết là việc lớn, vô thường chóng qua mau, chẳng trông đợi một ai, rời xa Thánh đạo tất ân hận một đời. Tiểu tăng Đạo Nguyên xin trăm lạy cúi đầu khẩn thỉnh.”
pháp tụ
Xem Pháp tự.
pháp tụ luận chú
Aṭṭhasalini (P)Luận Thù Thắng NghĩaTên một bộ luận kinh.
pháp tứ y
The four trusts of dharma: trust in the Law not in men; trust in sùtras containing ultimate truth; trust in truth not in words; trust in wisdom growing out of eternal truth and not in illusory knowledge.
; Bốn thứ y theo về pháp—The four trusts of dharma: 1) Y Pháp Bất Y Nhân: Y theo pháp chẳng y theo người—Trust in the Law, not in men—Trust in the truth which is eternal, rather than in man, even its propagator. 2) Y Liễu Nghĩa Kinh, Bất Y Bất Liễu Nghĩa Kinh: Y theo kinh liễu nghĩa, chẳng y theo kinh bất liễu nghĩa—Trust in sutras containing ultimate truth—Trust in the perfect meaning (the truth of the middle way) of the sutras. 3) Y Nghĩa Bất Y Ngữ: Dựa theo nghĩa, chứ không dựa theo ngôn ngữ (ngôn ngữ chỉ là công cụ để chuyên chở ý nghĩa mà thôi, không nên câu chấp)—Trust in truth, not in words—Trust in the meaning or spirit, not the letter. 4) Y Trí Bất Y Thức: Y Thánh Trí Bất Y Phàm Trí (tâm vọng tưởng được khởi lên bởi lục trần)—Trust in wisdom growing out of eternal truth and not in illusory knowledge—Trust in the Buddha's wisdom rather than mere knowledge. *For more information, please see Tứ Y Pháp.
Pháp tử
(法子): chỉ cho người xuất gia quy nhập chánh pháp của Phật, hay tùy thuận Phật đạo, được pháp nuôi dưỡng thành. Pháp do đức Phật thuyết rất vi diệu, nên các pháp được xem như là người mẹ; nếu người nào an trú vào trong chánh tín này, tức sẽ được tăng trưởng vững chắc, không mất đi niềm tin. Như trong Bạch Y Kim Tràng Nhị Bà La Môn Duyên Khởi Kinh (白衣金幢二婆羅門緣起經, Taishō Vol. 1, No. 10) quyển Thượng có giải thích rằng: “Nhược Sa Môn, nhược Bà La Môn, nhược Thiên Ma Phạm, Tam Giới nhất thiết, tất thị ngã tử, giai đồng nhất pháp, nhi vô sai biệt, chánh pháp khẩu sanh, đồng nhất pháp chủng, tùng pháp sở hóa, thị chơn pháp tử (若沙門、若婆羅門、若天魔梵、三界一切、悉是我子、皆同一法、而無差別、正法口生、同一法種、從法所化、是眞法子, nếu là Sa Môn, nếu là Bà La Môn, nếu là Thiên Ma Phạm, Ba Cõi hết thảy, tất là con ta, đều cùng một pháp, mà không sai khác, chánh pháp từ miệng sanh, cùng một hạt giống pháp, từ pháp biến hóa thành, là đúng người con pháp).” Thêm vào đó, trong A Di Đà Kinh Sớ (阿彌陀經疏, Taishō Vol. 37, No. 1757), Khuy Cơ (窺基, 632-682), sơ Tổ của Pháp Tướng Tông Trung Quốc, cho rằng Phật là vua của các pháp, cho nên Phật tử nào tuân thủ theo mà tu hành, và thể nhập vào pháp đó, thì gọi là pháp tử. Ngoài ra, từ này còn có nghĩa là người kế thừa dòng pháp của thầy. Trong Ưu Bà Di Tịnh Hạnh Pháp Môn Kinh (優婆夷淨行法門經, Taishō Vol. 14, No. 579) quyển 2 có đoạn: “Nhược xuất gia tác Phật, pháp tử hữu thiên vạn, giới định thần thông lực, năng tồi phục ma oán (若出家作佛、法子有千萬、戒定神通力、能摧伏魔怨, nếu xuất gia làm Phật, pháp tử có ngàn vạn, sức thần thông giới định, hàng phục được ma oán).” Hay trong Tống Cao Tăng Tuyện (宋高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2061) quyển 6, phần Đường Đài Châu Quốc Thanh Tự Trạm Nhiên Truyện (唐台州國清寺湛然傳), lại có câu: “Trí Giả chi ngũ thế tôn dã, Tả Khê Lãng Công chi pháp tử dã (智者之五世孫也、左溪朗公之法子也, Kinh Khê Trạm Nhiên là cháu đời thứ 5 của Thiên Thai Trí Khải, là pháp tử của Tả Khê Huyền Lãng vậy).”
pháp tử
Child of the Dharma.
; Người đắc pháp hay một môn đệ nhà Thiền đã đạt đến cùng một mức độ giác ngộ như Thầy và đã được Thầy cho phép thực hiện việc truyền bá giáo lý của Thầy. Người đắc pháp có thể là một cư sĩ dù nam hay nữ. Luc Tổ Huệ Năng cũng là một cư sĩ khi ông nhận ấn chứng từ Ngũõ Tổ (Hoàng Nhẫn)—Child of the Dharma or Dharma Successor—One who makes his living by following Buddhism—A Zen disciple who has reached the same degree of enlightenment as his master and been given permission to carry on his line of teaching. A Dharma-Sucessor may be a layman or laywoman. Hui-Neng, the Sixth Patriarch, was a layman when he received the seal of transmission from the Fifth Patriarch.
; (法子) I. Pháp Tử. Chỉ cho người xuất gia trong chính pháp của đức Phật, hoặc chỉ cho người tùy thuận Phật pháp mà an trụ trong niềm chính tín bền vững. Kinh Bạch y kim chàng nhị Bà la môn duyên khởi quyển thượng (Đại 1, 218 thượng) nói: Tất cả sa môn, Bà la môn, trời, ma, Phạm thiên và chúng sinh trong 3 cõi đều là con của Ta, đều cùng trong 1 pháp, không có sai khác; đều từ chính pháp sinh ra, đều cùng 1 giống pháp; đều được giáo hóa bởi pháp, đó là Pháp tử chân chính. Nghĩa là sa môn xuất gia tức đã quay về với chính pháp, từ miệng chính pháp hóa sinh, vì cùng chung 1 giống pháp, nên gọi là Pháp tử. Còn trong A di đà kinh sớ thì ngài Khuy cơ cho rằng Phật là bậc Pháp vương, vì thế, những Phật tử noi theo và thể nhập pháp của Ngài thì gọi là Pháp tử. [X. Thắng man kinh điên đảo chân thực chương; phẩm Thụ học vô học nhân kí trong kinh Pháp hoa Q.4; Quán Vô lượng thọ Phật kinh nghĩa sớ Q.hạ (Nguyên chiếu)]. II. Pháp Tử. Chỉ cho người được di chúc trụ trì 1 ngôi chùa lớn nào đó để tiếp nối dòng pháp. Vì thứ tự trước sau, nên còn có các tên gọi như: Đại pháp tử, Nhị pháp tử, Tam pháp tử...
Pháp tự
法嗣; C: fǎsì; J: hōshi;|Là người nối pháp của vị thầy mình; người nối pháp này ít nhất phải đạt được trình độ ngộ nhập, Kiến tính của vị thầy và đã được Ấn khả.|Tuy nhiên, các vị Ðại thiền sư thường nhấn mạnh rằng, »Thiền« không thể được dạy truyền và chính vì vậy mà những danh từ như »giáo hoá«, »truyền tâm ấn« … chỉ có thể hiểu là những danh từ tạm bợ, được dùng để mô tả một hiện tượng không thể trình bày. Nhiệm vụ của một Thiền sư có thể so sánh với một chất xúc tác (e: catalyst) trong hoá học. Với sự hiện diện hoặc giáo hoá của một vị thầy, thiền sinh có thể tự chứng ngộ và ngay lúc đó, không có gì có thể gọi là thầy »truyền« trò »nhận.«|Trong thời gian đầu, biểu tượng của sự công nhận pháp tự là y bát của vị thầy truyền giao lại cho đệ tử. Danh từ »y bát« sau được hiểu như là »truyền tâm ấn ngoài giáo pháp«, một đặc tính của Thiền tông tại Ðông, Ðông nam á.
pháp tự
Hassu (S).
; (法嗣) Nối pháp. Chỉ cho người thừa kế tông môn, pháp phái. Điều Khai đường chúc thọ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3 (Đại 48, 1126 thượng) nói: Thị giả một lần dâng hương của người nối pháp, vị Trụ trì cầm lấy rồi tự cắm vào lư hương. (xt. Tự Pháp).
pháp tự tướng tương vi nhân
Một trong bốn nhân Tương Vi (nhân trái nghịch nhau) trong Nhân Minh, lập luận hay ý thứ trái lại với ngôn trần hay pháp tự tướng—One of the four fallacies connected with the reason, in which the reason is contrary to the truth of the premiss. ** For more information, please see Nhân Minh.
pháp tự tướng tương vi quá
(法自相相違過) Cũng gọi pháp tự tướng tương vi nhân (Phạm: Dharma-svarùpa-viruddhahetu). Tiếng dùng trong Nhân minh. Nhân (lí do) trái với danh từ sau (hậu trần) của Tông (mệnh đề), là 1 trong 14 lỗi của Nhân, 1 trong 33 lỗi Nhân minh. Pháp chỉ cho danh từ sau của Tông; Tự tướng, ở đây chỉ cho danh từ trước (tiền trần) của Tông; Tương vi là trái ngược nhau. Tức ý nghĩa của Nhân và Tông trái ngược nhau, cho nên gọi là Tương vi. Như Thanh luận sư đối với Thắng luận sư mà lập luận thức: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì do sự tạo tác mà có. Nhân trong luận thức này hoàn toàn mâu thuẫn với Tông, bởi vì những sự vật do tạo tác mà có đều là vô thường chứ không phải thường còn, cho nên nó đã không chứng minh được Âm thanh là thường còn, mà trái lại chứng minh Âm thanh là vô thường. Do đó, Nhân bị lỗi tương vi. Lỗi này cũng giống như lỗi thứ 4 trong 9 Cú nhân. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa đoán; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu; Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.5, phần cuối]. (xt. Tứ Tương Vi, Nhân Minh).
pháp tự tại
A bodhisattva's complete dialectical freedom and power, so that he can expound all things unimpeded.
; Bồ tát có khả năng thuyết pháp không ngằn mé—A Bodhisattva's complete dialectical freedom and power, so that he can expound all things unimpeded.
pháp tự tại bồ tát
Dharmavikurvana (S)Tên một vị Bồ tát.
pháp tự tại vương bồ tát
Dharmesvara (S)Tên một vị Bồ tát.
Pháp tự 法嗣
[ja] ホウジ hōshi ||| A dharma heir. The disciple to whom the master has imparted his most profound realization. => Người được truyền thừa giáo pháp. Đệ tử được thầy truyền cho sở chứng thâm diệu của mình.
pháp tỷ lượng
Dùng cái nầy mà lượng định ra cái kia, như lấy cái sanh mà suy luận ra cái chết—Inferring one thing from another, as from birth deducing death. ** For more information, please see Nhị Lượng.
pháp uy đức lực
The august power of Dharma.
pháp uyển
The garden of Dharma, Buddhism.
; Vườn Pháp, chỉ Phật Giáo như một khu vườn sum suê tươi tốt—The garden of Dharma, Buddhism.
Pháp uyển châu lâm
法苑珠林; C: făyuànzhūlín; J: hōonjurin; |Tác phẩm của Đạo Thế (道世).
pháp uyển châu lâm
(法苑珠林) Cũng gọi Pháp uyển châu lâm truyện, Pháp uyển châu lâm tập. Tác phẩm, 100 quyển (tạng Gia hưng ghi 120 quyển), do ngài Đạo thế soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 53. Sách này đem nội dung các kinh điển Phật giáo biên thành mục cho dễ tra cứu. Ngài Đạo thế đã căn cứ vào Đại đường nội điển lục và Tục cao tăng truyện do ngài Đạo tuyên(Pháp huynh của ngài Đạo thế) mà biên tập thành sách này, có tính chất 1 bộ Bách khoa toàn thư của Phật giáo. Nội dung toàn sách chia làm 100 thiên, 668 bộ, trình bày khái quát về tư tưởng, thuật ngữ, pháp số……... của Phật giáo, trích dẫn các kinh, luật, luận, kỉ, truyện……... tổng cộng tới hơn 400 loại, trong đó có những kinh điển hiện nay đã thất truyền. Những đoạn văn trích dẫn không phải hoàn toàn sao chép y nguyên văn mà chỉ trích lấy những chỗ nghĩa lí cốt yếu mà thôi. Đây là bộ sách rất quí giá trong nền văn hiến Phật giáo Trung quốc. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Đại đường nội điển lục Q.5; Duyệt tạng tri tân Q.43].
Pháp uyển châu lâm 法苑珠林
[ja] ホウオンシュリン Hōonjurin ||| The Fayuan zhulin; T 2122.53.265b-1030a by Tao-shih 道世. => (c: Fayuan zhulin). Của Đạo Thế 道世.
pháp uyển nghĩa lâm chương
(法苑義林章) Cũng gọi Duy thức nghĩa chương, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương, Nghĩa lâm chương. Tác phẩm, 7 quyển (hoặc 14 quyển), do ngài Khuy cơ soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này chia làm 29 chương, bắt đầu từ chương Tổng liệu giản và kết thúc với chương Phật độ(cõi Phật). Toàn sách giải thích rõ ràng về sự tổ chức và nội dung cơ bản của giáo nghĩa Duy thức như phán giáo, nghĩa lí Duy thức, lí luận tu hành, quả vị..., là bộ sách chỉ nam cho những người học tập, nghiên cứu Duy thức từ xưa đến nay. Tác phẩm này có rất nhiều sách chú thích như: Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyết trạch kí của ngài Trí chu, Nghĩa lâm chương bổ khuuyết của ngài Tuệ chiểu, Nghĩa lâm chương sư tử hống chương của ngài Cơ biện v.v... [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Pháp tướng tông chương sớ]. Cao tăng Trung quốc, sống vào thời đại Nam triều, người Dương tiện, Nghĩa hưng (nay là huyện Nghi hưng, tỉnh Giang tô), họ Chu.
Pháp uẩn
法蘊; C: fă yùn; J: hōun; |Bộ sưu tập giáo lí.
pháp uẩn
Dharma-skandha (S)Từng pháp môn nói riêng, Phật đã giảng 84.000 pháp uẩn.
; Giáo thuyết Phật pháp—The Buddha's detailed teaching. ** For more information, please see Pháp Tạng.
; (法蘊) Phạm: Dharma-skandha. Đồng nghĩa: Pháp tạng. Chỉ chung cho giáo pháp của đức Phật. Giáo pháp do đức Phật tùy theo các duyên mà nói ra, do nhiều pháp môn chứa nhóm (uẩn) lại mà thành, cho nên gọi là Pháp uẩn. Theo kinh Pháp hoa thì có 8 vạn 4 nghìn Pháp uẩn, còn luận Câu xá thì cho rằng có 8 vạn Pháp uẩn. Phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 34 trung) nói: Cần đem 8 vạn 4 nghìn Pháp uẩn 12 thể tài kinh mà diễn nói cho mọi người nghe. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 6 trung) nói: Hữu tình được hóa độ có 8 vạn hành nghiệp khác nhau như tham, sân, si...; để đối trị 8 vạn hành nghiệp ấy, đức Thế tôn tuyên nói 8 vạn Pháp uẩn.
pháp uẩn túc luận
Dharmaskandhapada (S)Tên một bộ luận kinh. Do Ngài Mục Kiền Liên soạn Xem A tỳ đạt ma Pháp uẩn túc luận.
Pháp uẩn 法蘊
[ja] ホウウン hōun ||| The collection of the teachings. => Bộ sưu tập giáo lý.
pháp viễn
(法遠) (991-1067) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người Trịnh châu, tỉnh Hà nam. Sư theo ngài Tam giao Trí trung xuất gia và nối pháp ngài Qui tỉnh ở viện Quảng giáo tại Hà nam. Âu dương tu từng theo học Thiền. Về sau, sư trụ ở núi Phù sơn, phát huy tông phong. Cơ pháp của sư đặc biệt khác lạ mà người đời gọi là Phù sơn cửu đới. Năm Trị bình thứ 4 (1067) sư thị tịch, thọ 77 tuổi, thụy hiệu Viên Giám Thiền Sư.[X. Tục đăng lục Q.4; Liên đăng hội yếu Q.15; Phổ đăng lục Q.2; Thiền lâm tăng bảo tuyện Q.17; Ngũ đăng hội nguyên Q.12; Thích thị kê cổ lược Q.4]. (xt. Phù Sơn Cửu Đới).
pháp vui
See Pháp Hỷ.
Pháp Vân
(法雲, Hōun, 467-529): vị tăng sống dưới thời Nam Triều, người vùng Dương Tiện (陽羡), Nghĩa Hưng (義興, thuộc Nghi Hưng [宜興], Giang Tô [江蘇]), họ Chu (周). Ông xuất gia năm 7 tuổi, đến năm 13 tuổi thì bắt đầu nghiên cứu kinh điển Phật Giáo và năm 30 tuổi thì khai đàn giảng Kinh Pháp Hoa cũng như Kinh Tịnh Danh ở Diệu Âm Tự (妙音寺). Ông đã từng kết giao với vị quan Trung Thư nhà Tề là Chu Ngung (周顒), cũng như với Vương Dung (王融) ở Lang Da (瑯琊), Lưu Hội (劉繪) ở Bành Thành (彭城), Từ Hiếu Tự (徐孝嗣) ở Đông Hoàn (東莞), v.v. Vào năm thứ 2 (503) niên hiệu Thiên Giám (天監) nhà Lương, ông vâng sắc chỉ vào ra các ngôi điện, rồi làm trú trì Quang Trạch Tự (光宅寺). Đến năm cuối niên hiệu Thiên Giám, ông kiến lập Pháp Vân Tự (法雲寺), và vâng mệnh dịch 3 bộ kinh do vương quốc Phù Nam (扶南) dâng hiến. Vào năm thứ 6 (525) niên hiệu Phổ Thông (普通), ông được sắc phong làm Đại Tăng Chánh. Tại Đồng Thái Tự (同泰寺), ông thiết lập hội ngàn vị tăng, nhà vua thường đến nghe giảng kinh Đại Bát Niết Bàn. Đến năm thứ 3 (529) niên hiệu Đại Thông (大通), ông thị tịch, hưởng thọ 63 tuổi. Ông là vị tăng thuộc Thành Thật Tông, rất tinh thông Kinh Niết Bàn.
pháp vân
Dharmamegha (S). Buddhism as a fertilizing cloud.
; Dharmamegha (skt)—Phật pháp như đám mây lợi nhuận chúng sanh—Buddhism as a fertilizing cloud.
; (法雲) Sư xuất gia năm 7 tuổi, năm 13 tuổi bắt đầu học tập Phật pháp. Năm 30 tuổi, sư giảng kinh Pháp hoa và kinh Tịnh danh ở chùa Diệu âm. Năm Thiên giám thứ 2 (503) đời Lương, sư vâng sắc chỉ trụ trì chùa Quang trạch, đặt ra qui chế Tăng đoàn. Cuối năm Thiên giám, sư xây dựng chùa Pháp vân, đồng thời, vâng sắc phiên dịch 3 bộ kinh do nước Phù nam (Cao miên xưa) tiến dâng. Năm Phổ thông thứ 6 (525), sư được ban sắc giữ chức Tăng chính. Sư thiết lập hội Thiên tăng ở chùa Đồng thái, vua thường giá lâm nghe sư giảng kinh Đại niết bàn. Sư thuộc học phái Thành thực, cùng với các ngài Trí tạng và Tăng mân được gọi chung là 3 Đại pháp sư ở triều Lương. Năm Đại thông thứ 3 (529), sư thị tịch, thọ 63 tuổi. Sư có tác phẩm: Pháp hoa kinh nghĩa kí 8 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.5; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Pháp hoa huyền luận Q.1]. II. Pháp Vân (1088-1158). Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nam Tống, người Trường châu (huyện Ngô, tỉnh Giang tô), họ Qua, tự Thiên thụy, hiệu Vô cơ tử. Năm 5 tuổi, sư theo ngài Từ hạnh Phưởng công, năm 9 tuổi được cạo tóc xuất gia. Năm 10 tuổi, sư theo ngài Thông chiếu học giáo pháp Thiên thai. Năm Chính hòa thứ 7 (1117), sư trụ trì chùa Đại giác ở Tùng giang, được vua ban hiệu Phổ Nhuận Đại Sư. Sau, sư trở về quê cũ phụng dưỡng mẹ già, làm tròn đạo hiếu. Khi thân mẫu bệnh nặng, sư thường túc trực bên giường giảng Tâm kinh, niệm danh hiệu Phật A di đà. Sư lại triệu tập nghìn người, lập Liên hoa thắng hội, giảng Quán kinh và niệm Phật bản tính duy tâm. Người kính ngưỡng đạo hạnh cao cả của sư, về tụng niệm và nghe pháp rất đông. Năm Thiệu hưng 28 (1158), sư họp các đệ tử, dặn dò, viết kệ để lại, ngồi ngay thẳng, quay mặt về hướng tây mà tịch, thọ 71 tuổi. Sư có các tác phẩm: Kim cương kinh chú, Tâm kinh sớ sao chú, Tức ấm tập, Phiên dịch danh nghĩa tập. [X. Phổ nhuận đại sư hành nghiệp kí; Phiên dịch danh nghĩa tập tự; Phật tổ thống kỉ Q.15; Thích thị kê cổ lược Q.4].
Pháp Vân Cảo
(法雲杲, Hōunkō, ?-?): vị tăng của Phái Hoàng Long thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, thông xưng là Phật Chiếu Thiền Sư (佛照禪師). Ông đến tham học với Viên Thông Viên Ki (圓通圓璣), được cử làm Thủ Tòa. Sau ông đến tham yết Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文) và vào ngày 21 tháng 11 năm thứ 3 (1096), ông kế thừa dòng pháp của vị này. Từ đó, ông bắt đầu thuyết giáo tại Lô Sơn Quy Tông Tự (蘆山歸宗寺). Thể theo chiếu chỉ của hoàng triều, ông chuyển đến trú trì Tịnh Nhân Thiền Viện (淨因禪院) và Pháp Vân Tự (法雲寺) ở Đông Kinh (東京, Tỉnh Hà Nam).
pháp vân đẳng giác
Giai đoạn sau khi vượt qua Pháp Vân Địa là Đẳng Giác Địa hay giác ngộ phổ trí (từ đây đế Phật quả chỉ còn một địa cuối cùng là Diệu Giác)—The stage after the tenth bodhisattva stage, that of universal knowledge, or enlightenment.
Pháp vân địa
xem Mười địa vị.
; 法雲地; C: făyúndì; J: hōunji; s: dharma-meghā; t: chos kyi sprin|Giai vị thứ 10 trong Thập địa của Bồ Tát đạo. Giai vị mà trí huệ thấm nhuần khắp pháp giới như mưa rơi từ một đám mây.
pháp vân địa
Dharmamegha-bhŪmi (S), Cloud of Dharma stage Trong Thập địa.
; The tenth Bodhisattva-stage.
; Giai đoạn thứ mười nơi mà Phật pháp tiết ra những giọt sương mai tinh khiết—The tenth bodhisattva stage, when the dharma everywhere drop their sweet dew.
Pháp vân địa 法雲地
[ja] ホウウンジ hōunji ||| The stage of the dharma-cloud (Skt. dharma-meghā; Tib. chos kyi sprin), which is the tenth of the ten stages 十地 in the bodhisattva's path. The stage where wisdom is spread throughout the world like rain from a cloud. (s: dharma-meghā; t: chos kyi sprin) => Giai vị thứ 10 trong Thập địa của Bồ-tát đạo. Giai vị mà trí huệ thấm nhuần khắp pháp giới như mưa rơi từ một đám mây.
Pháp vô khứ lai tông
法無去來宗; C: fă wú qùlái zōng; J: hōmukorai shū; |Chủ trương »Pháp vốn chẳng có quá khứ lẫn vị lai«.
pháp vô khứ lai tông
(法無去來宗) Tông thứ 3 trong 10 tông do tông Hoa nghiêm phán thích. Tông này chủ trương các pháp trong quá khứ và vị lai không có thực thể, chỉ có pháp ở hiện tại và pháp vô vi là có thực thể. Các bộ phái của Tiểu thừa như: Đại chúng bộ, Kê dận bộ, Chế đa sơn bộ, Tây sơn trụ bộ, Bắc sơn trụ bộ, Pháp tạng bộ, Ẩm quang bộ... đều thuộc tông này.(xt. Thập Tông).
Pháp vô khứ lai tông 法無去來宗
[ja] ホウムコライシュウ hōmukorai shū ||| "Dharmas are without past and future." => Tông phái chủ trương 'Pháp vốn chẳng có quá khứ lẫn vị lai'.
Pháp vô ngã
法無我; C: făwúwǒ; J: hōmuga; |Hợp thể các yếu tố hiện hữu không tồn tại trên cơ sở tự tính. Đây là một nhận thức cao cấp về tính không hơn là quan điểm Nhân vô ngã (人無我). Đồng nghĩa với Pháp không (法空) và Vô tự tính (無自性).
pháp vô ngã
Dharmanairàtmya (S). Doctrine on the non-substantiality of things
; Dharmanairatmya (skt)—Selflessness of things. 1) Vạn hữu không có thực ngã, không có tự tính, không độc lập—Things are without independent individuality, i.e. the tenet that things have no independent reality, no reality in themselves—No permanent individuality in or independence of things. 2) Cái ý niệm cho rằng không có tự tính hay ngã tạo nên tính đặc thù của mỗi sự vật được những người theo Phật Giáo Đại Thừa khẳng định là đặc biệt của họ chứ không phải của Tiểu Thừa. Ý niệm nầy thật tự nhiên vì ý niệm về “không tính” là một trong những đặc điểm nổi bậc nhất của Đại Thừa, nên thật là tự nhiên khi các học giả Đại Thừa đặc “Pháp Vô Ngã” ở một vị trí nổi bậc trong triết học của họ: The idea that there is no self-substance or “Atman” constituting the individuality of each object is insisted on by the followers of Mahayana Buddhism to be their exclusive property, not shared by the Hinayana. This idea is naturally true as the idea of “no self-substance” or Dharmanairatmya is closely connected with that of “Sunyata” and the latter is one of the most distinguishing marks of the Mahayana., it was natural for its scholars to give the former a prominent position in their philosophy. 3) Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Khi một vị Bồ Tát Ma ha tát nhận ra rằng tất cả các pháp đều thoát ngoài tâm, mạt na, ý thức, ngũ pháp, và ba tự tính, thì vị ấy được gọi là hiễu rõ thực nghĩa của “Pháp Vô Ngã.”—In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “When a Bodhisattva-mahasattva recognizes that all dharmas are free from Citta, Manas, Manovijnana, the Five Dharmas, and the Threefold Svabhava, he is said to understand well the real significance of Dharmanairatmya.”—See Tâm, Mạt Na Thức, Ý Thức, Ngũ Pháp, and Tam Không (B).
pháp vô ngã trí
Knowledge of non-substantiality of the Dharma.
; Dharmanairatmyajnana (skt)—Năng lực về nhận biết nhờ đó mà cái chân lý về “Pháp Vô Ngã” được chấp nhận—The knowledge or wisdom of the dharmanairatmya, or the power of cognisance whereby the truth of Dharmanairatmya is accepted. ** For more information, please see Pháp Vô Ngã.
Pháp vô ngã 法無我
[ja] ホウムガ hōmuga ||| The compositional elements of existence are devoid of an inherent nature. This is a more advanced level of perception of the emptiness of existence than the view of the lack of the possession of inherent nature by sentient beings (人無我). Synonyms include 法空 and 無自性. => Hợp thể các yếu tố hiện hữu không tồn tại trên cơ sở tự tính. Đây là một nhận thức cao cấp về tính không hơn là quan điểm Nhân vô ngã人無我. Đồng nghĩa với Pháp không 法空 and và Vô tự tính無自性.
Pháp vô ngại trí
xem Bốn trí không ngăn ngại.
pháp vô ngại trí
Knowledge on the unimpediment of the Dharma.
; Trí tuệ hay khả năng giảng giải đúng theo Chánh Pháp một cách vô ngại—Wisdom or power of explanation in unembarrassed accord with the Law, or Buddha-truth. ** For more information, please see Vô Ngại and Tứ Vô Ngại.
pháp vô vi
Xem Vô vi pháp.
; Pháp không có hình tướng, số lượng, chẳng thể suy lường và dùng lời nói diễn tả được.
pháp văn
Văn chương Phật Giáo—The literature of Buddhism.
pháp vũ
The rain of Buddha-truth.
; 1) Mưa Pháp làm thấm nhuận chúng sanh: The rain of Buddha-truth which fertilizes all beings. 2) Mái nhà Phật Pháp: Dharma roof, or canopy. 3) Tự Viện: Monastery.
; (法雨) Mưa pháp. Mưa được dùng để ví dụ giáo pháp của đức Phật. Giáo pháp của đức Phật nhuần thấm chúng sinh, làm cho họ từ trong mê vọng thức tỉnh mà đến chứng ngộ, giống như trận mưa tưới xuống khiến cho cây cỏ tốt tươi và trổ hoa kết trái. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 2 (Đại 12, 372 thượng), nói: Pháp vũ vô thượng, tưới tẩm ruộng thân của ngươi, khiến cho sinh ra mầm pháp. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; kinh Vô lượng thọ Q.thượng].
; (法宇) Từ gọi chung các chùa viện. Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 4 (Đại 24, 223 trung) nói: Già lam này trước kia là Pháp vũ, nay biến làm thành Càn thát bà.(xt. Tự Viện).
pháp vũ thiền tự
(法雨禪寺) Cũng gọi Hậu Tự. Ngôi chùa tọa lạc dưới ngọn Quang hi, phía trái đỉnh Bạch hoa, núi Phổ đà, tỉnh Chiết giang, là 1 trong 3 ngôi chùa lớn ở núi này.Năm Vạn lịch thứ 8 (1580) đời Minh, sư Chân dung từ Tây thục đến lễ núi Phổ đà, sư thích thắng cảnh của ngọn Quang hi này, nên kết am cỏ ở đây, lấy tên là Am Hải Triều. Năm Vạn lịch 22 (1594), Quận thú (Quận trưởng) đổi bảng hiệu là Hải Triều Tự. Năm Vạn lịch 27 (1599), vua ban Đại tạng kinh bản Long tạng. Năm Vạn lịch 34 (1606), vua lại ban bảng hiệu Hộ Quốc Trấn Hải Thiền Tự. Năm Vạn lịch 40 (1612), chùa bị cháy trong 1 trận hỏa hoạn, không bao lâu, được làm lại.Năm Khang hi 38 (1699) đời Thanh, vua ban 2 tấm bảng ngạch: Thiên Hoa Pháp Vũ và Pháp Vũ Thiền Tự. Năm Ung chính thứ 9 (1731), vua ban sắc trùng tu, từ đó, điệnđường lầu gác tề chỉnh hoàn mĩ và chùa trở nên nổi tiếng ngang với chùa Phổ tế. [X. Phạm sát Pháp vũ thiền tự Trung quốc Phật tự chí Phổ đà lạc ca tân chí Q.5].
Pháp Vương
(s: dharma-rāja, 法王): vua pháp, tôn xưng thường dùng để chỉ cho chư Phật. Vương có nghĩa tối thắng, tự tại; đức Phật là chủ tể của Pháp, có thể giáo hóa chúng sanh một cách tự tại, nên được gọi là Pháp Vương. Như trong Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經, Taishō No. 12) quyển Hạ có câu: “Phật vi Pháp Vương, tôn siêu chúng Thánh, phổ vi nhất thiết thiên nhân chi sư (佛爲法王、尊超眾聖、普爲一切天人之師, Phật là Pháp Vương, được tôn kính hơn các bậc Thánh, là vị thầy của khắp hết thảy trời người).” Hay như trong Thích Ca Phương Chí (釋迦方誌, Taishō No. 51) có giải thích rằng: “Phàm nhân cực vị, danh viết Luân Vương; Thánh nhân cực vị, danh viết Pháp Vương (凡人極位、名曰輪王、聖人極位、名曰法王, ngôi vị cao nhất của người phàm gọi là Luân Vương, ngôi vị cao nhất của bậc Thánh là Pháp Vương).” Trong bài xưng tán đức Phật có câu: “Pháp Vương vô thượng tôn, Tam Giới vô luân thất, thiên nhân chi đạo sư, Tứ Sanh chi từ phụ (法王無上尊、三界無倫匹、天人之導師、四生之慈父, đấng Pháp Vương vô thượng, Ba Cõi chẳng ai bằng, thầy dạy khắp trời người, cha lành chung Bốn Loại).” Hay như trong Tây Du Ký (西遊記), hồi thứ 64 lại có đoạn: “Trượng tích Tây lai bái Pháp Vương, nguyện cầu diệu điển viễn truyền dương, kim chi tam tú thi đàn thoại, bảo thọ thiên hoa liên nhụy hương, bách xích cán đầu tu tấn bộ, thập phương thế giới lập hành tàng, tu thành ngọc tượng trang nghiêm thể, Cực Lạc môn tiền thị đạo trường (杖錫西來拜法王、願求妙典遠傳揚、金芝三秀诗坛瑞,宝树千花莲蕊香。金芝三秀詩壇瑞、寶樹千花蓮蕊香、百尺竿头须进步,十方世界立行藏。百尺竿頭須進步、十方世界立行藏、修成玉象庄严体,极乐门前是道场。修成玉象莊嚴體、極樂門前是道塲, quảy trượng qua Tây lễ Pháp Vương, nguyện mong kinh điển khắp truyền dương, cành vàng tam tú thơ đàn lạ, cây báu ngàn hoa sen nhụy hương, trăm bộ đầu sào nên bước tiếp, mười phương thế giới vững trụ thường, tu thành voi ngọc trang nghiêm dáng, Cực Lạc cửa này chính đạo trường).”
; (s: dharma-rāja, p: dhamma-rāja, 法王): có mấy nghĩa chính. (1) Là tôn xưng của đức Phật. Vương (王) có nghĩa là tối thắng, không ai bằng, tự tại, không ngăn ngại; đức Phật là chủ tể các pháp môn, có thể giáo hóa chúng sanh một cách tự tại, nên được gọi là Pháp vương. Như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) giải thích rằng: “Phật vi pháp vương tôn siêu chúng Thánh, phổ vị nhất thiết thiên nhân chi sư (佛爲法王尊超眾聖、普爲一切天人之師, đức Phật là vua pháp, tôn kính hơn các bậc Thánh, là thầy của khắp tất cả trời người).” Hay trong Thích Ca Phương Chí (釋迦方志, Taishō Vol. 51, No. 2088) quyển Thượng cho biết thêm rằng: “Phàm nhân cực vị danh viết Luân Vương, thánh nhân cực vị danh viết Pháp Vương (凡人極位名曰輪王、聖人極位名曰法王, ngôi vị cao tột của người phàm gọi là Luân Vương, ngôi vị cao tột của bậc Thánh là Pháp Vương).” (2) Là tôn xưng của vị Bồ Tát. Căn cứ vào Kinh Hoa Nghiêm quyển 27 cho biết rằng vị Bồ Tát khi thọ chức, chư Phật lấy nước trí tuệ rưới lên đỉnh đầu để cho vị ấy đầy đủ Mười Lực của đức Phật, có thể chuyển hóa 10 con đường thiện, nên được gọi là Quán Đảnh Pháp Vương (灌頂法王). Theo Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經, Taishō Vol. 11, No. 310) quyển 27, vì vị Bồ Tát có đủ 4 việc, nên được gọi là Pháp Vương. Bốn việc đó là không bỏ đạo tâm; khuyến hóa người khác phát ý; lấy gốc của các đức mà khuyên giúp đạo tâm; khiến cho hết thảy Đế Thích, Phạm Vương, Tứ Thiên Vương, các bậc Thanh Văn cũng như Duyên Giác, đạt đến nghiệp cùng tận không hoại. (3) Là tên gọi khác của vua Diêm Ma (閻魔) dưới cõi u minh. (4) Là phong hiệu vị thủ lãnh của Phật Giáo Tây Tạng. Bắt đầu từ năm 1270 (Chí Nguyên [至元] thứ 7) đời vua Thế Tổ Hốt Tất Liệt (世祖忽必烈, tại vị 1260-1271, 1271-1294) nhà Nguyên, nhà vua phong cho Bát Tư Ba (八思巴), thủ lãnh của Phái Tát Ca (薩迦派), là Đại Bảo Pháp Vương (大寶法王). Đến năm 1406 (Vĩnh Lạc [永樂] thứ 4), vua Thành Tổ (成祖, tại vị 1402-1424) nhà Minh cho mời Cáp Lập Ma (哈立麻), vị Lạt Ma thủ lãnh của Phái Ca Nhĩ Cư (迦爾居派) đến Bắc Kinh, rồi đến năm sau thì phong cho vị này là Vạn Hạnh Cụ Túc Thập Phương Tối Thắng Viên Giác Diệu Trí Tuệ Thiện Phổ Ứng Hựu Quốc Diễn Giáo Như Lai Đại Bảo Pháp Vương Tây Thiên Tự Tại Phật (萬行具足十方最勝圓覺妙智慧善普應佑國演敎如來大寶法王西天自在佛), gọi tắt là Đại Bảo Pháp Vương. Từ đó về sau, lại phân biệt phong cho các vị Lạt Ma thượng thủ của hai phái Tát Ca và Cách Lỗ (格魯) là Đại Thừa Pháp Vương (大乘法王), Đại Từ Pháp Vương (大慈法王). (5) Về phía Nhật Bản, dưới thời đại Nại Lương (奈良, Nara, 710-794), có Thiếu Tăng Đô Đạo Kính (道鏡, Dōkyō, ?-772), tăng sĩ của Pháp Tướng Tông, thường ra vào cung nội, được Thiên Hoàng sủng ái, ban tặng cho hiệu là Đại Thần Thiền Sư (大臣禪師). Rồi đến năm 766 (Thiên Bình Thần Hộ [天平神護] thứ 2), ông được ban cho chức vị Pháp Vương. Ngoài ra, Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi, 574-622) cũng được tôn xưng là Thánh Đức Pháp Vương (聖德法王) hay Đại Pháp Vương Hoàng Thái Tử (大法王皇太子). Trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (毗尼日用切要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1115) có bài kệ Tán Phật (讚佛): “Pháp Vương vô thượng tôn, Tam Giới vô luân thất, thiên nhân chi đạo sư, Tứ Sanh chi từ phụ, ngã kim tạm quy y, năng diệt Tam Kỳ nghiệp, xưng dương nhược tán thán, ức kiếp mạc năng tận (法王無上尊、三界無倫匹、天人之導師、四生之慈父、我今暫皈依、能滅三祇業、稱揚若讚歎、億劫莫能盡, đấng pháp vương vô thượng, Ba Cõi chẳng ai bằng, thầy dạy khắp trời người, cha lành chung Bốn Loại, con nay tạm quy y, dứt sạch nghiệp Ba Kỳ, xưng dương và tán thán, ức kiếp không cùng tận).”
Pháp vương
danh hiệu tôn xưng đức Phật là vị vua của các pháp. Vì Phật nắm hiểu tất cả các pháp nên gọi là Pháp vương, lại vì thuyết dạy các pháp cho chúng sanh, tức là chuyển bánh xe Pháp (chuyển Pháp luân) nên được tôn xưng là Pháp luân vương, Pháp luân thánh vương.
; 法王; C: fă wáng; J: hō-ō; |1. Vua của các pháp – Đức Phật; 2. Vị vua chân thực trong việc truyền bá chính pháp.
pháp vương
Dharma-rāja (S), Dharma king Một trong những danh hiệu được dùng để chỉ đứcPhật.
; Dharmaràja (S). King of the Law, Buddha.
; Dharmaraja (skt)—Phật là bậc Pháp Vương vì ngài tự do tự tại, không bị lệ thuộc ràng buộc vào bấc cứ một pháp nào—King of the Law—Buddha—Dharma King.
; (法王) Phạm: Dharma-ràja. I. Pháp Vương. Vua pháp. Danh từ tôn xưng đức Phật. Vương có nghĩa tối thắng, tự tại. Phật là chủ các pháp môn, có năng lực tự tại giáo hóa chúng sinh, vì thế gọi là Pháp vương. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 275 trung), nói: Phật là Pháp vương, tôn quí hơn hết trong hàng Thánh chúng, là bậc Thầy của tất cả trời người. Thích ca phương chí quyển thượng (Đại 51, 950 thượng) nói: Địa vị cao nhất của người phàm là Luân vương; địa vị cao nhất của Thánh nhân là Pháp vương. [X. kinh Du hành trong Trường a hàm Q.3; phẩm Phật quốc kinh Duy ma Q.thượng; phẩm An lạc hạnh kinh Pháp hoa Q.5]. II. Pháp Vương. Danh từ tôn xưng Bồ tát. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 27 thì khi nhận ngôi vị, Bồ tát được chư Phật dùng nước trí tuệ rưới lên đỉnh đầu (quán đính), nhờ đó, Bồ tát có đầy đủ Thập lực của đức Phật, cũng có khả năng chuyển Thập thiện đạo, cho nên gọi là Quán đính pháp vương. Lại theo phẩm Mật tích lực sĩ trong kinh Đại bảo tích quyển 9, thì vì Bồ tát có đủ 4 việc nên được tôn xưng là Pháp vương. Bốn việc ấy là: 1. Không bỏ đạo tâm. 2. Khuyến hóa chúng sinh phát tâm. 3. Dùng các thiện căn công đức khuyến giúp đạo tâm, làm cho người nghe mở rộng tâm ý. 4. Khiến cho Đế thích, Phạm thiên, Tứ thiên vương, các vị Thanh văn và Duyên giác đến được đạo nghiệp rộng lớn vô cùng, không hoại diệt. [X.phẩm Dược vương bồ tát bản sự trong kinh Pháp hoa Q.6]. III. Pháp Vương. Tên khác của vua Diêm ma ở cõi U minh. Vua Diêm ma y theo pháp mà phán xét tội của chúng sinh ở cõi U minh, nên gọi là Pháp vương. IV. Pháp Vương. Hiệu vua phong cho vị thủ lãnh của Phật giáo do Tây tạng truyền. Bắt đầu vào năm Chí nguyên thứ 7 (1270) đời vua Thế tổ nhà Nguyên, ngài Bát tư ba –thủ lãnh của phái Tát ca– được phong Đại Bảo Pháp Vương. Năm Vĩnh lạc thứ 4 (1406) đời Minh, vua Thành tổ dẫn binh đem lễ vật đi mời Lạt ma Cáp lập ma thuộc phái Ca nhĩ cư đến Bắc kinh, năm sau, vua phong ngài Cáp lập ma là Vạn Hạnh Cụ Túc Thập Phương Tối Thắng Viên Giác Diệu Trí Tuệ Thiện Phổ Ứng Hựu Quốc Diễn Giáo Như Lai Đại Bảo Pháp Vương Tây Thiên Tự Tại Phật gọi tắt là Đại Bảo Pháp Vương. Sau đó, vua lại phong cho vị Lạt ma Thượng thủ của phái Tát ca là Đại Thừa Pháp Vương và vị Lạt Pháp Vương. (xt. Đại Bảo Pháp Vương). V. Pháp Vương. Tên 1 chức quan được đặt ra ở khoảng thời đại Nại lương của Nhật bản. Thiếu tăng đô tên Đạo kính ra vào trong cung, được Thiên hoàng yêu mến và ban cho hiệu Đại Thần Thiền Sư. Rồi vào năm Thiên bình hộ thứ 2 (766), vua trao ngôi vị Pháp Vương cho sư. Ngoài ra, Thái tử Thánh đức được tôn xưng là Thánh Đức Pháp Vương hoặc Đại Pháp Vương Hoàng Thái Tử.
pháp vương gia
(法王家) Nhà bậc vua Pháp. Chỉ cho cõi nước của chư Phật. Pháp vương là tiếng tôn xưng đức Phật, cho nên cõi nước của Phật trụ được gọi là Pháp vương gia. Vãng sinh lễ tán kệ (Đại 47, 444 hạ) nói: Tất cả cõi nước của chư Phật trong 10 phương đều là Pháp vương gia. Ngoài ra, từ ngữ Pháp vương gia cũng được sử dụng để chỉ cho các chùa viện của chúng tăng. Chư tăng là đệ tử của đức Phật, hoằng dương Phật pháp, giáo hóa chúng sinh, cho nên chùa viện là nơi chư tăng cư trú cũng được gọi là Pháp vương gia.[X. Tập chư kinh lễ sám nghi Q.hạ].
pháp vương kinh
(法王經) Kinh, 1 quyển, không có tên người dịch hoặc người soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 85. Nội dung kinh giải thích rõ thuyết Phật tính vô tính của Đại thừa và cho thuyết này là bậc nhất trong các pháp, là vua trong các thừa, vì thế gọi là Pháp vương kinh. Về sau, thuyết của kinh này được Bách trượng quảng lục, Tông kính lục... dẫn dụng. Những bản sao của kinh này được tìm thấy ở động Đôn hoàng mang các hiệu số: 30, 26, 36. Ngoài ra còn có bản dịch Tây tạng. [ X. Khai nguyên thích giáo lục Q.18].
pháp vương tử
Kumārabhuta (S), Dharma Prince, Kumāra (S)Đồng tử, Câu ma la vương, Câu ma la thiên, Câu ma la, Pháp vương tử Một danh hiệu để gọi Văn thù Sư lợi Bồ tát. Tên một vị sư.
; Kumàra (S). Son of the Dharma-king, a Bodhisattva.
; Kumarabhuta (skt)—Cưu Ma La Phù Đa—Cưu Ma La Phù—Pháp Vương tử hay Bồ Tát, người kế thừa ngôi vị của Phật để nối truyền Chánh Pháp—Son of the Dharma-king—Bodhisattva—Dharma prince.
; (法王子) Phạm: Kumàrabhùta. Hán âm: Cứu ma la phù đa, Cưu ma la phù.Hán dịch: Đồng chân. Con bậc Pháp vương, là tên khác của Bồ tát. Bồ tát là người kế thừa ngôi vị của Phật, Phật là Pháp vương, nên Bồ tát được gọi chung là Pháp vương tử. Sự quan hệ giữa Pháp vương Như lai và Bồ tát cũng giống như quan hệ giữa Quốc vương và Vương tử ở thế gian, vì thế gọi Bồ tát là Pháp vương tử. [X. kinh A di đà; phẩm Báo ân trong kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.2; luận Đại trí độ Q.4, 32; Chú duy ma kinh Q.1].
Pháp vương tử trú
法王子住; C: fă wángzí zhù; J: hō-ōshi jū; |Giai vị thứ 9 trong Thập trú trong 52 giai vị tu đạo của hàng Bồ Tát. Là giai vị xuất sinh trí huệ tương ứng với giáo pháp của Đức Phật, và niềm xác tín là tương lai sẽ thành Phật.
Pháp vương tử trú 法王子住
[ja] ホウオウシジュウ hō-ōshi jū ||| The ninth of the "ten abidings" 十住 in the 52 stage path of the bodhisattva. The "abiding of the dharma-prince." The stage of producing wisdom in accordance with the Buddha's teaching, and being assured of becoming a Buddha in the future. => Giai vị thứ 9 trong Thập trú trong 52 giai vị tu đạo của hàng Bồ-tát. Là giai vị xuất sinh trí huệ tương ứng với giáo pháp của Đức Phật, và chắc chắn tương lai sẽ thành Phật.
pháp vương tự
(法王寺) Chùa ở chân núi phía nam ngọn Thái thất thuộc Tung sơn, huyện Đăng phong, tỉnh Hà nam, Trung quốc, tương truyền được sáng lập vào năm Vĩnh bình thứ 10 (71) đời vua Minh đế nhà Hán. Khoảng năm Thanh long đời vua Minh đế nhà Ngụy, chùa được đổi tên là chùa Hộ quốc. Thời Tây Tấn xây dựng thêm chùa Pháp hoa ở phía trước chùa này. Đến đầu đời Tùy, có xây tháp Xá lợi, lại được đổi tên là chùa Xá lợi. Khoảng năm Trinh quán đời Đường, vua Thái tông ban sắc tu bổ tượng Phật, cấp cho ruộng vườn và đổi tên là chùa Công đức. Đến khoảng năm Khai nguyên, vua Huyền tông lại đổi tên là chùa Ngự dung. Khoảng năm Đại lịch, vua Đại tông ra lệnh sửa lại nhà điện, lầu gác và đổi tên là chùa Văn thù sư lợi quảng đức Pháp vương. Đến đời Ngũ đại, chùa được chia ra 5 viện theo tên cũ: Hộ quốc, Pháp hoa, Xá lợi, Công đức và Ngự dung. Đầu đời Bắc Tống, chùa được gọi chung là Ngũ viện. Khoảng năm Khánh lịch, vua Tống nhân tông cho xây dựng thêm các nhà điện, phòng tăng, làm lại các tượng Phật và đổi tên là chùa Tung Sơn Đại Pháp Vương. Trong chùa hiện còn các kiến trúc: Điện Tì Lô, Điện Đại Hùng và ngôi tháp 5 tầng, hình vuông, bằng gạch.
Pháp vương 法王
[ja] ホウオウ hō-ō ||| (1) The king of the dharma--the Buddha. (2) A king who is truly concerned about transmitting the Buddhist teaching. => 1. Vua của các pháp – Đức Phật. 2. Vị vua chân thực trong việc truyền bá chính pháp.
pháp vận chí lược
Fa-yiin chih-lueh (C).
pháp vật
(法物) Những vật thuộc về Pháp. Chỉ cho các loại kinh sách, hòm, tráp và các phẩm vật cúng dường Pháp bảo, là 1 trong Tam bảo vật.Cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển trung phần 1, thì Pháp vật được chia làm 4 loại: 1. Pháp thụ dụng vật: Những vật được dùng vào những việc duy trì Pháp bảo, như kinh quyển, hòm tủ, màn che, khăn phủ... 2. Thí thuộc pháp vật: Những vật bố thí cho Pháp bảo, như ruộng vườn... được chia làm 2 phần: Một phần cúng dường kinh, một phần cho người tụng kinh. 3. Cúng dường pháp vật: Những vật cúng dường Pháp bảo, như hương hoa cúng dường kinh quyển... 4. Hiến pháp vật: Những vật dâng hiến Pháp bảo, như thức ăn uống cúng dường kinh quyển... (xt. Tam Bảo Vật).
Pháp vị
法位; C: făwèi; J: hōi; S: dharma-niyāmatā. |1. Nhân duyên hay tiến trình mà các pháp (sinh mệnh, vật thể, tâm ý) được biểu hiện. Những luận sư thuộc phái Hữu bộ ban sơ, trong lúc cố gắng giải thích làm sao chúng ta có thể phân biệt giữa quá khứ, hiện tại, vị lai đã kết luận rằng đó là do quan điểm hoạt dụng khác nhau giữa các sự hiện hữu. Lí thuyết nầy được giải thích chi tiết trong Câu-xá luận, cho rằng thời gian mà các pháp đã hoại là quá khứ. Quan điểm nầy, nếu như không được giải thích kĩ, có thể dẫn đến kết quả xu hướng dẫn đến tà kiến cho rằng các pháp có một bản ngã nhất định và có tự tính riêng của chúng. Do vậy, quan điểm nầy bị Long Thụ và các vị khác bác bỏ.|2. Một pháp, hay mỗi pháp hiện hữu trong một vị thế tương ứng với chân tính như thật của nó.|3. Thành viên trong tăng đoàn.
pháp vị
(1) Dharma-state, the bhùtatathatà. (2) The grade or position of a monk.
; Dharmaniyamata (skt). 1) Chân Như: The bhutatathata—Dharma state. 2) Vị cam lồ của pháp: The “sweet-dew” taste or flavour of the dharma. 3) Thứ tự hay ổn định của các sự vật, mỗi mỗi ở trong vị trí riêng của nó: Orderliness or fixedness of things, each in its own position. 4) Ngôi thứ của một vị Tăng: The grade or position of a monk.
; (法味) Cũng gọi Phật pháp vị, Pháp trí vị. Hương vị của diệu pháp. Nghĩa thú của các pháp môn do đức Phật dạy rất sâu xa, phải nghiền ngẫm một cách tinh tế mới thể nhận được và sinh ra niềm vui, cho nên dùng vị ngon, để ví dụ mà gọi là Pháp vị. Luận Tịnh độ của ngài Thiên thân (Đại 26, 231 thượng) nói: Ưa thích pháp vị của Phật, Thiền tam muội là thức ăn. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 25, (Đại 10, 136 thượng), nói: Nguyện cho tất cả chúng sinh, được vô lượng pháp vị, rõ suốt pháp giới. (...) Nguyện tất cả chúng sinh, pháp vị càng tăng, thường được đầy đủ.[X. kinh Dược sư Như lai bản nguyện công đức; Lương cao tăng truyện Q.8].
; (法位) Tên khác của Chân như. Chân như là vị trí các pháp an trụ, nên gọi là Pháp vị. Tông kính lục quyển 7 (Đại 48, 455 thượng) nói: Pháp vị tức là chính vị Chân như, thế nên luận Đại trí độ cho rằng Pháp tính, Pháp giới, Pháp trụ, Pháp vị, đều là tên khác của Chân như. (xt. Chân Như).
pháp vị tự tại chướng
Non-attainment of complete mastery of all things.
Pháp vị 法位
[ja] ホウイ hōi ||| (dharma-niyāmatā). (1) The condition or process in which all dharmas (existences, things, mental states) are established. The early Sarvāstivādins, in attempting to explain how we can distinguish between past, present and future, had concluded that it was because the point of function differs between existences. This theory was further worked out in the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論, which said that the time in which dharmas function is called the present; the time in which dharmas have disappeared is called the past. This view, if not properly analyzed, can result in a tendency to lead to the mistaken view that things are self-established and have their own individual natures. Therefore this position was refuted by Nāgārjuna 龍樹 and others. (2) "Dharma-position." A thing, or each thing being in its appropriate place in terms of its suchness. (3) To be a member of the clergy. => (s: dharma-niyāmatā). Nhân duyên hay tiến trình mà các pháp (sinh mạng, vật thể, tâm ý) được biểu hiện. Những luận sư Thuộc phái Hữu bộ trước đây, trong cố gắng giải thích làm sao chúng ta có thể phân biệt giữa quá khứ, hiện tại, vị lai; đã kết luận rằng đó là do quan điểm hoạt dụng khác nhau giữa các sự hiện hữu. Lý thuyết nầy được giải thích chi tiết trong Câu-xá luận, cho rằng thời gian mà các pháp đã hoại là quá khứ. Quan điểm nầy, nếu như không được giải thích kỹ, có thể dẫn đến kết quả xu hướng dẫn đến tà kiến cho rằng các pháp có một bản ngã nhất định và có tự tính riêng của chúng. Do vậy, quan điểm nầy bị Long Thụ và các vị khác bác bỏ. Một pháp, hay mỗi pháp hiện hữu trong một vị thế tương ứng với chân tính như thật của nó. Trở nên thành viên trong tăng đoàn.
pháp vực
Pháp Giới—The realm of dharma.
pháp xung
(法沖) (587 ?-665) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Thành kỉ, Lũng tây, (thuộc tỉnh Cam túc), họ Lí, tự Hiếu đôn. Năm 24 tuổi, sư làm quan đến chức Ưng dương tướng quân. Sau khi mẹ mất, sư đọc kinh Niết bàn mà phát tâm xuất gia. Sư theo ngài Tuệ cảo học các kinh luận như: Đại phẩm bát nhã, Lăng già, Tam luận..., sau sư vào núi Vũ đô tu tập. Đầu năm Trinh quán (627), triều đình hạ lệnh nghiêm cấm tư nhân độ tăng ni (tức phải qua tổ chức Tăng quan mới được độ làm tăng ni), sư quyết chí xuất gia và lánh đến núi Dịch dương tu thiền, giảng kinh Lăng già. Hậu duệ của Nhị tổ Tuệ khả cũng bỏ đồ chúng mà đến theo sư tu học. Ngài Linh nhuận ở chùa Hoằng phúc gọi sư là Đại tâm Khai sĩ. Sư nổi tiếng ngang với ngài Huyền trang và là nhân vật rất có công trong việc phát triểntư tưởngThiền Nam tông ở thời kì đầu. [X. Tục cao tăng truyện Q.35].
pháp xá lợi
(法舍利) Cũng gọi Pháp thân xá lợi, Pháp tụng xá lợi. I. Pháp Xá Lợi. Chỉ cho kinh điển của đức Phật. Kinh Phật nói là nêu rõ lí Trung đạo thực tướng, tính tướng thường nhiên, không biến đổi, vì thế gọi là Pháp thân xá lợi. Những kinh điển này được thờ trong tháp để thay thế cho xá lợi của Phật. Phẩm Pháp sư kinh Pháp hoa (Đại 9, 31 trung) nói: Nếu những nơi nào có kinh điển này, hàng ngày giảng nói, đọc tụng, viết chép, thì nên xây tháp bảy báu để tôn thờ mà không cần phải an trí xá lợi. Vì sao? Vì trong đó đã có toàn thân của đức Như lai. Nên đem hoa, hương, anh lạc, lọng lụa, cờ phướn, kĩ nhạc, cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi tháp ấy. [X. Đại đường tây vực kí Q.9]. II. Pháp Xá Lợi. Cũng gọi Duyên sinh kệ, Duyên khởi kệ, Duyên khởi pháp tụng, Pháp thân kệ, Pháp thân xá lợi kệ. Chỉ cho bài kệ tụng nói về các pháp duyên khởi được ghi chép trong kinh Dục Phật công đức. Bài kệ này do tỉ khưu Mã thắng đọc cho ngài Xá lợi phất nghe. Nhờ nghe bài kệ này mà ngài Xá lợi phất về qui y và làm đệ tử đức Phật. Bài kệ như sau (Đại 16, 800 thượng): Chư pháp tòng duyên khởi, Như lai thuyết thị nhân; Bỉ pháp nhân duyên tận, Thị đại sa môn thuyết. (Các pháp theo duyên sinh, Như lai nói là nhân; Duyên hết pháp cũng diệt, Đại sa môn nói thế). Nội dung bài kệ này nói về 3 đế: Khổ, Tập, Diệt trong 4 đế(Khổ, tập, diệt, đạo). Khi đặt kinh vào trong tháp để thờ, cũng phải đọc bài kệ này. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.48; luận Đại trí độ Q.18]. (xt. Pháp Thân Kệ).
pháp xã
(法社) Đoàn thể tín ngưỡng do tín đồ tại gia của Phật giáo tổ chức thành, tính chất của nó giống như Nghĩa ấp. Bắt đầu từ Bạch liên xã do ngài Tuệ viễn thời Đống Tấn sáng lập ở Lô sơn, thành viên của tổ chức này, tại miền Nam thì giai cấp quí tộc, trí thức là chủ yếu, còn ở miền Bắc thì giai cấp bình dân là trung tâm. Lại như ngài Đạo kỉ đời Bắc Tề, ra sức hô hào dân quê cấm sát sinh, kết thành Pháp xã chủ trương trì giới. Phong trào Pháp xã phát triển mạnh trong khoảng thời gian từ sau loạn An lộc sơn từ đời Đường cho đến đời Tống. Về sử liệu cơ bản của Pháp xã thì có: kinh Pháp xã 1 quyển, Pháp xã tiết độ tự của ngài Tuệ viễn, Pháp xã kiến công đức ấp kí của ngài Tăng hựu, Xã giới văn của thi hào Bạch cư dị...
pháp xã kinh
(法社經) Kinh, 1 quyển, tương truyền do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. Khai nguyên thích giáo lục xếp kinh này vào loại Nghi lục, các học giả đời sau phần nhiều cũng coi là ngụy kinh. Đây là trứ tác cùng thời đại với Pháp xã tiết độ tự của ngài Tuệ viễn và Pháp xã kiến công đức ấp kí của ngài Tăng hựu.
pháp xưng
Dharmayaśas (S), Dharmakīrti (S)Pháp Xứng, Đàm ma da xáSa môn Ấn độ dịch kinh tại Trường an năm 407 - 415 biên soạn quyển Thích Tượng luận. Năm 424 Ngài về Tây Vực.
; (法稱) Phạm: Dharmakìrti. Luận sư phái Du già, cũng là học giả trứ danh về Luận lí học Nhân minh, người nước Đổ lê ma la da (Phạm: Trimalaya) Nam Ấn độ, xuất thân dòng Bà la môn, sống vào thế kỉ VI, VII. Tây lịch. Thủa nhỏ, sư tu tập theo Bà la môn giáo và các học phái ngoại đạo suốt 18 năm. Sau, sư học Phật pháp và qui y làm Ưu bà tắc. Rồi sư đến nước Ma yết đà theo ngài Hộ pháp xuất gia tu học; không bao lâu, sư lại nương vào ngài Tự tại quân (Phạm: Izvarasena, Hán âm: Y thấp phạt la tiện na) để nghiên cứu luận Tập lượng của ngài Trần na. Sư thụ pháp Quán đính nơi A xà lê Kim cương rồi đi hoằng pháp giáo hóa khắp nơi. Sư sinh vào thời đại mà Phật giáo Ấn độ đang suy tàn dần, nên sư đã gắng hết sức dùng Nhân minh học để vãn cứu uy thế của Phật giáo, tạo ảnh hưởng rất lớn đối với hậu thế. Cuối đời, sư đến nước Yết lăng già tĩnh tu và thị tịch tại đó. Sư để lại các tác phẩm: Thích lượng luận, Lượng quyết trạch, Chính lí nhất trích, Nhân nhất trích, Tương thuộc quán sát tịnh tự chú, Tránh chính lí, Tha tương tục thành tựu, Bản sinh quảng sớ, Phật niết bàn tán, Cát tường kim cương đồ ca thường ái tán, Đại thừa tập bồ tát học luận, Kim cương châm luận. [X. chương 26 trong Đa la na tha Ấn độ Phật giáo sử; Buddhist Logic, vol. I by Th. Stcherbatsky].
Pháp xứ
法處; C: fă chù; J: hossho; S: dharma-āyatana. |Một trong 12 xứ theo giáo lí Duy thức. Là những gì hiện hữu ngay lúc phát sinh ý niệm. »Ý niệm«. Cảnh giới sở đối của ý niệm.
; [ja] ホッショ hossho ||| (dharma-āyatana). The 'locus of concepts.' One of the twelve loci 十二處 in Consciousness-only theory. That which exists as the point of the production of conceptualization. The locus of conceptions--non-perceptory objects. "Ideas." Non-material objects of thought. => (s: dharma-āyatana). Một trong 12 xứ theo giáo lý Duy thức. Là những gì hiện hữu ngay lúc phát sinh ý niệm. “Ý niệm”. Cảnh giới sở đối của ý niệm.
pháp xứ
Dharmayatana (S).
; Dharmàyatana (S). Mental objects.
Pháp xứ sở nhiếp sắc
法處所攝色; C: făchù suŏshè sè; J: hossho-shojōshiki; |Còn gọi là Đoạ pháp xứ sắc (墮法處色). Theo giáo lí Pháp tướng tông, thuật ngữ nầy chỉ cho các sắc pháp bao gồm trong đối tượng của 6 giác quan mà không được bao hàm trong Ngũ căn (五根) và Ngũ cảnh (五境). Nghĩa là có những pháp đối tượng của tâm được gom vào trong sắc pháp.|Theo giáo lí Duy thức, có 5 loại bao hàm trong loại nầy: 1. Cực lược sắc (極略色): Lí giải tính chất cực nhỏ sự hiện hữu của 5 giác quan, 5 trần cảnh, tứ đại, v.v… đúng theo sự phân tích qua trí huệ. Đây là mức độ vi tế được lí thuyết hoá qua phân tích, nhưng không thể cảm nhận được qua các giác quan. Đối tượng vật thể quá nhỏ không thể thấy được, nhưng sự hiện hữu của chúng của thể được xác nhận qua tỉ lượng (sự phân tích); 2. Cực sắc (極色): Những hiển sắc cực kì vi tế trong phạm trù tương quan như ánh sáng, bóng tối, chói chang, u ám; và những phạm trù tương quan với vật thể như dài, ngắn, vuông tròn; 3. Thụ sở dẫn sắc (受所引色): Vô biểu sắc phát sinh trong tâm mình từ kết quả thụ nhận giới pháp. (Vô biểu sắc 無表色 và Giới thể 戒體). Theo học thuyết trong A-tì-đạt-ma Câu-xá luận, đây chỉ đơn giản là »Vô biểu sắc«, nhưng theo Duy thức, »chủng tử thiện« có được như là tâm hành ngay vào lúc thụ nhận giới pháp được gọi là »giới thể«. Nên thuật ngữ trên được hiểu là »tâm hành có được ngay khi thụ giới«. Chỉ là sắc pháp có tạm thời; 4. Định sở dẫn sắc (定所引色): là sắc pháp mà các bậc thánh có thể tự tại biến hiện trong định. Khi nghĩ đến nước hoặc lửa, họ có thể tạo ra ngay. Hoặc có thể biến đất cát thành vàng bạc,v.v… 5. Biến kế sở khởi sắc (遍計所起色): trường hợp của thức thứ 6, không quan hệ gì với 5 thức trước, tương ứng với quá khứ, hoặc sinh khởi những ảo tượng như hoa đốm giữa hư không, sắc pháp này sinh khới do sức phân biệt sai lầm của thức thứ 6.
pháp xứ sở nhiếp sắc
(法處所攝色) Cũng gọi Đọa pháp xứ sắc, Pháp xứ sắc. Sắc pháp thứ 11 trong 11 sắc pháp do tông Duy thức thành lập. Tông Duy thức chia tất cả các pháp làm 5 loại, gọi là Ngũ vị, gồm: Sắc pháp, Tâm pháp, Tâm sở hữu pháp, Tâm bất tương ứng hành pháp và Vô vi pháp. Trong đó, Sắc pháp, nói theo nghĩa rộng là từ gọi chung tất cả vật chất tồn tại, có tính cách biến đổi, hư hoại và chướng ngại. Sắc pháp lại được chia làm 11 loại gồm: 5 căn(nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân), 5 cảnh(sắc, thanh, hương, vị, xúc) và Pháp xứ sở nhiếp sắc. Chữ xứ của Pháp xứ có nghĩa là sinh ra và nuôi lớn tâm và tâm sở, đồng thời là chỗ để cho tâm và tâm sở nương tựa và vin theo, được chia làm 12 thứ, gọi là Thập nhị xứ, tức là 5 căn đã nói ở trên thêm vào căn thứ 6 là ý căn, 5 cảnh thêm vào cảnh thứ 6 là pháp cảnh. Pháp cảnh tức là pháp xứ trong 12 xứ, chỉ có điều pháp cảnh là đối cảnh khách quan của ý căn(tác dụng chủ quan), còn pháp xứ thì nói rõ nhiệm vụ của nó cùng với 11 xứ kia đều là nuôi lớn tâm và tâm sở, hơn nữa, là chỗ để cho tâm và tâm sở nương tựa, vin theo. Trong tất cả sắc pháp, bất cứ pháp nào, hễ được thu nhiếp vào pháp xứ thì đều gọi là Pháp xứ sở nhiếp sắc. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 và Pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 5 phần cuối, thì Pháp xứ sở nhiếp sắc lại có thể được chia nhỏ ra làm 5 loại là: 1. Cực lược sắc: Chỉ cho tất cả pháp cực nhỏ (cực vi) mà vẫn có tính chất chướng ngại.2. Cực huýnh sắc, cũng gọi Tự ngại sắc: Chỉ cho những hiển sắc của Không giới không đủ tính chất chướng ngại, như sáng, tối... 3. Thụ sở dẫn sắc, cũng gọi Vô biểu sắc: Chỉ cho sắc pháp vô hình, nương vào 2 nghiệp thiện và ác phát động nơi thân, khẩu, rồi khởi lên ở trong thân chứ không biểu hiện ra ngoài. Chẳng hạn như do giữ giới mà dẫn sinh 1 loại tác dụng tinh thần ngăn ngừa được tội lỗi. Vì được xem là do 4 đại đất, nước, lửa, gió ở trong thân tạo ra, cho nên được liệt vào loại Sắc pháp. 4. Biến kế sở khởi sắc: Ý thức duyên theo 5 căn, 5 cảnh mà sản sinh ra tác dụng tính toán, so đo, phân biệt tất cả 1 cách hư vọng, rồi trong tâm biến hiện ra bóng dáng của sắc pháp, như hoa đốm giữa hư không, bóng mặt trăng dưới đáy nước, ảnh tượng trong gương... đều được thu nhiếp vào loại sắc pháp này. Loại sắc pháp này chỉ có bóng dáng chứ hoàn toàn không có bản chất tự thể để nương tựa. 5. Định tự tại sở sinh sắc, cũng gọi Định sở sinh sắc, Định sở dẫn sắc, Thắng định quả sắc, Định quả sắc, Tự tại sở sinh sắc. Chỉ cho các cảnh sắc, thanh, hương, vị... do sức thiền định biến hiện ra. Loại sắc pháp này nhờ sức thiền định thù thắng, đối với tất cả sắc pháp, có năng lực biến hiện 1 cách tự tại vô ngại, cho nên gọi là Định tự tại sở sinh sắc. Ngoài ra, theo Duy thức Đại thừa, thì trong 5 loại sắc pháp nói trên, 4 loại trước đều là giả sắc, chỉ có loại thứ 5 là thông cả giả lẫn thực. Hễ sắc do bậc Thánh biến hiện thì đều là thực sắc. Vì uy lực thắng định của bậc Thánh là 1 loại định vô lậu, sắc pháp do định vô lậu biến hiện ra là thực sắc. Nhưng, nếu nói theo quan điểm của Thuyết nhất thiết bộ Tiểu thừa, thì Cực lược sắc, Cực huýnh sắc, cho đến Thụ sở dẫn sắc... đều là thực sắc có tự thể. [X. luận Đại tì bà sa Q.74, 75; luận Du già sư địa Q.3, 37; luận Thuận chính lí Q.35; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thứcluận thuật kí Q.3].
Pháp xứ sở nhiếp sắc 法處所攝色
[ja] ホッショショショウシキ hosshoshojōshiki ||| Also expressed as duofachuse 墮法處色. In the doctrine of the Faxiang school, this refers to all material elements that are included as objects of the six senses that are not covered under the categories of the five faculties (五根) and the five object-realms (五境). That is, there are some objects of the mind which are included as material elements. In Consciousness-only theory, five types are included in this group.(1) jiluese 極略色 The understanding of the atomic nature of existence of the five faculties, the five object realms, the four elements and so forth, due to the analysis by wisdom. This is a level of subtlety that can be theorized through analysis, but cannot be perceived by the sense organs. Material objects too small to be seen. The existence of atoms cannot be directly perceived by the five senses, but their existence can be inferred. (2) jise 極色 The extreme subtlety of the visible colors of the relative category, such as light, shadow, brightness, dullness, and the relative categories of forms, such as length, shortness, squareness and roundness. (3) shousuoyin se 受所引色 Unmanifest matter that is created as a result of receiving the precepts into one's mind. See wubiao se 無表色 and jieti 戒體. In the doctrine of the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論, this is simply considered as "unmanifest form", but in Consciousness-only, the 'seeds of goodness' that are gained as a result of the mental action at the time of receiving the precepts are taken as the 'essence of the precepts.' The word means "gained according to the reception of the precepts." A provisional element. (4) dingsuoyin se 定所引色 Forms of magical production and transformation.' This is a form element where the sage in meditation can freely transform and manifest things. By thinking of water or fire, he can manifest water or fire. Or he can transform sand and soil into gold and silver and so forth. (5) bianjisuoqi se 遍計所起色 The situation of the sixth consciousness, unconnected to the other five consciousnesses, reflecting on the past, or giving rise to illusory objects, such as flowers in the sky. This form (object) is risen through the mistaken discriminatory power of the sixth consciousness. => Còn gọi là Đoạ pháp xứ sắc (c: duofachuse 墮法處色). Theo giáo lý Pháp tướng tông, thuật ngữ nầy chỉ cho các sắc pháp bao gồm trong đối tượng của sáu giác quan mà không được bao hàm trong Ngũ căn (五根) và Ngũ cảnh (五境). Nghĩa là có những pháp đối tượng của tâm được gom vào trong sắc pháp. Theo giáo lý Duy thức, có năm loại bao hàm trong loại nầy: 1. Cực lược sắc (c: jiluese 極略色): Lý giải tính chất cực nhỏ sự hiện hữu của năm giác quan, năm trần cảnh, tứ đại,v.v..., đúng theo sự phân tích qua trí huệ. Đâu là mức độ vi tế được lý thuyết hoá qua phân tích, nhưng không thể cảm nhận được qua các giác quan. Đối tượng vật thể quá nhỏ không thể thấy được, nhưng có thể nhận biết được sự hiện hữu của chúng. 2. Cực sắc (c: jise 極色): Những hiển sắc cức kỳ vi tế trong phạm trù tương quan như ánh sáng, bóng tối, chói chang, u ám; và những phạm trù tương quan với vật thể như dài, ngắn, vuông tròn. 3. Thụ sở dẫn sắc (c: shousuoyin se 受所引色): Vô biểu sắc phát sinh trong tâm mình từ kết quả thọ nhận giới pháp. Xem Vô biểu sắc (c: wubiao se 無表色 ) và Giới thể (c: jieti 戒體). Theo học thuyết A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, đây đơn giản chỉ là 'Vô biểu sắc', nhưng theo Duy thức, 'chủng tử ' thiện có được như là tâm hành ngay vào lúc thụ nhận giới pháp được gọi là 'giới thể'. Nên thuật ngữ trên được hiểu là ' tâm hành có được ngay khi thọ giới'. Chỉ là sắc pháp có tạm thời. 4. Định sở dẫn sắc (c: dingsuoyin se 定所引色): là sắc pháp mà các bậc thánh có thể tự tại biến hiện trong định. Khi nghĩ đến nước hoặc lửa, họ có thể tạo ra ngay. Hoặc có thể biến đất cát thành vàng bạc,v.v... 5. Biến kế sở khởi sắc (c: bianjisuoqi se 遍計所起色): trường hợp của thức thứ sáu, không quan hệ gì với năm thức trước, tương ứng với quá khứ, hoặc sinh khởi những ảo tượng như hoa đốm giữa hư không, sắc pháp này sinh khới do sức phân biệt sai lầm của thức thứ sáu.
Pháp Xứng
法稱; S: dharmakīrti;|Tên của hai luận sư Phật giáo:|1. Devarakṣita Jayabahu Dharmakīrti, sống khoảng năm 1400, một Cao tăng của Phật giáo Tích Lan và tác giả của hai tác phẩm nói về sự phát triển của đạo Phật tại đây là Nikāya-saṃgrahaya và Saddharmalaṅkāra-ya.|2. Một trong những Luận sư quan trọng nhất của triết học đạo Phật, đại điện quan điểm của Duy thức tông (vijñānavāda) và Nhân minh học (s: hetuvidyā), sống trong thế kỉ thứ 7 (~ 600-650) tại Nam Ấn Ðộ và là môn đệ của Hộ Pháp (dharmapāla) tại Na-lan-đà (Mười đại luận sư).|Sư sinh ra trong một gia đình theo đạo Bà-la-môn (s: brāhmaṇa) và đã tinh thông tất cả những môn học thời đó lúc còn trẻ. Sau đó, Sư bắt đầu nghiên cứu, tu học Phật pháp với tư cách của một Cư sĩ. Phật học lôi cuốn Sư đến mức Sư bỏ đạo Bà-la-môn, đến viện Na-lan-đà thụ giới cụ túc và tham học với Hộ Pháp. Các tác phẩm của Trần-na (s: di-gnāga, diṅnāga) tại viện Phật học này chính là yếu tố ngộ đạo của Sư. Sau khi kết thúc giai đoạn tu tập, Sư bắt đầu công việc hoằng hoá, xiển dương đạo Phật, viết nhiều luận giải, đại diện Phật giáo tham dự nhiều cuộc tranh luận. Trong những cuộc tranh luận này, Sư dùng Nhân minh học để hàng phục đối phương và trong lĩnh vực này, truyền thống Tây Tạng đặt Sư lên một địa vị cao hơn cả Trần-na. Trong những năm cuối đời mình, Sư từ bỏ việc chu du đây đó và lui về một trụ trì một Tinh xá tại Orissa (bây giờ là Kālinga) và mất tại đây.|Sử sách mô tả Sư là một người tự lực cánh sinh, căm ghét tính phàm tục của dân dã và các tăng chúng dối trá, nhưng Sư cũng được tả là một Ðại sư thiếu khiêm tốn, nếu không nói là kiêu mạn. Nhà sử học nổi tiếng của Tây Tạng là Bố-đốn (t: buston) có ghi lại một sự việc sau: Sau khi Sư viết và trình bày Lượng thích luận (s: pramāṇavarttika-kārikā) và -chú (-vṛtti), nhiều người không hiểu nổi. Những người hiểu được thì trở nên ganh tị, tuyên bố rằng, tác phẩm này không đúng. Họ lấy dây buộc bài luận này vào lưng một con chó và cho nó chạy rong ngoài đường, với kết quả là những trang (lá bối) của luận này bay tung toé khắp nơi. Thấy cảnh tượng này, Sư tuyên bố rằng: »con chó sẽ chạy đến khắp nơi và truyền bá tác phẩm này toàn thế giới«.|Những lời sau đây của Sư còn được lưu lại: »Loài người có những đặc tính, tư tưởng rất phàm; họ không hướng vào nội tâm để tìm lấy cái tinh hoa, cốt tuỷ. Không chú ý đến những lời dạy của Thiện tri thức đối với họ chưa đủ, họ còn phát lòng thù ghét và ganh tị. Vì vậy mà ta cũng chẳng viết cho họ. Tuy thế, tâm của ta đã có được niềm an vui khi viết tác phẩm này bởi vì qua nó, lòng quý trọng thiền định thâm sâu vượt qua mọi ngôn ngữ của ta đã được bù đáp.«|Sư viết nhiều luận giải nhưng quý giá hơn hết là các tác phẩm về Nhân minh học Phật giáo. Trong lĩnh vực này, truyền thống Tây Tạng có giữ lại bảy tác phẩm của Sư, được gọi chung là Pháp Xứng nhân minh thất bộ, là luận lí học nền tảng của Phật giáo Tây Tạng (tất cả đều chưa được dịch ra Hán ngữ).|Bảy tác phẩm chính về Nhân minh học của Sư là: 1. Quan tướng thuộc luận (saṃbandhaparīkṣāpra-karaṇa), chỉ còn bản Tạng ngữ; 2. Lượng quyết định luận (pramāṇaviniścaya), chỉ còn bản Tạng ngữ. Bộ luận này được chia làm 3 phần với chủ đề thụ tưởng, kết luận và trình bày phương pháp suy diễn ba đoạn (e: syllogism). Luận này được xem là bản nhỏ của Lượng thích luận vì hơn nửa phần được trích ra từ đây; 3. Lượng thích luận (pramāṇavart-tika-kārikā), luận quan trọng nhất, chú giải Tập lượng luận (pramāṇasamuccaya) của Trần-na (dig-nāga); 4. Chính lí nhất đích luận (nyāyabindu-pra-karaṇa); 5. Nhân luận nhất đích luận (hetubindu-nāma-prakaraṇa), bản Tạng ngữ có, bản Phạn ngữ mới được tìm thấy. Bộ luận này được chia làm 3 phần, giảng giải về ba đoạn của suy luận; 6. Luận nghị chính lí luận (vādanyāya-nāma-prakaraṇa), chỉ còn bản Tạng ngữ, nói về cách tranh luận với địch thủ; 7. Thành tha tướng thuộc luận (saṃtānān-tarasiddhi-nāma-prakaraṇa), triết luận chống đối quan niệm Duy ngã và nói về »sự thật« của ý nghĩ người khác;
pháp xứng
Xem Pháp Xưng.
; See Dharmakirti in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Pháp y
法衣; J: hō'e;|Danh từ dùng chỉ áo Ca-sa của một vị tăng tu học Phật pháp. Trong Thiền tông thì pháp y chính là biểu hiện của việc »Dĩ tâm truyền tâm« trong hệ thống truyền thừa của các vị Tổ sư, bắt nguồn từ đức Phật Thích-ca Mâu-ni (s: śākyamuni). Tại Trung Quốc, pháp y dược các vị Tổ sư truyền cho nhau làm một dấu hiệu của sự Ấn khả chứng minh.
pháp y
Hō'e (J)Cà sa.
; Dharma garment, the robe.
; See Pháp Phục.
; (法衣) Cũng gọi Pháp phục, Tăng phục, Tăng y. Y phục đúng pháp Phật chế của tăng ni. Đức Phật chế định tỉ khưu có 3 áo, 5 áo, gọi chung là Pháp y. Nhưng Trung quốc, Nhật bản... do phong thổ và khí hậu có khác với Ấn độ, nên phạm vi pháp y tương đối rộng hơn, hình thức cũng đa dạng, phàm những y phục của tăng ni không trái với giới luật, thì đều được gọi là Pháp y. Lại nữa, ngoài 3 tấm Pháp y (tức ca sa), những y phục khác, như áo hậu(áo lễ)... cũng được gọi là Pháp y.Thiền tông thì đặc biệt gọi áo Kim lan được trao cho đệ tử lúc thầy truyền tâm pháp là Pháp y. Ở Ấn độ, như đã nói ở trên, đức Phật qui định tỉ khưu được mặc 3 áo là: 1. Tăng già lê (Phạm: Saôghàỉi, cũng gọi Đại y: Áo có 9 điều(nẹp) hoặc 25 điều, mặc lúc đi khất thực, khi vào cung vua. 2. Uất đa la tăng (Phạm:Uttaràsaíga), cũng gọi Thất điều ca sa: Áo có 7 điều, mặc vào những lúc nhập chúng, tụng niệm, lễ bái, nghe giảng, bố tát... 3. An đà hội (Phạm: Antarvàsa), cũng gọi Ngũ điều y: Áo 5 điều, mặc lúc làm việc hàng ngày và khi đi ngủ. Ngoài 3 áo trên, còn có thêm 2 thứ nữa là Tăng kì chi và Khuyết tu la, thành 5 áo. Về cách cắt may thì trước hết cắt tấm vải thành những miếng nhỏ, rồi sau lại khâu liền với nhau. Lí do làm như vậy là để phòng ngừa người khác dùng Pháp y, đồng thời khiến tăng ni không sinh tâm tham đắm đối với y phục và kẻ trộm cũng chẳng muốn lấy áo ấy làm chi. Những miếng vải nhỏ được khâu dính lại với nhau, theo 2 chiều ngang dọc, vuông vức giống như chữ Điền (thửa ruộng), vì thế gọi là Điền tướng. Về màu sắc của 3 áo tuy có nhiều thuyết, nhưng đại khái đều tán đồng 3 màu chính là: Xanh, đen và mộc lan, gọi là Tam như pháp sắc (3 màu đúng pháp). Còn về cách mặc Pháp y thì thông thường 2 góc áo được đắp từ vai trái đến cạnh sườn bên phải và rủ xuống sau lưng. Lúc ngồi thiền thì có thể đắp kín cả 2 vai, gọi là Thông kiên tướng, Phúc điền tướng. Còn lúc lễ Phật thì để lộ vai bên phải ra, gọi là Thiên đản hữu kiên, Thiên lộ hữu kiên. Ngoài 3 áo, còn có loại áo lót là Tăng kì chi (Phạm: Saôkakwikà), mặc để che kín vai trái và 2 nách. Khuyết tu la (Phạm: Kusùla), mặc để che nơi eo, tức là cái quần chỉ dành cho tỉ khưu ni mà thôi. Về nguyên liệu may 3 áo thì cấm ngặt không được dùng vải lụa, mà chỉ được sử dụng vải dệt bằng sợi cây bông, hoặc sợi cây gai, hay vỏ cây, cũng có thể dùng lông chim hoặc là cỏ... [X. kinh Tì ni mẫu Q.9; kinh Phạm võng Q.hạ; luật Tứ phần Q.16; luật Thập tụng Q.15; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.hạ; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q.4; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 1; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2; Phật chế tỉ khưu lục vật đồ]. (xt. Ca Sa).
pháp yếu
The essentials of the Truth.
; Sự thiết yếu của chân lý—The essentials of the truth.
; (法要) I. Pháp Yếu. Cũng gọi Yếu văn, Chủ nhãn. Chỉ cho những nghĩa lí nòng cốt trong giáo pháp. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 370 hạ) nói: Đối với chân ngôn pháp yếu này, nếu biết tu hành thì sẽ đạt đến bậc Sơ địa.[X. kinh Tâm địa quán Q.7; kinh Di giáo]. II. Pháp Yếu. Cũng gọi Pháp hội. Nhóm họp ở 1 nơi để lễ mừng ngày đản sinh của chư Phật và Bồ tát, hoặc để tổ chức các hoạt động thiết trai, bố thí, giảng kinh, thuyết pháp... (xt. Pháp Hội). III. Pháp Yếu. Cũng gọi Pháp dụng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho việc tụng kinh, bái tán trên điện Phật.
Pháp ái
法愛; C: făài; J: hōai; |1. Yêu mến, gắn bó với giáo pháp; 2. Tìm cầu chân lí.
pháp ái
Dharma-priya (S)Tên một vị sư Ấn độ đến Trung quốc khoảng năm 365.
; Dharma-love, religious love.
; Tình yêu trong phạm trù tôn giáo—Tình yêu của những vị Bồ tát muốn cứu độ chúng sanh, ngược lại với Dục ái hay tình yêu phàm tục—Religious love—Bodhisattva love with desire to save all creatures, in contrast with ordinary love (Dục ái). 1) Pháp Ái Tiểu và Đại Thừa—Hinayana and Mahayana Dharma-love: a) Pháp Ái Tiểu Thừa: Lòng yêu niết bàn của kẻ căn cơ thấp kém—Hinayana Dharma-love as desire for nirvana. b) Pháp Ái Đại Thừa: Lòng ái thiện của bậc Bồ Tát Đại Thừa—Mahayana Dharma-love or Bodhisattva attachment to illusory things ** Cả hai thứ pháp ái nầy đều cần phải loại bỏ—Both of which are to be eradicated. 2) Pháp Ái Như Lai: Tâm Đại Bi của Như Lai hay tình yêu cứu độ chúng sanh chân chánh vô thượng—Tathagata-love, which goes out to all beings for salvation.
; (法愛) I. Pháp Ái. Người đã được pháp (giác ngộ) do tâm sinh vui mừng nên thương xót những người còn mê chưa được pháp; hoặc chỉ cho tâm niệm từ bi thương xót của chư Phật, Bồ tát đối với chúng sinh. II. Pháp Ái. Đắm trước các thiện pháp mà mình đã chứng ngộ. Pháp quán thứ 10 (Vô ái pháp, Li ái pháp, Trừ ái pháp, Ái pháp bất sinh) trong Thập thừa quán pháp của tông Thiên thai, dùng từ ngữ này để chê trách những người chưa chứng chân thực mà đắm trước pháp tương tự.
Pháp ái 法愛
[ja] ホウアイ hōai ||| (1) To love, or be attached to the dharma (teaching). (2) To seek truth. => 1. Yêu mến, gắn bó với giáo pháp. 2. Tìm cầu chân lý.
pháp âm
Dharmaghosa (S). Dharma-voice; the sound of Truth, or of preaching.
; Âm thanh thuyết pháp hay của chân lý—The sound of the Truth, or of preaching.
pháp ân
Buddha-grace.
; Ân Tam Bảo—Dharma-grace, i.e. the grace of Triratna.
pháp ích
Dharma-vardhan (S)Con vua A dục.
pháp ý
Dharma-mati (S), Dharma idea.
pháp điển
The scriptures of Buddhism.
; 1) Kinh điển Phật giáo—The scriptures of Buddhism. 2) Tiếng chớp của chân lý, chỉ Phật pháp—The lightning of the truth, or Buddha-teaching.
Pháp điện
法殿; C: fădiàn; J: hōden; |1. Nơi giảng pháp; 2. Cung điện, dụ cho chính pháp của Đức Phật.
pháp điện
The temple, or hall, of the Law.
; 1) Chánh điện trong tự viện—The temple or hall of law—The main hall of a monastery—The lightening of the truth. 2) Quan Âm Điện: The Kuan-Yin Hall.
Pháp điện 法殿
[ja] ホウデン hōden ||| (1) A teaching hall; (2) A palace as a metaphor for the correct teaching of the Buddha; "dharma-palace, dharma-hall." => 1. Nơi giảng pháp. 2. Cung điện, dụ cho chính pháp của Đức Phật.
pháp đà la ni
Dharma-dhàrani (S). One of the four kinds of dharani.
; Dharma-dharani (skt)—Nghe giáo pháp của Phật mà thụ trì không quên, đây là một trong ba pháp Đà La Ni—Holding firmly to the truth one has heard, one of the three kinds of dharani. ** For more information, please see Tam Đà La Ni.
; (法陀羅尼) Cũng gọi Văn trì đà la ni, Pháp tổng trì. Nghe giáo pháp của đức Phật và nhớ giữ không quên, 1 trong các Đà la ni. Kinh Bồ tát địa trì quyển 8 (Đại 30, 934 thượng) nói: Thế nào là pháp Đà la ni? Nghĩa là Bồ tát đã chứng được năng lực trí tuệ nhớ nghĩ như thế, thì đối với danh cú vị thân, dù chưa từng được nghe, chưa từng tu tập, nhưng vẫn trang nghiêm và ứng dụng theo thứ lớp, vô lượng chương cú, trải vô lượng kiếp, vẫn nhớ giữ không quên. [X. luận Du già sư địa Q.45; Đại thừa nghĩa chương Q.11]. (xt. Đà La Ni).
pháp đà la ni môn
Dhāraṇī-Door.
Pháp đàn
(法壇): đàn tràng cử hành pháp sự cầu đảo. Như trong Thủy Hử Truyện (水滸傳), hồi thứ 45, có đoạn: “Chỉ kiến na phụ nhân kiều tố sơ trang, lai đáo pháp đàn thượng, chấp trước thủ lư, niêm hương lễ Phật (只見那婦人喬素梳妝、來到法壇上、執着手爐、拈香禮佛, chỉ thấy nhiều phụ nữ ăn mặc đơn giản, đến trên pháp đàn, tay cầm thủ lư, dâng hương lạy Phật).” Hay trong Tục Bổ Cao Tăng Truyện (補續高僧傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1524) quyển 19, phần Minh Ô Tư Pháp Vương Truyện (明烏斯法王傳), lại có đoạn: “Vi hoàng khảo tỷ, thiết tiến tự pháp đàn, cảm tháp ảnh kim quang chi thụy (爲皇考妣、設薦祀法壇、感塔影金光之瑞, vì cha mẹ đã qua đời của nhà vua, thiết pháp đàn cúng siêu độ, cảm điềm lành hào quang sáng chói nơi bóng tháp).” Hoặc trong Thích Môn Kê Cổ Lược Tục Tập (釋鑑稽古略續集, Taishō Vol. 49, No. 2038) tập 3, phần Văn Tông Văn Hoàng Đế (太宗文皇帝), cũng có đoạn: “Nhị nguyệt mạng Tây tăng Thượng Sư Cáp Lập Ma, ư Linh Cốc Tự khải kiến pháp đàn, tiến tự hoàng khảo hoàng tỷ; Thượng Sư suất thiên hạ tăng già, cử dương Phổ Độ Đại Trai Khoa (二月命西僧尚師哈立麻、於靈谷寺啟建法壇、薦祀皇考皇妣、尚師率天下僧伽、舉揚普度大齋科, vào tháng hai, Hoàng Đế hạ mệnh cho vị Tây tăng là Thượng Sư Cáp Lập Ma, kiến lập pháp đàn tại Linh Cốc Tự, cúng siêu độ cho song thân nhà vua; Thượng Sư điều khiển tăng chúng khắp thiên hạ, cử hành Đại Khoa Nghi Phổ Độ Trai Đàn).”
pháp đàn
The pulpit, the ceremony platform.
Pháp đăng
(法燈): ngọn đèn chánh pháp, vì chánh pháp được ví như ngọn đèn sáng, có thể chiếu sáng và phá tan mọi u tối của thế gian. Trong Thiên Quang Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Bí Mật Pháp Kinh (千光眼觀自在菩薩祕密法經) có đoạn: “Thiện tai ! Thiện tai ! Thánh Quán Tự Tại ! Tùng vô lượng kiếp lai, thành tựu đại bi pháp môn lợi ích chúng sanh, ư sanh tử khổ hải vi tác thuyền phiệt, ư vô minh ám thường vi pháp đăng, duy nguyện Đại Thánh phổ vi đại hội cập đương lai nhất thiết chúng sanh cố, tùy ngã đẳng vấn năng thuyết kỳ pháp (善哉、善哉、聖觀自在、從無量劫來、成就大悲法門利益眾生、於生死苦海爲作船筏、於無明闇常爲法燈、唯願大聖普爲大會及當來一切眾生故、隨我等問能說其法, Lành thay ! Lành thay ! Thánh Quán Tự Tại ! Từ vô lượng kiếp đến nay đã thành tựu pháp môn đại bi, làm lợi ích chúng sanh, nơi biển khổ sanh tử làm thuyền bè, nơi chỗ tối tăm vô minh thường làm ngọn đèn pháp; xin nguyện Đại Thánh rộng vì đại hội và hết thảy chúng sanh trong tương lai, tùy theo chỗ chúng con hỏi mà có nói pháp này).” Hay như trong bài Đại Đường Thần Đô Thanh Long Tự Cố Tam Triều Quốc Sư Quán Đảnh A Xà Lê Huệ Quả Hòa Thượng Chi Bi (大唐神都青龍寺故三朝國師灌頂阿闍梨惠果和尚之碑) do Đại Sư Không Hải (空海, Kūkai, 774-835) soạn, có đoạn: “Hoặc tác nhất nhân sư, hoặc vi Tứ Chúng y, pháp đăng mãn giới, lưu phái biến vức, tư cái đại sư chi pháp thí dã (或作一人師、或爲四眾依、法燈滿界、流派遍域、斯蓋大師之法施也, hoặc làm thầy của một người, hoặc làm nơi nương tựa cho Bốn Chúng, đèn pháp đầy cõi, dòng phái khắp nơi, cũng nhờ pháp thí của đại sư vậy).”
pháp đăng
Hoto (J)Tên một vị sư.
; The lamp of dharma.
; Ngọn đèn Phật Pháp xua tan bóng tối vô minh—The lamp of Dharma which dispels the darkness of ignorance.
; (法燈) I. Pháp Đăng. Đồng nghĩa: Pháp quang, Pháp cự. Đèn pháp. Nghĩa là pháp của Phật có năng lực chiếu phá cảnh giới u mê tăm tối, giống như ánh đèn xóa tan bóng đêm. Kinh Tâm địa quán quyển 2 (Đại 3, 299 hạ) nói: Pháp bảo giống như ngọn đèn sáng. [X. kinh Hoa nghiêm Q.2 (bản dịch mới); Lương cao tăng truyện Q.18]. III. Pháp Đăng. Thụy hiệu của ngài Thanh lương Thái khâm, thuộc tông Pháp nhãn đời Tống. (xt. Thái Khâm).
pháp đăng thiền sư
Zen master—Pháp Đăng Thiền sư là một trong những vị Tăng nổi tiếng đời nhà Đường—Zen master Fa-T'eng was one of the noted monks during the T'ang dynasty. • Một hôm Pháp Đăng hỏi một vị Thiền Sư: “Đầu sào trăm trượng làm sao tiến được?” Vị Thiền sư trả lời: “Câm!” Ngài cứ khán câu đó hoài trong ba năm. Một hôm ngài cưỡi ngựa đi qua cây cầu ván, ván mục, ngựa sụp chân té nhào, quăng ngài rơi xuống cầu. Vừa rơi xuống ngài liền ngộ và làm bài kệ: “Ngã hữu minh châu nhất khỏa Cửu bị trần lao quang tỏa Kim triêu trần tận quang sanh Chiếu phá sơn hà vạn đóa.” (Ta có một viên minh châu Đã lâu bị bụi vùi sâu Hôm nay bụi sạch phát sáng Soi thấu núi sông muôn vật) One day he asked a famous Zen master: “The top of the pole is a hundred yards tall; how can you reach it?” The Zen master replied: “Just keep silent.” He then meditated on that statement for over three years. One day, he rode a hose across a wooden bridge. The bridge was so old that it collapsed right after the horse trod on. Both he and the horse were thrown off the bridge. At that moment he was enlightened and composed the following verse: “I've got a precious gem It was buried deep for a long time Today, being completely clean, it regains its brightness, Illuminates rivers, mountains all over the world.”
pháp đăng vị liễu
(法燈未了) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này là cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Thanh lương Thái khâm (Pháp đăng) với 1 vị tăng. Ngũ đăng hội nguyên quyển 10 (Vạn tục 138, 175 hạ) ghi: Sư nói: Ta vốn muốn sống trong núi để giấu sự vụng về kém cỏi, nhưng hiềm vì tiên sư có công án giải quyết chưa xong (vị liễu) nên ta phải trở ra để giải quyết. Lúc đó có vị tăng hỏi: Thế nào là công án của tiên sư chưa giải quyết xong? Sư liền đánh, nói: Ông nội không rõ, để họa đến con cháu. Vị tăng hỏi: Lỗi ở chỗ nào? Sư nói: Lỗi ở ta, họa đến ông. PHÁP ĐIÊN I. Pháp Điện. Chỉ cho Pháp đường, nơi diễn nói đại pháp, tuyên dương tông chỉ và cử hành tất cả pháp sự. II. Pháp Điện. Chỉ cho chính pháp của đức Phật, vì chính pháp là nơi nương tựa của các bậc Thánh hiền, cho nên dùng Điện đường để ví dụ chính pháp. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 19 (Đại 12, 480 thượng) nói: Pháp điện muốn hư nát, pháp chàng muốn ngã đổ.
pháp đường
Pháp đường hay giảng đường—The chief hall—Dharma Hall—Lecture Hall.
; (法堂) Chỉ cho Giảng đường trong Thiền lâm, tọa lạc ở phía sau điện Phật và phía trước nhà Phương trượng, 1 trong 7 tòa nhà trong toàn già lam. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 12 và Cảnh đức truyền đăng lục quyển 4, thì ở Trung quốc từ xưa, ngoài Phật điện cũng có Pháp đường. Cho đến thời Thiền sư Bách trượng Hoài hải mới định ra qui chế Thiền lâm, phỏng theo điện Thái cực của triều đình mà kiến lập Pháp đường. Chính giữa thiết lập một tòa cao, 4 phía đều trông thấy, nhưng đời sau phía sau tòa, đặt 1 bức bình phong lớn bằng gỗ, làm mất ý nghĩa ban đầu. Hoặc có thuyết cho rằng Pháp đường trong Thiền viện là mô phỏng kiểu kiến trúc Thiện pháp đường của trời Đế thích. Thiền uyển thanh qui quyển 10 (Vạn 111, 466 thượng) nói: Không kiến thiết Phật điện, chỉ tạo lập Pháp đường. Căn cứ vào đó có thể biết trong Thiền lâm thời xưa không có Phật điện, chỉ có Pháp đường. Về sau mới xây Phật điện ở phía trước Pháp đường. Hoặc trong các chùa viện nhỏ thì Phật điện và Pháp đường được dùng chung. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.50; chương Tôn tổ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; Thiền uyển thanh qui Q.5, 7, 9; môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Giảng Đường).
pháp đạo
Buddhism.
; (法道) Cũng gọi Pháp đạo tiên nhân. Người Thiên trúc. Trong núi Linh thứu có 500 vị tiên tụng trì minh chú, tu pháp Kim cương ma ni mà được thần thông, chỉ trong chốc lát, có thể đi khắp 10 phương rồi trở về, thọ mệnh vô lượng, lợi ích trời người. Pháp đạo là 1 trong 500 vị tiên ấy, từng cỡi mây tía qua Trung quốc, Bách tế, rồi đến Nhật bản, ở trên núi Pháp hoa, quận Ấn nam, nước Bá ma, thường tụng kinh Pháp hoa, tu các pháp quán, mang theo tượng Thiên thủ Đại bi bằng đồng, xá lợi Phật, bát báu v.v... [X. Nguyên hanh thích thư Q.18; Bản triều cao tăng truyện Q.74].
pháp đế
Dharma emperor, i.e. the Buddha.
; Phật được ví như một vị Pháp Vương (Vua Pháp)—Dharma emperor, i.e. the Buddha.
pháp đệ
Phật giáo đồ (tín đồ Phật giáo)—A Buddhist disciple.
pháp định
One of the twelve names for the Dharma-nature, implying that it is the basis of all phenomena. Inherent dharma.
; 1) Pháp thiền định: Meditation dharma. 2) Phật Tánh: Inherent dharma—Buddha-nature.
pháp đồ
Disciple.
; (法徒) Chỉ cho đồ chúng tu học Phật pháp. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 (Đại 54, 206 thượng) nói: Luận đoán nặng nhẹ, chỉ dùng vài hàng làm phương tiện nói tội, không nhọc đến nửa ngày. Đây là phép thú tội của pháp đồ vùng Nam hải phương tây.
pháp đồng xá
Xem chùa.
; A communal religious abode, i.e. a monastery or convent where religion and food are provided for spiritual and temporal needs.
pháp độ
Rules, or disciplines and methods.
; Luật lệ, hay giới luật và phương cách tu hành—Rules, or disciplines and methods.
; (法度) (437-500) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nam Tề, người Hoàng long (Nông an, Cát lâm). Sư xuất gia từ nhỏ, ban đầu sư học ở miền Bắc, lấy khổ hạnh làm chính. Vào những năm cuối đời Lưu Tống, sư xuống miền Nam, học ở Giang đô. Khoảng năm Thái thủy (465-471) đời Minh đế nhà Lưu Tống, các danh sĩ đương thời như Minh tăng thiệu... cất nhà tranh ở ẩn tại Nhiếp sơn (núi Thê hà ở Nam kinh), gặp sư đến đây giảng kinh Vô lượng thọ, ông Minh tăng thiệu thỉnh sư về ở nhà ông, kính sư như bậc thầy. Sau khi Minh tăng thiệu qua đời, sư dùng nhà ông làm chùa, lấy hiệu là Tinh xá Thê hà, rồi cùng với người con thứ của ông Minh tăng thiệu tên Trọng chương cùng tạo khám thờ Phật để an vị pho tượng Phật Vô lượng thọ ngồi, cao 3 trượng, 1 thước, 5 tấc. Năm Vĩnh nguyên thứ 2, sư thị tịch, thọ 64 tuổi. [X. Lương cao tăng truyện Q.8].
pháp ấn
Yantra (S)Ấn, Xem Ấn.
; Mùdrâ (S). The seal of Buddha-truth.
; 1) Dấu ấn của diệu pháp, diệu pháp chân thực, không chuyển động hay biến đổi nên gọi là “Ấn.”—The seal of Buddha-truth, expressing its reality and immutability. 2) Dấu hiệu chứng ngộ mà chư Phật hay chư Tổ trao truyền tâm pháp cho nhau—Its universality and its authentic transmission from one Buddha or patriarch to another.
; (法印) I. Pháp Ấn. Phạm: Dharma-mudrà. Đồng nghĩa: Pháp bản mạt, Pháp bản, Tướng, Ưu đàn na (Phạm: Udàna). Chỉ cho dấu ấn, đặc chất của Phật pháp. Ấn cũng có nghĩa là chân thực bất biến, là chuẩn mực chứng minh sự chân chính của Phật pháp, cho nên gọi là Pháp ấn. Pháp hoa nghĩa sớ quyển 6 của ngài Cát tạng cho rằng, ấn là ấn định các pháp không thể dời đổi. Lại lấy văn làm ấn, dùng văn để quyết định lí, nếu lí và văn tương ứng với nhau thì đó là lí chân thực, nên gọi là Pháp ấn. Như Nhất thiết hành vô thường, Nhất thiết pháp vô ngã và Niết bàn tịch tĩnh trong kinh Tạp a hàm quyển 10, được gọi là Tam pháp ấn. Hoặc Nhất thiết hành vô thường, Nhất thiết hành khổ, Nhất thiết pháp vô ngã và Niết bàn tịch tĩnh, được gọi là Tứ pháp ấn, Tứ ưu đàn na. Nếu lại thêm Nhất thiết pháp không vào nữa, thì gọi là Ngũ pháp ấn. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 8, thượng, thì Tam pháp ấn là Pháp ấn của Tiểu thừa, còn Đại thừa thì chỉ có 1 pháp ấn Chư pháp thực tướng gọi là Nhất thực tướng ấn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.18; kinh Đại bát niết bàn Q.13 (bản Bắc); kinh Bồ tát địa trì Q.8; luận Đại trí độ Q.32; Câu xá luận quang kí Q.1]. II. Pháp Ấn. Gọi đủ: Pháp ấn đại hòa thượng vị. Chỉ cho vị Tăng cương cao nhất ở Nhật bản, tức là ngôi vị Tăng chính. Chức vị của chư tăng ở Nhật bản vốn có 3 bậc: Mãn vị, Pháp sư vị và Đại pháp sư vị. Hai chức Tăng cương và Phàm tăng đều có thể được trao cho 3 chức vị này, không chia vị hiệu, cũng không có tôn ti. Vào năm Trinh quán thứ 6 (864), ngài Chân nhã tâu lên Thiên hoàng Thanh hòa, ngoài 3 bậc trên, xin chế định thêm 3 chức vị nữa là: Pháp kiều thượng nhân vị, Pháp nhãn hòa thượng vị và Pháp ấn đại hòa thượng vị, là những chức vị trên Luật sư. Chức Pháp ấn đại hòa thượng vị phải do cấp bậc Tăng chính đảm nhiệm, chức Pháp nhãn hòa thượng vị phải do cấp bậc Tăng đô đảm nhiệm và chức Pháp kiều thượng nhân vị thì do cấp bậc Luật sư đảm nhiệm. Từ đó, chế độ Tăng chức ở Nhật bản mới có vị hiệu và tôn ti. (xt. Tăng Quan).
pháp ứng
Tùy theo nhu cầu của chúng sanh ứng hiện Pháp thân—Dharmakaya response, its response to the needs of all.
Pháp 法
[ja] ホウ hō ||| (Skt. dharma, Pali dhamma). The word dharma is originally derived from the Indic root dhr, with the meaning of "that which preserves or maintains", especially that which preserves or maintains human activity. The term has a wide range of meanings: (1) Custom, habit, standard of behavior; (2) That which should be done; occupation, duty, obligation; (3) social order, social pattern; (4) goodness, good action, virtue; (5) truth, reality, true principle, law, (Skt. satya); (6) the basis of all worlds and realms; (7) religious duty; (8) the standard of the awareness of truth, the law; (9) teachings, explanation; (10) original essence, original nature. (11) Attribute, quality, characteristic quality, elemental construct. It is this sense of the term that is commonly used in the treatises of the Yogācāra school 瑜伽行派, which categorizes the gamut of the experiential world into one hundred types of phenomena, or elemental constructs. The fact that these constructs lack inherent existence is not recognized by the practitioners of the two vehicles 二乘, but is a distinctive characteristic of the contemplations of the bodhisattvas 菩薩. The lack of perception of the emptiness of elemental constructs is important in the formation of the noetic hindrances. See also 百法. (12) In logic, a predicate or verb object. => (s: dharma; p: dhamma). Chữ dharma vốn xuất phát từ tiếng Ấn Độ, ngữ căn dhr, có nghĩa là “nắm giữ”, đặc biệt là nắm giữ tính năng hoạt động của con người. Thuật ngữ nầy có nhiều nghĩa: 1. Tập quán, thói quen, tiêu chuẩn của phép cư xử. 2. Điều phải làm; nghề nghiệp, bổn phận, nghĩa vụ. 3. Trật tự xã hội; quy củ trong xã hội. 4. Điều lành, việc thiện, đức hạnh. 5. Sự thực, thực tại, chân lý, luật tắc (s: satya). 6. Nền tảng của thế gian và các cõi giới. 7. Tín ngưỡng tôn giáo. 8. Tiêu chuẩn để nhận thức về chân lý, về luật tắc. 9. Giáo lý, sự giải thích. 10. Bản thể, bản tính. 11. Thuộc tính, phẩm chất, đặc tính, cấu trúc cơ bản. Ý nghĩa nầy của thuật ngữ thường được dùng trong các luận giải của Du-già hành tông, liệt kê tất cả kinh nghiệm thế gian thành 100 pháp hoặc 100 cấu trúc cơ bản. Thực tế các pháp không tồn tại trên cơ sở tự tính nầy hàng Nhị thừa không thể nào nhận thức được, nhưng là một đối tượng quán sát đặc biệt của hàng bồ-tát. Không nhận thức được tính không của các cấu trúc cơ bản là điều rất quan trọng cho sở tri chướng. Xem Bách pháp百法. 12. Trong Luận lý học, pháp là tiền đề hay là đối tượng của một sự kiện.
phát
To shoot forth, send, issue; start, initiate; expound, prosper.
; 1) Phân Phát: To issue—To distribute—To give out—To send. 2) Phát Khởi: To shoot forth—To initiate—To start. 3) Tóc trên đầu: Hair of the head.
phát biểu
To express a view—To state.
phát bà đề
Purva-Videha (S). Đông thắng thần châu.
phát bồ đề tâm
To open the bodhi-mind.
phát bồ đề tâm luận
(發菩提心論) I. Phát Bồ Đề Tâm Luận. Tên đầy đủ: Phát bồ đề tâm kinh luận. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thiên thân (Thế thân) soạn, ngài Cưu ma la thập dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Sách này được chia làm 12 chương, nội dung bàn về việc phát tâm bồ đề, y cứ vào các kinh luận Đại thừa và những bộ luận A tì đạt ma của Tiểu thừa để chú thích, phân loại và thuyết minh pháp số 1 cách rất tỉ mỉ, rõ ràng. II. Phát Bồ Đề Tâm Luận. Gọi đủ: Kim cương đính du già trung phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm luận.Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung luận này lập ra 3 môn là Hành nguyện, Thắng nghĩa và Tam ma địa để trình bày về hành tướng của tâm bồ đề. (xt. Kim Cương Đính Du Già Trung Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm Luận).
Phát bồ-đề tâm
發菩提心; J: hotsu-bodaishin;|Chỉ sự quyết định đạt Bồ-đề bằng con đường của một vị Bồ Tát. Một thệ nguyện xuất phát từ Ðại tín căn và Ðại nghi đoàn.
Phát bồ-đề tâm 發菩提心
[ja] ホツボダイシン hotsu bodaishin ||| To arouse the mind (thought) of intention to achieve enlightenment. To make the resolve to attain supreme enlightenment. 〔法華經T 262.9.35a14〕 => Phát khởi tâm nguyện đạt đến giác ngộ. Quyết tâm đạt đến sự giải thoát tối thượng.
phát chân
(發真) Tức phát khởi chân tính sẵn có của mình. Kinh Lăng nghiêm quyển 9 (Đại 19, 147 trung) nói: Nếu một người trong các ông phát chân trở về nguồn gốc, thì hư không trong 10 phương này thảy đều tiêu mất.
Phát dương 發揚
[ja] ホツヨウ hotsuyō ||| Make known; spread; popularize. => Làm cho mọi người được biết rộng rãi; lan truyền, truyền bá.
phát giới
To issue to, or bestow the commandments on a disciple.
Phát huy 發揮
[ja] ホッキ hokki ||| (1) The spreading of the teachings. (2) To explain the meaning of the teachings. (3) Exhibition, demonstration, realization. To manifest, elucidate, develop. => 1. Truyền bá giáo pháp. 2. Giảng giải nghĩa lý giáo pháp. 3. Bày tỏ, thể hiện, thực hiện. Biểu thị, làm sáng tỏ, phát triển.
phát hạ phẩm thập thiện tâm
(發下品十善心) Chỉ cho người phát tâm làm các việc thiện rồi lại hối hận, là 1 trong 10 loại phát tâm.Thập thiện(10 điều thiện) là: Không giết hại, không trộm cắp, không gian dâm, không nói dối, không nói 2 lưỡi, không nói ác, không nói thêu dệt, không tham muốn, không sân hận và không tà kiến. Chúng sinh luôn luôn khởi tâm muốn hơn người, khinh người trọng mình, bề ngoài tỏ ra nhân nghĩa, nhưng bên trong thì gieo hạt giống A tu la, gọi là Phát hạ phẩm thập thiện tâm. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.35].
phát khiển chiêu hoán
(發遣招喚) Gọi tắt: Khiển hoán. Khuyến khích và kêu gọi. Đức Phật Thích ca ở thế giới Sa bà khuyến khích chúng sinh sinh về Tịnh độ, còn đức Phật A diđà ở Tịnh độ thì kêu gọi chúng sinh vãng sinh Tịnh độ. [X. Nhị hà thí trong Quán kinh sớ Tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo].
phát khởi
(發起) Cũng gọi Phát xứ. Chỉ cho chỗ khởi đầu của 1 sự vật, hoặc chỉ cho sự khuyến khích, cổ vũ người khác làm 1 việc gì đó. Chú duy ma cật kinh quyển 2 (Đại 38, 344 thượng) nói: Vì muốn nêu bật tài biện luận thù thắng của ngài Duy ma cật, nên phát khởi chúng hội. Ngoài ra, phát khởi 1 niệm tín tâm, gọi là Nhất niệm phát khởi. Đại chúng phát khởi, nhân duyên dẫn đến việc đức Phật nói 1 bộ kinh nào đó, gọi là Phát khởi chúng.
phát khởi chúng
(發起衆) Chỉ cho hàng thính chúng có khả năng biết rõ thời cơ, tạo ra nhân duyên phát khởi pháp hội, là 1 trong 4 chúng nghe đức Phật nói pháp. Pháp hoa văn cú quyển 2, phần cuối (Đại 34, 26 hạ) nói: Người phát khởi là những bậc có trí tuệ sáng suốt, biết cơ, biết thời, dùng phương tiện khéo léo, khuyến khích, phát động, thành tựu sự lợi ích, giống như voi mẹ dùng chân đạp cây xuống để cho voi con ăn. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.15].
phát khởi tự
(發起序) Đối lại: Chứng tín tự. Cũng gọi Biệt tự. Một trong hai loại tựa. Trong phần tựa của các kinh, lời tựa chỉ ghi nguyên do đã phát khởi riêng 1 bộ kinh ấy, gọi là Phát khởi tự, hoặc Biệt tự; còn lời tựa chung cho các kinh khác thì gọi là Chứng tín tự, hay Thông tự. Như bắt đầu các kinh, thông thường, dùng câu: Tôi nghe như vầy, một thời kia đức Phật ở... để chứng minh rằng chính tôi (tức tôn giả A nan)được nghe, chứ không phải do người khác kể lại, vì thế nên gọi là Chứng tín tự. Còn đoạn văn Lúc bấy giờ đức Thế tôn vì 4 chúng vây quanh... trở xuống trong kinh Pháp hoa là nói về các điềm lành như nhập định, mưa hoa, đất rúng động, phóng hào quang... Những điềm lành này chỉ nói về nhân duyên phát khởi riêng kinh Pháp hoa mà thôi, cho nên gọi là Phát khởi tự.
phát lồ
Apaṭṭhi-pratideśanā (S), Confession Apaṭṭhi-deśanā (S), Apaṭṭhi-desanā (P), Pratide-śanīya (S), Pāṭidesanīya (P), Pratideśanā (S)Hương bỉ bối, Phát lồ, Xưng tội, Ba la đề đề xá ni1- Sám hối với người mình lỡ xúc phạm (có ghi trong Luận tạng). 2- Xưng tội ra với người khác Tỳ kheo có 4 điều, Tỳ kheo ni có 8 điều, trong 227 điều của giới bản Tỳ kheo trong Kinh phân biệt (Sutta-Vibhanga).
phát lộ
Xem Ba la đề đề xá ni.
; (髮露) Trình bày rõ các tội lỗi mình đã phạm. không dám che giấu. Thiên thai tứ giáo nghi (Đại 46, 779 thượng) nói: Tội ngũ nghịch thập ác như thế và tất cả tội lỗi khác đều phát lộ hết, không được che giấu, dứt tội cũ, không tạo tội mới; nếu được vậy thì các ngoại chướng sẽ dần dần tiêu trừ, mà nội quán sẽ thêm sáng.
phát lộ (lồ)
To reveal, manifest, confess.
phát lộ sám hối
tự mình bộc lộ, bày tỏ chỗ sai trái, phạm lỗi của mình ra cho mọi người đều biết và quyết tâm hối cải không tái phạm nữa.
phát minh tâm địa
Tức là minh tâm kiến tánh.
Phát minh 發明
[ja] ホツミョウ hotsumyō ||| (1) To enlighten, to clarify. (2) To invent. To explain. => 1. Làm sáng tỏ, làm cho sáng sủa dễ hiểu. 2. Sáng chế ra. Giảng giải.
phát nghiệp nhuận sinh
(發業潤生) Chỉ cho phiền não tưới tẩm (nhuận) nghiệp mà sinh ra quả ở vị lai. Phát nghiệp là chỉ cho tác dụng của Hoặc, lấy phiền não phân biệt khởi làm chính, trong đó lại lấy nghiệp do vô minh phân biệt phát ra, tương ứng với thức thứ 6 làm chủ yếu, rồi chung với phiền não Câu sinh khởi mà phát ra nghiệp. Tác dụng hoặc lấy phiền não Phân biệt khởi làm chính, là nói theo hành tướng tăng thắng. Còn tác dụng hoặc lấy vô minh phân biệt làm chủ yếu thì là tác dụng thù thắng hơn so với các hoặc khác. Nhuận sinh chỉ cho tác dụng của hoặc nhuận sinh, tức là hoặc Câu sinh khởi lấy phiền não Tham, tương ứng với thức thứ 6 làm chính, chẳng hạn như lúc hấp hối có hoặc tham ái thì quyến luyến tự thể và cảnh giới, nhờ đó mà tưới tẩm sự sống của Trung hữu (tức thân chưa đi đầu thai), đó là tác dụng tăng thượng. Tác dụng này tương đương với 2 chi Ái và Thủ trong 12 nhân duyên, có năng lực tưới tẩm (nhuận) hạt giống của 5 quả, làm phát sinh hiện hành, vì vậy gọi là Nhuận sinh. Trong đó, có Chính nhuận sinh và Trợ nhuận sinh khác nhau. Chính nhuận sinh là hoặc Câu sinh khởi, khi đến giai vị Tu đạo thì đoạn trừ hết; còn Trợ nhuận sinh thì chung cho cả hoặc Phân biệt khởi, khi đến giai vị Kiến đạo thì đoạn trừ. Hoặc Nhuận sinh này chỉ hiện hành ở địa vị phàm phu, chứ với bậc Thánh thì không, ở 3 quả của Nhị thừa không có tham ái hiện hành mà chỉ là sự nhuận sinh của chủng tử. Nhưng Bồ tát từ Thất địa trở về trước, vì hạnh lợi tha nên khởi hoặc, đó là sự nhuận sinh hiện hành. Tông Câu xá cho rằng 9 phẩm Tu hoặc cõi Dục có năng lực chiêu cảm sinh ra thất đại (địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, kiến đại, thức đại) ý nói trong 9 phẩm Tu hoặc cõi Dục có đủ tác dụng nhuận sinh. Còn giáo nghĩa của tông Thiên thai thì cho Bồ tát Đệ cửu địa trong Tam thừa cộng Thập địa vì hạnh hóa tha mà có tác dụng Phù tập nhuận sinh ý nói Bồ tát nhờ có sức thệ nguyện mà thêm sức ở trong tập khí Kiến, Tư hoặc, đồng thời dùng sức ấy để phát nghiệp nhuận sinh, thụ sinh trong 3 cõi. [X. luận Câu xá Q.10; luận Du già sư địa Q.59; luận Thành duy thức Q.8; Câu xá luận quang kí Q.10; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5, phần đầu]. (xt. Hoặc).
Phát nghiệp 發業
[ja] ホツゴウ hotsugō ||| To produce karma, generate activity. 〔二障義HPC 1.795b〕 => Gây ra nghiệp, tạo tác.
phát nguyện
To take a vow; to take one's vow; to vow, resolve.
; (發願) Cũng gọi Phát đại nguyện, Phát nguyện tâm, Phát chí nguyện, Phát vô thượng nguyện. Phát khởi thệ nguyện, tức phát tâm bồ đề cầu chứng quả Phật, đặc biệt chỉ cho tâm hoàn thành Tịnh độ để cứu giúp chúng sinh (tức thệ nguyện). Nguyện mà Bồ tát phát khởi có rất nhiều loại như: Tổng nguyện, Biệt nguyện, Tịnh độ thành Phật nguyện, Uế độ thành Phật nguyện v.v... Đối với tông Tịnh độ, người thệ nguyện vãng sinh Tịnh độ khuyến khích tự mình tu thiện, tâm phát nguyện vãng sinh này, gọi là Hồi hướng phát nguyện tâm. Trong Quán kinh huyền nghĩa phần, khi giải thích 6 chữ Nam mô A di đà Phật, ngài Thiện đạo cho rằng Nam mô có nghĩa là phát nguyện hồi hướng. Ngài Thân loan thì cho rằng đó là đức Phật A di đà phát nguyện cứu độ chúng sinh và là nhân của chúng sinh được cứu. Hoặc giải thích niệm chữ Nam mô là tuân hành lời khuyến khích và kêu gọi (phát khiển chiêu hoán)của 2 đức Phật Thích ca, Di đà mà phát tâm vãng sinh Tịnh độ. Về đại thể, Nguyện tâm có thể chia làm 2 loại: Một là nguyện cầu bồ đề, hai là nguyện hóa độ chúng sinh. Bốn thệ nguyện rộng lớn và 10 đại nguyện đều thuộc về phát nguyện. Ngoài ra, về việc làm phúc, tu thiện... đều phải phát nguyện trước; bài văn ghi chỉ thú của lời phát nguyện gọi là Phát nguyện văn, Nguyện văn, Thệ nguyện văn, như Thiên tăng hội nguyện văn của ngài Trầm ước đời Lương thuộc Nam triều, Phát nguyện văn của Đại sư Trí khải đời Tùy, Phát nguyện văn của ngài Thiện đạo đời Đường... [X. phẩm Chủng tính kinh Bồ tát địa trì Q.1; phẩm Nguyện thệ trong Phát bồ đề tâm kinh luận Q.thượng; luận Đại trí độ Q.5; phẩm Phân biệt thế luận Câu xá Q.12]. (xt. Phát Khiển Chiêu Hoán).
Phát nguyện 發願
[ja] ホツガン hotsugan ||| To arouse the vow (to save all sentient beings). To arouse the aspiration for enlightenment, or rebirth in the Pure Land. => Phát khởi tâm nguyện (cứu độ tất cả chúng sinh). Phát khởi tâm nguyện đạt đến giác ngộ, hoặc vãng sinh Tịnh độ.
phát ngạ quỷ tâm
(發餓鬼心) Phát tâm quỉ đói, 1 trong 10 loại phát tâm.Chúng sinh muốn được tiếng tăm lừng lẫy khắp nơi, muốn được mọi người khen ngợi; bên trong vốn không có thực đức mà muốn sánh với thánh hiền, đó chỉ là dối trá, lừa gạt, tạo 10 điều ác, gieo nhân ngã quỉ, nên gọi là Phát ngã quỉ tâm.
Phát phu
(髪膚): tóc và da, tức chỉ toàn thân con người. Trong chương Khai Tông Minh Nghĩa (開宗明義) thứ nhất của Hiếu Kinh (孝經) có đoạn rằng: “Thân thể phát phu, thọ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thỉ dã (身體髪膚、受之父母、不敢毀傷、孝之始也, toàn bộ thân thể, thọ của cha mẹ, không dám thương tổn, đó là việc làm đầu tiên của hiếu).” Câu “cảm hà phát phu chi báo (感荷髪膚之報)” có nghĩa là cảm thấy nặng trĩu không biết làm sao báo đáp ơn sâu của cha mẹ đã ban cho tấm thân này.
phát quang
To send forth light, radiate.
Phát quang địa
xem Mười địa vị.
phát quang địa
Prabhākari-bhŪmi (S), Radiant stage Trong Thập địa.
; (發光地) Địa thứ 3 trong 10 địa của Bồ tát. Vì hàng Bồ tát ở địa vị này tu trì Phật đạo, phát ra ánh trí tuệ rất trong sáng, cho nên gọi là Phát quang địa. [X. kinh Thập địa Q.10; kinh Hoa nghiêm Q.35 (bản 80 quyển).
Phát quang địa 發光地
[ja] ホツコウチ hotsukōchi ||| The stage of the emission of light (prabhākarī) . The third of the ten stages 十地 in the path of the bodhisattva. => Giai vị phát ra ánh sáng giác ngộ (prabhākarī). Địa thứ 3 trong thập địa trong pháp tu của hàng Bồ-tát.
phát sanh phật đảnh
Xem Cao Phật đảnh.
phát tháp
(發塔) Tháp là nơi thờ xá lợi của Phật. Theo Phật quốc kí thì sau khi đức Phật Thích ca mâu ni nhập diệt, xá lợi của Ngài được chia cho 8 nơi, mỗi nơi đều có xây tháp, miếu để thờ cúng. (xt. Tháp).
phát thú
Kasina (P), Kṛṣṇapura (S), Kṛstnā (S)Biến xứThập phát thú, một trong Tứ thập vị tu chứng Bố tát đạo.
phát thú luận
Patthama (P)Một trong bảy tập của bộ Luận tạng Xem Nhân duyên thuyết.
; (發趣論) Pàli: Paỉỉhàna-ppakaraịa. Gọi đủ: Phát thú đại luận (Pàli: Paỉỉhàna-mahàpakaraịa). Gọi tắt: Bát xoa (Pàli: Paỉỉhàna) Một trong 7 bộ luận của Phân biệt Thượng tọa bộ ở Tích lan. Luận này trình bày rõ sự quan hệ giữa 122 môn và 24 duyên của luận Bản mẫu. Trước hết, chia làm 2: Phần Luận mẫu thiết trí và phần Duyên phân biệt; kế đến, trình bày chính văn cho 24 phát thú mà thành. Hai mươi bốn phát thú được chia làm 4 loại: Thuận phát thú, Nghịch phát thú, Thuận nghịch phát thú và Nghịch thuận phát thú, mỗi phát thú lại mở rộng ra làm 6 loại: Tam pháp phát thú, Nhị pháp phát thú, Nhị pháp tam pháp phát thú, Tam pháp nhị pháp phát thú, Tam pháp tam pháp phát thú và Nhị pháp nhị pháp phát thú. Luận này có xuất bản nguyên văn và bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh 50 đến 56). [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Nam phương thượng tọa bộ luận thư giải thuyết; A History ofPàli Literature by B.C. Law].
Phát thú vị 發趣位
[ja] ホッシュイ hosshui ||| The starting point of practice. => Vị trí bắt đầu tu tập.
phát trí luận
Jānaprasṭhāna (S)Do ngài Kàtyàyànìputra (Ca la Diễn Ni Tử) trước tác khoảng thế kỷ 2 BCXem A tỳ đạt ma phát trí luận.
Phát trí luận 發智論
[ja] ホツチロン Hotsuchiron ||| Fazhi lun See 阿毘達磨發智論 Apidamo fazhi lun. => (c: Fazhi lun). Xem A-tỳ-đạt-ma Phát trí luận (阿毘達磨發智論 c: Apidamo fazhi lun).
phát tâm
Mental initiation or initiative, resolve, make up the mind to; to start out for Bodhi, or perfect enlightenment; to show kindness of heart, give alms.
; (發心) Cũng gọi Sơ phát ý, Tân phát ý, Tân phát tâm, Sơ tâm, Phát ý. I. Phát Tâm. Gọi đủ: Phát bồ đề tâm. Chỉ cho tâm phát nguyện cầu Vô thượng bồ đề. Tức phát khởi tâm mong cầu giải thoát khổ nạn, được vãng sinh Tịnh độ hoặc thành Phật. Tâm bồ đề là hạt giống của tất cả chư Phật, là thửa ruộng tốt nuôi lớn pháp thanh tịnh. Khi phát tâm này rồi, phải siêng năng tiến tu để mau chóng chứng được Vô thượng bồ đề. Phiên dịch danhnghĩa tập quyển 12 có nêu ra 3 loại phát tâm: 1. Phát tâm đại trí: Muốn dùng trí tuệ rộng lớn cầu được tất cả pháp của Phật để hóa độ hết thảy chúng sinh, làm cho họ được niềm vui pháp hỉ. 2. Phát tâm đại bi: Thương xót hết thảy chúng sinh, chịu vô lượng khổ não trong vòng luân hồi sinh tử, thệ nguyện cứu vớt họ. 3. Phát tâm đại nguyện: Nương theo 4 thệ nguyện rộng lớn, phát tâm Vô thượng bồ đề, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sinh.Còn Thích thị yếu lãm quyển 3 thì nêu 3 loại phát tâm là: 1. Phát tâm nhàm chán xa lìa hữu vi: Các pháp thế gian đều là pháp hữu vi, chỉ mang lại khổ não sống chết trong 3 cõi; muốn cầu thoát khỏi nỗi khổ ấy, thì phải nhàm chán pháp hữu vi mà phát tâm tu hành. 2. Phát tâm cầu bồ đề: Vốn có thiện căn và chính kiến, muốn cầu đạo xuất thế mầu nhiệm thì phải phát tâm tu hành. 3. Phát tâm làm lợi ích cho loài hữu tình: Khởi tâm từ bi, thương xót tất cả chúng sinh thế gian chịu khổ sinh tử, nguyện nhổ hết gốc khổ và mang lại niềm an vui cho họ, nên phát tâm tu hành. (xt. Bồ Đề Tâm). II. Phát Tâm. Trong Tịnh độ chân tông của Nhật bản, người đồng nam mới vào Phật đạo, hoặc gần gũi chúng tăng mà chưa xuất gia, được gọi là Phát tâm.
Phát tâm trú 發心住
[ja] ホッシンジュウ hosshinjū ||| The first of the Ten Abidings: The "abiding of awakening operation." The 'ten faiths' stage of provisionally following to enter the view of emptiness is completed, the true wisdom of no outflow arises, and the mind dwells in the principle of absolute reality. => Giai vị đầu tiên trong Thập trú. Giai vị Thập tín nhất thời nhập vào Tính không đã hoàn mãn, chân trí huệ vô lậu đã phát sinh, nên tâm an trú trong thể tính chân như cứu cánh.
Phát tâm tu hành chương 發心修行章
[ja] ホッシンシュギョウショウ Hosshin shugyō shō ||| Palsim suhaeng chang by Wŏnhyo 元曉; HPC 1.841-2. => (k: Palsim suhaeng chang), của Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo 元曉).
Phát tâm 發心
[ja] ホッシン hosshin ||| (1) The arousal of the thought, or sincere and earnest intention to attain enlightenment, especially for the sake of saving other sentient beings (bodhicitta-samutpāda). An abbreviation of 發菩提心.〔法華經T 262.9.54a13〕(2) To enter the sangha. => 1. Đánh thức tâm tư, lòng chân thành và ý định nghiêm túc để đạt đến giác ngộ, đặc biệt là vì cứu độ cho chúng sinh (bodhicitta-samutpāda). Viết tắt của Phát bồ-đề tâm 發菩提心. 2. Xuất gia làm Tăng.
Phát tấu
(發奏): văn thư của bề tôi bên dưới khải tấu, tâu trình sự việc lên đức vua hay đấng tôn kính; còn gọi là tấu văn (奏聞). Như trong Hậu Hán Thư (後漢書), phần An Đế Kỷ (安帝紀), có đoạn: “Tam Ty chi chức, nội ngoại thị giám, ký bất tấu văn, hựu vô cử chánh (三司之職、內外是監、旣不奏聞、又無舉正, chức của Ba Ty, trong ngoài giám sát, đã không tâu trình, lại chẳng sửa đúng).” Hay trong Tập Di Ký (集异記), phần Diệp Pháp Thiện (葉法善), của Tiết Dụng Nhược (薛用弱, ?-?) nhà Đường, lại có đoạn: “Huyền Tông thừa tộ kế thống, sư ư thượng kinh, tá hựu thánh chúa, phàm cát hung động tĩnh, tất dự tấu văn (玄宗承祚繼統、師於上京、佐佑聖主、凡吉凶動靜、必預奏聞, vua Huyền Tông kế thừa ngôi báu trị vì, sư lên kinh đô, phò tá thánh chúa, phàm lành dữ động tĩnh, đều phải tâu trình trước).”
phát tế
(發際) Chỉ cho chỗ chân tóc ở trên trán. Nói về tướng lưỡi rộng dài trong 32 tướng hảo của đức Phật. Tức đầu lưỡi của Phật khi thè ra thì che cả mặt, cho đến chỗ chân tóc. Kinh Li cấu thí nữ (Đại 12, 90 hạ) nói: Lưỡi rộng dài che cả mặt, cho đến chỗ chân tóc. Ngoài ra, trong Nghi quĩ nói về phương pháp tạo tượng Phật thì Phát tế là 1 trong những điểm cơ bản để tính độ dài. Kinh Tạo tượng lượng đạc giải thích (Đại 21, 941 hạ): Nhục kế: Trên đỉnh đầu của Phật có 1 khối thịt (nhục) nổi cao lên như búi tóc (kế) hình tròn, cao 4 ngón tay, từ chân nhục kế đến chân tóc cũng bằng 4 ngón tay. [X. kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.2; kinh Bảo vân Q.6; luận Đại trí độ Q.8].
phát âm
To pronounce.
phát ý
To resolve on, have a mind to.
phát đầu
(發頭) Chỉ cho chức vụ trông coi việc cạo tóc cho chúng tăng trong Thiền lâm. Vào các ngày 4, 9, 14, 19, 24 và 29, sau khi ăn cháo buổi sáng, chư tăng liền đi cạo tóc. Khi vị Dục chủ(chức vụ coi về việc tắm gội) treo bảng cạo tóc (Tịnh phát bài) ở trước các liêu (phòng tăng ở) của chúng tăng, thì vị Phát đầu sắp sẵn nước nóng, thau rửa mặt, dao cạo tóc, đá mài... xong rồi, đánh 1 hồi mộc bản (tấm bảng gỗ dùng để đánh báo hiệu), chúng tăng liền tập trung ở trước liêu để được cạo tóc.
Phát đắc 發得
[ja] ホットク hottoku ||| To produce, or gain wisdom, meditative concentration, etc., within oneself. => Phát ra, hay đạt được trí huệ, thiền định v.v...trong chính mình.
Phát động 發動
[ja] ハツドウ hatsudō ||| Initiative, first motion. Motive, active. => Khởi đầu, chuyển động ban đầu. Động cơ.
Phát 發
[ja] ホツ、ハツ hotsu, hatsu ||| (1) To arise, to appear [起]. To blossom forth. (2) To give birth [生]. (3) To release (an arrow, etc.); to go, to go out, [出]. To emit, to leave; (4) To open, to reveal (that which was hidden). [顯] To make manifest. [現] (5) To start or begin. => 1. Nảy sinh ra, xuất hiện ( khởi, 起). Trổ hoa. 2. Sinh ra 生. 3. Bắn ra (một mũi tên v.v...); đi, đi ra, [xuất出]. Phát ra, rời đi. 4. Mở ra, tiết lộ (những gì bị ẩn dấu) [Hiển顯]. Làm cho bày ra [ hiện現]. 5. Bắt đầu.
phân biện minh bồ tát
Xem Thanh Biện Bồ tát.
Phân biệt
分別; C: fēnbié; J: funbetsu;|Có các nghĩa sau: 1. Sự phán quyết, sự kết luận (đối với hiện tượng ngoại giới; p: vinicchaya). Thuật ngữ nầy thường dùng với ý nghĩa chê bai, liên quan đến các tâm hành có tính thiên vị và cục bộ gây chướng ngại cho tính dụng của tâm giác ngộ. Suy nghĩ với sự phân biệt (s: vikalpa, kalpana); 2. Bất đồng ý kiến, tranh luận, không tán thành (p: vivadati); 3. Sự thụ kí của đức Phật cho một đệ tử sẽ được thành Phật trong tương lai; 4. Luận nghị (論議; s: upadeśāh), một trong 9 (hay 12) thể loại trong kinh văn Phật giáo; 5. Phân loại, chia ra từng phần, giải quyết được, sắp xếp; 6. Sự phân tích, sự phân huỷ, sự phân biệt, sự khác nhau (s: vibhāga, lakṣayati); 7. Trong nghĩa tích cực, là phân biệt rõ chính với tà, chính pháp và tà thuyết.
phân biệt
Vibhājya (S, P), Vikappa (P), Vikalpa (S), Fumbetsu (J), Prativikalpa (S), Paṭivikappa (P), Vibhāga (S), Discrimation Vibhaṅga (S)Suy lường tính toán.
; Vibhàga, vikalpa (S). To distinguish, to discriminate, to discern, to differentiate, to reason.
; Distinction.
; (分別) Phạm:Vikalpa. Cũng gọi Tư duy, Kế đạc. Chỉ cho sự suy lường, tính toán, so đo... Luận Câu xá quyển 2 nêu ra 3 thứ phân biệt: 1. Tự tính phân biệt: Tác dụng trực giác lấy tâm sở Tầm hoặc Tứ làm thể, trực tiếp nhận thức đối cảnh. 2. Kế đạc phân biệt: Tác dụng phán đoán suy lí, tương ứng với ý thức, lấy tâm sở Tuệ làm thể. 3. Tùy niệm phân biệt: Tác dụng ghi nhớ, truy tưởng, tương ứng với ý thức, lấy tâm sở Niệm làm thể, có khả năng nhớ rõ việc quá khứ. Trong 6 thức, chỉ có ý thức là đầy đủ cả 3 loại phân biệt nói trên, cho nên gọi là Hữu phân biệt (Phạm: Savikalpa); 5 thức trước thì chỉ có Tự tính phân biệt chứ không có 2 phân biệt kia, cho nên gọi là Vô phân biệt (Phạm: Avikalpa). Luận A tì đạt ma tạp tập quyển 2 cho rằng 3 phân biệt là tác dụng của ý thức và bảo Tự tính phân biệt thuộc hiện tại, Tùy niệm phân biệt thuộc quá khứ, còn Kế đạc phân biệt thì chung cho cả quá khứ và vị lai. Nhưng luận Nhiếp đại thừa thì cho rằng sự phân biệt của phàm phu là do mê vọng sinh ra, hoàn toàn không thể chứng ngộ được lí chân như 1 cách như thực, do đó, sự phân biệt của phàm phu chỉ là sự phân biệt hư vọng (gọi tắt: Vọng phân biệt). Nếu muốn chứng ngộ được lí chân như, thì phải xả bỏ trí phân biệt của phàm phu, mà nương vào trí vô phân biệt mới được. Cũng tức là Bồ tát Sơ địa khi vào Kiến đạo, duyên với chân như của tất cả pháp, vượt lên trên sự đối lập giữa năng tri vàsở tri, mới có thể chứng được trí bình đẳng vô phân biệt. Trí vô phân biệt này được chia làm 3 giai đoạn: Gia hạnh (giai đoạn chuẩn bị), Căn bản và Hậu đắc, theo thứ tự gọi là trí Gia hạnh, trí Căn bản và trí Hậu đắc. [X. luận Thành duy thức Q.7; luận Đại tì bà sa Q.42; Nhiếp đại thừa luận bản Q.trung; luận Hiển dương thánh giáo Q.16; luận Du già sư địa Q.53]. II. Phân Biệt. Phạm: Vibhaíga, Vibhajya. Chỉ cho sự khu biệt, chia loại, phân tích giáo pháp để nghiên cứu, khảo sát, theo nhiều phương hướng và trên nhiều lập trường.
phân biệt biến
(分別變) Đối lại: Nhân duyên biến. Chỉ cho cảnh sở duyên (đối tượng) do sự tác ý phân biệt của tâm và tâm sở sinh ra. Trong 8 thức thì cảnh sở duyên của thức thứ 8, 5 thức trước và Ngũ câu ý thức là do nhân duyên nhậm vận sinh ra, đều có tác dụng thực sự, cho nên gọi là Nhân duyên biến. Trái lại, cảnh sở duyên của thức thứ 7 và Độc đầu ý thức thứ 6 là do sức tác ý phân biệt sinh ra, chẳng phải do chủng tử thực sinh ra, như lửa trong gương không có tác dụng thực, chỉ là bóng dáng mà thôi, vì thế gọi là Phân biệt biến. Ngoài ra, cảnh của các tâm sở như Xúc... tương ứng với thức thứ 8, tuy nhậm vận mà khởi, nhưng do chủng tử giả sinh ra, không có tác dụng thực sự, cho nên cũng thuộc về Phân biệt biến.Cứ theo Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu quyển thượng, phần cuối, trong 3 loại cảnh, thì Độc ảnh cảnh và 1 phần của Đới chất cảnh, là Phân biệt biến; còn Tính cảnh do nhân duyên sinh ra, có đầy đủ thực dụng cho nên là Nhân duyên biến. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần đầu; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.3; Bách pháp vấn đáp sao Q.2].
phân biệt bảo tánh chi đại thừa tối thắng yếu nghĩa luận
Ratnagotra-vibhago-mahāyanottara-tantra śāstra (S)Cứu cánh nhất thừa bào tánh luận, Bảo tánh luậnTên một bộ luận kinh.
Phân biệt bộ
分別部; S: vibhajyavādin;|Một bộ phái Tiểu thừa, tách ra từ Trưởng lão bộ (s: sthavira, p: theravāda) khoảng 240 năm trước Công nguyên. Từ bộ này lại xuất phát ra Thượng toạ bộ, Ẩm Quang bộ và Hoá địa bộ (xem biểu đồ của các bộ phái cuối sách).
Phân biệt chướng
分別障; C: fēnbié zhàng; J: funbetsushō;|Chướng ngại do phân biệt. Là Phiền não chướng (煩惱障) và Sở tri chướng (所知障) sinh khởi từ ý thức phân biệt. Vì phân biệt là chức năng của thức thứ 6 nên Phân biệt chướng sinh khởi từ thức đó. Nó sinh khởi do tà sư, tà thuyết, hay là tà kiến. Phân biệt khởi (分別起).
Phân biệt chướng 分別障
[ja] フンベツショウ funbetsushō ||| The 'hindrances due to discrimination.' Hindrances of evil passions (fannaozhang 煩惱障) and the hindrances of what is known (souzhizhang 所知障) that arise from discriminatory thought. Since discrimination is the function of the sixth consciousness the hindrances of discrimination are hindrances that arise from that consciousness. They arise from following a deluded teacher, deluded teaching, or one's deluded thoughts. See also 分別起. => Chướng ngại do phân biệt. Là Phiền não chướng 煩惱障và Sở tri chướng 所知障)sinh khởi từ ý thức phân biệt. Vì phân biệt là dụng của thức thứ 6, nên Phân biệt chướng sinh khởi từ thức đó. Nó sinh khởi do tà sư, tà thuyết, hay là tà kiến. Xem Phân biệt khởi分別起.
phân biệt công đức luận
Puṇya-vibhaṅga (S)Tên một bộ luận kinh.
; (分別功德論) Phạm: Puịya-vibhaíga. Cũng gọi Phân biệt công đức kinh, Tăng nhất a hàm kinh sớ. Tác phẩm, 5 quyển, thuộc Luận bộ của Tiểu thừa ở Ấn độ, tương truyền được dịch vào thời Hậu Hán, thu vào Đại chính tạng tập 28. Nội dung luận này giải thích 4 phẩm đầu của kinh Tăng nhất a hàm, đồng thời, trình bày về sự tích và công đức tu hành của các vị đệ tử Phật. Luận này tuy thuộc Tiểu thừa, nhưng nội dung có bàn về Lục độ và Thập trụ, đồng thời, chấp nhận cả giới Đại thừa và giới Tiểu thừa, điểm này, về mặt tư tưởng, rất giống với kinh Bát nhã, do đó biết người soạn luận này rất hiểu về Phật giáo Đại thừa. Hơn nữa, trong sách tán thán ngài Đại thiên cho nên biết soạn giả cũng gần gũi tư tưởng Đại chúng bộ. Nếu như sách này thực sự được phiên dịch vào đời Hậu Hán thì muộn nhất nó cũng đã được soạn thuật vào sau thế kỉ II. Nhưng trong giới học giả có người cho rằng sách này được dịch ra sau thời Đông Tấn. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.13; Xuất tam tạng kí tập Q.4; Pháp kinh lục Q.5].
phân biệt du già luận
Vibhaga-yogā śāstra (S)Một trong 5 bộ luận mà Bồ tát Di Lặc từ cõi trời Đâu suất giáng xuống giảng cho ngài Bồ tát Vô Trước.
; Vibhàga-yogà-sàstra.
; (分別瑜伽論) Cũng gọi Nhiếp tán qui quán luận. Luận do bồ tát Di lặc nói, ngài Thế thân soạn Thích luận, là 1 trong 11 bộ luận y cứ của tông Pháp tướng. Luận này chưa được truyền dịch.
Phân biệt du-già luận
分別瑜伽論; C: fēnbié yúqié lùn; J: funbetsu-yugaron;|Được xem là một tác phẩm của Bồ Tát Di-lặc (彌勒), Thế Thân (世親) luận giải. Là 1 trong 11 bộ luận của Pháp tướng tông, nhưng chưa được dịch sang Hán văn.
Phân biệt Du-già luận 分別瑜伽論
[ja] フンベツユカロン Funbetsuyugaron ||| Attributed to Maitreya 彌勒, commented on by Vasubandhu 世親. One of the eleven treatises of the Dharmalakṣaṇa 法相 school, but which was not translated into Chinese. => Được xem là của Bồ-tát Di-lặc, Thế Thân luận giải. Là một trong 11 bộ luận của Pháp tướng tông (s: Dharmalakṣaṇa) nhưng chưa được dịch sang Hán văn.
phân biệt duyên
Vikalpapratyaya (S), Conditions of discrimination.
; Vikalpapratyaya (S). Conditions of discrimination.
Phân biệt duyên khởi sơ thắng pháp môn kinh
分別縁起初勝法門經; C: fēnbié yuànqǐ chūshèng fǎmén jīng; J: funbetsu engi shoshō hōmon kyō; S: vikalpa-pratītya-samutpāda-dhar-mottara-praveśa-sūtra.|Kinh, 2 quyển, Huyền Trang dịch tại chùa Đại Từ Ân năm 650. Đây là bài thuyết pháp về Mười hai nhân duyên.
Phân Biệt Duyên Khởi Sơ Thắng Pháp Môn Kinh 分別縁起初勝法門經
[ja] フンベツエンギショショウホウモンキョウ Funbetsu engi shoshō hōmon kyō ||| The Fenbie yuanqi chusheng famen jing; *Vikalpa-pratītya-samutpāda-dharmottara-praveśa sūtra (Sutra on The Primacy of the Dharma Gate Distinguishing Conditioned Arising). T 717 .16.837-844. Two fascicles, translated by Xuanzang 玄奘 at Dacien Monastery in 650. A sermon on the twelve limbs of conditioned origination. => (s: Vikalpa-pratītya-samutpāda-dharmottara-praveśa sūtra); 2 quyển, Huyền Trang dịch tại chùa Đại Từ Ân năm 650. Đây là bài thuyết pháp về Mười hai nhân duyên.
phân biệt giai cấp
Distinction of class and caste.
phân biệt giả
Vibhājyavadin (P), Follower of Vibhājyavāda.
phân biệt giới kinh
Dhàtuvibhanga-sutta (P)
Phân biệt khởi
分別起; C: fēnbiéqǐ; J: funbetsuki;|Phiền não sinh khởi từ phân biệt. Phiền não sinh khởi sau khi xuất sinh trong thế gian nầy, tùy thuộc vào những tà kiến mà người ta đã ôm ấp do y cứ vào giáo lí sai lầm… Những phiền não nầy sẽ được giải trừ khi qua giai vị Kiến đạo. Phiền não nầy khác với Câu sinh khởi (倶生起) và Nhậm vận khởi (任運起).
phân biệt khởi
Parikalpa samutthita (S)Câu sanh khởi.
; Delusions arising from reasoning and teaching.
; (分別起) Phạm: Parikalpasamutthita. Đối lại: Câu sinh khởi. Chỉ cho những phiền não do tà giáo, tà sư, tà tư duy... sinh ra. Trong 10 phiền não căn bản thì 4 phiền não Nghi, Tà kiến, Kiến thủ kiến và Giới cấm thủ kiến thuộc về Phân biệt khởi. Phân biệt khởi dễ đoạn trừ, cho nên ở giai vị Kiến đạo, khi hành giả chứng được chân như Sinh không, Pháp không thì lập tức dứt hết. [X. luận Thành duy thức Q.1, 2, 6; luận Hiển dương thánh giáo Q.6; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4]. (xt. Câu Sinh Khởi).
Phân biệt khởi 分別起
[ja] フンベツキ funbetsuki ||| The afflictions produced from discrimination. Afflictions that are produced subsequent to birth in this world, depending upon the mistaken thoughts that one produces based on incorrect teachings, etc. These afflictions are eliminated in the course of the Path of Seeing 見道, and are contrasted to inherent afflictions ( 倶生起and 任運起).〔二障義HPC 1.790b23〕 => Phiền não sinh khởi từ phân biệt. Phiền não sinh khởi theo khi sinh ra nơi thế gian nầy, tùy thuộc vào những tà kiến mà sinh khởi phiền não do y cứ vào giáo lý sai lầm...Những phiền não nầy sẽ được giải trừ khi qua giai vị Kiến đạo. Phiền não nầy khác với Câu sinh khởi 倶生起và Nhậm vận khởi任運起.
Phân biệt kinh
分別經; C: fēnbié jīng; J: funbetsu kyō;|Tên gọi tắt của kinh Phật thuyết A-nan phân biệt (佛説阿難分別經).
phân biệt kinh
Sùtravibhanga (S).
Phân Biệt Kinh 分別經
[ja] ブンベツキョウ Funbetsu kyō ||| The Fenbie jing; an abbreviation of the title 佛説阿難分別經; T 495.14.758-760. => Tên gọi tắt của Phật thuyết A-nan Phân Biệt Kinh佛説阿難分別經.
phân biệt luận
(分別論) Pàli: Vibhaíga-ppakaraịa. Gọi tắt: Tì băng già(Phân biệt). Tác phẩm, 1 trong 7 luận của Phân biệt thượng tọa bộ ở Tích lan. Phổ thông cho rằng luận này là thiên tiếp theo của luận Pháp tụ. Đây là bộ luận nền tảng chỉ đứng sau luận Pháp tập mà thôi. Trong các bộ luận của Hữu bộ thì luận Pháp uẩn túc giống với luận này nhất. Nội dung luận này gồm có 18 Phân biệt (phẩm), 15 Phân biệt đầu chia làm 3 phần là Kinh phân biệt, Luận phân biệt và Vấn nạn; 3 Phân biệt cuối thì chia làm 2 phần là Bản mẫu và Quảng thích để thuyết minh. Thứ tự của 18 Phân biệt như sau: Uẩn, Xứ, Giới, Đế, Căn, Duyên tướng, Niệm xứ, Chính cần, Thần túc, Giác chi, Đạo, Định, Vô lượng, Học xứ, Vô ngại giải, Trí, Tiểu sự và Pháp tâm. Nguyên văn bản luận này đã được chỉnh lí và xuất bản, đồng thời có bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh quyển 46, 47). Ngoài ra, vào thế kỉ thứ V, ngài Phật âm (Phạm: Pàli:Buddhaghosa) có soạn luận Trừ si mê (Pàli: Sammohavinodanì) để chú thích luận này. Ngài Phật thụ (A.P Buddhadatta) cũng đã chỉnh lí nguyên văn luận Trừ si mê và do Hiệp Hội Pàli (Pàli Text Society) xuất bản vào năm 1923. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Nam phương Thượng tọa bộ luận thư giải thuyết; A Histrory ofPàli Literature by B.C. Law].
phân biệt luận giả
(分別論者) Phạm: Vibhajya-vàdin. Pàli: Vibhajja-vàdin. Hán âm: Tì bà xà bà đề, Tì bà xà phược địa. Cũng gọi Phân biệt luận sư, Phân biệt thuyết bộ. Chỉ cho 1 phái Luận sư chuyên phân tích, biện biệt nghĩa lí các pháp đến chỗ rốt ráo. Phái Luận sư này chủ trương các thuyết như: Ngũ căn vô lậu, Duyên khởi vô vi, A la hán vô thoái, Tam giới vô trung hữu... đều là đồng nghĩa và hợp với tông chỉ căn bản của Hóa địa bộ Tiểu thừa. Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ và Kê dận bộ chủ trương tất cả Như lai không có pháp hữu lậu, Phật không ngủ nghỉ, tâm tính vốn thanh tịnh... cũng giống với lập trường của Phân biệt luận giả. Có thuyết cho rằng Ẩm quang bộ (thuộc Thượng tọa bộ) và Thuyết giả bộ (thuộc Đại chúng bộ) cũng được gọi là Phân biệt luận giả. Thượng tọa bộ lưu truyền ở Tích lan vốn thuộc về Phân biệt thuyết bộ. Học thuyết của Thượng tọa bộ được truyền bá ở phương Nam, hoàn toàn chẳng phải chính tông, các sử gia Phật giáo Ấn độ đều xem học thuyết ấy là do Thượng tọa bộ truyền riêng và thường dùng tên Phân biệt thuyết để khu biệt. Ở Tây tạng có rất nhiều thuyết khác nhau về Phân biệt thuyết bộ, đại để cho rằng Phân biệt thuyết bộ là 1 phái độc lập, liên quan mật thiết với Thuyết nhất thiết hữu bộ. Từ Phân biệt thuyết bộ lại chia ra các bộ: Hóa địa, Đồng diệp, Ẩm quang... Còn Ấn độ chi Phật giáo của ngài Ấn thuận cho rằng Phân biệt thuyết bộ thuộc về Thượng tọa bộ, thành 1 hệ riêng, rồi từ đó lại chia ra 4 bộ: Hóa địa, Ẩm quang, Pháp tạng và (Xích)Đồng diệp (truyền ở Tích lan). [X. luận Câu xá Q.20; luận Đại tì bà sa Q.5, 18, 19, 23; Nhiếp đại thừa luận thích Q.2 (Vô tính); luận Thành duy thức Q.3; Thành duy thức luận thuật kí Q.4, phần đầu; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.4, phần đầu; Câu xá luận quang kí Q.20; Ấn độ Phật giáo sử (Đa la na tha); Giáo đoàn phân liệt tường thuyết]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).
Phân biệt lực
分別力; C: fēnbiélì; J: bunbetsuriki;|Năng lực nhận biết, năng lực phán đoán (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Phân biệt lực 分別力
[ja] フンベツリキ bunbetsuriki ||| Discrimination power. 〔二障義HPC 1.791c〕 => Năng lực nhận biết, Năng lực phán đoán.
Phân biệt sự thức
分別事識; C: fēnbié shìshì; J: funbetsu jishiki;|1. Thức phân biệt các hiện tượng các nhau (s: vastu-prativikalpa-vijñāna); 2. Thức thứ 6, ý thức (意識; s: mano-vijñāna).
phân biệt sự thức
(分別事識) Gọi tắt: Sự thức. Tên khác của ý thức. Luận Đại thừa khởi tín gọi chung 6 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý là Ý thức; Ý thức này có khả năng khởi tác dụng nhận thức và phân biệt đối với các cảnh quá khứ, hiện tại, vị lai và những sự tướng của nội căn ngoại trần, vì thế gọi là Phân biệt sự thức.
phân biệt sự thức huân tập
(分別事識熏習) Đối lại: Ý huân tập. Một trong 2 nghĩa của Vọng tâm huân tập thuộc Tịnh pháp huân tập được nói trong luận Đại thừa khởi tín. Nghĩa là phàm phu và hàng Nhị thừa không biết bản thức A lại da chỉ là thức chứ không có cảnh, chấp trước ngoại cảnh là cảnh giới có thực, ở trong phân biệt sự thức mà chán lìa cái khổ sinh tử, phát tâm mong cầu đạo vô thượng. (xt. Tứ Huân Tập, Huân Tập).
Phân biệt sự thức 分別事識
[ja] フンベツジシキ funbetsu jishiki ||| (1) The consciousness that discerns the various phenomena (vastu-prativikalpa-vijñāna). 〔起信論 T 1666.32.577b〕(2) The mano (sixth) consciousness = 意識 (mano-vijñāna). => 1. Thức phân biệt các hiện tượng các nhau (s: vastu-prativikalpa-vijñāna). 2. Thức thứ 6, ý thức (s: mano-vijñāna).
phân biệt thuyết
Vaibhāṣika (S)Tỳ bà sa bộ, Tỳ bà sa đệ tử.
phân biệt thuyết bộ
Vibhājyavāda (P).
; Vibhàjyavàda (S). Name of a sect.
phân biệt thánh đế kinh
Xem Kinh Phân biệt về sự thật.
; Saccavibhangacitta-sutta (P). Also Đế phân biệt tâm kinh.
Phân biệt thức
分別識; C: fēnbiéshì; J: funbetsushiki;|Đồng nghĩa với thức thứ 6, Ý thức (意識).
phân biệt thức
Manovijā (P).
; The discriminating perception.
Phân biệt thức 分別識
[ja] フンベツシキ funbetsushiki ||| A synonym for the mano (sixth) consciousness = 意識. => Đồng nghĩa với thức thứ sáu, ý thức.
phân biệt trí
Pratisamvid (S), Analytical knowledge.
; Viveka (S). Differentiating knowledge.
; (分別智) Chỉ cho trí phân biệt các sự tướng hữu vi. Ở phàm phu là trí phân biệt, tính toán hư vọng, ở chư Phật là quyền trí hậu đắc.
phân biệt trí tương ưng nhiễm
(分別智相應染) Một trong 6 nhiễm tâm được nói trong luận Đại thừa khởi tín, tương đương với Trí tướng trong Lục thô. Trí này nương vào cảnh giới mà sinh khởi, có khả năng phân biệt các pháp thế gian và xuất thế gian, cho nên gọi là Phân biệt trí. Trí này tương ứng với tâm vương và có thể làm cho tâm tính thanh tịnh bị ô nhiễm, nên gọi là Tương ứng nhiễm. Đây là pháp chấp nhỏ nhiệm thuộc câu sinh khởi (có cùng lúc khi con người sinh ra), Bồ tát đến Thất địa thì đoạn trừ hết. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng, phần cuối; Khởi tín luận sớ Q.thượng].
phân biệt trí đà la ni
(分別智陀羅尼) Cũng gọi Phân biệt tri đà la ni, Phân biệt đà la ni. Một trong 3 Đà la ni nói trong luận Đại trí độ. Đà la ni là sức trí tuệ có năng lực tóm thu, gìn giữ tất cả không để quên mất. Sức trí tuệ biết rõ sự sai khác về tính chất lớn nhỏ, đẹp xấu của tất cả chúng sinh và các pháp, gọi là Phân biệt trí đà la ni. [X. luận Đại trí độ Q.5].
Phân biệt tính
分別性; C: fēnbié xìng; J: funbetsushō;|Bản tính y theo tâm phân biệt (s: pari-kalpita-svabhāva). Đồng nghĩa với Biến kế sở chấp tính (遍計所執性; s: parikalpita-svabhāva).
Phân biệt tính 分別性
[ja] フンベツショウ funbetsushō ||| The nature of existence according to the discriminating mind (parikalpita-svabhāva). Synonymous with bianji suoyixing 遍計所執性. => Bản tính y theo tâm phân biệt (s: parikalpita-svabhāva). Đồng nghĩa với Biến kế sở chấp tính (s: parikalpita-svabhāva).
phân biệt tương tự quá loại
(分別相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho lỗi thứ 3 trong 14 lỗi của Nhân thuộc Tự năng phá trong luận thức Nhân minh do ngài Túc mục –Tổ khai sáng của Nhân minh cũ– thành lập. Trong đối luận Nhân minh, kẻ địch luận (người vấn nạn) vì muốn phá luận thức (lượng) của người lập luận, nên đối với Đồng dụ, cưỡng dùng sự sai biệt của vật tính để công kích, bác bỏ luận thức của đối phương. Nhưng vì luận thức của người lập luận là đúng đắn, nên kẻ địch luận lại tự chuốc lấy lỗi Phân biệt tương tự quá loại (lỗi phân biệt sai lầm) này. Như Thắng luận sư lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì là do sự cần dũng không gián đoạn mà phát sinh (tức do sự tác động của ý chí mà phát sinh). Đồng dụ: Như cái bình. Dị dụ: Như hư không. Đối lại, Thanh luận sư (chủ trương âm thanh là vô thủy vô chung) lập luận thức: Tông: Âm thanh là thường (tức vô thủy vô chung). Nhân: Vì nó không thể bị thiêu đốt, không thể nhìn thấy nó. Đồng dụ: Như hư không. Dị dụ: Như cái bình. Rồi Thanh luận sư phân tích về tính chất sai khác của các vật mà cho rằng cái bình có thể thiêu đốt được, có thể thấy được, còn âm thanh thì không thể thiêu đốt được, không thể thấy được và kết luận: Nếu cái có thể thiêu đốt được, có thể thấy được là vô thường, thì cái không thiêu đốt được, không thấy được là thường, đồng thời, lấy cái nghĩa không thể thiêu đốt được, không thể thấy được là chung cho cả tâm, tâm sở vô thường và hư không thường trụ mà cưỡng gán cho đối phương là đã vi phạm lỗi bất định, nhưng thực thì chính kẻ địch luận đã vi phạm lỗi Phân biệt tương tự này. Lỗi này tương đương với Trường tương nạn thứ 3 trong Điên đạo nạn nói trong phẩm Đạo nạn của luận Như thực. [X. Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8; Nhân minh luận lí khái luận (Pháp phong)]. (xt. Thập Tứ Quá Loại, Nhân Minh).
Phân biệt 分別
[ja] フンベツ funbetsu ||| 'discrimination.' (1) Decisions, or conclusions (made regarding external phenomena) (Pali vinicchaya). This term is usually used with a negative connotation, referring to the mental action of partial and limiting rationality which hinders the function of the originally enlightened mind. To think in terms of difference (vikalpa, kalpana). (2) Dispute, argue, differ (Pali vivadati). (3) Guarantee or prediction by the Buddha of the future enlightenment of a disciple. (4) 'Discussion;' one of the nine (or twelve) kinds of scriptures (upadeśāh; 論議). (5) To distribute, to apportion, manage, arrange. (6) Analysis, decomposition, disintegration; distinction, difference (vibhāga, lakṣayati). (7) In a positive sense, to distinguish: right from wrong, the true teaching from the false teaching. => Có các nghĩa sau: 1. Sự phán quyết, sự kết luận (đối với hiện tượng ngoại giới)(p: vinicchaya) . Thuật ngữ nầy thường dùng với ý nghĩa phủ định, liên quan đến các tâm hành có tính thiên vị và cục bộ khiến gây chướng ngại cho tính dụng giải thoát của tâm. Suy nghĩ với sự phân biệt (s: vikalpa, kalpana). 2. Bất đồng ý kiến, tranh luận, không tán thành (p: vivadati). 3. Sự thọ ký của Đức Phật cho một đệ tử sẽ được thành Phật trong tương lai. 4. Luận nghị; một trong chín ( hay 12) thể loại trong Kinh văn Phật giáo (s: upadeśāh). 5. Phân loại, chia ra từng phần, giải quyết được, sắp xếp. 6. Sự phân tích, sự phân hủy, sự phân biệt, sự khác nhau (s: vibhāga, lakṣayati). 7. Trong nghĩa tích cực, là phân biệt rõ chính với tà, chính pháp và tà thuyết.
phân chia
Division-Separation.
phân chư thừa
(分諸乘) Đối lại: Dung bản mạt. Chia các thừa. Tức lấy pháp thể của Nhất thừa làm gốc mà chia giáo pháp của đức Phật thành các thừa để thích nghi với các căn cơ của chúng sinh. Trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương, ngài Pháp tạng dùng Dung bản mạt (dung hòa gốc và ngọn với nhau) để giải thích danh nghĩa của Nhất thừa đồng giáo và dùng Phân chư thừa (chia ra các thừa) để làm sáng tỏ pháp thể của Nhất thừa đồng giáo. Danh nghĩa của Đồng giáo lấy Nhất thừa làm gốc (bản), Tam thừa làm ngọn(mạt), dung hợp hòa đồng Tam thừa, Nhất thừa, gốc và ngọn với nhau, vì thế mà giải thích danh nghĩa của Đồng giáo là Dung bản mạt. Nhưng, pháp thể của Nhất thừa đồng giáo là vì phương tiện dẫn dắt mà chia làm Nhị thừa, Tam thừa, cho đến vô lượng thừa, hoặc đem Nhất thừa chia ra làm Nhị thừa, Tam thừa, cho đến vô lượng thừa để dẫn dụ, vì thế, các thừa được chia ra ấy chính là pháp thể của Nhất thừa đồng giáo. Phân chư thừa còn được chia làm 6 lớp là: Nhất thừa, Nhị thừa, Tam thừa, Tứ thừa, Ngũ thừa và Vô lượng thừa. Nhất thừa của lớp thứ nhất có 7 nghĩa: Ước pháp tướng giao tham, Ước nhiếp phương tiện, Ước sở lưu biện, Ước thù thắng môn, Ước giáo sự thâm tế, Ước bát nghĩa ý thú và Ước thập nghĩa phương tiện. Sự phân biệt 6 lớp, 7 nghĩa trên đây chính là 3 nghĩa: Sở lưu, Sở mục và Nhiếp phương tiện của Hoa nghiêm khổng mục chương. Trong đó, 7 nghĩa Nhất thừa của lớp thứ nhất nương vào 2 nghĩa Sở lưu và Nhiếp phương tiện, còn Nhị thừa của lớp thứ 2 trở xuống cho đến Vô lượng thừa của lớp thứ 5... thì nương vào 1 nghĩa Sở mục.Sở lưu có nghĩa là pháp môn của Tam thừa là từ biển Nhất thừa chảy ra. Nhiếp phương tiện có nghĩa là pháp môn Tam thừa nhập vào phương tiện của Nhất thừa. Nói cách khác, pháp môn Tam thừa là từ Nhất thừa mà ra, lại chính là phương tiện của Nhất thừa, cho nên gọi là Nhất thừa đồng giáo. Đó là điểm trọng yếu của 7 nghĩa Nhất thừa. Còn Sở mục thì có nghĩa là khi nói về pháp Tam thừa thì không phải lấy các nghĩa Sở lưu và Nhiếp phương tiện làm Nhất thừa, mà lấy ngay cái đương thể vốn có của Tam thừa làm Nhất thừa. [X. Hoa nghiêm nhất thừa giáo nghĩa phân tề chương Q.1].
Phân giải
分解; C: fēnjiě; J: bunkai;|Phân tích, chia thành từng phần, sự phân tích, tháo dỡ hết vật che đậy bên ngoài, sự phân huỷ, sự giải tán, sự giảm trừ.
Phân giải 分解
[ja] ブンカイ bunkai ||| Analysis, parting, decomposition, dismantling, disintegration, dissolution, reduction. => Phân tích, chia thành từng phần, sự phân tích, tháo dỡ hết vật che đậy bên ngoài, sự phân hủy, sự giải tán, sự giảm trừ.
Phân giới
分界; C: fēnjiè; J: bunkai;|Sự phân định ranh giới, giới tuyến, ranh giới, biên giới.
Phân giới 分界
[ja] ブンカイ bunkai ||| A delimitation, a demarcation, boundary, border. => Sự phân định ranh giới, giới tuyến, ranh giới, biên giới.
Phân lượng
分量; C: fēnliàng; J: bunryō;|Có hai nghĩa: 1. Số lượng, mức độ, phạm vi; 2. Trọng lượng.
Phân minh
分明; C: fēnmíng; J: bunmyō;|Thấy một cách rõ ràng. Rõ ràng (s: vyakta, vispasta).
Phân minh 分明
[ja] ブンミョウ bunmyō ||| (1) To see clearly. Clear (vyakta, vispasta). => Thấy một cách rõ ràng. Rõ ràng (s: vyakta, vispasta).
phân nghĩa
Jalpa (S)Một trong Thập lục đế của phái Chánh lý ở Ấn.
Phân phương
(芬芳): có hai nghĩa. (1) Mùi hương, hương khí. Như trong Tuân Tử (荀子), phần Vinh Nhục (榮辱), có câu: “Khẩu biện toan hàm cam khổ, tỷ biện phân phương tinh tao (口辨酸鹹甘苦、鼻辨芬芳腥臊, miệng biết chua mặn cay đắng, mũi biết thơm tho tanh hôi).” Hay trong bài thơ Trùng Vân Lý Quán Tật Tặng Chi (重雲李觀疾贈之) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) nhà Đường cũng có câu: “Cùng đông bách thảo tử, u quế nãi phân phương (窮冬百草死、幽桂乃芬芳, cuối đông trăm cỏ chết, quế rậm vẫn ngát hương).” Hoặc trong Phật Thuyết Kim Diệu Đồng Tử Kinh (佛說金耀童子經, Taishō Vol. 14, No. 546) lại có đoạn: “Ư kỳ đình trung hốt sanh liên hoa, mãn thất thiên hương hằng thời phân phương, nhất thiết chúng sanh phổ giai ái nhạo (於其庭中忽生蓮華、滿室天香恆時芬芳、一切眾生普皆愛樂, ở trong sân vườn chợt sanh hoa sen, đầy nhà hương trời luôn luôn thơm ngát, hết thảy chúng sanh thảy đều vui thích).” (2) Tỷ dụ cho thanh danh và đức hạnh tốt đẹp. Như trong bài thơ Thái Vĩnh Tường (蔡永祥) của Quách Mạt Nhược (郭沫若, 1892-1978) có câu: “Nhất thuấn Thái Sơn trọng, bách đại tụng phân phương (一瞬泰山重、百代頌芬芳, chớp mắt Thái Sơn nặng, muôn đời ngợi tiếng thơm).”
Phân thân
分身; C: fēnshēn; J: bunjin;|Có nghĩa là »phân chia thân«, là hoá thân của đức Phật để giáo hoá và cứu độ chúng sinh.
phân thân
Parturition; a Buddha's power to reproduce himself ad infinitum and anywhere.
; (分身) Hóa hiện ra nhiều thân để cứu độ chúng sinh.Vì lòng từ bi, chư Phật, Bồ tát dùng phương tiện quyền xảo, hóa hiện ra các loại thân đến các nơi để giáo hóa chúng sinh.[X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7].
phân thân nhiếp hoá
(分身攝化) Cũng gọi Phân thân khiển hóa. Nghĩa là chư Phật, Bồ tát biến hóa thành các loại thân để tùy theo căn cơ của chúng sinh mà hóa đạo. Vì muốn thu nhiếp những chúng sinh có duyên trong 10 phương, nên Phật khởi tâm đại từ bi, dùng phương tiện thị hiện ra các loại thân để giáo hóa, tế độ. [X. kinh Pháp hoa Q.4; kinh Quán Vô lượng thọ; Pháp sự tán Q.hạ].
phân thân xá lợi
(分身舍利) Cũng gọi Toái thân xá lợi. Đối lại: Tòan thân xá lợi. Phân chia di cốt sau khi hỏa thiêu (trà tì) để an táng ở các nơi, gọi là Phân thân xá lợi. Như xá lợi của đức Phật được chia ra 8 phần để an táng ở 8 nước; xá lợi của ngài A nan thì được an táng ở Tì xá li và Ma yết đà. [X. kinh Trường a hàm Q.4; Đại đường tây vực kí Q.7].
Phân thân 分身
[ja] ブンジン bunjin ||| Literally "dividing the body" referring to the transformation bodies of the Buddha 化身, with which he teaches and saves living beings. 〔法華經 T 262.9.62b22〕 => Có nghĩa là "phân thân", hóa thân của Đức Phật để giáo hóa và cứu độ chúng sinh.
phân thủ bản
(分手板) Cũng gọi Lập tăng bản, Phần châu bản. Chỉ cho chiếc giường kê ở phía tây nam trong Thiền đường. Đây là giường của chức vụ Phân thủ(người chịu trách nhiệm phân chia công việc cho chúng tăng trong Thiền lâm) thuộc Hậu đường thủ tọa, vì thế nên gọi là Phân thủ bản.
phân toà
(分座) Chia nửa tòa ngồi. Ý nói chia nửa tòa của mình để mời người khác cùng ngồi, biểu thị nghĩa người được mời có địa vị ngang hàng với mình. Theo kinh Tạp a hàm quyển 41 thì có lần đức Thế tôn đã chia nửa tòa cho ngài Đại ca diếp. Phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa quyển 4 cũng nói rằng đức Đa bảo Như lai chia nửa tòa ngồi cho đức Phật Thích ca. Trong Thiền lâm, vị Thủ tọa thay Trụ trì để tiếp hóa, lên tòa nói pháp, gọi là Phân tòa thuyết pháp. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4]. (xt. Bán Tòa).
phân tách
Analyst.
Phân tích quán
分析觀; C: fēnxī guān; J: bunshakukan;|Pháp quán sát bằng phân tích.
Phân tích quán 分析觀
[ja] ブンシャクカン bunshakukan ||| Analytical observation. => Pháp quán sát bằng phân tích.
Phân tích thân phần
P: dhātu-vavatthāna;|Một trong 40 phép tu tập được trình bày trong Thanh tịnh đạo (p: visuddhi-magga) của Ðại sư Phật Âm (s: buddhaghoṣa). Theo phương pháp này, hành giả trong tâm phân thân ra những phần tử và nhận thức được rằng, thân thể chẳng qua là sự tổng hợp của Tứ đại chủng, đó là Ðịa, Thuỷ, Hoả, Phong. Từ đó kiến chấp Ngã bị tiêu diệt.|Ẩn dụ sau đây được ghi lại trong Thanh tịnh đạo (XI, 2) để mô tả cách tu tập này: |»Ngoài ra, ồ chư tăng, một tỉ-khâu quán chính cái thân thể này trong mọi tư thế và phân nó ra theo từng bộ phận: ›Ở thân phần này ta tìm thấy yếu tố đất, yếu tố nước, yếu tố lửa, yếu tố gió.‹ Giống như một đồ tể hoặc người phụ tá của ông – sau khi ông ta mổ một con bò và phân nó ra thành nhiều phần rồi ngồi đợi (bán) ở ngã tư đường, cũng như vậy, ồ chư tăng, một tỉ-khâu phân chia chính cái thân thể này trong bất cứ tư thế nào ra thành tứ đại chủng… Người đồ tể – kẻ đã nuôi con bò lớn, dẫn đến nơi làm thịt, trói lại, để đấy rồi làm thịt – ông ấy không bao giờ thoát khỏi ý nghĩ ›Bò‹ nếu ông ta chưa mổ và phân nó ra thành từng miếng. Nhưng khi ông ta đã phân nó ra thành từng miếng và ngồi đó thì ông ta không còn mang theo ý nghĩ ›Bò‹, và thay vào đó là ý nghĩ ›Thịt‹. Ông ta không mang những ý nghĩ như ›Tôi bán một con bò‹ hoặc ›Người ta mua một con bò.‹ Cũng như thế, thâm tâm của một tỉ-khâu – khi vị này còn là một Phàm phu, có nhà hoặc không nhà – không thoát khỏi ý nghĩ ›Tự ngã‹ hoặc ›Một người nam‹ hoặc ›Cá nhân‹, cho đến khi vị này phân ngay chính cái thân này trong bất cứ tư thế nào ra thành từng phần và quán từng yếu tố. Nhưng khi vị này đã phân cái thân này ra thành từng phần và yếu tố thì sẽ thoát khỏi ý nghĩ ›Tự ngã‹, tâm của vị này sẽ dần dần vững chắc trong lúc quán các yếu tố.«
phân tích thân phần
Dhātu-vavatthāna (P).
Phân tướng môn
分相門; C: fēn xiāng mén; J: funsōmon;|Nhất thừa là tuyệt đối, là độc lập. »Phương diện riêng biệt« của Nhất thừa.
phân tướng môn
The doctrine which differentiates the three vehicles from the one vehicle.
Phân tế
分際; C: fēnjì; J: bunzai;|Có ba nghĩa: 1. Sự phân biệt; 2. Sự giới hạn, cực độ; 3.Trạng thái, chi tiết.
Phân tề
分齊; C: fēnqí; J: bunzai;|Có các nghĩa sau: 1. Sự khác nhau, sự phân biệt; 2. Mức độ, giới hạn, phạm vi, lĩnh vực (s: pariccheda, pravibhāga); 3. Trạng thái, tình trạng sự việc, điều kiện; 4. Ranh giới giữa 2 làng.
phân tề
(分齊) Chỉ cho giới hạn, sự sai khác. Cũng chỉ cho nội dung, phạm vi, trình độ có chỗ sai khác, hoặc chỉ địa vị, thân phận có trình độ sai khác. Từ ngữ này thường được các bộ luận của Phật giáo sử dụng thay cho từ ngữ phân biệt hoặc giới biệt để nhấn mạnh sự khu biệt, sai khác về mặt trình độ có tính chất đặc biệt. Người đời sau thường dùng từ Phân tề lẫn lộn với từ Phân tế.
phân vệ
Pindàpata (S). Food given as alms.
phân vị
(分位) Chỉ cho thời phần và địa vị của mỗi sự vật.Từ ngữ này được sử dụng để hiển bày các pháp giả lập, như sóng là do nước khởi động mà có, cho nên sóng là phần vị giả lập của nước, lìa nước thì sóng không có pháp thật. Hai mươi bốn pháp Bất tương ứng hành trong 100 pháp của Duy thức là phần vị giả lập của sắc, tâm và tâm sở, vì thế chúng không có thể tính riêng biệt. [X. luận Thuận chính lí Q.27].
Phân đoạn
分段; C: fēnduàn; J: bundan;|Có hai nghĩa: 1. Sự phân chia, sự phân biệt (s: pariccheda); 2. Những khía cạnh khác nhau của một lí thuyết đơn độc.
Phân đoạn sinh tử
分段生死; C: fēnduàn shēngsǐ; J: bundan-shōji;|Có hai nghĩa: 1. Việc sống chết mà hàng phàm phu phải trôi lăn trong cõi giới vô minh nầy. Sự luân hồi trong một thân xác và cuộc sống tiên định; 2. Phần đoạn sinh tử. Dạng sinh tử luân hồi của hàng phàm phu, khác với Biến dị sinh tử (變易生死), dạng luân hồi mà hàng Bồ Tát trải qua.
phân đoạn tam đạo
(分段三道) Chỉ cho 3 đường mê muội: Hoặc, Nghiệp và Khổ. Phần đoạn nghĩa là phân biệt, đặc biệt chỉ cho tướng sai khác của quả báo hiển hiện ra bên ngoài, như hình dáng, tuổi thọ... Vì quả báo trong 3 đường Hoặc, Nghiệp và Khổ khác nhau, nên có tướng sai biệt về hình dáng, cho nên gọi 3 đường ấy là Phần đoạn tam đạo. Đại khái, ý nói trong 3 đường mỗi đường đều có sự khác nhau về mặt quả báo. Tông Thiên thai căn cứ vào nghĩa xoay vòng của 3 đường này mà nói về sự sai khác của Tam đạo, tức gọi Kiến, Tư hoặc là Phiền não đạo, gọi phiền não nhuận nghiệp là Nghiệp đạo và gọi sự chiêu cảm sinh tử trong 3 cõi là Khổ đạo. (xt. Tam Đạo).
Phân đoạn 分段
[ja] ブンダン bundan ||| (1) Division, discrimination (pariccheda). (2) Different aspects of a single theory. => Có hai nghĩa: 1. Sự phân chia, sự phân biệt (s: pariccheda). 2. Những khía cạnh khác nhau của một lý thuyết đơn độc.
phân đà lị
Pundarika (S). Lotus flower.
phân đà lợi hoa
(芬陀利華) Phạm, Pàli: Puịđarìka. Cũng gọi Bôn đồ lợi ca hoa, Phân đồ lợi hoa, Phân đà lợi hoa. Hán dịch: Bạch liên hoa. Hoa sen trắng, 1 trong 5 loại hoa sen. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 15, loại hoa này có hình dáng giống hoa súng, cọng nó dài hơn 1 thước (Tàu), màu hoa trắng như tuyết, lấp lánh như bạc, hương rất thơm, phần nhiều mọc ở hồ A nậu đạt, nhân gian hiếm thấy. Hoa này mọc ở trong bùn nhưng không bị mùi bùn làm ô nhiễm, cho nên trong các kinh luận, hoa này thường được dùng để ví dụ Phật tính, pháp tính, tuy ở trong phiền não mà không bị phiền não làm cho nhơ nhớp. Ngoài ra, theo Diệu pháp liên hoa kinh hậu tự thì hoa Phân đà lợi khi chưa nở, được gọi là Khuất đa la, khi sắp tàn, gọi là Ca ma la, khi đang nở thì gọi là Phân đà lợi. (xt. Liên Hoa).
Phân, Phần 分
[ja] フン、ブン fun, bun ||| (1) To divide, to cut up, to distribute. (2) To be divided. (3) To discriminate, distinguish. (4) An allotment. One's allotment in life, in terms of basic character or disposition. [Buddhism] (1) A minutely small part (kala). (2) A branch, section or limb (anga). One branch of the three-part method of Buddhist logic [hetu-vidyā; 因明]. (3) One of the twelve limbs of dependent origination. (4) A part (ava-yāna). (5) Partially. (6) In Huayan discourse, an aspect. (7) Determination, decision. => Có các nghĩa sau: 1.Chia, cắt ra, phân ra. 2. Bị chia cắt. 3. Phân biệt . 4. Phần việc. Phần việc của một người trong đời sống. theo ý nghĩa cá tính hoặc thiên hướng. [Phật học ] 1. Khoảnh khắc thời gian nhỏ (thời phần; s: kala) 2. Một nhánh, một chi phần(s: anga ). Một phần trong Tam đoạn luận Phật giáo [Nhân minh luận; s: hetu-vidyā; 因明] 3. Một trong Mười hai nhân duyên. 4.Một phần (s: ava-yāna). 5. Cục bộ, thiên vị. 6. Một phương diện, theo trong Kinh Hoa Nghiêm. 7. Sự phân định, sự phán quyết.
Phân, phần, phận
分; C: fēn; J: fun, bun;|Có các nghĩa sau: 1.Chia, cắt ra, phân ra; 2. Bị chia cắt; 3. Phân biệt; 4. Phần việc. Phần việc của một người trong đời sống. theo ý nghĩa cá tính hoặc thiên hướng.|Ý nghĩa trong Phật học: 1. Khoảnh khắc thời gian nhỏ (thời phần; s: kala); 2. Một nhánh, một chi phần (s: anga). Một phần trong Tam đoạn luận Phật giáo (Nhân minh luận; s: hetu-vidyā; 因明); 3. Một trong Mười hai nhân duyên; 4. Một phần (s: ava-yāna); 5. Cục bộ, thiên vị; 6. Một phương diện theo kinh Hoa Nghiêm; 7. Sự phân định, sự phán quyết.
phân-đà-lỵ
xem bốn loại hoa sen
phép
Authorization—Permission—Permit.
phép lạ
See Phép mầu.
phép lịch sự
Civility—Courtesy.
phép mầu
Miracle—Mysterious power.
phép rửa tội
Externalists believe that the Sacrament of Baptism or Christianity case wash away all their sins.
phép tam ma địa
Xem đại định.
phét
To boast—To brag about oneself.
phê bình
To criticize constructively—To comment.
phê bình phản tỉnh
Critical reflection.
phê bằng thức
(批憑式) Một loại văn thư xin chính quyền gia hạn.Phê là phê chuẩn; bằng là bằng chứng. Khi vị tăng muốn rời chùa để đi hành hương, tham lễ nơi khác, phải có giấy chứng nhận của chính quyền, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm và thời hạn rời khỏi chùa. Nhưng nếu vì một lí do bất ngờ nào đó, như mưa bão hoặc bị bệnh chưa đi được, thì đương sự phải làm một văn thư xin gia hạn rời khỏi chùa, văn thứ ấy gọi là Phê bằng thức. [X. điều Quải đáp trong Thiền uyển thanh qui Q.1].
phê chuẩn
To ratify—To conffirm—To approve.
phê duyệt
See Phê chuẩn.
phê na
Một loại sáo Ấn Độ—An Indian lute.
phê án
An order of a court.
phì
Mập phì—Fat.
phì cười
To burst out laughing.
phì giả da
Vajradhatri (skt)—Nữ lực của Đức Tỳ Lô Giá Na—The wife or female energy of Vairocana.
; (肥者耶) Phạm: Vijayà. Cũng gọi: Tì xã da, Vi thệ da, Vi nhạ dã. Hán dịch: Vô thắng. Vị Thiên nữ ngồi ở phía bên phải của Đồng mẫu lô, phía trên Nhã da, trong viện Văn thù trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, làquyến thuộc của bồ tát Văn thù, là 1trong 4 chị em Thiên nữ. Mật hiệu Kim cương, chủng tử là (vi) hoặc (ka), hình Tam muội da là cây gậy. Hình tượng vị tôn này mình màu da người, cánh tay phải co lại cầm chày 1 chẽ, tay trái co lại, ngửa bàn tay để ở eo. Vị tôn này có xuất xứ từ Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 1, hoặc do các vị A xà lê đời sau căn cứ vào đoạn nói về 4 chị em thiên nữ trong kinh Lí thú mà thêm vào. Bốn chị em Thiên nữ gồm: Nhã da (Phạm: Jayà), Phì giả da, A nhĩ đa (Phạm: Ajità) và A ba la nhĩ đa (Phạm: Aparàjità). Theo kinh Đại nhật quyển 1 thì Nhã da và Phì giả da là vợ của Nhật thiên. Theo kinh Đà la ni tập quyển 1 thì 4 chị em Thiên nữ là quyến thuộc của trời Đại tự tại. Theo Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ quyển 4 thì 4 chị em Thiên nữ này là quyến thuộc của bồ tát Văn thù,thườngđi khắp cõi đất để cứu độ chúng sinh. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật Q.5; Lí thú thích Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.5; Thanh long tự nghi quĩ Q.hạ].
phì nị
Một loại cỏ làm tăng dinh dưỡng của sữa bò—A grass or herb said to enrich the milk of cattle.
; (肥膩) I. Phì Nị. Phạm: Piịđì, hoặc Pinodhni. Tên 1 loài cỏ mọc trên núi Tuyết (Hi mã lạp sơn) ở Ấn độ. Tương truyền, nếu bò ăn được loại cỏ này thì sữa của nó thành vị đề hồ. Vì sữa bò được biến chế qua các giai đoạn: Lạc, sinh tô, thục tô rồi đến vị ngon nhất gọi là Đề hồ. Nhà Phật dùng vị đề hồ để ví dụ cho Niết bàn, Phật tính, giáo nghĩa chân thực…... Cứ theo phẩm Như lai tính trong kinh Niết bàn quyển 8 (bản Bắc) thì bò ăn cỏ Phì nị sữa của nó sẽ cho vị đề hồ, ví dụ chúng sinh nhờ giác ngộ tính Phật mà được quả vị Phật. II. Phì Nị. Chỉ cho cuộc sống vật chất rất đầy đủ, dồi dào. Luận Đại tì bà sa quyển 123 (Đại 27, 645 trung) nói: Lúc bấy giờ, người Cận sự nữ nghĩ rằng: Thực phẩm mà Tôn giả dùng rất dồi dào, béo bổ (phì nị) nếu uống nước lạnh có thể bị bệnh.
phí
1) Lãng phí: To waste. 2) Phí tổn: Expense—To spend.
phí công
To waste one's efforts.
phí của
To waste money.
phí lực
To waste one's energy.
phí phạm
See Phí.
phí thỉ địa ngục
(沸屎地獄) Địa ngục phân sôi, tức chỉ cho địa ngục dùng nước phân sôi để trừng trị tội nhân. Tỉ khưu, tỉ khưu ni... làm ô nhiễm giới hạnh, làm bẩn thức ăn uống của cha mẹ mình, làm dơ dáy thức ăn uống của chúng tăng, hoặc những chúng sinh phá 8 trai giới, 4 bộ đệ tử đem thân ô uế ngồi lên giường của chư tăng thanh tịnh, phạm tội Thâu lan giá đã lâu mà không chịu sám hối, mặc bừa ca sa tham dự pháp hội, tiêu hao vật thực của tăng... đều phải đọa vào địa ngục Phí thỉ. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 5, địa ngục này có lưới sắt chắn ngang bên trên, rộng 8 vạn do tuần, có 18 thành sắt, mỗi thành sắt có 18 ngăn, mỗi ngăn đều có vách sắt bao quanh, trong đó có trăm nghìn vạn ức cây gươm và vô số trùng sắt, mỗi con trùng sắt có trăm nghìn đầu, mỗi đầu có trăm nghìn con giun, miệng nhả ra phân nóng sôi như nước đồng sôi chảy tràn lan khắp trong thành sắt. Những tội nhân vừa chết, tức thì như gió thổi rơi vào trong phân sôi, bị những con trùng sắt rúc rỉa xương tủy, đau đớn vô cùng. Lúc đói khát thì uống nước phân sôi, chịu các nỗi khổ như thế, chỉ trong khoảng 1 ngày đêm mà như trải qua 90 kiếp sống chết. Vì cứ mỗi lần tội nhân chết đi thì lập tức 1 cơn gió nóng thổi đến làm cho sống lại để tiếp tục chịu các cực hình cho đến khi hết nghiệp mới sinh nơi khác. Nếu được sinh làm người thì sinh vào nhà nghèo hèn và chịu các tai nạn như gặp vua quan độc ác, đói rét, lở loét khắp mình... (xt. Thập Lục Tiểu Địa Ngục).
phí trường phòng
(費長房) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Tùy, người Thành đô. Sư học rộng, giỏi văn chương, thông hiểu cả Nho, Phật, Bách gia...Vào thời Bắc Chu, Vũ đế (543-578) phá hủy Phật giáo, sư bị cưỡng bức hoàn tục, tìm nơi ở ẩn. Khi nhà Tùy nổi lên, phục hưng Phật giáo, thiết lập đạo tràng dịch kinh, sư vâng sắc chỉ giữ chức Bút thụ trong dịch trường. Những kinh do sư ghi chép gồm có: Kinh Đại phương đẳng đại tập nhật tạng, do ngài Na liên đề lê da xá dịch, kinh Lực trang nghiêm tam muội; kinh Phật bản hành tập, do ngài Xà na quật đa dịch, kinh Thiện tư đồng tử, kinh Di thức, kinh Quán sát chư pháp hành, kinh Thương chủ thiên chủ sở vấn... Sư nhận thấy mục lục các kinh qua các đời bị tản mạn, thất lạc, năm tháng thì lộn xộn, thiếu sót, nên sư soạn bộ Lịch đại tam bảo kỉ 15 quyển là tư liệu tham khảo quan trọng cho các bộ mục lục kinh điển ở đời Đường. Nhưng trong bộ sách này có nhiều tài liệu được dẫn dụng lầm lẫn, như chuẩn tắc biên soạn Nhập tạng lục, Đại tiểu thừa kinh lục rất thiên vị và sai lạc, bị các bộ Mục lục kinh đời sau phê bình. Hơn nữa, trong sách này, tác giả đã đem quá nửa các kinh điển mà các bộ Kinh lục trước đó, như Xuất tam tạng kí tập, đã xếp vàoloại các kinh điển mất tên người dịch, gán cho các nhà dịch kinh nổi tiếng đời trước, điều này đặc biệt bị các nhà học giả cận đại công kích.Bộ Lịch đại tam bảo kỉ nàyhiệnđược thu vào Đại chính tạng tập 49. [X.truyện Đạt ma cấp đa trong Tục cao tăng truyện Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Khai nguyên thích giáo lục Q.7; Phật thư giải thuyết đại từ điển Phật điển tổng luận đệ nhị bộ đệ nhị chương (Tiểu dã Huyền diệu)]. (xt. Thất Dịch Kinh Điển, Lịch Đại Tam Bảo Kỉ).
phí ẩn thiền sư ngữ lục
(費隱禪師語錄) Ngữ lục, 14 quyển (hoặc 16 quyển), do ngài Phí ẩn Thông dung (1593-1661) thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Minh, các vị Ẩn nguyên Long kì... biên tập, được ấn hành vào năm Sùng trinh 16 (1643). Nội dung bao gồm: Thướng đường, Tiểu tham, Nhập thất, Pháp ngữ, Kệ, Thư vấn, Vấn đáp cơ duyên, Niêm cổ, Tụng cổ,Phán cổ,Tán, Tạp trứ, Tiểu Phật sự... Cuối quyển có thêm Kỉ niên lục.
Phí Ẩn Thông Dung
(費隱通容, Hiin Tsūyō, 1593-1661): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Phí Ẩn (費隱), sinh ngày mồng 8 tháng 12 năm thứ 21 niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), xuất thân Huyện Phúc Thanh (福清縣), Mân (閩, Tỉnh Phúc Kiến), họ Hà (何). Năm lên 7 tuổi, ông đã chịu tang cha, đến năm 12 tuổi thì để tang mẹ. Năm 14 tuổi, ông xuất gia tu học với Huệ Sơn (慧山) ở Tam Bảo Tự (三寳寺), sau đó đến tham yết một số cao tăng như Trạm Nhiên Viên Trừng (湛然圓澄), Vô Minh Huệ Kinh (無明慧經) và Vô Dị Nguyên Lai (無異元來). Vào năm thứ 2 (1622) niên hiệu Thiên Khải (天啓), trên đường dự định đi từ Giang Tây (江西) đến Thiên Thai (天台), giữa đường dừng chân tại Hống Sơn (吼山), tham yết Mật Vân Viên Ngộ (密雲圓悟), cơ duyên khế ngộ và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Đến năm thứ 5 (1632) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông vào Dục Vương Sơn (育王山), và sau đó chuyển đến sống một số nơi như Hoàng Bá Sơn Vạn Phước Thiền Tự (黃檗山萬福禪寺) ở Huyện Phúc Thanh, Liên Phong Viện (蓮峰院) ở Phủ Kiến Ninh (建寧府, Tỉnh Phúc Kiến), Thiên Ninh Tự (天寧寺) ở Hải Diêm (海塩, Tỉnh Triết Giang), Siêu Quả Tự (超果寺) ở Phủ Tùng Giang (松江府, Tỉnh Giang Tô), Phước Nghiêm Thiền Tự (福嚴禪寺) ở Huyện Sùng Đức (崇德縣, Tỉnh Triết Giang), Kính Sơn Hưng Thánh Vạn Thọ Thiền Tự (徑山興聖萬壽寺) ở Phủ Hàng Châu (杭州府, Tỉnh Triết Giang), Duy Ma Tự (維摩寺), và Nghiêu Phong Sơn Hưng Phước Viện (堯峰山興福院), v.v. Vào ngày 29 tháng 3 năm thứ 18 niên hiệu Thuận Trị (順治), ông thị tịch, hưởng thọ 69 tuổi đời và 56 hạ lạp. Ông soạn các bộ Ngũ Đăng Nghiêm Thống (五燈嚴統) 25 quyển, Ngũ Đăng Nghiêm Thống Giải Hoặc Biên (五燈嚴統解惑編) 1 quyển, Tổ Đình Kiềm Chùy Lục (祖庭鉗鎚錄) 2 quyển, Bát Nhã Tâm Kinh Trác Luân Giải (般若心經斲輪解), Ngư Tiều Tập (漁樵集). Môn nhân Hoàng Bá Ẩn Nguyên (黃檗隱元) biên tập bộ Phí Ẩn Thiền Sư Ngữ Lục (費隱禪師語錄) 14 quyển, Cư Sĩ Vương Cốc (王谷) soạn bản Phước Nghiêm Phí Ẩn Dung Thiền Sư Kỷ Niên Lục (福嚴費隱容禪師紀年錄), Thủy Giám Huệ Hải (水鑑慧海) soạn cuốn Phí Ẩn Dung Hòa Thượng Hành Trạng (費隱容和尚行狀).
phía
Side—Direction.
phích
1) Lánh xa: To avoid. 2) Ngôi vua: Throne. 3) Quốc vương: Lord—King. 4) Vương quốc: Sovereign.
phích chi ca
Pratyeka (skt)—Một mình—Each one—Individual—Oneself only.
phích chi ca phật đà
See Chi Phật.
phích chi phật thừa
See Bích Chi Phật Thừa.
phích lôi
To rend as thunder—To thunder.
phích lịch hỏa
Lửa sấm sét—A thunder fire.
phích quỷ
Diệt quỷ—To suppress demons.
phích trừ
Loại bỏ—To get rid of—To suppress.
phò tá
To support—To help.
phòng
1) Phòng ốc: Room—Ward—House. 2) Phòng ốc của chư Tăng Ni trong tự viện: The rooms for monks and nuns in a monastery or nunnery. 3) Đề phòng: To prevent—To ward off—To protect—To beware—To counter.
phòng dung
(房融) Danh sĩ Trung quốc, sống vào đời Đường, người Lạc dương. Ông là người học rộng nghe nhiều, có học vị Tiến sĩ, làm quan đến chức Chính gián đại phu đồng phượng các loan đài bình chương sự. Đời vua Trung tông, ông mắc lỗi và bị đày đi Cao châu (Mậu danh, Quảng đông), sau ông qua đời tại đó. Tương truyền, trên đường lưu đày, khi tới Quảng châu, tình cờ ông gặp sa môn Bát lạt mật đế, người Thiên trúc, đang dịch kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm, ông liền làm bút thụ. [X. Đường thi kỉ sự Q.13; Toàn đường thi Q.4].
phòng hộ luật nghi
(防護律儀) Phòng vệ, giữ gìn các luật nghi. Tức sau khi thụ giới, thuậntheo giới thể mà thụ trì giới tướng. Về sau, nhờ vào sức tăng thượng của 5 căn(tín, tiến, niệm, định, tuệ), xa lìa tâm sởTư ác và chủng tử cùng hiện hành nên không tạo tội. Theo luận Đại tì bà sa quyển 123 thì giới không uống rượu có khả năng phòng vệ được các luật nghi khác, cũng như hào lũy thành quách có thể phòng ngự kẻ địch xâm phạm. Luận Du già sư địa quyển 53 (Đại 30, 590 trung) nói: Chính lúc nhiếp thụ giới viễn li, gọi là Nhiếp thụ luật nghi. Từ đó về sau, tâm sở Tư viễn li này, nhờ sức tăng thượng của 5 căn nhiếp thụ mà thường xuyên sinh khởi chung với chủng tử và hiện hành; tức là tâm sở Tư thiện được 5 căn nhiếp thụ, như luật nghi đã thụ trước, phòng hộ mà chuyển. Nhờ tâm sở Tư này mà dù có gần gũi bạn xấu, hoặc muốn làm ác, liền xấu hổ ngay và xa lìa tức khắc, không để mình tái phạm những giới luật đã thụ. Như thế gọi là Phòng hộ luật nghi. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.10]. (xt. Giới).
phòng la
Cai ngục hay tuần tra nơi địa ngục—Warders or patrols in Hades.
; (防羅) Cũng gọi Phỏng la. Chỉ cho việc đi tuần tra trong địa ngục. Luận Thuận chính lí quyển 54 (Đại 29, 643 hạ) nói: Tham dục, sân khuể giống như cai ngục, (...) ba món thân kiến, biên kiến... như kẻ tuần tra(phòng la). [X. luận Câu xá Q.21; Huyền ứng âm nghĩa Q.18].
phòng na
Vana (skt)—May hay dệt—Weaving or sewing.
phòng nan
Giải quyết những khó khăn—To counter or solve difficulties, especially difficult questions.
phòng ngừa
To ward off—To prevent.
phòng sơn
(房山) Cũng gọi Thạch kinh sơn. Núi ở huyện Phòng sơn, tỉnh Hà bắc, cách Bắc bình khoảng 40 cây số về mạn tây nam. Đây là nơi có Thạch kinh qui mô lớn nhất hiện còn ở Trung quốc. Vì sợ kinh Phật bị hủy diệt, thất truyền, nên sa môn Tĩnh uyển (có thuyết nói là Trí uyển) đời Tùy đã thệ nguyện khắc những quyển kinh trên những tấm bia đá, hoặc trên vách các hang động trong núi để bảo tồn lâu dài. Cho nên, vào niên hiệu Đại nghiệp năm đầu (605) đời Tùy, ngài Tĩnh uyển bắt đầu mở đục các hang động ở chân núi Phòng sơn, rồi khắc văn kinh trên 4 vách của các hang động. Bấy giờ, ngài Tĩnh uyển tạo lập 7 động: Hoa nghiêm, Niết bàn, Bát nhã, Bảo tích... Ngoài ra, còn 1 bộ phận Thạch kinh(bằng những tấm bia đá) được chôn ở dưới tháp Áp kinh tại chùa Vân cư dưới núi. Về sau, trải qua các triều đại Đường, Ngũ đại, Liêu... Thạch kinh vẫn tiếp tục được khắc tạo, mãi đến năm Đại an thứ 10 (1094) đời Liêu là 480 năm, sự nghiệp khắc kinh đá mới hoàn thành. Hiện nay còn 9 động. Theo thống kê, bây giờ ở núi Phòng sơn còn tất cả hơn 4.000 bản kinh đá, khắc tới vài nghìn quyển kinh Phật, mỗi bản dài khoảng 2m và rộng 18cm. Còn số kinh ở dưới tháp Áp kinh thì có 7, 8 nghìn bản, nhưng kích thước đều nhỏ hơn.Thạch kinh đào được ở Phòng sơn không những chỉ được dùng để hiệu đính những chỗ sai sót trong các bản kinh Phật ấn loát mà còn trở thành tư liệu quí giá của lịch sửthư pháp và nghệ thuật. Ngoài ra, trên những tấm bia có ghi thêm về tổ chức và hành nghiệp của những người phụ trách khắc kinh cũng là sử liệu quan trọng để nghiên cứu về nên kinh tế của Trung quốc cổ đại. (xt. Thạch Kinh Sơn Tàng Kinh).
phòng thân
To defend oneself.
phòng túc
Kapphina (skt)—See Kiếp Tân Na.
Phòng Túc 房宿
[ja] ボウシュク bōshuku ||| Kapphiṇa, one of the direct disciples of Śākyamuni; see 劫賓那. => (s: Kapphiṇa), một trong các đệ tử lớn của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni . Xem Kiếp-tân-na劫賓那.
phòng xa
To anticipate—To foresee.
phòng xá kiền độ
(房舍犍度) Pàli: Senàsana-khandaka. Cũng gọi Ngọa cụ pháp. Chương nói về sự tạo lập phòng xá, ngọa cụ của Tăng đoàn và các qui định về mặt trang thiết bị cho phòng xá... là chương thứ 19 trong luật Tứ phần.
phòng đọc kinh
Khán Kinh Đường—Sutra Reading Hall.
phó
1) Chức phụ tá: Vice—Deputy—Second. 2) Giao phó: To hand over—To hand down—To deliver. 3) Phụ: To aid—To assist.
Phó chúc
付囑; C: fùzhǔ; J: fuzoku;|Có các nghĩa sau: 1.Nhắm đến một người nào đó, và có sự thỉnh cầu ở họ điều gì; 2. Giao phó, đề nghị, giao cho (nhiệm vụ, trách nhiệm). Trong đạo Phật thì Phó chúc có nghĩa là sự giao phó trọng trách truyền bá giáo pháp của đức Phật (cho đệ tử).
phó chúc
Phó thác hay giao phó (đem vật trao gọi là phó, đem việc trao gọi là chúc): 1) Phó: To deliver (things). 2) Chúc: To entrust to (work).
; (付屬) Cũng gọi Phụ chúc, Chúc lụy. Phó là cấp cho, trao cho; Chúc là gửi gắm, phó thác, dặn dò lại. Từ ngữ này phần nhiều biểu thị ý nghĩa đức Phật phó thác việc hoằng truyền giáo pháp. Chẳng hạn như kinh Vô lượng thọ quyển hạ nói, đức Thế tôn phó chúc bồ tát Di lặc hoằng truyền bản nguyện niệm Phật(Di lặc phó chúc). Phẩm Như lai thần lực trong kinh Pháp hoa cũng ghi, đức Thế tôn phó chúc 5 chữ trọng yếu nhất là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh cho các Bản hóa bồ tát, đứng đầu là bồ tát Thượng hành. Do đó, tông Nhật liên của Nhật bản cho rằng sự phó chúc kinh Pháp hoa(đề mục) là yếu pháp đặc biệt đối với chúng sinh tối hạ đẳng trong thời đại mạt pháp, đặc biệt chọn các Bồ tát bản hóa để phó thác, vì thế gọi là Biệt phó chúc. Còn trong phẩm Chúc lụy kinh Pháp hoa, đức Phật trao phó kinh này cho tất cả các vị Bồ tát thì gọi là Tổng phó chúc. Lại nữa, trong phẩm Thần lực đức Phật Thích ca cùng ngồi với đức Phật Đa bảo trong tháp Đa bảo mà phó chúc, cho nên gọi là Tháp nội phó chúc; còn ở phẩm Chúc lụy thì khi Phật Thích ca ra khỏi tháp Đa bảo mới phó chúc, nên gọi là Tháp ngoại phó chúc. Ngoài ra, trao cho ca sa, bình bát..., hoặc phó thác đại pháp cũng gọi là Phó chúc. Trong Thiền tông, khi thầy truyền trao ý nghĩa sâu xa của Phật pháp cho đệ tử đều gọi là Phó chúc, bởi thế Thiền tông rất thường dùng từ ngữ này. [X. Lục tổ Pháp bảo đàn kinh; Lịch đại tam bảo kí].
phó chúc nhất niệm
(付屬一念) Nhất niệm, chỉ cho 1 niệm tu hành, tức là 1 tiếng xưng danh niệm Phật. Phó chúc nhất niệm nghĩa là dặn dò phó thác pháp môn xưng danh niệm Phật. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ thì đức Thế tôn Thích ca từng ân cần phó chúc danh hiệu Di đà cho bồ tát Di lặc. Ngài dạy bồ tát Di lặc rằng một niệm xưng danh có công đức lợi ích lớn lao vô thượng, nên phải mãi mãi lưu truyền pháp môn này.
Phó chúc 付囑
[ja] フゾク fuzoku ||| (1) To address another person, making a request of them. (2) To commit to, to submit to; to entrust with. [Buddhism] The entrustment of the buddhas with the transmission of the teaching. => Có các nghĩa sau: 1.Nhắm đến một người nào đó, và có sự thỉnh cầu ở họ điều gì. 2. Giao phó, đề nghị, giao cho (nhiệm vụ, trách nhiệm). [Phật học] Sự giao phó trọng trách truyền bá giáo pháp của Đức Phật (cho đệ tử).
phó cơ
Thuyết pháp theo căn cơ của chúng sanh (như hốt thuốc theo bệnh)—To go or to preach according to the need or opportunity.
; (赴機) Đồng nghĩa: Ứng bệnh dữdược(tùy theo chứngbệnh mà cho thuốc). Tùy theo căn cơ của chúng sinh mà nói pháp. Phiếu mạo trùm đầu Phiếu mạo quàng cổ Tông kính lục quyển 30 (Đại 48, 590 hạ) nói: Thế nào là ngồi đạo tràng? Đó là hiện 4 thứ thành Phật, tùy cơ(phó cơ)không sai khác.
phó hoả ngoại đạo
(赴火外道) Ngoại đạo nhảy vào lửa, 1 trong các ngoại đạo khổ hạnh ở Ấn độ đời xưa. Phái ngoại đạo này thường ngồi hơ lửa và xông khói vào mũi, nhẫn chịu sự nóng rát khổ não, hoặc nhảy vào lửa mà chết. Họ chấp mê rằng sự hành hạ thân thể như vậy là cái nhân để được quả báo sinh lên thiên đường! (xt. Khổ Hạnh Ngoại Đạo).
phó hấp
(傅翕) (497-569) Cũng gọi Thiện tuệ đại sĩ, Ngư hành đại sĩ, Phó đại sĩ, Song lâm đại sĩ, Đông dương đại sĩ, Ô thương cư sĩ. Cư sĩ Trung quốc, sống vào đời Lương thuộc Nam triều, người Ô thương, Đông dương (nay là Nghĩa ô, Chiết giang), tự Huyền phong, hiệu Thiện tuệ, cùng với ngài Bảo chí được tôn xưng là 2 vị Đại sĩ đời Lương. Khi chưa biết đạo, cư sĩ thường cùng với người trong làng đi bắt cá, mỗi khi được cá thì đựng vào cái lồng tre rồi dìm sâu xuống nước và nói: Con nào muốn đi thì đi, không muốn thì ở lại. Người đời cho cư sĩ là ngu. Năm 16 tuổi, cư sĩ cưới người con gái họ Lưu tên Diệu quang, sinh được 2 con là Phổ kiến và Phổ thành. Năm 24 tuổi, lúc đang lưới cá ở sông Nghi, cư sĩ gặp vị tăng Ấn độ Tung đầu đà (tên là Đạt ma), liền bỏ dụng cụ bắt cá, vào núi Tùng ở huyện Ô thương kết am dưới 2 cây đào, lấy hiệu là Song lâm thụ hạ đương lai giải thoát Thiện tuệ đại sĩ(Đại sĩ Thiện tuệ sau này sẽ được giải thoát dưới gốc hai cây đào), tự cho là từ cung trời Đâu suất đến thuyết pháp. Ban ngày cư sĩ làm việc, ban đêm hành đạo, khổ hạnh 7 năm, tự chứng được định Thủ lăng nghiêm. Cư sĩ thông suốt sách vở Nho giáo và Đạo giáo, học trò dần dần tụ tập, tất cả đều chí thành tinh tiến, không tiếc thân mệnh. Năm Đại thông thứ 6 (534) đời Lương, cư sĩ sai đệ tử là Phó vãng dâng thư lên vua Vũ đế hiến kế sách về 3 việc thiện thượng, trung, hạ. Tháng 12 nhuận, vua mời cư sĩ vào cung, giảng kinh ở điện Trùng vân, vua đích thân đến nghe. Lúc vua đến, mọi người đều đứng dậy, chỉ mình cư sĩ ngồi yên, các quan gạn hỏi, cư sĩ nói: Đất pháp nếu động thì tất cả đều bất an. Chuyện này về sau truyền thành giai thoại trong Thiền lâm. Tháng 4 niên hiệu Đại đồng năm đầu (535), cư sĩ trở lại núi Tùng. Năm Đại đồng thứ 5 (540), cư sĩ lại đến Chung sơn, bàn luận về chân đế với vua ở điện Thọ quang, làm kệ tụng trình vua. Năm Đại đồng thứ 6 (541, có thuyết nói năm thứ 5), cư sĩ xây điện Phật ở giữa khoảng 2 cây đào tại núi Tùng và tháp gạch 9 tầng, đồng thời viết hơn 1.000 quyển kinh và luật. Nơi này sau trở thành chùa Song lâm. Năm Đại đồng thứ 7 (542), cư sĩ tự tuyên bố mình là 1 trong 1.000 vị Phật kiếp Hiền. Năm Đại đồng thứ 10 (545), cư sĩ xả bỏ vườn ruộng, nhà cửa, mở hội Đại thí. Năm Thái thanh thứ 2 (549), cư sĩ muốn thiêu thân cúng dường Tam bảo, các đệ tử kiên quyết ngăn cản và có 19 người phát nguyện thiêu thân thay thế. Đồ chúng tại gia rất đông, cư sĩ giảng pháp không ngừng, thường hướng dẫn đồ chúng đốt ngón tay cúng Phật; từng thiết trai chuyển 21 biến kinh Pháp hoa, mở hội Vô già, đúc 10 pho tượng Bảo vương ở Cối kê. Để tiện cho việc đọc Đại tạng kinh, cư sĩ thiết lập Luân tạng khiến mọi người cùng xoay để đạt lợi ích lớn, cho nên đời sau làm Luân tạng đều để tượng 3 cha con cư sĩ. Ngoài ra, đối với pháp môn Nhất tâm tam quán của tông Thiên thai, cư sĩ có sự lãnh hội độc đáo, dùng Tam quán Tứ vận làm tâm yếu, đề xướng thuyết Tam quán nhất tâm tứ vận suy kiểm. Tháng 4 niên hiệu Thái kiến năm đầu (569) đời Trần, cư sĩ cho triệu tập đệ tử lại, răn dạy xong, cáo biệt và ngồi xếp bằng thị tịch, thọ 73 tuổi. Đệ tử an táng trên đỉnh núi Song lâm, hiệu Di Lặc Hạ Sinh. Cư sĩ có các tác phẩm: Tâm vương minh, Ngữ lục 4 quyển,Hoàn nguyên thi... [X. Thiện tuệ Đại sĩ ngữ lục; Tục cao tăng truyện Q.25; Cảnh đức truyền đăng Q.27, 30; Thần tăng truyện Q.4].
phó hỏa ngoại đạo
Một trong lục ngoại đạo khổ hạnh. Nhóm nầy nhẩy vào lửa để tự thiêu sống (cho rằng đây là nhân chứng đắc đạo quả)—Ascetics who burn themselves alive, one of the six kinds of heterodox setcs.
phó liêu
Vị phó trụ trì trong tự viện—Deputy in a monastery.
phó pháp
(付法) Cũng gọi Phụ pháp, Phó y, Truyền y, Truyền pháp. Chọn người trao truyền giáo pháp để giáo pháp được gìn giữ và tiếp nối mãi mãi. Theo thứ tự truyền trao giáo pháp cho người, gọi là Phó pháp tương thừa. Phật giáo không chấp nhận sự độc đoán của cá nhân, cho nên từ thời đức Thế tôn đến nay vẫn rất coi trọng việc tương thừa chính pháp. Các tông cũng đều có thuyết phó pháp tương thừa của mình, nhất là Thiền tông và Mật tông đặc biệt xem trọng. Lúc phó pháp, cần có biểu tượng làm tin, nên thường truyền trao áo và bát, do đó, còn gọi là Phó pháp truyền y. [X. Truyền pháp chính tông kí Q.1; Chính pháp nhãn tạng Q.13; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.2; Cảnh đức truyền đăng lục Q.3]. (xt.Truyền Pháp).
phó pháp bát tổ
(付法八祖) Đối lại: Truyền trì bát tổ. Chỉ cho 8 vị Tổ sư của tông Chân ngôn Nhật bản theo thứ tự đem giáo pháp trao phó cho nhau. Tám vị Tổ sư là: Đức Đại nhật Như lai, bồ tát Kim cương tát đỏa, tổ Long mãnh, Long trí, Kim cương trí, Bất không, Huệ quả và Không hải. (xt. Truyền Trì Bát Tổ).
phó pháp tạng
Sau khi Đức Phật nhập diệt, thì tôn giả Ma Ha Ca Diếp đã cùng với 24 vị trưởng lão khác kết tập pháp tạng—The work explaining the handing down of Sakyamuni's teaching by Mahakasyapa and the elders, twenty-four in number.
; (付法藏) Chỉ cho sự phó chúc, truyền trao tạng chính pháp của đức Phật. Sau khi đức Phật nhập diệt, để duy trì và truyền nốilí nghĩa sâu xa mà đức Phật đã chỉ dạy, nên tôn giả Ca diếp kết tập pháp tạng, sau khi thụ trì 20 năm, tôn giả Ca diếp phó chúc cho ngài A nan, ngài A nan lại phó chúc cho ngài Thương na hòa tu, cứ thế lần lượt đến tôn giả Sư tử... (xt. Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện).
phó pháp tạng nhân duyên truyện
(付法藏因緣傳) Cũng gọi Phó pháp tạng nhân duyên kinh, Phó pháp tạng truyện, Phó pháp tạng kinh, Phó pháp truyện. Sử truyện, 6 quyển, do các ngài Cát ca dạ và Đàm diệu cùng dịch vào đời Nguyên Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 50. Nội dung nói về sự tích phó pháp và thế hệ truyền thừa của 23 vị Tổ sư Ấn độ sau khi đức Phật nhập diệt, từ ngài Ca diếp, A nan... cho đến vị Tổ sư cuối cùng là tôn giả Sư tử. Tôn giả Sư tử bị vua nước Kế tân là Di la quật giết hại, sự phó pháp đến đây bị dứt hẳn. Xưa nay, tông Thiên thai và Thiền tông đều quí trọng bộ truyện này, coi đó là khuôn phép của sự phó pháp tương thừa. Trong 24 vị Tổ Ấn độ nói trong Ma ha chỉ quán của ngài Trí khải thì 23 vị là căn cứ vào sách này, rồi thêm ngài Ma điền đề vào thành 24 vị. Cảnh đức truyền đăng lục của ngài Đạo nguyên cũng theo sự truyền thừa của 23 vị Tổ trong sách này, rồi thêm vào 5 vị: Bà tu mật, Bà xá tư đa, Bất như mật đa, Bát nhã đa la và Bồ đề đạt ma mà trở thành 28 vị Tổ phó pháp Ấn độ của Thiền môn. Nhưng nội dung bộ truyện Phó pháp tạng nhân duyên này có nhiều chỗ giống với truyện A dục vương, có vẻ như đã không được phiên dịch từ bản tiếng Phạm mà là do khẩu truyền, hoặc tham chiếu truyện A dục vương mà soạn thành. Đại sư Minh giáo Khế tung đời Tống căn cứ vào thuyết trong Thiền kinh và Bảo lâm truyện, cho rằng sách này do ngài Đàm diệu ngụy tạo, rồi ngài Khế tung soạn Truyền pháp chính tông kí 9 quyển và Truyền pháp chính tông định tổ đồ 1 quyển, xác định lại 28 vị Tổ phó pháp Ấn độ, đồng thời, tuyên bố bộ truyện Phó pháp tạng nhân duyên đáng đem phó cho ngọn lửa! [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.5, 6, 13].
Phó pháp tạng nhân duyên truyện 付法藏因縁傳
[py] Fù făzàng yīnyuán zhuàn [wg] Fu fa-tsang yin-yüan chuan [ko] 부법장인연전 Pu pŏpchang inyŏn chŏn [ja] フホウゾウインエンデン Fuhouzouin'enden ||| Fu fazang yinyuan zhuan; T 2058.50.297a-322b
phó thỉnh
Đáp lại lời mời của thí chủ mà phó hội—To go in response to an invitation—To go to invite.
; (赴請) Cũng gọi Thụ thỉnh, Thụ trai. Nhận lời mời. Nghĩa là chư tăng nhận lời thỉnh của thí chủ mà lãnh thụ những thứ họ cúng dường, như trai phạn chẳng hạn.Thiên Phó thỉnh thiết tắc trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ, có nói về qui tắc phó thỉnh và nêu ra 10 pháp: Pháp nhận lời thỉnh, pháp đi đến nơi thỉnh, pháp đến nhà người thỉnh, pháp xếp đặt khách vào chỗ ngồi, pháp quán tịnh thực, pháp niệm hương chú nguyện, pháp lãnh nhận thức ăn, pháp ăn xong thu dọn, pháp nhận vật bố thí và pháp rời khỏi nhà người thỉnh. Trong đó, pháp nhận lời thỉnh được chia làm 2: Biệt thỉnh(mời riêng 1 vị nào đó trong chúng tăng) và Tăng thứ thỉnh(mời chúng tăng cùng đến). [X. Đại tống tăng sử lược Q.thượng; mục Phó thỉnh trong Thích thị yếu lãm Q.thượng; Thụ thỉnh bộ trong Chư kinh yếu tập Q.5].
phó tài
(付財) Giao phó tài sản cho. Nghĩa là trên hội Bát nhã, đức Phật gia bị cho ngài Tu bồ đề –vốn là Thanh văn Tiểu thừa– nói kinh Bát nhã cho hàng Bồ tát Đại thừa nghe, cũng như đem pháp tài Đại thừa giao phó cho Thanh văn Tiểu thừa, vì thế gọi là Phó tài. Từ ngữ phó tài lấy ý trong phẩm Tín giải kinh Pháp hoa, tức nhờ sự chuyển giáo của Thanh văn để nêu tỏ thâm ý của đức Phật là đem pháp tài Đại thừa giao phó cho hàng Thanh văn Tiểu thừa, cũng giống như vị Trưởng giả đem gia tài ủy thác cho đứa con nghèo cùng trong phẩm Tín giải vậy.[X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Chuyển Giáo Dung Thông).
phó tự
FŪsu (J).
phó y hoà thượng
(付衣和尚) Vị Hòa thượng Giới sư trao áo pháp Ca sa cho người nhận giới. Nếu vị Giới sư trao tọa cụ thì gọi là Phó cụ hòa thượng.
phó đa
Bhutah (skt)—Một phái khổ hạnh lúc nào cũng bôi tro đầy mình—A sect of asetics who smeared themselves with ashes.
phó đại sĩ
Fudaishi (J), Fu ta shih (C), Fudaishi (J).
phó đại sĩ giảng kinh
(傅大士講經) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này thuật lại việc vua Vũ đế nhà Lương thỉnh Phó đại sĩ (ngài Thiện tuệ Phó hấp) giảng kinh. Bích nham lục tắc 67 (Đại 48, 197 thượng) nói: Lương vũ đế thỉnh Phó đại sĩ giảng kinh Kim cương, Đại sĩ liền ngồi lên tòa vỗ bàn một cái rồi đi xuống. Vua Vũ đế ngạc nhiên. Ngài Chí công hỏi: Bệ hạ có hiểu không? Vua đáp: Không hiểu! Ngài Chí công nói: Đại sĩ giảng kinh xong rồi.
phó đại sĩ lục
(傅大士錄) Cũng gọi Thiện tuệ đại sĩ ngữ lục, Thiện tuệ đại sĩ lục, Đại sĩ lục. Ngữ lục, 4 quyển, do ngài Thiện tuệ Phó hấp (497-569) soạn thuật vào đời Lương thuộc Nam triều, được thu vào Vạn tục tạng tập 120. Nội dung sách này thu chép các yếu ngữ, hành trạng và thi ca của Thiện tuệ đại sĩ Phó hấp, đồng thời chép cả truyện kí của 1 số người đến hỏi đạo nơi Đại sĩ, do ông Lâu dĩnh biên tập vào đời Đường, nguyên có 8 quyển, nhưng văn rườm rà, lộn xộn, tiếng dùng quê mùa. Bởi thế, vào năm Thiệu hưng 13 (1143) đời Tống, quan An phủ sứ Đông lộ Lưỡng chiết là Lâu chiểu mới lược bỏ những chỗ dài dòng, lầm lẫn mà san định lại còn 4 quyển.
phó ứng tự
(赴應寺) Chỉ cho những ngôi chùa chuyên về việc cử hành các nghi thức đàn tràng theo Du già hiển mật để đáp ứng nhu cầu của thế tục.Ở Trung quốc, vào đời Nguyên, các chùa Phật giáo được chia làm 3 loại: Thiền tự, Giảng tự và Luật tự. Đến năm Hồng vũ 15 (1382) đời Minh, vua ban sắc đổi lại là: Thiền tự, Giảng tự và Giáo tự.Trong đó, Giáo tự tức là Phó ứng tự.
phóng
To let go, release, send out; put, place.
; 1) Thả: To let go—To release. 2) Phóng đi: To send out.
Phóng diệm khẩu
放焰口; C: fàngyànkǒu; nghĩa là »Phóng thả những miệng đang cháy«;|Một nghi lễ dành cho người đã chết. Diệm khẩu là một loại Ngạ quỷ. Buổi lễ này – vốn bắt nguồn từ hệ thống Tan-tra của Mật tông – được thực hành với mục đích giải thoát những con quỷ đói ra khỏi những cảnh khổ đau của địa ngục và tạo điều kiện cho chúng tái sinh trở thành người hoặc bước vào những Tịnh độ. Lễ này rất được ưa chuộng và phổ biến, được các thân quyến của những người chết tổ chức thực hiện và cũng có khi được thực hiện chung với lễ Vu-lan-bồn (s: ullambana). Ngày nay, buổi lễ này không thuộc vào một trường phái nhất định nào của Phật giáo.|Lễ Phóng diệm khẩu kéo dài khoảng 5 tiếng và được thực hiện vào buổi tối bởi vì trong thời gian này, quỷ đói dễ di chuyển kiếm ăn hơn. Các vị tăng thực hiện nghi lễ này đều mang mũ đỏ hoặc vàng dưới dạng một vương miện, sử dụng những khí cụ thuộc Mật giáo như chuông, Kim cương chử (s: vajra) và kêu gọi Tam bảo hỗ trợ. Sau đó, các vị mở cửa địa ngục bằng những thủ ấn, khế Ấn, mở những »miệng đang cháy« và rót nước dịu ngọt vào, một loại nước trước đó được ban phép lành bằng những Man-tra. Ngay sau đó thì những Diệm khẩu này Quy y tam bảo, Thụ giới Bồ Tát. Nếu buổi lễ này được thực hiện nghiêm chỉnh với kết quả tốt thì những quỷ đói có thể lập tức tái sinh vào cõi người hoặc một tịnh độ.|Lễ này còn được thực hiện đến ngày nay tại các nước Ðông, Ðông nam á, đặc biệt là tại Ðài Loan (taiwan) và Hương Cảng (hongkong). Theo truyền thuyết thì lễ này bắt nguồn từ Tôn giả A-nan-đà. Sau khi nằm chiêm bao thấy những Diệm khẩu, Tôn giả sợ hãi. Ðể ngăn ngừa khả năng tái sinh thành loài quỷ đói này, Tôn giả bèn tham vấn đức Phật và Ngài liền đọc chú Ðà-la-ni (s: dhāraṇī) để cứu giúp chúng.
phóng dật
buông thả, phóng túng, lười nhác, không giữ mình theo các pháp lành, cũng không có sự tinh tấn nỗ lực tu tập.
; Pramada (S)Tâm buông lung, chạy theo dục vọng, không siêng năng tu tập các việc thiện. Một trong 6 Đại tuỳ phiền não pháp.
; Loose, unrestrained.
; Pamado (p). 1) Uể oải: Sloth. 2) Không chú ý: Carelessness—Distracted—Loose—Unrestrained.
; (放逸) Phạm: Pramàda. Gọi tắt: Dật. Đối lại: Bất phóng dật. Chỉ cho tâm tính buông thả, phóng túng chạy theo dục vọng, không chịu siêng năng tu tập các pháp lành, là 1 trong 75 pháp của luận Câu xá, 1 trong 100 pháp của luận Duy thức. Tông Câu xá cho rằng Phóng dật là 1 loại tâm sở tương ứng với tất cả tâm ô nhiễm (tâm bất thiện và tâm hữu phú vô kí)mà sinh khởi, thuộc về Đại phiền não địa pháp. Còn tông Duy thức thì cho rằng tâm sở này thuộc 8 Đại tùy hoặc(phiền não). [X. luận Thành duy thức Q.6; luận Thuận chính lí Q.11; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng]. (xt. Đại Tùy Phiền Não).
Phóng dật 放逸
[ja] ホウイツ hōitsu ||| Negligence, indolence, dissipation (Skt. pramāda, Pali pamāda, Tib. bag med pa).' Careless, undisciplined. One of the great defilement elements as listed in the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論; one of the twenty secondary defilements (隨煩惱) in Yogācāra 瑜伽行派 doctrine. Playing with one's energy. Negligence, laziness, self-indulgence. Not holding to the intent of practicing goodness and repelling evil. A function of the 'three poisons' 三毒. => Sự phóng túng, sự lười biếng, sự phung phí (Skt. pramāda, Pali pamāda, Tib. bag med pa). Là một trong các đại địa phiền não pháp theo Câu-xá luận, là một trong 20 tuỳ phiền não trong giáo lý Du-già hành tông. Phung phí năng lực của chính mình. Phóng túng, lười nhác, bê tha. Không kiên trì thực hành các thiện pháp và trừ bỏ các việc ác. Là một tác dụng của 'tam độc'.
; [ja] ホウイツ hōitsu ||| Negligence, indolence, dissipation (Skt. pramāda, Pali pamāda, Tib. bag med pa).' Careless, undisciplined. One of the great defilement elements as listed in the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論; one of the twenty secondary defilements (隨煩惱) in Yogācāra 瑜伽行派 doctrine. Playing with one's energy. Negligence, laziness, self-indulgence. Not holding to the intent of practicing goodness and repelling evil. A function of the 'three poisons' 三毒. => Sự phóng túng, sự lười biếng, sự phung phí (Skt. pramāda, Pali pamāda, Tib. bag med pa). Là một trong các đại địa phiền não pháp theo Câu-xá luận, là một trong 20 tuỳ phiền não trong giáo lý Du-già hành tông. Phung phí năng lực của chính mình. Phóng túng, lười nhác, bê tha. Không kiên trì thực hành các thiện pháp và trừ bỏ các việc ác. Là một tác dụng của 'tam độc'.
phóng hào quang
Emit bright light, to.
; To emit rays of light.
phóng hạ
Buông bỏ—To put down—To let down—To lay down.
; (放下) I. Phóng Há. Cũng gọi Phóng há trứ(trứ là trợ từ). Tiếng dùng trong Thiền lâm. Buông bỏ hết những vật đang nắm giữ trong tay. Tức là xả lìa tất cả tà niệm, vọng chấp, hoàn toàn không còn vướng mắc, để đạt đến cảnh giới tự tại, giải thoát. [X. Thị tằng đãi chế trong Viên ngộ tâm yếu Q.thượng; Thung dung lục tắc 75]. II. Phóng Há. Cũng gọi Phóng há tăng, Phóng há khiển, Phóng há sư. Chỉ cho các vị tăng Nhật bản ở thời đại Liêm thương, Thất đinh lấy việc ca xướng, nhảy múa hoặc các trò vui chơi để xin ăn. Vì họ bất chấp, không để bị gò bó bởi bất cứ cái gì nên gọi họ là Phóng há. Ngoài ra, từ ngữ này cũng được dùng để chỉ hàng người xuất gia, nhưng có điều gì bất đắc chí mà xả bỏ Phật đạo để làm nghề xướng ca...
phóng hạ đồ đao lập địa thành phật
(放下屠刀立地成佛) Buông con dao đồ tể xuống, đứng ngay đó mà thành Phật. Phật là bậc Đại thiện. Chữ Phật được dùng ở đây là để chỉ cho tâm thiện, hoặc người tốt. Ý nói người làm ác chỉ cần quyết tâm bỏ ác hướng thiện là lập tức trở thành người tốt. Thiện tâm của người này không khác gì thiện tâm của Phật.
Phóng hạ 放下
[ja] ホウゲ hōge ||| To cast off attachment as the result of awakening to the truth of no-self. => Từ bỏ sự chấp trước nhờ kết quả từ sự giác ngộ chân lý vô ngã.
phóng khoáng
Freely.
Phóng khí 放棄
[ja] ホウキ hōki ||| Renunciation, esp. of worldly status and possessions in the quest for enlightenment. A standard practice of the śramaṇa 沙門. => Sự xả bỏ, đặc biệt là hoàn cảnh thế tục và mọi sở hữu để tìm cầu giải thoát giác ngộ. Là một tiêu chuẩn của hạnh sa-môn (s: śramaṇa 沙門).
phóng quang
Tỏa ra ánh sáng—Light-emitting—To emit shining light—To send out an illuminating ray—To discharge halo—To demonstrate the halo form the body (usually the Buddha's body).
phóng quang bát nhã ba la mật kinh
Xem Phóng quang Bát nhã kinh.
phóng quang bát nhã kinh
Xem Phóng quang Bát nhã Ba la mật đa Kinh. Xem Đại phẩm bát nhã.
; (放光般若經) Phạm: Paĩcaviôzatisàhasrikàprajĩàpàramità. Cũng gọi Phóng quang bát nhã ba la mật kinh, Phóng quang ma ha bát nhã kinh, Ma ha bát nhã phóng quang kinh, Quang bát nhã ba la mật kinh, Phóng quang kinh. Kinh, 20 quyển, hoặc 30 quyển, do các ngài Vô la xoa (Vô xoa la) và Trúc thúc lan cùng dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 8. Nội dung kinh gồm 90 phẩm nói về pháp Bát nhã ba la mật và công đức của pháp này, đồng thời, khuyên chúng sinh Nên tu học pháp Bát nhã. Cứ theo Phóng quang kinh kí (không rõ tác giả)trong Xuất tam tạng kí tập quyển 7, khoảng năm Cam lộ thứ 5 (260) đời Tề vương nhà Tào Ngụy, ngài Chu sĩ hành từ Dĩnh xuyên đến nước Vu điền sao chép được bản tiếng Phạm của kinh này gồm 96 chương hơn 60 vạn chữ. Sau đó, ngài Chu sĩ hành giao cho đệ tử là Phất như đàn đưa về Lạc dương. Đến niên hiệu Nguyên khang năm đầu (291) đời Huệ đế nhà Tấn, mới do các ngài Vô la xoa(vị tăng người Vu điền) và Trúc thúc lan dịch sang chữ Hán. Giữa kinh này và các kinh: Quang tán, 10 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch, Ma ha bát nhã ba la mật (Đại phẩm bát nhã), do ngài Cưu ma la thập dịch và Đệ nhị hội (quyển 401-478) kinh Đại bát nhã ba la mật đa, do ngài Huyền trang dịch, có nhiều chỗ giống nhau và tương đương với Hai vạn năm nghìn bài tụng Bát nhã bằng tiếng Phạm hiện còn. [X. bài Tựa trong Đệ nhị hội kinh Đại bát nhã; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.6; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].
phóng quang kinh
Xem Phóng quang Bát nhã Ba la mật đa Kinh.
phóng quang phật đảnh
Xem Quang Tụ Phật đảnh.
phóng quang quán đảnh
Buddha reveals his glory to someone to his profit.
phóng quang tam muội
Raśmi-pramukta-samādhi (S).
; A samàdhi in which all kinds and colours oflight are emitted.
; Một trong 108 loại tam muội, tam muội phóng ra ánh hào quang nhiều màu sắc—A samadhi in which all kinds and colours of light are emitted, one of the one hundred eight kinds of samadhi.
; (放光三昧) Bồ tát chứng được Tam muội này, có sức thần thông, phóng ra ánh sáng, chiếu soi các Tam muội khác đều rõ ràng. Một trong 108 Tam muội. Luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 25, 399 trung) nói: Phóng quang tam muội, do thường tu định Hỏa biến xứ, sinh ra thần thông, tùy ý phóng ánh sáng, tùy chỗ chúng sinh ưa thích mà các ánh sáng hoặc nóng hoặc lạnh, hay không nóng không lạnh. Ánh sáng chiếu rọi các Tam muội có 2 loại: Ánh sáng màu sắc và ánh sáng trí tuệ. Trụ trong Tam muội này thường hay chiếu soi khắp các Tam muội, không còn tà kiến, vô minh. (xt. Bách Bát Tam Muội).
phóng quang thụy
The auspicious ray emitted from between the eyebrows of the Buddha before pronouncing the Lotus sùtra.
phóng quang đoan
Tia hào quang kiết tường được phóng ra giữa hai chân mày của Phật trước khi Ngài thuyết giảng Kinh Pháp Hoa—The auspicious ray emitted from between the eyebrows of the Buddha before pronouncing the Lotus Sutra.
Phóng quang 放光
[ja] ホウコウ hōkō ||| Emission of light. => Sự phát ra ánh sáng.
Phóng sanh
(放生): Phóng Sanh là một hành vi có tâm thương yêu, nhân từ, biết thông cảm cho nỗi khổ bị giam cầm, bắt bớ của các loài động vật; có nghĩa là nhìn thấy các loại chúng sinh có mạng sống đang bị bắt nhốt, giam cầm, sắp sửa bị giết hại, kinh hoàng lúng túng, mạng sống trong phút giây nguy ngập, liền phát lòng từ bi tìm cách cứu chuộc. Như vậy tức là hành vi giải thoát, phóng thích, cứu lấy mạng sống của sinh vật khác. Nguyên lai, Trung Quốc đã có quan niệm truyền thống cho rằng Trời có đức háo sinh (muốn sống, ham sống). Lập cước trên tinh thần từ bi, cứu nhân độ thế, Phật Giáo lại càng nêu cao và tôn trọng tinh thần Phóng Sanh. Trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 13 có nhấn mạnh rằng: “Chư dư tội trung, sát tội tối trọng; chư công đức trung, bất sát đệ nhất (諸餘罪中、殺罪最重、諸功德中、不殺第一, trong các tội lỗi, tội giết là nặng nhất; trong các công đức, không giết là số một).” Cho nên, không sát sanh cũng như Phóng Sanh là phương pháp hữu hiệu để nuôi dưỡng và làm tăng trưởng tâm từ bi. Phạm Võng Kinh (梵網經, Taishō Vol. 24, No. 1484) quyển 2 nhấn mạnh rằng: “Nhược Phật tử, dĩ từ tâm cố hành phóng sanh nghiệp, nhất thiết nam tử thị ngã phụ, nhất thiết nữ nhân thị ngã mẫu; ngã sanh sanh vô bất tùng chi thọ sanh; cố Lục Đạo chúng sanh giai thị ngã ngã phụ mẫu, nhi sát nhi thực giả, tức sát ngã phụ mẫu diệc sát ngã cố thân; nhất thiết địa thủy thị ngã tiên thân, nhất thiết hỏa phong thị ngã bản thể; cố thường hành phóng sanh, sanh sanh thọ sanh thường trú chi pháp, giáo nhân phóng sanh; nhược kiến thế nhân sát súc sanh thời, ưng phương tiện cứu hộ giải kỳ khổ nạn (若佛子、以慈心故行放生業、一切男子是我父、一切女人是我母、我生生無不從之受生、故六道眾生皆是我父母、而殺而食者、卽殺我父母亦殺我故身、一切地水是我先身、一切火風是我本體、故常行放生、生生受生常住之法、敎人放生、若見世人殺畜生時、應方便救護解其苦難, nếu Phật tử, vì lấy từ tâm mà thực hành nghiệp phóng sanh, hết thảy người nam là cha ta, hết thảy người nữ là mẹ ta; ta đời đời không theo đó mà thọ sanh; cho nên sáu đường chúng sanh đều là cha mẹ của ta; nếu giết nếu ăn thịt họ, tức là giết cha mẹ ta cũng như giết thân trước kia của ta; hết thảy đất nước là thân trước kia của ta, hết thảy gió lửa là bản thể của ta; cho nên thường thực hành phóng sanh, đời đời thọ sanh pháp thường trú, chỉ cho người phóng sanh; nếu khi thấy người đời giết sinh vật nuôi, nên phương tiện cứu giúp để giải mở khổ nạn của con vật ấy).” Đại Thừa Đại Tập Đia Tạng Thập Luân Kinh (大乘大集地藏十輪經, Taishō Vol. 13, No. 411) có nêu một số công đức của việc Phóng Sanh như: (1) Được sống lâu, (2) Tâm từ bi tự nhiên sanh khởi, (3) Chư thiện thần là bạn, (4) Các động vật đều nhận là thân thuộc, (5) Có vô lượng công đức, (6) Mọi người cung kính, (7) Không bệnh hoạn, không nguy hại, (8) Vui vẻ và mãi được hạnh phúc, (9) Đời đời kiếp kiếp thường kính tin công hạnh của chư Phật, (10) Không rời Tam Bảo, (11) Cuối cùng chứng quả vô thượng bồ đề, (12) Vãng sanh về cõi Tịnh Độ. Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục Tục Biên (淨土聖賢錄續編, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1550) quyển 4, phần Vãng Sanh Nữ Nhân Đệ Lục (往生女人第六) có kể câu chuyện Điền Bà (田婆): “Điền Bà, Thái Châu dã điền trang nhân, phu phụ câu tín Tam Bảo, tạo tượng phóng sanh, trai tăng bố thí; kỳ phu nhật tụng Pháp Hoa Kinh, bà độc niệm Phật, như thị nhị thập dư niên (田婆、泰州野田莊人、夫婦俱信三寶、造像放生、齋僧布施、其夫日誦法華經、婆獨念佛、如是二十餘年, Điền Bà, người nhà nông quê ở Thái Châu, cả chồng vợ đều tin vào Tam Bảo, làm tượng, phóng sanh, trai tăng và bố thí; chồng bà hằng ngày tụng Kinh Pháp Hoa, riêng bà chỉ có niệm Phật, như vậy hơn hai mươi năm).” Hay như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1646) quyển 16, Truyện Nhan Thanh Thần Vi Thành Võ (顏清臣韋城武傳) có đoạn: “Thời Túc Tông chiếu thiên hạ lập Phóng Sanh Trì, Thanh Thần vi lập bi, ca tụng chúa đức, trợ tuyên Phật hóa (時肅宗詔天下立放生池、清臣爲立碑、歌誦主德、助宣佛化, lúc bấy giờ vua Túc Tông [tại vị 756-762] nhà Đường hạ chiếu khắp thiên hạ cho lập Hồ Phóng Sanh, Nhan Thanh Thần vì vậy lập bia, ca tụng đức của nhà vua, giúp tuyên diễn Phật pháp).” Trong Tịnh Độ Tư Lượng Toàn Tập (淨土資糧全集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1162) quyển 4 có đề cập câu chuyện nhờ thực hành hạnh phóng sanh mà sau khi chết được sanh lên cõi Trời: “Trương Đề Hình thường nghệ đồ gia dĩ tiền thục vật phóng chi; hậu lâm chung, ngữ gia nhân vân, ngô dĩ phóng sanh cố, Thiên Cung lai nghênh, đương thượng sanh hĩ, an nhiên nhi thệ (張提刑常詣屠家以錢贖物放之、後臨終、語家人云、吾以放生故、天宮來迎、當上生矣、安然而逝, Trương Đề Hình thường đến nhà đồ tể lấy tiền mua chuộc con vật rồi thả chúng đi; về sau khi lâm chung, ông bảo với người nhà rằng ta nhờ có phóng sanh, nên cung Trời đến đón đi, sẽ sanh lên cõi trên, rồi an nhiên mà ra đi).”
phóng sanh
Phóng sinh bao gồm trả tự do cho những sinh vật và tháo gở cho những sinh vật bị mắc bẫy—To release living creatures as a work of merit, including to liberate live animals and ro release trapped animals.
phóng sinh
To release living creatures as a work of merit.
phóng sinh hội
(放生會) Pháp hội thả các loài sinh vật theo lời dạy trong kinh. Kinh Phạm võng quyển hạ nói, Phật tử nên phát tâm từ bi mà phóng sinh, vì tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta, đời đời kiếp kiếp ta đều do họ sinh ra, bởi vậy, tất cả chúng sinh trong 6 đường đều là cha mẹ của ta. Khi thấy người khác giết hại sinh vật ta phải dùng phương tiện giải cứu khổ nạn cho chúng. Về việc phóng sinh cứu hộ, các kinh ghi chép rất nhiều, như phẩm Lưu thủy trưởng giả tử trong kinh Kim quang minh quyển 4 ghi: Con ông trưởng giả Lưu thủy cứu đàn cá sắp chết trong 1 vũng lầy cạn nước bằng cách tháo nước vào và đem thức ăn cho chúng, rồi giảng nói kinh điển Đại thừa cho chúng nghe. Sau khi nghe kinh, đàn cá đều sinh lên cung trời Đao lợi. Còn kinh Tạp bảo tạng thì ghi việc 1 Sa di nhờ cứu đàn kiến đang trôi theo dòng nước mà được quả báo sống lâu. Ở Trung quốc, từ các đời Tề, Lương thuộc Nam triều về sau, thuyết Đoạn nhục (không ăn thịt)rất thịnh hành. Vua Lương vũ đế từng hạ lệnh cấm chỉ sát sinh và bãi bỏ tập tục dùng con vật sống để cúng tế trong các tông miếu. Khi ngài Trí giả tông Thiên thai đời Tùy ở trên núi Thiên thai, vì muốn dân cư vùng ven biển đừng làm nghề đánh bắt cá, từng tự lấy áo mình mặc để bán và khuyến mộ mọi người mua cá thả xuống ao, truyền thụ qui giới cho các loài thủy tộc trong ao, rồi giảng kinh Kim quang minh, kinh Pháp hoa cho chúng nghe để kết duyên với Phật pháp. Đó là nguồn gốc của hội Phóng sinh thiên thai.Về sau, vào năm Càn nguyên thứ 2 (759), vua Túc tông nhà Đường hạ chiếu chỉ cho các đạo(tỉnh): Sơn nam, Kiếm nam, Kinh nam, Chiết giang... đào ao phóng sinh. Đến niên hiệu Thiên hi năm đầu (1017), vua Chân tông nhà Tống ra lệnh sửa sang lại các ao phóng sinh.Năm Thiên hi thứ 3 (1019), ngài Tuân thức thuộc tông Thiên thai tâu vua lấy hồ Tây ở Hàng châu làm nơi phóng sinh và làm ra pháp môn Phóng sinh từ tế, cử hành vào ngày 8 tháng 4 hàng năm để chúc thọ cho vua. Năm Thiên thánh thứ 3 (1025), ngài Tứ minh Tri lễ cũng tâu vua xin trưng dụng hồ Nam làm ao phóng sinh vĩnh viễn của hội Phóng sinh ngày Phật đản, đồng thời, soạn văn phóng sinh cho pháp hội này. [X. Vu lan bồn kinh sớ Q.trung; Tùy thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện; Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.1; Thích môn chính thống Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.8; Pháp uyển châu lâm Q.65]. (xt. Phóng Sinh Khí).
phóng sinh khí
(放生器) Đồ dùng chứa các vi sinh vật để mang thả xuống ao, hồ... Đức Phật qui định các tỉ khưu hàng ngày dùng nước phải lấy cái túi lọc nước để lọc. Những sinh vật nhỏ li ti lọc được phải để sang 1 vật khác có chứa nước rồi đem thả xuống ao, hồ, sông, ngòi... Vật dụng này (Phóng sinh khí) có thể được làm bằng sắt, đồng, sứ, gỗ... phía trên có xỏ dây để phòng khi cần phải thả xuống nước sâu hơn. Hộ mệnh phóng sinh qui nghi pháp (Đại 45, 902 thượng) nói: Xem xét trùng, phải lọc nước là phép cốt yếu của người xuất gia, thấy nguy cứu gấp, đó là sự thôi thúc của lòng từ. Khi biết có trùng trong nước, giới luật dạy làm phóng sinh khí. Việc này bên Ấn độ đã thực hành từ lâu. [X. Thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự Q.19].
phóng túng
To be free (unrestrained).
Phóng xả 放捨
[ja] ホウシャ hōsha ||| (1) To abandon, give up on, throw away, release. Become detached. (2) To still the mind by abandoning worry and planning. => 1. Ruồng bỏ, từ bỏ, vứt đi, phóng thả. Không lệ thuộc. 2. Làm cho tâm an tĩnh bằng cách từ bỏ mọi lo nghĩ và tính toán.
phóng đăng
Lighting strings of lantern on the fifteenth of the first moon.
; Những dây đèn lồng đốt lên vào đêm rằm Thượng Ngươn, sau nầy người ta kéo dài từ mồng bảy đến rằm. Theo tập tục từ thời Hán Minh Đế thì vào thời nầy chư Tăng (Ma Đằng Ca Diếp và Trúc Pháp Lan) cùng các đạo sĩ của Lão giáo tranh luận về giáo lý và đã thắng các đạo sĩ. Do đó vua Hán Minh Đế xuống chiếu lấy ngày rằm Thượng Ngươn thắp đèn suốt đêm để biểu thị sự sáng sủa của Phật pháp—Lighting strings of lanterns, on the fifteenth of the first month, later extended to the seventh and fifteenth of the month. A custom attributed to Han-Ming Ti, to celebrate the victory of Buddhism in the debate with Taoists
Phóng 放
[ja] ホウ pang ||| (1) Set free, release, fire, shoot, emit, give out. (2) Let go, release, disengage, liberate. (3) Give up, neglect, leave alone. (4) To act unrestrainedly, without discipline. (5) To go to; to reach to. (6) To depend upon. => 1. Thả tự do, phóng thích, bắn, chớp loé, phát sáng, toả ra. 2. Buông ra, thả ra, tách rời ra, thả ra. 3. Từ bỏ, không chú ý, bỏ mặc. 4. Hành động không kiềm chế, không quy củ. 5. Đi tới, đến. 6. Trông vào, tin vào.
Phổ Hóa
(普化, Fuke, ?-?): vị Thiền tăng sống vào thời nhà Đường, người kế thừa dòng pháp của Bàn Sơn Bảo Tích (盤山寶積), thường sống ở Trấn Châu (鎭州, thuộc Tỉnh Hà Đông). Ông theo hầu Bàn Sơn, thọ nhận yếu chỉ, rồi sống cuộc đời như vị cuồng tăng. Sau khi thầy qua đời, ông đi ngao du địa phương phía Bắc. Tương truyền ông thường cầm trên tay cái chuông lắc, mỗi khi gặp người ta thì ông lại lắc lên. Nếu có ai quan tâm đến, ông liền bảo rằng: “Xin cho tôi một quan tiền.” Ông thường kết giao với Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄), và cũng đã từng phụ giúp vị nầy giáo hóa đồ chúng. Theo phần Kham Biện (勘辨) của Lâm Tế Lục (臨濟錄) cho biết rằng ông đã từng muốn chính Lâm Tế tặng cho ông một cỗ quan tài, và sau đó ông thị tịch trong quan tài ấy tại cửa bắc Trấn Châu. Cuối đời ông đến sống ở Lâm Tế Viện, hằng ngày ăn rau cỏ sống, bị Lâm Tế phát hiện được mới bảo ông là giống con lừa. Tương truyền khi nghe nói như vậy Phổ Hóa liền thét lên tiếng lừa.
Phù
(符): là cái thẻ làm bằng tre viết chữ vào rồi chẻ làm đôi, mỗi người giữ một mảnh khi nào ráp vào nhau mà đúng thì phải, là vật để làm tin. Ngày xưa khi phong các chư hầu hay sai các đại thần đi, người ta đều lấy cái thẻ làm tin.
phù
Floating, drifting, unsettled.
; 1) Nổi lềnh bềnh: Floating—Drifting—Unsettled. 2) Phù trợ—Aid—Support—Uphold.
Phù bôi
(浮杯): (1) Vào thời cổ đại, cứ đúng ngày Tỵ của tuần đầu tháng 3 Âm Lịch, mọi người tập trung bên mương nước, trên đầu nguồn cho thả một chén rượu, mặc cho nó trôi đi, nếu chén ấy dừng trước mặt ai, thì người ấy phải lấy lên uống hết. Đó được gọi là phù bôi (chén trôi nỗi), hay lưu thương (流觴, chén rượu trôi). Như trong bài thơ Thượng Tỵ Nhật Giản Nam Viên Kỳ Vương Sơn Nhân Trần Thất Gia Công Bất Chí (上巳日澗南園期王山人陳七諸公不至) của Mạnh Hạo Nhiên (孟浩然, 689-740) nhà Đường có câu: “Thượng Tỵ kỳ tam nguyệt, phù bôi hứng thập tuần (上巳期三月、浮杯興十旬, đầu tháng ba ngày Tỵ, chén nỗi suốt mười tuần).” Hay trong bài thơ Đáp Vô Nguyện Thượng Nhân Thư (答無願上人書) của Tế Kỉ (齊己, 863-937) thời Ngũ Đại cũng có câu: “Tất hữu Nam du sơn thủy hứng, Hán giang bình ổn hảo phù bôi (必有南游山水興、漢江平穩好浮杯, có hứng phương Nam chơi sơn thủy, Hán sông bình lặng rộn chén trôi).” (2) Phạt uống chén rượu đầy. Như trong bài Nhàn Cư Phú (閒居賦) của Phan Nhạc (潘岳, 247-300) nhà Tây Tấn có câu: “Phù bôi lạc ẩm, ty trúc biền la (浮杯樂飲、絲竹騈羅, rượu phạt vui uống, tơ trúc kết liền).” Trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 41 lại có câu: “Kim nhụy tùng tùng đới lộ tân, thải lai phanh mính thưởng giai thần, phù bôi hà tất tu nghi tửu, đản hữu thanh hương tự túy nhân (金蕊叢叢帶露新、采來烹茗賞佳辰、浮杯何必須宜酒、但有清香自醉人, vàng nhụy um tùm sương mới toanh, hái về trà nấu thưởng vị thơm, chén nỗi đâu cần dùng rượu thật, chỉ có hương trong đủ say mèm).” Hay trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 13, Tướng Quốc Bùi Hưu (裴休, 797-870) trình lên Thiền Sư Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運, ?-?) ở Hồng Châu (洪州) bài kệ như sau: “Tự tùng Đại Sĩ truyền tâm ấn, ngạch hữu viên châu thất xích thân, quải tích thập niên thê Thục thủy, phù bôi kim nhật độ Chương Tân, nhất thiên long tượng tùy cao bộ, vạn lý hương hoa kết thắng nhân, nghĩ dục sự sư vi đệ tử, bất tri tương pháp phú hà nhân (自從大士傳心印、額有圓珠七尺身、掛錫十年棲蜀水、浮盃今日渡章濱、一千龍象隨高歩、萬里香花結勝因、擬欲事師爲弟子、不知將法付何人, từ khi Đại Sĩ truyền tâm ấn, trán có ngọc tròn bảy thước thân, dừng trượng mười năm nơi đất Thục, chén nỗi ngày nay đến Chương Tân, một ngàn rồng tượng trên cao xuống, muôn dặm hương hoa kết duyên nhân, những muốn hầu thầy làm đệ tử, truyền pháp về ai được thêm gần).”
phù chú
Amulets, charms, spells, incantations.
; Incantation.
phù danh
Vainglory.
Phù Dung Ðạo Khải
芙蓉道楷; C: fúróng dàokăi; J: fuyo dōkai; 1043-1118, cũng được phiên thiết là Phù Dung Ðạo Giai;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Ðộng. Sư nối pháp Thiền sư Ðầu Tử Nghĩa Thanh và là thầy của nhiều vị danh tiếng như Ðan Hà Tử Thuần, Hương Sơn Pháp Thành, Ðại Trí Tề Liên và Bảo Phong Duy Chiếu.|Sư họ Thôi, quê ở Nghi Thuỷ, Nghi Châu, tính tình cương trực. Thuở nhỏ Sư đã tu học kham nhẫn, vào ở ẩn trong núi Y Dương. Sau, Sư đến kinh đô tu học tại chùa Thuật Ðài và thụ giới cụ túc tại đây.|Bước đầu du phương, Sư đến tham học nơi Thiền sư Nghĩa Thanh ở núi Ðầu Tử chùa Hoa Nghiêm. Sư hỏi: »Ngôn giáo của Phật Tổ như việc cơm nước thường ngày trong nhà. Lìa rời việc này riêng có chỗ vì người hay chăng?« Ðầu Tử đáp: »Ngươi nói sắc lệnh của Thiên tử trong cõi này, lại nhờ vua Võ, Thang, Nghiêu, Thuấn hay chăng?« Sư suy nghĩ đáp lại, Ðầu Tử thấy thế liền cầm phất tử bịt miệng Sư, nói: »Ngươi phát ý ra đã đáng ăn ba mươi gậy rồi!« Ngay câu này, Sư tỉnh ngộ, làm lễ và ra đi. Ðầu Tử gọi: »Xà-lê hãy lại đây!« Sư chẳng ngó lại. Ðầu Tử liền nói: »Ngươi đến chỗ chẳng nghi chăng?« Sư liền bịt tai.|Sau, Sư coi trông việc nhà trù. Ðầu Tử hỏi: »Việc trong nhà trù không phải là dễ.« Sư thưa: »Chẳng dám.« Ðầu Tử hỏi: »Ngươi thổi cơm ư? Nấu cháo ư?« Sư thưa: »Nhân công đãi gạo nhúm lửa, trị nhật nấu cháo thổi cơm.« Ðầu tử hỏi: »Còn ngươi làm gì?« Sư thưa: »Nhờ ơn Hoà thượng từ bi cho con rảnh rang.«|Sau, Sư trở về Nghi Châu núi Mã An truyền bá Phật pháp. Ban đầu, Sư ở Tiên Ðộng, sau dời đến chùa Long Môn, rồi lại sang trụ núi Thái Dương thuộc Dĩnh Châu và Ðại Hồng ở Tuỳ Châu. Môn phong của tông Tào Ðộng rất hưng thịnh vùng Tây bắc.|Niên hiệu Sùng Ninh năm thứ ba (1104), vua ban chiếu mời Sư trụ trì Thiền viện Thập Phương Tịnh Nhân ở Ðông Kinh. Ðến niên hiệu Ðại Quan năm thứ nhất (1107), Vua áp đặt Sư trụ trì tại Thiên Ninh không được từ chối. Vì nghe lời ca tụng đạo hạnh của Sư, vua ban tử y và danh hiệu Ðịnh Chiếu Thiền sư. Sư thắp hương tạ ân xong rồi dâng biểu từ chối không nhận. Vua Tống Huy Tông xem biểu của Sư xong sai quan là Lí Hiếu Thọ khuyên Sư không nên từ chối. Quan họ Lí khuyên dụ nhiều lời nhưng Sư vẫn một mực từ chối. Vua nổi giận bắt Sư đem giam. Quan tra khảo hỏi Sư: »Trưởng lão thân gầy ốm như vậy có bệnh chăng?« Sư đáp: »Ngày thường cũng có bệnh nhưng hiện nay thì không bệnh.« Quan tra khảo lại nói: »Nếu nói có bệnh thì đối với pháp luật khỏi bị hình phạt.« Sư bảo: »Ðâu dám dối trá nói bệnh để mong khỏi tội« và an nhiện chấp nhận hình phạt. Sau đó, Sư bị đày ra Tri Châu, người người đều đau xót nhưng Sư sắc khí vẫn nhàn hạ.|Mùa đông năm sau, vua ban sắc phóng thích. Sư cất am tại hồ Phù Dung và từ đây, tăng chúng hội họp vây quanh. Tại đây mỗi ngày chỉ có một chén cháo, những người không chịu nỗi đều dần dần đi bớt nhưng số tăng thường trực không dưới một trăm.|Sư dạy chúng: »Phàm người xuất gia vì chán trần lao cầu thoát sinh tử, thôi tâm dứt niệm cắt vin theo, gặp thanh gặp sắc như hoa trồng trên đá, thấy lợi thấy danh như bụi rớt trong mắt. Vì từ vô thuỷ đến giờ, những cái ấy đâu chẳng từng trải qua, cần gì lại nhọc nhằn tham luyến? Hiện nay chẳng dứt còn đợi chừng nào? Thời nay dứt sạch lại còn việc gì? Nếu được trong tâm vô sự thì Phật Tổ vẫn là oan gia, tất cả thế sự tự nhiên lạnh nhạt, mới là phù hợp bên này…|Các ngươi đâu chẳng thấy, Ẩn Sơn đến chết chẳng chịu tiếp người, Triệu Châu (Tòng Thẩm) đến chết chẳng biên thư cho đàn việt, thà lượm trái giẻ trái lật mà ăn. Ðại Mai (Pháp Thường) lấy lá sen làm áo. Chỉ Y Ðạo Giả mặc y phục bằng giấy, Thượng toạ Huyền Thái chỉ mặc bằng bố. Thạch Sương (Khánh Chư) nơi nhà cây khô cùng người ngồi nằm, chỉ cần chết hẳn tâm của các ngươi. Ðầu Tử (Ðại Ðồng) sai người nấu cơm lẫn khoai rồi đồng ăn, cốt được tỉnh việc của các ngươi. Các bậc Thánh từ trước có những gương cao đẹp như thế, nếu không có chỗ đặc biệt làm sao chịu nổi…«.|Năm thứ tám niên hiệu Chính Hoà (1118) ngày 14 tháng năm, Sư cầm bút viết bài kệ:|吾年七十六,世緣今已足|生不愛天堂,死不怕地獄|撒手橫身三界外,騰騰任運何拘束|Ngô niên thất thập lục|Thế duyên kim dĩ túc|Sinh bất ái thiên đường|Tử bất phạ địa ngục|Tán thủ hoành thân tam giới ngoại|Ðằng đằng nhậm vận hà câu thúc.|*Ta tuổi bảy mươi sáu|Duyên đời nay đã đủ|Sinh chẳng thích thiên đường|Chết chẳng sợ địa ngục|Buông tay đi ngang ngoài tam giới|Mặc tình vươn bảng nào buộc ràng.|Ngay sau khi viết kệ, Sư viên tịch, thọ 76 tuổi.
Phù Dung Đạo Giai
(芙蓉道楷, Fuyō Dōkai, 1043-1118): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, xuất thân Phí Huyện (費縣), Nghi Châu (沂州, Tỉnh Sơn Đông), họ là Thôi (崔). Lúc nhỏ ông học phái thần tiên đạt được các bí thuật rồi đến ẩn cư tại Y Dương Sơn (伊陽山) thuộc Tỉnh Hà Nam (河南省). Lâu sau ông lên kinh sư dạo chơi, rồi xuất gia ở Thuật Thánh Viện (述聖院, tức Thuật Đài Tự [術台寺]), tôn Đức Xiêm (德暹) làm thầy. Vào năm 23 tuổi ông thọ Cụ Túc giới. Sau đó, ông đi du phương tham học, gặp được Nghĩa Thanh (義清) ở Đầu Tử Sơn (投子山) vùng Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy), nhân nghe lời dạy của vị này mà đại ngộ và được kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông từ giã thầy đến Thiều Sơn (韶山), hằng ngày thường sống với cọp beo. Vào năm thứ 5 (1082) niên hiệu Nguyên Phong (元豐), ông khai mở đạo tràng bố giáo tại Tiên Động Sơn (仙洞山), Nghi Châu. Ông đã từng sống qua các nơi như Càn Nguyên Chiêu Đề (乾元招提) vùng Tây Kinh (西京, Tỉnh Hà Nam) cũng như Đại Dương Sơn (大陽山) ở Dĩnh Châu (郢州, Tỉnh Hồ Bắc). Vào năm thứ 2 (1103) niên hiệu Sùng Ninh (崇寧), ông đến làm trú trì đời thứ hai của Sùng Ninh Bảo Thọ Thiền Viện (保壽禪院) ở Đại Hồng Sơn (大洪山), Tùy Châu (隨州, Tỉnh Hồ Bắc). Năm sau, thể theo chiếu chỉ nhà vua, ông đến trú trì Thập Phương Tịnh Nhân Thiền Viện (十方淨人禪院) ở Đông Kinh (東京, Tỉnh Hà Nam), rồi vào năm đầu (1107) niên hiệu Đại Quán (大觀), ông chuyển đến Thiên Ninh Tự (天寧寺). Vào mùa xuân năm sau, ông được ban cho Tử Y và hiệu là Định Chiếu Thiền Sư (定照禪師), nhưng ông cố từ không nhận. Cũng do vì việc này mà vào mùa đông năm này, ông bị lưu đày đến Chuy Châu (淄州, Tỉnh Sơn Đông). Đến năm đầu (1111) niên hiệu Chính Hòa (政和), ông được tha tội, bèn lên Thiên Thai (天台), Nhạn Đãng (雁蕩) ngao du và khi trở về cố hương thì cha đã già yếu, nên ông dừng chân tại đây. Vị quan Xu Mật Lưu Công (劉公) dựng am thất ở Phù Dung Hồ Điền (芙蓉湖田, Tỉnh Sơn Đông), thỉnh ông đến ở và ông đã thành lập nơi đây khu tùng lâm. Vào ngày 14 tháng 5 năm thứ 8 niên hiệu Chính Hòa, ông thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi đời và 42 hạ lạp. Đệ tử ông có 93 người, trong đó ra đời thành công là 29 người, đặc biệt có Đơn Hà Tử Thuần (丹霞子淳) là nhân vật kiệt xuất nhất. Hiện vẫn còn lưu hành bộ Phù Dung Giai Thiền Sư Ngữ Yếu (芙蓉楷禪師語要) 2 quyển của ông.
phù dung đạo giai thiền sư
Zen master Fu-Reng-T'ao-Jai—Thiền sư Phù Dung Đạo Giai sanh năm 1043 tại Nghi Châu (nay thuộc tỉnh Sơn Đông), là đệ tử của Đầu Tử Nghĩa Thanh—Zen master Fu-Reng-Yi-Qing was born in 1043 in Yi-Chou (now the city in southern San-T'ong Province), was a disciple of T'ou-Tzi-Yi-Qing. • Sư hỏi Đầu Tử: “Ngôn giáo của Phật Tổ như việc cơm nước thường ngày trong nhà, lìa rời việc nầy riêng có chỗ vì người hay chăng?” Đầu Tử đáp: “Ngươi nói sắc lệnh của Thiên Tử trong cõi nầy, lại nhờ vua Võ, vua Thang, Nghiêu, Thuấn hay chăng?” Sư suy nghĩ để đáp lại. Đầu Tử lấy phất tử bịt miệng sư, nói: “Ngươi phát ý ra đã đáng ăn ba mươi gậy rồi.” Ngay câu nói nầy, sư tỉnh ngộ, đảnh lễ, liền lui ra. Đầu Tử gọi: “Xà Lê hãy lại đây.” Sư chẳng ngó lại. Đầu Tử nói: “Ngươi đến chỗ chẳng nghi chăng?” Sư liền bịt tai—Fu-Rong asked T'ou-Tzi: “The words of the Buddhas and ancestors were about everyday things such as drinking tea or eating rice. Besides this, does the teaching have anything special for people or not?” T'ou-Tzi said: “You speak the Cosmic Emperor's edict. Are you pretending to be Yao, Shun, Yu, and T'ang or not? Fu-Rong wanted to continue speaking but T'ou-Tzi raised his whisk and placed it over Fu-Rong's mouth, saying: “If you have some intention, then you already deserve thirty hits with the stick!” Fu-Rong then experienced enlightenment. He bowed and turned to leave. T'ou-Tzi said: “Come back! Your reverence!” Fu-Rong ignored him. T'ou-Tzi said: “Have you come to the place of no doubt?” Fu-Rong then covered his ears with his hands. • Một hôm, sư theo Đầu Tử đi dạo vườn trà. Đầu Tử trao cây gậy cho sư, sư nhận lấy liền đi theo sau Đầu Tử. Đầu Tử bảo: “Lý nên thế ấy.” Sư thưa: “Cùng Hòa Thượng xách giày cầm gậy, cũng chẳng phải việc phần ngoài.” Đầu Tử bảo: “Vẫn có người đồng hành.” Sư thưa: “Đây là một người không nhận dạy.” Đầu Tử thôi hỏi. Đến chiều, Đầu Tử bảo: “Sớm mai nói thoại chưa hết.” Sư thưa: “Thỉnh Hòa Thượng nói tiếp.” Đầu Tử nói: “Mạo sanh nhật, tuất sanh nguyệt.” Sư liền đốt đèn đem đến. Đầu Tử nói: “Ngươi đi lên đi xuống đều không luống công.” Sư thưa: “Ở bên cạnh Hòa Thượng lý phải như thế.” Đầu Tử nói: “Kẻ tôi đòi trong nhà nào mà không có.” Sư thưa: “Hòa Thượng tuổi cao thiếu nó không được.” Đầu Tử hỏi: “Ân cần cái gì?” Sư thưa: “Có phần đền ăn.”—One day, T'ou-Tzi and Fu-Rong were walking in the vegetable patch. T'ou-Tzi came up to Fu-Rong and handed him his staff. Fu-Rong took it, then walked behind T'ou-Tzi. T'ou-Tzi said: “Is this in accordance with principle?” Fu-Rong said: “Carrying the master's shoes or staff for him, it can't be otherwise.” T'ou-Tzi said: “There's one walking with me.” Fu-Rong said: “Who's not learning from you?” T'ou-Tzi went back. When evening came, he said to Fu-Rong: “The master we spoke of earlier isn't finished.” Fu-Rong said: “Master, please speak your mind.” T'ou-Tzi said: “The morning gives birth to the sun. The evening gives birth to the moon.” Fu-Rong then lit the lamp. T'ou-Tzi said: “Your comings and goings, none of it is like that of a disciple.” Fu-Rong said: “Taking care of the master's affairs, this is in accordance with principle.” T'ou-Tzi said: “Servants and slaves, what household doesn't have them?” Fu-Rong said: The master is advanced in years. Neglecting him is unacceptable.” T'ou-Tzi said: “So this is how you apply your diligence!” Fu-Rong said: “One should repay kindness.” • Vào ngày mười bốn tháng tám âm lịch năm 1118, sư hỏi bút giấy, đoạn viết kệ: “Ngô niên thất thập lục Thế duyên kim dĩ túc Sanh bất ái thiên đường Tử bất phạ địa ngục Tán thủ hoành thân tam giới ngoại Đằng đằng nhận vận hà câu thúc.” (Ta tuổi bảy mươi sáu, Duyên đời nay đã đủ Sanh chẳng thích thiên đường Chết chẳng sợ địa ngục Buông tay đi ngang ngoài tam giới Mặc tình vươn bổng nào buộc ràng). Sau đó, sư thị tịch. On the fourteenth day of the eighth lunar month in the year 1118, Fu-Rong asked for a brush and paper. He then wrote this verse: “I'm seventy-six years old, My causational existence is now completed In life I did not favor heaven In death I don't fear hell Hands and body extend beyond the three realms. What stops me from roaming as I please? Soon after writing this verse, the master passed away.
phù dung đạo khải
Fuyo Dokai (J)Tên một vị sư.
phù hoặc nhuận sinh
(扶惑潤生) Nhờ phiền não giúp đỡ mà sinh trong 3 cõi. Nghĩa là Bồ tát vì cứu độ chúng sinh nên không đoạn từ phiền não, ngược lại, còn nhờ sự giúp đỡ của phiền não mà sinh vào 3 cõi để làm lợi ích cho chúng sinh. Đây là hạnh nguyện của Xiển đề đại bi.
phù hộ
To protect (spirits).
phù hợp
To agree—To correspond—To accord.
phù khổng
Lổ hỏng xuyên qua bọng cây trôi lền bềnh trên biển, mà con rùa một mắt tình cờ nhìn thấy được mặt trăng, quả là cơ hội hiếm có, giống như cơ hội được gặp Phật quả là hiếm hoi vậy—A hole in a floating log, through which a one-eyed turtle accidentally obtains a glimse of the moon, the rarest of chances, e.g. the rareness of meeting a Buddha.
phù khởi
(扶起) Đối lại: Thôi đảo (xô ngã), Phóng đảo. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Đỡ dậy, nâng đỡ. Tức chỉ cho phương pháp hòa hoãn, khéo léo mà bậc thầy sử dụng trong khi tiếp hóa chỉ dạy người học. Đại tuệ Phổ giác Thiền sư ngữ lục quyển 7 (Đại 47, 838 trung) nói: Xô ngã, đỡdậy, có khách có chủ. Vô môn tắc 11 (Đại 48, 294 trung) ghi: Ngài Triệu châu xét nghiệm Am chủ và nói: Nếu người ở trong đó mà hạ được một chuyển ngữ thì thấy đầu lưỡi của Triệu châu không có xương. Đỡ dậy xô ngã đều được tự tại.
phù kiên
(苻堅) (338-385) Vua nhà Tiền Tần đời Đông Tấn, tự Vĩnh cố hoặc Văn ngọc. Ông là người học rộng, nhiều tài, có chí trị nước an dân, hay khoan dung độ lượng, kẻ sĩ đều vui mà theo về. Ông giết chúa Phù sinh rồi tự lên làm vua, lấy hiệu là Tần thiên vương, bình định đất Bắc, thôn tính Uyển Tương. Sau, giao chiến với nhà Đông Tấn ở sông Phì thủy, thua trận quay về, bị Diêu trành giết chết ở chùa Phật tại Tân bình, lúc đó là tháng 5 năm Thái nguyên thứ 10 đời Tấn, hưởng dương 48 tuổi. Bình sinh ông rất kính tin Tam bảo, ưu đãi các bậc cao tăng, cung kính nghe giảng pháp. Ông từng sai sứ mang kinh và tượng Phật đến nước Cao li, mở đầu việc truyền bá Phật giáo ở Hàn quốc và Nhật bản. Ông rước ngài Đạo an đến Tương dương, tiếp đãi với lễ nghi đặc biệt và thỉnh ý về các việc lớn trong nước. Ông nghe danh ngài Cưu ma la thập liền sai tướng súy đi đón rước. Lúc sắp bị hại, ông vẫn bình thản và y phục chỉnh tề, lễ Phật rồi mới chịu chết.
phù li mô bích
(扶籬摸壁) Đỡ bờ dậu, sờ bức vách. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa đen là 2 tay nâng hàng rào, sờ tường vách, giống như mò tìm vật gì trong đêm tối. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho người phàm phu dùng tâm phân biệt mà suy lường cảnh giới Phật. Bích nham lục tắc 7 (Đại 48, 147 hạ) nói: Sóng cao 3 cấp cá hóa rồng, người ngu ra sức tát ao đêm (Đỡ dậu sờ vách, đẩy cửa nhà bên. Nạp tăng cần gì? Ôm cây đợi thỏ).
Phù Luật
(扶律): tức Phù Luật Thuyết Thường (扶律說常) hay Phù Luật Đàm Thường (扶律談常), dụng ngữ dùng để nói về hạng người chuyên miệt thị giới pháp, thấy Như Lai nhập diệt rồi sinh ngộ giải cho rằng chính Phật cũng vô thường. Từ này chủ ý muốn nhấn mạnh vấn đề giữ gìn giới luật và Phật tánh là thường trụ. Đối với Thiên Thai Tông thì từ này dùng để nói về giáo thuyết của Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經).
phù luật đàm thường
(扶律談常) Cũng gọi Phù luật thuyết thường. Nói về luật và lí thường trụ để giúp đỡ cho Giới môn và Giáo môn. Đây là dụng ngữ của tông Thiên thai hiển bày giáo thuyết trong kinh Niết bàn. Đức Phật thương xót những chúng sinh độn căn ở đời mạt pháp, dễ sinh ra cái thấy đoạn diệt, hủy phá giới pháp, quên mất giáo thừa, cho rằng Như lai là vô thường, lại đọc tụng ngoại điển, như thế thì giới và thừa đều không và hủy mất tuệ mệnh của pháp thân thường trụ; do đó, trong kinh Niết bàn, đức Phật giảng về giới luật để phù trợ Giới môn (giới luật), rồi lại nói rõ về lí Phật tính thường trụ để phù trợ Thừa môn (giáo thừa), vì thế gọi là Phù luật đàm thường. Lại nữa, trong kinh Niết bàn, đức Phật tuyên thuyết Phù luật đàm thường là để chuộc lại tuệ mệnh pháp thân cho những chúng sinh độn căn đời mạt pháp, cho nên giáo pháp Phù luật đàm thường gọi là Mạt đại thục mệnh Niết bàn(Niết bàn chuộc mệnh đời mạt pháp). [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.2, phần cuối]. (xt. Mạt Đại Thục Mệnh Niết Bàn).
phù luật đàm thường giáo
Giáo pháp phù trợ giới luật, thuyết giải Phật tính thường trụ, như trong Kinh Niết Bàn—The teaching which supports the rules and speaks of the eternal, i.e. the Nirvana Sutra.
phù mộc
Khúc gỗ nổi (dụ con rùa mù và khúc gỗ nổi)—A floating log—See Manh Quy.
; (浮木) Bộng cây nổi. Được làm người, được nghe Phật pháp là một việc vô cùng khó khăn, ví như con rùa mù giữa biển cả mênh mông, trải qua nghìn năm khó được một lần gặp bộng cây nổi.[X. kinh Tạp a hàm Q.15; kinh Niết bàn Q.1, 23 (bản Bắc)]. (xt. Manh Qui Phù Mộc).
phù nam quốc
(扶南國) Cũng gọi Bạt nam, Ấp tâm, Các mậu. Nước Phù nam (Funan), tên xưa của Kampuchia, nằm về phía nam của bán đảo Trung nam. Cứ theo Lương hải nam chư quốc truyện 48 và Thông điển quyển 188, vào thời đại Tam quốc, thế lực của nước Phù nam đã dần dần được mở rộng, nước Ngô từng sai các sứ giả như Khang tần, Chu ứng… đến Phù nam. Mới đầu, các sứ Tàu thấy người Phù nam đều ở truồng, sứ Tàu khuyên họ mặc quần áo, họ mới khoác tấm vải trên mình và quấn váy. Niên hiệu Vĩnh ninh năm đầu (301) đời Tây Tấn, Quốc vương Phù nam sai sứ sang Trung quốc triều cống 1 pho tượng Phật bằng vàng có khắc rồng và tháp bằng ngà voi; như vậy đủ biết, ngay từ thế kỉ III, IV, Phật giáo đã được truyền đến Phù nam. Theo Nam Tề thư liệt truyện 39 thì vào năm Vĩnh minh thứ 2 (484) đời Nam Tề, vua Phù nam là Kiều trần như sai đạo nhân Thích na già tiên, người Thiên trúc, đến Trung quốc triều cống tượng Long vương ngồi và tháp bằng ngà voi.Trongdịp này, sứ Phù nam Thích na già tiên dâng thư nói rằng nước Phù nam là đất được thần Ma hê thủ la thiên bảo hộ, cũng là nơi Phật pháp lưu thông. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 11, vào đầu năm Thiên giám (502-519), sa môn nước Phù nam là Mạn đà la tiên mang kinh tiếng Phạm sang Trung quốc triều cống, rồi cùng với ngài Tăng già bà la ở Dương đô cùng dịch các kinh gồm 3 bộ, 11 quyển, như kinh Bảo vân... Đến năm Thiên giám thứ 5 (507), 2 vị lại dịch các kinh, luận gồm 11 bộ, 38 quyển, như kinh A dục vương, luận Giải thoát đạo... Theo Lương thư hải nam chư quốc truyện 48, năm Đại đồng thứ 5 (539), vua Vũ đế nghe nước Phù nam có sợi tóc Phật dài 1 trượng 2, liền phái sa môn Vân bảo sang nghinh tiếp, lại gặp Tam tạng Chân đế đang ở nước này, bèn thỉnh ngài về Trung quốc. Căn cứ vào các ghi chép trên đây, người ta được biết, trước đời Đường, chẳng những Phật giáo Đại thừa đã được truyền bá ở Phù nam mà ngay cả những bộ luận quan trọng của Phật giáo Nam truyền cũng đã được lưu hành ở xứ này. Cho mãi đến khi Ấn độ giáo được sùng bái thì Phật giáo mới bắt đầu suy thoái dần, đó chính là tình trạng được miêu tả trong lời Tựa của Nam hải kí qui nội pháp truyện (Đại 54, 205 trung): Vua bạo ác đã hủy diệt tất cả, không còn chúng tăng, chỉ có các ngoại đạo ở lẫn lộn. Nước Phù nam đến đầu đời Đường vẫn còn là 1 nước độc lập, nhưng đầu năm Trinh quán (627-649) thì bị nước Chân lạp thôn tính sáp nhập. Sau khi vua Phù nam hợp nhất với Chân lạp thì khoảng đầu thế kỉ IX, vua Jayavarman II đóng đô ở Angkor Thom, cách Tonlé-Sap về mạn bắc khoảng 22 km và bắt đầu xây dựng các cung điện, già lam... trải qua 10 triều đại, đến thế kỉ XII mới hoàn thành, cùng với Bolo-Budur ở đảo Java là 2 viên ngọc trong nghệ thuật kiến trúc của nhân loại hiện còn đến ngày nay. Cách Angkor Thom về phía nam khoảng 1,6 km có Angkor-Vat do vua Sùryavarman II xây dựng vào giữa thế kỉ XII. Angkor Thom và Angkor-Vat vốn là các kiến trúc thuộc Phật giáo, như tượng thần thế tự tại (Phạm:Lokezvara) khắc ở thành Angkor chính là tượng Quan thế âm của Phật giáo. Về sau, vì Phật giáo suy vi nên 2 kiến trúc này mới dần dần bị đổi lại làm thành các đền thờ của Ấn độ giáo. Vào thế kỉ XIV, Phật giáo Nam truyền được du nhập Phù nam, thế mạnh của Phật giáo dần dần được khôi phục, Angkor Thom và Angkor-Vat được đặt dưới sự quản chưởng của chư tăng Thái lan, trong các điện đường đều đặt tượng Phật, Bồ tát để thờ. Đến thế kỉ XV, người Thái lan công hãm thành Angkor, Vương triều Khmer phải dời về phía nam, Angkor trở thành hoang vu, lâu dần bị cây rừng nhiệt đới trùm lấp mất. Mãi đến thế kỉ XIX, hai học giả người Pháp là các ông Henri Monkot và P. Pelliot mới tìm ra, kho tàng cổ tích Angkor được coi là 1 trong những kì quan của thế giới và tình hình Phật giáo nước Phù nam đã từng thịnh đạt 1 thời cũng được lịch sử ghi nhận. Trước thời cộng sản, Phật giáo là quốc giáo của Kampuchia, Quốc vương thống lãnh cả chính trị và tông giáo. Nhiệm vụ của tăng sĩ, ngoài việc dùng văn tự Kampuchia viết chép Tam tạng Pàli, còn phụ trách các nghi thức cầu cúng và giáo dục quốc dân. Nhưng sau khi Khmer đỏ thống trị thì tất cả hoạt đông tông giáo đều bị nghiêm cấm, chùa tháp, kinh tượng bị phá hủy, chúng tăng buộc phải hoàn tục...[X. Tục cao tăng truyện Q.1; Chân đế truyện; Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Tùy thư nam man truyện 47; Cựu đường thư nam man truyện 147; Minh sử chân lạp truyện 212; Cổ kim đồ thư tập thành biên duệ điển 101; Le Cambodge par E. Aymonier; History of Indian and Eastern Architecture, vol. II by J. Fergusson].
Phù nang
(浮囊): túi không khí, tức áo phao ngày nay; là vật cần thiết cho người qua biển không bị chìm đắm, chết đuối. Như trong Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa (一切經音義, Taishō Vol. 54, No. 2128) quyển 3 định nghĩa rằng: “Kim kinh ngôn phù nang giả, khí nang dã; dục độ đại hải, bằng thử khí nang khinh phù chi lực dã (今經言浮囊者、氣囊也、欲渡大海、憑此氣囊輕浮之力也, nay trong kinh nói về phù nang, là túi không khí; muốn qua biển lớn, nhờ vào sức nhẹ nỗi lên của túi phao này).” Từ đó, phù nang được dùng để chỉ cho một vật vô cùng cao quý, giá trị còn hơn cả thân mạng con người, có thể giúp hành giả vượt qua biển sanh tử luân hồi. Như trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 375) quyển 11, Phẩm Thánh Hạnh (聖行品) thứ 19, đề cập đến câu chuyện có người cầm túi phao này muốn đi qua biển lớn; lúc ấy có con quỷ La Sát đến cầu xin túi phao, người ấy trả lời rằng: “Nhữ ninh sát ngã, phù nang phả đắc (汝寧殺我、浮囊叵得, người tha giết tôi, chứ túi phao thì không thể được).” Và túi phao này được ví như việc hành trì cấm giới, oai nghi không sai khuyết. Như trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 87, phần Thuật Ý Bộ (述意部), đưa ra các ví dụ như: “Thiện liệu chúng bệnh, dụ chi lương y; năng tiêu cơ khát, dụ chi Cam Lộ; tiếp tế trầm nịch, dụ chi kiều lương; vận độ đại hải, dụ chi phù nang; chiếu trừ hôn ám, dụ chi đăng quang (善療眾病、喻之良醫、能消飢渴、喻之甘露、接濟沉溺、喻之橋梁、運度大海、喻之浮囊、照除昏暗、喻之燈光, khéo chữa các bệnh, dụ cho thầy thuốc; tiêu trừ đói khát, dụ cho Cam Lộ; tiếp cứu chìm đắm, dụ cho cầu đường; chở qua biển lớn, dụ cho túi phao; chiếu trừ tăm tối, dụ cho đèn sáng).” Hay trong Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Tăng Chú (沙彌律儀要略增註, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1118) quyển 1, phần Thượng Thiên Giới Luật Môn (上篇戒律門), có đoạn: “Giới thị việt khổ hải chi phù nang, trang nghiêm Pháp Thân chi Anh Lạc, cố tu cẩn thận (戒是越苦海之浮囊、莊嚴法身之瓔珞、故須謹愼, giới là túi phao vượt qua biển khổ, ngọc Anh Lạc để trang nghiêm Pháp Thân, phải nên cẩn thận).”
phù nang
A floating bag, a swimming float, a lifebuoy.
; Chiếc phao (vật mà người đi sông lớn hay biển thường hay mang theo để đề phòng chết đuối. Phù nang ví như giới cấm đối với người tu. Muốn vượt qua biển khổ, muốn chấm dứt luân hồi, người tu phải giữ gìn giới luật, không giữ giới thì chẳng khác nào đâm lủng phao, chẳng những không qua được bờ bên kia, mà còn bị nhận chìm trong biển đời sanh tử nữa)—A floating bag, a swimming float, a lifebuoy.
; (浮囊) Túi nổi. Tức cái phao của những người đi biển mang theo để đề phòng khi đắm thuyền; người đi biển nếu không có phao thì thường lo chết đuối. Các kinh luận thường dùng phù nang để ví dụ giới luật. Nghĩa là Bồ tát vâng giữ giới cấm, tâm mình kiên cố, giống như kim cương, không hề xao lãng; cũng như người đi biển, quí trọng cái phao, luôn giữ bên mình, vì sợ mất mạng. [X. phẩm Thánh hạnh trong kinh Niết bàn Q.11 (bản Bắc); Tuệ lâm âm nghĩa Q.3].
phù phiếm
Futility
phù phép phù du
Externalist guru or shaman.
phù sinh
Short life.
phù sơn cửu đới
(浮山九帶) Gọi đủ: Phật thiền tông giáo nghĩa cửu đới tập. Chín phương pháp dắt dẫn người học của Thiền sư Phù sơn Pháp viễn đời Tống, tức là những ngữ cú của tông môn mở bày cho người học được họ biên tập lại và đặt tên là: Phật thiền tông giáo nghĩa cửu đới tập, gọi tắt: Phù sơn cửu đới. Đó là: 1. Phật chính pháp nhãn tạng đới: Thấu suốt tất cả lí nghĩa sâu xa, triệt ngộ chính pháp của Phật. 2. Phật pháp tạng đới: Phật pháp vốn truyền riêng ngoài giáo, nhưng vì phương tiện hóa độ, nên Phật tổmới dùng giáo pháp để chỉ dạy mọi người. 3. Lí quán đới: Lời nói không thể diễn tả được lí tột cùng của Phật pháp, nhưng mọi hành vi, cử chỉ như nhướng mày, chớp mắt đều là Phật pháp. 4. Sự quán đới: Núi sông đất đai tất thảy là Phật pháp. 5. Lí sự tung hoành đới: Lí sự dung thông, tự tại lưu hành trong thế giới Phật. 6. Khuất khúc thùy đới: Tuy đã chứng ngộ thành Phật, nhưng không an trụ trong quả vị Phật mà vẫn làm Bồ tát để cứu độ chúng sinh. 7. Diệu hiệp kiêm đới: Không chấp trước thì đại dụng liền hiển hiện. 8. Kim châm song tỏa đới: Từ lập trường Lí sự tung hoành đới, lại tiến lên bước nữa, không chấp trước vào thế giới Phật mà tự do tự tại. 9. Bình hoài thường thực đới: Phật pháp chân thực chẳng có gì đặc biệt mà chỉ là những việc tầm thường hàng ngày như mặc áo, ăn cơm... [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2].
Phù Sơn Pháp Viễn
(浮山法遠, Fusan Hōon, 991-1067): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Trịnh Châu (鄭州, Tỉnh Hà Nam). Ông theo xuất gia với Tam Giao Trí Tung (三交智嵩), sau đó kế thừa dòng pháp của Quy Tỉnh (歸省) ở Diệp Huyện Quảng Giáo Viện (葉縣廣敎院) vùng Nhữ Châu (汝州, Tỉnh Hà Nam). Chính Âu Dương Tu (歐陽修) đã từng đến làm môn đệ và tham học với ông. Sau ông đến trú tại Phù Sơn (浮山), Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy), cử xướng tông phong của mình. Ngoài ra, ông còn được Đại Dương Cảnh Huyền (大陽警玄) bí mật phó chúc cho và giao y hậu giày dép cho Đầu Tử Nghĩa Thanh (投子義青).Vào ngày mồng 6 tháng 2 năm thứ 4 niên hiệu Trị Bình (治平), ông thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi, và được ban cho thụy hiệu là Viên Giám Thiền Sư (圓鑑禪師).
phù sơn thập lục đề
(浮山十六題) Mười sáu phạm trù biện biệt tông chỉ do Thiền sư Phù sơn Pháp viễn đời Tống đặt ra. Đó là: 1. Thức tự tông (biết tông mình): Cần phải biết tông chỉ xưa nay, không để bị rơi vào lời nói, suy lường. 2. Tử trung hoạt (sống trong chết): Dứt hẳn suy tính, nghĩ lường. 3. Hoạt trung tử (chết trong sống): Bám níu vào lời nói thì xa lìa chân tướng. 4. Bất lạc tử hoạt (không rơi vào sống chết): Không rơi vào 2 bên, không trụ ở 1 vật thì được thung dung tự tại. 5. Bội xả (quay lưng lại vứt bỏ): Quay lưng lại với sự, vứt bỏ lí, chẳng phàm chẳng thánh, lìa 4 câu, bặt trăm phi (chẳng phải có chẳng không...). 6. Bất bội xả (không quay lưng lại, không vứt bỏ): Không tổn hại sự và lí, tùy duyên mà không trái với Phật pháp. 7. Hoạt nhân kiếm (Kiếm cứu sống người): Nói năng mà không phạm vào ngọn lưỡi, buông tha mà tự do tự tại. 8. Sát nhân đao (Dao giết người): Đả phá cái thấy phàm thánh. 9. Bình thường: Những việc tầm thường hàng ngày đều là Phật pháp. 10. Lợi đạo bạt sinh (Lợi đạo cứu người): Vận dụng đạo lớn của Phật tổ cứu giúp chúng sinh. 11. Ngôn quá vô thất (Nói không lầm lỗi): Lời nói dù thô tháo hay tế nhị đều hợp với Phật pháp. 12. Thấu thoát: Vượt thoát tất cả sự ràng buộc. 13. Thấu thoát bất thấu thoát: Vượt thoát sự trói buộc, nhưng nếu chỉ dừng lại ở cảnh vượt thoát thì rốt cuộc lại bị cảnh ấy trói buộc. 14. Xưng dương: Khen ngợi và nêu cao Phật pháp. 15. Hàng cú (chế ngự câu nói): Không nói năng bông lông, im lặng hợp Phật pháp. 16. Phương nhập viên (vuông nhập vào tròn): Nói năng động tác tất cả đều nhập vào biển lớn Phật pháp. [X. Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.trung].
phù sớ
Tên khác của Kinh Niết Bàn mà tông Thiên Thai cho rằng là sự khuếch đại của Kinh Pháp Hoa—Supporting Commentary, another name for the Nirvana Sutra. According to the T'ien-T'ai, it is an amplification of the Lotus Sutra.
Phù Sứ
(符使): tức Phù Quan (符官). Đối với Đạo Giáo, đây là vị thần quan thủ hộ các bùa chú, phù lục. Như trong Tỉnh Thế Hằng Ngôn (醒世恆言), phần Lữ Đồng Tân Phi Kiếm Trảm Hoàng Long (呂洞賓飛劍斬黃龍), có đoạn: “Đồng Tân ư kinh khuông lam nội thủ nhất cá tiên quả, dữ Phù Sứ ngật liễu, bái tạ thượng mã nhi khứ (洞賓於荆筐籃內取一個仙果、與符使吃了、拜謝上馬而去, Đồng Tân lấy một trái tiên từ trong giỏ tre, cùng quan Phù Sứ ăn xong, bái tạ rồi lên ngựa mà đi).”
Phù Tang
(扶桑): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tên của vị thần Phù Tang (Thần Mộc), ở phương Đông của Trung Quốc, nằm trong biển nơi mặt trời mọc. (2) Nó còn là tên gọi của Nhật Bản, nơi có nhiều cây hoa Phù Tang (dâm bụt, Chinese hibiscus, China rose, Hibiscus rosa-sinensis L., thuộc Khoa Cẩm Quỳ [錦葵, Malvaceae]). Phù Tang Đại Đế (扶桑大帝) là tên gọi khác của Đông Vương Công (東王公), Đông Vương Phụ (東王父), Đông Hoa Đế Quân (東華帝君), Phù Tang Đế Quân (扶桑大帝), Thanh Đồng Quân (青童君), Thanh Đề Đế Quân (青提帝君), Đông Phụ (東父), Đông Quân (東君), Mộc Công (木公), v.v., là vị tiên nhân trong thần thần thoại Trung Quốc, vị vua ở phương Đông, thường đối ứng với Tây Vương Mẫu (西王母); nghĩa là Tây Vương Mẫu thống suất các tiên nữ trên thiên giới, còn Đông Vương Công thì thống lãnh các tiên nam. Về lai lịch của Phù Tang Đại Đế hay Đông Vương Công, có nhiều ký lục khác nhau. Chẩm Trung Thư (枕中書) thì cho rằng ông do Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊) và Thái Nguyên Thánh Mẫu (太元聖母) sanh ra. Trong khi đó, Thần Dị Kinh (神異經) do (東方朔, 154-93 ttl) nhà Hán soạn, lại ghi rằng: “Đông hoang sơn trung hữu đại thạch thất, Đông Vương Công cư yên; trường nhất trượng, đầu phát hạo, nhân hình điểu diện nhi hổ mao, tải nhất hắc hùng, tả hữu cố vọng (東荒山中有大石室、東王公居焉、長一丈、頭髮皓、人形鳥面而虎尾、載一黑熊、左右顧望, trong núi hoang vu phía Đông có một hang đá lớn, là nơi Đông Vương Công ở; thân ông dài một trượng, đầu tóc trắng, hình người, mặt chim mà lông cọp, mang một con gấu đen, nhìn quanh phải trái).” Lại có thuyết cho rằng Đông Hoa Đế Quân lãnh đạo các tiên nam, có họ là Nghê (倪), tên Quân Minh (君明). Khi thiên hạ đang còn hỗn độn, ông sanh ra trên biển xanh, sáng tạo ra vạn vật, chủ quản khí âm dương ở phương Đông. Ngày sinh nhật của ông là mồng 6 tháng 2 Âm Lịch. Cho nên, trong Thượng Chơn Chúng Tiên Ký (上眞眾仙記) cũng cho biết rằng: “Phù Tang Đại Đế trú tại bích hải chi trung, trạch địa tứ diện, tinh phương tam vạn lí, thượng hữu Thái Chơn Quân, Bích Ngọc Thành (扶桑大帝住在碧海之中、宅地四面、並方三萬里、上有太眞宮、碧玉城, Phù Tang Đại Đế ở trong biển xanh, có nhà và đất bốn mặt, vuông vức 30.000 dặm, trên có Thái Chơn Quân, Bích Ngọc Thành).” Cũng có thuyết khác cho rằng Đông Hoa Đế Quân có liên quan đến tín ngưỡng thời Xuân Thu Chiến Quốc (春秋戰國). Đương thời tín ngưỡng vị thần Đông Hoàng Thái Nhất (東皇太一) ở vùng đất Sở, còn gọi là Đông Quân (東君), tức là Thần Thái Dương (太陽神, hay Thái Dương Tinh Quân [太陽星君]) biến hóa; được xem như là hóa thân của Đông Vương Cung hay Đông Hoa Đế Quân. Có thuyết khác cho rằng Đông Hoa Đế Quân tên là Vương Huyền Phủ (王玄甫), sư phụ của Chánh Dương Chân Nhân Chung Ly Quyền (正陽眞人鍾離權); tương truyền ông là tiền thân của Thuần Dương Chân Nhân Lữ Nham (純陽眞人呂岩, tức Lữ Đồng Tân [呂洞賓]). Thuyết này có thể thấy trong các truyện tiểu thuyết như Bát Tiên Đắc Đạo Truyện (八仙得道傳), Đông Du Ký (東遊記), v.v. Trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, CBETA No. 1497) quyển 3 có đoạn rằng: “Đông Nhạc Thiên Tề Nhân Thánh Đế, Ngũ Nhạc Thánh Đế, Ngũ Nhạc Tá Mạng Chơn Quân, Thủy Phủ Phù Tang Đại Đế, Tứ Đại Hải Vương, Tứ Độc Nguyên Công, Thủy Phủ chư thần, Ngũ Phương Long Vương, Tứ Hải Cửu Giang Ngũ Hồ Thất Trạch chư Long Vương chúng (東嶽天齊仁聖帝、五嶽聖帝、五嶽佐命眞君、水府扶桑大帝、四大海王、四瀆源公、水府諸神、五方龍王、四海九江五湖七澤諸龍王眾, Đông Nhạc Thiên Tề Nhân Thánh Đế, Ngũ Nhạc Thánh Đế, Ngũ Nhạc Tá Mạng Chơn Quân, Thủy Phủ Phù Tang Đại Đế, Tứ Đại Hải Vương, Tứ Độc Nguyên Công, Thủy Phủ chư thần, Ngũ Phương Long Vương, các chúng Long Vương khắp bốn biển, chín sông, năm hồ, bảy suối).”
phù tang
(扶桑) Một nước thần tiên ở phương đông trong truyền thuyết, hoặc chỉ cho nước Nhật bản. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 36, vào niên hiệu Vĩnh nguyên năm đầu (499) đời Nam Tề, có 1 vị sa môn người Phù tang tên là Tuệ thâm giả đến Kinh đô Trung quốc. Nước Phù tang nằm cách Trung quốc 3 vạn dặm về phía đông. Vào năm Đại minh thứ 5 (461) đời Lưu Tống, có 5 vị sa môn nước Kế tân đến Phù tang truyền pháp thì Phật pháp mới lưu hành ở đó. Nhưng năm Đại minh thứ 5 tương đương với đời Thiên hoàng Hùng lược của Nhật bản năm thứ 5, còn niên đại Phật pháp truyền vào Nhật bản thì sau Thiên hoàng Hùng lược rất xa, cho nên e rằng sự ghi chép trên đây có lầm lẫn.
Phù Tang Lược Ký
(扶桑略記, Fusōryakki): sử thư được thành lập vào cuối thời Bình An, là biên niên sử bằng Hán văn trong khoảng thời gian từ thời Thần Võ Thiên Hoàng (神武天皇, Jimmu Tennō) cho đến Quật Hà Thiên Hoàng (堀河天皇, Horikawa Tennō), trước tác của Hoàng Viên (皇圓, Kōen) thuộc Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan). Nguyên gốc bộ này có 30 quyển, nhưng bản hiện tồn là bản tàn khuyết, chỉ còn 16 quyển và sao bản mà thôi. Nó căn cứ vào điển tịch của Lục Quốc Sử (六國史) cũng như các truyện xưa có liên quan đến tự viện, và trong các điều khoản có nêu lên xuất xứ điển tịch.
phù tang thiền lâm tăng bảo truyện
(扶桑禪林僧寶傳) Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Tính đôn soạn vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, được thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư tập 109. Nội dung thu chép truyện kí của 117 vị cao tăng Nhật bản. Năm Vĩnh lịch 15 (1661) đời Minh, ngài Tính đôn sang Nhật bản. Đến năm Diên bảo thứ 3 (1675) ngài soạn xong bộ sách này. Đầu quyển có lời tựa của tác giả, mục lục, bài biểu, cuối quyển phụ thêm lời bạt và cuối mỗi truyện cũng có bài tán ca ngợi đức hạnh. Năm Trinh hưởng thứ 3 (1686), ngài Tính đôn lại soạn Tục phù tang thiền lâm tăng bảo truyện, 3 quyển, nói về sự tích của 48 vị, bắt đầu từ ngài Tuệ xuân và cũng được thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư tập 109.
phù thế
(浮世) Cũng gọi Ưu thế, Phù sinh. Cuộc đời biến động, trôi nổi không cố định, đầy dẫy lo khổ; tức bao hàm ý nghĩa thế gian là vô thường. Kinh Cự lực trưởng giả sở vấn đại thừa quyển thượng (Đại 14, 830 thượng) nói: Cõi đời trôi nổi không bền chắc, hệt như cảnh thấy trong giấc mộng. Tại Nhật bản, vào thời đầu Giang hộ, thiên hạ thái bình, nên từ ngữ Phù thế đã mất hàm ý sâu xa mà biến thành ý niệm hưởng lạc và bao hàm nghĩa hiện thế.
Phù Thế Hội
(浮世會, Ukyoe): một loại hình thức tranh thế tục vốn phát triển rất phổ cập dưới thời đại Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867); đặc biệt nó tạo ra cái đẹp độc đáo trong những bức tranh trên bảng gỗ. Nó thoát thai từ thể loại tranh phong tục, người đẹp vốn rất thịnh hành từ thời đại Đào Sơn đến Giang Hộ; và đến hậu bán thế kỷ 17 thì được Lăng Xuyên Sư Tuyên (菱川師宣) tạo nền tảng vững chắc cho thể loại tranh áp vào bảng gỗ, rồi đến năm 1765 thì Linh Mộc Xuân Tín (鈴木春信) đã khai sáng ra loại tranh ấn loát trên bảng với nhiều màu sắc phong phú; cuối cùng nó đạt đến đỉnh cao rực rỡ hoàng kim. Chủ đề của thể loại tranh này là lấy những cảnh tương tợ như dạo chơi thôn xóm, tình cảnh đóng kịch, người đẹp, võ sĩ, v.v., làm trung tâm. Ngoài những nhân vật vừa nêu trên, còn có những tác giả nổi tiếng khác như Điểu Cư Thanh Tín (鳥居清信), Tây Xuyên Hựu Tín (西川祐信), Điểu Cư Thanh Trường (鳥居清長), Hỷ Đa Xuyên Ca Lữ (喜多川歌麿), Đông Châu Trai Tả Lạc (東洲齋寫樂), Cát Sức Bắc Trai (葛飾北齋), Ca Xuyên Quảng Trọng (歌川廣重), v.v. Từ thế kỷ thứ 19 trở đi, thể loại tranh này cũng có ảnh hưởng đến mỹ thuật Châu Âu.
Phù trần
浮塵; C: fúchén; J: fujin;|»Bụi lăng xăng«. Là mọi hiện tượng tạo tác. Vì không nhận ra chân tính của mình, nên thấy các pháp sinh khởi và hoại diệt một cách lăng xăng không có cơ sở.
phù trần
Floating dust.
; Bụi nổi—Tất cả các pháp hữu vi đều như bụi nổi, không chân thực. Nó che lấp mất chân tính—Floating dust or atoms, unstable matter, i.e. phenomena which hide reality.
; (浮塵) Bụi nổi trong hư không, ví dụ tất cả các pháp hữu vi, hư giả không thực, như bụi nổi, làm nhơ nhớp chân tính. [X. kinh Lăng nghiêm Q.2].
phù trần căn
Indriya (S). The organs of sensation, eye, ear etc. in contrast with the function or faculty of sensation thắng nghĩa căn.
; Ngũ Trần Phù Trợ Chính Căn hay ngoại hình của ngũ căn, có thể thấy được hay nghe được như thị giác, thính giác, vân vân, là phù trần phù trợ “chính căn.” Đối lại với thắng nghĩa căn—The external organs of sensation, i.e. of sight, hearing, etc, which aid the senses. Also means “fleeting,” or “vacuous,” these external things having an illusory existence; the real organs, or indriya; in contrast with the function of faculty of sensation.
; (扶塵根) Cũng gọi Phù căn, Phù căn trần. Hình bề ngoài của 5 căn (5 khí quan) do da thịt tạo thành mà ta có thể nhìn thấy được, như mắt, tai, mũi, lưỡi...Bản thân các căn này không có tác dụng sinh ra thức để duyên theo các cảnh, mà chỉ là các trần có công năng phù trợ chính căn (Thắng nghĩa căn), đồng thời làm chỗ y cứ cho Chính căn phát sinh nhận thức mà thôi.[X. luận Câu xá Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2]. (xt. Thắng Nghĩa Căn).
Phù trần căn 扶塵根
[ja] フジンコン fujinkon ||| See 根. => Xem Căn根.
Phù trần 浮塵
[ja] フジン fujin ||| Literally, "floating dust." All created phenomena. Because of lack of awareness of our true nature, all things rise and fall haphazardly without basis. => 'Bụi lăng xăng'. Là mọi hiện tượng tạo tác. Vì không nhận ra chân tính của mình, nên thấy các pháp sinh khởi và hoại diệt một cách lăng xăng không có cơ sở.
phù tát
Bodhisattva (skt)—See Bồ Tát.
Phù tưởng
浮想; C: fúxiăng; J: fusō;|Vọng tưởng, niệm tưởng lăng xăng.
phù tưởng
Passing thoughts, unreal fancies.
; Những tư tưởng phù phiếm không thật—Passing thoughts, unreal fancies.
Phù tưởng 浮想
[ja] フソウ fusō ||| Floating thoughts; false thoughts. => Vọng tưởng, niệm tưởng lăng xăng.
phù tập nhuận sinh
(扶習潤生) Cũng gọi Thệ phù tập sinh. Nhờ sức thệ nguyện phù trợ cho tập khí còn rớt lại để được sinh trong 3 cõi. Đây là tiếng dùng của tông Thiên thai hiển bày tướng tu của Bồ tát địa thứ 9 trong 10 địa thuộc Tam thừa thông giáo. Bồ tát Thông giáo, để được thành Phật, ắt phải tu hạnh lợi tha làm lợi ích chúng sinh trong 3 cõi; nhưng đến địa thứ 7 thì đã đoạn từ hết Kiến hoặc và Tư hoặc, không còn sinh lại trong 3 cõi nữa, vì thế phải lập thệ nguyện, nhờ sức thệ nguyện của mình phù trì cho tập khí còn sót lại, được sinh trong 3 cõi mà cứu độ chúng sinh để thành tựu hạnh lợi tha, đó gọi là Phù tập nhuận sinh. Về bồ tát Tạng giáo thì dù đã chế phục được Kiến hoặc, Tư hoặc, nhưng chưa hoàn toàn dứt hết, nên vẫn còn nhân (...) sinh trong 3 cõi. Còn các bồ tát Viên giáo và Biệt giáo, tuy đã dứt hết Kiến, Tư hoặc, nhưng do thế lực của hoặc Vô minh nên vẫn phải sinh trong 3 cõi. Bởi vậy, Phù tập nhuận sinh chỉ hạn cuộc ở bồ tát Thông giáo mà thôi. [X. luận Đại trí độ Q.27, 28; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1, 4; Duy ma kinh huyền sớ Q.3; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 6; Tứ niệm xứ Q.2; Tứ giáo nghĩa Q.9; Thiên thai bát giáo đại ý; Thiên thai tứ giáo nghi].
phù vân
A drifting cloud, e.g. this life, the body etc.
; Đời sống hay thân nầy cũng trôi nổi giống mây bay vậy—A drifting cloud, e.g. this life, or the body.
; (浮雲) Mây nổi, 1 trong 10 ví dụ của kinh Duy ma.Mây nổi tụ tán không định, biến hóa khó lường, dụ cho thân người vô thường, chốc lát bỗng tan biến. [X. phẩm Phương tiện kinh Duy ma].
phù đà
See Buddha and Stupa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Phật in Vietnamese-English Section.
phù đà bạt ma
(浮陀跋摩) Phạm: Buddhavarman. Cũng gọi Phật đà bạt ma. Hán dịch: Giác khải. Cao tăng người Tây vực, đến Trung quốc dịch kinh vào đời Lưu Tống. Thủa nhỏ sư đã có tiết tháo, sáng suốt, thẳng thắn, thông minh hơn người, làu thông Tam tạng, nhất là luận A tì đàm tì bà sa. Sư thương trì tụng bộ luận này và lấy đó làm tâm yếu. Trong năm Nguyên gia, sư đến Bắc Lương. Lúc đó, sa môn Đạo thái tìm được 10 vạn bài kệ bản tiếng Phạm của luận A tì đàm tì bà sa ở vùng phụ cận Thông lãnh, thỉnh sư dịch sang Hán văn. Năm Thừa hòa thứ 5 (437 – năm Nguyên gia 14 đời Lưu Tống), sư vâng mệnh chúa Bắc Lương là Thư cừ Mục kiền đến chùa trong cung Nhàn dự tại thành Lương châu, dịch bộ luận này, ngài Đạo thái bút thụ, các sa môn Tuệ trung, Đạo lãng cùng với hơn 300 vị tăng chuyên về nghĩa học hiệu đính văn nghĩa. Đến năm Thừa hòa thứ 7 (439) thì dịch xong bộ luận, tất cả 100 quyển. Chưa bao lâu thì Ngụy diệt Bắc Lương, bao nhiêu kinh sách đều bị đốt hết, bản dịch bộ luận cũng bị thất lạc, sư trở về Tây vực tị nạn, sau không biết sư thị tịch ở đâu. Về sau, Lương vương sao chép được 60 quyển, truyền đến Tống triều, ngài Đạo đĩnh làm bài Tựa, đây chính là luận Bà sa bản cũ. [X. Lương cao tăng truyện Q.3; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9].
phù đầu
See Buddha and Stupa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Phật in Vietnamese-English Section.
Phù Đồ
(浮圖, 浮屠): còn gọi là Phật Đồ (佛圖), ý dịch của chữ stūpa (s.) và thūpa (p.), nghĩa là tháp. Trong Ngụy Thư (魏書), quyển 114, phần Thích Lão Chí (釋老志) có đoạn: “Tự lạc trung cấu Bạch Mã Tự, thạnh sức Phật Đồ, họa tích thậm diệu, vi tứ phương thức; phàm cung tháp chế độ, do y thiên trúc cựu trạng nhi trùng cấu chi, tùng nhất cấp chí tam, ngũ, thất, cửu, thế nhân tương thừa, vị chi Phù Đồ (自洛中構白馬寺、盛飾佛圖、畫跡甚妙、爲四方式、凡宮塔制度、猶依天竺舊狀而重構之、從一級至三、五、七、九、世人相承、謂之浮圖, trong kinh đô xây dựng Bạch Mã Tự, trang trí tháp Phật, nét vẽ tuyệt diệu, theo bốn phương thức; phàm chế độ cung tháp, đều nương theo hình trạng cũ của Thiên Trúc [Ấn Độ] mà kiến lập, từ một tầng cho đến ba, năm, bảy, chín tầng; người đời kế thừa, gọi đó là Phù Đồ).” Như trong bài Khương Cư Quốc Hội Tôn Giả Tượng Tán (康居國會尊者像贊) của Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, CBETA No. 1452) quyển 18 có câu: “Thường văn Tôn Quyền sơ kiến Hội công, nghi kỳ hình phục, cập cầu Xá Lợi hữu nghiệm, toại kiến Phù Đồ (嘗聞孫權初見會公、疑其形服、及求舍利有驗、遂建浮圖, thường nghe rằng ban đầu khi Tôn Quyền mới gặp Khương Tăng Hội thì nghi ngờ hình tướng vị này, bèn cầu xin Xá Lợi và có linh nghiệm, cuối cùng kiến lập tháp thờ).” Hay như trong Tát Đàm Phân Đà Lợi Kinh (薩曇分陀利經, Taishō No. 265) cũng có đoạn: “Thị thời, thất bảo Phù Đồ, dũng tùng địa xuất thượng chí Phạm Thiên, Phù Đồ trung ương, hữu thất bảo đại Giảng Đường, huyền tràng phan hoa cái, danh hương thanh khiết (是時、七寶浮圖、涌從地出上至梵天、浮圖中央、有七寶大講堂、懸幢幡華蓋、名香清潔, lúc bấy giờ, tháp bằng bảy báu, từ đất vọt ra lên đến Phạm Thiên, giữa trung tâm tháp, có Giảng Đường bằng bảy báu, treo tràng phan, lọng báu, hương thơm tinh khiết).” Trong Tăng Quảng Hiền Văn (增廣賢文) có câu: “Cứu nhân nhất mạng, thắng tạo thất cấp Phù Đồ (救人一命、勝造七級浮屠, cứu người một mạng, hơn tạo bảy cấp tháp thờ).” Và tục ngữ dân gian Việt Nam cũng có câu tương tự như vậy: “Dẫu xây chín bậc Phù Đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người.”
phù đồ
Buddha-stŪpa (S).
; Stùpa (S) Pagoda, shrine. Also Buddha.
; 1) Buddha (skt): Còn gọi là Hưu Đồ, là âm khác của Phật Đà—Another name for Buddha—See Buddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Phật in Vietnamese-English Section. 2) Stupa (skt): Xưa gọi Phật giáo là Phù Đồ, về sau nầy từ Phù Đồ dùng để chỉ riêng tháp thờ xá lợi Phật—Formerly “Phù Đồ” means “Buddhism;” however, nowadays, it is used to indicate a stupa of Buddha's relics—See Stupa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (浮圖) Cũng gọi Phật đồ, Bồ đồ, Hưu đồ. I. Phù Đồ. Phạm: Buddha. Dịch âm đúng của từ Buddhaphải là Phật đà, dịch Phù đồ là sai. Trung quốc đời xưa gọi Phật đà là Phù đồ thị, gọi Phật giáo là Phù đồ giáo. Ngụy thư thích lão chí nói: Phù đồ, gọi đúng là Phật đà, tiếng Phật đà và Phù đồ gần giống nhau, đều là tiếng Tây trúc, đến Trung quốc chuyển làm 2 âm; Hán dịch là Tịnh giác. (xt. Phật). II. Phù Đồ. Dịch sai âm của tiếng Phạm: Buddhastùpa (Pàli: Buddha-thùpa) chỉ cho chùa Phật, tháp Phật, Tốt tháp bà. Luận Đại trí độ quyển 11 (Đại 25, 144 thượng) nói: Vua A du già 1 ngày làm 8 vạn Phật đồ. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.20; Loại tụ danh vật khảo Q.25]. (xt. Tháp).
phù đồ từ
(浮屠祠) Nhà thờ phụng đức Phật, tức là chùa thờ Phật ở Trung quốc vào thời kì Phật giáo mới được truyền nhập. Chữ Phạm Buddha, dịch cũ: Phù đồ; dịch mới: Phật đà. Tương truyền, Phù đồ từ đầu tiên tại Trung quốc là do cư sĩ Sạ dung xây dựng ở vùng Từ châu vào những năm cuối đời Đông Hán, trong đó thờ tượng Phật đúc bằng đồng có mạ vàng bên ngoài, là tượng đồng mạ vàng xưa nhất ở Trung quốc. Còn tượng Phật thờ trong Phù đồ từ của Sở vương anh và vua Hoàn đế (ở ngôi 146-167) nhà Đông Hán là tượng vẽ. Ngoài ra, pho tượng Phật đồng mạ vàng xưa nhất hiện còn đã được đúc vào năm Kiến vũ thứ 4 (338) đời Hậu Triệu.
Phù-đà Mật-đà
浮陀蜜陀; S: buddhamitra;|Tổ thứ 9 của Thiền tông Ấn Ðộ
Phù-đà Nan-đề
浮陀難提; S: buddhanandi;|Tổ thứ 8 của Thiền tông Ấn Ðộ
Phù-đồ
浮圖; C: fútú; J: futo;|Phiên âm chữ buddha (Phật 佛) hoặc chữ stūpa (tháp 塔) từ tiếng Phạn. Còn có thể chỉ cho chùa viện hoặc là tăng sĩ Phật giáo. Cũng được dùng chỉ Phật pháp (viết 浮屠).
Phù-đồ 浮圖 , Phù-đồ 浮屠
[ja] フズ futo ||| (1) A transcription of the Sanskrit term buddha 佛. (2) A transcription of the Pali term Thūpa (s: Stūpa) 塔 (ta). (3) The Buddhist teachings. Can also refer to a temple or member of the Buddhist clergy--a Buddhist. => 1. Phiên âm chữ buddha (Phật 佛) từ tiếng Sanskrit. 2. Phiên âm chữ Thūpa từ tiếng Pali, chữ stūpa ( tháp 塔) trong tiếng Sanskrit . 3. Phật pháp. Còn có thể chỉ cho chùa viện hoặc là tăng sĩ Phật giáo–người Phật tử
phùng mộng trinh
(馮夢禎) (1548-1595) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Minh, người Tú thủy (Gia hưng, Chiết giang), tự là Khai chi. Ông có khí tiết cao thượng, giỏi văn chương. Khoảng năm Vạn lịch (1573-1620) đời vua Thần tông, ông thi đậu Trạng nguyên, làm quan đến chức Quốc tử giám tế tửu. Ông vốn kính tín Phật pháp, thích giao tiếp với các Thiền sư, từng xin ngài Vân thê Châu hoành thụ giới Bồ tát. Ông giữ giới rất nghiêm cẩn, lại cùng với ngài Tử bá Chân khả tu Tam muội niệm Phật. Ông chích máu viết kinh, khắc in Đại tạng. Ông tụng kinh Lăng nghiêm hàng ngày và soạn chú thích lưu hành. Năm Vạn lịch 22, ông qua đời, hưởng dương 48 tuổi, thụy hiệu là Trang giản, được phong tặng Thái Tử Thái Bảo. Ông để lại các tác phẩm: Lịch đại cống cử chí, Khoái tuyết đường tập, Khoái tuyết đường mạn lục. [X. Minh sử Q.317; Minh nhân tiểu truyện Q.3; Thi chí cư thi thoại 15].
phùng tiếp
(馮楫) (?-1153) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Tống, người Toại ninh, tỉnh Tứ xuyên, tự Tế xuyên. Ông từng làm quan, giữ các chức Cấp sự, Tri sự. Lúc tuổi tráng niên, ông tham học ngài Phật nhãn Thanh viễn và nối pháp của ngài. Sau, ông lại tham yết ngài Đại tuệ Tông cảo và được tâm ấn. Về già, ông siêng tu Tịnh độ, nguyện vãng sinh Tây phương, xuất tiền tu bổ Đại tạng kinh. Năm Thiệu hưng 23 (1153), ông qua đời, có ngữ lục lưu hành ở đời. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.20; Ngũ đăng toàn thư Q.44; Cư sĩ phần đăng lục Q.hạ; Giathái phổ đăng lục Q.23].
phú
Mṛaksa (S), Makkha (P)Che dấu tội lỗi vì sợ tổn thương danh dự. Một trong 10 tiểu tùy phiền não.
; 1) Che dấu: Một trong các địa pháp tiểu phiền não (sợ mất danh dự mà che dấu tội lỗi của mình)—Covering—Deceit—See Tùy Phiền Não. 2) Giàu sang—Rich—Wealthy—Well-supplied. 3) Ném: To throw—To overthrow.
; (覆) Phạm: Mrakwa. Pàli: Makkha. Che giấu, tên 1 loại tâm sở, tức tâm che dấu tội lỗi vì sợ tổn thương danh dự. Một trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Tông Câu xá cho Phú là 1 trong các Tiểu phiền não địa pháp, 1 trong 10 triền; còn tông Duy thức thì cho Phú là 1 trong các Tiểu tùy hoặc. Theo luận Đại tì bà sa quyển 40 thì Phú là tham đắm danh lợi, hoặc do vô tri nên che dấu tội lỗi của mình, là đẳng lưu của tham và si. Lại vì Phú sinh khởi một cách tự tại, nên là phiền não do Tu đạo đoạn trừ, tương ứng với Ưu (lo âu) và Hỉ (mừng) trong 5 thụ (cảm nhận). [X. luận Câu xá Q.21; luận Thành duy thức Q.6; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Thuận chính lí Q.54].
phú bát
Bát lộn ngược đặt dưới chín vòng tròn trên nóc chùa—The inverted bowl at the top of a pagoda below the nine circles.
phú bạch
Phủ một tấm khăn nhỏ lên bức tượng—To throw a coverlet over an image.
phú ca la
Pudgala (skt)—See Phú Già La.
phú cường
See Phú Hào.
phú diện
1) Vải che mặt: A veil for the face. 2) Che mặt: To cover the face.
phú gia
A wealthy family.
phú già la
Pudgala (skt)—Bổ Đặc Già La—Phú Đặc Ca La—Chúng sanh có hình tướng, dáng vẻ và tâm thức (con người): Living beings that have form, body and soul (living beings that have body, matter, the soul, personal identity, interpreted by man, men, human being, and all the living). 1) Hữu tình: The sentient beings. 2) Tất cả chúng sanh: All living beings. 3) Tất cả chúng sanh chịu luân lưu trong luân hồi sanh tử: All living beings subject to metempsychosis. 4) Thú hướng: Direction, or transmigration.
phú giảng
Trả bài cho thầy—To repeat a lesson to a teacher.
phú hào
Wealthy and powerful.
phú hậu
Enormously rich.
phú hộ
See Phú Gia.
phú khí
1) Đồ dùng để ngăn cản hay tắc, chẳng hạn như đồ tắc nước, hay ngói không cho nước thấm vào nhà: Things for turning off, e.g. water, as tiles do. 2) Tâm bị tắc nghẽn không thấm được đạo pháp: Impermeable resistant to teaching.
phú khả sĩ
(富可士) Foucaux, Philippe Edouard (1811-1894) Học giả Ấn độ học người Pháp, là học trò của ông E. Burnouf. Từ năm 1842 về sau, ông dạy tiếng Tây tạng và văn học Phạm ngữ. Ông lần lượt ấn hành bản Tạng Pháp đối chiếu kinh Phương quảng đại trang nghiêm (Phạm: Lalitavistara – 1847-1848) và bản dịch tiếng Pháp của kinh này (1884-1892). Đồng thời, hợp lực với các ông Minayeff, Ivan Pavlovitch (1840-1890) và Julien, Stanislas (1799-1873), hiệu đính Phiên dịch danh nghĩa đại tập (Phạm: Mahàvyutpatti). Ngoài những công trình nói trên,ông còn có các tác phẩm: -Doctrine des Bouddhists sur le Nirvàịa, 1864. -Grammaire de la langue tibetaine, 1858. -Màlavikàet Agnimitra, 1877. -Sakountalà, 1877; Vikramorvacì, 1879.
phú kiên
Mặc phủ lên vai (loại áo cà sa phú-kiên-y che vai phải; trong khi kỳ-chi-y là áo che vai trái)—To throw a robe over the shoulder.
phú la
Pula or Para (skt). 1) Quốc độ: Pura (skt)—Land—Country—City. 2) Chiếc giày ngắn dùng để trang sức: A short-legged (ornament) boot—Boot or shoe ornamentation.
phú la bạt đà la
See Phú La (2).
phú lan na
(富蘭那) Phạm: Puràịa. Danh từ gọi chung các Thánh điển của Ấn độ giáo cổ đại. Thánh điển này được viết thành sách vào khoảng thế kỉ I trước Tây lịch đến thế kỉ X và lưu truyền đến ngày nay. Có thể chia làm 2 loại: Đại phú lan na (Phạm: Mahàpuràịa) và Tục phú lan na (Phạm: Upapuràịa). Mỗi loạilạiđược chia làm 18 bộ. Đại phú lan na nói về phép cúng tế, tập tục... là kinh điển y cứ của các giáo phái, bao gồm 18 thứ Phú lan na: Phạm thiên, Liên hoa, Tì thấp nô, Phong thần, Bạc già phạm, Na la đà, Ma căn đức da, Hỏa thần, Vị lai, Phạm chuyển, Lâm già, Dã trư, Thất kiến đà, Chu nho, Qui, Ngư, Đại bằng và Phạm noãn. Tục phú lan na thì bao gồm 5 tướng điển hình (Phạm: Paĩcalakwaịa) của Phú lan na: Vũ trụ sáng tạo (Phạm: Sarga), Thế giới thành hoại (Phạm: Pratisarga), Hệ phổ của các thần tiên (Phạm: Vaôza), Sự cai trị thế gian của Ma noa (Phạm: Manvantara) và Hệ phổ của vương thống dòng Nhật chủng, Nguyệt chủng (Phạm: Vaôzànucarita). Phú lan na mang đặm sắc thái Ấn độ giáo, mỗi giáo phái đều rút tỉa lấy nội dung của sách này để giải thích giáo nghĩa của phái mình. Bởi thế, theo sự biến thiên của thời đại và địa vực, Phú lan na cũng đã mất đi cái phong cách nguyên thủy của nó. Tuy nhiên, trên đại thể, vì nội dung Phú lan na chứa đựng những thành phần như tập tục, truyền thống, triết học thông tục, y học, kiến trúc, thi ca, âm nhạc... nên nghiễm nhiênnóđã trở thành tư liệu quí giá cho việc nghiên cứu văn hóa Ấn độ cổ đại. Có thuyết cho rằng người biên soạn sách này cũng chính là Tì da sa (Phạm: Vyàsa) – soạn giả của thiên anh hùng ca Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata).
phú lan na ca
PŪrṇajit (S)Phú NaMột vị Đại La hán, đại đệ tử Phật.
phú lan na ca diếp
Pùrana Kàsyapa (S).
; Puruna-kasyapa (skt)—See Bất Lan Ca Diếp.
; (富蘭那迦葉) Phạm: Pùraịa-kàzyapa. Pàli: Pùraịa-kassapa, Puràịakassapa. Cũng gọi Phú lan ca diếp, Phất lan ca diếp, Lão ca diếp, Bổ lạt noa ca diếp ba, Bố lạt noa ca diếp ba. Gọi tắt: Phú lan na, Bô lạt noa. Tên của ngoại đạo ở Trung Ấn độ vào thời đại đức Phật, là 1 phái trong Lục sư ngoại đạo. Phú lan na, Hán dịch: Mãn (đầy đủ), Cứu cánh (rốt ráo), là tên của ngoại đạo này; Ca diếp, Hán dịch: Qui(loài rùa), Ẩm quang(uống ánh sáng), Hộ quang (ánh sáng che chở), là họ mẹ của ngoại đạo này. Cứ theo phẩm Địa ngục trong kinh Pháp cú thí dụ quyển 3, Phú lan na ca diếp là 1 thầy Bà la môn ở nước Xá vệ, có 500 đệ tử, từng cùng với đức Phật thi thố đạo lực, bị thua liền nhảy xuống sông mà chết. Có thuyết cho rằng ông là con của nô lệ, thường trần truồng. Theo kinh Sa môn quả trong Trường a hàm quyển 17 và kinh Đại bát niết bàn quyển 19 (bản Bắc) thì Phú lan na ca diếp chủ trương Vô nhân luận, Vô đạo đức luận, cho rằng sự mê ngộ của chúng sinh không có nhân duyên gì hết, các nghiệp thiện ác cũng không có quả báo. Cứ theo Tăng chi bộ (Aíguttaranikàya, 6, 75) tiếngPàli, Phú lan na ca diếp chia người làm 6 giai cấp theo 6 màu: Đen, xanh, vàng, đỏ, trắng, trắng phau. 1. Hắc sinh (Pàli: Kaịhàbhijàti): Chỉ cho những người làm các nghề hèn hạ như đồ tể, săn bắn... 2. Thanh sinh (Pàli:Nìlàbhijàti): Chỉ cho các tỉ khưu Phật giáo và các nhà chủ trương Nghiệp luận, Sở tác luận... 3. Xích sinh (Pàli: Lohitàbhijàti): Chỉ cho đồ chúng của ngoại đạo Ni kiền tử. 4. Hoàng sinh (Pàli: Haliddàbhijàti): Chỉ cho người lõa hình tại gia. 5. Bạch sinh (Pàli: Sukkhàbhijàti): Chỉ cho ngoại đạo Tà mệnh. 6. Tối thắng bạch sinh (Pàli: Paraamasukkhàbhijàti): Chỉ cho Nan đà bạt ta (Pàli:Nanda-vaccha), Cù sa thương cát ca (Pàli: Kisa-saíkicca), Mạt già lợi cù xá lê tử (Pàli: Makkhali-gosàla)... [X. kinh Tiễn mao trong Trung a hàm Q.57; kinh Sa môn quả trong Trường a hàm Q.17; kinh Tăng nhất a hàm Q.32, 39; kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); kinh Tịch chí quả; kinh Soạn tập bách duyên Q.1; kinh Liên hoa diện Q.hạ; kinh Chúng hứa ma ha đế Q.2; Hữu bộ tì nại da xuất gia sự Q.1; Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.10; Chú Duy ma cật kinh Q.3; Ma ha chỉ quán Q.10, phần đầu; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26; Ngoại đạo triết học; Ấn độ triết học nghiên cứu Q.2].
phú lan đà la
Purandara (skt). 1) Người phá vở thành lũy: Stronghold breaker, fortress destroyer. 2) Một tên khác của Thần Sấm Sét: Another name for Indra for thunder-god.
phú lâu na
PŪrna (S)Mãn từ tử, Mãn nguyện tử, Mãn kiến tử;Một trong thập đại đại đệ tử. Trọn tên là Purna Maitrayaniputtra: Phú lâu na Di đa la ni tử. Ngài Phú la nâu (Purna) được Phật Thích Ca thọ ký vể vị lai sẽ thành Phật có hiệu này, cõi thế giới của Ngài là Thiện Tịnh, kỳ kiếp là Bảo Minh.
; Pùrna (S).
; Purna (skt)—Phú Lâu Na Di Chất Na Ni Tử, con của trưởng giả Ba-Va và một người gái nô lệ. Ông là một trong 1250 vị A La Hán đệ tử Phật, cũng là một trong thập đại đệ tử của Phật có biệt tài thuyết pháp. Bị người anh bạc đãi trong thương vụ, nhưng ông đã cứu người anh nầy trong một chuyến đắm tàu. Về sau ông xây một tịnh xá hiến cho Phật. Ông được Phật thọ ký sẽ thành Phật đời vị lai với hiệu là Pháp Minh Như Lai—Purnamaitrayaniputra, or Maitrayaniputra, son of Bhava by a slave girl, often confounded with Maitreya. One of the 1250 Arhat disciples of the Buddha. He was also one of the ten great disciples of the Buddha. He was the chief preacher among the ten principal disciples of Sakyamuni. Ill-treated by his brother, engaged in business, saved his brother from shipwreck by conquering Indra through samadhi. He built a vihara (monastery) for Sakyamuni. The Buddha predicted that he would become a Buddha titled Dharmaprabhasa.
; (富樓那) Phạm: Pùrịa. Pàli: Puịịa. Gọi đủ: Phú lâu nadiđa la ni tử (Phạm: Pùrịa-maitràyaịìputra, Pàli: Puịịamantàni-putra). Cũng gọi: Bố lạt noa mai đãn lợi duệ ni tử, Phân nậu văn đà ni tử. Gọi tắt: Phú lâu na, Di đa la ni tử. Hán dịch: Mãn từ tử, Mãn chúc tử, Mãn nguyện tử. Mãn là tên của ngài, Từ là họ mẹ; vì lấy họ mẹ nên gọi là Mãn từtử. Di đa la là tên tộc của bà mẹ, có nghĩa là chúc, nguyện, vì thế gọi là Mãn chúc tử, Mãn nguyện tử, tên vị A la hán, 1 trong 10 Đại đệ tử của đức Phật, người Ca tì la bà tô (tức Ca tì la vệ), con vị Quốc sư triều vua Tịnh phạn, thuộc dòng Bà la môn. Ngài có dung mạo đoan chính, thông minh từ thủa nhỏ, am hiểu các luận Phệ đà, lớn lên ngài cảm thấy chán thế tục, muốn tìm đường giải thoát, nên vào đúng đêm Thái tử Tất đạt đa vượt thành, ngài cùng với 30 bạn hữu đồng thời xuất gia theo pháp Ba lê bà già ca, vào núi Tuyết, khổ hạnh tinh tiến, cuối cùng được Tứ thiền, Ngũ thông. Đến khi đức Phật thành đạo, chuyển pháp luân ở vườn Lộc dã, ngài đến chỗ Phật cầu xuất gia thụ giới Cụ túc, sau đó chứng được quả A la hán. Vì ngài có biện tài vô ngại, khéo phân biệt nghĩa lí, nên ngài chuyên thuyết pháp giáo hóa, những người nhờ nghe ngài thuyết pháp mà được giải thoát có tới 9 vạn 9 nghìn, vì thế ngài được tôn là Thuyết pháp đệ nhất. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 13 và luật Ma ha tăng kì quyển 23 thì người Thâu lư na ở miền tây Ấn độ hung ác thô bạo, thích chửi mắng, ngài bèn xin phép đức Phật đến nước ấy giáo hóa. Ngài thuyết pháp độ được 500 ưu bà tắc, xây dựng 500 tăng già lam, khiến cho việc an cư mùa hạ được đầy đủ. Sau, ngài nhập Vô dư niết bàn ở xứ này. Theo phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trong kinh Pháp hoa quyển 4, đức Phật thụ kí cho ngài trong vị lai sẽ thành Phật, hiệu là Pháp minh Như lai. Ngoài ra, theo Đại đường tây vực kí quyển 4 thì ở đô thành của nước Mạt thố la vẫn còn tòa tháp thờ xá lợi của ngài. [X. kinh Tạp a hàm Q.10, 16; kinh Thất xa trong Trung a hàm Q.2; phẩm Đệ tử kinh Tăng nhất a hàm Q.3; phẩm Phú lâu na xuất gia trong kinh Phật bản hạnh tập Q.37; kinh Mãn nguyện tử; phẩm Đạo hạnh trong kinh Đạo hành bát nhã Q.1; luận Phân biệt công đức Q.4; luận Đại trí độ Q.3; Huyền ứng âm nghĩa Q.3, 8].
phú lâu na di đa la ni tử
PŪrṇa-maitrayaniputtra (S)Xem Purna.
; Purna-Maitrayaniputtra (skt)—See Phú Lâu Na.
phú lâu na phú la
Purusapura (skt)—Phú Lâu Sa Phú La—Phú Lưu Sa Phú La—Trượng Phu Thổ, tên một vương quốc cổ, phía Bắc Ấn Độ, bây giờ là Peshwar, nơi mà người ta nói rằng Ngài Thiên Thân Bồ Tát đã ra đời—The ancient capital of Gandhara, north of India, the modern Peshawar, stated to be the native country of Vasubandhu.
phú lâu sa
Purusa (skt). 1) Nhân loại: Man—Mankind. 2) Con người được nhân cách hóa làm Na La Diên Thiên (một loại trời): Man personified as Narayana—See Narayana. 3) Tâm Thức: Soul and source of the universe. 4) Thần Ngã: The spiritual self. 5) Ngã: Atman (skt)—Ego—Tánh chất đặc biệt của “ngã” là tư tưởng, và qua một chuỗi thay đổi của kiếp hiện hữu—The atman whose characteristic is thought, and which through successive modifications, all forms of existence—See Atman in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
phú lâu sa phú la
Purusapura (skt)—See Phú Lâu Na Phú La.
phú lưu sa phú la
Purusapura (skt)—See Phú Lâu Na Phú La.
phú mộ
Vong linh trở về viếng mồ ba ngày sau khi đã được chôn cất—To return to visit a grave on the third day after internment.
Phú Mộc Thường Nhẫn
(富木常忍, 1216-1299): tức Phú Mộc Nhật Thường (富木日常, Tōki Nichijō), người ngoại hộ đắc lực cho Nhật Liên, vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và cuối thời Liêm Thương, húy là Thường Nhẫn (常忍), Nhật Thường (日常); hiệu là Thường Tu Viện (常修院). Vốn là quan có thế lực của dòng họ Thiên Diệp (千葉, Chiba) ở vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa), trong khoảng thời gian niên hiệu Kiến Trường (建長, 1249-1256), ông quy y theo Nhật Liên ở vùng Liêm Thương; từ đó về sau, ông trở thành tín đồ dắc lực cho Nhật Liên trong việc ủng hộ Tông môn và truyền bá giáo nghĩa. Sau khi Nhật Liên qua đời, ông xuất gia và biến nhà ông thành chùa, lấy tên là Pháp Hoa Tự (法華寺, tức Pháp Hoa Kinh Tự [法華經寺, Hokkekyō-ji] ở Trung Sơn [中山, Nakayama]), rồi lập nên cơ sở cho Môn Phái Trung Sơn. hơn nữa, ông có công rất lớn trong việc bảo tồn các di thư của Nhật Liên. Trước tác của ông có Thường Tu Viện Bổn Tôn Thánh Giáo Sự (常修院本尊聖敎事).
phú na
Xem Phú lan na ca.
; Punya, Punar, or Purna (skt)—See Phú Lâu Na.
phú na bà tô
Punarvasu (skt)—Tên của một vị sư Ấn Độ—Name of an Indian monk.
phú na bạt đà
Purnabhadra (skt)—Tên cùa một Thần tướng—Name of a spirit-general.
phú na da xá
Punyayasas (skt)—Phú Na Dạ Xoa—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (11).
phú na dạ xa
Puṇyayaśa (S), Punyayasha Tổ thứ 11 trong 28 vị tổ Phật giáo Ấn độ.
; Punyayasas (skt)—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (11).
; (富那夜奢) Phạm: Puịyayazas. Cũng gọi Phú na dạ xá, Phú na xa, Phú na, Dạ xa. Tổ thứ 10 (có thuyết nói tổ thứ 11) của Thiền tông Ấn độ được phó pháp tạng, người ở thành Hoa thị Trung Ấn độ, là con thứ 7 của trưởng giả Không thân. Cứ theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 5 thì ngài thụ pháp ở nơi Hiếp tôn giả, thuyết pháp thù thắng, giáo hóa vô lượng chúng sinh. Sau, ngài tranh luận về Phật pháp với ngài Mã minh, ngài nói nghĩa Đệ nhất nghĩa đế không, vô ngã, khuất phục được ngài Mã minh và thu nhận làm đệ tử, đến khi lâm chung thì phó pháp. Nhưng Mã minh bồ tát truyện và bài tựa Tát bà đa bộ kí mục lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 12 thì cho rằng tỉ khưu Hiếp là thầy của ngài Mã minh, mà không nói đến tên ngài Phú na dạ xa. Còn trong Đại trang nghiêm luận kinh quyển 1 có ghi câu Vô cấu thanh tịnh tăng Phú na, Hiếp tỉ khưu chứng tỏ ngài Mã minh rất kính trọng 2 vị này. [X. Bảo lâm truyện Q.3; Cảnh đức truyền đăng lục Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.5; Nội chứng Phật pháp tương thừa huyết mạch phổ].
phú na dạ xa tổ sư
Puṇyagasa (S)Tổ sư thứ 11 trong 28 vị Tổ sư Phật ghiáo tại Ấn.
phú na kỳ
Purneccha (skt). 1) Tên của một loại ngạ quỷ (khi Đức Phật đang trụ tại tịnh xá Trúc Lâm trong thành Vương Xá, tôn giả Mục Kiền Liên thấy một con quỷ thân hình đen đủi như cột nhà cháy, bụng to như núi, cổ khẳng khiu như cây kim, vừa chạy khắp nơi vừa la hét om sòm, đòi phân và nước tiểu để uống. Ngài Mục Kiền Liên bèn đến hỏi Đức Phật. Đức Phật đáp: “Trong đời Hiền Kiếp nầy ở thành Xá Vệ, có một vị trưởng giả làm nghề ép mía lấy mật mà trở nên đại phú. Bấy giờ có vị Bích Chi Phật mắc bệnh tiêu khát, bèn đến vị trưởng giả xin nước mía để uống. Vị trưởng giả lòng rất hoan hỷ, bảo với người vợ là Phú Na Kỳ rằng 'tôi có việc cần phải đi gấp, nàng ở nhà hãy lấy nước mía mà bố thí cho vị Bích Chi Phật nầy.' Sau khi chồng đi, người vợ bèn cầm lấy chiếc bát của vị Bích Chi Phật, vào bên trong mà tiểu tiện vào đó, đoạn đổ thêm nước mía vào, rồi đưa cho vị Bích Chi Phật. Vị Bích Chi Phật cầm bát định uống, nhưng biết không phải là nước mía, bèn đổ xuống đất rồi cầm bát không ra về. Người phụ nữ ấy khi thác sanh đọa làm ngạ quỷ, lúc nào cũng bị cơn đói khát ghê gớm dày vò)—Name of a preta, or hungry ghost. 2) Tên của một nhà sư: Name of a monk.
phú na xa
Punyanyasa (S).
phú nông
A rich farmer.
phú quí
Rich and noble.
phú sa
Pusya (skt). 1) Một vị cổ Tiên—An ancient rsi. 2) Tên một chòm sao: Name of a constellation.
phú thương
Rich merchant.
phú thọ
Rich and long-lived.
phú thủ hướng hạ hợp chưởng
(覆手向下合掌) Một kiểu chắp tay với hình thức 2 bàn tay úp (phúc) xuống, 2 ngón cái để song song, đầu của 2 ngón giữa chạm vào nhau. Là kiểu thứ 11 trong 12 kiểu chắp tay của Mật giáo. Mười hai kiểu chắp tay này tức là 12 thứ hình tướng của ấn khế, cùng với 6 thứ Quyền ấn (ấn nắm tay) đều là nền tảng của các ấn khế trong Mật giáo, vì thế được gọi là Ấn mẫu (mẹ của các ấn). [X. Đại nhật kinh sớ Q.13; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.8]. (xt. Thập Nhị Hợp Chưởng).
phú tục đế
Thế Tục Đế—Tục đế chẳng những không lột hết được nghĩa lý mà còn che lấp mất chân lý (thí dụ như sắc vốn không phải là cái bình mà cho là cái bình; thanh vốn không phải là ca khúc mà cho là ca khúc)—The unenlightened inversion of reality, common views of things.
Phú Vĩnh Trọng Cơ
(富永仲基, Tominaga Nakamoto, 1715-1746): học giả và là tư tưởng gia sống vào khoảng giữa thời Giang Hộ; tên là Tử Trọng (子仲); thông xưng là Tam Lang Binh Vệ (三郎兵衛); hiệu Khiêm Trai (謙齋); xuất thân vùng Đại Phản (大阪, Ōsaka). Ông sinh ra trong một gia đình chuyên kinh doanh tương dấm. Phụ thân ông, Cát Tả Binh Vệ (吉左兵衛), là một trong những người sáng lập Hoài Đức Đường (懷德堂). Ban đầu, ông theo học với Tam Trạch Thạch Am (三宅石庵) của Hoài Đức Đường và cuối cùng học về Cổ Văn Từ Học cũng như Phật Giáo. Sau ông mở trường dạy ở nhà và viết các tác phẩm Xuất Định Hậu Ngữ (出定後語), Ông Văn (翁文) để phê phán những việc làm của người đời sau trong ba tôn giáo Nho, Phật, Thần. Ông chủ trương đạo chân thành, phổ biến, không câu nệ vào tôn giáo nào cả; và đã tảo ảnh hưởng to lớn đới với nhóm Bổn Cư Tuyên Trường (本居宣長), Bình Điền Đốc Dận (平田篤胤).
phú ông
A rich man.
phú đa
Putana (skt)—See Bố Đát Na and Phú Đơn Na.
phú đan na quỷ
(富單那鬼) Phú đơn na, Phạm: Pùtana. Cũng gọi Phú đa na quỉ, Bố đát na quỉ. Hán dịch: Xú quỉ, Xú ngã quỉ, Nhiệt bệnh quỉ, Tai quái quỉ. Một trong các loại quỉ thần, là quyến thuộc của Trì quốc thiên, giữ gìn, che chở phương Đông. Theo kinh Hộ chư đồng tử đà la ni, thân hình quỉ Phú đa na giống như lợn (heo),thường làm cho trẻ con đang ngủ giật mình kinh sợ kêu khóc. Còn theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 12, 18, thì quỉ Phú đơn na là loài quỉ có phúc báo hơn hết trong loài quỉ, mình mẩy cực kì hôi thối, nhớp nhúa, hay gây tai họa cho người và súc vật. Ngoài ra, có giống quỉ tên Ca tra phú đơn na (Phạm: Kaỉa-pùtana) là đồng loại với quỉ Phú đơn na. [X. kinh Thủ hộ đại thiên quốc độ Q.hạ; Phiên Phạm ngữ Q.7; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6; Khổng tước kinh âm nghĩa Q.thượng; Đại Phật đính đà la ni khám chú].
phú đà na
Putana (skt)—See Phú Đơn Na.
phú đơn na
Xem Xú ngạ quỉ.
; Putana (skt)—Phú Đà Na—Xú Ngạ Quỷ—Loài quỷ một khi bắt người liền làm cho người ấy cảm thấy như mình đang nằm trên lửa—A kind of demon who once invades a person's body makes that person feel as if he or she is on fire (a class of pretas in charge of fevers).
phú đặc ca gia
Pudgala (skt)—See Phú Già La.
phú đặc ca la
Pudgala (skt)—See Phú Già La.
phú-la-ca-diếp
, một nhân vật Pḥrana Kassapa (P).
Phú-lan-na
tức Phú-lan-na Ca-diếp, phiên âm từ Phạn ngữ Praṇa-kyapa, là một trong sáu vị thầy ngoại đạo vào thời đức Phật, thường gọi chung là lục sư ngoại đạo.
Phú-lan-na Ca-diếp
xem Phú-lan-na.
Phú-lâu-na Di-đa-la-ni tử 富樓那彌多羅尼子
[ja] フルナミタラニシ Furuna mitaranishi ||| See 富樓那. => Xem Phú-lâu-na富樓那.
Phú-lâu-na 富樓那
[ja] ッフルナ Fūruna ||| Purna Maitrāyaniputra, one of the ten principal disciples of Śākyamuni 十大弟子, famous for his eloquence in preaching the dharma. Full Chinese transliteration is 富樓那彌多羅尼子. His name means "son of Maitrāyanī, as his mother Maitrāyanī was also one of Śākyamuni's early disciples. He appears as one of the interlocutors in the Śūrangama-sūtra 首楞嚴經. => s: Purna Maitrāyaniputra. Một trong 10 đệ tử lớn của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni , nổi tiếng về biện tài thuyết pháp. Hán dịch đầy đủ là Phú-lâu-na Di-đa-la-ni tử. Tên ngài có nghĩa là con trai của Maitrāyanī, vì mẹ ngài, Maitrāyanī đời trước cũng là đệ tử của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni . Ngài xuất hiện như là một đương cơ trong pháp hội giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm (s: Śūrangama-sūtra 首楞嚴經).
Phú-lưu-na 富留那
[ja] フルナ furyūna ||| Sanskrit Pūrṇa, Pali Puṇṇa. An Indian scholar associated with Abdhidharma studies. Putative author of the Apidamo jieshenzu lun 阿毘達磨界身足論 => s: Pūrṇa; p: Puṇṇa. Một học giả Ấn Độ quan hệ với môn học A-tỳ-đạt-ma. Được cho là tác giả của A-tỳ-đạt-ma giới thân túc luận (c: Apidamo jieshenzu lun 阿毘達磨界身足論).
Phú-na Da-xá
富那耶舍; S: puṇyayaśa;|Tổ thứ 11 của Thiền tông Ấn Ðộ
Phú-na-bạt-đà
phiên âm từ Phạn ngữ là Prṇabhadra, tên một vị Thần tướng, được dịch nghĩa là Mãn Hiền (滿賢).
Phú-na-kỳ 富那奇
[ja] フナキ Funaki ||| See Pūrṇa 富留那. => Xem Phú-lưu-na.
Phúc
福; S: puṇya; P: puñña; hoặc phúc đức;|Phúc đức nhờ bố thí, hay thực hiện nghi Lễ (s: pūjā), tụng kinh niệm Phật. Người ta cho rằng phúc này có thể tạo Thiện nghiệp để tái sinh trong một đời sống hạnh phúc hơn. Trong Ðại thừa – với mong cầu mọi chúng sinh cùng được giác ngộ – nhiều hành giả không quan tâm đến phúc đức riêng của mình mà »hồi hướng«, trao truyền phúc đức của mình cho mọi người. Ðó là một trong những hạnh Bồ Tát quan trọng.
phúc
Xem phước.
; Punya (S). Blessing, happiness, felicity, good fortune, chance. Có phúc, fortunate, blessed. Làm phúc, to do good, to engage in good works. Con hơn cha là nhà có phúc, blessed is the father whose son outshines him. Cầu phúc, to pray for good chance, for divine blessings.
; 1) Cái bụng: The belly. 2) Phước đức: Blessing—Happiness—Felicity—Good fortune.
; (福) Phạm: Puịya. Pàli: Puĩĩa. Cũng gọi Công đức, Phúc đức. Chỉ cho những hành vicó năng lực mang lại hạnh phúc thế gian, xuất thế gian. Kinh A hàm chia thiện hạnh làm 2 loại: Xuất thế gian vô lậu phạm hạnh và Thế gian hữu lậu phúc đức. Phúc đức chỉ cho việc bố thí... là nhân sinh lên cõi trời của những người tu hạnh tại gia. Phật giáo Bộ phái chia nghiệp buộc chúng sinh trong 3 cõi (thế gian) làm 3 loại: Phúc, Phi phúc, Bất động và cho Phúc nghiệp là nhân mang lại quả thiện trong cõi Dục. Đây là trường hợp Phúc chỉ được hạn cuộc trong thế gian. Đại thừa thì chia hạnh Lục độ làm 2 nghiệp là Phúc và Trí, gọi tất cả thiện hạnh không lấy trí tuệ làm thể là Phúc nghiệp và được coi là nhân để thành Phật. Đây là trường hợp Phúc không bị hạn định ở thế gian thôi mà thông cả xuất thế gian. Kinh Quán Vô lượng thọ cũng chia nhân tuTịnh độ lành Định thiện (khi tu thiện làm cho tâm tập trung vào 1 đối tượng, không để tán lọan) và Tán thiện (dùng tâm tán loạn để tu thiện). Tán thiện lại được chia làm Tam phúc: 1. Thế phúc: Đạo đức thế gian. 2. Giới phúc: Giới luật do đức Phật chế định. 3. Hành phúc: Thiện căn tự hành hóa tha.Do tu nhân phúc đức mà được quả báo hạnh phúc, gọi là Phúc nhân phúc quả. Ngoài ra, lấy chúng tăng làm đối tượng để bố thí có thể sinh ra phúc đức, chúng tăng được gọi là Phúc điền (ruộng phúc). Nhà cửa cung cấp cho người lữ hành và nghèo khổ sử dụng, được gọi là Phúc xá (Phạm: Puịyasàlà).
phúc điền
Zen Master Phúc Điền—Thiền sư Phúc Điền, quê ở Hà Đông. Ngài là người có công trong việc bảo tồn sử liệu Phật Giáo Việt Nam. Ngài thường trụ tại chùa Liên Tông để hoằng pháp. Ngài cũng là người khai sơn chùa Thiên Quang trên núi Đại Hưng ở Hà Nội. Sau đó, không ai biết ngài đi đâu và thị tịch hồi nào—A Vietnamese Zen master from Hà Đông, North Vietnam. He had the credit of preserving a lot of Vietnamese Buddhist history materials. He stayed most of his life at Liên Tông Temple in Hanoi to expand the Buddha Dharma. He was also the founder of Thiên Quang Temple at Mount Đại Hưng in Hanoi. Where and when he passed away were unknown.
phúc báo
A blessed reward, e.g. to be reborn as a man or a deva.
; See Phước Báo.
Phúc Châu Huyền Sa Tông Nhất Đại Sư Quảng Lục
(福州玄沙宗一大師廣錄, Fukushūgenshashūitsudaishikōroku): xem Huyền Sa Quảng Lục (玄沙廣錄, Genshakōroku).
phúc cái
The cover, or canopy, of blessing.
; (福蓋) Lọng phúc, tức phúc đức che thân. Nghĩa là nhờ tu hành thiện nghiệp mà được các phúc lợi làm chỗ nương tựa. Kinh Phúc cái chính hành sở tập (Đại 32, 719 trung) nói: Này các tỉ khưu! Nếu các ông nghiêmgiữgiới luật, siêng đọc tụng kinh điển thì đối với phúc cái, mau được tròn đủ.
phúc cái chính hành sở tập kinh
(福蓋正行所集經) Kinh, 12 quyển, do ngài Long thụ biên tập, ngài Nhật xứng dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung thu chép những lời đức Phật dạy có năng lực thành tựu phúc đức che thân, đồng thời đề cao các thiện nghiệp như 5 giới, 10 thiện đạo; dẫn dụng các kinh Ương quật ma la, kinh Y la diệp long vương nhân duyên, kinh Tạo tác phúc nghiệp, kinh Nan nễ ca... là những kinh điển được ít người biết đến. Kinh này lấy bố thí, trì giới làm trung tâm tu hành các đức, trong đó chưa thấy ngài Long thụ đề cập đến tư tưởng Không, Trung đạo và tư tưởng Đại thừa nói chung.
phúc giảng
(覆講) Cũng gọi Phúc thuật. Giảng lại. Nghĩa là sau khi nghe xong, đệ tử trình bày được những điều mà thầy đã giảng dạy, gọi là Phúc giảng. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6, phần cuối (Đại 33, 761 trung) nói: Đức Phật kia thuyết trong 8.000 kiếp, 16 vị Vương tử giảng lại (phúc giảng) trong 84.000 kiếp. [X. Pháp hoa nghĩa kí Q.7; điều Tĩnh sùng trong Tục cao tăng truyện Q.10].
phúc huệ
(福慧) I. Phúc Tuệ. Cũng gọi Phúc quán. Tức là 2 thứ trang nghiêm: Phúc đức và Trí tuệ. Phúc là các nghiệp thiện bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định thuộc về lợi người;Tuệ là trí tuệ, tức quán niệm chân lí, thuộc về lợi mình.Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 2 (Đại 45, 490 hạ) nói: Trong Chung giáo, bàn về thực hành, thì ngay từ lúc mới phát tâm đã tu cả phúc lẫn tuệ, cho đến khi thành Phật không cần tu pháp nào khác nữa. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa; Ma ha chỉ quán Q.6; Thiền uyển thanh qui Q.6]. (xt. Phúc Trí). II. Phúc Tuệ (1623-?). Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Trừng thọ, Du châu (tỉnh Tứ xuyên), họ Diệp, tự Tư tu, sau đổi là Dạ trúc. Năm 22 tuổi, song thân qua đời, sư nương vào ngài Đông minh hiểu xuất gia. Năm 30 tuổi, khi ở am Thiên trúc tại Độc sơn, được ngài Tuyết lâm chỉ bảo, sư đến lễ yết Thiền sư Sơn huy Hoàn bích ở Long môn và đắc pháp, sư thụ giới Cụ túc ở viện Vạn thọ, rồi trở về Độc sơn. Đầu năm Khang hi (1662-1722), sư khai đường giảng pháp ở viện Tung sơn tại Côn minh, có tới cả nghìn học tăng. Năm Khang hi 26, lúc đó sư đã 65 tuổi, được ngài Sơn huy ở viện Trường tùng phó chúc. Sau, sư lần lượt trụ ở viện Từ vân phủ Vân nam, viện Trúc lâm phủ Mông hóa, viện Ngũ phúc tại Vân châu, phủ Thuận ninh, viện Thiện pháp ở núi Thụ tông, viện Pháp hoa, núi Ngọa long, huyện Phú dân và viện Di lặc ở châu Lộ nam, phủ Trưng giang, tất cả chùa viện trên đều ở tỉnh Vân nam. Sư có các tác phẩm: Tung sơn Dã trúc thiền sư ngữ lục 14 quyển, Tung sơn Dã trúc thiền sư hậu lục 8 quyển.
phúc hạnh
The life or conduct which results in blessing, e.g, being reborn as a man or a deva.
phúc hậu
Kind—Virtuous—Benevolent.
phúc họa
Happiness and misfortunes.
phúc khánh
Blessedness and felicity, blessed felicity; to congratulate on good fortune.
phúc khí
(覆器) Đồ dùng úp xuống. Tức chỉ cho cái miệng của dụng cụ đặt úp xuống đất. Theo luận Đại trí độ quyển 15 thì đức Phật đã dùng phúc khí làm thí dụ để dạy bảo ngài La hầu la. Nghĩa là một khi cái miệng của đồ dùng đã đặt úp xuống thì dù có rót nước, nước cũng không vào; vídụ như người không biết hổ thẹn thì tâm họ đã bị che lấp, tuy dùng đạo pháp để cứu cũng khó vào được. [X. Thích môn qui kính nghi Q.thượng].
phúc kiến tử
(福建子) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người tỉnh Phúc kiến (đất Mân), tên Trí bằng, hiệu Giới thạch. Sư bẩm tính cao khiết, chân thật, đắc pháp nơi ngài Triết ông Như diễm. Năm Thiệu định thứ 2 (1229), đầu tiên sư hoằng pháp ở chùa La hán tại Nhạn sơn thuộc Ôn châu, về sau, sư lần lượt trụ ở Phật nhật tịnh tuệ thiền tự, núi Lâm bình, phủ Lâm an; Bảo phúc thiền tự, núi Đại mai, phủ Khánh nguyên; Hiếu từ chân ứng thiền tự ở Hương sơn; Năng nhân thiền tự ở Thừa thiên, phủ Giang bình; Tịnh từ báo ân quang hiếu thiền tự, phủ Lâm an... Sư để lại tác phẩm: Thạch giới thiền sư ngữ lục 1 quyển. [X. Tục truyền đăng lục Q.35; Ngũ đăng nghiêm thống Q.22; Thiền lâm khẩu thực hỗn danh tập Q.hạ].
phúc lạc
Xem A nan đà.
phúc lạc vô biên
Vāsanānanda (S), Imperishable impression of bliss.
phúc lộc
Happiness and wealth. Phúc lộc thọ. happiness, wealth and longevity.
; Happiness and wealth
phúc lợi
Happiness and benefit.
; Well-being
phúc lực thái tử
(福力太子) Vị Thái tử con vua Nhãn lực và Hoàng hậu Quảng chiếu. Cứ theo kinh Phúc lực thái tử nhân duyên, thủa xưa có vị vua tên là Nhãn lực, rất giỏi việc trị nước an dân, uy đức rộng lớn. Hoàng hậu tên là Quảng chiếu, thường đem vàng bạc châu báu bố thí rộng khắp, đồng thời, tuyên thuyết pháp yếu cho dân chúng nghe. Sau, Hoàng hậu sinh được một con, dung mạo đoan chính, có đầy đủ các thắng tướng phúc lực tốt lành của cõi trời, cho nên đặt tên là Phúc lực.
phúc mộ
(覆墓) Thăm lại phần mộ. Vào ngày thứ 3 sau khi chôn cất thi hài người chết, trở lại viếng thăm và quét tước phần mộ, gọi là Phúc mộ. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 309 hạ) ghi: Ba ngày sau khi an táng, đến thăm lại phần mộ, gọi là Phúc mộ. Đỗ thị nói: Điều này không thấy trong kinh Lễ ghi, chỉ do con hiếu sau khi chôn cất thương tiếc người thân, vả lại, lo rằng phần mộ chưa được hoàn toàn nên đến xem xét lại. Nay, Thích tử đến thăm mộ cũng không có lỗi, vì chăm sóc mà đến.
phúc nghiệp
The karma of blessedness, a happy karma.
; (福業) Phạm: Puịya-karma. Chỉ cho nghiệp thiện hữu lậu có năng lực mang lại quả báo phúc lợi cõi người, cõi trời. Cứ theo Bách luận sớ quyển thượng, phần đầu, thì phúc nghĩa là giàu có, tu hành nghiệp thiện có thể mang lại quả báo vui sướng ở cõi người, cõi trời, vì thế gọi là Phúc nghiệp. Theo phẩm Tam bảo trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 12 thì đức Thế tôn cho bố thí, trì giới (bình đẳng), tu định (tư duy, thuộc định hữu lậu)... là Phúc nghiệp, cũng gọi Tam phúc, hoặc Tam phúc sự nghiệp. (xt. Phúc Đẳng Tam Nghiệp).
phúc nhân
That which causes or gives rise to blessing.i.e. all good deeds.
; 1) Một người sung sướng hạnh phúc: Happy man. 2) Nghiệp nhân cảm ứng từ quả phúc đức, thí dụ như thiện căn: A cause which gives rise to blessing, i.e. all good deeds.
; (福因) Chỉ cho nghiệp nhân mang lại quả báo phúc đức, tức gọi chung các công đức thiện căn bố thí, trì giới... Cứ theo kinh Phúc lực thái tử nhân duyên quyển 1, nếu các hữu tình thường siêng tu phúc nhân thì kết quả đạt được rất thù thắng. Nếu nhờ các nghiệp nhân thiện mà được quả báo phúc đức thì gọi là phúc quả, hoặc có thể gọi là Phúc báo, như được quả thiện của cõi người, cõi trời trong 6 đường. [X. kinh Phúc lực thái tử nhân duyên Q.1].
phúc nhơn sanh phúc quả
Blessed deeds produce blessed rewards, now and hereafter.
phúc phần
(福分) Đối lại: Đạo phần. Đạt được phần phúc đức, 1 trong 2 phần. Phúc nghĩa làcông đức, tu hành các pháp 5 giới, 10 thiện thì được quả báo hạnh phúc thế tục, gọi là Phúc phần; trái lại, phát tâm bồ đề tu hành 6 độ, được quả báo xuất thế thì gọi là Đạo phần. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 2 (Đại 45, 490 hạ) nói: Vì hàng Tiểu thừa chỉ tu Trí phần chứ không tu Phúc phần, cho nên khi sắp được thành Phật lại phải tu thêm Phúc phần 100 kiếp nữa.
phúc quán
Blessedness and insight, similar to phúc tuệ, phúc trí.
phúc quả
The reward of blessedness.
phúc sinh
Born of or to happiness.
phúc sinh thiên
Punyaprasavàs (S). The tenth brahmaloka, the first region of the fourth dhyàna.
; (福生天) Phạm: Puịya-prasava. Hán âm: Ba lật suy ha, Duy ha. Hán dịch: Sinh phúc, Đắc phúc, Thụ phúc, Vô lượng quang, Vô lượng nghiêm sức, Vô lượng mật thân, Quảng diệu, Dụng quả.Một trong 18 tầng trời của cõi Sắc, tức tầng trời thứ 7 trong Đệ tứ thiền. Cứ theo luận Lập thế a tì đàm quyển 6 thì người sinh vào cõi trời này thụ dụng phúc lợi tương ứng với trí, niệm, xả... cho nên gọi là Sinh phúc. Cứ theo luận Thuận chính lí quyển 21 thì cõi trời này là nơi vãng sinh của những người có phúc đức thù thắng, nên gọi là Phúc sinh. Theo luận Lập thế a tì đàm quyển 7 thì nhờ nghiệp nhân tương ứng với Trung phẩm Tứ thiền mà được sinh vào cõi trời này, sống 400 đại kiếp. Còn luận Tạp a tì đàm tâm quyển 2 và luận Chương sở tri quyển thượng thì cho rằng thân người ở cõi trời này cao 250 do tuần và sống lâu 250 kiếp. [X. phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm Q.20; kinh Đạo hành bát nhã Q.3; luận Câu xá Q.8; Pháp uyển châu lâm Q.2, 3].
phúc thành
(福城) Cũng gọi Giác thành, Phúc sinh thành. Nơi đồng tử Thiện tài tham vấn bồ tát Văn thù. Theo phẩm Nhập phápgiới kinh Hoa nghiêm quyển 62 (bản 80 quyển), trên đường đi về phương Nam, bồ tát Văn thù dừng nghỉ trong rừng sa la Trang nghiêm chàng ở phía đông Phúc thành (...). Bấy giờ, đồng tử Thiện tài nghe biết bồ tát Văn thù đang trụtạikhu rừng này, liền đến tham học.
phúc thọ
Happiness and longevity.
phúc tinh
Fuxing (C), Fu-hsing (C), Lucky Star Fuxing (C).
; Lucky star.
phúc trung
1) Cái trong bụng: Within the belly. 2) Đứa trẻ chưa sanh: Unborn child. 3) Trái tim: The heart. 4) Tử cung: Womb.
phúc trí
Xem phúc quán.
; (福智) Từ ngữ gọi chung phúc đức và trí tuệ. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 9 thì trong các hạnh thù thắng mà Bồ tát tu hành, hạnh lấy tuệ làm tính gọi là Trí, các hạnh còn lại gọi là Phúc. Bồ tát muốn thành tựu quả Phật thì phải thực hành đầy đủ 2 hạnh thù thắng là thượng cầu bồ đề (trí nghiệp) và hạ hóa chúng sinh (phúc nghiệp). Tất cả hành vi của Bồ tát được thu chung vào Phúc hạnh và Trí hạnh, nhưng nếu chia riêng ra thì trong 6 độ, 5 độ trước (bố thí, trìgiới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định) thuộc về Phúc hạnh, còn độ thứ 6 (trí tuệ) thì thuộc về Trí hạnh. Cũng có thuyết cho rằng 3 độ trước thuộc Phúc hạnh, trí tuệ thuộc Trí hạnh, còn tinh tiến và thiền định thì chung cho cả Trí hạnh và Phúc hạnh. [X. kinh Niết bàn Q.27 (bản Bắc); Đại thừa nghĩa chương Q.12; Đại thừa nhập đạo thứ đệ; Thích môn qui kính nghi Q.trung].
phúc trí nhị nghiệp
(福智二業) Từ ngữ gọi chung Phúc nghiệp và Trí nghiệp. Hạnh nghiệp đạt được trí tuệ, gọi là Trí nghiệp; còn hạnh nghiệp đạt được tất cả phúc đức thì gọi là Phúc nghiệp. Trong 6 độ thì 5 độ trước thuộcvềPhúc nghiệp, độ thứ 6 thuộc về Trí nghiệp. Hai nghiệp phúc trí này phụ trợ và thành tựu lẫn nhau thì được quả Phật. [X. Kim cương bát nhã kinh tán thuật Q.thượng; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2]. (xt. Phúc Trí).
phúc trí tạng
(福智藏) Kho phúc trí. Tức chỉ cho Đại hạnh hoằng nguyện niệm Phật nói trong kinh Đại vô lượng thọ, cũng tức là danh hiệu Nam mô A di đà Phật. Tịnh độ chân tông ở Nhật bản cho rằng danh hiệu Nam mô A di đà Phật là pháp tạng chân thực chứa đựng 2 thứ trang nghiêm: Phúc đức và Trí tuệ. Nếu tín ngưỡng và thụ trì danh hiệu này thì chứng được diệu quả, cho nên gọi là Phúc trí tạng. Đó là hiển bày sự niệm Phật trong nguyện thứ 18 của đức Phật A di đà. Phúc trí tạng là 1 trong 3 tạng do Tịnh độ chân tông Nhật bản thành lập, 3 tạng này là 3 pháp môn phân biệt chân (chân thực) giả (phương tiện) của pháp nghĩa. [X. Giáo hành tín chứng Q.2]. (xt. Tam Tạng).
phúc trạch
Happiness and favour.
phúc trạch dụ kiết
Fukuzawa yukichi (J)Tên một vị sư.
phúc tuệ (phước huệ)
Blessedness and wisdom, the two virtues which adorn.
phúc túc
The feet of blessedness one consisting the first five pàramitàs, the other being the sixth pàramità, i.e. wisdom; happiness replete.
; (福足) Đối lại: Trí túc. Túc có nghĩa là tiến tu, tức tiến tu đầy đủ phúc đức của 5 hạnh Ba la mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định để trang nghiêm hình tướng đẹp đẽ của Ứng thân. (xt. Nhị Túc).
phúc tăng
(福增) I. Phúc Tăng. Phạm: Zrì-vaddhi. Pàli: Sirì-vaddhi. Hán âm: Thi lợi bật đề. Tên vị A la hán, người thành Vương xá, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ đời xưa, là đệ tử của đức Phật. Cứ theo phẩm Xuất gia công đức Thi lợi bật đề trong kinh Hiền ngu quyển 4, lúc đức Thích tôn đang ở tại vườn trúc Ca lan đà gần thành Vương xá, trong thành có vị trưởng giả đã 100 tuổi, tên là Phúc tăng phát tâm xuất gia. Lúc đầu bị ngài Xá lợi phất từ chối vì lí do ông đã già yếu, không thể nào tụng kinh, ngồi thiền, chấp tác. Sau, được đức Phật cho phép và do ngài Mục liên truyền giới Cụ túc. Nhưng ở trong chúng, Phúc tăng thường bị những tỉ khưu trẻ trêu chọc nên rất khổ não, cuối cùng không chịu nổi bèn nhảy xuống sông tự trầm, nhưng rất may được ngài Mục liên cứu sống. Sau đó, nhờ sức thần thông của ngài Mục liên hóa độ, tỉ khưu Phúc tăng đã mau chóng chứng được quả A la hán. [X. Xuất gia công đức duyên khởi trong luận Bồ tát bản sinh man Q.4]. II. Phúc Tăng. Phạm: Puịđra-vardhana. Hán âm: Bôn na phạt đàn na. Hán dịch: Phúc tăng. Tên một nước xưa ở Đông Ấn độ, tương truyền, đức Phật từng đến nước này thuyết pháp giáo hóa. (xt. Bôn Na Phạt Đàn Na Quốc).
phúc tư bảo nhĩ
(福斯保爾) Fausbôll, Michael Viggo (1821-1908). Học giả Ấn độ học người Đan mạch, người đầu tiên sáng lập môn ngôn ngữ học Pàli. Ông là học trò của Rask, Rasmus Kristion và Westergard, Niels Lusdwig. Năm 1878, ông làm Giáo sư trường Đại học Copenhagen, nghiên cứu học thuật cổ đại của Ấn độ, đặc biệt chú trọng kinh Phật Nam truyền bằng tiếng Pàli. Năm 1855, ông hiệu đính và xuất bản nguyên điển kinh Pháp cú Pàli (Dhammapadam, Ex tribus codicibus Havniensibus Palice edidit, Latine vertit, excerptis ex Commentario Palico nostique illustravit V. Fausbôll Havniae, 1855). Đây là bộ kinh nguyên văn tiếngPàli đầu tiên có giá trị học thuật được xuất bản. Kế tiếp, ông lại cho ấn hành nguyên điển các loại kinh Bản sinh và bản dịch tiếng Anh. Năm 1897, ông xuất bản kinh Bản sinh đại tập 7 quyển (TheJàtaka, together with its Commentary, Being Tales of the Anterior Births of Gotama Buddha, London, 1875- 1897), mất hơn 20 năm mới hoàn thành. Ngoài ra, ông còn xuất bản bản dịch tiếng Anh của Kinh tập tiếng Pàli (The Suttanipàta, SBE. X, pt. II, 1881), cùng với nguyên điển và ngữ vựng (2 vols. I, Text; II, Glossary, 1884-1893).
phúc tướng pháp thân
The Buddha-dharmakàya as blessedness, in contrast with it as wisdom.
; (福相法身) Đối lại: Trí tướng pháp thân. Một trong hai loại pháp thân, là pháp thân chứng được do thụ trì giáo pháp và giảng nói cho người khác nghe. Dù đem 7 thứ báu bố thí khắp đại thiên thế giới, thì phúc đức cũng không bằng phúc đức nói 4 câu kệ, nhờ phúc tướng nói pháp ấy mà được pháp thân, cho nên gọi là Phúc tướng pháp thân. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 7 (Đại 45, 362 thượng) nói: Từ nơi hóa thân nghe lời dạy, nhờ nhân pháp thân ngôn thuyết mà sẽ thành quả Phật, thường sinh Trí tướng pháp thân và Phúc tướng pháp thân. (xt. Nhị Chủng Pháp Thân).
phúc tường
Propicious, auspicious. Triệu phúc tường, good omen.
phúc tế tự
Fukusai-ji (J)Tên một ngôi chùa.
phúc tụ hải vô lượng
(福聚海無量) Phúc đức tích tụ rộng lớn vô lượng vô biên như biển cả. Là lời tán thán phúc đức của bồ tát Quan thế âm. Bồ tát Quan thế âm đầy đủ hết thảy công đức, đem lòng đại từ bi làm chỗ nương tựa và cứu hộ tất cả chúng sinh trong tai ách khổ não. Phẩm Quan thế âm bồ tát phổ môn kinh Pháp hoa (Đại 9, 58 thượng): Bậc Tịnh thánh Quan âm Thường làm nơi nương tựa Cho những người khổ nạn Ngài đầy đủ công đức Mắt hiền nhìn chúng sinh Phúc tụ hải vô lượng Vì thế nên đính lễ.
phúc xá
(福舍) Phạm: Puịya zàlà. Hán âm: Bôn nhương xá la. Nhà nghỉ cung ứng cho người đi đường và người nghèo khổ sử dụng miễn phí. Ở các nơi tại Ấn độ đời xưa đều xây dựng loại nhà này, giúp mọi người trong hoàn cảnh khó khăn để cầu phúc đức. Vì thế loại nhà này cũng được gọi là Phúc đức xá. Theo điều Trách ca quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 4, thì nước này có thiết trí nhiều Phúc xá để cung cấp cho những người túng bấn, hoặc phát thuốc men, hoặc cho thực phẩm để giúp cho người đi đường không sợ đói khát. [X. Đại đường tây vực kí Q.12].
phúc điền
Field of merit, Fukuda gyōkai (J).
; The field of blessedness, i.e. any sphere of kindnes, charity, or virtue; there are categories of 2,3,4, and 8, e.g. that of study and that of charity; parents, teachers etc; the field of poverty as a monk etc,.
; (福田) Phạm: Puịya-kwetra. Pàli: Puĩĩa-kkhetta. Thửa ruộng có năng lực sinh ra phúc đức, ví dụ Phật, tăng, cha mẹ, người đau khổ... Vì kính thờ Phật, chúng tăng, cha mẹ và xót thương cứu giúp những người nghèo khổ, đau ốm thì được phúc đức, giống như người nông phu gieo trồng trên mảnh ruộng thì được thu hoạch, cho nên Phật, chúng tăng, cha mẹ và những người nghèo khổ được gọi là Phúc điền. Cứ theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 15 và kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 3 thì Phật là đại phúc điền, tối thắng phúc điền, còn cha mẹ là phúc điền thù thắng nhất trong 3 cõi. Theo phẩm Cúng dường tam bảo trong kinh Ưu bà tắc giới quyển 3, kinh Tượng pháp quyết nghi, luận Đại trí độ quyển 12 và Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 8 thì có 3 loại Phúc điền: 1. Kính điền: (cũng gọi Cung kính phúc điền, Công đức phúc điền): Tức là Tam bảo Phật, Pháp, Tăng được chúng sinh cung kính. 2. Ân điền: (cũng gọi Báo ân phúc điền): tức cha mẹ, sư trưởng được báo đáp. 3. Bi điền (cũng gọi Lân mẫn phúc điền, Bần cùng phúc điền):Tức chỉ cho những người nghèo khổ, ốm đau cần được sự quan tâm giúp đỡ, chăm sóc. Ngoài ra, các kinh còn nêu lên nhiều cách phân loại về Phúc điền, như: 1. Hai loại phúc điền: -Hữu tác phúc điền: Cha mẹ, sư trưởng còn có sở cầu. Vô tác phúc điền: Chư Phật, Bồ tát không có sở cầu. -Học nhân điền: Bậc thánh Hữu học. Vô học nhân điền: Bậc thánh Vô học. 2. Ba loại phúc điền: Đại đức điền, tức Kính điền. Bần khổ điền, tứcBi điền. Đại đức bần khổ điền. 3. Bốn loại phúc điền: Đức điền: Chư Phật, Bồ tát. Ân điền: Cha mẹ, sư trưởng. Khổ điền: Người nghèo khổ, bệnh tật. Thú điền: Các loài súc sinh. 4. Tám loại phúc điền: Phật điền, Thánh nhân điền, Tăng điền, Hòa thượng điền, A xà lê điền, Phụ điền, Mẫu điền và Bệnh điền. Theo phẩm Phúc điền trong luận Thành thực quyển 1 thì 27 bậc Hiền Thánh đã dứt hết các phiền não tham, khuể...; tâm các Ngài vắng lặng, không khởi phiền não ác nghiệp, thiền định mà các Ngài chứng được đều thanh tịnh, mãi mãi xa lìa các phiền não, xả bỏ buồn vui, có năng lực dứt trừ 5 thứ tâm phược, thành tựu 8 loại Công đức điền, đồng thời dùng 7 thiền định hộ trì thiện tâm, tận diệt 7 thứ lậu hoặc, đầy đủ 7 tịnh pháp như giới..., thành tựu 8 công đức thiểu dục tri túc, lại có năng lực vượt qua bờ bên kia, tinh tiến cầu độ... gọi là Phúc điền. Cứ theo kinh Thủ lăng nghiêm tam muội quyển hạ, người nào đầy đủ 10 pháp hạnh thì gọi là Chân thực phúc điền. Mười pháp hạnh ấy là: 1. Trụ trong 3 cửa giải thoát: Không, Vô tướng, Vô nguyện, nhưng không vào pháp vị. 2. Thấy biết rõ ràng lí 4 đế, nhưng không chứng đạo quả. 3. Thực hành 8 giải thoát nhưng không xả bỏ hạnh bồ tát. 4. Có năng lực phát khởi 3 loại trí chứng minh: Túc trụ, Sinh tử, Lậu tận, nhưng thường ở trong 3 cõi. 5. Thường hiện hình tướng uy nghi của Thanh văn, nhưng không theo âm thanh ngôn giáo mà cầu pháp nơi người khác. 6. Hiện hình tướng uy nghi của Bích chi phật, nhưng thường dùng biện tài vô ngại đẻ thuyết pháp. 7. Thường ở trong thiền định, nhưng có năng lực hiện hành tất cả pháp. 8. Không lìa chính đạo mà thị hiện đi vào tà đạo. 9. Tham đắm ái nhiễm, nhưng xa lìa tất cả phiền não của các thứ dục. 10. Chứng nhập Niết bàn nhưng không hủy hoại và xả bỏ sinh tử. Qua sự trình bày trên đây, ta thấy có nhiều loại Phúc điền, nhưng chủ yếu là lấy Phật và các Thánh đệtử làm Phúc điền, do đó mà gọi A la hán là Ứng cúng (xứng đáng tiếp nhận sự cúng dường), về sau thì có những tên gọi như Kính điền, Bi điền... Trung quốc từ xưa đến nay vốn quí trọng Kính điền và Bi điền nên thường thực hành cúng dường huệ thí... Lời tựa thiên Khải phúc của ngài Đạo tuyên trong Quảng hoằng minh tập quyển 28 nói rằng: Nay luận về phúc đức thì lấy bi kính làm đầu, bi thì thương xót những người chịu các nỗi khổ đau đớn đắng cay trong đường khổ, nguyện cứu giúp họ ra khỏi; kính thì biết Phật pháp khó gặp nên thường tín ngưỡng và hoằng truyền. [X. kinh Tạp a hàm Q.35; kinh Tiểu duyên trong Trường a hàm Q.6; kinh Tiểu phẩm bát nhã Q.8; kinh Hoa nghiêm Q.13 (bản dịch mới); luật Tứ phần Q.2; luận Đại trí độ Q.4; luận A tì đặt ma tạng Q.23; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn); Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ Q.5 (Pháp tạng); Thích thị yếu lãm Q.trung; Pháp uyển châu lâm Q.21, 33; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4].
phúc điền tịnh đức
(福田淨德) Người xuất gia phải có giới đức thanh tịnh mới xứng đáng làm phúc điền cho thế gian. Vì người đời nếu cúng dường chúng tăng thanh tịnh thì được phúc đức lớn, nên gọi chúng tăng giới đức thanh tịnh là Phúc điền.Kinh Chư đức phúc điền nêu ra 5 đức hạnh mà người xuất gia cần phải có đủ để được làm phúc điền, đó là: 1. Phát tâm li dục: Phát tâm mạnh mẽ ra khỏi phàm tục để tu tập đạo Bồ đề của Phật, mới có thể liễu ngộ đạo mầu nhiệm. 2. Hủy kì hình hảo: Cạo bỏ râu tóc, không màng tướng đẹp, cởi bỏ áo thế tục, mặc áo pháp của Như lai, đầy đủ uy nghi của Phật. 3. Vĩnh cát thân ái: Nương theo Phật xuất gia, cắt đứt tình thân ái cha mẹ, một lòng siêng chăm tu đạo để báo đền ân đức sinh thành của cha mẹ. 4.Ủy khí khu mệnh: Không luyến tiếc thân mệnh, chỉ nhất tâm cầu chứng Phật đạo.5. Chí cầu đại thừa: Thường ôm lòng cứu giúp chúng sinh, chuyên cần tu tập, quyết chí cầu pháp Đại thừa, độ thoát tất cả hữu tình.
phúc điền viện
(福田院) Nơi chuyên thu nhận nuôi dưỡng những người già yếu, trẻ em, tàn tật không nơi nương tựa. Trước năm Gia hựu (1056-1063) đời Bắc Tống, ở kinh đô đã thiết lập viện Đông tây phúc điền. Đến năm Gia hựu thứ 8 lại xây thêm viện Nam bắc phúc điền để chăm lo săn sóc cho những người già yếu, trẻ mồ côi, người nghèo khổ và tật bệnh. Cứ theo Cựu đường thư và Đường hội yếu thì ở đời Đường viện Bi điền cũng đã được thiết lập để nuôi dưỡng những lớp người như trên, đời Tống chỉ phỏng theo đời Đường, nhưng đổi tên là viện Phúc điền mà thôi. (xt. Bi Điền).
phúc điền vô thượng tâm
(福田無上心) Một trong 6 thứ tịnh tâm. Tâm tận lực cúng dường phúc điền Tam bảo, vì trong các phúc điền như Kính điền, Bi điền, Ân điền... thì phúc điền Tam bảo Phật, Pháp, Tăng là phúc điền tối thượng. Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 7, Bồ tát đối trước Như lai sinh khởi 6 thứ tâm thanh tịnh: Tâm phúc điền vô thượng, tâm ân đức vô thượng, tâm vô thượng đối với tất cả chúng sinh, tâm khó gặp như hoa Ưu đàm bát, tâm độc nhất trong 3 nghìn đại thiên thế giới và tâm nương vào nghĩa đầy đủ tất cả pháp thế gian xuất thế gian. Dâng 6 thứ tâm này lên cúng dường Phật, Pháp, Tăng thì được vô lượng công đức.
phúc điền y
The garment of the field of blessing, the monk's robe.
; (福田衣) Áo ruộng phúc, tên khác của áo ca sa. Vì cúng dường chúng tăng thì được đại công đức, nên gọi chúng tăng là Phúc điền và gọi áo ca sa các ngài mặc là Phúc điền y. Cứ theo sự giải thích trong Tứ phần luật san phồn tùy cơ yết ma sớ quyển 4 thì tấm áo cà sa vuông vức như 1 thửa ruộng, những đường nẹp trong ca sa tượng trưng cho bờ ruộng; vì ruộng phải có bờ để giữ nước thìmới nuôi lớn và làm cho lúa mạ tốt tươi. Còn áo pháp ca sa thì mở rộng tâm của 4 điều lợi (từ bi hỉ xả) và tăng thêm 3 điều thiện (không tham, không sân, không si) để nuôi lớn tuệ mệnh của pháp thân. Vì có ngụ ý ấy nên gọi ca sa là Phúc điền y. Cũng tức là tỉ khưu nhờ công đức mặc 3 áo (ca sa) mà được người khác cúng dường để duy trì thân mệnh; lại thực hành pháp thí (tức nói pháp) đối với người khác để mình và người cùng được hưởng phúc đức.
phúc đáp
To reply—To answer—To respond.
phúc đình
A court, or hall of blessedness, a monastery.
; Sảnh đường của phúc đức, hay tự viện—A court, or hall, of blessedness, a onastery.
phúc đẳng tam nghiệp
(福等三業) Từ ngữ gọi chung Phúc nghiệp, Phi phúc nghiệp và Bất động nghiệp. 1. Phúc nghiệp (Phạm: Puịyakarma): Nghiệp thiện của cõi Dục, chiêu cảm quả như ý lợi ích chúng sinh. 2. Phi phúc nghiệp (Phạm: Apuịyakarma): Các nghiệp bất thiện ở cõi Dục chiêu cảm quả bất như ý tổn hại chúng sinh.3. Bất động nghiệp (Phạm: Aniĩjyakarma): Nghiệp thiện ở cõi Sắc và cõi Vô sắc, chiêu cảm quả bất động. Luận Du già sư địa quyển 9 (Đại 30, 319 hạ) nói: Phúc nghiệp là cảm quả dị thục trong đường thiện và thuận thụ nghiệp thiện trong 5 đường. Phi phúc nghiệp là cảm quả dị thục trong đường ác và thuận thụ nghiệp bất thiện trong 5 đường. Bất động nghiệp là cảm quả dị thục ở cõi Sắc, cõi Vô sắc và thuận thụ nghiệp thiện ở cõi Sắc, cõi Vô sắc. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.55; luận Câu xá Q.15; luận Thành duy thức Q.8]. (xt. Tam Nghiệp).
phúc địa
Blessed land; a lucky grave spot; elysium.
; Tên gọi chùa chiềng, mảnh đất sinh ra phúc đức—A place of blessedness, a monastery.
; (福地) I. Phúc Địa. Cũng gọi là Phúc đình. Chỉ cho chùa viện, là nơi có năng lực sinh ra phúc đức. II. Phúc Địa. Phạm: Kurukwetra. Hán âm: Câu rô khất sái. Cổ chiến trường ở Trung Ấn độ. Cứ theo điều Tát tha ni thấp phạt la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 4, trong 1 phạm vi rộng 200 dặm đất ở kinh đô nước này được gọi là Phúc địa. Vì tất cả 5 nước Ấn độ đời xưa do 2 ông vua chia nhau thống trị, chiến tranh liên miên vì nạn xâm chiếm đất đai của nhau. Về sau, 2 vua đồng ý quyết chiến với nhau 1 trận cuối cùng để phân thắng bại, nhưng trăm họ đã đau khổ quá nhiều, không còn chịu đựng được nữa nên không theo lệnh vua. Nhà vua liền nghĩ ra 1 kế dụ dỗ dân chúng, bảo họ rằng 200 dặm đất trong thành vua, từ xưa vốn là đất phúc lợi, nếu ai vì chốngkẻ địch mà chết ở chỗ này thì sẽ được sinh làm người. Còn nếu giết được nhiều kẻ thù thì sẽ được hưởng phúc lạc trên cõi trời. Nhân dân bèn ra sức chiến đấu, coi cái chết như trở về. Hai nước thư hùng 1 trận tại đây, xác chết chất cao như núi. Người Ấn độ có truyền thống tôn trọng hài cốt của cổ nhân, nên truyền nhau bảo nơi đó là Phúc địa. [X. luận Kim cương châm].
phúc độ
(福度) (1637-?) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Vĩnh xuyên, Tây thục (tỉnh Tứ xuyên), họ trương, hiệu Mai khê. Năm 16 tuổi, sư lễ ngài Tri như ở Đông sơn xin xuất gia tu học. Năm 20 tuổi, cầu ngài Khoát lãng thụ giới Cụ túc. Năm sau, sư tham yết ngài Linh ẩn Ấn văn ở chùa Vân tập tại Tân hưng, Điền thành (tỉnh Vân nam). Năm 25 tuổi, sư đến chùa Quán âm ở Đậu bảo, được ngài Linh ẩn phó chúc đại pháp. Mới đầu, sư hoằng pháp ở viện Vĩnh hưng tại Bồng lai. Từ năm Khang hi thứ 7 (1668) trở về sau, sư lần lượt trụ các chùa như: Viện Trung nghĩa, chùa Hoa quang ở An long, chùa Đẳng giác ở phủ Mông hóa, tỉnh Vân nam, viện Ngọc các, Quan âm các ở Tông châu, chùa Viên thông ở huyện Phổ an, tỉnh Tứ xuyên, am Cát tường ở An long…... Sư có tác phẩm: Đông sơn Mai khê thiền sư ngữ lục, 10 quyển.
phúc đức
Pua (P), Merit Puṇya (S).
; Blessed virtues, all good deeds; the blessing arising from good deeds. Good fortune and virtue.
; See Phước Đức.
; (福德) I. PhúcĐức. Chỉ cho phúc lợi nhờ làm tất cả việc thiện ở quá khứ và hiện tại mà có được. Cứ theo kinh Kim cương bát nhã ba la mật thì Bồ tát đối với các pháp không nên để bị dính mắc (ưng vô sở trụ), phải thực hành bố thí chẳng trụ sắc, bố thí chẳng trụ thanh, cho đến bố thí chẳng trụ pháp... Nếu bố thí mà không trụ tướng như thế thì được phúc đức chẳng thể nghĩ lường. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa]. II. Phúc Đức. Đồng nghĩa với pháp thiện. Theo phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa, nếu tỉ khưu, tỉ khưu ni có tâm tăng thượng mạn, ưu bà tắc có tâm ngã mạn, ưu bà di có tâm bất tín thì không thấy được lỗi của mình, khuyết phạm giới luật. Những hạng người này ít có pháp lành, không thể thụ trì pháp Nhất Phật thừa. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.35].
phúc đức môn
The gates of blessedness and virtue, the first five of the six paramitas.
; (福德門) Đối lại: Trí tuệ môn. Một trong 2 môn. Chỉ cho 5 độ: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến và thiền định trong 6 độ. Nếu vào được cửa phúc đức thì tất cả tội nghiệp đều được trừ, những điều nguyện ước đều được toại. Luận Đại trí độ quyển 15 (Đại 25, 172 trung) nói: Muốn thành tựu Phật đạo phải tu đủ 2 môn là Phúc đức và Trí tuệ. Thực hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, là Phúc đức môn; Ma ha bát nhã ba la mật biết rõ thực tướng của các pháp là Trí tuệ môn. (xt. Phúc Trí).
phúc đức thân
The Buddhakàya, or body ođ Buddha, in the enjoyment of the highest samàdhi bliss.
phúc đức trang nghiêm
The adornment of blessedness and virtue, i.e. of good deeds.
phúc đức tư lương
The nutriment of blessedness, i.e. deeds of charity.
; (福德資糧) Cũng gọi Phúc đức trang nghiêm. Đối lại: Trí tuệ tư lương. Một trong hai thứ tư lương. Dùng phúc đức làm tư lương để đạt đến quả vị viên mãn. Như tu trì 5 độ trước: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục... trong 6 độ làm tư lương để chứng quả Phật. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 7 (Đại 45, 366 thượng) nói: Lại có 2 nhân có thể đạt được 2 quả. Như Đại thừa trang nghiêm kinh luận nói Phúc đức và trí tuệ, Bồ tát khéo léo, mạnh mẽ tu tập đến cùng tận 2 thứ tư lương này để mau chóng đạt đến bờ giác. (xt. Phúc Trí).
phúc đức tạng
(福德藏) Chỉ cho các hạnh định thiện, tán thiện được nói đến trong kinh Quán Vô lượng thọ. Vì các loại thiện hạnh này có công năng đem lại nhiều phúc lợi, giống như cái kho (tạng) có sức chứa đựng các phúc đức, cho nên gọi là Phúc đức tạng. Tịnh độ chân tông của Nhật bản xếp tạng này làm 1 trong 3 pháp môn để phân biệt pháp nghĩa chân thực với phương tiện giả tạm. Ba pháp môn này được gọi là Tam tạng (Phúc trí tạng, Phúc đức tạng, Công đức tạng), trong đó, Phúc đức tạng là Phương tiện tạng của yếu môn Tịnh độ; dùng tự lực tu tập các hạnh định, tán để được vãng sinh Hóa độ. Đó là mở bày các hạnh định, tán trong nguyện thứ 19 của đức Phật A di đà. (xt. Tam Tạng).
phúc ấm
The beneficent influence of one's ancestors'virtues.
Phúc 腹
[ja] フク fuku ||| (1) The lower stomach, the abdomen. (2) In East Asian tradition, the 腹, located just below the navel, is the true center of the person, and the proper seat of the mind. True mind. (3) Thick, heavy; to hold to. => 1. Bụng dưới, dạ dày, bụng. 2. Theo truyền thống Á Đông, Phúc 腹 là bộ phận nằm ngay dưới rốn, trung tâm chính của cơ thể con người, và là nơi chỉ riêng cho tâm ý. 3. Dày, nặng; giữ kín.
phúc-đà-mật-đa
Xem Tổ Phật-đà-mật-đa.
phúng
Nói bóng gió hay châm biếm—To satirize—To intone.
Phúng kinh
(諷經): tụng kinh, đọc kinh văn theo âm điệu trầm bổng, lên xuống. Nguyên lai là pháp của Bà La Môn giáo, sau đó đức Phật hứa khả cho các Tỳ Kheo được sử dụng pháp này, tức là Phạn Bối (梵唄). Người có khả năng về khoa này được gọi là kinh sư (經師). Trong bài Lễ Tụng Dược Sư Cáo Văn (禮誦藥師告文) của Lý Chí (李贄, 1527-1602) nhà Minh có câu: “Sấn thử nhất bách nhị thập nhật kỳ hội, phúng kinh bái sám đạo tràng (趁此一百二十日期會、諷經拜懺道塲, nhân dịp 120 ngày này, tụng kinh lạy sám hối đạo tràng).” Hay trong tác phẩm Tô Châu Phong Tục (蘇州風俗), chương Hôn Tang Lễ Tục (婚喪禮俗), của Chu Chấn Hạc (周振鶴) có đoạn: “Tử hậu mỗi thất nhật, tất diên tăng lữ hoặc vũ y lễ sám phúng kinh (死後每七日、必延僧侶或羽士禮懺諷經, sau khi chết vào mỗi tuần bảy ngày, phải mời tăng sĩ hay đạo sĩ đến lạy sám hối, tụng kinh).” Trong Phật Thuyết Di Nhật Ma Ni Bảo Kinh (佛說遺日摩尼寶經, Taishō Vol. 12, No. 350) có nêu lên tầm quan trọng của việc tụng kinh, trì giới như sau: “Tuy đa phúng kinh nhi bất trì giới, thí như nhân bệnh đắc vương gia dược, bất tự hộ tọa tử, tuy đa phúng kinh nhi bất trì giới như thị, thí như Ma Ni bảo châu đọa ư thỉ trung (雖多諷經而不持戒、譬如人病得王家藥、不自護坐死、雖多諷經而不持戒如是、譬如摩尼珠墮於屎中, tuy tụng kinh nhiều mà không giữ giới, giống như người bị bệnh có được thuốc nhà vua, nhưng không thoát khỏi chết ngồi, tuy kinh nhiều mà không giữ giới như vậy, giống như ngọc báu Ma Ni rơi trong đống phân).”
phúng kinh
Điều chỉnh giọng nói để phúng tụng kinh văn, đặc biệt là trong các cuộc lễ (dù là pháp của Bà La Môn, nhưng Đức Phật vẫn cho phép chư Tăng Ni dùng trong các buổi tụng kinh cho thuận theo lòng người)—To intone a scripture, especially one suited to the occasion.
Phúng tụng
xem Già-đà. Xem Mười hai bộ kinh.
phúng tụng
Peyyavajja (P), Gāthā (S, P), Verse Kệ, Kệ ngôn, Cô khởi, Già thaPhần kệ tụng độc lập, ghi chép giáo thuyết mà không lặp lại ý của văn trường hàng (ceya). Lấy 4 câu làm một bài. Bài thi tụng, vịnh để xưng tán công đức hay tỏ bày lòng cảm kích.
; Gàthà (S)
; Gatha (skt)—Già Đà—Những câu phúng vịnh, tán thán nghĩa lý thâm diệu và ca tụng công đức của Phật và Tam Bảo—To intone—To sing.
; (諷誦) Cũng gọi Tụng kinh, Phúng kinh, Phúng độc, Độc kinh. Tức đọc tụng văn kinh và tán vịnh các câu kệ. Phúng tụng vốn là 1 trong 6 hành pháp (Phạm:Waỉ karmàịi) của người Bà la môn Ấn độ thực hành, về sau, tín đồ Phật giáo cũng dùng pháp này. Phúng tụng kinh điển cúng dường tăng, gọi là Phúng cúng. Trong Thiền lâm, tùy theo đối tượng, thời gian, trường hợp khác nhau mà Phúng kinh được chia ra nhiều loại. Như mỗi ngày 3 thời dùng cháo, thụ trai và ngồi thiền xong, chúng tăng lên điện phúng kinh, gọi là Tam thời phúng kinh; mỗi tháng vào các ngày mồng 1, ngày rằm có Chúc thánh phúng kinh, Ứng cúng phúng kinh. Ngoài ra còn có Bán trai phúng kinh, Nhật trung phúng kinh, Thổ địa đường phúng kinh, Tổ đường phúng kinh, Vi đà thiên phúng kinh, Triêu khóa phúng kinh, Vãn khóa phúng kinh... [X. kinh Ngũ chủng đức trong Trường a hàm Q.10; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa Q.3; điều Thánh tiết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; môn Phúng xướng trong Thiền lâm tượng khí tiên].
phúng điếu
To offer ritual objects to a deceased person.
phút chốc
In a moment.
phũ phàng
Brutal—Cruel.
phưng phức
Rất thơm tho ngọt ngào—Very sweet-smelling.
phương
Caturasra (S)Vuông.
; Square; place; correct; a means, plan, prescription; then, now, just.
; 1) Vuông: Square. 2) Phương cách: Method—Way—Means. 3) Địa phương: A place—Locality. 4) Đền (chánh điện): A temple—A place of assembly.
; (方) Phạm: Diz. Chỉ cho phương vị, không gian. Một trong 24 pháp Bất tương ứng hành của tông Duy thức. Tức là những phần vị tồn tại trong không gian do sự quan hệ đối đãi giữa các sắc pháp(sự tồn tại của vật chất) mà sinh ra. Gồm có 10 phương: Đông, tây, nam, bắc, 4 duy (4 góc), trên và dưới. [X. luận Đại thừaa tì đạt ma tạp tập Q.2; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Du già sư địa Q.3].
phương châm
Tenets.
phương châm tu hành của phật tử
Bồ đề tâm làm nhân, đại bi tâm làm căn bản, phương tiện thiện xảo làm phương cách thực hành, và Niết bàn làm cứu cánh.”—Guideline (tenets) of cultivation for Buddhists: “Bodhi mind is the cause, great compassion is the foundation, skillful means is daily method of practicing, and Nirvana is the ultimate goal.”
phương chước
Expedient—Means.
phương chỉ
Direction.
phương cách
Way—Context—Means Approach.
phương cách đáng kính
A respectable way.
phương danh
Good name (reputation).
phương diện
Aspect.
Phương hiển 方顯
[ja] ホウゲン hōgen ||| And then it became apparent. => Thế rồi mới hiện bày.
phương hướng
Direction.
phương hại
To be harmful—To be detrimental.
phương hội
Fang-hui (C)Tên một vị sư.
phương hội dương kỳ thiền sư
Zen master Fang-Hui-Yang-Qi—Thiền sư Phương Hội sanh năm 992 tại Viên Châu (bây giờ thuộc tỉnh Giang Tây), đệ tử và là người kế thừa Pháp của Thiền Sư Thạch Sương Sở Viện, và là thầy của Bạch Vân Thủ Đoan. Dương Kỳ lập ra phái Thiền Lâm Tế mang tên ông, một trong hai nhánh thiền Lâm Tế sau khi thầy Thạch Sương thị tịch. Phái Thiền nầy được các thiền sư Trung Hoa và Nhật Bản mang vào Nhật Bản và hiện nay vẫn còn được lưu truyền tại đây—Zen master Fang-Hui-Yang-Qi was born in 992 in Yuan-Chou (now in Jiang-Xi Province), was a disciple and dharma successor of Shi-Shuang-Chu-Yuan, and the master of Pai-Yun-Shou-Tuan. Yang-Qi founded the Yogi school of Lin-Chi Zen, which bears his name. It is one of the two lineages into which the tradition of the Lin-Chi school divided after Master Shih-Shuang. The strict Zen of Yogi lineage was brought to Japan by Chinese and Japanese masters and still flourishes there today. • Đi du phương, sư đến yết kiến Thiền sư Từ Minh ở Nam Nguyên. Sư dừng lại đây phụ tá cho Từ Minh một cách siêng năng cần khổ. Từ Minh dời sang Thạch Sương Đạo Ngô, sư cũng dời theo. Nơi đây sư làm Giám Tự (administrator). Tuy theo Từ Minh đã lâu mà sư chưa tỉnh ngộ. Mỗi khi đến thưa hỏi, Từ Minh bảo: “Việc trong ty khố quá nhiều hãy đi.” Hôm khác sư đến hỏi, Từ Minh bảo: “Giám Tự ngày sau con cháu khắp thiên hạ cần gì vội gấp.” Một hôm Từ Minh vừa đi ra chợt mưa đến, sư rình ở con đường tắt. Từ Minh đến, sư liền nắm đứng lại nói: “Ông già này! Hôm nay phải vì tôi nói, nếu không nói tôi sẽ đánh ông.” Từ Minh nói: “Giám Tự biết là việc quanh co liền thôi.” Câu nói chưa dứt, sư đại ngộ, liền đảnh lễ ngay dưới bùn. Hôm sau, sư đầy đủ oai nghi đến phương trượng lễ tạ. Từ Minh quở: “Chưa phải.”—When Shi-Shuang Chu-Yuan moved from Nan-Yuan to Mount T'ao-Wu, and then to Shi-Shuang, Yang-Qi followed him, performing administrative affairs in each place. Although Yang-Qi remained with Shi-Shuang for a long time, he never attained enlightenment. Each time he would have an interview, Shi-Shuang would say: “There are a lot of administrative affairs requiring attention. Go do them.” On one occasion when Yang-Qi went to see Shi-Shuang for instruction on practice, Shi-Shuang said: “Director! Someday your descendants will cover the earth. Why are you in a hurry?” One day, Shi-Shuang had just gone out when it suddenly began to rain. Yang-Qi spied his teacher's walking on a small path, chased him down, and grabbed him, saying: “You've got to talk to me now, or else I'm going to hit you!” Shi-Shuang said: “Director! You already completely know how to take care of things, so that's enough!” Before Shi-Shuang had finished speaking, Yang-Qi experienced great enlightenment. He then knelt and bowed to Shi-Shuang on the muddy path. • Từ Minh thượng đường, sư ra hỏi: “Khi chim núp kêu nẩm nẩm, từ mây bay vào núi loạn, là thế nào?” Từ Minh đáp: “Ta đi trong cỏ hoang, ngươi lại vào thôn sâu.” Sư thưa: “Quan chẳng nhận kim, lại mượn một câu hỏi.” Từ Minh liền hét. Sư thưa: “Hét hay” Từ Minh lại hét. Sư cũng hét. Từ Minh hét luôn hai tiếng. Sư lễ bái. Từ Minh nói: “Việc nầy là cá nhơn mới gánh vác.” Sư phủi áo ra đi—Yang-Qi asked Shi-Shuang: “How is it when the great dark bird cries 'Na! Na!' and flies down from the clouds into the chaotic mountain peak?” Shi-Shuang said: “I walk in wild grasses. You rush into the village.” Yang-Qi said: “When the senses have no room for even a needle, still there is another question.” Shi-Shuang then shouted. Yang-Qi said: “Good shout.” Shi-Shuang shouted again. Yang-Qi also shouted. Shi-Shuang then shouted twice. Yang-Qi bowed. Shi-Shuang said: “This affair concerns one person taking up and carrying a lotus.” Yang-Qi shook his sleeves and went out. • Dương Kỳ thường nói một cách tích cực về an tâm lập mệnh và cái giàu phi thế tục của ngài. Thay vì nói chỉ có đôi tay không, ngài lại nói về muôn vật trong đời, nào đèn trăng quạt gió, nào kho vô tận, thật quá đủ lắm rồi như chúng ta có thể thấy qua bài thơ sau đây diễn tả về ngôi nhà điêu tàn của sư: “Nhà ta phên mái rách tơi bời Nền trắng một màu tuyết trắng rơi Giá lạnh toàn thân, lòng vạn mối Người xưa nhà chỉ bóng cây thôi.” —Zen master Yang Ch'i always talked positively about his contentment and unworldly riches. Instead of saying that he is empty-handed, he talked of the natural sufficiency of things about him as we can see through this poem concerning his deserted habitation: My dwelling is now here at Yang-Ch'i The walls and roof, how weather-beaten! The whole floor is covered white with Snow crystal, shivering down the neck, I am filled with thoughts. How I recall the ancient masters whose habitat was no better than the shade of a tree!” Theo Thiền sư D. T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, bài thơ nầy không ngụ ý tác giả ăn không ngồi rồi hay không làm gì khác, hoặc không có gì khác hơn để làm hơn là thưởng thức hoa đào nở trong nắng sớm, hay ngắm vầng trăng trong tuyết bạc, trong ngôi nhà đìu hiu. Ngược lại, ngài có thể đang hăng say làm việc, hoặc đang dạy đệ tử, hoặc đang tụng kinh, quét chùa hay dẫy cỏ như thường lệ, nhưng lòng tràn ngập một niềm thanh tịnh khinh an. Mọi mong cầu đều xả bỏ hết, không còn một vọng tưởng nào gây trở ngại cho tâm trí ứng dụng dọc ngang, do đó tâm của ngài lúc bấy giờ là tâm 'không,' thân là 'thân nghèo.' Vì nghèo nên ngài biết thưởng thức hoa xuân, biết ngắm trăng thu. Trái lại, nếu có của thế gian chồng chất đầy con tim, thì còn chỗ nào dành cho những lạc thú thần tiên ấy. Kỳ thật, theo sư Dương Kỳ thì sự tích trữ của cải chỉ toàn tạo nghịch duyên khó thích hợp với những lý tưởng thánh thiện, chính vì thế mà sư nghèo. Theo sư thì mục đích của nhà Thiền là buông bỏ chấp trước. Không riêng gì của cải, mà ngay cả mọi chấp trước đều là của cải, là tích trữ tài sản. Còn Thiền thì dạy buông bỏ tất cả vật sở hữu, mục đích là làm cho con người trở nên nghèo và khiêm cung từ tốn. Trái lại, học thức khiến con người thêm giàu sang cao ngạo. Vì học tức là nắm giữ, là chấp; càng học càng có thêm, nên 'càng biết càng lo, kiến thức càng cao thì khổ não càng lắm.' Đối với Thiền, những thứ ấy chỉ là khổ công bắt gió mà thôi—According Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book I, this poem is not to convey the idea that he is idly sitting and doing nothing particularly; or that he has nothing else to do but to enjoy the cherry-blossoms fragrant in the morning sun, or the lonely moon white and silvery in a deserted habitation. In the contrary, he may be in the midst of work, teaching pupils, reading the sutras, sweeping and farming as all the master have done, and yet his own mind is filled with transcendental happiness and quietude. All hankerings of the heart have departed, there are no idle thoughts clogging the flow of life-activity, and thus he is empty and poverty-stricken. As he is poverty-stricken, he knows how to enjoy the 'spring flowers' and the 'autumnal moon.' When worldly riches are amassed in his heart, there is no room left there for such celestial enjoyments. In fact, according to Zen master Yang-Ch'i, the amassing of wealth has always resulted in producing characters that do not go very well with our ideals of saintliness, thus he was always poor. The aim of Zen discipline is to attain to the state of 'non-attainment.' All knowledge is an acquisition and accumulation, whereas Zen proposes to deprive one of all one's possessions. The spirit is to make one poor and humble, thoroughly cleansed of inner impurities. On the contrary, learning makes one rich and arrogant. Because learning is earning, the more learned, the richer, and therefore 'in much wisdom is much grief; and he that increased knowledge increased sorrow.' It is after all, Zen emphasizes that this is only a 'vanity and a striving after wind.' • Sư hỏi vị Tăng mới đến: “Mây dày đường hẹp xe to từ đâu đến?” Vị Tăng thưa: “Trời không bốn vách.” Sư hỏi: “Đi rách bao nhiêu giày cỏ?” Vị Tăng liền hét. Sư bảo: “Một hét hai hét sau lại làm gì?” Vị Tăng nói: “Xem ông Hòa Thượng già vội vàng.” Sư nói: Cây gậy không có ở đây, thôi ngồi uống trà.”—Yang-Qi asked a monk who had just arrived: “The fog is thick and the road is obscured, so how did you get here?” The monk said: “The sky does not have four walls.” Yang-Qi said: “How many straw sandals did you wear out coming here?” The monk shouted. Yang-Qi said: “One shout. Two shout. After that, then what?” The monk said: “I meet you, Master, but you're quite busy.” Yang-Qi said: “I don't have my staff. Sit and have some tea.” • Sư hỏi vị Tăng mới đến: “Lá rụng mây dồn sớm rời chỗ nào?” Vị Tăng thưa: “Quan Âm.” Sư nói: “Dưới chơn Quan Âm một câu làm sao nói?” Vị Tăng nói: “Vừa đến thấy nhau xong.” Sư hỏi: “Việc thấy nhau là thế nào?” Vị Tăng không đáp được: Sư bảo: “Thượng Tọa thứ hai đáp thế Thượng Tọa thứ nhất xem?” Vị Tăng thứ hai cũng không đáp được. Sư bảo: “Cả hai đều độn hết.”—When another monk arrived, Yang-Qi said to him: “The leaves fall and the clouds gather. Where did you come from today?” The monk said: “From Kuan-Yin.” Yang-Qi asked: How would you say one word from beneath Kuan-Yin's heels?” The monk said: “I've just arrived to see you.” Yang-Qi said: “What is it that you've seen?” The monk didn't answer. Yang-Qi said to a second monk who had also come: “You! Can you say something for this practitioner?” The second monk didn't answer. Yang-Qi said: “Here are a couple of dumb horses.” • Sư thị tịch năm 1054—He passed away in 1054. ** For more information, please see Dương Kỳ Phương Hội Phái.
Phương Hội 方會
[ja] ホウエ Hōe ||| Fanghui (995-1049) The originator of the Yangji branch of Linji Ch'an. Originally from Yichun 宜春 in Yuanzhou 袁州. He received the dharma-transmission from Shishuang Ciming , becoming the eighth generation successor of Linji. He did a major part of his teaching during his stay at Mt. Yang-chi. Later in his life, he moved to Mt. Yungai 雲蓋 in Tanzhou 潭州, where he passed away in 1054 at the age of 54. There is a two-fascicle teaching record attributed to him. He passed his dharma-seal first to 白雲守端 and later to about ten or so other disciples, who spread his teaching methods widely, which later became known as the Yang-chi school. => Fanghui (995-1049). Vị khai sáng phái thiền Dương Kỳ thuộc tông Lâm Tế. Sư xuất thân từ Nghi Xuân ở Viên Châu. Sư là pháp tự của Thạch Sương Sở Viên (c: Shishuang Ciming), trở thành pháp hệ truyền thừa thứ 8 thuộc dòng thiền Lâm Tế. Sự nghiệp giáo hoá của sư phần lớn là trong thời gian sư trụ ở núi Dương Kỳ. Về sau, sư dời về núi Vân Cái (c: Yungai 雲蓋 ) ở Đàm Châu (c: Tanzhou 潭州), và viên tịch ở đó vào năm 1054, lúc sư được 54 tuổi. Có 2 tập Ngữ lục ghi lại hành trạng của sư. Sư ấn chứng đầu tiên cho Bạch Vân Thủ Đoan白雲守端, và sau đó vào khoảng chừng 10 đệ tử, về sau đều làm rạng danh phái thiền Dương Kỳ.
phương khẩu thực
Opportunism in obtaining a living, i.e. a monk who makes a living by fawning or by bullying, one of the tứ tà mệnh four illicit ways of livelihood.
; Vị Tăng đã xuất gia mà còn xu nịnh, vòi vĩnh để tìm cơ kiếm sống. Đây là một trong tứ tà mệnh—Opportunism in obtaining a living—A monk who makes a living by fawning or by bullying (One of the four illicit ways of livelihood—Tứ tà hạnh). ** For more information, please see Tà Mệnh.
; (方口食) Phương khẩu. Pàli: Disàmukha. Nghĩa đen là ngửa mặt trông ngóng 4 phương, nghĩa bóng là chỉ cho người xuất gia xu nịnh kẻ có quyền thế, giàu sang, đi khắp 4 phương, dùng lời khéo léo mê hoặc người khác để kiếm sống. Là 1 trong 4 thứ tà mệnh thực. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; luận Đại trí độ Q.3]. (xt. Tứ Thực).
phương kế
Expedient—Device—Means.
phương luận sư
(方論師) Luận sư ngoại đạo chủ trương phương vị là nhân sinh ra muôn vật, 1 trong 20 thứ ngoại đạo ở Ấn độ. Cứ theo luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn thì Phương luận sư chấp phương vị là thường trụ, cho rằng phương vị 4 phương, 4 duy là nguồn gốc của trời đất, sau khi trời đất tiêu diệt lại trở về các phương vị, gọi là Niết bàn. Ngoài ra, luận Đại trí độ quyển 10 nói rằng Thắng luận sư cũng cho phương vị là thường trụ, thuộc về Thực cú nghĩa trong 6 cú nghĩa(6 nguyên lí). [X. phẩm Phá thường trong Bách luận Q.hạ]. (xt. Nhị Thập Chủng Ngoại Đạo).
phương nghệ
(方詣) Phương là nơi chốn; Nghệ là đến. Phương nghệ là chỗ qui về, tức là ý thú, yếu chỉ. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển 1 (Đại 40, 2 thượng) nói: Dẫn sơ qua các điều thì có thể hiểu được ý thú (phương nghệ). Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao tư trì kí (Đại 40, 108 thượng) nói: Phương nghệ tức là có chỗ qui về. Phương là nơi chốn; Nghệ là đến.
phương ngoại
Out of the world; the life of a monk.
; 1) Thế ngoại hay bên ngoài cuộc đời: Out of the world. 2) Cuộc đời của một vị Tăng: The life of a monk.
; (方外) Phương hàm ý là đạo. Ở ngoài vòng cái đạo mà người ta phải giữ, gọi là Phương ngoại. Người Phương ngoại phần nhiều chỉ cho những người xa rời thế tục. Phương ngoại cũng chỉ cho những vùng đất ở ngoài biên thùy Trung quốc, tức là những xứ di địch (mọi rợ) theo quan điểm của người Tàu. Bởi thế, Phật giáo cũng bị người Trung quốc xem là Phương ngoại giáo và chư tăng Phật giáo được gọi là Phương ngoại tăng. Nhưng,nóitheo lập trường của Phật giáo thì người xuất gia là người ở ngoài vòng cái đạo của người thế tục, cho nên tự gọi mình là Phương ngoại sĩ, hoặc Trần ngoại sĩ. [X. luận Sa môn bất kính vương giả; Lương cao tăng truyện Q.6; Hoằng minh tập Q.5].
phương ngoại hữu
(方外友) Người bạn ngoài thế tục. Tức là từ ngữ mà giới trí thức thế gian dùng để gọi những bạn xuất gia. Trong Thiền lâm, lá sớ do hàng sĩ đại phu soạn để chúc mừng vị Tân trụ trì, gọi là Phương ngoại sớ. [X. môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
phương ngung pháp giới
See Tứ Phương in Vietnamese-English Section.
phương ngôn
Idiom.
phương phi
Tall and handsome.
phương pháp
Method—Mode—Plan.
phương pháp đối trị sân hận là nhẫn nhục, thân nhẫn, khẩu nhẫn và ý nhẫn
Method to combat and subdue anger is forebearances (endurances or patience), body patience, mouth patience and mind patience.
phương phần
(方分) Chủ trương cho cực vi có các phương vị trên, dưới, phải, trái và có thể tích chiếm dụng khoảng không gian, gọi là Phương phần. Nhưng có thuyết lại cho cực vi là hình tròn, nên không có Phương phần. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1]. (xt. Cực Vi).
phương phục
A monk's robe.
; Pháp phục của Tăng Ni, hết thảy đều được ráp nối bằng hình vuông—A monk's robe (Cà Sa), to be so called because its square appearance.
; (方服) Cũng gọi Phương bào. Chỉ cho áo pháp(ca sa) của tỉ khưu, vì ca sa đều là hình vuông, nên gọi là Phương phục. [X. Phương phục đồ kí].
phương quy
Có hình vuông—Square-shaped.
phương quảng
Feng-kan (C), Vaipulya (S)Phương đẳng, Tỳ Phật Lược Kinh1- Cac kinh ấy nghĩa lý rộng lớn như hư không nên gọi là Phương quảng Kinh. 2- Phương đẳng kỳ là thời kỳ thuyết giáo chung cho tất cả chúng sanh. 3- Một thể loại trong 12 thể loại kinh mà Phật đã dùng để thuyết pháp, giảng nói giáo nghĩa rộng lớn sâu xa.
; Vaipulya (S). Expansion, enlargement, broad, spacious. Phương is intp. by phương chính correct in doctrine and quảng by quảng bác broad or wide; broad school, wider teaching, in contrast with the narrow school or Hìnayàna. Mahàyàna-sùtras.
; Vaipulya (skt). 1) Tên chỉ chung cho các kinh Đại Thừa—Extension—Enlargement—Broad—Spacious—Fuller explanation of the doctrine—The whole of the Mahayana sutras—Scriptures of measureless meaning (universalistic or infinite). Vaipulya sutra is used to indicate all Mahayana sutras—See Đại Thừa Kinh. 2) Tên của bộ kinh thứ mười trong 12 bộ Kinh Phật: Name of the tenth of the twelve Buddhist sutras. 3) Tên một thiền sư thời nhà Đường. Niên đại về cuộc đời của ông không được biết rõ, có lẽ ông sống giữa thế kỷ thứ bảy. Ông từng trụ trì tu viện Quốc Thanh trên núi Thiên Thai. Người ta biết đôi chút về ông là qua lời tựa quyển Hàn Sơn Tự, một sưu tập thơ do ẩn sĩ Hàn Sơn soạn, trong đó có vài đoạn được coi là của Phương Quảng—Feng-Kuang, a Chinese Ch'an master of the T'ang period. Precise dates of his life are unknown, probably the middle of the seventh century. He was the abbot of the Kuo-Ch'ing Monastery in the T'ien-T'ai Mountains. The little that is known of him comes for the most part from the foreword to the Han-Shan-Tzih, a collection of the poetry of the hermits of Han-Shan. It also contains several poems attributed to Feng-Kuang.
phương quảng kinh
Xem Đại thừa phương đẳng kinh. Xem Đại thừa phương đẳng kinh.
phương quảng thập luân kinh
Xem Đại Phương Quảng Thập Luân kinh.
phương quảng đại trang nghiêm kinh
Fang-kuang ta-chuang-yen ching (C)Tên một bộ kinh.
; Lalitàvistara-sùtra (S).
; A Vaipulya Sutra—Kinh nói về những chuyện Phật giáng trần từ trên cung trời Đâu suất xuống thế xuất gia, thành đạo với danh hiệu Thích Ca Mâu Ni—The Lalita-vistara, which gives an account of the Buddha in the Tusita Heaven and his descent to earth as Sakyamuni.
Phương quảng đại trang nghiêm kinh 方廣大莊嚴經
[ja] ホウコウダイショウゴンキョウ Hōkō dai shōgon kyō ||| The An in-depth account of the historical Buddha's life. (1) 27 chapters in 12 fasc. T 187.3.539-617, alt. 神通遊戲經, abbr. 大莊嚴經, tr. Divākara 地婆訶羅. (2) 30 chapters in 8 fasc. T 186.3.483-539; also called the Puyao jing 普曜經, alt. Fangdeng benqi jing 方等本起經, tr. Dharmarakṣa 竺法護. For an Eng. tr. and Mongol ed. see Poppe-1967. => (c: Fangguang da zhuangyan jing ; s: Lalitavistara; t: rgya cher rol pa; e: Extensive Merriment). Ghi lại chi tiết lịch sử cuộc đời Đức Phật. Gồm các bản: Thần thông du hý kinh , gọi tắt là Đại trang nghiêm kinh, Địa-bà-ha-la (s: Divākara 地婆訶羅) dịch; gồm 27 phẩm trong 12 quyển. Phổ diệu kinh, tên gọi khác là Phương đẳng bản khởi kinh; Trúc Pháp Hộ dịch; gồm 30 phẩm trong 8 quyển. Về bản tiếng Anh và tiếng Mông Cổ, xin xem Poppe-1967. Phương quảng 方廣 [ja] ホウコウ hōkō ||| Literally, "corrective and extensive." A Chinese translation of the Sanskrit vaipulya 毘佛略, one of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. These works treated broad issues of the Buddhist doctrine, often in an intersectarian manner. => Nghĩa chung là “để hiệu chỉnh và bao quát”. Hán dịch chữ vaipulya (tỳ-phật-lược毘佛略) trong tiếng Sanskrit, là một trong 12 thể loại của kinh tạng Phật giáo. Những kinh nầy đề cập rộng rãi đến nhiều vấn đề trong giáo lý đạo Phật, thường theo tinh thần dung nhiếp nhau.
phương quảng đạo nhân
Heretical followers of Mahàyàna, who hold a false doctrine of Không the Void, teaching it as total non-existence, or nihilism.
; Ngoại đạo phụ vào Đại Thừa chấp vào lý “không kiến”—Heretical followers of Mahayana, who hold a false doctrine of the Void, teaching it as total non-existence, or nihilism.
; (方廣道人) Chỉ cho những người ngoại đạo sống nhờ vào Phật pháp Đại thừa.Phương quảng là vuông vức, rộng lớn, chỉ cho Đại thừa; Đạo nhân là người học đạo. Như vậy, nói theo ngữ nghĩa thì Phương quảng đạo nhân là những người tu học Phật pháp Đại thừa. Nhưng, theo luận Đại trí độ quyển 1 thì Phương quảng đạo nhân là một phái hiểu lầm nghĩa chân không của Đại thừa mà chủ trương chủ nghĩa hư vô. Độc tử bộ của Tiểu thừa lập thuyết Bổ đặc già là (Phạm: Pudgala), thừa nhận Ngã có thực thể; Phương quảng đạo nhân của Đại thừa thì chấp trước ngoan không(ác thủ không), bác bỏ lí nhân quả. Hai phái trên đều là những ngoại đạo sống bám vào Phật pháp, là những giáo phái phi Phật giáo trong nội bộ Phật giáo. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.28; Ma ha chỉ quán Q.10; Tam luận huyền nghĩa].
phương sách
Process—Way—Procedure
Phương sách 方策
[ja] ホウサク hōsaku ||| Method, process. Plan, device, design, scheme. => Phương pháp, tiến trình. Kế hoạch, phương kế, phác thảo, ý đồ.
phương sĩ
Fang-shih (C), Black magician.
; (方士) Chỉ cho những người thích luận đàm về thuyết thần tiên, hoặc về những phương thuật kì lạ. Tại Trung hoa, vào thời Chiến quốc, ở các nước Yên, Tề thường có những kẻ dùng các phương thuật như tu luyện thành tiên và thuốc trường sinh... để cầu được các vua chúa tín nhiệm, như Từ phúc đời Tần, Lí thiếu quân đời Hán...
phương sắc dụ ngũ đạo
(方色喻五道) Màu sắc và phương hướng dụ năm đường. Cứ theo Viên giác kinh lược sớ sao thì tính Viên giác thanh tịnh, tùy theo các loài mà ứng hiện trong 5 đường (trời, người, địa ngục, ngã quỉ, súc sinh) ví như ngọc bảo châu ma ni trong suốt sáng rỡ, lấp lánh 5 màu, tùy các phương mà ánh hiện. 1. Phương tây, màu trắng, dụ cho cõi trời, vì cõi trời là do bạch nghiệp thuần thiện chiêu cảm. 2. Phương giữa, màu vàng, dụ cho cõi người, vì cõi người là do công đức giữ 5 giới chiêu cảm, không phải chịu nỗi khổ của 4 đường, không được hưởng cái vui của các trời, mà ở khoảng giữa nỗi khổ và cái vui ấy. 3. Phương bắc, màu đen, dụ cho địa ngục, vì địa ngục là do hắc nghiệp thập ác thượng phẩm chiêu cảm. 4. Phương đông, màu xanh, dụ cho ngã quỉ, vì ngã quỉ là do nghiệp thập ác trung phẩm chiêu cảm, thường bị đói khát, thân thể ốm o, mặt mày xanh lè. 5. Phương nam, màu đỏ, dụ cho súc sinh, vì súc sinh là do nghiệp thập ác hạ phẩm chiêu cảm, thường bị đánh giết, chịu báo huyết đồ.
phương sở
(方所) Phương hướng và nơi chốn. Luận Câu xá quyển 8 (Đại 29, 41 thượng) nói: Vì pháp vô sắc cho nên không có phương sở; các pháp vô biểu, vô sắc ở quá khứ, vị lai không trụ phương sở, đó là lí tất nhiên.
phương thuật
(方術) Thuật mà các phương sĩ ở Trung quốc thời xưa ứng dụng, như thiên văn, lịch toán, chiêm nghiệm, tướng số, luyện đơn, bói toán, phong thủy (xem đất để mộ), độn giáp, thần tiên, phòng trung thuật...
phương thốn thiền
(方寸禪) Thiền mới một tấc. Nghĩa là người tham thiền mới chỉ lãnh ngộ được chút ít. Chương Pháp vân cảo trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 17 (Vạn tục 138, 339 thượng) ghi: Sư thường nói với mọi người: Vào ngày 21 tháng 11 năm Thiệu thánh thứ 3, ta ngộ được Phương thốn thiền. Thiền ở đây tuy nói là phương thốn nhưng cực kì sâu xa, mầu nhiệm, cũng như Nhất chỉ thiền (Thiền 1 ngón tay) của Hòa thượng Câu chi vậy. (xt. Nhất Chỉ Thiền).
Phương tiện
(s, p: upāya, 方便): âm dịch là Âu Ba Da (漚波耶), một trong 10 Ba La Mật, còn gọi là Thiện Quyền (善權), Biến Mưu (變謀), chỉ sự uyển chuyển biến đổi tùy theo hoàn cảnh, không gian, thời gian; cũng là một loại phương pháp phát triển hướng thượng. Trong các kinh luận Phật Giáo thường dùng từ này, quy nạp lại thì ý nghĩa của nó có thể phân làm 4 loại: (1) Đối với pháp chân thật mà nói, là pháp môn giả lập ra để dẫn dụ chúng sanh đi vào pháp chân thật; nên được gọi là Quyền Giả Phương Tiện (權假方便), Thiện Xảo Phương Tiện (善巧方便); tức chư Phật, Bồ Tát tùy theo căn cơ của chúng sanh để dùng các loại phương pháp ban cho lợi ích. (2) Đối với Thật Trí (實智) của Bát Nhã mà nói. Theo Vãng Sanh Luận Chú (徃生論註) quyển hạ của Đàm Loan (曇鸞, 476-?), Bát Nhã là đạt đến tuệ như như, phương tiện là thông trí quyền xảo; nên lấy Quyền Trí (權智) để quán chiếu những sai biệt hiện ra trong Bình Đẳng Thật Trí (平等實智). (3) Hai trí quyền và thật đều là pháp môn do chư Phật, Bồ Tát thường dùng để hóa độ chúng sanh. (4) Là hạnh gia trì, tu tập để chúng ngộ chân lý. Lại nữa, trong 12 phương tiện của Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章) quyển 15 do Huệ Viễn (慧遠, 523-592) nhà Tùy trước tác, Pháp Hoa Huyền Tán (法華玄讚) của Khuy Cơ (窺基, 632-682), cũng có nêu ra 4 loại phương tiện khác, gồm: (1) Tấn Thú Phương Tiện (進趣方便), giống như 7 phương tiện trước khi ngộ đạo, tức sự chuẩn bị hướng đến Bồ Đề. (2) Quyền Xảo Phương Tiện (權巧方便), như Phương Tiện Trí trong 2 loại trí tuệ, lấy pháp môn của Ba Thừa để tùy theo vật mà quyền hiện. (3) Thí Tạo Phương Tiện (施造方便, hay Thí Vi Phương Tiện [施爲方便]), như Phương Tiện Ba La Mật (方便波羅蜜) trong 10 Ba La Mật, tức làm những việc thiện xảo để đạt đến mục đích lý tưởng. (4) Tập Thành Phương Tiện (集成方便), như thuyết về 6 tướng của Thập Địa Kinh Luận (十地經論), các pháp đồng thể nhưng biến tướng hiện thành, nghĩa là bản chất của các pháp đều như nhau; trong một có tất cả, và trong tất cả cũng thành một. Hơn nữa, theo Pháp Hoa Văn Cú (法華文句) quyển 7 của Đại Sư Trí Khải (智顗), có nêu ra 3 loại phương tiện là Pháp Dụng (法用), Năng Thông (能通) và Bí Diệu (祕妙); ứng với đối tượng của Tam Giáo Tạng (藏), Thông (通) và Biệt (別). Tịnh Danh Kinh Sớ (淨名經疏) lại đề cập đến 3 loại phương tiện khác là Tự Hành (自行), Hóa Tha (化他) và Tự Tha (自他), v.v. Câu “Từ tâm vô lượng, quảng khai phương tiện chi huyền môn (慈心無量、廣開方便之玄門)” trong lòng văn sớ trên có nghĩa là với tâm từ bi vô lượng, chư Phật đã mở rộng cánh cửa vi diệu của phương tiện để cứu độ chúng sanh; cho nên hình thức cúng Cầu Siêu, Cầu An cũng là phương tiện trong muôn vàn phương tiện khác của Phật Giáo.
; 方便; S, P: upāya; J: hōben; thường được gọi là »Phương tiện thiện xảo« (善巧方便; s: upāya-kauśalya);|Có nhiều khía cạnh:|1. Phương tiện của Bồ Tát nhằm giúp chúng sinh giải thoát, với nhiều cách thức khác nhau, từ giáo hoá đơn giản cho đến những thần thông siêu nhiên. Phương pháp này được xem là một trong những hạnh Ba-la-mật-đa (Lục độ) mà Bồ Tát hoàn thành trong cấp thứ 7 của Bồ Tát thập địa (Thập địa).|2. Phương tiện trong cách trình bày giáo pháp. Nhiều trường phái Phật giáo (Hoa nghiêm, Thiên Thai) cho rằng chính đức Phật lịch sử đã áp dụng phương tiện này rồi, khi Ngài tuỳ căn cơ từng người mà giảng dạy. Ðặc biệt Ngài đã trình bày giáo lí Tiểu thừa trong giai đoạn một, rồi lúc cuối đời mới giảng pháp Ðại thừa đầy đủ hơn, đặc biệt trong kinh Diệu pháp liên hoa.|Phương tiện được xem là khía cạnh hoạt động của cái Tuyệt đối trong thế giới tương đối của hiện tượng, hiện thành lòng Từ (s, p: maitrī). Phương tiện là khía cạnh ngược của trí Bát-nhã (s: prajñā). Nếu Bát-nhã tượng trưng cho thể tính duy nhất của vạn sự thì phương tiện tượng trưng cho chính cái thiên hình vạn trạng. Trong cách nhìn của bậc giác ngộ thì với con mắt Bát-nhã (Huệ nhãn), Phật hay Bồ Tát không thấy có chúng sinh đau khổ, vì không có gì hiện hữu ngoài Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân). Còn nếu các Ngài nhìn với con mắt của lòng Từ (s: maitrī) thì khắp nơi đều là Khổ, Khổ do chấp trước vào sắc tướng. Muốn cứu độ chúng sinh thoát khổ, các Ngài dùng mọi phương tiện giúp chúng sinh đạt Niết-bàn, vốn xuất phát từ lòng Từ vô lượng của Pháp thân.
phương tiện
Tap (S), Upāya (S), Means, tap (T).
; Upàya (S). A mode of approach, an expedient, stratagem, device; phương is interpreted as phương pháp method, mode, plan and tiện as tiện dụng convenient for use. Way, means.
; Tùy theo căn cơ trình độ của chúng sanh, tùy nghi giả thiết đủ thứ thí dụ để giáo hóa mọi người.
; Upaya (skt)—Contrivance—Expediency—Means—Method—Phương pháp tiện dụng tùy theo hay thích hợp với sự thụ nhận của chúng sanh—Convenience—Adaptability—To be instrumental—Means—Expedients—Tact or skill in teaching according to receptivity—Expedient ways—Skill-in-means—Convenient to the place or situation—Suited to the condition. There are several interpretations: 1) Phương có nghĩa là phương pháp, tiện là tiện dụng; phương tiện là phương pháp tiện dụng thích hợp với căn cơ của những chúng sanh khác nhau: Phương is interpreted as method, mode or plan; and Tiện is interpreted as convenient for use; so Phương Tiện means a convenient or expedient method which is suitable to different sentient beings. 2) Phương có nghĩa là phương chánh, tiện là xảo diệu; phương tiện là dùng lý phương chánh thiện xảo hay lời lẽ khéo léo thích hợp với việc giáo hóa: Phương means correct, Tiện means strategically; Phương tiện means strategically correct. 3) Quyền Đạo Trí: Trí quyền nghi (từng phần, tạm thời hay tương đối) để thâm nhập vào cái chân thực, đối lại với trí Bát Nhã là chân như tuyệt đối—Partial, temporary, or relative teaching of knowledge of reality, in contrast with prajna, and absolute truth, or reality instead of the seeming.
; (方便) Phạm,Pàli: Upàya. Hán âm: Âu ba da. Cũng gọi Thiện quyền, Biến mưu. Phương pháp khéo léo để tiến triển hướng thượng, 1 trong 10 Ba la mật. Danh từ Phương tiện được các kinh luận sử dụng với ý nghĩa rất rộng, nay qui nạp lại làm 3 ý nghĩa như sau: 1. Đối với pháp chân thực thì phương tiện là pháp môn tạm thời được đặt ra để dắt dẫn chúng sinh vào pháp chân thực. Tức là Phật, Bồ tát tùy theo căn cơ, trình độ của các chúng sinh mà sử dụng những phương pháp khéo léo, thích hợp để làm lợi ích cho họ. 2. Đối với thực trí bát nhã, cứ theo Vãng sinh luận chú của ngài Đàm loan thì Bát nhã là tuệ đạt như, Phương tiện là trí thông quyền. Dùng Quyền trí quán chiếu sự sai biệt hiển hiện trong Thực trí bình đẳng. 3. Phương tiện là gia hạnh tu tập để chứng ngộ chân lí. Đại thừa nghĩa chương quyển 15 của ngài Tuệ viễn và Pháp hoa huyền tán quyển 3 của ngài Khuy cơ, nêu ra 4 thứ phương tiện:1. Tiến thú phương tiện: Chuẩn bị (gia hạnh) tiến tới bồ đề, như 7 phương tiện trước giai vị Kiến đạo. 2. Quyền xảo phương tiện: Trí phương tiện trong 2 trí. Vì thực ra không có pháp môn Tam thừa, nhưng tùy cơ phương tiện mà đặt ra thôi. Thi tạo phương tiện (Thi vi phương tiện): Phương tiện ba la mật trong 10 Ba la mật, tức những việc được thực hiện một cách khéo léo để đạt thành mục đích lí tưởng. 4. Tập thành phương tiện: Thuyết Lục tướng trong Thập địa kinh luận. Các pháp đồng thể tập thành với nhau một cách khéo léo, tức bản chất của các pháp đều giống nhau, trong 1 có tất cả, trong tất cả cũng thành 1, đây kia tập thành và kiến lập lẫn nhau một cách khéo léo. Quyền xảo phương tiện có nghĩa là đức Phật dùng Trí phương tiện tạm thời bày đặt ra pháp môn Tam thừa... Trí phương tiện này cũng gọi là Quyền trí, tức là trí vì dẫn dắt chúng sinh mà đức Phật tạm thời giả lập ra. Quyền xảo phương tiện và Thi tạo phương tiện đều là những phương tiện khéo léo của Phật. Thiện xảo phương tiện lấy trí Thành sở tác trong 4 trí làm thể, cũng gọi là Phương tiện thiện xảo, Thiện quyền phương tiện, Thiện phương tiện, Xảo phương tiện, Quyền phương tiện, Thắng phương tiện, Thiện xảo, Thiện quyền, Xảo tiện... Tất cả giáo thuyết, nói theo quan điểm tuyên giảng, thì hết thảy chỉ là phương tiện thi thiết, nhưng trong đó, giáo thuyết trực tiếp giải thích rõ bản chất của bồ đề, biểu hiện ý nghĩa chân thực của nó thì gọi là Chân thực giáo; còn giáo thuyết vì thích ứng với căn cơ chúng sinh mà tạm thời nói ra để dẫn dắt họ vào chân thực, thì gọi là Phương tiện giáo (Phương tiện giả môn, Quyền môn), phương tiện này gọi là Hóa tiền phương tiện, Quyền giả phương tiện... Trái lại, loại phương tiện khác thì gọi là Dị phương tiện. Phương tiện sau khi giác ngộ Phật quả, gọi là Quả hậu phương tiện. Ngoài ra, đối lại với Pháp Báo gọi là Quả cực pháp thân thì có Ứng Hóa gọi là Phương tiện pháp thân; đối lại với cõi chân thực do tu nhân mà được, gọi là Thực báo độ, thì có cõi do tu đạo Phương tiện mà chiêu cảm, gọi là Phương tiện hữu dư độ; đối lại với Bát nhã gọi là Thực trí, thì có hóa dụng lợi tha, gọi là Phương tiện trí; đối lại với Nhất thừa gọi là Chính thừa, thì có Tam thừa, gọi là Phương tiện thừa. Đại thừa nghĩa chương quyển 15 chia Thi tạo phương tiện làm 3 loại: 1. Giáo đạo phương tiện: Tất cả việc làm ở thế gian đều có thể tu tập một cách khéo léo. 2. Chứng đạo phương tiện:Xả bỏ tình tướng chứng vào thực tế. 3. Bất trụ phương tiện: Không chấp trước các kiến giải sai biệt tương đối như không hữu, nhiễm tịnh, tự tha... Kinh Địa tạng thập luân quyển 10 thì chia Phương tiện làm 2 thứ là Phương tiện thiện xảo chấp trước hữu sở đắc và Phương tiện thiện xảo xa lìa chấp trước vô sở đắc; hoặc Thế gian thiện xảo phương tiện và Xuất thế gian thiện xảo phương tiện. Kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản dịch cũ) nêu 10 loại Phương tiện của bồ tát Thập địa là: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ, đại từ, đại bi, giác ngộ và chuyển bất thoái chuyển pháp luân. Luận Đại thừa khởi tín thì nêu ra 4 thứ Phương tiện là: Căn bản phương tiện, Năng chỉ phương tiện, Phát khởi thiện căn(tăng trưởng)phương tiện và Đại nguyện phương tiện.Pháp hoa văn cú quyển 7 của ngài Trí khải tông Thiên thai thì nêu 3 thứ Phương tiện: Pháp dụng phương tiện, Năng thông phương tiện và Bí diệu phương tiện. Trong đó, tùy theo các đối tượng Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo mà thi thiết, là Pháp dụng phương tiện; Phương tiện thông suốt được pháp môn chân thực, là Năng thông phương tiện; Pháp hoa dùng nhân sâu kín của Quyền giáo trước mà hiển bày Viên giáo Pháp hoa, nhân sâu kín tức diệu(mầu nhiệm), là Bí diệu phương tiện. Ngoài ra, Ma ha chỉ quán quyển 4, phần đầu, căn cứ vào 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên để phân biệt tính chất xa gần của Phương tiện. Tức là Tạng giáo lấy Tam hiền làm phương tiện xa, lấy Tứ thiện căn làm phương tiện gần, Thông giáo lấy Thập tín làm phương tiện xa, lấy Tam hiền làm phương tiện gần. Viên giáo lấy 25 phương tiện danh tự và 5 phẩm Hành quán làm phương tiện xa, lấy 6 căn thanh tịnh tương tự làm phương tiện gần. Tịnh danh kinh sớ quyển 3 nêu ra 3 thứ phương tiện: Tự hành, Hóa tha và Tự tha. Trong đó, chư Phật và 41 vị Bồ tát biết rõ lí Nhị đế chẳng thể nghĩ bàn, là Tự hành phương tiện. Đối với các Bồ tát Tạng, Thông, Biệt và Viên giáo hữu môn, không đoạn trừ phiền não mà cùng tuyên dương các giáo pháp trong giới nội và giới ngoại một cách bình đẳng, là Hóa tha phương tiện; hợp chung 2 loại trên lại thì gọi là Tự tha phương tiện. [X. kinh Đại bản trong Trường a hàm Q.1; kinh Đại bát nhã Q.328; kinh Hoa nghiêm Q.37 (bản dịch cũ); luận Du già sư địa Q.45; Thập địa kinh luận Q.1; Pháp hoa kinh nghĩa sớ Q.4; Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.7; Pháp hoa kinh văn cú Q.3, phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.19].
phương tiện ba la mật
Upāyapāramitā (S), Ārya-upāya-pāramitā (S)Một trong Thập Ba la mật. Hiểu rõ cách giúp ích chúng sanh. Không tiếc thân mạng. Coi chúng sanh bình đẳng. Nói pháp vi diệu độ chúng sanh đến bờ giác.
; Upàya-pàramità (S) The seventh pàramità.
; Upaya—Ba La Mật thứ bảy trong mười Ba La Mật—The seventh of the ten paramitas.
; (方便波羅蜜) Phạm:Upàya-pàramità. Hán âm: Âu ba da ba la mật. Cũng gọi Phương tiện thiện xảo ba la mật, Phương tiện thắng trí ba la mật. Chỉ cho Ba la mật thứ 7 trong 10 Ba la mật, được chia làm 2 loại: 1. Hồi hướng phương tiện thiện xảo: Ban phát các thiện xảo đã tích tập được do tu hành 6 Ba la mật trước cho các hữu tình để cùng nhau hồi hướng mong cầu quả Vô thượng chính đẳng chính giác. 2. Bạt tế phương tiện thiện xảo: Phương tiện khéo léo mang lại lợi ích cứu giúp các hữu tình. Hồi hướng phương tiện thiện xảo thuộc về Bát nhã, còn Bạt tế phương tiện thiện xảo thì thuộc về Đại bi. Tức vì Bát nhã nên cầu Niết bàn, vì Đại bi mà không bỏ sinh tử. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.4; luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Thập Ba La Mật).
phương tiện ba la mật bồ tát
Vị Bồ Tát trong Thai Tạng Giới, đứng hàng thứ hai bên phải của Hư Không Viện—A Bodhisattva in Garbhadhatu group, the second on the right in the hall of Space.
; (方便波羅蜜菩薩) Phạm: Àrya-upàya-pàramità. Hán dịch: Phương tiện đáo bỉ ngạn. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 2, hàng trên, phía nam bồ tát Hư không tạng ở trung ương viện Hư không tạng trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, là 1 trong 10 bồ tát Ba la mật. Mật hiệu là Cứu cánh kim cương, Cứu cánh thiện xảo kim cương, chủng tử là (me), hoặc (mai), hình Tam muội da là dây lụa trắng. Về hình tượng thì vị Bồ tát này mình màu da người, ngồi trên tòa sen đỏ, khuỷu tay phải co lại, cầm vòng dây đưa lên ngang mặt, tay trái ngửa ra để ở trước ngực, nâng đầu sợi dây. Nếu kết ấn và tụng chân ngôn của tôn vị này thì diệt trừ được hạt giống nghiệp không có thiện xảo phương tiện trong vô lượng kiếp, chứng đắc Hồi hướng phương tiện thiện xảo và Bạt tế hữu tình phương tiện thiện xảo. Ấn tướng của vị tôn này là: Ngón vô danh và ngón út của 2 tay nắm lấy 2 ngón cái, 2 ngón cái đứng thẳng dựa lưng vào nhau, 2 cạnh ngón trỏ chạm vào nhau. Chân ngôn là: Án (oô– qui mệnh) ma hạ (mahà – đại) mỗi đát ra (maitra– từ) tức đế (citte – tâm) sa phạ hạ (svàhà– thành tựu). [X. phẩm Xuất thế giải thoát đàn tượng trong kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.15; Kim cương đính du già thiên thủ thiên nhãn quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ Q.hạ; Huyền pháp tự nghi quĩ Q.hạ; Thanh long tự nghi quĩ Q.trung].
Phương tiện ba-la-mật 方便波羅蜜
[ja] ホウベンハラミツ hōbenharamitsu ||| The perfection of expedient means (upāya-pāramitā). The consummation of the ability to lead sentient beings to the shore of liberation. One of the ten pāramitās 十波羅蜜. => Sự viên mãn của pháp phương tiện (s: upāya-pāramitā). Sự hoàn thiện của năng lực cứu độ chúng sinh đưa đến bờ giải thoát. Là môth trong Mười ba-la-mật.
phương tiện bát nhã
(方便般若) I. Phương Tiện Bát Nhã. Chỉ cho Quyền trí phân biệt các pháp, là đức của phương tiện đại giác viên thường, là 1 trong 3 Bát nhã. Đức phương tiện chẳng phải tịch lặng mà lặng, khéo léo phân biệt các pháp, nên gọi là Phương tiện. Tức chỉ cho Đạo chủng trí. [X. Kim quang minh huyền nghĩaQ.thượng]. (xt. Tam Bát Nhã). II. Phương Tiện Bát Nhã. Chỉ cho trí Phương tiện và tuệ Bát nhã. Tuệ chứng được chân lí gọi là tuệ Bát nhã; người đạt được tuệ này thì tâm hành vắng lặng. Trí thông suốt quyền biến, gọi là trí Phương tiện; người được trí này thì xét rõ mọi căn cơ của chúng sinh. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ].
phương tiện giả môn
Expedient gates or ways of using the seeming for the real.
; Expedient gates or ways of using the seeming for the real.
; (方便假門) Giáo môn phương tiện tạm lập ra để đưa chúng sinh vào đạo chân thực. Bồ tát Phương Tiện Ba La Mật (Mạn đồ la Thai tạng giới) Tịnh độ chân tông của Phật giáo Nhật bản lấy nguyện thứ 19 (nguyện đến đón rước) làm Phương tiện giả môn. [X. Hiển tịnh độ chân Phật độ văn loại; Hiển tịnh độ phương tiện hóa thân độ văn loại; Tịnh độ hòa tán giảng nghĩa Q.3]. (xt. Chân Giả Nhị Môn).
phương tiện hiện niết bàn
Though the Buddha is eternal, he showed himself as temporarily extinct, as necesseray to arouse a longing for Buddha.
; Như Lai thường trụ bất diệt, nhưng ngài tạm thời nhập Niết Bàn khiến cho chúng sanh khởi lên ý niệm tưởng nhớ Như Lai mà dụng công tu đạo—Though the Buddha is eternal, he showed himself as temporarily extinct, as necessary to arouse a longing for Buddha.
; (方便現涅槃) Cũng gọi Ứng hóa niết bàn. Tức là Phương tiện tịnh niết bàn do tông Thiên thai thiết lập, 1 trong 3 Niết bàn. Nghĩa là pháp thân Như lai tuy thường trụ bất diệt, nhưng vì muốn cho chúng sinh khởi ý tưởng khó gặp Phật ra đời màsinh tâm ngưỡng mộ tu đạo, cho nên đức Phật phương tiện thị hiện nhập Niết bàn. [X. phẩm Thọ lượng kinh Pháp hoa; Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng].
phương tiện hoá thân
(方便化身) Chỉ cho hóa thân của đức Phật A di đà thị hiện trụ ở cõi Giải mạn được hóa hiện tại biên địa Tịnh độ để thích ứng với các phương tiện nguyện (nguyện thứ 19 tu các công đức; nguyện thứ 20 niệm Phật tất định vãng sinh)..., trong 48 nguyện của Ngài.
phương tiện hoá độ
(方便化土) Tịnh độ do đức Phật A di đà phương tiện thị hiện để tiếp dẫn các hành giả tự lực tu các thiện hạnh và niệm Phật cầu vãng sinh, 1 trong 2 độ do Chân tông của Nhật bản thành lập. Vì Tịnh độ này không phải Báo độ chân thực, nên gọi là Phương tiện; còn Giáo chủ của Tịnh độ này là Hóa thân Phật chứ không phải Báo thân chân thực của Phật an trụ, cho nên gọi là Hóa độ. Chân tông của Nhật bản chủ trương nếu người nào tin ưa bản nguyện tha lực của Phật A di đà, thì trực tiếp vãng sinh Báo độ chân thực mà chứng đắc quả Phật; còn nếu người không tin ưa bản nguyện Di đà mà tự lực tu các thiện hạnh, đồng thời hồi hướng các công đức ấy, thì được sinh về Phương tiện hóa độ chứ không được sinh về Chân thực báo độ, bởi vì những người này còn ngờ vực. [X. kinh A di đà; Ngu thốc sao Q.thượng; Hiển tịnh độ chân thực giáo hành chứng văn loại Q.6, phần đầu]. (xt. Hóa Độ).
Phương tiện hoại 方便壞
[ja] ホウベンエ hōben'e ||| The destruction of mistaken (biased) thought through expedient methods. => Sự tiêu trừ tà kiến thông qua pháp phương tiện.
phương tiện hóa thân độ
Nơi Phật A Di Đà xuất hiện hóa thân—Intermediate land of transformation (where Amitabha appears in his transformation-body).
phương tiện hữu dư độ
One of the Thiên Thai tứ độ four lands, which is temporary, as its occupants still have remains to be purged away.
; (方便有餘土) Tịnh độ trong đó các vị A la hán, Bích chi phật và các Bồ tát dưới Thập địa cư trụ, 1 trong 4 độ do tông Thiên thai thiết lập.Vì các bậc Thánh trên tu tập đạo Phương tiện, dứt trừ hết Kiến hoặc và Tư hoặc, nên gọi là Phương tiện; nhưng các Ngài vẫn chưa đoạn diệt Vô minh hoặc, nên gọi là Hữu dư (còn sót lại). [X. luận Đại trí độ Q.93; Đại thừa huyền luận Q.5]. (xt. Tứ Độ).
phương tiện hữu dư độ (biến dịch độ)
Theo tông Thiên Thai, đây là một trong tứ độ; là cõi nước mà chúng sanh vẫn còn phải tái sanh trong hình thức cao hơn, trụ xứ của chư Thánh Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm A Na Hàm và A La Hán—According to the T'ien-T'ai Sect, this is one of the four lands or realms, the realm which is temporary, where beings still subject to higher forms of transmigration, the abode of Srotapanna (Tu đà hườn), Sakrdagamin (Tư đà hàm), Anagamin (A na hàm), and Arhat (A la hán). ** For more information, please see Tứ Độ.
phương tiện khéo
Skilful means, Upaya (S), Thab (T).
phương tiện môn
The gates of upàya. i.e. convenient or expedient gates leading into Truth.
; Pháp môn phương tiện dẫn tới chân lý—The gate of Upaya—Convenient or expedient gates leading into Truth.
Phương tiện môn 方便門
[ja] ホウベンモン hōbenmon ||| (dvāra-bhūtāni). The teaching through expedient means. A method of guiding people to the Buddhist truth. => (s: dvāra-bhūtāni). Giáo lý thông qua phương tiện. Phương pháp hướng dẫn người đến Phật đạo.
phương tiện nhị chủng tướng
(方便二種相) Hai thứ phương tiện khéo léo mà Bồ tát thị hiện ra để cứu độ chúng sinh. 1. Thế gian phương tiện: Các phương tiện mà Bồ tát hoặc vì tự lợi, hoặc vì lợi tha thị hiện ra; vì những phương tiện này còn có chỗ sở đắc, sở chấp, nên gọi là Thế gian phương tiện. 2. Xuất thế gian phương tiện: Những phương tiện thiện xảo mà các Bồ tát chỉ vì lợi tha chứ không vì tự lợi, thị hiện ra; vì các phương tiện này không còn chỗ sở đắc, sở chấp, nên gọi là Xuất thế gian phương tiện. [X. kinh Địa tạng thập luânQ.10].
phương tiện pháp thân
Upāya-dharmakāya (S).
phương tiện phẩm
(方便品) 1. Phương Tiện Phẩm. Chỉ cho tên phẩm thứ 2 trong 28 phẩm kinh Pháp hoa. Nội dung phẩm này giảng nói về Tam thừa phương tiện và Nhất thừa chân thực, cho nên gọi là Phương tiện phẩm. 2. Phương Tiện Phẩm. Chỉ cho tên phẩm thứ 2 trong kinh Duy ma cật. Nội dung phẩm kinh này nói về các phương tiện mà Cư sĩ Duy ma cật sử dụng trong việc giáo hóa lợi ích chúng sinh; đồng thời thuật lại việc Cư sĩ thị hiện thân có bệnh ở thành Tì da li để giảng về sắc thân vô thường như đám bọt nước, áng mây trôi, khiến mọi người phát đạo tâm chân chính.
phương tiện sát sanh
Phương tiện thiện xảo của vị Bồ Tát, biết được nghiệp báo của từng người, nên giết mà không bị tội, để tránh không cho người nầy phạm tội làm khổ đau không ngừng, hay giúp cho người đó được sanh vào cảnh giới cao hơn—The right of Great Bodhisattvas, knowing every one's karma, to kill without sinning, in order to prevent a person from committing sin involving unintermitted suffering, or to aid him reaching one of the higher reincarnations.
phương tiện sát sinh
The right of great Bodhisattvas, knowing every one's karma, to kill without sinning, e.g. in order to prevent a person from commiting sin involving unintermitted suffering, or to aid him in reaching one of the higher reincarnation.
; (方便殺生) Chỉ cho việc giết hại mà bậc Đại bồ tát thực hiện để cứu độ chúng sinh. Chẳng hạn như trên con truyền buôn, Bồ tát biết chắc 1 kẻ cướp định giết chết tất cả mọi người trên thuyền để chiếm đoạt hàng hóa và tiền bạc, Bồ tát liền ra tay trước hạ sát tên cướp để cứu mọi người. Việc làm này của Bồ tát tuy vẫn phải chịu quả báo, nhưng tương đối nhẹ hơn; bởi lẽ, Bồ tát hành động vì lợi ích của người khác, chứ không phải vì lợi ích cá nhân. Hơn nữa, giết chết 1 người để cứu sống nhiều người thì tội cũng được giảm nhẹ.
phương tiện thanh
(方便聲) Chỉ cho âm thanh chữ (a#) trong 5 cách biến hóa về âm vận của chữ (a) trong Mật giáo. Chữ (a#) tức là chữ (a) được thêm 2 cái chấm (:) vào bên phải; 2 chấm này gọi là chấm phương tiện, biểu thị phương tiện cứu cánh, cho nên gọi là Phương tiện thanh. Cứ theo nghĩa của Ngũ tự chuyển sinh thì chấm phương tiện còn được gọi là Phương tiện luân. [X. Tất đàm tạng Q.2].
phương tiện thiện xảo
Upàyakusala (S). Skillful mean. Clever in resources.
; Upaya-kausalya (skt)—Expedient method implies strategically correct—Skilful means—Phương tiện thiện xảo là phương tiện tốt lành và tinh xảo mà chư Phật và chư Bồ Tát tùy căn tánh của các loại chúng sanh mà 'quyền cơ nghi' hay quyền biến hóa độ họ từ phàm lên Thánh (từ si mê thành giác ngộ). Các bậc trí lực không chấp nê nơi hình thức, họ chỉ coi hình thức như những phương tiện thiện xảo để tiến tu và đạt cứu cánh là quả vị Phật—Extraordinary Skilful Means is a good and virtuous practice which Buddhas and Maha-Bodhisattvas use to follow and adapt to the individual capacity, personality, and inclination of sentient beings to aid and transform them from unenlightened to enlightened beings. Practitioners who possess wisdom are no longer attached to forms and appearances; because forms and appearances are only expedients for them to advance in cultivation to obtain the Buddhahood.
phương tiện trí
Upāyajāṇa (S).
; Upàyajnàna (S). The wisdom, or knowledge of using skilful means (for saving others).
; Upayajnana (skt)—Skilful knowledge—Skilful means of knowledge—Quyền trí hay trí thông đạt về phương pháp cứu độ chúng sanh. Ý niệm về phương tiện thiện xảo là một ý niệm quan trọng trong Phật giáo Đại Thừa và không tách rời với ý niệm về một trái tim đại từ đại bi vận hành toàn bộ hữu thể của Phật tính. Nó không đủ để vị Bồ Tát có được Thánh Trí hay Bát Nhã được thức tỉnh viên mãn vì ngài phải được phò trợ bằng phương tiện trí nhờ đó có thể đưa toàn bộ cơ phận cứu độ vào thực tiễn tùy theo các yêu cầu của chúng sanh—The wisdom or knowledge of using skillful means for saving others. The idea of “skillful means” is an important idea in Mahayana Buddhism and inseparable from that of a great compassionate heart moving the whole being of Buddhahood. It is not enough for the Bodhisattva to have the supreme wisdom (wisdom of the Buddha) or Aryajnana, or Prajna fully awakened, for he must also be supplied with skillful wisdom (upayajnana) whereby he is enabled to put the whole salvation machinery in practice according to the needs of beings.
; (方便智) Cũng gọi Quyền trí. Đối lại: Thực trí. Chỉ cho trí thấu suốt pháp phương tiện, tức trí ứng dụng các phương tiện khéo léo, 1 trong 2 trí. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 19 thì trí rõ biết pháp Tam thừa quyền hóa, gọi là Phương tiện trí. Trái lại, trí rõ biết Nhất thừa chân thực thì gọi là Thực trí. (xt. Nhị Trí).
phương tiện tuỳ duyên chỉ
(方便隨緣止) Cũng gọi Hệ duyên thủ cảnh chỉ. Gọi tắt: Phương tiện chỉ. Một trong ba Chỉ do tông Thiên thai lập ra, đối lại với Giả quán trong 3 quán Không, Giả, Trung và thiên về Tục đế. Bồ tát biết rõ không chẳng phải không, thường khéo léo tùy duyên, phương tiện phân biệt, tùy bệnh cho thuốc để giáo hóa lợi ích chúng sinh. Ở trong tục đế mà tâm không bị biến động bởi nội cảnh và ngoại cảnh, vẫn an nhiên tự tại. [X. Ma ha chỉ quán Q.3; phần đầu]. (xt. Tam Chỉ).
phương tiện tâm
(方便心) I. Phương Tiện Tâm. Chỉ cho tâm của Quyền trí, 1 trong 4 tâm.Tông Tịnh độ cho rằng Phương tiện tâm là 1 trong 4 tâm bồ đề có năng lực giúp hành giả tịnh nghiệp vãng sinh Cực lạc. Phương tiện tâm và Trí tuệ tâm (tâm của Thực trí) là cha mẹ của Bồ tát. Nếu có đầy đủ 2 tâm này thì thành tựu pháp Bồ tát.[X. luận Tịnh độ (Thiên thân); Vãng sinhluận chú Q.hạ]. (xt. Tứ Tâm). II. Phương Tiện Tâm. Chỉ cho tâm dùng tríHậu đắc làm lợi ích chúng sinh, 1 trong 3 tâm của Bồ tát Thập địa. [X. luận Đại thừa khởi tín]. (xt. Tam Tâm).
phương tiện tâm luận
Upāyahṛdaya-śāstra (S).
; (方便心論) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Cát ca dạ dịch vào đời Hậu Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung luận này trình bày về cương yếu của luận lí Nhân minh mà được xem như phương tiện để phân biệt thiện ác, chính tà, gồm 4 phẩm: Minh tạo luận, Minh phụ xứ, Biện chính luận và Tương ứng. Ba bản Tống, Nguyên, Minh đều cho rằng luận này do ngài Long thụ soạn, nhưng bản Cao li và các bộ Kinh lục thì không thấy nói đến luận này. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Pháp kinh lục Q.5; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7, 9; Khai nguyên thích giáo lục Q.6].
Phương tiện đáo bỉ ngạn 方便到彼岸
[ja] ホウベントウヒガン hōben tōhigan ||| The perfection of expedient means. See 方便波羅蜜. => Sự viên mãn của pháp phương tiện. Xem Phương tiện ba-la-mật 方便波羅蜜.
Phương tiện đạo 方便道
[ja] ホウベンドウ hōbendō ||| The path of expedient means, a term often used flexibly within various path descriptions to indicate a relatively early stage of practice, wherein one is not yet exercising undefiled wisdom. (1) According to some texts, the second of the five paths 五道 which are stages of religious cultivation in Yogācāra (the second stage is more commonly termed "stage of initiation of practices" 加行位). It includes many practices from the prior stage of preparation 資糧道, as well as practices of samādhi and prajñā. It is followed by the Path of Seeing 見道.〔對法論T 1606.31.734c5-15〕 According to the scheme explained in Wŏnhyo's Doctrine of the Two Hindrances 二障義, the Path of Expedient Means is one of the five sub-paths contained within the Path of Seeing. 〔二障義 HPC 1.802b23〕 (2) The third of the nine yogas 九瑜伽. 〔瑜伽論T 1579.30.346c25〕 => Lối tu tập sử dụng phương tiện , thuật ngữ thường được dùng một cách uyển chuyển trong nhiều cách diễn đạt để nói đến mối liên hệ trong giai đoạn tu tập ban đầu, khi hành giả chưa vận dụng được trí vô lậu. 1. Theo một số kinh văn, đây là giai vị thứ hai trong Ngũ đạo, là giai vị Tu đạo theo Du-già hành phái (giai vị thứ hai thường được gọi bằng thuật ngữ Gia hạnh vị). Bao gồm nhiều công hạnh từ giai vị đầu tiên cho đến Tư lương vị, cũng như tu tập định (samādhi) và huệ (prajñā). Đó là tiếp theo giai vị Kiến đạo. Theo phác đồ do Nguyên Hiểu giải thích trong Nhị chướng nghĩa (e: Doctrine of the Two Hindrances 二障義) của Nguyên Hiểu (k:Wŏnhyo), thì Phương tiện đạo là một trong năm trợ đạo bao gồm trong Kiến đạo. 3. Thứ ba trong Cửu Du-già 九瑜伽.
phương tiện định
Xem Cận phần định.
phương tiện độ
See Phương Tiện Hóa Thân Độ.
Phương tiện 方便
[ja] ホウベン hōben ||| (1) A method, a means, a device for saving sentient beings; "expedient means" (upāya). "Excellent method for converting beings" (upāya-kauśalya). The wisdom of being able to save sentient beings by knowing discriminated phenomena. A temporary teaching established in order to lead sentient beings to the true teaching. This is a subject of primary importance in the Lotus Sutra. (2) The seventh of the 'Ten Perfections.' (3) A plan, scheme, design (ārambha). (4) Usage of metaphor in teaching. (5) Chinese Buddhists utilized the doctrine of expedient means to help deal with the hermeneutical problem of reconciling the disparities among the different teachings attributed to the Buddha-to explain that the differences in the teachings of the Buddha delivered in his forty-nine year ministry were were the result of the different audiences he addressed. => 1. Phương pháp, phương tiện, phương thức để cứu độ chúng sinh (s: upāya). “phương tiện thiện xảo để chuyển hoá chúng sinh ” (s: upāya-kauśalya). Trí hiểu biết để có thể cứu độ chúng sinh bằng cách nhận biết phân biệt các hiện tượng. Là giáo lý tạm thời lập ra để đưa chúng sinh đến giáo pháp chân thật . Đây là chủ đề chính yếu trong Kinh Pháp Hoa. 2. Điều thứ bảy trong Mười ba-la-mật. 3. Kế hoạch, dự án, phác thảo chương trình (s: ārambha). 4. Cách dùng ẩn dụ trong giáo pháp. 5. Phật giáo Trung Hoa dùng giáo lý phương tiện để hỗ trợ cùng với sự giải thích các vấn đề hoà giải sự bất đồng trong các giáo lý được xem là của Đức Phật -- để giải thích sự khác nhau trong giáo lý của Đức Phật thuyết giảng trong suốt 49 năm do là kết quả tiếp nhận không đồng đều của thính chúng.
phương toà
(方座) Tòa hình vuông, không có trang sức, một loại tòa ngồi đơn giản nhất của các pho tượng Phật và Bồ tát. (xt. Đài Tòa).
Phương trượng
(方丈): nơi ở của vị trú trì một tự viện, nghĩa là căn nhà bốn phương rộng một trượng. Việc này phát xuất từ điển cố của vị cư sĩ Duy Ma Cật (s: Vimalakīrti, 維摩詰) có căn nhà bốn phương rộng một trượng, có thể chứa 32.000 người. Từ đó, nó có nghĩa là tiếng kính xưng của vị trú trì.
; 方丈; J: hōjō;|Có nhiều nghĩa: 1. Chỉ căn phòng của vị trụ trì của một ngôi chùa. Danh từ này ám chỉ căn phòng của Duy-ma-la-cật (s: vimalakīr-ti), một vị Cư sĩ đạt Giác ngộ viên mãn của một vị Phật (Duy-ma-cật sở thuyết kinh); 2. Chỉ vị trụ trì của một ngôi chùa; 3. Danh hiệu của một Thượng toạ trong một Thiền viện.
phương trượng
Hōjō (J), Fang-chang (C)Phòng ở của hòa thượng trụ trì, ngang rng chỉ có mt trượng, nên gọi là phương trượng.
; An abbot, tự chủ head of a monastery; the term is said to arise from the ten-foot cubic dwelling in which Duy Ma Cật Vimalakirti lived.
; Phòng ở của Hòa thượng Trụ trì, ngang rộng chỉ có một trượng.
; 1) Viện Chủ: Tự Chủ—An abbot—Head of a monastery—The Abbot's Quarters. 2) Khu Mười Thước vuông Anh: The Square Ten Feet. Phưởng Phất: Dimly—Vaguely—Faintly.
; (方丈) Cũng gọi Phương trượng thất, Trượng thất, Hàm thất, Chính đường, Đường đầu. Căn phòng hình vuông mỗi bề 1 trượng, tức là nơi ở của vị Trụ trì hoặc là phòng khách trong các thiền viện thuộc Thiền tông.Phòng chư tăng ở Ấn độ phần nhiều làm theo qui chế Phương nhất trượng (vuông vức một trượng), Thiền thất của cư sĩ Duy ma cật cũng theo quy chế này. Ngày nay, từ Phương trượng được dùng để tôn xưng vị Trụ trì hoặc Sư phụ, thường gọi là Phương trượng, Phương trượng hòa thượng. [X. Duy ma kinh văn sớ Q.22; Pháp uyển châu lâm Q.29; Tuệ luân truyện trong Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng].
phương trượng nội hạ
(方丈內賀) Lễ chúc mừng vị Trụ trì trong phương trượng. Pháp lễ kính mà 5 vị thị giả hành trì để chúc mừng vị Trụ trì ở phương trượng mỗi tháng 1 lần vào ngày mồng 1 sau bữa ăn sáng trong Thiền lâm. Cách thực hành pháp lễ này là: Một trong 5 vị thị giả đốt hương, rồi 5 vị cùng lúc lạy vị Trụ trì 9 lạy; nếu vị Trụ trì cho miễn 9 lạy thì lạy 3 lạy cũng được. Ngoài ra, sau khi 5 vị thị giả hành lễ, các đệ tử thụ học, thụ giới, nối pháp... cũng phải đến phương trượng lạy Trụ trì 9 lạy(hoặc 3 lạy). [X. Tăng đường thanh qui Q.2; Nguyệt phần hành pháp thứ tự].
Phương trượng 方丈
[ja] ホウジョウ hōjō ||| Literally a square zhang , which is one hundred square Chinese feet. (1) The front room, or parlor room of a monastery. (2) The room of the head monk. This meaning is originally derived from the story of Vimalakīrti's 維摩 room, which was supposedly one square zhang (about 9 square meters). It later becomes a term of respect used to address a teacher or a superior monk. => Nói chung là một trượng vuông, một trăm thước vuông theo đơn vị đo lường Trung Hoa . 1. Phòng phía trước, phòng khách riêng của một tu viện. 2. Phòng của vị trú trì tu viện. Nghĩa nầy xuất phát từ câu chuyện căn phòng của Duy-ma-cật, ước chừng một trượng vuông (khoảng 9 mét vuông). Về sau trở thành một thuật ngữ có tính kính trọng, dùng để nói đến bậc một đạo sư hay một vị cao tăng.
phương tướng
(方相) Giới tràng hình vuông trong Đại giới, 1 trong 5 cách kết giới tướng. (xt. Ngũ Chủng Kết Giới Tướng).
phương vinh thăng
(方榮升) Người sáng lập ra Viên giáo (Đại đồng giáo, 1 tông giáo dân gian) sống vào đời Minh, người huyện Sào, tỉnh An huy, Trung quốc. Ông từng học giáo pháp nơi Kim tông hữu, đồ tôn của Vương bỉnh hành, Giáo chủ Thanh trà môn giáo. Ông có tác phẩm: Phá tà hiển chính minh tâm lục.
Phương viên 方圓
[ja] ホウエン hōen ||| "Square and round." Partial, or limited, and perfect teachings. Instruction through relative truths and through the absolute truth. The relationship between these two is explicated in depth by Kihwa 己和 in his commentary to the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經説誼. See HPC 7.123-5. => 'Vuông và tròn'. Giáo lý từng phần, hay giới hạn, và giáo lý hoàn chỉnh. Sự giáo hoá thông qua chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối. Sự tương quan giữa hai giáo lý nầy được giải thích sâu rộng trong luận giải về kinh Viên Giác của Kỷ Hoà (k: Kihwa 己和).
phương võng tam muội
(方網三昧) Tam muội của Bồ tát, vì Tam muội này rộng lớn vô biên, giống như mạng lưới (võng) bao trùm khắp 8 phương. Thung dung lục tắc 82 (Đại 48, 280 thượng) nói: Như nay hướng lên đầu cây phất tử của bậc Thánh mà nhập Phương võng tam muội. Nhập định phương đông, xuất định phương tây, cho đến thân nam nhập định, thân nữ xuất định.
phương vị
(方位) Chỉ cho phương hướng. Trung quốc vốn có 4 phương: Đông, Nam, Tây, Bắc và 4 góc(tứ duy): Đông nam, Tây nam, Tây bắc và Đông bắc. Bốn phương và 4 góc hợp lại thì là 8 phương. Từ sau khi Phật giáo được truyền vào Trung quốc thì lại thêm 2 phương trên, dưới nữa mà thành là 10 phương. Thứ tự các phương được xếp như sau: Đông, Đông nam, Nam, Tây nam, Tây, Tây bắc, Bắc, Đông bắc, Trên, Dưới. Trong đó, 4 phương liên quan đến núi Tu di thì có thuyết: Tu di tứ châu, Tứ thiên vương thiên; liên quan đến Phật hiện tại thì có thuyết Tứ phương tứ Phật. Trong Tứ phương tứ Phật thì đức Phật A di đà ở phương Tây đặc biệt nổi tiếng, được Tịnh độ giáo tôn sùng. Bốn môn Phát tâm, Tu hành, Bồ đề và Niết bàn trong Mật giáo được phối hợp với 4 phương Đông, Nam, Tây, Bắc. Phương trên của Mạn đồ la Thai tạng giới trong Hiện đồ mạn đồ la là phương Đông; hướng bên phải của Mạn đồ la là Nam; phương dưới là Tây; hướng trái của Mạn đồ la là Bắc. Còn trong Mạn đồ la Kim cương giới thì phương trên là Tây, hướng phải là Bắc, phương dưới là Đông, hướng trái là Nam. Về 8 phương, trong Mật giáo có thuyết nói Bát thiên vương như Đông phương Nhân đà la... Về 10 phương, ngoài thuyết Thập phương thập Phật phổ thông ra, còn có Thập phương chư Phật, Thập phương thế giới. Thập phương là nói chung toàn thể, như các vật của toàn thể giáo đoàn gọi là Tứ phương tăng vật hoặc Thập phương tăng vật để phân biệt với những vật dụng của chúng tăng trong một phạm vi kết giới.
phương điển
A term covering the whole Mahàyàna-sutràs, idem phương đẳng kinh điển.
; Từ ngữ chỉ toàn thể kinh điển Đại Thừa—A term covering the whole of the Mahyana sutras—See Phương Đẳng Kinh điển.
; (方典) Gọi đủ: Phương đẳng kinh điển. Tức gọi chung các kinh Đại thừa. Các kinh Đại thừa là những kinh điển nói về lí phương chính, bình đẳng, cho nên gọi là Phương điển. Kinh Quán Vô lượng thọ (Đại 12, 345 thượng) nói: Đọc tụng Phương đẳng kinh điển.
phương đàn
(方壇) Cũng gọi Địa luân đàn, Kim cương luân đàn, Kim luân đàn. Đàn Mạn đồ la hình vuông. Hình vuông là hình của địa đại (mặt đất), biểu thị cái đức sinh trưởng muôn vật. Trong pháp Hộ ma của Mật giáo, đàn này tương ứng với pháp Tăng ích, tuy nhiên, nó cũng được dùng cho cả các pháp Tức tai, pháp Kính ái... [X. kinh Đại nhật Q.7].
phương đông mĩ
(方東美) (1899-1977) Học giả Trung quốc, người Đồng thành, tỉnh An huy. Ông tốt nghiệp ở trường Đại học Kim lăng tại Nam kinh, sau đó, ông sang nước Mĩ vào học trường Đại học Uy tư khang tân (Wisconsin). Năm 26 tuổi, ông hoàn thành học vị Tiến sĩ Triết học. Ông từng là giáo sư giảng dạy môn Triết học tại các trường Đại học ở Trung quốc, Đài loan và Hoa kì. Ông là nhà nghiên cứu và phát huy nền triết học Trung quốc nổi tiếng một thời.Về già, ông tận lực nghiên cứu Phật pháp Đại thừa, đối với triết học Hoa nghiêm ông có những kiến giải rất độc đáo. Năm 1977, ông qua đời tại Đài bắc. Học trò thu gom rồi chỉnh lí các tác phẩm của ông mà biên tập thành Đông Mĩ Toàn Tập, nội dung gồm có: Kiên bạch tinh xá thi tập, Phương đông mĩ tiên sinh diễn giảng tập, Trung quốc Đại thừa Phật học, Hoa nghiêm triết học, The Chinese View of Life; Chinese Philosophy: Its Development...
Phương đẳng
(方等), chỉ chung các kinh điển Đại thừa. Phương (方): hay phương quảng, nghĩa là vuông vức và rộng rãi, chứa đủ các pháp, từ nhỏ tới lớn, từ thấp tới cao. Đẳng (等): bình đẳng, như nhau. Các kinh Đại thừa do Phật thuyết đều như nhau cả, chứa đủ diệu lý, thật tướng, bất cứ ai tu hành rốt ráo theo một bộ kinh Đại thừa nào cũng có thể thành tựu trí huệ Phật. Vì vậy nên gọi chung là Phương đẳng.
phương đẳng
Xem Phương quảng.
; Vaipulya (S). Phương is interpreted as referring to the doctrine, đẳng as equal or universal, i.e. everywhere equally. Xem phương quảng.
; Theo tông Thiên Thai, phương có nghĩa là phương chính, đẳng là bình đẳng; phương đẳng ám chỉ hết thảy kinh điển Đại Thừa—According to the T'ien-T'ai sect, Phương is interpreted as referring to the doctrine, Đẳng as equal or universal; Phương Đẳng means everywhere equally. Phương Đẳng implies the Vaipulya Sutras.
; (方等) Phạm: Vaipulya. Pàli: Vedalla. Hán âm: Tì phật lược, Tì phú la, Phỉ phì la, Vi đầu li. Hán dịch: Phương quảng, Quảng phá, Quảng đại, Quảng bác, Quảng giải, Quảng, Vô tỉ. Cũng gọi Đại phương quảng, Đại phương đẳng. Danh từ chỉ chung cho các kinh Đại thừa, là các kinh nói về nghĩa rộng lớn, sâu xa. Là 1 trong 9 bộ loại kinh, 1 trong 12 thể tài kinh. (xt. Tì Phật Lược).
phương đẳng bản khởi kinh
Xem Phổ Diệu Kinh.
Phương đẳng bản khởi kinh 方等本起經
[ja] ホウトウホンキキョウ Hōdō honki kyō ||| The Fangdeng benqi jing (Lalitavistara); an alternative title for the Puyao jing 普曜經. => (c: Fangdeng benqi jing; s: Lalitavistara); tên gọi khác của Phổ diệu kinh (c: Puyao jing 普曜經).
phương đẳng bộ
(方等部) Từ ngữ chỉ chung cho các kinh Đại thừa ngoài 4 bộ: Hoa nghiêm, Bát nhã, Pháp hoa, Niết bàn. Là 1 trong 5 đại bộ của kinh Đại thừa. Trong Ngũ thời phán giáo của tông Thiên thai, các kinh Đại thừa được chia làm 5 bộ, Phương đẳng bộ là bộ thứ 2 gồm 2 bộ (Bảo tích, Đại tập) trong 5 bộ lớn (Bát nhã, Bảo tích, Đại tập, Hoa nghiêm, Niết bàn) do Khai nguyên thích giáo lục chia loại, cùng với các kinh ngoài 5 bộ lớn không thuộc Pháp hoa bộ, cộng với các Nghi quĩ thuộc Mật bộ được phiên dịch từ sau niên hiệu Khai nguyên. Phương đẳng bộ được chia làm 2 bộ: Phương đẳng hiển thuyết bộ và Phương đẳng mật chú bộ. Hiển thuyết bộ gồm các kinh như kinh Đại bảo tích..., có tất cả 369 bộ, 1107 quyển. Còn Mật chú bộ thì chia làm 2 loại là Mật chú kinh và Mật chú nghi quĩ. Mật chú kinh bao gồm các kinh như Đại Phật đính Như lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư bồ tátvạnhạnh thủ lăng nghiêm..., có tất cả 285 bộ, 539 quyển. Còn Mật chú nghi quĩ thì bao gồm các kinh như kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng đại giáo vương..., có tất cả 81 bộ, 103 quyển. Hiển và Mật cộng chung lại là 735 bộ, 1.749 quyển. [X. Duyệt tạng tri tân tổng lục Q.1].
phương đẳng giới đàn
Giới đàn giảng pháp và truyền giới—An open altar at which instruction in the commandments was preached to the people, founded on the Mahayana Vaipulya Sutra (Đại Thừa Phương Đẳng Kinh).
; (方等戒壇) Giới đàn được thiết lập theo ý nghĩa Đại thừa phương đẳng. Giới đàn này không câu nệ các căn thiếu khuyết, các duyên sai biệt, cũng không cố chấp sự cấm kị nhỏ nhặt, mà chỉ cần người thụ giới phát tâm rộng lớn thì đều có thể đắc giới. Điều này khác với giới đàn Tiểu thừa do tông Nam sơn thiết lập. Vì theo Tiểu thừa, tất cả đều phải đúng như pháp, hễ giới tử có 1 chút sai trái cũng không được thụ giới. Ở Trung quốc, Phương đẳng giới đàn được kiến lập lần đầu tiên là vào niên hiệu Vĩnh thái năm đầu (765) đời vua Đại tông nhà Đường. Đời Vũ tông, Phật giáo bị phá hủy. Đến khi vua Tuyên tông lên ngôi, Phương đẳng giới đàn mới được lập lại để tiếp độ tăng ni mà dưới thời Vũ tông đã bị cưỡng bách hoàn tục, nay được ưu tiên sám hối, lãnh nhận giới phẩm, trở lại cửa Phật. [X. Đại tống tăng sử lược Q.hạ].
Phương đẳng kinh
方等經; S: vaipulya-sūtra;|Chỉ một thể loại kinh Ðại thừa với các nội dung nhất định. Các kinh sau đây thuộc về kinh Phương đẳng: Bát-nhã ba-la-mật-đa, Hoa nghiêm, Bảo tích. Ngoài ra Phương đẳng kinh của Trung Quốc còn kể thêm kinh Ðại bát-niết-bàn, Ðại tập (s: mahāsaṃ-nipāta-sūtra) và Diệu pháp liên hoa.
phương đẳng kinh
(方等經) I. Phương Đẳng Kinh. Danh từ gọi chung các kinh Đại thừa. (xt. Đại Thừa Kinh Điển). II. Phương Đẳng Kinh. Phương đẳng, Phạm: Vaipulya. Hán âm: Tì phật lược. Hán dịch: Phương đẳng, Phương quảng. Kinh điển nói về nghĩa lí rộng lớn, bình đẳng. Là 1 trong 12 thể loại kinh. (xt. Thập Nhị Bộ Kinh).
phương đẳng kinh điển
Vaipulya—The whole of the Mahayana Sutras—See Phương Quảng.
phương đẳng sám hối
(方等懺悔) Cũng gọi Phương đẳng sám. Chỉ cho pháp sám hối Phương đẳng tam muội. Nghĩa là khi tu hành pháp Phương đẳng tam muội, hành giả phải sám hối các tội chướng của 6 căn. (xt. Phương Đẳng Tam Muội).
phương đẳng tam muội
One of Thiên Thai's methods of inducing samàdhi, partly by walking, partly by sitting, based on Đại phương đẳng đà la ni kinh.
; (方等三昧) Pháp tuTam muội do Đại sư Trí khải của tông Thiên thai y cứ vào kinh Đại phương đẳng đà la ni mà lập ra. Là 1 trong các tam muội vừa đi vừa ngồi. Khi tu pháp này, phải lập đạo tràng trang nghiêm ở nơi yên tĩnh, tất cả phải thanh tịnh; trường trai 7 ngày, mỗi ngày tắm 3 lần, y phục sạch sẽ; thỉnh 1 vị tỉ khưu thông hiểu tạng Luật truyền 24 giới và đà la ni chú. Ngày đầu tiên chia ra 3 lần thỉnh 10 đức Phật, Phương đẳng, cha mẹ, 10 vị Pháp vương tử, sau khi cúng dường lễ bái, thành tâm sám hối, đứng dậy tụng Ma ha đán đặc đà la ni, đi nhiễu 120 vòng, mỗi ngày tụng 1 bài chú, không chậm không nhanh, giọng tụng không bổng không trầm. Nhiễu quanh tụng chú xong, lại ngồi tư duy, quán xét lí không của thực tướng trung đạo. Quán xong, lại đứng dậy đi nhiễu và tụng chú. Nhiễu quanh và tụng chú xong, lại ngồi tư duy. [X. Ma ha chỉ quán Q.1; Phương đẳng tam muội hành pháp]. (xt. Tứ Chủng Tam Muội).
phương đẳng tam muội hành pháp
(方等三昧行法) Cũng gọi Đại phương đẳng hành pháp, Phương đẳng tam muội nghi, Phương đẳng sám nghi, Phương đẳng hành pháp. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí khải giảng, đệ tử Quán đính ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Phương đẳng tam muội và Pháp hoa tam muội cùng thuộc Tam muội vừa đi vừa ngồi trong 4 loại Tam muội của Ma ha chỉ quán, được y cứ vào kinh Đại phương đẳng đà la ni mà soạn ra. Nội dung tác phẩm này nói về việc tu hành Tam muội phương đẳng, gồm có 6 phần: 1. Đầy đủ 6 duyên. 2. Biết rõ những chướng ngại. 3. Nói về pháp cấm. 4.Nói về yếu quyết của nội luật. 5. Nói về sự tu hành. 6. Nói về việc thụ giới. Ngoài ra, Phương đẳng sám pháp trong Quốc thanh bách lục chính là bản lưu hành khác của hành pháp này.
phương đẳng thời
The third of the five periods of Thiên Thai ngũ thời giáo.
; Thời kỳ thứ ba trong năm thời thuyết giảng—The third of the five periods of Buddha's teaching, from the twelfth to the twentieth years of Buddha's teaching (Hoa nghiêm: Avatamsaka, A Hàm: Agamas, Phương Đẳng: Vaipulyas, Bát Nhã: Prajna, Pháp Hoa & Niết Bàn: Lotus and Nirvana).
; (方等時) Chỉ cho thời kì đức Phật tuyên nói các kinh Phương đẳng, là thời thứ 3 trong 5 thời phán giáo của tông Thiên thai. Tức là thời kì bắt đầu từ năm thứ 12 sau khi đức Phật thành đạo, Ngài nói các kinh Phương đẳng như kinh Duy ma, kinh Kim quang minh... trong khoảng 8 năm. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).
phương đẳng đại vân kinh
Xem Phương đẳng Đại vân kinh.
Phương đẳng 方等
[ja] ホウドウ hōdō ||| (1) Broadly put forth; universally (vaipulya). (2) Mahāyāna; (3) Universal equality. => Có các nghĩa sau: 1. Truyền bá sâu rộng ; phổ biến rộng khắp (s: vaipulya). 2. Đại thừa (Mahāyāna). 3. Bình đẳng phổ quát.
Phương 方
[ja] ホウ hō ||| (1) To make even. (2) To compare. (3) Square. Right, correct. (4) Direction; the four cardinal directions. (5) A place, a location. (6) A method, a way, a principle. A technique; a formula. (7) There; in that place; at that time. In that. Now. [Buddhism] (1) One of the twenty-four elemental constructs 百法 not concomitant with mind in the theory of the Consciousness-only 唯識 school. (2) The ten directions of north, south, east and west, plus the four intermediate directions, as well as the zenith and nadir. Since material existence occupies space, these directions are provisionally established on their mutual relationship. (3) An expedient method; a means of remedying the desire and ignorance possessed by sentient beings. (4) In the preface to his commentary on the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經説誼, Kihwa 己和 defines 方 as the self-corrective practices to engaged in by the religious aspirant. After sufficient self-achievement 自利, one may then engage in the work of spreading the dharma to others, a concept represented by the ideograph 廣. => 1. Luỹ thừa. 2. So sánh. 3.Vuông. Đúng đắn, chính trực. 4. Phương hướng, bốn phương hướng chính. 5. Nơi chốn, vị trí. 6. Phương pháp, cách thức, nguyên tắc. Kỹ thuật; công thức. 7. Nơi đó, chỗ đó, lúc đó. Mới, bây giờ. [Phật học] 1. Một trong 24 tâm bất tương ưng hành pháp trong Bách pháp, theo giáo lý Duy thức tông. 2. Mười phương: Bắc, Nam Đông, Tây, thêm bốn hướng trung gian, cùng phương trên và dưới. Vì vật thể hiện hữu cùng khắp không gian, nên những phương nầy chỉ là giả lập trong mối tương quan trùng trùng. 3. Pháp phương tiện; phương thức để điều trị tham dục và vô minh của chúng sinh. 4. Trong bài tựa luận giải Kinh Viên Giác của Kỷ Hoà, sư định nghĩa Phương là pháp công phu tự hiệu chỉnh thực hiện bởi những ai khát khao tu đạo. Sau khi đạt được tự lợi, hành giả thực hiện việc giáo hoá chúng sinh, là ý niệm được biểu hiện qua chữ Quảng 廣
Phước
Phúc
phước
Puṇyatva (S).
phước báo
Phước báo tưởng thưởng, như được tái sanh vào cõi trời hay người—Merits—Blessings—A blessed reward, e.g. to be born as a man or a deva.
phước cái
Tàng lọng của phước báo—The cover, or canopy, of blessing.
phước huệ
1) Phước đức và trí huệ—Blessings, or blessedness and wisdom—Virtue and wisdom. 2) Tên của một Pháp Sư người Việt Nam tại Úc, vị lãnh đạo Phật giáo quan trọng tại Úc Châu và Tân Tây Lan. Ông còn là chủ tịch Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất tại Úc Châu và Tân Tây Lan. Ông là người đã sáng lập ra Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam ở Sydney. Trước năm 1975, Hòa Thượng Phước Huệ là giảng sư trong nhiều năm tại Ấn Quang, một trung tâm Phật giáo nổi bậc của miền Nam Việt Nam thời bấy giờ—Name of an important Vietnamese Buddhist leader in Australia and New Zealand, and current head of the Vietnamese Unified Buddhist Congress in Australia and New Zealand. He is a founder of Vietnam Cultural Center in Sydney. Before 1975, Most Venerable Phước Huệ taught for many years at An Quang Pagoda, the pre-eminent Buddhist Center in South Vietnam.
phước huệ song tu, đồng đăng bỉ ngạn
To practice blessings (offerings and charity) and wisdom (meditation) at the same time, you will surely obtain enlightenment.
Phước huệ 福慧
[ja] フクエ fukue ||| (1) Good actions and wisdom. Sometimes called the "two resources." (2) A reference to the six pāramitās. Giving, morality, patience, effort and meditation are 福, and wisdom is 慧 (hui). => 1. Phước đức và Trí huệ. Có khi gọi là Nhị tài. 2. Khi đề cập đến Lục độ, thì Bố thì, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định là Phước; còn Trí huệ là Huệ.
phước hành
Một trong tam hành làm ảnh hưởng đến nghiệp, hành pháp cảm ứng phúc lợi của nhân thiên như ngũ giới và thập thiện giới, vân vân—One of the three lines of actions that affect karma, the life or conduct which results in blessing, e.g. being reborn as a man or deva, as a result of the cultivation of the five basic commandments, or the ten good deeds.
phước hòa
Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong quận ba, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa đã được xây dựng từ lâu lắm (không rõ niên đại) với kiểu kiến trúc cổ của các chùa miền Nam. Năm 1958, chùa được trùng tu theo kiến trúc như hiện nay. Trước đây chùa là trụ sở của Hội Phật Học Nam Việt. Ngày 24 tháng 2 năm 1952, nhân ngày đại hội, lá cờ Phật giáo đầu tiên ở miền Nam được treo tại chùa. Ngày 1 tháng 4 năm 1956, nhiệm kỳ hai đại hội Phật giáo cũng được triệu tập tại chùa Phước Hòa. Trong Chánh điện có ba tượng gỗ, tượng Phật Thích Ca, tượng Diệm Ma Vương, tượng Quán Thế Âm nghìn tay nghìn mắt, được tạc vào khoảng từ năm 1960 đến năm 1962—Name of a famous ancient pagoda located in the third district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built a long time ago, with its ancient architectural style of South Vietnam's pagodas. In 1958, it was rebuilt as it is seen today. Formerly, the pagoda functioned as the office of South Vietnam Association of Buddhist Studies. It was at this pagoda, the Buddhist flag was hung for the first time on the occasion of the Congress of the Association on February 24, 1952. On April first, 1956, the second session of Congress of the Vietnam Buddhist Sangha organized its opening at Phước Hòa Pagoda. In the Main Hall, there are three wooden statues of Sakyamuni Buddha, Yama of Hell, and One-thousand-arm and one-thousand-eye Avalokitesvara Bodhisattva. These statues were cast from 1960 to 1962. The statue of Sakyamuni Buddha is 2.5 meters high, 2 meters wide.
phước hưng
Tên của một ngôi tự viện cổ nổi tiếng, tọa lạc trong thị xã Sa Đéc, tỉnh Sa Đéc, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Minh Phúc khởi công xây cất năm 1838. Chùa có lối kiến trúc khá đặc sắc. Chánh điện hình chữ nhật dài 19 mét 5, rộng 14 mét, trên nóc trang trí theo kiểu của người Trung Hoa. Bên trong chánh điện được tôn trí trang nghiêm. Ở đây có một pho tượng Phật A Di Đà cổ bằng đất thếp vàng; một chiếc trống cổ khắc năm 1828 có bề ngang 1 mét 4, đường kính 90 phân, và bức hoành sơn son thếp vàng chạm trổ công phu, ở giữa có chạm chiếc lá Bồ Đề có ghi ba chữ Hán: “Phước Hưng Tự 1882,” hai bên là hai bản Lạc Hoa và Thạnh Hoa khắc năm 1846. Chùa hiện còn lưu giữ nhiều bản kinh khắc gỗ chữ Hán hai mặt, mỗi tấm bề ngang 20 phân, dọc 30 phân, dầy 3 phân, khắc các bộ kinh Địa Tạng, Kim Cang, Phổ Môn, Bát Nhã, vân vân—Name of a famous ancient pagoda located in Sa Đéc town, Sa Đéc province, South Vietnam. The pagoda was built in 1838 by Most Venerable Minh Phúc. It has a rather distinctive architecture. Its Main Hall is a rectangular building, 19.5 meters long, 14 meters wide, the top of which is decorated in Chinese pagoda's style. The Main Hall is arranged solemnly. Here stands the old statue of Amitabha Buddha made of clay and gilded. There are also an ancient drum made in 1828, 1.4 meters in width and 0.90 meter in diameter and a horizontal board elaboratedly gilded and engraved. In the middle of the board, a leaf of Bo-tree was carved, on which are three Chinese characters “Phước Hưng Tự 1882.” On both sides of the board are respectively the words Lạc Hoa and Thịnh Hoa. The pagoda has also conserved many wooden pieces on which a lot of sutras were written. The dimension of every piece is 20 by 13 by 3 centimeters. The names of these sutras are Kshigarbha, Vajrachedika, Prajna Paramita, etc.
phước hải
Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong quận nhất, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được một vị tổ người Hoa tên Lưu Minh xây vào cuối thế kỷ 19, và được khánh thành vào năm 1906. Trong Chánh điện có các tượng Ngọc Hoàng, các Thiên Thần, như Thần Mây, Thần Mưa, Thần Sấm, Thần Chớp, Tứ Thiên Vương. Giữa Chánh Điện thờ tôn tượng Đức Phật Thích Ca—Name of a famous ancient pagoda, located in the First district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was called Đa Kao pagoda by the French. It was built by Liu-Ming, a Chinese Patriarch in the late nineteenth century and inaugurated in 1906. In the Main Hall, there are statues of the Emperor of Jade and other Deities as those of Cloud, Wind, Rain, Thunder, Lightning, and the Four Kings of Heaven. The statue of Sakyamuni Buddha is worshipped in the middle of the Main Hall.
phước hậu
Hòa Thượng Phước Hậu, một trong những đại đệ tử của Hòa Thượng Tâm Truyền. Ngài là một Thiền sư lại có khiếu làm thơ. Tiếc thay, qua bao biến cố, thơ văn của ngài bị thất lạc, chỉ còn lại bài thơ sau đây, di ngôn thấm nhuần đạo vị của ngài—Most Venerable Phước Hậu, one of the most outstanding disciples of Most Venerable Tâm Truyền (Tâm Truyền was a disciple of Diệu Giác; Diệu Giác was a disicple of Nhất Định). He was both a Zen master and a poet. It was regrettable that now, after so many changes, all that remains of his works is merely a poem, as his last words imbued with Buddhist thoughts: Kinh điển lưu truyền tám vạn tư Học hành không thiếu cũng không dư, Năm nay tính lại chừng quên hết Chỉ nhớ trên đầu một chữ NHƯ! Buddhist sutras are not few. My learning cannot be said to be satisfactory or poor. I have forgotten all, it seems, now looking back. There only remains in my heart the word “NHƯ.”
phước khánh
Chúc phúc cho ai—Blessedness and felicity, or blessed felicity—To congratulate on good fortune.
phước lâm
Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong thành phồ Vũng Tàu, Nam Việt Nam. Chùa được xây trên 200 năm và đã trải qua nhiều lần trùng tu. Lần trùng tu cuối cùng là vào năm 1956. Trong chánh điện có tượng Thần Vishnu. Theo tài liệu của tỉnh Bà Rịa thì tượng làm bằng đá, vào khoảng thế kỷ thứ bảy, di tích của cuối thời Phù Nam đầu thời Chân Lạp—Name of an ancient pagoda, located in Vũng Tàu City, South Vietnam. It was built 200 years ago, and has been rebuilt many times. The last time it was rebuilt was in 1956. There is a statue of Vishnu in the middle of the Main Hall. According to the records from Vũng Tàu province, the statue was made of stone, built in the seventh century. It is a vestige of the late Phù Nam period and the early Chân Lạp one.
phước lưu
Tên của một ngôi chùa cổ nằm trên quốc lộ 22, thị trấn Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Nam Việt Nam. Chùa được dựng lên từ lâu lắm. Lúc đầu chùa chỉ là một mái thảo am, gọi là Am Bà Đồng, về sau được nới rộng ra nên gọi là Chùa Bà Đồng vào năm 1900. Tổ Trùng Lực, thuộc phái Liễu Quán đời thứ 42 đã xây lại ngôi chùa và đặt tên Phước Lưu. Kể từ đó đến nay đã kế tục năm vị trụ trì và được trùng tu nhiều lần (vào những năm 1945, 1946, 1968). Chùa Phước Lưu nổi tiếng vì ảnh hưởng của nó trong việc mở rộng phái Liễu Quán (Lâm Tế) trong tỉnh Tây Ninh. Trong Chánh điện có tượng Di Đà Tam Tôn bằng gốm thếp vàng, được mang đến từ Trung Quốc. Mỗi bên chánh điện có tượng các vị La Hán, mỗi tượng cao 35 phân, rộng 20 phân khoảng giữa hai đầu gối. Lại có những tượng của Thập điện Diêm Vương hai bên chánh điện, mỗi tượng cao 1 mét và rộng 50 phân—Name of an ancient pagoda, located alongside of Highway 22, Trảng Bàng town, Tây Ninh province, South Vietnam. The pagoda was built a long time ago. It was previously called Bà Đồng Thatched Hut and later, Bà Đồng pagoda due to the enlargement in 1900. Patriarch Trùng Lực of the forty-second generation of the Liễu Quán Sect had the pagoda rebuilt and renamed it Phước Lưu. It was in turn headed by five successive Masters and restored many times (1945, 1946, 1968). Phước Lưu Pagoda is famous for its influence on developing the Lin-Chi followers of the Liễu Quán Sect in Tây Ninh province. In the Main Hall stand the statues of the Three Amitabha Noble Ones of ceramincs, gilded and carried from China. On each side of the Main Hall, each Arahat statue, 0.35 meter high, 0.20 meter wide between the two knees, is worshipped on the altar. There also statues of the ten Kings of the Hells, worshipped on the altar of both sides of the Main Hall, each statue is 1 meter high, 0.50 meter wide between the two knees.
phước lộc
Hạnh phúc và tài bây giờ và về sau nầy—Happiness and emolument, good fortune here or hereafter.
phước lực
Power of accumulating merits.
phước nghiệp
Puṇya-karma (S), Good karma, Puakamma (P)Nghiệp lành.
; Hành nghiệp do phúc đức mà sanh ra, một trong tam phước—Happy karma, or the karma of blessedness, one of the three sources of felicity. ** For more information, please see Tam Phước in Vietnamese-English Section.
Phước nghiệp 福業
[ja] フクゴウ fukugō ||| Meritorious activity. Actions or practices that induce positive states in the future. => Công đức, thiện nghiệp. Những việc làm hoặc sự tu tập sẽ đem lại những trạng thái tốt đẹp trong tương lai.
phước nhân
See Phúc Nhân.
Phước Quang tự 福先寺
[ja] フクセンジ Fukusen ji ||| The Fuxian si; a temple founded by Empress Wu at her mother's residence in Loyang; the name was changed from Taiyuan si 太原寺 in 691; briefly the site of a Wujinzang 無盡藏 of the Sanjie jiao 三階教 movement. => j: Fukusen ji; c: Fuxian si. Ngôi chùa do Lương Võ Đế lập cho mẹ ở tại Lạc Dương (Loyang); năm 691 chùa được đổi tên là Thái Nguyên Tự (c: Taiyuan si 太原寺), một thời là địa điểm của phong trào Vô tận tạng (Wujinzang 無盡藏 ) thuộc Tam giai giáo (Sanjie jiao 三階教) hoạt động.
phước quán
Phước báo và quán sát—Blessedness and insight—See Phước Trí.
phước quả
Quả báo của phước đức—The reward of blessedness.
phước sanh
Sanh vào chỗ phước đức—Born of or to happiness.
phước sanh thiên
Puṇyaprasava (S)Tên một cõi trời của những người tu phước đức thù thắng. Một trong 3 cõi thuộc Tứ thiền thiên: Vô vân thiên, Phước sanh thiên, Quảng quả thiên.
; Punyaparsavas (skt)—Cõi trời Phạm Thiên thứ mười trong sơ thiền thiên—The tenth brahmaloka, the first region of the fourth dhyana. ** For more information, please see Tứ Thiền Thiên (1).
Phước sinh thiên 福生天
[ja]フクショウテン fukushō ten ||| The heaven of merit production (puṇya-prasavāḥ), the second of the eight heavens included in the fourth dhyāna heaven 四禪天. listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. => Cõi trời nơi được sinh ra do tu tập các thiện nghiệp, là cõi trời thứ nhì trong tám cõi trời thuộc Tứ thiền thiên. Được xem là một trong 17 cõi trời thuộc Sắc giới (Sắc giới thập thất thiên色界十七天).
phước thiện
Benevolence—Charity.
phước trí
Phúc đức và trí huệ, hai loại trang nghiêm—Blessedness and wisdom, the two virtues which adorn—See Nhị Trang Nghiêm.
Phước trí 福智
[ja] フクチ fukuchi ||| Virtue 福徳 and wisdom 智慧, also written 福慧 (puṇya-jñāna). The two vital essentials 二資糧 for Buddhist practice and enlightenment. => Phước đức và trí huệ, cũng gọi là Phước huệ 福慧 (s: puṇya-jñāna). Là hai thứ Tư lương (Nhị tư lương二資糧) đối với việc tu tập và giác ngộ trong đạo Phật.
phước tuệ
See Phước Trí.
phước túc
Một trong nhị túc, chân thứ nhất bao gồm năm Ba La Mật đầu, và chân thứ hai còn gọi là “trí túc,” gồm Ba La Mật thứ sáu—The feet of blessedness, one consisting of the first five paramitas, the other being the sixth paramita, i.e. wisdom; happiness—See Lục Độ Ba La Mật (1) (2) (3) (4) (5).
phước tướng
Marks of merits.
phước tướng pháp thân
Phước báo hình tướng nơi pháp thân Phật, đối lại với trí huệ của Phật—The Buddha-dharmakaya as blessedness, in contrast with it as wisdom.
phước tường
Tên một ngôi chùa, tọa lạc trong thôn Tăng Phú, xã Tăng Nhơn Phú, huyện Thủ Đức, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây vào giữa thế kỷ thứ 18 và trùng tu vào năm 1834 dưới triều vua Minh Mạng. Trong chánh điện có nhiều tượng, trong đó có một tượng hộ pháp, và tượng Tổ Diệu Minh tạc vào khoảng giữa thế kỷ thứ 19, bằng gỗ quý, thếp vàng sơn đỏ—Name of a temple located in Tăng Phú hamlet, Tăng Nhơn Phú village, Thủ Đức district, Sài Gòn City, South Vietnam. The temple was built in the middle of the eighteenth century and rebuilt in 1834, under King Minh Mạng's reign. In the Main Hall, there are many statues, including a statue of Dharma Guardians, and the statue of Patriarch Diệu Minh, in the middle of the nineteenth century, it was made of precious wood, gilded, and painted in red.
Phước tụ 福聚
[ja] フクシュ fukushu ||| Accumulated merit; accumulated blessings 〔法華經 T 262.9.58b2〕 => (s: puṇya-skandha). Tích luỹ công đức; chứa nhóm phước đức.
Phước Xương Tự
(福昌寺, Fukushō-ji): ngôi chùa của Tào Động Tông, hiệu là Sĩ Phong Sơn (士峰山); hiện tọa lạc tại Kamisato-mura (上里村), Kodama-gun (兒玉郡), Saitama-ken (埼玉縣). Chùa này nguyên sơ nằm gần bên ngôi mộ của Đới Đao Nghĩa Hiền (帶刀義賢), tên là Đới Đao Sơn Sĩ Phong Viện (帶刀山士峰院); nhưng vào năm 1782 (Thiên Chánh [天正] 10) thì bị binh hỏa, nên được tái kiến lại và lấy tên là Phước Xương Tự cho đến ngày nay. Vị Tổ thời Trung Hưng của chùa là Xuyên Điền Chuẩn Nhân (川田隼人).
Phước điền
(s: puṇya-kṣetra, p: puñña-khetta, 福田): ruộng phước, tức ruộng có thể sanh phước đức. Người nào tôn kính Phật, trọng tăng, thương yêu cha mẹ, người nghèo khổ, có thể có được phước đức giống như người nông dân cày ruộng, có thể thu hoạch, cho nên lấy ruộng làm ví dụ. Theo Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh (正法念處經) quyển 15, Đại Phương Tiện Phật Báo Ân Kinh (大方便佛報恩經) quyển 3, v.v., đức Phật là ruộng phước lớn, tối thắng; cha mẹ là ruộng phước tối thắng trong Ba Cõi. Lại theo Phẩm Cúng Dường Tam Bảo (供養三寶品) của Ưu Bà Tắc Giới Kinh (優婆塞戒經) quyển 3, Tượng Pháp Quyết Nghi Kinh (像法決疑經), Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 12, Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký (華嚴經探玄記) quyển 8, v.v., cung kính Phật, Pháp, Tăng, v.v., được gọi là Kính Điền (敬田, hay Cung Kính Phước Điền [恭敬福田], Công Đức Phước Điền [功德福田]); báo đáp thâm ân của cha mẹ, thầy dạy là Ân Điền (恩田, hay Báo Ân Phước Điền [報恩福田]); thương xót người nghèo khổ, bệnh tật là Bi Điền (悲田, hay Lân Mẫn Phước Điền [憐愍福田], Bần Cùng Phước Điền [貧窮福田]). Nói chung, có nhiều loại phước điền khác nhau, nhưng căn bản nhất là lấy Phật và đệ tử Ngài làm phước điền. Trong Thiền môn, y Ca Sa (s: kaṣāya, kāṣāya; p: kāsāya, kāsāva, 袈裟) của chư tăng mặc hằng ngày được xem là Phước Điền Y (福田衣); vì vậy, khi đắp y Ca Sa, có bài kệ đắp y được thâu lục trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu Hương Nhũ Ký (毗尼日用切要香乳記, Taishō No. 1116) rằng: “Thiện tai giải thoát phục, vô thượng Phước Điền Y, ngã kim đảnh đới thọ, thế thế bất xả ly. Án, tất đà da tá ha (善哉解脫服、無上福田衣、我今頂戴受、世世不捨離、唵、悉陀耶莎訶, lành thay áo giải thoát, vô thượng Áo Phước Điền, con nay đội đầu nhận, đời đời không xả rời. Án, tất đà da tá ha).” Hay như trong bài Hóa Trai Cúng Sớ (化齋供疏) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) quyển 14 cũng có câu: “Thí tài thí thực tăng ích phước điền, cúng Phật cúng tăng tài bồi thiện quả, dụng nghiêm dược thạch, phổ hiến nhân thiên, kết thử vô thượng duyên, tu hoàn kiến tại Phật (施財施食增益福田、供佛供僧栽培善果、用嚴藥石、普獻人天、結此無上緣、須還見在佛, cho tiền cho thức ăn tăng thêm ruộng phước, cúng Phật cúng tăng vun bổi quả tốt, dùng cháo chay thanh tịnh, dâng cúng khắp trời người, kết duyên vô thượng này, để cuối cùng được gặp Phật).”
phước điền
người có phước đức xứng đáng nhận sự cúng dường của người khác, tạo điều kiện cho người cúng dường được có phước đức nên gọi là phước điền (ruộng phước), nghĩa là thửa ruộng để mọi người gieo trồng phước đức.
; (I) Nghĩa của Phước Điền—The meanings of Field of Blessedness: Ruộng cho người gieo trồng phước báo. Người xứng đáng cho ta cúng dường. Giống như thửa ruộng gieo mùa, người ta sẽ gặt thiện nghiệp nếu người ấy biết vun trồng hay cúng dường cho người xứng đáng. Theo Phật giáo thì Phật, Bồ tát, A La Hán, và tất cả chúng sanh, dù bạn hay thù, đều là những ruộng phước đức cho ta gieo trồng phước đức và công đức—The field of blessedness or the field for cultivation of happiness, meritorious or other deeds, i.e. any sphere of kindness, charity, or virtue. Someone who is worthy of offerings. Just as a field can yield crops, so people will obtain blessed karmic results if they make offerings to one who deserves them. According to Buddhism, Buddhas, Bodhisattvas, Arhats and all sentient beings, whether friends or foes, are fields of merits for the cultivator because they provide him with an opportunity to cultivate merits and virtues (II) Phân loại Phước Điền—Categories of Field of blessedness: (A) Nhị Phước điền—There are two kinds of felicity: 1) Hữu lậu phước điền (giúp con người cải thiện điều kiện sống trong kiếp lai sanh): Worldly field for cultivating of happiness which helps the cultivator to have better living conditions in the next life. a. Bi điền: Compassion fields—Chăm sóc cho người bịnh đáng thương hay người nghèo khó—Tender the sick, the pitiable, or poor and needy as the field or opportunity for charity. b. Kính điền: Revverence fields—Hộ trợ chư Tăng Ni. Kính trọng Phật và Thánh chúng—Support the monks and the nuns. The field of religion and reverence of Buddhas, the saints and the priesthood. c. Ân điền: Gratitude fields. • Gieo phước nơi cha mẹ: Cultivate blessedness in parents—Be dutiful to one's parents. • Gieo phước bằng cách đắp đường, đào giếng, xây cầu, bồi lộ: Cultivate lessedness in making roads and wells, canels and bridges; repair dangerous roads. 2) Vô lậu phước điền: Niết bàn là ruộng phước vĩnh cửu—Nirvana (out of passion) field for cultivating of an eternal happiness. (B) Tam Phước điền—Three sources of felicity—See Tam Phước. (C) Tứ Phước Điền—Four fields of felicity—See Tứ Phước Điền. (D) Bát Phước Điền: Eight fields for cultivating blessedness—see Bát Phúc Điền.
phước điền bồ tát
Puṇyakṣetra (S)Tên một vị Bồ tát.
phước điền tự
Còn gọi là chùa Hang, tọa lạc tại núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh Châu Đốc, Nam Việt Nam. Chùa Hang là một hang đá thiên nhiên. Chánh điện và nhà hậu tổ do bà Thợ dựng lên từ năm 1840 đến 1845 bằng tre và lá đơn sơ. Đến năm 1885, ông Phán Thông ở Châu Đốc cùng nhân dân trong vùng dựng lại chùa. Năm 1946, Hòa Thượng Nguyễn Văn Luận đứng ra trùng tu ngôi chùa như hiện nay. Chùa Hang là một quần thể di tích có kiến trúc đẹp, nổi bậc nhất là các hang đá thiên nhiên với nhiều huyền thoại hấp dẫn khách thập phương—Name of a temple located in Mount Sam, Châu Đốc town, Châu Đốc province, South Vietnam. Hang Temple is a natural cave where the Main Hall and the Patriarch Hall were simply built by Ms. Thợ from 1840 to 1845. In 1885, a government clerk named Thông and the local people rebuilt the temple. In 1946, Most Venerable Nguyễn Văn Luận rebuilt it again. Hang temple is a beautiful complex of architecture. There one can find many natural caverns relating to legends and myths attractive to the pilgrims.
phước điền y
Y áo của ruộng phước, hay y áo của chư Tăng Ni—The robe of a field of happiness (the garment of the field of blessing, or the monk's robe).
Phước điền 福田
[ja] フクデン fukuden ||| "Field of blessings;" "field of merit." (1) A reference to the three treasures: the Buddha, the sangha and dharma; also, one's parents and the poverty-stricken. These are the objects toward which one should direct his/her religious practice. (2) The place where people nurture and develop their meritorious virtues. (3) The practices which lead to enlightenment. => 1. Chỉ cho Tam bảo: Phật, pháp, tăng; cha mẹ và những người nghèo nàn. Đây là những đối tượng mà người tu tập phải hướng đến. 2. Nơi mà mọi Phật tử gieo trồng và nuôi dưỡng lớn mạnh công đức. 3. Công hạnh tu tập hướng đến giác ngộ.
phước địa
See Phúc Địa.
phước đức
Puṇya (S), Merit Pua (P)PhúcNhà tu hành có ba cách lập phước: - Bố thí: cúng dường và nuôi dưỡng cha mẹ - Trì giới: giữ ngũ giới hay bát giới của hàng tại gia hay Thập giới và Cụ túc giới của hàng xuất gia. - Tu định: đọc tụng kinh điển, ngồi thiền hay niệm Phật. Người tu hạnh Bố tát muốn mau thành Phật nên tu cả phước và huệ. Tu phước là làm công đức tế độ chúng sanh. Tu huệ là dùng thiền định mà diệt trừ phiền não, phá tan vô minh.
; Punya (skt)—Phước đức do quả báo thiện nghiệp mà có. Phước đức bao gồm tài sản và hạnh phước của cõi nhân thiên, nên chỉ là tạm bợ và vẫn chịu luân hồi sanh tử—Blessings and virtues—Merit—Blessed virtues—All good deeds, or the blessing arising from good deeds. The karmic result of unselfish action either mental or physical. The blessing wealth, intelligence of human beings and celestial realms; therefore, they are temporary and subject to birth and death.
phước đức công đức không thể nghĩ bàn
Incomparable merit and virtue.
phước đức môn
Cửa phước đức, ba la mật thứ năm trong sáu ba la mật—The gate of blessedness and virtue, the first five of the six paramitas.
phước đức thân
Thân Phật trong niềm hỷ lạc tột cùng của phước đức tam muội—The Buddhakaya, or body of Buddha, in the enjoyment of the highest samadhi bliss.
phước đức trang nghiêm
Tu thiện hạnh phúc đức mà đắc được Phật quả trang nghiêm—The adornment of blessedness, i.e. of good deeds
phước đức tư lương
Những chất dinh dưỡng vun trồng phước đức, như bố thí—The nutriment of blessedness, i.e. deeds of charity.
phước đức và công đức
Merit and virtue.
Phước đức 福德
[ja] フクトク fukutoku ||| Beneficial practices; meritorious virtues. All kinds of good actions and the merit derived from them. The first five of the pāramitās, as opposed to the sixth pāramitā--wisdom. Along with wisdom one of the two provisions for practice 二資糧. 〔法華經 T 262.9.07c17〕 => Thiện hạnh; công đức. Mọi thiện nghiệp và công đức đều xuất phát từ đây. Là năm món đầu tiên trong Lục độ ba-la-mật, khác với điều thứ 6 là Trí huệ ba-la-mật. Cùng với Trí huệ智慧, là một trong hai thứ Tư lương (Nhị tư lương 二資糧)
Phước 福
[ja] フク fuku ||| (1) Fortune, blessing; meritorious virtues, goodness; meritorious behavior. (2) The good rewards that result from practicing the dharma. The fruits of good actions (Skt. puṇya; Pali puñña). (3) The good karma experienced in the desire realm. (4) Charity, giving. => 1. Sự may mắn, sự giàu có, thịnh vượng, phước lành; công đức; lòng tốt, việc lành. 2. Quả báo tốt đẹp do kết quả tu tập Phật pháp. Quả báo do thiện nghiệp (Skt. puṇya; Pali puñña). 3. Thiện nghiệp có được trong Dục giới. 4. Lòng nhân đức, lòng bao dung, lòng từ thiện; sự ban tặng, sự bố thí.
phướn
Dhvaja, Patàkà, Ketu (S). Flag, banner. Also tràng phan, cờ, phan.
; Banner—Streamer Phướn Động, Gió Động Hay Tâm Động? The flag moving, the wind moving, or our minds moving?—Lục tổ Huệ Năng đã khẳng định với các vị sư đang cải cọ trước tu viện Pháp Tâm rằng: “Chẳng phải phướn động, cũng chẳng phải gió động, mà là tâm của mấy ông động.”—Several monks was arguing back and forth about the flag and the wind without reaching the truth in front of the Fa Hsin monastery in Kuang Chou. The sixth patriarch, Hui-Neng, said to them: “It is not the wind moving, neither the flag moving. It is your own minds that are moving."
phướng
Pātākā (S)Phan.
Phường
坊; C: fáng; J: bō;|Có các nghĩa sau: 1. Trú xứ của tăng sĩ; 2. Một khu nhỏ trong thành phố; vùng lân cận; khu phố; 3. Phân xưởng, cửa hàng.
phường
(坊) Chỉ cho phòng xá hoặc khu cư trú của chúng tăng. Luật Thập tụng quyển 34 (Đại 23, 249 hạ) nói: Các tỉ khưu từ nước Kiêu tát la đến nước Xá vệ, giữa đường ngủ đêm trong 1 tăng phường bỏ không, sáng hôm sau, các sư vào thôn khất thực, các cư sĩ hỏi: Đêm qua, các thầy nghỉ ở đâu? Đáp: Nghỉ trong tăng phường. Hỏi: Nghỉ trong phòng nào? Đáp: Trong phòng Ất. Cư sĩ đáp: Phòng ấy là phòng của tôi, sao không cho người đến báo cho tôi biết. Theo đó thì Phường là chỉ cho Tăng phường do nhiều phòng xá tập hợp mà thành. Nhưng phường nghĩa gốc là cái đê ngăn nước, sau được chuyển dụng để chỉ 1 khu vực trong thành ấp là Phường, có lẽ đã chịu ảnh hưởng của chữ Phạm Vihàra (Tì ha ra) nghĩa là chỗ cư trú, chỗ du hành. Sau, Vihàra được bao quanh bởi 1 lớp tường rào thành 1 khu vực, bèn được gọi là Tăng phường hoặc Bảo phường. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.23; luật Thập tụng Q.38, 39; Thích thị yếu lãm Q.thượng;Phiên dịch danh nghĩa tập Q.20; điều Tăng phường trong Tuệ lâm âm nghĩa Q.22].
phường chủ
Bōzu (S).
; (坊主) Cũng gọi Phòng chủ. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Vị tăng đứng đầu 1 Tăng phường hoặc trụ trì 1 chùa viện. Về sau, Phường chủ được dùng để chỉ chung cho chúng tăng. Nhưng nay thì nó đã thành từ ngữ chế diễu giới tăng lữ.
Phường 坊
[ja] ボウ bō ||| (1) A monk or priest's residence. (2) A subdivision of a city; a neighborhood, a ward. (3) A workshop; a store. => Có các nghĩa sau: 1. Trú xứ của tăng sĩ. 2. Một khu nhỏ trong thành phố; vùng lân cận; khu phố. 3. Phân xưởng, cửa hàng
phược
Xem Hệ phược.
phược (phọc)
Bandha (S). Tie, attachment, bind, bond; another name for klesa-afflictions, the passions, etc.
phược nhật la kiện đà
Xem Kim Cang Đồ Hương Bồ tát.
phược đà
Baddha (skt)—Hệ phược—Fettered—Bound—Tied—Fixed.
Phược 嚩
[ja] バ ba ||| (1) Transcription of the sound of va. (2) In esoteric Buddhism, this sound represents water among the five elements. The full five elements are represented by the characters 佉訶囉嚩阿. => Có 2 nghĩa: 1.Phiên âm của âm va. 2. Trong Mật giáo Tây Tạng, âm nầy biểu tượng cho nước trong ngũ đại. Năm chữ biểu tượng cho Ngũ đại là Khư ha la phược a (佉訶囉嚩阿).
Phược 縛
[ja] バク baku ||| (1) Arrest, bind, tie, fasten. (2) Binding, bonds, fetters; therefore, affliction or defilement, often synonymous with 繫. (bandhana, anubaddha, pratibaddha, baddha, bandhu, yama, niyama). => 1. Giữ lại, trói buộc, cột lại, buột chặt. 2. Sự ràng buộc, mối ràng buộc, sự giam cầm; do vậy, phiền não hoặc nhiễm ô thường đồng nghĩa với Hệ 繫 (s: bandhana, anubaddha, pratibaddha, baddha, bandhu, yama, niyama).
Phược-cử-la 縛矩羅
[ja] バクラ Bakura ||| Bakkula; see 薄拘羅. => Bakura (j); Bakkula (s); Xem Bạc-câu-la 薄拘羅.
Phược-nhật-la 嚩日羅
[ja] バザラ bazara ||| A transcription of the Sanskrit vajra. See Sanskrit vajra. See 金剛. => Phiên âm chữ vajra từ tiếng Sanskrit. Xem Kim cương 金剛
Phược-nhật-la 縛日羅
[ja] バジラ bajira ||| Transcription of the Sanskrit vajra 金剛杵. => Phiên âm chữ Kim cương chử (s: vajra 金剛杵) từ tiếng Sanskrit.
phạ nhật la mẫu già tam muội da tát đát phạ
Xem Đại An Lạc Bất Không Bồ tát.
phạ sai ni mã lạp cách
(phạ sai ni mã lạp cách) Tạng: Pa-tshab Ĩi-ma-grags. Cũng gọi Phiên dịch quan (Tạng: Spatshab lo-tsà-ba). Tên 1 học giả thuộc phái Trung quán, người vùng Bang do nhĩ (Tạng: Fphan-yul) phía bắc Lạp tát (Tạng: Lhasa), Tây tạng. Ông tham học kinh luận khắp nơi trong suốt 23 năm. Theo Thanh sách (Tạng: Deb-ther síon-po), ông là người cùng thời đại với ông Long yết lỗ (Tạng: Khrom-bsher, 1100-1170) và hoạt động tích cực ở khoảng tiền bán thế kỉ XII. Ông chủ yếu phiên dịch các bộ luận thuộc hệ thống Trung quán và phần nhiều ông dịch các tác phẩm của ngài Nguyệt xứng (Phạm: Candrakìrti). Ông là người có công trong việc truyền bá rộng rãi học thuyết của hệ thống Trung quán. Các dịch phẩm của ông có: Tịnh minh cú ( Phạm: Mùlamadhyamakavftti Prasannapadà-nàma), Nhập trung luận (Phạm: Madhyamakàvatàra) của ngài Nguyệt xứng, luận Lục thập tụng như lí (Phạm:Yuktiwawtikà) và Bí mật tập hội ( Phạm: Guhyasamàja) của ngài Long thụ. [X. Deb-ther síon-po (The Blue Annals)].
Phạm
梵; C: fàn; J: bon; |1. Phiên âm chữ Brahman trong tiếng Phạn. Là nguyên lí tối thượng, nền tảng cơ bản nhất của hiện hữu trong tín ngưỡng Vệ-đà. Về sau, Brahman được nhân cách hoá trở thành một vị thần, và cuối cùng trở thành vị thần hộ pháp trong Phật giáo; 2. Phiên âm chữ brāhmaṇa trong tiếng Phạn, là một hiền nhân; 3. Thanh tịnh, phạm hạnh, thần thánh; 3. Tiếng Phạn.
phạm
To offend against, to break (as a law)
; 1) Phạm Thiên: Brahman (skt)—Supreme Being regarded as impersonal. a) Thanh Tịnh: Celibate and pure. b) Ly Dục: Giving up desires. 2) Phạm Tội: To violate—To commit—To offend against—To break the law. 3) Phạm trù: Khuôn phép—Pattern—Rule—Method.
; (梵) Phạm: Brahman. Hán âm: Phạm ma, Bà la hạ ma, Bột át ma, Bạt lạm ma. Hán dịch: Tịch tĩnh, Thanh tịnh, Li dục. I. Phạm. Nguyên lí tối cao của tư tưởng Bà la môn giáo chính thống ở Ấn độ. Cứ theo Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda) thì Kì đảo chủ (Phạm: Bfhaspati) là thần tối thượng, sáng tạo vũ trụ, là nguyên lí sinh thành muôn vật. Lại theo thần thoại về sáng tạo trong Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa) thì Kì đảo chủ là nguyên lí căn bản hình thành vạn hữu, rồi từ đó, dung hợp các nguyên lí trên mà diễn biến thành Sinh chủ (Phạm: Prajàpati) được sùng bái là thần cách căn bản. Lúc đầu, Phạm là chỉ cho các bài ca tán tụng, những lời tế, lời chú... đồng thời được xem là bản chất của Phạm có năng lực thần bí. Từ thời đại Phệ đà đến Phạm thư là thời đại tế tự vạn năng và từ đó trở về sau, Phạm trở thành nguyên lí sáng tạo, nguồn gốc của thế giới, được coi là 1 vật sáng tạo của Sinh chủ. Từ đó, Sinh chủ và Phạm được coi là đồng nhất. Về sau, Sinh chủ mất dần sắc thái nhân cách thần, dần dần chỉ còn đơn thuần là nguyên lí thế giới. Đến khi sự sùng bái Phạm hưng khởi thì Phạm thay thế Sinh chủ làm nguyên lí thế giới vạn hữu, còn Sinh chủ thì được coi là nguyên lí trung tính vốn có tồn tại nơi Phạm và địa vị ở dưới Phạm (Phạm: Brahman svayaôbhù), rồi lấy Phạm làm chủ thể mà lập thuyết sáng tạo vũ trụ, lại tiến thêm bước nữa chủ trương Phạm và Ngã (Phạm: Àtman) là một. Đây là quan niệm trung tâm ở thời đại Áo nghĩa thư (Phạm:Upaniwad) về triết học Phiếm thần luận, là tư tưởng căn bản của tông giáo và triết học Ấn độ. (xt. Bà La Môn Giáo, Phạm Ngã Nhất Như). II. Phạm. Phạm có nghĩa là thanh tịnh, làm những việc thanh tịnh, đặc biệt là việc dứt tâm dâm dục, gọi là Phạm hạnh; người hành dâm dục gọi là Phi phạm hạnh. Mười giới thanh tịnh, gọi là Phạm tịnh thập giới. Âm thanh mầu nhiệm của Phật, Bồ tát, gọi là Phạm âm thanh, Phạm thanh, Phạm âm; tiếng vang của Phạm âm gọi là Phạm hưởng. Tướng Phạm âm là 1 trong 32 tướng của đức Phật. Pháp thân thanh tịnh của Phật gọi là Phạm thân. Phật đường già lam gọi là Phạm sát, Phạm vũ, Phạm các; quả chuông treo của chùa viện gọi là Phạm chung. Phật học cũng gọi Phạm học, Ấn độ cũng gọi là Phạm độ. Phạm hạnh tiên sinh là danh xưng khác của vị tăng; Phạm nghi chỉ cho uy nghi của chư tăng. III. Phạm. Chỉ cho tiếng Phạm. Chẳng hạn như sách vở được viết bằng tiếng Phạm, gọi là Phạm bản; Phạm giáp chỉ cho kinh điển tiếng Phạm được viết trên lá bối. IV. Phạm. Gọi đủ: Phạm thiên. Các vị trời ở cõi Sắc lìa dâm dục, được thanh tịnh, gọi chung là Phạm thiên. Luận Đại trí độ quyển 35 (Đại 25, 315 hạ) nói: Sắc giới đều gọi là Phạm, (...) Cõi Phạm là cõi đầu tiên của Sắc giới.
phạm (ma) thiên
Brahma-deva (S) The Brahmà, the Creator, the ruler of this world.
phạm (phạn)
Brahman (S) Sacred learning, the religious life, the Supreme Being regarded as impersonal, the Absolute, the priestly or sacerdotal class. Noble, pure.
phạm (phạn) ngữ
Brahma language, Sanskrit, the Sanskrit alphabet; "the language of India"; supposed to come from Brahmà.
Phạm bái
梵唄; C: fànbài; J: bonbai; |Bài hát hay kệ tán ca ngợi đức hạnh của đức Phật.
phạm bái
Bhāṣā (S)Ngữ, TiếngDùng khúc điệu để tụng kinh, tán thán công đức Phật.
; (梵唄) Phạm: Bhàwà. Cũng gọi Thanh bái, Tán bái, Kinh bái, Phạm khúc, Phạm phóng, Thanh minh. Gọi tắt: Phạm. Dùng điệu nhạc để tụng kinh, tán vịnh, ca tụng công đức của Phật. Bái, gọi đủ là Bái nặc, là dịch âm từ tiếng PhạmBhàwànghĩa là ngợi khen. Vì dựa theo nhạc điệu tán vịnh của Phạm độ (Ấn độ) nên gọi Phạm bái. Tuy đức Thế tôn cấm chỉ không được đọc tụng văn kinh bằng giọng điệu giống như thanh điệu Bà la môn, nhưng vì thanh bái có công dụng làm giảm bớt sự mỏi mệt của thân tâm và giúp nhớ dai, vì thế đức Phật cũng cho phép xướng tụng. Sau khi đức Phật nhập diệt thì Phạm bái được lưu hành khắp nơi. Khi Phật giáo truyền vào Trung quốc, các nhà truyền dịch kinh văn thì nhiều, nhưng các nhà truyền tụng Thanh bái thì hiếm. Bởi vì tiếng Phạm là tiếng đa âm, mà tiếng Hán là tiếng đơn âm, nếu dùng tiếng Phạm để vịnh tiếng Hán thì tiếng dài mà vần hụt; còn nếu dùng nhạc khúc tiếng Hán mà vịnh tiếng Phạm thì vần ngắn, lời dài. Cho nên dùng nhạc khúc Hán để ca vịnh tiếng Phạm hoặc ngược lại, đều không dễ dàng. Tương truyền, nguồn gốc tán bái của Trung quốc là do Trần tư vương Tào thực đời Tào Ngụy đến du ngoạn núi Ngư sơn (thuộc huyện Đông a, tỉnh Sơn đông), nghe lời tán của Phạm thiên trong hư không, thâm hiểu ý nghĩa, ông bèn mô phỏng âm tiết của lời tán ấy mà viết thành Phạm bái. Sau đó, ông dựa theo kinh Thái tử thụy ứng bản khởi, soạn lời tạo âm mà viết thành bài Thái tử tụng, tiếp theo, ông soạn khúc Bồ tát thiểm tử tụng: Đây là khúc Phạm bái Phạm Hán hỗn hợp đầu tiên. Về sau, các ngài Chi khiêm, Khang tăng hội đời Ngô cũng ứng dụng Phạm bái và chế tác các bài: Tán bồ tát liên cú Phạm bái và Nê hoàn Phạm bái... Từ đó về sau Phạm bái mới được lưu hành rộng rãi. Lương cao tăng truyện quyển 13 nêu tên 11 vị, từ ngài Bạch pháp trở xuống, rất giỏi về Phạm bái. Từ đời Đông Tấn về sau, Phạm bái khá thịnh hành ở miền Nam, Trung quốc. Cánh lăng vương Tiêu tử lương đời Nam Tề tận lực cổ xúy Phạm bái, ông sáng tác rất nhiều về bộ môn này. Đến đời Đường, Phạm bái dần dần thịnh hành trong dân gian, trong số 9 chức vị ở Đạo tràng dịch kinh, Phạm bái được dành cho 1 chức. Phạm bái chủ yếu được dùng trong 3 trường hợp: 1. Trong nghi thức giảng kinh: Thông thường được cử hành trước và sau khi giảng kinh.2. Lục thời hành đạo: Tức thực hành trong các khóa tụng kinh vào lúc sáng sớm và chiều tối. 3. Đạo tràng sám pháp: Nhằm mục đích giáo hóa, dắt dẫn quần chúng, nghi thức Phạm bái trong trường hợp này đặc biệt chú trọng ca hát, ngâm vịnh, tán thán... Về sau, tùy theo địa phương mà âm điệu Phạm bái có khác nhau, chủ yếu chia ra 2 miền Nam và Bắc, mỗi miền có đặc trường riêng. Từ đời Đường trở về trước, Phạm bái lưu hành gồm có: 1. Như lai bái: Cũng gọi Như lai phạm, Hành hương phạm(xướng lúc dâng hương tán Phật). Tức những câu kệ: Như lai diệu sắc thân, Thế gian vô dữ đẳng; Vô tỉ bất tư nghị, Thị cố kim kính lễ. Như lai sắc vô tận, Trí tuệ diệc phục nhiên; Nhất thiết pháp thường trụ, Thị cố ngã qui y.(Kinh Thắng man). 2. Vân hà bái: Cũng gọi Vân hà phạm. Tức những câu kệ: Vân hà đắc trường thọ, Kim cương bất hoại thân? Phục dĩ hà nhân duyên, Đắc đại kiên cố lực? Vân hà ư thử kinh, Cứu cánh đáo bỉ ngạn? Nguyện Phật khai vi mật, Quảng vị chúng sinh thuyết. (Kinh Niết bàn quyển 3, bản Nam). 3. Xử thế bái: Cũng gọi Xử thế phạm. Tức bài kệ: Xử thế gian như hư không, Nhược liên hoa bất trước thủy; Tâm thanh tịnh siêu ư bỉ, Khể thủ lễ Vô thượng thánh. (Kinh Siêu nhật nguyệt minh quyển thượng). Thông thường, Phạm bái được chia làm 3 tiết:Sơ bái: Phần văn kệ được xướng lúc bắt đầu pháp sự, tức câu kệ đầu: Như lai diệu sắc thân trong Như lai bái.Trung bái: Văn kệ được xướng khi đang cử hành pháp sự, tức câu đầu Như lai sắc vô tận của bài kệ thứ 2 trong Như lai bái.Hậu bái: Bài kệ của Xử thế bái được xướng khi pháp sự kết thúc. Những bài kệ Phạm bái này được gọi là Phạm âm kệ. Nội dung Phạm bái cóLục cú tán và Bát cú tán. Lục cú tán chủ yếu là bài Hương tán: Lô hương sạ nhiệt, pháp giới mông huân v.v... được xướng vào lúc bắt đầu pháp sự để cung thỉnh chư Phật. Còn Bát cú tán thì như các bài Tam bảo tán, A di đà Phật tán, Dược sư Phật tán v.v... thường được xướng lúc pháp sự đang diễn tiến và sau khi tụng kinh. Khi xướng Phạm bái có dùng các thứ pháp khí như chuông, mõ, thanh la, tiêu, cảnh, linh... hòa theo âm điệu trầm bổng du dương, tạo thành nhạc khúc đặc biệt của Phật giáo. Phạm bái được truyền đến Nhật bản vào đầu thời đại Nại lương, là 1 trong 4 pháp yếu của Phật giáo xứ Phù tang. Đến thời đại Bình an thì có 2 dòng lớn là Tiến lưu và Đại nguyên lưu rất thịnh hành. Tiến lưu thuộc hệ thống tông Chân ngôn và Đại nguyên lưu thuộc hệ thống tông Thiên thai. [X. phẩm Thọ mệnh kinh Niết bàn (bản Bắc); Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.9; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 4; Tống cao tăng truyện Q.3, 25; thiên Bái tán trong Pháp uyển châu lâm Q.36; Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.5; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Thích thị yếu lãm Q.thượng; truyện Lặc na ma đề trong Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí Q.2].
phạm bản
Sùtras in the Indian language.
; (梵本) Cũng gọi Phạm giáp, Phạm kinh, Phạm điển.Chỉ cho những bản kinh điển tiếng Phạm được viết trên lá bối, vỏ cây hoa, giấy v.v... Ở Ấn độ, tiếng Phạm được bắt đầu sử dụng từ khoảng thế kỉ VI trước Tây lịch, tất cả sách vở về tông giáo, học thuật nói chung đều được ghi chép bằng tiếng Phạm. Kinh điển bằng tiếng Phạm bắt đầu xuất hiện vào lúc nào thì vẫn chưa được xác định. Thời Đông Hán, song song với sự truyền bá Phật giáo, Phạm bản cũng liên tục được truyền vào Trung quốc, nhưng vì chỉ chú trọng đến bản dịch của các kinh, hơn nữa, do chiến tranh liên miên nên nguyên bản đều đã bị thất lạc. Còn ở Ấn độ thì vì sự xâm lăng và tàn phá của tín đồ Hồi giáo vào thế kỉ XII nên Chính pháp bị hủy hoại, Phạm bản cũng hư nát gần hết! Năm 1890, Thượng úy Bower người Anh có tìm được bản kinh Khổng tước vương chú viết tay trên vỏ cây hoa ở Khố xa tại Tân cương. Về sau, các ông A. Stein, P. Pelliot... lại phát hiện các Phạm bản viết tay xưa ở các vùng Tân cương, Đôn hoàng... Kinh điển Phật bằng tiếng Phạm hiện nay có khoảng hơn 500 loại. Các thứ ngôn ngữ được sử dụng trong Phạm bản không hoàn toàn giống nhau, trong đó, kinh Kim cương bát nhã, kinh A di đà, Du già sư địa luận Bồ tát địa và các chú thích về Luận bộ đại khái đều được viết bằng tiếng Phạm cổ điển chính thức. Nhưng, các bài kệ tụng trong các kinh Pháp hoa, Vô lượng thọ, Thập địa và Phổ hiền bồ tát hành tán v.v... thì, về mặt văn pháp, có rất nhiều điểm khác với tiếng Phạm thuần túy và được gọi là Già đà phương ngôn (Gàthàdialect), Phật giáo Phạm ngữ (Buddhist Sanscrit) hoặc là 1 trong các loại Chuyển ngoa ngữ (Phạm: Apabhraôza). Phần Trường hàng (văn xuôi) trong kinh Phật bản hạnh tập dị bản (Phạm: Mahàvastu) cũng sử dụng Già đà phương ngôn, còn phần Trường hàng trong các kinh Bát nhã, Pháp hoa thì ngôn ngữ gần giống với tiếng Phạm thuần túy. [X. Phạm văn Phật điển nghiên cứu đích nhị phương diện (Sơn điền Long thành, Long cốc Đại học luận tùng 287); Sanskrit Buddhist Literature of Nepal, preface, by R.Mitra; Catalogue of the Buddhist Sanskrit Manuscripts, historical introduction, by C. Bendall; Geschichte der indischen Literatur, Bd. II, by M.Winternitz]. (xt. Phạm Giáp).
Phạm bối 梵唄
[ja] ボンバイ bonbai ||| A song or verse praising the virtues of the Buddha. => Bài hát hay kệ tán ca ngợi đức hạnh của chư Phật.
phạm bổn
Những bộ kinh bằng tiếng Phạn (Ấn Độ)—Sutras in the Indian language.
phạm ca da thiên
Brahma-kayika-deva (S)Từ gọi chung các tầng trời Sơ thiền.
phạm ca di
Brahma-kayikas (skt)—Tên của chư Thiên ở cõi sơ thiền sắc giới—The Brahma-devas in the first dhyana in the realm of form.
phạm ca di thiên
(梵迦夷天) Phạm: Brahma-kàyika-deva. Từ ngữ gọi chung các tầng trời Sơ thiền của cõi Sắc. Kinh Trường a hàm quyển 20 dịch là Phạm thân thiên. Huyền ứng âm Kinh Pháp Hoa bản tiếng Phạm nghĩa quyển 3 dịch là Tịnh thân thiên. [X. kinh Đạo hành bát nhã Q.1]. (xt. Phạm Chúng Thiên).
phạm chung
Đại Hồng Chung của tự viện—The temple or monastery bell.
; (梵鍾) Cũng gọi Đại chung, Điếu chung, Chàng chung, Hồng chung, Kình chung. Chỉ cho quả chuông lớn của các chùa viện. Phạm nghĩa là thanh tịnh, vì chuông được dùng vào việc Phật, mà Phật thì là thanh tịnh, do đó chuông được gọi là Phạm chung (chuông thanh tịnh). Các chùa viện lớn ở Trung quốc phần nhiều đều có xây lầu để treo Phạm chung. Nguồn gốc của Phạm chung ở Trung quốc không được rõ, có lẽ bắt đầu được tạo vào đời Hậu Chu (giữa thế kỉ X) về sau, chủ yếu được đúc bằng đồng xanh. Chuông có hình dáng không nhất định, thông thường cao khoảng 4 thước và đường kính chừng 2 thước (Tàu). Phần trên cùng của Phạm chung gọi là Long đầu(đầu rồng) có quai để treo, phần gần miệng Phạm chung có những cái núm để đánh. [X. Quảng hoằng minh tập Q.28; Tục cao tăng truyện Q.29]. (xt. Chung).
Phạm chí
Phạn ngữ là Brhmaṇa, chỉ người thuộc dòng bà-la-môn xuất gia tu tập, quyết chí cầu sanh lên cõi Phạm thiên nên gọi là Phạm chí.
phạm chí
Brahamin (S)Tịnh hạnh tôn giả, Tịnh hạnh giả, Phạm hạnh kỳ1- Tịnh hạnh tôn giả: Người tu sĩ Bà la môn đã 120 tuổi còn qui y thọ Tỳ kheo giới ngay ngày Phật nhập diệt, cũng là người đệ tử cuối cùng của đức Phật. Ông đắc A la hán ngay lúc thọ giới, ngay sau đó dùng hoả tam muội nhập Niết bàn trước Phật. 2- Phạm chí: người xuất gia theo Bà la môn giữ giới hạnh trong sạch, lìa bỏ gia đình, vợ con. 3- Phạm hạnh kỳ: Giai đoạn từ 8 - 20 tuổi, một trong bốn giai đoạn trong đời một người Bà la môn: Phạm hạnh kỳ, Gia trụ kỳ, Lâm thê kỳ, Tuần thế kỳ.
; Bramàcàrin (S). Studying sacred learning; practising continence or chastety. A Buddhist ascetic with his will set on purity.
; 1) Brahmacarin (skt): Người xuất gia học Thánh điển và tu hành phạm hạnh—Studying sacred learning; practising continence or chasity. 2) Brahamacari (skt): Người trẻ Bà La Môn tu tập giai đoạn đầu trong bốn giai đoạn đi vào Phạm Thiên—Young Brahman in his first sarama or period of life; ther are four such periods. 3) Người Phật tử xuất gia tu đời thanh tịnh: A Buddhist ascetic with his will set on purity.
; (梵志) Phạm: Bràhmaịa. I. Phạm Chí. Hán âm: Bà la môn, Phạm sĩ. Hán dịch: Tịnh duệ, Tịnh hạnh. Cũng gọi Tịnh hạnh giả, Tịnh hạnh phạm chí. Chỉ cho người Bà la môn, sống thanh tịnh, cầu được sinh về cõi Phạm thiên. Theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 18 thì Bà la môn lẽ ra phải đọc là Bà la hạ ma noa, chỉ cho người tu tập theo pháp của Phạm thiên. Bà la môn tự nhận mình sinh ra từ miệng Phạm thiên, là dòng họ cao quí nhất trong 4 dòng họ, cho nên đặc biệt lấy tên là Phạm. Theo Du già luận kí quyển 19 phần đầu thì Phạm là tiếng Ấn độ, Hán dịch là Tịch tĩnh, Niết bàn; Chí là tiếng Trung quốc, quyết chí cầu Phạm, cho nên ghép chung 2 chữ lại thành là Phạm chí (nửa Ấn nửa Tàu). Các Phạm chí thấy ghi rải rác trong kinh điển như Phạm chí Trường trảo, Phạm chí Loa kế... đều là Bà la môn, sau trở thành đệ tử nổi tiếng của đức Phật. Ngoài ra, con gái của Phạm chí, hoặc cô gái tu theo đạo Phạm, gọi là Phạm nữ. [X. kinh Mã ấp trong Trung a hàm Q.48; kinh Tăng nhất a hàm Q.9; kinh Pháp cú Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.4]. (xt. Bà La Môn). II. Phạm Chí. Từ gọi chung tất cả những người xuất gia của ngoại đạo Ấn độ. Luận Đại trí độ quyển 56 (Đại 25, 461 trung) nói: Phạm chí chỉ cho tất cả những người xuất gia của ngoại đạo. Hoặc người chỉ theo đạo Phạm mà không xuất gia, cũng gọi là Phạm chí. III. Phạm Chí. Đối lại với Ni kiền mà gọi Bà la môn tại gia là Phạm chí. Theo Pháp hoa văn cú kí quyển 9 thượng, người tại gia thờ Phạm thì gọi là Phạm chí, còn ngoại đạo xuất gia thì gọi chung là Ni kiền. Nhưng Pháp hoa kinh yếu giải quyển 5 thì ngược lại cho rằng ngoại đạo tại gia gọi là Ni kiền, còn ngoại đạo xuất gia thì gọi là Phạm chí.
phạm chí a bạt kinh
(梵志阿
Phạm chí Trường Trảo
xem Ma-ha Câu-hy-la.
phạm chí át ba la diên vấn chủng tôn kinh
(梵志頞波羅延問種尊經) Cũng gọi Phạm chí Át la diên vấn chủng tôn kinh, Phạm chí vấn chủng tôn kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc đàm vô Lan dịch vào khoảng năm Thái nguyên thứ 6 đến năm Thái nguyên 20 (381-395) đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này thuật lại việc Bà la môn Át ba la diên (Phạm: Assalàyano) cùng với 500 Bà la môn khác cùng đến vườn ông Cấp cô độc trong khu rừng cây của Thái tử Kì đà để vặn hỏi đức Phật về luận thuyết Chủng tính bình đẳng, Tự tính thanh tịnh, đức Phật dùng việc xuống suối tắm gội, vua được bầy tôi hiền và các thí dụ về lửa, sinh ra, mặt trời, mặt trăng, cha mẹ hội hợp v.v... để giải thích người ta sinh ra là bình đẳng, chỉ do việc làm cao thượng hoặc xấu xa mà khiến người ta trở thành sang, hèn khác nhau mà thôi. Kinh này là bản dịch khác của kinh A nhiếp hòa trong Trung a hàm quyển 37 và nội dung cũng tương đương với bài kinh 93 trong Trung bộ (Majjhima-nikàya) bằng tiếngPàli thuộc Nam truyền. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Đại đường nội điển lục Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].
Phạm chí Độc Tử
một tu sĩ ngoại đạo, tên Phạn ngữ là Vtsỵ, dịch âm là Bà-tư. Vị này về sau quy y Phật, nên cũng gọi là tỳ-kheo Độc Tử.
phạm chúng
Monks, so called because of their religious practices.
; Chư Tăng Ni—Monks and nuns.
Phạm chúng thiên
梵衆天; C: fànzhòngtiān; J: bonshuten; S: brah-ma-kāyikāḥ. |Tầng trời của những quyến thuộc của Phạm thiên. Là tầng trời thứ nhất trong Tứ thiền thiên (四禪天) thuộc Sắc giới
phạm chúng thiên
Brahma-parisadya-deva (S), Brahmaparisajjadeva (P), Brahmapa-risadya (S)Một trong 4 cảnh của cõi sắc giới, miền sơ thiền thiên. Cõi trời này không có dục nhiễm, gồm dân chúng của Thiên chủ cõi Sơ thiền. Sơ thiền thiên có 4 cảnh: Phạm thân thiên, Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên và Đại Phạm thiên.
; Brahma-pàrisajja (S). Belonging to the retinue of Brahmà; the first Brahmaloka; the first region of the first dhyàna heaven of form.
; Brahmaparisadya or Parsadya (skt)—Các vị chư Thiên ở cõi trời sơ thiền thuộc sắc giới (Phạm Thiên giới được chia làm ba cấp, các vị chư thiên ở hạ cấp thì được gọi là Phạm Chúng Thiên)—The assembly of Brahmadevas, belonging to the retinue of Brahma; the first Brahmaloka; the first region of the first dhyana heaven of form. ** For more information, please see Phạm Thiên (B).
; (梵衆天) Phạm: Brahma-pàriwadya-deva. Hán âm: Phạm ba lê sa thiên. Cũng gọi: Phạm thân thiên. Tầng trời thứ nhất trong các tầng trời thuộc cõi Sắc. Vì tầng trời này là nơi Thiên chúng do Đại Phạm vương thống lãnh cư trú, nên gọi là Phạm chúng thiên. Thiên chúng ở đây thân cao nửa do tuần, sống lâu nửa kiếp. Ngoài ra, kinh Trường a hàm quyển 20 cũng dịch Phạm ca di thiên (Phạm: Brahman-kàyika-deva) là Phạm thân thiên, là tên gọi chung của các tầng trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc. [X. luận Phật địa Q.5; luận Câu xá Q.8, 11; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2]. (xt. Phạm Thiên).
Phạm chúng thiên 梵衆天
[ja] ボンシュテン bonshuten ||| The heaven of the followers of Brahma. The first level of the first of the four meditation heavens 四禪天 of the form realm 色界. (Brahma-kāyikāḥ) 〔倶舎論、 T 1558.29.1-41a〕 => (s: Brahma-kāyikāḥ) Tầng trời của những quyến thuộc của Phạm thiên. Là tầng trời thứ nhất trong Tứ thiền thiên 四禪天thuộc Sắc giới 色界.
phạm chương
Brahmavastu (skt)—Sách học vần Phạn ngữ gồm 12 chương—A Sanskrit syllabary in twelve parts.
phạm cung
The realm of Brahmà; the first dhyàna heaven of the realm of form.
; 1) Cung điện của Phạm Thiên: Brahma's palace. 2) Chùa: Buddhist temple. 3) Phạm Giới, cõi thiền thứ nhất trong cõi trời sắc giới: The realm of Brahma; the first dhyana heaven of the realm of form.
; (梵宮) Vốn chỉ cho cung điện của Phạm thiên, sau được dùng làm tên gọi chung các chùa viện Phật giáo. Phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa quyển 3 (Đại 9, 23 thượng) nói: Cung điện Phạm thiên sáng chói rực rỡ, gấp bội ánh sáng thường. [X. Lương cao tăng truyện quyển 13].
phạm cổ nông
(范古農) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện Gia hưng, tỉnh Chiết giang, hiệu Kí đông, Huyễn am, bút danh Hải thi đạo nhân. Lúc còn trẻ, ông từng du học ở Nhật bản, sau khi về nước, ông dốc hết tâm lực vào việc hoằng pháp. Năm Dân quốc 20 (1931), ông giữ chức Tổng biên tập của Thượng hải Phật học Phạm chung (được đúc vào đời Minh) thư cục. Năm Dân quốc 24 (1935), ông làm Chủ bút tờ Nhật báo Phật giáo, là tờ Nhật báo đầu tiên của Phật giáo Trung quốc. Năm Dân quốc 40 (1951), ông giữ chức Lâm trưởng của Thế giới Phật giáo cư sĩ lâm. Ông có các tác phẩm: Huyễn am văn tập, Cổ nông Phật học vấn đáp, Hải triều âm văn khố, Phật học bách khoa tùng thư và phiên dịch luận Phát thú.
phạm diên
Phạm Thiên và Trời Na La Diên—Brahma and Narayana.
phạm diễn na
Bayana (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Phạm Diễn Na, một vương quốc cổ trong vùng Bokhara, bây giờ là Bamian, nổi tiếng với những tượng Phật Nhập Niết Bàn khổng lồ, dài tới 1.000 bộ Anh—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Bayana, an ancient kingdom and city in Bokhara (modern Bamian), famous for a colossal statue of Buddha (entering Nirvana) believed to be 1,000 feet long.
phạm diễn na quốc
(梵衍那國) Tên 1 vương quốc xưa trong dãy núi Hindu Kush, nay thuộc lãnh thổ nước Afghanistan. Phạm diễn na, tên tiếng Phạm làBàmiyan, cũng gọi Phạm dương, Vọng diễn, Phàm diễn, hiện nay thường gọi là Ba mễ an (Bamian), Ba mễ ương, Ba mễ dương. Nước này chính là con đường giao hông từ nước Kiện đà la đến các nước Đổ hóa la, Du na..., đại đô thành nước này nằm dựa vào sườn núi, sản xuất lúa mì, chăn nuôi gia súc, khí hậu rất lạnh, phong tục cứng cỏi. Vào thời các vua Tùy dượng đế và Đường thái tông, nước này từng đến triều cống Trung quốc. Vào thế kỉ III trước Tây lịch, vua A dục từng phái Truyền đạo sư đến nước này truyền bá Phật pháp. Về sau, vua Ca nị sắc ca xây dựng già lam, Phật giáo dần dần hưng thịnh. Vua cho đục mở rất nhiều hang động và tạc những pho tượng Phật bằng đá rất lớn. Quần thể hang động này được gọi là Ba mễ dương thạch quật (được đục mở từ khoảng thế kỉ III đến thế kỉ VII). Pho tượng Phật ở hang đá phía đông cao 53m và tượng Phật ở hang phía tây cao 35m, là 2 pho tượng lớn nhất trong quần thể hang động này. Ở đây có tới cả nghìn hang đá lớn nhỏ, chủ yếu khắc tượng Phật, hiện còn sót lại 1 số các bức bích họa, Phật khám, thiên tỉnh, tượng phi thiên... là 1 trong hững di tích quan trọng của mĩ thuật Phật giáo.Vào đầu thế kỉ XIII, nước Phạm diễn na bị Thành cát tư hãn chinh phục, tiếp sau đó lại bị tín đồ Hồi giáo xâm chiếm và phá phách, khiến cho Phật giáo nước này phải suy vong. Đầu thế kỉ XX, có rất nhiều nhà khảo cổ đến đây nghiên cứu các di tích Phật giáo. Nhưng rất đau xót là vào tháng 3 năm 2001 vừa qua, toàn bộ khu di tích Phật giáo ở Bamian đã bị Hồi giáo Taliban cuồng tín dùng chất nổ và hỏa tiễn phá hủy hoàn toàn, khiến cho cả thế giới phải phẫn nộ và lên án! (Người dịch). [X. Đại đường đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.2; Vãng ngũ thiên trúc quốc truyện; Tùy thư tây vực liệt truyện; Notice Archéologique de la valléeBàmiyan, 1923, par A.Foucher]. Toàn cảnh quần thể hang động Bamian
phạm diện phật
Đức Phật có gương mặt giống như Phạm Thiên, người ta nói vị ấy sống tới 23.000 năm—A Buddha with Brahma's face (said to be 23.000 years old).
phạm giáp
Kinh điển làm bằng lá cây đa la (một loại cây kè có lá giống như lá thốt nốt) Palm-leaf scriptures.
; (梵夾) Cũng gọi Kinh pháp. Chỉ cho bản kinh viết bằng tiếng Phạm trên lá bối. Thời xưa chưa có giấy, những sách vở phần nhiều được viết trên lá của cây Bối đa la (Phạm: Pattra). Những lá bối được phơi khô, cắt xén theo 1 khuôn khổ nhất định, viết văn kinh xong, rồi chồng lên nhiều lớp. Sau đó, để khỏi lẫn lộn và rơi mất, người ta dùng 2 miếng ván gỗ mỏng đặt ở phía trên và phía dưới lớp lá bối để kẹp lại (giáp) và buộc bằng dây cho chặt, gọi là Phạm giáp. Ngoài ra, những kinh điển bắt chước theo hình thức này, cũng gọi là Phạm giáp. [X. kinh Tín lực nhập ấn pháp môn Q.5; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.16].
phạm giới
Xem Phạm thiên giới. Xem Phá giới.
; To offend against or break the moral or ceremonial laws.
; Phá phạm giới luật mà Đức Phật đã đặt ra—To turn one's back on the precepts—To offend against or break the moral or ceremonial laws of Buddhism.
phạm giới ngũ suy
(犯戒五衰) Gọi tắt: Ngũ suy. I. Phạm Giới Ngũ Suy. Chỉ cho 5 thứ suy hao của người vi phạm giới luật. Cứ theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 2 và Thích thị yếu lãm quyển thượng, thì 5 thứ suy hao của người phạm giới là: 1. Cầu tiền của không được như ý. 2. Nếu có được tiền của thì cũng hao tổn hết ngay. 3. Không được mọi người yêu kính. 4. Tiếng xấu lan truyền rộng khắp. 5. Sau khi chết rơi vào địa ngục. [X. kinh Bát nê hoàn Q.thượng; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.3]. II. Phạm Giới Ngũ Suy. Cũng gọi Phạm giới ngũ quá, Phá giới ngũ quá. Gọi tắt: Ngũ quá. Chỉ cho 5 lỗi của người phạm giới. Cứ theo luật Tứ phần quyển 59, thì người phá giới có 5 thứ lỗi sau đây: 1. Tự làm hại mình. 2. Bị người trí chê cười. 3. Tiếng xấu đồn xa. 4. Lúc sắp chết sinh tâm hối hận. 5. Sau khi chết đọa vào đường ác. (xt. Ngũ Quá).
phạm hoàng
The Indian Emperor, Buddha.
; 1) Vua của Ấn Độ: The Indian Emperor. 2) Đức Phật: Buddha.
; (梵皇) Từ tôn xưng đức Phật. Đức Phật đản sinh ở phía bắc Phạm độ (Ấn độ), là Hoàng đế của các pháp, cho nên gọi là Phạm hoàng. Phía tây bắc Phạm độ tức là vườn Lam tì ni ở tây bắc Ấn độ, nay thuộc lãnh thổ nước Nepal. [X. bài Tựa trong Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết].
phạm hành
Noble action—High conduct.
; (梵行) Phạm: Brahma-caryà. Pàli:Brahma-cariya. Hán dịch: Tịnh hạnh. Chỉ cho hạnh thanh tịnh mà người xuất gia và tại gia tu tập. Bà la môn giáo chia đời người làm 4 thời kì, trong đó, thời kì thứ nhất gọi là Phạm hạnh kì (Phạm: Brahma-carin), trong thời kì này, người Bà la môn phải giữ giới cấm dâm dục, học Phệ đà và những nghi thức cúng tế... Trong Phật giáo thì giữ gìn các giới đã thụ nói chung, gọi là Phạm hạnh. Theo kinh Thập thượng trong Trường a hàm quyển 9, có đầy đủ thiền định, thuận, nghịch đều không chướng ngại trong 8 giải thoát, thì gọi là Phạm hạnh cụ túc. Kinh Đại phương quảng đại tập quyển 7 và kinh Đại bảo tích quyển 86 thì cho rằng thực hành Bát chánh đạo là Phạm hạnh. Kinh Đại bát niết bàn quyển 15 (bản Bắc) cho rằng 4 tâm Vô lượng(từ, bi, hỉ, xả) là Phạm hạnh, trụ trong 7 thiện pháp, gọi là Phạm hạnh cụ túc... [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.30; luận Du già sư địa Q.29; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4; Pháp hoa nghĩa sớ Q.7]. (xt. Ngũ Hạnh).
phạm hưởng
Âm thanh của Đức Phật—The sound of Buddha's voice (Buddha's preaching).
Phạm hạnh
(s, p: brahmacariya, 梵行): Phạm (s, p: brahmā, 梵) nghĩa là thanh tịnh, pháp đoạn trừ dâm dục là Phạm hạnh, tức pháp hành của Phạm Thiên (梵天). Trí Độ Luận (智度論) dạy rằng: “Đoạn dâm dục thiên giai danh vi Phạm Thiên, dĩ thị cố đoạn dâm hành pháp danh vi Phạm hạnh; ly dục diệc danh Phạm; nhược thuyết Phạm tắc nhiếp Tứ Thiền Vô Sắc định (斷婬欲天皆名爲梵天、以是故斷婬行法名爲梵行、離欲亦名梵、若說梵則攝四禪四無色定, vị Trời đoạn dâm dục đều gọi là Phạm Thiên, chính vì vậy hành pháp đoạn dâm dục gọi là Phạm hạnh; nếu nói là Phạm tắc nhiếp vào định của Tứ Thiền, Tứ Vô Sắc).” Hơn nữa, trong Pháp Hoa Gia Tường Sớ (法華嘉祥疏) quyển 7 có giải thích rõ rằng: “Hữu nhân ngôn: 'Thông thủ nhất thiết giới vi Phạm hạnh, biệt danh đoạn dâm dục vi Phạm hạnh' (有人言、通取一切戒爲梵行、別名斷婬爲梵行, Có người bảo rằng: 'Giữ hết tất cả giới là Phạm hạnh, nếu nói riêng thì đoạn trừ dâm dục là Phạm hạnh').” Ngoài ra, Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃) được gọi là Phạm, cho nên chứng vạn hạnh của Niết Bàn là Phạm hạnh. Trong Phẩm Tựa của Pháp Hoa Kinh (法華經) có câu: “Cụ túc thanh bạch, Phạm hạnh chi tướng (具足清白、梵行之相, đầy đủ, trong sạch là tướng của Phạm hạnh).”
; (梵行, Phạn ngữ: brahmacarya, Pli: brahmacariya), cũng gọi là tịnh hạnh, là phép tu hành thanh tịnh của hàng xuất gia, chỉ sự đoạn tuyệt dâm dục.
; 梵行; C: fànxíng; J: bongyō; S: brahmacarya; P: brahmacariya; cũng được dịch là Tịnh hạnh;|1. Hạnh thanh tịnh. Phạm (梵) nghĩa là thanh tịnh, thuật ngữ chỉ cho sự tu tập để giải trừ tham dục. Là công phu tu tập của tầng lớp Bà-la-môn thực hiện trong khi học đạo; 2. Là một trong những sự kiềm chế kỉ luật, Dạ-ma; 3. Tu tập hạnh thanh tịnh. Tu tập giới luật của tăng sĩ Phật giáo. Pháp tu giải trừ tham dục.
phạm hạnh
Brahma-caryā (S), Brahma-faring, Holy life, Brahmacārī (P)Tịnh hạnhHạnh tu thanh tịnh của người xuất gia và người theo Bà la môn giáo.
; Brahmacarya (S) Pure living, noble action. Ascetic. religious life.
; Pure living. (I) Nghĩa của “Phạm Hạnh”—The meanings of “Pure living”—Cuộc sống thanh tịnh hay giới pháp giúp hành giả cắt đứt dâm dục, sống đời độc thân để được sanh về cõi trời sắc giới Phạm Thiên hay cao hơn—Pure living; noble action; the discipline of celibacy which ensures rebirth in the Brahmaloka, or in the realms beyond form. (II) Những lời Phật dạy về “Phạm Hạnh” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Pure living” in the Dharmapada Sutra: 1) Sống trăm tuổi mà phá giới và buông lung, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà trì giới, tu thiền định—To live a hundred years, immoral and uncontrolled, is no better than a single-day life of being moral and meditative (Dharmapada 110). 2) Sống trăm tuổi mà thiếu trí huệ, không tu thiền, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà đủ trí, tu thiền định—To live a hundred years without wisdom and control, is no better than a single-day life of being wise and meditative (Dharmapada 111). 3) Sống trăm tuổi mà giải đãi không tinh tấn, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà hăng hái tinh cần—To live a hundred years, idle and inactive, is no better than a single-day life of intense effort (Dharmapada 112). 4) Sống trăm tuổi mà không thấy pháp vô thường sinh diệt, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy pháp sinh diệt vô thường—To live a hundred years without comprehending how all things rise and pass away, is no better than a single-day life of seeing beginning and end of all things (Dharmapada 113). 5) Sống trăm tuổi mà không thấy đạo tịch tịnh vô vi, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy đạo tịch tịnh vô vi—To live a hundred years without seeing the immortal state, is no better than a single-day life of one who sees the deathless state (nirvana) (Dharmapada 114). 6) Sống trăm tuổi mà không thấy pháp tối thượng, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy pháp tối thượng—To live a hundred years without seeing the Supreme Truth, is no better than a single-day life of someone who see the highest law (Dharmapada 115).
phạm hạnh kỳ
Xem Phạm chí.
Phạm hạnh 梵行
[ja] ボンギョウ bongyō ||| (1) 'Pure practices.' With 梵 (fan) meaning "pure," a term for the religious practices that involve the cutting off of desire. The practices that a member of the brahman caste carries out during his student life. (2) One of the restraint-disciplines, yama. (3) Pure religious practice. The practices of discipline of a Buddhist monk. The practice of ridding oneself of lust and desire. => 1. Hạnh thanh tịnh. Phạm 梵 nghĩa là thanh tịnh, thuật ngữ chỉ cho sự tu tập để giải trừ tham dục. Là công phu tu tập của tầng lớp Bà-la-môn trong khi học đạo. 2. Là một trong những sự kiềm chế kỷ luật, yama (diêm vương). 3. Tu tập hạnh thanh tịnh. Tu tập giới luật của tăng sĩ Phật giáo. Pháp tu giải trừ tham dục.
phạm học
The study of Buddhism; the study of Brahmanism.
; 1) Nghiên cứu về Bà La Môn: The study of Brahmanism. 2) Nghiên cứu về Phật Giáo: The study of Buddhism.
phạm học tân lương
(梵學津梁) Tác phẩm, khoảng 1.000 quyển, do tôn giả Ẩm quang Từ vân người Nhật bản biên soạn và theo sự suy đoán của các học giả cận đại thì sách được hoàn thành vào năm Minh hòa thứ 3 (1766). Nội dung sách này sưu tập các chữ Phạm và những tư liệu tham khảo để giúp cho việc học tập, nghiên cứu tiếng Phạm được tiện lợi. Toàn sách được chia làm 7 bộ: Bản thuyên, Mạt thuyên, Thông thuyên, Biệt thuyên, Lược thuyên, Quảng thuyên và Tạp thuyên. Bộ thứ nhất thu chép các bản Phạm và các sách vở viết trên lá bối do các sư mang về. Bộ thứ hai sưu tập các bản dịch về danh hiệu Phật, văn kệ, Đà la ni... Bộ thứ ba thu chép các văn hiến về biểu đồ chữ Phạm, sách vở tiếng Phạm như: Tất đàm chương, Tất đàm tự kí... Bộ thứ tư thu chép 29 bộ sách liên quan đến Phạm ngữ học như: Phạm ngữ thiên tự văn, Phiên dịch danh nghĩa đại tập...Bộ thứ năm chủ yếu nói rõ về thể chữ, cách viết, phù hiệu chữ Phạm. Bộ thứ sáu giải thích về danh hiệu của Phật, danh hiệu Pháp tạng... Bộ thứ bảy thu chép các văn hiến tham khảo về tiếng Phạm như: Tất đàm sáng học sao, Ngoại quốc văn tự, Kỉ hành... Đây là bộ sách tham khảo mà người nghiên cứu tiếng Phạm cần phải có, nó bao gồm tất cả các tư liệu ở Nhật bản đương thời, xứng đáng được gọi là sự nghiệp to lớn mà thời bấy giờ không có gì sánh được. Nguyên bản hiện được cất giữ ở chùa Cao quí tại Hà nội, phủ Đại phản, Nhật bản.
phạm khiếp ấn
(梵篋印) Chỉ cho ấn thứ 8 trong Tùy cầu bát ấn của bồ tát Đại tùy cầu thuộc Mật giáo, tức là Nhất thiết Như lai tùy tâm chân ngôn ấn. Ấn tướng là: Năm ngón của 2 tay mở ra, tay trái ngửa lên, đặt ở trước ngực; tay phải úp lên tay trái, 2 tay hợp 1, bàn tay hơi co. Ngoài ra, bồ tát Bát nhã và bồ tát Văn thù cũng kết thủ ấn này.
phạm kinh
(梵經) Phạm: Brahma-sùtra. Cũng gọi Phệ đàn đa kinh (Phạm: Vedànta-sùtra), Căn bản tư duy kinh (Phạm:Sarìraka-sùtra). Thánh điển căn bản của học phái Phệ đàn đa (Phạm:Vedànta) trong 6 phái Triết học Ấn độ, do Bạt đa la diễn na (Phạm: Bàdaràyaịa) soạn vào khoảng thế kỉ I trước Tây lịch và trở thành hình thức nhất định trong khoảng thời gian từ năm 400 đến 450 Tây lịch. Kinh này gồm có 4 thiên, 16 chương, 555 bài tụng, văn tự mỗi bài tụng rất đơn giản, nhưng nếu không được giải thích truyền trao thì khó mà hiểu được ý nghĩa hàm súc của nó. Vì thế các học giả đời sau đều giải thích rộng rãi, mỗi người mỗi ý lại tạo thành nhiều thuyết lộn xộn, do đó đã hình thành nhiều hệ phái Phệ đàn đa. Đây là 1 đặc điểm lớn để nghiên cứu kinh này. Nội dung kinh này noi theo phương thức minh tưởng của Phệ đà, tổng hợp các tư tưởng căn bản về hình nhi thượng học của các Triết gia Áo nghĩa thư, phê phán, chỉnh lí thêm, rồi chỉ ra rằng đấng Phạm tuyệt đối là nguyên nhân, là động lực cho sự sinh thành, tồn tục và huyễn diệt của thế giới. Sự sáng tạo thế giới là sự biểu hiện huyễn hóa của Phạm, tức là Phạm sinh ra hư không, hư không sinh ra gió, gió tạo ra lửa, lửa sinh ra nước, nước sinh ra đất mà hình thành thế giới. Đó là quá trình hình thành, còn quá trình huyễn diệt của thế giới thì đi ngược chiều; chỉ có bậc Thượng trí mới có khả năng đem Chân ngã hợp nhất với Phạm mà ra khỏi vòng luân hồi của Ngã cá thể. Điểm nổi bật trong toàn bộ kinh là 1 mặt làm sáng tỏ học thuyết của mình, mặt khác, phê bình, công kích và bác bỏ giáo lí của các phái khác trong cùng thời đại, đặc biệt đối với học thuyết của phái Số luận (Phạm: Sàôkhya) thì thái độ công kích rất kịch liệt. Ngoài ra, các phái Du già, Thắng luận, Phật giáo, Kì na giáo, phái Thú chủ, phái Thuận thế... cũng thường bị công kích. Phần nói về Phật giáo phần nhiều tập trung ở chương 2 của thiên thứ 2. Kinh này cùng với Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad), Bạc già phạm ca (Phạm: Bhagavad-gìtà) v.v... đều là những kinh điển trọng yếu về mặt văn hóa và lịch sử của Ấn độ. Kinh này có rất nhiều sách chú thích, quan trọng hơn cả thì có: -Phạm kinh chú của Zaíkara, nói rõ về Bất nhị nhất nguyên luận Phạm Ngã nhất thể tuyệt đối. -Phạm kinh chú của Ràmànuja, nói rõ về Chế hạn nhất nguyên luận, trong đó, mối quan hệ giữa Phạm và Ngã giống như bộ phận và toàn thể. Bút tích của ngài Phạm Kì-Phệ đàn đa tinh yếu (Phạm: Vedantasàra) củaSadànanda. [X. Ànandàzrama Sanskrit Series, 1900; The Brahmasùtras ofBàdaràyaịa, 1923-1924, by S.K. Belvalkar].
phạm kì
(梵琦) (1296-1370) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Nguyên, người Tượng sơn, Minh châu (Chiết giang), họ Chu, tự Sở thạch, tiểu tự Đàm diệu.Sư xuất gia năm lên 9 tuổi, 16 tuổi thụ giới Cụ túc, năm 22 tuổi làm thị giả ở chùa Đạo tràng và trông coi Tạng kinh. Một hôm, sư xem kinh Thủ lăng nghiêm có chỗ tỉnh ngộ, nhưng không hiểu được ý trong văn kinh và vẫn còn vướng mắc nơi danh tướng. Sau, sư đến Kính sơn tham học ngài Nguyên tẩu Hành đoan, lúc đầu trong lòng vẫn còn nhiều mối ngờ. Bấy giờ, vua Anh tông ban sắc triệu người viết giỏi, sư được chọn vào cung. Một hôm, sư nghe tiếng trống trên lầu phía tây thành, sư hoát nhiên triệt ngộ, được nối pháp ngài Nguyên tẩu, lúc đó sư 29 tuổi. Về sau, sư lần lượt trụ ở các chùa Phúc trăn ở Hải diêm, chùa Vĩnh tộ ở Thiên ninh, chùa Báo các ở núi Phượng sơn tại Hàng châu, chùa Bản giác ở Gia hưng... Năm
Phạm Kỳ
(梵琦) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Nguyên, người Tượng sơn, Minh châu (Chiết giang), họ Chu, tự Sở thạch, tiểu tự Đàm diệu.Sư xuất gia năm lên 9 tuổi, 16 tuổi thụ giới Cụ túc, năm 22 tuổi làm thị giả ở chùa Đạo tràng và trông coi Tạng kinh. Một hôm, sư xem kinh Thủ lăng nghiêm có chỗ tỉnh ngộ, nhưng không hiểu được ý trong văn kinh và vẫn còn vướng mắc nơi danh tướng. Sau, sư đến Kính sơn tham học ngài Nguyên tẩu Hành đoan, lúc đầu trong lòng vẫn còn nhiều mối ngờ. Bấy giờ, vua Anh tông ban sắc triệu người viết giỏi, sư được chọn vào cung. Một hôm, sư nghe tiếng trống trên lầu phía tây thành, sư hoát nhiên triệt ngộ, được nối pháp ngài Nguyên tẩu, lúc đó sư 29 tuổi. Về sau, sư lần lượt trụ ở các chùa Phúc trăn ở Hải diêm, chùa Vĩnh tộ ở Thiên ninh, chùa Báo các ở núi Phượng sơn tại Hàng châu, chùa Bản giác ở Gia hưng... Năm Chí chính thứ 7 (1347), sư được vua ban hiệu Phật Nhật Phổ Chiếu Tuệ Biện Thiền Sư. Đầu năm Hồng vũ đời Minh, sư được vua ban sắc thuyết pháp ở Tưởng sơn (tức núi Chung sơn ở phía đông bắc huyện Giang ninh, tỉnh Giang tô). Năm Hồng vũ thứ 3 (1370) sư thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi. Sư để lại các trứ tác: Sở thạch Phạm kì ngữ lục 20 quyển, Tây trai tịnh độ thi 3 quyển, Thướng sinh kệ, Bắc du Phượng sơn tây trai 3 tập, Họa Thiên thai tam thánh thi. [X. Sở thạch Phạm kì thiền sư ngữ lục tự; Phật nhật phổ chiếu tuệ kiện thiền sư tháp minh; Thích thị kê cổ lược tục tập Q.2; Nam Tống Nguyên Minh thiền lâm tăng bảo truyện Q.10; Tục đăng chính thống Q.15].
phạm luân
Brahmacakra (S).
; The brahma-wheel, the wheel of the law, or pure preaching of the Buddha
; 1) Bánh xe chuyển pháp của Đức Phật: The Brahma-wheel—The wheel of the law, or pure preaching of the Buddha. 2) Bài pháp đầu tiên mà Phạm Thiên Vương thỉnh Phật quay bánh xe pháp: The first sermon at the request of Brahma. 3) Giáo thuyết của Phạm Thiên: The doctrine or preaching of the Brahmans.
; (梵輪) Pàli: Brahma-cakka. Tên gọi khác của Pháp luân. Có nhiều cách giải thích: 1. Lúc đức Phật mới thành Phật, Phạm thiên vương thỉnh Phật chuyển pháp luân, cho nên Pháp luân được gọi là Phạm luân. 2. Phật là bậc Chân Phạm, bánh xe pháp do bậc Chân Phạm vương quay chuyển gọi là Phạm luân. 3. Vì bánh xe pháp có năng lực diệt trừ các phiền não, nên gọi là Phạm luân. 4. Vì người đời cho Phạm là tôn quí, nên tôn xưng Pháp luân là Phạm luân. 5. Phạm nghĩa là thanh tịnh, sự thuyết pháp của đức Phật thanh tịnh, nên gọi là Phạm luân. 6. Vì đức Phật dùng 4 tâm Phạm hạnh (4 tâm Vô lượng) để quay bánh xe pháp, cho nên gọi là Phạm luân. Ngoài ra, luận Đại trí độ quyển 25 phân biệt giữa Phạm luân và Pháp luân như sau: Phạm luân hiển bày 4 tâm vô lượng, nhờ tu 4 tâm vô lượng mà được đạo, hiển bày Tứ thiền, tu thiền định Thánh đạo; còn Pháp luân thì hiển bày pháp Tứ đế, nhờ pháp khác mà được đạo, hiển bày 37 phẩm, tu trí tuệ Thánh đạo. [X. luận Đại trí độ Q.8; luận Câu xá Q.24]. (xt. Pháp Luân).
phạm luật
To offend against the law—Khi Đức Thế Tôn còn tại thế, có hai vị Tỳ Kheo phạm luật hạnh, lấy làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, đến hỏi Ưu Ba Li rằng: “Dạ thưa ngài Ưu Ba Li! Chúng tôi phạm luật thật lấy làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, mong nhờ ngài giải rõ chỗ nghi hối cho chúng tôi được khỏi tội ấy.” Ưu Ba Li liền y theo pháp, giải nói cho hai vị. Bấy giờ ông Duy Ma Cật đến nói với Ưu Ba Li—At the time of the Buddha, there were two bhiksus who broke the prohibitions, and being shameful of their sins they dared not call on the Buddha. They came to ask Upali and said to him: “Upali, we have broken the commandments and are ashamed of our sins, so we dare not ask the Buddha about this and come to you. Please teach us the rules of repentance so as to wipe out our sins.” Upali then taught them the rules of repentance. At that time, Vimalakirti came to Upali and said: • “Thưa ngài Ưu Ba Li, ngài chớ kết thêm tội cho hai vị Tỳ Kheo nầy, phải trừ dứt ngay, chớ làm rối loạn lòng họ. Vì sao? Vì tội tánh kia không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa. Như lời Phật đã dạy: 'Tâm nhơ nên chúng sanh nhơ, tâm sạch nên chúng sanh sạch.' Tâm cũng không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa. Tâm kia như thế nào, tội cấu cũng như thế ấy. Các pháp cũng thế, không ra ngoài chơn như. Như ngài Ưu Ba Li, khi tâm tướng được giải thoát thì có tội cấu chăng?”—“Upali, do not aggravate their sins which you should wipe out at once without further disturbing their minds. Why? Because the nature of sin is neither within nor without, nor in between. As the Buddha has said, 'living beings are impure because their mind are impure; if their minds are pure they are all pure.' And mind also is neither within nor without, nor in between. Their minds being such, so are their sins. Likewise all things do not go beyond (their ) suchness. Upali, when your mind is liberated, is there any remaining impurity?' • Ưu Ba Li đáp: 'Không.”—Upali replied: “There will be no more.” • Ông Duy Ma Cật nói: 'Tất cả chúng sanh tâm tướng không nhơ cũng như thế! Thưa ngài Ưu Ba Li! Vọng tưởng là nhơ, không vọng tưởng là sạch; điên đảo là nhơ, không điên đảo là sạch; chấp ngã là nhơ, không chấp ngã là sạch. Ngài Ưu Ba Li! Tất cả pháp sanh diệt không dừng, như huyễn, như chớp; các Pháp không chờ nhau cho đến một niệm không dừng; các Pháp đều là vọng kiến, như chiêm bao, như nắng dợn, như trăng dưới nước, như bóng trong gương, do vọng tưởng sanh ra. Người nào biết nghĩa nầy gọi là giữ luật, người nào rõ nghĩa nầy gọi là khéo hiểu.”—Vimalakirti said: “Likewise, the minds of all living beings are free from impurities. Upali, false thoughts are impure and the absence of false thought is purity. Inverted (ideas) are impure and the absence of inverted (ideas) is purity. Clinging to ego is impure and non-clinging to ego is purity. Upali, all phenomena rise and fall without staying (for an instant) like an illusion and lightning. All phenomena do not wait for one another and do not stay for the time of a thought. They all derive from false views and are like a dream and a flame, the moon in water, and an image in a mirror for they are born from wrong thinking. He who understands this is called a keeper of the rules of discipline and he who knows it is called a skillful interpreter (of the precepts).” • Lúc đó hai vị Tỳ Kheo khen rằng: “Thật là bực thượng trí! Ngài Ưu Ba Li nầy không thể sánh kịp. Ngài là bực giữ luật hơn hết mà không nói được.”—At that “time, the two bhiksus declared: 'What a supreme wisdom which is beyond the reach of Upali who cannot expound the highest principle of discipline and morality?” • Ưu Ba Li đáp rằng: “Trừ Đức Như Lai ra, chưa có bực Thanh Văn và Bồ Tát nào có thể chế phục được chỗ nhạo thuyết biện tài của ông Duy Ma Cật. Trí tuệ ông thông suốt không lường.”—Upali said: 'Since I left the Buddha I have not met a sravaka or a Bodhisattva who can surpass hi rhetoric for his great wisdom and perfect enlightenment have reached such a high degree.' • Khi ấy, hai vị Tỳ Kheo dứt hết nghi hối, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác và phát nguyện rằng: “Nguyện làm cho tất cả chúng sanh đều được biện tài như vậy.”—Thereupon, the two bhiksus got rid of their doubts and repentance, set their mind on the quest of supreme enlightenment and took the vow that make all living beings acquire the same power of speech.
phạm lịch
(梵曆) Lịch pháp của Ấn độ. Phạm vốn không có nghĩa là Ấn độ, nhưng các nhà Phật học Trung quốc cho rằng Tất đàm là văn tự Ấn độ, do Phạm thiên tạo ra, cho nên gọi là Phạm tự, vì thế Phạm trở thành đại danh tự chỉ cho Ấn độ. Còn từ Phạm lịch là chỉ chung cho lịch pháp của Ấn độ, đã được sử dụng từ bao giờ thì không rõ. [X. Phật giáo Đại học học báo 27]. (xt. Phật Quốc Lịch Tượng Biên, Phật Giáo Lịch Pháp).
phạm ma
Brahmà, brahman (S). Phạm ma ni Brahma-mani, pure pearl, or the magic pearl of Brahmà.
; 1) Phạm Thiên và Ma La Vương—Brahma or Brahman and Mara. a) Phạm Thiên là vị chủ ở các cõi trời sắc giới: Brahma is the lord of the realm of form. b) Ma là chủ Lục Dục Thiên hay cõi Tha Hóa Tự Tại—Mara is the lord of desire or passion. 2) Phạm Thiên: Brahma—See Phạm Thiên.
; (梵魔) Từ gọi chung cho Phạm và Ma. Phạm là Phạm vương, đứng đầu cõi trời Sơ thiền, đại biểu cho các vị trời ở cõi Sắc. Còn Ma là Tha hóa tự tại thiên, đứng đầu tầng trời thứ 6 của cõi Dục, đại biểu cho các vị trời ở cõi Dục. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa]. (xt. Đại Phạm Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên).
phạm ma du kinh
(梵摩渝經) Cũng gọi Phạm ma dụ kinh. Kinh, 1 quyển, do cư sĩ Chi khiêm dịch vào khoảng từ năm Hoàng vũ thứ 2 đến năm Kiến hưng thứ 2 (223-253) đời Ngô, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này thuật lại việc Bà la môn Phạm ma du (Phạm: Brahmàyu) hoài nghi về 32 tướng của đức Phật. Về sau, nhân thấy được 32 tướng như tướng lưỡi rộng dài, tướng mã âm tàng... của đức Phật, Bà la môn Phạm ma du rất vui mừng, khen ngợi và qui y đức Phật. Phật liền nói về yếu chỉ của đạo cho Phạm ma du nghe, nghe xong, tâm của Phạm ma du được mở tỏ, chứng quả A na hàm, ít lâu sau thì mệnh chung. Kinh này là bản dịch khác của kinh Phạm ma trong Trung a hàm quyển 41, nội dung cũng tương đương với bài kinh 91 trong Trung bộ (Majjhima-nikàya) tiếngPàli Nam truyền. [X. Lịch Đại tam bảo kỉ Q.7; Xuất tam tạng kí tập Q.2, Đại đường nội điển lục Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].
phạm ma la
See Phạm Ma (1).
phạm ma nan quốc vương kinh
(梵摩難國王經) Cũng gọi Phạm ma nan vương kinh. Kinh, 1 quyển, được dịch vào đời Tây Tấn, nhưng không rõ tên dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này ghi lại chuyện vua nước Phạm ma nan không biết con của mình tên là Quân lân nho xuất gia tu đạo đã chứng được quả A la hán, chỉ thấy Quân lân nho siêng năng tu hành, ăn uống thanh đạm, nên cúng dường Quân lân nho khác với chúng tăng. Thấy thế, đức Phật mới bảo Quân lân nho nói cho quốc vương nghe về yếu chỉ Tứ đế. Sau khi nghe pháp, tâm nhà vua được mở tỏ và chứng quả Tu đà hoàn. Nhân dịp này, đức Phật cũng bảo tôn giả A nan dạy các tỉ khưu khi nhận thức ăn, áo mặc của thí chủ, muốn cho thí chủ được phúc, thì không được phân biệt thức ăn ngon hay không ngon. Đồng thời Phật cũng sai A nan nói rõ cho chúng hiểu sự quan trọng của tăng bạt khi thụ thực, nghĩa là chúng tăng thụ thực đều bình đẳng. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.3; Chúng kinh mục lục Q.3 (Pháp kinh); Khai nguyên thích giáo lục Q.2; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.4].
phạm ma ni
Brahma-mani (skt). 1) Tịnh Châu: Tên một loại ngọc báu—Pure pearl. 2) Ngọc báu như ý của Phạm Thiên: The magic pearl of Brahma.
; (梵摩尼) Phạm: Brahma-maịi. Hán dịch: Tịnh châu. Chỉ cho các loại ngọc quí. Ma ni là phiên âm của tiếng Phạmmaịi, cũng gọi Mạt ni, Phạm nghĩa là thanh tịnh. Nay thêm chữ Phạm ở trước ma ni để nêu rõ sự trong sạch, thuần khiết của nó. Ngoài ra, ngọc báu như ý của Đại phạm thiên vương cũng gọi Phạm ma ni. [X. Di lặc thướng sinh kinh sớ Q.hạ; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3]. (xt. Ma Ni).
phạm ma tam bát
Brahma-sahampati or Mahabrahma-sahampati (skt)—Phạm Thiên, là vị chủ của thế giới—Brahma, lord of the world.
phạm ma tam bát la
(梵摩三鉢羅) Một trong 28 bộ chúng. Mặt của vị này như thiên nữ, đầu đội mũ trời, tay trái úp vào cạnh rốn, tay phải cầm phất trần trắng để ở ngang ngực, đeo chuỗi anh lạc như người trời. (xt. Nhị Thập Bát Bộ Chúng).
phạm ma việt
Tsang Denma (T), Brahmavati (S), Youthful-looking One Tsang Denma (T)Mẹ của Bồ tát Di Lac trong vị lai.
phạm ma đạt
Brahmadatta (skt). 1) Tên vị vua của xứ Kanyakubja: A king of Kanyakubja. 2) Tên vua xứ Varanasi, cha của Ca Diếp: A king of Varanasi, father of Kasyapa.
phạm nan
Sự khó khăn trong việc duy trì đời sống phạm hạnh—The diffculty of maintaining celibacy, or purity.
; (梵難) Chướng nạn của người tu hạnh thanh tịnh, là 1 trong 2 thứ nạn của tỉ khưu. Khi tỉ khưu tu phạm hạnh, bị tình cảm của vợ con người thế tục quấy nhiễu, hoặc bị dâm nữ cám dỗ... đều là chướng nạn của hạnh thanh tịnh cho nên gọi là Phạm nạn. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 4].
phạm ngã nhất như
(梵我一如) Phạm: Brahma-àtma-aikyam. Phạm và Ngã là một. Đây là tư tưởng căn bản về thế giới quan của Bà la môn chính thống ở Ấn độ mà tiêu biểu là Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad). Áo nghĩa thư chủ trương nguyên lí căn bản của vũ trụ là Phạm (Phạm: Brahman) và bản thể của cá nhân là Ngã (Phạm: Àtman) là cùng 1 thể, không khác. Theo nguyên lí căn bản này thì hết thảy muôn vật phát sinh theo 1 trình tự nhất định, linh hồn của nhân loại cho đến tất cả sinh vật tùy theo nghiệp lực mà mỗi loài đều có hình thức luân hồi khác nhau. Mục đích cao nhất của nhân sinh là làm thế nào để thoát ra khỏi vòng luân hồi ấy. Muốn vậy thì điều kiện tiên quyết là phải hiểu rõ chân lí căn bản: Phạm Ngã Nhất Như, đồng thời, tiêu diệt nghiệp lực, thì lập tức chấm dứt luân hồi đau khổ của kiếp người. Trong Bách đạo phạm thư (Phạm: Zatapatha-brahmaịa) và Tiền đa quí da áo nghĩa thư (Phạm: Chàndogyaupaniwad), hai Triết gia Áo nghĩa thư là Thiểm địch nhĩ da (Phạm: Zàịđilya, sống vào khoảng thế kỉ VI, VII trước Tây lịch) và Ô đạt lạp khách (Phạm: Uddàlaka, sống vào khoảng thế kỉ VI, VII trước Tây lịch) mới nêu rõ căn cứ của 2 mệnh đề Ta là Phạm (Phạm: Ahaô brahmàsmi) và Cái ấy là ngươi (Phạm: Tat tvam asi). Tư tưởng này trở thành học thuyết trung tâm của phái Phệ đàn đa (The Vedanta School) là phái kế thừa Áo nghĩa thư. Phái Thương yết la (Phạm: Saíkara) cũng coi Phạm tối cao và Ngã đồng nhất này là chân thực, ngoài ra đều là ảo ảnh (màyà) cả. (xt. Phạm, Áo Nghĩa Thư).
phạm ngư tự
(梵魚寺) Chùa nằm ở đặc khu Đông lai, núi Phũ sơn, thuộc tỉnh Khánh thượng nam tại Hàn quốc, do ngài Nghĩa tương, Sơ tổ Hoa nghiêm giáo ở Hải đông, sáng lập vào năm Vũ liệt thứ 2 (655) đời vua Thái tông nước Tân la, là 1 trong 31 bản sơn của Phật giáo Hàn quốc, sơn hiệu là Kim tỉnh sơn. Niên hiệu Văn lộc năm đầu (1592) chùa bị thiêu hủy trong chiến tranh xâm lược của quân Nhật. Năm Quang hải quân thứ 5 (1613), chùa được xây dựng lại. Trong chùa hiện có tòa Đại hùng bảo điện rất nguy nga hoành tráng và khá nhiều lầu gác, là 1 trong những ngôi chùa nổi tiếng hiện nay của Hàn quốc. Chùa này có 33 chùa phụ thuộc. [X. Triều tiên Phật giáo thông sử; Triều tiên tự sát tam thập nhất bản sơn tả chân thiếp].
phạm ngữ
Ngôn ngữ của Phạm Thiên—The language came from Brahma. 1) Ngôn ngữ Phạn: Brahma language (Sanskrit). 2) Mẫu tự Phạn: The Sanskrit alphabet. 3) Ngôn ngữ của Ấn Độ: The language of India.
; (梵語) Sanskrit. Cũng gọi Thiên trúc ngữ. Văn tự tiêu chuẩn của Ấn độ cổ đại, thuộc ngữ hệ Ấn Âu. Các sách như: Phệ đà, Phạm thư, Sâm lâm thư, Áo nghĩa thư và kinh điển của Phật giáo Bắc truyền đều được viết bằng ngữ văn này. Sanskritbắt nguồn từ chữ Saôskfta (nghĩa là hoàn thành). Trung quốc và Nhật bản căn cứ vào truyền thuyết cho rằng ngôn ngữ này là do Phạm thiên sáng tạo ra, cho nên gọi là Phạm ngữ hoặc Thánh ngữ. Để phân biệt với tục ngữ thông dụng trong dân gian, Phạm ngữ được gọi là Nhã ngữ. Nói theo nghĩa rộng, Phạm ngữ được chia làm 2 loại là: Phệ đà Phạm ngữ (Vedic Sanskrit) và Cổ điển Phạm ngữ (Classical Sanskrit). Phệ đà Phạm ngữ là ngôn ngữ Thánh điển (Phệ đà) của Bà la môn giáo; còn Cổ điển Phạm ngữ là do nhà Văn pháp học Ba nhĩ ni (Phạm: Pàịini) qui định thêm về văn pháp mà tập đại thành. Cứ theo sự nghiên cứu của các học giả cận đại, thì vào khoảng 2.000 năm trước Tây lịch, dân tộc Aryan từ phía tây bắc xâm nhập Ấn độ, đuổi hết thổ dân địa phương mà chiếm lấy khu vực Ngũ hà (Phạm: Paĩjàb) để định cư. Ở đây, họ đã biên tập Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda) đầu tiên trong 4 Phệ đà. Sau đó không lâu, họ lại tiếp tục soạn thuật Phạm thư để giải thích những lời tế trong Phệ đà, rồi đến Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư để phát huy ý nghĩa thâm sâu của lời tế; cuối cùng là Bản kinh (Phạm:Sùtra) nói sơ lược về yếu nghĩa của Phạm thư. Ngôn ngữ được sử dụng trong các Thánh điển trên đây được gọi chung là Cổ đại Phạm ngữ (Ancient Sanskrit), Phệ đà Phạm ngữ, tức ngôn ngữ Thánh điển ở khoảng 1.500 năm đến 500 năm trước Tây lịch. Tương đối với ngôn ngữ Thánh điển này, ngôn ngữ được sử dụng trong 2 tác phẩm Sử thi lớn của Ấn độ là Mahàbhàrata và Ràmàyaịa thì thuộc loại Phạm ngữ cổ điển, nhưng vì có bao hàm rất nhiều ngôn ngữ thông tục, nên đặc biệt được gọi là Phạm ngữ Tự sự thi (Epic Sanskrit). Về các sách Văn pháp của Phạm thư thì từ xưa đã có Tự vựng (Phạm: Nighaịta), luận Ni lộc đa (Phạm: Nirukta), tức sách chú thích Tự vựng được soạn vào thế kỉ V Tây lịch. Về sau, Ba nhĩ ni căn cứ vào luận Ni lộc đa và tham khảo các sách Văn pháp khác, rồi dùng ngữ pháp của Bản kinh mà soạn thành luận Thanh minh kí, đây tức là luận Tì già la (Phạm:Vyàkaraịa), sau lại chú thích thêm Pataĩjali làm cho văn pháp của cổ Ấn độ được xác lập vững chắc. Do đó, Phạm ngữ Phệ đà đã diễn tiến theo thời đại, dần dần phát triển thành Phạm ngữ cổ điển với hình thức nhất định và cũng dần dần trút bỏ những dụng ngữ dung tục. Trong 18 loại Thánh điển Phú lan na (Phạm: Puràịa) thì Ái kinh (Phạm: Kàma-zàstra) và các Thánh điển Phật giáo như: Phật sở hành tán (Phạm: Buddhacarita), Đại sự (Phạm: Mahàvastu), Bản sinh man (Phạm: Jàtakamàlà) v.v... đều được viết bằngPhạm ngữ cổ điển. Và, để phân biệt với Phạm ngữ cổ, tiếng Phạm được sử dụng trong các kinh điển của Phật giáo đặc biệt được gọi là Phạm ngữ Phật giáo (Buddhist-Sanskrit). Lại nữa, vì Phạm ngữ được sử dụng trong kinh Phật giáo đã lẫn lộn với rất nhiều tục ngữ, không còn là Phạm ngữ thuần túy, tạo nên 1 hình thái hết sức phức tạp, cho nên cũng gọi là Phạm ngữ Phật giáo hỗn tạp (Buddhist Hybrid Sanskrit). Vào khoảng thế kỉ VIII Tây lịch, người Ấn độ tiến xưống miền Nam, mang theo Phạm ngữ với họ đến tận các nước vùng Đông Nam Á, kết quả, đối với văn học Đạt la tì đồ (Phạm:Dràviđa) ở Nam Ấn độ và văn học các nước vùng Đông Nam Á, Phạm ngữ đều đã có ảnh hưởng rất lớn. Vào khoảng thế kỉ X, do sự phát đạt của các loại ngôn ngữ địa phương tại Ấn độ cận đại, cùng với sự xâm lăng của tín đồ Hồi giáo, Phạm ngữ đã dần dần mất thế đứng và cuối cùng chỉ còn tồn tại trong địa vị của 1 ngôn ngữ cổ điển mà thôi. Tóm lại, Phạm ngữ là thứ ngôn ngữ có hệ thống Văn pháp rất phức tạp; trong giới trí thức Ấn độ hiện đại, Phạm ngữ phần nhiều vẫn còn được dùng để viết sách. Về phần chữ cái (Phạm: Akwara) của Phạm ngữ thì có 47 âm, nếu thêm vào 3 âm là: Aô,a# và kwa, thì thành 50 âm. Các danh từ, đại danh từ và hình dung từ được chia làm 3 môn là: Tính, Số và Cách. Trong đó, về Tính thì có nam tính, nữ tính và trung tính; Số thì có số đơn, số đôi và số kép; Cách thì có thể cách, nghiệp cách, cụ cách, vi cách, tòng cách, thuộc cách, y cách và hô cách. Mỗi 1 chữ Phạm tùy theo Tính, Số, Cách khác nhau mà vĩ ngữ phải được thay đổi. Động từ thì có Chủ động và Bị động; Thời thì có quá khứ, hiện tại, vị lai, cũng đều có biến đổi vĩ ngữ... Ở Trung quốc có khá nhiều sách vở để nghiên cứu Phạm ngữ như: Phiên Phạm ngữ, 10 quyển (Bảo xướng), Nhất thiết kinh âm nghĩa (Huyền ứng, Tuệ lâm, Hi lân), Hoa nghiêm kinh âm nghĩa (Tuệ uyển), Tất đàm tự kí (Trí quảng), Phạm ngữ thiên tự văn (Nghĩa tịnh), Phiên dịch danh nghĩa tập (Pháp vân)... [X. phẩm Chấp mị giả nghi tắc trong kinh Đại phương quảng bồ tát Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ Q.18; luận Đại tì bà sa Q.79, 172; A History of Ancient Sanskrit Literature by Max Müller; Buddhist India by Rhys Davids]. (xt. Phật Giáo Phạm Ngữ).
phạm ngữ thiên tự văn
(梵語千字文) Cũng gọi Đường tự thiên man thánh ngữ, Phạm Đường thiên tự văn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh soạn vào đời Đường, được đưa vào Đại chính tạng tập 54. Sách dạy tiếng Phạm, gồm 1.000 chữ Phạm được dịch ra chữ Hán đối chiếu, bắt đầu từ các chữ: Thiên, địa, nhật, nguyệt... Ý nghĩa của 1.000 chữ liên tục với nhau và nối vần nhau, cứ 4 chữ thành 1 câu, giống như loại sách học chữ Hán Tam Thiên Tự: Thiên trời, địa đất, Tử mất tồn còn, Tử con tôn cháu, Lục sáu tam ba, Gia nhà quốc nước, Tiền trước hậu sau v.v.... Cuối sách có chép riêng phần Phạm Đường Tiêu Tức gồm 300 chữ dịch đối chiếu.
phạm ngữ tạp danh
(梵語雜名) Cũng gọi Tất đàm tự dẫn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Lễ ngôn soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 54. Nội dung sách này ghi chép những chữ Phạm dịch ra chữ Hán đối chiếu được sử dụng hằng ngày. Phần ngữ vựng bắt đầu từ các bộ phận của thân thể, rồi đến sắc hương vị xúc, động tĩnh hành chỉ, số mục, các mùa trong năm, chim thú, dược thảo, y phục, thân tộc... gồm 1.250 chữ Hán – Phạm đối chiếu, đều có âm tiếng Phạm và hình chữ Tất đàm.
Phạm Nhật
梵日; C: fànrì; J: bonnichi; K: pŏmil, 810-889. |Một nhà lĩnh đạo phong trào Thiền tông Hàn Quốc. Sư sang Trung Hoa tham học với Diêm Quan Tề An (鹽官齊安) và Dược Sơn Duy Nghiễm (樂山惟嚴). Sư được xem là người khai sáng phái Xà-quật sơn (闍崛山, k: sagul san).
Phạm Nhật 梵日
[ja] ボンニチ Bonnichi ||| Pŏmil (810-889), an early leader of the Korean (Silla) Sŏn movement, who studied in China with Yanguan Qian 鹽官齊安 and Yueshan Weiyan 樂山惟嚴. He is considered to be the founder of the Sagul san 闍崛山 school. => k: Pŏmil (810-889), Một nhà lãnh đạo phong trào Thiền tông Cao Ly (Tân La- Silla), sư sang Trung Hoa tham học với Diêm Quan Tế An (Yanguan Qian 鹽官齊安 ) và Dược Sơn Duy Nghiễm (Yueshan Weiyan 樂山惟嚴). Sư được xem là người khai sáng tông phái Xà Quật (k: Sagul san 闍崛山).
phạm nữ
A noble woman, a woman of high character.
; 1) Con gái của Phạm Chí: A noble woman. 2) Người con gái phạm hạnh: A woman of high character.
phạm pháp
To break the law.
phạm phú lâu
Brahmapurohita (skt). 1) Những vị cận thần hay phụ tá của Phạm Thiên: The ministers, or assistants of Brahma. 2) Tên cõi trời sơ thiền thứ hai thuộc sắc giới: The second Brahmaloka; the second region of the first dhyana heaven of form.
phạm phước
Brahma-puṇyatva (S).
phạm phạt
(梵罰) I. Phạm Phạt. Chỉ cho pháp trị phạt Phạm đàn trong Thiền lâm. Theo Thích thị yếu lãm quyển hạ, Phạm phạt có 2 pháp: 1. Mặc sấn: Tất cả mọi người không được tiếp xúc, chuyện trò với kẻ phạm tội. 2. Diệt sấn: Người phạm trọng tội mà tâm không hổ thẹn thì đại chúng không thể dung thứ, không thể ở chung với người ấy, đại chúng cử tội rồi đuổi ra khỏi chùa. [X. luật Tứ phần Q.57]. II. Phạm Phạt. Pháp trị tội của Phạm thiên. Trước cung điện của Phạm vương, thiết lập cái đàn(cái nền cao), trong Thiên chúng nếu có ai phạm pháp thì bắt đứng trên cái đàn ấy, các Thiên chúng khác không được qua lại và chuyện trò với người ấy. (xt. Phạm Đàn).
Phạm phụ thiên
梵輔天; C: fànfŭ tiān; J:; S: brahma-purohita.|Cư dân là quyến thuộc của Đại phạm thiên (s: mahābrahman), là tầng trời thứ hai trong 3 tầng trời thuộc Sơ thiền, được xếp vào 1 trong 17 cõi trời thiền thuộc Sắc giới (Sắc giới thập thất thiên 色界十七天).
phạm phụ thiên
Brahmaparohita (S)Một cảnh Phạm thiên trong 4 cảnh của cõi sắc giới, miền sơ thiền thiên. Sơ thiền thiên có 4 cảnh: Phạm thân thiên, Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên và Đại Phạm thiên.
; The Brahmapurohitas, or the etinue of Brahma—See Phạm Phú Lâu (2).
; (梵輔天) Phạm: Brahma-purohita. Cũng gọi Phạm phú lâu thiên. Tầng trời thứ 2 trong các tầng trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc, là tướng phụ tá của Đại phạm thiên. Tên cũ là Phạm tiên hành thiên, Phạm tiền ích thiên. Vì khi Phạm vương đi đâu, thiên chúng cõi này đều phải xếp hàng trước sau đi thị vệ, cho nên gọi là Phạm tiên hành thiên. Lại vì khi ở trước Phạm vương thì thiên chúng này thường nghĩ đến lợi ích của Phạm vương, cho nên gọi là Phạm tiên ích thiên. Tất cả thiên chúng ở tầng trời này đều là bày tôi phụ giúp Đại Phạm thiên vương, vì thế nên gọi là Phạm phụ thiên. Đại Phạm vương làm chủ cõi trời Sơ thiền, thần dân của Đại Phạm là Phạm chúng thiên và Phạm phụ thiên. [X. luận Đại tì bà sa Q.98; Huyền ứng âm nghĩa Q.18; Câu xá tụng sớ thế phẩm Q.1].
Phạm phụ thiên 梵輔天
[ja]ボンホテン bonho ten ||| The Brahma-purohita heaven, whose inhabitants follow Mahābrahman. This is the second of the three heavens in the category of the first absorption, listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. => (s: Brahma-purohita). Cư dân là quyến thuộc của Đại phạm thiên (s: Mahābrahman), là tầng trời thứ hai trong 3 tầng trời thuộc Sơ thiền, được xếp vào một trong 17 cõi trời thiền thuộc Sắc giới (Sắc giới thập thất thiên 色界十七天).
phạm phục
The ksàya or monk's robe; the garment of celibacy.
; Kasaya (skt). 1) Y phục của Phạm Thiên: Brahma's robe. 2) Áo cà sa: Monk's robe. 3) Y phục của người tu phạm hạnh: The garment of celibacy.
; (梵服) Áo mặc của Phạm thiên, hoặc áo mặc của người phạm hạnh(tức ca sa). Các vị trời cõi Sắc đều mặc áo này. [X. Pháp uyển châu lâm Q.35]. (xt. Ca Sa).
phạm quốc
Brahmakṣetra (S).
phạm sát
Brahma-ksha (S).
; Brahmaksetra (S). A name for Buddhist monastery, i.e. a place of purity.
; Brahmaksetra (skt). 1) Cõi Phật: Buddha-land. 2) Tên gọi tự viện như là nơi thanh tịnh: A name for a Buddhist monastery, i.e. a place of purity.
; (梵刹) Phạm: Brahmakwetra. Đồng nghĩa: Phạm uyển. Phạm nghĩa là thanh tịnh; Sát, nói đủ là Sát ma, Chế đa la, nghĩa là cõi, chốn. Phạm sát vốn chỉ cho cõi Phật. Về sau, Phạm sát được dùng để chỉ cho già lam, chùa viện của Phật giáo. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Tự Viện, Già Lam).
phạm sư bồ tát
Xem Tối Thánh Bồ tát.
phạm thanh
The voice of Buddha.
; Tiếng của Đức Phật—The voice of Buddha
Phạm thiên
梵天; C: fàntiān; J: bonten; S: brahma-loka. |1. Cõi trời Phạm thiên ở Sắc giới; 2. Brahman, theo tư tưởng Ấn Độ thì đó là nền tảng cơ bản nhất của hiện hữu, được xem là một vị thần hộ pháp trong Phật giáo, thường dùng để gọi Sơ thiền thiên (初禪天). Đây là một thuật ngữ để gọi 3 cõi trời gồm chung trong đó: Đại chúng thiên (大衆天, brahmā-kāyika), Phạm phụ thiên (梵輔天, brahma-purohita), Đại phạm thiên (大梵天, mahā-brahmā). Thuật ngữ nầy cũng thường dùng để chỉ cho chính Đại phạm thiên (大梵天, s: mahā-brahmā)
phạm thiên
Brahmadeva (S), Brahmā (S), Creator of the world Phạm thiên vương, Ngọc Hoàng thượng đế1- Cõi của những người đã hoàn toàn ly dục. 2- Chính vị Phạm vương này khi Phật chưa xuất gia thì Ngài khuyên xuất gia, khi đắc đạo thì Ngài khuyên Phật nên chuyển pháp luân, khi Phật nhập diệt thì Ngài cũng hiện ra tỏ lời thương tiếc1- Phạm thiên: Cha tất cả chúng sanh, Hộ pháp của Phật Pháp. 2- Phạm ma: Thiên thần thanh tịnh ở cõi trời sắc giới, miền sơ thiền. 3- Nghĩa là thanh tịnh, tịnh hạnh, như trong: phạm hạnh, phạm uyển. 5- Dùng trong Phạm tự, Phạm văn, chỉ chữ viết bằng tiếng Phạn (Sanskrit).
; Brahmas (skt). (A) Nghĩa của Phạm Thiên—The meanings of Brahma: 1) Vị thần chính của Ấn giáo, thường được diễn tả như ngưới sáng tạo hệ thống thế giới—A chief of Hindu gods often described as the creator of world system. 2) Chủ của cung trời sắc giới. Ngài làm chúa tể của chúng sanh, được Phật giáo thừa nhận là chư Thiên, nhưng thấp hơn Phật hay người đã giác ngộ—Lord of the heavens of form. The father of all living beings; the first person of the Brahmanical Trimurti, Brahma, Visnu, and Siva, recognized by Buddhism as devas but as inferior to a Buddha, or enlightened man. 3) Các chư Thiên trong cõi trời sắc giới: Devas in the realm of form. (B) Ba loại Phạm Thiên—Three kinds of Brahmas: 1) Phạm Chúng Thiên: The assembly of brahmadevas, i.e. Brahmakayika. 2) Phạm Phụ Thiên: Brahmapurohitas, or retinue of Brahma. 3) Đại Phạm Thiên: Phạm Thiên Vương—Mahabrahman, or Brahman himself. ** For more information, please see Thế Chủ.
; (梵天) Phạm: Brahmà. Hán âm: Bà la hạ ma, Một la hàm ma, Phạm ma. Hán dịch: Thanh tịnh, Li dục. Trong tư tưởng Ấn độ, Phạm được xem là nguồn gốc của muôn vật, là thần sáng tạo ra vũ trụ vạn hữu, cùng với Thấp bà (Phạm: Ziva) và Tì thấp nô (Phạm: Viwịu), gọi chung là Tam đại thần của Bà la môn giáo và Ấn độ giáo. Cứ theo pháp điển Ma nô (Phạm: Manusmfti) thì Phạm thiên sinh ra từ thai vàng (Phạm noãn), vốn có 5 đầu, tương truyền 1 đầu bị thần Thấp bà hủy hoại, còn lại 4 đầu, có 4 tay, lần lượt cầm kinh điển Phệ đà, hoa sen, cái thìa(muỗng)và tràng hạt hoặc chiếc bát. Phật giáo xếp Phạm thiên vào Sơ thiền thiên thuộc cõi Sắc. Thông thường, Phạm thiên được chia làm 3 loại là: Phạm chúng thiên (Phạm: Brahmapàriwadya), Phạm phụ thiên (Phạm: Brahma-purohita) và Đại Phạm thiên (Phạm: Mahà-brahmam), được gọi chung là Phạm thiên. Trong đó, Đại Phạm thiên vương thống lãnh các thần dân của Phạm chúng thiên và Phạm phụ thiên. Lại Phạm thiên mà người ta thường gọi phần lớn là chỉ cho Đại Phạm thiên vương, cũng gọi Phạm vương, tên là Thi khí (Phạm: Zikhin), hoặc Thế chủ (Phạm: Prajàpati). Theo truyền thuyết xưa của Ấn độ thì vào lúc kiếp sơ, Phạm thiên từ cõi trời Quang âm sinh xuống, tạo tác ra muôn vật. Trong Phật giáo thì Phạm thiên và Đế thích thiên đều là các vị thần hộ pháp của Phật giáo. Đức Thế tôn từng lên cung trời Đao lợi nói pháp độ cho thân mẫu, khi Ngài trở xuống thế giới Sa bà này thì Phạm vương tay cầm phất trần trắng đứng hầu bên phải đức Phật. Đại Phạm thiên vương thân cao 1,5 do diên, tuổi thọ 1,5 kiếp, cung điện Đại Phạm thiên vương ở, gọi là Phạm vương cung. Mật giáo xếp Phạm thiên làm 1 trong 12 vị trời giữ gìn phương trên. Tượng Phạm thiên trong Mật giáo có 4 mặt 4 tay; 2 tay bên phải cầm hoa sen và tràng hạt, 2 tay bên trái cầm quân trì(cái bình báu) và bắt ấn chữ Án, đầu độimũ búi tóc và ngồi trên cỗ xe do 7 con ngỗng kéo. Ngoài ra, pháp tu cúng dường Đại Phạm thiên, gọi là Phạm thiên cúng. [X. luận Đại trí độ Q.10; luận Đại tì bà sa Q.98; Đại nhật kinh sớ Q.5; Trung luận sớ Q.1, phần cuối; Đại đường tây vực kí Q.4]. (xt. Đại Phạm Thiên).
phạm thiên cõi
World of Brahma.
phạm thiên giới
Brahmaloka (S)Phạm thế, Phạm giới.
; The realm of Brahma.
; (梵天界) Gọi tắt: Phạm giới. Chỉ cho trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc. Trong Phạm thiên giới gồm có: Phạm thiên (Phạm: Brahmà), Phạm chúng thiên (Phạm: Brahma-pàriwadya) và Phạm phụ thiên (Phạm: Brahma-purohita), cũng gọi chung là Phạm thân thiên (Phạm: Brahma-kàyika) hoặc Phạm thế thiên. Ở cõi trời này tất cả các phiền não căn bản đều đã lắng sạch, chỉ còn là trạng thái hoàn toàn thanh tịnh, vắng lặng. [X. kinh Hoa nghiêm Q.12 (bản dịch cũ); kinh Đại kiên cố bà la môn duyên khởi Q.hạ; kinh Đại cát nghĩa thần chú Q.3; Diệu cát tường căn bản trí Q.hạ]. (xt. Phạm Thiên).
phạm thiên hoả la cửu diệu
(梵天火羅九曜) Phạm: Brahma-horanavagraha. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Nhất hạnh (683-727) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21, riêng phần Đồ tượng được đưa vào tập 92. Sách này nói về nghi quĩ các tinh tú trong Mật giáo, nội dung giải thích tác pháp tế bái 9 vì sao (Cửu diệu) như phương vị cúng tế, vật cúng, chân ngôn tụng trì v.v... đồng thời nói rõ mối quan hệ lành dữ giữa các ngôi sao tương ứng với năm, tháng... có phụ thêm hình vẽ 9 ngôi sao.
phạm thiên hậu
Brahmi (S).
; Hậu phi của Phạm Thiên (Phạm Thiên trong Phật giáo không có hậu phi, tuy nhiên, dân gian Ấn Độ tôn sùng và cho rằng ngài có ba bà hậu phi)—The queen or wife of Braham.
Phạm thiên khuyến thỉnh
梵天勸請; C: fàntiān quànqǐng; J: bonten kanshō; |Sự cầu thỉnh từ Phạm thiên. Huyền thoại liên quan đến chuyện sau khi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni thành đạo, ngài nói rằng ban đầu không muốn giáo hoá chúng sinh, ngài cho rằng giáo lí ngài chứng ngộ được quá thâm sâu khó hiểu. Lúc ấy, đấng Phạm thiên (s: brahmā) trong Ấn Độ giáo xuất hiện và cầu thỉnh Đức Phật hãy vì chúng sinh mà truyền đạt những kinh nghiệm chứng ngộ của ngài.
Phạm thiên khuyến thỉnh 梵天勸請
[ja] ボンテンカンショウ bonten kanshō ||| The encouragement from Brahmā. The myth attached to the story of Śākyamuni's awakening says that he was originally reluctant to make the effort to teach, thinking the content of his awakening to be too difficult to be understood. At this point the Hindu god Brahmā appears and encourages Śākyamuni to go out and attempt to convey his new experience to others. => Sự cầu thỉnh từ Phạm thiên. Huyền thoại liên quan đến chuyện sau khi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni thành đạo, ngài nói rằng ban đầu không muốn giáo hoá chúng sinh, ngài cho rằng giáo lý ngài chứng ngộ được quá thâm sâu khó hiểu. Lúc ấy, đấng Phạm thiên trong Ấn Độ giáo xuất hiện và cầu thỉnh Đức Phật hãy vì chúng sinh mà truyền đạt những kinh nghiệm chứng ngộ của ngài.
phạm thiên ngoại đạo
Brahmadeva-heretics—Bà La Môn cho rằng Phạm Thiên là Đấng Tạo Hóa, nhưng với Phật giáo điều nầy trái với chân lý—The Brahmans consider Brahma to be the Creator of al things and the Supreme Being, which is heresy with Budhism.
phạm thiên nữ
(梵天女) Phạm: Brahmì. Hán âm: Một la ca nhị, Mạt la hi nhị, Mạt la nhị. Cũng gọi Phạm thiên phi, Phạm thiên hậu.Vợ của Phạm thiên. Cũng có thuyết xếp vị Thiên nữ này vào 1 trong 7 vị Mẫu thiên. Kinh Đại nhật, Đại nhật kinh sớ phần nhiều gọi vị tôn này là Đại Phạm minh phi. Trong Mật giáo, Phạm thiên nữ được liệt vào hàng bộ chúng của viện Ngoại kim cương thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới. Về hình tượng, vị Thiên nữ này thân màu người, cánh tay phải co, bàn tay nắm lại; tay trái co lại, cầm hoa sen để da ở ngang ngực. Phạm thiên vốn lìa dục trong sạch, nên không có vợ, nhưng trong Mật giáo gọi vợ là biểu thị cái đức chủ về Phạm thiên nữ tính. Trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, Phạm thiên nữ và Đại Phạm thiên cùng ngồi ở lớp thứ 3 về phía đông của Mạn đồ la. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7, 10; Thai mạn đại sao Q.7; Bí tạng kí]. (xt. Đại Phạm Thiên).
phạm thiên pháp
(梵天法) Phương pháp trị phạt được thi hành bởi Phạm thiên. Tức lập 1 cái đàn riêng để giữ kẻ phạm pháp, các Phạm chúng khác không được tiếp xúc, giao du với phạm nhân. [X. Duy ma kinh lược sớ Q.1]. (xt. Phạm Đàn).
phạm thiên trạch địa pháp
(梵天擇地法) Cũng gọi Phạm thiên trạch địa kinh. Tác phẩm, 1 quyển, không rõ tác giả, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Sách này y cứ vào nội dung của kinh Đại Phạm thiên vương nội bí mật mà trình bày sơ lược về việc đức Như lai từng là 1 vị tiên nhân trì chú trong năm trăm vạn năm ở đời quá khứ, Ngài thường đi đến các ngọn núi, ở ẩn trong tịnh thất. Khi du hành, Ngài thấy 42 địa tướng có lợi cho việc thành tựu các pháp và cách chọn đất theo 42 địa tướng ấy. Kinh Đại Phạm thiên vương nội bí mật mà sách này y cứ, cho đến nay, không thấy có bản Hán dịch nào.
phạm thiên vương
Brahma-king Xem Phạm thiên.
; Brahmà (S). Xem Phạm thiên.
; See Phạm Thiên (B) (3).
; (梵天王) Cũng gọi Sa bà thế giới chủ, Thế chủ thiên. Chỉ cho Đại Phạm thiên của trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc. Phạm thiên vương tên là Thi khí, thâm tín Chính pháp, mỗi khi có Phật ra đời thì Phạm thiên vương là người đầu tiên đến thỉnh Phật quay bánh xe pháp. Phạm thiên vương thường đứng hầu bên phải đức Phật,tay cầm phất trần trắng. [X. kinh Tạp a hàm Q.44; phẩm Tựa kinh Pháp hoa]. (xt. Đại Phạm Thiên).
Phạm thiên 梵天
[ja] ボンテン bonten ||| (Brahma-loka). (1) The 'Brahma-Heaven' in the realm of form. (2) Brahman, which in Indian thought is the substrate of all existence, is converted into a god in Buddhism, and is used to name the First Concentration Heaven 初禪天. This is a general term for the three heavens included in it, which are Brahmā-kāyika 大衆天, Brahma-purohita 梵輔天, and Mahābrahmā 大梵天. The term is also often used to denote the Mahā-brahmā heaven itself. => (s: Brahma-loka). 1. Cõi trời Phạm thiên ở Sắc giới. 2. Brahman, theo tư tưởng Ấn Độ thì đó là nền tảng cơ bản nhất của hiện hữu, được xem là một vị thần hộ pháp trong Phật giáo, thường để gọi cõi trời (Sơ thiền thiên 初禪天). Đây là một thuật ngữ để gọi 3 cõi trời gồm chung trong đó; Đại chúng thiên (Brahmā-kāyika 大衆天), Phạm phụ thiên (Brahma-purohita 梵輔天), Đại phạm thiên (Mahābrahmā 大梵天). Thuật ngữ nầy cũng thường dùng để chỉ cho chính Đại phạm thiên (s: Mahā-brahmā heaven)
phạm thân
Brahmakāya (S)1- = Phạm thân thiên: Một cảnh Phạm thiên trong 4 cảnh của cõi sắc giới, miền sơ thiền thiên. Sơ thiền thiên có 4 cảnh: Phạm thân thiên, Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên và Đại Phạm thiên. 2- Phạm thân: Thân thể thanh tịnh của đức Phạm thiên, tức là pháp thân Phật. 3- Tên chung của tất cả thiên thần ở cảnh thứ nhất trong bốn cảnh cõi sơ thiền.
; The pure spiritual body, or dharmakàya of the Buddha; also pháp thân.
; 1) Thân tâm thanh tịnh: The pure spiritual body. 2) Pháp thân của Phật: Dharmakaya of the Buddha.
phạm thân thiên
Xem Phạm thân.
; Quyến thuộc của Phạm Thiên (Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, và Đại Phạm Thiên)—The Brahmakayika, or retinue of Brahma. ** For more information, please see Phạm Thiên (B).
phạm thích
Trời Phạm Thiên và trời Đế Thích—Brahma and Sakra: 1) Trời Phạm Thiên, chủ cung trời sắc giới: Brahma, the lord of the form-realm. 2) Trời Đế Thích, chủ của trời dục giới: Sakra, the lord of the desire-realm.
phạm thích tứ thiên
Trời Phạm Thiên, Đế Thích, và Tứ Thiên Vương—Brahma, sakra, and the four Maharajas.
phạm thích tứ vương
(梵釋四王) Cũng gọi Phạm thích tứ thiên. Từ ngữ gọi chung Phạm thiên, Đế thích thiên và Tứ thiên vương. Phạm thiên đứng đầu các tầng trời Sơ thiền của cõi Sắc; Đế thích thiên làm chủ cung trời Đao lợi của cõi Dục. Phạm thiên và Đế thích gọi chung là Phạm thích. Còn Tứ thiên vương là: Trì quốc thiên ở phương đông, Quảng mục thiên ở phương tây, Tăng trởng thiên ở phương nam và Đa văn thiên ở phương bắc. Phạm, Thích, Tứ vương đều là các vị thiện thần giữ gìn Phật pháp. [X. phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển)].
phạm thư
Brāhmaṇa veda (S)Kinh điển Vệ đà.
; (梵書) I. Phạm Thư. Phạm: Brahmaịa. Hán âm: Bà la môn na. Sách giải thích thánh điển Phệ đà (Phạm: Fg-veda) của Bà la môn giáo. Phệ đà, nói theo nghĩa hẹp là chỉ cho Bản tập (Phạm: Saôhità) của Phệ đà; còn nói theo nghĩa rộng thì bao gồm cả Bản tập và Phạm thư(nghĩa rộng), gọi chung là Phệ đà. Phạm thư là bộ sách đặt nền tảng vững chắc cho 3 giềng mối cốt yếu của Bà la môn giáo là: Phệ đà thiên khải, Tế tự vạn năng và Bà la môn chí thượng. Phệ đà bản tập ghi chép các bài ca tán, lời tế và lời chú được xướng tụng khi cúng tế. Phạm thư cũng được chia ra 2 phần là phần nghĩa rộng và phần nghĩa hẹp. Phần nghĩa rộng bao gồm các qui định về cách thực hành nghi thức cúng tế, hoặc giải thích ý nghĩa của các bài ca tán, các lời tế, thuyết minh nguồn gốc và nghĩa sâu xa của sự cúng tế. Nội dung của Phạm thư nghĩa rộng lại được chia làm 3 phần: Phạm thư (nghĩa hẹp), Sâm lâm thư (Phạm: Àraịyaka) và Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad). Trong đó, Phạm thư(nghĩa hẹp) cũng lại chia làm 2 phần là: Nghi quĩ (Phạm: Vidhi) và Thích nghĩa (Phạm: Artha-vàda). Nghi quĩ qui định thứ tự của sự cúng tế và cách sử dụng các bài ca tán; còn Thích nghĩa thì giải thích ý nghĩa các bài ca tán, nguồn gốc và ý nghĩa của sự cúng tế cũng như nguồn gốc của các lời tế... Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư thì cùng khảo xét về ý nghĩa của việc cúng tế và đời sống con người, cho nên rất trọng phương diện lí luận. Trong đó, Áo nghĩa thư đặc biệt đi sâu vào lĩnh vực tìm hiểu triết lí, nên còn có cái tên riêng là Phệ đàn đa (Phạm: Vedànta). Phạm thư được viết theo hình thức văn xuôi, trong sách sử dụng rất nhiều thần thoại và truyền thuyết. Về niên đại thành lập Phạm thư thì ước chừng vào khoảng 1.000 đến 600 năm trước Tây lịch, tức là khoảng thời gian mà trung tâm văn hóa của người Aryans từ lưu vực sông Ấn độ dời về phía đông đến đồng bằng sông Hằng. Đây là sản phẩm của thời kì mà hệ thống nghi thức cúng tế phức tạp của Phệ đà được chỉnh lí hoàn bị. Phạm thư có thể là sách về thần học, nhưng đồng thời cũng là tư liệu quí giá để tìm hiểu các vấn đề của xã hội Ấn độ đương thời như: Chế độ chủng tính, chủ nghĩa Bà la môn chí thượng, sự biến đổi thần thoại, tập đại thành tư tưởng Triết học, Nhất nguyên manh nha trong Áo nghĩa thư... Nhưng rất tiếc là những vấn đề ấy chỉ được ghi chép 1 cách vụn vặt có giới hạn mà thôi. Hiện nay còn 50 bộ, trong đó, chủ yếu là Ái đạt la thị Phạm thư (41 chương) phụ thuộc Lê câu Phệ đà và Bách đạo Phạm thư (100 chương) phụ thuộc Dạ nhu phệ đà. (xt. Phệ Đà). II. Phạm Thư. Phạm: Bràhmì, Bràhmì-lipi. Cũng gọi Phạm mị thư. Một trong những thể chữ xưa nhất được dân tộc Aryan sử dụng tại Ấn độ cổ đại từ sau thế kỉVI trước Tây lịch. Những Pháp sắc của vua A dục được khắc trên các cột đá và vách núi, những đồng tiền cổ (khoảng 300 năm trước Tây lịch) được đào thấy ở vùng Sagar của Ấn độ, đều được viết bằng thể chữ này. Trong những di vật của thế kỉ IV Tây lịch, người ta cũng phát hiện không ít thể chữ này. Loại văn tự này tuy Ấn độ đã vốn có từ xưa, nhưng theo sự nghiên cứu của các nhà khảo cổ cận đại thì loại chữ này cùng 1 ngữ hệ với văn tự của dân tộc Semitic, do những thương gia Ấn độ đem về truyền bá, đến khoảng năm 500 trước Tây lịch thì hoàn thành được 47 chữ cái. Lúc đầu, văn tự này vẫn theo tập quán của dân tộc Semitic viết ngay từ phải sang trái, lối viết này được thấy trên các đồng tiền cổ đào được ở Sagar, nhưng trong các Pháp sắc của vua A dục thì lại được viết từ trái sang phải và đặc biệt được gọi là Cổ đại khổng tước vương triều văn tự(văn tự của triều đại Khổng tước đời xưa). Loại văn này được lưu hành trên toàn cõi Ấn độ và truyền đến cả Tích lan. (xt. Phạm Tự).
phạm thượng
To offend against one's superior; to wound a superior's feelings
; To be impertinent to superiors.
phạm thất
A dwelling where celibate discipline is pracised, a monastery, temple.
; Nơi Tăng đoàn trú ngụ và tu tập, chùa hay tự viện—A dwelling where the sangha is practicing Buddhist laws—A dwelling where celibate discipline is practised, a monastery, temple.
; (梵室) Phòng ốc trong chùa viện, là nhà ở của những người tu Phạm hạnh.
phạm thế
Xem Phạm thiên giới.
; (梵世) Phạm, Pàli:Brahmaloka. Cũng gọi Phạm sắc giới, Phạm thế thiên, Phạm thế giới, Phạm giới. Chỉ cho thế giới do Phạm thiên vương thống lãnh, chi phối. Từ ngữ này cũng có thể được dùng để gọi chung các vị trời ở cõi Sắc, vì những người sống ở thế giới này đã dứt bỏ dâm dục, nên xưa nay ở Ấn độ hạnh li dục, thanh tịnh được gọi là Phạm hạnh. [X. kinh Phật tạng Q.hạ].
phạm thế giới
Brahma-loka (S)Xem Brahmaloka.
; The Brahmaloka or the realm of form.
; Brahmaloka (skt)—Phạm Thế Thiên—Các cõi trời thuộc sắc giới—The Brahmaloka of the realm of form.
phạm thế thiên
Brahmaloka (skt)—See Phạm Thế Giới.
phạm thụ thiên
Brahmapurohitadeva (S)Một cảnh Phạm thiên trong 3 cảnh của cõi sắc giới, miền sơ thiền thiên. Cõi này gồm các quan phụ tá Thiên chủ cõi Sơ thiền.
phạm thụ vương
Brahma-datta (S).
phạm thừa
The Brahmayàna, i.e. the noblest of the vehicles, that of the Bodhisattva.
; Brahmayana (skt)—Phạm Thiên Thừa hay Bồ Tát Thừa—The noblest of the vehicles, that of the bodhisattva.
; (梵乘) Thừa thanh tịnh. Chỉ cho Bồ tát thừa, vì Bồ tát lấy sự thanh tịnh làm căn bản và tu hạnh từ, bi, hỉ, xả nên gọi là Phạm thừa, là 1 trong 5 thừa (Thiên thừa, Phạm thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Chư Phật Như lai thừa) theo kinh Lăng già a bạt đa la bảo quyển 2; là 1 trong 3 thừa (Thiên thừa, Phạm thừa, Thánh thừa) theo kinh Đại bảo tích quyển 94. (xt. Thừa).
phạm tiên
(梵仙) (1292-1348) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Nguyên, người Tượng sơn, Minh châu (Chiết giang), họ Từ, tự Trúc tiên, hiệu là Lai lai thiền tử, Tịch thắng chàng, Tư qui tẩu. Sư xuất gia năm 8 tuổi ở viện Tư phúc tại Ngô hưng (tỉnh Chiết giang). Năm 18 tuổi, sư y chỉ vào ngài Thụy vân ẩn ở Linh sơn thụ giới Cụ túc. Sau ít lâu, sư đi thăm viếng những ngôi chùa nổi tiếng và tham học các ngài Hối cơ Nguyên hi, Vân ngoại Vân tụ, Nguyên tẩu Hành đoan, Trung phong Minh bản... sau, sư nối pháp ngài Cổ lâm Thanh mậu. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329), sư theo ngài Minh cực Sở tuấn vượt biển Đông sang Nhật bản, được Bắc điều Cao thời và Túc lợi Tôn thị kính tin. Năm sau, sư đến Liêm thương, nhận chức Đệ nhất tọa ở chùa Kiến trường; về sau, sư trụ trì các chùa Tịnh diệu và chùa Tịnh trí. Năm Kiến vũ thứ 2 (1335), sư trở thành Tổ khai sơn của chùa Vô lượng. Năm Lịch ứng thứ 4 (1341), sư trụ ở chùa Nam thiền tại Kinh đô (Kyoto), chùa này liền được triều đình phong là Đệ nhất thiên hạ. Về sau, sư lại lần lượt trụ ở viện Lăng già, chùa Chân như, chùa Kiến trường v.v... Năm Chính bình thứ 3 (1348), sư thị tịch, thọ 57 tuổi, 39 tuổi đạo. Đệ tử nối pháp có các vị Đại niên Pháp diên, Xuân đình Mai thọ. Pháp hệ của sư gọi là Trúc tiên phái (cũng gọi Cỗ lâm phái, Mai lâm môn đồ), là 1 trong 24 dòng của Thiền tông Nhật bản.Sư có các tác phẩm: Trúc tiên hòa thượng ngữ lục, Thiên trụ tập, Lai lai thiền tử ca, Lai lai thiền tử đông độ tập, Cổ lâm hòa thượng hành thực (mỗi thứ có 1 quyển). [X. Bản triều cao tăng truyện Q.27; Diên bảo truyền đăng lục Q.5; Phù tang ngũ sơn kí Q.2, 3, 5].
phạm trù
Hara (S).
Phạm trú
梵住; S, P: brahma-vihāra;|Bốn phạm trú.
phạm trú
Brahmavihāra (S).
phạm trăn
(梵臻) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tống, người Tiền đường, vốn tên là Hữu trăn, hiệu Nam bình. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư theo học ngài Tứ minh Tri lễ, ngài Tri lễ truyền hết các học thuyết của tông Thiên thai cho sư, ngoại trừ Ma ha chỉ quán ngài không truyền mà bảo sư phải tự đọc lấy. Sư đọc hơn 20 lần, sau đó, ngài Tri lễ mới ấn khả. Năm Hoàng hựu thứ 3 (1051), sư đến chùa Thượng thiên trúc, năm sau về Kim sơn. Năm Hi minh thứ 5 (1072), nhận lời thỉnh của quan Thái thú Hàng châu, sư đến giảng ở chùa Hưng giáo tại Nam bình. Sư có tài hùng biện, thường dựa vào các vấn đề quán tâm, quán Phật... để mở rộng các cuộc bàn luận, đối đáp với các vị thuộc phái Hậu sơn ngoại như Tịnh giác Nhân nhạc... nổi tiếng 1 thời. Tác phẩm Thích thập loại của sư mở ra 1 trường phái trứ tác rất đặc biệt, các tác phẩm khác của sư đều theo hình thức sáng tác này. Sau khi sư tịch, vào khoảng năm Sùng trinh, được đặt thụy hiệu là Thực Tướng Pháp Sư. Sư để lại các tác phẩm: Thích thập loại, Chư văn loại tập, Độc giáo kí, Tự dư tập, Lạc bang văn loại, Thập bất nhị môn tổng biệt chỉ qui (sách này đã thất lạc).
phạm trọng
To break the weightier laws.
; Vi phạm giới trọng hay những giới chính—To break the weightier laws.
; (犯重) Phạm trọng tội. Tức là vi phạm 4 tội nặng của giới Tiểu thừa, hoặc 10 tội nặng của giới Đại thừa. Bốn tội nặng là: Dâm dục, trộm cướp, giết hại và nói dối. Mười tội nặng là: Giết hại, trộm cướp, dâm dục, nói dối, bán rượu, nói lỗi của 4chúng, khen mình chê người, bỏn sẻn hủy nhục, lòng tức giận không chịu ăn năn, hủy báng Tam bảo. (xt. Thập Trọng Cấm Giới, Tứ Ba La Di).
phạm trọng yêm
(范仲淹) (989-1052) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc sống vào đời Tống, người đất Ngô, tự là Hi văn. Năm lên 2 tuổi, ông mồ côi cha, nhà nghèo, mẹ tái giá. Khi vừa lớn khôn, ông cảm thấy khổ tâm, khóc lóc từ giã mẹ, đến ở nhờ nhà tăng trong làng, gắng sức học hành. Về sau, ông thi đỗ Tiến sĩ, ra làm quan giữ chức Bí các hiệu lí. Ông thường mạnh dạn bàn bạc việc nước, hàng sĩ phu đương thời đều bắt chước và chuộng khí tiết của ông. Thời vua Nhân tông, ông được phong làm tướng, trấn giữ Thiểm tây, phòng ngự Tây hạ, quân địch không dám xâm phạm. Sau bị bọn nịnh thần dèm pha, ông bị đày đi Thanh châu và giáng chức làm Hộ bộ thị lang. Năm Hoàng hựu thứ 4 (1052) ông qua đời, hưởng thọ 64 tuổi, được tặng Binh bộ thượng thư, thụy hiệu là Văn chính. Từ nhỏ ông đã sống trong chùa, sớm được nghe chính pháp, giữ gìn giới luật thanh tịnh, khắc khổ chuyên cần. Tuy làm quan nhưng ông thích gần gũi các bậc cao tăng, tham cứu pháp thiền, ưa làm việc từ thiện và thích bố thí, lập nghĩa điền để giúp đỡ người trong dòng họ và hàng ngày cấp dưỡng cho vài mươi gia đình đến nhờ cậy. Ngày ông mất, mọi người đều thương tiếc, trai gái đứng trên đường khóc như đám tang người thân.
phạm trụ thiên
Heaven of Pure Abode.
phạm tán
(梵贊) Phạm:Stotra. Bài văn khen ngợi công đức của Phật, Bồ tát bằng tiếng Phạm. Những bài ca tán thịnh hành ở Ấn độ gồm có: Tứ bách tán, Nhất bách ngũ thập tán của ngài Mã minh (có thuyết nói của ngàiMa hí lí chế tra); ngài Trần na dựa vào Ngũ bách ngũ thập tán(150 bài tán), mỗi bài họa thêm 1 bài tụng mà thành Tạp tán tam bách tụng (300 bài tán và tụng xen lẫn nhau). Rồi ngài Thích ca đề bà lại thêm vào cho 150 bài tán của ngài Trần na mỗi bài 1 bài tụng nữa mà tập thành Tạp tán tứ bách ngũ thập tụng(450 bài tán và tụng xen lẫn nhau). Ngoài ra còn có Tô hiệt lí li khư (Phạm: Suhfdalekha, Mật hữu thư) của ngài Long thụ và Phật sở hành tán của ngài Mã minh. Những bài ca tán của Phật giáo Ấn độ là 1 thể loại văn học thi ca cung đình (Phạm: Kàvya), phỏng theo ngữ pháp của thi phẩm Anh hùng ca Ma la da na (Phạm: Ràmàyaịa), đồng thời, dùng âm luật phú vịnh để họa theo. Do đó, những tác phẩm thuộc loại ca tán ấy, khi được dịch sang Hán văn, thì có bản chỉ dịch lấy ý, mà cũng có bản chỉ dịch theo âm Phạm thôi. Chẳng hạn như các bài: Tam thân phạm tán, Phật tam thân tán, Phật nhất bách bát danh tán, Phật cát tường đức tán, Bát đại linh tháp phạm tán, Tán pháp giới tạng, Bát đại linh tháp danh hiệu kinh v.v... [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Xuất tam tạng kí tập Q.4; Geschichte der indischen Literatur, Bd. II, by M. Winternitz; Sanskrit Literature by A.A. Macdonell].
phạm tâm
The noble or pure mind.
; Tâm tu theo phạm hạnh hay thanh cao và tinh khiết mà người thực tập sẽ được sanh về cõi trời vô sắc—The noble or pure mind (which practises the discipline that ensures rebirth in the realm without form).
; (梵心) Chỉ cho tâm tu phạm hạnh. Phạm hạnh nghĩa là hành vi thanh tịnh, tức người xuất gia hay tại gia tu tập 4 phạm hạnh hoặc tu thiền định, xả bỏ dâm dục, giữ thân tâm trong sạch, được sinh về cõi Sắc và cõi Vô sắc.[X. kinh Quán sát chư pháp hành Q.1; Ma ha chỉ quán Q.1]. (xt. Phạm Hạnh).
phạm tăng
Brahmin (P).
; A monk from India. Also a monk who maintains his purity.
; 1) Vị Tăng Ấn Độ thời xưa. Vào thời đó Tăng sĩ Ấn Độ mặc áo trịch (để lộ) vai phải: A monk from India: Brahman monk is a Buddhist Master of ancient India. During those days, Buddhist monks wore rope, Buddhist monks wore roped exposing thei right shoulders. 2) Vị Tăng gìn giữ tịnh hạnh: A monk who maintains his purity.
; (梵僧) Chỉ cho các vị tăng từ các nước Tây vực, hoặc Ấn độ đến Trung quốc; hoặc chỉ vị tăng tu hành giữ giới thanh tịnh(tức tu Phạm hạnh). Nhưng về sau, từ Phạm tăng cũng dần dần được sử dụng để chỉ chung cho giới tăng sĩ, bởi vì người xuất gia tu hành Phật đạo đều lấy việc xa lìa trần tục, xả bỏ tạp nhiễm, dứt trừ dâm dục làm gốc. [X. luận Câu xá Q.8; Tục cao tăng truyện Q.25 chương Thích viên thông].
Phạm Tướng
梵相; C: fànxiāng; J: bonsō; 1346-1410|Thiền sư thuộc tông Lâm Tế, xuất thân từ vùng bây giờ là quận Yamanashi. Sư trải qua sự nghiệp hoằng hoá ở các ngôi chùa Thiên Long (天竜寺, j: tenryūji) và Tướng Quốc (相國寺, j: sōkokuji) ở Kinh Đô.
Phạm tướng
(梵相): có hai nghĩa chính:(1) Chỉ cho tướng trang nghiêm, thanh tịnh của chư Phật, Bồ Tát, v.v. Như trong Toàn Đường Thi (全唐詩) quyển 85 có thâu lục bài thơ Võ Túc Vương Hữu Chỉ Thạch Kiều Thiết Trai Hội Tấn Nhất Thi (武肅王有旨石橋設齋會進一詩) của một vị tăng ở Ngô Việt, có câu: “La Hán phàn chi trình Phạm tướng, nham tăng ỷ thọ hiện chơn hình (羅漢攀枝呈梵相、巖僧倚樹現眞形, La Hán vin cành bày tướng hảo, tựa cây tăng núi hiện chơn hình).” Hay trong Năng Cải Trai Mạn Lục (能改齋漫錄), chương Sự Thỉ (事始) 2 của Ngô Tằng (吳曾, khoảng thế kỷ 12) nhà Tống có đoạn: “Thiên hạ tự lập Quan Âm tượng, cái bổn ư Đường Văn Tông hảo thị cáp lị; nhất nhật, ngự soạn trung hữu phách bất khai giả, đế dĩ vi dị, nhân phần hương chúc chi, nãi khai, tức kiến Bồ Tát hình, Phạm tướng cụ túc (天下寺立觀音像、蓋本於唐文宗好嗜蛤蜊、一日、禦饌中有擘不開者、帝以爲異、因焚香祝之、乃開、卽見菩薩形、梵相具足, các chùa trong thiên hạ đều dựng tượng Quan Âm, vốn xuất phát từ việc vua Văn Tông [tại vị 826-840] nhà Đường thích ăn con sò; một hôm nọ, trong cỗ ăn của nhà vua có con sò bị nạy mà vẫn không mở ra; nhà vua lấy làm lạ, nhân đó thắp hương cầu khấn, con sò liền mở miệng ra, tức thấy hình Bồ Tát, tướng hảo đầy đủ).” (2) Chỉ chung cho tượng Phật. Như trong bài thơ Tam Nguyệt Thập Nhật Quán Nam An Triệu Sứ Quân Sở Tang Thư Họa Cổ Khí Vật (三月十日觀南安趙使君所藏書畫古器物) của Liễu Quán (柳貫, 1270-1342) nhà Nguyên có câu: “Đình quang cổ Phật xuất Phạm tướng, mãn nguyệt tại thủy liên sanh phu (庭光古佛出梵相、滿月在水蓮生趺, hào quang cổ Phật bày tướng hảo, trăng tròn mặt nước sen ngồi Thiền).” Trong Pháp Hoa Kinh Trì Nghiệm Ký (法華經持驗記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1541) quyển Hạ có câu: “Tống Thích Nghĩa Thông, tánh Duẫn, Cao Lệ quốc tộc, Phạm tướng dị thường, mi trường ngũ thốn dư, ấu xuất gia Quy Sơn Viện (宋釋義通、姓尹、高麗國族、梵相異常、眉長五寸餘、幼出家龜山院, Thích Nghĩa Thông nhà Tống, họ là Duẫn, dòng họ nước Cao Lệ [Triều Tiên], tướng hảo khác thường, lông mày dài hơn 5 tấc, lúc nhỏ xuất gia ở Quy Sơn Viện).” Hay trong Bổ Tục Cao Tăng Truyện (補續高僧傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1524) quyển 19 có đoạn: “Ngôn Pháp Hoa giả, mạc tri kỳ sở tùng lai, Phạm tướng kỳ cổ, ngữ ngôn vô kỵ, xuất một bất trắc, đa hành thị lí, khiên thường nhi xu, hoặc cử chỉ họa không, trữ lập lương cửu, dữ đồ cổ giả du, ẩm đạm vô sở trạch, đạo tục cọng mục vi cuồng tăng (言法華者、莫知其所從來、梵相奇古、語言無忌、出沒不測、多行市里、褰裳而趨、或舉指畫空、佇立良久、與屠沽者游、飲啖無所擇、道俗共目爲狂僧, Ngôn Pháp Hoa, chẳng biết ông từ đâu đến, tướng hảo cổ quái, nói năng chẳng kiêng kỵ, ẩn hiện khôn lường, phần nhiều xuất hiện nơi chợ búa, làng xóm, vén quần mà đi, hoặc có khi đưa ngón tay lên vẽ trên không trung, rồi đứng yên một hồi lâu, cùng với hạng bán rượu thịt giao du, ăn uống đủ thứ, cả đạo lẫn đời đều xem ông là tu sĩ điên).”
phạm tướng
Brahmadhvaja (S). One of the sons of Mahàbhijnà, his Buddha domain is south-west of our universe.
; Brahmadhvaja (skt)—Một trong những người con trai của Mahabhijna, trong cõi Phật ở về phía tây nam vũ trụ của chúng ta—One of the sons of Mahabhijna; his Buddha domain is south-west of our universe.
Phạm Tướng 梵相
[ja] ボンソウ Bonsō ||| Bonsō (1346-1410). A monk of the Japanese Rinzai school, originally from the area that is now Yamanashi prefecture. He spent most of his career at Tenryūji 天竜寺 and Sōkokuji 相國寺temples in Kyoto. => j: Bonsō (1346-1410). Thiền sư thuộc tông Lâm Tế, xuất thân từ vùng bây giờ là quận Yamanashi. Sư trải qua sự nghiệp hoằng hoá ở các ngôi chùa Thiên Long (j: Tenryūji 天竜寺 ) và Tướng Quốc (j: Sōkokuji 相國寺) ở Kyoto.
phạm tẩu
(梵嫂) Chỉ cho vợ của 1 vị tăng. Đây là từ ngữ có tính cách châm biếm, mỉa mai. Bởi vì người xuất gia tu đạo là phải giữ gìn giới hạnh thanh tịnh, không được lấy vợ, không được dâm dục, gọi là Phạm tăng (tăng trong sạch). Nếu tăng lấy vợ là tăng đã phá giới cấm của Phật, nên vợ của vị tăng ấy được gọi 1 cách châm biếm là Phạm tẩu, còn chính vị tăng có vợ thì được gọi là Hỏa trạch tăng(tăng ở trong nhà lửa), có ý vị châm biếm và mỉa mai hơn cả từ Phạm tẩu! Tại Trung quốc, vào cuối đời Đường đã có hiện tượng tăng sĩ lấy vợ, tình trạng này kéo dài đến đời Tống mới chấm dứt, vì nhà vua hạ lệnh cấm chỉ việc này. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 43, thì vào niên hiệu Ung hi năm đầu (984), vua Tống thái tông ban chiếu chỉ cấm tăng sĩ lấy vợ, trong sắc lệnh có câu Các quan lại địa phương phải triệt để răn cấm tăng nhân lấy vợ để làm sáng tỏ và thuận với chính giáo.
Phạm tịch
(梵席): chỗ ngồi trong các tự viện, đặc biệt thường dùng để chỉ chỗ ngồi để thuyết giảng, tụng kinh, làm các Phật sự; đôi khi đồng nghĩa với pháp tịch (法席). Như trong Pháp Hoa Linh Nghiệm Truyện (法華靈驗傳) quyển hạ có câu: “Kim hạnh kiệt thành Trương Hoàng phạm tịch, dục vấn nhất nhị đại chỉ, nhiên thủ hộ thần tương ha cấm bất nhập, bằng hoàng môn ngoại sổ nhật hỉ (今幸竭誠張皇梵席、欲問一二大旨、然守護神將呵禁不入、彷徨門外數日矣, nay đã kiệt sức, may gặp pháp hội của Trương Hoàng, muốn hỏi một hai yếu chỉ quan trọng, nhưng thần thủ hộ khiển trách, cấm không cho vào, tôi bàng hoàng ở ngoài cửa mấy ngày vậy).”
phạm tội
To commit or perpetrate a crime.
; To commit a crime—To commit offences.
Phạm tội 犯罪
[ja] ボンザイ bonzai ||| To commit crimes; to be immoral, to break the precepts. => Vi phạm qui chế; trái đạo đức, phạm giới luật.
Phạm tự
梵字; C: fànzì; J: bonji; |Chữ viết Ấn Độ, vốn là dạng chữ Phạn cổ xưa, về sau thuật ngữ nầy trở nên dung để đề cập đến kiểu chữ Devanāgari.
phạm tự
Samskrtan (S). Brahma letters; sanskrit. Also Phạm thư the clasical Aryan language of India, systematized by scholars, in contradiction to Pràkit, representing the language as ordinarily spoken.
; 1) Chữ Phạn—Brahma letters—samskrtam—Sanskrit. a) Bắc Phạn: Sanskrit. b) Nam Phạn: Tiếng Phạn Pali được vài học giả Trung Hoa cho rằng cổ hơn tiếng Phạn Sanskrit về cả tiếng nói lẫn chữ viết—Pali, considered more ancient by some Chinese writers than Sanskrit both as a written and spoken language. 2) Phạm Thư: Văn Tự cổ của Ấn Độ, phân biệt với tiếng nói bình dân Prakrit. Chỉ vài ngoại lệ kinh điển Trung Quốc được dịch từ tiếng Phạn Pali (Nam Phạn), còn thì đa phần được dịch sang từ tiếng Phạn Sanskrit (Bắc Phạn). —The classical Aryan language of India, in contradistinction to Prakrit, representing the language as ordinarily spoken. With the exception of a few ancient translations probably from Pali versions, most of the original texts used in China were Sanskrit.
; (梵字) Văn tự do Phạm thiên chế ra, thông dụng ở Ấn độ cổ đại, cũng tức là văn tự Tất đàm được phát triển từ tự mẫu Phạm thư (Bràhmì) mà thành. Theo truyền thuyết của Ấn độ thì Phạm tự là do Phạm thiên chế ra, nhưng theo sự nghiên cứu thời gần đây thì Phạm tự và hình thái ban đầu của văn tự Phoenicia thông dụng ở Âu châu hiện nay đều thuộc ngữ hệ Semitik. Vào khoảng 800 năm trước Tây lịch, những thương gia Ấn độ tiếp xúc với tiếng Aramaic ở vùng Mesopotamia kết quả là 22 chữ cái Semitik đãđược các thương gia ấy đem truyền về Ấn độ, rồi các Bà la môn chỉnh lí, bổ sung, đến khoảng 500 năm trước Tây lịch mới hoàn thành 47 chữ cái. Về cách viết, chữ Phạm vốn được viết ngang từ phải sang trái, nhưng về sau đổi thành viết ngang từ trái sang phải. Cách viết này do thời đại và địa phương khác nhau mà dần dần cũng thay đổi. Khoảng thế kỉ I Tây lịch, miền Bắc Ấn độ có khuynh hướng dùng hình vuông, miền Nam có khuynh hướng dùng hình tròn. Đến khoảng thế kỉ IV thì 2 miền Bắc, Nam đã có sự khác nhau rõ ràng. Từ thế kỉ IV đến thế kỉ V, hệ thống miền Bắc phát triển thành văn tự Cấp đa (Phạm: Gupta), rồi đến thế kỉ VI thì thành văn tự Tất đàm. Ngoài ra còn sản sinh nhiều thứ văn tự khác như văn tự Nàgarìở Trung Ấn độ vào thế kỉ VII, văn tựZàradàtừ thế kỉ VIII trở đi, cuối cùng đến thế kỉ XI thì hoàn thành Phạm tự được dùng để xuất bản các bản Phạm hiện nay, tức là văn tự Deva-nàgarì. Từ thế kỉ XI trở đi, Phạm tự được truyền vào Tây tạng, Tây vực... và trở thành loại văn tự đặc biệt. Còn hệ thống văn tự miền Nam cũng phát triển thành nhiều loại văn tự, như văn tự Khiếp quan, văn tự Ca na lạp (Phạm: Kàịara), văn tự Thiếp như cố (Phạm: Telugu), văn tự Yết lăng già (Phạm: Kaliíga, văn tự Các lan đặc cáp (Phạm: Grantha), văn tự Tamil, văn tự Vaỉỉaơuttuv.v... Các loại văn tự của Tich lan, Miến điện, Thái lan, Cao miên, Lào... được dùng để chép kinh hoặc in ấn hiện nay đều thuộc hệ thống Phạm tự miền Nam Ấn độ. Nhưng, ngoài các loại Phạm tự thuộc hệ thống 2 miền Nam, Bắc như đã nói ở trên, còn có các loại văn tự nằm ngoài hệ thống Phạm thư (Phạm tự) như Lục thập tứ thư được liệt kê trong phẩm Thị thư của kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4; Lục thập tự mẫu của Kì na giáo điển v.v... [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.26; Tất đàm tạng Q.1; Catalogue of the Buddhist Sanskrit Manuscripts, palaeographie, by C. Bendall; A Sanskrit-English Dictionary, introduction, by M. Monier-Williams; Buddhist India, by Rhys Davids; On Yuan Chwang, by T. Watters; Manuscript Remains of Buddhist Literature found in E. Turkestan, general introduction, by R. Hoernle]. (Xt. Phạm Thư, Tất Đàm).
Phạm tự 梵字
[ja] ボンジ bonji ||| Indic writing; originally the early written forms of Sanskrit, later comes to refer to the style of devanāgari. => Chữ viết Ấn Độ, vốn là dạng chữ Sanskrit cổ xưa, về sau thuật ngữ nầy dùng để chỉ cho mẫu tự Devanāgari.
phạm uyển
A monastery or any place where celibate discipline is practised.
; Tự viện, nơi các vị xuất gia sống đời độc thân tu tập—A monastery or any place where celibate discipline is practised.
phạm vi
1) Phạm trù: Domain—Field. 2) Khuôn khổ hay nguyên tắc: Rule and restraint—To guard by proper means.
Phạm vi 範圍
[ja] ハンイ han'i ||| Limit, scope, sphere. => Giới hạn, tầm, mục tiêu; giới.
phạm võng
Brahmajàla. The net of Brahmà.
; Brahmajala (skt)—Brahma-net.
phạm võng bồ tát
Brahmajala (S)Tên một vị Bồ tát.
phạm võng giới
See Phạm Võng Giới Bổn.
; (梵網戒) Tức 10 giới nặng và 48 giới nhẹ được ghi trong kinh Phạm võng quyển hạ. Trong giới Đại thừa, giới Phạm võng không phân biệt tại gia hay xuất gia, mà tất cả đều có thể thụ trì. (xt. Thập Trọng Cấm Giới, Bồ Tát Giới).
phạm võng giới bổn
Bồ Tát Giới Kinh hay phần sau của Kinh Phạm Võng—The latter part of the Brahma-sutra. ** For more information, please see Bốn Mươi Tám Giới Khinh, and Mười Giới Trọng của chư Bồ Tát trong Kinh Phạm Võng.
phạm võng giới phẩm
Tên của Kinh Phạm Võng (Kinh Phạm Võng ngày nay chỉ còn lại một phẩm Bồ Tát Tâm Địa Giới trong bộ Kinh Phạm Võng nên gọi là Phạm Võng Giới Phẩm)—A name for the Brahma-sutra.
; (梵網戒品) Gọi đủ: Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập. Tên gọi khác của kinh Phạm võng. Kinh Phạm võng hiện nay chỉ là 1 tác phẩm nói về giai vị, giới luật của Bồ tát trong kinh Phạm võng(quảng bản), vì thế gọi là Phạm võng giới phẩm. (xt. Phạm Võng Kinh).
phạm võng hội
(梵網會) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Pháp hội chuyên giảng diễn và đọc tụng kinh Phạm võng để cầu siêu cho vong linh người chết. Theo kinh Phạm võng quyển hạ, vào ngày mất của cha mẹ, anh em, Hòa thượng A xà lê... cho đến 21, 49 ngày liên tiếp, nên giảng nói, đọc tụng kinh điển Đại thừa. [X. Đông đại tự yếu lục Q.8].
Phạm Võng Kinh
(t: Chos-kyi rgya-mo saṅs-rgyas rnam-par snaṅ-mdsad kyis byaṅ-chub-sems-pdaḥi sems kyi gnas bçad leḥu, c: Fan-wang-ching, j: Bongōkyō, 梵綱經): còn gọi là Phạm Võng Kinh Lô Xá Na Phật Thuyết Bồ Tát Tâm Địa Giới Phẩm Đệ Thập (梵綱經盧舍那佛說菩薩心地戒品第十), Bồ Tát Giới Kinh (菩薩戒經), Phạm Võng Bồ Tát Giới Kinh (梵綱菩薩戒經), 2 quyển, hiện còn, Taishō 24, 997, No. 1484, Cưu Ma La Thập dịch từ năm 402-412 (niên hiệu Hoằng Thỉ [弘始] thứ 4-14) đời Hậu Tần.
Phạm võng kinh
梵網經; S: brahmajāla-sūtra; C: fànwăngjīng; J: bonmōkyō; |2 quyển; Cưu-ma-la-thập dịch năm 406. Xuất phát từ một phẩm trong một bộ kinh lớn (120 quyển) nhan đề Bồ Tát giới kinh (菩薩戒經, s: bodhisattva-śīla-sūtra). Đây là kinh văn căn bản chỉ rõ nội dung giới luật Đại thừa, được Phật giáo Trung Quốc, Nhật Bản áp dụng. Kinh ghi 10 giới luật quan trọng mà Phật tử không được vi phạm: 1. Giết hại, 2. Trộm cắp, 3. Tà dâm, 4. Nói dối, 5. Say sưa, 6. Nói xấu người khác, 7. Chê người, tự khen mình, 8. Ganh ghét, 9. Giận dữ, 10. Phỉ báng Tam bảo. Tăng ni vi phạm có thể bị loại ra khỏi Tăng-già.|Ngoài ra kinh Phạm võng còn ghi thêm 48 giới luật phụ khác. Ðặc biệt trong kinh này còn cho phép tự mình quy y tăng, nếu không có một Tăng-già chính thức hiện diện. Như thế 58 giới luật trong kinh Phạm võng là trọn giới luật Bồ Tát mà mỗi vị tỉ-khâu có nhiệm vụ giữ gìn.
phạm võng kinh
Brahmajāla sŪtra (S), Brahma Net Sutra Có ghi các giới luật gồm: - 10 giới trọng của đại thừa và 48 giới khinh - 58 giới của Bồ tát (10 giới trọng cùng 48 giới khinh).
; Brahmajàla-sùtra (S) The infinitude of worlds being as the eyes or holes in Indriya's net, which is all-embracing, like the Buddha's teaching. Phạm Võng giới phẩm, a name for the above or the next Phạm Võng giới bản the latter part of the above sùtra.
; Tên gọi tắt của Phạm Võng Kinh Lư Xá Na, Phật Thuyết Bồ Tát Tâm Địa Giới Phẩm Đệ Thập Phạm Võng Kinh, được ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hoa ngữ khoảng năm 406 sau Tây Lịch. Lấy tên Phạm Võng là vì pháp giới vô biên, như những mắt lưới của vua Trời Đế Thích (giao nhau mà không hề vướng víu trở ngại), cũng giống như giáo pháp của của chư Phật cũng tầng tầng vô tận, trang nghiêm pháp thân cũng không hề có chướng ngại—Brahmajala-sutra, translated into Chinese by Kumarajiva around 406 A.D., the infinitude of worlds being as the eyes or holes in Indra's net, which is all-embracing, like the Buddha's teaching. There are many treatises on it. ** For More information, please see Kinh Phạm Võng, Mười Giới Trọng của chư Bồ Tát trong Kinh Phạm Võng, and Bốn Mươi Tám Giới Khinh.
; (梵網經) I. Phạm Võng Kinh. Tạng: Chos-kyi rgya-mo saís-rgyas rnam-par snaí-mdsad-kyis byaí-chub sems-dpa#i sems-kyi gnas bzad-pa le#u bcu-pa. Gọi đủ: Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập. Cũng gọi Phạm võng kinh Bồ tát tâm địa phẩm, Phạm võng giới phẩm. Kinh, 2 quyển, tương truyền do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Nội dung kinh này nói về các giai vị tu đạo của Bồ tát và 10 giới nặng, 48 giới nhẹ mà Bồ tát thụ trì. Cứ theo bài tựa của ngài Tăng triệu trong kinh Phạm võng, Quảng bản của kinh này gồm có 61 phẩm, 120 quyển, kinh này là phẩm thứ 10. Giáo môn của chư Phật trùng trùng vô tận, trang nghiêm pháp thân không bị ngăn ngại, giống như mạng lưới(võng)Nhân đà la của Đại Phạm thiên vương, lớp lớp giao thoa xen lẫn nhau không cùng tận, cho nên kinh này được gọi là kinh Phạm võng. -Quyển thượng: Từ tầng trời Đệ tứ thiền, đức Phật Thích ca tiếp dắt đại chúng về cung Tử kim cương quang minh ở thế giới Liên hoa tạng, chiêm ngưỡng đức Phật Lô xá na và thưa hỏi về nhân hạnh của Bồ tát, đức Phật Lô xá na liền đối trước trăm nghìn Phật Thích ca nói rộng về 40 pháp môn: 10 tâm phát thú, 10 tâm trưởng dưỡng, 10 tâm kim cương và 10 địa. -Quyển hạ: Nói về 10 giới nặng và 48 giới nhẹ của Bồ tát. Đây là các giới pháp do đức Phật Thích ca chỉ dạy dưới gốc cây Bồ đề ở cõi Diêm phù đề trong thế giới Sa bà.Kinh này được xem là kinh điển bậc nhất về luật Đại thừa, rất được giới Phật giáo Trung quốc và Nhật bản coi trọng. Ngài Tối trừng của Nhật bản đã lấy kinh này làm căn cứ, dựa vào đó mà xử đoán các vấn đề có liên quan đến giới luật đương thời. Ngoài ra, kinh này vốn do đức Phật Lô xá na tuyên thuyết, đức Phật Thích ca nói lại dưới gốc cây Bồ đề, vì thế nên được xếp vào loại kinh Hoa nghiêm. Bởi lẽ không rõ sự thực lịch sử về sự lưu truyền và người phiên dịch, vả lại, trong lời văn phần nhiều dẫn dụng các kinh khác, nên cũng được suy đoán là không phải dịch từ bản tiếng Phạm, mà là do người Trung quốc ngụy tạo và thời đại biên soạn có lẽ vào khoảng những năm cuối đời Lưu Tống. Xưa nay kinh này thường được lưu hành quyển hạ, gọi là Phạm võng bồ tát giới kinh, Bồ tát giới bản, Đa la giới bản, Bồ tát ba la đề mộc xoa kinh, Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát thập trọng tứ thập bát khinh giới. Kinh này có rất nhiều sách chú thích như: Bồ tát giới nghĩa sớ, 2 quyển, do ngài Trí khải soạn vào đời Tùy; Thiên thai bồ tát giới sớ, 3 quyển, do ngài Minh khoáng san bổ vào đời Đường; Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ, 6 quyển, do ngài Pháp tạng soạn vào đời Đường; Bồ tát giới bản sớ, 3 quyển, do ngài Nghĩa tịch, người Tân la soạn. [X. Kim cương đính kinh đại du già bí mật tâm địa pháp môn nghĩa quyết Q.thượng; Khai nguyên thích giáo lục Q.4; luận Hiển giới Q.trung]. II. Phạm Võng Kinh. Pàli:Brahmajàla-sutta. Kinh, được viết bằng tiếngPàli, thuộc tạng Kinh của Thượng tọa bộ phương Nam, tương đương với kinh Phạm động và kinh Phạm võng lục thập nhị kiến bản Hán dịch trong Trường a hàm quyển 14. Nội dung kinh này do 2 bộ tập thành: -Bộ thứ nhất: Tán thán hạnh trì giới vi tế của Như lai. Lại chia giới làm 3 thứ là: Tiểu giới, Trung giới và Đại giới. -Bộ thứ hai: Tán thán pháp môn vi diệu, cực kì hiếm có mà đức Phật đã giảng nói. Trước khi tuyên thuyết pháp vi diệu, hiếm có này, đức Như lai nói về 62 kiến chấp của ngoại đạo, 62 kiến chấp bao hàm tất cả các thuyết của Bà la môn chính thống và các học phái khác. [X. TheDìgha Nikàya, vol. I, by T.W. Rhys Davids and J.E. Carpenter]. (xt. Phạm Võng Lục Thập Nhị Kiến Kinh).
phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ
(梵網經菩薩戒本疏) Cũng gọi Phạm võng giới bản sớ, Phạm võng giới sớ, Phạm võng Pháp tạng sớ. Kinh sớ, 6 quyển, hoặc 3 quyển, do ngài Hiền thủ Pháp tạng soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 40. Nội dung sách này lập 10 môn để giải thích rõ giới bản của Bồ tát trong kinh Phạm võng quyển hạ, đó là: Giáo khởi sở nhân, Chư tạng sở nhiếp, Nhiếp giáo phân tề, Hiển sở vi cơ, Năng thuyết giáo thể, Sở thuyên tông thú, Thích kinh đề mục, Giáo khởi bản mạt, Bộ loại truyền dịch và Tùy văn giải thích. Đặc sắc của bộ kinh này là ở chỗ giải thích các giới tướng 1 cách rất cặn kẽ rõ ràng; trong 10 giới nặng, mỗi giới lập ra 10 môn, còn 48 giới nhẹ thì chia làm 8 môn. Toàn bộ sách trích dẫn 80 thứ kinh luật luận, trong đó có bao gồm những kinh đã bị thất lạc từ xưa như: Kinh Cư sĩ thỉnh tăng phúc điền, kinh Tỉ khưu ứng cúng pháp hành v.v... Về các sách chú thích bộ sớ này thì có: Kỉ yếu 6 quyển (Phượng đàm), Nhật châu sao 50 quyển (Ngưng nhiên).
phạm võng kinh cổ tích kí
(梵網經古迹記) Cũng gọi Phạm võng cổ tích kí, Phạm võng kinh cổ tích. Kinh sớ, 3 quyển, hoặc 2 quyển, 4 quyển, do ngài Thái hiền người Tân la biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 40. Nội dung sách này chú thích kinh Phạm võng, chia làm 7 môn: Thời xứ, Cơ căn, Tạng nhiếp, Phiên dịch, Tông thú, Đề danh và Bản văn. Sách này tham khảo các bộ Sớ của các ngài Trí khải, Pháp tạng, Nghĩa tịch... mà lập kiến giải riêng. Khác với Bồ tát giới nghĩa sớ của ngài Trí khải là tác phẩm chỉ được tông Tịnh độ dùng làm chỗ y cứ, bộ sách này của ngài Thái hiền từ xưa đã được các tông: Luật, Chân ngôn, Pháp tướng... coi trọng.
phạm võng kinh hợp chú
(梵網經合注) Cũng gọi Phạm võng kinh Tâm địa phẩm hợp chú, Phạm võng hợp chú. Kinh sớ, 3 quyển hoặc 7 quyển, do ngài Trí húc (1599-1655) soạn vào đời Minh, ngài Đạo phưởng hiệu đính, hoàn thành vào năm Sùng trinh thứ 10 (1637), được thu vào Vạn tục tạng tập 60. Đây là tác phẩm chú thích phẩm Bồ tát tâm địa trong kinh Phạm võng. Vì muốn nói rõ nội dung của kinh Phạm võng, nên ngài Trí húc soạn sách này để bàn về thắng nghĩa của Tính, Nhân, Duyên, Thể, Tướng, Kì, Quả... của giới thể vô tác, đồng thời, giải thích sơ lược về 10 giới nặng 48 giới nhẹ và mối quan hệ giữa các nghi tắc của giới luật này với những đức mục phổ thông như hiếu, thuận v.v... Ngoài ra, tác giả còn thiết lập 10 môn để nói rõ về giới tướng: 1. Tùy văn thích nghĩa. 2. Tính giá trọng khinh. 3. Thất chúng liệu giản. 4. Đại tiểu đồng dị. 5. Thiện thức khai giá. 6. Dị thục quả báo. 7. Quán tâm lí giải. 8. Sám hối hành pháp. 9. Tu chứng sai biệt. 10. Tính ác pháp môn.
phạm võng kinh lư xá na phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
Xem Kinh Phạm võng.
Phạm võng kinh 梵網經
[ja] ボンモウキョウ Bonmōkyō ||| The Fanwang jing (Brahmajāla-sūtra); (Sutra of Brahma's Net). 2 fasc. T 1484.24.997a-1010a, trans Kumārajīva 鳩摩 in 406. Originally a chapter in a much larger (120 fasc.) work called the Bodhisattva-śīla-sūtra 菩薩戒經. This is the basic canonical work for defining the vinaya in Mahāyāna. Cf. T 279, 1811-1815, 2246, 2797. => (c: Fanwang jing; j: Brahmajāla-sūtra; e: Sutra of Brahma's Net). 2 quyển; Cưu-ma-la-thập dịch năm 406. Xuất phát từ một phẩm trong một bộ kinh lớn (120 quyển) nhan đề Bồ-tát giới kinh (Bodhisattva-śīla-sūtra 菩薩戒經). Đây là kinh văn căn bản chỉ rõ nội dung giới luật Đại thừa.
phạm võng lục thập nhị kiến kinh
(梵網六十二見經) Cũng gọi Phạm võng kinh, Lục thập nhị kiến kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào khoảng năm Hoàng vũ thứ 2 đến năm Kiến hưng thứ 2 (223-253) tại nước Ngô thời Tam quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này nói về việc đức Phật biết hết các pháp sâu xa mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, nhưng Ngài không chấp trước bất cứ một pháp nào, mà cũng chẳng hề quan tâm đến sự khen chê của ngoại đạo. Ngài nói rõ cho các vị tỉ khưu nghe về 62 kiến giải mà ngoại đạo chấp trước 1 cách thiên lệch. Sáu mươi hai kiến giải tà vọng này móc nối chằng chịt như mạng lưới (võng) của Phạm thiên, các ngoại đạo chìm đắm trong đó, như cá bị mắc lưới, không thể gỡ ra được, vì thế gọi là kinh Phạm võng lục thập nhị kiến (kinh 62 kiến giải chằng chịt như mạng lưới của Phạm thiên). Những bản cùng loại với kinh này gồm có: Kinh thứ nhất trong Trường bộ bản Pàli; kinh Phạm động trong Trường a hàm quyển 14 bản Hán dịch. Ngoài ra cũng có kinh Lục thập nhị kiến do ngài Trúc pháp hộ dịch, nhưng rất tiếc bản dịch này đã bị thất lạc. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.5; Đại đường nội điển lục Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2]. (xt. Phạm Võng Kinh).
phạm võng sám pháp
(梵網懺法) Cũng gọi Phạm võng kinh sám hối hành pháp. Sám pháp, 1 quyển, do ngài Ngẫu ích Trí húc (1599-1655) soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 107. Sách này y cứ vào nội dung của kinh Phạm võng mà được soạn thuật, gồm có 10 môn:1. Nghiêm đạo tràng. 2. Tịnh tam nghiệp. 3. Hương hoa cúng dường. 4. Tán lễ qui y. 5. Trần tội hối trừ. 6. Lập thệ tụng giới. 7. Khổ đáo lễ Phật. 8. Trọng tu nguyện hành. 9. Toàn nhiễu tự qui. 10. Tọa niệm thực tướng. Nội dung sách này không chỉ giới hạn trong yếu nghĩa của kinh Phạm võng mà có nhiều chỗ cũng trích dẫn các kinh khác như hội Thắng man phu nhân và hội Di lặc sở vấn trong kinh Đại bảo tích..., thỉnh thoảng cũng đề cập đến ý chỉ của tông Thiên thai.
phạm võng tam trọng bản mạt
(梵網三重本末) Cũng gọi Tam trùng bản mạt, Tam trùng bản mạt thành đạo. Ba lớp gốc ngọn. Tức chỉ cho 3 lớp thành đạo của đức Phật Lô xá na và Phật Thích ca nói trong kinh Phạm võng. Theo kinh Phạm võng, đức Phật Lô xá na ngồi kết già trên đài hoa sen trong thế giới Liên hoa đài tạng rộng lớn trang nghiêm. Thế giới này do 1.000 cánh hoa sen lớn tạo thành, trong mỗi cánh sen có 1 thế giới, trong mỗi thế giới có trăm ức núi Tu di, 4 châu thiên hạ và Nam diêm phù đề. Từ nơi thân của Phật Lô xá na biến hóa ra 1.000 Phật Thích ca, mỗi Phật Thích ca ngồi trên 1 cánh sen trong thế giới nghìn cánh sen; nghìn Phật Thích ca, mỗi Phật lại biến hóa ra trăm ức bồ tát Thích ca, mỗi bồ tát Thích ca ngồi dưới gốc cây Bồ đề ở cõi Nam diêm phù đề tuyên thuyết pháp môn Tâm địa của Bồ tát. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1003 hạ) nói:Nay ta là Lô xá na, Ngồi kết già trên hoa sen; Trên nghìn hoa sen xung quanh, Lại hiện ra nghìn Thích ca; Một cánh hoa trăm ức cõi, Mỗi cõi có một Thích ca, Đều ngồi dưới gốc Bồ đề, Đồng thời thành Đẳng chính giác. Tông Thiên thai căn cứ vào bài kệ trên đây mà lập ra thuyết Tam trùng bản mạt thành đạo, tức là 3 lớp thành đạo từ gốc đến ngọn. -Lớp thứ nhất: Chỉ cho sự thành đạo của Phật Lô xá na trên đài hoa sen. -Lớp thứ hai: Chỉ cho sự thành đạo của 1.000 Phật Thích ca trên 1.000 cánh hoa sen.-Lớp thứ ba: Chỉ cho sự thành đạo của trăm nghìn ức Thích ca trên trăm nghìn ức cánh sen trong trăm nghìn ức cõi nước. Giữa các đức Phật trên đài hoa sen, trên nghìn cánh sen, trên trăm nghìn ức cánh sen đều có mối quan hệ gốc ngọn với nhau, vì thế gọi là Tam trùng bản mạt. Trong Bồ tát giới kinh nghĩa sớ của ngài Trí khải có trình bày rõ về mối quan hệ ấy và giải thích bằng Lưỡng trùng bản tích, tức cho rằng đức Xá na trên đài sen là Bản, còn các đức Thích ca trên nghìn cánh hoa và trên trăm nghìn ức cánh hoa đều là Tích. Nghìn đức Thích ca là Bản trong Tích, trăm nghìn ức đức Thích ca là Tích trong Tích. Như vậy, trên đài sen, trên nghìn cánh sen và trên trăm nghìn ức cánh sen cùng tạo thành 3 lớp gốc ngọn, mỗi mỗi đức Phật đều thành Chính giác, gọi là Tam trùng bản mạt thành đạo. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7, phần đầu]. (xt. Liên Hoa Tạng Thế Giới).
phạm võng tông
Luật Tông được mang vào hoằng hóa tại Nhật Bản bởi một nhà sư Trung Hoa tên Giám Chân vào khoảng năm 754 sau Tây Lịch—The sect of Ritsu, brought into Japan by the Chinese monk Chien-Chen in 754 A.D.
Phạm vũ
(梵宇): hay Phạm cung (梵宮), Phạm sát (梵刹), nghĩa là chùa, tự viện Phật Giáo. Phạm hay Phạn (s: brahman, 梵) nghĩa là tịch tĩnh, thanh tịnh, ly dục; cho nên nơi tịch tĩnh dành cho các vị xuất gia tu hành thanh tịnh, ly dục, được gọi là Phạm vũ, Phạm cung hay Phạm sát. Trong bài Vịnh Hà Trung Tự Thi (詠河中寺詩) của cuốn Hải Ngại Kỷ Sự (海外紀事) do Tổ Thạch Liêm (石濂, 1633-1702, tức Thích Đại Sán [釋大汕]) sáng tác có đoạn: “Lục liễu thùy thùy ẩn Phạm cung, chung thanh điều đệ mãn hà phong (綠柳垂垂隱梵宮、鐘聲迢遞滿河風, Nép bóng chùa xưa liễu xanh non, tiếng chuông xa vẳng theo gió sông)”; hay tả cảnh Chùa Linh Mụ (靈姥寺) ở cố đô Huế như “Phạm vương cung khuyết Nguyễn vương khai, ngọc điện châu môn sanh lục đài (梵王宮闕阮王開、玉殿朱門生綠苔, Chùa xưa cung gác chúa Nguyễn khai, điện ngọc lầu son phủ rêu dài)”.
; (梵宇): hay Phạm cung (梵宮), Phạm sát (梵刹), nghĩa là chùa, tự viện Phật Giáo. Phạm hay Phạn (s: brahman, 梵) nghĩa là tịch tĩnh, thanh tịnh, ly dục; cho nên nơi tịch tĩnh dành cho các vị xuất gia tu hành thanh tịnh, ly dục, được gọi là Phạm vũ, Phạm cung hay Phạm sát. Tống Chi Vấn (宋之問, khoảng 656-712) nhà Đường có làm bài Đăng Thiền Định Tự Các (登禪定寺閣, có tên khác là Đăng Tổng Trì Tự Các [登總持寺閣]) rằng: “Phạm vũ xuất tam thiên, đăng lâm vọng bát xuyên, khai khâm tọa tiêu hán, huy thủ phất vân yên, hàm cốc thanh sơn ngoại, hỗn trì lạc nhật biên, đông kinh dương liễu mạch, thiếu biệt dĩ kinh niên (梵宇出三天、登臨望八川、開襟坐霄漢、揮手拂雲煙、函谷青山外、昆池落日邊、東京楊柳陌、少別已經年, chùa cổ vút trời xanh, lên lầu ngắm núi sông, vén áo ngồi trời rộng, khua tay vẫy mây vờn, khe thẳm núi xanh vắng, hồ trăng trời lặn buông, kinh đô dương liễu rũ, xa cách đã mấy năm).” Hay như trong Pháp Bảo Đàn Kinh (法寳壇經), Phẩm Cơ Duyên (機緣品) có đoạn: “Thời Bảo Lâm Cổ Tự, tự tùy mạt binh hỏa, dĩ phế, toại ư cố cơ trùng kiến Phạm vũ (時寶林古寺、自隋末兵火、已廢、遂於故基重建梵宇, ngôi chùa cổ Bảo Lâm đương thời, bị nạn binh hỏa cháy rụi từ cuối thời nhà Tùy, nay đã hoang phế, bèn trùng kiến ngôi chùa mới trên nền cũ).” Trong bài Vịnh Hà Trung Tự Thi (詠河中寺詩) của cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (海外紀事) do Tổ Thạch Liêm (石濂, 1633-1702, tức Thích Đại Sán [釋大汕]) sáng tác lại có đoạn: “Lục liễu thùy thùy ẩn Phạm cung, chung thanh điều đệ mãn hà phong (綠柳垂垂隱梵宮、鐘聲迢遞滿河風, nép bóng chùa xưa liễu xanh non, tiếng chuông xa vẳng theo gió sông)”; hay tả cảnh Chùa Linh Mụ (靈姥寺) ở cố đô Huế như “Phạm vương cung khuyết Nguyễn vương khai, ngọc điện châu môn sanh lục đài (梵王宮闕阮王開、玉殿朱門生綠苔, chùa xưa cung gác chúa Nguyễn khai, điện ngọc lầu son phủ rêu dài)”. Ngay tại cổng sơn môn của Đài Đồng Tự (壹同寺), Phố Tân Trúc (新竹市), Đài Loan (臺灣) có hai câu đối như sau: “Sơn khai giác lộ liên hoa xán, môn ánh kinh lâu Phạm vũ tân (山開覺路蓮花燦、門映經樓梵宇新, núi khai nẻo giác hoa sen rực, cửa rạng lầu kinh mới cảnh chùa).” Trong Tây Sương Ký (西廂記) cũng có câu rằng: “Sinh rằng quán khách lạ lùng, trộm nghe đây lối Phạm cung cảnh mầu.”
phạm vũ
A sacred house, i.e a Buddhist pagoda, monastery or templr.
; Chùa hay tự viện—A sacred house, i.e. a Buddhist monastery, or temple.
Phạm vương
梵王; C: fànwáng; J: bonō; |Vua cõi trời Đại phạm.
phạm vương
Brahma Sahampati (S).
; The father of all living beings; the first person of the Brahminical Trimùrti, Brahmà, Vishnu and Siva, recognized by Buddhism as devas but as inferior to a Buddha, or enlightened man.
; See Phạm thiên.
phạm vương cung
Cung điện của Phạm Thiên—The palace of Brahma.
Phạm vương 梵王
[ja] ボンオウ bonō ||| The King of the Brahma Heaven. => Chủ cõi trời Đại phạm.
Phạm Yến 範宴
[ja] ハンエン Hannen ||| Hannen; a former name of Shinran 親鸞. => Hannen (j); Nguyên là tên của Thân Loan (j: Shinran 親鸞).
Phạm âm
(s: brahma-svara, p: brahmassara, 梵音): âm thanh do vị Đại Phạm Thiên Vương phát ra, hay còn được ví cho tiếng của Như Lai. Bên cạnh đó, với nghĩa chữ phạm (梵) là thanh tịnh, nó có nghĩa là tiếng thanh tịnh của Như Lai, một trong 32 tướng tốt của Phật. Ngoài ra, nó còn có nghĩa là tiếng tụng kinh có âm khúc, là một trong Tứ Pháp Yếu gồm phạm bối, tán hoa, phạm âm và tích trượng.
; (梵音): còn gọi là phạm thanh (s: brahma-svara, 梵聲), một trong 32 tướng tốt của đức Phật, là âm thanh vi diệu, thanh tịnh của chư Phật, Bồ Tát, tiếng nói tròn đầy như tiếng vang của trống trời, cũng giống như tiếng chim Ca Lăng Tần Già (s:渠 karaviṅka; p: karavīka, 迦陵頻伽). Nhờ nói lời chân thật, lời nói hay, chế ngự hết thảy những lời nói xấu ác mà có được tướng tốt như vậy. Người nghe được tiếng nói như vậy, tùy theo căn cơ của mình mà có được lợi ích, sanh khởi điều tốt, cảm nhận và đoạn trừ được quyền thật lớn nhỏ, tiêu trừ mọi nghi ngờ. Tại Viên Thông Điện (圓通殿) của Giang Tâm Tự (江心寺), Ôn Châu (溫州), Tỉnh Triết Giang (浙江省) có câu đối: “Quán hạnh viên thông từ quán bi quán thanh tịnh quán, âm văn tự tại diệu âm phạm âm hải triều âm (觀行圓通慈觀悲觀清淨觀、音聞自在妙音梵音海潮音, hạnh quán tròn đầy từ quán bi quán thanh tịnh quán, tiếng nghe tự tại tiếng mầu tiếng phạm tiếng hải triều).” Hay như trong Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm (觀世音菩薩普門品) thứ 25 của Kinh Pháp Hoa có đoạn: “Diệu âm quán thế âm, phạm âm hải triều âm, thắng bỉ thế gian âm, thị cố tu thường niệm (妙音觀世音、梵音海潮音、勝彼世間音、是故須常念, diệu âm, quán thế âm, phạm âm, hải triều âm, hơn cả âm thế gian kia, cho nên phải thường nhớ đến).”
; giọng nói của Phạm thiên (Phạm âm thanh), Phạn ngữ: brahma-svara. Có năm đặc tính: 1. Nghe rền vang như tiếng sấm; 2. Tiếng trong trẻo nghe rất xa, và ai nghe cũng lấy làm vui vẻ, sung sướng; 3. Ai nghe cũng sanh lòng kính mến; 4. Tiếng giảng giải đạo lý rất giản dị, dễ hiểu; 5. Người nghe không thấy chán.
phạm âm
Brahmaghoṣa (S)Tiếng nói của Phạm thiên vương. Tiếng nói này có 5 đặc tính: thâm trầm như tiếng sấm, trong trẻo nghe rất xa va thấy sung sướng vui vẻ, ai cũng kính mến, giải đạo lý gọn ghẻ dễ dàng, nghe không chán. Do những công đức này, Phạm âm còn là tiếng nói của chư Phật hay chư Bồ tát.
; Bràhmaghosa (S) Brahma voice, clear, melodious, pure, deep, far-reaching, one of the thirty two marks of Buddha.
; 1) Brahma voice, one of the thirty-two marks of a Buddha: a) Tiếng nói trong trẻo: The voice is clear. b) Tiếng nói hòa nhã: The voice is melodious. c) Tiếng nói thanh tịnh (chính trực): The voice is pure. d) Tiếng nói sang sảng: The voice is deep. e) Tiếng nói ấy ngân vang, ở nơi xa cũng nghe thấy: The voice is far-reaching. 2) Tiếng ca hay tụng tán thán Phật: Singing in praise of Buddha. ** For more information, please see Âm Thanh Của Đức Như Lai.
; (梵音) I. Phạm Âm. Cũng gọi Phạm thanh. Chỉ cho âm thanh của Phật và Bồ tát, 1 trong 32 tướng hảo của Phật. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 4 thì Phạm âm vi diệu của Phật có 5 tính chất: 1. Rền vang như sấm. 2. Trong suốt vang xa, người nghe đều vui mừng. 3. Khiến người sinh tâm kính ái. 4. Rõ ràng dễ hiểu. 5. Người muốn nghe mãi, không cảm thấy chán. [X. phẩm Diệu âm bồ tát kinh Pháp hoa Q.7; kinh Vô lượng thọ Q.hạ]. II. Phạm Âm. Một trong các thứ Phạm bái (đọc canh, tán tụng). (xt. Tứ Cá Pháp Yếu).
phạm âm phật
Brahmaghoṣa-Buddha (S), Pure Sound BuddhaTên một vị Phật hay Như Lai.
phạm âm tướng
Brahma-svara (S), Brahmassara (P).
; (梵音相) Phạm: Brahma-svara. Pàli: Brahmassara. Cũng gọi Phạm thanh tướng, Phạm âm thâm viễn tướng, Đắc Phạm âm thanh tướng, Thanh như Phạm vương tướng, Hoằng nhã Phạm thanh tướng. Tướng Phạm âm thanh tịnh, vi diệu của Phật, 1 trong 32 tướng của Ngài. Phạm âm của Phật vang dội tròn đầy, như đánh trống trời, mầu nhiệm, tối thắng; lại như tiếng hót của chim Ca lăng tần già, khiến cho người nghe sinh tâm ưa thích, được vô lượng lợi ích. Đây là diệu tướng chiêu cảm được nhờ trong vô lượng kiếp, khi còn ở địa vị tu nhân, đức Phật đã không bao giờ nói ác khẩu, toàn nói lời chân thật dịu dàng, nói lời tốt đẹp, không chê bai Chính pháp, khiến cho người nghe tùy theo căn cơ đều được lợi ích, đều sinh tâm thiện, thường muốn nghe mãi... (xt. Tam Thập Nhị Tướng).
phạm điển
Buddhist sùtras, or books. Veda texts.
; Kinh điển Phật—The Buddhist sutras, or books.
; (梵典) Từ ngữ chỉ chung cho các kinh điển của Phật giáo. Bởi vì những kinh điển của Phật giáo truyền đến Trung quốc từ Phạm độ (Ấn độ), cho nên gọi là Phạm điển. Ngoài ra, những sách vở được viết bằng tiếng Phạm cũng gọi là Phạm điển. (xt. Phạm Bản). Tượng Vi Đà Thiên do Phạm Đạo Sinh tạc
phạm đàn
Brahmadaṇḍa (S).
; Brahmadanda (S). Xem mặc tâm.
; Brahmadanda (skt)—Phép trị tội Phạm Đàn. Khi vị sư nào phạm tội thì được đưa đếm “Phạm Đàn” để cách ly, cấm không cho nói chuyện với ai—Brahma-staff—The Brahma (religious) punishment; the explanation is to send to Coventry a recalcitrant monk, the forbidding of any conversation with him, or exclusion to silence.
; (梵壇) Phạm, Pàli: Brahma-daịđa. Cũng gọi Phạm đát. Hán dịch: Mặc sấn, Phạm pháp, Phạm thiên pháp trị, Phạm trượng. Một cách trị tội các tỉ khưu hoặc tỉ khưu ni phạm giới. Duy ma kinh lược sớ quyển 1 (Đại 38, 568 thượng) nói: Phạm đàn là phép trị tội của Phạm thiên, tức lập riêng 1 cái đàn, bắt người phạm pháp vào trong đó, các Phạm chúng không được nói chuyện với người ấy. Về sau, đức Phật cũng phỏng theo pháp này mà chế định pháp trị tội đối với tỉ khưu, tỉ khưu ni vi phạm giới luật. Cứ theo kinh Du hành trong Trường A hàm quyển 4, đức Phật bảo ngài A nan: Sau khi ta nhập Niết bàn, nếu tỉ khưu Xiển nộ (Pàli: Channa, tức Xa nặc) không thuận theo uy nghi, không chịu nghe lời răn dạy, thì ông nên cùng với đại chúng dùng pháp Phạm đàn mà trị phạt, đồng thời, bảo các tỉ khưu khác không được nói chuyện và làm việc chung với Xiển nộ. Xa nặc là 1trong nhóm 6 tỉ khưu thường làm những việc xấu xa, không hòa hợp với chúng tăng, vì thế mà đức Phật đã chế định pháp Phạm đàn này để răn dạy các tỉ khưu khác. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.37; luật Ngũ phần Q.30; luận Đại trí độ Q.2; Phạm võng kinh Pháp tạng sớ Q.6; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.7]. (xt. Phạm Phạt).
phạm đàn chỉ đa na lâm
(梵檀只多那林) Chỉ cho khu rừng trong đó có các vị tiên và Phạm chí ở ẩn. Khu rừng này thường phát ra mùi thơm ngào ngạt. [X. luận Thích ma ha diễn Q.5].
Phạm đường
(梵堂): nhà thờ Phật, tên gọi khác của tự viện Phật Giáo. Như trong bài Phụng Hòa Cửu Nguyệt Cửu Nhật Đăng Từ Ân Tự Phù Đồ Ứng Chế (奉和九月九日登慈恩寺浮屠應制) của Sầm Hi (岑羲, ?-713) nhà Đường có câu: “Phạm đường dao tập nhạn, đế nhạc cận tường loan (梵堂遙集雁、帝樂近翔鸞, chùa Phật xa nhạn đến, nhạc vua gần chim bay).” Hay trong Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林), phần Khí Dụng (器用) có câu: “Thọ quang thị trang đài vô trần chi kính, trường minh thị Phạm đường bất diệt chi đăng (壽光是妝檯無塵之鏡、長明是梵堂不滅之燈, sống lâu là kính trang điểm không gợn bụi, sáng tỏ là đèn bất diệt của Thiền môn).” Trong Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 8 còn cho biết thêm rằng: “Nhập đệ tứ Thiền, phục hữu tứ pháp, vị tứ Phạm đường, nhất từ, nhị bi, tam hỷ, tứ xả (入第四禪、復有四法、謂四梵堂、一慈、二悲、三喜、四捨, vào cõi Thiền thứ tư, lại có bốn pháp, gọi là bốn Phạm đường: một là từ, hai là bi, ba là hỷ, bốn là xả).”
phạm đạo
Thanh tịnh đạo—The way of purity, or celibacy; the brahman way.
; (梵道) Chỉ cho sự tu hành thiền tịnh để đoạn trừ dâm dục. Kinh Tạp thí dụ (Đại 4, 529 trung) nói: Phạm thiên vương này đã dứt sạch hết các thứ dâm dục, sân hận, vì thế nói rằng: Nếu có người tu hành thiền định, đoạn trừ dâm dục thì gọi là Thực hành Phạm đạo. [X. luận Đại trí độ Q.8]. (xt. Phạm).
phạm đạo sinh
(範道生) Nhà điêu khắc tượng Phật Trung quốc sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh. Lúc khởi công xây cất chùa Vạn phúc (1661), bản sơn của tông Hoàng bá của Nhật bản, Thiền sư Ẩn nguyên đặc biệt mời Phạm đạo sinh từ Trung quốc sang Nhật bản để tạc tượng Phật theo kiểu tượng Hoàng bá. Phương pháp tạc tượng của ông rất đặc thù nên đã có ảnh hưởng rất sâu đậm đối với giới điêu khắc Nhật bản thời Giang hộ.
phạm độ
Brahman-Land—Ấn Độ—India.
phạm đức
The power, or bliss of Brahmà.
; Năng lực hay phước đức của Phạm Thiên—The power, or bliss of Brahma.
Phạm 梵
[ja] ボン bon ||| (1) A transliteration of the Sanskrit brahman. The ultimate principle, or most elemental substrate of existence in Vedic religion. Later on, Brahman became personified as a god, and ended up becoming a guardian deity in Buddhism. (2) A transliteration of the Sanskrit brāhmana, a sage. (3) Pure, holy spiritual. (4) The sanskrit language. => 1. Phiên âm chữ brahman trong tiếng Sanskrit. Là nguyên lý tối thượng, nền tảng cơ bản nhất của hiện hữu trong tín ngưỡng Vệ-đà. Về sau, Brahman được nhân cách hoá trở thành một vị thần, và cuối cùng trở thành vị thần hộ pháp trong Phật giáo 2. Phiên âm chữ brāhmana trong tiếng Sanskrit, là một hiền nhân. 3. Thanh tịnh, phạm hạnh, thần thánh. 4. Tiếng Sanskrit.
Phạm 犯
[ja] ボン bon ||| To commit crimes; to be immoral, to break the precepts. => Phạm tội; trái đạo đức, phạm giới luật.
Phạm 範
[ja] ハン han ||| (1) Rule, law, example, model. (2) A pause, an end, a stop. =>1. Phép tắc, quy tắc; quy luật, điều lệ; mẫu mực, khuôn mẫu; mô hình. 2. Chỗ ngừng, sự tạm dừng; giới hạn, đoạn cuối; chỗ dừng.
phạn
1) Ăn cơm: To eat a meal. 2) Cơm: Rice. 3) Thức ăn: Food.
Phạn Bối
(梵唄, Bonbai): từ gọi chung chỉ cho Thanh Minh (聲明). Phạn hay Phạm (梵) là tiếng gọi tắt của Phạn Ngữ (梵語), Phạm Âm (梵音), Phạm Thanh (梵聲), v.v. Bối (唄) là từ xuất hiện đơn độc trong Thập Tụng Luật (十誦律) và thỉnh thoảng cũng thấy xuất hiện một số từ ghép như Bối Nặc (唄匿), Bối Tụng (唄誦), Kinh Bối (經唄), v.v. Nó là từ âm tả tiếng Phạn, còn Bối Nặc được xem như là âm tả của từ pāṭha (đọc tụng). Theo gốc tiếng Sanskrit, Phạn Bối có nghĩa là tán ca, nhưng hiện tại nó ám chỉ cho Thanh Minh vốn bao gồm cả Hán Ngữ Tán cũng như Hòa Tán, v.v., hay nói rộng ra là âm nhạc theo nghi thức Phật Giáo nói chung. Tại Trung Quốc, theo bộ Pháp Hoa Huyền Tán (法華玄讚) quyển 4, truyền thuyết cho rằng nhân một ngày nọ Tào Thực (曹植, 192-232, tức Trần Tư Vương [陳思王] của nhà Ngụy thời Tam Quốc) leo lên đỉnh núi Ngư Sơn (魚山), bỗng nghe được âm điệu văng vẳng như tiếng tụng kinh truyền lại từ trong hang núi, nên lần đầu tiên ông chế ra Phạn Bối.
phạn dự
Brahmadatta (S)Tên một vị vua có nhắc trong trong kinh Bản sanh.
phạn khánh
Chiếc khánh nhỏ dùng để đánh báo giờ cơm—The dinner-gong.
; (飯磬) Chiếc khánh dùng để báo hiệu giờ thụ trai của chư tăng.
phạn na
Vana (skt)—Một chòm cây—A wood—A grove.
Phạn ngữ
梵語; sanskrit (saṃskṛta); nguyên nghĩa là »trọn vẹn, hoàn hảo«, cũng được gọi là Nhã ngữ;|Ngôn ngữ được dùng để ghi lại những bài kinh của Ðại thừa Phật pháp, nói chung là ngôn ngữ được sử dụng trong các Thánh kinh của Ấn Ðộ.
phạn ngữ
Sanskrit (S).
; Sanskrit language
; Sanskrit (skt)—See Phạm Ngữ.
phạn sàng
(飯牀) Cũng gọi Phạn trác. Cái mâm dùng để bưng thức ăn của chư tăng.Lâm tế lục (Đại 47, 503 trung) ghi: Ngài Phổ hóa đạp đổ phạn sàng, sư nói: Quá thô tháo!. [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Phạn Tăng
(飯僧): tên gọi khác của Trai Tăng (齋僧), tức thiết bày cơm chay cúng dường Tăng chúng, chỉ chung cho việc cúng dường tại các tự viện hay tư gia Phật tử. Theo Phạm Võng Kinh (梵綱經) quyển hạ, vào ngày cha mẹ, anh em, Hòa Thượng, A Xà Lê (阿闍梨) qua đời, hoặc vào dịp 21 ngày hay 49 ngày, nên đọc tụng, thuyết giảng kinh luật Đại Thừa, thiết lập Trai Hội để hồi hướng công đức cho những người này. Ban đầu, việc Trai Tăng thể hiện tín tâm, quy y; nhưng về sau thì chuyển sang mục đích chúc tụng, báo ân, làm điều thiện, v.v.; vì vậy việc làm này trở thành phổ cập hóa. Tại Trung Quốc, Pháp Hội Trai Tăng rất thịnh hành dưới thời nhà Đường, vào năm thứ 7 (772) niên hiệu Đại Lịch (大曆), trong khoảng niên hiệu Trinh Nguyên (貞元, 785-805), năm thứ 12 (871) niên hiệu Hàm Thông (咸通), đều có cử hành những lễ Trai Tăng long trọng. Ngoài ra, tại Nhật Bản, Triều Tiên, Đài Loan, Việt Nam, v.v., hình thức Trai Tăng cũng rất phổ cập và được xem trọng. Trong Ma Ha Tăng Kỳ Luật (s: Mahāsaṅghavinaya, 摩訶僧祇律卷, Taishō No. 1425) quyển 22 có đoạn: “Nhĩ thời hữu Trưởng Giả tựu Tinh Xá trung phạn tăng, Lục Quần Tỳ Kheo tiên đa thọ canh, hậu thọ phạn (爾時有長者就精舍中飯僧、六群比丘先多受羹、後受飯, lúc bấy giờ có vị Trưởng Giả đến Tinh Xá cúng dường Trai Tăng, nhóm Lục Quần Tỳ Kheo trước hết thọ nhận nhiều canh xúp, sau mới thọ nhận cơm).”
phạn âm
Buddha's voice—See Phạm Âm and Âm Thanh của Đức Như Lai.
phạn đái tử
Cái túi đựng gạo, ví với Tỳ Kheo vô dụng, chỉ biết có ăn uống ngủ nghỉ—A rice-bag fellow, a useless monk who only devoted to his food, drinking, sleeping, and resting.
phạn đầu
Vị Tăng coi về việc nấu nướng trong chùa—A monk who is responsible for the cooking (kitchen) in a monastery.
; (飯頭) Chức vụ của vị tăng trông nom cơm cháo cho đại chúng trong Thiền lâm, dưới quyền vị Điển tọa. Vị này có trách nhiệm chu toàn các việc như kiểm tra số chúng tăng, xem xét lúa gạo tốt hay xấu, phân biệt nước uống trong hay đục, rau cải nhiều ít, củi than có hay không, cho đến chùi rửa các dụng cụ nhà bếp, xử lí các thực phẩm hư thiu v.v... [X. điều Phạn đầu trong Huyễn trụ thanh qui; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên; điều Phạn đầu trong Tăng đường thanh qui Q.5].
Phạp đạo
乏道; C: fádào; J: bōdō;|Tiếng Hán dịch từ chữ samaṇa của tiếng Pa-li hoặc śramaṇa từ tiếng Phạn. Xem Sa-môn (沙門).
phạp đạo
xem sa-môn.
; (乏道) Nghèo đạo. Là từ dịch khác của chữ Sa môn (Phạm: Zramaịa). Chỉ cho người mà đạo lực còn thiếu thốn, yếu kém. Đây là tiếng khiêm nhường tự nhún, đại khái cũng giống như từ ngữ Bần đạo vậy.
phạt
(罰) Chỉ cho sự xử phạt. Đối với những thành viên trong giáo đoàn vi phạm giới luật, tùy theo tội nặng nhẹ mà áp dụng nhiều hình thức xử phạt khác nhau. Về giới luật thì có giới Đại thừa và giới Tiểu thừa. Trong giới Đại thừa, bất luận phạm loại trọng tội nào cũng đều được sám hối; nhưng giới Tiểu thừa thì tội nặng là tội Ba la di, người vi phạm không được sám hối mà phải bị đuổi ra khỏi giáo đoàn, còn tội nhẹ như tội Đột cát la thì cầu sám hối và có thể bị xử phạt ở riêng hay tước bỏ quyền lợi tăng ni. [X. điều Túc chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2].
phạt chiết la
Vajra (S), Thunder. Diamond.
; (伐折羅) Phạm: Vajra. Cũng gọi Bạt chiết la, Bả chiết la, Bạt chiết lỗ, Hòa kì la. Hán dịch: Kim cương. Tên vị thần thống lãnh chúng Dạ xoa giữ gìn Phật pháp, là 1 trong 12 thần tướng nói trong kinh Dược sư. Về hình tượng của vị thần này có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Tịnh lưu li tịnh độ tiêu, thì vị thần này có da màu xanh, mắt đỏ, cỡi con thỏ, cầm cây phạt chiết la 3 chĩa, tay trái co lại. Còn theo kinh Dược sư Lưu li quang vương thất Phật bản nguyện công đức niệm tụng nghi quĩ cúng dường pháp, thì vị thần này có thân màu trắng, tay cầm kiếm báu. Theo Dược sư nghi quĩ bố đàn pháp thì da vị thần này màu xanh, tay cầm kiếm. Ngoài ra, cứ theo Giác thiền sao thì phương vị của thần Phạt chiết la là phương Tuất, lấy bồ tát Đại thế chí làm bản địa. [X. kinh Quán đính Q.12; kinh Dược sư Như lai bản nguyện; kinh Đà la ni tập Q.2]. (xt. Dược Sư Thập Nhị Thần Tướng).
phạt kì sa lạp
(伐其沙拉) Pàli:Vàcissara. Cao tăng và học giả người Tích lan, sống vào hậu bán thế kỉ XII, dưới thời vua Parakkamabàhu đệ nhất, là đệ tử của trưởng lãoSàriputta, nổi tiếng là nhà chú thích kinh điển. Nhưng, theo Tiểu vương thống sử (Pàli: Cùơavaôsa, 81), thì vào tiền bán thế kỉ XIII, dưới triều vuaVijayabàhuđệ tam, trưởng lão Ô a cấp tát lạp, vì tránh nạn chiến tranh, nên đem bát và răng của đức Phật từ thủ đô Pulatthi dời đến chân núi Kotthusnala, rồi ngài sang miền Nam Ấn độ. Sau, vua Vijayabàhu thỉnh ngài về nước, tham dự đại hội cúng dường bát và răng của đức Phật. Có thuyết cho rằng trưởng lão Ô a cấp tát lạp này và ngài Phạt kì sa lạp là cùng 1 người, nhưng sự thật thế nào thì không rõ. Ngài có các tác phẩm: Cảnh giới trang nghiêm nhiếp, Chú thích văn bản học (Pàli: Mùlasikkhà-abhinava-ỉìkà) của ngài Dhammasiri, Chú thích danh sắc sao (Pàli: Khema-ppakaraịa-ỉìkà) của ngài Khema. [X. Dictionary ofPàli Proper Names by G.P Malalasekera].
phạt lí sa
(伐裏沙) Phạm: Vàrwya. Cũng gọi Phiệt lí sa. Hán dịch: Vũ. Tên vị bộ chủ của học phái Số luận trong 6 phái Triết học ở Ấn độ đời xưa. Thành duy thức luận thuật kí quyển 1, phần cuối (Đại 43, 252 trung) nói: Vị bộ chủ trong 18 bộ tên là Phạt lí sa, Hán dịch là vũ «B(mưa), vì ông sinh ra lúc trời đang mưa, nên dùng Vũ để đặt tên. Đồ chúng của ông gọi là Vũ chúng ngoại đạo. (xt. Vũ Chúng Ngoại Đạo).
phạt lạp tì quốc
(伐臘毗國) Phạt lạp tì, Phạm:Valabhì. Cũng gọi Bạt lạp tì quốc, Bắc la la quốc. Tên một nước xưa thuộc miền Nam Ấn độ, có lẽ là bán đảo Kàthiàwàrngày nay. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11, nước này chu vi hơn 6 nghìn dặm, kinh đô chu vi hơn 30 dặm, dân cư đông đúc, gia đình giầu có, hàng hóa quí hiếm từ khắp nơi đều dồn về đây. Trong nước có hơn 100 ngôi chùa với trên 6 nghìn tăng đồ, phần nhiều tu học theo pháp của Chính lượng bộ Tiểu thừa. Khi đức Phật còn tại thế, Ngài từng đến nước này giáo hóa nhiều lần. Gần kinh đô có ngôi đại già lam do A và Kiên tuệ từng ở già lam này để viết các bộ luận. Ngoài ra còn có mấy trăm đền thờ trời và nhiều đạo khác. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4].
phạt na bà tư
Vanavasin (S)Một trong 16 vị A la hán vâng lời Phật dạy trụ ở thế gian giữ gìn chánh pháp.
; (伐那婆斯) Phạm: Vanavàsin. Cũng gọi Phạt na ba tư, Bạt nạp bạt tây, Phạt la bà tư. Tên vị A la hán thứ 14 trong 16 vị A la hán, cùng các bậc Thánh ở trong núi Khả trụ, giữ gìn chính pháp, làm lợi ích cho chúng sinh. Theo bức tượng do Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu vẽ vào đời Đường, thì Ngài ngồi xếp bằng trong động đá, áo phủ kín 2 vai, che khuất 2 tay, mắt nhắm lại, vào thiền định. Thi hào Tô đông pha đời Tống có đề thơ rằng: Tâm như nắm tro tàn Thân tựa khúc củi khô Thần thấu suốt muôn vật Xương thịt gửi đá lạnh Khánh sắt nào ai đánh Hang trống tiếng truyền vang Người gọi chẳng thèm nghe Mắt cũng không hề chớp. [X. Đại A la hán nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập; Phật tượng đồ vựng Q.3].
phạt trí ha lợi
(伐㮹呵利) Phạm: Bhartfhari. Triết gia người Trung Ấn độ, ông còn là nhà thơ, nhà Văn pháp học và Ngôn ngữ học.Ông xuất thân từ dòng dõi vua chúa, thời niên thiếu tha hồ hưởng thụ, lúc về già, vì muốn trừ bỏ phiền não nên ông qui y Phật pháp. Ông là nhà thơ trữ tình nổi tiếng. Ông cũng là người dùng phương thức triết học để giải thích thực thể của ngôn ngữ. Dựa theo tác phẩm Bách tụng thi tập của ông mà suy đoán thì có lẽ ông sống vào thế kỉ thứ VII. Nhưng Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 cho rằng Đại học sĩ Phạt trí ha lợi rất kính tin Phật pháp, có soạn các tác phẩm về văn pháp như Tất noa, Phạt trí ha lợi luận... là nhà Ngữ văn học sống vào khoảng thế kỉ thứ V. Như vậy, Phạt trí ha lợi là 2 người khác thời đại, hay chỉ là 1 người mà không xác định được thời đại sinh sống và hoạt động? Ông có các tác phẩm: Bách tụng thi tập gồm: Luyến ái bách tụng (Phạm: Zfígàrazataka), Xử thế bách tụng (Phạm: Nìtizataka), Li dục bách tụng (Phạm: Vairàgya-zataka), Văn chương đơn ngữ thiên, Đại chú giải thư giải minh... [X. The Epigrams attributed to Bhartfhari, including the three centuries, Bombay 1948, by D.D. Kosambi].
phạt tô bàn độ
Xem Thế Thân Bồ tát.
phạt xà la phất đa la
(伐闍羅弗多羅) Phạm:Vajra-putra. Cũng gọi Phạt xà na phất đa, Phạt xà la phật đà la, Xà la phất đa la, Bạt tạp lí bô đáp lạt.Hán dịch: Kim cương tử. Tên vị A la hán thứ 8 trong 16 vị A la hán, cùng với 1.100 quyến thuộc trụ ở châu Bát lạt noa để giữ gìn Chính pháp, làm lợi ích cho chúng sinh. Cứ theo kinh Thị giả trong Trung a hàm quyển 8, sau khi đức Phật nhập Niết bàn không bao lâu, một hôm ngài A nan nói pháp cho đại chúng nghe, tôn giả Kim cương tử cũng hiện diện trong đại chúng, nhập định thấy ngài A nan chưa lìa dục, liền xuất định nói kệ cho ngài A nan nghe. Ngài A nan nhân đó thụ giáo tôn giả Kim cương tử và rời chúng tinh tiến tu hành, cuối cùng chứng được quả A la hán. Tôn giả Kim cương tử nêu trên đây chính là chỉ cho tôn giả Phạt xà la phất đa la. Qua bức tượng do Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu vẽ vào đời Đường thì Ngài quấn áo pháp để hở nửa phần thân trên, ngồi trên phiến đá, 2 cánh tay giao nhau đặt trên đầu gối, bàn tay thõng xuống, dáng vẻ trầm tư, ở bên phải có 1 quyển kinh lá bối. Thi hào Tô đông pha đời Tống có bài tán rằng: Hai mắt lặng nhìn Hai tay buông thõng Mắt để vào kinh Tay buông trên gối Mắt tay quên nhau Cũng chẳng ngại nhau Bốn câu kệ này Trên đầu ngón tay. [X. La hán đồ tán tập; Phật tượng đồ vựng Q.3].
Phạt-na Bà-tư
伐那婆斯; C: fánàpósī; J: banabashi; S: vanavasin.|Tên của 1 trong 16 vị A-la-hán, nguyện ở lại thế gian nầy để đảm nhiệm việc truyền bá chính pháp.
Phạt-na-bà-tư 伐那婆斯
[ja] バナバシ Banabashi ||| Vanavasin, one of the sixteen arhats 十六羅漢 who vowed to stay in this world to ensure the transmission of the correct dharma. => (j: Banabashi; s: Vanavasin ) Tên của 1 trong 16 vị A-la-hán, nguyện ở lại thế gian nầy để đảm nhiệm việc truyền bá chính pháp.
Phạt-tô-mật-đa-la
伐蘇蜜多羅; C: fásūmìduōluó; J: bassomit-tara;|Phiên âm từ chữ Phạn Vasumitra, dịch sang Hán ngữ là Thế Hữu (世友).
Phạt-tô-mật-đa-la 伐蘇蜜多羅
[ja]バッソミッタラ Bassomittara ||| Transcription of the name of Vasumitra, which is translated into Chinese as => Phiên âm tên của Ngài Vasumitra, Hán dịch là Thế Hữu 世友.
Phạt-xà-la Phất-đa-la
伐闍羅弗多羅; C: fádūluófúduōluó; J: batoraputara; S: vajraputra.|Tên của 1 trong 16 vị A-la-hán, nguyện ở lại thế gian nầy để đảm nhiệm việc truyền bá chính pháp.
phạt-xà-la-phất-đa-la
Vajraputra (S)Một trong 16 vị A la hán vâng lời Phật dạy trụ ở thế gian giữ gìn chánh pháp.
Phạt-xà-la-phất-đa-la 伐闍羅弗多羅
[ja] バトラプタラ Batoraputara ||| Vajraputra, one of the sixteen arhats 十六羅漢 who vowed to stay in this world to ensure the transmission of the correct dharma. (j: Batoraputara; s: Vajraputra) => Tên của 1 trong 16 vị A-la-hán, nguyện ở lại thế gian nầy để đảm nhiệm việc truyền bá chính pháp.
phả
Kha khá—Quite—Very—Somewhat—Partial.
; (頗) Cũng gọi Phát, Ba, Phá, Sa phả. Chỉ cho chữ Tất đàm (pha), 1 trong 50, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Về nghĩa chữ này trong kinh điển có 2 cách giải thích: 1. Phả là chữ đầu của tiếng Phạm Phala (Hán âm: Phả la; Hán dịch: Quả). Căn cứ theo nghĩa Quả mà lập các thuyết như sau: - Phẩm Quảng thừa kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5 cho rằng chữ Phả có nghĩa là vào khắp các pháp bất khả đắc. - Luận Đại trí độ quyển 48 dựa vào phẩm Quảng thừa trên đây mà giải thích là: Nếu nghe chữ Phả thì biết rõ nhân quả của tất cả pháp đều không. - Phẩm Thị thư kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 thì nói: Khi xướng chữ Phả liền được quả nhập vào âm thanh hiện chứng (Phạm: Phala-pratisàkwàtkriyà-zabda). 2. Phả là chữ đầu của tiếng PhạmPhena (Hán âm: Bái nô; Hán dịch: Tụ mạt – đám bọt nước). Dựa theo nghĩa bọt nước mà lập các thuyết sau: - Phẩm Thích tự mẫu kinh Du già kim cương đính nói: Chữ Phả nghĩa là tất cả các pháp không bền chắc, giống như đám bọt nước, rất dễ tan biến. - Phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 2 cũng giải thích nghĩa chữ Phả là đám bọt nước. [X. phẩm Học tập kĩ nghệ kinh Phật bản hạnh tập Q.11; phẩm Quán kinh Quang tán bát nhã Q.7; phẩm Tự mẫu kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.7].
; (頗) Cũng gọi Ba, Bá. Chữ Tất đàm (pa), 1 trong 50, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm, nghĩa là Đệ nhất nghĩa đế. Kinh Phóng quang bát nhã quyển 4 (Đại 8, 26 trung) nói: Ba là Đệ nhất nghĩa đế trong các pháp nê hoàn. Phẩm Quảng thừa trong kinh Ma ha bát nhã ba la mật (Đại 8, 256 thượng) nói: Chữ Ba là Đệ nhất nghĩa của tất cả pháp. Phẩm Thích tự mẫu kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 339 thượng) nói: Chữ Phả là Đệ nhất nghĩa đế của tất cả pháp bất khả đắc. Bởi vì Đệ nhất nghĩa đế tiếng Phạm là: Paramàrtha, mà Pa là âm đầu trong Paramàrka, cho nên nói chữ Palà Đệ nhất nghĩa đế. Ngoài ra, theo kinh Hoa nghiêm quyển 76 (bản dịch mới) thì Pa có nghĩa là chiếu khắp pháp giới (Phạm: Dharmadhàtu-talasambheda). Phẩm Văn tự kinh Đại bát niết bàn quyển 8 (bản Bắc) thì cho rằng chữ Pa là nghĩa điên đảo. [X. phẩm Nhập pháp giới kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm; phẩm Tự mẫu kinh Văn thù vấn; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; phẩm Bách tự thành tựu trì tụng kinh Đại nhật Q.6; luận Đại trí độ Q.48].
phả la
Phala (skt)—Quả—Fruit—Produce—Progeny—Profit.
phả la đoạ
(頗羅墮) Phạm: Bharadvàja. Cũng gọi Phả la tra. Hán dịch: Lợi căn tiên nhân, Biện tài, Mãn, Mãn chính. Một trong 6 họ Bà la môn, hoặc 1 trong 18 họ Bà la môn ở Ấn độ xưa. Cứ theo phẩm Tựa kinh Diệu pháp liên hoa thì đức Phật Nhật nguyệt đăng minh mang họ Phả la đọa. [X. Pháp hoa nghĩa sớ Q.2, 3; Pháp hoa văn cú Q.3; Pháp hoa huyền tán Q.2].
phả la đọa
Bharadvâja (S). Xem lợi căn.
; Bharadvaja (skt). 1) Còn gọi là Phả La Trá, dòng dõi của một trong sáu họ Bà La Môn: Descendant of the ancient sage Bharadvaja, interpreted as one of the six Brahmin surnames. 2) Lợi căn hay thông minh: Also has the meaning of keen mind, or clever.
phả lê
Rock crystal—See Pha Lê.
phả lặc cũ nã
(頗勒窶拿) Phạm: Phàlguna. Pàli: Phagguịa. Cũng gọi Phả lặc bối na, Phả la ngộ nị, Phả cầu na, Khu lặc cụ noa, Phả lặc noa, Phả la ngu na, Phá cầu. Hán dịch: Mạnh xuân. Tên gọi tháng 12 của lịch Ấn độ, tương đương với khoảng thời gian từ ngày 16 tháng 12 đến ngày 15 tháng giêng năm sau của âm lịch Trung quốc. Vào ngày trăng tròn trong tháng này chính là lúc sao Dực (Phạm: Uttara-phalgunì) xuất hiện, cho nên gọi là Phả lặc củ noa. Tháng này rơi vào mùa đông nên rất lạnh. [X. kinh Thập nhị duyên sinh tường thụy Q.thượng; kinh Tú diệu Q.thượng; kinh Xá Đầu gián thái tử nhị thập bát tú; Đại đường tây vực kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.24]. (xt. Thập Nhị Nguyệt Danh).
phả ni đa
Phanita (skt)—Đường mía—The inspissated juice of the sugar can, or raw sugar.
; (頗尼多) Phạm: Phàịita. Chỉ cho nước mía được nấu lần đầu tiên. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 3 (Đại 17, 17 thượng) nói: Pháp trong trắng sinh ra giốngnhư nước mía, bỏ mía vào nồi đun lên, khi sôi thì chất dơ bẩn nổi lên mặt, lần đầu tiên gọi là Phả ni đa. Nấu lần thứ 2 thì nước ấy đặc dần, gọi là Phả lữ. Nấu lần thứ 3 thì màu của nó trắng ra, gọi là Thạch mật (đường phèn).
phải
1) Bên phải: Right. 2) Cần phải: To have to—Must—Should—Ought to. 3) Đúng: Right.
phải chăng
Reasonable.
phải quấy
Right or wrong.
phải trái
Right or left—Right or wrong.
phản
1) Chiếc phản: Camp-bed—Plank bed. 2) Chống lại: Anti—Counter. 3) Làm phản: To rebel. 4) Ngược lại: Contrary. 5) Phản bội: To betray. 6) Trở về: Turn over—Trun or send back.
Phản Bản Hạnh Nam
(阪本幸男) (1899-1973) Học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện Cương sơn, Nhật bản. Năm 1929, ông tốt nghiệp Tiến sĩ Văn học ở trường Đại học Đông kinh, ông từng làm Giáo sư trường Đại học Lập chính và Giám đốc sở Nghiên cứu văn hóa Pháp hoa. Ông thuộc tông Nhật liên và là người có uy tín lớn đối với giáo học Hoa nghiêm đương thời tại Nhật bản. Ông có các tác phẩm: Hoa nghiêm kinh thám huyền kí dịch chú, Hoa nghiêm giáo học đích nghiên cứu, Pháp hoa kinh dịch chú, Đại tì bà sa luận dịch chú.
phản chiếu
Paribimbaya (skt)—Phản ánh—To reflect.
phản hồn hương
(反魂香) Hương làm cho hồn trở về. Tên của 1 loại hương, mùi thơm của nó có năng lực làm cho người chết sống lại, vì thế gọi là Phản hồn hương. Cứ theo Hán thư Đông phương sóc thập châu, vào năm Chinh hòa thứ 3 (90 trước Tây lịch) đời vua Vũ đế, nước Nguyệt chi có cống hiến cho Vũ đế nhà Hán 4 lạng Phản hồn hương. Ngoài ra, Bản thảo cương mục quyển 16 cho rằng, Tử uyển còn có tên là Phản hồn thảo (cỏ Phản hồn), chính là 1 loại khác của hương này. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.18; Tăng quảng bản thảo cương mục Q.34].
phản lưu tứ vị
(反流四位) Cũng gọi Thủy giác tứ vị, Thủy giác phản lưu tứ vị. Chỉ cho 4 vị: Bất giác, Tương tự giác, Tùy phần giác và Cứu cánh giác do luận Đại thừa khởi tín lập ra. Bốn vị này theo thứ lớp ngược dòng vô minh sinh tử mà trở về nguồn gốc Chân như tịch diệt, cho nên gọi là Phản lưu tứ vị(4 vị ngược dòng). Trong 4 vị này, Bất giác chỉ cho phàm phu, Tương tự giác chỉ cho Nhị thừa và hàng Bồ tát Tam hiền, Tùy phần giác chỉ cho hàng Bồ tát từ Sơ địa đến Cửu địa, còn Cứu cánh giác thì chỉ cho Bồ tát Thập địa. [X. luận Thích ma ha diễn Q.3; Đại thừa khởi tín luậnnghĩa kí Q.trung, phần đầu]. (xt. Bản Giác).
phản quang
Reflected light.
phản quang tự kỷ
Hồi quang tự kỷ—Hồi quang biến chiếu—To turn the spotlight to ourselves—To turn back and reflect ourselves.
phản sao
(反抄) Lật trái mặt trước của ca sa vắt lên vai bên phải. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 2 (Đại 54, 215 thượng) nói: Làm việc riêng ở chỗ vắng, được tùy ý phản sao. Nếu đứng trước tôn dung thì cần phải tề chỉnh, vắt góc áo bên phải lên vai trái, cho rủ xuống phía sau lưng, không được vắt lên khuỷu tay. Theo luật Thập tụng quyển 19 thì có lần đức Phật và các vị tỉ khưu vào nội thành Xá vệ nhận sự cúng dường. Lúc ấy, Lục quần tỉ khưu phản sao y vào nhà cư sĩ, các cư sĩ thấy cách mặc áo ấy giống như vương công, đại thần nên chê trách. Đức Phật nghe biết việc này liền răn dạy các tỉ khưu không được phản sao y vào nhà cư sĩ, nếu không thì phạm tội Đột các la. [X. Di sa tắc ngũ phần giới bản].
phản suất sanh tử
1) Một trong bảy loại sanh tử—One of the seven kinds of mortality. 2) Thoát vòng sanh tử để đi vào Niết Bàn—Escape from mortality into nirvana.
phản trắc
Unreliable—Dishonest.
phản tỉnh
A turning about.
phản tỉnh khẩu nghiệp
Trong Kinh Giáo Giới La Hầu La ở Rừng Am Bà La trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật đã dạy La Hầu La về 'Phản Tỉnh Khẩu Nghiệp'—The Buddha taught Venerable Rahula about 'Action With the Speech' in the Ambalatthikarahulovada Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha: 1) Này La Hầu La, khi ông muốn làm một khẩu nghiệp gì, hãy phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp nầy của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Rahula, when you wish to do an ction by speech (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1, just substituting “speech” for “body”). a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết:”Khẩu nghiệp nầy ta muốn làm. Khẩu nghiệp nầy của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại nguời, có thể đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một khẩu nghiệp như vậy, này La Hầu La, nhất định chớ có làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1a, just substituting “speech” for “body”). b) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Khẩu nghiệp nầy ta muốn làm. Khẩu nghiệp nầy của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người; không có thể đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Một khẩu nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông nên làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1b, just substituting “speech” for “body”). 2) Này La Hầu La, khi ông đang làm một khẩu nghiệp, ông cần phải phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp nầy ta đang làm. Khẩu nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Rahula, when you are doing an action by speech (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2, just substituting “speech” for “body”). a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Khẩu nghiệp nầy ta đang làm. Khẩu nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Này La Hầu La, ông hãy từ bỏ một khẩu nghiệp như vậy (Please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2a, just substituting “speech” for “body”). b) Nhưng nếu này La Hầu La, khi phản tỉnh, ông biết như sau: “Khẩu nghiệp nầy ta đang làm. Khẩu nghiệp nầy của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Khẩu nghiệp như vậy, nầy La Hầu La, ông cần phải tiếp tục làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2b, just substituting “speech” for “body”). 3) Sau khi ông làm xong một khẩu nghiệp, này La Hầu La, ông cần phải phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp nầy ta đã làm. Khẩu nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo khổ.”—Rahula, after you have done an action by speech (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 3, just substituting “speech” for “body”). a) Nếu trong khi phản tỉnh, này La Hầu La, ông biết như sau: “Khẩu nghiệp nầy ta đã làm. Khẩu nghiệp nầy đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một khẩu nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước vị Đạo Sư, hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 3a, just substituting “speech” for “body”). b) Nếu trong khi phản tỉnh, này La Hầu La, ông biết như sau: “Khẩu nghiệp nầy ta đã làm. Khẩu nghiệp nầy không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Do vậy, này La Hầu La, ông phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 3b, just substituting “speech” for “body”).
phản tỉnh thân nghiệp
Trong Kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Am Bà La trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật đã dạy La Hầu La về 'Phản Tỉnh Thân Nghiệp'—The Buddha taught Venerable Rahula about 'Action With the Body' in the Ambalatthikarahulovada Sutta in the Middle Length Dicourses of the Buddha: 1) “Này La Hầu La, khi ông muốn làm một thân nghiệp gì, hãy phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp nầy của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.”—Rahula, when you wish to do an action with the body, you should reflect upon that same bodily action thus: “Would this action that I wish to do with the body lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both? Is it an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results?” a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh ông biết: “Thân nghiệp nầy ta muốn làm. Thân nghiệp nầy của ta có thể đưa tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một thân nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông nhất định chớ có làm—When you reflect, if you know: “This action that I wish to do with the body would lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it is an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results,” then you definitely should not do such an action with the body. b) Này La Hầu La, khi ông muốn làm một thân nghiệp, nếu sau khi phản tỉnh ông biết: “Thân nghiệp nầy ta muốn làm. Thân nghiệp nầy của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người, , không thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đưa đến quả báo an lạc.” Một thân nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông nên làm—When you reflect, if you know: “This action that I wish to do with the body would not lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it is a wholesome bodily action with pleasant consequences, with pleasant results,” then you may do such an action with the body. 2) Này La Hầu La, khi ông đang làm một thân nghiệp, ông cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp nầy ta đang làm. Thân nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.”—Rahula, while you are doing an action with the body, you should reflect upon that same bodily action thus: “Does this action that I am doing with the body lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both? Is it an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results?” a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Thân nghiệp nầy ta đang làm. Thân nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Này La Hầu La, ông hãy từ bỏ một thân nghiệp như vậy.—Rahula, when you reflect, if you know: “This action that I am doing with the body leads to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it is an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results,” then you should suspend such a bodily action. b) Nhưng nếu, này La Hầu La, trong khi phản tỉnh, ông biết như sau: “Thân nghiệp nầy ta đang làm. Thân nghiệp nầy của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Thân nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông cần phải tiếp tục làm.—But when you reflect, if you know: “This action that I am doing with the body does not lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it is a wholesome bodily action with pleasant consequences, with pleasant results,” then you may continue in such a bodily action. 3) Này La Hầu La, sau khi làm xong một thân nghiệp, ông cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp nầy ta đã làm, thân nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.”—Rahula, after you have done an action with the body, you should reflect upon that same bodily action thus: “Does this action that I have done with the body lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both? Was it an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results?” a) Nếu trong khi phản tỉnh, này La Hầu La, ông biết như sau: “Thân nghiệp nầy ta đã làm. Thân nghiệp nầy đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một thân nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước các vị Đạo Sư, hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai.—When you reflect, if you know: “This action that I have done with the body leads to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it was an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results,” then you should confess such a bodily action, reveal it, and lay it open to the Teacher or to your wise companions in the holy life. Having confessed it, revealed it, and laid it open, you should undertake restraint for the future. b) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết như sau: “Thân nghiệp nầy ta đã làm. Thân nghiệp nầy không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Do vậy, này La Hầu La, ông phải an trú trong niềm hoan hỷ tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp.—Rahula, but when you reflect, if you know: “This action that I have done with the body does not lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it was a wholesome bodily action with pleasant consequences, with pleasant results," you”can abide happy and glad, training day and night in wholesome states.
phản tỉnh ý nghiệp
Đức Phật đã dạy Đại Đức La Hầu La về 'Phản Tỉnh Ý Nghiệp' trong Kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Am Bà La—The Buddha taught Venerable about 'Action With the Mind' in the Ambalatthikarahulovada Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha: 1) Này La Hầu La, như ông muốn làm một ý nghiệp gì, hãy phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: “Ý nghiệp nầy của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.”—Rahula, when you wish to do an action by mind (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1, just substituting “mind” for “body'). a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Ý nghiệp nầy ta muốn làm. Ý nghiệp nầy của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một ý nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông nhất định chớ có làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1a, just substituting “mind” for “body”). b) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Ý nghiệp nầy ta muốn làm. Ý nghiệp nầy của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người, không có thể đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Ý nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông nên làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1b, just substituting “mind” for “body”). 2) Này La Hầu La, khi ông đang làm một ý nghiệp, ông cần phải phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: “Ý nghiệp nầy ta đang làm. Ý nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Rahula, while you are doing an action by mind (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2, just substituting “mind” for “body”). a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Ý nghiệp nầy ta đang làm. Ý nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Này La Hầu La, ông hãy từ bỏ một ý nghiệp như vậy (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2a, just substituting “mind” for “body”). b) Nhưng nếu, này La Hầu La, khi phản tỉnh ông biết như sau: “Ý nghiệp nầy ta đang làm. Ý nghiệp nầy của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Ý nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông phải tiếp tục làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2b, just substituting “mind” for “body”). 3) Sau khi làm xong một ý nghiệp, này La Hầu La, ông cần phải phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: “Ý nghiệp nầy ta đã làm. Ý nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.”—Rahula, after you have done an action by mind (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 3, just substituting “mind” for “body”). a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết như sau: “Ý nghiệp nầy ta đã làm. Ý nghiệp nầy đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một ý nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông cần phải lo âu, cần phải tàm quý, cần phải nhàm chán. Sau khi lo âu, tàm quý, nhàm chán, cần phải phòng hộ trong tương lai (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2a, just substituting “mind” for “body”). b) Còn nếu trong khi phản tỉnh, này La Hầu La, ông biết: “Ý nghiệp này ta đã làm. Ý nghiệp nầy không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Do vậy, này La Hầu La, ông phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 3b, just substituting “mind” for “body”).
phản tục
(反俗) Chỉ cho vị tăng trở về làm người thế tục.Kinh Đại bảo tích quyển 88 (Đại 11, 507 thượng) chép: Các tỉ khưu nói: (...) Chúng con không thể tu được pháp này, muốn trở về thế tục. Vì sao? Vì thức ăn của tín thí khó tiêu. Ngoài ra, giữa 2 từ ngữ Hoàn tục và Qui tục có nghĩa khác nhau. Hoàn tục là vị tăng phạm tội bị đuổi về nhà; còn Qui tục nghĩa là vị tăng tự nguyện bỏ tăng để trở về tục. [X. Cư gia tất huề lại học chỉ nam thiên].
phản xoa hợp chưởng
Một trong mười hai cách chấp tay, đan bện những ngón tay vào nhau—One of the twelve forms of folded hands, with interlocking fingers.
phản xuất sanh tử
See Phản Suất Sanh Tử.
phản xuất sinh tử
(反出生死) Ra khỏi sinh tử, 1 trong 7 loại sinh tử, do Nhiếp đại thừa luận sư lập ra. Nghĩa là nếu chúng sinh phát tâm tu hành, bỏ vọng về chân thì có thể ra khỏi sinh tử mà đến Niết bàn. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.7, phần 1; Đại minh tam tạng pháp số Q.30]. (xt. Thất Chủng Sinh Tử).
phản đạo đức
Immoral.
phản đối
To oppose—To object.
phản ảnh
To reflect
phản ứng
Reaction.
phảng hét
Đức Sơn vào cửa liền phảng (đập gậy), Lâm Tế vào cửa liền hét. So với tác dụng “Niêm hoa thị chúng” của Phật Thích Ca chẳng khác. Ấy đều là dùng để cắt đứt ý thức hiện hành của đương cơ mà đạt đến mục đích “Ngay đó kiến tánh”.
Phảng phất
仿佛; C: pángfó; J: hōfutsu;|Có hai nghĩa: 1. Rất tương đồng, hoàn toàn giống hệt nhau về hình tướng; 2. Lan man, mờ ảo, lờ mờ. Đồng nghĩa với Phảng phất 彷彿 và 髣髴, »phảng phất như…«;
phảng phất
Vaguely—Dimly—Faintly
Phảng phất 仿佛
[ja] ホウフツ hōfutsu ||| (1) To resemble closely; to be almost identical in appearance. (2) Unclear, blurry, indistinct, dim. Synonymous with 彷彿 and 髣髴. => Có hai nghĩa: 1. Rất tương đồng, hoàn toàn giống hệt nhau về hình tướng. 2. Lan man, mờ ảo, lờ mờ. Đồng âm với Phưởng phất 彷彿 và 髣髴.
phấn cốt toái thân
(粉骨碎身) Xương thịt bị nghiền nát ra như bột. Ý nói vì pháp mà tan xương nát thịt. Trong kinh điển có nhiều chỗ ghi chép các trường hợp vì pháp mà không tiếc thân mệnh, như bồ tát Thường đề khi ở Hương thành học Bát nhã, đập xương lấy tủy đem bán cho trưởng giả lấy vàng mua các thứ hương hoa để cúng dường. Lại như trường hợp đức Phật Thích ca văn đã bỏ mình để chỉ cầu được nghe 2 câu kệ (Sinh diệt diệt dĩ, Tịch diệt vi lạc)khi còn ở địa vị tu nhân. [X. phẩm Tát đà ba luân trong kinh Đại phẩm bát nhã; kinh Niết bàn Q.14 (bản Bắc). (xt. Thường Đề Bồ Tát, Tuyết Sơn Đại Sĩ).
phấn tảo
Sweepings, garbage.
phấn tảo y
xem nạp y.
; The monk's garment of cast-off rags.
phất bà la ha
Xem Táng Chi đại tướng.
phất la bà
Xem Táng Chi đại tướng.
phất nhã đa la
Puṇyatrata (S)Dịch kinh ở Trường an vào thế kỷ V cùng với Đạt Ma Lưu Chi và Cưu Ma La Thập.
; (弗若多羅) Phạm: Puịyatàra. Cũng gọi Bất nhã đa la. Hán dịch: Công đức hoa. Cao tăng người nước Kế tân thuộc Bắc Ấn độ. Sư xuất gia từ nhỏ, chuyên trì giới luật, thông hiểu Tam tạng, đặc biệt tinh thông luật Thập tụng. Khoảng năm Hoằng thủy đời Diêu Tần, sư đến Trung quốc, vua Diêu hưng đãi ngộ sư với lễ thượng khách. Tháng 10 năm Hoằng thủy thứ 6 (404), sư nhận lời mời đến vườn Tiêu dao tụng luật Thập tụng bằng tiếng Phạm, để ngài Cưu ma la thập dịch ra chữ Hán, nhưng mới chỉ tụng được 2/3 thì sư thị tịch. Về sau, các bộ luật này được các ngài Đàm ma lưu chi và Cưu ma la thập tiếp tục dịch, lại do ngài Ti ma la xoa đối chiếu với nguyên bản tiếng Phạm để kiểm xét lại mà thành luật Thập tụng như hiện nay lưu hành. Đến đời sau, ngài Phất nhã đa la được tôn làm Sơ tổ truyền trì luật Thập tụng tại Trung quốc. [X. Lương cao tăng truyện Q.2; Xuất tam tạng kí tập Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.4].
phất như đàn
(弗如檀) Cũng gọi Pháp nhiêu. Cao tăng người nước Vu điền, Tây vực, là đệ tử của ngài Chu sĩ hành – vị tăng Trung quốc đầu tiên sang Ấn độ cầu pháp. Khi ra khỏi biên ải, ngài Chu sĩ hành đi về hướng tây đến nước Vu điền, tại đây ngài thỉnh được kinh Phóng quang bát nhã bằng tiếng Phạm, gồm 90 chương. Vào năm Thái khang thứ 3 (282) đời Tấn, ngài sai sư Phất như đàn cùng với mấy vị khác, mang kinh về Lạc dương, Trung quốc. [X. điều Phóng quang kinh kí trong Xuất tam tạng kí tập Q.7]. (xt. Chu Sĩ Hành).
phất sa
(弗沙) I. Phất Sa. Phạm:Tiwya. Cũng gọi Để sa, Đế sa, Đề sa, Bổ sa. Tên của 1 đức Phật ở đời quá khứ mà bồ tát Thích ca thờ làm thầy khi đang tu nghiệp tướng hảo trong 100 kiếp. Câu xá luận kí quyển 18 (Đại 41, 282 trung) nói: Thời quá khứ có đức Phật hiệu là Để sa, hoặc gọi là Bổ sa. Đức Phật ấy có 2 vị đệ tử Bồ tát siêng tu phạm hạnh, một vị tên là Thích ca mâu ni, còn vị kia thì tên là Mai đát lệ dược. (xt. Để Sa Phật). II. Phất Sa. Phạm: Puwya. Cũng gọi Bột sa, Phú sa, Bô sa, Bổ sa, Để sa. Hán dịch: Quỉ tú, Xí thịnh tú. Tên 1 ngôi sao trong 28 vì sao. Câu xá luận quang kí quyển 18 (Đại 41, 282 thượng) nói: Để sa, Hán dịch: Viên mãn, là tên một ngôi sao. Cứ theo kinh Xá đầu gián thái tử nhị thập bát tú và phẩm Tinh tú trong kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 41, sao này có 3 ngôi (Trung quốc thì cho là có 5 ngôi), hình dạng giống cái bình vẽ(hoặc cái thước móc), thuộc về thần Nghiệt lợi ha tạp bát để, họ Ô ba nhã, hoặc Ô hòa, Pháo ba na tì, Mô xà da na... Trong Mạn đồ la của Mật giáo, sao này được gọi là Tăng ích, hình tượng vị thần này, bàn tay trái dựng lên, ngón cái, ngón giữa co lại cầm hoa sen, trên hoa có hạt châu, tay phải ẩn khuất không thấy. [X. kinh Ma đăng già Q.thượng; kinh Tú diệu Q.thượng]. (xt. Nhị Thập Bát Tú).
phất sa bồ tát
Xem Để Sa Phật.
phất sa mật đa la vương
Puṣpamitra (P), Puṣyamitra (S), Puspamitra (P).
; (弗沙蜜多羅王) Phất sa mật đa la, Phạm: Puwyamitra, hoặc Puwpamitra, Cũng gọi Phí sa mật đa la vương, Phất xá mật đa vương. Hán dịch: Tinh hữu vương. Tên vị vua sau cùng của triều đại Khổng tước ở Ấn độ. Cứ theo kinh A dục vương thí bán A ma lặc quả nhân duyên trong Tạp a hàm quyển 25, ông vua này vì muốn tên tuổi mình được lưu truyền đến đời sau, nên hỏi kế các quan. Trong đó có 1 nịnh thần tâu: Ngày trước vua A dục xây 8 vạn 4 nghìn tháp Như lai, danh đức truyền đời. Ngày nay nếu Bệ hạ phá hủy hết số tháp ấy thì tên tuổi của cả 2 vị sẽ bất hủ như nhau. Vua nghe theo kế sách đó, liền ra lệnh phá hủy hết 8 vạn 4 nghìn ngôi tháp, giết hại chúng tăng, tiêu diệt Phật pháp. Về sau, vua đến nước Bà già la, bị 1 vị thần dấy đổ ngọn núi đè chết nhà vua và đoàn quân đi theo, từ đó Vương triều Khổng tước tuyệt diệt.Còn theo kết quả sự nghiên cứu Thánh điển Puràịa thuộc Ấn độ giáo, của các học giả cận đại, thì Phất sa mật đa la là ông tổ khai sáng của Vương triều Huân ca: (Phạm: Zuíga) ở Trung Ấn độ. Ông này vốn là Đại tướng dưới trướng vua Bfhadratha –vị vua cuối cùng của Vương triều Khổng tước– sau giết vua Bfhadratha để cướp ngôi vua và chiếm đoạt toàn bộ lãnh thổ của Vương triều Khổng tước rồi tự lập làm vua, mưu đồ phục hưng Bà la môn giáo, làm vua được 36 năm. [X. kinh Xá lợi phất vấn; kinh A dục vương Q.5; Ấn độ Phật giáo sử (Đa la na tha); The Early History of India by V.A. Smith].
phất sa phật
Xem Để Sa Phật.
phất trần
Vyajana (S), Vijani (P), Valavyajana (S), Vijani (P).
; Là công cụ của Thiền sư dùng để tiếp dẫn hậu học khiến thiền giả phát khởi nghi tình cho đến khai ngộ.
phất trần khán tịnh
(拂塵看淨) Phủi bụi thấy sạch. Nghĩa là quét sạch bụi nhơ, đánh tan mây mờ để nhận rõ bản lai diện mục. Đây là chủ trương tu hành của ngài Thần tú thuộc hệ thống Thiền Bắc tông. Phất trần là đối trị các phiền não của thế tục, không để bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh khách quan. Khán tịnh là nhận thức rõ và giữ gìn tâm tính bản tịnh. Viên giác đại sớ sao quyển 3 phần cuối (Vạn tục 14, 277 thượng) nói: Phất trần khán tịnh, phương tiện thông kinh.
phất tu nhĩ
(弗修爾) Foucher Alfred (1865-1952) Nhà học giả Đông phương học và Phật giáo sử người Pháp. Ông từng giữ chức Viện trưởng Pháp quốc Viễn đông học viện (1901-1907), Giáo sư môn Ấn độ ngữ học tại Đại học Paris (1919). Khoảng năm 1895 đến năm 1907, ông thường đến khảo sát và nghiên cứu về học thuật ở các nơi như Ấn độ, bán đảo Trung nam, Java... Từ năm 1918 đến 1926, ông làm Trưởng đoàn Khảo cổ học đến các nước Ấn độ, Tích lan, Ba tư, A phú hãn, Nhật bản, Trung quốc, hoặt động tích cực 1 thời. Ông từng tìm hiểu các di tích ở Kabul (thuộc A phú hãn), Đại hạ, Bamyan (A phú hãn)... Thời gian ông ở Nhật bản để nghiên cứu mĩ thuật, ông từng giữ chức Hội trưởng Hội quán Nhật Pháp (1926). Sau khi trở về Pháp, ông làm Giáo sư Đại học Paris, Hội viên Hiệp hội Paris-Asie. Cả cuộc đời, ông đã cống hiến rất lớn cho công cuộc nghiên cứu về Khảo cổ học và Đồ tượng học của Phật giáo. Ông có các tác phẩm: La vie du Bouddha, 1949, L’art grécobouddhique du Gandhàra 1905-1951, Beginning of Buddhist Art, 1917, The Monuments of Sàcìen, 3 vols, 1939.
phất tích nhập huyền
(拂迹入玄) Cũng gọi Phát tích nhập nguyên. Quét sạch dấu vết mà vào nghĩa lí sâu xa. Tức là trừ bỏ hết các pháp chấp đối đãi như nhơ-sạch, mê-ngộ, đầu-cuối v.v... mà vào pháp viên mãn rốt ráo Sinh Phật bình đẳng(Phật và chúng sinh đều bình đẳng). Bởi vì thực tướng các pháp vốn như như bình đẳng, nhưng nếu có chỗ chấp trước thiên lệch thì do tâm phân biệt mà thấy có các tướng sai khác nhơ sạch, mê ngộ, đầu cuối..., vì thế nên đặt ra các giáo môn phương tiện, hoặc tạm mượn các tên gọi chúng sinh, Bồ tát, hoặc giả lập thứ tự các giai vị tu hành, tất cả những giáo môn phương tiện ấy đều gọi là Tích (dấu vết), dùng để dắt dẫn chúng sinh đi vào cảnh giới chân thực không hai không khác. Cảnh giới ấy gọi là Huyền(sâu kín, mầu nhiệm). Lại Phất đồng nghĩa với Phát (tìm ra), Huyền đồng nghĩa với Nguyên (nguồn), bởi thế, Phất tích nhập huyền (quét sạch dấu vết để vào mầu nhiệm) cũng gọi là Phát tích nhập nguyên (tìm ra dấu vết để vào nguồn gốc). Có thuyết cho rằng tất cả giáo pháp hóa tha lợi sinh của đức Phật Thích ca là Tích, còn pháp tha lực hoằng nguyện của đức Phật A di đà là Bản (Nguyên) và cho rằng xả bỏ giáo tích của đức Thích ca mà qui vào hoằng nguyện của đức Di đà là Phát tích nhập nguyên. [X. kinh Viên giác; Viên giác kinh lược sớ Q.thượng].
Phất tụ 拂袖
[ja] ホッシュウ hosshū ||| To shake one's sleeves. A gesture used by Chan masters. => Phất ống tay áo, cử chỉ các Thiền sư thường hay làm.
Phất Tử
(s: vyajana, vāla-vyajana, p: vijanī, 拂子): một loại vật dụng xưa kia người ta lấy lông thú, v.v., cột thành bó, buộc vào cây dài, dùng để xua đuổi muỗi mòng, quét bụi bặm; còn gọi là Phất (拂), Phất Trần (拂塵), Trần Vĩ (塵尾). Như trong Tùy Đường Diễn Nghĩa (隋唐演義) hồi thứ 3 có đoạn: “Tả hữu nữ tỳ sổ nhân, dã hữu chấp cân trất đích, dã hữu kình Hương Lô đích, dã hữu bổng Như Ý đích, dã hữu trì Phất Tử đích, lưỡng biên thị lập (左右女婢數人、也有執巾櫛的、也有擎香爐的、也有捧如意的、也有持拂子的、兩邊侍立, hai bên phải trái nữ hầu vài người, cũng có người cầm khăn lượt, cũng có người mang lò hương, cũng có người vác cây Như Ý, cũng có kẻ cầm cây Phất Trần, đứng hầu hai bên).” Loại này rất thông dụng tại Ấn Độ. Trong giới luật của Phật Giáo, cho phép vị Tỳ Kheo cầm cây Phất Trần này để xua đuổi muỗi mòng xâm hại; nhưng cấm tuyệt đối không được dùng loại Phất Trần làm bằng các loại vật dụng trân quý, như trường hợp Bạch Phất (白拂, Phất Trần Trắng). Căn cứ vào Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (有部毘奈耶雜事) quyển 6, đức Phật từng cho phép Tỳ Kheo dùng loại Phất Trần được chế bằng 5 loại chất liệu như sau: (1) Lông dê, (2) Cây gai, (3) Vải lông mịn nhỏ, (4) Vật cũ đã dùng rồi, (5) Cành cây, vỏ cây. Bạch Phất là loại Phất Trần được làm bằng lông con bò hay ngựa trắng, là vật rất quý trọng. Trong kinh thường thấy vị Bồ Tát hay Trưởng Giả tay cầm Bạch Phất; như trong Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經) quyển 6 có ghi rằng đức Quan Âm cầm Bạch Phất tay trái và Phổ Hiền cầm tay phải. Hay khi đức Phật lên cung Trời Đao Lợi (s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利) thuyết pháp cho mẹ rồi trở về lại hạ giới, Phạm Thiên thường cầm cây Bạch Phất hầu bên phải đức Phật. Về phía Mật Giáo, Bạch Phất được dùng để tượng trưng cho khử bỏ phiền não, trừ chướng nạn. Như Thiên Thủ Quan Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh (千手觀音大悲心陀羅尼經) có đề cập đến trong 40 tay của thiên thủ quan âm có 1 tay cầm cây Bạch Phất. Hay trong Tôn Thắng Phật Đảnh Tu Du Già Pháp Quỹ Nghi (尊勝佛頂修瑜伽法軌儀) quyển Thượng có ghi rằng mỗi khi hành giả xuất hành, thường cầm theo cây Bạch Phất, tụng Chơn Ngôn gia trì 108 biến; nếu khi đang đi gặp súc sanh, có thể khiến cho những loài đó lìa khổ, giải thoát. Trong Thiền Tông, chư vị Thiền sư dùng Phất Trần như là vật dụng trang nghiêm; từ đó, vị Trú Trì hay người đại diện cầm cây Phất Trần thượng đường vì đại chúng thuyết pháp, được gọi là Bỉnh Phất (秉拂). Khi ấy, Phất Trần tượng trưng cho sự thuyết pháp. Dần dần chức vụ chấp hành Bỉnh Phất có 5 loại, gọi là Bỉnh Phất Ngũ Đầu Thủ (秉拂五頭首), gồm: Tiền Đường Thủ Tòa (前堂首座), Hậu Đường Thủ Tòa (後堂首座), Đông Tạng Chủ (東藏主), Tây Tạng Chủ (西藏主), Thư Ký (書記). Tại Nhật Bản, Phất Trần được sử dụng từ thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333). Về sau, trừ Chơn Tông ra, các tông phái khác đều dùng Phất Trần trong trường hợp các pháp hội, lễ Quán Đảnh, tang lễ, v.v. Tại Việt Nam, Phất Trần được dùng phần lớn trong tang lễ mà thôi.
Phất tử
拂子; J: hossu; S: camāra; cũng gọi là Phất trần; |Cây đuổi ruồi, có truyền thống từ các vị Sa-môn tại Ấn Ðộ. Phất tử được dùng để đuổi ruồi và các côn trùng biết bay để chúng khỏi bị đạp. Phất tử nguyên là một khúc gỗ, được gắn một chùm lông đuôi ngựa ở một đầu. Trong những thiền viện tại Trung Quốc thời xưa, chỉ có vị trụ trì trong viện mới được sử dụng phất tử và các vị này sử dụng nó như là một phương tiện khai thị cho môn đệ. Phất tử trở thành một biểu tượng của »Dĩ tâm truyền tâm« trong Thiền tông và cũng được các Thiền sư truyền lại cho môn đệ xuất sắc nhất.
phất tử
Hossu (J).
; (拂子) Phạm: Vyajana, Vàla-vyajana. Pàli:Vijanì. Cũng gọi Phất, Phất trần, Phất vĩ. Cái chổi nhỏ có cán dài bện bằng lông thú, sợi cây gai..., dùng để xua ruồi muỗi, 1 trong những vật tùy thân của tỉ khưu ở Ấn độ, Tích lan..., nhưng không được sử dụng Phất tử làm bằng những chất liệu tương đối đẹp đẽ, quí giá như bạch phất... Cứ theo Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 6 thì đức Phật cho phép các tỉ khưu sử dụng phất tử làm bằng 5 loại tài liệu sau đây: Lông dê, sợi cây gai, vải bông xé nhỏ, vật cũ dùng đã rách, nhánh cây ngọn cây. Bạch phất là loại phất tử làm bằng lông đuôi của con trâu li trắng hoặc bằng lông đuôi của ngựa trắng, là vật quí giá. Trong các kinh điển thường có ghi việc các Bồ tát hoặc các trưởng giả tay cầm bạch phất. Như kinh Đà la ni tập quyển 6 ghi rằng bồ tát Quan âm tay trái cầm bạch phất, bồ tát Phổ hiền tay phải cầm bạch phất. Khi đức Phật lên cung trời Đao lợi nói pháp độ cho thân mẫu, lúc trở về nhân gian, Phạm thiên tay cầm bạch phất đứng hầu bên phải đức Phật.Trong Mật giáo thì bạch phất được dùng làm biểu tượng diệt phiền não, trừ chướng nạn, như tay Bạch phất trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm. Còn Tôn thắng Phật đính tu du già pháp nghi quĩ quyển thượng thì cho rằng, mỗi khi ra đi, hành giả thường mang cây bạch phất, tụng chân ngôn gia trì 108 biến, cầm đi, giữa đường nếu gặp súc sinh, có thể khiến cho chúng lìa khổ, được giải thoát. Tại Trung quốc, các Thiền sư rất thích dùng phất tử làm vật trang nghiêm, vị Trụ trì hoặc người đại diện tay cầm phất tử lên Giảng đường nói pháp cho đại chúng nghe, gọi là Bỉnh phất. Lúc ấy, phất tử là biểu tượng của sự thuyết pháp. Các chức vụ được bỉnh phất (thay vị Trụ trì nói pháp) gồm có: Tiền đường thủ tọa, Hậu đường thủ tọa, Đông tạng chủ, Tây tạng chủ và Thư kí, gọi là Bỉnh phất ngũ đầu thủ. Người làm thị giả cho vị Bỉnh phất, gọi là Bỉnh phất thị giả. Ở Nhật bản, sau thời đại Liêm thương, Thiền lâm cũng sử dụng phất tử. Về sau, trừ Chân ngôn ra, các tông khác đều dùng phất tử làm vật trang nghiêm của vị Đạo sư trong các dịp như: Pháp hội, Quán đính, Tang lễ... [X. kinh Đà la ni tập Q.3; luật Ma ha tăng kì Q.32; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.29; điều Tứ tiết bỉnh phất trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7; Thích thị yếu lãm Q.trung; Khí vật môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Phất tử 拂子
[ja] ホッス hossu ||| A fly whisk made out of hemp, silk or animal hair, used by Buddhist monks so that flies and other insects may be chased away without killing them. The tradition of using the whisk comes to Buddhism from Jainism, but in East Asian Ch'an, Sŏn and Zen schools, the usage of the whisk by the master teacher during his sermons becomes ritualized. => Cây phất trần làm bằng sợi gai, lụa, hay lông thú, các tăng sĩ Phật giáo dùng phất trần đuổi ruồi muỗi để khỏi sát hại chúng. Tương truyền việc dùng phất trần bắt nguồn từ Kỳ-na giáo (Jainism), nhưng trong Thiền tông Trung Hoa, Cao Ly và Nhật Bản, các Thiền sư dùng phất trần trong khi giảng pháp đã trở thành lễ nghi.
phất vu đại châu
Xem Đông thắng Thần châuChâu Phất bà đề, Đông Phất bà đề, Phất vu đại châu, Thắng thần châu. Một trong bốn châu lớn, ở đông núi Tu di, người ở đây có thân hình to lớn hơn các châu khác nên còn gọi là Thắng thân, sống đến 600 tuổi. Châu này ở hướng Đông núi Tu di.
phần châu
Feng-chou (C).
Phần Châu Vô Nghiệp
汾州無業; C: fénzhōu wuýè; 760-821;|Thiền sư Trung Quốc, pháp tự của Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư.|Sư họ Ðỗ, quê ở Thượng Lạc, Thương Châu, theo học kinh luận lúc lên chín và xuất gia lúc mười hai tuổi. Nghe tiếng Mã Tổ, Sư tìm đến tham học. Mã Tổ thấy Sư tướng mạo kì đặc, tiếng nói thanh như chuông bèn bảo: »Phật đường to lớn mà trong ấy không có Phật.« Sư lễ bái quì thưa: »Về kinh điển con hiểu biết đơn sơ, thường nghe Thiền môn ›Tức tâm là Phật‹ thật chưa hiểu thấu.« Tổ bảo: »Chỉ cái tâm chưa hiểu đó là phải, lại không có vật khác.« Sư hỏi: »Thế nào là mật truyền tâm ấn của Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?« Tổ bảo: »Ðại đức chính đang ồn, hãy đi, khi khác lại!« Sư vừa quay đầu đi, Tổ gọi: »Ðại đức!« Sư xoay đầu lại, Tổ hỏi: »Là cái gì?« Ngay đây Sư lĩnh hội, quì lễ bái. Tổ bảo: »Kẻ độn, lễ bái làm gì!«|Sau khi ngộ huyền chỉ, Sư diêu du đây đó và sau dừng tại Tinh xá Khai Nguyên, Tây Hà tuỳ duyên hoằng hoá. Khi đáp những câu hỏi của thiền khách, Sư thường nói: »Chớ vọng tưởng!« (莫妄想; mạc vọng tưởng). Vua nhiều phen thỉnh Sư nhưng Sư lúc nào cũng từ chối không đến. Sau có hai vị quyết tâm thỉnh Sư đi cho bằng được, Sư chúm chím cười đáp: »Bần đạo có đức gì làm phiền Thế chủ. Mời các Ngài đi trước, tôi sẽ đi đường riêng.« Sau khi sứ giả về, Sư tắm gội, nửa đêm bảo đệ tử vào khuyên: »Các ngươi! Tính thấy nghe hiểu biết cùng hư không đồng tuổi, chẳng sinh chẳng diệt, tất cả cảnh giới vốn tự không lặng, không một pháp có thật, người mê không hiểu bị cảnh làm lầm, trôi lăn không cùng. Các ngươi phải biết, tâm tính vốn tự có, chẳng phải do tạo tác, ví như kim cương không thể phá hoại. Tất cả như bóng vang không có thật. Cho nên kinh nói: ›Chỉ đây một việc thật, ngoài hai thỉ chẳng chân.‹ Thường hiểu tất cả thông, không một vật hợp tình, là chỗ chư Phật dụng tâm. Các ngươi cố gắng thật hành.« Nói xong Sư ngồi kết già thị tịch, thọ 62 tuổi, 42 tuổi hạ. Lễ trà tì có mây năm sắc, hương thơm lạ bốn phương. Vua sắc phong là Ðại Ðạt Quốc sư, tháp hiệu Trừng Nguyên.
phần châu vô nghiệp
Feng chou Wu yeh (C)Tên một vị sư.
phần chứng
(分證) Nghĩa là hàng Bồ tát từ Sơ địa trở lên, theo thứ tự tu hành, hễ đoạn trừ 1 phần phiền não thì chứng ngộ được 1 phần Trung đạo.Luận Đại thừa khởi tín gọi Phần chứng là Tùy phần giác, còn tông Thiên thai thì gọi Phần chứng tức. [X. Ma ha chỉ quán Q.1, phần cuối; Chỉ quán đại ý].
phần chứng tức
(分證即) Cũng gọi Phần chân tức. Một trong các giai vị tu hành của Bồ tát Viên giáo do tông Thiên thai thành lập, là vị thứ 5 trong Lục tức vị. Bồ tát ở giai vị này đoạn trừ từng phần vô minh của 41 phẩm Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và Đẳng giác mà chứng từng phần Trung đạo. (xt. Lục Tức).
phần dương ngũ môn cú
(汾陽五門句) Năm câu ví dụ cho 5 giai đoạn tu hành Phật đạo, do Thiền sư Thiện chiêu ở Phần dương, thuộc tông Lâm tế đời Tống đặt ra. Năm câu ấy là: 1. Nhập môn cú: Mới vào cửa. Nghĩa là mới vào Phật đạo, giống như một mình vào xứ lạ quê người mà gặp gỡ tri kỉ thì vui mừng khôn xiết. Nhưng người học không nên dừng lại ở giai đoạn này mà biếng nhác việc tu hành. 2. Môn lí cú: Ở trong cửa. Nghĩa là khi đã vào Phật đạo, thì nên biết rằng việc tu hành không phải tìm cầu bên ngoài, phải như bày tôi nhìn mặt Thiên tử, một lòng chuyên chú vào đó. 3. Đương môn cú: Đang ở cửa. Ở giai đoạn này, bàn về khả năng, cần phải dứt hết mọi phân biệt, nói về đức hạnh, cần phải làm cho muôn người được nhờ ơn. 4. Xuất môn cú: Ra khỏi cửa. Ở giai đoạn này, đã chứng được Phật đạo, như nhìn sông núi từ xa, phải có chí hạ hóa chúng sinh. 5. Môn ngoại cú: Ở ngoài cửa. Giai đoạn này, bắt đầu giáo hóa chúng sinh, phải dùng vô vi vô tác tế độ chúng sinh, giống như ông già nhà quê ở ngoài đồng gõ sừng trâu ca hát mà chẳng biết có ai khác. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.6].
phần dương tam cú
(汾陽三句) Ba ngữ cú do Thiền sư Thiện chiêu ở Phần dương, thuộc tông Lâm tế đời Tống, lập ra để tiếp dẫn người học. 1. Trước lực cú: Người học phải rán sức làm cho khả năng đầy đủ mới có thể thành tựu được đại cơ, như pho tượng Đại Phật Di lặc bằng đá ở Gia châu. 2. Chuyển thân cú: Người học dùng cơ dụng nắm giữ bản phận vững chắc, cho dù trâu sắt ở Thiểm phủ, 2 chân cắm đất bền chặt không thể phá, cũng không thể nào sánh được. 3. Thân thiết cú: Khi người học khế nhập Phật pháp thì mau lẹ và chắc chắn, giống như sư tử há miệng vồ mồi, cái thế mau lẹ và chắc chắn ấy khế hợp nhau. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2].
phần dương tam quyết
(汾陽三訣) Ba loại cơ pháp do Thiền sư Thiện chiêu, thuộc tông Lâm tế đời Tống ở Phần dương đặt ra để dẫn dắt người học. Cứ theo Nhân thiên nhãn mục quyển 2, Thiền sư Thiện chiêu dùng kệ tụng để trình bày 3 bí quyết của mình, dù cho người hiểu rõ Phật đạo cũng khó biện biệt được. 1. Bí quyết thứ nhất (Đại 48, 307 thượng): Tiếp dẫn không thời tiết Lời khéo không nói được Trăng sáng trời đầy mây. Ý nói tiếp vật lợi sinh không chia thời tiết, cũng không nghĩ lường phân biệt. 2. Bí quyết thứ hai: Thung dung biện hiền triết Vấn đáp tâm lợi sinh Nhổ gai trong con mắt. Ý nói dùng bản phận chân thực của chính mình để biện biệt các bậc hiền thánh trong thế gian, lại bằng nhiều cách, hỏi đáp đắn đo thì có thể làm cho người học dứt trừ những mối ngờ vực vướng mắc trong tâm mà hướng tới Phật đạo. 3. Bí quyết thứ 3: Người Tây vực nói pháp. Qua sông đến Tân la Dao Bắc dùng sắt Ban. Ý nói giống như Tổ Đạt ma thuyết pháp, không có gì trở ngại, lại như vượt qua sông vào Tân la (nước Triều tiên), theo dòng mà xuôi, thế rất mau lẹ; cũng như thân ở đất Bắc, dùng sắt xứ Bân mà làm dao, rất dễ dàng tiện lợi.
Phần Dương Thiện Chiêu
(汾陽善昭, Funyō Zenshō, 947-1024): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Thái Nguyên (太原, Tỉnh Sơn Tây), họ là Du (兪). Ông xuất gia, thọ cụ túc, rồi sau đó đi tham vấn các bậc tôn túc, cuối cùng đến làm đệ tử của Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念), được đạt ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đến sống ở Thái Tử Viện (太子院) thuộc Phần Dương (汾陽, Phần Châu, Tỉnh Sơn Tây) chuyên tâm thuyết giảng tông yếu và làm cho tông phong của mình phát triển mạnh. Ông thị tịch vào năm thứ 2 niên hiệu Thiên Thánh (天聖), hưởng thọ 78 tuổi và được ban cho thụy hiệu là Vô Đức Thiền Sư (無德禪師).
; 汾陽善昭; C: fényáng shànzhāo; J: hun'yo zen-shō; 947-1024;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế, môn đệ của Thủ Sơn Tỉnh Niệm và thầy của Thạch Sương Sở Viên. Tương truyền rằng, Sư tham vấn rất nhiều Thiền sư để học hỏi được tất cả những tinh hoa của Thiền tông trong thời kì suy tàn. Vì vậy, những nét đặc biệt của những tông khác đều được tông Lâm Tế hấp thụ và lưu truyền. Sư cũng là một trong những Thiền sư đầu tiên trứ tác những bài kệ tụng lời nói dạy của các vị Tiên sư (xem thêm dưới Tuyết Ðậu Trọng Hiển, Trí Môn Quang Tộ).|Sư họ Du, quê ở Thái Nguyên. Lúc nhỏ Sư đã có thái độ thâm trầm, trí huệ cao cả. Vì cha mẹ mất sớm nên Sư xuất gia và du phương. Trước, Sư tham vấn nhiều vị Thiền sư nhưng chưa ngộ ý chỉ. Ðến Thiền sư Thủ Sơn. Sư hỏi: »Bách Trượng cuốn chiếu, ý chỉ thế nào?« Thủ Sơn đáp: »Áo rồng vừa phất toàn thể hiện.« Sư hỏi: »Ý thầy thế nào?« Thủ Sơn đáp: »Chỗ voi đi bặt dấu chồn.« Nghe câu này, Sư thông suốt. Sau, theo lời thỉnh của chúng, Sư về chùa Thái Bình ở Phần Dương. Ở đây, Sư ba mươi năm không rời cổng, đức hạnh vang xa.|Có vị quan quen với Sư, thỉnh Sư trụ trì một ngôi chùa nhưng Sư vẫn từ chối. Ông lại sai sứ giả đi thỉnh lần nữa, sứ giả nói: »Quyết thỉnh thầy cùng đi, nếu thầy không đi, tôi liều chết thôi.« Sư cười bảo: »Bởi nghiệp già không thể xuống núi, giả sử đi phải có trước sau, tại sao lại quyết đồng?« Sư sửa soạn hành lí, hỏi các đệ tử có ai muốn đi theo. Vị đầu ra nói được, Sư hỏi: »Một ngày ngươi đi được bao nhiêu dặm?« Vị này trả lời: »Năm mươi dặm.« Sư trả lời không được. Vị thứ hai ra nói 70 dặm, Sư cũng nói không được. Thị giả ra nói: »Con đi theo được, chỉ Hoà thượng đi đến đâu con đi đến đó.« Sư bảo: »Ngươi đi theo được.« Nói xong Sư bảo: »Ta đi trước nghe!« và dừng lại ngồi tịch. Thị giả đứng khoanh tay tịch theo. Sư thọ 78 tuổi.
phần dương thiện chiêu
Funyō zenshō (J), Fenyang Shanzhao (C), Fenyang Shanzhao (C), Fun'yo Zensho (J)947-1024. Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Thủ sơn Tỉnh Niệm, dòng Lâm Tế.
phần dương thập bát vấn
(汾陽十八問) Thiền sư Thiện chiêu thuộc tông Lâm tế đời Tống, ở Phần dương, đem những vấn đề do người học hỏi thầy, chia làm 18 loại, Thiền lâm gọi là Phần dương thập bát vấn. Đó là: 1. Thỉnh ích vấn: Người học trực tiếp hỏi thầy xin được chỉ dạy. 2. Trình giải vấn: Người học trình bày sự hiểu biết của mình để xin thầy chỉ bảo. 3. Sát biện cơ vấn: Người học nêu ra những điểm khó phân biệt để xin thầy xem xét và biện biệt. 4. Đầu cơ vấn: Người học đưa ra cảnh giới chiếu thực của mình để xin thầy chỉ giáo.5. Thiên tịch vấn: Người học đề ra 1 kiến giải thiên về 1 bên để chất vấn thầy. 6. Tâm hành vấn: Người học trình bày việc tu hành của mình để xin thầy chỉ dạy. 7. Thám bạt vấn: Người học thăm dò chỗ sâu cạn của các kiến giải khác mà họ được biết. 8. Bất hội vấn: Người học vì không hiểu rõ nên đặt thành vấn đề để hỏi thầy. 9. Cảnh đảm vấn: Người học hỏi những việc chẳng có liên can gì để giỡn cợt, đánh lừa thầy. 10. Trí vấn vấn: Người học dùng những câu hỏi đáp của cổ nhân để xin thầy chỉ dạy.11. Cố vấn vấn: Người học dùng những câu chuyện cổ trong các kinh luận để hỏi và xin thầy chỉ dạy. 12. Tá sự vấn: Người học mượn các thí dụ hoặc những sự kiện đã từng xẩy ra để hỏi.13. Thực vấn vấn: Người học chiếu theo sự thực để hỏi và xin thầy chỉ dạy. 14. Giả vấn vấn: Người học dùng những lời giả thiết để hỏi và xin được chỉ giáo. 15. Thẩm vấn vấn: Người học hỏi những việc mà mình không thể xét rõ được. 16. Trưng vấn vấn: Người học dùng thái độ nạn vấn để đưa ra câu hỏi. 17. Minh vấn vấn: Người học đã hiểu rõ 1 việc rồi lại hỏi thêm việc khác. 18. Mặc vấn vấn: Người học không biểu hiện bằng ngôn ngữ mà dùng động tác để hỏi.[X. Nhân thiên nhãn mục Q.2].
phần dương thập trí đồng chân
(汾陽十智同真) Mười thứ trí mà bậc thầy phải có để dẫn đắt người học, do Thiền sư Thiện chiêu thuộc tông Lâm tế đời Tống, ở Phần dương chủ trương. Đó là: 1. Đồng nhất chất: Thầy và trò dung hợp thành 1 thể và mỗi người đều làm hết bổn phận của mình. 2. Đồng đại sự: Thầy phải lấy đại sự Phật pháp làm đầu để giải đáp những thắc mắc của người học. 3. Tổng đồng tham: Thầy phải đầy đủ năng lực khiến cho hết thảy sum la muôn tượng đều qui y Phật pháp. 4. Đồng chân trí: Thầy phải có trí tuệ chân thực, nhận thức thế giới vượt ngoài tư tưởng, như gom hết nước biển cả vào lỗ chân lông, đặt núi Tu di vào trong hạt cải. 5. Đồng biến phổ: Thầy phải thấu triệt, hiểu rõ đạo Phật chẳng phải là 1 thế giới xa lạ, đặc biệt nào, mà ngay trong những sinh hoạt ngày thường, không việc gì không là Phật pháp. 6. Đồng cụ túc: Thầy biết rõ mọi người đều có đầy đủ Phật tính sẵn có. 7. Đồng đắc thất: Thầy có khả năng biết rõ mối quan hệ giữa được và mất, tức là hễ được cái này thì mất cái kia và ngược lại, hễ được cái kia thì mất cái này. 8. Đồng sinh sát: Thầy và trò phải có sự quan hệ khắng khít, như sống chết cùng nhau. 9. Đồng âm hống: Thầy và trò nói pháp như nhau, đều là mở bày Phật pháp. 10. Đồng đắc nhập: Mối quan hệ giữa thầy và trò phải như cửa chùa với điện Phật, dứt tuyệt tất cả đối đãi và thảy đều thành Phật.[X. Nhân thiên nhãn mục Q.1].
phần dương trụ trượng
(汾陽拄杖) Tên công án trong Thiền tông. Cây gậy của Phần dương.Thiền sư Thiện chiêu thuộc tông Lâm tế đời Tống, ở Phần dương, dùng cây gậy để khai thị đại chúng. Một hôm, ngài Thiện chiêu cầm cây gậy nói với đại chúng rằng: Thiền tăng cần phải biết về cây gậy mới có thể tu hành đến nơi đến chốn, hoàn thành sự nghiệp tham học. Trụ trượng là cây gậy giúp cho Thiền tăng vượt qua những chỗ khó khăn, nguy hiểm khi đi hành cước(đi các nơi tham học), cũng là người bạn đồng hành trên con đường tìm hiểu tâm tính của chính mình. Không những chỉ là bạn, mà hơn nữa, Thiền tăng còn phải làm cho cây gậy dung hợp với mình thành 1 thể, có như vậy thì sự tu hành mới rốt ráo.
phần dương tứ cú
(汾陽四句) Bốn câu do Thiền sư Thiện chiêu thuộc tông Lâm tế đời Tống, ở Phần dương đặt ra để khám nghiệm người học. Bốn câu ấy là: 1. Tiếp sơ cơ cú: Tiếp dắt người mới học. Nghĩa là khi thầy tiếp dắt người mới học thì không cần đưa ra cơ pháp đặc thù, mà chỉ dùng phương thức trực tiếp phù hợp với đương cơ mà tiếp dẫn họ. 2. Nghiệm nạp tăng cú: Xét nghiệm năng lực của nạp tăng. Nghĩa là thầy sử dụng cơ pháp đặc thù Tịch dương đông xuất (mặt trời chiều mọc ở phương đông) vượt ra ngoài những suy tư phân biệt phổ thông và kiến giải thường thức. 3. Chính lệnh hành cú: Chính lệnh chỉ cho Phật pháp, trong Thiền lâm thì chỉ cho tông chỉ Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền. Hành có nghĩa là thông hành vô ngại. Nghĩa là người học có đại cơ đại dụng, có đầy đủ năng lực làm cho Phật pháp thông hành vô ngại, truyền bá khắp mọi nơi. 4. Định càn khôn cú: Định yên trời đất. Nghĩa là nơi nào Phật pháp đến thì tự nhiên dứt hết các phiền não tham sân si, khiến cho trên trời dưới đất đều được yên ổn. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2].
phần dương vãn tham
(汾陽晚參) Vãn tham là tham học vào buổi chiều. Trong Thiền lâm, Vãn tham do Thiền sư Thiện chiêu thuộc tông Lâm tế đời Tống, ở Phần dương, thực hành, vì thế nên gọi là Phần dương vãn tham. [X. chương Dương kì phương hội trong Gia thái phổ đăng lục Q.3].
Phần Dương Vô Đức Thiền sư ngữ lục
汾陽無徳禪師語録; C: fényáng wúdéchánshī yŭlù; J: funyō mutoku zenshi goroku;|Ngữ lục của Thiền sư Phần Dương Thiện Chiêu, Thạch Sương Sở Viên (楚圓) biên soạn.
phần dương vô đức thiền sư ngữ lục
(汾陽無德禪師語錄) Cũng gọi Phần dương Thiện chiêu thiền sư ngữ lục, Vô đức hòa thượng ngữ lục, Phần dương lục. Ngữ lục, 3 quyển, do ngài Sở viên biên tập vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Bộ Ngữ lục này ghi chép những phần Thướng đường, Tiểu tham, Niệm tụng, Đại ngữ, Biệt ngữ, Ca, Tụng... của Thiền sư Thiện chiêu (947- 1024) ở Phần dương. Một trăm tắc trong quyển trung của bộ Lục này là tiền lệ cho 100 tắc tụng cổ của ngài Tuyết đậu Trùng hiển sau này. Những lời vấn đáp và biệt tụng trong quyển thượng về Động sơn ngũ vị, cũng là những bài tụng xưa nhất trong những bài tụng cổ của Thiền tông. Phần dương Thiện chiêu thiền sư ngữ yếu trong Tục cổ tôn túc ngữ yếu nhất thư thiên tập của Thiền sư Hối thất Sư minh đời Tống, chính đã được sao chép từ phần Thướng đường Tiểutham, Ca tụng trong bộ Ngữ lục này mà ra. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.13; Thiên thánh quảng đăng lục Q.16; Thiền tịnh mục lục].
Phần Dương Vô Đức Thiền sư ngữ lục 汾陽無徳禪師語録
[ja] フンヨウムトクゼンシゴロク Funyō mutoku zenshi goroku ||| The Fenyang wudechanshi yulu; ed. Chuyuan 楚圓T 1992.47.595b-629c. => (c: Fenyang wudechanshi yulu); Sở Viên (c: Chuyuan 楚圓) biên soạn.
phần dụ
(分喻) Thí dụ một phần. Tức thí dụ chỉ mới so sánh được 1 phần ý nghĩa của 1 pháp, chứ chưa nêu rõ được toàn bộ ý nghĩa của pháp ấy, gọi là Phần dụ. Như nói mặt như trăng tròn là dùng vầng trăng đầy đặn để so sánh với khuôn mặt đầy đặn, chứ không phải nói khuôn mặt tròn như mặt trăng. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 5 (Đại 12, 396 trung) nói: Khuôn mặt đẹp đẽ, như vầng trăng tròn đầy. Bạch tượng trắng sạch, giống như núi Tuyết. Nhưng trăng tròn không thể giống khuôn mặt, núi Tuyết không thể là bạch tượng.
Phần hương
(焚香): đốt hương, xông hương, đốt nhang. Tại Trung Quốc, từ xưa đến nay, từ trong cung đình cho đến ngoài dân gian, đều có tập tục đốt hương để làm cho không khí thanh tịnh, đốt hương đàn cầm, hay đốt hương ngâm thơ, tĩnh tọa, v.v. Hai bên phải trái của bệ trước Thái Hòa Điện (太和殿) nhà Thanh có đặt 4 cái ghế cao gọi là Hương Kỷ (香幾), mỗi ghế an trí Lò Hương 3 chân. Khi Hoàng Đế lên điện, thường đốt Đàn Hương (檀香) ở trong lò, đem đặt trong Kim Loan Điện (金鑾殿); khói hương nghi ngút bay vờn chung quanh, khí thơm tỏa ngát bốn phương, khiến cho tinh thần con người phấn chấn lên. Thời xưa, khi chơi đàn cầm, Gia Cát Khổng Minh (諸葛孔明, 181-234) không chỉ có đồng tử hầu hạ hai bên, mà còn thường đặt hương án, đốt hương để tạo thêm cảm hứng. Các văn sĩ, thục nữ thời cổ đại, khi chơi đàn cũng có thói quen đốt hương, tạo thêm không khí u tĩnh, thanh thoát, phong nhã. Lục Du (陸游, 1125-1210), thi nhân ái quốc thời Nam Triều, mỗi khi đọc sách thường có xông hương. Như trong bài Hà Trung Nhàn Hộ Chung Nhật Ngẫu Đắc Tuyệt Cú (假中閒戶終日偶得絕句), ông có diễn tả cảm hứng rằng: “Thặng hỷ kim triêu tịch vô sự, phần hương nhàn khán ngọc khê thi (剩喜今朝寂無事、焚香閒看玉溪詩, vui quá sáng nay lặng vô sự, đốt hương nhàn ngắm khe ngọc thơ).” Cũng vậy, Tô Đông Pha (蘇東坡, 1037-1101), đại văn hào nhà Bắc Tống, lại thường đốt hương tĩnh tọa và tu tâm dưỡng tánh. Trên đường đến nhậm chức ở Đam Châu (儋州), Hải Nam (海南), ông có mua hơn 10 cân Đàn Hương, sau đó lập nên xe gọi là Tức Hiên (息軒), và tương truyền rằng ông thường xông hương tĩnh tọa trong xe đó. Cho nên, ông bảo rằng: “Vô sự thử tĩnh tọa, nhất nhật thị lưỡng nhật, nhược hoạt thất thập niên, tiện thị bách tứ thập (無事此靜坐、一日是兩日、若活七十年、便是百四十, vô sự ngồi yên lắng, một ngày là hai ngày, nếu sống bảy mươi năm, tức trăm bốn mươi tuổi).” Ngay như Tề Bạch Thạch (齊白石, 1864-1957), họa sĩ trứ danh hiện đại của Trung Quốc, cũng rất tôn kính tác dụng thần kỳ của việc xông hương vẽ tranh. Trong bài thơ Đông Đáo Kim Hoa Sơn Quán (冬到金華山觀) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu rằng: “Phần hương ngọc nữ quỳ, vụ lí tiên nhân lai (焚香玉女跪、霧裏仙人來, đốt hương ngọc nữ quỳ, sương mù tiên nhân đến).” Sách Hiền Kỷ Tập (賢己集) của Lý Tướng (李相) cho rằng khởi đầu của việc đốt hương là từ Phật Đồ Trừng (佛圖澄, 232-348). Như trong Cao Tăng Truyện (高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2059) quyển 9, phần Trúc Phật Đồ Trừng (竺佛圖澄), có đoạn: “Tức thủ ứng khí thạnh thủy thiêu hương chú chi, tu du sanh thanh liên hoa (卽取應器盛水燒香咒之、須臾生青蓮花, tức lấy bình bát đỗ đầy nước rồi chú nguyện, trong chốc lát thì hoa sen xanh sanh ra).” Trong khi đó, tác phẩm Năng Cải Trai Mạn Lục (能改齋漫錄) của Ngô Tằng (吳曾, ?-?) nhà Nam Tống thì cho là khởi đầu từ thời nhà Hán. Tập tục đốt hương đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người dân châu Á nói chung và của người Việt Nam nói riêng. Đốt hương để làm thanh tịnh đàn tràng, môi trường, thân tâm, để mặc khải với chư Phật, Bồ Tát, thần linh. Như trong Thiện Nữ Nhân Truyện (善女人傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1657) quyển Hạ, phần Minh Nhân Hiếu Từ Hoàng Hậu (明仁孝徐皇后), có đoạn rằng: “Hồng Võ tam thập nhất niên, Xuân chánh nguyệt sóc đán, ngô phần hương tĩnh tọa các trung, duyệt cổ kinh điển, tâm thần ngưng định, hốt hữu tử kim quang tụ, di mãn tứ châu, hoảng hốt nhược thùy, mộng kiến Quán Thế Âm Bồ Tát (洪武三十一年、春正月朔旦、吾焚香靜坐閣中、閱古經典、心神凝定、忽有紫金光聚、彌滿四周、恍惚若睡、夢見觀世音菩薩, vào sáng sớm ngày mồng một tháng Giêng mùa Xuân năm Hồng Võ thứ 31 [1398], ta đốt hương tĩnh tọa trong gác, đọc kinh điển xưa, tâm thần ngưng định, chợt có hào quang vàng tía tụ lại, đầy khắp bốn phía, mơ hồ như trong giấc ngủ, mơ thấy Bồ Tát Quán Thế Âm).” Đặc biệt, đối với Phật Giáo, truyền thống tắm rửa sạch sẽ, xông hương, ngồi tĩnh tọa và xả báo thân ra đi, được tìm thấy khá nhiều trong các thư tịch. Như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1646) quyển 42, phần Ân Trần Cố Châu Chu Thái Ngu Hoàng Trang Bào Truyện (殷陳顧朱周蔡虞黃莊鮑傳), có đoạn: “Niên lục thập hữu nhị, tự tri thệ kỳ, phần hương tọa thoát (年六十有二、自知逝期、焚香坐脫, vào năm 62 tuổi, ông tự biết lúc ra đi, bèn xông hương ngồi yên mà thoát hóa).” Hay trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục (淨土聖賢錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1549) quyển 9, phần Kim Thích (金奭), lại có đoạn: “Phần hương an tọa, dĩ thủ kết ấn nhi hóa, thiên nhạc dị hương, chung nhật bất tán (焚香安坐、以手結印而化、天樂異香、終日不散, đốt hương ngồi yên, lấy tay bắt ấn mà ra đi, nhạc trời hương thơm lạ, suốt ngày vẫn không hết).” Hoặc trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 6, phần Thụy Châu Cửu Phong Đạo Kiền Thiền Sư (瑞州九峰道虔禪師), cũng có đoạn: “Toại phần hương, hương yên vị đoạn, tọa dĩ thoát khứ (遂焚香、香煙未斷、座已脫去, bèn đốt hương, khói hương chưa dứt, sư đã ngồi yên mà ra đi).”
phần kinh thai
(焚經台) Đài đốt kinh. Đây là nơi mà vào thời vua Minh đế nhà Hán, đạo Phật và đạo Lão đốt kinh để xem đạo nào chân thật, đạo nào không chân thật. Vào ngày mồng 1 tháng giêng năm Vĩnh bình 14 (71), các đạo sĩ ở Ngũ nhạc Bát sơn gồm 690 người, đứng đầu là Chử thiện tín, dâng biểu xin vua cho đốt kinh của Phật giáo và Đạo giáo (Lão giáo) để xem kinh của đạo nào linh nghiệm hơn. Ngày rằm cùng tháng, vua hạ lệnh cho dân chúng tập hợp ở trên đàn, đốt kinh điển của 2 đạo, sách của Đạo giáo đều cháy thành tro, còn kinh Phật thì không hề hấn gì. Điều Dịch sư trong Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 7 có dẫn bài thơ nhan đề Phần Kinh Đài của vua Thái tông nhà Đường như sau (Đại 54, 1178 thượng): Môn kính tiêu tiêu trường lục đài, Nhất hồi đăng thử nhất bồi hồi; Thanh ngưu mạn thuyết Hàm quan khứ, Bạch mã thân tòng Ấn độ lai. Xác thực thị phi bằng liệt diệm, Yếu phân chân ngụy trúc cao đài. Xuân phong dã giải hiềm lang tạ, Xuy tận đương niên Đạo giáo khôi. (Dịch ý: Đường lên thăm thẳm rêu xanh mọc dài, Mỗi lần đến đây lòng thấy bồi hồi. Trâu xanh nói bịp từ Hàm quan ra đi (1) Ngựa trắng đích thân từ Ấn độ tới (2). Đúng hay sai nhờ lửa mạnh xác định Thật hay giả phải lập đài cao mới biết. Gió xuân cũng biết ghét sự bừa bãi. Nên đã thổi sạch tro tàn của Đạo giáo năm xưa). Chú thích của người dịch: (1).Trâu xanh: Theo lịch sử Đạo giáo, lúc 50 tuổi, ngài Lão tử cỡi con trâu xanh ra khỏi cửa ải Hàm cốc, rồi đi về phía tây và từ đó không thấy ngài xuất hiện nữa. (2).Ngựa trắng: Theo lịch sử Phật giáo Trung quốc, vào khoảng năm Vĩnh bình (58–75) đời vua Minh đế nhà Đông Hán, 2 ngài Ca diếp ma đằng và Trúc pháp lan dùng ngựa trắng mang kinh và tượng Phật từ Ấn độ đến Trung quốc truyền bá. Lịch sử Phật giáo Trung quốc bắt đầu từ đó. (xt. Ca Diếp Ma Đằng).
Phần thiêu địa ngục 炎熱地獄
[ja]エンネツジゴク ennetsujigoku ||| The scorching hot hell (Tapana-narakaḥ), the sixth of the eight burning hells 八熱地獄. => Địa ngục nóng như thiêu đốt (s: tapana-narakaḥ), địa ngục thứ 6 trong Bát nhiệt địa ngục 八熱地獄.
Phần thiêu 焚燒
[ja] フンショウ funshō ||| (1) To set fire to; to burn (up). (2) A translation of the Sanksrit homa. See 護摩. => 1. Thiêu cháy; đốt cháy. 2. Hán dịch chữ Homa trong tiếng Sanskrit. Xem Hộ-ma護摩.
phần tuế
(分歲) Cũng gọi Tuế dạ. Chỉ cho đêm trừ tịch, tức giờ giao thừa đánh dấu năm cũ đã qua, bước sang năm mới.Chương Bắc thiền Trí hiền trong Liên đăng hội yếu quyển 27 (Vạn tục 136, 447 thượng) ghi: Tiểu tham lúc giao thừa, dạy chúng rằng: Năm cùng tháng hết, không thể phân tuế cùng với các người được. [X. Cổ kim loại thư toản yếu Q.3].
Phần tướng môn 分相門
[ja] フンソウモン funsōmon ||| The single vehicle is absolute, independent. The "separate aspect" of the single vehicle. => Nhất thừa là tuyệt đối, là độc lập. "Phương diện riêng biệt" của Nhất thừa.
Phần tế 分際
[ja] ブンザイ bunzai ||| (1) Distinction. (2) Limitation, limitation, extreme. (3) Situation, circumstance. => Có ba nghĩa: 1. Sự phân biệt. 2. Sự giới hạn, cực độ. 3.Trạng thái, chi tiết.
Phần tể 分齊
[ja] ブンザイ bunzai ||| (1) Difference, distinction. (2) A level, a limit, extent, range. (pariccheda, pravibhāga) (3) A situation, state of affairs, condition. (4) The border between two villages. => Có các nghĩa sau: 1. Sự khác nhau, sự phân biệt. 2. Mức độ, giới hạn, phạm vi, lĩnh vực (s: pariccheda, pravibhāga) 3. Trạng thái, tình trạng sự việc, điều kiện. 4. Ranh giới giữa hai làng. Phân lượng 分... [ja] ブンリョウ bunryō ||| (1) Quantity, degree, extent. (2) Weight. => Có hai nghĩa: 1. Số lượng, mức độ, phạm vi. 2. Trọng lượng.
phần đoạn luân hồi
(分段輪回) Chỉ cho sự sống chết xoay vòng của chúng sinh trong ba cõi. Phần đoạn là do quả báo bất đồng mà có thân hình và tuổi thọ khác nhau. Chúng sinh trong 3 cõi đều do quả báo khác nhau mà đời đời kiếp kiếp đều có sự bất đồng về thân tướng, tuổi thọ, chìm nổi và trôi lăn trong 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc không bao giờ ngừng. (xt. Phần Đoạn Sinh Tử, Luân Hồi).
Phần Đoạn Sanh Tử
(分段生死): Phật Giáo chia sanh tử của chúng sanh làm 2 loại: Phần Đoạn Sanh Tử và Biến Dị Sanh Tử (變異生死). Phần Đoạn Sanh Tử, còn gọi là Phần Đoạn Tử (分段死), Hữu Vi Sanh Tử (有爲生死), đối xưng với Biến Dị Sanh Tử, tức chỉ chúng sanh mỗi đời quả báo chiêu cảm không giống nhau, cho nên hình tướng, thọ mạng cũng khác nhau; đó được gọi là Phần Đoạn Thân (分段身). Sau khi thọ thân này, tất phải có một lần kết thúc sinh mạng, vì vậy có tên là Phần Đoạn Sanh Tử. Trong kinh điển Phật Giáo có rất nhiều ví dụ về sanh tử. Như Câu Xá Luận (俱舍論) ví sanh tử như bùn: “Sanh tử nê giả, do bỉ sanh tử, thị chư chúng sanh trầm nịch xứ cố, nan khả xuất cố, sở dĩ thí nê (生死泥者、由彼生死、是諸眾生沉溺處故、難可出故、所以譬泥, bùn sanh tử là do sanh tử ấy, là nơi chúng sanh bị chìm đắm, khó có thể ra được, vì vậy mới ví như bùn).” Thành Duy Thức Luận (成唯識論) thì ví như đêm dài: “Vị đắc chơn giác, hằng xử mộng trung, cố Phật thuyết vi sanh tử trường dạ (未得眞覺、恆處夢中、故佛說爲生死長夜, chưa được chánh giác, thường ở trong mộng, cho nên Phật dạy sanh tử là đêm dài).” Trong Phật Sở Hành Tán (佛所行讚) lại cho sanh tử là biển cả: “Đương thừa trí tuệ chu, siêu độ sanh tử hải (當乘智慧舟、超度生死海, phải lên thuyền trí tuệ, vượt qua biển sanh tử).” Hay Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經) thì xem sanh tử như là đám mây mù: “Huệ nhật chiếu thế gian, tiêu trừ sanh tử vân (慧日照世間、消除生死雲, trời tuệ chiếu thế gian, tiêu trừ mây sanh tử).” Trong khi đó, Đại Trí Độ Luận (大智度論) ví sanh tử là bánh xe: “Sanh tử luân tải nhân, chư phiền não kiết sử, đại lực tự tại chuyển, vô nhân năng cấm chỉ (生死輪載人、諸煩惱結使、大力自在轉、無人能禁止, xe sanh tử chở người, các phiền não kiết sử, lực lớn tùy ý chuyển, chẳng ai ngăn cấm được).” Hoặc Vãng Sanh Luận Chú (徃生論註) lại ví dụ sanh tử là khu vườn: “Thị ứng hóa thân, hồi nhập sanh tử viên, phiền não lâm trung du hí thần thông (示應化身,迴入生死園、煩惱林中遊戲神通, hiện thân ứng hóa, trở lại vào vườn sanh tử, thần thông rong chơi trong rừng phiền não).”
phần đoạn sinh tử
(分段生死) Đối lại: Biến dịch sinh tử. Cũng gọi Phần đoạn tử, Hữu vi sinh tử. Chỉ cho sự sinh tử của chúng sinh trong 3 cõi, 1 trong 2 loại sinh tử. Do tạo nghiệp khác nhau nên chúng sinh chiêu cảm quả báo sinh tử trong 3 cõi có thân tướng đẹp, xấu, tuổi thọ dài, ngắn không giống nhau, vì thế gọi là Phần đoạn sinh tử. Theo thuyết của các nhà Duy thức thì Phần đoạn sinh tử lấy nghiệp thiện ác hữu lậu làm nhân trực tiếp và lấy Phiền não chướng làm nhân gián tiếp mà chiêu cảm quả dị thục thô trọng trong 3 cõi. Vì thân mệnh có dài ngắn, tùy theo năng lực của nhân duyên mà quyết định hạn lượng, cho nên gọi là Phần đoạn, cũng tức là sinh tử trong 3 cõi, 6 đường. Đại thừa nghĩa chương quyển 8 chia Phần đoạn sinh tử làm 2 loại: Ác đạo phần đoạn và Thiện đạo phần đoạn. 1. Ác đạo phần đoạn: Chỉ cho quả báo trong 3 đường, gồm 3 bậc: a) Sinh tử của phàm phu phải chịu, lấy ác nghiệp làm nhân, Tứ trụ địa làm duyên. b) Sinh tử do bồ tát Thập trụ phải chịu, lấy ác nghiệp làm nhân, Tứ trụ địa làm chính duyên, bi nguyện làm trợ duyên. c) Sinh tử mà Bồ tát Sơ địa từ hàng Chủng tính trở lên phải chịu, lấy ác nghiệp làm nhân, bi nguyện làm chính duyên, Tứ trụ địa làm trợ duyên. 2. Thiện đạo phần đoạn: Cũng có 3 bậc là: a) Sinh tử của phàm phu, Nhị thừa, cho đến bồ tát Thập trụ phải chịu, lấy thiện nghiệp làm nhân, Tứ trụ địa làm duyên. b) Sinh tử do Bồ tát chủng tính giải hành phải chịu, lấy thiện nghiệp làm nhân, Tứ trụ địa làm chính duyên, bi nguyện làm trợ duyên. c) Sinh tử mà hàng bồ tát Địa thượng phải chịu, lấy thiện nghiệp làm nhân, bi nguyện làm chính duyên, Tứ trụ địa làm trợ duyên. Ngoài ra còn nói rõ về thứ bậc của quả báo lúc hết. Còn Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 6, phần đầu có liệt kê Tứ ma của Phần đoạn sinh tử, đó là: Phần đoạn phiền não ma, Phần đoạn uẩn ma, Phần đoạn tử ma và Phần đoạn thiên ma. [X. chương Nhất thừa kinh Thắng man; luận Thành duy thức Q.8; Thắng man bảo quật Q.trung, phần đầu; Thành duy thức luận thuật kí Q.8, phần cuối; Ma ha chỉ quán Q.7, phần đầu; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2, phần đầu; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6, phần cuối; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.6].
Phần đoạn sinh tử 分段生死
[ja] ブンダンショウジ bundanshōji ||| The lot of life and death received by the worldling who wanders about in the world of delusion. Transmigration with a predetermined life-span and body. (2) 'fragmentary samsāra.' Unenlightened people's samsāra, as opposed to miraculous samsāra 變易生死, the samsāra experienced by bodhisattvas. => Có hai nghĩa: 1. Việc sống chết mà hàng phàm phu phải trôi lăn trong cõi giới vô minh nầy. Sự luân hồi trong một thân xác và kiếp sống tiên định. 2. Phần đoạn sinh tử. Dạng sinh tử luân hồi của hàng phàm phu, khác với Biến dị sinh tử, dạng luân hồi mà hàng Bồ-tát trải qua.
phần đoạn thân
(分段身) Chỉ cho thân phần đoạn sinh tử, tức thân của phàm phu luân hồi trong 6 đường, chịu các thứ quả báo khác nhau, như tuổi thọ có dài ngắn, hình thể có lớn nhỏ...
phần đoạn đồng cư
(分段同居) Phần đoạn là gọi tắt của Phần đoạn sinh tử thân, tức chỉ cho thân thể con người. Phần đoạn nghĩa là do quả báo khác nhau mà có thân tướng và tuổi thọ khác nhau. Đồng cư là gọi tắt của Phàm thánh đồng cư độ, nghĩa là cõi nước trong đó phàm phu và thánh nhân cùng ở chung với nhau, như thế giới Sa bà. Tóm lại, Phần đoạn là thân phàm phu; Đồng cư là nơi phàm phu sinh sống.
Phần 焚
[ja] フン fun ||| To burn, to cook. => Đốt, nấu nướng.
Phẩm
品; C: pǐn; J: hin, hon; |Có các nghĩa sau: 1. Thuộc về một thứ lọai nào đó; 2. Loại, hạng, phạm trù, thứ, loài; 3. Sự phân loại, mức độ; 4. Một phần của tác phẩm, chương, đoạn (s: parivarta, patala, varga). Varga được phiên âm là bạt-cừ (跋渠).
phẩm
Varga (S), Vagga (P), Vakya (S)Phẩm, thiên, chương, bộ trong kinhMột tập kinh có thể chia thành nhiều phẩm.
; Varga (S). Chapter, section (of a book)
; (品) I. Phẩm. Phạm: Varga. Pàli: Vagga. Hán âm: Bạt cừ. Từ dùng để chia bản văn trong 1 bộ kinh thành những chương mục, tương đương với những chữ thiên, chương... như kinh Pháp hoa được chia làm 28 phẩm... II. Phẩm. Chỉ cho phẩm loại, phẩm biệt... Những chủng loại hoặc trình độ giống nhau thì gom vào một để phân biệt sự khác nhau về trình độ và ý nghĩa nội dung, như 9 phẩm hoặc, 81 phẩm hoặc, 3 phẩm sám hối. Ngoài ra còn có những tên gọi như Pháp trí phẩm, Loại trí phẩm, Tâm phẩm...
phẩm ba dật đề
Pacittiya (S)Tiểu giớiTỳ kheo có 92 điều, Tỳ kheo ni có 166 điều, trong 227 điều của giới bản Tỳ kheo trong Kinh phân biệt (Sutta-Vibhanga).
phẩm ba la di
Pārājika (S)Ba la di pháp, Căn bản giới1- Tên một trong 6 phẩm của Luật Tạng. 2- Trọng tội nếu vi phạm sẽ bị trụ xuất khỏi tăng đoàn: Tỳ kheo giới có 4 tội (pháp) ba la di: đại dâm giới, đặi đạo giới, đạại sát giới, đại vọng ngữ giới. Tỳ kheo ni giới có 8 tội ba la di: dâm, đạo, sát, vọng ngữ, do ý dâmmà đụng cọ đàn ông từ nách tới gối, do ý dâm mà nắm tay hay áo hẹn hò đàn ông chỗ vắng, che dấu tội tỳ kheo ni khác phạm đại giới, tùng theo một tỳ kheo phạm giới mà không sám hối. Bồ tát giới có 10 tội ba la di: giốt, trộm, dâm, nói láo, mua rượu, nói điều lỗi của tứ chúng, khen mình chê ngươi, keo tiếc lại còn chê bai, lòng hờn giận chẳng chịu ăn năn, gièm chê tam bảo.
phẩm bỉ ngạn đạo
Parayānavagga (P), The Chapter on the Way to the Far Shore (chapter SN V) Bỉ Ngạn Đạo PhẩmMột trong 5 phẩm của Kinh Tập, có 18 tiết.
phẩm bồ đề tâm hồi hướng
Pariṇāmāna (S)Tên một trong 8 phẩm của Bồ đề hạnh kinh.
phẩm bồ đề tâm nhẫn nhục
Kṣānti-pāramitā (S)Tên một trong 8 phẩm của Bồ đề hạnh kinh. Một trong sáu ba la mật tức là sáu phương pháp đạt giác ngộ, gồm: - dana-paramita: bố thí ba la mật - sila-paramita: giới hạnh ba la mật - ksanti-paramita: nhẫn nhục ba la mật - virya-paramita: tinh tấn ba la mật - dhyana-paramita: thiền định ba la mật - praja-paramita: bát nhã ba la mật Một trong Thập Ba la mật. Dứt giận hờn, được từ tâm tam muội, không huỷ nhục chúng sanh. Khuyên người phát tâm vô thượng bồ đề.
phẩm bồ đề tâm thí cúng dường
Papadesana (S)Tên một trong 8 phẩm của Bồ đề hạnh kinh.
phẩm bồ đề tâm tinh tấn ba la mật đa
Xem Tinh tấn Ba la mật. Tên một trong 8 phẩm của Bồ đề hạnh kinh.
phẩm bồ đề tâm tĩnh lự bát nhã ba la mật
Dhyāna Pāramitā (S)Tên một trong 8 phẩm của Bồ đề hạnh kinh.
phẩm hộ giới
Saṃprājanyaraksana (S)Tên một trong 8 phẩm của Bồ đề hạnh kinh.
Phẩm loại
品類; C: pǐnlèi; J: honrui; |Loại, hạng, phạm trù, thứ, loài.
phẩm loại túc luận
Prākāraṇapada (S)Tên một bộ luận kinh. Do Ngài Thế Hữu soạnXem A tỳ đạt ma Phẩm loại túc luận.
Phẩm loại 品類
[ja] ホンルイ honrui ||| Type, kind, class, category, group. 〔攝大乘論 T 1593.31.〕 => Loại, hạng, phạm trù, thứ, loài.
phẩm nghĩa
Aṭṭhaka vagga (P), The Octet Chapter (chapter SN IV) Một trong 5 phẩm của Kinh Tập, có 16 bài kinh.
phẩm phổ môn
Xem Quán Thế Âm Phổ môn phẩm.
phẩm toát yếu
Parivarga (S)Một trong sáu phẩm của Luật Tạng.
phẩm tán bồ đề tâm
Bodhi-citta saṃsa (S)Tên một bộ luận kinh. Tên một trong 8 phẩm của Bồ đề hạnh kinh.
phẩm vương thọ ký
Rājavyākaraṅa-parivarta (S).
phẩm xà
Uraga-vagga (P)Một trong 5 phẩm của Kinh Tập, gồm 12 kinh.
Phẩm 品
[ja] ヒン、ホン hin, hon ||| (1) That which belongs to a certain type or class of things. (2) Type, class, category, kind, species group. (3) Classification, level. (4) A section of a written work; a chapter, a division (parivarta, patala, varga). Varga is transcribed as 跋渠. => Có các nghĩa sau: 1. Thuộc về một thứ lọai nào đó. 2. Loại, hạng, phạm trù, thứ, loài. 3. Sự phân loại, mức độ. 4. Một phần của tác phẩm, chương, đoạn (s: parivarta, patala, varga). Varga được phiên âm là bạt-cừ 跋渠.
phẩn nộ
Anger—Fierce;
phẩn nộ minh vương
Maharajas as opponents of evil and guardian of Buddhism.
phẩn nộ vương
Xem Kim Cang Dạ xoa.
phẫn
Krodha (S), Anger, Kodha (P)Phẫn nộ, SânSanh khởi sự giận dữ. Một trong 10 tiểu tùy phiền não.
; Krodha (S). Anger.
; (忿) Phạm: Krodha. Lòng tức giận phát ra hành động thô bạo khi gặp cảnh trái ý mình, gọi là Phẫn, tên của Tâm sở, là 1 trong Thập triền. Trong tông Câu xá, Phẫn được xếp làm 1 trong các Tiểu phiền não địa pháp; còn tông Duy thức thì cho nó là 1 trong các Tiểu tùy phiền não. Phẫn là phiền não trói buộc trong cõi Dục, đến giai vị Tu đạo mới đoạn trừ được. Phiền não Phẫn là từ tâm sân phát sinh, tính của nó nóng nảy, mạnh mẽ, nhưng không giữ được lâu. [X. luận Đại thừa quảng ngũ uẩn; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Thuận chính lí Q.54]. (xt. Thất Thập Ngũ Pháp, Thập Triền, Tiểu Tùy Phiền Não).
phẫn kết
The bond of anger.
phẫn nộ
Xem Sân.
; Anger, angry, fierce, over-awing; a term for the Phẫn nộ Minh vương the fierce mahàràja as opponents of evil and guardians of Buddhism.
; (忿怒) Cũng gọi Minh vương. Hiện ra tướng giận dữ. Các vị tôn trong Mật giáo thường hiện tướng phẫn nộ, uy mãnh để hàng phục những chúng sinh cứng cỏi, khó giáo hóa, được gọi chung là Phẫn nộ, hoặc Minh vương. Cứ theo phẩm Xuất thế hộ ma pháp trong kinh Đại nhật quyển 6 và Đại nhật kinh sớ quyển 22, Bản tôn được thờ cúng khi tu pháp Phẫn nộ là thuộc về pháp Hàng phục, pháp Tức tai; hình tượng màu khói đen, đầu tóc rối bù, nhắm một mắt, há miệng như đang la lớn, 2 hàm răng lộ ra. Ngoài ra, Phẫn nộ cũng là 1 trong 32 thứ huyết mạch của tông Chân ngôn Nhật bản.[X. phẩm Phẫn nộ trong kinh Xuất diệu Q.16; Phẫn nộ trong kinh Pháp cú Q.hạ; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn bí sao Q.10]. (xt. Minh Vương).
phẫn nộ câu
A form of Quán âm with a hook.
phẫn nộ câu quán thế âm bồ tát
Amogha-krodhāṇkuśa-rāja (S)Tên một vị Bồ tát.
; (忿怒鈎觀世音菩薩) Phạm: Amogha-krodhàíkuza-ràja. Hán âm: A mục khư cú lộ đà ương cú xả ra nhạ. Cũng gọi Phẫn nộ câu bồ tát. Vị Bồ tát thứ 2 trong Ngoại viện Hư không tạng của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Trì câu kim cương, chủng tử là (sa) hoặc (ka), hình Tam muội da là cái búa móc. Hình tượng vị tôn này ngồi kết già trên hoa sen đỏ, có 3 mặt, 4 tay; mặt chính màu da người, mặt bên trái màu xanh, mặt bên phải màu lục, mỗi mặt đều có 3 mắt, trên mặt có hóa Phật. Tay thứ nhất bên trái cầm hoa sen, tay thứ hai cầm vòng dây; tay thứ nhất bên phải cầm cái móc sắt, tay thứ hai kết ấn Dữ nguyện. Trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh sớ không thấy có tên của vị Bồ tát này, mà chỉ thấy trong Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2, do ngài Pháp toàn biên tập vào đời Đường. Xưa nay cho rằng vị tôn này và bồ tát Hành tuệ trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1 là đồng vị; bồ tát Hành tuệ là quyến thuộc của bồ tát Hư không tạng. Chân ngôn của vị này cũng chính là chân ngôn của bồ tát Hành tuệ được ghi trong Thanh long tự nghi quĩ quyển trung. [X. Bí tạng kí]. (xt. Hành Tuệ Bồ Tát).
phẫn nộ nguyệt yểm bồ tát
(忿怒月黶菩薩) Phẫn nộ nguyệt yểm. Phạm: Krodhacandra-tilaka. Hán âm: Cú lộ đà tán nại la để la ca. Cũng gọi Phẫn nộ nguyệt yểm tôn, Kim cương nguyệt yểm, Nguyệt yểm tôn. Vị Bồ tát ngồi ở đầu cực tây (hàng dưới) trong viện Kim cương thủ của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Để la kim cương, chủng tử là (hrì#) hoặc (hrìô), hình Tam muội da là cây kích 3 chĩa hoặc cây kích 1 chĩa. T h e o phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1 thì hình tượng vị Bồ tát này ngồi kết già trên hoa sen đỏ, mình màu xanh đen, đầu đội mũ trời, có 3 mắt, 4 tay, hiện tướng rất giận dữ, miệng để lộ 4 răng nanh, tay phải tay trái thứ nhất cổ tay giao nhau, bàn tay nắm lại để ở trước ngực; tay trái thứ hai khuỷu tay khuỳnh ra, cầm cái chày 1 chĩa, tay phải thứ hai đưa lên quá vai, cầm cây kích 3 chĩa. Chân ngôn là: Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra noản hiệt lị hồng phát tra sa ha. Ấn khế là ấn Kim cương tuệ, tức bắt ấn Kim cương 5 chĩa, 2 ngón trỏ co lại như hình cái móc, 2 ngón cái hơi co và chạm vào nhau. [X. phẩm Phổ thông chân ngôn tạng kinh Đại nhật Q.2; phẩm Mật ấn kinh Đại nhật Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.13].
phẫn nộ nhãn
(忿怒眼) Mắt giận dữ, 1 trong 3 loại mắt trong pháp Du già của Mật giáo. Đây là mắt của các vị tôn Minh vương trợn trừng, vẻ giận dữ, uy mãnh để hàng phục bọn quân ma phiền não. Chư bộ yếu mục (Đại 18, 899 thượng) nói: Mắt giận dữ, hàng phục tâm, giết hại phiền não. [X. phẩm Hiện chứng nghi quĩ kinh Đại bi không trí].
phẫn nộ quyền
(忿怒拳) Nắm tay giận dữ, 1 trong 6 loại ấn nắm tay(Quyền ấn) của Mật giáo. Trước hết, bắt ấn Kim cương quyền, kế đến, dựng đứng ngón trỏ và ngón út. Ngoài ra, Kim cương quyền cũng có dựng ngón trỏ sát vào lưng ngón cái, làm thành hình Trí phát sinh. Hoặc Kim cương quyền cũng gọi là Phẫn nộ quyền, nhưng thuyết này ít được sử dụng. (xt. Lục Chủng Quyền Ấn).
phẫn nộ trì kim cang bồ tát
Vajragra-Vajadhrah (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
phẫn nộ trì kim cương bồ tát
(忿怒持金剛菩薩) Phạm: Vajràgra-vajradhara#. Hán âm: Phạ nhật la ngật la phạ nhật la đà lạc. Cũng gọi Kim cương lợi trì bồ tát, Kim cương phong trì bồ tát. Vị Bồ tát thứ 3, ngồi nhìn về hướng đông, trong viện Kim cương thủ của Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Uy mãnh kim cương, chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là chày 3 chĩa. Hình tượng vị Bồ tát này ngồi trên hoa sen trắng, mình màu da người, tay phải co và khuỷu tay doãng ra, bàn tay ngửa lên làm ấn Dữ nguyện, tay trái cầm chày 3 chĩa để ở trước ngực, đầu gối bên phải dựng lên. Chân ngôn, ấn khế được ghi trong Thai tạng giới thất tập quyển thượng. Vị Bồ tát này có trí kim cương của Như lai rất mạnh mẽ và sắc bén, Ngài lấy việc phá dẹp các hoặc chướng làm bản thệ. Ngoài ra, vị tôn này được thấy trong Thai tạng tứ bộ nghi quĩ và Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2, nhưng không thấy trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh sớ. [X. Bí tạng kí].
phẫn nộ tướng
(忿怒相) Đối lại: Từ bi tướng. Tướng giận dữ, 1 trong các loại tượng của Phật giáo. Trong Mật giáo, loại tượng này phần nhiều được tạo hình trợn mắt, bặm môi, nhe răng, giơ tay, co chân, dựng tóc... hiện tướng rất uy mãnh, dữ tợn như: Bất động minh vương, Thập nhị thần tướng, Kim cương lực sĩ, Ái nhiễm minh vương, Đại nguyên súy minh vương, Kim cương đồng tử v.v...
phẫn nộ vương
Heruka (S), trak thung (T)Hào lỗ ca Minh vươngTên một vị thiên.
Phẫn nộ vương đại uy đức nghi quỹ phẩm 忿怒王大威德儀軌品
[ja] フンヌオウダイイトクギキホン Funnuō daiitoku giki hon ||| The Fennuwang daweide yigui pin (T 1215.21.76-); abbreviated title of the Dasheng fangguang Manshushīi pusa huayan benjiao Yanmandejia fennuwang zhenyan dawei deyi guipin 大乘方廣曼殊室利菩薩華嚴本教閻曼德迦忿怒王眞言大威德儀軌品. => (c: Fennuwang daweide yigui pin); tên viết tắt của Đại thừa phương quảng Mạn-thù-thất-lợi Bồ-tát Hoa Nghiêm bản giáo Diệm-ma-đức-ca phẫn nộ vương chân ngôn đại uy đức nghi quỹ phẩm (c: Dasheng fangguang Manshushīi pusa huayan benjiao Yanmandejia fennuwang zhenyan dawei deyi guipin 大乘方廣曼殊室利菩薩華嚴本教閻曼德迦忿怒王眞言大威德儀軌品).
phẫn quả
(糞果) Chỉ cho trái cây ở trong đống phân, có kẻ lấy ra rồi lại bỏ đi, ví dụ cho tâm thích sống, ghét chết của phàm phu. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 12 (Đại 12, 435 hạ) nói: Như đứa trẻ Bà la môn đang đói bụng, thấy có quả Am ma la (quả xoài) trong đống phân người, liền nhặt lấy. Người có trí thấy thế quở trách đứa bé rằng: Ngươi là Bà la môn, thuộc dòng dõi thanh tịnh, tại sao lại lấy quả bẩn thỉu trong đống phân ấy? Nghe xong, đứa bé hổ thẹn, liền đáp: Thật ra, không phải tôi lấy để ăn mà muốn rửa cho sạch rồi bỏ nó đi. Người trí bảo rằng: Ngươi quá ngu si! Nếu lại bỏ đi thì lấy nó ra là gì? Này thiện nam tử! Đại Bồ tát cũng như thế, đối với sự sống không nên chấp thủ cũng không nên xả bỏ, như người trí kia quở trách đứa trẻ; kẻ phàm phu ưa sống, ghét chết, giống như đứa trẻ kia lấy quả rồi lại bỏ.
phẫn trừ
(糞除) Trừ bỏ phân dơ bẩn, ví dụ việc trừ bỏ Kiến hoặc, Tư hoặc trong 3 cõi. Cứ theo phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa quyển 2, có 1 trưởng giả nuôi 1 gã nghèo cùng (cùng tử) trong nhà làm đầy tớ, trả tiền công, sai dọn sạch phân giải nhơ bẩn. Sự kiện này ví dụ việc đức Phật dùng Tiểu thừa để giáo hóa hàng Nhị thừa, khiến họ dứt trừ phiền não Kiến, Tư trong 3 cõi. Tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa (Đại 18, 297 hạ) nói: Khởi Hóa thành để tiếp độ, dùng Phẩn trừ để dẫn dắt.
phẫn tảo y
(糞掃衣) Phạm: Pàôsu-kùla. Pàli:Paôsu-kùla. Gọi tắt: Phẩn tảo. Cũng gọi: Nạp y, Bách nạp y. Chỉ cho Ca sa may bằng những chiếc áo vải đã rách bị bỏ trong đống rác, sau khi được lượm lấy và giặt dũ sạch sẽ. Cứ theo phẩm Giải đầu đà trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 16, mặc áo phẩn tảo có 10 điều lợi là: 1. Biết hổ thẹn. 2. Phòng chống lạnh, nóng. 3. Biểu thị phép tắc của sa môn. 4. Trời và người cung kính. 5. Không ham đẹp, tốt. 6. Tùy thuận tịch lặng, không bị phiền não làm khốn. 7. Có điều xấu dễ thấy. 8. Không trang nghiêm bằng vật khác. 9. Tùy thuận Bát chính đạo. 10. Siêng năng tu đạo, không sinh tâm nhiễm ô. Về chủng loại của Phẩn tảo y thì tùy theo các bộ Luật mà có khác. Cứ theo luật Thập tụng 27 thì có 4 loại Phẩn tảo y: 1. Trủng gian y: Áo ngoài nghĩa địa. Tức áo được may bằng vải bọc xác người chết bị vứt bỏ ở nghĩa trang. 2. Xuất lai y: Áo may bằng vải bọc xác người chết được đem bố thí cho tỉ khưu (chứ không vứt bỏ ngoài nghĩa trang). 3. Vô chủ y: Áo không có chủ. Tức áo được may bằng vải để ở chỗ đất trống trong làng xóm, nhưng không có chủ. 4. Thổ y: Áo không hợp với sở thích của người đời. Nghĩa là áo được may bằng những miếng dẻ rách vứt bỏ trong các đường hẻm, ngoài nghĩa địa, hoặc trong các đống rác... Còn luật Tứ phần quyển 39 thì liệt kê 10 loại Phẩn tảo y: Ngưu tước y, Thử niết y, Thiêu y, Nguyệt thủy y, Sản phụ y, Thần miếu trung y, Trủng gian y, Cầu nguyện y, Thụ vương chức y và Vãng hoàn y. [X. kinh Tạp a hàm Q.38; luật Tứ phần Q.8; luật Ngũ phần Q.20; Hữu bộ tì nại da Q.27; Tứ phần luật san phồ bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 3]. (xt. Tam Y).
Phẫn 忿
[ja] フン fun ||| (1) To become angry. (2) Anger. (Skt. krodha; Tib. khro ba) 'wrath.' In the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論, one of the ten lesser defilement ground elements; in the doctrine of the Yogācāra school, one of the twenty secondary defilements (隨煩惱). The mental action which occurs specifically through experiencing anger in regard to a disagreeable environment. 〔成唯識論T 1585.31.33b〕 => 1. Nổi giận (Skt. krodha; Tib. khro ba). Theo Câu-xá luận, là một trong 10 tiểu phiền não địa pháp; trong giáo lý Duy thức tông, là một trong 20 tuỳ phiền não. Là tâm hành xảy ra đặc biệt khi trải qua giận dữ khi gặp môi trường không như ý.
Phật
(s, p: buddha, 佛): gọi đủ là Phật Đà (佛陀、佛馱), Hưu Đồ (休屠), Phù Đà (浮陀), Phù Đồ (浮屠、浮圖), Phù Đầu (浮頭), Một Đà (沒馱), Bột Đà (勃陀、馞陀), Bộ Tha (步他); ý dịch là Giác Giả (覺者), Tri Giả (知者), Giác (覺); nghĩa là đấng giác ngộ chân lý; cũng có nghĩa là đầy đủ tự giác (自覺, tự giác ngộ mình), giác tha (覺他, làm cho người khác giác ngộ), giác hành viên mãn (覺行圓滿, giác ngộ và thực hành đều viên mãn), thấy biết như thật hết thảy tánh tướng của các pháp, là bậc Đại Thánh thành tựu Đẳng Chánh Giác. Đây là quả vị tối cao trong tu hành của Phật Giáo. Ba yếu tố tự giác, giác tha và giác hành viên mãn, đối với hạng phàm phu thì không yếu tố nào đầy đủ cả; đối với hàng Nhị Thừa Thanh Văn (s: śrāvaka, p: sāvaka, 聲聞), Duyên Giác (s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺) thì chỉ có tự giác; Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩) thì có đủ tự giác và giác tha; chỉ có Phật mới có đủ ba yếu tố này; cho nên đây là tôn xưng cao quý nhất. Về nội dung chứng ngộ của đức Phật, các kinh luận có nhiều thuyết khác nhau. Về thân Phật, cõi nước Phật, v.v., các tông phái cũng có nhiều dị thuyết. Cũng có biết bao danh xưng để tán than đức Phật như 10 danh hiệu của đức Như Lai, Nhất Thiết Tri Giả (一切知者, người biết tất cả), Nhất Thiết Kiến Giả (一切見者, người thấy tất cả), Tri Đạo Giả (知道者, người biết đạo), Khai Đạo Giả (開道者, người khai mở đạo [con đường]), Thuyết Đạo Giả (說道者, người thuyết về đạo), Thế Tôn (世尊, đấng được cuộc đời tôn kính), Thế Hùng (世雄, bậc hùng mạnh có thể đoạn trừ mọi phiền não của thế gian), Thế Nhãn (世眼, người có con mắt dẫn dắt thế gian), Thế Anh (世英, bậc ưu tú nhất thế gian), Thiên Tôn (天尊, Đệ Nhất Nghĩa Thiên tối thắng trong 5 vị trời), Đại Giác Thế Tôn (大覺世尊, hay Đại Giác Tôn), Giác Vương (覺王, vua giác ngộ), Giác Hoàng (覺皇, vua giác ngộ), Pháp Vương (法王, vua của các pháp), Đại Đạo Sư (大導師, vị thầy hướng dẫn vĩ đại), Đại Thánh Nhân (大聖人), Đại Sa Môn (大沙門), Đại Tiên (大仙, đấng tôn kính nhất trong chư tiên), Đại Y Vương (大醫王, như danh y tùy theo bệnh mà cho thuốc hay, đức Phật là người tùy theo tâm bệnh mà thuyết pháp), Phật Thiên (佛天), Phật Nhật (佛日, đức Phật như mặt trời chiếu sang khắp nơi), Lưỡng Túc Tôn (兩足尊, đấng tôn kính nhất trong loài có hai chân, lưỡng túc ở đây còn có nghĩa là đầy đủ hai yếu tố nguyện và hạnh), Nhị Túc Tôn (二足尊), Lưỡng Túc Tiên (兩足仙), Nhị Túc Tiên (二足仙), Thiên Trung Thiên (天中天, bậc tối thắng trong chư thiên), Nhân Trung Ngưu Vương (人中牛王, tỷ dụ đức Phật là vua của loài trâu), Nhân Hùng Sư Tử (人雄師子, tỷ dụ đức Phật là con sư tử hùng mạnh trong loài người), v.v. Đức Phật là người có thể hóa độ, dẫn dắt mình và người khác, nên có tên là Năng Nhân (能人); cho nên Phật A Di Đà cũng được gọi là An Lạc Năng Nhân (安樂能人). Đức Phật có những đức tính đặc thù, như thân Ngài có 32 tướng tốt, 48 vẻ đẹp; ngoài ra còn có 10 Lực, 18 pháp bất cọng, v.v. Định, Trí và Bi của Phật đều tối thắng, nên gọi là Đại Định (大定), Đại Trí (大智), Đại Bi (大悲); phối với Ba Đức là Đoạn Đức (斷德), Trí Đức (智德) và Ân Đức (恩德), gọi chung là Đại Định Trí Bi (大定智悲). Chư Phật xuất hiện trong thời quá khứ được gọi là Quá Khứ Phật (過去佛) hay Cổ Phật (古佛), như 7 vị Phật quá khứ, Phật Nhiên Đăng (s: Dīpaṃkara, 燃燈), v.v. Chư Phật sẽ xuất hiện nơi cõi Ta Bà trong tương lai thì gọi là Hậu Phật (後佛) hay Đương Lai Phật (當來佛), như Phật Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒). Ban đầu, Phật là chỉ cho đức Phật của lịch sử, tức là Phật Thích Ca; về sau sản sinh tư tưởng 7 vị Phật quá khứ, rồi lại có Phật tương lai và đức Phật Di Lặc; nay khoảng cách giữa đức Phật Thích Ca và Phật Di Lặc lại có thời gian không có Phật. Phật Giáo Nguyên Thủy thì cho rằng trong đời hiện tại không thể tồn tại cả hai vị Phật như vậy; đến thời kỳ Phật Giáo Đại Thừa, tùy thế giới quan mở rộng, cho rằng trong nhất thời có nhiều đức Phật tồn tại. Tỷ dụ như, phương Đông có Phật A Súc (s: Akṣhobhya, 阿閦), phương Tây có Phật A Di Đà (s: Amitāyus, Amitābha, 阿彌陀); đồng thời ngay hiện tại, ở thế giới phương khác lại có vô số chư Phật hiện hữu, gọi là thập phương hằng sa chư Phật (十方恒沙諸佛, chư Phật nhiều như số cát sông Hằng ở mười phương). Đại Chúng Bộ (s, p: Mahāsāṅghika, 大眾部) của Phật Giáo Nguyên Thủy công nhận rằng tam thiên đại thiên thế giới đồng thời có các đức Phật khác tồn tại, nên chủ trương thuyết gọi là “nhất Phật nhất giới, đa Phật đa giới (一界一佛、多界多佛, một đức Phật một thế giới, nhiều đức Phật nhiều thế giới).” Hữu Bộ (s: Sarvāstivādin, 有部) thì chủ trương thuyết “đa giới nhất Phật (多界一佛, nhiều thế giới một đức Phật).” Chữ “giới (界)” ở đây nghĩa là tam thiên đại thiên thế giới. Ngoài ra, ba đời chư Phật tức chỉ cho ngàn vị Phật của Trang Nghiêm Kiếp (莊嚴劫) trong thời quá khứ, ngàn vị Phật của Hiền Kiếp (賢劫) trong thời hiện tại, và ngàn vị Phật của Tinh Tú Kiếp (星宿劫) trong thời tương lai; hợp lại thành ba ngàn vị Phật. Danh xưng của chư vị Phật này có trong Tam Kiếp Tam Thiên Phật Danh Kinh (三劫三千佛名經).
; 佛; S, P: buddha; T: sangs rgyas;|Dạng viết tắt của chữ Phật-đà, dịch âm của từ Buddha ra Hán ngữ, cũng được gọi là Bụt-đà, Bụt, dịch nguyên nghĩa là Bậc giác ngộ, Giác giả. Danh từ Phật có nhiều nghĩa:|1. Phật là người đã dứt khỏi Luân hồi (s: saṃsāra), đạt Giác ngộ hoàn toàn, đạt giải thoát (Niết-bàn). Nội dung quan trọng nhất của giáo pháp giác ngộ là Tứ diệu đế. Phật là người đã vượt qua mọi tham Ái (s: tṛṣṇā; p: taṇhā), là người biết phân biệt hay dở tốt xấu nhưng tâm không vướng mắc vào các phân biệt đó. Sau khi chết, một vị Phật không còn tái sinh.|Người ta phân biệt hai quả vị Phật: Ðộc giác Phật (s: pratyeka-buddha), là người hoàn toàn giác ngộ, nhưng không giáo hoá, và Tam-miệu Tam-phật-đà, dịch ý là Bậc Chính đẳng chính giác, (s: samyak-saṃbuddha) là người giáo hoá chúng sinh về những điều mình chứng ngộ. Một vị Tam-miệu Phật là một vị đạt Nhất thiết trí (s: sarvajñatā), Mười lực (s: daśabala), chứng Bốn tự tín. Vị Phật của thời đại chúng ta là Thích-ca Mâu-ni. Ðức Thích-ca – một nhân vật lịch sử có thật – không phải là vị Phật đầu tiên và duy nhất. Trong những kinh Tiểu thừa nguyên thuỷ, người ta đã nhắc các vị Phật trong các thời đại trước: Tì-bà-thi (s: vi-paśyin; p: vipassi), Thi-khí (s: śikin; p: sikhī), Tì-xá-phù (s: viśvabhū, p: vessabhū), Ca-la-ca-tôn-đại (s: krakuccanda, p: kakusandha), Câu-na-hàm (s, p: konagāmana) và Ca-diếp (s: kāśyapa, p: kas-sapa). Vị Phật sẽ xuất hiện trong tương lai để tiếp tục hoằng pháp là Di-lặc (s: maitreya, p: metteyya). Trong kinh sách, người ta còn nhắc đến 13 vị Phật khác mà vị quan trọng nhất là Nhiên Ðăng (s, p: dīpaṅkara). Trong thời quá khứ, Phật Thích-ca là người tu khổ hạnh mang tên Thiện Huệ (sumedha), đệ tử của Nhiên Ðăng Phật. Lịch sử các vị Phật được ghi trong Tiểu bộ kinh (p: khuddaka-nikā-ya).|Bắt đầu con đường tiến lên Phật quả, một vị Bồ Tát phát nguyện trước một vị Phật, quyết tâm thành đạo giác ngộ. Trải qua vô lượng kiếp, vị Bồ Tát đó thực hành mười hạnh Ba-la-mật-đa. Trước khi sinh lần cuối, vị đó thường giáo hoá ở cung trời Ðâu-suất (s: tuṣita). Khi sinh lần cuối vị Phật sẽ mang trong người Ba mươi hai tướng tốt, 80 vẻ đẹp khác cũng như đã đạt 37 Bồ-đề phần. Các vị Phật khi sinh ra thì mẹ của các Ngài sẽ chết bảy ngày sau đó. Lúc lớn lên, đến thời kì thích hợp, các vị Phật sẽ sống không nhà và sau khi giác ngộ sẽ thành lập Tăng-già. Lúc đức Phật nhập Niết-bàn là cũng là lúc chấm dứt quá trình đạt đạo.|2. Nhân vật lịch sử Thích-ca Mâu-ni. Ngài sinh năm 563 trước Công nguyên, con trai của một tiểu vương của dòng họ Thích-ca (s: śākya), ngày nay thuộc nước Nepal, gần Hi-mã-lạp sơn. Tên thật Ngài là Tất-đạt-đa (s: siddhārtha), thuộc họ Cồ-đàm (s: gautama; p: gotama), vì vậy cũng có người gọi là Phật Cồ-đàm. Sau quá trình tu hành đạt đạo, Ngài mang danh hiệu Thích-ca Mâu-ni – »Trí giả trầm lặng của dòng Thích-ca.« Nhằm phân biệt đức Phật lịch sử với Phật tính (xem phần 3), người ta nên gọi rõ là Phật Thích-ca.|3. Phật tính, được xem là gốc của mọi hiện tượng; mọi hiện tượng là biểu hiện của Phật tính. Nếu phái Tiểu thừa chỉ công nhận mỗi thời đại chỉ có một vị Phật, và vị này là phải là một nhân vật lịch sử và là đạo sư giáo hoá, thì phái Ðại thừa cho rằng có vô số đức Phật được biểu hiện khác nhau. Theo quan điểm Ba thân (s: trikāya) của Ðại thừa thì Phật tính biểu hiện qua ba dạng chính và mỗi dạng Phật biểu hiện một tính chất của Chân như.|Các dạng siêu việt của Phật tính, Chân như (xem Phật gia) được kể là các vị Phật A-di-đà, Ðại Nhật, Bảo Sinh, Bất Ðộng, Bất Không Thành Tựu, Kim cương Tát-đoá. Các vị này là thầy của các vị Bồ Tát và là giáo chủ của các Tịnh độ. Các dạng Phật-đà siêu việt của Chân như đều có tính chất siêu thế gian, thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, toàn năng, vô lượng thọ. Theo quan điểm Ba thân thì Báo thân Phật (s: saṃbhogakāya) chính là hình ảnh lí tưởng của các vị Bồ Tát tự tạo nên để theo đó mà tu học. Báo thân lại chính là Chân tâm của Ứng thân (hay Hoá thân; s: nirmāṇakāya), là thân của Phật có dạng con người sống trên địa cầu. Khoảng năm 750 sau Công nguyên, sau khi Kim cương thừa ra đời thì trong các trường phái Ðại thừa cũng chấp nhận ngoài Pháp thân (dharmakāya) có thêm năm vị Phật chuyển hoá từ Pháp thân đó, được gọi là Ngũ Phật hay Phật gia, vì mỗi một vị Phật đó được xem có thêm một vị Phật lịch sử (từng sống trên địa cầu) và một vị Bồ Tát đi kèm: 1. Cùng với Phật Ðại Nhật là vị Ca-la-ca-tôn-đại (s: krakuccanda) và Bồ Tát Phổ Hiền (s: samantabhadra), 2. Cùng với Phật Bất Ðộng (s: akṣobhya) là vị Ka-na-ca Mâu-ni (s: kanakamuni) và Bồ Tát Kim Cương Thủ (s: vajrapāṇi), 3. Cùng với Phật Bảo Sinh là vị Phật lịch sử Ca-diếp (s: kāśyapa) và Bồ Tát Bảo Thủ (s: ratnapāṇi), 4. Cùng với Phật Bất Không Thành Tựu là vị Phật Di-lặc và Bồ Tát Phổ Chùy Thủ (s: viśvapāṇi), 5. Cùng với Phật A-di-đà là đức Thích-ca Mâu-ni và Bồ Tát Quán Thế Âm (s: ava-lokiteśvara).|4. Một khái niệm chỉ cái tuyệt đối, cuối cùng của thế giới. Thể này nằm ngoài mọi suy luận, không thể nghĩ bàn, là bản thể không hề biến hoại của Phật tính.«
phật
Butsu-da (J), Butsu (J), Buddho (P), Buddha (S), Sangs Rgyas (T), Bul (K), Awakened One Giác giảCó 3 tính chất: tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Thiếu một trong ba thì chưa là giác giả.
; Buddha (S). Buddha, the founder of Buddhism. Thờ Phật ăn oản: keep the shop and thy shop will keep thee. Đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy: who keeps company with a wolf will learn to howl. Thờ Phật: to worship the Buddha. Lễ Phật: to pay one's respect to the Buddha. Phỉ báng Phật: to speak sacrilegiously of the Buddha. Phật khẩu xà tâm: Buddhist tongue and viperish heart.
; (佛) Phạm, Pàli: Buddha. Gọi đủ: Phật đà, Hưu đồ, Phù đà, Phù đồ, Phù đầu, Một đà, Bột đà, Bộ tha. Hán dịch: Giác giả, Tri giả, Giác. Người giác ngộ chân lí, cũng tức là bậc Đại thánh đầy đủ tự giác, giác tha, giác hành viên mãn, thấy biết tính tướng của hết thảy các pháp đúng như thật, thành tựu Đẳng chính giác, là quả vị cao nhất của Phật giáo. Trong 3 đức: Tự giác, Giác tha, Giác hành viên mãn, thì phàm phu không có 1 đức nào, hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác chỉ có Tự giác, hàng Bồ tát có được Tự giác, Giác tha, chỉ Phật mới có đầy đủ 3 đức. Về nội dung chứng ngộ của đức Phật, trong các kinh luận có nhiều thuyết; đối với Phật thân, Phật độ... thì các tông phái cũng có nhiều thuyết khác nhau, nhưng nói chung thì Đại thừa đều lấy quả Phật làm mục đích tối hậu. Những từ ngữ được dùng để ngợi khen công đức của Phật thì có rất nhiều như 10 danh hiệu: Như lai, Ứng cúng..., hoặc Nhất thiết tri giả, Nhất thiết kiến giả, Tri đạo giả, Khai đạo giả, Thuyết đạo giả, hoặc Thế tôn, Thế hùng (người dứt trừ tất cả phiền não thế gian 1 cách hùng mạnh), Thế nhãn (người dẫn đường cho thế gian), Thế anh (người ưu tú trong thế gian), Thiên tôn, hoặc Đại giác thế tôn, Giác vương (Giác hoàng), Pháp vương, Đại đạo sư, Đại thánh nhân, Đại sa môn, Đại tiên, Đại y vương (người tùy theo tâm bệnh mà nói pháp, cũng như vị thầy thuốc giỏi tùy theo bệnh mà cho thuốc), Phật thiên, Phật nhật (ví dụ Phật như mặt trời), Lưỡng túc tôn, Nhị túc tôn, Lưỡng túc tiên, Nhị túc tiên, Thiên trung thiên, Nhân trung ngưu vương, Nhân hùng sư tử (người hùng trong loài người giống như sư tử trong loài thú) v.v... Đức Phật là bậc có năng lực giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, nên gọi Ngài là Năng nhân¯đ ¤H, do đó, đức Phật A di đà được gọi là An lạc năng nhân (năng nhân của thế giới an vui). Ngoài ra, còn có thuyết lấy Năng nhân ¯đ ¤H làm Năng nhân ¯đ ¤¯ (hay làm điều nhân từ). Chữ Năng nhân sau là dịch ý của từ ngữ Thích ca, cho nên danh hiệu đức Phật Thích ca cũng được dùng để chỉ chung cho tất cả các đức Phật thù thắng. Đức tính thù thắng có đầy đủ trên thân Ngài là 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, ngoài ra còn có 10 lực, 4 vô sở úy và 18 pháp bất cộng. Lại nữa, Phật có 7 công đức thù thắng vượt hơn người thường, gọi là Thất thắng sự, hoặc gọi là Thất chủng tối thắng, Thất chủng vô thượng. Đó là: Thân thắng, Như pháp trụ thắng, Trí thắng, Cụ túc thắng, Hành xứ thắng, Bất khả tư nghị thắng và Giải thoát thắng. Định, Trí, Bi của Phật đều là tối thắng, cho nên gọi là Đại định, Đại trí và Đại bi, phối hợp với Đoạn đức, Trí đức và Bi đức mà gọi chung là Đại định trí bi. Phật xuất hiện ở đời quá khứ gọi là Quá khứ Phật hoặc Cổ Phật. Phật sẽ xuất hiện ở thế giới Sa bà trong vị lai, thì gọi là Hậu Phật hoặc Đương lai Phật (tức Phật Di lặc). Ở thời kì đầu, Phật là chỉ cho Phật lịch sử, cũng tức là chỉ cho đức Phật Thích ca. Về sau lại phát sinh tư tưởng Quá khứ thất Phật, Vị lai Phật và Di lặc Phật. Khoảng cách giữa đức Phật Thích ca và Phật Di lặc, sẽ không có vị Phật nào khác ra đời. Tiểu thừa cho rằng không thể có 2 đức Phật cùng xuất hiện và tồn tại trong cùng thời đại, vì thế chủ trương thuyết Nhất Phật. Nhưng đến thời kì Phật giáo Đại thừa thì quan niệm về thế giới được mở rộng, nên cho rằng có nhiều đức Phật ra đời trong cùng thời đại. Chẳng hạn như phương Đông có Phật A súc, phương Tây có Phật A di đà và trong những thế giới ở các phương khác còn có vô số chư Phật đồng thời tồn tại mà trong kinh thường nói Thập phương hằng sa chư Phật (Chư Phật trong 10 phương nhiều như số cát của sông Hằng). Vì thế nên Đại thừa chủ trương thuyết Đa Phật. Đại chúng bộ trong Tiểu thừa thì cho rằng trong 3 nghìn thế giới đại thiên đồng thời có chư Phật tồn tại, cho nên bộ này chủ trương thuyết Một thế giới một Phật, nhiều thế giới nhiều Phật. Còn Hữu bộ thì chủ trương thuyết Nhiều thế giới một Phật, tức là trong 3 nghìn thế giới đại thiên chỉ có 1 đức Phật xuất hiện. Ngoài ra, Chư Phật ba đời là chỉ cho 1.000 vị Phật trong kiếp Trang nghiêm ở đời quá khứ, 1.000 vị Phật trong kiếp Hiền ở đời hiện tại và 1.000 vị Phật trong kiếp Tinh tú ở đời vị lai. Cộng chung 3 kiếp là 3.000 vị Phật. Danh hiệu của các đức Phật này được ghi trong kinh Tam kiếp tam thiên Phật danh. Phật danh hội là chỉ cho pháp hội căn cứ theo kinh Tam kiếp tam thiên Phật danh mà được tổ chức. [X. kinh Tạp a hàm Q.12, 20; kinh Hoa nghiêm Q.42 (bản dịch mới); kinh Thiên Phật nhân duyên; phẩm Thán cổ trong kinh Hiền kiếp Q.8; phẩm Xảo tiện hành trong kinh Đại bát nhã Q.365; kinh Thủ lăng nghiêm tam muội Q.thượng; luận Du già sư địa Q.82; luận Đại trí độ Q.9, 29]. (xt. Như Lai, Phật Độ, Phật Thân).
phật a súc bệ
Akkhobbha-buddha (P), mi bskyod pa (T), Akṣobhya (S), Imperturbable Buddha, Akkhobbha-Buddha (P)Bất động Phật, Vô động Phật, Vô nộ Phật, Vô sân Phật, Đông Phật, A súc Bất động Như lai, Diệu Sắc Thân Như lai, A súc bà PhậtNgự phương Đông Mạn đà la. Tượng trưng Đại viên cảnh trí. Một trong năm hoá thân của đức Thích ca. Tay trái có hình nắm tay, tay phải đụng mặt đất, da màu vàng kim (Tây tạng: da màu xanh da trời).
phật a súc tỳ hoan hỷ quang
Buddha of Imperturbable-Joy Light.
phật a-lợi-sá
Arittha (P), Ariṣṭa (S)A túc tra. Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili.
Phật A-súc
(阿閦佛- Phạn ngữ: Akobhya Buddha), tức là Phật Bất Động, cũng dịch là Phật Vô Động, được xem là cõi tịnh độ phương Đông, như cõi Phật A-di-đà là tịnh độ phương Tây. Xem phẩm Phật A-súc trong kinh Duy-ma-cật.
phật bào cái chiếu không tự tại vương
Buddha of Sovereign King of the Precious Canopy Which Illumines Space Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật bát
(佛鉢) Cũng gọi Phật bát vu. Chỉ cho chiếc bát bằng đá đựng thức ăn của đức Phật. Cứ theo kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển hạ, khi đức Phật mới thành đạo, Tứ thiên vương mỗi vị dâng cúng đức Phật 1 chiếc bát bằng đá của núi Át na, đức Phật nhận lãnh 4 cái bát ấy, rồi để chúng trong bàn tay trái, lấy tay phải đè lên trên, dùng thần lực ấn xuống thành 1 bát, vì thế bát này có 4 cái ngấn rõ ràng. Về dung lượng của Phật bát, theo phần Bát kí của ngài Tăng già da xá trong Pháp uyển châu lâm quyển 30, thì Phật bát chứa được hơn 3 đấu, còn Cao tăng Pháp hiển truyện thì bảo chứa được 2 đấu. Sau khi đức Phật nhập diệt, Phật bát được mọi người lễ bái cúng dường. Theo Mã minh bồ tát truyện và Phó pháp nhân duyên truyện quyển 5, thì vua nước Nguyệt chi đánh phá thành Hoa thị của nước Ma yết đà, chiếm được Phật bát và bắt bồ tát Mã minh đưa về nước. Còn điều Phất lâu sa quốc (Phạm: Puruwapura, tức là thành Bố lộ sa bố la) trong Cao tăng Pháp hiển truyện thì ghi rằng Phật bát ở nước Phất lâu sa, vua nước Nguyệt chi đánh được nước này, muốn lấy Phật bát, nhưng dùng voi lớn và xe 4 bánh để chuyên chở mà vẫn không di chuyển được Phật bát, nên đành xây tháp và già lam ở đó để thờ, gọi là chùa Phật bát. Căn cứ vào đó thì trước thời vua Ca nị sắc ca (khoảng thế kỉ I Tây lịch), Phật bát được lưu truyền ở miền Bắc Ấn độ; đến thời Đông Tấn (thế kỉ IV) của Trung quốc thì Phật bát ở nước Phất lâu sa. Ngoài ra, theo kinh Liên hoa diệu quyển hạ thì Phật bát từng có lần bị vua Mị chi hạt la câu la, nước Kế tân đập vỡ, sau được dời lên phương bắc, đến nước Ba la bát đa, được cúngdường trọng thể, nhờ Phật lực nên bát vỡ này lành trở lại như xưa. Lại nữa, theo điều Sư tử quốc trong Cao tăng Pháp hiển truyện ghi, 1 đạo nhân người Thiên trúc dự đoán rằng, Phật bát vốn ở nước Tì xá li, lúc bấy giờ bát được cất giữ ở Kiền đà vệ, sau vài trăm năm, trải qua các nước Tây nguyệt chi, Vu điền, Khuất từ, Sư tử (Tích lan), đất Hán... lại trở về Trung thiên trúc, rồi lên đến cung trời Đâu suất, được bồ tát Di lặc cúng dường, về sau đến Long cung, đến khi bồ tát Di lặc thành đạo, thì bát lại chia ra làm 4 mà trở về núi Át na. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; phẩm Phụng bát trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; luật Tứ phần Q.31, 52; luận Đại trí độ Q.26, 35; Trí mãnh truyện trong Xuất tam tạng kí tập Q.15; Đại đường tây vực kí Q.8; Pháp uyển châu lâm Q.98].
phật bát ấn
(佛鉢印) Cũng gọi Như lai bát, Thích ca đại bát, Bát ấn. Ấn Phật bát. Bát là vật báu của chư Phật, Bồ tát trong Mật giáo, bát là hình Tam muội da của đức Thích ca Như lai, bởi thế, trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền thì Phật bát ấn là 1 vị Bồ tát, được tôn trí trong viện Thích ca. Nhưng Thai tạng nghi quĩ thứ đệ thì bảo ấn minh này có xuất xứ từ hội Như lai thân, biểu trưng đức trì bát của Đại nhật Như lai. Ấn tướng của ấn này là nắm lấy 1 góc áo ca sa gần tay trái và 1 góc đắp trên vai, quấn quanh cánh tay trái, luồn vào trong tay trái, để ở trước rốn, tay phải ngửa ra đặt chồng lên tay trái, 2 ngón cái bấm vào nhau, dáng như đang nâng bát. Đại nhật kinh sớ quyển 13 (Đại 39, 716 thượng) nói: Bắt ấn này tức đồng với Như lai, mặc ca sa này là tiêu biểu cho uy nghi của chư Phật, có năng lực làm cho tất cả chúng sinh đều là pháp khí. [X. phẩm Mật ấn kinh Đại nhật]. PHẬT BỘ Cũng gọi Như lai bộ. Bộ thuộc của Phật, 1 trong 3 bộ của Thai tạng giới, 1 trong 5 bộ của Kim cương giới Mật giáo. Chỉ cho đức dụng của Đại nhật Như lai trong Lưỡng giới mạn đồ la. Nhưng Phật Lô xá na không gọi là Như lai, mà Đại nhật Như lai cũng không gọi là Phật. Thông thường thì các đức Phật Thích ca, Dược sư, A di đà, A súc, Bảo sinh, Đa bảo... đều dùng chung cả 2 danh hiệu Phật và Như lai. Tất cả các vị tôn coi về đức dụng của Pháp giới thể tính trí trong 5 trí đều thuộc về Phật bộ, biểu thị về Thân mật trong Tam mật. Chủng tử là (a), (vaô), hình Tam muội da là tháp bà. Về bộ chủ, ở Kim cương giới là đức Đại nhật, ở Thai tạng giới là Kim cương Phật đính. Về bộ mẫu, ở Kim cương giới không có, ở Thai tạng giới là Phật nhãn tôn. [X. kinh Tôtất địa yết la Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.5, 14; Bí tạng kí].
Phật Bích-chi
phiên âm từ Phạn ngữ là Pratyekabuddha, cũng đọc là Bích-chi-ca, dịch nghĩa là Duyên giác, Độc giác. Phật Bích-chi là vị sanh ra nhằm lúc không có Phật ra đời, nhờ quán xét 12 nhân duyên mà được giác ngộ, nên gọi là Duyên giác. Vì tự mình tu học vào thời không có Phật, đắc đạo và nhập Niết-bàn, nên gọi là Độc giác. Xem thêm ba thừa.
Phật Bản Hành Tán 佛本行讚
[ja]ブツホンギョウサン Butsu hongyō san ||| The Buddhacarita. See 佛所行讚. => Xem Phật Sở Hành Tán 佛所行讚.
Phật bản hạnh tán
佛本行讚; C: fó běnxíng zàn; J: butsu hongyō san;|Phật sở hạnh tán (佛所行讚).
Phật bản hạnh tập kinh
佛本行集經; C: fó běnxíng jíjīng; J: butsu hongyou shūkyō; S: abhiniṣkramaṇa-sūtra.|Kinh; Xà-na-quật-đa (闍那崛多) dịch, gồm 60 quyển. Trình bày lịch sử đầy đủ nhất của đức Phật tiện dụng cho người Trung Hoa, bao gồm cả tiểu sử các đệ tử lớn của đức Phật.
phật bản hạnh tập kinh
Abhiniṣkramaṇa sŪtra (S)Tên một bộ luận kinh.
; Mahàvastu (S).
; (佛本行集經) Phạm: Abhiniskramaịasùtra. Gọi tắt: Bản hạnh tập kinh. Kinh, 60 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 3. Nội dung kinh này nói về sự tích đản sinh, xuất gia, thành đạo... của đức Phật và nhân duyên các vị đệ tử về qui y và được Phật hóa độ. Đây là bộ kinh tập đại thành của Phật truyện. Toàn kinh chia làm 3 bộ 60 chương: 1. Bộ thứ nhất: Gồm 5 chương, nói về chuyện bản sinh của đức Phật, tức phát tâm bồ đề, sinh lên cung trời Đâu suất, gá vào thai Ma da phu nhân. 2. Bộ thứ 2: Gồm 32 chương, nói về thời kì tại gia của đức Phật như: Đản sinh, học tập, lấy vợ, sinh con, cho đến nảy chí xuất gia. Sau khi xuất gia là thời kì xuất gia tu hành, thăm hỏi các vị tiên khổ hạnh; cho đến sau khi thành đạo là thời kì thành đạo chuyển pháp luân lần đầu tiên. 3. Bộ thứ ba: Gồm 15 chương, nói về sự truyền đạo, các sinh hoạt giáo hóa, tức thời kì truyền đạo, trình bày về truyện kí của các vị đệ tử. Nguyên bản tiếng Phạm của kinh này cho đến nay vẫn chưa được tìm thấy, còn bản Hán dịch thì lời văn rất ít được trau chuốt, sửa sang, điều này chứng tỏ sự phiên dịch cực kì trịnh trọng. Đây là bản kinh rõ ràng nhất trong các bản Phật truyện và có 4 đặc sắc khác với các bản Phật truyện khác, đó là: Trước hết, nêu phổ hệ của Phật, kế đến nêu phổ hệ của vua, có nhiều truyện bản sinh, thu tập các loại truyện khác. Bộ kinh này là tư liệu quan trọng để nghiên cứu về xã hội và lịch sử Phật giáo Ấn độ đời xưa. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Đại đường nội điển lục Q.5; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.7; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.7].
phật bản hạnh tập kinh dị bản
Xem Đại sự kinh.
Phật Bản Hạnh Tập Kinh 佛本行集經
[ja] ブツホンギョウシュウキョウ Butsu hongyou shūkyō ||| The Fo benxing ji jing (Abhiniṣkramaṇa-sūtra); trans. by Jnanagupta 闍那崛多; 60 fasc. T 190.3.655a-932a. The most comprehensive biographies of the Buddha available in Chinese, which also includes biographies of the leading disciples. => (s:Abhiniṣkramaṇa-sūtra) Kinh; Xà-na-quật-đa dịch; gồm 60 quyển. Trình bày lịch sử đầy đủ nhất của Đức Phật tiện dụng cho người Trung Hoa, bao gồm cả tiểu sử các đệ tử lớn của Đức Phật.
phật bảo
Buddha-ratna (S).
; Buddha-ratna (S) Buddha-jewel.
Phật Bất Động
xem Phật A-súc.
phật bất động trí quang
Buddha of Unshakable Insight Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật bổn hạnh tập kinh
Fo-pen-hsing-chi ching (C)Tên một bộ kinh.
phật bổng chi tranh
(佛棒之爭) Sự tranh luận giữa Phật giáo và Bổng giáo tại Tây tạng. Sau khi Phật giáo được du nhập Tây tạng vào thế kỉ VII thì bị Bổng giáo, tông giáo truyền thống của dân Tây tạng, chống đối và tẩy chay. Lúc còn niên thiếu, Khất lật song đề tán (người rất có công với Phật giáo Tây tạng sau này), vì ủng hộ các đại thần quí tộc thuộc Bổng giáo, nên đã ngăn cấm Phật giáo, không cho truyền bá. Nhưng, sau khi lên cầm quyền, ông hết sức ủng hộ và phục hưng Phật giáo, ông xây chùa Tang da, đồng thời ra lệnh cho Phật giáo và Bổng giáo tổ chức cuộc tranh luận công khai. Sau khi Bổng giáo thất bại, ông hạ chiếu hủy bỏ hết sách Bổng giáo, cấm chỉ lưu truyền, Phật giáo chiếm được địa vị chính thống. Đến khi Khất lật lai ba thiệm lên ngôi thì thế lực của Phật giáo được phát triển đến điểm cao nhất, đó là thời kì vàng son của Phật giáo Tây tạng. Sau, Lãng đạt ma cướp ngôi, lên làm vua, lại thẳng tay tiêu diệt Phật pháp. Sau khi ông chết, các đảng phái tranh nhau, Tây tạng rơi vào tình trạng nội loạn, Phật giáo vẫn bị nghiêm cấm, suốt hơn 100 năm mà trong sử gọi là Phật Bổng Chi Tranh. Trong quá trình đó, Phật giáo và Bổng giáo không tránh khỏi sự ảnh hưởng và tiếp thu lẫn nhau. Đến thời kì truyền bá sau (tức thế kỉ XI), một nền Phật giáo Tây tạng mang đậm sắc thái Bổng giáo và những đặc điểm địa phương đã xuất hiện. Đồng thời, Bổng giáo vì đã hấp thu 1 nội dung Phật giáo rất lớn, nên đến đời sau cũng được xem là 1 chi phái của Phật giáo Tây tạng: Sự cạnh tranh giữa Phật giáo và Bổng giáo coi như đã cáo chung. (xt. Tây Tạng Tiền Truyền Kì Phật Giáo, Tây Tạng Hậu Truyền Kì Phật Giáo).
phật bộ chủ
(佛部主) Trong Mật giáo, Phật bộ chủ có 2 nghĩa: 1. Trong Mạn đồ la Kim cương giới, các vị tôn được chia làm 5 bộ: Phật bộ, Kim cương bộ, Bảo bộ, Liên hoa bộ và Yết ma bộ, trong đó, đức Đại nhật Như lai là chủ của Phật bộ. Chữ chủ ở đây có nghĩa là Thượng thủ(bậc đứng đầu). 2. Trong Mạn đồ la Thai tạng giới, các vị tôn được chia làm 3 bộ: Phật bộ, Kim cương bộ và Liên hoa bộ, trong đó đức Kim luân vương Phật đính làm bộ chủ. Chữ chủ ở đây có nghĩa là cầm quyền quản lãnh. Ngoài ra, cũng có thuyết cho rằng không chia Thai tạng, Kim cương mà tất cả đều lấy đức Đại nhật Như lai làm bộ chủ. (xt. Ngũ Bộ).
phật bộ tam muội da ấn
(佛部三昧耶印) Cũng gọi Pháp giới tháp ấn. Ấn Tam muội da của Phật bộ, 1 trong 5 loại ấn ngôn của pháp Hộ thân trong Mật giáo.Hành giả Mật giáo đã được sự gia trì của ấn ngôn này rồi, thì các vị tôn của Phật bộ liền mở bày trên thân nghiệp của hành giả, đồng thời gia hộ cho thân nghiệp hành giả thanh tịnh, tiêu trừ tội chướng, tăng trưởng phúc tuệ. Ấn tướng này là: Hai tay chắp để rỗng ở giữa, 2 ngón trỏ doãng ra và hơi co lại, dính sát vào lóng ngón trên cùng của ngón giữa, rồi duỗi 2 ngón cái để sát vào lóng (đốt) dưới của 2 ngón trỏ. Vì hình dáng của ấn tướng này rất giống với hình tướng của Phật đính nên còn gọi Phật đính ấn. Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) đát tha nga đô (tathàgata, Như lai) nạp bà phạ da (udbhavàya, phát sinh) sa phạ ha (svàhà, thành tựu). Nghĩa là Như lai có năng lực sinh ra và thành tựu 3 thân, đạt đến viên mãn cứu cánh.
Phật Ca-diếp
(Kyapa), tức là vị Phật thứ ba trong Hiền kiếp, ra đời sau Phật Câu-na-hàm Mâu-ni (Kanakamouni) và ngay trước Phật Thích-ca Mâu-ni. Xem bảy vị Phật.
Phật Ca-la-ca-tôn-đại
xem Phật Cưu-lưu-tần.
phật chiên đàn khốt trang nghiêm thắng
Buddha of Gloriously Adorned Excellence of the Sandalwood Cave Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật chiên đàn quang
Buddha of SandalWood Light Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật chiếu quang hoà thượng ngữ yếu
(佛照光和尚語要) Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Chuyết am Đức quang thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Tống, ấn hành vào năm Gia hi thứ 5 (1238), được thu vào Tục cổ tôn túc ngữ yếu quyển 5 trong Vạn tục tạng 119. Nội dung sách này trích lục Thướng đường ngữ, tiểu tham, niêm cổ, tán, kệ, tụng, tự tán..., nhưng không biết xuất xứ từ ngữ lục nào.
phật chiếu thiền sư ngữ lục
(佛照禪師語錄) Tên đầy đủ: Phật chiếu thiền sư trụ Tuệ nhật sơn Đông phúc thiền tự ngữ lục. Cũng gọi: Bạch vân Tuệ hiểu thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 2 quyển, do ngài Bạch vân Tuệ hiểu (1223-1297), người Nhật soạn, Hư thất Hi bạch biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung sách này gồm có các mục: -Quyển thượng: Tiến sơn, thướng đường, tiểu tham, cử cổ, niêm hương... -Quyển hạ: Tiểu Phật sự, Pháp ngữ, Tạp biên, Phật tổ tán... Cuối quyển có phụ lục Phật chiếu thiền sư truyện trích từ Nguyên hanh thích thư của ngài Hổ quan Sư luyện.
phật chính pháp nhãn tạng
(佛正法眼藏) Chỉ cho giáo pháp chân chính của đức Phật.Nhãn nghĩa là thấy suốt, chiếu sáng, ví dụ chính pháp của Phật có năng lực chiếu soi muôn vật. Tạng nghĩa là hàm chứa, bao hàm, ví dụ chính pháp của Phật có công năng dung chứa tất cả sự vật.
phật chủng
Xem Kinh Phật sự.
; The seed of Buddhahood.
; (佛種) I. Phật Chủng. Phạm: Buddha-vaôza. Pàli: Buddha-vaôsa. Dòng dõi Phật, hệ thống Phật. Tín đồ Bà la môn giáo ở Ấn độ chủ trương 4 giai cấp khác nhau để khoe khoang xuất thân và hệ thống của mình; nhưng Phật giáo thì cho rằng đệ tử Phật đều sinh ra từ một Phật pháp đồng nhất, bất luận dòng họ, gia hệ, tất cả đều gọi là Phật tử, nhằm mục đích đánh thức sự tự giác của người con Phật. Nói theo nghĩa rộng, hễ ai tin Phật pháp thì đều gọi là Phật tử; còn nói theo nghĩa hệ thống thì gọi là Phật chủng, Thích chủng tử. [X. kinh Tiểu duyên trong Trường a hàm Q.6; kinh Đại thừa lăng già Q.5; phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2; phẩm Như lai tạng trong luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính; luận Phật tính Q.2; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.7]. II. Phật Chủng. Hạt giống thành Phật, tức là Phật tính, là nhân để được quả Phật. Có 4 loại nhân: 1. Phật tính mà xưa nay chúng sinh vốn có: Chỉ cho lí duyên khởi, lí trung đạo, lí các pháp tính không... 2. Phiền não: Kinh Duy ma quyển trung cho rằng ngoài phiền não ra không có bồ đề nào khác, cho nên tất cả kiến giải sai lầm và phiền não đều là Phật chủng. 3. Bồ đề tâm: Không có nhân là tâm bồ đề thì không được quả Phật. 4. Xưng danh hoặc nghe danh: Nương theo nhân này thì có thể thành Phật [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; phẩm Phát tâm kinh Hoa thủ Q.2; phẩm Tứ pháp kinh Tư ích phạm thiên sở vấn Q.1; Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.12; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.11].
phật chủng tánh chú sở
Buddhavaṃ-satthakatha tika (S)Một trong những luận kinh do Dhammapala, thế kỷ 5, soạn và chú thích kinh điển Pali.
phật chủng tính
Buddhasamva (P). Those of the Buddha-clan, Buddhist.
phật chủng tính kinh
(佛種姓經) Pàli: Buddha-vaôsa. Kinh, 28 phẩm, do các bài kệ tụng tổ hợp thành, là 1 trong Tiểu bộ kinh (Pàli: Khuddaka-nikàya). Nội dung kinh này nói rộng về dòng họ, sự tích của các đức Phật quá khứ và nhân hạnh của đức Thế tôn Thích ca... Trong số các đức Phật quá khứ được đề cập đến trong kinh này, thì 7 đức Phật từ Phật Tì bà thi (Pàli: Vipassì) trở xuống đến đức Thích tôn đã được thấy trong kinh Đại bản thuộc Trường bộ kinh và trong kinh A tra nẵng chi, nhưng 24 Phật... thì không thấy trong các kinh điển xưa, vả lại, thuyết nam nữ đứng hầu cũng không được nói đến trong các kinh điển cổ. Trong tạng kinhPàli, thì kinh này, kinh Thí dụ (Pàli: Apadàna) và Sở hành tàng (Pàli: Cariyà-piỉaka) là những kinh được biên soạn sau cùng. Trong Trường bộ kinh chú (Pàli: Sumaígalavilàsinì), ngài Phật âm nói rằng Trung bộ sư cho kinh này là Thánh điển, nhưng Trường bộ sư thì không cho như thế. Nguyên văn kinh này đã được ông R.Morris xuất bản vào năm 1882 và có bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh quyển 41) của ông Lập hoa Tuấn đạo. Sách chú thích kinh này thì có: Diệu nghĩa duyệt ý (Pàli: Maddhurattha-vilàsinì) do ngài Phật thụ (Pàli: Buddhadatta) soạn. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; A History of PàliLiterature by B. C. Law; Dictionary of Pàli Proper Names by G. P. Malalasekera].
phật chủng tộc
(佛種族) Dòng họ của Phật, có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho chủng tộc Thích ca, tức là những người cùng dòng họ với Phật Thích ca. 2. Chỉ cho những người y theo lời dạy của đức Phật, cạo tóc, nhuộm áo, xuất gia học đạo. Tại Trung quốc, từ ngài Đạo an đời Đông Tấn trở về sau, chư tăng đều lấy họ Thích, tức cho mình là người cùng dòng họ với đức Phật.
Phật cung
(佛宮): cung điện thờ Phật, tức chỉ cho tự viện Phật Giáo; tương đương với Phạm cung (梵宮), Phạm vũ (梵宇), Phạm sát (梵刹). Như trong Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1452) quyển 28 có bài thơ Quá Hướng Thành Quảng Phước Tự (過向城廣福寺) rằng: “Vạn thốc vân sơn ủng Phật cung, tuyền đề tảo tỉnh thảo lai phong, tịch dương khư lạc hướng thành Bắc, kỉ độ chung thanh tống vãn phong (萬簇雲山擁佛宮、璇題藻井草萊封、夕陽墟落向城北、幾度鐘聲送晚風, vạn cụm núi mây ôm Phật cung, biển ngọc phù điêu cỏ xanh um, bóng chiều thành cũ xuôi về Bắc, mấy độ chuông chùa theo gió ngân).” Hay trong Quảng Thanh Lương Truyện (廣清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2099) quyển Hạ có câu: “Nhân tức sáng hưng Phạm vũ, đế cấu Phật cung, thập hữu thất niên bất hạ phong đảnh, Thiền tụng tinh cần, thốn âm vô phế (因卽創興梵宇、締搆佛宮、十有七年不下峰頂、禪誦精勤、寸陰無廢, nhân đó mà sáng lập Phạm vũ, xây dựng Phật điện, trong vòng mười bảy năm không xuống đỉnh núi, hành Thiền tinh tấn, thời gian không bỏ phí).”
; (佛宮): cung điện thờ Phật, tức chỉ cho tự viện Phật Giáo; tương đương với Phạm cung (梵宮), Phạm vũ (梵宇), Phạm sát (梵刹). Như trong Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1452) quyển 28 có bài thơ Quá Hướng Thành Quảng Phước Tự (過向城廣福寺) rằng: “Vạn thốc vân sơn ủng Phật cung, tuyền đề tảo tỉnh thảo lai phong, tịch dương khư lạc hướng thành Bắc, kỉ độ chung thanh tống vãn phong (萬簇雲山擁佛宮、璇題藻井草萊封、夕陽墟落向城北、幾度鐘聲送晚風, vạn cụm núi mây ôm Phật cung, biển ngọc phù điêu cỏ xanh um, bóng chiều thành cũ xuôi về Bắc, mấy độ chuông chùa theo gió ngân).” Hay trong Quảng Thanh Lương Truyện (廣清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2099) quyển Hạ có câu: “Nhân tức sáng hưng Phạm vũ, đế cấu Phật cung, thập hữu thất niên bất hạ phong đảnh, Thiền tụng tinh cần, thốn âm vô phế (因卽創興梵宇、締搆佛宮、十有七年不下峰頂、禪誦精勤、寸陰無廢, nhân đó mà sáng lập Phạm vũ, xây dựng Phật điện, trong vòng mười bảy năm không xuống đỉnh núi, hành Thiền tinh tấn, thời gian không bỏ phí).”
phật cung
(佛供) Cũng gọi Phật hướng, Phật phạn, Thục Phật cúng. Dâng cơm, cháo cúng dường Phật và Bồ tát. Cúng dường Phật, phải dùng các thức ăn uống thanh tịnh, đặt trên những khí cụ quí giá và dâng cúng hằng ngày, nhưng phải cúng trước giờ Ngọ chứ không được quá. Cúng dường nghi thức (Đại 18, 180 hạ) ghi: Phàm các vật cúng dường chỉ trừ những thứ bất tịnh như ngũ tân(5 thứ rau có vị cay: Hành, hẹ, tỏi, củ kiệu, hưng cừ – loại này ở Việt nam không có), rượu, thịt... Đồ đựng vật cúng dường, nên dùng các thứ làm bằng vàng, bạc, đồng, sắt, sành, sứ... còn các thứ khác không nên dùng. Ở trong đàn tràng cúng dường các mùi vị, mỗi ngày mỗi thay đổi, riêng trái cây thì 3 ngày đổi 1 lần cũng được. Ngoài ra, trong Mật giáo, khi cử hành lễ Quán đính, dùng cơm nhuộm 5 màu trắng, đỏ, vàng, xanh, đen, để cúng dường 5 đức Phật, gọi là Ngũ sắc Phật cúng, hoặc Sắc Phật cúng, Nhiễm Phật cúng. Cơm màu trắng tức là cơm chín, cơm màu đỏ nhuộm bằng nước đậu đỏ, cơm màu vàng nhuộm bằng nước hột dành dành, cơm màu xanh nhuộm bằng nước lá xanh, cơm màu đen nhuộm bằng nước hạt vừng(mè)đen. Nếu dùng giấy làm hình cơm mà cúng Phật để thay cho 5 màu thì gọi là Trương Phật cúng. [X. Ngũ tạp trở Q.15; Trì bảo thông giám Q.hạ; Chân tục Phật sự biên Q.2; Khảo tín lục Q.1].
Phật Câu-lưu-tôn
xem Phật Cưu-lưu-tần.
Phật Câu-na-hàm mâu-ni
(Kanakamouni) là một vị Phật trong quá khứ, kế tiếp Phật Cưu-lưu-tần. Xem bảy vị Phật.
phật cúng
An offering to Buddha.
Phật Cưu-lưu-tần
(Krakucchanda), cũng viết là Phật Câu-lưu-tôn, hay Phật Ca-la-ca-tôn-đại, là một vị Phật quá khứ, ra đời trước Phật Câu-na-hàm-mâu-ni. Xem bảy vị Phật.
phật cảnh
The (spiritual) region of Buddha. The Buddha's abode.
Phật cảnh giới
佛境界; C: fójìngjiè; J: bukkyōkai;|Cõi Phật, cảnh giới Phật, đất Phật…
phật cảnh giới trang nghiêm tam muội
(佛境界莊嚴三昧) Tam muội của bồ tát Phổ hiền. Phổ hiền tượng trưng cho Đại nhật Như lai đầy đủ muôn hạnh, dùng đại bi Thai tạng mạn đồ la phổ hiện sắc thân, đầy khắp hư không pháp giới, tu hành hạnh Bồ tát, trang nghiêm các cõi Phật, thành tựu tất cả chúng sinh, hiện khởi 1 thiện căn nhưng tùy theo đó mà đầy đủ muôn đức. Phật cảnh giới, tức là dùng vô lượng đức tự chứng của Như lai để trang nghiêm chính mình, cho nên gọi là Phật cảnh giới trang nghiêm tam muội. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].
Phật cảnh giới 佛境界
[ja] ブツキョウカイ bukkyōkai ||| "Buddha-realm", "Buddha- sphere", "Buddha-land", etc. => Cõi Phật, cảnh giới Phật, đất Phật...
Phật cốt
佛骨; C: fógǔ; J: bukkotsu; |Phần xương (tinh tuý) của đức Phật còn lưu lại sau khi trà tì. Thường gọi là Xá-lợi (舎利), phiên âm từ tiếng Phạn śarīra.
phật cốt tông
(佛骨宗) Tông xương Phật. Từ ngữ này được dùng với ý mỉa mai để chỉ cho những người chấp trước vào Phật tâm tông (tông tim Phật). Phật tâm tông là tên khác của Thiền tông. Bởi vì Thiền tông vốn không coi trọng kinh điển văn tự mà lấy việc trực tiếp truyền trao tâm ấn của Phật làm tông chỉ, cho nên các kinh điển quan trọng của Thiền tông như Lục tổ đàn kinh, Bích nham lục cho đến lịch đại Tổ sư, Tông sư đều gọi Thiền tông là Phật tâm tông. Nhưng gọi lâu thành quen, không khỏi rơi vào lối mòn khuôn sáo, cố chấp, thiên lệch, hẹp hòi, cứ mải mê bám lấy danh tướng, ngữ ý của nhóm từ Phật tâm tông, mà quên đi cái tinh thần cơ bản vốn hoạt bát, sinh động, nhậm vận tự do, minh tâm kiến tính của Thiền. Chính vì muốn đả phá cái lề thói mê chấp ấy, nên nhiều tên gọi tương tự mang ý vị châm biếm như: Phật cốt tông, Phật thân tông, Phật nhãn tông (tông mắt Phật),Phật tủy tông, cho đến Phật cước tông (tông chân Phật),Phật nhĩ tông (tông tai Phật), Phật tị tông (tông mũi Phật), Phật thiệt tông(tông lưỡi Phật)... đã phương tiện được đặt ra với mục đích chế diễu để thức tỉnh những Thiền giả chấp mê. Như tổ Vĩnh bình Đạo nguyên của tông Tào động Nhật bản, 1 đời đề xướng tọa thiền là Phật pháp chính truyền, cũng phản đối những tên gọi như Thiền tông, Đạt ma tông, Phật tâm tông... cho đó đều là lời nói khuôn sáo, phô trương, hư dối của bọn thiền đồ tầm thường. [X. Chính pháp nhãn tạng Phật đạo].
Phật cốt 佛骨
[ja] ブッコツ bukkotsu ||| Literally, the buddha's bones--the remains of the Buddha after cremation. More commonly written as 舎利--the transcription of śarīra. => Phần (tinh túy) xương của Đức Phật còn lưu lại sau khi trà tỳ. Thường gọi là xá-lợi, phiên âm từ tiếng Phạn śarīra
phật cụ
Articles used on an altar in worship of Buddha.
; (佛具) Cũng gọi Pháp cụ, Phật khí. Chỉ chung những khí cụ dùng để trang nghiêm trước tượng Phật, hoặc pháp hội như: Lọng, phan, phướn, cờ, tràng hoa, đẩu trướng, pháp loa, mõ, chuông, trống, linh (chuông lắc), lư hương, bình hoa, chân đèn... Những Phật cụ này tùy theo sự sử dụng của các tông phái mà có khác nhau. (xt. Chung, Não Bạt).
phật danh hội
(佛名會) Cũng gọi Phật danh sám hối. Pháp hội đọc tụng kinh Phật danh và xưng niệm danh hiệu chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai để sám hối diệt tội. Loại pháp hội này đã thịnh hành ở Trung quốc vào khoảng thế kỉ V, VI. Từ đời Đông Tấn trở đi, bắt đầu là kinh Hiền kiếp thiên Phật danh và kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị Bồ tát, rồi lần lượt đến các loại kinh điển Phật danh khác được phiên dịch và biên tập. Vào thời kì đầu đã xuất hiện bộ kinh Phật danh gồm 12 quyển, do ngài Bồ đề Lưu chi dịch vào đời Nguyên Ngụy (kinh này được thu vào cả 3 bản Đại tạng đời Tống, Nguyên, Minh), tổng cộng có 11.093 danh hiệu Phật và Bồ tát. Đây là bộ kinh tán thán tất cả danh hiệu của chư Phật. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; Phật tổ thống kỉ Q.39; Pháp uyển châu lâm Q.86].
phật danh kinh
(佛名經) Kinh, 12 quyển, do ngài Bồ đề Lưu chi dịch vào đời Nguyên Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này liệt kê mấy nghìn danh hiệu của Phật, Bồ tát và Bích chi Phật, bảo rằng người thụ trì đọc tụng, tư duy tán thán danh hiệu của chư Phật, thì đời hiện tại được yên vui, tránh khỏi tai nạn, tiêu trừ mọi tội chướng, trong đời vị lai sẽ được Vô thượng bồ đề. Về số mục danh hiệu của chư Phật, thì Đại tạng bản Cao li và 3 bản Tống, Nguyên, Minh liệt kê có hơi khác nhau. Theo 3 bản sau thì tổng cộng có 11.093 danh hiệu Phật. Căn cứ vào các bộ Kinh lục (mục lục kinh) thì trong các kinh điển từ xưa đến nay có rất nhiều đề kinh hơi giống hoặc giống hệt với tên kinh này. Chẳng hạn như điều Tân tập kinh luận lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 2 ghi chép, ngài Trúc pháp hộ đời Tây Tấn dịch kinh Hiền kiếp 7 quyển, ngài Trúc đàm vô lan đời Đông Tấn dịch kinh Hiền kiếp thiên Phật danh 1 quyển... Rồi điều Tân tập tục soạn thất dịch tạp kinh lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 4 thì ghi chép Chư kinh Phật danh 1 quyển, kinh Tam thiên Phật danh 1 quyển, kinh Ngũ thập tam Phật danh 1 quyển, kinh Nam phương Phật danh 1 quyển... cũng tương tự như thế. Lại đến phần chúng kinh biệt sinh trong Pháp kinh lục quyển 2, cũng liệt kê kinh Hiền kiếp thiên Phật danh 1 quyển, kinh Phật danh 10 quyển, kinh Thập phương Phật danh 2 quyển... Ngoài ra, trong Đại tạng hiện nay, những kinh tương tự hoặc giống hệt với kinh này, còn có tới hơn 20 bộ, tất cả đều được thu vào Đại chính tạng tập 14, liệt kê theo biểu đồ như sau. (thiếu biểu đồ) Kinh Bát Phật danh hiệu, Kinh Bát cát tường thần chú, Kinh Bát dương thần chú Kinh Bát bộ Phật danh, Kinh Bát cát tường, Kinh Thập cát tường, Kinh Xưng dương chư Phật công đức, Kinh Diệt thập phương minh, Kinh Thụ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức, Kinh Đại Bảo nguyệt đồng tử vấn pháp, Kinh Chư Phật, Kinh Đại thừa đại phương quảng Phật quan, Kinh Phật danh, Kinh Thập phương thiên ngũ bách Phật danh, Kinh Ngũ thiên ngũ bách Phật danh thần chú trừ chướng diệt tội, Kinh Bách Phật danh, Kinh Bất tư nghị công đức chư Phật sở hộ niệm, Kinh Quá khứ trang nghiêm kiếp thiên Phật danh, Kinh Hiện tại hiền kiếp thiên Phật danh, Kinh Vị lai tinh tú kiếp thiên Phật danh.
phật di lặc
Mirokou (J).
phật di lặc tiên quang
Buddha of Sagely Light of Loving Kindness Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật diện thượng quát kim
(佛面上刮金) Cạo lấy lớp vàng mạ trên mặt tượng Phật. Câu ngạn ngữ này dùng để ví dụ cho kẻ nhắm vào bậc tôn trưởng để đòi hỏi tiền của, hàm trách những người làm việc dối trá; hoặc vídụ người có tâm tham dùng mọi thủ đoạn bóc lột của cải người khác; không việc xấu xa nào mà chẳng làm; cũng hàm ý quở trách những kẻ làm việc cực ác, không từ 1 chút gì.
phật diệt
The Buddha's physical passing, Buddha's parinirvana.
; (佛滅) Cũng gọi Tịch diệt, Viên tịch, Đại viên tịch (Phạm: Mahà-parinirvàịa, Pàli: Mahà-parinibbàna). Phật niết bàn. Diệt là diệt độ, nghĩa là diệt trừ phiền não, vượt qua bể khổ. Chữ Nirvàịacủa tiếng Phạm dịch âm là Niết bàn, dịch nghĩa là diệt độ. Sau khi liễu ngộ thành đạo dưới tòa Kim cương đức Phật đã dứt hết sạch các phiền não tham, sân, si..., nhưng vì hạnh nguyện, tự lợi, lợi tha, giác hành viên mãn, nên Ngài tùy duyên hóa độ chúng sinh suốt hơn 45 năm mới vào Niết bàn ở rừng cây Sa la (Phạm: Sàla), phía ngoài thành Câu thi na (Phạm: Kuzinagara). Trong các sách Phật truyện cũng như lịch sử Phật giáo, phần nhiều những từ ngữ như: Nhập diệt, Diệt độ, Viên tịch, Niết bàn, hoặc Phật diệt... được dùng để biểu thị ý nghĩa viên mãn thế duyên, xả thọ tịch diệt, hoàn toàn khác với khái niệm chết, lìa bỏ cuộc đời của phàm phu tầm thường... (xt. Niết Bàn). PHẬT DIỆT NHẬT (xt. Thích ca mâu ni).
phật diệt niên đại
(佛滅年代) Niên đại Phật nhập diệt. Tư liệu về niên đại đức Phật nhập diệt thì từ xưa thường dùng thuyết Chúng Thánh Điểm Kí (các bậc Thánh ghi dấu chấm). Nghĩa là năm đức Phật nhập diệt, sau khi kết tập tạng Luật, đúng vào ngày chư tăng tự tứ năm ấy, tôn giả Ưu bà li – người tụng tạng Luật trong lần kếttập đầu tiên– ghi 1 cái chấm (điểm) ở đầu tạng Luật để đánh dấu năm đức Phật nhập Niết bàn. Từ đó về sau, hàng năm, vào ngày kết thúc an cư (ngày chư tăng tự tứ), các vị Trưởng lão lại thắp hương rồi ghi thêm 1 cái chấm vào tạng Luật để ghi nhớ 1 năm đã qua, gọi là Chúng thánh điểm kí. Vào năm Vĩnh minh thứ 8 (490) đời Nam Tề, Trung quốc, ngài Tăng già bạt đà la dịch xong bộ Thiện kiến luật tì bà sa (Pàli:Samantapàsàdikà). Lúc nửa đêm 15 tháng 7 năm ấy – ngày kết thúc hạ an cư– ngài Tăng già bạt đà la ghi thêm 1 dấu chấm, bấy giờ đã được tất cả 975 chấm. Đến năm Khai hoàng 17 (597) đời Tùy, ngài Phí trường phòng soạn xong bộ Lịch Đại tam bảo kỉ thì tất cả là 1082 chấm. Căn cứ vào đó mà tính ra năm thì năm đức Phật nhập diệt phải là năm 486 trước Tây lịch. Đây là thuyết cũ của Nam truyền, còn thuyết mới hiện nay thông dụng trong Phật giáo Thượng tọa bộ Nam phương là năm 543 đến 544 trước Tây lịch. Ông Vũ tỉnh Bá thọ người Nhật cho rằng năm vua A dục lên ngôi là năm 271 trước Tây lịch, rồi căn cứ vào thuyết Bộ chấp dị luận bảo sau khi Phật nhập diệt được 116 năm thì vua A dục lên ngôi, mà đoán định rằng năm Phật nhập diệt là 386 trước Tây lịch. Về sau, ông Trung thôn nguyên –cũng là người Nhật– lại căn cứ vào thuyết của ông Vũ tỉnh Bá thọ mà tham khảo thêm những tư liệu lịch sử của Tân Hi lạp và Ấn độ, mà quyết định rằng năm vua A dục lên ngôi là năm 268 trước Tây lịch, từ đó suy định năm đức Phật nhập diệt là năm 383 trước Tây lịch. Còn ngài Ấn thuận của Trung quốc thì căn cứ vào năm vua A dục lên ngôi mà đoán định năm đức Phật nhập diệt là năm 390 trước Tây lịch, cho đó là năm đầu của kỉ nguyên Phật nhập diệt. Nói tóm lại, niên đại đức Phật nhập diệt là từ khoảng năm 380 đến 390 trước Tây lịch đã được đa số học giả thừa nhận. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.3; Xuất tam tạng kí tập Q.11; Lịch đại tam bảo kỉ Q.1, 11; Phật tổ thống kỉ Q.2; Phật giáo niên đại khảo (Tiểu dã Huyền diệu); Ấn độ triết học nghiên cứu Q.2 (Vũ tỉnh Bá thọ); Luận Phật diệt đích niên đại (Ấn thuận); Thế giới Phật giáo thông sử (Thánh nghiêm)].
phật diệu âm thắng
Buddha of Sublime Sound.
phật duyên
(佛緣) Cũng gọi Phật nhân. Nhân duyên thành Phật ở đời sau. Như người nhờ nhân duyên kính tin Phật, phát nguyện vãng sinh Tịnh độ, thì chắc chắn sẽ được vãng sinh. [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng].
phật dĩ nhất âm diễn thuyết pháp
(佛以一音演說法) Đối lại: Chúng sinh tùy loại các đắc giải. Đức Phật chỉ dùng 1 thứ tiếng để nói pháp. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma cật sở thuyết (Đại 14, 538 thượng) ghi: Đức Phật chỉ dùng 1 thứ tiếng để diễn nói pháp, chúng sinh tùy căn cơ trình độ mà đều được hiểu.
Phật gia
(佛家): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Nơi thờ phụng chư Phật, nơi chư tăng tu hành theo pháp môn Phật Giáo; tức chỉ cho chùa, tự viện Phật Giáo. (2) Chỉ cho người tin thờ Phật Giáo, tức tín đồ Phật Giáo; hay tăng lữ hoặc nhà nghiên cứu tư tưởng học thuật Phật Giáo. Như trong Chu Tử Ngữ Loại (朱子語類) quyển 76 của Lê Tĩnh Đức (黎靖德, ?-?) nhà Tống, có đoạn: “Phật gia hữu hàm cái càn khôn cú, hữu tùy ba trục lưu cú, hữu tiệt đoạn chúng lưu cú, Thánh nhân ngôn ngữ diệc nhiên (佛家有函蓋乾坤句、有隨波逐流句、有截斷眾流句、聖人言語亦然, nhà Phật có câu 'che trùm trời đất', có câu 'theo sóng thuận dòng', có câu 'chận đứt các dòng', ngôn ngữ Thánh nhân cũng như vậy).” (3) Chỉ cho cõi Tịnh Độ của chư Phật. Như trong Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh (佛說觀無量壽佛經, Taishō Vol. 12, No. 365) có dạy rằng: “Nhược niệm Phật giả, đương tri thử nhân tức thị nhân trung Phân Đà Lợi hoa; Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, vi kỳ thắng hữu, đương tọa đạo tràng, sanh chư Phật gia (若念佛者、當知此人卽是人中芬陀利花、觀世音菩薩、大勢至菩薩、爲其勝友、當坐道塲、生諸佛家, nếu có người niệm Phật, phải biết người này tức là hoa Phân Đà Lợi trong cõi người; Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí là bạn lành của họ, sẽ ngồi đạo tràng, sanh vào nhà chư Phật).” Trong Giáo Giới Tân Học Tỳ Kheo Hành Hộ Luật Nghi (敎誡新學比丘行護律儀, Taishō Vol. 45, No. 1897) lại có câu: “Chư thiện luật nghi, Phật gia chi trụ thạch dã, đạo phẩm chi lâu quán, Thiền định chi tâm thành (諸善律儀、佛家之柱石也、道品之樓觀、禪定之心城, các luật nghi đúng, là trụ đá của nhà Phật, là lầu đài của đạo đức, là thành trì của Thiền định).” Hay như trong Thập Trụ Kinh (十住經, Taisho Vol. 10, No. 286) quyển 1 cũng có dạy rằng: “Chư Phật tử ! Bồ Tát sanh như thị tâm, tức thời quá phàm phu địa, nhập Bồ Tát vị, sanh tại Phật gia (諸佛子、菩薩生如是心、卽時過凡夫地、入菩薩位、生在佛家, này các Phật tử ! Bồ Tát sanh tâm như vậy, tức thời vượt qua cõi phàm phu, bước vào địa vị Bồ Tát, sanh tại nhà Phật).”
; (佛家): có ba nghĩa khác nhau. (1) Nơi thờ phụng chư Phật, nơi chư tăng tu hành theo pháp môn Phật Giáo; tức chỉ cho chùa, tự viện Phật Giáo. (2) Chỉ cho người tin thờ Phật Giáo, tức tín đồ Phật Giáo; hay tăng lữ hoặc nhà nghiên cứu tư tưởng học thuật Phật Giáo. Như trong Chu Tử Ngữ Loại (朱子語類) quyển 76 của Lê Tĩnh Đức (黎靖德, ?-?) nhà Tống, có đoạn: “Phật gia hữu hàm cái càn khôn cú, hữu tùy ba trục lưu cú, hữu tiệt đoạn chúng lưu cú, Thánh nhân ngôn ngữ diệc nhiên (佛家有函蓋乾坤句、有隨波逐流句、有截斷眾流句、聖人言語亦然, nhà Phật có câu 'che trùm trời đất', có câu 'theo sóng thuận dòng', có câu 'chận đứt các dòng', ngôn ngữ Thánh nhân cũng như vậy).” (3) Chỉ cho cõi Tịnh Độ của chư Phật. Như trong Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh (佛說觀無量壽佛經, Taishō Vol. 12, No. 365) có dạy rằng: “Nhược niệm Phật giả, đương tri thử nhân tức thị nhân trung Phân Đà Lợi hoa; Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, vi kỳ thắng hữu, đương tọa đạo tràng, sanh chư Phật gia (若念佛者、當知此人卽是人中芬陀利花、觀世音菩薩、大勢至菩薩、爲其勝友、當坐道塲、生諸佛家, nếu có người niệm Phật, phải biết người này tức là hoa Phân Đà Lợi trong cõi người; Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí là bạn lành của họ, sẽ ngồi đạo tràng, sanh vào nhà chư Phật).” Trong Giáo Giới Tân Học Tỳ Kheo Hành Hộ Luật Nghi (敎誡新學比丘行護律儀, Taishō Vol. 45, No. 1897) lại có câu: “Chư thiện luật nghi, Phật gia chi trụ thạch dã, đạo phẩm chi lâu quán, Thiền định chi tâm thành (諸善律儀、佛家之柱石也、道品之樓觀、禪定之心城, các luật nghi đúng, là trụ đá của nhà Phật, là lầu đài của đạo đức, là thành trì của Thiền định).” Hay như trong Thập Trụ Kinh (十住經, Taisho Vol. 10, No. 286) quyển 1 cũng có dạy rằng: “Chư Phật tử ! Bồ Tát sanh như thị tâm, tức thời quá phàm phu địa, nhập Bồ Tát vị, sanh tại Phật gia (諸佛子、菩薩生如是心、卽時過凡夫地、入菩薩位、生在佛家, này các Phật tử ! Bồ Tát sanh tâm như vậy, tức thời vượt qua cõi phàm phu, bước vào địa vị Bồ Tát, sanh tại nhà Phật).”
; 佛家; S: buddhakula;|Năm dạng xuất hiện cơ bản của Báo thân (s: saṃbhogakāya; Ba thân). Ðó là năm cách thể hiện của trí huệ (s: prajñā), xuất hiện dưới mọi dạng »xấu,« »tốt« khác nhau. Mỗi một hiện tượng thế gian đều thuộc về một trong năm nhóm này, nên mỗi nhóm được xem như một »gia đình« (Phật gia) với mọi quyến thuộc. Trong Kim cương thừa (s: vajrayāna), Ngũ Phật được nêu thành nguyên lí vũ trụ, thể hiện trong mọi tranh tượng. Các hình ảnh của năm Phật gia này cũng là cơ sở của phép quán linh ảnh hay được áp dụng trong những Nghi quỹ (s: sādhana). Năm vị Phật chủ của năm gia đình này là: Ðại Nhật Như Lai (s: vairocana), Bất Ðộng Như Lai (s: akṣobhya), Bảo Sinh Như Lai (s: ratnasambhava), A-di-đà Như Lai (s: amitābha) và Bất Không Thành Tựu Như Lai (s: amoghasiddhi).|Vị đầu tiên trong năm Như Lai là Ðại Nhật, có sắc trắng, được đặt vào trung tâm Man-đa-la. Thuộc về Phật gia này có Vô minh (s: avidyā), nguồn gốc của Luân hồi (s: saṃsāra). Cũng thuộc về Phật gia này là trí huệ cao tột của Pháp thân thường trụ, được gọi là Pháp giới trí (法界智; s: dhar-madhātu-jñāna; Năm trí). Phía đông của Man-đa-la là Bất Ðộng Như Lai. Ðó là vị Phật chủ của Phật gia Kim cương (s: vajra). Năng lượng của nhóm này khi xấu thì biến thành sự sân hận (s: dveṣa), khi được chuyển hoá thì thành Ðại viên kính trí (大圓鏡智; s: ādarśa-jñāna), có nghĩa là đạt được trí như một tấm gương tròn sáng. Thân Phật Bất Ðộng được vẽ màu xanh thẩm. Phía Nam của Man-đa-la là Bảo Sinh Như Lai, sắc vàng, Phật chủ của Phật gia Bảo sinh (s: ratna). Năng lượng này có gốc là mạn (s: māna), được chuyển hoá thì trở thành Bình đẳng tính trí (平等性智; s: samatā-jñāna). Phía Tây của Man-đa-la là Phật A-di-đà, Phật chủ của Phật gia Liên hoa (hoa sen; s: padma). Màu đỏ của A-di-đà tượng trưng cho tham dục (s: rāga), một khi năng lượng này biến thể thành xấu ác, nhưng khi được chuyển hoá thì đó là Diệu quan sát trí (妙觀察智; s: pratyavekṣaṇa-jñāna). Cuối cùng, phía Bắc là Bất Không Thành Tựu Như Lai, Phật chủ của Phật gia Nghiệp (s: karma; cũng được gọi là Yết-ma), mang sắc xanh lục. Ðó là năng lượng của sự ghanh ghét (s: īrṣyā), một khi được chuyển hoá sẽ thành Thành sở tác trí (成所作智; s: kṛtyā-nuṣṭhāna-jñāna).|Trong một vài Tan-tra thì sự sắp xếp Man-đa-la có chút khác nhau, nhất là trong Phật gia trung tâm và Phật gia Kim cương. Các Phật gia có nhiều quyến thuộc, thuộc tính, vật cỡi, châu báu khác nhau, có khi được biểu diễn thêm bằng dạng nữ nhân.
phật gia
Buddhakula (S).
; The school or family of Buddhism.
phật già da
Bodh-gaya (S)Bồ đề đạo tràngTên cảnh rừng trong núi Tượng đầu (Gajasirsa), bên bờ sông Ni liên thiền (Nairanjara), gần thị trấn Gaya (kế Calcutta), nơi đây ngày xưua có cây bồ đề lớn là chỗ Phật ngồi tham thiền và thành đạo. Nay chổ ấy được cất một ngôi chùa lớn tên là Đại Bồ đề (MahaBodhi), toạ lạc ngay chỗ Phật Thích Ca thành đạo và cây bô để chỗ ấy nay được tín đồ Phật giáo và Ấn giáo gìn giữ và tôn thờ.
; Bodh Gàya (S).
Phật Giám Huệ Cần
(佛鑑慧懃, Bukkan Egon, 1059-1117): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy), họ là Uông (汪), pháp từ của Ngũ Tổ Pháp Diễn (五祖法演), trú trì Hưng Quốc Thiền Viện (興國禪院) ở Thái Bình Sơn (太平山), thuộc Thư Châu. Vào năm đầu niên hiệu Chính Hòa (政和, 1111-1118) đời vua Huy Tông nhà Tống, ông nhận sắc chỉ của nhà vua đến trú tại Trí Hải Tự (智海寺) trên kinh đô, sau đó chuyển đến Tương Sơn (蔣山). Vào ngày mồng 8 tháng 11 năm thứ 7 niên hiệu Chính Hòa, ông tắm rửa sạch sẽ, thay áo quần rồi ngồi ngay ngắn mà thị tịch. Sau đó ông được ban cho hiệu là Phật Giám Thiền Sư (佛鑑禪師).
Phật giáo
佛教; S: buddhaśāsana; P: buddhasāsana;|Một trong ba tôn giáo lớn trên thế giới (hai tôn giáo lớn khác là Thiên chúa giáo và Hồi giáo). Phật giáo do đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni sáng lập khoảng thế kỉ thứ 5 trước Công nguyên. Ngài là người đầu tiên giảng Tứ diệu đế, là giáo pháp trung tâm của đạo Phật, là điều mà Ngài đã chứng ngộ lúc đạt đạo. Bốn chân lí đó chính là câu trả lời cho câu hỏi của thời đại đó là: Tại sao con người cứ bị trói buộc trong Luân hồi (輪回; s: saṃ-sāra) và liệu con người có thoát khỏi nó chăng. Ðức Phật xem cuộc đời là Vô thường (無常; s: anitya; p: anicca), Vô ngã (無我; s: anātman; p: anattā) và vì vậy mà con người phải chịu Khổ (苦; s: duḥkha; p: duk-kha). Thấu hiểu Ba tính (三相; s: trilakṣaṇa; p: tilakkhaṇa) đặc trưng của sự vật đó là bắt đầu đi vào đạo Phật. Khổ xuất phát từ Ái (愛; s: tṛṣṇā; p: taṇhā) và Vô minh (無明; s: avidyā; p: avijjā), và một khi dứt được những nguyên nhân đó thì ta có thể thoát khỏi Vòng sinh tử (有輪; s: bhavacakra; p: bhavacakka). Cô chế làm cho chúng sinh còn vướng mãi trong vòng sinh tử được đạo Phật giải thích bằng thuyết Mười hai nhân duyên (緣起; duyên khởi; s: pratītyasamut-pāda; p: paṭiccasamuppāda). Chấm dứt vòng sinh tử chính là chứng ngộ Niết-bàn (涅槃; s: nirvāṇa; p: nibbāna). Theo Tứ diệu đế, con đường dẫn đến Niết-bàn là Bát chính đạo (八正道; s: aṣṭāṅgika-mārga; p: aṭṭhāṅgika-magga;), tức là tu học Giới (戒; s: śīla; p: sīla), Ðịnh (定; s: samādhi, dhyāna; p: samādhi, jhāna) và Huệ (慧; Trí huệ; s: prajñā; p: paññā). Tư tưởng cơ bản của đức Phật đều được nhắc lại trong các kinh sách, nhưng có khi chúng được luận giải nhiều cách khác nhau và vì vậy ngày nay có nhiều trường phái khác nhau, hình thành một hệ thống triết lí hết sức phức tạp. Giáo pháp đạo Phật được tập hợp trong Tam tạng (三藏; s: tripiṭaka; p: tipiṭaka). Tăng-già (僧伽; s, p: saṅgha) của đạo Phật gồm có Tỉ-khâu (比丘; s: bhikṣu; p: bhikkhu), Tỉ-khâu-ni (比丘尼; s: bhikṣuṇī; p: bhikkhunī) và giới Cư sĩ. |Sự phát triển đạo Phật có thể được chia làm bốn giai đoạn:|1. Giữa thế kỉ thứ 6 đến giữa thế kỉ thứ 5 (trước Công nguyên): Giai đoạn nguyên thuỷ, do đức Phật giáo hoá và các đệ tử của Ngài truyền bá.|2. Kể từ thế kỉ thứ 4 trước Công nguyên: Giai đoạn bắt đầu phân hoá ra nhiều trường phái qua các lần Kết tập (hội nghị) về giáo pháp.|3. Kể từ thế kỉ thứ 1 sau Công nguyên: Xuất hiện giáo phái Ðại thừa (大乘; s: mahāyāna;) với hai tông phái quan trọng là Trung quán tông (中觀宗; s: mādhyamika) và Duy thức tông (唯識宗; s: vijñānavāda, yogācāra).|4. Kể từ thế kỉ thứ 7: Sự xuất hiện của Mật tông Phật giáo (Phật giáo Tây Tạng, Kim cương thừa).|Sau thế kỉ thứ 13, Phật giáo được xem là bị tiêu diệt tại Ấn Ðộ, là nơi sản sinh đạo Phật. Từ thế kỉ thứ 3, đạo Phật được truyền đi các nước khác ngoài Ấn Ðộ và mang nặng bản sắc của các nước đó. Ngày nay, phái Tiểu thừa (小乘; s: hīnayāna) với quan điểm của Thượng toạ bộ (上座部; s: sthaviravāda; p: theravāda) được truyền bá rộng rãi tại Tích Lan, Thái lan, Miến Ðiện, Campuchia. Ðại thừa được truyền tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Hàn Quốc. Giáo pháp Kim cương thừa – cũng được xếp vào Ðại thừa – phát triển mạnh tại Tây Tạng, Mông Cổ. Ngày nay, chưa ai có một con số tín đồ Phật giáo chính xác, người ta ước lượng có khoảng từ 150 đến 500 triệu người.|Phật giáo tại Miến Ðiện: Truyền thuyết cho rằng Miến Ðiện đã tiếp cận với đạo Phật trong thời vua A-dục (s: aśoka, thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên). Theo một thuyết khác, đạo Phật đã đến Miến Ðiện trong thời đức Phật còn tại thế, do hai thương nhân từ Ấn Ðộ mang tới. Những vị này mang theo cả tóc Phật, ngày nay được giữ trong đền Shwe-Dagon tại Rangun.|Kể từ thế kỉ thứ 5, Phật giáo phát triển rực rỡ với sự có mặt của Thượng toạ bộ và Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda). Kể từ thế kỉ thứ 7, hai phái Tiểu thừa và Ðại thừa cùng song hành tại Miến điện, sau đó Mật tông cũng bắt đầu có ảnh hưởng. Thế kỉ thứ 11, nhà vua A-na-ra-tha tuyên bố chỉ chấp nhận Thượng toạ bộ và từ đó, Ðại thừa biến mất tại đây. Tại Miến Ðiện, Pagan ở miền Bắc trở thành trung tâm Phật giáo. Phật giáo Miến Ðiện liên hệ chặt chẽ với Phật giáo Tích Lan, nhất là với Ðại Tự (p: mahāvihāra). Thế kỉ thứ 15, vua Ðạt-ma Tất-đề (p: dhammaceti) lại xác định lần nữa rằng, Phật giáo Miến Ðiện mang nặng quan điểm của Thượng toạ bộ. Sự có mặt của người Anh trong thế kỉ thứ 19 làm xáo trộn Phật giáo Miến Ðiện đáng kể. Mãi đến lúc giành lại độc lập năm 1947, Miến Ðiện mới trở lại cơ chế cũ. Năm 1956 tại Rangun có một cuộc kết tập kinh điển quan trọng. Ngày nay, 85% dân Miến Ðiện là Phật tử, đạo Phật được xem là quốc giáo.|Phật giáo tại Tích Lan: Người ta cho rằng Phật giáo đến Tích Lan khoảng năm 250 trước Công nguyên, do Ma-hi-đà và Tăng-già Mật-đa (p: saṅghamitta), hai người con của A-dục vương (s: aśoka; p: asoka), truyền từ Ấn Ðộ. Nhà vua Tích Lan hồi đó là Thiên Ái Ðế Tu (p: devānampiya tissa) trở thành Phật tử và thành lập Ðại Tự (p: mahāvihāra) nổi tiếng, nơi đó ông trồng một nhánh cây Bồ-đề của nơi Phật thành đạo. Ðại Tự trở thành trung tâm của Thượng toạ bộ.|Theo thời gian, nhiều tông phái Phật giáo khác thành hình và gây nhiều tranh cãi, đến nỗi có khi nhà vua phải can thiệp. Ðó là những tranh luận ban đầu của Tiểu thừa và mầm mống của Ðại thừa, của cả Mật tông thời bấy giờ. Cuối cùng, Thượng toạ bộ thắng, trong đó Phật Âm (s: buddhaghoṣa) – một Luận sư xuất sắc của Thượng toạ bộ – đóng vai trò quyết định. Tác phẩm của Phật Âm ngày nay vẫn còn ảnh hưởng lên Phật giáo Tích Lan. Ðến thế kỉ thứ 12, vua Ba-lạc-la Ma-bà-ha-y (p: parakkambahu), họp hội nghị Phật giáo và ép tất cả các trường phái phải theo giáo lí của Thượng toạ bộ tại Ðại Tự.|Qua thế kỉ thứ 16 người Bồ-đào-nha vào Tích Lan và tìm cách du nhập đạo Thiên chúa. Ðến thế kỉ thứ 17, người Hoà-lan lại ủng hộ việc khôi phục đạo Phật tại Tích Lan. Ngoài ra, Miến Ðiện và Thái Lan cũng có ảnh hưởng đáng kể lên nền đạo Phật tại đây. Kể từ khi Tích Lan giành lại độc lập năm 1948, đạo Phật luôn luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc tín ngưỡng và nền văn hoá của xứ này.|Phật giáo tại Nam Dương: Người ta cho rằng Phật giáo du nhập đến Nam Dương khoảng thế kỉ thứ 3 sau Công nguyên. Cao tăng Pháp Hiển, vị tăng Trung Quốc đầu tiên đến Ấn Ðộ, cũng là người đến Nam Dương năm 418. Cuối thế kỉ thứ 5 thì Phật giáo bắt đầu phát triển tại Nam Dương, đến thế kỉ thứ 7 thì Su-ma-tra và Ja-va trở thành hai trung tâm Phật giáo quan trọng. Tại đây, giáo lí Ðại thừa được truyền bá rộng rãi, có một số tư tưởng Tiểu thừa, có lẽ của Nhất thiết hữu bộ, được thừa nhận. Dưới thời vua Shai-len-dra, Phật giáo phát triển rực rỡ, đó là thời kì xây dựng tháp tại Bô-rô-bu-đua (borobudur), là Phật tích lớn nhất còn lưu tới ngày nay. Khoảng cuối thế kỉ thứ 8, Mật tông bắt đầu thịnh hành. Ðại thừa và Mật tông tồn tại mãi đến thế kỉ thứ 15, trong suốt thời gian này, Phật giáo Nam Dương liên hệ nhiều với Ấn Ðộ và với viện Na-lan-đà (s: nālandā). Với sự xâm nhập của Hồi giáo (e: islamism), Phật giáo bắt đầu tàn lụi tại Nam Dương, kể từ thế kỉ thứ 15. Ngày nay chỉ còn một số nhỏ tín đồ, nhất là trong giới người Hoa.|Phật giáo tại Campuchia: Người ta cho rằng Phật giáo du nhập vào Campuchia trong thế kỉ thứ 3 sau Công nguyên, theo văn hệ Phạn ngữ (sanskrit), theo trường phái Nhất thiết hữu bộ và đạt được đỉnh cao khoảng thế kỉ thứ 5, thứ 6. Năm 791 người ta tìm thấy gần đền Ðế Thiên Ðế Thích (Ăng-kor Wat) một văn bản chứng tỏ rằng, Ðại thừa đã có mặt nơi đây song song với việc thờ thần Thấp-bà (s: śiva). Sự hỗn hợp này có lẽ bắt nguồn từ việc thờ cúng Bồ Tát Quán Thế Âm, mà Thấp-bà được xem là một hoá thân. Mọi nhà vua của Campuchia cũng đều được xem là hoá thân của Quán Thế Âm. Sau một thời gian thì yếu tố thần Thấp-bà hầu như bị mất đi, nhưng đến thế kỉ thứ 13, người ta lại tôn thờ thần Thấp-bà và tăng già Phật giáo bị bức hại. Theo các Cao tăng Trung Quốc thì trong thời gian này, Thượng toạ bộ được phát triển trong lúc Ðại thừa bị lu mờ. Một số văn bản bằng văn hệ Pā-li ghi năm 1309 chứng minh rằng, Thượng toạ bộ được hoàng gia công nhận và kể từ đó là giáo phái chính thống của Campuchia. Mãi đến cuối thế kỉ thứ 19, Phật giáo truyền từ Thái Lan mới bắt đầu có ảnh hưởng.|Phật giáo tại Thái Lan: Người ta biết rất ít việc đạo Phật được truyền bá đến Thái Lan. Kết quả khảo cổ cho thấy Phật giáo đến Thái Lan khoảng thế kỉ thứ 6 từ Miến Ðiện. Ban đầu giáo lí Tiểu thừa có ảnh hưởng rộng rãi. Khoảng giữa thế kỉ thứ 8 và 13, Ðại thừa được truyền bá rộng hơn. Giữa thế kỉ 11 và 14, ảnh hưởng của Ấn Ðộ giáo bắt đầu phát triển. Trong thế kỉ 13, hoàng gia Thái Lan chính thức công nhận Thượng toạ bộ và mối liên hệ với Tích Lan trong thời kì này càng làm cho bộ này phát triển thêm rộng rãi. Năm 1782, nhà vua triệu tâp một đại hội nhằm kiểm điểm lại Tam tạng kinh điển. Trong thế kỉ thứ 19, nhà vua Ma-ha Mông-cút (mongkut) lên ngôi, bản thân ông cũng là một tăng sĩ, ông là người đặt nền tảng cho nền Phật giáo cận đại. Ông thành lập Pháp tông (dhammayut), cơ sở dựa vào Luật tạng và ngày nay có nhiều tín đồ nhất tại Thái Lan. Vua Chu-la-lang-korn – trị nước từ 1868 đến 1910 – cho xuất bản các tạng kinh quan trọng của đạo Phật, có thể gọi là đầy đủ nhất từ xưa đến nay. Ngày nay, 95% dân số Thái Lan theo đạo Phật.|Phật giáo tại Hàn Quốc: Từ Trung Quốc, Phật giáo lan qua Hàn quốc trong thế kỉ thứ 4 sau Công nguyên và phát triển rực rỡ nhất là giữa thế kỉ thứ 6 và thứ 9. Trong thời kì này, các trường phái quan trọng của Trung Quốc đều được thành lập tại Hàn Quốc như Thiền tông, Hoa nghiêm tông, Mật tông (Chân ngôn tông). Bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā-sūtra) cũng được truyền bá rộng rãi rất sớm tại Hàn Quốc. Người ta cũng tìm thấy nhiều tác phẩm văn hoá mang đặc tính Phật giáo tại đây. Suốt thời nhà Lí (yi, 1392-1910), nền văn hoá Khổng giáo trở thành quốc đạo và tăng ni Phật giáo bị ép buộc phải vào núi tu hành. Sau năm 1945, Phật giáo được phục hưng và phát sinh một phong trào mới gọi là Viên Phật giáo (e: won-buddhism). Ngày nay, tại Hàn Quốc người ta ít phân biệt các tông phái đạo Phật và thực hành song song với nhau thiền quán, niệm Phật A-di-đà và tụng kinh. Phép niệm thần chú cũng được truyền bá rộng rãi, vốn có nguồn gốc từ Mật tông của thời trung cổ. Trong giới trí thức, Thiền tông được nhiều người theo, trong lúc giới dân giã lấy niệm danh hiệu các đức Phật làm chủ yếu. Trộn lẫn với đạo Phật là hình thức thờ đa thần như thần núi, linh vật, thần tinh tú.
phật giáo
Buddhāgama (S), Buddhasāsanaṁ (P), Buddhasāsana (P), Buddha-śāsana (S), Bukkyō (J)Giáo pháp của Phật.
; Buddhàgama (S). Buddha's teaching; Buddhism.
phật giáo cố sự tập
Xem Bồ tát mãn sanh man luận.
phật giáo giáo lí
(佛教教理) Các hành vô thường (tính thời gian) Các pháp vô ngã (tính không gian) Tất cả đều khổ : 12 duyên khởi – thuận quán = Lưu chuyển duyên khởi Niết bàn tịch tĩnh : 12 duyên khởi – nghịch quán = Hoàn diệt duyên khởi Bốn Pháp Ấn Vì cái này sinh nên cái kia sinh Vì cái này diệt nên cái kia diệt Vì cái này có nên cái kia có Vì cái này không nên cái kia không Pháp duyên khởi Khổ Tập Diệt Đạo Pháp tứ đế 2. Giáo lí Phật giáo bộ phái: Trong các kinh điển nguyên thủy (kinh A hàm), nền giáo lí của Phật giáo nguyên thủy hoàn toàn chưa được tổ chức hoặc thống nhất, những giáo lí có tính cách nhất quán được trình bày ở mục trên đều là do các bậc Tổ sư và học giả đời sau đã nghiên cứu các kinh điển nguyên thủy, rồi phân tích, thuyết minh, giải thích và tổ chức tổng hợp mà thành. Các phương pháp nghiên cứu có tính cách học thuật ấy của các ngài được gọi là A tì đạt ma (Phạm: Abhidharma, Pàli: Abhidhamma). Phương pháp nghiên cứu này về sau dần dần phát triển, đến khi Phật giáo nguyên thủy sắp bị phân hóa thành các bộ phái thì sự giải thích giáo lí một cách quá chi li đã trở thành 1 trong những nguyên nhân đưa đến sự phân hóa ấy. Từ đó, mỗi bộ phái đều tự giải thích và tổ chức giáo lí, rồi biên soạn thành các bộ sách giáo lí cho riêng mình, gọi là Căn bản A tì đạt ma luận thư. Các bộ luận thư ở thời kì đầu là những sách chú thích, thuyết minh, chỉnh lí và tổ chức những giáo lí trong kinh điển nguyên thủy, cho nên quan hệ rất mật thiết với kinh điển. Nhưng đến các bộ luận thư ở thời kì sau thì mối quan hệ mật thiết ấy đã phai mờ dần, cuối cùng đã thành lập các học thuyết thuần túy A tì đạt ma, chứ không dính dáng gì đến kinh điển. Ở thời đại Phật giáo nguyên thủy, tất cả giáo lí đều gắn liền với sự tu hành thực tiễn. Nhưng đến các bộ luận thư ở thời kì sau của Phật giáo bộ phái thì dần dần đã xa rời sự tu hành thực tiễn mà chú trọng khảo sát những vấn đề như hữu, vô, giả, thực của sự vật, chứ ít quan tâm đến ý nghĩa thực tiễn. Ngoài ra, ở thời đại Phật giáo bộ phái, giữa các phái thường xảy ra các cuộc tranh luận về giáo lí và mỗi phái đều chấp 1 học thuyết khác nhau. Các chủ đề tranh luận chính là Phật đà quan, Niết bàn luận, Nhân quả luận, Tâm pháp luận. 3. Giáo lí Phật giáo Đại thừa ở thời kì đầu: Phật giáo Đại thừa ở thời kì đầu phản đối khuynh hướng lấy Thực tại luận làm trọng tâm, nghiêng về mặt hình thức, học thuật của Phật giáo bộ phái, mà đề xướng chủ trương quay về với nền tín ngưỡng thực tiễn tu hành xưa nay của Phật giáo nguyên thủy. Giữa các nhà chủ trương canh tân, Phật giáo Đại thừa đã hưng khởi. Khác với nhân cách lí tưởng (tức tu theo Tứ đế, Bát chính đạo để thành A la hán)của Phật giáo bộ phái, Đại thừa chủ trương Bồ tát tu trì Lục ba la mật để thành Phật và cho rằng Phật giáo bộ phái là Tiểu thừa tự lợi, còn Đại thừa là Bồ tát lợi tha. Ngoài ra, về mặt các giai đoạn tu hành, Đại thừa thành lập thuyết Thập địa, tức Bồ tát theo thệ nguyện lợi tha, phát tâm bồ đề, tu hành qua 10 giai vị mà thành Phật. Lợi tha tức là nỗ lực thực hiện hạnh bố thí là hạnh đứng đầu Lục ba la mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ). Giáo thuyết của Đại thừa triệt để hiển bày lí không, vô ngã. Đây là giáo lí đứng trên lập trường duyên khởi của Phật giáo nguyên thủy để bài xích Thực tại luận của Thuyết nhất thiết hữu bộ Tiểu thừa. Học thuyết của Phật giáo Đại thừa ở thời kì đầu này chủ yếu là bộ Trung luận của ngài Long thụ, triệt để thuyết minh lí Không, là cơ sở lí luận cho Phật giáo Đại thừa ở thời kì sau. Không chỉ cho sự tu hành không, vô ngã một cách thực tiễn; chẳng hạn như bố thí là thực hành bố thí với tinh thần Tam luân thể không (tức không thấy có người bố thí, không thấy người nhận của bố thí và không thấy có vật để bố thí). Nói theo quan điểm này thì Phật giáo Đại thừa thời kì đầu, bất luận về phương diện lí luận hay thực tiễn, đều có thể đã trở về với lập trường cố hữu, thuần túy của Phật giáo nguyên thủy. Nhưng về kinh điển của Phật giáo Đại thừa cũng giống hệt như kinh điển của Phật giáo nguyên thủy, nghĩa là về mặt giáo lí cũng thiếu sự chỉnh lí và tổ chức thống nhất. 4. Giáo lí Phật giáo Đại thừa ở thời kì giữa: Phật giáo Đại thừa ở thời kì này chú trọng sự nghiên cứu có tính cách học thuật, triết học. Tức về tổ chức giáo lí, ngoài những tư tưởng ở thời kì đầu, còn triển khai thêm 3 thuyết chính: Du già duy thức, Như lai tạng Phật tính và thuyết tổng hợp 2 thuyết trên. Giáo lí Du già duy thức (Du già hành phái) gồm có các thuyết: a) Duy thức: Khai triển từ thuyết Tam giới hư vọng, đãn thị nhất tâm tác (Ba cõi hư dối, chỉ do tâm tạo)trong kinh Hoa nghiêm của Đại thừa thời kì đầu. Đây cũng là thuyết kế thừa thuyết Duyên khởi của Phật giáo nguyên thủy. Nghĩa là tất cả các hiện tượng sinh tử luân hồi đều lấy thức (hàm có ý niệm thiện ác) làm nguyên nhân sinh khởi, ngoài thức ra không nương vào bất cứ cái gì khác, cho nên gọi là Duy thức (chỉ có thức). Duy thức là biến hóa vô thường, vì thế nên tương thông với thuyết Vô ngã. b) Nhị vô ngã: Chỉ cho Nhân vô ngã và Pháp vô ngã. Trong Phật giáo bộ phái, như Độc tử bộ chủ trương có nhân ngã và pháp ngã; còn Thuyết nhất thiết hữu bộ tuy phủ định nhân ngã, nhưng lại xác nhận pháp ngã (thuyết Pháp thể hằng hữu). Phật giáo Đại thừa thời kì giữa hoàn toàn phủ định các thuyết Hữu ngã này mà chủ trương thuyết Nhị vô ngã. Đây là tiếp nối thuyết Bát nhã giai không của Đại thừa thời kì đầu. c) Tam tính: Chỉ cho tính Biến kế sở chấp (tính phân biệt), tính Y tha khởi (tính Y tha) và tính Viên thành thực (tính thành thực). Sự giải thích về Tam tính giữa tông Pháp tướng (Duy thức hữu môn) và tông Pháp tính (Duy thức không môn) có khác nhau. Tam tính chẳng những chỉ giải thích về mặt duy thức, mà cũng bàn đến sự tồn tại của tất cả mọi hiện tượng. Chẳng hạn như:1) Tính y tha khởi: Tất cả hiện tượng vật chất, tinh thần không thể tồn tại một cách cô lập mà phải nhờ vào những nguyên nhân, điều kiện thời gian, không gian. Điều này tương đương với Các hành vô thường, các pháp vô ngã trong Phật giáo nguyên thủy. 2) Tính biến kế sở chấp: Hàng phàm phu vì các phiền não vô minh, khát ái mà bám chặt vào các hoạt động tạo nghiệp, có thể gọi đó là tướng Biến kế sở chấp. Tương đương với Tất cả đều khổ, Khổ đế, Tập đế và Duyên khởi lưu chuyển trong Phật giáo nguyên thủy. 3) Tính viên thành thực: Trạng thái lí tưởng của bậc Thánh đãdiệt trừ hết sạch phiền não chấp trước, thoát li luân hồi, thành tựu không vô sở đắc. Tương đương với Niết bàn tịch tĩnh, Đạo đế, Diệt đế và Duyên khởi hoàn diệt của Phật giáo nguyên thủy. Tam tính đều có quan hệ với Duyên khởi, cũng đều là giáo lí thuộc về vô ngã. Để phá trừ sự chấp trước đối với Tam tính mà lập ra thuyết Tam vô tính, tức Tướng vô tính (cảnh biến kế là hư giả vô tướng), Sinh vô tính (các pháp y tha là duyên sinh có giả) và Thắng nghĩa vô tính(các tính rốt ráo là không). Đây cũng là nối tiếp thuyết Bát nhã giai không của Đại thừa ở thời kì đầu. 4) Bát thức: Chỉ cho 6 thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) của Phật giáo nguyên thủy, của Phật giáo bộ phái và thức Mạt na thứ 7, thức A lại da thứ 8 của phái Du già hành mới thêm vào sau. Thức thứ 7 là nguồn gốc của phiền não ngã chấp. Thức thứ 8 bao hàm những chủng tử của nhận thức phán đoán, tư duy...… trải qua trong quá khứ, tương đương với vô minh, hành, thức…...trong 12 duyên khởi của Phật giáo nguyên thủy. Nó (thức thứ 8) cũng tương đương với căn bản thức, hữu phần thức, nhất vị uẩn, cùng sinh tử uẩn...… là chủ thể luân hồi do Phật giáo bộ phái chủ trương. Phật giáo Đại thừa thời kì giữa cũng kế thừa học thuyết nói trên rồi phát triển thêm bước nữa. Bởi vì thuyết Bát thức của Đại thừa thời kì giữa lấy thức A lại da thứ 8 làm trung tâm để thuyết minh sự vận hành của vòng luân hồi lưu chuyển, làm thế nào để thoát li luân hồi mà đạt đến Niết bàn lí tưởng và làm thế nào để chuyển các thức hữu lậu thành 4 trí vô lậu. Đồng thời, thức A lại da thứ 8 cũng được sử dụng giải thích rõ sự vận hành của duyên khởi lưu chuyển và duyên khởi hoàn diệt. Như đã trình bày ở trên, giáo lí căn bản của phái Du già hành được đặt trên nền tảng thuyết Bát nhã giai không của Đại thừa thời kì đầu, đồng thời, cũng chịu ảnh hưởng về giáo tướng của Thuyết nhất thiết hữu bộ, Kinh lượng bộ của Phật giáo bộ phái. Phái Du già hành được gọi là Pháp tướng tông, vì phái này đứng về phương diện tướng(hiện tướng) để khảo sát sự tồn tại của vạn vật. Trái lại, các thuyết tổng hợp thuộc hệ thống Như lai tạng thì đứng trên lập trường bản tính chân như để khảo sát sự tồn tại của các pháp, vì thế cũng gọi là Pháp tính tông. Thuyết Như lai tạng, Phật tính của tông Pháp tính là kế thừa thuyết Tâm tính bản tịnh của hệ thống Đại chúng bộ trong Phật giáo bộ phái, rồi cải thiện, phát huy thêm mà thành. Nếu nói theo sự quan hệ giữa Phật giáo Đại thừa thời kì giữa và Phật giáo bộ phái thì tông Pháp tướng chịu ảnh hưởng tư tưởng của Thượng tọa bộ hệ, còn tông Pháp tính thì chịu ảnh hưởng tư tưởng của Đại chúng bộ hệ. Dung hợp thuyết A lại da (Pháp tướng) và thuyết Như lai tạng (Pháp tính) là loại thuyết Tổng hợp thứ 3 của Phật giáo Đại thừa thời kì giữa; thuyết Tổng hợp lấy giáo lí của luận Đại thừa khởi tín làm cơ sở. Thuyết này ở Ấn độ không được lưu truyền rộng rãi và hầu như không được nói đến trong các kinh điển tiếng Phạm. Trên Nhất tâm, luận Đại thừa khởi tín lại lậpTâm sinh diệt và Tâm chân như; nếu phối hợp với thuyết Tam tính thì Nhất tâm tương đương với tính Y tha khởi nhiễm tịnh biến hóa, Tâm sinh diệt tương đương với tính Biến kế sở chấp nương vào vọng kiến phân biệt mà sinh khởi, còn Tâm chân như thì tương đương với tính Viên thành thực thanh tịnh, lìa vọng tưởng phân biệt. Nửa sau của thời kì Phật giáo Đại thừa thời kì giữa cũng đề xướng học thuyết Trung quán. Cũng như Duy thức chia làm Duy thức hữu tướng và Duy thức vô tướng, học phái Trung quán cũng chia làm phái Tự lập (Phạm: Svàtantrika) và phái Phá tà (Phạm: Prasaígika) chuyên chỉ trích lỗi lầm và đả phá lập luận của đối phương, nhưng giáo lí và tổ chức chưa được hoàn bị như phái Du già hành. 5. Giáo lí Phật giáo Đại thừa thời kì sau: Để đối kháng với tư tưởng triết học thịnh hành ở đương thời, Phật giáo không thể không quan tâm đến những vấn đề có tính tri thức, lí luận và phán đoán chính xác...… Do đó, Phật giáo Đại thừa thời kì giữa đã nghiên cứu và ứng dụng Nhân minh học(tức Luận lí học)làm tiêu chuẩn cho tri thức để phát triển giáo lí Phật giáo. Nhưng, trên thực tế, Nhân minh học và tín ngưỡng không liên quan gì với nhau, vậy nếu đem triết học hóa, chuyên môn hóa giáo lí Phật giáo thì tưởng rằng khó tránh khỏi khuynh hướng phù phiếm, trừu tượng, vô nghĩa mà rơi vào trống không. Để điều chỉnh nguy cơ này, đưa Phật giáo trở về lập trường tín ngưỡng tông giáo cố hữu của mình, nên Mật giáo đã hưng khởi, tiêu biểu cho Phật giáo Đại thừa thời kì sau. Giáo lí của Mật giáo, một mặt chịu ảnh hưởng vănhọc Đát đặc la (Phạm: Tantra) đang thịnh hành ở thời bấy giờ, dùng ý nghĩa tượng trưng bình dị để hiển bày lí luận triết học sâu xa của Phật giáo, mặt khác, lại đặc biệt chú trọng tín ngưỡng thực tiễn. Tầng trên của lí luận Mật giáo gọi là Giáo tướng, là sử dụng học thuyết đã có từ trước, dùng phương thức tượng trưng để nói rõ giai đoạn tu hành từ lúc phát tâm bồ đề cho đến khi thành Phật, khiến cho dễ đạt thành lí tưởng. Phương pháp chung cho việc thành tựu lí tưởng là Tam mật gia trì: Thân mật kết ấn khế, khẩu mật tụng chân ngôn (Đà la ni ), ý mật quán tưởng Phật và Bồ tát cũng như chủng tử của các Ngài. Giáo lí căn bản của Mật giáo lấy tâm bồ đề làm nhân, lấy đại bi làm gốc và lấy phương tiện làm cứu cánh. Đây tức là thuyết Tức sự nhi chân, Đương tướng tức đạo. 6. Giáo lí Phật giáo ở Trung quốc và Nhật bản: Phật giáo Đại, Tiểu thừa của Ấn độ nói trên đây, đều đã được truyền đến Trung quốc và Nhật bản. Ở Trung quốc, giáo lí Phật giáo đã phát triển thành các tông phái rất hưng thịnh, như tông Tì đàm, tông Thành thực, tông Địa luận, tông Nhiếp luận, tông Thiên thai, tông Tam luận, tông Pháp tướng, tông Câu xá, tông Hoa nghiêm, tông Chân ngôn...… Sau khi được truyền vào, giáo lí Phật giáo Nhật bản cũng phát triển thành các tông như: Thiên thai, Chân ngôn, Chân tông, Nhật liên...… mang sắc thái riêng. (xt. Nguyên Thủy Phật Giáo, Bộ Phái Phật Giáo).
phật giáo học quan hệ tạp chí luận văn phân loại mục lục
(佛教學關係雜志論文分類目錄) Tác phẩm, 1 tập, do thư viện Đại học Long cốc ở Nhật bản biên soạn. Nội dung sách này chia làm 19 hạng mục, thu chép tất cả những đề mục có liên quan đến học thuyết Chân tông và giáo học của Phật giáo nói chung. Đây là bộ sách rất cần thiết cho những ai muốn nghiên cứu về giáo học của Phật giáo.
phật giáo hội
Buddhist congregation.
phật giáo lịch pháp
(佛教曆法) Lịch pháp của Phật giáo, tức là Phạm lịch đời cổ. Lịch pháp thiên văn nói trong kinh Phật là loại lịch pháp được thông dụng ở thời bấy giờ. Lịch pháp này là Phật giáo căn cứ vào thuyết núi Tu di mà thành lập. Phạm lịch lấy khoảng thời gian từ ngày 16 (ngày trăng tròn) tháng này đến ngày 15 tháng sau làm 1 tháng. Khoảng thời gian từ ngày 16 đến ngày 30 (hoặc 29 nếu là tháng thiếu), gọi là Hắc phần (phần đen) hoặc Hắc nguyệt (tháng đen). Từ ngày mồng 1 (trăng nhú) đến ngày 16 (trăng tròn) gọi là Bạch phần (phần trắng) hay Bạch nguyệt (tháng trắng). Cho nên, 1 tháng theo Phạm lịch tương đương với khoảng thời gian từ ngày 16 âm lịch đến ngày 15 tháng sau. Tên của 12 tháng trong 1 năm theo Phạm lịch đối chiếu với Nông lịch (âm lịch) được đồ biểu như sau. (thiếu biểu đồ). Trong đó, từ ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 3 là thời gian không khí nóng dần lên; từ ngày 16 tháng 3 đến 15 tháng 5 là thời gian rất nóng; từ ngày 16 tháng 5 đến 15 tháng 7 là thời gian mưa nhiều, từ ngày 16 tháng 7 đến 15 tháng 9 là thời gian cây cỏ tốt tươi, từ ngày 16 tháng 9 đến 15 tháng 11 là thời gian khí hậu lạnh dần, từ ngày 16 tháng 11 đến 15 tháng giêng năm sau là thời gian khí hậu rất lạnh; trên đây gọi là Tuế phân lục thời (1 năm chia làm 6 mùa), gọi tắt là Lục thời. Trong lục thời, thời gian nóng dần và thời gian rất nóng được gộp chung lại gọi là Nhiệt thời hoặc Nhiệt tế; thời gian mưa nhiều và thời gian cây cỏ tốt tươi gộp chung lại gọi là Vũ thời hoặc Vũ tế (mùa mưa); thời gian lạnh dần và thời gian rất lạnh gộp chung lại gọi là Hàn thời hoặc Hàn tế (mùa lạnh). Trên đây gọi là Tam thời hoặc Tam tế. Nhưng vấn đề Tam tế được phối hợp như thế nào với ngày tháng thì có nhiều thuyết khác nhau. Điều được trình bày trên đây là căn cứ theo thuyết của ngài Chân đế của Đại đường tây vực kí. Ngoài ra cũng có thuyết sớm hơn 1 tháng hoặc sớm hơn 2 tháng. Thời gian từ tháng Chế đát la đến tháng Thệ sắt tra là Xuân; thời gian từ tháng Át sa đồ đến tháng Bà đạt la bát đà là Hạ; thời gian từ tháng A thấp phạ dữu xà đến tháng Mạt già thủy la là Thu; thời gian từ tháng Báo sa đến tháng Phả lặc lũ noa là Đông. Trên đây cũng gọi là Tứ thời (4 mùa). Cũng có thuyết chia làm Đông, Xuân, Vũ, Chung và Trường gọi là Ngũ thời. (xt. Phật Giáo Thiên Văn Học)
phật giáo nghi lễ
(佛教儀禮) Những nghi lễ được cử hành trong Phật giáo. 1. Ấn độ: Những nghi lễ mà giáo đoàn Phật giáo thực hành trong thời kì đầu là Bố tát, an cư, tự tứ, xuất gia, thụ giới...… Những nghi lễ này, cho đến ngày nay, vẫn được giáo đoàn Phật giáo Nam truyền tổ chức y hệt như vậy. Thủa xưa, cứ 5 năm một lần, vua A dục cử hành Đại hội Vô già (Phạm: Mahàvàrwika), triệu thỉnh chúng tăng tham dự để cúng dường. Đại hội này, đến đời sau, vẫn được Ấn độ và các nước vùng Tây vực tiếp nối tổ chức. Vào những ngày kỉ niệm đức Phật đản sinh, thành đạo, niết bàn...… hàng năm, giới Phật giáo Nam truyền đều cử hành đại lễ Vệ tắc (Pàli: Vesàkha-pùjà). 2. Trung quốc: Cứ theo truyện Đào khiêm trong Hậu Hán thư quyển 103 thì thời vua Hiến đế nhà Hán, Sạ dung thường cử hành lễ tắm Phật vào ngày Phật đản, sau đó thiết trai cúng dường. Kế đến các thời đại Tam quốc, Tây Tấn, Tiền Tần, Hậu Tần, Đông Tấn, Nam Bắc triều…... đều có các lễ nghi như thuyết pháp, giảng kinh, quy y, thụ giới, bố thí, phóng sinh, thiết trai, sám hối…... Đến các thời đại Tùy, Đường thì ngoài các nghi lễ nói trên được cử hành trong dân gian, vua còn thiết lập đạo tràng trong nội cung rồi thỉnh các vị cao tăng vào giảng kinh, thuyết pháp để cầu cho quốc thái dân an. Đến thời Ngũ đại và đời Tống thì có Thiên tăng trai (thiết trai cúng dường nghìn vị tăng), Thủy lục đại trai (bố thí chúng sinh), Nhiên đăng hội(hội thắp đèn), sám pháp Phổ hiền, Pháp hoa. Đến các đời Nguyên, Minh thì có pháp hội Vô già, hội Long hoa, hội Hoa nghiêm và các sám pháp Di đà, Pháp hoa, Đại bi, Lăng nghiêm…... 3. Nhật bản: Nghi lễ Phật giáo Nhật bản trước thời đại Bình an phần lớn chịu ảnh hưởng của nghi lễ Phật giáo Trung quốc trước đời Tùy, Đường. Các pháp hội được cử hành gồm có: Pháp hoa, Dược sư, Quan âm, Địa tạng, Thích ca, Di đà...… Trong các pháp hội này thường tụng kinh, niệm danh hiệu Phật để sám hối tội lỗi và cầu nguyện cho đất nước thái bình, nhân dân an lạc. Còn các pháp hội giảng kinh do Thiên hoàng ban sắc tổ chức thì thường là các pháp hội Duy ma, Pháp hoa, Hoa nghiêm, Nhân vương bát nhã...… Ngoài ra, các pháp hội có khuynh hướng dân gian là Báo ân giảng, Vu lan bồn, Đại niệm Phật...… là những pháp hội được tổ chức trên toàn quốc để dân chúng tham gia và có giá trị cũng như hiệu quả giáo dục rất cao. Những nghi lễ cầu siêu, cầu an cũng rất phổ cập.
phật giáo nghệ thuật
(佛教藝術) Nghệ thuật Phật giáo. Từ thời kì Phật giáo nguyên thủy đến thời kì Phật giáo bộ phái, nghệ thuật Phật giáo mới chỉ giới hạn trong các bức vẽ hoặc điêu khắc bàn chân Phật, tòa kim cương, cây Bồ đề…... để tượng trưng cho đức Phật, chứ chưa mở rộng đến các lĩnh vực khác. Đến khoảng trước sau kỉ nguyên Tây lịch, khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, giới tăng sĩ có tinh thần canh tân, đả phá quan niệm bảo thủ của thời Phật giáo bộ phái không dám đắp vẽ tượng Phật, bắt đầu tạo tượng Phật để lễ bái cúng dường. Từ đó, việc tạo hình tượng Phật trở thành phong trào phổ biến khắp nơi, nhờ thế mà nghệ thuật Phật giáo nói chung như điêu khắc, kiến trúc, hội họa... phát triển rất mạnh. Nghệ thuật Phật giáo Ấn độ có thể được chia làm 2 trường phái là: Nghệ thuật Phật giáo Ấn độ thuần túy và Nghệ thuật Kiện đà la chịu ảnh hưởng nghệ thuật Hi lạp, Ấn độ, Đại hạ, An tức...… Khoảng đầu thế kỉ IV, lấy Ma yết đà làm trung tâm, Vương triều Cấp đa thống nhất Ấn độ, thì nghệ thuật Ấn độ và nghệ thuật Kiện đà la lần lượt theo Phật giáo mà được truyền vào Trung quốc. Đến các đời Tùy, Đường thì văn hóa và nghệ thuật Phật giáo đã kết hợp với tinh thần người Trung quốc khiến cho nghệ thuật Phật giáo trở thành hình thái thuần túy Trung quốc. Đứng về phương diện nguồn gốc và phạm vi phát triển rộng lớn mà nói thì nghệ thuật Phật giáo có thể được chia ra 3 hệ thống lớn là Tiểu thừa, Đại thừa và Mật giáo. 1. Nghệ thuật của Phật giáo Tiểu thừa: Chủ thể của nghệ thuật Phật giáo Tiểu thừa là lấy các di vật Phật giáo được sùng bái ở thời kì đầu, như kiến trúc tháp Phật, làm cơ sở. Còn về hội họa, điêu khắc thì phần nhiều lấy các truyện tiền thân của đức Phật (Bản sinh đàm) và các chuyện thí dụ làm chủ đề. Khuynh hướng này tiếp tục mãi cho đến sau khi phong trào tạo tượng Phật đã phổ cập. Hệ thống nghệ thuật này lưu hành ở các nước Phật giáo Nam truyền như: Tích lan, Miến điện, Thái lan, Cao miên, Lào…... 2. Nghệ thuật Phật giáo Đại thừa: Nghệ thuật Phật giáo Đại thừa lấy việc tạo tác và sùng bái tượng Phật làm trung tâm, bắt nguồn từ Ấn độ, qua vùng Trung á rồi truyền đến Trung quốc, Nhật bản...… Tuy nhiên, nghệ thuật Phật giáo ở vùng Trung á và Trung quốc vào thời kì đầu, mang rất đậm sắc thái của nghệ thuật Phật giáo Tiểu thừa. 3. Nghệ thuật Mật giáo: Nghệ thuật của Mật giáo bắt đầu ở Ấn độ vào khoảng thế kỉ VII, VIII, trong đó có 1 hệ phái được truyền đến Trung quốc, từ đó truyền sang Nhật bản rồi trở thành dòng phái nghệ thuật chủ yếu của thời đại Bình an, Liêm thương ở Nhật bản. Lại có 1 hệ phái nữa được truyền qua Nepal, rồi từ đó vào Tây tạng, phát triển thành nghệ thuật đặc hữu của Lạt ma giáo, về sau truyền đến Mông cổ và các nước vùng Đông bắc. Đặc điểm lớn nhất trong nghệ thuật Mật giáo là tính chất gắn liền giữa nghi lễ tông giáo và nghệ thuật, như tượng Bản tôn và tượng của các vị tôn khác trong các pháp tu… là chủ đề quan trọng nhất của nghệ thuật Mật giáo. Tượng chư tôn trong Mật giáo phần nhiều là từ tượng thần của Ấn độ giáo chuyển hóa, sau khi du nhập Mật giáo, chủng loại các tôn tượng được tăng thêm, đồng thời, hình tượng cũng biến hóa (như nhiều mặt, nhiều tay, tay cầm vũ khí, với hình dáng dữ tợn, trợn mắt, nhe răng, tóc dựng đứng, vẻ phẫn nộ…...). Ngoài ra, nghệ thuật Mật giáo còn bao gồm các bức vẽ Mạn đồ la của Kim cương giới, Thai tạng giới và các pháp khí như chày kim cương, chuông, mõ, tràng hoa, lò hương, bảo châu, ma ni luân… tất cả đều có phong cách nghệ thuật. Nói tóm lại, nghệ thuật của Mật giáo hết sức phức tạp và chiếm 1 địa vị trọng yếu trong toàn bộ nghệ thuật Phật giáo nói chung. Nói chung, nghệ thuật Phật giáo có thể được chia làm mấy loại như: Kiến trúc, Điêu khắc, Hội họa và Công nghệ. I. Kiến trúc. Cứ theo sự ghi chép trong các kinh điển thì khi đức Phật còn tại thế đã có các tinh xá lớn, như tinh xá Kì viên với đầy đủ các kiến trúc như chính điện, nhà liêu(phòng tăng),nhà kho, nhà khách, nhà bếp, nhà đi dạo, nhà tắm, hồ sen, nhà chữa bệnh...… Các bức tranh lễ Phật khắc trên đá ở tháp Ba hách đặc tại Ấn độ Một loại Mạn đồ la kiến trúc đương thời còn lưu lại đến đời sau thì chủ yếu là Tháp (Phạm: Stùpa), Tháp viện (Phạm: Caitya-gfha), Tăng viện (Phạm: Vihàra), tháp nhọn (Phạm: Zikhara)…... Thông thường 3, 4 kiến trúc thì có thể cấu tạo thành 1 ngôi già lam, vật liệu xây cất chủ yếu là gạch và đá. Về hình thái kiến trúc của Phật giáo thì đại khái có tháp, hang đá, tăng viện, ngọc viên, cửa, cột đá, cột kinh, Mạn đồ la...…1. Tháp: Cũng gọi Cao hiển xứ. Hán dịch: Mộ, miếu. Vốn được xây dựng để thờ xá lợi của đức Phật, cho nên có phong cách sùng bái đặc biệt của Phật giáo, là trung tâm của quần thể kiến trúc (già lam, chùa viện) trong Phật giáo. Về hình dạng thì có hình tròn, hình bán cầu kiểu bát úp (bắt đầu vào thời đại vua A dục), hình vuông...… Về nguyên liệu thì tháp cổ ở Ấn độ phần nhiều trong ruột tháp chứa đầy đất và đá, bề ngoài thân tháp thì xây bằng đá, hoặc gạch, trát vữa. Kiểu bát úp hình bán cầu là kiểu tháp xưa ở Ấn độ, kiểu kiến trúc quan trọng nhất còn lại mà ngày nay được thấy là di tích ở Sơn kì (Phạm: Sànchi), chính giữa tháp chôn giấu đồ đựng xá lợi, 4 chung quanh có lan can, cửa tháp mở rộng, nền tháp hình vuông. Kiểu tháp này về sau được truyền đến Trung quốc như tháp Nhạn, tháp Lạt ma...…, xây bằng gạch hoặc bằng đá. 2. Hang đá: Trong số các hang đá của Tiểu thừa thì hang Bạt xà (Bhaja), Khang đả lí (Komdane) là xưa nhất. Tại Trung quốc thì hang đá Vân cương ở Đại đồng là to lớn nhất, là di tích của đời Bắc ngụy và đời Tùy. Ngoài ra còn có các hang đá ở Long môn, Lạc dương, tỉnh Hà nam, hang ở huyện Củng, hang ở núi Thê hà tại Nam kinh, hang ở núi Thiên long tại Thái nguyên, tỉnh Sơn tây...… Trong các hang đá kể trên hiện còn những pho tượng bằng đá, những đồ trang sức, các bức bích họa rất phong phú, biểu hiện nền nghệ thuật tổng hợp của Phật giáo. 3. Tăng viện: Phạm:Vihàra. Cũng gọi Tăng phòng. Có 4 loại: Đơn độc tăng viện, Đơn tằng tăng viện, Bình địa tăng viện và Trùng tằng tăng viện. Tại Ấn độ, lúc đầu, Tăng viện được kiến trúc bằng gỗ, sau thì dần dần xây bằng đá. Ở trong tăng viện còn có các kiến trúc cần thiết cho sinh hoạt của chúng tăng như: Nhà thờ, nhà giảng...…, thông thường những kiến trúc này tổ hợp lại mà hình thành 1 ngôi chùa viện. Nhưng ở Trung quốc thì thường tổ hợp 7 kiến trúc thành 1 đơn vị, gọi là Thất đường già lam.4. Ngọc viên, cũng gọi Chu viên. Các kiến trúc như già lam, tháp, tăng viện...… đều có ngọc viên xây bằng đá bao chung quanh gọi là Ngọc viên; trên ngọc viên có những bức tranh khắc nổi rất tinh vi, đề tài phần nhiều là sư tử, voi, bò, ngựa, bánh xe, cây Bồ đề, và chuyện bản sinh. 5. Cột đá: Do vua A dục dựng ở các nơi Phật tích, trên thân cột có khắc lời chiếu chỉ, pháp sắc của vua; trên đầu cột khắc voi, sư tử, bánh xe…... 6. Cột kinh: Hình dáng như cột cờ, 2 bên phía trước tháp mỗi bên đều dựng 1 cột (giống như tấm bia hình chữ nhật của Trung quốc). 7. Mạn đồ la: Hình tượng Mạn đồ la được kiến tạo bằng vàng, bạc; kiểu thì có hình tròn, hình vuông, hình hoa sen, hình tam giác…... II. Điêu Khắc. Sau khi đức Phật nhập diệt, các đệ tử và tín đồ dùng tòa kim cương, lá bồ đề, bánh xe pháp, bàn chân Phật, cây lọng… để tượng trưng đức Phật mà làm đối tượng lễ bái. Mãi đến khoảng giữa thế kỉ I Tây lịch, việc đắp tượng mới dần dần được lưu hành. Đến thế kỉ IV, V, người ta mới thấy bức khắc nổi đầy đủ hình tượng đức Phật trên lan can của Đại tháp A ma la bà đề (Phạm: Amaravati). Tại Ấn độ, di phẩm của nghệ thuật điêu khắc nổi tiếng nhất là các pho tượng khắc trong hang đá A chiên đa (Phạm: Ajantà) thuộc tỉnh Bàng già phổ (Punjab), vốn cócáimĩ danh là Cung nghệ thuật phương đông; bên trong hang phần nhiều là bích họa, còn bên ngoài hang thì phần nhiều là điêu khắc. Những nhân vật được biểu hiện cực kì trang nghiêm sinh động, đậm đà màu sắc tông giáo. Tượng Phật ở miền Bắc Ấn độ thì lại mang phong cách nghệ thuật Kiện đà la. Ngoài ra, di tích Ba mễ dương (Phạm: Bàmyan) tại nước Afghanistan có pho tượng Phật khắc trong sườn núi, cao tới 52m, nổi tiếng nhất thế giới, đã tồn tại qua 17 thế kỉ(nhưng rất đau xót đã bị những người Hồi giáo cuồng tín Taliban phá hủy vào tháng 3 năm 2001 – ND)! Chùa Angkor (Angkor Vat) ở Cao miên, tháp Bà la phù đồ (Boro-Budur) ở Java… đều là nghệ thuật khắc đá rất tinh xảo. Còn ở Trung quốc, trong các hang đá được đục mở qua nhiều triều đại, phần lớn là khắc tượng Phật. Nghệ thuật khắc tượng trong các hang đá ở Trung quốc, lúc ban đầu, chịu ảnh hưởng sâu đậm nghệ thuật của Kiện đà la và Ấn độ, nhưng đến các đời Đường, Tống thì hoàn toàn thể hiện đặc sắc của phong cách Trung quốc. III. Hội Họa. Những tác phẩm thời kì đầu trong hang đá A chiên đa là những bích họa sớm nhất của Phật giáo. Chẳng hạn như con voi trắng 6 ngà trong bức tranh bản sinh ở hang thứ 10 là tác phẩm trước kỉ nguyên Tây lịch. Bức tranh Cúng dường thiên nhân(người trời cúng dường)trong hang đá Tất kì lợi da (Pàli: Sìgiriya) ở đảo Tích lan thì được suy định là tác phẩm ở thế kỉ V truyền lại, nét vẽ thuộc kĩ xảo của hội họa A chiên đa Ấn độ. Như vậy, hang đá A chiên đa không những chỉ là kho báu của nghệ thuật Ấn độ, mà nó còn là nguồn của những dòng nghệ thuật Phật giáo Trung á, Trung quốc, Nhật bản...… xa xôi. Như các bức tranh Truyền thuyết Long nữ, tranh Phi thiên trong hang đá A chiên đa đã ảnh hưởng rất đậm đà đến các bức bích họa của chùa Pháp long, chùa Pháp giới...… tại Nhật bản. IV. Công Nghệ. Những công nghệ phẩm xưa nhất trong lịch sử Phật giáo là các đồ đựng xá lợi Phật làm bằng vàng, bạc, đồng, ngọc, đá, gỗ…..., thông thường chôn ở trong tháp Phật. Tại Ấn độ, di phẩm sớm nhất là tác phẩm ở khoảng thế kỉ thứ IV trước Tây lịch. Ngoài đồ đựng xá lợi Phật ra, các dụng cụ khác dùng trong Phật giáo được gọi chung làPhật cụ hoặc Đạo cụ, có rất nhiều chủng loại và kiểu dáng. Nay chia một cách tổng quát làm 7 loại như sau: 1. Dụng cụ trang nghiêm tượng Phật, Bồ tát: Lọng, phướn, phan, tràng hoa, chuỗi anh lạc…... 2. Dụng cụ cúng dường: Lư hương, chân đèn, bình hoa, lẵng hoa, mâm…... 3. Loại nhạc khí: Chuông lớn, trống, khánh, thanh la, mao bạt, chuông lắc, mõ cá…...4. Dụng cụ chứa đựng: Hòm kinh, hòm áo ca sa. 5. Áo pháp và vật cầm của tăng sĩ: Ca sa, tích trượng, chuỗi tràng, như ý… 6. Dụng cụ tu pháp của Mật giáo:Chày kim cương, linh kim cương, chày yết ma, mâm lễ…... 7. Những tác phẩm liên quan đến điêu khắc, kiến trúc: Khám Phật, đàn Phật, lồng đèn...… [X. Phật giáo nghệ thuật luận tập (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 20); Trung quốc Phật giáo nghệ thuật (Quốc lập lịch sử bác vật quán)].
phật giáo nguyên thủy
Xem Thượng tọa bộ.
phật giáo ngạn ngữ lí ngữ
(佛教諺語俚語) Những dụng ngữ Phật giáo được dùng như những tục ngữ quen thuộc trong dân gian.Vì tục ngữ và ngạn ngữ có tính chất trực tiếp biểu lộ những trạng thái xã hội, phản ánh đặc trưng của phong tục, cho nên vài mươi năm gần đây dần dần đã được giới học thuật chú ý và xem là những tư liệu quan trọng để nghiên cứu Dân tục học và Ngôn ngữ học. Như khi nghiên cứu về Tên gọi 12 tháng 1. Chế đát na, Chế đát la, Tổ đát la, Đát la 2. Phệ xá khư, Tô xá khư 3. Thệ sắt tra, Tế sử tra 4. Át sa đồ, A sa đồ, A sa xá 5. Thất la phạt noa, Thất la phiệt noa, Thất ra phạ na 6. Bà đạt la bát đà, Bà đạt la bạt đà, Bà nại la bà na 7. A thấp phược dữu xà, A thấp bà dữu xà, A thấp phạ dụ nhã 8. Ca lạt để ca, Ca lật để ca, Yết lật để ca, Ca đề 9. Mạt ca thủy la, Ma ra nga thủy la 10. Báo sa, Phú sa, Bảo sa, Bố sử 11. Ma khư, Ma già, Mạc già 12. Phả lặc lũ noa, Phả lạc cụ na, Phả cầu na, Phá cầu. Tên Phạm Caitra Vaizàkha Jyewỉha Àwàđha Zravana Bhàdrapada Azvayuja Kàrttika Mfgaziras Pauwa Màgha Phàlguna Nông lịch (âm lịch) Trọng xuân, 16 tháng 1 đến 15 tháng 2 Quí xuân, 16 tháng 2 đến 15 tháng 3 Mạnh hạ, 16 tháng 3 đến 15 tháng 4 Trọng hạ, 16 tháng 4 đến 15 tháng 5 Quí hạ, 16 tháng 5 đến 15 tháng 6 Mạnh thu, 16 tháng 6 đến 15 tháng 7 Trọng thu, 16 tháng 7 đến 15 tháng 8 Quí thu, 16 tháng 8 đến 15 tháng 9 Mạnh đông, 16 tháng 9 đến 15 tháng 10 Trọng đông, 16 tháng 10 đến 15 tháng 11 Quí đông, 16 tháng 11 đến 15 tháng 12 Mạnh xuân, 16 tháng 12 đến 15 tháng 1 lịch sử Phật giáo Trung quốc, thì tư liệu tục ngữ, ngạn ngữ có thể cho thấy một cách đại khái cái tình hình truyền bá Phật giáo trong dân gian, sức ảnh hưởng của tín ngưỡng Phật giáo trong đời sống của dân chúng phổ thông, hoặc phản ứng của tâm thái dân chúng đối với giáo nghĩa, hành sự...… của Phật giáo, cho đến tình hình do phong tục tập quán bất đồng của các địa phương mà biểu hiện văn hóa Phật giáo rất khác nhau. Như câu tục ngữPhật cần thếp vàng, người cần trang phục phản ánh phong tục người Trung quốc thường sơn son thếp vàng tượng Phật. Hoặc câu Nhà nhà Quan thế âm, chốn chốn A di đànói lên sự toàn thịnh của Phật giáo Trung quốc ở đời Đường. Những câuBình thường chẳng thắp hương, lâm nạn ôm chân Phật; Có bệnh vái tứ phương, không bệnh đồng hương chẳng mất, phản ánh cái đặc chất tín ngưỡng của giới bình dân, tức tín ngưỡng tông giáo chỉ cầu cái lợi trước mắt. Những câuThà ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối,hoặc Chẳng thà ăn mặn niệm Phật còn hơn ăn chay chửi mắng người,biểu hiện thái độ phê phán tông giáo một cách thực tiễn của dân chúng. Câu Vua Diêm la quyết định canh ba thì không thể đợi đến canh năm phản ánh tâm thái của dân chúng đối với quả báo thiện ác. Ở Trung quốc, những sách quan trọng sưu tập những ngạn ngữ, tục ngữ liên quan đến sinh hoạt tông giáo thì có: 1. Trung quốc ngạn hải của Sử tương tai, ấn hành tại Thượng hải năm 1927, thu chép tổng cộng hơn 14.000 tắc. 2. Thâu quá lí ngạn sở quan sát đích Trung quốc tông giáo, do Khắc lí ba biên soạn, thu chép tất cả 2.448 tắc. 3. Bắc kinh tục ngữ từ điển, do học giả Nhật bản Hạ vĩnh Hiến thứ soạn. 4. Anh Hán đối chiếu Trung quốc tục ngạn, do ông Duy phu lí đức á lan biên soạn, gồm 4.000 tắc. 5. Cải biên Trung quốc tục ngạn, do ông Điểu cư Cửu tĩnh người Nhật soạn. [X. Trung quốc Phật giáo phát triển sử (chương 17) của ông Trung thôn nguyên].
phật giáo nhập truyện lộ tuyến
(佛教入傳路綫) Con đường Phật giáo truyền vào Trung quốc. Vì mục đích thương nghiệp và quân sự mà vua Vũ đế (ở ngôi 140-87 trước Tây lịch) nhà Hán đã 2 lần sai ông Trương khiên đi sứ Tây vực và đã mở ra con đường Đông Tây, qua đó, 2 nền văn hóa Đông Tây cũng đã giao lưu dung hợp. Chính tín ngưỡng và tư tưởng Phật giáo cũng theo các đoàn sứ giả, các nhóm khách buôn và chúng tăng trên con đường ấy truyền vào các nước Đại nguyệt thị, An tức, Kế tân (Ca thấp di la, nay là Kashmir), Sớ lặc, Vu điền, Cao xương (Thổ lỗ phồn) cho đến đất Trung quốc bao la. Các vị sa môn Ấn độ, Tây vực đến Trung quốc dịch kinh, hoằng pháp và các vị đại đức, cao tăng Trung quốc sang Tây vực tham học, cầu đạo thì phải theo 2 con đường là đường bộ hoặc đường biển. 1. Đường bộ: Đường bộ phía bắc là con đường giao thông chính yếu, từ vùng tây bắc Ấn độ qua các xứ Afghanistan, Pakistan, Trung á, Hà tây tẩu lang đến Trung nguyên. Trong nội địa Tân cương lại chia làm 2 đường Nam Bắc, 2 con đường này đều ở chân núi phía nam của núi Thiên sơn, cũng tức là từ Lạc dương hay từ Trường an đi sang phía tây, qua Hà tây tẩu lang đến Đôn hoàng. Đường phía bắc men theo mạn bắc xứ Tháp lí mộc bồn, qua Y ngô (Cáp mật), Cao xương, Yên kì, Cưu tư (Khố xa), Sớ lặc…... rồi vượt dãy Thông lãnh (cao nguyên Pamir) đi về hướng tây nam đến Kế tân mà vào Thiên trúc. Đường phía nam thì từ Đôn hoàng men theo mạn nam xứ Tháp lí mộc bồn, qua các xứ Thiện thiện, Vu điền, Sa xa, vượt qua phía nam núi Ba đạt khắc, lại vượt núi Đại tuyết và núi Hưng đô khố thập (Hindukush) mà vào Kế tân; hoặc từ Sa xa đến Sớ lặc mà hợp chung với đường phía bắc. Ngài Pháp hiển đời Đông Tấn, đi từ Cưu tư theo con đường phía bắc, vượt qua Lưu sa (sa mạc Samarkand) đến Vu điền ở đường phía nam, đây gọi là con đường giữa (tức giữa 2 đường bắc nam nói trên), sau đó lại đi về hướng tây mà đến Thiên trúc. Ngài Huyền trang đời Đường thì từ Cưu tư đi theo đường phía bắc, vượt qua chân núi phía bắc núi Thiên sơn, lại vượt Lăng sơn, qua sông Dược sát ở Trung á vào nước Hoạt (Kundur, nằm ở nội địa nước Afghanistan hiện nay), rồi lại vượt núi Đại tuyết, vòng đến Thiên trúc. Cũng có người đi từ Lương châu thuộc Hà tây tẩu lang tiến ra Ba thục, Giang lăng…... như ngài Pháp hiến đời Nam triều. 2. Đường biển: Sự truyền pháp qua đường biển không hưng thịnh bằng đường bộ, từ Ấn độ qua Tích lan, Java hoặc châu Bà la, bán đảo Mã lai đến Giao chỉ (nay là Hà nội Việt nam), Quảng châu, vùng Đông lai(vũng Giao châu), do đó, Quảng châu, Giao chỉ cũng là cửa ngõ giao lưu của Phật giáo Trung quốc và Nam dương. Các vị cao tăng nổi tiếng đi đường biển đến Trung quốc hay sang Ấn độ, có các ngài Khang tăng hội, Chân đế, Bồ đề đạt ma, Bất không và Pháp hiển (khi trở về nước), Pháp dũng, Nghĩa tịnh…... Ngoài ra, khoảng trướcsauthế kỉ I Tây lịch, Phật giáo Đại thừa hưng thịnh ở Ấn độ, gọi một cách mỉa mai giáo đoàn truyền thống bảo thủ là Tiểu thừa, thế là hình thành 2 phái đối lập nhau, phái nào cũng muốn bành trướng thế lực, nên ra sức hoằng pháp, truyền giáo để trở thành 1 giáo đoàn lớn mạnh, cho nên Phật giáo đã nhanh chóng nhắm tới hướng tây bắc và phương nam để truyền bá. Khi phạm vi thế lực của Đại, Tiểu thừa ở các nước Tây vực được mở rộng, thì Trung quốc cũng bắt đầu tiếp nhận Phật giáo; vì Phật giáo Tây vực đối với Trung quốc có ảnh hưởng rất lớn, nên giữa Phật giáo từ Tây vực truyền sang và Phật giáo từ đường biển đưa vào cũng có điểm khác nhau. Chẳng hạn như tư tưởng Đại thừa thịnh hành ở vùng Tây bắc Ấn độ, cho nên khi truyền đến những nước phương bắc thì phần lớn là các kinh Bát nhã, Phương đẳng; Ca thấp di la là nơi phát sinh ra Thuyết nhất thiết hữu bộ, nên các bộ luận thư quan trọng như Phát trí, Tì bà sa...… đã được truyền dịch ở phương bắc; kinh Hoa nghiêm thịnh hành ở Vu điền, nên ngài Chi pháp lãnh đã đến xứ này thỉnh được 16 nghìn bài kệ Hoa nghiêm bằng tiếng Phạm mang về Trung quốc. Còn nước Sư tử (Tích lan) tin theo Phật giáo Tiểu thừa, nên kinh điển từ nước này được truyền sang Trung quốc bằng đường biển cũng là kinh điển Tiểu thừa, như bộ Thiện kiến luật tì bà sa do ngài Tăng già bạt đà la dịch. Lúc đức Phật mới nhập diệt, tín đồ không dám tạo hình tượng Phật, mà chỉ dùng bánh xe pháp, cây Bồ đề, tòa hoa sen, tháp xá lợi...… để tượng trưng đức Phật mà lễ bái cúng dường. Mãi đến năm 327 trước Tây lịch, Alaxander the Great của Hi lạp xâm lược miền Bắc Ấn độ; về sau, 2 nền văn hóa Hi lạp và Ấn độ giao lưu, rồi dung hợp, từ đó sản sinh nền nghệ thuật Kiện đà la, bấy giờ tín đồ Phật giáo cũng phỏng theo người Hi lạp, bắt đầu điêu khắc và đắp vẽ tượng Phật. Loại nghệ thuật này sau cũng theo Phật giáo được truyền vào Trung quốc.
Phật giáo Nhật Bản
日本佛教|Tại Nhật, Phật giáo du nhập năm 522 với điểm xuất phát là Hàn Quốc. Mới đầu người Nhật thấy đây là một nền văn hoá ngoại lai, nhưng năm 585, Phật giáo được Nhật hoàng Dụng Minh (j: yomei) thừa nhận. Dưới thời vua Thánh Ðức (j: shokotu, 593-621), Phật giáo trở thành quốc giáo. Năm 594 nhà vua ra lệnh cho dân chúng phải thờ phụng Tam bảo (s: triratna). Ông khuyến khích dịch và viết kinh sách, bản thân ông cũng viết luận giải về các kinh (Duy-ma-cật sở thuyết kinh) và cho xây chùa chiền và thành lập Pháp Long tự (j: hōryū-ji) nổi tiếng ở Nại Lương (nara). Các Cao tăng Trung Quốc và Hàn Quốc được mời đến giáo hoá, người Nhật bắt đầu gia nhập Tăng-già. Trong thời kì này, tông Tam luận được thịnh hành.|Trong thời gian từ 710-794, có sáu tông phái tại Nhật Bản, phần lớn do Trung Quốc du nhập: Câu-xá (j: kusha), Pháp tướng (j: hossū), Tam luận (j: sanron), Thành thật (j: jōjitsu), Luật (j: ritsu), Hoa nghiêm (j: ke-gon). Phật giáo Nhật Bản có ảnh hưởng mạnh lên hoàng tộc, nhất là Hoa nghiêm tông. Bộ kinh Kim quang minh tối thắng vương (s: suvarṇaprabhāsottamarāja-sūtra) đóng một vai trò rất quan trọng trong việc truyền bá đạo Phật tại Nhật Bản vì được triều đình thời đó chấp nhận. Ðến thời kì Bình An (heian, 794-1184), tông Thiên Thai (j: tendai) và Chân ngôn (j: shingon) bắt đầu có ảnh hưởng. Ðến giữa thế kỉ thứ 10, việc tôn thờ phật A-di-đà bắt đầu thịnh hành và từ đó thành hình ra Tịnh độ (j: jōdo-shū) và Tịnh độ chân tông (j: jōdo-shin-shū) trong thời đại Liêm Thương (kamakura, 1185-1333). Năm 1191, Thiền tông du nhập Nhật Bản, một tông phái Phật giáo đã chứng tỏ dược sức sống mãnh liệt đến ngày nay. Thiền Nhật Bản cũng có hai hệ phái: Tào Ðộng (j: sōtō) và Lâm Tế (j: rinzai).|Trong thế kỉ thứ 13, Nhật Liên (nichiren) thành lập Nhật Liên tông, chủ trương theo kinh Diệu pháp liên hoa, xem đó là kinh quan trọng duy nhất. Trong các thế kỉ sau đó, đạo Phật không còn phát triển. Ðến thế kỉ 19, quan điểm Thần đạo (j: shintō) trở thành quốc giáo. Sau thế chiến thứ hai, Phật giáo phục hưng, hình thành các phái như Sáng Giá Học Hội (sōka gakkai), Lập Chính Giải Chính (risshō koseikai), Nhật Bản Sơn Diệu Pháp Tự (nipponzan myōhōji). Các tông phái này đều lấy Diệu pháp liên hoa kinh làm căn bản.
phật giáo phạm ngữ
(佛教梵語) Chỉ cho loại tiếng Phạm (Sanskrit) đặc biệt được sử dụng trong kinh điển Phật giáo. Về văn pháp, hình dạng chữ, cách phát âm của loại tiếng Phạm đặc thù này đều khác với tiếng Phạm cổ điển (Classical Sanskrit) do các nhà văn pháp cổ điển như Ba nhĩ ni qui định, xác lập. Vì ý nghĩa, cách sử dụng và ngữ vựng đặc thù của loại tiếng Phạm này không được thấy trong các văn hiến của hệ thống Bà la môn chính thống, cho nên các học giả cận đại đặcbiệt gọi nó là Phật giáo Phạm ngữ (Buddhist Sanskrit). Ông Franklin Edgerton, học giả người Mĩ thời gần đây, thì gọi nó là Phật giáo hỗn hợp Phạm ngữ (Buddhist Hybrid Sanskrit). Ngôn ngữ Ấn độ được sử dụng trong các kinh điển Phật giáo có thể được chia làm 3 loại: 1. Tiếng Phạm tiêu chuẩn: Được sử dụng trong các thi phẩm của bồ tát Mã minh (Phạm: Azvaghowa). 2. Tiếng Ấn độ ở thời kì giữa (Middle Indic): Tiếng Phạm Phệ đà (Vedic Sanskrit) đã bị tục ngữ hóa và phương ngôn hóa, được gọi chung là tiếng Pràkrita hay Pràkrit, đối lại với tiếng Ấn độ ngày nay. Loại tiếng Phạm này bao gồm tiếng Pàli và các ngôn ngữ khác. Tiếng Pàlilà ngôn ngữ quan trọng vẫn còn trong Thánh điển của Phật giáo Nam truyền hiện nay. Miền Tây và miền Trung Ấn độ đều sử dụng tiếng Pràkrita. Pràkrita vốn là phương ngôn của vùng Tây bắc Ấn độ. Thủa xưa, khi nói pháp, đức Phật thường dùng tục ngữ của các địa phương, đến đời sau, các vị đệ tử Phật cũng dùng thứ ngôn ngữ mà Phật đã nói để ghi chép tư tưởng và giáo pháp của Ngài. 3. Tiếng Phạm Phật giáo: Ngôn ngữ được sử dụng trong các văn hiến của Phật giáo phương bắc. Đây là tiếng Phạm căn cứ vào phương ngôn của miền Bắc Ấn độ, rồi xen lẫn tiếng Phạm,Pàli và các phương ngôn khác mà phát triển thành 1 loại ngôn ngữ tông giáo đặc thù của giáo đoàn Phật giáo, chứ không phải loại ngôn ngữ thông thường dùng hàng ngày. Căn cứ vào trình tự của khuynh hướng Phạm ngữ hóa trên đây mà nhận xét, người ta thấy kinh điển Phật giáo ở thời kì đầu phần nhiều sử dụng tục ngữ, về sau, theo sự biến thiên của thời đại mà dần dần Phạm ngữ hóa, cho đến thời kì sau thì ngoài những thuật ngữ đặc biệt ra, còn tất cả đã hoàn toàn trở thành Phạm ngữ cổ điển. Học giả Franklin Edgerton đem những văn hiến Phật giáo hiện còn, dựa theo trình tự Phạm ngữ hóa mà chia những tác phẩm tiếng Phạm làm 3 thời kì như sau: 1. Thời kì thứ nhất: Các tác phẩm sử dụng cả văn vần lẫn văn xuôi, những tác phẩm của thời kì này vẫn còn giữđược sắc thái rất đậm đà của ngôn ngữ Ấn độ thời kì giữa. 2. Thời kì thứ hai: a) Bộ phận văn vần, thành phần ngôn ngữ Ấn độ thời kì giữa tương đối còn nhiều. b) Bộ phận văn xuôi thì nhiều thành phần Phạm ngữ hóa. Trong ngữ vựng, dụng ngữ phổ thông cho đến những thành phần có thể được xem là tiếng Phạm của Phật giáo cũng có rất nhiều. 3. Thời kì thứ ba: Văn vần, văn xuôi; trên cơ bản, đều được viết bằng Phạm ngữ cổ điển, nhưng trong ngữ vựng thì khá nhiều tiếng Phạm Phật giáo.
phật giáo sử thư
(佛教史書) Những sách ghi chép lịch sử của Phật giáo. Dân tộc Ấn độ thời cổ đại vốn không chú trọng về lịch sử, nhưng trong kinh điển Phật giáo có nhiều bộ là những sử thư quí giá. Chẳng hạn như phẩm Vương thụ kí (Phạm: Ràjavyàkaraịa-parivarta) trong Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ nói về các triều đại vua chúa Ấn độ từ thời đức Phật đến khoảng thế kỉ VIII Tây lịch và các bộ Đại sử (Pàli: Mahàvaưsa), Tiểu sử (Pàli: Culla-vaưsa) nói về lịch sử Phật giáo Tích lan...… Ngoài ra, các loại sử thoại thấy rải rác trong các kinh luật điển tịch và các sách chú thích của Phật giáo cũng là những sử thư chứa đựng nhiều tư liệu lịch sử rất quí giá. Ở Trung quốc, khác với Ấn độ, dân tộc Trung quốc rất coi trọng lịch sử, kho tàng sử thư của Phật giáo từ nhiều đời truyền lại rất là đồ sộ. Sửthư cũng có nhiều thể loại, như kỉ truyện, biên niên, kí sự, biệt truyện…... nói về hành trạng của các bậc Cao tăng như các bộ Danh tăng truyện của ngài Bảo xướng, Cao tăng truyện của ngài Tuệ kiểu…... ở đời Lương; Phật tổ thống kỉ của ngài Chí bàn đời Tống...…; hoặc nói về sự tương thừa của tông phái như Cảnh đức truyền đăng lục của ngài Đạo nguyên đời Tống; hoặc nói về sự tín ngưỡng, hoằng truyền 1 bộ kinh như Hoằng tán Pháp hoa truyện của ngài Huệ tường đời Đường; hoặc nói về sự cảm ứng đối với Tam bảo như Tam bảo cảm ứng yếu lược lục của ngài Phi trược đời Tống...…Ngoài ra còn nhiều tác phẩm sử thư khác liên quan đến sự truyền bá cũng như thịnh suy của Phật giáo Trung quốc suốt 2 nghìn năm lịch sử, không thể ghi hết ở đây. Tại Nhật bản cũng có nhiều sử thư Phật giáo quan trọng. Về thể loại kỉ truyện thì có Bản triều cao tăng truyện của ngài Sư man, Nguyên hanh thích thư của ngài Sư luyện, Giám chân quáhải đại sư đông chinh truyện của ngài Nguyên khai; Không hải tăng đô truyện của ngài Chân tế…...Truyện linh nghiệm thì có Đại nhật bản quốc Pháp hoa nghiệm kí của ngài Trấn nguyên.
phật giáo thi ca
(佛教詩歌) Thơ ca trong Phật giáo. Trong Phật giáo, thơ được gọi là Già đà (Phạm: Gàthà, Hán dịch: Kệ tụng), do cách sắp xếp và âm vận dài, ngắn khác nhau nên thơ có nhiều loại. Nói một cách khái quát thì thơ căn cứ vào vận luận mà hình thành. Hình thức thi ca xưa nhất trong Phật giáo là kinh Pháp cú (Pàli: Dhammapada) và Kinh tập (Pàli: Suttanipàta). Thông thường, thơ được chia làm 2 loại: Tức vật và Tức hứng. Trong thơ hoặc có hàm ý dạy răn, khuyên bảo người đời, hoặc diễn tả trạng thái nội tâm. Những bài thơ do các vị trưởng lão tăng sáng tác được xếp vào Trưởng lão kệ (Pàli: Theragàthà), trong đó có rất nhiều bài thơ đẹp, miêu tả tâm nguyện cầu đạo, quá trình tu đạo, cảnh vật tự nhiên và tâm cảnh nội tại giao cảm. Phong cách trong thi ca Phật giáo Đại thừa rất thanh nhã và trình độ tự sự cũng rất cao, như trong thơ của ngài Mã minh, 1 thi nhân lớn của Phật giáo Đại thừa. Tại Trung quốc, đặc sắc thi ca Phật giáo phần nhiều ở chỗ miêu tả tâm cảnh khai ngộ của các Thiền sư, ý thơ rất cao siêu, huyền diệu, thanh thoát, lâng lâng, sâu xa thăm thẳm, người thường không thể cảm thưởng được. Mà loại thơ này cũng rất nhiều, chỉ kể trong 2 tập Bích nham lục và Thung dung lục thôi cũng có hàng nghìn bài rồi. Hãy đọc bài thơ của Thiền sư Tuyết đậu Trùng hiển phụ thêm trong công án Bàn sơn tam giới vô pháp trong Bích nham lục như sau (Đại 84, 175 trung): Tam giới vô pháp Hà xứ cầu tâm? Bạch vân vi cái Lưu tuyền tác cầm Nhất khúc lưỡng khúc vô nhân hội Vũ quá dạđường thu thủy thâm. (Ba cõi không một pháp Tìm tâm ở nơi đâu? Mây trắng kia tàn lọng Suối reo này tiếng đàn Một vài khúc nhạc nào ai hiểu? Đêm thu mưa lạnh nước ao sâu). (xt. Phật Giáo Văn Học).
phật giáo thánh điển hiệp hội
(佛教聖典協會) Buddhist Text Society. Cơ quan chuyên nghiên cứu và xuất bản các kinh điển Phật giáo Đại thừa bằng tiếng Phạm và các trứ tác có liên hệ do học giả Sarat Chandra Das – người Ấn độ – sáng lập vào 1893 tại Calcutta, Ấnđộ. Kể từ năm 1894, Hiệp hội này đã liên tiếp xuất bản các nguyên điển tiếng Phạm như: Màdhyamikàvftti (tương đương với Trung luận tụng do ngài Cưu ma la thập dịch, có phụ thêm bản chú thích bằng tiếng Phạm của Luận sư Nguyệt xứng), Samàdhiràja (tương đương với kinh Nguyệt đăng tam muội bản Hán dịch)…... Đối với phong trào nghiên cứu Đông phương học nói chung và nguyên điển Phật giáo nói riêng, ở thế kỉ XIX, sự cống hiến của hiệp Hội này đã có 1 ảnh hưởng rất lớn lao.
Phật giáo Trung Quốc
中國佛教|Theo truyền thuyết thì đạo Phật vào Trung Quốc khoảng thế kỉ thứ 2 sau Công nguyên. Mới đầu nhiều người nghĩ rằng, đạo Phật là một tông phái của đạo Lão (Lão Tử). Sự hiểu lầm này bắt nguồn từ quan điểm chung của hai tôn giáo này; cả hai đều hướng đến giải thoát. Có người cho rằng, mới đầu người Trung Quốc không hiểu đạo Phật vì ngôn ngữ chữ Hán thời đó không tiếp cận được với các khái niệm hoàn toàn trừu tượng của Phật giáo và khi dịch kinh sách Phật giáo, người ta đành dùng ngôn đạo Lão. Vì vậy về sau, khi đạo Phật đã phổ biến, công các dịch giả rất lớn và tên tuổi của họ còn lưu truyền đến ngày nay. Khoảng thế kỉ thứ 3, các nhà dịch kinh bắt đầu dịch từ Phạn ngữ (sanskrit) ra tiếng Hán, mà những đại diện kiệt xuất là An Thế Cao (安世高), người chuyên dịch các kinh Tiểu thừa, và Chi Khiêm (支謙), người chuyên dịch các tác phẩm Ðại thừa.|Năm 355, Tăng-già được thành lập. Kể từ thế kỉ thứ 4, nhiều trường phái Bát-nhã Ba-la-mật-đa ra đời với Cao tăng Chi Ðộn (支遁; Chi Ðạo Lâm) là nhân vật quan trọng nhất. Năm 399, Pháp Hiển đi Ấn Ðộ và sau đó một số Cao tăng khác như Huyền Trang cũng lên đường đi Ấn Ðộ. Trong thế kỉ thứ 5, thứ 6, Phật giáo phát triển mạnh mẽ và được sự ủng hộ của triều đình. Nhờ vậy trong thời gian này, nhiều chùa chiền được xây cất, nhiều tác phẩm ra đời. Vào năm 466 và 574-577 có hai lần Phật giáo bị bức hại nhưng vẫn phát triển mạnh. Trong thời kì này, hai vị có công lớn nhất trong việc dịch kinh điển là Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumāra-jīva) và Chân Ðế (真諦; s: paramārtha). Với trình độ văn chương rất cao, hai vị này đã làm cho hầu hết các kinh Tiểu thừa và Ðại thừa đều có mặt tại Trung Quốc. Ðóng vai trò quan trọng trong Phật giáo Trung Quốc là các kinh Nhập Lăng-già (入楞伽經; s: laṅ-kāvatārasūtra), Ðại bát-niết-bàn (大般涅槃經; s: mahāparinirvāṇa-sūtra) và Thành thật luận (成實論; s: satyasiddhi). Từ đó, các tông phái như Tam luận tông (三論宗), Thành thật tông (成實宗) và Niết-bàn tông (涅槃宗) ra đời.|Giữa thế kỉ thứ 6 và thứ 10, Phật giáo Trung Quốc phát triển rực rỡ. Các tông Hoa nghiêm (華嚴), Thiên Thai (天台), Thiền (禪), Tịnh độ (淨土), Pháp tướng (法相) ra đời, trong đó người ta nhắc nhở đến các vị Cao tăng như Huyền Trang Tam Tạng (玄奘), Trí Khải (智顗), Ðế Tâm Ðỗ Thuận (帝心杜順). Với sự hiện diện của Huệ Năng (慧能) và các môn đệ kế thừa, Thiền tông phất lên như một ngọn lửa sáng rực đời Ðường.|Với thời gian, giáo hội Phật giáo – nhờ không bị đánh thuế – trở thành một tiềm lực kinh tế và có những điểm mâu thuẫn với triều đình. Nhiều nông dân cúng dường đất cho nhà chùa rồi thuê lại đất đó để trốn thuế. Năm 845, Phật giáo bị bức hại, giáo hội bị triệt hạ, tăng ni bị buộc phải hoàn tục. Từ thời điểm đó, Phật giáo Trung Quốc không bao giờ trở lại được thời đại huy hoàng như trước, nhưng vẫn để lại những dấu ấn quan trọng trong nền văn hoá nước này.|Trong đời nhà Tống (thế kỉ 10-13), Phật giáo hoà nhập với Khổng giáo và Lão giáo thành một nền văn hoá, trong các tông phái chỉ còn Thiền và Tịnh độ là quan trọng. Dưới thời nhà Minh (thế kỉ 14-17), có một khuynh hướng hợp nhất giữa Thiền và Tịnh độ (禪淨合一; Thiền Tịnh hợp nhất) và gây được ảnh hưởng đáng kể (Vân Thê Châu Hoằng).|Giữa thế kỉ thứ 17 và 20, Phật giáo Tây Tạng bắt đầu gây ảnh hưởng tại Trung Quốc. Qua thế kỉ 20, Phật giáo Trung Quốc lại bị bức hại, nhất là trong thời kì cách mạng văn hoá (1966-1976).
phật giáo trung quốc
Buddhism in China Phật giáo vào Trung quốc qua ngõ Ấn độ vào năm 67 sau Công nguyên, do hai tỳ kheo người Ấn tên Kasyapa Matango và Dharmaraksha. Tu viện Bạch mã ngày xưa được dựng lên để hai ngài tá túc hiện nay cũng vẫn còn tồn tại. Phật giáo Trung quốc sau đó phát triển mạnh thành nhiều trường phái khác nhau nhưng mạnh nhất là hai trường phái Thiền tông (Ch'an hay Zen, Jap) và Tịnh độ.
Phật giáo Tây Tạng
西藏佛教; cũng được nhiều nơi gọi là Lạt-ma giáo (e: lamaism);|Một hệ phái Phật giáo quan trọng thuộc Ðại thừa, được truyền bá nhiều nơi gần Hi-mã-lạp sơn, không chỉ ở Tây Tạng. Ðặc trưng của Phật giáo Tây Tạng là sự trộn lẫn của các giới luật của Nhất thiết hữu bộ và các phép tu của Kim cương thừa. Phật giáo Tây Tạng được xem là thành hình trong thế kỉ thứ 8 dưới triều vua Tri-song Ðet-sen (t: tri-song detsen, 755-597), do hai Cao tăng Ấn Ðộ là Tịch Hộ (s: śāntarakṣita) và Liên Hoa Sinh (padmasambhava) truyền sang. Ðợt đầu của việc truyền bá đạo Phật qua Tây Tạng chấm dứt trong thế kỉ thứ 9. Trường phái Ninh-mã (t: nyingmapa) được thành lập từ thời gian đó. Sau một thời gian bị bức hại, Phật giáo lại phục hưng trong thế kỉ 11, phát sinh hai trường phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) và Tát-ca (t: sakyapa) và đó là thời gian mà rất nhiều kinh sách được dịch ra tiếng Tây Tạng. Kể từ thế kỉ 14, phái Cách-lỗ (t: ge-lugpa) thịnh hành, được xem là một trong bốn trường phái lớn của Phật giáo Tây Tạng. Ngày nay, trên thế giới, Phật giáo Tây Tạng được coi trọng, nhiều Lạt-ma Tây tạng đang giáo hoá tại các nước phương Tây.|Trước khi Phật giáo du nhập vào Tây Tạng thì đạo Bôn được xem là quốc giáo. Khoảng dưới thời vua Tùng-tán Cương-bố (t: songten gampo; 620-649) thì hoàng gia bắt đầu quay qua Phật giáo. Năm thế hệ sau vị vua này thì Phật giáo được tuyên bố chính thức là quốc giáo và với sự xây dựng tu viện Tang-duyên (samye, 775), các tăng sĩ Tây Tạng bắt đầu thành lập Tăng-già.|Mới đầu Phật giáo Tây Tạng cũng có tiếp xúc, tranh luận với Thiền tông Trung Quốc, nhưng sau đó, người ta theo hẳn giáo lí của Trung quán tông (s: mādhyamika; t: dbu ma pa). Khoảng dưới thời vua Lãng-đạt-ma (langdarma, 838-842), Bôn giáo lại được phục hồi, Phật giáo bị bức hại. Trong thời gian đó, chỉ có phái »áo trắng«, là các vị cư sĩ tại gia, được bảo tồn. Ngày nay phái này còn lưu truyền với phái Ninh-mã (nying-mapa).|Với A-đề-sa, đạo Phật lại được truyền bá lần thứ hai sang Tây Tạng. Từ đây, người ta lại quan tâm đến các trường phái, nhất là các phái truyền tâm từ thầy qua trò, và từ đó sinh ra các tu viện lớn của tông Tát-ca (1073), lôi kéo được »dịch giả« Mã-nhĩ-ba (marpa) – người sáng lập tông Ca-nhĩ-cư (kagyupa) – sang Ấn Ðộ thu thập kinh sách. Trong Phật giáo Tây Tạng và các tông phái tại đây, các vị đại sư được gọi là Lạt-ma, đóng một vai trò rất quan trọng. Một trong các vị quan trọng nhất là Tông-khách-ba (t: tsong-kha-pa), »Nhà cải cách«, là người thiết lập và tổ chức lại toàn bộ các tông phái. Sư cũng là người xây dựng tu viện Gan-den (1409) và thành lập tông Cách-lỗ (t: gelugpa).|Các tông phái và giáo lí khác như Ðoạn giáo (chod), tuy có một hệ thống kinh sách mạch lạc, nhưng lại không xây dựng tu viện nên cuối cùng hoà vào các dòng khác. Các dòng tu quan trọng của Tây Tạng thường hay có một hệ thống các tu viện, đồng thời cũng bắt nguồn từ các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha). Về mặt lí thuyết, ngoài A-tì-đạt-ma, Phật giáo Tây Tạng còn dựa vào các giáo pháp Ðại thừa của Long Thụ (s: nāgārjuna) và Vô Trước (s: asaṅga), xem đó là hai lí thuyết căn bản mà đặc biệt là triết lí Trung quán cụ duyên (mādhyamika-prāsaṅ-gika) được xem trọng hơn hết. Ngoài ra Nhân minh học (s: hetuvidyā; có thể gọi là logic, luận lí học) cũng được đưa vào để luận giải các vấn đề có tính giáo khoa. Ðặc biệt, các phép tu Tan-tra hay được dùng để biến các kiến thức lí thuyết thành kinh nghiệm bản thân.|Năm chủ đề (s: pañcavacanagrantha) quan trọng phải được học hỏi, nghiên cứu trong một thiền viện tại Tây Tạng trước khi đạt được danh hiệu Ge-she (tương ưng với Hoà thượng tại Ðông, Ðông nam á, có thể so sánh với bằng cấp Tiến sĩ của Tây phương): 1. Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: pra-jñāpāramitā); 2. Trung quán (mādhyamika); 3. Nhân minh hoặc Lượng học (pramāṇavāda); 4. A-tì-đạt-ma (abhidharma); 5. Luật (Tì-nại-da; vina-ya).
phật giáo từ điển
(佛教辭典) Kinh Phật nghĩa lí sâu xa vi diệu, cho nên biên soạn từ điển để giải thích những thuật ngữ Phật giáo và văn hóa Phật giáo là việc làm cần thiết. Có thể nói, những việc đầu tiên phải làm để biên soạn thành bộ từ điển Phật giáo là: 1. Sắp xếp các danh tướng, phân loại các môn, như kinh Chúng tập trong Trường a hàm quyển 8, kinh Thập thượng trong Trường a hàm quyển 9, kinh Pháp tập danh số, Đại minh tam tạng pháp số, Giáo thừa pháp số…... 2. Ghi chép sự tương quan giữa các kinh luận, như Kinh luật dị tướng của ngài Bảo xướng đời Lương, Pháp uyển châu lâm của ngài Đạo thế đời Đường…... 3. Tổ chức và giải thích từng hạng mục, như Pháp môn danh nghĩa tập của Lí sư chính đời Đường, Nam hải kí qui nội pháp truyện của ngài Nghĩa tịnh đời Đường, Đại Tống tăng sử lược của ngài Tán ninh đời Tống…... 4. Lấy ngôn ngữ làm trung tâm, như Nhất thiết kinh âm nghĩa, Phiên Phạm ngữ của ngài Bảo xướng đời Lương, Phạm ngữ tạp danh của ngài Lễ ngôn đời Đường, Phiên dịch danh nghĩa đại tập (Phạm: Mahàvyutpatti) là dịch phẩm do đối chiếu giữa bản Phạm và bản Tây tạng; Phiên dịch danh nghĩa tập có thêm phần chú giải tiếng Phạm của ngài Pháp vân đời Tống, Chỉ quất dịch thổ tập của ngài Tuệ hoảng người Nhật bản…... 5. Giải thích rõ những danh từ khó hiểu, khó đọc trong Đại tạng kinh hay trong 1 bộ kinh nào đó, như Nhất thiết kinh âm nghĩa của ngài Huyền ứng và Nhất thiết kinh âm nghĩa của ngài Tuệ lâm đời Đường, Khổng tước kinh âm nghĩa của ngài Quán tĩnh người Nhật. Từ đầu thế kỉ XX trở đi, các bộ từ điển Phật giáo hiện đại được biên soạn công phu và tăng thêm với thời gian, như: -Trung quốc có: Phật Học Tiểu Từ Điển (Đinh phúc bảo, 1919); Phật Học Đại Từ Điển (Đinh phúc bảo, 1921); Thực Dụng Phật Học Từ Điển (các ông Cao quán lư, Hà tử bồi chủ biên, Thượng hải Phật học thư cục xuất bản, 1934); Pháp Tướng Từ Điển (do ông Chu phất hoàng biên soạn, 1937); Trung Quốc Phật Giáo Nhân Danh Đại Từ Điển (Chấn hoa biên soạn, 1942); Trung Quốc Phật Học Nhân Danh Từ Điển (Minh phục biên soạn, 1974); Đại Tạng Hội Duyệt (Hội tính biên soạn, 1978); Trung Quốc Thiền Học (Du mai ẩn biên soạn, 1984); Phật Học Từ Điển (có 1 tập, do Tả tú linh biên soạn, 1984). - Nhật bản có: Phật Giáo Từ Lâm (Đẳng tỉnh Tuyên chính biên soạn, 1912); Phật Giáo Đại Từ Điển (Chức điền Đắc năng biên soạn, 1917); Mô Phạm Phật Giáo Từ Điển (Thư viện Đông phương biên soạn, 1932); Phật Giáo Đại Từ Vựng (Đại học Long cốc biên soạn, 1935); Phật Giáo Đại Từ Điển (Vọng nguyệt Tín hanh biên soạn, 1936); Phật Giáo Từ Điển (Vũ tỉnh Bá thọ biên soạn, 1938); Phật Giáo Học Từ Điển (Đa ốc Lại tuấn, Hoành siêu Tuệ nhật và Chu kiều Nhất tai cùng biên soạn, 1955); Tân Phật Giáo Từ Điển (Trung thôn nguyên biên soạn, 1962); Phật Giáo Ngữ Đại Từ Điển (Trung thôn nguyên, 1975); Tông Hợp Phật Giáo Từ Điển (Pháp tạng ấn hành, 1987).
Phật giáo Việt Nam
越南佛教|Lịch sử Phật giáo tại Việt Nam được trình bày khá rõ trong Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang. Theo tác phẩm này, trong thế kỉ thứ nhất, thứ hai sau Công nguyên, ngoài hai trung tâm Phật giáo tại Trung Quốc là Lạc Dương và Bành Thành, một trung tâm thứ ba xuất hiện tại Luy Lâu, thuộc xứ Giao Chỉ, ngày nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Có người cho rằng, Luy Lâu hình thành trong đầu thế kỉ thứ nhất, sớm hơn cả Lạc Dương và Bành Thành, làm bàn đạp cho sự thành lập hai nơi đó. Ðiều chắc chắn là trung tâm Luy Lâu được hình thành do các tăng sĩ Ấn Ðộ trực tiếp mang lại, chứ không phải từ Trung Quốc truyền xuống. Tập luận thuyết đầu tiên về đạo Phật được Mâu Tử (sinh khoảng năm 165) viết tại Giao Châu. Khang Tăng Hội (康僧會; cuối thế kỉ thứ hai) được xem là tăng sĩ đầu tiên của Việt Nam. Qua thế kỉ thứ ba thì tại Giao Châu đã có khoảng năm trăm vị tăng sĩ và lưu hành ít nhất 15 bộ kinh, trong đó bộ Tứ thập nhị chương (四十二章經; s: dvācat-vāriṃśat-khanda-sūtra) là kinh chủ yếu dành cho người xuất gia. Sau đó Thiền tông vào Việt Nam rất sớm, Khang Tăng Hội được xem là Khai tổ của Thiền học Việt Nam. Sư là tác giả của tập Nê-hoàn phạm bối (泥洹梵唄), một tập thi ca về Niết-bàn dịch từ văn hệ Pā-li. Sư cũng viết tựa cho tập kinh An-ban thủ ý (安般守意; p: ānāpānasati), soạn bộ Lục độ tập kinh (六度集經) và dịch một kinh bản của kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa. Như thế, trong đầu thế kỉ thứ ba, Phật giáo Việt Nam đã là Phật giáo Ðại thừa.|Khoảng thế kỉ thứ năm, người ta nhắc đến hai vị Thiền sư ở Giao Châu là Pháp Thiên (法天; s: dharmadeva) và Huệ Thắng (慧勝), theo thiền pháp Ðại thừa. Người ta biết rằng Sơ tổ Thiền tông Trung Quốc là Bồ-đề Ðạt-ma đến nước này năm 520, nhưng có truyền thuyết cho rằng, Ngài có thể đã cùng Pháp Thiên đến Giao Châu cuối đời nhà Tống (khoảng năm 470).|Cuối thế kỉ thứ sáu, Thiền sư Tì-ni-đa Lưu-chi (毘尼多流支; s: vinītaruci; cũng gọi là Diệt Hỉ) – học trò của vị Tổ thứ ba của Thiền Trung Quốc là Tăng Xán (僧璨) – đến Giao Châu khai sáng dòng thiền cùng tên. Sau đó còn có phái thiền Vô Ngôn Thông (無言通) và Thảo Ðường cũng xuất phát từ Trung Quốc lưu hành tại Việt Nam. Phái Thiền của Tì-ni-đa Lưu-chi truyền được 19 đời (đến năm 1213), bắt đầu bằng kinh Tượng đầu tinh xá (象頭精舍經), một bộ kinh thuộc hệ thống Bát-nhã, tạo sự lớn mạnh của Phật giáo Ðại thừa và cả Mật tông tại Việt Nam. Phái Thiền Vô Ngôn Thông truyền được bốn thế kỉ, sử dụng chủ yếu các kinh Viên giác (圓覺), Pháp hoa (法華), chủ trương »Ðốn ngộ« (頓悟) và »Vô sở đắc« (無所得), rất gần với Thiền phương nam của Trung Quốc. Phái thiền Thảo Ðường (草堂) bắt đầu từ cuối thế kỉ thứ mười một, do Thiền sư Thảo Ðường sáng lập, vốn là một tù nhân của vua Lí Thánh Tông bị bắt năm 1096. Sách Thiền uyển tập anh (禪苑集英) cho rằng Thảo Ðường là môn đệ của Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển (雪竇重顯), là phái chủ trương dung hợp giữa Phật và Nho giáo tại Trung Quốc. Phái Thảo Ðường truyền được sáu thế hệ trong đó có những người nổi tiếng như Không Lộ (空露) và Giác Hải (覺海; hai vị cũng được xếp vào thiền phái Vô Ngôn Thông).|Khoảng thế kỉ thứ mười, Việt Nam giành được quyền độc lập và Phật giáo bắt đầu có ảnh hưởng trong giới vua quan. Năm 971 Ðinh Tiên Hoàng ban chức »Tăng thống« đầu tiên cho Thiền sư Khuông Việt (匡越; Ngô Chân Lưu; 吳真流). Vua Lê Ðại Hành mời Thiền sư Pháp Thuận (法順) và Vạn Hạnh (萬行) làm cố vấn chính trị. Về sau Vạn Hạnh phò Lí Công Uẩn (李公蘊) lên ngôi (1010), nhà vua cho dựng nhiều chùa chiền, sùng bái đạo Phật. Năm 1036, Lí Thái Tông (李太宗) lên ngôi, cũng là một nhà vua quý trọng đạo Phật. Năm 1049, chùa Một Cột (延祐; Diên Hựu) được xây dựng. Các nhà vua đời Lí về sau đều tôn sùng đạo Phật và lấy đạo từ bi làm phương pháp trị nước. Trong thời gian này, Phật giáo Ðại thừa với các bộ kinh như Kim cương, Dược sư, Pháp hoa, Viên giác… được truyền tụng. |Ðầu thế kỉ thứ 13, nhà Trần lên ngôi, đồng thời ba thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Ðường dần dần nhập lại một. Ðây là thời kì phát triển rực rỡ nhất của Phật giáo Việt Nam. Các nhà vua đời Trần cũng đều là những Thiền sư uyên bác, mà một trong những người xuất sắc nhất phải kể đến là vua Trần Thái Tông (陳太宗; 1218-1277). Thiền phái duy nhất Việt Nam thời này, được xem là sự tổng hợp của ba thiền phái kia là thiền Yên Tử hay Trúc Lâm. Trần Thái Tông đã để lại một loạt tác phẩm thiền học rất quan trọng. Một nhân vật quan trọng của Phật giáo đời Trần là Huệ Trung Thượng sĩ (慧忠上士), tức là Trần Quốc Tung, anh cả của Trần Hưng Ðạo, anh vợ của Trần Thánh Tông. Sau Thái Tông là Trần Nhân Tông (陳仁宗), cũng là một ông vua xuất gia, trở thành tổ thứ sáu của trường phái Yên Tử và Ðệ nhất tổ của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Trong thời nhà Trần, các bộ kinh Kim cương, Pháp hoa, Bát-nhã, Nhập Lăng-già và Hoa nghiêm được lưu truyền rất rộng rãi. Hai nhà sư đóng góp lớn nhất vào việc học Phật thời đó là Pháp Loa (法螺) và Huyền Quang (玄光).|Ðến cuối thế kỉ 14, Phật giáo bắt đầu suy đồi, nhà Trần đã nằm trong tay Hồ Quý Li. Trong đời nhà Lê, vua quan coi trọng Nho giáo với kết quả là năm 1464, Lê Thánh Tông cấm xây dựng chùa mới.|Khoảng giữa thế kỉ 17, lúc Nam Bắc phân tranh, Phật giáo lại phục hưng, trong đó Thiền sư Chân Nguyên và Hương Hải hoạt động ở Ðàng ngoài. Ở Ðàng trong, chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613) là người tôn trọng đạo Phật, cho xây chùa Thiên Mụ năm 1601. Tại đây, môn phái của Thiền sư Liễu Quán (了觀) có công phục hưng Phật giáo. Ðầu thế kỉ thứ 19, Gia Long thắng Tây Sơn, chấm dứt những năm chinh chiến, trong đó đạo Phật cũng bị thương tổn. Các vua triều Nguyễn như Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Ðức cũng có để tâm phục hưng lại đạo Phật. Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, tuy có lúc thịnh lúc suy, nhưng nói chung Phật giáo chưa bao giờ mất ảnh hưởng trong dân tộc Việt Nam.
phật giáo văn học
(佛教文學) Văn học của Phật giáo. Chỉ cho những bộ kinh điển của Phật giáo mang sắc thái văn học. Chẳng hạn những bộ kinh như: Pháp cú, Thí dụ, Bản sinh, Duy ma, Pháp hoa, Hoa nghiêm...… là những Thánh điển đậm đà sắc thái văn học. Vào thế kỉ II, Phật sở hành tán (Phạm: Buddha-carita) của ngài Mã minh (Phạm:Azvaghowa), có thể nói, là tác phẩm văn học cổ điển đầu tiên ở Ấn độ. Kế đến, lấy các ngài Xá lợi phất và Mục kiền liên làm chủ đề mà soạn thành vở kịch Xá lợi phất chi sở thuyết (Phạm: Zàriputra-prakaraịa) và lấy sự tích ngài Nan đà – người em cùng cha khác mẹ của Phật– làm đề tài mà soạn thành 1 thiên ca mĩ lệ: Tôn đà lợi Nan đà (Phạm: Saundarananda-kàvya)…... Đây là những kiệt tác về văn học tiếng Phạm của ngài Mã minh. Ngoài ra, vào thế kỉ VII, vua Giới nhật (Phạm: Zìlàditya) đã soạn vở kịch Phật giáo nhan đề: Long vương chi hỉ (Phạm: Nàgànanda) cũng là 1 tác phẩm văn học giá trị ở đương thời. Về văn họcPàli thì vào thế kỉ V có tác phẩm Pháp cú kinh chú và Bản sinh kinh của ngài Phật âm. Còn về các kinh điển Hán dịch thì như các bản dịch của ngài Cưu ma la thập, văn bút rất thanh nhã, lưu loát, có thể gọi là những kiệt tác của nền văn học phiên dịch. Cũng có rất nhiều các vị tăng nổi tiếng về văn học như: Ngài Pháp chu đời Tùy, các ngài Tuệ tịnh, Kiểu nhiên đời Đường, các ngài Tề kỉ, Quán hưu, Hi giác đời Ngũ đại, ngài Tư duyệt đời Bắc Tống, các ngài Đàm ngạc, Đại khuê đời Nguyên, ngài Đức ngôn đời Minh, các ngài Trí phúc, Thánh tông, Chiếu thường, Độc triệt đời Thanh…...
phật giáo văn khố
(佛教文庫) Cũng gọi Phật giáo tùng thư. Nguyên tác của bộ sách này có tên là Bibliotheca Buddhica, được ấn hành ở nước Nga vào cuối thế kỉ XIX đến nửa trước của thế kỉ XX. Bộ Phật giáo tùng thư này là sự nghiệp phụ thuộc viện học sĩ ở St. Petersburg, chuyên nghiên cứu, hiệu đính và phiên dịch các nguyên điển của Phật giáo, đã tiếp tục xuất bản được nhiều tập trong thời gian còn hoạt động. [X. A Union List of Printed India Text and Translations in American Libraries, American Oriental Series vol.7, 1935].
phật giáo vũ đạo
(佛教舞蹈) Nghệ thuật nhảy múa trong Phật giáo. Ấn độ từ nghìn xưa đã thấy có ghi chép về nghệ thuật nhảy múa, như được tường thuật trong Lê câu phệ đà. Nay trong văn học Phật truyện cũng thấy miêu tả vũ đạo trong cung đình, như vậy đủ biết ở thời đại đức Phật vũ đạo đã được phổ biến. Nhưng, trong Phật giáo, tăng chúng bị cấm chỉ không được xem nghe ca vũ nhạc kịch, qui định này đã thấy trong mười giới Sa di; song tín đồ Phật giáo tại gia thì không bị chi phối bởi qui định này. Qua các tác phẩm kịchnghệ như Xá lợi phất chi sở thuyết (Phạm: Zàriputraprakaraịa –Những điều ngài Xá lợi phất nói) của bồ tát Mã minh, Long vương chi hỉ (Phạm: Nàgànanda –Niềm vui mừng của rồng chúa) của vua Giới nhật, hoặc theo sự miêu tả trong các tác phẩm văn học truyện Bản sinh (Phạm: Jàtaka), cho đến các di tích điêu khắc ở Sơn kì (Phạm: Sànchi), các bức bích họa trong chùa hang A chiên đa (Phạm: Ajantà)…... người ta có thể hiểu rõ tình hình vũ đạo của tín đồ Phật giáo tại gia. Tuy nhiên, nghệ thuật Vũ đạo ở Ấn độ cổ đại lấy các đền thờ của Ấn độ giáo (Bà la môn giáo) làm trung tâm phát triển, chứ không có vũ đạo đặc biệt của Phật giáo.Văn hiến xưa nhất liên quan đến vũ đạo là luận Bà ra đa (Phạm: Bhàratìya Nàỉyazàtra–khoảng thế kỉ III, IV), nội dung nói về nguồn gốc và sự phát triển của nghệ thuật vũ đạo truyền thống Ấn độ. Vũ đạo được kết hợp với tông giáo bắt đầu từ việc tế lễ thần Thấp bà (Phạm:Ziva). Đến nay, các nước như Miến điện, Thái lan, Indonesia...… cũng kế thừa truyền thống vũ đạo này, nhưng vẫn chưa phát triển thành vũ đạo Phật giáo. Ở Tây tạng, vũ đạo khởi đầu vào khoảng thế kỉ IX, từ đó, Lạt ma giáo chuyên dùng vũ đạo trong việc cúng tế, thông thường gọi là Khiêu quỉ (nhảy múa xua đuổi quỉ ma). Có các chủng loại như: Cúng dường vũ, Địa trấn vũ, Phất ác quỉ vũ…... Về sau, vũ đạo trở thành 1 trong những nghi thức đặc thù của Lạt ma giáo. Tại Hàn quốc, vào thời đại nhà Lí (1392-1897), Phạm bái rất thịnh hành, điệu Tăng vũ của vũ đạo Phật giáo cũng theo đó mà phát triển mạnh. Tăng vũ khởi nguồn rất sớm, ít nhất cũng đã tồn tại từ thời đại Cao li (936-1391). Đến thời đại nhà Lí, vũ đạo Phật giáo rất được chú trọng. Tức vào thời Lí thế tổ năm thứ 5 (1460), vũ điệu Liên hoa đài và nhạc khúc Linh thượng hội thượng được sáng chế cùng lúc. Khi trình diễn, trước hết, bài trí núi Hương sơn, ao hồ, chung quanh vẽ hoa nhiều màu, treo lồng đèn, 2 bên đông, tây vũ đài đều bày hoa sen, sau đó, các vũ công bắt đầu nhảy múa, đồng thời, ngâm xướng Phật kệ như Nam mô A di đà Phật hoặc Quan âm tán để hòa theo nhạc khúc và vũ điệu. Tại Nhật bản, vũ đạo được truyền vào từ các nước Ấn độ, Tây vực, Trung quốc, Hàn quốc...… thường được dùng trong các nghi thức Phật giáo như cúng dường, lễ hội…... sau phát triển thành vũ đạo đặc biệt của Phật giáo, được triều đình tán trợ, nhờ đó vũ đạo Phật giáo hưng thịnh qua nhiều thời đại. Ngoài ra, chư tăng Nhật bản cũng phát triển 1 điệu múa đặc thù để giáo hóa dân chúng, gọi là Bố giáo vũ đạo(điệu múa truyền giáo). Nghĩa là vừa niệm Phật, vừa ngâm vịnh, xướng họa, lại đánh chuông trống để hòa theo nhịp bước nhảy múa. Loại Bố giáo vũ đạo này được gọi chung là Niệm Phật dũng, Niệm Phật dược, Dũng niệm Phật, Dũng dược niệm Phật, Hoan hỉ niệm Phật...… Như Không dã niệm Phật (cũng gọi Bát khấu niệm Phật) do ngài Nhất không dã thuộc tông Thiên thai sáng chế; Dũng niệm Phật do ngài Nhất biến –Tổ khai sáng Thời tông– thành lập, Đề mục dũng, Đại nhật dũng, Vu lan bồn dũng…... đều là các điệu múa của Phật giáo Nhật bản kết hợp với nghệ thuật múa địa phương mà phát triển thành vũ đạo dân gian, và cũng là 1 trong những sắc thái rất đặc thù của nền văn hóa Nhật bản ngày nay.
phật giới
Xem Phật độ.
; The moral commandements of the Buddha; the laws of reality observed by all Buddhas; Buddhist rules.
; (佛界) I. Phật Giới. Chỉ cho cảnh giới của chư Phật, là 1 trong 10 giới. Đối lại: Chúng sinh giới, Ma giới. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 48, 66 trung) nói: Vì chúng sinh không biết nên mê mất Phật giới mà chấp trước ma giới, ở trong bồ đề mà sinh khởi phiền não. (xt. Thập Giới). II. Phật Giới. Chỉ cho cõi nước của Phật. Kinh Quang tán quyển 10 (Đại 8, 212 thượng) nói: Không nên trụ vào đông, tây, nam, bắc, 4 duy, trên, dưới và 1 cõi Phật nào, cũng không nên trụ vào 1 Phật giới trong 10 phương.
; (佛戒) I. Phật Giới. Cũng gọi Phật tính giới, Phật thừa giới, Nhất tâm giới, Kim cương bảo giới, Bồ tát giới.Giới để khai phát tính Phật sẵn có của chúng sinh, khiến chúng sinh tu hành đạt đến quả vị Phật. Giới này là tên gọi chung của các giới Đại thừa. Bởi vì tất cả ý, thức, sắc, tâm đều được nhiếp vào trong giới Phật tính này, cho nên khi chúng sinh thụ trì Phật giới tức là đã ở vào địa vị của chư Phật rồi vậy. [X. kinh Phạm võng Q.hạ]. II. Phật Giới. Chỉ cho tịnh giới 1 thực tướng trong đó chư Phật an trụ. Chư Phật xa lìa tất cả tướng mà an trụ nơi giới, giới ấy chính là Phật giới. [X. Đại nhật kinh sớ Q.17]. III. Phật Giới. Cũng gọi Phật tính tam muội da giới. Đặc biệt chỉ cho giới Tam muội da trong Mật giáo. [X. Đại nhật kinh sớ Q.17]. (xt. Tam Muội Da Giới). IV. Phật Giới. Chỉ chung các giới pháp do đức Phật nói.
phật gô-ta-ma
Buddha Gautama (S).
phật hiền thiện thủ
Buddha of Worthy and Excellent Leader Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật hiện
(佛現) Tên 1 loài chim ở núi Nga mi bên Trung quốc. [X. Nguyệt linh quảng nghĩa].
Phật hiệu
(佛號): có hai nghĩa. (1) Danh hiệu đức Phật, như Thế Tôn (世尊), Như Lai (如來), Cù Đàm (瞿曇), v.v. Như trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2076) quyển 2, phần Đệ Thập Bát Tổ Già Da Xá Đa (第十八祖伽耶舍多), có đoạn: “Bỉ văn Phật hiệu, tâm thần tủng nhiên, tức thời bế hộ (彼聞佛號、心神竦然、卽時閉戶, kia nghe hiệu Phật, tâm thần kính sợ, tức thời đóng cửa).” (2) Đặc biệt chỉ cho các hành giả Tịnh Độ Tông thường xuyên niệm danh hiệu A Di Đà Phật. Như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1646) quyển 41, phần Đường Thể Như (唐體如), có đoạn: “Thọ Niệm Phật Tam Muội, toại lực hành chi, duyệt thập tam niên như nhất nhật. Niên lục thập, đương Trọng Đông chi đán, vị chư tử viết: 'Tân xuân thập hữu nhất nhật ngô hành hĩ.' Chí kỳ, quán thấu chỉnh y, đoan tọa thủ kết ấn, khẩu xưng Phật hiệu, vi tiếu nhi thệ (受念佛三昧、遂力行之、閱十三年如一日、年六十、當仲冬之旦、謂諸子曰、新春十有一日吾行矣、至期、盥漱整衣、端坐手結印、口稱佛號、微笑而逝, ông thọ pháp môn Niệm Phật Tam Muội, bèn dốc lực hành trì, trãi qua mười ba năm giống như một ngày. Đến năm sáu mươi tuổi, vào sáng sớm giữa Đông, ông bảo các con rằng: 'Vào ngày mười một năm mới, ta sẽ đi.' Khi đến ngày, ông rửa mặt súc miệng, chỉnh tề y phục, ngồi ngay ngắn, tay bắt ấn, miệng niệm danh hiệu Phật, mĩm cười mà ra đi).” Hay trong Cư Sĩ Truyện quyển 48, phần Ngô Chiêm Lâu (吳瞻樓), cũng có đoạn rằng: “Tảo tu tịnh nghiệp, vãn dĩ gia sự phó nhị tử, nhất ý Tây mại, nhật trì Phật hiệu vạn thanh, kiêm tác Tây phương quán (早修淨業、晚以家事付二子、一意西邁、日持佛號萬聲、兼作西方觀, sớm tu tịnh nghiệp, cuối đời ông giao phó việc nhà lại cho hai con, một lòng về Tây phương, hằng ngày trì danh hiệu Phật vạn tiếng, còn quán cảnh giới Tây phương nữa).”
phật hoa
(佛華) Cũng gọi Họa tượng, Hội tượng. Đem vẽ hình tượng Phật, Bồ tát trên mặt tường vách, trên giấy, hoặc thêu trên vải lụa...… để làm đối tượng lễ bái, cúng dường, hoặc để lưu truyền, gọi là Phật họa. Ở Ấn độ, nguồn gốc Phật họa đã có từ thời đức Phật. Cứ theo Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 17 thì đức Phật từng cho phép vẽ các loại biến tướng trong các điện đường của tinh xá Kì viên, đồng thời, vẽ hình tướng Như lai đích thân săn sóc người bệnh trong nhà dưỡng bệnh. Cao tăng Pháp hiển truyện, Đại đường tây vực kí quyển 2 và quyển 8 đều ghi trong các hang đá ở nước Na kiệt thuộc miền Bắc Ấn độ và núi Chính giác thuộc miền Trung Ấn độ có tượng Phật giống như đức Phật (Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 7 cho rằng tượng Phật ở nước Na kiệt được tạo từ thời đức Phật còn tại thế để lưu truyền). Đại sử (Pàli: Mahàvaôsa, 30) thì nói rằng Quốc vương Tích lan là Duỉỉhagàmanì kiến thiết nhà thờ xá lợi và sai người vẽ tượng truyện Bản sinh của đức Phật. Hiện nay ngoài những di phẩm tượng Phật, Bồ tát vẽ trong các bộ kinh bằng tiếng Phạm được lưu truyền ở Tây tạng và Nepal ra, còn có các họa phẩm được vẽ trên vách các hang đá ở A chiên đa (Phạm: Ajantà), Tất kì lợi da (Pàli: Sìgiriya)…... được chế tác vào triều đại Cấp đa (Phạm: Gupta– thế kỉ VII, VIII), nhưng đến nay chỉ còn dấu tích tàn dư. Phật họa ở Tây vực cũng hưng thịnh, những năm gần đây, rất nhiều hang đá và di chỉ được phát hiện, như Bàmyanở miền Trung nước Afghanistan, Tumsuq ở Turkistan, Chotscho, Miran...… đặc biệt là những bức bích họa của 6 vị tỉ khưu (đã rách) đào được tại Miran, là những tác phẩm ở khoảng thế kỉ III, những di phẩm xưa nhất hiện còn. Sau khi Mật giáo hưng khởi ở Ấn độ thì các bức họa Mạn đồ la, Phật, Bồ tát và chư thiên được lưu hành, như phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật có ghi phương pháp lập đàn, vẽ tượng của Đại bi mạn đồ la Thai tạng giới; kinh Kim cương đính thì nói về cách vẽ tượng Mạn đồ la Kim cương giới.Tại Trung quốc, Phật họa đã được lưu hành từ thời xưa, như Phật tổ thống kỉ quyển 23 ghi rằng, niên hiện Thái ninh năm đầu (323) đời Đông Tấn, vua Minh đế đã sai người vẽ tượng Phật Thích ca ở nhà Lạc hiền trong nội cung. Đạo an truyện trong Lương cao tăng truyện quyển 5 thì nói, vua Phù kiên sai sứ đem tượng Phật thêu trên lụa ra nước ngoài để tặng, từ sau các đời Tống, Tề thì tượng khắcvà tượng thêu đều thịnh hành. Trong các bích họa đào được ở Đôn hoàng hiện còn bức tranh Tịnh độ biến tướng. Tại Nhật bản, vào niên hiệu Sùng tuấn năm đầu (588), nhóm họa công từ Bách tế (Triều tiên) đến cống hiến tranh Phật, thì từ đó Phật họa mới bắt đầu lưu hành ở Nhật bản. Đến thời đại Bình an, ngài Không hải đến Trung quốc tham học, khi về nước, đem Mật giáo truyền vào Nhật thì tranh Mạn đồ la của 2 bộ Kim, Thai bắt đầu được lưu hành. Về sau, lại có tranh Cửu phẩm lai nghinh. Về đề tài của Phật họa thì có nhiều loại, như tranh 1 hình tượng, tranh 3 hình tượng, tranh nhiều hình tượng, tranh biến tướng, tranh Mạn đồ la…... [X. phẩm Tứ sự trong kinh Bát chu tam muội; kinh Tín lực nhập ấn pháp môn Q.5; kinh Chính pháp niệm xứ Q.43; kinh Đại thừa tạo tượng công đức Q.hạ; Từ thị bồ tát lược tu dũ nga niệm tụng pháp Q.hạ; luật Thập tụng Q.56; điều Quán mộc tôn nghi trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Die Buddhistische Sptantike in Mittelasien, vol. II, by Le Coq].
phật hoa nghiêm nhập như lai trí bất tư nghị cảnh giới kinh
Fo-hua-yen ju ju-lai te-chih pu-ssu-i ching-chieh ching (C).
phật hoan hỉ nhật
The Buddhist joy-day.
phật hoan hỷ tạng ma ni bảo tích
Buddha of Joyous Treasury of the Mani-Jewel Heap Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật hoá
(佛化) (1834-1913) Danh tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Thanh, người Tuyền châu, Phúc kiến, họ Lâm, pháp danh Như huyễn. Năm 24 tuổi, sư thờ cư sĩ Thăng hư làm thầy, ăn chay học Phật. Năm Hàm phong thứ 10 (1860), sư đến Chương phố, trụ ở am Thiên hồ trên đỉnh núi Đại mạo suốt 11 năm. Năm Quang tự thứ 4 (1878), sư đến núi Long trì vườn hoa Hải trừng nhóm họp đồ chúng dạy học, tiếng tăm của sư truyền xa. Sư tự biết với thân phận cư sĩ không thể trụ trì Phật pháp, nên vào năm Quang tự 12 (1886), sư muốn lễ ngài Phật thừa làm thầy, nhưng ngài Phật thừa thấy sư lớn tuổi hơn mình, lại là người khổ học chuyên tu nhiều năm, đức cao đạo trọng, liền đến trước tượng Tổ sư thay mặt Tổ sư làm lễ cạo tóc xuất gia cho sư, rồi kết làm huynh đệ đồng môn. Năm ấy, sư đến núi Cổ sơn ở Phúc châu thụ giới Cụ túc. Ít lâu sau, sự trụ trì chùa Tuyết phong ở núi Dương mai tại Nam an, phỏng theo gia phong của Tổ Bách trượng, chủ trương chế độ nông thiền, người từ khắp nơi về cầu pháp học đạo có tới hơn 1.000 vị. Những vị tăng tài trong tông môn tại Mân nam thời cận đại phần nhiều đã được sư giáo hóa. Năm Dân quốc thứ 2 (1913), sư thị tịch, thọ 80 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Mật khế chân nguyên.
phật hoá thân tam
(佛化身三) Ba loại hóa thân của đức Phật. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 4 thì hóa thân của Phật có 3 loại: Đại, Tiểu, Bất định. 1. Đại hóa thân: Đức Phật hóa hiện thân cao nghìn trượng để hóa độ hàng Bồ tát từ Thập địa trở xuống. 2. Tiểu hóa thân: Đức Phật hóa hiện thân cao 1 trượng 6 để độ hàng Nhị thừa và phàm phu. 3. Hóa thân bất định: Đức Phật tùy theo các chủng loại, hoặc hóa hiện thân to lớn đầy khắp hư không; hoặc hiện thân nhỏ bé trượng 6, 8 thước, 7 thước, 3 thước, 7 tấc...… không nhất định để hóa độ chúng sinh.
Phật huệ
佛慧; C: fóhuì; J: butsue, butte.|Trí huệ của Phật, trí giác ngộ.
phật huệ
Tathāgata-jāna-darśana (S)Như Lai trí.
; (佛慧) Phạm: Tathàgata- jĩàna-darzana. Cũng gọi Phật trí, Phật tri kiến, Phật trí tuệ.Trí tuệ của Phật, tức chỉ cho trí tuệ bình đẳng, tối cao mà Phật đã chứng được. Như lai xuất hiện ở đời, cũng vì muốn truyền trí tuệ này cho mọi người. Kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 8 thượng) nói: Vì chúng sinh bị các khổ làm não loạn nên ta nói Niết bàn, ta đặt ra phương tiện ấy là vì múôn khiến chúng sinh được vào Phật tuệ. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ].
phật huệ cự chiếu
Buddha of Ten-direction Wisdom Torch Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật huệ oai đăng vương
Buddha of Awesome Lamp of Wisdom King.
phật huệ tràng thắng vương
Buddha of the King of the Victorious-Banner Wisdom.
Phật huệ 佛慧
[ja] ブツエ, ブッテ butsue, butte ||| The buddha's wisdom; the wisdom of enlightenment. 〔法華經, T 262.9.26a21〕 => Trí tuệ Phật, trí giác ngộ.
phật hàng phục chúng ma vương
Buddha of of the King Who Causes All Demons to Submit Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật hành li địa tam ý
(佛行離地三意) Đức Phật bước đi, chân không bén đất, có 3 lí do: 1. Vì bảo vệ côn trùng: Trên mặt đất có côn trùng đi lại hay nằm yên 1 chỗ, vì lòng từ bi, sợ giẫm lên chúng sẽ chết, nên lúc đi, đức Phật không để chân chạm sát đất. 2. Vì bảo vệ cây cỏ: Trên mặc đất có cỏ mọc, vì muốn bảo vệ cỏ nên khi đi, đức Phật không đặt chân sát đất. 3. Vì muốn hiển hiện sức thần thông: Đức Phật thị hiện sức thần thông, bay đi tự tại trong hư không cũng như trên mặt đất, nên khi Phật đi chân không bén đất. [X. kinh Xứ xứ].
phật hư không bảo hoa quang
Buddha of Precious-Flower Light of the Void Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật hương các
(佛香閣) Gác Phật hương, một kiến trúc nổi tiếng ở vườn Di hòa, phía trước núi Vạn thọ, ở Bắc kinh, được xây dựng vào thờivuaCàn long, nhà Thanh. Kiến trúc này nguyên là tháp Diên thọ, dự trù xây 9 tầng, nhưng mới làm đến tầng thứ 8 thì Hoàng đế ban lệnh ngưng lại và đổi thành Phật hương các. Kiến trúc gác này gồm 3 tầng, 8 mặt, 4 lớp mái, cao 41m, xây trên nền đá cao 20 mét, trông rất hoành tráng. Năm Hàm phong thứ 10 (1860), kiến trúc này bị liên quân Anh, Pháp phá hủy khi họ tiến đánh Bắc kinh. Đến khoảng năm Quang tự, Phật hương các được kiến thiết lại đúng như cũ, nhờ có tượng Phật, nênlà 1 trong những thắng cảnh nổi tiếng ở Bắc kinh. Vào những ngày nhàn rỗi, du khách đến thưởng ngoạn rất đông.
phật hướng thượng sự
(佛向上事) Gọi tắt: Phật hướng thượng. Cảnh giới lí tưởng siêu Phật việt Tổ. Đây là lời pháp dạy chúng của ngài Động sơn Lương giới – Tổ của tông Tào động. Chương Động sơn Lương giới trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 15 (Đại 51, 322 hạ) nói: Thể nhận được Phật hướng thượng sự mới có đôi điều đáng nói. Ngoài ra, hình dung người đã vượt Phật vượt Tổ, thoát khỏimọisự ràng buộc mà chứng được giải thoát chân chính, gọi là Phật hướng thượng nhân. Còn người tu trì đạo Phật hướng thượng thì gọi là Phật hướng thượng cơ. [X. Động sơn lương giới thiền sư ngữ lục; Triệu châu hòa thượng ngữ lục].
phật hải
Buddha's ocean, the realm of Buddha boundless as the sea.
phật hải đức quang minh
Buddha of Sea-Vast Virtue Radiance Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật hậu phổ hiền
(佛後普賢) Sau khi tu hành đã chứng được quả Phật, hành giả lại noi theo đức hạnh của bồ tát Phổ hiền mà tu hành giáo hóa chúng sinh, mang lại lợi ích cho họ, cũng gọi là Phật hậu Phổ hiền (sau khi thành Phật, lại tu hạnh Phổ hiền).
phật học
Buddhist studies.
; (佛學) Môn học nghiên cứu về hệ thống, nguồn gốc và sự phát triển tư tưởng của Phật giáo. Nội dung của nền Phật học là những giáo pháp do đức Phật nói ra, sau được các vị đệ tử trực tiếp của Phật kết tập lại, rồi do các bậc Tổ sư các đời, căn cứ vào giáo pháp ấy, nghiên cứu, phân tích, giải thích, thuyết minh một cách có hệ thống mà thành lập các loại học thuyết về 2 chủ đề trọng đại là vũ trụ và con người. Phật học gồm 2 phương diện lí luận và thực tiễn, bao quát 4 phạm trù: Giáo, lí, hành, chứng, là pháp môn hướng dẫn con người đạt đến cảnh giới giải thoát, yên vui chân thực. Sự phát triển của hệ thống Phật học ở Ấn độ, theo Pháp sư Ấn thuận, có thể chia làm 5 thời kì để khảo sát như sau: 1. Thời kì cùng đạt được giải thoát, lấy Thanh văn làm gốc: Thời kì này bắt đầu từ lúc đức Phật lập giáo đến khi Ngài nhập diệt. Giáo pháp chủ yếu mà đức Phật đã nói ở thời kì này là 12 nhân duyên, 8 chính đạo và 4 Thánh đế, chỉ dạy cá nhân diệt trừ phiền não khổ đau để đạt đến Niết bàn an lạc. 2. Thời kì Thanh văn chia ra dòng phái có khuynh hướng Bồ tát: Thời kì này bắt đầu từ khi đức Phật nhập diệt đến 400 năm sau (khoảng thế kỉ IV đến thế kỉ I trước Tây lịch), tức tương đương với thời kì Phật giáo Bộ phái. Đứng về phương diện tinh thần căn bản mà nhận xét thì thời kì này có sự đối lập giữa 2 khuynh hướng tư tưởng: Chủ nghĩa thực tiễn (Thượng tọa bộ bảo thủ)và chủ nghĩa lí tưởng (Đại chúng bộ cấp tiến). Khoảng 100 năm trước Tây lịch, từ 2 bộ phái căn bản Thượng tọa và Đại chúng, đã chia thành 20 bộ phái(gọi chung là 20 bộ phái Tiểu thừa).Trong 20 bộ phái này, thuộc hệ thống Thượng tọa bộ, có những bộ phái quan trọng như: Thuyết nhất thiết hữu bộ, Kinh lượng bộ, Độc tử bộ v.v...… Trong đó, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương tất cả pháp đều có thực (Phạm: Dravyata#sat), đều tồn tại về mặt tự tướng (Phạm: Svalakwaịatà), các pháp tồn tại độc lập…..., tức chủ trương Pháp thể hằng hữu, Tam thế thực hữu và thế giới tự nhiên do nguyên tử (cực vi) cấu tạo thành. Kinh lượng bộ thì cho rằng sắc pháp chỉ có 4 đại và tâm là có thực, đồng thời chủ trương hiện tại có thực, quá khứ, vị lai không có. Còn Độc tử bộ thì cho rằng Bổ đặc già la (Phạm: Pudgala) là chủ thể của luân hồi, 5 uẩn chẳng phải một chẳng phải khác. Hệ thống thuộc Đại chúng bộ thì chú trọng tính chất siêu việt tuyệt đối của đức Phật, hạnh nguyện vị tha của Bồ tát và chủ trương tâm tính vốn thanh tịnh, quá khứ, vị lai không có thực…... 3. Thời kì có đủ cả Đại thừa và Tiểu thừa nhưng lấy Bồ tát làm gốc: Thời kì này Phật giáo Đại thừa bắt đầu lưu hành (từ khoảng thế kỉ I tr.TL. đến thế kỉ III TL.). Phật giáo ở thời kì này lấy tư tưởng Bồ tát làm chính, nhưng không coi nhẹ hoặc phủ nhận Tiểu thừa. Nhân vật tiêu biểu của thời kì này là ngài Long thụ. Ngài soạn bộ Trung luận chủ trương thế giới kinh nghiệm hiện thực đều sinh diệt biến hóa, nên tất cả các pháp đều không có thực thể. Căn cứ vào lí duyên sinh, đứng trên lập trường tuyệt đối mà quán xét thì bản tính các pháp là không, đó là Chân đế; đứng trên lập trường tương đối mà thừa nhận các pháp thế gian là có giả, đó là Tục đế; không cố chấp bất cứ khái niệm cực đoan nào, đó là Trung đạo. 4. Thời kì phân chia dòng phái Bồ tát có khuynh hướng Như lai: Thời kì này là khoảng thời gian sau đức Phật nhập diệt 700 năm đến 1.000 năm (tức khoảng thế kỉ III đến thế kỉ VI Tây lịch). Thời kì này, vấn đề thành Phật được chia ra 2 thuyết: Phật chủng tòng duyên khởi(hạt giống Phật được huân tập dần dần mà thành)và Phật tính bản hữu (tất cả chúng sinh đều đã có sẵn tính Phật, cho nên đều có khả năng thành Phật). Hai nhân vật tiêu biểu cho thời kì này là các ngài Vô trước và Thế thân, phản đối quan điểm Không của ngài Long thụ ở thời kì trước, dựa vào thuyết Duy thức mà lập ra 3 tính: Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính và Viên thành thực tính, chủ trương vạn hữu đều do thể của thức người ta biến hiện. Thức biến hiện có 3 loại: Thức A lại da, thức Mạt na và 6 thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). 5. Thời kì Phạm và Phật cùng 1 thể, lấy Phật làm gốc: Đây cũng là thời kì Phật giáo dần dần diệt vong. Khuynh hướng Như lai vốncósẵn dung nhiếp với chú thuật thần bí của thế tục, tư tưởng Phật giáo dần dần kết hợp với Phạm ngã luận của Bà la môn giáo, để rồi tiến vào thời đại Như lai là gốc, Phạm Phật nhất thể. Lại vì Phật giáo Đại thừa hưng thịnh, những tư tưởng như Phật lực vô lượng, Bồ tát đại nguyện, tha lực gia trì…... bột phát mạnh mẽ, khiến cho Phật giáo Đại thừa biến thành Mật giáo. Thời kì này hành giả mãi mê truy cầu tức thân thành Phật, đánh mất tinh thần lợi tha cố hữu của Đại thừa, bên ngoài thì Bà la môn giáo hưng thịnh, bên trong thì các tư tưởng như duy tâm, chân thường, viên dung, tha lực, thần bí, đốn chứng...… dần dần đồng hóa với Phạm thần, nên đến thế kỉ XII thì Phật giáo đã mất hết dấu tích ở Ấn độ. Còn ở Trung quốc thì Phật họcđược truyền vào từ đời Hán, chia thành nhiều tông phái khác nhau, sản sinh ra nhiều học thuyết bất đồng. Để tránh xung đột và mâu thuẫn, các nhà Phật học Trung quốc đã dùng phương thức phán giáo để dung hòa các khuynh hướng dị biệt. Phật học Trung quốc sau thời kì du nhập, dần dần chia ra 8 tông, 10 tông, 13 tông. Nếu nói theo 8 tông thì Thiền, Tịnh, Luật, Mật thuộc về hành trì, còn Tam luận, Thiên thai, Hoa nghiêm, Duy thức thì chuyên về nghĩa học. Nếu phân loại để nghiên cứu Phật học thì có thể quan sát theo nhiều góc độ khác nhau. Nếu khảo sát Phật học về phương diện tư tưởng sử thì có thể chia làm Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo phát triển; nếu theo quan điểm địa lí thì có thể chia ra 2 hệ thống tư tưởng là Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Bắc truyền. Còn nếu nhận xét theo nội dung giáo nghĩa thì có các loại nhị phần pháp như: Nhị thừa Đại-Tiểu, nhị giáo Quyền - Thực, nhị môn Thánh - Tịnh, nhị giáo Hiển-Mật, nhị tông Giáo-Thiền…... Các học giả hiện đại cũng có khuynh hướng phân loại Phật học làm 2 môn lớn theo tư trào học thuật mới như Vũ trụ luận, lấy việc nghiên cứu và thuyết minh chân tướng của vạn hữu làm mục đích, lấy lí luận làm trung tâm và Giải thoát luận, lấy việc trình bày rõ phương pháp và ý nghĩa chân thực của sự giải thoát, lấy thực tiễn làm mục đích...… Ông Megovorn người Mĩ thì chia Phật học làm 2 môn: Siêu việt triết học (Bản thể luận) và Tương đối triết học (Vũ trụ luận). Phạm vị Vũ trụ luận của Phật học rất rộng. Có học phái căn cứ vào nhân quả liên tục của các hiện tượng để thuyết minh vạn vật do đa nguyên sinh khởi; có học phái chủ trương Duy tâm nhất nguyên luận cho rằng các hiện tượng vật chất là do nguyên lí tinh thần khai triển; có học phái khẳng định Thực tại bản thể luận siêu việt hiện tượng; lại có học phái không phân biệt bản thể và hiện tượng, đem các hoạt động của hiện tượng qui vào bản thể mà chủ trương hiện tượng tức bản thể. Nói một cách khái quát thì Vũ trụ luận của Phật học có thể chia làm 2 hệ thống lớn là Duyên khởi luận và Thực tướng luận. 1. Duyên khởi luận: Giải thích sự sinh khởi của vũ trụ vạn pháp, có các luận thuyết sau đây: a) Nguyên nhân sinh khởi của vạn pháp là nghiệp lực tạo tác của con người, gọi là Nghiệp cảm duyên khởi luận. b) Hết thảy muôn pháp đều do thức A lại da thứ 8 của con người biến hiện ra, gọi là A lại da nguyên khởi luận (học thuyết Duy thức). c) Hết thảy mọi hiện tượng đều từ bản thể chân như sinh khởi, gọi là Chân như duyên khởi luận (học thuyết Chân thường). d) Xuất phát từ lí luận bản thể tức hiện tượng, hiện tượng tức bản thể, gọi là Pháp giới duyên khởi luận (học thuyết Hoa nghiêm). e) Vũ trụ vạn hữu sinh khởi từ 6 nguyên tố lớn: Đất, nước, lửa, gió, không, thức là tổng thể linh động của pháp thân Đại nhật Như lai, gọi là Lục đại duyên khởi(học thuyết Chân ngôn). 2. Thực tướng luận: Giữa các học phái Phật giáo chủ trương các luận thuyết sau đây: a) Phủ định sự tồn tại của cái ta chủ quan, nhưng đối với các hiện tượng khách quan thì khẳng định có thực thể, gọi là Pháp hữu luận. b) Chủ trương thuyết ngã thể chủ quan và pháp thể khách quan đều là không, gọi là Pháp không luận(học thuyết của 20 bộ phái Tiểu thừa và luận Thành thực). c) Chủ trương hiện tượng là không hoặc là có giả, còn bản thể thì có thực, gọi là Hữu không trung đạo luận (học thuyết Duy thức). d) Phủ định hữu không tương đối, lấy tuyệt đối bất khả đắc làm lí tưởng rốt ráo, gọi là Vô tướng giai không luận (học thuyết Trung quán). e) Quán sát hiện tượng tức bản thể, toàn thể vũ trụ vạn hữu đều là thực thể nhất như, gọi là Chư pháp thực tướng luận(học thuyết Thiên thai). Duyên khởi luận thuyết minh tình hình sinh diệt biến hóa của vạn hữu theo phương diện thời gian, đó là Vũ trụ hiện tượng luận; còn Thực tướng luận thì thuyết minh chân lí rốt ráo của vạn hữu theo phương diện không gian, đó là Vũ trụ bản thể luận. Giải thoát luận thì đem nguyên lí giải thoát ứng dụng vào thực tiễn, theo con đường hướng thượng để đạt đến mục địch cứu cánh; có thể chia ra 3 hệ thống lớn: Giải thoát thực chất luận, Giải thoát hình thức luận và Giải thoát thứ đệ luận. 1. Giải thoát thực chất luận: Cảnh giới giải thoát chân thực, tức là Niết bàn, Như lai, Phật độ, Phật thân…... đều là biểu thị giải thoát thực chất. 2. Giải thoát hình thức luận: Các phương pháp thực hành để hiển bày thực chất như trì giới cầu giải thoát (Giới luật luận), vãng sinh cầu giải thoát (Vãng sinh luận), tu quán cầu giải thoát (Tu quán luận), đoạn hoặc cầu giải thoát (Đoạn hoặc luận)…... đều thuộc hình thức giải thoát. 3. Giải thoát thứ đệ luận: Hàng phàm phu có thể nhờ công sức tu hành mà được giải thoát. Nhưng vì sự tu hành của họ có cạn sau khác nhau nên phải tuần tự theo thứ lớp tiến dần từ phàm đến thánh, cho đến rốt ráo thành Phật, giải thoát vĩnh viễn. Đó là Giải thoát thứ tự luận.
phật học tùng báo
(佛學叢報) Tạp chí Phật giáo do các ông Địch bảo hiền và Bộc nhất thừa phát hành tại Thượng hải, Trung quốc vào năm 1912. Trước đó, họ Địch cùng với các ông Khang hữu vi, Lương khải siêu mưu đồ làm cách mạng lật đổ nhà Thanh để canh tân Trung quốc, âm mưu thất bại, bèn đến Thượng hải làm nhà báo. Vì chuyển hướng nghiên cứu Phật học nên xuất bản tờ báo này. Tuy đến 12 số thì phải đình bản, nhưng đây vẫn là tờ tạp chí Phật giáo đầu tiên ấn hành tại Trung quốc. Về sau mới có các tờ nguyệt san Phật giáo xuất hiện như Giác xã tùng thư, Hải triều âm...… Địch bảo hiền tu Tịnh độ và tập Thiền pháp. Ông có tác phẩm: Bình đẳng các bút kí.
phật học viện
(佛學院) Cơ sở giáo dục Phật giáo theo hình thức mới. Phương pháp giáo dục của Phật học viện khác với các tùng lâm truyền thống. Đại khái về hình thức thì giống với phương pháp giáo dục của các trường học hiện đại, nhưng về nội dung các môn dạy thì lấy Phật học làm nòng cốt, thế học là phụ. Từ đầu đời Dân quốc (1912) đến nay, ở Trung hoa đã có các Phật học viện nổi tiếng như: Đại học Hoa nghiêm, Quán tông học xã (Đế nhàn), Pháp giới học uyển (Nguyệt hà), Chi na nội học viện(Âu dương tiệm), Phật học viện Vũ xương (Thái hư), Phật học viện Mân nam(Thường tỉnh, Thái hư), Phật học viện Tiêu sơn (Trí quang), Hán Tạng giáo lí viện…... Tại Đài loan, từ sau năm 1949 đến nay, đã có vài mươi viện Phật học được sáng lập. Trong đó, nổi tiếng hơn cả là viện Nghiên cứu Phật giáo Trung quốc, học viện Phật giáo Đông phương (Tinh vân), học viện Phật giáo Trung hoa (Thánh ấn), học viện chuyên tông Hoa nghiêm (Thành nhất), Phật học viện Liên hoa (Hiểu vân) và Sở nghiên cứu Phật học Trung hoa (Thánh nghiêm + Thành nhất)…...
phật hống
Buddha's nàda, or roar, Buddha's preaching compared to a lion's roar, i.e. authoritative.
Phật Hộ
佛護; C: fóhù; J: butsugo; S: buddhapālita;|Là Luận sư kiệt xuất của Trung quán tông của Đại thừa Ấn Độ. Sư nổi tiếng với sự phát triển pháp biện chứng phủ định để chứng minh khái niệm về Tính không, và cách biện chứng này đã dẫn đến những điểm bất đồng với các Đại luận sư Trung quán như Thanh Biện (清辯; s: bhāvaviveka, 490-570), nhưng lại có những điểm hoà đồng với những hàng hậu bối như Nguyệt Xứng (月稱; s: candrakīrti, ~ 650). Một vài quan điểm đối lập quan trọng trong truyền thống rộng rãi của Trung Quán tông có thể được thấy qua những quan điểm bất đồng giữa Thanh Biện và Phật Hộ: trong khi Thanh Biện dùng luận lí học để khẳng định chân lí Tính không theo lập trường xác định, Phật Hộ từ chối giá trị của việc dùng tiền đề luận lí học, và quan điểm này của sư dẫn đến một sự từ khước mọi quan điểm tích cực, mọi lập trường có tính chất khẳng định nói chung. Lập trường của hai vị Phật Hộ và Nguyệt Xứng sau này kết thúc ở sự phân phái Trung luận ra một nhánh mới gọi là Quy mậu biện chứng phái (歸謬論證派; s: prāsaṅgika). Sư có để lại một bài luận quan trọng về Trung quán luận của Long Thụ với tên Phật Hộ căn bản trung sớ (buddhapālita-mūlama-dhyamaka-vṛtti), còn được giữ lại trong Tạng ngữ.
phật hộ
Buddhapālita (S)Đệ tử ngài Tăng Hộ, sáng lập phái Trung quán (470 - 540).
; Buddhapàlita (S). Name
; (佛護) Phạm: Buddhapàlita. Tạng: Saís-rgyas bskyaís. Luận sư của học phái Trung quán ở Ấn độ, là Tổ khai sáng của phái Trung quán cụ duyên (Phạm: Màdhyamika- Pràsaígika), sống và hoạt động ở khoảng năm 470 đến năm 540 Tây lịch. Cứ theo Phật giáo sử của ngài Đa la na tha (Phạm: Tàranàtha, Tạng: Kun-dga# sĩií-po– Cổn cát ninh ba) thì ngài Phật hộ sinh ra ở Phiếm sa khổ lợi đà (Phạm: Haôsakfđa) thuộc nước Thản bà la (Phạm: Taôbara), Nam Ấn độ. Sư vốn là đệ tử của ngài Long hữu (Phạm: Nàgamitra), nhưng đồng thời cũng thờ ngài Tăng già la khổ thập đạt (Phạm: Saôgharakwita, Hán dịch: Tăng hộ) làm thầy, học tập tư tưởng Trung quán của ngài Long thụ, chứng được trí tối thượng. Sư lễ bái thánh dung bồ tát Văn thù, trụ ở già lam tại Đàn đa phất lợi (Phạm: Dantapuri) để giảng pháp, đồng thời chú thích các bộ luận của các ngài Long thụ và Đề bà, nhờ đó nên thành tựu Lê lư bộ (Phạm: Rilbu). Vì thế mà sư được xếp vào 1 trong 8 nhà chú thích bộ Trung luận căn bản và được tôn xưng là Trưởng lão Phật hộ. Trong lịch sử tư tưởng Trung quán ở Ấn độ, sư có 1 địa vị quan trọng và từng đứng trên lập trường của mình mà phê phán lập trường của Luận sư Thanh biện. Đến khi Luận sư Nguyệt xứng xuất hiện thì địa vị của sư lại càng được khẳng định mà trở thành nhà học giả Trung luận ưu việt. Còn ngài Tông khách ba thì gọi các ngài Long thụ, Đề bà là Căn Bản Trung Quán Sư mà gọi những nhà sau ngài Phật hộ là Tùy Trì Trung Quán Sư.Bộ Trung luận chú do sư soạn, trừ 3 phẩm đầu,còn lại đều là ngắn gọn, sáng sủa, dễ hiểu. Đệ tử của sư rất đông. [X. luận Bát nhã đăng; The Central Philosophy of Buddhism by T.R.V. Mùrti; The Conception of Buddhist Nirvàịa by Th. Stcherbatsky; Ấn độ triết học nghiên cứu đệ ngũ (Vũ tỉnh Bá thọ); Tây tạng Phật giáo nghiên cứu (Trường vĩ Nhã nhân)].
Phật Hộ 佛護
[ja] ブツゴ Butsugo ||| Buddhapālita (ca.470-540) a major scholar of the Indian Mādhyamika school 中觀派. He was known for the the development of a negative dialectic in the proof of the concept of emptiness, which put his way of thinking at odds with such Mādhyamika masters as Bhāvaviveka (清辯, c. 490-570), but in agreement with later figures such as Candrakīrti (月稱, c. 650). Some of the most important basic antagonistic positions within the broad Mādhyamika tradition can be seen in the disagreement between Bhāvaviveka and Buddhapālita: while Bhāvaviveka used one form of logical argumentation to establish the truth of emptiness in a positive manner, Buddhapālita denied the validity of the use of logical propositions which ended up affirming any sort of positive position. The position taken by Buddhapālita and Candrakīrti would later end up in the creation of a distinct branch of Mādhyamika called Prāsaṇgika (guimiulunzhengpai 歸謬論證派). => (s: Buddhapālita, 470-540). Là Luận sư kiệt xuất Trung Quán tông của Đại thừa Ấn Độ. Sư nổi tiếng với sự phát triển pháp biện chứng phủ định để chứng minh khái niệm về Tính không, Sư đứng trên lạp trường của mình để tranh luận với các Luận sư Đại thừa như Thanh Biện (s: Bhāvaviveka, 490-570), nhưng đến Luận sư Nguyệt Xứng (s: Candrakīrti (月稱, khoảng năm 650). Một vài quan điểm đối lập quan trọng trong việc khoáng trương Trung Quán tông có thể thấy được qua sự bất đồng giữaThanh Biện (s: Bhāvaviveka) và Phật Hộ: trong khi Thanh Biện dùng luận lý học để khẳng định chân lý Tính không theo lập trường xác định, Phật Hộ từ chối giá trị khi dùng tiền đề luận lý học mà chấm dứt sự khẳng định về mọi quan điểm tích cực. Lập trường của hai vị Phật Hộ và Nguyệt Xứng sau này kết thúc ở sự phân phái Trung Luận ra một nhánh mới gọi là Quy Mậu Biện Chứng Phái (歸謬論證派s: Prāsaṇgika ; c: guimiulunzhengpai).
phật hội
Parsad-maṇdala (S).
; Buddhist association.
; (佛會) 1. Phật Hội. Phạm: Parwad-maịđala. Chỉ cho pháp hội thuyết pháp của đức Phật. II. Phật Hội. Chỉ cho nơi Phật, Bồ tát và Thánh chúng tập họp, tức chỉ cho Tịnh độ. Bát chu tán của ngài Thiện đạo (Đại 47, 449thượng) nói: Trong khoảng một niệm tiến vào Phật hội. III. Phật Hội. Chỉ cho pháp hội cúng tế, Phật sự…...
phật hữu ngũ sự
(佛有五事) Phật có năm việc để làm. Theo phẩm Thính pháp trong kinh Tăng nhất A hàm quyển 28 thì năm việc ấy là: 1. Quay bánh xe pháp: Đức Phật khi đã thành đạo, quay bánh xe pháp độ thoát hữu tình, làm lợi ích cho tất cả. Như quay bánh xe pháp Tứ đế độ 5 vị tỉ khưu. 2. Nói pháp cho vua cha nghe: Đức Phật khi đã thành đạo, nhớ đến ơn của cha rất nặng, nên phải nói pháp làm cho cha hưởng niềm vui của tuổi già, được sống lâu và xa lìa mọi phiền muộn của trần thế, nên Phật trở về cố quốc nói pháp cho cha nghe. 3. Nói pháp cho thân mẫu nghe: Đức Phật khi đã thành đạo, nhớ tới ơn mẹ, dưỡng dục tình thâm, vả lại, có thệ nguyện cứu độ cha mẹ, nên Phật lên cung trời Đao lợi, nói pháp cho mẹ nghe. 4. Lập hạnh Bồ tát cho phàm phu: Đức Phật khi đã thành đạo, cứu độ hết thảy hữu tình, cho nên nói pháp Lục độ vạn hạnh, thành lập hạnh Bồ tát Đại thừa cho các phàm phu, chuyển độ tất cả, cùng thành chính giác. 5. Thụ kí cho hàng Bồ tát: Đức Phật khi đã thành đạo, xem các căn cơ Đại thừa, nếu người nhờ tu đạo Bồ tát mà được thành thục, thì nói pháp và thụ kí khiến trong tương lai họ đều được thành Phật.
phật khám
(佛龕) Cái khám để thờ Phật, phần nhiều làm bằng đá hoặc gỗ. Cứ theo Kê lâm chí thì chùa Phật cũng gọi là Phật khám. Ngoài ra, trong các hang động, những chỗ được đục sâu vào vách đá để thờ tượng Phật cũng gọi là Phật khám, như các khám ở hang đá Vân cương, Long môn…... (xt. Trù Tử, Khám).
phật khí
(佛器) Chỉ cho cái bát đựng cơm cúng dường đức Phật. Hình dáng giống cái nấm, phần nhiều làm bằng kim loại như sắt, đồng, cũng có khi được làm bằng sành, sứ…...; bên ngoài khắc hình hoa sen, hoặc cỏ…...
phật khúc
(佛曲) Những ca khúc trong Phật giáo được phổ nhạc bằng những câu kệ trong kinh. Cứ theo Tây hà thi thoại của ông Mao kì linh thì ở các đời Tùy, Đường của Trung quốc đã có Phật khúc rồi, chứ không phải mới bắt đầu từ thời Kim, Nguyên, như Đường nhạc phủ có Phổ quang Phật khúc, Nhật quang minh Phật khúc, Thích ca văn Phật khúc, Diệu hoa Phật khúc, Ma ni Phật khúc, Nhật đằng quang Phật khúc…... được soạn theo nhiều thanh điệu khác nhau như Song, Thương, Chủy, Vũ…... Các chùa Phật ở vùng Ngô Việt vào đời Thanh cũng soạn Phạm nhạc, mỗi khi xướng Phật khúc thường dùng sênh, sáo đệm theo gọi là Thanh nhạc. Trong Tạp khúc ở Đôn hoàng còn có bộ phận tác phẩm Phật khúc. (xt. Nhạc).
phật khẩu
(佛口) Cũng gọi Phật thuyết. Những lời nói được phát ra từ miệng của Phật, hoặc chỉ cho kim khẩu (miệng vàng) tôn quí của đức Phật. Như Phật khẩu kim ngôn, tức hình dung những câu văn trong các kinh là từ miệng vàng của Phật nói ra.
phật kim cang lao cương phổ tán kim quang
Buddha of Universally Radiated Golden Light of Adamantine Firm Strength Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật kim hoa quang
Buddha of Golden-Flower Light Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật kim hải quang
Buddha of Golden-Sea Light.
Phật kinh
佛經; C: fó jīng; J: bukkyō.|Giáo lí đạo Phật. Kinh Phật.
phật kinh
Buddha-vacana (S).
; Buddhist canonical literature.
; (佛經) Phạm: Buddha-vacana. I. Phật Kinh. Chỉ cho tạng Kinh trong 3 tạng do đức Phật Thích ca mâu ni nói ra và được đời sau kết tập lại, cũng chỉ cho kinh điển do các vị Tổ sư các đời biên soạn theo hình thức Như thị ngã văn. Phật kinh được viết bằng nhiều thứ văn tự như: Phạm,Pàli, Hán, Tây tạng...… Phật kinh Hán văn thông thường chia làm 2 loại: Kinh Đại thừa và kinh Tiểu thừa. Trong Khai nguyên thích giáo lục, ngài Trí thăng đời Đường mới chia kinh Đại thừa làm 5 bộ lớn: Bát nhã bộ, Bảo tích bộ, Đại tập bộ, Hoa nghiêm bộ và Niết bàn bộ, rồi đến các kinh ngoài 5 bộ. Đại chính tạng thì chia tất cả kinh làm 10 bộ: A hàm, Bản duyên, Bát nhã, Pháp hoa, Hoa nghiêm, Bảo tích, Niết bàn, Đại tập, Kinh tập và Mật bộ. (xt. Phật Giáo Giáo Điển). II. Phật Kinh. Chỉ chung cho toàn bộ kinh điển của Phật giáo. Bao gồm kinh, luật, luận. Xưa gọi là Chúng kinh, Nhất thiết kinh…...
Phật kinh 佛經
[ja] ブッキョウ bukkyō ||| The Buddha's teachings, Buddhist sutras; a Buddhist sutra. 〔二障義HPC 1.805c〕 => Giáo lý đạo Phật. Kinh Phật.
phật kiến
The correct views, or doctrines, of the Buddha.
; (佛見) I. Phật Kiến. Cũng gọi Phật tri kiến. Chỉ cho sự thấy biết chân chính của đức Phật. Tức là tri kiến chân thực, thấu suốt thực tướng của các pháp. Kinh Phạm võng quyển thượng (Đại 24, 1002 hạ) nói: Chuyển hết thảy tri kiến vào Phật kiến và Phật kiến vào hết thảy tri kiến. (xt. Phật Tri Kiến). II. Phật Kiến. Chỉ cho kiến giải chấp trước Phật pháp. Lập trường của Thiền tông là chối bỏ tất cả mọi chấp trước, dù có 1 quan điểm nhất định nào đó đối với Phật pháp, cũng là thiên chấp. Bởi vì dùng xiềng xích bằng vàng để trói buộc thì vẫn mất tự do giải thoát.
phật kí
(佛記) Huyền kí của đức Phật, cũng chỉ cho Kí biệt của Phật. Những lời đức Phật nói trước về các sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai, gọi là Huyền kí. Còn những lời Phật nói trước về quả báo khác nhau của các đệ tử Ngài trong vị lai thì gọi là Kí biệt. (xt. Thụ Kí).
phật ký
Buddha's prediction, his foretelling of the future of his disciples
phật li tổ thất
(佛籬祖室) Bờ rào của Phật, nhà ở của tổ. Tổ chỉ cho tổ Đạt ma của Thiền tông. Phật li là cửa Phật; Tổ thất là cửa Thiền. Phật li tổ thất là chỉ chung cho Phật giáo, Phật đạo, Phật môn. [X. Viênthoa tập huyễn trụ am kí].
phật long chủng thượng tôn vương
Buddha of Honoured King of the Supreme-Insight Nagas.
Phật lâm niết-bàn kí pháp trú kinh
佛臨涅槃記法住經; C: fó lín nièpán jì fǎzhù jīng; J: butsu rin nehan kihōjū kyō.|Kinh, 1 quyển, Huyền Trang dịch năm 652.
Phật Lâm Niết-Bàn Ký Pháp Trú Kinh 佛臨涅槃記法住經
[ja] ブツリンネハンキホウジュウキョウ Butsu rin nehan kihōjū kyō ||| The Fo lin niepan ji fazhu jing; (Sutra of the Abiding Dharma Recorded Just Prior to Buddha's Nirvana). One fascicle, T 390.12.1112-1114, translated by Xuanzang in 652. => Kinh, 1 quyển. Ngài Huyền Trang dịch năm 652.
phật lưu ly trang nghiêm vương
Buddha of the King Gloriously Adorned with Lapis Lazuli Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật lạp nhật
The Buddhist last day of the old year, i.e. of the summer retreat.
; (佛臘日) Chỉ cho ngày kết thúc hạ an cư. Lạp nghĩa là cuối năm. Phật giáo lấy ngày kết thúc an cư trong 9 tuần mùa hạ làm cuối năm, vì thế ngày 15 tháng 7 âm lịch gọi là Phật lạp nhật. [X. Đại tống tăng sử lược Q.hạ].
Phật lực
佛力; C: fólì; J: butsuriki; |Có các nghĩa sau: 1. Năng lực của Đức Phật; 2. Năng lực của chư Phật và Bồ Tát bảo hộ cho chúng sinh tu tập.
phật lực
Buddhavisaya (P), Buddha's power.
; (佛力) Lực dụng của Phật. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 5 hạ) nói: Phật lực không có chỗ sợ hãi, các tam muội giải thoát và các pháp khác của Phật không ai đo lường được. [X. luận Đại trí độ Q.2; phẩm Dị hành luận Thập trụ tì bà sa Q.5].
Phật lực 佛力
[ja] ブツリキ butsuriki ||| (1) The ability or power of a buddha. (2) The power of buddhas and bodhisattvas to protect practitioners. => Có các nghĩa sau: 1. Năng lực của Đức Phật. 2. Năng lực của chư Phật và Bồ-tát bảo hộ cho chúng sinh tu tập.
phật ma nhất như
(佛魔一如) Phật và ma về mặt tướng dụng tuy có khác nhau, nhưng về mặt thể tính thì chỉ là một. Bởi vì các pháp vốn không có tự tính, cho nên Phật thiện và ma ác, tướng thuận và tướng nghịch đều thuộc thế giới hình tướng bề ngoài, thực thì bản tính Phật và ma vốn chẳng hai, vì thế gọi là Phật ma nhất như.
phật ma ni tràng
Buddha of Mani Banner Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật ma ni tràng đăng quang
Buddha of Man- Banner Shining Lamp Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật minh
Xem Phật Âm.
phật môn
Buddha-gate, the religion of Buddha.
; (佛門) Cũng gọi Thích môn, Pháp môn, Truy môn, Huyền môn, Chân môn, Đạo môn, Không môn, Đế môn, Tổ môn, Tông môn. Cửa để đi vào Phật giáo, tức pháp môn tu hành đạo Phật. Cứ theo Tam luận huyền nghĩa thì Bồ tát tạo luận là nhằm mở bày giáo môn của chư Phật. Giáo môn ở đây hàm ý là pháp môn. Đời sau, danh từ Phật môn chủ yếu là Phật giáo tự xưng để phân biệt với Đạo giáo và Nho giáo. Như người tin theo Phật giáo, gọi là Đệ tử Phật môn. Lìa bỏ việc đời mà tu hành đạo Phật thì gọi là Nhập Phật môn (vào cửa Phật)... [X. kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển); Chú Duy ma cật kinh Q.8; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7; Bảo lâm truyện Q.8; Phật tổ thống tải tự; Bát tông cương yếu]. (xt. Pháp Môn).
phật mẫu
Buddhamatṛ (S), Butsumo (J), Butsumo (J) Xem Buddhamatṛ.
; Buddhamàtr (S), Butsomo (J). 1- The mother of the Buddha, Mahà-Màyà; 2-His aunt who was his foster-mother. 3-The Dharma or Law which produces him. 4-The prajnà-pàramità, mother or begetter ođ all Buddhas
; (佛母) Phạm: Buddha-màtri. Pàli: Buddha-màtar. I. Phật Mẫu. Chỉ cho phu nhân Ma da (Phạm: Mahà-màyà), mẹ đẻ của đức Phật Thích ca, hoặc chỉ cho bà Ma ha ba xà ba đề (Phạm: Mahà-prajàpatì) dì của đức Phật, người đã thay thế phu nhân Ma da nuôi dưỡng Ngài sau khi phu nhân tạ thế. [X. kinh Đại ái đạo ban nê hoàn; kinh Bồ tát xử thai Q.1; kinh Quán Phật tam muội hải Q.6]. II. Phật Mẫu. Chỉ cho Bát nhã ba la mật, vì Bát nhã có năng lực sinh ra hết thảy các đức Phật. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.16; luận Đại trí độ Q.34]. III. Phật Mẫu. Chỉ cho pháp. Phật lấy pháp làm thầy, nhờ pháp mà thành Phật, vì thế gọi pháp là Phật mẫu. [X. kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.6; kinh Lăng nghiêm Q.6]. IV. Phật Mẫu. Chỉ cho Phật nhãn tôn. Trong Mật giáo, pháp nào có năng lực sinh ra chư Phật, chư Bồ tát thì được thần cách hóa mà gọi là Phật mẫu, Phật mẫu tôn.Chẳng hạn như Bát nhã ba la mật có công năng sinh ra các đức Phật, mang lại Nhất thiết trí cho các Ngài, có tác dụng thị hiện tướng thế gian, cho nên Bát nhã được Mật giáo thần cách hóa mà gọi là Phật nhãn Phật mẫu. Phật nhãn Phật mẫu này là mẹ của cả 2 bộ Kim cương giới và Thai tạng giới. Ngoài ra, trong viện Biến tri của Mạn đồ la Thai tạng giới có bài trí các vị Phật mẫu như Phật nhãn, Chuẩn đề…... cho nên viện Biến tri còn được gọi là viện Phật mẫu.[X. phẩm Phật mẫu kinh Đại phẩm bát nhã Q.14].
phật mẫu bát nê hoàn kinh
(佛母般泥洹經) Kinh, 1 quyển, do ngài Tuệ giản dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Nội dung kinh này thuật lại sự tích liên quan đến việc nhập diệt và chôn cất của Phật mẫu Đại ái đạo tỉ khưu ni. Bản dịch khác của kinh này là kinh Đại ái đạo nê hoàn, do ngài Bạch pháp tổ dịch vào đời Tây Tấn.
Phật mẫu bảo đức tạng bát-nhã ba-la-mật kinh
佛母寶悳藏般若波羅蜜經; C: fómǔ băo-dézàng bānruò bōluómì jīng; J: butsumo hō-tokuzō hannya haramitsu kyō; S: prajñāpārami-tāratnaguṇa-saṃcayagāthā. |Kinh, gồm 3 quyển. Tên gọi tắt là Bảo Đức tạng kinh (寶悳藏經); Pháp Hiền (法賢) dịch. Về tiếng Phạn, xem bản của Yuyama biên tập năm 1976.
Phật Mẫu Bảo Đức Tạng Bát-nhã Ba-la-mật-đa Kinh 佛母寶悳藏般若波羅蜜經
[ja] ブツモホウトクゾウハンニャクヒラミツキョウ Butsumo hōtokuzō hannya haramitsu kyō ||| The Fomu baodezang banruo boluomi jing (Prajñāpāramitā ratnaguṇa saṃcayagāthā); 3 fasc. T 229.8.676, Abbr. Baodezang jing 寶悳藏經, tr. Faxian 法賢. For a Skt. ed. see Yuyama (1976). => (j: Butsumo hōtokuzō hannya haramitsu kyō ); s:Prajñāpāramitāratnaguṇa saṃcayagāthā) Gồm 3 quyển. Tên gọi tắt là Bảo Đức Tạng Kinh; Pháp Hiền dịch. Về tiếng Phạn, xem bản của Yuyama biên tập năm 1976.
phật mẫu chân tam muội
The samàdhi, meditation or trance by means of which the Buddhas, past, present, and future, become incarnate.
phật mẫu gia trì
(佛母加持) Cũng gọi Phật bộ mẫu gia trì. Tác pháp gia trì kết ấn, tụng chân ngôn căn bản của Phật nhãn tôn trong pháp tu Mật giáo. Người tu hành Mật giáo đem công đức gia trì niệm tụng dâng cúng Phật nhãn tôn, công đức ấy đều được cất vào kho báu Kim cương, không bị hoại mất, nhờ thế mà có thể chứng được bồ đề trong hiện tại. Cách gia trì là: Hành giả kết ấn và tụng chân ngôn căn bản của Phật nhãn tôn, gia trì ở 5 chỗ trên thân thể(trán, vai trái, vai phải, tim, yết hầu)khiến cho thân của chính mình thành Phật nhãn tôn. Còn khi gia trì ở 5 chỗ trên mặt của hành giả (mắt bên phải, mắt bên trái, vai phải, vai trái, giữa 2 đầu chân mày)để khởi mở 5 mắt (mắt thịt, mắt trời, mắt trí, mắt pháp, mắt Phật)thì lúc đó gia trì trên mặt hành giả theo chiều thuận 3 lần, khiến mọi người thấy đều vui mừng. [X. phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Du kì].
phật mẫu mạn đồ la
(佛母曼荼羅) Cũng gọi Hư không nhãn mạn đồ la, Phật mẫu biệt đàn. Mạn đồ la tối thượng tối thắng trong các đàn tu của Mật giáo. Trong Mật giáo, Hư không nhãn thường chỉ cho Phật nhãn, nhưng Phật mẫu mạn đồ la, theo kinh Du kì, thì không phải chỉ cho Phật nhãn mạn đồ la. Cứ theo phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh cúng dường trì tụng bất đồng quyển 7, thì Mạn đồ la này có màu vàng ròng, bức tranh hình vuông, 4 phía dùng ấn Kim cương làm ranh giới bao quanh, ở giữa Mạn đồ la có đóa hoa sen lớn, trên có ngọn lửa sáng rực, trên hoa sen có ấn Phật đính, ấn ấy giống như hình búi tóc trên đỉnh đầu Phật khiến đỉnh đầu nổi cao lên, bên cạnh vẽ hình 2 mắt (tức mắt Như lai) ở trong ánh lửa sáng, còn trong đàn thì các chủng tử được bày ở khắp nơi.
phật mẫu đại khổng tước vương kinh
MahāmāyŪrī vidyuārājini (S)Một bộ kinh trong Mật bộ.
phật nguyện
The vow of Buddha to save all beeings.
phật nguyệt
The Buddha-moon, Buddha being mirrored in the human heart like the moon in pure water.
; (佛月) Mặt trăng Phật. Có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho hào quang của Phật trong suốt, sáng rỡ, giống như ánh sáng của mặt trăng. 2. Ví dụ pháp thân của Phật, nếu tâm chúng sinh thanh tịnh thì Phật cũng theo đó mà ứng hiện, giống như mặt trăng ánh hiện dưới đáy nước, không bị chướng ngại. Kinh Kim quang minh quyển 2 (Đại 16, 344 trung) nói: Pháp thân chân thực của Phật giống như hư không, tùy vật hiện hình, giống như bóng trăng dưới nước, không có gì trở ngại, như ánh lửa, như huyễn hóa, vì thế nay con cúi đầu kính lễ Phật nguyệt. [X. kinhĐại tập Q.58].
phật ngũ tính
The five surnames of Buddha before he became enlightened: Gautama, a branch of Sàkya; Iksvàku, one of Buddha's ancestor; Sùryavamsa, of the sun race; Sàka; Sàkya.
; (佛五姓) Năm họ của đức Phật trước khi xuất gia.Trước khi xuất gia, đức Phật có 5 họ là: Cù đàm, Cam giá,Nhật chủng, Xá di và Thích ca. (xt. Cam Giá Vương).
phật ngữ
The words or sayings of Buddha
; (佛語) Đồng nghĩa: Phật thuyết,Kim khẩu. Những lời nói của đức Phật. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 35 (bản Bắc) thì những lời do Phật nói có 3 loại: Tùy tự ý ngữ (nói theo ý mình), Tùy tha ý ngữ (nói theo ý người) và Tùy tự tha ý ngữ (nói theo ý mình, người). Kinh Phật ngữ pháp môn cho rằngvô thân vô thân hành, vô khẩu vô khẩu hành, vô ý vô ý hành, phi hành phi phi hành, phi báng phi bất báng, bất sinh bất khởi, vô tưởng vô xứ, vô vãng vô một, phi tịch phi hành...… là Phật ngữ. [X. kinh Thanh tịnh trong Trường a hàm Q.12; Quán kinh sớ tán thiện nghĩa].
phật ngữ pháp môn kinh
(佛語法門經) Cũng gọi Phật ngữ kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Bắc Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật nói về nghĩa Phật ngữ cho bồ tát Long uy đức thượng vương nghe. Theo lời Phật dạy thì chân lí không thể giải thích thuyết minh bằng ngôn ngữ, bởi thế nếu dùng lời nói để khẳng định, phủ định, hoặc dùng những ngôn từ tương đối như thân khẩu ý, địa thủy hỏa phong không, hữu lậu vô lậu…... để diễn đạt chân lí thì đó chẳng phải là Phật ngữ chân chính. Cho nên đức Phật bảo phi ngữ tức Phật ngữ. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.9; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4].
phật nha
(佛牙) Răng của đức Phật Thích ca mâu ni. Cứ theo truyền thuyết, sau khi trà tì (thiêu = đốt), toàn thân đức Thế tôn hóa thành những hạt xá lợi nhỏ, chỉ còn lại một số răng không bị hư tổn, gọi là Phật nha xá lợi (Phạm,Pàli: Dantadhàtu). Cứ theo Đại niết bàn kinh hậu phần quyển hạ, khi trà tì, do sức đại bi, thể kim cương của đức Thế tôn nát ra thành những không hư hoại. Trời Đế thích liền nhận lãnh xá lợi răng trên miệng đức Phật rồi trở lên cõi trời, xây tháp cúng dường. Còn theo kinh Quán hư không tạng bồ tát thì trong vườn Giá ngự ở mạn bắc thành Đao lợi thiên có ngôi tháp Răng Phật. Điều Sư tử quốc trong Cao tăng Pháp hiển truyện thì cho biết trong Vương thành ở Tích lan có tinh xá Phật nha. Ngoài ra, còn có 1 chiếc răng của Phật được truyền đến nước Ô trành ở miền Bắc Ấn độ. Cứ theo Lương cao tăng truyện quyển 13 và Pháp uyển châu lâm quyển 12, thì vào năm Nguyên huy thứ 3 (475) đời Lưu Tống, ngài Pháp hiến thời Nam triều qua Tây vực thỉnh kinh, đến nước Vu điền được 1 chiếc răng Phật và 15 viên xá lợi vốn từ nước Ô trành truyền đến. Sau khi về nước, sư trụ ở Kiến nghiệp (nay là Nam kinh) –Vương đô của nhà Tề – giữ kín răng Phật để cúng dường lễ bái một mình. Năm Vĩnh minh thứ 7 (489), vua Văn tuyên nhân cảm mộng mới đem việc này nói cho mọi người biết. Về sau, răng Phật được đưa về thờ ở chùa Định lâm thượng. Năm Phổ thông thứ 3 (522) đời Lương vũ đế, răng bị lấy mất, về sau không rõ. Đến đời Tùy, răng Phật lại xuất hiện, được thờ ở Đại hưng (Trường an, Thiểm tây). Đến cuối đời Đường, đầu thời Ngũ đại, chiến loạn nổi lên liên miên, răng Phật lần hồi được đưa về Yên kinh (Bắc kinh) thuộc nước Liêu ở phương bắc. Theo Liêu sử Đạo tông kỉ thì vào năm Hàm ung thứ 7 (1071), vua Đạo tông rước răng Phật về thờ ở tháp Chiêu tiên chùa Linh quang. Năm Quang tự 26 (1900) đời Thanh, liên quân 8 nước tiến đánh Bắc kinh, chùa và tháp đều bị phá hủy. Sau, tăng chúng đào bới nền tháp, tìm được 1 cái tráp bằng đá, bên trong cất giữ răng Phật; trong tráp lại có 1 chiếc hộp bằng gỗ trầm hương, trên hộp có khắc dòng chữ: Thích ca mâu ni Phật linh nha xá lợi. Thiên hội thất niên Tứ nguyệt nhị thập nhị nhật kí, Thiện tuệ thư (Xá lợi răng của Phật Thích ca mâu ni. Ghi ngày 22 tháng 4 năm Thiên hội thứ 7, Thiện tuệ viết). Thiên hội là niên hiệu của nhà Bắc Hán (951-979) trong 10 nước thời Ngũ đại. Năm 1964, đoàn thể Phật giáo địa phương đã xây dựng lại tháp xá lợi Răng Phật trên nền chùa cũ để thờ răng Phật. Ngoài ra, xá lợi răng Phật được cất giữ ở chùa Mã lạp cát ngõa (Malagawa) ở thành phố Khảm để (Kandy) tại miền Trung nước Tích lan, được xem là quốc bảo của Tích lan, vì thế chùa này còn có tên là Phật nha tự (chùa Răng Phật). Hằng năm, vào ngày mồng 1 tháng 8, giới Phật giáoTích lan tổ chức lễ hội Phật nha suốt 12 ngày, mỗi ngày từ 8 giờ đến 11 giờ tối cử hành rước răng Phật rất trọng thể. Cứ theo Phật nha sử (Pàli: Dàỉhàvaôsa) thì chiếc răng Phật này từ nước Yết lăng già (Pàli: Kaliíga) bên Ấn độ được truyền đến Tích lan vào khoảng thế kỉ IV Tây lịch và rất được tôn sùng lễ kính. Đầu thế kỉ XIV, người Tamils từ Nam Ấn độ xâm nhập Tích lan và cướp lấy răng Phật. Sau, vua Parakkhamabàhu III (trị vì 1302-1320), dùng phương thức hòa bình rước được răng Phật trở về. Sau, Tích lan cũng rơi vào tình trạng loạn lạc liên miên, nên răng Phật cũng bị liên tục di dời và được cất giữ rất cẩn mật. Năm 1505, người Bồ đào nha đổ bộ xâm chiếm đảo Tích lan, bức hại tín ngưỡng Phật giáo, vua Tích lan phải dời đô đến thành phố Kandy và xây dựng chùa Phật nha để thờ răng Phật. Năm 1560, người Bồđào nha đưa răng Phật về Goa bên Ấn độ để đốt bỏ, nhưng chỉ vài năm sau răng Phật lại xuất hiện. Có thuyết cho rằng răng Phật mà người Bồ đào nha đốt bỏ là răng Phật giả. Cứ theo Tây vực cầu pháp cao tăng truyện quyển thượng của ngài Nghĩa tịnh thì pháp sư Minh viễn từng đến châu Sư tử (Tích lan) định lén đưa răng Phật về Trung quốc, nhưng người Tích lan phát giác và Pháp sư Minh viễn bị lăng nhục nặng nề. Từ đó, sự bảo vệ của người Tích lan đốivớirăng Phật càng thêm nghiêm mật. Cứ theo điều Tăng già la quốc phụ kí trong Đại đường tây vực kí bản đời Minh và Tích lan Phật giáo sử (tác phẩm của C. Dipayaksorn bằng tiếng Thái lan) thì sứ thần nhà Minh của Trung quốc là Trịnh hòa từng đến Tích lan lấy được răng Phật. Người Tích lan đời xưa gọi răng Phật là Dàỉhà-dhàtu, hiện nay thì gọi làDalada. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2,3; Pháp uyển tạp lục nguyên thủy tập mục lục Q.9]. (xt. Phật Nha Sử, Phật Nha Tiết).
phật nha sử
Dathavaṃsa (S)Tên một bộ luận kinh.
; (佛牙史) Pàli: Dàỉhàvaôsa, Danta= dhàtuvaôsa. Tác phẩm Lịch sử răng Phật, gồm 5 chương, do vị tăng người Tích lan là Đạt ma yết đế (Pàli: Dhammakitti) biên soạn vào khoảng thế kỉ XII. Đáp lời thỉnh cầu của vua Parakkhamabàhuđời thứ nhất, ngài Yết đế căn cứ vào bộ Đại sử (Pàli: Mahàvaôsa) trong Biên niên sử bằng tiếng Tích lan và các truyền thuyết Phật giáo mà biên soạn thành sách này. Nội dung nói về cuộc hành trình của Vương tử Đà đa (Pàli: Dantakumàra) ở thành Phật nha (Pàli: Dantapura), nước Yết lăng già (Pàli: Kaliíga) thuộc nam Ấn độ, cùng với Vương phi Hi ma lê (Pàli: Hammàli) kín đáo mang 1 chiếc răng hàm bên trái của đức Phật đến Tích lan lánh nạn, đồng thời, kể lại lai lịch của chiếc răng này. Đây là tập sử thi rất có giá trị bằng tiếngPàli. Răng Phật được đưa đến Tích lan đúng vào thời vua Cát tường vân sắc (Pàli: Siri- Meghavaịịa, tại vị 362-389) trị nước. Răng Phật được nhà vua và toàn dân lễ kính tôn sùng và coi như của báu của quốc gia. Từ đó về sau, quốc vương các triều đại, trước khi lên ngôi, đều phải giành được quyền cúng dường răng Phật mới được nhân dân ủng hộ.
phật nha tiết
(佛牙節) Lễ hội rước răng Phật thịnh hành ở Tích lan. Hằng năm, cứ vào tháng 8 thì chùa Phật nha và các đền thờ của Ấn độ giáo ở thành phố Khảm để (Kandy) tại miền Trung Tích lan lại liên kết tổ chức lễ rước răng Phật qua các đường phố, bắt đầu từ 8 giờ tối đến 11 giời khuya, suốt trong 12 ngày từ mồng 1 đến ngày 12 tháng 8, cho nên cũng gọi là Khảm để du hành thịnh hội (Kandian Perahera). Cứ theo Phật nha sử (Pàli: Dàỉhàvaôsa) thì răng Phật được coi là của báu bậc nhất của quốc gia và là đại biểu cho đức Phật, được tôn trí ở chùa Tháp viên tại kinh đô A nâu la đà bổ la; vào tháng 3 hằng năm, tổ chức rước răng Phật từ chùa Tháp viên đến chùa Vô úy sơn để cúng dường, sau 90 ngày răng Phật lại được rước về chùa Tháp viên. Vào thế kỉ XIV, vương đô được dời đến Kandy, răng Phật cũng được dời đến thờ ở chùa Phật nha mới xây cất(tức chùa răng Phật hiện nay). Nghi thức rước răng Phật được cử hành hiện nay bắt đầu từ năm 1775, bấy giờ là thời vua Cát tường xứng vương sư tử (Phạm: Kìrti Zri Ràja Siíha). Các dội được tuyển chọn để đi rước gồm có: Đội Thánh Phật nha, đội Bảo hộ thần tượng (Phạm: Nàthadevàlaya), đội Chiến tranh thần tượng (Phạm: Katragamadevàlaya), đội Nữ thần tượng (Phạm: Patànìdevàlaya, tức vợ của thần Đại phạm thiên), đội Tì thấp nô thần tượng (Phạm: Viwịudevàlaya). Ngày cuối cùng có 2 nghi thức đặc biệt hơn: Một là hộ tống thần chiến tranh đến rửa kiếm ở sông Ma ha phệ lợi hằng (Phạm: Mahàveliganga) gần chùa Phật nha; hai là các đội ngũ tham dự lễ rước đến miếu thờ thần Già na đề bà câu bà la (Phạm: Gaịadevìkovila) của Ấn độ giáo để cầu nguyện hòa bình cho nhân loại trên thế giới. [X. Phật quốc kí; điều Tăng già la quốc trong Đại đường tây vực kí Q.11; Nam truyền Phật giáo sử (Tịnh hải)].
phật nha tự
Dalada-maligava (S)Tên một ngôi chùa.
; (佛牙寺) Pàli: Daơadà Màligàva. Chùa Răng Phật ở thành phố Khảm để (Kandy) tại Tích lan. Chùa được kiến trúc rất qui mô hoành vĩ, nằm trên 1 cái nền cao khoảng hơn 6m, chung quanh có sông bao bọc. Chùa được chia ra 2 tầng trên và dưới, điện đường san sát, kết cấu phức tạp, chủ yếu là điện Phật, rồi lầu trống, nhà giảng, nhà tụng kinh, kho đại bảo…... chính giữa nội cung có 2 tầng, trong đó, trên đài sen bằng vàng ròng có thờ răng Phật, vì thế gọi là chùa Phật nha. Chiếc răng Phật này vốn là của nước Yết lăng già (Pàli: Kaliíga) thuộc Ấn độ, vào khoảng thế kỉ IV được truyền đến Tích lan; đầu tiên được thờ ở chùa Tháp viên tại kinh đô A nâu la đà bổ la (Phạm, Pàli: Anuràdhapura), đến thế kỉ XIV mới được dời tới chùa này. Ngoài ra, Phật nha tiết (lễ hội từ xưa đến nay rất được coi trọng ở Tích lan) lấy chùa này làm trung tâm, cử hành nghi thức rước răng Phật hằng năm rất trọng thể.
phật nha xá lợi tháp
(佛牙舍利塔) Tháp thờ xá lợi răng của đức Phật được xây trên nền cũ chùa Linh quang, núi Tây sơn, gần thành Bắc kinh, Trung quốc. Tháp được kiến trúc bằng gạch, mái dày, hình bát giác, 13 tầng, cao 51m, đứng sừng sững dưới chân núi Tây sơn, màu vàng chói lọi, rực rỡ huy hoàng, là 1 trong những thắng cảnh nổi tiếng ở vùng ngoại ô Bắc kinh. Trong tầng thứ nhất có tấm bản đồng khắc văn kinh Kim cương bát nhã, tương truyền là thủ bút của Triệu mạnh phủ, nhà thư pháp đời Nguyên.
phật nhân
Buddha-cause.
Phật nhãn
佛眼; C: fóyăn; J: butsugen; S: buddha-cakṣus.|Mắt Phật. Cái nhìn của nhất thiết trí viên mãn, đạt được sau khi chứng Phật quả. Cao nhất trong Ngũ nhãn (五眼).
phật nhãn
The eye of Buddha, the enlightened one who sees all and is omniscient.
; (佛眼) Phạm: Buddha-cakwus. Chỉ cho mắt Phật, có năng lực thấy rõ thựctướng các pháp, 1 trong 5 loại mắt. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 thượng) nói: Mắt Phật trọn đủ, thấy rõ pháp tính. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 9 trung) nói: Xá lợi phất nên biết, Ta dùng Phật nhãn quan sát, thấy chúng sinh trong 6 đường nghèo cùng, không có trí tuệ.[X. kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.404; luận Du già sư địa Q.14; luận Đại trí độ Q.33; Đại thừa nghĩa chương Q.20, phần cuối; Vô lượng thọ kinh sao Q.6].
phật nhãn chân ngôn
(佛眼真言) Cũng gọi Phật nhãn chú, Phật nhãn minh. Đà la ni của Phật nhãn tôn trong Mật giáo. Có 2 loại Đại đà la ni và Tiểu đà la ni khác nhau. Khi tu pháp Mật giáo, phải tụng chân ngôn này trước khi tán niệm tụng. Hoặc khi hành giả đọc kinh, cũng nên kết ấn khế và tụng chân ngôn của Phật nhãn tôn.Nếu thường trì tụng chân ngôn này thì Kim cương tát đỏa và các Bồ tát luôn theo hộ vệ, chứng được đại thần thông và làm việc gì cũng được thành tựu.
phật nhãn mạn đồ la
(佛眼曼荼羅) Mạn đồ la Mật giáo lấy Phật nhãn Phật mẫu làm bậc Trung tôn mà kiến lập hoa sen 8 cánh 3 lớp. Theo phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Du kì quyển hạ thì cách vẽ Mạn đồ la này là: Vẽ toàn bộ hoa sen 8 cánh 3 lớp, ở chính giữa vẽ Phật nhãn Phật mẫu, trên lớp thứ nhất vẽ Nhất thiết Phật đính luân vương và Thất diệu sứ giả; trên lớp thứ 2 vẽ 8 vị Đại bồ tát, mỗi vị đều cầm cờ xí của mình; trên lớp thứ 3 vẽ 8 vị Đại kim cương minh vương. Ở 4 góc 4 phương tường hoa phía ngoài, vẽ 8 vị bồ tát Đại cúng dường và 4 vị Nhiếp bồ tát, đều đội mũ sư tử.
phật nhãn phái
Butsugen-ha (J)Tên một tông phái.
; (佛眼派) Chỉ chung cho môn phái của ngài Phật nhãn Thanh viễn –đệ tử nối pháp của Thiền sư Pháp diễn núi Ngũ tổ, thuộc phái Dương kì tông Lâm tế. Sau khi đắc pháp, ngài Phật nhãn Thanh viễn trụ ở núi Long môn tại Thư châu (nay là huyện Hoài ninh, tỉnh An huy) xiển dương Thiền phong. Ngài có nhiều đệ tử ưu tú như các vị: Ô cự Đạo hành, Trúc am Sĩ khuê, Mục am Pháp trung, Cao am Thiện ngộ…... Môn nhân của sư Đạo hành có Hối am Tuệ quang, môn nhân của sư Sĩ khuê có Tăng đĩnh Thủ trách, môn nhân của sư Pháp trung có Phổ am Ấn túc…...
phật nhãn phật mẫu
Buddha-locani (S).
; (佛眼佛母) Phạm: Buddhaa-locanì. Cũng gọi Phật nhãn bộ mẫu, Phật nhãn minh phi, Phật nhãn tôn, Hư không nhãn minh phi, Năng tịch mẫu, Kim cương cát tường nhãn, Nhất thiết Như lai Phật nhãn đại kim cương cát tường nhất thiết Phật mẫu, Nhất thiết Như bảo, Phật mẫu tôn, Phật mẫu thân. Một trong những vị tôn của viện Thích ca và viện Biến tri thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị tôn này là thần cách hóa của diệu trí Bát nhã trung đạo, là mẹ chung sinh ra chư Phật, Bồ tát của 2 bộ Kim cương và Thai tạng. Vì là mẹ sinh ra công đức của Phật bộ nên gọi là Phật mẫu, lại có đủ 5 mắt nên cũng gọi là Phật nhãn. Phật nhãn Phật mẫu của viện Biến tri ngồi ở phía bắc Nhất thiết Như lai trí ấn ở trung ương, mật hiệu là Thù thắng kim cương. Hình tượng là mình màu da người, ngồi kết già trên hoa sen đỏ, đầu đội mũ báu, tai đeo khoen bằng vàng, tay mang vòng xuyến, mặc áo gấm đỏ, tay kết định ấn. Phật nhãn Phật mẫu của viện Thích ca cũng gọi là Biến tri nhãn, Năng tịch mẫu, Nhất thiết Như lai bảo, ngồi ở vị trí thứ nhất hàng dưới, phía bắc Phật Thích ca mâu ni ở trung ương, mật hiệu là Thực tướng kim cương. Hình tượng là mình màu vàng ròng, bàn tay phải dựng đứng, ngón giữa, ngón áp út co lại, ngón út hơi co, ngón cái và ngón trỏ duỗi thẳng, cánh tay trái co lại, cầm hoa sen trên có ngọc như ý, mặt hướng về phía trái, hơi ngước nhìn. Thông thường cho rằng vị tôn này là do đức Đại nhật Như lai biến hóa ra, nhưng kinh Du kì thì cho là do Kim cương tát đỏa biến hóa ra. Pháp tu của vị tôn này là pháp Tức tai hoặc là pháp Hàng phục. Đặc sắc của Phật nhãn Phật mẫu là lấy các vì tinh tú làm quyến thuộc. Còn Mạn đồ la lấy vị tôn này làm vị Trung tôn để kiến lập thì gọi là Phật nhãn mạn đồ la. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; phẩm Phổ thông chân ngôn tạng kinh Đại nhật Q.2; phẩm Phật mẫu kinh Đại phẩm bát nhã Q.14; phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kì Q.hạ; phẩm Họa tượng nghi quĩ trong kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân Q.2; luận Đại trí độ Q.69; Đại nhật kinh sớ Q.5; Bí tạng kí Q.cuối].
Phật Nhãn Thanh Viễn
(佛眼清遠, Butsugen Seion, 1067-1120): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, người Huyện Lâm Cung (臨卬), họ là Lý (李). Ông xuất gia rồi năm lên 14 tuổi thì thọ Cụ Túc giới. Ông chuyên học về Luật và Kinh Pháp Hoa, bên cạnh đó cũng có tham Thiền biện đạo. Ông đã từng tham học với Giang Hoài (江淮), rồi đến tham bái Ngũ Tổ Pháp Diễn (法演) ở Thái Bình Tự (太平寺) vùng Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy), và kế thừa dòng pháp của vị này. Đầu tiên ông khai đường ở Thiên Ninh Vạn Thọ Tự (天寧萬壽寺) vùng Thư Châu, sau chuyển đến sống tại Long Môn Tự (龍門寺), rồi Bảo Sơn Tự (褒山寺) ở Hòa Châu (和州, Tỉnh An Huy). Nhờ Đặng Tuân Võ (鄧洵武) tấu trình lên vua, ông được ban cho Tử Y và hiệu là Phật Nhãn Thiền Sư (佛眼禪師). Ông cùng với Phật Giám Huệ Cần (佛鑑慧懃), Phật Quả Khắc Cần (佛果克勤) được xưng tụng như là Tam Phật, hay Nhị Cần Nhất Viễn của Đông Sơn. Ông thị tịch vào năm thứ 2 niên hiệu Tuyên Hòa (宣和), hưởng thọ 54 tuổi đời và 40 hạ lạp. Thiện Ngộ (善悟) biên tập nên bộ Phật Nhãn Thiền Sư Ngữ Lục (佛眼禪師語錄) 6 quyển.
phật nhãn thanh viễn
Fo yen cheng yuan (C)Tên một vị sư.
phật nhãn thanh viễn thiền sư ngữ lục
(佛眼清遠禪師語錄) Cũng gọi Thư châu Phật nhãn hòa thượng ngữ lục. Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Thanh viễn (1067-1120) soạn vào đời Tống, ngài Cao am Thiện ngộ biên tập, được thu vào Cổ tôn túc ngữ lục quyển 27 đến quyển 34 trong Vạn tục tạng tập 118. Nội dung bộ ngữ lục này thu chép Khai đường ngữ của ngài Phật nhãn Thanh liễu khi ngài trụ ở chùa Thiên ninh tại Thư châu và những phần Thướng đường ngữ yếu, kệ tụng, chân tán, tiểu tham, phổ thuyết, tụng cổ, thất trung thùy thị, thùy đại, thị thiền nhân tâm yếu, Tam tự tỉnh sát, giới vấn thoại…... khi ngài trụ ở núi Long môn, chùa Bao thiền…... Cuối quyển có chép thêm bài Tống cố hòa châu bao sơn Phật nhãn thiền sư tháp minh do ông Lí di tốn soạn.
phật nhãn thiền sư
Butsugen zenji (J)Tên một vị sư.
phật nhãn tướng khán
(佛眼相看) Nhìn nhau bằng ánh mắt của Phật. Nghĩa là người ta nên đối đãi với nhau bằng tấm lòng từ bi, hỉ xả và vị tha của đức Phật.
phật nhãn ấn
(佛眼印) Ấn Phật nhãn, 1 trong những thủ ấn của Mật giáo. Ấn này có đủ 5 mắt (mắt thịt, mắt trời, mắt tuệ, mắt pháp, mắt Phật), ấn tướng là chắp tay để rỗng bên trong, 2 ngón trỏ co lại, 2 đầu ngón trỏ để lên ngón cái, ngón giữa và ngón vô danh đều đứng thẳng như chày 1 chĩa, đầu2ngón út xòe ra.
Phật nhãn 佛眼
[ja] ブツゲン butsugen ||| The Buddha-eye. The eye of perfect omniscience, gained upon the attainment of Buddhahood. The highest of the five levels of vision 五眼 (buddha-cakṣus). => (s: buddha-cakṣus) Mắt Phật. Cái nhìn của nhất thiết trí viên mãn, có được sau khi chứng được Phật quả. Cao nhất trong Ngũ nhãn五眼 (buddha-cakṣus).
Phật Như Lai
佛如來; C: fó rúlái; J: butsu nyorai.|Chỉ đức Phật.
Phật Như Lai 佛如來
[ja] ブツニョライ butsu nyorai ||| 'Buddha-tathāgata.' The Buddha. => Đức Phật Như Lai.
phật nhất thiết pháp tràng mãn vương
Buddha of King of Eternal Completion of All Things.
phật nhất thiết thế gian nhạo kiến thượng đại tinh tiến
Buddha of Supreme in the Great Striving, Whom All the World Takes Joy in Seeing Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
Phật nhật
(佛日): từ dùng để ví dụ đức Phật là mặt trời. Giống như mặt trời thường chiếu sáng phá tan đi sự tăm tối, đức Phật là người chiếu phá mê vọng của chúng sanh và làm cho họ được chứng ngộ.
phật nhật
The Buddha-sun; the day of Buddha.
; (佛日) Phạm: Buddha-sùrya. Mặt trời Phật. Nghĩa là trí tuệ của Phật có năng lực chiếu phá vô minh, mê vọng của chúng sinh, giống như mặt trời có công năng phá tan bóng tối, cho nên ví dụ Phật như mặt trời mà gọi là Phật nhật. Bộ kinh Kim quang minh sử dụng từ ngữ Phật nhật nhiều nhất, như phẩm Sám hối trong quyển 3 (Đại 16, 337 hạ) nói: Phật nhật đại bi, diệt tất cả bóng tối. (...…) Phật nhật vô thượng, ánh sáng chiếu rọi khắp nơi. [X. phẩm Tứ thiên vương trong kinh Kim quang minh Q.6; phẩm Chúc lụy kinh Kim quang minh Q.19].
Phật Nhật Khế Tung
(佛日契嵩, Butsunichi Kaisū, 1007-1072): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người vùng Đàm Tân (鐔津) thuộc Đằng Châu (藤州, Tỉnh Quảng Tây), họ là Lý (李), tự là Trọng Linh (仲靈), tự xưng hiệu là Tiềm Tử (潛子). Vào năm thứ 6 (1013) niên hiệu Đại Trung Tường Phù (大中祥符), ông xuất gia lúc mới 7 tuổi, và đến năm lên 13 tuổi thì xuống tóc thọ giới. Năm 19 tuổi, ông đi hành cước khắp nơi, tham yết Thần Đỉnh Hồng Nhân (神鼎洪諲) ở Nam Nhạc, và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Động Sơn Hiểu Thông (洞山曉聰) ở Quân Châu (筠州, Tỉnh Giang Tây). Trong khoảng niên hiệu Khánh Lịch (慶曆, 1041-1048), ông đến Tiền Đường (錢塘) và sống tại Hồ Sơn (湖山), rồi theo tham học với Vĩnh An Lan Nhã (永安蘭若) ở Linh Ẩn Tự (靈隱寺). Ông viết cuốn Nguyên Giáo Hiếu Luận (原敎孝論) để nói về sự nhất quán của Nho và Thích và phản bác luận thuyết bài Phật của Hàn Thối Chi (韓退之). Bên cạnh đó ông còn trước tác Thiền Môn Định Tổ Đồ (禪門定祖圖), Truyền Pháp Chánh Tông Luận (傳法正宗論) và Phụ Giáo Biên (輔敎編) để làm rõ hệ thống truyền thừa của Thiền Tông. Ngoài ra ông còn một số các trước tác khác như Truyền Pháp Chánh Tông Ký (傳法正宗記), Đàm Tân Văn Tập (鐔津文集), Trị Bình Tập (治平集), v.v. Vào năm thứ 6 (1061) niên hiệu Gia Hựu (嘉祐), ông trình những trước tác của mình lên vua Nhân Tông; nhà vua xem xong hạ chiếu chỉ ban thưởng và năm sau ban cho ông hiệu Minh Giáo Đại Sư (明敎大師). Về sau ông đến sống tại Phật Nhật Sơn (佛日山) và thị tịch vào ngày mồng 4 tháng 6 năm thứ 5 niên hiệu Hy Ninh (熙寧), hưởng thọ 66 tuổi.
phật nhật nguyệt châu quang
Buddha of the Sun and Moon Gems.
phật nhật nguyệt quang
Buddha of the Sun and Moon Light.
phật nhật đậu bạo
(佛日豆爆) Tên công án trong Thiền tông. Phật nhật đậu nổ. Phật nhật là ngài Phật nhật Bản không, đệ tử nối pháp của Thiền sư Vân cư Đạo ưng, thuộc tông Tào động cuối đời Đường. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Phật nhật Bản không và Thiền sư Giáp sơn Thiện hội (805-881). Cứ theo chương Phật nhật Bản không trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 20 thì khi ngài Phật nhật đến tham yết Thiền sư Giáp sơn, ngài Phật nhật ném cây gậy trước mặt ngài Giáp sơn, ngài Giáp sơn hỏi (Đại 51, 361 hạ): -Chẳng phải từ Thiên thai mà được đấy chứ? Ngài Phật nhật đáp: -Chẳng phải từ Ngũ nhạc sinh ra. Ngài Giáp sơn lại hỏi: -Không phải từ núi Tu di mà được đấy chứ? Ngài Phật nhật trả lời: -Cung trăng cũng chẳng gặp. Ngài Giáp sơn liền bảo: -Vậy thì từ người khác mà được! Ngài Phật nhật liền bác, nói: -Chính mình còn là oan gia thì người khác được phỏng có ích gì? Ngài Giáp sơn khen rằng: -Trong tro lạnh có 1 hạt đậu nổ. Nói xong, ngài gọi vị Duy na đến bảo sắp xếp chỗ ở. [X. Thiền uyển mông cầu Q.trung].
phật oan thiền sư ngữ lục
(佛冤禪師語錄) Ngữ lục, 12 quyển, do ngài Phật oan Triệt cương soạn vào đời Thanh, ngài Tính thuần biên tập, ấn hành vào năm Khang hi 36 (1697). Nội dung gồm các ngữ lục của ngài Phật oan soạn khi trụ trì các Thiền viện sau đây: -Thiền viện Chư cổ, núi Cổ tự ở Nội giang. -Thiền viện Chiêu giác, núi Phụng sơn ở Phủ uy, Thành đô. -Thiền viện Triều âm, núi Lạc già, Song lưu. -Thiền viện Bát nhã, núi Thiên trì ở Nội giang và cácPháp ngữ: -Bỉnh phất, Cơ duyên, Niêm cổ…...của Thủ tọa liêu ở chùa Chiêu giác. Ngoài ra còn có: Đông độ lịch truyền tổ sư tượng tán, Nguyên lưu niêm tụng, Tụng cổ, Phần đăng, Hành diêu, Tạp trứ, Phật sự, Thư tín vấn đáp, Thi kệ, Ca v.v...…
phật phàm nhất thể
(佛凡一體) Cũng gọi Sinh Phật bất nhị, Sinh Phật nhất như, Sinh Phật bình đẳng, Phàm thánh bất nhị. Phật và phàm phu cùng một thể, nghĩa là chúng sinh và Phật là một, là bình đẳng, tâm Phật và tâm chúng sinh chẳng phải là hai, chân như pháp tính sẵn có của chúng sinh cùng với pháp thân của Phật vốn bình đẳng. (xt. Sinh Phật Nhất Như).
Phật pháp
佛法; S: buddha-dharma; P: buddha-dhamma; |Chỉ lời dạy, giáo lí của đức Phật, Phật giáo.
phật pháp
Buddha dharma (S), Buddhism Butsudo (J), Buppō (J), Buppō daimeiroku (J), Giáo pháp của Phật.
; Buddha-Dharma (S). The Law or body of doctrine attributed to the Buddha; the Buddha's teachings; the Buddha's power.
; (佛法) Giáo pháp do đức Phật nói ra, bao gồm các thứ giáo nghĩa và chân lí Phật giáo mà giáo nghĩa ấy biểu đạt. Luận Thành thực quyển 1 nêu ra 6 từ ngữ đồng nghĩa với danh từ Phật pháp gọi là Phật pháp lục danh (6 tên gọi của từ Phật pháp). Đó là: 1. Thiện thuyết: Nói đúng như thực. 2. Hiện báo: Làm cho người ta được quả báo ngayởđời hiện tại. 3. Vô thời: Không chờ đợi sao tốt sao xấu mà tùy thời tu đạo. 4. Năng tương: Dùng hạnh chân chính giáo hóa chúng sinh đến giác ngộ. 5. Lai thường: Phải tự mình chứng ngộ. 6. Trí giả tự tri: Người có trí tuệ có khả năng tự tin hiểu. Ngoài ra, Phật pháp là pháp xuất thế gian, đối lại với Vương pháp là pháp tắc do các vua chúa đặt ra để thống trị nhân dân. Sự quan hệ giữa Phật pháp và Vương pháp tùy thời tùy nơi mà có khác: Có lúc có nơi dùng Vương pháp để hộ trì Phật pháp, truyền bá Phật pháp, như các vua A dục, A nị sắc ca…... của Ấn độ, vua Lương vũ của Trung quốc...… Nhưng cũng có nơi có thời dùng Vương pháp để chống phá Phật pháp, thậm chí tiêu diệt Phật pháp, như cái họa Tam Vũ Nhất Tôn (Ba vua Vũ một vua Tôn) trứ danh trong lịch sử Phật giáo Trung quốc. Lại nữa, Pháp mà đức Phật chứng ngộ được chính là đạo lí duyên khởi, chân lí của pháp giới. Nói theo nghĩa rộng thì tất cả lời nói chân thiện mĩ, cho đến các sự lí chân thực, chính xác…... đều là Phật pháp. Còn nói theo nghĩa hẹp thì Phật pháp thông thường chuyên chỉ cho giáo pháp do đức Phật Thích ca mâu ni nói ra. [X. kinh Tạp a hàm Q.20; phẩm Tựa kinh Pháp hoa; kinh Kim cương bát nhã; kinh Đại bảo tích Q.4].
phật pháp chân như
(佛法真如) Phật pháp chỉ cho 5 trí, 37 trí...… mà đức Phật có đầy đủ, trí này là trí đức của Thức đại (đại thứ 6); còn Chân như là chỉ cho cái lí mà đức Phật chứng được, lí này là lí đức của 5 đại trước (đất, nước, gió, lửa, không). Hợp chung 2 đức lí và trí lại thì đó là thể tính của thực tướng sắc tâm sẵn có trong chúng sinh.
phật pháp kim thang biên
(佛法金湯編) Tác phẩm, 16 quyển, do ngài Đại tông Tâm thái (1327-1415) soạn vào đời Minh, được đưa vào Vạn tục tạng tập 148. Nội dung sách này biên chép truyện kí và ngữ yếu của các bậc đế vương, danh gia có liên quan đến Phật giáo trong khoảng thời gian 1.700 năm, từ Chiêu vương nhà Chu đến Thuận đế nhà Nguyên, gồm 139 người, cuối mỗi truyện đều có ghi rõ điển tích.Thời đại của ngài Tâm thái, Phật giáo suy đồi và luận điệu bài xích Phật giáo của Nho gia, Đạo gia rất thịnh hành, cho nên ngài Tâm thái soạn bộ sử truyện của những người ngoại hộ Phật giáo qua các triều đại này là muốn khiến cho những người bài xích Phật giáo phản tỉnh, không những thế mà còn muốn giới Phật giáo cũng phải tự bừng tỉnh để vãn cứu tình thế. Năm Hồng vũ 26 (1393), bộ sách được ấn hành có 10 quyển, đến năm Vạn lịch 28 (1600), ngài Như tỉnh in lại là 16 quyển, bấy giờ cũng được biên vào Tục tạng nhà Minh.
phật pháp kim thang lục
(佛法金湯錄) Tác phẩm, 3 quyển, do cư sĩ Hồng bao hiệu Đồ long soạn vào đời Minh, sách được hoàn thành vào năm Vạn lịch 30 (1602). Quyển thượng, tác giả trưng dẫn luận điệu bài Phật của các Nho gia đời Tống để bác bỏ. Trong 2 quyển trung, hạ tác giả dùng những lời giản dị để giải thích những danh từ Phật giáo khó hiểu trong các tông Thiên thai, Tịnh độ, Luật, Thiền...… nhằm làm cho sự truyền bá Phật giáo được phổ cập trong nhân gian….
Phật Pháp Kim Thang Thiên
(佛法金湯篇, Buppōkintōhen): 16 quyển, do Đại Tông Tâm Thái (岱宗心泰) nhà Minh biên, trùng khắc vào năm thứ 24 (1596) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Đây là thư tịch lịch sử hộ trì Phật pháp do Đại Tông Tâm Thái―vị tăng ở Đông Sơn Thiền Tự (東山禪寺) vùng Việt Châu (越州, Tỉnh Sơn Đông)―thâu tập 398 mẫu truyện của những người đã từng quy y và hộ trì Phật pháp như các đấng quân chủ, Tể Quan, danh Nho, v.v., trải qua các đời từ vua Chiêu Vương (昭王) nhà Chu cho đến Thuận Tông (順宗) nhà Nguyên. Đầu sách có lời tựa của Tông Lặc (宗泐), Thanh Tuấn (清濬), Thủ Nhân (守仁), Tô Bá Hành (蘇伯衡), v.v., và lời tựa trùng san của Du Nhữ Vi (俞汝爲).
phật pháp lục danh
(佛法六名) Sáu tên gọi khác của Phật pháp. Đó là: 1. Thiện thuyết: Dùng thực tướng của các pháp để nói các pháp, như dùng tướng bất thiện để nói pháp bất thiện. 2. Hiện báo: Được quả báo ngay trong đời hiện tại. Như sáng thụ giáo, chiều đắc đạo; hoặc chiều nghe pháp, sáng hôm sau được lợi ích. 3. Vô thời: Tùy thời mà tu tập, chứ không đợi sự lành dữ của các thiên thể như mặt trời, mặt trăng và các vì sao. 4. Năng tương: Dùng hạnh chân chính nên có công năng dẫn dắt chúng sinh đến cảnh giới giải thoát yên vui. 5. Lai thường: Tự mình phải chứng ngộ chứ không theo ai khác. 6. Trí giả tự tri: Người có trí tuệ có khả năng tự mình tin và hiểu. [X. luận Thành thực Q.1].
phật pháp thân
Buddhadharmakāya (S).
phật pháp thắng vương
Buddha of Dharma-King Victory.
phật pháp thọ mệnh
(佛法壽命) Sự sống lâu dài của Phật pháp. Chỉ cho giới luật. Giới luật là những điều giới cấm do đức Phật chế định để phòng ngừa đệ tử Phật vi phạm những lầm lỗi của 3 nghiệp (thân, khẩu, ý). Nếu các đệ tử Phật nương theo đó mà tu hành thì được thanh tịnh, khai phát trí tuệ, vào được các cảnh giới thiền định. Vì thế nên biết giới luật là gốc của sự giải thoát. Nếu giới luật được giữ gìn nghiêm túc, đời đời được tuân hành thì Phật pháp cũng được lưu truyền lâu dài, mãi mãi không diệt. Cho nên đức Phật từng gọi giới luật là Phật pháp thọ mệnh. (xt. Giới Luật).
phật pháp tăng
Buddha dharma shanga (S).
phật pháp tạng
Buddha thesaurus, the sùtras of the Buddha's preaching.
phật pháp tử nhân
(佛法死人) Xác chết trong Phật pháp, tức chỉ cho người vi phạm 4 tội nặng: Giết người, dâm loạn, ăn cướp và nói dối mà giới luật Tiểu thừa cấm ngặt. Trong giới luật Tiểu thừa, chúng tăng nếu vi phạm 1 trong 4 tội nêu trên thì giống như kẻ tử tội trong Phật pháp, gọi là tội chặt đầu, không thể sám hối được nữa. Nhưng trong giới luật Đại thừa, nếu phạm tội này thì vẫn có thể nhờ trì chú sám hối, tiêu trừ tội nghiệp để phát sinh giới thể thanh tịnh trở lại. Ma ha chỉ quán quyển 4 thượng (Đại 46 39 hạ) nói: Nếu người phạm tội nặng thì là người đã chết trong Phật pháp, đối với Tiểu thừa thì không còn cách nào để sám hối, nhưng theo Đại thừa thì cho được sám hối. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2, phần 2].
phật pháp vô biên
(佛法無邊) Giáo pháp của đức Phật rộng lớn như biển cả không có bờ bến. Phần Nhân duyên trong luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 575 hạ) nói: Vì muốn thu tóm giáo pháp rộng lớn sâu xa và nghĩa lí vô biên của đức Như lai nên nói ra luận này.Về sau, từ ngữ Phật pháp vô biên thường được dùng theo như 1 tục ngữ để ví dụ thần thông rộng lớn, không việc gì không làm được.
Phật Pháp Đại Minh Lục
(佛法大明錄, Buppōdaimeiroku, năm 1229): 20 quyển, trước tác của Khuê Đường Cư Sĩ (圭堂居士) vào cuối thời nhà Tống, có lời tựa của Không Ẩn Đạo Nhân (空隱道人) ghi năm thứ 2 (1229) niên hiệu Thiệu Định (紹定), lời tựa của tác giả, lời tựa của cư sĩ họ Lý vào năm thứ 2 (1235) niên hiệu Đoan Bình (端平). Ngoài ra, Khuê Đường còn viết lời hậu tựa, Đạo Lâm (道琳) và Chơn Chiếu (眞照) ở Xuân Trừng Am (春澄庵) ghi lời bạt vào năm thứ 2 (1226) niên hiệu Bảo Khánh (寳慶). Nội dung bộ này ghi rõ những điều cần phải dụng tâm về Thiền pháp tu hành như minh tâm, tịnh hạnh, phá mê, nhập lý, công phu, gặp cơ duyên, đại ngộ, đại dụng, chơn không, độ người, diệt độ, hóa thân, và phần tạp ký, dẫn chứng hơn 80 loại Ngữ Lục Thiền, làm sáng tỏ tư tưởng cũng như lập trường của chính Khuê Đường, và từ lập trường của Thiền khẳng định rõ sự nhất trí của Tam Giáo. Khi Thánh Nhất Quốc Sư Viên Nhĩ (聖一國師圓爾) từ Trung Quốc trở về, ông có mang vào Nhật thư tịch này. Trong Thánh Nhất Quốc Sư Niên Phổ (聖一國師年譜) có thuật lại sự việc thầy ông là Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) đã lấy pháp y của Dương Kì (楊岐) và bộ sách này phó chúc cho Viên Nhĩ rồi dạy rằng: “Việc lớn của tông môn vốn ở trong bộ sách này, khi trở về nước thì hãy lấy đây làm chuẩn”. Tuy nhiên, trong phần Thánh Nhất Quốc Sư Truyện (聖一國師傳) của bộ Nguyên Hanh Thích Thư (元亨釋書), Hổ Quan Sư Luyện (虎關師錬)―pháp hệ của Quốc Sư―lại cho tác phẩm này là giả truyền, không có thật. Thế nhưng, sự thật là trong số thư tịch Quốc Sư mang về Nhật có bộ này, việc này ngay cả Hổ Quan cũng công nhận. Hiện tại, bản nhà Tống ghi năm thứ 2 (1229) niên hiệu Thiệu Định (紹定) được tàng trữ tại Linh Vân Viện (靈雲院) của Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji), bản nhà Nguyên ghi năm thứ 16 (1356) niên hiệu Chí Chánh (至正) ở Thiên Lý Đại Học (天理大學), bản nhà Minh ghi năm đầu (1399) niên hiệu Kiến Văn (建文) ở Đại Đông Cấp Kỷ Niệm Văn Khố (大東及記念文庫), v.v.
phật pháp đại minh lục
(佛法大明錄) Tác phẩm, 20 quyển, do cư sĩ Khuê đường, soạn vào cuối đời Tống. Nội dung sách này bao gồm hơn 10 hạng mục như: Minh tâm, Tịnh hành, Phá mê, Nhập lí, Công phu, Nhập cơ, Kiến sư, Đại ngộ, Đích ý, Đại dụng, Chân không, Độ nhân, Nhập tịch, Hóa thân, Thiên ngoại tạp kí...… đều là những mục tu hành Thiền pháp tâm đắc của tác giả. Trong sách, tác giả cũng trích dẫn hơn 80 thứ Thiền lục để chứng minh, đồng thời, làm sáng tỏ tư tưởng của mình đối với tư trào Tam giáo hợp nhất theo lập trường Thiền tông.
phật phát
Buddhakesa (S), Buddha's hair Tóc của Phật.
phật phật
(佛佛) Hàm ý là chư Phật. Chẳng hạn như từ Phật phật tổ tổ là chỉ cho chư Phật ba đời mười phương và lịch đại chư tổ. Hoành trí thiền sưquảng lục quyển 8 (Đại 48, 98 quyển) nói: Cái then máy chủ chốt của Phật phật tổ tổ chẳng chạm việc mà biết, không đối duyên mà chiếu.
phật phọc pháp phọc
(佛縛法縛) Đồng nghĩa: Phật kiến pháp kiến. Phậtbuộc pháp buộc, nghĩa là tâm bị kiến chấp đối với Phật pháp trói buộc không thể giải thoát. Phật pháp tuy là chân lí cao siêu tôn quí, nhưng nếu người ta khởi tâm chấp trước thì cũng sẽ bị mắc kẹt trong đó mà chướng ngại cho việc tu hành, cho nên gọi là Phật phược pháp phược
phật phổ hiện sắc thân quang
Buddha of the Light of Universally Manifested Form Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật phổ kiến như lai
Xem Văn thù sư lợi Bồ tát.
phật phổ minh
Buddha of Universal Brilliance Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật phổ quang
Buddha of Universal Light Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật phổ tịnh
Buddha of Tranquility Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật quan thế đăng
Buddha of Lamp that Observes the World.
phật quang
Bukkho (J), Fokuang (C), Bukkho (J), Buddha ransi (S)Quang minh của Phật, ánh sáng trong người Phật toát raTên một vị sư.
; Buddharansi (S) The light of Buddha, spiritual enlightenment; aura, halo, glory.
; (佛光) Ánh sáng của Phật. Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 421 thượng) nói: Phật quang chiếu diệu tối đệ nhất Cố Phật hựu hiệu Quang viêm vương. (Ánh sáng Phật chiếu soi bậc nhất Vì thế có hiệu Quang viêm vương).
phật quang phái
Bukkō-ha (J)Tên một tông phái.
phật quang quốc sư
Bukko Kokushi (J)Tên một vị sư.
phật quang quốc sư ngữ lục
(佛光國師語錄) Gọi đủ: Sắc thụy Phật quang viên mãn thường chiếu quốc sư tam hội ngữ lục. Cũng gọi Phật quang viên mãn thường chiếu quốc sư ngữ lục, Viên mãn thường chiếu quốc sư ngữ lục, Phật quang hòa thượng ngữ lục, Phật quang thiền sư ngữ lục.Ngữ lục, 10 quyển, do ngài Vô học Tổ nguyên (1226-1286) thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Tống, các ngài Nhất chân, Nhất ngu biên tập, ấn hành vào năm 1726, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung bộ sách này bao gồm các ngữ lục nói ở chùa Chân như tại Thai châu, Trung quốc, ngữ lục nói ở chùa Kiến trường, chùa Hưng thánh tại Nhật bản (ngài Tổ nguyên sang Nhật hoằng pháp vào năm 1280) và các phần Phổ thuyết, Tiểu Phật sự, Thỉnh ích vấn đáp tâm yếu, Kệ tụng, Thập di tạp lục, Niên biểu tạp lục v.v…...
phật quang sơn tự
(佛光山寺) Ngôi chùa ở làng Đại thụ, huyện Cao hùng, Đài loan, do Đại sư Tinh vân sáng lập vào năm Dân quốc 56 (1967), trên 1 khoảng đất hơn 50 mẫu Tây. Đây là 1 đạo tràng hiện đại nổi tiếng của Phật giáo ở Đài loan, phát triển tổng hợp về mọi mặt giáo dục, từ thiện, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng tông giáo...… lấy việc xây dựng nền Phật giáo nhân sinh làm tông chỉ.A. Về Kiến Trúc. 1. Kiến trúc điện đường: -Điện Đại hùng: Kiến trúc theo kiểu cung điện của Trung quốc, bao gồm lầu Đông thiền, lầu Tây tịnh, nằm trên thửa đất hơn 3 nghìn mét vuông, thờ Phật Thích ca mâu ni, Phật Dược sư và Phật A di đà. -Điện Đại bi: Nằm trên thửa đất hơn 230 mét vuông, thờ tượng bồ tát Bạch y Quan âm. -Điện Đại trí: Kiến trúc theo kiểu Tây phương 2 tầng lầu, lầu trên thờ tượng bồ tát Văn thù, lầu dưới là nhà kỉ niệm thờ Tông ngưỡng thượng nhân. -Điện Đại nguyện: Thờ bồ tát Địa tạng. -Điện Đại hạnh: Thờ bồ tát Phổ hiền. -Lầu Truyền đăng: Kiến trúc theo kiểu Tây phương 3 tầng lầu, là phòng ở của các chức sự thuộc năm giới. -Lầu Đông thiền: Hai tầng lầu, lầu trên làm nhà giảng, lầu dưới là văn phòng làm việc. -Lầu Tây tịnh: Lầu trên là phòng họp hội nghị quốc tế, lầu dưới là nơi làm việc liên quan đến hoằng pháp. -Hội quán Triều sơn: Nhà khách đối ngoại của Phật quang sơn. Bề ngoài kiến trúc pha kiểu Trung quốc và Ấn độ, bên trong là thiết bị hiện đại hóa, lầu 1 là nhà trai, nhà hội họp; lầu 2 là phòng khách, có thể chứa 500 người. 2. Kiến trúc giáo dục: -Viện nghiên cứu Phật giáo Trung quốc và Học viện Phật giáo Đông phương. -Trường Trung học cao cấp Phổ môn. -Hội giảng tập tín đồ. 3. Kiến trúc văn hóa: -Nhà trưng bày các văn vật Phật giáo. -Hang động Tịnh độ. -Thành Đại Phật. 4. Kiến trúc từ thiện: -Tinhxá Phật quang. -Viện dục anh đại từ. -Nhà vạn thọ. -Sở khám bệnh và phát thuốc Phật quang miễn phí. B. Về Tổ Chức. Chùa Phật quang sơn có thiết lập Ủy hội giáo vụ là cơ cấu cao nhất, vị Trụ trì Tổng bản sơn là Hội trưởng. Sau đó có các viện như: Viện Đô giám, viện Nghiên cứu Phật giáo Trung quốc, viện Trưởng lão, hội Truyền đăng, hội Học bổng Phật quang sơn…... C. Về Nhân Sự. Chùa Phật quang sơn là đạo tràng của 7 chúng đệ tử: Tỉ khưu, tỉ khưu ni, sa di, sa di ni, thức xoa ma na, ưu bà tắc và ưu bà di…... Phật quang sơn phát triển rất mau chóng, số tín chúng mỗi ngày một tăng, trong vòng 20 năm đã phải mở thêm 11 đạo tràng để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng. Đó là: Chùa Phổ môn ở Đài bắc, chùa Phổ hiền ở Cao hùng, chùa Lôi âm ở Nghi lan, chùa Cực lạc ở Cơ long, thư viện Vô lượng thọ ở Tân trúc, chùa Phúc quốc ở Đài nam, chùa Tuệ từ ở Thiện hóa, chùa Thọ sơn ở Cao hùng và chùa Tín nguyện ở Bành hồ. Ngoài ra, ở Hoa kì có chùa Tây lai và chùa Bạch pháp, ở Hương cảng có tinh xá Phật hương và ở Quan đảo thì có sở truyền giáo…...
phật quang thiền sư
Bukkō Zenji (J)Tên một vị sư.
phật quang tinh xá
(佛光精舍) Một trong những cơ sở phúc lợi xã hội do Phật quang sơn sáng lập.Tinh xá được xây dựng ở chân núi phía tây Phật quang sơn trong làng Đại thụ, huyện Cao hùng, Đài loan, phía dưới ngọn Nga mi, phía sau trường Trung học Phổ môn. Sự ra đời của tinh xá này là do Phật quang sơn hưởng ứng lời kêu gọi phục hưng nền văn hóa Trung hoa, phát huy tinh thần kính già hiếu thảo, tăng tiến sự hài hòa của luân lí gia đình, giúp đỡ người già tổ chức sinh hoạt về mọi mặt để họ có được đời sống yên vui thanh thản. Tinh xá được khởi công kiến thiết vào tháng 10 năm Dân quốc 63 (1974), đến ngày mồng 1 tháng 11 năm Dân quốc 65 (1976) thì hoàn thành. Tinh xá nằm trên thửa đất hơn 3 nghìn mét vuông. Ngoài các phòng cá nhân còn có những kiến trúc công cộng như: Nhà ăn, nhà niệm Phật, phòng y tế, vườn hoa…... Điều kiện được nhậnchovào ở trong tinh xá này phải là những tín đồ Phật giáo chính tín, tuổi từ 55 trở lên, không phân biệt tăng tục, năm nữ.
Phật Quang Tổ Nguyên
(佛光祖元, Bukkō Sogen, 1226-1286): vị Thiền tăng của Phái Dương Kì và Phá Am thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, vị tổ khai sơn Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), vị tổ của Phái Phật Quang (佛光派), tự là Tử Nguyên (子元), hiệu Vô Học (無學), người Phủ Khánh Nguyên (慶元府, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay), họ là Hứa (滸). Theo lời chỉ thị của anh là Trọng Cử Hoài Đức (仲擧懷德), ông đến tham bái Bắc Nhàn Cư Giản (北礀居簡) ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺), Hàng Châu (杭州, thuộc Tỉnh Triết Giang) và xuất gia theo vị nầy. Sau đó, ông đến làm môn hạ của Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Kính Sơn (徑山), được vị nầy ấn khả cho và kế thừa dòng pháp. Sau khi thầy ông qua đời, ông lại đến tham yết một số danh tăng khác như Thạch Khê Tâm Nguyệt (石溪心月) ở Linh Ẩn Tự (靈隱寺), Yển Khê Quảng Văn (偃溪廣聞) ở Dục Vương Sơn (育王山), Hư Đường Trí Ngu (虛堂智愚), v.v. Sau đó, ông trở về quê cũ, theo làm môn đệ của Vật Sơ Đại Quán (物初大觀) ở Đại Từ Tự (大慈寺) mà tu hành tọa Thiền suốt hai năm ròng. Về sau, thể theo lời thỉnh cầu của vị ấp chủ La Quý Trang (羅季莊), ông đến trú tại Bạch Vân Am (白雲庵) ở Đông Hồ (東湖). Khi ấy ông 37 tuổi, ông sống nơi đây trong vòng 7 năm, rồi sau khi thân mẫu ông qua đời, ông đến phụ giúp với pháp huynh Thối Canh Hành Dũng (退耕行勇) ở Linh Ẩn Tự. Kế tiếp ông lại được Đại Truyền Cống Thu Hác (大傳賈秋壑) cung thỉnh đến trú tại Chơn Như Tự (眞如寺), vùng Đài Châu (台州, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay) trong vòng 7 năm. Đến năm đầu (1275) niên hiệu Đức Hựu (德祐), để lánh nạn đao binh của quân nhà Nguyên, ông đến trú tại Năng Nhân Tự (能仁寺) vùng Ôn Châu (溫州, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay). Sau đó, ông lại trở về Tứ Vương Sơn (四王山), đến tham viếng pháp huynh ở Thiên Đồng Sơn (天童山) là Hoàn Khê Duy Nhất (環溪惟一), dừng chân lưu lại đây và thuyết giáo cho đại chúng. Đến năm thứ 2 (1279) niên hiệu Hoằng An (弘安), nhân việc Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hōjō Tokimune) triệu thỉnh những vị Thiền tăng cao đức sang Nhật làm trú trì Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), Tổ Nguyên được suy cử, nên vào tháng 5 cùng năm nầy ông rời khỏi Thái Bạch Sơn (太白山), rồi ngày 30 tháng 6 thì đến Thái Tể Phủ (太宰府), và tháng 8 thì đến Liêm Thương. Khi ấy Thời Tông nghênh đón ông rất trọng thể, và cử ông làm trú trì Kiến Trường Tự sau khi Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) qua đời. Vào mùa đông năm 1282, Thời Tông kiến lập nên Viên Giác Tự, rồi thỉnh Tổ Nguyên đến làm tổ khai sơn chùa nầy. Về sau, ông kiêm quản cả hai chùa Kiến Trường và Viên Giác, bố giáo Thiền phong khắp vùng Liêm Thương, và trong vòng 8 năm lưu trú tại Nhật, ông đã xác lập cơ sở Lâm Tế Tông Nhật Bản. Vào tháng 8 năm thứ 9 niên hiệu Hoằng An (弘安), ông phát bệnh, và đến ngày mồng 3 tháng 9 thì viên tịch, hưởng thọ 61 tuổi đời, 49 pháp lạp. Ông được ban thụy hiệu là Phật Quang Quốc Sư (佛光國師) và hiệu là Viên Mãn Thường Chiếu Quốc Sư (圓滿常照國師). Bộ Phật Quang Quốc Sư Ngữ Lục (佛光國師語錄) của ông gồm 10 quyển hiện còn lưu hành.
Phật Quang Tự
(佛光寺, Bukkō-ji): ngôi bản sơn chính của Phái Phật Quang Tự (佛光寺派) thuộc Tịnh Độ Chơn Tông; sơn hiệu là Sáp Cốc Sơn (澀谷山) hay Trấp Cốc Sơn (汁谷山); gọi cho đủ là Sáp Cốc Sơn A Di Đà Phật Quang Tự (澀谷山阿彌陀佛光寺); hiện tọa lạc tại số 397 Shingai-chō (新開町), Bukkōjishita (佛光寺下), Takakura-dōri (高倉通), Shimogyō-ku (下京區), Kyōto-shi (京都市), Kyōto-fu (京都府). Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Vào năm 1212 (Kiến Lịch [建曆] 2), sau khi Thân Loan được miễn xá tội lưu đày ở vùng Việt Hậu, ông trở về Kinh Đô, lập nên một thảo am ở vùng Sơn Khoa (山科, Yamashina) và lấy tên là Hưng Long Chánh Pháp Tự (興隆正法寺, gọi tắt là Hưng Chánh Tự [興正寺, Kōshō-ji]). Đến năm 1327 (Gia Lịch [嘉曆] 2), xảy ra vụ mất cắp pho tượng A Di Đà do hai vị Thánh Nhân Pháp Nhiên và Thân Loan truyền lại, người lấy cắp khi cầm đến pho tượng này thì tay chân trở nên đau nhứt khó chịu không tài nào chịu được, cuối cùng anh ta mới đem vất pho tượng vào trong đám cỏ. Bức tượng tự nhiên phóng ra hào quang sáng rực trong lùm cỏ, nên người ta mới phát hiện ra nó, và cũng do từ câu chuyện này mà chùa lại được đổi tên là thành Phật Quang Tự. Vào năm 1586 (Thiên Chánh [天正] 14), nhân việc tướng quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) muốn xây dựng một ngôi điện Đại Phật ở vùng Sáp Cốc (澀谷, Shibuya), nên mới yêu cầu chùa dời về vị trí hiện tại vậy. Vào thời ấy, phần lớn tín đồ đều quay về với Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), nên chùa này không được hưng thạnh bao nhiêu. Hiện tại những ngôi đường vũ của chùa phần lớn là kiến trúc dưới thời Minh Trị. Pho tượng đứng A Di Đà Như Lai được an trí tại ngôi điện chính, tương truyền là tác phẩm do tự tay Từ Giác Đại Sư (慈覺大師) tạc nên. Nơi Đại Sư Đường có bức tượng ngồi của Thân Loan Thượng Nhân do chính tay ông làm ra. Ngoài ra chùa còn lưu giữ nhiều bảo vật quý giá khác như tượng Thánh Đức Thái Tử bằng gỗ do Trạm Hạnh (湛幸) tạc năm 1320 (Nguyên Ứng [元應] 2); tượng A Di Đà Như Lai đứng, bằng gỗ, v.v.
phật quang tự
(佛光寺) I. Phật Quang Tự. Chùa ở núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, được sáng lập vào thời Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy, người đời gọi là Tiền Phật quang, hậu Ngũ đài. Vào thời đại Trung đường, qui mô chùa này rất hoành tráng, đắp vẽ tinh xảo, nhưng tất cả đã bị hủy hoại trong pháp nạn Hội xương. Năm Đại trung 11 (857) đời Đường, chùa này đã được Hòa thượng Nguyện thành xây dựng lại, chính điện rộng 7 gian, sâu 4 gian, hiện là kiến trúc bằng gỗ kiểu đời Đường xưa nhất còn lại. Trong điện có 35 pho tượng Phật và Bồ tát được đắp vào đời Đường, cùng với tượng chân dung của Hòa thượng Nguyện thành và đệ tử Ninh công ngộ(người đã góp côngcủavào việc làm lại tòa chính điện). Song song với chính điện là điện Văn thù, được xây cất vào năm Thiên hội 15 (1137) đời Kim, cũng là 1 kiến trúc rất xưa. Bên ngoài chính điện có 1 cột đá được khắc chạm rất tinh vi, trên khắc mấy chữ Đường Đại trung thập nhất niên (Năm Đại trung 11 đời Đường). Ngoài ra còn có những di vật văn hóa quí giá chạm trỗ trên đá rất đẹp đẽtỉ mỉ như tháp mộ, thạch kinh chàng…... Tượng Phật trong chính điện là tác phẩm đời Đường, tuy đã trải qua nhiều đời được sửa sang lại, màu sắc không còn được như cũ, nhưng tạo hình thì vẫn còn giữ được phong cách đời Đường, có thể sánh ngang với những tượng được đắp vào đời Đường ở Đôn hoàng. II. Phật Quang Tự. Chùa ở thành phố Kinh đô (Kyoto), hiệu là Sáp cốc sơn, thuộc phái Phật quang tự của Chân tông, Nhật bản, do ngài Thân loan sáng lập vào năm 1212. Năm Kiến bảo thứ 6 (1218), Thiên hoàng Thuận đức ban hiệu là Hưng Long Chính Pháp Tự, truyền đến đời thứ 7 là ngài Liễu nguyên thì chùa được dời đến Trang sáp cốc trong Lạc đông trúc. Vào năm Gia lịch thứ 2 (1327), tượng Phật bản tôn A di đà thờ trong chùa bỗng phóng quang, điềm lạ chiếu đến cung vua, Thiên hoàng Đề hồ liền ban sắc đổi tên chùa là Phật Quang Tự. Chùa có các tự viện phụ như chùa Minh hiển, chùa Chiếu lưu, viện Mễ lan, viện Đại thiện, viện Trường tính, viện Cửu viễn, viện Xương tạng, viện Giáo âm, am Cao lâm, chùa Tây đức, chùa Đại hạnh, chùa Thường hành..….
phật quang xuất bản xã
(佛光出版社) Nhà xuất bản Phật quang, 1 trong những cơ sở xuất bản văn hóa của Phật quang sơn. Ngày mùng 1 tháng 8 năm Dân quốc 48 (1959), Đại sư Tinh vân sáng lập Phật giáo văn hóa phục vụ xứ. Ban đầu đặt ở thành phố Tam trọng, huyện Đài bắc, năm Dân quốc 53 (1964) dời đến thành phố Cao hùng, đến năm Dân quốc 56 (1967) dời đến Phật quang sơn. Giữa sự sáng lập Phật quang sơn và sự phát triền của Phật giáo văn hóa phục vụ xứ có mối quan hệ mật thiết. Nghiệp vụ chủ yếu của Phật giáo văn hóa phục vụ xứ là xuất bản những kinh sách phổ thông của Phật giáo. Năm Dân quốc 67 (1978), để mở rộng nghiệp vụ, Phật giáo văn hóa phục vụ xứ được đổi tên là Phật Quang Xuất Bản Xã và đặt chi nhánh ở Đài bắc Phật quang thư cục. Đồng thời, thành lập bộ Biên tập, hoạch định tiến hành công việc biên soạn Đại tạng kinh.Ban đầu, ban biên tập đặt ở Đài bắc, năm Dân quốc 69 (1980) được dời đến chùa Phúc sơn Chương hóa và thiết lập Phật quang Đại tạng kinh biên tu ủy viên hội và Phật học từ điển biên tậpủy viên hội. Thành viên của 2 ủy viên hội này đều là các học giả của Phật giáo nổi tiếng của Trung quốc và các nước khác. Họ có 5 nhiệm vụ chủ yếu: 1. Biên soạn và ấn hành các bộ từ điển học thích hợp cho người hiện đại sử dụng. 2. Khảo đính, chú giải các loại bản kinh điển cũ để biên soạn thành 1 bộ Đại tạng kinh hiện đại thích hợp với sự sử dụng của mọi người. 3. Biên soạn và ấn hành bộ niên biểu Phật giáo sử về các hoạt động của Phật giáo kể từ sau khi đức Phật nhập diệt cho đến nay. 4. Biên soạn bộ Phật giáo tùng thư phổ thông. 5. Thiết kế các loại pháp khí của Phật giáo để lưu thông rộng rãi.
phật quán ngũ sự hàng sinh
(佛觀五事降生) Đức Phật quán xét năm việc giáng sinh. Ở trên cung trời Đâu suất, sắp sinh xuống cõi Sa bà, đức Phật bèn quán xét 5 việc trước khi đầu thai. Năm việc ấy là: 1. Quán xét chúng sinh đã thành thục hay chưa: Đức Phật quán xét căn cơ chúng sinh đã thành thục và hóa độ được, nên Ngài thị hiện giáng sinh. 2. Quán xét thời cơ đã đến hay chưa: Đức Phật quán xét thời cơ hóa độ chúng sinh đã đến, nên Ngài thị hiện giáng sinh. 3. Quán xét cõi nước nào giáng sinh được: Đức Phật quán xét khắp ba nghìn đại thiên thế giới, thấy nước Ca tì la vệ là được, nên Ngài chọn nước ấy để thị hiện giáng sinh. 4. Quán xét chủng tộc: Đức Phật quán xét các chủng tộc, thấy dòng Sát đế lợi là chủng tộc tôn quí và hưng thịnh nhất nên Ngài chọn để thị hiện giáng sinh. 5. Quán xét nhân duyên xem ai đáng làm cha mẹ: Đức Phật quán xét nhân duyên quá khứ, thấy vua Tịnh phạn và Hoàng hậu Ma da là những người chân thật thẳng thắn, có nhân duyên kiếp trước, cho đến làm cha mẹ, nên Ngài chọn để thị hiện giáng sinh. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.1].
Phật quả
佛果; C: fóguǒ; J: bukka; S: buddhaphala.|1. Quả vị Phật. Kết quả của việc tu tập Phật đạo. Giác ngộ, tỉnh giác. Đối lại là Phật nhân (佛因); 2. Hiệu của Thiền sư Viên Ngộ, Viên Ngộ Khắc Cần.|Phật quả chỉ trạng thái Giác ngộ hoàn toàn của một đức Phật. Ðạt Phật quả là mục đích cao nhất của mọi chúng sinh. Theo các kinh điển thượng thừa Phật giáo thì mỗi một chúng sinh đều có Phật tính, đã là một đức Phật nên Phật quả không cần phải »đạt« và tu hành chính là chứng ngộ Phật tính đó, biến thành đời sống hàng ngày.
phật quả
Buddhaphala (S).
; Buddha-phala (S). The Buddha-fruit, the state of Buddhahood.
; (佛果) I. Phật Quả. Cũng gọi Phật vị, Phật quả vị, Phật quả bồ đề. Phật là do tu hành muôn hạnh mà thành nên gọi là Phật quả, tức muôn hạnh năng thành là nhân, muôn đức sở thành là quả. Cũng tức là từ nhân tu hành mà đạt đến quả Phật vậy. [X. kinh Phật mẫu xuất sinh tam pháp tạng bát nhã Q.15; Chính pháp nhãn tạng chư ác mạc tác]. II. Phật Quả (1063-1135). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Tống, người Sùng ninh, tỉnh Tứ xuyên, họ Lạc, hiệu Phật quả thiền sư. Sư tham yết ngài Pháp diễn ở núi Ngũ tổ và được ngài ấn chứng. Vua Huy tông nhà Tống ban hiệu là Phật Quả Thiền Sư.(xt. Khắc Cần).
Phật quả 佛果
[ja] ブッカ bukka ||| The 'Buddha-fruit.' As opposed to foyin (佛因)--the Buddha-cause. The result of following the practices of the Buddha-path; the stage of buddhahood. Awakening, enlightenment. => Quả vị Phật. Kết quả của việc tu tập Phật đạo. Giác ngộ, tỉnh giác. Đối lại là Phật nhân 佛因.
phật quảng trang nghiêm vương
Buddha of King Adorned by Vast Glory Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
Phật Quật Duy Tắc
(佛窟惟則, Bukkutsu Isoku, 751-830): vị tăng của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, còn gọi là Di Tắc (遺則), xuất thân vùng Kinh Triệu (京兆, Trường An), họ Trường Tôn (長孫). Ông xuất gia khoảng năm 22 tuổi, theo làm môn hạ của Huệ Trung (慧忠) thuộc Ngưu Đầu Tông. Sau khi đại ngộ, ông vào trong hang núi Phật Quật (佛窟) trên Thiên Thai Sơn (天台山) kiến lập tinh xá và trở thành vị tổ của Học Phái Phật Quật. Vào ngày 15 mùa hè năm thứ 4 niên hiệu Thái Hòa (太和), ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi. Trước tác của ông để lại cho hậu thế có Dung Tổ Sư Văn (融祖師文) 3 quyển, Bảo Chí Thích Đề (寳誌釋題), Nam Du Phó Đại Sĩ Tự (南遊傅大士序), Vô Sanh Đẳng Nghĩa (無生等義) và thi ca hơn 10 thiên. Đến năm thứ 6 (865) niên hiệu Hàm Thông (咸通), bia tháp của ông được dựng lên, Duẫn Hàn Nghệ (尹韓乂) ở Hà Nam (河南) soạn văn bia tháp.
phật quật tự
(佛窟寺) Chùa ở núi Ngưu đầu, phía nam huyện Giang ninh, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Trong núi này có hang động, đời gọi là động Bích chi phật. Khoảng những năm Vĩnh sơ, Cảnh bình, quan Tư không họ Lưu dựa theo hang núi mà lập chùa, gọi là Phật quật tự(chùa Hang Phật). (Hoặc có thuyết cho rằng chùa này do quan Tư không Từ độ sáng lập vào khoảng năm Thiên giám đời Lương). Quan Tư không họ Lưu cũng chép 7 tạng kinh sách cất giữ trong chùa, người tu thiền từ khắp nơi đến chùa này. Vào cuối đời Tùy đầu đời Đường, Đại sư Pháp dung cũng từng chú tích tại đây, chùa trở thành nơi đọc Đại tạng và mở đạo của ngài.Năm Trinh quán 19 (645) chùa bị cháy, sau được xây dựng lại và luôn đổi tên. Đời Đường chùa có tên là Trường lạc, viện Tư thiện, viện Phúc xương. Đầu đời Tống, đổi tên là chùa Sùng kính, đến năm Hồng vũ đời Minh vua ban sắc lấy lại tên cũ là chùa Phật Quật;khoảng năm Chính thống lại đổi là chùa Hoành giác. Khoảng năm Hàm phong đời Thanh, chùa bị quân Thái bình thiêu hủy. Hiện nay chỉ còn hai ngôi tháp gạch, ngôi lớn 7 tầng hình bát giác và ngôi nhỏ 5 tầng hình tứ giác. Năm Hoàng hựu thứ 2 (1050), Đại sư Trường can Viên chiếu hiệu Phổ trang soạn Văn chí nói rõ nguồn gốc chùa này.
phật quốc
Buddha-bhŪmi (S)Xem Phật độ.
; Buddhaksetra (S). The country of the Buddha's birth, India. A country being transformed by a Buddha.
Phật Quốc Duy Bạch
(佛國惟白, Bukkoku Ihaku, ?-?): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, sống vào cuối thời Bắc Tống, pháp từ của Pháp Vân Pháp Tú (法雲法秀). Ông đã từng trú trì ở Pháp Vân Tự (法雲寺) thuộc Biện Kinh (汴京). Ông được vua Triết Tông và Huy Tông quy y theo, được ban cho thụy hiệu là Phật Quốc Thiền Sư (佛國禪師). Vào tháng 8 năm đầu (1101) niên hiệu Kiến Trung Tĩnh Quốc (建中靖國), ông soạn bộ Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄) 30 quyển, được nhà vua ban ngự chế lời tựa và cho nhập vào Đại Tạng. Đến cuối đời ông chuyển đến Thiên Đồng Sơn (天童山). Ngoài ra ông còn viết bộ Đại Tạng Cương Mục Chỉ Yếu Lục (大藏綱目指要錄) 8 quyển.
phật quốc kí địa lí khảo chứng
(佛國記地理考證) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Đinh khiêm đời Thanh soạn. Ngài Pháp hiển, vị Cao tăng đời Đông Tấn, có soạn 1 quyển Phật quốc kí, trong đó, ngài thuật lại những điều ngài thấy nghe trong chuyến Tây du cầu pháp của ngài. Cuộc hành trình phát xuất từ thành Trường an, trải qua các xứ Thiện thiện, Vu điền, Thông lãnh... đến Thiên trúc. Đinh khiêm đem tình hình địa lí trong quyển Phật quốc kí chia làm 8 hạng mục: Nhìn thế đất, dò tình hình xem phương hướng,xét gần xa, tính ngày giờ, tra xét đường lối, phân biệt sự giống nhau và khác nhau và khảo chứng những chỗ còn nghi ngờ..., do đó mà tình hình địa lí vùng Tây vực ghi chép trong sử sách xưa nay được rõ ràng.
phật quốc lịch tượng biên
(佛國曆象編) Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Vô ngoại tử, Viên thông (1745-1834) thuộc tông Thiên thai Nhật bản biên soạn. Soạn giả đã nghiên cứu về ngày tháng và đồ dùng để nghiên cứu thiên văn ghi trong các kinh điển Phật giáo suốt 30 năm, cho mãi đến năm Văn minh thứ 7 (1810) mới công bố. Trong sách này, soạn giả đứng trên lập trường Phật giáo cho rằng so với Thiên văn học của Hà lan thời bấy giờ thì lịch tượng Thiên văn Phật giáo có điểm ưu việt hơn. Nội dung sách này chia làm 5 khoa: 1. Bàn về nguồn gốc củalịch. 2. Luận về thiên thể. 3. Phán định địa hình. 4. Bàn về lịch pháp. 5. Chỉ bày rõ về nhãn trí (trí của con mắt). Đây là tác phẩm trình bày vấn đề hữu quan một cách cực kỳ tỉ mỉ, rõ ràng, không một tác phẩm nào thuộc loại Thiên văn học Phật giáo có thể sánh được.
phật quốc thiền sư ngữ lục
(佛國禪師語錄) Ngữ lục, 2 quyển, do ngài Cao phong Hiển nhật (12411316) người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung sách này ghi chép các ngữ lục như: -Đông sơn Vân nham thiền tự ngữ lục. -Đạo hà sơn Tịnh diệu thiền tự ngữ lục. -Cự phúc sơn Kiến trường thiền tự ngữ lục-Phật quốc ứng cúng quảng tế quốc sư hành lục và các phần: -Phổ thuyết, Pháp ngữ, Phật tổ tán, Tụng cổ, Kệ tụng. Ngoài ra còn có các lời tựa của các vị Linh thạch Như chi và Cổ lâm Thanh mậu được viết vào khoảng năm 1326.
phật sinh hội
(佛生會) Cũng gọi Quán Pháp hội, Giáng đản hội, Dục hóa trai. Pháp hội tắm Phật (quán Phật) được cử hành vào ngày Phật đản sinh (mồng 8 tháng 4–nay là ngày 15 tháng 4 âm lịch). Vào ngày này, ở Ấn độ và các nước vùng Trung á, tượng đức Phật Đản sinh được đặt trên xe hoa để diễu hành. (xt. Quán Phật Hội).
phật sát
Xem Phật độ.
; Buddha-ksetra (S). Buddha realm, land, country.
; (佛刹) I. Phật Sát. Cũng gọi Phật quốc độ, Tịnh độ. Chỉ cho cõi nước của chư Phật an trụ. II. Phật Sát. Từ ngữ chỉ chung cho các chùa viện, già lam là những nơi tôn nghiêm để thờ Phật và tu đạo. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng] (xt. Tịnh Độ).
phật sơn
(佛山) Núi ở huyện Hải nam, tỉnh Quảng đông, Trung quốc, cách thành phố Quảng châu khoảng 16 cây số. Vào đời nhà Thanh, núi này được gọi là Phật sơn trấn, cùng với Hán khẩu ở Hà bắc, Chu tiên ở tỉnh Hà nam và Cảnh đức ở tỉnh Giang tây được gọi chung là Tứ đại trọng trấn, toàn thể khu vực này tràn đầy không khí nghệ thuật và nổi tiếng về những sản phẩm dệt bằng tơ lụa. Vào đời Đông Tấn, vị cao tăng người Ấn độ là tôn giả Đạt tì da xá vượt biển đến Quảng châu, trụ ở Phật sơn giảng kinh. Để ghi nhớ việc này, người đời sau bèn xây chùa trên nền cũ của nhà giảng kinh đặt tên là Phật sơn.
phật sơn hải huệ tự tại thông vương
Buddha of Sovereign and Universal King of Mountains and Seas Wisdom.
phật sư
(佛師) Cũng gọi Tạo Phật sư, Tạo Phật công, Phật công. Chỉ cho người thợ chuyên tạo tượng Phật. Có Mộc Phật sư và Hội Phật sư khác nhau. Người khắc tượng Phật bằng gỗ, gọi là Mộc Phật sư; người vẽ tranh tượng Phật, gọi là Hội Phật sư. Thông thường, gọi Mộc Phật sư là Phật sư; Hội Phật sư là Hội sư. Ở Ấn độ và các nước vùng Tây vực từ xưa đã có rất nhiều ghi chép trong các kinh luận nói về việc chạm trổ hoặc đắp vẽ hình tượng đức Phật, như kinh Đại thừa tạo tượng công đức quyển thượng có ghi việc Tì thủ yết ma thiên nhận lời thỉnh của vua Ưu điền đã tạo lập hình tượng đức Phật. Ở Trung quốc, thời đại nào cũng có những Phật sư rất giỏi, như đời Đông Tấn có cha con Đới quì là những Phật sư nổi tiếng nhất. [X. Tập thần châu Tam bảo cảm thông lục Q.trung; Pháp uyển châu lâm Q.13,14,29; Trường an chí Q.10,15].
phật sư tử hống tự tại thắng vương
Buddha of King of the Sovereign Force of Lion Roar.
phật sở hành
Buddha-carita (S)Một trong những tác phẩm lừng danh của Bồ tát Mã Minh soạn theo lối thi ca chép rõ lịch sử đức Phật cho đến khi toàn giác.
phật sở hành tán kinh
Buddha-carita sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
; Buddhacarita (S) Poem which recounted the life and work of the Buddha.
Phật sở hành tán truyện 佛所行讚傳
Phật sở hành tán kinh 佛所行讚經 Phật sở hành tán kinh truyện 佛所行讚經傳[ja]ブツショギョウサンデン butsu shogyō san den ||| the buddhacarita. see 佛所行讚. => Xem Phật sở hành tán佛所行讚.
Phật sở hành tán 佛所行讚
[ja]ブツショギョウサン Butsu shogyō san ||| The Buddhacarita (Acts of the Buddha); Tib. Saṅs-rgyas-kyi spyod-pa shes-bya-baḥi sñan-ṅag chen-po. Twenty-eight chapters in five fascicles, T 192.4.1-54. by Aśvaghoṣa 馬鳴, trans. by Dharmakṣema 曇無讖. Also known by the titles 佛本行讚, 佛所行讚經, 佛所行讚傳, 佛所行讚經傳, 馬鳴菩薩讚, 馬鳴讚. Translated into English in Cowell (1969), and Johnston (1936). => (j:Butsu shogyō san; e: The Buddhacarita (Acts of the Buddha); t: Saṅs-rgyas-kyi spyod-pa shes-bya-baḥi sñan-ṅag chen-po). Ngài Mã Minh (s: Aśvaghoṣa) soạn, gồm 28 chương trong năm quyển. Ngài Đàm Vô Sấm dịch (s: Dharmakṣema). Còn được gọi các tên: Phật Bổn Hành Tán, Phật sở Hành Tán Kinh, Phật sở Hành Tán Truyện, Phật sở Hành Tán Kinh Truyện, Mã Minh Bồ-tát Tán, Mã Minh Tán. Cowell dịch sang tiếng Anh năm 1969, Johnston dịch năm 1936.
Phật sở hạnh tán
佛所行囋; C: fó suǒxíng zàn; J: butsu shogyō san; T: saṅs-rgyas-kyi spyod-pa shes-bya-baḥi sñan-ṅag chen-po; S: buddha-carita;|Là tác phẩm văn vần của Mã Minh (馬鳴; s: aśvaghoṣa), tác phẩm bằng thơ đầu tiên nói về toàn bộ cuộc đời Phật Thích-ca Mâu-ni từ ngày sinh ra tới lúc nhập Niết-bàn. Tác phẩm này gồm có 28 bài thơ, ngày nay chỉ còn 13 bài viết bằng văn hệ Phạn ngữ (sanskrit). Tác phẩm này cũng được dịch ra tiếng Tây Tạng.|Theo các du kí của người Trung Quốc qua Ấn Ðộ khoảng thế kỉ thứ 7, người ta biết là Phật sở hạnh tán rất được ưa chuộng trong dân gian thời đó. Sách này nghe qua như các bài truyền tụng về các vị anh hùng, đầy tính chất thơ nhạc. Kinh này giúp truyền bá đạo Phật rất rộng rãi. Luận này được Đàm-vô-sấm dịch (曇無讖; s: dharmakṣema). Còn được gọi các tên: Phật bản hạnh tán (佛本行讚), Phật sở hạnh tán kinh (佛所行讚經), Phật sở hạnh tán truyện (佛所行讚傳), Phật sở hạnh tán kinh truyện (佛所行讚經傳), Mã Minh Bồ Tát tán (馬鳴菩薩讚), Mã Minh tán (馬鳴讚). Cowell dịch sang tiếng Anh năm 1969, Johnston dịch năm 1936.
phật sở hạnh tán
(佛所行贊) Phạm: Buddhacarita. Tạng: Saís-rgyas-kyi spyod-pa shes-bya-ba#i sĩan-íag chen-po. Cũng gọi Phật bản hành tán, Phật sở hành tán kinh, Phật sở hành tán truyện, Phật sở hành tán kinh truyện, Mã minh bồ tát tán, Mã minh tán. Tác phẩm, 5 quyển, 28 phẩm, do bồ tát Mã minh soạn, ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 4. Nội dung sách này dùng văn vần theo thể 5 chữ kể lại sự tích cuộc đời đức Phật từ giáng sinh đến nhập Niết bàn và phân Chia xá lợi. Kinh Phật bản hành do ngài Bảo vân dịch vào đời Lưu Tống gồm 7 quyển, 31 phẩm, trong đó, từ phẩm 4 đến phẩm 31, thứ tự đại khái giống với sách này. Có thể Phật sở hành tán và Phật bản hành kinh là cùng 1 tác phẩm mà dịch khác. Phật sở hành tán là tác phẩm tiêu biểu của bồ tát Mã minh, nội dung phần nhiều dùng tài liệu trong Phệ đà, Áo nghĩa thư và 2 thi phẩm anh hùng ca Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata), La ma da na (Phạm: Ràmàyaịa). Đây là tác phẩm văn học đầu tiên về Phật truyện bằng tiếng Phạm cổ điển mà không 1 tác phẩm Phật truyện nào sánh kịp về mặt văn chương mĩ lệ. Tác phẩm này đã được lưu truyền rất rộng ở Ấn độ đời xưa. Về mặt tư tưởng thì sách này hoàn toàn không có thành phần tư tưởng Phật giáo Đại thừa, mà trái lại, chịu rất nhiều ảnh hưởng của Thuyết nhất thiết hữu bộ Tiểu thừa. Nguyên bảntiếng Phạmcủa sách này hiện còn gồm 17 chương, chỉ thuật lại những việc đức Thế tôn đản sinh đến khi trở lại cố quốc..., trong đó, từ nửa sau của chương 14 đến chương 17 là do ngài A mỗ lợi đạtnan đà (Phạm: Amftànanda), người Nepal, thêm vào sau này). Năm 1893 Tây lịch, ông E.B Cowell người Anh hiệu đính bản tiếng Phạm, đề là: The Buddha-Carita of Azvaghosha, năm sau ông ấn hành bản dịch tiếng Anh dưới nhan đề: The Buddhacarita of Azvaghsoha (S.B.E. XLII). Bản dịchTây Tạng giống với bản dịch chữ Hán, cũng chia làm 28 phẩm, nhưng số kệ tụng thì hơi khác, do 2 ngài Tát ôn tán bột (Tạng:Sa-dbaí bzaí-po) và Lạc đắc ca nhi bột (Tạng: Blo-gros rgyal-po) cùng dịch vào đầu thế kỉ thứ VIII. Bản dịch tiếng Nhật thì do ông Tự bản Uyển nhã dịch và xuất bản vào năm Đại chính 13 (1924). Về sau cũng có bản dịch tiếng Đức (17 phẩm trước) do ông F. Weller dịch và ấn hành. Ngoài ra, năm 1883, ông S. Beal – người Anh – dịch từ bản chữ Hán sang tiếng Anh nhan đề: The Fo-sho-hing-tsan-king (S.B.E. XIX). [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Pháp kinh lục Q.6; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9, 10, Khai nguyên thích giáo lục Q.4; Đại đường nội điển Q.7; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.10, Mã minh bồ tát luận; Phạm văn Phật truyện văn học đích nghiên cứu; Geschichte der indische Literatur, Bd. II by M. Winternitz].
Phật sở hạnh tán kinh
佛所行讚經; C: fó suǒxíng zànjīng; J: butsu shogyō san kyō.|Phật sở hạnh tán.
Phật sở hạnh tán kinh truyện
佛所行讚經傳; C: fó suǒxíng zànjīng chuán; J: butsu shogyō sangyō den.|Phật sở hạnh tán.
Phật sở hạnh tán truyện
佛所行讚傳; C: fó suǒxíng zàn chuán; J: butsu shogyō san den.|Phật sở hạnh tán.
phật sứ
Như Lai sứ. A messenger of the Tathàgata.
phật sử
Buddha-vaṃsa (S).
Phật sự
佛事; C: fóshì; J: butsuji; S: buddha-kārya;|Có các nghĩa: 1. Công hạnh Đức Phật thể hiện. Hoằng truyền Phật pháp. Công hạnh cứu độ chúng sinh; 2. Mọi công hạnh thi tác sau khi tu tập chứng ngộ được gọi là Phật sự.
phật sự
Buddhakiccaṁ (P), Buddha's duty.
; Buddha's affairs, the work of transforming all beings;
; (佛事) Cũng gọi Lập địa. Việc Phật. Phàm các việc làm nhằm phát huy đức của Phật, gọi là Phật sự. Theo kinh Duy ma quyển hạ thì đức Phật đối với tất cả mọi việc đều xem là Phật sự, đó là biểu thị đức tính của Phật. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho những việc làm nêu cao Phật pháp, như khai nhãn, an tọa (an vị tượng Phật), niêm hương, thướng đường (tức thuyết pháp), nhập thất, phổ thuyết, dạy chúng...đều là Phật sự. Đời sau thì gọi chung những nghi thức được cử hành trước bàn thờ Phật là Phật sự. [X. Điện chủ chung đầu trong Thiền uyển thanh qui Q.4; Lâm tế lục thị chúng]. (xt. Pháp Hội).
Phật sự 佛事
[ja] ブツジ butsuji ||| (buddha-kārya). (1) The work that a buddha does. To deliver the Buddha's teachings. The activity of saving sentient beings. (2) Anything done after attaining enlightenment would be "Buddha-work." => (s: buddha-kārya) Có các nghĩa: 1. Công hạnh Đức Phật thể hiện. Hoằng truyền Phật giáo. Công hạnh cứu độ chúng sinh. 2. Mọi công hạnh thi tác sau khi tu tập chứng ngộ được gọi là "Phật sự".
phật tam ngữ
(佛三語) Cũng gọi Tam Phật ngữ, Tam ý ngữ. Ba cách nói của đức Phật: Tùy tự ý ngữ (Nói theo ý mình), Tùy tha ý ngữ (Nói theo ý người khác) và Tùy tự tha ý ngữ (Nói theo ý mình và ý người). 1. Tùy tự ý ngữ: Đức Phật tùy theo ý mình mà giảng nói pháp nội chứng chân thật, như nói Tất cả chúng sinh đều có tính Phật. 2. Tùy tha ý ngữ: Đức Phật tùy theo căn cơ của chúng sinh mà phương tiện nói pháp, như nói Bồ tát giai vị Thập trụ thấy được 1 phần tính Phật. 3. Tùy tự tha ý ngữ: Đức Phật vừa theo chỗ tự chứng vừa theo ý của đối cơ mà nói pháp, như Ngài nói Tất cả chúng sinh đều có tính Phật, nhưng bị phiền não che lấp nên không thấy được. Đức Phật dùng 3 cách nói trên mà giảng thuyết về 12 thể tài kinh để cứu độ hữu tình chúng sinh. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Nam); Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, hạ; Ma ha chỉ quán (hội bản) Q.3, phần 2, Hoa nghiêm đại sớ sao Q.6].
phật tam sự nhập thành
(佛三事入城) Đức Phật vì 3 lí do mà đi vào thành. Cứ theo Kim cương kinh sớ thì có 3 nhân duyên khiến Phật đi vào thành. 1. Vì độ người nữ: Tất cả người nữ đều bị cha mẹ và chồng bó buộc, không được tự do ra vào, lòng rất ngưỡng mộ đức Như lai mà không làm cách nào thấy được, cho nên Như lai vào thành khiến cho mọi người nữ đều được chiêm ngưỡng lễ kính, nhờ thế được phúc vô lượng. 2. Vì những người bệnh: Đức Như lai thường quan tâm cứu giúp người bệnh, cho nên Ngài vào thành khất thực, để cho người bệnh khổ có cơ hội lễ kính chiêm ngưỡng, nhờ thế được khỏi bệnh và phát tâm bồ đề. 3. Vì muốn khiến cho mọi người được thấy tướng hảo: Đức Như lai phúc trí trang nghiêm, đầy đủ 32 tướng, 80 vẻ đẹp, vi diệu khó thể tưởng tượng, nếu được trông thấy thì tội diệt phúc sinh, cho nên Phật vào thành để mọi người được chiêm ngưỡng.
phật tam thân tán
(佛三身贊) Cũng gọi Tam thân tán. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp hiền dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung sách này gồm những bài kệ thuyết minh và khen ngợi Pháp thân, Báo thân và Hóa thân của đức Phật. Mỗi thân có 1 bài kệ, mỗi bài kệ đều có 8 dòng, mỗi dòng 7 chữ. Cuối cùng là bài kệ hồi hướng, cũng có 8 dòng, mỗi dòng 7 chữ.
Phật Thi-khí
xem bảy vị Phật.
phật thiên
Buddha as Heaven; Buddha and the devas.
phật thiện tịch nguyệt âm diệu tôn trí vương
Buddha of the King of Sublime and Honoured Insight, and Excellence Quiescent Lunar Sound Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật thiện ý
Buddha of Excellent Mind Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật thuyết
(佛說) Phật nói: Đức Phật dùng kim khẩu (miệng vàng) tự giảng nói các pháp.Vì để nêu rõ pháp do chính kim khẩu của Phật nói ra và để phân biệt với các pháp do Tam thừa, trời, người nói ra nên ở đầu các kinh thường đặt 2 chữ Phật thuyết để chứng minh pháp do Phật nói là giáo pháp chân thực. Còn pháp do Bồ tát nói nếu được đức Phật ấn khả thì cũng được coi như Phật thuyết. [X. luận Đại trí độ Q.2; Kim cương bát nhã sớ Q.1].
Phật thuyết A-di-đà kinh
佛説阿彌陀經; C: fóshuō āmítuójīng; J: bus-setsu amidakyō; S: amitābha-sūtra.|Kinh, Cưu-ma La-thập (鳩摩羅什) dịch. Xem chi tiết ở mục A-di-đà kinh.
Phật thuyết A-di-đà kinh 佛説阿彌陀經
[ja] ブッセツアミタキョウ Bussetsu amidakyō ||| The Foshuo Amituo jing; trans. Kumārajīva 鳩摩羅什; (Amitābha-sūtra). T 366.12.346b-348 . See 阿彌陀經 for details. (s: Amitābha-sūtra) => Kinh, Ngài Cưu-ma-la-thập dịch. Xem chi tiết ở mục A-di-đà kinh阿彌陀經.
Phật thuyết A-nan phân biệt kinh
佛説阿難分別經; C: fóshuō ānán fēnbié jīng; J: bussetsu anan funbetsu kyō.|Kinh; 1 quyển, Pháp Kiên (法堅) dịch. Thường gọi tắt là A-nan phân biệt kinh (阿難分別經) và Phân biệt kinh (分別經). Nói về lời dạy của đức Phật cho Tôn giả A-nan.
Phật thuyết A-nan phân biệt kinh 佛説阿難分別經
[ja] ブツセツアナンブンベツキョウ Bussetsu anan funbetsu kyō ||| The Foshuo anan fenbie jing; one fascicle, T 495.14.758-760, translated by Fajian 法堅, also commonly abbreviated as the 阿難分別經 and 分別經. A discussion of the Buddhist teachings between the Buddha and Ānanda. => Kinh; 1 quyển . Pháp Kiên dịch. Thường gọi tắt là A-nan phân biệt kinh阿難. Và Phân biệt kinh分別經. Kinh ghi lại những lời dạy của Đức Phật cho Ngài A Nan.
phật thuyết bát đại cát tường chú vương kinh
Fo-shuo pa-chi-hsiang shen-chou ching (C)Tên một bộ kinh.
Phật thuyết bất tăng bất giảm kinh
佛説不増不減經; C: fóshuō bùzēngbùjiǎn jīng; J: bussetsu fuzoufukan kyō.|Kinh, 1 quyển, Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支) dịch.
Phật thuyết bất tăng bất giảm kinh 佛説不増不減經
[ja] ブッセツフソウフゲンキョウ Bussetsu fuzoufukan kyō ||| The Foshuo buzeng bujian jing; 1 fasc., trans. Bodhiruci 菩提流支; T 668.16.466-468. => Kinh, 1 quyển, Bồ-đề Lưu-chi dịch.
Phật thuyết Bồ Tát bản nghiệp kinh
佛説菩薩本業經; C: fóshuō púsà běnyè jīng; J: bussetsu bosatsu hongyō kyō.|Kinh. Chi Khiêm (支謙; s: lokakṣema) dịch.
Phật thuyết Bồ Tát nội tập lục ba-la-mật kinh
佛説菩薩内習六波羅蜜經; C: fóshuō púsà nèixí liùbōluómì jīng; J: bussetsu bosatsu naishū rokuharamitsukyō.|Kinh. Nghiêm Phật Điều (嚴佛調) dịch.
Phật thuyết Bồ-tát nội tập lục ba-la-mâṭ kinh 佛説菩薩内習六波羅蜜經
[ja] ブッセツボサツナイシュウロクハラミツキョウ Bussetsu bosatsu naishū rokuharamitsukyō ||| The Foshuo pusa neixi liuboluomi jing; trans. Yanfodiao 嚴佛調T 778.17.714b-715a. => Kinh. Nghiêm Phật Điều 嚴佛調dịch.
Phật thuyết Di-lặc Bồ-tát hạ sinh Đâu-suất thiên kinh 佛説觀彌勒菩薩上生兜率天經
[ja] ブツセツカンミロクボサツジョウショウトシュツテンキョウ Bussetsu kan mirokubosatsu jōshō tosotsuten kyō ||| The Foshuo guan milepusa shangsheng doushuotian jing; one fasc. 452.14.418-421; usually abbreviated as 彌勒上生經. One of the principal texts of the Maitreya sect. It teaches regarding Maitreya's ascent to to Tuṣita Heaven 兜率天, with the Buddha predicting that Maitreya will enter this heaven in twelve years. Juqu jingsheng 沮渠京聲. => Kinh; 1 quyển. Thường gọi tắt là Di-lặc Hạ Sinh Kinh. Một trong những kinh văn chính của tông Di-lặc. Kinh nói về việc thị hiện của Bồ-tát Di-lặc ở cung trời Đâu suất (s: Tuṣita), với lời Đức Phật thọ ký Bồ-tát Di-lặc sẽ trụ ở cung trời này 12 năm.
phật thuyết duy ma cật kinh
Fo-shuo Wei-mo-chieh ching (C)Tên một bộ kinh.
phật thuyết dược vương dược thượng nhị bồ tát kinh
Fo-shuo kuan Yao-wang Yao-shang erh-p'u-sa ching (C)Tên một bộ kinh.
Phật thuyết giải tiết kinh
佛説解節經; C: fóshuō jiějié jīng; J: bussetsu gesekkyō.|Kinh, 1 quyển. Chân Đế (眞諦; s: para-mārtha) dịch. Là một chương trong kinh Giải thâm mật (解深密經; s: saṃdhinirmocana-sūtra), tương đương với phẩm Thắng nghĩa đế tướng (勝義諦相品, xem Đại chính 675).
Phật Thuyết Giải Tiết Kinh 佛説解節經
[ja] ブッセツゲセッキョウ Bussetsu gesekkyō ||| The Foshuo jiejie jing, T 677.16.711-714; 1 fascicle, trans. Paramārtha 眞諦. A chapter of the Saṃdhinirmocana-sūtra 解深密經, equivalent to the Chapter on the Marks of the Ultimate Truth . See also T 675. => Kinh. Một quyển. Chân Đế (s: Paramārtha) dịch. Là một chương trong Kinh Giải Thâm Mật (s: Saṃdhinirmocana-sūtra), tương đương với phẩm Thắng Nghĩa Đế Tướng勝義諦相品. Xem T 675.
phật thuyết hoa thủ kinh
Fo-shuo hua-shou ching (C)Tên một bộ kinh.
Phật thuyết huệ ấn tam-muội kinh
佛説慧印三昧經; C: fóshuō huìyìn sānmèi jīng; J: bussetsu kaiinsanmai kyō.|Kinh; 1 quyển. Chi Khiêm (支謙; s: lokakṣema) dịch.
Phật thuyết Như Lai hưng hiển kinh
佛説如來興顯經; C: fóshuō rúlái xīngxiǎn jīng; J: utsusetsujoraikougankyō.|Kinh; 4 quyển, Trúc Pháp Hộ (竺法護; s: dharmarakṣa) dịch.
Phật thuyết Như Lai hưng hiển kinh 佛説如來興顯經
[ja] ブッセツニョライコウガンキョウ butsusetsujoraikougankyō ||| The Foshuo rulai xingxian jing; 4 fasc., trans. Dharmarakṣa . T 291.10.592c-617 => Kinh; bốn quyển. Trúc Pháp Hộ 竺法護dịch.
phật thuyết như vậy
Xem Như thị ngữ.
Phật thuyết pháp tập kinh
佛説法集經; C: fóshuō fǎjí jīng; J: bussetsu hōshūkyō; S: dharmasangiti-sūtra.|Kinh; Bồ-đề Lưu Chi (菩提流支; s: bodhiruci) dịch.
Phật thuyết pháp tập kinh 佛説法集經
[ja] ブッセツホウシュウキョウ Bussetsu hōshūkyō ||| The Foshuo faji jing; (Dharmasangiti-sūtra) T 761.17.609-649. Trans. Bodhiruci 菩提流支. (s:Dharmasangiti-sūtra) => Kinh; Bồ-đề Lưu Chi dịch.
Phật thuyết phân biệt thiện ác sở khởi kinh
佛説分別善惡所起經; C: fóshuō fēnbié shànè suǒqǐ jīng; J: bussetsu funbetsu zen'aku shokikyō.|Kinh; An Thế Cao dịch.
Phật thuyết phân biệt thiện ác sở khởi kinh 佛説分別善惡所起經
[ja] ブッセツフンベツゼンアクショキキョウ Bussetsu funbetsu zen'aku shokikyō ||| The Foshuo fenbie shane suoqi jing;. T 729.27.526c-523b. Trans. An Shigao. => Kinh; An Thế Cao dịch.
phật thuyết phật danh kinh
Fo-shuo fo-ming ching (C)Tên một bộ kinh.
Phật thuyết Phật địa kinh
佛説佛地經; C: fóshuō fódì jīng; J: bus-setsubutsuchikyō.|Kinh; 1 quyển. Huyền Trang dịch. Thường gọi là Phật địa kinh. Kinh giảng giải về 5 khía cạnh của Phật địa, gồm Pháp giới thanh tịnh và Bốn pháp chuyển thức thành trí. Kinh giải thích chi tiết về Thập địa và Phật địa.
Phật thuyết Phật địa kinh 佛説佛地經
[ja] ブッセツフツチキョウ Bussetsubutsuchikyō ||| One fascicle, trans. by Xuanzang 玄奘 . T 680.16.720-723. Commonly referred to as the Fodi jing 佛地經. An explanation of the five aspects of the Buddha-stage, including the pure dharmadhātu and the four transformed wisdoms of Consciousness-only. Explains the details of the tenth bhūmi and the Buddha-stage. => Kinh; một quyển. Huyền Trang dịch. Thường gọi là Phật Địa Kinh (c: Fodi jing). Kinh giảng giải về năm khía cạnh của Phật địa, gồm Pháp giới thanh tịnh và Bốn pháp chuyển thức thành trí. Kinh giải thích chi tiết về Thập địa và Phật địa.
phật thuyết quán di lặc bồ tát thượng sanh đâu suất thiên kinh
Fo-shuo kuan Mi-lo p'u-sa shang-sheng Tu-shi-t'ien ching (C)Tên một bộ kinh.
Phật thuyết quán Di-lặc Bồ Tát thượng sinh Đâu-suất thiên kinh
佛説觀彌勒菩薩上生兜率天經; C: fóshuō guān mílèpúsà shàngshēng dōushuòtiān jīng; J: bussetsu kan mirokubosatsu jōshō tosotsuten kyō.|Kinh, 1 quyển. Thường gọi tắt là Di-lặc thượng sinh kinh (彌勒上生經). Một trong những kinh văn chính của trường phái tôn xưng Bồ Tát Di-lặc. Kinh nói về việc thị hiện của Bồ Tát Di-lặc ở cung trời Đâu-suất (兜率天; s: tuṣita), với lời Đức Phật thụ kí Bồ Tát Di-lặc sẽ trụ ở cung trời này 12 năm.
phật thuyết quán phật tam mui hải kinh
Fo-shuo kuan-fo san-mei-hai ching (C)Tên một bộ kinh.
phật thuyết quán phổ hiền bồ tát hạnh pháp kinh
Fo-shuo kuan Pu'-sien p'u-sa hsing-fa ching (C)Tên một bộ kinh.
Phật thuyết quán vô lượng thọ kinh. 佛説觀無量壽佛經
[ja] ブツセツカンムリョウジュブツキョウ Bussetsu kan muryōju butsu kyō ||| The full catalog title (T 365) of the Guan wuliangshou jing. => Kinh. Tên gọi đầy đủ của Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經c:Guan wuliangshou jing).
Phật thuyết quán Vô Lượng Thọ Phật kinh
佛説觀無量壽佛經; C: fóshuō guān wú-liángshòu fó jīng; J: bussetsu kan muryōju butsu kyō.|Kinh. Tên gọi đầy đủ của Quán Vô Lượng Thọ kinh (觀無量壽經).
phật thuyết quán đảnh kinh
Fo-shuo kuan-t'ing ching (C)Tên một bộ kinh.
phật thuyết thiết thành nê lê kinh
(佛說鐵城泥犁經) Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc đàm Vô lan dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này ghi lại lời đức Phật nói về 5 sứ giả nhà trời(sinh, già, bệnh, chết, lao ngục của phép nước) và trạng huống thống khổ ở địa ngục.Kinh này tương đương với kinh Thiên sứ trong 64 kinh của Trung a hàm và với kinh 130 trong Trung bộ Pàli. Còn về những kinh tương tự như kinh này thì có: Kinh Diêm la vương ngũ thiên sứ giả, kinh thứ 4 trong phẩm Thiện tụ của Tăng nhất a hàm và các kinh thứ 3, 35 trong Tăng chi bộ Pàli...
phật thuyết thiền môn kinh
(佛說禪門經) Kinh, 1 quyển, 1 trong các bộ kinh giả được soạn vào đời Đường. Nội dung kinh này tường thuật việc lúc đức Phật sắp vào Niết bàn, đáp lời thưa hỏi của bồ tát Khí chư cái, Ngài chỉ dạy bí quyết tu quán để cởi bỏ sự trói buộc của khổ sinh tử. Điều Ngụy vọng chân trong Khai nguyên lục quyển 10 của ngài Trí thăng có ghi: Thiền môn kinh nhất quyển ngũ chỉ (Kinh Thiền môn 1 quyển 5 tờ). Đốn ngộ yếu môn của ngài Đại châu Tuệ hải cũng có dẫn dụng văn kinh này. Ngoài ra, Tông kính lục quyển 2, 19, 27 của ngài Vĩnh minh Diên thọ cũng dẫn dụng tên của kinh này, như vậy đủ thấy sự lưu hành tương đối của kinh này ở thời bấy giờ như thế nào. Đã một thời gian kinh này bị thất lạc, mãi tới gần đây mới được thấy toàn văn trong số các kinh chép tay ở Đôn hoàng, hiện được cất giữ ở Bảo tàng nước Anh (mang hiệu số: A. Stein 5532), toàn bản từ đầu đến cuối rất đầy đủ. Ở đầu quyển có lời tựa của sa môn Tuệ quang (có lẽ sa môn Tuệ quang và tác giả của luận Đại thừa khai tâm hiển tính đốn ngộ chân tông cùng là 1 người). Căn cứ vào những lời được dẫn dụng từ kinh này mà suy đoán thì có lẽ kinh này đã được thành lập vào những năm cuối thế kỉ VII hoặc do những người tu thiền ở thời đại Vũ tắc thiên hoàn thành. [X. Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ); Thiền tư tưởng sử nghiên cứu đệ nhị (Linh mộc Đại chuyết)].
Phật thuyết thất Phật kinh
佛説七佛經; C: fóshuō qīfó jīng; J: bussetsu shichibutsu kyō.|Tên gọi đầy đủ của Thất Phật kinh.
Phật Thuyết Thất Phật Kinh 佛説七佛經
[ja] ブツセツシチブツキョウ Bussetsu shichibutsu kyō ||| The full title of the . => Tên gọi đầy đủ của Thất Phật Kinh七佛經.
phật thuyết tác phật hình tượng kinh
Fo-shuo tso fo-hsing-hsiang ching (C)Tên một bộ kinh.
phật thuyết tôn thắng đà ra ni kinh
Po-ting tsun-sheng t'o-lo-ni ching (C)Tên một bộ kinh.
Phật thuyết tịnh nghiệp chướng kinh
佛説淨業障經; C: fóshuō jìngyèzhàng jīng; J: bussetsu jōgyōshou kyō.|Tên đầy đủ của Tịnh nghiệp chướng kinh (淨業障經).
phật thuyết vô lượng môn phá ma đà la ni kinh
Buddha-bhāṣita-amita-mukha-mārajid-dhāraṇī-sŪtra (S)Vô lượng môn phá ma Đà la ni kinhMột trong 9 bản dịch khác tên của bộ kinh Anantamukha-nirhara-dharani-vyakhyana-karika trong Đại tạng Trung quốc.
phật thuyết vô lượng môn vi mật trì kinh
Buddha-bhāṣita-amitamukha-guhyadhara-sŪtra (S)Vô lượng môn vi mật trì kinhMột trong 9 bản dịch khác tên của bộ kinh Anantamukha-nirhara-dharani-vyakhyana-karika trong Đại tạng Trung quốc.
phật thuyết vị tằng hữu kinh
Fo-shuo wei-tseng yu ching (C)Tên một bộ kinh.
phật thuyết xuất sinh vô biên môn đà la ni kinh
Buddha-bhāṣita-jātānantamukha-dhārāṇi sŪtra (S)Xuất sinh vô biên môn Đà la ni kinhMột trong 9 bản dịch khác tên của bộ kinh Anantamukha-nirhara-dharani-vyakhyana-karika trong Đại tạng Trung quốc.
phật thuyết đại tập hi chánh pháp kinh
Fo-shuo to-chi-hui cheng-fa ching (C)Tên một bộ kinh.
Phật thuỳ niết-bàn lược thuyết giáo giới kinh
佛垂般涅槃略説教誡經; C: fóchuí boniè-pán lüèshuō jiāojiè jīng; J: bussui hannehan ryakusetsu kyōkaikyō;|Kinh, Cưu-ma La-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) dịch.
phật thành đạo nhật
(佛成道日) Cũng gọi Thành đạo hội, Thành đạo tiết, Lạp bát. Ngày đức Phật Thích ca thành đạo. Về vấn đề này, trong các kinh luận có nhiều thuyết, như kinh Trường a hàm quyển 4 và kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 3 cho là ngày mùng 8 tháng 2, kinh Quán Phật và kinh Phương đẳng bát nê hòan cho là ngày mùng 8 tháng 4, Đại đường tây vực kí cho là ngày mồng 8 tháng 3 hoặc ngày 15 tháng 3; Câu xá pháp bảo sớ và Phật tổ thống kỉ đều công nhận thuyết mùng 8 tháng 2. Đại tống tăng sử lược quyển thượng của ngài Tán ninh đời Tống cũng chủ trương ngày mùng 8 tháng 2, cho rằng tháng 12 tức là tháng 2 của nhà Chu. Lịch nhà Chu lấy Kiến tí lập tháng giêng, còn lịch nhà Hạ (âm lịch) thì lấy Kiến dần lập tháng giêng, cho nên tháng 2 theo lịch nhà Chu tức là tháng 12 theo lịch nhà Hạ. Trung quốc lấy ngày 8 tháng 12 làm ngày đức Phật thành đạo chính là căn cứ vào đó.
Phật thân
佛身; C: fóshēn; J: busshin; S, P: buddhakāya; nghĩa là thân của Phật; |Sắc thân (thân vật chất của đức Phật). Do từ sự lưu tâm của Phật tử nên phát sinh lí thuyết về một »sắc thân Phật«. Phật Thích-ca Mâu-ni đưa ra quan niệm tin vào Pháp, rằng chính ngài cũng tịch diệt nhưng Pháp thì không thể nào hoại diệt, do vậy nên dạy rằng sau sự tịch diệt của ngài thì Pháp vẫn thường còn. Tuy nhiên, nhiều đệ tử vẫn giữ quan niệm về con người của Đức Phật, xem như chính thân của ngài là biểu hiện của Phật pháp. Do vậy, ngay cả khi Phật còn tại thế, sắc thân của ngài đã được xem là siêu việt. Vì điểm nầy nên, sau khi Phật nhập diệt, Pháp mà ngài đã giảng được xem như bất hoại, và được đưa ra như một đối lập với thân tự nhiên, và cũng từ đó mà phát sinh ra lí thuyết »hai thân«.
phật thân
Buddha-kāya (S), Busshin (J).
; Buddhakàya (S). The body of the Buddha.
; (佛身) Phạm, Pàli: Buddha-kàya. Thân của đức Phật. Khi đức Thế tôn còn tại thế hoặc sau khi Ngài nhập diệt chưa bao lâu, người đời đã quan niệm rằng Ngài không phải là người thường, sinh thân của ngài viên mãn, thanh tịnh (32 tướng, 80 vẻ đẹp) và có năng lực thù thắng (10 lực, 4 vô sở úy). Từ đó về sau, đến thời đại Phật giáo bộ phái thì các nhà Phân biệt luận và Đại chúng bộ chủ trương thuyết thân Phật là vô lậu, về tuổi thọ cũng như uy lực của Ngài đều không có hạn định. Nhưng Hữu bộ chủ trương hoàn toàn khác, cho rằng sinh thân của Phật cũng là kết quả của phiền não, cho nên vẫnthuộc hữu lậu. Tuy nhiên, Hữu bộ cũng thừa nhận đức Phật đã thành tựu những công đức như 10 lực, 4 vô sở úy... và tất cả giáo pháp của Ngài đều thuộc vô lậu, những công đức và giáo pháp ấy gọi là Pháp thân (Phạm: Dharma-kàya), thân này không thể dùng mắt thường mà thấy được. Pháp thân hợp với sinh thân gọi chung là hai thân. Hữu bộ còn gọi các pháp công đức như: Giới, định,tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến là pháp thân hoặc Ngũ phần pháp thân. Sau khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, Phật thân luận được khai triển rất nhanh chóng. Trước hết là sự biến hóa của nội dung Pháp thân, tức chân như pháp tính là pháp thân. Theo ngài Vô trước trong luận Kim cương bát nhã quyển thượng thì kinh điển tức làNgôn thuyết pháp thân; trái lại, Pháp thân nhờ tu hành mà chứng được thì gọi là Chứng đắc pháp thân. Do đó, sau khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, lí thể chân như mới được gọi là Pháp thân; lại tiến thêm 1 bước, gọisinh thân là Ứng thân (Phạm: Nirmàịa-kàya), đồng thời giữa Sinh thân và Ứng thân là Báo thân (Phạm: Saôbhoga-kàya). Bởi vậy, Thập địa kinh luận quyển 3 và Nhiếp đại thừa luận quyển hạ (bản dịch đời Lương) mới thành lập thuyết Tam thân: Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. Vấn đề Phật thân luận được nêu ra từ sau khi đức Phật nhập diệt, đến thời đại Phật giáo bộ phái nó đã trở thành tiêu điểm tranh luận. Thượng bộ đứng trên lập trường hiện thực để phản đối, còn Đại chúng bộ thì chuộng lí tưởng. Sau khi Phật giáoĐại thừa hưng khởi, lại thịnh hành thuyết Bồ tát thành Phật, sự khảo sát về đức Phật dần dần tiến triển, bắt đầu là Bát nhã, rồi lần lượt đến các kinh đại thừa như: Duy ma, Thủ lăng nghiêm, Pháp hoa, Niết bàn, Hoa nghiêm, Đại nhật...đều bày tỏ những quan niệm sâu xa về đức Phật, theo đó mà đẩy mạnh lí luận về giáo pháp do đức Phật nói và về cõi nước mà đức Phật an trú, tất cả điều này đã cấu thành bộ phận trọng yếu trong giáo nghĩa của Phật giáo. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; kinh Đại bản trong Trường a hàm Q.1; kinh Tăng nhất a hàm Q.2; luận Đại tì bà sa Q.30, 173; luận Dị bộ tông luân; luận Đại trí độ Q.34, 93; luận Thành duy thức Q.10; luận Phật tính Q.4; Bát nhã đăng luận thích Q.13]. (xt. Nhị Thân, Tam Thân, Hóa Thân, Tứ Thân, Sinh Thân].
Phật thân 佛身
[ja] ブッシン busshin ||| (buddha-rūpa; buddha-kāya). The Buddha's (physical) body. As a result of the questions of Buddhist followers, inquiries were made resulting in "buddha-body theory." Śākyamuni himself established the position of believing in the true principle (dharma): that he himself would die but the dharma was indestructible and therefore said that after his death the dharma was to be depended upon. However, many disciples held to their concept of the Buddha's person and believed in it as the Buddha-dharma, and therefore, even while Śākyamuni was still in the world his body had come to be seen as transcendent. Because of this, after he died, the dharma that he had explained was regarded as indestructible, and was set up in contrast with his natural body, bringing about a 'two body' theory. => Sắc thân (thân vật chất của Đức Phật). Do từ sự thưa hỏi của các đệ tử, nên có lý thuyết về "sắc thân Phật". Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đưa ra quan niệm tin vào Pháp; rằng chính Ngài cũng tịch diệt nhưng Pháp thì không thể nào hoại diệt, do vậy nên dạy rằng sau sự tịch diệt của Ngài thì Pháp vẫn thường còn. Tuy nhiên, nhiều đệ tử vẫn giữ quan niệm về con người của Đức Phật, do vậy, ngay cả khi Đức Phật còn tại thế, sắc thân của Ngài đã được xem là siêu việt. Vì điểm nầy, nên sau khi Đức Phật nhập diệt, Pháp mà Ngài đã giảng được xem như bất hoại, và được đưa ra như một đối lập với thân tự nhiên, từ đó phát sinh ra lý thuyết "hai thân".
Phật thùy bát niết-bàn lược thuyết giáo giới kinh 佛垂般涅槃略説教誡經
[ja] ブッスイハンネハンリャクセツキョウカイキョウ Bussui hannehan ryakusetsu kyōkaikyō ||| The Fochui boniepan lueshuo jiaojie jing; T 389.12.1110c-1112b. Trans. Kumārajīva 鳩摩羅什. => Kinh do Ngài Cưu-ma-la-thập dịch. .
phật thư
(佛書) Cũng gọi Phật điển, Nội điển, Diệu điển. Đối lại: Ngoại điển, Thế điển, Ngoại đạo thư, Ngoại tục thư. Chỉ chung những kinh sách của Phật giáo.Cùng với đà triển khai của lịch sử Phật giáo cũng như sự khoáng trương phạm vi của khu vực truyền bá mà Phật thư dần dần mở rộng về nội dung. Thông thường Phật thư là chỉ cho những kinh luận, sách vở, có liên quan đến giáo thuyết của đức Phật. Phật thư theo nghĩa rộng thì bao gồm 3 tạng kinh, luật, luận và các chú sớ của 3 tạng, sách vở của các tông, các loại sử truyện, mục lục Đại tạng kinh, từ vựng, hành sự, tự chí, địa chí... cho đến các tác phẩm văn học có liên quan đến Phật giáo như tiểu thuyết, hí khúc, tùy bút, ca dao, truyện cổ Phật giáo...Vì thế nên biết phạm vi của từ Phật thư bao hàm rất rộng, nhưng nói một cách chặt chẽ thì phải lấy Thánh điển Đại tạng kinh làm trung tâm, tức lấy 3 tạng Thánh điển kinh luật luận làm nòng cốt, rồi lần lượt lấy tất cả kinh sách do các bậc tổ sư các đời của Ấn độ, Trung quốc, Nhật bản soạn thuật làm phụ trợ để phát huy và mở rộng thêm phạm vi giáo pháp của đức Phật.
phật thư giải thuyết đại từ điển
(佛書解說大辭典) Từ điển, 14 quyển, do học giả Tiểu dã Huyền diệu chủ biên, Nhật bản Đại đông xuất bản ấn hành. Nội dung từ điểnnày giải thích một cách tỉ mỉ, rõ ràng kinh, luật, luận và sách vở của các tông phái Phật giáo Trung quốc, Nhật bản. Trong 14 quyển thì 11 quyển trước là Giải thuyết bộ, giải nói về hình thức nội dung chia làm 10 hạng mục như sau: 1. Bao gồm tên tác phẩm: Tên sách, tên đầy đủ, tên vắn tắt, tên khác, dùng mẫu tự La tinh để phiên, ghi thêm cách đọc âm Trung quốc, âm Nhật bản, ghi tên Phạm, tên Tây tạng, tên Pàli... 2. Số quyển: Ghi rõ số quyển của sách. 3. Còn hay khuyết: Nếu hiện vẫn còn được lưu thông thì được xếp vào tạng nào, số quyển, số tập, chủng loại. Các loại tạng kinh và mục lục sử dụng phù hiệu giản lược, như Đại chính thì chỉ rõ ra là Đại chính tân tu đại tạng kinh, Súc thì chỉ rõ Súc loát đại tạng kinh, Bắc thì chỉ rõ bản Bắc Tống... 4. Tác giả hay dịch giả: Nói rõ họ tên và năm sinh năm mất. 5. Trứ tác niên đại: Ghi năm sáng tác hoặc phiên dịch. 6. Giải thuyết nội dung: Lấy Đại tạng kinh toàn thư làm chủ yếu, ghi rõ về danh nghĩa, đại cương, chia khoa, phán thích, truyền thông... 7. Sách chú thích và sách tham khảo: Theo niên đại soạn thuật để sắp xếp thứ tự tác phẩm. 8. Niên đại ấn hành: Niên đại bản chép tay và bản in. 9. Nơi cất giữ: Nói rõ tên thư viện và hàm hiệu thư mục, tên thư khố hoặc cá nhân đang cất giữ. 10. Nơi phát hành: Nơi khắc bản, in ấn và phát hành.
phật thư xuất bản giới
(佛書出版界) Các nhà xuất bản kinh sách Phật giáo. Tứ đầu thế kỉ XX đến nay, nhờ kĩ thuật ấn loát tiến bộ, các nhà xuất bản kinh sách Phật giáo ở các nước phát triển mạnh mẽ. Các sách cũ được in lại hoặc sách mới xuất bản, về mặt chất và lượng đều cao. Hiện nay, trung tâm xuất bản kinh sách Phật giáo bằng Trung văn là Đài loan. Ở đây có nhiều nhà xuất bản kinh sách Phật giáo nổi tiếng như: 1. Tân văn phong xuất bản công ti: Đặt tại Đài bắc, đã lần lượt xuất bản hằng trăm loại kinh sách Phật giáo quan trọng như: Đại chính tạng, Vạn tục tạng, Tống tạng di trân, Đại tạng di trân... 2. Phật giáo thư cục: Đặt ở Đài bắc, đã xuất bản nhiều loại sách Phật, trong đó có Đại tạng kinh Tần già (bản tăng bổ)... 3. Phật quang xuất bản xã: Đặt tại Phật quang sơn, huyện Cao hùng, đã xuất bản nhiều loại thư tịch Phật giáo như: Thích ca mâu ni Phật truyện, Phật quang Đại tạng kinh, Phật giáo sử niên biểu, Phật quang Đại từ điển... 4. Đại thừa văn hóa xuất bản xã: Đặt ở Đài bắc, đã xuất bản Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san gồm 100 tập. 5. Thiền hoa xuất bản công ti: Địa chỉ ở Đài bắc, đã xuất bản Đại tạng hội duyệt, Hàn sơn tử nghiên cứu... 6. Di lặc xuất bản xã: Địa chỉ ở Đài bắc, đã xuất bản Hiện đại Phật giáo đại hệ...7. Đài loan ấn kinh xứ: Tổ chức của đoàn thể Phật giáo Đài loan, chuyên in ấn và phát hành kinh sách Phật, trong đó có Tịnh độ tùng thư... Ngoài ra còn có các đoàn thể Phật giáo chuyên ấn tống kinh sách như: Hoa tạng pháp thí hội, Đại thừa tinh xá ấn kinh hội... và các cơ cấu xuất bản tạp chí Phật giáo như: Bồ đề thụ, Tuệ cự, Nguyên truyền... cho đến các đơn vị xuất bản phụ như trung tâm Văn thù, chùa Hoằng pháp... Về phía Nhật bản, từ đầu thế kỉ XX đến nay, trong số kinh sách Phật giáo bằng các loại ngữ văn trên tất cả thế giới thì Nhật bản đã xuất bản khoảng 70%. Do đó, Nhật bản là quốc gia hưng thịnh nhất trên thế giới trong lĩnh vực xuất bản kinh sách Phật giáo. Những nhà xuất bản và các hiệu sách chuyên kinh doanh sách vở Phật giáo tại Tokyo và Kyoto cũng rất nhiều. Trong vòng 60 năm trở lại đây, Nhật bản đã in ấn và phát hành gần 100 loại kinh sách Phật giáo. Những bộ lớn có tính chất tùng thư như: Đại chính tạng, Vạn tục tạng, Nam truyền Đại tạng kinh, Quốc dịch Nhất thiết kinh v.v... mà về các mặt qui mô, phương pháp biên soạn, kĩ thuật in ấn...đều đứng vào hàng đầu trên thế giới. Hiện tại, Nhật bản có tổ chức gọi là Phật giáo thư xuất bản phiến mại liên minh (Liên minh mua bán và xuất bản kinh sách Phật giáo). Đây là 1 tổ hợp của các hiệu sách và nhà xuất bản chuyên kinh doanh sách vở liênquan đến Phật giáo. Những thành phần tham gia liên minh này gồm có (ở Tokyo): Sơn hỉ phòng Phật thư lâm, Đại đông xuất bản xã, Đại tạng xuất bản xã, Thế giới Thánh điển san hành hiệp hội, Đại pháp luân các, Phật giáo thư lâm trung sơn thư phòng, Thanh sơn thư viện, Hồng minh xã, Tại gia Phật giáo hiệp hội, Nhật bản Phật thư san hành hội, Long văn quán (ở Kyoto): Điền văn xương đường, Bách hoa uyển, Văn vinh đường và Pháp tạng quán. Ngoài ra, Nhật bản còn có không ít các đơn vị xuất bản trực thuộc các Viện đại học Phật giáo, cũng như các hiệusách Phật chưa gia nhập liên minh nói trên, không kể hết được. Còn tại các nước khác trên thế giới thì như Tích lan có Phật giáo xuất bản hiệp hội (Buddhist Publication Society) chuyên xuất bản kinh sách Phật giáo với mục đích truyền bá Phật pháp trên thế giới. Chính phủ Tích lan xuất bản Phật giáo bách khoa toàn thư (Encyclopedia of Buddhism) đến nay vẫn còn đang tiếp tục. Nước Anh thì có Pàli Thánh điển hiệp hội (Pàli Text Society) chuyên môn xuất bản kinh điển Phật giáo Nam truyền bằng tiếngPàli(tiếngPàlisử dụng mẫu tự La tinh). Ngoài ra, Phật thư xuất bản xã của Ấn độ cũng nổi tiếng trên thế giới, như kinh sách Phật bằng tiếng Anh do Motilal Banarsidss xuất bản được phổ biến tại nhiều nước trên thế giới.
phật thường quang tràng
Buddha of Eternal-Light Banner.
phật thất
(佛室) Chỉ cho tòa ngồi của vị A xà lê tu chúng sinh Du già trong 9 vị trí Bạch đàn mạn đồ la trong Mật giáo. Tòa ngồi này được đặt ở phía tây đức Đại nhật Như lai, ở khoảng giữa minh vương Bất động và minh vương Hàng tam thế. Hành giả tiến vào trong Mạn đồ la, do thụ trì Tam muội da để đạt đến quả vị Phật cùng tột, nên tòa ngồi của vị A xà lê được gọi là Phật thất (nhà ở của Phật). Vị A xà lê trụ trong Phật thất này, dùng 5 chữ, bắt đầu là chữ (a)...để trang nghiêm thân mình, quán tưởng mình cùng với đức Tì lô giá na là một thể, không hai không khác. Quán tưởng như vậy thì có thể trụ trong tam muội Đại không. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1].
phật thần thông
(佛神通) Thần thông của đức Phật. Thần thông là năng lực siêu nhân loại, siêu tự nhiên; nhưng đối với Thiền gia thì thần thông chẳng phải là năng lực đặc biệt kì lạ và siêu nhân gì cả, mà chính là những năng lực như: Không cố chấp, không dính mắc, không bị trói buộc, luôn thức tỉnh, không đánh mất chính mình ngay trong những sinh hoạt ngày thường. Đức Phật có 6 thứ năng lực tự tại không bị 6 trần trói buộc, gọi là Phật lục thông. Theo Lâm tế lục thị chúng thì 6 thứ năng lực ấy là (Đại 47, 500 thượng): Vào thế giới màu sắc chẳng bị màu sắc mê hoặc, vào thế giới âm thanh không bị âm thanh mê hoặc, vào thế giới mùi hương chẳng bị mùi hương mê hoặc, vào thế giới vị giác không bị vị giác mê hoặc,vào thế giớixúc giác chẳng bị xúc giác mê hoặc,vào thế giới pháp trần chẳngbị pháp trần mê hoặc. Sở dĩ được như vậy là vì đứcPhậtđã thấu suốt 6 thứ sắc thanh hương vị xúc pháp đều là không tướng, cho nên Ngài không bị chúng trói buộc.
phật thập nhất trì
(佛十一持) Mười một phưong thức trụ trì của đức Phật: 1. Phật trì: Thân sắc tướng của Như lai trụ trì nơi thế gian có năng lực làm cho hạt giống Phật trong chúng sinh không bị dứt mất. 2. Pháp trì: Pháp pháp tính của Như lai trụ trì nơi thế gian có năng lực làm cho hạt giống pháp của chúng sinh không dứt mất. 3. Tăng trì: Như lai ứng hóa Bồ tát Thánh tăng trụ trì nơi thế gian, có năng lực làm cho hạt giống tăng của chúng sinh không bị đoạn diệt. 4. Nghiệp trì: Như lai thấy các chúng sinh tạo tác ác nghiệp, cho nên thị hiện thế lực mạnh mẽ buộc phải tu thiện, như vua Vô yếm túc giả hiện tạo ác nghiệp để giáo hóa các chúng sinh. 5. Phiền não trì: Như lai thấy các chúng sinh làm các hạnh tà, tham đắm phiền não, nên tùy theo loài ấy mà thị hiện tham dục, như đối với người con gái Bà tu mật đa giả làm việc dâm dục, khiến cô ta nhập thiền định mà diệt trừ phiền não. 6. Thời trì: Khi Như lai mới phát tâm, lấy đại nguyện Bồ đề làm thể, luôn luôn tưới tẩm, không lúc nào gián đoạn. 7. Nguyện trì: Thủa xưa, lúc Như lai còn ở địa vị tu nhân, phát thệ nguyện rộng lớn, tu các công đức, giữ gìn không để mất. 8. Cúng dường trì: Thủa quá khứ, lúc Như lai trong giai đoạn tu hành, đã đem các vật cúng dâng lên các đức Như lai trong 10 phương để cúng dường. 9. Hành trì:Thủa xưa, Như lai siêng tu hết thảy diệu hạnh thù thắng, vô lượng vô biên không hề nhàm chán. 10. Kiếp trì: Trong vô lượng kiếp, Như lai đã tu đầy đủ các công đức phạm hạnh mà chứng được quả, trụ trì qua nhiều kiếp, giáo hóa chúng sinh. 11. Trí trì: Như lai tròn đủ công hạnh, chứng được Nhất thiết chủng trí, rồi dùng trí tuệ biệntài nói tất cả pháp, điều phục chúng sinh, không để lui mất. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.52; Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.23].
phật thập túc duyên
(佛十宿緣) Mười duyên xấu ở kiếp trước của đức Phật mà sau khi tu hành thành đạo, Phật vẫn còn phải trả quả báo. Cứ theo kinh Phật thuyết hưng khởi hạnh thì 10 túc duyên ấy là: 1. Tôn đà lợi báng Phật duyên (bị Tôn đà lợi chê cười nói xấu): Trong 1 kiếp quá khứ, ở thành Ba la nại có 1 người chơi bời tên Tịnh nhãn và 1 dâm nữ tên Lộc tướng. Tịnh nhãn dụ dỗ Lộc tướng đưa vào rừng cây cùng nhau hành lạc, xong việc, Tịnh nhãn giết chết Lộc tướng và đem xác chôn bên cạnh ngôi am của vị Bích chiphật, làm cho vị này bị tội chết. Sau, Tịnh nhãn tự thú tội và bị nhà vua giết chết. Tịnh nhãn lúc bấy giờ nay chính là Phật Thích ca và Lộc tướng tức là Tôn đà lợi. Do tội duyên ấy mà đã trải qua trăm nghìn kiếp, chịu vô lượng khổ, đến nay tuy đã thành Phật nhưng ảnh hưởng của hành động tội ác ấy vẫn còn dây dưa sót lại, cho nên Phật bị nàng Tôn đà hủy báng. 2. Xa di bạt Phật duyên (bị Xa di bạt hủy báng): Trong 1 kiếp quá khứ xa xưa, có 1 người Bà la môn tên Diên như đạt, dạy dỗ 500 đứa trẻ. Bấy giờ người vợ của 1 Bà la môn Phạm thiên tên là Tịnh âm, thường cúng dường Diên như đạt. Sau có 1 vị Bích chi phật vào thành phố khất thực, Tịnh âm liền đem thức ăn ngon cúng dường vị Bích chi phật, Diên như đạt thấy thế khởi tâm ghen ghét và sai bọn trẻ con vu khống Bích chi phật tư thông với Tịnh âm. Sau, vị Bích chi phật hiện thần biến nhập diệt, lúc đó mọi người mới biết âm mưu dối trá của Diên như đạt. Diên như đạt nay chính là Phật Thích ca, Tịnh âm tức là Xa di bạt và 500 trẻ con nay chính là 500 vị La hán vậy. Do tâm ghen ghét, mưu toan hại người, đã phải chịu khổ báo trong nhiều kiếp, đến nay tuy đã thành Phật, nhưng Phật vẫn còn bị Xa di bạt hủy báng. 3. Phật hoạn đầu thống duyên (bị nhức đầu): Trong đời quá khứ lâu xa, ở phía đông thành La duyệt kì có thôn Chi việt, nhân dân đông đúc. Phía đông thôn này có nhiều ao cá, vì nạn đói kém nên dân trong thôn đưa vợ con đến các ao bắt cá để ăn, cá nhảy lên bờ ao, trẻ con lấy gậy đập đầu cá. Dân chúng thôn Chi việt bắt cá nay chính là dòng họ Thích, trẻ con đập đầu cá nay là Phật Thích ca, con cá trạch trong ao nay là vua Lưu li. Vì túc nghiệp đập đầu cá nên nay dầu đã thành Phật nhưng đức Thế tôn vẫn còn chịu khổ báo nhức đầu khi vua Lưu li đánh giết những người dòng họ Thích. 4. Phật hoạn cốt tiết phiền đống duyên (bị đau từng đốt xương): Trong kiếp quá khứ, tại thành La duyệt kì, có người con của 1 trưởng giả bị bệnh nặng, mời 1 thầy thuốc giỏi trong thành đến chữa trị, hứa trả công hậu. Nhưng sau khi hết bệnh, không trả chi cả. Sau bệnh tái phát, lại mời thầy cũ, cũng hứa trả tiền, nhưng rồi không trả. Cứ như thế đến 3 lần chữa lành bệnh mà thầy thuốc không được báo đền. Ít lâu, người con trưởng giả lại đau, lần này ông thầy cho uống thuốc độc, bệnh thêm trầm trọng và người bệnh chết liền. Thầy thuốc nay chính là Phật Thích ca, còn người bệnh thì nay là Đề bà đạt đa. Đức Thế tôn vì túc duyên ấy mà phải chịu khổ báo trong nhiều kiếp, nay tuythành Phật nhưng dư báo vẫn còn, nên Ngài luôn bị đau khớp xương. 5. Phật hoạn bối thống duyên(bị đau lưng): Trong kiếp quá khứ xa xưa, vào dịp lễ tết, có 2 lực sĩ, 1 thuộc dòng Sát đế lợi, 1 thuộc dòng Bà la môn, thi đấu với nhau. Lực sĩ Bà la môn bảo lực sĩ Sát đế lợi đừng đánh mình thua và hứa sẽ trả nhiều tiền. Nhưng sau lực sĩ Bà la môn không trả, cứ thế 3 lần đều nuốt lời hứa. Đến hội tết sau lại đọ sức nữa, lực sĩ Sát đế lợi bèn đánh lực sĩ Bà la môn chết ngay trên đấu trường, nhà vua cả mừng, ban cho lực sĩ Sát đế lợi 10 vạn đồng tiền vàng. Lực sĩ Sát đế lợi lúc bấy giờ nay chính là Phật Thích ca, còn lực sĩ dòng Bà la môn thì nay chính là Đề bà đạt đa. Kiếp trước vì tham tiền nổi nóng, đánh chết lực sĩ, phải chịu nhiều khổ báo, nay tuy đã thành Phật nhưng túc duyên vẫn còn, nên Phật bị khổ báo đau lưng. 6. Phật bị mộc thương thích cước duyên (bị cây cọc gỗ nhọn đâm vào chân): Trong kiếp quá khứ xa xưa, có 2 thuyền trưởng vượt biển tìm của báu, bỗng gặp sóng gió bèn tranh giành thuyền của nhau nên 2 bên kịch chiến, thuyền trưởng Ất dùng cây giáo đâm vào chân của thuyền trưởng Giáp và người này chết liền tại chỗ. Thuyền trưởng Ất nay chính là Phật Thích ca, còn thuyền trưởng Giáp thì nay là Đề bà đạt đa. Vì nhân duyên ấy, chịu các khổ báo, nay tuy đã thành Phật nhưng dư báo vẫn còn, nên Phật bị cọc gỗ nhọn đâm vào chân. 7. Phật bị trịch thạch xuất huyết duyên(bị ném đá chảy máu): Trong kiếp quá khứ, ở thành La duyệt kì có người con trưởng giả tên là Tu ma đề. Tu ma đề có người em cùng cha khác mẹ tên là Tu da xá. Sau khi người cha là Tu đàn chết, Tu ma đề không muốn chia gia tài cho em, bèn rủ em cùng vào núi Kì xà quật, khi lên đến chỗ sườn núi cao, Tu ma đề liền đẩy em xuống núi và người em chết ngay tại chỗ. Tu ma đề nay chính là Phật Thích ca, còn Tu da xá thì nay chính là Đề bà đạt đa. Vì nhân duyên này, đức Thế tôn đã phải chịu khổ quả trong nhiều kiếp, nay tuy đã được làm Phật nhưng dư báo vẫn còn, cho nên Ngài bị ném đá chảy máu. 8. Phật bị Chiên sa hê vu báng duyên (bị Chiên sa buộc bát nơi bụng vu khống): Trong 1 kiếp quá khứ lâu xa, có đức Phật hiệu là Tận thắng Như lai, trong hội của Ngài có2 vị tỉ khưu, 1 vị tên là Vô thắng, 1 vị tên là Thường hoan. Bấy giờ trong thành Ba la nại có người vợ của trưởng giả Đại ái tên là Thiện huyễn. Hai vị tỉ khưu Vô thắng và Thường hoan hay đến nhà Thiện huyễn khất thực. Tỉ khưu Vô thắng đã dứt hết phiền não nên được cúng dường nhiều hơn, còn tỉ khưu Thường hoan thì chưa đoạn hết phiền não, nên được cúng dường ít hơn. Tỉ khưu Thường hoan bèn sinh tâm ghen ghét, nên vu khống Vô thắng là tư thông với Thiện huyễn. Tỉ khưu Thường hoan nay chính là Phật Thích ca, còn Thiện huyễn thì nay chính là Chiên sa. Vì nhân duyên này mà đức Thế tôn đã phải chịu nhiều quả báo khổ não, nay tuy đã được làm Phật nhưng dư báo vẫn còn, nên khi đức Phật đang nói pháp cho các ngoại đạo và vua quan nghe thì bị 1 cô gái chanh chua độn bụng chửa đến vu oan cho Ngài. 9. Phật thực mã mạch duyên (phải ăn thóc dành để nuôi ngựa): Trong kiếp quá khứ, có đức Như lai Tì bà diệp, khi Ngài nhận sự cúng dường ở trong thành Bàn đầu ma bạt xong, Ngài lấy 1 ít thức ăn mang về cho vị tỉ khưu bị bệnh ở tinh xá, khi đi ngang qua chỗ 1 người Bà la môn, người này thấy thức ăn Ngài đang mang theo rất thơm ngon, liền có ý ghen tức và nói với Ngài rằng: Ông sa môn đầu trọc chỉ đáng ăn lúa dành để nuôi ngựa, chứ không đáng ăn của ngon lành như thế này. Rồi người Bà la môn lại bảo 500 đứa trẻ cùng nói như vậy. Người Bà la môn nay chính là Phật Thích ca, 500 đứa trẻ tức là 500 vị La hán. Vì nhân duyên này mà đức Thế tôn đã phải chịu nhiều khổ não, nay tuy đã thành Phật nhưng dư báo vẫn còn, cho nên đức Như lai và 500 vị La hán phải ăn thóc dành để nuôi ngựa ở ấp Tì lan suốt 90 ngày. 10. Phật kinh khổ hạnh duyên (chịu 6 năm khổ hạnh): Trong 1 kiếp quá khứ, ở gần thành Ba la nại có người con Bà la môn, tên Hỏa man và con của 1 người thợ gốm, tên Hộ hỉ. Một hôm, Hộ hỉ rủ Hỏa man cùng đến yết kiến đức Ca diếp Như lai, nhưng Hỏa man bảo đến gặp lão trọc đầu ấy làm gì? Ba lần Hộ hỉ rủ Hỏa man, 3 lần Hỏa man đều trả lời như thế. Mấy ngày sau, Hộ hỉ lại rủ Hỏa man lần nữa, Hỏa man đành phải chiều lòng bạn mà đi. Khi đến nơi, Hỏa man thấy tướng hảo của đức Như lai, sinh tâm vui mừng, bèn xuất gia học đạo. Hỏa man nay chính là Phật Thích ca, còn Hộ hỉ tức thiên tử Tác bình – người lúc nửa đêm đến báo giờ cho Thái tử Tất đạt đa vượt thành xuất gia. Do túc duyên nói những lời xấu ác đối với đức Phật Ca diếp mà đức Thế tôn đã phải chịu nhiều khổ báo, nay tuy sắp thành Phật, nhưng dư báo vẫn còn, cho nên phải chịu khổ hạnh trong 6 năm để trả nghiệp.
phật thế
Buddha-age; especially the age when Buddha was on earth.
; (佛世) Chỉ cho thời đại đức Phật đang còn tại thế giáo hóa chúng sinh. Nhưng muốn gặp được Phật tại thế rất khó, đó là 1 trong 8 nạn của chúng sinh. (xt.Bát Nạn).
Phật Thế Tôn
佛世尊; C: fóshìzūn; J: butsuseson;|Đức Phật được tôn quý ở thế gian. Một trong Mười danh hiệu của đức Phật, phiên âm là Bạc-già-phạm (蒲伽梵; s: bhagavān).
phật thế tôn
Buddha Bhagavat (S)Một trong 10 Phật hiệu.
; Buddha, the world honoured.
Phật Thế Tôn 佛世尊
[ja] ブツセソン butsuseson ||| The world-honored Buddha; world honored tathāgata. One of the ten epithets 十號 of the Buddha, transcribed as (bhagavān) . (e: The world-honored Buddha) => Đức Như Lai được tôn quý ở thế gian. Một trong 10 danh hiệu của Đức Phật, phiên âm là Bạc-già-phạm (蒲伽梵s: bhagavān). Phật thị tạp biện 佛氏雜辨 [ja] ブツシゾウベン Busshi zōben ||| The Pulssi chappyŏn (Arguments Against the Buddhists), a late 14th century Korean Neo-Confucian polemical critique of Buddhism by Chŏng Tojŏn (鄭道傳 pen name: Sambong 三峰 1342-1398). In this work he carried out his most comprehensive refutation of Buddhism, singling out Buddhist doctrines and practices for detailed criticism. Chŏng stated that this book was written with the objective of refuting Buddhism once and for all "lest it destroy morality and eventually humanity itself." The charges leveled against Buddhism in the Pulsshi chappyŏn constitute a full inventory of the various arguments made by Confucians and Neo-Confucians from the time of the introduction of Buddhism into East Asia during the second century C.E. These arguments are arranged in eighteen sections, each of which is a critique on a particular aspect of Buddhist doctrine or practice. => (k: Pulsshi chappyŏn ) (j: Busshi zōben); (e: Arguments Against the Buddhists) Luận chiến phê phán đạo Phật vào thế kỷ thứ 14 từ phía Nho giáo của Quách Đạo Truyền (k: Chŏng Tojŏn ), bút danh là Tam Phong (k: Sambong 三峰 , 1342-1398). Trong tác phẩm nầy, ông đưa ra những vấn đề bao quát nhất để bài xích Phật giáo, tách riêng ra phần giáo lý và thực hành để phê bình chi tiết. Ông Quách cho rằng tác phẩm nầy được viết ra một cách khách quan để bài bác Phật giáo, tất cả là "để khỏi bị phá hoại nền đạo đức và cuối cùng là nhân tính". Mức độ cuộc tấn công vào Phật giáo của Phật thị tạp biện 佛氏雜辨 (k: Pulsshi chappyŏn ) bao gồm một tóm tắt đầy đủ về những lý lẽ khác nhau của các nhà Khổng học và Tân Khổng học từ thời kỳ Phật giáo du nhập vào Á Đông thế kỷ thứ hai. Các lý lẽ được trình bày thành 18 chương, mỗi chương phê phán mỗi khía cạnh riêng biệt về giáo lý hay thực hành của đạo Phật.
phật thế tịnh quang
Buddha of Light Which Makes the World Serene Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
Phật thị
佛氏; C: fóshì; J: busshi.|Những nhà tư tưởng Phật giáo, triết gia Phật giáo, những người tu tập theo đạo Phật.
Phật thị tạp biện
佛氏雜辨; C: fóshì zábiàn; J: busshi zōben; K: pulsshi chappyǒn.|Luận chiến phê phán đạo Phật vào thế kỉ thứ 14 từ phía Nho giáo của Trịnh Đạo Truyền (鄭道傳; k: chǒng tojǒn, bút danh là Tam Phong 三峰; k: sambong, 1342-1398). Trong tác phẩm nầy, ông đưa ra những vấn đề bao quát nhất để bài xích Phật giáo, tách riêng ra phần giáo lí và thực hành để phê bình chi tiết. Ông Trịnh cho rằng tác phẩm nầy được viết ra một cách khách quan để bài bác Phật giáo, tất cả là »để khỏi bị phá hoại nền đạo đức và cuối cùng là nhân tính.« Mức độ cuộc tấn công Phật giáo của Phật thị tạp biện bao gồm một tóm tắt đầy đủ về những lí lẽ khác nhau của các nhà Nho giáo và Tân Nho giáo từ thời kì Phật giáo du nhập vào Đông Á thế kỉ thứ 2. Các lí lẽ được trình bày thành 18 chương, mỗi chương phê phán mỗi khía cạnh riêng biệt về giáo lí hay thực hành của đạo Phật.
Phật thị 佛氏
[ja] ブッシ busshi ||| Buddhists; Buddhist thinkers; Buddhist philosophers; Buddhist practitioners. [佛家] => Những nhà tư tưởng Phật giáo, triết gia Phật giáo, những người tu tập theo đạo Phật.
phật thọ
Buddha-dattha (S), Buddha-datta (S)Ngài Phật Thọ, thế kỷ thứ V.
; Buddha's life, or age.
; (佛壽) Chỉ cho tuổi thọ 1 đời của đức Thế tôn, hoặc chỉ cho thọ lượng của đức Thế tôn đã thành Phật từ lâu xa hoặc thọ lượng của đức Phật Thích ca sau này.
phật thọ luận sư
Buddhatta (S)Tên một vị sư.
phật thọ tứ dụ
(佛壽四喻) Bốn thí dụ về tuổi thọ của đức Phật nói trong kinh Kim quang minh quyển 1. 1. Hải trích dụ (dụ giọt nước biển): Nếu đếm giọt nước của tất cả các sông thì ta có thể biết được, nhưng tuổi thọ của đức Phật thì không biết được. 2. Sơn cân dụ (dụ cân núi): Dùng cân mà cân các núi Tu di thì có thể biết được trọng lượng của chúng, nhưng tuổi thọ của đức Phật thì không thể lường được. 3. Địa trần dụ (dụ bụi của đất): Ta có thể biết được số bụi nhỏ của tất cả đại địa, nhưng tuổi thọ của đức Thế tôn thì không thể tính được. 4. Hư không giới dụ(dụ cõi hư không): Cõi hư không còn có thể có giới hạn, nhưng tuổi thọ của đức Phật thì không thể tính toán được. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.1].
phật thời
Buddhataraṁ (S), Period of a Buddha.
phật thụ
Bodhidruma (S). The Bodhi-tree under which Sàkyamuni obtained enlightenment.
; (佛授) Pàli: Buddhadatta. Cao tăng Ấn độ, người nước Chu la (The Kingdom of Cola), thành Ưu la già (Pàli: Uragapura), Nam Ấn độ, sống vào thế kỉ V. Sư từng đến Tích lan trụ ở Đại tự (Pàli: Mahàvihàra), nghiên cứu Phật học, sau đó, sư về Ấn độ ở trong 1 tăng viện của giáo phái Tì nữu (Phạm: Vaiwịava) do Kiwịadàsa – nhà cải cách tông giáo – xây dựng, chuyên việc soạn thuật. Cứ theo Luật quyết định (Pàli: Vinaya - vinicchaya, cũng gọi Tì nại da quyết trạch luận) thì lúc trên đường từ Tích lan trở về Ấn độ, sư đã gặp ngài Phật âm; sư có xin ngài 1 bộ sách chú thích Tam tạng và ngài đã tặng sư bộ sách ấy. Sư bèn trích lấy những phần cốt yếu trong bộ sách của ngài Phật âm mà biên soạn thành Luật quyết định và Nhập a tì đạt ma luận (Pàli: Abhidhammàvatàra), rất được các học giả đương thời kính trọng. Ngoài 2 tác phẩm trên, sư còn có: Thượng thắng quyết định (Pàli: Uttaravinicchaya), Sắc phi sắc phân biệt (Pàli: Rùpàrùpa-vibhàga), Diệu nghĩa duyệt ý (Pàli: Madhurattha-vilàsinì, sách chú thích Phật chủng tính. [X. A History ofPàliLiterature, by B.C. Law; Dictionary of PàliProper Names, by G.P.Malalasekera].
phật thụ kí tự
(佛授記寺) Chùa ở thành Lạc dương, do ngài Hoài nghĩa xây dựng vào đời Đường. Các vị cao tăng từ Ấn độ đến Trung quốc, phần nhiều trụ ở chùa này để dịch kinh. Năm Trường thọ thứ 2 (693), ngài Bồ đề lưu chí dịch kinh Bảo vũ ở chùa này. Tháng 5 niên hiệu Chứng thánh năm đầu (695), ngài Thực xoa nan đà đến Trung quốc, lúc đầu ngài trụ ở chùa Đại biến không, ít lâu sau cũng dời về chùa này để dịch kinh Hoa nghiêm. Lúc ngài Nghĩa tịnh từ Ấn độ về nước, mang theo nhiều kinh điển tiếng Phạm, tranh tượng và xá lợi Phật... đều được cất giữ ở chùa này. Nữ hoàng Vũ hậu Tắc thiên từng đến đây lễ Phật và cúng dường trai soạn chư tăng, đồng thời quan sát việc dịch kinh. Năm Thánh lịch thứ 2 (699), bộ kinh Hoa nghiêm 80 quyển, do ngài Thực xoa nan đà dịch, được hoàn thành, ngài Pháp tạng liền vâng sắc giảng bộ kinh này. Các ngài Minh thuyên... cũng soạn Vũ chu san định chúng kinh mục lục 15 quyển tại chùa này. Đây là ngôi chùa nổi tiếng nhất ở thành Lạc dương thời bấy giờ. [X. Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.15; Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.1; Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh cảm ứng truyện; Khai nguyên thích giáo lục Q.7,9;Tống cao tăng truyện Q.1–6; Hoài nghĩa truyện trong Cựu đường thư liệt truyện 133].
phật thụ nha
(佛樹牙) Cũng gọi Phật thụ vương nha. Giai vị tu hành của Sơ địa tịnh bồ đề tâm trong Mật giáo. Nha là mầm non của cây. Vì tất cả chúng sinh đều có Phật tính, cho nên khi chưa tu hành thì cũng đã có tâm bồ đề, đó tức là tâm bồ đề sẵn có, có thể được xem như hạt giống (chủng tử). Trái lại, tâm bồ đề nhờ đã trải qua công phu tu hành mà dần dần nảy mầm thì là tâm bồ đề tu sinh (do tu mà nảy sinh), có thể được xem là mầm (nha). Bởi thế, Mật giáo thường dùng từ Phật thụ nha (mầm cây Phật) để gọi giai vi tu hành Sơ địa tịnh bồ đề tâm. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 592 thượng) nói: Khi hành giả bắt đầu mở toang kho báu kim cương thì thấy tâm tính này như hư không thanh tịnh, vượt ngoài các số lượng, lúc bấy giờ tâm ấy lìa nghiệp nhân mà sinh, là mầm cây Phật nảy sinh (Phật thụ nha sinh).
Phật thừa
xem Ba thừa.
; 佛乘; S: buddhayāna; cũng còn được gọi là Nhất thừa (s: ekayāna);|»Cỗ xe duy nhất«, giáo pháp cao tột đưa đến Giác ngộ và Phật quả.
phật thừa
Buddhayāna (S), Buddha Vehicle Phật thừa là giáo pháp đức Thế tôn dạy trước khi nhập diệt. Lúc đầu đức Thế tôn dạy Thanh văn thừa để đệ tử đắc quả A la hán. Kế đó Ngài dạy Duyên giác thừa để đua đệ tử đến cảnh Niết bàn của bậc Duyên giác. Sau đó Ngài dạy Bồ tát thừa cho những vị tu trì quả vị Bồ tát. Cuối cùng ấy nấy đều thuần thục nên Ngài gom lại thành Nhứt thừa hay Phật thừa để dạy đệ tử tu thành Phật trong vị lai.
; The Buddha-vehicle.
; (佛乘) I. Phật Thừa. Phạm: Buddha-yàna. Cũng gọi Bồ tát thừa, Đại thừa, Như lai thừa. Chỉ cho Bồ tát thừa. Vì Bồ tát tu đạo mục đích là cầu thành Phật, cho nên đối lại với 2 thừa Thanh văn và Duyên giác mà gọi Bồ tát thừa là Phật thừa. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.45; phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2]. (xt. Bồ Tát Thừa). II. Phật Thừa. Chỉ cho các kinh Hoa nghiêm và Pháp hoa. Vì giáo pháp của các kinh này nói hết thảy chúng sinh đều có khả năng thành Phật, cho nên gọi 2 kinh này là Phật thừa. Lại vì pháp này không chia Nhị thừa, Tam thừa mà chỉ nói 1 pháp thành Phật duy nhất, cho nên cũng gọi Nhất thừa. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 140) ghi: Như lai chỉ dùng Nhất Phật thừa để nói pháp cho chúng sinh. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Tam tạng pháp số Q.32].
phật thừa giới
(佛乘戒) Giới luật của người dốc chí cầu quả vị Phật thụ trì. Tức giới luật được nói trong kinh Phạm võng. [X. phẩm Học xứ kinh Đại nhật]. (xt. Giới).
phật tiền
(佛錢) Tiền thuộc về Phật. Trong các chùa viện, những vật của Phật, của pháp, của tăng không được tùy tiện dùng lẫn lộn. Chẳng hạn như tiền thập phương dâng cúng Phật, chỉ được dùng để sửa sang tượng Phật, chứ tuyệt đối không được sử dụng vào việc khác.
Phật toạ
佛座|Nơi Phật ngồi, cái nền Phật ngồi. Phật toạ được trình bày trong tranh tượng phần lớn dưới ba dạng: 1. Sư tử toạ, 2. Liên hoa toạ và 3. Tu-di toạ.|Sư tử là chúa tể của loài thú, biểu hiện của Thế giới vương và năng lực chinh phục được tất cả của Phật pháp. Hoa sen là biểu hiện của sự tinh khiết, vô cấu nhưng đôi lúc cũng được xem là biểu tượng của vũ trụ và vị Phật ngồi trên đó được hiểu như một Vũ trụ vương, hiện thân của thể tính tuyệt đối, của Chân như. Dạng liên hoa toạ được tìm thấy lần đầu trong nghệ thuật Càn-đà-la (gan-dhāra) ở thế kỉ 3-4. Dạng ngồi thứ ba được tìm thấy trong nghệ thuật Trung Quốc và Nhật Bản. Phật ngồi trên núi Tu-di và núi này có dạng như một đồng hồ cát, tức là ở chính giữa hẹp hơn ở hai đầu.|Thỉnh thoảng người ta cũng trình bày đức Phật ngồi trên thân xoắn lại của một con rắn chín đầu và chín đầu này vươn qua khỏi đầu của đức Phật để bảo vệ Ngài. Một cách trình bày khác là hai con nai quì đối nhau trước chỗ Phật ngồi, ở giữa có một bánh xe pháp (Pháp luân). Cách trình bày này nhắc lại lần Phật chuyển pháp luân tại Lộc uyển, thuyết giảng Phật pháp cho năm vị Tỉ-khâu.
phật trang nghiêm cảnh giới tam muội
(佛莊嚴境界三昧) Chỉ cho Tam muội trụ trong thể tự chứng chân thực của chư Phật. Phật cảnh giới là cảnh giới chân thực mà chư Phật tự chứng được. Trang nghiêm nghĩa là cái thể Như lai tự chứng được trang nghiêm bằng vô lượng công đức. Cứ theo phẩm Phổ thông chân ngôn tạng trong kinh Đại nhật quyển 2 thì Bồ tát Phổ hiền từng trụ trong Tam muội này mà tuyên thuyết chân ngôn Vô ngại lực. [X. Đại nhật kinh sớ Q.10].
phật tri kiến
The penetrative power of Buddha's wisdom.
; (佛知見) Phạm: Tathàgatajĩàna-darzana. Chỉ cho sự thấy biết của chư Phật Như lai, thấu suốt lí mầu nhiệm của thực tướng các pháp. Kinh Pháp hoa (Đại 9, 7 thượng) nói: Chư Phật Thế tôn chỉ vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời: Chư Phật Thế tôn muốn làm cho chúng sinh khơi mở tri kiến Phật để được thanh tịnh nên xuất hiện nơi đời; muốn chỉ bày cho chúng sinh thấy được tri kiến Phật nên xuất hiện ở đời, muốn khiến cho chúng sinh tỏ ngộ được tri kiến Phật nên xuất hiện ở đời; muốn làm cho chúng sinh nhập vào tri kiến Phật nên xuất hiện ở đời. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2,9; Ma ha chỉ quán Q.3; Pháp hoa văn cú kí Q.4, hạ; Tứ giáo nghĩa Q.12].
Phật Triết
(佛哲, Buttetsu, ?-?): còn gọi là Phật Triệt (佛徹, Buttetsu), vị tăng sang Nhật Bản dưới thời đại Nại Lương (奈良, Nara), xuất thân vùng Lâm Ấp (林邑, Nam bộ Việt Nam, Huế). Ông đến miền Nam Ấn Độ, theo học với Bồ Đề Tiên Na (菩提僊那) và sở trường về chú thuật. Trong khoảng thời gian niên hiệu Khai Nguyên (開元, 713-741) nhà Đường, ông theo Bồ Đề Tiên Na sang Trung Quốc. Đến năm thứ 8 (736) niên hiệu Thiên Bình (天平), thể theo lời thỉnh cầu của vị tăng Nhật Bản sang nhà Đường là Lý Kính (理鏡) và vị Chánh Sứ Đa Trị Tỉ Quảng (多治比廣), ông cùng với thầy sang Nhật, đến trú tại Đại An Tự (大安寺, Daian-ji), chuyên tâm truyền dạy Nhã Nhạc Lâm Ấp, các điệu múa Bồ Tát, Bạt Đầu, v.v. Nhạc Lâm Ấp là một bộ môn trong Nhã Nhạc khúc; và tương truyền 7 khúc ngoại trừ Vạn Thu Nhạc (萬秋樂) trong Lâm Ấp Bát Nhạc (林邑八樂, gồm Bồ Tát [菩薩], Lăng Vương [陵王], Ca Lăng Tần [迦陵頻], An Ma [安摩], Bội Lư [倍臚], Bạt Đầu [拔頭], Hồ Ẩm Tửu [胡飲酒] và Vạn Thu Nhạc [萬秋樂]) đều do Phật Triết truyền vào. Nhạc Lâm Ấp từng được diễn tấu trong lễ Hội Khai Nhãn Tượng Đại Phật (大佛開眼會, năm thứ 4 [752] niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo [天平勝寶]), Đại Hội Cúng Dường Tu Sửa Đầu Tượng Đại Phật (大佛佛頭修理供養無遮大會) tại Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), buổi khánh yến của triều đình hay những trai hội ở các tự viện, v.v. Đặc biệt trong lễ Hội Khai Nhãn Tượng Đại Phật, ông là vị thầy dạy các điệu múa cúng dường. Vào năm thứ 4 (809) niên hiệu Đại Đồng (大同), các nhạc sư Lâm Ấp thuộc Ban Nhã Nhạc được quy định 2 người; đến năm thứ 7 (883) niên hiệu Nguyên Khánh (元慶), họ chọn ra 107 người nhạc công Lâm Ấp, cho tiến hành diễn tập tại Đại An Tự và hong phơi các nhạc cụ Lâm Ấp vào tháng 6 hằng năm. Bản dật văn Chí Ma Quốc Phong Thổ Ký (志摩國風土記) ghi lại việc Phật Triết có phục vụ trong tế điển ở Y Thế Thần Cung (伊勢神宮, Ise Jingū) vào năm thứ 9 (737) niên hiệu Thiên Bình. Tuy nhiên, có nghi vấn cho rằng có thể đây không phải là loại hình ghi chép về phong thổ dưới thời Nại Lương mà thuộc loại ký lục khác.
phật triết
(佛哲) Cũng gọi Phật triệt. Danh tăng người nước Lâm ấp, sống vào khoảng thế kỉ VIII. Sư sang Thiên trúc (Ấn độ), thờ ngài Bồ đề Tiên na làm thầy, thông suốt mật chú. Sau, sư theo ngài Bồ đề tiên na đến Trung quốc. Năm Khai nguyên 24 (736), 2 người cùng đến Nhật bản, trụ ở chùa Đại an, dạy tiếng Phạm, rất được triều đình và dân chúng kính trọng. Năm Thiên bình thắng bảo thứ 4 (752), chùa Đông đại cử hành nghi thức Khai nhãn cúng dường Đại Phật, sư tấu vũ nhạc, truyền Bồ tát vũ, Bạt đầu vũ, Lâm ấp vũ... Sư có tác phẩm: Tất đàm chương 1 quyển.
phật truyện điển tịch
(佛傳典籍) Chỉ cho những kinh sách nói về sự tích 1 đời đức Phật, hoặc các bộ luận đứng trên lập trường giá trị tư tưởng nhân loại mà nghiên cứu, phân tích, phê bình, đánh giá các sự tích, tinh thần, giáo thuyết của đức Phật. Ngoài ra, cũng bao gồm những trứ tác với nôi dung phân loại, chỉnh lí, khảo chứng và phê phán các kinh điển, các bộ luận nói trên. Sự biên soạn những điển tịch Phật truyện cũng chịu ảnh hưởng của phương hướng truyền bá Phật giáo mà hình thành 2 hệ thống là hệ thống Phật truyện Bắc truyền Phạm ngữ, hệ thống Phật truyện Nam truyền Pàli ngữ và Phật truyện của 2 hệ thống này cũng có đôi chút khác nhau. Thông thường nội dung của Phật truyện Bắc truyền được chia làm 8 hạng mục lớn, gọi là Bát tướng thành đạo, đó là: Từ cung trời Đâu suất xuống, gá thai, đản sinh, xuất gia, hàng phục quân ma, thành đạo, quay bánh xe pháp và vào Niết bàn. Còn nội dung của Phật truyện Nam truyền thì chỉ có 4 hạng mục, gọi là Tứ đại Phật sự, đó là: Đản sinh, thành đạo, quay bánh xe pháp lần đầu tiên và vào Niết bàn. Đặc điểm của Phật truyện Bắc truyền là nóimột cách chi tiết về những sự tích của đức Phật như: Bản sinh đàm, xuất gia, thành đạo...Về những kinh điển Phật truyện trong kho tàng Hán dịch đồ sộ thì có: 1. Kinh tu hành bản khởi, 2 quyển, do 2 Ngài Trúc đại lực và Khang mạnh tường cùng dịch vào đời Đông Hán, nói về sự tích đức Phật từ đời quá khứ đến lúc hàng ma, thành đạo. 2. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi, 2 quyển, do cư sĩ Chi khiêm dịch ở nước Ngô đời Tam quốc, nói về Bản sinh đàm của đức Thích tôn ở đời quá khứ được đức Phật Định quang thụ kí cho đến khi thành đạo và độ cho 3 anh em Ca diếp. 3. Kinh Phổ diệu (Phạm:Lalitavistara), 8 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn, nói về đức Phật từ khi giáng sinh đến lúc quay bánh xe pháp lần đầu. 4. Kinh Phương quảng đại trang nghiêm, 12 quyển, do ngài Nhật chiếu dịch vào đời Đường, là bản dịch khác của kinh Phổ diệu. 5. Kinh Dị xuất bồ tát bản khởi, 1 quyển, do cư sĩ Nhiếp đạo chân dịch vào đời Tây Tấn, nói từ khi đức Thích tôn trải tóc và được thụ kí ở quá khứ cho đến khi 3 anh em nhà Ca diếp qui y. 6. Kinh Trung bản khởi, 2 quyển, do ngài Đàm quả và cư sĩ Khang mạnh tường cùng dịch vào đời Đông Hán, nói về các sự tích từ sau khi đức Phật quay bánh xe pháp. 7. Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả, 4 quyển, do ngài Cầu na bạt đà la dịch vào đời Lưu tống, nói về sự tích đức Phật từ đời quá khứ làm tiên Thiện tuệ (nhân) đến khi thành đạo và giáo hóa Đại ca diếp (quả). 8. Kinh Hưng khởi hành, 2 quyển, do cư sĩ Khang mạnh tường dịch vào đời Đông Hán, nói về 10 truyện Bản sinh đàm của đức Phật. 9. Kinh Phật bản hành tập, 60 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, Phật truyện do Pháp tạng bộ truyền. Nội dung bao gồm Bản sinh đàm, xuất gia, thành đạo, giáo hóa đệ tử của đức Phật và các truyện kí của các đệ tử... 10. Kinh Chúng hứa ma ha đế, 13 quyển, do ngài Pháp hiền dịch vào đời Tống, nói về đức Phật từ khi đản sinh đến khi cácVương tử dòng Thích ca xuất gia. 11. Phật sở hành tán (Phạm: Buddhacarita), 5 quyển, do Bồ tát Mã minh soạn, ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương. Nói về sự tích đức Phật từ khi đản sinh đến khi 8 nước phân chia xá lợi. 12.KinhPhật bản hành, 7 quyển, do ngài Bảo vân dịch vào đời Lưu Tống, là bản dịch khác của Phật sở hành tán. 13. Kinh Lăng già la sát sở tập, 3 quyển, do ngài Tăng già Bạt trừng dịch vào đời Tiền Tấn, nói về sự tu hành của đức Phật ở đời trước và sự hóa độ chúng sinh của Ngài ở đời này. 14. Hữu bộ tì nại da phá tăng sự, 20 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường. Từ quyển 1 đến quyển 9 là bản dịch khác của kinh Chúng hứa ma ha đế. 15. LuậtTứ phần từ quyển 31 đến quyển 35, do các ngài Phật đà da xá và Trúc Phật niệm cùng dịch. Những kinh điển Phật truyện về phía Phật giáo Nam truyền thì có: 1. Luật tạng đại phẩm (Pàli: Mahàvagga). 2. Kinh Đại thừa niết bàn (Pàli: Mahàparinibhàna-sutta). 3. Bản sinh kinh Phật truyện (Pàli: Nidàna-kathà), do ngài Phật âm soạn. 4. Hoa man trang nghiêm sự (Pàli: Màlà-alaôkàra), nguyên văn đã bị thất lạc, chỉ còn các bản dịch tiếng Miến điện và tiếng Anh. Bản tiếng Anh do ông P. Bigandet dịch, nhan đề là: The Life or Legend of Gaudama, the Buddha of the Burmese. Về Phật truyện bằng tiếng Phạm thì có: 1. Mahàvastu (Đại sự) thiên thứ 2. 2. Saundarananda (Tôn đà la nan đà thi) dobồ tát Mã minh soạn. 3. Zatapaĩcazatikà-stotra (Một trăm năm mươi bài tán, do ngàiMàtfcetasoạn). 4. Catu#zataka-stotra (Bốn trăm bài tán, do ngài Màtfceta soạn). 5. Avadànakalpalatà (Như ý mạn dụ, do ngài Kwemendra soạn). Về Phật truyện tiếng Tây tạng thì có: 1. Bde-gsegs-gstan-pa#i-chos-byuí (Thiện thệ giáo pháp sử), tức là Lịch sử Phật giáo do ngài Bố đốn (Tạng: Bu-ston) soạn. 2. Vai-dù-rya-dkar-po#i gya#-sel (Bạch lưu li trừ tiêu). 3. Dpag-bsam ljon-bzaí (Như ý bảo thụ). 4. Lam-rim rgyud-pa#i bla-ma#i rnam-thar íag-pa (Đạo thuận truyền đăng sử truyện). 5. Dam-pa#i chos-kyi #kor-los bsgyur-ba (Chuyển chính pháp luân). Về Phật truyện do người Trung quốc soạn thì có: 1. Thích ca phổ, 5 quyển, do ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương. 2. Kinh luật di tướng (quyển 4), do ngài Bảo xướng soạn vào đời Lương. 3. Lịch đại tam bảo kỉ (quyển 1), do cư sĩ Phí trường phòng soạn vào đời Tùy. 4. Thích ca thị phổ, 1 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường. 5. Pháp uyển châu lâm (quyển 8 đến quyển 11), do ngài Đạo thế soạn vào đời Đường. 6. Thích ca Như lai thành đạo kí, 1 quyển, do cư sĩ Vương bột soạn vào đời Đường. 7. Thích ca Như lai thành đạo kí chú, 2 quyển, do ngài Đạo thành soạn vào đời Tống. 8. Cảnh đức truyền đăng lục (quyển 1) do ngài Đạo nguyên soạn vào đời Tống. 9. Truyền pháp chính tông kí ( quyển 1), do ngài Khế tung soạn vào đời Tống. 10. Thích môn chính thống (quyển 1), do ngài Tông giám sưu tập vào đời Tống. 11. Phật tổ thống kỉ (quyển 1 đến quyển 4), do ngài Chí bàn soạn vào đời Tống. 12. Thích thị thông giám (quyển 1), do ngài Bản giác biên tập vào đời Tống. 13. Ngũ đăng hội nguyên (quyển 1), do ngài Phổtế biên tập vào đời Tống. 14. Tông môn thống yếu tục tập (quyển 1), do ngài Thanh mậu soạn vào đời Nguyên. 15. Phật tổ lịch đại thông tải (quyển 4), do ngài Niệm thường soạn vào đời Nguyên. 16. Thích thị kê cổ lược (quyển 1), do ngài Giác ngạn biên tập vào đời Nguyên. 17. Thích thị tư giám (quyển 1), do ngài Hi trọng biên tập vào đời Nguyên. 18. Thích ca Như lai hành tích, 2 quyển, do ngài Hi trọng soạn vào đời Nguyên. 19. Thích ca Như lai ứng hóa lục, 6 quyển, do ngài Bảo thành soạn vào đời Minh. 20. Ngũ đăng nghiêm thống (quyển 1), do ngài Thông dung soạn vào đời Minh. 21. Phật tổ cương mục (quyển 1), do cư sĩ Chu thời ân soạn vào đời Minh. 22. Tông thống biên niên (quyển 1,2), do ông Kỉ ấm soạn vào đời Thanh. Về những luận văn nghiên cứu Phật truyện gần đây tại Trung quốc thì có: 1. Phật truyện nghiên cứu đích văn hiến tư liệu, đăng trong Bảo giác đồng học phục san kì 1. 2. Thích ca nhất đại giáo hóa thời địa khảo, do Lữ trừng soạn, đăng trong tạp chí Đông phương tập 21, kì 2. 3. Thích ca mâu ni chi niên đại, do Doãn tán huân dịch, đăng trong tạp chí Triết học kì 1. 4. Phật đà cập kì giáo pháp, do Phổ tín sinh soạn, đăng trong Nam doanh Phật giáo tập 8, kì 4. 5. Thích ca mâu ni đích giáo dục, do ngài Thái hư soạn, đăng trong Hải triều âm tập 12, kì 8. 6. Phật truyện khảo, do Dũng kiện dịch, đăng trong Hải triều âm tập 14, kì 6. 7. Phật đà thời đại cập Nguyên thủy Phật giáo giáo lí cương yếu do Lương khải siêu soạn. 8. Phật đà đích căn bản tư tưởng, do Như bích soạn. 9. Phật bátniết bàn niên nguyệt khảo, do ngài Pháp chu soạn. 10. Đàm Phật diệt niên đại, do Lữ trừng soạn. 11. Quan ư Phật đà đích đản nhật, do Nhất đinh soạn. 12. Phật đà niên đại luận, do Lí thế kiệt soạn. 13. Lược luận Phật tổ kỉ niên dữ Vệ tắc tiết, do Vương trọng hậu soạn. (Những bài từ 7 đến 13 đều được in trong Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san). 14. Thích ca mâu ni Phật truyện, do Tịnh vân soạn. Về những tác phẩm Phật truyện hoặc nghiêncứu tại Nhật bản thì có: 1. Tam bảo hội từ (quyển 1). 2. Kim tích vật ngữ (quyển 1). 3. Phật pháp do lai tập. 4. Thích ca nhất đại truyện kí, 8 quyển, do Huyền trinh soạn. 5. Thích ca mâu ni truyện, do Tỉnh thượng Triết thứ lang soạn. 6. Thích tôn chi nghiên cứu, do Vũ khê Liễu đế soạn. 7. Phật đà truyện, do Trường tỉnh Chân cầm soạn. 8. Thích tôn chi nhân dữ tư tưởng, do Tăng cốc Văn hùng và Trung thôn nguyên biên soạn. 9. Phạm văn Phật truyện văn học chỉ nghiên cứu, do Mộc thôn Thái hiền và Bình đẳng thông chiêu soạn. 10. Thích tôn chi tân nghiên cứu, do Phan trủng Triết anh soạn. 11. Thích tôn nghiên cứu tùng thư, 7 quyển, do Sơn biên Tập học soạn. 12. Khảo chứng Thích tôn truyện, do Lập hoa Tuấn đạo soạn. 13. Phật truyện khảo, do Cao nam Thuận thứ lang soạn. 14. Phật đà sinh nhai dữ tư tưởng, do Tăng cốc Văn hùng soạn. 15. Thích ca thực truyện kí, do Y đằng Tuấn đạo soạn. 16. Nhân gian Thích tôn, do Giang bộ Áp thôn soạn. 17. Phật thân tam thập nhị tướng thuyết giáo, do Quan lại Triệt chiếu soạn. 18. Thích ca luận, do Cao kiều Ngũ lang soạn. 19. Thích ca hiện đại khảo, do Tang nguyên Chất tạo soạn thuật. 20. Phật truyện quan hệ sử liệu, do Bản nguyên Xiển giáo soạn. 21. Phật truyện tập thành, do Thường bàn Đại định soạn. 22. Thích tôn chi xuất thế dữ hiện tại, do Truy vĩ Biện khuông soạn. 23. Thích tôn dữ Nhật bản văn minh, do Cao nam Thuận thứ lang soạn. 24. Thánh giả xuất hiện chi ý nghĩa, do Kỉ niên Chính mĩ soạn. 25. Hiện đại chi tư tưởng giới dữ Thích tôn, do Tiền điền Tuệ vân soạn. 26. Đại thánh thế tôn, do Gia đằng Đốt đường soạn. 27. Thế tôn xuất thế chi bản hoài, do Quật vĩ Quán vụ soạn. Về các luận văn nghiên cứu Phật truyện của các học giả Âu Mĩ cận đại thì có: 1. Essai sur la légende du Buddha (Luận về Phật truyện) của Émile Senart (1847- 1928). Trong sách, tác giả cho rằng sự tích đức Phật có những yếu tố chân thực mà cũng có phần truyền thuyết. 2. Buddha, Sein Leben, seine Lehre, seine Gemeinde, Anh dịch: Buddha; His Life, His Doctrine, His Order (Đức Phật, cuộc đời, giáo pháp và tăng đoàn của Ngài) của Hermann Oldenberg (1854-1920). 3. La vie du Bouddha, Anh dịch: Life of the Buddha (Cuộc đời Đức Phật) của Alfred Foucher (1865-1952). 4.Màraund Buddha (Đức Phật và Ác ma) của Ernst Windish (1844-1918). 5. Buddha s Geburt und die Lehre von der Seelenwanderung (Khảo sát về niên đại đản sinh của đức Phật) của Ernst Windish. 6. Die Überlieferung von Lebensende des Buddha Gôttingen- Anh dịch: The Tradition of the Life end of the Buddha (Truyền thuyết về sự nhập diệt của đức Phật) của Ernst Waldschmidt. 7. Recherches sur la biographie du Buddha dans les Sutrapiỉaka et les Vinayapiỉakaanciens (Nghiên cứu về Phật truyện trong các tạng kinh, luật cổ) của André Bareau. 8. Histoire du bouddhisme indien, I, Louvain, 1958 (Lịch sử Phật giáo Ấn độ) của Étienne Lamotte. 9. On the first canto of Azvaghowa’s Buddhacarita (Nghiên cứu chương thứ nhứt trong Phật sở hành tán của ngài Mã minh) của Claus Vogel. 10. Gotama the Man (Bậc người Cù đàm) của bà C.A.F. Rhys Davids (1858-1942). 11. Sakya or Buddhist Origins (Thích ca hoặc nguồn gốc Phật giáo) của bà C.A.F. Rhys Davids. 12. The Light of Asia (Ánh sáng Á đông) của Edwin Arnold (1832-1904). 13. The Buddha’s Way (Giáo pháp của đức Phật) của ngài Hammalava Sadhatissa. 14. Life and Doctrine of the Buddha (Cuộc đời và những lời dạy của đức Phật) của Richard Pischel (18491908). 15. The Life and Teachings of the Buddha (Cuộc đời và những lời dạy của đức Phật) của Csoma de Kôrôs. 16. The Buddha (Đức Phật) của Joseph Victor Widmann. 17. Le Prince Siddhartha (Thái tử Tất đạt đa) của Obolonsky. 18. Buddha and Christ (Đức Phật và Chúa Jesus)của Bruno Fvieyetank. 19. The Life of the Buddha của W.W.Rockhitl. 20. The Life of the Buddha as Legend and History(Cuộc đời đức Phật như truyền thuyết và lịch sử) của E.J.Thomas. 21. Gautama the Buddha (Đức Phật Cù đàm) của Sarvenpalli Radhakrishnan. [X. Phật giáo nghiên cứu pháp đệ nhị thiên Phật truyện (Lữ trừng)].(xt. Thích Ca Mâu Ni).
Phật trí
佛智; C: fózhì; J: butchi.|Trí huệ Phật (s: buddha-jñāna). Đồng nghĩa Nhất thiết trí (一切智).
phật trí
Xem nhất thiết chủng trí.
; Anuttara-samyak-sambodhi (S). Buddha-wisdom.
; (佛智) Phạm: Buddha-Jĩàna. Pàli: Buddha-ĩàịa. Trí tuệ của Phật, là tri kiến tối thắng vô thượng, tương đương với Nhất thiết chủng trí. Theo tông Pháp tướng Duy thức thì trí tuệ Phật có đủ 4 trí: Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí và Thành sở tác trí. [X. luận Đại trí độ Q.46, 85; luận Thập trụ tì bà sa Q.15; Tông kính lục Q.33]. (xt. Ngũ Trí, Tứ Trí).
phật trí hoằng tế thiền sư
Butchi kōsai zenji (J)Tên một vị sư.
Phật trí huệ
佛智慧; C: fózhìhuì; J: butchie;|Trí huệ Phật (s: buddha-jñāna); người có trí huệ Phật. Người giác ngộ.
phật trí huệ thắng
Buddha of Victorious Insight and Wisdom Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
Phật trí tuệ 佛智慧
[ja] ブッチエ butchie ||| The buddha's wisdom (buddha-jñāna); one who has the wisdom of the buddha. An enlightened being. 〔法華經, T 262.9.32a17〕 => Trí tuệ Phật (s: buddha-jñāna); người có trí tuệ Phật. Người giác ngộ.
Phật trí 佛智
[ja] ブッチ butchi ||| The Buddha's wisdom (buddha-jñāna).〔法華經,T .9.6a15〕Same as omniscience => Trí tuệ Phật (s: buddha-jñāna). Đồng nghĩa Nhất thiết trí 一切智.
phật tu di quang
Buddha of Mt Sumeru's Light.
phật tu ma na hoa quang
Buddha of Jasmine-Blossom Light.
phật tuệ
Buddha-wisdom.
phật tài quang
Buddha of Adept Light.
phật tài quang minh
Buddha of Radiance of Adept Talent Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật tán
(佛贊) Những bài kệ tán thán, ca tụng đức Phật. Nếu xướng tụng sau pháp hội thì gọi là Hậu tán.
phật táng hoa
(佛喪花) Chỉ cho hoa trắng. Hoa trắng tượng trưng cho hoa của 2 cây Sa la biến thành màu trắng khi đức Thế tôn nhập diệt, giống như màu trắng của chim hạc, cho nên gọi là Phật tang hoa. Trong Thiền lâm, khi có vị tăng qua đời cũng dùng hoa trắng đặt cúng dường trước linh vị. [X. điều Vong tăng trong Thiền uyển thanh qui Q.7].
phật tánh
Buddhatā (P), Buddhahood, Busshō (J), Tathāgatagarbha (S), de shin shek pay nying po (T), de shin shek pay nying po (T), Buddha nature
phật tánh hiểu
Busshō-u (J).
phật tánh không
Busshō-kŪ (J).
phật tánh luận
Buddhagotra śāstra (S)Do ngài Thế Thân biên soạn.
phật tánh vô
Busshō-mu (J).
Phật tâm
佛心; C: fóxīn; J: busshin;|Có các nghĩa: 1. Tâm Phật, tâm đại từ bi; 2. Tâm Phật mà mọi chúng sinh đều vốn có; cũng như Phật tính (佛性).
phật tâm
Buddha-mind.
; The mind of Buddha, the spiritually enlightened heart; charity, love; the human faculty of enlightenment.
; (佛心) Tâm Phật. Có 3 nghĩa: 1. Tâm Như lai tràn đầy từ ái (đại từ bi). Kinh Quán Vô lượng thọ (Đại 12, 343 hạ) nói: Nhờ quán xét thân Phật mà thấy được tâm Phật. Tâm của chư Phật là tâm đại từ bi, dùng vô duyên từ mà nhiếp hóa chúng sinh. 2. Tâm không dính mắc vào bất cứ sự, lí nào. Luận Đốn ngộ nhập đạo yếu môn (Vạn tục 110, 422 thượng) nói: Tâm không trụ tất cả chỗ chính là tâm Phật, cũng gọi tâm Giải thoát, cũng gọi là tâm Bồ đề, cũng gọi tâm Vô sinh. 3. Tâm chân như thanh tịnh xưa nay vốn có sẵn trong mọi người.
phật tâm kinh phẩm diệc thông đại tuỳ cầu đà la ni
(佛心經品亦通大隨求陀羅尼) Gọi tắt: Phật tâm kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này chủ yếu giải thích rõ về năng lực rộng lớn của Tâm chú trong tâm thuộc Đại tùy cầu đà la ni, đồng thời, nêu rõ năng lực bất khả tư nghị của thần chú này và các ấn khế. Quyển thượng: Trình bày về các ấn khế: Nhất thiết Phật tâm trung tâm đại đà la ni, Bồ đề tâm thành tựu, Như lai ngữ... Quyển hạ: Trình bày về sức thần thông rộng lớn của Như lai, về Tùy tâm đà la ni, về chú pháp và công năng của chú pháp...
phật tâm pháp
Busshin-hō (J).
phật tâm thiên tử
(佛心天子) Chỉ cho vua Lương vũ đế thời Nam triều. Nhà vua từng mặc ca sa giảng kinh Phóng quang bát nhã, cho nên người đời gọi ông là Phật tâm thiên tử. [X. Tắc 1, Bích nham lục].
Phật tâm tông
佛心宗; C: fúxīn-zōng; J: busshin-shū;|Một tên gọi khác của Thiền tông vì tông này chủ trương »Dĩ tâm truyền tâm« và tâm này chính là tâm (ấn) của đức Phật truyền cho Ðại Ca-diếp (s: mahākāśyapa).
phật tâm tông
Busshin-shŪ (J).
; Chan Buddhism or Zen.
; (佛心宗) Tên gọi khác của Thiền tông. Danh từ này có xuất xứ từ câu Phật ngữ tâm vi tông trong kinh Lăng già. Thiền tông lấy việc không lập văn tự, không y theo kinh điển, truyền thẳng tâm ấn của Phật làm tông chỉ, vì thế nên cũng gọi là Phật tâm tông.Phần Bình xướng trong tắc 13 của Bích nham lục (Đại 48, 153 hạ) nói: Tổ thứ 15 là tôn giả Đề bà (...) Một hôm yết kiến tổ thứ 14 là tôn giả Long thụ, tổ Đề bà ném cây kim vào bát, tổ Long thụ biết ngài là pháp khí, nên truyền Phật tâm tông cho. Nhưng ngài Đạo nguyên –Tổ khai sáng của tông Tào động Nhật bản– thìcho rằng Thiền pháp do ngài đề xướng là Phật pháp chính truyền, việc tập thiền ngộ đạo đều phải lấy ngồi thiền làm tông chỉ chân chính, vì thế không nên dùng những danh xưng hẹp hòi như Thiền tông, Phật tâm tông, Đạt ma tông v.v... để gọi Thiền pháp.
phật tâm ấn
The seal of the Buddha heart, or mind.
; (佛心印) Ấn tâm Phật. Tâm Phật tức là chân tâm sẵn có của chúng sinh, là thể mầu nhiệm của tính đại giác, tâm này nhất định không biến đổi, như dấu ấn của thế gian, vì thế gọi là Ấn. [X. phẩm Cơ duyên trong Lục tổ đàn kinh; tắc 1 Bích nham lục].
Phật tâm 佛心
[ja] ブッシン busshin ||| (1) The buddha-mind; great compassion. (2) The innate mind of buddha possessed by sentient beings; same as 佛性. => Có các nghĩa: 1. Tâm Phật, tâm đại từ bi. 2.Tâm Phật mà mọi chúng sinh đều vốn có; cũng như Phật tính.
phật tích
Buddha relics; any trace of Buddha, e.g. the imprint of his foot in stone before he entered nirvàna.
; (佛迹) Những dấu tích của đức Phật từ đản sinh đến nhập diệt còn lưu lại. Tương truyền, trước khi đức Phật nhập diệt, có 4 nơi liên quan đến Ngài được gọi là Thánh địa, đó là: 1. Nơi Phật đản sinh: Chỉ cho vườn Lam tì ni (Phạm: Lumbinì). 2. Nơi Phật thành đạo: Chỉ cho cây Bồ đề thành Già đa (Phạm: Buddhagayà). 3. Nơi chuyển pháp luân đầu tiên: Chỉ cho vườn Lộc dã (Phạm: Mfgadàva). 4. Nơi Phật nhập niết bàn: Chỉ cho rừng Song thụ gần thành Câu thi na yết la (Phạm: Kuzinagara). Sau khi lên ngôi, vua A dục từng đến chiêm bái 4 Thánh địa này, đồng thời, xây tháp và dựng trụ đá đánh ghi những nơi ấy, cho đến 4 Thánh địa, về sau được gọi là Tứ tháp. Trong các Phật tích, 4 nơi này là quan trọng nhất. Trong kinh Phật còn kể đến 4 nơi có nhân duyên sâu đậm nhất đối với việc giáo hóa của đức Phật là thành Xá vệ (Phạm: Zràvastì), Tăng già thi (Phạm:Saíkàzya), thành Vương xá (Phạm: Ràjagfha) và Tì xá li (Phạm: Vaizàlì), 4 nơi này và 4 Thánh địa được gọi chung là Bát đại xứ (Phạm: Aỉỉha-mahàỉỉhànàni). Ngoài ra, các tinh xá Kì viên, Trúc lâm, Đại lâm trùng các... là những nơi trung tâm của giáo đoàn trong thời đại đức Phật. Sau khi đức Phật nhập diệt, xá lợi Ngài được chia ra để thờ cúng ở 8 nơi, 8 nơi ấy cũng được coi là Thánh địa. [X. Đại đường tây vực kí Q.4-7; Cao tăng Pháp hiển truyện; Thích ca phổ Q.3; Thích ca thị phổ Q.5; Thích ca phương chí di tích thiên thứ 4].
Phật tính
佛性; C: fóxìng; J: busshō; S: buddhatā, bud-dha-svabhāva;|Theo quan điểm Ðại thừa, Phật tính là thể bất sinh bất diệt của mọi loài. Vì thế, mọi loài đều có thể đạt giác ngộ và trở thành một vị Phật, không bị đời sống hiện tại hạn chế. Có nhiều quan điểm khác nhau về Phật tính, người ta tranh cãi liệu tất cả mọi loài đều có Phật tính, liệu thiên nhiên vô sinh vô tri như đất đá có Phật tính hay không.|Giữa Tiểu thừa và Ðại thừa có sự khác biệt, liệu Phật tính có thường hằng trong mọi loài hay không. Tiểu thừa hầu như không nhắc đến Phật tính, cho rằng không phải chúng sinh nào cũng có thể thành Phật. Ðại thừa xem đạt Phật quả là mục đích cao nhất, đó là thể hiện Phật tính nằm sẵn trong mọi chúng sinh, thông qua những phép tu học nhất định.|Theo Thiền tông thì mỗi chúng sinh đều có Phật tính (j: busshō), nhưng nói chung thì không tự biết và cũng không sống với sự tự hiểu biết này như một bậc giác ngộ, một vị Phật. Sự thức tỉnh này và sự sinh diệt – một biểu hiện từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc nọ của sự đồng nhất với Phật tính – chính là mục đích của Thiền.|Như vị Thiền sư hiện đại người Nhật Bạch Vân An Cốc viết thì Phật tính – cũng đồng nghĩa với Pháp tính (s: dharmatā; j: hosshō) – chính là cái mà người ta gọi trong Ðại thừa là tính Không (s: śūnyatā; j: ku). Sư dạy: »Qua kinh nghiệm giác ngộ – nguồn gốc của tất cả những giáo lí đạo Phật – người ta ngộ được thế giới của tính Không. Thế giới này – chuyển động, không có trọng lượng, vượt mọi cá thể – vượt khỏi trí tưởng tượng của con người. Vì thế nên chúng ta không thể nào hiểu được và cũng không thể nào tìm hiểu được cái tự tính chân thật của vạn vật, cái Phật tính, pháp tính của chúng. Vì tất cả những gì chúng ta có thể tưởng tượng ra được đều phải có màu sắc nên tất cả những gì chúng ta tưởng tượng về Phật tính tất nhiên là sai. Cái người ta có thể tưởng tượng được chỉ là sự phản chiếu của Phật tính – nhưng không phải Phật tính. Nhưng, mặc dù Phật tính không thể diễn bày (Bất khả thuyết), không thể nghĩ bàn (Bất khả tư nghị), chúng ta vẫn có thể tỉnh thức, chứng ngộ được nó bởi vì chúng ta bản lai là Phật tính.«
phật tính
Xem Pháp tính.
; Buddhatà (S). The Buddha-nature
; (佛性) Phạm: Buddha-dhàtu, Buddhagotra. Cũng gọi Như lai tính, Giác tính. Chỉ cho bản tính của Phật, hoặc chỉ cho khả năng tính thành Phật, nhân tính ... , chủng tử, là tính chất bồ đề sẵn có, tên khác của Như lai tạng. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 7 (bản Bắc) thì tất thảy chúng sinh đều có Phật tính, phàm phu vì phiền não che khuất không lộ ra được, nếu dứt hết phiền não thì tính Phật tự nhiên hiển bày. Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo bộ phái chủ trương ngoài đức Phật và Bồ tát ra không ai được thành Phật, cho nên cũng không nói đến ý chỉ hết thảy chúng sinh đều có Phật tính. Nhưng theo luận Phật tính quyển 1 của Ngài Thế thân thì các bộ phái như Hữu bộ... tuy chủ trương chúng sinh không có Phật tính bẩm sinh (Tính đắc Phật tính), nhưng sau nhờ tu hành mà được Phật tính(Tu đắc Phật tính). Rồi dựa vào đó mà chia ra 3 loại chúng sinh như sau: -Nhất định không có Phật tính. -Không nhất định có Phật tính hay không cóvà -Nhất định có Phật tính. Đối với vần đề này, Phân biệt thuyết bộ lấy không làm Phật tính, tất cả chúng sinh đều lấy không làm gốc, từ không mà sinh ra, vì thế bộ này chủ trương bản tính đều có Phật tính. Luận Phật tính quyển 2 lại chia Phật tính làm 3 ngôi vị: 1. Trụ tự tính Phật tính: Chúng sinh bẩm sinh có đủ Phật tính. 2. Dẫn xuất Phật tính: Thông qua lời Phật dạy mà tu hành dẫn đến chỗ phát hiện Phật tính. 3. Chí đắc quả Phật tính: Đến quả vị Phật thì sự hiển phát Phật tính mới hoàn toàn viên mãn. Về vấn đề này, các tông phái ở Trung quốc và Nhật bản cũng có các thuyết khác nhau. 1. Tông Thiên thai lập thuyết Tam nhân Phật tính: Chính, Liễu, Duyên. a) Chính nhân Phật tính: Hết thảy chúng sinh vốn có đầy đủ Tam đế, Tam thiên. b) Liễu nhân Phật tính: Trí tuệ đạt được nhờ quán ngộ Phật lí. c) Duyên nhân Phật tính: Những hạnh lành thường làm duyên giúp cho sự phát khởi trí tuệ. Trong 3 loại nhân trên, loại thứ nhất thuộc về Tính (tiên thiên–Tính đắc) 2 loại sau thuộc về Tu (hậu thiên–Tu đắc). Nhưng xưa nay Tính và Tu vốn chẳng hai, viên dung vô ngại. Tam nhân Phật tính nếu thêm Thượng quả tính(Trí đức Bồ đề) và Quả quả tính (đoạn đức Niết bàn) vào nữa thì gọi là Ngũ Phật tính. Vì nhân quả chẳng lìa nên nhân vị và quả vị bổ túc lẫn nhau. 2. Theo tông Hoa nghiêm: Tính Phật của chúng sinh đầy đủ tất cả nhân quả, tính tướng, khả năng tính thành Phật sẵn có của các loài hữu tình là Phật tính, giác tính, khác với loài vô tình chỉ có lí chân như gọi là pháp tính chứ không phải Phật tính, cho nên tông Hoa nghiêm chủ trương chỉ có các loài hữu tình mới thành Phật được. 3. Theo Mật tông: Muôn tượng la liệt đều là pháp thân của Đại nhật Như lai, vì thế tông này lập thuyết Tất cả Phật tính (Hết thảy đều có tính Phật). 4. Tông Tam luận: Bác bỏ mọi luận thuyết có liên quan đến Phật tính, vì tông này chủ trương nói phân biệt về nhân quả tức là mê chấp, cho nên gọi Trung đạo vô sở đắc phi nhân phi quả là Phật tính. 5. Tông Pháp tướng đề xuất 2 thứ Phật tính: a) Lí Phật tính: Chỉ cho lí chân như bản thể của muôn vật. b) Hành Phật tính: Chủng tử vô lậu là nhân thành Phật hàm chứa trong thức A lại da của mọi người. Có Lí Phật tính mà không có Hành Phật tính thì cũng không thể thành Phật. Ngoài ra, tông Pháp tướng còn lập thuyết Ngũ chủng tính, tức là ngoài 3 loại Định tính của Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác ra, còn có Bất định tính và Vô tính; chủ trương chỉ có Bồ tát định tính và bất định tính mới có Hành Phật tính. 6. Thiền tông: Tuy nói chứng ngộ mày mặt thật xưa nay của chúng sinh, nhưng lại phủ định các vấn đề mê chấp Phật tính có,không, cho nên có công án Cẩu tử Phật tính (Tính Phật của con chó). 7. Tông Tịnh độ thừa nhận thuyết lí Phật tính, tuy nhiên cũng có người phủ định. Tịnh độ Chân tông của Phật giáo Nhật bản chủ trương thành Phật là nương vào sức bản nguyện của đức Phật A di đà, nghĩa là lòng tin mà Phật ban cho chúng sinh là Phật tính, đây tức là thuyết Tín tâm Phật tính. Ngoài ra, trong các kinh điển cũng thấy các từ ngữ như Phật chủng, Phật chủng tính..., ý nói đó là cái nhân để thành Phật, nhưng nội dung của các từ ngữ ấy còn tùy theo các kinh mà có khác, thông thường là chỉ cho Phật tính sẵn có của chúng sinh; hoặc chỉ cho phiền não, tâm bồ đề, sự tu hành của Bồ tát, sự xưng danh... [X. phẩm Phân biệt tà chính trong kinh Đại bát nê hoàn Q.4; kinh Niết bàn Q.28 (bản Bắc); kinh Bồ tát thiện giới Q.1; kinh Nhập lăng già Q.2,7; kinh Giải thâm mật Q.2; luận Du già sư địa Q.67; luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính Q.4; Nhiếp đại thừa luận thích Q.7 (bản dịch đời Lương); Đại thừa huyền luận Q.3; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.25; Hoa nghiêm kinh sớ sao Q.30; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.16; Phật tính nghĩa trong đại thừa nghĩa chương Q.1; Pháp hoa huyền tán Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, phần cuối; Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng; Trung quán luận sớ Q.1, phần cuối]. (xt. Ngũ Tính, Phật Chủng).
phật tính dữ bát nhã
(佛性與般若) Tác phẩm, 1 quyển, do Mâu tông tam soạn, Đài loan học sinh thư điếm ấn hành. Nội dung sách này lấy 2 quan niệm Phật tính và Bát nhã làm nòng cốt, rồi dùng tư tưởng viên giáo của tông Thiên thai để phát huy triết học Phật giáo Trung quốc đến cực điểm. Tuy tác giả có trình bày về Bát nhã, Niết bàn và nghĩa lí trong các bộ luận của Bồ tát Long thụ, nhưng trọng điểm vẫn là tư tưởng nghĩa học của Phật giáo Trung quốc các đời Nam Bắc triều và Tùy Đường, đặc biệt nhấn mạnh tông Thiên thai.
phật tính giới
The moral law which arises out of the Buddha-nature in all beings.
Phật tính luận
佛性論; C: fóxìng lùn; J: busshōron.|Luận, gồm 4 quyển. Được xem là của Thế Thân (世親; s: vasubandhu). Chân Đế (眞諦; s: paramārtha) dịch sang Hán ngữ. Luận giải nầy trình bày rất chi tiết lí thuyết Phật tính trong 16 chương, qua 4 phương diện: 1. Nhân duyên sinh; 2. Phá chấp; 3. Hiển thể; 4. Biện tướng.|Luận giải thích như thế nào mà chúng sinh có được Phật tính, bác bỏ vọng chấp của ngoại đạo và Tiểu thừa. Tác giả trích dẫn rộng rãi kinh Thắng Man, Pháp Hoa và luận Du-già sư địa (瑜伽師地論; s: yogācāra-bhūmi-śāstra).
phật tính luận
(佛性論) Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Thế thân soạn, ngài Chân đế dịch vào đời Trần, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Nội dung luận này giải thích rõ ràng nghĩa Hết thảy chúng sinh đều có Phật tính trong 3 phẩm (từ thứ 5 đến thứ 7) của luận Cứu cánhNhất thừa bảo tính. Toàn sách chia làm 4 phần: Duyên khởi, Phá chấp, Hiển thể, Biện tướng, gồm 16 phẩm, bàn về thể tướng của Phật tính, cho rằng Phật tính có 3 thứ: 1. Trụ tự tính tính: Chúng sinh phàm phu vốn có sẵn Phật tính. 2. Dẫn xuất tính: Trải qua sự tu hành mà hiển hiện Phật tính. 3. Chí đắc tính: Đạt đến quả vị Phật là viên mãn Phật tính. Lập trường của luận này nhằm làm sáng tỏ nghĩa Phật tính để đả phá chủ trương của Tiểu thừa, ngoại đạo và những người Đại thừa thiên kiến phủ nhận thuyết Tất hữu Phật tính. [X. Pháp kinh lục Q.5; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].
Phật tính luận 佛性論
[ja] ブッショウロン Busshōron ||| The Foxing lun, Buddha-nature Treatise, written in four fascicles. T 1610.31.787a-813a. Attributed to Vasubandhu 世親, translated by Paramārtha 眞諦. This treatise discusses the theory of the Buddha-nature in great detail in sixteen chapters, from the four aspects of: (1) dependent arising; (2) breaking attachment; (3) manifestation of essence; and (4) discriminated aspects. In the course of explaining how it is that all sentient beings have the buddha-nature, the mistaken views of non-Buddhists 外道 and lesser-vehicle practitioners 小乘 are refuted. The author cites extensively from the Śrīmālā-sūtra 勝鬘經, the Lotus Sutra 法華經 and the Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽師地論. => (j: Busshōron), (e: Buddha-nature Treatise) Luận; gồm 4 quyển. Được xem là của Ngài Thế Thân. Ngài Chân Đế (s: Paramārtha) dịch. Luận giải nầy trình bày rất chi tiết lý thuyết Phật tính trong 16 chương, qua bốn phương diện: 1. Nhân duyên sinh. 2. Phá chấp. 3. Hiển thể. 4. Biện tướng. Giải thích như thế nào mà chúng sinh có được Phật tính, bác bỏ vọng chấp của ngoại đạo và Tiểu thừa. Tác giả trích dẫn rộng rãi Kinh Thắng Man, Kinh Pháp Hoa và Du-già sư địa luận (s: Yogācārabhūmi-śāstra).
Phật tính Phật
佛性佛; C: fóxìng fó; J: busshō butsu.|»Phật như là Phật tính.« Khía cạnh thứ nhì của Tam giai giáo (三階教), đề xướng tư tưởng Phật hiện hữu trong mọi chúng sinh (普佛; Phổ Phật), chỉ rõ Phật tính là Chính nhân (Chính nhân Phật tính 正因佛性) của tất cả chúng sinh hữu tình (ngoại trừ chúng sinh vô tình).
Phật tính Phật 佛性佛
[ja] ブツショウブツ busshō butsu ||| The "Buddha as Buddha-nature," the second aspect of the Sanjie jiao 三階教 teaching of the "universal Buddha," pufo 普佛, denoting that Buddha-nature is the true cause 正因佛性 of awakening for all sentient beings (but excluding the non-sentient). => Phật chính là Phật tính". Khía cạnh thứ nhì của Tam giai giáo 三階教, đề xướng tư tưởng Phật hiện hữu trong mọi chúng sinh (phổ Phật 普佛), chỉ rõ Phật tính là Chính nhân (chính nhân Phật tính) của tất cả chúng sinh hữu tình (ngoại trừ chúng sinh vô tình).
Phật tính 佛性
[ja] ブッショウ busshō ||| The buddha-nature. The possession by sentient beings of the innate buddha-mind, which is, prior to the full attainment of buddhahood, not fully actualized. The belief in this concept was not universally accepted in Indian Buddhism, but did become a cornerstone of East Asian Buddhist soteriological thought in terms of the essence-function 體用 paradigm, as explained in texts such as the Buddha-nature Treatise. A synonym for tathāgatagarbha 如來藏. => Tính Phật hằng hữu mà mọi chúng sinh đều có, nghĩa là trước khi được giác ngộ hoàn toàn thì Phật tính nầy chưa được hiển lộ viên mãn. Niềm tin vào tư tưởng nầy không rộng rãi lắm, ngoại trừ trong Phật giáo Ấn Độ, nhưng đã trở thành nền tảng tư tưởng Phật giáo Đông Nam Á trong mô hình Thể-dụng (e: essence-function ), như được giải thích trong các luận giải như Phật Tính Luận佛性論. Đồng nghĩa với Như Lai Tạng (s: tathāgatagarbha).
phật tông
Buddhism; principles of the Buddha Law.
phật túc thạch
(佛足石) Cũng gọi Phật túc tích, Phật cước thạch. Phiến đá có khắc dấu bàn chân của đức Phật trong đó biểu thị diệu tướng bánh xe nghìn nan hoa. Trông thấy dấu bàn chân của đức Phật mà tham bái thì cũng giống như tham bái sinh thân thân của đức Phật, có thể trừ diệt vô lượng tội chướng. Ở Ấn độ, Trung quốc, Nhật bản từ xưa đã có Phật túc thạch và phong tục sùng kính Phật túc thạch cũng rất phổ biến. Phật giáo Ấn độ thời kì đầu, vì tôn kính nên không dám trực tiếp đắp vẽ tượng Phật mà chỉ khắc những hình ảnh gián tiếp tượng trưng đức Phật như bánh xe pháp, cây Bồ đề, tháp, tòa cao và Phật túc thạch...Về sau được truyền đến Trung quốc, Nhật bản thì Phật túc thạch cũng trở thành đối tượng lễ bái. Cứ theo Điều hoa thị thành Ma yết đà quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 8, thì đức Phật có lưu lại dấu chân ở nước Ma yết đà, bề dài bàn chân khoảng 54 cm, bề ngang khoảng 22 cm, mỗi bàn chân đều có tướng bánh xe, 10 ngón chân đều có hoa văn. Hiện nay, ở cửa tháp Ba hách đặc (Phạm: Bharhùt) tại Ấn độ có bức phù điêu Tam đạo bảo giai đồ khắc dấu chân Phật có hình bánh xe pháp. Trong Phật túc thạch đào được ở A ma la bà đề (Phạm: Ama-ràvatì), thì thấy chính giữa bàn chân khắc hình bánh xe. Ngoài ra, còn có hình Tam bảo chương, hình chữ...(Vạn). Trong đó, loại hình bàn chân Phật có hình bánh xe là kiểu xưa nhất, còn loại hình chữ Vạn, hình Tam bảo chương là những kiểu vẽ sau này, gần giống như loại được truyền ở Trung quốc và Nhật bản hiện nay. Tại Trung quốc, vào đời Đường, Vương huyền sách từng đi sứ Ấn độ, khi về nước có mang theo Phật túc thạch mà ông đã vẽ ở thành Hoa thị về lưu truyền ở các nơi. Ngoài ra, còn có Phật túc đồ do ngài Huyền trang mang về. [X. kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.13; luận Phân biệt công đức Q.2, Pháp uyển châu lâm Q.14, 29; Lạc dương già lam kí Q.5, Đại đường tây vực kí Q.2, 3]. (xt. Thiên Bức Luân Tướng).
phật tăng
Bussō (J).
Phật tưởng Phật
佛想佛; C: fóxiǎng fó; J: bussō butsu|Khía cạnh thứ tư và là phương diện cụ thể nhất của Tam giai giáo, đề xướng tư tưởng Phật hiện hữu trong mọi chúng sinh (Phổ Phật 普佛), chỉ rõ tất cả chúng sinh nên tưởng đến thể tính tối thượng của mình, đó là, như chư Phật giác ngộ viên mãn.
Phật tưởng Phật 佛想佛
[ja] ブツソウブツ bussō butsu ||| the "Buddha perceived as a Buddha," the fourth and most concrete aspect of the Sanjie jiao 三階教 teaching of the "universal Buddha," pufo 普佛, denoting that all sentient beings should be perceived in terms of their ultimate nature, that is, as fully awakened Buddhas => Khía cạnh thứ tư và là phương diện cụ thể nhất của Tam giai giáo, đề xướng tư tưởng Phật hiện hữu trong mọi chúng sinh (phổ Phật 普佛), chỉ rõ tất cả chúng sinh nên tưởng đến thể tính tối thượng của mình, đó là, như chư Phật giác ngộ viên mãn.
Phật tượng
佛像; C: fóxiàng; J: butsuzō;|Hình ảnh của đức Phật.
phật tượng
BuddharŪpa (S).
; Buddha's image; Buddha's statute.
; (佛像) Chỉ chung cho các tượng Phật, Bồ tát, La hán, Minh vương,chư thiên... được điêu khắc, nặn đắp hoặc vẽ. Thông thường, chỉ có các tượng được điêu khắc, nặn đắp mới gọi là Phật tượng, còn các tượng vẽ gọi là Đồ tượng. Ở Ấn độ đời xưa, việc điêu khắc hoặc đắp vẽ tượng Phật bị xem là nhạobáng thần thánh, nên chỉ vẽ hoặc điêu khắc bánh xe pháp, cây Bồ đề,dấu chân Phật... để tượng trưng cho đức Phật mà thôi. Về sau, khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi thì việc điêu khắc, đắp vẽ tượng Phật mới thịnh hành, bởi vậy, các kinh điển Đại thừa mới nói nhiều về nhân duyên và công đức tạo tượng. Phật tượng có nhiều loại, được tạo bằng nhiều tài liệu khác nhau như vàng, bạc, đồng, sắt, gỗ, đá, đất, vải, lụa... kiểu mẫu cũng rất đa dạng. Các loại tượng Phật từ xưa còn được truyền đến ngày nay thì tượng khắc bằng gỗ là nhiều nhất, như ở các di chỉ tại Kiện đà la, Mạt thố la, Ba la nại... của Ấn độ đều đào được những tượng Phật khắc bằng đá. Tại Trung quốc, vào thời Đông Tấn đến thời đại Nam Bắc triều, phong trào khắc tạo tượng Phật rất thịnh hành. Vào thời Bắc triều, ở núi Vũ châu tại Bình thành và núi Long môn ở Lạc dương đều có khắc tượng đá. Vào thời Lục triều thì ngoài tượng đá ra còn có tượng đồng, tượng sắt; đến đời Đường thì có tượng được đắp bằng đất, khắc bằng gỗ... Về hình thái tượng thì có tượng đứng, tượng ngồi, tượng dựa lưng, tượng nằm, tượng bay đi... Về chiều cao thì có tượng 1 trượng 6 thước (thân hình của đức Phật cao hơn người thường gấp bội), tượng nữa trượng 6 (tức tượng 8 thước), tượng Đại Phật (tức tượng cao trên 1 trượng 6 thước), tượng nhỏ bằng 1 gang tay rưỡi (khoảng 33 cm) tượng trưng lúc còn ở trong thai mẹ... Tượng Như lai phần nhiều là hình tỉ khưu, mặc ca sa, không đội mũ, không đeo chuỗi anh lạc... Tượng Bồ tát thì phần nhiều có thân hình trượng phu cao lớn hoặc hình nữ tính dịu dàng, đầu đội mũ báu, cổ đeo chuỗi anh lạc, là hình cư sĩ tại gia; tượng La hán là hình xuất gia, tượng Minh vương mang hình tướng phẫn nộ, còn tượng chư thiên thì có các hình tướng như: Hình vũ trang, hình người nữ, hình thần, hình quỉ, hình người trời, hình đồng tử... Theo với đà phát triển của sự truyền bá Phật giáo, nghệ thuật tạo hình tượng Phật ở Trung quốc cũng cho thấy rõ sự thay đổi có tính thời đại, nay trình bày 1 cách khái quát theo những thời kì sau đây: 1. Thời kì Ngũ hồ (16 nước-khoảng thế kỉ III, IV): Thời kì này phần nhiều tạo tượng Phật bằng đồng vàng, hình nhỏ mà chắc chắn, dễ dàng di chuyển, rất giống tượng Phật bằng gỗ đá phát hiện ở Kiện đà la thuộc Tây Bắc Ấn độ hoặc ở Ma thố la. Di vật điển hình là tượng Bồ tát đứng đúc bằng đồng mạ vàng kiểu cổ, là tượng Phật xưa nhất ở Trung quốc. Sự tạo hình là theo kiểu điêu khắc ở Kiện đà la, biểu hiện phong cách quê mùa mộc mạc, pha vẻ dữ tợn, tiêu biểu cho thẩm mĩ quan của các dân tộc du mục phương Bắc. 2. Thời kì Vân cương (460-493): Lấy 5 hang Đàm diệu làm trung tâm mà khắc tạo vài mươi vạn tượng Phật, trong đó, tượng Bản tôn (đức Phật Thích ca) tuy vẫn giữ được phong cách Kiện đà la và Ma thố la, nhưng do sự đơn thuần hóa những đường nét và bộ diện mà tạo thành đôi má đầy đặn, cặp mắt dài và sắc, sống mũi thẳng, đôi môi dày và mỉm cười, tai to, vai rộng, cổ thô... hiển bày cái tướng mạo Đại trượng phu cương nghị mà hồn hậu, biểu hiện đầy đủ khí phách mạnh bạo của dân du mục. Nhưng đến cuối thời kì thì hình thức biểu hiện đã khác với Tây vực và Ấn độ; áo mặc đã đổi ra tay rộng, vạt dài, trang sức đẹp đẽ, nét khắc cân đối chỉnh tề. 3. Thời kì Long môn (494-550): Nhờ chất đá nhẵn mịn, sự tạo hình khéo léo, đôi má và thân hình đều mịn màng yểu điệu; có lẽ do quan niệm về thẩm mĩ của xã hội đã thay đổi, tạo hình thon gầy là xu hướng thời thượng, phục trang của tượng Phật cũng hướng tới phong cách Trung quốc, là cái mà Ấn độ và Tây vực chưa thấy. 4. Thời kì Tề Chu (551-580): Lấy kiểu dáng Thiên hưởng của núi Thiên long và núi Hưởng đường làm đại biểu. Đặc sắc lớn nhất của thời kì này là dáng tượng thân gầy má dài lại đổi làm má tròn, nhưng không được rõ ràng như Tượng Vân cương Bắc Ngụy (460-493) Tượng Vân cương Bắc ngụy (460-493) Tượng Long môn Bắc Ngụy (494-550) Tượng Tề Chu (551-580) thời kì Vân cương. Ngoài ra, còn chịu ảnh hưởng của tượng Vương triều Cấp đa Ấn độ, áo mỏng lộ rõ nhục thể, biểu hiện cảm giác mềm mại, những nét khắc trang sức và mũ báu trên thân Phật cực kì tinh vi. 5. Thời kì nhà Tùy (581-617): Tạo hình nhẹ nhàng, về phong cách thì một mặt vẫn theo nghệ thuật tạo tượng của thời kì Tề, Chu, mặt khác lại khắc 3 đường nét ở cổ(cổ cao 3 ngấn), mắt mũi và môi miệng tạo thành bộ diện gãy cong, chẳng hạn như tượng ở động Dược phương của núi Long môn và hang thứ 8 ở núi Thiên long. Tạo hình đại khái chiếu theo thân thể loài người với những nét tả thực. Ngoài ra, mũ báu và phục sức trên thân tượng rất sặc sỡ. 6. Thời kì nhà Đường (618-750): Đầu đời Đường, sau khi hấp thu và tiêu hóa kiểu dáng Cấp đa, xuất hiện nghệ thuật tạo tượng hoàn toàn viên mãn. Trong đó, 9 pho tượng lớn như Đại Phật Lô xá na và 2 vị Bồ tát đứnghầu 2 bên ngài, La hán, Thần vương, Lực sĩ... ở chùa Phụng tiên tại Long môn là đầy đủ tính đại biểu nhất. Vẻ đẹp lí tưởng của Đại Phật là đứng về mặt ý thức thẩm mĩ của người Trung quốc mà được tạo thành. Tượng 2 vị Bồ tát đứng hầu 2 bên và tượng La hán đứng đều đã trút bỏ nét tạo hình đầu đời Đường, là những tác phẩm điển hình của nền điêu khắc cổ điển phương Đông. Thời thịnh Đường là thời kì tạo tượng phát đạt nhất của Phật giáo. Chủ yếu có 3 động là động Cực nam, động Tịnh độ và đài Lụy cổ ở hang động Vân môn. Trong đó, tượng Bồ tát đứng hầu 2 bên ở động Cực nam khác với nghệ thuật tạo tượng ở chùa Phụng tiên, thân thể thon dài mảnh dẻ, tuy đầy cảm giác thân thiết, nhưng đã mất đi cái vẻ chí tôn của tạo hình tượng Phật ở các thời kì trước. 7. Thời kì Ngũ đại về sau: Nghệ thuật tạo hình tượng Phật ở thời kì này chẳng những không vãn cứu được tình hình suy đồi của thời kì vãn Đường, trái lại, cái sức tưởng tượng siêu tự nhiên mà pho tượng Phật phải có cũng đã rất yếu ớt mong manh, cho đến đời Tống thì tượng Bồ tát đã biểu hiện vẻ đẹp mẫu tính thế gian và bình dân hóa, từ đời Nguyên về sau, không còn tác phẩm trọng yếu nào xuất hiện. [X. phẩm Tứ sự trong kinh Bát chu tam muội Q.thượng; phẩm Đàm vô kiệt Bồ tát kinh đạo hành Bát nhã Q.10; phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; kinh Đại thừa tạo tượng công đức Q.hạ; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.8; kinhTạo tượng lượng đạc; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.11; Hữu bộ bật sô ni tì nại da Q.2; Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.9; điều Bà la ni tư quốc trong Đại đường tây vực kí Q.7; Phật tổ thống kí Q.53; Tập Tượng đời Đường (618-780) thần châu tam bảo Tượng đời Tùy (581-617) Tượng Phật bằng các lớp vải sơn ở đời Tống Tượng đá Thích ca bằng gỗ cỡi chim công ở đời Minh cảm thông lục Q.trung; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Cổ kim đồ thư tập thành thần dị điển 90-94; Điêu tố thiên trong Chi na mĩ thuật sử, Tòng Phật tượng điêu khắc sở kiến đích tạo hình hoạt động hệ phổ (Sam sơn nhị lang)]. (xt. Phật Họa, Tòa).
Phật tượng 佛像
[ja] ブツゾウ butsuzō ||| An image of the Buddha. => Hình ảnh của Đức Phật.
phật tạng kinh
(佛藏經) Cũng gọi Phụng nhập long hoa kinh, Tuyển trạch chư pháp kinh. Kinh, 3 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào năm Hoằng thủy thứ 7 (405) đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này chia àm 10 phẩm: Phẩm Chư pháp thực tướng, phẩm Niệm Phật, phẩm Niệm pháp, phẩm Niệm tăng, phẩm Tịnh giới, phẩm Tịnh pháp, phẩm Vãng cổ, phẩm Tịnh kiến, phẩm Liễu giới và phẩm Chúc lụy, bàn về thực tướng các pháp vốn vô sinh, vô diệt, vô tướng, vô vi..., đồng thời cho rằng tỉ khưu phá giới có 10 mũi tên lo sầu, quở trách các thứ tội tướng và răn dạy về tội báo Bất tịnh thuyết pháp. Kinh này không bàn đến luật nghi của Bồ tát, đó là điểm đặc biệt không giống với các kinh giới bản khác. Nhưng lại có chủ trương nếu không lí giải được thực tướng các pháp vô sinh, vô diệt... thì dẫu có thụ trì 250 giới cũng đồng như phá giới, đồng thời cũng chủ trương có xa lìa hí luận phân biệt thì mới gọi được là trì giới. Lại vì giải thích rõ những lí do tại sao tăng đoàn Bồ tát phải biệt lập với tăng đoàn Thanh văn, cho nên kinh này được xếp vào luật điển của Đại thừa. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại đường nội điển lục Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.4,12,19].
phật tổ
Bosso (J)Phật và những vị tổ, Đức Phật.
; The Buddha and other founders cults; Buddhist patriarchs.
; (佛祖) Phật và Tổ sư. Nhưng Thiền tông thì cho rằng Phật tức Tổ sư, Tổ sư tức cổ Phật, cả 2 đều không sai khác. Thông thường từ ngữ Phật tổ được sử dụng để chỉ cho các bậc Tổ sư đại ngộ triệt để, đã đạt đến địa vị Phật. Phần Bình xướng trong Bích nham lục tắc 25 (Đại 48, 165 hạ) nói: Hạ một chuyển ngữ, mong báo ân Phật tổ, truyền tâm ấn Phật.
phật tổ chính pháp trực truyện
(佛祖正法直傳) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Phong ông Tổ nhất (quốc tịch không rõ, có thuyết cho là người Trung quốc, cũng có thuyết cho là người Nhật bản) biên soạn, được ấn hành vào năm Khang lịch (Nhật bản) thứ 3 (1381). Nội dung sách này nói về các sự tích tứ 7 đức Phật quá khứ đến chư tổ Ấn độ, Trung quốc. Về chư tổ Trung quốc thì từ ngài Đạt ma trở xuống đến ngài Mật am Hàm kiệt có 53 vị, cùng với chư tổ Ấn độ tổng cộng 87 vị. Thứ tự kể từ ngài Lục tổ trở xuống là Tào động, Vân môn, Pháp nhãn, rồi từ ngài Nam nhạc trở xuống đến ngài Mật am Hàm kiệt của tông Lâm tế. Phần truyện kí trong sách này, lấy cơ duyên vấn đáp làm chính yếu, đồng thời, có thêm sự tích sử truyện của Truyền đăng lục.
phật tổ chính truyền cổ kim tiệp lục
(佛祖正傳古今捷錄) Cũng gọi Cổ kim tiệp lục. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuyết triệu Quả tính soạn vào đời Thanh được thu Vạn tục tạng tập 146. Nội dung sách này biên tập sự tích, triều đại, pháp lạp, thụy hiệu, đệ tử nối pháp... của chư tổ truyền đăng thuộc tông Lâm tế đời thứ 17, 18 ở thời đại Nguyên, Minh từ ngài Mật am Hàm kiệt đời Tống trở xuống mà các bộ Truyền đăng lục chưa ghi chép. Đồng thời, tác giả còn lược thuật cơ duyên, yếu ngữ...của chư tổ, từ ngài Đạt ma đến ngài Mật am để nói rõ về pháp hệ của các ngài. Sau mỗi truyện có phụ thêm 1 bài niêm tụng, cuối quyển có ghi chép 1 cách vắn tắt về sự truyền thừa của 4 tông Tào động, Qui ngưỡng, Vân môn và Pháp nhãn. Ngoài ra cũng chép thêm 1 bài minh tháp và 1 bài tựa của Thiền sư Phong nguyệt Diên chiểu ở Nhữ châu.
phật tổ chính tông đạo ảnh
(佛祖正宗道影) Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Thủ nhất Không thành chép lại, ấn hành vào năm Quang tự thứ 6 (1880) đời Thanh. Đây là bộ sưu tập các bức tượng vẽ đa số là của các vị tổ Thiền tông. Khoảng năm Hồng vũ (1368-1398) đời Minh, hơn 100 bức tượng của chư tổ đã được vẽ và cất giữ ở núi Ngưu đầu. Năm Vạn lịch 17 (1589), Tử bá Lão nhân viết lời tựa và ấn hành. Đến năm Sùng trinh 11 (1638), ngài Nguyên hiền ở viện Chân tịch bổ sung thêm 130 bức tượng vẽ nữa, rồi khắc in. Năm Khang hi 15 (1676) đời Thanh, ngài Tĩnh hi Khải công thu chép 166 bức, biến thành Tông Môn Chính Mạch Đạo Ảnh. Về sau, qua mấy lần chỉnh lí, thống kê thì tổng cộng có 240 bức, chia làm 4 quyển, khắc in lại. Nội dung 4 quyển như sau: - Quyển 1: Phật tổ chính tông có 39 vị. - Quyển 2: Nam nhạc chính tông có 68 vị, liệt kê tông Lâm tế, tông Qui ngưỡng. - Quyển 3: Thanh nguyên chính tông có 85 vị, liệt kê tông Tào động, tông Vân môn, tông Pháp nhãn. - Quyển 4: Giáo luật liên tông có 48 vị.
Phật Tổ Cương Mục
(佛祖綱目, Bussokōmoku): 41 quyển, do Chu Thời Ân (朱時恩) nhà Minh biên soạn, san hành vào năm thứ 7 (1634) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎) nhà Minh. Đây là bộ sách biên tập thứ tự lịch đại niên hiệu hành nghiệp và cương mục của chư Phật tổ từ khi đức Thế Tôn thị hiện đản sanh cho đến khi Vạn Phong Thời Úy (萬峰時蔚) nhà Minh qua đời, mất hết 21 năm trường từ năm thứ 38 (1610) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Đầu quyển có lời tựa của Đổng Kỳ Xương (董其昌), lời tựa của tác giả, phàm lệ, tổng mục lục, v.v.; quyển cuối có lời bạt của tác giả.
phật tổ cương mục
(佛祖綱目) Tác phẩm, 42 quyển, do Chu thời an biên soạn vào đời Minh, ấn hành vào năm Sùng trinh thứ 7 (1634), được thu vào Vạn tục tạng tập 140. Sách này bắt đầu được biên soạn vào năm Vạn lịch 38 (1610), mãi đến 21 năm sau mới được hoàn thành. Nội dung sách này lấy sự tích hóa đạo, hành nghị của chư Phật vàlịch đại tổ sư từ khi đức Thế tôn thị hiện thụ sinh đến khi ngài Vạn phong Thời úy thị tịch vào đời Minh làm cương mục, rồi y chiếu theo thứ tự niên hiệu các đời mà biên chép các loại sự tích trọng yếu của Phật giáo suốt dòng lịch sử lâu dài ấy. Những sự kiện Phật giáo lớn lao cùng niên đại nhìn qua đây đều thấy rõ ràng.
phật tổ hội
(佛祖會) I. Phật Tổ Hội. Gọi tắt: Phật hội. Hội thuyết pháp của Phật hoặc Tổ sư. II. Phật Tổ Hội. Chỉ cho 3 ngày giỗ Phật: - Hội Phật đản sinh (mồng 8 tháng 4). - Hội Phật thành đạo (mồng 8 tháng 12). - Hội Phật niết bàn (15 tháng 2).
phật tổ khất mệnh
(佛祖乞命) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Phật tổ xin tha mạng. Ý nói đối với những người có căn cơ sắc bén, vượt trội, Phật tổ cũng thấy khó xử. Điều thủ Sơn trúc bề trong Vô môn quan tắc 43 (Vạn tục 119, 166 hạ) nói: Dựng đứng cây trúc bề, hạ lịnh giết hay tha, quay lưng đối mặt, Phật tổ xin tha mạng.
phật tổ kị cửu bái
(佛祖忌九拜) Nghi thức vị Trụ trì lạy 9 lạy trong ngày giỗ Phật và giỗ Tổ sư. Trong Thiền lâm có 2 ngày giỗ tổ (giỗ tổ Đạt ma, giỗ tổ Bách trượng) và 3 ngày giỗ Phật (giỗ Phật nhập Niết bàn, hội Phật đản sinh và hội Phật thành đạo). Cứ theo điều Phật giáng đản trong Sắc tuBách trượng thanh qui quyển 2, vào ngày Phật đản, vịTrụ trì dâng hương lạy 3 lạy, không thu tọa cụ, bước lên phía trước dâng nước nóng và thức ăn do thị giả Thỉnh khách đưa đến và thị giả Thiêu hương bưng đặt lên bàn. Sau đó, vị Trụ trì trở lại vị trí cũ lạy 3 lạy, dâng hưong lần nữa, đặt thức ăn xuống, châm trà rồi lạy 3 lạy và thu tọa cụ. Trong toàn bộ nghi thức trên, đầu tiên vịTrụ trì dâng hương lạy 3 lạy, rồi trở về chỗ cũ lạy 3 lạy, sau cùng lạy 3 lạy và thu tọa cụ, trước sau 3 lần, tổng cộng 9 lạy, vì thế gọi là Phật tổ kị cửu bái (Giỗ Phật tổ 9 lạy).
Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải
(佛祖歷代通載, Bussorekidaitsūsai): còn gọi là Phật Tổ Thông Tải (佛祖通載, Bussotsūsai), Thông Tải (通載, Tsūsai), 22 quyển, do Mai Ốc Niệm Thường (梅屋念常) nhà Nguyên biên tập, san hành vào năm thứ 4 (1576) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Niệm Thường ở Đại Trung Tường Tự (大中祥寺), Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang), theo niên kỷ các đời vua từ thời 7 vị Phật ở quá khứ cho đến năm đầu (1333) niên hiệu Nguyên Thống (元統) nhà Nguyên, ghi lại dưới hình thức biên niên các sự tích của Phật Giáo cũng như truyền ký của chư vị cao tăng để hình thành nên tác phẩm lớn này. Trải qua những điển tịch nội ngoại, có dẫn chứng uyên bác, bộ này đã làm sáng tỏ các điển cứ cố sự và đính chính những dị luận. Bản này có lời tựa của Vi Tiếu Am Đạo Nhân Ngu Tập (微笑庵道人虞集) ghi năm đầu (1341) niên hiệu Chí Chánh (至正) và lời tựa của Giác Ngạn (覺岸) vào năm thứ 4 (1344) cùng niên hiệu trên.
Phật Tổ lịch đại thông tải
佛祖歴代通載; C: fózǔ lìdài tōngzài; J: busso rekitai tsūsai; |Tác phẩm ghi chép toàn bộ về sự truyền thừa của chư Phật và Tổ sư của sư Niệm Thường (念常, 1282-1323); gồm 22 quyển, hoàn tất vào năm 1341.
phật tổ lịch đại thông tải
(佛祖歷代通載) Gọi tắt: Thông tải, Phật tổ thông tải. Tác phẩm, 22 quyển (hoặc 36 quyển), do ngài Niệm thường (thuộc phái Dương kì tông Lâm tế) soạn vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 49. Trên phương diện qui cách, sách này lấy pháp vận thông tắc chí trong Phật tổ thống kỉ của ngài Chí bàn làm bản mẫu; về nội dung thì lấy Thiền tông làm Phật giáo chính thống để trình bày lịch sử Phật giáo theo thể biên niên, khởi đầu từ 7 đức Phật quá khứ, cho đến niên hiệu Nguyên thống năm đấu (1333) đời vua Thuận đế nhà Nguyên. Mấy quyển đầu nói về 28 vị tổ dựa theo tác phẩm Cảnh đức truyền đăng lục của ngài Đạo nguyên đời Tống. Hơn 10 quyển tường thuật từ đời vua Minh đế nhà Đông Hán đến thời Ngũ đại thì sao chép từtác phẩm Long hưng Phật giáo biên niên thông luận của ngài Tổ tú đời Nam Tống; đối tượng chủ yếu của việc soạn thuật sách này là ở 2 đời Tống và Nguyên. Muốn rõ về sự khác nhau giữa dòng chính và dòng phụ, những dị luận về nhân duyên thuyết pháp, dịch kinh, các nhà hoằng giáo...thì bộ sách này rất có giá trị tham khảo.
Phật tổ lịch đại thông tải 佛祖歴代通載
[ja] ブツソレキダイツウサイ Busso rekitai tsūsai ||| The Fozu lidai tongzai; (A Comprehensive Registry of the Successive Ages of the Buddhas and the Patriarchs), 22 chüan. By Nianchang 念常 (1282-1323); completed in 1341. T 2036.49.477-73 => (j: Busso rekitai tsūsai), (c: Fozu lidai tongzai) Tác phẩm ghi chép toàn bộ về sự truyền thừa của Chư Phật và Tổ sư của Ngài Niệm Thường (c: Nianchang 念常 1282-1323); gồm 22 quyển, hoàn tất năm1341.
phật tổ tam kinh
Busso sankyō (J).
; (佛祖三經) Ba bộ kinh sách của Phật và Tổ, tức Thiền tông chỉ cho 2 kinh Tứ thập nhị chương, Phật di giáo do đức Phật tuyên giảng và cuốn Qui sơn cảnh sách của ngài Linh hựu soạn. Danh mục Phật Tổ Tam Kinh có từ thời nào, đến nay chưa khảo được. Chỉ biết rằng vào thời vua Nhân tông nhà Bắc Tống, khi Thiền sư Thủ toại soạn chú sớ Tam kinh thì đã có danh mục này rồi. Trong 3 bộ trên, kinh Tứ thập nhị chương so với bản dịch của 2 ngài Ca diếp ma đằng và Trúc pháp lan cùng dịch vào đời Hậu Hán (được thu vào Đại chính tạng tập 17), thì văn kinh này hơi khác, vả lại rất đậm sắc thái Thiền. Kinh Phật di giáo do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Còn Qui sơn cảnh sách thì do ngài Linh hựu soạn vào đời Đường khi ngài trụ ở núi Qui sơn. Về các sách chú thích Phật tổ Tam kinh thì có: - Phật tổ tam kinh chú của Thiền sư Thủ toại đời Bắc Tống. - Phật tổ tam kinh chỉ nam của ngài Lâm đạo bái đời Minh. -Tam kinh giải của ngài Ngẫu ích Trí húc đời Minh. [X. Thiền tịch chí; Phật giáo tư tưởng nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ)]. (xt. Di Giáo).
phật tổ tam kinh chỉ nam
(佛祖三經指南) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Lâm đạo bái soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 59. Nội dung sách này chú giải 3 bộ Tứ thập nhị chương kinh, Phật di giáo kinh và Qui sơn cảnh sách. Tác giả cho 3 bộ kinh sách này là bước đầu cơ bản của những người tu học Phật đạo và khuyên mọi người nên lấy đó làm kim chỉ nam. (xt. Phật Tổ Tam Kinh).
Phật Tổ Thông Tải
(佛祖通載, Bussotsūsai): Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (佛祖歷代通載, Bussorekidaitsūsai) ở trên.
Phật tổ thống ký 佛祖統紀
[ja] ブツソトウキ Busso touki ||| The Fozu tongji; (A Chronicle of the Buddhas and the Patriarchs), 54 chüan. By Zhipan 志磐 (1220-1275); completed in 1269. T 2035.49.129a-475c.ZGD1089 => (j: Busso touki ) Biên niên sử về Đức Phật và chư Tổ; gồm 54 quyển. Chí Bàn (c: Zhipan 志磐 1220-1275). Hoàn tất năm 1269.
Phật Tổ thống kỉ
佛祖統紀; C: fózǔ tǒngjì; J: busso touki.|Biên niên sử về Đức Phật và chư Tổ; gồm 54 quyển. Chí Bàn (志磐, 1220-1275). Hoàn tất năm 1269.
phật tổ thống kỉ
(佛祖統紀) Gọi tắt: Thống kỉ. Tác phẩm, 54 quyển, do ngài Chí bàn soạn vào đời Nam Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 49. Toàn sách chủ yếu nói rõ về truyền thống của giáo học Thiên thai, lấy 2 tác phẩm Tông nguyên lục của ngài Cảnh thiên và Thích môn chính thống của ngài Tông giám đời Tống làm nền tảng, rồi theo thể kỉ truyện và biên niên mà soạn thành. Nội dung gồm: Bản kỉ, Thế gia, Liệt truyện, Biểu và Chí. -Bản kỉ (8 quyển): Ghi chép truyện đức Thích ca thành đạo, giáo hóa và truyện của 24 vị tổ Ấn độ, 9 vị tổ Trung quốc và truyện 8 vị tổ từ tổ Hưng đạo trở xuống mà tông Thiên thai tôn thờ. -Thế gia (2 quyển): Thu chép truyện kí của 198 vị cao tăng thuộc tông Thiên thai, Nam nhạc. -Liệt truyện (12 quyển): Thu chép truyện kí của 378 vị, từ ngài Từ vân đến các ngài Quảng trí, Thần chiếu, Nam bình... -Biểu (2 quyển) gồm 2 phần: 1. Trình bày biểu truyền giáo qua các đời trong khoảng thời gian hơn 530 năm, kể từ niên hiệu Thiên giám năm đầu (502) đời vua Vũ đế nhà Lương đến năm Minh đạo thứ 2 (1033) đời vua Nhân tông nhà Tống (1 quyển). 2. Đồ biểu chỉ rõ hệ thống truyền thừa của Phật tổ ở Ấn độ và Trung quốc (1 quyển). -Chí, có 9 loại: a) Sơn gia giáo điển chí, 1 quyển, ghi chép các trứ tác của tông Thiên thai. b) Tịnh độ lập giáo chí, 3 quyển, ghi chép truyện kí của tăng tục tông Tịnh độ. c) Chư gia lập giáo chí, 1 quyển, trình bày lịch sử vắn tắt về việc sáng lập các tông: Thiền, Hoa nghiêm, Pháp tướng, Luật, Mật giáo... d) Tam thế xuất hưng chí, 1 quyển, nói sơ lược về chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai. e) Thế giới danh thể chí, 2 quyển, bàn chung về chư thiên ở 8 phương trong thế giới. g) Pháp môn quang hiển chí, 1 quyển, nói về các Phật sự, tượng tháp... h) Pháp vận thông tắc chí, 15 quyển, nói về sự tích Phật giáo qua các thời đại. i) Lịch đại hội yếu chí, 4 quyển, ghi chép những sự kiện Phật giáo hưng phế qua các thời đại. k) Danh văn quang giáo chí, 2 quyển, chép những văn bia tán tụng tông Thiên thai.Sách này tôn tông Thiên thai là chính thống, việc biên chép, trình bày tuy có thiên về tông Thiên thai, nhưng vì sự lựa chọn sử liệu phong phú, biên soạn kĩ lưỡng nên xứng đáng là tư liệu tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Trung quốc. Trong số 54 quyển thì 2 quyển 19 và 20 chỉ còn mục lục, không còn văn truyện, tức thiếu mất truyện kí của 55 vị. Nhưng ở đoạn cuối của Pháp vận thông tắc chí trong Vạn tục tạng đã có chép bổ sung, đây có lẽ do người đời sau thêm vào. Ngoài ra, tiếp sau sách này, còn có Tục Phật tổ thống kỉ, 2 quyển, được thu vào Vạn tục tạng tập 131. Nội dung chỉ bổ sung phần Liệt Truyện, tức thêm truyện kí của 30 vị, nhưng không rõ ai đã thêm và thêm vào thời nào? [X. Duyệt tạng tri tân Q.43].
phật tổ tâm đăng
(佛祖心燈) Tác phẩm, 1 quyển (không rõ tác giả), được thu vào Vạn tục tạng tập 150. Nội dung sách này gồm 4 hạng mục: -Kệ của 7 đức Phật Tì bà thi đến Phật Thích ca mâu ni. -Kệ truyền pháp của 33 vị tổ từ tổ Ma ha ca diếp đến Đại sư Tuệ năng. -Phật tổ nguyên lưu quyết (Nguyên dòng của Phật và Tổ). -Ngũ tông thứ tự phổ (thứ tự hệ thống của 5 tông phái). Tên các vị tổ Ấn độ ghi trong sách này cũng phù hợp với Cảnh đức truyền đăng lục, nhưng khác với 28 vị tổ Ấn độ trong các sách: Phó pháp tạng nhân duyên truyện, Viên giác kinh đại sớ sao và Nội chứng Phật pháp huyết mạch phổ. Năm Quang tự 16 (1890), ngài Thủ nhất Không thành đem sách Chư gia tông phái, 1 quyển, của mình in chung với sách này, lấy tên là Tông giáo luật chư gia diễn phái.
phật tổ tông phái thế phả
(佛祖宗派世譜) Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Giới am Ngộ tiến biên soạn vào đời Thanh, ấn hành vào năm Thuận trị 11 (1654), được thu vào Vạn tục tạng tập 147. Nội dung sách này liệt kê pháp hệ của các tổ Ấn độ, Trung quốc, 5 tông: Lâm tế, Vân môn, Tào động, Qui ngưỡng và Pháp nhãn... [X. Thiền đăng thế phổ Q.6; Kính thạch trích nhũ tập Q.5].
phật tổ tông phái đồ
(佛祖宗派圖) Chỉ chung các loại đồ biểu trình bày hệ thống các tông phái. Thông thường đem thứ tự truyền pháp thừa kế nhau từ 7 đức Phật quá khứ, đức Thích tôn cho đến các tổ Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản, vẽ thành đồ biểu, chỉ rõ pháp hệ của các tông, loại đồ biểu này được gọi chung là Phật tổ tông phái đồ. Chẳng hạn như Phật tổ tông phái thế phổ, Phật tổ tông phái cương yếu, Phật tổ chính truyền tông phái đồ, Chính ngộ Phật tổ chính truyền tông phái đồ...đều là những trứ tác thuộc loại này.
phật tổ vấn tấn
(佛祖問訊) Trong Thiền lâm, chắp tay, cúi đầu lễ bái trước tượng chư Phật và lịch đại Tồ sư, gọi là Phật tổ vấn tấn.
phật từ hộ ấn
(佛慈護印) Cũng gọi Như lai từ hộ ấn, Phật đại từ hộ ấn. Ấn khế tiêu trừ tai nạn, 1 trong những loại ấn khế của Mật giáo. Về cách kết ấn, hoặc dùng nội phược, hoặc dùng ngoại phược, dựng thẳng 2 ngón cái và 2 ngón út rồi hợp lại với nhau. Cứ theo Dược sư tiêu tai nghi quĩ thì tất cả tai nạn phần nhiều khởi lên từ nước, lửa và gió, vì thế muốn tránh tai nạn thì phải buộc 3 ngón tay thuộc nước, lửa, gió (tức ngón út, ngón giữa và ngón trỏ) lại. Ấn này có khả năng tiêu trừ 3 tai nạn nước, lửa, gió. Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) một đà muội đát lí phạ nhật ra (buddhà maitfi vajra, Phật từ Kim cương) lạc khất xoa hàm (rakwô haô, hộ ngã).
phật từ lực vương
Buddha of King of Merciful Force Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật từ tạng
Buddha of Mercy Treasury Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật tử
Buddhist.
; Son of Buddha, a bodhisattva; a believer in Buddhism; Buddhist.
; (佛子) Phạm: Buddha-putra. Pàli: Buddha-putta. I. Phật Tử. Người tin và nhận theo giáo pháp của Phật, thừa kế gia nghiệp của Ngài, tức là người mong cầu thành Phật để làm cho hạt giống Phật không dứt mất. Đại thừa dùng từ Phật tử để chỉ cho Bồ tát. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; kinh Phạm võng Q.hạ]. II. Phật Tử. Chỉ cho những người tín đồ Phật giáo thụ giới Bồ tát Đại thừa. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng]. III. Phật Tử. Chỉ cho hết thảy chúng sinh. Chúng sinh thuận theo Phật, sự nhớ nghĩ của Phật đối với chúng sinh cũng giống như cha mẹ thương nhớ con cái; vả lại, chúng sinh vốn có tính Phật, có khả năng thành Phật, vì thế gọi chúng sinh là Phật tử. [X. Pháp hoa văn cú Q.9].
phật tử tịnh độ chơn tông
Shin Buddhist.
phật tự
Buddhist temple, pagoda.
phật tự thuyết kinh
Xem Vô vấn tự thuyết.
; Udàna (S). Sùtra Buddha said without any invitation.
phật tỳ lô giá na
Mahā-vairocana-buddha (S).
Phật Tỳ-bà-thi
(Vipaśyin): một vị Phật quá khứ, đã ra đời trong kiếp Trang nghiêm. Sau kiếp Trang nghiêm mới đến kiếp Hiền (Hiền kiếp). Đức Phật Thích-ca-Mâu-ni ra đời trong Hiền kiếp này. Xem bảy vị Phật.
Phật Tỳ-xá-phù
xem bảy vị Phật.
phật vô lượng âm thanh quang
Buddha of Limitless-Sound King.
phật vô ngại tuệ
Unhindered, infinite Buddha-wisdom.
Phật Vô Động
xem Phật A-súc.
phật vật
(佛物) Những vật dụng thuộc về Phật. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển trung liệt kê 4 loại Phật vật như sau: 1. Phật thụ dụng vật: Những vật do đức Phật sử dụng như nhà điện, áo bát, giường màn... 2. Thí thuộc Phật vật: Những vật do người bố thí cho Phật như tiền bạc, bảo vật, ruộng vườn, người, súc vật... 3. Cúng dường Phật vật: Những vật dâng cúng đức Phật như hương hoa, đèn nến, phan phướn, cờ lọng... 4. Hiến Phật vật: Những vật hiến cúng đức Phật như thuốc men, thức ăn uống... (xt. Tam Bảo Vật).
phật vị
The state of Buddhahood.
phật vị a chi la ca diếp thuyết kinh
(佛爲阿支羅迦葉說經) Cũng gọi Tự hóa tác khổ kinh, Phật vị A chi la ca diếp tự hóa tác khổ kinh. Kinh, 1 quyển, (khuyết dịch), được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này thuật lại việc ngài A chi la ca diếp hỏi đức Phật về nguyên nhân của khổ là mình tự làm, do người khác làm, mình người cùng làm hay không có nguyên nhân nào cả? Đức Phật bèn giảng cho ngài A chi la ca diếp về 12 nhân duyên, bảo rằng khổ là do nhân duyên sinh chứ chẳng phải do mình tự tạo, do người tạo hoặc mình người cùng tạo, hay không có nguyên nhân nào cả. Sau khi nghe pháp, ngài A chi la ca diếp liền đắc đạo, các căn đều thanh tịnh, vì đã thấy pháp. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.4; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.1; Đại đường nội điển lục Q.1].
phật vị hoàng trúc viên lão thuyết kinh
(佛爲黃竹園老說經) Cũng gọi Phật vị Hoàng trúc viên lão Bà la môn thuyết học kinh. Kinh, 1 quyển (khuyết tên dịch giả), được dịch vào thời Lưu Tống Nam triều, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này thuật lại việc người Bà la môn ở Tì lan nhã chỉ trích đức Phật là ngài không tôn kính những trưởng lão Bà la môn, đức Phật liền trả lời sự chỉ trích ấy rồi tuyên thuyết về Tứ thiền và Tam minh để giác ngộ người Bà la môn. Nghe xong, người Bà la môn bèn qui y đức Phật. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4; Pháp kinh lục Q.4, Khai nguyên thích giáo lục Q.5; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.8].
phật vị hải long vương thuyết pháp ấn kinh
(佛爲海龍王說法印經) Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này thuật lại việc Hải long vương thưa hỏi đức Phật làm thế nào có thể thụ trì ít pháp mà được nhiều phúc, do đó, đức Phật dạy Hải long vương là phải thường trì niệm 4 pháp ấn có công đức thù thắng thì sẽ được nhiều phúc. Bốn pháp ấn ấy là: Các hành vô thường, tất cả đều khổ; các pháp vô ngã, Niết bàn an vui. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13].
phật vị niên thiếu tỉ khâu thuyết kinh
(佛爲年少比丘說經) Cũng gọi Chính sự kinh, Phật vị thiếu niên tỉ khưu thuyết chính sự kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp cự dịch vào đời Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này trước hết tường thuật việc đức Phật ở tinh xá Kì hoàn, vườn Cấp cô độc, nhân dịp an cư, vào ngày Bố tát, đức Phật khen ngợi các vị trưởng lão tỉ khưu nhiếp thụ những tỉ khưu trẻ tuổi và các tỉ khưu hành hóa 4 phương, đó làviệc làm chân chính. Kế đến nói về việc các vị trưởng lão tỉ khưu nhờ tu hành mà được công đức phúc báo. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.6; Đại đường nội điển lục Q.2; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].
phật vị sa già la long vương sở thuyết đại thừa kinh
(佛爲娑伽羅龍王所說大乘經) Cũng gọi Phật vị Sa già la long kinh, Phật vị Sa già la long vương sở thuyết Đại thừa pháp kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 15.Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật giảng cho Long vương Sa già la nghe về tự tính của pháp huyễn hóa, chẳng thể nghĩ bàn, không chỗ sinh, không chủ tể, không có ta, không chướng ngại, không sinh, không diệt, không màu sắc, không hình tướng, tất cả ác nghiệp ở thế gian đều do vọng tâm hóa hiện. Muốn dứt ác nghiệp thì phải nương nhờ thiện pháp; thiện pháp tức là 10 điều lành: Không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói thêu dệt, không nói lời ác, không nói hai lưỡi, không tham, không sân và không si. Tu theo 10 điều thiện này tức là hành đạo Bồ tát. Bản dịch khác của kinh này là kinh Thập thiện nghiệp đạo do ngài Thực xoa nan đà dịch vào đời Đường. (xt. Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh).
phật vị thắng quang thiên tử thuyết kinh
(佛爲勝光天子說經) Cũng gọi Phật vị Thắng quang thiên tử thuyết vương pháp kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật thể theo thỉnh nguyện của Thắng quang Thiên tử –Vua nước Kiêu tát la– mà nói về phép nước cho vua nghe. Phật dạy: Bậc quốc chủ phải xa lìa các pháp xấu ác, siêng tu các pháp tốt lành và cung kính Tam bảo... Ngoài ra, kinh này cũng giải thích rõ thể tính của tất cả các pháp là không hư, vô thường hoại diệt. Nếu hiểu rõ lí vô thường thì sẽ sinh tâm nhàm chán. Mà tâm nhàm chán thì trí tuệ sinh khởi, nhờ trí tuệ ấy mà có thể chứng được Niết bàn diệu lạc. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13].
phật vị thủ ca trưởng giả thuyết nghiệp báo sai biệt kinh
(佛爲首迦長者說業報差別經) Cũng gọi Phân biệt thiện ác báo ứng kinh, Nghiệp báo sai biệt kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp trí dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật nói về sự sai biệt của nghiệp báo thiện ác cho đồng tử Bà la môn là Thủ ca (Phạm: Zuka) nghe. Tiếng Phạm Zukadịch là Anh vũ. Kinh này còn có 5 bản dịch khác, như kinh Anh vũ... (xt. Anh Vũ Kinh).
Phật vị Tâm Vương Bồ Tát thuyết đầu-đà kinh
佛爲心王菩薩説投陀經; C: fó wéi xīnwáng púsà shuō tóutuó jīng; J: butsui shin'ou bosatsu setsu touta kyō.|Kinh.
Phật vị Tâm vương Bồ-tát thuyết đầu-đà kinh 佛爲心王菩薩説投陀經
[ja] ツイシンオウボサツセツトウタキョウ Butsui shin'ou bosatsu setsu touta kyō ||| Fo wei xinwang pusa shuo toutuo jing. T 2886.85.1401c-1403b => Kinh. (j:) Butsui shin'ou bosatsu setsu touta kyō);(c: Fo wei xinwang pusa shuo toutuo jing). T 2886.85.1401c-1403b
phật vị ưu điền vương thuyết kinh
(佛爲優填王說經) Cũng gọi Phật vị Ưu điềnvươngthuyết vương pháp chính luận kinh, Vương pháp chính luận kinh, Chính luận kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật khai thị 5 điều lỗi lầm và công đức của vị Đế vương cho vua Ưu điền nghe. Nội dung bao gồm: 1. Mười điều lỗi lầm của vị Đế vương. 2. Mười điều công đức của vị Đế vương. 3. Có 5 hành vi xấu mang lại suy tổn cho vị Đế vương. 4. Có 5 điều khiến cho vị Đế vương được thần dân yêu kính. 5. Có 5 pháp làm cho thần dân yêu kính Đế vương. Nếu sớm tối đọc tụng tu hành kinh này thì sẽ được chư Phật, Bồ tát, thiên long bát bộ gia trì hộ niệm, khiến đất nước an vui, thọ mệnh lâu dài. Kinh này bao hàm giáo chỉ quan trọng của đức Phật, có thể xem là Vương pháp học của Phật giáo. Kinh này có bản dịch khác là Vương pháp chính lí luận do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].
phật xá
A Buddhist temple.
phật xá lợi
Buddha's sarira, relics left after Buddha's cremation.
Phật xá-lợi
佛舍利; C: fóshèlì; J: butsushari.|Phần còn lưu lại của nhục thân Phật sau khi trà tì, chính là Phật cốt (佛骨; s: buddha-dhātu, jina-dhātu). Xem Xá-lợi (舎利).
Phật xá-lợi 佛舎利
[ja] ブツシャリ butsushari ||| The remains of the Buddha's body after cremation--primarily, his bones (buddha-dhātu, jina-dhātu) . Also see 舎利=> Phần còn lưu lại của nhục thân Phật sau khi trà tỳ, chính là Phật cốt (佛骨s: buddha-dhātu, jina-dhātu). Xem mục Xá-lợi.舎利.
Phật Âm
(s: Buddhaghoṣa, p: Buddhaghosa, 佛音, thế kỷ thứ 5 Tây lịch): còn gọi là Phật Minh (佛鳴), Giác Âm (覺音), âm dịch là Phật Đà Cù Sa (佛陀瞿沙), xuất thân vùng Phật Đà Già Da (s: Buddha-gayā, 佛陀伽耶, tức Bồ Đề Đạo Tràng [菩提道塲]), nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), sanh ra trong gia đình Bà La Môn. Ban đầu ông học các thánh điển Phệ Đà (s: Veda, 吠陀), tinh thông Du Già (s: Yoga, 瑜伽), Số Luận, v.v. Sau ông quy y theo Phật Giáo, thông hiểu các kinh điển, soạn ra Phát Trí Luận (p: Ñāṇodaya, 發智論), Thù Thắng Nghĩa Luận (p: Atthasālinī, 殊勝義論, bản chú giải của Pháp Tụ Luận [法聚論]). Vào năm 432 Tây lịch, ông sang Tích Lan, trú tại Đại Tự (p: Mahāvihāra, 大寺), cùng với Trưởng Lão Tăng Già Ba La (p: Saṅghapāla, 僧伽波羅) nghiên cứu các thánh điển và giáo nghĩa hiện lưu trữ tại chùa này, chuyển dịch sang tiếng Pāli, rồi soạn ra Thanh Tịnh Đạo Luận (p: Visuddhimagga, 清淨道論), Thiện Kiến Luật Chú Tự (p: Samantapāsādikā, 善見律注序), v.v., để xiển dương giáo nghĩa của Phật Giáo Thượng Tọa Bộ. Trong đó, có thể nói rằng Thanh Tịnh Đạo Luận là trước tác cương yếu bao quát Tam Tạng kinh điển cũng như các luận sớ. Sau đó, tại tu viện Granthakara parivena thuộc Anurādhapura, ông dịch 4 bộ Kinh A Hàm, Luận Tạng sang tiếng Pāli, soạn bản chú sớ cho các bộ này. Bản giải thích Trường Bộ Kinh (p: Dīghanikāya, 長部經) là Cát Tường Duyệt Ý Luận (p: Sumaṅgalavilāsinī, 吉祥悅意論), bản chú sớ của Trung Bộ Kinh (p: Majjhimanikāya, 中部經) là Phá Trừ Nghi Chướng Luận (p: Papañcasūdanī, 破除疑障論), bản cho Tương Ưng Bộ Kinh (p: Saṁyuttanikāya, 相應部經) là Hiển Dương Tâm Nghĩa Luận (p: Sāratthappakāsinī, 顯揚心義論), cho Tăng Chi Bộ Kinh (p: Aṅguttaranikāya, 增支部經) là Mãn Túc Hy Cầu Luận (p: Manorathapūraṇī, 滿足希求論), v.v. Nhờ vậy, lần đầu tiên Tam Tạng Tiếng Pāli được hoàn bị. Người dân Tích Lan sùng ngưỡng ông như là Bồ Tát Di Lặc tái sanh. Đến cuối đời, ông trở về Ấn Độ và qua đời tại đó. Tuy nhiên, theo truyền thuyết của Phật Giáo Miến Điện, ông là người của nước này, từ Kim Địa Quốc (金地國) sang Tích Lan vào năm 400 Tây lịch.
; 佛音; C: fóyīn; J: button; S: buddhaghoṣa; P: buddhagosa; tk. 4;|Một Ðại luận sư của Thượng toạ bộ (p: the-ravāda). Sư sinh trong một gia đình Bà-la-môn tại Ma-kiệt-đà (magadha), gần Giác Thành (bodh-gayā). Sau khi đọc kinh sách đạo Phật, Sư theo Phật giáo, đi Tích Lan học giáo lí của Thượng toạ bộ dưới sự hướng dẫn của Tăng-già Ba-la (p: saṅghapāla thera). Sư viết 19 bài luận văn về Luật tạng (s, p: vinayapiṭaka) và về các Bộ kinh (p: nikāya). Tác phẩm chính của Sư là Thanh tịnh đạo (p: visuddhi-magga), trình bày toàn vẹn quan điểm của phái Ðại tự (p: mahāvihāra) trong Thượng toạ bộ.
phật âm
Buddhaghoṣa (P)Phật Minh, Phật Đà Cồ SaNgài Phật Âm, thế kỷ thứ V.
; Buddhaghosa (S). Name.
; (佛音) Phạm: Buddhaghowa. Pàli: Buddhaghosa. Cũng gọi Phật minh, Giác âm, Phật đà cù sa. Cao tăng Trung Ấn độ, người ở Phật đà già da, nước Ma yết đà, sống vào thế kỉ V Tây lịch. Sư sinh trưởng trong 1 gia đình Bà la môn, lúc đầu, học Phệ đà, tinh thông Du già, Số luận... Về sau, sư qui y Phật giáo, làu thông các kinh điển, sư soạn luận Phát trí (Pàli:Ĩàịodaya), luận Thù thắng nghĩa (Pàli: Atthasàlinì, là sách chú thích luận Pháp tụ). Năm 432, sư vượt biển đến Tích lan, trụ ở chùa Đại tự (Pàli:Mahàvihàra), dưới sự chỉ dẫn của trưởng lão Tăng già ba la (Pàli: Saíghapàla Thera), sư nghiên cứu Thánh điển và giáo nghĩa được cất giữ ở chùa này, dịch ra tiếngPàli, soạn luận Thanh tịnh đạo (Pàli:Visuddhi-magga), bài Tựa chú thích luật Thiện kiến (Pàli: Samantapàsàdikà, chú thích tạng Luật)..., trình bày giáo nghĩa Phật giáo Thượng tọa bộ tương đối có hệ thống và rõ ràng. Trong đó, bộ luận Thanh tịnh đạo là tác phẩm cương yếu, có thể nói đã bao quát các kinh điển và luận sớ trong Tam tạng. Sau, ở chùa Kiện đà la (Granthakara parivena) tại kinh đô Anuràdhapura, sư dịch 4 bộ kinh A hàm cùng với tạng Luận ra tiếngPàli, đồng thời, soạn chú sớ. Như: Luận Cát tường duyệt ý (Pàli: Sumaígalavilasinì) của sư, là chú sớ Trường bộ kinh, luận Phá trừ nghi chướng (Pàli:Papaĩcasùdanì) là chú sớ Trung bộ kinh, luận Hiển dương tâm nghĩa (Pàli: Sàratthappakàsinì) là chú sớ Tương ứng bộ kinh và luận Mãn túc hi cầu (Pàli: Manorathapuràịì) là chú sớ Tăng chi bộ kinh. Đến đây, Tam tạng Pàli mới được hoàn bị. Những tác phẩm chú sớ của sư không phải chỉ đơn thuần là những lời giải thích văn nghĩa của kinh, mà thực ra còn là sự thuyết minh về các lãnh vực lịch sử, địa lí, thiên văn, âm nhạc, thực và động vật v.v... đặc biệt đối với phong tục tập quán của Ấn độ cổ đại, sư ghi chép và trình bày khá rõ ràng. Cho nên những tác phẩm của sư cũng là văn hiến quan trọng cho việc nghiên cứu văn hóa Ấn độ nói chung. Người Tích lan rất kính ngưỡng đức hạnh và học vấn của sư, họ tôn sùng sư là bồ tát Di lặc tái thế. Lúc tuổi già, sư trở về Ấn độ và viên tịch tại đó. Nhưng truyền thống Phật giáo Miến điện thì cho rằng sư là người Miến điện. Vào 400 Tây lịch, sư từ nước Kim địa (tức Miến điện ngày nay) sang Tích lan, 3 năm sau, sư mang theo nhiều kinh điển trở về nước và phục hưng Phật giáo Miến điện. [X. Căn bản Phật điển chi nghiên cứu; Mahàvaôsa XXXVII; Buddhaghosuppatti; The Life or Legend of Gaudama by P. Bigandet; The Life and Work of Buddhaghosa by B. C. Law]. PHẬT ẤN I. Phật Ấn. Ấn khế của Phật. II. Phật Ấn. Khắc hình tượng nhỏ của Phật để in lên giấy, gọi là Phật ấn. Thông thường, in tượng Bản tôn của chùa lên miếng giấy để tặng cho những người đến lễ bái, hoặc in trên lá sớ cầu đảo, hoặc in lên trang đầu và trang cuối của quyển kinh. Ngoài ra, trong các bản kinh Phật danh xưa, dưới mỗi danh hiệu Phật đều có in 1 hình Phật nhỏ. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Pháp uyển châu lâm Q.39]. III. Phật Ấn (1032-1098). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Tống, người Phù lương, tỉnh Giang tây, họ Lâm, pháp danh Liễu nguyên. Vua Tống thần tông rất kính ngưỡng đạo hạnh của sư, nên tặng sư danh hiệu Phật Ấn Thiền Sư. (xt. Liễu Nguyên).
Phật Âm 佛音
[ja] ブツオン Button ||| Buddhaghoṣa. A renowned Indian Buddhist scholar from Magadha in Central India. Translated a number of Buddhist texts from Singhalese into Pali and explicated them. => (s: Buddhaghoṣa) Cao Tăng Ấn Độ, người xứ Ma-kiệt-đà (s: Magadha) ở Trung Ấn. Sư dịch nhiều Kinh điển Phật giáo từ tiếng Singhalese sang Pali và chú giải.
Phật Ðồ Trừng
佛圖澄|C: fó túchéng; J: buttochō; S: buddhasiṃha; 232-348; |Cao tăng Ấn Ðộ. Năm 310, Sư đến Lạc Dương để thành lập một trung tâm Phật giáo tại đây. Nhờ trổ tài thần thông (tiên tri, gọi mưa), Sư được Tấn Hoài Ðế kính ngưỡng và trở thành cố vấn của ông hai mươi năm.|Thời niên thiếu, sư tu học ở nước Ô-trượng-na (烏仗那國; s: udyāna), đạt được thần thông. Những phép lạ mà sư thi triển đã tác động rất lớn đến vua chúa thời đó như Thạch Lặc, đã tôn sư làm Quốc sư. Phật-đồ-trừng cũng là một trong những vị thầy của sư Đạo An (道安). Sư nổi tiếng đã lập rất nhiều ngôi chùa trong sự nghiệp truyền bá Phật giáo ở Trung Hoa. |Sư truyền bá Phật pháp rất chú trọng đến các việc làm nhân đạo, không sát hại, không đàn áp bức bách và điểm cuối có ảnh hưởng tốt đến vương triều bấy giờ. Nhờ sự hỗ trợ của Sư, lần đầu tiên dân Trung Quốc được công khai gia nhập Tăng-già và thụ giới. Tương truyền rằng, Sư cũng có công thành lập Tăng-già cho các Tỉ-khâu-ni.
phật đa ma la bạt chiên đàn hương
Buddha of Tamala Leaves and SandalWood Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật điền
Buddha-field.
; (佛田) Ruộng Phật. Trong Phật giáo, đức được ví dụ như thửa ruộng để chúng sinh gieo trồng hạt giống phúc thiện, vì thế gọi là ruộng phúc. Cúng dường Phật sẽ được tất cả phúc, tiêu diệt hết thảy tội. Trong tất cả ruộng phúc thì Phật là ruộng phúc hơn hết.[X. luận Đại trí độ Q.30]. (xt. Bát Phúc Điền).
phật điển thích lệ
(佛典釋例) Thông lệ giải thích kinh điển Phật giáo. Về phương thức cũng như văn cú giải thích, tùy theo các tông phái mà có khác nhau. Nay lấy 3 tông: Tam luận, Thiên thai và Chân ngôn làm tiêu biểu để trình bày như sau: 1. Tông Tam luận có 4 phương thức giải thích: a) Y danh thích nghĩa (cũng gọi Tùy văn thích nghĩa). b) Nhân duyên thích nghĩa(cũng gọi Hỗ tương thích nghĩa). c) Hiển đạo thích nghĩa (cũng gọi Lí giáo thích nghĩa, Kiến đạo thích nghĩa). d) Vô phương thích nghĩa. Trong các tác phẩm Nhị đế nghĩa, Tam luận huyền nghĩa... của mình, ngài Cát tạng đã sử dụng phương thức giải thích này. Như chữ Chân giải nghĩa là chân thực, đây là y theo ý nghĩa phổ thông mà giải thích, đó làY danh thích nghĩa. Chân chẳng lìa tục mà có chân. Chân và tục có quan hệ nhân duyên nương vào nhau, vì thế nên giải thích chân là tục, tục là chân, đó là Nhân duyên thích nghĩa. Nhưng chân và tục chẳng phải một mực cố định, không thay đổi, mà vốn có tính chất vô tướng, cho nên đây gọi là Hiển đạo thích nghĩa. Tác dụng của vô tướng là bất định, cho nên chân và tục bao hàm tất cả pháp, đây gọi là Vô phương thích nghĩa. 2. Tông Thiên thai có 4 thông lệ giải thích(cũng gọi Tứ đại thích lệ, Tứ chủng tiêu thích, Tứ chủng tiêu văn). Đó là Nhân duyên thích, Ước giáo thích, Bản tính thích và Quán tâm thích. Trong phẩm Pháp hoa văn cú của mình, ngài Trí khải đã ứng dụng phương thức giải thích này. Như nói về nhân duyên của sự hưng khởi giáo pháp, thì căn cứ vào 4 tất đàn mà giải thích theo 4 cách, đó là Nhân duyên thích. Dựa theo 4 phán giáo về Hóa pháp mà giải thích theo 4 cách, là Ước giáo thích. Đứng trên lập trường 2 môn Bản Tích mà giải thích theo 2 cách, tức là Bản tích thích. Thu nhiếp nội dung giáo thuyết về tự tâm mà giải thích quán lí thực tướng, tức là Quán tâm thích. Ngoài 4 thông lệ giải thích trên đây, ngài Trí khải còn lập Ngũ trùng huyền nghĩa(năm lớp nghĩa mầu nhiệm) là: Danh (tên gọi), Thể (bản chất), Tông (mục đích), Dụng (tác dụng)và Giáo (toàn thể giáo thuyết), sử dụng 7 phương thức để giải thích. Đó là: 1. Tiêu chương: Nêu lên tất cả vấn đề như Danh, Thể... để luận giải. 2. Dẫn chứng: Trích dẫn các kinh điển để làm chứng cứ. 3. Sinh khởi: Bàn về thứ tự của Danh, Thể... 4. Khai hợp: Phân tích, tổng hợp. 5. Liệu giản: Theo thể hỏi, đáp để bàn luận các vấn đề. 6. Quán tâm: Lấy Danh, Thể... làm đối tượng để quán tâm tu hành. 7. Hội dị: Đánh giá học thuyết của các phái khác để mọi người hiểu rõ ưu khuyết điểm. 3. Chân ngôn tông có 4 lớp giải thích bí mật: Thiển lược thích, Bí mật thích (cũng gọi Thâm bí thích), Bí mật trung bí thích (cũng gọi Bí trung thâm bí thích) và Bí bí trung bí thích (cũng gọi Bí bí trung thâm bí thích). Như giải thích chữ A là Phạm vương, đó là Thiển lược thích. Giải thích Đại nhật Như lai nói chữ A vốn chẳng sinh, đó làThâm bí thích. Giải thích chữ A tự nói vốn chẳng sinh, đó là Bí trung thâm bí thích. Giải thích cái lí vốn chẳng sinh, tự có lí và trí, tự biết cái lí vốn chẳng sinh, đó là Bí bí trung thâm bí thích. Ngoài ra còn có Thập lục huyền môn thích giải thích về chữ Phạm, Chân ngôn... [X. Nhị đế nghĩa Q.trung; Pháp hoa văn cú Q.1 phần đầu; Pháp hoa văn cú kí Q.1 phần đầu; Đại nhật kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ Q.hạ; Bồ đề tâm nghĩa Q.1]. (xt. Thập Lục Huyền Môn).
phật điện
Buddha hall, Butsuden (J).
; (佛殿) Cũng gọi Phật đường. Điện thờ tượng Phật, Bồ tát hoặc bản tôn, là kiến trúc trung tâm của mỗi ngôi chùa. Trung quốc gọi là Đại hùng bảo điện, Ấn độ thì gọi là Hương điện (Phạm: Gandhakuỉì). Cứ theo Tì nại da tạp sự quyển 10 thì Phật điện của chùa tăng nên xây 7 tầng, còn chùa ni thì nên xây 5 tầng. [X. Hữu bộ mục đắc ca Q.8; điều Vĩnh ninh tự trong Lạc dương già lam kí Q.1]. (xt. Phật Đường).
phật đà
Butsuda (J).
; Buddha (S)
; Người giác ngộ cùng tột đã chứng Diệu giác như Phật Thích Ca.
; (佛陀) Phạm: Pàli: Buddha. Cũng gọi Phù đà, Phù đầu, Một đà, Bộ tha, Bột đà, Phục đậu, Phù đồ Hán dịch: Giác giả, Tri giả. I. Phật Đà. Chỉ cho đức Thích ca mâu ni. (xt. Thích ca mâu ni). II. Phật Đà. Chỉ chung cho chư Phật 3 đời trong 10 phương, như hiện tại có đức Thích ca mâu ni, quá khứ có đức Phật Nhiên đăng..., vị lai có đức Phật Di lặc... trong 10 phương thì có đức Phật A súc ở phương Đông, đức Phật A di đà ở phương Tây... III. Phật Đà. Thiền sư người Thiên trúc sống vào thế kỉ thứ V. (xt. Phật Đà Thiền Sư).
phật đà ba lợi
Xem Giác Hộ.
; (佛陀波利) Phạm: Buddha-Pàla. Hán dịch: Giác hộ. Cao tăng người nước Kế tân, Bắc Ấn độ, đến Trung quốc dịch kinh vào đời nhà Đường. Sư đi tham bái khắp các linh tích, vì đạo quên mình, nghe nói bồ tát Văn thù ở núi Thanh hương, sư vượt qua sa mạc đến chiêm lễ. Niên hiệu Nghi phụng năm đầu (676) đời vua Cao tông nhà Đường, sư lên núi Ngũ đài chí thành lễ bái, gặp 1 ông già thần dị chỉ giáo, sư trở về nước Kế tân, thỉnh kinh Tôn thắng Đà la ni bản tiếng Phạm, rồi lại đến kinh đô nhà Đường. Năm Nghi phụng thứ 4 (679), vua Cao tông ban sắc cho các vị Nhật chiếu và Đỗ hành khải phiên dịch bản kinh ấy. Nhưng khi dịch xong, vua giữ lại trong cung, sư tâu vua xin trả lại bản tiếng Phạm, rồi sư đem đến chùa Tây minh, cùng với 1 tăng thông hiểu tiếng Phạm là ngài Thuận trinh, dịch ra chữ Hán, với tựa đề là: Kinh Phật đính tôn thắng đà la ni. Kinh này, ngoài 2 bản dịch ghi trên còn có 7 bản dịch khác, trong đó, bản dịch của sư lưu hành rất rộng. Sau khi dịch xong, sư đem bản tiếng Phạm vào núi Ngũ đài. Sư còn dịch kinh Trường thọ diệt tội hộ chư đồng tử đà la ni, 1 quyển. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.5; Tống cao tăng truyện Q.2]. PHẬT ĐÀ BẠT ĐÀ LA (359-429 ) Phạm: Buddhabhadra. Cũng gọi Phật độ bạt đà la, Phật đại bạt đà, Phật đà bạt đà. Hán dịch: Giác hiền, Phật hiền. Cao tăng người Bắc Ấn độ, sống vào thế kỉ V, ở thành Na ha lợi, họ Thích, là con cháu của vua Cam lộ phạn, thành Ca tì la vệ. Sư xuất gia năm 13 tuổi, siêng năng tu tập, học rộng các kinh, đặc biệt tinh thông Thiền, Luật. Sau, cùng với bạn đồng học là Tăng già đạt đa, sư đến nước Kế tân, theo ngài Phật đại tiên học Thiền pháp. Ở đây, sư gặp ngài Trí nghiêm và nhận lời mời đi Trung quốc. Khoảng năm Hoằng thủy thứ 10 (408) đời Hậu Tần, sư đến Trường an, hoằng truyền pháp Thiền, nhưng vì không quen với nếp sống ở Trường an, lại không hợp với các đệ tử củangàiLa thập, nên sư cùng với hơn 40 đệ tử như ngài Tuệ quán rời Trường an, lưu lại mấy năm chỗ ngài Tuệ viễn, núi Lô sơn, dịch kinh Đạt ma đa la thiền. Năm Nghĩa hi 11 (415), sư đến Kiến khang (nay là Nam kinh), dừng lại ở chùa Đạo tràng, chuyên việc dịch kinh. Sư dịch chung với ngài Pháp hiển luật Ma ha tăng kì và kinh Đại bát nê hoàn. Sau, sư một mình dịch kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm 60 quyển. Các kinh do sư dịch gồm 13 bộ, 125 quyển. Năm Nguyên gia thứ 6 (429) đời Lưu Tống, sư thị tịch, thọ 71 tuổi người đời gọi sư là Thiên trúc thiền sư, là 1 trong 18 bậc Cao hiền ở núi Lô sơn. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 3; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Lương cao tăng truyện Q.2, 3; Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.26, 36; Tùy thư kinh tịch chí 4].
Phật Đà Bạt Đà La
(s: Buddhabhadra, j: Buddabadara, 佛陀[駄]跋陀羅, 359-429): tiếng Phạn có âm dịch là Phật Đà Bạt Đà La (佛駄跋陀羅), Phật Độ Bạt Đà La (佛度跋陀羅), Phật Đại Bạt Đà (佛大跋陀), Bạt Đà Bà La (跋陀婆羅); dịch nghĩa là Giác Hiền (覺賢), Phật Hiền (佛賢). Theo Phật Đà Bạt Đà La Truyện (佛駄跋陀羅傳) trong Cao Tăng Truyện (高僧傳), tổ tiên ông là người Trung Ấn Độ, con cháu của Cam Lộ Phạn Vương (甘露飯王) thuộc dòng thích ca, ông nội làm nghề buôn nên dời đến vùng Bắc Ấn, và Giác Hiền sinh ra ở Thành Na Ha Lợi (那呵利城) trong vùng. Mới còn nhỏ mà ông đã sớm mất song thân, sau đó ông xuất gia lúc 17 tuổi, tinh tấn tu hành, học hết các kinh điển và có nhiều chỗ thông đạt nghĩa lý. Ông tinh trì giới hạnh, rất nhiệt tâm với Thiền định, nên về sau thỉnh thoảng có thể hiện vài điều thần dị. Sau ông cùng với Tăng Già Đạt Đa (僧伽達多) ngao du vùng Kế Tân (罽賓), theo học Thiền pháp với Đại Thiền Sư Phật Đại Tiên (佛大先, tức Phật Đà Tư Na [佛駄斯那]). Khi vị Sa Môn người Trung Quốc là Trí Nghiêm (智嚴) sang Ấn Độ cầu pháp, gặp Phật Đại Tiên, được vị này cho biết rằng chỉ có Phật Đà Bạt Đà La mới có thể xứng dáng để giáo hóa đồ chúng và dạy Thiền pháp. Thể theo lời thỉnh cầu của Trí Nghiêm, Phật Đà Bạt Đà La sang Trung Quốc bằng đường biển phía nam. Vào năm thứ 8 (406) niên hiệu Hoằng Thỉ (弘始), nghe tiếng có La Thập (羅什) đang ở Trường An (長安), ông thân chinh đến địa phương này để gặp; nhưng vì không quen phong tục Trường An và chẳng hợp với môn hạ của La Thập, bị hiểu lầm, nên ông cùng với nhóm Huệ Quán (慧觀) hơn 40 người rời khỏi nơi đây, đến Huệ Quán Tự (慧觀寺) và Lô Sơn (廬山). Tại đây, ông được Huệ Viễn (慧遠) rất tôn kính và chỉ đạo cho đại chúng về phương pháp Tọa Thiền. Từ đó, ông được liệt vào trong Lô Sơn Thập Bát Hiền (廬山十八賢). Vào năm thứ 11 (415) niên hiệu Nghĩa Hy (義熙), ông đến Kiến Khang (建康, hiện tại là Nam Kinh [南京]), dừng chân tại Đạo Tràng Tự (道塲寺), chuyên tâm phiên dịch một số kinh điển như Đạt Ma Đa La Thiền Kinh (達摩多羅禪經), Quán Phật Tam Muội Hải Kinh (觀佛三昧海經), Lục Thập Hoa Nghiêm (六十華嚴), Ma Ha Tăng Kỳ Luật (摩訶僧祇律), Đại Bát Nê Hoàn Kinh (大般泥洹經), Như Lai Tạng Kinh (如來藏經), v.v., và là dịch giả nổi danh đương thời. Ông được gọi là Phật Đà Thiền Sư (佛陀禪師), Đấu Trường Thiền Sư (闘塲禪師, hay Đạo Tràng Thiền Sư [道塲禪師]), Thiên Trúc Thiền Sư (天竺禪師), v.v.; nhưng Thiền pháp của ông thì thuộc về Thiền pháp của Tiểu Thừa trước thời kỳ Thiền Tông ra đời. Vào năm thứ 6 (429) niên hiệu Nguyên Gia (元嘉) nhà Lưu Tống, ông thị tịch, hưởng thọ 71 tuổi.
phật đà bạt đà la
Xem Giác Hiền.
; Xem Giác Hiền.
phật đà cù hý da
Buddhaguhya (S)Tên một vị sư.
phật đà cù hứ da
(佛陀瞿呬耶) Phạm: Buddhaguhya. Cao tăng Ấn độ, sống vào thế kỉ VIII, đồng thời với Tam tạng Bất không đời Đường, là đệ tử lớn của ngài Phật trí tiên, (Phạm: Buddhajĩàna-pàda). Sư thụ Mật giáo trực tiếp nơi ngài Kim cương thủ, thông hiểu tinh tường 3 bộ Nghi quĩ: Sự nghiệp, Tu hành và Du già. Sư từng cùng với pháp huynh là sư Giác tịnh (Phạm: Buddha-zànti) lên núi Bổ đà lạc ở Nam thiên trúc, chí thành lễ bái Bồ tát Quán tự tại và cảm được Ngài chỉ dạy, nên sư đến núi Khai lạp sa (Kailàsa) tu tập và chứng được thần thông. Sau đó, sư về Ba la na tư (nayVaranasi) tuyên dương Phật pháp. Cứ theo kinh thích bộ 94 trong Đại tạng kinh Tây tạng thì vua Khất lật song đề tán (Tạng: Khri-sron-lde#u-#tsan, 728-786) sai sứ đến thỉnh sư sang Tây tạng, nhưng vì tuổi già sư không đi được, chỉ giao cho sứ giả 2 bộ Nghĩa sớ của kinh Tì lô giá na và Bí kinh nghĩa nhập môn mang về. Sư để lại các tác phẩm: Tì lô giá na thành đạo kinh tập nghĩa (Phạm: Vairocanàbhisaôbodhi-tantrapiịđàrtha), Tì lô giá na thành đạo kinh sớ (Phạm: Vairocanàbhisaô-bodhi-tantravftti), kinh Thuyết mạn đồ la pháp (Phạm: Dharma-maịđala-sùtra), Bí kinh nghĩa nhập môn (Phạm: Tantrarthàvatàra). [X. Đa la na tha Ấn độ Phật giáo sử].
phật đà cồ sa
Xem Phật Âm.
phật đà da xá
Buddhayaśas (S)Giác Danh, Giác MinhTên một vị sư.
; (佛陀耶舍) Phạm: Buddhayazas. Hán dịch: Giác minh,Giác danh, Giác xưng. Cao tăng người nước Kế tân thuộc Bắc Ân độ, đến Trung quốc dịch kinh vào đời Đông Tấn, là thầy của ngài Cưu ma la thập. Sư xuất gia năm 13 tuổi, năm 27 tuổi mới thọ giới Cụ túc. Sư chuyên cần tu tập, đọc tụng kinh điển, thông suốt cả Đại thừa và Tiểu thừa. Năm Hoằng thủy thứ 10 (408), đời vua Diêu Tần, theo lời thỉnh cầu của ngài La thập, sư đến Trường an, hỗ trợ ngài La thập dịch kinh Thập trụ, Tứ phần tăng giới bản, Tứ phần luật, rồi cùng với ngài Trúc Phật niệm, dịch kinh Trường a hàm, ngài Đạo hàm làm bút thụ. Sau, sư trở về nước Kế tân, thỉnh được kinh Hư không tạng 1 quyển, gửi người khách buôn đưa đến cho chư tăng ở Lương châu. Những kinh sư dịch gồm 4 bộ, 84 quyển. Vì sư hàm râu đỏ, lại khéo dịch luận Tì bà sa, nên người đời gọi sư là Xích Tì Tì Bà Sa. Lại vì sư là thầy của ngài La thập, nên cũng gọi là Đại Tì Bà Sa. [X. Lương cao tăng truyện Q.2; Xuất tam tạng kí tập Q.14; Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Khai nguyên thích giáo Q.4].
phật đà lí
(佛陀裏) Làng Phật, là nơi vua Tôn quyền nước Ngô, thời Tam quốc, xây dựng chùa Kiến sơ cho ngài Khang tăng hội ở. Đây là chùa tháp đầu tiên tại đất Ngô và cũng từ đó Phật pháp khá thịnh hành ở xứ này. [X. Khang tăng hội truyện trong Lương cao tăng truyện Q.1]. (xt. Khang Tăng Hội).
phật đà mật đa
(佛陀蜜多) Phạm: Buddhamitra. Cũng gọi Phục đà mật đa, Phật đà mật đa la, Phật đà mật. Hán dịch: Giác thân. Tổ phó pháp thứ 9 của Thiền tông Ấn độ, người nước Đề già, họ Tì xá la. Sư là người có trí tuệ cao siêu và đạo hạnh sáng chói. Sư được ngài Phật đà nan đề, Tổ thứ 8, phó pháp cho. Sư khéo dùng các phương tiện để giáo hóa chúng sinh, phá dẹp các học phái khác. Lúc bấy giờ, nhà vua sùng tín ngoại đạo, khinh hủy Phật pháp, tà tâm vô đạo, sư tự cầm lá phướn (1 loại cờ của Phật giáo) đi thẳng đến trước cung vua, qua nhiều lần vua mới triệu vào. Sư xin đượcbiện luận với ngoại đạo, dùng Vô phương luận để khuất phục đối phương. Rồi sư lại luận nghị với nhà vua, cảm hóa được tà tâm của vua, khiến tin chính pháp. Sau đó, sư tìm đến giáo hóa Ni kiền tử, làm cho 500 đệ tử của ông này quay về với Phật pháp. Về sau, sư truyền pháp cho Hiếp tôn giả rồi thị tịch. Lại theo Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện thì sư là thầy của ngài Thế thân. [X. Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.5; Cảnh đức truyền đăng lục Q.1; truyền pháp chính tông kí Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.5].
phật đà mật đa tổ sư
Buddha-mitra (S)Giác Thân, Phúc-đà-mật-đaTổ thứ chín trong 28 vị tổ sư Phật giáo tại Ấn, ngưởi chủ trì đại hội kết tập năm 150 tại xứ Tra lan đức cáp (Jalandhara) cùng ngài Hiếp Tôn giả (tổ thứ mười) làm phó chủ tọa.
phật đà nan đề
Xem Nan đề Tổ sư.
; Buddhanandi (S)Tổ Nan đềTổ thứ 8 Phật giáo ỡ Ấn độ.
; (佛陀難提) Phạm: Buddhanandi. Thiền sư Ấn độ, người nước Ca ma la thời xưa, là Tổ thứ 8 được phó pháp tạng. Sư có tướng mạo khác thường, trên đỉnh đầu có nhục kế, trí tuệ hơn người, biện tài vô ngại. Cứ theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 5 thì tổ Di già ca truyền chính pháp cho tôn giả Phật đà nan đề. Tôn giả chuyển Đại pháp luân, phá dẹp ma oán, sau đó, trao pháp cho ngài Phật đà mật đa. Ngoài ra, theo Bảo lâm truyện thì ngài Phật đà nan đề nhận pháp từ ngài Bà tu mật, ngài Bà tu mật nhận pháp từ ngài Di già ca, ngài Phật đà mật đa nhận pháp từ ngài Phật đà nan đề. [X. Tổ đường tập Q.1; Cảnh đức truyền đăng lục Q.1].
phật đà phiến đa
Buddhasānta (S)Giác ĐịnhTên một vị sư.
; (佛陀扇多) Phạm: Buddhazànta. Hán dịch: Giác định. Cao tăng người Bắc thiên trúc, đến Trung quốc dịch kinh vào thời Bắc Ngụy. Sư thần ngộ sáng suốt, bén nhạy, tinh thông nội ngoại điển. Niên hiệu Vĩnh bình năm đầu (508) đời vua Tuyên vũ đế nhà Bắc Ngụy, vâng sắc chỉ cùng với các ngài Bồ đề lưu chi và Lặc na ma đề phiên dịch Thập địa kinh luận của bồ tát Thế thân trong cung vua tại Lạc dương, 4 năm sau mới dịch xong. Sau đó không lâu, sư đến chùa Bạch mã, dịch kinh Như lai Sư tử hống vào niên hiệu Chính quang thứ 6 (525). Sau, sư dời đến chùa Kim hoa tại Nghiệp đô. Vào năm Nguyên tượng thứ 2 (539), sư dịch kinh Thập pháp... Tất cả kinh do sư dịch gồm 10 bộ, 11 quyển. [X. bài Tựa trong Thập địa kinh luận; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Hoa nghiêm kinh truyện Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Thích thị kê cổ lược Q.2].
phật đà tam khuyến
(佛陀三勸) Chỉ cho 3 thứ danh hiệu mà Hòa thượng Phật đà thường xưng niệm. Cứ theo chương pháp môn Phật đà trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14, thì Hòa thượng Phật đà ở chùa pháp môn tại phủ Phượng tường, thường cầm tràng hạt, xưng niệm 3 thứ danh hiệu: Thích ca, Nguyên hòa, Phật đà, lần hết 1 vòng thì trở lại từ đầu. Hành trạng của ngài rất khác thường, người đời không thể hiểu được chỉ gọi sự xưng niệm của ngài là Phật đà tam khuyến(ba cách khuyên người của Hòa thượng Phật đà). [X. Thiền uyển mông cầu Q.hạ].
phật đà thiền sư
(佛陀禪師) Cũng gọi Bạt đà, Giác giả. Thiền sư người Thiên trúc, sống vào thời Bắc Ngụy, Trung quốc. Sư du hành khắp các nước Tây vực, sau đến Hằng an, (thuộc tỉnh Sơn tây, Trung quốc), Bắc đài. Sư tinh cần tu tập Thiền quán. Vua Hiếu văn đế (467-499) rất tín ngưỡng đạo hạnh của sư, nên vua thiết lập Thiền viện cho sư. Sau khi dời đô đến thành Lạc dương, vua lại xây dựng Tĩnh viện để sư ở. Vào năm Thái hòa 20 (496) vua sáng lập Thiền viện ở núi Thiếu thất (tức nay là chùa Thiếu lâm), đồng thời xây Phiên kinh đường do sư trụ trì để chuyên việc dịch kinh. Đệ tử của sư –ngài Tuệ quang– là Tổ khai sáng phái Nam đạo thuộc tông Địa luận. Ngoài ra, sư thường bị người đời nhầm lẫn là ngài Phật đà Phiến đa – người dịch Thập địa kinh luận. [X. Tục cao tăng truyện Q.16; Tuệ quang truyện trong Tục cao tăng truyện Q.21]. (xt. Phật Đà).
phật đà thập
Buddhājīva (S)Giác ThọTên một vị sư.
; (佛陀什) Phạm: Buddhajìva. Cũng gọi: Phật đại thập. Hán dịch: Giác thọ. Cao tăng người nước Kế tân, Bắc Ấn độ, sống vào thế kỉ thứ V. Thủa nhỏ, sư theo học 1 vị tăng thuộc Di sa tắc bộ, chuyên về Luật học và Thiền pháp. Niên hiệu Cảnh bình năm đầu (423) đời Lưu Tống, sư đặt chân lên đất Dương châu, Trung quốc. Tháng 11 năm ấy, nhận lời thỉnh cầu của Vương luyện ở Lang gia và các vị Đạo sinh..., sư phiên dịch bộ luật Di sa tắc ở chùa Long quang tại Kiến khang. Bấy giờ, sư chủ giảng Phạm văn, sa môn Trí thắng người nước Vu điền truyền dịch, các ngài Đạo sinh và Tuệ nghiêm làm bút thụ (viết chép) phiên dịch bộ luật Sa di tắc gồm 34 quyển (bản lưu hành hiện nay có 30 quyển) tức là luật Ngũ phần hiện hành. Sau đó, sư lại sao Giới bản 1 quyển và văn yết ma 1 quyển. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 3; Lịch đại tam bảo kỉ Q.10, Lương cao tăng truyện Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.5].
phật đà tăng ha
Buddhasiṃha (S)Sư tử GiácTên một vị sư. Em ruột của Bồ tát Vô Trước.
; Buddhasimha (S). Name. Also Sư tử giác.
phật đà tự
Budda-ji (J)Tên một ngôi chùa.
phật đà đa la
Buddhatrāta (S)Giác CứuTên một vị sư.
phật đà đề bà
Buddhavaca (S)Giác ThiênTên một vị sư.
phật đài
The Buddha's altar.
phật đàn
Buddha-dāna (S)Sự bố thí như hạnh Phật. Nơi thuyết pháp độ chúng.
; Buddha-dàna (S). Buddha-giving contrasted with Màra giving.
; (佛壇) Đàn tôn trí tượng Phật. Chỉ cho cái đàn (đài, nền cao) trong Phật đường (điện) để thờ Phật. Về nguyên liệu thì đàn có thể được làm bằng đá, gỗ hoặc đất; về hình dáng của đàn cũng có nhiều kiểu như hình vuông, hình bát giác, hình tròn... Tại Ấn độ, tượng Bản tôn vốn được an vị trên đàn bằng đá ở mặt chính củaPhật đường. Nhưng, từ thời Trung cổ về sau, trong Phật đường phần nhiều dùng đàn gỗ; về hình dáng thì phỏng theo đàn đá lúc ban đầu, còn về sau thì mô phỏng hình dạng núi Tu di mà kiến trúc đàn Tu di. Ngoài ra, cỗ khám để an vị tượng Phật trong các chùa viện hay ở nhà của các tín đồ tại gia thờ Phật, cũng được gọi là Phật đàn. [X. chương Báo ân trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; điều Ma yết đà quốc trong Đại đường tây vực kí Q.8; Ngọa tức phương pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3].
phật đăng thủ tuân
Fo feng Sho hsun (C), Fo chien, Hui chin, Fo chien Fo kuo, Ke chin Fo kuo (C)Khắc Cần Phật Quả.
; Fo chien (C)Tên một vị sư.
; Fo chien Fo kuo (C), Hui chin (J)Tên một vị sư.
phật đường
The Buddha hall.
phật đại bi quang
Buddha of Great Compassion Light Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật đại cường tinh tấn dõng mãnh
Buddha of Great Strength in Striving and Courage Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật đại huệ lực vương
Buddha of King with Great-Wisdom Force.
phật đại thông quang
Buddha of Great Universal Light.
phật đại tiên
Buddhaṣena (S).
; (佛大先) Phạm: Buddhasena. Cũng gọi Phật đà tiên, Phật đà tư na. Cao tăng người nước Kế tân, Bắc Ấn độ, là Luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ, sau là người truyền trì Thiền pháp. Sư hành hóa ở nước Kế tân, từng kế thừa pháp yếu nơi ngài Bà đà la, rồi sau đó sư đem truyền đến Trung quốc. Rất nhiều người được sư giáo hóa, người vào đạo có hơn 700. Ngài Phật đà bạt đà la thủa nhỏ có theo học sư. Ngài Trí nghiêm người Trung quốc, trong thời gian du học Tây trúc, cũng đến nước Kế tân, vào tinh xá Ma thiên đà la theo sư học Thiền pháp. Ba năm sau, khi học xong, ngài Trí nghiêm trở về Trung quốc, mời ngài Phật đà bạt đà la cùng đi. Sau khi về đến Trung quốc, ngài Phật đà bạt đà la có dịch Đạt ma đa la thiền kinh, 2 quyển, có lẽ là bộ kinh đã do sư Phật đại tiên tụng ra. Ngoài ra, theo Thiền yếu bí mật trị bệnh kinh kí chép trong Xuất tam tạng kí tập quyển 9 và Thư cừ An dương hầu truyện trong Xuất tam tạng kí tập quyển 14, thì vào đầu năm Nguyên gia (424-453) đời vua Văn đế nhà Lưu Tống, em của Hà tây vương Mông tốn là Thư cừ An dương hầu đến nước Vu điền được gặp sư Phật đà tiên tại chùa Cù ma đế, theo sư học pháp Đại thừa, đồng thời học được pháp bí mật để trị các bệnh về Thiền. Sư là bậc thiên tài kiệt xuất, Thiền pháp của sư đứng vào bậc nhất ở các nước, ngườiphương Tây đều gọi sư là Nhân trung sư tử(Sư tử trong loài người). [X. bàiTựa kinh Tu hành địa bất tịnh quán trong Xuất tam tạng kí tậpQ.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.4; bài tựa Đạt ma đa la thiền kinh; luận Truyền pháp chính tông Q.thượng; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3].
Phật Đại Tiên 佛大先
[ja] ブツダイセン Butsudaisen ||| Buddhasena (5th c. CE); an Indian Sarvāstivādin 有部 master from Kashmir 罽賓國. Also written 佛駄先 and 佛陀斯那. (j: Butsudaisen ),(s:Buddhasena ) => Luận sư của phái Hữu bộ, sống vào thế kỷ thứ 5, ở nước Kế Tân (s: Kashmir 罽賓國). Còn gọi là Phật-đà-tiên 佛駄先, Phật-đà-tư-na 佛陀斯那.
Phật Đạo
(佛道, Butsudō): quyển thứ 49 trong bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏, Shōbōgenzō, 95 quyển), là phần Thị Chúng (示眾) tại Cát Phong Tự (吉峰寺) vùng Việt Tiền (越前, Echizen), vào ngày 16 tháng 9 năm 1243. Đây là thiên chỉ rõ nhận thức cho rằng Chánh Pháp Nhãn Tạng Niết Bàn Diệu Tâm (正法眼藏涅槃妙心) do chánh truyền từ chư Phật Tổ, là đại đạo của chư Phật Tổ và tông chỉ của Thiền Tông cũng như của Ngũ Gia (五家, năm tông phái lớn của Thiền Tông), là sai lầm.
Phật đạo
(佛道): có mấy nghĩa. (1) Con đường của Phật pháp. Đạo, Phạn ngữ bodhi, ý dịch là Bồ Đề (菩提); tân dịch là giác (覺), cựu dịch là đạo (道). Đạo (con đường) nghĩa là thông suốt; Phật trí tròn đầy thông suốt, không bị ngưng trệ, nên gọi là đạo. Đạo có 3 loại: (a) đạo do Thanh Văn chứng đắc, (b) đạo do Duyên Giác chứng đắc, (c) đạo do Phật chứng đắc. Đạo do Phật chứng đắc là Vô Thượng Bồ Đề (無上菩提), nên gọi là Phật đạo. Trong phẩm Tựa của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 1 có đoạn: “Ngã kiến bỉ độ, hằng sa Bồ Tát, chủng chủng nhân duyên, nhi cầu Phật đạo (我見彼土、恆沙菩薩、種種因緣、而求佛道, ta thấy cõi kia, hằng sa Bồ Tát, các loại nhân duyên, mà cầu Phật đạo).” Cũng trong phẩm Tựa của kinh trên lại có đoạn: “Hựu kiến Bồ Tát, dũng mãnh tinh tấn, nhập ư thâm sơn, tư duy Phật đạo (又見菩薩、勇猛精進、入於深山、思惟佛道, lại thấy Bồ Tát, dũng mãnh tinh tấn, vào trong rừng sâu, suy nghĩ Phật đạo).” (2) Chỉ con đường thành Phật, tức con đường đạt đến quả vị Phật vô thượng bồ đề. Như trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 22, phần Tông Giáo Đáp Hưởng (宗敎答響) 2, Phẩm Nguyện Lực (願力品) thứ 6, có đoạn: “Phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện, vị chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành (發四弘誓願、謂眾生無邊誓願度、煩惱無盡誓願斷、法門無量誓願學、佛道無上誓願成, phát khởi Bốn Thệ Nguyện Rộng, nghĩa là chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện dứt, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành).” Hay trong Phật Thuyết Kim Quang Vương Đồng Tử Kinh (佛說金光王童子經, Taishō Vol. 14, No. 548) lại có đoạn: “Thế Tôn vãng tích, vi kiến Tam Giới luân hồi khổ não, xả Luân Vương vị, xuất gia khổ hạnh, Phật đạo viên mãn (世尊往昔、爲見三界輪迴苦惱、捨輪王位、出家苦行、佛道圓滿, đức Thế Tôn xưa kia, vì thấy Ba Cõi luân hồi khổ não, bèn bỏ ngôi vị chuyển luân thánh vương, xuất gia khổ hạnh, Phật đạo tròn đầy).” (3) Tên gọi chung của Phật Giáo và Đạo Giáo. Như trong tập bút ký Xuân Chử Kỷ Văn (春渚紀聞) quyển 2, phần Nhị Phú Thất Sớ Tài (二富室疏財) của Hà Vĩ (何薳, 1077-1145) nhà Bắc Tống, có đoạn: “Tán thí bần dân cập trợ tu Phật Đạo quán vũ, nhất tiền bất lưu ư gia (散施貧民及助修佛道觀宇、一錢不留於家, bố thí cùng khắp dân nghèo và giúp tu sửa các đền thờ Phật Giáo, Đạo Giáo, một tiền cũng không giữ ở nhà).”
; 佛道; C: fódào; J: butsudō;|1. Giáo pháp của đức Phật, Phật giáo. Phật đạo thường được dùng đồng nghĩa với Phật pháp nhưng trong trường hợp này thì khía cạnh thực hành để thấu triệt chân lí được nhấn mạnh hơn; 2. Con đường dẫn đến Phật quả, Niết-bàn, Giải thoát; 3. Vô thượng chính đẳng chính giác, Phật quả tối thượng. Trong Thiền tông, người ta thường hiểu Phật đạo dưới nghĩa này.
phật đạo
Buddhist path, lam (T), Butsu-dō (J)
; The way of Buddha, leading to Buddhahood. Buddhism.
; (佛道) I. Phật Đạo. Đạo là dịch nghĩa của chữ Phạm bodhi (Hán âm: Bồ đề). Phật đạo là chỉ cho quả Vô thượng bồ đề. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 3 thượng) nói: Ta thấy hằng sa Bồ tát ở cõi ấy, có nhiều nhân duyên để cầu Phật đạo. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.18]. II. Phật Đạo. Chỉ cho nền đạo mà đức Phật giáo hóa chúng sinh, tức là Phật giáo. III. Phật Đạo. Chỉ cho đường thành Phật, tức là con đường dẫn đến quả Phật Vô thượng. Đại thừa nghĩa chương quyển 18 (Đại 44, 828 hạ) nói: Đạo có khả năng đưa hành giả đến nơi Niết bàn, vì thế là thông suốt, bởi thông suốt nên gọi là Đạo. (xt. Phật Giáo).
phật đạo chi tranh
(佛道之爭) Sự tranh chấp giữa Phật giáo và Đạo (Lão) giáo. Khi Đạo giáo bắt đầu hưng thịnh thì Phật giáo cũng từ Ấn độ được truyền đến Trung quốc. Ở thời kì đầu, 2 tông giáo này có rất nhiều chỗ lợi dụng lẫn nhau, bởi vì giáo nghĩa, tông chỉ của cả 2 thỉnh thoảng cũng có điểm giống nhau, khi Phật giáo mới du nhập Trung quốc, việc phiên dịch kinh sách từ tiếng Phạm sang tiếng Hán thường phải mượn các từ ngữ của Đạo gia, sau thì Đạo gia cũng sử dụng giáo nghĩa của Phật giáo. Về sau, số tín đồ của Phật giáo mỗi ngày 1 đông thêm, do đó, Đạo gia đối với Phật giáo phát sinh xung đột, qua suốt các thời đại Hán, Ngụy, Tấn, Nam, Bắc triều cho đến Tùy, Đường vẫn không chấm dứt. Khi Phật giáo truyền vào Trung quốc và phát triển mạnh, những người bảo vệ Đạo giáo theo văn hóa truyền thống, nêu ra 4 lí do không nên theo Phật giáo: 1. Phật giáo từ Ấn độ truyền đến: Là tông giáo của giống Di, Địch (tức dã man, mọi rợ), văn hóa lạc hậu, thấp kém, không bằng Hoa hạ(tức Trung quốc, là nơi văn hóa phát triển), vì thế không nên tin theo. 2. Trung quốc và Ấn độ phong tục khác nhau: Theo thuyết của Đạo giáo, phương Đông là mộc, thuộc dương, là nơi sinh ra Đạo; phương Tây là kim, thuộc âm, là nơi sinh ra Phật. Dương là cao quí, âm là thấp hèn, vì thế Đạo giáo ưu việt hơn Phật giáo. 3. Trung quốc và Ấn độ chủng tộc không giống nhau: Người mọi rợ mới tin Phật giáo, chứ người văn minh không nên tin. 4. Từ khi Phật giáo truyền vào Trung quốc: Thường làm cho đất nước suy loạn, vì thế không nên tin theo. Sự tranh chấp giữa Đạo giáo và Phật giáo tuy là sự xung đột về tông giáo nhưng sự thịnh suy của cả 2 đều do lòng yêu ghét, thân sơ của nhà vua mà được quyết định. Kết quả là tông giáo nào có thế lực thì tương đối dễ thu được thắng lợi, còn tông giáo nào yếu, thất bại thì thường gặp nguy cơ bị hủy diệt. Sự tranh chấp giữa Phật giáo và Đạo giáo đã nảy sinh ngay từ thời Đông Hán, khi ấy, ngài Ca diếp ma đằng (Phạm: Kàzyapa-màtaíga) đã phải tranh luận với các Đạo sĩ rồi. Qua thời Tam quốc, Tào thực soạn Biện đạo luận phê phán thuyết Thần tiên. Đến đời Tây Tấn, cuộc tranh luận về Phật giáo và Đạo giáo đã diễn ra giữa sa môn Bạch viễn và Đạo sĩ Vương phù. Vương phù là tác giả của kinh Lão tử hóa hồ, là tài liệu trọng yếu cho các cuộc tranh luận ở đời sau. Nhưng, những cuộc tranh luận kịch liệt nhất là từ thời Nam Bắc triều trở về sau. Thời Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy, đạo sĩ Khấu khiêm chi sáng lập Thiên sư đạo, đồng thời, xúc tiến việc truyền bá đạo mới này trong khắp nước, xác lập giáo đoàn tông giáo của Đạo giáo. Các đạo sĩ Lục tu tĩnh thời Tống thuộc Nam triều và Đào hoằng cảnh đời Lương ra sức chỉnh lí các kinh điển Đạo giáo và hệ thống hóa nền giáo học, ảnh hưởng đối với xã hội tương đối cũng tăng thêm, đủ để đọ sức với Phật giáo, lấy Di hạ luận(luận về mọi rợ và văn minh) làm trung tâm tranh luận, tức tranh luận về việc bỏ tông giáo văn minh sẵn có để tin thờ tông giáo mọi rợ ngoại lai (Phật giáo) là đúng hay sai. Năm Thái thủy thứ 3 (467) đời vua Minh đế nhà Tống thuộc Nam triều, đạo sĩ Cố hoan viết Di hạ luận dẫn đến việc ngài Minh tăng thiệu soạn Chính nhị giáo luận, ngài Tuệ thông trứ tác Bác cố đạo sĩ Di hạ luận để bác bỏ. Ngoài ra, ông Trương dung soạnMôn luật chủ trương Đạo Phật nhất trí(Đạo giáo và Phật giáo là một), Đạo giáo là Bản, Phật giáo là Tích, đề xướng thuyết Bản Tích, nhưng lại cho đạo giáo cao hơn. Niên hiệu Chính quang năm đầu (520) đời vua Hiếu minh đế của Bắc triều, trong cung cũng có cuộc tranh luận về Đạo giáo và Phật giáo, giữa đạo sĩ Khương bân ở quán Thanh đạo và sa môn Đàm vô tối ở chùa Dung giác, với chủ đề: Lão tử ra đời trước hay Phật Thích ca ra đời trước?. Kết quả, Khương bân thất bại và bị lưu đày đến Mã ấp. Trước đó, tác phẩm Tiếu đạo luận của ngài Chân loan và Nhị giáo luận của ngài Đạo an là 2 bộ luận quan trọng tranh luận về sự hơn, kém của Phật giáo và Đạo giáo đương thời. Nhưng thời Bắc triều, sự tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo không phải chỉ đơn thuần là cuộc tranh luận song phương, mà thêm vào đó còn là chính sách bách hại của chính quyền, đó chính là cuộc hủy diệt Phật giáo của Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy và của Vũ đế nhà Bắc chu rất nổi tiếng mà lịch sử gọi là Tam Vũ Diệt Phật. Đó là: 1. Vua Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy: Theo đạo Thanh tĩnh tiên hóa của đạo sĩ Khấu khiêm chi và theo lời xúi dục của quan Tư đồ Thôi hạo mà ra lệnh cho các nơi chôn sống tăng ni, phá hủy tượng Phật. 2. Vua Vũ đế nhà Bắc chu: Muốn ngôi sao hộ mệnh của mình chiếu sáng khắp thiên hạ, nên nghe theo lời của các đạo sĩ Trương tân và Nguyên tung quyết tâm diệt Phật. 3. Vua Vũ tôn nhà Đường: Nghe lời xúi dục của Đạo sĩ Triệu qui chân, hạ lệnh phá hủy hơn 4.600 ngôi chùa, bắt buộc 260.500 tăng ni hoàn tục, tịch thu hết tài sản của các chùa. Đây là những pháp nạn to lớn trong lịch sử Phật giáo Trung quốc. Nhà Tùy thống nhất Bắc Nam, nhà Đường nổi lên thay thế và hưng thịnh, vì Lão tử và nhà Đường đều mang họ Lí, cho nên Đạo giáo được đãi ngộ đặc biệt, vua Thái tông còn ban sắc chỉ rõ ràng xếp Đạo giáo trên Phật giáo, xác định thứ bậc: Đạo giáo trước, Phật giáo sau, đó là chính sách nhất quán của triều đại nhà Đường, nhờ đó Đạo giáo phát triền rất mạnh. Năm Vũ đức thứ 4 (621), đạo sĩ Phó dịch dâng 11 điều tâu xin sa thải tăng ni ngài Pháp lâm ở chùa Tế pháp soạn Phá tà luận nói lên sự hư dối của Đạo giáo. Về phía Đạo giáo thì có Lí trọng khanh soạn Thập dị cửu mê luận và Lưu tiến hỉ soạn Hiển chính luận phê bình và bài bác Phật giáo, tranh luận kịch liệt về vấn đề thứ bậc trước sau của Đạo giáo và Phật giáo. Năm Vũ đức thứ 8 (625), thứ tự địa vị chính thức được qui định là: Đạo – Nho – Phật. Năm Hiển khánh thứ 3 (658) đời vua Cao tông, 3 lần triệu tập chư tăng và đạo sĩ vào cung vua để nghị luận. Năm Hiển khánh thứ 5 (600), sa môn Tĩnh thái và đạo sĩ Lí vinh lại dựa vào Lão tử hóa Hồ kinh mà khơi dậy cuộc tranh luận. Đến năm Long sóc thứ 2, 3 (662-663), cuộc tranh luận vẫn chưa kết thúc. Kết quả của những cuộc tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo này, phía Đạo giáo đã lấy giáo lí trong các kinh điển Phật giáo để viết ra nhiều kinh sách mà chống lại Phật giáo. Sang đời Tống, Đạo giáo hoạt động tích cực, Vương trùng dương sáng lập Toàn chân giáo. Đến đời Nguyên, Lí chí thường – đệ tử của Khâu xử cơ, giáo chủ thứ 5 của Toàn chân giáo – chiếm đọat chùa chiền phá hủy tượng Phật, đồng thời, cho khắc bản và ấn hành kinh Thái thượng hỗn nguyên thượng đức hoàng đế minh uy hóa hồ thành Phật và bức tranh Tám mươi mốt hóa thân của Lão tử. Hai tài liệu ngụy tạo này bị ngài Phúc dụ ở chùa Thiếu lâm bác bỏ cho là dối trá, lừa gạt. Năm Hiến tông thứ 5 (1255), vua ban sắc cho 2 vị Phúc dụ và Lí chí thường biện luận với nhau, Lí chí thường thua cuộc, vua hạ lệnh đốt hết kinh sách của Đạo giáo, chỉ trừ Đạo đức kinh(tác phẩm của chính ngài Lão tử). Về sau, cuộc tranh luận của 2 tông giáo, lúc công khai, lúc âm thầm, vẫn tiếp tục không dứt. Mãi đến năm Chí nguyên thứ 18, (1281), vua Thế tổ nhà Nguyên hạ chiếu chỉ dẹp bỏ Toàn chân giáo, từ đó, sự tranh chấp giữa Đạo giáo và Phật giáo, bắt đầu từ thời Ngụy Tấn, mới thực sự chấm dứt hoàn toàn. Cuộc tranh luận kéo dài giữa Đạo giáo và Phật giáo này được nhiều sách ghi chép lại, nhưng quan trọng hơn hết thì có: Hoằng minh tập, Quảng hoằng minh tập, Tập cổ kim Phật đạo luận hành (Đạo tuyên) Phá tà luận (Pháp lâm), Bắc sơn lục (Thần thanh), Tục tập cổ Kim Phật đạo luận hành (Trí thăng) v.v...
phật đạo nhân nhân cước cân hạ
(佛道人人脚跟下) Phật đạo dưới gót chân của mọi người. Nghĩa là đạo Phật chẳng phải là chủ nghĩa lí tưởng, cũng chẳng phải là Quan niệm luận, nhưng thực ra là cái mà mọi người vẫn làm trong các sinh họat hàng ngày. Học đạo dụng tâm tập (Đại 82,4 hạ) nói: Người hướng về đạo là người phải biết rõ bờ mé của Phật đạo, phải rõ hình dạng của Phật đạo. Phật đạo ở ngay dưới gót chân của mọi người: Nếu bị đạo trở ngại thì phải ngay đó mà biết trở ngại ở chỗ nào; còn nếu bị ngộ trở ngại thì phải ngay đó mà viên thành.
phật đạo vô thượng thệ nguyện thành
(佛道無上誓願成) Cũng gọi Vô thượng Bồ đề thệ nguyện chứng. Vững tâm thệ nguyện chắc chắn sẽ chứng được quả Phật vô thượng, là 1 trong 4 thệ nguyện rộng lớn của Bồ tát. Lục tổ đàn kinh bản Đôn hoàng thì ghi: Vô thượng Phật đạo thệ nguyện thành. (xt. Tứ Hoằng Thệ Nguyện).
Phật đạo 佛道
[ja] ブツドウ butsudou ||| Literally, the "buddha-way," which means the path to the buddhahood, but also often refers the Buddha's enlightenment in itself; buddhahood. The terms seems to have developed in East Asia without a Sanskrit equivalent (although it can be equated with the Indian concept of bodhi), often used to indicate the enlightenment which is the original endowment of all sentient beings. See, for example T 842.17.913c (圓覺經). => Đạo Phật, nghĩa là con đường đưa đến Phật quả, và tự nó cũng có nghĩa là tính giác ngộ sáng suốt của chư Phật. Thuật ngữ nầy được phát triển ở Đông Á mà không có một thuật ngữ Sanskrit nào tương đương (mặc dù nó có thể xem như ý niệm tỉnh giác - s: bodhi của Ấn Độ), thường dùng để chỉ tính giác mà mọi chúng sinh dều vốn có. Cụ thể, xem Kinh Viên Giác.
phật đản
Vesak (S), Vesākha (P).
; Vesak (S), Vesàkha (P). The Buddha's birthday.
Phật đản hội
佛誕會; C: fódànhuì; J: buttan'e.|Nghi lễ cử hành để kỉ niệm ngày sinh của đức Phật.
Phật đản hội 佛誕會
[ja] ブツタンエ buttan'e ||| The ceremony held to commemorate the Buddha's birthday. => Nghi lễ cử hành để kỷ niệm ngày sinh của Đức Phật.
phật đản nhật
(佛誕日) Cũng gọi Phật sinh nhật. Ngày đản sinh của đức Phật Thích ca. Trong các kinh luận, có chỗ nói đức Phật sinh ngày mồng 8 tháng 2, hoặc có chỗ nói Phật sinh vào ngày mồng 8 tháng 4. Theo kinh Trường a hàm và luận Tát bà đa thì đức Phật sinh vào ngày mồng 8 tháng 2. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng nói Phật sinh ngày mồng 8 tháng 4; kinh Quán Phật cho rằng chư Phật trong 10 phương đều sinh vào ngày mồng 8 tháng 4. Câu xá luận Pháp bảo sớ quyển 1 dung hợp 2 thuyết trên đây và giải thích lí do sai khác nhau như sau: (Đại 41, 453 thượng): Ấn độ lập tháng Tí làm tháng giêng, còn Trung quốc thì lập tháng Dần làm tháng giêng. Như vậy tháng 4 ở Ấn độ tức là tháng 2 ở Trung quốc. Vì thế, giữ theo Phạm bản (Ấn độ) thì nói là tháng 4, còn theo Trung quốc thì nói là tháng 2. Do đó nên biết, nếu lấy ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch làm ngày Phật đản sinh là lầm vậy. Ngoài ra, pháp hội được cử hành vào ngày Phật đản, gọi là Phật đản hội. Ngày Phật đản, vị Trụ trì lên giảng đường nói pháp thì gọi là Thướng đường thuyết pháp, cũng gọi Dục Phật thướng đường(nói pháp vào ngày tắm Phật), Phật sinh nhật thướng đường. [X. điều Phật giáng đản trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Phật tổ hội hành pháp trong Tăng đường thanh qui Q.4].
phật đảnh
Uṣnīṣa (S), Uṇhīsa (P)Cục thịt trên đỉnh đầu đức Phật hình như bới tóc. Tướng ấy do lòng kính ngưỡng sư trưởng mà mọc ra.
Phật đảnh phóng vô cấu quang minh nhập phổ môn quán sát nhất thiết Như Lai tâm đà-la-ni kinh. 佛頂放無垢光明入普門觀察一切如來心陀羅尼經
[ja] ブッチョウホウムクコウミョウニュウフモンカンサツイチサイニョライシンダラニキョウ Bucchō hōmuku kōmyō nyū fumon kanzatsu issai nyorai shin darani kyō ||| Skt. Samantamukha-praveśara-śmivimaloṣṇīṣaprabhāsa-sarvatathāgata-hṛdayasamāvalokita-dharaṇī; Tib. kun nas sgor 'jug pa'i 'od zer gtsug tor dri ma med par snang ba de bzhin gshegs pa tham cad kyi snying po dang dam tshig la rnam par lta ba shes bya ba'i gzungs [To.599/983, P.206/608]; (Dhāraṇī of the [Immaculate Buddha-Corona's Emitted Light Beaming Through Ubiquitous Portals Contemplated as the] Essence of the Tathāgatas). 2 fasc. (T 1025.19.721-726), abbr. Tathāgatahṛdaya-dhāraṇī 如來心經, tr. Dānapāla 施護. Source text for a maṇḍala revolving around Vimaloṣṇīṣa [Ngor.10]. This dhāraṇī is inscribed on the archway at Juyong Guan 居庸關, near Beijing, in Sanskrit, Tibetan, Chinese, Uighur, Mongol, and Tangut. BGBT4/105 => (s: Samantamukha-praveśara-śmivimaloṣṇīṣaprabhāsa-sarvatathāgata-hṛdayasamāvalokita-dharaṇī); (t: kun nas sgor 'jug pa'i 'od zer gtsug tor dri ma med par snang ba de bzhin gshegs pa tham cad kyi snying po dang dam tshig la rnam par lta ba shes bya ba'i gzungs). Hai quyển, tên gọi tắt là Như Lai Tâm Kinh (s:Tathāgatahṛdaya-dhāraṇī), Thi Hộ (Dānapāla) dịch. Phát xuất của Kinh văn làvề một mạn-đà-la quay chung quanh Vimaloṣṇīṣa (nhục kế thù thắng thanh tịnh của Như Lai) [Ngor.10]. Đà-la-ni nầy được khắc trên cổng vòm của Cư Dung Quan, ở gần Bắc Kinh bằng tiếng Sanskrit, Tây Tạng, Hán, Uighur, Mông cổ, và tiếng Tangut.
Phật đảnh tôn thắng đà-la-ni kinh 佛頂尊勝陀羅尼經
[ja] ブツチョウソンショウタラニキョウ Bucchō sonshō daranikyō ||| The Foding zunsheng tuoluoni jing; Skt. Uṣṇīṣavijayādhāraṇī; Tib. de bzhin ghegs pa thams cad kyi gtsug tor rnam par rgyal ba shes bya ba'i gzungs rtog pa dang bcas pa [To.594, P.199; To. 595, P.197; To.596, P.201]; (Dhāraṇī of the Jubilant Corona). An evocation of the Jubilant Buddha-Corona, Uṣṇīṣavijayā 尊勝佛頂, whose powers can prolong life and destroy the hardships of saṃsāra; fourth text of the Saptavāra corpus. Translations exist in Khotanese, Uighur, Tangut and Mongolian ('Phags pa script) in addition to the many Tibetan and Chinese versions. The translations used in Shingon are those of Buddhapāli (T 967), Fatian (T 978) and Wuche 武徹 (T 974c). Among the Chinese translations, Fatian's version corresponds to four Tibetan versions [To.598, P.200], while the earlier versions (1-5) match another Tibetan translation [To.597/984, P.198/609]. The extant Chinese translations are: (1) 1 fasc. (T 967.19.349-353), Dhāraṇī of the Jubilant Buddha-Corona 佛頂尊勝陀羅尼經 tr. Buddhapāli 佛陀波利. Chinese commentary: Fachong's 法崇 Meanings of the Doctrinal Traces 教跡義記 (T 1803). (2) 1 fasc. (T 968.19.353-355), Dhāraṇī of the Jubilant Buddha-Corona 佛頂尊勝陀羅尼經 tr. Du Xingkai 杜行顗. Chinese commentary: Xufa's 讀法 Commentary 佛頂尊勝陀羅尼經釋 [Z.92.146-163]. (3) 1 fasc. (T 969.19.355-357), Triumphant Dhāraṇī 最勝陀羅尼經 tr. Divākara 地婆訶羅. The dhāraṇī of this recension appears in various Tang-era ritual manuals: Amoghavajra's 不空 Ritual Procedure for Recitation 佛頂尊勝陀羅尼念誦儀軌法 (T 972) and Ritual Procedures from the Yoga Collection for Feeding the Searing Mouths 瑜伽集要焔口施食儀軌, and Śubhākarasiṃha's 善無畏 Ritual Procedure of Yoga 尊勝佛頂修瑜伽法儀軌 (T 973) (T 1320). (4) 1 fasc. (T 970.19.357-361), Sutra of the Dhāraṇī Spell of the Jubilant Buddha-Corona which Cleanses and Abolishes Karmic Burdens 最勝佛頂陀羅尼淨除業障呪經 tr. Divākara 地婆訶羅. (5) 1 fasc. (T 971.19.361-364), Dhāraṇī of the Jubilant Buddha-Corona 佛頂尊勝陀羅尼經 tr. Yijing 義淨. (6) 1 fasc. (T 974a.19.383-384), Dhāraṇī of Buddha-Corona the Triumphant 最勝佛頂陀羅尼經 tr. Fatian 法天. (7) 1 fasc. (T 978.19.407-410), Sarvatathāgatoṣṇīṣavijayā-dhāraṇī (de bzhin gshegs pa thams cad kyi gtsug tor rnam par rgyal ma'i gzungs shes bya) 一切如來烏瑟膩沙最勝總持經 tr. Fatian 法天. A phonetic transcription which corresponds to Dhyānabhadra's version. (8) 1 fasc. (T 979.19.410) Uṣṇīṣavijayā-dhāraṇī 于瑟沙毘左野陀囉尼 tr. Dhyānabhadra 指空. BGBT4/102-5. Sanskrit Edition: F. Max Müller and Bunyu Nanjio. Anecdota Oxonensiāryan Series vol.1 part III, Oxford, 1884. => (s:Uṣṇīṣavijayādhāraṇī); (t: de bzhin ghegs pa thams cad kyi gtsug tor rnam par rgyal ba shes bya ba'i gzungs rtog pa dang bcas pa ); (e: Dhāraṇī of the Jubilant Corona). Kinh nói về sự thù thắng vi diệu của Phật đảnh (tôn thắng Phật đảnh; s: Uṣṇīṣavijayā), có năng lực làm tăng tuổi thọ và tiều trừ khổ nạn sinh tử luân hồi. Bản văn thứ tư trong tập sao lục Saptavāra. Các bản dich của kinh nầy còn lưu truyền ở các nước Khotan, Uighur, Tangut, Mông Cổ ('Phags pa script), cùng với rất nhiều bản dịch tiếng Tây Tạng vã chữ Hán. Bản dịch dùng trong Chân Ngôn tông là của Phật Đà Ba Lị (Buddhapāli) (T 967), Fatian (T 978) và Vũ Triệt (c:Wuche 武徹) (T 974c). Trong số các bản dịch chữ Hán, bản dịch của Fatian tương ưng với bốn bản dịch tiếng Tây Tạng [To.598, P.200], trong khi các bản dịch trước đó, lại tương ưng với một bản dịch khác [To.597/984, P.198/609]. Các bản dịch chữ Hán hiện còn là: 1.Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh; 1 quyển ; Phật Đà Ba Lị (s: Buddhapāli ) dịch. Luận giải bằng tiếng Hán có Giáo Tích Nghĩa Ký của Pháp Sùng (c: Fachong's). 2.Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh; 1 quyển; Đỗ Hành Khải (c:杜行顗) dịch Luận giải bằng tiếng Hán có Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh Thích của Độc Pháp (c: Xufa) 3. Tối Thắng Đà La Ni Kinh; 1 quyển; Địa Bà Ha La (Divākara). Bản Đà La Ni được duyệt lại này xuất hiện trong nhiều nghi quỹ đời Đường như Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Niệm Tụng Nghi Quỹ Pháp và Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi Quỹ của Bất Không (s:Amoghavajra) và Tôn Thắng Phật Đảnh Tu Du Già Pháp Nghi Quỹ của Thiện Vô Úy (s: Śubhākarasiṃha). 4.Tối Thắng Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh; 1 quyển; Địa Bà Ha La (Divākara) dịch 5. Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh; 1 quyển; Nghĩa Tịnh dịch. 6. Tối Thắng Phật Đảnh Đà La Ni Kinh; 1 quyển; Pháp Thiên (s: Fatian) dịch. 7. Nhất Thiết Như Lai Ô Sắc Ni Sa Tối Thắng Tổng Trì Kinh; Pháp Thiên (s: Fatian) dịch; là bản phiên âm tương ưng với bản dịch của Chỉ Không (Dhyānabhadra). 8. Ô Sắc Sa Tỳ Tả Lý Đà La Ni; 1 quyển ; Chỉ Không (Dhyānabhadra) dịch.Ấn bản tiếng Sanskrit: Anecdota Oxonensiāryan Series, quyển 1, phần III của F. Max Müller và Bunyu Nanjio, Oxford xuất bản năm 1884. Phật Đảnh Phóng Vô Cấu Quang Minh Nhập Phổ Môn Quán Sát Nhất Thiết Như Lai Tâm Đà La Ni. 佛頂放無垢光明入普門觀察一切如來心陀羅尼經 [ja] ブッチョウホウムクコウミョウニュウフモンカンサツイチサイニョライシンダラニキョウ Bucchō hōmuku kōmyō nyū fumon kanzatsu issai nyorai shin darani kyō ||| Skt. Samantamukha-praveśara-śmivimaloṣṇīṣaprabhāsa-sarvatathāgata-hṛdayasamāvalokita-dharaṇī; Tib. kun nas sgor 'jug pa'i 'od zer gtsug tor dri ma med par snang ba de bzhin gshegs pa tham cad kyi snying po dang dam tshig la rnam par lta ba shes bya ba'i gzungs [To.599/983, P.206/608]; (Dhāraṇī of the [Immaculate Buddha-Corona's Emitted Light Beaming Through Ubiquitous Portals Contemplated as the] Essence of the Tathāgatas). 2 fasc. (T 1025.19.721-726), abbr. Tathāgatahṛdaya-dhāraṇī 如來心經, tr. Dānapāla 施護. Source text for a maṇḍala revolving around Vimaloṣṇīṣa [Ngor.10]. This dhāraṇī is inscribed on the archway at Juyong Guan 居庸關, near Beijing, in Sanskrit, Tibetan, Chinese, Uighur, Mongol, and Tangut. BGBT4/105 => (s:Samantamukha-praveśara-śmivimaloṣṇīṣaprabhāsa-sarvatathāgata-hṛdayasamāvalokita-dharaṇī); (t: kun nas sgor 'jug pa'i 'od zer gtsug tor dri ma med par snang ba de bzhin gshegs pa tham cad kyi snying po dang dam tshig la rnam par lta ba shes bya ba'i gzungs). 2 quyển, tên gọi tắt là Như Lai Tâm Kinh (s:Tathāgatahṛdaya-dhāraṇī), Thi Hộ (Dānapāla) dịch. Phát xuất của Kinh văn là về một mạn-đà-la quay chung quanh Vimaloṣṇīṣa (nhục kế thù thắng thanh tịnh của Như Lai) [Ngor.10]. Đà-la-ni nầy được khắc trên cổng vòm của Cư Dung Quan, ở gần Bắc Kinh bằng tiếng Sanskrit, Tây Tạng, Hán, Uighur, Mông cổ, và tiếng Tangut.
Phật đảnh đại bạch tán cái đà-la-ni kinh 佛頂大白傘蓋陀羅尼經
[ja] ブツチョウダイビャクサンカイタラニキョウ Butchō dai byakusankai darani kyō ||| The Foding da baisangai tuoluoni jing; see Da foding rulai fangguang xidaduoboda tuoluoni 大佛頂如來放光悉怛多鉢怛陀羅尼. => (c: Foding da baisangai tuoluoni jing). Xem Đại Phật đảnh Như Lai phóng quang tất đát đa bát đát đà-la-ni (c: Da foding rulai fangguang xidaduoboda tuoluoni 大佛頂如來放光悉怛多鉢怛陀羅尼).
phật đầu trước phẫn
(佛頭著糞) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trên đầu Phật dính phẩn nhơ. Thiền lâm dùng từ ngữ này để chỉ cho bản chất thiện mà dính thêm cả cái bất thiện. Chương Như hội thiền sư trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 7 (Đại 51, 255 trung nói: Một hôm, Tướng quốc Thôi công đến chùa Đông tại Hồ nam, thấy con chim sẻ ỉa trên đầu tượng Phật, liền hỏi ngài Như hội: Con chim sẻ có tính Phật hay không? Ngài Như hội trả lời: Có! Thôi tướng quốc hỏi: Vậy tại sao nói ỉa trên đầu Phật? Sư đáp: Con chim ấy tại sao không ỉa trên đầu con chim cắt?
Phật đệ tử
佛弟子; C: fódìzǐ; J: butsudeshi.|Đệ tử của đức Phật. Nghĩa chính xác nhất là 10 vị đệ tử lớn của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, như Ma-ha Ca-diếp (摩訶迦葉; s: mahākāśyapa), Xá-lợi-phất (舎利弗; s: śāriputra), Mục-liên (目連; s: maudgalyāyana), A-nan (阿難; s: ānanda)…, nhưng cũng được dùng để gọi chung cả hàng Phật tử tại gia và xuất gia.
phật đệ tử
Disciple of Buddha, Buddhist.
; (佛弟子) Đệ tử của đức Phật, như 10 vị đại đệ tử là Ma ha ca diếp, Xá lợi phất, Mục kiền liên, A nan v.v... cho đến nhiều đệ tử khác lúc đức Phật còn tại thế. Về sau, danh từ đệ tử được dùng để chỉ chung cho những ai tín ngưỡng giáo pháp của đức Phật. (xt. Thập Đại Đệ Tử, Sư Đệ, Thích).
Phật đệ tử 佛弟子
[ja] ブツデシ butsudeshi ||| Disciple(s) of the Buddha. In the strictest sense, refers to the ten primary disciples of Śākyamuni, such as Mahākāśyapa 摩訶迦葉, Śāriputra 舎利弗, Maudgalyāyana 目連, Ānanda 阿難, etc., but can also be used in a general sense to refer to both lay and monastic Buddhist practitioners. => Đệ tử của Đức Phật. Nghĩa chính xác nhất là 10 vị đệ tử lớn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, như Ma-ha Ca-diếp(s: Mahākāśyapa), Xá-lợi-phất (s: Śāriputra), Mục Liên (s: Maudgalyāyana), A-nan (s: Ānanda)..., nhưng cũng được dùng để gọi chung cả hàng Phật tử tại gia và xuất gia.
phật đỉnh
Butchō (J).
; (佛頂) Phạm: Buddhozịìza, Uwịìwa. Hán âm: Ốt sắt ni sa, Ô sắt ni sa, Uất sắt ni sa. Hán dịch: Kế, Đính kế, Nhục kế tướng, Vô kiến đính tướng. Xương đỉnh đầu của đức Phật tự nhiên nổi cao lên giống như hình búi tóc, là 1 trong 32 tướng của Phật. Đính tướng của Phật là tướng thù thắng mà người thường không có cách nào thấy được, tượng Phật biểu trưng cho công đức ấy, gọi là Phật đính tôn. Trong Mật giáo, căn cứ vào nội dung biểu thị mà Phật đính được chia làm các loại như: Tam Phật đính (biểu thị cho đức của 3 bộ thuộc Như lai Thai tạng giới), Ngũ Phật đính (biểu thị cho 5 trí của Như lai), Bát Phật đính (gọi chung Tam Phật đính và Ngũ Phật đính), Cửu Phật đính, Thập Phật đính... [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; phẩm Mạn đồ la nghi quĩ trong kinh Nhất tự kì đặc Phật đính Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.10; Tuệ lâm âm nghĩa Q.4]. (xt. Chư Phật đính).
phật đỉnh phá ma kết giới hàng phục ấn
(佛頂破魔結界降伏印) Cũng gọi Phật đính phá ma hàng phục ấn. Ấn kết giới hộ thân, hàng phục các ma ác. Ấn tướng là: Hai ngón vô danh và 2 ngón út hướng vào trong, tréo nhau, 2 ngón trỏ dựng đứng, đầu ngón bấm vào nhau, 2 ngón giữa áp vào lưng đốt (lóng) trên của 2 ngón trỏ, 2 ngón cái đều co vào trong lòng bàn tay. Ấn này rất giống với ấn Đại kim cương luân. Chân ngôn là: Án thất lị dạ bà hê sa ha. Trong Đại kim chân pháp của Mật giáo, hành giả dùng ấn khế và chân ngôn này gia trì ở 7 chỗ trên thân. Ngoài ra, ấn khế này cũng thường được dùng khi kết giới hộ thân. Công đức của ấn này được ghi rõ trong kinh Đà la ni tập. Thủa xưa, khi đức Phật Thích ca mâu ni mới thành đạo dưới gốc cây Bồ đề, Ngài cũng kết tụng ấn ngôn này để kết giới hộ thân, hàng phục các ma. [X. kinh Đà la ni tập Q.1]. PHẬT ĐÍNH PHÓNG VÔ CẤU QUANG MINH NHẬP PHỔ MÔN QUÁN SÁT NHẤT THIẾT NHƯ LAI TÂM ĐÀ LA NI KINH Gọi tắt: Phật đính phóng quang đà la ni kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Kinh này là Thành tựu pháp thuộc về các kinh quĩ Tạp mật của Mật giáo, nội dung thuật lại việc khi đức Phật ở trên cung trời Đâu suất, tuyên thuyết Đà la ni và pháp Thành tựu cho các Thiên tử nghe, để giải cứu khổ não cho Thiên tử Ma ni tạng vô cấu ở cõi trời Đao lợi. PHẬT ĐÍNH QUỐC SƯ NGỮ LỤC Gọi đủ: Định tuệ minh quang Phật đính quốc sư ngữ lục. Cũng gọi: Nhất ti hòa thượng ngữ lục, Phật đính quốc sư ngữ lục niên phổ tháp minh. Ngữ lục, 5 quyển, do ngài Nhất ti Văn thủ (1608-1646), người Nhật soạn, ngài Văn quang biên tập lại, được thu vào Đại chính tạng tập 81. Nội dung bộ Ngữ lục thu chép các phần: Sắc tự, thị chúng, pháp ngữ, tụng cổ, tán, Phật sự, bảng, biện, cảnh sách, tế văn, thi kệ, niên phổ, phát tháp minh..…. PHẬT ĐÍNH TÔN THẮNG ĐÀ LA NI CHÂN NGÔN Kinh quĩ, 1 quyển, thuộc về pháp Tôn thắng đà la ni trong Mật giáo, do ngài Nhã na người nước Cưu tư dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này trước hết nói về Đà la ni và Chân ngôn, kế đến nói về cách niệm âm Phạm, vẽ tượng, tụng niệm, ấn pháp…... Ngoài ra, những kinh quĩ đồng loại với kinh này còn có: Phật đính tôn thắng đà la ni chú nghĩa và Phật đính tôn thắng đà la ni niệm tụng nghi quĩ, mỗi thứ 1 quyển, đều do Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường; Phật đính tôn thắng đà la ni biệt pháp, 1 quyển, do ngài Nhã na dịch, cũng đều được thu vào Đại chính tạng tập 19. PHẬT ĐÍNH TÔN THẮNG ĐÀ LA NI KINH SỚ Kinh sớ, 2 quyển, do ngài Pháp sùng soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 39. Đây là sách chú giải kinh Phật đính tôn thắng đà la ni bản dịch của ngài Phật đà ba lợi. Trang trong đầu sách này đề là: Phật đính tôn thắng đà la ni giáo tích nghĩa kí. Nội dung chia làm 10 môn: Giải thích giáo chủ, Dĩ xứ biểu sự, Hiển giáo bị cơ, Kiến thân đồng dị, Xuất kinh tông thể, Thính pháp quĩ nghi, Kiến văn đắc lợi, Thích kinh đề mục, Phiên dịch thời tiết và Y văn phán thích. PHẬT ĐỒ HỘ Phật đồ hộ là cơ sở kinh tế của các chùa viện, do Sa môn thống (Tăng thống)Đàm diệu thời Bắc Ngụy, tâu vua xin thành lập song song với Tăng kì hộ. Tức là cơ sở thu nhận những người phạm trọng tội hoặc đầy tớ nhà các quan đến ở trongcácchùa, cho quét dọn chùa viện hoặc cày cấy ruộng đất. Về sau, tùy theo sự gia tăng ruộng chùa mà tài sản các tự viện cũng dần dần thêm lên, làm mất đi ý nghĩa lúc ban đầu. Năm Kiến đức thứ 3 (574), vì Chu vũ đế diệt Phật nên Phật đồ hộ cũng bị dẹp bỏ. [X. Phật tổ thống kỉ Q.38; Ngụy thư thích lão chí]. PHẬT ĐỒ TRỪNG (232-348) Vị cao tăng người nước Thiên trúc, có thuyết nói là người nước Cưu tư, họ Bạch. Sư có những năng lực rất linh dị, kì bí, như thần thông, chú thuật, tiên tri…... Năm Vĩnh gia thứ 4 (310), đời vua Hoài đế nhà Tây Tấn, sư đến Lạc dương, lúc ấy sư đã 79 tuổi; bấy giờ loạn Vĩnh gia nổi lên, sư không nỡ nhìn cảnh sinh linh đồ thán, nên chống gậy đi thẳng vào đoàn quân của Thạch lặc, thuyết pháp và hiện các thần biến, Thạch lặc rất tin phục, sát khí trong ông tan dần, rồi cho phép người Hán xuất gia làm tăng. Sau khi Thạch lặc qua đời, Thạch hổ lên nối ngôi, càng kính tin sư, tôn là Đại hòa thượng, làm bất cứ việc gì cũng thỉnh ý sư trước rồi mới thực hành. Trong 38 năm, sư xây cất gần 900 ngôi chùa viện, đệ tử xuất gia có tới 1 vạn người, lúc nào cũng có vài trăm người theo hầu sư, trong số đó có những vị Cao tăng tiêu biểu cho đời Tấn như: Đạo an, Trúc pháp thủ, Trúc pháp thải, Trúc pháp nhã, Tăng lãng, Pháp thường, ni An lệnh thủ v.v…... Năm Vĩnh hòa thứ 4 (348), ngày mồng 8 tháng 12, sư thị tịch ở chùa Nghiệp cung, hưởng thọ 117 tuổi. [X. Lương cao tăng truyện Q.9; Pháp uyển châu lâm Q.31, 63, 76; Phật tổ thống kỉ Q.36; Phật tổ lịch đại thông tải Q.7; Thích thị kê cổ lược Q.2]. PHẬT ĐỘ Cũng gọi Phật quốc, Phật quốc độ, Phật giới, Phật sát. Chỉ cho cõi Phật ở hoặc thế giới do Phật giáo hóa. Phật độ là cõi Phật giáo hóa, chẳng những chỉ cho Tịnh độ mà còn bao gồm cả uế độ (thế giới hiện thực) của phàm phu. Theo ý nghĩa đó thì cung trời Đâu suất của bồ tát Di lặc và núi Phổ đà lạc ca (Phạm: Potalaka) của bồ tát Quan thế âm, tuy là Tịnh độ nhưng chẳng phải là Phật độ. Vào thời kì đầu của Phật giáo, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương Phật độ là chỉ cho thế giới Sa bà nơi đức Phật Thích ca đản sinh. Nhưng về sau, Phật thân quan khai triển nên thân Phật diễn biến thành lí thể của chân như là Pháp thân, còn đức Phật lịch sử là Ứng thân và Hóa thân mà thành thuyết Tam thân. Do quan niệm Ứng thân, Hóa thân mà có thuyết Chân Phật độ và Ứng Phật độ (cũng gọi là Phương tiện hóa thân độ), đồng thời, do thuyết Báo thân mà nảy sinh tư tưởng Báo độ. Bởi sự giải thích về thân Phật có khác nhau, nên có các thuyết 2 Phật độ, 3 Phật độ, 5 Phật độ…... không giống nhau. Trong Đại thừa huyền luận quyển 5, ngài Cát tạng thuộc tông Tam luận có nêu ra 5 loại Độ là: Bất tịnh, Bất tịnh tịnh, Tịnh bất tịnh, Tạp và Tịnh. Năm loại độ này là do nghiệp của chúng sinh mà có, cho nên gọi là Chúng sinh độ. Lại vì chúng là những cõi nước do đức Phật giáo hóa, nên cũng gọi là Phật độ. Phật độ này được chia làm 4 loại: 1. Phàm thánh đồng cư độ:Phàm phu và thánh nhân ở chung với nhau. 2. Đại tiểu đồng trụ độ: Những người chứng ngộ của Đại thừa và Tiểu thừa (A la hán, Độc giác, Bồ tát đại lực) cùng ở chung. 3. Độc Bồ tát cư độ: Chỉ riêng Bồ tát ở. 4. Chư Phật độc cư độ: Chỉ cho chư Phật ở. Tông Thiên thai lập thuyết 4 độ: Phàm thánh đồng cư độ, Phương tiện hữu dư độ, Thực báo vô ngại độ (cũng gọi Thực báo độ) và Thường tịch quang tịnh độ (cũng gọi Tịch quang độ). Tông Hoa nghiêm lập thuyết 3 độ: Thế giới hải, Quốc độ giới và Liên hoa tạng thế giới. Tông Pháp tướng lập thuyết 3 độ: Pháp tính độ, Thụ dụng độ và Biến hóa độ. Thụ dụng độ lại được chia ra 2 loại là Tự thụ dụng độ và Tha thụ dụng độ, vì thế cũng lập thuyết 4 độ, là cõi nương ở của Tự tính thân, Thụ dụng thân và Biến hóa thân.Tông Tịnh độ chủ trương đức Phật A di đà có 3 thân(Pháp, Báo, Ứng),cho nên lập thuyết 3 độ: Pháp thân độ (cũng gọi Pháp độ),Báo thân độ (cũng gọi Báo độ)và Ứng thân độ (cũng gọi Ứng độ). Thông thường, Báo độ là nơi đức Phật A di đà cư trụ, được gọi là Cực lạc tịnh độ. Tịnh độ chân tông của Nhật bản cho rằng đây là Chân thực báo độ và thiết lập Phương tiện hóa độ để giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh về Chân thực báo độ. [X. luận Thành duy thức Q.10; Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ; Duy ma kinh lược sớ Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6 phần cuối; Thành duy thức luận thuật kí Q.10 phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7 phần cuối]. (xt. Tứ Độ). PHẬT ĐỨC Phạm: Buddha-guịa. Công đức viên mãn của thân Phật, có 3 thứ:1. Nhân viên đức:Gồm 4 loại: Vô dư tu, Trường thời tu, Vô gián tu và Tôn trọng tu. 2. Quả viên đức: Gồm 4 loại: Trí viên, Đoạn viên, Uy thế viên, Sắc thân viên. 3. Ân viên đức: Có năng lực khiến chúng sinh lìa hẳn 3 đường ác và sinh tử, hoặc đặt chúng sinh vào đường thiện và 3 thừa.Ngoài ra, Phật còn đầy đủ các đức khác như 10 lực, 4 vô úy, 18 pháp bất cộng…... Lại nữa, chư Phật Như lai có vô lượng vô biên công đức như đại từ đại bi, đại hỉ đại xả, Tùy tâm tam ma địa, 4 trí 2 trí, dứt hết các tập khí, hoặc xa hoặc gần đều có thể đến, đi, dừng ở 1 cách tự tại không chướng ngại, trong1 hạt cải có khả năng chứa đựng vô lượng núi Tu di…... [X. kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.1; kinh Bồ tát anh lạc Q.11; luận Câu xá Q.27; luận Đại trí độ Q.2]. PHẬT ĐƯỜNG Cũng gọi Phật điện, Đạihùng bảo điện, Đại điện. Điện đường thờ tượng Phật, Bồ tát. Tại Ấn độ, Phật đường được gọi là Kiện đà câu chi (Phạm: Gandhakuỉì), nghĩa là hương thất, hương đài, hương điện. Ở Trung quốc thời xưa trong Thiền môn phần nhiều không xây Phật điện, như trong Thiền môn qui thức của ngài Bách trượng đã qui định, không lập Phật điện, chỉ xây Pháp đường. Tại Nhật bản, các kiến trúc của Thiền tông phần nhiều phỏng theo kiểu mẫu của đời Tống, Trung quốc, tức là xây Phật điện ở trước Pháp đường rồi nối 2 điện đường này với nhau bằng 1 nhà hành lang. [X. kinh Nhất tự đính luân vương Q.1; Tì nại da tạp sự Q.26; Thiện kiến luật tì bà sa Q.8; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6; Điện đường môn Thiền lâm tượng khí tiên; Nhật bản kiến trúc sử]. PHẬT GIA Chỉ cho tăng sĩ. Tất cả đạo tràng tu hành trong Phật giáo, trụ xứ của đức Phật, các cảnh giới từ Sơ địa trở lên...… cũng gọi là Phật gia. [X. kinh Quán Vô lượng thọ; phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm; Quán Vô lượng thọ kinh sớ Q.cuối (Tuệ viễn)]. PHẬT GIÁC TAM MUỘI Tam muội (Thiền định) nhờ sự gia bị của Phật mà có năng lực giác ngộ như Phật. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 1, phần đầu, thì tôn giả A nan từng được Tam muội này. PHẬT GIÁNG SINH TƯỢNG Chỉ cho tượng của đức Phật lúc đản sinh, tay phải chỉ trời, tay trái chỉ đất. Cứ theo điều Phật giáng đản trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2, thì hằng năm vào ngày đức Phật đản sinh (ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch), 1 cỗ đình kết bằng hoa được thiết trí, ở trong đặt tượng Phật giáng sinh, phía dưới tượng, chuẩn bị 1 chậu nước thơm, sau khi đại chúng bái lễ xong, dùng nước thơm tắm tượng Phật. Phong tục này, cho đến nay, vẫn còn là 1 trong những Phật sự quan trọng hằng năm của Phật giáo. [X. kinh Dục Phật công đức; Đại tống tăng sử lược Q.thượng; Thích thị yếu lãm Q.trung; môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Dục Phật). PHẬT GIÁO Phạm: Buddha-zàsana, Buddhà= nuzàsana. Pàli:Buddha-sàsana. Tông giáo do đức Phật Thích ca mâu ni sáng lập tại Ấn độ vào khoảng thế kỉ V trước Tây lịch, thịnh hành khắp các vùng Nam á, Đông á và Trung á. Nay chia ra những hạng mục sau đây để tiện khảo sát: 1. Về tên gọi: Thời xưa, Phật giáo được gọi là Phật pháp, Đại pháp, Thánh pháp, Thích giáo, Đại giáo, Phật đạo, Chính pháp, Giáo thuyết…... 2. Diễntiến: Vào khoảng thế kỉ V trước Tây lịch, đức Phật tuyên dương giáo pháp: Khổ, vô thường, vô ngã, duyên khởi, giải thoát…... dọc theo lưu vực sông Hằng ở Ấn độ, đồng thời, nhấn mạnh bất luận người thuộc giai cấp nào cũng có khả năng thực hành giáo pháp của Ngài. Sau khi đức Phật nhập diệt, giáo pháp của Ngài được các đệ tử kết tập và truyền trì. Khoảng thế kỉ III trước Tây lịch, vua A dục qui y Phật giáo và hết sức truyền bá giáo pháp của Phật ra toàn cõi Ấn độ và các nước lân cận, mà phát triển thành 1 tông giáo có tính chất thế giới, hình thành các giáo phái đặc sắc của các dân tộc. Khoảng thế kỉ I trước Tây lịch ở Ấn độ và Tích lan đã phânlập các bộ phái như: Thuyết nhất thiết hữu bộ, Đại chúng bộ, Tích lan thượng tọa bộ…... và Phật giáo Đại thừa, tất cả đều được truyền đến các nước Tây vực và Trung quốc. Khoảng từ thế kỉ thứ I đến thế kỉ thứ VII sau Tây lịch, Phật giáo Đại thừa phát triển rất mạnh, ở Ấn độ chia thành 2 học phái lớn là Trung quán và Du già, rồi dần dần được truyền đến Miến điện, Thái lan, Cao miên, Sumatra, Java, Nepal, Tây tạng, Việt nam, Hàn quốc, Nhật bản v.v… Tại Trung quốc, thuộc hệ thống Bộ phái thì có các tông Tì đàm, Câu xá (chính hệ) và Thành thực (bàng hệ); thuộc hệ thống Trung quán thì có tông Tam luận, thuộc hệ thống Du già thì có các tông Địa luận, Nhiếp luận và Pháp tướng. Ngoài ra còn có các tông Niết bàn, Hoa nghiêm, Thiên thai, Tịnh độ, Thiền tông...… đều rất thịnh. Những tông phái trên, về sau, đều được truyền sang Nhật bản, gọi là Nam đô lục tông. Khoảng từ thế kỉ VII đến thế kỉ XIII Tây lịch, Mật giáo Ấn độ được thành lập và hưng thịnh, trong thời gian ấy có các ngài Tịch hộ, Liên hoa sinh, A đề sa…... kế tiếp nhau truyền Mật giáo vào Tây tạng và Mông cổ. Tại Trung quốc, Mật giáo đã từng hưng thịnh 1 thời, có thể sánh ngang với Thiền tông, Tịnh độ tông...… Ở Nhật bản, vào thời gian này, các tông Thiên thai, Chân ngôn, Tịnh độ, Thiền, Nhật liên...… cũng phát triển rất mạnh. Đến đây, Phật giáo đã bành trướngthành1 tông giáo lớn nhất tại châu Á. Nhưng, từ thế kỉ XIV về sau, do sự truyền bá của Hồi giáo nên tình thế đã thay đổi lớn lao. Nghĩa là bắt đầu từ thế kỉ XI, XII, Hồi giáo xâm lăng Ấn độ và đã hoàn toàn tiêu diệt Phật giáo, không những giết hại các sư, đốt phá kinh tượng, chùa tháp, mà cả đến cây Bồ đề (chỗ đức Phật thành đạo) cũng bị tín đồ Hồi giáo đào tận gốc! Vào thế kỉ XV, Hồi giáo từ Ấn độ truyền đến bán đảo Mã lai; rồi sau đó truyền sang Nam dương, kết quả, Phật giáo ở các nơi này cũng bị tiêu diệt. Mặt khác, Hồi giáo từ nước Iran truyền vào các nước Tây vực và Tây bộ Trung quốc, ở đây, Phật giáo cũng chịu chung 1 số phận như tại các nơi khác. Đến thế kỉ XIX, Âu châu khởi xướng phong trào nghiên cứu Á châu (Đông phương học và Ấn độ học), từ đó Phật giáo mới dần hồi phục. Đến nay, Phật giáo, Thiên chúa giáo và Hồi giáo đều được coi là các tông giáo lớn trên thế giới. 3. Giáo nghĩa: Qua hơn 2.500 năm truyền bá và phát triển, trong Phật giáo đã phát sinh nhiều học phái và tông phái, cho nên về mặt giáo nghĩa cũng có khuynh hướng đa dạng và phức tạp. Nói 1 cách đại thể thì các thuyết nói về sự cấu thành và khởi diệt của thế giới như: Núi Tu di, địa ngục, cõi trời, kiếp mạt...… đều là kế thừa tư tưởng Ấn độ cổ đại, cũng như các thuyết nói về nghiệp, khổ, luân hồi, giải thoát...… thì là mở rộng thêm tư tưởng Ấn độ đã có sẵn từ xưa. Còn các giáo pháp căn bản và đặc thù của Phật giáo thì có: Tam pháp ấn: Vô thường, vô ngã, Niết bàn; Tứ đế: Khổ, tập, diệt, đạo (tứcBát thánh đạo), Thập nhị nhân duyên (Vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử)…... Đây là tiêu chuẩn phân biệt Phật giáo với các tông giáo khác, vì những giáo pháp này chỉ có trong Phật giáo mà thôi. 4. Văn hóa: Ngoài việc truyền bá nội dung tư tưởng giáo lí vốn đã rất phong phú, đối với lịch sử văn hóa – người Ấn độ từ nghìn xưa rất thờ ơ với quan niệm lịch sử – Phật giáo đã là môi giới truyền đến Trung quốc những ngành học thuật của Ấn độ như: Thiên văn, Lịch pháp, Âm vận, Âm nhạc, Y học...… Về phương diện mĩ thuật thì đặc biệt điêu khắc, hội họa, kiến trúc…... của Phật giáo đã có ảnh hưởng rất sâu xa ở nhiều vùng trên thế giới, điều đó thiết tưởng không cần phải nói. 5. Hiện tình: Hiện nay, các nước Phật giáo phần nhiều đã từ khuynh hướng tĩnh tu tự độ, chuyển sang lãnh vực hoằng pháp độ tha, tích cực tham gia các sự nghiệp văn hóa, giáo dục, từ thiện, xã hội…... tạo môi trường cho tín đồ dễ thân cận Phật giáo hơn. Ngoài ra còn chú trọng đến mối liên hệ quốc tế, như tổ chức hội nghị Học thuật Phật giáo quốc tế, hội Hữu nghị Phật giáo đồ thế giới, hội Thanh niên Phật giáo thế giới, Giáo hội Tăng già thế giới, để xúc tiến công cuộc dung hợp các nước Phật giáo trên thế giới. (xt. Phật Giáo Giáo Lí). PHẬT GIÁO ÂM NHẠC Âm nhạc Phật giáo. Bộ Sa ma phệ đà (Phạm: Sàma-veda) xuất hiện vào khoảng từ 2.000 năm đến 1.500 năm trước Tây lịch, trong đó, phương pháp ca vịnh trong bộ Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda) được ghi chép và trình bày, từ đó đặt ra nền tảng cho Thanh minh và Phạm bái. Nền âm nhạc Phật giáo kế thừa phương pháp này mà đặt ra Già đà (Phạm: Gàthà, Hán dịch: Cô khởi tụng). Phương pháp này được các ngài Bạt đề, Ưu bà lợi, Mục liên, A nan, Nan đà, Bà kì xá...… sử dụng. Về sau, ngài Mã minh cũng dùng thể Già đà để soạn vở kịch thơ Lại tra hòa la ca ngợi tôn giả Lại tra hòa la (Phạm: Rawỉrapàla, Pàli: Raỉỉhapàla). Ngoài ra, theo truyền thuyết, khi ngài Long thụ mở tháp sắt Nam thiên để nhận lãnh pháp Quán đính từ bồ tát Kim cương tát đóa, lúc tụng trì mạn đồ la bí mật tối thượng, cũng làm bài ca khen ngợi Kim cương. Đến thời đại vua A dục, thể loại âm nhạc Phật giáo đã rất phong phú. Đến giữa thế kỉ II Tây lịch, thời vua Ca nị sắc ca, âm nhạc Phật giáo Ấn độ hưng thịnh lạ thường, đồng thời được truyền đến các nước vùng Trung á như: Vu điền, Cưu tư, Sớ lặc…... Đến thế kỉ VI, VII, thời vua Giới nhật (Phạm:Sìlàditya) tại vị, âm nhạc Phật giáo Ấn độ phát triển đến thời kì toàn thịnh, rồi 1 nhánh vượt dãy Thông lãnh, qua phía nam núi Thiên sơn, lấy nước Cao xương (Thổ lỗ phiên)làm trung tâm mà phát đạt. Về sau, âm nhạc Phật giáo Ấn độ được truyền đến cung đình nhà Đường, Trung quốc, phát triển thành vũ nhạc của triều Đường đạt đến cao độ. Thời Phật giáo bộ phái, vì giới luật nghiêm khắc nên âm nhạc và ca vũ hoàn toàn bị cấm, do đó âm nhạc Phật giáo không thể phát đạt. Nhưng sau thời Phật giáo Đại thừa hưng khởi, trong các pháp hội quan trọng, thì ca vũ, nhạc kịch thường được biểu diễn để trang nghiêm, cúng dường, nhờ thế mà âm nhạc Phật giáo phát triển nhanh chóng. Vở ca kịch đại qui mô đầu tiên của Phật giáo là Long vương chi hỉ (Phạm: Nàgànanda, Niềm vui mừng của vua rồng), do vua Giới nhật soạn vào thế kỉ VII. Đến cuối thế kỉ VII, vì Phật giáo rơi vào tình cảnh suy đồi, cho nên âm nhạc Phật giáo Ấn độ cũng tàn tạ ngay trên mảnh đất mẹ để dời đến các nước vùng Đông nam á như: Miến điện, Thái lan, Cao miên, Nam dương…... Riêng ở Trung quốc, tuy kinh điển Phật giáo đã bắt đầu được phiên dịch từ thời Đông Hán, nhưng đã không thể sử dụng được Phạm bái do Phật giáo truyền đến để ca tụng. Đến thời đại Tam quốc, có vị tăng người Khang cư đến đất Thục và truyền cách ca xướng của người Iran. Mãi đếnthời Vũ đế nhà Ngụy, Trần tư vương Tào thực, 1 thiên tài về âm nhạc, vốn rất say mê Phạm khúc, ông từng sáng chế pháp thức Phạm bái riêng của Trung quốc ở Ngư sơn, huyện Đông a, tỉnh Sơn tây. Nền tảng Thanh minh của Trung quốc từ đó mới được thiết lập, thay vì dùng cách ca xướng Thất âm giai như Ấn độ thì Trung quốc dùng Ngũ âm giai(Cung, Thương, Dốc, Chủy, Vũ. Thêm vào 2 âm Phục cung và Phản chủy, thì thành Thất âm). Đến thế kỉ VIII, các ngài Thiện vô úy, Kim cương trí, Bất không...… lần lượt đến Trung quốc truyền bá Mật giáo, từ đó, phương thức Phạm bái Ấn độ mới dần dần lưu hành ở Trung quốc. Theo sự khảo chứng của các nhà chuyên môn, thì Phạm bái của Trung quốc có rất nhiều điểm giống với khúc dân gian và khác xa với tính chất Thanh minh của Nhật bản cận đại.Về những nhạc khí được sử dụng trong âm nhạc Phật giáo thì thông thường có 3 loại: Huyền (Phạm: Vìịà,đàn), Quản (Phạm: Vaôzì, ống sáo) và Đả (Phạm: Dundibhi, trống, chiêng, mõ…...). Từ thế kỉ II trở đi, đàn Tì bà 5 dây cũng được sử dụng, hoặc đàn Trang ân (Tsuan, xưa có 7 dây, sau đổi thành 13 dây) như ở Miến điện; hoặc đàn Ngạc cầm (Magyun) và đàn Cơ vượng (Kyiwain) ở Thái lan v.v...…; hoặc như thanh la, não bạt, chuông, khánh, mõ…... ở Tây tạng, Trung quốc, Việt nam…... Tóm lại, âm nhạc Phật giáo phát sinh từ Ấn độ, nhưng khi truyền đến các nước khác thì lại tùy theo nền văn hóa, cũng như phong tục, tập quán, tính tình của mỗi dân tộc mà mang sắc thái đặc thù của mỗi nước. Và, khác với âm nhạc thế gian, âm nhạc Phật giáo nhằm thăng hoa đời sống tâm linh, đưa tâm hồn con người đến cảnh giới thanh tịnh, siêu thoát và hướng thiện, chứ không nhằm kích động lòng tham dục và đưa tinh thần con người vào cảnh say mê, cuồng loạn. [X. Tông giáo âm nhạc (Điền biên Thượng long); Phật giáo âm nhạc dữ Thanh minh (Đại sơn Công thuần); Phật giáo âm nhạc chi nghiên cứu (Nhật bản Đông dương âm nhạc học hội biên)]. PHẬT GIÁO BÁC VẬT QUÁN Nơi bảo tồn những vật quí báu của Phật giáo. Ở Ấn độ từ xưa đã có tập quán bảo tồn các tượng Phật, bích họa...… trong các chùa viện để giúp cho việc tu đạo, cũng tương tự như các viện Bảo tàng cất giữ các tác phẩm nghệ thuật quí giá, có tác dụng giáo dục dân chúng vậy. Ở Trung quốc và Nhật bản, tín đồ thường đem những di vật quí báu cúng dường các chùa viện. Những bảo vật được tàng trữ ở các chùa viện, ngoài những di phẩm của Phật giáo ra, còn có tác phẩm nghệ thuật phổ thông có tính cách quốc tế, nổi tiếng hơn cả là viện Chính thương của chùa Đông đại tại Nhật bản. Còn ở Trung quốc, những năm gần đây, giới Phật giáo thiết lập Bảo vật quán trong các chùa viện ngày một nhiều, trong đó, nổi tiếng nhất cả trong nước lẫn ngoài nước là cơ sở Phật giáo Văn Vật Trần Liệt Quán do Phật quang sơn thiết lập tại Cao hùng. PHẬT GIÁO BÁCH KHOA TOÀN THƯ Encyclopedia of Buddhism. Bộ Bách khoa toàn thư của Phật giáo bằng tiếng Anh, do Tiến sĩ G.P. Malalasekera làm chủ biên và chính phủ Tích lan xuất bản. Tập thứ nhất của bộ sách này được ấn hành vào năm 1961, sau khi Tiến sĩ Malalasekera qua đời, bộ sách vẫn được tiếp tục. Nhà xuất bản mời các học giả nổi tiếng trên thế giới của thế kỉ XX hợp tác biên soạn bản thảo. Trong đó có các học giả Trung quốc như: Pháp tôn, Lữ trừng, Chu thúc ca, Lí chứng cương, Cao quán như, Hoàng sám hoa v.v…... PHẬT GIÁO BÍCH HỌA Tranh tường của Phật giáo. Người Ấn độ thời xưa thường dùng bích họa để trang nghiêm Phật đường, hoặc ở Giảng đường, Trai đường, nhà tắm...… Nội dung các bức tranh này đều có liên quan đến Phật giáo, như vẽ các cảnh hiện thần thông, bánh xe luân hồi sinh tử trong 5 đường, tích truyện tiền thân của đức Phật, cảnh địa ngục v.v…... Trong các tác phẩm điêu khắc, kiến trúc, các di chỉ của chùa viện đời xưa ở Bắc Ấn độ còn sót lại đến nay, như trong chùa viện hang đá ở vùng A chiên đa (Phạm: Àjantà) phía đông Bombay, người ta đã phát hiện những bộ phận của các bức bích họa đã phai màu và tróc lở, phần lớn được hoàn thành từ thế kỉ IV đến thế kỉ XI. Trong các ngôi chùa viện kiến trúc bằng gỗ, thì phần nhiều người ta tô 1 lớp keo trắng trên vách gỗ, rồi trực tiếp vẽ các bức tranh nhiều màu trên đó. Nhưng các bức họa trong động đá thì hơi khác, tức là tô 1 lớp sơn mỏng màu xám lên các chỗ như tường vách, trần nhà, đầu cột...… rồi sau đó mới vẽ; những họa phẩm này trải qua cả nghìn năm mà màu sắc vẫn tươi đẹp, tuy có nhiều chỗ bị tróc lở. Tại Trung quốc, các bức bích họa xưa nhất có thể khảo chứng được là các bích họa đời Hán, lúc bấy giờ Phật giáo mới được truyền vào nên việc tạo tượng, vẽ tranh rất được chú trọng, nhất là các chùa viện ở miền Nam, bích họa được coi là chủ yếu, còn ở miền Bắc thì phần nhiều chú trọng việc tạo tượng trong hang đá, như các chùa hang đá ở Vân cương, Long môn, núi Mạch tích, núi Thiên long, huyện Củng…... đều là những nơi nổi tiếng về nghệ thuật tạc tượng đá của Phật giáo Trung quốc. Người tiên phong về nghệ thuật vẽ tranh Phật ở phương Nam là cha con ông Đới quì, Đớingung đời Tấn, các bức họa của 2 cha con ông đều đã đạt đến trình độ nghệ thuật viên mãn. Ông Cố khải chi vẽ tượng ngài Duy ma cật, ánhsáng chiếu khắp nhà, trở thành khuôn mẫu cho muôn đời. Những bích họa cổ được bảo tồn trong nội địa Trung quốc hiện không có bao nhiêu, nhưng trong hang Mạc cao núi Minh sa ở phía nam huyện Đôn hoàng, tỉnh Cam túc thì vẫn còn nhiều bích họa từ thời Lục triều trở về sau. Đến đời Đường thì có Ngô đạo tử xuất hiện và được tôn là Bách Đại Họa Thánh (ông Thánh hội họa của trăm đời). Đến đời Ngũ đại (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu), bích họa trong các chùa viện vẫn còn thịnh. Nhưng qua thời Ngũ đại sang đến đời Tống, vì bích họa chịu ảnh hưởng của hội họa phát triển, nên nội dung Phật giáo đã dần dần suy thoái. Đến các đời Liêu, Kim và Nguyên, tuy không còn được như xưa, nhưng bích họa trong các chùa viện vẫn còn giữ được nội dung Phật giáo. Song, từ các đời Minh, Thanh trở đi thì tác phẩm hội họa của các sĩ đại phu đã thấy xuất hiện trên tường vách của chùa viện, thường miêu tả các truyền thuyết dân gian mà người đời ưa thích. Như ngoài Phật Thích ca, bồ tát Quan âm, La hán, Dược vương…... còn đắp vẽ các tích truyện và nhân vật nổi tiếng trong các tiểu thuyết như: Quan vũ, Trương phi, Tây du kí, Phong thần bảng, Thi công án v.v…... Tại Nhật bản, thì sớm nhất là vào thời đại Bạch phượng bích hoạ đã thịnh hành. [X. The Cave Temples of India, 1880, by J.Burgess; The Paintings of The Buddhist Cave Temples of Ajanta, 2 vols., 1896- 1900, by J.Griffiths; Buddhist Cave Temples of India, by Wauchope; Buddhist Wall-paintings, 1932, by L.Warner; Misson Archéologique dans la Chine Septentrionale, Tome 5, 1909-1915, par E.Chavannes]. PHẬT GIÁO CÁC TÔNG CƯƠNG YẾU Tác phẩm 12 quyển, 5 tập, do Hiệp hội các tông phái Nhật bản biên soạn. Nội dung sách này trình bày về sử truyện và đại cương tông nghĩa của 12 tông phái trong Phật giáo Nhật bản. Dưới phần sử truyện của mỗi tông đều có nêu 2 đoạn lịch sử và Kỉ truyện, phần đại cương tông nghĩa thì chia làm 4 đoạn: Chính y kinh điển, Tông danh, Phán thích và Tông ý. Trong quyển đầu tập 1 có bài tựa,phàm lệ, tổng luận, cuối quyển 5 có lời bạt của ngài Mặc lôi. PHẬT GIÁO CẢI CÁCH Sự cải cách trong Phật giáo qua thời gian và không gian. 1. Phật giáo Ấn độ: Cuộc cải cách lần đầu tiên diễn ra khoảng 100 năm sau đức Phật nhập diệt, bấy giờ các tỉ khưu thuộc chủng tộc Bạt kì (Phạm: Vajji) ở Tì xá li (Phạm: Vaizàlì) đặt ra thuyết mới gồm 10 điều, gọi là Thập sự để giải thích về Luật. Để xem thuyết mới Thập sự này có đúng với Luật hay không, 1 Đại hội kết tập được tổ chức tại Tì xá li với sự tham dự của 700 vị tỉ khưu đem ra thảo luận biểu quyết và cuối cùng quyết định Thập sự là phi pháp. Trong Đại hội, đa số tỉ khưu không chấp nhận quyết định này, do đó, giáo đoàn nguyên thủy đã chia làm 2 phái: Phái Cách tân đa số chấp nhận Thập sự và phái Bảo thủ thiểu số phủ định Thập sự. Phái đa số được gọilàĐại chúng bộ và phái thiểu số được gọi là Thượng tọa bộ. Từ đó về sau lại tiếp tục cải cách và kết quả đã đưa đến việc thành lập Phật giáo Đại thừa. Trong thời đại Phật giáo bộ phái, Bồ tát đoàn lấy tháp Phật làm trung tâm, tồn tại song song với giáo đoàn tỉ khưu. Bồ tát đoàn kết hợp những tỉ khưu có đầu óc đổi mới, rồi vào khoảng trước sau kỉ nguyên Tây lịch đã phát triển thành giáo đoàn Phật giáo Đại thừa. Giáo đoàn này không phân biệt xuất gia, tại gia, biên tập kinh điển mới, tin tưởng vững chắc rằng tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật. Sự thành lập Phật giáo Đại thừa đã tạo thành cuộc cải cách lịch sử của Phật giáo Ấn độ mà trước đó chưa xảy ra. 2. Phật giáo Trung quốc: Do những nhân tố chính trị, tăng sĩ thối nát, hoặc do sức épcủa Đạo giáo, Nho giáo, nên thường nảy sinh những sự kiện phá Phật, phế Phật, nhưng nhờ nội bộ giáo đoàn Phật giáo tự giác vận động cải cách, nên không đến nỗi bị tiêu diệt. Sau khithời Dân quốc được kiến lập, Phật giáo từng gánh chịu các cuộc phá hoại đại qui mô, bấy giờ nhờ các ngài Thái hư, Thường tỉnh, Đại tỉnh...… đề xướng công cuộc đổi mới tăng đoàn, thích ứng với hoàn cảnh xã hội mới, nên mệnh mạch Phật pháp được hồi phục. Phỏng theo chuẩn tắc của chủ nghĩa Tam dân, các ngài đề xướng chủ nghĩa Tam Phật: Phật tăng, Phật hóa và Phật quốc. Chủ nghĩa Phật tăng nhằm xúc tiến việc đổi mới Tăng đoàn; chủ nghĩa Phật hóa thì vận động tăng tục toàn quốc đoàn kết 1 lòng đạt đến nhất thể hóa, mưu cầu Phật giáo hóa xã hội; chủ nghĩa Phật quốc nhằm đẩy mạnh công cuộc Tịnh độ hóa Trung quốc, mọi người đều thực hành hạnh Bồ tát. Song song với chủ trương canh tân cấp tiến này, có các ngài Viên anh...… vận động đổi mới theo chủ nghĩa bảo thủ, tiệm tiến. Trong 1 thời gian, Phật giáo từ tình trạng suy đồi kéo dài, đã dần dần tiến tới phục hưng. 3. Phật giáo Tây tạng: Sau khi được truyền thừa giới luật, ngài Tông khách ba (Tạng: Tsoí-kha-pa, 1355-1415) sáng lập phái Hoàng mạo (phái đội mũ màu vàng), chỉnh lí lại nội dung giáo học, đổi mới tổ chức giáo đoàn, chủ trương nghiêm trì giới luật, xóa sạch các tập tục hủ lậu đã tồn tại trong Lạt ma giáo suốt 1 thời kì lâu dài như: Rơi vào chú thuật, có vợ, ăn thịt uống rượu, tranh giành quyền lợi...…Đây cũng là cuộc vận động cải cách Phật giáo lớn lao. 4. Phật giáo Nhật bản: Vào thời đại Liêm thương, ngài Thân loan thành lập Tịnh độ chân tông, ngài Đạo nguyên khai sáng tông Tào động, ngài Nhật liên mở ra tông Nhật liên. Có thể nói, 3 biến cố trên là cuộc cải cách lớn nhất của Phật giáo Nhật bản. Ba vị Tông tổ trên đây đều đã từng học tập giáo nghĩa của nền Phật giáo cũ ở núi Tỉ duệ, các ngài cho rằng các tông Thiên thai, Chân ngôn, Tam luận, Pháp tướng...… đã xa lìa đại chúng, không khỏi rơi vào nền Phật giáo trừu tượng và học vấn hóa, cho nên các ngài lần lượt đề cao các pháp môn niệm Phật, ngồi thiền, xướng tụng đề kinh…..., làm sống lại niềm tin của quảng đại dân chúng tín đồ, hầu mở ra 1 kỉ nguyên mới cho sự phát triển của Phật giáo Nhật bản. PHẬT GIÁO DI TÍCH Những di tích Phật giáo. Tức là những dấu vết có liên quan đến Phật, Bồ tát và các bậc Tổ sư nhiều đời còn để lại cho người sau. 1. Ấn độ: Vua A dục xây tháp ở những nơi như Phật đản sinh (vườn Lâm tì ni), thành đạo (Bồ đề tràng),chuyển pháp lần đầu tiên (vườn Lộc dã) và Niết-bàn (thành Câu thi na); sau vua lại xây tháp ở 4 nơi mà đức Phật đã thuyết pháp là: Vườn Kì thụ Cấp cô độc, thành Khúc nữ, thành Vương xá và thành Quảng nghiêm, gọi chung là Bát đại linh tháp. 2. Trung quốc: Về di tích của các bậc Tổ sư cao tăng thì có: Lô sơn của ngài Tuệ viễn, núi Thiếu thất của ngài Bồ đề đạt ma, chùa Huyền trung của ngài Đàm loan, núi Thiên thai của ngài Trí khải, chùa Nam hoa ở Tào khê của ngài Tuệ năng...… Về di tích mà Bồ tát hiển hiện thì có: Núi Ngũ đài của bồ tát Văn thù, núi Phổ đà của bồ tát Quan âm, núi Nga mi của bồ tát Phổ hiền, núi Cửu hoa của bồ tát Địa tạng…... 3. Nhật bản: Có nhiều di tích như chùa Pháp long của Thái tử Thánh đức, núi Tỉ duệ của ngài Tối trừng, 88 cơ sở của ngài Không hải, 25 đạo tràng của ngài Pháp nhiên, 24 bối của ngài Thân loan…... [X. Asoka, the Buddhist Emperor, 1901, by Vincent Smith; The Bhilsa Topes, 1854, by Sir Alaxander Cunningham; Nouvelles Recherches Archéologiques à Bàmiyàn, 1933, par J.Hackin]. PHẬT GIÁO ĐẠI HỆ Tác phẩm, 64 tập, do Hội Phật giáo đại hệ san hành của Phật giáo Nhật bản ấn hành, bắt đầu từ năm Đại chính thứ 6 (1917) đến năm Chiêu hòa 13 (1938) mới hoàn tất. Đây là tác phẩm tập đại thành chính văn và các sách chú thích, tiêu biểu của khoảng 130 bộ luận sớ chủ yếu trong Phật giáo như: Câu xá luận, Thất thập ngũ pháp, Lược thuật pháp tướng nghĩa, Thành duy thức luận, Tam luận đại nghĩa sao, Tam luận huyền nghĩa, Hoa nghiêm pháp giới nghĩa kính, Kim sư tử chương, Đại thừa khởi tín luận, Hoa nghiêm ngũ giáo chương, Tịnh độ tam bộ kinh, Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, Giáo hành tín chứng, Tứ thiếp sớ, Pháp hoa huyền nghĩa, Thiên thai tứ giáo nghi, Ma ha chỉ quán, Quán tâm bản tôn sao, Đại nhật kinh sớ, Khai mục sao, Chính pháp nhãn tạngv.v…... PHẬT GIÁO ĐẠI TỪ VỰNG Tác phẩm gồm 7 tập, do Đại học Phật giáo (Đại học Long cốc hiện nay)của phái Bản nguyện tự thuộc Tịnh độ chân tông Nhật bản soạn. Bộ sách này bắt đầu được biên soạn vào năm Minh trị 41 (1908) để kỉ niệm ngày giỗ thứ 650 của ngài Thân loan, Tổ khai sáng Tịnh độ chân tông Nhật bản. Nội dung biên tập các hạng mục có liên quan đến Tịnh độ chân tông, rất đầy đủ và rõ ràng. Ngoài ra còn nói rộng về sự biến thiên, chế độ, giáo nghĩa của các tông phái khác, về Phật, Bồ tát, quỉ thần và về động thực vật, nhân danh, kĩ nhạc, chùa miếu…... tổng cộng 23.000 hạng mục, cùng với 1.500 tranh ảnh minh họa. Năm Chiêu hòa 47 (1972) có thêm mục sách dẫn 1 quyển và ấn hành. PHẬT GIÁO ĐỒ THƯ QUÁN Thư viện Phật giáo. Căn cứ vào sự ghi chép trong các văn hiến cũng như sự khảo chứng về di tích, thì trong các chùa lớn ở Ấn độ thời xưa như chùa Na lan đà (Phạm: Nàlanda)...… không thấy có thiết lập thư viện riêng để tàng trữ kinh điển. Nhưng ở Trung quốc, bắt đầu từ thời Nam Bắc triều đã kiến thiết Kinhtàng, cũng gọi Kinh lâu, Kinh khố, Kinh đường, Kinh các, Pháp bảo điện, Chuyển luân tạng, Tì lô điện…... tức là nơi để tàng trữ kinh điển. Từ đó về sau, dần dần các chùa viện lớn trên khắp nước Trung quốc đều có tạo lập Kinh tàng và được truyền nối từ đời này qua đời khác. Thời Ngũ đại, vua Ngô Việt họ Tiền yêu cầuQuốc sư Đức thiều thuộc tông Thiên thai xây dựng Kinh tàng, trong vài năm, chỉ ở Hàng châu không thôi, đã có 10 Kinh tàng. Như vậy đủ biết việc kiến thiết Kinh tàng ở đương thời đã phổ cập đến mức nào. Đến đời Tống, sau khi Đại tạng kinh đã được khắc bản và ấn hành, thì việc xây dựng Kinh tàng để cất giữ Đại tạng lại cần thiết hơn nữa. Thông thường, trong các Kinh tàng với qui mô tương đối lớn, không những chỉ tàng trữ Đại tạng kinh hoặc những sách vở của Phật giáo không thôi, mà những điển tịch truyền thống ngoài đời, nếu có thể giúp ích cho việc nghiên cứu, học tập Phật pháp thì cũng được trân trọng cất giữ. Nhất là trong các thư viện của Phật giáo hiện đại, ngoài Đại tạng kinh và nội ngoại điển nói chung, như Phật giáo tùng thư, các tạp chí định kì, các loại sách từ điển...…, những tác phẩm nổi tiếng thuộc lãnh vực tư tưởng, triết học, tông giáo, văn
Phật đỉnh phóng vô cấu quang minh nhập phổ môn quán sát nhất thiết Như Lai tâm đà-la-ni kinh
佛頂放無垢光明入普門觀察一切如來心陀羅尼經; C: fódǐng fàngwúgòu guāngmíng rù pǔmén guānchá yīqiè rúláixīn tuóluóní jīng; J: bucchō hōmuku kōmyō nyū fumon kanzatsu issai nyorai shin darani kyō; S: samantamukha-praveśara-śmivimalo-ṣṇīṣaprabhāsa-sarvatathāgata-hṛdayasamā-valokita-dharaṇī; T: kun nas sgor 'jug pa'i 'od zer gtsug tor dri ma med par snang ba de bzhin gshegs pa tham cad kyi snying po dang dam tshig la rnam par lta ba shes bya ba'i gzungs.|2 quyển, tên gọi tắt là Như Lai tâm kinh (如來心經; s: tathāgatahṛdaya-dhāraṇī), Thí Hộ (施護; s: dānapāla) dịch. Kinh văn gốc về một man-đà-la quay chung quanh Vimaloṣṇīṣa (nhục kế thù thắng thanh tịnh của Như Lai). Đà-la-ni nầy được khắc trên cổng vòm của Cư Dung Quan (居庸關), ở gần Bắc Kinh bằng tiếng Phạn (sanskrit), Tây Tạng, Hán, Uighur, Mông Cổ, và tiếng Tangut.
Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh
佛頂尊勝陀羅尼經; C: fódǐng zūnshèng tuóluóní jīng; J: bucchō sonshō daranikyō; S: uṣṇīṣavijayādhāraṇī; T: de bzhin ghegs pa thams cad kyi gtsug tor rnam par rgyal ba shes bya ba'i gzungs rtog pa dang bcas pa;|Kinh nói về sự thù thắng vi diệu của Phật đỉnh (Tôn thắng Phật đỉnh 尊勝佛頂; s: uṣṇīṣavijayā), có năng lực làm tăng tuổi thọ và tiêu trừ khổ nạn sinh tử luân hồi. Bản văn thứ tư trong Bảy bộ sao lục (s: saptavāra). Các bản dịch của kinh nầy còn lưu truyền ở các nước Khotan, Uighur, Tangut, Mông Cổ, cùng với rất nhiều bản dịch tiếng Tây Tạng và chữ Hán. Bản dịch dùng trong Chân Ngôn tông là của Phật-đà Ba-lị (s: buddhapāli, Đại chính 967), Pháp Thiên (法天, Đại chính 978) và Vũ Triệt (武徹, Đại chính 974c). Trong số các bản dịch chữ Hán, bản dịch của Pháp Thiên tương ưng với 4 bản dịch tiếng Tây Tạng (To.598, P.200), trong khi các bản dịch trước đó lại tương ưng với một bản dịch khác (To.597/984, P.198/609).|Các bản dịch chữ Hán hiện còn là: 1. Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh (佛頂尊勝陀羅尼經), 1 quyển, Phật-đà Ba-lị (佛陀波利; s: buddhapāli) dịch. Luận giải bằng tiếng Hán có Giáo tích nghĩa kí (教跡義記) của Pháp Sùng (法崇); 2. Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh (佛頂尊勝陀羅尼經), 1 quyển, Đỗ Hành Khải (杜行顗) dịch. Luận giải bằng tiếng Hán có Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh thích (佛頂尊勝陀羅尼經釋) của Độc Pháp (讀法); 3. Tối thắng đà-la-ni kinh (最勝陀羅尼經), 1 quyển, Địa-bà Ha-la (地婆訶羅; s: divākara). Bản đà-la-ni được duyệt lại này xuất hiện trong nhiều nghi quỹ đời Đường như Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni niệm tụng nghi quỹ pháp (佛頂尊勝陀羅尼念誦儀軌法) và Du-già tập yếu diệm khẩu thí thực nghi quỹ (瑜伽集要焔口施食儀軌) của Bất Không (不空; s: amoghavajra) và Tôn thắng Phật đỉnh tu du-già pháp nghi quỹ (尊勝佛頂修瑜伽法儀軌) của Thiện Vô Uý (善無畏; s: śubhākarasiṃha); 4. Tối thắng Phật đỉnh đà-la-ni tịnh trừ nghiệp chướng chú kinh (最勝佛頂陀羅尼淨除業障呪經), 1 quyển, Địa-bà Ha-la (地婆訶羅; s: divākara) dịch; 5. Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh (佛頂尊勝陀羅尼經), 1 quyển, Nghĩa Tịnh (義淨) dịch; 6. Tối thắng Phật đỉnh đà-la-ni kinh (最勝佛頂陀羅尼經), 1 quyển, Pháp Thiên (法天) dịch; 7. Nhất thiết Như Lai Ô-sắt-nị-sa tối thắng tổng trì kinh (一切如來烏瑟膩沙最勝總持經), Pháp Thiên dịch, là bản phiên âm tương ưng với bản dịch của Chỉ Không (指空; s: dhyānabhadra); 8. Vu-sắt-sa Tì-tả-dã đà-la-ni (于瑟沙毘左野陀囉尼), 1 quyển, Chỉ Không (指空; s: dhyānabhadra) dịch. Ấn bản tiếng Phạn (sanskrit): Anecdota Oxonensiāryan Series, quyển 1, phần III của F. Max Müller và Bunyu Nanjio, Oxford xuất bản năm 1884.
phật đỉnh đại bạch tản cái đà la ni kinh
(佛頂大白傘蓋陀羅尼經) Cũng gọi: Bạch tản cái đà la ni kinh, Bạch tản cái kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Sa la ba dịch vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này nói về Đà la ni và công đức của Bạch tản cái Phật đính. Bản cùng loại với kinh này có kinh Phật thuyết đại bạch tản cái tổng trì đà la ni, do ngài Chân trí…... dịch.
Phật đỉnh đại bạch tản cái đà-la-ni kinh
佛頂大白傘蓋陀羅尼經; C: fódǐng dà báisăngài tuóluóní jīng; J: butchō dai byakusankai darani kyō.|Đại Phật đỉnh Như Lai phóng quang Tất-đát-đa bát-đát đà-la-ni (大佛頂如來放光悉怛多鉢怛陀羅尼).
Phật địa
佛地; C: fódì; J: butsuji;|Có các nghĩa sau: 1. Quả vị Phật; đòng nghĩa với Phật vị (佛位), Phật quả (佛果). Giai vị cuối cùng của hàng Bồ Tát, chứng đạt được nhờ chuyển hoá toàn vẹn Nhị chướng (二障, theo Du-già luận 瑜伽論); 2. Giai vị thứ 11 của Thập nhất địa trong kinh Giải Thâm Mật (解深密經; s: saṃdhinirmocana-sūtra).
phật địa
Xem Phật độ.
; Buddha-bhùmi (S). The Buddha-stage.
Phật địa kinh
佛地經; C: fódì jīng; J: butsujikyō.|1 quyển, Huyền Trang dịch, hoàn chỉnh năm 645 tại chùa Hoằng Phúc. Tên đầy đủ là Phật thuyết Phật địa kinh (佛説佛地經). Kinh giảng giải về 5 khía cạnh của Phật địa, gồm Pháp giới thanh tịnh và Bốn pháp chuyển thức thành trí, giải thích chi tiết về Thập địa và Phật địa.
Phật địa kinh luận
佛地經論; C: fódìjīng lùn; J: butsujikyōron.|Luận; gồm 7 quyển do Thân Quang (親光) cùng một số các vị khác trứ tác. Huyền Trang dịch năm 650. Còn gọi là Phật địa luận (佛地論). Tác giả giải thích 5 pháp đề cập trong kinh Phật địa. Kết hợp với những luận giải về Phật địa. Vì có một số đoạn xuất hiện trong Thành duy thức luận (成唯識論), nên có người suy đoán những đoạn văn trùng lặp nầy là của Hộ Pháp (護法; s: dharmapāla) mặc dù hiển nhiên là cả Phật địa kinh luận lẫn Thành duy thức luận đều không phải của Hộ Pháp. Bản dịch Phật địa kinh luận bằng tiếng Tây Tạng cũng có đoạn văn trùng lặp nầy. Người Tây Tạng cho luận giải nầy là của Giới Hiền (戒賢; s: śīlabhadra), viện chủ Học viện Na-lan-đà (s: nālandā) trong thời đoạn Huyền Trang còn lưu lại tại đây. Có bản dịch Anh ngữ luận giải nầy của Tiến sĩ John Keenan, nhưng chưa phổ biến (luận án Tiến sĩ).
phật địa kinh luận
BuddhabhŪmi-sŪtra śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
; (佛地經論) Phạm: Buddhabhùmi-sùtra-zàstra. Gọi tắt: Phật địa luận. Luận, 7 quyển, do các bồ tát Thân quang... soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 26. Nội dung luận này giải thích bộ kinh Phật địa mà tác giả chia làm 3 phần để trình bày, đó là: Giáo khởi nhân duyên, Thánh giáo sở thuyết và Y giáo phụng hành. Đồngthờigiải thích về 5 thứ pháp nói trong bộ kinh là: Thanh tịnh pháp giới, Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quán sát trí và Thành sở tác trí. Năm pháp này thu nhiếp toàn bộ cảnh địa Đại giác của kinh. Luận sư Thân quang là học giả của chùa Na lan đà, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ và là học trò của ngài Hộ pháp (Phạm: Dharmapàla, 530-561), do đó, tư tưởng trong kinh Phật địa phần nhiều đã được tác giả giải thích bằng tư tưởng Duy thức thuộc hệ thống ngài Hộ pháp. Trong đó, đặc biệt nổi bật là thuyết Ngũ tính các biệt đã được sử dụng để giải thích thuyết Tứ trí tâm phẩm. Về sách chú sớ luận này thì có: -Phật địa kinh luận sớ, 6 quyển, do ngài Tĩnh mại soạn vào đời Đường. -Phật địa luận sớ, 4 quyển, do ngài Trí nhân người Tân la soạn. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.8].
Phật địa kinh luận 佛地經論
[ja] ブツジキョウロン Butsujikyōron ||| Seven fascicles, by Bandhuprabha 親光 et.al., translated by Xuanzang 玄奘 in 650. Also called the Fodilun 佛地論. The author explains the five kinds of dharma taught in the Buddha-bhūmi 佛地經. Contains combined commentaries on the Buddha-bhūmi. Since some of the passages reappear in the Cheng weishi lun 成唯識論, some speculate that these parallel passages should be attributed to Dharmapāla 護法 (though neither this text nor the Cheng weishi lun explicitly does so). A Tibetan translation of a commentary to the Buddha-bhūmi also parallels passages in this text; Tibetans attribute that commentary to Śīlabhadra 戒賢, the head of Nālandā while Xuanzang was there. Translated by John Keenan (unpub. PhD Diss).T 1530.26.291-328. => (j: Butsujikyōron ) Luận; gồm 7 quyển do Thân Quang cùng một số các vị khác trứ tác. Huyền Trang dịch năm 650. Còn gọi là Phật Địa Luận (c: Fodilun 佛地論). Tác giả giải thích 5 pháp đề cập trong Kinh Phật Địa. Kết hợp với những luận giải về Phật Địa. Vì có một số đoạn xuất hiện trong Thành Duy Thức Luận (c: Cheng weishi lun 成唯識論), nên có người suy đoán những đoạn văn trùng lặp nầy là của Hộ Pháp (s: Dharmapāla )(mặc dù hiển nhiên cả Phật Địa Kinh Luận lẫn Thành Duy Thức Luận đều không phải của Hộ Pháp ). Bản dịch Phật Địa Kinh Luận bằng tiếng Tây Tạng cũng có đoạn văn trùng lặp nầy. Người Tây Tạng cho luận giải nầy là của Giới Hiền, viện chủ Học viện Na-lan-đà (s: Nālandā), nơi Ngài Huyền Trang du học. Có bản dịch Anh ngữ luận giải nầy của Tiến sĩ John Keenan, nhưng chưa phổ biến.
Phật địa kinh 佛地經
[ja] ブツジキョウ Butsujikyō ||| The Fo-ti-ching, "Sutra of the Buddha-stage." One fascicle, trans. by Xuanzang, completed in 645 at Hongfu Monastery. T 680.16.720-723. Full title is 佛説佛地經Foshuo fodijing. An explanation of the five aspects of the Buddha-stage, including the pure dharmadhātu and the four transformed wisdoms of Consciousness-only. Explains the details of the tenth bhūmi and the Buddha-stage. => (j: Butsujikyō ); (e: Sutra of the Buddha-stage). Kinh Phật Địa; 1 quyển , Huyền Trang dịch, hoàn chỉnh năm 645 tại chùa Hoằng Phước (c: Hongfu ). Tên đầy đủ là Phật Thuyết Phật Địa Kinh 佛説佛地經. Kinh giảng giải về năm khía cạnh của Phật địa, gồm Pháp giới thanh tịnh và Bốn pháp chuyển thức thành trí. Kinh giải thích chi tiết về Thập địa và Phật địa.
Phật địa luận
佛地論; C: fódìlùn; J: butsujiron;|Phật địa kinh luận (佛地經論).
Phật Địa Luận 佛地論
[ja] ブツジロン Butsujiron ||| See Fodijing lun 佛地經論. => Xem Phật Địa Kinh Luận.
Phật địa 佛地
[ja] ブツジ butsuji ||| (1) The buddha-stage, level, or rank of buddhahood; syn. with 佛位 and 佛果. The final stage of the bodhisattvas, attained upon the final removal of the two hindrances 二障. 〔瑜伽論T 1579.30.730a6〕(2) The eleventh of the eleven stages 十一地 taught in the Saṃdhinirmocana-sūtra解深密經. Dictionary References] Naka1192d [Credit] cmuller(entry) => Có các nghĩa sau: 1. Quả vị Phật; đòng nghĩa với Phật vị, Phật quả. Giai vị cuối cùng của hàng Bồ-tát, chứng đạt được nhờ chuyển hóa toàn bộ Nhị chướng. 2. Giai vị thứ 11 của Thập nhất địa trong Kinh Giải Thâm Mật (s: Saṃdhinirmocana-sūtra解深密經)
phật đồ tràng
Buddhacinga (S).
Phật Đồ Trừng
(佛圖澄, Buttochō, 232-348): người Thiên Trúc (天竺), hay Quy Tư (龜兹), họ Bạch (帛). Ông có nhiều thần thông, chú thuật, năng lực tiên đoán linh dị. Vào năm thứ 4 (310) niên hiệu Vĩnh Gia (永嘉) đời vua Hoài Đế (懷帝) nhà Tây Tấn, ông đến Lạc Dương (洛陽), lúc đó đã 79 tuổi, gặp phải vụ loạn Vĩnh Gia, trong lòng rất đau xót trước cảnh lầm than của dân tình, bèn mang tích trượng vào trong quân binh của Thạch Lặc (石勒) thuyết pháp, hiện các thần biến, nhờ vậy Thạch Lặc tin phục, cho phép người Hán được xuất gia. Sau khi Thạch Lặc qua đời, Thạch Hổ (石虎) lên kế vị, lại càng tín phụng thêm, tôn ông làm Đại Hòa Thượng. Trong suốt 38 năm trường, ông đã xây dưng gần 900 cơ sở tự viện, độ cho chúng đệ tử hơn 10.000 người, người thường đi theo hầu có đến mấy trăm. Trong số đó, các cao tăng tiêu biểu đệ tử của ông dưới thời nhà Tấn có Đạo An (道安), Trúc Pháp Thủ (竺法首), Trúc Pháp Thải (竺法汰), Trúc Pháp Nhã (竺法雅), Tăng Lãng (僧朗), Pháp Hòa (法和), Pháp Thường (法常), v.v. Vào ngày mồng 8 tháng 12 năm thứ 4 niên hiệu Vĩnh Hòa (永和), ông thị tịch ở Nghiệp Cung Tự (鄴宮寺), hưởng thọ 117 tuổi. Ông tuy không để lại trước tác nào cho hậu thế nhưng giữ gìn giới luật rất nghiêm minh và tạo ảnh hưởng lớn cho việc cải cách giới luật đương thời.
phật đồ trừng
Buddha-janga (S)Một vị A la hán gốc Thiên trúc, năm 310 ngài sang Tàu ở thành Lạc dương để hoá độ vua chúa và triều đình. Ngài chuyên hoằng hóa bằng phép thần thông.
; Fo-t'u-teng (C)Tên một vị sư.
Phật Đồ Trừng 佛圖澄
[ja] ブットチョウ Buttochō ||| Fotucheng (?-348); a monk of Central Asian origin who came to Loyang in 310 for the purpose of establishing a center for the dissemination of Buddhism. He had studied in his youth in Udyāna 烏仗那國 and was a thaumaturge, and the miracles he performed are thought to have made a significant impact on the ruler of the time, Shīe, who took him in as an advisor. Fotucheng was also one of the teachers of Daoan 道安, and is known to have established many temples during his career in China. => (j: Buttochō ); (c: Fotucheng), (?-348) Tăng sĩ Phật giáo người Trung Á, đến Lạc Dương (c: Loyang ), Trung Hoa năm 310 với mục đích thành lập một trung tâm truyến bá Phật học. Thời niên thiếu, Ngài tu học ở nước Ô Trượng Na (烏仗那國s: Udyāna ), có được thần thông, những phép lạ mà Ngài thi triển đã tác động rất lớn đến vua chúa thời đó như Thạch Lặc (c: Shīe), người đã tôn Ngài làm Quốc sư. Phật Đồ Trừng cũng là một trong những vị thầy của Ngài Đạo An, Ngài nổi tiếng đã lập rất nhiều ngôi chùa trong sự nghiệp truyền bá Phật giáo ở Trung Hoa.
phật độ
Buddha-land, Buddha-kṣetra (S)Phật quốc, Phật địa, Phật sá, Phật giới, cõi Tịnh độ của PhậtCõi đất Phật, cõi nơi Phật giáo hóa chúng sanhQuốc độ chư Phật, gồm có: Tịnh độ, Uế độ (cõi người), Báo độ và Pháp tính độ. Xem Brahma-kshaXem Phạm sát.
; Buddha-ksetra (S) The land or realm of a Buddha.
Phật đức
佛德; C: fódé; J: buttoku;|Dịch từ chữ Jñānagupta tiếng Phạn (sanskrit), thường được phiên âm là Xà-na-quật-đa (闍那崛多).
phật đức
Buddhaguṇa (S).
; Buddha-virtue.
phật đức tỳ kheo
Xem Xà na quật đa tỳ kheo.
Phật Đức 佛德
[ja] ブットク buttoku ||| Translation of Jñānagupta, commonly known by the transcription of 闍那崛多. => Dịch từ chữ Jñānagupta, (tiếng Sanskrit), thường được phiên âm là Xà-na-quật-đa.
phật ưu đàm bát la hoa thù thắng vương
Buddha of King of Extraordinary-Udumbara Blossom.
phật ảnh
Buddha-chāyā (S).
phật ảnh quật
(佛影窟) Phạm: Buddha- chàyà-guhà. Cũng gọi Cù ba la quật. Hang động bóng Phật. Hang động này nằm về phía nam núi A na tư, ở nước Na yết la hạt thuộc Bắc Ấn độ là Thánh địa nổi tiếng của Ấn độ thời xưa. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội quyển 7, đức Phật từng có lần hóa độ Long vương và quyến thuộc ở hang động này, vì Long vương chí thành cầu thỉnh đức Phật lưu lại, nên Ngài hiện 18 thần biến như ẩn thân trong đá, hiện bóng ra ngoài, giống như hình tượng hiện trong tấm gương; đứng xa hơn 10 bước mà nhìn thì thấy thân Phật màu vàng ròng, ánh sáng chói lọi. Nhưng nhìn gần thì chỉ thấy lờ mờ, không rõ, đưa tay sờ thì chỉ là vách đá. Các người trời nghe tin đức Phật vào trong động đều đến cúng dường bóng Phậtvà bóng Phật cũng nói pháp cho họ nghe. Hang động này cao 1 trượng 8 thước, sâu 24 bước, đá màu trắng trong. Ở phía tây hang động này có 1 tòa tháp cao khoảng 7 trượng và 1 ngôi chùa với hơn 100 vị tăng. Cách động 1 dặm về phía bắc có động Mục liên. Mặt phía bắc còn có 1 ngọn núi, dưới núi có ngôi tháp cao tới 10 trượng. Các ngài Pháp hiển, Đạo chỉnh, Tuệ cảnh... đời Đông Tấn đều đã đến đây. Khi ngài Huyền trang đời Đường đến đây thì vùng này đã hoang tàn, đường đi có nhiều giặc cướp, sự qua lại rất khó khăn. [X. Thích ca phổ Q.3; Lạc dương già lam kí Q.5; Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.2].
phật ấn
Buddha-seal, the sign of assurance.
Phật Ấn Liễu Nguyên
(佛印了元, Butsuin Ryōgen, 1032-1098): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, tự là Giác Lão (覺老), người Phù Lương (浮梁), Nhiêu Châu (饒州, Tỉnh Giang Nam), họ là Lâm (林). Từ lúc còn 2 tuổi, ông đã bắt đầu học Luận Ngữ. Sau ông đến lễ bái Nhật Dụng (日用) ở Bảo Tích Tự (寳積寺) làm thầy và xuất gia, thọ Cụ Túc giới. Ông lên Lô Sơn (廬山), tham yết Khai Tiên Thiện Xiêm (開先善暹), rồi đến Viên Thông Cư Nột (圓通居訥). Vào năm 28 tuổi, ông kế thừa dòng pháp của Thiện Xiêm và bắt đầu hoạt động bố giáo ở Thừa Thiên Tự (承天寺) vùng Giang Châu (江州, Tỉnh Giang Tây). Về sau, ông sống qua một số nơi như Đẩu Phương Tự (斗方寺) ở Thôi Sơn (淮山), Khai Tiên Tự (開先寺) và Quy Tông Tự (歸宗寺) ở Lô Sơn, Kim Sơn (金山) ở Đơn Dương (丹陽, Tỉnh Giang Tô), Đại Quy Sơn (大潙山) ở Giang Tây (江西), v.v., và trãi qua 4 lần sống tại Vân Cư Tự (雲居寺). Ông rất thâm giao với Tô Đông Pha (蘇東坡), còn làm Xã Chủ của Thanh Tùng Xã (青松社), dòng kế thừa của Bạch Liên Xã (白蓮社), và có quan tâm đến tư tưởng Tịnh Độ. Vào ngày mồng 4 tháng giêng năm đầu niên hiệu Nguyên Phù (元符), ông thị tịch, hưởng thọ 67 tuổi đời và 52 hạ lạp, được ban cho hiệu là Phật Ấn Thiền Sư (佛印禪師).
Phật 佛
[ja] ブツ ほとけ butsu hotoke ||| (1) The most basic meaning of the Sanskrit/Pali term buddha is that of "awakened," in the special sense of one who has awakened to the true nature of existence. In this sense, the meaning is often translated as "enlightened" 覺. (2) One who has completely extinguished all afflictive states of mind 煩惱 --who utterly lacks all the mixed manifestations of ignorance 無明, desire 貪, and dislike 瞋. (3) The historical Buddha, Śākyamuni, who lived in India during the 6th century BCE, who had a major enlightenment experience, who subsequently taught others the way to achieve libertion, and following whose death, the religious movement called Buddhism, was formed. (4) Any one of a number the Buddhas who are said to exist in the world. In the early Pali tradition, six are name, but in the later developing Mahāyāna tradition, Buddhas are understood to be infinite in number. In this sense, anyone who attains release (mokṣa 解脱, nirvāṇa 涅槃) from this world of recurring rebirths (saṃsāra 流轉) can be called, in the appropriate contexts, a Buddha. (4) Buddha as an eternal principle of enlightenment/reality, expressed in the notion of the dharmakāya 法身 of the Buddha. (5) Buddha as buddhahood 佛地, the final stage one attains as the result of practices. => Có các nghĩa sau: 1. Nghĩa căn bản nhất của thuật ngữ Buddha trong tiếng Sanskrit và Pali là "tỉnh thức", trong ý nghĩa đặc biệt là người đã giác ngộ ra chân tánh của hiện hữu. Trong ý nghĩa nầy, thuật ngữ thường được dịch là "giác". 2. Người đã hoàn toàn chuyển hóa được mọi phiền não trong tâm - người tuyệt đối không còn mọi biểu hiện của vô minh, tham muốn và sân hận. 3. Đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni (s: Śākyamuni), sống ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ sáu trước CN., người đã đạt được sự giác ngộ tối thượng, sau đó dạy cho chúng sinh phương pháp tu tập để giải thoát, và sau khi Đức Phật nhập niết-bàn, một tôn giáo được hình thành, gọi là Phật giáo. 4. Bất kỳ Đức Phật nào trong vô số Đức Phật đang thường trụ ở thế gian. Hệ kinh văn Pali của Phật giáo Nguyên thủy có ghi danh hiệu sáu Đức Phật, nhưng theo truyền thống Đại thừa Phật giáo phát triển, thì có vô số chư Phật. Trong ý nghĩa nầy, bất kỳ chúng sinh nào đạt được giải thoát (s: mokṣa), chứng được niết-bàn (s: nirvāṇa ) từ trong cõi luân hồi sinh tử (s: saṃsāra) nầy, theo thuật ngữ tương ứng, có thể gọi là Đức Phật.
phật, pháp, tăng
The three Jewels: the Buddha, the Buddha Law or the Dharma, and the Buddhist Monastic Order or the Sangha.
Phật-đà
佛陀; C: fótuó; J: budda; S: buddha.|Có các nghĩa sau: 1. Tiếng Hán phiên âm từ chữ Buddha của tiếng Phạn (sanskrit), có nghĩa là »tỉnh thức, giác ngộ« hoặc »người tỉnh thức, người giác ngộ«. Hầu hết những tác giả và nhà phiên dịch gọi gọn lại bằng một đầu là Phật; 2. Hai chữ nầy cũng là phần đầu pháp danh của nhiều vị ở Ấn Độ và vùng Trung Á.
Phật-đà Bạt-đà-la
佛陀跋陀羅; C: fótuóbátuóluó; J: budda-baddara; S: buddhabhadra.|Có các nghĩa sau: 1. Cao tăng, sinh ở thành Ca-tì-la-vệ (s: Kapilavastu), đến Trung Hoa năm 408. Sư là người phiên dịch đầu tiên kinh Hoa Nghiêm (60 quyển) và kinh Quán Phật Tam-muội hải (觀佛三昧海經); Giác Hiền; 2. Tên vị đệ tử của Dharmakoṣa, người mà Huyền Trang gặp ở Ấn Độ năm 630-640.
Phật-đà Già-da
佛陀伽耶; C: fótuóqiéyé; S: buddhagayā.|Địa danh, được ghi nhận là nơi Phật Thích-ca Mâu-ni thành đạo. Phát âm theo tiếng Hindi mới là Bodhgayā. Ở vào khoảng 10km về hướng Nam của thành phố Gaya hiện đại ngày nay trong vùng Biharu.
Phật-đà Phiến-đa
佛陀扇多; C: fótuóshànduō; J: buddasenta; S: buddhaśānta.|Tên người, dịch nghĩa sang tiếng Hán là Giác Định (覺定). Người miền Bắc Ấn Độ, sang Trung Hoa năm 511 thời Bắc Nguỵ, ở đây sư cùng với Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支; s: bodhiruci) và Lặc-na Ma-đề (勒那摩提; s: ratnamati) dịch Thập địa kinh luận (十地經論; s: daśabhūmika-śāstra). Sau sư trú tại chùa Bạch Mã, dịch Nhiếp Đại thừa luận (攝大乘論; s: mahāyāna-saṃgraha) và một số kinh luận khác. Ngày sinh, ngày mất của sư không rõ.
Phật-đà Tư-na
佛陀斯那; C: fótuósīnà; J: buttashina; S: buddhasena.|Phật-đại-tiên (佛大先).
Phật-đà Ðạt-đa
佛陀達多; P: buddhadatta; dịch nghĩa là Phật Thọ;|Luận sư của Thượng toạ bộ (p: theravāda), sống trong thế kỉ thứ 4-5. Sư sinh tại Tích Lan và viết các tác phẩm của mình tại A-nu-ra-đa-pu-ra (anurādhapura). Sư viết nhiều bài luận về Luật tạng (s, p: vinaya-piṭaka), Tiểu bộ kinh (p: khuddaka-nikāya) và tác phẩm quan trọng nhất là Nhập a-tì-đạt-ma luận (p: abhidhammāvatāra), luận giải A-tì-đạt-ma (p: abhidhamma), trình bày quan điểm của Thượng toạ bộ một cách ngắn gọn, rõ ràng.
Phật-đà Đa-la
佛陀多羅; C: fótuóduōluó; J: buddatara, S: buddhatrāta.|Tên được ghi ở cuối kinh Viên Giác (圓覺經), như là dịch giả của kinh nầy. Thực tế vấn đề nầy còn đáng ngờ, vì dường như khá rõ ràng là kinh được soạn ở Trung Hoa. Tên Phật-đà Đa-la cũng dường như không thấy có sự tương quan với những bộ kinh khác.
Phật-đà-bạt-đà-la 佛陀跋陀羅
[ja] ブッダバッダララ Buddabaddara ||| Buddhabhadra: (1) Of Kapilavastu, who came to China in 408. He was the translator of the first (60 fascicle) version of the Huayan jing 華嚴經 and the Guanfo sanmei hai jing 觀佛三昧海經. (2) The name of a disciple of Dharmakoṣa, whom Xuanzang 玄奘 met in India, 630-640. => (s: Buddhabhadra) Có các nghĩa sau: 1. Cao Tăng, sinh ở thành Ca-tỳ-la-vệ (s: Kapilavastu), đến Trung Hoa năm 408. Ngài là người phiên dịch đầu tiên Kinh Hoa Nghiêm (60 quyển) và Kinh Quán Phật tam Muội Hải (c: Guanfo sanmei hai jing). 2. Tên vị đệ tử của Dharmakoṣa, Ngài Huyền Trang gặp ở Ấn Độ năm 630-640.
Phật-đà-già-da佛陀伽耶
[ja] フツタカヤ buchitakaya ||| Buddhagayā, the name of the place where Śākyamuni is recorded as having attained his enlightenment. Pronounced in modern Hindi as Bodhgayā. Located about 10 km. south of the modern day city of Gaya in Biharu. (s: Buddhagayā), địa danh, được ghi nhận là nơi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni Thành đạo. => Phát âm theo tiếng Hindi mới là Bodhgayā . Ở vào khoảng 10 cây số về hướng Nam của thành phố Gaya hiện đại ngày nay trong vùng Biharu.
Phật-đà-phiến-đa佛陀扇多
[ja] ブッダセンタ Buddasenta ||| Buddhaśānta, whose name is translated into Chinese according to its meaning as Jueding 覺定. Originally from northern India, he came in 511 to the Northern Wei, where he cooperated with Bodhiruci 菩提流支 and Ratnamati 勒那摩提 in the translation of the Daśabhūmika-śāstra 十地經論. He later resided at White Horse Temple, where he translated the Mahāyāna-saṃgraha 攝大乘論 and other texts. His dates of birth and death are unclear. => (s: Buddhaśānta) Tên người, dịch nghĩa sang tiếng Hán là Giác Định. Người miền Bắc Ấn Độ, sang Trung Hoa năm 511 thời Bắc Ngụy, ở đây sư cùng với Ngài Bồ-đề Lưu-chi(s: Bodhiruci) và Lặc-na Ma-đề (s:Ratnamati ) dịch Thập Địa Kinh Luận (s: Daśabhūmika-śāstra ). Sau sư trú chùa Bạch Mã dịch Nhiếp Đại Thừa Luận (s: Mahāyāna-saṃgraha). Ngày sinh, ngày mất của sư không rõ. .
Phật-đà-tiên
佛駄先; C: fótuóxiān; J: buddasen; S: buddhasena.|Phật-đại-tiên (佛大先).
Phật-đà-tiên 佛駄先
Phật-đà-tư-na 佛陀斯那 [ja] ブッダセン Buddasen ||| Buddhasena; see 佛大先. => (s:Buddhasena); Xem Phật-đại-tiên 佛大先.
Phật-đà-đa-la佛陀多羅
[ja] ブッダタラ Buddatara ||| Buddhatrāta, the name given in the colophon of the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經 as its "translator." The facticity of this is questionable, since it seems fairly certain that the sutra was composed in China. Buddhatrāta's name also does not seem to be found in connection with any other texts. => (j: Buddatara ), (s: Buddhatrāta) Tên được ghi ở cuối Kinh Viên Giác, nhưlà dịch giả của kinh nầy. Thực tế vấn đề nầy còn đáng ngờ, vì dường như khá rõ ràng là kinh được soạn ở Trung Hoa. Tên Phật-đà-đa-la cũng dường như không thấy có sự tương quan với những bộ kinh khác.
Phật-đà佛陀
[ja] ブッダ budda ||| (1) Chinese transcription of the Sanskrit buddha, meaning "awakened," or the "awakened one." Most East Asian writers and translators shortened this to the first character 佛. (2) These two characters also form the first part of the names of many monks from India and Central Asia. => Có các nghĩa sau: 1.Tiếng Hán phiên âm từ chữ Buddha của tiếng Sanskrit, có nghĩa là "tỉnh thức, giác ngộ" hoặc "người tỉnh thức, người giác ngộ ". Hầu hết những tác gia và nhà phiên dịch gọi gọn lại bằng một đầu là Phật佛. 2. Hai chữ nầy cũng là phần đầu pháp danh của nhiều vị ở Ấn Độ và vùng Trung Á.
Phật-đại-tiên
佛大先; C: fódàxiān; J: butsudaisen; S: buddhasena.|Luận sư của phái Hữu bộ, sống vào thế kỉ thứ 5, ở nước Kế Tân (罽賓國; kashmir). Còn gọi là Phật-đà-tiên (佛駄先), Phật-đà Tư-na (佛陀斯那).
phế
To dethrone—To depose.
phế bãi
To abolish—To suppress—To nullify.
phế bỏ
See Phế Bãi.
phế lập
(廢立) Bỏ đi và lập nên, như chủ trương Phế quyền lập thực của tông Thiên thai hoặc Phế giả (quyền) lập chân (thực). Quyền là phương tiện tạm thời để đưa vào thực, khi đạt được thực rồi thì đương nhiên không cần dùng đến Quyền nữa mà phải bỏ đi. Luận về sự quan hệ giữa Quyền giáo và Thực giáo, tông Thiên thai cho rằng nói về mặt giáo thể thì Quyền tức là Thực, Thực tức là Quyền, không hai không khác. Nhưng, đứng về phương diện tác dụng dắt dẫn chúng sinh mà nói, thì tông Thiên thai chủ trương Phế quyền lập thực. Vì trong 28 phẩm của kinh Pháp hoa thì 14 phẩm trước là phế bỏ Quyền giáo, lập nên Nhất thừa chân thực, gọi là Phế quyền lập thực. Đây là căn cứ vào pháp mà nói về Phế lập. Còn 14 phẩm sau này phế bỏ Tích mới thành Phật ở Già da, hiển bày Bản đã thành Phật từ lâu xa. Đây là căn cứ vào người mà nói về Phế lập. Tông Tịnh độ thì chủ trương phế bỏ những điều thiện khó làm mà lập nên pháp môn niệm Phật dễ làm. [X. phẩm Vô tự tính tướng trong kinh Giải thâm mật Q.2. luận Câu xá Q.17; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. Khai Phế Hội).
Phế lập 廢立
[ja] ハイリュウ hairyū ||| To discard a (worn-out, lesser) teaching from the standpoint of a (new, more correct, deeper) teaching. See also 廢權立實. 〔二障義HPC 1.790a〕 => Loại trừ một giáo lý (đã cũ mòn, cạn cợt) theo quan điểm giáo lý (tiến bộ, mới, chân chính, sâu sắc hơn).
phế phật huỷ thích
(廢佛毀釋) Cuộc vận động hủy bỏ Phật giáo trong thời kì Minh trị duy tân (1868-1912) ở Nhật bản, chính sách này nhằm củng cố quyền lực tuyệt đối của Thiên hoàng. Cuộc vận động bài Phật rất kịch liệt, thiêu hủy tượng Phật, kinh Phật, pháp khí ở khắp nơi, ra lệnh cho tăng ni phải hoàn tục, các chùa viện hoặc bị phá bỏ hoặc bị sáp nhập. Ý đồ của cuộc vận động này là nhằm phục cổ và quốc giáo hóa Thần đạo để thực hiện đường lối Tế chính nhất trí (Thần và Thiên hoàng là một). (xt. Pháp Nạn, Thần Phật Phân Li).
phế quyền lập thật
(廢權立實) Cũng gọi Phế tam hiển nhất. Phế bỏ các giáo giả tạm trước thời Pháp hoa để thiết lập Pháp hoa Nhất thừa. Tông Thiên thai chia giáo pháp của đức Phật nói trong 45 năm làm 5 thời, 8 giáo. Phế Quyền lậpThực tức là trong 4 thời trước khi Phật nói kinh Pháp hoa, đức Phật đã tùy cơ diễn nói các giáo Đại, Tiểu, Đốn, Tiệm, đó là vì căn tính chúng sinh không đồng đều, chưa khế hợp, nên Ngài chia Nhất Phật thừa làm 3 thừa. Bởi vậy, các giáo trong 4 thời ấy chỉ là pháp môn phương tiện tạm thời, tùy nghi tạm đặt ra để giáo hóa mà thôi. Đến khi đức Phật nói kinh Pháp hoa thì căn tính của những đối cơ được Ngài giáo hóa đã khế hợp và dung thông làm một, có thể bỏ hẳn giáo pháp 3 thừa giả tạm của 4 thời trước mà hội về Nhất thừa chân thực. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 10 thượng) nói: Bỏ hẳn các phương tiện, chỉ nói đạo Vô thượng. Trong Thiên thai tứ giáo nghi, ngài Đế quán cho rằng Phế quyền lập thực là đồng nghĩa với Khai quyền hiển thực hoặc Hội tam qui nhất, cả 3 đều nói rõ về khai hiển của Tích môn Pháp hoa (tức 14 phẩm trước trong 28 phẩm của kinh Pháp hoa). Khai quyền hiển thực là nói về giáo thể, Phế quyền lập thực là nói về giáo dụng, còn Hội tam qui nhất thì nói về hành môn. Ngoài ra, trong Liên hoa tam dụ(3 ví dụ về hoa sen), thì hoa rụng ví dụ cho Phế quyền, sen thành dụ cho Lập thực. Nghĩa là Thực giáo Nhất thừa đã hiển bày thì Quyền giáo Tam thừa tự nhiên phế bỏ. [X. Bài tựa Pháp hoa huyền nghĩa Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm giảng nghĩa Q.1; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Liên Hoa Tam Dụ).
Phế quyền lập thực 廢權立實
[ja] ハイゴンリュウジツ haigonryūjitsu ||| To discard relative truths in favor of the ultimate truth. => Phế bỏ chân lý tương đối, tán đồng chân lý tuyệt đối.
phế tam hiển nhất
(廢三顯一) Đồng nghĩa: Phế quyền lập thực. Bỏ ba hiển một, do tông Thiên thai lập ra. Tông Thiên thai cho rằng giáo pháp đức Phật nói trong các kinh trước kinh Pháp hoa đều là những giáo pháp tạm thời từ một Phật thừa mà chia ra nói làm 3 thừa; đến khi đức Phật nói kinh Pháp hoa thì Ngài xóa bỏ giáo pháp 3 thừa ấy mà mở ra giáo pháp một thừa chân thực. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7, hạ (Đại 33, 773 thượng) nói: Hoa rụng sen thành, tức dụ cho bỏ ba hiển một. (xt. Khai Hiển, Phế Quyền Lập Thực).
phế thuyên đàm chỉ
(廢詮談旨) Đối lại: Y thuyên đàm chỉ. Cũng gọi Phế thuyên biện thực. Xóa bỏ lời nói mà chỉ thẳng vào lí, chủ trương của tông Pháp tướng. Nghĩa là bỏ lời nói phân biệt mà xét thẳng vào lí lẽ chân thực. Lí Nhất chân pháp giới không phải do nói năng, suy nghĩ mà đạt được, chỉ có bậc Thánh trí mới có thể hiểu rõ bằng sự nội chứng của mình. Luận Đại thừa khởi tín thì gọi là Li ngôn chân như (Chân như lìa lời nói). [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2, phần cuối, Q.6, phần đầu]. (xt. Y Thuyên Đàm Chỉ).
phế tiền giáo
(廢前教) Xóa bỏ những điều đã dạy bảo trước. Nghĩa là khi đức Phật nói kinh Niết bàn, Ngài đã hủy bỏ bộ phận giới luật mà Ngài đã chế định từ trước. Như trước kia các vị tỉ khưu được phép ăn 3 thứ thịt thanh tịnh (không thấy con vật khi nó bị giết, không nghe thấytiếngcon vật kêu khi bị giết, không nghi ngờ con vật bị giết là vì mình), nhưng đến khi Phật nói kinh Niết bàn thì hoàn toàn bị nghiêm cấm. Hành sự sao quyển hạ, phần 2 (Đại 40, 118 thượng) nói: Các luật đều nói thịt cá là thời thực, ở đây thìphế tiền giáo. Kinh Niết bàn nói: Từ nay về sau, các đệ tử không được ăn thịt.Phải quán tưởng rằng ăn thịt giống như ăn thịt con mình.
phế tích hiển bản
(廢迹顯本) Cũng gọi Phế tích lập bản. Xóa bỏ Tích môn, hiển bày Bản môn, 1 trong 3 ví dụ thuộc Bản môn của tông Thiên thai, lớp thứ 2 trong 10 lớp Hiển bản của kinh Pháp hoa. Theo thuyết của tông Thiên thai thì trong 4 thời trước kinh Pháp hoa, đức Phật chưa nói gì về ý nghĩa thọ lượng lâu xa, cho nên chúng sinh đều tin rằng đức Phật chỉ mới thành Phật ở Bồ đề già la; đến khi nói phẩm Thọ lượng trong kinh Pháp hoa, đức Phật mới cho biết là Ngài đã thành Phật từ vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kì kiếp trước rồi, giống như hoa rụng sen thành. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 9 hạ (Đại 33, 798 hạ) nói: Phế tíchhiển bảncũng là nói pháp.Ngày trước vì chúng sinh trong đời 5 trược ác, nghiệp chướng còn sâu nặng nên chưa thể nói về Bản địa thành Phật đã từ lâu xa, mà chỉ hiển bày sự thành Phật gần trong Tích môn. Nay nghiệp chướng đã trừ,cơ duyên đã đến, nên phải xóa bỏ giáo pháp phương tiện Tích môn nói mới thành Phật dưới gốc cây Bồ đề. Giờ thì tâm chấp gần đã đoạn, giáo phương tiện cũng dứt.Đức Như laithườngthuyết pháp giáo hóa ở thế giới Sa bà này và dắt dẫn làm lợi ích chúng sinh trong trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kì cõi nước khác, tức là xóa bỏ tích giáo trong 1 thời kì, hiển bày bản thuyết lâu xa. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm giảng nghĩa Q.7; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Khai Quyền Hiển Thực, Liên Hoa Tam Dụ).
Phế 廢
[ja] ハイ hai ||| (1) Fall into disuse; become obsolete; die out, decline, be outmoded. (2) Get rid of; discard. => 1. Bỏ, không dùng đến; trở nên lỗi thời, lụi tàn, suy tàn, lỗi thời. 2. Tống khứ, rủ sạch; loại bỏ.
phệ
Sủa (như chó)—To bark (as a dog).
phệ lam
Xem Tì lam.
; Vairam (skt)—Một loại gió—A kind of wind.
phệ lam bà
Vairambha (skt)—Một loại mãnh phong—A kind of fierce wind.
phệ lô già na
Vairocana (skt)—Phệ Lô Giả Na—Tỳ Lô Giá Na—Tỳ Lư Xá Na—Tên tiếng Phạn của Pháp thân Phật Đại Nhựt Như Lai—The Sanskrit name for the dharmakaya of Vairocana Buddha.
Phệ lưu li
吠琉璃; C: fèiliúlí; J: bairuri; S: vaiḍūrya; E: lapiz lazuli.|Một loại đá quý màu xanh da trời. Thường gọi tắt là Lưu li (瑠璃).
phệ lưu ly
vaidurya (skt)—Tỳ Lưu Ly—Lưu Ly Tỳ Đầu Lê—Tỳ Trù Lê Dạ—Ngọc bích (màu xanh da trời)—Lapis lazuli.
Phệ lưu ly 吠琉璃
[ja]バイルリ bairuri ||| Lapiz lazuli; a blue-green gem (vaiḍūrya). Usually written more briefly as 瑠璃. (s: vaiḍūrya; e: Lapiz lazuli) => Một loại đá quý màu xanh da trời. Thương gọi tắt là Lưu ly.
Phệ Quy
(筮龜) hay Phệ Bốc (筮卜): bói toán bằng thẻ tre (một bó có 50 thẻ) và bằng cách đốt mu rùa. Từ đó nó có nghĩa là bói toán nói chung. Trong Chu Dịch Chánh Nghĩa (周易正義), phần Nhĩ Nhã (爾雅) có giải thích về 10 loại thẻ rùa để bói toán, quyết đoán mọi nghi nan rằng: “Thập bằng chi quy giả, nhất viết Thần Quy, nhị viết Linh Quy, tam viết Nhiếp Quy, tứ viết Bảo Quy, ngũ viết Văn Quy, lục viết Phệ Quy, thất viết Sơn Quy, bát viết Trạch Quy, cửu viết Thủy Quy, thập viết Hỏa Quy (十朋之龜者、一曰神龜、二曰靈龜、三曰攝龜、四曰寶龜、五曰文龜、六曰筮龜、七曰山龜、八曰澤龜、九曰水龜、十曰火龜, mười loại thẻ bói rùa, một là Thần Quy, hai là Linh Quy, ba là Nhiếp Quy, bốn là Bảo Quy, năm là Văn Quy, sáu là Phệ Quy, bảy là Sơn Quy, tám là Trạch Quy, chín là Thủy Quy, mười là Hỏa Quy).”
phệ thất la mạt nã
Vaisravana or Dhananda, or Vessanvana (skt)—Tỳ Thất La Mãn Nang—Tỳ Xá La Bà Nô—Tỳ Sa Môn hay Đa Văn Thiên Vương, một trong Tứ Thiên Vương—A form of Kuvera, a god of wealth. A deva who hears much and is well-versed. ** For more information, please see Tứ Thiên Vương.
phệ thế sư
Vaisesika (skt)—Phế Thế Sư Ca—Phệ Thế Sử Ca Xa Tát Đát La—Phái Thắng Luận dựa theo trước tác của Ngài Thế Thân—Paramartha-satya-sastra, a philosophical work by Vasubandhu.
phệ thế sử ca
Vaisesika CS). A non-buddhist sect. Also Thắng luận, Đa nguyên thực tại luận.
phệ thế sử ca phái
Xem Thắng Luận phái.
phệ xá
Vaiśya (S), Drha-pati (S), Vessa (P)Tỳ xá daGiai cấp thứ ba ở Ấn độ, gồm: nông dân, công nhân, thương gia.
; Vaisya (skt)—Phệ Xa—Tỳ Xá—Giai cấp buôn bán, giai cấp thứ ba trong bốn giai cấp Ấn Độ—The third of the four Indian castes.
phệ xá (chủng)
Vaisya (S). A cast.
phệ xá già
Vaisakha (skt)—Tháng thứ hai của Ấn Độ, từ 15 tháng hai đến 16 tháng ba âm lịch—The second Indian month, from 15th of the second to 16th of the third Chinese months. ** For more information, please see Thập Nhị Nguyệt.
phệ xá khư
(吠舍佉) Phạm:Vaizàkha. Pàli:Vesàkha. Cũng gọi Bệ xá khư, Tô xá khư, Thiện cách. Hán dịch: Quí xuân. Tháng thứ 2 của lịch Ấn độ, là khoảng thời gian đức Phật đản sinh, tức khoảng từ ngày 16 tháng 2 đến 15 tháng 3 âm lịch (khoảng tháng 4 đến tháng 5 Tây lịch). Tháng này tương đương với thời gian nóng dần trong 6 thời của Ấn độ. Ngoài ra, tiết Phật xá khư theo Phật giáo Nam truyền là lễ kỉ niệm đức Phật đản sinh, thành đạo và Niết bàn, nhằm ngày trăng tròn trong khoảng tháng 4 hoặc tháng 5 Tây lịch. Năm 1954, Đại hội Phật giáo thế giới lần thứ 3 được tổ chức tại thủ đô Rangoon của Miến điện, đã quyết định ngày này là ngày đức Phật của thế giới. Tại Tích lan và các nước vùng Đông nam á theo Phật giáo cũng lấy ngày này làm ngày truyền thống của quốc gia. [X. kinh Thập nhị nhân duyên tường thụy Q.thượng; kinh Bảo tinh đà la ni Q.4; kinh Đại khổng tước chú vương Q.hạ; kinh Tú diệu Q.thượng, Đại đường tây vực kí Q.2].
phệ xá li
(吠舍厘) Phạm: Vaizàli. Cũng gọi Tì già li, Tì xá li, Bệ xá li, Tì quán la, Duy da, Duy tà. Hán dịch: Quảng bác, Quảng nghiêm. Tên 1 nước ở Trung Ấn độ đời xưa, 1 trong 16 nước lớn, cũng là 1 trong 6 đại đô thành ở thời bấy giờ, là chỗ ở của chủng tộc Li xa tử (Phạm: Licchavi). Cứ theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 3 thì khi đức Phật còn tại thế, dân chúng Li xa ở nước này rất phồn vinh, đức Phật đã nhiều lần đến đây thuyết pháp, dân chúng đều kính tin Phật giáo. Ngoài ra, theo Đại đường tây vực kí quyển 7, nước này chu vi hơn 5 nghìn dặm, đất đai màu mỡ, phong tục thuần hậu, có vài mươi ngôi đền thờ trời, ngoại đạo ở xen lẫn. Cách phíatây bắc đô thành chừng 5, 6 dặm có 1 ngôi già lam, chư tăng ở đây học pháp của Chính lượng bộ, phía đông thành có di tích chứng quả của ngài Xá lợi phất; cách đô thành về phía đông bắc khoảng 3 dặm, có tháp ghi chỗ nhà cũ của Đại sĩ Duy ma, ở gần đó cũng có các tháp kỉ niệm chỗ ngài Duy ma thị hiện có bệnh để nói pháp và ghi chỗ nhà cũ của bà Am một la; phía tây bắc thành có nền cũ của tòa tháp kỉ niệm nơi đức Phật đến đây lần cuối cùng. Đức Phật từng nói kinh Duy ma và kinh Dược sư ở thành này. Sau đức Phật nhập diệt 100 năm, có 700 vị A la hán cử hành Đại hội kết tập lần thứ 2 ở thành này. Vị trí của thành này hiện nay tương đương với vùngBesàrhở đông ngạn sông Gandak, bắc ngạn sông Hằng của Ấn độ. [X. phẩm Thắng tộc kinh Phương quảng trang nghiêm Q.1; kinh Đại bát niết bàn Q.1 (bản Bắc); phẩm Phụng trì kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.hạ; kinh Phật mẫu đại Khổng tước minh vương Q.trung; luật Ngũ phần Q.2; Thiện kiến luật tì bà sa Q.10; luật Thập tụng Q. 40; Hữu bộ tì nại da dược sự Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7].
phệ xá ly
Xem Quảng nghiêm thành.
; Vaisali (S).
phệ đà
Xem Vệ đà.
; Vedas (S). Brahmanic canon. Also Vệ đà.
; Kinh Vệ Đà—Veda (skt).
; (吠陀) Phạm, Pàli: Veda. Hán âm: Phệ đà, Vi đà, Tì đà, Bệ đà, Tỉ đà, Bì đà. Hán dịch: Trí, Minh, Minh trí, Minh giải, Phân. Cũng gọi Vi đà luận, Tì đà luận kinh, Bệ đà chú, Trí luận, Minh luận. Danh từ gọi chung cácthánh điển của Bà la môn giáo Ấn độ. Nguyênnghĩalà tri thức, tức là kho báu tri thức thần thánh, là văn hiến cơ bản của Bà la môn giáo. Là văn hiến tông giáo có quan hệ mật thiết với nghi thức cúng tế. Về niên đại thành lập sách Phệ đà có nhiều thuyết khác nhau. Thông thường, người ta suy đoán rằng nó được hoàn thành vào thời gian người Aryan từ Tây bắc xâm nhập và định cư ở vùng Ngũ hà (Phạm: Paĩjab) thuộc lưu vực sông Ấn độ (Indus). Kinh Phệ đà nguyên có 3 loại: Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda), Sa ma phệ đà (Phạm: Sàma-veda) và Dạ nhu phệ đà (Phạm: Yajur-veda). Ba bộ này gọi là Tam minh, Tam phệ đà, Tam vi đà luận, Tam bộ cửu điển. Sau thêm A thát bà phệ đà (Phạm: Atharva-veda) nữa thành 4 bộ Phệ đà. 1. Lê câu phệ đà (cũng gọi Hà lực phệ đà, Hiệt lực bệ đà, Tín lực tì đà). Hán dịch: Tán tụng minh luận, Tác minh thực thuyết. TứcPhệ đà có liên quan đến Tán ca (Phạm: Fc). Thời thái cổ, người Aryan di cư đến vùng Ngũ hà của Ấn độ, họ sùng bái thần tự nhiên, làm những bài ca để tán tụng thần, rồi gom góp lại mà thành sách Lê câu phệ đà, là gốc của 4 bộ Phệ đà, về sau trở thành kinh điển tế tự của Khuyến thỉnh tăng (Phạm: Hotf). Bộ Phệ đà này là Thánh điển xưa nhất của thế giới, hình thành vào khoảng từ 1400 năm đến 1000 năm trước Tây lịch, gồm 10 quyển, tổng cộng có 1.017 thiên Tán ca (bổ sung 11 thiên nữa thành 1.028 thiên), 10.580 bài tụng. 2. Sa ma phệ đà (cũng gọi Sa ma bệ đà, Tam ma phệ đà). Hán dịch: Bình, Đẳng, Ca vịnh minh luận, Tác minh mĩ ngôn, Lễ nghi mĩ ngôn trí luận. Là Phệ đà có liên quan đến việc ca vịnh và Toàn luật (Phạm: Sàman). Là Thánh điển dùng trong việc cúng tế, gồm những bài tán ca và những ca khúc do Ca vịnh tăng (Phạm: Udgàtf) ngâm vịnh trong các nghi thức tế lễ như Tô ma tế..., có 2 quyển, 1.810 bài tụng (bỏ những bài trùng lắp thì có 1.549 bài tụng, phần nhiều được sao chép từ bộ Lê câu phệ đà, chỉ có 78 bài tụng mới). 3. Dạ nhu phệ đà (cũng gọi Dã thụ phệ đà, Da thụ bệ đà, Da thụ tì đà, Dạ thù tì đà). Hán dịch: Từ, Tế từ, Tác minh cúng thí, Tế tựtrí luận, Tế tự minh luận. Tức Phệ đà có liên quan đến việc tế tự, gồm những văn chú và chú thích văn chú mà Hành tế tăng (Phạm: Adhvaryu) xướng tụng, được biên soạn sau Lê câu phệ đà. Có 2 loại: a) Hắc dạ nhu phệ đà (Phạm: Kfwịayajur-veda): Do chính vănPhệ đà (tán ca, tế tự, chú từ...) và Phạm thư (sách chú thích Phệ đà) hợp thành, có 4 thứ (hoặc 5 thứ, 7 thứ, 8 thứ), gồm 13 quyển. b) Bạch dạ nhu phệ đà (Phạm: Zuklayajur-veda): Do tách rời chính văn với Phạm thư, chỉnh đốn lại Hắc dạ nhu và sắp xếp lại những lời giải thích về văn chú mà thành. 4. Athát bà phệ đà (cũng gọi A kiện bệ đà, A tha tì đà, A đà bà tì đà, A vi thát bà). Hán dịch: Chú, Thuật, Chú thuật, Nhương tai, Tác minh hộ hữu, Dị năng hộ phương trí luận, Nhương tai minh luận. Là Phệ đà do thu tập những lời thần chú cầu phúc do Hỏa tế tăng (Phạm: Atharvan) chủ trì; còn những lời thần chú trừ tai họa, nguyền rủa thì do Ương kì la tăng (Phạm: Aígiras) tụng đọc. Bộ Phệ đà này gồm 20 quyển, 731 thiên, 6.000 bài tụng, trong đó có 1.200 bài được sao chép ra từ bộ Lê câu phệ đà. Bốn bộ Phệ đà trên đây, mỗi bộ đều có Phó phệ đà (Phạm: Upa-veda), như Phó phệ đà của Lê câu phệ đà là A luân luận (Phạm: Àyar-veda), Hán dịch Thọ mệnh luận, tức là sách thuốc. Phó phệ đà của Sa ma phệ đà là Kiện thát bà luận (Phạm: Gàndharva-veda), tức là Âm nhạc luận. Phó phệ đà của Dạ nhu phệ đà là Đà nâu luận (Phạm: Dhanuveda), tức là Xạ pháp luận (sách dạy cách bắn cung). Phó phệ đà của A thát bà phệ đà là Vũ khí luận (Phạm: Zastra-zàstra), tức là Quân học.Nội dung của 4 bộ Phệ đà, nói chung, bao gồm Bản tập (Phạm: Saôhità) của 4 Phệ đà, Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa, Phạm thư nghĩa hẹp), Sâm lâm thư (Phạm: Àraịyaka) và Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad). Về sau, Phạm thư và Áo nghĩa thư phần nhiều được nghiên cứu riêng biệt. Bản tập củabốn Phệ đà: Thu chép những bài Tán ca, Câu chú, lời tế... Phạm thư (nghĩa hẹp) chia ra làm 2 bộ: Nghi quĩ, Thích nghĩa. Nghi quĩ qui định phương thức và thứ tự tế lễ, cách sử dụng tán ca. Thích nghĩa thì giải thích ý nghĩa, nguồn gốc của tán ca và nguồn gốc, ý nghĩa của tế tự. Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư (cũng gọi Phệ đàn đa) thì nhằm khảo sát và giải thích ý nghĩa đời sống con người. Còn phạm thư theo nghĩa rộng thì bao gồm cả 3 bộ: Phạm thư (nghĩa hẹp), Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư. Bởi thế, khi nói đến Phệ đà, thì Phệ đà nghĩa hẹp chỉ đơn thuần chỉ cho Bản tập, cònPhệ đà nghĩa rộng thì chỉ cho cả Bản tập và Phạm thư (nghĩa rộng). Do sự truyền thừa và giải thích khác nhau, nên đời sau phát sinh nhiều học phái và bản văn bất đồng, tạo thành tổ chức văn hiến phức tạp. Văn hiến Phệ đà được truyền đến ngày nay, tuy chỉ có 1 phần nhỏ, nhưng cũng rất đồ sộ. Phệ đà là văn học thiên khải (Phạm: Zruti, do thiên thần hiển hiện mở bày), tương truyền do các vị đại tiên thời thái cổ y cứ theo sự mở bày của thần linh mà tụng ra, rồi do vị tiên Tì da sa (Phạm: Vyàsa, Hán dịch Quảng bác) sửa chữa lại mà biên tập thành. Bản thân Phệ đà cũng đã là ý nghĩa thần trí thiên khải rồi, cho nên cùng với Phạm thư đều được gọi là Thiên khải, để phân biệt với Kinh (Phạm: Sùtra) do trí thức, trí tuệ của loài người tạo tác và truyền thừa. Đến đời sau, các học phái như Di mạn sai (Phạm: Mìmàôsà), Phệ đàn đa (Phạm: Vedànta)... cho rằng Phệ đà là tiên thiên thường trụ, là tuyệt đối chân thực và chủ trương Thanh thường trụ luận, chính là thừa kế thuyết Thiên khải vậy. Thánh điển thiên khải này phát triển đến đời sau, lại sinh ra nhiều sách vở phụ trợ, đó chính là 6 chi phần Phệ đà (Phạm: Vedàíga). Những chi phần này cùng với 2 bộ Đại tự sự thi Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata), La ma da na (Phạm: Ràmàyana) và bộ Pháp điển Ma nô (Phạm: Mànava Dharma Zàtra)... đều là do Thánh hiền trứ tác, vì thế được gọi là Thánh truyền văn học (Phạm: Smfti). Nội dung của 6 chi phần Phệ đà bao gồm: Ngữ âm học (Phạm: Zikwà), Vận luật học (Phạm: Chandas), Văn pháp học (Phạm: Vyàkasaịa), Ngữ nguyên học (Phạm: Nirukta), Thiên văn lịch học (Phạm: Jyotiwa), Tế nghi cương yếu học (Phạm: Kalpa-sùtra)...Trong đó, Tế nghi cương yếu học là sách vở không thể thiếu để hiểu rõPhệ đà. Ngôn ngữ được sử dụng trong Phệ đà gọi là Phệ đà ngữ (Phạm: Vedic Sanskrit), do thời đại bất đồng mà có các tầng bậc mới cũ. Nhận xét về mặt văn vần (tán ca) và văn xuôi (tự thuật) thì trên văn thể và ngữ pháp đều có sai khác. Đến Áo nghĩa thư thì đã gần với văn Phạm cổ điển. Phệ đà là bộ sách tập hợp tinh túy của văn học Ấn độ cổ đại, là nguồn gốc của tư tưởng Bà la môn chính thống, đặc sắc của Phệ đà là dung hợp 3 yếu tố thần thoại, tông giáo và triết học. Xét về nội dung, phần chứa đựng những tư tưởng tông giáo và triết học là phẩm Trí (Phạm:Jĩànakàịđa), tức Áo nghĩa thư; phần chứa đựng bộ môn tế tự là phẩm Nghiệp (Phạm: Karmakàịđa), tương đương với Phạm thư. Tư tưởng triết học của Phệ đà bắt đầu từ Vũ trụ luận của các bài tán ca được sáng tạo trong Lê câu phệ đà, rồi phát triển thành giáo lí thần thoại phong phú của Đa thần giáo, cuối cùng đạt đến nguyên lí căn bản Phạm Ngã Nhất Như của Áo nghĩa thư, tức là triết học Nhất nguyên luận bất nhị. Thời gần đây, việc nghiên cứuPhệ đà rất được xem trọng. Sự nghiên cứu về phương diện thần cách và thần thoại của Phệ đà đã sản sinh ra tông giáo học và Thần thoại tỉ giảo học... Còn kết quả của việc nghiên cứu Phệ đà ngữ thì đã đóng góp rất lớn cho nềnNgôn ngữ tỉ giảo học. Hiện nay, nguyên điển Phệ đà đã được xuất bản và dịch ra nhiều thứ tiếng như Anh, Đức... [X. kinh Tì da sa vấn Q.thượng; kinh Đại bảo tích Q.120, hộiQuảng bác tiên nhân; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.10; kinh Đại thừa mật nghiêm Q.thượng; luật Thập tụng Q.38; Hữu bộ bật sô ni tì nại da Q.1; luận Đại tì bà sa Q.14; luận Đại trí độ Q.2; Bách luận sớ Q.thượng, phần cuối; Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.10, phần đầu; Đại đường tây vực kí Q.2; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Ấn độ tam đại thánh điển thiên 1 (Mi văn khai); Ấn độ triết học sử lược, chương 1 (Thang dụng đồng); Ấn độ triết học sử cương thiên 1, chương 1 (Hoàng sám hoa)]. (xt. Tứ Phệ Đà, Áo Nghĩa Thư).
phệ đà giáo
(吠陀教) Một trong những tông giáo cổ đại diễn biến từ tín ngưỡng của bộ lạc du mục Aryan ở vùng Tây bắc Ấn độ vào khoảng 2000 năm trước Tây lịch mà thành, thuộc về Đa thần giáo. Tông giáo này sùng bái những năng lực tự nhiên được thần thánh hóa, sùng bái tổ tiên và những nhân vật anh hùng... như Thiên thần Phạt lâu nã, thần Thái dương Tô lợi da, thần sấm Nhân đà la, thần gió Phạt do, thần lửa A kì ni, thần rượu Tô ma...Các thần trên đây thuộc 3 cõi trời, hư không và mặt đất phần nhiều đã do người Aryan du nhập từ Ba tư. Về sau, tông giáo này dần dần phát triển thành Nhất thần giáo, do đó đã xuất hiện các vị thần trừu tượng như Tạo nhất thiết thần (Phạm: Vizva-karman), Kì đảo chủ thần (Phạm: Brahmaịaspati), Nguyên nhân (Phạm: Puruwa)... Quan niệm về linh hồn cũng đã manh nha, tuy vẫn chưa có tư tưởng linh hồn chuyển sinh, nhưng Phệ đà giáo đã có ảnh hưởng rất lớn đối với sự hình thành của Bà la môn giáo và Ấn độ giáo sau này.
phệ đà thánh điển cương yếu
Vedartha-saṃgraha (S)Kinh điển Bà la môn.
; (吠陀聖典綱要) Phạm: Vedartha-saôgraha. Tác phẩm, do nhà triết học phái Phệ đàn đa của Ấn độ làLa ma noa già (Phạm: Ràmànuja, 1017-1137) soạn, chủ yếu nói rõ nghĩa tinh túy của Áo nghĩa thư. Nội dung gồm các điểm: 1. Trình bày sơ lược về lập trường của tác giả và lập trường của các phái đối lập.2. Bác bỏ luận thuyết của các học giả khác trong phái Phệ đàn đa, như Bất nhị nhất nguyên luận của Thương yết la (Phạm: Zaíkara) Bất nhất bất dị thuyết của Ba tư gia la (Phạm: Bhàskara) và của Da đạt phạt bà la ca hạ (Phạm: Yadavapra Kaza). 3. Bàn rõ về các nguyên lí tinh thần thuần túy, nguyên chất căn bản... 4. Chỉ rõ tín ngưỡng thành kính đối với thần (Thượng đế). La ma noa già lấy Chế hạn nhất nguyên luận làm nền tảng cho triết học của ông, chủ trương tín ngưỡng kiền thành là điều kiện tất yếu để được giải thoát. Những tác phẩm trọng yếu của ông phần nhiều là những sách chú thích các kinh điển. Tác phẩm này cho thấy rõ tư tưởng độc lập của ông. [X. The Theolory of Ràmànuja, New Haven 1974, by J. B. Carman].
phệ đàn đa học phái
(吠檀多學派) Phệ đàn đa, Phạm: Vedànta. Cũng gọi Hậu di mạn sai phái (Phạm: Uttara-mìmàôsà), Trí di mạn sai phái (Phạm: Jĩàna-mìmàôsà). Nguyên chỉ cho Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad), chuyên nghiên cứu và giải thuyết nghĩa thâm áo (sâu kín) của Phệ đà, về sau phát triển dần dần thành 1 phái lấy tên Phệ đàn đa học phái. Học phái này chủ trương Phạm (Phạm: Brahman) là thực tại tối cao, 1 học phái chính thống có thế lực nhất trong 6 phái triết học Ấn độ đời xưa. Phái này được thành lập vào khoảng thế kỉ I Tây lịch, thủy tổ là Bạt đa la diễn na (Phạm: Bàdaràyaịa). Nội dung tư tưởng phái này căn cứ vào Áo nghĩa thư cổ đại, rồi điều hòa tổ chức các học thuyết từ xưa mà thành, vì thế mà phái này được coi như học đồ của Áo nghĩa thư (Phạm: Aupaniwada). Những sách vở y cứ của phái này được biên soạn vào khoảng thế kỉ V.Phái này lấy Phạm kinh (Phạm: Brahma-Sùtra) làm Thánh điển căn bản, phát huy tư tưởng Phạm, Ngã (Phạm: Àtman) trong Áo nghĩa thư. Về sau, Phạm kinh còn được gọi là Phệ đàn đa kinh (Phạm: Vedànta-sùtra), hoặc Căn bản tư duy kinh (Phạm: Sàrìraka-mìmàôsàsùtra). Thuyết của kinh này chủ trương Phạm là Ngã tối cao, Phạm cũng là căn nguyên sinh thành vũ trụ, muôn vật đều do Phạm chuyển biến huyễn hiện, sự tồn tại của thân thể đều từ Phạm mà ra, Ngã tuy là 1 phần của Phạm, nhưng chẳng phải từ Phạm sinh ra, cho nên Ngã không thể là quả của Phạm, đây chính là lí do cắt nghĩa Phạm cũng ở nơi 1 phần Ngã, sự quan hệ giữa Phạm và Ngã cũng giống như sự quan hệ giữa vũ trụ muôn vật được tạo thành và vũ trụ tinh thần là chẳng phải một chẳng phải khác, cho nên mới đề xướng thuyết Phạm Ngã bất nhất bất dị (Phạm: Bhedàbheda). Bà la môn chính thống cho rằng Áo nghĩa thư là sự tồn tại tuyệt đối (Áo nghĩa thư là 1 thứ trong Phệ đà), phái này tuy công nhận điều đó nhưng lại chủ trương Phệ đà tồn tại trong Áo nghĩa thư thì mới có giá trị cao hơn. Tuy nhiên, tinh thần căn bản của phái này vẫn lấy sự phát huy tư tưởng Phạm-Ngã trong Áo nghĩa thư làm mục đích, cho nên, nói một cách đại thể thì phái này vẫn thuộc về tư tưởng Bà la môn chính thống. Do văn chương kinh Phệ đà giản dị, trong sáng nên rất nhiều học giả các phái chú giải kinh này, chẳng hạn như Mãn đô khư da tụng (Phạm: Màịđùkya-kàrikà) của Cao đạt phạ đạt (Phạm: Gauđapàda), Căn bản tư duy kinh chú của Thương yết la a xà lê (Phạm: Zaíkaràcàrya), Phạm kinh chú của La ma noa già (Phạm: Ràmànuja), Phệ đàn đa tinh yếu (Phạm: Vedàntasàra) của Sa đạt nan đà (Phạm: Sadànanda)... Về sau, Thương yết la a xà lê chịu ảnh hưởng của học phái Du già và tư tưởng Trung quán của Phật giáo, đem tư tưởng trong Mãn khư đô khư da tụng của Cao đạt phạ đạt phát triển thành Bất nhị Nhất nguyên luận (Phạm: Advaitavàda), chủ trương Phạm ngã nhất nguyên là thường trụ chân thực, chẳng sinh chẳng diệt và cho rằng tất cả hiện tượng giới đều do thức biến hiện. Ba tư gia la (Phạm: Bhàskara) phản đối thuyết trên đây của Thương yết la a xà lê mà lập riêng thuyết bất nhất bất dị, chủ trương Phạm là thực tại tối cao, cũng thừa nhận thế giới và các loài hữu tình là thực có. Vào thế kỉ XI, La ma noa già phản đối thuyết này mà đề xướng Chế hạn nhất nguyên luận (Phạm: Viziwỉàdvaita) chủ trương Phạm tức là thần Tì sắt nô (Phạm: Viwịu), trong thân Tì sắt nô bao gồm vật chất và Ngã cá nhân, đương lúc Phạm khởi động chuyển biến thì vật chất trở thành khí thế giới và thân hữu tình, còn Ngã cá nhân thì trở thành linh hồn của loài hữu tình, tức chủ trương vật chất và Ngã cá nhân chỉ là thuộc tính của Phạm, chẳng phải hoàn toàn tương đồng với Phạm. Cả hai phái này (Ba tư gia la và La ma noa già) cùng với Bất nhị Nhất nguyên luận đồng thời lưu truyền đến ngày nay, hợp thành 1 học phái lớn mạnh. Ngoài ra, Ninh ba nhĩ ca (Phạm: Nimbarka) thuộc phái Tì sắt nô chịu ảnh hưởng của La ma noa già, đề xướng thuyết Bất nhất bất dị. Vào thế kỉ XII, Ma đà ba (Phạm: Madhva), soạn sách chú thích kinh Phệ đàn đa đề xướng thuyết Nhị nguyên (Phạm: Dvaita), chủ trương Ngã tối cao (Thần Tì sắt nô) cùng với Ngã cá nhân và vật chất không giống nhau. Giữa thế kỉ XIII, A nan đà cát lợi (Phạm: Ànandagiri), chú thích lại các sách chú sớ của kinh Phệ đàn đa, kể cả chú thích của Thương yết la a xà lê. Vào thế kỉ XIV, Duy đô á lạp ni nhã (Phạm: Vidyàraịya), soạn sáchPaĩdazì, chủ trươngthuyết Tuyệt đối bất nhị. Khoảng thế kỉ XV, XVI, Bà nhĩ la ba (Phạm: Vallabha) chủ trương thuyết Thanh tịnh bất nhị (Phạm: Zuddhàdvaita), nghĩa là Ngã cá nhân và vật chất cùng với Phạm chẳng phải là hai. Nói tóm lại, lí luận của phái Phệ đàn đa đều cho rằng Phạm Ngã nhất như là nguyên lí tuyệt đối, hiện đang thịnh hành và là dòng phái chính của trào lưu tư tưởng Ấn độ. [X. Ấn độ triết học khái luận (Lương thấu minh); Ấn độ lục phái triết học cương yếu (Lí thế kiệt); Ấn độ triết học nghiên cứu Q.1 (Vũ tỉnh Bá thọ); The Vedàntasùtra, by Thibaut; Das system des Vedànta, by Deussen; Der ltereVedànta, by Walleser].
phệ đàn đa phái
Vedanta (S)Hậu Di Man Sai phái, Trí Di Man Sai pháiHọc phái Phệ đàn đa, chủ trương phạm ngã nhất nguyên luận, khai tổ là Badarayana (Bà đạt la da na), kinh căn bản là Phệ đàn đa.
phệ đàn đa tinh yếu
(吠檀多精要) Phạm: Vedànta-sàra. Tác phẩm, gồm 12 thiên, 204 bài tụng, do Sa đạt nan da (Phạm: Sadànanda) soạn vào cuối thế kỉ XV, do tổng hợp 2 luận thuyết Phạm Ngã bất nhị nhất nguyên luận của Thương yết la (Phạm: Saíkarà) và Chế hạn nhất nguyên luận của La ma noa già (Phạm:Ràmànuja) mà thành. Nội dung sách này chủ trương 4 luận điểm sau đây: 1. Sự cúng tế có ý nghĩa nội tại của nó, do đó phải thực hành nghi lễ cúng tế. 2. Quả báo đời nay và đời sau đều là tạm thời, vì thế cần phải chán lìa. 3. Vô minh ẩn kín trong Phạm, khi gặp thời cơ thích đáng thì xuất hiện. Phạm là vị thứ 4 (Giác vị) trong Bốn vị, là bản thể không sai khác. Hai câu cách ngôn Ngã tức Phạm (Phạm: A ham Brahma asmi – Ta là Phạm), Đà tức nhĩ (Phạm: Tat tvam asi – Cái ấy tức là ngươi) được dùng để thuyết minh bản thể tuyệt đối duy nhất của Phạm. Còn Vô minh thì bao gồm 3 vị trước (Tuệ vị, Quang vị, Vạn nhân vị) được cấu thành bởi 3 yếu tố: Thuần chất, Kích chất và Ế chất. Sa đạt noa đa lại dựa vào sự quan hệ tương đối của thế giới(tướng chung) và cá nhân(tướng riêng) để nói rõ trạng huống các giai đoạn phát triển của Vô minh từ chỗ sâu kín tối tăm khó thấy đến hiện tượng cụ thể. 4. Nếu muốn cầu giải thoát thì cần phải tư duy một cách thực tiễn, hiểu rõ và vào tam muội thiền định, chuyên niệm Phạm Ngã bất nhị. Sách này chịu ảnh hưởng sâu đậm của học phái Số luận. [X. A Manual of Hindu Pantheism, 1881, by Jacob; Phệ đàn đa triết học chi nghiên cứu (Kim thương Viên chiếu)].
Phệ-thế-sử
xem Vệ-thế-sư.
Phệ-đà
吠陀; C: fèituó; J: haita;|Phiên âm chữ Veda từ tiếng Phạn, là kinh văn căn bản của Bà-la-môn Ấn Độ giáo.
Phệ-đà 吠陀
[ja] ハイタ haita ||| Transcription of the Sanskrit veda, the basic texts of Brahmanistic Indian religion. => Phiên âm chữ Veda từ tiếng Sanskrit, là kinh văn căn bản của Bà-la-môn Ấn Độ giáo.
phỉ
Piti (p)—Zest—Hân hoan hay hứng thú—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), từ “Phỉ” được rút ra từ động từ “panayati” của Phạn ngữ có nghĩa là hoan hỷ hay thích thú. Danh từ “Piti” thường được dịch là Phỉ hay Hỷ, đóng đúng vai trò của nó như là một yếu tố trong thiền na. Phỉ tạm thời khắc phục triền cái “oán ghét sân hận.” Có năm loại “Phỉ.”—According to the Abhidharma, “Piti” derived from the verb “panayati” meaning “to refresh,” may be explained as delight or pleasurable interest in the object. The term is often translated as rapture, a rendering which fits its role as a jhana factor. “Piti” inhibits the hindrance of ill-will (vyapada). There are five grades of “piti.” 1) Khuddaka Piti (p): Cái vui làm mình rùng mình, rởn óc (nổi da gà)—Minor zest which is able to raise the hair on the body. 2) Khanika Piti (p): Cái vui thoáng qua mau lẹ như trời chớp—Momentary zest which is like flashes of lightning. 3) Okkantika Piti (p): Cái vui tràn ngập như sóng biển trườn lên bãi—Showering zest which breaks over the body again and again like waves on the sea shore. 4) Ubbega Piti (p): Cái vui thanh thoát đem lại cho hành giả cảm giác nhẹ nhàng như bông gòn lững lơ bay theo chiều gió—Uplifting zest which can cause the body to levitate. 5) Pharana Piti (p): Cái vui thấm nhuần toàn thể châu thân như bong bóng được thổi phồng hay trận lụt tràn lan làm ngập cả ao hồ—Pervading zest which pervades the whole body as a full-air balloon or as an inundation fills a cavern.
phỉ báng
Apavada (skt). (I) Nghĩa của Phỉ Báng—The meanings of Apavada: 1) Nói xấu—To speak ill of—To defame—To slander—To dispraise—To calumniate—To refute—To deny—To vilify. 2) Sự phỉ báng xãy ra khi bản chất bất khả hữu của một mệnh đề được đặt căn bản trên những kiến giải sai lầm không được hiểu rõ ràng: A refutation takes place when the impossible nature of a proposition based on wrong views is not clear comprehended. (II) Cổ Đức dạy: “Thí như nhơn thóa thiên, hoàn tùng kỷ thân trụy.” Nghĩa là người phun nước miếng lên trời, nước miếng rơi trở xuống ngay nơi mặt chính họ. Hoặc là “Ngậm máu phun người nhơ miệng mình.”—Ancient virtues taught: “Those who spit at the sky, immediately the spit will fall back on their face.” Or To harbor blood to spit at someone, the mouth is the first to suffer from filth. (I) Lời Phật dạy về Phỉ Báng trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Apavada: Chớ nên phỉ báng, đừng làm não hại, giữ giới luật tinh nghiêm, uống ăn có chừng mực, riêng ở chỗ tịch tịnh, siêng tu tập thiền định; ấy lời chư Phật dạy—Not to slander, not to harm, but to restrain oneself in accordance with the fundamental moral codes, to be moderate in eating, to dwell in secluded abode, to meditate on higher thoughts, this is the teaching of the Buddhas (Dharmapada 185).
phỉ báng chánh pháp
Saddharma-pratiksepa (S).
; Phỉ báng Phật pháp (tội nầy nặng nhất vĩnh viễn đọa vào địa ngục)—To speak ill of the Buddhist doctrines—To slander or deny the truth, i.e. Buddhism.
phỉ báng chính pháp
(誹謗正法) Phạm: Saddharma-pratikwepa. Cũng gọi: Báng pháp, Phá pháp, Đoạn pháp. Dèm chê chính pháp của đức Phật. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng thì đức Phật A di đà phát nguyện cứu độ những chúng sinh niệm Phật, chỉ trừ những người phạm tội Ngũ nghịch và phỉ báng chính pháp. Kinh Bồ tát thiện giới cho tội phỉ báng chính pháp là 1 trong 8 Ba la di (8 giới nặng) của Bồ tát. Còn kinh Phạm võng quyển hạ thì cho tội phỉ báng Tam bảo là 1 trong 10 Ba la di của Bồ tát. Nói chung, phỉ báng chính pháp có 2 loại: 1. Không tin pháp Đại, Tiểu thừa mà nghi ngờ phỉ báng. 2. Không tin các kinh Đại thừa là do chính đức Phật nói mà dèm chê; hoặc thấy người đọc tụng, biên chép, thụ trì các kinh Đại thừa mà sinh lòng khinh dễ, ghen ghét. Theo Bồ tát giới kinh nghĩa sớ quyển hạ của ngài Trí khải thì dèm chê Tam bảo là do 4 loại tà kiến: 1. Thượng tà kiến: Chủ trương tất cả đều không có nhân quả. 2.Trung tà kiến: Chẳng cho tất cả không có nhân quả mà chỉ nói Tam bảo không bằng ngoại đạo. 3. Hạ tà kiến: Chẳng nói Tam bảo không bằng ngoại đạo, mà trong tâm chấp trước pháp Nhị thừa là thù thắng, rồi bỏ Đại thừa mà giữ Tiểu thừa. 4. Tạp tà kiến: Có 4 loại: Chấp trước thiên lệch, tin tưởng tạp nhạp, tạm nhớ Tiểu thừa và suy nghĩ hẹp hòi lầm lẫn. Nhưng thuyết phỉ báng chính pháp rất ít thấy trong các kinh A hàm mà phần nhiều chỉ thấy rải rác trong các kinh điển Đại thừa, mục đích là để răn dạy hàng Thanh văn Tiểu thừa dèm chê Đại thừa. [X. phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2; phẩm Nê lê kinh Đạo hành bát nhã Q.3; phẩm A duy việt trí kinh Đạo hành bát nhã Q.6; phẩm Tín hủy kinh Đại phẩm bát nhã Q.11; phẩm Bất thoái Q.16; phẩm Thí dụ kinh Bát chu tam muội; kinh Đại bát niết bàn Q.7, 16 (bản Bắc); kinh Đại bảo quảng bác lâu các thiện trụ bí mật đà la ni Q.trung; kinh Bồ tát địa trì Q.5; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; luận Du già sư địa Q.40; luận Thích tịnh độ quần nghi Q.6; Pháp uyển châu lâm Q.58].
phỉ báng và cố chấp
Makkha thambha (S).
phỉ luật tân phật giáo
(菲律賓佛教) Phật giáo Phi luật tân. Nước Phi luật tân nằm về phía Tây nam Thái bình dương, khoảng giữa eo biển Ba sĩ và Đài loan, do hơn 7.000 hòn đảo lớn nhỏ hợp thành, diện tích 30 vạn cây số vuông, dân số khoảng hơn 40 triệu, 90% tin theo Thiên chúa giáo, là quốc gia Thiên chúa giáo duy nhất ở Viễn đông, vì thế Phật giáo rất khó phát triển được ở xứ này.Từ rất sớm, khoảng thế kỉ VIII đến XIII Tây lịch, Đế quốc Phật giáo Thất lợi phật thệ (Sri-vishaya), đặt thủ đô ở Sumatra hiện nay, từng đã mở rộng thế lực đến quần đảo Phi luật tân, Phật giáo cũng theo đó mà được truyền vào xứ này. Trong thổ ngữ Phi luật tân ngày nay vẫn còn giữ được một số thành phần tiếng Phạm, những di vật đào được cũng có tượng Phật và những tác phẩmchạm trổ hoa sen... đều là những cứ liệu chứng minh sự có mặt của Phật giáo tại Phi luật tân thời xưa, rất tiếc là chưa kịp bén rễ thì làn sóng Hồi giáo tràn sang phương đông. Bắt đầu từ thế kỉ XVI, người Tây ban nha thi hành chính sách thực dân, dùng vũ lực cưỡng bức thổ dân bỏ tín ngưỡng truyền thống để theo Thiên chúa giáo La mã, cho mãi đến năm 1946, dưới sự bảo hộ của nước Mĩ, người Phi luật tân mới bắt đầu thành lập chính phủ độc lập. Từ đó Phật giáo Phi luật tân cận đại cũng bắt đầu hoạt động, nhưng hoàn toàn không có quan hệ gì với quá khứ xa xưa, mà chỉ do người Hoa kiều đưa từ Trung quốc truyền vào, như Quan âm đường, chùa Viên thông... ở thủ đô Ma ni la đều do người Hoa kiều sáng lập và do người tại gia chủ trì chứ chưa có các sư. Do đó những hoạt động hoằng pháp chưa được hoạch định, nên những cơ sở trên chỉ có thể được coi là những đạo tràng đáp ứng nhu yếu cầu phúc của người Hoa tại Phi luật tân ở giai đoạn đầu. Năm Dân quốc 20 (1931), giới Hoa kiều thành lập Hội nghiên cứu Phật học Trung hoa tại Phi, năm sau ấn hành tạp chí Hải quốc già âm và năm Dân quốc 25 (1936) xây chùa Đại thừa tín nguyện, là ngôi chùa hoằng dương chánh pháp đầu tiên ở Phi luật tân. Pháp sư Tính nguyện được cung thỉnh từ Trung quốc đến giữ chức Trụ trì, bắt đầu giảng kinh, thuyết pháp và mở các khóa tu niệm cho tín chúng, không bao lâu, chùa Tín nguyện trở thành trung tâm tín ngưỡng của đông đảo người Hoa tại thủ đô Ma ni la. Ngoài chùa Tín nguyện, tiếp tục có các tinh xá và các chùa khác như: Hoa tạng, Phổ đà, Bảo tạng, Ẩn tú, Túc yến, Linh thứu, Liên hoa... được xây dựng và đều trang nghiêm đẹp đẽ, có thêm các vị tăng ni từ Trung quốc được thỉnh sang để trụ trì. Đồng thời, các trường học Phật giáo như trường Năng nhân, trường Phổ đà được thành lập để giáo dục thanh thiếu niên và tờ quí san Từ hàng được phát hành, là cơ quan trọng yếu hoằng dương Phật pháp và phát triển văn hóa Phật giáo. Ngoài ra, 1 phân hội của hội Phật giáo thế giới cũng được đặt tại Phi luật tân và đóng góp rất nhiều vào các hoạt động từ thiện xã hội. Nhận xét chung, do những trở ngại thực tế về ngôn ngữ và tín ngưỡng Thiên chúa giáo cố hữu, nên sự phát triển Phật giáo phần nhiều chỉ hạn trong giới người Hoa kiều, chứ khó đến được các tầng lớp người Phi luật tân. Tín đồ Phật giáo trên toàn cõi Phi luật tân có khoảng 100.000 người, so với các tông giáo khác thì Phật giáo chỉ là thiểu số.
phỉ nguyền
Satisfied.
phỉnh nịnh
To flatter.
phọc
(縛) Phạm: Bandhana. Trói buộc. Tên khác của phiền não. Có nhiều loại: 1. Hai loại phược: a) Tương ứng phược và Sở duyên phược: Phiền não Kiến hoặc, Tư hoặc trói buộc tâm, tâm sở, đồng thời tương ứng với tâm, tâm sở làm cho không được tự tại, gọi là Tương ứng hoặc. Phiền não trói buộc các pháp sở duyên, gọi là Sở duyên phược. b) Tướng phược và Thô trọng phược: -Tướng phược (cũng gọi là Tướng hoặc): Tướng phần sở duyên (đối tượng bị nhận thức) trói buộc Kiến phần (chủ thể nhận thức). Tức là tính phân biệt vọng chấp tự tính của Biến kế sở chấp; hoặc của tính phân biệt này chỉ là duyên của hoặc. Vì tính phân biệt (Kiến phần) bị duyên của hoặc (Tướng phần) trói buộc, cho nên gọi là Tướng phược. -Thô trọng phược (cũng gọi là Thô trọng hoặc): Tính y tha vọng chấp tự tính của Y tha khởi; hoặc của tính Y tha này là thể của hoặc, có năng lực trói buộc chúng sinh và chiêu cảm quả báo đời sau, vì thế gọi là Thô trọng hoặc. c) Tử phược và Quả phược: -Bị phiền não trói buộc, gọi là Tử phược. -Bị quả khổ trói buộc, gọi là Quả phược. 2. Ba loại phược: Tham, sân si, tức tham, sân, si trói buộc tâm chúng sinh làm cho mất tự do, tự tại, vì thế gọi 3 loại phược. 3. Bốn loại phược: a) Tham dục thân phược: Năm dục (tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ) trói buộc thân làm mất tự do, giải thoát. b) Sân khuể thân phược: Tức giận trói buộc chúng sinh khiến cho không được tự tại. c) Giới đạo thân phược: Các hoặc do chấp tà giới làm tăng trưởng trói buộc thân chúng sinh, khiến không được giải thoát. d) Ngã kiến thân phược: Các hoặc nghiệp do ngã kiến làm tăng trưởng trói buộc thân chúng sinh khiến không được tự tại. Như đối với pháp chẳng phải là Niết bàn mà vọng phân biệt là Niết bàn, rồi sinh tâm chấp trước. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; luận Đại tì bà sa Q.22, 86; luận Tì bà sa Q.2; luận Thuận chính lí Q.54; luận Hiển dương thánh giáo Q.16; luận Tam vô tính Q.thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.3]. (xt. Tam Phược, Tử Phược Quả Phược, Ngũ Phược, Tứ Phược).
; (縛) Cũng gọi Bà, Phược, Hòa. Chữ Tất đàm (va). Biến khẩu thanh thứ 4 trong những biến khẩu thanh của phụ âm trong Tất đàm, 1 trong 50, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Tổng hợp sự giải thích trong các kinh luận thì chữ này có nhiều nghĩa. 1. Nghĩa ngôn thuyết: Giải thích trên bề mặt theo hình tướng của chữ. 2. Nghĩa ngôn thuyết bất khả đắc: Giải thích sâu kín theo nghĩa chữ. Hai cách giải thích sâu cạn trên đây đều theo chữ đầu của tiếng Phạm:Vàkya, Vac hoặcVàda. 3. Nghĩa âm thanh tối thượng thừa: Giải thích theo các chữ đầu của tiếng Phạm: Vara-yàna hoặc Variwỉha-yàna (tối thượng thừa). 4. Nghĩa vũ đại pháp vũ: Tưới trận mưa pháp lớn. Giải thích theo chữ đầu trong tiếng Phạm:Varwaịa(mưa trút xuống). 5. Nghĩa phổ sinh an trụ. Ngoài ra để phân biệt chữ Phạ (va) này với chữ Phạ (ba), xưa nay thường gọi chữ Phạ này là chữ (va) ngôn thuyết. Lại vì hình chữ của 2 chữ này gần giống nhau, rất dễ lẫn lộn, cho nên cũng gọi chữ trước là chữ Phạ (va) hình bán nguyệt, chữ sau là chữ Phạ (ba) hình hoa sen. Trong Mật giáo, khi nói về chủng tử của 6 đại(đất, nước, lửa, gió, không, thức)thì dùng chữ Phạ (va) này làm chủng tử của nước (thủy đại). Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Kim cương đính (Đại 18, 339 thượng) nói: Chữ Phạ (va) nghĩa là hết thảy các pháp dứt bặt nói năng(Nhất thiết pháp ngữ ngôn đạo đoạn). Phẩm Văn tự trong kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) quyển 8 (Đại 12, 654 hạ) nói: Hòa(Phạ) nghĩa là đứcNhư lai Thế tôn vì chúng sinh mà tưới xuống trận mưa pháp lớn, nên gọi là Hòa. [X. kinh Quang tán bát nhã Q.7; kinh Hoa nghiêm Q.76 (bản dịch mới); phẩm Tự mẫu kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng, kinh Đại nhật Q.2; luận Đại trí độ Q.48; Đại nhật kinh sớ Q.7].
phọc ca
(縛迦) Phạm:Vàkya. Cũng gọi Bạc ca. Đồng nghĩa: Bạt cừ (Phạm:Varga). Nghĩa chương, bộ, phẩm, lời... Câu xá luận sớ quyển 5 (Đại 41, 552 thượng) nói:Tiếng Phạm Phạ ca, Hán dịch: Chương, là giải thích về nghĩa rốt ráo, như chương nói về các hành vô thường....
phọc dã phệ
Vāyave (S)Tên vị thần gió.
; (縛野吠) Phạm:Vàyave. Một loại xe của thần gió không bị trói buộc. Phệ biểu thị Tam muội không lời, là nghĩa rốt ráo không. Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 7 nói rằng: Loại xe của thần gió xưa nay vốn không bị ràng buộc, thực sự được giải thoát, trong chỗ rốt ráo không, xoay chuyển vô ngại, đi lại nhanh chóng, có khả năng chuyên chở hết thảy chúng sinh.
phọc mã đáp
(縛馬答) Cũng gọi Thuận hoàn đáp. Lời đáp buộc ngựa, ví dụ câu trả lời vòng vo không đúng ý người hỏi. Luận Câu xá quyển 8 (Đại 29, 41 hạ) nói: Những lời này giống với phược mã đáp. Như có người hỏi: Người buộc ngựa là ai? Đáp: Chủ ngựa! Người kia lại hỏi: Chủ ngựa là ai? Đáp: Người buộc! Hai câu trả lời này đều không làm cho người hỏi hiểu được. [X. Câu xá luận quang kí Q.8].
phọc nhật la
(縛日羅) Phạm:Vajra. Cũng gọi Bạt chiết la, Phạt chiết la, Chước ca la. Hán dịch: Kim cương, Kim cương chử. Kim cương chử(chày kim cương)là 1 thứ vũ khí của người Ấn độ đời xưa, dùng để diệt quân địch khi xung trận. Trong Mật giáo, Kim cương chử được dùng làm vật cầm tay của các vị tôn, cũng là đạo cụ tu pháp của hành giả Chân ngôn. (xt. Kim Cương, Kim Cương Chử).
phọc sô hà
(縛芻河) Phạm: Vakwu hoặc Vaíkwu. Cũng gọi Bác xoa hà, Bà xoa hà, Bà sai hà, Bà du hà. Tên sông, thời xưa Trung quốc gọi là Qui thủy(sông Qui)hoặc sông Ô hử, bắt nguồn từ dãy núi Hindu Kush, từ phía tây bắc chảy qua vùng Trung á rồi đổ vào Hàm hải (Aral sea). Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 1, thì 27 nước như Đổ hóa la v.v... đều thuộc lưu vực sông này, đây là 1 trong vài con sông lớn ở vùng Trung á. Xét về vị trí của sông này trong tư liệu qua các đời thì hiện nay là sông Oxus (Amu Daria River). [X. phẩm Diêm phù châu trong kinh Khởi thế; luận A tì đàm tì bà sa Q.2].
phọc thoát
(縛脫) Trói buộc và giải thoát, hoặc giải thoát khỏi sự trói buộc của phiền não. Kinh Lăng nghiêm quyển 5 (Đại 19, 124 hạ) nói: Đức Phật bảo ngài A nan: Căn và trần cùng nguồn, trói buộc và giải thoát không hai; thức tính hư dối, như hoa đốm trong hư không.
phọc tát đát la
(縛薩怛羅) Phạm: Vastra. Cũng gọi Bà tham. Hán dịch: Y(áo). Loại áo mặc tốt. Luật của Hữu bộ cũng dùng từ Phạ tát đát la để gọi áo chư tăng. [X. phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa Q.5; Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.6; Du già luận kí Q.6, phần cuối].
phọc tư tiên
(縛斯仙) Phạ tư, Phạm: Vasiwỉha. Pàli: Vaseỉỉha. Cũng gọi Bà tẩu tiên. Vị tôn ngồi ở phía đông Ngoại kim cương bộ, trên Mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo, là 1 trong 6 Hỏa thiên, 1 trong 28 bộ chúng, nguyên là vị tiên ở thời đại Phệ đà của Ấn độ. Hình tượng vị tôn này ở trần, tay phải cầm hoa sen, tay trái cầm chuỗi hạt, chân phải xếp bằng, đầu gối chân trái dựng đứng, hình Tam muội da là chuỗi hạt. Ở viện Hư không tạng, vị tôn này là người tiên khổ hạnh ở trần, tay trái cầm gậy và đứng, tay phải dáng như búng ngón tay, hình Tam muội da là gậy tiên. [X. kinh Anh vũ trong Trung a hàm Q.38; Đại nhật kinh sớ Q.6, 16; Đại nhật kinh sớ diễn nghĩa sao Q.53].
phọc để
(縛底) Phạm: Patnì. Cũng gọi Ba đế. Hán dịch: Thê nữ, Nữ. [X. Tính linh tập Q.8; Bí tạng kí].
phỏng
1) To copy—To imitate. 2) Burnt.
phỏng vấn
To interview.
phỏng đoán
To guess—To presume.
phỏng độ
To estimate—To value.
phối hợp
To combine—To Coordinate.
phối trí
See Phối hợp.
phồn hoa
Prosperous.
phồn thịnh
See Phồn hoa.
Phổ
普; C: pŭ; J: fu;|Rộng rãi, nói chung, toàn thể.
phổ
Samanta (S), Immense Rộng lớn.
; Visva (S). Universal, all; pervasive, ubiquitous.
; Visva (skt). 1) Phổ biến—Universal—All—Pervasive. 2) Phổ cập: Popular.
phổ am
(普庵) (1115-1169) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Nam Tống, người Nghi xuân (Nghi xuân, Viên châu, Giang tây), họ Dư, húy Ấn túc. Năm 20 tuổi, sư thờ ngài Hiền công ở viện Thọ long làm thầy, năm 27 tuổi cạo tóc, tháng 5 năm sau thụ giới Cụ túc. Sư có dung mạo khôi ngô, trí tuệ sáng suốt, rất được ngài Hiền công quí trọng và thường khuyên sư đọc kinh Pháp hoa. Nhưng sư cho rằng tỏ ngộ ý chỉ sâu xa của chư Phật chỉ ở chỗ nhất tâm, chứ nghiên cứu kinh văn trên giấy mực chẳng có ích gì, vì thế sư mới đến vùng Hồ Tương (Hồ nam,Tương giang) tham yết ngài Mục am Pháp trung, có chỗtỉnh ngộ, rồi trở về viện Thọ long. Năm Thiệu hưng 23 (1153), sư vào trụ ở chùa Từ hóa, ngoài giờ thiền định, sư xem Hoa nghiêm kinh luận, 1 hôm, sư hoát nhiên đại ngộ, thân chứng cảnh giới Hoa nghiêm. Từ đó về sau, người nghe danh sư tìm đến cầu học rất đông, sư tùy nghi nói pháp, hoặc viết kệ, hoặc dùng cỏ chữa bệnh, cầu mưa, phá hủy các miếu thờ dâm thần, rất linh nghiệm. Ngày 21 tháng 7 năm Càn đạo 25 (1169), sau khi làm kệ để lại, sư an nhiên thị tịch, thọ 55 tuổi. Vua ban thụy hiệu Phổ Am Tịch Cảm Diệu Tế Chân Giác Chiêu Huống Thiền Sư. Đến đời Nguyên, vua Thành tông truy tặng thụy hiệu Đại Đức Tuệ Khánh. Đời minh, vua Thành tổ lại ban thụy hiệu Phổ Am Chí Thiện Hoằng Nhân Viên Thông Trí Tuệ Tịch Cảm Diệu Ứng Từ Tế Chân Giác Chiêu Huống Tuệ Khánh Hộ Quốc Tuyên Giáo Đại Đức Bồ Tát. Vì lúc sống sư diệt trừ tai nạn, tật bệnh cho mọi người rất linh nghiệm, nên vào năm Diên hựu (1314-1320) đời Nguyên, ngài Tông hốt sáng lập chùa Tuệ khánh, phía sau chùa xây điện Phổ quang minh để thờ tượng của sư, quan dân đều kính tin. Tông Lâm tế Nhật bản cũng chịu ảnh hưởng của phong tục này, nên sau điện Phật cũng thờ bài vị của sư. Sư để lại tác phẩm: Phổ am Ấn túc thiền sư ngữ lục, 3 quyển. [X. Phổ am Ấn túc thiền sư ngữ lục tự; Thiên như duy tắc thiền sư ngữ lục Q.6, 8; Phật tổ lịch đại thông tải Q.30, 36; Thích thị kê cổ lược Q.4; Linh tượng môn Thiền lâm tượng khí tiên].
Phổ Am Ấn Túc
(普庵印肅, 1115-1169), còn gọi là Phổ Am Thiền Sư (普庵[菴]禪師), Phổ Am Tổ Sư (普庵祖師); trong dân gian vẫn thường gọi là Phổ Án (普唵). Ngài là bậc cao tăng của Lâm Tế Tông, pháp từ của Mục Am Pháp Trung (牧庵法忠), sanh vào năm thứ 5 (1115) niên hiệu Chính Hòa (政和) đời vua Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) nhà Tống; xuất thân Nghi Xuân (宜春), Viên Châu (袁州); họ là Dư (余), dung mạo rất kỳ khôi, thiên tánh mẫn tuệ. Khi hạ sanh ông, mẫu thân mộng thấy ánh sáng tỏa khắp bầu trời, hoa sen sanh trên lối đi. Lúc còn nhỏ, Phổ Am mộng thấy một vị dị tăng chỉ vào ngực ông mà bảo rằng: “Ngươi ngày kia sẽ tỉnh ngộ.” Tỉnh dậy, ông đem câu chuyện ấy kể cho mẹ nghe, người mẹ bèn vạch ngực ông ra xem thì quả nhiên có một điểm màu hồng như trái đào. Vào năm 1134 (Thiệu Hưng [紹興] 4), lúc 20 tuổi, ông xuất gia với Thiền Sư Thọ Long Hiền (壽隆賢); rồi đến năm 1141 (Thiệu Hưng 11) mới được xuống tóc và năm sau thì thọ giới ở Khai Nguyên Tự (開元寺), Viên Châu (袁州). Vào năm 1143 (Thiệu Hưng 13), ông đến dạo chơi Hồ Tương (湖湘), tham yết Thiền Sư Yết Mục Am Pháp Trung (牧庵法忠), được vị này khai thị cho nên tỉnh ngộ. Sau ông trở về Thọ Long Viện (壽隆院). Đến năm 1153 (Thiệu Hưng 23), năm lên 39 tuổi, ông được thỉnh làm Trú Trì Từ Hóa Tự (慈化寺) ở Nghi Xuân, Giang Tây (江西). Ông thường mặc áo vải thô sơ, lưng chưa hề chấm chiếu, chuyên tâm Thiền định, nhân một hôm đọc đến đoạn “đạt bổn tình vong, tri tâm thể hợp (達本情忘、知心體合, đạt gốc tình quên, biết tâm thể hợp)” trong Kinh Hoa Nghiêm thì hoát nhiên tỉnh ngộ. Vào năm 1169 (Càn Đạo [乾道] 5, đời vua Hiếu Tông [孝宗, tại vị 1162-1189] nhà Nam Tống), ông tắm rửa, viết bài kệ, ngồi xếp bằng viên tịch. Bộ Phổ Am Ấn Túc Thiền Sư Ngữ Lục (普菴印肅禪師語錄), 3 quyển, của ông hiện được thâu lục trong bộ Vạn Tân Toản Tục Tạng Kinh (卍新纂續藏經, Vol. 69, No. 1356). Do vì khi còn tại thế, có rất nhiều truyền thuyết linh nghiệm về ông, sau khi qua đời, Thiền Sư Phổ Am được mọi người tín ngưỡng, trở thành một vị thần thánh của Phật Giáo chuyên tiêu tai, giải ách. Như vào năm 1156 (Thiệu Hưng 26), một hôm nọ Thiền Sư mở pháp hội, mọi người đến tham dự rất đông; vì vậy quan phủ cho người đến điều tra xem thử hư thực thế nào, nhưng đột nhiên cuồng phong, mưa lớn, trên trời hiện ra một con rồng lớn, nên quan phủ không dám điều tra, bèn quay trở về. Lại có hôm nọ, đáp ứng lời mời của người tín đồ tên Trần Thiên Chương (陳天章), cử hành pháp sự tại tư gia của người này, nhưng chỉ sai chúng tăng tụng một bộ Kinh Kim Cang. Nhân đó, Trần Thiên Chương không vui lòng, vì vậy Thiền Sư Phổ Am phải tụng thêm một bộ Kinh Kim Cang nữa. Về sau, Trần Thiên Chương bị chết sấp giữa đường, rồi ba ngày sau thì tái sanh lại, tự cho là ông bị dẫn xuống Địa Phủ, Phán Quan quở trách ông rằng: “Sao nhà ngươi lại bất kính với Thiền Sư Phổ Am, rồi bắt tụng thêm biến Kinh Kim Cang.” Sau đó, Trần Thiên Chương lại mang một xâu tiền đèn dầu cúng cho Thiền Sư và nhân đó Thiền Sư viết lên lên lưng ông bốn chữ “thí tài công cứ (施財功據, công đức bố thí tiền tài)”. Sau khi Trần Thiên Chương qua đời, trong một gia đình họ Cam (甘) hạ sanh một đứa bé, trên lưng đứa bé ấy xuất hiện dấu tích bốn chữ như vậy. Tương truyền Thiền Sư rất sùng kính Kinh Kim Cang, từng dùng máu mình viết bộ kinh này trong vòng 5 năm trường và sau đó được tôn thờ tại Từ Hóa Tự. Bộ kinh này cùng với bài văn bia Kim Cang Kinh của thi hào Tô Đông Pha (蘇東坡, 1036-1101) ở Huệ Lực Tự (慧力寺), Lâm Giang (臨江), được xem như là hai bảo vật vô giá về Kinh Kim Cang của Giang Tây. Vào năm 1300 (Đại Đức [大德] 4, đời vua Thành Tông [成宗, tại vị 1294-1307] nhà Nguyên), ông được ban cho thụy hiệu là Đại Đức Huệ Khánh (大德慧慶); rồi đến năm 1420 (Vĩnh Lạc [永樂] 18, đời vua Thành Tổ [成祖, tại vị 1402-1424] nhà Minh), ông lại được phong thêm hiệu là Phổ Am Chí Thiện Hoằng Nhân Viên Thông Trí Tuệ Tịch Cảm Ứng Từ Tế Chơn Giác Chiêu Huống Huệ Khánh Hộ Quốc Tuyên Giáo Đại Đức Bồ Tát (普庵至善弘仁圓通智慧寂感妙應慈濟眞覺昭貺慧慶護國宣敎大德菩薩). Tại các tự viện của Lâm Tế Tông, thường có thờ Thần Vị của Thiền Sư Phổ Am để hàng phục yêu ma. Do vì ông có tính thần dị, có các đạo sĩ không thuộc Phật Giáo lại tôn sùng ông là Tổ Sư, xưng hiệu là Phổ Án Giáo Chủ (普唵敎主) của Phổ Am Phái (普庵派) hay Phổ Án Phái (普唵派). Tượng của ông có nhiều loại khác nhau như tượng Tỳ Kheo, Đạo Sĩ, Tướng Quân, Đế Vương, v.v. Thậm chí như những người chuyên về ngư nghiệp, thuyền hải cũng thường tôn thờ Thần Vị của Thiền Sư Phổ Am trên thuyền của họ để cầu bình an trên sông nước; nên ông còn được xem như là người có công năng như Hải Thần vậy. Theo truyền thuyết của dân gian, nếu lấy giấy màu hồng, vàng viết lên 8 chữ “Phổ Am đáo thử bách vô cấm kỵ (普庵到此百無禁忌, Phổ Am đến đây, trăm điều không còn cấm kỵ nữa)”, rồi dán trong nhà thì có thể cải thiện được vấn đề phong thủy; hay mang nơi thân mình thì có thể xua đuổi điều xấu và mang lại điều lành. Trong lúc sinh tiền, ông thường làm những điều linh nghiệm như bẻ cây trị bệnh, chặt cây ma quái, cầu mưa, v.v. Hơn nữa, ông lại rất tinh thông Phạn văn, từng lấy Phạn văn phiên âm thành chú, người đời gọi đó là Phổ Am Chú (普庵咒). Thần chú này có thần lực làm cho an định mười phương và tòng lâm, nên thường được tụng tại các tự viện vào mỗi dịp đầu và giữa tháng. Thậm chí thần chú này còn có công năng xua đuổi các loài muỗi, trùng, rắn rít, v.v. Trong khoảng niên hiệu Vạn Lịch (萬曆, 1573-1620) nhà Minh, Thiền Sư Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏, 1535-1615) mới đưa thần chú này vào bản Chư Kinh Nhật Tụng (諸經日誦).
phổ bi quan âm
(普悲觀音) Một trong 33 hóa nhân của bồ tát Quán thế âm, tương đương với hóa thân nói trong phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa (Đại 9, 57 trung): Người cần đến thân trời Đại tự tại để được độ, liền hiện thân trời Đại tự tại mà nói pháp cho họ nghe. Hình tượng của Ngài 2 tay buông thõng xuống giấu trong áo pháp, đứng trên núi. Trời Đại tự tại là vị thần cao nhất trong 3 cõi. Vì uy đức thù thắng của vị thần này được phối hợp với lòng từ bi bình đẳng trùm khắp của bồ tát Quan âm, cho nên gọi là Phổ bi Quan âm. [X. Phật tượng đồ vựng Q.2]. (xt. Tam Thập Tam Quan Âm).
Phổ biến
普徧 (遍); C: pŭbian; J: fuhen; |Thâm nhập khắp nơi. Phổ biến, truyền bá khắp nơi.
phổ biến
Là chẳng nơi nào không có, chẳng lúc nào không có.
; To disseminate—To spread—To distribute—To universalize—Universal—Everywhere—On all sides.
phổ biến kim cang bồ tát
Xem Bất không kiến Bồ tát.
Phổ biến quang minh thanh tịnh xí thạnh như ý bảo ấn tâm vô năng thắng đại minh vương đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh
普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經; C: pŭbiàn guāngmíng qīngjìng chìchéng rúyìbăo yìnxīn wúnéngshèng dàmíngwáng dàsuíqiú tuóluóní jīng; J: fuhen kōmyō shōjō shijō nyoishō inshin munōshō daimyōō daizuigu daranikyō; S: mahā-pratisarā-vidyārājñī; T: phags pa rig pa'i rgyal mo so sor 'brang ba chen mo;|Là kinh văn đầu tiên trong Ngũ vị lục (s: pañcarakṣā), dâng lên cho Đại tuỳ cầu (大隨求, s: mahāpratisarā), vị bảo hộ thoát khỏi điều xấu ác, tội lỗi và bệnh tật. Có 2 bản dịch tiếng Hán đang lưu hành:|1. Phổ biến quang minh thanh tịnh xí thạnh như ý bảo ấn tâm vô năng thắng đại minh vương đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh (普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經), viết tắt là Đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh (大隨求陀羅尼), 2 quyển, Bất Không dịch. Luận giải tiêng Nhật của Minh Giác (明覺, j: myōkaku) nhan đề Đại tuỳ cầu đà-la-ni khám chú (大隨求陀羅尼勘註) .|2. Đại tuỳ cầu ấn đắc đại tự tại đà-la-ni thần chú kinh (隨求即得大自在陀羅尼神呪經), 1 quyển; Bảo Tư Duy (寶思惟, s: maṇicintana) dịch. Bản dịch tiếng Anh từ bản kinh tương ứng xin xem Lewis (1995).
Phổ biến quang minh thanh tịnh xí thạnh như ý bảo ấn tâm vô năng thắng đại minh vương đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh 普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經
[ja] フヘンコウミョウショウジョウシジョウニョイホウインシンムノウショウダイミョウオウダイズイグダラニキョウ Fuhen kōmyō shōjō shijō nyoishō inshin munōshō daimyōō daizuigu daranikyō ||| The Pubian guangming qingjing chicheng ruyibao yinxin wunengsheng damingwang dasuiqiu tuoluoni jing; Skt. Mahāpratisarā-vidyārājñī; Tib. phags pa rig pa'i rgyal mo so sor 'brang ba chen mo [To. 561, P.179] ; (Dhāraṇī of the Great Protectress, Queen of Mantras). The first text of the Pañcarakṣā corpus, devoted to Mahāpratisarā 大隨求, who protects against evil, sin and illness. Two Chinese translations are extant: (1) 2 fasc. (T 1153.20.616-637), Dhāraṇī of the Great Protectress who is Universally Radiant, Pure, Incandescent, a Wish-granting Gem, and the Sealed Essence of the Invincible King of Mantras 普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經, abbr. Dhāraṇī of the Great Guardress 大隨求陀羅尼經, trans. Amoghavajra 不空. Japanese commentary: Myōkaku's 明覺 Intuitive Notes 大隨求陀羅尼勘註 (T 2242). (2) 1 fasc. (T 1154.20.637-644), Dhāraṇī Incantation of the Protectress who Grants Great Freedom 隨求即得大自在陀羅尼神呪經 trans. Maṇicintana 寶思惟. For an English translation of a related text see Lewis (1995)). => (c: Pubian guangming qingjing chicheng ruyibao yinxin wunengsheng damingwang dasuiqiu tuoluoni jing; s: Mahāpratisarā-vidyārājñī; t: phags pa rig pa'i rgyal mo so sor 'brang ba chen mo ; e: Dhāraṇī of the Great Protectress, Queen of Mantras). Là kinh văn đầu tiên trong Ngũ vị lục (s: Pañcarakṣā corpus), dâng lên cho Đại tuỳ cầu (Mahāpratisarā 大隨求), vị bảo hộ thoát khỏi điều xấu ác, tội lỗi và bệnh tật. Có 2 bản dịch tiếng Hán đang lưu hành: 1. Phổ biến quang minh thanh tịnh xí thạnh như ý bảo ấn tâm vô năng thắng đại minh vương đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh 普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經 . Viết tắt là Đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh (大隨求陀羅尼; e: Dhāraṇī of the Great Guardress ); 2 quyển; Bất Không dịch. Luận giải tiêng Nhật của Minh Giác (j: Myōkaku's 明覺 ), nhan đề Đại tuỳ cầu đà-la-ni khám chú (大隨求陀羅尼勘註e: Intuitive Notes) . 2. Đại tuỳ cầu ấn đắc đại tự tại đà-la-ni thần chú kinh ( 隨求即得大自在陀羅尼神呪經 e: Dhāraṇī Incantation of the Protectress who Grants Great Freedom); 1 quyển; Bảo Tư Duy (s: Maṇicintana 寶思惟) dịch. Bản dịch tiếng Anh từ bản kinh tương ứng, xin xem Lewis (1995).
Phổ biến 普徧
[ja] フヘン fuhen ||| To pervade universally. => Thâm nhập khắp nơi.
Phổ chiếu
普照; C: pŭzhào; J: fushō;|1. Chiếu sáng rộng khắp (s: spharaṇa; t: khyab pa); 2. (k: pojo); thuỵ hiệu của Thiền sư Hàn Quốc Tri Nột (知訥, k: chinul); 3. (j: fushō); thuỵ hiệu của Thiền sư Ẩn Nguyên (隱元), người sáng lập Hoàng Bá tông (黄檗, j: ōbaku) ở Nhật Bản.
phổ chiếu
Pu chao (C).
; 1) Chiếu khắp các nơi: Universal shining. 2) Tên của một ngôi chùa nổi tiếng tọa lạc tại làng Dư Hàng Kênh, huyện An Hải, tỉnh Hải Phòng. Chùa được xây dựng vào năm 1953—Name of a famous temple, located in Du Hàng Kênh village, An Hải district, Hải Phòng province. It was built in 1953.
phổ chiếu kiết tường tam ma địa
Trạng thái đại thiền định có khả năng phá vở và chấm dứt mọi khổ đau phiền não cho chúng sanh. Chư Phật vào trạng thái đại định nầy trước khi giảng chú vì chư Phật muốn mang lại cho chúng sanh trí huệ, an tịnh, cũng như chấm dứt khổ đau hầu đạt tới trạng thái giác ngộ hoàn toàn—Universal Shining Svastika Samadhi—A great meditative state that has the potential to destroy and end all suffering for all sentient beings. The Buddhas entered this samadhi before preaching the mantra because they wanted to bring all sentient beings wisdom, peace, tranquility, and to end their suffering and bring about the state of enlightenment.
phổ chiếu nhứt thiết thế gian trí
The perfect understanding of universal enlightenment.
phổ chiếu quốc sư ngữ lục
Fushō kokushi goroku (J)Tên một bộ sưu tập.
; (普照國師語錄) Cũng gọi Ẩn nguyên hòa thượng ngữ lục.Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Ẩn nguyên Long kì soạn, ngài Tính thao biên tập vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, được thu vào Đại chính tạng tập 82. Năm Thuận trị 11 (1645) đời Thanh, ngài Long kì sang Nhật bản hoằng pháp, sáng lập tông Hoàng bá, bởi thế, nội dung bộ ngữ lục này là thu chép các pháp ngữ dạy chúng khi ngài trụ ở các chùa: Hưng phúc, Sùng phúc, Phổ môn và Vạn phúc tại Nhật bản. Đại chính tạng cũng thu Phổ chiếu quốc sư pháp ngữ, 2 quyển, do ngài Tính cảo biên tập, được in ở sau bộ ngữ lục này. Ngoài ra còn có Phổ chiếu quốc sư quảng lục, 30 quyển, phụ thêm 2 quyển Niên phổ, cũng gọi Ẩn nguyên đại sư quảng lục, được thu vào Thiền học đại hệ tổ lục quyển 4 của Nhật bản.
phổ chiếu quốc sư pháp ngữ
Fushō kokushi hōgo (J).
Phổ chiếu 普照
[ja] フショウ fushō ||| (1) Illuminating universally (Skt. spharaṇa; Tib. khyab pa). (2) Pojo; the posthumous title of the Korean master Chinul 知訥. (3) Fushō; the posthumous title of the founder of the Ōbaku 黄檗 school in Japan, Yinyuan 隱元. => 1. Chiếu sáng rộng khắp (s: spharaṇa; t: khyab pa). 2. (k: Pojo); thuỵ hiệu của Thiền sư Cao Ly Trí Nột (k: Chinul 知訥). 3. (j: Fushō); thuỵ hiệu của Thiền sư Ẩn Nguyên (c: Yinyuan 隱元), người sáng lập Hoàng Bá tông (j: Ōbaku 黄檗) ở Nhật Bản.
phổ cúng dường chân ngôn
Universal Offering True Words.
phổ cập
To popularize.
phổ cứu tự
(普救寺) Chùa tọa lạc giữa khoảng Hoàng hà và Phần hà, thuộc huyện Vĩnh tế, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Cứ theo bia ghi chùa, thì chùa này được sáng lập vào đời Đường, kiến trúc rất nguy nga tráng lệ, gồm có 36 gian Đại Phật điện. Đến đời Minh, chùa được trùng tu. Năm Gia tĩnh 34 (1555), vùng này bị 1 trận động đất lớn nên các kiến trúc trong chùa bị sụp đổ hoàn toàn. Năm Khang hi 49 (1710) đời Thanh, chùa được kiến thiết lại, nhưng thời kháng chiến lại bị hủy hoại bởi đạn pháo, chỉ còn 1 đôi sư tử bằng đá ở trước cổng chùa và tòa tháp vàng, cũng gọi là tháp Oanh oanh, hình vuông, 13 tầng, chu vi 40 bộ, xưa nay những con thuyền qua lại trên sông Hoàng hà đều lấy tháp này làm tiêu điểm.
Phổ diệu kinh
普曜經; S: lalitavistara; C: pŭyàojīng; J: fuyō kyō; còn được gọi là Thần thông du hí kinh (神通遊戲經), nguyên nghĩa là »Trình bày chi tiết cuộc đời đức Phật«;|Được xem là bản dịch sớm nhất của Phương quảng đại trang nghiêm kinh (方廣大莊嚴經, s: lalitavistara). Pháp Hộ (法護, s: dharmarakṣa) dịch vào thời Tây Tấn, năm 308; gồm 8 quyển, 33 phẩm. Đó là tác phẩm đề cập đến cuộc đời Đức Phật theo tinh thần Đại thừa.|Kinh bao gồm nhiều đoạn văn trình bày hai đời cuối cùng của Phật Thích-ca Mâu-ni. Kinh mang tính chất tiếp nối giữa Tiểu thừa (s: hīnayāna) và Ðại thừa (s: mahāyāna), được soạn giữa thế kỉ thứ hai trước và sau Công nguyên, chịu ảnh hưởng của phái Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) và về sau được Ðại thừa hoàn chỉnh.
phổ diệu kinh
Lalitavistara sŪtra (S)Thần Thông Du Hý Kinh, Phương đẳng Bản khởi Kinh.
; (普曜經) Phạm: Lalitavistara. Cũng gọi Phương đẳng bản khởi kinh. Kinh, 8 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch ở chùa Thiên thủy vào năm Vĩnh gia thứ 2 (308) đời Tây Tấn, các ngài Khang thù và Bạch pháp cự bút thụ, được thu vào Đại chính tạng tập 3. Đây là bộ Phật truyện thuộc hệ thống Đại thừa, nội dung ghi thuật về sự tích của đức Phật từ giáng sinh đến chuyển pháp luân lần đầu tiên. Kinh này còn có bản dịch khác là kinh Phương quảng đại trang nghiêm (còn gọi kinh Thần thông du hí), do ngài Địa bà ha la (Phạm: Divàkasa– Nhật chiếu) dịch vào đời Đường, gồm 12 quyển, 27 phẩm, cũng được thu vào Đại chính tạng tập 3. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.7].
Phổ diệu kinh 普曜經
[ja] フヨウキョウ Fuyō kyō ||| The Puyaojing, which is considered to be an earlier translation of the Fangguang da zhuangyan jing 方廣大莊嚴經 (Lalitavistara). Trans. by Dharmarakṣa 法護 of the Western Qin in 308, in eight fascicles and thirty-three chapters. It is a treatment of the Buddha's life according to Mahayana accounts. T 186.3.483-539. => (c: Puyaojing) , được xem là bản dịch sớm nhất của Phương quảng đại trang nghiêm kinh (方廣大莊嚴經c: Fangguang da zhuangyan jing; s: Lalitavistara). Pháp Hộ (s: Dharmarakṣa 法護) dịch vào thời Tây Tấn, năm 308; gồm 8 quyển, 33 phẩm. Đó là tác phẩm đề cập đến cuộc đời Đức Phật theo tinh thần Đại thừa.
phổ giai hồi hướng
Universally transfer all merits and virtues—Đây là hạnh nguyện thứ mười trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Phổ giai hồi hướng là từ sự lễ kính ban đầu nhẫn đến tùy thuận chúng sanh, có bao nhiêu công đức thảy đều đem hồi hướng cho tất cả chúng sanh mọi loài thường được an lạc, không bịnh khổ, dứt trừ ác nghiệp, thành tựu nghiệp lành. Chúng sanh vì tạo tác quá nhiều ác nghiệp, chúng ta xin chịu thế để họ được an vui giải thoát—This is the last of the ten conducts and vows of Samantabhadra Bodhisattva. Universally transfer all merits and virtues means we will take all merits and virtues from the first vow, to worship and respect, up to and including the vow to constantly accord, we universally transfer to all living beings throughout the dharma realm, we vow that all living beings are constantly peaceful and happy without sickness or suffering, we vow that no one will succeed in doing any evil, we vow that everyone will accomplish all good deeds. We vow to stand in for beings and receive all the extremely severe fruits of suffering which they bring on with their evil karma, we vow to liberate all beings and ultimately bring them to accomplish unsurpassed Bodhi.
Phổ Giác
普覺; C: pŭjué; J: fukaku; |»Giác ngộ rộng khắp«. Một trong 12 vị Bồ Tát đương cơ trong kinh Viên Giác (圓覺經).
Phổ Giác 普覺
[ja] フカク fukaku ||| 'Pervasive (Universal) Enlightenment'; one of the twelve bodhisattvas of the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經 (Yuanjue jing). => Một trong 12 vị Bồ-tát đương cơ trong kinh Viên Giác (圓覺經e: Sutra of Perfect Enlightenment ; c: Yuanjue jing).
Phổ Hiền
普賢; S: samantabhadra; C: pǔxián; J: fugen; |Một trong những Bồ Tát quan trọng của Phật giáo Ðại thừa. Ngài được xem là người hộ vệ của những ai tuyên giảng đạo pháp và đại diện cho »Bình đẳng tính trí« tức là trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt. Bồ Tát Phổ Hiền hay được thờ chung với Phật Thích-ca và Bồ Tát Văn-thù (s: mañjuśrī). Ngài ngồi trên voi trắng sáu ngà, voi trắng tượng trưng cho trí huệ vượt chướng ngại, sáu ngà cho sự chiến thắng sáu giác quan. Trong Ngũ Phật, Phổ Hiền được xem ở trong nhóm của Phật Ðại Nhật (s: vai-rocana). Biểu tượng của Phổ Hiền là ngọc như ý, hoa sen, có khi là trang sách ghi thần chú của Ngài. Tại Trung Quốc, Phổ Hiền được xem là một trong bốn Ðại Bồ Tát, trú xứ của Ngài là núi Nga Mi. Ðó là nơi Ngài lưu trú sau khi cỡi voi trắng từ Ấn Ðộ sang Trung Quốc.|Trong Kim cương thừa, tên Phổ Hiền được sử dụng chỉ Bản sơ Phật (s: ādi-buddha), hiện thân của Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân). Phổ Hiền này (không phải vị Ðại Bồ Tát) được vẽ với màu xanh đậm, tượng trung cho tính Không. Tranh tượng cũng vẽ Ngài hợp nhất (Yab-Yum) với nữ thần sắc trắng, tượng trưng cho sự nhất thể. Trong phép Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā), thân của Phổ Hiền là Báo thân (s: saṃbhogakāya) và đóng một vai trò trung tâm.
phổ hiền
Samantabhadra (S), Fouguen (J)
; Samantabhadra or Visva bhadra (skt)—Universal Virtue.
; (普賢) Tông Hoa nghiêm gọi cảnh giới Phật đoạn tuyệt tất cả lời nói, ý nghĩ, là Tính hải quả phần, tức là pháp môn của đức Phật Tì lô giá na. Trái lại, ứng với cơ duyên của chúng sinh mà thuyết pháp, giáo hóa thì gọi là Duyên khởi nhân phần, tức là pháp môn của bồ tát Phổ hiền. Bồ tát Phổ hiền về mặt nhân cách là bồ tát Đẳng giác. Về mặt lí thì bồ tát Phổ hiền tượng trưng cho lí, định, hành, là nguồn gốc của chư Phật, cũng là thể tính của tất cả các pháp, nếu khi nhập vào quả vị thì gọi là Tính hải; cho nên tất cả phổ pháp tín, giải, hành, chứng chẳng kể phàm thánh, đều gọi là Phổ hiền. Thể ngộ được cảnh giới đại cơ của Nhất thừa Phổ hiền này, gọi là cảnh giới Phổ hiền. Hoa nghiêm khổng mục chương quyển 4 nêu ra 2 loại: Tam thừa phổ hiền và Nhất thừa phổ hiền, mỗi loại lại có 3 lớp Nhân, Giải, Hành nên gọi là Lục chủng Phổ hiền. Trong Tam thừa Phổ hiền thì Nhân (người) là bồ tát Phổ hiền; Giải (hiểu) là hiểu rõ được lí họp ba về một... hướng tới Nhất thừa; Hành (tu hành) là hạnh nguyện Phổ hiền, tất cả đều được nói rõ trong phẩm Phổ hiền kinh Pháp hoa. Trong Nhất thừa Phổ hiền thì Nhân là bồ tát Phổ hiền nói trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm; Giải là chỉ cho Phổ biến và Thâm nhập được nói trong 60 hành môn trong phẩm Phổ hiền kinh Hoa nghiêm, là cảnh giới hỗ tương dung hợp bất khả tư nghị; Hành là chỉ cho 10 tâm Phổ hiền và 10 hạnh nguyện Phổ hiền nói trong phẩm Li thế gian của kinh Hoa nghiêm. Hạnh nguyện Phổ hiền chỉ cho 10 đại nguyện: 1. Lễ kính chư Phật: Thường lễ kính tất cả Phật. 2. Xưng tán Như lai: Thường khen ngợi công đức Như lai. 3. Quảng tu cúng dường: Thường phụng sự và cúng dường tất cả Phật. 4. Sám hối nghiệp chướng: Thường sám hối những nghiệp ác đã tạo tác từ vô thủy đến nay và luôn giữ gìn giới pháp thanh tịnh. 5. Tùy hỉ công đức: Thường vui theo công đức của tất cả Phật, Bồ tát cho đến của tất cả chúng sinh trong 6 đường và 4 loài. 6. Thỉnh chuyển pháp luân: Thường lễ thỉnh tất cả Phật tuyên nói giáo pháp. 7. Thỉnh Phật tại thế: Thỉnh cầu Phật, Bồ tát không vào Niết bàn mà trụ nơi thế gian để thuyết pháp, giáo hóa. 8. Thường tùy Phật học: Thường theo đức Phật Tì lô giá na để học giáo pháp của Ngài. 9. Hằng thuận chúng sinh: Tùy thuận sự khác biệt của các loài chúng sinh mà làm các việc cúng dường. 10. Phổ giai hồi hướng: Đem những công đức trên hồi hướng cho tất cả chúng sinh để thành tựu nguyện thành quả Phật. Nếu người nào gắng sức thực hành 10 hạnh nguyện trên đây một cách liên tục thì có thể hoàn thành được hạnh nguyện của bồ tát Phổ hiền. Hoặc người nào có lòng tin sâu xa thụ trì đại nguyện, hoặc đọc tụng hay biên chép thì cũng có thể được nhiều công đức. [X. phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm]. (xt. Tam Thánh Viên Dung Quán).
phổ hiền bồ tát
P'u-hsien (C), Kuntuzangpo (T), Fugen (J), Samantabhadrā (S), Samanta-bhadrā Bodhisattva (S), Fugen (J); P'u-hsien (C), Kuntu-zangpo (T), Viśvabhadrā Bodhisattva (S), All-over Beneficience Bodhisattva Biến cái Bồ tát, Tam mạn đa bạt đà la, Biến Cái Bồ tát Theo Kim Cang thừa, Phổ Hiền Bồ tát biểu tượng bằng hình một Bồ tát loã thể, da xanh tượng trưng tánh không, ôm nữ thần da trắng tượng trưng sự hợp nhất. Ngài có 10 hạnh nguyện: Kính lễ chư Phật, Ca tụng Như Lai, Rộng tu cúng dường, Sám hối nghiệp chướng, Tùy hỉ công đức, Thỉnh chuyển pháp luân, Luôn thuận chúng sanh, Hồi hướng cho tất cả chúng sanh Tên một vị Bồ tát. Xem Samantabhadra.
; Samantabhadra or Visvabhadra (skt)—A Bodhisattva called Samantabhadra Bodhisattva—See Samantabhadra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (普賢菩薩) Phổ hiền, Phạm: Samanatabhadra, hoặc Vizvabhadra. Hán âm: Tam mạn đa bạt đà la bồ tát, Tam mạn đà bạt đà bồ tát, Bật thâu bạt đà bồ tát. Cũng gọi Biến cát bồ tát. Vị Bồ tát cỡi voi trắng hầu bên phải đức Phật Thích ca, 1 trong 4 vị đại Bồ tát. Bồ tát Phổ hiền biểu thị Lí, Định, Hành, cùng hiển bày sự viên mãn về lí trí, định tuệ và hành chứng của Như lai, thường trợ giúp đức Như lai tuyên dương giáo pháp để hoàn thành việc lợi ích chúng sinh. Vì thân tướng và công đức của vị Bồ tát này trùm khắp tất cả, thuần 1 vị diệu thiện, cho nên gọi là Phổ hiền. Danh hiệu Phổ hiền xuất hiện đầu tiên trong kinh Tam mạn đà la bồ tát, sau thấy có rộng rãi trong các kinh và trở thành tín ngưỡng phổ biến. Theo phẩm Phổ hiền khuyến phát trong kinh Pháp hoa thì bồ tát Phổ hiền cỡi con voi trắng 6 ngà, hộ vệ hành giả thụ trì kinh Pháp hoa. Thai tông nhị bách đề 10 quyển lập Hữu tướng Phổ hiền luận đề, cho rằng nếu nương theo các hạnh hữu tướng như lễ sám, tụng kinh... thì có thể cảm ứng được thấy bồ tát Phổ hiền. Còn phẩm Phổ hiền hành nguyện phẩm kinh Hoa nghiêm quyển 40 thì nói về 10 hạnh nguyện rộng lớn của bồ tát Phổ hiền. Mười đại nguyện này tiêu biểu cho hạnh nguyện của tất cả Bồ tát, cho nên cũng gọi là Phổ hiền nguyện hải. Vì hạnh nguyện rộng lớn của Ngài nên vị Bồ tát này thường được gọi là Đại hạnh Phổ hiền bồ tát. Trong Mật giáo, Phổ hiền đồng thể với Kim cương tát đỏa, được tôn trí trong Mạn đồ la của 2 bộ Kim cương và Thai tạng, đó là Phổ hiền của Mật giáo nói chung. Còn trong Mạn đồ la Kim cương giới thì Ngài là 1 trong 16 vị tôn của Hiền kiếp, được an trí ở vị thấp nhất trong 4 vị Bồ tát ở phương bắc, mật hiệu là Phổ nhiếp kim cương, chủng tử là (a#), hình Tam muội da là hình thanh kiếm. Về hình tượng của vị tôn này thì tùy theo các hội mà có khác nhau. Trong hội Vi tế thì tay trái nắm lại, để ở chỗ cạnh sườn, tay phải cầm thanh kiếm sắc; trong hội Cúng dường thì 2 tay cầm hoa sen đưa lên trước ngực, trên hoa sen có kiếm sắc. Trong Mạn đồ la Thai tạng giới thì vị tôn này được đặt ở góc đông nam của viện Trung đài bát diệp, thân màu trắng, đội mũ báu Ngũ Phật, ngón cái và ngón trỏ của tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có kiếm sắc với những ngọn lửa bao quanh; cánh tay phải duỗi thẳng và bàn tay ngửa ra, co ngón vô danh và ngón út. Chủng tử là (aô), hình Tam muội da là thanh kiếm trên hoa sen, mật hiệu là Chân như kim cương. Ngoài ra còn có pháp tu thờ bồ tát Phổ hiền diên mệnh làm bản tôn gọi là Phổ hiền diên mệnh pháp. Núi Nga mi thuộc tỉnh Tứ xuyên của Trung quốc xưa kia là đạo tràng của bồ tát Phổ hiền, tương truyền do Bồ ông khai sáng vào đời Tấn, thờ tượng Phổ hiền ở chùa Thánh thọ vạn niên. Đến đời Tống, vua Thái tông ban sắc tạo pho tượng bằng đồng pha vàng cao 2 trượng và xây lầu lớn để an vị. Từ đó về sau, người đến lễ bái rất đông. [X. phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm Q.60 (bản dịch cũ); luận Đại trí độ Q.9; Pháp hoa nghĩa sớ Q.12; Đại nhật kinh sớ Q.1, 9]. (xt. Phổ Hiền).
Phổ Hiền Bồ Tát hạnh nguyện tán
普賢菩薩行願讚; C: pŭxián púsà xíngyuàn zàn; J: fugen bosatsu gyōgan san; S: bhadra-caryā-praṇidhānarāja; T: bzang po spyod pa'i smon lam gyi rgyal po'i rgya cher 'grel pa;|Gọi tắt là Phổ Hiền hạnh nguyện tán (普賢行願讚), Bất Không (不空, s: amogha-vajra) dịch.
phổ hiền bồ tát hạnh nguyện tán
Bhadrā-cari-praṇidhāna-samantabhadrā-caryā-pranidhara-rāja (S), Bhadrā-caripraṇidhāna (S)Phổ Hiền Hạnh nguyện TánMột bộ trong Hoa Nghiêm bộ.
; (普賢菩薩行願贊) Phạm: Bhadra-carì-praịi dhàna, hoặc Samantabhadra-caryàpraịidhàna-ràja. Gọi tắt: Phổ hiền hành nguyện tán. Kệ tán, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 10. Nội dung gồm 62 bài kệ tụng tán thán 10 đại nguyện của bồ tát Phổ hiền. Sáu mươi hai bài kệ tán này chính là Phổ hiền quảng đại nguyện vương thanh tịnh kệ nêu ở cuối kinh Hoa nghiêm (bản 40 quyển), vốn có một bản được lưu hành riêng, tức tương đương với kinh Văn thù sư lợi phát vấn, do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào đời Đông Tấn. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.20; Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q.thượng; Duyệt tạng tri tân Q.1].
Phổ Hiền Bồ Tát đà-la-ni kinh
普賢菩薩陀羅尼經; C: pŭxián púsà tuóluóníjīng; J: fugen bosatsu daranikyō; S: samantabhadrāṣṭottaraśatakanāmadhāraṇī-mantra-sahita; t: kun tu bzang po'i mtshan brgya rtsa brgyad pa gzungs sngags dang bcas pa |1 quyển, Pháp Thiên (法天) dịch.
Phổ Hiền Bồ-tát hạnh nguyện tán 普賢菩薩行願讚
[ja] フゲンボサツギョウガンサン Fugen bosatsu gyōgan san ||| The Puxian pusa xingyuan zan; (King of Aspirations to Good Conduct) Skt. Bhadracaryā-praṇidhānarāja; Tib. bzang po spyod pa'i smon lam gyi rgyal po'i rgya cher 'grel pa; [To.44 pt.4/1095/4377, P.761] 1 fasc. [T 297.10.880-883], abbr. Aspirations to Good Conduct 普賢行願讚, tr. Amoghavajra 不空. => (c: Puxian pusa xingyuan zan; e : King of Aspirations to Good Conduct; s: Bhadracaryā-praṇidhānarāja; t: bzang po spyod pa'i smon lam gyi rgyal po'i rgya cher 'grel pa); Gọi tắt là Phổ Hiền hạnh nguyện tán普賢行願讚. Bất Không (Amoghavajra 不空) dịch.
Phổ Hiền Bồ-tát đà-la-ni kinh 普賢菩薩陀羅尼經
[ja] フゲンボサツダラニキョウ Fugen bosatsu daranikyō ||| Skt. Samantabhadrāṣṭottaraśatakanāmadhāraṇī-mantra-sahita; Tib. kun tu bzang po'i mtshan brgya rtsa brgyad pa gzungs sngags dang bcas pa [To.637/877]; (Dhāraṇī of Samantabhadra) 1 fasc. (T 1127.20.541-542), trans. Fatian 法天. => (s: Samantabhadrāṣṭottaraśatakanāmadhāraṇī-mantra-sahita; t: kun tu bzang po'i mtshan brgya rtsa brgyad pa gzungs sngags dang bcas pa ; e: Dhāraṇī of Samantabhadra); 1 quyển; Pháp Thiên ( Fatian 法天) dịch.
Phổ Hiền cảnh giới
普賢境界; C: pŭxián jìngjiè; J: fugenkyōkai; |Theo giáo lí kinh Hoa Nghiêm, đó là cảnh giới chứng nhập bởi các căn cơ bậc thượng của nhất thừa Bồ Tát Phổ Hiền. Là phương diện thực tại của cảnh giới mà chúng sinh chưa thành Phật có thể nhận biết, được diễn tả là cảnh giới Phổ Hiền. Vì Phổ Hiền là Bồ Tát tượng trưng cho tu tập thiền định, là điều có thể giải thích được; khác với cảnh giới trí tuệ giải thoát của Bồ Tát Văn-thù Sư-lợi là không thể nghĩ bàn.
Phổ Hiền cảnh giới 普賢境界
[ja] フゲンキョウカイ fugenkyōkai ||| The 'Realm of Samantabhadra.' In Huayan teaching, the realm known by the great faculties of the Single Vehicle bodhisattva Samantabhadra. The aspect of the reality realm that is perceived by people who are not yet buddhas is expressed as the realm of Samantabhadra. This is because Samantabhadra is the bodhisattva of meditation and practice, which can be explained, as opposed to the realm of wisdom of Mañjuśrī 文殊 which is inexplicable. => Theo giáo lý kinh Hoa Nghiêm, đó là cảnh giới chứng nhập bởi các căn cơ bậc thượng của Phổ Hiền Nhất thừa Bồ-tá . Là phương diện thực tại của cảnh giới mà chúng sinh chưa thành Phật có thể nhận biết, được diễn tả là cảnh giới Phổ Hiền. Vì Phổ Hiền là Bồ-tát tượng trưng cho tu tập thiền định, là điều có thể giải thích được; khác với cảnh giới trí tuệ giải thoát của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi là không thể nghĩ bàn.
phổ hiền diên mệnh pháp
(普賢延命法) Pháp tu thờ bồ tát Phổ hiền diên mệnh làm Bản tôn, cầu tiêu trừ tai nạn và kéo dài mệnh sống (diên mệnh). Nghi thức của pháp tu này là: An vị tượng Phổ hiền diên mệnh, chínhdiện là Đại đàn, bên trái là đàn Thánh thiên, bên phải là đàn Hộ ma với lò lửa hình giáp trụ, 4 góc là bốn đàn Thiên vương; bên trái đàn Thiên vương về phía đông thiết lập đàn Thập nhị thiên. Trước Bản tôn thắp 7 lớp đèn, chung quanh đàn tràng treo phan phướn nhiều màu, dùng 1 bức màn lớn ngăn cách trong với ngoài; ngoài màn đặt tòa ngồi của chư tăng. Trong khi tu pháp phải liên tục tụng kinh Kim cương thọ mệnh đà la ni, lúc kết nguyện lại thiết lập 21 Tiểu đàn trên Đại đàn. Bản tôn Phổ hiền diên mệnh có 20 tay, 10 tay trái cầm hoa sen, kiếm, bánh xe, lưỡi, chày yết mà, giáp trụ (áo và mũ sắt), răng nanh, nắm tay kim cương, khóa và chuông nhỏ. Mười tay phải cầm chày 5 chĩa, móc câu, mũi tên, nắm tay, bảo châu, mặt trời, cờ báu, chày 3 chĩa, móc câu 3 chạc và vòng dây, ngồi xếp bằng trên tòa sen đặt trên lưng voi trắng. Voi Ngài cỡi có 1 thân 3 đầu, hoặc 3 thân 3 đầu, hay 4 thân 4 đầu... khác nhau. Pháp tu này được căn cứ vào pháp Kim cương thọ mệnh đà la ni niệm tụng mà lập ra. Pháp Kim cương ấy nói: Nếu người nào mỗi ngày 3 thời thụ trì tụng niệm chân ngôn Kim cương thọ mệnh, mỗi thời tụng 1.000 biến, thì nhân duyên ác nghiệp ở quá khứ, đoản mệnh chết yểu... đều được chuyển hóa và lòng tin thanh tịnh, nghiệp chướng tiêu trừ, tăng thêm tuổi thọ. [X. kinh Nhất thiết chư Như lai tâm quang minh gia trì Phổ hiền bồ tát diên mệnh kim cương tối thắng đà la ni; Chư pháp yếu lược sao trong A sa phược sao Q.215].
phổ hiền hạnh nguyện
Phổ Hiền Thập Nguyện (mười hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền)—Bodhisattva Samantabhadra's ten vows—Phổ Hiền Thập Giả Kính: 1) Nhứt giả lễ kính chư Phật: First is to worship and respect all Buddhas—Lời nguyện đảnh lễ hết thảy chư Phật có nghĩa là đảnh lễ vô số chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Đây là niềm tin sâu xa của vị Bồ Tát và ngài cảm thấy như lúc nào ngài cũng đang ở trước mặt chư Phật và đảnh lễ bằng cả thân, khẩu và ý của ngài. Ngài sẽ đảnh lễ từng Đức Phật không mệt mỏi cho đến khi tận cùng vũ trụ—By the vow to pay reverence to all the Buddhas is meant that a Bodhisattva will pay reverence to an inconceivable number of Buddhas in the past, present and future with his pure body, speech and mind. He will salute every one of them without feeling fatigue until the end of the universe. 2) Nhị giả xưng tán Như Lai: Second is to make praise to The Thus Come Ones—Lời nguyện tán thán chư Như Lai có nghĩa là một vị Bồ Tát sẽ luôn luôn tán thán chư Như Lai trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Ngài sẽ trình diện trước mặt từng Đức Như Lai với sự hiểu biết thâm sâu và một nhận thức sáng suốt. Bấy giờ cái biển công đức của Như Lai sẽ được tán thán bằng giọng điệu nhuần nhuyễn và hùng biện; mỗi giọng điệu biểu hiện một tiếng nói vô tận và mỗi tiếng nói phát ra một biển ngôn từ trong mọi hình thức có thể có được. Vị Bồ Tát sẽ tiếp tục sự tán thán nầy sẽ tiếp tục không ngừng nghỉ cho đến khi thế giới tận cùng mà không cảm thấy mệt mỏi—By the vow to praise all the Tathagatas is meant that a Bodhisattva will always praise an innumerable number of Tathagatas in the past, present and future. A Bodhisattva will present himself before each one of these Buddhas with a deep understanding and a clear perception. The ocean of merits of the Tathagata will then be praised with an exquisite and eloquent tongue, each tongue expressing a sea of inexhaustible voices, and each voice articulating a sea of words in every form possible. A Bodhisattva will go on to praise the Buddhas without feeling fatigue and without cessation until the end of the world. 3) Tam giả quảng tu cúng dường: Third is to practice profoundly (vastly) the giving offerings—To cultivate the giving of offerings—Lời nguyện quảng tu cúng dường cho chư Phật, có nghĩa là một vị Bồ Tát sẽ luôn quảng tu cúng dường đến từng Đức Phật trong vô số Đức Phật ba đời, quá khứ, hiện tại và vị lai. Sự cúng dường bao gồm những thứ hoa, tràng hoa, âm nhạc, lọng, y, áo và tất cả những loại hương liệu, dầu thơm và nhiều thứ khác, và cúng dường bằng một số lượng lớn như mây hay núi. Vị Bồ Tát sẽ đốt lên mọi thứ dầu với một số lượng sánh như biển trước mỗi Đức Phật trong vô số các Đức Phật nầy. Nhưng trong tất cả những thứ cúng dường mà người ta có thể thực hiện như thế đối với một Đức Phật thì sự cúng dường tốt nhất là cúng dường Pháp, tức là tự mình tu tập theo giáo lý, gây lợi lạc cho chúng sanh, chịu khổ đau cho chúng sanh mọi loài, nuôi dưỡng thiện căn, thực hiện mọi công việc của một vị Bồ Tát, và đồng thời không xa rời lý tưởng chứng ngộ. Cúng dường vật chất không bằng một lượng vô cùng nhỏ của cúng dường Pháp, vì hết thảy chư Phật đều được sinh ra do sự cúng dường Pháp, vì đây là sự cúng dường thật sự, vì thực hành pháp là thành tựu cao tột mà người ta có thể dâng lên một Đức Phật. Một vị Bồ Tát sẽ thực hiện liên tục những cúng dường nầy đối với từng Đức Phật, không mệt mỏi, không ngừng nghỉ cho đến khi tận cùng thế giới—By the vow to make all kinds of offerings to the Buddhas is meant that a Bodhisattva will always make offerings to an inconceivable number of Buddhas in the past, present, and future. The offering consists of flowers, wreaths, music, umbrellas, garments, and all kinds of incense and ointment, and many other things, and all these offerings in such a large quantity as is equal to clouds or to a mountain. A Bodhisattva will also burn before every one of the innumerable Buddhas all sorts of oil in such a measure as compares to an ocean. But of all the offerings one could thus make to a Buddha the best is that of the Dharma, which is to say, disciplining oneself according to the teaching, benfitting all beings, accepting all beings, suffering pains for all beings, maturing every root of goodness, carrying out all the works of a Bodhisattva, and at the same time not keeping himself away from the thought of enlightenment. The material offerings, no matter how big, are not equal even to an infinitesimal fraction of the moral offerings (dharmapuja), because all Buddhas are born of moral offerings, because these are the true offerings, because the practicing of the Dharma means the perfection of an offering one could make to a Buddha. A Bodhisattva will continuously make offerings to every one of the innumerable Buddhas without feeling fatigue. 4) Tứ giả sám hối nghiệp chướng: Fourth is to repent and reform all karmic hindrances (faults)—Lời nguyện sám hối mọi tội lỗi mà chính mình đã phạm từ vô thỉ và từ đó loại trừ mọi nghiệp chướng của mình là cần thiết trong tu tập vì mọi tội lỗi đều do bởi tham, sân, si từ thân, khẩu, ý của chính mình. Nay thú nhận và sám hối những tội lỗi nầy. Theo Đức Phật, nếu thực sự những tội lỗi nầy là vật chất thì chúng có thể trải đầy khắp đến tận cùng bờ mé vũ trụ mà vẫn chưa hết. Bây giờ một vị Bồ Tát sám hối sạch tận đáy lòng mà nguyện rằng sẽ không bao giờ tái phạm như thế nữa, vì từ đây ngài sẽ luôn an trụ trong giới luật thanh tịnh mà tích tập đủ mọi thứ công đức. Và ngài sẽ không bao giờ mệt mỏi với điều nầy cho đến khi nào thế giới cùng tận—The vow to repent all one's own sins (committed by oneself) and thereby to get rid of one's karma-hindrance is necessary because whatever sins committed by us are due to our greed, anger, and ignorance done by the body, speech, and mind. Now we make full confession and repent. According to the Buddha, all these sins, if they were really substantial, are thought to have filled the universe to its utmost ends and even over-flowing. Now a Bodhisattva vows to repent without reserve from the depth of his heart, vowing that such sins will never be committed again by him, for from now on, he will always abide in the pure precepts amass every sort of merit. And of this he will never get tired even to the end of the world. 5) Ngũ giả tùy hỷ công đức: Fifth is to rejoice and follow in merit and virtue—Compliantly rejoice in merit and virtue—Về lời nguyện tùy hỷ công đức, có nghĩa là một vị Bồ Tát phải luôn thống thiết với mọi chúng sanh về bất cứ mọi điều thiện mà họ suy nghĩ, cảm nhận và thực hành. Tất cả chư Phật đều đã trải qua những khó khăn vô cùng trước khi các ngài đạt được toàn giác. Từ sự phát khởi đầu tiên về ý tưởng chứng ngộ, chư Phật không bao giờ ngần ngại tích tập mọi công đức hướng đến sự đạt thành quả vị Phật, các ngài không bao giờ khởi lên một ý nghĩ về vị kỷ ngay cả phải hy sinh thân mạng và những gì thuộc về thân mạng ấy. Giờ đây một vị Bồ Tát cảm thấy một niềm hỷ lạc thâm thiết đối với những hạnh nguyện của chư Phật, không những các ngài chỉ cảm thấy như thế đối với chư Phật mà thôi, mà đối với bất cứ hành động công đức nào của chúng sanh, dù không quan trọng, các ngài thảy đều hoan hỷ. Với lời nguyện nầy vị Bồ Tát sẽ không bao giờ mệt mỏi khi đem chúng ra thực hành cho đến khi thế giới cùng tận—By the vow to rejoice and follow the merit and virtue is meant that a Bodhisattva should always be in sympathy with all beings for whatever good things they think, or feel, or do. All the Buddhas had gone through untold hardships before they attained full enlightenment. Since their first awakening of the thought of enlightenment, they never hesitated to accumulate all the merit that tended towards the attainment of the goal of their life, they never raised a thought of egotism even when they had to sacrifice their life and all that belonged to them. Now a Bodhisattva vows to feel a sympathetic joy for all these doings of the Buddhas. He does this not only with the Buddhas, but for every possible deed of merit, however significant, executed by any being in the path of existence, of any class of truth-seekers. A Bodhisattva with this vow will never be tired of putting it into practice till the end of the world. 6) Lục giả thỉnh chuyển pháp luân: Sixth is to request that the Dharma wheel be turned—request the turning of the Dharma Wheel—Lời nguyện thỉnh cầu của một vị Bồ Tát đến từng Đức Phật trong vô số Đức Phật chuyển bánh xe Pháp, không mệt mỏi, không ngừng nghỉ đến tận cùng thế giới—By the vow that a Bodhisattva will ask every one of the inconceivable number of Buddhas to revolve the Wheel of the Dharma, without feeling tired and without cease until the end of the world. 7) Thất giả thỉnh Phật trụ thế: Seventh is to request that the Buddha remain in the world—Request the Buddhas dwell in the world—Lời nguyện của một vị Bồ Tát đến từng Đức Phật trong vô số các Đức Phật đừng nhập Niết Bàn. Ngài sẽ thỉnh cầu điều nầy ngay cả với các vị Bồ Tát, A La Hán, Thanh Văn hay Bích Chi, vì ngài muốn chư vị thượng đẳng nầy tiếp tục sống đời và tiếp tục gây lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Ngài sẽ tiếp tục thỉnh cầu không mệt mỏi cho đến tận cùng thế giới—A Bodhisattva vows to ask every one of the inconceivable number of Buddhas not to enter into Nirvana if any is so disposed. He will ask this even of any Bodhisattvas, Arhats, Sravakas, or Pratyekabuddhas; for he wishes these superior beings to continue to live in the world and keep on benefitting all beings. He will keep requesting this until the end of the world. 8) Bát giả thường tùy học Phật: Eighth is to follow the Buddha's teaching always—Follow the Buddhas in study—Vị Bồ Tát nguyện học hỏi từ một đời của một Đức Phật ở trong cõi Ta Bà nầy ngay chính lúc ngài phát khởi ý tưởng về giác ngộ, đã sẵn lòng không bao giờ ngưng việc thực hành, dù cho phải hy sinh thân mạng của chính mình vì việc phổ độ chúng sanh. Thái độ cung kính đối với pháp đã thể hiện qua cách như lấy da mình làm giấy, lấy xương mình làm bút, lấy máu mình làm mực mà chép nên kinh điển Phật chất cao bằng núi Tu Di, ngay cả đến thân mạng mà các ngài cũng không màng, huống là cung vàng điện ngọc, vườn cây, làng mạc và các thứ bên ngoài. Do tu tập mọi hình thức nhẫn nhục, cuối cùng ngài đạt được giác ngộ tối thượng dưới cội Bồ Đề. Sau đó ngài thể hiện mọi loại thần thông hay khả năng tâm linh, mọi loại biến hóa, mọi khía cạnh của Phật thân, và đôi khi đặt mình trong Bồ Tát, Thanh Văn, Bích Chi; đôi khi trong hàng Sát Đế Lợi, Bà La Môn, gia chủ, cư sĩ; đôi khi trong hàng Thiên, Long, và phi nhân. Hễ chỗ nào ngài xuất hiện, ngài đều thuyết giảng hết sức biện tài bằng một giọng nói như sấm để đưa tất cả chúng sanh đến chỗ thành thục theo sự ước muốn của họ. Cuối cùng ngài tự tỏ ra là nhập Niết Bàn. Tất cả các giai đoạn nầy của cuộc sống của một Đức Phật, vị Bồ Tát quyết phải học tập như là những mẫu mực cho chính cuộc đời mình. Vị Bồ Tát phải luôn thường tùy học Phật, không mệt mỏi, cho đến khi tận cùng thế giới—A Bodhisattva vows to learn from the life of a Buddha who in this Saha World ever since his awakening of the thought of enlightenment have never ceased from exercising himself ungrudgingly, not even sparing his own life, for the sake of universal salvation. His reverential attitude towards the Dharma had been such as to make paper of his skin, a brush of his bones, and ink of his blood wherewith he copied the Buddhist sutras to the amount of Mount Sumeru. He cared not even for his life, how much less much less for the throne, for the palaces, gardens, villages, and other external things! By practicing every form of mortification he finally attained supreme enlightenment under the Bodhi-tree. After this, he manifested all kinds of psychical powers, all kinds of transformations, all aspects of the Buddha-body, and placed himself sometimes among Bodhisattvas, sometimes among Sravakas, and Pratyekabuddhas, sometimes among Kshatriyas, among Brahmans, householders, lay-disciples, and sometimes among Devas, Nagas, human beings, and non-human-beings. Whenever he has found, he preached with perfect eloquence, with a voice like thunder, in order to bring all beings into maturity according to their aspirations. Finally, he showed himself as entering into Nirvana. All these phases of the life of a Buddha, the Bodhisattva is determined to learn as models for his own life. A Bodhisattva should always follow the Buddha's teaching without feeling tired, until the end of the world. 9) Cửu giả hàm thuận chúng sanh: Ninth is to constantly accord with all living beings—To forever accord with living beings—Trong vũ trụ nầy, đời sống thể hiện ra trong vô số hình thức, người nầy khác với người kia trong cách sinh ra, hình tướng, thọ mạng, xưng danh, khuynh hướng tâm linh, trí tuệ, ước vọng, xu hướng, cách cư xử, y phục, thức ăn, đời sống xã hội, thể cách cư trú, vân vân. Tuy người ta khác nhau như thế, vị Bồ Tát vẫn nguyện sống phù hợp với từng chúng sanh để giúp đở họ, để chăm lo đến các nhu cầu của họ, cung kính họ như cha mẹ mình, hay như chư A La hán, chư Như Lai mà không phân biệt ai là ai trong sự kính trọng nầy. Nếu họ bị bệnh, ngài sẽ là một thầy thuốc đối với họ. Nếu họ đi lạc đường, ngài sẽ chỉ cho họ con đường đúng. Nếu họ bị rơi vào cảnh nghèo khó, ngài sẽ cấp cho họ một kho tàng. Ngài cứ như thế mà cung cấp lợi lạc cho chúng sanh, tùy theo các nhu cầu của họ, vì vị Bồ Tát tin rằng bằng cách phục vụ tất cả chúng sanh, ngài phục vụ tất cả chư Phật; bằng cách cung kính tất cả chúng sanh, làm cho họ hoan hỷ, ngài đã cung kính và làm cho chư Phật hoan hỷ. Một trái tim đại từ bi là bản thể của Như Lai, chính do bởi các chúng sanh mà trái tim từ bi nầy phát khởi, và do bởi trái tim từ bi nầy mà ý tưởng về sự chứng ngộ được phát khởi, và do bởi sự phát khởi nầy mà sự chứng ngộ tối thượng được đạt thành. Vị Bồ Tát nguyện sẽ hàm thuận chúng sanh, không mệt mỏi, cho đến khi tận cùng thế giới—In this universe, life manifests itself in innumerable forms, each one differing from another in the way of its birth, in form, in the duration of life, in name, in mental disposition, in intelligence, in aspiration, in inclination, in demeanor, in garment, in food, in social life, in the mode of dwelling, etc. However, no matter different they are, the Bodhisattva vows to live in accordance with the laws that govern everyone of these beings in order to serve them, to minister to their needs, to revere them as his parents, as his teachers, or Arahts, or as Tathagatas, making no distinction among them in this respect. If they are sick, he will be a good physician for them; if they go astray, he will show them the right path; if they are sunk in poverty, he will supply them with a treasure; thus uniformly giving benefits to all beings according to their needs, because a Bodhisattva is convinced that by serving all beings, he is serving all the Buddhas, that by revering all beings, by making them glad, he is revering and gladdening all the Buddhas. A great compassion heart is the substance of Tathagatahood and it is because of all beings that this compassionate heart is awakened, and because of this compassionate heart the thought of enlightenment is awakened, and because of this awakening supreme enlightenment is attained. A Bodhisattva vows to forever accord with all beings without feeling tired until the end of the world. 10) Thập giả phổ giai hồi hướng: Tenth is to transfer all merit and virtue universally—To universally transfer all merit and virtue—Bất cứ công đức nào mà vị Bồ Tát thu thập được bằng cách chân thành đảnh lễ chư Phật và bằng cách thực hành mọi thứ công hạnh trên, các công hạnh nầy sẽ được chuyển giáo cho lợi lạc của hết thảy chúng sanh đầy khắp trong vũ trụ nầy. Ngài sẽ hồi hướng tất cả mọi công đức của ngài như thế vào việc làm cho chúng sanh cảm thấy an ổn, không bị bệnh tật, tránh xa các hành động xấu ác, thực hành mọi hành động tốt, sao cho nếu có sự ác nào thì đều bị ngăn chận và con đường đúng dẫn đến Niết Bàn được mở ra cho Trời và người. Nếu có chúng sanh nào đang chịu khổ vì các kết quả của ác nghiệp mà họ đã phạm trong quá khứ thì vị Bồ Tát sẽ sẵn sàng hy sinh gánh lấy mọi đau thương cho họ để họ được giải thoát khỏi nghiệp và cuối cùng làm cho họ thể chứng sự giác ngộ tối thượng. Vị Bồ Tát nguyện sẽ hồi hướng mọi công đức nầy cho kẻ khác, không mệt mỏi cho đến tận cùng thế giới—Whatever merits the Bodhisattva acquires by paying sincere respect to all the Buddhas and also by practicing all kinds of meritorious deeds as above mentioned, they will all be turned over to the benefits of all beings in the entire universe. He will thus turn all his merits towards making beings feel at ease, free from diseases, turn away from evil doings, practice all deeds of goodness, so that every possible evil may be suppressed and the right road to Nirvana be opened for the gods and men. If there be any beings who are suffering the results of their evil karma committed in the past, the Bodhisattva will be ready to sacrifice himself and bear the pains for the miserable creatures in order to release them from karma and finally make them realize supreme enlightenment. A Bodhisattva vows to transfer all merit and virtue universally without feeling tired until the end of the world. ** For more information, please see Samantabhadra in Sanskrit/Pali- Vietnamese Section.
Phổ Hiền hạnh nguyện tán
普賢菩薩行願讚; C: pŭxián xíngyuàn zàn; J: fugen gyōgan san; |Tên ngắn của Phổ Hiền Bồ Tát hạnh nguyện tán.
phổ hiền như lai
Xem Văn thù sư lợi Bồ tát.
Phổ Hiền quán kinh
普賢觀經; C: pŭxián guān jīng; J: fugen kan kyō; |Tên gọi đầy đủ là (Phật thuyết) quán Phổ Hiền Bồ Tát hạnh pháp kinh ([佛説] 觀普賢菩薩行法經).
Phổ Hiền quán kinh 普賢觀經
[ja] フゲンカンキョウ Fugen kan kyō ||| Puxian guan jing; Full title: (佛説) 觀普賢菩薩行法經. => (c: Puxian guan jing); Tên gọi đầy đủ là (Phật thuyết) quán Phổ Hiền Bồ-tát hạnh pháp kinh (佛説) 觀普賢菩薩行法經.
phổ hiền tam muội
(普賢三昧) Pháp tu của bồ tát Phổ hiền, tùy theo Hiển Mật mà có 2 pháp: 1. Theo Hiển giáo: Căn cứ vào lời dạy trong kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp và kinh Pháp hoa, thờ bồ tát Phổ hiền làm Bản tôn, quán xét lí thực tướng trung đạo của các pháp, sám hối tội chướng của 6 căn. Nếu Tam muội này thành tựu thì bồ tát Phổ hiền cỡi voi trắng 6 ngà thị hiện ở trong đạo tràng. 2. Theo Mật giáo: Căn cứ vào lời dạy trong Phổ hiền kim cương tát đỏa niệm tụng nghi quĩ, nếu tam mật (thân khẩu ý) của hành giả tương ứng với tam mật của Phật, thì thân hành giả hiện thành thân Phổ hiền, gọi là Phổ hiền tam muội. Kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực quyển thượng (Đại 18, 272 thượng) nói: Nương vào thể Phổ hiền tam muội và sức hòa hợp bền chắc màu nhiệm của Kim cương tam muội mà xuất hiện thân Đại bồ tát Phổ hiền. Lại nữa, 2 vị bồ tát Phổ hiền và Văn thù chủ quản 2 pháp môn, bồ tát Phổ hiền chủ về Tam muội, bồ tát Văn thù chủ về Bát nhã, giúp đức Phật trong việc giáo hóa, vì thế, đối lại với Văn thù bát nhã mà gọi là Phổ hiền tam muội. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 (Đại 35, 441 hạ) nói: Phổ hiền tam muội tự tại, Văn thù bát nhã tự tại. [X. Pháp hoa tam muội sám nghi; Ma ha chỉ quán Q.2, phần cuối]. (xt. Pháp Hoa Tam Muội).
phổ hiền tam mạn
See Samantabhadra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
phổ hiền tát đỏa bồ tát
Xem Kim Cang Tát Đỏa.
phổ hiền và văn thù
Samantabhadra and Manjusri—Bồ Tát Phổ Hiền là hiện thân của đức trầm tĩnh, lòng xót thương và trí huệ sâu xa. Ngài thường được vẽ cưỡi trên lưng một con voi trắng (biểu thị đức tính trầm tĩnh và trí tuệ) ngồi hầu bên tay phải của Đức Phật; trong khi ngài Văn Thù Bồ Tát, một tay cầm kiếm kim cang đoạn diệt mê hoặc, ngồi trên lưng sư tử ở phía tay trái của Đức Phật. Văn Thù biểu thị sự giác ngộ tức là hốt nhiên mà nhận ra nhất thể của tất cả cuộc tồn sinh và năng lực phát sanh từ đó mà sức mạnh của sư tử là biểu tượng. Khi tri kiến nhờ có ngộ mà thành tựu được xử dụng làm lợi ích cho loài người, tâm xót thương của Phổ Hiền tự hiện thân. Do đó, các Bồ Tát Phổ Hiền và Văn Thù, mỗi người một bên tay của Đức Phật, biểu thị cái “Một” hay tính bình đẳng và cái nhiều—Samantabhadra embodies calm action, compassion, and deep-seated wisdom. He is usually depicted astride a white elephant (the elephant is being noted for its tranquility and wisdom), sitting in attendance on the right of the Buddha; while Manjusri Bodhisattva, with his delusion-cutting vajra sword in one hand, sits on the back of a lion on the Buddha's left side. Manjusri represents awakening, that is, the sudden realization of the lion's vigor is symbolic. When the knowledge acquired through 'awakening' is employed for the benefit of mankind, Samantabhadra's compassion is manifesting itself. Accordingly, each of the Bodhisattvas is an arm of the Buddha, representing respectively, Oneness or Equality and manyness.
Phổ Hiền 普賢
[ja] フゲン Fugen ||| "Universal Goodness;" The bodhisattva Samantabhadra. He represents the practice and meditation of all the Buddhas, as contrasted to Mañjuśrī (文殊) who represents wisdom and realization. He is the right-hand attendant of Śākyamuni Buddha, and is often portrayed mounted on a white elephant. He serves as an interlocutor to the Buddha in many Mahāyāna sutras. (2) The interlocutor bodhisattva who speaks in the second chapter of the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經. => (k: Samantabhadra). 1. Vị Bồ-tát biểu tượng cho hạnh tu tập thiền định củ chư Phật, khác với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi biểu tượng cho trí tuệ giác ngộ. Ngài trợ thủ bên phải cho Đức Phật Thích-ca Mâu-ni , và thường được trình bày bằng hình tượng ngồi trên voi trắng. Ngài thường xuất hiện qua nhiều đương cơ thưa hỏi Phật pháp với Đức Phật trong nhiều kinh Đại thừa. 2. Là Bồ-tát đương cơ được nói trong phẩm thứ hai của kinh Viên Giác.
phổ hiện
Universal manifestation, especially the manifestation of a Buddha or Bodhisattva in any shape at will.
; Chư Phật và chư Bồ Tát tùy ý thị hiện các loại thân ở khắp mọi nơi, tùy thuận theo căn cơ của chúng sanh mà tế độ cho họ (như Đức Quán Thế Âm có 33 thân tầm thinh cứu khổ trong Kinh Pháp Hoa)—Universal manifestation, especially the manifestation of Buddhas or Bodhisattvas in any shape at will.
phổ hiện sắc thân
(普現色身) Chư Phật, Bồ tát vì phương tiện hóa độ chúng sinh, nên ứng theo căn cơ của chúng sinh mà thị hiện các loại sắc thân. Như bồ tát Quan thế âm thị hiện 33 thân, nghe thấy tiếng kêu cầu mà đến cứu khổ; bồ tát Diệu âm hiện thân nhiếp hóa, Đại nhật Như lai trong Mạn đồ la Thai tạng giới lưu xuất ra các vị tôn... đều là phổ hiện sắc thân. Ngoài ra, cái nguồn gốc hiển xuất lực dụng này, gọi là Phổ hiện sắc thân tam muội, nhập vào Tam muội này thì có năng lực hiện ra các loại sắc thân Phật, Bồ tát... [X. phẩm Diệu âm bồ tát trong kinh Pháp hoa; Đại nhật kinh sớ Q.2; Pháp hoa kinh Khoa chú Q.8].
phổ hiện sắc thân tam muội
(普現色身三昧) I. Phổ Hiện Sắc Thân Tam Muội. Cũng gọi Hiện nhất thiết sắc thân tam muội, Phổ hiện tam muội. Tam muội mà chư Phật, Bồ tát thể nhập khi cần thị hiện các sắc thân. Phẩm Diệu âm bồ tát kinh Pháp hoa (Đại 9, 56 trung) ghi: Bồ tát hoa đức bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế tôn! Bồ tát Diệu âm trụ trong tam muội nào mà có thể hiển hiện độ thoát chúng sinh như vậy? Phật bảo bồ tát Hoa đức: Thiện nam tử! Tam muội này gọi là Hiện nhất thiết sắc thân, bồ tát Diệu âm trụ trong Tam muội này nên mới có năng lực lợi ích vô lượng chúng sinh như thế. II. Phổ Hiện Sắc Thân Tam Muội. Cũng gọi Phổ nhãn tam muội. Tam muội mà trong đó hàng đại cơ Phổ môn của hành giả Chân ngôn quán tưởng chư tôn trong hải hội Mạn đồ la được nhất tâm bất loạn. Đại nhật kinh sớ quyển 6 (Đại 39, 645 trung) nói: Nếu ở trong Đại bi tạng vân hải mà được nhất tâm bất loạn, thì gọi là Phổ nhãn tam muội, cũng gọi là Phổ hiện sắc thân tam muội. [X. phẩm Dược vương kinh Pháp hoa].
phổ hiệp
(溥洽) (1346-1426) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Minh, người Sơn âm, Cối kê, họ Lục, tự Nam châu, là hậu duệ của Phóng ông. Sư xuất gia ở chùa Phổ tế, thờ ngài Tuyết đình làm thầy. Sư thông suốt các kinh, giỏi cả Nho học, ngoài việc tu định, sư còn nghiên cứu văn chương. Trong năm Hồng vũ (1368-1397), sư được cử làm tăng lục ti hữu giảng kinh, rồi làm đến Tả thiện thế, không bao lâu bị vu khống và giáng chức. Sau sư lại được phục chức làm Hữu thiện thế. Khi vua Nhân tông lên ngôi, sư nhiều lần được triệu vào kinh đô hỏi ý kiến. Sau sư xin về dưỡng lão ở chùa Báo ân tại Nam kinh, vua Nhân tông sai Trung quang hộ tống sư. Niên hiệu Tuyên đức năm đầu (1426), sư thị tịch, thọ 81 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Vũ hiên tập. [X. Bổ tục cao tăng truyện Q.25; Quốc triều hiến trưng lục Q.118; Minh nhân tiểu truyện Q.5].
Phổ Hoá
普化; C: pǔhuà; J: fuke; ?-860; cũng được gọi là Trấn Châu Phổ Hoá;|Thiền sư Trung Quốc dòng Mã Tổ, môn đệ của Thiền sư Bàn Sơn Bảo Tích. Sư nổi danh vì những hành động quái dị và những hành động này còn được ghi lại trong Lâm Tế lục.|Sau khi Bàn Sơn tịch, Sư đến trợ giúp Lâm Tế hoằng hoá trong thời gian đầu. Khi việc đã xong, toàn thân biến mất không để lại dấu vết. Dòng Thiền của Sư được Thiền sư Tâm Ðịa Giác Tâm truyền sang Nhật với tên Phổ Hoá tông (j: fukeshū)|Bàn Sơn sắp tịch, gọi đệ tử đến bảo: »Có người vẽ được chân dung ta chăng?« Tất cả môn đệ đều trình đã vẽ đến nhưng chẳng hợp ý Bàn Sơn. Sư liền ra thưa: »Con vẽ được.« Bàn Sơn bảo: »Sao chẳng trình Lão tăng?« Sư liền lộn nhào rồi ra. Bàn Sơn liền bảo: »Gã này sau chụp gió chạy loạn đây.«|Như Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch tiên đoán trước, Sư là người phụ giúp Lâm Tế Nghĩa Huyền hoằng hoá trong thời gian đầu tại Trấn Châu. Lâm Tế lục có ghi lại nhiều giai thoại của Sư với Lâm Tế. Một trong những câu chuyện thường được nhắc đến nhất là việc thiên hoá của Sư. Một hôm Sư ra giữa chợ hô hào xin người qua lại một cái áo dài. Ai cũng cho nhưng Sư không vừa lòng. Lâm Tế nghe vậy liền khiến một vị đệ tử mua một chiếc quan tài. Sư đến viện, Lâm Tế bảo: »Ta có cho ông cái áo dài rồi!« Sư bèn tự vác đi quanh chợ kêu lên rằng: »Lâm Tế làm cho tôi một cái áo dài rồi. Tôi qua cửa Ðông Thiên hoá đây!« Mọi người đua nhau theo xem, Sư bèn nói: »Hôm nay chưa, ngày mai ra cửa Nam thiên hoá!« Cứ như thế ba ngày thì không ai đi theo và đến ngày thứ tư, một mình Sư ra ngoài thành, tự đặt mình vào quan tài, nhờ người đóng nắp lại. Tin đồn ra thì mọi người đổ xô lại, mở quan tài ra xem thì không thấy xác đâu, chỉ nghe trên không tiếng chuông văng vẳng xa dần.
phổ hoá
(普化) (?-860) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, Sơ tổ của tông Phổ hóa, Thiền tông Nhật bản. Sư có tư chất và tính tình khác người, thờ ngài Bàn sơn Bảo tích làm thầy, được mật truyền áo nghĩa, thâm nhập huyền chỉ. Sau khi ngài Bảo tích thị tịch, sư du hóa đến Trấn châu tại miền Bắc, nói năng tựa như điên khùng, hành vi phóng túng, nơi ở không nhất định, hễ gặp người, không phân cao thấp, đều đánh 1 tiếng mõ rồi nói (Vạn tục 138, 71 hạ): Sáng đến đánh sáng, tối đến đánh tối, 4 phương 8 hướng đến thì xoáy như gió mà đánh, hư không đến cũng đánh tất. Những câu nói này được truyền tụng rộng rãi trong Thiền lâm và được mệnh danh là Phổ hóa tứ đả hoạt, Phổ hóa linh đạc kệ. Sư cũng thường ra vào những nơi phố chợ hoặc nghĩa trang, có lúc múa hát, có khi buồn khóc, người đời gọi sư là Phổ hóa Hòa thượng. Một hôm, sư vào viện Lâm tế ăn cơm, ngài Lâm tế bảo sư rất giống con lừa, sư liền kêu như lừa và nói (Đại 51, 280 trung): Lâm tế là đứa ở đợ, chỉ có 1 con mắt. Vào đầu năm Hàm thông (860-873), khi sắp thị tịch, sư vác quan tài đi ngoài phố chợ, đến từng nhà cáo từ rằng: Ngày mai Phổ hóa ra cửa Đông chết, người trong quận bảo nhau đưa sư ra cửa thành, sư nói to: Hôm nay chôn không tốt. Qua ngày thứ 2, sư đi ra cửa Nam, mọi người cũng đi theo để đưa, sư lại nói: Ngày mai cửa Tây mới tốt. Cứ như thế ra rồi về, người ta chán và người đi đưa dần dần ít đi. Ngày thứ 4, sư tự vác quan tài ra cửa Bắc, đánh mõ, rồi nằm vào quan tài mà tịch. Đến đời Tống, có sư Tâm địa Giác tâm từ Nhật bản đến Trung quốc học thiền, ngưỡng mộ di phong đánh mõ hát cuồng để gửi gắm ý thiền của sư, nên sau khi trở về nước, ngài Giác tâm kiến lập am Phổ hóa để truyền bá tông phong này, dần dần người đến theo học đông bèn trở thành tông Phổ hóa. [X. Tống cao tăng truyện Q.20; Cảnh đức truyền đăng lục Q.10; Liên đăng hội yếu Q.7; Ngũ đăng hội nguyên Q.4; Thích thị kê cổ lược Q.3]. (xt. Phổ Hóa Tông).
Phổ Hoá tông
普化宗; C: pǔhuà-zōng; J: fuke-shū; |Một nhánh thiền nhỏ không quan trọng tại Trung Quốc, được Thiền sư Phổ Hoá khai sáng trong thế kỉ thứ 9. Trong tông này, người ta thay thế việc tụng kinh niệm Phật bằng cách thổi sáo – cây sáo này được gọi là Xích bát (尺八; j: shakuhachi).|Phổ Hoá tông được Thiền sư Tâm Ðịa Giác Tâm (j: shinchi kakushin, 1207-1298) truyền sang Nhật trong thời đại Liêm Thương (kamakura). Các người theo tông này – phần lớn thuộc giới Cư sĩ – chu du khắp nơi, lúc nào cũng mang một cái nón tre che cả khuôn mặt và thổi sáo. Họ được gọi là »Hư vô tăng« (虛無僧; j: komusō). Tông này sau bị cấm vì có nhiều hiệp sĩ (侍; j: samurai) vô chủ, lợi dụng chiếc nón tre che mặt che đậy tông tích, hành vi bất thiện.
Phổ Hoá 普化
[ja] フケ Fuke ||| Puhua; a Chinese Chan master of the Tang period, who was a of the lineage of Mazu Daoyi 馬祖 道一 as well as a contemporary and good friend of Linji Yixuan 臨濟義玄. A lineage of Chan was founded upon his influence. He was a bit of an iconoclastic and playful character, known for exhibiting strange behavor and feats of magic. He was famous for walking and singing while ringing a small bell. Shortly after his death, the sound of this bell was to be heard in the vicinity of his coffin. => (j: Fuke ; c: Puhua) Thiền sư Trung Hoa đời Đường, thuộc dòng Mã Tổ Đạo Nhất, cùng thời và là bạn thân của Lâm Tế Nghĩa Huyền. Có một dòng Thiền được thành lập dưới sự ảnh hưởng của sư. Sư có chút tinh thần phá đổ việc tôn sùng ngẫu tượng và cá tính khôi hài, nổi tiếng với việc thường hay thể hiện những phong cách kỳ đặc và thần thông kỳ diệu. Sư nổi tiếng với việc vừa đi bộ vừa hát vừa lắc một cái chuông nhỏ. Ngay sau khi sư viên tịch, âm thanh của tiếng chuông nầy vẫn còn vang vọng bên quan tài của sư.
Phổ Huyễn
普幻; C: pŭhuàn; J: fugen; K: pohwan, 1245-1278;|Tăng sĩ học giả thuộc Thiền tông Hàn Quốc thế kỉ thứ 13, nổi tiếng là chuyên gia về kinh Thủ Lăng Nghiêm. Sư viết 2 cuốn luận giải về kinh nầy: Lăng Nghiêm kinh tân khoa (楞嚴經新科, k: nŭngŏmgyŏng singwa), 2 quyển, có khả năng hiện còn lưu hành, và Thủ Lăng Nghiêm kinh hoàn giải bổ kí (首楞嚴經環解補記, k: surŭngŏmgyŏng hwanhae pogi), 2 quyển, hiện đang lưu hành.
Phổ Huyễn 普幻
[ja] フゲン Fugen ||| Pohwan (fl. 1245-1278), a 13th century Koryŏ Sŏn scholar monk, known as a specialist in the Śūraṃgama-sūtra 首楞嚴經. He wrote two commentaries on that scripture, the Nŭngŏmgyŏng singwa 楞嚴經新科 (2 fasc. possibly extant) and the Surŭngŏmgyŏng hwanhae pogi 首楞嚴經環解補記 (2 fasc. extant). => k: Pohwan (1245-1278), tăng sĩ học giả thuộc Thiền tông Cao Ly thế kỷ thứ 13, nổi tiếng là chuyên gia về kinh Thủ Lăng Nghiêm. Sư viết hai cuốn luận giải về kinh nầy: Lăng Nghiêm kinh tân khoa (k: Nŭngŏmgyŏng singwa 楞嚴經新科), gồm hai quyển, có khả năng hiện còn lưu hành; và Thủ Lăng Nghiêm kinh hoàn giải bổ ký (k: Surŭngŏmgyŏng hwanhae pogi 首楞嚴經環解補記); gồm hai quyển, hiện đang lưu hành.
phổ hóa
P'u-k'o (C), Fuke (J), Puhua (C)(?-860) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Bàn Sơn Bảo Tích.
; Universal change, or transformation.
; Giáo hóa khắp nơi—Universal change, or transformation.
phổ hóa phái
Puke School Do ngài Phổ Hóa sáng lập vào thế kỷ thứ 9 và được Shinchi truyền vào nước Nhật vào thời Kamakura.
phổ hóa tông
P'u-hua tsung (C), P'u-hua ch'an (C), Puhuachan (C), Fuke- shŪ (J)Một trong những chi phái của dòng thei62n Trung quốcPhổ Hóa tôngTên một tông phái.
Phổ Hương
普香; C: pŭxiāng; J: fukō; S: samantagan-dha;|Tên một vị thần trong kinh Pháp Hoa.
phổ hương thiên
Samantagandha-deva (S)Một vị tiên trong cõi lục dục thiên.
Phổ Hương 普香
[ja] フコウ fukō ||| Samantagandha--Universal Fragrance, the name of a god in the Lotus Sutra. 〔法華經 T 262.9.2a16〕 => (s: Samantagandha; e: Universal Fragrance), tên một vị thần trong kinh Pháp Hoa.
Phổ khuyến toạ thiền nghi
普勸坐禪儀; J: fukan zazengi;|Một tác phẩm của vị Tổ tông Tào Ðộng Nhật Bản là Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen). Sư biên soạn quyển sách này sau khi từ Trung Quốc trở về nhằm khuyến khích các môn đệ tinh tiến Toạ thiền. Sư nhấn mạnh là toạ thiền không phải là »Phương tiện đạt giác ngộ« bởi vì ngay khi ngộ đạo, người ta cũng phải tiếp tục toạ thiền bởi vì toạ thiền là việc thực hành căn bản của chư Phật. Toạ thiền là một cách tu tập vô cùng tận.
phổ khuyến toạ thiền nghi
(普勸坐禪儀) Gọi tắt: Tọa thiền nghi. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vĩnh bình Đạo nguyên –Khai tổ tông Tào động Nhật bản– soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 82. Nội dung sách này khuyên tất cả người tu hành nên ngồi thiền, chỉ bày sơ lược cách ngồi và phương pháp điều hòa thân thể. Toàn văn gồm có 756 chữ, cho tọa thiền là môn chính yếu của đạo Phật, không suy tư, lo toan là căn bản của việc tọa thiền. Chủ trương tọa thiền không phải phương tiện mà là cứu cánh, dù ngộ hay không, hoặc tu hành sau khi khai ngộ, tọa thiền đều rất quan trọng. Sách này là chỗ y cứ của tông Tào động Nhật bản.
Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi
(普勸坐禪儀): 1 quyển, thư tịch khuyên dạy mọi người cách thức cũng như ý nghĩa đúng đắn của Tọa Thiền, do Đạo Nguyên (道元, Dōgen) trước tác, được soạn thuật vào năm 1227, ngay sau khi ông từ bên nhà Tống trở về nước. Có hai loại là bản lưu bố và bản tự bút. Bản tự bút được chép vào ngày Trung Nguyên năm 1233, được lưu giữ tại Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji), và xem như là quốc bảo. Còn bản chép tay là nguyên văn của Đạo Nguyên lúc mới về lại Nhật; còn bản lưu bố là bản cũng do tự tay ông đính chính lại sau này. Về lý do soạn thuật sách này, có cuốn Tọa Thiền Nghi Soạn Thuật Do Lai Thư (坐禪儀撰述由來書) do Đạo Nguyên viết. Nếu căn cứ vào bản này, ta thấy rằng lý do soạn thuật ra Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi là nhằm đính chính lại sự sai lầm của tác phẩm Tọa Thiền Nghi (坐禪儀) do Tông Trách (宗賾, ?-?) ở Trường Lô (長蘆) của nhà Nam Tống Trung Quốc viết ra, và nêu rõ phương pháp Tọa Thiền được chánh truyền từ thời đức Phật Thích Ca cũng như Đạt Ma trở đi. Nội dung của Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi được phân làm 3 đoạn: Thượng, Trung và Hạ. Đoạn Trung nói về cách thức cũng như công đức của Tọa Thiền. Tính đặc dị của bộ này là có cái nhìn về việc Tọa Thiền rất khác lạ của Đạo Nguyên thông qua hai đoạn Thượng và Hạ. Yếu chỉ của sách là Phật pháp vốn được chánh truyền từ thời đức Phật Thích Ca cũng như Đạt Ma, chính là Tọa Thiền. Hơn nữa, Tọa Thiền không phải là thủ đoạn tu tập để đạt ngộ, mà chính Tọa Thiền là sự tu chứng nhất đẳng, lập cước trên sự chứng ngộ. Tác phẩm này được thâu lục vào trong Đạo Nguyên Thiền Sư Toàn Tập (道元禪師全集) quyển Hạ, Tào Động Tông Toàn Thư (曹洞宗全書).
phổ khử
xem a-già-đà.
phổ lễ
Lễ bái tất cả chư Phật (chỉ việc hành giả Mật giáo lễ bái bổn tôn và tất cả các vị tôn trong Mạn Đồ La, có nghĩa là lễ bái hết thảy chư Phật)—To worship all the Buddhas.
; (普禮) Lễ khắp cả, nghĩa là hành giả Mật giáo ở trong đạo tràng lễ bái Bản tôn, cùng tất cả các vị tôn trên Mạn đồ la. Phổ lễ có thể chia làm Đàn tiền phổ lễ, Trước tòa phổ lễ và Bản tôn phổ lễ. Ấn tướng của Phổ lễ phần nhiều dùng ấn Kim cương hợp chưởng (chắp tay), gọi là Lễ bái ấn. Ấn này biểu thị ý nghĩa niềmtin bền chắc không gì lay chuyển được. Khi kết ấn, nên tụng chân ngôn Phổ lễ: Án (oô, qui mệnh) tát phạ đát tha nghiệt đa (sarva tathàgata, nhất thiết Như lai) bá na (pàda, túc) mãn na nẵng (vandanàô, lễ) ca lỗ nhị (karomi, ngã tác). Nghĩa là Con lễ chân của tất cả Như lai. Khi kết ấn và tụng chân ngôn này thì tức là lễ kính tất cả các đức Như lai của hải hội Mạn đồ la trong khắp 10 phương. [X. kinh Lược xuất niệm tụng Q.1].
Phổ Minh
普明; C: pŭmíng; J: fumyō; |Ánh sáng chói lọi chiếu khắp. Tự điển Phật Quang Sơn liệt kê 8 nhân vật mang tên nầy.
phổ minh
Samantaprabhàsa (S). Pervading light.
; Samantaprabhasa (skt). 1) Ánh sáng chói lòa, tên của 500 vị A La Hán thành Phật—Pervading light, name of 500 arhats on their attaining Buddhahood. 2) Tên một ngôi chùa mới xây khoảng năm 1972 tại thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang: Name of a temple, just built recently in Rạch Giá town, Kiên Giang province.
phổ minh bồ tát hội
Pu-ming p'u-sa hui (C).
phổ minh như lai
Samantaprabhāsa (S)- Danh hiệu Phật mà Phật Thích ca thọ ký cho Ngài A nậu lâu đà, Kiều trần Như và 500 A la hán. - Phổ Quang hoàng tử: con vua Đăng Chiếu, tiền thân đức Phật, vào núi tu lấy hiệu là Thiện Huệ. (Xem Soumedha).
phổ minh vương
Phổ Minh Vương là tên của vị vua bị Ban Túc Vương bắt giữ—Pervading Light King, name of the king captured by Kalmasapada—See Ban Túc Vương.
Phổ Minh 普明
[ja] フミョウ fumyō ||| Universal radiance. The Fokuang Shan dictionary lists eight persons who had this as their name. => Ánh sáng chói lọi chiếu khắp. Tự điển Phật Quang Sơn liệt kê 8 nhân vật mang tên nầy.
Phổ Môn
(s: samanta-mukha, 普門): còn gọi là Vô Lượng Môn (無量門), ý chỉ cho cánh cửa rộng mở dung chứa hết thảy. Thiên Thai Tông cho rằng đây là lý của Trung Đạo, thật tướng, tức biến khắp tất cả; cho nên chư Phật, Bồ Tát nương lý này mà có thể khai mở cửa vô lượng, thị hiện các loại thân hình để cứu độ nỗi khổ của chúng sanh và thành tựu Bồ Đề. Căn cứ trên lý này, Thiên Thai Tông nêu ra thuyết Thập Phổ Môn (十普門), gồm: Từ Bi Phổ (慈悲普), Hoằng Thệ Phổ (弘誓普), Tu Hành Phổ (修行普), Đoạn Cảm Phổ (斷感普), Nhập Pháp Môn Phổ (入法門普), Thần Thông Phổ (神通普), Phương Tiện Phổ (方便普), Thuyết Pháp Phổ (說法普), Thành Tựu Chúng Sanh Phổ (成就眾生普), Cúng Dường Chư Phật Phổ (供養諸佛普). Hành giả có thể nương vào các pháp môn này theo thứ tự tu hành thì sẽ hoàn thành đức tự hành hóa tha. Riêng Hoa Nghiêm Tông thì nhận thức Phổ Môn là lý của chủ bạn đầy đủ trùng trùng vô tận do Viên Giáo thuyết ra; có nghĩa là trong một mà nhiếp hết thảy các pháp, cũng như kinh hoa nghiêm dạy rằng một của giáo pháp có thể thâu nhiếp cả toàn bộ các cửa. Hơn nữa, chư Phật, bồ tát nương vào các duyên, hiện đủ loại hình tướng để đến cứu độ chúng sanh; nên được gọi là Phổ Môn Thị Hiện (普門示現). Các kinh điển thuyết về Phổ Môn như Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm (觀世音菩薩普門品) thứ 25 của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka, 妙法蓮華經, Taishō No. 262), Phật Thuyết Phổ Môn Phẩm Kinh (佛說普門品經, Taishō No. 315), Quán Âm Kinh Phổ Môn Phẩm Phu Thuyết (觀音經普門品膚說), v.v. Tại Quan Âm Điện (觀音殿) của Quốc Thanh Tự (國清寺) ở Thiên Đài Sơn (天臺山), Tỉnh Triết Giang (浙江省), Trung Quốc có câu đối: “Pháp pháp viên thông cố danh Tự Tại, đầu đầu hợp đạo nhân hiệu Phổ Môn (法法圓通故名自在、頭頭合道因號普門, pháp pháp viên thông gọi tên Tự Tại, người người hợp đạo mới hiệu Phổ Môn).”
phổ môn
Samanta-mukha (S)Vô lượng mônPháp môn phổ cập tất cả.
; Samanta mukuha (S). Universal door, the opening into all things, or universality; the universe in anything; the unlimited doors open to a Buddha, or Bodhisattva, and the forms in which he can reveal himself. Phổ môn thị hiện.
; Samanta-mukuha (skt)—Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phổ Môn là cửa phổ biến, hay qua cửa nầy người ta có thể thống nhiếp tất cả các pháp, hay là một môn có nhất thiết môn. Qua cửa nầy, không có cái gì giới hạn Phật và Bồ Tát, thị hiện dưới mọi hình thức để cứu độ chúng sanh—According to The Flower Adornment Scripture, universal door, the opening into all things, or universality; the universe in anything; the unlimited door s open to a Buddha, or Bodhisattva, and the forms in which he can reveal himself.
; (普門) Phạm: Samanta-mukha. Cũng gọi Vô lượng môn. Chỉ cho pháp môn phổ cập hết thảy. Tông Thiên thai cho rằng lí thực tướng, trung đạo nói trong kinh Pháp hoa bao trùm khắp tất cả, không bị ngăn ngại, cho nên chư Phật, Bồ tát nương theo lí này mà mở ra vô lượng môn, thị hiện các loại thân để cứu vớt chúng sinh trong biển khổ, thành tựu bồ đề. Chính từ đây mà 10 Phổ môn đã được mở ra: Từ bi phổ, Hoằng thệ phổ,Tu hành phổ, Đoạn hoặc phổ, Nhập pháp môn phổ, Thần thông phổ, Phương tiện phổ, Thuyết pháp phổ, Thành tựu chúng sinh phổ và Cúng dường chư Phật phổ. Nương theo 10 Phổ môn này mà tu thì có thể lần lượt thành tựu các công đức tự hành, hóa tha. Tông Hoa nghiêm cho rằng lí Trùng trùng vô tận chủ bạn cụ túc mà Viên giáo nói tức là trong 1 pháp bao hàm tất cả pháp, chính là giáo pháp Nhất môn của kinh Hoa nghiêm, chứa đựng tất cả môn, cho nên gọi là Phổ môn, Phổ pháp. Còn Mật giáo thì chủ trương Đại nhật Như lai toàn nhiếp đức dụng của chư tôn, bao gồm tất cả tổng trí tổng đức, gọi là Phổ môn; trái lại, Phật Di đà và Phật Dược sư chỉ hiện 1 trí, 1 đức thì gọi là Nhất môn. Đại mạn đồ la của Thai tạng giới và Kim cương giới lấy Đại nhật Như lai làm trung tâm mà hội hợp, qui tụ chư Phật, Bồ tát, chư thiên... gọi là Phổ môn mạn đồ la, Đô hội mạn đồ la. Kiến lập Mạn đồ la này, gọi là Phổ môn đàn; tụng trì tất cả chân ngôn của hải hội chư tôn này, gọi là Phổ môn trì tụng tôn. Ngoài ra, nói theo nguyên lí Nhất tức nhất thiết thì tu hành Nhất môn pháp có thể được muôn đức của Phổ môn pháp. Tuy nhiên, về vấn đề này cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Lại nữa, chư Phật, Bồ tát tùy theo các duyên mà hiển thị các loại hình tướng để cứu độ chúng sinh, gọi là Phổ môn thị hiện.[X. Đại nhật kinh sớ Q.1, 4, 8; Quan âm kinh huyền nghĩa Q.hạ (Trí khải); Pháp hoa huyền nghĩa luận Q.10; Pháp hoa văn cú,Q.10 phần cuối; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2 (Pháp tạng); Pháp hoa kinh khoa chú Q.8]. (xt. Nhất Môn, Phổ Môn, Thập Phổ Môn).
phổ môn phẩm
Xem Quán Thế Âm Phổ môn phẩm.
phổ môn thiên
Vaisramāna (S)Tỳ sa môn, Tỳ sa môn thiên vương được tôn xưng là Đa văn Chủ, Đa văn ThiênVị thiên vương quản trị phương Bắc trong hàng Tứ thiên vương.
phổ môn thị hiện
(普門示現) Chư Phật, Bồ tát vận dụng năng lực thần thông tự tại thị hiện các loại thân tướng, mở ra vô lượng pháp môn làm cho chúng sinh chứng được viên thông. Như phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa đã nói rõ về sự hóa đạo của bồ tát Quan thế âm, Ngài thị hiện 33 tướng, 19 thân thuyết pháp, đó là đức dụng Phổ môn thị hiện của Ngài. Ma ha chỉ quán quyển 1, phần 5 ghi: Nếu người cần đến thânPhật để được độ thì liền hiện 8 tướng thành đạo; người cần đến thân trong 9 pháp giới để được độ thì dùng Phổ môn thị hiện. Đây là ý chỉ hiển bày sự cảm ứng trong 10 cõi và hiện thân nhiếp thụ, hóa độ. Phổ môn thị hiện ở đây tương đương với Nhập pháp môn phổ trong Thập phổ môn. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.6]. (xt. Thập Phổ Môn).
phổ môn tự
Fumon-ji (J)Tên một ngôi chùa.
phổ môn viện
Fumon'in (J)Tên một ngôi chùa.
Phổ Ngu
普愚; C: pŭyú; J: fugu; K: pou, 1301-1382; |Thiền sư Hàn Quốc xuất thân từ Hồng Châu (洪州), thường được gọi với pháp danh Thái Cổ (太古, k: t'aego). Sư xuất gia vào năm 13 tuổi, được biết năm 19 tuổi, sư quyết chí giải trừ mối nghi sinh tử của mình, xúc tiến tham công án Vô và thấu suốt công án nầy năm 30 tuổi. Năm 1341, sư trú tại Trùng Hưng tự (重興寺, k: chunghŭngsa) ở Tam giác sơn, nơi sư bắt đầu thâu nhận đồ chúng. Sư lập một nơi ẩn cư ở phía Đông ngôi chùa, gọi đó là Thái Cổ (t'aego), ở đó sư viết tập Ca nhất thiên (歌一篇, k: kailp'yŏn). Sau đó sư viết Sơn trung tự lạc ca (山中自樂歌, k: sanjungjallakka). Sau, sư được mời làm Vương sư và Quốc sư. Sư là truyền nhân thuộc dòng thiền Lâm Tế (臨濟, k: imje), dòng thiền theo tinh thần của Đại Huệ (大慧); chú trọng vào việc tham thoại đầu. Sư nổi tiếng qua thi ca, các tác phẩm đã được môn đệ sưu tập lại.
Phổ Ngu 普愚
[ja] フグ Fugu ||| Pou (1301-1382); a Koryŏ Sŏn monk from 洪州, commonly known by his Buddhist name of T'aego 太古. He entered the sangha at age 13, is said to have become determined to resolve his doubt-mass at the age of 19, and succeeded to penetrate the mu kong'an 無公安 and experience deep enlightenment at the age of 30. In 1341 he took up residence at Chunghŭngsa 重興寺 of Mt. Samgak 三角山, where he gathered many students. He constructed a hermitage to the east of the temple, which he called T'aego, and there he wrote the Kailp'yŏn 歌一篇. He later wrote the Sanjungjallakka 山中自樂歌. He was subsequently invited to be royal teacher 王師 and national teacher 國師. He was a transmitter of the Imje (Linji 臨濟) style of Sŏn in the tradition of Ta-hui 大慧, emphasizing reflection on the hwadu 話頭. He was famous for his poetry, which was collected by his students. => k: Pou ; (1301-1382); Thiền sư Cao Ly xuất thân từ Hồng Châu 洪州thường được gọi với pháp danh Thái Cổ (k: T'aego 太古). Sư xuất gia vào năm 13 tuổi, được biết năm 19 tuổi, sư quyết chí giải trừ mối nghi sinh tử của mình, xúc tiến tham công án Vô và thấu suốt công án nầy năm 30 tuổi. Năm 1341, sư trú tại Trùng Hưng tự ở Tam giác sơn, nơi sư bắt đầu thâu nhận đồ chúng. Sư lập một nơi ẩn cư ở phía Đông ngôi chùa, gọi đó là Thái Cổ (T'aego), ở đó sư viết tập Ca nhất thiên (k: Kailp'yŏn 歌一篇) . Sau đó sư viết Sơn trung tự lạc ca (k: Sanjungjallakka 山中自樂歌). Sau đó sư được mời làm Vương sư và Quốc sư. Sư là truyền nhân thuộc dòng thiền Lâm Tế (k: Imje ; c: Linji 臨濟), dòng thiền theo tinh thần của Đại Huệ (c: Ta-hui 大慧); chú trongh vào việc tham thoại đầu. Sư nổi tiếng qua thi ca, các tác phẩm đã được môn đệ sưu tập lại.
phổ nguyện
(普願) (748-834) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người ở Tân trịnh thuộc Trịnh châu (Tân trịnh, huyện Khai phong, tỉnh Hà nam), họ Vương. Năm 10 tuổi, sư theo ngài Hoài nhượng xuất gia ở núi Đại ngỗi, khổ công học tập, tinh tiến chuyên cần. Năm Đại lịch thứ 7 (772), sư đến chùa Hội thiện ở Tung sơn lễ Luật sư Cảo cầu thụ giới Cụ túc. Sư học tập Tướng bộ Luật tông do ngài Pháp lệ khởi xướng. Không bao lâu, sư đến các đạo tràng nghe giảng kinh Lăng già, kinh Hoa nghiêm..., sư thông suốt huyền chỉ của Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận... Sau, sư đến tham yết Thiền sư Mã tổ Đạo nhất ở Giang tây, có chỗ tỉnh ngộ. Năm Trinh nguyên 11 (795), sư lập Thiền viện ở núi Nam tuyền tại Trì dương, hơn 30 năm không ra khỏi núi. Đầu năm Thái hòa (827-835), theo lời thỉnh cầu của mọi người, sư xuống núi, khai đường giảng pháp, người đến tham học rất đông, đạo pháp hưng thịnh. Ngày 25 tháng 12 năm Thái hòa thứ 8 (834), sư thị tịch, thọ 87 tuổi, người đời gọi sư là Nam tuyền Phổ nguyện. Đệ tử nối pháp có 17 vị như: Tùng thẩm, Đàm chiếu, Sư tổ... Sư để lại tác phẩm: Ngữ lục, 1 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.11; Cảnh đức truyền đăng lục Q.8; Liên đăng hội yếu Q.4; Ngũ đăng hội nguyên Q.4; Phật tổ lịch đại thông tải Q.22; Thiền tông chính mạch Q.3]. (xt. Nam tuyền Trảm Miêu).
phổ nguyện nam tuyền thiền sư
Zen master Pu-Yuan-Nan-Quan—See Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư.
Phổ Nhãn
普眼; C: pŭ yăn; J: fugen; |»Cái nhìn suốt khắp«, »mắt vũ trụ«. 1. Con mắt từ bi của Bồ Tát Quán Thế Âm nhìn toàn thể chúng sinh; 2. Nhận ra rằng các pháp đều bao hàm trong một pháp; 3. Một trong 12 vị Bồ Tát đương cơ trong kinh Viên Giác; nhan đề của phẩm thứ 3 trong kinh Viên Giác.
phổ nhãn
Universal eye.
phổ nhãn tam muội môn
(普眼三昧門) Cũng gọi Phổ môn thế giới tam muội môn.Môn Tam muội quán tưởng đại chúng Phổ môn trong nhất tâm. Đại chúng Phổ môn tức là Phổ môn của Đại nhật Như lai thị hiện. Phổ nhãn là mắt bình đẳng đoạn trừ phiền não hoặc nghiệp. Đại nhật kinh sớ quyển 6 (Đại 39, 645 thượng) nói: Hết thảy thiện tri thức nhiều như số bụi nhỏ của cõi Phật trong Hải hội mạn đồ la đều nhập vào Pháp giới tam muội môn. Nếu quán tưởng chung đại chúng phổ môn như thế, mà nhất tâm trụ duyên không tán loạn, thì gọi là Phổ nhãn tam muội môn, cũng gọi là Phổ môn thế giới tam muội môn.
Phổ Nhãn 普眼
[ja] フゲン fugen ||| 'Pervasive vision,' 'universal eyes.' (1) The compassionate eyes of Avalokiteśvara that see all sentient beings. (2) The perception that all things are contained in one thing. (3) One of the twelve bodhisattvas that serves as an interlocutor in the Sutra of Perfect Enlightenment (圓覺經); the title of the third chapter of the same sutra. => Cái nhìn suốt khắp'. Con mắt từ bi của Bồ-tát Quán Thế Âm nhìn toàn thể chúng sinh. Nhận ra rằng các pháp đều bao hàm trong một pháp. Một trong 12 vị Bồ-tát đương cơ trong kinh Viên Giác; nhan đề của phẩm thứ 3 trong kinh Viên Giác.
Phổ pháp
普法; C: pŭfă; J: fuhō; |Theo giáo lí Tam giai giáo, Phổ pháp là giáo lí phổ biến thích nghi với mọi chúng sinh có căn cơ chậm lụt và vô minh, được xêp vào hàng thứ ba; khác với biệt pháp (別法), thích ứng với chúng sinh căn cơ bậc thượng của Nhất thừa (一乘, s: ekayāna) và Tam thừa (三乘, s: triyāna).
phổ pháp
Samantadharma (S). Universal dharmas, or things; all things.
; Theo Kinh Hoa Nghiêm, đây là chư pháp trong pháp giới (một pháp có đủ tất cả pháp, phổ biến viên dung)—According to The Flower Ornament Scripture, universal dharmas, or things; all things.
phổ pháp biệt pháp
(普法別法) Cũng gọi Phổ biệt nhị pháp. Phổ pháp và Biệt pháp. Phổ pháp là pháp môn phổ biến viên dung, tức là giáo pháp phổ cập tất cả chúng sinh, viên mãn dung hợp, không mảy may sai khác. Đồng nghĩa với Một tức tất cả. Trái lại, Biệt pháp là pháp môn các biệt không viên dung, tức là giáo pháp được hạn định cho từng đối tượng riêng biệt. Tông Hoa nghiêm cho giáo pháp Hoa nghiêm Nhất thừa là pháp phổ biến viên dung, gọi là Phổ pháp; còn Tiểu thừa, Tam thừa là giáo pháp cách biệt không viên dung, gọi là Biệt pháp. Các đối tượng mà năng lực thích hợp với 2 loại giáo pháp này gọi là Phổ cơ, Biệt cơ. Ngài Tín hành đời Tùy đề xướng Tam giai giáo (giáo pháp 3 bậc), trong đó, giáo pháp bậc 1 và giáo pháp bậc 2 gọi là pháp Biệt chân, Biệt chính, Biệt pháp; giáo pháp bậc 3 gọi là Phổ chân, Phổ chính, Phổ pháp. Chúng sinh thời mạt pháp cần Phổ pháp để cứu độ. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.2; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.2, 17; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Nam kỉ lục, phần 2, phần 6].
Phổ pháp 普法
[ja] フホウ fuhō ||| In the Sanjie jiao 三階教 doctrine pufa refers to the universal teachings that are appropriate for the blind and ignorant beings of the third level 三階 capacity, distinguished from the 別法 biefa appropriate for the superior beings with the capacity for the ekayāna 一乘 and triyāna 三乘. => Theo giáo lý Tam giai giáo, Phổ pháp là giáo lý phổ biến thích nghi với mọi chúng sinh có căn cơ chậm lụt và vô minh, được xêp vào hàng thứ ba; khác với biệt pháp (別法 k: biefa ), thích ứng với chúng sinh căn cơ bậc thượng của Nhất thừa ( s: ekayāna 一乘) và Tam thừa (s: triyāna 三乘).
Phổ Phật
普佛; C: pŭfó; J: fubutsu;|Theo giáo lí Tam giai giáo; Phổ Phật thích ứng cho chúng sinh mù quáng vô minh, thuộc loại có căn cơ xếp hạng thứ 3 (tam giai 三階); được trình bày chi tiết bằng 4 phương diện Như Lai Tạng Phật (如來藏佛), Phật tính Phật (佛性佛), Đương lai Phật (當來佛), và Phật tưởng Phật (佛想佛).
Phổ Phật 普佛
[ja] フブツ fubutsu ||| The "universal Buddha;" according to the Sanjie 三階 doctrine the appropriate refuge for blind and ignorant beings of the third level 三階 capacity; detailed as four aspects of the Buddha: 如來藏佛, 佛性佛, 當來佛, and 佛想佛. => Theo giáo lý Tam giai giáo; Phổ Phật thích ứng cho chúng sinh mù quáng vô minh, thuộc loại có căn cơ xếp hạng thứ ba (tam giai 三階); được trình bày chi tiết bằng bốn phương diện Như Lai tạng Phật如來藏佛, Phật tính Phật佛性佛, Đương lai Phật當來佛, và Phật tưởng Phật佛想佛.
phổ quang
Universal light, to shine everywhere.
; Ánh sáng tỏa khắp nơi nơi—Universal light—To shine everywhere.
; (普光) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Đường. Sư có tư chất thông minh, mẫn tiệp, thờ Tam tạng Huyền trang ở chùa Từ ân làm thầy. Sư siêng năng cần khổ học tập, nghe ít hiểu nhiều, được ngài Huyền trang thầm nhận, người đời gọi sư là Đại thừa quang. Ngài Huyền trang sáng lập Đạo tràng phiên dịch trong 20 năm (645-664), dịch 75 bộ kinh, 1335 quyển, phần lớn do sư Phổ quang bút thụ. Năm Vĩnh huy thứ 5 (654), ngài Huyền trang dịch luận Câu xá, trước hết thầm trao cho sư Phổ quang, sư bèn soạn bộ Câu xá luận kí, 30 quyển, để giải thích. Đời sau cho sư là người được chân truyền về Câu xá học của ngài Huyền trang. Sư có các tác phẩm: Câu xá luận kí 30 quyển, Câu xá luận pháp tông nguyên 1 quyển, Bách pháp minh môn luận sớ. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Đông vực truyền đăng mục lục ].
phổ quang minh điện
(普光明殿) Cũng gọi Phổ quang pháp đường. Tòa điện đường nằm cạnh Bồ đề đạo tràng, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ. Thủa xưa, điện này là nơi đức Phật từng giảng hội thứ 2, thứ 7, thứ 8 trong 9 hội của kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) hoặc là hội thứ 2 và hội thứ 7 trong 8 hội kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển). Phẩm Như lai danh hiệu kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) (Đại 10, 57 hạ) nói: Lúc bấy giờ đức Thế tôn mới thành chính giác ở A lan nhã Bồ đề đạo tràng tại nước Ma yết đà, Ngài ngồi trên tòa sư tử Liên hoa tạng ở điện Phổ quang minh. [X. phẩm Thập định, phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển)].
phổ quang tam muội
Universal light samàdhi.
; (普光三昧) Tam muội phát ra ánh sáng do tọa thiền quán tưởng thân Như lai, chứng được 5 thần thông,4 Vô lượng tâm,4 Vô ngại giải, cho đến đầy đủ ánh sáng rực rỡ. Kinh Đại bảo tích quyển 89 (Đại 11, 513 trung) nói: Bồ tát Đại tinh tiến cầm bức tượng vẽ (...) quán tưởng thân Như lai, rồi nghĩ như thế này: Như lai vi diệu hiếm có (...). Bồ tát quán thân Như lai như thế, trải qua ngày đêm, thành tựu 5 thần thông, đầy đủ vô lượng, được Vô ngại biện, được Phổ quang tam muội, đầy đủ ánh sáng rực rỡ. Ngoài ra, theo phẩm Thập định trong kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) thì Tam muội thứ nhất trong 10 Tam muội lớn chính là Phổ quang tam muội.
phổ quang vương tự
(普光王寺) Chùa ở phương Tín nghĩa, phía đông nam huyện Tứ, tỉnh An huy, Trung quốc, do ngài Tăng già, người Tây vực, sáng lập vào đầu năm Long sóc (661-663) đời Đường. Khoảng năm Trinh nguyên (785- 804), chùa bị cháy, sau đó được ngài Thanh lương Trừng quán kiến thiết lại. Đến đời Tống, năm Thái bình hưng quốc thứ 7 (982, có thuyết nói năm thứ 5, 980), vua Thái tông sai ông Cao phẩm Bạch thừa duệ trùng tu tháp Tứ châu và đổi tên chùa là Thái bình hưng quốc. Đến khoảng năm Càn long (1736-1795) đời Thanh, chùa, tháp nhiều lần bị phá hoại nên đã hủy diệt. Tháp Tứ châu và tháp Tăng già là những kiến trúc rất nổi tiếng. Tháp Tăng già hoặc là tháp Linh thụy là nơi thờ ngài Tăng già. Tín ngưỡng Tăng già thịnh hành vào thời đại Đường, Tống. Ngoài chùa Phổ quang vương ở huyện Tứ ra, các nơi trên toàn cõi Trung quốc còn có Tăng già hòa thượng đường hoặc Tứ châu đại sư đường. Như trong Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí quyển 2 của ngài Viên nhân –vị tăng Nhật bản– có ghi Tăng già hòa thượng đường ở chùa Khai nguyên tại Đăng châu; trong Tham thiên thai ngũ đài sơn kí quyển 1 của ngài Thành tầm –vị tăng Nhật bản– cũng có ghi Tứ châu đại sư đường ở núi Đông giá... [X. Tống cao tăng truyện Q.18; Đại trung tường phù pháp bảo lục Q.14; Kim thạch lục Q.6; Phật tổ thống kỉ Q.43; Phật tổ lịch đại thông tải Q.20; Thích thị kê cổ lược Q.4; Trùng tu tứ giang hợp chí Q.2; Đông pha toàn tập Q.99; Trung quốc cận đại Phật giáo sử nghiên cứu (Mục điền Đế lượng)].
phổ quán kim cang
See Bất Không Kiến.
phổ quán quán tưởng
(普觀觀想) Cũng gọi Tự vãng sinh quán, Phổ vãng sinh quán, Phổ quán tưởng, Phổ quán. Pháp quán tưởng của người nguyện sinh Tịnh độ phương tây, có xuất xứ từ kinh Quán Vô lượng thọ, 1 trong 16 pháp quán. Lúc thực hành pháp quán này, quán tưởng tự mình sinh về thế giới Cực lạc, ngồi kết già trên hoa sen, khi hoa sen nở, có ánh sáng 500 màu chiếu soi trên thân mình, cho đến quán tưởng chư Phật, Bồ tát đầy khắp hư không. [X. Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ; Quán kinh huyền nghĩa phần]. (xt. Thập Lục Quán).
phổ sa
1) Kiết tường: Auspicious. 2) Sao Tisya: Pusya (skt)—The asterism Tisya. 3) Tháng Pausa: Pausa (skt)—See Thập Nhị Nguyệt (10).
phổ san
(普珊) Poussin, Louis de la Vallée (1869-1937) Học giả Phật giáo người Bỉ. Lúc trẻ, ông từng theo học giả người Pháp là Lévi, Sylvain nghiên cứu Đông phương học. Từ năm 1893 về sau, ông làm Giáo sư Đại học Grand dạy tiếng Hi lạp, tiếng La tinh, sau ông chuyên nghiên cứu về Ấn độ học và Phật giáo Đại thừa. Ông tinh thông tiếng Phạm, Hán, Tây tạng, trứ tác rất nhiều, thành quả rực rỡ, nghiễm nhiên trở thành người xúc tiến phong trào nghiên cứu Phật học ở châu Âu. Năm 1921, ông tổ chức hội nghiên cứu Đông phương học, hiệu đính phiên dịch kinh điển Phật giáo, soạn Bách khoa toàn thư về tông giáo và luân lí, viết các luận văn phát biểu về Phật giáo, làm mục lục về văn hiến Kì na giáo được tàng trữ tại Đại học Cambridge, mục lục các kinh điển đào được do ông A. Stein mang từ Trung á về và mục lục kinh điển Phật tiếng Tây tạng. Ông có các tác phẩm: Bouddhisme (gồm có: Adikarmapradìpa, Boddhicar= yàvatàraỉìka), 1898; Madhyamakvftti, 1903-1918; Màdhyamakàvatàra, 1900- 1918; Opinions sur l’Histoire de la dogmatique, 1909; La morale bouddhique, 1929; L’Abhidharmakoza de Vasubandhu, 6 vols., 1923-1931; L’ Inde aux temps des Mauryas et des Barbares, Grees, Scythes, Parthes et Yue-tchi, 1930.
phổ tang tiết
(普桑節) Phổ tang, âm của tiếng Tích lan: Poson. Ngày lễ lớn của Tích lan và các nước Phật giáo Thượng tọa bộ vùng Đông nam á, kỉ niệm ngài Ma hi đà, concủa vua A dục, đến Tích lan truyền bá Phật giáo. Vào ngày trăng tròn tháng 6 hàng năm, vùng Mahintale của Tích lan tổ chức các hoạt động kỉ niệm ngài rất long trọng. Theo truyền thuyết, ngài Ma hi đà từng hội kiến với Quốc vương của Tích lan là Thiên ái đế tu (Pàli: Devànampiya Tissa, ở ngôi 250- 210 trước Tây lịch) và giảng kinh thuyết pháp cho vua nghe lần đầu tiên ở nơi này.
phổ thiện thần
(普善神) Phổ thiện, Phạm:Pùwan. Cũng gọi Bố hàm thần. Hàm ý làvị thần nuôi dưỡng, phồn vinh, là thần trong kinh điển Phệ đà của Ấn độ đời xưa. Về hình tượng, thần này trong miệng không có răng, đầu bện tóc, tay cầm cây giáo vàng mũi nhọn hoắt, ngồi trên xe do sơn dương kéo, thường qua lại giữa khoảng trời đất. Chức vụ vị thần này chuyên cai quản đường sá, bảo hộ súc vật, tức có thể trừ diệt mãnh thú và trộm cướp trên đường đi, khiến súc vật lạc đường trở về, đồng thời, có khả năng làmcho linh hồn người chết được lên trời.
phổ thuyết
Universal preaching.
; Giảng thuyết tổng quát—Giảng thuyết hằng ngày (không nhất thiết phải tại Giảng đường hay được sắp đặt trước)—General preaching—General day-to-day lectures (not necessarily in the Dharma Hall or scheduled in advance).
; (普說) Đối lại: Nhập thất, Độc tham, Tiểu tham. Thuyết pháp cho toàn thể đại chúng cùng nghe, tức sư gia mở bày tông thừa cho người học. Thông thường, Phổ thuyết được khai diễn ở Tẩm đường (Đại phương trượng) hoặc Pháp đường. Trong trường hợp thuyết pháp đặc biệt thì người học đốt hương thỉnh cầu phổ thuyết, gọi là Cáo hương phổ thuyết. Tấm bảng treo để thông báo cho đại chúng biết có phổ thuyết, gọi là Phổ thuyết bài. [X. điều Phổ thuyết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].
phổ thuỵ
(普瑞) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Nguyên, người Du thành (tỉnh Vân nam), tự Tuyết đình, hiệu Diệu quán. Sư xuất gia từ nhỏ, đọc kinh Hoa nghiêm mà khai ngộ, sau theo Thiền sư Kiểu uyên tham cứu và thụ pháp của ngài.Khi họ Đoàn cai trị nước Đại lí thì sư trụ ở Thủy mục. Đến đời Nguyên, sư trụ trì chùa Tái quang. Sư có các tác phẩm: Hoa nghiêm đàm huyền hội kí, 40 quyển, Lăng nghiêm toản yếu, 10 quyển, Hoa nghiêm tâm kính, Huyền đàm phụ dực.
phổ thông
Universal—Common to all—General—Reaching everywhere.
phổ thông hợp chưởng
(普通合掌) Cũng gọi Phổ thông ấn. Chỉ cho ấn khế chung, 1 trong các loại ấn khế của Mật giáo. Về ấn tướng thì trong pháp tu của Kim cương giới và Thai tạng giới có khác nhau, tức trong pháp tu Kim cương giới là Kim cương hợp chưởng, còn trong pháp Thai tạng giới thì là Liên hoa hợp chưởng. Như ấn khế của các vị Bồ tát: Như lai xả, Như lai hỉ, Như lai bi... trong viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới đều là Phổ thông hợp chưởng.
phổ thông viện
(普通院) Nhà nghỉ được xây dựng ven đường dành cho những người hành hương chiêm bái Thánh tích núi Ngũ đài, Trung quốc, bắt đầu từ đời Đường về sau. Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí quyển 2 của ngài Viên nhân –vị tăng Nhật bản– nói: Viện Phổ thông thường cung cấp cơm cháo, bất luận tăng hay tục, hễ đến đều có thể nghỉ ngơi, vì thế gọi là viện Phổ thông. Ngoài viện Phổ thông ở núi Ngũ đài ra, trên đường đến chiêm bái di tích của Hòa thượng Tăng già ở chùa Phổ quang vương tại Tứ châu (An huy) cũng có thiết bị tương tự. Ngoài ra, cứ theo Hàm thuần lâm an chí, thì dọc đường đến lễ bái Thánh tích núi Phổ đà (tỉnh Chiết giang) có các nơi tạm trú như: Chùa Tiếp đãi, viện Tiếp đãi... Còn chùa Vân cư ở Phòng sơn (tỉnh Hà bắc) thì có nhà ăn miễn phí và các chùa Quang trạch, Bảo thọ... ở Trường an có các kí túc xá dành cho những sĩ tử về kinh đô dự các khoa thi... [X. điều Khoa cử trong Đường hội yếu Q.76; Trường an chí Q.8; Đường đại Phật giáo sử chi nghiên cứu (Đạo đoan Lương tú)].
phổ thỉnh
(普請) Cũng gọi Xuất pha. Mời tất cả mọi người. Trong Thiền lâm, khilàm các việc nặng nhọc thì mời tất cả đại chúng chung sức để thực hiện, gọi là Phổ thỉnh. Cứ theo Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí quyển 2, chế độ Phổ thỉnh được thực hành ở khắp các tùng lâm vào đời Đường. Đến mùa thu hoạch nho táo, rau đậu, thì các bậc Thượng tọa trong Thiền viện cũng tham gia hái quả, nhặt lá; lúc nhà bếp hết củi thì chúng tăng đi lấy củi. Vì các Thiền viện thời xưa hầu hết đều làm ruộng, nên các việc cày cấy, hái chè... đều phải phổ thỉnh. Ngoài ra, việc xây dựng nhà cửa cũng gọi là Phổ thỉnh, vì phải cần nhiều người hợp lực tham gia. [X. Phổ thỉnh pháp trong Tăng đường thanh qui Q.3; Đại tống tăng sử lược Q.thượng; điều Phổ thỉnh trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.6; điều Bách trượng Hoài hải trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.7; điều Qui sơn Linh hựu Q.9; điều Hoàng bá hi vận Q.12 và điều Hoa nghiêm Hưu tĩnh Q.17; Bích nham lục tắc 5; Liên đăng hội yếu Q.4, 7; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
phổ thủ
Một tên khác của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát—Another name for Manjusri—See Văn Thù Sư Lợi.
phổ thủ bồ tát
Parigudha (S)Tên một vị Bồ tát. Xem Văn thù sư lợi Bồ tát.
phổ trang
(普莊) (1347-1403) Thiền sư Trung quốc thuộc phái Dương kì tông Lâm tế, sống vào đầu đời Minh, người Tiên cư, Thai châu (Chiết giang), họ Viên, hiệu Ngốc am, cũng gọi Kính trung. Sư xuất gia ở núi Thiên đồng, sau tham yết ngài Liễu đường Duy nhất ở chùa Thiên ninh và được nối pháp. Năm Hồng vũ 12 (1379), sư trụ ở chùa Bắc thiền tại Giang tây, sau dời đến chùa Chân như, núi Vân cư, Giang tây. Mùa Xuân năm Hồng vũ 26 (1393), sư vâng sắc chỉ vào triều thuyết pháp; mùa Thu, sư vào Lô sơn tĩnh tu, vua ban 1 bộ áo; mùa Đông, sư vâng sắc trụ trì chùa Hưng Thánh Vạn Thọ tại Kính sơn. Niên hiệu Vĩnh lạc năm đầu (1403), sư thị tịch, thọ 57 tuổi, 45 tuổi hạ. Sư có tác phẩm: Ngốc am Trang thiền sư ngữ lục, 8 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.7; Nam Tống Nguyên Minh tăng bảo truyện Q.13; Tăng tục truyền đăng lục Q.6; Tục kê cổ lược Q.3].
phổ trang nghiêm đồng tử
(普莊嚴童子) Dịch mới: Đại uy quang thái tử. Chỉ cho vị đồng tử dùng 4 thắng thân thành Phật trong kinh Hoa nghiêm, con thứ 2 của vua Ái kiến Thiện tuệ ở đời quá khứ, là tiền thân của Phật Thích ca mâu ni. Ngài dùng thân thù thắng của giải hành sinh trong 3 sinh, dùng tâm cuối cùng của giải hành sinh vào biển quả, rốt ráo thành Phật.
phổ tri
Omniscience. Phổ tri giả: the Omniscient, i.e. Buddha.
phổ tri giả
Đức Phật là bậc phổ trí, vì ngài thông suốt tất cả—The omniscient, i.e. the Buddha.
phổ tri trí
siêu việt, thông suốt vạn pháp—Omniscience.
phổ tri tôn
See Phổ Tri Giả.
phổ trà
(普茶) Đối lại: Đặc vị trà. Pha trà cho toàn thể đại chúng dùng, gọi là Phổ trà. Trái lại, chỉ pha trà mời những vị đặc biệt, thì gọi là Đặc vị trà. [X. chương Trụ trì trong Hoàng bá thanh qui].
phổ trí thiên nhân tôn
(普智天人尊) Tôn hiệu của đức Phật, vì trí tuệ của Phật chiếu soi khắp sự lí, là bậc tôn quí nhất trong trời, người, nên có tôn hiệu này. Phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 27 hạ) nói: Phổ trí thiên nhân tôn Thương xót loài mê mờ Hay mở cửa cam lộ Rộng độ khắp quần sinh.
phổ tế
(普濟) (1179-1253) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Tống, người Phụng hóa, Tứ minh, họ Trương, hiệu Đại xuyên. Sư có tính trầm mặc từ nhỏ, thích tìm đọc sách Phật. Năm 19 tuổi, sư lễ ngài Văn Hiến ở việnHương lâm xin cạo tóc xuất gia, tu trì giới luật. Sau đó không lâu, sư đến Xích thành học lí Tính cụ của tông Thiên thai, nhận ra đó chẳng phải con đường thẳng tắt vượt qua sinh tử, nên lập chí tham thiền. Sư yết kiến ngài Thiên đồng Vô dụng, chuyên tâm tọa thiền, không ra khỏi Tăng đường. Sau, sư đến tham vấn ngài Triết ông Như diễm, ngay câu nói liền khế hợp, bèn y chỉ nơi đây. Khi ngài Như diễm dời đến núi Thiên đồng ở Tứ minh, sư cũng theo hầu và được giao công việc trông coi tạngKinh. Bấy giờ, Thừa tướng Sử trung Hiến vương kính trọng đức độ của sư, thỉnh sư trụ ở chùa Đại từ Báo quốc, sau dời đến ở chùa Tịnh từ Quang hiếu tại Lâm an, sau lại đến ở chùa Cảnh đức Linh ẩn. Sau, sư lâm bệnh, xin nghỉ nhưng không được chấp thuận. Lúc lâm chung, sư dặn không được chôn cất linh đình mà phải ném di cốt xuống sông. Ngày 18 tháng giêng niên hiệu Bảo hựu nămđầu (1253) đời vua Lí tông nhà Nam Tống, sư thị tịch, thọ 75 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Ngũ đăng hội nguyên, 20 quyển, Đại xuyên Phổ tế thiền sư ngữ lục, 1 quyển. [X. Linh ẩn Đại xuyên thiền sư hành trạng; Tục truyền đăng lục Q.35; Ngũ đăng nghiêm thống Q.22].
Phổ Tịch
(普寂, Fujaku, 651-739): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Hà Đông (河東), Bồ Châu (蒲州, Vĩnh Tế, Sơn Tây), họ Phùng (馮), cốt khí cao nhã, thông hiểu các điển tịch Nho gia, nhưng cuối cùng cũng bỏ thế tục mà cầu đạo giải thoát, thường nghe Đại Lương Bích Thượng Nhân (大梁璧上人) giảng về Kinh Pháp Hoa, Thành Duy Thức Luận, Đại Thừa Khởi Tín Luận, v.v. Năm 38 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới với Hòa Thượng Đoan (端和上) ở Lạc Dương (洛陽), rồi theo Nam Tuyền Hoằng Cảnh (南泉弘景) học Luật. Ông cũng từng đến tham yết Đại Thông Thần Tú (大通神秀) ở Ngọc Tuyền Tự (玉泉寺) vùng Kinh Châu (荆州), theo thầy 7 năm (có thuyết cho là 6 năm), tinh tấn tham Thiền, cuối cùng ngộ được huyền chỉ. Khi Thần Tú vâng sắc chỉ của Võ Hậu vào kinh, chúng tăng đều quy y theo ông. Đến năm thứ 2 (706) niên hiệu Thần Long (神龍), khi Thần Tú qua đời, ông kế thừa thầy lãnh đạo đồ chúng. Vào năm thứ 13 (725) niên hiệu Khai Nguyên (開元) đời vua Huyền Tông, ông vâng chiếu chỉ đến trú tại Kính Ái Tự (敬愛寺, có thuyết cho là Hoa Nghiêm Tự) ở Lạc Dương. Đến năm thứ 15 (có thuyết cho là năm thứ 13 hay 23) cùng niên hiệu trên, ông vào Trường An (長安), trú tại Hưng Đường Tự (興唐寺), được hàng vương công sĩ thứ thường xuyên đến tham vấn. Chính ông là người đầu tiên giáo hóa Thiền phong rộng rãi ở chốn kinh đô hơn cả thầy mình. Tánh tình ông rất cẩn trọng, ít nói, trì giới trong sạch. Vào năm thứ 27 (có thuyết cho là 28) niên hiệu Khai Nguyên, ông thị tịch tại Hưng Đường Tự, hưởng thọ 89 tuổi, được sắc phong hiệu Đại Chiếu Thiền Sư (大照禪師), người đời thường gọi ông là Hoa Nghiêm Hòa Thượng (華嚴和上), Hoa Nghiêm Tôn Giả (華嚴尊者) và ông được tôn sùng như là vị tổ thứ 7 của Bắc Tông Thiền.
phổ tịch
(普寂) (651-739) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người Hà đông, Bồ châu (Vĩnh tế, tỉnh Sơn tây), họ Phùng. Sư có cốt cách lỗi lạc, thông hiểu Nho học, bỏ tục cầu đạo, đến Thượng nhân Đại lương Bích nghe kinh Pháp hoa, luận Thành duy thức, luận Đại thừa khởi tín... Năm 38 tuổi, sư y vào Hòa thượng Đoan ở Lạc dương thụ giới Cụ túc, rồi theo ngài Hoằng cảnh ở Nam tuyền học Luật, nhưng cảm thấy bị văn tự trói buộc, nên sư đến chùa Ngọc tuyền tại Kinh châu tham yết ngài Đại thông Thần tú, y chỉ 7 năm (có thuyết nói 6 năm), khổ công tham thiền, thấu suốt lẽ đạo. Năm Thần long thứ 2 (706), ngài Thần tú thị tịch, sư thừa kế lãnh chúng. Năm Khai nguyên 13 (725), vua Huyền tông thỉnh sư vào trụ chùa Kính ái ở Lạc dương (có thuyết nói chùa Hoa nghiêm). Năm Khai nguyên 15 (727, có thuyết nói 725, hoặc 735), sư theo vua về Trường an ở chùa Hưng đường, Vương công, sĩ thứ cùng nhau đến tham lễ, hóa đạo rất thịnh. Ngài Thần tú tuy được Đế vương kính trọng, nhưng chưa từng nhóm chúng khai đường thuyết pháp, còn sư thì mới đến đô thành hoằng hóa mà Thiền phong đã hưng thịnh. Tính sư trầm lặng ít nói, giữ giới nghiêm cẩn, không khoe khoang đức hạnh, vì thế người đời rất ca tụng. Năm Khai nguyên 27 (739, có thuyết nói 740), sư thị tịch ở chùa Hưng đường, thọ 89 tuổi. Vua ban hiệu Đại Chiếu Thiền Sư, người đời tôn xưng là Hoa nghiêm hòa thượng, Hoa nghiêm tôn giả, cũng có người tôn sư là Tổ thứ 7 của Thiền Bắc tông. [X. Tống cao tăng truyện Q.9; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Phật tổ lịch đại thông tải Q.17; Thích thị kê cổ lược Q.3; Đại chiếu thiền sư tháp minh].
phổ tịnh
Thiền sư Phổ Tịnh, quê ở Thượng Phước, Bắc Việt. Khi còn rất nhỏ, ngài xuất gia với Thiền sư Phúc Điền, nhưng về sau thọ giới với Thiền sư Tường Quang và trở thành Pháp tử đời thứ 43 dòng Lâm Tế. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài hoằng pháp tại miền Bắc Việt Nam. Ngài đi đâu và thị tịch hồi nào không ai biết—Zen Master Phổ Tịnh, a Vietnamese monk from Thượng Phước, North Vietnam. He left home to follow Most Venerable Phúc Điền when he was very young. Later, he received precepts with Zen Master Tường Quang and became the Dharma heir of the forty-third generation of the Linn Chih Zen Sect. He spent most of his life to expand the Buddha Dharma in North Vietnam. His whereabout and when he passed away were unknown.
phổ từ bồ tát
Xem Thường Đề Bồ tát.
phổ uyển
(溥畹) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Thanh, người Côn sơn, họ Cố, tự Lan cốc. Đầu năm Thuận trị (1644) đời vua Thế tổ, sư đến Vân nam, thường gặp nhiều biến loạn nên ẩn cư tu hành. Đến khoảng năm Khang hi, đức hạnh của sư được truyền rộng, 4 chúng đều qui phục. Sư xây dựng chùa Pháp giới và chùa Báo quốc ở Côn minh, qui tụ đồ chúng giảng dạy. Sư có kiến thức uyên bác, thông suốt Phật giáo, Nho học, giỏi thi thư. Sư có các tác phẩm: Kim cương kinh tâm ấn sớ, Lăng nghiêm kinh bảo kính sớ, Thi tập.
Phổ vi thừa giáo
普爲乘教; C: pŭwéi shèngjiāo; J: fuijōkyō;|»Giáo lí bao gồm hết tất cả các thừa«. Gọi như thế vì giáo lí nầy chứa đựng hết thảy 5 thừa. Là tên gọi khác của Pháp tướng tông. Đây là một thuật ngữ Pháp tướng tông thường dùng để gọi tên tông của mình xuất phát từ ngài Khuy Cơ (窺基).
phổ vi thừa giáo tông
(普爲乘教宗) Gọi đủ: Phổ vị nhất thiết thừa giáotông. Tên gọi khác của tông Pháp tướng. Tông này cho rằng kinh Giải thâm mật là giáo pháp vì(vị)5 thừa (Nhân, Thiên, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) mà nói, cho nên gọi là tông Phổ vị thừa giáo. Còn các kinh điển khác thì hoặc vì Nhân Thiên, hoặc vì Bồ tát, hoặc vì Nhị nhừa mà nói, chỉ là giáo pháp hạn cuộc ở 1 bộ, không phải là giáo nghĩa ứng hợp với tất cả các căn cơ. (xt. Pháp Tướng Tông).
Phổ vi thừa giáo 普爲乘教
[ja] フイジョウキョウ fuijōkyō ||| The "teaching that encompasses all vehicles." So called because it includes the five vehicles. Another name for the Faxiang sect. This is a term that is often used by the Faxiang school to refer to itself and was originated by Kuiji (窺基). => Giáo lý bao gồm hết tất cả các thừa. Gọi như thế vì giáo lý nầy chứa đựng hết thảy năm thừa. Là tên gọi khác của Pháp tướng tông. Đây là một thuật ngữ Pháp tướng tông thường dùng để gọi tên tông của mình xuất phát từ ngài Khuy Cơ (窺基c: Kuiji ).
phổ văn thiên
Xem Dư Thiên vương.
Phổ Vũ
普雨; C: pŭyŭ; J: fu-u; K: pou,1515-1565; |Thiền sư Hàn Quốc vào thời Chosŏn. Sư sống vào thời kì có chút nới lỏng của sự đàn áp Phật giáo nhờ sự thừa kế của Hoàng hậu thừa kế Văn Định Vương Hậu (文定王后, k: munjŏng), là một Phật tử thuần thành, nắm vương quyền từ con của mình là Minh Tông (明宗, k: myŏngjong; trị vì từ 1545-1567), bà liền bãi bỏ nhiều biện pháp cấm ngăn Phật giáo.
Phổ Vũ 普雨
[ja] フウ Fu-u ||| Pou (1515-1565); a Sŏn monk of the Chosŏn period. He lived during a period where there was a bit of relaxation of the suppression of Buddhism due to the influence of the queen dowager Munjŏng (文定王后), who, as a devout Buddhist, took control of the government in the stead of her young son Myŏngjong (明宗 r. 1545-67), and immediately repealed many anti-Buddhist measures. => k: Pou (1515-1565); Thiền sư Cao Ly vào thời Chosŏn. Sư sống vào thời kỳ có chút nới lỏng của sự đàn áp Phật giáo nhờ sự thừa kế của Hoàng hậu thừa kế Văn Định Vương Hậu ( k: Munjŏng 文定王后), là một Phật tử thuần thành, nắm vương quyền từ con của mình là Minh Tông (k: Myŏngjong 明宗; trị vì từ 1545-1567), bà liền bãi bỏ nhiều biện pháp cấm ngăn Phật giáo.
phổ vương
Phổ Vương là danh hiệu của Diêm Vương khi ông ta diệt tận những tội chướng của chính mình—Universal king, title of Yama when he has expiated (extinguished) all his sins.